Category: Công Nghệ – Môi Trường

  • BÁO CÁO THỰC TẬP KỸ THUẬT CƠ KHÍ – KHOA KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ

    BÁO CÁO THỰC TẬP KỸ THUẬT CƠ KHÍ – KHOA KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ

    BÁO CÁO THỰC TẬP KỸ THUẬT CƠ KHÍ – KHOA KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Từ điển chuyên ngành Cơ khí ô tô


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%81O-C%C3%81O-TH%E1%BB%B0C-T%E1%BA%ACP-K%E1%BB%B8-THU%E1%BA%ACT-C%C6%A0-KH%C3%8D-%E2%80%93-KHOA-K%E1%BB%B8-THU%E1%BA%ACT-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: BÁO CÁO THỰC TẬP KỸ THUẬT CƠ KHÍ – KHOA KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ

    Lời nói đầu

    Qua các môn học đại cương (cơ khí đại cương, vật liệu học, nguyên lí may,..)chúng ta đã có được những kiến thức cơ bản, những hiểu biết về dòng điện hàn,kí hiệu thép,hiểu biết về bánh răng và các thông số chế tạo bánh răng.. Để nhắc lại những kiến thức cũ và đưa kiến thức lí thuyết vào thực tiễn chúng ta cần phải làm để biết được thực tiễn. Đó chính là mục đích của đợt thực tập cơ sở vừa qua.

    Nó trang bị cho chúng ta nhưng kiến thức cơ bản về quá trình chế tạo các chi tiết máy bằng phương pháp gia công cắt gọt.Qua đó nắm được nguyên lí tạo phoi, cấu tạo bộ phận chính của các máy công cụ (máy phay ngang, máy tiện, máy khoan…) các loại dụng cụ cắt gọt (dao tiện, dao khoan, dao phay lăn răng..)các bọ phận gá nắp và đo lường trong cơ khí chế tạo.Từ các hiểu biết về máy có thể vận hành các máy để tiến hành gia công chi tiết tạo ra các sản phẩm như: gia công tiện, gia công răng, gia công lỗ…

    Ý nghĩa: làm quen với thực tiễn, định hướng nội dung lĩnh vực chuyên nghành của mình tạo điều kiện để học tập có hiệu quả các môn học chuyên nghành tiếp theo. Đợt thực tập cơ sở này còn giúp nhắc lại kiến thức cũ, như một lần học lại.

    Sinh viên

                                                                              Nguyễn Đức Long

    Bài 1: Các Dụng Cụ Đo

    I. Giới thiệu chung

    Các thông số về kích thước chiều cao, chiều rộng, bề dày,..là những số liệu đầu tiên để chế tạo một chi tiết. Để đo được những kích thước đó ta cần có các dụng cụ đo,dụng cụ đo thông dụng nhất như: thước kẹp (caliper), pame (micrometer), đồng hồ so (indicator)

    II. Thước kẹp (caliper)

    1.     Đặc điểm

    Dùng để đo chiều dài, đường kính ngoài, đường kính trong, đo chiều sâu lỗ,..phạm vi đo rộng, độ chính xác tương đối cao, dễ sử dụng, giá thành rẻ…

    2. Cấu tạo và phân loại.

    a.Thước cặp được phân loại dựa vào dung sai ghi trên du xích (độ chính xác của thước).

    -Thước cặp 1/10: đo được các kích thước chính xác tới 0.1 mm

    -Thước cặp 1/20: đo được các kích thước chính xác tới 0.05 mm

    -Thước cặp 1/50 : do được các kích thước chính xác tới 0.02 mm.

    –    Ngoài ra còn có thước cặp điện tử, thước cặp đồng hồ số,..vv

     
       
    1. cấu tạo thước cặp
     
       
    1. má kẹp ngoài (má động, má tĩnh)
    2. má kẹp trong (má động, má tĩnh)
    3. thanh đo chiều sâu lỗ.
    4. mặt chia chính theo đơn vị mm
    5. mặt chia chính theo đơn vị inch
    6. thang chia trên du xích theo đơn vị mm
    7. thang chia trên du xích theo đơn vị inch
    8. hàm động

    (ngoài ra các thước còn có chốt khoá, đai ốc hãm, nấc kéo…)

     

      3. Cách sử dụng thước cặp

    + Cách đo.

    – Trước khi đo cần kiểm tra xem thước có còn chính xác không.Thước còn chính xác nếu hai vạch “0” trùng nhau khi hai mép thước trùng nhau.

    – kiểm tra mặt vật có sạch không

    – khi đo phải giữ cho hai mặt của thước song song với kích  thước cần đo.

    – Trường hợp phải lấy thước ra khỏi vị trí đo thì vặn đai ốc hãm để cố định hàm động với thân thước chính.

    + Cách đọc trị số

    – xem nếu vạch “0” của du xích trùng với vạch bất kì trên mặt thước chính thì đó là kích thước của chi tiết.

    -Nếu vạch “0” của du xích không trùng với vạch trên mặt thước chính thì ta lấy vị trí vạch bên trái gần nhất cạnh vị trí vạch “0” của du xích làm phần nguyên của kích thước.Xem trên trên du xích vạch nào của du xích trùng với vạch của thước chính ta nhân với dung sai.Cộng hai giá trị lại ta được trị số đo.

    VD:

    Đường kính viên bi là 2.7 mm

     

    III. Pame (micrometer)

    1. Đặc điểm

    – Là dụng cụ đo chính xác, tính vạn năng kém, c nhiều loại pame: pame đo đường kính ngoài, pame đo đường kính trong, pame đo chiều sâu lỗ.

    – Pame có phạm vi đo hẹp, có nhiều cỡ : 0 ÷ 25 ; 25 ÷ 50 ; 50 ÷ 75 …  (mm)

    2.Cấu tạo

    1. má kẹp tĩnh
    2. má kẹp động
    3. chốt hãm
    4. trục thước chính
    5. trục thước phụ (du xích )
    6. núm vặn thước phụ
    7. dung sai và kích thước có thể đo được

    2.     Cách sử dụng pame

    + Cách đo

    – Trước khi đo cần kiểm ra xem pame có còn chính xác không.

    – Khi đo tay trái cầm pame, tay phải vặn cho đầu đo đến gần tiếp xúc thì vặn núm vặn cho đầu đo tiếp xúc với vật đúng áp lực đo.

    – Phải giữ cho đường tâm của 2 đầu đo trùng với  kích thước cần đo

    – Trường hợp phải lấy pame ra khỏi vị trí đo thì phải vặn cần hãm (đai ốc ) để cố định đầu đo động trước khi lấy pame ra khỏi vật đo.

    + Cách đọc trị số

    – Khi đo dựa vào mép thớc động đọc được số “mm” và nửa “mm” của kích thước ở trên thước chính. Dựa vào vạch chuẩn trên thước chính ta đọc được phần chỉ số trên thước phụ  (giá trị mỗi vạch tương ứng với dung sai của thước )

    VD:

    Đường kính vật cần đo là 9.53 mm

    Bài tập: tập đo chi tiết

      4. Cách bảo quản pame.

    – Không dùng pame để đo vật đang quay

    – Không đo các mặt thô, bẩn, phải lau sạch trước khi đo

    – Không vặn trực tiếp ống thước phụ để mỏ đo kẹp vào vật đo

    – Cần hạn chế việc lấy mỏ đo ra khỏi vị trí đo rồi mới đọc kích thước.

    – Các mặt đo của pame cần phải giữ gìn cần thận tránh để bị gỉ bị bụi cát,bụi đá mài hoặc phôi kim loại mài mòn.

    – Cần tránh va chạm làm sây sát hoặc biến dạng mỏ đo.

    – Hàng ngayfsaukhi làm việc phải lau chùi pame bằng giẻ sạch và bôi dầu mỡ,nên siết vít ( hoặc cần hãm ) để cố định đầu đo động và đặt pame đúng vị trí ở trong hộp.

    IV. Đồng hồ so ( indicator )

    1. Đặc điểm

    – Là dụng cụ đo chính xác cỡ 0.01 mm ÷ 0,001 mm (đồng hồ điện

    tử còn chính xác hơn nữa.)

    – Đồng hồ so dùng nhiều trong việc kiểm tra sai lệch hình dạng hình học và vị trí của chi tiết như độ thẳng độ song song, độ không đồng trục, ..

    – Đồng hồ so còn kiểm trra hàng loạt khi kiểm tra kích thước bằng phương pháp so sánh.

      2. Cấu tạo

    1. đầu đo
    2. bạc
    3. mặt số vòng chia dung sai
    4. kim chỉ dung sai
    5. núm vặn ( cố định đầu đo )
    6. kim chỉ mm
    7. vòng chia mm

    3. Cách sử dụng

    – Khi sử dụng đồng hồ so trước hết phải gá lên giá đo van năng hoặc phụ kiện riêng. Sau đó chỉnh cho đầu đo tiếp xúc với vật cần đo.

    – Điều chỉnh mặt số lớn cho kim đúng vị trí số “0” .Di chuyển đồng hồ so tiếp xúc trượt theo bề mặt cần kiểm tra.

      4. Cách bảo quản

    – Khi sử dụng phải hết sức nhẹ nhàng tránh va đập

    – Giữ không để xước hoặc vỡ mặt đồng hồ

    – Không nên dùng tay ấn vào đầu đo để thanh đo di chuyển mạnh

    – Đồng hồ so phải luôn được gá trên giá, khi sử dụng xong phải đặt đúng vào vị trí ở trong hộp

    – Không để đồng hồ so ở chỗ ẩm ướt.

    – Không nên tự ý tháo các nắp của đồng hồ so

    Bài 2 : Máy tiện

    Công nghệ tiện

    I. Máy tiện

      1. Công dụng của máy tiện

    – Thường dùng để gia công các chi tiết máy như : puly, trục trơn, các loại ren vít ,….và gia công phôi cho các nguyên công khác như mài, doa, truốt, phay, …vv.

    – Các chi tiết nếu không qua quá trình tiện thì không thể đưa vào gia công ở các nguyên công sau như do truốt, phay, mài,…Vì vậy trong các nhà máy, các phân xưởng cơ khí số lượng máy tiện thường chiếm nhiều hơn các máy khác .

      2. Phân loại máy tiện

    – Theo chức năng : máy tiện vạn năng, chuyên dùng, tự động, bán tự động, một trục, nhiều trục, máy tiện CNC,… vv.

    – Theo kích thước : đường kính lớn nhất và chiều dài lớn nhất có thể gia công được.

    – Theo độ chính xác : cấp chính xác khác nhau

      3. Cấu tạo của máy tiện

    – Thân máy và băng máy nâng đỡ máy, duy trì khả năng chuyển động ăn khớp của các chi tiết máy.

    – Hộp tốc độ truyền chuyển động n và momen xoắn M  của trục chính và thay đổi tốc độ quay của trục chính.

    – Hộp chạy dao truyền lực kéo và chuyển động, đồng thời thay đổi lượng chạy dao Sng, Sd của bàn xe dao.

    – Ụ sau gá mũi tâm để nâng đỡ phôi và định tâm cho phôi

    – Mâm cặp ba chấu định tâm kẹp chặt phôi truyền chuyển động quay cho phôi.

    – Động cở chính (AC) tạo chuyển động chính cho máy.

    – Bàn xe dao có :

    • đài gá dao : định vị và kẹp chặt dao tiện
    • bàn trượt dọc : di chuyển dọc theo băng máy
    • bàn trượt ngang : điều chỉnh dao dịch chuyển vuông góc với đường tâm máy.

    bàn trượt dọc nhỏ : để gá đài gá dao và điều chỉnh đài gá dao dịch chuyển theo hướng song song hoặc xiên với tâm máy một góc độ nhất định.Khoảng dịch chuyển của bàn trượt dọc nhỏ thường là 100 mm.

    II. Dao tiện

    1.     Đặc điểm và phân loại

    + Đặc điểm : Dao tiện trực tiếp cắt đi phần vật liệu trên phôi để tạo ra chi tiết. Để tiện được thì dao tiện phải có những cơ tính sau : phần cắt phải có độ cứng cao để cắt được phôi, phần thân phải chịu được lực công sôi.

    + Phân loại dao tiện .

    – Phân loại theo công dụng : Dao tiện trong, dao tiện ngoài, dao tiện ren các loại, dao tiện cắt đứt, dao tiện định hình,…vv.

    – Phân loại theo kết cấu dao tiện : Dao tiện liền con, dao tiện hàn mảnh dao vào thân dao, dao tiện gắn mảnh dao vào thân dao bằng cơ cấu cơ khí.

    – Phân loại theo hình dáng :Dao tiện đầu thẳng, dao tiện đầu cong

    – Phân loại theo vật liệu phần cắt : dao tiện làm bằng thép gió ( P9, P12, P18…) dao tiện hợp kim cứng ( BK8, T15K6…)dao tiện bằng kim cương , Nitoritbon lập phuowng.(vật liệu siêu cứng tổng hợp nhân tạo  )

      2. Cấu tạo, kết cấu hình học của dao tiện.

    + Cấu tạo :

     
       

    – Thân dao có tiết diện hình chữ nhật, kích thước LxBxH được tiêu chuẩn hoá theo kích thước đài gá daoáThan dao có tác dụng định vị và kẹp chặt daotreen đài gá dao, thân dao mang đầu dao.Vật liệu làm thân dao có thể như phần cắt hoặc khác vật liệu phần cắt (thường chế tạo từ thép C45 )

    – Phần đầu dao : được chế tạo tắtvatj liệu dụng cụ cắt (thép gió, hợp kim cứng,…)

    + Kết cấu hình học phần cắt của dao tiện

    – Mặt sau 1 và 2(mặt sát) : gồm mặt sau chính và mặt sau phụ. Mặt sau chính đối diện với mặt đang gia công, mặt sau phụ đối diện với mặt đã gia công.

    – Mũi dao 3 là dao tuyến của lưỡi cắt chính và lưỡi cắt phụ. Mũi có thể là nhọn hoặc có bán kính R

    – Lưỡi cắt có lưỡi cắt chính 5 và lưỡi cắt phụ 4 .Lưỡi cắt chính là giao tuyến của mặt  trước với  mặt sau chính. Lưỡi cắt phụ là giao tuyến của mặt trước với mặt sau phụ.

    – Mặt trước 6 (mặt thoát) : có tác dụng thoát phôi trên nó trong quá trình cắt gọt

    **Chú ý : vị trí các mặt, các lưỡi cắt và các thông số hình học của phần cắt có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo phoi, thoát phoi, ma sat, lực cắt, …Do đó phần cắt của dao phải có thông số hình học tói ưu, nó phụ thuộc vào :

    vật liệu phần cắt

    vật liệu của phôi

    năng suất, chất lượng gia công.

    III. Quá trình hình thành phoi khi tiện.

      1.Sơ đồ tạo phoi khi tiện

    • Phôi thực hiện quay tròn
    • Dao tịnh tiến vào tâm phôi
    • Phoi được hình thành

    + Chuyển động quay của phôi là chuyển động tạo phoi. Được điều chỉnh bởi hộp tốc độ

    p.D.n                                                 1000.V

    V =  –––––      (m/ph)                        n =  ———–         (vg/ph)

    1000                                                    p.D

    D : đường kính phôi

    n : số vòng quay của phôi   (vòng/ phút)

    V : vận tốc vòng quay của phôi  (m/ phút )

    + Chuyển động Sng, Sd là chuyển động chạy dao. Chạy dao có nhều tốc độ được điều chỉnh bằng bởi hộp chạy dao.

    VD : Khi tiện ren, chi tiết quay được 1 vòng thì dao tịnh tiến được  1 bước ren S (mm) .Hộp chạy dao phải tạo ra các S phù hợp với bước ren theo tiêu chuẩn của bước ren, biên dạng ren là biên dạng của dao tiện ren tạo ra.

     

    IV. Tiến trình tiện

    Sau khi đo đạt bằng các dụng cụ đo ta đã có số liệu về kích thước của chi tiết. Để tiện ra được chi tiết có kích thước đã cho ta cần thực hiện các bước sau

    + Bước1:Giả sử phôi có đường kính ban đầu lớn hơn đường kính lớn nhất của chi tiết ( F30 ). Đầu tiên tiện để phôi có đường kính là F24 . Dao tiện tịnh tiến 1 đoạn Sd = 45 (mm)

    + Bước 2 : Tiện đoạn có đường kính F 19 chiều dài 35 mm

    + Bước 3 : tiện đoạn có đường kính F 10 , chiều dài 6 (mm)

    + Bước 4 : Tiện đoạn côn, có độ côn là 14°, đường kính đáy nhỏ là F14. Để tiện được đoạn này ta cần xoay bàn dao trên một góc 7°, Sd lúc này là chuyển động của dao trên bàn trượt dao nhỏ.

    +  Bước 5 : Ta sử dụng dao cắt đứt để cắt chi tiết ra khỏi phôi.

    Sản phẩm tiện có độ chính xác chưa cao cần gia công lại trên máy mài để có độ chính xác cao hơn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bài 3 : Máy Phay Ngang

    Công Nghệ Phay

    I. Máy phay

      1. Công dụng

    – phay mặt phẳng, mặt bậc

    – Phay mặt định hình ( phẳng + nghiêng + cong + răng )

    – Phay rãnh các loại

    – Phay các đường xoắn trên mặt phẳng, mặt trụ, bánh răng thẳng, bánh răng nghiêng, trục vít, bánh vít…vv.

      2. Các loại máy phay.

    – Theo công dụng : máy phay đứng vạn năng, máy phay ngang vạn năng, máy phay chuyên dụng, máy phay răng, phay ren….vv

    – Theo kích thước :

    bàn máy nhỏ : 200 x 600 (mm)

    bàn máy trung bình : 1000 x 1600 (mm)

    bàn máy lớn : 1800 x 3000 (mm)

    Theo cấp chính xác : máy phay cấp chính xác bình thường

    máy phay cấp chính xác cao và rất cao.

     

     

    3. Cấu tạo của máy phay ngang

    1. Bàn máy
    2. ê tô
    3. chi tiết
    4. trục gá dao
    5. gối đỡ
    6. xà ngang
    7. dao phay
    8. hộp tốc độ
    9. động cơ điện
    10. thân máy
    11. hộp chạy dao (chạy bàn máy )

    -Hộp tốc độ : truyền chuyển động quay cho trục chính và thay đổi tốc độ vòng quay của trục chính.Trục chính mang dao phay, quay với só vòng quay từ n1,n2,..nk

    – Hộp chạy bàn máy : Tạo ra các chuyển động và thay đôi tốc độ chuyển động của Sng ( mm /ph) , Sd ( mm /ph ), Sđ (mm /ph ). Ba chuyển động này có thể được dẫn động hoặc được điều khiển bằng tay.

    II. Dao phay

    1. Phân loại dao phay.

    – Theo công dụng : Dao phay mặt phẳng, dao phay rãnh, dao phay đĩa môđun để phay răng, dao phay ren…vv.

    – Phân loại theo hình dáng hình học : dao phay răng thẳng, răng nghiêng, răng nhọn, răng hớt lửng, dao phay mặt đầu, dao phay ngón …

    – Phân loại theo vật liệu làm dao : dao phay bằng thép gió, dao phay bằng hợp kim cứng.

      2. Kết cấu của dao phay trụ răng thẳng, răng nghiêng.

    – Dao phay trụ răng thẳng : Thông số đặc trưng là đường kính dao D, đường kính lỗ d, chiều dài dao L, số răng dao Z, góc trước g , góc sau α

    – Dao phay trụ răng nghiêng các đặc trưng cũng như ở dao phay trụ răng thẳng chỉ khác ở chỗ dao phay trụ răng thẳng lưỡi cắt song song với đường tâm của dao, còn ở dao phay trụ răng nghiêng thì lưỡi cắt nghiêng với đường tâm của dao một góc w

    – Dao phay trụ răng nghiêng cắt êm hơn dao phay trụ răng thẳng nhưng chế tạo khó hơn, giá thành cao hơn.

      3. Kết cấu dao phay đĩa môđuyn

    – Loại dao này dùng để gia công bánh răng trên máy phay nằm ngang, dao có dạng đĩa. Thông số đặc trưng : Đường kính dao D, đường kính lỗ d, chiều dày dao B, moduyn m, lưỡi dao 1,2,3 có biên dạng giống biên dạng bánh răng cần gia công. Sử dụng phương pháp định hình.

    • Vật liệu phần cắt của dao phay đa số đều được chế tạo từ thép gió, có một số được chế tạo bằng hợp kim cứng

    III. Quá trình tạo phoi khi phay .

    – Dao phay quay              p.D.n

    V = –––––         (m /ph)

    1000

    D : đường kính dao phay

    n : số vòng quay của dao trong 1 phút

    Sz : lượng chạy dao răng.   (mm / răng )

    Svg = Sz . Z (mm / vòng )

    Z : là số răng của dao

    Sph  = Svg . n   ( mm / phút )

    n : số vòng quay của dao

    – n được chọn theo số vòng quay nhanh nhất liền kề có ở hộp tốc độ trên máy phay

    VD : khi chọn V = 30 ( vòng / phút )

    D = 30  ( mm )

    =>      n = 302.176  (vòng / phút )

    Căn cứ vào bảng chỉ dẫn trên hộp tốc độ ta chọn :

    nmáy = 300  ( vòng / phút )

    IV. Tiến trình phay

    – Khi đã có số liệu đầy đủ  về kích thước của chi tiết ta tiến hành các bước phay.

    + Bước 1 : Phôi khi vừa cắt ra có bề mặt thô ,cần gia công mặt phẳng bằng máy phay ngang ( phay mặt phẳng )

    + Bước 2 : Phay rãnh rộng 8 mm , sâu 5 mm lần lượt mỗi rãnh cách nhau 7 mm. Tuỳ vào loại vật liệu phôi mà ta cho dao ăn nông hay ăn sâu để có được độ chính xác và năng suất cao .

    – Trong trường hợp dao phay dày 8 mm để phay rãnh rộng 8 mm chỉ cần phay 1 lần là được. Khi phay rãnh rộng 20 mm thì cần phải phay ít nhất 3 lượt để phay hết bề rộng rãnh, lượt sau đè lên lượt trước 2mm

    – Sau khi phay cần gia công thêm trên máy mài để có được độ chính xác cũng như độ bóng bề mặt cao hơn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bài 4 : Máy phay lăn răng

    Công nghệ gia công răng

    I. Máy phay lăn răng.

      1. Hai phương pháp gia công bánh răng.

    – Để chế tạo ra một bánh răng có 2 phương pháp : phương pháp định hình ( chép hình ) sử dụng trên máy phay ngang ; phương pháp bao hình sử dụng trên máy phay lăn răng.

    Ưu nhược điểm của 2 phương pháp gia công bánh răng.

    a ).Phương pháp định hình

    +Ưu điểm :

    – Sử dụng máy phay nằm ngang, đầu phân độ là thiết bị vạn năng thường co trong các nhà máy.

    – Công nghệ không phức tạp

    – Thích hợp và hiệu quả khi yêu cầu đối với bánh răng là không cao, khi chế tạo bánh răng đơn chiếc hoặc loạt nhỏ.

    + Nhược điểm :

    – Năng suất thấp vì thời gian phụ lớn ( gá, đo đạt, kiểm tra, ….)cắt không iên tục , mất thời gian cho hành trình chạy không cắt đó là hành trình lùi phôi để cắt tiếp đạt chiều cao H của bánh răng.Cần thời gian phân độ để cắt từng rãnh.

    – Chất lượng không cao vì biên dạng răng dao phay đĩa moduyn không chính xác, có sai số đầu phân độ.

    – Năng suất thấp, chất lượng không cao do đó phương pháp gia công này chỉ sử dụng khi chế tạo bánh răng có độ chính xác không cao và chỉ áp dụng khi chế  tạo đơn chiếc hoặc loạt nhỏ.

    b ).Phương pháp bao hình

    + Ưu điểm

    – Sử dụng một dao phay lăn trục vít có thể gia công được tất cả các bánh răng có cùng moduyn và góc ăn khớp mà không phụ thuộc vào số răng Z của bánh răng cần cắt.

    – Năng suất cao vì thời gian phụ giảm nhiều quá trình cắt là liên tục không gián đoạn

    – Chất lượng cao hơn hẳn so với phương pháp chép hình.

    – Sử dụng hiệu quả khi gia công loạt vừa và hàng loạt.

    + Nhược điểm.

    – Phải sử dụng máy , dao chuyên dụng kết cấu phức tạ giiasthành đắt, để có hiệu quả kinh tế cao phương pháp gia công này chỉ sử dụng gia công cho sản xuất hàng loạt và hàng khối.

      2. Cấu tạo máy phay lăn răng.

    1. bệ máy
    2. bàn gá phôi (gá kẹp 3 chấu định tâm )
    3. phôi
    4. trục gá phôi
    5. chốt định tâm
    6. băng máy dọc
    7. xà ngang
    8. gối đỡ sau của trục dao lăn
    9. trục gá dao
    10. dao phay lăn trục vít
    11. gối đỡ trước của trục dao lăn
    12. thân máy
    13. xích chạy dao
    14. công tắc nguồn
    15. xích phân độ
    16. xích vi sai
    17. tay quay di động hướng trục dao lăn.

    -Bên trong phần xích tốc độ, xích vi sai, xích phân độ, xích chạy dao có các bộ phận tháo nắp các bánh răng thay thế để thay đổi lượng chạy dao đứng, chạy dao ngang, tốc độ quay dao, tốc độ quay của phôi và độ nghiêng của dao phay lăn trục vít.

     

     

     

     3. Các thông số kĩ thuật của bánh răng cần gia công

    – Đường kính ngoài D = ( Z+ 2 ). m              (mm)

    – Đường kính lỗ d               (mm )

    – Chiều dày bánh răng B  (mm )

    – Moduyn     m

    – Góc ăn khớp α0

    – Răng nghiêng hay răng thẳng, góc nghiêng β = ?

    – Vật liệu bánh răng cần gia công

    – Độ chính xác độ nhẵn bóng của bánh răng cần gia công

     

     

      4. Sơ đồ nguyên lí bao hình.

    – Nguyên lí tạo hình bằng phương pháp bao hình là dựa vào nguyên lí ăn khớp của trục vít và bánh vít. Trục vít quay được 1 vòng thì bánh vít quay  được 1/ Z vòng. (Z là số răng của bánh vít )

    – Trục vít có khả năng cắt ( dao phay lăn trục vít )

    – Cho trục vít này ăn khớp cưỡng bức với phôi. Phần vật liệu của phôi cản trở quá trình ăn khớp bị cắt cưỡng bức tạo thành răng của bánh vít để ăn khớp đụng với trục vít. Bánh vít được hình thành.

      5. Một số chuyển động chính trong quá trình phay lăn răng trục vít.

    + Chuyển động cắt của dao phay lăn trục vít.

    – Căn cứ vào vật liệu làm dao, vật liệu phôi xác định V tối ưu . Khi đã có đường kính Dd tính vòng quay của dao.

    1. Vd

    nd = –––––––                         ( vg / ph )

    π . Dd

    – Điều chỉnh cặp bánh răng thay thế của máy phay lăn răng để có nd vừa tính

    + Chuyển động quay của phôi ( chuyển động chia răng )

    – Chuyển động quay của phôi bị ràng buộc bởi nguyên lí tạo hình ăn khớp giữa trục vít và bánh vít. khi trục vít (dao phay) quay được 1 vòng thì bánh vít  (phôi) quay được 1/Z vòng.

    nd

    nph = –––            ( vg / ph )

    z

    nd : tính ở trên

    – Cần điều chỉnh chạc bánh răng thay thế  (xích chia) để có nph phù hợp.

    + Chuyển động đứng của dao từ trên xuống Sd

    + Chuyển động hướng kính của dao Sng

    Bánh răng thay thế

    +  Sơ đồ nắp chạc bánh răng tốc độ

    +  Sơ đồ nắp chạc bánh răng chạy dao thẳng đứng

    + Sơ đồ nắp bánh răng chạc vi sai

    + Sơ đồ nắp chạc bánh răng phân độ

     

    II. Dao phay lăn răng.

    – Dao phay lăn trục vít bản thân là một trục vít cơ bản có moduyn bằng moduyn của bánh răng cần cắt ra, có góc ăn khớp αo  giống góc ăn khớp của bánh răng cần gia công.

    – Để trục vít này có khả năng cắt, xẻ rãnh nghiêng với đờng tâm 1 góc β. Rãnh này tạo ra mặt trước của từng răng và tạo ra không gian chứa phoi.Mặt trước tạo ra góc trước của lưỡi cắt  gd  đây là góc trước của lưỡi cắt ở đỉnh răng dao. Góc trước ở mỗi đểm trên lưỡi cắt bên có giá trị nhỏ dần theo chiều hướng tâm .

    – Lưỡi cắt ở đỉnh có góc sau αd được tạo ra khi mài hớt lửng ặt sau theo đường Aximetầhi mặt bên của răng dao.

    – Góc nâng của đường ren trục vít l được tính toán dựa vào moduyn, góc ăn khớp và đường kính chia của trục vít cơ bản phù hợp với các thông số bánh răng cần cắt ra .

    – Vật liệu chế tạo dao phay lăn trục vít đa số được chế tạo bằng thép gió P18. Một số dao có kích thước lớn phần cắt được chế tạo từ hợp kim cứng

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    III. Tiến trình gia công trên máy phay lăn răng .

    Kích thước bánh răng : đường kính ngoài D = 74

    moduyn m = 2

    bề dày răng    B = 20 mm

    răng thẳng β = 0

    – Trước khi gia công trên máy phay lăn răng cần gia công phôi trên máy tiện để phôi có đường kính đỉnh răng của bánh răng    D = 74 mm .

    Các bước tiến hành phay.

    + Bước 1 : tính toán

    D = ( z + 2 ). m  = 74

    => z = 36 răng

    – Từ vật liệu làm dao và vật liệu phôi ta chọn vận tốc Vd . Đường kính dao đã có Dd tính số vòng quay của dao .

    1. Vd

    nd = –––––––                         (vg / ph )

    π . Dd

    – Khi dao quay được 1 vòng thì phôi quay được 1/Z vòng

    nd

    =>       nph = –––                       ( vg / ph )

    z

    – Từ công thức tính các cặp bánh răng thay thế có thể thay đổi để có tốc độ quay của dao và của phôi thích hợp.

    – Lắp dao : Khi lắp dao cần điều chỉnh dao sao cho hướng cắt của dao đúng với hướng của bánh răng gia công.

    + Bước 2 : Gá chi tiết

    – Phôi được gá chặt trên bàn máy nhờ mâm kẹp ba chấu định tâm.

    – Khi gá chi tiết thường mắc những lỗi trong khi gá.

    1. ghá lệch phôi.
    1. ghá xiên mặt đầu

    – Khi ghá chi tiết thường hay mắc lỗi  “ ghá lệch tâm “.Để khắc phục lỗi này cần thực hiện dò tâm bằng đồng hồ so.

    – Đồng hồ so là thiết bị rất nhạy lên khi dò tâm cần gõ nhẹ nhàng để dò tâm.

    + Bước 3 : Phay răng

    – Sau khi hoàn thành công  tác chuẩn bị , có thể bật máy chạy thử. Khi quay được 1 vòng của phôi thì tắt máy và kiểm tra việc chia răng có sai không  để kịp thời biết và điều chỉnh lại. Sau đó tiếp tục bấm máy gia công tiếp tới khi hoàn thành.

    Bài 5 : Máy khoan

    công nghệ gia công lỗ

    I. Máy khoan

      1. Công dụng

    – gia công được các lỗ thông suốt và không thông suốt với các kích thước khác nhau.

    D = 0.2  ÷ 50   ( mm )

    – Khoan lỗ là phương pháp gia công thô, chất lượng thấp. Dung sai lỗ nằm trong khoảng  ± 0.2 mm, độ nhẵn Ñ3     ( Ra = 4 ÷ 5 µm )

      2. Các  loại máy khoan.

    – Theo đường kính lớn nhất của chi tiết mà máy có thể gia công được.

    – Theo hình dáng kết cấu máy : Máy khoan đứng, máy khoan cần, máy khoan nhiều trục,…vv.

      3. Cấu tạo của máy khoan cần.

    1. đế máy
    2. bàn máy
    3. ghá kẹp phôi
    4. phôi
    5. đầu khoan (nắp dao khoan )
    6. hộp tốc độ và chạy dao
    7. động cơ I
    8. động cơ II
    9. cần ngang
    10. trục có ren
    11. cột trụ
    12. cần khoá.

    – Hộp số và hộp chạy dao, động cơ I được nắp trên cần. Chúng có chuyển động tịnh tiến ngang trên cần Sng bằng tay hoặc dẫn động bằng máy.

    – Đầu khoan nắp mũi khoan có chuyển động lên xuống được Sd1

    – Cần ngang của máy khoan cần chuyển động dọc theo cột trụ  được nhờ dẫn động bằng động cơ. Chuyển động quay quanh trụ của cần được thực hiện bằng tay .

    II. Dao khoan.

    – Đoạn L1 : phần côn cắt, góc côn cắt 2j. Góc 2j lớn mũi khoan khó cắt vào vật liệu gia công, song tạo cho mũi khoan có độ bền cơ học tốt hơn. Góc 2j  nhỏ cho tác động ngược lại mũi khoan dễ cắt vào vật liệu gia công nhưng độ bền cơ học kém hơn.

    – Đoạn L2 : Phần định hướng , sửa đúng lỗ và dự trữ cho phần côn cắt khi bị bị mài mòn có thể mài lại mũi khoan, mũi khoan ngắn dần. Phần này có 2 góc j1  côn ngược.

    – Đoạn L3 : Phần cổ mũi khoan thường ở phần này có các kí hiệu các thông số kĩ thuật của mũi khoan như : đường kính, vật liệu chế tạo mũi khoan…(các thông số này cũng có thể ghi trên chuôi dao ) Phần này còn tạo khả năng công nghệ thoát dao, thoát đá mài khi gia công phần định hướng và phần chuôi của mũi khoan.

    – Đoạn L4 : Phần chuôi dao có tác dụng định vị kẹp chặt và truyền lực, truyền momen xoắn, chuyển động quay cho mũi khoan.

    – Vật liệu chế tạo mũi khoan thường thường là thép gió P18 và hợp kim cứng BK8 hoặc T15K6

     

    III. Nguyên lí tạo phoi khi khoan.

    1. phôi

    2 mũi khoan

    + Các lưỡi cắt của dao.

    – Lưỡi cắt 1, 2 là 2 lưỡi cắt chính , lưỡi cắt 3 là lưỡi cắt ngang. Lưỡi cắt 4, 5 là hai cạnh viền có tác dụng sửa đúng lỗ. Ở 2 lưỡi cắt chính có các góc

    Góc trước g đo ở tiết diện N – N’

    Góc sau α đo ở tiết diện O – O’

    – Các góc g, α ở mỗi điểm trên lưỡi cắt chính 1, 2  khác nhau thì có giá trị khác nhau. Ở lưỡi cắt ngang 3 góc g âm bất lợi cho quá tạo phoi. Ở 2 cạnh viền có góc côn ngược j1 giảm ma sát với bề mặt lỗ, phần côn cắt có góc 2j .

    + Các chuyển động tạo phoi khi khoan.

    – Tốc độ khoan : tuỳ vào vật liệu gia công, vật liệu chế tạo mũi khoan và chất lượng gia công mà ta chọn V khoan tối ưu.

    p.D.n

    V = –––––         (m /ph)

    1000

    từ vận tốc V :

    V.1000

    =>                            n =  –––––          (vg / ph)

    p.D

    n : điều chỉnh được trên máy nhờ hộp số

    – Lượng chạy dao : để khoan hết chiều sâu của lỗ mũi khoan phải vừa chuyển động quay vừa chuyển động tịnh tiến xuống. Chuyển động này là chuyển động chạy dao Sd (Sd có thể điều chỉnh được nhờ hộp chạy dao). Chuyển động chạy dao lớn năng suất cao, chất lượng lỗ thấp. Chuyển động chạy dao chậm năng suất thấp, chất lượng cao.

    IV. Tiến trình khoan.

    Khoan 3 lỗ với 3 kích thước và độ sâu khác nhau.

    lỗ 1 : D = 5 , H = 5

    lỗ 2 : D = 10 , xuyên thủng

    lỗ 3 : D = 8 , H = 10

    Vị trí 3 lỗ :

    Các bước tiến hành tiện :

    + Bước 1 : Sử dụng thước cặp  đo và đánh dấu vị trí các lỗ  trên phôi .

    + Bước 2 :

    –  lắp mũi khoan vào đầu khoan, gá chặt phôi vào bệ gá êtto

    – Điều chỉnh mũi khoan vào đúng vị trí cần khoan . ( hạ mũi khoan thấp xuống ướm thử cho tâm mũi khoan đúng vào tâm của lỗ cần gia công. khi đã điều chỉnh tâm mũi khoan vào đúng tâm của lỗ thì khoá các chuyển động tịnh tiến ngang của hộp tốc độ, chuyển động quay quanh trụ của cần ngang lại để đảm bảo cho tâm mũi khoan không bị xê dịch khi khoan.)

    + Bước 3 :

    – Bật máy điều chỉnh mũi khoan đi xuống để đạt chiều sâu của lỗ khoan ( có thể điều chỉnh bằng tay hoặc bằng tự động )

    VD : Khoan lỗ 1

    – Sau khi khoan xong lỗ thứ nhất thì tắt máy, thay mũi khoan khác cách khoan tương tự như mũi khoan thứ nhất.

     

     

    Bài 6 : Máy hàn điện

    Công nghệ hàn hồ quang

    I. Máy hàn điện

      1. Giới thiệu chung

    – Máy hàn là 1 dạng của máy biến thế biến đổi điện áp nguồn ( 220 V ) xuống điện áp hàn 80 V

    – Dựa trên hiện tượng phóng điện ( chập mạch ) là hiện tượng chuyển động không ngừng của dòng điện từ trong môi trường đã được ion hoá giữa hai điện cực. Ở nơi có hiện tượng phóng điện ( hồ quang ) sinh ra nhiều nhiệt, nhiệt lượng này để đốt cho vật hàn nóng chảy.

    + Phân loại :

    – Theo nguồn điện vào : máy hàn một chiều

    máy hàn xoay chiều

      2. Cấu tạo

    1. Phôi
    2. que hàn
    3. cuộn thứ cấp ( cuộn ra )
    4. lá thép
    5. cuộn sơ cấp ( cuộn vào )
    6. cầu dao nguồn

    – Dây quấn và lõi thép : Trong máy có các trụ quấn các cuộn dây đồng,và các lá thép

    – Núm : điều chỉnh cường độ dòng điện hàn để phù hợp với vật liệu hàn và đường kính que hàn ( núm có khả năng điều chỉnh được nhờ thay đổi điện trở của 1 biến trở bên trong máy )

    đầu ra của máy hàn : cực (- ) kẹp vào chi tiết hàn, cực (+) có tay kẹp que hàn .

    – Trong máy có cơ cấu giảm cường độ dòng ngắn mạch giúp tăng tuổi thọ cho máy hàn.

    – Ngoài ra còn có các dụng cụ đi kèm với máy hàn như : mặt nạ bảo hộ, kính bảo hộ, găng tay ,..

    Mặt nạ để bảo vệ da mặt và mắt khỏi tia tử ngoại ( hại da ) và tia hồng ngoại ( hại mắt ) của hồ quang đồng thời để chắn các tia lửa từ que hàn và vật hàn bắn ra .

    bao tay :bảo vệ tránh các tia lửa hàn bắn vào tay ..

    II. Dòng điện hàn

    – Điện thế không tải Uo đủ lớn để gây ra hồ quang nhưng phải không gây nguy hiểm khi sử dụng .

    Với dòng xoay chiều : Uo = 55 ÷ 80 V

    Với dòng một chiều :   Uo = 35 ÷ 55 V

    – Khi có tải ( hồ quang cháy ) điện thế hạ xuống tương ứng :

    Dòng xoay chiều : Uh = 25 ÷ 40 V

    Dòng một chiều :  Uh = 15 ÷ 25 V

    – Cường độ dòng điện hàn phụ thuộc vào đường kính que hàn vật liệu chi tiết hàn .

    Ih = ( a + b.d ).d                           ( A )

    d : đường kính que hàn

    – Công thức kinh nghiệm cho mối hàn sấp, thép cacbon.

    Ih = ( 20 + 6.d ).d

    III. Que hàn

    + Lõi que  d = ( 1 ÷ 12 mm ) tuỳ theo công dụng của que hàn và thành phần hoá học  của vật liệu cần hàn. Lõi que hàn có thể được làm từ các vật liệu khác nhau như thép, gang, đồng, nhôm,…

    + Lớp thuốc :

    – Lớp thuốc bọc loại mỏng (chừng vài phần mười mm ) : dn ≤ 1,2d lớp thuốc bọc loại mỏng dùng để làm tăng tính ổn định của hồ quang. Thành phần gồm có đá vôi, fenpat, bột tan.. ( 80 ÷ 85 % khối lượng ), và thuỷ tinh lỏng ( 15 ÷ 20 % khối lượng ). Lớp thuốc bọc loại này dùng để hàn các cấu trúc không quan trọng. Mối hàn bằng que hàn này có cơ tính kém.

    – Lớp thuốc bọc loại dày : dn ≥ 1,55d  làm tăng tính ổn định của hồ quang và tạo quanh h quang 1 lớp khí và xỉ để bảo vệ kim loại không bị ôxy hoá và không bị tác dụng của khí Nitơ. Trong trường hợp cần thiết ngời ta cho thêm vào lớp thuốc bọc những thành phần hợp kim ( các phero hợp kim ) nững thành phần này sẽ tham gia trong thành phần mối hàn và nâng cao cơ tính của mối hàn. Thành phần của lớp bọc này gồm có các chất ion hoá ( phấn), chất tạo xỉ ( cao lanh ), chất tạo khí ( tinh bột ), chất khử ôxy  (nhôm, fero, mangan…) các hợp kim và chất dính.

    IV. Tiến trình hàn

    Có 4 loại liên kết hàn :

    1. hàn giáp mối
    1. hàn góc
    1. Hàn chữ T
    1. hàn chồng

    Các bước tiến hành

    + Bước 1 : chuẩn bị

    – Kiểm tra que hàn, kiểm tra vật liệu hàn, để tính ra dòng điện hàn và điều chỉnh trên máy hàn.

    – Vệ sinh vị trí hàn ( dùng chổi sắt quét sạch gỉ sắt bụi bẩn ở vị trí hàn )

    – Định vị chi tiết hàn.

    – Cực dương ( tay hàn ) kẹp que hàn, cực âm cho tiếp xúc với chi tiết hàn ( tiếp mát ). Khi kẹp tránh kẹp vào phần thuốc để đảm bảo cho mạch điện hàn là mạch khép kín.

    + Bước 2 : lấy lửa

    Có 2 cách lấy lửa để tạo hồ quang :

    – Mổ cò : mổ nhẹ nhàng vào chi tiết để gây ra hồ quang.

    Vị trí mổ :

    1. Vị trí mổ
    2. đầu mối hàn
    3. que hàn

    Sau khi lấy được hồ quang thì dê tay về vị trí đầu mối hàn.

    – Quẹt diêm : quẹt đầu que hàn vào vị trí đầu mối hàn quẹt dọc theo vết hàn để lấy lửa. Khi có hồ quang thì lại dê tay về đầu của mối hàn.

    1. Chiều quẹt diêm
    2. Chiều dê que hàn về vị trí đầu mối hàn
    3. Que hàn

    – Lấy lửa bằng cách quẹt diêm dễ hơn bằng cách mổ cò nhưng dễ gây ra khuyết tật trên sản phẩm. Chỉ lấy lửa bằng cách quẹt diêm khi que hàn bị ẩm, dòng điện hàn thấp hoặc khi tay nghề của người thợ hàn chưa cao.

    – Góc hàn

    Góc của que hàn hợp với trục Ox  một góc α = (75 ÷ 85˚)

    hợp với trục Oy  một góc β = 90˚

    + Bước 3 : Duy trì và thoát que hàn .

    Để duy trì được dòng hồ quang ổn định và để lấp đầy mối hàn thì que hàn cần có hai chuyển động.

    – Chuyển động Sng để đạt được bề rộng mối hàn 6 ÷ 8 mm

    – Chuyển đông Sd để chạy hết mối hàn

    Có thể đưa que hàn theo 2 cách :

    – Theo đường lò xo ( xoắn ốc )

    – Theo đường rích rắc

    + Thoát que hàn : Khi kết thúc mối hàn không được rút que hàn ra khỏi mối hàn ngay nếu rút que hàn như vậy sẽ làm thổi thủng vết hàn. Để kết thúc mối hàn cần đưa que hàn quay lại một đoạn rồi mới rút que hàn.( Đoạn quay lại này đã được bọc một lớp sỉ bảo vệ ở trên lên không gây ra hiện tượng thổi thủng )

    1. vị trí rút que hàn
    2. điểm cuối của mối hàn

    – Sau khi hàn xong  cần gõ sỉ kiểm tra mối hàn.

    Kết luận chung

    – Qua đợt thực tập cơ sở này bản thân em đã nắm được phần nào kinh nghiệm gia công trên các máy công cụ. Nắm được một số cơ cấu truyền lực, dẫn động, cơ cấu thay đổi tốc độ, ăn khớp…vv. Được làm quen với các thuật ngữ chuyên nghành của người làm cơ khí. Trên máy tiện có mâm cặp ba chấu định tâm, trên máy khoan có bệ gá êtô,…

    – Quá trình thực tập là quá trình cố gắng học tập tìm tòi của các bạn sinh viên, là sự chỉ bảo tận tình của các thầy hướng dẫn. Qua đó thầy và trò hiểu nhau hơn, các bạn sinh viên trong lớp thêm gắn kết.Qua lần thực tập em thấy được những ý tưởng trong sản xuất không chỉ là của những người đi trước mà cả những bạn trong đợt thực tập. Một lần nhìn lại mình để so sánh em cảm thấy mình cần học tập nhiều hơn nữa, rèn luyện nhiều hơn nữa.

    – Đợt thực tập cơ sở ngành này cùng với những kiến thức cơ bản từ các môn học đại cương đã định hướng nội dung, lĩnh vực chuyên ngành sẽ đào tạo để có được sụ chuẩn bị tốt hơn cho môn học sau, tạo niềm say mê khi học. Đợt thực tập là điều kiện để học tiếp và là cần thiết để học tốt các môn học chuyên nghành tiếp theo .

    Sinh viên : Nguyễn Đức Long

    Lớp : CKb – K5

    Trường : ĐH Lương Thế Vinh


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:QUI HOẠCH CÁC CƠ SỞ LOGISTICS KINH DOANH THƯƠNG MẠI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-LOGISTICS-VI%E1%BB%86T-NAM-KH%C3%94NG-NHANH-C%E1%BA%A2I-TI%E1%BA%BEN-S%E1%BA%BC-CH%E1%BA%ACM-%C4%90%C3%80-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

     

    LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    1.Thực trang và những yêu cầu bức thiết đối với ngành logistics Việt Nam

    Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ, logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Những kiến thức về logistics và các hoạt động logistics mới thâm nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, trước hết và chủ yếu thông qua hoạt động của các công ty vận tải giao nhận nước ngoài và một số người được đào tạo tại nước ngoài.
    Thực tế thì logistics được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, xã hội, quân sự và trong từng lĩnh vực đó mục tiêu, phạm vi hoạt động cũng như tiêu chí đánh giá là hết sức khác nhau. Nhìn từ góc độ vĩ mô, có thể hiểu logistics theo hai cấp độ cơ bản: cấp độ vi mô (trong lĩnh vực quản trị sản xuất của doanh nghiệp) và cấp độ vĩ mô như một ngành kinh tế.
    Trên tầm vĩ mô thì điều quan tâm là xây dựng một mạng lưới logistics đa dạng, uyển chuyển cho phép chuyển tối ưu bộ phận sang tối ưu toàn bộ nhằm mục đích tối ưu hiệu quả của vòng quay tăng trưởng, vòng quay thu mua hàng hoá, sản xuất, phân phối bán hàng, vận tải, tái chế và sử dụng lại các nguồn nguyên vật liệu từ các công ty đơn lẻ đến toàn bộ ngành công nghiệp thông qua sự hợp tác.Như vậy, hoạt động logistics đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, lưu thông, phân phối của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt trong kinh doanh xuất nhập khẩu.Mục tiêu cần đạt được của logistics trên bình diện quốc gia là khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực quốc gia trong các hoạt động vận tải, giao nhận, lưu trữ hàng hoá và những hoạt động khác có liên quan. Để làm được điều này chúng ta cần xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng logistics và một hệ thống các văn bản luật – kinh tế phù hợp điều chỉnh các hoạt động có liên quan đến logistics và dịch vụ logistics, tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự hoạt động và phát triển logistics cũng như dịch vụ logistics.

    Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và mang tên dịch vụ logistics, nhưng doanh nghiệp dịch vụ logistics thực sự thì không nhiều. Nói một cách giản đơn theo nghĩa đen thì những nhà cung cấp dịch vụ logistics trọn gói Door to Door cho hàng hóa xuất nhập khẩu là những người tích hợp hàng loạt các dịch vụ vận tải giao nhận thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu thành một chuỗi liên tục để đảm bảo hàng hóa được vận chuyển Door to Door.

    Ở Việt Nam dịch vụ logistics (giao nhận – kho vận) là chuỗi các hoạt động thương mại từ vận tải, kho bãi, thủ tục xuất nhập cảng, phân phối, lưu thông hàng hóa, chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Theo thống kê năm 2007 thì cả nước có khoảng 900 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng của hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, dịch vụ logistics tại Việt Nam đang có những bước phát triển. Tuy nhiên, các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics, và mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ cho một số công đoạn của chuỗi dịch vụ khổng lồ này. Ngành công nghiệp logistics của Việt Nam hiện vẫn đang ở thời kỳ phôi thai, phần lớn của hệ thống logistics chưa được thực hiện ở một cách thức thống nhất và  quy mô của phần lớn các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn nhỏ, tiềm lực tài chính yếu, nguồn nhân lực còn hạn chế nhiều mặt, thiếu kinh nghiệm thương trường…

                Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại Việt Nam nói chung còn nghèo nàn, qui mô nhỏ, bố trí bất hợp lý. Về tổ chức bộ máy, do vốn và nhân lực ít nên việc tổ chức bộ máy của các doanh nghiệp này rất đơn giản, tính chuyên sâu của các doanh nghiệp trong logistics không có. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có văn phòng đại diện của chính công ty mình đặt tại nước ngoài. Các thông tin từ nước ngoài, công việc phải giải quyết ở nước ngoài của một số công ty lớn hơn đều do hệ thống đại lý thực hiện, cung cấp.Bên cạnh đó hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam bao gồm trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa dược trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container.
    Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm. Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được các máy bay chở hàng quốc tế. Các sân bay quốc tế như TSN, Nội Bài, Đà nẳng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lý logistics thực hiện gom hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang làm. Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, dường không dược thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lực vận tải đường sắt không đựơc vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng lượng hàng hoá lưu thông. Tuy nhiên, đường sắt Việt Nam vẫn đang đồng thời sử dụng 2 loại khổ ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với tải trọng thấp. Chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh (1.630 km) hiện vẫn cần đến 32 tiếng đồng hồ. Và khá nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuống cấp nghiêm trọng.

    Hạn định 2009 mở cửa lĩnh vực logistic không còn xa. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ hàng hải, logistics 100% vốn nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam. Điều này đặt doanh nghiệp Việt Nam trước thách thức cạnh tranh gay gắt trên sân nhà. Áp lực cạnh tranh rất lớn từ việc hội nhập quốc tế, sự lớn mạnh không ngừng của thị trường cũng như những đòi hỏi ngày càng tăng từ phía khách hàng cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp logistic. Một điều đáng buồn nữa là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước tuy quy mô nhỏ, manh mún nhưng lại chưa biết liên kết lại, mà kinh doanh theo kiểu chụp giật, cạnh tranh thiếu lành mạnh, thi nhau hạ giá dịch vụ để giành được hợp đồng. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các doanh nghiệp là dịch vụ vận tải (đường bộ, đường sắt, hàng không); dịch vụ môi giới thuê tàu biển; dịch vụ giao nhận; kho bãi… nhưng do hệ thống giao thông vận tải trên EWEC chưa được cải  thiện và đồng bộ đã làm tăng chi phí, giảm khả năng cạnh tranh. Chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt  động logistics tại các đơn vị còn rất thấp. Đáng ngại hơn, hiện tại các doanh nghiệp logistics tại Đà Nẵng phần lớn là những doanh nghiệp “mua bán phí”, các doanh nghiệp thực sự có tiềm lực về năng lực vận chuyển, thiết bị bốc xếp, kho bãi… chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp Nhà nước. Và chủ yếu là hạ giá thành thuê container, điều này chỉ có các doanh nghiệp trong nước bị thiệt, còn doanh nghiệp nước ngoài là những người chủ tàu sẽ đóng vai trò ngư ông đắc lợi. Một thực tế khác là trong khi các doanh nghiệp của ta còn đang mải “đá nhau” thì các tập đoàn hàng hải lớn trên thế giới như APL, Mitsui OSK, Maerk Logistics, NYK Logistics…, những tập đoàn hùng mạnh với khả năng cạnh tranh lớn, bề dày kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ với hệ thống mạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao, đã và đang từng bước xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước. Ví dụ khi nhà máy Canon ở Quế Võ, Bắc Ninh chào dịch vụ logistics trọn gói vận chuyển phân phối sản phẩm thì NYK Logistics, LOGITEM, MOL Vietnam, Dragon Logistics đều tham gia đấu thầu. Cuối cùng doanh nghiệp thắng là doanh nghiệp chào giá dưới giá thành ở công đoạn chuyên chở bằng xe tải nặng và lấy giá vận tải biển bù lại. Như vậy, các doanh nghiệp không có tàu biển chắc chắn phải chịu thua độc chiêu này.

    Từ những yêu câu bức thiết trên nếu Logistics Việt Nam không nhanh cải tiến thì nền kinh tế sẽ chậm đà phát triển ,trở nên lạc hậu so với các nước đang phát triển.

    2.Cơ hội khi gia nhập WTO:

    Gia nhập WTO, áp lực với cạnh tranh trong ngành logistics của Việt Nam ngày một cao hơn. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ hàng hải, logistics 100% vốn nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam.

    Mặc dù còn thực hiện theo lộ trình nhưng ngành logistics của Việt Nam đã thực sự gia nhập WTO, một tổ chức thiết lập các nguyên tắc và quy tắc nhằm tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển trong thương mại dịch vụ cũng như mở rộng xuất khẩu dịch vụ của các nước này thông qua việc tăng cường khả năng cạnh tranh trong nước. Đó là mục tiêu gia nhập WTO của ngành thương mại dịch vụ và như vậy logistics VN đã có cơ hội lớn hơn để xã hội hóa dịch vụ của mình.

    Thực tế trong thời gian qua, một số doanh nghiệp logistics Việt Nam đã cung cấp dịch vụ logistics ở các nước láng giềng như Lào, Campuchia và phối hợp với bạn hàng nước ngoài để thắng thầu cung cấp dịch vụ logistics từ nước thứ ba quá cảnh Việt Nam đi Trung Quốc, Lào hay Campuchia. Đây thực sự là những sản phẩm dịch vụ đã xuất khẩu và thu ngoại tệ về cho đất nước, cho doanh nghiệp Việt Nam.

    Tiếp cận, hợp tác, liên kết với các bạn hàng nước ngoài một cách bình đẳng, đặc biệt là những bạn hàng thuộc các nước đã có nghề logistics phát triển cao để học hỏi kinh nghiệm về tổ chức, quản lý nghề nghiệp, chính là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp khách hàng nước ngoài ngay trên đất nước mình.

    Và theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận (logistics) sẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp trên 25% GDP cả nước. Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn. Dự báo, đến năm 2010, hàng container qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt từ 3,6-4,2 triệu TEU. Con số này đến năm 2020 chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu TEU.
    Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu, do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển. Theo dự báo của Bộ Thương Mại, trong 10 năm tới kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước sẽ đạt tới 200 tỷ USD. Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam còn khá lớn.

    3.Biện pháp cải tiến:

    Để Logictisc Việt Nam có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì tất cả các cơ quan bộ liên quan nhanh chóng cải tiến và khắc phục những khó khăn mà hiện nay logictisc Việt Nam đang gặp phải.

    – Nhà nước cần phải có chính sách qui định, cụ thể rõ ràng:

    + Nhanh chóng có biện pháp đầu tư, hổ trợ hợp lý để cải tiến đường xá cầu cống, cảng, sân bay, đường bộ, đường sắt, đường sông, kho bãi trang thiết bị, ngân hàng, bảo hiểm…theo một kế hoạch tổng thể, có khả năng tương tác và hỗ trợ qua lại lẫn nhau một cách có hiệu quả nhằm tạo thuận tiện cho việc lưu thông vận chuyển hàng hoá, phát triển Logistics.

    + Đầu tư và nâng cấp hạ tầng giao thông vận tải, khuyến khích vận tải contarner đường sắt, chú trọng đầu tư xây dựng cảng nước sâu trung chuyển khu vực.

    + Khuyến khích Công ty đa quốc gia, các Công ty logistics quốc tế và các nhà cung cấp dịch vụ logistics khác bằng các chính sách ưu đãi để họ vào hoạt động trong khu vực các khuyến khích các hình thức liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp logistics trong và ngoài nước nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng chuỗi cung ứng dịch vụ logistics, đẩy mạnh việc phát triển các khu công nghiệp, khu thương mại tự do như là một phần của chính sách mở rộng cảng nhằm mục tiêu tăng lưu lượng hàng hóa cho cảng và tạo ra dịch vụ giá trị gia tăng để thu hút các trung tâm logistics của các công ty đa quốc gia tham gia  cung ứng.Từ đó tạo ra thêm việc làm và thu nhập cho địa phương, tăng sắc màu cho hoạt động logistics. Để khai thác lợi thế của cảng đầu mối, có kế hoạch đẩy mạnh phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ cho việc khai thác logistics trong tương lai như: đảm bảo kỹ thuật, sửa chữa bảo dưỡng phương tiện vận tải, cung ứng xăng dầu, cứu hộ, ăn nghỉ… trên EWEC.

    + Xây dựng hành lang khung pháp lý mở và chọn lọc đảm bảo tính nhất quán thông thoáng và hợp lý trong các văn bản, quy định liên quan đến lĩnh vực Logistics.

    + Các trường đại học,cao đẳng mở khóa đào tạo dài hạn, ngắn hạn nhằm giải quyết vấn đề thiếu nguồn nhân lực cho ngành logistics.Tuy nhiên để đầu ra nguồn nhân lực này có chất lượng, các công ty cần “bắt tay” với những trường ở địa phương đào tạo ngành này.Ví dụ như có chương trình hỗ trợ sinh viên kiến tập, thực tập về thực tiễn hoạt động theo đặc thù của công ty hoặc có thể đóng góp vật chất và chia sẻ kinh nghiệm nhằm giúp việc  đào tạo có hiệu quả và phù hợp với nền kinh tế thị trường

    – Tìm kiếm nguồn tài trợ trong nước và quốc tế cho các chương trình đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nước. Phối hợp và tranh thủ hợp tác với các tổ chức FIATA, IATA và các tổ chức phi chính phủ khác để có nguồn kinh phí đào tạo thường xuyên hơn. Mặt khác các doanh nghiệp cũng cần phải kết hợp chặt chẻ với hiệp hội, thông báo với hiệp hội nhu cầu đào tạo nhân lực của mình để hiệp hội có hướng giải quyết.

    – Thị trường logistics Việt Nam đang ở trong giai đoạn cực kỳ phân tán và manh mún. Các nhà cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam chỉ thuần tuỳ hoạt động trong một số phạm vi hẹp và truyền thống như vận tải, giao nhận hoặc kho bãi mà thiếu một tư duy chiều sâu. Đã đến lúc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cần ngồi lại với nhau cùng hợp tác và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói. Điều này giúp họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con người và hệ thống thông tin- đây là hai thế mạnh rất nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài. Cùng với xu hướng cổ phần hoá mạnh mẽ các doanh nghiệp nhà nước đã tạo đà cho khả năng hợp tác liên kết chiến lược trở lên rất khả thi. Gần đây đã có nhiều công ty đi theo mô hình này mà cụ thể là giữa các công ty dịch vụ cảng, kho bãi và vận chuyển. Song việc liên kết hợp tác không chỉ là việc 1+1 mà là một quá trình tích hợp điểm mạnh và loại bỏ điểm yếu, quá trình ấy đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện việc tái lập đến tận gốc dễ quy trình kinh doanh cố hữu của mình và hơn hết, họ cần một đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp đảm bảo việc tích hợp thành công .
    Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm của nhiều nước đã đi trước để xây dựng một hệ tiêu chuẩn hướng dẫn cho doanh nghiệp mà ở đây vai trò của nhà nước và hiệp hội, mà cụ thể là hiệp hội logistics là cực kỳ cần thiết.
    Đầu tư và xây dựng lại hệ thống thông tin mới để hỗ trợ cho chuỗi cung ứng.

    –  Xác định chuỗi cung ứng là một trong những lợi thế cạnh tranh.

    –  Nâng cao sự cộng tác (collaboration) với các đối tác trong chuỗi cung ứng.

    – Phải nâng cao uy tín và niềm tin với các vị trí khác trong chuỗi cung ứng, trong đó quan trọng nhất là giữ uy tín với người tiêu dùng, và giá phải rẻ.

    – Phát huy thế mạnh và giảm dần các thế yếu, từ từ sẽ nâng cao giá trị, tích lũy nhiều kinh nghiệm để ngày càng trở thành một vị trí khó có thể thay thế.

    – Phải khắc phục các điểm yếu như: không bám sát thị trường nên chậm giảm giá dù giá thị trường nơi tiêu thụ đã giảm. Yếu về tầm nhìn xa nên sản phẩm còn thiếu độ tin cậy, bị lỗi, bị vướng về các quy định tiêu chuẩn hàng hóa quốc tế như về quan hệ lao động, về bảo vệ môi trường, về vệ sinh an toàn thực phẩm…

     

     

    4. Kết Luận:

    Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và bao gồm cả vận chuyển các tài nguyên – yếu tố đầu vào và đầu ra từ nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
    Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối. Phân phối giống như mạch máu của nền kinh tế. Nắm được hệ thống phân phối chính là nắm được phần thắng trong tay. Và logistics là một mắt xích quan trọng trong hệ thống phân phối ấy. Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả họat động logistics sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước.
    Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài tóan đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả. Logistics có thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…logistics còn giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
    Hiện đối với các doanh ngiệp Việt Nam, chi phí cho giao nhận kho vận còn chiếm tới 20% giá thành sản phẩm; trong khi tỷ lệ này ở các nước phát triển chỉ vào khoảng 8 – 12%. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp nước ngoài vốn đã rất mạnh.

    Logistics là hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia.Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết tới sự cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp.logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết tới sự cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/L%C3%9D-LU%E1%BA%ACN-HI%E1%BB%86N-%C4%90%E1%BA%A0I-V%E1%BB%80-LOGISTIC-V%C3%80-CHU%E1%BB%96I-CUNG-%E1%BB%A8NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    Kể từ khi được phát hiện vào những năm 1980 đến nay, việc phát triển rộng rãi các hoạt động kinh doanh logistics và việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về logistics đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm.

    Cho đến nay, người ta đã có những cách nhìn nhận toàn diện hơn, sâu sắc hơn và nhất là logic hơn về lý luận, cơ sở khoa học của logistics, đã xuất hiện những nghiên cứu nhằm xây dựng những cơ sở lý thuyết của logistics như một môn khoa học (xem Introduction to Logistics Engineering – nhiều tác giả, London, New York 2008).

    Ngày nay, người ta nhận thấy vai trò của logistics rất lớn, không chỉ trong kinh tế mà còn đối với các tổ chức, trong đó có các công ty, do vậy đòi hỏi phải có cách nhìn nhận tổng quát hơn về logistics.

    Trong thế kỉ XXI, trên thế giới, logistics được nhìn nhận như là một phần của công tác quản trị, và có bốn (4) phân ngành sau:

    Logistics trong kinh doanh (business logistics– thường gọi chung là logistics)

    Logistics trong quân sự (military logistics): hoạch định, hợp nhất mọi phương diện của sự hỗ trợ cho khả năng tác chiến của quân đội (trong việc triển khai quân hoặc đóng quân) và các thiết bị quân sự đảm bảo sẵn sàng, tin cậy và hiệu quả. Nhiều tài liệu nêu hoạt động của đường mòn Hồ Chí Minh như là một điển hình của công tác logistics trong cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước của Việt Nam , mà các tài liệu đó gọi là chiến tranh Việt nam ( xem Introduction to Logistics Engineering -sđd).

    Logistics sự kiện (event logistics): một mạng gồm các hoạt động, phương tiện và con người cần thiết để tổ chức, lập kế hoạch và triển khai các nguồn lực trên cho một sự kiện diễn ra và kết thúc một cách hiệu quả.

    Logistics dịch vụ (service logistics) : cung cấp, lên kế hoạch và quản trị các phương tiện/vốn liếng, nhân lực và vật tư để hỗ trợ hoặc đảm bảo cho một tác nghiệp dịch vụ hoặc kinh doanh.

    (xem Langley/Coyle/Gibson/Novack/Bardi – Managing Supply Chains – A Logistics Approach xuất bản lần thứ 8, năm 2008, SOUTH-WESTERN, CENGAGE Learning, giáo trình dùng cho sinh viên tại Úc, Braxin, Nhật, Hàn quốc, Mexico, Singapore, Tây ban nha, Liên hiệp Anh, và Mị)

    Trong bài này chúng tôi chỉ xem xét logistics kinh doanh, thường gọi là logistics.

    Logistics và các hoạt động logistics trong kinh doanh

    Nghiên cứu về logistics là nghiên cứu về việc quản trị các dòng hàng hóa, vật tư, thiết bị, sản phẩm, tài chính… trong điều kiện cụ thể. Để có thể nắm bắt được nhu cầu, cũng như cách thức giành được thị phần trong thị trường cung ứng dịch vụ logistics, xác định khả năng sinh lời, chúng ta cần xem xét những quan niệm về logistics hiện đại ra sao.

    Logistics là gì? Nếu như trước đó, người ta chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu tổ chức vận chuyển và phân phối sản phẩm (outbound) thì nay người ta phải kết hợp đồng thời nghiên cứu luôn cả dòng vật tư, nguyên vật liệu trang biết bị… cho đầu vào (inbound). Chính sự kết hợp này trong một chương trình quản trị đã tạo ra logistics. Chúng ta xem hình vẽ sau:

    Hình vẽ trên mô tả logistics trong một công ty.

    Nếu như trước 1980 người ta chưa kết hợp giữa hai phần inbound và out bound thì khi hợp nhất vào một chương trình quản trị chúng ta có một hệ thống logistics.

    Như vậy, bản chất của logistics là quản lý các dòng vật tư (đầu vào) và sản phẩm (đầu ra) của một đơn vị sản xuất kinh doanh. Ngoài hai dòng logistics trên, có thể còn tồn tại một dòng thứ ba là dòng tái sử dụng. Dòng tái sử dụng này thường là vật chứa hàng dùng lại (vỏ chai bia..), hoặc các công cụ mang hàng (palet, container..).

    Một điều hết sức lưu ý là trong một chuỗi logistics (như trong hình vẽ trên) chúng ta thấy vận tải tham gia vào mọi dòng, nhưng vận tải là đối tác của logistics, chứ không phải là một thành phần của logistics, vì khái niệm vận tải trong một chuỗi hoạt động logistics là

    cụ thể, chứ không phải là vận tải chung chung. Trong chiến lược phát triển logistics người ta hết sức quan tâm tới việc chọn lựa đối tác vận chuyển.

    Hiện nay, vẫn tồn tại nhiều định nghĩa về logistics, chúng tôi chỉ giới thiệu một định nghĩa tổng quát về logistics:

    Logistics là một quá trình tiên lượng nhu cầu và yêu cầu cuả khách hàng; lo liệu vốn, vật tư, nhân lực, công nghệ và thông tin cần thiết để có thể làm theo nhu cầu và yêu cầu của khách hàng; tối ưu hóa mạng lưới hàng hóa , dịch vụ làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng; và tận dụng mạng lưới này làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng đúng hẹn.

    Định nghĩa tổng quát này có thể dùng chung cho cả 4 nhóm logistics nói trên, chỉ khác đối tượng phục vụ.

    Tóm tại, nếu như trước kia người ta chỉ quan tâm đến việc lưu thông phân phối sản phẩm hàng hóa, thì logistics đề cập cả việc sản xuất hình thành hàng hóa qua việc cung ứng vật tư kĩ thuật, lao động, thông tin,… để làm ra sản phẩm hàng hóa đó, và nhất là điểm bắt đầu và kết thúc của quá trình logistics là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.

    Ngày nay người ta công nhận logistics là ngành dịch vụ tạo ra giá trị gia tăng, nhiều nghiên cứu xem xét cơ sở tạo ra giá trị gia tăng của nó.

    Chúng ta biết rằng, giá trị của sản phẩm do các yếu tố sau tạo nên: việc hình thành (làm ra) sản phẩm, số lượng tiền vốn bỏ vào sản phẩm và tiện ích địa điểm, tiện ích thời gian. Như vậy hiện nay phần giá trị của hàng hóa (thông qua giá cả) có 2 yếu tố là thời gian và địa điểm trao đổi (thực hiện hàng hóa) được xem xét.

    Logistics đóng góp phần giá trị gia tăng của mình vào sản phẩm thông qua các yếu tố hình thành nên sản phẩm, tiện ích địa điểm và thời gian.

    Việc tạo ra tiện ích địa điểm và thời gian của sản phẩm là khá rõ ràng, cần xem xét thêm logistics đã tham gia vào việc hình thành sản phẩm (làm ra sản phẩm) của logistics như sau:

    Hiện nay, không phải mọi sản phẩm đều được làm ra toàn bộ tại một nhà máy, mà sản phẩm được hình thành từ nhiều nhà máy và nó được hoàn thành tại một nơi cuối cùng mà thôi. Thí dụ, một máy tính của hãng Dell có thể được lắp ráp tại Malaysia trên cơ sở nhập rất nhiều bộ phận, thí dụ màn hình (monitor), bàn phím từ Hongkong, phần cứng từ Đài Loan.., sau đó mới được chuyển về Mĩ để hoàn thiện và cài đặt phần mềm, hoàn thành sản phẩm giao cho khách hàng. Quá trình sản xuất như vậy đòi hỏi có sự tham gia của logistics.

    Việc quản lý logistics là hết sức cần thiết đối với các nhà sản xuất, cung ứng, thậm chí trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, thế giới đã trở nên phẳng hơn, nó trở thành vấn đề tồn tại hay không không tồn tại đối với các công ty. Các hoạt động logistics đưa lại nhiều dịch vụ cho các nhà cung ứng dịch vụ logistics. Đây là điều mà những người làm vận tải và các dịch vụ liên quan hết sức quan tâm.

    Yêu cầu căn bản của logistics là tính toàn hệ thống, hay còn thể hiện qua quan niệm về giá thành toàn bộ. Nghĩa là toàn bộ các hoạt động logistics phải được gắn kết chặt chẽ thành một tổng thể, với giá thành tổng cho toàn tổng thể đó, chứ không xét riêng rẽ, độc lập. Điều này hết sức quan trọng vì thông thường có nhiều đơn vị khác nhau tham gia vào từng hoạt động của chuỗi logistics. Do vậy, khi xem xét riêng từng hoạt động, chúng ta cần lưu ý tính hệ thống này. Trong thực tế, chúng ta cung ứng một dịch vụ nào đó, thí dụ cho thuê kho bảo quản hàng hóa cụ thể của một chuỗi cung ứng (logistics) nào đó, chúng ta sẽ phải chấp nhận những điều kiện của chuỗi (hệ thống) đó.

    Các hoạt động chính mà logistics phải quản trị bao gồm: Dịch vụ khách hàng/Dự báo nhu cầu/Quản lý dự trữ /Liên lạc logistics/Mua sắm vật tư/Xử lý đơn hàng/Đóng gói/Dịch vụ hậu mãi (bảo hành, cung cấp phụ tùng..)/Lựa chọn kho/Lưu kho bãi, bảo quản hàng

    hóa/Quản lý vận tải và theo dõi hành trình hàng hóa vật tư…

    Ngoài ra, một số tài liệu còn giới thiệu thêm một số công việc như: Tìm kiếm các nhà cung ứng và vật tư quan trọng cho dài hạn (procurement), logistics hàng trả lại và phế liệu.. (reverse logistics).. (xem Jame R. Stock & Douglas M. Lambert – Strategic Logistics Management, Nxb McGraw Hill International Edition, tái bản lần thứ 4, 2001)

    Chuỗi cung ứng

    Khái niệm về chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX, nghĩa là có trước khi bắt đầu xuất hiện khái niệm logistics (business logistics). Khi đó, chuỗi cung ứng là đơn lẻ, nhưng khi người ta kết hợp cả việc cung ứng vật tư, kĩ thuật, nguyên vật liệu.. với việc phân phối sản phẩm, việc xây dựng các chuỗi cung ứng mang một bộ mặt khác, nó là một phần không thể thiếu được khi nghiên cứu, áp dụng logistics.

    Chuỗi cung ứng có thể hình dung như một đường ống hoặc một cái máng dùng cho dòng chảy của sản phẩm/vật tư, dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung ứng qua nhiều tổ chức, công ty trung gian cho đến tận người tiêu dùng.

    Như vậy một chuỗi cung ứng sẽ bao gồm các đơn vị tham gia với những dịch vụ logistics cụ thể.

    Khi logistics ra đời và phát triển ở nhiều công ty – mà dạng đơn giản nhất của logistics là sự sát nhập cung ứng vật tư (inbound logistics) vào phân phối sản phẩm (outbound logistics), cùng với quan điểm giá thành tổng thể, quan điểm chuỗi giá trị cũng được đưa vào xem xét. Quan niệm này đặc biệt quan trọng trong quản trị logistics.

    Những năm 90 của thế kỉ XX, với sự phát triển của logistics, các chuỗi cung ứng hiện đại hình thành và phát triển mạnh ở nhiều công ty.

    Một chuỗi cung ứng hợp nhất hiện nay có thể mô tả theo như hình vẽ dưới đây.

    Hình vẽ – chuỗi cung ứng hợp nhất.

    Theo hình vẽ trên, một chuỗi cung ứng hợp nhất nối liền từ người cung cấp đến người bán lẻ-người tiêu dùng thông qua một loạt các đơn vị liên quan như nhà phân phối, người sản xuất (nhà máy), người bán buôn, nhằm quản trị ba dòng là: sản phẩm dịch vụ (hàng hóa lưu thông), thông tin liên quan và cả về mặt tài chính.

    Hiện nay, việc thiết kế và áp dụng các chuỗi cung ứng cụ thể là những đối tượng của nghiên cứu và ứng dụng. Trong việc thiết kế chuỗi cung ứng, ngoài việc thiết lập lộ trình cụ thể của hàng hóa dịch vụ cần cung ứng, người ta phải thiết lập những mối liên hệ chi tiết giữa các đơn vị tham gia vào chuỗi để việc cung ứng phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, trong đó việc giao đúng hẹn (in time) là hết sức quan trọng.

    Việc tính toán, xác định chi phí toàn bộ cho sản phẩm qua chuỗi cũng là những vấn đề mấu chốt của quản trị chuỗi, vì lợi ích mà logistics đem lại là nhờ một phần vào việc này. Để làm được những việc trên cần phải theo dõi và quản lý thông tin trên toàn chuỗi một cách hệ thống.

    Đo lường kết quả thực hiện và phân tích tài chính của chuỗi cung ứng là những việc làm hết sức quan trọng trong quản trị chuỗi, và lập chiến lược, kế hoạch của chuỗi.

    Người ta có thể tiến hành đo lường công việc của chuỗi cung ứng thông qua những chỉ tiêu thuộc 4 nhóm sau: thời gian, chất lượng, giá thành và bổ trợ khác. Có thể chi tiết như sau:

    Thời gian: Giao- nhận hàng đúng hẹn (có thể tính bằng %)/Thời gian xử lý một đơn hàng (quay vòng)/Sự biến động thời gian xử lý một đơn hang/Thời gian đáp ứng/Thời gian quay vòng theo dự kiến- kế hoạch.

    Chất lượng: Sự thỏa mãn hoàn toàn của khách hang/Tác nghiệp chính xác/Hoàn thành đơn hang/Làm đúng với lịch trình.

    Giá thành: Quay vòng dự trữ thành phẩm/Thanh toán chậm/Chi phí phục vụ/Thời gian chu kì xuất tiền-thu tiền (liên quan đến dòng tiền – cash flow- của chuỗi)/Tổng chi phí giao hàng /Chi phí khác.

    Chỉ tiêu khác-bổ trợ:Tiêu chuẩn loại bỏ đơn hàng/Khả năng thông tin.

    Trên đây là một số tiêu chí được Hiệp hội quản trị chuỗi cung ứng Mỹ chấp nhận

    Hiện nay người ta đang đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề thuộc các lĩnh vực lớn là:

    Về tài chính, người ta cũng dựa vào nguyên lý toàn hệ thống – giá thành toàn bộ của logistics để tính toán và phân tích. Tiêu chí để có thể ra quyết định cho chuỗi cung ứng về mặt tài chính là dựa trên chỉ tiêu hoàn vốn. Lượng hoàn vốn được tính bằng số vốn bỏ ra cộng với lãi phát sinh. Tỉ suất lợi nhuận tính được sẽ cho thấy quyết định làm được hay không. Mặt khác, khi đánh giá hoạt động của chuỗi, người ta cũng căn cứ theo những tiêu chí này. Đồng thời, người ta cũng phân tích ảnh hưởng của chuỗi cung ứng đối với doanh số bán hàng, sự cân đối tài chính (qua bảng cân đối – balance sheet),.. và xây dựng các mô hình lợi nhuận chiến lược của chuỗi cung ứng của các công ty.

    Xác định hệ thống tốt nhất, hạn chế tối đa số lỗi có thể xảy ra trong quá trình vận hành hệ thống logistics và chuỗi cung ứng, tức là xây dựng hệ thống tối ưu, đồng thời nghiên cứu thiết kế mạng lưới (địa điểm cung ứng, kho hàng, đối tác vận tải..) tốt nhất.

    Các vấn đề liên quan đến công nghệ logistics, chuỗi cung ứng. Đó là các vấn đề quản trị yêu cầu và dịch vụ khách hàng, quản trị vận tải với tư cách là đối tác, các quyết định về dự trữ hàng hóa, vật tư, lưu kho- bảo quản hàng hóa,…

    Việc áp dụng các phương pháp toán vào nghiên cứu và áp dụng đã nâng cao tính khoa học của ngành logistics, đã có những kết quả như việc xác định lộ trình (đường đi) tối ưu, xác định dự trữ tối ưu, phương pháp six-sigma áp dụng trong logistics…

    Trên đây là một số vấn đề cơ bản được giới thiệu một cách khái quát hy vọng có thể giúp bạn đọc có thêm những thông tin tổng quát, và xu hướng nghiên cứu và giảng dạy logistics.

    Theo Giaonhanvantai.vn


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ DỰ TRỮ VÀ MUA HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%90%C3%93NG-G%C3%93I-H%C3%80NG-H%C3%93A-TRONG-HO%E1%BA%A0T-%C4%90%E1%BB%98NG-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    A. Mở đầu:

    Ngày nay, thuật ngữ logistics được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế như một ngành mang lại nhiều nguồn lợi to lớn. Theo Luật Thương mại Việt Nam, logistics là một hoạt động thương mại do các thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho bãi, làm thủ tục hải quan và các loại giấy tờ, tư vấn khách hàng, đóng gói, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa để hưởng phí thù lao.Như vậy hoạt động đóng gói cũng là một bộ phận một công đoạn của quá trình logistics.

    Theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận (logistics) sẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp tới 15% GDP cả nước. Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn. Dự báo, đến năm 2010, hàng container qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt từ 3,6-4,2 triệu TEU. Con số này đến năm 2020 chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu TEU.
    Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu, do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển. Từ thực tế này cho thấy công đoạn đóng gói trong cả quá trình logistics lại càng có thêm cơ hội phát triển.Phát triển cả về thu nhập lẫn sự gia tăng nguồn nhân lực.

    Công đoạn đóng gói hiện nay được thực hiện chủ yếu ở Việt Nam bằng việc gia công trực tiếp của công nhân đồng thời với sự giám sát của hoạt động quản trị logistics. Như ta đã biết với lợi thế đường bờ biển dài Việt Nam có khá nhiều cảng biển lớn như Đà Nẵng, Hải Phòng, Vũng Tàu, Cam Ranh…do đó lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển là rất lớn.Và thực hiện trên một qui trình cụ thể.  Vì vậy công đoạn đóng gói cho hàng hóa vận chuyển bằng đường biển chiếm phần lớn bên cạnh việc đóng gói cho các loại hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không, đường bộ và đường sắt. Dù hàng hóa sau khi được đóng gói vận chuyển bằng phương tiện gì đi chăng nữa thì công đoạn đóng gói luôn được chú trọng sao cho hàng hóa an toàn nhất, và giữ được chất lượng tốt nhất  cho đến khi đến tận tay của khách hàng. Do đó đóng gói là một mắt xích cực kỳ quan trọng trong chuỗi cung ứng hàng hóa ngày càng phát triển như hiện nay. Do vậy tiềm năng phát triển của công đoạn này cả về hình thức tổ chức, thực hiện qui trình, và thu hút nguồn nhân lực dự báo sẽ rất lớn trong tương lai tới.

    Ở bài luận này chúng tôi chỉ nghiên cứu một cách sơ lược những thực trạng đang diển ra hiện nay trong các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện như thế nào cho công đoạn đóng gói. Đồng thời cung cấp những qui trình cụ thể về công đoạn đóng gói đối với từng loại mặt hàng khác nhau. Bên cạnh đó là vấn đề nguồn nhân lực hiện nay ở Việt Nam như thế nào khi các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện công đoạn đóng gói. Nhằm có thể tìm ra được một hướng đi về cơ hội việc  làm trong tương lai.

    B. Nội dung:

    I. Cái nhìn tổng quan về đóng gói hàng hóa:

    1. Thực trạng của khâu đóng gói hàng hóa trong ngành logistics tại Việt Nam:

    Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực logistics với một thị phần vô cùng nhỏ bé. Với tổng số các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics là 800-900 doanh nghiệp. Và đa phần chỉ là những doanh nghiệp vừa và nhỏ với trang thiết bị chủ yếu còn cũ kỹ.Và việc đáp ững nhu cầu về logistics chỉ mới ¼ nhu cầu logistics trong nước và còn lại là sự nhúng tay của các doanh nghiệp nước ngoài vào lĩnh vực này. Cùng với thực tế đó công đoạn đóng gói hàng hóa mà chủ yếu là đóng gói hàng hóa cho vận tải bằng đường biển để xuất khẩu,và còn lại là đóng gói để vận tải bằng đường bộ,và đường hàng không. Thì việc đáp ứng nhu cầu cho công đoạn đóng gói nhìn chung các doanh nghiệp không thể với tay tới hết được. Thị trường trong nước còn vô cùng dồi dào nhưng các doanh nghiệp Việt Nam lại không thể khai thác hết được toàn bộ thị trường này. Một sự thật vô cùng trớ trêu diển ra  hiện nay ở thị trường Việt Nam là: Nhân công lao động của Việt Nam trực tiếp hoạt động trong công đoạn đóng gói cho doanh  nghiệp nước ngoài để nhận tiền công, thì bên cạnh đó sự cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam làm cho giá thành rẻ hơn thì theo đó giá công nhân công mà doanh nghiệp Việt trả cho nhận công thấp hơn doanh nghiệp nước ngoài vì vậy xảy ra hiện tượng thiếu lực lượng lao động trong công đoạn này ở công đoạn đóng gói. Gà nhà đá nhau các doanh nghiệp Việt Nam thi nhau hạ giá thành dich vụ thì những thương nhân nước ngoài hưởng lợi doanh nghiệp nước ngoài cùng cạnh tranh trong lĩnh vực thì vô tình lại đớp được miếng mồi ngon này.

    Nói như vậy không có nghĩa là doanh nghiệp Việt Nam không có lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp nước ngoài về công đoạn này. Chúng ta với lợi thế về sân nhà việc di chuyển trang thiết bị dễ dàng, nguồn nguyên liệu mà các doanh nghiệp Việt tìm được trong việc thiết kế và dán nhãn bao bì rõ ràng sẽ dễ dàng và giá thành sản phẩm sẽ rẻ hơn. Đồng thời với nguồn nhân lực với chuyên  môn ngày càng được nâng cao tay nghề, để áp dụng máy móc trong công đoạn đóng gói thì đó là một thế mạnh cạnh tranh không nhỏ trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời trình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam ngày càng được nâng cao hơn, trình độ đại học, cao đẳng tham gia vào hoạt động này càng nhiều. Đó là một tiền đề quan trong để các doanh nghiệp Việt Nam tăng lợi thế cạnh tranh và chiếm được nhiều thị phần hơn không những ở thị trong nước mà còn ở thị trường nước ngoài.

    Như vậy đóng gói hàng hóa ngày nay không chỉ còn là một công đoạn nhỏ mà nó ngày càng trở thành một hiện tượng công việc mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại. Tầm quan trọng của đóng gói hàng hóa rõ ràng rất lớn. Như vậy tầm quan trọng của đóng gói hàng hóa như thế nào?

    1. Tầm quan trọng của đóng gói hàng hóa:

    Không phải lúc nào bạn cũng có thể nói về một cuốn sách nhờ vào bìa sách. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi bạn không còn nhận ra một thương hiệu quen thuộc thông qua bao bì của nó. Thật sự sẽ là một nghịch cảnh nếu như hàng hóa được sản xuất không được đóng gói . Công đoạn đóng gói trở thành một vấn đề vô cùng quan trong trong cả quá trình sản xuất và kinh doanh. Nó chính là bức thông điệp mà nhà cung ứng muốn gửi tới khách hàng.Và ngược lại bao bì được đóng gói là một tín hiệu để khách hàng nhận ra doang nghiệp và khẳng định chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp. Do đó đóng gói góp một tác dụng không nhỏ trong việc marketing của doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại dịch vụ mà chủ yếu là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa, chuyển phát nhanh. Không những thế đóng gói  góp phần quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa an toàn tới tận tay của khách hàng.

    – Tầm quan trọng của đóng gói hàng hóa trong marketing sản phẩm, và quảng bá thương hiệu doanh nghiệp: các doanh nghiệp sản xuất dùng bào bì để đóng gói hàng hóa của họ, trên đó có ghi thành phần tạo nên hàng hóa, và chất lượng hàng hóa. Đồng thời họ cũng dùng bao bì này để quảng cáo cho chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp tạo ra. Khách hàng khi nhìn thấy hàng hóa được đóng gói cẩn thận cũng có thiện cảm thì sẽ nảy sinh hành động mua hàng. Một thực tế chứng minh rằng có nhiều khách hàng mua hàng hóa tuy chua hẳn đã hiểu hết được chất lượng của hàng hóa nhưng chỉ vì bao bì đẹp, được đóng gói cẩn thận nên dẫn đến việc mua hàng. Do đó việc thiết kế bao bì để đóng gói hàng hóa là một công việc cực kỳ quan trọng. Bỡi thế Pepsico đã không ngần ngại bỏ ra hơn 35 triệu USD cũng chỉ để thuê Armen group thiết kế lại hộp đựng Tropicana Pure Premium.Còn đối với các doanh nghiệp dịch vụ nhận hàng để đóng gói sau đó vận chuyển thì đóng gói lại là vấn đề ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng dịch vụ. Nhờ việc đóng gói mà những doanh nghiệp như interlink, hay vinatrans ngày càng khẳng định thương hiệu của mình trong lĩnh vực logistics. Do đó việc thiết kế mẫu mã bao bì để đóng gói không những ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa mà nó còn là một nền tảng quan trọng để nâng tầm cao thương hiệu của doanh nghiệp.

    -Tầm quan trọng của đóng gói trong quá trình vận chuyển hàng hóa: hàng hóa trước khi vận chuyển cần phải được đóng gói bỡi lẽ nó sẽ giúp cho việc giữ an toàn hàng hóa trong quá trình vận chuyển. Khi vận chuyển, hàng hóa sẽ chịu tác động của lực xóc làm cho hàng hóa có thể bị hư hỏng do đó việc đóng gói hàng hóa theo những qui trình và cách thức phù hợp sẽ giúp cho hàng hóa giảm thiểu được tình trạng này. Ngoài ra việc vận chuyển đòi hỏi sẽ mất một lượng thời gian nhất định, những mặt hàng như nông sản thực phẩm sẽ chịu tác động của quá trình tác dụng hóa học làm cho hàng hóa không còn giữ được chất lượng tốt như ban đầu vì vậy việc đóng gói hàng hóa góp phần giúp cho hàng hóa tránh được một phần sự biến đổi hóa học này. Đảm bảo quá trình chu chuyển hàng hóa được thực hiện một cách tốt nhất và giữ chất lượng tốt nhất trước khi đến tay của khách hàng.

    II. Hoạt động đóng gói trong các doanh nghiệp:

    1. Hình thức tổ chức:

    *Qui trình đóng gói:

    Việc đóng gói phải tuân theo những qui trình như thế nào thì còn tùy thuộc vào từng loại hàng hóa mà doanh nghiệp đó kinh doanh. Viêc nhập hay xuất xưởng của từng loại hàng hóa cụ thể phải tuân theo những qui trình chuyên biệc. Do đó qui trình đóng gói là không giống nhau ở các doanh nghiệp khác nhau. Chẳng hạn như các doanh nghiệp sản xuất đồ thủy tinh thì phải chờ đợi thủy tinh hạ nhiệt độ trong một khoảng thời gian nhất định mới tiến hàng đóng gói, các doanh nghiệp đóng gói những hàng hóa đã sản xuất sẳn đóng gói sau đó vận chuyển thì yêu cầu phải kiểm tra chất lượng hàng hóa trước khi đóng gói, hay một ví dụ điển hình nữa đó là việc đóng gói đồ hộp phải có quá trình bảo ôn sản  phẩm đồ hộp bỡi lẽ việc sản xuất đồ hộp phải bảo ôn thì mới có thể được ổn định về mặt phẩm chất. Sau khi các doanh nghiệp  bảo ôn hay kiểm tra chất lượng hàng hóa thì lúc đó hàng hóa được đưa vào đóng gói. Tuy cách đóng gói của từng loại hàng hóa là khác nhau nhưng nhìn chung cũng đều phải tuân theo nhưng qui trình cơ bản:

    – Dán nhãn: các hộp, chai, lọ được đưa vào dán nhãn phải sạch, kín không nứt nẻ nếu phát hiện các hộp chai lọ nào bẩn cần phải được đem rửa sạch ngay. Rồi sau đó mới dán nhãn.

    -Đóng thùng: sau khi hàng hóa được dán nhãn phải đem hàng hóa đóng thùng việc đóng thùng hàng hóa phải tuân theo nguyên tắc là đem lại sự an toàn cao nhất cho hàng hóa trong quá trình vận chuyển.Thông thường các doanh nghiệp dùng thùng carton hoặc thùng gỗ để đóng thùng. Nếu dùng thùng carton thì phải là thùng chắc chắn và là giấy dày để tránh việc rách thùng trong cả quá trình vân chuyển. Nếu là thùng gỗ thì gỗ phải sạch, nhẹ để đảm bảo dễ dàng cho việc bốc xếp, và đặc biệt là không mục nát.

    *Máy móc trang thiết bị dùng cho hoạt động đóng gói:

    Trong thời kỳ đầu của những năm 90 thế kỷ 20 khi kỹ thuật còn kém phát triển việc đóng gói hàng hóa không được chú trọng nhiều do đó nên việc đóng gói chủ yếu là thực hiện trên việc gia công. Ngày nay khi logistics ngày càng phát triển, tốc độ chu chuyển hàng hóa ngày càng nhanh thì bên cạnh đó việc đóng gói cũng đang dần được hiện đại hóa. Nhiều doanh nghiệp sản xuất đồ hộp đã dùng máy in chữ để in trực tiếp trên hộp sản phẩm nhằm tiết kiệm được nhiều nhất thời gian dán nhãn và công suất làm việc cao hơn. Đảm bảo số lượng hàng hóa được đưa vào vận chuyển tới tay khách hàng một cách nhanh và nhiều hơn. Tương tự như vây hiện nay trên thị trường cũng đã có “máy đóng gói túi trà dạng kép” cho các doanh nghiệp sản xuất trà trong nước với nhiều tính năng ưu việt. Không sử dụng bất cứ một ghim kẹp kim loại, chất phụ gia hoặc vật liệu độc hại nào khác, máy này cố định nếp gấp đỉnh túi bằng hai nếp gấp liên tiếp tạo bởi cùng một sợi chỉ nối (không có chỉ phụ). Đặc điểm tiên tiến này giúp máy có thể cạnh tranh một cách hiệu quả cho yêu cầu của thị trường mới.Dưới đây là hình ảnh máy túi trà dạng kép:

    MÁY ĐÓNG GÓI TÚI TRÀ DẠNG KÉP

    Nhìn chung việc đóng gói hiện nay đang dần được phát triển lên một tầm cao mới và việc đóng gói chủ yếu dựa vào nhân công lao động làm bằng tay được thay thế bằng máy móc hiện đại hơn.

    *Nhân lực trong hoạt động đóng gói: tốc độ phát triển của nền kinh tế ngày càng nhanh, thêm vào đó là sự hoan thiện vượt bậc về cơ sở vật chất kỹ thuật đã làm cho vấn đề nguồn nhân công có sự thay đổi. Vấn đề chính ở đây không phải là nguồn nhân công rẻ mà phải là nguồn nhân công có tay nghề và trình độ chuyên môn cao. Tuy rằng các doanh nghiệp hoạt động trong công đoạn nhìn chung lực lượng nhân công có tay nghề và trình độ chuyên môn cao vẫn còn thiếu. Nhưng việc thay đổi dần cung cách quản lý đã làm cho trình trạng này dần được thay đổi.

    1. Mục đích trực tiếp:

    Việc đóng gói cho hàng hóa dùng để xuất khẩu và đóng gói hàng hóa trong kinh doanh nội địa nhìn chung là có khác nhau. Vậy sự khác nhau của việc đóng gói dùng cho hai mục đích này là gì?

    – Đóng gói dùng cho hoạt động xuất khẩu: yêu cầu hàng hóa được đóng gói phải đảm bảo chắc chắn trong cả quá trình vận chuyển dài. Do đó yêu câu của việc đóng gói hàng hóa để xuất khẩu luôn khắc khe hơn. Vật liệu dùng để đóng gói thường đắt hơn. Trong kinh doanh xuất khẩu nếu việc đóng gói không đảm bảo chất lượng dẫn đến làm mất chất lượng hàng hóa và dẫn đến mất lòng tin của đối tác cho doanh nghiệp. Một ví dụ điển hình cho vấn đề này thể hiện ở các doanh nghiệp xuất khẩu chè của Việt Nam sang Pakistan” Thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Pakistan cho biết, theo những nhà nhập khẩu nước này, bao giấy kraft thường bị rách, ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng chè, đặc biệt là đối với chè xuất khẩu sang Pakistan để tái xuất đi Apganistan. Việc sử dụng bao bì phù hợp, đảm bảo không bị rách vỡ trong quá trình vận chuyển lưu thông đường bộ cần phải được lưu ý.”

    – Đóng gói hàng hóa trong kinh doanh nội địa: trong kinh doanh nội địa hàng hóa sau khi được đóng gói vận chuyển với đoạn đường ngắn hơn trong kinh doanh xuất khẩu, do đó việc đóng gói không nhất thiết phải yêu cầu khắt khe như kinh doanh hàng hóa xuất khẩu. Nhưng đối với những loại hàng hóa trong kinh doanh nội địa việc đóng gói cũng phải tuân theo một qui trình và chất lượng đã được định sẳn. Bỡi lẽ việc đóng gói không nằm ngoài mục đích đảm bảo an toàn cho hàng hóa trước khi đến tay khách hàng và giữ được chất lượng tốt nhất.

    II. Cách đóng gói cho các mặt hàng cụ thể:

    1. Đóng gói hàng điện tử:

    Máy tính xách tay, máy in, điện thoại, màn hình …

    Sử dụng chất liệu đệm là Mút, xốp, Bọt Mềm.

    Bọt mềm là những tấm lót đặc biệt như polyetylen (PE), polyuretan (PU), và polypropylen (PP) có những đặc tính đệm có nhiều tác động.

    Những miếng bọt này bảo vệ các mặt hàng dễ vỡ khỏi va chạm và ảnh hưởng trong các điều kiện xử lý gói hàng bình thường và duy trì mức độ bảo vệ này trong toàn bộ quá trình phân phối.

    Những bọt này được thiết kế đặc biệt và được sản xuất trước phù hợp với

    Các kích thước và trọng lượng sản phẩm

     

    Đóng gói hàng điện tử

     

     

     

    1. Cách đóng gói đối với các mặt hàng làm bằng chất liệu thủy tinh, dễ vỡ : nước hoa, bóng đèn gốm, sứ, tượng.

    Chất liệu là bọt khí cuộn kín sản phẩm. Các bọt khí này có chức năng đàn hồi chống va đập. Giấy gói bubble ô lớn.

    Giấy gói Bubble ô lớn là vật liệu gói được làm từ các bóng khí cao 1/2 inch (1,27 cm) giữa hai tấm nilon khi chúng được gắn vào nhau. Quá trình gắn này cho phép nilon xốp tạo đệm để tránh va chạm.

    Giấy gói bubble ô lớn có khả năng đệm, và có thể được gói ngoài hầu hết các sản phẩm, không kể hình dạng hoặc kích thước.

    Khi sử dụng giấy gói bubble ô lớn, dùng vài lớp để đảm bảo toàn bộ sản phẩm được đệm, và đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ các góc và cạnh. Khi gói nhiều hàng hoá, bọc riêng từng mặt hàng. Những mặt hàng dễ vỡ cần phải đặt cách nhau và cách các góc, các cạnh, mặt trên và mặt dưới thùng.

    Mỗi mặt hàng cần được bọc bằng tấm bọt có kích thước ít nhất là hai inch (5,08 cm) và đặt cách vách thùng hai inch (5,08 cm). Điều này sẽ giúp cho các sản phẩm không bị hư hỏng do va chạm vào nhau và bảo vệ sản phẩm không bị rung do lực truyền vào từ ngoài thùng. Sử dụng đủ tấm bọt để bảo đảm không di

    chuyển mặt hàng bên trong khi lắc thùng.

    Đóng gói hàng thủy tinh dễ vỡ

    1. Cách đóng gói đối với các bình chai lọ chưa chất lỏng: phải được bịt kín không cho chất lỏng chảy ra ngoài dù bị dộc ngược. Nếu nhiều chai lọ để trong một thùng phải được ngăn cách bởi vách ngăn hoặc dùng các vật liệu có độ đàn hồi chèn kín giữa các khoản trống để không cho xê dịch sản phẩm. Các vật liệu chèn như: tấm bọt khí, mút, xốp, hạt nở …

    Cách đóng gói cho chai lọ chứa chất lỏng:

    1. Cách đóng gói đối với các vật phẩm cuộn tròn: Tranh vẽ, bản đồ …: Được cuộn tròn và cho vào ống nước bằng nhựa hoặc bọc bởi giấy có độ giai rồi cho vào hộp giấy.
    2. Cách đóng gói cho các vật còn lại: Chọn hộp chứa hàng vận chuyển đúng kích thước hàng hoá của bạn hoặc dùng vật liệu gói hàng bên trong phù hợp để giữ cho các mặt hàng không di chuyển bên trong gói hàng. Dùng các vật liệu không bị xẹp do trọng lượng của các mặt hàng nặng. Ví dụ: giấy gói hàng loại dày được lót chặt có thể dùng để lấp những khoảng trống trong hộp chứa hàng vận chuyển.

    Đóng gói đối với các vật còn lại

    III. Hình thức đóng gói để tăng độ an toàn cho các loại hàng hóa:

    1. Hộp kép:

    Đóng hộp kép hoặc đóng nhiều hộp là một phương pháp hiệu quả để bảo vệ các mặt hàng dễ vỡ ở những nơi mà việc đóng gói không phù hợp để vận chuyển qua các hãng vận tải như UPS sử dụng hệ thống phân phối thủ công và tự động.

    Đảm bảo gói hàng ban đầu ở tình trạng tốt và nguyên vẹn. Nên thay thế hoặc sửa chữa các miếng bọt bị nứt hoặc gãy. Đảm bảo rằng mặt hàng không thể di chuyển trong gói hàng ban đầu.

    Chọn một hộp chứa hàng vận chuyển mới có độ bền được khuyến nghị lớn hơn ít nhất 6 inch (15,24 cm) so với kích thước của thùng ban đầu. Lót xuống đáy của hộp chứa hàng vận chuyển mới bằng hai hoặc ba inch (5,08 cm đến 7,62 cm) vật liệu ép lỏng (đối với hàng hoá có khối lượng lên đến 10 lbs/ 4,54 kg), giấy gói bubble (đối với hàng hoá có khối lượng lên đến 50 lbs/22,68kg), bọt phủ, tấm phủ polyetylen hoặc các vật liệu lót khác.

    Đặt thùng của nhà sản xuất ban đầu ở trên vật liệu lót và ở giữa hộp chứa hàng vận chuyển và đặt tấm lót xung quanh năm cạnh còn lại. Dán kín các nắp hộp bằng vật liệu và phương pháp được khuyên dùng.

    1. Cách đóng hộp:

     Dán kín nắp hộp chứa hàng vận chuyển bằng sáu dải băng giấy gói hàng kích hoạt. Sử dụng băng dính loại 60ls rộng ít nhất ba inch (72mm) với băng dính nhựa. Với hộp chứa hàng có rãnh đều (RSC) trong đó các nắp giao nhau ở giữa, dán ba dải băng dính từ mặt trên đến mặt đáy của thùng, như vậy đường nối phần giữa và hai cạnh sẽ được gắn lại. Với hộp chứa hàng gấp nếp trong đó các nắp chồng lên nhau (FOL), dán ba dải băng dính từ mặt trên đến mặt đáy của thùng, như vậy đường ba cạnh sẽ được gắn lại. Không dùng băng phủ, băng giấy bóng kính (văn phòng), băng dạng ống, dây hoặc giấy bọc ngoài.

    1. Cách đặt nhãn vận chuyển:

    Dán nhãn vận chuyển vào đỉnh của gói hàng. Để tránh nhầm lẫn, đảm bảo chỉ ghi một địa chỉ trên gói hàng. Nếu bạn sử dụng phiếu giao hàng, dán phiếu lên cùng bề mặt như nhãn địa chỉ.

    Không dán nhãn lên đường nối hoặc chỗ đóng hộp hoặc trên phần đầu băng dính.

    Loại bỏ nhãn hoặc vết đánh dấu cũ trên thùng đã sử dụng.

    Dán nhãn tương tự hoặc mẫu nhận dạng khác vào trong gói hàng của bạn.

    Nhãn hàng đi trong nước phải có các thông tin sau: Tên người nhận, địa chỉ rõ ràng (số nhà, tên đường, tổ, ấp, phường, xã, quận, huyện, thành phố, tỉnh), điện thoại người nhận.

    Đối với lô hàng quốc tế, cũng cần cung cấp tên liên lạc, số điện thoại và mã bưu điện.

    IV. Yêu cầu về nhân lực của hoạt động đóng gói hiện nay, và cơ hội việc làm cho sinh viên khi mới ra trường hoạt động trong lĩnh vực này:

    Sự phát triển của logistics ngày càng nhanh thì theo đó yêu cầu về nhân lực hoạt động trong công đoạn đóng gói cũng càng cao hơn. Việc áp dụng trang thiết bị khoa học kỹ thuật khiến cho công đoạn đóng gói được tiến hành một cách nhanh chóng, đem lại hiệu quả lớn. Thì nhân lực lao động không còn là vấn đề giá rẻ mà phải là có tay nghề vững và biết kiểm soát máy móc. Do đó đội ngũ quản lý cũng cần phải được cải thiện về trình độ. Vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm là làm sao có được đội ngũ lao động thật sự biết cách làm việc và gắn bó tâm huyết với nghề. Do đó nhìn chung nước ta có số người trong độ tuổi lao động là khá đông hơn 40 triệu người nhưng nhìn chung việc thiếu lao động hoạt động trong công đoạn đóng gói vẫn đang diển ra do yêu cầu về nhân lực ngày càng cao hơn.

    Vì vậy cơ hội cho sinh viên hoạt động trong ngành logistics nói chung và trong công đoạn đóng gói nói riêng là rất lớn. Xuất phát từ thực trạng trên việc sinh viên khi mới ra trường tìm được cho mình một chỗ đứng cũng là một vấn đề đơn giản nếu rằng chúng ta thật sự có được một nền tảng kiến thức chắc chắn nhằm để đáp áp dụng vào thực tế một cách linh hoạt hơn.

    C. Kết thúc:

    Ngày nay đóng gói hàng hóa không chỉ đơn thuần là “mặc cho hàng hóa một chiếc áo” mà nó còn đóng góp một phần quan trong trong việc kinh doanh và sản xuất bỡi lẽ ngoài tác dụng làm cho hàng hóa được đẹp mắt hơn trong con mắt của người tiêu dùng mà nó còn góp một phần quan trong trọng việc bảo vệ sản phẩm trong quá trình vận chuyển. Đóng gói đã trở thành một công việc kinh doanh mà nhiều doanh nghiệp có thể khai thác và kiếm được lợi nhuận từ công việc này. Khi xã hội phát triển thì yêu cầu về nhân lực hoạt động trong ngành cũng ngày càng cao hơn. Việc tham gia của đội ngũ lao động có trình độ tay nghề và chuyên môn cao sẽ làm cho công đoạn đóng gói dần được trở thành một công đoạn mang tính chuyên môn hóa sâu sắc. Từ đó sẽ làm cho hiệu quả lao động được cao hơn.

    Người quản trị logistics cũng cần phải thấy rõ được rằng trong tương lai không xa công đoạn đóng gói sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế và đòi hỏi phải có một lực lượng lao động đông có tay nghề vững vàng. Do đó người quản trị logistics cũng cần phải có một động thái và phương sách phù hợp để kịp thích nghi với sự thay đổi này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Chuỗi cung ứng Logistics

    Tiểu luận Chuỗi cung ứng Logistics

    Tiểu luận Chuỗi cung ứng Logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Dịch vụ Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Chu%E1%BB%97i-cung-%E1%BB%A9ng-Logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Chuỗi cung ứng Logistics

                BÀI LUẬN CHUỖI CUNG ỨNG LOGISTICS

                ĐỀ TÀI: BAO BÌ

    A. Phần mở đầu

    I.Tổng quan về chuỗi cung ứng logistics
    Logistics là nghệ thuật và khoa học của quản lý và điều chỉnh luồng di chuyển của hàng hoá, năng lượng, thông tin và những luồng dịch vụ khác như sản phẩm, dịch vụ và con người, từ nguồn lực sản xuất cho đến thi trường. Thật là khó khi hoàn thành việc tiếp thị hay sản xuất mà không có sự hỗ trợ của logistics. Nó thể hiện sự hợp nhất của thông tin liên lạc, vận tải, tồn kho, lưu trữ, giao nhận nguyên vât liệu, bao bì đóng gói. Trách nhiệm vận hành của hoạt động logistics là việc tái định vị(theo mục tiêu địa lý) của nguyên vật liệu thô, của công việc trong toàn quá trình, và tồn kho theo yêu cầu chi phí tối thiểu có thể.
    Vậy logistics là gì?
    Từ những tiên đề trên ta có thể hiểu định nghĩa của logistics đơn giản như là thời gian liên quan đến việc định vị các nguồn lực. Vì vậy, logistics nhìn chung được coi như một nhánh của quá trình tạo ra một hệ thống liên quan đến nguồn lực con người hơn là hệ thống về máy móc.
    Điều này rất quan trọng, nó chỉ rõ nguồn lực tập trung là con người với vai trò vừa là đối tượng, vừa là công cụ tác động, vừa là chủ thể của quá trình.
    Vậy còn cơ sở của logistics thì sao? Từ khái niệm trên logistics có thể được hiểu như là việc có được số lượng cần thiết ở đúng thời điểm và với chi phí phù hợp. Nó là nghệ thuật, là một quá trình khoa học. Nó phối hợp tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, quản lý vòng đời dự án, chuỗi cung cấp và hiệu quả.

    Logistics có khái niệm bắt nguồn từ nhu cầu quân sự trong việc cung cấp cho chính họ trong quá trình di chuyển của các đoàn quâ từ căn cứ ra tiền tuyến.
    Trong thời kì Hi Lạp cổ đại, đế chế Roman và Byzantine, đã có những sỹ quan với mác “logistikas” là người chị trách nhiệm đến các vấn đề về tài chính cũng như cung cấp phân phối.
    Còn theo định nghĩa của Oxford thì logistics được hiểu là một nhánh của khoa học quân sự liên quan đến việc tiến hành, duy trì và vận chuyển phương tiện thiết bị và nhân sự .
    Còn logistics có khái niệm liên quan đến kinh doanh bắt nguồn từ những năm 1950. Điều này chủ yếu là do sự gia tăng trong việc cung cấp, vận chuyển trong một thế giới toàn cầu hoá đòi hỏi phải có những nhà chuyên gia trong lĩnh vực này.

    II.Giới thiệu sơ lược về bao bì trong chuỗi cung ứng logistics

    Bao bì hàng hoá đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, phân phối và tiếp thị sản phẩm ra thị trường. Ngày nay, bao bì không để trình bày, mô tả, quảng cáo cho sản phẩm hay đơn thuần là vật bảo quản, chứa đựng sản phẩm mà bao bì còn đảm nhận vai trò như công một cụ tiếp thị cho sản phẩm, là hình ảnh tượng trưng cho sản phẩm và có vai trò quan trọng trong việc quyết định mua hàng của khách hàng tiềm năng
    1. Khái niệm và chức năng của bao bì
    a. khái niệm:
    Bao bì là phương tiện đi theo hàng để bảo quản, bảo vệ, vận chuyển và giới thiệu hàng hoá từ sản xuất đến tiêu dùng.
     b. Chức năng:
    Có 2 chức năng chính:
    – Chức năng maketing (bao bì tiêu dùng / bao bì bên trong ) : có vai trò chính là thúc đẩy quá trình bán hàng, đảm bảo tryuền tin maketing cho khách hàng về hàng hoá và về doanh nghiệp.
    Bao bì là hình ảnh riêng về sản phẩm giúp cho người tiêu dùng dễ nhận biết, lựa chọn trong vô số loại hàng hoá có giá trị sử dụng giống nhau hoặc gần nhau. Thông qua các hình thức trang trí trên bao bì, người ta hướng dẫn người mua sử dụng, người bảo quản về cách thức bảo vệ sản phẩm khỏi hư hỏng, cách tháo mở bao bì, và lắp đặt sản phẩm.
    – Chức năng logistics (bao bì công nghiệp/bao bì bên ngoài):bao bì gắn liền với toàn bộ quá trình logistics trong kênh phân phối và trong hệ thống logistics doanh nghiệp.Bao bì hổ trợ cho quá trình mua, bán, vận chuyển và dư trữ, bảo quản sản phẩm, nguyên liệu, hàng hoá.
    Bao bì xuất hiện với tư cách là đồ vật để chứa đựng, bọc giữ hàng hoá đóng gói bên trong chống hư hỏng mất mát.Vì vậy, chức năng bảo quản, bảo vệ hàng hoá của bao bì là chức năng quan trọng đầu tiên vẫn giữ nguyên ý nghĩa à giá trị của nó.

    1. Mục đích của bao bì

      Nhiều mặt hàng cần các bao bì bảo vệ, đặc biệt khi di chuyển, đặc biệt là những hàng  ỏng manh như đồ điện tử hoặc đồ sứ. Đôi khi bao bì có thể bảo vệ khỏi các tác động của môi trường như nắng hoặc mưa, đôi khi cần phải tách các hàng hoá không được di chuyển chung như đường và dầu, hoặc đôi khi phải bảo quản cho sạch sẽ như thực phẩm và dược phẩm.

     

    B. Nội dung:

    I.Các gói hàng chuẩn:
             Việc tập trung hàng hoá vào các kiện hàng chuẩn được gọi là tập hợp hàng thành đơn vị vận chuyển.Rõ ràng là dễ dàng hơn trong việc di chuy ển các đơn vị vận chuyển so với việc di chuyển các kiện hàng có qui mô và kích cỡ khác nhau. Nếu một công ty luôn  sử dụng các đơn vị vận chuyển chuẩn, thì nó có thể thiết đạt tất cả các thiết  bị chuyển hàng tham gia vào việc di chuy ển h àng ho á m ột c ách c ó hi ệu qu ả. Đó là lí do vì sao mà việc di chuyển hàng trong siêu thị với hàng hoá các kích cỡ khác nhau nhưng được đặt trong các xe đẩy tay chuẩn được di chuyển chỉ bằng xe tải.Việc xếp tất cả hàng hoá vào trong các container nên công ty chỉ di chuyển các container thay vì di chuyển các hàng hoá riêng lẻ lích kích.
    Một lợi ích khác của kiện hàng chuẩn là chúng có thể tăng tầng suất kho hàng.
    Do vậy một trong những lợi ích rõ ràng của việc bao gói là nó làm cho việc di chuyển hàng dễ dàng hơn. Đó là lí do vì sao khi đi du lịch bạn lại xếp quần áo vào va li thay vì mang chung riêng lẻ. Nhưng còn có những lí do khác liên quan đến việc sử dụng các bao gói đúng kích cỡ
         II.Các yêu cầu đối với bao bì:
    Tuỳ thuộc vào tính chất của hàng hoá  và quá trình vận động của chúng mà có rất nhiều loại bao bì khác nhau. Nhưng để thực hiện chức năng logistics của mình, bao bì hàng hoá phải đảm bảo những yêu cầu sau:
    + Gĩư gìn nguyên vẹn về số lượng và chất lượng sản phẩm
    + Tạo điều kiện thuận lợi cho việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, tiêu dùng sản phẩm, góp phần nâng cao năng suất lao động
    + Tạo điều kiện để sử dụng triệt để diện tích và dung tích nhà kho
    + Tạo điều kiện để đảm bảo an toàn lao động, và bảo vệ sức khoẻ cho nhân viên làm công tác giao nhận, vận chuyển, xếp dỡ, bảo quản.
    + Đảm bảo chi phi hợp lí.
              1. Yêu cầu đối với các nhà xuất khẩu về bao bì:

    Đối với hàng hoá xuất khẩu, chức năng vận chuyển, bảo quản của bao bì rất quan trọng. Đặc biệt nếu hàng hoá trải qua một chặng đường khá dài để đến tay người tiêu dùng cuối cùngểơ thị trường mục tiêu. Do vậy, các nhà xuất khẩu cần lưu ý các tính năng sau đây của bao bì trong quá trình vận chuyển, bảo quản:

    * Phù hợp với loại hình vận chuyển( tàu biể, máy bay, xe tải, hàng rời, hàng container…)
    * Có kích thước phù hợp để dễ dàng trong việc lưu kho bãi, trên những pallet hoặc trong container
    * Đáp ứng được yêu cầu vè độ bền, dẻo dai để chịu được sự va chạm, kéo, đẩy trong quá trình lưu trữ, bốc xếp và vận chuyển đường biển, đường hàng không cũng như đường bộ
    * Phù hợp với việc thay đổi khí hậu, thời tiết ở các châu lục khác nhau
    * Dảm bảo tính năng bảo vệ sản phẩm của bao bì để không làm sản phẩm  bị biến mùi, ẩm mốc, hư hỏng.
    * Thể hiện rõ những yêu cầu cần lưu ý trong quá trình xếp hàng, vận chuyển, bốc xếp,…trên bao bì.

    Nhà xuất khẩu cần kiểm tra bao bì trước khi tiến hành đóng gói. Tuỳ từng trường hợp cụ thể, nhà xuất khẩu có thể kiểm tra các tính năng sau đây:

    – Độ bền cơ học
    – Độ bền kéo dứt
    – Độ trong suốt
    – Độ bền va đập
    – Tính năng cản hơi nước
    – Độ bền với nước
    – Tính ngăn cản oxy
    – Độ chịu nhiệt
    – Tính giữ mùi
    – Độ chịu ánh sáng
    – Tính an toàn cho trẻ em và người già
    – Tính tiện dùng

    Đặt biệt các nhà xuất khẩu cần biết rõ các yêu cầu pháp lý (mang tính bắt buộc) và yêu cầu của người mua hàng(phát sinh theo nhu cầu thực tế tại thị trường mục tiêu) liên quan đến bao bì. Các yêu cầu này thường là yêu cầu chung về bao bì hoặc cho từng sản phẩm, nghành hàng cụ thể. Một điều quan trọng nữa là, các doanh nghiệp thường có xu hướng sử dụng chung một loại bao bì đang lưu hành trên thị trường nội địa để xuất khẩu. Nếu không xem xét cẩn trọng, việc này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như: bị khách hàng từ chối lô hàng,  không trả hoặc chậm trả tiền hàng vì khách hàng hoặc chính phủ của nước nhập khẩu bắt buộc nhà xuất khẩu hàng phải khắc phục lỗi dã gây ra, bị đóng phạt, quan trọng hơn là việc này đã làm xấu đi hình ảnh đối với khách hàng.
                  2. Các loại chất liệu được sử dụng làm bao bì và cách ghi kí hiệu trên bao bì gỗ:

    * Hiện nay trên thị trường các doanh nghiệp thường lựa chọn 5 loại chất liệu sau để sử dụng làm bao bì:
    1.Thuỷ tinh: dễ lau chùi, tái sử dụng hoặc tái chế được nhưng dở vỡ, đắt tiền và khó làm.

    1. Nhựa: nhẹ, rẻ, và có thể tái chế nhưng có thể đắt tiền và khó làm hoặc khó sử dụng lại
      3. Thùng giấy: rẻ, có thể tái chế nhưng ít chắc chắn và không bền
      4. Gỗ: chắc chắn, dễ sử dụng và có thể tái sử dụng nhưng nặng, chiếm diện tích và khó chùi rửa.
      5. Kim loại: chắc và bền, nhưng nặng và đắt tiền

       

      Việc lựa chọn các loại vật liệu này phù thuộc vào loại sản phẩm, vào quá trình di chuyển và các điều kiện bảo quản kèm theo. Đây có thể là một quyết định khó, trong việc cân đối giữa nhiều yếu tố. Chẳng hạn, bạn nên sử dụng loại chai nhựa cho một loai sản phẩm lỏng nhưng rõ ràng điều này sẽ không tạo hình ảnh tốt nếu bạn sử dụng cho các loại rượu, một sản phẩm mà thường chứa trong các loại chai thuỷ tinh.
      * Cách ghi kí hiệu trên bao bì gỗ:
      –  XX là mã nước 2 chữ cái theo qui ước của tổ chức ISO
      –  000 là mã số riêng do tổ chức bảo vệ thực vật quốc gia cấp cho cơ sở xử lý gỗ
      – YY hoặc HT hoặc MB
      – Trường hợp được miễn trừ: Các loại bao bì gỗ được miễn thực hiện quy định này : hoàn toàn là gỗ chế tạo( ví dụ: ván ép, gỗ dán), thùng rượu vang và whisky và những miếng gỗ mỏng(dày từ 6mm trở xuống). Bao bì bằng gỗ đến từ Canada được phép vào Hoa Kỳ không cần ký hiệu IPPC, nhưng sẽ được kiểm dịch sâu bọ.
                3. Những quy định liên quan đến bao bì:

      Thông thường  có những quy định liên quan đến bao bì như sau:
      + Quy định chung về bao bì thị trường mục tiêu, bao gồm quy định của khối thị trường chung và từng quốc gia cụ thể
      + Quy định về bao bì cho từng nghành, loại sản phẩm cụ thể( thực phẩm, dược phẩm, hoá chất,…)
      + Quy định về chất liệu sản xuất bao bì xuất khẩu:bao bì được sản xuất từ chất liệu gì? Giấy, nhựa, kim loại, gỗ? Có quy định cho riêng từng loại chất liệu bao bì hay không? Chất liệu này có được chấp nhận tại thị trường mục tiêu hay không? Có chất liệu nào bị hạn chế sử dụng hay không?

    Ví dụ như PVC, nhựa …
    + Các quy định về hình ảnh, màu sắc, kiểu dáng, trọng lượng của bao bì: hình ảnh có phản ánh đúng với sản phẩm chưa đựng bên trong bao bì không? Hình ảnh có mang tính phản bác tín ngưỡng hoặc văn hoá của một bộ phận người tiêu dùng nào đó trên thị trường mục tiêu không?…
    + Các quy định liên quan đến việc ghi kí hiệu, nhãn mác trên sản phẩm như: ngôn ngữ sử dụng, tên sản phẩm, trọng lượng hàng hoá, thành phần/dinh dưỡng, xuất xứ,v.v….
    + Các quy định về môi trường tại thị trường mục tiêu
    +  Các quy định liên quan đến việc truy nguyên nguồn gốc lô hàng khi có sự cố xảy ra …

    Ở các nước đang phát triển, việc tìm hiểu các thông tin như thế này còn rất hạn chế. Nếu nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển chỉ xuất các mặt hàng thô hoặc sản phẩm nguyên liệu,  đóng trong các loại bao đay, bao PP 25kg hoặc 50kg thì yêu cầu về bao bì tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, khi đề cập đến những quy định pháp lý liên quan đế các loại bao bì bằng cotton, đay hoặc bao bì vải, bẳng gỗ thì các nhà xuất khẩu thường tỏ ra lung túng vì không nắm được quy định. Tuy khách hàng có thể là nguồn thông tin rất quan trọng để nhà xuất khẩu hiểu về các quy định của thị trường mục tiêu nhưng việc lệ  thuộc thông tin thường làm nhà xuất khẩu chịu thiệt thòi trước đối tác của mình là khách hàng. Do vậy, trước khi tiến hàng xuất khẩu hàng hóa, một trong những vấn đề ưu tiên mà nhà xuất khẩu cần lưu ý là nắm rõ các quy định về ngành hàng, sản phẩm mà mình cần xuất khẩu.

                4.Liên hệ thực tế về những quy định liên quan đến bao bì trong việc xuất khẩu hàng hoá:

    Theo quy định mới của Mỹ, kể từ ngày 16/9/2005 không cho phép nhập khẩu hàng bao bì bằng một số loại vật liệu đóng gói bằng gỗ, điều này đã làm cho một số doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng sang Mỹ cảm thấy hoang mang khi không biết rõ về quy định mới này.

    Như vậy sau khi tìm hiểu  thông tin này các doanh nghiệp được một toà soạn giải đáp các quy  mới về bao bì đóng gói bằng gỗ của Mỹ như sau:

    Theo Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, quy định mới của Hoa Kỳ không cho phép nhập khẩu hàng có bao bì bằng gỗ (wood packaging materials – WPM) không đúng qui định sẽ có hiệu lực từ ngày 16-9-05.            Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến tất cả các lô hàng có bao bì là WPM như: kệ (pallet), thùng thưa (crate), thùng kín (box), lót (dunnage), khối (block), vật liệu chèn (skid)… nhập khẩu vào Hoa Kỳ vào hoặc sau ngày 16-9-2005.

    Tất cả bao bì gỗ đóng gói hàng nhập khẩu phải được xử lý và ghi ký mã hiệu theo quy định mới này trừ những trường hợp miễn trừ. Bao bì gỗ không thực hiện đúng theo các yêu cầu trên sẽ bị tái xuất cùng với tất cả hàng hoá; không cho phép xử lý hoặc tiêu hủy. Hàng đóng gói bằng kệ (pallet) nhựa, nhưng dùng gỗ không phù hợp để chèn, lót… cũng phải tái xuất.

    Bao bì gỗ không có ký mã hiệu có thể tách khỏi hàng hoá nhập khẩu nếu nhân viên kiểm dịch xác định rằng việc tách đó có thể thực hiện được mà không để phát tán sâu bọ gây hại. Tuy nhiên, một số cảng đã cho biết họ sẽ yêu cầu tái xuất toàn bộ lô hàng vi phạm đóng trong container bởi vì các phương tiện ở cảng không đủ để tránh phát tán sâu bọ, trong khi đó các lô hàng rời sẽ được xem xét từng trường hợp một. Chủ hàng phải nộp cho Cơ quan kiểm dịch phí giám sát tách hàng. Cơ quan kiểm dịch sẽ cho phép tái chế hàng nếu sâu bọ gây hại không xuất phát từ gỗ được khoanh lại bằng bao bì gỗ có ký mã hiệu IPPC.

    Hiện nay, qui định hạn chế nhập khẩu hàng có bao bì bằng gỗ chỉ ảnh hưởng đến hàng hóa nhập từ Trung Quốc và Hong Kong. Quy định này đã phần nào gây khó khăn cho các nhà sản xuất Trung Quốc, vì họ phải tốn thêm chi phí nghiên cứu và đặt sản xuất các loại bao bì mới, hoặc tốn chi phí cho việc thanh trùng và ghi mã hiệu cho bao bì gỗ.

    Những yêu cầu về xử lý và ghi ký mã hiệu: Do Cơ quan kiểm dịch động thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ ban hành cuối năm 2004 theo tiêu chuẩn quốc tế yêu cầu bao bì gỗ gồm:
    * Phải được xử lý nhiệt hoặc hun trùng: Cụ thể, gỗ dùng làm bao bì sử dụng trong thương mại quốc tế hoặc phải được xử lý nhiệt tới nhiệt độ tối thiểu cho gỗ là 56 độ C trong khoảng thời gian tối thiểu là 30 phút hoặc được hun trùng bằng metyl bromua khoảng 16 tiếng.
    * Phải có ký mã hiệu quốc tế xác nhận đã xử lý: Bao bì bằng gỗ phải có ký hiệu logo của Công ước bảo vệ cây trồng quốc tế (IPPC) và mã 2 chữ cái theo qui định của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đối với nước đã xử lý gỗ bao bì. Ký mã hiệu cũng phải bao gồm cả số riêng mà tổ chức bảo vệ thực vật quốc gia cấp cho công ty chịu trách nhiệm đảm bảo WPM được xử lý đúng qui định, cùng với chữ viết tắt HT (heat treatment) hoặc MB (metyl bromua). Không cần phải có giấy chứng nhận xử lý.

    III. Tiêu chuẩn hoá bao bì
            1.Khái niệm và nội dung của tiêu chuẩn hoá bao bì
    Tiêu chuẩn hoá về bao bì là sự quy định thống nhất về các yêu cầu và các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật đối với các loại bao bì nhằm bảo đảm iữu gìn tốt sản phẩm được bao gói và tạo điều kiện thống nhất trong sản xuất, lưu thông, sử dụng, cũng như tiết kiệm nguyên vật liệu bao bì
    * Nội dung chủ yếu của tiêu chuẩn hoá bao bì :
    – Yêu cầu về hình dạng và kích thước bao bì
    – Yêu cầu về chỉ tiêu và thông số kỹ thuật
    – Yêu cầu về ghi nhãn, bao gói, vận chuyển, và phương pháp thử nghiệm
    * Những điển hình về tiêu chuẩn hoá bao bì
    + Mâm tải: có cấu tạo  bằng gỗ hoặc nhựa cứng, có kích thước tuỳ vào loại phương tiện vận tải
    + Thùng tải(Container): là loại thùng chứa hàng dặt biệt, có kích thước được tiêu chuẩn hoá(độ dài
    20ft=6,1m; 40ft=12,2m và 45ft=13,7m).
    Thùng tải có nhiều loại: cố định, không cố định, loại cứng, loại mềm, loại bằng gỗ khung kim loại, loại bằng kim loại, chất dẻo…Có thể phân loại thùng tải chuyên dùng và thùng tải dùng chung.
                2. Tác dụng của tiêu chuẩn hoá bao bì
    + Tạo điều kiện để sản xuất hàng loạt, nâng cao năng sất lao động, hạ giá thành
    + Giảm bớt và đơn giản hoá các thao tác trung gian trong quá trình vận chuyển, rút ngắn thời gian vận chuyển…
    + Đảm bảo an toàn hàng hoá, tránh đổ vỡ, hao hụt, xáo trộn, mất cắp…
    + Là điều kiện quan trọng để chuyên môn hoá dụng cụ tháo mở bao bì

               3.Liên hệ thực tế về tiêu chuẩn hoá bao bì:

    Tiêu chuẩn hóa bao bì không chỉ quan trọng với sức khỏe và độ an toàn, nó cũng đang trở nên quan trọng đối với quản lý sản xuất, chất lượng, sản xuất thân thiện với môi trường và trách nhiệm xã hội.
    Cụ thể là hiện nay trong nghành Bưu chính  đang đặt ra câu hỏi là cần tiêu chuẩn hoá bưu gửi theo tiêu chuẩn nào, có quá khó hay không?

    Theo như nghiên cứu của Học viện công nghệ BCVT, Bưu chính một số nước xác định kích thước tối đa và tối thiểu, sao cho tiêu chuẩn bao bì, kích thước bưu phẩm phù hợp với các loại bưu gửi.

    +Ví dụ: tờ A4 có kích thước là 210x297mm, để chứa các tờ giấy đó mà không gấp thì phong bì phải có kích thước 229x324mm. Họ còn quy định về kích thước phong bì bưu gửi để đóng gói thư từ là các tờ giấy A4 gấp đôi và gấp tư.

    – Đồng thời, tiêu chuẩn giấy cũng được quy định để đảm bảo hai yếu tố là bao bì vừa đủ độ bền, chắc để bảo vệ giấy tờ bên trong, vừa phù hợp với thiết kế của máy chia thư và các thiết bị khác trong dây chuyền xử lý.

    – Tiêu chuẩn phong bì cũng được tính toán kỹ về khối lượng để giảm thiểu cước gửi.

    Đối với bưu kiện, nhiều nước sử dụng bao bì carton gợn sóng và thùng gỗ kín có đục lỗ để chở hoa quả. Quy chuẩn bao bì được giải quyết theo hai loại:

    – Bao bì sử dụng nhiều lần

    – Bao bì bằng carton gợn sóng.

    Trong thực tế, kích cỡ bưu kiện được chuẩn hoá theo hướng càng thiết kế nhiều loại thì chất lượng phục vụ khách hàng sẽ càng tốt hơn, nhưng nếu số lượng tăng nhiều quá khiến cho cấu trúc thiết bị xử lý (khay, máng trượt), và thiết bị bốc dỡ sẽ trở nên phức tạp, do đó cần phải hạn chế số lượng kích thước bao bì ở mức tối thiểu nhất.

    Tổ chức Bưu chính châu Á Thái Bình Dương quy định có 5 kích cỡ cho những bưu kiện gói nhỏ, 4 kích cỡ cho bưu kiện loại vừa, 4 kích cỡ cho bưu kiện loại to, 1 kích cỡ cho loại bưu kiện cực to.

    Từ năm 2003, công ty Bưu chính liên tỉnh và quốc tế (VPS) đã đầu tư hệ thống sản xuất phong bì, song không phải trên toàn mạng bưu chính đều dùng các loại phong bì tiêu chuẩn của VPS, bởi vì chưa có quy định nào bắt buộc khách hàng cũng như Bưu điện tỉnh phải sử dụng phong bì chuẩn để gửi bưu điện.

    “Việc sản xuất phong bì đã được xã hội hoá, do vậy cần phải có một cơ quan quản lý nhà nước về tiêu chuẩn ban hành quy chuẩn về kích cỡ, chất lượng phong bì để bất cứ doanh nghiệp sản xuất lớn, nhỏ nào cũng phải tuân theo”, ông Trần Phương Đông nói.

    Đối với bưu kiện có nhiều khó khăn hơn, Bưu chính nhiều nước họ phát không bao bì bưu kiện cho người gửi, một số nước thì bán cho khách hàng tại các điểm giao dịch, hoặc các điểm cung ứng hàng hoá. Ở Việt Nam, bưu kiện vẫn là dịch vụ bưu chính đang bù lỗ, do đó nếu cung cấp miễn phí bao bì bưu chính sẽ càng lỗ nặng hơn.

    Hiện có nhiều ý kiến cho rằng, cần coi việc cung cấp bao bì bưu kiện phục vụ cho bưu chính, chuyển phát là một lĩnh vực có cạnh tranh, và doanh nghiệp nào có đủ điều kiện sẽ được sản xuất. Song có một vấn đề đặt ra là, doanh nghiệp phải dự báo sản lượng từng loại bưu kiện thế nào để xác định được phương án sản xuất từng loại bao bì.

    Để làm được điều này cần phải đánh giá được nhiều thông số như: mối quan hệ giữa trọng lượng và kích thước bưu kiện, tần số xuất hiện các loại bưu kiện, kết cấu chất liệu bao bì phổ biến, dự báo được nhu cầu sử dụng từng loại bưu kiện. Điều này các nhà cung cấp dịch vụ làm được còn khó, cho nên cách doanh nghiệp ngoài khó chen chân vào lĩnh vực này.

    Một số ý kiến khác cho rằng, trong khi đợi Nhà nước ban hành được hệ thống tiêu chuẩn, để sử dụng hiệu quả hệ thống khai thác, chia chọn tự động, Bưu chính Việt Nam cần chủ động quy định một tiêu chuẩn thống nhất trên toàn mạng lưới. Khi đó, giao dịch viên có căn cứ đề nghị khách hàng sử dụng phong bì, bao bì bưu kiện đúng tiêu chuẩn.
    IV.Nghiên cứu thị trường cho mẫu bao bì mới.
               1.Yếu tố cơ bản để thiết kế thành công một bao bì sản phẩm
    Vai trò của bao bì ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc xây dựng một thương hiệu mạnh và nhất quán. Bao bì không chỉ có tác dụng bảo vệ, mô tả và giới thiệu sản phẩm mà nó còn chứa đựng rất nhiều nhân tố tác động đến khách hàng và việc quyết định lựa chon mua hàng của họ. Để luôn là lựa chọn số một của khách hàng trước những đối thủ cạnh tranh thì đâu là yếu tố chính trong việc xây dựng những yếu tố thành công trong việc thiết kế bao bì ?
    Dựa trên cơ sở những nhân tố tác động đến khách hàng khi lựa chọn và so sánh những sản phẩm cùng loại chúng ta hãy tham khảo 8 yếu tố cơ bản trong việc lựa chọn thiết kế một bao bì đẹp, đó là:

    1.1 Sự phối hợp nhất quán
    Đây là tiêu chuẩn cốt lõi của một bao bì thành công. Sự phối hợp nhất quán là phải thể hiện được một phong cách riêng của thương hiệu sản phẩm. Màu sắc, bố cục, phông nền là những yếu tố giúp cho việc nhận dạng hình ảnh thương hiệu nhanh hơn nhiều lần, và giúp cho khách hàng có thể nhớ được những đặc tính riêng của sản phẩm đó, mặc dù họ có thể mua hàng ở nhiều cửa hàng khác nhau. Một sản phẩm có thể thay đổi màu sắc bao bì theo từng giai đoạn để tạo sự hấp dẫn, nhưng nó phải tuân theo nguyên tắc nhất quán trong việc nhận diện thương hiệu sản phẩm đó

    1.2 Sự ấn tượng
    Khi tặng quà cho một ai đó thì việc gói quà đã thể hiện sự tôn trọng đối với người nhận. Một món quà được gói đẹp và chăm chút trước hết đã gây được một ấn tượng ban đầu tốt đẹp đối với người nhận, cho dù chưa biết món quà bên trong như thế nào. Bao bì của sản phẩm cũng vậy, cách thiết kế và đóng gói bao bì cũng đã thể hiện được một phần của sản phẩm bên trong bao bì. Tính ấn tượng còn đặc biệt có ý nghĩa với những  bao bì cao cấp dành cho những sản phẩm sang trọng. Việc thiết kế bao bì cho những mặt hàng đắt giá đòi hỏi phải có sự chọn lựa kĩ từ chất liệu cho đến màu sắc thiết kế, thông qua đó thể hiện được “đẳng cấp” của người mua.
    1.3 Sự nổi bật
    Trên một kệ trưng bày không chỉ có sản phẩm của chúng ta mà còn có thể có các sản phẩm khác cùng loại của đối thủ cạnh tranh. Vì vậy sự nổi bật là một yếu tố rất quan trọng để tạo ra sự khác biệt. Nhà thiết kế phải hiểu rằng sản phẩm sẽ được người tiêu dùng so sánh, nhận định với hàng loạt những sản phẩm khác với rất nhiều phong cách và màu sắc đa dạng. Và để có thể cạnh tranh được, nhà thiết kế phải làm cách nào để sản phẩm của mình sẽ là điểm nhấn giữa một loạt sản phẩm khác. Muốn làm được điều này đòi hỏi nhà sản xuất đã phải nghiên cứu kĩ thị trường từ bước định vị sản phẩm đầu tiên đến việc xây dựng một hệ thống nhận diện thương hiệu hiệu quả. Khả năng sáng tạo cao cũng sẽ giúp việc thiết kế bao bì tránh được những lối mòn quen thuộc đến nhàm chán của các bao bì ngoài thị trường.

    1.4 Sự hấp dẫn
    Trong một số ngành hàng, đặc biệt trong ngành mỹ phẩm, bao bì phải thể hiện được sự hấp dẫn, lôi cuốn, gây thiện cảm và nhấn mạnh các đặc tính của sản phẩm. Bao bì trong những ngành này có thể được xem như một phần của sản phẩm tạo ra những giá trị cộng thêm cho khách hàng. Sản phẩm được thiết kế dành cho nam giới bao bì phải thể hiện được sự nam tính, khác hẳn với sản phẩm dành cho nữ giới với những đường nét mềm mại quyến rũ.

    1.5 Sự đa dụng
    Bao bì thông thường người ta chỉ nghĩ đến việc đựng sản phẩm và sử dụng xong rồi bỏ,  rất lãng phí. Vì vậy trong cuộc cạnh tranh ngày nay người ta thường tìm cách thêm giá trị sử dụng cho bao bì. Những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt đôi khi sẽ là một lợi thế cạnh tranh lớn của sản phẩm so với các đối thủ khác. Bao bì sữa tắm ngày nay thường có thêm móc để treo trong phòng tắm thuận tiện , hình dáng thon để cầm nắm được dễ dàng. Nắp đậy của của những chai Comfort làm mềm vải  có thêm chức năng làm mức đo lượng sử dụng. Hộp bánh kẹo bằng thiếc rất sang trọng và khi dùng hết có thể sử dụng làm hộp đựng linh tinh.Tất cả những điều này giúp cho sản phẩm trở nên thông dụng và phù hợp hơn trong đời sống hàng ngày của người tiêu dùng

    1.6 Chức năng bảo vệ
    Đã là bao bì thì luôn phải có chức năng bảo vệ sản phẩm bên trong. Tuy nhiên không thiếu những bao bì đã không xem trọng chức năng này. Bao bì phải được thiết kế làm sao bảo vệ được sản phẩm bên trong một cách an toàn nhất. Người ta ưa thích dùng bao bì kín hoặc hút chân không để giúp cho sản phẩm để được lâu hơn. Bao bì dành cho thực phẩm và đồ uống phải đáp ứng được những tiêu chuẩn bắt buộc trong việc bảo đảm chất lượng sản phẩm.

    1.7 Sự hoàn chỉnh

    Yếu tố này giúp cho việc thiết kể kiểu dáng bao bì phù hợp với sản phẩm bên trong của nó và điều kiện sử dụng sản phẩm đó. Bao bì phải thích hợp với việc treo hoặc trưng bày trên kệ bán hàng, có thể dễ dàng để trong hộp carton. Bao bì dành cho thức ăn phải để được vào tủ lạnh vừa vặn và không tốn không gian.. Bút viết dành cho trẻ em phải khác với bút viết dành cho nguời lớn. Bút để kẹp trên áo khác với bút cất trong cặp. Rất nhiều yếu tố mà khách hàng quan tâm cần phải được nhà thiết kế xem xét một cách tỉ mỉ để tạo cho bao bì một sự hoàn thiện tránh mọi khuyết điểm không đáng có. Sẽ có sự lựa chọn nên nhấn mạnh điểm nào giữa sự tiện lợi, sự nổi bật hay sự đa dụng để tạo ra sự hoàn chỉnh cho sản phẩm

     1.8 Sự cảm nhận qua các giác quan
    Một bao bì tốt phải thu hút được sự cảm nhận tốt của người tiêu dùng về sản phẩm thông qua việc nhìn ngắm, săm soi và sờ mó vào sản phẩm. Chúng ta thường ít chú ý đến xúc giác của người tiêu dùng mà thường chỉ nhấn mạnh vào yếu tố bắt mắt. Nhưng xúc giác lại có vai trò quan trọng trong việc cảm nhận về kích cỡ, kết cấu sản phẩm, chất liệu bao bì và từ đó ảnh hưởng đến việc nhận xét chất lượng sản phẩm.  Chúng ta không thể bỏ qua một yếu tố nào trong những  yếu tố trên vì nó sẽ làm mất đi một lợi thế không nhỏ so với đối thủ cạnh tranh. Việc áp dụng những yếu tố này còn đỏi hỏi phải tìm hiểu kĩ nhu cầu và đối tượng khách hàng hướng đến. Xác định được đâu là nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng đối  một sản phẩm và đối với bao bì sản phẩm sẽ giúp cho việc định hướng và thiết kế được nhanh hơn và hiệu quả hơn
     2.Nghiêm cứu thị trường cho mẫu bao bì mớia phát triển bao bì.

    Các công ty tiếp cận thách thức này bằng cách áp dụng hoặc chấp nhận các phương pháp nghiên cứu mà họ đang sử dụng để đánh giá hiệu quả của quảng cáo. Mặc dù vậy, việc áp dụng này cũng đặt ra một số khó khăn, vì nhiều nhân tố của bao bì – và marketing tại điểm bán – thường là khác so với hoạt động quảng cáo. Với suy nghĩ này, chúng ta có thể sử dụng 5 nguyên tắc để đảm bảo rằng các nghiên cứu định tính đo lường chính xác ảnh hưởng của hệ thống bao bì mới – cũng như giúp đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác.

    Nguyên tắc 1: Tránh các cuộc thi:

    Bao bì chính là để thông tin và thuyết phục khách hàng, nhưng những nghiên cứu về bao bì nếu không được thực hiện tốt có thể sẽ chỉ đưa ra được những kết luận không cần thiết về “thiêt kế hình vẽ”, thay vì cần phải đánh giá hiệu quả thông tin của bao bì. Chính vì lý do này, một nguyên tắc quan trọng nhất khi nghiên cứu bao bì là thiết kế một nghiên cứu hoàn chỉnh, từng người tham gia nghiên cứu sẽ nhìn và phản ứng lại từng bao bì – và những kết quả tìm được sẽ được so sánh chéo (những người đã thấy lọai bao bì đang lưu hành với những người được quan sát bao bì mới đang nghiên cứu). Cách làm này thúc đẩy sự phát triển và đưa ra các bao bì mới, và nó cũng đánh giá hiệu quả các thay đổi về bao bì ảnh hưởng tới thái độ và ứng xử của người mua như thế nào.

    Khi người mua hàng so sánh trực tiếp những mẫu bao bì khác nhau (của cùng một nhãn hiệu) trên cơ sở đặt cạnh nhau, việc so sánh sẽ tạo ra một cái nhìn không chính xác – vì cách nhìn đó ít khi người mua gặp phải tại cửa hàng. Khi đó, sự so sánh đặt cạnh nhau thường làm cho mục tiêu nghiên cứu trở thành kiểm tra trình độ của “Nhà chỉ đạo nghệ thuật” (Art Directors) hay “Nhà quản trị thương hiệu” (Brand Managers) thay vì mục tiêu nghiên cứu cũ là xem xét xem người mua hàng quyết định có mua hàng hay không. Do đó, kết quả là “80% khách hàng thích nhãn hiệu mới hơn nhãn hiệu cũ” không có ý nghĩa nhiều tới việc thay đổi bao bì có ảnh hưởng tới bán hàng như thế nào. Cuối cùng, sự đánh giá về hệ thống bao bì không chỉ là về các yếu tố về thiết kế, mà là về mức độ ảnh hưởng tới hành vi mua như thế nào.

    Nguyên tắc 2: Đo lường khả năng bắt mắt ngay trên kệ hàng:

    Bao bì là thông tin duy nhất về sản phẩm trên kệ hàng, nó phải thực thi nhiệm vụ thu hút khách hàng trong thời gian rất ngắn – thông thường chỉ 10 – 20 giây, đó là thời gian trung bình của người mua ra quyết định mua. Theo đó, thách thức cho bao bì là cần phải tạo ra cơ hội bán hàng trong 10 – 20 giây ngắn ngủi ấy. Trong thực tế, sau nhiều năm nghiên cứa của  PRS Eye-Tracking cho thấy rằng người mua hàng thậm chí chưa bao giờ nhìn quá một phần ba số thương hiệu trưng bày. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng nếu bao bì được chú ý một cách nhanh chóng cũng có nghĩa là sẽ có nhiều khả năng được mua hơn.

    Đối với các thương hiệu lớn, vấn đề là làm sao thúc đẩy mua hàng nhanh chóng bằng cách hướng người mua hàng tới các sản phẩm mà họ mong muốn – và có khả năng tăng cường hành vi mua bằng cách làm nổi bật tính năng mới của sản phẩm. Trong bất cứ trường hợp nào, nếu người mua hàng không thể tìm thấy hàng muốn mua trong 10-15 giây thì họ sẽ chuyển sang mua thương hiệu khác.

    Thật không may rằng có ít cách thức đo lường hiệu quả trưng bày trên kệ bán của sản phẩm – các điều tra nhanh và ẩu về truyền tải thông tin rất dễ dấn đến hiểu lầm. Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra rằng khi bao bì được trưng bày tách biệt (trên bảng hoặc trên màn hình), người mua không thể đo lường một cách chính xác khả năng dễ phát hiện trên giá của hàng hoá cũng như khả năng trưng bày tại cửa hàng. Thêm vào đó, nếu khả năng nhớ lại việc tiêu dùng sản phẩm là kém và các chỉ số về đánh giá hiệu quả trưng bày được đo sai, nhà sản xuất khó đưa ra quyết định đúng. Điểm chủ chốt là không có cách thức nào khác để đo lường những hiện tượng xảy ra khi người mua hàng tiếp xúc với bao bì trên giá hàng, chẳng hạn họ sẽ để ý cái gì, những gì họ thấy, họ cầm lấy những gì và mua những gì. Điều quan trọng là hầu hết các quyết định thiết kế bao bì lại bị ảnh hưởng bởi những kiến thức thu được từ những điều tra như thế này, thay vì phải nghiên cứu xem thực tế người mua hàng nghĩ gì hay nhớ gì.

    Nguyên tắc 3: Cần có sự cạnh tranh

    Bao bì khác với quảng cáo ở chỗ bao bì thường phải cạnh tranh trực tiếp với bao bì khác của đối thủ cạnh tranh được đặt ngay cạnh trên giá. Nói cách khác, bao bì ít khi được đánh giá một mình. Đối với thiết kế bên ngòai cần đánh giá trên nguyên tắc cạnh tranh – và nghiên cứu cần thu thập dữ liệu trên cơ sở so sánh các bao bì với nhau, trong đó cần so sánh với bao bì của các thương hiệu hàng đầu.

    Thêm vào đó, bởi vì các khách hàng thường dành vài giây trong việc so sánh các sản phẩm khác nhau, nên cần so sánh các hệ thống bao bì khác nhau về khả năng truyền đạt tthông điệp ngay tức khắc. Môt thiết kế bao bì tốt thường sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng  bằng cách nắm bắt được hướng tiếp cận chủ chốt thông qua sự trình bày độc đáo (màu sắc, hình dáng, biểu tượng) hoặc nổi bật rõ ràng thông điệp tạo sự khác biệt. Về khía cạnh truyền đạt thôgn điệp, nghiên cứu PRS Eye-Tracking về nhãn hiệu chỉ rõ rằng “càng đơn giản càng tốt”, và nếu đưa ra quá nhiều thông điệp sẽ giảm hiệu quả. Chiến lược hiệu quả nhất là xác đinh một hoặc hai thông điệp thật hiệu quả và khác biệt, và chắc chắn rằng các thông điệp này được chuyền tải nhanh và nhất quán.

    Nguyên tắc 4: Đưa ra bao bì “hoàn chỉnh”, không trình bày chỉ những thành phần đơn lẻ: 

    Để tạo ra sự rõ ràng và hiệu quả, cần định rõ các đặc điểm cụ thể của bao bì. Tuy nhiên, khách hàng thường phản ứng hoặc đánh giá các đặc điểm của bao bì (như logo, màu sắc…) trên quan điểm mỹ thuật thay vì quan điểm mua hàng. Hướng suy nghĩ này dẫn tới nhiều nhận định rằng các yếu tố cụ thể của bao bì được xếp tương đương với phản ứng của khách hàng đối với bao bì. Quan trọng hơn, tách rời cách yếu tố của bao bì sẽ dẫn tới trạng thái tâm lý rằng thiết kế cần tối ưu hoá từng thành phần của bao bì thay vì tổng thể (như nắp chai, màu săc tốt nhât)

    Để rõ ràng, nhiều nghiên cứu thu thập các dữ liệu về phản ứng của khách hàng đối với bao bì trên quan điểm tổng thể – và các nghiên cứu này đã khám phá ra những yếu tố nào của bao bì ảnh hưởng tới phản ứng của khách hàng. Ngừơi bán hàng có thể kiểm tra các version khác nhau của bao bì để xác định khả năng ảnh hưởng của từng yếu tố của bao bì nếu đặt trên giá bán hàng và thông điệp có thể mang lại. Xét tổng quan, mục tiêu quan trọng nhất là có thể xác định được điểm mạnh và hạn chế của bao bì và xác định các vấn đề quan trọng cũng như vấn đề đáng quan tâm, thông điệp đem lại. Những thông tin này giúp cho cho chuyên gia marketing và thiết kế xây dựng các giải pháp giải quyết các vấn đề.

    Nguyên tắc 5: Không dựa vào một giải pháp duy nhất:

    Các Chuyên gia tiếp thị luôn phải tìm kiếm những giải pháp mới cho thiết kế bao bì. Vấn đề cần quan tâm ở đây là “Liệu những cải tiến mới có thể tạo ra nhiều đơn hàng hơn không?”

    Dù vậy, nghiên cứu chỉ ra rằng mua hàng một lần chỉ là môt phần nhỏ của câu chuyện – và có một số ít bao bì thay đổi có thể đáp ứng được mục tiêu là tăng đột biến lượng bán. Thực tế là một lần thay đổi bao bì ít tồn tại được trong thời gian dài nhưng có thể làm cho khách hàng của đối thủ chuyển sang dùng thử nếu thấy đặc biêt. Nói cách khác, mục tiêu là tạo ra một khả năng tiêu dùng cho người chưa phải là khách hàng.

    Để có một sự phỏng đoán khá chính xác về tỷ suất đầu tư (ROI), các nghiên cứu về bao bì nên có thêm các nghiên cứu về kích thích mua hàng với một loạt các nghiên cứu liên quan trực tiếp tới tiềm năng xây dựng khách hàng trong dài hạn ví dụ nghiên cứu cách trình bày trên giá, về thẩm mỹ, khả năng tạo sự khác biệt và cách thuyết phục người mua hàng.

    Cuối cùng các công ty đầu tư vào nghiên cứu bao bì sẽ thu được nhiều lợi ích từ phát triển bán hàng, tạo ra những mẫu bao bì độc đáo thúc đẩy bán hàng trên thị trường

                 3.Sức mạnh của kiểu dáng bao bì
    *Nói đến bao bì không chỉ đơn thuần là nói đến hình dáng bên ngoài.

    Đây chính là sự kết hợp phức tạp của các biểu tượng, thông tin được một công ty sử dụng như dấu hiệu để nhận biết sản phẩm của mình. Ngoài ra, bao bì còn mang ý nghĩa thứ yếu nữa là có thể giúp người tiêu dùng xác định nguồn gốc hàng hóa hay dịch vụ, trên thế giới luôn coi bao bì là một sản phẩm trí tuệ được pháp luật công nhận và bảo vệ.

    Bao bì không chỉ có tác dụng bảo vệ sản phẩm (Protection) mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xúc tiến sản phẩm (Promotion), xét từ góc độ kinh doanh. Hình ảnh thiết kế trên bao bì được pháp luật bảo vệ, tránh trường hợp bị các đối thủ cạnh tranh sao chép hay làm giả sản phẩm. Đó là chức năng bảo vệ. Còn với chức năng xúc tiến, bao bì có tác dụng thu hút khách hàng và tạo ra nét đặc trưng hay phong cách riêng cho sản phẩm. Một sản phẩm, nếu đã gặt hái thành công nhất định tại một thị trường, thì cùng với bao bì đó, sản phẩm sẽ không mấy khó khăn để chinh phục người tiêu dùng tại những thị trường khác.

    Nhận ra tầm quan trọng của bao bì sản phẩm, ngày nay, các công ty luôn chú ý đến quá trình thiết kế và kiểm tra bao bì, mà phương pháp phổ biến hơn cả thường được các công ty áp dụng cho sản phẩm của mình là VIEW- viết tắt của 4 từ tiếng Anh, thể hiện 4 đặc trưng trên bao bì sản phẩm.

    V:Visibility- sự rõ ràng

    Bao bì phải làm cho sản phẩm có thể được phân biệt dễ dàng đối với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

    Ví dụ:

    Hãng phim Konica đã sử dụng bao bì màu xanh dương ở thị trường Âu Mỹ nhằm phân biệt với bao bì màu vàng của Kodak và màu xanh lá cây của Fuji. Ngoài ra, bao bì của bất kỳ sản phẩm nào cũng không được phép trùng lặp với bao bì của sản phẩm khác đã có mặt trên thị trường.

    I: Informative – cung cấp nhiều thông tin:

    Bao bì phải thể hiện được thông tin tối đa về bản chất sản phẩm, chẳng hạn như tên sản phẩm, trọng lượng, ngày sản xuất, thành phần, điều kiện bảo quản, hướng dẫn sử dụng… Đây là những thông tin quan trọng mà khách hàng luôn muốn tìm hiểu để biết kỹ hơn về sản phẩm họ định mua.

    Ví dụ:

    Trên mỗi chai trà xanh không độ đều có ghi: ngày sử dụng, nơi sản xuất, điều kiện bảo quản, uống ngon hơn khi ướp lạnh…

    E: Emotional impact – tác động về mặt cảm xúc:

           Kiểu dáng bao bì phải tạo ấn tượng và làm khách hàng ưa chuộng. Khách hàng sẽ chú ý trước tiên đến những sản phẩm có bao bì đẹp, nhiều màu sắc, tao nhã hay pha chút gì đó độc đáo, lạ mắt. Sức hút của bao bì thể hiện ở đặc điểm này: nó làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh hơn và hấp dẫn hơn đối với người tiêu dùng.

     Ví dụ:

    Khi người tiêu dùng uống bia thì khi cầm chai bia heniken khách hàng sẽ có cảm giác thích ưống hơn vì màu xanh lơ của chai heniken trông dễ chịu,sang trọng hơn so với các loại khác như tiger,laru….
    W: Workability – giá trị sử dụng:

         Chức năng của bao bì là vừa phải bảo vệ sản phẩm, vừa phải hữu ích sau khi sản phẩm đã được sử dụng xong. Đôi khi khách hàng cảm thấy tiếc, nếu sử dụng xong sản phẩm cũng là lúc vứt đi bao bì rất đẹp và chắc chắn của sản phẩm đó. Nguyên nhân là do bao bì không được thiết kế dành cho những công năng khác. Giá trị sử dụng của bao bì thể hiện ở chỗ nó có thể được sử dụng vào nhiều mục đích khác như đựng thức ăn, đồ uống, gói đồ, để lót nền, và thậm chí có thể cả trưng bày.
    Yếu tố ngôn ngữ cũng cần được các công ty đặc biệt chú trọng khi thiết kế bao bì sản phẩm. Tuỳ theo từng thị trường tại mỗi quốc gia cụ thể mà công ty đề ra chính sách về ngôn ngữ cho phù hợp.

    Ví dụ:

    Đối với sản phẩm bán ở Ðức, bao bì phải in tiếng Ðức, sản phẩm bán ở Canada, bao bì phải in song ngữ Anh và Pháp, sản phẩm bán ở Ðan mạch và một vài nước Châu Âu khác thì bao bì chỉ cần in tiếng Anh là đủ. Hiện nay, bao bì đa ngôn ngữ đang dần trở nên phổ biến đối với khách hàng tiêu dùng. Hãng Kellogg của Ðức đã in …10 thứ tiếng trên vỏ bao sản phẩm đĩa mềm của mình.

    Số lượng sản phẩm được đóng gói bên trong các bao bì cũng khá quan trọng và thay đổi tuỳ thuộc vào những sở thích khác nhau của người tiêu dùng.

    Ví dụ: ở thị trường Nhật, mỗi bao bì không nên gói 4 đơn vị sản phẩm, vì từ “four” tiếng Anh sẽ được phát âm gần giống như từ “chết” trong tiếng Nhật. Hộp bánh quy ở Mỹ còn cần có thêm các bao bì phụ bọc từng gói nhỏ trong hộp bánh, trong khi ở các thị trường khác chỉ cần một bao bì gói chung tất cả là đủ.

              4.Sự lãng phí trong bao bì:

          Bao bì là một khía cạnh quan trọng của việc di chuyển hàng hoá. Nó phục vụ một số mục đích bao gồm bảo quản, tạo thuận lợi trong di chuyển và cung cấp thông tin về sản phẩm. Tuy nhiên, khi bạn mua món hàng nào đó, bạn có thể ngạc nhiên về số lượng bao bì. Bánh kẹo và chocolat thường có 3 lớp bao bì, đôi khi bạn có thể thấy nó có 5 lớp. Nhưng hãy nhớ rằng bạn chỉ thấy lớp bao bì dành cho khách hàng tiêu dùng cuối cùng, và có thể còn 2 lớp bao công nghiệp đã được dỡ bỏ. Rõ ràng vấn đề về số lượng bao bì đang ngày càng lớn liên quan đến chi phí và việc xử lý rác thải, Anh quốc sản xuất  trung bình khoảng 8 triệu tấn bao bì mỗi năm và một nữa trong số đó là bao bì công nghiệp.

    Thông thường thì bao bì công nghiệp có thể tái sử dụng và tái chế nhiều lần so với bao bì tiêu dùng vì chúng chắc chắn hơn và có thể thu thập dễ. Bao bì tiêu dùng phân tán hơn nhưng có một số công ty, như bodyshop, có chính sách giảm vấn đề này bằng cách sử dụng các bao bì có thể tái sử dụng. Đây là một vấn đề quan trọng, EU, và các khu vực khác đều đưa ra các giới hạn liên quan đến số lượng bao bì mà công ty có thể vướt bỏ. Một số nước chỉ cho phép bao bì bằng thuỷ tinh nếu chúng được thu thập lại và tái sử dụng hoặc ít nhất là tái chế. Cũng có các quy định tương tự đối với các bao bì bằng kim loại, đặc biệt là các thùng nhôm. Có lẽ đáng lưu ý nhất là các quy định về các loại bao bì khác,  những quy định này ngày càng gây sức ép đối vơí các tổ chức trong việc báo cáo số lượng bao bì mà họ sử dụng và số bao bì họ tái chế. Nếu họ không thành công trong việc đạt các mục tiêu về tái chế bao bì, họ sẽ phải đối mặc với heavy fines.EU cũng theo kịch bản này với tỷ lệ tái chế mục tiêu là 50%.

                             V.Qúa trình nghiệp vụ bao bì.

    1.Tiếp nhận bao bì.

    Tiếp nhận bao bì là công tác nhằm kiểm tra và đánh giá tình trạng số lượng và chất lượng bao bì và cũng là hình thức tiếp nhận số lượng và tiếp nhận chất lượng. Vì vậy khi tiếp nhận phải xác định trách nhiệm vật chất của các bên trong việc chuyển giao bao bì căn cứ vào các văn bản pháp lý như các tiêu chuẩn về bao bì, quy định về tiếp nhận hàng hoá, bao bì …vào các cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặc hàng. Trong trường hợp bao bì không đảm bảo số lượng và chất lượng phải lập biên bản nhằm quy trách nhiệm vật chât rõ ràng.

    2.Mở và bảo quản bao bì.

    Là công tác để phá dở hàng hoá ra khỏi bao bì và giữ gìn số lượng và chất lượng bao bì trong,  sau khi mở bao bì.

    Về yêu cầu:đảm bảo giữ gìn tốt bao bì trong quá trình tháo dở hàng hoá và bảo quản, tận dụng diện tích và thể tích khu vực bảo quản.

    Nguyên tắc của mở bao bì:theo đúng quy trình, đúng kỷ thuật và dụng cụ. Do đó đối với mỗi loại bao bì cần xây dựng quy trình, quy phạm mở bao bì thích hợp.

    Nội dung của bảo quản bao bì:

    +Vệ sinh và phân loại bao bì theo quyền sở hữu vào mức độ chất lượng để thuận tiện cho việc xử lý bao bì và bảo quản bao bì.

    +Phân bố và chất xếp bao bì đảm bảo tận dụng diện tích và dung tích nơi bảo quản, thuận tiện cho việc chăm sóc giữ gìn bao bì.

    +Đảm bảo các điều kiện giữ gìn tốt bao bì: tránh nắng mưa, chống các hiện tượng sử dụng bao bì không đúng mục đích.

    3.Hoàn trả và tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng

          Là công tác nhằm hoàn trả bao bì sử dụng nhiều lần cho chủ sở hữu và tiêu thụ bao bì theo các hình thức xác định.

    Sử dụng lại bao bì và tận dụng vật liệu bao bì đã qua sử dụng có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế và đối với bản thân các doanh nghiệp, cụ thể: tiết kiệm nguồn tài nguyên, lao động và các chi phí để chế tạo bao bì.

    Yêu cầu hoàn trả bao bì cho chủ sở hửu theo đúng chế độ và cam kết giữa các bên, tận thu và tiêu thụ nhưng bao bì đã qua sử dụng với chi phí thấp nhất.

    -Hoàn trả: nhữg bao bì dùng nhiều lần, là tài sản của bên chủ hàng hoặc bên cho thuê mướn bao bì phải tiến hành hoàn trả lại theo cam kết pháp lý.

    -Tiêu thụ: bán các loại bao bì hoặc vật liêu bao bì đã qua sử dụng cho các đơn vị sản xuất hàng hoá hoặc sản xuất bao bì để sử dụng lại hoặc dùng làm vật liệu chế tạo bao bì.

    1. Kết luận:Như ông cha ta ngày xưa có nói:
      “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
      Đây là câu tục ngữ có chứa hàm ý là nói về nội dung bên trong và hình thức bên ngoài của một vấn đề.
      Câu tục ngữ này là một câu nói không hoàn toàn đúng mà nó chỉ đúng một phần thôi, nội dung đúng là quan trọng thật thế nhưng hình thức cũng không kém phần quan trọng, cụ thể điều này chúng ta có thể thấy qua thị trường hàng hoá ngày nay, một người khi muốn mua một món quà nào đó thì điều đầu tiên họ quan tâm đó là chất lượng bên trong sản phẩm, nhưng để món quà đó có tính sang trọng, và thể hiện được giá trị và sự đặc biệt của món quà thì hình thức sẽ là một yếu tố tạo nên sự sang trọng và quý phái đó. Chẳng hạn khi bạn muốn mua một hộp bánh trung thu để tặng cho cấp trên thì điều đầu tiên mà bạn quan tâm đó là thương hiệu của bánh ,sau đó là mẫu mã và kiểu dáng bao ngoài của bánh, nếu như chất lượng bánh đã tốt có thương hiệu nổi tiến thế nhưng bao bì bên ngoài không được đẹp thì nó cũng không phản ánh hết được giá trị bên trong của sản phẩm. Vì vậy để  chọn được một sản phẩm ưng ý , bạn nên chọn sản phẩm đó bằng cách kết hợp cả nội dung bên trong và hình thức bên ngoài.
      Như vậy để kích thích cũng như thoã lòng khách hàng thì bên cạnh việc để ý đến chất lượng của sản phẩm thì các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến bao bì bên ngoài vì lớp bao bì này sẽ làm tăng tính tò mò và sự hài lòng trong việc mua hàng.

           Như các bạn đã biết thì trước đây yếu tố bao bì chỉ được xem như là một lớp ngoài để bảo vệ sản phẩm nhưng ngày nay bao bì giới thiệu một kiểu phân phối mới, gợi ra những phẩm chất của sản phẩm của doanh nghiệp, giúp cho người tiêu dùng dễ nhận biết sản phẩm và nhãn hiệu, tạo ra cho người tiêu dùng sự tin tưởng và an tâm khi lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu của doanh nghiệp.
    Vì vậy khi quyết định tung ra thị trường một loại sản phẩm nào đó thì các doanh nghiệp cần chú ý đến việc tạo ra bao bì như thế nào cho phù hợp với sản phẩm và làm toát lên ý nghĩa của sản phẩm thông qua bao bì đó.
    Do đó các doanh nghiệp không ngừng nghiên cứu để tạo ra các loại bao bì mới cho phù hợp với sản phẩm , trước đây, một mẫu bao bì có thể đứng trên thị trường 15 lăm năm rồi mới cần cải tiến nhưng trong môi trường đổi mới ngày nay sự thay đổi là rất nhanh chóng, đa số các doanh nghiệp phải xem xét lại bao bì của mình sau 2 hoặc 3 năm nếu không baobì bên ngoài của sản phẩm sẽ không còn được sự ưu ái của khách hàng nữa vì nó quá lỗi thời .
    Tóm lại, để các doanh nghiệp có thể tạo chỗ đứng cho mình trên thị trường thì cần tạo ra được những sản phẩm tốt với mẫu mã đẹp mới có thể thoã mãn được nhu cầu của người têu dùng, được người tiêu dùng tin tưởng và tiều dùng .
    Như vậy, qua đây chúng ta có thể thấy được sự quan trọng không thể thiếu của bao bì, thông qua bao bì các doanh nghiệp có thể quảng bá được chất lượng của sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp mình.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-D%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-Logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    A.   MỞ BÀI

    . Lý Do Chọn Đề Tài

    Dịch vụ Logistics là một quá trình “trọn gói” từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát hàng hóa… đến nơi tiêu thụ cuối cùng là người tiêu dùng, nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, an toàn, liên tục và hiệu quả với chi phí thấp.

    Logistics bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau từ vận tải, xếp dỡ, kho bãi… Cả nước hiện có 600 DN hoạt động trong lĩnh vực này. Logistics với nhiều loại hình dịch vụ khác nhau góp phần giảm giá thành hàng hóa xuất khẩu, tăng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.

    Một phân hệ hoàn chỉnh, cung cấp đầy đủ các thông tin về hàng hóa, nguyên vật liệu, sản phẩm trên toàn bộ hệ thống kho của công ty. Doanh nghiệp có bao nhiêu kho tùy ý, nhưng sẽ không có gì bị bỏ quên. Phân hệ này là công cụ hỗ trợ đắc lực cho nhiệm vụ nhập, xuất, di chuyển nội bộ, kiểm kê và thực hiện các chức năng nghiệp vụ theo yêu cầu của doanh nghiệp.

    Vì vậy mà nhóm đã quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu, và là nội dung thực hiện bài luận trong học phần “Quản Trị Chuỗi Cung ứng”.

    I.                   Khái niệm, vai trò, chức năng và loại hình kho bãi

    1.     Khái niệm

    Kho là loại hình cở logistics thực hiện việc dự trữ, bảo quản và chẩn bị hàng hoá nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng với trình độ dịch vụ cao nhất và chi phí thấp nhất.

    2. Vai trò

        – Đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất và phân phối hàng hoá:

    Nhu cầu tiêu dùng có thể biến thiên theo mùa vụ và có những dao động khó lường.Các nguồn cung cũng luôn có những diễn biến phức tạp trong khi hoạt động sản xuất cần được duy trì liên tục để đảm bảo chất lượng ổn định với chi phí hợp lí, do vậy lượng dự trữ nhất định trong kho giúp doanh nghiệp có thể đối phó được với những thay đổi bất thường của điều kiện kinh doanh phòng ngừa rủi ro.

    Trong hệ thống sản xuất thì kho được xem như là 1 bể điều tiết các hoạt động của quá trình sản xuất vì vậy mà nó còn đảm bảo điều hòa sản xuất. Khi bể này tắt nghẽn thì sẽ làm cho toàn bộ quá trình sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa kịp thời bị gián đoạn ngay.

    Góp phần giảm chi phí sản xuất, vận chuyển, phân phối: Nhờ có kho nên có thể chủ động đặt các đơn, lô hàng với quy mô kinh tế lớn trong quá trình sản xuất và phân phối nhờ đó mà giảm chi phí bình quân trên 1 đơn vị.

    Hơn nữa, kho góp phần vào việc tiết a việc đảm bảo hàng hoá sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng được kiệm chi phí lưu thông qua việc quản lý tốt định mức hao hụt hàng hoá, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả cơ sở vật chất của kho.

    Hỗ trợ quá trình cung cấp dịch vụ: Khách hàng cuả doanh nghiệp thông qua việc đảm bảo hàng hóa sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng giao, góp phần giao hàng đúng thời gian và địa điểm.

    Hỗ trợ việc thực hiện quy trình “logistics ngược”:    Thông qua việc thu gom, xử lý, tái sử dụng bao bì, sản phẩm hỏng, sản phẩm thừa…

     

    3. Chức năng

    Gom hàng: Khi hàng hoá, nguyên liệu đươch nhập từ nhiều nguồn nhỏ, lẻ khác nhau thì kho đóng vai trò là điểm tập kết để hợp nhất thành lô hàng lớn. Như vậy, sẽ có được lợi thế nhờ quy mô khi tiếp tục vậnc huyển tới nhà máy/ thị trường bằng các phương tiện đẩy toa/ xe/ thuyền.

    Phối hợp hàng hoá: Để đáp ứng tốt đơn hàng gồm nhiều mặt hàng đa dạng của khách hàng, kho bãi có nhiệm vụ tách lô hàng lớn ra phối hợp và ghép nhiều loại hàng hoá khác nhau thành một đơn hàng hoàn chỉnh, đảm bảo hàng hoá sẵn sàng cho quá trình bán hàng. Sau đó, từng đơn hàng sẽ đựợc vận chuyển bằng các phưong tiện nhỏ tới khách hàng.

    Bảo quản và lưu trữ hàng hoá: Đảm bảo hàng hoá nguyên vẹn về số lượng, chất lượng trong suốt quá trình tác nghiệp tận dụng tối đa diện tích và dung tích kho; chăm sóc, giữ gìn hàng hoá trong kho

    4. Các loại hình kho bãi:

    4.1  Phân theo đối tượng phục vụ:

    Kho định hướng thị trường: Kho đáp ứng yêu cầu của khách hàng trên thị trường mục tiêu. Loại hình kho này còn được gọi là kho phân phối hay kho cung ứng. Kho này có chức năng chủ yếu là dịch vụ khách hàng: tổng hợp các lô hàng và cung ứng thoả mãn các nhu cầu của khách hàng

    Kho định hướng nguồn hàng: Kho có vị trí ở các khu vực sản xuất, đáo ứng các yêu cầu cung cấp nguyên liệu, phụ từng, và các yếu tố đầu vào khác của các nhà sản xuất và do đó chức năng chủ yếu là thu nhận và tập trung vận chuyển tiếp tục quá trình sản xuất và dự trữ thời vụ.

    4.2  Phân theo quyền sở hữu:

    Kho riêng: Thuộc quyền sở hữu và sử dụng của riêng từng doanh nghiệp (thương mại) có quyền sở hữu hàng hoá dự trữ và bảo quản tại kho

    Kho công cộng: Khác với kho dùng riêng, kho công cộng hoạt động như một đơn vị kinh doanh độc lập cung cấp một loạt các dịch vụ như dự trữ, bảo quản và vận chuyển trên cơ sở tiền thù lao cố định hoặc biến đổi. Kho công cộng cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn cho mọi khách hàng.

    4.3 Phân theo điều kiện thiết kế, thiết bị:

    Kho thông thường: Có đặc điểm thiết kế, kiến trúc xây dựng và thiết bị thực hiện quá trình công nghệ trong điều kiện bình thường.

    Kho đặc biệt: Có đặc điểm thiết kế, kiến trúc xây dựng và thiết bị riêng biệt để bảo quản những hàng hoá đặc biệt do tính chất thương phẩm và yêu cầu của quá trình vận động hàng hoá (kho lạnh, kho động vật sống)

    4.4   Phân theo đặc điểm kiến trúc:

    Kho kín: Có khả năng tạo môi trường bảo quản kín; chủ động duy trì chế độ bảo quản, ít chịu ảnh hưởng của các thông số môi trường bên ngoài.

    Kho nửa kín: Chỉ có thể che mưa, nắng cho hàng hoá, không có các kết cấu (tường) ngăn cách với môi trường ngoài kho.

    Kho lộ thiên (bãi chứa hàng: ) Chỉ là các bãi tập trung dự trữ những hàng hoá ít hoặc không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của khí hậu, thời tiết.

     

    4.5  Phân theo mặt hàng bảo quản:

    Kho tổng hợp: Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá cao. Kho bảo quản nhiều loại hàng hoá theo các khu kho và nhà kho chuyên môn hoá.

    Kho chuyên nghiệp: Chuyên bảo quản một nhóm hàng/ loại hàng nhất định.

    Kho hỗn hợp: Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá thấp nhất. Kho bảo quản nhiều laọi hàng hoá trong một khu kho hoặc nhà kho.

    B. NỘI DUNG CHÍNH

    II. Nghiệp Vụ Kho

    1.     Nghiệp vụ tiếp nhận hàng (Nhập kho)

    Tiếp nhận hàng hóa nhận kho là công đoạn trung gian giữa quá trình nghiệp vụ mua hàng, nghiệp vụ vận chuyển, nghiệp vụ kho. Tuy nhiên, đây lại là khâu mở đầu của quá trình nghiệp vụ kho, do vậy mà nó ảnh hưởng trực tiếp tới các khâu nghiệp vụ sau và ảnh hưởng tới công tác kinh doanh, việc xác định trách nhiệm vật chất giữa các đơn vị giao hàng ( Đơn vị cung ứng-Người bán ), và đơn vị nhận hàng ( Người mua-Doanh nghiệp ), đảm bảo cho các khâu nghiệp vụ sau được thuận lợi, giảm chi phí bảo quản nâng cao chất lượng công tác kho. Đồng thời giúp ngăn chặn hàng không đạt yêu cầu chất lượng lọt vào lưu thông, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.

    • Nguyên tắc kiểm tra hàng hóa khi tiếp nhận:

    Phạm vi kiểm tra: Tất cả các hàng hóa khi tiếp nhận điều phải kiểm tra.

    Căn cứ để kiểm tra: Đơn đặt hàng, Hơp đồng mua bán, Mẫu hàng , Tiêu chuẩn.

    Nơi kiểm tra: tại nơi giao nhận hàng mà 2 bên đã thỏa thuận và phải co người đại diện vật chất của cả 2 bên.

    Thời gian kiểm tra: Ngay khi giao nhận

    Hình thức kiểm tra và phương pháp kiểm tra: Tùy vào từng điều kiện cụ thể của lô hàng hóa và thỏa thuận trong hợp đồng mà áp dụng hình thức kiểm tra toàn bộ hay đại diện, Phương pháp kiểm nghiệm cảm quan, hay thí nghiệm nhưng phải đảm bảo yêu cầu nhanh gọn, chính xác và tiết kiệm.

    • Nội dung tiếp nhận

    1.2.1 Công tác chuẩn bị:

    – Chuẩn bị phương tiện bốc dỡ như; Xe nâng hàng, xe bốc hàng, bơm nâng, pallet..,phương tiện vận chuyển phải phù hợp với loại hàng hóa, khối lượng hàng sẽ nhận, phù hợp với khoản cách từ nơi nhận hàng tới nơi chứa hàng.

    – Chuẩn bị các thiết bị và dụng cụ cần thiết để cân đo đong hoặc đếm, kiểm tra lấy mẫu hay kiểm nghiệm.

    – Chuẩn bị phân công cán bộ, công nhân viên tiếp nhận hàng, tùy vào số lượng cũng như tính chất lô hàng mà có sự phân công số lượng cũng như chuyên môn phù hợp nhất.

    – Chuẩn bị các giấy tờ và chứng từ cần thiết theo thủ tục quy định.

    1.2.2 Tiến hành tiếp nhận.

    1. Tiếp nhận hàng hóa về số lượng:

    Là việc người nhận hàng kiểm tra số lượng hàng thực nhận và đối chiếu với số lượng hàng trên chứng từ kèm theo như Hợp đồng kinh tế, chứng từ giao nhận, vận đơn (bill of lading)…và tùy theo tính chất, đặt điểm của từng loại hàng hóa, và cách đóng gói mà có thể dùng phương pháp cân, đo, đong, đếm.

    Đối với các hàng hóa nhận từ các cơ quan như đường Sắt, Thủy, Bộ mà không có người của đơn vị giao hàng đi kèm thì bên nhận hàng cùng với đại diện của cơ quan vận tải phải tiến hành kiểm tra sơ bộ khi hàng còn ở trên phương tiện vận tải, xác định xem hàng có bị mất mát ở dọc đường, hay còn niêm phong cặp chì, seal hay không. Sau đó mới nhận hàng rồi tiến hành cân đo, đong đếm để xác định số lượng.

    Phải có đủ các đại diện hợp pháp để ghi nhận các kết quả kiểm tra.

    1. Tiếp nhận hàng hóa về chất lượng:

    Là việc xác định hàng hóa có đúng phẩm chất, quy cách, kích thước, đồng bộ theo quy định hay không. Nội dung của việc nhận theo chất lượng bao gồm những sự xác định về:

    – Tính chất cơ lý hóa của hàng hóa

    – Hình thái, màu sắc, kích thước,đề tài của hang hóa

    – Sự đồng bộ của hàng hóa

    – Số lượng hàng hư hỏng và mức độ hành hư hỏng

    – Ký mã hiệu hàng hóa

    Việc tiếp nhận hàng theo số lượng và chất lượng được tiến hành đồng thời và hoàn thành trong một thời gian ngắn nhất, nhằm tránh lãng phí thơi gian, phương tiện và nhân công, tránh để hàng hóa lưu kho bãi quá lâu gây nên hư hỏng mất mát.

    1. Thủ tục những trường hợp cần xử lý:

    – Những kiện hàng có nghi vấn đều phải qua kiểm tra, khi kiểm tra xong thì phải để riêng.

    – Hàng kiểm tra xong nếu có thừa thiếu, sai quy cách, hàng không có chứng từ đi kèm thì phải lập biên bản.

    – Hàng đã kiểm tra xong nếu có nghi vấn bên giao muốn kiểm tra lại, thì bên giao phải chịu toàn bộ chi phí.

    1. Lập chứng từ nhận hàng:

    Khi hoàng thành việc tiếp nhận  hàng hóa theo số lượng, chất lượng, tất cả hàng hóa nhập kho phải ghi và sổ nhập kho hay nhật ký nhận hàng.

    2.     Tác Nghiệp Trong Kho

    • Nghiệp vụ chất xếp hàng hóa trong kho

    Việc phân bố hàng hóa trong kho là việc phân chia khu vực bảo quản cho từng loại hàng, nhóm hàng một cách hợp lý, đồng thời giúp cho việc tiếp nhận, phát hàng và tận dụng tốt nhất diện tích và dung tích kho hàng hóa.

    2.1.1 Phân loại hàng nhập kho

    Để thuận lợi cho công tác dự trữ và tăng tốc độ giải phóng kho, cần thiết phải nhận dạng sản phẩm một cách nhanh chóng. Giải pháp đơn giản nhất là sử dụng tên gọi của chúng, nhưng cách gọi tên này thường ít được sử dụng, đặc biệt khi chúng gồm những chỉ dẫn kỹ thuật hoặc kích cỡ, do đó doanh nghiệp thường sử dụng một bộ mã số (chẳng hạn như: 1234) hoặc cả chữ cái và số cho mỗi mặt hàng dự trữ.

    • Bố trí không gian và tìm vị trí cất giữ.
    1. Cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Hàng hóa trong kho không gây ảnh hưởng xấu lẫn nhau, bố trí cách ly những hàng kỵ nhau ví dụ như: Không để những hàng dễ tỏa mùi bên cạnh những hàng hút mùi, hàng dễ bốc cháy bên cạnh những hàng dễ bén lửa,hàng có hàm lượng nước cao bên cạnh hàng dễ hút nước, hàng cồng kềnh với hàng dễ vỡ.

    – Địa điểm cố định cho từng loại hàng, nhóm hàng để tiện theo dõi, kiểm tra và xuất nhập.

    – Nghiệp vụ kho được tiến hành thuận tiện, năng suất lao động cao, tiết kiệm dung tích và diện tích kho.

    – Việc chất xếp phải chú ý đến đảm bảo an toàn cho người và hàng hóa, đảm bảo trật tự và vệ sinh, dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm kê hàng hóa, hoặc xếp đúng ký hiệu hướng dẫn ngoài bao bì, đảm bảo mỹ quan cho kho hàng hóa.

    –  Các hàng hoá đặc biệt: Các vật tư vật liệu dễ cháy nổ được sắp xếp ở các kho có trang thiết bị phòng chống cháy nổ và ở xa các công trình, kho tàng khác theo quy định hiện hành của Nhà nước và Công ty Mẹ.

    1. Các phương pháp chất xếp:

    – Các phương pháp chất xếp thường gặp như:

    + Đổ đống đối với các loại hàng như; cát, muối, lúa gạo…

    + Xếp thành chồng như Xi Măng, Gạch…

    + Xếp lên giá hàng đối với các hàng tiêu dùng, như việc xếp hàng trên các giá, kệ ở các siêu thị như Metro, Big C, CoopMart….

    1. Xác định vị trí phân bổ hàng hóa: Vị trí phân bổ hàng hóa thường được xác định tùy thuộc vào 3 yếu tố; Thời gian lưu giữ trong kho, kích thước và hình khối của hàng hóa và thường theo các phương pháp sau:

    – Phương pháp: “Mỗi chỗ một vật, mỗi vật ở chỗ của mình” là dành cho mỗi một loại sản phẩm một chỗ quy định. Ưu điểm là dễ dàng định vị sản phẩm, vật tư trong kho; xác định lượng dự trữ thừa hay thiếu một cách nhanh chóng. Nhưng nhược điểm là không tận dụng được diện tích kho tàng.

    Phương pháp phổ quát vị trí: “bất kỳ vật gì, bất kỳ chỗ nào” là sử dụng vị trí nào còn trống lúc đưa hàng vào kho, một sản phẩm có nhiều điạ chỉ. Ưu điểm của nó là tận dụng được diện tích kho tàng, nhưng khó về mặt thông tin để định vị được chỗ trống khi nhập kho và tìm địa chỉ sản phẩm khi xuất kho.

    Phương pháp tần suất quay vòng: Loại hàng nào ra vào nhiều nhất được xếp ở chỗ thuận nhất.

    • Phương pháp hai kho: Kho được chia làm hai bộ phận: Kho dự trữ được cung ứng do nhập kho và cung cấp số lượng nhỏ cho kho phân phối từ đó xác lập các đơn đặt hàng.
      • Nghiệp vụ bảo quản hàng trong kho.

    Là quá trình hàng chế đến mức thấp nhất sự mất mát, hư hỏng, giảm sút chất lượng hàng hóa và thuận tiện khi xuất hàng từ kho ra.

    Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thì mục đích của việc bảo quản hàng trong kho là để tiếp tực làm thủ tục xuất khẩu, hoặc để chờ đợi người mua mở L/C (Letter of Credit), chờ đợi phương tiện vận tải…

    2.2.1 Các yêu cầu đối với nghiệp vụ bảo quản.

    – Giữ gìn tốt chất lượng và giảm thiểu đến mức thấp nhất hao hụt về số lượng hàng hóa.

    – Đảm bảo an toàn cho người, cho hàng hóa, thiết bị trong kho.

    – Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ, thể lệ, nguyên tắc về quản lý nghiệp vụ kỹ thuật.

    2.2.2 Nội dung nghiệp vụ bảo quản hàng hóa trong kho.

    1. Khống chế các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hàng hóa.

    Hàng hóa trong quá trình bảo quản chịu tác động của các yếu tố bên ngoài như; khí hậu, vi sinh vật, côn trùng…,làm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng hàng hóa, vì vậy trong công tác bảo quản phải tìm mọi biện pháp khống chế.

    a.1 Nhóm yếu tố khí hậu: Ảnh hưởng của độ ẩm không khí, nhiệ độ và các biện pháp chống ẩm, chống nóng.

    – Khi độ ẩm không khí lên cao, hàng hóa sẽ hút ẩm làm cho tính chất thay đổi, và nếu kéo dài thì chất lượng sẽ giảm. Ví dụ; Xi măng, vải, giấy, kim loại, chè, bánh kẹo…

    – Khi độ ẩm không khí xuống thấp hàng hóa sẽ bị bay hơi, tỉ lệ hao hụt tăng,chất lượng giảm. Ví dụ như các mặt hàng Xăng dầu, Rau quả tươi, gỗ…

    – Khi nhiệt độ lên cao cũng làm cho hàng hóa bị hao hụt, biến dạng, mất hẳng về chất lượng.

    – Khi nhiệt độ thấp sẽ làm thay đổi một số sản phẩm như cao su, dầu ăn…

    – Khi nhiệt độ giao động sẽ làm giảm chất lượng của các mặt hàng như đông lạnh, gây hiện tượng điểm sương ngưng đọng nước…

    + Các biện pháp chống ẩm:

    . Thông gió tự nhiên, lợi dụng điều kiện tự nhiên  cho phép, trời không mưa bão, có gió nhưng không quá cấp 4.

       . Dùng chất hút ẩm như CaCO2, CaO thì sẽ có tác dụng hút được khoản 30% khối lượng toàn kho. Hoặc Silicagen (keo thủy tinh), loại hợp chất này có tác dụng chống ẩm khoảng tù 30-50% thường được sử dụng trong các túi, thùng hàng hóa như đồ điện tử.

    + Các biện pháp chống nóng như; thông gió tự nhiên, che phủ, kho có trần, mái chống nóng, dùng máy điều hòa nhiệt độ.

    a.2 Ảnh hưởng của vi sinh vật như nấm, vi trùng, các mầm bệnh

    – Biện pháp chủ yếu là dùng hóa chất thường xuyên theo dõi, khử trùng,vệ sinh phòng dịch.

    a.3 Ảnh hưởng của côn trùng và chuột, các loại côn trung nguy hiểm như mọt, chúng sinh sản rất nhanh và phá hoại cung rất lớn, chúng thường để lại phân, xác,lâu ngày sẽ gây nên nấm mốc, ố cho hàng hóa và để lại mùi hôi. Một loại côn trùng khác cung nguy hiểm không kém là mối và đặt biệt là chuột, vì phạm vi phá hoại rộng nhờ hàm răng chắc khỏe.

    – Biện pháp chủ yếu là dùng hóa chất, bẫy.

    1. Quản lý định mức hao hụt hàng hóa trong kho.

    Hao hụt định mức: là hoa gụt do bản thân hàng hóa và là hao hụt tất yếu xảy ra trong qua trình bảo quản. Hao hụt này được xác định thành tỉ lệ cho phép, đối với mỗi loại hàng trong điều kiện bảo quản nhất định.

    Hao hụt ngoài định mức: Là hao hụt vượt ra ngoài tỉ lệ cho phép, hao hụt này thường do trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm, điều kiện bảo quản kém hay do thiên tai gây nên. Vì vậy phải xem xét và quy trách nhiệm cụ thể.

    + Các biện pháp giảm hao hụt trong kho.

    . Phải tổ chức tốt quá trình nghiệp vụ kho từ khâu nhập hàng đến khâu xuất hàng

    . Xây dựng và thực hiện tốt định mức hao hụt cho từng mặt hàng bảo quản.

    . Cải tiến và nâng cao điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật.

    . Chăm lo bồi dưỡng trình độ chính trị, chuyên môn cho nhân viên kho, tổ chức thi đua khen thưởng kịp thời.

    • Tập hợp đơn hàng.

    Là quá trình biến đổi hình thức hàng hóa thành lô hàng theo yêu cầu đơn hàng.

    Hàng hóa nhập kho thường sắp xếp theo yêu cầu kỹ thuật của kho, theo hợp đồng mua bán, tuy nhiên đơn hàng thường  gồm nhiều mặt hàng khác nhau theo yêu cầu đa dạng của khách hàng. Do vậy việc tập hợp đơn hàng là cần thết và quan trọng, là cơ sở cho việc thực hiện đúng đơn hàng. Các quá trình gồm:

    – Nhận bản Fax, photo,bản sao đơn đặt hàng từ phòng kinh doanh sau đó kiểm tra thông tin trên đơn đặt hàng và lượng hàng hóa dự trữ trong kho.

    – Tiến hành gom hàng (Cargo consolidater ) theo đơn, chọn lấy hàng ra khỏi nơi bảo quản. Đối với đơn hàng gồm nhiều mặt hàng thì việc gom hàng thành lô sẽ phức tạp hơn như; liệt kê danh mục hàng cần ghép thành lô, rồi tìm các lô, kệ hàng chứa trong kho hiện có, sau đó dung xe nâng, bôc dỡ hàng đến nơi ghép hàng thành lô theo yêu cầu đặt hàng.

    – Biến đổi mặt hàng theo yêu cầu, là việc chuyển đổi một số yếu tố mang tính vật lý đơn giản của các mặt hàng như tôn, lúa gạo trong kho sẽ được đóng bao theo yêu cầu đặt hàng là trọng lượng bao chẳng hạng là 50kg, 20kg, 10kg…

    – Tiến hành đóng gói, dáng nhãn và xếp theo thứ tự. Đối với bao bì thì nên ghi ký mã hiêu đầy đủ, đối vói bao bì thương mại thì phải thuyết minh hình vẽ,ký hiệu đảm bảo các tiêu chuẩn về chỉ định, hướng dẫn, cảnh báo.

    Việc ghi mã số mã vạch giúp tiêt kiêm chi phí đồng thời giúp phân biệt được chính xác các loại hành hóa, chống hàng giả, hàng kém chất lượng, thuận tiện để kiểm tra khi giao nhận hàng, hay thực hiện quá trình xuất nhập khẩu đối vơi hàng hóa xuất khẩu, khi làm thủ tục thông quân hàng hóa, kiểm dịch, xông khói…      Đồng thời đối với khía cạnh Marketing thì việc ghi mã vạch, mã số giúp tăng niềm tin nơi khách hàng, phục vụ người tiêu dùng tốt hơn.

    Hiện nay hệ thống mã số mã vạch được các nước, các khu vực kinh tế sử dụng rất phổ biến, như khu vực Bắt Mỹ thì thường sử dụng hệ thống mã vạch chuỗi 8 số. Ở khu vực châu Âu thì dùng hệ thống mã số chuỗi 13 số theo tiêu chuẩn EAN (European Article Number), hiện nay Việt Nam đang dùng hệ thống mã số theo tiêu chuẩn châu Âu EAN-VN.

    – Sau cùng là việc tổng hợp các lô hàng theo địa chỉ khách hàng để thuận tiện cho việc vận chuyển tiết kiệm chi phí.

    3. Xuất Hàng (Giao Hàng)

    Là công đoạn nghiệp vụ cuối cùng thể hiện toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho hàng hóa.

    Việc xuất kho giao hàng có thể có nhiều mục đích khác nhau như: để xuất khẩu, để gia công chế biến, xuất bán trong nước, điều chuyển giữa các kho trong nội bộ doanh nghiệp…..Nhưng dù có mục đích nào thì việc xuất kho hàng đều phải đúng với các thử tuck quy định  và phải có đầy đủ các văn bản hợp lệ.

    3.1 Yêu cầu nghiệp vụ:

    – Hàng xuất phải đúng với phiếu yêu cầu hoặc lệnh xuất kho.

    – Hàng xuất kho phải đúng với nguyên tắc xuất nhập hàng hóa, xuất nhanh, gọn, chính xác, kịp thời.

    – Thực hiện đầy đủ việc cập nhật sổ sách, thẻ kho, báo cáo và thu dọn kho sạch sẽ.

    3.2 Nguyên tắc xuất kho

    – Hàng hóa chỉ được xuất kho khi có phiếu hoặc lệnh xuất kho hợp lệ.

    – Tuyệt đối không được tạm xuất hay xuất treo.

    – Xuất hàng nhanh gọn và liên tục

    – Hàng nhập trước xuất trước, hàng nhập sau xuất sau (theo phương pháp FIFO). Xuất đến đâu ghi vào nhật ký xuất kho tới đó.

    + Một số phương pháp trong xuất kho khác

    . Phương pháp :nhập sau xuất trước (nếu giá cả thị trường tăng lên)

    .  Phương pháp: bình quân gia quyền

    .  Phương pháp :đích danh

    – Hàng đã làm thử tục xuất kho nhưng vì lý do nào đó phải gửi lại thì phải để riêng và hai bên cùng có trách nhiệm quản lý.

    3.3 Nội dung của nghiệp vụ xuất kho.

    – Kiểm tra tính hợp lệ của hóa đơn thanh toán, phiếu nhập hàng, phiếu yêu cầu xuất kho, lệnh xuất kho nội bộ.

    + Đối với khách hàng ngoài Công ty phải có hóa đơn với đầy đủ chữ ký, dấu, giấy giới thiệu của cơ quan, hay giấy bảo lãnh của phụ trách phòng kinh doanh.Ngoài ra nếu hóa đơn chứng từ tẩy xóa phải có chữ ký và dấu bên cạnh.

    + Đối với nhân viên trong Công ty thì phải có hóa đơn xuất nội bộ hoặc lệnh xuất hàng của phụ trách phòng kinh doanh với đầy đủ chữ ký.

    – Hoạch định thời gian, phương tiện và trình tự giao các loại hàng, theo thủ tục ưu tiên về mức độ cấp bách và thời hạng thực hiện đơn hàng.

    – Chuẩn bị nhân lực và địa điểm để tiến hành giao hàng, phương tiện vận chuyển (Carrier), đối với phương tiện vận tải là tàu thủy, máy bay  thì phải chuẩn bị kho, bãi tại cảng bốc hàng lên, xe rơmoc, tàu hỏa. Riêng đối với hàng hóa xuất khẩu thì còn có liên quan tới các thủ tục hải quan, và việc chuẩn bị phương tiện vận tải liên quan đến quyền vận tải và quyền mua bảo hiểm hàng hóa theo các điều kiện về thương mại quốc tế Incoterms 2000.

    Ví dụ như các hình thức thuê phương tiện vận tải biển như: thuê tàu chợ (Booking Liner), thuê tàu chuyến (Voyage Charter), thuê tàu định hạng (Time Charter)

    – Hướng dẫn kiểm tra kỹ càng quá trình bốc, xếp hàng lên phương tiện vận tải để tránh nhầm lẫn và hư hao, thiệt hại do hỏng hàng.

    – Cùng với người nhận hàng tiến hành kiểm tra về số lượng và chất lượng hàng ( Nếu là hàng giao ngay tại kho người bán). Người giao hàng và người nhận hàng cùng ký vào phiếu xuất kho hay phiếu giao hàng.

    – Ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác, đầy đủ các tình trạng hàng hóa về số lượng cũng như chất lượng vào nhật ký xuất kho, thẻ kho để kiểm tra biến động của dự trữ hàng hóa nhằm bổ sung kịp thời.

    3.4 Một số vấn đề phát sinh trong quá trình xuất hàng.

    Trong một số trường hợp khách hàng đến nhận hàng không đem theo hoá đơn mua hàng thì trong trường hợp đó người thủ kho không nên yêu cầu khách hàng quay về lấy hoá đơn mà vẫn xuất hàng nhưng phải lập một biên bản và yêu cầu khách hàng ký vào và đề nghị bổ xung hoá đơn  sau.

    Trong một số trường hợp hàng hóa xuất đi bị hư hỏng hoặc thiếu khi hàng hóa về đến nơi người nhận thì nên tìm hiểu rõ nguyên nhân sau đó đổi hoặc bổ xung

    Trong một số trường hợp trong lúc làm thủ tục xuất giao hàng mà trong kho không đủ hàng giao (có thể là do nhà cung cấp của công ty giao hàng chưa kịp …) thì phải chủ động thương lương với khách hàng để bổ xung sau .

    C. KẾT LUẬN

    Tóm lại trong quá trình nghiên cứu về đề tài này nhóm đã tìm hiểu được rất nhiều thông tin còn thiếu, chưa rõ về Logistics, và đặc biệt là về vấn đề kho bãi một phần khổng thể thiếu trong việc xác lập chuỗi cung ứng có hoàn thiện và có hiệu quả cao. Thông qua việc hoàn thành bài luận là cơ sở giúp nhóm tự tin hơn trong việc hoàn thành bài Báo cáo thực tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Vận chuyển và giao nhận hàng hóa

    Tiểu luận Vận chuyển và giao nhận hàng hóa

    Tiểu luận Vận chuyển và giao nhận hàng hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:GIAO NHẬN VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-V%E1%BA%ADn-chuy%E1%BB%83n-v%C3%A0-giao-nh%E1%BA%ADn-h%C3%A0ng-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Vận chuyển và giao nhận hàng hóa

    GIAO NHAN HANG HOA

    Trình tự giao hàng xuất khẩu

    Ðối với hàng xuất khẩu phải lưu kho, bãi của cảng
    Việc giao hàng gồm 2 bước lớn: chủ hàng ngoại thương (hoặc người cung cấp trong nước) giao hàng xuất khẩu cho cảng, sau đó cảng tiến hành giao hàng cho tàu.
    1. Giao hàng XK cho cảng:
    – Giao Danh mục hàng hoá XK ( Cargo List) và đăng ký với phòng điều độ để bố trí kho bãi và lên phương án xếp dỡ
    – Chủ hàng liên hệ với phòng thương vụ để ký kết hợp đồng lưu kho, bốc xếp hàng hoá với cảng
    – Lấy lệnh nhập kho và báo với hải quan và kho hàng,
    – Giao hàng vào kho, bãi của cảng.
    2. Giao hàng XK cho tàu:
    – Chuẩn bị trước khi giao hàng cho tàu:
    + Kiểm nghiệm, kiểm dịch (nếu cần), làm thủ tục hải quan
    + Báo cho cảng ngày giờ dự kiến tàu đến (ETA), chấp nhận Thông báo sẵn sàng
    + Giao cho cảng Danh mục hàng hoá Xk để cảng bố trí phương tiện xếp dỡ. Trên cơ sở Cargo List này, thuyền phó phụ trách hàng hoá sẽ lên Sơ đồ xếp hàng ( Cargo plan)
    + Ký hợp đồng xếp dỡ với cảng,
    – Tổ chức xếp và giao hàng cho tàu.
    + Trước khi xếp phải vận chuyển hàng từ kho ra cảng, lấy lệnh xếp hàng, ấn định số máng xếp hàng, bố trí xe và công nhân và người áp tải (nếu cần)
    + Tiến hành giao hàng cho tàu. Việc xếp hàng lên tàu do công nhân cảng làm. Hàng sẽ được giao cho tàu dưới sự giám sát của đại diện của hải quan. Trong quá trình giao hàng, nhân viên kiểm đếm của cảng phải ghi số lượng hàng giao vào Final Report. Phía tàu cũng có nhân viên kiểm đếm và ghi kết quả vào Tally Sheet.
    + Khi giao nhận một lô hoặc toàn tàu, cảng phải lấy Biên lai thuyền phó (Mate’s Receipt) để lập vận đơn.
    Sau khi xếp hàng lên tàu, căn cứ vào số lượng hàng đã xếp ghi trong Tally Sheet, cảng sẽ lập Bản tổng kết xếp hàng lên tàu (General Loading Report) và cùng ký xác nhận với tàu. Ðây cũng là cơ sở để lập B/L.
    – Lập bộ chứng từ thanh toán.
    Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C, cán bộ giao nhận phải lập hoặc lấy các chứng từ cần thiết để tập hợp thành bộ chứng từ thanh toán, xuất trình cho ngân hàng để thanh toán tiền hàng.
    Bộ chứng từ thanh toán theo L/C thường gồm: B/L. hối phiếu, hoá đơn thương mại, giấy chứng nhận phẩm chất, Giấy chứng nhận xuất xứ, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận trọng lượng, số lượng..
    Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng hoá nếu cần.
    – Thanh toán các chi phí cần thiết cho cảng như chi phí bốc hàng, vận chuyển, bảo quản, lưu kho.
    – Tính toán thường phạt xếp dỡ, nếu có
    .

    Ðối với hàng hóa không lưu kho bãi tại cảng
    Ðây là các hàng hoá XK do chủ hàng ngoại thương vận chuyển từ các kho riêng của mình hoặc từ phương tiện vận tải của mình để giao trực tiếp cho tàu . Các bước giao nhận cũng diễn ra như đối với hàng qua cảng. Sau khi đã đăng ký với cảng và ký kết hợp đồng xếp dỡ, hàng cũng sẽ được giao nhận trên cơ sở tay ba ( cảng, tàu và chủ hàng). Số lượng hàng hoá sẽ được giao nhận, kiểm đếm và ghi vào Tally Sheet có chữ ký xác nhận của ba bên.

    Ðối với hàng XK đóng trong container
    * Nếu gửi hàng nguyên( FCL/FCL)
    – Chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác điền vào Booking Note và đưa cho đại diện hãng tàu hoặc đại lý tàu biển để xin ký cùng với Danh mục hàng XK.
    – Sau khi ký Booking Note, hãng tàu sẽ cấp lệnh giao vỏ container để chủ hàng mượn và giao Packing List và Seal;
    – Chủ hàng lấy container rỗng về địa điểm đóng hàng của mình- – Chủ hàng mời đại diện hải quan, kiểm nghiệm, kiểm dịch, giám định( nếu có) đến kiểm tra và giám sát việc đóng hàng vào container. Sau khi đóng xong, nhân viên hải quan sẽ niêm phong kẹp chì container. Chủ hàng điều chỉnh lại Packing List và Cargo List, nếu cần;
    – Chủ hàng vận chuyển và giao container cho tàu tại CY quy định hoặc hải quan cảng, trước khi hết thời gian quy định  ( closing time) của từng chuyến tàu ( thường là 8 tiếng trước khi bắt đầu xếp hàng) và lấy Mate’s Receipt;
    – Sau khi hàng đã được xếp lên tàu thì mang Mate’s Receipt để đổi lấy vận đơn.
    * Nếu gửi hàng lẻ (LCL/LCL)
    – Chủ hàng gửi Booking Note cho hãng tàu hoặc đại lý của hãng tàu, cung cấp cho họ những thông tin cần thiết về hàng xuất khẩu. Sau khi Booking Note được chấp nhận, chủ hàng sẽ thoả thuận với hãng tàu về ngày, giờ, địa điểm giao nhận hàng;
    -Chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác mang hàng đến giao cho người chuyên chở hoặc đại lý tại CFS hoặc ICD
    – Các chủ hàng mời đại diện hải quan để kiểm tra, kiểm hoá và giám sát việc đóng hàng vào container của người chuyên chở hoặc người gom hàng. Sau khi hải quan niêm phong, kẹp chì container, chủ hàng hoàn thành nốt thủ tục để bốc container lên tàu và yêu cầu cấp vận đơn,
    – Người chuyên chở xếp container lên tàu và vận chuyển đến nơi đến;
    – Tập hợp bộ chứng từ để thanh toán.

    Trình tự nhận hàng nhập khẩu

    Ðối với hàng phải lưu kho, lưu bãi tại cảng
     1. Cảng nhận hàng từ tàu:
    – Trước khi dỡ hàng, tàu hoặc đại lý phải cung cấp cho cảng Bản lược khai hàng hoá (Cargo Manifest), sơ đồ hầm tàu để cảng và các cơ quan chức năng khác như Hải quan, Ðiều độ, cảng vụ tiến hành các thủ tục cần thiết và bố trí phương tiện làm hàng;
    – Cảng và đại diện tàu tiến hành kiểm tra tình trạng hầm tàu. Nếu phát hiện thấy hầm tàu ẩm ướt, hàng hoá ở trong tình trạng lộn xộn hay bị hư hỏng, mất mát thì phải lập biên bản để hai bên cùng ký. Nếu tàu không chịu ký vào biên bản thì mời cơ quan giám định lập biên bản mới tiến hành dỡ hàng
    – Dỡ hàng bằng cần cẩu của tàu hoặc của cảng và xếp lên phương tiện vận tải để đưa về kho, bãi. Trong quá trình dỡ hàng, đại diện tàu cùng cán bộ giao nhận cảng kiểm đếm và phân loại hàng hoá cũng như kiểm tra về tình trạng hàng hoá và ghi vào Tally Sheet;
    – Hàng sẽ được xếp lên ô tô để vận chuyển về kho theo phiếu vận chuyển có ghi rõ số lượng, loại hàng, số B/L;
    – Cuối mỗi ca và sau khi xếp xong hàng, cảng và đại diện tàu phải đối chiếu số lượng hàng hoá giao nhận và cùng ký vào Tally Sheet;
    – Lập Bản kết toán nhận hàng với tàu ( ROROC) trên cơ sở Tally Sheet. Cảng và tàu đều ký vào Bản kết toán này, xác nhận số lương thực giao so với Bản lược khai hàng (Cargo Manifest) và B/L;
    – Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận như Giấy chứng nhận hàng hư hỏng (COR) nếu hàng bị hư hỏng hay yêu cầu tàu cấp Phiếu thiếu hàng (CSC), nếu tàu giao thiếu.
    2. Cảng giao hàng cho chủ hàng:
    – Khi nhận được thông báo hàng đến, chủ hàng phải mang vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để nhận lệnh giao hàng(D/O- Delivery order). Hãng tàu hoặc đại lý giữ lại vận đơn gốc và trao 3 bản D/O cho người nhận hàng;
    – Chủ hàng đóng phí lưu kho, phí xếp dỡ và lấy biên bản;

     

    – Chủ hàng mang biên lai nộp phí, 3 bản D/O cùng Invoice và Packing List đến văn phòng quản lý tàu tại cảng để ký xác nhận D/O và tìm vị trí hàng, tại đây lưu 1 bản D/O;

    – Chủ hàng mang 2 bản D/O còn lại đến bộ phận kho vận để làm phiếu xuất kho. Bộ phận này giữ một D/O và làm hai phiếu xuất kho cho chủ hàng;
    – Chủ hàng làm thủ tục hải quan
    Sau khi hải quan xác nhận hoàn thành thủ tục hải quan chủ hàng có thể mang ra khỏi cảng và chở hàng về kho riêng.

    Ðối với hàng không lưu kho, bãi tại cảng
    Khi chủ hàng có khối lượng hàng hoá lớn chiếm toàn bộ hầm hoặc tàu hoặc hàng rời như phân bón, xi măng, clinker, than quặng, thực phẩm…thì chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác có thể đứng ra giao nhận trực tiếp với tàu.

    Trước khi nhận hàng, chủ hàng phải hoàn tất các thủ tục hải quan và trao cho cảng B/L, lệnh giao hàng( D/O). Sau khi đối chiếu với Bản lược khai hàng hoá Manifest, cảng sẽ lên hoá đơn cước phí bốc xếp và cấp lệnh giao hàng thẳng để chủ hàng trình cán bộ giao nhận cảng tại tàu để nhận hàng.

    Sau khi nhận hàng, chủ hàng và giao nhận cảng cùng ký bản tổng kết giao nhận và xác nhận số lượng hàng hoá đã giao nhận bằng Phiếu giao hàng kiêm phiếu xuất kho. Ðối với tàu vẫn phải lập Tally sheet và ROROC như trên.
    Ðối với hàng nhập bằng container
    1. Nếu là hàng nguyên (FCL/FCL)
    – Khi nhận được thông báo hàng đến ( Notice of arrival), chủ hàng mang B/L gốc và giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để lấy D/O;
    – Chủ hàng mang D/O đến hải quan làm thủ tục và đăng ký kiểm hoá 9 chủ hàng có thể đề nghị đưa cả container về kho riêng hoặc ICD để kiểm tra hải quan nhưng phải trả vỏ container đúng hạn nếu không sẽ bị phạt;
    – Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan, chủ hàng phải mang toàn bộ chứng từ nhận hàng cùng D/O đến Văn phòng quản lý tàu tại cảng để xác nhận D/O;
    – Lấy phiếu xuất kho và nhận hàng.
    2. Nếu là hàng lẻ( LCL/LCL)
    Chủ hàng mang vận đơn gốc hoặc vận đơn gom hàng đến hãng tàu hoặc đại lý của người gom hàng để lấy D/O, sau đó nhận hàng tại CFS quy định và làm các thủ tục như trên.

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu) 

    Hợp đồng tàu chuyến

    1. Tên và địa chỉ người thuê tàu, người vận chuyển.
    2. Quy định về tàu:
    – Tên tàu
    – Cờ tàu
    – Năm đóng
    – Trọng tải
    – Dung tích đăng ký toàn phần và dung tích đăng ký tịnh
    – Loại hạng của tàu
    – Cơ quan đăng kiểm khả năng đi biển
    – Vị trí của tàu lúc ký hợp đồng
    3. Thời gian tàu đến cảng xếp: phải quy định rõ khoảng thời gian
    – Nếu tàu đến chậm quá quy định, người thuê tàu có quyền huỷ hợp đồng (tuỳ theo sự thoả thuận).
    – Tàu được xem như đã đến cảng nếu xảy ra một trong ba trường hợp sau:
    + Tàu đã cập cầu cảng hoặc đến vùng thương mại của cảng quy định trong C/P
    + Tàu đã sẵn sàng để xếp hoặc dỡ hàng của người thuê
    + Tàu đã trao thông báo sẵn sàng NOR (Notice of Readiness) cho người được ghi trong C/P (tức người thuê)
    4. Quy định về hàng:
    – Tên hàng
    – Loại bao bì
    – Trọng lượng (có dung sai)
    – Thể tích
    Lưu ý:
    – Ðơn vị trọng lượng có thể dùng MT (Metric Ton: 1000kg), tấn dài (Long Ton: 1016kg) hay tấn ngắn (Short Ton: 907kg).
    – Về thể tích có thể dùng mét khối hay tấn khối Anh (CFT).

    Chủ tàu được lựa chọn hoặc dùng trọng lượng hay thể tích để tính tiền cước điều nào có lợi cho họ.
    Nếu người thuê tàu cung cấp không đủ số lượng hàng quy định, cũng phải chịu cước như hàng đã đầy tàu. Nếu có chèn lót, cần quy định ai chịu chi phí và cung cấp vật liệu chèn lót (chủ tàu hay người thuê tàu)
    5. Cảng xếp dỡ:
    Có thể là một hay nhiều cảng hoặc ở một khu vực hay một nhóm cảng.
    – Cảng xếp phải là cảng an toàn về hàng hải và chính trị tức là phải đủ độ sâu để tàu luôn nổi hoặc nếu chạm bùn vẫn đảm bảo an toàn cho tàu và không có chiến tranh, đình công, bạo loạn.
    6. Chi phí xếp dỡ hàng:
    Bốn cách chủ yếu quy định ai phải chịu chi phí xếp dỡ:
       – Theo điều kiện tàu chợ (Liner Terms): người vận chuyển phải chịu trách nhiệm và chi phí xếp dỡ hàng. Các chi phí xếp dỡ đã được tính gộp trong giá cước thuê tàu. Theo cách này, mức xếp dỡ được quy định theo tập quán của cảng (người ta ghi According to customs of port hoặc With all despatch hoặc customary quick despatch chứ không quy định tiền thưởng phạt xếp dỡ nhanh hay chậm như thuê tàu chuyến
    Theo điều kiện miễn xếp (Free In: FI): Chủ tàu được miễn phí xếp xuống tàu, nhưng phải chịu phí dỡ hàng tại cảng đến.
    Theo điều kiện miễn dỡ (Free Out: FO): chủ tàu được miễn phí dỡ hàng khỏi tàu tại cảng đến nhưng phải chịu chi phí xếp hàng xuống tàu tại cảng xếp.
    Theo điều kiện miễn xếp. dỡ (Free In and Out: FIO): Người thuê tàu phải chịu các phí chi phí xếp hàng xuống tàu tại cảng xếp cũng như phí dỡ hàng khỏi tàu tại cảng dỡ..
    Ngoài ra còn quy định chi phí san hàng (Trimming) đối với hàng rời và xếp đặt (Stowage) đối với hàng có bao bì ở hầm tàu do ai chịu.
    Nếu chủ tàu được miễn phí xếp dỡ, san xếp thì ghi FIOST ở sau giá cước. Thí dụ: Freight: USD 15/MT, FIOST
    7. Cước phí và thanh toán:
    – Giá cước: Trong hợp đồng cần ghi rõ giá cước, loại tiền thanh toán; đồng thời đơn vị tính cước là theo trọng lượng hay thể tích đều có thể dùng chung một đơn vị là tấn cước (Freight Ton).
    Khi ấn định giá cước, cần xác định ai chịu phí xếp, dỡ và chi phí xếp hàng dưới tàu.
           Thí dụ : Freight: USD 30 FIO and Stowed Per Metric Ton (Giá cước là 30 đôla Mỹ một tấn mét, chủ tàu được miễn phí xếp dỡ và xếp   hàng dưới tàu) hoặc USD 30 M3 FIO (30 đôla Mỹ một mét khối , miễn phí xếp dỡ).
    Nếu tính cước theo trọng lượng, cũng cần ghi rõ trọng lượng tính cước phí theo số lượng hàng xếp lên tàu ở cảng xếp hay theo số lượng hàng giao ở cảng đến.
    – Thanh toán tiền cước:
    + Cước phí trả trước (Freight Prepaid): người thuê phải trả toàn bộ tiền cước cho chủ tàu sau khi xếp xong hàng hoặc sau khi ký B/L một số ngày do hai bên quy định nếu bán theo CIF, CF.
          Thí dụ: Cước phí phải trả trong vòng 04 ngày kể từ ngày ký B/L , không được khấu trừ và không hoàn lại dù tàu và/hoặc hàng mất hay không mất (freight to be paid in four days after signing B/L, discountless and not returnable, ship and/or cargo lost or not lost)
    + Cước phí trả sau (Freight to collect):
    Thời điểm trả có thể ấn định:
          Trả tiền trước khi mở hầm tàu để dỡ hàng (freight payable before breaking bulk- b.b.b)

     

          Trả đồng thời với việc dỡ hàng (freight payable concurent ưith discharge)
    Trả sau khi dỡ xong hàng (freight payable after completion of discharge)

    + Trả trước một phần và trả sau một phần (advance freight):
          Thí dụ: trả 80% tiền cước tại cảng xếp sau khi ký B/L, số tiền còn lại trả đứt trong vòng 5 ngày sau khi dỡ hàng xong.
    Việc giữ lại một phần tiền cước nhằm giúp người thuê gây áp lực nếu có tranh chấp, thưởng phạt với hãng tàu.
    Hợp đồng cũng phải quy định tiền cước được thanh toán tại ngân hàng nào, cách thức trả tiền…
    8. Thông báo sẵn sàng NOR (Notice of Readiness):
    Có hai loại thông báo:
    – Thông báo ngày dự kiến tàu đến cảng
    Việc thông báo ngày dự kiến tàu đến cảng trong một khoảng thời gian ngắn (7,5,3 ngày) trước khi tàu đến cảng xếp dỡ là rất cần cho có đủ thời gian làm thủ tục cho tàu ra vào cảng và chuẩn bị xếp dỡ hàng theo đúng lịch trình đã quy định giữa hai bên chủ tàu và người thuê tàu.
    – Thông báo sẵn sàng xếp dỡ hàng.
    Thời gian được phép đưa thông báo sẵn sàng xếp dỡ là thời gian tàu đã đến bến, tàu đã sẵn sàng để nhận hoặc giao hàng.
    Ðối với các mặt hàng ngũ cốc, theo tập quán vận chuyển sản phẩm này, bản thông báo sẵn sàng xếp hàng thường phải kèm theo một biên bản giám định các khoang hầm đã sạch sẽ có thể
    nhận hàng được.
    Thời gian đưa thông báo sẵn sàng xếp dỡ còn tuỳ thuộc vào điều khoản về tàu đến bến.
    + Nếu hợp đồng thuê tàu quy định Tàu đến lượt (In turn hay In regular turn) khi có nhiều tàu phải chờ đợi, bao giờ tàu chở hàng đến lượt mình cập cầu, lúc ấy thuyền trưởng mới được đưa thông báo sẵn sàng xếp dỡ cho người thuê tàu, cũng giống như điều khoản vị trí (berth clause). Nếu thuê tàu nên chọn cách này.
    + Nếu hợp đồng quy định Miễn đến lượt tức là không cần tàu cập cầu (Free turn) hay Thời gian chờ cầu cũng tính (time waiting for berth to count), khi tàu đã sẵn sàng là có thể đưa thông báo sẵn sàng xếp dỡ và người thuê tàu phải chịu trách nhiệm về thời gian tàu chờ cầu để cập cầu.
    + Nếu hợp đồng quy định Ðến lượt không quá 48 giờ tức là đến lượt cập cầu nhưng 48 tiếng rồi mà vẫn chưa cập cầu, tàu cứ đưa NOR (In turn not exceding 48 hours), tàu chỉ chờ tối đa 48 giờ đồng hồ sau đó nếu cần phải chờ nữa, người thuê tàu phải chịu trách nhiệm.
    9. Mức xếp dỡ (Loading/ Discharging Rate): là số lượng đơn vị, trọng lượng hoặc thể tích hàng phải xếp hoặc dỡ trong vòng 01 giờ hay 01 ngày .
    Có hai cách thoả thuận về mức xếp dỡ.
    – Quy định mức xếp dỡ trung bình cho cả tàu là bao nhiêu tấn/ ngày
    – Quy định mức xếp dỡ trung bình cho từng khoảng hầm là bao nhiêu tấn / ngày
    10. Thời gian xếp dỡ (Laytime hay Layday):
    Có hai cách quy định về thời hạn xếp dỡ (Loading/Discharging Laytime):
    – Phân chia thời hạn xếp dỡ làm 2 giai đoạn: Thời hạn xếp và dỡ hàng Cargo to be loaded at the rate of 3000 MT and discharge at the rate of 900 MT per weather working day of 24 hours, sunday and holiday excepted both and even if used (hàng được xếp với mức 3000 tấn và dỡ với mức 900 tấn ngày làm việc nghỉ, có làm cũng không tính (S.H.E.X.E.U)
    – Gộp thời gian xếp dỡ hàng làm một để tính: gọi là thời hạn xếp dỡ bù trừ (reversible laydays) 2000 MT per weather working day of 24 consecutive hours, sundays and holidays excepted unless used (SHEXUU). Như vậy nếu tàu chở 10 000 MT thời hạn xếp dỡ sẽ là: 10 000 MT/ 2000 MT = 5 ngày quy định (5 WWDSHEX UU- Working days sundays holidays excepted, unless used) có nghĩa là 5 ngày làm việc, chủ nhật, ngày lễ được nghỉ nhưng nếu có làm thì tính)
    Ngoài ra, còn quy định thời hạn xếp dỡ được tính từ thời điểm nào:
    Thí dụ: Theo mẫu hợp đồng thuê tàu GENCON, thời hạn xếp dỡ bắt đầu tính từ 1 giờ chiều nếu thông báo sẵn sàng xếp dỡ được trao và chấp nhận trước 12 giờ trưa; bắt đầu tính từ 6 giờ sáng ngày làm việc hôm sau, nếu NOR xếp dỡ được trao trong giờ làm việc buổi chiều ngày hôm trước.

    11. Thưởng phạt về xếp dỡ (Demurage/ Despatch money: DEM/DES): mức tiền bội thường hoặc phạt thường được quy định theo ngày hoặc tấn dung tích đăng ký toàn phần của tàu mỗi ngày
    Thí dụ: quy định mức phạt USD 2000/ngày hoặc USD 0,3/GRT/ngày… Nguyên tắc của phạt là : Khi đã phạt là luôn bị phạt ,tức các ngày sau đó dù là ngày chủ nhật, ngày lễ, xấu hay tốt trời đều bị phạt.
    Mức thưởng thường chỉ bằng 1/ 2 mức phạt. Tiền thưởng thường được tính theo ngày hoặc theo tỷ lệ một phần của ngày( Pro-rata), không hẳn ngày chẵn mà còn tính thêm giờ phút.

    Lưu ý : tàu chợ không có tiền thưởng phạt về xếp dỡ nhanh chậm, chỉ có trong tàu chuyến.

    12. Ðiều khoản cầm giữ hàng ( Lien clause):
    Chủ tàu sẽ cầm giữ hàng thay cho cước phí, cước khống tiền phạt.
    Người thuê vẫn còn trách nhiệm về cước khống và tiền phạt do mình gây ra ở cảng xếp và trách nhiệm về cước phí và tiền phạt ở cảng dỡ hàng nếu chủ tàu không thu được tiền thanh toán do việc cầm giữ hàng.

    13. Ðiều khoản trọng tài ( arbitration clause):
    Bất kì tranh chấp nào nảy sinh ngoài hợp đồng hiện tại sẽ được chuyển cho trọng tài thuộc : Phòng Trọng tài Hàng hải( Chambre arbitral marinetime) ở Paris chẳng hạn. Quyết định đưa ra theo quy tắc của Phòng trọng tài sẽ là phán quyết cuối cùng ràng buộc hai bên.

    14. Trách nhiệm và miễn trách của người vận chuyển.
    Nói chung các hợp đồng đều quy định chủ tàu phải chịu trách nhiệm như Công ước Brussels 1924 đã nói : Tổn thất hư hỏng của hàng hoá do xếp không cẩn thận, do chèn lót không tốt, do hun khói, do thiếu cần mẫn thích đáng nên tàu không đủ khả năng đi biển…
    Các trường hợp miễn trách nhiệm (exemption from liability) gồm: thiên tai, tai hoạ ngoài biển, thuỷ thủ phá hoại, cháy, cướp biển, ẩn tỳ của vỏ tàu và máy móc, do bản chất hàng, sơ sót của thuyền trưởng, bị cầm giữ do vua chúa và chính phủ, đi lệch hướng( deviation). Ngoài ra, chủ tàu được miễn trách do trì hoãn lúc khởi hành và trong chuyến hải trình bởi đình công , thiếu thuỷ thủ hoặc những người ảnh hưởng đến hải trình.

    15. Các điều khoản khác:
    Hợp đồng thuê tàu còn có các điều khoản tổn thất chung( General average), 2 tàu đâm nhau cùng có lỗi ( Both to blame collíion clause), chiến tranh, đình công( Strike), băng giá( ice). Khi kí hợp đồng, nếu thấy điều khoản nào không thích hợp hai bên có thể loại bỏ.
    Ngoài ra, cần xác định rõ chủ tàu hay người cho thuê chịu các chi phí sau:
    – Chi phí cung cấp vật liệu chèn lót, cung cấp cần trục, dây buộc
    – Chi phí thuê người điều khiển cần trục, di chuyển cần trục, đóng mở hầm tàu
    – Chi phí làm ngoài giờ, kiểm đếm thuế má, cảng phí

    Cách thức thuê tàu chuyến

    Thuê tàu chuyến phức tạp hơn công việc thuê tàu chợ, đòi hỏi người thuê tàu phải am hiểu tuyến, luồng vận tải; am hiểu đặc điểm kinh doanh của từng hãng tàu; am hiểu về giá cước phí

    Những công việc chính khi thuê tàu chuyến:
    – Xác định loại hình tàu chuyến sẽ thuê phục vụ cho kinh doanh:
    + Thuê chuyến một (Single voyage)
    + Thuê khứ hồi (Round voyage)
    + Thuê nhiều chuyến liên tục (Consecutive voyage)
    + Thuê bao cả tàu trong một thời gian (Lumpsum)

     

    – Uỷ thác cho công ty giao nhận hoặc trực tiếp đứng ra đàm phán ký Hợp đồng thuê tàu (Voyage charter party) với hãng tàu

    – Tập kết hàng để giao lên tàu (khi xuất khẩu theo điều kiện nhóm C, D) lấy Biên lai thuyền phó (Mate’s receipt), sau đó đổi lấy Vận đơn sạch đã xếp hàng (B/L clean on board)

    Lưu ý: Nếu thuê tàu để chỉ định chuyên chở trong trường hợp mua hàng theo điều kiện FOB thì người thuê phải kịp thời thông báo cho nhà xuất khẩu các thông tin về ngày giờ con tàu sẽ vào lấy hàng để người xuất khẩu chuẩn bị hàng tập kết lên tàu. Trong trường hợp này, người lấy B/L không phải là người thuê tàu mà là người xuất khẩu.

    – Thanh toán cước phí, tiền bốc dỡ, tiền thưởng phạt xếp dỡ

    Theo Kỹ thuật kinh doanh XNK (PGS.TS Võ Thanh Thu)

    Thể thức lập vận đơn

    – Lập một tờ khai vận chuyển ghi rõ: tên tàu, tên người gửi hàng, tên người nhận hàng, nơi đến, số, ký mã hiệu, kiện hàng, tính chất hàng, trọng lượng hay khối lượng, trị giá hàng nếu cần. Sau đó người gửi hàng ký tên vào tờ khai đó.
    – Giao tờ khai cho nhân viên tàu tính tiền cước và chi phí phụ
    – Nhận lại một phiếu xếp hàng để xếp hàng xuống tàu đã chỉ định.
    – Nhân viên nhận hàng của tàu ký xác nhận vào phiếu xếp hàng sau đó chuyển cho bộ phận chuyên trách
    – Bộ phận chuyên trách cấp chính thức một vận đơn hợp lệ cho người gửi hàng, có chữ ký của thuyền trưởng hay đại lý.

     

    Theo Nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương ( Dương Hữu Hạnh)

    Cách thức thuê tàu chợ

    Bước 1: Tập trung đủ số lượng hàng quy định

     

    Bước 2: Nghiên cứu lịch trình tàu chạy. Lịch này thường được
    đăng trên các báo Sài Gòn giải phóng, báo Nhân Dân. Từ đó
    chọn hãng tàu có uy tín và cước phí thấp. Hiện tại, giữa các
    hãng tàu có sự cạnh tranh lớn nên người thuê tàu thường được
    hưởng một khoản hoa hồng nhất định.

    Bước 3: Chủ hàng lập Bảng kê khai hàng (Cargo list) và uỷ thác
    cho công ty đại lý vận tải giữ chỗ trên tàu. Chủ hàng ký Ðơn xin
    lưu khoang (booking note) với đại lý sau khi hãng tàu đồng ý
    nhận chuyên chở, đồng thời đóng cước phí vận chuyển.

    Bước 4: Giao hàng cho tàu. Nếu là hàng nguyên container thì
    làm thủ tục mượn container để chất xếp hàng, sau đó giao
    container cho bãi hoặc trạm container

    Bước 5: Lấy Vận đơn (Bill of Lading)

    Bước 6: Thông báo cho người mua về kết quả giao hàng

          Theo Kỹ thuật kinh doanh XNK (PGS.TS Võ Thanh Thu

     

    AIR TRANSPORTATION

    Thông báo tổn thất và khiếu nại đối với người chuyên chở hàng không

    Thời hạn khiếu nại:

    – Ðối với hư hỏng dễ thấy của hàng hoá : ngay sau khi phát hiện hư hỏng và muộn nhất là sau 14 ngày kể từ ngày nhận hàng;
    – Các trường hợp hư hỏng khác: trong vòng 14 ngày kể từ ngày nhận hàng;
    – Ðối với chậm trễ: trong vòng 21 ngày kể từ ngày hàng hoá được đặt dưới sự định đoạt của người nhận ;
    – Ðối với trường hợp không giao hàng; trong vòng 120 ngày kể từ ngày phát hành vận đơn hàng không;
    – Khiếu nại tiền cước lạm thu: trong vòng 180 ngày kể từ ngày phát hành vận đơn hàng không;
    – Ðối với hư hỏng hành lý: trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận hàng.

    Thông báo tổn thất và khiếu nại có thể gửi cho:

     

    + Người chuyên chở có vận đơn đang sử dụng,
    + Người chuyên chở thứ nhất,
    + Người chuyên chở cuối cùng,
    + Người chuyên chở thực tế đã gây ra mất mát, hư hỏng trên chặng đường anh ta chuyên chở.

    Nếu người chuyên chở hàng không không giải quyết khiếu nại hoặc giải quyết không thoả đáng thì chủ hàng có quyền kiện ra toà.
    Thời gian đi kiện là 2 năm, kể từ:
    – Ngày máy bay đến, hoặc ngày đáng lẽ máy bay đến,
    – Ngày mà việc vận chuyển chấm dứt.

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

    Trách nhiệm của người chuyên chở hàng không

    Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại trong trường hợp hàng hoá, hành lý bị phá huỷ, mất mát hoặc hư hỏng với điều kiện là sự cố gây ra thiệt hại đó xảy ra trong quá trình vận chuyển hàng không.

    Vận chuyển hàng không bao gồm thời gian mà hàng hoá nằm trong sự trông nom, quản lý của người chuyên chở, dù ở sân bay, ở trong máy bay hoặc trong trường hợp phải hạ cánh ngoài sân bay thì ở bất kì nơi nào.

    Người chuyên chở hàng không sẽ không chịu trách nhiệm nếu anh ta chứng minh được rằng sự phá huỷ, mất mát hoặc hư hỏng là do các nguyên nhân sau đây gây ra:
    – Tính chất hoặc khuyết tật vốn có của hàng hoá
    – Khuyết điểm về bao bì của hàng hoá do một người không phải là người chuyên chở hoặc đại lý của họ gây ra;
    – Hành động chiến tranh hoặc xung đột vũ trang ;
    – Hành động của nhà cầm quyền liên quan đến việc vào, ra hay quá cảnh của hàng hoá.

     

    Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở hàng không đối với hàng hóa và hành lý ký gửi là 250 Fr ( tương đương với 17 SDR hay 20 USD) cho mỗi kg hàng hóa bị mất, trừ trường hợp người gửi hàng đã kê khai giá trị hàng hoá khi giao hàng cho người chuyên chở. Trong trường hợp này, người chuyên chở sẽ bồi thường theo giá trị kê khai, nếu giá trị kê khai đó là chính xác.
    Người chuyên chở hàng không sẽ mất quyền hưởng giới hạn trách nhiệm nói trên, nếu người chuyên chở hàng không phạm lỗi cố ý hoặc cẩu thả, mặc dù biết rằng tổn thất có thể xảy ra.

    Ngoài ra, người chuyên chở còn phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do chậm trễ trong việc vận chuyển hành khách, hành lý và hàng hoá. Tuy vậy, người chuyên chở không chịu trách nhiệm về chậm trễ nếu người chuyên chở chứng minh được anh ta và người làm công hay đại lý của anh ta đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để tránh thiệt hại hoặc đã không thể áp dụng được những biện pháp như vậy.

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

    Các loại cước hàng không

    Cước hàng bách hoá (General Cargo Rates- GCR)
    Là loại cước áp dụng cho những hàng hoá thông thường vận chuyển giữa hai sân bay mà không áp dụng bất kỳ một loại cước đặc biệt nào. Cước này cao hay thấp phụ thuộc vào trọng lượng của hàng hoá, khối lượng hàng: càng nhiều thì giá cước càng hạ.

    Cước tối thiểu ( Minimum Charges- M)

    Là giá cước thấp nhất mà một hãng hàng không có thể vận chuyển một lô hàng, có tính đến các chi phí cố định mà hãng hàng không phải chi ra để vận chuyển.

    Cước đặc biệt ( Specific Commodity Rates- SCR)
    Là loại cước áp dụng cho những hàng hoá đặc biệt xuất phát từ một địa điểm t cụ thể đến một nơi đến cụ thể. Cước này thường thấp hơn cước hàng bách hoá và được công bố cho những hàng đặc biệt hay hàng hoá chuyên chở trên những tuyến đường đặc biệt. Mục đích của cước này là dành cho chủ hàng một giá cước cạnh tranh nhằm khuyến khích họ gửi hàng bằng máy bay để tận dụng khả năng chuyên chở của hãng hàng không.

    Cước phân loại hàng ( Class Rates/ Commodity Classification Rates)
    Cước này thường được thể hiện bằng số phần trăm của cước bách hoá hoặc một khoản phụ thêm vào cước bách hoá và được áp dụng cho một số ít mặt hàng ở trong hoặc giữa các khu vực quy định. Cước này được áp dụng khi không có cước đặc biệt cho hàng hoá nào đó. Các mặt hàng thường được áp dụng loại cước này là: Ðộng vật sống (150% GCR); hàng giá trị cao; vàng bạc, đá quý( 200% GCR); sách báo, tạp chí, catalô. sách cho người mù( 50%), hài cốt…

    Cước áp dụng cho tất cả mặt hàng ( Freight All Kinds- FAK)
    Giá cước loại này tính theo khối lượng và áp dụng cho tất cả các mặt hàng trong một container không phân biệt đó là hàng gì. Cước này không áp dụng cho các mặt hàng như hàng dễ hư hỏng, động vật sống, hàng giá trị cao…

    Cước container ( Container Rates)
    Nếu hàng được đóng trong container thích hợp với việc vận chuyển bằng máy bay thì hãng hàng không sẽ áp dụng một giá cước hạ hơn.

    Cước giá trị
    Là cước heo giá trị hàng hoá kê khai. Ví dụ, nếu hàng có giá trị trên 20 USD/kg thì cước là 5% giá trị kê khai.

     

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

      Các loại cước hàng không
      Cước hàng bách hoá (General Cargo Rates- GCR)
    Là loại cước áp dụng cho những hàng hoá thông thường vận chuyển giữa hai sân bay mà không áp dụng bất kỳ một loại cước đặc biệt nào. Cước này cao hay thấp phụ thuộc vào trọng lượng của hàng hoá, khối lượng hàng: càng nhiều thì giá cước càng hạ.

    Cước tối thiểu ( Minimum Charges- M)

    Là giá cước thấp nhất mà một hãng hàng không có thể vận chuyển một lô hàng, có tính đến các chi phí cố định mà hãng hàng không phải chi ra để vận chuyển.

    Cước đặc biệt ( Specific Commodity Rates- SCR)
    Là loại cước áp dụng cho những hàng hoá đặc biệt xuất phát từ một địa điểm t cụ thể đến một nơi đến cụ thể. Cước này thường thấp hơn cước hàng bách hoá và được công bố cho những hàng đặc biệt hay hàng hoá chuyên chở trên những tuyến đường đặc biệt. Mục đích của cước này là dành cho chủ hàng một giá cước cạnh tranh nhằm khuyến khích họ gửi hàng bằng máy bay để tận dụng khả năng chuyên chở của hãng hàng không.

    Cước phân loại hàng ( Class Rates/ Commodity Classification Rates)
    Cước này thường được thể hiện bằng số phần trăm của cước bách hoá hoặc một khoản phụ thêm vào cước bách hoá và được áp dụng cho một số ít mặt hàng ở trong hoặc giữa các khu vực quy định. Cước này được áp dụng khi không có cước đặc biệt cho hàng hoá nào đó. Các mặt hàng thường được áp dụng loại cước này là: Ðộng vật sống (150% GCR); hàng giá trị cao; vàng bạc, đá quý( 200% GCR); sách báo, tạp chí, catalô. sách cho người mù( 50%), hài cốt…

    Cước áp dụng cho tất cả mặt hàng ( Freight All Kinds- FAK)
    Giá cước loại này tính theo khối lượng và áp dụng cho tất cả các mặt hàng trong một container không phân biệt đó là hàng gì. Cước này không áp dụng cho các mặt hàng như hàng dễ hư hỏng, động vật sống, hàng giá trị cao…

    Cước container ( Container Rates)
    Nếu hàng được đóng trong container thích hợp với việc vận chuyển bằng máy bay thì hãng hàng không sẽ áp dụng một giá cước hạ hơn.

    Cước giá trị
    Là cước heo giá trị hàng hoá kê khai. Ví dụ, nếu hàng có giá trị trên 20 USD/kg thì cước là 5% giá trị kê khai.

     

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

       

    Trình tự giao hàng xuất khẩu

    Người xuất khẩu tiến hành giao hàng vận chuyển bằng đường hàng không theo các bước sau:

     

    1. Lưu cước với hãng hàng không hoặc với người giao nhận:
    Người gửi hàng phải điền vào Booking Note theo mẫu của hãng hàng không với các nội dung như: tên người gửi, người nhận, bên thông báo; mô tả hàng hoá: loại hàng, trọng lượng, số lượng, thể tích; tên sân bay đi, tên sân bay đến; cước phí và thanh toán…

    2.Vận chuyển, đóng hàng và giao hàng cho người chuyên chở:
    – Chuẩn bị mọi giấy tờ cần thiết cho lô hàng;
    – Lập phiếu cân hàng ( Scaling Report);
    – Ðóng gói, ghi ký mã hiệu, dán nhãn hiệu;
    – Làm thủ tục hải quan;
    – Giao hàng cho hãng hàng không.

    3. Lập Airway Bill (AWB)
    Sau khi hàng được xếp vào pallet, igloo hay container, cán bộ giao nhận liên hệ với hãng hàng không để nhận AWB và điền các chi tiết vào AWB.
    Nếu gửi hàng qua người giao nhận sẽ có hai loại AWB được sử dụng là Master AWB (MAWB) do hãng hàng không cấp cho người giao nhận và House AWB (HAWB) do người giao nhận cấp khi người này làm dịch vụ gom hàng.

    4. Thông báo cho người nhận về việc gửi hàng
    Nội dung của thông báo gồm: số HAWB/MAWB; người gửi, người nhận, tên hàng, số lượng, trọng lượng, thể tích, tên sân bay đi, tên sân bay đến, ngày khởi hành( ETD), ngày dự kiến đến(ETA)…

    5. Lập bộ chứng từ thanh toán và thanh toán các khoản cần thiết.

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

     
    Trình tự nhận hàng nhập khẩu
    Người nhập khẩu tiến hành nhận hàng vận chuyển bằng đường hàng không theo các bước sau:

    1. Nhận các giấy tờ, chứng từ:
    Sau khi nhận được giấy báo hàng đến, người nhận phải đến hãng hàng không để nhận được các giấy tờ, chứng từ liên quan.

    2. Nhận hàng tại sân bay:
    Người nhận hàng mang chứng minh thư và giấy giới thiệu để nhận hàng tại sân bay. Khi nhận phải kiểm tra hàng hoá, nếu có hư hỏng, đổ vỡ phải lập biên bản giám định, có xác nhận của kho để khiếu nại sau này.

    3. Làm thủ tục hải quan:
    Trước khi làm thủ tục, phải đăng ký tờ khai. Hồ sơ đăng ký làm thủ tục hải quan bao gồm ( thường đăng ký trước một buổi):
    – Vận đơn hàng không (AWB) bản gốc 2;
    – Phiếu đóng gói (Packing List)
    – Hoá đơn thương mại (Commercial invoice)
    Sau khi xem xét hồ sơ, hải quan tiến hành kiểm và ký thông báo thuế.

    4.Thanh toán các khoản liên quan và đưa hàng ra khỏi sân bay

     

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

    TRANSPORTATION BY CONTAINERS

    Phương thức gửi hàng lẻ

    Phương thức gửi hàng lẻ được sử dụng khi người gửi hàng không đủ lượng hàng để xếp đầy một container.

    Quy trình

    – Người gom hàng đóng nhiều lô hàng lẻ của các chủ hàng khác nhau vào cùng một container bằng chi phí của mình.
    – Người vận chuyển xếp container lên tàu.
    – Tại cảng đến, đại lý giao nhận nhận container được dỡ từ tàu xuống, vận chuyển về trạm làm hàng lẻ để rút hàng.
    – Các lô hàng được tách ra riêng biệt và giao cho người nhận
    ( người NK)

     

    Trách nhiệm của các bên:

    * Người gửi hàng:
    – Vận chuyển hàng từ kho hay nơi chứa hàng của mình đến trạm làm hàng lẻ của cảng gửi giao cho người gom hàng và phải chịu chi phí vận chuyển này.
    – Chuyển các chứng từ cần thiết liên quan đến thương mại, vận tải, thủ tục xuất khẩu cho người gom hàng.
    – Nhận vận đơn và trả cước hàng lẻ.

    * Người nhận hàng:
    – Xin giấy phép nhập khẩu và làm thủ tục hải quan cho lô hàng.
    – Xuất trình vận đơn hợp lệ cho người nhận hàng.
    – Nhanh chóng nhận hàng tại trạm CFS.

    * Người vận chuyển hàng lẻ:
    Có thể là người vận chuyển thực sự ( effective carrier) tức hãng tàu hoặc có thể là người thầu vận chuyển hàng lẻ nhưng lại không có tàu ( NVOCC: Non Vessel Operating Common Carrier).
    Người vận chuyển thực sự ( hãng tàu) vận chuyển hàng lẻ với tư cách người gom hàng, ký phát vận đơn thực ( Master B/L) cho người gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyên chở đến cảng đích và dỡ hàng xuống cảng, giao hàng cho người nhận tại trạm CFS cảng đến.
    Người thầu vận chuyển hàng lẻ ( NVOCC) thường do công ty giao nhận đảm trách với tư cách người gom hàng, là người chuyên chở theo hợp đồng vận chuyển ( Contracting Carrier) chứ không phải là đại lý ( agent).
    Người thầu vận chuyển hàng lẻ chịu trách nhiệm suốt quá trình vận chuyển hàng từ khi nhận hàng tại cảng gửi đến khi giao trả hàng xong tại cảng đích. Vận đơn họ ký phát cho người gửi hàng có thể là vận đơn tập thể ( House Bill of Lading) hoặc vận đơn do Hiệp hội những người giao nhận quốc tế soạn thảo ( FIATA Bill of Lading) nếu họ là thành viên của hội này.

    Theo Nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương (Dương Hữu Hạnh)

    Phương thức gửi hàng đầy container

    Phương thức gửi hàng đầy container được sử dụng khi người gửi hàng có lượng hàng đủ chứa đầy một hay nhiều container hoặc hàng hoá có tính chất đòi hỏi phải chứa trong một container, nên thuê cả một hay nhiều container để gửi hàng.

    Quy trình

    – Chủ hàng đóng hàng vào container tại kho riêng hoặc tại bãi. Sau khi làm thủ tục hải quan kiểm hoá, container được niêm phong kẹp chì.
    – Chủ hàng hay công ty giao nhận vận chuyển container đến bãi chứa container (C/Y) để chờ xếp lên tàu.
    – Tại cảng đến, người vận tải sắp xếp và chịu chi phí vận chuyển container vào bãi chứa của mình.
    – Từ bãi chứa container, người nhận hàng hoặc công ty giao nhận sắp xếp và làm thủ tục hải quan, vận chuyển về kho riêng và rút hàng

     

    Trách nhiệm của các bên:

    * Người gửi hàng( Shipper)
    – Vận tải hàng từ kho hay nơi chứa hàng trong nước đến bãi chứa container của cảng gửi hàng.
    – Ðóng hàng vào container, kể cả chất xếp và chèn lót.
    – Ghi ký mã hiệu ( markings) và dấu hiệu chuyên chở.
    – Niêm phong và cặp chì container theo quy chế xuất khẩu và làm thủ tục hải quan.
    – Chịu mọi chi phí liên quan.
    Việc đóng hàng vào container có thể thực hiện tại bãi chứa container hoặc tại kho riêng của người gửi hàng nếu có yêu cầu, nhưng người gửi hàng phải đảm bảo an toàn và chịu chi phí điều vận container đi và về bãi chứa.
    * Người nhận hàng ( Consignee)
    – Xin giấy phép nhập khẩu và làm thủ tục hải quan cho lô hàng.
    – Xuất trình B/L hợp lệ cho người vận chuyển để nhận hàng.
    – Rút hàng tại bãi chứa hoặc tại kho của mình để hoàn trả container rỗng cho người chuyên chở kịp thời, tránh bị phạt.
    * Người vận chuyển ( Carrier)
    – Chăm sóc, giữ gìn, bảo quản hàng xếp trong container kể từ khi nhận từ người gửi tại bãi chứa của cảng gửi cho đến khi giao trả hàng cho người nhận tại bãi chứa ở cảng đến.
    – Xếp hàng từ bãi chứa ở cảng gửi lên tàu kể cả việc xếp hàng trên tàu.
    – Dỡ hàng từ tàu xuống bãi chứa ở cảng đến.
    – Giao hàng cho người nhận có vận đơn hợp pháp.
    – Chịu mọi chi phí xếp dỡ container lên xuống tàu.

    Theo Nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương (Dương Hữu Hạnh)

     
    Các loại hợp đồng thuê container
    Hợp đồng thuê chuyến ( Trip Leasing)
    Hợp đồng thuê tàu chuyến được sử dụng khi người thuê có nhu cầu sử dụng ngay container. Giá tiền thuê chuyến được tính theo đơn vị container/ngày hoặc container/tháng, biến động theo thị trường và thường cao hơn giá cho thuê ở các loại hợp đồng khác.

     

    Nói chung, người cho thuê container không thích cách cho thuê này vì nó có tính tạm thời, thiếu ổn định và nếu không có các biện pháp hữu hiệu sẽ có thể dẫn đến sự đảo lộn kế hoạch bố trí khai thác, tạo ra sự tồn đọng container ở một địa điểm nào đó.

    Hợp đồng không thuê quy định số lượng container bắt buộc (Rate agreement)
    Hợp đồng này chủ yếu quy định giá tiền thuê container không thay đổi trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng, bất kể container nằm ở địa điểm nào miễn là thuộc phạm vi quản lý quy định của người cho thuê.
    Hợp đồng không quy định số lượng container bắt buộc hai bên phải thực hiện. Người thuê tuỳ theo nhu cầu từng chuyến mà đề nghị số lượng và người cho thuê tuỳ theo khả năng của mình vào lúc ấy mà đáp ứng. Hợp đồng quy định địa điểm hoàn trả container, số lượng hoàn trả trong mỗi tháng và phí hoàn trả container ( nếu có).

    Hợp đồng cho thuê có quy định số lượng container tối thiểu bắt buộc ( Master lease)
    Hợp đồng này quy định người thuê sử dụng một số lượng container tối thiểu trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng và phải trả đủ số tiền thuê quy định, mặc dù có khi người thuê không sử dụng hết. Mặt khác, người thuê có thể thuê vượt quá số lượng quy định nếu có nhu cầu.
    Hợp đồng còn quy định điều kiện hoán đổi, có nghĩa là trong thời gian thuê, người thuê có quyền hoàn trả một số lượng container ở nơi này và nhận một số lượng tương ứng trong khu vực mà hai bên thoả thuận.
    Cách thuê này có lợi cho người thuê vì nó cho phép người thuê điều chỉnh số lượng container khớp với nhu cầu thực tế nhưng lại đòi hỏi người cho thuê phải bố trí mạng lưới container rộng khắp và do đó chi phí quản lý hành chính sẽ tăng lên.

    Hợp đồng thuê dài hạn ( Long term lease)
    Hợp đồng này quy định người thuê sử dụng một số lượng container trong suốt thời gian thuê mà không có sự hoán đổi và chỉ hoàn trả container khi hết hạn hợp đồng. Nếu người thuê vi phạm sẽ phải nộp tiền phạt. Các công ty vận chuyển container thường sử dụng cách này.
    Ðôi khi hợp đồng thuê container dài hạn có thể biến dạng thành hợp đồng thuê mua ( purchase- lease contract), nghĩa là người thuê sử dụng dài hạn, trả tiền thuê cho đến hết hạn quy định trong hợp đồng thì quyền sở hữu container chuyển sang luôn cho người thuê. Người thuê sử dụng luôn cách thuê mua vì họ không muốn hoặc không có khả năng chi trả ngay một lần tiền mua container.

    Trong các hợp đồng thuê container nói trên, giá tiền thuê, phí bảo hiểm, điều kiện thuê, việc nhận, hoàn trả container là các điều khoản chủ yếu cần lưu ý.


    Theo Nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương (Dương Hữu Hạnh)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án tốt nghiệp Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển bằng container của Công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận chuyển thương mại Siêu Ký

    Đồ án tốt nghiệp Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển bằng container của Công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận chuyển thương mại Siêu Ký

    Đồ án tốt nghiệp Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển bằng container của Công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận chuyển thương mại Siêu Ký

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Giao nhận vận tải hàng hoá bằng đường biển


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Quy-tr%C3%ACnh-giao-nh%E1%BA%ADn-h%C3%A0ng-h%C3%B3a-xu%E1%BA%A5t-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-bi%E1%BB%83n-b%E1%BA%B1ng-container-c%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-ty-TNHH-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-giao-nh%E1%BA%ADn-v%E1%BA%ADn-chuy%E1%BB%83n-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Si%C3%AAu-K%C3%BD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển bằng container của Công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận chuyển thương mại Siêu Ký

    CHƯƠNG I – GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH DV GN VC TM SIÊU KỶ

    I – Quá trình hình thành và phát triển của công ty

    1.1 Sự hình thành

    Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Sự giao thương giữa Việt Nam với các nước ngày càng phát triển mạnh dẫn đến nhu cầu về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu cũng không ngừng phát triển. Đồng thời, dịch vụ giao nhận vận tải ngày càng thể hiện và chứng minh vai trò quan trọng của mình trong quá trình thực hiện các hợp đồng kinh tế ngoại thương.

    Trên thực tế cho thấy bản thân các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu không thể thực hiện đầy đủ và hiệu quả nhất việc đưa hàng hóa của mình ra nước ngoài và ngược lại do sự hạn chế trong chuyên môn và nghề nghiệp. Chính vì vậy việc ra đời của các Công ty dịch vụ giao nhận vận tải đang là nhu cầu cần thiết.Công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ cũng là một trong những công ty ra đời trong hoàn cảnh trên.

    Công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ là công ty tư nhân với 100% vốn trong nước. Công ty được thành lập vào ngày 21 tháng 11 năm 2007 theo Giấy phép kinh doanh số 030527754 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Thành Phố Hồ Chí Minh cấp.

    Tên giao dich Tiếng Việt : CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ –  GIAO NHẬN –  VẬN CHUYỂN – THƯƠNG MẠI SIÊU KỶ

    Tên giao dịch quốc tế     : SUPPERTRANS LOGISTICS CO.LTD

    Vốn điều lệ                    : 500.000.000 VND

    Văn phòng chính           : 4/9C Nguyễn Thị Minh Khai, P.Dakao, Q1, TP.Hồ Chí Minh.

    Điện thoại                      : (848) 39115330/ 39115331

    Fax                                :  848 39115334

    Email                             : [email protected]

    Website                          : http://www.supertransvn.com

    Chủ doanh nghiệp         : Dương Tấn Triển

    Số lượng nhân viên        : 10 nhân viên

    Lĩnh vực hoạt động        : Vận tải và giao nhận hàng hóa

    Loại hình kinh doanh     : Đại lí giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu

    1.2. Quá trình phát triển

    Công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ là một công ty tư nhân, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, hạch toán độc lập. Cũng như các Công ty dịch vụ khác, công ty luôn hoạt động theo phương châm: “Đảm bảo uy tín, Phục vụ nhanh chóng, An toàn chất lượng, Mọi lúc mọi nơi, Giá cả cạnh tranh” làm phương châm phục vụ khách hàng.

    Chính vì thế,tuy mới thành lập 3 nhưng công ty đã tạo dựng cho mình một vị thế khá vững trong ngành dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu và đã được nhiều khách hàng lớn cả trong, ngoài nước tin cậy và chọn lựa.

    Công ty không những mở rộng được mạng lưới kinh doanh mà còn đẩy mạnh các loại hình kinh doanh như: đại lý giao nhận vận tải quốc tế, vận tải nội địa, dịch vụ khai thuê Hải quan, xuất nhập khẩu ủy thác, dịch vụ gom hàng…Với sự tự tin và lòng nhiệt tình mọi thành viên trong công ty luôn phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của mình và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ đối với khách hàng, để hướng đến mục tiêu trở thành cầu nối hiệu quả giữa công ty với các đại lí, các đối tác nước ngoài và khách hàng. Công ty luôn nổ lực nâng cao chất lượng các dịch vụ dể tạo dưng được lòng tin và sự ủng hộ của khách hàng.

    Những thành quả đạt được hôm nay cho thấy công ty  đã có những chiến lược kinh doanh phù hợp, đúng đắn, kết hợp giữa đầu tư và am hiểu thị trường….Vì vậy, công ty đã đạt được mục tiêu đề ra:

    – Đảm bảo và phát triển nguồn vốn.

    – Nâng cao doanh thu nhằm đạt được lợi nhuận cao.

    – Nâng cao chất lượng cuộc sống của công nhân viên.

    – Hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước.

    1.3 Chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của công ty

    1.3.1 Chức năng

    Phối hợp với các tổ chức khác trong và ngoài nước để tổ chức chuyên chở, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng ngoại giao, hàng quá cảnh, hàng hội chợ triển lãm, hàng tư nhân, tài liệu chứng từ liên quan, chứng từ phát nhanh.

    Nhận ủy thác dịch vụ về giao nhận, kho vận, thuê kho bãi, mua bán cước các phương tiện vận tải (ô tô, tàu biển. máy bay, xà lan, container…) thực hiện các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa nói trên như : việc gom hàng, chia hàng lẻ, làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu, thủ tục hải quan, mua bảo hiểm hàng hóa và giao hàng đó cho người chuyên chở để chuyên chở đến nơi quy định.

    Thực hiện các dịch vụ tư vấn về vấn đề giao nhận , vận tải kho hàng và các vấn đề khác có liên quan theo yêu cầu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

    Tiến hành các dịch vụ giao nhận , vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng hóa quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam và ngược lại bằng các phương tiện vận chuyển khác nhau.

    Làm đại lý cho các hãng tàu, hãng hàng không trong và ngoài nước, liên doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước trong lĩnh vực vận chuyển, giao nhận , kho bãi , thuê tàu…

    • Nhiệm vụ

    Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh theo quy chế hiện hành nhằm thực hiện mục đích và chức năng mà Công ty đề ra.

    Bảo đảm việc bảo toàn và bổ sung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn, bảo đảm trang trải về tài chính, sử dụng hợp lý theo đúng chế độ, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà nước.

    Thông qua các liên doanh, liên kết trong và ngoài nước để thực hiện việc giao nhận, chuyên chở hàng hóa bằng các phương thức tiên tiến, hợp lý, an toàn trên các luồng, các tuyến vận tải, cải tiến việc chuyên chở, chuyển tải, lưu kho, lưu bãi giao hàng hóa và đảm bảo hàng hóa an toàn trong phạm vi trách nhiệm của mình.

    Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quản lí tài chính, tài sản các chế độ chính sách cán bộ và quyền lợi của người lao động theo chế độ tự chủ, chăm lo đời sống, đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân của công ty để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ kinh doanh ngày càng cao.

    • Phạm vi hoạt động

    Công ty có mạng lưới đại lí rộng khắp và mối quan hệ với các hãng tàu, hãng hàng không uy tín như : Hanjin, OOCL, Mearsk, Wanhai, VN Airline,MH cargo…cho phép công ty cung cấp dịch vụ vận chuyển cả đường hàng không đường biển và nội địa. Các lĩnh vực hoạt động chính của công ty bao gồm :

     » Dịch vụ vận tải

    • Vận tải nội địa
    • Đại lí vận tải quốc tế bằng đường biển và hàng không

    » Ủy thác xuất nhập khẩu

    • Nhập khẩu hàng hóa
    • Xuất khẩu hàng đi các nước
    • Ký kết hợp đồng thương mại

    » Dịch vụ giao nhận

    • Giao nhận hàng hóa nội địa
    • Dịch vụ gom hàng
    • Dịch vụ thủ tục hàng hóa XNK, hàng chuyển cửa khẩu
    • ….

    » Đại lý giao nhận cho các công ty ở nước ngoài

    • Hiện nay, công ty đang làm đại lý cho các công ty giao nhận hàng hóa lớn ở các nước trong khu vực Asean, Nhật Trung Quốc, EU và Mỹ.
    • Các dịch vụ do đại lý cung cấp gồm : liên lạc với hãng tàu, thông báo cho khách hàng, mua bán cước, đặt chổ, khai thuê hải quan…

    II – Cơ cấu tổ chức và bộ máy nhân sự của công ty

    2.1.  Cơ cấu tổ chức

    Là một công ty chuyên về dịch vụ, Siêu Kỷ không cần quá nhiều nhân sự nhưng tất cả liên kết chặt chẽ với nhau, mỗi người được phân bổ một nhiệm vụ rõ ràng cụ thể, kết nối công việc của từng người thành một công việc. Hoạt động từng thành viên ở công ty đều được chỉ dẫn và giám sát của Giám đốc với một cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đơn giản mà hoạt động rất hữu ích.

    Sơ đồ 1 – SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY SIÊU KỶ

    2.2.  Chức năng và nhiệm vụ

    Như sơ đồ trên chúng ta thấy Giám Đốc là người điều hành mọi hoạt động của công ty như :

    • Quyết định các hoạt động kinh doanh của công ty.
    • Tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh cua công ty.
    • Ban hành các quy chế quản lý nội bộ.
    • Bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản lí,….

    Trực tiếp quản lý các bộ phận trong công ty.

    • Bộ phận kinh doanh 

    Đây là bộ phận trung tâm đầu não quan trọng nhất trong công ty, bộ phận kinh doanh gồm có các mảng : mua bán cước vận tải nội địa, quốc tế. Nhân viên kinh doanh tìm kiếm khách hàng , tiếp nhận nhu cầu xuất nhập khẩu của đại lý hoặc khách hàng có nhu cầu, chào giá dịch vụ của công ty đến đại lý, khách hàng, đầm phán với các hãng tàu, hãng hàng không để có giá cước tốt nhất cho khách hàng … Sau đó tiến hành xem xét và báo giá , hai bên thỏa thuận và ký kết hợp đồng giao nhận.

    • Bộ phận giao nhận 

     

    Thực hiện tất cả các nội dung công việc trong hoạt động kinh doanh XNK : từ khi lên chứng từ đến khi hòn tất thủ tục xuất hàng đi nước ngoài hoặc nhập hàng về kho của doanh nghiệp đăng ký làm dịch vụ.

    Giải quyết mọi vướng mắc của khách hàng một cách nhanh gọn và dứt điểm cho từng lô hàng.

    Tiết kiệm chi phí mức thấp nhất, tạo uy tín tốt đối với khách hàng.

    • Bộ phận chứng từ 

    Quản lý lưu trữ chứng từ và các công văn, soạn thảo bộ hồ sơ Hải quan, các công văn cần thiết giúp cho bộ phận giao nhận hoàn thành tốt công việc được giao. Thường xuyên theo dõi quá trình làm hàng, liên lạc tiếp xúc với khách hàng để thông báo những thông tin cần thiết cho lô hàng. Theo dõi booking hàng hóa, thông báo tàu đến, tàu đi cho khách hàng, chịu trách nhiệm phát hành vận đơn, lệnh giao hàng…

    • Bộ phận kế toán

    Phụ trách công việc thu chi của công ty, hoạch toán đầy đủ các nghiệp vụ kế toán phát sinh, báo cáo các số liệu chính xác định kỳ, theo dõi và tổ chức cho hoạt động kinh doanh liên tục và hiệu quả, chi tạm ứng cho nhân viên giao nhận hoàn thành công tác. Cung cấp các số liệu , thông tin phục vụ công tác dự báo.

    Nhìn chung các phòng ban trong công ty có mối quan hệ khắng khích và hỗ trợ lẫn nhau, hoạt động thông suốt nhắm đẩy mạnh kinh doanh giao nhận vận tải có hiệu quả trong bối cảnh thị trường ngành đang cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

    2.3.  Tình hình nhân sự

    Công ty khoảng 10 nhân viên rất năng động và nhiều kinh nghiệm, thích ứng nhanh với môi trường, có trình độ lao động và tay nghề khá cao, có tinh thần trách nhiệm cao, đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng.

    III –  Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của công ty

    3.1. Tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty

    Do công ty mới thành lập cuối năm 2007 nên số liệu nghiên cứu chỉ có từ năm 2008 đến năm 2010, tuy mới thành lập nhưng nhân viên công ty luôn nỗ lực cung cấp cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất để làm sao tối thiểu hóa chi phí và  tối đa hóa lợi nhuận.

    3.2.  Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2008 đến năm 2010

    Để đạt được mục tiêu trên, toàn thể công ty đã luôn cố gắng làm việc và đạt được kết quả khả quan như sau :

    + Doanh thu năm 2008 đạt 2.540 triệu đồng

    + Doanh thu năm 2009 đạt 2.820 triệu đồng

    + Doanh thu năm 2010 đạt 3.160 triệu đồng

    (Trích lược báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Siêu Kỷ từ năm 2008 đến  năm 2010)

    Bảng 1 : Bảng kết quả kinh doanh của Công ty.  (Đơn vị : triêu đồng)

               Năm

     

    Chỉ tiêu

    2008 2009 2010
    Doanh thu 2.540 2.820 3.160
    Chi phí 2.253 2.445 2.630
    Lợi nhuận trước thuế 287 375 530
    Lợi nhuận sau thuế 215,25 281,25 379,5

     Nguồn: Phòng Kế toán

    Hình 1 –  Biểu đồ kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2008 đến năm 2010

    3.3.  Phân tích – đánh giá

    Qua bảng số liệu ta thấy doanh thu hoạt động kinh doanh của công ty không ngừng tăng trưởng. Cụ thế :

    • Doanh thu năm 2009 so với năm 2008 tăng 11% tương ứng 280 triệu đồng.
    • Doanh thu năm 2010 so với năm 2009 tăng 12% tương ứng 340 triệu đồng.

    à  So sánh tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009 với năm 2010 ta nhận thấy tỷ lệ tăng doanh thu năm 2010 tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009.

    Nguyên nhân làm cho tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009 thấp hơn năm 2010 là do:

    • Năm 2008 khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nước ta cũng bị ảnh hường không nhỏ từ sự khủng hoảng này.Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên hầu hết mọi hoạt động xã hội của người dân cũng đều ảnh hưởng, tiêu dùng giảm mạnh, các Công ty cũng hạn chế sản xuất do vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động  xuất nhập khẩu của công ty.
    • Một lý do nữa là do sự cạnh tranh của các Công ty đối thủ, ngày càng có nhiều công ty giao nhận ra đời dẫn đến cạnh tranh ngày càng gây gắt hơn.
    • Mặt khác, Công ty mới thành lập cuối năm 2007 nên khách hàng chưa nhiều vì vậy doanh thu chưa cao.
    • Về vấn đề chi phí thì cũng đã giảm mạnh. Cụ thể là:
    • Chi phí năm 2009 cao hơn so với năm 2008 là: 192 triệu đồng.
    • Chi phí năm 2010 cao hơn so với năm 2009 là: 185 triệu đồng.

    à Nhìn chung tốc độ tăng chí phí bình quân giảm dần qua các năm.

    F Nguyên nhân là do năm 2008 đến 2009 công ty đã đầu tư một khoản chi phí lớn  hoạt động và trang bị  một số máy móc thiết bị phục vụ cho công tác văn phòng. Mặt khác, trong năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nước ta bị lạm phát nên giá cả tăng cao.

    • Về lợi nhuận thì công ty vẫn đảm bảo ở mức tăng an toàn.
    • Năm 2009 so với 2008 tăng 66 triệu đồng chiếm tỷ lệ 13,29% .
    • Năm 2010 so với 2009 tăng 98,25 triệu đồng chiếm tỷ lệ 14,87%.
    • Dù rằng chịu nhiều tác động và ảnh hưởng kinh tế song công ty vẫn đảm bảo được lợi nhuận cho hoạt động của mình. Điều này chứng minh  tầm nhìn, chiến lược và hoạch định mà Ban Lãnh đạo của công ty vạch ra là rất đúng đắn.

    3.4.  Tình hình kinh doanh giao nhận hàng nguyên container (FCL) của Công ty

    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL xuất khẩu bằng đường biển của Công ty

     

     

     

    Bảng 2  Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL xuất khẩu

    Chỉ tiêu Năm
    2008 2009 2010
    Tổng doanh thu 2.540 2.820 3.160
    Doanh thu  giao nhận hàng FCL xuất khẩu đường biển. 635 850 1.169
    Tỷ trọng doanh thu hàng FCL xuất khẩu bằng đường biển trên tổng doanh thu. 25% 30,14% 36,99%

    Nguồn: Bộ phận  kinh doanh

     

    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL nhập khẩu bằng đường biển của Công ty

    Bảng 3  Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL nhập khẩu

     

    Chỉ tiêu Năm
    2008 2009 2010
    Tổng doanh thu 2.540 2.820 3.160
    Doanh thu  giao nhận hàng FCL nhập khẩu đường biển. 765 1.015 1.350
    Tỷ trọng doanh thu hàng FCL nhập khẩu bằng đường biển trên tổng doanh thu. 30,12% 36% 42,72%

    Nguồn:Bộ phận kinh doanh

     

     

     

     

    Hình 2 – Biểu đồ thể hiện tỷ trọng doanh thu  của công ty Siêu Kỷ năm 2010

    • Nhận xét

    Qua 2 bảng số liệu trên ta thấy:

    • Tỷ trọng của hoạt động giao nhận hàng FCL xuất – nhập khẩu bằng đường biển chiếm con số khá cao trong tổng doanh thu.

    + Năm 2008 là 55,12%  trong tổng doanh thu.

    + Năm 2009 là 66,14% trong tổng doanh thu.

    + Năm 2010 là 79,71% trong tổng doanh thu.

    à Điều này cho thấy hoạt động giao nhận hàng hóa FCL  xuất – nhập khẩu đường biển là hoạt động khá quan trọng tạo nên doanh thu và lợi nhuận cho công ty. Mặt khác, điều này cũng nói lên trình độ container hóa của nước ta ngày càng cao theo xu hướng của Thế giới.

    3.5  Cơ cấu thị trường xuất – nhập khẩu của Công ty

    • Cơ cấu thị trường xuất khẩu

    Bảng 4 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty năm 2010

     

    Thị trường Giá trị

     

    (Triệu đồng)

    Tỷ lệ (%)
    EU 1.576 25,72
    Singapore 1.280 20,9
    Trung Quốc 1.020 16,64
    Malaysia 856 13,96
    Thị trường khác 1.396 22,78

    Nguồn: Bộ phận kinh doanh  

    Hình 3 – Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu của công ty năm 2010

    ¬ Nhận xét

    Qua biểu đồ trên ta thấy thị trường EU là thị trường tiềm năng nhất trong lĩnh vực xuất khẩu.Hàng năm, công ty đảm nhận dich vụ xuất khẩu qua thi trường này khá lớn. Những mặt hàng thường được xuất khẩu qua thị trường này là hàng may mặc, Bàn ghế, Thực phẩm,Gỗ, Ván ép…..Có thể nói thị trường EU là thị trường khó tính, đòi hỏi cao về chất lượng, về mấu mã sản phẩm và hàng hóa phải chịu nhiều rào cản (kỹ thuật, thuế quan). Trong khi đó lượng hàng hóa xuất khẩu sang thị trường này càng gia tăng chứng tỏ rằng các sản phẩm của các doanh nghiệp nước ta ngày càng hoàn thiện về hình thức cũng như chất lượng và ngày càng được khách hàng nước ngoài yêu thích.

    Mặt khác, cơ cấu thị trường xuất khẩu sang các nước trong Đông Nam Á, Châu Á ngày càng nhiều nhờ được hưởng thuế suất ưu đãi và thủ tục Hải Quan đơn giản, nhanh chóng .

    • Cơ cấu thị trường nhập khẩu

     

              Bảng 5  Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Công ty năm 2010

     

    [                                                           

    Thị trường Giá trị

     

    (Triệu đồng)

    Tỷ lệ (%)
    Trung Quốc 2.196 25,67
    Mỹ 1.850 21,63
    Hàn Quốc 1.423 16,64
    Thái Lan 1.150 13,44
    Thị trường khác 1.935 22,62

    Nguồn: Bộ phận kinh doanh  

    Hình 4 – Biểu đồ cơ cấu thị trường nhập khẩu của công ty năm 2010

     

    ¬ Nhận xét

    Qua bảng số liệu trên ta thấy mặc dù chủ trương của Nhà nước ta luôn khuyến khích xuất khẩu hạn chế nhập khẩu song trên thực tế kim ngạch xuất khẩu của nước ta luôn nhỏ hơn kim ngạch nhập khẩu. Chính vì vậy mà giá trị nhập khẩu của Công ty lớn hơn giá trị xuất khẩu.

    Biểu đồ trên cho ta  thấy lượng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tỷ lệ khá cao 25,67%, cũng chính vì vậy mà hàng hóa Trung Quốc tràn lan trên thị trường Việt Nam. Các mặt hàng nhập chủ yếu từ Trung Quốc thường là: Máy móc thiết bị, phụ tùng thay thế, hóa chất,…..

    Nhìn chung các mặt hàng Việt Nam nhập về chủ yếu là hàng công nghiệp, máy móc thiết bị phục vụ cho nông nghiệp và công nghiệp.Vì ngành công nghiệp chế tạo của nước ta chưa phát triển mạnh.

    F Qua hai bản số liệu trên ta thấy thị trường xuất – nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu là thị trường Châu Á. Các thị trường lớn như EU và Mỹ vẫn có nhưng số lượng còn rất ít so với tiềm năng. Vì vậy, nước ta cần đổi mới công nghệ cũng như mở rộng quan hệ buôn bán với các thị trường này nhằm đem ngoại tệ về cho Đất nước.

    CHƯƠNG II – QUY TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU ĐƯỜNG BIỂN BẰNG CONTAINER CỦA CÔNG TY

     

    I – Khái quát chung về giao nhận hàng hóa đường biển bằng container

     

    Việc tăng tốc độ kỹ thuật của công cụ vận tải sẽ không đạt hiệu quả kinh tế cao nếu không giảm được thời gian công cụ vận tải dừng ở các điểm vận tải. Yếu tố cơ bản nhất để giảm thời gian dừng lại ở các điểm vận tải là tăng cường cơ giới hóa khâu xếp dỡ ở các điểm vận tải. Một biện pháp quan trọng để giải quyết cơ giới hóa toàn bộ khâu xếp dỡ hàng hóa là tạo ra những kiện hàng lớn thích hợp. Và đó cũng chính là lý do container ra đời. Việc sử dụng container trong hoạt động xuất nhập khẩu đã mang đến rất nhiều thuận lợi như: bảo vệ hàng hóa tối đa hơn, tiết kiệm được chi phí bao bì, giảm được thời gian xếp dỡ và chờ đợi ở cảng, bền và có thể sử dụng nhiều lần và một yếu tố nửa là giúp người vận tải vận dụng được dung tích tàu, giảm trách nhiệm về khiếu nại và tổn thất hàng hóa.

    Nước ta có nhiều hệ thông cảng biển gồm 114 cảng lớn nhỏ, phân bố dọc theo bờ biển từ Bắc xuống Nam như cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn, VICT, Tân Thuận, Cát Lái…. Hiện nay, theo thống kê thì có khoảng 95% tổng khối lượng hàng hoá buôn bán quốc tế được vận chuyển bằng đường biển. Do vậy, việc vận chuyển hàng hóa bằng container đối với việc  giao nhận hàng hóa bằng đường biển là rất quan trọng.

    Là một công ty chuyên cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hoá, Công ty TNHH DV GN VC TM Siêu kỷ đã tổ chức thực hiện các thủ tục và nghiệp vụ giao nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển rất chặt chẽ, chuyên nghiệp để tiết kiệm chi phí và thời gian.

    II – Quy trình giao nhận hàng hóa xuất khẩu đường biển bằng container (FCL) tại công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ

    2.1. Quy trình giao nhận hàng hóa xuất khẩu đường biển bằng container tại Công ty

           
       
     
         

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ 2 – Quy trình giao nhận hàng hóa xuất khẩu đường biển bằng container tai công ty Siêu Kỷ

     

    2.2 Diễn giải quy trình giao nhận

    2.2.1 Nhận và xử lí thông tin khách hàng đăng ký dịch vụ                  

    Những thông tin mà nhân viên kinh doanh tiếp nhận từ khách hàng như sau:

    • Loại hàng: Căn cứ vào loại hàng, số lượng hàng mà công ty sẽ tư vấn cho khách hàng loại container phù hợp ( nếu hàng tươi sống , rau quả tươi sẽ chọn cont lạnh:20’RF,40’RH tùy vào số lượng hàng; hàng bách hóa hoặc nông sản thì chọn cont khô: 20’DC, 40’DC hoặc 40’HC “đối với hàng cồng kềnh”).Cũng như các quy định của nước nhập khẩu về mặt hàng đó. Ví dụ như: hàng thực phẩm thì phải có giấy kiểm dịch vệ sinh an toàn thực phẩm, hàng gỗ thì phải khử trùng….
    • Cảng đi, cảng đến: Đây là yếu tố quyết định giá cước vận chuyển vì khoảng cách vận chuyển càng gần, thời gian vận chuyển càng ngắn thì cước phí càng thấp và ngược lại.
    • Hãng tàu: Tùy vào nhu cầu của khách hàng đến cảng nào mà nhân viên kinh doanh sẽ tư vấn cho khách hàng chọn dịch vụ của hãng tàu uy tín với giá cước phù hợp.Tuy nhiên cũng có một số khách hàng quen sử dụng dịch vụ của một hãng tàu cho hàng hóa của mình thì công ty thì xét báo giá cước cho khách hàng đó biết.
    • Thời gian dự kiến xuất hàng để công ty tìm một lịch trình tàu chạy phù hợp.

    2.2.2 Liên hệ với các hãng tàu để hỏi cước và lịch trình vận chuyển

    Căn cứ vào những thông tin mà khách hàng cung cấp nhân viên kinh doanh sẽ liên hệ với hãng tàu để hỏi giá và lịch trình tàu chạy  phù hợp vì mỗi hãng tàu có lịch trình tàu chạy, tuyến chạy tàu cũng như có thế mạnh riêng trên các tuyến đường.

    Ví dụ: Hãng tàu Hanjin, OOCL, ZIM line… có thế mạnh trên các tuyến đi  Châu Âu  và Mỹ. Trong khi đó hãng tàu TS line, Wanhai, Evergeen, NYK lại có thế mạnh trên các tuyến đi Châu Á.

    2.2.3 Chào giá cho khách hàng

    Nhân viên kinh doanh căn cứ vào giá chào của các hãng tàu, tính toán chi phí và tiến hành chào giá cho khách hàng. Các giao dịch liên quan đến giá cả và lịch trình tàu đều phải lưu lại để đối chứng khi cần thiết.

    2.2.4 Chấp nhận giá

    Nếu giá cước và lịch trình tàu chạy đưa ra được khách hàng chấp nhận thì khách hàng sẽ gởi booking request ( yêu cầu dặt chổ) cho bộ phận kinh doanh. Booking request này xác nhận lại thông tin hàng hóa liên quan: Người gửi hàng, người nhận hàng, tên hàng, trọng lượng, loại container, nơi đóng hàng (đóng kho người gửi hàng hay đóng tại bãi container của cảng), cảng hạ container có hàng để thông quan xuất khẩu (hạ container ở cảng nào thì thông quan tại cảng đó), cảng đến (nước nhập khẩu), ngày tàu chạy…

    2.2.5 Liên hệ với hãng tàu để đặt chỗ

    Bộ phận kinh doanh sẽ căn cứ trên booking request của khách hàng và gửi booking request đến hãng tàu để đặt chổ. Sau đó hãng tàu sẽ xác nhận việc đặt chỗ đã thành công cho bộ phận kinh doanh bằng cách gởi booking confirmation hay còn gọi là Lệnh cấp container rỗng.Lệnh cấp container rỗng này chứa đựng những thông tin cần thiết sau: Số booking, tên tàu, cảng xếp hàng (port of loading), cảng giao hàng ( port of delivery), cảng chuyển tải ( port of discharge (nếu có)), bãi duyệt lệnh cấp container rỗng, giờ cắt máng( losing time)…

    Sau khi có booking confirmation của hãng tàu, nhân viên kinh doanh sẽ gởi booking này cho khách hàng để họ sắp xếp đóng hàng và làm thủ tục thông quan xuất khẩu.

    Trường hợp khách hàng sử dụng dịch vụ thuê khai hải quan và vận chuyển nội địa của công ty thì khách hàng sẽ gởi lệnh cấp container rỗng, thông tin chi tiết lô hàng xuất khẩu thời gian đóng hàng cho bộ phận giao nhận của công ty. Sau khi tiếp nhận nhân viên phòng giao nhận sẽ theo dõi và phối hợp với khách hàng để sắp xếp đưa container rỗng đến đóng hàng và vận chuyển ra cảng hoặc vận chuyển hàng đến đóng vào container ở cảng. Sau đó tiến hành làm thủ tục thông quan cho lô hàng xuất khẩu đó.

    Lập booking profile

    Nhân viên kinh doanh sẽ lập booking profile để kê khai sơ lược thông tin về lô hàng và chuyển cho bộ phận chứng từ theo dõi tiếp. Những thông tin trên booking profile như sau:

    • Tên người gửi hàng (công ty xuất khẩu), người phụ trách, số điện thoại/fax
    • Tên hãng tàu
    • Cảng đi, cảng đến, ngày tàu chạy
    • Điều khoản thanh toán cước: trả trước (freight prepaid) hay trả sau ( freight collect)
    • Giá mua, giá bán, các phụ phí liên quan…

    2.2.6 Chuẩn bị chứng từ và hàng hóa xuất khẩu

    • Chuẩn bị hàng hóa

     

    Bước này công ty không làm mà người xuất khẩu làm.

    2.2.6.2 Chuẩn bị phương tiện vận tải

     

    Nhân viên giao nhận sẽ đem lệnh cấp container rỗng đến phòng điều độ của hãng tàu ( thường ở cảng do hãng tàu chỉ định) để đổi lệnh lấy container. Ớ bước này phòng điều độ ở cảng sẽ giao cho nhân viên giao nhận bộ hồ sơ gồm : packing list container, seal tàu, vị trí cấp container, lệnh cấp container có ký tên của điều độ cảng cho phép lấy container rỗng.

    Nhân viên giao nhận sẽ giao bộ hồ sơ này cho tài xế kéo container đến bãi chỉ định của hãng tàu xuất trình lệnh cấp container rỗng đã được duyệt, đóng phí nâng container cho phòng thương vụ bãi và lấy conttainer rỗng vận chuyển đến kho người xuất khẩu đóng hàng.

    Sau khi đóng hàng xong sẽ vận chuyển container có hàng hạ bãi tại cảng chờ xếp hàng ( theo trên booking confirm) và đóng phí hạ container cho cảng vụ .

    2.1.6.3 Chuẩn bị chứng từ khai hải quan

     

    • Hồ sơ hải quan gồm

    + Tờ khai hải quan : 2 bản chính( 1 bản dành cho người xuất khẩu, 1 bản dành cho hải quan lưu)

    + Hợp đồng mua bán hàng hóa :1 bản chính

    + Hóa đơn thương mại (invoice) : 1 bản chính

    + Phiếu đóng gói (packing list) : 1 bản chính

    + Giấy phép đăng ký kinh doanh : bản sao y kèm bản chính đối chiếu      ( nếu doanh ngiệp mới xuất khẩu lần đầu)

    + Giấy giới thiệu của công ty xuất khẩu : 1 bản

    • Nếu mặt hàng xuất khẩu là hàng thực phẩm thì phải đăng lý kiểm dịch, hồ sơ gồm có :

    + 2 giấy phép đăng ký kiểm dịch thực vật theo mẫu của trung tâm đăng ký kiểm dịch thực vật

    + Hợp đồng ngoại thương ( sao y)

    + 1 invoice ( bản chính )

    + 1 packing list ( bản chính )

    + Mẫu hàng để kiểm dịch (nếu có)

    + Vận đơn (vận đơn này sẽ được nộp sau khi tàu chạy để lấy chứng thư)

    Khi đã chuẩn bị hoàn chỉnh hồ sơ, nhân viên giao nhận mang bộ hồ sơ đó đến cơ quan kiểm dịch thực vật để đăng ký kiểm dịch. Nhân viên tiếp nhận sẽ kiểm tra bộ hồ sơ, nếu thấy đầy đủ sẽ ký và đóng dấu vào giấy đăng ký.

    Khi hàng đã về đến cảng, nhân viên giao nhận sẽ đưa nhân viên kiểm dịch đến vị trí container và tiến hành kiểm tra hàng. Hàng sẽ được cấp chứng thư sau khi đã kiểm tra đạt tiêu chuẩn. chứng thư này là chứng nhận tình trạng của hàng hóa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

    • Thông quan hàng xuất khẩu
      • Truyền số liệu qua mạng hải quan điện tử

     

    Dựa trên những chứng từ mà khách hàng cung cấp cũng như những thông tin về hàng hóa mà công ty thu thập được như:

    + Hợp đồng thương mại

    + Invoice

    + Packing lish

    +….

    Nhân viên giao nhận dùng phần mềm khai báo hải quan điện tử  « ECUSKD » để truyền số liệu lên tờ khai qua mạng. Nếu truyền thành công hệ thống mạng của hải quan tự động báo số tiếp nhận hồ sơ, số tờ khai và phân luồng hàng hóa. Nhờ bước cải tiến này mà thời gian làm thủ tục nhanh hơn so với thủ công trước đây vì nhân viên hải quan không phải nhập lại số liệu trên tờ khai vào máy.

    – Phân luồng hàng hóa có 3 luồng

    + Luồng xanh : Miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra  thực tế hàng hóa. Cán bộ hải quan chuyển hồ sơ qua lãnh đạo chi cục duyệt, đóng dấu thông quan  «  đã làm thủ tục hải quan » vào tờ khai xuất khẩu.

    + Luồng vàng : Miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, hồ sơ chuyển qua bộ phận tính giá thuế để kiểm tra chi tiết hồ sơ. Nếu hồ sơ hợp lệ sẽ được chuyển hồ sơ qua lãnh đạo chi cục duyệt, đóng dấu thông quan  «  đã làm thủ tục hải quan » vào tờ khai xuất khẩu.

    + Luồng đỏ : Hồ sơ được chuyển qua bộ phận kiểm tra thực tế hàng hóa . Tuỳ tỷ lệ phân kiểm hóa của lãnh đạo chi cục mà chủ hàng xuất trình 5%, 10% hay 100% hàng để hải quan kiểm tra. Sau khi kiểm tra nếu hàng háo đúng với khai báo của tờ khai và chứng từ liên quan, cán bộ hải quan sẽ bấm niêm phong hải quan vào container và sẽ ghi chú vào tờ khai xác nhận hàng hóa đúng khai báo và chuyển hồ sơ qua lãnh đạo chi cục duyệt, đóng dấu thông quan  «  đã làm thủ tục hải quan » vào tờ khai xuất khẩu.

    Lưu ý : Đăng ký làm thủ tục ở cửa khẩu nào thì truyền số liệu vào cửa khẩu đó.

    ¯ Những tiêu chí cần thiết của tờ khai xuất khẩu

    Ví dụ: Tờ khai hải quan điện tử về hàng xuất khẩu của Công ty TNHH Bình An

    • Ô số 1: Người xuất khẩu: Mã số thuế, tên công ty, địa chỉ.
    • Ô số 2: Người nhập khẩu: tên công ty, địa chỉ.
    • (Mã số thuế của công ty Xuất khẩu ở đây không cần thiết phải có)
    • Ô số 3: Để tên người uỷ thác ( nếu có).
    • Ô số 4: Đại lý làm thủ tục hải quan ( nếu có).
    • Ô số 5: Loại hình xuất khẩu tuỳ thuộc vào mục đích xuất khẩu của công ty.

    Trong trường hợp này là xuất để kinh doanh.(XKD01)

    • Ô số 6: Giấy phép ( nếu có).

    Trong truờng hợp này không có giấy phép kinh doanh.

    • Ô số 7: Hợp đồng số: MK 050311/PMG

    Ngày:03/02/2011

    • Ô số 8: Hoá đơn thương mại số: MK 050311/PMG

    Ngày: 05/03/2011

    • Ô số 9: Cảng xếp hàng: C048

    Cảng Cát Lái/ TPHCM

    • Ô số 10:Nước nhập khẩu:IT (Italy)
    • Ô số 11: Điều kiện giao hàng: FOB
    • Ô số 12:Phương thức thanh toán: TTR
    • Ô số 13: Đồng tiền thanh toán: USD
    • Ô số 14: Tỷ giá tính thuế: 20.663
    • Ô số 15: Kết quả phân luồng và hướng dẫn làm thủ tục Hải Quan

    (Luồng Xanh)

    Chấp nhận thông quan

    Chấn nhận thông quan trên cơ sở khai báo của Doanh nghiệp

    • Ô số 16: Chứng từ Hải Quan trước đó (Nếu có)
    • Ô số 17: Tên hàng quy cách phẩm chất:

    ( Chi tiết theo phụ lục đính kèm )

    (Ô này chỉ có thể khai báo 3 mặt hàng, do đó nếu nhiều hơn 3 mặt hàng thì sẽ được thể hiện ở phụ lục tờ khai)

    • Ô số 18 : Mã số hàng hoá:

    (Nếu nhiều loại hàng hoá thì mã số hàng hoá cũng khác nhau. Vì vậy khi lên tờ khai cần tra cứu về mã số hàng hoá một cách kỹ lưỡng trong biểu thuế nhằm tránh sai sót gây chậm trễ cho việc giao nhận hàng.)

    (Ở lô hàng của công ty vì mã số hàng hóa được thể hiện ở phụ lục tờ khai nên ô này để trống.)

    • Ô số 19 : Xuất xứ

    (Ô này ở tờ khai của công ty Bình An được để trống vì nó được thể hiện ở phụ lục)

    • Ô số 20 : Số lượng

    (Ô này ở tờ khai của công ty Bình An được để trống vì nó được thể hiện ở phụ lục)

    • Ô số 21: Đơn vị tính
    • Ô số 22: Đơn giá nguyên tệ

    ( Dựa vào hợp đồng ngoại thương và hóa đơn thương mại)

    ( Ở đây đơn giá nguyên tệ cũng được thể hiện ở phụ lục tờ khai.)

    • Ô số 23 : Trị giá nguyên tệ
    • Ô số 24: Thuế nhập khẩu gồm có: Trị giá tính thuế, thuế suất, tiền thuế đều qui đổi sang VNĐ và được thể hiện rõ ở phụ lục.
    • Ô số 25: Thu khác gồm có: Tỷ lệ (%) và Số tiền
    • Ô số 26: Tổng số tiền thuế và thu khác ( 24+25+26)
    • Ô số 27: Tổng trọng lượng: 1000 kg

    Tổng số container: Cont 20:1

    Tổng số kiện: 38

    Số hiệu kiện, cont:

    + Số cont: TPHU 6777800

    + Số seal: MSC 6492650

    • Ô số 28:Ghi chép khác:

    Số hiệu tàu: BUXLAGOON

    Số chuyến: 81111R

    • Ô số 29: Xác nhận giải phóng hàng/ đưa hàng về bảo quản (nếu có)
    • Ô số 30: Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm trước Pháp Luật về những nội dung khai báo trên tờ khai này.

    (Giám đốc Công ty xuất khẩu ký tên, đóng dấu)

    • Ô số 31: Xác nhận đã qua khu vực giám sát
    • Ô số 32: Xác nhận thông quan
    • Ô số 33: Xác nhận thực xuất
      • Phụ lục tờ khai hải quan điên tử

    (Chi tiết chứng từ đính kèm sau báo cáo)

    2.2.7.2 Làm thủ tục Hải Quan tại cảng

    Chia thành 2 trường hợp:

    1. Trường hợp 1: Hàng hóa xuất khẩu miễn kiểm ( luồng xanh)

     

    Bước 1 : Đăng ký mở tờ khai xuất khẩu

    • Nhân viên giao nhận in tờ khai Hải Quan điện tử (in 2 bản), mang tờ khai đến cho khách hàng kí tên và đóng dấu xác nhận..
    • Sau đó, mang bộ chứng từ bao gồm:

    + Giấy giới thiệu

    + 2 tờ khai Hải Quan

    – Hải quan sẽ tiếp nhận bộ hồ sơ của nhân viên công ty và tiến hành kiểm tra xem việc chấp hành pháp luật Hải quan của doanh nghiệp trên hệ thống mạng hải quan có vi phạm gì không. Kế tiếp xem việc kê khai trên tờ khai có phù hợp  với chứng từ hay không và xem hàng xuất khẩu có thuộc danh mục hàng cấm hay không.

    – Sau đó, Hải quan đóng dấu vào tờ khai và chuyển sang bộ phận trả tờ khai.

    Bước 2 Trả tờ khai

    • Nhân viên giao nhận mua tem ( lệ phí Hải Quan) dán vào tờ khai .
    • Hải quan sau khi kiểm tra trả lại cho nhận viên giao nhận 1 tờ khai và giữ lại tờ khai dán tem.

    Bước 3 Thanh lý hải quan bãi

    • Nhân viên mang tờ khai đã thông quan đến hải quan giám sát bãi ghi số container/ seal và thanh lý hải quan bãi ô 27của tờ khai để tiến hành thanh lí tờ khai.
    • Nhận viên giao nhận pho to tờ khai Hải quan điện tử. Sau đó, nộp tờ khai ( pho to và gốc để kiểm tra) tại phòng thanh lí.
    • Hải quan thanh lí kiểm tra đóng dấu xác nhận và tra lại tờ khai bản gốc.

    Bước 4 Vào sổ tàu hàng xuất

    – Căn cứ vào Booking nhân viên giao nhận viết số hiệu tàu, số hiệu chuyến đi, số container, số seal vào ô 28, 29 tờ khai để tiến hành vào sổ tàu.

    • Nhân viên giao nhận nộp tờ khai để Hải quan vào sổ tàu.
    • Hải quan trả lại tờ khai và phiếu xác nhận vào sổ tàu.

    Kết thúc quá trình làm thủ tục thông quan cho lô hàng xuất khẩu tại cảng. Hàng hóa sẽ được sắp xếp lên tàu theo kế hoạch của hãng tàu.

    Lưu ý: Phải vào sổ tàu trước khi đến giờ Closing time nếu không hàng sẽ rớt lại không xuất khẩu được mặc dù đã thông quan.

    1. Trường hợp 2: Hàng hóa xuất khẩu kiểm hóa ( luồng đỏ )

     

    Bước 1 : Đăng ký mở tờ khai xuất khẩu

    • Nhân viên giao nhận in tờ khai Hải Quan điện tử (in 2 bản), mang tở khai đến cho khách hàng kí tên và đóng dấu xác nhận..
    • Sau đó, mang bộ chứng từ bao gồm:

    + Giấy giới thiệu

    + 2 tờ khai Hải Quan

    + Hợp đồng thương mại ( sao y)

    + Invoice ( bản chính)

    + Packing list ( bản chính)

    – Hải quan sẽ tiếp nhận bộ hồ sơ của nhân viên công ty và tiến hành kiểm tra xem việc chấp hành pháp luật Hải quan của doanh nghiệp trên hệ thống mạng hải quan có vi phạm gì không. Kế tiếp xem việc kê khai trên tờ khai có phù hợp  với chứng từ hay không và xem hàng xuất khẩu có thuộc danh mục hàng cấm hay không.

    – Sau đó, Hải quan đóng dấu và chuyển bộ phận kiểm hóa.

    Bước 2 Kiểm hóa hàng xuất

    –     Nhân viên giao nhận đăng ký chuyển bãi kiểm hóa tại bộ phận chuyển bãi và rút ruột container.

    • Nhân viên giao nhận xem kết quả phân kiểm để liên lạc với Hải quan kiểm hóa.
    • Xuống bãi tìm container tiến hành cắt seal và liên lạc với Hải quan kiểm hóa xem cắt seal và kiểm tra hàng hóa (5%,10% tùy vào mức độ mà Hải quan yêu cầu kiểm hóa).
    • Sau đó, nhân viên giao nhận bấm lại seal mới ( gồm seal Hải quan và hãng tàu).

    Bước 3 Trả tờ khai

    • Nhân viên giao nhận mua tem ( lệ phí Hải Quan) dán vào tờ khai .
    • Hải quan sau khi kiểm tra trả lại cho nhận viên giao nhận bộ chứng từ bao gồm:

    + 1 tờ khai và giữ lại tờ khai dán tem.

    + Hợp đồng thương mại ( sao y)

    + Invoice ( bản chính)

    + Packing list ( bản chính)

    Bước 4 Thanh lý hải quan bãi

    • Nhân viên mang tờ khai đã thông quan đến hải quan giám sát bãi ghi số container/ seal và thanh lý hải quan bãi ô 27của tờ khai để tiến hành thanh lí tờ khai.
    • Nhận viên giao nhận pho to tờ khai Hải quan điện tử. Sau đó, nộp tờ khai ( pho to và gốc để kiểm tra) tại phòng thanh lí.
    • Hải quan thanh lí kiểm tra đóng dấu xác nhận và tra lại tờ khai bản gốc.

    Bước 5  Vào sổ tàu hàng xuất

    –   Căn cứ vào Booking nhân viên giao nhận viết số hiệu tàu, số hiệu chuyến đi vào ô 28 tờ khai để tiến hành vào sổ tàu.

    • Nhân viên giao nhận nộp tờ khai để Hải quan vào sổ tàu.
    • Hải quan trả lại tờ khai và xác nhận vào sổ tàu.

    Kết thúc quá trình làm thủ tục thông quan cho lô hàng xuất khẩu tại cảng. Hàng hóa sẽ được sắp xếp lên tàu theo kế hoạch của hãng tàu.

    Lưu ý: Phải vào sổ tàu trước khi đến giờ Closing time nếu không hàng sẽ rớt lại không xuất khẩu được mặc dù đã thông quan.

    • Phát hành vận đơn

    2.2.8.1  Trường hợp 1 Khách hàng sử dụng dịch vụ quốc tế của công ty

    Nhân viên giao nhận sẽ chuyển bộ hồ sơ cho bộ phận chứng từ hàng xuất để phát hành vận đơn cho khách hàng.

    Bộ phận chứng từ có trách nhiệm theo dõi lô hàng để lập chứng từ hàng xuất. Công việc cụ thể của nhận viên chứng từ như sau:

    • Liên lạc với khách hàng để kiểm tra xem lô hàng xuất hoàn tất thủ tục xuất hàng hay chưa.
    • Lấy số container báo cho hãng tàu để họ cập nhật sắp xếp container lên tàu.
    • Yêu cầu người gửi hàng cung cấp thông tin để phát hành vận đơn.

    Nội dung vận đơn gồm những chi tiết sau :

    • Số vận đơn (B/L no)
    • Người gửi hàng(Shipper)
    • Người nhận hàng(Consignee)
    • Tên tàu\ số chuyến(vessel\voy)
    • Cảng xếp hàng(Port of loading)
    • Cảng dỡ hàng(Port of discharge)
    • Nơi giao hàng(Place of delivery)
    • Điều kiện vận chuyển hàng :CY\Door
    • Ngày xếp hàng lên tàu :Shipped on board date……(Những thông tin về tên tàu số chuyến cảng đi, cảng đến phải trùng khớp với booking confirmation của hãng tàu đã gửi trước đó)
    • Số container\số kẹp chì( container\ Seal no)
    • Số lượng container(number of container)
    • Mô tả hàng hóa(Descreption of goods)
    • Số kiện( number of package)
    • Trọng lượng hàng cả bì(Gross weight)
    • Nơi phát hành vận đơn(place and date of issue :
    • Tên, trụ sở người chuyên chở hoặc đại lí :
    • Đại lí giao nhận ở cảng đến của Siêu Kỷ(Delivery Agent) :
    • Điều khoản về cước phí(freight and charges)
    • Số lượng bản vận đơn gốc (No. Of original B(s)/L) :
    • Chữ ký của người chuyên chở hay đại lý của người chuyên chở :
    • Các điều kiện, điều khoản trách nhiệm chuyên chở, thườgf được in sẵn ở mặt sau vận đơn, không thương lượng được, nếu có thỏa thuận khác thì phải thể hiện thêm ở mặt trước vận đơnvì vậy người thuê chuyên chở phải tìm hiểu kỹ các điều khoản phía sau vận đơn, hiểu các quy ước quốc tế điều chỉnh vận đơn.
    • Người gửi hàng chịu trách nhiệm cân đong, đo đếm và đóng hàng của mình vào container và niêm phong kẹp chì trước khi giao cho người chuyên chở vì thế miễn trách nhiệm cho người chuyên chở về số lượng, chất lượng hàng hóa bên trong container, trên vận đơn thường có ghi chú «  said to contain » « Shipper’s load »  « count and seal »(đóng xếp hàng, đếm hàng và kẹp chì do người gửi hàng chịu trách nhiệm).

    Sau khi có đầy đủ những thông tin trên, bộ phận chứng từ hàng xuất sẽ phát hành vận đơn (HB/L) cho người gửi hàng và gửi bản vận đơn nháp cho khách hàng kiểm tra lại thông tin nhằm tránh những sai sót về sau. Đồng thời, gửi thông tin cho hãng tàu liên quan phát hành vận đơn cho Siêu Kỷ(MB/L). Trong đó :

    • Shipper :
    • Consignee :
    • Loại B/L được phát hành, thông thường là Bill Surrender or seaway bill
    • Những thông tin còn lại như trên HB/L

    Sau khi có được MB/L từ hãng tàu, nhân viên chứng từ kiểm tra đối chiếu lại HB/L và MB/L xem có gì khác biệt không để chỉnh sửa (nếu có).

    2.2.8.2 Trường hợp 2 Khách hàng không sử dụng dịch vụ quốc tế của công ty.

    Nếu không thì nhân viên giao nhận chuyển bộ hồ sơ( bản sao) cho khách hàng để họ gửi thông tin cho hãng tàu liên quan để yêu cầu cấp vận đơn.

    Sau khi hàng đã xếp lên tàu, lấy được vận đơn có ký tên đóng dấu của người chuyên chở hoặc đại lý của hộ thì nhân viên giao nhận sẽ mang tờ khai, invoice và B/L đến hải quan cảng xác nhận hàng đã thực xuất. Để doanh nghiệp lấy đó làm cơ sở hoạch toán với các cơ quan( thuế, ngân hàng..).

    • Thực xuất tờ khai

    Sau khi tàu chạy, Hãng tàu sẽ gửi vận đơn cho bộ phận chứng từ của công ty. Bộ phận chứng từ sẽ dưa cho nhân viên giao nhận vận đơn để thực xuất.

    Nhân viên giao nhận đến Chi cục Hải quan nộp tờ khai và vận đơn để Hải quan đóng dấu xác nhận thực xuất.

    • Gửi bộ chứng từ cho đại lí ở nước ngoài

     

    Sau khi hoàn tất bộ chứng từ hàng xuất (HB/L, MB/L) nhân viên chứng từ sẽ gửi thông báo mô tả sơ lược về lô hàng vận chuyển :Shipper/ Consignee, tên tàu/ số chuyến, cảng đi/ cảng đến, ETD/ETA (Ngày đi / ngày dự kiến đến), Số vận đơn (HB/L,MB/L), loại vận đơn (surrender, Original, seaway bill…), hợp đồng, invoice, packing list cho đại lý liên quan để đại lý theo dõi tiếp lô hàng tại cảng đến, đính kèm là bản sao HB/L,MB/L.

    • Lập chứng từ kế toán và lưu hồ sơ
      • Lập chứng từ kết toán

     

    Dựa vào booking Profile, điều khoản về cước phí là trả trước (freight prepaid) nên nhân viên chứng từ sẽ làm Debit note (giấy báo nợ) gửi khách hàng và chuyển cho bộ phận kế toán để theo dõi thu công nợ. Chỉ khi nào người gửi hàng thanh toán cước phí và các khoản phí liên quan ( THC, Bill fee, Seal fee…) thì nhân viên chứng từ mới cấp phát vận đơn cho họ.

    Trong trường hợp cước phí trả sau (freight collect) nhân viên chứng từ sẽ làm Debit note (giấy báo nợ) thu cước người nhận hàng gửi đại lý tại cảng đến nhờ thu hộ, người gửi hàng chỉ đóng phụ phí tại Việt Nam và nhận vận đơn.

    • Quyết toán và lưu hồ sơ

     

    Sau khi hoàn thành xong thủ tục thông quan và vào sổ người giao nhận phải :

    Kiểm tra và sắp xếp lại các chứng từ thành 1 bộ hoàn chỉnh, người giao nhận sẽ trả chứng từ lại cho khách và công ty cũng lưu lại 1 bộ. Đồng thời, kèm theo đó là 1 bản debit note ( giấy báo nợ) « 1 bản dành cho khách hàng, 1 bản dành cho công ty ». Trên đó gồm : các khoản chi phí mà công ty đã nộp cho khách hàng có hóa đơn đỏ, phí dịch vụ vận chuyển, các chi phí khác…Sau đó giám đốc ký tên và đóng dấu vào giấy báo nợ này. Người giao nhận mang toàn bộ chứng từ cùng vứi debit note quyết toán với khách hàng.

    III – Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu đường biển bằng container (FCL) tại công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ

    3.1 Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng container tại Công ty

     
       
     
       

    Sơ đồ 3 – Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu đường biển bằng container tai công ty Siêu Kỷ

    3.2 Diễn giải quy trình

    3.2.1 Nhận thông tin chi tiết hàng từ đại lý và yêu cầu từ khách hàng

    Nhân viên kinh doanh tiếp nhận nhu cầu nhập khẩu của đại lý hoặc khách hàng. Sau đó tiến hành xem xét và báo giá, hai bên thỏa thuận và ký kết hợp đồng giao nhận.

    Sau khi hoàn tất việc giao hàng và bộ chứng từ cần thiết cho hãng tàu thì đại lý của Công ty ở nước ngoài sẽ gửi chứng từ sang cho Công ty thông qua hệ thống email bao gồm các nội dung được đính kèm file: Master Bill of Lading, House Bill of Lading, Debit/ Credit Note, thông  tin về con tàu và ngày dự kiến tàu đến, các nội dung yêu cầu Công ty kiểm tra và xác nhận.

    Trong đó Master Bill of Lading thể hịên mối quan hệ giữa người gửi hàng và người nhận hàng. Debit note: giấy dùng thể thanh toán tỷ lệ hoa hồng mà Công ty phải trả cho đại lý Công ty. Credit note: giấy đòi tiền đại lý phát sinh khi đại lý nhờ Công ty đóng hộ cước hãng tàu.

    Tất cả chứng từ này thể hiện mối liên hệ và tình trạng công nợ giữa đại lý và Công ty nhằm xác định khoản thu chi và lợi nhuận giữa hai bên.

    3.2.2  Kiểm tra bộ chứng từ

    Sau đó nhân viên chứng từ sẽ tiến hành kiểm tra chứng từ của đại lý gửi về một cách nhanh chóng nhưng cẩn thận bằng cách xem thông tin trên vận đơn có trùng khớp và đầy đủ các thông tin, tên người gửi, người nhận, tên tàu và ngày tàu đến, số cont và số seal, chi tiết hàng hóa.

    Trong trường hợp không trùng khớp với các số liệu giữa các chứng từ với nhau, nhân viên chứng từ có nhiệm vụ liên lạc với đại lý để kịp thời bổ sung và thông báo cho Công ty khi có sự điều chỉnh gấp. Một số trường hợp do lỗi của đại lý không bổ sung chứng từ cho Công ty kịp thời thì phải chịu trách nhiệm về các khoản chi phí điều chỉnh.

    3.2.3 Lấy lệnh giao hàng( lệnh D/O)

    Trước ngày dự kiến hàng đến thông thường từ 1 đến 2 ngày sẽ nhận được  giấy báo hàng đến của hãng tàu. Dựa vào số vận đơn trên giấy báo để kẹp vào các debit /credit của lô hàng.

    Nhân viên giao nhận thực hiện việc đi đổi lệnh  phải cầm giấy giới thiệu  kèm theo giấy báo nhận hàng chờ xuất hoá đơn để lấy lệnh. Đối với hàng FCL thì khách hàng trực tiếp đóng tiền cược cont và đóng dấu chuyển thẳng tại đại lý hãng tàu khi có nhu cầu.

    3.2.4 Thông quan hàng nhập

    3.2.4.1 Chuẩn bị các chứng từ cần thiết để mở tờ khai.

    • Hồ sơ hải quan gồm

    + Tờ khai hải quan : 2 bản chính (1 bản dành cho người nhập khẩu, 1 bản dành cho hải quan lưu)

    + Hợp đồng mua bán hàng hóa :1 bản chính

    + Hóa đơn thương mại(invoice) : 1 bản chính

    + Phiếu đóng gói (packing list) : 1 bản chính

    + Giấy giới thiệu của công ty nhập khẩu : 1 bản

    3.2.4.2 Truyền số liệu qua mạng hải quan điện tử

    Nhân viên giao nhận dùng phần mềm khai báo hải quan điện tử  « ECUSKD » để truyền số liệu lên tờ khai qua mạng. Nếu truyền thành công hệ thống mạng của hải quan tự động báo số tiếp nhận hồ sơ, số tờ khai và phân luồng hàng hóa. Nhờ bước cải tiến này mà thời gian làm thủ tục nhanh hơn so với thủ công trước đây vì nhân viên hải quan không phải nhập lại số liệu trên tờ khai vào máy.

    Luồng hàng hóa có 3 luồng: luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ.( giống như hàng xuất khẩu).

    ¯ Những tiêu chí cần thiết của tờ khai nhập khẩu

    Ví dụ: Tờ khai hải quan điện tử về hàng nhập khẩu của Công ty TNHH TM DV XNK B

    • Ô số 1: Người xuất khẩu
    • Ô số 2: Người nhập khẩu: Mã số thuế:
    • Ô số 3: Để tên người uỷ thác ( nếu có).
    • Ô số 4: Đại lý làm thủ tục hải quan ( nếu có).
    • Ô số 5: Loại hình nhập khẩu tuỳ thuộc vào mục đích nhập của công ty.

    Trong trường hợp này là nhập để kinh doanh (NKD01)

    • Ô số 6: Hóa đơn thương mại
    • Số :DA0758
    • Ngày: 25/02/2011
    • Ô số 7: Giấy phép (nếu có)
    • Ô số 8: Hợp đồng
    • Số: 0103-2011
    • Ngày: 05/02/2011
      • Ô số 9: Vận tải đơn
    • Số: ABKSGN62761
    • Ngày: 28/02/2011
    • Ô số 10:Cảng xếp hàng

    BANGKOK, THAILAND

    • Ô số 11: Cảng dỡ hàng: C48

    Cảng Cát Lái/ TP.HCM

    • Ô số 12:Phương tiện vận tải: Đường biển

    LANTAU ARROW

    • Ô số 13: Nước xuất khẩu: TH (Thái Lan)
    • Ô số 14: Điều kiện giao hàng: CIF
    • Ô số 15: Phương thức thanh toán: TTR
    • Ô số 16: Đồng tiền thanh toán: USD
    • Ô số 17: Tỷ giá tính thuế: 20.663
    • Ô số 18 : Kế quả phân luồng và hướng dẫn làm thủ tục Hải quan

    – Kiểm tra thực tế hàng hóa (luồng đỏ)

    (Nếu nhiều loại hàng hoá thì mã số hàng hoá cũng khác nhau. Vì vậy khi lên tờ khai cần tra cứu về mã số hàng hoá một cách kỹ lưỡng trong biểu thuế nhằm tránh sai sót gây chậm trễ cho việc giao nhận hàng.)

    (Ở lô hàng của công ty vì mã số hàng hóa được thể hiện ở phụ lục tờ khai nên ô này để trống.)

    • Ô số 19 : Chứng từ Hải quan trước đó (nếu có)
    • Ô số 20 : Tên hàng, quy cách phẩm chất
    • Ô số 21:Mã số hàng hóa
    • Ô số 22: Xuất xứ
    • Ô số 23 : Số lượng
    • Ô số 24: Đơn vị tính
    • Ô số 25: Đơn giá nguyên tệ
    • Ô số 26: Trị giá tính thuế
    • Ô số 27: Thuế nhập khẩu
    • Ô số 28: Thuế GTGT
    • Ô số 29: Thu khác
    • Ô số 30: Tổng số tiền thuế vá thu khác (27 + 28 + 29)
    • Ô số 31: Tổng trọng lượng: 437 kgs
    • Ô số 32: Ghi chép khác
    • Ô số 33: Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm trước Pháp Luật về những nội dung khai báo trên tờ khai này.

    (Giám đốc Công ty xuất khẩu ký tên, đóng dấu)

    • Ô số 34: Xác nhận đã qua khu vực giám sát
    • Ô số 35: Xác nhận giải phóng hàng/ đưa hàng về bảo quản/ chuyển cửa khẩu
    • Ô số 36: Xác nhận thông quan

    (Chi tiết chứng từ đính kèm sau báo cáo)

    3.2.4.3 Làm thủ tục Hải quan tại Cảng

    Chia thành 2 trường hợp :

    1. Trường hợp 1 : Hàng hóa nhập khẩu miễn kiểm ( luồng xanh)

    Bước 1 : Mở tờ khai Hải quan        

    • Nhân viên giao nhận sau khi lập tờ khai hải quan, khai báo qua mạng để lấy số tiếp nhận, số tờ khai, phân luồng kiểm hóa. Sau đó, tiến hành đăng ký mở tờ khai hải quan tại cả
    • Nhân viên kinh doanh đến Hải quan mở tơ khai tìm «  báo cáo vi phạm pháp luật », xem Doanh nghiệp nhập khẩu có nợ thuế hay bị phạt chậm nộp thuế hay không đóng thuế cho Doanh nghiệp.

    + Nếu không vi pham thì nộp lại cùng với bộ chứng từ để Hải quan kiểm tra.

            Các chng t phi np:

    – Báo cáo vi phạm pháp luật

    –  Tờ  khai Hải quan nhập khẩu HQ/2002-NK (2 bản chính: 1 bản lưu Hải quan và 1 bản lưu người khai Hải quan

    –  Hợp đồng mua (1 bản sao y bản chính)

    –  Hóa đơn thương mại (1 bản chính )

    –  Vận đơn đường biển (sao y) « có ký hậu của Ngân hàng nếu thanh toán bằng L/C »

    – Lệnh giao hàng (1bản chính).

    –  Packing list (1bản chính).

    –  Giấy giới thiệu của công ty

    – Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) (nếu có).

    –  Chứng từ đăng ký viện vệ sinh (đối với hàng thực phẩm,…).

    + Nếu Doanh nghiệp vi phạm chậm nộp thuế thì nhân viên giao nhận tiến hành nộp thuế cho Doanh nghiệp . Sau đó, sao y  « Biên nhận nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước » nộp lại Hải quan tiếp nhận hồ sơ cùng với bộ chứng từ để Hải quan kiểm tra.

    • Hải quan sẽ tiếp nhận bộ hồ sơ của nhân viên công ty và từ đó dựa vào mã số thuế của doanh nghiệp, hải quan sẽ tra cứu trên mạng xem doanh nghiệp có tên trong danh sách bị cưỡng chế hay không và kiểm tra ân hạn thuế, bảo lãnh thuế.
    • Sau khi kiểm tra xong Hải quan sẽ chuyển qua bộ phận tính giá thuế.

    Bước 2 : Tính giá thuế

    • Hải quan kiểm tra lại thuế tính trong tờ khai có đúng với số tiền thực tế mà doanh nghiệp phải nộp không.

    –   Nếu doanh nghiệp được ân hạn thuế thì đóng dấu xác nhận

    • Nếu doanh nghiệp phải đóng thuế ngay thì nhân viên giao nhận đóng thuế và sao y biên nhận nộp tiền vào ngân sách Nhà nước Nộp lại cho cửa tính thuế xác nhận.

    Bước 3: Trả tờ khai Hải quan

    • Sau khi kiểm tra và đóng dấu xong Hải quan sẽ chuyển qua cửa trả tờ khai Hải quan.
    • Nhân viên giao nhận mua tem ( lệ phí Hải quan) dán vào tờ khai.
    • Hải quan trả lại bộ chứng từ bao gồm :

    + Tờ khai Hải quan

    + Phiếu ghi kết quả kiểm tra chứng từ

    1. Trường hợp 2 : Hàng hóa nhập khẩu kiểm hóa ( luồng đỏ)

    Bước 1 Mở tờ khai Hải quan

    • Nhân viên giao nhận sau khi lập tờ khai hải quan, khai báo qua mạng để lấy số tiếp nhận, số tờ khai, phân luồng kiểm hóa. Sau đó, tiến hành đăng ký mở tờ khai hải quan tại cả
    • Nhân viên kinh doanh đến Hải quan mở tơ khai tìm «  báo cáo vi phạm pháp luật », xem Doanh nghiệp nhập khẩu có nợ thuế hay bị phạt chậm nộp thuế hay không đóng thuế cho Doanh nghiệp.

    + Nếu không vi pham thì nộp lại cùng với bộ chứng từ để Hải quan kiểm tra.

            Các chng t phi np:

    – Báo cáo vi phạm pháp luật

    –  Tờ  khai Hải quan nhập khẩu HQ/2002-NK (2 bản chính: 1 bản lưu Hải quan và 1 bản lưu người khai Hải quan

    –  Hợp đồng mua (1 bản sao y bản chính)

    –  Hóa đơn thương mại (1 bản chính )

    –  Vận đơn đường biển (sao y) « có ký hậu của Ngân hàng nếu thanh toán bằng L/C »

    – Lệnh giao hàng (1bản chính).

    –  Packing list (1bản chính).

    –  Giấy giới thiệu của công ty

    – Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) (nếu có).

    –  Chứng từ đăng ký viện vệ sinh (đối với hàng thực phẩm,…).

    + Nếu Doanh nghiệp vi phạm chậm nộp thuế thì nhân viên giao nhận tiến hành nộp thuế cho Doanh nghiệp . Sau đó, sao y  « Biên nhận nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước » nộp lại Hải quan tiếp nhận hồ sơ cùng với bộ chứng từ để Hải quan kiểm tra.

    • Hải quan sẽ tiếp nhận bộ hồ sơ của nhân viên công ty và từ đó dựa vào mã số thuế của doanh nghiệp, hải quan sẽ tra cứu trên mạng xem doanh nghiệp có tên trong danh sách bị cưỡng chế hay không và kiểm tra ân hạn thuế, bảo lãnh thuế.
    • Sau khi kiểm tra xong Hải quan sẽ chuyển qua bộ phận tính giá thuế.

    Bước 2 : Tính giá thuế

    • Hải quan kiểm tra lại thuế tính trong tờ khai có đúng với số tiền thực tế mà doanh nghiệp phải nộp không.

    –   Nếu doanh nghiệp được ân hạn thuế thì đóng dấu xác nhận

    • Nếu doanh nghiệp phải đóng thuế ngay thì nhân viên giao nhận đóng thuế và sao y biên nhận nộp tiền vào ngân sách Nhà nước Nộp lại cho cửa tính thuế xác nhận.

    Bước 3 Kiểm hóa

    • Nhân viên giao nhận xem bản phân công kiểm hóa để liên lạc với Hải quan kiểm hóa.
    • Sau đó đăng ký chuyển bãi kiểm hóa cho container và mua seal cho container
    • Xuống bãi làm « giấy cắt seal », kêu công nhân cắt seal đến cắt seal. Đồng thời, liên lạc với Hải quan kiểm hóa xuống bãi xem cắt seal và kiểm tra hàng hóa theo mức độ mà Hải quan yêu cầu.
    • Sau đó, nhân viên giao nhận bấm seal lại.

    Bước 4 Trả tờ khai Hải quan

    • Sau khi kiểm tra và đóng dấu xong Hải quan sẽ chuyển qua cửa trả tờ khai Hải quan.
    • Nhân viên giao nhận mua tem ( lệ phí Hải quan) dán vào tờ khai.
    • Hải quan trả lại bộ chứng từ bao gồm :

    + Tờ khai Hải quan

    + Phiếu ghi kết quả kiểm tra chứng từ

    + Phiếu ghi kết quả kiểm tra hàng hóa

    3.2.5 Xuất phiếu EIR

    Nhân viên giao nhân đến phòng Thương vụ (ở cảng) nộp D/O ( có dấu giao thẳng của Hãng tàu ) và đóng tiền nâng/ hạ, lưu container để xuất phiếu EIR.

    3.2.6 Thanh lý Hải quan cổng

    – Nhân viên công ty mang bộ chứng từ gồm :

    + Lệnh giao hàng

    + Phiếu EIR

    +Tờ khai Hải quan( bản chính và copy)

    – Hải quan sẽ vào sổ hải quan về lô hàng và đóng dấu vào tờ khai và Phiếu EIR.

    – Hải quan sẽ trả lại tờ khai Hải quan (bản chính) và phiếu EIR cho nhân viên giao nhận.

    3.2.7 Giao hàng cho Khách hàng

    Nhân viên giao nhận cho xe vào Cảng chở hàng ra giao đến kho cho khách hàng.

    3.2.8 Quyết toán và lưu hồ sơ

    Sau khi hoàn thành xong thủ tục thông quan và chuyển hàng về kho cho khách hàng xong thì người giao nhận phải :

    Kiểm tra và sắp xếp lại các chứng từ thành 1 bộ hoàn chỉnh, người giao nhận sẽ trao trả chứng từ lại cho khách hàng và Supertrans cũng lưu lại một bộ. Đồng thời kèm theo đó là 1 bản Debit Note – Giấy báo nợ (1 bản dành cho khách hàng, 1 bản dành cho công ty), trên đó gồm : các khoản phí mà công ty đã nộp cho khách hàng có hóa đơn đỏ, phí dịnh vụ vận chuyển hàng hóa, các chi phí phát sinh (nếu có)… sau đó Giám đốc ký tên và đóng dấu vào giấy báo nợ này. Người giao nhận mang toàn bộ chứng từ cùng với Debit Note quyết toán với khách hàng.

    CHƯƠNG III

    GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ FCL XUẤT – NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY SIÊU KỶ

    I – Mục tiêu và phương hướng phát triển của Công ty trong những thời gian tới.

    Trong thời gian trước mắt, mục tiêu của Công ty là tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ của mình, tạo uy tín cho khách hàng và phấn đấu để trở thành cầu nối hiệu quả giữa công ty, các đại lý ở nước ngoài và khách hàng. Song song với việc giữ vững thị trường hiện có là tìm biện pháp thích hợp để mở rộng các hoạt động dịch vụ, vươn xa hơn nữa ra các thị trường nước ngoài. Cụ thể là để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Công ty và chuẩn bị cơ sở cho một sự phát triển lâu dài và ổn định trong thời gian tới, Công ty cần tập trung vào một số nhiệm vụ sau :

    – Tiếp tục mở rộng quan hệ giao dịch đối ngoại với các tổ chức giao nhận quốc tế. Giữ vững mối quan hệ đại lý, những khách hàng và những hợp đồng ký kết. Đồng thời, tích cực tìm kiếm khách hàng mới, tìm hiểu thông tin, nắm chắc khả năng, yêu cầu uỷ thác của khách hàng trong và ngoài nước.

    – Phát triển kinh doanh dịch vụ giao nhận phải gắn liền với đẩy mạnh công tác giao nhận, vận tải và bảo quản trong nước, củng cố năng lực trong nước vững mạnh về tổ chức và giỏi về nghiệp vụ.

    – Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Marketing trong chiến lược kinh doanh của mình với trụ cột là chiến lược dịch vụ mới, chiến lược giá cả mềm dẻo, linh hoạt.

    – Dần dần củng cố và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác giao nhận bằng vốn ngân sách, vốn tự có, vốn liên doanh liên kết.

    – Ổn định mức chi phí tiền lương trong khâu kinh doanh dịch vụ giao nhận.

    Những chủ trương nói trên của Ban Giám đốc Công ty được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu như sau :

    Bảng 6 : Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của Siêu Kỷ trong 2 năm 2011 và năm 2012

     Đơn vị tính: Triệu đồng

    Chỉ tiêu          Năm 2011 2012
    Doanh thu 3700 4200
    Lợi nhuận 400 450

    Nguồn:Trích kế hoạch cho năm 2011 và 2012 của Siêu Kỷ

    Để có thể thực hiện tốt các mục tiêu, phương hướng đề ra, để tiếp tục phát triển một cách ổn định và vững mạnh, Siêu Kỷ cần phải khắc phục kịp thời những khó khăn tồn tại đồng thời phát huy tối đa những lợi thế của mình.

          II –  Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giao nhận hàng hóa  xuất – nhập khẩu bằng đường biển của  Công ty

             2.1  Nhóm biện pháp đối với doanh nghiệp.

    Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối mặt với những khó khăn, thách thức. Để tồn tại và phát triển mỗi doanh nghiệp cần phải tự mình đưa ra các giải pháp để khắc phục khó khăn tồn tại. Với Siêu Kỷ cũng vậy, để dịch vụ giao nhận đường biển phát triển, công ty cần có các biện pháp sau :

    2..1.1  Mở rộng thị trường kinh doanh.

    Để tạo tính ổn định trong hoạt động kinh doanh của mình, tránh các biến động của thị trường thì song song với việc giữ vững thị trường hiện có, công ty phải tìm biện pháp thích hợp để mở rộng hoạt động của dịch vụ giao nhận đường biển hơn nữa ra thị trường nước ngoài.

    Có hai hình thức mở rộng thị trường, đó là mở rộng thị trường của công ty theo chiều rộng và theo chiều sâu. Trong đó :

    Mở rộng thị trường theo chiều rộng chính là mở rộng thị trường theo phạm vi địa lý. Cho đến nay Siêu Kỷ đã vươn ra khá nhiều thị trường trên hầu hết các châu lục trên thế giới. Tuy nhiên vẫn còn một số thị trường rất giàu tiềm năng mà Công ty chưa có đủ khả năng khai thác như Mexico, Nam Mỹ, Trung Đông.

    Mở rộng thị trường theo chiều sâu là  đa dạng hoá phạm vi dịch vụ của công ty để thu hút được nhiều khách hàng đạt doanh thu hoạt động cao hơn nhằm khai thác triệt để và giữ vững thị trường hiện có của Công ty.

    Để tiếp cận và mở rộng được thị trường, Công ty cần phải tiến hành nghiên cứu thị trường. Vì nghiên cứu thị trường, nắm bắt những thông tin về thị trường sẽ giúp cho các cán bộ quản lý, các nhà hoạch định chính sách của Công ty vạch ra những chiến lược cụ thể trong việc giữ vững, mở rộng thị trường kinh doanh của mình. Để làm được điều đó Siêu Kỷ cần phải :

    – Trước hết, Công ty cần liên doanh liên kết với các Công ty nước ngoài đã quen thuộc với thị trường mà công ty chưa khai thác được để chen chân vào thị trường đó.

    – Công ty cần cử các cán bộ đi tham quan, trao đổi kinh nghiệm ở các công ty nước ngoài, tận dụng tối đa các cơ hội để nắm bắt các thông tin cần thiết .

    – Công ty cần tiến tới mở thêm một số các văn phòng đại diện ở nước ngoài, những nước mà công ty đã có nhiều khách hàng thường xuyên.

    – Tiếp tục mở rộng mối quan hệ với các đại lý ở nước ngoài thông qua các mối quan hệ hiện có.

    • Tăng cường chiến lược Marketing xây dựng hình ảnh công ty

     

    Thường xuyên nâng cấp Website công ty vì đây là phương tiện để khách hàng tiếp cận với công ty nhanh nhất, tạo ấn tượng ban đầu tốt đẹp với khách hàng. Hiện nay, Website công ty mới chỉ có một ngôn ngữ là Tiếng Anh. Điều này một mặt tạo ra sự chuyên nghiệp trong phong cách làm việc của công ty, nhưng mặt khác tiếng Anh đôi khi cũng là rào cản ngôn ngữ cho khách hàng. Vì thế, cách tốt nhất là Website công ty nên dùng cả hai ngôn ngữ Anh và Việt để dễ dàng tiếp cận cho cả khách hàng trong và ngoài nước.

    Hơn nữa, hiện nay Công ty chưa có bộ phận marketing nên việc marketing cho Công ty do Bộ phận kinh doanh đảm nhận, vì vậy việc marketing quảng bá hình ảnh của Công ty chưa được quan tâm đúng mức. Mặt khác, để việc sales dễ dàng hơn thì hình ảnh công ty cần phải xuất hiện và có uy tín trên thị trường. Chính vì thế, công ty cần phải có kế hoạch và chiến lược marketing cụ thể trong từng tháng và từng năm.

    Công ty cũng nên có nhiều chiến  lược quảng cáo  tên  tuổi của công  ty đến với các doanh nghiệp  như:  tổ  chức một  số buổi hội  thảo,  tham dự  các hội  chợ  giới  thiệu  việc làm…

    • Nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chất lượng dịch vụ.
    • Giảm thời gian chờ đợi đối với bộ phận chứng từ và giao nhận đồng thời mở kênh tiếp thị cũng như chăm sóc khách hàng.
    • Thường xuyên tạo lập mối quan hệ thân thiết và lâu bền với khách hàng. Hỗ trợ khách hàng bằng cách tư vấn cho khách hàng hiểu rõ và chủ động hơn trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh và quảng bá.
    • Thường xuyên cung cấp những dịch vụ phụ trợ cho khách hàng, có những chính sách ưu đãi về giá cả đối với khách hàng thường xuyên của công ty. Cần chú trọng đến khâu giải quyết khiếu nại của khách khi có sự cố xảy ra, phải đề xuất những cách giải quyết có lợi nhất cho khách, không làm mất lòng tin nơi khách hàng.
    • Mở rộng thêm quy mô cũng như tăng số lượng nhân viên để phát triển thị trường trong và ngoài nước.
    • Tăng cường đội xe để đẩy nhanh tốc độ giao hàng, tránh trường hợp bị động về phương tiện vận chuyển đồng thời tiết kiệm được nhiều chi phí khi phải thuê ngoài vừa có thể kiểm soát tốt khâu cuối cùng trong công tác giao nhận.
    • Với các  đối  thủ  cạnh  tranh,  tìm hiểu và xác định những điểm mạnh, điểm yếu, mục  tiêu,  chính  sách của họ. Từ đó, học hỏi ở họ những  cái hay  có  thể ứng dụng cho mình và tránh những điểm yếu họ gặp phải.
      • Phát triển nguồn nhân lực mang tính chuyên nghiệp liên quan đến hoạt động giao nhận.

    Chú ý khâu tuyển dụng, lựa chọn đầu vào của công ty, nên tuyển thêm các nhân viên có trình độ nghiệp vụ vững vàng, có kiến thức chuyên ngành để nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động giao nhận.

    Nâng cao trình độ cho mỗi nhân viên hơn nữa bằng các khóa nghiệp vụ ngắn hạn đồng thời tạo điều kiện cho nhân viên có môi trường làm việc tốt hơn, có ý thức chia sẻ và gắn bó lâu dài với công ty hơn.

    Các nhân viên cần tích cực học hỏi để nâng cao nghiệp vụ. Bên cạnh sự cẩn thận, chính xác trong việc lập, lưu các chứng từ, các nhân viên phải luôn luôn cập nhật các kiến thức, thông tin mới về giao nhận, phải nhanh chóng nắm bắt sự thay đổi các điều luật thương mại về giao nhận xuất nhập khẩu, hay cả các chính sách về giá, thuế trong từng thời kỳ để thực hiện tốt hơn trong công việc.

    Xây dựng chế độ khen thưởng rõ ràng, cụ thể, lập bảng thành tích đồng thời có khen thưởng cụ thể trong từng tháng để các bộ phận hoạt động có hiệu quả, khuyến khích tinh thần làm việc tích cực của nhân viên.

    2.2. Đối với nhà nước

    2.2.1  Nâng cao hiệu quả hoạt động của hải quan cảng.

     

    Có biện pháp xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế phát sinh tiêu cực làm cản trở cho các doanh nghiệp. Kiên quyết chống hành vi tham ô, nhũng nhiễu trong đội ngũ hải quan.

    Công chức hải quan cần hướng dẫn cụ thể, chỉ ra cái sai cho doanh nghiệp. Tùy từng trường hợp mà xử lý từ cảnh báo tới phạt hành chính để tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện đúng quy định pháp luật. Khi được phân bổ nhiệm vụ, công chức hải quan cần nhanh chóng làm việc để đảm bảo tiến độ công việc giúp doanh nghiệp nhận hàng, tránh tình trạng lưu kho lưu bãi.

    Các khâu làm thủ tục hải quan mất nhiều thời gian làm ảnh hưởng tới tiến trình kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, giải pháp bức thiết là  đơn giản hóa thủ tục hải quan theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa giúp việc thông quan hàng hóa nhanh chóng, tránh những phiền toái không cần thiết.

    2.2.2 Tăng cường chính sách hợp tác quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội.

    Việc Việt Nam ra nhập ASEAN, AFTA, APEC, WTO…đã nâng tầm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho kinh tế Việt Nam phát triển. Nhưng số nước có quan hệ kinh tế với Việt Nam không nhiều, chúng ta cần thiết lập mối quan hệ tin tưởng, hai bên cùng có lợi với các quốc gia khác đặc biệt là trong hoạt động đầu tư nước ngoài. Từ đó, gián tiếp thúc đẩy việc xuất nhập khẩu hàng hóa, tạo điều kiện cho ngành giao nhận phát triển. Hơn nữa, việc cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp nỗ lực phấn đấu và trưởng thành hơn.

    2.2.3 Xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ và nhất quán, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.

    Một hệ thống pháp luật đồng bộ và thống nhất sẽ tạo một hành lang pháp lý ổn định, tạo tư tưởng an tâm cho các doanh nghiệp vận tải và giao nhận trong nước cũng như những nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, Nhà nước phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, các chính sách về thuế, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính…nhằm thúc đẩy và phát triển hệ thống giao nhận.

    2.2.4 Nhà nước tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ giao nhận đường biển.

    Nhà nước cần đầu tư thích đáng để xây dựng cơ sở vật chất cho việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biển như xây dựng và mở rộng cảng biển, hiện đại hoá thiết bị xếp dỡ vận chuyển hàng hoá. Ngoài ra, Nhà nước cần đầu tư để mở rộng tuyến đường sắt sao cho đạt tiêu chuẩn quốc tế, nâng cấp tu sửa hệ thống đường bộ, cầu cống… để cùng với vận tải đường biển, người giao nhận có thể thực hiện vận tải hàng hoá đa phương thức một cách thuận tiện, dễ dàng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án tốt nghiệp Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa

    Đồ án tốt nghiệp Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa

    Đồ án tốt nghiệp Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận dịch vụ giao nhận hàng hóa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-%C3%81p-d%E1%BB%A5ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-trong-giao-nh%E1%BA%ADn-h%C3%A0ng-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa

    LỜI NÓI ĐẦU

    Việt nam đang trên đường đổi mới, hoà nhập vào sự phát triển chung trong khu vực và trên thế giới, thương mại điện tử ngày một phát triển đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, trong việc buôn bán trao đổi hàng hóa đặc biệt trong giao nhận hàng hóa giữa Việt nam, khu vực và thế giới.

    Để đẩy mạnh hợp tác kinh tế, các nước ASEAN trong đó có Việt Nam tìm cách hướng tới việc tự do hoá thương mại, dịch vụ và đầu tư trong khu vực. Song song với việc thực hiện Khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), các nước ASEAN đang triển khai việc thực hiện Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ trong đó có dịch vụ vận tải và giao nhận hàng hoá hứa hẹn một sự phát triển mạnh mẽ của loại hình dịch vụ này. Có thể nói phát triển dịch vụ giao nhận vân tải hàng hoá quốc tế ở mỗi nước gắn liền với sự phát triển kinh tế của nước đó.  Ký kết hợp đồng, vận chuyển hàng hoá đến cảng đích và tiến hành giao nhận là những khâu then chốt trong bất kỳ thương vụ nào. Với tính chất là một nghiệp vụ tổng hợp, người giao nhận phải nắm vững về các nghiệp vụ ngoại thương và phải biết phối kết hợp một cách nhuần nhuyễn các khâu nghiệp vụ khi thực hiện một hợp đồng giao nhận. Đây là một loại hình kinh doanh dịch vụ mang tính phân công lao động cao của một xã hội hiện đại đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải hiểu biết một cách  đầy đủ về ngoại thương, các tập quán buôn bán quốc tế cũng như luật kinh tế, các quy định của Nhà nước về luật thuế, luật Hải quan và hơn nữa phải có một hệ thống đại lý rộng rãi trên thế giới để có thể cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất với giá cả cạnh tranh nhất. Đặc biệt trong giai đoạn mà áp dụng thương mại điện tử vào trong các loại hình kinh doanh, sản xuất là một trong những mảng được Chính phủ nhiều nước trong khu vực và trên thế  giới rất quan tâm, được coi là điều kiện cần thiết cho sự hội nhập kinh tế của mỗi nước. Hình thức thương mại này, mang lại cho xã hội, các doanh nghiệp, đến từng cá nhân một công cụ hoạt động mới, tiện lợi, dễ dàng và hiệu quả hơn nhiều. Ngày nay, thương mại điện tử được áp dụng ngày càng nhiều và tốc độ càng nhanh với hiệu quả hết sức nhãn tiền trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau với nhiều mức độ khác nhau.

    Với mong muốn nước ta bước vào nền kinh tế tri thức trong thế kỷ tới một cách thành công, theo kịp sự phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới cùng với mối quan tâm đến sự phát triển của thương mại điện tử trong dịch vụ giao nhận vận tải trong kỷ nguyên công nghệ thông tin,  tôi đã quyết định chọn đề tài:  “ Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa” làm đề tài tốt nghiệp của mình.

    Hiện nay, áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa tại Việt Nam là một vấn đề lớn và đang được xem xét để có thể triển khai rộng rãi, một phần do tỷ lệ người dùng Internet thấp và thói quen giao dịch qua mạng chưa nhiều. Tuy nhiên Việt Nam là một thị trường lớn với trên 56.000 doanh nghiệp, việc tiến hành thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa là xu hướng tất yếu. Các doanh nghiệp ngay từ bây giờ cần tạo lập những điều kiện cơ bản ban đầu cho thương mại điện tử phát triển, trước hết là cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin để từ đó phát triển các lĩnh vực trong thương mại điện tử đặc biệt là giao nhận hàng hóa. Ngoài ra, đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhà nước và các Bộ, Ngành cần có những giải pháp để hỗ trợ trong lĩnh vực này.

    Mục đích của khóa luận là làm rõ lợi ích của việc ứng dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa, hình thức áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa, và đề xuất các các giải pháp phát triển thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa.

    Cấu trúc của khóa luận gồm:

    Lời nói đầu

    Ba chương:

    Chương I: Sự ra đời của thương mại điện tử, lợi ích của việc ứng dụng thương mại điện tử, các điều kiện phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam.

    Chương II: Hiện trạng áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa.

    Chương III: Kiến nghị các giải pháp phát triển thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa ở Việt Nam.

    Kết luận

    Tài liệu tham khảo.

     

    CHƯƠNG I

    SỰ RA ĐỜI CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, LỢI ÍCH CỦA VIỆC ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG KINH DOANH GIAO NHẬN, CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

     

    I. KHÁI QUÁT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

    1.1. Sự ra đời và phát triển của mạng Internet

    Lịch sử của INTERNET được bắt đầu từ năm 1957: Đây là thời kỳ chiến tranh lạnh giữa các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đang diễn ra hết sức gay gắt. Ở Mỹ các khoản đầu tư dành cho quân sự là rất lớn. Năm 1957 Mỹ đã hình thành nên một cơ quan nghiên cứu phát triển ARPA (Advanced Research Project Agency), dưới sự quản lý của Uỷ ban phòng vệ DoD (Department of Defence), để phối hợp nghiên cứu khoa học và công nghệ ứng dụng vào lĩnh vực quân sự.

    Đến năm 1965 ARPA tài trợ cho dự án mạng máy tính TX-2 tại phòng thí nghiệm Lincoln của Viện công nghệ Massachusetts, Lexington và dự án Q-32 hợp tác với công ty phát triển hệ thống (system development) Santa Monica California.

    Năm 1967 kế hoạch về mạng PS (Packet – Switching) được đưa ra, đồng thời bản kế hoạch đầu tiên về mạng ARPANET (Advanced Research Projects Agency Network) được đưa ra bởi Lawrence G.Roberts – viện công nghệ Massachusetts. Vào vào tháng 7 năm 1968 ARPA đề nghị kết nối 4 địa điểm đầu tiên bằng các máy tính gồm: Viện nghiên cứu Standford, trường Đại học tổng hợp California ở Los Angeles, UC (University of California) tại Santa Babara và trường Đại học tổng hợp Utah.

    Đến năm 1969 Uỷ ban phòng vệ DoD (Department of Defense) giao cho ARPA đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực mạng. Và cũng trong năm 1969 bốn địa điểm trên chính thức được nối thành mạng. Do vậy cho đến nay thì người ta lấy nguồn gốc đầu tiên của Internet là hệ thống máy tính cuả Bộ Quốc Phòng Mỹ, gọi là mạng ARPANET.

    Đầu năm 1970  Thư điện tử đã bắt đầu được sử dụng.

    Năm 1973 sự nối kết quốc tế đầu tiên với ARPANET của trường đại học London – Anh.

    Năm 1979:  Nhằm phát triển rộng rãi mạng đã được thiết lập, các nhà khoa học máy tính từ đại học Wisconsin DARPA (Defense Advanced Research Project Agency) và NSF (National Science Foundation) tập trung thảo luận về việc cùng tổ chức một ban nghiên cứu khoa học máy tính, nghiên cứu mạng máy tính.

    Đến năm 1990 ARPANET được thay thế bằng mạng NSFNET (National Science Foundation Network). NSFNET mang tính chất hoạt động dân sự nhiều hơn. Thực ra trong các số liệu thống kê, người ta chỉ tính mốc thừa nhận một cách rộng rãi sự ra đời của Internet từ năm 1990 khi công nghệ mạng được áp dụng một kỹ thuật mới là World Wide Web(www). Và cũng kể từ thời điểm ấy số người hoà nhập vào mạng Internet mới tăng nên một cách nhanh chóng.

    Đến năm 1990 số các nước đã tham gia nối với mạng này là:

    “Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Nauy, Thụy Điển” (1988), “Australia, Đức, Israel, Italy, Nhật Bản, Mexico, Netherlands, Newzealand, Puerto Rico, Anh” (1989), “Agentina, Austria, Bỉ, Brazil, Chile, Greece, Ân Độ, Ireland, Hàn Quốc, Thuỵ Sĩ” (1990) .

    Sau đó các nước khác cũng tham gia vào mạng toàn cầu Internet:

    Năm 1991: Croatia, Czech Repuplic, Hongkong, Hungary, Poland, Portugal, Singapore, Taiwan, Tunisia…..

    Đến năm 1997:  toàn thế giới đã có 110 quốc gia nối mạng Internet, trong đó có Việt Nam.

    Những địa chỉ của những tổ chức lớn xuất hiện trên Internet là Liên Hợp Quốc (1993), Nhà Trắng (1993), Ngân hàng thế giới (1992), Thủ tướng Nhật (1994), Uỷ ban ngân khố Anh (1994),Thủ tướng Newzealand (1994)…..”1 [1] 

     

    Trong những năm gần đây Internet đã phát triển một cách nhanh chóng và được ứng dụng một cách rộng rãi trong mọi mặt của đời sống xã hội. Nếu xét lịch sử phát triển của các lĩnh vực thông tin đại chúng khác thì Internet vượt xa tất cả. Điều này cho thấy thế giới có thể sẽ sắp bước vào một xã hội toàn cầu Internet. Người ta đưa ra một ví dụ so sánh để thấy được sự phát triển của Internet so với các phương tiện thông tin đại chúng khác là rất lớn.

    Hình 1-1:  Sự tăng trưởng của Internet trong các năm 1994-2000,và dự báo mức tăng trưởng các năm 2002-2005.”[2]

    Để đạt được con số 50 triệu người sử dụng đài phát thanh phải chờ sau 40 năm, truyền hình mất 13 năm, truyền hình cáp mất 10 năm, trong khi đó Internet đạt được con số trên chưa đầy 5 năm.

    Cũng theo tạp chí tin học ngân hàng số 4 tháng 8 năm 2000, Năm 1994 toàn thế giới có khoảng 3 triệu người nối mạng Internet. Năm 1996 con số đã lên tới 67 triệu người. Năm 1997 đã có 110 quốc gia nối mạng Internet. Năm 1998 toàn thế giới đã có hơn 100 triệu người nối mạng Internet. Đến cuối năm 1999 toàn thế giới có khoảng 259 triệu người nối mạng Internet. Đồng thời vào năm 2000 con số này là 349 triệu người.

    “Dự báo vào năm 2002 số người nối mạng Internet là 490 triệu người, năm 2003 là 502 triệu người và đến 2005 toàn thế giới sẽ có khoảng 765 triệu người nối mạng Internet” (gần 1/6 dân số thế giới).

    Tuy nhiên, sự phát triển của mạng Internet là hết sức chênh lệch giữa các quốc gia, giữa những nước đang phát triển và những nước công nghiệp hóa. Hiện nay, một nửa trong số những người truy cập mạng Internet trên thế giới là thuộc khu vực Bắc Mỹ. Người ta đưa ra một sự so sánh hình tượng rằng cả Châu Phi chưa bằng số người nối mạng ở riêng thành phố New York. “ 3 [3]

    Khi một công nghệ mới ra đời thì thông thường người ta khó mà lường hết được sự mở rộng của nó. Trước đây khi điện thoại được phát minh, người ta cũng có cảm nghĩ rằng nó là một công cụ hết sức xa vời, nhưng cho đến nay thì không ai là không phải thừa nhận rằng nó đã trở thành một phương thức giao dịch không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày. Internet – một công nghệ vượt bậc, là đỉnh cao của thế kỷ XX chắc chắn cũng sẽ như vậy. Hiện nay trên thế giới con số người nối kết với Internet chưa nhiều song chắc chắn rằng trong tương lai không xa, Internet sẽ là phương tiện thân thiện của mọi nhà trên khắp hành tinh.

     

    1.2. Khái niệm về thương mại điện tử (E-commerce)

    Trước khi đi vào khái niệm về thương mại điện tử chúng ta xem xét qua về khái niệm kinh doanh điện tử:  Kinh doanh điện tử ( Electronic Business) là một bước biến đổi cơ bản của các phương thức kinh doanh thông qua việc sử dụng các công nghệ của mạng máy tính Internet, Intranet…

    Hiện nay có nhiều quan điểm về vấn đề định nghĩa thương mại điện tử.

    “Quan điểm thứ nhất :  Thương mại điện tử được định nghĩa một cách đơn giản là sự chuyển giao các giá trị qua Internet của một trong bốn dạng hoạt động: Mua, Bán, Đầu tư và vay mượn. “ 6 [6] 

     

    “Quan điểm thứ hai với nghĩa rộng: Thương mại điện tử gồm các giao dịch tài chính và thương mại được thực hiện bằng các phương tiện điện tử.

     

    Quan điểm thứ ba xuất phát từ thực tiễn của thương mại điện tử: Thương mại điện tử là các hoạt động thương mại được thực hiện qua mạng thông tin toàn cầu Internet.” 7 [7]

    Hiểu theo quan điểm  thứ hai thì thương mại điện tử thực tế đã tồn tại từ rất lâu. Có lẽ sớm nhất và phổ biến nhất là người ta ứng dụng hoạt động kinh doanh của mình qua điện thoại, sau đó nổi bật nữa là truyền hình, fax, radio… đây cũng là các phương tiện điện tử được ứng dụng khá rộng rãi trong hoạt động thương mại.

    Tuy nhiên các hình thức này chỉ hỗ trợ cho thương mại. Trong hầu hết các hoạt động thương mại các phương tiện này không thực hiện được một cách hoàn chỉnh. Song nhờ Internet người ta có thể thực hiện hoàn chỉnh một giao dịch thương mại như: mua bán, chào hàng, chọn hàng, ký kết hợp đồng, giao hàng, thanh toán, bảo hành, các dịch vụ sau bán… Do vậy trên thực tiễn nói thương mại điện tử, người ta thường hiểu là loại trừ các phương tiện điện tử không phải là Internet. Thương mại điện tử là hoạt động thương mại bằng phương tiện Internet.

    Như vậy, theo quan điểm thực tiễn thương mại, có thể đưa ra một định nghĩa về thương mại điện tử như sau:” Thương mại điện tử là việc sử dụng các công nghệ mạng Internet trong các hoạt động  giao dịch thương mại” “Electronic commerce is an emerging concept that describes the process of buying and selling or exchanging of products, services, and information via computer networks including the internet“[ 8] .

    Trong Luật mẫu về thương mại điện tử của Liên Hợp Quốc – UNCITRAL Model Law on electronic commerce – không có điều khoản nào định nghĩa về thương mại điện tử. Tuy nhiên hiểu theo tinh thần điều chỉnh của luật này thì “Electronic Commerce” cần được hiểu theo nghĩa rộng ở trên.

    1. LỢI ÍCH CỦA VIỆC ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG KINH DOANH GIAO NHẬN HÀNG HÓA.

    Trong loại hình cơ bản nhất của giao dịch, khách hàng đến cửa hàng lựa chọn những sản phẩm mà họ muốn mua, trả cho người bán một khoản tiền và mang hàng về. Ngày nay trước sự bùng nổ về công nghệ thông tin – mạng máy tính và sự kết nối khắp toàn cầu – thương mại điện tử đã nổi lên như một phương thức kinh doanh quan trọng của thế kỷ .

    Khi con người càng nhận thức rõ hơn, hiểu biết nhiều hơn về Internet thì thị trường điện tử cũng ngày càng trở nên quen thuộc với họ. Nếu khuynh hướng tăng trưởng số người nối mạng Internet như hiện nay được duy trì thì sẽ chẳng bao lâu nữa trong tương quan giữa hai loại thị trường, thị trường thực sẽ có xu hướng nhường chỗ dần cho thị trường ảo, thế giới của thông tin, hình ảnh. Các công ty cũng sẽ chuyển dần hoạt động kinh doanh truyền thống của mình sang kinh doanh điện tử để khai thác những lợi ích được tạo ra từ phương thức kinh doanh này.

    Đối với các doanh nghiệp giao nhận ở nước ta, có lẽ bước đầu tiên để có thể khuyến khích họ phát triển kế hoạch áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa đó là việc làm thế nào để họ có thể nhận thức được những ích lợi mà thương mại điện tử có thể mang lại. Làm rõ vấn đề này sẽ là động lực, và phương hướng chủ  đạo cho các nhà doanh nghiệp mạnh dạn áp dụng công nghệ mới.

    2.1. Tính kịp thời, tính cập nhật của thông tin thương mại

    Internet là một thư viện khổng lồ nhất được cập nhật một cách liên tục. Ngày nay, nhận, gửi, khai thác thông tin trên Internet là nhu cầu của toàn thế giới. Thông tin chính xác đầy đủ, nhanh chóng là một đòi hỏi ngày càng cao trong hoạt động kinh doanh giao nhận.

    Trong thương mại điện tử hiện nay người ta có thể dễ dàng thu thập và tìm kiếm thông tin ở khắp các nơi trên thế giới. Dựa vào đó doanh nghiệp có thể theo sát sự biến động của thị trường nước ngoài, nắm bắt liên tục và thường xuyên các thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do khả năng thu thập được các thông tin cập nhật và truyền tin nhanh chóng, doanh nghiệp có thể thực hiện nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, tìm hiểu đối tác và ra các quyết định kinh doanh của mình ở các thời điểm và địa điểm khác nhau.

    Nói về tính kịp thời của thông tin thương mại trên Internet, nhiều người đặt câu hỏi sử dụng điện thoại, fax… với khả năng truyền tin nhanh thì vẫn đảm bảo tính kịp thời, vậy ưu thế nổi trội của Internet so với các phương tiện này là gì?

    Điện thoại là một phương tiện phổ thông dễ sử dụng và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại. Tuy nhiên trên quan điểm kinh doanh công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh. Mọi cuộc giao dịch cuối cùng vẫn phải kết thúc bằng giấy tờ, hay các tài liệu có thể lưu trữ (hiện nay thương mại điện tử trên thế giới, người ta thừa nhận giá trị pháp lý của các tài liệu truyền qua Internet, vì vậy các tài liệu này có thể thay cho giấy tờ truyền thống). Ngoài ra nếu tính yếu tố chi phí thì có lẽ giao dịch điện thọai nhất là giao dịch đường dài, điện thoại cao gấp nhiều lần so với  các giao dịch thông qua mạng Internet.

    Với máy fax, có thể thay thế được dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống. Nhưng Fax lại có hạn chế là: không thể tải được âm thanh, hình ảnh phức tạp, đồng thời giá máy và chi phí còn rất cao. Hơn nữa qua thương mại điện tử bằng Internet người ta vẫn có thể gửi và nhận Fax nếu cần.

    2.2. Giảm được chi phí tiếp thị và giao dịch

    Nhờ thương mại điện tử thông qua Internet, Công ty có thể thiết lập trực tiếp mối quan hệ với khách hàng hay rút ngắn được quá trình giao hàng. Doanh nghiệp có thể hạ được giá thành các dịch vụ giao nhận, giảm thấp chi phí tiếp thị mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận.

    Bằng phương tiện Internet/Web, một nhân viên giao nhận có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, ca-ta-lô điện tử (eletronic catalogue) trên trang Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với ca-ta-lô in ấn (có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời). Theo số liệu thống kê của hãng máy bay Boeing của Mỹ, có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng thông qua Internet và còn nhiều hơn nữa các đơn hàng về dịch vụ kỹ thuật, sửa chữa, giao nhận và mỗi ngày giảm được 600 cú điện thoại.

    Thương mại điện tử qua Internet/Web còn giúp các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch giao hàng, giao dịch thanh toán). Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện; chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng khoảng 5% chi phí giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng từ 10% đến 20% cho phí thanh toán theo lối thông thường.

    Trong những yếu tố cắt giảm, yếu tố thời gian là đáng kể nhất vì việc nhanh chóng làm cho thông tin dịch vụ tiếp cận khách hàng (mà không phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còn đối với kinh doanh giao nhận.

    Thông thường đối với một nhà sản xuất rất khó có thể thiết lập được một mạng lưới tiêu thụ rộng lớn để trực tiếp cung cấp và liên hệ với những người bán lẻ hay các khách hàng. Song hiện nay nhờ thương mại điện tử mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể làm được điều đó. Khi thiết lập một cơ sở kinh doanh trên Internet, doanh nghiệp đã cùng một lúc thiết lập một đại lý phân phối ở nhiều nơi khác nhau, hoàn toàn loại bỏ được kênh phân phối nhiều cấp. Điều này là có lợi cho cả doanh nghiệp và khách hàng.

     

    2.3. Kinh doanh sử dụng cửa hàng ảo – Kinh doanh tại nhà

    Với một cơ sở kinh doanh ảo, lợi dụng công nghệ truyền tin Internet, nhận và xử lý thông tin ở bất cứ nơi nào, cho phép các nhà quản lý kinh doanh chỉ ngồi tại nhà nhưng lại có thể kinh doanh ở bất kỳ đâu.

    Chẳng hạn khi doanh nghiệp thiết lập một Website – khác với cơ sở kinh doanh thực, nó hiện hữu trên các máy tính nối mạng Internet. Khi đó các khách hàng thông qua việc truy cập địa chỉ Internet của công ty, sẽ thực hiện mọi giao dịch cần thiết. Cả khách hàng và doanh nghiệp đều có thể tiến hành các giao dịch thương mại tại nhà, hay bất cứ nơi đâu. Nhờ đặc tính này mà ngay cả các hộ gia đình cũng dễ dàng tham gia kinh doanh trên mạng Internet và cạnh tranh một cách bình đẳng với những doanh nghiệp lớn. Hiện nay đặc điểm này còn được thực hiện một cách dễ dàng hơn nhờ những thiết bị mới như: Điện thoại di động nối mạng Internet.

     

    2.4. Nâng cao khả năng phục vụ và duy trì mối quan hệ thường xuyên với khách hàng.

    Nhờ bộ nhớ máy tính và phần mềm được lập trình sẵn, thương mại điện tử có khả năng tự động phân tích, tổng hợp dữ liệu trên cơ sở kinh doanh ảo của doanh nghiệp giao nhận. Khi khách hàng có nhu cầu giao nhận hàng và gửi những thông tin về mình cho doanh nghiệp thì toàn bộ thông tin này sẽ được lưu vào máy tính và tất cả các giao dịch giữa doanh nghiệp giao nhận và khách hàng sẽ được giữ lại như một cơ sở dữ liệu. Đây sẽ là những thông tin hữu ích cho doanh nghiệp giao nhận khi nhận biết các khách hàng quen thuộc.

    Với cơ sở dữ liệu đó, doanh nghiệp có thể nắm được đặc điểm của từng khách hàng, nhóm khách hàng. Từ đó, phân đoạn thị trường, hướng những chính sách phù hợp riêng biệt cho từng khách hàng.

    Kể từ giao dịch đặt cung cấp dịch vụ thứ hai trở đi doanh nghiệp không cần khách hàng phải cung cấp chi tiết các thông tin về mình nữa mà có thể xác định một cách nhanh chóng và cực kỳ chính xác khách hàng đó là ai. Cung cấp dịch vụ đúng với đòi hỏi của từng khách hàng sẽ là một ưu thế lớn trong việc duy trì các khách hàng quen thuộc.

    Tuy nhiên, để có thể tận dụng được ưu thế này thì cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp cần phải có những điều chỉnh thích hợp. Phải đặc biệt chú trọng mối liên hệ giữa bộ phận lưu trữ, xử lý dữ liệu với các bộ phận khác, nhằm mục đích thoả mãn ngay cả một nhóm nhu cầu hay thậm chí là nhu cầu riêng biệt của từng khách hàng. Đây là lợi ích lớn cho doanh nghiệp áp dụng thương mại điện tử. Tuy nhiên sẽ là nguy cơ cho các doanh nghiệp chậm trễ trong việc triển khai một chiến lược trong thương mại điện tử, vì nếu chậm chân sẽ có nguy cơ bị mất thị trường bởi những đối thủ đi trước, do khách hàng không muốn thay đổi nhà cung cấp của mình.

    2.5. Dễ dàng đa dạng hoá dịch vụ

    Với Internet doanh nghiệp giao nhận có thể kinh doanh hỗn hợp các dịch vụ khác nhau.Với kiểu giao hàng truyền thống (người giao nhận phải đến trực tiếp địa điểm giao nhận và làm các thủ tục cần thiết cho lô hàng, tốn nhiều thời gian đi lại) rất khó để có thể đa dạng hóa các dịch vụ như dịch vụ kê khai tờ khai thuê, đóng thuế, chuyên trở … vì điều này đòi hỏi phải trang bị đầu tư rất lớn một lực lượng lao động được đào tạo chuyên ngành cho nhiều vị trí ở các địa điểm khác nhau. Nhưng khi áp dụng thương mại điện tử không quan trọng là hàng hoá giao nhận được đặt như thế nào để ở đâu. Bởi doanh nghiệp giao nhận sẽ dễ dàng theo dõi được nhiều lô hàng ở nhiều nơi và đồng thời thực hiện các nghiệp vụ giao nhận và các dịch vụ khác qua Internet. Điều quan tâm chính của doanh nghiệp là làm thế nào giao nhận hàng hóa tới khách hàng theo phương thức phù hợp hoặc theo phương thức mà khách hàng yêu cầu. Do đó, kể cả khi hàng hoá được để hỗn hợp thì vẫn có thể được xắp xếp và giao nhận theo đúng yêu cầu của khách hàng bất cứ lúc nào.

     

    2.6. Giảm chi phí sản suất

    Tiết kiệm chi phí là một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong thương mại điện tử. Liên quan đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp có thể có rất nhiều loại chi phí khác nhau. Tính tiết kiệm chi phí diễn ra ở hầu hết các khâu của thương mại điện tử. Khía cạnh này có thể dễ nhận thấy ở những hoạt động như:

    2.6.1./ Kinh doanh trên Internet giảm được chi phí thuê văn phòng.

    Văn phòng trên Internet của doanh nghiệp được mở ngay tại nhà của khách hàng trước màn hình máy tính. Chỉ cần đầu tư một lần bằng khoản tiền không lớn doanh nghiệp  đã có rất nhiều văn phòng ở khắp mọi nơi, điều này cũng đồng nghĩa với việc giảm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.

    2.6.2./ Giảm chi phí trong các hoạt động giao dịch trao đổi giấy tờ

    Trong doanh nghiệp việc phát sinh các chi phí cho hoạt động giao dịch giấy tờ là rất lớn. Giao dịch giữa khách hàng – doanh nghiệp, doanh nghiệp – đối tác, và trong nội bộ doanh nghiệp luôn luôn diễn ra. Dòng chảy thông tin thông suốt và liên tục có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp. Thương mại điện tử qua Internet có thể giúp cho doanh nghiệp thực hiện một cách nhanh chóng các hoạt động giao dịch với dung lượng không hạn chế và chi phí thấp nhất.

    2.6.3./ Giảm chi phí trong giới thiệu dịch vụ.

    Doanh nghiệp kinh doanh giao nhận có thể thông qua Web site của mình để giới thiệu dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng các hình ảnh, phụ đề minh họa, những thành tựu đã đạt được giúp khách hàng dễ cập nhật và thực sự tin tưởng khi lựa chọn.

    2.6.4./ Giảm chi phí trong quản lý

    Nhờ hoạt động kinh doanh thông qua mạng các máy tính mà trong doanh nghiệp giao nhận có thể hạn chế được khoản chi phí đầu tư cho việc thuê quản lý. Sự trao đổi thông tin không hạn chế qua Internet có thể giúp cho một nhà quản lý có khả năng quản lý được nhiều chi nhánh, cơ sở cùng một lúc mà không phải thuê người quản lý mới.

    2.6.5./ Giảm chi phí thực hiện các dịch vụ kỹ thuật hướng dẫn khách hàng.

    Các tài liệu kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng dịch vụ có thể gửi trực tiếp cho khách hàng qua Internet mà không cần in ấn, vận chuyển vừa tốn kém cho khách hàng lại vừa tốn kém cho công ty.

    2.6.6./ Giảm chi phí trong việc hoạt động quảng cáo chào hàng.

    Quảng cáo qua Internet là hình thức quảng cáo kinh tế nhất. Doanh nghiệp có thể tự giới thiệu về mình trên quy mô toàn cầu mà không cần thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và phải trả phí dịch vụ rất cao.

    Nhờ Internet mà một số bộ phận nhân viên trong doanh nghiệp có thể làm việc tại nhà mà không cần tới trụ sở làm việc. Điều này có thể giúp cho doanh nghiệp giảm bớt các khoản phụ cấp dành cho đi lại, giảm chi phí dành cho việc thuê văn phòng hay sinh hoạt cho nhân viên tại cơ quan.

    2.6.7./ Giảm chi phí trong việc tuyển mộ nhân viên

    Nhờ Internet doanh nghiệp không phải tìm lao động qua các tổ chức trung gian. Doanh nghiệp có thể đưa những thông tin về tuyển dụng lao động lên mạng Internet, hoặc cũng có thể gửi email trực tiếp đến các trường đại học. Ở Việt Nam cũng có những địa chỉ trên đó có thể tìm được việc làm, tuy nhiên số công ty trực tiếp mở trang Web để tuyển mộ nhân viên chưa nhiều.

     

    2.7.  Hỗ trợ kỹ thuật, sử dụng dịch vụ cho khách hàng

    Những yêu cầu thắc mắc của khách hàng trên Web site sẽ được tự động chuyển về doanh nghiệp. Các nhân viên tư vấn chuyên ngành về dịch vụ giao nhận của doanh nghiệp có thể ngồi ở văn phòng đưa ra được phương hướng  giải quyết cho khách hàng. Vì vậy công ty luôn luôn sẵn sàng cung cấp, sẵn sàng giải đáp thắc mắc của khách hàng mà không gặp một trở ngại nào. Cả khách hàng và doanh nghiệp luôn hài lòng với những dịch vụ sau bán như hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng, yêu cầu giải đáp thắc mắc… đơn giản, thuận tiện, và tiết kiệm chi phí.

    Khi kinh doanh trên Internet, doanh nghiệp có thể hình thành các chuyên mục như giải đáp thắc mắc, hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng, bảo quản… những chuyên mục này sẽ rất có lợi cho doanh nghiệp, để giải quyết một cách tự động những vấn đề này trên Website mà không phải tốn chi phí và đầu tư nhân lực.

     

    2.8. Thiết lập củng cố quan hệ đối tác

    Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành tố tham gia vào quá trình giao nhận: Thông qua mạng (nhất là dùng Internet/Web) các thành tố tham gia (người tiêu dùng, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau (liên lạc trực tuyến) gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa; nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục; các bạn hàng mới, các cơ hội mới kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.

     

    2.9. Tạo điều kiện cho tiếp cận  Kinh tế số hoá

    Xét trên bình diện quốc gia, trước mắt thương mại điện tử sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế; nhìn rộng hơn thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (digital economy) mà xu thế và tầm quan trọng đã được đề cập tới ở trên. Lợi ích này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong các doanh nghiệp giao nhận  ở các nước đang phát triển; nếu không nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế số hay nền kinh tế số hoá hay còn gọi nền “kinh tế ảo” (Virtual economy) thì sau một thập kỷ nữa các nước đang phát triển có thể bị bỏ rơi hoàn toàn. Khía cạnh lợi ích này mang tính tiềm tàng, tính chiến lược công nghệ và tính chính sách phát triển của các nước chưa công nghiệp hoá cần lưu ý; ví có luận điểm cho rằng: sớm chuyển sang nền kinh tế số hoá thì một nước đang phát triển có thể tạo ra một bước nhảy vọt (leapfrog), có thể tiến kịp các nước đã đi trước trong một thời gian ngắn hơn.        

     

    III. CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM.

    3.1. Điều kiện về con người, nhận thức.

    Thương mại điện tử là sản phẩm của công nghệ, do vậy muốn vận dụng nó thì phải nắm được công nghệ. Hiện tại ở nước ta nhận thức về công nghệ thông tin còn thấp. Hầu hết các trường học, ở tất cả các cấp học nước ta kể cả Đại học tỷ lệ nối mạng Internet là rất ít. Các sinh viên – học sinh tầng lớp trí thức của tương lai còn chưa hiểu sâu Internet là gì, chưa hề có khái niệm về thương mại điện tử. Đối với các doanh nghiệp, những người đóng vai trò chính trong thương mại điện tử cũng không hề biết sử dụng Internet, không nhận thức được tầm quan trọng của thương mại điện tử.

    Về phía Chính phủ, người thứ ba quan trọng trong thương mại điện tử, các  quy chế, các biện pháp quản lý kiểm soát của Nhà nước lại chủ yếu thiên về khía cạnh chính trị, văn hoá, xã hội của Internet (vốn chỉ là những ảnh hưởng phụ, những vấn đề có thể giải quyết bằng giải pháp công nghệ,

    giáo  dục hơn là giải quyết bằng những quy định bằng pháp luật nhằm tạo ra những rào cản cho phát triển thương mại điện tử) mà chưa chú ý tới tính thương mại và lợi ích mà Internet mang lại. Vì vậy cả về phía Nhà nước ta, vấn đề nhận thức vẫn là vấn đề quan trọng hàng đầu.

    3.2. Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật

    Cơ sở vật chất cho công nghệ thông tin nước ta còn thấp, nhân tố này có thể dẫn tới gia tăng các chi phí cho việc phát triển các ứng dụng của thương mại điện tử. Do hạ tầng viễn thông còn lạc hậu, do đó thời gian truy cập Internet lâu, phí truy cập Internet cao, gây ra những trở ngại lớn với những người muốn tham gia nối mạng Internet

    Dịch vụ tài chính, hệ thống ngân hàng và thanh toán điện tử chưa phát triển. Hệ thống thanh toán thẻ mới hình thành còn đang trong giai đoạn thử nghiệm. Như vậy để tiến đến hình thức thanh toán điện tử ở nước ta có lẽ phải cần đến một thời gian khá dài, ngay cả nếu chúng ta tiến hành những nỗ lực và đầu tư cần thiết ngay từ bây giờ.

    3.3. Điều kiện kinh tế

    Về điều kiện kinh tế, trên quan điểm tìm hiểu về thương mại điện tử xét trên hai giác độ:

    3.3.1/ Thứ nhất về thu nhập của người dân.

    Thu nhập của người dân nước ta còn rất thấp, chính vì vậy điều này sẽ gặp nhiều khó khăn khi tương phản với thu nhập là mức cước truy nhập Internet cao nhất thế giới. Thu nhập còn chưa cao do đó thông thường một lẽ tự nhiên là yếu tố giá cả, chất lượng thường được xem là những nhân tố quan trọng hơn nhiều là sự tiện lợi. Người tiêu dùng sẽ rất hạn chế tham gia vào thương mại điện tử nếu như để trả cho sự tiện lợi từ việc mua hàng hoá, hưởng dịch vụ của thương mại điện tử mà phải trả một khoản chi phí với cước truy nhập rất cao.

    3.3.2/ Thứ hai về quy mô của các doanh nghiệp

    Doanh nghiệp nước ta là các doanh nghiệp nhỏ, thiếu vốn, thông thường trong cạnh tranh bị thua thiệt trước các doanh nghiệp lớn. Đây chính là một trong những trở ngại lớn nhất cho các doanh nghiệp Ngoại Thương Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới. Khi nghiên cứu thương mại điện tử và phương hướng ứng dụng tại Việt Nam, chúng ta cần phải chú ý nhận thức vấn đề này.

    Bối cảnh các quy chế, quy định của Nhà nước ở nước ta hiện nay chưa có quy chế trực tiếp điều chỉnh thương mại điện tử nhưng có các quy định ảnh hưởng đến sự phát triển của thương mại điện tử. Đáng chú ý là:

    Quyết định số 136/ TTg ngày 5/ 3/ 1997 thành lập Ban điều phối quốc gia về mạng Internet. Trong đó có các quy định về quản lý và kiểm soát mạng Internet của các bộ, ngành tương ứng.

    Nghị định 49/ CP về kế hoạch tổng thể Công nghệ thông tin Quốc gia, trong đó việc xây dựng mạng thông tin thương mại và thị trường đã được nêu thành một dự án cần được ưu tiên thực hiện. Tuy nhiên trong thực tế việc triển khai chưa được chú ý.

    Công văn số 363/ VPCP ngày 3/ 2/ 1999 thể hiện sự quan tâm của Chính phủ tới thương mại điện tử theo đó Thủ tướng chính phủ giao Bộ thương mại lập dự án về việc thành lập Hội đồng Quốc gia về thương mại điện tử.

    Công văn số 994/ VPCP ngày 09/ 3/ 1999, Thủ tướng giao Bộ Thương Mại và Tổng Cục Bưu Điện nghiên cứu phương án tham gia thương mại điện tử của Việt Nam.

    Xét về các quy định hiện đang tồn tại ở Việt Nam hiện nay, có thể nói là chưa có tác dụng kích thích sự phát triển của thương mại điện tử ở nước ta. Thương mại điện tử chưa có môi trường để hoạt động, chưa được thừa nhận một cách hợp pháp. Các quy chế khác có liên quan thì chủ yếu mang tính kiểm soát, quản lý về mặt nội dung của Internet. Các quy định hiện thời về văn bản, chữ ký, tài liệu gốc… không phù hợp với bối cảnh phát triển thương mại điện tử. Để tạo điều kiện phát triển thương mại điện tử ở nước ta Nhà nước cần nhanh chóng hình thành môi trường pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử tạo chỗ dựa cho doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh điện tử.

    CHƯƠNG II.

    HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG

    GIAO NHẬN HÀNG HÓA

    1. HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NÓI CHUNG Ở VIỆT NAM

    Mặc dù cho đến thời điểm hiện nay Chính phủ Việt Nam chưa có một tuyên bố chính thức nào về thương mại điện tử, nhưng trong thực tế Chính phủ đã có những bước đi chắc chắn và bài bản trên con đường tiến tới triển khai và ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam. Có thể nói đến lúc này vấn đề đặt ra không còn là có chấp nhận hay không chấp nhận, mà là chúng ta sẽ tham gia, sẽ áp dụng thương mại điện tử sao cho phù hợp với lợi ích, điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam.

    Riêng trong hai tổ chức APEC và ASEAN mà nước ta là thành viên, đã đạt được thoả thuận về các nguyên tắc chỉ đạo chung (trong ASEAN) và chương trình hành động (trong APEC) về thương mại điện tử. Nước ta đã tham gia Tiểu ban điều phối về thương mại điện tử của ASEAN và tham gia soạn thảo và thoả thuận các nguyên tắc chung cho thương mại điện tử của Tổ chức này. Ngày 24/11/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ký Hiệp định khung về E-ASEAN, khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc phát triển không gian điện tử và thương mại điện tử trong khuôn khổ các nước ASEAN.

    Ngày 5/3/1997 được xem là dấu mốc đầu tiên đánh dấu Internet Việt nam khởi động làm cơ sở cho thương mại điện tử bằng việc ban hành Nghị định 21/CP Chính phủ đã chính thức tạo hành lang pháp lý cho quyền khai thác, sử dụng mạng Internet ở Việt Nam một cách hợp pháp. Cùng với Nghị định 21/CP, Nhà nước đã ban hành quyết định số 136/TTg ngày 5/3/1997 thành lập Ban điều phối quốc gia về mạng Internet ở Việt Nam.

    Nói đến thương mại điện tử nghĩa là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mại hay nói chính xác hơn là việc trao đổi thông tin thương mại qua các phương tiện điện tử. Phương tiện điện tử bao gồm điện thoại, điện báo, máy fax, truyền hình, Internet/Web … Nếu hiểu theo nghĩa của thương mại điện tử như trên thì thương mại điện tử đã được áp dụng trong thương mại của tất cả các doanh nghiệp từ rất lâu.

    Việt Nam với trên 56.000 doanh nghiệp cả Nhà nước và tư nhân hoạt động thương mại trên mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… thì việc áp dụng các phương tiện của thương mại điện tử là việc tất yếu mang tính sống còn đối với doanh nghiệp.

    1.1. Điện thoại.

    Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dễ sử dụng và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại của doanh nghiệp. Qua điện thoại doanh nghiệp có thể trao đổi và cung cấp các thông tin cần thiết cho khách hàng. Với sự phát triển của điện thoại di động, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên càng rộng rãi hơn. Tuy nhiên công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh, mọi cuộc giao dịch cuối cùng vẫn phải kết thúc bằng văn bản. Ngoài ra, chi phí giao dịch điện thoại nhất là điện thoại đường dài và điện thoại ngoài nước vẫn còn cao. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    1.2. Máy fax

    Nhờ máy fax, doanh nghiệp có thể thay thế các dịch vụ giao dịch giấy tờ, đưa công văn truyền thống, ký kết hợp đồng ngoại thương mà không cần phải trực tiếp gặp gỡ. Đến nay, máy fax gần như đã thay thế hẳn máy Telex chỉ truyền được lời văn. Nhưng máy fax có một số mặt hạn chế như: không thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều, ngay cả các hình ảnh phức tạp cũng không truyền tải được. Hơn nữa, giá máy và chi phí sử dụng còn cao.

    1.3. Truyền hình

    Ngày nay, truyền hình trở thành một trong những công cụ điện tử phổ thông nhất. Truyền hình đóng vai trò quan trọng trong thương mại nhất là trong quảng cáo hàng hóa. Ở Việt Nam, quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp chiếm tới 1/4 tổng chi phí quảng cáo hàng năm. Song truyền hình chỉ là một công cụ viễn thông “một chiều”; qua truyền hình khách hàng không thể tìm kiếm được các chào hàng, không thể đàm phán với người bán về các điều khoản mua bán cụ thể. Nay, máy thu hình được nối kết với máy tính điện tử thì công dụng của nó được mở rộng hơn.

    1.4. Thanh toán điện tử

    Mục tiêu cuối cùng của mọi cuộc mua bán là người mua nhận được hàng và người bán nhận được tiền trả cho số hàng đó, thanh toán vì thế là khâu quan trọng bậc nhất của thương mại, và thương mại điện tử không thể thiếu được công cụ thanh toán điện tử thông qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử mà bản chất là các phương tiện tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác. Nay đã xuất hiện cả hình thức tự động chuyển tiền mặt thông qua các “túi tiền điện tử” (electronic purse). Thanh toán điện tử sử dụng rộng rãi các máy rút tiền tự động (ATM: Automatic Teller Machine), thẻ tín dụng (credit card) các loại, thẻ mua hàng (purchasing card), thẻ thông minh (smart card) v.v.

    1.5. Internet/Web

    Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet. Khi nói Internet, ta nói tới một phương tiện liên kết các mạng với nhau trên phạm vi toàn cầu tạo ra hàng chục dịch vụ khác nhau. Sự ra đời của Internet tại Việt Nam nhận được sự hoan nghênh và nhiệt tình ủng hộ từ phía các tổ chức quốc tế, các cơ quan thông tấn báo chí mà đặc biệt là từ phía các doanh nghiệp cả trong nước và nước ngoài. Sau một năm kể từ ngày 19/11/1997 mốc của sự gia nhập mạng toàn cầu của nước ta (theo Thời báo kinh tế số 2 ngày 06/01/1999) số máy nối kết với Internet tại Việt Nam là 17.000 với tốc độ tăng trung bình là 23% mỗi tháng.

    Trong số 17.000 khách hàng thì chỉ riêng tại thành phố Hồ Chí Minh con số đã là 6.300 người tương ứng với 55% tổng số người sử dụng trên cả nước. Thành phần sử dụng Internet đa số là các cá nhân Việt Nam chiếm 42%, sau đó là các công ty, cơ quan và người nước ngoài chiếm 33%. Các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, các công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 16%, trong khi các doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm 6% và khu vực cơ quan hành chính sự nghiệp là 3%.

    Trung bình theo thống kê của Việt Nam vào thời gian này, thì cước phí hàng tháng mà một máy tính truy cập Internet phải trả ở nước ta là 350.000 đ/tháng. Rõ ràng với mức đó còn quá cao so với thu nhập ở nước ta. Ở đây có một nghịch lý là thu nhập bình quân đầu người ở nước ta rất thấp trong khi đó thì cước phí thu do sử dụng Internet lại thuộc loại rất cao, có thể nói là cao nhất thế giới. Do đó cùng với số người kết nối rất ít, thì trong số đó người sử dụng không thường xuyên là chủ yếu. Cước cao chính là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển Internet ở Việt Nam.

    Trước thực tế đó, kể từ ngày 1/ 1/ 1999 quyết định giảm cước đã được áp dụng nhằm tạo điều kiện mở rộng đối tượng nối kết với Internet. Trước đây cước thuê bao hàng tháng từ 50.000 đồng xuống còn 45.000 đồng. Đến nay cước truy cập được tính theo số giờ truy cập, tính ra trung bình cũng là 45.000 đến 50.000 đồng/1 tháng. Cước truy cập gián tiếp qua mạng điện thoại từ 400 đồng/ phút xuống còn 290 đồng/ phút ban ngày và 200 đồng/ phút ban đêm. Với mức cước này tuy vẫn còn cao hơn nhiều giá quốc tế song chắc chắn sẽ làm tăng nhanh số máy tính truy cập vào Internet ở nước ta.

    Và thực tế sau quyết định giảm phí truy cập lần đầu này số người hoà mạng Internet đã tăng lên nhanh chóng. Theo báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 29 tháng 12 năm 1999 thì con số thuê bao Internet ở nước ta đã tăng lên 50.000 người, tăng 300 % so với cùng kỳ năm 1998.

    Gần đây để tạo thuận lợi hơn nữa cho phát triển Internet và thương mại điện tử đợt giảm cước thứ hai đã được tiến hành và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2000. (Bảng cước sau trích từ http://www.fpt.vn )

    Cước thuê bao 30,000 VND/tháng
    Ngày bình th­ường (Thứ Hai đến Thứ Sáu)
    Từ 07:00 đến 19:00 250 VND/phút
    Từ 19:00 đến 24:00 180 VND/phút
    Từ 00:00 đến 07:00 150 VND/phút
    Các ngày lễ, Thứ Bảy và Chủ Nhật
    Từ 07:00 đến 19:00 180 VND/phút
    Từ 19:00 đến 07:00 150 VND/phút

    Internet ở nước ta trong những năm qua đạt được tỷ lệ tăng cao thể hiện được tiềm năng to lớn trong triển vọng phát triển mạng Internet tại nước ta. Tính từ tháng 11 năm 1997 chúng ta mới chính thức tiến hành nối mạng Internet, nếu tính đến nay thì thời gian còn chưa được bao lâu, hơn nữa nền tảng công nghệ cũng như nhận thức, trình độ công nghệ thông tin trong nước chưa cao, song đạt được mức độ tăng trưởng như vậy cũng là một kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên tiềm năng tăng trưởng là rất lớn vì có rất nhiều người có nhu cầu kết nối nhưng do gặp khó khăn về mức cước còn quá cao so với thu nhập. Đây có lẽ là trở ngại lớn nhất mà chúng ta cần phải giải quyết trong giai đoạn này.

    Cơ sở vật chất của chúng ta mặc dù còn chưa đáp ứng được yêu cầu đầy đủ của thương mại điện tử, song hiện tại nhìn vào ngành công nghệ thông tin nước ta, chúng ta cũng có những tiềm năng đáng kể không phải là nhỏ: Lực lượng lao động trong ngành công nghệ thông tin khá lớn, con số 30.000 người, số lượng khoảng 1.200.000 máy PC đang được sử dụng, tốc độ phát triển chung của thị trường công nghệ thông tin – viễn thông tới 40% mỗi năm, trong đó sự tăng trưởng trong lĩnh vực Internet là mạnh nhất. Với tốc độ tăng trưởng số người nối mạng Internet như hiện nay, tính đến năm 2001 có 230.000 người dùng Internet. Con số này vào năm 2003 có thể sẽ đạt đến hơn 1,2 triệu (tài liệu FPT).

    Sự tăng trưởng số người nối mạng Internet ở nước ta sẽ có xu hướng ngày càng mạnh khi hạ tầng viễn thông của chúng ta đang dần dần được cải thiện, chi phí nối kết có xu hướng giảm xuống, nhận thức xã hội ngày càng cao, thông tin và các dịch vụ trên mạng Internet ngày càng đa dạng hấp dẫn, máy tính ngày càng rẻ cùng với thu nhập ngày càng cao, dẫn tới khả năng trang bị một máy vi tính, điện thoại và modem để nối với Internet không còn là một vấn đề xa vời đối với đa số người dân nước ta. Lợi ích từ thương mại điện tử ngày càng được nhận thức rõ. Sự phát triển của Internet trên khắp các quốc gia, châu lục với tốc độ chóng mặt. Xã hội thông tin số hóa không biên giới gắn liền với toàn cầu hóa là xu hướng không thể đảo ngược mà bất kỳ quốc gia nào cũng có thể dễ dàng nhận thấy… Tất cả những yếu tố đó, chúng ta có thể chắc chắn khẳng định được rằng sự tăng trưởng số người hòa mạng ở nước ta sẽ ngày càng cao hơn.

    Nhưng nổi bật nhất tới nay trong các dịch vụ Internet là dịch vụ World Wide Web (gọi tắt là Web, viết tắt là WWW hoặc W3) là công nghệ sử dụng các siêu liên kết văn bản (hyper link, hyper text). Web với tư cách là một không gian ảo cho thông tin đã được toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng chấp nhận làm tiêu chuẩn giao tiếp thông tin.

    Ngày nay, do công nghệ Internet được phát triển rộng rãi, các doanh nghiệp đã tiết kiệm được nhiều chi phí, tốc độ xử lý thông tin cũng như giao dịch qua Internet tăng nhanh. Qua địa chỉ của mình trên Internet, doanh nghiệp tiến hành các hoạt động quảng cáo, tiếp thị, tìm khách hàng hay giao tiếp với khách hàng. Đây là một phương tiện phục vụ kinh doanh quan trọng và có hiệu quả nhất của thương mại điện tử.

    Mặc dù có hay không có Internet/Web doanh nghiệp vẫn có thể thực hiện thương mại điện tử (qua các phương tiện điện tử khác) song ngày nay, nói tới thương mại điện tử thường có nghĩa là nói tới Internet/Web vì thương mại đã và đang trong tiến trình toàn cầu hóa và hiệu quả hóa nên các doanh nghiệp đã và sẽ phải sử dụng triệt để Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hóa cao độ và có hiệu quả sử dụng cao. Có như vậy thương mại điện tử mà thực chất là kinh doanh trên Internet sẽ ngày càng tăng và phổ biến rộng rãi.

    II/ HỆN TRẠNG ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA.

    2.1. Vai trò của giao nhận hàng hoá trong kinh doanh

    Giao nhận hàng hóa là ngành nghề dịch vụ thương mại gắn liền và liên quan mật thiết tới hoạt động ngoại thương và vận tải đối ngoại. Đây là một loại hình dịch vụ thương mại không cần đầu tư nhiều vốn nhưng mang lại một nguồn lợi tương đối chắc chắn và ổn định nếu biết khéo léo tổ chức và điều hành trên cơ sở tận dụng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có.

    Trước đây khi sản xuất và lưu thông chưa phát triển thì giao nhận là một khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Khi sản xuất và lưu thông phát triển ở mức độ cao, nhu cầu vận chuyển hàng hóa lớn thì hoạt động giao nhận tách riêng thành một nghề mới. Trong xu thế quốc tế hóa đời sống như hiện nay thì hoạt động giao nhận càng có vai trò quan trọng. Điều này thể hiện ở:

    • Đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế là người mua và người bán ở những nước khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao hàng tức là hàng được vận chuyển từ người bán sang người mua. Để cho quá trình vận chuyển đó được bắt đầu, tiếp tục và kết thúc tức là hàng hóa tới tay người mua, cần phải thực hiện một loạt các công việc khác nhau liên quan tới chuyên chở như: đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận … Tất cả những công việc đó là nghiệp vụ của người giao nhận. Như vậy trước tiên nghiệp vụ giao nhận là điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thương mại quốc tế.
    • Hoạt động giao nhận tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm mà không cần có sự tham gia hiện diện của người gửi cũng như người nhận hàng.
    • Giúp người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ vòng quay của các phương tiện vận tải; tận dụng một cách tối đa và có hiệu quả dung tích, trọng tải của các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ khác.
    • Tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu có thể tập trung vào hoạt động kinh doanh của họ.
    • Góp phần giảm giá thành hàng hóa xuất nhập khẩu.
    • Bên cạnh đó giao nhận cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt các chi phí không cần thiết khác như: chi phí xây dựng kho tàng, bến bãi nhờ vào việc sử dụng kho tàng, bến bãi của người giao nhận, chi phí đào tạo nhân công …

    2.2. Các hình thức áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa.

    Giao nhận hàng hoá là một loại hình dịch vụ của xã hội hiện đại, của sự chuyên môn hoá cao. Trong thương mại điện tử thì cơ hội phát triển hay quảng bá dịch vụ của người giao nhận là rất lớn. Một hoạt động thương mại điện tử diễn ra có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Có doanh nghiệp chỉ áp dụng thương mại điện tử như một phương thức để quảng cáo giới thiệu hàng hoá, có doanh nghiệp chỉ áp dụng thương mại điện tử như một công cụ để tiến hành các trao đổi giao dịch v.v. Tuy nhiên, xét một cách tương đối đầy đủ thì hoạt động giao nhận hàng hóa áp dụng thương mại điện tử diễn ra theo các hình thức sau:

    2.2.1. Thư điện tử

    Doanh nghiệp giao nhận sau khi đã đăng ký một địa chỉ trên Internet thì có thể sử dụng hòm thư điện tử để gửi thư cho các đối tác một cách “trực tuyến”. Thư điện tử (electronic mail: E-mail) là một phương tiện trao đổi thông tin ở dạng “phi cấu trúc” (unstructured form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận trước hoặc định sẵn. Ngoài ra, thư điện tử còn là một phương tiện trao đổi thông tin với một thời gian ngắn nhất, chi phí rẻ nhất có thể sử dụng được mọi lúc, đến được mọi nơi trên thế giới. Qua thư điện tử, doanh nghiệp giao nhận và đối tác tiến hành các giao dịch về chọn tuyến đường, phương thức vận tải, người chuyên chở thích hợp, các chứng từ cần thiết… và thảo luận các điều khoản và điều kiện có liên quan để ký kết hợp đồng giao nhận.

    2.2.2. Thanh toán điện tử.

    Thanh toán điện tử (electronic payment) là quá trình thanh toán dựa trên hệ thống thanh toán tài chính tự động mà ở đó diễn ra sự trao đổi các thông điệp điện tử (electronic message) với chức năng là tiền tệ, thể hiện giá trị của một cuộc giao dịch. Như đã nói ở trên, thương mại điện tử không thể thiếu được công cụ thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử. Doanh nghiệp giao nhận sau khi đã hoàn tất công việc thì yêu cầu khách hàng thanh toán cho doanh nghiệp bằng một số hình thức chính sau:

    * Trao đổi dữ liệu tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử.

    * Tiền mặt Internet (Internet card): Tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (Ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, sử dụng trên phạm vi thế giới và tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa (digital cash). Sử dụng tiền mặt số hóa này có thể được dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, do chi phí giao dịch mua hàng và chi phí chuyển tiền rất thấp. Hơn nữa nó không đòi hỏi một qui chế được thoả thuận từ trước, có thể tiến hành giữa hai con người, hai công ty bất kỳ, hoặc là các thanh toán vô hình. Tiền mặt nhận được đảm bảo là tiền thật, tránh được nguy cơ tiền giả.

    * Thẻ thông minh (smart card) là một loại thẻ giống như thẻ tín dụng nhưng ở mặt sau của thẻ, thay vì cho dải từ, lại là một con chíp máy tính điện tử có một bộ nhớ nhỏ để lưu trữ tiền số hóa. Tiền ấy chỉ được “chi trả” khi người sử dụng và thông điệp được xác thực là “đúng”.

    * Giao dịch ngân hàng số hóa (Digital banking): Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống:

    • Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng.
    • Thanh toán giữa các ngân hàng với các đại lý thanh toán.
    • Thanh toán trong nội bộ hệ thống ngân hàng.
    • Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác (thanh toán liên ngân hàng).

    2.2.3. Trao đổi dữ liệu điện tử.

    Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, gọi tắt là EDI) là việc trao đổi dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các doanh nghiệp giao nhận đã thoả thuận với nhau một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thỏa thuận từ trước khuôn dạng cấu trúc của các thông tin). Theo Uỷ ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa pháp lý sau đây: “Trao đổi dữ liệu điện tử” (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được thoả thuận để cấu truc thông tin. EDI được sử dụng từ trước khi có Internet, trước tiên người ta dùng “mạng gia tăng giá trị” (Value added network: VAN) để liên kết các đối tác EDI với nhau. Cốt lõi của VAN là một hệ thống thư tín điện tử cho phép các máy tính điện tử liên lạc được với nhau và hoạt động như một phương tiện lưu trữ và tìm gọi: khi kết nối vào VAN, doanh nghiệp sẽ có thể liên lạc với rất nhiều máy tính điện tử nằm ở mọi nơi trên thế giới. Ngày nay VAN được xây dựng chủ yếu là trên nền Internet.

    2.2.4. Bán lẻ hàng hóa vô hình.

    Bán lẻ hàng hóa trên mạng Internet là việc tiến hành bán tất cả các sản phẩm mà một công ty có thể có thông qua mạng Internet. Nhưng đối với doanh nghiệp giao nhận, “hàng hóa” ở đây là một trang Web gồm: hệ thống quảng cáo dịch vụ, hệ thống tư vấn và hỗ trợ khách hàng trực tuyến… giúp các doanh nghiệp có nhu cầu thuê dịch vụ giao nhận được tư vấn, kiểm chứng và củng cố lòng tin về các dịch vụ của doanh nghiệp giao nhận.

    III. NHỮNG VIỆC CÒN TỒN TẠI KHI ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA.

    Trong giao nhận hàng hóa để áp dụng hết các cơ hội mà thương mại điện tử đem lại thì khó có thể thực hiện được. Điều này cũng không có gì khó hiểu vì chúng ta mới chỉ bước vào công nghệ thông tin được hơn một thập kỷ, tham gia mạng Internet được vài năm nên nhận thức của chúng ta còn nhiều hạn chế. Do vậy, thương mại điện tử đã và đang đặt ra hàng loạt các vấn đề phải giải quyết.

    3.1. Hạ tầng về cơ sở công nghệ

    Thương mại điện tử không phải là một sáng kiến ngẫu hứng mà là hệ qủa tất yếu của sự phát triển kỹ thuật số hóa của công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật máy tính. Vì thế chỉ có thể thực sự tiến hành thương mại điện tử có hiệu quả khi các doanh nghiệp kinh doanh giao nhận đã có một mạng lưới máy tính được nối mạng hoàn thiện.

    Hạ tầng cơ sở công nghệ không chỉ có nghĩa là tính hiện hữu (availability); mà còn hàm nghĩa có tính kinh tế sử dụng (affordability), nghĩa là chi phí trang bị các phương tiện công nghệ thông tin (điện thoại, máy tính, modem v.v.) và chi phí dịch vụ truyền thông (phí điện thoại, phí nối mạng và truy cập mạng) phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận được. Điều này các doanh nghiệp giao nhận cần có sự hỗ trợ của Nhà nước.

    3.2. Hạ tầng cơ sở về nhân lực.

    Thương mại trong khái niệm “thương mại điện tử” động chạm tới mọi con người, từ người tiêu thụ tới người sản xuất phân phối, tới các cơ quan Chính phủ, tới các nhà công nghệ và phát triển. Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa tất yếu làm nảy sinh yêu cầu mọi nhân viên trong doanh nghiệp giao nhận phải quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng. Ngoài ra, các nhân viên này phải thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới phát triển để phục vụ cho thương mại điện tử và các thông tin về kinh doanh giao nhận của các doanh nghiệp khác để từ đó rút ra những kinh nghiệm cho mình.

    Khi sử dụng Internet/Web, thì một yêu cầu tự nhiên nữa của kinh doanh trực tuyến là tất cả những nhân viên giao nhận tham gia đều phải giỏi Anh ngữ, ngôn ngữ chủ yếu được sử dụng trong thương mại nói chung, và thương mại điện tử qua mạng Internet nói riêng, vẫn là tiếng Anh.

    Đòi hỏi này của thương mại điện tử sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo cuả các quốc gia muốn tham gia đầy đủ vào hệ thống giao dịch thương mại điện tử toàn cầu nói chung và hoạt động kinh doanh giao nhận nói riêng trong tương lai.

    3.3. Hạ tầng cơ sở về kinh tế và pháp lý.

    Môi trường kinh tế, pháp lý của mỗi doanh nghiệp giao nhận phải hòa nhập được với môi trường kinh tế, pháp lý quốc gia và quốc tế bởi vì, ngay trong bản thân của nền kinh tế tri thức và thương mại điện tử mang tính toàn cầu hóa rất cao. Một số vấn đề sẽ bị thay đổi có tính đảo lộn so với truyền thống kinh doanh trước đây, thí dụ, đánh thuế trong thương mại điện tử áp dụng trong giao nhận hàng hóa như thế nào? Đánh thuế các dung liệu (hàng hóa phi vật thể: Âm nhạc, phần mềm, …)? Những hàng hóa, dịch vụ truyền qua mạng mang tính không biên giới và không qua hải quan như vậy thì ta phải xây dựng tính pháp lý trong thương mại điện tử như thế nào? Tuy nhiên về mặt pháp lý, cần phải giải quyết được một số vấn đề:

    • Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch thương mại điện tử.
    • Bảo vệ pháp lý đối với các hoạt động thương mại điện tử.
    • Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử, chữ ký số hóa.
    • Xây dựng các thiết chế pháp lý, các cơ quan pháp lý thích hợp cho việc xác thực/chứng nhận hay chứng thực (Authentication/Certification) chữ ký điện tử và chữ ký số hóa.

    Vì những lý do tương tự như trên, giao nhận hàng hóa trong thương mại điện tử đang được các nước xem xét một cách chiến lược và thận trọng.

    3.4. An toàn và bảo mật

    Giao dịch thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn, nhất là khi hoạt động trên Internet/Web:

    • Bản thân mạng viễn thông phải đảm bảo an toàn và tin cậy;
    • Phải có các công cụ hữu hiệu để bảo vệ các hệ thống thông tin kết nối tới các mạng viễn thông đó;
    • Phải có những biện pháp hữu hiệu để xác nhận và bảo đảm tính bảo mật của dữ liệu điện tử tránh được những truy nhập trái phép.

    Trong lĩnh vực giao nhận, người giao hàng thì lo người nhận hàng không thanh toán cho các hợp đồng đã được ký kết theo kiểu điện tử qua Web, người nhận hàng thì lo các chi tiết của thẻ tín dụng của mình bị lộ, kẻ xấu sẽ lợi dụng mà rút tiền.

    Kỹ thuật mã hóa (cryptography) hiện đại (trong đó có kỹ thuật “Mã hóa công khai/bí mật”), với khóa dài tối thiểu tới 1024, 2048 bit, cùng với các công nghệ SSL (Secure Sockets Layer), SET (Secure Electronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này, trong đó có vấn đề “chữ ký điện tử” (electronic signature), “chữ kỹ số hóa” (digital signature) (là chữ ký biểu diễn bằng các bit điện tử, và được xác thực thông qua giải mã).

    * Mã khoá công khai/bí mật

    Ta biết rằng, mật mã thường dùng trước đây là hệ mã đối xứng, tức là dùng một cặp mã khóa giống nhau cho cả hai bên để mã hóa và giải mã, hệ mã này rất phức tạp trong quá trình phân phát khóa, do vậy không thể triển khai trên mạng được. Từ năm 1976 người ta đã khắc phục những thiếu sót của hệ mã cũ, kỹ thuật mã công khai/bí mật được đưa vào sử dụng. Với mật mã khóa công khai/bí mật, mỗi bên có hai khóa: một khóa công khai và một khoá bí mật, một văn bản bất kỳ được mã bằng khóa công khai và giải mã bằng khóa bí mật. Khoá bí mật chỉ người nhận mới có và không thể tính toán suy được khoá mật từ khoá công khai. Nếu bên giao hàng muốn gửi thông báo bí mật cho bên nhận hàng, bên giao hàng lấy khóa công khai của bên nhận hàng rồi mã hóa thông báo đó. Chỉ bên nhận hàng có mã khóa bí mật của mình mới giải mã được thông báo đó và nhận được văn bản gốc.

    Tuy nhiên, bản thân các mã bí mật cũng có thể bị khám phá bởi các kỹ thuật giải mã tinh vi, nhất là kỹ thuật của bên có đẳng cấp công nghệ cao hơn hẳn. Vì vậy, nếu không có các luật và các phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin, thì một doanh nghiệp giao nhận rất có thể sẽ bị cách ly khỏi hoạt động kinh doanh giao nhận trong thương mại điện tử quốc tế.

    3.5. Hệ thống thanh toán tài chính tự động

    Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện khi đã tồn tại một hệ thống thanh toán tài chính (financial payment) phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động. Như vậy cần phải xây dựng một hệ thống mạng thanh toán liên ngân hàng. Để đảm bảo an ninh, mạng liên ngân hàng là mạng riêng, không kết nối với Internet và không xây dựng trên chuẩn TCP/CP (giao thức chuẩn quốc tế). Với việc thiết lập một mạng nghiệp vụ tài chính ngân hàng toàn cầu đã cung cấp các dịch vụ ngân hàng trong đó thông tin trao đổi đã được chuẩn hóa như dịch vụ mở tín dụng thư, dịch vụ chuyển tiền. Ngoài ra, hệ thống thương mại điện tử cung cấp dịch vụ thanh toán cho Internet user (người sử dụng Internet) từ Internet thanh toán vào mạng riêng của ngân hàng. Hệ thống thương mại điện tử sẽ đóng vai trò như một cổng (Gateway) giữa Internet và mạng ngân hàng. Khi chưa có hệ thống này thì doanh nghiệp giao nhận chỉ ứng dụng được phần trao đổi thông tin, thanh toán vẫn phải kết thúc bằng các phương tiện thanh toán truyền thống, khi ấy hiệu quả của kinh doanh giao nhận trong thương mại điện tử bị giảm thấp và có thể không đủ để bù lại các chi phí trang bị công nghệ đã bỏ ra. Để hoạt động kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp giao nhận phải có sự hội nhập và thiết lập một hệ thống thanh toán tài chính hoàn thiện trên nền tảng của thương mại điện tử.

    3.6. Bảo vệ sở hữu trí tuệ và người tiêu dùng

    Giá trị sản phẩm ngày càng chứa trong nó hàm lượng chất xám ngày càng cao, và giá trị sản phẩm được quyết định bởi giá trị tri thức kết tinh trong đó. Chất xám (tài sản cơ bản của từng đất nước, từng tổ chức, và từng con người) đã và đang chuyển thành “tài sản chất xám”. Thông tin trở thành tài sản, bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ có nghĩa là bảo vệ thông tin.

    Ngày nay, bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền chính là bảo vệ các giá trị thông tin trên Internet/Web. Các thông tin trên mạng như: quảng cáo, nhãn hiệu thương mại, tên sản phẩm, tên công ty, tên miền, sơ sở dữ liệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng … đang đặt trước tình hình cần phải có một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, qui định cụ thể.

    Trong thương mại điện tử, thông tin về hàng hóa đều là thông tin số hóa, khách hàng không được tiếp xúc trực tiếp với hàng hóa, không được nhìn, sờ mó, nếm thử … Còn thông tin về các dịch vụ thì khách hàng không thể kiểm tra hay kiểm định chất lượng dịch vụ dẫn đến không có khả năng đánh giá chính xác chất lượng của sản phẩm và dịch vụ. Hoặc với các cơ sở dữ liệu, tính chính xác của nguồn thông tin cung cấp, của bản thân những thông tin đó có trung thực và có giá trị hay không là vô cùng khó xác định. Vì vậy cần thiết phải có một tổ chức, hay một trung gian đảm bảo về chất lượng hoạt động có hiệu quả. Nhà nước có thể xây dựng một khung luật pháp về chương trình hành động để có thể bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như uy tín của doanh nghiệp.

    CHƯƠNG III.

    KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM.

    I. PHƯƠNG HƯỚNG ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM.

    Nghiên cứu một mô hình thương mại điện tử tại Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu rất kỹ môi trường hiện tại, chiều hướng thay đổi của môi trường, điều kiện cần và đủ cho thương mại điện tử trong nước và điểm mạnh, điểm yếu của các doanh nghiệp. Cho đến nay, thương mại điện tử ở nước ta còn mới, thực tiễn chưa có nhiều. Vì vậy, bên cạnh tìm hiểu kỹ thực trạng phát triển thương mại điện tử trong nước, chúng ta phải kết hợp xem xét thực tiễn thương mại điện tử ở các nước đi trước, những nước phát triển nhất đồng thời có những điều kiện mô hình tương tự như chúng ta, để có thể đưa ra được một giải pháp phù hợp sát thực tiễn và khả thi, cụ thể:

    • Tích cực chủ động song tiến hành từng bước vừa làm vừa rút kinh nghiệm từ phạm vi hẹp rồi mở rộng dần.
    • Triển khai đan xen các khâu chuẩn bị, ứng dụng, từng bước hoàn thiện các hạ tầng cơ sở cho thương mại điện tử, đồng thời tiến hành các hoạt động thử nghiệm ứng dụng, đẩy mạnh các hoạt động nâng cao nhận thức, kỹ năng cho các doanh nghiệp và dân chúng về thương mại điện tử, tăng cường đào tạo phát triển nguồn nhân lực.
    • Tích cực tham gia hợp tác quốc tế để tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, nguồn kinh phí.
    • Nhà nước đề ra mục tiêu phát triển, tạo khuôn khổ pháp lý, xây dựng hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin; doanh nghiệp chủ động tham gia vào thương mại điện tử.

     

    Trở lại với thực tiễn: Hiện nay các ứng dụng Internet của ta chủ yếu ở các hoạt động: mua bán hàng hoá, trao đổi thông tin, quảng cáo, triển lãm trên mạng … đang nhắm tới các đối tượng thuê bao Internet. Trong khi số lượng thuê bao Internet ở nước ta hiện nay lại rất thấp. Điều này khiến cho các siêu thị điện tử ở Việt Nam thất vọng vì vắng khách, do dung lượng thị trường còn quá nhỏ bé. Năm 1998 công ty trách nhiệm hữu hạn Duy Việt đã thử nghiệm bán hàng qua mạng nhưng, đến nay đã ngừng hoạt động. Vietnam Cybermall thì cũng gặp khó khăn với quy mô lớn nhưng khách thì chỉ có khoảng 200 người một tháng. FPT huỷ bỏ kế hoạch khai trương siêu thị điện tử lớn nhất với khoảng 1000 mặt hàng… Thực tế có không ít các doanh nghiệp muốn tham gia vào kinh doanh điện tử, thực hiện bán hàng qua mạng, nhưng một phần ngưng lại, một phần chuyển hướng, còn lại hoạt động cầm chừng vì vắng khách.

    Tại sao “Chợ điện tử” “Siêu thị điện tử” lại chưa hợp trong điều kiện nước ta? Hiện số người sử dụng Internet chưa nhiều, giá cước truy cập cao, phương tiện thanh toán chưa phát triển. Ở nước ta đa phần người làm việc trên máy tính là nam giới, trong khi đó đa số công việc mua sắm là do phụ nữ đảm nhiệm … Như vậy mô hình thích hợp cho thương mại điện tử ở nước ta trong giai đoạn đầu là gì?

    Trước tiên, một điều dễ nhận thấy là với điều kiện hiện nay, một giải pháp áp dụng toàn diện là chưa thể vận dụng được khi điều kiện và phương tiện kỹ thuật của chúng ta chưa cho phép.

    Hiện vẫn chưa có tài liệu nào đề cập đến vấn đề sử dụng Internet trong ngoại thương của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy rằng ở nước ta đã có một số công ty xuất hiện trên Internet với mục đích kinh doanh, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm … Song đó chưa phải là một kế hoạch tập trung hướng thị trường nước ngoài. Đây mới chính là phương hướng mà khóa luận nhắm tới, bởi vì trước mắt số người nối kết Internet ở Việt Nam còn rất ít, hơn nữa bằng những phương pháp cũ doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải rất nhiều bế tắc trong tiếp cận thị trường nước ngoài.

    Ở nước ta, nếu trông chờ ở những người mua hàng trên Internet trong nước, thì con số này thật khó có thể sinh lời. Với kinh doanh quốc tế và thị trường nước ngoài khó tiếp cận bằng phương pháp thông thường thì lại dễ dàng hơn nếu tiếp cận bằng phương pháp kinh doanh điện tử. Trong điều kiện tiềm lực kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu, khó có điều kiện thiết lập hệ thống đại lý ở nước ngoài. Internet và những ưu thế vốn có của nó, có thể là rất phù hợp với các doanh nghiệp giao nhận nói riêng ở nước ta.

    II. NHỮNG KHÓ KHĂN, THUẬN LỢI KHI ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỂN TỬ

       TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA.

     

    2.1. Những khó khăn

    Ngoài những khó khăn mà thương mại điện tử Việt Nam nói chung và áp dụng trong giao nhận hàng hóa nói riêng đã gặp phải, trong những năm tới để đề ra những kiến nghị vừa khắc phục được những khó khăn hiện tại lại vừa tránh được những rào cản tương lai. Phần này khoá luận sẽ phân tích những khía cạnh khó khăn khi áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa có thể phải có biện pháp khắc phục để vượt qua.

    2.1.1/ Thiếu nguồn nhân lực:

    Rất có thể, đây sẽ là một trở ngại lớn cho việc phát triển thương mại điện tử của chúng ta trong giai đoạn tới. Cho đến nay,  nước ta chưa hề có loại hình đào tạo thương mại điện tử. Trước xu thế phát triển rất nhanh của phương thức kinh doanh này có lẽ chúng ta sẽ cần tới một đội ngũ nhân viên lao động trong lĩnh vực này khá lớn. Song thực sự thì ở nước ta chưa hề thấy xuất hiện dấu hiệu nào về việc chuẩn bị nguồn lực ấy trong những năm tới đây. Hiện nay, ngay cả các sinh viên của các trường đại học được đào tạo chuyên ngành công nghệ thông tin cũng không hề được đào tạo ứng dụng, và được thực hành về mạng, thương mại điện tử. Hơn nữa để có một nhân viên thực sự vận hành và áp dụng được thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa, ngoài kiến thức về công nghệ thông tin thông thường, còn cần phải có một kỹ năng xuất nhập khẩu, nghiệp vụ giao nhận cần thiết.  Nếu chúng ta không có một biện pháp tiếp cận vấn đề này một cách kịp thời, rất có thể đây sẽ là một lỗ hổng lớn trong vài năm tới.

    2.1.2/ Thiếu ph­ương thức thanh toán thuận lợi: 

    Dịch vụ tài chính, hệ thống ngân hàng và thanh toán điện tử sẽ là một thách thức lớn trong việc phát triển thương mại điện tử áp dụng trong kinh doanh giao nhận ở nước ta cả hiện tại và trong vài năm tới đây. Trong tương lai gần, tình trạng này rất khó có thể khắc phục. Các ngân hàng tại Việt Nam vẫn chưa thể chuyển đổi từ mô hình giao dịch cũ sang mô hình ngân hàng hiện đại, phục vụ cho thương mại điện tử qua Internet. Trong khi đó vấn đề thanh toán điện tử đòi hỏi an toàn và bảo mật rất cao, vấn đề này còn nan giải với ngay cả những nước phát triển. Ngoài yếu tố từ phía ngân hàng và hình thành hệ thống thanh toán, ở nước ta số người sử dụng thẻ tín dụng cũng rất ít, trong khi ở nhiều nước thẻ tín dụng, séc điện tử, thẻ thông minh (smart card) đư­ợc sử dụng hết sức rộng rãi. Tâm lý người tiêu dùng còn e ngại, còn thiếu tin tưởng vào ngân hàng, nhất là dư âm lịch sử về hệ thống ngân hàng quan liêu, yếu kém trước  đây, chưa xoá đi được mặc cảm của họ về hoạt động dịch vụ ngân hàng. Hơn nữa tiêu tiền mặt đã trở thành thói quen, ngay cả hình thức thanh toán cheque cũng còn chưa mấy ai sử dụng.

    2.1.3/ Thiếu hiểu biết:

    Vấn đề này tuy đơn giản, song cũng còn khá nan giải cả hiện nay và trong thời gian tới. Nhiều doanh nghiệp nhầm lẫn và hiểu mập mờ về thương mại điện tử, nhiều người được hỏi, tỏ ra không hề quan tâm đến hình thức này. Tình trạng thiếu hiểu biết đầy đủ về thương mại điện tử của các nhân viên cũng có thể làm cho hoạt động giao nhận trong doanh nghiệp kém hiệu quả và lãng phí. Nhiều người chỉ nghĩ thương mại điện tử là để trao đổi tin tức với khách hàng, đối tác bằng thư điện tử. Ngoài ra, sự thiếu hiểu biết về công nghệ thông tin, mạng, thương mại điện tử còn khiến nhiều Công ty e ngại trư­ớc các thành tựu công nghệ mới. Thái độ luôn “nhìn nhau” tr­ước khi áp dụng cái mới d­ường nh­ư là một thuộc tính cố hữu của không ít ng­ười. Họ chờ xem những ngư­ời đi trư­ớc thành công hay thất bại, rồi mới có quyết định tiến hay thoái. Điều này cũng dễ hiểu bởi nhận thức của họ là hết sức mơ hồ, song lại ảnh h­ưởng không nhỏ đến tốc độ tăng tr­ưởng của th­ương mại điện tử cũng nh­ư Internet và các ứng dụng công nghệ thông tin khác.

    2.1.4/ Cơ sở pháp lý chuẩn bị hành lang cho thương mại điện tử chưa đựơc hình thành.                                                                                                                         

    Luật pháp là chỗ dựa cho các doanh nghiệp giao nhận hoạt động một cách hợp pháp. Các bên tham gia thương mại điện tử áp dụng trong giao nhận hàng hóa cần phải được bảo vệ về tính hợp pháp, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, tài liệu điện tử, hợp đồng điện tử. Hiện nay ở nước ta chưa hề thấy xuất hiện một dấu hiệu nào về việc nghiên cứu và triển khai vấn đề này. Vì vậy, các doanh nghiệp giao nhận sẽ phải nhờ vào luật pháp nước ngoài để giải quyết, nếu như doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh điện tử với đối tác nước ngoài. Nếu như vậy không phải trong trường hợp nào cũng có thể thực hiện được và những điều bất lợi chắc chắn sẽ xảy ra về phía doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời các doanh nghiệp cũng hết sức nghi ngại khi tham gia vào phương thức kinh doanh này.

    2.1.5/ Khía cạnh chính trị:                                                                               

    Nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa. Sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trong khi đó thì chủ nghĩa tư bản đồng thời tạm lắng dịu những mâu thuẫn vốn có của nó, tạm thời đạt được những thành tựu rất lớn về nhiều mặt. Do đó có thể nói rằng nước ta đang và sẽ là mục tiêu chống phá quyết liệt của các thế lực trong và ngoài nước. Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng là hết sức quyết liệt. Những công cụ mà bọn phản động thường sử dụng là các phương tiện truyền tin, và đặc biệt lại càng nguy hiểm hơn trước sự phát triển của Internet. Internet –  một phương thức trao đổi phổ biến tin tức không biên giới, rất khó kiểm soát. Vì vậy, mặc dù phải hết sức tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển Internet và thương mại điện tử thì đồng thời phải có những biện pháp che chắn cần thiết, nhằm quản lý việc sử dụng và kiểm soát nội dung thông tin trao đổi trên Internet.

    Rõ ràng để quản lý và kiểm soát thành công Internet-phương tiện của thương mại điện tử không phải là một vấn đề dễ dàng. Tuy nhiên vấn đề này thiên nhiều về mặt kỹ thuật, Nhà nước và các bên hữu quan nhất thiết phải tránh quan điểm kiểm soát, quản lý bằng các biện pháp nhằm hạn chế việc tăng cường sử dụng Internet kể cả về mặt kinh tế lẫn hành chính, chẳng hạn như ban hành cước cao để hạn chế truy cập.

    Trên đây là những khó khăn chủ yếu mà chúng ta đang và sẽ gặp phải. Tất nhiên đây hoàn toàn là những trở ngại không phải là cố hữu, bản chất. Do đó chúng ta hoàn toàn có thể khắc phục được. Việc mở đường cho Internet cũng là việc chúng ta đẩy mạnh hội nhập vào thế giới, tạo điều kiện để mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại, đặc biệt là hoạt động giao nhận ngoại thương.

    2.2. Những thuận lợi

    Một chiến lược phù hợp không thể không tính đến những diễn biến tương lai. Việc nhìn nhận và dự báo những thuận lợi khi áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa vì vậy là hết sức cần thiết để đề ra phương hướng ứng dụng thích hợp. Phần này khoá luận trình bày một số nhận định về những thuận lợi có thể có trong điều kiện ở nước ta vào thời gian tới.

    Trong tương lai cùng với tốc độ phát triển rất nhanh của công nghệ thông tin, tin học, khả năng cuộc sống sinh hoạt của con người chuyển sang một giai đoạn mới. Công nghệ thông tin sẽ còn phát triển với một tốc độ nhanh chóng không thể dự báo trước. Điều này rõ ràng là một thuận lợi lớn nếu như nước ta kịp thời, nhanh nhạy nắm bắt được xu hướng và áp dụng biện pháp cần thiết nâng đỡ phát triển hình thức thương mại này. Song đó cũng là một thách thức, bởi vì rất có thể chúng ta lại gia tăng khoảng cách với các quốc gia khác. Hiện tại chúng ta có thể chứng kiến vấn đề này từ một nước anh em Singapore. Ngay từ giai đoạn đầu, chính phủ nước này đã nhanh chóng nhìn nhận vấn đề và cho tới nay Singapore đã chuẩn bị tươm tất hành trang để bước vào kỷ nguyên nền kinh tế Internet và thương mại điện tử.

    Một trong những thuận lợi mà chúng ta có thể dự báo, cần phải nhận thấy, và nắm bắt đó là: “Xu hướng toàn cầu hoá”. Nếu chúng ta nhìn nhận vấn đề này một cách sâu sắc thì sẽ thấy được tầm quan trọng của phát triển thương mại điện tử. Internet ra đời, cùng với nó là thương mại điện tử áp dụng trong các loại hình kinh doanh là một trong những công cụ phục vụ đắc lực cho nước ta tham gia một cách mạnh mẽ hơn vào quá trình toàn cầu hoá và phân công lao động quốc tế một cách dễ dàng hơn. Nhờ thương mại điện tử, các nước nhỏ, các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp giao nhận với điều kiện như nước ta có thể tham gia vào thương mại quốc tế, giao nhận hàng hóa quốc tế không còn khó khăn như trước đây.

    Sự giúp đỡ và cộng tác từ khu vực, từ các tổ chức quốc tế cũng có thể là một thuận lợi trong tương lai mà chúng ta có thể khai thác. Nếu trong khu vực chúng ta vốn được coi là một khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, thì trong giai đoạn bước vào nền kinh tế toàn cầu Internet, ASEAN cũng đã khẳng định được mình. Nhiều nước trong khu vực đã đạt được những kết quả rất đáng khâm phục về thương mại điện tử, Singapore đã được cả thế giới biết đến. Vì vậy, chúng ta có thể học tập, dựa vào họ và kêu gọi sự giúp đỡ phát triển thương mại điện tử từ các nước trong khu vực. Các chương trình về thương mại điện tử áp dụng trong kinh doanh giao nhận mà khu vực đã, đang và sẽ tiến hành, chúng ta có thể tham gia một cách tích cực và cùng với các nước đề ra các phương hướng phát triển cho cả khối. Sự hợp tác mạnh mẽ sẽ giúp chúng ta có thể tiết kiệm được cả nhân lực và đầu tư cho thương mại điện tử. Kinh nghiệm này có thể học tập từ các nước EU, toàn khối này đã có những chương trình phát triển thương mại điện tử chung và áp dụng trong kinh doanh giao nhận một cách có hiệu quả.

    Xét về nguồn lực trong nước: Tính cần cù và thông minh của dân tộc Việt Nam bộc lộ rất rõ trong lĩnh vực toán và tin học. Việc phát triển các phần mềm tin học, công nghệ mạng và thương mại điện tử chắc chắn sẽ là sở trường của chúng ta. Khuynh hướng này chắc chắn sẽ bộc lộ rõ hơn trong vài năm tới, khi chúng ta hoà nhập với thế giới mạnh hơn trong lĩnh vực này. Có một cơ sở đội ngũ tin học vững chắc, công nghệ thông tin mạnh sẽ là một lợi thế lớn cho phát triển thương mại điện tử ở nước ta.

    Trước xu thế ứng dụng mạnh mẽ của thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa của các nước trong khu vực và trên thế giới, Nhà nước ta chắc chắn sẽ ngày càng cởi mở hơn, hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho khu vực Internet và thương mại điện tử áp dụng loại hình kinh doanh này. Các doanh nghiệp giao nhận có thể nhận được những khuyến khích ưu đãi từ Nhà nước về việc triển khai chiến lược kinh doanh điện tử. Chi phí truy cập Internet, cước điện thoại chắc chẵn sẽ còn tiếp tục giảm xuống, điều này sẽ tạo ra lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp. Số người truy cập Internet tăng lên sẽ tạo ra dung lượng thị trường tiêu thụ ảo lớn hơn, các doanh nghiệp có khả năng tăng lượng hàng hoá tiêu thụ, tăng các dịch vụ quảng cáo, tiếp thị qua Internet không chỉ ở nước ngoài mà ngay tại trong nước.

    Khung pháp lý về thương mại điện tử rồi sẽ được hình thành, các giao dịch điện tử, chứng từ điện tử, chữ ký điện tử sẽ được thừa nhận giá trị pháp lý. Môi trường hoạt động cho thương mại điện tử sẽ được pháp luật bảo vệ.  Điều này chắc chắn sẽ tạo nhiều thuận lợi và làm cho thương mại điện tử ngày càng tăng lên ở nước ta.

    Trang bị kỹ thuật ngày càng được hoàn thiện hơn. Ngành công nghệ thông tin nước ta rõ ràng trong những năm gần đây đã đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ. Xu hướng này chắc chắn sẽ còn tiếp tục trong những năm tới, trong xu thế hợp tác, hội nhập, đầu tư quốc tế như hiện nay. Hành trang kỹ thuật hoàn thiện hơn trong tương lai sẽ tạo dễ dàng hơn cho thương mại điện tử áp dụng các nghiệp vụ kinh doanh giao nhận.

    III. KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM.

    3.1. Giải pháp của doanh nghiệp kinh doanh giao nhận

    3.1.1. Quảng cáo, tiếp thị dịch vụ ra thị trường thế giới

    Thiết lập các đại lý hay thuê các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài để quảng cáo, tiếp thị sản phẩm thường tốn chi phí rất lớn, điều mà chẳng mấy doanh nghiệp Việt Nam nào có thể thực hiện được. Như vậy quảng cáo qua Internet có những ưu điểm gì so với quảng cáo thông thường. Lợi ích và hiệu quả của nó phải rõ ràng trước khi đề xuất áp dụng cho doanh nghiệp.

    Nếu như xét về số người sử dụng, thì toàn thế giới hiện nay có lẽ số lượng máy thu hình là lớn nhất. Do số người sử dụng lớn, khiến cho truyền hình trở thành một trong những công cụ điện tử phổ biến nhất ngày nay. Vì vậy, nhiều người nghĩ rằng truyền hình là phương tiện quảng cáo hữu hiệu nhất. Song hạn chế của nó là gì? Truyền hình chỉ là công cụ quảng cáo viễn thông một chiều. Qua truyền hình người mua không thể tìm kiếm được các chào hàng, không đàm phán đựơc với người bán về các điều khoản mua bán cụ thể. Hơn nữa, ngày nay qua máy tính và mạng Internet người ta vẫn có thể xem được truyền hình.

    Khác với truyền hình, khi quảng cáo trên Internet doanh nghiệp có thể tạo ra được những quảng cáo hai chiều, không có sự tách rời giữa chủ thể quảng cáo và đối tượng mà quảng cáo nhắm tới. Quảng cáo trên Internet là quảng cáo sống, nó không tĩnh như các phương tiện quảng cáo khác. Vừa quảng cáo song lại vừa là thật khi khách hàng có yêu cầu gì về sản phẩm lập tức sẽ được đáp lại ngay.

    Doanh nghiệp kinh doanh Giao nhận có thể khai thác việc quảng cáo qua Internet trên các phương diện sau:

    • Quảng cáo trên Internet thì cũng như việc đồng thời cung cấp cho khách hàng một chào hàng dịch vụ và nếu muốn khách hàng có thể đặt hàng sử dụng dịch vụ ngay.
    • Quảng cáo có khả năng nhắm vào từng đối tượng bạn hàng một cách thích hợp nhất. Để khai thác được khía cạnh này bộ phận lưu trữ dữ liệu của doanh nghiệp phải được tổ chức một cách hợp lý. Chú ý đến khả năng lưu trữ, xử lý dữ liệu tự động của máy tính.
    • Khả năng quảng cáo với nội dung thông tin chi tiết hơn tất cả các phương tiện quảng cáo khác, vì vậy doanh nghiệp có thể kết hợp giữa quảng cáo đơn thuần và cung cấp thông tin cho khách hàng về môi trường đầu tư trong nước cũng như cung cấp một số trang Web giới thiệu về Việt nam…
    • Quảng cáo trên Internet là quảng cáo trên khắp hành tinh với thời lượng liên tục 24/24h vào tất cả các ngày.
    • Có thể tự đánh giá quảng cáo của mình bằng cách xem số lượt truy cập của khách hàng vào Website của doanh nghiệp, từ đó điều chỉnh cho thích hợp hơn. Đặc điểm của quảng cáo trên Internet là nếu như có bao nhiêu lượt truy cập vào Website thì máy tính có thể xác định được. Qua đó doanh nghiệp có thể tự hoàn thiện các chương trình quảng cáo của mình.

    3.1.2. Nghiên cứu tiếp cận thị trường thế giới

    Nghiên cứu thị trường thế giới truyền thống có thể thực hiện bằng hai phương pháp: Nghiên cứu tại bàn và Nghiên cứu tại hiện trường (Bài giảng môn Marketing Quốc Tế – Đại Học Ngoại Thương). Ngày nay với thương mại điện tử các doanh nghiệp xuất nhập khẩu  hay doanh nghiệp kinh doanh giao nhận nói riêng được mở ra một phương pháp mới: hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn. Phương pháp này là: Nghiên cứu thị trường Quốc tế qua Internet. Có thể nói phương pháp này là sự tổng hợp của cả hai phương pháp Nghiên cứu tại bàn và Nghiên cứu tại hiện trường.

    Đối với phương pháp nghiên cứu tại bàn:

    Đây là phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu. Như vậy, nếu sử dụng Internet sẽ thuận tiện hơn nhiều phương pháp thu thập tài liệu qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình… Internet là một thư viện ảo cập nhật nhất với vô vàn các loại thông tin, do đó việc tìm kiếm tin tức thị trường thế giới trên Internet là có thể thực hiện nhanh chóng bất cứ lúc nào.

    Internet có thể được dùng như một phương tiện nghiên cứu tại hiện trường.

    Trên Internet doanh nghiệp có thể điều tra trực tiếp khách hàng ở khắp nơi trên thế giới. Việc điều tra khách hàng có thể thực hiện thông qua e-mail hoặc có thể thông qua các câu hỏi đã được soạn sẵn trên cơ sở kinh doanh ảo của doanh nghiệp. Những câu hỏi mà khi khách hàng trả lời thì câu trả lời đó sẽ được tự động chuyển về doanh nghiệp ngay lập tức, đồng thời nó lại có thể tự động lưu giữ như một cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp. Đây là tài sản hết sức quý báu cho doanh nghiệp để cung cấp sản phẩm sát với đòi hỏi của khách hàng, đối tác.

    Những lợi ích như vậy là rất rõ ràng vì vậy người giao nhận cần chú trọng khai thác khía cạnh này.

     

    3.1.3.  Ký kết các hợp đồng thương mại quốc tế.

    Thực hiện ký kết các hợp đồng điện tử là vấn đề hoàn toàn có thể thực hiện được và sẽ tạo ra một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận trong giao thương quốc tế (điều này chưa thể áp dụng trong các giao dịch hợp đồng trong nước vì ở nước ta chưa có luật điều chỉnh vấn đề này). Việc thực hiện các giao dịch đàm phán ký kết qua mạng Internet có thể đem lại thuận lợi và hiệu quả rất lớn cho doanh nghiệp, giảm chi phí về chuyển giao giấy tờ, đi lại, đàm phán. Đặc biệt là các hợp đồng đại lý với các hãng giao nhận lớn trên thế giới.

    Khi ký kết các hợp đồng cung cấp dịch vụ quốc tế trong thương mại điện tử, các doanh nghiệp có thể tham chiếu tới luật điều chỉnh ở những nước khác hay luật quốc tế có quy phạm điều chỉnh lĩnh vực này.

    Một sự kiện mà các doanh nghiệp nước ta cần phải hết sức quan tâm và  nên xem xét nghiên cứu kỹ đó là các điều khoản trong E-terms sắp được đưa ra bởi sự hợp tác giữc ICC và Nhóm làm việc về thực tiễn về thương mại điện tử (Electronic Trade Practices Working Group). Những quy định trong E-Terms sẽ tạo rất nhiều thuận lợi cho việc soạn thảo các hợp đồng trực tuyến. Trong  E-Terms có rất nhiều điều khoản mẫu có thể được quy định trong các hợp đồng điện tử. Các doanh nghiệp cần thông tin thêm về E-Terms liên hệ theo email [email protected].

    Trong Luật mẫu của Liên Hợp Quốc về thương mại điện tử Điều 16 đề cập đến hợp đồng vận tải hàng hoá điện tử. Điều 17 trình bày về các chứng từ vận tải trong đó nêu rõ rằng: ở nơi nào mà luật pháp bắt buộc các hợp đồng vận tải hàng hoá phải bằng văn bản hay phải bằng các tài liệu giấy tờ thì sự đòi hỏi này sẽ được đáp ứng nếu như các văn bản tài liệu dưới dạng các thông điệp dữ liệu. Thông điệp dữ liệu “Data Message” được xác định: Đây là thông tin được hình thành, gửi, nhận hoặc lưu giữ bằng các phương tiện điện tử, quang học, và các phương tiện có ý nghĩa tương tự bao gồm, nhưng không giới hạn ở: Trao đổi dữ liệu (EDI), thư điện tử (E-mail), điện tín (Telegram), điện báo (Telex), hoặc sao chép từ xa (Telecopy). Đây cũng là nguồn luật quốc tế mà người giao nhận có thể tham chiếu.

    Bên cạnh việc thừa nhận hợp đồng điện tử, ở những nước có luật chữ ký điện tử, luật thương mại điện tử và Luật mẫu của Liên Hợp Quốc còn thừa nhận cả những bằng chứng là các tài liệu, phụ kiện của hợp đồng dưới dạng điện tử. Thông thường để đi đến một hợp đồng thương mại quốc tế hoàn chỉnh, các bên giao dịch phải trải qua rất nhiều các trao đổi chứng từ thương mại khác nhau. Đồng thời, trong quá trình thực hiện hợp đồng điện tử, thì cũng có thể phát sinh rất nhiều các tài liệu điện tử chẳng hạn như: Thông báo gặp bất khả kháng, đề nghị kéo dài thời hạn hiệu lực hợp đồng, gia hạn hợp đồng, thông báo giao hàng, thông báo ngày tàu rời cảng, thông báo dỡ hàng, hoá đơn cước phí …. Tất cả những chứng từ này đều được thừa nhận giá trị pháp lý và có thể xem như là một bằng chứng để chứng minh thực hiện hợp đồng tại Toà án. Vì vậy các doanh nghiệp Ngoại Thương có thể hoàn toàn yên tâm ký kết và thực hiện hoàn chỉnh một hợp đồng điện tử trong thương mại quốc tế.

     

    3.1.4. Trao đổi tài liệu, chứng từ với bạn hàng nước ngoài

    Đây là khía cạnh mà doanh nghiệp giao nhận cần phải khai thác triệt để nhằm tiết kiệm chi phí giao dịch. Các trao đổi trong thương mại quốc tế, khi các chủ thể ở những nước có khoảng cách xa nhau, thường rất tốn kém chi phí và thời gian nếu sử dụng các phương pháp trao đổi thông thường như bưu điện, điện thoại, fax… hơn nữa lại không truyền tải được một lượng thông tin, tài liệu lớn. Với thương mại điện tử, các doanh nghiệp giao nhận có thể lợi dụng Internet như một phương thức hiệu quả nhất để tiến hành các trao đổi này, nhờ vào các chức năng xử lý và lưu trữ của máy tính, khả năng luân chuyển thông tin tốc độ cao và chi phí rẻ.

    Song một vấn đề gây e ngại cho các doanh nghiệp khi trao đổi các tài liệu quan trọng trên Internet, đó là hiệu lực pháp lý của nó. Ở nước ta chưa có quy chế nào chính thức thừa nhận vấn đề này. Tuy nhiên, các doanh nghiệp giao nhận có thể dựa vào nguồn luật quốc tế điều chỉnh lĩnh vực này. Hiện nay, hầu hết các luật về thương mại điện tử đều thừa nhận giá trị pháp lý của các tài liệu điện tử. Cả người gửi và người nhận các tài liệu này không thể từ chối hiệu lực pháp lý của nó và cũng không thể từ chối rằng mình đã gửi hay đã nhận tài liệu đó.

     

    3.1.5. Tiếp cận chính sách, quy định xuất khâủ, nhập khâủ của nước ngoài.

    Bằng việc truy cập tới các địa chỉ thuộc các trung tâm thương mại ở nước ngoài, người giao nhận có thể thu thập được các quy định của thị trường đó về xuất nhập khâủ như: chính sách về thuế xuất nhập khâủ, chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu v.v… Đây là những vấn đề rất quan trọng đối với một doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường  và người giao nhận sẽ cung cấp những hiểu biết của mình về thị trường quốc tế cho khách hàng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp .

     

    3.1.6. Sử dụng thư điện tử trong các hoạt động giao nhận ngoại thương

    Thư điện tử là ứng dụng rộng rãi nhất của Internet và thương mại điện tử. Trong giao nhận ngoại thương khi khoảng cách địa lý giữa người giao nhận và khách hàng rất lớn thì thư điện tử càng thể hiện ưu thế của mình do chi phí hạ và tính kịp thời. Sử dụng thư điện tử có thể thay thế được hoàn toàn những giao dịch thông thường. Ngoài ra dưới đây xin đề xuất một số ứng dụng khác của thư điện tử trong các ứng dụng của các nghiệp vụ Ngoại thương nói chung và giao nhận nói riêng:

    Dùng thư điện tử để đàm phán với bạn hàng nước ngoài

    Đàm phán thông thường được thực hiện dưới 3 hình thức, đàm phán bằng gặp mặt trực tiếp, đàm phán bằng điện thoại và đàm phán bằng thư. Trong đàm phán bằng gặp mặt trực tiếp thì rất tốn kém về chi phí đi lại, chi phí chuẩn bị, đồng thời chậm về mặt thời gian. Đàm phán bằng điện thoại giữa những nước khác nhau cũng hêt sức tốn kém, với những vấn đề lớn phức tạp thì không thể sử dụng điện thoại để đàm phán, hình thức này phổ biến với những vấn đề nhỏ đơn giản. Phương pháp đàm phán bằng thư đảm bảo chi tiết, có thời gian để suy nghĩ kỹ lưỡng song lại hết sức chậm chạp mất thời gian chờ đợi hơn nữa chi phí cũng rất lớn.

    Sử dụng thư điện tử trong đàm phán quốc tế mang lại rất nhiều lợi ích cho người giao nhận. Những ưu điểm nổi bật của phương thức này là:

     Có thể chuẩn bị một cách kỹ lưỡng trước khi đàm phán. Ưu điểm này cũng giống như đàm phán bằng thư thông thường.

    ‚ Đảm bảo nhanh chóng. Thư điện tử được truyền với tốc độ điện thoại.  Ưu điểm này cũng giống như đàm phán bằng điện thoại.

    ƒ Tiết kiệm hơn tất cả 3 hình thức trên.

    „ Có thể xem xét kỹ lưỡng thư điện tử của của đối tác.

    … Gửi thư điện tử có thể gửi kèm cả âm thanh, hình ảnh một cách liên tục. Do vậy nó cũng có những ưu điểm của hình thức đàm phán bằng gặp mặt trực tiếp.

    Dùng để gửi chào hàng:

    Đặc điểm của thư điện tử là chỉ cần gửi một lần có thể đến được rất nhiều địa chỉ. Vì vậy có thể sử dụng Email để gửi chào hàng tới nhiều khách hàng cùng một lúc.

    Gửi các tài liệu thương mại khác:

    Với tính năng nhanh kịp thời, không có sự khác biệt giữa trong nước và quốc tế của thư điện tử mà nó có thể được sử dụng để gửi các thông báo về hàng hải, thời gian vận chuyển, ngày dự kiến hàng hoá tới, số lượng hàng giao… đảm bảo nhanh chóng, chính xác và chi tiết.

    3.2. Giải pháp của chính phủ:

    Qua nghiên cứu thương mại điện tử ở phần trên cho chúng ta thấy tầm quan trọng đặc biệt của thương mại điện tử, tình hình phát triển thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa. Để thương mại điện tử nói chung và áp dụng trong giao nhận hàng hóa nói riêng ở nước ta không bị tụt hậu, ngoài nhận thức của các doanh nghiệp, cá nhân thì Nhà nước đóng một vai trò quyết định thông qua sự đầu tư, khuyến khích, hỗ trợ, định hướng và chính sách. Những nỗ lực mà chúng ta đã thực hiện thực sự còn chưa đủ để có thể tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử.

    Trên cơ sở điều kiện thực tiễn ở nước ta kết hợp với một số kinh nghiệm phát triển thương mại điện tử của các nước, cộng với mong muốn của khoá luận là nước ta có thể bước vào nền kinh tế và thương mại số hoá trong thế kỷ tới một cách thành công, theo kịp sự phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới, lãnh đạo Đảng và Nhà nước cần có những hỗ trợ như:

    3.2.1. Tạo khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử ở nước ta

    Cho đến nay chúng ta chưa hề có một văn bản pháp lý nào về thương mại điện tử. Mặc dù trên thực tế, chúng ta đã có một số văn bản pháp lý về quản lý mạng Internet nhưng đó chỉ là những quy chế thiên về tính kiểm soát việc sử dụng Internet. Quyết định 136/ TTg ngày 05 tháng 3 năm 1997 của Thủ tướng chính phủ về việc thành lập Ban điều phối quốc gia về mạng Internet. Hai công văn của Thủ tướng chính phủ về thương mại điện tử, mới chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề thuộc cơ sở hạ tầng viễn thông, cơ sở vật chất kỹ thuật, hoàn toàn chưa phải là chỗ dựa pháp lý cho các chủ thể hoạt động thương mại điện tử. Hiện nay ở nước ta thương mại điện tử đang được hình thành và chắc chắn sẽ ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong tương lai. Cùng với sự hình thành của thương mại điện tử thì có rất nhiều các mối quan hệ cần phải được điều chỉnh.

    Có thể nói chừng nào chưa có hành lang pháp lý, chưa được thừa nhận tính hợp pháp thì chưa thể ra đời được thương mại điện tử. Rõ ràng điều này là hoàn toàn chính xác. Ở nước ta “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật“, như vậy nếu như nước ta chưa có pháp luật cho thương mại điện tử thì chưa thể coi là thương mại điện tử đã được hình thành theo đúng nghĩa của nó.

    Chính vì vậy việc chuẩn bị hành lang pháp lý cho thương mại điện tử là hết sức cần thiết. Khung pháp lý là môi trường chính thức hoá, hợp pháp hoá hoạt động của các chủ thể. Môi trường ấy phải đơn giản, nhất quán, tối thiểu, và có thể tiên liệu được. Đây là một công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Vì vậy có ban hành một hành lang pháp luật thì thương mại điện tử mới có chỗ dựa để phát triển.

    Trên cơ sở thực tiễn Việt Nam và xem xét một số quy định về thương mại điện tử ở một số nước, khu vực và quốc tế khoá luận có những đề xuất về quan điểm và phương hướng cho việc hình thành khung pháp lý cho thương mại điện tử ở Việt Nam.

    Để có thể tạo một chỗ dựa trước mắt cho thương mại điện tử trước khi ban hành điều luật chính thức. Nhà nước nên ban hành quy chế tạm thời về việc công nhận giá trị pháp lý của các dữ liệu tài liệu điện tử. Điều  này sẽ tạo tâm lý tin tưởng cho các doanh nghiệp khi áp dụng thương mại điện tử hiện nay, đặc biệt trong các hoạt động giao dịch đối ngoại.

    Đảm bảo tính đồng bộ của luật pháp

    Khi đặt ra những quy chế về thương mại điện tử thì vấn đề là làm thế nào để đảm bảo tính đồng bộ của luật pháp. Luật pháp ở nước ta từ trước, vốn được thiết kế để điều chỉnh cho thương mại chưa tính đến thương mại điện tử. Vì vậy các luật hiện có của chúng ta đòi hỏi phải được đánh giá lại, đảm bảo rằng các quy chế về thương mại điện tử không bị phá vỡ bởi những quy định của pháp luật hiện hành. Hiện nay hầu hết các văn bản pháp luật của chúng ta đều có cách hiểu về  “Văn bản được ký””Thoả thuận bằng văn bản””Chứng từ gốc”…  không phù hợp với thời đại thương mại điện tử. Do đó cùng với việc ban hành khung pháp lý cho thương mại điện tử cần phải tính đến loại bỏ những quy định trên. “Ký””Văn bản””Gốc” cần giải thích rõ là như thế nào trong môi trường thương mại điện tử vì nếu không sẽ gây ra sự không ổn định trong các quy chế và hiệu lực của các tài liệu điện tử.

    Đảm bảo tính hợp với thông lệ quốc tế.

    Thương mại điện tử có tính toàn cầu rất cao bởi nó xuất hiện từ một phương tiện thông tin toàn cầu Internet. Tính quốc tế của nó, đòi hỏi các chế định pháp lý cũng cần hợp với thông lệ quốc tế điều chỉnh lĩnh vực này, không phân biệt đối xử giữa những người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau. Vì vậy khi nghiên cứu đưa ra các văn bản pháp luật về thương mại điện tử cần phải xem xét kỹ đó là các điều luật có liên quan, của các tổ chức quốc tế, khu vực và những nước phát triển khác. Hiện nay nguồn luật đặc biệt quan trọng mà chúng ta cần nghiên cứu rất kỹ đó là: Luật mẫu của Liên Hợp Quốc về thương mại điện tử. Luật này được xem là một định hướng quốc tế cho các quy chế về thương mại điện tử mà nước ta có thể tham khảo, áp dụng.

    Nên ban hành riêng một đạo luật cho thương mại điện tử ở nước ta.

    Hiện nay có một số quan điểm cho rằng thương mại điện tử nên được chỉ ở mức Nghị định. Tính phức tạp trong thương mại điện tử đòi hỏi phải có những quy định mới, những quy định phức tạp hơn. Đối với thương mại điện tử không chỉ liên quan đơn thuần đến khía cạnh thương mại mà còn khía cạnh kỹ thuật. Một khi đã thừa nhận các tài liệu điện tử, chứng từ điện tử, chữ ký điện tử, hợp đồng điện tử… thì có thể nói là về căn bản các quy định có hiệu lực, cách giải quyết pháp lý trước đây đã bị thay đổi. Hiệu lực của các chế định pháp lý còn phải được hỗ trợ, đảm bảo bằng những công nghệ khoa học, chẳng hạn như chữ  ký điện tử, an toàn tài liệu phải được đảm bảo bằng khoa học mật mã. Hiện nay ở hầu hết các nước đều để riêng luật cho thương mại điện tử, thậm chí nhiều nước còn có cả luật riêng về chữ ký điện tử. Vì vậy nên để riêng luật thương mại điện tử và luật thương mại. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước mắt nước ta có thể xem xét khả năng đưa các quy định về thương mại điện tử vào một Chương trong Luật thương mại.

     

    3.2.2. Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông quốc gia.

    • Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam cần nghiên cứu tiến hành nâng cấp hệ thống truyền thông quốc gia lên ngang tầm với các nước trung bình trong khu vực ASEAN.
    • Giảm thuế nhập khẩu đối với các loại linh kiện máy tính
    • Xây dựng chính sách ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp sản xuất linh kiện và lắp ráp thiết bị công nghệ thông tin.
    • Giảm cước sử dụng Internet xuống ngang bằng hoặc thấp hơn so với giá cước trung bình của các nước ASEAN.
    • Khuyến khích các hoạt động liên doanh liên kết với nước ngoài, đầu tư vào nước ta trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
    • Lập dự án nghiên cứu và sản xuất các loại sản phẩm mật mã (trong đó có mã khóa công khai (PKI) nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng cho hệ thống thương mại điện tử.

     

    3.2.3. Xúc tiến các chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức về thương mại điện tử.

    Một trong những trở ngại lớn nhất cho thương mại điện tử ở Việt Nam là vấn đề đào tạo và nâng cao nhận thức về thương mại điện tử. Nếu xét thực trạng hiện nay của chúng ta về vấn đề đào tạo nhân lực cho thương mại điện tử thì quả là một vấn đề rất đáng báo động.

    Hiện nay hầu hết các sinh viên ở nước ta, đội ngũ tri thức tiếp quản xã hội trong tương lai, ngay cả với những sinh viên được đào tạo chuyên ngành tin học cũng nhiều người còn chưa hiểu Internet là gì, thương mại điện tử là gì. Đây vẫn còn là một công cụ xa vời. Trong khi ở những nước tiên tiến, Internet được truy cập miễn phí thì ở nước ta ngay cả máy tính nhiều sinh viên cũng không có, thực hành ở trường thì eo hẹp, các máy tính ở trường học thì thậm chí cũng chẳng có hoà mạng Internet. Vấn đề này, ở nước ta cho đến nay vẫn phải chờ vào con mắt mủi lòng của người nước ngoài chẳng hạn như kế hoạch hỗ trợ Internet của hãng Intel giúp trường đại học kỹ thuật dân lập thành phố Hồ Chí Minh giúp sinh viên được truy cập Internet miễn phí.

    Nếu chúng ta cứ để tình trạng này diễn ra thì có lẽ còn rất lâu sau Việt Nam mới có thể hoà nhập vào thương mại điện tử toàn cầu.

    Thiết nghĩ đây là một vấn đề phải nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước một cách thiết thực và mạnh mẽ, để chúng ta có thể có được lớp người tới đây có đủ khả năng làm chủ công nghệ và tham gia tích cực vào thương mại điện tử. Theo quan điểm của khoá luận, phương hướng hỗ trợ của Nhà nước nên tập trung vào một số khía cạnh sau:

    Thứ nhất: Hỗ trợ các trường đại học thực hiện dự án: Các máy tính ở trường dành cho sinh viên thực hành được nối mạng Internet. Kỹ năng sử dụng Internet sẽ quyết định sự tiếp cận với thương mại điện tử. Các sinh viên khi thực tập tin học tại trường có thể được phép truy cập Internet theo thời lượng quy định.

    Thứ hai: Thực hiện kế hoạch: Hỗ trợ sinh viên truy cập Internet tại nhà: Nếu như sinh viên nào tự trang bị được máy tính và có mong muốn nối mạng Internet. Nhà nước khi đó sẽ cho các sinh viên này hưởng phí ưu đãi truy cập Internet.

    Thứ ba: Mở các lớp đào tạo ngắn hạn cho những người có nhu cầu, các doanh nghiệp, đặc biệt là các cán bộ đang làm việc trong các cơ quan hành chính, doanh nghiệp Nhà nước những kiến thức cơ bản về Internet và thương mại điện tử và kỹ năng làm việc trên mạng máy tính. Đồng thời khuyến khích tư nhân mở những lớp như vậy.

    Thứ tư: Giao cho Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, các viện nghiên cứu xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về thương mại điện tử và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin cho cán bộ tất cả các Bộ, ngành và doanh nghiệp.

    Thứ năm: Phổ biến rộng rãi về thương mại điện tử trên báo chí, truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Có cơ quan giải đáp thắc mắc về kỹ thuật và các pháp lý khi các doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia thương mại điện tử.

    Thứ sáu: Có kế hoạch đào tạo các doanh nghiệp sử dụng thương mại điện tử như một công cụ kinh doanh mới bên cạnh các công cụ kinh doanh truyền thống.

     

    3.2.4. Nhà nước nên đóng vai trò tích cực hơn trong việc xúc tiến hình thành một hệ thống thanh toán điện tử tại Việt Nam.

    Để có thể phát triển thương mại điện tử một cách toàn diện, đòi hỏi phải có một hệ thống thanh toán điện tử hoàn chỉnh. Cho đến nay, thanh toán điện tử ở Việt Nam mặc dù đã có sự quan tâm đầu tư của chính phủ, song khoản đầu tư này còn quá hạn chế để có thể tạo ra những chuyển biến đáng kể đối với một hệ thống thanh toán còn quá lạc hậu như ở nước ta.

    Để chuẩn bị một cơ sở vững chắc cho những ứng dụng rộng rãi của thương mại điện tử, Nhà nước nên đầu tư hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa theo các hướng sau đây:

    Thứ nhất: Hỗ trợ, đầu tư, và khuyến khích trong việc hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và nâng cao nhận thức. Đầu tư phát triển những ứng dụng về công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng. Hỗ trợ đào tạo các cán bộ ngân hàng nắm vững những kiến thức về mạng và công nghệ thông tin. Nâng cao nhận thức cho chính các ngân hàng, chính họ phải thấy được những lợi ích, tầm quan trọng trong việc khẩn trương chuẩn bị hình thức thanh toán này.

    Thứ hai: Hỗ trợ cho các ngân hàng trong việc đẩy mạnh hình thức thanh toán dùng thẻ ở Việt Nam. Tập trung phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng trong việc phổ biến những lợi ích của việc thanh toán thẻ để khuyến khích sử dụng rộng rãi trong nhân dân.

    Thứ 3: Tạo hành lang pháp lý, chỗ dựa cho hoạt động thanh toán điện tử để khuyến khích các ngân hàng áp dụng. Hoàn cảnh mới thì cần phải có những quy chế mới. Khi xem xét nghiên cứu hành lang pháp lý cho thanh toán điện tử cũng cần lưu ý thông lệ quốc tế trong lĩnh vực này.

    3.2.5. Vấn đề bảo mật thông tin và bảo đảm an ninh, an toàn trong thương mại điện tử.

    Tổ chức thực hiện tốt Pháp lệnh Cơ yếu đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 4/4/2001, nhanh chóng ban hành Nghị định của Chính phủ thi hành Pháp lệnh Cơ yếu về quản lý hoạt động nghiên cứu, sản xuất, sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin không thuộc bí mật Nhà nước nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện cho mật mã thương mại phát triển. Ban Cơ yếu Chính phủ chủ trì xây dựng chính sách mật mã quốc gia và hạ tầng mật mã khóa công khai (PKI) sử dụng trong thương mại điện tử; phối hợp với Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu về “tiền điện tử”. Có chính sách khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu, sản xuất các loại sản phẩm mật mã của Việt Nam đáp ứng cho yêu cầu bảo mật thông tin trong thương mại điện tử.

    3.2.6. Bảo vệ sở hữu trí tuệ và người tiêu dùng.

    Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường chủ trì phối hợp với các Bộ Ngành liên quan nghiên cứu việc chấp nhận và tham gia các Hiệp ước của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).

    Rà soát các văn bản pháp lý hiện hành về bảo vệ sở hữu trí tuệ và người tiêu dùng, sửa đổi cho phù hợp với ứng dụng trong thương mại điện tử.

    3.2.7. Các vấn đề tài chính và thuế trong thương mại điện tử

    Bộ Tài chính phối hợp với các cơ quan có liên quan tham khảo kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong khu vực và các dự án thử nghiệm, nghiên cứu xây dựng các chính sách tài chính và thuế trong thương mại điện tử.

    3.2.8. Thành lập một Website tập hợp tất cả các doanh nghiệp kinh doanh giao nhận tại Việt nam.

    Hiệp hội giao nhận kho vận Việt nam VIFFAS (Vietnam Freight Forwarders Association) nên đứng ra thành lập một Website có tính chất là một sợi dây liên kết các doanh nghiệp kinh doanh giao nhận của Việt Nam với các hiệp hội giao nhận khác hay khách hàng trên toàn thế giới.

    Website sẽ tập hợp tất cả các doanh nghiệp giao nhận và sẽ có một góc tra cứu các ngành nghề cũng như doanh nghiệp xuất khâủ, nhập khâủ của Việt Nam. Địa chỉ của Website này sẽ được phổ biến trên khắp các công cụ tìm kiếm toàn cầu, Yahoo, Excite, Altavista, Lycos… đồng thời tạo các liên kết với các Website nổi tiếng của thế giới. Qua đây các doanh nghiệp Giao nhận Việt Nam có thể đẩy mạnh việc quảng cáo dịch vụ, đồng thời qua đó truyền bá một cái nhìn toàn diện của nước ngoài về sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, tiềm năng Việt Nam. Một mặt đẩy mạnh sự phát triển của dịch vụ, mặt khác các nhà đầu tư quốc tế khi truy cập vào đây sẽ hiểu biết kỹ hơn về môi trường đầu tư Việt Nam và thúc đẩy đầu tư nước ngoài. Trên Website này cũng tạo các liên kết tới các Website của các cơ quan kinh tế thương mại khác, chẳng hạn như Khu công nghiệp, Khu chế xuất v.v..

    Phương án này, có thể áp dụng cho các bộ ngành khác. Chẳng hạn như Bộ kế hoạch và đầu tư sẽ thiết lập một trang chủ tập hợp tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và giới thiệu môi trường đầu tư tại Việt Nam. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cũng sẽ có một trang chủ tập hợp các doanh nghiệp hoạt động về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn…. Giải pháp này sẽ giúp cho các đối tác nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước tiếp cận, tìm hiểu nhau dễ dàng hơn rất nhiều so với tình trạng lộn xộn như hiện nay.

    * Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên phủ định những gì Đảng và Nhà nước đã hết sức cố gắng thể hiện quyết tâm thúc đẩy ngành công nghệ thông tin phát triển, đã công bố một loạt các chỉ thị, nghị quyết, quyết định nhằm động viên, thúc đẩy và tạo điều kiện cho công nghệ thông tin phát triển.

    Chính phủ ra Quyết định số 211/TTg ngày 07/04/1995 phê duyệt kế hoạch tổng thể về phát triển công nghệ thông tin Việt Nam cho đến năm 2000.

    Quyết định số 212/TTg ngày 06/05/1994 và quyết định số 154/TTg ngày 11/03/1995 của Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Chương trình quốc Gia về công nghệ thông tin. Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin triển khai hoạt động giai đoạn 1996-1999.

    Ngày 11/05/1999 Chính phủ ra Quyết định số 123/1999/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo Chương trình Kỹ thuật-Kinh tế về công nghệ thông tin (Chính phủ đã ra Quyết định số 192/1999/QĐ-TTg ngày 20/9/1999 giải thể Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin).

    Ngày 05/06/2000 Chính phủ ban hành nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005.

    Tháng 10/2000 Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 58CT/TƯ về đẩy mạnh ứng dụng phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiếp theo đó tháng 11/2000 Thủ tướng đã ra quyết định 128/2000/QĐ-TTg về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển công nghệ phần mềm.

    Tại các Bộ, Ngành, các Hội Trung ương và địa phương đã có nhiều hoạt động phối hợp với các công ty đa quốc gia, công ty tin học hàng đầu trong nước tạo ra các diễn đàn trao đổi, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử và các dự án cụ thể để khuyến khích phát triển ứng dụng thương mại điện tử trong các lĩnh vực ngoại thương, đặc biệt là hoạt động giao nhận hàng hóa.

    Ngày 06/06/2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và ngày 09/06/2000 tại Hà Nội, các hãng Compaq, Intel và VASC đã tổ chức hội thảo “Intel động lực cho sự thành công của bạn trong trào lưu kinh doanh điện tử”. Các chủ để được nêu ra là các giải pháp có liên quan tới kinh doanh điện tử và thương mại điện tử trong nền kinh tế mới. Intel Việt Nam dự báo doanh thu thương mại thực hiện qua thương mại điện tử vào năm 2004 trên toàn cầu là 7292 tỷ USD. Công ty phát triển phần mềm VASC đưa ra các giải pháp giúp triển khai thương mại điện tử cho các doanh nghiệp và hiện trạng thương mại điện tử ở Việt Nam.

    Tại Hải Phòng ngày 17/04/2000, Trung tâm tin học Bưu điện và công ty Intel đã phối hợp tổ chức buổi Hội thảo mang tên “Thương mại điện tử trên thế giới và triển vọng tại Việt Nam”, vấn đề được quan tâm nhiều trong Hội thảo là sự phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và xây dựng một khung pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam. Hiện nay, ngoài hạ tầng truy cập Internet, Bưu điện Hải phòng đang có kế hoạch xây dựng một mạng Intranet riêng của thành phố phục vụ cho các Web quảng cáo thương mại, góp phần thực hiện bước đầu cho hoạt động thương mại điện tử của Hải Phòng.

    Tại Hải Dương, hội thảo triển khai thương mại điện tử do Hội Tin học- Điện tử Hải Dương tổ chức ngày 24/07/2000, với sự tham gia của nhiều công ty tin học địa phương, trong và ngoài nước. Theo tin từ Hội thảo này, đã có 30 doanh nghiệp giữ chỗ trên mạng ETCNet để chào bán sản phẩm và tự giới thiệu mình. ETCNet là mạng intranet hoàn toàn miễn phí, cung cấp các cơ sở dữ liệu thông tin kinh tế, xã hội của địa phương, các báo, tạp trí, … do công ty Điện tử và công nghệ Hải Dương (ETC) xây dựng, đã có trên 500 người sử dụng. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Hải Dương tiếp cận với thương mại điện tử.

    Ngày 15/03/2000, Trung tâm tin học Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Thương mại tổ chức Hội thảo về thương mại điện tử. Trong hội thảo các tham luận đã đề cập đến các hình thái hoạt động liên quan đến thương mại điện tử, vấn đề hạ tầng cơ sở công nghệ và pháp lý cho thương mại điện tử, thanh toán điện tử. Tiếp sau hội thảo còn có ba khóa học liên tiếp về đào tạo một số kỹ năng thương mại điện tử như: khái quát về thương mại điện tử, các kiến thức về Internet, Web, kỹ năng sử dụng trình duyệt Internet, gửi nhận e-mail, thử tra cứu, cách mua bán, quảng cáo trên một trang thương mại điện tử, cách đăng ký account Internet, e-mail.

    Ban thương mại điện tử (Bộ Thương mại) đã triển khai dự án Quốc gia về kỹ thuật thương mại điện tử. Dự án gồm nhiều tiểu dự án:

    • Dự án phát triển nâng cao nhận thức về thương mại điện tử,
    • Dự án bảo hộ trí tuệ và người tiêu dùng,
    • Dự án nghiên cứu về các khía cạnh xã hội liên quan,
    • Dự án về vai trò Nhà nước và quản lý của Chính phủ trong thương mại điện tử,
    • Dự án về hạ tầng cơ sở tiêu chuẩn hóa công nghiệp và thương mại trong thương mại điện tử,…

    Trong lĩnh vực ngân hàng-tài chính (theo tin của Thương Hiền, báo Khoa học và Phát triển ngày 10/01/2001), việc chuyển dần từ phương pháp giao dịch giữa người với người sang người với máy và máy với máy đã cho phép ngành Tài chính-Ngân hàng có thêm nhiều dịch vụ hơn. Chính những thuận tiện trong giao dịch tài chính là môi trường tốt nhất cho phát triển thương mại điện tử. Các dự án ứng dụng thương mại điện tử trong ngành tài chính-ngân hàng đã từng bước được ứng dụng tại Việt Nam và thu được những kết quả khả quan. Các Website của Bảo Việt, Ngân hàng công thương Việt Nam, Intranet của Kho bạc Nhà nước, … sẽ là những bước thúc đẩy cho sự phát triển mạnh mẽ của Internet và thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên so với các nước trong khu vực, Việt Nam đang triển khai giai đoạn đầu của thương mại điện tử.

    Một trong những hình thức tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển đó là: công ty phát triển phần mềm VASC đã khai trương công viên công nghệ thông tin ảo (Itpark), là công viên đầu tiên thuộc loại này ở Việt Nam, (theo tin của Nguyễn Thanh Lâm, báo Khoa học và phát triển, 14/01/2000) công viên được thiết kế theo bốn mảng chính: nghiên cứu phát triển, đào tạo, thương mại-dịch vụ và giải trí.

    Việc tham gia công viên ảo dễ dàng và thuận lợi, có thể ngồi tại nhà hoặc ở nơi nào đó (thông qua Internet) đều có thể tham gia công viên. Các chuyên gia phần cứng và phần mềm trong nước có thể trực tiếp làm việc cho đối tác nước ngoài thông qua dịch vụ tư vấn trên công viên ảo. Đặc biệt với sự tham gia của nhiều trường đại học lớn trong và ngoài nước như: Viện Hàn lâm khoa học Nga, Đại học quốc gia Hà Nội, … Công viên ảo sẽ là thư viện công nghệ thông tin trực tuyến lớn nhất ở Việt Nam. Công viên ảo cũng là nơi để các doanh nghiệp tin học Việt Nam giới thiệu thử nghiệm các phần mềm của mình. Các đơn vị có nhu cầu chỉ cần truy cập vào mạng là có thể đặt mua các loại sản phẩm về công nghệ thông tin. Mảng giáo dục-đào tạo, các đối tượng có nhu cầu học tập nghiên cứu về công nghệ thông tin sẽ được cung cấp qua dịch vụ đào tạo trực tuyến. Mảng thông tin quảng cáo, các doanh nghiệp có nhu cầu lựa chọn mua bán bất kỳ sản phẩm gì, tư vấn dùng bất kỳ dịch vụ gì cho hoạt động kinh doanh của mình đều có thể tra cứu nhanh. Trong giao nhận hàng hóa, khách hàng có thể lựa chọn, tìm hiểu công ty kinh doanh giao nhận nào có uy tín thông qua tra cứu về lịch sử và quá trình hoạt động của Công ty đó. Mảng vui chơi giải trí sẽ tập hợp những trò chơi hấp dẫn được đông đảo người chơi ưa thích. Người tham gia có thể chọn các trò chơi trực tuyến hay tải xuống lưu vào máy riêng của mình. Mảng nghiên cứu phát triển là mảng lớn nhất trong Itpark. Thông qua công viên ảo, các thành viên tham gia có thể trình bày các ý tưởng, dự định nghiên cứu của mình để mọi người cùng tham gia bàn luận, hoàn thiện.

    KẾT LUẬN

    Kinh doanh giao nhận kho vận thực sự là một dịch vụ quan trọng trong sự phát triển của giao lưu buôn bán quốc tế nói chung. Không có công tác giao nhận kho vận tốt cùng với việc tổ chức loại hình kinh doanh giao nhận kho vận hợp lý thì việc buôn bán hàng hoá giữa các nước sẽ gặp vô vàn khó khăn cản trở, tốn kém thời gian, kinh phí cho các nhà xuất nhập khẩu đặc biệt là trong thời buổi mà công nghệ thông tin, thương mại điện tử phát triển như hiện nay .

    Ngày nay, một số chuyên gia của thế giới định nghĩa kinh doanh giao nhận kho vận là: “Làm tất cả những gì có thể được để phục vụ cho việc di chuyển, lưu kho, và phân phối hàng hoá từ khâu tiền sản xuất tới tay người tiêu dùng cuối cùng”. Do đó, việc xây dựng một cơ cấu giao nhận khoa học, một đội ngũ các nhà kinh doanh giao nhận kho vận tài ba là một trong những mối quan tâm lớn của các  nhà kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận trên toàn thế giới. Hoạt động kinh doanh kho vận không những chỉ phát triển trong lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển, mà còn vươn tới các cảng sân bay, các nhà ga, không những liên quan đến các nhà xuất nhập khẩu mà còn có ảnh hưởng đến các nhà sản xuất, kinh doanh trong và ngoài nước.

    Trước những yêu cầu và đòi hỏi của nghề nghiệp, trong thời gian tới đây, khi quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, việc giao lưu hàng hoá ngày càng lớn, đòi hỏi người làm công tác kinh doanh giao nhận kho vận phải không ngừng mở mang, nâng cao kiến thức, học hỏi kinh nghiệm về nghề nghiệp của mình không những chỉ trong lĩnh vực giao nhận, mà còn phải có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực khác có liên quan đến công việc giao nhận như công nghệ thông tin, vận tải biển, vận tải hàng không, kiến thức về hàng nguy hiểm… Đó là một phần trong vô vàn công việc mà người giao nhận phải nắm vững để có thể phát triển trong xu thế toàn cầu hoá trên mọi lĩnh vực như hiện nay để phát triển loại hình dịch vụ này trong kỷ nguyên công nghệ thông tin và thương mại điện tử.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngoại thương”. Tập thể các tác giả, Trường Đại học Ngoại thương – xuất bản năm 1991.
    2. Luật sư Võ Nhật Thăng và các tác giả. “Dự thảo Bộ luật thương mại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam”. 10/1996
    3. Jan Ramberg – Professor of Private Law. “The Law of freight forwarding and the 1992 FIATA Multimodal transport Bill of Lading”.  Stockholm University.
    4. Jones Peter. “FIATA Legal Handbook on Freight Forwarding”. Canadian Cataloguing in Publication Data.
    5. Http://www.commercenet.com;
    6. Http://www.thuongmaidientu.com
    7. http://www.un.or.at/unictral; http://www.gov.sg
    8. Thương mại điện tử – Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải, Hà Nội.
    9. Giao nhận vận tải hàng hoá quốc tế”. Tập thể các tác giả PGS.TS Đinh Ngọc Viện chủ biên, NXB Giao thông Vận tải Hà nội – năm 2002
    10. VASC – Mạng và Internet, E-Commerce, E-Business
    11. “Incoterm 2000” . Phòng Thương mại Công nghiệp Việt nam – 2000
    12. “Thương mại điện tử” NXB Thống kê
    13. Bản tin điện tử của Trung tâm tin học tư liệu khoa học công nghệ Quốc gia.
    14. Tin học và đời sống – Hội tin học Việt Nam
    15. PC World – Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-theo-ti%C3%AAu-chu%E1%BA%A9n-ISO-9001-2008-v%C3%A0-ISO-14001-2004-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-X%C3%ADch-l%C3%ADp-%C4%90%C3%B4ng-Anh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    LỜI NÓI ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra sức ép cạnh tranh to lớn đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam phải luôn chủ động tìm kếm các giải pháp nhằm nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Một trong số các giải pháp đó là việc áp dụng các công cụ quản lý mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nổi bật là việc triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO.

    Qua nhiều năm áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO tại Việt Nam, bên cạnh những thay đổi theo chiều hướng tích cực thì còn tồn tại nhiều bất cập. Đa số các doanh nghiệp nhận thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và triển khai có hiệu quả. Tuy nhiên, trước tâm lý ưa chuộng bằng cấp của người Việt Nam, không ít doanh nghiệp chỉ cố gắng đạt được chứng chỉ ISO nhưng không thực sự triển khai và dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh không đạt yêu cầu.

    Ngành cơ khí chế tạo nước ta thời gian qua có bước phát triển nhanh chóng. Nhưng thực tế cho thấy các doanh nghiệp cơ khí trong nước lại gặp rất nhiều khó khăn trước yêu cầu phải liên tục đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp phải tự vượt qua khó khăn bằng chính năng lực của mình và công ty cổ phần Xích líp Đông Anh là một ví dụ điển hình. Với hướng đi đúng đắn trong công tác quản lý chất lượng, công ty không ngừng phát triển trong những năm qua và nhận được nhiều bằng khen của Đảng và Nhà nước.

    Sau quá trình học tập môn Quản trị chất lượng và tìm hiểu thực tế công tác quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh, nhóm xin chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh”.

    1. Mục đích và phương pháp nghiên cứu

    Bài viết có mục đích làm rõ thực trạng triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện, tăng năng suất và khả năng cạnh tranh, đồng thời hoàn thiện công tác quản lý chất lượng tại doanh nghiệp.

    Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết, quan sát thực tiễn và phân tích số liệu để đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh, từ đó đề xuất một số giải giáp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.

    1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

    – Đối tượng nghiên cứu: hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    – Phạm vi nghiên cứu: hoạt động quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1. Kết cấu bài viết

    Bài viết gồm 3 phần chính:

    – Phần 1: Cơ sở lý luận

    – Phần 2: Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    – Phần 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    •  

    NỘI DUNG

    CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

    1.     Chất lượng

    1.1.                      Khái niệm

    Trong điều kiện hiện nay, thị trường hàng hóa ngày càng mở rộng và mang tính toàn cầu, tính cạnh tranh tăng cao. Chính vì thế, các doanh nghiệp trên toàn thế giới, trong mọi lĩnh vực ngành nghề đều quan tâm đến chất lượng và có những nhìn nhận đúng đắn về chất lượng. Xung quanh vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có một số quan điểm chính:

    – Chất lượng là thuộc tính và bản chất của sự vật, đặc tính khách quan của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì (từ điển bách khoa Việt Nam tập 1)

    – Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu sử dụng và mục đích sử dụng (Joseph Juran)

    – Chất lượng là toàn bộ đặc tính của sản phẩm làm thỏa mãn yêu cầu đã đề ra (cơ quan kiểm tra chất lượng Mỹ)

    – Chất lượng là sự thỏa mãn tối đa yêu cầu của người tiêu dùng (Ishikawa Kaoru)

    – Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính làm thỏa mãn nhu cầu (ISO 9000-2000)

    – …

    1.2. Đặc điểm

    – Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các đặc tính của sản phẩm đó

    + Đặc tính kĩ thuật: các đặc tính đặc trưng bởi chỉ tiêu kĩ thuật như độ tin cậy, độ chính xác, độ an toàn, tuổi thọ,…

    + Đặc tính kinh tế: cơ sở của các đặc tính kinh tế là các đặc tính kĩ thuật và tổ chức. Kĩ  thuật tốt tạo cho sản phẩm có độ chính xác cao, độ tin cậy cao, vận hành tốt nên chi phí sản xuất tăng lên và chi phí sử dụng thấp.

    – Một sản phẩm có chất lượng phải là sản phẩm làm thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không đáp ứng được nhu cầu thì bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình.

    – Chất lượng sản phẩm mang tính tương đối: Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.

    – Chất lượng vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng: Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng. Do đó chất lượng cũng mang đặc điểm tương tự.

    2.  Quản lý chất lượng

    2.1.  Khái niệm

    Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như: Lập kế hoạch chất lượng, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng (ISO 8402:1994)

    Như vậy thực chất quản lý chất lượng là chất lượng của hoạt động quản lý chứ không đơn thuần chỉ làm chất lượng của hoạt động kỹ thuật.

    2.2. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi,nhiệm vụ, chức năng

    Đối tượng quản lý chất lượng là các quá trình, các hoạt động, sản phẩm và dịch vụ.

    Mục tiêu của quản lý chất lượng chính là nâng cao mức thảo mãn trên cơ sở chi phí tối ưu.

    Phạm vi quản lý chất lượng: Mọi khâu từ nghiên cứu thiết kế triển khai sản phẩm đến tổ chức cung ứng nguyên vật liệu đền sản xuất, phân phối và tiêu dùng.

    Nhiệm vụ của quản lý chất lượng: Xác định mức chất lượng cần đạt được. Tạo ra sản phẩm dịch vụ theo đúng tiêu chuẩn đề ra. Cải tiến để nâng cao mức phù hợp với nhu cầu.

    Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng: Lập kế hoạch chất lượng, tổ chức thực hiện, kiểm tra kiểm soát chất lượng, điều chỉnh và cải tiến chất lượng.

    2.3. Các nguyên tắc

    • Định hướng bởi khách hàng
    • Cam kết của lãnh đạo
    • Sự tham gia của mọi người
    • Quan điểm quá trình
    • Tính hệ thống
    • Cải tiên liên tục
    • Quyết định dựa trên sự kiện
    • Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng

    3.Hệ thống quản lý chất lượng

    3.1. Khái niệm

    Hệ thống quản lý chất lượng là tổ chức, công cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu và các chức năng quản lý chất lượng. Đối với doanh nghiệp, hệ thống quản lý chất lượng là tổ hợp những cơ cấu tổ chức, trách nhiệm, thủ tục, phương pháp và nguồn lực để thực hiện hiệu quả quá trình quản lý chất lượng. Hệ thống quản lý chất lượng của một tổ chức có nhiều bộ phận hợp thành, các bộ phận này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau.

    3.2. Vai trò

    Hệ thống quản lý chất lượng là bộ phận hợp thành của hệ thống quản lý tổ chức doanh nghiệp. Hệ thống quản lý chất lượng không chỉ là kết quả của hệ thống khác mà còn là yêu cầu đối với hệ thống khác. Hệ thống quản lý chất lượng đóng vai trò quan trọng trên các lĩnh vực sau:

    – Tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của khách hàng

    – Đảm bảo cho tiêu chuẩn mà tổ chức đặt ra được duy trì.

    – Tạo điều kiện cho các bộ phận, phòng ban hoạt động có hiệu quả, giảm thiểu sự phức tạp trong quản lý.

    – Tập trung vào việc nâng cao chất lượng, giảm chi phí,…

    4. Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO

    4.1.Khái quát về ISO

    ISO là một từ gốc Hi Lạp, có nghĩa là công bằng, là tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá (International Organization for Standardization)

    Tổ chức ISO chịu trách nhiệm ban hành các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) khuyến nghị áp dụng nhằm thuận lợi hóa thương mại tòan cầu và bảo vệ an toàn, sức khỏe và môi trường cho cộng đồng. Hiện nay, ISO với gần 3000 tổ chức kỹ thuật với hệ thống các Ban Kỹ thuật (TC-Technical committee); Tiểu ban kỹ thuật (STC); Nhóm công tác (WG) và Nhóm đặc trách có nhiệm vụ soạn thảo các tiêu chuẩn quốc tế. Tiêu chuẩn quốc tế ISO được ban hành sau khi được thông qua theo nguyên tắc đa số đồng thuận của các thành viên chính thức của ISO.

    Hiện nay ISO đã soạn thảo và ban hành gần 16.000 tiêu chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ, hệ thống quản lý, thuật ngữ, phương pháp…

    Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO – International Organization for Standardization) được thành lập từ năm 1947, có trụ sở đặt tại Geneva – Thụy Sĩ. ISO là một hội đoàn toàn cầu của hơn 180 các các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia (mỗi thành viên của ISO là đại diện cho mỗi quốc gia của mình). Việt Nam là thành viên chính thức năm 1977.

    4.2. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008

    • Khái niệm

    Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 trong đó tiêu chuẩn ISO 9001:2008 được coi là tiêu chuẩn cơ bản nhất, cốt yếu nhất xác định các yêu cầu cơ bản của Hệ thống quản lý chất lượng của một Tổ chức để đảm bảo rằng sản phẩm của một Tổ chức luôn có khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và phù hợp với các chế định, đồng thời tiêu chuẩn ISO 9001:2008 cũng là cơ đồng thời tiêu chuẩn ISO 9001:2008 cũng là cơ sở để đánh giá khả năng của một Tổ chức trong hoạt động nhằm duy trì và không ngừng cải tiến, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động.

    Tiêu chuẩn ISO 9001:2008 là một phương pháp quản lý chất lượng mới, khi được áp dụng vào một tổ chức sẽ giúp lãnh đạo của tổ chức đó kiểm soát được hoạt động trong nội bộ tổ chức đó và thúc đẩy hoạt động đạt hiệu quả ở mức cao nhất.

    Tại Việt Nam, tiêu chuẩn này được chuyển đổi sang tiếng Việt và được ban hành dưới dạng một tiêu chuẩn Việt Nam với tên gọi TCVN ISO 9001:2008.

    • Các yêu cầu

    – Kiểm soát tài liệu và kiểm soát hồ sơ

    – Trách nhiệm của lãnh đạo:

    – Quản lý nguồn lực:

    – Tạo sản phẩm:

    – Đo lường phân tích và cải tiến

    • Lợi ích

    – Về quản lý nội bộ:

    + Giúp lãnh đạo quản lý hoạt động của doanh nghiệp khoa học và hiệu quả.

    + Củng cố uy tín của lãnh đạo.

    + Cải thiện hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng suất, giảm phế phẩm và chi phí không cần thiết nhờ sử dụng hợp lý các nguồn lực

    + Kiểm soát chặt chẽ các công đoạn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

    + Cải tiến các quá trình chủ yếu, nâng cao chất lượng sản phẩm.

    + Tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh đạo và nhân viên.

    + Giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ, triệt tiêu những xung đột về thông tin do mọi việc được qui định rõ ràng. Mọi việc đều được kiểm soát, không bỏ sót, trách nhiệm rõ ràng.

    + Thúc đẩy nề nếp làm việc tốt, nâng cao tinh thần thái độ của nhân viên.

    – Về đối ngoại:

    + Tạo lòng tin cho khách hàng, chiếm lĩnh thị trường.

    + Đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng của khách hàng.

    + Phù hợp quản lý chất lượng toàn diện.

    + Thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

    + Nâng cao lợi thế thương mại bằng uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Củng cố và phát triển thị phần, giành ưu thế trong cạnh tranh.

    + Phá bỏ được rào cản, tạo được một sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong các thị trường yêu cầu bắt buộc việc chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn ISO 9001: 2008.

    + Thuận lợi trong việc thâm nhập thị trường quốc tế và khu vực.

    + Khẳng định uy tín về chất lượng sản phẩm của Doanh nghiệp.

    + Đáp ứng đòi hỏi của Ngành và Nhà nước về quản lý chất lượng.

    4.3.  Hệ thống quản lý chất lượng ISO 14001:2004

    • Khái niệm

    ISO 14001:2004 là một tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO ban hành lần thứ 2 vào năm 2004. Tên gọi đầy đủ của tiêu chuẩn ISO 14001:2004 là Hệ thống quản lý môi trường – các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng.

    Mục đích của tiêu chuẩn ISO 14001:2004 và các tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là giúp các Doanh nghiệp/tổ chức thiết lập, duy trì và cải tiến liên tục hệ thống quản lý môi trường của mình nhằm bảo vệ môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm do các hoạt động của chính doanh nghiệp/tổ chức gây ra.

    • Các yêu cầu

    – Chính sách môi trường

    – Xác định các khía cạnh môi trườn

    – Xác định các yêu cầu pháp luậ

    – Mục tiêu, chỉ tiêu và chương trình môi trường

    – Xác định trách nhiệm, quyền hạn

    – Đào tạo

    – Thông tin nội bộ

    – Kiểm soát tài liệu

    – Kiểm soát hồ sơ

    – Kiểm soát hoạt động

    – Sẵn sàng ứng phó các tình huống khẩn cấp

    – Giám sát và đo lường

    – Hành động khắc phục và phòng ngừa

    – Đánh giá nội bộ

    – Xem xét của lãnh đạo

    • Lợi ích

    Về quản lý:

    + Giúp tổ chức/doanh nghiệp xác định và quản lý các vấn đề môi trường một cách toàn diện;

    + Chủ động kiểm soát để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về môi trường;

    + Phòng ngừa rủi ro, tổn thất từ các sự cố về môi trường.

    – Về tạo dựng thương hiệu:

    + Nâng cao hình ảnh của tổ chức/doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và cộng đồng

    + Giành được ưu thế trong cạnh tranh khi ngày càng có nhiều công ty, tập đoàn yêu cầu hoặc ưu tiên lựa chọn các nhà cung cấp áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000.

    – Về tài chính:Tiết kiệm chi phí sản xuất do quản lý và sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả

    CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN ISO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÍCH LÍP ĐÔNG ANH

    1.     Tổng quan về công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.1.         Giới thiệu chung

    Tên công ty Công ty cổ phần Xích líp Đông Anh
    Trụ sở chính

     

    Địa chỉ

    Điện thoại

    Fax

    Email

    Số 11, tổ 47, thôn Dục Nội, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

     

    043.8832200 hoặc 043.8832204

    84.4.8835395

    [email protected]

    Năm thành lập 1974
    Người đại diện theo pháp luật TGĐ. Phan Tấn BÌnh
    Cơ cấu vốn

     

    Vốn pháp định

    Vốn điều lệ

    50.000.000.000 VNĐ

     

    60.000.000.000 VNĐ

    Bảng 1: Thông tin chung về công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.2.         Lịch sử hình thành và phát triển

    Năm 1975-1985: công ty sản xuất phụ tùng xe đạp phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong nước.

    Năm 1986:  nhà nước xoá bỏ chế độ bao cấp, công ty đã lâm vào hoàn cảnh khó khăn khi phải tự cấp để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được.

    Năm 1996: Ban Giám đốc mới của công ty được bổ nhiệm, công ty   bước sang  một giai đoạn mới , mở rộng ngành nghề kinh doanh, sản phẩm công ty sản xuất ra không chỉ cạnh tranh với sản phẩm trong nước mà còn cả với sản phẩm nhập ngoại của các nước tiên tiến. Trước thực tế đó Ban lãnh đạo cùng cán bộ công nhân viên công ty đã không ngừng tìm tòi học hỏi và sáng tạo để tìm ra hướng đầu tư đúng đắn và hiệu quả, công ty tiến hành đổi mới cơ cấu sản xuất và bộ máy quản lý để phù hợp với quy luật cạnh tranh của cơ chế thị trường. Công ty sắp xếp lại cán bộ công nhân viên có trình độ tay nghề non kém, trình độ nghiệp vụ thấp sang công việc phù hợp, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ công nhân viên có khả năng học hỏi và nâng cao trình độ. Bên cạnh những mặt hàng truyền thống như xích líp đùi, đĩa phụ tùng xe đạp, công ty còn sản xuất các chi tiết trong và ngoài động cơ xe máy, xích công nghiệp và viên bi cầu bằng thép các loại. Đặc biệt các sản phẩm mạ Niken – Crôm, mạ kẽm và công nghệ đúc nhôm chất lượng cao.

    Ngày 23/12/2003: theo quết định số 2040/QĐ-UB và 7862/QĐ-UB của ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Xích líp Đông Anh đã tiếp nhận 2 công ty: Công ty Bi Hà Nộ và công ty Phụ tùng xe đạp Đông Anh sát nhập vào công ty. Với nhiệm vụ ngày càng nặng nề vì phải giải quyết số nợ còn tồn lại của công ty và công ăn việc làm cho hơn 400 lao động mới về, ban lãnh đạo công ty đã và đang tìm cách mở rộng thị trường sản xuất nhiều sản phẩm mới để tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Cũng theo lộ trình cổ phần hoá các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước đến năm 2010, ngày 01/07/2009 Công ty đã chính thức chuyển đổi sang thành công ty cổ phần và hoạt động  dưới tên gọi “ Công ty cổ phần xích líp Đông Anh”. Hiện tại công ty có tất cả 1553 cán bộ công nhân viên, trong đó 1300 công nhân sản xuất trực tiếp và 253 công nhân sản xuất gián tiếp. Những khách hàng chính của công ty: Honda Việt Nam, YAMAHA, Machino auto parts, VAP, VMEP, GOSHI Thang Long, Piaggio Việt Nam…

    1.3. Sản phẩm

    – Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các loại: xích líp, đùi đĩa xe đạp, xích xe máy, xích công nghiệp, phụ tùng xe máy, ô tô, khóa bi và sản phẩm cơ kim khí khác, mạ niken-crom, kẽm các loại sản phẩm khác

    – Giới thiệu sản phẩm của công ty và các sản phẩm liên doanh

    – Liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để mở rộng kinh doanh, nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, phụ tùng phục vụ cho công tác sản xuất

    – Kinh doanh thương mại tổng hợp, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, cho thuê bến bãi, văn phòng, cửa hàng, nhà ở, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản

    Một số sản phẩm chính:

       
       
       
       

    Hình 1.1: Một số sản phẩm chính của công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.3.         Tình hình sản xuất kinh doanh

    Hình 1.2: Biểu đồ doanh thu giai đoạn 2005-2012

    1.4.         Sơ đồ tổ chức

    Hình 1.3: Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.5.         Hệ thống quản lý chất lượng tại doanh nghiệp

    Từ năm 2002 Công ty cổ phần Xích líp Đông Anh đã đưa hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO9001-2000 áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh. Công ty đã quyết định thành lập phòng QC – ISO quản lý mọi vấn đề về chất lượng sản phẩm như : Kiểm tra chất lượng đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cho đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường tiêu thụ.

    Sơ đồ tổ chức phòng QC:

    Hình 1.4: Sơ đồ tổ chức phòng quản lý chất lượng(QC)

    2.     Đánh giá thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008

    2.1.         Các thủ tục hoạt động của công ty

    Theo yêu cầu của tiêu chuẩn khi xây dựng ISO 9001:2008, công ty đã ban hành và áp dụng các tài liệu sau đây:

    – Chính sách chất lượng

    – Mục tiêu chất lượng của công ty và mục tiêu chất lượng của từng cấp phòng ban chức năng. ( Xem phụ lục 1 –Mục tiêu chất lượng công ty)

    – Sổ tay chất lượng ( Xem phụ lục 2 – Sổ tay chất lượng và môi trường)

    – Thủ tục xử lý khiếu nại ( Xem phụ lục 3–Thủ tục xử lí khiếu nại)

    – Thủ tục hành động khắc phục – phòng ngừa ( Xem phụ lục 4 – Thủ tục hành động và khắc phục phòng ngừa)

    – Thủ tục kiểm soát sản phẩm sai hỏng ( Xem phụ lục 5 – Thủ tục kiểm soát sản phẩm sai hỏng)

    Ngoài những thủ tục bắt buộc như trên theo yêu cầu của tiêu chuẩn, công ty cũng đã xây dựng và đang áp dụng thêm các thủ tục, hướng dẫn công việc và  lập các hồ sơ cần thiết nhằm đảm bảo hệ thống quản lý có hiệu lực và hiệu quả, như : thủ tục lưu kho bảo quản, thủ tục triển khai sản xuất, thủ tục bán hàng, thủ tục tuyển dụng, các hướng dẫn công việc,…

    2.2.         Chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng năm 2012

    • Chính sách chất lượng

    Công ty cổ phần Xích líp Đông Anh xây dựng chính sách chất lượng và môi trường theo các tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 và phù hợp với các hoạt động của công ty.

    – Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất đến khách hàng và đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan.

    – Thường xuyên xem xét nguồn lực để đầu tư công nghệ và đào tạo nhân viên về chất lượng sản phẩm, bảo vệ, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và tái sử dụng nguồn tài nguyên.

    – Nắm bắt chính xác, hạn chế tối đa ảnh hưởng và tác động đến môi trường trong các hoạt động của công ty. Nỗ lực hoàn thành mục tiêu chất lượng, chỉ tiêu môi trường đã đề. Đồng thời điều chỉnh phù hợp với các yêu cầu thực tế

    – Duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo chuẩn quốc tế ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004.

    2.2.2. Mục tiêu chất lượng

    Vào cuối mỗi năm, đại diện lãnh đạo đệ trình lên Tổng giám đốc mục tiêu chất lượng của công ty năm tới để làm cơ sở thiết lập mục tiêu chất lượng tại các cấp và từng bộ phận chức năng. Mục tiêu chất lượng công ty năm 2012 đã được thiết lập (Phụ lục 1- Mục tiêu chất lượng công ty năm 2012).

    2.3.         Hệ thống tài liệu

    Sổ tay chất lượng là tài liệu mô tả toàn bộ hệ thống quản lý chất lượng của công ty, công bố các cam kết của giám đốc về việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, là tài liệu giới thiệu các quá trình công việc và quan hệ giữa chúng trong toàn bộ hệ thống. Đối với từng quá trình, sổ tay chất lượng giới thiệu các chính sách được công ty sử dụng, viện dẫn đến các tài liệu liên quan như là một chuẩn mực trong việc kiểm soát hoạt động của các quá trình. Đối tượng sử dụng sổ tay chất lượng là các nhà quản trị cấp cao trong công ty (ban giám đốc) và các nhà quản trị cấp trung gian (Trưởng, phó các đơn vị trực thuộc) và các cán bộ công nhân viên trong công ty.

    Các quy trình dạng văn bản mô tả các cách thức, biện pháp, trình tự thực hiện, kiểm soát các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan đến các yêu cầu của ISO 9001:2008. Đối tượng sử dụng tài liệu là cán bộ, nhân viên – những người trực tiếp thi hành công việc mà tài liệu quy định.

    Các tài liệu hỗ trợ, bao gồm :

    • Các quy định và các hướng dẫn tác nghiệp của Công ty.
    • Các tài liệu bên ngoài, TCVN, tiêu chuẩn ISO, tiêu chuẩn nước ngoài, các quy định pháp lý của nhà nước liên quan đến hoạt động của Công ty.
    • Các hồ sơ theo yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và các hồ sơ hoạt động khác

    Các tài liệu của hệ thống quản lý chất lượng được những người có thẩm quyền xem xét và phê duyệt trước khi ban hành, được cập nhật vào danh mục tài liệu và được phô tô, phân phối đến nơi sử dụng thông qua sổ phân phối tài liệu.

    Tất cả các hồ sơ theo yêu cầu của ISO đều được ghi nhận và lưu trữ. Hồ sơ được Trưởng các bộ phận liên quan xác định thông qua các danh mục hồ sơ, nêu rõ phương pháp lập thư mục, thời gian lưu giữ, nơi lưu giữ của từng loại hồ sơ. Người chịu trách nhiệm lưu giữ hồ sơ được hướng dẫn cách thức quản lý sao cho có thể truy cập dễ dàng, nhanh chóng, tránh mất mát, hư hỏng.

    2.4.         Quản lý nguồn lực

    Công ty luôn xem xét, xác định và cung cấp các nguồn lực cần thiết cho các hoạt động. Những người thực hiện các công việc ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đều có năng lực trên cơ sở được giáo dục, đào tạo, có kỹ năng và kinh nghiệm thích hợp.

    Công ty đã soạn thảo và ban hành các bảng mô tả công việc, các tài liệu liên quan đến trách nhiệm của nhân viên đối với Công ty; triển khai các khóa huấn luyện, đào tạo định hướng; truyền đạt qua các phương tiện thông tin như mạng nội bộ, bản tin; hướng dẫn công nhân viên thực hiện nghiêm túc các sứ mệnh và chính sách của Công ty.

    STT Đơn vị Đại học Cao đẳng Trung cấp Công nhân KT Tổng số
    1 Ban giám đốc 03       03
    2 Phòng kỹ thuật sản xuất 20 15     35
    3 Phòng đảm bảo chất lượng 05 40 15   60
    4 Phòng thiết bị đầu tư 03 04     07
    5 Phòng kinh doanh 10 10 15   35
    6 Phòng kế toán thống kê 05 03 03   11
    7 Phòng TCHC 10 05 13   28
    8 Phân xưởng xích 03 05 04 118 130
    9 Phân xưởng líp 02 05 06 106 119
    10 Phân xưởng nhiệt luyện 02 05 05 64 76
    11 Phân xưởng phụ tùng 1 03 05 08 102 118
    12 Phân xưởng phụ tùng 2 03 05 10 91 109
    13 PX Bi 05 03 09 60 77
    14 PX Cơ điện 03 07 07 73 90
    15 PX rèn đập 05 03 04 48 60
    16 XN phụ tùng 05 03 05 19 32
    17 PX cơ khí 05 03 06 105 119
    18 PX mạ 05 03 03 80 91
    19 Tổng cộng 97 124 113 866 1200
    20 Tỉ lệ (%) 8,08 10,33 9,42 72,17 100

    Bảng 2 : Cơ cấu lao động của DN tính đến 31/12/2009 (Đ/v : người)

    Qua bảng số liệu trên có thể thấy số lượng nhân viên có bằng Đại học và Cao đẳng chiếm 19,41% số lượng lao động trong công ty, họ là những người được đào tạo chuyên sâu về sản xuất và điều hành do đó sẽ đảm bảo tốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Phòng đảm bảo chất lượng có 60 nhân viên trong đó 45 người có trình độ Cao đẳng trở lên. Có thể thấy doanh nghiệp luôn chú trọng việc quản lý chất lượng sản phẩm thông qua tuyển dụng những nhân viên có năng lực vào phòng QC.(Phụ lục 6 – kế hoạch đào tạo nhân viên năm 2012)

    2.5.         Quy trình triển khai sản xuất

    Để đáp ứng yêu cầu của khách hàng cũng như đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra đúng tiến độ, phù hợp với năng lực của các đơn vị được giao, công ty đã lập ra quy trình triển khai sản xuất.

    Hình 2.1 : Quy trình triển khai sản xuất

    Công ty kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch sản xuất thông qua phòng Kỹ thuật sản xuất. Phòng Kỹ thuật sản xuất có nhiệm vụ đôn đốc các đơn vị tăng cường sản xuất, tháo gỡ vướng mắc cho các đơn vị như : điều động nhân lực cho sản xuất, yêu cầu các đơn vị khác hỗ trợ…Bên cạnh đó, luôn theo dõi và đánh giá mức độ hoàn thành công việc về chất lượng và tiến độ thực hiện sản xuất, lập báo cáo thống kê vào cuối tuần, như vậy luôn đảm bảo được việc kiểm soát sản xuất trong công ty. Vào ngày 03 của tháng sau, phòng Kỹ thuật sản xuất có trách nhiệm tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch tháng trước của các đơn vị trước cuộc họp giao ban, điều chỉnh và ban hành kế hoạch sản xuất tháng lần 2 để các đơn vị thực hiện. Cuối mỗi quý, năm, thủ kho các đơn vị thực hiện kiểm kê số lượng theo mẫu báo cáo, thống kê các đơn vị căn cứ vào đó để lập bảng quyết toán vật tư nộp cho phòng Kỹ thuật sản xuất.

    2.6.         Khắc phục, phòng ngừa và cải tiến

    Tất cả những sự không phù hợp từ thông tin khách hàng hay được tìm thấy trong quy trình sản xuất đều được yêu cầu thực hiện hành động khắc phục phòng ngừa nhằm loại bỏ nguyên nhân của sự không phù hợp hay nguyên nhân của sự không phù hợp tiềm ẩn để đảm bảo điều đó không xảy ra lặp lại hoặc ngăn ngừa sự xuất hiện của chúng. Doanh nghiệp đề ra đầy đủ và cụ thể các quy trình khắc phục, phòng ngừa cũng như cải tiến sản phẩm trong quá trình sản xuất.

    Công ty luôn tìm cơ hội nâng cao tính hiệu lực của hệ thống quản lí chất lượng thông qua việc sử dụng chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, kết quả đánh giá, việc phân tích dữ liệu, hành động khắc phục và phòng ngừa đều được xem xét kỹ lưỡng bởi lãnh đạo công ty.

    2.7.         Khiếu nại của khách hàng

    Trong quá trình sản xuất không thể tránh khỏi việc sản phẩm của công ty mắc lỗi cũng như không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Do đó, công ty đã lập ra thủ tục khiếu nại của khách hàng. Mục đích là ghi lại phản hồi và nhanh chóng giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất cho khách hàng. Công ty đã lập ra QT15 về Quy trình Xử lý khiếu nại của khách hàng, cùng với đó là đơn khiếu nại (mẫu), đơn phản hổi của công ty (mẫu) và bảng theo dõi khiếu nại của khách hàng. Với việc lập ra một quy trình rõ ràng như vậy sẽ giúp việc giải quyết các vấn đề của khách hàng được nhanh và chính xác, tạo lòng tin của khách hàng đối với doanh nghiệp.

    Hình 2.2 : Quy trình giải quyết khiếu nại

    2.8. Lợi ích khi áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001 :2008 tại doanh nghiệp

    – Giúp cho công ty nâng cao được hình ảnh và uy tín đối với khách hàng, đối tác và tất cả các bên liên quan, điều này góp phần rất lớn vào việc xây dựng cho công ty một thương hiệu mạnh.

    Hình 2.3 : Biểu đồ số lượng khách hàng từ 2005-2010

    – Thúc đẩy hiệu quả làm việc của từng phòng ban, bộ phận trong công ty. Khi áp dụng ISO 9001:2008 mọi phòng ban thiết lập mục tiêu theo định hướng của Ban Giám đốc công ty, mục tiêu năm sau phải cao hơn mục tiêu năm trước, điều này buộc mỗi phòng ban, bộ phận phải luôn nổ lực làm việc hiệu quả mỗi ngày để có thể đạt được mục tiêu.

    – Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi nhân viên nhờ sự hiểu rõ sự đóng góp của mình đối với mục tiêu chất lượng. Mỗi người nhân viên đều biết được tầm quan trọng của công việc mình đang đảm nhận và cảm thấy có trách nhiệm hơn trong công việc. Trách nhiệm và quyền hạn cho mỗi nhân viên được xác định rõ ràng và công bố rộng rãi trong toàn công ty, vì vậy đã giảm đi rất nhiều tình trạng đùng đẩy công việc và trách nhiệm lẫn nhau.

    – Tất cả các vấn đề phát sinh đều phải được ghi nhận lại, sau đó công ty phải phân tích và tìm kiếm nguyên nhân để đề ra biện pháp khắc phục để vấn đề không lặp lại một lần nữa với cùng nguyên nhân cũ.

    – Năng lực của nhân viên trong công ty ngày càng nâng cao hơn. Mỗi người nhân viên đều được xác định những kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ tối thiểu cần phải có để đảm nhận công việc, những nhân viên chưa đạt yêu cầu sẽ được công ty lên kế hoạch đào tạo, huấn luyện để những nhân viên này có đủ năng lực thực hiện tốt công việc.

    – Giảm thiểu tối đa các sai sót trong công việc vì những công việc phức tạp thì có hướng dẫn công việc, … tất cả các nhân viên tham gia công việc đều phải đọc và làm theo những quy trình/hướng dẫn công việc đó. Nhờ vậy các công việc có tính chuẩn hóa cao.

    – Nhân viên mới dễ dàng tiếp nhận công việc. Công ty dễ dàng đào tạo nhân viên mới hơn và cũng mất ít thời gian để đào tạo hơn nhờ tất cả các công việc đều có quy trình, hướng dẫn công việc.

    – Chất lượng sản phẩm ổn định, tỉ lệ phế phẩm ngày càng giảm. Tất cả các công việc đều được kiểm soát và quản lý chặt chẽ, năng lực của nhân viên đồng đều và ngày càng nâng cao.

    2.9. Hạn chế khi áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001:2008 tại doanh nghiệp

    – Chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng chưa được truyền đạt và thấu hiểu bởi tất cả các cấp.

    – Qui trình xây dựng và thực hiện mục tiêu không tốt. Chủ yếu dựa vào cảm tính.

    – Nhiều tài liệu, biểu mẫu được ban hành rất lâu, nay không còn sử dụng hoặc đã lỗi thời nhưng không được huỷ bỏ hay cập nhật.

    – Chưa áp dụng mạnh các kỹ thuật thống kê để phân tích dữ liệu.

    – Một số nhân viên, đặc biệt là nhân viên mới, chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008

    3. Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 14001:2004

    3.1.    Các thủ tục hoạt động của công ty

    Theo yêu cầu của tiêu chuẩn khi xây dựng ISO 14001:2008, công ty đã ban hành và áp dụng các tài liệu sau đây:

    – Chính sách Môi trường

    – Sổ tay Môi trường ( Phụ lục 2 – Sổ tay chất lượng và môi trường)

    – Mục tiêu môi trường năm 2012 ( Phụ lục 7 – MTMT công ty năm 2012)

    – Đánh giá mục tiêu môi trường 2012 ( Phụ lục 8 – ĐG MTMT 2012)

    Ngoài những tài liệu bắt buộc như trên theo yêu cầu của tiêu chuẩn, công ty cũng đã xây dựng và đang áp dụng thêm các tài liệu, hướng dẫn công việc và  lập các hồ sơ cần thiết nhằm đảm bảo hệ thống quản lý môi trường có hiệu lực và hiệu quả, như : quy trình kiểm tra chỉ tiêu môi trường, quy trình vệ sinh môi trường, quy trình sản xuất nước sinh hoạt và sản xuất,…

    3.2. Sơ đồ quản lý môi trường của công ty

    Hình 3.1 : Sơ đồ quản lý môi trường Hình 3.2 : Sơ đồ vận hành quản lý môi trường trong hệ thống

    Công ty đã lập kế hoạch, mô hình quản lý môi trường dựa trên phương pháp luận là Plan – Do – Check – Act. Trước tiên là thiết lập các mục tiêu và các quá trình cần thiết đề đạt được kết quả phù hợp với chính sách môi trường của công ty, tiếp theo là thực hiện các quá trình đó theo kế hoạch đã đề ra, tiến hành kiểm tra giám sát và đo lường các quá trình dựa trên chính sách môi trường, mục tiêu, chỉ tiêu và các báo cáo kết quả. Cuổi cùng là thực hiện các hành động cải tiến thường xuyên hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý môi trường.

    3.3. Biện pháp thực hiện của công ty trong quá trình đảm bảo mục tiêu môi trường

    • Trong quá trình sử dụng điện sản xuất

    Hiện nay, việc lãng phí điện năng trong các công ty sản xuất luôn là một vấn đề đau đầu đối với các nhà quản lý. Bản thân công ty Xích líp Đông Anh là một doanh nghiệp sản xuất sử dụng điện năng trong hầu hết các quá trình sản xuất do đó việc giám sát việc sử dụng điện sản xuất luôn được quan tâm chú trọng. Công ty luôn đề ra mục tiêu giảm lượng điện tiêu thụ của năm sau thấp hơn so với năm trước, và để thực hiện mục tiêu này thì công ty đã đề ra các biện pháp cơ bản sau :

    – Thay mới các đường dây cũ nát trong tất cả các phân xưởng

    – Thường xuyên bảo dưỡng các thiết bị điện trong sản xuất

    – Tắt máy ngay khi không có nhu cầu sản xuất hoặc lúc nghỉ ngơi khi chờ sản xuất

    – Phổ biến các quy định này tới tất cả các công nhân trong phân xưởng bằng cách dán thông báo quy định lên bảng hoặc trao đổi trực tiếp

    – Sử dụng hợp lý các bóng đèn chiếu sáng trong phân xưởng

    – Tuân thủ thời gian làm việc và nghỉ ngơi đã được quy định.

    – Hạn chế sử dụng các thiết bị không cần thiết vào giờ cao điểm (19h-22h)

    – Thay thế hệ thống bóng đèn tiết kiệm năng lượng nếu có

    • Quá trình xử lý rác thải công nghiệp từ các phân xưởng

    Mục tiêu của công ty là phân loại quản lý rác thải từ đầu nguồn tại các phân xưởng và giảm lượng dầu công nghiệp thải, rác thải và nước thải ra ô nhiễm đất. Công ty có các biện pháp cơ bản sau :

    – Cấp phát thùng đựng rác thải nguy hại và thùng đựng rác thải thông thường cho các phân xưởng sản xuất

    – Tuân thủ đúng quy trình công nghệ sản xuất

    – Đào tạo ý thức cho người lao động trong khi tham gia vào dây chuyền sản xuất

    – Thu gom lượng dầu thải ra từ công nghệ sản xuất và tập trung tái sử dụng hoặc tái chế

    – Định kì vệ sinh tất cả các phân xưởng để tránh dầu thấm lâu ô nhiễm đất

    – Thu gom lượng dầu thải thải ra từ công nghệ sản xuất về bể chứa dầu thải của công ty

    • Kiểm soát chỉ tiêu ô nhiễm nước thải

    – Đào tạo cho người vận hành phương pháp vận hành và quản lý Hệ thống nước thải.

    – Phân tích định kì và đánh giá mức độ ô nhiễm để kiểm soát ô nhiễm nước

    – Duy trì hệ thống thường xuyên

    • Kết quả công ty đạt được khi áp dụng các biện pháp
    STT Mục tiêu Kết quả TL thực hiện Nguyên nhân
    1 – Giảm 5% tiêu hao điện năng/1đồng doanh thu. +0,0000139 (KW/đồng doanh thu) 0,000020KW/đồng doanh thu (tăng 37%) Không đạt –  Kế hoạch sản xuất tăng.

     

    – Nhiều sản xuất chế thử đi vào sản xuất hàng loạt

    2 – Phân loại quản lý rác thải

     

    – Giảm lượng dầu công nghiệp thải và nước thải ô nhiễm

    Vẫn duy trì thực hiện tốt Đạt  
    3 Đưa hàm lượng các chỉ tiêu ô nhiễm như : pH ; SS ; Fe ; Mn ; Cu ; COD ; BOD5 trong nước thải về hợp tiêu chuẩn QCVN24 :2009/BTNMT 10/10 chỉ tiêu ô nhiễm trong nước đề đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường Đạt  

    Bảng 3 : Đánh giá hiệu quả thực hiện mục tiêu môi trường năm 2012

    • Lợi ích khi áp dụng ISO 14001 :2004 tại công ty

    – Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất tại công ty

    – Tiết kiệm chi phí đầu vào bao gồm nước, năng lượng, nguyên vật liệu, hóa chất…đặc biệt là những nguyên vật liệu khan hiếm như điện năng, than, dầu.

    – Tăng cường uy tín của doanh nghiệp với khách hàng, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường

    – Giúp doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiêu chuẩn iso 9001 :2008 mà không áp dụng iso 14001

    – Nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp khi không phải mất chi phí giải quyết các vấn đề gây ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật

    • Hạn chế khi áp dụng ISO 14001 :2004 tại công ty

    Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 :2004 tại công ty vẫn còn một số hạn chế đó là : chưa đạt được mục tiêu cắt giảm điện năng trong quá trình sản xuất, việc đào tạo cán bộ công nhân viên về áp dụng tiêu chuẩn iso 14001 :2004 chưa được tiến hành, các nhân viên mới chưa có kỹ năng và kinh nghiệp trong việc áp dụng các tiêu chuẩn của ISO. Song đến thời điểm hiện tại doanh nghiệp vẫn đáp ứng được các tiêu chuẩn về ô nhiễm môi trường ở Việt Nam.

    CHƯƠNG III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÍCH LÍP ĐÔNG ANH

    1.     Cải tiến quy trình xây dựng và thực hiện mục tiêu

    Quản lí chất lượng là công việc vô cùng quan trọng và cần thiết trong mỗi tổ chức, công ty. Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất để tạo uy tín và thương hiệu lâu dài, mãi mãi. Nhằm đảm bảo các cam kết trong chính sách chất lượng của công ty được thực thi đồng thời tăng tính hiệu lực vầ hiệu quả của các mục tiêu chất lượng, quá trình xây dựng và triển khai thực hiện các mục tiêu được thực hiện theo quy trình.

    Hình 3.1 Quy trình xây dựng và triển khai mục tiêu

    Từ quy trình trên có thể nhận thấy mục tiêu chất lượng công ty được xác định hàng năm dựa vào nhiệm vụ từng giai đoạn và kết quả hoạt động thự tế. Và dựa trên mục tiêu này các bộ phận sẽ xây dựng mục tiêu cho bộ phận mình và đưa ra kế hoạch thực hiện hàng tháng/ quý của mỗi bộ phận.

    Quá trình triển khai mục tiêu thực hiện phải tuân thủ theo chu trình Deming (Hình 3.2)

    Hình 3.2: Chu trình Deming

    2.     Hoàn thiện hệ thống tài liệu

    Cần thường xuyên xem xét lại quy trình làm việc, thủ tục, biểu mẫu nhằm:

    + Loại bỏ những biểu mẫu, thủ tục lỗi thời, rườm rà, phức tạp, không mang lại giá trị cho doanh nghiệp.

    + Thường xuyên, liên tục cập nhật các quy trình đang làm việc để kịp thời phát hiện những bước thừa, không hiệu quả. Đồng thời áp dụng các quy trình sản xuất tinh gọn, đơn giản nhằm phối hợp hiệu quả giữa các phòng ban để cải tiến, đổi mới công việc cho phù hợp với thời kì.

    + Tổ chức huấn luyện đào tạo để đảm bảo mọi người trong công ty tuân thủ các quy trình, thủ tục này.

    + Duy trì việc cập nhật hệ thống tài liệu trên website nội bộ của công ty để phân phối cho tất cả phân xưởng vào đầu mỗi quý. Đồng thời thông báo những thay đổi trong hệ thống tài liệu trong các buổi họp giao ban đầu quý

    + Lập kế hoạch hỗ trợ và giảm sát tình hình áp dụng tài liệu ở từng đơn vị đặc biệt là khối công xưởng.

    3.     Hoàn thiện nguồn nhân lực, công tác huấn luyện đào tạo

    Trong bất cứ một tổ chức, con người luôn luôn đóng vai trò quan trọng tạo nên sự thành công hay thất bại. Chính vì vậy công ty cần đạo tạo ra ban lãnh đạo xuất sắc, đội ngũ công nhân lành nghề, tận tâm trong công việc. Hiểu được tầm quan trọng này, nhóm chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến để hoàn thiện nguồn nhân lực tại công ty Xích líp Đông Anh như sau:

    + Tuyên truyền sâu rộng và mạnh mẽ về văn hoá công ty để truyền lửa và tinh thần cho ban lãnh đạo, đội ngũ công nhân.

    + Thường xuyên nâng cao nhận thức trong toàn công ty về việc thiết lập và áp dụng hệ thống quản lí chất lượng này.

    + Tổ chức các hoạt động đánh giá hiệu quả công việc, làm cơ sở cho các hoạt động đào tạo, tuyển dụng, khen thưởng, kỉ luật.

    + Thường xuyên có các buổi trao đổi, thảo luận về chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, tăng cường thông tin, tuyên truyền bằng các bảng biểu, băng rôn để mọi người trong công ty đều nắm rõ và thực hiện đúng mục tiêu, chính sách đề ra.

    + Thực hiện đào tạo ngay từ đầu sẽ giúp nhân viên mới có ngay nhận thức về vấn đề quản lí chất lượng, giúp hạn chế rủi ro xảy ra và từ đó nâng cao được năng suất chất lượng công việc.

    + Đối với công nhân: cần được đào tạo cơ bản về nguyên lý lắp đặt, vận hành máy móc, an toàn lao động, các sự cố thường gặp, cách phòng ngừa để từ đó giảm thiểu rủi ro trong công việc.

    + Quản lí trực tiếp việc tổ chức huấn luyện, hướng dẫn tại nơi làm việc: mô tả công việc cho nhân viên mới, hướng dẫn cách sử dụng phần mềm, công cụ hỗ trợ cho công việc, phân công người hướng dẫn trực tiếp công việc hàng ngày giúp nâng cao năng suất lao động.

    + Phòng hệ thống quản lí chất lượng cần có cách thức đào tạo mỗi khi có quy định mới, đồng thời luôn giải đáp thắc mắc cho công nhân vì mục tiêu chung.

    + Sau mỗi lần đào tạo cần đánh giá lại để sửa đổi và đào tạo lại.

    4.      Xây dựng các chỉ tiêu theo dõi và đo lường

    Một trong những yếu tố nhằm đảm bảo hệ thống quản lí chất lượng đạt hiệu quả cao chính là việc đưa ra những chỉ tiêu cần có và một hệ thống đánh giá mức độ đạt được các chỉ tiêu đó.

    Kế hoạch theo dõi và đo lường các quá trình có thể được lập thành bảng như sau:

    Quá trình Mục tiêu Chỉ tiêu/ yêu cầu Tần suất đánh giá Trách nhiệm
    Thực hiện Kiểm tra
               

    Bảng 4: Bảng theo dõi quá trình thực hiện mục tiêu

    5.     Hoàn thiện các kĩ thuật thống kê

    Để đưa ra được những quyết định đúng đắn và có hiệu lực cần phải dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin. Đối với các quyết định liên quan đến chất lượng ta cần phải xác định đúng, rõ ràng nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, xem xét những yếu tố nào có thể kiểm soát được, phân tích các quyết định có liên quan đến nhũng yếu tố đầu vào. Sau đây là quy trình phân tích dữ liệu mà nhóm đề xuất (hình 3.3):

    + Thu thập số liệu

    + Xư lí số liệu

    + Nhận xét kết quả: Xác định những biến động làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện của quá trình

    +Đưa ra thông tin điều khiển, xử lí, phân tích.

    Hình 3.3: Quy trình phân tích dữ liệu

    • Các kĩ thuật thống kê thường sử dụng ( Bảng 4 và 5)
    Công cụ và kĩ thuật Ứng dụng
    Tấn công não Xác định các giải pháp có thể cho các vấn đề và các cơ hội tiềm tàng cho việc cải tiến chất lượng
    Biểu đồ xương cá Phân tích và thông báo các mối quan hệ nhân quả
    Biểu đồ tiến trình Mô tả quá trình hiện có
    Biểu đồ cây Biểu thị mối quan hệ giữa chủ đề và các yếu tố hợp thành

    Bảng 4: Các công cụ và kĩ thuật phân tích các dữ liệu không bằng số

    Công cụ và kĩ thuật Ứng dụng
    Biểu đồ kiểm soát Phân tích: đánh giá sự ổn định của quá trình thực hiện

     

    Kiểm soát: xác định khi nào một quá trình cần điều chỉnh và khi nào cần giữ nguyên hiện trạng

    Biểu đồ Pareto Trình bày theo thứ tự quan trọng sự đóng góp của từng cá thể cho hiệu quả chung

     

    Xếp hạng các cơ hội cải tiến

    Biểu đồ tán xạ Phát hiện và xác nhận mối quan hệ giữa hai tập số liệu có liên hệ với nhau

     

    Xác định mối quan hệ dự tính giữa hai bộ số liệu có quan hệ với nhau

    Bảng 5:Các công cụ và kĩ thuật cho các dữ liệu bằng số

    Việc áp dụng các kĩ thuật thống kê nhằm giải quyết các vấn  đề chất lượng. Do vậy, chỉ nên lựa chọn những kỹ thuật đơn giản mà mọi người đều có thể sử dụng. Ngoài ra, tuỳ thuộc vào nội dung cần thống kê, đặc điểm của hoạt động thống kê để lựa chọn những công cụ phân tích đánh giá phù hợp

    6.     Thành lập nhóm chất lượng

    Để tìm ra được nguyên nhân và đưa ra các biện pháp giảm tỉ lệ khuyết tật của sản phẩm, nâng cao chất lượng sản xuất Công ty tổ chức nhóm chất lượng từ 4-7 nhân viên cùng làm việc với nhau để giải quyết những vấn đề chung có liên quan đến công việc. Nhóm chất lượng này cần phải được đào tạo về cách sử dụng các kĩ thuật và công cụ quản lí chất lượng như: biểu đồ Pareto, biểu đồ xương cá, chu trình PDCA, lưu đồ, phương pháp tấn công não… Việc đào tạo ban đầu có thể do người trong công ty am hiểu về lĩnh vực này hoặc mời chuyên gia hướng dẫn.

    Cần đưa ra các mục tiêu hoạt động rõ ràng, cụ thể, liên tục cập nhật những kiến thức về quản trị chất lượng, giao việc đúng người đúng thời điểm, đúng nhiệm vụ và hướng dẫn các nhóm nhằm đảm bảo việc thực thi đúng đắn của nhóm chất lượng. Tuy nhiên, cần tránh những lí do dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của các nhóm chất lượng như:

    – Thành viên nhóm chất lượng nhiệt tình nhưng không hiều rõ, đầy đủ về nhiệm vụ và thiếu kĩ thuật, kĩ năng thực hiện công việc

    – Ban lãnh đạo thiếu quan tâm, thiếu cởi mở

    – Nhóm quá lớn hoặc quá nhỏ

    – Giao công việc không phù hợp, không đúng lúc.

    Sau đây là mô hình tổ chức hoạt động của nhóm chất lượng ( hình 4.4)

    Đưa ra các vấn đề
    Phân tích các vấn đề, dự án
    Ban lãnh đạo xem xét, chấp thuận, theo dõi
    Báo cáo với lãnh đạo
    Triển khai các cách giải quyết

    Hình 4.4 Mô hình hoạt động tổ chức của nhóm chất lượng

    7.     Ứng dụng các hệ thống quản lí/ công cụ cải tiến khác

    Ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin vào công tác quản lí như: ERP ( Enterprise Resource Planning).

    Phát triển chương trình Kaizen, Sản xuất tinh gọn, 6 sigma.

     

    KẾT LUẬN

    Trong một môi trường kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn và phức tạp như hiện nay, để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững đòi hỏi công ty phải chuẩn hóa toàn bộ quá trình sản xuất từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra đến tay khách hàng. Việc xây dựng hệ thống ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 trong công ty cổ phần Xích líp Đông Anh chính là những bước đi cần thiết giúp công ty phát triền và duy trì một hệ thống quản lý chất lượng toàn diên tốt nhất, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.

    Với việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, công ty đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể thể hiện ở việc công ty đã có một quy trình chuẩn hóa chất lượng ở mọi công đoạn và quy trình sản xuất để cho ra những sản phẩm chất lượng. Doanh số và lợi nhuận của công ty liên tục tăng, quy mô không ngừng được mở rộng kể từ khi thành lập cho đến nay. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và lợi ích mà hệ thống tiêu chuẩn ISO mang lại thì vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục, thông qua phân tích giải pháp và thực trạng chúng ta có thể thấy việc áp dụng tiêu chuẩn này vẫn còn nhiều vấn đề như là quy trình thủ tục chưa chuyên nghiệp, hồ sơ và giấy tờ liên quan còn rườm rà nặng nề, đôi lúc quy trình còn chồng chéo lên nhau,… Do đó để việc áp dụng tiêu chuẩn này cho kết quả một cách hoàn hảo hơn công ty nên thường xuyên nâng cao hiệu lực của hệ thống.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    PHỤ LỤC


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]