Category: Ôn Thi Vào 10

Tổng hợp các dạng bài tập ôn luyện để thi vào cấp ba

  • Văn Mẫu Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

    Văn Mẫu Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

    Văn Mẫu Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-B%C3%ACnh-gi%E1%BA%A3ng-b%C3%A0i-th%C6%A1-V%E1%BB%99i-v%C3%A0ng-c%E1%BB%A7a-Xu%C3%A2n-Di%E1%BB%87u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

    BÀI VĂN MẪU LỚP 11

    Đề bài: Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

    Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt nam, Hoài Thanh đã thấy “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt”. Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tựa đề Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự hoạ của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình. 

    Thực ra, cái điệu sống vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là kết cục không thể tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao kì diệu. Mà sống là phải tận hưởng và tận hiến! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp. 

    Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy. 

    Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất “ngại” cặp kè với chính luận. Thế nhưng, nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên thuộc loại thơ cảm xúc. Nhưng đọc kĩ sẽ thấy thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mây trôi nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cấu tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột có lúc đã thực sự là một cơn lũ cảm xúc, cuốn theo bao nhiêu hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh hoạ cho triết học. Mà đó chính là cảm niệm triết học của một hồn thơ.

    Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài, nhưng tự nó đã hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ “Ta muốn ôm”. Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ trực tiếp cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều dễ thấy là thi sĩ có dụng ý chọn cách xưng hô cho từng phần. Trên, xưng “tôi” – lập thuyết, đối thoại với đồng loại. Dưới, xưng “ta” – đối diện với sự sống. Trình tự luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ ào ạt, sôi nổi như thác cuốn đã xoá mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm. 

    Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ. ấy là ước muốn quay ngược qui luật tự nhiên – một ước muốn không thể: 

    Tôi muốn tắt nắng đi 

    Cho màu đừng nhạt mất 

    Tôi muốn buộc gió lại 

    Cho hương đừng bay đi 

    Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió” thật là những ham muốn kì dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng được qui luật, làm sao có thể vĩnh viễn hoá được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ với cái thế giới thắm sắc đượm hương này. 

    Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường đầy sắc hương đó hiện diện trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đang lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khiêu gợi. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên. 

    Hãy xem cách diễn tả vồ vập về một thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân tình: 

    Của ong bướm này đây tuần tháng mật; 

    Này đây hoa của đồng nội xanh rì; 

    Này đây lá của cành tơ phơ phất; 

    Của yến anh này đây khúc tình si; 

    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, 

    Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa; 

    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; 

    Có lẽ trước Xuân Diệu, trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn tơ non đầy một sức sống thanh tân kia sao mà quyến rũ – tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một một người tình rạo rực, trinh nguyên. 

    Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái lôgic luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn “tắt nắng”, muốn buộc gió chính vì muốn giữ mãi hương sắc cho một trần thế như thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của nó, là vẻ đẹp, là cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì trong sự sống và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, “ngon” nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái “ngon” kia khi còn trẻ thôi. Trong khi đó, cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm này: 

    Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua 

    Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già 

    Con người thời trung đại lấy sinh mệnh vũ trụ để đo đếm thời gian. Nên hình như họ yên trí với quan niệm thời – gian – tuần – hoàn, với cái chu kì bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu nghìn ngày của kiếp người. Hết một vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu. Con người hiện đại lấy sinh mệnh cá thể làm thước đo thời gian. Nên họ sống với quan niệm thời – gian – tuyến – tính. Thời gian như một dòng chảy vô thuỷ vô chung mà mỗi một khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định: 

    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn 

    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại ! 

    Không chỉ dùng sinh mệnh cá thể, Xuân Diệu còn đo đếm thời gian bằng cái quãng ngắn ngủi nhất của sinh mệnh cá thể: tuổi trẻ. Tuổi trẻ đã một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn. 

    Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người quá ư ngắn ngủi hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ: 

    Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi 

    Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời 

    Không chỉ quan niệm, mà ngay cả cảm giác cũng hết sức mới lạ. Xuân Diệu đã đem đến một cảm nhận đầy tính “lạ hoá” về thời gian và không gian: 

    Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi 

    Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt… 

    Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép “tương giao” (Correspondance) của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới, trước hết là thời gian và không gian. Có những câu thơ mà cảm giác được liên tục chuyển qua các kênh khác nhau. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: “Mùi tháng năm” – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương – chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn “buộc gió lại” ư – hương bay đi là thời gian trôi mất, là phai lạt phôi pha! Một chữ “rớm” cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ “vị” liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một thứ vị hoàn toàn phi vật chất: “vị chia phôi”! Thì ra chữ “rớm” và chữ “vị” đều từ một hình ảnh ẩn hiện trong cả câu thơ là giọt lệ chia phôi đó. Giọt lệ thường long lanh trên khoé mắt người trong giờ phút chia phôi. Giọt lệ thành hiện thân, biểu tượng của chia phôi. Vì sao thời gian lại mang hương vị – hình thể của chia phôi? ấy là những cảm giác chân thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo kịch bản của phép “tương giao”? Thực ra cái tinh tế của Xuân Diệu là ở chỗ này đây. Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều đang có một cuộc ra đi như thế, thời gian đang chia tay với con người, chia tay với không gian và với cả chính thời gian. Tựa như một phần đời của mỗi cá thể đang vĩnh viễn ra đi. Từng phần đời đang chia lìa với cá thể. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than triền miên bất tận: “than thầm tiễn biệt”. Không gian đang tiễn biệt thời gian! Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kì này bước vào độ tàn phai. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi! 

    Và, một điều rất đáng nói đã bộc lộ đây đó trong thi phẩm này là: do dùng tuổi trẻ để đo đếm thời gian, nên ở Xuân Diệu đã xuất hiện một ý niệm thời gian khá đặc biệt, đó là thì sắc. Thời gian được nhìn ở phía nhan sắc, gắn với nhan sắc của sự vật. Vì thế mà với hồn thơ này, thời gian, về thực chất không có ba thì phân lập rành rẽ với quá khứ – hiện tại – tương lai, mà chỉ có hai thì luôn tranh chấp và chuyển hoá thôi đó là thời tươi và thời phai. Nó không phải là hai mùa. Không phải Xuân Diệu lược qui bốn mùa vào hai mùa. Mà là hai thì của mỗi một tạo vật thiên nhiên. Thời tươi: vạn vật thắm sắc, thời phai: vạn vật phôi pha, phai lạt. Vật nào trong trần thế này cũng trải qua hai thì ấy. Tất cả những ý niệm thời gian khác như năm tháng, mùa vụ, phút giây… dường như đều tan trong cái ý niệm thì sắc tổng quát đó. Mà ta thấy ở đây, nó hiện diện trong sự đối lập của “độ phai tàn” (thời phai) và “thời tươi”: 

    – Chim rộn ràng chợt dứt tiếng reo thi 

    Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa. 

    – Cho no nê thanh sắc của thời tươi. 

    Có thể nói ý niệm thì sắc này đã chi phối toàn bộ nhỡn quan Xuân Diệu đối với việc cảm nhận vẻ đẹp của thế giới trong sự trôi chảy vô thuỷ vô chung của nó. 

    Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, không thể cầm giữ được thời gian, thì chỉ có một cách thực tế nhất, khả thi nhất là chạy đua với thời gian, là tranh thủ sống: 

    Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao gì nữa… 

    Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm 

    Đến đây, phần luận giải cuả tuyên ngôn Vội vàng đã đủ đầy luận lí! 

    Phần cuối của bài thơ là lúc tuyên ngôn được hiện ra thành hành động, ấy là Vội vàng trong hình thái sống của cái tôi cá nhân cá thể này. Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những ham muốn mỗi lúc mỗi cuồng nhiệt, vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát sống trào cuốn của mình: 

    Ta muốn ôm: 

    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; 

    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, 

    Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, 

    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều 

    Và non nước, và cây, và cỏ rạng, 

    Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, 

    Cho no nê thanh sắc của thời tươi; 

    – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! 

    Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi, bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làn sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa, song song, thành những đợt sóng vỗ mãi vào vào tâm hồn người đọc. Câu thơ Ta muốn ôm chỉ có ba chữ, lại được đặt ở vị trí đặc biệt: chính giữa hàng thơ, là hoàn toàn có dụng ý. Xuân Diệu muốn tạo ra hình ảnh một cái tôi đầy ham hố, đang đứng giữa trần gian, dang rộng vòng tay, nới rộng tầm tay để ôm cho hết, cho khắp, gom cho nhiều nữa, nhiều nữa, mọi cảnh sắc mơn mởn trinh nguyên của trần thế này vào lòng ham muốn vô biên của nó. Cái điệp ngữ:”Ta muốn” được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm – riết – say – thâu – cắn. Có thể nói, câu thơ “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” là không thể có đối với thi pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với người xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ “và” đến thế? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ “và” hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc ham hố, tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lồng ngực yêu đời của thi s ! 

    Câu thơ: 

    Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng 

    Cho no nê thanh sắc của thời tươi 

    cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ “cho” điệp lại với nhịp độ tăng tiến, nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thoả thuê: chếnh choáng – đã đầy – no nê. Sóng cứ càng lúc càng tràn dâng, cao hơn, vỗ mạnh hơn, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh: 

    – Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi ! 

    Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhuỵ đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong một cuộc tình chếnh choáng men say. 

    Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc, phải sống vội vàng. Thế là, Vội vàng chính là cách duy nhất để đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc và dường như cũng là cái giá trả cho hạnh phúc vậy! Xuân Diệu quả đã mang trong mình nguồn sống trẻ. Xuân Diệu là thi sĩ của nguồn sống trẻ. Ta hiểu vì sao, khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương

    Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương

    Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn mẫu Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-B%C3%ACnh-Gi%E1%BA%A3ng-B%C3%A0i-Th%C6%A1-T%E1%BB%B1-T%C3%ACnh-C%E1%BB%A7a-H%E1%BB%93-Xu%C3%A2n-H%C6%B0%C6%A1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Bình Giảng Bài Thơ Tự Tình Của Hồ Xuân Hương

    VĂN MẪU LỚP 11

    BÌNH GIẢNG BÀI THƠ TỰ TÌNH CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

     

    Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ tài ba với phong cách sáng tác thơ nôm tả cảnh ngụ tình

     

     

    sâu sắc cùng ý tứ chân thành nhằm giãi bày tâm sự lòng mình. Bà là một hiện tựơng khá

     

     

    độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam, đó là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng

     

     

    mà trữ tình. Nổi bật trong sáng tác của bà là tiếng nói thưong cảm đối với phụ nữ, là sự

     

     

    khẳng định đề cao vẻ đẹp và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt trong trái

     

     

    tim họ. Và một lần nữa ta bắt gặp điều đó qua những câu thơ rất đỗi chân thành trong bài

     

     

    thơ Tự tình 2 trong chùm thơ Tự tình được viết nên từ những cung bậc tình cảm dừơng

     

     

    như đang làm rối bời tâm trạng nhà thơ…

     

     

     

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

     

     

     

     

    Mảnh tình san sẻ tí con con Tình là gì ai biết không ? Tình là vầng dương, tình là ngàn

     

     

    sao hay tình chỉ là vầng trăng khuyết, câu hát vang lên bằng một câu hỏi tu từ hỏi đời

     

     

    rằng trên thế gian còn gì hạnh phúc bằng tình yêu hay có gì làm lòng người đau khổ bằng

     

     

    thất bại trong tình cảm, nỗi đau khổ đó không chỉ làm bão giông trong bao trái tim người

     

     

    đời và trong đó có trái tim hồ xuân hương, nỗi cô đơn đã dằn vặt làm thao thức tác giả

     

     

    trong cái yên ắng và lạnh lùng của đêm khuya.

     

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

    Trơ cái hồng nhan với nước non

     

     

     

    Trong cái tĩnh mịch u buồn của đêm giá lạnh thoáng nghe tiếng trống canh văng vẳng từ

     

     

    môt chòi canh xa vọng đến báo hiệu đã nữa đêm, tiếng trống mỗi lúc một dồn dập hơn xa

     

     

    đến gần càng lúc như nhanh hơn trôi theo từng khoảnh khắc của thời gian và rút ngắn

     

     

    tuổi đời của một ng phụ nữ “hồng nhan” nhưng “trơ” đi trước cuộc đời, trước cảnh vật

     

     

    tựa như gỗ đá đã bị mất hết cảm giác vì bao nỗi phiền muộn đợi chờ một thứ hạnh phúc

     

     

    mong manh, giọng thơ trĩu xuống tăng thêm nỗi chán chường và cái cô đơn đang bủa

     

     

    quanh tác giả. Cách sử dụng đão ngữ nhấn mạnh thêm sự trơ trọi bẽ bàng và tủi hổ.

     

     

     

     

     

    Trước cuộc đời, trước duyên phận hẩm hiu người phụ nữ ấy chua xót cho chính mình,

     

     

    thân phận lẻ loi mong manh giữa bao vùi dập của cái xã hội đầy bất công thị phi ngang

     

     

    trái. Thân phận hồng nhan bây giờ phải trải qua những đêm dài cay đắng cho tấm lòng

     

     

    thủy chung vì cuộc tình dang dở.Tiếng thở dài ngao ngán và ý nguyện muốn thoát khỏi

     

     

    nỗi sầu muộn dấy lên trong lòng nhưng cuối cùng cũng rơi vào bế tắc, dừong như nghịch

     

     

    cảnh khôg buông tha cho người phụ nữ ấy, mựợn rựou quên đi nhưng lại càng nhớ:

     

    Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

     

     

     

    Chén rượu cầm hững hờ trên tay mặc cho hương nồng của rựơu phả vào mặt xộc vào

     

     

    mũi, tác giả mong rượu có thể giải tỏa hộ nỗi lòng của mình, mong cơn say mau tìm đến

     

     

    để đưa ng đến một nơi yên bình dù trong thời gian ngắn ngủi cũng đỡ hơn khi phải một

     

     

    mình đối diện nỗi cô đơn đang giày xéo tâm can.Nhưng say rồi lại tỉnh cứ chập chờn

     

     

    chập chờn mơ hồ trong cái vòng lẩn quẩn.Thời gian thì cứ trôi tác giả lúc thì tỉnh để nhận

     

     

    ra cái éo le của cuộc đời lúc thì chìm vào cơn say quên đi bao tuyệt vọng, mong mỏi phút

     

     

    giây nào đếy có thể gạt dc tất cả qua một bên để sống với những khao khát của chính

     

     

    mình nhưng mong ứơc bé nhỏ ấy cũng bị cuốn phăng đi vô tình. Nỗi buồn tủi bắt đầu

     

     

    xâm chiếm, bao đêm dài thao thức đợi chờ nhưng vô vọng, chờ nhiều đợi nhiều mà hạnh

     

     

    phúc chẵng bao nhiêu trong khi cái xuân thì ngày càng rời xa tác giả.

     

     

     

     

     

    Vầng trăng xuất hiện để làm chứng nhân cho bao cuộc tình mà sao khi tác giả thấy trăng

     

     

    thì lại không dc tròn đầy mà là hình ảnh đối lập là khuyết, phải chăng cuộc tình này cũng

     

     

    thế chẳng bao giờ có một cái kết trọn vẹn. Đến bao giờ thì trăng mới tròn đến khi nào thì

     

     

    hạnh phúc mới trong tầm tay và bao lâu nữa thì nỗi cô đơn này thôi xuất hiện làm xót

     

    lòng. Tác giả khao khát và mong chờ, nỗi niềm đó nhân lên theo ngày tháng, nhưng càng

     

     

    hi vọng thì càng đau khổ, bi kịch có bao giờ được kết thúc cho những người phụ nữ quá

     

     

    lứa lỡ thì cùng tình duyên ngang trái trong cái XHPK ngày xưa. Nỗi buồn dâng đầy trong

     

     

    lòng rồi lan tỏa ra không gian khắp bốn bề, khẽ đưa mắt nhìn ra khoảng trống trước mặt

     

     

    những hình ảnh thiên nhiên đập vào mắt và như hòa vào tâm trạng nhuốm nỗi buồn phiền

     

     

    của tác giả.

     

     

     

    Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

    Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

     

     

     

     

     

    Câu thơ tả cảnh với cấu trúc tương phản hình ảnh những đám “rêu” bé nhỏ yếu ớt với sức

     

     

    mạnh “xiên ngang” cả lớp đất dày vưon lên với sức sống mãnh liệt hay “đá mấy hòn”

     

     

    nhưng lại có khả năng đâm toạc chân mây trứoc mắt. Thái độ phản ứng khá mạnh mẽ

     

     

    trứoc duyên tình lận đận thể hiện qua cả gịong thơ ngang ngạnh phản kháng và ấm ức.

     

     

    Thiên nhiên trong mắt nhà thơ tiềm ẩn một sức sống đang bị đè nén và đang vươn lên

     

     

    mãnh liệt. Ta thấy rõ được tác dụng của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình ở hai câu thơ này,

     

     

    dừơng như có một điểm giống nhau giữa tâm hồn thơ và những hình ảnh thiên nhiên

     

     

    ấy. Rêu và đá bé nhỏ là thế nhưng chúng giống nhau ở sức sống mạnh mẽ vô cùng và

     

    nhà thơ cũng vậy.

     

     

     

     

     

    Dù trong hoàn cảnh xót xa nhưng tâm hồn lúc nào cũng tràn đầy một niềm hy vọng, bi

     

     

    kịch dẫu đắng cay nhưng bằng cả nghị lực tác giả vẫn cố gắng gựơng mong chờ vựơt qua

     

     

    để đến bến bờ bình yên cho mình. Hai câu thơ hay ẩn dụ được khát vọng rất lớn không

     

     

    chỉ của riêng Hồ Xuân Hương mà là tiếng lòng chung của bao số phận hồng nhan hẩm

     

     

    hiu về một cuộc đời hạnh phúc hơn. Dâng tràn trong họ là tất cả hy vọng mong chờ bằng

     

     

    cả niềm tin dù bao nghịch cảnh. Nhưng đáng buồn thay vòng xoay cuộc đời một lần nữa

     

     

    làm người rơi vào bế tắc.

     

     

     

     

     

    Cuộc đời nhà thơ là những thắng ngày buồn tủi không chỉ một mà đến hai lần người đều

     

     

    là vợ lẽ và âu cũng vì vậy mà bao phẫn uất kết tụ đến hồi bộc phát khi thực tại vẫn là bao

     

     

    chua xót não nề. Khao khát được yêu thương được sống hạnh phúc như những người

     

     

    phụ nữ bình thường nhưng càng vô vọng, đêm đã khuya mà nhà thơ vẫn còn trằn trọc

     

     

    thao thức ưu tư, nỗi đau bị dồn tụ khi tác giả nhìn lại chính mình thì cũng là lúc nỗi cô

     

     

    đơn đâng đầy hơn bao giờ hết trong tâm trạng chán chừờng và mệt mỏi thậm chí là thất

     

     

    vọng với sự thực trước mắt

     

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

    Mảnh tình san sẻ tí con con

     

     

     

    Tiếng lòng than thở của nhà thơ vang lên qua từ “ngán” được rõ nét hơn.Mùa xuân có đi

     

     

    rồi cũng đến ngày sẽ quay về với thiên nhiên nhưng còn tình duyên thì mới bao giờ trở

     

     

    lại với con tim chung tình đang chịu nỗi đau.Tuổi xuân người phụ nữ trôi nhanh nhưng

     

     

    cũng không bằng cuộc tình dang dở, hạnh phúc ngắn ngủi để rồi bây giờ chỉ còn nhà thơ

     

     

    quạnh hiu trong nỗi cô đơn đang ngấm buốt tê lòng. Tình duyên lỡ làng tan vỡ như mảnh

     

     

    vụn chỉ dành nhà thơ được một chút nhưng lại phải “san sẻ” để còn trong nhà thơ là “tí

     

     

    con con”. Buộc lòng cam chịu cảnh ngộ đơn chiếc đang ngày đêm trải qua sự đợi chờ

     

     

    mỏi mòn. Nỗi đau như thế chưa đủ hay sao mà còn tình cảm nhận được chẳng những quá

     

     

    ít mà còn quá vô tình, quá hờ hững.

     

     

     

     

     

    Câu thơ tả thực nỗi chua chát ngấm từ trong lòng. Nỗi trống trải cô đơn làm tác giả chán

     

     

    nản nới những mong chờ mà đáp lại chỉ là sự lành lùng tàn nhẫn. Mổi từ như một giọt

     

     

    nước mắt rưng rưng chỉ chực trào ra theo những tủi hờn trách móc. Có mấy ai hiểu được

     

     

    những gì đang hành hạ tâm hồn mỏng manh của người, thấu chăng nơi đây đang có bóng

     

     

    hình chờ và đợi. Đau lắm nhưng cũng phải tự nén lòng và nuốt nghẹn đắng vào trong.

     

    Cuộc đời thì cứ đùa cợt trêu đùa với những người làm vợ lẽ, phải chịu bao phân biệt và

     

     

    bất công có ai thấu hiểu dùm.

     

    Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng

    Cầm lòng làm mướn mướn không công

     

     

    Cả bài thơ là muôn vàn sắc thái tình cảm của nhà thơ có buồn có hờn có giận có chua

     

     

    chát có lúc phản kháng dữ dội nhưng rồi chán chường vì thất vọng. Tiếng thơ táo bạo

     

     

    chân thành thễ hiện khát vọng mưu cầu hạnh phúc lứa đôi của bao hồng nhan trong xã

     

     

    hội phong kiến bấy giờ, qua đó đã dẫn dắt cho người đọc đi vào thế giới tâm hồn đa dạng

     

     

    của họ và có cơ hội cảm thông với bao nỗi buồn mà họ phải gánh chịu .Ngôn ngữ thơ

     

     

    mang đậm chất dân gian được sử dụng khéo léo giàu sức biểu cảm tinh tế. Tài thơ nôm

     

     

    của Hồ Xuân Hương còn thể hiện qua việc viết thơ đường luật bằng tiếng Việt thật tài

     

     

    tình, quả không hổ danh là bà chúa thơ nôm.





     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn mẫu Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó

    Văn mẫu Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó

    Văn mẫu Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/H%C3%A3y-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-m%C3%ACnh-g%E1%BA%B7p-g%E1%BB%A1-v%C3%A0-tr%C3%B2-truy%E1%BB%87n-v%E1%BB%9Bi-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh-l%C3%A1i-xe-trong-B%C3%A0i-th%C6%A1-v%E1%BB%81-ti%E1%BB%83u-d%E1%BB%99i-xe-kh%C3%B4ng-k%C3%ADnh-c%E1%BB%A7a-Ph%E1%BA%A1m-Ti%E1%BA%BFn-Du%E1%BA%ADt.-Vi%E1%BA%BFt-b%C3%A0i-v%C4%83n-v%E1%BB%81-cu%E1%BB%99c-g%E1%BA%B7p-g%E1%BB%A1-v%C3%A0-tr%C3%B2-chuy%E1%BB%87n-%C4%91%C3%B3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó

    Bài viết số 3 lớp 9 đề 2:

    Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong bài thơ về tiểu dội xe không kính của phạm tiến duật.viết bài văn vế cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó 

    Bài làm 1:
     

    Tôi vừa đưa chiếc xe đạp vào khoảng sân hẹp thì đã nghe vọng ra tiếng cười giòn giã của bố tôi và một vị khách. Đó chắc chắn là một vị khách quý bởi vì ít khi có sự ồn ã, sôi động như thế ở người cha hiền hậu nhưng lúc nào cũng lặng lẽ của tôi.

    Tôi bước vội vào nhà. Bố tôi cùng người khách hướng ánh nhìn rạng rỡ, trìu mến đón tôi:

    _ Con gái, đây là bác Trung Trực, bạn học hồi trung học với bố, lại cùng bố nhập ngũ. Bác là chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa đấy con ạ! 

    Bác Trực trạc tuổi bố tôi. Khuôn mặt bác cương nghị nhưng lại rất đôn hậu. Đôi mắt tuy đã hằn nhiều vết chân chim nhưng vẫn ánh lên những tia vui vẻ và trìu mến. Tôi có đang nằm mơ không nhỉ? Tôi vừa học xong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Những lời thơ, những lời cô giảng và hình ảnh người chiến sĩ lái xe dũng cảm, kiên cường cứ đọng mãi trong tâm trí tôi. Giờ đây, tôi đang được đứng trước một người chiến sĩ lái xe Trường Sơn đích thực. Thật là một may mắn không ngờ. Tôi cuống quýt:

    _ Bố ơi! Bác ơi! Con có thể được ngồi với bố và bác một lát để biết thêm về những ngày tháng chiến đấu năm xưa được không ạ? 

    Bác cười và đáp:

    _ Sao lại không? Đó là khoảng thời gian đẹp nhất của bố cháu và bác. 

    _ Thưa bác, bác chính là người chiến sĩ lái xe Trường Sơn, người lính mà cháu đã được học trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật, phải không bác? 

    _ Ồ, bài thơ ấy nổi tiếng lắm cháu à. Ngày đó, có lẽ lính lái xe Trường Sơn ít ai là không biết bài thơ ấy. Nó nói hộ phần nào khát vọng chiến đấu, những gian khổ, lòng dũng cảm và sự lạc quan của những người lính như bác. 

    _ Chính bác cũng đã từng lái những chiếc xe không kính ấy phải không ạ? 

    _ Không phải “đã từng” đâu cháu ạ. Mà là bác luôn lái những chiếc xe bị xước, bị va đập, bị bom đạn làm cho rơi vỡ, méo mó những bộ phận bên ngoài như thế. Chiến tranh mà! Để bác kể rõ hơn cho cháu hiểu nhé. Ngày đó, bác lái xe tải, cùng đồng đội chuyên chở lương thực, thuốc men, khí tài,… vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Có những chuyến đi kéo dài hàng tháng trời, gian khổ lắm cháu ạ. Nhất là những đoạn đường xuyên qua dãy Trường Sơn, giặc bắn phá rất dữ dội. Chúng muốn san phẳng tất cả, cắt đứt con đường huyết mạch nối liền Bắc Nam ấy. Tiểu đội xe của bác ban đầu được trang bị toàn xe mới để phục vụ mặt trận. Lúc đó, xe có kính như muôn vàn chiếc xe khác. Nhưng ngày nào xe cũng lao đi giữa bom gầm, đạn nổ khiến kính rạn vỡ, mất dần hết cả. Rồi cả mui xe cũng bị đạn pháo cày hất tung lên. Thùng xe va quẹt nhiều cũng chằng chịt vết xước. Chẳng còn chiếc xe nào còn nguyên vẹn cháu à. 

    Tôi vẫn còn tò mò, tiếp tục hỏi bố:

    _ Lái xe không kính, không mui, không đèn như thế chắc nguy hiểm lắm bác nhỉ? 

    Bác sôi nổi tiếp lời:

    _ Nguy hiểm lắm, cái sống cái chết lúc nào cũng trong gang tấc. Lái xe không kính thì mối nguy hiểm gần nhất là bụi đấy. Đường Trường Sơn mùa khô bụi cuốn mù trời sau làn xe chạy. Bụi cuốn vào mặt, vào quần áo. Bụi dày đặc đến mức mắt cay xè, không thể mở nổi. Lúc ấy, râu, tóc, quần áo và cả xe rực lên một màu đất đỏ Trường Sơn. Rồi cả mưa nữa chứ. Mưa Trường Sơn thường bất ngờ. Đang bụi bám đầy thì bỗng cả người nặng chịch vì ướt sũng nước mưa. Mưa xối xả quất vào người, vào mặt, vào mắt. Những làn nước cay xè, buốt rát khiến việc lái xe khó hơn gấp trăm ngàn lần. Thế nhưng, những người lính lái xe như bác không bao giờ dừng lại, luôn phải tranh thủ tránh giờ cao điểm cháu ạ. Cũng vì xe không kính nên mưa gió vứt vào cabin đủ thứ, nào là lá rừng, nào là cành cây gãy, … Bác đã bao lần bị cành cây cứa vào mặt, vào tay cầm vô lăng, đau rát vô cùng. Gian khổ là thế đấy cháu! Mỗi chuyến chở hàng về tới đích thật sự là một kỳ tích. Vậy mà ký tích vẫn luôn xuất hiện đấy! 

    Bác mỉm cười, khuôn mặt ánh lên vẻ rạng rỡ và tự hào. Lời bác kể như chất chứa bao nhiệt huyết, bao sôi nổi của một thời tuổi trẻ nơi chiến trường. Bác dường như đang được sống lại những phút giây lịch sử ấy. Không hiểu sao ngay lúc này, những lời thơ của Phạm Tiến Duật lại ùa về, ngân nga trong lòng tôi. Đó chính là một thực tế ở chiến trường ngày ấy. Thế mà, những người lính cụ Hồ vẫn tràn đầy lạc quan, yêu đời, và tin tưởng vào một ngày mai chiến thắng.

    Tôi chợt thấy bác Trực trầm ngâm, ánh mắt xa xôi như đang lạc trong dòng hồi tưởng. Còn bố tôi thì ngồi lặng lẽ, khuôn mặt đầy vẻ xúc động. Bác Trực chợt nói:

    _ Xe không kính thế mà lại hay cháu ạ. Gặp bạn cũ, gặp đồng đội, gặp đồng hương đều tay bắt mặt mừng qua ô kính vỡ. Giữa đại ngàn mênh mông, bác chợt thấy lòng mình ấm lại vì được chiến đấu bên cạnh những đồng chí yêu thương. 

    Giọng bác chợt rung lên, đầy xúc động:

    _ Cháu không thể hiểu tình đồng chí thiêng liêng, quý giá thế nào với người lính các bác đâu. Dừng xe, ghé vào một bếp Hoàng Cầm, chỉ cần thêm bát thêm đũa là thấy thân thuộc như anh em một nhà. Dù chốc lát nữa thôi, mỗi người sẽ đi mỗi hướng, có khi chẳng bao giờ gặp lại nhau giữa chiến trường ác liệt. Bác và ba cháu có thể trở về hạnh phúc bên gia đình, nhưng bao nhiêu đồng đội của bác đã ngã xuống. Có một đồng đội của bác đã hy sinh ngay sau vô lăng vì quyết tâm lái xe vượt qua làn đạn dù đang bị thương nặng. Ngày ấy, khẩu hiệu “Yêu xe như con, quý xăng như máu” luôn khắc ghi trong tim những người lính lái xe. Dù có hy sinh, các bác vẫn quyết tâm bảo vệ xe và hàng. 

    Bác chợt im lặng. Không khí cả căn phòng bỗng chốc trở nên thật trang nghiêm.

    _ Cháu gái của bác, hai câu cuối của bài thơ có phải là: 

    “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước 

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.” 

    Chiến tranh đã qua lâu rồi, nhưng cho đến tận hôm nay, bác và bố cháu không phút nào quên được mình đã từng là người lính. Bác rất tự hào vì mình đã là người lính lái xe Trường Sơn năm xưa, đã tham gia chiến đấu góp phần giành độc lập tự do cho quê hương đất nước. 

    Trong tôi bỗng trào dâng một cảm xúc thật kỳ lạ, vừa khâm phục, vừa tự hào. Ngày hôm nay tôi đã hiểu thêm rất nhiều điều. Trước đây, tôi chỉ biết đến cuộc sống êm đềm trong vòng tay ấm áp, chở che của gia đình, thầy cô trong một đất nước hòa bình. Đó là thành quả của bao thế hệ cha anh đã vất vả, hy sinh. Họ chính là bố tôi, bác tôi và những người tôi chưa từng gặp mặt. Tôi phải thật trân trọng cuộc sống hòa bình này và cố gắng trau dồi, hoàn thiện để góp phần xây dựng đất nước thêm tươi đẹp trong thời đại mới. Cảm ơn bác, người lính lái xe năm xưa của Trường Sơn oanh liệt, đã giúp cháu lớn thêm lên nhiều lắm!

     

    Bài làm 2:

    Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ, tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong “Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính” của Phạm Tiến Duật năm xưa.

    Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt, những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất. Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam. Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược… trên con đường TS này. Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa. Nghe anh kể, tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm. Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước, họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường. Họ nhìn thấy đất, nhìn thấy trời, thấy cả ánh sao đêm, cả nhưng cánh chim sa, họ nhìn thẳng về phía trước, phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng, của nhân dân được hạnh phúc, tự do.

    Người sĩ quan còn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó, bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già, bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha. Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm. Gian khổ ác liệt, bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nãn chí, sờn lòng. Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận, gặp mưa thì phải ướt áo thôi. Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa, vượt qua những chặng đường ác liệt, đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng, gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi.

    Khi được học “Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính” tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp, được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa, tôi mới hiếu rõ hơn về họ. Họ vẫn vui tươi, tinh nghịch. Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường, cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan, yêu đời. Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn, những người đồng đội của anh. Có những người còn, có những người đã hy sinh… Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó, cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát, đôi đũa dùng chung, quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS. Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa, kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.

    Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo cho những chuyến xe thông suốt. Đúng là con đường của họ đang đi, nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm. Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào, cả ngày lẫn đêm. Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn, rồi không có mui xe, thùng xe rách xước, những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước, phía trước ấy là miền Nam ruột thịt. Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe. Họ thật dũng cảm, hiên ngang, đầy lạc quan, có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc, vì nhân dân. Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta: chiến thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

    Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui. Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước, ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ, cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu, nắm vững khoa học, kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh, hiện đại

     

    Bài làm 3:

    Hôm ấy, nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12, trường tôitổ chức cho đi thăm quan Bảo tàng Lịch sử quân đội. Chúng tôi được chiêm ngưỡng biết bao hiện vật lịch sử: những khẩu súng trường, mảnh vỡ của bom đạn, cùng với chiếc mũ tai bèo, chiếc ba lô con cóc thân thương… Đang tham quan, tôi nhìn thấy một chiếc xe tải, không kính nằm thu mình ở một góc nhỏ.”Không có kính không phải vì xe không có kính…”, bất chợt những tứ thơ khẩu ngữ, khỏe khoắn từ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” ấy vang lên trong thâm tâm tôi. “Liệu đây có phải là cái xe ấy không?”, đang băn khoăn, tôi bỗng thấy một bác mặt áo bộ đội, đứng từ xa lặng lẽ quan sát xe. Từ từ bước đến bên, tôi lặp bắp hỏi: “Bác là người lái chiếc xe này đó ư?”. Bác quay sang tôi, mỉm cười: “Ừ, bác là lính Trường Sơn năm xưa cháu ạ”…

    Bác dẫn tôi tới quan sát chiếc xe gần hơn; lần đầu tiên, tôi được chiêm ngưỡng tận mắt một chiếc xe tải quân sự. Quả lả một chiếc xe “trần trụi”: không có kính, lại không có cả đèn, không có mui, thùng xe lại còn xước. Sinh ra và lớn lên tại thủ đô trong thời bình, từ bé tôi chỉ bắt gặp những chiếc ô tô lành lặn, nước sơn sạch bóng, nội thất khang trang; không ngờ một chiếc xe tróc sơn, hỏng hóc nặng nề như thế này vẫn có thể hiên ngang lướt đi và mang theo biết bao súng đạn, lương thực chi viện. Thật là một chuyển động kì diệu! Đang tròn mắt ngạc nhiên vì thán phục, bỗng bác chiến sĩ vỗ vai tôi, trầm giọng kể: “Chiến trường khốc liệt lắm cháu ạ! Hằng ngày máy bay Mĩ trút hàng ngàn tấn bom đạn cày xới, phá hoại Trường Sơn hòng cắt đứt chi viện của ta. Các trọng điểm lúc nào cũng mịt mù khói lửa, bom rơi.

    Ngày qua ngày, xe luôn phải chịu những chấn động, rung xóc dữdội.”. À đúng rồi, tại đế quốc Mĩ xâm lược, tàn phá mà chiếc xe mới trở nên tan hoang. Tôi rùng mình trước cuộc chiến thật vô cùng gian nan, khốc liệt…Khuôn mặt bác trầm ngâm, đôi mắt hướng về chiếc xe một cách xa xăm. Bỗng bác vụt giọng vui vẻ: “Nhưng mà xe không kính hóa ra cũng có cái hay. Ta ung dung ngồi trong buồng lái, thoải mái phóng tầm mắt ra xung quanh mà nhìn trời, ngắm đất, chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ mà hùng vĩ của rừng núi Trường Sơn. Không có kính mà, gió cứ đùa chơi trong cabin, xoa vào đắng mắt. Nhưng càng hòa mình vào thiên nhiên đất nước, bác lại càng thấy lòng mình sục sôi bầu nhiệt huyết và lạc quan; lúc đó con đường khúc khuỷu ngoặt ngoèo vẫn còn đầy những chông gai phía trước, dường như rộng mở và tươi sáng hơn. Nó như chạy thẳng vào con tim, khiến bác vừa hứng khởi hân hoan, lại vừa lao xao hồi hộp. Bác nhìn thấy cả những cánh chim bay về tổ ban chiều; khi đó tâm trí lại bồi hồi, xao xuyến nhớ về cha mẹ, quê hương. Màn đêm buông xuống, tuy không có đèn pha phía trước, nhưng trên bầu trời vẫn có những vì sao rọi sáng, soi đường dẫn lối cho xe bác qua. Hướng mắt tới những ngôi sao xa xôi, bác nao lòng nghĩ đến miền Nam ruột thịt đang mong đợi. Ôi, cháu ơi, mọi thứ xung quanh cứ như sa, như ùa vào buồng lái”. Tôi háo hức nghe bác kể chuyện. Những người chiến sĩ lái xe quả thật kiêncường, dũng cảm.

    Dù cho có ở trong chiến tranh khốc liệt, họ vẫn tràn đầy khí thếung dung, lạc quan, thư thái thả mình vào vẻ đẹp huyền diệu của núi rừng, để chotâm hồn dạt dào, trào dâng bao lãng mạn…Chợt nhớ ra những ý thơ “Không có…ừthì…”, tôi hỏi: “Thế không có kính, bác đối chọi với thiên nhiên thời tiết ra sao?”. Bác liền cười: “Cứ mặc kệ nó thôi, cháu ạ. Không có kính, ừ thì bụi thật đấy. Bụi bẩn bắn từ đường lên sạm hết cả mặt, đến mái tóc đen cũng trở nên trắng xóa như cụ già. Nhưng cứ để nguyên; phì phèo châm điếu thuốc, thấy mặt cứ ngồ ngộ, là lạ, bác bỗng bật cười. Khuôn mặt lấm cát bụi hóa ra lại vui! Thế rồi cả những khi mưa to, đường rừng trở nên trơn trượt, lầy lội khiến bác dán mắt vào từng đoạn đường, lái xe cẩn thận hơn; nhưng cùng lúc đó, mưa tuôn mưa xối qua chiếc cửa kính vỡ kia làm bác ướt hết cả áo quần, mặt mũi. Trên đỉnh Trường Sơn này, có lúc mưa lâm râm, nhưng nhiều khi lại trút xuống ào ào, thối đất thối cát.

    Ô hay, mặt bác đã được rửa sạch trơn, nhưng áo quần lại ướt như chuột lột. Nhưng còn tâm trí đâu mà để ý đến những cái đó nữa. Mắt còn mải mê với những cung đường ghập ghềnh khúc khuỷu, con tim đập rộn ràng thúc giục vì miền Nam, bác tự nhiên quên đi gian khổ. Mà lái trăm cây số nữa, kiểu gì mưa chả phải ngừng; nắng lên, gió lùa vào buồng lái, áo khô mau thôi!”. Nụ cười rạng rỡ của bác làm cho tôi khâm phục.

    Nụ cười ấy đã hiên ngang trong phong ba bão táp; kiên cường, dũng cảm bất chấp thời tiết khắc nghiệt, những cung đường thử thách gian lao. Vì lí tưởng sống cao đẹp, vì tiếng gọi của Tổ quốc thiêng liêng, các bác sẵn sàng chiến đấu, quên đi tất cả. Thế rồi tôi lại hỏi:”Lái xe giữa rừng một mình thế này, bác có cảm thấy cô đơn không?”. Bác lại bật cười: “Làm sao mà cô đơn được hả cháu? Bên bác còn có trời đất, núi rừng Trường Sơn nữa cơ mà. Với lại có phải một mình bác lái xe đâu, trên tuyến đường này vẫn còn biết bao nhiêu chiếc xe khác ngày đêm chuyên chở vũ khí, lương thực.

    Anh em đồng chí gặp nhau suốt dọc đường đi tới, trao cho nhau cái bắt tay. Chỉ một cái bắt tay chớp nhoáng qua ô cửa kính vỡ kia thôi, vậy mà khiến bác ấm áp cả con người, như được tiếp thêm niềm tin và sức mạnh. Xe lại tiếp tục chạy, bầu trời càng tươi xanh. Và rồi khi nghỉ giữa chặng xe, bác còn được quây quần bên bạn bè, đồng đội. Bên bếp Hoàng Cầm, cùng chung bát đũa, mọi người thân tình, cởi mở, sẻ chia những vui buồn cho nhau.

    Nhiều khi tất cả cùng ca hát, mìm cười rồi vỗ tay, truyền cho nhau nhiệt tình cách mạng và yêu thương, xua tan đi khó nhọc. Tình đồng chí, đồng đội thật đẹp quá, cháu ạ!”. Đúng là đẹp thật! Quả đúng là “Chỉ cần trong xe có một trái tim”! Những người chiến sĩ cùng chung niềm tin, lí tưởng, sát cánh bên nhau. Họ truyền sức mạnh và hơi ấm cho nhau, để cùng nhau chiến đấu vì miền Nam ruột thịt. Hình ảnh người lính lái xe thật sinh động.

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

    VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

    VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%C4%82N-M%E1%BA%AAU-%E2%80%9CPH%C3%82N-T%C3%8DCH-NH%C3%82N-V%E1%BA%ACT-NG%C6%AF%E1%BB%9CI-%C4%90%C3%80N-B%C3%80-H%C3%80NG-CH%C3%80I-TRONG-T%C3%81C-PH%E1%BA%A8M-CHI%E1%BA%BEC-THUY%E1%BB%80N-NGO%C3%80I-XA-C%E1%BB%A6A-NGUY%E1%BB%84N-MINH-CH%C3%82U%E2%80%9D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    VĂN MẪU LỚP 12: CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA – NGUYỄN MINH CHÂU

     

    7 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

     

    BÀI MẪU SỐ 1:

     

    Chiếc thuyền ngoài xa đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài, một người phụ nữ lao động lam lũ, bất hạnh, trải đời và sáng đẹp tình yêu thương, đức hi sinh và lòng vị tha cao cả. Người phụ nữ bất hạnh ấy đã để lại cho người đọc một niềm cảm thông và trân trọng sâu sắc bởi những phẩm chất đáng quá của bà.

     

     

    Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn. Truyện ngắn này lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn in năm 1987.

     

    Tác giả đã xây dựng thành công nhân vật Phùng bên cạnh nhân vật người đàn bà hàng chài để làm nổi bật lên phẩm chất đáng quý của người đàn bà ấy. Tất cả mọi việc xảy ra trong cuộc đời, số phận, tính cách, cảnh ngộ của chị gây xúc động, trăn trở mạnh mẽ không chỉ với tác giả mà còn với người đọc.

     

    Đọc hết câu truyện người đọc cũng không biết tên thật của người đàn bà ấy là ai, tác giả đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Khi người đàn bà này xuất hiện ở tòa án huyện để gặp chánh án Đẩu, ta vẫn không

     

    biết tên. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu không đặt tên cho người đàn bà hàng chài này, cũng không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: chị là người vô danh, là hình ảnh tiêu biểu cho cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ như bao người phụ nữ khác không hiếm gặp trên những miền quê Việt Nam. Điều đó chỉ ra một thực tế rằng, không phải chi mình người đàn bà đó gặp bất hạnh mà có rất nhiều phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ chịu những bất hạnh như thị.

     

    Tác giả đã dùng những ngôn từ rất đắt giá để miêu tả về người đàn bà hàng chài có thân hình xấu xí tàn tạ ”trạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Vì cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.

     

    Người đàn bà bất hạnh ấy không chỉ phải chịu thiệt thời về ngoại hình mà tạo hóa mang lại

     

    mà dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại

     

    phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu tổn thương, đau xót cho

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 1

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ… Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ: có mang với một anh hàng chài đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,… Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ thường xuyên cứ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Cứ khi nào lão chồng thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh một con thú với lời lẽ cay độc “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Quả thực, người đàn bà hàng chài có cả một cuộc đời cơ cực, nhọc nhằn, khốn khổ. Chị là nạn nhân của sự nghèo đói, thất học và lạc hậu. Số phận, cuộc đời chị dần dần hiện ra rõ nét khi chị đến toà án huyện. Số phận đầy bi kịch ấy được tác giả tái hiện đầy cảm thông và chia sẻ.

     

     

    Là một người phụ nữ yếu đuối phải chịu bao đắng cay tủi phận của cuộc đời nhưng chị lại có một phẩm chất đáng quý. Trước hết là sự nhẫn nhục, chịu đựng vì hoàn cảnh. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình. Chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy cũng như không hề có ý định rời bỏ gia đình ấy, rời bỏ người chồng vũ phu của mình. Chị hiểu cơ cực của cuộc sống mưu sinh đầy cam go trên biển không có người đàn ông: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Đó là sự cam chịu, nhẫn nhục đáng cảm thông, chia sẻ. Cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được.

     

    Mặc dù phải chịu khổ cực, nhưng người phụ nữ ấy quyết cam chịu tất cả, làm tất cả vì những đứa con thân yêu của mình. Thị nhận thấy rằng, các con là cuộc sống, lẽ sống, là tất cả những gì có trên cuộc đời này của mụ. Khi tòa án đưa ra giải pháp li dị, chị đã từ chối. Có nghĩa là chị từ chối trút bỏ tấm bi kịch nhục nhã của đời mình. Với người đàn bà này thà bị đi tù, bị đánh đập còn hơn phải bỏ chồng: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Lí do bà đưa ra thật đơn giản nhưng cũng thật xót xa: cần có chồng để cùng nuôi mười đứa con. Thì ra sự sinh tồn của những đứa con là nguyên nhân để người đàn bà ấy sống kiếp cam chịu. Tình yêu thương của người mẹ dành cho đàn con chính là sức mạnh để người đàn bà ấy nhẫn nhục: “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Người đàn bà đã chủ động nhận về mình mọi đau đớn để đảm bảo sự sinh tồn cho con cái bởi gia đình đông con sống dựa vào nghề sông nước đầy bất trắc. Thậm chí khi bị đánh bà còn chủ động xin chồng thay đổi địa điểm đánh: “Sau này, con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”. Bà muốn hứng trọn nỗi đau cho riêng mình, không để các con bị tổn thương. Tình yêu thương như một bản năng mãnh liệt ngàn đời được bộc lộ một cách cảm động và sâu sắc nhất ở người phụ nữ này. Tình mẫu tử vút lên, trên cái nền của cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa.

     

     

    Sau tất cả những nỗi đau mà người chồng đã gây ra cho bà, bà vẫn có một tấm lòng bao dung, độ lượng đối với chồng. Nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu nhìn người chồng là kẻ vũ

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 2

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    phu, thô bạo, đáng lên án. Nhưng qua cái nhìn của người vợ, lão từng là: “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Bị chồng đánh đập thô bạo nhưng bà cũng không oán trách vì bà hiểu nỗi khổ của chồng, hiểu cái khổ đã làm người hiền lành trở thành ác độc. Chính cuộc vật lộn mưu sinh đã biến lão trở thành kẻ vũ phu, thô bạo. Người ta làm điều ác nhiều khi không phải vì người ta xấu mà là vì khổ sở. Bà còn hiểu rằng chồng mình vừa là nạn nhân khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho người thân của mình cũng chỉ vì nghèo đói, ít học. Thậm chí bà còn sẵn sàng nhận lỗi về mình, coi mình là nguyên nhân khiến cuộc sống của chồng trở nên khốn khổ. Đây quả là người phụ nữ có cái nhìn sâu sắc, đa chiều, bao dung, độ lượng với chồng

     

     

    Phải nói rằng, nhà văn đã có cái nhìn đầy thương cảm và trân trọng đối với người phụ nữ ấy nên mới khắc họa lên được một người đàn bà hàng chài tuy thất học nhưng không tăm tối, ngược lại rất thấu trải lẽ đời, rất sắc sảo. Đó là phẩm chất phi thường không phải ai cũng có được. Bà hiểu thiện chí của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng khi khuyên bà bỏ người chồng vũ phu, tàn bạo. Song bà càng hiểu hơn cuộc sống trên sông nước. Bà chắt ra từ cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ một chân lý mộc mạc nhưng thấm vị mặn của đời thường: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba”. Cuộc sống thực tế cần có một người đàn ông để làm chỗ dựa, dù đó là người chồng vũ phu tàn bạo. Bà cũng hiểu và tự hào với thiên chức của người phụ nữ: “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”. Chính vẻ đẹp mẫu tính, đầy hi sinh cao thượng ấy đã tôn vinh người đàn bà với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch.

     

     

    Cuộc sống của người đàn bà ấy có đau khổ thì nhiều mà hạnh phúc thì quá hiếm hoi. Vì vậy bà rất nâng niu những giây phút vợ chồng con cái sống bên nhau vui vẻ, hoà thuận. Vì cái hạnh phúc hiếm hoi, ít ỏi đó phải trả giá bằng những hành hạ, bạo tàn. Niềm vui lớn nhất là của chị là “lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Với những kiếp đàn bà nhọc nhằn đó nói đến niềm vui thật xa xỉ, nhưng sự tận tụy hi sinh cho chồng con chính là niềm vui lớn nhất đối với người phụ nữ. Đó chính là sức mạnh nội tâm nâng đỡ người đàn bà: “lần đầu tiên trên gương mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười”. Đó là triết lí sâu sắc về cuộc sống và con người: Quan niệm hạnh phúc của con người nhiều khi thật đơn giản, khát vọng hạnh phúc thật nhỏ bé mà vẫn nằm ngoài tầm tay.

     

    Tác giả đã dùng biện pháp đồi lập giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại hình và tâm hồn, của người phụ nữa ấy để làm nổi bật lên những phẩm chất cao thượng đáng được ngợi ca. Qua cuộc đời của người đàn bà hàng chài, tác giả cũng đặt ra những vấn đề nhức nhối của cuộc sống: nạn bạo hành trong gia đình, sự nghèo đói, thất học, sự tha hóa về nhân cách… những ngang trái, nghịch lý của cuộc sống.

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 3

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    Người đàn bà hàng chài chính là hiện thân của người phụ nữ Việt Nam, họ chịu đựng hi sinh gian khổ, hết lòng vì chồng con, vì gia đình. Họ có tấm lòng bao dung độ lượng sâu sắc. Đó là những phầm chất đáng quý, đáng tự hào. Hiện nay xã hội đã công bằng bình đẳng hơn, nhưng vẫn còn không ít phụ nữ phải chịu bất hạnh trong cuộc đời, xã hội cần có biện pháp mạnh hơn để răn đe những hành động chà đạp người phụ nữ, để học xứng đáng được hưởng cuộc sống hạnh phúc.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 4

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    BÀI MẪU SỐ 2:

     

    Chiếc thuyền ngoài xa sáng tác năm 1983 là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu. Nội dung kể về chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh với những sự việc mà anh bất ngờ được chứng kiến. Thông qua đó thể hiện cách nhìn của tác giả về hiện thực cuộc sống, một cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương cùng sự băn khoăn về thân phận con người.

     

    Truyện có ba nhân vật chính: chánh án Đẩu, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng và người đàn bà hàng chài, trong đó nhân vật người đàn bà để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí người đọc. Cuộc đời và số phận của chị giống như bao cuộc đời và số phận của những người phụ nữ hàng chài khác : đông con, nghèo khổ… Là nạn nhân của bạo lực gia đình nhưng chị rất mực thương chồng, thương con, nhẫn nhục cam chịu đòn roi của chồng vì không muốn gia đình tan vỡ. Người đàn bà ấy có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm. Nhà văn đã khắc họa chân dung nhân vật này bằng thủ pháp nghệ thuật tương phản để làm nổi bật sự khác biệt giữa hình thức bên ngoài và phẩm chất bên trong, giữa tính cách và thân phận, vẻ đẹp đáng trân trọng ở người đàn bà hàng chài là đức tính vị tha, hi sinh đến quên mình của một người vợ, người mẹ lam lũ, vất vả, chồng chất trên vai gánh nặng mưu sinh. Phẩm chất ấy hiện lên qua từng chi tiết đầy kịch tính của truyện.

     

     

    Tác giả chỉ gọi nhân vật của mình là người đàn bà một cách phiếm định chứ không có tên tuổi cụ thể với chủ ý nói đến những người đàn bà vô danh ở những vùng biển khác nhau nhưng cùng chung số phận đau thương. Bao nhiêu giọt nước mắt tủi hờn của họ tuôn rơi mà người đời không mấy khi để ý tới.

     

    Tác giả giới thiệu vài nét về hình dáng bên ngoài của nhân vật này: Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ… tấm lưng ảo bạc phếch và rách rưởi, nửa thân dưới ướt sũng…

     

    Nhưng bên trong cái hình thức xấu xí ấy lại là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ lượng, giàu đức hi sinh. Người đàn bà hàng chài rất hiểu chồng và thương chồng, cái gã đàn ông cục tính hễ mở miệng ra là đòi giết vợ, giết con, là nguyền rủa: Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ! Theo lời chị ta kể thì chồng chị hồi còn trẻ là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm và không biết Uống rượu. Anh ta không chịu đi lính để lấy tiền nuôi vợ con mà cam chịu cuộc sống vất vả của dân chài. Sau giải phóng, cuộc sống khó khăn, thiếu thốn kéo dài là nguyên nhân biến tính nết cục cằn của anh ta thành hung bạo. Anh ta giải tỏa sự bức bối, căng thẳng bằng cách thường xuyên đánh vợ. Khi lũ con còn nhỏ, anh ta đánh vợ ngay tại thuyền. Đến lúc chúng đã lớn, người vợ xin chồng cho lên bờ để chịu đòn. Theo suy nghĩ của chị thì trong hoàn cảnh đông con, túng quẫn, những người đàn ông hàng chài nếu không đánh vợ cho hả giận thì cũng uống rượu để giải sầu.

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 5

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    Sức chịu dựng và sự hi sinh thầm lặng của người đàn bà hàng chài làm cho người đọc phải ngỡ ngàng. Vừa ở dưới thuyền lên đến bên chiếc xe rà phá mìn bị hỏng nằm trên bờ cát, chị ta đã bị anh chồng rút chiếc thắt lưng tía quất tới tấp vào người. Chị không hề né tránh mà cắn răng cam chịu, không kêu rên, không chống trả và cũng không chạy trốn. Chị chấp nhận những trận đòn hằng ngày như một phần cuộc đời mình ; chẳng khác gì người đánh cá phải đương đầu với sóng to, gió lớn khi biển động.

     

    Người đàn bà ấy chấp nhận đau khổ, coi đó là lẽ đương nhiên, bởi một lí do quan trọng là trên chiếc thuyền lưới vó đánh cá ngoài khơi xa, cần phải có một người đàn ông khỏe mạnh và giỏi nghề để giúp vợ nuôi đàn con đông đúc. Chị nghĩ rất đúng rằng mình sống cho con chứ không phải cho bản thân và tự an ủi là nếu những người vợ khác chấp nhận các ông chồng nghiện rượu thì mình cũng chấp nhận để cho chồng đánh đập thường xuyên. Chị chỉ xin chồng hãy đánh ở trên bờ, đừng để các con nhìn thấy. Tất cả suy nghĩ, hành động của chị đều vì chồng, vì con, đó là điểu đáng thương mà cũng đáng quý biết chừng nào !

     

    Hình như người đàn bà hàng chài chẳng bao giờ để lộ ra bên ngoài nỗi đau khổ của mình. Sự nhẫn nhục cam chịu hầu như chi phối toàn bộ suy nghĩ và hành động của chị. Thấp thoáng ở người đàn bà ấy là bóng dáng những người vợ, người mẹ đảm đang, nhân hậu, bao dung và hi sinh đến quên mình.

     

    Người đàn bà ấy cũng rất tự trọng. Sau khi biết hành động vũ phu của chồng mình đã bị đứa con trai và người khách lạ (nghệ sĩ Phùng) chứng kiến, chị thấy đau đớn, vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã. Chắc chắn đây không chì là sự đau đớn về thể xác. Giọt nước mắt đau khổ của người đàn bà đã ứa ra. Đó là giọt nước mắt của nhọc nhằn và chịu đựng. Chị không muốn bất cứ ai chứng kiến và thương xót cho tình cảnh trớ trêu của mình, kể cả thằng Phác, đứa con trai mà chị quý nhất. Thân thể bị chà đạp, nhân phẩm bị xúc phạm nhưng người đàn bà ấy không hề để ý, không hề bận tâm. Đúng là sự nhẫn nhục của một người có nhân cách, có lòng tự trọng và thấu hiểu lẽ đời.

     

    Bên trong vẻ cam chịu, nhẫn nhục ấy là tính cách can đảm, cứng cỏi và khát vọng hạnh phúc dù nhỏ nhoi nhưng thật cảm động, ở tòa án huyện, chính người đàn bà ấy đã đem đến cho Phùng và Đẩu những suy nghĩ, xúc cảm mới. Được mời lên tòa án để giải quyết chuyện gia đình, lúc đầu chị ta lúng túng, rụt rè tìm một góc tường để ngồi. Chị thấy sợ hãi Khi đến một không gian lạ và cảm thấy mình thật nhỏ bé giữa chốn công đường. Cái thế ngồi của chị như cố thu mình lại để tự vệ, cho dù đã được Đẩu, Phùng chia sẻ và cảm thông.

     

    Nguyễn Minh Châu đã thể hiện thành công sự thay đổi bất ngờ trong thái độ và ngôn ngữ của người đàn bà hàng chài khi bày tỏ tâm sự về gia cảnh vả quyết tâm giữ gìn hạnh phúc bé nhỏ của đời mình. Lúc đầu, chị thưa gửi rất lễ phép, xưng là con và có lúc đã năn nỉ van xin chánh án Đẩu : Con lạy quý tòa… Nhưng khi đã lấy lại được sự tự tin, tâm thế người đàn bà đó đột ngột thay đổi. Chị ta chuyển sang cách xưng hô thân mật và có phần suồng sã : Chị

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 6

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    cám ơn các chủ ! Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc… Sự thay đổi bất ngờ ấy khiến Đẩu và Phùng hết sức ngạc nhiên.

     

    Chị ta đã nói cho Đẩu và Phùng biết nỗi vất vả và nguy hiểm khôn lường của người đàn bà trên một chiếc thuyền đánh cá không có đàn ông, nhất là những khi biển động. Giọng nói của người đàn bà tha thiết như giãi bày, mong nhận được sự chia sẻ của người nghe: Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hằng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn, cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho chính mình như ở trên đất được ! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!

     

     

    Giọng người đàn bà bớt sầu não phần nào khi nói về hạnh phúc được hi sinh của người vợ, người mẹ. Bên ngoài, chị ta là một kẻ quê mùa, thất học; nhưng bên trong lại là người từng trải và thấu hiểu sâu sắc lẽ đời. Qua lời kể của chị, Đẩu và Phùng hiểu thêm phần nào về cuộc sống cực nhọc và bất trắc của nghề chài lưới ngoài khơi xa cùng với những niềm vui, nỗi buồn của một gia đình hàng chài vất vả nuôi một đận con trong một chiếc thuyền hẹp. Bên cạnh đó là đời sống tinh thần nghèo nàn của những người sống lênh đênh trên biển, không biết giãi bày tâm sự với ai. Người đàn bà hàng chài gọi Đẩu và Phùng là các chú cách mạng. Cách gọi như thế có cái gì đó vừa thân thương nhưng cũng vừa xạ lạ, bởi các chủ có hiểu gì về cuộc sống đời thường với những chuyện phức tạp như thế này đâu?! Hình ảnh người đàn bà vùng biển đã ám ảnh Phùng, cũng chính là cuộc sống đời thường đang ám ảnh tâm trí các nghệ sĩ trên hành trình phản ánh hiện thực và sáng tạo nghệ thuật.

     

    Người đàn bà hàng chài trân trọng tình mẫu tử và nâng niu những niềm vui, hạnh phúc nhỏ nhoi chắt lọc từ trong cuộc sống thiếu thốn, đau khổ triền miên. Nét mặt chị tươi hẳn lên khi kể rằng trong gia đình mình đôi khi vẫn có niềm vui. Ấy là khi vợ chồng con cái sống hòa thuận, vui vẻ… và vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con chúng nó được ăn no. Vì thương đàn con nheo nhóc mà người đàn bà hàng chài cắn răng chấp nhận những trận đòn tàn bạo của chồng. Vì thương chồng mà chị cảm thông và tha thứ cho tính vũ phu. Ở đây, tình thương và lẽ đời đã chiến thắng. Người lao động lam lũ, nghèo khổ không có uy quyền gì nhưng cái tâm của một người đàn bà thương con sâu sắc cũng là một thứ uy quyền có sức lay động rất lớn. Nó làm cho những trí thức như chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng chợt tỉnh ngộ ra nhiều điều trong cuộc sống đời thường.

     

    Tính cách người đàn bà hàng chài trong truyện được tác giả khắc họa thông qua các mối quan hệ gia đình và xã hội: Với chồng thì cam chịu, nhẫn nhục nhưng không phải mù quáng mà là sự cảm thông và thương xót. Với con thì tận tâm, bao bọc, che chở, cố tránh cho con

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 7

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    khỏi bị tổn thương, luôn mang nặng mặc cảm có lỗi với con. Với cán bộ tòa án, lúc đầu chị tỏ ra sợ sệt, e ngại, sau đó tự tin hơn và thành thật bộc bạch suy nghĩ của mình. Đây là tính cách của một người đàn bà lao động chất phác, lam lũ, giàu lòng thương con, thương chồng và sống bằng kinh nghiệm thực tiễn. Người đàn bà hàng chài là hiện thân của vẻ đẹp khiêm nhường và thế giới tâm hồn phức tạp, bí ẩn của con người.

     

    Nói đến bạo lực trong gia đình người đàn bà hàng chài, tác giả đã khơi dậy trong lòng người đọc nỗi xót thương pha lẫn lo âu trước tình trạng phụ nữ và trẻ em bị ngược đãi, về nguy cơ trẻ em sẽ sớm nhiễm thói vũ phu, thô bạo do bị tổn thương tâm hồn, đánh mất niềm tin vào cuộc sống. Nhà văn không chỉ lên án bạo lực, phê phán sự ngu muội, không chỉ bày tỏ tình thương yêu với những con người nhỏ bé, bất hạnh, mà còn cảnh báo một nguy cơ đáng sợ: Nếu không giải phóng con người ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo, tăm tối thì không thể đẩy lùi được cái ác. Đó là chiều sâu tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.

     

     

    Hình tượng người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đã thể hiện tấm lòng trĩu nặng tình thương, nỗi lo âu cho số phận con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đồng thời cho thấy, tác giả đã có cái nhìn không hể đơn giản về cuộc sống.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 8

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    BÀI MẪU SỐ 3:

     

    Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu, với phong cách sáng tác giàu tính biểu tượng trong nền văn học nước nhà. Những tác phẩm của ông luôn khiến người đọc phải trằn trọc, suy nghĩ rất nhiều. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một câu chuyện giàu sức gợi như thế. Hình ảnh người đàn bà làng chài là hình ảnh để lại trong lòng người nhiều ám ảnh, trăn trở về cuộc sống của con người trong thời kì đổi mới.

     

    Chiếc thuyền ngoài xa kể về chuyến đi sáng tác của nhiếp ảnh Phùng khi đến với vùng đất biển này. Và từ chuyến đi này, anh đã nhận ra rất nhiều chiều của cuộc sống, nhiều góc khuất mà con người vẫn bỏ lỡ. Hình ảnh người đàn bà là hình ảnh khiếp anh vừa khó hiểu, vừa băn khoăn, vừa đau xót. Có thể nói người làng chài là hình ảnh biểu tượng cho cuộc sống khó khăn, chịu nhiều thiệt thòi của người phụ nữ.

     

     

    Người đàn bà hiện lên trong câu chuyện của nhiếp ảnh Phùng là một người đầy nhọc nhằn, lam lũ. Nguyễn Minh Châu với những nét vẽ tinh tế đã phác họa nên một hình ảnh giàu sức gợi “người đàn bà chạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của đàn và vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, dường như đang buồn ngủ”. Một người phụ nữ gây ấn tượng cho người đọc ngay từ những dòng đầu tiên, đầy nhọc nhằn, đầy khổ sở và đầy thương cảm. Người đàn bà ấy tiếp tục ám ảnh người đọc bằng chi tiết “tấm áo bạc phếch có miếng vá, bửa thân dưới ướt sũng”, đã phần nào gợi lên sự chua xót, khốn cùng. Giữa cảnh biển mênh mông lại xuất hiện một con người khiến người khác phải trằn trọc như thế này.

     

    Người đàn bà ấy còn đầy vẻ cam chịu và nhẫn nhục khi người chồng hằn học và mắng nhiếc. Đôi mắt của chị như xuyên sâu vào lòng người đọc, nó ám ảnh cho đến khi gấp trang sách lại. Ánh mắt của chị đầy thương xót, đầy ai oán và cũng đầy tình yêu thương dành cho những đứa con cho mình.

     

    Dọc theo hình trình đi tìm cái đẹp của nhiếp ảnh Phùng, người đàn bà đã trở thành tâm điểm cho vẻ đẹp ấy. Một vẻ đẹp đầy sự khó khăn, nhọc nhằn và đau khổ. Hành động bạo lực của người chồng khiến chị cứ câm lặng, không ai oán một lời.

     

    Và sự cam chịu ấy được lặp lại khi chị được gọi đến hầu tòa. Mặc dù “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người phụ nữ ấy vẫn “không hé răng một lời”. Hình dáng “mụ ngồi ghé vào mép ghế và cố thu người lại” càng khiến cho Phùng, cho Đẩu, và cho người đọc một nỗi ám ảnh khó bỏ. Tuy nhiên chỉ một lát, “người đàn bà lại lúng túng và sợ sệt”. Có lẽ cuộc sống của chị quá nặng nề, quá thê lương trong những năm qua.

     

     

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 9

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    Tình tiết người đàn bà vái lạy để con trai không làm điều dại dột với bố, cũng như vái lạy quan tòa càng toát lên vẻ cam chịu, sự nhẫn nại, giàu đức hi sinh “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Khi đi đến tận cùng của nỗi đau, khi có một con đường giải thoát thì người đàn bà ấy vẫn lặng lẽ và cam tâm chịu đựng đau khổ? Là vì điều gì? Chẳng phải vì đức hi sinh của người mẹ đó sao?

     

    Lời tâm tình của người đàn bà về cuộc sống, về người chồng, về những đứa con khiến người khác vừa thưỡng xót vừa khâm phục. Một người đàn bà yêu chồng, thương chồng mặc dù bị chồng ngược đãi. Người đàn bà yêu con, thương con vô điều kiện, không đòi hỏi bất cứ điều gì.

     

     

    Khi chị kể đến chi tiết “vui nhất là lúc được ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó đã ăn no” thì có lẽ người đọc ứa nước mắt. Những đứa con là sức mạnh để chị có thể tồn tại, có thể sống sót và kiên cường đến bây giờ. Một người mẹ lặng lẽ hi sinh cuộc đời mình vì những đứa con, một người mẹ đã nhẫn nhục tất cả chỉ vì miếng cơm manh áo cho con. Một người mẹ nghèo, cố chấp nhưng yêu thương con vô bờ bến. Cuộc đời của chị nhiều đau thương và nước mắt nhưng lại có biết bao nhiêu phẩm chất cao đẹp, đáng trân trọng.

     

    Không phải ngẫu nhiên tác giả chỉ gọi nhân vật là “người đàn bà”, có lẽ không phải chỉ một người đàn bà duy nhất, mà có thể chúng ta còn bắt gặp rất nhiều người đàn bà có chung cảnh ngộ ở bất cứ bãi biển xinh đẹp nào. Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một bức chân dung khiến cho người đọc phải suy ngẫm, phải trăn trở về cuộc sống của rất nhiều người xung quanh chúng ta. Và cái hình ảnh mà nhiếp ảnh Phùng chụp được cũng như những gì anh nghĩ về người đàn bà này là triết lí, một triết lí cho cái nhìn nhận đa chiều về cuộc sống này. Tấm lưng bạc phếch, ướt sũng của người đàn bà này có lẽ còn ảm ánh rất nhiều người nữa.

     

    Người đàn bà đó chính là nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, cũng như tác giả đã dùng cái tâm để vẽ lên hình ảnh đó.

     

    Hình ảnh người đàn bà làng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” đã gửi gắm nhiều thông điệp đến người đọc về cuộc sống, phẩm chất tốt đẹp của những người phụ nữ.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 10

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    BÀI MẪU SỐ 4:

     

    Mở bài

     

    Nguyễn Minh Châu là một hiện tượng văn học vừa độc đáo, vừa lớn lao của nền văn học Việt Nam hiện đại vào cuối thế kỷ 20. Ông bước vào nghề văn hơi muộn nhưng sự nghiệp đổi mới trong văn học đã chọn ông để trao cho ông “Ấn Tiên Phong” lãnh chức Đại Tướng quân của Tập đoàn quân Chữ! Nhà văn Nguyên Ngọc đã rất đúng khi cho rằng Nguyễn Minh Châu là “người mở đường tinh anh và tài năng đã đi được xa nhất” ở chặng đầu đổi mới của văn học nước nhà. Trong cơn trở dạ nhiều đau đớn ấy, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cả bản lĩnh và tài năng của mình cho một khát vọng khẩn thiết và mãnh liệt: văn chương cần phải khác. Nơi đó cái đẹp phải là cái “thật”, con người phải được nhìn nhận ở “bề sâu, bề sau, bề xa” của nó. Hàng loạt tác phẩm được viết dưới ý tưởng đó. Trong đó, “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những sáng tác điển hình của ông được viết sau năm 1980. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài, một người phụ nữ lao động lam lũ, bất hạnh, trải đời và sáng đẹp tình yêu thương, đức hi sinh và lòng vị tha cao cả. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Phùng, một nghệ sĩ khao khát khám phá, sáng tạo ra cái đẹp, người luôn lo lắng, trăn trở, suy tư về nhân cách và đời sống con người. Điều đó được thể hiện qua tình huống truyện độc đáo.

     

     

    Thân bài

     

    HCST: Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn. Truyện ngắn này lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn in năm 1987.

     

    GTC: Trong tác phẩm, nhân vật người đàn bà hàng chài chính là tâm điểm trong câu chuyện của Phùng. Nhân vật này chủ yếu xuất hiện trong phát hiện thứ hai của Phùng về chiếc thuyền chài lưới và xuất hiện trong chính câu chuyện cuộc đời chị kể ở toà án huyện. Qua đó, cuộc đời, số phận, tính cách, cảnh ngộ của chị gây xúc động, trăn trở mạnh mẽ không chỉ với tác giả mà còn với người đọc.

     

    Tên gọi: Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, NMC đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Khi người đàn bà này xuất hiện ở tòa án

    huyện để gặp chánh án Đẩu, ta vẫn không biết tên. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu không đặt tên cho người đàn bà hàng chài này, cũng không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì chị cũng giống như

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 11

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: chị là người vô danh, là hình ảnh tiêu biểu cho cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ như bao người phụ nữ khác không hiếm gặp trên những miền quê Việt Nam.

     

    Ngoại hình:Về ngoại hình, người đàn bà hàng chài có thân hình xấu xí tàn tạ ”trạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Vì cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.

     

    Số phận Bất hạnh: Ngoại hình thì vậy, số phận cũng không khá hơn. Dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ… Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ: có mang với một anh hàng chài đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,… Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ thường xuyên cứ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Cứ khi nào lão chồng thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh một con thú với lời lẽ cay độc “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Quả thực, người đàn bà hàng chài có cả một cuộc đời cơ cực, nhọc nhằn, khốn khổ. Chị là nạn nhân của sự nghèo đói, thất hậu và lạc hậu. Số phận, cuộc đời chị dần dần hiện ra rõ nét khi chị đến toà án huyện. Số phận đầy bi kịch ấy được tác giả tái hiện đầy cảm thông và chia sẻ.

     

    Phẩm chất, tính cách: Song ẩn bên trong người đàn bà hình dáng bên ngoài xấu xí, thô kệch, chịu bao cay đắng, nhọc nhằn ở cuộc đời là những phẩm chất cao đẹp. Trước hết là sự nhẫn nhục, chịu đựng vì hoàn cảnh. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình. Chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy cũng như không hề có ý định rời bỏ gia đình ấy, rời bỏ người chồng vũ phu của mình. Chị hiểu cơ cực của của cuộc sống mưu sinh đầy cam go trên biển không có người đàn ông: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Đó là sự cam chịu, nhẫn nhục đáng cảm thông, chia sẻ. Cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được.

     

    Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị. Với người đàn bà này, các con là cuộc sống, lẽ sống. Khi tòa án đưa ra giải pháp li dị, chị đã từ chối. Có nghĩa là chị từ chối trút bỏ tấm bi kịch nhục nhã của đời mình. Với người đàn bà này thà bị đi tù, bị đánh đập còn hơn phải bỏ chồng: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Lí do bà đưa ra thật đơn giản nhưng cũng thật xót xa: cần có chồng để cùng nuôi mười đứa con. Thì ra sự sinh tồn của những đứa con là nguyên nhân để người đàn bà ấy sống kiếp cam chịu. Tình yêu thương của người mẹ dành cho đàn con chính là sức mạnh để người đàn bà ấy nhẫn nhục: “Đàn bà ở thuyền chúng tôi

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 12

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Người đàn bà đã chủ động nhận về mình mọi đau đớn để đảm bảo sự sinh tồn cho con cái bởi gia đình đông con sống dựa vào nghề sông nước đầy bất trắc. Thậm chí khi bị đánh bà còn chủ động xin chồng thay đổi địa điểm đánh: “Sau này, con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”. Bà muốn hứng trọn nỗi đau cho riêng mình, không để các con bị tổn thương. Tình yêu thương như một bản năng mãnh liệt ngàn đời được bộc lộ một cách cảm động và sâu sắc nhất ở người phụ nữ này. Tình mẫu tử vút lên, trên cái nền của cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa.

     

    Không những thế, đây còn là người phụ nữ vị tha thánh thiện. Không chỉ yêu thương, hi sinh đến quên mình vì đàn con, ở người phụ nữ này còn có một tấm lòng bao dung, độ lượng đối với chồng. Nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu nhìn người chồng là kẻ vũ phu, thô bạo, đáng lên án. Nhưng qua cái nhìn của người vợ, lão từng là: “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Bị chồng đánh đập thô bạo nhưng bà cũng không oán trách vì bà hiểu nỗi khổ của chồng, hiểu cái khổ đã làm người hiền lành trở thành ác độc. Chính cuộc vật lộn mưu sinh đã biến lão trở thành kẻ vũ phu, thô bạo. Người ta làm điều ác nhiều khi không phải vì người ta xấu mà là vì khổ sở. Bà còn hiểu rằng chồng mình vừa là nạn nhân khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho người thân của mình cũng chỉ vì nghèo đói, ít học. Thậm chí bà còn sẵn sàng nhận lỗi về mình, coi mình là nguyên nhân khiến cuộc sống của chồng trở nên khốn khổ. Đây quả là người phụ nữ có cái nhìn sâu sắc, đa chiều, bao dung, độ lượng với chồng

     

    Người đàn bà hàng chài tuy thất học nhưng không tăm tối, ngược lại rất thấu trải lẽ đời, rất sắc sảo. Bà hiểu thiện chí của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng khi khuyên bà bỏ người chồng vũ phu, tàn bạo. Song bà càng hiểu hơn cuộc sống trên sông nước. Bà chắt ra từ cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ một chân lý mộc mạc nhưng thấm vị mặn của đời thường: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba”. Cuộc sống thực tế cần có một người đàn ông để làm chỗ dựa, dù đó là người chồng vũ phu tàn bạo. Bà cũng hiểu và tự hào với thiên chức của người phụ nữ: “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”. Chính vẻ đẹp mẫu tính, đầy hi sinh cao thượng ấy đã tôn vinh người đàn bà với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch.

     

     

    Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, đời thường. Đó những giây phút vợ chồng con cái sống bên nhau vui vẻ, hoà thuận. Vì cái hạnh phúc hiếm hoi, ít ỏi đó phải trả giá bằng những hành hạ, bạo tàn. Niềm vui lớn nhất là của chị là “lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Với những kiếp đàn bà nhọc nhằn đó nói đến niềm vui thật xa xỉ, nhưng sự tận tụy hi sinh cho chồng con chính là niềm vui lớn nhất đối với người phụ nữ. Đó chính là sức mạnh nội tâm nâng đỡ người đàn bà: “lần đầu tiên trên gương mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười”. Đó là triết lí

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 13

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    sâu sắc về cuộc sống và con người: Quan niệm hạnh phúc của con người nhiều khi thật đơn giản, khát vọng hạnh phúc thật nhỏ bé mà vẫn nằm ngoài tầm tay.

     

    Đánh giá chung:Trên trang viết của Nguyễn Minh Châu, người đàn bà hàng chài là hiện thân của tình yêu thương, đức hi sinh, sự nhẫn nhục của người phụ nữ. Qua người đàn bà hàng chài, ta thấy thấp thoáng bóng dáng của những người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh

     

    “Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng

     

    Biết hi sinh nên chẳng nhiều lời” [Tố Hữu]

     

     

    Bằng biện pháp đồi lập giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại hình và tâm hồn, đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, đầy mâu thuẫn của con người, qua nhân vật người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về con người. Ông đã khai thác số phận cá nhân và thân phận con người đời thường, để phát hiện những nét đẹp trong những con người tầm thường, lam lũ. Cả đời, ông đã tâm niệm sáng tác văn học là đi tìm “hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người”.

     

    Kết bài

     

    Bằng tài năng của một cây bút giàu bản lĩnh, qua cuộc đời của người đàn bà hàng chài, tác giả cũng đặt ra những vấn đề nhức nhối của cuộc sống: nạn bạo hành trong gia đình, sự nghèo đói, thất học, sự tha hóa về nhân cách… những ngang trái, nghịch lý của cuộc sống. Chính số phận của người đàn bà hàng chài như một hồi chuông lay tỉnh chúng ta hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Từ câu chuyện của người đàn bà, ta càng thấy rõ: không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống, không thể có cái nhìn một chiều, phiến diện với con người và cuộc sống. Đây cũng là nét mới trong văn xuôi sau năm 1975 mà NMC chính là vị “khai quốc công thần của triều đại văn học mới”.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 14

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    BÀI MẪU SỐ 5:

     

    Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xacủa nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất chongười đọc là người đàn bà làng chài – người phụ nữ vô danh với tấm lòngbao dung, vị tha, đức hi sinh cao thượng mà khiến khi gấp trang sáchlại ta không thể nào quên.

     

    Đểtạo nên hình tượng người đàn bà ấy nhà văn đã tạo ra tình huống truyệnđộc đáo và từ tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hé lộ số phận:

     

    Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một ngườilính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùngđược dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theolời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranhcảnh biển có một không hai(dẫn chứng) . Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹpnhư trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu,thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫnnhục chịu đựng (dẫn chứng). Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờsửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ.

     

    Xuyênsuốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến têngọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, NMC đã gọi một cách phiếm định: khithì gọi là người đàn bà

     

    hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ

     

    không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì Chịcũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: CHỊ LÀNGƯỜI VÔ DANH. Dường như cuộc sống chẳng có gì đáng nói nhưng trong chịlại chứa đựng nhiều điều kì diệu khiến người khác phải suy nghĩ.

     

    • Ngoại hình: trạc ngoài 40, hình dáng thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và gợi ấn tượng người đàn bà xấu xí, mệt mỏi dường như đang buồn ngủ.

     

    Và cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.

     

    – Số phận: Bất hạnh

     

    Dườngnhư mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ,lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồngvũ phu, tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ…

     

    + Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ

     

    +Có mang với một anh hàng chài, đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợchồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 15

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    + Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,…

     

    +Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngàymột trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, nhưlà để trút giận, như đánh 1 con thú, với lời lẽ cay độc” Mày chết đicho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Khi bị đánh chị khônghề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn mà coi đólà một lẽ đương nhiên. Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con.

     

    Số phận đầy bi kịch được tác giả tái hiện đầy cảm thông và chia sẻ.

     

    – Phẩm chất, tính cách:

     

    • Nhẫn nhục, chịu đựng:chị coi việc mình bị đánh đó như 1 phần đã rất quen thuộc của cuộc đờimình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Khi được đề nghịgiúp đỡ thì : “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng đượcnhưng đừng bắt con bỏ nó”.

    Chị hiểu cơ cực của của cuộc sống mưu sinh trên biển không có người đàn ông.

     

    • Yêu thương con tha thiết(” phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”)

     

    Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờbến của chị. Sự cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa, đểchèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy các con ” Đàn bà trênthuyền chúng tôi phải sống cho con, ko thể sống cho mình như trên đấtđược”.

     

    Tình thương vô bờ đối với những đứa con Phân tích ty của chịvới thằng Phác, chị gửi nó lên

     

    rừng, chị đau xót khi thấy nó vì thươngmẹ mà hận bố,….

     

    => Tình mẫu tử vút lên, trên cái nền của 1 cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa + Người đàn bà vị tha

     

    Trongkhổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnhphúc nhỏ nhoi ( “…nhìn con được ăn no, có khi vợ chồng, con cái sốngvui vẻ, hoà thuận”)

     

    +Người đàn bà thất học nhưng lại rất sắc sảo, thấu hiểu lẽ đời

     

    • thức được thiên chức của người phụ nữ (“Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn”)

     

    Vì hoàn cảnh: trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề.

     

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 16

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    Đólà sự cam chịu, nhẫn nhục đáng cảm thông, chia sẻ. Bởi nếu hiểu sự việcmột cách đơn giản chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưngnhìn vấn đề một cách thấu suốt thì suy nghĩ và cách xử sự của người đànbà là không thể khác được.

     

    Đắng sau sự nhẫn nhục ấy làbản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương mê muội, đángthương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thươngcon vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việcthấu hiểu các lẽ đời.

     

    Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.

     

    Qua câu chuyện của người đàn bà, ta càng thấy rõ: Không thể dễ dãi,đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống,không thể có cái nhìn một chiều, phiến diện với con người và cuộc sống.Đây cũng ;à nét mới trong văn xuôi sau năm 1975 mà NMC chính là vị”khai quốc công thần của triều đại văn học mới”.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 17

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    BÀI MẪU SỐ 6:

     

    Nguyễn Minh Châu là nhà văn tài năng và ông đã có nhiều tác phẩm hay .không những thế ông còn đi sâu vào cuộc sống để tìm ra những vẻ đẹp và cái cốt lõi của cuộc sống. Qua đó tác giả muốn nhắn nhủ mọi người muốn nhìn cuộc sống phải nhìn nhận và đánh giá trong mọi mối quan hệ phức tạp, đa chiều. Và cái đẹp, cái mà mỗi chúng ta đều mong muốn hướng tới để hoàn thiện nhân cách của chính mình đôi khi tiềm ẩn trong cái vẻ xù xì, gai góc mà không phải ai và lúc nào cũng có thể nhận ra được. Đó chính là vấn đề có ý nghĩa cơ bản được toát lên từ Chiếc thuyền ngoài xa – một tác phẩm tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong thời kì đổi mới.

     

     

    Tình huống truyện là một trong những nút thắt của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa và tình huống đó được khai thác từ những tình huống mang ý nghĩa nghịch lí: một cảnh biển vào buổi sáng như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ nhưng ẩn trong đó lại là hình ảnh một gia đình thuyền chài đầy bi kịch; một người phụ nữ xấu xí, thô kệch bị chồng đánh đập, hắt hủi nhưng vẫn quyết gắn bó cả cuộc đời với kẻ vũ phu mà không một chút phàn nàn.

     

    Câu chuyện không nhiều nhân vật: Phùng là người say mê cái đẹp đang trogn chuyến công tác chụp bức ảnh về thuyền chài để làm ảnh bìa. Phùng đã từng là chiến sĩ; một vị quan tòa cũng đã từng vào sinh ra tử đối với cái chết; một người chồng vũ phu, độc ác, một cậu bé yêu thương mẹ bằng một thứ tình yêu rất ngây thơ, trong sáng những cũng không ít đắng cay – thằng Phác… bằng những nét vẽ khác nhau, mỗi nhân vật được hiện lên bằng những nét bút vẽ chân dung và tính cách khác nhau nhưng mỗi người là một số phận đang trôi trên dòng đời còn bao nỗi lo toan, nhọc nhằn.và có lẽ trong số đó, nhân vật người đàn bà có lẽ là nhân vật để lại nhiều dư vị xót xa, cay đắng, cảm phục trong lòng người đọc.

     

    Người đàn bà trong câu chuyện không có lấy một cái tên và tác giả chỉ gọi nhân vật là người đàn bà một cách phiếm định. Có lẽ đây cũng là một dụng ý nghệ thuật của nhà văn.. Cách gọi tên nhân vật như thế vừa cụ thể nhưng lại vừa khái quát, vừa phiếm định nhưng lại vừa xác định. Người đàn bà là người trạc ngoài 40 tuổi, cao lớn với những đường nét thô kệch mặt rỗ, “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái người và dường như đang buồn ngủ”. Những chi tiết miêu tả ngoại hình đầy ấn tượng ấy đả dựng lên trước mắt người đọc một người đàn bà với một cuộc đời đầy nhọc nhằn, lam lũ luôn phải đối diện với hiểm nguy, cuộc sống luôn phải đặt trong vòng vây của sự đói khát, bấp bênh.

     

    Cách miêu tả ngoại hình kết hợp với chi tiết: đưa tay lên có ý định gài hay sừa lại tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân”, và tiếng quát của người đàn ông: “Cứ ngồi nguyên đấy, động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”, như dự báo cho người đọc về một tính cách, một số phận đầy bất hạnh.

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 18

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    Giữa những cảnh thơ mộng của bức tranh đẹp đẽ của thiên nhiên khi người đàn ông xuất hiện và dùng thắt lưng da quật tới tấp vào người đàn bà nhưng bà thầm lặng chịu đau đớn “với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy”. Mà cảnh đánh đập này “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” Ấy thế mà khi được Đẩu – vị chánh án huyện, khuyên nên bỏ người chồng vũ phu ấy, người đàn bà ấy “chắp tay vái lia lịa”, cầu xin “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Và lí do mà người đàn bà đưa ra cũng thật bất ngờ: “Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có một người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng đi làm ăn nuôi nấng một sáp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa”.

     

    Nguyễn Minh Châu đã có dụng ý tạo nên ấn tượng cho người đọc về hình ảnh. Vì thương con, người đàn bà ấy đã phải chấp nhận tất cả: sự đánh đập, sự đói khát, sự nhục nhã… Và cũng xuất phát từ tình thương con, người đàn bà ấy cho rằng: “Phải sống cho con chứ không phải sống cho mình”. Đây chính là triết lí ấy giản dị mà sâu sắc, được đúc kết, được rút ra từ chính cuộc đời nhọc nhằn, bất hạnh của một người mẹ. Vượt lên trên tất cả là hình ảnh của một người mẹ giàu lòng vị tha biết suy nghĩ và biết lo cho cuộc sống gia đình.

     

    Những lời giải bày của người đàn bà có phần ấp úng nhưng sâu xa ấy ở tòa án huyện chính là câu chuyện về sự thật cuộc đời mà những người như Phùng, như Đẩu, chỉ giây phút ấy mới thực sự hiểu được nguyên do của những điều tưởng như vô li. Người đàn bà ấy đã giải quyết bi kịch đời mình một cách thật ngắn gọn, sâu sắc. Cho dù trong đau khổ triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được niềm vui cuộc sống: Vui nhất là khi nhìn thấy đàn con chúng tôi được ăn no”. “Ông trời sinh ra đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn”. Những lời chia sẻ từ đáy lòng này đã khiến cho Phùng nhận ra một chân lí : không thể giản đơn, dễ dãi trong việc nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng của đời sống. Đừng nhìn mọi thứ và đánh giá từ cái nhìn bề ngoài bởi cuộc sống luôn chứa đựng những nghịch lí những bất công và mất mát.Anh đã phát hiện ra bên trong người đàn bà thô kệch ấy là một trái tim.nhân hậu, một vẻ đẹp tâm hồn mà không phải ai cũng có thể nhận ra được. Vẻ đẹp ấy đối lập hoàn toàn với bức tranh cảnh biển vào buổi sáng, nhưng đó cũng là vẻ đẹp, mà không phải ai và lúc nào cũng khám phá cho hết được.

     

    Đọc “Chiếc thuyền ngoài ca” của Nguyễn Minh Châu, chúng ta lại càng thấm thía những bài học mà câu chuyện để lại về tình người về cuộc sống về triết lí nhân sinh sâu sắc. Và nhân vật người đàn bà tuy là vô danh nhưng lại trở nên có tên mỗi khi người ta nhắc tới.

    Quả thật tài năng của tác giả đã khiến cho câu chuyện và nhân vật càng sắc nét và đậm đà.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 19

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    BÀI MẪU SỐ 7:

     

    “Thời gian qua kẽ tay

     

    Làm khô những chiếc lá

     

    Riêng những câu thơ còn xanh

     

    Riêng những khúc hát còn xanh.”

     

    (Văn Cao)

     

    Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo. Những tác phẩm nghệ thuật đạt đến chuẩn mực của cái hay, cái đẹp sẽ “vượt qua mọi sự băng hoại của thời gian và chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Cũng như dù thời gian có trôi thì giá trị của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu vẫn vẹn nguyên và tỏa sáng. Đến với tác phẩm hẳn là độc giả không thể không ấn tượng về hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài. Đây chính là hình tượng tiêu biểu cho quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả.

     

    Mỗi nhà văn chân chính đều có một thế giới riêng. Thế giới ấy được sáng tạo nên do nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhà văn, và phản ánh nên cái thực tế của thời đại. Nguyễn Minh Châu là một nhà văn như thế. Ông được mệnh danh là vị khai quốc công thần của triều đại văn học mới – “Người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc). Ông quan niệm rằng “thiên chức của nhà văn là suốt đời đi tìm hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con người giữa hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt”. Nếu như trước năm 1975, ông thiên về cảm hứng anh hùng, tái hiện một bức tranh sinh động về hiện thực đời sống tinh thần của con người thời chống Mỹ, thì sau 1975, Nguyễn Minh Châu hướng về đời thường với những khám phá về hiện thực đời sống đạo đức và tình cảm con người. Hình ảnh người đàn bà hàng chài với những vẻ đẹp khuất lấp của những “hạt ngọc” tâm hồn ẩn khuất đằng sau những bộn bề bụi bẩn đời thường chính là hình tượng tiêu biểu và sâu đậm nhất.

     

    Hình ảnh người đàn bà ấy xuất hiện trong một nghịch cảnh éo le, độc đáo. Trong cảnh đẹp như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào” ấy lại là một sự thật éo le, ngang trái. Giữa lúc anh chàng nghệ sĩ Phùng thăng hoa biết bao cảm xúc trước cái đẹp hiếm có thì cái hiện thực như đập vào mắt Phùng. Đó là một sự thật trần trụi về một gia đình hàng chai với người đàn bà cam chịu, một lão chồng cay nghiệt cùng đàn con trên chiếc thuyền lênh đênh giữa đại dương sóng gió.

     

    Người đàn bà hàng chai hiện ra với những nét rất thực như bao người đàn bà vùng biển bằng xương, bằng thịt, bằng bao nghiệt ngã cay đắng và bao dung, yêu thương. Người đàn

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 20

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    bà ấy không tên nhưng đây chính là nhân vật trung tâm, tiêu biểu cho dụng ý nghệ thuật của nhà văn.

     

    Người đàn bà hàng chài của Nguyễn Minh Châu mang trên mình biết bao sự bất hạnh. Đó là hình ảnh một người đàn bà xấu xí, lam lũ, vẻ ngoài “thô kệch, trạc ngoài bốn mươi, cao lớn…”. Dáng vẻ của người phụ nữ ấy đã nói hết cái quãng đời cơ cực, bất hạnh của mình. Người đàn bà áy xuất hiện với “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Không chỉ thế, người đàn bà đáng thương này lại được nhìn qua góc độ của một người chồng, với cái nhìn cay nghiệt, trút giận vào cái “tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng”. Đây chẳng khác gì một con người quen với nỗi cơ cực, cam chịu, sự nhọc nhằn lam lũ in hằn trên thân hình người đàn bà kia.

     

     

    Người đàn bà hàng chài mang trong mình một nỗi bất hạnh. Ngay từ thời con gái, “mụ” đã không nhan sắc, không may mắn trong tình yêu, không ai cưới hỏi nhưng vẫn khát khao hạnh phúc dù cho thân phận hẩm hiu: “có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá” rồi tiếp theo đó là những tháng ngày lang thang trên biển. Người đàn bà ấy phải sống những tháng ngày bấp bênh, cơ cực trên chiếc thuyền chài, đói nghèo đeo đẳng, bị hành hạ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, và còn cả chuyện “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh”. Lời bộc bạch của người đàn bà bất hạnh ấy ẩn chứa một nỗi day dứt, xót xa.

     

    Thế nhưng, đằng sau vẻ ngoài thô kệch ấy lại ẩn chứa vẻ đẹp lấp lánh của một người phụ nữ với những phẩm chất tốt đẹp, đáng khâm phục và ngợi ca.

     

    Trước hết, ta nhận thấy ở người đàn bà hàng chài một tấm lòng vị tha cao cả. Đối với chồng, dù bị chồng nhẫn tâm đánh đập, hành hạ,… thế nhưng người phụ nữ này không trách móc mà lại rất cảm thông, thấu hiểu, sẵn sàng chấp nhận nghịch cảnh éo le ấy. Đối với con cái, xin chồng lên bờ mà đánh để con không nhìn thấy: “Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…”. Lời nói trong ngập ngừng, đứt quãng… Nỗi đau như đang dâng tràn trong tim. Người đàn bà đáng thương ấy không ngừng ra sức bảo vệ gia đình bé nhỏ của mình. “Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!”. Câu nói “Qúy tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Người đàn bà ấy tự nhận phần sai, thua thiệt về phía mình: “Cũng tại đàn bà ở thuyền chúng tôi đẻ nhiều quá”. Người đàn bà ấy không ngừng bênh vực cho chồng trước mặt Phùng và Đẩu: “trước kia là một anh con trai hiền lành nhưng cục tính”, do cuộc sống vất vả quá nên lão chồng chỉ còn cách đánh vợ để giải tỏa những bức bí của cuộc đời. Phải là một người rất yêu thương, giàu lòng vị tha mới có thể hy sinh cao cả như thế.

     

    Không chỉ vậy, người đàn bà ấy là một người phụ nữ rất mực thương con. Ngoài việc hy sinh vì con, xin chồng đừng đánh trước mặt con, người đàn bà hàng chài còn vì con mà cam chịu bao đau thương nhục nhã. Khi phát hiện ra con mình – thằng Phác nhìn thấy cảnh ba

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 21

     

     

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

     

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

     

     

     

    đánh mẹ, người đàn bà hàng chài đau đớn, nhục nhã. Con đánh cha để bảo vệ mẹ… Người đàn bà ấy mếu máo: “Phác, con ơi!” rồi lại “ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”. Hành động ấy là biểu hiện của một nỗi bất an trong đau đớn đến tột cùng, bấn loạn, đầy yêu thương. Sự vái lạy ấy như một sự nhận lỗi về mình, van xin. Phải là một người có tấm lòng yêu thương con sâu sắc mới có thể cam chịu và hy sinh cao cả như thế.

     

    Ẩn đằng sau lớp vỏ bọc tưởng chừng vô cảm, thất học kia lại là một người đàn bà ít học nhưng lại thấu hiểu lẽ đời. Người đàn bà hàng chài xuất hiện ở toàn án với những diễn biến thật ấn tượng. Từ hình ảnh một người dân nghèo, lam lũ sợ sệt lung túng “tìm một góc tường để ngồi” bỗng chốc thay đổi hẳn. Nếu lúc đầu người đàn bà xưng “con”, gọc là “ông, quý tòa” thì đến khi đối thoại với Đẩu, “mụ” lại xưng là “chị”, gọi là “mấy chú, các chú”. Để bảo vệ chồng, bảo vệ gia đình, người phụ nữ ấy trở nên khéo léo, thấu suốt, từ chối bỏ chồng bằng những lí lẽ hết sức thuyết phục. Chị biết rõ “nỗi vất vả, cơ cực trên một chiếc thuyền không có đàn ông”. Chị biết dựa vào quá khứ tốt đẹp của chồng để thuyết phục. Hơn thế, người đàn bà ấy còn biết chắt chiu hạnh phúc nhỏ nhoi, đời thường. “Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười- vả lại, ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Và người phụ nữ ấy thật cao cả: “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng được ăn no”. Một người đàn bà ít học nhưng lại thấu suốt lẽ đời, giàu đức hy sinh… Thật đáng ngợi ca và khâm phục.

     

    Hình ảnh người đàn bà hàng chài hiện lên thật chân thực và cảm động thông qua ngòi bút nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Minh Châu. Cái nhìn đa diện của nhà văn, phát hiện ra đằng sau vẻ bề ngoài xấu xí, thô kệch, lấm láp là chất ngọc long lanh trong tâm hồn, được khắc họa từ chân dung một con người nhân hậu, bao dung, rất mực yêu thương con, giàu lòng vị tha, đức hy sinh, sống giàu tình nghĩa.

     

    Nhân vật người đàn bà hàng chài với vẻ đẹp “khuất lấp” được khắc họa một cách ấn tượng, chân thật và vô cùng cảm động. Người đàn bà hàng chài là một nhân vật đầy cảm hứng của nhà văn. Đây là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ được đặt trên hoàn cảnh khắc nghiệt khiến cho con gnừoi phải mạnh mẽ vượt qua hoàn cảnh để sống đẹp, xứng đáng với danh hiệu con người.

     

    “Không thể nhìn con người một cách đơn giản, nhà văn phải phấn đấu để đào xới bản chất con người, khám phá “hạt ngọc” long lanh đằng sau cái lấm láp bụi bẩn đời thường” (Nguyễn Minh Châu). Hình ảnh người đàn bà hàng chài là một thành công nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Minh Châu. Nhân vật này đã góp thêm vào kho tàng văn học Việt Nam một chân dung người phụ nữ với vẻ đẹp giàu nữ tính.

     

     

     

     

     

     

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 22

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tuyển tập các bài Văn nghị luận xã hội lớp 12 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%C3%A0i-suy-ng%E1%BA%ABm-v%E1%BB%81-H%C6%B0ng-%C4%90%E1%BA%A1o-V%C6%B0%C6%A1ng-Tr%E1%BA%A7n-Qu%E1%BB%91c-Tu%E1%BA%A5n-v%C3%A0-m%E1%BB%91i-th%C3%B9-d%C3%B2ng-t%E1%BB%99c-theo-c%C3%A1ch-di%E1%BB%85n-gi%E1%BA%A3i-c%E1%BB%A7a-T%E1%BA%A1-Ch%C3%AD-%C4%90%E1%BA%A1i-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    BÀI LÀM

    • Trong số những tác giả viết sách sử hiện nay mà tôi từng đọc, người để lại ấn tượng mạnh nhất là bác Tạ Chí Đại Trường.

     

    • Lịch sử trong sách của bác không bị ảnh hưởng, ràng buộc, che đậy,…bởi bất cứ thứ

     

    gì thuộc về hiện tại. Bằng sự khách quan hết mức có thể kèm theo tư duy nhạy bén và logic, bác Tạ Chí đã bóc tách tất tần tật những thứ dây dưa chủ quan, những vinh quang thần thánh, những mưu đồ chính trị,…mà người ta thường thấy ở những nhân vật kiệt xuất, những sự kiện chấn động,…đưa tất cả về lại điểm số 0 thực tại, nơi con người vẫn là con người, sự kiện chỉ là sự kiện, nơi quá khứ chính là quá khứ chứ không phải thứ quá khứ khoác lên mình lớp áo của hiện tại.

     

    • Do đó, lịch sử qua cách nhìn của bác Tạ Chí Đại Trường, trong cảm nhận của tôi, là thứ lịch sử thật nhất, đời nhất, người nhất, sát với bản chất của nó nhất, và hiển nhiên, cũng dung dị và dễ chấp nhận nhất. Nhưng điều đó chỉ sẽ xảy ra với bạn trong trường hợp bạn muốn tiếp cận lịch sử bằng con đường chân chất và thuần khiết, xem nó như một bộ

     

    môn khoa học, hay nói cách khác, không bị ảnh hưởng bởi những thứ yêu ghét ở đời, không bị ràng buộc bởi định kiến hay ý đồ chính trị, hoàn toàn tự do suy luận bằng đầu óc của chính mình. Bởi vì, lịch sử qua cái nhìn của bác Tạ Chí là một lịch sử vô cùng trong sáng (trong sáng ở đây phải hiểu là sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể với những thứ mà bản chất không có liên quan), là nơi gặp gỡ những lời giải thích rằng tại sao quá khứ đã xảy ra như vậy, chứ không phải để nghe những lời phê phán khen chê sáo rỗng hoặc có mục đích (không trong sáng) về quá khứ.

     

    • Hôm nay, để “đổi gió” nhân lúc Sài Gòn chuyển mình từ hạ sang thu, tôi cũng muốn thử một lần bóc trần hết mọi vinh quang để đưa con người về với điểm số 0 của thời đại

     

    họ. Nhân vật của bài cảm nhận lần này là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

     

    • Hãy tạm gác hết những chiến công đi vào huyền thoại sang một bên trước khi tiếp cận góc khuất nội tâm nơi con người này, đặc biệt là theo cách nhìn của Tạ Chí Đại Trường.

     

    • Cũng hãy tạm xem như “Đức thánh Trần” chỉ là một con người bằng xương bằng thịt, tức là, tạm thời gạt bỏ lớp áo tín ngưỡng đi.

     

    • Và điều còn lại bây giờ là: một con người tên Trần Quốc Tuấn_quý tộc thuộc dòng họ

     

    Trần lẫy lừng (dòng họ vốn gắn liền với vụ bê bối mang tên “chế độ nội hôn”).

     

    • Trước hết, cần trích dẫn sơ lược sự kiện đã diễn ra theo Đại Việt Sử Kí Toàn Thư:

     

    • “Tân Hợi, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 20 [1251] (Từ tháng 2 về sau là Nguyên

     

    Phong năm thứ 1, Tống Thuần Hựu năm thứ 11, Nguyên Hiến Tông Mông Kha năm thứ 1). Mùa xuân, tháng 1, đổi nguyên hiệu là Nguyên Phong (năm thứ 1).

     

     

    • Gả trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành Vương (không rõ tên). Con trai

     

    Yên Sinh Vương là Quốc Tuấn cướp lấy. Công chúa về với Quốc Tuấn.

     

    • Ngày 15 tháng ấy, vua mở hội lớn 7 ngày đêm, bày các tranh về lễ kết tóc và nhiều trò

     

    chơi cho người trong triều ngoài nội đến xem, ý muốn cho công chúa Thiên Thành làm lễ kết tóc với Trung Thành Vương. Trước đó, vua cho công chúa Thiên Thành đến ở trong dinh Nhân Đạo Vương (Nhân Đạo Vương là cha Trung Thành Vương). Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên Thành, nhưng không làm thế nào được, mới nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công chúa thông dâm với nàng. Công chúa Thụy Bà (chị ruột của Thái Tông, cô của Quốc Tuấn, nuôi Quốc Tuấn làm con) liền đến gõ cửa điện cáo cấp. Người coi cửa vội vào tâu. Vua hỏi có việc gì, Thụy Bà trả lời:

     

    • “Không ngờ Quốc Tuấn ngông cuồng càn rỡ, đang đêm lẻn vào chỗ Thiên Thành,

     

    Nhân Đạo đã bắt giữ hắn rồi, e sẽ bị hại, xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu”

     

    • Vua vội sai nội nhân đến dinh Nhân Đạo Vương. Đến nơi, thấy yên lặng, bèn vào chỗ

     

    Thiên Thành, thì thấy Quốc Tuấn đã ở đấy. Nhân Đạo bấy giờ mới biết chuyện. Hôm sau, Thụy Bà dâng 10 mâm vàng sống, tâu rằng: ” Vì vội vàng nên không sắm được đủ lễ vật”.

    • Vua bắt đắc dĩ phải gả công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn, lấy 2000 khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để hoàn lại sính vật cho Trung Thành Vương.”

     

    • Sự kiện “tưng bừng” này được tường thuật khá chi tiết và sinh động trong sử sách, lại không vì công lao sau này của Quốc Tuấn mà lược bỏ đi, kèm theo lời phê rất khắc nghiệt của Ngô Sĩ Liên, chứng tỏ tiền nhân không vì vinh quang về sau mà gạt bỏ thực tại, một thái độ rất chuyên nghiệp khi chép sử.

     

    • Tuy nhiên, chuyên nghiệp khi chép sử là một chuyện, còn có khách quan và logic hay không lại là chuyện khác. Dễ thấy, Ngô Sĩ Liên đã bị ảnh hưởng bởi Nho giáo, ảnh

     

    hưởng bởi văn hóa đạo đức, nên đã có lời phê rất khắc nghiệt về sự kiện này, nhưng, nếu để ý kĩ lưỡng hơn, ta sẽ thấy Ngô Sĩ Liên còn bị ảnh hưởng bởi “những vinh quang sau này” của Đức Thánh Trần khi đã đổ toàn bộ tội trạng cho đời trước, ngược lại, nhân vật chính trong vụ náo loạn là Trần Quốc Tuấn lại không bị phê bình gì nghiêm trọng (Ngô Sĩ Liên là một sử quan đời sau, không phải sử quan của thời nhà Trần):

     

    • “Con gái vua lấy kẻ bề dưới tất phải sai chư hầu cùng họ đứng ra làm chủ hôn, theo lễ

     

    phải thế. Thái Tông đem Thiên Thành công chúa gả xuống cho Trung Thành Vương, nhưng công chúa lại về với Hưng Đạo Vương, việc hôn nhân rất là bất chính. Thế thì lễ

     

    cưới này không ai đứng chủ ư? Vì vua đã bất chính trong đạo vợ chồng, cho người làm tôi con cũng bắt chước. Vả lại, hôn nhân không lấy người khác họ mà lấy người cùng họ, thì chỉ có nhà Trần làm thế. Trong việc trái lễ, lại trái lễ nữa.”

     

    • Ở đây, Ngô Sĩ Liên có nhắc thoáng qua vụ việc hoán vợ đổi chồng giữa Trần Thái Tông Trần Cảnh (có thể là cha của Thiên Thành công chúa) và anh ruột là An Sinh

     

    Vương Trần Liễu (bố đẻ của Trần Quốc Tuấn), vụ việc vốn để lại nhiều áy náy cho Thái Tông cũng như nhiều bức xúc oán hận cho người bị mất vợ là Trần Liễu.

     

    • Lấy hành vi của người đời trước để xóa tội cho người đời sau là một việc làm (theo cá nhân tôi) là không hợp lý. Nhưng lấy hành vi của người đời trước để lý giải cho hành vi của người đời sau là một việc làm hết sức khoa học, đặc biệt là trong nghiên cứu lịch sử,

     

    nơi những sự kiện xảy ra đều ít nhiều có liên hệ với nhau.

     

    • Đa số những tài liệu ca ngợi công lao của Trần hưng Đạo (kể cả sách giáo khoa sử,

     

    văn, và các sách tham khảo) đều cố tình bỏ qua những đoạn lộn xộn về hôn nhân và gia đình như vừa trích dẫn ở trên, ngược lại, lại viết kĩ lưỡng đến từng chi tiết sự kiện sau đây:

     

    • “… Quốc Tuấn là con Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: “Ngày sau có thể giúp nước cứu đời”.

     

    • Đến khi lớn lên, dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài

     

    văn võ.

     

    • Yên Sinh Vương trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng, mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, Yên Sinh cầm tay Quốc Tuấn trối trăn rằng:

     

    • “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

     

    • Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.

     

    • Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can ông:

     

    • “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại

     

    Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi.”

     

    • Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người.

     

    • Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương:

     

    • “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?”.

     

    • Hưng Vũ Vương trả lời:

     

    • “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!”.

     

    • Quốc Tuấn ngẫm cho là phải.

     

    • Lại một hôm Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương

     

     

     

     

    • “Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ”.

     

    • Quốc Tuấn rút gươm kể tội:

     

    • “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra”, định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương

     

    hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây, ông dặn

     

    Hưng Vũ Vương:

     

    • “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”…”

     

    • Đã khen thì khen cho trót, ai lại lôi chuyện xấu vào bao giờ. Họa hoằn lắm mới có sách vẫn cứ trích dẫn những chuyện lục đục, nhưng lấy cái xảy ra sau (tức là vinh quang và chiến công) để bào chữa cho cái xảy ra trước (vụ cướp công chúa Thiên Thành), đồng thời, cho trích dẫn luôn cả đoạn sử chép ngay phía trên để càng làm cho con người Trần

     

    Hưng Đạo cứ sau mỗi thời lại càng “thần thánh” xa rời hiện thực con người hơn.

     

    • Thêm vào đó, quan điểm về chế độ nội hôn của họ Trần, sau vài trăm năm cách biệt,

     

    đã trở thành một điều hoàn toàn không thể chấp nhận ở thời hiện đại (mà thực ra ngay trong quá khứ, tại chính thời đại đó, đã là khó chấp nhận lắm rồi), nên mới sinh ra “vấn nạn” đào tung sử liệu để khẳng định công chúa Thiên Thành là chị em họ với Quốc Tuấn chứ hoàn toàn không phải là cô ruột (theo quan điểm của một vài nhà nghiên cứu khác), mục đích của đa số các tác giả trên suy cho cùng (lại) là muốn bào chữa cho những cái không phù hợp với vị trí của Đức Thánh Trần. Thực chất, hành động tưởng chừng rất “khoa học lịch sử” đó lại vô tình chứng tỏ nhận thức của một vài nhà nghiên cứu về lịch sử vẫn còn “chưa được trong sáng”.

     

    • Ngược lại, trong cuốn sách “Những bài dã sử Việt”, mục “Phổ hệ và chế độ nội hôn của họ Trần”, bác Tạ Chí Đại Trường bằng tinh thần trong sáng với lịch sử rất đặc trưng

     

    của mình, đã kết hợp tất cả các sự kiện xảy ra trong khuôn khổ gia tộc của Trần Quốc Tuấn để lý giải những mắc mứu khó hiểu có liên quan. Và ta thấy, có chăng, sự khó hiểu chẳng qua chỉ vì đôi khi ta cứ cố xoay chuyển sự thật theo một hướng nào đó để bản thân luôn luôn nghĩ tốt về một đối tượng nào đó mà quên mất rằng ai cũng chỉ là con người, có

     

    quá khứ và có lầm lỗi, có dao động và có lựa chọn:

     

    • “…Trần Quốc Tuấn bị hấp dẫn bởi công chúa Thiên Thành hẳn cũng nằm trong sinh hoạt bình thường đó (ý ám chỉ tục kết hôn cùng họ). Có điều đáng chú ý là đối tượng của Quốc Tuấn lại là con gái Thái Tông nên có thể ngờ rằng ý thức trả thù theo lời dặn của cha chắc có chen vào hành động đó: vụ cướp vợ chỉ xảy ra trước khi Trần Liễu chết có hai tháng, nghĩa là giai đoạn tột đỉnh căm thù khi Liễu biết mình sắp chết.

     

    • Sử quan đã thuật lại khá nhiều về sự gay gắt xảy ra giữa Quốc Tuấn một bên, Thái Tông và các con một bên. Nhưng ngay chính trong những giai đoạn khen Quốc Tuấn, ta thấy ảnh hưởng những lời dặn dò của Trần Liễu không phải không có ở người con đặc biệt này: trong lời dọ ý của gia nô (Yết Kiêu, Dã Tượng) và một người con trai (Hưng Vũ Vương) ông đều gặp phản đối và chỉ thấy một người con tán đồng (Quốc Tảng). Điều đó

     

    chứng tỏ ý định thầm kín nghe theo lời cha vẫn còn trong tâm trí ông, nhưng một mặt vì đã có mối liên hệ với Thái Tông (qua Thiên Thành), có thể với Nhân Tông (rể) lúc câu chuyện xảy ra, mặt khác phe phản đối ngay trong vây cánh lại là đa số, nên ông mới dứt khoát từ bỏ ý định cướp ngôi, và vì đã lộ ý hỏi dò thì phải tỏ ra phản đối mạnh mẽ nên có chuyện đòi giết Quốc Tảng, tuyệt tình đến khi chết. …”

     

    • Từ đoạn trích dẫn trên, ta thấy Tạ Chí Đại Trường đã giải quyết rất gọn gàng, khách quan và có hệ thống những điểm bất ổn trong cuộc đời Trần Quốc Tuấn, điều mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng làm được, để đưa Trần Quốc Tuấn về với những bản tính rất con người và rất chân thực của mình. Và hiển nhiên, một khi đã được giải thích rõ ràng, thì việc che cái này giấu cái kia khi nói hoặc viết về cuộc đời một con người hoặc về một sự kiện lịch sử là hoàn toàn không cần thiết, và cũng không nên xảy ra.

     

    • Đến đây, tôi mạo muội đưa ra kết luận này: chỉ khi loại bỏ hẳn những điều thần thánh, những ý đồ không trong sáng, định kiến hoặc sự thần tượng đặc biệt,… người ta mới có thể lý giải về một con người trên khía cạnh của một con người.

     

    • Lại nhớ đến một câu hát trong vở nhạc kịch “Ngàn Năm Tình Sử”, thấy phù hợp nên

     

    lấy làm câu kết cho bài cảm nhận:

     

    • “…Anh hùng cũng như bao người, cũng biết yêu thương, cũng biết đau buồn, và còn

     

    hơn thế, còn đau hơn thế…”


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

    Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

    Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh qua bản Tuyên ngôn độc lập


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Thuy%E1%BA%BFt-minh-Chuy%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9c-Ph%C3%A1n-s%E1%BB%B1-%C4%91%E1%BB%81n-T%E1%BA%A3n-Vi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

    Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

     

    BÀI LÀM

    Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng

     

     

    Đức thứ 27 (1496), người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải

     

     

    Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã

     

     

    ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó “trải

     

     

    mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành”.Ông đã viết tập truyện chữ Hán nổi

     

     

    tiếng trong cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại.

     

     

     

     

     

     

     

    Truyền kỳ mạn lục – một tác phẩm được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút”. Truyện được

     

     

     

    Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm.

     

     

    Tryền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ là tác phẩm viết bằng chữ Hán gồm 20 truyện,

     

     

    ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. Lục là sách, mạn là ghi chép tản mạn, truyền kì là chuyện

     

     

    lạ kì lưu truyền trong dân gian.

     

     

     

     

     

     

     

    Truyền kì mạn lục là sách ghi chép lại những câu chuyên lạ trong dân gian. Tác

     

     

    phẩm thực sự là một sáng tác văn học với sự gia công, hư cấu, sáng tạo, trau chuốt, gọt

     

    giũa của Nguyễn Dữ chứ ko phải chỉ là một công trình ghi chép đơn thuầnTrong Truyền

     

     

    kỳ mạn lục Nguyễn Dữ viết về các nhân vật, các sự việc kỳ lạ xảy ra thời Lý, Trần, Hồ và

     

     

     

    thời Lê sơ. Bằng trí tưởng tượng phong phú và bằng một bút pháp linh hoạt, tác giả

     

     

    Truyền kỳ mạn lục đưa người đọc vào một thế giới huyền bí vừa có người, vừa có thần,

     

     

    vừa hư, vừa thật nhưng xuyên qua các lớp mù linh ảo, ly kỳ được thêu dệt ra một cách tài

     

     

    giỏi ấy vẫn hiện rõ một thế giới thật của cuộc đời mà ở đó nhan nhản những kẻ có quyền

     

     

    thế độc ác, đồi bại.

     

     

     

     

     

     

     

    Tuy nhiên, bên cạnh sự tung hoành của cái xấu cái ác, tác giả Truyền kỳ mạn lục

     

     

    vẫn nhìn thấy những phẩm cách lương thiện, trung thực, những tâm hồn thanh cao, những

     

     

     

    tình người tình yêu của nhân dân, của cái thiện vĩnh hằng và Nguyễn Dữ đã mô tả nó thật

     

     

    đẹp đẽ, mỹ lệ. Trong số đó có tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên ” đã đề cao

     

     

    tinh thần khẳng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại cho dân của Ngô

     

     

    Tử Văn; đồng thời thể hiện niềm tin công lí, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng gian tà.

     

    Chuyện chức phán sự đền Tản Viên kể về Ngô Tử Văn – người vốn khảng khái,

     

     

    nóng nảy,thấy sự gian tà thì ko thể chịu được. Mọi người vẫn thường khen Văn là người

     

     

    cương trực. Ở làng Tử Văn sống trước có một ngôi đền linh ứng nhưng giờ đã thành ngôi

     

     

     

    đền có hồn của tên giặc xâm lược tử trận gần đó làm yêu quái trong dân gian. Trước sự

     

     

    việc ngôi đền bị uế tạp và yêu quái có thể làm hại dân, “Tử Văn rất tức giận, một hôm

     

     

    tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền”.Sự khắng khái, nóng nảy của Tử Văn đã

     

     

    dẫn đến một hành động dũng cảm vì dân trừ hại. Sự tức giận của Tử Văn ko phải là sự

     

     

    tức giận cho riêng mình mà là sự tức giận cho mọi người dân đang bị yêu quái quấy

     

     

    nhiễu. Vì thế mà việc làm của Tử Văn là đáng ca ngợi.

     

     

     

     

     

     

     

    Sau khi đốt ngôi đền,Tử Văn ốm nặng rồi “thấy hai tên quỷ sứ đến bắt đi rất gấp,

     

     

    kéo ra ngoài thành vế phía đông”. Lúc ở chốn âm cung, do chỉ nghe bên nguyên,Diêm

     

     

    Vương – vị quan toà xử kiện- người cầm cán cân công lí – cũng đã có lúc tỏ ra mơ hồ.

     

     

    Khi đứng trước công đường Ngô Tử Văn càng tỏ ra mình là người có khí phách. Chàng

     

     

    ko chỉ khằng định:”Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian” mà còn dũng cảm

     

    vạch mặt tên bại tướng gian tà với lời lẽ “rất cứng cỏi, ko chịu nhún nhường chút nào”.

     

     

    Chàng chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Từng bước, từng bước Ngô Tử Văn đã đánh lui tất

     

     

    cả sự phản công, kháng cự của kẽ thù, cuối cùng đã hoàn toàn đánh gục tên tướng giặc.

     

     

     

     

     

     

     

    Sau khi được minh oan ờ minh ti, Tử Văn trở về nhà chưa được 1 tháng thì Thổ

     

     

    công đến bảo Tử Văn nên nhậm chức phán sự ở đến Tản Viên. Thổ công nói:”người ta

     

     

    sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau” và khuyên

     

     

    Văn nên nhận.Thế là Văn vui vẻ nhận lời. việc được nhận chức ở đền Tản Viên đã nói lên

     

     

    thắng lợi của chàng trong cuộc đấu tranh với tên hung thầ xảo quyệt. Sự thắng lợi này đã

     

     

    khẳng định chàng là người tốt, chính nghĩa, dám đấu tranh để thực hiện công lí. Con

     

     

    người của chính nghĩa đã được đứng ra để thực hiện công lý là một thắng lợi có ý nghĩa

     

     

    sâu sắc, khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà.

     

     

     

     

     

     

     

    Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên , tác giả đã vạch trần bộ mặt gian tà của

     

     

    ko ít kẻ đương quyền “ quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược”. Ngòi bút

     

    của Nguyễn Dữ ko chỉ lên án một số quan lại mà còn tố cáo mạnh mẽ hiện thực “rễ ác mọ

     

     

    lan, khó lòng lay động” mà bênh vực cho kẻ gian tà. Trong câu nói buột miệng của Tử

     

     

    Văn “Sao mà nhiều thần quá vậy?” cũng cho ta thấy một hiện thực của xã hội phong kiến

     

     

    lúc bấy giờ: xã hội có quá nhiều kẻ hữu danh vô thực, lợi dụng địa vị, quyền thế làm điều

     

     

    bất chính. kết thúc có hậu của câu chuyện thể hiện đúng truyền thống nhân đạo của dân ta

     

     

    chính nghĩa nhất định thắng gian tà.

     

     

     

     

     

     

     

    Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Nguyễn Dữ đã kết hợp thành công yếu tố ảo

     

     

    và thực. câu chuyện diễn ra đầy tính chất li kì bởi sự xuất hiện của thế giới âm cung với

     

     

    những hồn ma, bóng quỷ với những việc khác thường: người chết đi sống lại từ dương

     

     

    gian xuống địa phủ, từ cõi âm lại vế cõi dương. Nhưng chuyện lại có vẻ như rất thực bởi

     

     

    cách dẫn ngưòi khác, dẫn việc cụ thể đến cả họ tên, quê quán và thời gian, địa điểm diễn

     

     

    ra sự việc. yếu tố kì ảo giúp câu chuyện thêm phần li kì, hấp dẫn. yếu tố thực làm tăng

     

     

    tính xác thực, làm câu chuyện có ý nghĩa xã hội sâu sắc.

     

    Câu chuyện đề cao nhân vật Ngô Tử Văn – đại diện cho tầng lớp trí thức nước Việt

     

     

     

    giàu tinh thần dân tộc, chuộng chính nghĩa, dũng cảm, cương trực, dám đấu tranh chống

     

     

    lai cái ác trừ hạ cho dân. Truyện còn thể hiện niềm tin công lý, chính nghĩa nhất định sẽ

     

     

    thắng gian tà.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%82N-T%C3%8DCH-T%C3%81C-PH%E1%BA%A8M-CHINH-PH%E1%BB%A4-NG%C3%82M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    BÀI LÀM

    Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫn trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác.

     

    Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây.

     

    Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh. Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy.

     

    Đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến câu 228) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khộ ở người chinh phụ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

     

    Đoạn trích có thể chia làm ba đoạn nhỏ:

     

    –    Đoạn 1 : Từ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước… đến Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng: Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được.

     

    –    Đoạn 2: Từ Lòng này gùi gió đông có tiện… đốn Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi: Nỗi nhớ thương người chồng ở phương xa; cảnh vật khiến lòng nàng thêm sầu thảm.

     

    –    Đoạn 3: Từ Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc… đến Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!. Cảnh vật xung quanh khiến lòng người chinh phụ rạo rực niềm khát khao hạnh phúc.

     

    Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Một lần nữa nàng tự hỏi vì sao đôi lứa uyên ương lại phải chia lìa? Vì sao mình lại rơi vào tình cảnh lẻ loi? Bấy nhiêu câu hỏi đều không có câu trả lời. Tâm trạng băn khoăn, day dứt ấy được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế. Có thể nói, sầu và nhớ là cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ này.

     

    Trong mười sáu câu thơ đầu, tác giả tập trung miêu tả hành động và tâm trạng của người chinh phụ:

     

    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước 
    Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
    Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
    Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
    Đèn có biết dường bằng chẳng biết?
    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
    Buồn rầu nói chẳng nên lời,
    Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

     

    Nàng lặng lẽ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.

     

    Giữa không gian tịch mịch, tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, sốt ruột mong một tiếng chim thước báo tin vui mà chẳng thấy.

     

    Nàng khát khao có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình. Không gian im ắng, chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng. Lúc đầu, nàng tưởng như ngọn đèn biết tâm sự của mình, nhưng rồi lại nghĩ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, bởi nó là vật vô tri vô giác. Nhìn ngọn đèn chong suốt năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân tủi phận: Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

     

    Hình ảnh người chinh phụ thầm gieo từng bước ngoài hiên vắng và suốt năm canh ngồi một mình bên ngọn đèn chong, không biết san sẻ nỗi niềm tâm sự cùng ai đã miêu tả được tâm trạng cô đơn tột độ của người chinh phụ.

     

     

    Tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ trong tám câu thơ. Đó là cảm giác lúc nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi: ban ngày, ban đêm, ngoài phòng, trong phòng. Nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian luôn deo đẳng, ám ảnh nàng.

     

    Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi:

     

    Gà eo óc gáy sương năm trống,
    Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên.
    Khắc giờ đằng đẵng như niên,
    Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

     

    Tiếng gà gáy báo canh năm làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng. Cây hòe phất phơ rũ bóng trong ánh sáng lờ mờ của ban mai gợi cảm giác buồn bã, hoang vắng. Giữa không gian ấy, người chinh phụ cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào!

     

    Ở các khổ thơ tiếp theo, nỗi ai oán hiện rõ trong từng chữ, từng câu, dù tác giả không hề nhắc đến hai chữ chiến tranh:

     

    Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
    Gương gượng soi lệ lại châu chan.
    Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
    Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.

     

    Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc, Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn loan phượng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.

     

    Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Ha đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, nàng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió:

     

    Lòng này gửi gió đông có tiện ?
    Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
    Non Yên dù chẳng tới miền,
    Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

     

    Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt có một ý nghĩ rất nên thơ: nhờ gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đình với bóng dáng thân yêu của mẹ già, vợ trẻ, con thơ:

     

    Non Yên dù chẳng tới miền,
    Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

     

    Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong vắn chương nước ta thời trung đại:

     

    Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
    Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

     

    Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi sinh li đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ này chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đớn đau cho thể xác:

     

    Cảnh buồn người thiết tha lòng,
    Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

     

    Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương cho thân phận bất hạnh, cô đơn. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ. Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nối lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ không được sống hạnh phúc, đồng thời cũng phản ánh thái độ lên án chiến tranh của tác giả.

     

    Bầu trời bát ngát không cùng và nỗi nhớ cũng không cùng, nhưng suy tưởng thì có hạn; người chinh phụ lại trỏ về với thực tế cuộc sống nghiệt ngã của mình. Ý thơ chuyển từ tình sang cảnh. Thiên nhiên lạnh lẽo như truyền, như ngấm cái lạnh đáng sợ vào tận tâm hồn người chinh phụ cô đơn:

     

    Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
    Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.

     

    Hình như người chinh phụ đã thấm thìa sức tàn phá ghê gớm của thời gian chờ đợi. Tuy nhiên đến câu: Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi thì không khí đã dễ chịu hơn, cũng bởi người chinh phụ chí mới thất vọng mà chưa tuyệt vọng.

     

    Tám câu cuối là bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Chinh phụ ngâm:

     

    Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
    Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
    Lá màn lay ngọn gió xuyên,
    Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
    Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
    Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
    Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
    Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!

     

    Ý thơ đi từ tinh đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ dội qua dội lại như vậy nhằm thể hiện rõ tâm trạng ở đâu, lúc nào, làm gi… người chinh phụ cũng chí vò võ một mình một bóng mà thôi!

     

    Từ thốc rất mạnh trong câu Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên báo hiệu sự chuyển sang một tâm trạng mới ở người chinh phụ. Cảnh hoa – nguyệt giao hòa khiến lòng người rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi. Những động từ dãi, lồng toát lên cái ý lứa dôi quấn quýt gần gũi, âu yếm nồng nàn mà vẫn tế nhị, kín đáo.

     

    Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên… Đặc biệt, tác giả đã sử dụng thành công hàng loạt từ láy: eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau đáu… về nhạc điệu, tác giả đã phát huy một cách tài tình nhạc điệu du dương của thể thơ song thất lục bát, giống như những đợt sóng dạt dào, diễn tả tâm trạng người chinh phụ hết nhớ lại thương, hết thương lại nhớ trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc.

     

    Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật.

     

    Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của các vua chúa, tác giả đã đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện tinh thần phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương;một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Những đề văn chủ yếu của lớp 9

    Những đề văn chủ yếu của lớp 9

    Những đề văn chủ yếu của lớp 9

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Những bài văn nghị luận xã hội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nh%E1%BB%AFng-%C4%91%E1%BB%81-v%C4%83n-ch%E1%BB%A7-y%E1%BA%BFu-c%E1%BB%A7a-l%E1%BB%9Bp-9.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những đề văn chủ yếu của lớp 9

    Những đề văn chủ yếu của lớp 9

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1.     Tự sự thuyết minh biểu cảm….

     

    Tổng hợp văn mẫu cho bài viết sô 1 Làm Bởi 4 mắt học trò Tóm tắt văn bản tự sự

     

    Thuyết minh kết hợp với miêu tả

     

    Thuyết minh kết hợp với giải thích

     

    Tư liệu về 1 số di sản văn hóa danh lam di tích

    2.     Kể 1 câu chuyện em biết về bác Hồ

     

     

    Bạn ơi đừng nghỉ học

     

    Tiếng gọi của biển

     

    Cánh diều tuổi thơ

     

    Kể về kỉ niệm đáng nhớ của mình và thầy cô giáo dạy văn Kể về kỉ niệm 1 bài tập làm văn

     

    Kể cho bạn nghe 1 chuyện lý thú cảm động bùn cuời

     

     

     

     

    Tưởng tượng là nhà văn Năm Cao….

     

    Kể lại 1 câu chuyện cảm động về tình bạn trong cấp 1

     

    Kể lại MỘT BỮA NO theo lời kể và mắt nhìn của cháu gái bà cụ

     

    Tưởng tượng gặp nguời lính lái xe trong TĐXKK ( bài viết số 3)

     

    Kể một lần em mắc lỗi

     

    Nhân 20-11 kể các bạn nghe kỷ niệm đáng nhớ về thây cô cũ

     

    Kể về cuộc gặp gỡ bộ đội nhân 22-12 (bài viết số 3)

     

    Tưởng tượng 20 năm sau về thăm trường cũ,kể lại

     

    Hồi tưởng những gì em đã nghe đã thấy trong tựu trường đầu tiên Kể lại 1 giấc mơ trong đó em gặp người thân đã xa cách lâu ngày Kể lần đi tảo mộ nhân dịp Thanh Minh

     

    Kể lại và nêu cảm nghĩ khi em chơi xấu bạn

     

    Kể lại trận đấu ác liệt mà em đã nghe hay xem phim ảnh

     

    Công việc đọc sách

     

    Trò chơi đá gà

     

    Thăng Long đất ca trù

     

    Thuyết minh về chiếc nón lá

     

    Hang động Phong Nha Kẻ Bàng

     

    Giới thiệu Sài Gòn

     

    Múa rối nước

     

    Bánh giày quán gánh trong ngày lễ Hùng Vương

     

    Nếp rồng quê tôi

     

    Khoai lang

     

    Cây tre bạn đường 1

     

    Cây bưởi đa xanh

     

    Cây dừa ở quê em

     

    Cây lúa việt nam 2

     

    Việt Nam ơi ta gọi tên mình

     

    Cây tre việt nam

     

    Trình bày vấn đề tự học 2i

     

    Mùa giáng sinh đáng nhớ

     

    Người bạn của tôi

     

    Bà bán bánh khoai nuớng

     

    Mẹ của mình

     

    Kể về những người thân yêu

     

    Kể về kỉ niệm giữa mình và thầy cô giáo cũ Kể về một người thân đã xa cách lâu ngày Thuyết minh cây Gòn Trình bày vấn đề tự học

     

    Cây lúa trong đời sống người Việt Nam

     

    Con Trâu ở làng quê Việt Nam

     

     

     

     

    Cây chuối trong đời sống người Việt Nam

     

    Cây lúa trong đời sống người Việt Nam 2

     

    Cây lúa trong đời sống người Việt Nam 3ơ

     

    Trinh bày vấn đề tự học 2

     

    Công việc đọc sách 2

     

    Thuyết minh về cây chuối

     

     

    Công việc đọc sách

     

    Con trâu ở làng quê Việt Nam

     

    Con trâu ở làng quê Việt Nam 2

     

    Giới thiệu về chợ vùng cao

     

    Giới thiệu về chợ miền tây nam bộ

     

    Giới thiệu về di tich Lam Kinh

     

    Lũng Cú vẻ đẹp cực bắc tổ quốc

     

    Giới thiệu về ATK An toàn khu kháng chiến Phú Quốc vẻ đẹp diệu kì Giới thiệu về đá ở Hà Giang

    Rừng tràm Gao Giồng ( Đồng Tháp )

     

    Đi hội chợ viếng

     

    Màu hoa phố núi

     

    Loài hoa em yêu

     

    Một lần trót dại

     

    Kể lại giấc mơ gặp người thân xa cách lâu ngày Kể lại giấc mơ gặp người thân xa cách lâu ngày 2 Đóng vai 1 nhân vật trong Lặng Lẽ Sa Pa kể chuyện Đóng vai Thúy Kiều kể lại cảnh báo ân báo oán Đóng vai Thúy Kiều kể lại cảnh báo ân báo oán 2 Đóng vai Thúy Kiều kể lại cảnh báo ân báo oán 3 Tưởng tượng 20 năm sau về thăm trường cũ( viết số 2 )

     

    Tưởng tượng 20 năm sau về thăm trường cũ( viết số 2 )2 Kể lại 1 giấc mơ

    Viết thư kể về buổi thăm trường sau 20 năm xa cách Kể lại giấc mơ gặp người thân

     

    Viết thư kể về buổi thăm trường sau 20 năm xa cách 2

     

    Kê lại giấc mơ trong đó gặp lại người thân

     

    Kể lại giấc mơ gặp người thân 2

     

    Thuật lại chiên công Quan Trung đại phá quân Thanh Thuật lại chiên công Quan Trung đại phá quân Thành 2 Thuật lại chiên công Quan Trung đại phá quân Thanh 3 Thuật lại chiên công Quan Trung đại phá quân Thanh 4 Thuật lại chiên công Quan Trung đại phá quân Thanh 5 Kể đoạn trích MGS mua kiều bằng lời văn của mình Kể lại sự kiện Mã Giám Sinh mùa Kiều

     

    Giới thiệu về phần tự sự chương trình Ngữ Văn lớp 9 Thuyết minh TP tự sự trong chương trình ngữ văn 9 Thuyết minh về tp tự sự đã học trong Ngữ Văn 9 T1 Tóm tắt đoạn 3 trong vở kịch tôi và chúng ta

     

    Lập dàn ý dự kiến cho cuộc gặp gỡ với người lính lái xe Viết truyện ngắn theo đề tài tự chọn

     

     

    Nghị luận xã hội

     

    Bàn luận về câu nói cùa Vương Dương Minh…

     

    Giải thích ý nghĩa và có tán thành cách xử thế của câu…

     

    Bàn về câu tục ngữ lá lành đùm lá rách

     

    Bàn luận về câu ca dao công cha như núi thái sơn…

     

    Bàn luận về câu ca dao ” nhiễu điều phủ lấy giá gương nguời…”

     

    Bàn về câu tục ngữ con hơn cha là nhà có phúc

     

    Không thầy đố mày làm nên học thầy ko tày học bạn….

     

    Bàn luận câu tốt gỗ hơn tốt nước sơn

     

    Khan hiếm nước ngọt

     

    Trong thế giới AIDS im lặng là chết

     

    Sự quan trọng của lời nói

     

    Sách và đọc sách

     

    Học để làm gì

     

    Bàn về sự nhường nhịn

     

    Lòng khoan dung

     

    Giữ gìn truyền thống bẳn sắc văn hóa dân tộc Tác hại của thói đua đòi

     

    Suy nghĩ về nếp sống văn hóa sai hẹn

     

    Suy nghĩ về nếp sống văn hóa

     

    Bàn về tác phong lỗi sống

     

    Cần tạo ra thói quen tốt trong xã hội

     

    Có gan nhận lỗi lầm

     

    Bàn về việc tập thể dục có sức khỏe

     

    Nêu suy nghĩ của em về tấm gương ko chịu khuất phục số phận

     

    Trình bày ý kiến về có công mài sắt có ngày nên kim Bình luận câu lá lành đùm lá rách

    Bình luận câu “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”

     

    Nêu ý kiến về Trò Chơi Điện Tử

     

    Nêu suy nghĩ về tấm gương nghèo vượt khó

     

    Lòng biết ơn thây cô

     

    Nghị luận về bác

     

    Nghị Luận Văn Học

     

    Phân tích về đẹp và bi kịch Vũ Nương trong Chuyện người…

     

    VIết nghị luận có câu Đáng thương thay cho Vũ Nương Cảm nhận của em về TK trong 8 câu cuối Kiều ở lầu NB

     

    Phân tích và chứng minh diễn biến tâm trạng của ông Hai trong LÀNG Cảm nhận về người lính trong 2 bài Đồng chí TDXKK” Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong bài TDXKK

     

    Hãy phân tích và chứng minh bút pháp ước lệ của TG qua Chị em TK

     

    Suy nghĩ từ câu ca dao công cha như núi thai sơn nghĩa mẹ…

     

    Cảm nhận của em về lòng yêu của ND Miền Nam trong Viếng Lăng Bác 2 Cẩm nhận về lòng kính yêu tha thiết của ND miền nam vơi HCM Nêu suy nghĩ về tình đồng chi qua bài Đông Chí

     

    Nếu suy nghĩ về điều em thích nhất trong lặng lẽ sa pa Phân tích tác phẩm Lặng Lẽ Sa Pa

     

    Nêu ý kiến về Phương Định trong tác phẩm những ngôi sao xa xôi Phân tích bài thơ Mây Và Sóng của Ta Go

     

    Lập dàn ý cho bài phân tích bài văn Viếng Lăng Bác Phân tích bài thơ Một Mùa xuân nho nhỏ

    Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong Lặng lẽ SP Bình luận bài thơ Viếng Lăn Bác

     

    Bình luận bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá của Huy Cận Phân tích đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích Phân tích đoạn thơ Chị em Thúy Kiều

     

    Phân tích bài thơ tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Phân tích bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu

     

    Ánh Trăng của Nguyễn DUy cho em cảm nghĩ gì Cảm nhận về Tản Đà qua bài Muốn Làm Thằng Cuội Bình luận nội dung bài thơ nói với con của Y Phương 3 7″ Bình luận nội dung bài thơ nói với con của Y Phương 6 Bình luận nội dung bài thơ nói với con của Y Phương 5 Bình luận nội dung bài thơ nói với con của Y Phương 4 Bình luận nội dung bài thơ nói với con của Y Phương 3 Bình luận nội dung bài thơ nói với con của Y Phương 2 Bình luận bài thơ nói với con của Y Phương

     

    Bình luận nội dung bài thơ nói với con của Y Phương Cảm nhận của em về CHIẾC LƯỢC NGÀ.

     

    Suy nghĩ của em về nhân vật Ông Hai trong LÀNG của kim Lân” Cảm nhận vẻ đẹp thúy vân thúy kiều kim trọng nhận xét nghệ thuật Hình tượng người lái xe trong TĐXKK của PTDuật.

     

    Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác

     

    Phân tích bài thơ Đồng Chí

     

    Phân tích đoạn thơ trong Đoàn Thuyền Đánh Ca Phân tích 2 khổ thơ trong Đòan Thuyền Đánh Cá Phân tích bài thơ tiểu đội xe không kính Phân tích truyện Lặng Lẽ Sa Pa

     

    Phân tích đoạn thơ trong Mùa Xuân Nho Nhỏ Phân tích đoạn thơ trong Sang Thu

     

    Cảm nghĩ về Rô Bin Sơn ngoài đảo hoang

     

    Phân tích nét nổi bật và tính cách lục vân tiên trong LVT cứu KNN Phân tích nhân vật Nhuận Thổ trong Cố Hương Nêu cảm nghĩ về người bà trong bài thơ Bếp Lửa

     

    Phân tích diễn biến tâm trạng Hồng trong đoạn trích… Phân tích nhân vật Bơ Men trong Chiếc Lá cuối cùng Phân tích nhân vật Phi Líp trong truyện Bố

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Những bài văn nghị luận xã hội

    Những bài văn nghị luận xã hội

    Những bài văn nghị luận xã hội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NHỮNG BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nh%E1%BB%AFng-b%C3%A0i-v%C4%83n-ngh%E1%BB%8B-lu%E1%BA%ADn-x%C3%A3-h%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những bài văn nghị luận xã hội

     

    Những bài văn nghị luận xã hội

    Bài soạn văn mẫu Nói với con- Y Phương

     

    NÓI VỚI CON

     

     

     

    I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1.Tác giả

     

    • Y Phương tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước, dân tộc Tày, sinh năm 1948, quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Y Phương nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội đến năm 1981 chuyển công tác về Sở Văn hóa – thông tin Cao Bằng. Từ năm 1993, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng.

     

     

    • Thơ Y Phương thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy hình ảnh của con người miền núi

     

    2.Lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ sau tiếp nối xứng đáng, phát huy truyền thống của tổ tiên, quê hương vốn là một tình cảm cao đẹp của con người Việt Nam suốt bao đời nay. Bài thơ Nói với con cũng nằm trong cảm hứng lớn rộng, phổ biến ấy nhưng Y Phương đã có một cách nói xúc động của riêng mình. Hình thức người cha tâm tình, dặn dò đối với con đã đem đến cho bài thơ giọng điệu thiết tha, trìu mến, ấm áp và tin cậy.

     

     

    II.Phân tích bài thơ

     

     

     

    1.Tình yêu thương của cha mẹ, sự đùm bọc của quê hương đối với con.

     

     

     

     

    • Con lớn lên từng ngày trong tình yêu thương, trong sự nâng đón và mong chờ của cha mẹ. ở bốn câu thơ đầu, bằng các hình ảnh thật cụ thể, Y Phương đã tạo được không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt. Từng bước đi, từng tiếng nói, tiếng cười của con đều được cha mẹ chăm chút, mừng vui đón nhận.

     

     

    • Con được trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê hương.

     

    • Cuộc sống lao động cần cù và tười vui của “ người đồng mình” được nhà thơ gợi lên qua các hình ảnh đẹp: “ Đan lờ cài nan hoa – Vách nhà ken câu hát”. Các động từ cài, ken vừa miêu tả cụ thể nói lên tình cảm gắn bó, quấn quýt.

     

    • Rừng núi quê hương thật thơ mộng và nghĩa tình. Thiên nhiên ấy đã che chở, đã nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn, lối sống: “ Rừng cho hoa – Con đường cho những tấm lòng”

     

     

    2.Những đức tính cao đẹp của “ người đồng mình” và mong ước của người cha qua lời tâm tình với con.

     

    • “ Người đồng mình thương lắm …Không lo cực nhọc”, “ Người đồng mình” sống vất vả mà mạnh mẽ, khoáng đạt, bền bỉ gắn bó với quê hương dẫu còn cực nhọc đói nghèo. Từ đó, người cha mong muốn con phải có nghĩa tình chung thủy với quê hương, biết chấp nhận và vượt qua gian nan thử thách bằng ý chí, bằng niềm tin của mình.

     

     

     

    – “ Người đồng mình thô sơ da thịt…Nghe con”. Người đồng mình mộc mạc

     

     

     

     

    nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể thô sơ da thịt nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí và mong ước xây dựng quê hương. Chính những con người như thế, bằng sự lao động cần cù, nhẫn nại hàng ngày, đã làm nên quê hương với truyền thống, với phong tục tập quán tốt đẹp: “ Người đồng mình tự **c đá kê cao quê hương – Còn quê hương thì làm phong tục ”. Từ đó, người cha mong muốn con biết tự hào với truyền thống quê hương, dặn dò con cần tự tin mà vững bước trên đường đời.

     

     

    3.Cảm nhận về tình cảm của người cha đối với con, rút ra điều lớn lao nhất mà người cha truyền tới được cho con.

     

    • Tình cảm yêu thương trìu mến, thiết tha và niềm tin tưởng của người cha qua lời nói với con.

     

    • Điều lớn lao nhất mà người cha truyền tới cho con chính là lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, với truyền thống cao đẹp của quê hương và niềm tự tin khi bước vào đời.

     

     

    4.Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ

     

     

     

    • Giọng điệu thiết tha trìu mến

     

     

     

    • Xây dựng các hình ảnh cụ thể mà có tính khái quát, mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ.

     

     

    – Bố cục chặt chẽ, dẫn dắt tự nhiên.

     

     

     

     

    Cảm nghĩ về thân phận người phụ nữ qua bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương và tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.

     

     

     

     

    Vận dụng các kĩ năng nghị luận văn học để nêu những suy nghĩ về số phận của người phụ nữ qua 2 tác phẩm : Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương và Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, yêu cầu đạt được các ý sau :

     

     

    1. Nêu khái quát nhận xét về đề tài người phụ nữ trong văn học, số phận cuộc đời của họ được phản ánh trong các tác phẩm văn học trung đại ; những bất hạnh oan khuất được bày tỏ, tiếng nói cảm thông bênh vực thể hiện tấm lòng nhân đạo của các tác giả, tiêu biểu thể hiện qua : Bánh trôi nước và Chuyện người con gái Nam Xương.

     

     

    b. Cảm nhận về người phụ nữ qua 2 tác phẩm :

     

     

     

    * Họ là những người phụ nữ đẹp có phẩm chất trong sáng, giàu đức hạnh :

     

    • Cô gái trong Bánh trôi nước : được miêu tả với những nét đẹp hình hài thật chân thực, trong sáng : “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”. Miêu tả bánh trôi nước nhưng lại dùng từ thân em – cách nói tâm sự của người phụ nữ quen thuộc kiểu ca dao : thân em như tấm lụa đào… khiến người ta liên tưởng đến hình ảnh nước da trắng và tấm thân tròn đầy đặn, khoẻ mạnh của người thiếu nữ đang tuổi dậy thì mơn mởn sức sống. Cô gái ấy dù trải qua bao thăng trầm bảy nổi ba chìm vẫn giữ tấm lòng son. Sự son sắt hay tấm lòng trong

     

     

     

     

    sáng không bị vẩn **c cuộc đời đã khiến cô gái không chỉ đẹp vẻ bên ngoài mà còn quyến rũ hơn nhờ phẩm chất của tấm lòng son luôn toả rạng.

     

    • Nhân vật Vũ Nương trong Chuyện ngươì con gái nam Xương : mang những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

     

    • Trong cuộc sống vợ chồng nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà”. Nàng luôn là người vợ thuỷ chung yêu chồng tha thiết, những ngày xa chồng nỗi nhớ cứ dài theo năm tháng : “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” nàng lại âm thầm nhớ chồng.

     

     

    • Lòng hiếu thảo của Vũ Nương khiến mẹ chồng cảm động, những ngày bà ốm đau, nàng hết lòng thuốc thang chăm sóc nên khi trăng trối mẹ chồng nàng đã nói : “Sau này, trời xét lòng lành, […], xanh kia quyết chẳng phụ con”. Khi mẹ chồng khuất núi, nàng lo ma chay chu tất, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của mình.

     

     

    • Nàng là người trọng danh dự, nhân phẩm : khi bị chồng vu oan, nàng một mực tìm lời lẽ phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình. Khi không làm dịu được lòng ghen tuông mù quáng của chồng, nàng chỉ còn biết thất vọng đau đớn, đành tìm đến cái chết với lời nguyền thể hiện sự thuỷ chung trong trắng. Đến khi sống dưới thuỷ cung nàng vẫn luôn nhớ về chồng con, muốn được rửa mối oan nhục của mình.

     

     

    • Họ là những người chịu nhiều oan khuất và bất hạnh, không được xã hội coi trọng :

     

     

     

     

    • Người phụ nữ trong bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương đã bị xã hội xô đẩy, sống cuộc sống không được tôn trọng và bản thân mình không được tự quyết định hạnh phúc :

     

     

    “Bảy nổi ba chìm với nước non,

     

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”

     

     

     

    • Vũ Nương bị chồng nghi oan, cuộc sống của nàng ngay từ khi mới kết hôn đã không được bình đẳng vì nàng là con nhà nghèo, lấy chồng giầu có. Sự cách biệt ấy đã cộng thêm một cái thế cho Trương Sinh, bên cạnh cái thế của người chồng, người đàn ông trong chế độ gia trưởng phong kiến. Hơn nữa Trương Sinh là người có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức, lại thêm tâm trạng của chàng khi trở về không vui vì mẹ mất. Lời nói của đứa trẻ ngây thơ như đổ thêm dầu vào lửa làm thổi bùng ngọn lửa ghen tuông trong con người vốn đa nghi đó, chàng “đinh ninh là vợ hư”. Cách xử sự hồ đồ độc đoán của Trương Sinh đã dẫn đến cái chết thảm khốc của Vũ Nương, một sự bức tử mà kẻ bức tử lại hoàn toàn vô can.

     

     

    Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến chỉ xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ. Người phụ nữ đức hạnh ở đây không được bênh vực, che chở mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lí ; chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ miệng còn hơi sữa và vì sự hồ đồ vũ phu của anh chồng ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình.

     

     

     

    c. Đánh giá chung : Số phận người phụ nữ trong xã hội xưa bị khinh rẻ và

     

     

     

     

    không được quyền định đoạt hạnh phúc của mình, các tác giả lên tiếng phản đối, tố cáo xã hội nhằm bênh vực cho người phụ nữ. Đó là một chủ đề manh tính nhân văn cao cả của văn học đương thời.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-V%C3%80I-V%C3%8D-D%E1%BB%A4-V%E1%BB%80-PH%C3%82N-T%C3%8DCH-V%C4%82N-H%E1%BB%8CC-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Ví dụ thứ nhất: Phân tích bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện

    Thanh Quan.

    – “Những bài làm văn mẫu lớp 11”, mở bài viết:

     

    “Hoài cổ” là nhớ xưa. “Thăng Long thành hoài cổ” là trước cảnh thành Thăng Long nhớ về xưa. Nguyễn thị Hinh quen gọi là Bà Huyện Thanh Quan, quê làng Nghi Tàm ven Hồ Tây, là người Thăng Long, đất kinh kỳ bao đời. Bà lại có học thức và lịch duyệt. Trước những thăng trầm của đất nước ở thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, nhìn cảnh Thăng Long, bà động lòng nhớ cổ thương kim là chuyện dĩ nhiên và dễ hiểu:

     

    “Tạo hóa gây chi cuộc hý trường,

     

    Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.

     

    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

     

    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

     

    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

     

    Nước còn cau mặt với tang thương.

     

    Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

     

    Cảnh đến người đây luống đoạn trương”.

     

    Chữ nghĩa bài thơ đã khái quát cả thời đại non một kiếp người. Sự suy thoái của chế độ phong kiến Đàng ngoài lẫn Đàng Trong đã đến tận cùng: bế tắc, phản động,

     

    sụp đổ. Sụp đổ rồi gượng dậy, để đi đến phản động hơn và cuối cùng là đầu hàng, mất nước.

     

    • Bài “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan, chỉ đọc qua một lần, nhưng cái điệu thơ, hồn thơ làm ta bâng khuâng mãi:

     

    “Tạo hóa gây chi cuộc hý trường, Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

     

    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương. Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

    Cảnh đất người đây luống đoạn trường”.

     

    Nữ sĩ sống trong nửa đầu thế kỷ 19 ở nước ta. Bà chỉ để lại khoảng 6 bài thơ Nôm, thể thất ngôn bát cú Đường luật. “Qua Đèo Ngang”, “Chiều hôm nhớ nhà”, “Thăng Long thành hoài cổ”, “Chùa Trấn Bắc”… là những bài thơ tuyệt bút. Ngôn ngữ trang nhã, giọng thơ du dương, điệu thơ chậm và buồn, màu sắc cổ kính, tài hoa… là phong cách thơ của nữ sĩ.

    Làng Nghi Tàm ven Hồ Tây là quê cha đất tổ của Bà Huyện Thanh Quan: xuất thân trong một gia đình quý tộc đời Lê, nên Thăng Long mãi mãi đẻ lại trong tâm hồn nữ sĩ những tình cảm vô cùng sâu sắc. Đầu thế kỷ 19, Phú Xuân trở thành kinh đô cảu triều Nguyễn, Thăng Long được đổi thành Hà Nội. Nôi niềm tâm sự nhớ xưa kinh thành Thăng Long là nỗi niềm của người đi xa. Có thể Bà Huyện Thanh Quan viết bài

     

    thơ này trong thời gian làm nữ quan “Cung trung giáo tập” tại Phú Xuân, những tháng ngày xa cố hương, xa nơi nghìn năm văn vật(?)”.

     

    • Tác giả bài số 32 cuốn “Giảng văn văn học Việt Nam” đã viết mở bài như sau: “Lại một bức tranh thuỷ mặc với mấy nét chấm phá không phải về một buổi trời

     

    chiều mà là về một bức tranh cổ: Thành Thăng Long xưa. Nếu gọi “Chiều hôm nhớ nhà” mang nặng tình non nước là có phần chưa thật thoả đáng thì với “Thăng Long thành hoài cổ” chúng ta được chứng kiến cái thế giới hoài cổ của nữ sĩ khi viết bài này. Ai cũng đều biết: đế đô Thăng Long từ triều Lý đến triều Hậu Lê đã ngót 800 năm lịch sử bi hùng. Lúc Gia Long lên ngôi (1802) lấy Huế làm kinh đô và đến triều Minh Mệnh thì đổi tên cựu đô Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Chưa biết lúc Bà Huyện Thanh Quan vào tân đô nhận chức Cung trung giáo tập dưới thời Minh Mệnh thì Thăng Long đã đổi thành Hà Nội chưa? Chắc chắn bài thơ này ghi lại sự kieenj trọng đại kể trên đã làm xúc động các cựu thần củ a tiên triều và nhân dân cả nước. Quả thật, “Thăng Long thành hoài cổ” (Nhớ Thăng Long xưa) là một tác phẩm nổi tiếng của Bà Huyện Quan, bởi vì nó tiêu biểu đầy đủ nội dung biểu đạt và hình thức thể hiện của chùm thơ bà”.

     

    2.                 Minh họa phân tích một phần trong thân bài

     

    • Ví dụ: Phân tích hai câu 5, 6 trong phần luận bài thơ “Đất Vị Hoàng” của Tú Xươ

     

    – Tác giả bài 49 cuốn “Giảng văn văn học Việt Nam” viết: “Keo cú người đâu như cứt sắt,

     

    Tham lam chuyện thở những hơi đồng”.

     

    Tính “keo cú”, tính “tham lam” vốn là sản phẩm của những mặt tiêu cực của cuộc sống đô thị hóa; con người hà tiện, keo cú để tích luỹ vốn liếng: con người sống trong môi trường kinh tế hàng hóa, thị trường, chạy theo đồng tiền, tham lam. Lối so sánh “keo cú như cứt sắt” ta vẫn gặp trong lời nói hằng ngày của nhân dân. “Tham lam chuyện thở những hơi đồng”, cách nói này ta cũng đã gặp trong “Truyện Kiều”: “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê”. Tú Xương đã sử dụng những hình ảnh so sánh, hình ảnh ẩn dụ có trong truyền thống văn hóa cổ truyền để vạch trần những nét tiêu cực của tính cách con người trong thời đô thi hóa ở làng Vị Hoàng buổi ấy”.

     

    – “Sổ tay văn học lớp 11” đã phân tích:

     

    “Hai câu trong phần luận mở rộng ý thơ trong phần thực, làm cho bức tranh “Đất Vị Hoàng” được tô đậm sắc màu hiện thực. Không còn ước lệ nữa. Hai nét vẽ về cảnh đời đáng buồn, đáng thương hại đối nhau. Một bộ tứ bình biếm họa hoàn chỉnh.

     

    • cái đất Vị Hoàng thuở ấy nhan nhản những loại người “tham lam” và “keo cú”. “Keo cú” đến bần tiện, ghê tởm và hôi hám. Nhà thơ ngạc nhiên hỏi và so sánh: “người đâu như cứt sắt” sao mà đáng sợ, đáng khinh bỉ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là chuyện thở rặt hơi đồng”. “Thở” là nhãn tự, rất linh diệu; nếu thay bằng chữ “nói” hay một từ nào khác thì không lột tả được bản chất loại người tham lam, đê tiện này. Vì đã “thở” phải đi liền với “hơi” – “hơi đồng”, tiền bạc. “Truyện Kiều” cũng có câu: “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê!”. Chỉ vì tiền, coi tiền bạc là trên hết, là trước hết trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. “Rặt” là từ cổ, là nói cách dân gian, nghĩa là “toàn là”, “đều là”. Phép đảo ngữ rất có giá trị thẩm mỹ, tạo nên ngữ điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc, lên án loại người tham lam, keo cú mất hết nhân tính:

     

    “Keo cú // người dâu như cứt sắt,

     

    Tham lam// chuyện thở rặt hơi đồng”.

     

    • Ví dụ: Phân tích một đoạn thơ trong bài “Tây Tiến của Quang Dũng: “Sài Khao sương lấp… Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

     

    – Thái Văn Vinh, lớp 12 chuyên Bình Định viết:

     

    “Ngay từ đầu bài thơ, ông đã miêu tả vùng rừng núi ấy, nhớ về rừng núi ấy thiết tha như thẻ làm cho người đọc chú ý ngay. Nhớ Tây Tiến, nhớ về sông Mã và núi rừng trùng điệp, nhớ con đường hành quân:

     

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

     

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

     

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

     

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

     

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

     

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

     

    Con đường hành quân điệp trùng với bao cái khắc nghiệt, dữ dội của một vùng rừng núi biên ải. Đọc đoạn thơ, chưa cần suy ngẫm cái nội dung bên trong chúng ta đã có thể hình dung ra cái con đường mà Quang Dũng miêu tả qua thanh luật của đoạn thơ. Kết cấu của đoạn thơ cứ thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau, trải dài ra miên man, vô tận như con đường xa thẳm khấp khiễng. Nhạc điệu êm ả, triền miên. Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp sương dày của núi rừng… Tất cả chỉ lung linh trong lớp sương khói mờ ảo, như thực, như mộng. Thế nhưng mỗi địa danh gắn liền với một đặc điểm của địa vật: nếu ta chỉ thay “Sài Khao” bằng một tên gọi khác là lớp sương huyền ảo ấy tan biến ngay. Đoàn quân Tây Tiến cất bước trên con đường xa vạn dặm,

     

    với cái trắc trở gập ghềnh của con đường. Đã “dốc len khúc khuỷu” mà lại còn “dốc thăm thẳm”, thì đúng là độ cao chất ngất, ngoằn ngoèo khó đi. Đã “ngàn thước lên cao” rồi lại “ngàn thước xuống”, tất cả những đặc điểm ấy diễn tả nỗi khó khăn của đoàn Tây Tiến khi hành quân. Nó có ghi lại một ấn tượng về một miền rừng núi thật là dữ dội và khắc nghiệt. Quang Dũng có những cách dùng từ rất tinh tế mà cũng hết sức tinh nghịch: núi cao chạm mây nối thành cồn “heo hút”, và để diễn tả chiều cao của núi thì chỉ ba chữ “súng ngửi trời” là đủ đưa ta đến tuyệt đỉnh cao vời. “Súng ngửi trời” nghe thật ngộ nghĩnh. Phải chăng đó là cách gọi của lính mà Quang Dũng ghi lại với tư cách một người trong cuộc. Dù sao, qua những từ ngữ, chi tiết và cách kết cấu âm của đoạn thơ cũng đã đủ vẽ lên trước mắt ta hình ảnh một miền rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến đã từng đi qua. Có những câu thơ dùng toàn thanh bằng rất hay, rất đắt:

     

    “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

     

    Sau khi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, người chiến sĩ Tây Tiến như đứng trước đỉnh núi cao nhìn xuống thung lũng phủ kín trong màn mưa. Những ngôi nhà như đang trôi bồng bềnh trong màn mưa trắng. Thanh bằng của từng chữ trải ra, mênh mang, diễn tả cái màn mưa phủ giăng thung lũng”.

     

    (Trích bài thi Giải nhi 16 điểm, thi học sinh giỏi Văn toàn quốc)

     

    – Nguyễn Thị Minh Tâm, lớp 12 trường PTTH Đồng Hới, Quảng Bình đã phân

     

    tích:

     

    “(…) Nỗi nhớ dẫn tác giả trở về với những kỷ niệm khó quên. Đó là những vất vả, gian nan mà người lính đã trải qua:

     

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

     

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

     

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

     

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

     

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

     

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

     

    Người lính hay nhớ đến những đêm dài hành quân, bởi đời lính thường gắn với những cuộc hành quân. Nói đến người lính là nói đến những cuộc hành quân dài, vất vả, gian khổ, mệt nhọc mà vẫn thắm đẹp chất oai hùng. Quang Dũng cũng nói đến những cuộc hành quân như vậy:

     

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”

     

    Ta chợt thấy lạ! Ít ai nói như Quang Dũng: “đoàn quân mỏi”. Nhưng đâu có sai, mỏi chứ, những cuộc hành quân suốt ngày đêm; vượt qua hàng chục cây số đèo dốc thì “mỏi” là đúng. Đưa hình ảnh “đoàn quân mỏi” vào đây mà lại hay, hay ở chính cái thực của nó. Và hay bởi vì còn xó câu thơ tiếp theo:

     

    “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

     

    “Đoàn quân mỏi” nhưng tâm hồn, ý chí của họ không “mỏi”. Cho nên tâm hồn của họ vẫn biết hướng vào cái đẹp, vẫn nghĩ đến những cái còn cao hơn, đẹp hơn những gian khổ mà họ đã trải qua: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Lại những thanh bằng tạo nên trong lòng ta một cảm giác thật nhẹ nhàng, nó cân bằng, trung hòa với những gì mà câu thơ tạo ra. Có như thế, những câu thơ mạnh mẽ, gãy khúc, nhịp thơ ngắn, nặng lại đi với những câu thơ nhẹ nhàng, mênh mang:

     

    “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

     

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

     

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

     

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

     

    Có thực sự sống trong cuộc kháng chiến như Quang Dũng, thì mới có những câu thơ thực và đúng về những gian khổ của người lính như thế. Những câu thơ làm cho ta tưởng như được thấy, được trải qua gian khổ đó. Đã “dốc lên khúc khuỷu” rồi lại còn “dốc thăm thẳm” nữa. Chỉ hai từ “thăm thẳm” thôi mà vẽ lên trong ta một hình ảnh rõ nét, tạo cho ta cảm giác choáng ngợp: “thăm thẳm” là cao, lại là sâu. Không phải là “cao chót vót” mà là “thăm thẳm” thì mịt mù lắm, cao lắm, nó vượt ra khỏi tầm mắt của ta. Cũng vì có từ “thăm thẳm” cho nên mới “heo hút”, chứ “chót vót” thì không thể “heo hút” được. Cái tài của Quang Dũng là đó. Và chợt ta bắt gặp hình ảnh “súng ngửi trời”. Phải là “súng ngửi trời” thì mới nói hết độ cao của dốc, của gian khổ. Nhưng cũng vì có hình ảnh “súng ngửi trời” mà câu thơ viết về gian khổ lại không mang chút bi quan mà phảng phất chút dí dỏm. Đã dốc “khúc khuỷu”, đã “thăm thẳm”, “heo hút” rồi lại còn “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” nữa mới thật rõ cái gian khổ, vất vả của người lính. Nhưng từ đỉnh cao “ngàn thước” đó, tâm hồn người lính lại mở ra, phóng tầm mắt ra giữa ngút ngàn trời đất:

     

    “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

     

    Vẫn là một câu thơ rất nhẹ với những thanh bằng, với vần “ơi” mênh mang, tạo nên trong ta một cảm giác mênh mông, dàn trải, lại vừa gợi lên một màn mưa lưa thưa, mờ mờ. Đó chính là nét thi sĩ trong tâm hồn người lính – học sinh. Câu thơ như thoảng một chút mơ màng, một chút mộng mơ rất đáng yeu”.

     

    (Những bài văn đựoc điểm cao)

     

    3. Minh họa phần kết bài

     

    • Với đề bài văn “Phân tích những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuânthể hiện trong bài ký “Người lái đò Sông Đà” có những cách viết kết bài sau:

     

    – Tác giả cuốn “99 bài văn” viết:

     

    Đọc “Người lái đò Sông Đà” ta biết thêm một Nguyễn Tuân uyên bác, tài hoa, độc đáo. Tả cảnh thì biến hoá, trong bốn mùa, trong mọi thời gian, đa thanh và phức diệu lúc nói về thác, ghềnh… Bao liên tưởng đầy thi vị, với bao cảm giác mạnh đầy mầu sắc và góc cạnh với một kho chữ nghĩa giàu có. Văn của Nguyễn Tuân đúng là những giọt mật của con ong yêu hoa; cần mẫn và sáng tạo, đem thơm thảo cho đời. Câu văn xuôi tài hoa, lúc thì vang vọng âm ba của thác ghềnh, lúc thì mênh mang dư vị của hương nguồn hoa núi.

     

    Đọc “Người lái đò Sông Đà”, ta yêu thêm con người Việt Nam dũng cảm, cần cù và tài hoa; ta tự hào về núi sông Tổ quốc nguy nga, tráng lệ. Sông Đà quả là quà tặng của thiên nhiên:

     

    …“Ôi những dòng sông bắt đầu từ đâu

     

    Mà khi về Đất nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đo, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”.

    (“Đất nước” – Nguyễn Khoa Điềm) (Tr 563-564)

     

    – Phan Huy Dũng, trong cuốn “Để viết hay bài làm văn lớp 12”, đã kết bài để văn trên như sau:

     

    “Người lái đò Sông Đà” cho thấy một số nét đặc sắc của phong cách Nguyễn Tuân, nổi bật nhất là ở cái nhìn sắc sảo, tài hoa cảu một nghệ sĩ bậc thầy luôn phát

     

    hiện ra những điều mới lạ của sự vật, con người và thể hiện chúng thật độc đáo; độc đáo trong dùng từ tạo câu, độc đáo trong lựa chọn hình ảnh, ví von, so sánh. Và cả ở niềm say mê thiên nhiên, núi sông Tổ quốc đi liền với sự hiểu biết cặn kẽ, sâu sắc và phong phú về những gì nhà văn miêu tả lên mỗi trang viêt. Bút ký này cho chúng ta hiểu và thêm quý trọng tài năng và phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân”. (Tr. 114)

     

    Trên đây, chúng tôi đã đưa ra một số “mẫu” để minh hoạ cho độc giả tham khảo, dàn ý phân tích văn và một vài thao tác như mở bài, kết bài, phân tích một chi tiết, một khía cạnh, một phần của tác phẩm. Văn chương cần sáng tạo; người sáng tác thơ văn tất sáng tạo để vươn lên, tiếp cận cái đẹp. Người học sinh làm một bài văn trên lớp trong phòng thi – cũng phải sáng tạo. Học tập và đọc sách là để sáng tạo, chứ không để sao chép; xin giới thiệu một vài ý kiến xa, gần:

     

    • Đỗ Phủ viết: “Độc thư phá vạn quyển Hạ bút như hữu thần”. (Đọc sách phá vạn quyển, Hạ bút (viết) như có thần).

    Ông lại nói:

     

    “Rất trọng (cái hay trong thơ) của người đời nay, nhưng cũng rất quý (cái hay trong thơ) của cổ nhân. Câu hay lời đẹp của họ ta đều yêu mến cả. Trộm mong được kề vai sát cánh cùng đi với Khuất Nguyên, Tống Ngọc, chứ không muốn đi theo cái mặt trái (uỷ mỵ, yếu đuối của thơ ca) đời Tề, Lương.

     

    Chưa bằng được các bậc tiền hiền càng không nghi ngờ, rồi đây biết lấy ai là người khôi phục thuật lại được người xưa. Cắt phăng những cái giả tạo, hư nguy, lập

     

    nên vẻ phong nhã mới, học tập cái hay của những người khác, biến thành cái hay của mình”.

     

    Viết văn đòi hỏi một cuộc sống phong phú, đồng thời đòi hỏi phải đọc sách. Học văn cũng vậy. Có đọc sách (sách tốt) mới có thể mở rộng tầm nhìn, tích luỹ tri thức, năng lực tưởng tượng được phong phú hơn và năng lực biểu đạt cũng được tăng thêm. Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long” cũng có chỉ rõ: “Kiến văn rộng là lương thực để giải cứu sự nghèo nàn” (Bác kiến vi quỹ bần chi lương).

     

    Không đọc sách theo lối “ăn sống nuốt tươi:, sao chép, bắt chước sách vở một cách tuỷ tiện, trở thành “cái hòm đựng sách”. Người học văn cũng như “Người làm thơ vốn là người đọc sách, mà chẳng dùng một chữ nào ở trong sách” (Tác thi nguyên thị độc thư nhân, bất dụng thư trung nhất cả tự).

     

    Viên Mai trong “Tuỳ viên thi thoại” có nhắc:

     

    “ Tằm ăn lá dâu nhưng nhả ra tơ chư không phải nhả ra lá râu.Ong hút nhụy hoa mà gây thành mật,chư không phải gây thành nhụy hoa.Dọc sách như ăn cơm vậy, kẻ “khéo ăn”, tinh thần sẽ lớn lên, kẻ không khéo ăn “ sinh ra đởm, bướu”.

     

    Học văn mà không đọc sách, ít đọc sách, đọc sách mà thiếu phương pháp, hoặc thiếu ý thức học tập cái tinh hoa của người thì khó mà đến hai chữ văn chương.Lỗ Tấn, văn hào Trung quốc từng nhắc nhũ các nhà văn trẻ:

    “Không nên đọc riêng tác phẩm của mọi người, để đề phòng họ bị trói chặt chân tay mình, mà phải học tập rộng ở nhiều người, tiếp thu những cái hay ở họ, chỉ có như vậy thì về sau mói đứng độc lập được”.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây