Author: Nguyễn Huyền

  • Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%C3%AAp-Tr%E1%BB%A5c-l%E1%BB%A3i-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-h%E1%BA%A1n-ch%E1%BA%BF-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-tr%E1%BB%A5c-l%E1%BB%A3i-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-xe-c%C6%A1-gi%E1%BB%9Bi-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-PJICO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    I.                   THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH XE CƠ GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Xe cơ giới:

    Là tấ t cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó, trừ xe đạp máy.

    Theo Luật giao thông đường bộ: tại Điều 3, Mục 13, 15.

    • Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm: xe ôtô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự kể cả xe cơ giới dành cho người tàn tật.
    • Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có tham gia giao thông đường bộ.

    1.                 Đặc điểm hoạt động của xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay.

    Trong quá trình hoạt động xe cơ giới có một số đặc điểm sau liên quan đến quá trình bảo hiểm:

    • Số lượng đầu xe tham gia giao thông đường bộ ngày càng tăng và có những thời kỳ tăng đột biến làm cho tai nạn có những thời kỳ xảy ra ngày càng nhiều và càng nghiêm trọng. Năm 1995 số lượng ôtô là 340.779 chiếc, xe máy 3.578.156 chiếc nhưng đến năm 2004 (chỉ 10 năm sau) số lượng ôtô đã là 735.000 chiếc và xe máy 12.859.000 chiếc. Vậy chỉ trong 10 năm số lượng ôtô đã tăng 2,2 lần và số lượng xe máy đã tăng 3,6 lần.
    • Xe cơ giới có tính động cơ cao, tính việt dã tốt và nó tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy xác xuất rủi ro là rất lớn.
    • Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phụ thuộc rất lớn vào cơ sở hạ tầng, thời tiết khí hậu, địa hình … Năm 1995 có 112.996 km đường bộ, nhưng chỉ có 19,8% đường rải nhựa và bê tông. Cho đến năm 2004 có 127.678 km, trong đó 38% là đường rải nhựa và bê tông. Hiện nay nước ta có 109 đèo dốc nguy hiểm các loại.
    • Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ chịu sự chi phối của một số bộ luật của quốc gia.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Do nh ững đặc điểm trên có tính đặc thù nên ở tất cả các nước khi đã có bảo hiểm thì bao giờ cũng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Và ở Việt Nam thì nghiệp vụ này cũng đã được triển khai phổ biến và rộng rãi.

    Để biết cụ thể số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay xem ở bảng

    sau:

    Bảng 1: Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ tại Việt Nam hiện nay.

    Chỉ Tổng số ôtô + xe Ôtô   Xe máy
    tiêu máy            
    Năm Số lượng   Tốc độ Số lượng   Tốc độ Số lượng Tốc độ
        tăng     tăng   tăng
          (%)     (%)   (%)
    1995 3.918.935   17,6 340.779   03,3 3.578.156 19,3
    1996 4.494.250   14,7 386.976   13,5 4.208.274 17,6
    1997 5.244.978   16,7 417.768   07,9 4.827.210 14,7
    1998 5.643.000   07,6 443.000   06,0 5.200.000 07,7
    1999 6.051.000   07,2 465.000   04,9 5.586.000 07,4
    2000 6.965.562   15,1 486.608   04,6 6.478.954 15,9
    2001 8.916.134   28,0 557.092   14,5 8.389.042 29,5
    2002 10.880.401   22,0 607.401   09,0 10.273.000 22,4
    2003 12.054.000   10,8 675.000   11,1 11.379.000 10,7
    2004 13.594.000   12,7 735.000   08,8 12.859.000 13,0
                  (Nguồn:   công   ty
                Pjico).  

    2. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam.

    Tai nạn giao thông nói chung và tai nạn giao thông đường bộ nói riêng đang là thách thức đối với tất cả các quốc gia trên thế gới. Hiện nay tai nạn giao thông ở Việt Nam đ ang gia tăng rất đ áng lo ngại và cũng là mối quan tâm hàng đầu của dư luận Xã hội, của Đảng và của Chính Phủ.

    Tai nạn giao thông xảy ra thườ ng để lại hậu quả rất nặng lề và hiện này nó đang là bài toán không có lời giải đối với mạng lưới giao thông ở nước ta. Qua số liệu thống kê cho thấy số v ụ tai nạn giao thông ngày một tăng cả về số lượng và quy mô. Đòi hỏi tất cả các ngành các cấp có liên quan phải sớm vào cuộc tìm ra lời giải cho bài toán này vì tai nạn giao thông làm mất đi củ a cải của xã hội, mất ổn định xã hội, nghiêm trọng hơn là hậu quả của nó để lại.

    Số vụ tai nạn giao thông ở nước ta có chi ều hướng ngày một tăng cao, năm 1995 xảy ra 15.376 vụ, đến n ăm 2002 s ố vụ tai nạn xảy ra đã gấp 1,8 lần số vụ năm 1995 (xảy ra 27.134 vụ ). Riêng 2 năm tr ở lại đ ây số vụ tai nạn có chiều hướng chững lại do sự đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và ý thức

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chấp hành luật lệ an toàn giao thông của người dân đã được nâng lên đáng kể. Đặc biệt năm 2003 tốc độ tăng tai nạn giao thông mang dấu âm (-28,2%) đây là dấu hiệu đáng mừng cũng do trong năm này các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế tình hình tai nạn giao thông như: giải toả chỗ lấn chiếm lòng đườ ng vỉa hè, họp chợ trái phép… cho tới những biện pháp mạnh tay nh ư: bắn tốc độ, kiểm tra nồ ng độ cồ n… cũng trong n ăm này r ất nhiều dự án an toàn giao thông đã được đưa vào hoạt động và có tác dụng tích cực.

    Tai nạn giao thông không chỉ gia tăng về số lượ ng mà nguy hiểm hơn đó là quy mô của tai nạn. Từ n ăm 1995 số người chết do tai nạn giao thông là 5.431 đến nă m 2004 con số này đã gấp 2,3 lần (số ng ười ch ết do tai nạn giao thông năm 2004 là 12.644 người) trong đó không ít người là những lao động chính trong gia đình, tr ụ cột trong gia đình mà sự ra đi quá đột ngộ t của họ là một cú sốc lớn đố i với gia đình đó và ngày hôm sau con em họ sẽ sống ra sao? Nguy hiểm h ơn trong số những nạn nhân đó có không ít những thanh niên tr ẻ tuổ i (ngu ồn lao động tương lai của đất nước) họ vừa là nạn nhân nhưng cũ ng đồ ng thời là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn chỉ vì một phút thi ếu suy nghĩ, bồng b ột, đây là điều đáng tiếc nhất mà chúng ta phải lên án và phải có những biện pháp can thiệp thích hợp ngay từ đầu trước khi tai nạn đáng tiếc xảy ra.

    Quy mô của tai nạn còn được thể hiện qua số người b ị thương do tai nạn giao thông. Năm 1995 có 16.921 người b ị thương do tai nạn giao thông đến năm 2004 con số này đã là 21.728 người. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải ở các bệnh viện t ừ TW đến địa phương và trong số những ngườ i bị thương sẽ có không ít người trở thành tàn tật vĩnh viễn (người thực vật) sống dựa vào thu nhập và khả năng chăm sóc củ a người khác. Thiệt hại về người trong tai nạn giao thông là thiệt hại vô giá mà không ai muốn gặp phải do vậy, để hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra phụ thuộc vào ý thức và hành động của tất cả mọi người.

    Để bi ết cụ thể tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam qua các năm xem ở bảng sau:

    Bảng 2:Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam từ năm 1995-2004.

    Chỉ Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị Tỷ lệ số
    tiêu         thương ngườ i
                  chết
                  trên
      Số vụ (vụ) Tốc độ Số Tốc độ Số Tốc độ 10.000
    Năm   tăng người tăng người tăng xe cơ
      (%) (người) (%) (người) (%) giới

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.       Phạm Minh Nguyên- BH43a.
                     
    1995 15.376 +17,2 5.431 +19,3   16.921 +29,5 13,8
    1996 19.075 +24,0 5.581 +2,7   21.556 +27,3 12,1
    1997 19.159 +0,4 5.681 +1,8   21.905 +1,6 10,8
    1998 19.975 +4,3 6.067 +6,8   22.723 +3,7 10,7
    1999 20.773 +3,8 6.671 +9,9   23.911 +5,2 10,9
    2000 22.486 +8,5 7.501 +12,4   25.401 +6,2 10,7
    2001 25.041 +11,3 10.477 +39,6   29.188 +14,9 11,7
    2002 27.134 +8,3 12.801 +22,2   30.733 +5,3 11,8
    2003 19.852 -28,2 11.319 -9,4   20.401 -35,2 9,4
    2004 20.944 +5,5 12.644 +11,7   21.728 +6,5 9,3

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Tình hình tai nạn giao thông tăng một cách đáng lo ngại như vậy là bởi các nguyên nhân sau:

    • Nguyên nhân khách quan:
    • Xuất pháp từ đặc điểm của xe cơ giới là có tính động cơ cao và tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy, xác xuất rủi ro lớn hơn các loại hình giao thông vận tải khác.
    • Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, thường xuyên gặp phải hạn hán, lũ lụt, địa hình hiểm trở 3/4 diện tích là đồi núi gây khó khăn cho việc đi lại vận chuyển.
    • Nguyên nhân chủ quan:
    • Do nhu cầu vận chuyển, đi lại cộng với giá thành xe cơ giới ngày càng hạ làm cho số lượng xe cơ giới tham gia giao thông tăng đột biến. Hiện nay cả nước có 735.000 xe ôtô và 12.859.000 xe máy. Trong đó tốc độ gia tăng của xe ôtô hàng năm là 8-9% (khoảng 50.000 chiếc/năm) còn tốc độ gia tăng của xe máy là 20-30% (khoảng 1,5- 2 triệu chiếc/năm). Sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện cơ giới trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp làm cho mật độ các phương tiện trên đường tăng lên cũng đồng nghĩa với việc tăng xác xuất gây tai nạn giao thông.
    • Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông đường bộ trong những năm qua đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được với tốc độ gia tăng của các phương tiện nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và Tp. HCM.
    • Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông xuất phát từ người điều khiển phương tiện trong đó, ý thức của người điều khiển phương tiện là nguyên nhân chính. Thống kê nguyên nhân gây tai nạn giao thông của nhiều năm qua đều cho thấy từ 70- 80% các vụ tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông không chấp hành đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông (vi phạm tốc độ chiếm 30%, trách vượt sai quy định

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chiếm 21%, say rượu bia chi ếm 7,3%…). Tổng số xe cơ giới đường bộ là 13.594.000 xe nhưng chỉ có 5.863.857 người có giấy phép lái xe chiếm 43,1%. Điều này cho thấy còn nhiều người không cần họ c luật, không cần thi giấy phép lái xe nhưng vẫn ngang nhiên điều khiển phương tiện, coi thường pháp luật.

    • Ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông của người dân Việt Nam còn kém. Hiện tượng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi buôn bán, kinh doanh, họp chợ… xảy ra phổ biến, hiện tượng coi đường quốc lộ là sân phơi, nơi tập kết vật liệu xây dựng, nơi chơi thể thao… tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến mất an toàn giao thông.

    II.               SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1.                 Ưu điểm của loại hình giao thông đường bộ tại Việt Nam.

     

    • Xe cơ giới có tính động cơ cao, linh hoạt với sự tham gia đông đảo của các loại xe: xe tải, xe khách, xe con, xe máy… hoạt động trong phạm vi rộng kể cả địa hình phức tạp, có thể vận chuyển người và hàng hoá tới những nơi mà các loại hình vận tải khác không thể đến được.
    • Tốc độ vận chuyển của loại hình vận tải này nhanh với chi phí vừa phải. Tiền vốn đầu tư mua sắm phương tiện, xây dựng bến bãi ít tốn kém hơn các hình thức khác, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và thu nhập của người dân Việt Nam.
    • Việc sử dụng các phương xe cơ giới cũng đơn giản và thuận tiện hơn các loại phương tiện khác.

    Với ưu điểm trên số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay đang phát triển như vũ bão.

    2.                 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xe cơ giới.

    Tình trạng tai nạn giao thông ngày càng tăng cả về số vụ và mức độ nghiêm trọng. Mặt khác, có tới 70% số ngườ i đi trên các phương tiện giao thông là người chủ, người trụ cột trong gia đình cũng như ở các doanh nghiệp nên khi tai nạn giao thông xảy ra thì thiệt hại không chỉ bó hẹp trong phạm vi vụ tai nạn mà còn làm mất thu nhập cho cả gia đình, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh và hậu quả cho nền Kinh tế quố c dân. Bên cạnh đó, có những chủ xe gây tai nạn rồ i bổ trốn. Việc giải quyết bồ i thường trở nên khó khăn, lợi ích của người bị nạn không được b ảo đảm, gây ảnh hưởng tiêu cực trong dư luận xã hội. Bởi vậy, nhu cầu lập quỹ chung để bù

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    đắp tổn thất là một yếu tố khách quan. Đó là lý do cơ bản cho thấy sự cần thiết khách quan cho sự ra đời của bảo hiểm xe cơ giới.

    Khi tai nạn giao thông xảy ra, ngườ i có lỗi phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do anh ta gây ra bao gồm:

    • Thiệt hại về người và tài sản của người thứ ba và hành khách vận chuyển trên xe.
    • Thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe.
    • Thiệt hại về người và tài sản cũng như thiệt hại do gián đoạn kinh doanh của chính chủ xe.

    Trên thực tế việc giải quyết hậu quả của những vụ tai nạn giao thông thường rất phức tạp và mất nhiều thời gian vì một số lý do:

    • Sau khi gây tai nạn một phần do hoảng sợ, một phần do thiếu trách nhiệm, lái xe đã bỏ trốn để mặc cho nạn nhân phải chịu hậu quả.
    • Lái xe quá nghèo, không đủ khả năng tài chính để bồi thường thiệt hại cho người thứ ba cũng như cho chủ xe và hàng hoá trên xe.
    • Sau tai nạn lái xe bị thiệt mạng không thể bồi thường cho nạn nhân

    được.

    Vậy để đảm bảo bù đắp những thiệt hại sau những vụ tai nạn, thì việc tham gia bảo hiểm xe cơ giới là hoàn toàn cần thiết. Nhà bảo hiểm sẽ bù đắp các thiệt hại của chính chủ xe cũng như thay mặt chủ xe bồi thường cho người thứ ba, giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu quả tai nạn và sớm ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống.

    3.                 Tác dụng của bảo hiểm xe cơ giới.

    Hoạt động của nghiệp vụ b ảo hiểm xe cơ giới đã đem lại cho cá nhân, tổ chức, xã hội những tác dụng to lớn sau:

    – Đối với cá nhân:

    Rủ i ro là yếu tố ngẫu nhiên không lường trước được, có thể xảy ra cho bất cứ cá nhân, bất cứ phương tiện giao thông nào và hoàn toàn nằm ngoài ý muố n chủ quan của con ng ười. Thêm vào đó xe cơ giới dù là xe máy cũng là một tài sản có giá trị lớn. Do v ậy b ảo hiểm xe cơ gi ới ra đời góp phần ổn định tài chính, khắc phục những hậu qu ả khó khăn về vật chất cũng như tinh thần cho ngườ i bị nạn, giúp họ nhanh chóng khôi phục sau rủi ro tai nạn. Đồng thời, nó cũng giúp ch ủ phương tiện trách được những khoản chi phí bất thường làm mất cân đố i tài chính, đảm b ảo cho người bị thiệt hại được thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự của chủ trách nhiệm.

    Nh ờ có quỹ t ập chung của nhà bảo hiểm, khi có tai nạn xảy ra nhà bảo hiểm giải quyết bồi thường nhanh chóng, kịp thời góp phần xoa dịu bớt căng thẳng giữa chủ xe và nạn nhân.

    – Đối với xã hội:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Việc triển khai nghiệp vụ b ảo hiểm xe cơ giới đã góp phần đảm bảo an ninh và an toàn xã hội. Thông qua công tác thương lượng, hoà giải làm giảm bớt bức súc căng thẳng giữa chủ xe và người bị thiệt hại trong vụ tai nạn. Nó c ũng giúp lái xe luôn có ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông góp phần ngăn ngừa tổn thất.

    – Đối với Nhà Nước:

    Nghiệp vụ bảo hiểm xe c ơ giớ i ra đời cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà Nước đồ ng thời làm tăng thu cho ngân sách Nhà Nước, tăng thu ngoại tệ cho Nhà Nước. Phí bảo hiểm là nguồn tài chính đáng kể, ngoài việc được dùng để bồi thường thiệt hại và đề phòng hạn chế tổn thất, nó còn được dùng để nâng c ấp và xây dựng cơ sở h ạ tầng giao thông, một mặt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mặt khác hạn ch ế tai nạn giao thông xảy ra và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

    III. MỘT SỐ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1. Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.

    Bảo hiể m TNDS của chủ xe cơ gi ới đối với ngườ i th ứ ba đây là hình thức bảo hiểm bắt buộc đối với tất cả các chủ xe cơ giới, bởi vì:

    • Xe cơ giới là một nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây tai nạn bất cứ lúc nào mà con người không thể lường trước được. Đất nước ngày càng phát triển, mạng lưới giao thông ngày càng dày đặc thì tai nạn do xe cơ giới gây ra ngày càng nhiều.
    • Bảo hiểm TNDS của xe cơ giới là một biện pháp kinh tế mà các chủ xe có trách nhiệm đóng góp về mặt tài chính để hình thành nên quỹ bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm quản lý. Quỹ này nhằm đảm bảo bồi thường nhanh chóng, khắc phục hậu quả kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của những người bị thiệt hại về thân thể và tài sản do xe cơ giới gây ra. Đặc biệt là trong trường hợp người gây tai nạn không có khả năng về kinh tế để đền bù thiệt hại hoặc người đó cũng đã tử vong trong chính vụ tai nạn đó.
    • Thông qua quỹ này, các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện việc bồi thường, bù đắp cho chủ xe khi gặp phải rủi ro sự cố tai nạn xảy ra, giúp chủ xe khắc phục được hậu quả tài chính, ổn định sản xuất, góp phần ổn định kinh tế xã hội.
    • Ngoài ra quỹ này còn được sửa dụng một phần vào việc đề phòng và hạn chế tổn thất thông qua việc đóng góp xây dựng những công trình phục vụ an toàn giao thông như các đường thoát nạn, các biển báo nguy hiểm…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    và tổ chức các chiến d ịch tuyên truyền rộ ng rãi về luật giao thông, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của mọi người khi tham gia giao thông.

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Người tham gia bảo hiểm thông thường là chủ xe, có thể là cá nhân hay đại diện cho một tập thể. Người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiể m cho phần TNDS củ a chủ xe phát sinh do s ự hoạt độ ng và đi ều khiển xe cơ giới của ng ười lái xe. Như vậy, đối tượng được bảo hiểm là phần TNDS của chủ xe cơ giới đố i với người thứ ba. Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ gi ới đối với người thứ ba là trách nhiệm hay nghĩa vụ bồ i thường ngoài hợp đồng của chủ xe hay lái xe cho người thứ ba do việc lưu hành xe gây nên.

    Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước. Chỉ khi nào việc lưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba thì đối t ượ ng này mới được xác định cụ thể. Các điều kiện phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba bao gồm:

    • Điều kiện thứ nhất: Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoẻ của bên thứ ba.
    • Điều kiện thứ hai: Chủ xe (lái xe) phải có hành vi trái phát luật. Có thể do vô tình hay cố ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm các quy định khác của Nhà nước…
    • Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái phát luật của chủ xe (lái xe) với những thiệt hại của người thứ ba.
    • Điều kiện thứ tư: Chủ xe (lái xe) phải có lỗi.

    Thực tế chỉ cần đồng thời x ảy ra ba điều ki ện thứ nhất, thứ hai, th ứ ba là phát sinh TNDS đối với người thứ ba củ a chủ xe (lái xe) . Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên TNDS của ch ủ xe s ẽ không phát sinh, và do đó không phát sinh trách nhiệm củ a b ảo hiểm. Điều kiện th ứ tư có thể có hoặc không, vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy hiểm cao độ của xe cơ giới mà không hoàn toàn do lỗi của ch ủ xe (lái xe). Ví dụ: Xe đang chạy bị nổ lốp, lái xe mất khả năng đi ều khiển nên đã gây ra tai n ạn. Trong trường hợp này, TNDS vẫn có thể phát sinh nếu có đủ ba điều kiện đầu tiên.

    Chú ý rằng, bên thứ ba trong bảo hi ểm TNDS chủ xe cơ giới là những người trực tiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn nhưng loại trừ:

    • Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe.
    • Những người lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, con

    cái…

    – Hành khách, những người có mặt trên xe.

    1. Phạm vi bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Người bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường trước gây ra tai nạn và làm phát sinh TNDS của chủ xe. Cụ thể, các thiệt hại nằm trong phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm bao gồm:

    – Tai nạn gây thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ

    ba;

    – Tai nạn gây thiệt hại về tài sản, hàng hoá… của bên thứ ba;

    – Tai nạn gây thiệt tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc giảm thu nhập;

    – Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hạn chế thiệt hại; các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quan bảo hiểm (kể cả biện pháp không đem lại hiệu quả).

    – Những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của những người tham gia cứu chữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân.

    • Các rủi ro được loại trừ:

    Ngườ i b ảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các tai nạn mặc dù có phát sinh TNDS trong các trường hợp sau:

    • Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe và người bị thiệt hại.
    • Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để tham gia giao thông theo quy định của điều lệ trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ.
    • Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông đường bộ như:
      • Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường.
    • Lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái bị tịch thu, bằng

    không hợp lệ.

    • Lái xe bị ảnh hưởng của các chất khích thích như: rượu, bia,

    ma tuý…

    • Xe chở chất cháy, nổ trái phép.
    • Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa.
    • Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm, xe đi đêm không có đèn chiếu sáng hoặc chỉ có đèn bên phải.
    • Xe không có hệ thống lái bên phải.
    • Thiệt hại do chiến tranh, bạo động.
    • Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sản xuất kinh doanh.
    • Thiệt hại đối với tài sản bị cướp, bị mất cắp trong tai nạn.
    • Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia (trừ khi có thoả thuận khác). Ngoài ra, người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm bồi thường

    thiệt hại đối với những tài sản đặc biệt như:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Vàng bạc, đá quý.
    • Tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền.
    • Đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm.
    • Thi hài, hài cốt.
    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện. Người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số lượng đầu phương tiện của mình. Mặt khác, các phương tiện khác nhau về chủng loại, về độ lớn có xác xuất gây ra tai nạn khác nhau. Do đó, phí bảo hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phương tiện) tuỳ theo mỗi đầu phương tiện.

    Phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phương tiện (thường tính theo năm) là:

    P = f + d

    Trong đó:

    P – Phí bảo hiểm / đầu phương tiện f – Phí thuần

    d – Phụ phí

    Phí thuần được tính theo công thức: n

    • Si x Ti

    i = 1

    f=            n Ci

    i=1

    Trong đó:

    Si – Số vụ tai nạn x ảy ra có phát sinh TNDS của chủ xe được bảo hiểm bồi thường trong năm thứ i.

    Ti – Số tiền bồi thường bình quân 1 vụ tai nạn trong năm

    thứ i.

    Ci – Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong năm

    thứ i.

    n – Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm, i = (1,n).

    Như vậy, “f” thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n

    năm cho mỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó.

    Đối với các phươ ng tiện không thông dụng, mức độ rủi ro lớn hơn như xe kéo rơ moóc, xe chở hàng nặng… thì tính thêm tỷ lệ ph ụ phí so với mức phí cơ bản. Ở Việt Nam hiện nay thường cộng thêm 30% mức phí cơ bản.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Đối với các phương ti ện hoạt động ngắn hạn (dưới một năm), thời gian tham gia bảo hiểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác định như sau:

    Pngắn hạn = P năm x Tỷ lệ phí ngắn hạn theo tháng

    Trường hợp đã đóng phí (tham gia bảo hiểm) cả năm, nhưng vào một thời đi ểm nào đó phương tiện không ho ạt động nữa hoặc chuyển sở hữu mà không chuy ển quyền b ảo hiểm thì chủ phương tiện s ẽ được hoàn phí bảo hiể m tương ứng với số thời gian còn lại của n ăm (làm tròn tháng) n ếu trước đó chủ phương tiện chưa có khiếu nại và được bảo hiểm bồi thường.

    Số phí hoàn lại được xác định như sau:

    Pnăm x Số tháng xe không hoạt động

    • hoàn lại =

    12 tháng

    Nộp phí bảo hiểm là trách nhiệm của chủ phương tiện. Tuỳ theo số lượ ng phương tiện, người b ảo hiểm sẽ quy đị nh thời gian, số lần nộ p và mức phí tương ứng có xét giảm phí theo tỷ lệ tổn thất và giảm phí theo số lượng phươ ng ti ện tham gia bảo hiểm (tối đa thường là 20%). Nếu không thực hiện đúng quy định này sẽ bị phạt.

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico đang áp dụng kể từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Về người: 30 triệu đồng/người (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách).

    Về tài sản: 30 triệu đồng/vụ (đối với người thứ ba).

    Phí bảo hiểm (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển

    hành khách).

    Xe taxi:

    – Dưới 6 chỗ tính bằng 150% của phí xe kinh doanh dưới 6 chỗ quy định tại mục

    IV.A.

    – Xe trên 6 chỗ tính bằng phí xe kinh doanh cùng số chỗ ngồi quy định tại mục

    IV.A.

    Xe buýt: Tính bằng phí bảo hiểm của xe không kinh doanh cùng số chỗ ngồi theo quy định tại mục III.

    Xe ôtô chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh vận tải cùng trọng tải quy định tại mục III.B.

    Xe máy chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh vận tải dưới 3 tấn quy định tại mục III.B.

    Xe rơ moóc: Tính bằng 30% phí bảo hiểm của xe kéo rơ moóc đó.

    Bảng 3: Biểu phí TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại Pjico.

    STT LOẠI XE PHÍ BẢO HIỂM NĂM (Đồng)
    I MÔ TÔ 2 BÁNH:  
    1 Từ 50cc trở xuống 50,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
           
    2 Trên 50 cc   55,000
         
    II XE LAM, XE MÔ TÔ BA BÁNH, XÍCH LÔ MÁY, XE LÔI 140,000
           
    III XE Ô TÔ KHÔNG KINH DOANH VẬN TẢI    
    A Xe ô tô chở người    
    1 Loại xe dưới 6 chỗ ngồi   200,000
    2 Loại xe từ 6 đến 11 chỗ ngồi   400,000
    3 Loại xe từ 12 đén 24 chỗ ngồi   640,000
    4 Loại xe trên 24 chỗ   920,000
    B Xe ô tô chở hàng (xe tải)    
    1 Dưới 3 tấn   340,000
    2 Từ 3 đến 8 tấn   670,000
    3 Trên 8 tấn   930,000
    C Xe vừa chở người vừa chở hàng (pickup)   470,000
           
    IV XE Ô TÔ KINH DOANH VẬN TẢI    
    A Xe ô tô chở người    
    1 Dưới 6 chỗ ngồi theo đăng ký   350,000
    2 6 chỗ ngồi theo đăng ký   430,000
    3 7 chỗ ngồi theo đăng ký   500,000
    4 8 chỗ ngồi theo đăng ký   580,000
    5 9 chỗ ngồi theo đăng ký   650,000
    6 10 chỗ ngồi theo đăng ký   730,000
    7 11 chỗ ngồi theo đăng ký   800,000
    8 12 chỗ ngồi theo đăng ký   880,000
    9 13 chỗ ngồi theo đăng ký   950,000
    10 14 chỗ ngồi theo đăng ký   1,030,000
    11 15 chỗ ngồi theo đăng ký   1,110,000
    12 16 chỗ ngồi theo đăng ký   1,180,000
    13 17 chỗ ngồi theo đăng ký   1,360,000
    14 18 chỗ ngồi theo đăng ký   1,330,000
    15 19 chỗ ngồi theo đăng ký   1,410,000
    16 20 chỗ ngồi theo đăng ký   1,480,000
    17 21 chỗ ngồi theo đăng ký   1,560,000
    18 22 chỗ ngồi theo đăng ký   1,630,000
    19 23 chỗ ngồi theo đăng ký   1,710,000
    20 24 chỗ ngồi theo đăng ký   1,790,000
    21 25 chỗ ngồi theo đăng ký   1,860,000
    22 Trên 25 chỗ ngồi   1.860.000 + 20.000 x (Số chỗ – 25 chỗ)
    B Xe ô tô chở hàng (xe tải)    
    1 Dưới 3 tấn   380,000
    2 Từ 3 đến 8 tấn   740,000
    3 Trên 8 tấn   1,020,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    (Nguồn: công ty Pjico)

    (Lưu ý: Phí bảo hiểm trên chưa bao gồm 10% thuế GTGT).

    3.                 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách.

    Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc với mục đích:

    • Góp phần ổn định cuộc sống của bản thân hành khách không may bị tai nạn và gia đình họ.
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn khắc phục hậu quả kịp thời, nhanh chóng.
    • Xét trên phạm vi xã hội, nó góp phần ngăn ngừa và đề phòng tai nạn giao thông. Tăng thu ngân sách cho Nhà nước để từ đó có điều kiện đầu tư trở lại nâng cấp và xây dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông.
    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Là tính mạng và tình tr ạng sức khoẻ của tất cả hành khách đi trên các phương tiện giao thông kinh doanh chuyên chở hành khách. Những người này không phân biệt lứa tuổi, nghề nghi ệp, miễn là họ có vé hoặc miễn giảm vé theo quy định. Người được bảo hiểm bao gồm cả những hành khách đượ c ưu tiên đặc biệt không phải mua vé, trẻ em đi theo người lớn được miễn vé.

    Tuy nhiên, hành lý, tài sản, hàng hóa củ a hành khách mang theo, các lái phụ xe và những người đ ang làm việc trên các phương tiện vận chuyển hành khách (ôtô, tàu hoả, tàu thuỷ , thuyền phà và máy bay) không thuộc đối tượng bảo hi ểm. Nghiệp vụ này ở nước ta được tri ển khai dưới hình th ức bắt buộc, vì vậy phí b ảo hi ểm được tính vào giá cước vận chuyển và mặc nhiên mỗi tấm vé là một giấy chứng nhận bảo hiểm.

    1. Phạm vi bảo hiểm:
    • Các rủi ro được bảo hiểm:

    Là các rủ i ro do thiên tai, tai nạn bất ng ờ xảy ra trong suốt hành trình của hành khách gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của người được bảo hiểm.

    • Thiên tai bao gồm: Thời tiết xấu, bão lốc, lũ lụt, sụt lở đất đá… gây thiệt hại cho phương tiện chuyên chở, do đó gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của hành khách.
    • Tai nạn bất ngờ: Đâm va, cháy nổ, lật nghiêng, do sự cố kỹ thuật của chính phương tiện, lỗi lầm của người điều khiển phương tiện hoặc do phương tiện khác đâm vào…
    • Các rủi ro loại trừ:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bị tai nạn do vi phạm trật tự an toàn giao thông, vi phạm pháp luật (nhảy tàu, xe khi phương tiện chưa dừng hẳn, bám xe, đứng ngồi không đúng chỗ quy định, hành hung, ăn cắp…).
    • Bị tai nạn do những nguyên nhân không liên quan trực tiếp đến quá trình vận chuyển hoặc bản thân tình trạng sức khoẻ của hành khách gây ra (ngộ độc thức ăn, trúng gió, ốm đau…).
      • Thời hạn hiệu lực của bảo hiểm:
    • Là thời gian hợp lý để thực hiện cuộc hành trình, tức là bắt đầu từ lúc hành khách bước chân lên phương tiện và kết thúc khi hành khách rời khỏi phương tiện một cách an toàn tại bến, ga hoặc sân bay cuối cùng ghi trên vé. Thời gian tạm ngừng hợp lý (lấy nhiên liệu, ăn uống…) vẫn được tính vào thời hạn bảo hiểm. Nếu đi liên vận, hành khách phải thay đổi phương tiện, trong lúc chờ đợi để lên phương tiện tiếp theo vẫn được bảo hiểm.
    • Nếu hành khách tự ý hay vô tình rời bỏ cuộc hành trình, rời bỏ hay lạc mất phương tiện chuyên chở thì coi như thời hạn bảo hiểm chấm dứt.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    S ố tiền bảo hiểm đượ c ấn định theo quy định chung đối với mỗi loại phương ti ện hay một số loại phương tiện. Chẳng hạn, nếu hành khách đi trên máy bay, số tiền bảo hiểm là 20.000 USD/hành khách. Nếu đi trên tàu hoả, tàu thuỷ, ôtô số tiền bảo hiểm là 12.000.000 VNĐ/hành khách. Vì nghiệp vụ được thực hiện dưới hình thức bắt buộc nên ngườ i tham gia bảo hiểm không có quyền lựa chọn số ti ền bảo hiể m. Trẻ em mua n ửa vé hoặc được miễn vé thì số tiền bảo hiểm chỉ bằng 50% số tiền bảo hiểm của người lớn.

    1. Phí bảo hiểm:

    Vì thực hi ện bảo hiểm bắt buộc nên phí bảo hiểm được tính vào giá vé. Cơ quan làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách bán vé cũng là người thu phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:

    • Số tiền bảo hiểm.
    • Loại phương tiện vận chuyển.
    • Độ dài tuyến đường chuyên chở.
    • Đặc điểm tuyến đường hoạt động của phương tiện vận chuyển (chất lượng đường xá, địa hình).

    Có 2 phương pháp tính phí được các công ty bảo hiểm vận dụng:

    • Phí bảo hiểm tính trên 1km/ hành khách, cho từng loại phương tiện với giả thiết 100% hành khách đều được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm cho trước.

    Công thức:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    P= f1+ f2+ f3+ f4

    ∑Ci+ ∑Ti

    f1=

    • m∑Lij Kij

    Trong đó:

    f1– Phí thuần

    f2– Phí đề phòng hạn chế tổn thất

    f3– Phí dự phòng

    f4– Phí quản lý và lãi dự kiến

    (f2, f3, và f 4 th ường được quy định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng số phí thu).

    Ci- Số tiền chi trả cho những hành khách bị chết năm thứ i.

    Ti- Số tiền chi trả cho những hành khách phải điều trị, phẫu thuật năm thứ i.

    Lij- Độ dài quãng đường j năm thứ i.

    Kij- Số hành khách đi trên quãng đường j năm thứ i.

    n- Số năm khảo sát (n= 5 năm).

    m- Số quãng đường của từng loại hình giao thông vận tải.

    Ph ương pháp này có ưu điểm chính là chính xác và độc lập với giá cướ i vận tải, song lại có nhược điể m mức phí tính ra rất lẻ và đôi khi quá nhỏ nên đã ảnh hưởng đến khâu bán vé và quản lý của cơ quan vận chuyển.

    • Phí bảo hiểm tính theo tỷ lệ trên giá cước vận tải của từng loại phương tiện.

    f= R x Gv

      ∑Qi
    R=   x 100
     
      ∑ Di

    Trong đó:

    f- Phí thuần

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm

    Gv- Giá cước vận tải

    Qi- Tổng chi phí chi trả cho tai nạn bảo hiểm năm th ứ i Di- Tổng doanh thu cước phí của ngành vận tải năm i

    Ph ương pháp này tuy đơn giản, dễ tính toán, song phụ thuộ c nhiều vào giá cước vận t ải. Khi tính toán cũng phải giả thiết 100% hành khách đều được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm cho trước.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Ngoài ra, đối với các công ty tư nhân kinh doanh vận tải hành khách, công ty bảo hiểm thu phí theo phương thức khoán. Cụ thể, số phí một công ty vận tải phải nộp hàng tháng.

    Phí bảo hiểm     Số chỗ ngồi         Số phương           Số lượt phương         Số ngày

    P = bình quân 1    x      BQ một             x     tiện hoạt        x      tiện hoạt động x hoạt

    động

    hành khách           phương tiện            động                        BQ một ngày           BQ một

    tháng

    1. Trả tiền bảo hiểm:
    • Nếu tai nạn chết người: Số tiền chi trả cho 1 hành khách bằng số tiền bảo hiểm.
    • Nếu bị tai nạn thương tật: Số tiền chi trả bằng tỷ lệ thương tật nhân với số tiền bảo hiểm (tỷ lệ thương tật được giám định thông qua giám định y khoa).
    • Nếu hành khách bị tai nạn nhẹ, tạm thời: Số tiền chi trả có thể tính theo chi phí thực tế (nằm viện, điều trị…) hoặc cũng có thể bằng số tiền chi trả bình quân một ngày nhân với số ngày nằm viện. Số tiền chi trả 1 ngày và số ngày nằm viện được quy định thống nhất căn cứ vào số tiền bảo hiểm. Nhưng số tiền chi trả tối đa không vượt quá số tiền bảo hiểm.

    3.                 Bảo hiểm vật chất thân xe.

    1. Đối tượng bảo hiểm: Bao gồm tất cả những chiếc xe còn giá trị và được phép lưu hành trên lãnh thổ của quốc gia.

     

    – Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là để được bồi thường cho những thiệt hại vật chất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây ra.

    – Đối với xe ôtô các loại có thể tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất xe cũng có thể tham gia bảo hiểm từng bộ phận của chiếc xe. Tuy nhiên nếu tham gia từng bộ phận thì phải theo 7 tổng thành sau:

    • Tổng thành động cơ.
    • Tổng thành hộp số (chính, phụ).
    • Hệ thống lái.
    • Tổng thành thân vỏ.
    • Tổng thành trục trước.
    • Tổng thành cầu sau.
    • Tổng thành lốp.

    Ngoài ra có một số loại xe còn có tổng thành thứ 8 như xe cứu thương, xe cứu hoả, móc cần cẩu, móc kéo…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Còn đối với xe môtô và xe máy chỉ tiến hành bảo hiểm toàn bộ xe. Đây là loại hình bảo hiểm tài sản vì vậy được thực hiện dưới hình thức

    tự nguyện. Khi tham gia bảo hiểm chủ xe phải lưu ý 4 vấn đề sau:

    • Trong mọi trường hợp không bao giờ bảo hiểm bồi thường vượt quá số tiền ghi trong đơn bảo hiểm, hay nói cách khác đó là giới hạn tối đa để bồi thường.
    • Nếu chủ xe cũ đã mua bảo hiểm, sau đó chuyển quyền sở hữu cho người khác thì chủ xe mới vẫn được hưởng quyền bảo hiểm đó cho đến hết hợp đồng, nhưng chủ xe phải báo cho công ty bảo hiểm.
    • Bảo hiểm không chịu phần hao mòn tự nhiên của chiếc xe. Chủ xe phải chịu các khoản miễn thường, hao mòn, trục trặc máy móc, hỏng lốp xe do sử dụng thành bị cắt hay nổ.
    1. Phạm vi bảo hiểm:
    • Các rủi ro được bảo hiểm thông thường bao gồm: – Tai nạn do đâm va, lật đổ;

    – Cháy nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá; – Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên;

    Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc

    xe được bảo hi ểm trong những trườ ng hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:

    • Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm;
    • Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;
    • Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm;

    Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng số tiền bồ i thường của công ty bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhận bảo hiểm.

    • Công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi:

    – Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa.

    – Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng mà không do tai nạn gây ra.

    – Mất cắp bộ phận xe.

    – Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba.

    1. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Giá trị bảo hiểm củ a xe cơ giới là giá trị th ực tế trên th ị trường của xe tại thời điể m người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm. Việ c xác định đ úng giá trị của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường chính xác thiệt h ại thực tế cho chủ xe tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên, giá trị xe trên thị trường luôn bi ến độ ng và có thêm nhiều chủng loại xe mới gây khó khăn cho việc xác định đúng giá trị xe.

    Trong th ực t ế, các công ty bảo hiểm thường dựa trên các yếu tố sau để xác định giá trị xe:

    • Loại xe;
    • Năm sản xuất;
    • Mức độ cũ, mới của xe;
    • Thể tích làm việc của xi lanh…

    Một phươ ng pháp xác định giá trị b ảo hiểm mà các công ty bảo hiểm hay áp dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao. Cụ thể:

    Giá trị bảo hiểm= Giá trị ban đầu – Khấu hao.

    Ví dụ: Ch ủ mộ t chiếc xe ôtô TYOTA mua ngày 01 tháng 01 n ăm 1998 với giá 600 triệu đồng; mua bảo hiể m vật chất xe vào ngày 10 tháng 03 năm 2000. Công ty bảo hiểm đánh giá t ỷ lệ khấu hao là 12% năm. Mức khấu hao được tính cho từng tháng, nếu mua bảo hi ểm trước ngày 16 thì tháng đó không phải tính khấu hao, còn từ ngày 16 trở đi thì tháng đó phải tính khấu hao. Trong trường hợp này giá trị bảo hiểm sẽ được tính như sau:

    Giá trị ban đầu        600.000.000 VNĐ

    KH năm 1998: (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Năm 1999:    (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Năm 2000:    (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Tổng: 156.000.000 VNĐ

    Như vậy giá trị bảo hiểm sẽ là:

    600.000.000 – 156.000.000 = 444.000.000 VNĐ

    1. Phí bảo hiểm:

    Khi xác định phí b ảo hiểm cho từng đối tượ ng tham gia bảo hi ểm cụ thể, các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau:

    • Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có mức độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho từng loại. Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra những biểu xác định phí bảo hiểm phù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân loại xe thành các nhóm. Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc, chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng. Đối với các xe hoạt động không thông dụng như xe kéo rơ

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    moóc, xe chở hàng n ặng… do có mức độ rủi ro cao nên phí b ảo hiểm thường được cộng thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí cơ bản.

    Giống nh ư cách tính phí b ảo hiểm nói chung, phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức sau:

    P = f + d

    Trong đó:      P – Phí thu mỗi đầu xe

    d – Phụ phí

    f – Phí bồi thường

    Theo công thức trên, việc xác định phí bảo hiểm phụ thuộc vào những nhân tố sau:

    – Tình hình bồi thường tổn thất của những năm trước đó. Căn cứ vào số liệu thống kê, công ty bảo hiểm sẽ tính toán được phần phí bồi thường “f” cho mỗi đầu xe như sau:

    • Si x Ti

    f =    ∑ Ci

    (Với i = 1, 2, … , n)

    Trong đó: Si – Số vụ tai nạn xảy ra trong năm thứ i

    Ti – Thiệt hại bình quân một vụ trong n ăm thứ i Ci – Số xe hoạt động thực tế trong năm thứ i

    • Các chi phí khác hay còn gọi là phần phụ phí (d), bao gồm các chi phí như chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi quản lý …

    + Khu vực giữ xe và để xe: Trong thực tế, không phải công ty bảo hiểm nào cũng quan tâm đến nhân tố này. Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểm tính phí bảo hiểm dựa theo khu vực giữ xe và để xe rất chặt chẽ.

    + Mục đích sửa dụng: Đây là nhân tố quan trọng khi xác định phí bảo hiểm. Nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra. Ví dụ, xe do một người về hưu sử dụng cho mục đích đi lại đơn thuần chắc chắn sẽ đóng phí bảo hiểm thấp hơn so với xe do một thương gia sử dụng để đi lại trong những khu vực rộng lớn. Rõ ràng xe lăn bánh trên đường càng nhiều, rủi ro tai nạn càng lớn.

    + Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những người thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm. Số liệu thống kê cho thấy rằng các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi. Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái xe trên 50 hoặc 55 tuổi, do kinh nghiệm cho thấy số người này gặp ít tai nạn hơn so với các lái xe trẻ tuổi. Tuy nhiên, với những lái xe quá lớn tuổi (thường từ 65 tuổi trở lên) thường phải xuất trình giấy chứng nhận sức khoẻ phù hợp để có thể lái xe thì công ty bảo hiểm mới nhận bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Ngoài ra, để khuyến khích hạn chế tai nạn, các công ty bảo hiểm th ường yêu cầu người được bảo hiểm tự chịu một phần tổn thất xảy ra với xe (hày còn gọi là mức miễn th ường). Đối với những lái xe trẻ tuổi mức miễn thường này thường cao hơn so với những lái xe lớn tuổi.

    • Giảm phí bảo hiểm: Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn tham gia bảo hiểm tại công ty mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức giảm phí so với mức phí chung theo số lượng xe tham gia bảo hiểm. Ngoài ra, hầu hết các công ty bảo hiểm còn áp dụng cơ chế giảm giá cho những người tham gia bảo hiểm không có khiếu nại và gia tăng tỷ lệ giảm giá này cho một số năm không có khiếu nại gia tăng. Có thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo hiểm xe cơ giới.

    Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoạt động một số ngày trong một năm, thì chủ xe phải đóng phí bảo hiểm cho những ngày hoạt động đó theo công thức sau:

    Phí Mức phí Số tháng xe hoạt động trong năm
    bảo hiểm = cả năm  ế   12 tháng  
    • Biểu phí đặc biệt: Khi khách hàng có số lượng xe tham gia bảo hiểm nhiều, các công ty bảo hiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho khách hàng đó. Việc tính toán biểu phí riêng cũng tương tự như cách tính biểu phí được đề cập ở trên, chỉ khác là chỉ dựa trên các số liệu về bản thân khách hàng đó, cụ thể:

    – Số lượng xe của công ty tham gia bảo hiểm;

    – Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho khách hàng

    • những năm trước đó;

    – Tỷ lệ phụ phí theo quy định của công ty;

    Trường hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung, công ty bảo hiểm sẽ áp dụng theo mức phí đặc biệt. Còn nếu mứ c phí đặc biệt tính được là cao hơn (hoặc bằng) mức phí chung, tức là tình hình t ổn thất của khách hàng cao hơn (hoặc bằng) mức tổn thất bình quân chung, thì công ty bảo hiểm sẽ áp dụng mức phí chung.

    • Hoàn phí bảo hiểm: Có những trường hợp chủ xe đã đóng phí bảo hiểm cả năm, nhưng trong năm xe không hoạt động một thời gian vì một lý do nào đó, ví dụ như ngừng hoạt động để tu sửa xe. Trong trường hợp này thông thường công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm của những tháng ngừng hoạt động đó cho chủ xe. Số phí hoàn lại được tính như sau:
    Phí Phí Số tháng không hoạt động Tỉ lệ
    hoàn lại = cả năm ế         hoàn lại phí
      12 tháng Х
                 

    Mỗ i công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí là khác nhau. Nhưng thông thường tỷ lệ hoàn này là 80%.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Nếu chủ xe mu ốn hu ỷ bỏ h ợp đồng bảo hiểm khi chưa hết hạn hợp đồng thì thông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hi ểm cho thời gian còn lại đó theo công thức trên, nhưng với điều kiện là chủ xe chưa có lần nào được công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.

    1. Bảo hiểm tai nạn lái xe, phụ xe và người ngồi trên xe.

     

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Đối tượ ng bảo hiểm là thiệt hại về thân thể xe, phụ xe và những người khác được chở trên xe đang tham gia giao thông.

    và tính mạng đối với lái gây ra do tai nạn khi xe

    1. Phạm vi bảo hiểm:

    Nhà bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi th ường thiệt hại về thân thể của lái xe và những người khác được chở trên xe. Những người này bị tai nạn khi đang ở trên xe, lên xuống xe hay trong quá trình xe đang tham gia giao thông.

    Các trường hợp loại trừ:

    • Đối tượng được bảo hiểm cố ý gây tai nạn.
    • Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    Đây là nghiệp vụ bảo hiểm con ngườ i nên các công ty bảo hiểm sử dụng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường và các công ty thường đưa ra nhiều mức gi ới hạn cho từng loại xe để người tham gia bảo hiểm có thể lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng tài chính của mình.

    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm của nghiệp vụ này được tính theo công thức sau: P = S x R x N

    Trong đó:

    P- Phí bảo hiểm S- Số tiền bảo hiểm

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm N- Số chỗ ngồi trên xe

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico đang áp dụng kể từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Bảng 4: Biểu phí bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe tại Pjico.     (Đơn

    vị: Đồng)

    Loại xe Số người Phí bảo hiểm
    I. Xe không kinh doanh vận tải.    
    Xe 4 chỗ 4 40,000
    Xe 5 chỗ 5 50,000
    Xe 6 chỗ 6 60,000
    Xe 7 chỗ 7 70,000
    Xe 11 chỗ 11 110,000
    Xe 12 chỗ 12 120,000
    Xe 16 chỗ 16 160,000
    Xe 24 chỗ 24 240,000
    Xe 25 chỗ 25 250,000
    Xe 32 chỗ 32 320,000
    Xe 48 chỗ 48 480,000
    II. Xe buýt.    
    Xe 24 chỗ 24 360,000
    Xe 25 chỗ 25 375,000
    Xe 32 chỗ 32 480,000
    Xe 48 chỗ 48 720,000
    III. Xe kinh doanh vận tải.    
    Xe 4 chỗ 4 60,000
    Xe 5 chỗ 5 75,000
    Xe 6 chỗ 6 90,000
    Xe 7 chỗ 7 105,000
    Xe 8 chỗ 8 120,000
    Xe 9 chỗ 9 135,000
    Xe 10 chỗ 10 150,000
    Xe 11 chỗ 11 165,000
    Xe 12 chỗ 12 180,000
    Xe 13 chỗ 13 195,000
    Xe 14 chỗ 14 210,000
    Xe 15 chỗ 15 225,000
    Xe 16 chỗ 16 240,000
    Xe 17 chỗ 17 255,000
    Xe 18 chỗ 18 270,000
    Xe 19 chỗ 19 285,000
    Xe 20 chỗ 20 300,000
    Xe 21 chỗ 21 315,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.   Phạm Minh Nguyên- BH43a.
         
    Xe 22 chỗ 22 330,000
    Xe 23 chỗ 23 345,000
    Xe 24 chỗ 24 360,000
    Xe 25 chỗ 25 375,000
    Xe 26 chỗ 26 390,000
    Xe 32 chỗ 32 480,000
    Xe 36 chỗ 36 540,000
    Xe 42 chỗ 42 630,000
    Xe 48 chỗ 48 720,000
    IV. Xe taxi.    
    Xe 4 chỗ 4 60,000
    Xe 5 chỗ 5 75,000
    Trên 6 chỗ Tính phí bh bằng phí bh xe kd vận tải cùng số chỗ ngồi
    Pjico)   (Nguồn:  Công  ty
       

    4.                 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hoá chuyên chở trên xe.

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Loại hình bảo hiểm này chỉ áp dụ ng cho những xe có giấy phép kinh doanh vận tải hàng hoá. Khi nhận hàng hoá để chuyên trở, chủ xe phải có ngh ĩa vụ đưa hàng hoá đến điểm giao cu ối cùng một cách đầy đủ và nguyên vẹn do v ậy chủ xe ph ải chịu trách nhiệm về những thiệt hại của hàng hoá mà họ nhận chuyên chở xảy ra do lỗi của họ hoặc người làm công cho họ. Vì vậy, đối tượng đượ c bảo hiểm là TNDS của chủ xe cơ giới đối với thiệt hại củ a hàng hoá được v ận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển giữa chủ xe và ch ủ hàng, được pháp luật quy định tại thể lệ vận chuyển hàng hoá bằng ôtô ban hành kèm theo Quyết định số 1690/QĐ- VT ngày 15/09/1990 của Bộ giao thông vận tải và Bưu điện.

    Hàng hoá ở đ ây là hàng hoá thông thường không thuộc nhóm hàng cấm kinh doanh, v ận chuyển theo quy định của pháp lu ật. Còn đối với nh ững hàng hoá đặc bi ệt như vàng bạc, đ á quý, đồ cổ, tranh cổ , hài cố, tiền… chỉ được bảo hiểm khi có thoả thuận riêng giữa chủ hàng với bên nhận bảo hiểm.

    1. Phạm vi bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Phạm vi bảo hi ểm ở đây là TNDS của chủ xe đối với hàng hoá vận chuyển trên xe; là số tiền chủ xe phải chịu trách nhiệm b ồi th ờng cho chủ hàng khi có tai nạn làm thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển.

    Ngoài ra, nhà bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe các chi phí hợp lý và cần thiết nhằm:

    • Ngăn ngừa, giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá.
    • Bảo quản, xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi hàng hoá trong quá trình vận chuyển do hậu quả của tai nạn.
    • Chi phí giám định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Các điều khoản loại trừ:

    Nhà bảo hiểm không nhận bảo hiểm và bồi thường cho những thiệt hại hàng hoá trong những trường hợp sau:

    • Vi phạm các điều khoản loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
    • Hàng hoá lưu thông trái phép.
    • Tiền, các loại ấn chỉ, hóa đơn có giá trị như tiền, đồ cổ, trang ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt, vàng bạc, đá quý …
    • Mất cắp, trộm cướp.
    • Tổn thất hàng hóa do bắt giữ của cơ quan chức năng Nhà Nước.
    • Tổn thất hàng hóa do bị xô lệch, va đập trong quá trình vận chuyển mà không phải do va đập, lật đổ.
    • Xe ôtô không thích hợp với loại hàng hoá chuyên chở.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đố i với hàng hoá chuyên chở trên xe, các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức trách nhiệm của mình đối với một tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm trong một vụ tai nạn. Cụ thể:

    Số tiền bảo hiểm = Mức trách nhiệm x Số tấn trọng tải đăng ký bảo

    hiểm.

    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm trong bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với hàng hoá vận chuyển trên xe được tính theo công thức sau:

    P = R x M x G

    Trong đó:

    P- Phí bảo hiểm

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm

    M- Mức trách nhiệm bảo hiểm / tấn

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    G- Số tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico áp dụng từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Bảng 5: Biểu phí bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá chuyên chở trên xe tại Pjico.

    (Đơn vị: Đồng)   Phí bảo    
    Loại xe Tấn VAT  
    hiểm
    Xe chở hàng kinh doanh vận tải, xe chở hàng        
    đông lạnh.        
    Tải 0,5 tấn 0,5 27.273 2.727  
    Tải 1 tấn 1 54.545 5.455  
    Tải 1,5 tấn 1,5 81.818 8.182  
    Tải 2 tấn 2 109.091 10.909  
    Tải 2,5 tấn 2,5 136.364 13.636  
    Tải 3 tấn 3 163.636 16.364  
    Tải 5 tấn 5 272.727 27.273  
    Tải 7 tấn 7 381.818 38.182  
    Tải 8 tấn 8 436.364 43.636  
    Tải 9 tấn 9 490.909 49.091  
    Tải 10 tấn 10 545.455 54.545  
    Pjico)   (Nguồn: Công ty  
           

    IV. VẤN ĐỀ TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1. Khái niệm trục lợi bảo hiểm.

    Cùng v ới sự l ớn mạnh của thị trường bảo hiểm, số lượng người tham gia b ảo hi ểm xe cơ giới ngày càng nhiều, thị trường bảo hiể m xe cơ giới ngày càng mở rộng. Bên cạnh những người thực s ự mu ốn tham gia bảo hiểm để bảo vệ, ổn định cuộc số ng của mình khi không may gặp rủ i ro, thì đã xuất hiện không ít khách hàng lợi d ụng bảo hiể m để làm lợi cho bản thân mình một cách phi pháp. Đó chính là hành vi trục lợi bảo hiểm.

    Vậy: “Tr ục lợi bảo hiểm là tất cả các hành vi cố tình gian dối, l ừa đảo có thể có chủ ý ngay từ khi tham gia b ảo hiể m hoặc phát sinh sau khi đã xảy ra rủi ro cho đối tượng được bảo hiểm nh ằm chiếm đoạt một số tiền từ doanh nghiệp bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng”.

    Tr ục lợi bảo hiểm còn được quan niệm là gian lận trong b ảo hi ểm. Trên th ế giới, hiện tượng này được biết đến như là một vấn đề nhức nh ối đối với các doanh nghiệp b ảo hiểm. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đ ã phải b ỏ ra khá nhiều tiền để khắc phục vấn đề trục lợi bảo hiểm, song số vụ gian lận

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    vẫn tăng theo thời gian và hình th ức ngày càng tinh vi, thủ đoạn ngày càng sắc sảo. Trục lợi bảo hiểm diễn ra hầu h ết các nghiệp v ụ b ảo hiể m và bất cứ nước nào đã triển khai bảo hiể m thương mại thì ở nước đó s ẽ có trục lợi b ảo hiểm. Theo Hiệp hội các hãng bảo hiểm châu Âu, hàng năm họ bị thiệt hại vì trục l ợi bảo hiểm không d ướ i 10 tỷ USD, chiếm gần 2,5% số phí bảo hiểm, trong đó trục lợi bảo hiểm xe cơ giới là nhiều nhất.

    2.                 Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở một số nước trên thế giới.

    Từ khi ra đời cho đến nay, hoạt động của ngành bảo hiểm đã và đang tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế của m ỗi quốc gia. Đồng th ời cùng v ới xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế gi ới, thị trườ ng bảo hiểm thế giới cũng ngày một phát triển và hình thành nên những tập đoàn bảo hiểm lớn về quy mô cũng như tiề m lực kinh tế với số vốn khổng lồ như thị trường bảo hiểm Lloyd’, thị trường bảo hiểm Bermula … Đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của thị trườ ng bảo hiểm thì hiện t ượng gian lận, lừa đảo củ a khách hàng trên thế giới cũng ngày một tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng.

    Theo thông tin của hi ệp hội bảo hiểm Anh quốc (ABT), n ăm 2003 số tiền chi phí cho các vụ bồi thường gian lận lên tới 1,1 tỷ USD tăng 8% so với năm 2002. Trong đó:

    – Bảo hiểm xe cơ giới là 481 triệu USD, tăng 10 lần so với năm

    2002.

    • Bảo hiểm tai nạn con người, du lịch là 287 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002.
    • Bảo hiểm tài sản (trong lĩnh vực kinh doanh) là 74 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002.

    Còn tại Mỹ, Công ty Infoglige bang Texas đưa ra số liệu về lừa đảo bảo hiểm đối với xe cơ giới “đạt” 16 tỷ USD/năm.

    Tại Pháp chỉ riêng các yêu cầu gian lận về cháy, mất cắp xe hơi và mất trộm tại nhà, các hãng bảo hiểm Pháp đã phải trả gần 12 tỷ FR. Còn số này ở Canada là 1,3 – 2 tỷ USD. (Theo tạp chí : “Tài chính quốc tế năm 2004).

    3.                 Các hình thức của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở Việt Nam.

    Trục l ợi bảo hiểm đã tr ở thành một hiện tượng phổ biến, nó có ở tất cả các công ty bảo hiểm trong nhiều nghiệp vụ nhưng phổ biến nhất vẫn là trong bảo hiểm xe cơ giới. Mức độ và cách thức trục lợi trong nghiệp vụ này

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    ngày càng tinh vi và đa dạng hơn. Các biểu hiện của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới th ường gặp là:

    1. Hợp lý hoá ngày tai nạn và hiệu lực bảo hiểm:

    Có thể do vô tình hay cố ý, chủ xe đã không mua b ảo hiểm và khi tai nạn xảy ra, chủ xe phải đối mặt với khó khăn về tài chính nên đã hình thành

    • đồ gian lận để được nhận tiền bồi thường. Tai nạn xảy ra nằm ngoài thời hạn bảo hiểm, người trục lợi sẽ tìm mọi cách để hợp lý hoá ngày tai nạn và hiệu lực bảo hiểm. Có hai cách để thực hiện:
    • Ghi lại ngày tai nạn:
    • Bị tai nạn rồi mới mua hợp đồng bảo hiểm: trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi sau so với ngày thực tế.
    • Bị tai nạn khi đã hết hạn hợp đồng bảo hiểm: trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi trước so với ngày bị tai nạn thực tế.

    Trong cả hai trường hợp trên người trục lợi bảo hiểm thường thông đồng hoặc tìm mọi cách mua chuộc nhân viên cơ quan chức năng để ghi sai ngày xảy ra tai nạn trong các biên bản tai nạn.

    • Ghi lùi ngày trên giấy chứng nhận bảo hiểm:

    Là hành vi người trục lợi bảo hiểm thông đồng với người bán bảo hiểm ghi lùi ngày bán bảo hiểm về trước trên giấy chứng nhận bảo hiểm, do đó quản lý người bán bảo hiểm là nhiệm vụ chính.

    1. Thay đổi tình tiết vụ tai nạn:
    • Thay đổi người lái xe có giấy phép lái xe hợp lệ (tai nạn do lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái không có hiệu lực).
    • Sửa chữa hiệu lực bằng lái (do hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe được lái).
    • Thay đổi lỗi, nguyên nhân trong vụ tai nạn.
    1. Tạo hiện trường giả:
    • Đưa xe từ nơi xảy ra tai nạn đến nơi khác lập biên bản.
    • Thay đổi biển số xe không bị tai nạn đã mua bảo hiểm vào xe bị tai nạn không mua bảo hiểm để chụp ảnh, khám nghiệm, lập biên bản.

    Số tiền nhằm trục lợi ở hình thức này thường lớn.

    1. Khai tăng số tiền tổn thất:
    • Đối với bảo hiểm TNDS: Khai tăng số tiền tổn thất hoặc số tiền phải bồi thường cho người thứ ba, đưa tài sản hoặc hàng hóa hư hỏng (đối với bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá) không do tai nạn vào hiện trường tai nạn hoặc biên bản tai nạn.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Đối với bảo hiểm vật chất thân xe:
    • Đưa báo giá sửa chữa cao hơn so với thực tế, thúc ép công ty bảo hiểm chấp nhận phương án khắc phục hậu quả bất hợp lý như thiệt hại bộ phận xe nhẹ nhưng đòi thay mới.
    • Không thiệt hại, không sửa chữa nhưng cũng kê khai đưa vào hợp đồng sửa chữa.
    • Sửa chữa, thay thế ngay cả những bộ phận hư hang không do tai nạn hoặc bị tai nạn từ trước khi bảo hiểm.
    • Thay thế những vật tư cũ, chế lại, … nhưng kê khai thay mới.
    • Lấy cắp phụ tùng xe (kính, gương), tài sản, hàng hoá chở trên xe thay vào đồ đã hư hỏng.
    1. Lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần:

     

    • Khách hàng mua bảo hiểm trùng để có thể thu được số tiền bồi thường nhiều hơn giá trị thiệt hại.
    • Hai xe đâm va với nhau, chủ xe đã được chủ xe có lỗi bồi thường nhưng vẫn tiếp tục khiếu nại đòi bồi thường.
    • Hai xe cùng có lỗi gây thiệt hại cho người thứ ba, cả hai chủ xe đều lập hồ sơ và cùng quy lỗi toàn bộ thuộc về mỗi xe để được bồi thường về TNDS.
    1. Cố ý gây tai nạn:

    Hình thức này thường xảy ra v ới các chủ xe đang trong thời kỳ khó khăn về tài chính, họ lập ra màn kịch thu tiền b ồi thường để chi trả nợ nần hay lấy số tiền đầu tư vào một phương thức kinh doanh khác.

    Ví dụ: tự đốt xe, cho xe lao xuống vực, huỷ toàn bộ xe, khi xe đã bị tai nạn thì phá huỷ một số bộ phận khác để được thay mới …

    4. Nguyên nhân và hậu quả của trục lợi bảo hiểm.

    1. Nguyên nhân:

    Nguyên nhân sâu xa thúc đẩy hành vi gian lận bảo hiểm là xuất phát từ lòng tham của con người, họ có th ể tìm mọ i cách để kiếm lợi cho mình kể cả những hành vi vi phạm pháp luật. Sở dĩ họ có thể thành công là do có một số nguyên nhân sau:

    • Nguyên nhân khách quan:
    • Nguyên nhân khách quan đầu tiên phải kể đến là sự thiếu của hệ thống hành lang pháp lý đã khiến các cơ quan chức năng trong việc ngăn chặn các hành vi gian lận bảo hiểm, do chưa có

    chặt chẽ nơi lỏng một quy

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    định rõ ràng, đầy đủ khi ký kết hợp đồng bảo hiểm hoặc do trong quá trình thực hiện chưa được nghiêm minh, chủ xe sẽ thực hiện hành vi gian lận của mình nếu họ biết đượ c rằng có thể lách qua kẽ hở củ a pháp luật cũng như họ nghĩ rằng nếu bị phát hiện cũng không bị sự trừng trị của pháp luật.

    • Do sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý. Theo nguyên tắc các xe đang lưu hành bắt buộc phải có giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với người thứ ba, nhưng không mấy khi cảnh sát giao thông hỏi tới giấy tờ này do đó sẽ tạo ra sự yên tâm cho chủ xe khi không tham gia bảo hiểm, đây cũng là cơ hội giúp cho các chủ xe tiến hành trục lợi bảo hiểm.
    • Không gian địa lý cũng là một nguyên nhân phát sinh hành vi gian lận bảo hiểm. Như ta đã biết xe cơ giới có tính cơ động cao tham gia hoạt động trên nhiều địa bàn, nhiều khu vực trong cả nước. Do đó đối với những vụ tai nạn xảy ra ở xa, hoang vắng, ít người qua lại khó có thể giữ nguyên hiện trường, sự thay đổi tình tiết hiện trường có lợi cho người tham gia bảo hiểm là dễ xảy ra. Mà để giám định kịp thời thường phải nhờ các công ty khác giám định hoặc phải nhờ vào biên bản của công an, cảnh sát khu vực, mà trong những biên bản này vì nhiều lý do có thể không chính xác, không trung thực …
    • Trình độ lái xe rất cao họ am hiểu về xe cộ, địa hình đi lại … họ có thể tạo ra những vụ tai nạn đánh lạc hướng cơ quan bảo hiểm để lấy tiền bồi thường của công ty bảo hiểm.
    • Do giá trị của xe cơ giới là rất lớn do đó khi xảy ra tai nạn sẽ làm cho chủ xe bị kiệt quệ về tài chính, giảm hoặc thậm chí mất khả năng kinh doanh tiếp, vì vậy đây là động cơ lớn dẫn đến hiện tượng các chủ xe trục lợi bảo hiểm.
    • Bên cạnh những nguyên nhân không nằm trong tầm kiểm soát của con người thì còn có những nguyên nhân có thể phát sinh từ ý chí của con người nhưng vẫn không thể ngăn chặn được triệt để.
    • Nguyên nhân chủ quan:
    • Nguyên nhân chủ quan đầu tiên phải kể đến đó là hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bằng đủ mọi thủ đoạn. Trong vòng một năm, mức phí bảo hiểm bình quân đã hạ tới 40%, đặc biệt có những mặt hàng phí bảo hiểm giảm tới 70-80%. Trong khi đó hoa hồng đã tăng gấp từ 3- 4 lần mức quy định của Bộ tài chính. Một số công ty bảo hiểm đã mở rộng điều kiện một cách thoái quá, trái với thông lệ bảo hiểm quốc tế mà những rủi ro này thuộc về người bán bảo hiểm. (Thời báo kinh tế Việt Nam số 209- thứ Hai- 13/12/2004).
    • Do các doanh nghiệp luôn hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt nên các doanh nghiệp bảo hiểm luôn phải giữ bí mật thông

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    tin. Việc trao đổ i những thông tin cần thiết về khách hàng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm hầu như không có. Vì vậy, khi có tai n ạn x ảy ra các công ty bảo hi ểm cũng tiến hành bồi th ường mà không xem xét tình hình ở các doanh nghiệp khác d ẫn đến chủ xe có thể được hưởng nhiều l ần tiền bồi thường ở các công ty khác nhau do h ọ bảo hi ểm trùng, mà theo nguyên tắc không được bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản.

    • Cũng do điều kiện hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, để nâng cao doanh thu phí các công ty đã đơn giản hoá nhiều thủ tục khi ký kết hợp đồng cũng như khi xảy ra tổn thất hoặc khi đánh giá rủi ro xét nhận bảo hiểm, đơn giản thủ tục xét bồi thường … đã tạo nhiều điều kiện cho các chủ xe lợi dụng.
    • Nhận thức của người dân về pháp luật còn nhiều yếu kém, nhất là những văn bản pháp quy về bảo hiểm. Nhiều người dân nhận thức rất mơ hồ về bảo hiểm và họ cho rằng quỹ bảo hiểm giống như quỹ phúc lợi. Cho nên đã có những trường hợp nói sai sự thật để giúp nạn nhân nhận quyền lợi bảo hiểm …
    • Đối với những trường hợp khiếu nại gian lận bị công ty bảo hiểm phát hiện, các công ty chưa có biện pháp sử lý đích đáng mà chỉ mới dừng lại ở mức độ từ chối bồi thường, điều này sẽ làm cho các chủ xe suy nghĩ theo một hướng tiêu cực là cứ lập hồ sơ khiếu nại nếu qua được thì nhận tiền bồi thường còn nếu không được thì cũng không phải nộp phạt …
    • Trong công tác phòng chống gian lận bảo hiểm các đại lý khai thác và nhân viên giám định có một vai trò hết sức quan trọng. Công việc của hai chức danh này ảnh hưởng đến việc ngăn ngừa và phát hiện hành vi gian lận cả khi ký kết hợp đồng cũng như khi giải quyết bồi thường. Do đó những người làm trong hai bộ phận này phải là những người có tâm huyết với nghề, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực thực sự … Tuy nhiên một thực tế hiện nay là việc tuyển dụng đại lý còn tương đối dễ dàng, qua loa, chủ yếu là do quen biết … do đó nhiều nhân viên đại lý cũng có hành vi gian lận bảo hiểm cùng với khách hàng… nếu điều này xảy ra thì sẽ gây hậu quả nghiêm thọng cho công ty bảo hiểm.
    • Trình độ của nhân viên bảo hiểm còn hạn chế. Đặc biệt đối với ngành bảo hiểm Việt Nam thì đây còn là một điều trăn trở, vì thị trương bảo hiểm Việt Nam còn non trẻ, việc đào tạo cho nhân viên chưa được coi trọng, các nhân viên còn ít kinh nghiệm trong công tác phòng và chống gian lận bảo hiểm. Do nhiều nhân viên chạy theo mức doanh thu phí mà quên mất điều quan trọng là khi tổn thất xảy ra thì số tiền bồi thường sẽ rất lớn so với mức phí thu được nếu như khi ký hợp đồng họ coi nhẹ khâu đánh giá rủi ro để dễ dàng ký được hợp đồng. Đây là một điều tốt cho các chủ xe làm lợi bất chính…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Do tư cách phẩm chất của một số bộ phận nhân viên trong công ty bị thoái hoá, coi trọng đồng tiền hơn cả trách nhiệm nghề nghiệp. Họ có thể đánh giá cao mức độ tổn thất hoặc vạch đường đi nước bước cho khách hàng lợi dụng các kẽ hở về giấy tờ, về thủ tục giám định, bồi thường để trục lợi … Những người này dễ bị các chủ xe lợi dụng, mua chuộc để tiếp tay cho hành
    • gian lận của chủ xe. Nếu chủ xe được bồi thường họ sẽ được hưởng một số tiền nhất định, sự việc này cứ diễn ra thì các chủ xe trục lợi bảo hiểm ngày càng nhiều và do đó công ty bảo hiểm cũng ngày càng phải chi những khoản bất thường làm cho doanh thu giảm đáng kể.
    • Do sự thông đồng giữa những người tham gia bảo hiểm có hành vi gian lận với những người có liên quan như: y, bác sỹ, những người làm chứng trong các vụ tổn thất … Ví dụ, mua chuộc bác sỹ để dựng lên bệnh, làm giả hoặc kê những đơn thuốc đắt tiền để đòi được số tiền bảo hiểm nhiều hơn.
    1. Hậu quả của trục lợi bảo hiểm:

    Hậu quả trụ c lợi bảo hiể m xe cơ giới ngày càng trở lên phổ biến với mức độ ngày càng tinh vi, hình thức ngày càng đa dạng. Chính vì thế mà hậu quả của trục lợi bảo hiểm để lại có xu hướng ngày càng nặng nề và trầm trọng, không chỉ đối với các công ty bảo hiểm mà còn đối với cả xã hội.

    • Đối với doanh nghiệp bảo hiểm:
    • Ta có thể nhận thấy nếu không ngăn chặn được hành vi trục lợi bảo hiểm sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty bảo hiểm. Mà mục tiêu quan trọng nhất của hầu hết các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là lợi nhuận.

    Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi.

    Trong đó: Tổng chi = Chi bồi thường + Chi quản lý + Chi khác.

    • Nếu hành vi trục lợi bảo hiểm không bị phát hiện thì nó sẽ làm tăng chi bồi thường. Nếu các hành vi đó bị phát hiện thì nó sẽ làm tăng chi quản lý bởi lẽ chi phí cho một cuộc điều tra trục lợi thường rất lớn. Thậm chí có trường hợp nghi ngờ công ty tổ chức điều tra nhưng không đủ cơ sở từ chối bồi thường. Như vậy cả chi bồi thường và chi quản lý đều làm tăng chi phí điều này làm giảm lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm bị hạn chế.
    • Do hành vi trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng nên công ty bảo hiểm phải tăng cường công tác giám định, điều tra, kiểm tra, thanh tra. Điều này làm tăng thời gian giải quyết bồi thường, ảnh hưởng đến quá trình phục hồi tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng. Do đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm, làm giảm tính cạnh tranh sản phẩm của công ty trên thị trường.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Có nhiều hành vi gian lận với hiệu quả hoà giải thấp dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết trang chấp, ảnh hưởng xấu đến uy tín của công ty.
    • Trục lợi bảo hiểm còn làm giảm số lượng khách hàng hiện tại cũng như thu hút, hấp dẫn các khách hàng mới. Bởi bản chất của bảo hiểm là phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng gặp một rủi ro nào đó đóng góp tạo nên và hoạt động dựa trên nguyên tắc “số đông bù số ít”. Vì vậy, hành vi trục lợi bảo hiểm được thực hiện thì không ai khác chính là các khách hàng trung thực sẽ phải gánh chịu hậu quả, do đó không ai dại gì tiếp tục tham gia hoặc có ý định tham gia bảo hiểm. Đó là lý do làm cho lượng khách hàng giảm đi.
      • Đối với Nhà Nước và xã hội:
    • Khi lợi nhuận của công ty bảo hiểm giảm thì các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà Nước cũng giảm. Điều này kéo theo sự đầu tư cho xã hội cũng giảm và lợi ích chung của xã hội bị mất đi là không nhỏ.
    • Trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, nếu các hành vi gian lận tiếp diễn sẽ làm rối loạn an ninh xã hội, làm cho môi trường kinh doanh thiếu lành mạnh và thiếu sự công bằng. Sự hoạt động kém hiệu quả của một số công ty bảo hiểm kéo theo đó là nguồn vốn đầu tư giảm, làm giảm các hoạt động đầu tư ở một số lĩnh vực.
    • Đảng và Nhà Nước ta đang hướng tới việc xây dựng Nhà Nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhưng vẫn tồn tại

    những con ng ười tha hoá đạo đức, biến chất, thiếu ý th ức chấp hàng pháp luật, chỉ nghĩ tới lợi ích riêng của cá nhân mình bằng các hành vi gian d ối sẽ tạo ra sự bất công. Từ đó dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật gây rối trật tự an ninh xã hội.

    • Trục lợi bảo hiểm còn gây ảnh xấu tới đạo đức xã hội, kỷ cương pháp luật. Tính chất phát triển và quy mô tổ chức của những vụ trục lợi sẽ kéo theo sự tha hoá, biến chất của các cán bộ, nhân viên trong ngành có liên quan. Những hành vi tiêu cực, thông đồng với nhau gian lận tiền của công ty bảo hiểm sẽ tạo tiền đề cho hành vi tham nhũng phát triển ở cả những ngành khác trong nền kinh tế.
    • Nền kinh tế nước ta đang phát triển, thị trường bảo hiểm còn non trẻ nên những hành vi gian lận cũng mới chỉ ở dạng bộc phát, lẻ tẻ. Nhưng nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì các hành vi này sẽ pháp triển thành các hành vi tội phạm có tổ chức. Đồng thời sẽ tạo ra tâm lý coi thường kỷ cương pháp luật.
    • Đối với khách hàng:

    Khách hàng là những người trung thực sẽ bị thiệt thòi về quyền lợi. Bởi vì, phí bảo hiểm mà họ phải nộp lại dùng để chi trả cho những khoản tiền gian lận không được phát hiện ra. Do vậy, những doanh nghiệp bảo

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    hiểm nào có nhiều vụ gian l ận sẽ có mức phí bảo hiểm cao hơn những doanh nghiệp kiên quyết chống và loại trừ những kẻ trục lợi bảo hiểm.

    Tóm lại, hành vi tr ục lợi bảo hi ểm đã gây ảnh hưởng xấu đến không chỉ hoạt động kinh doanh củ a công ty mà còn ảnh hưở ng tới đạo đức xã hội và pháp luật của Nhà Nước. Cuộc chiến chống lại các hành vi gian lận này đang gặp rất nhiều khó khăn. Đây không ch ỉ là v ấn đề riêng của ngành bảo hiểm nước ta mà của tất cả các nước trên thế giới.

    5. Sự cần thiết phải phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới:

    Gắn liền với sự phát triển của xã hội là sự phát triển của ngành Bảo hiểm với s ố người tham gia bảo hiểm ngày càng gia tăng và thị trường bảo hiểm ngày càng được mở r ộng. Nhưng có một thực tế đáng buồn là số vụ bảo hiểm cũng như mức độ nghiêm tr ọng củ a mỗi v ụ ngày một t ăng đặc biệt trong b ảo hiể m xe cơ giới. Đấu tranh chống trục lợi bảo hiểm là sự cần thiết đối với tất cả các nước trên thế giới.

    Tình trạng trục lợi bảo hiểm xe c ơ gi ới ở Việt Nam cũng ngày càng trở lên phức t ạp. Việc phòng chố ng gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới cũ ng trở thành một vấn đề cần thiết có tính chất khách quan vì một số lý do sau:

    • Số vụ trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng:

    Đến nă m 1998 trướ c tình hình gian lận bảo hi ểm trong cả nước ngày càng lớn, đặc biệt là trong bảo hiểm xe c ơ giới. Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đã yêu cầu các công ty thành viên của mình làm báo cáo về tình hình khiếu nạn gian lận bảo hi ểm xe cơ giới kết quả cho thấy chỉ tính riêng năm 1997, trong hệ thống của Bảo Vi ệt đã phát hiện 224 vụ gian lận số tiền ước tính bị trục lợi là 1 tỷ đồng. Hiện nay trên thị tr ường Việt Nam không chỉ có Bảo Việt hoạt động mà có Bả o Minh, Pjico… Do đ ó, không thể biết trong một năm con số các vụ trục lợi bảo hiểm bị phát hiện là bao nhiêu.

    Chỉ tính riêng Pjico trong năm 2000 phát hiện ra 32 vụ gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới, năm 2001 phát hiện 48 vụ , năm 2002 phát hiện 53 vụ nhưng đến năm 2004 thì số vụ gian lận phát hiện được là 75 vụ.

    • Tính chất nghiêm trọng trong mỗi vụ ngày càng phức tạp:
    • Hành vi gian lận ban đầu mang tính chất cơ hội thường hay gặp trong những vụ có thiệt hại nhỏ. Theo pháp luật của Việt Nam thì các hành
    • này chưa đủ để cấu thành tội phạm nhưng nó cũng ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới.
    • Sau đó đến các hành vi mang tính lợi dụng, tức là các hành vi gian dối dân sự. Theo Bộ Luật Dân Sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định trong điều 142: “ Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó”.
      • đây người gian lận dùng các hình thức khác nhau để cho nhà bảo hiểm hiểu rằng tổn thất họ gặp phải là lớn hơn thực tế, nhằm đòi được số tiền bồi thường lớn hơn. Bao gồm các hành vi sau đây:
        • Lập hồ sơ đòi bồi thường khai tăng giá trị tổn thất.
        • Khai báo sai chất lượng thực tế của hạng mục tổn thất trước

    tai nạn

    • Khai thêm hạng mục tổn thất không do tai nạn gây ra.
    • Khai báo sai giá trị sử dụng của đối tượng, thành phần bị tổn

    thất.

    • Cho đến các hành vi gian lận mang tính chất “chiếm đoạt”, cấu thành tội phạm hình sự.

    Theo luật hình sự nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

    Điều 134: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản XHCN thì bị phạt tù…”.

    Điều 157: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù…”

    • đây người gian lận đã cố tình gian dối để chiếm đoạt một số tiền từ nhà bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng. Đó là các trường hợp rủi ro gây thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm không thuộc trách nhiệm của nhà bảo hiểm (ngoài phạm vi bảo hiểm, ngoài thời hạn bảo hiểm) nhưng cố ý tạo lập hồ sơ giả để đòi bồi thường:
    • Lập hồ sơ tai nạn giả cho trường hợp xe có giấy chứng nhận bảo hiểm có hiệu lực để thu lợi bất chính.
    • Lập giấy chứng nhận bảo hiểm ghi lùi ngày hiệu lực cho xe bị tai nạn trước đó.
    • Lập giấy chứng nhận bảo hiểm cho xe bị tai nạn trước đó rồi làm hồ sơ tai nạn ghi lùi ngày tai nạn.
    • Lập hồ sơ giả mạo về nguyên nhân tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm để đòi bồi thường cho một thiệt hại không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
    • Hiện tượng trục lợi bảo hiểm nó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như hình ảnh của Công ty trên thị trường. Nó làm tha hóa biến chất về đạo đức của một số cán bộ, làm rối ren kỷ cương pháp luật và mất công bằng xã hội.

    Vì vậy, phòng chống gian lận trong bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xe cơ giới nói riêng là hoàn toàn cần thiết và mang tính tất yếu khách quan.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    5.                 Các biện pháp phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở một số nước.

    Trên thế giới, việc phòng ch ống gian lận bảo hi ểm được các doanh nghiệp b ảo hiểm hết sức coi trọng. Ở Châu Âu, các tổ chức bảo hiểm cho biết việc chống gian lận bảo hiểm là một cuộc đấu tranh khá tốn kém. Theo số liệu thống kê cho thấy rằng việc kiểm tra thụ động hoặc chủ động làm tiêu tốn của họ t ừ 1 – 3% tổng số tiền chi trả bảo hiểm nhưng họ vẫn cương quy ết ti ến hành. Do v ậy, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã thành lập các đội, các ban phòng chống trục lợi bảo hiểm của riêng mình và các biện pháp sau đây được áp d ụng ở rất nhiều nước trong đó phải kể đến một số nước tiêu biểu như Anh, Pháp, Mỹ, Canada.

    • Không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm. Đối với những nghiệp vụ bảo hiểm mà pháp luật quy định bắt buộc khách hàng phải tham gia cần có sự phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra theo dõi và đưa ra những mức tiền phạt thích đáng cao hơn mức phí bảo hiểm mà họ phải nộp. Tiêu biểu như tại Anh Quốc, Hiệp hội bảo hiểm Anh (ABI) đã và đang phát động một chiến dịch phối hợp tất cả các thành viên cơ quan có liên quan nhằm ngăn chặn, vạch mặt những kẻ gian lận lừa đảo bảo hiểm. Hàng năm ABI đã cùng với lực lượng Cảnh sát West Middland tổ chức các cuộc hội thảo về tội phạm và chống tội phạm. Năm 1998 đã thống nhất triển khai một chiến dịch rộng rãi chống lại việc gian lận bảo hiểm trên toàn nước Anh. Lập một đường dây nóng để tố cáo những kẻ gian lận, lừa đảo bảo hiểm. Còn tại Mỹ, nhằm mục đích ngăn chặt tội phạm bảo hiểm, Hội đồng thành phố Washingtơn DC đã ban hành một đạo luật đấu tranh chống tệ nạn lừa đảo bảo hiểm, trong đó đặc biệt kẻ gian lận sẽ bị phạt 50.000 USD và kèm theo 15 năm tù giam, ngoài ra còn phải bồi thường khoản tiền chiếm đoạt do lừa đảo. Các nhà bảo hiểm được yêu cầu phải thiết lập những chương trình cụ thể nhằm bảo vệ và chống lừa đảo bảo hiểm. Những công ty không thực hiện chương trình này sẽ bị phạt. Đồng thời cố gắng động viên khuyến khích cơ quan Cảnh sát tham gia tích cực vào công việc này.
    • Doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức đầu mối quản lý, theo dõi và kiểm tra chặt chẽ các cán bộ, đại lý và các cộng tác viên khai thác bảo hiểm. Một mặt, phải nhắc nhở họ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mặt khác phải đề ra những cơ chế quản lý phù hợp như: Phí bảo hiểm thu được trong ngày, cuối ngày phải nộp; giấy chứng nhận bảo hiểm cấp trong ngày phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm vào cuối ngày; khi khách hàng tham gia bảo hiểm với số tiền lớn thì phải báo cáo về doanh nghiệp bảo hiểm kiểm tra, theo dõi… tiêu biểu như tại Cana da: Cuộc đấu tranh chống gian lận bảo hiểm ở Canada do văn phòng bảo hiểm Canada (IBC) đứng đầu.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    IBC tổ chức đánh giá, tổ ng kết kinh nghiệ m ch ống gian lận bảo hiểm của tất cả các công ty bảo hiểm và soạ n thảo một giáo trình đặc biệt h ướng dẫn hoạt động chống gian lận b ảo hiểm. Tổ chức “ngăn chặn tội phạm” của Canada tự nguyện đứng ra ngăn chặn và đi ều tra mọ i tội phạm, trong đó có tội phạm gian lận bảo hiểm. IBC cung cấp cho cảnh sát và lực lượ ng chữa cháy sổ ghi nhớ các dấu hiệu nghi vấn gian lận bảo hiểm để họ lưu ý. Tổng giá trị gian lận b ảo hiểm tài sản và các trường hợp rủi ro khoảng 1,3 tỷ USD/ năm (10-15% số tiền đóng bảo hiểm).

    Liên đoàn chống gian lận bảo hiểm thành lập tháng 6/1994 ở Canada bao g ồm đại diện của các công ty Bảo hiểm, Cảnh sát, Lu ật sư đoàn và ngườ i tiêu dùng. Liên đoàn đã ra bản tuyên bố được tất cả các hãng bảo hiểm ký và cam kết th ực hiện, đồng thời đưa ra định nghĩa: “gian lận bảo hiểm là mọi hành động tiến hành với mục đích nhận tiền bảo hiểm phi pháp từ yêu cầu giả mạo đến tăng hay giảm các yêu cầu hợp pháp, từ yêu cầu giả đến gian lận nội bộ”.

    Đối với thẻ bảo hiểm liên đoàn hướng dẫn như sau:

    • Thẻ bảo hiểm phải được viết bằng ngôn ngữ đơn giản.
    • Các yêu cầu trong thẻ phải được điền đầy đủ.
    • Trong đơn xin trả bảo hiểm người viết phải chứng minh rõ ràng tất cả những khía cạnh yêu cầu của mình.
    • Khi ký lại hợp đồng bảo hiểm phải lưu ý thông báo tất cả những thay đổi vật chất và các thay đổi đáng kể khác của đối tượng bảo hiểm.
    • Thêm vào điều kiện: người bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm giải thích rõ ràng sau khi xảy ra thiệt hại.

    Bảo hiểm ôtô phải tuân thủ trình tự kiểm tra toàn bộ trước khi nhận bảo hiểm. Để tránh gian lận trong bảo hiểm các đối tượng thương mại cần phải phân tích tình hình tài chính của người được bảo hiểm. Mỗi khi nhận được đơn bảo hiểm, Công ty bảo hiểm có quyền xem xét “lịch sử yêu cầu bảo hiểm “ của đối tượng (tần số và khối lượng bảo hiểm) từ các trung tâm tư liệu.

    Về phía Công ty bảo hiểm, khi làm giấy tờ bảo hiểm phải:

    • Chuẩn bị và áp dụng các biện pháp đặc biệt để xác định và làm hồ sơ các thiệt hại đáng nghi ngờ.
    • Tiến hành điều tra tất cả các trường hợp khả nghi và nếu có thể thì áp dụng tất cả các biện pháp để khôi phục các khoản chi trả bất hợp pháp.
    • Thành lập ban điều tra hoặc bắt buộc các công ty bảo hiểm hợp tác với cơ quan điều tra đặc biệt của các hãng bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Hợp tác với chính quyền về các yêu cầu bảo hiểm không được thanh toán gian lận.

    Muốn từ chối trả tiền bảo hiểm, Công ty bảo hiểm phải chứng minh được “tam giác tội phạm” gồm động cơ gian lận, khả năng thực hiện và hậu quả của nó. Công việc này có thể được công ty bảo hiểm tiến hành, có trườ ng hợp có cả sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài. Thêm vào đó một số mạng lưới các công ty đặc biệt được cấp giấy phép hoạt động như đơn vị điều tra độc lập theo yều cầu của công ty bảo hiểm.

    Trường hợp thiệt hại trên 25.000 đôla Canada bắt buộc phải điều tra, còn dưới 25.000 đôla Canada thì chỉ điều tra khi đặc biệt nghi vấn. Điều tra của Công ty bảo hiểm là nhằm quyết định trả hay không trả bảo hiểm, còn của Cảnh sát là xem xét có dấu hiệu phạm tội hình sự hay không?

    Ngoài gian lận từ phía người được bảo hiểm còn có những gian lận nội bộ từ phía trung gian như đại lý, môi giới hay nhân viên bảo hiểm. Để chống lại loại này, trước hết phải làm rõ chức năng của các chuyên gia xác định quy mô thiệt hại với các chuyên gia thực hiện trả tiền cho các thiệt hại (kể cả bố trí họ ở các văn phòng khác nhau). Công ty bảo hiểm nên thường xuyên luân chuyển cán bộ, thay đổi hệ thống, kiểm tra định kỳ tại chỗ và sử dụng các bộ phận độc lập. Người ta cho rằng, việc thay đổi thường xuyên các nhân viên quản lý thiệt hại đã giảm đáng kể khả năng móc ngoặc giữa những người mưu toan gian lận trong thời gian dài

    • Quá trình giám định– bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm phải được thực hiện đúng nguyên tắc và trình tự mỗi khâu. nếu thấy nghi ngờ một loại giấy tờ nào đó hoặc không rõ về thời gian, không gian trong các vụ tổn thất cần xác minh lại ngay. Nếu thấy cần thiết phải báo ngay để doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức điều tra xác, minh cho rõ. Ngoài phương án điều tra độc lập, cần tranh thủ sự giúp đỡ của các bên có liên quan như: công an, y bác sỹ và những người làm chứng… Tiêu biểu như tại Pháp: Tất cả các hãng bảo hiểm của Pháp đều có danh sách những kẻ lừa đảo bảo hiểm đã bị toà án kết tội để không ký các hợp đồng bảo hiểm đối với các đối tượng này, qua đó nghiên cứu kỹ hồ sơ các vụ gian lận để tìm các biện pháp phòng chống. Ở nước này, theo ước tính của các công ty bảo hiểm, chi phí cho việc điều tra gian lận bảo hiểm tiêu tốn khoảng 1,5% tổng phí thu. Mặc dù vậy, các công ty bảo hiểm này vẫn tiến hành các chiến dịch chống gian lận bảo hiểm. Tiêu biểu trong số đó là công ty bảo hiểm Pháp – UAP. Từ năm 1980, trong bộ phận điều chỉnh thua lỗ của hãng có nhóm chống gian lận với nhiệm vụ: phân tích tài liệu của các trường hợp bảo hiểm khác nhau, kiểm tra tính hợp pháp của chúng, lưu ý những thông tin trái ngược và những sự kiện không phù hợp với từng trường hợp:
    • Những người tham gia vào nhiều loại bảo hiểm khác nhau.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trường hợp phải trả tiền bảo hiểm ngay sau khi ký hợp đồng bảo hiểm hay sau khi tăng tiền bảo hiểm.
    • Trường hợp tăng số vụ tai nạn ngay cùng một chỗ.
    • Giấy yêu cầu bảo hiểm không phải do chính người được bảo hiểm hoặc người thừa hưởng đề nghị.

    Để công tác điều tra có hiệu quả, hãng UAP thường cộng tác với các cơ quan bên ngoài, đặc biệt là sự tham gia của Cảnh sát.

    Để có được những biện pháp như trên, các Công ty bảo hiểm ở Pháp đã có sự thống nhất trong hàng động, xử lý thông tin kịp thời và quản lý khách hàng rất chặt chẽ.

    Đặc biệt ở Pháp còn hình thành những tổ chức đặc biệt để đối phó với những hành vi trục lợi bảo hiểm mang tính chất nguy hiểm, xảo trá và hãng ALFA là một trrong những tổ chức như vậy. Tổ chức ALFA được thành lập năm 1989 có trụ sở chính tại Paris. Với sự tập trung các thám tử trong lĩnh vực bảo hiểm có trình độ, trí thông minh và khả năng phá án tốt, ALFA đã trở thành cánh tay đắc lực cho các hãng bảo hiểm Pháp trong việc truy tìm tội phạm trục lợi bảo hiểm, ALFA có 80 thám tử tư làm việc trong phạm vi khắp nước Pháp, dưới sự chỉ đạo của ban tham mưu gồm 15 người, nhân viên ALFA có tuổi trung bình 50 tuổi và đều có kinh nghiệm qua thời gian trong ngành cảnh sát điều này là một nguyên nhân khiến công việc của tổ chức này luôn thuận lợi.

    Các cuộc điều tra mất khá nhiều thời gian và tiền bạc nhưng những chi phí đó không phải là vô ích.

    Trên đây là một số các phương pháp, mô hình tổ chức phòng chống ngăn chặn gian lận bảo hiểm ở một số nước tiêu biểu trên thế giới mà phương pháp của họ đã được cả thế giới tham khảo vận dụng. Việc vận dụng, học hỏi các nước đi trước để tìm ra cho mình một giải pháp phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn là điều rất cần thiết đối với các nước đi sau trong đó có Việt Nam.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương II. THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TẠI CÔNG TY PJICO.

    I.                   SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY PJICO.

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Pjico.

    1. Lịch sử hình thành công ty:
    • Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam sau hơn 30 năm chỉ có một mình Bảo Việt “đơn thương độc mã” hoạt động thì đến nay ngoài Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam đã xuất hiện thêm nhiều công ty bảo hiểm khác với các hình thức sở hữu khác nhau, có thể kể đến các công ty sau:

    – Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO);

    – Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long);

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Công ty bảo hiểm Thành Phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh);
    • Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVIC);
    • Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện (PTI);
    • Công ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế Việt Nam (VIA);
    • Việc thị trường bảo hiểm nước ta được mở rộng là xuất phát từ chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, mà nổi bật là chủ trương cổ phần hoá và phát triển các công ty cổ phần theo Luật công ty năm 1990 vì thế sau năm 1994 một loạt các công ty cổ phần bảo hiểm đã ra đời trong đó có Pjico.
    • Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex với tên gọi tiếng anh là Petrolimex Joint- Stock Insurance Company, viết tắt là PJICO đã ra đời và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 15 tháng 6 năm 1995. Công ty là sự hội tụ của 8 cổ đông lớn trong đó có 7 thành viên sáng lập và một thành viên tham gia. Các thành viên này đã và đang có những đóng góp tích cực vào hoạt động kinh doanh của Pjico. Dưới đây là các cổ đông sáng lập:
    • Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex);
    • Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank);
    • Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare);
    • Tổng công ty thép Việt Nam (VSC);
    • Công ty vật tư và thiết bị toàn bộ (Matexim);
    • Công ty điện tử Hà Nội (Hanel);
    • Công ty TNHH thiết bị an toàn (AT);

    Công ty Pjico là cổ phần đầu tiên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân th ọ, do vậy, Pjico đã phải trải qua không ít những khó khăn của những ngày đầu hoạt động (Vạn sự khởi đầu nan), đặc biệt khi các điều ki ện v ề cơ chế pháp luật còn chưa đầy đủ, khách hàng còn ít lòng tin. Nhưng với sự chỉ đạo của hội đồng qu ản trị , của các ban ngành liên quan, đồng thời cùng với sự ủng hộ hợp tác giúp đỡ nhiệt tình của các cổ đông sáng lập, khách hàng và đặc biệt là sự nỗ l ực phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên, công ty đã từng bước phát triển và tạo dựng được chỗ đứng trên th ị trường bảo hiểm Việt Nam.

    1. Cơ cấu tổ chức của công ty:

    Là một công ty cổ ph ần có tư cách pháp nhân, tự chủ về mặt tài chính và hạch toán độ c lập, Pjico r ất chú trọng tới việc xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty sao cho chặt chẽ đồ ng thời vẫn tuân thủ theo trật tự cơ cấu của một công ty cổ phần. Hiện nay, bộ máy tổ chức của Pjico bao gồm các bộ phận sau:

    • Hội đồng quản trị;

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Tổng giám đốc;
    • Các phó giám đốc;
    • Các phòng ban nghiệp vụ:
    • Phòng tổ chức cán bộ;
    • Phòng tổng hợp;
    • Phòng thị trường và quản lý nghiệp vụ;
    • Ban thanh tra pháp chế;
    • Phòng bảo hiểm hàng hải;
    • Phòng bảo hiểm phi hàng hải;
    • Phòng bảo hiểm tài sản hoả hoạn;
    • Phòng tái bảo hiểm;
    • Phòng kế toán;
    • Phòng đầu tư tín dụng và thị trường chứng khoán;
    • Phòng giám định bồi thường;
    • Bộ phận quản lý đại lý;
    • Các văn phòng bảo hiểm tại Hà Nội: KV1, KV2, KV3, KV4, KV5, KV6 và KV7.
    • Các chi nhánh trực thuộc tại 64 tỉnh thành trên toàn quốc.
    1. Các nghiệp vụ bảo hiểm triển khai:

    So với những ngày đầu mới thành lập, các nghiệp vụ bảo hiểm mà công ty triển khai đã đượ c đ a dạng hoá và hoàn thiện lên rất nhiều. Điề u đó đã đ áp ứng được nhu c ầu v ề bảo hi ểm ngày một tă ng lên không ch ỉ của mỗi mộ t cá nhân mà còn cả các tổ chức đang hoạt động kinh doanh, sản xuất trên đất nước Việt Nam. Hiện nay công ty đang triển khai một số các nghiệp vụ chính sau:

    • Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải:
    • Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường bộ, đường sông, đường hàng không;
    • Bảo hiểm thân tàu;
    • Bảo hiểm TNDS của chủ tàu;
    • Bảo hiểm nhà thầu đóng tàu;
    • Bảo hiểm tàu sông, tàu cá;
    • Nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải:
    • Bảo hiểm xe cơ giới;
    • Bảo hiểm kết hợp con người;
    • Bảo hiểm học sinh, sinh viên, giáo viên;
    • Bảo hiểm bồi thường cho người lao động;
    • Bảo hiểm khách du lịch;

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bảo hiểm hành khách;
    • Nghiệp vụ bảo hiểm Kỹ thuật và Tài sản:
    • Bảo hiểm mọi rủi ro về xây dựng lắp đặt;
    • Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt;
    • Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp;
    • Bảo hiểm máy móc;
    • Bảo hiểm trách nhiệm;
    • Bảo hiểm hỗn hợp tài sản cho thuê mướn;
    • Nghiệp vụ tái bảo hiểm: bao gồm nhượng và nhận các nghiệp vụ bảo

    hiểm.

    • Các hoạt động khác:
    • Thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới bảo hiểm như: Giám định, điều tra, tính toán phân bổ tổn thất, đại lý giám định tổn thất, đại lý xét giải quyết bồi thường và yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.
    • Hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, tín dụng, liên doanh liên kết với các bạn hàng trong và ngoài nước.

    2.                 Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

    1. Công tác triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty

    Pjico:

    Với phươ ng châm “Pjico luôn cùng bạn v ững tay lái”, nghiệp v ụ bảo hiểm xe cơ giới đ ã được công ty triển khai ngay từ khi mới thành lập. Theo thời gian, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đã từng bước đứng vững và trở thành nghiệp vụ chủ đạo của công ty. Đặc biệt trong những năm gần đây, sự phát tri ển của nền kinh tế nhiều thành phần đã làm bùng nổ các phương tiện vận tải chuyên dụng. Đây là đ iều cần cho quy luật “s ố đông bù số ít” trong kinh doanh bảo hiểm. Do vậy, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới có nhiều thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng.

    Hiện nay công ty đang triển khai tất cả các loại hình của bảo hiểm xe cơ giới, bao gồm:

    • Các loại hình bảo hiểm xe cơ giới bắt buộc:
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba nghiệp vụ này gồm: Bảo hiểm TNDS của chủ xe ôtô đối với người thứ ba và bảo hiểm TNDS của chủ xe máy đối với người thứ ba.
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hành khách trên xe.
    • Các loại hình bảo hiểm xe cơ giới tự nguyện:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bảo hiểm vật chất thân xe.
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với hàng hoá chuyên chở

    trên xe.

    • Bảo hiểm tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên.

    Để biết cụ thể tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại

    Pjico ta xem xét những mục cụ thể sau:

    • Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác:

    Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là mộ t trong những sản phẩm truyền thống, có tính cạnh tranh cao, có thế mạnh tạo ra uy tín cho Pjico đồng thời là nghiệp vụ có doanh thu chủ đạo.

    Để chứng minh đây là nghiệp vụ có doanh thu chủ đạo ta xem xét bảng sau:

    Bảng 6: Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000- 2004.

    Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện Tốc độ tăng Mức đạt kế
    Năm (Tr.đ) (Tr.đ) trưởng (%) hoạch (%)
             
    2000 23.150 28.400 37,4 122,7
    2001 32.600 42.436 49,4 129,9
    2002 53.894 60.981 43,7 113,1
    2003 55.941 66.669 9,32 119,1
    2004 64.978 77.568 16,34 119,4

    (Nguồn:    Công    ty

    Pjico)

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Doanh thu của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới liên tục tăng năm sau cao hơn năm trước. Chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí đã tăng 2,7 lần (năm 2000 doanh thu chỉ đạt 28.400 triệu đồng nhưng đến năm 2004 doanh thu đã đạt 77.568 triệu đồng) điều này có được là nhờ công ty luôn coi sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới là một trong những sản phẩm chủ đạo.
    • Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 31% điều này nói lên sự nỗi lực rất lớn của đội ngũ nhân viên khai thác của công ty. Đặc biệt trong 3 năm 2000, 2001 và 2002 tốc độ tăng trưởng rất cao (2000 đạt 37,4%; năm 2001 đạt 49,4%; năm 2002 đạt 43,7%) đó là nhờ sự hoàn thiện dần về cơ chế, tổ chức của công ty và cũng là những năm Pjico nỗ lực xây dựng hình ảnh của mình trên thị trường. Đáng chú ý là năm 2001 năm có sự tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay đó cũng là năm đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Pjico với 64 chi nhánh trên khắp tỉnh, thành trong cả nước. Trong hai năm trở lại đây 2003 và 2004 tốc độ tăng trưởng có giám sút điều này được giải thích đó là

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm cùng loại trên thị trường của những công ty bảo hiểm khác.

    • Tình hình khai thác từng nghiệp vụ cụ thể:

    Trong bảo hiểm xe cơ gi ới có rất nhiều nghiệp vụ và mỗi nghiệp v ụ lại có tính đặc thù riêng điều này giải thích tại sao độ i ng ũ nhân viên khai thác phải luôn hoàn thiện mình để đ áp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng cũng như nâng cao thu nhập cho bản thân và doanh thu cho công ty.

    Để biết cụ thể tình hình khai thác của từng nghiệp vụ ta xem xét bảng

    sau:

    Bảng 7: Doanh thu phí các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000-

    2004.(Đơn vị: Tr. đ)

    STT Nghiệp vụ 2000 2001 2002 2003 2004
                 
    1 TNDS ôtô 9.054 13.900 19.974 21.731 25.299
                 
    2 TNDS xe 557 1.705 2.450 2.673 3.178
      máy          
                 
    3 TNDS đối 137 132 190 204 229
      với hành          
      khách          
    4 TNDS đối 752 712 1.023 1.078 1.208
      với hàng hoá          
                 
    5 Vật chất ôtô 15.742 22.802 32.766 36.096 42.017
                 
    6 Vật chất xe 153 44 63 83 89
      máy          
                 
    7 Tai nạn lái phụ 1.958 3.141 4.515 4.804 5.548
      xe và người ngồi          
      trên xe          
    8 Cộng: 28.400 42.436 60.981 66.669 77.568
                 
              (Nguồn: Công  ty
            Pjico)  

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Doanh thu phí của tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm đều tăng năm sau cao hơn năm trước. Riêng đối với nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe máy doanh thu là không đáng kể theo tôi nên loại bỏ nghiệp vụ bảo hiểm này để đỡ tốn chi phí.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trong hai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS và vật chất của ôtô là hai nghiệp vụ chủ đạo. Tổng doanh thu phí của hai nghiệp vụ này luôn chiếm trên 85% tổng phí thu của nghiệp vụ xe cơ giới. Đặc biệt, trong 5 năm trở lại đây doanh thu phí của hai nghiệp vụ này luôn chiếm trên 86,5% tổng phí thu, điều này cho thấy công ty luôn xác định đây là hai nghiệp vụ hàng đầu và hết sức quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới và Pjico luôn nỗ lực xây dựng quan hệ bền chặt với những khách hàng truyền thống, cũng như luôn xác định hai sản phẩm này luôn đi cùng với những chiếc xe của những doanh nhân thành đạt.
    • Bảo hiểm vật chất ôtô là nghiệp vụ có doanh thu cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ của bảo hiểm xe cơ giới. Nghiệp vụ này chiếm tới 55% trong tổng doanh thu vào năm 2000, năm 2004 con số này là 54,2% điều này cho thấy đây là nghiệp vụ Pjico luôn coi là thế mạnh của mình và các chủ xe luôn ý thức được đây là nghiệp vụ bảo hiểm rất cần thiết cho chiếc xe của mình. Tốc độ tăng trưởng bình quân của nghiệp vụ này đạt 43% trong giai đoạn 2000- 2004. Trong đó, giai đoạn 2000- 2002 có tốc độ tăng trưởng cao nhất (năm 2000 tốc độ tăng trưởng đạt 35,9%; năm 2001 đạt 44,8%; năm 2002 đạt 43,7%) đặc biệt, năm 2001 tốc độ tăng trưởng đạt kỷ lục từ trước tới nay do trong giai đoạn này công ty đang nỗ lực xây dựng thương hiệu của mình trên thị trường. Trong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng có giảm do sự lớn mạnh của các đối thủ cạnh tranh nhưng doanh thu phí vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu.
    • Nghiệp vụ bảo hiểm TNDS ôtô là một trong những nghiệp vụ quan trọng và có doanh thu đáng kể chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí bảo hiểm đã tăng 2,8 lần (năm 2000 doanh thu đạt 9.054 triệu đồng đến năm 2004 đạt 25.299 triệu đồng) và nghiệp vụ này có tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao 33,5% trong đó, có những thời kỳ tăng đột biến đó là giai đoạn 2000 đến 2002 (năm 2000 đạt 45%; năm 2001 đạt 53,52%; năm 2002 đạt 43,69%) trong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng của nghiệp vụ này không cao cho dù đây là nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc (từ năm 2003) nói lên sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường của những sản phẩm cùng loại của những doanh nghiệp khác.
    • Sản phẩm bảo hiểm TNDS của chủ xe máy trong 4 năm gần đây đã được chú trọng nhất là từ năm 2003 khi nghiệp vụ này là nghiệp vụ bắt buộc đối với các chủ phương tiện. Chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí của nghiệp vụ này đã tăng 5,5 lần (năm 2000 doanh thu phí đạt 577 triệu đồng thì đến năm 2004 đạt 3.178 triệu đồng). Tốc độ tăng trưởng bình quân của nghiệp vụ này đạt 69,4% trong đó, có thời kỳ nghiệp vụ này tăng trưởng không được như mong muốn vào năm 2000 do lúc này lòng tin của khách hàng với Pjico chưa nhiều và Bảo Việt còn đang chiếm ưu thế. Nhưng cũng từ đó

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Pjico th ực hiện cơ chế khoán doanh thu tới từng phòng KV làm cho doanh thu của nghiệp vụ này không ngừng tăng cao đ iển hình nă m 2001 tốc độ tăng trưởng đạt con số kỷ lục 206,1%. Trong hai năm trở lại đây do sự cạnh tranh khốc liệt với những doanh nghiệp b ảo hiểm khác là cho tốc độ tăng trưởng có giảm sút, năm 2004 t ốc độ tăng trưởng đạt 18,89% và doanh thu của nghiệp vụ này đã chiếm 4% trong tổng doanh thu.

    1. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất:

    Trong lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm, kiểm soát tổn thất là một trong những chức năng chính của doanh nghiệp bảo hiểm, nhất là các doanh nghi ệp bảo hiểm phi nhân thọ . Kiểm soát tổn thất có tác dụng làm giảm tần xuất hoặc mức độ trầm trọng củ a các tổ n thất, vì thế nó không chỉ là chức năng củ a doanh nghiệp bảo hiểm mà còn là yêu cầu bức xúc của ngườ i tham gia bảo hiểm. Ngày nay các nhà chuyên môn của ngành bảo hiểm đều th ống nhất rằng, kiểm soát tổn thất là sự k ết hợp chặt ch ẽ giữa hai yếu tố: Đề phòng tổn thất và h ạn chế tổn thất. Đề phòng tổn thất là các biện pháp được sử dụng để hạ thấp tần su ất tổn th ất, hay nói cách khác là để ngăn ngừa các tổn thất xảy ra. Còn hạn ch ế tổ n thất là các biện pháp s ử dụng nhằm làm giảm mức đọ trầm trọng của các tổn th ất khi rủ i ro x ảy ra. Đố i với các doanh nghi ệp bảo hi ểm, hoạt động kiểm soát tổn thất cũng đáp ứng được t ất cả các mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra, đó là: Giảm chi bồi thường, tăng lợi nhu ận, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, thực hiện được nhu cầu pháp lý và các công tác xã hội, nhân đạo của doanh nghiệp bảo hiểm.

    Công ty Pjico luôn coi ho ạt động kiểm soát tổn thất là một trong những khâu quan trọng nhất trong chu kỳ của sản phẩm bảo hi ểm xe cơ giới. Công ty luôn xác định n ếu có làm tốt khâu này thì: chất lượng của sản phẩm mới đượ c bảo đảm, tạo đượ c lòng tin cho khách hàng vì chẳng ai mua bảo hiểm lại muốn mình gặp rủi ro cũng như thực hiện được những mục tiêu mà công ty đề ra.

    Do vậy trong hoạt độ ng ki ểm soát tổn thất của mình công ty luôn áp dụng triệt để 3 khâu chuyên môn:

    • Một là, khảo sát điều tra thực tế, công việc chủ yếu của khâu này là điều tra, thu thập các thông tin liên quan đến đối tượng được bảo hiểm, đến đặc điểm của rủi ro và liên quan đến chính bản thân khách hàng.
    • Hai là, phân tích và tư vấn cho khách hàng trong công tác quản lý rủi ro. Sau khi nắm bắt được những thông tin cơ bản ở khâu điều tra khảo sát, kiểm soát viên tổn thất sẽ phân tích những tổn thất trong quá khứ của khách hàng và tư vấn cho họ những vấn đề cụ thể liên quan đến công tác quản lý rủi ro.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Ba là, thực hiện chương trình quản lý rủi ro. Đây là công việc chủ yếu thuộc về phía người tham gia bảo hiểm. Họ có trách nhiệm trực tiếp thực hiện chương trình và sau khi thực hiện doanh nghiệp bảo hiểm của các kiểm soát viên tổn thất kiểm tra xem chương trình có phù hợp với điều kiện thực tế hay không và tư vấn thêm những dịch vụ tư vấn phù hợp.

    Bên cạnh đó, công ty còn sử dụng biện pháp tăng cường quản lý thông tin như thông tin về khách hàng, về các doanh nghiệp bảo hiểm khác, về đại lý… để có thể tìm ra những sai xót, từ đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh cho tốt hơn.

    Như vậy, để đảm bảo thực hiện được công tác đề phòng và hạn chế tổn thất thì hàng năm công ty cũng phải chi ra một khoản tiền nhất định trong tổng phí bảo hiểm thu được. Tại Pjico, khoản chi này được tính vào chi phí quản lý nghiệp vụ.

    Cụ thể ta có bảng chi quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico giai đoạn 2000-2004 như sau:

    Bảng 8: Tình hình chi quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000-2004.

    Chỉ tiêu Số vụ tổn thất Chi quản lý Doanh thu   Chi qu ản lý
    Năm (vụ) nghiệp vụ (Tr.đ) nghiệp vụ / doanh
      thu phí (%)
        (Tr.đ)      
    2000 2.358 3.726 28.400   13,1
    2001 2.948 5.814 42.436   13,7
    2002 3.861 10.123 60.981   16,6
    2003 3.856 10.607 66.669   15,9
    2004 4.216 12.531 77.568   16,1
          (Nguồ n: Công  ty
          Pjico)    

    Phân tích bảng số liệu trên ta thấy:

    • Công ty rất chú trọng đến công tác đề phòng và hạn chế tổn thất và coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm. Ta nhận thấy rằng giai đoạn 2000- 2004 cho dù doanh thu phí đã tăng 2,7 lần (năm 2000 doanh thu phí đạt 28.400 triệu đồng; năm 2004 doanh thu phí đạt 77.568 triệu đồng) nhưng số tiền doanh nghiệp bỏ ra để chi quản lý nghiệp vụ lại tăng tới 3,3 lần (chi quản lý nghiệp vụ năm 2000 là 3.726 triệu đồng; năm 2004 chi quản lý nghiệp vụ là 12.531 triệu đồng).
    • Để đảm bảo được các mục tiêu công ty đã đề ra thì công tác đề phòng và hạn chế tổn thất phải luôn được tăng cường vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty. Bằng chứng là tỷ lệ giữa số tiền chi quản lý nghiệp vụ / doanh thu năm sau luôn cao hơn năm trước và trong những năm gần đây thì công tác này càng được coi trọng, hai năm trở lại đây tỷ lệ này

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    dần đ i vào ổn định (dao độ ng khoảng 16% tổng doanh thu của nghiệp vụ) do cơ sở hạ tầng đã được Nhà Nước đầu tư tốt hơn trước rất nhiều.

    1. Công tác giám định- bồi thường:

    Công tác giám định- bồi thường là những công việc thuộ c dị ch v ụ sau bán hàng, có tác động đến sự c ạnh tranh và uy tín của Công ty. Do vậy công ty Pjico rất chú trọng đến công tác này.

    • Công tác giám định tổn thất: Giám định tổn thất được thực hiện bởi các chuyên viên giám định. Ở những nước pháp triển, chuyên viên giám định do doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp chỉ định và lựa chọn. Nhưng phần lớn các nước chuyên viên giám định lại chính là nhân viên của bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy chuyên viên giám định phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

    – Ghi nhận thiệt hại phải đảm bảo chính xác, kịp thời, khách quan và trung thực. Ghi nhận thiệt hại tức là ghi lại thực trạng và xác định lại thiệt hại, mức độ trầm trọng và nguyên nhân gây thiệt hại. Công việc giám định chỉ được tiến hành khi bên tham gia bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu. Để đảm bảo tính khách quan, một số nghiệp vụ bảo hiểm trong quá trình giám định phải có sự chứng kiến của các bên có liên quan.

    – Đề xuất các biện pháp bảo quản và phòng ngừa thiệt hại, phải kịp thời và đúng quyền hạn, khi rủi ro tổn thất xảy ra, chuyên viên giám định có nghĩa vụ can thiệp để giảm thiểu độ trầm trọng của tổn thất và tình trạng gia tăng thiệt hại. Nếu phát hiện tổn thất có tính hệ thống, chuyên viên giám định phải tìm hiểu nguyên nhân, cách giải quyết và thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm đã uỷ nhiệm mình làm người giám định.

    – Những thông tin mà chuyên viên giám định cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm dù là tự nguyện, nhưng nội dung của nó là tất cả những chi tiết về những sự kiện đã xảy ra và các vấn đề liên qua như: Thực trạng hiện trường nơi xảy ra tai nạn, tình trạng mất cắp, các quy định của cơ quan công an và chính quyền địa phương… Những thông tin này sẽ không có giá trị nếu được cung cấp quá muộn, bởi vì nó không được đưa ra thảo luận và làm bằng chứng khi lập biên bản giám định tổn thất.

    • Công tác bồi thường: Bồi thường và chi trả bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bởi vì khi mua bảo hiểm, có nghĩa là khách hàng đã trả tiền cho các sản phẩm bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường một cách nhanh chóng và đầy đủ nếu không may họ bị tổn thất. Chính vào thời điểm tổn thất xảy ra, phía khách hàng thường bị những “cú sốc” lớn về tinh thần, đặc biệt là trong những trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Vào lúc này thì năng lực, sự trung thực, tính hiệu quả, sự tế nhị và tính nhân đạo của doanh

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    nghiệp bảo hiểm đượ c thừa nhận qua cách xử s ự của mình với các nạn nhân và sự ki ện được bảo hiểm. Nếu giải quyết tốt thì đó là cách quảng cáo tốt nhất đối với một doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy, công ty Pjico luôn quan niệm “Những cam kết được bảo đảm bằng vàng”.

    Cụ thể ta có tình hình chi bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty trong giai đoạn 2000- 2004 như sau:

    Bảng9: Tình hình chi bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty

    Pjico.(ĐV: Tr.đồng)

    Stt Nghiệp vụ 2000 2001 2002 2003 2004
    1 TNDS ôtô 5.623 10.441 16.037 17.063 20.035
    2 TNDS xe máy 105 176 270 265 301
    3 TNDS đối với hành khách 125 273 419 443 523
    4 Vật chất ôtô 9.045 14.334 22.017 24.258 28.615
    5 Vật chất xe máy 141 41 63 76 78
    6 TNDS đối với hàng hoá 229 256 393 375 410
    7 Tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe 486 1.122 1.719 1.722 1.990
    8 Cộng: 16.654 26.643 40.918 44.202 51.952
    9 Tỷ lệ bồi thường (%) (∑chi 58,64 62,78 67,1 66,3 66,97
      / ∑thu)

    (Nguồn:    công       ty

    Pjico)

    Phân tích bảng số liệu trên ta thấy:

    • Bảo hiểm vật chất ôtô có số tiền bồi thường cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ, đây cũng là điều dễ hiểu vì nghiệp vụ bảo hiểm vật chất ôtô có doanh thu cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ. Trong khi doanh thu phí của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất ôtô có tốc độ tăng trưởng trung bình 43% thì tốc độ tăng trưởng trung bình chi bồi thường vật chất ôtô là 36% (giai đoạn 200-2004) điều này cho thấy nghiệp vụ này đem lại nhiều lợi nhuận cho công ty và đóng vai trò chủ đạo.
    • Nghiệp vụ TNDS ôtô là nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng doanh thu phí hàng năm khá cao đạt 33,5% nhưng đi đôi với nó là số tiền bồi thường cũng tăng lên một cách chóng mặt, tăng tới 3,6 lần và tốc độ tăng trưởng bình quân của số tiền bồi thường là 40,8% (giai đoạn 200-2004) cho thấy rằng nghiệp vụ này có xác xuất rủi ro là rất cao do vậy công tác đề phòng và hạn chế tổn thất phải được coi trọng. Đặc biệt, năm 2001 và 2002 tốc độ tăng trưởng của số tiền bồi thường rất cao (năm 2001 đạt kỷ lục 85,6%; năm 2002 đạt 55,5%) do trong những năm này có hiện tượng bùng nổ số lượng phương tiện xe cơ giới trong đó có xe máy Trung quốc và hai năm trở lại

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    đây tốc độ này có giảm do Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp bảo hiểm TNDS bắt buộc.

    • Nghiệp vụ bảo hiểm TNDS đối với xe máy có số tiền bồi thường rất khiêm tốn do đặc điểm của nghiệp vụ là bắt buộc nên chủ xe chỉ mua để đối phó với cơ quan chức năng (CSGT) có người bị tai nạn xong mới biết trong túi mình có mua bảo hiểm do vậy, những vụ va chạm nhỏ thường các chủ xe tự giải quyết theo thoả thuận không báo cho công ty bảo hiểm biết còn những vụ nghiêm trọng thì công ty mới biết và tiến hành bồi thường. Do đó, trong thời gian tới chúng ta phải tổ chức tuyên truyền cho mọi người dân hiểu mua bảo hiểm không phải là bắt buộc mà còn mang nhiều ý nghĩa to lớn khác.

    Như vậy, công tác giám định tổn thất tại công ty Pjico đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần làm cho công tác bồi thường chính xác và đạt hiệu quả cao.

    Để biết về công tác giám định- bồi thường tại Pjico ta xem xét bảng

    sau:

    Bảng 10:Tình hình giám định- bồi thường tại công ty Pjico giai đoạn 2000- 2004.

    Stt Chỉ tiêu Đơn 2000 2001 2002 2003 2004  
    vị
                   
    1 Số vụ khiếu nại đòi giải quyết bồi thường Vụ 2.358 2.948 3.861 3.856 4.217  
    2 Số vụ giải quyết bồi thường Vụ 2.287 2.858 3.762 3.741 4.087  
    3 Số vụ phát hiện trục lợi bảo Vụ 32 48 53 64 75  
      hiểm  
    4 Số tiền bồi thường thực tế Tr.đ 16.654 26.643 40.918 44.379 52.128  
    5 Số vụ tồn đọng Vụ 39 42 46 51 55  
    6 Tỷ lệ tồn đọng (5/1) % 1,65 1,42 1,19 1,32 1,3  
    7 Tỷ lệ giải quyết bồi thường (2/1) % 97,0 97 97,4 97 97  
    8 Số tiền bồi thường thực tế/vụ Tr.đ 7,28 9,32 10,88 11,86 12,75  
      (4/2)  
    9 Chi quản lý nghiệp vụ Tr.đ 3.726 5.814 10.123 10.607 12.531  
    10 Tổng chi nghiệp vụ (4+9) Tr.đ 20.380 32.457 51.041 54.986 64.659  
    11 Tỷ lệ chi bồi thường (4/10) % 81,7 82,1 80,2 80,7 80,6  

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Số vụ giải quyết bồi thường và số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm năm sau đều cao hơn năm trước. Điều này cho thấy công tác giám định- bồi thường của công ty ngày càng chính xác, khách quan và trung thực hơn. Riêng năm 2003 có số vụ tổn thất đòi giải quyết bồi thường khá khiêm tốn

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    điều này được giải thích do năm 2003 Bộ tài chính đã ban hành quyết định số 23/2003/QĐ- BTC về thực hiện bảo hiểm TNDS bắt buộc và cũng trong năm này Chính phủ chọn là năm phát động chiến dịch xoá “điểm đen” trên tuyến quốc lộ.

    • Tỷ lệ tồn đọng hàng năm của công ty ở mức rất thấp và tỷ lệ giải quyết bồi thường luôn đạt trên 97% điều này cho thấy công tác chi trả bảo hiểm của công ty Pjico được thực hiện rất nhanh chóng và kịp thời góp phần xoa dịu sự mất mát của khách hàng cũng như nâng cao uy tín của công ty. Riêng năm 2000 là năm có số vụ tồn đọng cao nhất từ trước đến nay (chỉ 1,65%) do những vụ tai nạn vào năm này xảy ra quá sát tết.
    • Số tiền bồi thường thực tế trên vụ năm sau luôn cao hơn năm trước điều này cho thấy tổn thất ngày càng xảy ra với mức độ trầm trọng hơn đòi hỏi, công ty phải có những biện pháp thiết thực hơn nữa nhằm hạn chế tổn thất xảy ra.
    • Tỷ lệ chi bồi thường= Số tiền bồi thường thực tế/ tổng chi nghiệp vụ. Tỷ lệ này luôn đạt trên 80% cho thấy rằng công ty rất chú trọng đến công tác bồi thường, mục tiêu đặt ra trong những năm tới là công ty phải giảm số tiền bồi thường thực tế và tăng tổng chi nghiệp vụ muốn làm được điều này công ty phải kết hợp với ngành công an hạn chế tới mức thấp nhất tai nạn giao thông xảy ra đặc biệt tai nạn xảy ra trên những đoạn đường đèo dốc nguy hiểm vì tai nạn xảy ra trên những đoạn đường này thường để lại hậu quả hết sức nặng lề.

    Tóm lại, các khoản chi bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chủ yếu xuất phát từ ba nghiệp vụ: bảo hiểm TNDS ôtô; vật chất ôtô; tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe. Chi bồi thường của nghiệp vu bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico có xu hướng tăng do tình hình tai nạn giao thông ngày một nghiêm trọng bên cạnh đó cũng phải xét đến yếu tố gian lận trong bảo hiểm vì hiện tượng gian lận ngày càng trở lên phổ biến; nếu ngăn chặn được tình trạng gian lận bảo hiểm sẽ làm giảm thất thoát do bồi thường không hợp lý; qua đó làm tăng hiệu quả kinh doanh của công ty nói chung và của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới nói riêng.

    II.               TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    1. Thực trạng trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Bảo hiểm là ngành dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới là ngành được mệnh danh là “gà đẻ chứng vàng” vì nhưng lợi ích của bảo hiểm mang lại thì không ai có thể phủ nhận. Nhưng nó cũng đang ph ải đối mặt v ới nhiều nhân tố cản trở trên con đườ ng phát triển của mình, một trong số đó là việc gian lận củ a ng ười được bảo hiểm. Có thể khẳng định r ằng tất cả các công ty bảo hiểm trên thế giới và ở Việt Nam đều đã, đang và sẽ tiếp tục gánh chịu hậu quả của những hành vi tr ục lợi bảo hi ểm. Theo thống kê của hi ệp hộ i bảo hiểm Châu Âu, hàng năm các công ty bảo hiểm thiệt hại không dưới 10 tỷ USD do s ự gian lận của khách hàng và chiếm khoảng 2,5% doanh thu của các Công ty bảo hiểm.

    Cũng như các công ty b ảo hiểm khác, Pjico đang phải đố i mặ t với sự gia tăng về số lượ ng cũ ng như tính chất nghiêm trọng của các vụ trục lợi. Cụ thể ta xem xét bảng sau:

    Bảng 11:Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico giai đoạn 2000-2004.

    Stt Chỉ tiêu Đơn 2000 2001 2002 2003 2004
    vị
    1 Số vụ khiếu nại đòi   2358 2948 3861 3856 4217
      giải quyết bồi thường Vụ
    2              
      Số vụ nghi ngờ Vụ 105 164 193 214 243
    3 Tổng số vụ chấp nhận            
        2326 2900 3808 3792 4142
      bồi thường (1- 4) Tr.đ
    4 Số vụ phát hiện trục            
      Vụ 32 48 53 64 75
      lợi
    5 Tổng số tiền từ chối            
      bồi thường do gian Tr.đ 270 450 903 926 1106
      lận
    6 Số tiền từ chối bồi            
      thường bình quân/vụ   8,4 9,4 17 15,4 16,6
      (5/4) Tr.đ
    7 Số tiền bồi thường            
        16654 26643 40918 44379 52128
      thực tế Tr.đ
    8 Số vụ nghi ngờ/hồ sơ            
      % 4,5 3,9 3,4 5,5 5,8
      khiếu nại (2/1)
    9 Số vụ phát hiện/số vụ            
      % 30,5 29,1 27,4 29,9 30,86
      nghi ngờ (4/2)_

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Phân tích bảng số liệu trên cho ta thấy:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Số vụ khiếu nại đòi bồi thường tăng mạnh trong các năm từ 2000 đến 2004 (từ 2358 vụ lên 4216 vụ) nên số tiền bồi thường hàng năm của Pjico cũng tăng (từ 16654 triệu đồng đến 52128 triệu đồng).
    • Số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm liên tục tăng: Năm 2000 là 32 vụ đến năm 2001 là 48, năm 2002 là 53, năm 2003 là 64 và năm 2004 là 75. Điều này cho thấy số lượng những vụ trục lợi bảo hiểm ngày càng nhiều và hoạt động của ban thanh tra ngày càng mang lại hiệu quả to lớn.
    • Tổng số tiền từ chối bồi thường do gian lận bảo hiểm tăng lên nhanh chóng qua các năm, năm 2000 và 2001, lần lượt là 270tr.đ/vụ, 450tr.đ/vụ, ba năm trở lại đây 2002, 2003 và 2004 tổng số tiền từ chối bồi thường do gian lận bảo hiểm lần lượt là 903 triệu đồng; 926 triệu đồng và 1106 triệu đồng. Điều này cho thấy chiều hướng trục lợi bảo hiểm gia tăng, cả về số lượng và quy mô trục lợi bảo hiểm với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Ở đây chúng ta phải mạnh dạn đặt ra câu hỏi có sự tiếp tay của các nhân viên trong ngành bảo hiểm hay không?
    • Thêm vào đó, tỷ lệ phát hiện trục lợi / số vụ nghi ngờ năm 2000, 2003, 2004 lần lượt là 30,5%; 29,9%; 30,86%. Tỷ lệ này giảm xuống trong hai năm 2001 và 2002 (năm 2001 là 29,1%; năm 2002 là 27,4%) và ngày càng có chiều hướng ổn định. Chứng tỏ là hành vi trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng tinh vi hơn, đa dạng hơn và đặc biệt trục lợi bảo hiểm ngày càng có tổ chức hơn.

    Trong các hình thức trục lợi bảo hiểm thì đối tượng chỉ nhắm vào những hình thức phổ biến mà công ty thường hay sơ hở cũng như ít nghi ngờ.

    Cụ thể ta xem xét bảng số vụ trục lợi bảo hiểm chia theo hình thức:

    Bảng 12: Số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm chia theo hình thức tại Pjico giai đoạn 2000-2004 (Đơn
    Vị: Vụ)              
    STT Các hình thức trục lợi 2000 2001 2002 2003   2004
      bảo hiểm            
    1 Hợp lý hoá ngày giờ tai 15 22 26 30   34
      nạn và hiệu lực bảo hiểm            
                   
    2 Thay đổi tình tiết vụ 7 11 12 14   16
      tai nạn            
    3 Lập hồ sơ hiện 3 5 5 7   9
      trường giả            
    4 Khai tăng số tiền tổn 6 9 10 12   15
      thất            
                   
    5 Lập hồ sơ khiếu nại 1 1 1   1
      nhiều lần            

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.     Phạm Minh Nguyên- BH43a.
                       
    6 Cố ý gây tai nạn      
                       
    7 Cộng: 32 48   53   64   75
                       
              (Nguồn: công ty
              Pjico)      

    Nhìn vào số liệu b ảng trên ta thấy, trong 6 hình thức trục lợi b ảo hi ểm cơ b ản thường thì khách hàng của công ty sử dụng 4 hình th ức phổ biến là: hợp lý hoá ngày giờ tai nạn và hiệu l ực bảo hiểm; thay đổi tình tiết vụ tai nạn; lập hồ s ơ hiện trường giả và khai tăng số tiền tổ n thất; hình thức lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần có được sử d ụng nhưng rất ít; còn hình thức cố ý gây tai nạn chưa từng xuất hiện tại công ty Pjico.

    III.            BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ XỬ LÝ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    1. Những dấu hiệu nghi vấn có gian lận bảo hiểm xe cơ giới.

    Cũng như các vụ án hình sự, các v ụ gian lận bảo hiểm xe cơ giới dù được chuẩ n bị công phu đến đâu cũ ng để lại những sơ hở gây nghi vấn. Và ngườ i làm bảo hiểm nếu nắm vững được các biểu hiện nghi vấn này sẽ dễ dàng hơn trong việc điều tra. Sau đây là những dấu hiệu cần đặt nghi vấn đã được tổng kết qua thực tiễn tại công ty Pjico:

    • Tai nạn xảy ra trong vòng 01 tháng kể từ ngày hết hạn hoặc bắt đầu có hiệu lực bảo hiểm.
    • Tai nạn xảy ra, giải quyết xong mới thông báo cho công ty bảo hiểm

    biết.

    • Tai nạn xảy ra ban đêm, nơi hoang vắng, không có người chứng kiến hoặc dân xung quanh.
    • Xe tư nhân, xe của chủ xe có nhiều xe chưa tham gia bảo hiểm thân xe, xe đăng ký từ tỉnh khác đến yêu cầu bảo hiểm thân xe với giá trị cao.
    • Xe được bảo hiểm thân xe riêng ngoài giấy chứng nhận bảo hiểm

    TNDS.

    • Chủ xe đến tham gia bảo hiểm vật chất xe nhưng không mang theo xe, không có giấy chứng nhận bảo hiểm cũ hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cũ không tham gia bảo hiểm vật chất thân xe.
    • Hồ sơ tai nạn có hiện tượng tẩy xoá ngày tai nạn, ngày hiệu lực của bằng lái, giấy phép lưu hành, giấy phép lái xe, nguyên nhân tai nạn, tổn thất, số tiền đền bù …

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trong hồ sơ tai nạn, có ghi hoặc có biểu hiện có xe thứ ba liên quan nhưng không để lại việc giải quyết liên quan, không để lại địa chỉ của xe khác.
    • Xe bị thiệt hại nặng hoặc toàn bộ tham gia bảo hiểm cao hơn giá trị thực tế thị trường.
    • Xe bị thiệt hại nặng (cháy xe, đổ xe xuống vực…) nhưng người lái xe hoặc người trên xe không bị thương.
    • Chủ xe đề nghị người bán bảo hiểm ghi giúp họ lùi ngày cấp ấn chỉ vì những lý do mà họ đưa ra như tránh bị Công an phạt, hợp lý hoá giấy tờ lưu hành, để chứng minh với chủ hàng là trước đó đã tham gia bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá chuyên chở trên xe…

    2.                 Các hình thức gian lận và biện pháp phát hiện, xử lý trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

    1. Hình thức hợp lý hoá ngày giờ tai nạn và hiệu lực bảo hiểm:

    Để hợp lý hoá ngày hiệu lực của gi ấy chứng nhận bảo hiểm, người khiếu nại gian lận thường làm theo hai cách sau:

    Cách thứ nhất: Ghi lùi ngày hoặc tiến ngày xảy ra tai nạn.

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi:

    • Trường hợp bị tai nạn rồi mới tham gia bảo hiểm: Trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi sau so với ngày bị tai nạn thực tế.
    • Trường thợp bị tai nạn khi đã hết hạn hợp đồng bảo hiểm: Trong hồ sơ tai nạn, ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi trước so với ngày bị tai nạn thực tế.

    Trong cả hai trường hợp trên người trục lợi bảo hiểm thường thông đồng với nhân viên của các cơ quan chức năng để ghi sai ngày xảy ra tai nạn trong các biên bản tai nạn.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    Nếu cán bộ bảo hiểm nghi ngờ hi ện tượng trên thì phải kiểm tra lại giấy chứng nhận bảo hi ểm xem có h ợp lý không. Nếu đã hợp lý thì việc giám định chủ yếu dựa vào việc xác minh hiện trường cùng lời khai của nhân ch ứng để xác định đúng ngày xảy ra tai nạn bao gồm các công việc cụ thể sau:

    • Xác minh hiện trường: xem xét dấu vết trên địa bàn và nơi xảy ra tai nạn có phù hợp vời lời khai của lái xe, chủ xe hay không?

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Xác minh dựa trên lời khai của nhân chứng, người dân xung quanh nơi xảy ra tai nạn.
    • Xác minh qua các đối tượng liên quan trong vụ tai nạn: người trên xe bị thương đến mức độ nào, người thứ ba bị thiệt hại (được đưa đi cấp cứu ở đâu, vào lúc nào, tại bệnh viện nào…).
    • Xác minh lại hành trình của xe: ngày đi, các điểm dừng xe, đã dừng để bốc dỡ hay chở hàng ở đâu …

    Sau đó phải đặt các chi tiết xác minh được xem có lôgic, hợp lý về mặt thời gian cũng như lời khai của chủ xe để đưa ra nhận định cuối cùng.

    Nếu phát hiện ra hành vi trục lợi bảo hiểm này thì trước hết người được bảo hiểm sẽ không được nhận được tiền bồi thường; tuỳ theo số tiền có

    • định chiếm đoạt mà công ty bảo hiểm có biện pháp xửa lý thích hợp; nhẹ thì hoà giải; nặng có thể bị truy tố trước pháp luật. Còn nhân viên bảo hiểm do lỗi vô tình hay cố ý ghi sai mà phải chịu trách nhiệm trước hành vi của mình; nhẹ thì bị kiểm điểm, khiển trách; nặng thì bị thôi việc và kết tội đồng phạm.

    Cách thứ hai: Ghi lùi ngày bảo hiểm.

    Hành vi: Người khiếu nạn gian lận thông đồng với người bán bảo hiểm ghi lùi ngày bán bảo hiểm trở về trước so với ngày đến mua và làm thủ tục bảo hiểm.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý: Lỗi này thuộc lỗi chủ quan, quản lý nội bộ của công ty đối với người bán bảo hiểm như nhân viên khai thác, đại lý, cộng tác viên, do vậy việc quản lý người bán bảo hiểm là nhiệm vụ chính. Muốn vậy:

    • Phải tổ chức đầu mối quản lý, theo dõi kiểm tra các đại lý thường xuyên, luôn nhắc nhở đại lý tuân thủ quy trình nghiệp vụ, lưu ý người bán bảo hiểm người khiếu lại gian lận thường tìm nhiều lý do để lừa người bán bảo hiểm chấp nhận ghi lùi ngày bảo hiểm (như lý do để hợp thức hoá giấy tờ lưu hành, tránh bị Công an phạt …).
    • Khi có người yêu cầu ghi lùi ngày bảo hiểm thì nhân viên khai thác phải tìm cách ghi lại số xe, báo về công ty để có biện pháp ngăn chặn trên toàn tuyến (thông báo cho các điểm bán bảo hiểm khác, thông báo cho bảo hiểm tỉnh bạn, chú ý khi xét duyệt bồi thường …).
    • Khi đã xảy ra việc bán bảo hiểm ghì lùi ngày bảo hiểm, cán bộ quản

    lý phải:

    . Kiểm tra kỹ giấy chứng nhận, cuống lưu, hoá đơn (nếu có).

    . Yêu cầu người bán bảo hiểm tường trình lại sự việc.

    . Có biện pháp xử lý ngay đối với người bán bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Nếu phát hiện ra trường hợp này thì người được bảo hiểm sẽ không được bồi thường đồng thời người bán bảo hiểm có thể bị kết tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà Nước tại Điều 144 BộLuật Hình Sự nước Cộng hoà xã hội củ nghĩa Việt Nam.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Xe ôtô mang biển kiểm soát 35M – 5556 ngày 17/11/1998 bị đâm vào dải phân cách km 9 + 824 quốc lộ 5A, giấy chứng nhận bảo hiểm được mua tại Pjico vào ngày 13/11/1998. Cán bộ công ty đã đặt dấu hiệu nghi ngờ chiếc xe này vừa tham gia bảo hiểm nên ngay lập tức cử cán bộ xuống hiện trường điều tra. Sự việc được làm sáng tỏ thì ra chiếc xe này đã bị tai nạn từ ngày 11/11/1998, công ty đã từ chối trả tiền bồi thường 20,75 triệu đồng với lý do tai nạn nằm ngoài thời hạn bảo hiểm.

     

    • Hoặc vụ tai nạn của ôtô mang biển kiểm soát 22A – 8899 xảy ra lúc 9 giờ 45 phút ngày 09/08/1997 thiệt hại 44 triệu đồng nhưng đến 14 giờ cùng ngày mới mua bảo hiểm tại Pjico. Hồ sơ tai nạn được cảnh sát giao thông khám nghiệm hiện trường ghi lùi vào ngày 12/08/1997.
    • Gần đây nhất là vụ tai nạn của xe ôtô mang biển số 29M-3344 của công ty TNHH Tân Hoàng Yến thiệt hại 43 triệu đồng, tai nạn xảy ra vào ngày 7/12/2004 và tai nạn xảy ra mới mua bảo hiểm tại Pjico hồ sơ tai nạn được cảnh sát giao thông ghi lùi vào ngày 11/02/2002.
    1. Hình thức thay đổi tình tiết trong vụ tai nạn:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Thay đổi lỗi, thay đổi nguyên nhân trong vụ tai nạn.
    • Sửa chữa hiệu lực bằng lái (do hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe được lái).
    • Sửa chữa hiệu lực giấy phép lưu hành xe (do hết hạn).
    • Thay đổi người lái xe có giấy phép lái xe hợp lệ (tai nạn do người lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái không hợp lệ).

    Các biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Đọc kỹ lời khai của lái xe, biên bản khám nghiệm hiện trường, hồ sơ hiện trường để phân tích tình huống xảy ra tai nạn.
    • Đối chiếu bản gốc của các loại giấy tờ trên như giấy phép lái xe, giấy phép lưu hành xe …
    • Trường hợp hồ sơ không có dấu hiệu sửa chữa thì có thể tìm cách đối chiếu bản gốc hồ sơ tai nạn tại cơ quan chức năng lập biên bản nếu khó khăn có thể nhờ sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên.
    • Trường hợp này nếu bị phát hiện thì trước hết người được bảo hiểm cũng không được nhận tiền bồi thường. Tuỳ theo số tiền định chiếm đoạt mà sẽ bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Trường hợp xe ôtô 15 chỗ ngồi mang biển số 19M- 4455 do lái xe Hoàng Mạnh Tân điều khiển gây tai nạn ngày 18/11/1999 gây thiệt hại cho người thứ ba lên đến 60 triệu đồng. Sau khi chủ xe có khiếu nại, công ty Pjico đã thụ lý hồ sơ và xác định lái xe không có giấy phép lái xe hợp lệ, chỉ có giấy phép lái xe loại xe ôtô chở tối đa 9 chỗ ngồi nhưng anh ta đã lợi dụng giấy phép lái xe có mặt trước mang tên Hoàng Mạnh Tân còn mặt sau ghi loại xe được phép lái là ôtô chở từ 25 đến 30 chỗ. Sau khi giám định, Pjico đã từ chối bồi thường với lý do tổn thất nằm ngoài phạm vi bảo hiểm.

    Hành vi gian lận rất khó phát hiện trong trường hợp người gian lận không trung thực đã thay đổi lỗi, nguyên nhân trong vụ tai nạn hay thay đổi người lái xe hợp lệ. Vì khi tham gia giao thông thì chỉ những người trên xe mới biết điều gì xảy ra với chiếc xe của mình. Khi tai nạn xảy ra họ khai báo những gì không đúng thực tế thì khó mà biết được.

    • Xe máy 29K- 4576 đến khiếu nại bồi thường bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe tại Pjico Hà Nội vào ngày 16/08/2003 nhưng qua xác minh của công ty Pjico thì nạn nhân bị tai nạn không phải là người điều khiển xe máy trên.
    1. Hình thức lập hồ sơ hiện trường giả:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Đưa xe từ nơi tai nạn đến nơi khác để lập biên bản.
    • Thay đổi biển số xe không bị tai nạn đã mua bảo hiểm vào xe bị tai nạn chưa mua bảo hiểm để chụp ảnh, khám nghiệm, lập biên bản.

    Các biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Bằng giác quan để điều tra các vết tích trên hiện trường xem có phải là lái xe đã bị tai nạn ở đó hay không.
    • Đối chiếu biển số xe với số khung, số máy để xác định xem xe đang nằm trên hiện trường có phải đã được tham gia bảo hiểm hay không.
    • Hình thức này muốn làm được phải có sự “giúp đỡ” của các cơ quan chức năng do vậy rất khó phát hiện. Nếu bị pháp hiện thì người được bảo hiểm sẽ không nhận được một đồng tiền bồi thường nào mà còn bị cáo buộc liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức tại Điều 139 Bộ Luật Hình S ự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    1. Hình thức khai tăng số tiền tổn thất:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Bảo hiểm TNDS: Khai tăng số tiền tổn thất hoặc số tiền phải bồi thường cho người thứ ba, đưa tài sản hoặc hàng hoá hư hỏng (bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá) không do tai nạn vào hiện trường.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    – Bảo hiểm vật chất thân xe:

    . Đưa báo giá sửa chữa cao hơn so với th ực tế, thúc ép Pjico chấp nhận phương án khắc phục hậu quả tai nạn bất hợp lý (thiệt hại bộ phận nhẹ nhưng đòi thay mới).

    . Không thiệt hại, không sửa chữa nhưng cũng kê khai, đưa vào hợp đồng sửa chữa.

    . S ửa chữa thay th ế cả những bộ phận hư hỏng không do tai nạn, hoặc bị tai nạn từ trước khi tham gia bảo hiểm.

    . Thay thế những vật tư cũ, chế lại… nhưng kê khai thay vật tư

    mới.

    . Lấy cắp phụ tùng xe (kính, gương…), tài sản, hàng hoá chở trên xe thay vào đó đồ đã hư hỏng.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Phải giám định trực tiếp trong thời gian sớm nhất (giám định sơ bộ, giám định chi tiết).
    • Phải theo dõi thường xuyên trong quá trình sửa chữa.
    • Chú ý công tác nghiệm thu sửa chữa (bộ phận hư hỏng thực tế đã sửa chữa, thay thế đúng chủng loại, chất lượng…).
    • Những bộ phận thay thế, thu hồi phải được quản lý chặt chẽ, tránh hiện tượng quay vòng sửa chữa đòi tiền bồi thường.
    • Hợp tác tốt với xưởng sửa chữa nhưng phải có thái độ độc lập, kiên

    quyết.

    • Hình thức này rất dễ thực hiện vì thế rất dễ phát hiện. Công ty nên có sẵn những bảng báo giá cụ thể, từng loại thiết bị, cho từng loại xe của từng hãng đồng thời trong đội ngũ giám định nên có một thợ máy.
    • Nếu phát hiện ra hình thức gian lận này có thể giải quyết theo nguyên tắc hoà giải, êm thấm, khi có những bằng chứng, chứng minh khách hành trục lợi để giữa khách hàng tránh chuyện bé xé ra to. Nhưng khách hàng một mực không chịu nhận thì phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cho khách hàng thấy được hành vi gian lận của mình và không chấp nhận bồi thường.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Xe 29N- 5338 của công ty TNHH Song Ánh Nguyệt, lúc 8 giờ 30 ngày 13/06/2002 khi xe đang đi trên đường vào khu Nghĩa Tân thì bị va vào bức tường do trách người qua đường gây thiệt hại: vỡ đèn xi nhan bên phải, sước sơn cửa sau xe bên phải, rơi nẹp cửa sau xe và xây xát hông bên phải, bồi thường thực tế là 11.812.000 đồng nhưng chủ xe đã làm hồ sơ yêu cầu bồi thường đến công ty Pjico Hà Nội với số tiền lên tới 30 triệu đồng.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bên cạnh đó, việc khai tăng số tiền tổn thất bằng cách thông đồng với bác sĩ để khai tăng bệnh án hay nội dung trong đơn thuốc thì rất khó phát hiện.
    • Trường hợp tai nạn ở Đông Anh Hà Nội là một ví dụ điển hình. Chiếc xe môtô mang biển kiểm soát 29K-1122 do chủ xe Nguyễn Trọng Ân điều khiển tham gia bảo hiểm người ngồi trên xe tại Pjico Hà Nội với mức trách nhiệm 10 triệu đồng/ vụ. Ngày 14/5/2002 do phóng nhanh ông Ân đã không làm chủ được tốc độ đã đâm vào người đi phía trước làm xe đổ lên người, ông Ân đã được đưa vào Bệnh Viện Giao Thông Vận Tải để điều trị. Nghiên cứu hồ sơ, cán bộ Pjico Hà Nội được biết ông Ân bị gãy xương bàn chân và sương sườn nằm điều trị hai đợt. Để làm rõ Pjico Hà Nội đã kiểm tra bằng cách đưa ông Ân đi chụp X- quang tại Bệnh Viện Việt Đức. Kết quả cho thấy ông Thư chỉ bị thương nhẹ và cuối cùng sự việc được làm sáng tỏ thì ra ông Ân đã thông đồng với nhân viên Bệnh Viện để có tấm phim X-quang bị gãy xương bàn chân và xương sườn mang tên ông Nguyễn Trọng Ân. Pjico Hà Nội đã từ chối bồi thường phần gãy xương bàn chân và xương sườn và chỉ bồi thường 3.7 triệu đồng theo chế độ bồi thường của người ngồi trên xe.
    1. Hình thức lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Chủ xe mua bảo hiểm trùng (mua từ 2 Công ty trở lên), khi xảy ra tai nạn xe đó đã được một công ty bảo hiểm bồi thường nhưng vẫn tiếp tục đòi bồi thường ở công ty bảo hiểm khác mà xe đó cũng tham gia bảo hiểm.
    • Hai xe đâm nhau, chủ xe đã được xe khác bồi thường nhưng vấn tiếp tục khiếu nại bồi thường về tai nạn dân sự đối với công ty bảo hiểm.
    • Hai xe cùng có lỗi gây ra tai nạn cho người thứ ba, cả hai xe đều thông đồng với cảnh sát lập hồ sơ cùng quy lỗi toàn bộ thuộc về mỗi xe để được bồi thường về TNDS.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Phải tìm bằng được xe liên quan trong vụ tai nạn để xác định được việc bồi thường của xe khác đối với người thứ ba hoặc bồi thường cho xe được bảo hiểm.
    • Khi xe được đăng ký tại tỉnh khác thì nhất thiết phải thông báo với công ty bảo hiểm tại tỉnh xe đó đăng ký và chỉ giải quyết bồi thường khi đã có thông tin xác nhận của đơn vị bạn.
    • Hình thức này rất dễ phát hiện nếu như các công ty có những thông tin về nhau, nhưng do cạnh tranh các công ty phải bảo mật thông tin đây là kẽ hở cho khách hàng lợi dụng. Vì thế, để hạn chế được hình thức này các công ty cố gắng xây dựng quan hệ hoà hữu tốt đẹp, canh tranh lành mạnh ít

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    nh ất cũng công khai những thông tin về số vụ tổn thất đã bồi thường để công ty bạn biết và xử lý.

    • Nếu phát hiện ra hình thức trục lợi này thì phải cương quyết không bồi thường và tìm ra những bằng chứng, chứng minh hành vi gian dối của khách hàng để khách hàng thấy được hoạt động bảo hiểm rất quy mô và chặt chẽ.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Trường hợp có sự tiếp tay của cán bộ Pjico Tuyên Quang trong vụ tai nạn xảy ra ngày 24/01/2003 tại km 8+ 277 Tuyên Quang- Thái Nguyên. Chiếc xe ôtô mang biển kiểm soát 29LD- 1002 của công ty thức ăn chăn nuôi gia súc Con Cò đã tham gia bảo hiểm vật chất và bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba tại công ty Pjico Hà Nội, còn xe ôtô 22H-4344 tham gia bảo hiểm vật chất tại Pjico Tuyên Quang. Ngày 24/01/2001 do không làm chủ được tốc độ xe 29LD- 1002 đã quyệt vào xe đi ngược chiều làm thiệt hại vật chất ước tính 13.876.000 đồng.

    Theo bản kết luận điều tra của cảnh sát giao thông thì lỗi 100% thuộc về xe 29LD- 1002. Sau tai nạn, chủ xe đã báo cho Pjico tỉnh Tuyên Quang tiến hành giám định. Vì lỗi 100% thuộc về xe 29LD-1002 nên sau khi giám định, Pjico Tuyên Quang phải thông báo bằng văn bản cho Pjico Hà Nội để tiến hành giải quyết bồi thường TNDS của chủ xe 29LD-1002 và Pjico Tuyên Quang không được phép bồi thường bất kỳ một khoản nào, trừ khi có yêu cầu chi hộ của Pjico Hà Nội. Nhưng do có sự thông đồng giữa chủ xe 22H- 4344 với cán bộ Pjico Tuyên Quang nên Pjico Tuyên Quang đã tiến hành bồi thường vật chất cho chủ xe 22H- 4344 với số tiền 13.876.000 đồng. Sau đó chủ xe mang hồ sơ về Pjico Hà Nội để đòi bồi thường TNDS.

    Như vậy, nếu Pjico Hà Nội tiếp tục bồi thường về TNDS cho chủ xe 29LD- 1002 thì xe 22H- 4344 sẽ nhận được hai lần số tiền bồi thường (bồi thường về TNDS và bồi thường về vật chất xe) tức là nhận được số tiền bồi thường lớn hơn số tổn thất thực tế, điều này nằm ngoài nguyên tắc của bảo hiểm.

    1. Hình thức cố ý gây tai nạn: Nếu cán bộ bảo hiểm nghi ngờ có hiện tượng cố ý gây tai nạn thì cần phải có biện pháp xử lý thích hợp vì đây là hiện tượng gian lận ít gặp nhưng lại nghiêm trọng nhất và cũng khó phát hiện nhất.

     

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau: Đốt xe, cho xe lao xuống vực, huỷ toàn bộ xe, khi xe đã bị tai nạn thì phá huỷ một số bộ phận khác để được thay thế mới.

     

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Lập phương án điều tra tỉ mỉ, nhiều hướng, đặc biệt chú ý đến công việc lấy lời khai nhân chứng, người biết sự việc liên quan và phân tích tình huống xảy ra tai nạn.
    • Ngoài phương án điều tra độc lập cần tranh thủ và huy động sự giúp đỡ của cơ quan điều tra chuyên môn như cảnh sát điều tra, cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Viện khoa học hình sự…
    • Nhiều trường hợp cố ý gian lận xuất phát từ việc được bảo hiểm với giá trị cao nên việc xác định đúng giá trị thực tế của xe trước khi tham gia bảo hiểm là điều hết sức cần thiết: xác định qua nguồn gốc xe, hồ sơ gốc khi đăng ký xe (có đánh giá giá trị khi nộp thuế trước bạ…), xác định nơi sửa chữa qua các lần sửa chữa, nâng cấp… để xác định giá trị tăng thêm.
    • Trong quá trình điều tra các nghi ngờ trục lợi bảo hiểm cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

    . Khẩn trương nhanh chóng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết tai nạn.

    . Không để khách hàng biết kế hoạch, phương án điều tra vì công việc điều tra là do sự nghi ngờ của người làm bảo hiểm. Do vậy, nếu nghi ngờ sai sẽ làm mất lòng khách hàng có thể xảy ra tranh chấp không đáng có. Còn nếu nghi ngờ đúng thì sẽ dẫn đến hiện tượng “đánh rắn động cỏ”, “bứt dây động rừng”, khách hàng sẽ có điều kiện để chuẩn bị cho các tình tiết mới làm cho công việc điều tra trở lên khó khăn.

    . Kết quả điều tra phải được ghi nhận bằng những biên bản xác nhận hoặc các tài liệu làm chứng cứ đấu tranh với người trục lợi bảo hiểm.

    • Hình thức này được xử lý theo Điều 578 Bộ Luật Dân Sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong Luật có ghi rõ:

    . “Bên được bảo hiểm có nghĩa vụ tuân thủ các điều kiện ghi trong hợp đồng, các quy định pháp luật có liên quan và thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại”.

    . “Trong trường hợp bên được bảo hiểm có lỗi không thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại đã ghi trong hợp đồng, thì bên bảo hiểm có quyền ấn định một thời hạn để bên được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó; nếu hết thời hạn mà các biện pháp phòng ngừa vẫn không được thực hiện, thì bên bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc không trả tiền bảo hiểm khi thiệt hại xảy ra do các biện pháp phòng ngừa không được thực”.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    Để đối phó v ới tình trạng trục lợi bảo hiểm nói chung, trục lợi bảo hiểm xe c ơ giới nói riêng đang gia tăng, ngày một tinh vi hơn dẫn đến nguy cơ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với cá nhân, doanh nghiệp cũng như đối với xã hội. Công ty Pjico đã có những biện pháp phòng chống thiết thực, huy độ ng nguồn nội lực cũng như sự giúp đỡ của các ngành, các cấp và đã thu được một số kết quả nh ất đị nh. Tuy nhiên để công tác này thực sự đem lại hi ệu quả cao hơn trong thời gian tới, Công ty cần phải tiếp tục tăng cường các biện pháp đồng bộ mang tính khả thi cao.

    Qua thời gian thực tậ p tại Công ty, nghiên cứu thực tế vấn đề trục lợi bảo hiểm xe cơ giới, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    I. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC.

    1.     Cần sớm hoàn chỉnh hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

    Xuất phát từ đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp b ảo hiểm thương mại và luôn gắn liền với các trách nhiệm b ảo vệ hàng ngàn tổ chức, hàng triệu cá nhân trước các rủi ro và thiệt hại kinh tế cũng nh ư các cơ hội tiết kiệm và đầu tư. Vì thế sự bảo đảm kh ả năng tài chính của công ty bảo hiểm có ý nghĩa hết s ức quan trọng đối với nhiều cá nhân, tổ chức. Cùng với s ự phát triển của đời sống kinh tế- xã hội, công ty bảo hiểm ngày càng đóng một vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ l ợi ích cộng đồng. Mà trục lợi bảo hiểm lại ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tài chính của công ty.

    Mỗi quốc gia đều thiết lập một cơ quan chuyên trách của Nhà n ước quản lý hoạt độ ng kinh doanh bảo hiể m, có thể gọi là cơ quan giám sát bảo hiểm Nhà nước hoặ c cơ quan Qu ản lý bảo hiể m. Cơ quan này có trách nhiện bảo đảm hoạt động củ a các công ty bảo hiểm tuân thủ theo đúng nh ững quy định của pháp luật và các quy định khác có liên quan của quốc gia. Đố i với Việt Nam, quản lý Nhà Nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện thông qua:

    • Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.
    • Bộ tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý Nhà Nước về kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000, song việc áp dụng vào thực tế rất chậm chạm, chưa tạo được môi trường pháp lý toàn diện, đầy đủ, vững chắc, chưa tương ứng với tầm vóc và tiềm năng của thị trường. Do vậy, để lành mạnh hoá thị trường, đảm bảo cạnh tranh công bằng đòi hỏi, các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm phải ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm và có vai trò tích cực trong việc điều tiết thị trường. Nhưng luật kinh doanh bảo hiểm có tới IX chương, 129 điều nhưng lại chưa có chương nào, điều nào đề cập tới vấn đề trục lợi bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Do vậy, một vấn bức xúc đặt ra là khi các doanh nghiệp bảo hiể m phát hiện ra tr ục lợi thì cũng không biết xử lý thế nào ngoài việc t ừ chối bồi thườ ng. Bởi lẽ, trong các v ăn bản dướ i luật từ trước đến nay củ a Chính ph ủ, Bộ tài chính, Bộ công an cũng chưa có văn bản nào quy định về việc xử phạt đối với các đối tượng gian lận bảo hiểm. Vì v ậy trong thời gian tới, Chính Phủ cần phải ban hành một văn bản dưới luật quy định về tội danh này. Trong văn bản đó phải quy định chi tiết số ti ền gian lận bao nhiêu là bị xử phạt hành chính, bao nhiêu là bị xử tù. Đồng thời phải có thông tư hướng dẫn các Bộ, các ngành có liên quan trong việc thực hiện nhằm bảo đảm tính thực thi của văn bản đó.

    2.     Bộ tài chính cần nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện các quy tắc về bảo hiểm nói chung và vấn đề trục lợi bảo hiểm xe cơ giới nói riêng.

    Bộ tài chính và các cơ quan chức năng phải có h ướng triển khai triệt để, ngăn chặn khiếu nại gian lận trong bảo hiểm ở nước ta. B ộ tài chính cần thành lập một ban thanh tra độc lập để ngăn chặn hành vi tiêu cực củ a các cơ quan thực hiện pháp luật như cảnh sát giao thông, Viện ki ểm sát… để đảm bảo quyền lợi của các đơn vị cá nhân trong hoạt động b ảo hiểm. Ban thanh tra còn có th ể trợ giúp các công ty bảo hiểm trong những vụ gian lận có thiệt hại lớn, tính chất, mức độ phạm pháp nguy hiểm có tính tổ chức. Đồ ng thời tổ chức những lớp tập huấn ngắn hạn hay dài hạn cả trong việc hợp tác với các n ước phát triển để đào tạo nâng cao trình độ, khả năng của các thanh tra viên, giám định viên cũng như truyền đạt các thông tin nhanh chóng trong các công ty trên phạm vi toàn quốc.

    Bộ tài chính cần có văn bản yêu cầu sự giúp đỡ của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ trong việc phối hợp với cơ quan bảo hiểm để hạn chế việc gian lận bảo hi ểm, xử lý nghiêm những nhân viên tiếp tay cho hành vi gian lận (Ví dụ: Bộ y tế cần có biện pháp xử lý đối với trường h ợp bác sỹ thông đồng với ng ười tham gia bảo hiểm để kê tăng bệnh án cũ ng như đơn thu ốc…) hay cần có biện pháp để kiể m tra xử lý đối v ới tr ường h ợp xe tham gia giao thông nhưng không tham gia bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới.

    3.     Bộ Công an phải đi tiên phong trong việc tấn công các đối tượng phạm tội trong ngành bảo hiểm.

     

    Bộ Công an là cơ quan có hoạt động g ắn bó bảo hiểm nhất. Bộ cần phối hợp với Bộ Tài chính

    mật thiết với các cơ quan để giảm bớt các hành vi

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    gian l ận bảo hiểm. Cụ thể, Bộ phải nhắc nhở các chiến sĩ Cảnh sát giao thông tăng cường ki ểm tra các giấy bảo hiểm bắt buộc của xe cơ giới như bảo hiểm TNDS của chủ xe, b ảo hiểm tai nạn hành khách. Việc tham gia đầy đủ các loại hình bảo hiểm bắt buộ c cũng sẽ hạn chế được tình trạng trục lợi. Bên cạnh đó, Bộ cần tăng cường nhắc nh ở phổ biến các hình thức trục lợi bảo hiểm đối với các nhân viên điều tra. Ngoài ra trong thời gian tới, Bộ Công an nên đưa công tác qu ản lý xe cơ giới và mạng vi tính toàn quốc. Điều này sẽ giúp cho các nhà bảo hiểm thu ận tiện h ơn khi kiểm tra lý lịch của chiếc xe tham gia bảo hi ểm. Đồng thời Bộ cũng nên lập danh sách các đối tượng đã có tiền sự trong việc trục lợi bảo hiểm gửi tới các Công ty bảo hiểm để đề phòng.

    Trong công tác đấu tranh chống tội phạm và trật tự an toàn xã hội chúng ta đã có số điện thoại nóng 113 (CSCĐ) được cả xã hội ủng hộ. Vậy tại sao trong công tác chống tham nhũng, mua chuộc cán b ộ và gian lận kinh tế chúng ta không thành lập mộ t đường dây nóng tương tự mà khi gọi đến số này chỉ vài phút sau lực lượng chuyên môn đã có mặt bắt quả tang và giải quyết kịp th ời nh ững hành vi gian dối lừa đảo. Điều này giải thích tại sao trong những năm v ừa qua chúng ta liên tục tuyên truy ền, phát động tuần lễ an toàn giao thông, tháng an toàn giao thông nhưng tai nạn giao thông lại cứ tăng, điều chớ trêu thay trong những tháng phát động tai nạn giao thông lại cao hơn những tháng không phát động.

    Một điều n ữa mà chúng ta không thể không nói đến hi ện nay, bên cạnh những chiến sỹ công an hết lòng với công việc để canh giữ sự bình yên cho xã hội là tình trạng tha hoá, biến chất về đạo đức củ a một bộ phận cán bộ trong ngành Công an. Ngành Công an là ngành dọc lại có công việc chính là điều tra, thanh tra, kiể m tra những ngành khác, cũng như mọi hoạt động trong xã hội. Chính vì lý do đó mà một b ộ phận cán bộ trong ngành cứ nghĩ một tay có thể che cả bầu trời chạy theo đồng tiền làm những việc tày tr ời. Bằng chứng trong những n ăm vừa qua chúng ta liên tục phát hiện những vụ cán bộ công an có chức có quyền buôn bán ma tuý mà nếu không ph ải do ăn chia không đều tố giác lẫn nhau thì chúng ta có thể phát hiện được không? Giả sử , chúng không tố giác lẫn nhau thì đến bao giờ chúng ta mới phát hiện được? và sẽ có bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu con ngườ i bị huỷ hoại tương lai dưới bàn tay của những kẻ mặt người dạ quỷ. Đó là chưa k ể đến hàng năm có bao nhiêu con em cháu cha trong ngành Công an “vượt qua” được cánh cửa các trường đại học, học viện trong ngành như: Đại học an ninh; Học viện kiểm sát; Đạ i học cảnh sát nhân dân… mà đ ó là nh ững trườ ng mơ ứơc của những học sinh nghèo học giỏi ở nh ững miền quê xa xôi, hẻo lánh, để rồi vài năm sau đó, khi ra trường chúng lại là bản sao của bố mẹ

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chúng. Còn những học sinh nghèo kia chỉ giám nhìn qua cánh cổng trường đại học mà đặt ra những câu hỏi không bao giờ có câu trả lời.

    Một điều mắt thấy tai nghe nữa, chúng ta hãy một lần đi trên những chuyến xe khách về các tỉnh lẻ thì biết. Tại sao, khi công an thổi còi xe dừ ng lại phụ xe ch ạy xuống rồi chạy lên ngay như một phản xạ tự nhiên. Hỏi ra mới biết tiền đã kẹp trong đống giấy tờ đó rồi và công an đâu có quan tâm đến đi ều gì ngoài điều đó. Những ngày thường thì (20.000- 30.000 đồng) những dị p lễ tết xe đ ông thì sẽ cao hơn (50-100.000 đồng) những cán bộ này đang coi mạng sống của những người đi trên xe chỉ đáng giá bằng ấy tiền. Thế mới có chuyện một chiếc xe khách ở Bắc Ninh chở ch ất cháy, nổ trái phép từ Lạng Sơn về t ận Bắc Ninh mà không bị phát hiện cho tới khi xe cháy thì mọi người mới ngã ngửa ra trên xe có ch ất nổ . Ai dám chắc rằ ng đó là l ần đầu tiên chiếc xe đó chở nh ững chất cấm. Vậy một câu hỏi lớn được đặt ra là tại sao lại có những hành vi trên? Nếu không phải do tham ô, tham nhũ ng, tha hoá, biến ch ất từ trên xuống dưới thì một cá nhân có thể giám làm những điều trên hay không?

    Mà ngành bảo hiểm lại phải giải quyết tất cả những hậu quả trên. Đôi khi những h ậu quả đó có lỗi trực tiếp của nh ững cán bộ ngành công an sau đó họ lại là những người lập biên bản, giám định hiện trường (quyền sinh, quyền sát nằm trong tay) liệu họ có giám nh ận lỗi thu ộc về mình hay lại quy hết lỗi thuộc về lái xe và nhà xe thì nhà bảo hiểm chỉ biết bồi thường không giám kêu ai và nhờ ai đi ều tra. Đây là một điều bất cập và cũng là một nguyên nhân gia tăng tình trạng trục lợi bảo hiểm.

    Theo tôi, để giải quyết mâu thuẫn này ngành bảo hiểm phả i liên kết với ngành công an như tay phải và tay trái. Khi có tai nạn, biên bản về vụ tai nạn để bồi thường bảo hiểm phải có xác nhận của đại diện ngành bảo hiểm thì mới có hiệu lực. Muốn nh ư vậy, thì đại diịen ngành bảo hiểm phải có mặt đồng th ời với đại diện ngành công an trong quá trình giám định tai n ạn. Như vậy, tất cả những hành vi gian dối nhằm tr ục lợi bảo hi ểm như: thay đổi tình tiết vụ tai nạn có lợi cho khách hành, khai tăng số tiền tổn thất … sẽ bị phát hiện và ngăn chặm kịp thời.

    II. KIẾN NGHỊ VỚI HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    Từ 10 doanh nghiệp b ảo hi ểm hội viên sáng lập ban đầu khi thành lập năm 1999 gồ m: Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo Long, PV insurance, PJICO, VinaRe, VIA, UIC, PTI và Việt Úc đến nay, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã là ngôi nhà chung, thể hiện sự hợp tác liên kết của 21 doanh nghiệp bảo hiểm, cùng với các hội viên tán trợ là các doanh nghiệp môi gi ới bảo hiểm, doanh nghiệp tư vấn giám định bảo hiểm, văn phòng đại diện công ty bảo

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    hiểm nước ngoài và các trườ ng đại học có b ộ môn bảo hi ểm. Nhưng cho đến này hoạt động của Hiệp hội vẫn chưa đ em l ại hiệu quả thiết thực. Do v ậy, trong thời gian tới Hiệp hộ i ph ải phát huy vai trò đoàn kết các Công ty chống lại hiện tượng trục lợi bảo hiểm. Cụ thể là:

    • Đại diện các hội viên tham gia ý kiến vào việc soạn thảo các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà Nước về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan; góp ý kiến với cơ quan quản lý Nhà nước trong việc nghiên cứu xây dựng chiến lược pháp triển ngành bảo hiểm Việt Nam; thu thập và phản ánh với các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền ý kiến của các hội viên về các vấn đề chính sách, chế độ áp dụng với ngành bảo hiểm; đặc biệt Hiệp hội phải nhanh chóng soạn thảo nột chương trình phòng chống trục lợi bảo hiểm cho tất cả các công ty thành viên trong hội góp phần phát triển bền vững ngành bảo hiểm.
    • Tổ chức diễn đàn phổ cập pháp luật và chủ trương chính sách của Nhà Nước, đặc biệt chú trọng những diễn đàn phổ biến kinh nghiệm phát hiện gian lận bảo hiểm qua thực tiễn thực hiện, góp ý kiến nhằm hoàn thiện các văn bản pháp quy hiện hành về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan.
    • Xây dựng và thông qua nguyên tắc chung và nội dung phối hợp hoạt động giữa các hội viên, chú ý đến công tác phối hợp chống trục lợi bảo hiểm giữa các thành viên; quy chế tự quản nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
    • Đại diện các hội viên tham gia ý kiến vào các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm của các nghiệp vụ bảo hiểm do Bộ tài chính ban hành. Đặc biệt, là biểu phí bảo hiểm xe cơ giới vì nghiệp vụ này thay đổi theo tốc độ tăng của số lượng xe và tổng số vụ tai nạn giao thông xảy ra. Tổ chức nghiên cứu xây dựng quy tắc, điều khoản, biểu phí của các nghiệp vụ bảo hiểm theo yêu cầu của hội viên dưới hình thức đề tài nghiên cứu khoa học câ.
    • Tổ chức trung tâm thông tin của Hiệp hội theo quy định của pháp luật hiện hành; tiến hành thống kê nghiệp vụ bảo hiểm trong khuôn khổ của Hiệp hội từ đó đề ra các giải pháp cụ thể cho từng nghiệp vụ cũng như đề xuất các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng trục lợi bảo hiểm từ phía khách hàng.
    • Đánh giá kết quả hoạt động của ngành bảo hiểm; phân tích tác hại của trục lợi bảo hiểm đối với cá nhân, doanh nghiệp và xã hội; đề ra những phương hướng hoạt động của ngành bảo hiểm.
    • Phối hợp hoạt động giữa các hội viên trong việc đào tạo bồi dưỡng tập huấn nghiệp vụ bảo hiểm chú trọng đội ngũ giám định- bồi thường, đào tạo đại lý, cộng tác viên.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Tư vấn cho hội viên về tổ chức hoạt động, phát triển kinh doanh cũng như giúp đỡ hội viên trong việc xử lý những trường hợp trục lợi bảo hiểm và các vấn đề khác có liên quan.
    • Nghiên cứu, đề xuất hoặc tham gia ý kiến về các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất chung có liên quan chú ý, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất trong nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đến các doanh nghiệp bảo hiểm hội viên, phối hợp các hội viên và các cơ quan liên quan để tổ chức thực hiện.
    • Tổ chức tuyên truyền hoạt động bảo hiểm trong cả nước để mọi người dân hiểu quỹ bảo hiểm dùng để bồi thường cho những người có khả năng gặp phải cùng một rủi ro chứ không phải là quỹ phúc lợi.
    • Hoà giải tranh chấp giữa các hội viên; kiến nghị với các cơ quan chức năng của Nhà Nước về việc xử lý các trường hợp vi phạm phát luật trong lĩnh vực bảo hiểm.
    • Thiết lập các mối quan hệ với các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế và các đoàn thể có liên quan đến hoạt động của hội xây dựng quan hệ tốt đẹp với ngành có liên quan hệ mật thiết với bảo hiểm như: công an, thanh tra, đầu tư … Quan hệ hợp tác với Hiệp Hội bảo hiểm các nước và tham gia các tổ chức quốc tế theo quy địng của Nhà nứơc.

    Với những biện pháp trên, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam sẽ không những nâng cao vai trò, uy tín của mình mà còn tạo cho các công ty thành viên mối quan hệ đoàn kết, sự đồng lòng trong việc chống gian lận bảo hiểm xe cơ giới, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    IV.             KIẾN NGHỊ VỚI CÔNG TY PJICO.

    • Công ty cần tiếp tục mở rộng, tăng cường quan hệ, liên kết với các công ty bảo hiểm khác một cách chặt chẽ, đồng bộ ít nhất là ở công tác ngăn chặn, khiếu nại gian lận không để khách hàng lợi dụng yếu điểm của tình trạng cạnh tranh giành giật khách hàng giữa các công ty mà tiếp tục làm gia tăng khiếu nại gian lận. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Cơ quan Công an, Y tế, các cơ quan giám định trong nước và quốc tế.
    • Thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở, hướng dẫn các phòng kinh doanh, phòng giám định- bồi thường tuân thủ chặt chẽ quy trình nghiệp vụ. Xử lý nghiêm những cá nhân, tập thể mắc sai phạm trong chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đến việc khách hàng lợi dụng nghiệp vụ để trục lợi bảo hiểm. Đặc biệt, Công ty cần thẳng tay xa thải những cán bộ có hành vi tiếp tay cho gian lận.
    • Công ty cần ban hành một quy chế khen thưởng cụ thể đối với nhưng người có công pháp hiện ra trục lợi. Nên chăng trong quy chế này cần quy định cụ thể về tỷ lệ số tiền khen thưởng trên số tiền hòng trục lợi của

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    khách hàng. Việc này sẽ là một động lực khuyết khích tinh thần làm việc của cán bộ giám định. Ngoài ra cũng có thể áp dụng quy chế này đối với những cảnh sát điều tra.

    • Công ty nên có những phòng tiếp khách hàng, lắng nghe ý kiến khách hàng đồng thời giải thích rõ các quy định, quy tắc của Nhà Nước, của công ty cho khách hàng và đối tượng quan tâm về tính nhân đạo, tính chặt chẽ trong hoạt động bảo hiểm, lợi ích của bảo hiểm đối với cá nhân cũng như cộng đồng, giải thích cho họ hiểu quỹ bảo hiểm là quỹ để bồi thường rủi ro chứ không phải là quỹ phúc lợi, để nâng cao nhận thức của họ nhằm hạn chế bớt sự phát sinh tính gian lận nhằm trục lợi từ trong ý nghĩ.

    Đi đôi với biện pháp trên, Công ty cần phải tiếp tục hoàn thiện các khâu củ a quá trình kinh doanh như:

    • Đối với công tác quản lý ấn chỉ:

    . Toàn bộ ấn chỉ các phòng nhận từ công ty đều ph ải vào sổ theo dõi. Riêng đố i với số đem sử dụng phải theo dõi được đối tượ ng sử dụng, thời gian sử dụng và phải có quyết toán. Ấn chỉ xuất dùng sử dụng không hết phải nhập lại kho.

    . Phòng phải cử cán bộ theo dõi và quản lý ấn chỉ, đôn đốc kiểm tra và quyết toán ấn chỉ với đại lý và với công ty.

    . Chỉ được giao cho đại lý nh ững lo ại ấn chỉ được phép giao theo quy định của công ty. Đối v ới những ấn ch ỉ có số tiền lớn thườ ng dễ gây trục lợi, công ty cần hạn chế và quản lý tập chung tại phòng bảo hiểm khu vực hay công ty.

    . Số lượng ấn chỉ giao cho đại lý phải căn cứ theo từng loại ấn ch ỉ và đối tượng làm đại lý. Trong các trườ ng hợp số l ượng lớn hơn 1 công ty cần có các quy định chặt chẽ để tránh các hiện tượng tiêu cực xảy ra.

    . Thời gian quyết toán phải gắn liền v ới việc nộp phí bảo hiểm. Trong thời gian chưa nộp được phí về phòng, đại lý phải thông báo số phí, số đơn bảo hiểm để vào sổ theo dõi tại phòng.

    . Phương thức quyết toán từng tờ. Khi quyết toán ph ải kiểm tra thời gián ghi trên ấn chỉ, tu ần tự thời gian trong một quyển, đối chiếu thời gian ghi trên ấn chỉ với thời gian đại lý báo về của những ấn chỉ không quyết toán trong ngày, đối chiếu xác nhận số tiền ghi trên ấn chỉ với số phí thực tế đã thu.

    . Kiểm tra việc sử d ụng ấn chỉ của đại lý định kỳ hoặc khi nghi ngờ các hiện tượng trụ c lợi bảo hiểm công ty phải ti ến hành kiểm tra việc ghi chép và pháp hành hoá đơn của đại lý, đối chiếu thời gian và nội dung ghi trên liên gốc và liên giao cho khách hàng.

    – Đối với công tác nâng cao chất lượng đại lý:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    . Đại lý ph ải tuân thủ trình tự kiểm tra tất cả các xe trước khi nhận bảo hiểm đặc bi ệt đố i với xe mua bảo hiểm lẻ, xe t ư nhân, xe đăng ký tỉnh khác. Nhân viên phải đặc biệt chú ý tới nguyên tắc này, phải mắt thấy tai nghe về chiếc xe trước khi bán b ảo hiểm. Nếu sợ bắt chủ xe đưa xe tới có nhiều rầy rà mất th ời gian thì nhân viên làm bảo hiểm có thể đi kiểm tra sơ bộ rồi mới bán bảo hiểm.

    . Nhân viên nên kiểm tra lý lị ch quá trình hoạt động của xe, nếu đối tượng nhiều lần rủi ro hoặc chủ xe có tiền án, ti ền sự thì trong quá trình làm việc đại lý phải linh hoạt, khéo léo trong việc từ chối bán bảo hiểm.

    . Công ty phải tăng cường khâu tuyển chọn và đào tạo đại lý, cộng tác viên. Tuy ển l ựa đại lý, cộng tác viên có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, tổ ch ức cho họ tham gia các lớp đào tạo, h ướng dẫn về khai thác nghiệp vụ. Theo tôi, trong khâu tuyển chọn đại lý nên chăng Pjico nên tuyển chọ n ngay từ gốc bằng cách đến các trường đại học có khoa bảo hi ểm chọn lấy những sinh viên năm th ứ 3, thứ 4 có học lực tốt, phẩm chất tốt, tâm huy ết với nghề phổ biến cho họ cách khai thác bảo hiểm cách viết ấn chỉ và dựa vào sức tr ẻ s ự sáng tạo của họ cho họ đi khai thác một, mặt quảng bá hình ảnh công ty mặt khác tạo cho họ những kinh nghiệm thức tế họ còn thiếu và qua đây có thể tuyển chọn được mộ t vài đại lý đạt tiêu chuẩn cũng như sau khi họ ra trường có thể tuyển thành nhân viên chính thức cho công ty. Có thể nói đây là cách làm mới mẻ nhưng hiệu quả rất cao và có một vài công ty đ ã áp dụng, nên Pjico phải nghiên cứu và coi đây như là một chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho công ty sau này.

    . Định kỳ tổ ch ức các lớp tập huấn, đồ ng thời cũng cần tổ chức thườ ng xuyên các đợt kiểm tra công việc, trình độ của các đại lý, cộng tác viên để nắm bắt được nh ững hạn chế của họ từ đó có những biện pháp điều chỉnh, uốn nắm kịp thời. Hệ thống đại lý như mạng chân rết rất quan trọ ng đối với sự sống còn củ a công ty h ọ không chỉ đem lại doanh thu cho công ty mà còn là bộ mặt của công ty vì vậy, công ty luôn phải h ướng dẫn đào tạo cho nhân viên bán bảo hiểm nh ững ki ến thức cần thiết để có thể tư vấn cho khách hàng chứ không phải đơn thuần là bán bảo hiểm.

    . Một đ iều quan trọng nữa là hiện nay đại lý không thuộc biên chế của công ty nên có tâm lý làm việc không tích cực, nhanh chán nản, dễ pháp sinh tiêu cực. Vì vậy công ty cần có nh ững biện pháp khắc ph ục tình trạng này nh ư: bổ nhiệm các đại lý giỏi vào các chức v ụ tổ trưở ng đại lý, tuyển những đại lý xu ất sắc làm nhân viên thuộc biên chế của công ty… điều này chắc chắn sẽ tăng động cơ làm việc cho mỗi đại lý.

    – Đối với khâu giám định bồi thường:

    Giám định- bồi thườ ng là vấn đề lớn hàng ngày, hàng giờ ảnh h ưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới. Chính vì vậy để nâng

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao ch ất lượng phòng chống gian lận bảo hiểm thì phải nâng cao chất lượng khâu giám định- bồi thường. Để thực hiện được điều này, công ty cần phải quan tâm giải quyết một số vần đề sau:

    . Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, tranh thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác giám định.

    . Không nên đợi chờ các lớp tập huấn, nâng cao nghiệp vụ của công ty mà phải chủ động nâng cao trình độ của các giám định viên thông qua việc gửi các giám định viên theo học các lớp ngắn ngày tại các trường kỹ thuật, hoặc mời các chuyên gia điều tra bên Bộ Công an về nói chuyện chuyên đề, phổ biến kinh nghiệm.

    . Giám định viên sẽ được phân thành nhiều bậc từ thấp đến cao, mỗi bậc có chức năng, nhiệm v ụ, quyền lợi riêng để đáp ứng nhu cầu của công việc, giải quyết các vụ tai nạn tuỳ theo mức độ phức tạp. Giám định viên phải điều tra trên số vụ đã bồi thườ ng hoặc số vụ cần ph ải điều tra tối thiểu cho phòng trong một tháng (hoặc 1 tuần). Trên cơ sở đó, phòng sẽ chủ động phối h ợp với các phòng, ban chức năng để tiến hành hoạt động và báo cáo định kỳ với Ban Giám Đốc.

    . Công ty nên th ực hiện chế độ khoán chi cho phòng giống như các phòng kinh doanh. Việc này sẽ c ải thiện được mức thu nhập của nhân viên trong phòng, giúp họ yên tâm tập trung vào công việc.

    Việc phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới yêu cầu mang tính liên tục, nhanh chóng nhưng không đượ c đốt cháy giai đoạn. Trong quá trình công ty tiến hành các biện pháp trên đòi hỏi phải có sự phối hợp thống nhất và đồng bộ giữa Ban Giám Đốc và các phòng trực thuộc, giữa các phòng ban với nhau, giữa các nhân viên khai thác, giám định- bồi thường và thanh tra. Có như vậy, công tác này mới thực sự đem lại hiệu quả về mặt kinh tế cũng như xã hội.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    KẾT LUẬN

    Thực ti ễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới t ại công ty Pjico cho thấy kinh doanh nghiệp vụ này không những đạt kết quả khá cao mà còn nâng cao được trách nhiệm của người tham gia bảo hi ểm hạn chế đượ c tình hình tai nạn giao thông hiện nay, đóng góp chung vào sự bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

    Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồ n tại hành vi trục lợi bảo hiểm. Hành vi này rất nguy hi ểm đối với tất cả các Công ty bảo hiểm, bởi vì nó không chỉ gây thiệt hại về mặt tài chính của các Công ty bảo hiểm mà kéo theo đó là sự tha hoá biến chất của mộ t số cán bộ viên chức, ảnh hưởng đến uy tín cũng như chất lượng hoạt động của các Công ty bảo hiểm.

    Vì vậy các Công ty bảo hiểm nói chung và công ty Pjico nói riêng cần phải có những biên pháp hữu hiệu nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi trục lợi bảo hiểm đồng thời phối hợp với các cơ quan có chức năng tiến hành xử phạt một cách nghiêm minh đối với hành vi này để bảo hiểm hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.

    Chuyên đề: “Trụ c lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico”.

    Là kết quả của quá trình nghiên cứu và tìm hi ểu tình hình trục lợi bảo hiể m xe cơ gi ới tại công ty Pjico. Em hy vọng rằng các giả i pháp này sẽ có ích trong việc hạn chế tình hình trục lợi b ảo hi ểm xe cơ giới tại công ty trong thời gian tới. Tuy nhiên do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên chuyên đề mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các hiện tượ ng trục lợi trong bảo hiểm xe cơ gi ới. Trên thực tế cho thấy hiện tượng trục lợi bảo hiểm có thể xảy ra ở tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm. V ậy nên để có cái nhìn tổng quát hơn về hiện tượng trục lợi b ảo hiểm xe cơ giới cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện trên tất cả các loại hình bảo hiểm.

    Một l ần nữa em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Vũ Quỳnh Anh cùng các anh chị tại văn phòng VII, đặc biệt là anh Nguyễn Tiến Hải đã tận tình chỉ bảo em trong thời gian thực tập và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    1. Giáo trình Bảo Hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Chủ biên: PGS.TS. Hồ Sĩ Sà.

    Nhà xuất bản Thống kê- Năm 2000.

    1. Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo Hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

    Chủ biên: TS. Nguyễn Văn Định. Nhà xuất bản Thống kê- Năm 2003.

    1. Quy tắc bảo hiểm xe ôtô – Công ty Pjico.
    1. Hướng dẫn khai thác bảo hiểm xe cơ giới – Công ty Pjico.
    1. Hướng dẫn công tác giám định bồi thường xe cơ giới – Công ty Pjico.
    1. Tài liệu đào tạo đại lý – Công ty Pjico.
    1. Bản tin nôi bộ – Công ty Pjico.
    1. Báo cáo tổng kết công tác năm 2001 và phương hướng hoạt động 2002 – Công ty Pjico.
    1. Báo cáo tổng kết công tác hoạt động 2002 và phương hướng hoạt động 2003 – Công ty Pjico.
    1. Tạp chí bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    1. Tạp chí giao thông vận tải.
    1. Luật kinh doanh bảo hiểm.
    1. Một số tài liệu của uỷ ban an toàn giao thông Quốc gia.
    1. Bộ luật dân sự Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    1. Các tài liệu khác có liên quan.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ

    Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ

    Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%E1%BB%95ng-quan-v%E1%BB%81-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-nh%C3%A2n-th%E1%BB%8D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Các rủi ro do nhiều nguyên nhân: do môi trường thiên nhiên (Bão, lụt, động đất, hạn hán…); do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật (Khoa học kỹ thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống con người nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ như tai nạn ôtô, hàng không , tai nạn lao động…); do môi trường xã hội (khi xã hội càng phát triển thì con người càng có nguy cơ gặp nhiều rủi ro như thất nghiệp, tệ nạn xã hội, lạm phát…)

    Bảo hiểm là một biện pháp để đối phó với rủi ro trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có. Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Theo quan điểm xã hội bảo hiểm không chỉ chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra. Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất. Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc sống con người.

    Sự ra đời và phát triển của BHNT đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển cuả nền kinh tế trên thế giới. Ngày nay tham gia BHNT trở thành một nhu cầu tất yếu của người dân các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển.

    Phần I

    TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ

    1. Khái niệm:

    Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiềm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định) còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ con người.

    2. Vai trò của BHNT:

    2.1. Đối với nền kinh tế :

    BHNT ra đời có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia:

    Thứ nhất: BHNT góp phần ổn định tài chính cho người tham gia hoặc người được hưởng quyền lợi bảo hiểm.

    Xã hội càng phát triển càng có nhiều cơ hội nhưng cũng đồng nghĩa với có nhiều rủi ro đe doạ cuộc sống con người dẫn đến những bất ổn về tài chính cho cá nhân gia đình cũng như xã hội.

    Khi rủi ro xảy ra, nếu tham gia BHNT thì bản thân hoặc người thân, gia đình của bạn sẽ dược đảm bảo về mặt tài chính bù đắp phần nào những tổn thất do rủi ro gây ra.

    Còn nếu rủi ro không xảy ra, thông qua một số loại hình sản phẩm khác như bảo hiểm trợ cấp hưu trí, bảo hiểm hỗn hợp.. người tham gia vẫn nhận được số tiền bảo hiểm cùng với lãi để sử dụng cho nhu cầu ngày càng cao của con người.

    Hiện nay hầu hết các công ty lớn trên thế giới đều tham gia BHNT nhằm duy trì hoạt động của công ty, bù đắp phần thiệt hại do rủi ro trong trường hợp người chủ công ty phải ngừng làm việc do tử vong hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn.

    Thứ hai: BHNT góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và tăng thêm quyền lợi cho người lao động.

    BHNT giúp tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nước, góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội như vấn đề thất nghiệp, vấn đề giáo dục…

    Nếu không có BHXH, hàng năm Ngân sách Nhà nước phải chi ra một lượng tiền khá lớn để chi trả cho các cá nhân, công ty gặp rủi ro dưới hình thức trợ cấp (trợ cấp ốm đau, trợ cấp mất việc làm..). Các khoản chi này sẽ làm tăng thêm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

    Với BHNT, người tham gia đã có thể tự bảo vệ cho mình, chủ động đối phó với các rủi ro đồng thời tạo ra một khoản tiết kiệm (không may rủi ro xảy ra, bên cạnh các chế độ bảo hiểm y tế, BHXH người lao động còn được hưởng quyền lợi từ BHNT nếu họ tham gia).

    Bên cạnh đó, tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện người lao động còn được hưởng khoản trợ cấp hưu trí, tự lo được cho bản thân, giảm gánh nặng cho gia đình cũng như xã hội.

    Thứ ba: BHNT là công cụ thu hút vốn đầu tư hữu hiệu.

    Phí trong BHNT khá lớn, nhờ đó mà lượng vốn nhàn rỗi được huy động từ dân

    chúng.

    BHNT là một trong những hình thức huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, tạo nguồn đầu tư dài hạn cho sự phát triển kinh tế- xã hội, giảm bớt tình trạng vay vốn nước ngoài với lãi suất cao.

    Ngoài ra, khi các công ty BHNT nước ngoài tham gia vào thị trường BH nội địa, nguồn vốn do họ đầu tư vào cũng sẽ rất lớn.

    Thêm vào đó, do đặc điểm của BHNT là mang tính dài hạn, nguồn vốn huy động được có thể đem đầu tư trong một thời gian dài đây là được coi là nguồn vốn tuyệt vời nhất cho các dự án kinh tế lớn.

    Thứ tư: BHNT tạo ra một số lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động.

    Hoạt động BHNT cần một mạng lưới rất lớn các đại lý khai thác bảo hiểm, đội ngũ nhân viên tin học, tài chính, kế toán, quản lý kinh tế… Vì vậy, phát triển BHNT đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm bớt số lượng người thất nghiệp, bớt đi gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

    Thứ năm: BHNT là biện pháp đầu tư hợp lý cho giáo dục và góp phần tạo nên một tập quán, một phong cách sống mới.

    Đối với những nước đang phát triển, đầu tư cho giáo dục là rất quan trọng và phải coi là nền tảng của sự phát triển. Tuy nhiên khi chi phí cho giáo dục ngày một tăng thì nguồn lực của các nước này lại rất hạn hẹp, bên cạnh các biện pháp hỗ trợ giáo dục như kêu gọi đóng góp, viện trợ của các cơ quan trong và ngoài nước, cho sinh viên vay vốn tín dụng đều mang tính nhất thời, không ổn định, tham gia BH An sinh giáo dục là một biện pháp hợp lý để đầu tư cho việc học hành của con em nhờ tiết kiệm thường xuyên của gia đình.

    Tham gia BHNT còn thể hiện một nếp sống đẹp thông qua việc tạo cho mỗi người thói quen biết tiết kiệm, biết lo lắng cho tương lai của người thân, đồng thời giáo dục con em mình cũng biết tiết kiệm và sống có trách nhiệm đối với người khác.

    Do vậy, thực hiện BHNT chính là một trong những công cụ để thực hiện chiến lược phát triển toàn diện con người.

    2.2. Trong lĩnh vực bảo hiểm

    BHNT là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời sớm nhất

    Bảo hiểm thương mại trên thế giới đã có lịch sử phát triển hơn 500 năm. Bảo hiểm hoạt động trên nguyên tắc “số đông bù số ít” đó là sự chia sẻ rủi ro giữa một số đông và một vài người trong số họ chẳng may gặp phải rủi ro. Bảo hiểm ra đời là một biện pháp hữu hiệu để xử lý các rủi ro tồn tại khách quan. Tham gia bảo hiểm đang ngày càng trở thành một tác nghiệp không thể thiếu được đối với các chủ doanh nghiệp, một thói quen tốt trong dân chúng.

    Một trong các loại hình bảo hiểm ra đời khá lâu là BHNT với lịch sử phát triển

    • năm, nó đang ngày càng chứng tỏ vị thế của mình trong thị trường bảo hiểm nói chung.

    BHNT ngày càng lớn mạnh và trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trên thị trường BH.

    Thực tế tốc độ phát triển của nghiệp vụ BHNT trên thế giới không ngừng tăng và chiếm tỉ lệ lớn doanh thu trong tổng doanh thu của các nghiệp vụ BH.

    Tóm lại, dù đứng trên giác độ khách quan hay chủ quan chúng ta cũng phải thừa nhận rằng BHNT vẫn ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của mình trong thị trường BH nói riêng và trong nền kinh tế của các quốc gia, nền kinh tế thế giới nói chung.

    3. Những đặc điểm cơ bản của BHNT:

    3.1. BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro.

    Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với BH phi nhân thọ.

    Tham gia BHNT người mua có trách nhiệm nộp phí BH cho người BH theo định kỳ đồng thời người bảo hiểm cũng có trách nhiệm trả một số tiền lớn cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thoả thuận khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm này trả khi người được bảo hiểm sống đến một độ tuổi nhất định, hoặc cho người thừa hưởng khi người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn được bảo hiểm.

    Tính tiết kiệm trong bảo hiểm thể hiện ở ngay trong từng cá nhân, gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật. Tiết kiệm bằng cách mua bảo hiểm khác với các loại hình tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm không những tích luỹ về mặt tài chính mà còn mang tính bảo vệ cho bản thân, khi có rủi ro xảy ra cho bản thân thì vẫn được đảm bảo về mặt tài chính. Đó chính là đặc điểm cơ bản của BHNT mà các loại hình tiết kiệm khác không có được.

    3.2. BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia BH

    Khác với nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia BH gặp rủi ro, BHNT do vừa mang tính bảo vệ vừa mang tính tiết kiệm đã đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của con người, mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng sản phẩm bảo hiểm. Chẳng hạn như Bảo hiểm An hưởng hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người được bảo hiểm là có một khoản tiền góp phần ổn định cuộc sống khi họ về hưu, bảo hiểm An gia thịnh vượng đáp ứng yêu cầu của người tham gia là có được một khoản tiền lớn sau một thời gian ấn định trước…

    Ngoài ra, hợp đồng BHNT đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn khi người tham gia bảo hiểm gặp những khó khăn về mặt tài chính, thủ tục cho

    vay được công ty bảo hiểm giải quyết rất nhanh gọn không như đi vay vốn ngân hàng hơn nữa số tiền cho vay này có thể trả hay không trả lại cho công ty BH (số tiền cho vay được giới hạn theo quy định trong hợp đồng bảo hiểm).

    3.3. Các hợp đồng trong BHNT rất đa dạng.

    Tính đa dạng của các hợp đồng BHNT xuất phát từ mục đích của người tham gia và từ các sản phẩm bảo hiểm của công ty bảo hiểm. Mỗi sản phẩm của công ty thiết kế ra là để phù hợp với từng đối tượng tham gia khác nhau, cho nên bất cứ ai cũng có thể tham gia bảo hiểm và có được sản phẩm phù hợp với mục đích của bản thân khi tham gia bảo hiểm.

    3.4. Quá trình định phí BHNT khá phức tạp.

    Để đưa được sản phẩm BHNT đến với người tiêu dùng, người BH đã phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo ra sản phẩm bao gồm: chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng… Tuy nhiên những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên phí BHNT, còn phần chủ yếu là phụ thuộc vào:

    • Độ tuổi của người tham gia bảo hiểm
    • Tuổi thọ bình quân của con người
    • Số tiền bảo hiểm
    • Thời hạn tham gia bảo hiểm
    • Phương thức thanh toán
    • Lãi suất đầu tư
    • Tỉ lệ lạm phát, thiểu phát của đồng tiền

    ……

    Đối với sản phẩm BHNT, để định giá phí BHNT thì phải dựa trên từng vùng địa lý, từng quốc gia, từng chế độ xã hội, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước khác nhau là khác nhau. Hơn nữa còn phải nắm vững đặc trưng cơ bản của từng loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích chiều hướng phát triển chung của mỗi loại sản phẩm trên thị trường…

    3.5. BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định.

     

    – Những điều kiện về kinh tế:

    • Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) phải đạt đến một mức độ nhất định, thể hiện sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
    • Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân đầu người phải đạt mức trung bình

    trở lên.

    • Mức thu nhập của dân cư phải phát triển đến một mức độ nhất định để không những đảm bảo nhu cầu tối thiểu của con người mà còn đáp ứng được những nhu cầu cao hơn.
    • Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền phải tương đối ổn định
    • Tỷ giá hối đoái phải ổn định ở mức hợp lý thì người dân mới tin tưởng mà đầu tư vào BHNT

    …….

    – Những điều kiện xã hội:

    Tình hình xã hội tương đối ổn định, không xảy ra nội chiến, bạo động. Một xã hội phát triển ổn định thì người dân mới tin tưởng đầu tư cho những kế hoạch trung và dài hạn.

    Ngoài ra, môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT.

    4. Các loại hình BHNT:

    4.1. Phân loại theo rủi ro bảo hiểm: Có 3 loại hình BHNT cơ bản:

    4.1.1. Bảo hiểm tử kỳ (bảo hiểm tạm thời, hay bảo hiểm sinh mạng có thời hạn)

    • Đây là loại hình BH được ký kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong thời gian đã quy định của hợp đồng. Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì người được BH không nhận được bất kỳ một khoản tiền nào. Điều đó cũng có nghĩa là người BH không phải thanh toán số tiền BH cho người được BH. Ngược lại, nếu có cái chết xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, người BH có trách nhiệm thanh toán số tiền BH cho người thụ hưởng quyền lợi BH được chỉ định.
    • Các loại hình:
    • Bảo hiểm tử kỳ cố định
    • Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục
    • Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi
    • Bảo hiểm tử kỳ giảm dần
    • Bảo hiểm tử kỳ tăng dần
    • Bảo hiểm thu nhập gia đình
    • Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên
    • Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện.
    • Đặc điểm:
    • Thời hạn BH xác định
    • Trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời
    • Mức phí BH thấp vì không phải lập quỹ tiết kiệm cho người được BH. – Mục đích:
    • Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất
    • Bảo trợ cho gia đình và người thân trong một thời gian ngắn
    • Thanh toán các khoản nợ nần về vay hoặc thế chấp của người được BH

    4.1.2. Bảo hiểm trong trường sinh kỳ :

    • Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn trong một khoản thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm. Nếu người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một khoản tiền nào.
    • Đặc điểm:
    • Trợ cấp định kỳ cho người được bảo hiểm trong thời gian xác định hoặc cho đến khi chết.
    • Phí bảo hiểm đóng một lần
    • Nếu trợ cấp định kỳ đến khi chết thì thời hạn BH không xác định.

    – Mục đích:

    • Đảm bảo thu nhập cố định khi về hưu hay khi tuổi cao sức yếu.
    • Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi XH hoặc con cái khi tuổi già.
    • Bảo trợ mức sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.

    4.1.3. Bảo hiểm trọn đời (bảo hiểm trường sinh):

    • Bảo hiểm trọn đời là loại hình BHNT mà thời gian bảo hiểm không xác định và số tiền bảo hiểm được chi trả cho người thừa kế khi người được bảo hiểm chết. Trong một số trường hợp, loại hình bảo hiểm này còn đảm bảo chi trả cho người được bảo hiểm ngay khi họ sống đến 99 tuổi (như Prudential).
    • Các loại:
    • Bảo hiểm nhân thọ trọn đời phi lợi nhuận
    • BHNT trọn đời có tham gia chia lợi nhận
    • BHNT trọn đời đóng phí liên tục
    • BHNT trọn đời đóng phí một lần
    • BHNT trọn đời quy định số lần đóng phí.
    • Đặc điểm:
    • Số tiền bảo hiểm trả một lần khi người được bảo hiểm chết
    • Thời hạn BH không xác định
    • Phí BH có thể đóng một lần hoặc đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt quá trình bảo hiểm
    • Phí BH cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn vì rủi ro chết chắc chắn xảy ra nên số tiền bảo hiểm chắc chắn phải chi trả.
    • Mục đích:
    • Đảm bảo thu nhập để ổn định cuộc sống gia đình
    • Giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau.

    4.1.4. BHNT hỗn hợp:

    • BHNT hỗn hợp là sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, số tiền bảo hiểm sẽ được trả khi người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến đáo hạn hợp đồng và thời hạn bảo hiểm được xác định trước, trong đó bảo tức trả khi đáo hạn hợp đồng và phụ thuộc vào hiệu quả mang lại do đầu tư phí bảo hiểm mà người được bảo hiểm chọn.
    • Khi triển khai BHNT hỗn hợp, các công ty bảo hiểm có thể đa dạng hóa loại sản phẩm này bằng các hợp đồng có thời hạn khác nhau, hợp đồng phi lợi nhuận, có lợi nhuận và các hợp đồng khác tuỳ theo tình hình thực tế.
    • Đặc điểm:
    • STBH được trả khi hết hạn hợp đồng hoặc người được BH bị tử vong trong thời hạn bảo hiểm.
    • Thời hạn bảo hiểm xác định (thường là 5 năm, 10 năm, 20 năm…)
    • Phí BH thường đóng định kỳ và không đổi trong suốt thời hạn BH.
    • Có thể được chia lãi thông qua đầu tư phí bảo hiểm và cũng có thể được hoàn phí khi không có điều kiện tiếp tục tham gia.
    • Yếu tố rủi ro và tiết kiệm đan xen nhau.

    – Mục đích:

    • Đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và người thân.
    • Tạo lập quỹ giáo dục, hưu trí, trả nợ.

    4.2. Phân loại theo phương thức tham gia bảo hiểm:

    4.2.1. Bảo hiểm cá nhân:

    Là loại bảo hiểm con người thực hiện dưới hình thức người tham gia BH là cá nhân. Thông thường loại bảo hiểm tự nguyện đều do cá nhân tham gia BH

    4.2.2. Bảo hiểm nhóm:

    Là BH con người theo hình thức tập thể có kèm theo danh sách cá nhân được BH. Thí dụ tập thể cán bộ, công nhân viên của một doanh nghiệp đều được mua bảo hiểm con người có kèm theo danh sách các cá nhân được bảo hiểm rủi ro chết hoặc bảo hiểm tai nạn bất ngờ nhằm đảm bảo an toàn sản xuất, lao động.

    5. Số tiền bảo hiểm và nguyên tắc định phí:

     

    5.1. Số tiền bảo hiểm:

    Đây là hạn mức trách nhiệm của nhà bảo hiểm đối với người bảo hiểm.

    Trong BHNT nhà bảo hiểm sẽ đưa ra nhiều mức số tiền khác nhau và người tham gia bảo hiểm sẽ dựa trên khả năng tài chính của mình để lựa chọn số tiền thích hợp nhất. Đây cũng là số tiền người tham gia đăng kí với công ty BHNT.

    Người tham gia BHNT có quyền lựa chọn một trong các mức số tiền bảo hiểm sau: 5 triệu, 10 triệu, 15 triệu, 20 triệu, 30 triệu, 40 triệu, 50 triệu.

    Phí bảo hiểm

    Số tiền bảo hiểm =

    Tỷ lệ phí

    5.2.Nguyên tắc định phí:

    5.2.1. Phí bảo hiểm:

    • Phí bảo hiểm là số tiền cần phải thu của công ty bảo hiểm để công ty bảo hiểm đảm bảo trách nhiệm của mình khi có các sự kiện bảo hiểm được xảy ra đối với người tham gia bảo hiểm như: chết, hết hạn hợp đồng, thương tật và đảm bảo cho việc hoạt động của công ty.

    Đây cũng là sự thể hiện trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm với công ty bảo hiểm nhằm nhận được sự bảo đảm trước những rủi ro đã được nhà bảo hiểm nhận bảo hiểm.

    • Phí bảo hiểm có thể nộp một lần ngay sau khi ký hợp đồng hoặc có thể nộp định kỳ trong năm. Phí nộp một lần sẽ phải đóng góp ít hơn so với tổng số chi phí đóng góp hàng kỳ do hiệu quả đầu tư của việc đóng phí một lần cao hơn và chi phí quản lý thấp hơn.
    • Phí bảo hiểm gồm hai phần: phí thuần và phụ phí.
    • Phí thuần là những khoản phí dùng để chi trả cho người được bảo hiểm.
    • Phụ phí gồm:
    • Chi phí khai thác chi cho tuyên truyền, quảng cáo, môi giới, đại lý…
    • Chi phí quản lý hợp đồng trong thời hạn hợp đồng đang thu phí, kể cả chi phí thu phí BH …
    • Chi phí quản lý liên quan đến các khoản chi trả bồi thường.

    5.2.2. Nguyên tắc định phí:

    Nguyên tắc tính phí được dựa trên biểu thức cân bằng giữa trách nhiệm của công ty bảo hiểm và trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm tính theo giá trị tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    Trách nhiệm của người được bảo hiểm tại thời điểm ký hợp đồng bằng trách nhiệm của công ty bảo hiểm tại thời điểm ký hợp đồng

    5.2.3.Cách xác định phí:

    1. Phí thuần:

    Các yếu tố cơ bản để xác định là:

    • Tuổi thọ của người được bảo hiểm cụ thể là bảng tỉ lệ tử vong.
    • Lãi suất kỹ thuật: lãi xuất tiền gửi tính trong cơ sở tính phí.

    Ngoài ra, còn có các nhân tố khác tác động như thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, cách thức nộp phí, tỉ lệ huỷ bỏ hợp đồng trước thời hạn.

    • Qua bảng tỉ lệ tử vong ta có thể đưa ra số lượng những người còn sống (lx+n)
    • lứa tuổi x sau n năm. Từ đây có thể tính được xác suất sống và xác suất tử vong của một người ở độ tuổi x sau n năm.

    Tuổi

    • Số người sống (lx) Số người chết (dx) Tỷ lệ chết (1000.qx)
    • Lãi suất kỹ thuật: nhà bảo hiểm phải có trách nhiệm đầu tư các khoản phí để đưa ra một phần lãi làm giảm mức phí đóng của người tham gia. Mức lãi này càng cao

    thì càng phải kích thích được số lượng người tham gia. Do vậy nhà bảo hiểm phải đưa vào lãi suất tiền gửi để tính phí.

    – Gọi:

    • tuổi của người được bảo hiểm khi bắt đầu được nhận bảo hiểm. lx: số người sống

    l(x+n): số ngưòi được bảo hiểm sống sau n năm hợp đồng.

    d(x+k): số người được bảo hiểm chết trong năm hợp đồng k.

    • thời hạn hợp đồng.
    • thừa số chiết khấu v=1/1+i.

    T(x+k): số người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn trong năm hợp đồng k.

    • số tiền bảo hiểm. p: phí thuần.

    p”: phí toàn phần.

    + Phí thuần cho trách nhiệm bảo hiểm khi hết hợp đồng:

    • Phí thuần cho trách nhiệm bảo hiểm khi người được bảo hiểm chết trước khi hết hạn hợp đồng:
    • Phí thuần cho trách nhiệm bảo hiểm khi người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn:

    ( Theo điều qui định của nghiệp vụ thì khi người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn sẽ được công ty bảo hiểm trả định kỳ 1/4 số tiền bảo hiểm trong những năm còn lại của hợp đồng).

    => Phí thuần BHNT:

    1. Phí toàn phần:

    Thông thường thu phí chiếm khoảng 5% phụ phí, trong đó:

    + 3% chi phí quản lí

    + 2% chi phí khai thác hợp đồng

    Mức phí không thay đổi trong suốt thời hạn hợp đồng bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm có thể nộp theo tháng, quý, năm hoặc theo 2 kì trong năm.

    • Công thức tính phí nộp mỗi kì (F) theo phí tháng như sau: + Nếu nộp phí theo quý:

    Fquí = Ftháng * 3*0,98

    (so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí nộp theo quý giảm 2%) + Nếu nộp phí hai kỳ trong năm:

    F2 kì = Ftháng * 6 * 0,96

    (so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí nộp theo hai kỳ trong năm giảm 4%)

    • Nếu nộp phí theo năm: Fnăm = Ftháng * 12 * 0,92

    ( so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí nộp theo năm giảm 8%) – Phí bảo hiểm cho các mức số trên bảo hiểm được tính theo tỉ lệ sau:

    • Với các mức số tiền bảo hiểm từ 5 triệu đến 30 triệuVNĐ- tính bằng 100% tỉ lệ phí của một đơn vị số trên bảo hiểm.
    • Với các mức số tiền bảo hiểm từ 31 triệu đến 40 triệuVNĐ- tính bằng 98% tỉ lệ phí của một đơn vị số trên bảo hiểm.
    • Với các mức số tiền bảo hiểm từ 41 triệu đến 50 triệuVNĐ- tính bằng 97% tỉ lệ phí của một đơn vị số trên bảo hiểm.

    Phần II

    THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG

    BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM

    1. Sự hình thành và phát triển

    Bắt đầu từ năm 1986 Việt Nam đã chính thức thực hiện chính sách “Đổi mới”, với trọng tâm là chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Chính sách đổi mới đã thực sự có tác động tích cực đối với toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội của đất nước, đem lại sự ổn định và tăng trưởng kinh tế cao, đời sống người dân được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong 10 năm qua đạt trên 7% và trong năm 2007 đạt 8,5%; thu nhập bình quân theo đầu người tăng từ 423 đô la Mỹ năm 2001 lên 835 đô la Mỹ năm 2007; lạm phát được kiềm chế và kiểm soát; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 32% năm 2000 và còn 14,7% vào năm 2007. Tăng trưởng kinh tế cùng với việc xoá bỏ dần cơ chế bao cấp đã thúc đẩy nhu cầu và sự ra đời của thị trường bảo hiểm nhân thọ của người dân Việt Nam.

    Năm 1996 đánh dấu sự ra đời của ngành bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam bằng việc Bộ Tài chính cho phép Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ. Đáp lại yêu cầu của quá trình mở cửa và hội nhập cũng như yêu cầu phát triển của bản thân ngành bảo hiểm nhân thọ. Sau thời gian thí điểm, Bộ Tài chính đã lần lượt cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài (trong năm 1999 cấp giấy phép cho 3 doanh nghiệp là Prudential, Manulife, Bảo Minh – CMG – nay là Daiichi Life), sau đó là AIA (năm 2000), Prevoir, ACE Life, Great Eastern Life và Cathay Life. Đến nay trên thị trường đã có 09 doanh nghiệp hoạt động và theo dự báo sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được cấp giấy phép hoạt động trong thời gian tới.

    Với sự gia nhập của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, sản phẩm, chất lượng dịch vụ và tính chuyên nghiệp. Có thể kể ra những con số và thông tin đáng chú ý sau:

    • Về khai thác mới: nếu như năm 1996 doanh thu phí khai thác mới của toàn thị trường chưa đầy 1 tỷ đồng thì đến năm 2003 con số này là 2.050 tỷ đồng (bằng 0,61% GDP) và năm 2007 ước đạt 1.815 tỷ đồng (bằng 0,16 % GDP). Trong giai đoạn từ 2004 đến 2006, thị trường bước vào giai đoạn suy giảm và đã có dấu hiệu hồi phục từ năm 2007.
    • Tổng doanh thu phí bảo hiểm: năm 2003 tổng doanh thu phí của toàn thị trường đạt 6.442 tỷ đồng (bằng 1,92% GDP) và năm 2007 đạt 9.485 tỷ đồng (bằng 2,06% GDP). Chính từ nguồn phí bảo hiểm này, ngành bảo hiểm nhân thọ đã cung cấp một lượng vốn lớn cho nền kinh tế.
    • Tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực đến cuối năm 2007: 3.834 nghìn hợp đồng chính (bằng khoảng 4,5% dân số).
    • Về kênh phân phối đại lý: thị trường đã tạo việc làm cho nhiều người lao động. Tổng số đại lý tại cuối năm 2007 là 70.000 người.
    • Về sản phẩm: Đến nay, thị trường đã cung cấp cho công chúng hầu hết các dòng sản phẩm từ sản phẩm truyền thống đến bảo hiểm liên kết chung (universal life) và gần đây là bảo hiểm liên kết đơn vị (unit linked).

    Sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam cũng là một nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển của khung pháp lý cho thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng.Cho đến 1/4/2001 Luật kinh doanh bảo hiểm chính thức phát huy hiệu lực tạo ra hành lang pháp lý đồng thời góp phần khẳng định vị trí của ngành kinh doanh bảo hiểm trong xã hội Việt Nam.

    2. Đặc điểm:

    • Về sản phẩm: Giống như quá trình phát triển của các thị trường khác trên thế giới, đến nay sản phẩm chủ yếu của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn là các sản phẩm hỗn hợp truyền thống với 73% doanh thu khai khác mới và 87% số lượng hợp đồng chính có hiệu lực tại cuối năm 2007. Tỷ trọng này đã giảm trong thời gian qua với sự gia tăng của các sản phẩm mang tính bảo vệ và sản phẩm phi truyền thống. Sản phẩm liên kết chung (universal life) đã được đưa ra thị trường trong thời gian gần đây và thu được những kết quả đáng chú ý. Từ đầu năm 2008 sản phẩm liên kết đơn vị

    (unit linked) cũng đã được đưa ra thị trường. Các sản phẩm bancassurance cũng đã lần lượt được đưa ra thị trường trong mấy năm gần đây.

    • Về kênh phân phối: Kênh phân phối qua đại lý đến nay đây vẫn là kênh phân phối chính, đóng góp khoảng 99% doanh thu khai thác mới. Đáng chú ý, sau một giai đoạn phát triển “nóng” về số lượng đại lý với hệ quả là “vào nhanh, ra nhanh”, trong thời gian gần đây các doanh nghiệp đã chú trọng đến chất lượng và tính chuyên nghiệp của nghề đại lý bảo hiểm. Tại cuối năm 2004, toàn thị trường có gần 100.000 đại lý hoạt động thì đến cuối năm 2007 con số này chỉ là gần 70.000 đại lý hoạt động. Bên cạnh kênh phân phối qua đại lý, các doanh nghiệp đã bắt đầu sử dụng thêm kênh bancassurance nhưng đến nay kết quả của kênh phân phối này vẫn còn rất khiêm tốn (với dưới 1% doanh thu khai thác mới).
    • Năng lực tài chính: Nhằm nâng cao năng lực tài chính của các doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã có quy định nâng mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ từ 400 tỷ lên 600 tỷ đồng. Đối với các doanh nghiệp được phép triển khai bảo hiểm liên kết đơn vị thì yêu cầu về mức vốn điều lệ đã góp phải cao hơn mức vốn pháp định từ 200 tỷ đồng trở lên.

    BHNT từ khi ra đời và triển khai các nghiệp vụ BHNT hỗn hợp mang tính chất vừa bảo hiểm vừa tiết kiệm đã và đang huy động được một lượng vốn không nhỏ trong dân. Tuy bước đầu, lượng người tham gia bảo hiểm chưa lớn, số hợp đồng tham gia ở mức trách nhiệm cao cũng chưa nhiều, nhưng đã mở ra thêm cho người dân một cách thức tiết kiệm mới đồng thời góp phần vào phát triển nguồn vốn, tăng đầu tư cho đất nước.

    3. Thuận lợi:

    – Về dân số và nhu cầu đào tạo: Hiện nay dân số Việt Nam là 85 triệu người-đứng hàng thứ 13 trên thế giới, với mức tăng hàng năm khoảng 1 triệu người. Điểm đáng chú ý, Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với 52 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm hơn 60% tổng dân số; tuổi thọ trung bình không ngừng được cải thiện (từ 50 tuổi trong những năm 1960 tăng lên 72 tuổi vào năm 2005). Với dân số trẻ cùng với truyền thống hiếu học cộng với yêu cầu rất lớn về nguồn nhân lực có trình độ cao sau khi Việt Nam hội nhập vào kinh tế thế giới, dẫn đến nhu cầu đào tạo của Việt Nam

    ngày càng cao, đặc biệt là nhu cầu đào tạo chất lượng cao cả ở trong và ngoài nước kéo theo yêu cầu tài chính cho đào tạo ngày càng lớn.

    • Phát triển kinh tế: Từ khi thực hiện chính sách “đổi mới”, nền kinh tế Việt Nam đã có sự tiến bộ vượt bậc và theo dự đoán Việt Nam tiếp tục đạt được tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao trong thời gian tới (dự báo trên 7%/năm); đời sống người dân được cải thiện rõ rệt. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới năm 2010 GDP/người sẽ đạt 1.000 USD, và hơn thế nữa, người Việt Nam có truyền thống tiết kiệm và có mức tiết kiệm/thu nhập vào hàng cao nhất thế giới. Đáng chú ý, sự phát triển kinh tế đã làm cho tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo, tạo ra nhu cầu cao về bảo hiểm nhân thọ. Xin nhắc lại, tỷ trọng người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ hiện nay ở Việt Nam mới chỉ chiếm 4,5% dân số (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ là 90%, Singapore 50%, và ngay tại Indonesia tỷ lệ này cũng trên 10%) và số tiền tiết kiệm được người dân dùng mua bảo hiểm nhân thọ mới chiếm 3,45% tổng số tiền tiết kiệm trong khu vực dân cư.
    • Nhu cầu hoạch định kế hoạch tài chính và độc lập tài chính ngày càng cao hơn. Theo đà phát triển kinh tế – xã hội và sự hình thành gia đình hạt nhân (bố mẹ và con), làm cho nhu cầu hoạch định tài chính và nhu cầu độc lập tài chính ngày càng cao, nhằm tạo lập một cuộc sống ổn định, tự chủ và có mức hưởng thụ cao. Chẳng hạn, quan niệm “trẻ cậy cha, già cậy con” của người Việt Nam đến nay đã có nhiều thay đổi, đặc biệt ở các thành phố lớn. Các cá nhân đã quan tâm nhiều hơn đến nguồn tài chính khi nghỉ hưu, hết sức lao động để có thể sống độc lập về tài chính, không phải lệ thuộc hoặc dựa vào con cái, người thân.
    • Sự phát triển của thị trường tài chính một mặt cho phép nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, đồng thời tạo là cơ sở cho sự ra đời của các sản phẩm bảo hiểm gắn với đầu tư, tích hợp sản phẩm bảo hiểm nhân thọ với các sản phẩm bảo hiểm tài chính khác (chẳng hạn, có thể kết hợp sản phẩm bảo hiểm với các sản phẩm tín dụng ngân hàng…). Bên cạnh đó, sự lên xuống của thị trường chứng khoán trong thời gian qua cho thấy nhu cầu uỷ thác đầu tư cho nhà đầu tư chuyên nghiệp (chẳng hạn, các quỹ đầu tư) ngày càng cấp thiết, tạo tiền đề cho sự phát triển của sản phẩm liên kết đơn vị (unit Linked).
    • Sự ủng hộ của Nhà nước Việt Nam mạnh mẽ đối với sự phát triển của thị trường thông qua việc tạo môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh thuận lợi cho ngành cũng như thực thi chính sách hội nhập nhằm tiếp thu công nghệ kinh doanh, công nghệ quản lý tiên tiến cho sự phát triển của ngành.

    3. Thách thức:

    Mặc dù đã có những bước phát triển dài nhưng có thể thấy, đến nay thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn còn rất nhỏ bé và vẫn đang trong giai đoạn hình thành. Bên cạnh đó, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam cũng đang gặp phải một số thách thức đối với sự phát triển bền vững của mình, có thể kể:

    • Thứ nhất, lạm phát. Trong năm 2007 tỷ lệ lạm phát của Việt Nam là 12,6% và dự báo trong năm 2008 tỷ lệ này còn cao hơn, làm cho chúng ta nhớ đến tình trạng lạm phát trong những năm đầu bảo hiểm nhân thọ được triển khai. Lạm phát cao kéo theo hệ quả là làm giảm niềm tin của công chúng đối với các khoản đầu tư dài hạn, các hợp đồng bảo hiểm dài hạn đồng thời làm cho lãi suất ngắn hạn tăng lên cao (như lãi suất tiết kiệm ngân hàng), tạo ra sự cạnh tranh lớn đối với các sản phẩm BHNT.
    • Thứ hai, sự cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính (như ngân hàng, chứng khoán và các tổ chức tài chính) và các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trong việc thu hút tiền vốn nhàn rỗi trong dân chúng ngày càng gay gắt. Các ngân hàng đã đưa ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao đối với các sản phẩm bảo hiểm như tiết kiệm gửi định kỳ, tiết kiệm lãi suất bậc thang, tiết kiệm với thời hạn dài kèm theo các hình thức khuyến mại như tặng bảo hiểm, rút thăm trúng thưởng và nhiều ưu đãi liên quan khác. Theo đánh giá chung, sự cạnh tranh của các tổ chức tài chính là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự suy giảm của thị trường bảo hiểm nhân thọ trong giai đoạn 2004-2006.
    • Thứ ba, môi trường luật pháp điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm mặc dù đã được quan tâm xây dựng nhưng đến nay vẫn chưa theo kịp sự phát triển của ngành, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Việc sửa đổi Luật kinh doanh bảo hiểm đã được đưa vào chương trình nghị sự của Quốc hội trong năm 2010.
    • Thứ tư, nhận thức và hiểu biết của thị trường cũng như của các cơ quan nhà nước nói chung về BHNT vẫn chưa cao, gây khó khăn cho hoạt động của ngành. Đặc

    biệt, đến nay đại lý BHNT chưa nhận được sự đánh giá cao của công chúng và chưa được chính thức thừa nhận như một nghề nghiệp chuyên nghiệp.

    • Thứ năm, hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ gặp không ít khó khăn do thị trường tài chính của Việt Nam chưa phát triển đầy đủ. Hiện có tới 90% nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chỉ dành đầu tư vào trái phiếu chính phủ và gửi ngân hàng thương mại. Vì thế hiệu quả đầu tư thấp và bảo tức cho người tham gia bảo hiểm vẫn chưa cao.

    Bên cạnh những thách thức trên, những hệ quả của giai đoạn phát triển “nóng” cũng là những vấn đề mà ngành BHNT cần phải giải quyết, vượt qua.

    Từ những phân tích ở trên một lần nữa có thể khẳng định rằng, trong thời gian tới cơ hội phát triển cho ngành bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là rất lớn tuy nhiên cũng đi cùng là những thách thức không nhỏ. Để thành công, doanh nghiệp cần có chiến lược sản phẩm, phân phối và công nghệ phù hợp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-cho-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    LỜI GIỚI THIỆU

    Giao thừa thế kỉ XXI của Việt Nam là thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, tiếp tục đường lối đổi mới, mở cửa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.Mọi người, mọi nhà ấm no hạnh phúc.Để thực hiện được mục tiêu trên và nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của người lao động trong sự nghiệp phát triển ngay từ khi thống nhất đất nước Đangr và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm tới người lao động trong đó có chính sách Bảo hiểm xã hội.

    Chính sách Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đã được thực hiện từ những năm sáu mươi của thế kỉ

    1. Trải qua hơn bốn mươi năm thực hiện với những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn, chính sách Bảo hiểm xã hội đã góp phần rất to lớn đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần ổn định chính trị- xã hội của đất nước. Đến nay Bảo hiểm xã hội đã được thực hiện cho công chức nhà nước, lực lượng vũ trang và người lao động trong các thành phần kinh tế ở những nơi có quan hệ lao động, có sử dụng lao động từ 10 lao động trở lên…và sẽ còn tiếp tục mở rộng cho các đối tượng khác. Với năm chế độ về Bảo hiểm xã hội đang được thực hiện ở nước ta là: Chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất chính sách Bảo hiểm xã hội đã khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới.Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước chính sách bảo hiểm xã hội cần phải luôn luôn được thay đổi cho phù hợp.

    Xuất phát từ vai trò Bảo hiểm xã hội đối với người lao động nói riêng và toàn xã hội nói chung đồng thời qua thực tế nghiên cứu tìm hiểu em xin mạnh dạn trọn đề tài: “Bảo Hiểm Xã Hội Cho Người Lao Động Việt Nam” với mong muốn có thể đưa ra những vấn đề tổng quát nhất về bảo hiểm xã hội, thực trạng hệ thống Bảo hiểm xã hội ngày nay và đề xuất một

    số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách Bảo hiểm xã hội xứng đáng với vai trò quan trọng của nó trong sự nghiệp phát triển đất nước.

    Bài viết của em nghiên cứu về BHXH gồm hai phần chính sau: Phần I: Những vấn đề lí luận chung về BHXH Phần II: Thực trạng BHXH ở nước ta.

    Những phương hướng và giải pháp.

    Số liệu sử dụng trong đề án là nguồn số liệu thứ cấp.

    NỘI DUNG

    PHẦN I

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI.

    I.Quá trình phát triển bảo hiểm xã hội.

    1.Sơ lược lịch sử phát triển Bảo hiểm xã hội

    Nguồn gốc Bảo hiểm xã hội bắt nguồn từ rất sớm. Trong xà hội công xã nguyên thuỷ, do chưa có tư hữu về tư liệu sản xuất, mọi người cùng hái lượm ,săn bắt sản phẩm thu được phân phối bình quân nên rất khó khăn, bất lợi của mỗi người được cả xã hội, cả cộng đồng san sẻ, gánh chịu.Trong xã hội phong kiến, quan lại thì dựa vào chế độ bổng, lộc của nhà vua; dân cư thì dựa vào sự đùm bọc lẫn nhau trong họ hàng, cộng đồng làng, xã, hoặc sự giúp đỡ của những người hảo tâm và của Nhà nước. Ngoài ra, họ còn có thể đi vay hoặc đi xin. Với những cách này, người gặp khó khăn hoàn toàn thụ động trông chờ vào sự hảo tâm từ phía giúp đỡ. Do vậy, sự giúp đỡ mới chỉ là khả năng, có thể có, có thể không, có thể nhiều hoặc ít, không hoàn toàn chắc chắn.

    Từ khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, xuất hiện việc thuê mướn nhân công , lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động. Dần dần về sau, phải cam kết đảm bảo cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang traỉ những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị ốm đau, tại nạn, thai sản, tuổi già… Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra nên người chủ không phải chi một đồng tiền nào. Nhưng củng có khi lại xảy ra dồn dập buộc người chủ phải bỏ ra một lúc phải ra nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, giới thợ phải liên kết với nhau để đấu tranh buộc gới chủ phải thực hiện những điều đac cam kết cuộc tranh chấp này diễn ra ngày càng rộng lớn và đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Dần dần trong cơ chế thị trường đã xuất hiện một bên thứ ba đóng vai trò trung gian giúp thực hiện cam kết giữa giới chủ và giới thợ bằng các hoạt động thích hợp của nó. Nhờ vậy, thay vì cho việc phải chi thực tiếp một khoản tiền lớn

    khi người lao động bị ốm đau tại nạn, giới chủ chỉ phải trích ra những khoản tiền nho nhỏ được tính toán chặt chẽ dựa trên những cơ sở sắc xuất những biến cố của tâp hợp người lao động làm thuê. Số tiền này được giao cho bên thứ ba tồn tích dần thành một quỹ tiền tệ. Khi người lao động bị ốm đau, tai nạn thì cứ như theo cam kết chi trả, không phụ thuộc vào giới chủ có muốn tri trả hay không . Làm như thế một mặt, giới chủ đỡ bị thiệt hại về kinh tế do không phải một lúc tri những khoản tiền lớn. Mặt khác, người lao đông làm thuê được đảm bảo chắc chắn một phần thu nhập khi bị ốm đau, tai nạn. Song trên thực tế, vấn đề lợi ích vẫn luôn luôn vận động. Giới thợ luôn luôn đòi hỏi được bảo đảm nhiều hơn trước tình hình kinh tế xã hội phát triển, còn giới chủ thì lại mong muốn chi ít hơn, lên tranh chấp chủ thợ lại tiếp diễn. Trước tình hình như vậy, nhà nước phải can thiệp điền chỉnh. BHXH xuất hiện từ đầu thế kỉ XIX khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu.Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm ra đời ở Anh năm 1819 đó là luật nhà máy. Từ năm 1883, ở nước Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm y tế. Một số nước Châu âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối những năm hai mươimới có đạo luật về BHXH. Đó là kết quả của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm dành quyền bảo hiểm trong các trường hợp ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp, hưu trí…

    1. Lịch sử phát triển của BHXH ở Việt Nam.

     

    • Giai đoạn từ tháng 8/1945 đến 1960.

    Ngay từ năm đầu kháng chiến chống Pháp chính phủ đã áp dụng chế độ hưu chí cũ của Pháp để giải quyết quyền lợi cho một số công chức đã làm việc dưới thời Pháp sau đó đi theo kháng chiêns nay đã già yếu. Đến năm 1950, Hồ Chủ Tịch dã kí sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành quy chế công chức và sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 ban hành quy chế công nhân.

    Nhìn lại các chế độ ban hành ở giai đoạn nay cho thấy: Các chính sách được ban hành ngay sau khi giàng được độc lập, trong tình trạng kinh tế còn nhiều thiếu thốn nên chưa đầy đủ chỉ đảm bảo được mức sống tối thiểu cho công nhân viên chức Nhà nước. Mức hưởng mang tính bình quân, đồng cam cộng khổ, chưa có tính lâu dài. Các khoản chi còn lẫn lộn với tiền lương, chính sách BHXH chưa có quỹ riêng để thực hiện. Tuy nhiên, chính sách

    BHXH có ý nghĩa giải quyết khó khăn cho công nhân viên chức khi tuổi già hoặc mất sức lao động.

    2.2. Giai đoạn từ 1961 đến 1/1995.

    Trong giai đoạn này kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đòi hỏi số đông lực lượng lao động. Vì vậy, ngày 27/12/1961 Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời theo nghị định số 218/Chính phủ về các chế độ BHXH cho công nhân viên chức nhà nước. Đối tượng tham gia BHXH là công nhân viên chức lực lượng vũ trang. Đã hình thành nguồn để chi trả các chế độ BHXH trong ngân sách nhà nước trên cơ sở đóng góp của xí nghiệp (4,7% so với tổng quỹ lương) và nhà nước cấp. Áp dụng 6 chế độ BHXH là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất cho công nhân viên chức. Ngày 18/9/1985 Hội đồng bộ trưởng ban hành nghị định 236/HĐBT về việc bổ xung, sửa đổi chế độ BHXH.

    Như vậy qua hơn 35 năm thực hiện hnàg triệu người đã được hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH, nên đã có tác dụng làm cho đội ngũ công nhân viên chức gắn bó với cách mạng với chính quyền, khuyến khích họ hăng say chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong lao động sản xuất xây dựng đất nước. Chính sách BHXH này đã đảm bảo điều kiện thiết yếu về vật chất và tinh thần cho người lao động trong trường hợp gặp rủi ro không làm việc được góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Tuy nhiên, các chính sách BHXH đã ban hành cũng bộc lộ một số mặt tồn tại như: phạm vi đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạn chưa thể hiện rõ sự công bằng đối với người lao động làm việc trong và ngoài khu vực nhà nước, quyền lợi trách nhiệm các bên tham gia chưa được thiết lập đầy đủ…

    2.3. Giai đoạn từ 1995 đến nay.

    Bộ luật lao động đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua tại kì họp thứ V Quốc hội khoá IX ngày 28/6/1994, qui định tại chương XII về BHXH áp dụng cho người lao động cho mọi thành phần kinh tế. Chính phủ ban hành điều lệ BHXH kèm theo nghị định số 12/CP hướng dẫn qui định thi hành.

    Chính sách BHXH trong giai đoạn này đã mở rộng phạm vi đối tượng tham gia đối với lao động làm công hưởng lương ở các đơn vị, tổ chức kinh

    tế sử dụng 10 lao động trở lên thuộc mọi thành phần kinh tế. Thực tế trước nghị định số 12/CP số lao động tham gia BHXH là 3,4 triệu người thì hiện nay đã có 4,1 triệu người trong đó có 517 nghìn người ngoài quốc doanh( kể cả doanh liên doanh). Quỹ BHXH chủ yếu từ người sử dụng lao động đóng ( 15% quĩ lương) và người lao động đóng(5% tiền lương) độc lập với ngân sách nhà nước. Qui định rã trách nhiệm của người sử dụng lao động khi thuê mướn lao động phải đóng BHXH cho người lao động. Qui định rõ nghĩa vụ của người lao động trong việc đóng góp. Nguồn thu BHXH hàng năm tăng lên.

    BẢNG 1 : THU BHXH

    Năm 1996 1998 2000 2001
    Thu(Tỉ đồng) 2569 3875 5800 5718

    Nguồn: Tổng cục thống kê.

    Việc tăng nguồn thu này đã giúp cho việc thực hiện chế độ BHXH trước hết là người nghỉ hưu được tốt hơn. Chế độ BHXH có tác dụng tích cực làm ổn định đời sống người lao động từ đó có tác dụng tích cực động viên mọi người an tâm lao động sản xuất, với năng suất cao, hiệu quả cao. Đã thể hiện được sự công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ đồng thời mang tính chất cộng đồng xã hội để chia sẻ rủi ro.Tuy nhiên,về đối tượng tham gia BHXH chủ yếu vẫn là ở khu vực Nhà nước, lao động làm việc ở cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh, kể cả liên doanh cồn thấp, chỉ có 15% lực lượng lao động xã hội thuộc đối tượng BHXH bắt buộc.Hiện nay, loại hình BHXH tự nguyện chưa được ban hành. Do đó, nhiều người lao động không thuộc diện làm công ăn lương, có nguỵện vọng tham gia BHXH thì chưa thực hiện được nguyện vọng của mình, chưa có chế độ bảo hiểm thất nghiệp để ổn định cuộc sống người lao động bị mất việc làm. Công tác giáo dục tuyên truyền còn rất hạn chế nên nhiều doanh nghiệp không đống BHXH. Một số qui định trong chính sách chế độ BHXH hiện hành trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc.

    II. Bản chất của BHXH

     

    1.Khái niệm

     

    Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH, tuỳ theo góc đọ nghiên cứu, cách tiếp cận mà người ta đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Có thể xác định khái niệm BHXH như sau:

    Khái niệm chung: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quĩ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Khái niệm BHXH(theo ILO): BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

    1. Ý nghĩa và tác dụng của BHXH

    2.1. Đối với người lao động đóng BHXH.

    Người lao động đóng BHXH bằng khoản tiền của mình để sẽ được hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro hoặc sự biến theo loại chế độ bảo hiểm. Khoản trợ cấp thường là xấp xỉ với giá trị của khoản đã đóng góp BHXH, thậm chí còn cao hơn. Việc đóng góp BHXH có tầm quan trọng về tâm lí rất đáng kể: nhắc nhở ý thức trách nhiệm và bảo vệ nhân phẩm của người lao động, xác lập quyền của người lao động được hưởng trợ cấp, chưa kể là cồn có quyền tham gia quản lí BHXH.

    Tuy nhiên, việc dành dụm này không như gửi tiền vào quĩ tiết kiệm để rồi khi cần, thậm chí bất cứ lúc nào muốn thì tự do rút toàn bộ cả gốc lẫn lãi. Xung quanh người lao động còn có cộng đồng người trẻ, người già, người khoẻ, người ốm yếu… có thể nói một cách hình tượng là người “may mắn”, người”rủi ro”. Cùng đóng góp nhưng người rủi ro được hưởng trự cấp trong khi người may mắn chưa hưởng. Nhưng đến một lúc nào đó, người may mắn cũng sẽ trở thành người rủi ro bên cạnh những người may mắn khác. Đó là sự chuyển giao xã hội giữa hai hoàn cảnh rủi ro và may mắn của đời người, là một phần của phương châm xử thế “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Với ý nghĩa trên, điều lệ BHXH mới ban hành kèm theo nghị định

    12/CP ngày 26/1/1995 đã qui định, người lao động đóng bằng 5% tiền lượng tháng để chi các chế độ hưu chí và tử tuất.

    2.2. Đối với người sử dụng lao động đóng BHXH

    Đóng BHXH cũng là để phục vụ lợi ích của người sử dụng lao động vì nó góp phần duy trì hoà bình và ổn định trong lao động.NGười sử dụng lao động trả lương cho người lao động để dáp ứng nhu cầu của người lao động khi làm việc cho người sử dụng lao động, nhưng cả khi họ không còn đủ sức để được hưởng lương. Chính là thông qua cơ ckế BHXH mà sự chuyển giao tiền lương giữa hai hoàn cảnh đó được thực hiện.

    Điều lệ BHXH mới của nước ta cũng quy định người sử dụng lao động phải đóng 15% so với tổng quỹ lương của nhữnh người lao động được hưởng bảo hiển trong đơn vị.

    2.3. Đối với nhà nước.

    Thực hiện chéc năng xã hội, nhà nước của dân, do dân và vì dân, lấy những lợi ích, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu và động lực hoạt động. Công bằng xã hội là hạt nhân của chính sách xã hội, là cái đích mà chính xã hội cần đạt đến. Sự can thiệp, điều tiết của nhà nước đối với các vấn đề xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, của xã hội công nghiệp hiện đại càng cần thiết mở rộng. Như đã nói ở phần trên, việc bảo vệ người lao động trước những rủi ro ngẫu nhiên thì do cá nhân và xã hội, nằm ngoài phạm vi của nhà nước. Nhưng cành về sau đó, nhất là ngày nay, nhu câu bảo vệ những quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nườo lao động, trong đó cơ chế BHXH đòi hỏi nhà nước phải có sự can thiệp và điều tiết nhất định.

    Tóm lại, BHXH cho người lao động đối với nhà nước là giảm bớt gánh nặng xã hội cho việc nhăm sóc người lao động khi họ gặp rủi ro.

    III. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

    BHXH là nhu cầu khách quan của người lao động, ý tưởng của BHXH là nhằm thực hiện một phần công bằng xã hội, phát huy truyền thốnh đoàn kết cộng đồng và tinh thần nhân ái. Theo lẽ công bằng xã hôị và vì đoàn kết cộng đồng thì BHXH phải được áp dụng với toàn bộ thành viên của cộng đồng.

    Tuy nhiên trong điều kiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong các thành viên cộng đồng có nhóm người là công chức, có nhóm người làm công ăn lương trong một đơn vị, một tập thể ổn định, có nhóm tuy cũng làm công ăn lương nhưng công việc và nơi sử dụng không ổn định, có nhóm người lao động đập lập, không có quan hệ lao động… Mỗi nhóm người gặp rủi ro khác nhau như: rủi ro tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, ốm đau tuổi già. Như vâỵ vấn đề đặt ra là phải có nhiều hình thức, nhiều cơ chế bảo vệ rất đa dạng…

    Quan điểm về bảo hiểm xã hội tuy chưa thống nhất giữa các nước nhưng các nước vẫn chưa xây dựng cho mình một hệ thống BHXH. Cũng như vậy, đối tượng của BHXHvẫn chưa được thống nhất. Tuy vậy các nước thực hiện BHXH thường theo hai khuynh hướng:

    Đối tượng BHXH là tất cả người lao động.

    Đối tượng BHXH chỉ có viên chức nhà nước, người làm công ăn lương.

    Hầu hết các nước trong trong buổi sơ khai của BHXH đều theo khuynh hướng thứ hai tức chỉ thực hiên BHXH cho công nhân viên chức nhà nước. Việt Nam cũng không vượt ra khỏi quan điểm đó, mặc dù như vậy là không bình đẳng giữa những người lao động.

    IV. Các chế độ BHXH.

    • Việt Nam hiện nay BHXH gồm 5 chế độ sau:
    1. Chế độ trợ cấp ốm đau.

    Chế độ này giúp cho người lao động có được khoản trợ cấp thay thế thu nhập bị mất đi do không làm việc khi bị ốm đau. Việc thiết kế chế độ nay như hiêện hành đã tránh được những hiện tượng lạm dụng và bình quân hoá thong khi xét trợ cấp. Đảm bảo công bằng giữa đóng và hưởng BHXH, đồng thời có tính đến yếu tố san sẻ cộng đồng giữa những người tham gia BHXH. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn còn một số vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu xem xét như: không qui định thời gian dự bị trước khi hưởng BHXH; thời hạn hưởng tối đa chưa rõ; thủ tục, danh mục các bệnh dài hạn qui định đã lâu, cần phải bổ xung một số bệnh mới.

    1. Chế độ trợ cấp thai sản.

     

    Thiết kế chế độ này như hiện nay đã giúp lao động nữ có được khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập bị mất do không làm việc vì sinh con. Hơn nữa, việc qui định thời gian nghỉ đã tính đến yếu tố điều kiện và môi trường lao động nhằm đảm bảo sức khoẻ cho sản phụ thuộc nhóm lao động khác nhau. Qua thực tiễn, chế độ này còn có một số điểm phải khắc phục như: còn đan xen giữa chính sách BHXH với chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình; thời gian dự bị trước khi được hưởng cũng chưa có…

    3.Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:

    Thực tiễn triển khai chế độ này ở nước ta trong những năm vừa qua đã góp phần không nhỏ đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống cho người lao động không may bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Đồng thời chế độ này còn qui định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với các trường hợp xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Mức trợ cấp của chế độ này dựa trên cơ sở tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là hợp lí. Tuy vậy, cần phải xác định rõ hơn tai nạn lao động xảy ra trên đường từ nhà tới nơi làm việc và ngược lại, danh mục bệnh nghề nghiệp cần phải được bổ xung vì có một số loại bệnh mới phát sinh nhưng chưa được xếp vào bệnh nghề nghiệp…

    1. Chế độ hưu trí

    Đây là chế độ nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập không được nhận nữa từ nghề nghiệp không được nhận nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hưu. Nội dung chế độ này đã khắc phục được những hạn chế trước đây như: Việc qui đổi thời gian công tác; bóc tách được phần lớn những chế độ ưu đãi xã hội ra khỏi ché độ hưu trí…vì thế đã đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng giữa đóng và hưởng BHXH; giữa các nhóm lao động khác nhau. Tuy vậy, chế độ này vẫn còn nhiều điểm nổi cộm cần khắc phục như: tuổi đời vè hưu giữa các ngành, nhóm lao động; những người hưởng trợ cấp một lần đưa vào chế độ là chưa hợp lí, vì những người này vẫn chưa đủ tuổi, vừa không đủ tích luỹ cần thiết để hưởng trợ cấp. Đây chỉ là sự trả lại một phần số tiền cho người lao động khi họ không còn quan hệ lao động nữa, do quĩ BHXH đảm nhận.

    5.Chế độ tử tuất.

    Một trong những chế độ BHXH mang tính nhân đạo nhất đó là chế độ tử tuất. Chế độ này giúp cho thân nhân người chết có được khoản thợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình do người lao động bị chết; khi xây dựng chế độ này, đã tính đến yếu tố đóng góp của người tham gia bảo hiểm và yếu tố xã hội giữa người sống và người chết. Đặc biệt có tính đến yếu tố kế thừa đối với thân nhân của người chết. Song, việc quy định đối tượng được hưởng bao gồm cả bố mẹ bên vợ, bên chồng là chưa hợp lí. Vì bố mẹ bên vợ, bên chồng còn có thân nhân của cả hai bên chịu trách nhiệm. Điều này phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để thống nhất qui định.

    V. Chức năng của BHXH.

    BHXH có những chức năng cụ thể sau:

    1.Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các qui định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mắt thu nhập, người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng qui định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế hoạt động của BHXH.

    2.Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào qũi BHXH. Quĩ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đống góp. Như vậy, theo qui luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc…Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    3.Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia lao động người lao động được chủ sử dụng lao động trả lượng hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất.Vì thế, cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc.Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích lao động nâng cao năng suất lao động cá nhânvà kéo theo là năng suất lao động xã hội.

    4.Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động…Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó, làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, Chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn phải giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển an toàn hơn.

    VI. Các nguyên tắc Bảo hiểm xã hội.

    1. Mọi người laođộng trong mọi trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm đều có quyền được hưởng BHXH.

    Quyền được hưởng BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền con người. Biểu hiện cụ thể quyền được hưởng BHXH của người lao động là việc họ được hưởng chế độ trợ cấp BHXH theo các chế độ xác định. Các chế độ này gắn với các trường hợp người lao động hoặc bị giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống. Trong nền kinh tế thị trường các trường hợp đố có thể có rất nhiều và xảy ra một cách ngẫu nhiên. Về nguyên lí thì mội trường hợp như thế, người lao động đều phải được BHXH. Nhưng giữa nguyên lí và thực tiễn luôn luôn có một khoảng cách rất xa. Khoảng cách đó do các biểu hiện kịnh tế xã hội qui định. Bởi vậy trên giác độ điều hành vĩ mô, cần căn cứ vào các điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn

    phát triển về tổ chức và hoàn thiện dần việc BHXH đối với các trường hợp làm giảm hoặc mất thu nhập của người lao động nói trên.

    2.Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng BHXH đối với người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự đóng BHXH cho mình.

    Đây là quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó Nhà nước phải có vai trò quản lí vĩ mô mọi hoạt động kinh tế- xã hội trên phạm vi cả nước. Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Đối với người sử dụng lao động, mọi khía cạnh cũng tương tự như trên nhưng chỉ trong phạm vi một ssố doanh nghiệp, ở đó, giữa người lao động và người sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Người sưe dụng lao động muốn ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh không chỉ chăm lo đầu tư máy móc thiết bị mà còn phải chăm lo tay nghề và đời sống người lao động mà mình sử dụng. Khi người lao động làm việc bình thường thì phải trả lương cho họ còn khi họ gặp rủi ro, bị ốm đau, tai nạn lao động…mà có gắn với quá trình lao động thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có như vậy, người lao động mới yên râm công tác góp phần tăng năng xuất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.Đối với người lao động, khi gặp rủi ro không mong muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của bản thân. Vì thế nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì mình cũng phải đống BHXH. Điều đó cho thâấy bản thân người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.

    3.Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để tự hình thành quỹ BHXH độc lập và tập trung.

    Sự đóng góp của ba bên như trên nếu không được đóng góp cho bên thứ ba- cơ quan BHXH chuyên nghiệp và được tồn tích dần thành một quĩ tài chính độc lập và tập trung như cách làm đặc trưng của BHXH th nó sẽ biến thành một cách làm khác với BHXH về chất, đó là phương thức tiết kiệm. Như vậy, mục đích, bản chất và yêu cầu của BHXH sẽ không thể thực hiện được.

    1. Phải lấy số đông bù số ít.

    Cách làm riêng có của BHXH là mọi người tham gia BHXH đóng góp nho bên nhận BHXH và tồn tích dần thành một qũi tài chính độc lập dung để chi trả trợ cấp cho người lao động khi và chỉ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập then các chế độ đã xá định.Số trợ cấp của họ nhận được lớn hơn rất nhiều so với số tiền đóng góp của họ. Muốn làm được việc này thì không có cách nào khác là phải lấy kết quả đóng góp của số đông người tham gia để bù cho số ít người được hưởng trợ cấp.

    5.Phải kết hợp hài hoà giữa các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu BHXH.

    Trong BHXH cả ba bên tham gia, người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước đều nhận được nhiều lợi ích. Nhưng lợi ích nhận được không phải luôn luôn như nhau, thống nhất với nhau, mà trái lại có lợi ích có lúcd mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn, việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời gian nghỉ làm việc và hưởng trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho người lao động nhưng lại gặp khó khăn cho người chủ sử dụng lao động nêú giảm hậu quả cho người chủ sử dụng lao động thì Nhà nước phải gánh chịu.

    Nguồn cơ bản để hình thành quĩ BHXH là sự đóng góp của ba bên như đã nói ở trên. Muốn phát triển BHXH thì phải tăng quĩ,muốn vậy thì phải tăng nguồn thu, nhưng nguồn thu cơ bản này lại có giới hạn không cho phép vượt(làm giảm thu nhập hiện thời của người lao động và làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh). Vì vậy, phải tích cực đi tìm kiếm các nguồn thu khác để bổ sung như đầu tư vốn nhàn rỗi tương đối của quĩ BHXH vào các hoạt động sinh lời, hợp tác quốc tế… Ngoài ra có thể tìm tòi các phương cách BHXH khác mà nền kinh tế thụ trường đã tạo ra môi trường thuận lợi để áp dụng.

    6.Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải bảo đảm mức sống tối thiểu.

    Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lương như: trợ cấp ốm đau, thai sản, hưu trí…Như đã biết tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, người lao động có sức khoẻ bình thường, có việc làm bình

    thường và thực hiện được công việc nhất định mới có tiền lương. Khi đã bị ốm đau, tai nạn, tuổi già… không thực hiện được công việc nhất định hoặc không có việc làm mà trước đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lương do lao động tạo ra được. Còn nếu cố tìm cách trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một người lao động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lương mà ngược lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản… để nhận được trợ cấp. Hơn nỡa, cách lập quĩ theo phương thức dàn trải rủi ro cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH băằng tiền lương lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền lương thì chẳng khác gì người lao động bị rủi ro đem rủi ro của mình danf trải hết cho người khác. Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lú đang đi làm, tuynhiên, do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ cấp BHXH thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hằng ngày. Chỉ khi đó trợ cấp BHXH mới có ý nghĩa an sinh.

    1. Kết hợp giữa bắt buộc với tự nguyện.

    Cho đến nay ở nước ta việc tham gia BHXH vẫn chưa trở thành tập quán, hơn nữa trong BHXH lợi ích của các bên tham gia và lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài của ngươì lao động vẫn có những mâu thuẫn. Bởi vậy, cần có sự kết hợp giữa bắt buộc với tự nguyện trong việc tham gia BHXH. Sự bắt buộc nên thực hiện đối với các bên tham gia BHXH ở khu vực có quan hệ lao động và với mức thu nhập cơ bản. Đối với những người có nhu cầu BHXH ở mức cao hoặc với người lao động độc lập thì nên để họ tham gia tự nguyện.

    1. Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cà nước đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành.

    Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành. Trong đó, bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ bao trùm toàn bộ những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và nhng người lao động thuộc khu vực kinh tế quan trọng của đất nước. Ở nước ta do những điều kiện kinh tế- xã hội chưa cho phép các tổ chức và cá nhân thữh hiện BHXH mà chỉ có BHXH của NHà nước.

    Để BHXH hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải đảm bảo tính thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh sự tuỳ tiện, tính cục bộ, cát

    cứ, hoặc những mâu thuẫn nảy sinh. Đồng thời cũng phải có cơ chế để bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp, bổ sung những ưu điểm cho nhau.

    1. BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể.

    BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh tế- xã hội, với cơ chế và trình độ quản lí, đặc biệt là với sự đồng bộ, sự hoàn chỉnh của nền pháp chế của nước đó. Ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế- xã hội đang chuyển động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải đảm bảo tính chắc chắn, tính toán thận trọng và phải có bước đi phù hợp mới có thể đạt hiệu quả mong muốn.

    VII. Tính chất của BHXH .

    BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đã đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển BHXH gắn liền với đời sống người lao động vì vậy nó có một số tính chất cơ bản sau :

    Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội: Sản xuất càng phát triển những rủi ro đối với người lao động và những khó khăn đối với người sử dụng lao động ngày càng nhiều và trở lên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ thợ ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Và như vậy, BHXH ra đời hàon toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước.

    BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian.

    BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ: Quỹ BHXH muốn được hình thành bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lí chặt chẽ sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tímh toán rất cụ thể dựa trên sác xuất phát sinh thiệt hại cuả tập hợp người lao động tham gia BHXH. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho người lao động theo các điều kiện BHXH. Thực chất phần đóng góp của mỗi người lao động là không đáng kể

    nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với người sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho người lao động mà chính mình sử dụng. Xét dưới mức độ kinh tế họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động. Với nhà nước BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.

    BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ. Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao.

    VIII. BHXH Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường.

    Sau Cách mạng tháng tám thành công, trên cơ sở hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một số sách lệnh quy định về chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức nhà nước. Cơ sở pháp lí tiếp theo của BHXH được thể hiện trong hiến pháp năm 1959 đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH. Quyền này được cụ thể hoá trong điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước.

    Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Sự thay đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối

    với người lao động”. Trong văn kiện đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến văn kiện đại hội Đảng lần VIII cũng đã nêu lên “Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế “. Như vậy, các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lí quan trọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường. Ngay sau khi bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, Chính phủ đã ban hành nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế. Nội dung của bản điều lệ này góp phần thực hiện công bằng và sự tiến bộ xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả nước.

    PHẦN II.

    THỰC TRẠNG CỦA BHXH Ở NƯỚC TA.NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG

    VÀ GIẢI PHÁP.

    I. Đánh giá tổng quát về kết quả công tác BHXH qua các năm.

    BHXH là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao hiệu quả bảo đảm vật chất, góp phần ôổn định đời sống cho ngưòi lao động khi gặp rủi ro như tai nạn, ốm đau , bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động, chết…

    Chính sách BHXH đã được Đảng và Nhà nứơc ta quan tâm đề từ khi mới thành lập nước, trải qua quá trình dành độc lập, xây dựng đất nước hoà bình, phát triển đi lên, chính sách BHXH luôn được cải tiến, hoàn thiện phù hợp với đặc điểm tình hình đất nước từng thời kỳ nên đã đáp ứng được nguyện vọng của người lao động, góp phần động viên chiến sĩ đồng bào cả nứơc trong đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nứơc cũng như trong xây dựng CNXH đưa đất nước tiến lên.

    Thời kỳ đổi mới với những kết quả quan trọng trên mặt trận kinh tế đã tạo tiền đề vững chắc cho những đổi mới tương ứng về chính sách XH nói chung và chính sách BHXH nói riêng. BHXH đã trở thành một lĩnh vực quan trọng hàng đầu của hệ thống an ninh XH ở nước ta. Hiến pháp năm 1992 đã xác định: Nhà nước thực hiện BHXH đối với công chức nhà nước, ngưòi làm công ưan lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động. Đại hội VIII đã chỉ rõ: Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Đứng trước sự chỉ đạo này của chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH mới kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 . Nội dung cơ bản của sự đổi mới thể hiện trên các mặt:

    BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng. Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước. Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH.

    II. Nguồn quỹ bảo hiển.

    1.Tổ chức thu BHXH.

    Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường chính phủ đã ban hành nghị định 43/CP ngày 26/6/1993 và điều lệ bảo hiểm ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 trong các văn bản này đều qui định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn quỹ sau:

    Người sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH.

    Người lao động đóng 5% tiền lương tháng.

    Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động.

    BẢNG 2: MỨC ĐÓNG GÓP BHXH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.

    Tên nước Chính phủ Tỷ lệ đóng góp Tỷ lệ đóng góp
        của người lao của người sử
        động so với dụng lao động so
        tiền lương (%) với quỹ lương
          (%)
    CHLB Đức Bù thiếu 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
    CH Pháp Bù thiếu 11,82 19,68
    Inđônêxia   Bù thiếu 3,0   6,5
    Philipin   Bù thiếu 2,85 – 9,25   6,85 – 8,05
    Malaixia   Chi toàn bộ chế độ 9,5   12,75
        ốm đau, thai sản      
      Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới  

    Ngoài ba nguồn trên còn có một số nguồn thu khác như: lãi từ hoạt động đầu tư.

    Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quĩ BHXH. Vì vậy, qũi này phải được tính toán một cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. KHi tính phí BHXH, có thể có căn cứ tính toán khác nhau như: dựa vào tiền lương, thang lương, dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động.

    Trong những năm qua mặc dù BHXH còn rất nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện công việc rất mới mẻ nhưng BHXH Việt nam đã hình thành được quĩ độc lập với ngân sách Nhà nước chủ động chi trả cho ngươì lao động góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách. Đạt được kết quả này là nhờ công tác quản lí thu chi BHXH đi vào nề nếp, người lao động

    • thức được trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia BHXH. Công tác thu BHXH của các tỉnh thành phố ngày một hoàn thiện.

    BẢNG 3 :THU BHXH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

    Năm Thu (tỷ VNĐ) Chi (tỷ đồng)
    6 tháng năm 1995 99 596
    Năm 1997 298 642
    Năm1998 382 778
    Năm 1999 415 797
    Năm2000 554 1030
    Năm2001 670 1300

    Nguồn :Tổng cục thống kê

    Qua 6 năm thực hiện, về cơ bản trên địa bàn Hà Nội đã đi vào nề nếp. Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có 65 vạn người thuộc diện đóng BHXH, chiếm 1/4 dân số trong đó trên 42 vạn người tham gia đóng và hưởng BHXH thường xuyên, trên 23 vạn người hưởng hưu trí và trợ cấp hàng tháng.

    1. Sử dụng quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH dùng để chi trả cho các chế độ ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí, tử tuất. Ý thức được thực hiện tốt các chế độ chính sách BHXH đối với người lao động là đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động theo qui định của pháp luật mặt khác là nhiệm vụ hàng ngày là trách nhiệm của cơ quan BHXH. Vì vậy toàn ngành đã rất chú trọng đến các công tác này. Kết quả trong 5 năm BHXH các tỉnh thành phố đã chi trả đầy đủ, kịp thời và an toàn 24076089 triệu đồng trong đó có chi từ ngân sách nhà nước 20838016 triệu đồng chi từ quỹ BHXH 3238073 triệu đồng. Ngoài ra mỗi năm còn chi trả khoảng 200 tỷ đồng cho hàng triệu người hưởng chế độ ốm đau, thai sản. Tuy nhiên trong thời gian qua một số địa phương chưa nắm chắc tình hình tăng giảm đối tượng, nhất là khi đối tượng hết hạn hưởng chế độ hoặc là chết. Các trường hợp hưởng sai, hưởng không đúng chế độ nhiều nơi không bị phát hiện điều chỉnh kịp thời.

    Chi cho sự nghiệp quản lí BHXH: Theo quyết định số 20/1998/QĐ-TTG ngày 26/1/1998 của thủ tướng chính phủ thì chi phí quản lí bộ máy của hệ thống BHXH Việt Nam lấy từ quỹ BHXH và được trích không quá 6% trên tổng số thực thu BHXH.

    1. Tổ chức quản lí BHXH.

    Ngày nay việc quản lí quỹ BHXH gặp rất nhiều khó khăn từ tình hình thực tế là việc nợ đọng quỹ rất nhiều cho nên công tác quản lí thu nợ đọng phải tập trung vào khối nào có mức độ chiếm dụng cao. Bên cạnh đó thực tế cũng cho thấy số nợ đọng ở các tỉnh thành phố cũng có mức độ ít nhiều khác nhau những đơn vị có mất chiếm dụng lớn cần phải được nắm chắc thường xuyên theo dõi đôn đốc thu nộp. Nhằm thu hồi dần tìm mọi cách ngăn chặn phát sinh thêm rút mức nợ xuống giới hạn có thể chấp nhận được.

    Như vậy, để có thể tổ chức quản lí BHXH được tốt nước ta cần phải có biện pháp thích hợp. Đó là:

    BHXH cần phải được quản lí tập trung thống nhất sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí cho xã hội quản lí và sự dụng chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn. Do quỹ BHXH quản lí tập trung nên hình thành được quỹ tiền tệ lớn có thời gian nhàn rỗi dài. Đây là một nguồn vốn nội lực vô cùng quan trọng để tham gia đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Từ đặc điểm hoạt động bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng mang tính hỗ trợ lẫn nhau giữa những người tham gia theo nguyên tắc dùng tiền đóng góp của số đông bù cho số ít người được hưởng hay là sự chia sẻ rủi ro của một số ít người cho đại đa số những người cùng gánh chịu tổn thất sẽ xảy ra tình trạng nếu hạch toán chi tiết thu để chi đối với từng chế độ, từng đơn vị, từng ngành từng lĩnh vực thì chắc chắn sẽ mất cân đối khác nhau thậm chí thu không đủ chi. Để khắc phục tình trạng đó quĩ BHXH nhất thiết phải được quản lí tập trung thống nhất kịp thời điều tiết đảm bảo đủ nguồn lực tài chính thực hiện đầy đủ thống nhất các chế độ bảo hiểm xã hội đối với mọi người lao động dù cho họ làm việc ở bất kì đâu, ở đơn vị nào, ngành nghề nào, lĩnh vực nào trên đất nước.

    Tăng cường quản lí thu BHXH: Trong thời gian vừa qua nhất là khi hệ thống BHXH Việt Nam ra đời việc tăng cường quản lí thu BHXH đã và đang là vấn đề được mọi người quan tâm. Để quản lí thu BHXH được tốt cần nghiên cứu xác địng rõ nguyên nhân của việc nợ quỹ để có biên pháp nhằm hạn chế không để lợi dụng tiền BHXH dùng vào việc khác gây khó khăn cho cơ quan BHXH, gây thiệt thòi cho người lao động. Ngoài ra cần đề ra chuẩn mực và biện pháp tiến hành đối với việc đánh giá mức đọ công nợ và đánh giá kết quả công tác quản lí tác động vào việc làm phát sinh tiền nợ BHXH. Trong tổng quĩ BHXH nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất là thu BHXH từ các doanh nghiệp. Vì vậy cần tăng cường biện pháp quản lí thu BHXH từ nguồn này giữ một vai trò hết sức quan trọng. Trước hết đối với người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp đay là một khảon thu bắt buộc. Hiện nay, mức thu, thời hạn thu nộp và trách nhiệm của người sử dụng lao động đã được qui định trong khoản 2 diều 44 nghị định 12/CPcủa chính phủ và nhiều văn bản pháp qui khác về BHXH.

    III. Phương hướng.

     

    Định hướng phát triển cho ngành BHXH Việt Nam trong thời gian tới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Sau đây xin đưa ra một số phương hướng nhằm thúc đẩy hoạt động BHXH ở nước ta được tốt hơn.

    1.Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hiện đai hoá hoạt động ngành BHXH

    Một trong những nội dung trọng yếu của chiến lược cán bộ trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại háo đất nước mà nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII nhấn mạnh là công tác qui hoạch cán bộ và chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Qui hoạch cán bộ để:”bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài”. Đối với hệ thống BHXH Việt Nam, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức đặt ra như một yêu cầu khách quan và thực sự cần thiết. Phương hướng đào tạo,bồi dưỡng cán bộ công chức ngành BHXH VIệt Nam như sau:

    Nội dung chương trình đào tạo một mặt đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng trong thời kì phát triển mặt khác phải phản ánh kịp thời những phát hiện mới của lí luận và thực tiễn về BHXH.

    Tăng cường đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất để thực hiện công tác đào tạo. Đối với BHXH Việt Nam, nhu cầu đào tạo là hết sức cần thiết vì vậy cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác này. Mặt khác cần sớm xúc tiến viẹc thành lập một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng của ngành BHXH Việt nam tương xứng thực hiện công tác đào tạo nhằm thực hiện qui hoạch phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nhằm tạo cơ hội học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

    1. Bảo toàn và tăng trưởng quĩ BHXH Việt Nam.

    Tăng trưởng quĩ BHXH là việc bắt buộc phải thực hiện trong công tác đầu tư tăng trưởng quĩ để đạt được mục tiêu an sinh xã hội, ổn định trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy BHXH cần phải ddược bảo toàn và tăng trưởng.Phương hướng đặt ra là:

    Đối với hoạt động thu: Việc tăng số thu cho quĩ BHXH được xem là một trong những hoạt động bảo toàn và tăng trưởng quĩ.Tuy iên việc tăng qui mô quĩ không có nghĩa là tăng có tính cơ học mức thu của các bên tham gia bảo hiểm mà là trên cơ sở huy động số đối tượng tham gia quĩ ngày càng đông,

    với thơì gian đóng góp ngày càng dài. Đi đôi với việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH thì nhu cầu chi trả trong tương lai sẽ tăng lên. Do đó,việc tăng thu choquĩ BHXH dư thực sự có ý nghĩa với bảo toàn và tăng trưởng quĩ khi nó được gắn liền với hoạt động đầu tư quĩ BHXH. Việc thiết lập hệ thống kiểm soát thu giúp phát hiện những sai lầm dấu hiệu không an toàn cho quĩ trong việc quản lí đối tượng thu, đôn đốc thu nộp, quản lí tiền thu cũng góp phần bảo toàn quĩ.

    Đối với hoạt động chi: Việc tính toán khoa học và hợp lí mức chi trả và phương thức chi trả vừa góp phần đảm bảo đời sống của người hưởng thụ, vưừa đảm bảo khả năng chi trả của quĩ có số dư ngày càng lớn tạo tiền đề cho hoạt động đầu tư. Quản lí đối tượng hưởng thụ và tổ chức chi trả chặt chẽ an toàn sẽđảm bảo cho nguồn vốn quĩ không bị thất thoát. Các khoản chi cho quản lí tài chính cần phải sử dụng tiết kiệm hiệu quả và từ đó góp phần tăng khả năng tự tích luỹ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư. Từ năm1996 đến nay, quĩ BHXH đã tồn tích một khối lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi tương đối lớn, khoảng 20.000 tỷ đồng.íố tiền này được chính phủ cho phép đầu tư tăng trưởng. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang thiếu vốn nghiêm trọng, cung về vốn trên thi trường không đủ đáp ứng nhu cầu.Rất nhiều lĩnh vực, rất nhiều doanh nghiệp đang cần vốn. Vì vậy, việc đầu tư quĩ vào đâu, cho đối tượng nào vay vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho quĩ BHXH, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị được đầu tư là một vấn đề phức tạp, cần phải được cân nhắc. Trên thực tế, đó là xem xét danh mục đầu tư của quĩ. Hiện nay ở hầu hết các nước, Chính phủ đều qui định danh mục đầu tư, hoặc phân cấp rõ ràng danh mục đầu tư gắn liền với trách nhiệm của các cấp, các ngành để hạn chế rủi ro của quĩ. Đối với nước ta đây là vấn đề cần được ngiên cứu kĩ trong thời gian tới.Bên cạnh đó không thể quên việc thiết lập hệ thống kiểm soát góp phần ngăn ngừa và hạn chế các khuyết điểm và sai phạm có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu, xét duyệt hồ sơ nhằm đảm bảo an toàn quĩ, giữ nghiêm kỉ luật nâng cao năng lực và uy tín hoạt động của BHXH.

    II. Giải pháp.

    Chính sách BHXH đã trở thành một trong những chính sách xã hôi quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần đảm bảo an toàn đời sống của

    cán bộ, công chức người lao động và gia đình họ góp phần tích cực vào cuộc sống bảo vệ và xây dựng đất nước. Nghị quyết đại hôi đảng toàn quốc làn thứ IXđã nêu rõ:”Khẩn trương mở rộng hệ thống BHXH và an sinh xã hội. Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ…” Những chủ trương của Đảng nhằm mang lại hạnh phúc cho mọi người lao động khi gặp hoàn cảnh khó khăn ốm đau, tai nạn, già yếu… nhằm đảm bảo cho xã hội công bằng, văn minh tiến bộ.Tuy nhiên, để thực hiện được chủ trương của Đảng thì cần có nhiều công việc phải làm. Xin đưa ra một số giải pháp sau nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống BHXH:

    1.Về đối tượng và loại hình BHXH .

    Cần xác định đối tượng loại hình áp dụng BHXH bắt buộc là hìmh thức cưỡng chế theo pháp luật. Còn đối tượng áp dụng BHXH tự nguyện là hình thức vận động thuyết phục thực hiện theo qui định của pháp luật về nghĩa vụ đóng BHXH và quyền lợi hưởng các chế độ BHXH chỉ có một qui định thống nhất cho cả hai bên, có như vậy mới đảm bảo tính thống nhất trong tổ chức, quản lí cũng như trong qua trình chuyển đổi giữa hai loại hình BHXH mà không gây trở ngại cho ngươì lao động và cơ quan quản lí. Giữ vững quan hệ ba bên.

    Mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Từ khi thực hiện chính sách và cơ chế quản lí mới về BHXH, BHYT, phạm vi, đôi tượng tham gia đã được mở rộng (diện tham gia BHXH chiếm 10% lực lượng lao động) góp phần đảm bảo quyền và lợi ích cho hàng chục triệu lao động thuộc mọi thành phần kinh tế. Hiệu quả hoạt động của BHXH đã góp phần từng bước giảm dần gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước tạo nên hệ thống an sinh cho con người. Tuy nhiên để từng bước thu hút 80% dân số còn lại tham gia, cần có chính sách mở rộng đối tượng tham gia BHXH, không chỉ với lao động thuộc khu vực nhà nước mà cả ở các thành phần kinh tế khác. Khi đối tượng tham gia BHXH được mở rộng, tỉ lệ thu BHXH 15% để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất trong những năm tới( từ 10 đến 12 năm) được giữ nguyên sau đó tăng dần tỉ lệ đóng. Nghiên cứu qui định lại cách tính lương hưu. Qui định thêm mức đóng khi thực hiện thêm chế độ trợ cấp thất nghiệp.

    1. Về các chế độ của BHXH.

     

    Cần mở rộng thêm các chế độ BHXH sau:

    Chế độ Chế độ Chế độ Chế độ

    trợ cấp thất nghiệp

    chăm sóc y tế

    trợ cấp tàn tật

    trợ cấp gia đình

    Cần sửa chữa bổ xung một số chế độ BHXH qui định tại các điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP và 45/CP để khắc phục một số tồn tại như:

    Nâng độ tuổi nghỉ hưu của một số lao động đặc thù như những người làm công tác khoa học, giáo dục, lao động nữ làm công tác hành chính sự nghiệp khi đến tuổi theo qui định chung nhưng còn khả năng làm việc và cơ quan, đơn vị có nhu cầu sử dụng tiếp.

    Giảm bớt tỉ lệ trừ lương hưu của những người về hưu trước tuổi để cải thiện lương hưu và giải toả tâm lí thiệt thòi khi nghỉ hưu trước tuổi dẫn đến tình trạng ùn tắc lực lượng lao động ở các đơn vị, doanh nghiệp.

    Giảm độ tuổi nghỉ hưu của những người làm việc nặng nhọc độc hại phù hợp với mức độ suy giảm khả năng lao động.

    Đối với chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp cần bổ xung thêm vào danh mục bệnh nghề nghiệp những bệnh mới xuất hiện nhưng chưa được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp gây thiệt thòi cho người lao động…

    1. Tăng cường tính pháp lí của các qui phạm pháp luật về BHXH.

    Nhanh chóng hoàn thiện và ban hành luật BHXH trong đó chú trọng đến các hình thức sử phạt nghiêm minh đối với các doanh nghiệp trốn đóng BHXH.

    Đưa các điều khoản qui định về thu nộp BHXH vào nội dung của luật doanh nghiệp, luật phá sản doanh nghiệp. Các điều khoản này qui định rõ về thứ tự ưu tiên thanh toán nộp BHXH trong hệ thống các khoản thanh toán của doanh nghiệp để đảm bảo giải quyết các quyền lợi hưởng BHXH của người lao động trong doanh nghiệp.

    • các địa phương cần có sự kết hợp đồng bộ và hiệu quả giữa Sở lao động thương binh xã hội với ngành BHXH. Liên đoàn lao động và các cơ quan pháp luật trong việc sử lí các doanh nghiệp nợ đọng BHXH.

    Có cơ chế khuyến khích cán bộ BHXH phát hiện và truy thu BHXH. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thu BHXH để đáp ứng nhu cầu công việc.

    1. Quản lí BHXH

    Tăng cường công tác kiểm tra thanh tra việc thực hiện chính sách BHXH nhằm quản lí mọi người lao động, phổ biến qui định và nguyên tắc của ngành và những qui định có liên quan dược thực hiện đầy đủ, đúng qui định, kịp thời.

    Cơ quan BHXH các cấp tăng cường phối kết hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn như: ngành LĐ-TB-XH, liên đoàn Lao động, Kế hoạch đầu tư, Thuế, Công an, Thanh tra nhà nước trong công tác kiểm tra các doanh nghiệp về thực hiện Bộ luật lao động, nghĩa vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đóng BHXH đối với người lao động.

    Không ngừng mở rộng cả phạm vi, hình thức và nội dung thông tin, tuyên truyền nêu gương các doanh nghiệp làm tốt, phê phán các doanh nghiệp trốn đóng BHXH. Thông tin tuyên truyền phải sát cơ sở, sát người lao động đêr chủ sử dụng lao động và người lao động hiểu được chế độ, chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước và tự giác tham gia BHXH.

    Cơ chế quản lí và chi trả quỹ BHXH được tập trung ở cấp tỉnh, thành phố được đầu tư sinh lợi theo pháp luật của nhà nước. Tuy nhiên, chính phủ cần qui định rõ việc đầu tư này.

    Tổ chức hội đồng quản lí quỹ BHXH cấp tỉnh, thành phố gồm các thành phần: đại diện cơ quan quản lí nhà nước về lao động và tài chính, đại diện cơ quan quản lí BHXH và đại diện người lao động.

    1. Xúc tiến việc thiết lập và mở rộng quan hệ của BHXH Việt Nam với BHXH của các nước khác.

    Công tác này nhằm trao đổi và học hỏi kinh nghiệm của các nước khác giúp cho qúa trình hội nhập với hệ thống bảo hiểm quốc tế mà gần nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á. Các lĩnh vực về BHXH cần trao đổi như: kinh nghiệm của các ngành, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên làm công tác bảo hiểm, gia nhập các hiệp hội nhằm hỗ trợ lẫn nhau…

    III. Một số kiến nghị của bản thân.

     

    Cần xây dựng hệ thống BHXH đổi mới độc lập và tập trung với cơ cấu và hoạt động, các chế độ trợ cấp phù hợp .

    Cơ chế quản lí BHXH sớm xây dựng hệ thống tổ chức quản lí riêng biệt và đồng bộ.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam nên nghiên cứu ban hành mẫu “Thông báo nộp BHXH” với nội dung rõ ràng, cụ thể từ đó giúp cho việc quan lí thuận tiện hơn.

    Nhà nước nên chú trọng và đưa ra BHXH đối với người nông thôn lao động sản xuất trong nông nghiệp.

    Trên đây là một số kiến nghị của bản thân em nhằm giúp cho hệ thống BHXH được hoàn thiện hơn.

    KẾT LUẬN

    Như vậy để có của cải vật chất con người phải lao động, để lao động con người phải có sức khoẻ và khả năng lao động nhất định. Trong thực tế cuộc sống không phảo người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngược lại không mấy ai tránh khỏi những rủi ro bất hạnh như: ốm đau, tai nạn hay già yếu…do ảnh hưởng của tự nhiên, của điều kiện sốngvà sinh hoạt cũng như các nhân tố xã hội khác. Bởi vậy, muốn tồn tại con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết để khắc phục những rủi ro bất hạnh, giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên chỉ đến khi có sự ra đời của bảo hiểm xã hội thì những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất. Vì vậy Bảo hiểm xã hội đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong bản tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày 10/12/1948 đã nêu:”Tất cả mọi người vơí tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng Bảo hiểm xã hội

    “ Một lần nữa xin khẳng định lại vai trò của bảo hiểm xã hội đối với người lao động và xã hội. Thực tiễn chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế ở nước ta đòi hỏi Bảo hiểm xã hội phải thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển. Trong những năm, qua mặc dù Bảo hiểm xã hội có nhữnh bước tiến khả quan bắt đầu khẳng định vai trò của nó nhưng bên cạnh đó còn bộc lộ nhiều hạn chế bất cập đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ.

    Qua thực tế tìm hiểu và thực hiện đề tài này em không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong được sự góp ý của thầy cô để đề án của em hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cám ơn!

    LOI CÁM ƠN !

    Để thực hiện được đề tài này là nhờ sự chỉ bảo không nhỏ của thầy cô phụ trách. Em xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Bích Ngọc đã giúp em thực hiện đề tài này. Em cũng xin cám ơn khoa Kinh tế lao động và dân số đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng em thực hiện đề án môn học chuyên ngành.

    DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ BẢNG BIỂU

    1. Danh mục chữ viết tắt

     

    1. Bảo hiểm xã hội: BHXH

     

    1. Cộng hoà xã hội: CHXH

     

    1. Doanh nghiêp: DN

     

    1. Bảo hiểm y tế: BHYT

     

    1. Chính phủ: CP

     

    1. Cộng hoà liên bang: CHLB

     

    1. Cộng hoà: CH

     

    1. Lao động- Thương binh- xã hội: LĐ- TB- XH

     

    II.Danh mục bảng biểu

     

    1. Bảng 1: Thu BHXH

     

    1. Bảng 2: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới

     

    1. Bảng 3: Thu BHXH trên địa bàn Hà Nội

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Bảo hiểm – Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 2000
    1. Giáo trình Quản trị nhân lực – Trươờng ĐHKTQD
    1. Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 1998
    1. Bộ luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam
    1. Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Hà Nội 2002
    1. Bảo hiểm xã hội – Những điều cần biết / Bộ LĐ- TB- XH
    1. Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 2001
    1. Nguyễn Hữu Thân- Quản trị nhân sự
      1. Nhà xuất bản thống kê – Tp. HCM 2001
    2. Tạp chí BHXH tháng 1/2003
    3. Tạp chí BHXH tháng 3/2003
    4. Tạp chí BHXH tháng 4/2003
    5. Tạp chí BHXH tháng 5/2003
    6. Tạp chí BHXH tháng 6/2003
    7. Tạp chí BHXH tháng 7/2003
    8. Tạp chí lao động xã hội chuyên đề II/1999
    9. Tạp chí lao động xã hội chuyên đề IV/1999
    10. Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 7/2003

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài tập môn Nguyên lý bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-qu%E1%BB%B9-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Lời nói đầu

     

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sẩy, hết tuổi lao động, qua đời.

    Cùng với sự  đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua , chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.

    Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH (thu – chi quỹ BHXH) nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả trong việc thu -chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động BHXH.

    Là sinh viên Khoa Bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để đóng góp một phần sức lực của mình cho việc phát triển các chính sách BHXH và sự ổn định  Quỹ BHXH mà cụ thể là việc nâng cao hiệu quả của công tác thu – chi quỹ BHXH. Qua bài viết này em xin nêu lên và đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ BHXH. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong các thầy côđóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần viết sau co điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thị Thiên Hương đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng dạy để có thể hoàn thành bài viết này.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.

     

    Phần I. Lý luận chung về BHXH và Quỹ BHXH

    I. Lý luận chung về BHXH.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận của chính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia. Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hình bảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định.

    1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội

    Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển                    của con người.

    Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.

    Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chăm sóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác nhau như tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn đi xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước. Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

    Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người thuê lao động). Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền công từ giới chủ. Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của người lao động. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hoà mâu thuẫn này. Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chi trả cho việc này. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này. Mặt khác cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chất lượng của việc bảo đảm cho người lao động cũng ngày càng được tốt hơn.

    Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Từ đây ta có thể nêu ra bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:

    – Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.

    – Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động và gia đình họ).

    – Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảo hiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.

    – Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ nguồn quỹ BHXH. Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước bù thiếu.

    – Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:

    + Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu  sinh sống thiết yếu của họ.

    + Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.

    + Xây dựng điều kiện  sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật & trẻ em.

    Với những mục tiêu trên BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/48 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng BHXH, quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.

    2. Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.

    1. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

    Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già… vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

    Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác.

    1. Chức năng của BHXH.

    – Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.

    – Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    – Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.

    – Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.

    1. Tính chất của BHXH.

    – Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.

    – BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung  cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.

    – BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi).

    3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.

    Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:

    – BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.

    – Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.

    – Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người mà họ sử dụng.

    + Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.

    + Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình sử dụng.

    – Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:

    + Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.

    + Ngành nghề công tác của người lao động

    + Thời gian công tác và tiền lương của người lao động

    + Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp

    + Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.

    + Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.

    – Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.

    II. Quỹ bảo hiểm xã hội, nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH.

    1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    – Người lao động đóng góp

    – Người sử dụng đóng góp

    – Nhà nước bù thiếu

    – Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

    – Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp   rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.

    – Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.

    – Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.

    Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.

    Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.

    Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.

    Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.

    Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…

    2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:

    – Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.

    – Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.

    Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau:

    1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
    2. Trợ cấp ốm đau
    3. Trợ cấp thất nghiệp
    4. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
    5. Trợ cấp tuổi già
    6. Trợ cấp gia đình
    7. Trợ cấp sinh đẻ
    8. Trợ cấp khi tàn phế.
    9. Trợ cấp cho người còn sống.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.

    Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội mà các nước tham gia công ước quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người còn sống.

    Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    + Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.

    + Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.

    + Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.

    + Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.

    + Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.

    + Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.

    + Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.

    + Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.

    Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.

     

    Phần II. Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam thực trạng và giải pháp

    I. Khái quát tình hình BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP – 1993.

    Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách mạng tháng 8 – 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị của họ.

    Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số    văn bản sau:

    Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức nghỉ hưu.

    Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.

    Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.

    Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.

    Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm sau đây:

    + Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ trang.

    + Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    + Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với các chính sách xã hội khác.

    + Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động, công đoàn, Bộ Tài chính…).

    Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần  ổn định đời sống  cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống  quân xâm lược vào thống nhất đất nước.

    Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau. Từ đó giúp họ  yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .

    BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp chị em  ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.

    Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.

    Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất lớn đó là:

    – Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa thấy hết được vai trò của nó.

    – Chính sách  này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực.

    – Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực tế.

    – Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

    2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.

    Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao động”.

    Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”.

    Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tượng tham gia  BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê mướn.

    Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong BHXH.

    Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:

    – Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:… mà còn mở rộng cho người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

    – Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.

    – Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước  và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.

    – Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.

    – Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động  sự nghiệp BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.

    Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực  vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.

    Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.

    II. Thực trạng quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Trước Nghị định 43/CP/1993.

    Như chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

    Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

    Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại  trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

    Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm 6 chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.

    1. Sau nghị định 43CP/1993

    Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

    Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo.

    Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

    – Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.

    – Nguồn lao động đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.

    – Nhà nước hỗ trợ thêm.

    – Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

    – Chi quản lý hành chính sự nghiệp

    – Chi trợ cấp cho các chế độ

    Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, vậy chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

    Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

    2. Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.

    1. Thu từ người sử dụng lao động và người lao động.

    Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định  12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

    – BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.

    – Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.

    – Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam)

    Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH  thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước.

    Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 15% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 5% tiền lương.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

    Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

    Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã khẳng định phần nào sự trưởng thành của hoạt động thu BHXH cụ thể:

    Năm Lao động(người) Tỉ lệ (NS/NT) Số thu(triệu) Tỉ lệ (NS/NT)
    1995 2.275.998   788.486  
    1996 2.961.444 128,4% 2569733  
    1997 3.162.352 108,2% 3.445.611 134,1%
    1998 3.355.589 106,1% 3875956 112,5%
    1999 3579427 106,6% 4188382 108,1%

    Bảng số liệuu trên cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt số lao động năm tham gia BHXH năm 1999 so với 1995 tăng 1303439 lao động (tăng 57,3%) BHXH 1999 thu được 4.188382 triệu đạt 106,9% kế hoạch năm.

    Với kết quả trên, BHXH Việt Nam đã hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán đôc lập với ngân sách nhà nước chủ động chi trả cho người lao động, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc  chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH (bình quân hiện nay mỗi năm 3% nhưng mức giảm này sẽ ngày càng cao). Mặt khác quỹ BHXH có số tích luỹ sẽ ngày một tăng bảo đảm chi trả ổn định lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đạt được kết quả trên là do các nguyên nhân sau:

    – Đối tượng tham gia đã được mở rộng hơn so với trước đây (doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên phải tham gia đóng BHXH…)

    – Công tác quản lý thu BHXH từng bước đi vào nề nếp, người lao động và người sử dụng lao động đã ý thức được trách nhiệm quyền lợi của họ khi tham gia BHXH.

    – Công tác thu BHXH của các tỉnh, thành phố ngày một hoàn thiện, tuyên truyền vận động phối hợp với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác BHXH được đảm bảo. Một mặt tích cực rà soát, tuyên truyền vận động để tăng thêm đối tượng tham gia đóng BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa tham gia BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên cạnh đó, là công tác  truy thu nợ đọng để ngăn chặn không để có công nợ phát sinh.

    – Trình độ cán bộ không ngừng được nâng cao, BHXH các tỉnh thành phố từng bước áp dụng công nghệ tin học vào quản lý hoạt động BHXH. Nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng…

    Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng công tác quản lý thu BHXH còn có những nhược điểm cần khắc phục nhằm ổn định tăng trưởng quỹ. Các nhược điểm đó là:

    – Đối tượng tham gia BHXH còn chưa mở rộng, hiện nay ở nước ta đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ chiếm 14% lực lượng lao động xã hội, còn trên 86% chưa tham gia BHXH. Điều này cho thấy chúng ta đã để lãng phí một nguồn thu rất lớn từ lực lượng lao động chưa tham gia BHXH này không đảm bảo được quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng, chưa đáp ứng được khuyến cáo của tổ chức lao động thế giới  ILO. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thì không đáng kể. Mặt khác một số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH, nhất là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa thực hiện đăng ký nộp BHXH, nói chính xác hơn thì phần lớn các đơn vị này cố tình trốn tránh việc tham gia đóng BHXH cho người lao động mà họ sử dụng thông qua việc lợi dụng các khe hở của pháp luật.

    – Tình trạng nộp thiếu, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

    Mức nợ quỹ BHXH qua các năm.

    Năm Nợ đọng (%)
    1995 11,3
    1996 8,3
    1997 11,2
    1998 10,0
    1999 9,0

    Riêng năm 1999 tình trạng nợ quỹ BHXH điển hình ở một số tỉnh như sau:

    BHXH tỉnh Phó Thọ 18 tỉ /73 tỉ Chiếm 24%
    BHXH tỉnh Hoà Bình 13 tỉ/120 tỉ Chiếm 20%
    BHXH tỉnh Thái Bình 7,7/38 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Thanh hoá 6,6 tỉ/44 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Gia Lai 46,6 tỉ/102 tỉ Chiếm 16%

    Điều này là do các nguyên nhân sau:

    + Do những khó khăn của đơn vị sử dụng lao động và người lao động vừa thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống quá khó khăn dẫn tới việc không thực hiện nộp BHXH đúng kỳ đúng số.

    + Do chủ sử dụng lao động thiếu ý thức chưa thực sự quan tâm tới việc nộp BHXH.

    + Do một số tồn tại nợ trước đây dồn tính lại, đơn vị sử dụng lao động chưa có nguồn hoặc chưa đủ cơ sở để xử lý hoặc là nộp hoặc là giải **** xử lý xoá nợ, nên vẫn theo nợ trên sổ sách.

    + Mặt khác trong việc quản lý thu còn có một số công việc chưa thực hiện kịp thời đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra, đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.

    – Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để đưa ra tỉ lệ  đóng góp là 20% (người sử dụng lao động 15%, người lao động 5%) chưa dựa vào cơ sở khoa học vững chắc, so với một số nước trên thế giới và khu vực thì tỉ lệ đóng góp của chúng ta còn thấp.

    Tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH ở một số nước đóng góp trên thế giới.

      Người LĐ so với lương Người SDLĐ so với quỹ lương (%)
    CHLB Đức 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
    CH Pháp 11,82 19,68
    Malayxia 9,5 12,75

    Và với tỉ lệ thu như thế này thì theo dự báo  của chuyên gia ILO tình hình quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian tới như sau:

      1997 2000 2010 2020 2030
    Số người đóng BHXH (ngàn) 3110 3271 4406 5233 58057
    Số người hưởng BHXH (ngàn) 1792 1802 1739 1808 1867
    Trong đó:          
    Thưởng trước 1995 1732 1635 1195 706 290
    Thưởng sau 1995 60 167 549 1102 1577
    Thu BHXH (ngàn tỉ) 7,9 11,6 23,4 35,1 49,6
    Chi BHXH (ngàn tỉ) 5,9 8,7 17,9 33,4 63,0
    Chênh lệch thu chi (ngàn tỉ) +2,0 +2,8 +5,5 +1,8 -13,5

    Vậy theo dự báo của các chuyên gia ILO thì tới năm 2030 quỹ BHXH Việt Nam sẽ bị thâm hụt trầm trọng.

    Với những ưu nhược điểm  vừa nêu trên trong công tác thu BHXH của nước ta trong thời gian đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thu BHXH trong thời gian tới đảm bảo sự tăng trưởng ổn đinh của quỹ BHXH nói riêng và ổn định hoạt động BHXH nói chung.

    1. Thu từ ngân sách nhà nước đóng góp và các khoản thu khác.

    Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước.

    Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước trợ giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần (mỗi năm giảm bình quân khoảng 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

    Đối với các khoản thu khác: từ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức từ thiện, từ đầu tư vốn nhàn rỗi… cũng đã góp phần gia tăng quy mô của quỹ BHXH. Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH có vai trò vô cùng quan trọng, bởi hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm hoạt động tài chính, thông qua việc đầu tư, sử dụng vốn nhàn rỗi để sinh lời, có hoạt động đầu tư vốn mới đảm bảo được việc chi trả quỹ BHXH trong tương lai. Cuối năm 1999 số vốn tạm thời nhàn rỗi của BHXH là 12000 tỉ đồng. Số tiền này BHXH được chính phủ cho phép đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mua trái phiếu, công trái và gửi ngân hàng của nhà nước để phát triển giá trị của quỹ. (đợt mua công trái vừa qua BHXH đã mua 500 tỉ đồng). Tổng số tiền sinh lời là 631 tỉ đồng.

    Kết quả trên đạt được là do các nguyên nhân:

    – Thứ nhất là do hiệu quả ngày càng cao trong công tác thu phí BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động như nêu ở trên.

    – Nhà nước quyết định đưa quỹ BHXH ra hạch toán độc lập điều này khiến cho các cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH tự hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của mình trong việc quản lý hệ thống BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng nâng cao hiệu quả trong quản lý quỹ.

    – Bước vào cơ chế thị trường, được nhà nước giao cho toàn quyền srư dụng quỹ BHXH, các cán bộ quản lý BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, tích luỹ kiến thức mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực vừa có hiệu quả kinh tế vừa an toàn góp phần tăng nguồn thu của quỹ.

    Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả ở công tác này trong thời gian qua, tuy nhiên cũng ở công tác này trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

    Mặc dù có giảm nhưng ngân sách nhà nước cấp cho BHXH còn tương đối lớn nó bao gồm tất cả chi phí trợ cấp BHXHcho những người được hưởng chế độ BHXH trước 1/1/1995 và một phần chi phí các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH sau 1/1/1995 mà số lượng những người này hiện nay còn rất đông và do hậu quả của các chính sách, chế độ trước đây để lại nêu đây vẫn còn là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    – Trong vấn đề đầu tư vốn nhàn rỗi do quỹ BHXH là một quỹ đặc biệt, liên quan đến đời sống của hàng triệu người  lao động trong xã hội nên hoạt động đầu tư chỉ được sử dụng một phần vốn nhàn rỗi và phải hết sức cẩn trọng.

    Vì vậy hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi có hiệu quả chưa cao bởi tính cẩn trọng khiđầu tư vốn (theo quy luật rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao) đồng thời do thị trường chứng khoán của chúng ta mới hình thành còn nhiều vướng mắc, các cán bộ quản lý quỹ BHXH kinh nghiệm chưa nhiều với đầu tư chủ yếu là gửi ngân hàng, mua trái phiếu kho bạc, muc công trái… nên lãi suất còn thấp.

    Từ các vấn đề đã nêu trong công tác thu BHXH cho chúng ta thấy được mặc dù công tác thu BHXH đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, dần dần góp phần đưa BHXH thoát khỏi sự bao cấp nặng nề của nhà nước. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho việc tăng trưởng, phát triển nguồn quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống người lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, ổn định kinh tế – xã hội.

    3. Tình hình chi BHXH trong thời gian qua.

    Như đã nêu ở trên quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích đó là:

    + Chi trả trợ cấp các chế độ BHXH

    + Chi quản lý quỹ BHXH

    Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH. Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất.

    Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

    Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

    Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ.

    Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXHlà việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng hết sức tiến bộ. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ,  thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam.

    BHXH Việt Nam cũng đã quy định BHXH các cấp chi trả trực tiếp cho những người được hưởng chế độ hưu một lần hoặc trợ cấp một lần nhằm mục đích tăng cường sự tiếp cận với người hưởng BHXH. Trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn: Đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.

    Bình quân số tiền chi trả lương lương hưu và các loại trợ cấp cho hơn 6 triệu người lao động là 6000 tỉ đồng một năm nhưng BHXH đã thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ theo chế độ, tất cả những người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng đều được nhận một lần trước ngày 15. Đặc biệt ngày 24/6/1999 BHXH Việt Nam đã ban hành văn bản số 860/BHXH – QLC có hiệu lực từ 1/7/1999 về việc chi trả lương cho đối tượng tạm vẵng đến nơi tạm trú. Theo văn bản này thì các  đối tượng đến ở nơi tạm trú từ 3 tháng trở lên có thể nhận lương hưu tại nơi tạm trú một cách thuận lợi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa làm được.

    Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đã làm cho đối tượng yên tâm và yêu mến những người làm công tác BHXH.

    Hệ thống biểu mẫu, sổ sách  được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước, nhằm phục vụ đăc lực cho công tác chi trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình hiện nay. Với việc ra đời của sổ BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ dàng, chính xác, kịp thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

    BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý của ngành góp phần nâng cao  hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

    Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác quản lý chi vẫn còn phải đặt ra nhiều vốn cần tiếp tục củng cố trong thời gian tới, cụ thể là:

    – Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp cho người lao động, thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của người lao động cũng như gia đình họ.

    – Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm. Việc tổ chức vận chuyển tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chi trả chưa đảm bảo dễ xảy ra mất mát, thiếu hụt. Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

    – Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

    Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai đảm bảo việc tăng trưởng và ổn định quỹ, ổn định xã hội.

    III. Các giải pháp nhằm cân đối quỹ BHXH Việt Nam.

    1. Biện pháp tăng thu BHXH.

    1. Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.

    – Trước hết về phía quản lý vĩ mô của nhà nước cần phải có được hệ thống văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.

    – Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là lấy số đông bù số ít.

    – Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ BHXH qua các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.

    – Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính toán của các nhà nghiên cứu trong nước  thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là  35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.

    1. Với các khoản thu khác.

    – Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong nước và ngoài nước.

    – Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.

    – Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa đảm bảo ổn định quỹ.

    – Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra đời thị trường chứng khoán.

    2. Các biện pháp giảm chi BHXH.

    – Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.

    – Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.

    – Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí điều kiện  mới.

    – ứng dụng công nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói chung, quản lý thu – chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.

    Tài liệu tham khảo

     

    – Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện Ngân hàng)

    – Giáo trình Bảo hiểm (Trường Đại học KTQD)

    Chủ biên PGS. TS Hồ Sĩ Sà

    – Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số: 1, 3, 5, 6/2000 xuân canh thìn

    – Tạp chí Lao động & Xã hội các số 4/1997; 8,9,12/1998; 3/1999; 3/2000

    – Nghị định 43CP ra ngày 22/6/1993

    – Nghị định 12CP ra ngày 26/11/1995

    – Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam chương 12


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập môn Nguyên lý bảo hiểm

    Bài tập môn Nguyên lý bảo hiểm

    Bài tập môn Nguyên lý bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tài liệu ôn tập Bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-m%C3%B4n-Nguy%C3%AAn-l%C3%BD-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập môn Nguyên lý bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    BÀI TẬP MÔN NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM

    CÁC DẠNG BÀI TẬP MẪU BẢO HIỂM

    Câu 1:

    Một lô hàng trị giá 2.000.000 USD ( giá CFR ) được bảo hiểm cho toàn bộ giá trị cộng lãi ước tính 10%, tỷ lệ phí là 0,5%. Yêu cầu: xác định phí bảo hiểm cho lô hàng? (Kết quả lấy tròn số).
    Phí bảo hiểm = (C+F) x (a+1) x R/(1-R) = 2.000.000 x (1+0,1) x 0,05/(1-0,05)

    Câu 2:

    Một tài sản trị giá 10.000 USD được mua bảo hiểm đúng giá trị, với điều kiện miễn thường có khấu trừ 1.500 USD. Trên đường vận chuyển, tài sản bị thiệt hại trị giá 8.000 USD do rủi ro được bảo hiểm gây ra. Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của công ty bảo hiểm theo nguyên tắc bồi thường có miễn thường?
    Số tiền bảo hiểm = 8.000 – 1.500

    Câu 3:

    Xe khách Y bị tai nạn thiệt hại vào ngày 01/06/2002 (lỗi hoàn toàn thuộc xe khách Y) :
    • Chi phí sửa chữa xe: 60 trđ
    • Hành khách thứ nhất bị thương, chi phí điều trị : 18 trđ
    • Hành khách thứ hai bị thương, chi phí điều trị : 15 trđ
    • Lái xe Y bị thương, chi phí điều trị : 10 trđ
    Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách vận chuyển trên xe? Biết chủ xe đã thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm bắt buộc ở mức trách nhiệm 30trđ/ng/vụ về tài sản/vụ.
    Số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm = 18 + 15

     

    Câu 4:

    Một hợp đồng bảo hiểm có số liệu sau:
    • Giá trị BH: 10.000 USD
    • Số tiền BH: 8.000 USD
    • Mức khấu trừ 5% giá trị tổn thất không thấp hơn 500 USD
    • Giá trị tổn thất 3.500 USD
    Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm trong trường hợp này? Biết rằng mức khấu trừ được áp dụng sau khi áp dụng điều khoản bồi thường theo tỉ lệ.
    Mức khấu trừ = 0,05 x 3.500 = 175 <500 (vì không thấp hơn 500 USD nên lấy là 500 USD)
    Số tiền bảo hiểm = (3.500 x 8.000/10.000) – 500

    Câu 5:

    Khi kí kết hợp đồng BH, phí bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm nộp là 120.000 đồng. Một vụ tổn thất xảy ra, thiệt hại là 2 triệu đồng. Do xác định lại mức độ rủi ro, người bảo hiểm xác định mức phí lẽ ra người tham gia bảo hiểm phải nộp là 150.000 đồng. Mức miễn thường có khấu trừ 100.000 đồng. Số tiền bồi thường của người bảo hiểm là bao nhiêu?
    Số tiền bảo hiểm = Trị giá thiệt hai x (Số phí đã nộp/Số phí lẽ ra phải nộp) . Và ở đây có mức miễn thường nên trừ đi 100.000.
    STBT = [ 2.000.000 x (120.000/150.000) ] – 100.000 = 1.500.000 đồng

    Câu 6: Công ty lương thực thực phẩm X nhập khẩu 400.000 bao bột mỳ trị giá 3.200.000 USD. Chủ hàng mua bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm A (QTCB 1998) trên toàn bộ trị giá lô hàng là 3.520.000 USD. Khi hàng về đến cảng bị hư hỏng như sau:
    • 7.000 bao bị ngấm nước, trong đó 5.000 bao bị hư hỏng hoàn toàn, 2.000 bao bị giảm giá trị 30%.
    • 3.000 bao bị rách vỡ giảm giá trị 30% ( vận đơn ghi chú “bao bì mục, một số bị rách”)
    • Chủ hàng yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường 88.000 USD trị giá hàng hư hỏng.
    Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường về hàng hóa của công ty bảo hiểm cho chủ hàng? (không kể chi phí giảm định)
    STBT = [(5.000 + 2.000 x 30%) x 3.520.000] / 400.000 = 49.280 USD

    Câu 7: Một tài sản trị giá 10.000 USD được mua bảo hiểm với số tiền 8.500 USD. Trên đường vận chuyển tài sản thiệt hại trị giá 8.000 USD do rủi ro được bảo hiểm gây ra. Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của công ty bảo hiểm theo quy tắc bồi thường theo tỉ lệ ?
    STBT = 8.000 x 8.500/10.000 = 6.800 USD

    Câu 8: Một tài sản trị giá 20.000 ĐVTT, được bảo hiểm bằng 2 hợp đồng bảo hiểm:
    • Hợp đồng 1: STBH = 8.000 ĐVTT
    • Hợp đồng 2: STBH = 14.000 ĐVTT
    • Tổn thất là 11.200 ĐVTT
    Số tiền bồi thường của mỗi hợp đồng là bao nhiêu ?
    @Chú ý:
    ~ Nếu STBH của 2 hợp đồng < TGTS thì STBH hợp đồng 1 = GTTH x (STBH1 /GTBH)
    Tương tự : STBH hợp đồng 2 = GTTH x (STBH2 /GTBH)
    ~ Nếu STBH 2 hợp đồng > TGTS thì là bảo hiểm trùng
    Ở đây vì STBH 2 hợp đồng > TGTS –> là bảo hiểm trùng. Cần tính như sau:
    STBT của từng hợp đồng = TGTH x (STBH của từng hợp đồng / Tổng số tiền bảo hiểm của các hợp đồng)
    – STBT của hợp đồng A: 11.200 x (8.000 / 22.000 ) = 4.080 ĐVTT
    -STBT của hợp đồng B: 11.200 x (14.000 / 22.000) = 7.140 ĐVTT
    -Tổng = 11.220 ĐVTT

    Câu 9: Công ty Vinafood nhập khẩu 10.000 tấn bột mỳ, giá trị ghi trên hóa đơn thương mại là 2.500.000 USD. Chi phí vận chuyển do người mua chịu là 60.000 USD . Tỷ lệ phí bảo hiểm là 0,3%. Công ty đã mua bảo hiểm cho lô hàng theo giá CIF cộng lãi ước tính 10%. Yêu cầu: Tính phí bảo hiểm của lô hàng bột mỳ trên? (Kết quả lấy tròn số)
    Phí bảo hiểm = [(2.500.000 + 60.000) x (1 + 10%) x 0,3%] / (1 – 0,3%) = 8.473 USD

    Câu 10: Tai nạ xảy ra giữa 2 xe A và B, gây hậu quả cho xe B. Xe B bị thiệt hại như sau:
    Thiệt hại thân vỏ: 200.000.000 VNĐ
    • Động cơ: 200.000.000 VNĐ
    • Chi phí kéo, cẩu xe: 5.000.000 VNĐ
    Yêu cầu: tính số tiền bồi thường của bảo hiểm trong vụ tai nạn trên. Biết:
    • Xe B đang tham gia bảo hiểm thân vỏ xe với số tiền bảo hiểm bằng 100% giá trị bộ phận tham gia BH.
    • Theo bảng tỷ lệ cấu thành xe, bộ phận thân vỏ chiếm 60% giá trị xe
    Vì bảo hiểm thân xe là 100% nên STBT = 200.000.000 VNĐ

    Câu 11: Trong tai nạn xe máy, chị Hoa bị gãy chân, chi phí điều trị hết 1.000.000 VNĐ. Người đi xe máy ngược chiều có lỗi hoàn toàn. Chị Hoa đang tham gia hợp đồng bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe với số tiền bảo hiểm 10.000.000VNĐ/chỗ ngồi/vụ. Tỷ lệ trả tiền bảo hiểm thương tật được áp dụng với gãy xương là 20%. Yêu cầu: Xác định khoản tiền bồi thường của người đi xe máy ngược chiều và khoản tiền người bảo hiểm trả cho chị Hoa trong vụ tai nạn trên?
    Tổng STBT = 1.000.000 + (10.000.000 x 20%) = 3.000.000 VNĐ

    Câu 12: Một hợp đồng bảo hiểm có số tài liệu như sau:
    • Giá trị bảo hiểm: 10.000 ĐVTT
    • Số tiền bảo hiểm: 9.000 ĐVTT
    • Mức miễn thường có khấu trừ: 10% giá trị thiệt hại không thấp hơn 1.500 ĐVTT
    • Tổn thất: 5.000 ĐVTT
    Người bảo hiểm phải bồi thường số tiền là bao nhiêu?
    Mức miễn thường = 5.000 x 10% = 500 < 1.500 nên lấy 1.500
    STBT = [5.000 x (9.000/10.000)] – 1.500 = 3.000 ĐVTT

    Câu 13: Anh Bình là cán bộ công nhân viên chức thuộc Bộ Giao thông vận tải bị xơ gan cổ chướng, phải điều trị hết 60 ngày (trong đó 18 ngày là ngày lễ và chủ nhật). Tiền lương làm căn cứ tính bảo hiểm xã hội của anh Bình trước khi nghỉ ốm là 550.00 VNĐ. Thời gian làm việc 26 ngày/tháng. Yêu cầu: Xác định mức trợ cấp ốm đau mà anh Bình nhận được? (kết quả lấy tròn số).Biết rằng: Xơ gan cổ chướng là loại bệnh cần điều trị dài ngày theo danh mục y tế .
    Mức trợ cấp ốm đau = [(550.000 x 75%)/26] x (60 – 18) = 666.346 VNĐ

    Câu 14: Công ty Vinafood nhập khẩu 10.000 tấn bột mỳ, giá ghi trên hóa đơn thương mại là 2.500.000 USD. Chi phí vận chuyển đo người mua chịu là 60.000 USD. Tỷ lệ phí bảo hiểm là 0,3%. Công ty đã mua bảo hiểm cho lô hàng theo giá CIF cộng lãi ước tính 10%. Yêu cầu: Tính số tiền bảo hiểm của lô hàng bột mỳ trên? (kết quả lấy tròn số)
    STBH = 2.500.000 + 60.000 = 2.560.000 USD

    Câu 15: Tháng 1/2002 xe ôtô tải va vào 1 người đi xe máy làm người này bị thương nhẹ và thiệt hại như sau: chí phí điều trị hết 200.000 VNĐ, xe máy trị giá 32.000.000 VNĐ hư hại giảm giá trị 50%. Xe tải đã tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới với người thứ 3 với mức 30.000.000VNĐ/ng/vụ và 30.000.000 VNĐ về tài sản/vụ. Yêu cầu: tính số tiền bồi thường của bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong vụ tai nạn này? Biết lỗi xe ôtô tải là 100%
    STBT = 200.000 + (32.000.000 x 50%) = 16.200.000 VNĐ

    Câu 16: Trong 1 tai nạn lao động, anh Hải bị thương. Theo giám định của cơ quan y tế, anh Hải bị suy giảm 28% khả năng lao động. Theo quy định của chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành, anh Hải được hưởng trợ cấp 1 lần bằng 12 tháng tiền lương cơ bản. Lương cơ bản theo quy định hiện hành của pháp luật là 210.000 VNĐ/tháng. Phụ cấp anh Hải được hưởng là 2,6. Yêu cầu: Xác định mức trợ cấp mà anh Hải được hưởng?
    Mức trợ cấp = 210.000 x 12 = 2.520.000 VNĐ

    Câu 17: Tài sản A trị giá 200.000 VNĐ đang được bảo hiểm đồng thời 2 hợp đồng có phạm vi bảo hiểm tương tự nhau:
    • Hợp đồng bảo hiểm 1 có số tiền bảo hiểm: 160.000.000 VNĐ
    • Hợp đồng bảo hiểm 2 có số tiền bảo hiểm: 120.000.000 VNĐ
    Tài sản A bị thiệt hại do 1 rủi ro thuộc trách nhiệm của cả 2 hợp đồng gây ra. Giá trị thiệt hại 140.000.000 VNĐ. Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của mỗi hợp đồng bảo hiêm?
    Đây là bảo hiểm trùng do STBH 2 hợp đồng > TGTS
    STBT của hợp đồng 1: 140.000.000 x (160.000.000 / 280.000.000) = 80.000.000 VNĐ
    STBT của hợp đồng 2: 140.000.000 x (120.000.000 / 280.000.000) = 60.000.000 VNĐ
    Tổng = 140.000.000 VNĐ

    Câu 18: Xe B tham gia bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới tại Bảo Việt với sô tiền bảo hiểm 240.000.000 VNĐ. Xe bị lật đổ, thiệt hại và chi phí phát sinh như sau:
    • Dự tính chi phí sửa chữa xe: 40.000.000 VNĐ
    • Chi phí kéo, cẩu xe: 3.000.000 VNĐ
    Yêu cầu: Xác định số tiền bồi thường của người bảo hiểm trong vụ tai nạn trên? Biết rằng: Giá trị xe là 300.000.000 VNĐ và tai nạn xảy ra trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm
    STBT = (40.000.000 + 3.000.000) x (240.000.000/300.000.000) = 34.400.000 VNĐ

    Câu 19: Trong quá trình lưu hành xe máy, do sơ suất chị Tâm bị tai nạn gãy xương cổ tay, chấn thương sọ não kín. Chị Tâm đã tham gia bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe với số tiền bảo hiểm 10.000.000VNĐ/chỗ ngồi/vụ. Tai nạn xảy ra trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng. Hỏi số tiền mà chi Tâm được nhận là bao nhiêu? Nế tỷ lệ trả tiền bảo hiểm thương tật tương ứng với gãy xương cổ tay là 8%, chấn thương sọ não kín là 20%
    STBT = (10.000.000 x 8%)+ (10.000.000 x20%) = 2.800.000 VNĐ

    Câu 20: Chị Hoa sinh con đầu lòng và nghỉ việc hưởng trợ cấp theo chế độ thai sản. Tiền lương đóng Bảo hiểm xã hội làm căn cứ tính trợ cấp nghỉ sinh con của chị Hoa là 410.000 VNĐ. Yêu cầu: Tính số tiền trợ cấp thai sản mà chi Hoa được hưởng theo chế độ Bảo hiểm xã hội? Biết rằng thời gian nghỉ thai sản của chị Hoa là 4 tháng.
    Số tiền trợ cấp = 410.000 x 4 = 1.640.000 VNĐ

    Câu 21: Xe tải A đâm va với xe khách B gây hậu quả:
    Xe A Xe B
    • Về tài sản: -Thân vỏ: 60 trđ -Thân vỏ: 120 trđ
    -Động cơ: 20 trđ -Động cơ: 30 trđ
    • Về người: -Người lái xe: 20 trđ -Hành khách thứ nhất: 25 trđ
    -Hành khách thứ hai: 8 trđ
    • Lỗi 30% 70%
    Xe tải A tham gia bảo hiểm bộ phận thân vỏ đúng giá trị tại Bảo Minh
    Xe B tham gia bảo hiểm thân xe với số tiền bảo hiểm bằng 80% giá trị xe tại Bảo Việt
    Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của Bảo Minh cho xe A trong vụ tai nạn trên
    STBT = 60 trđ x 70% = 42 trđ

    Câu 22: Xe tải X đâm va vào 1 em học sinh gây hậu quả như sau:
    • Em học sinh bị gãy xương hàm
    • Chi phí điều trị hết 5.000.000 VNĐ
    Yêu cầu: Xác định số tiền em học sinh nhận được từ các hợp đồng bảo hiểm? Biết rằng:
    • Xe tải X đã tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 ở mức bắt buộc tối thiểu (30 trđ về tài sản/vụ và 30 trđ/ng/vụ)
    • Em học sinh tham gia bảo hiểm toàn diện học sinh với số tiền bảo hiểm 10 trđ
    • Tỷ lệ trả tiền bảo hiểm tương ứng với gãy xương hàm là 10%
    • Lỗi hoàn toàn thuộc về xe tải X
    Số tiền em học sinh nhận được = 5 trđ + (10 trđ x 10%) = 6 trđ

    Câu 23: Lô hàng máy móc, thiết bị nhập khẩu từ Singapore về Việt Nam trị giá 6.000.000 USD (Tính theo giá CIF). Lô hàng trên đang được bảo hiểm bởi 2 hợp đồng bảo hiểm có rủi ro giống nhau:
    • Hợp đồng 1 với Bảo Minh có số tiền bảo hiểm: 4.000.000 USD
    • Hợp đồng 2 với Bảo Việt có số tiền bảo hiểm: 4.000.000 USD
    Trên hành trình lô hàng bị tổn thất toàn bộ do 1 rủi ro được bảo hiểm gây ra. Yêu cầu: xác định số tiền bảo hiểm của các nhà bảo hiểm cho lô hàng trên? Biết rằng chủ hàng có bảo hiểm cả phần lãi ước tính (lãi ước tính = 10%)
    Đây là bảo hiểm trùng do STBH 2 hợp đồng > TGTS
    STBT của hợp đồng 1: 6.600.000 x (4.000.000 / 8.000.000) = 3.300.000 VNĐ
    STBT của hợp đồng 2: 6.600.000 x (4.000.000 / 8.000.000) = 3.300.000 VNĐ

    Câu 24: Chị Anh nghỉ sinh con lần thứ 2, sinh thai đôi. Lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ sinh con của chị Anh là 660.000 VNĐ/tháng (Bao gồm lương và phụ cấp). Theo quy định chi Anh được nghỉ 4 tháng và sinh đôi trở lên theo quy định tại Điều 12 NĐ 12/CP (26/01/1995) thì thời gian nghỉ thêm cho mỗi con tính từ đứa thứ 2 là 1 tháng. Yêu cầu: xác định mức trợ cấp mà chị Anh được hưởng?
    Vì chị Anh sinh đôi và lần này là lần thứ 2 nên chị được nghỉ là 6 tháng.
    Mức trợ cấp: 660.000 x 6 = 3.960.000 VNĐ

    Câu 25: Một cán bộ X thuộc doanh nghiệp Nhà nước bị tai nạn lao động làm suy giảm 30% khả năng lao động. Mức lương tối thiểu mà người cán bộ được hưởng là 250.000 VNĐ/tháng. Mức trợ cấp 1 lần đối với trường hợp suy giảm từ 21% – 30% là 12 tháng lương tối thiểu. Số tiền trợ cấp tai nạn lao động và trợ cấp ốm đau của Bảo hiểm xã hội cho cán bộ X là bao nhiêu?
    Số tiền trợ cấp lao động: 250.000 x 12 = 3.000.000 VNĐ

    Câu 26: Một tài sản trị giá 600 trđ được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm là 450 trđ. Phí đã nộp một lần theo tỷ lệ phí là 0,4%. Tài sản bị tổn thất trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng với giá trị thiệt hại là 100 trđ. Khi giám định tổn thất phát hiện sai sót không cố ý của chủ tài sản ở khâu khai báo rủi ro. Nếu khai báo chính xác thì tỷ lệ phí bảo hiểm là 0,5%. Yêu cầu; Tính toán số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm trong trường hợp này?
    STBT = (450/600) x (0,4/0,5) x 100 = 60 trđ

    Câu 27: Một người đàn ông 56 tuổi, Bảo hiểm xã hội 26 năm. Mức bình quân tiền lương là 1.000.000 VNĐ. Lương hưu hàng tháng là bao nhiêu?
    2 % với đàn ông và 3% với đàn bà.
    15 năm đầu thì cả 2 đều được tính 45%
    Vì đây là người đàn ông nên tính 2%
    Từ năm 16 đến 26 là được 11 năm: 11 x 2%/năm = 22%
    Tổng số phần trăm được hưởng: 45% + 22% = 67%
    Mà theo quy định của Luật lao động thì tuổi nghỉ hưu đối với đàn ông là 60 tuổi, đàn bà là 55 tuổi. Người đàn ông 56 tuổi này đã nghỉ hưu sớm 4 năm nên mỗi năm phải trừ đi 1%
    Vậy số phần trăm còn được hưởng 67% – 4% = 63%
    Lương hưu tháng là 63% x 1.000.000 = 630.000 VNĐ

    Câu 28: Một người đàn à B về nghỉ hưu lúc 51 tuổi, có thời gian Bảo hiểm xã hội là 22 năm. Tính tỷ lệ bồi thường lương hưu của bà B?

    Đàn bà tỷ lệ 3%
    15 năm đầu là 45%
    7 năm còn lại : 7 x 3%/năm = 21%
    Tổng số phần trăm được hưởng: 45% + 21% = 66%

    Câu 29: Một người đàn ông về hưu lúc 60 tuổi, Bảo hiểm xã hội 38 năm. Xác định tỷ lệ hưởng lương hưu của người này?
    Đàn ông tính 2%
    15 năm đầu : 45%
    Từ năm 16 đến 38 là được 23 năm: 23 x 2%/năm = 46%
    Tổng số phần trăm được hưởng: 45% + 46% = 91%
    Nhưng hạn mức tối đa là 75% nên tỷ lệ hưởng lương hưu của người này là 75%

    Câu 30: Anh Bình nghỉ ốm 5 ngày (không có ngày lễ, chủ nhật). Hệ số lương cơ bản theo quy định 210.000 VNĐ/tháng. Thời gian làm việc 26 ngày/tháng. Hỏi khoản trợ cấp Bảo hiểm xã hội mà anh Bình nhận được?
    Trợ cấp BHXH = [(210.000 x 0,2 + 210.000 x 2,64) x 0,75 x 5]/26 = 86.019 VNĐ

     

    Bài tập nguyên lí bảo hiểm

    Bảo hiểm tài sản:

    Bài tập 1-(Tượng tự câu 36- chương 3- bài tập)

    Một chủ hàng cho thuê một chủ xe vận chuyển một lô hàng trị giá 100 triệu đồng từ Hà Nội đến Tp Hồ Chí Minh.Lô hàng này được bảo hiểm tại công ty bảo hiểm A theo quy tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa.Số tiền bảo hiểm bằng với giá trị lô hàng, và mất cắp là một trong những rủi ro được bảo hiểm.Giả sử trong quá trình vận chuyển do sơ suất của chủ xe,một phần hàng trị giá 20 triệu đồng đã bị kẻ gian lấy cắp.

    Công ty bảo hiểm A bồi thường cho chủ hàng bao nhiêu?

    Giải:

    Như vậy trong trường hợp này công ty bảo hiểm A sẽ bồi thường cho chủ hàng 20 triệu đồng sau đó được thay thế chủ hàng khiếu nại đòi chủ xe bồi thường.

    Có những trường hợp đặc biệt mà việc thế quyền trở nên phức tạp như:

    + Tài sản được bảo hiểm dưới giá trị.Việc bồi thường của bảo hiểm sẽ thấp hơn thiệt hại của người được bảo hiểm trong sự cố bảo hiểm

    Như vậy người được bảo hiểm sẽ giữ một phần khiếu nại người thứ 3 có lỗi.

    Bài tập 2:

    Cũng dữ kiện như ví dụ trên nhưng số tiền bảo hiểm là 80 triệu đồng

    Trường hợp này công ty bảo hiểm A bồi thường bao nhiêu

    Giải:

    Trường hợp này công ty bảo hiểm A chỉ bồi thường 20× (80/100) = 16 triệu đồng.Do đó chủ hàng vẫn được quyền đòi chủ xe bồi thường 4 triệu đồng

    + Nếu người thứ 3 có lỗi lại là người được bảo hiểm của một hợp đồng trách nhiệm dân sự tương ứng với cùng người bảo hiểm khác thì có thể áp dụng quyền khiếu nại trực tiếp giữa người bảo hiểm tài sản và người bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Bảo hiểm trùng:

    ở Việt Nam hiện nay thông thường các công ty bảo hiểm xác định số tiền bồi thường trong trường hợp có bảo hiểm trùng ,theo công thức sau

    số tiền bồi thường =

    Bài tập 3 (câu 5- Bài tập chương 3)

    Một xe ô tô trị giá 200 triệu đồng ,đồng thời được bảo hiểm bởi 2 hợp đồng:

    + Hợp đồng bảo hiểm thứ nhất: Với công ty bảo hiểm A ; số tiền bảo hiểm = 120 triệu đồng

    + Hợp đồng bảo hiểm thứ hai: Với công ty bảo hiểm B; số tiền bảo hiểm = 180 triệu đồng

    Giả sử xảy ra một tai nạn phải sửa chữa hết 30 triệu đồng thuộc phạm vi bảo hiểm của cả 2 hợp đồng

    Công ty bảo hiểm A phải bồi thường bao nhiêu?

    Công ty bảo hiểm B phải bồi thường bao nhiêu?

    Giải:

    Công ty bảo hiểm A phải bồi thường: 30× (120/300) = 12 triệu đồng

    Công ty bảo hiểm B phải bồi thường: 30× (180/300) = 18 triệu đồng

    Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới:

    Bài tập 4 (câu 7 – chương 2- Bài tập)

    Giá trị vào thời điểm tham gia bảo hiểm là 100 triệu đồng ,chủ xe tham gia bảo hiểm tổng thành thân vỏ.Theo quy định,tỷ trọng giá trị của tổng thành thân vỏ của loại xe này là 53%.Giá trị bảo hiểm thân vỏ xe này là bao nhiêu?

    Giải:

    Vậy giá trị thân vỏ xe này là: 100 triệu × 53% = 53 triệu đồng

    Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:

    Công thức đóng phí và hoàn phí

    Đối với các phương tiện hoạt động ngắn hạn mức đóng phí được xác định như sau:

    M

    Trường hợp đã đóng phí bảo hiểm cả năm, nhưng vào thời điểm nào đó phương tiện ngừng hoạt động

    Phí hoạt động

    Bài tập 5

    Chủ phương tiện tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự từ 1/1 năm N đến 31/12 năm N và đóng phí cả năm.Giả sử ngày 1/7 năm N chủ phương tiện đi nước ngoài để học 6 tháng , chủ phương tiện có thể yêu cầu công ty bảo hiểm hoàn lại phí đã đóng( Giả sử mức phí năm là 120.000 đ,tỷ lệ hoàn phí 80%).Vậy phí hoàn lại là bao nhiêu?

    Giải:

    Phí hoàn lại:

    Xác định tiền bồi thường

    Số tiền bồi thường = thiệt hại của bên thứ ba  mức độ lỗi của chủ phương tiện.

    Bài tập 6 (câu 2- chương 3- bài tập)

    Chủ xe tham gia bảo hiểm TNDS đối với người thứ ba.Mức trách nhiệm thỏa thuận:

    • Về người: 30 triệu đồng/ người/vụ
    • Về tài sản: 30 triệu đồng/vụ

    Giả sử trong một vụ tai  nạn gây ra cho một người đi đường, theo xác minh của cơ quan chức năng:

    • Lỗi chính thuộc về chủ xe:70%
    • Lỗi phụ thuộc về người đi đường: 30%

    Thiệt hại của người đi đường được tính toán hợp lí

    • Thiệt hại về người : 20 triệu đồng
    • Thiệt hại về xe : 4 triệu đồng

    Trách nhiệm bồi thường của chủ xe liên quan đến thiệt hại về người và về xe là bao nhiêu?

    Giải:

    Trách nhiệm bồi thường của chủ xe phát sinh lien quan đến

    • Thiệt hại về người: 70%× 20 triệu = 14 triệu đồng
    • Thiệt hại về xe: 70% × 4 triệu = 2,8 triệu đồng

    Trách nhiệm bồi thường của bảo hiểm

    • Về người là 14 triệu đồng
    • Về xe là 2,8 triệu đồng

    Bảo hiểm con người

    Bài tập 7( câu 48- chương 3- Bài tập)

    Một sinh viên đã tham gia bảo hiểm tai nạn thân thể học sinh 24/24 với số tiền bảo hiểm là 5 triệu đồng, mua vé đi từ Hà Nội về Vinh để nghỉ hè.Như vậy trong thời gian đi xe khách ,sinh viên này đã có them một bảo hiểm tai nạn hành khách( là loại bảo hiểm bắt buộc).Giả sử xảy ra một loại tai nạn xe khách làm cho sv này bị gãy tay và số tiền bảo hiểm tai nạn hành khách hiện hành là 10 triệu đồng/1 hành khách

    Sv sẽ nhận được tiền bảo hiểm từ bảo hiểm tai nạn học sinh, bảo hiểm tai nạn hành khách là bao nhiêu?

    Giải:

    SV này sẽ nhận được tiền bảo hiểm từ

    • Bảo hiểm tai nạn học sinh 24/24: 15% × 5 triệu = 750.000đ
    • Bảo hiểm tai nạn hành khách 15% × 10 triệu = 1.500.000đ

    Tổng cộng 2.250.000đ

    Bài tập 8

    Sinh viên ở bài tập trên ,trên đường đi học về bị một xe ô tô va phải làm gãy cánh tay.Các chi phí điều trị ở bệnh viện là 2 triệu đồng.Trong trường hợp này công ty bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm tai nạn cho học sinh với số tiền là bao nhiêu?

    Giải:

    Công ty bảo hiểm phải trả cho tiền bảo hiểm tai nạn học sinh với số tiền bảo hiểm là 750.000đ.Ngoài ra sinh viên trên còn được đòi bồi thường từ chủ xe ô tô là 2 triệu đồng

    Bài tập 9

    Số tiền bảo hiểm trong trường hợp bảo hiểm tai nạn khách du lịch là 10.000.000đ. Người được bảo hiểm bị tai nạn trong khi đi du lịch như thế nào? Phân tích các trường hợp nếu người được bảo hiểm bị chết,người được bảo hiểm bị gãy xương cánh tay( điều trị bình thường).

    Giải:

    Nếu người bảo hiểm bị chết thì gia đình họ chỉ nhận được tiền bảo hiểm là 10 triệu đồng cho dù địa vị xã hội và thu nhập của người được bảo hiểm có thế nào đi chăng nữa.

    Nếu người được bảo hiểm bị gãy xương cánh tay thì công ty bảo hiểm chỉ bồi thường 15% × 10 triệu = 1,5 triệu đồng

    Bảo hiểm xã hội

    Mức bình quân của tiêng lương tháng đóng BHXH

    Bài tập 10

    Một người lao động trong 5 năm cuối cùng ( đủ 60 tháng) trước khi nghỉ hưu có 20 tháng đóng BHXH theo mức lương 450.000 đồng/ tháng. 25 tháng đóng BHXH theo mức lương 500.000đồng/ tháng và 15 tháng đóng BHXH 580.000 ngàn / tháng.Tính mức bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH?

    Giải

    Mức bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH

    =( 20×450.00đ + 25× 500.000đ+ 15 580.000đ) / 60 tháng = 503.333 đồng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Tài liệu ôn tập Bảo hiểm

    Tài liệu ôn tập Bảo hiểm

    Tài liệu ôn tập Bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN BẢO HIỂM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%C3%A0i-li%E1%BB%87u-%C3%B4n-t%E1%BA%ADp-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tài liệu ôn tập Bảo hiểm

    Tài liệu ôn tập Bảo hiểm

    Kết cấu bài thi bảo hiểm gồm 2 câu lý thuyết và 1 bài tập

    Lý thuyết

    Câu 1: So sánh bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại

    Bảo hiểm xã hội là tổng thể những mối quan hệ kinh tế – xã hội giữa nhà nước với người lao động và người sử dụng lao động nhằm thay thế hoặc bù đắp 1 phần thu nhập cho người lao động và gia đình họ.Khi ngừơi lao động gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm dẫn tới bị giảm hoặc mất thu nhập, từ đó đảm bảo an sinh xã hội

    Bảo hiểm thương mại là quá trình lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người cùng có khả năng gặp 1 loại rủi ro nào đó lập nên và từ đó dùng để bồi thừong hoặc chi trả cho người tham gia. Khi đối tượng tham gia bh gặp phải rủi ro bất ngờ gây hậu quả thiệt hại và đáp ứng 1 só nhu cầu khác của họ

    So sánh:

    • Giống nhau:

    + về mục đích: đều nhằm mục đích ổn định cuộc sống, ổn định kd, tù đó góp phần đẩm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống của ngừoi dân.

    + Vai trò: giống nhau là

    Đều kích thích hoạt động đầu tư

    Huy động vốn đầu tư

    Phát triển kinh tế xã hội

    Tạo thểm nhiều công ăn việc làm…

    + Bảo hiểm XH và BHTM đều áp dụng nguyên tắc số đông bù số ít

    • Khác nhau:
    Nội dung BHXH BHTM
    1.Đối tượng Là thu nhập của ngừoi lao động Tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng, sức khỏe, tuổi thọ và những vấn đề liên quan tới con người
    2. Đối tượng tham gia Người lao động, người sử dụng lao động Tất cả các cá nhân tổ chức trong xã hội
    3.Nguồn hình thành quỹ Từ 3 nguồn: ngừoi lao đọng, người sử dụng lao đọng, và Nhà nước bù thểm và 1số nguồn khác như lãi từ hoạt động đầu tư, quỹ nhàn rỗi… Từ sự đóng góp từ phí bảo hiểm của các đối tượng tham gia tạo nên và được bổ sung 1 phần do quỹ nhàn rỗi, quỹ dự phòng nghiệp vụ….
    4.Mục đích sử dụng quỹ Chi cho 3 mục đích:

    –          Chi trả trợ cấp theo các chế độ bhxh mà quốc gia đó đang áp dụng. đây là mục đích chính nhất

    –          Chi quản lý sự nghiệp BHXH

    –          Chi cho dự phòng và chi cho hoạt động đầu tư

    Chi cho 5 mục đích:

    –          Để bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm cho khách hàng khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp rủi ro gây tổn thất

    –          Dự trữ, dự phòng

    –          Đề phòng hạn chế tổn thất

    –          Nộp ngân sách nhà nước dười hình thức thuế

    –          Chi phí quản lý và có lãi

    5. Cơ chế quản lý quỹ Quản lý theo cơ chế cân bằng thu chi không vì mục tiều lợi nhuận Được quản lý theo cơ chế hoạt động kinh doanh có lãi. Vì mục tiêu lợi nhuận
    6.Phí bảo hiểm Thường được xác định bằng số tương đối và căn cứ chủ yếu vào tiền lương của ngừoi lao động  hoặc quỹ lương của người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hôi Được xác định chính xác bằng số tuyệt đối trên cơ sở xác suất rủi ro của đối tượng bảo hiểm, phạm vi bảo hiểm. số tiền bảo hiểm , GTBH
    7. Tính chất và mức độ Có tính xã hội hóa cao Chủ yếu mang tính chất kinh tế
    8. Cơ quan quản lý -Cơ quan quản lý Nhà nước: Thừong do bộ lao động thương bình xã hội

    – Cơ quan quản lý sự nghiệp: Cơ quản bảo hiểm xã họi việt nam

    – Cơ quan quản lý nhà nước:Bộ tài chính và ngân hàng đảm nhận

    – Doanh nghiep quản lý sự nghiệp : là các doanh nghiệp bảo hiểm thuơng mai: Là ngừoi trục tiếp kinh doanh hoạt động này theo luật pháp của nhà nước (có thể là các công ty, các tap doàn bảo hiểm trong và ngòai nuớc…)

    Câu 2: Trình bầy đối tượng, phạm vi bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới

    Câu 3: Trình bầy đối tượng, phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3

    Câu 4: Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm con người

    Câu 5: Tác dụng của bảo hiểm con người

    Câu 6: Khái niệm và một số đặc điểm cơ bản của bảo hiểm nhân thọ

    Câu 7: Bảo hiểm con người phi nhân thọ, một số đặc điểm của bảo hiểm con người phi nhân thọ

    Câu 8: So sánh bảo hiểm nhân thọ với bảo hiểm con người phi nhân thọ

    ĐỊnh nghía Bảo hiểm nhân thọ, Bảo hiểm con ngừoi phi nhân thọ

    So sánh

    • Giống nhau: mục đích là đảm bảo cuộc sống…
    • Khác nhau
    Nôi dung BHNT BHcon nguời phi nhân thọ
    1. Đối tưong    
    2. Đối tượng tham gia    
    3. Thời hạn bảo hiểm    
    4. Nguyên tắc quản lý quỹ    
    5. Hình thức bảo hiểm Tự nguyên Bắt buộc và tự nguyện
    6. Phí bảo hiểm    
    7. Tính chất Vừa có tính tiết kiệm vừa có tính rủi ro Chỉ có tính rủi ro
    8. Dự phòng phí    

    Bài tập:

    Bỏ bài tập ở chương 7 Bảo hiểm con nguời

    Chú ý 5 bài tập ở trong tờ bài tập

    1. Ở phần bảo hiểm hàng hóa xnk, thân tàu, tnds chủ tầu chú ý bài tập 1 (ở ngày trang đầu tiên)phân bổ tổn thất chung, tổn thất riêng, các điều kiện loại A,B, C

    Bài tập 5 và 6. Giải quyết theo trách nhiệm chéo và trách nhiệm đơn

    2.Ở bảo hiểm xe cơ giới  bài 3 và bài 4. Chú ý hạn mức trách nhiệm bồi thường.

    Hết

     

    Ch­¬ng 7: Bảo hiểm con người

    I.Tổng quan về bảo hiểm con người:

    1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm con người

    – Trong mọi thời đại, mọi chế độ xã hội con người luôn được coi là nhân tố quyết định đến sự phát triển xã hội, là mục tiêu trung tâm của tất cả các nước trên thế giới cũng như toàn thể nhân loại. Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực con người trước hết phải đảm bảo được 2 vấn đề cốt lõi:

    + Đảm bảo cuộc sống cho họ về mặt thu nhập

    + Đảm bảo an toàn cho họ, bởi vì nhu cầu cuộc sống  thiết yếu và nhu cầu an toàn  mỗi người là những nhu cầu vĩnh cửu.

    Tuy nhiên, trong cuộc sống cũng như trong lao động sản xuất con ngừoi luôn gặp phải rủi ro: ốm đau,tai nạn, bệnh tật,tử vong

    Mặc dù, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng là loại bảo hiểm cho con người, tuy nhiên các loại bảo hiểm này có một số hạn chế như:

    • Đối tượng tham gia và thụ hưởng còn rất hẹp
    • Phạm vi bảo hiểm còn bó hẹp trong 9 chế độ
    • Mức thụ hửong còn thấp…

    Chính vì vậy, bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại ra đời là một tất yếu khách quan và thậm chí nó ra đời sớm hơn rất nhìeu so với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y té.Nhưng đặc biệt khi bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế ra đời thì các loại hình bảo hiểm con người trong bảo  hiểm thương mại lại càng phát triển hơn bao giờ hết.Mặc dù vậy, các loại hình bảo hiểm này hòan tòan không mâu thuẫn với nhau mà nó còn bổ sung cho nhau để đáp ứng ngày càng đa dạng nhu cầu tham gia của ngừoi tham gia bảo hiểm.

    • Tính tất yếu khách quan cuả bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại thể hiện ở chỗ:

    + Trong mỗi gia đình  nếu không may những người trụ cột trong gia đình bị ốm đau, bệnh tật, tử vong thì một loạt những vấn đề  phát sinh làm cho con người phải tìm đến các loại hình bảo hiểm.

    + Mỗi người khi về già đều phải tự lo cuộc sống của mình mặc dù họ được hưởng trợ cấp từ bảo hiểm xã hội nhưng mức trợ cấp thấp không đủ sống. Vì vậy, để giám gánh nặng phụ thuộc vào con cái và phúc lợi xã hội họ đã tìm đến các loại hình bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại

    + Các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế trong điệu kiện hiện nay muốn giữ chân những người trụ chốt, muốn tạo lập mối quan hệ gần gũi, gắn bó giữa người lao động với doanh nghiệp, họ đã tìm mọi cách để tăng thêm những quyền lợi cho họ, tạo cơ hội thăng tiến cho họ .(một trong những quyền lợi đó là mua bảo hiểm)

    Từ những lý do nêu trên mà bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại ngày càng phát triển với tốc độ cao trên phạm vi toàn thế giới.

    1. Vai trò của bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại

    – Cùng với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thỏa mãn ngày càng đa dạng, khách quan đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội

    – Vì đối tượng tham gia bảo hiểm rất rộng, đặc biệt là được phép bảo hiểm trùng cho nên đối tượng tham gia đã rộng nhưng được nhân lên gấp bội. Đây là kênh huy động vốn rất hữu hiệu cho các công ty bảo hiểm cũng như cho toàn bộ nền kinh tế.

    – Xét về mặt xã hội thì bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại ra đời còn tạo thêm công ăn việc làm, thực hành tiết kiệm, chống lạm phát

    – Giúp một số tổ chức kinh tế xã hội có điều kiện tham gia hợp đồng bảo hiểm nhóm cho người lao động để từ đó không những tăng thêm quyền lợi cho người lao động mà còn giải quyết được một loạt vấn đề liên quan đến các tổ chức kinh tế xã hội (đề phòng hạn chế tổn thất, giảm thiểu rủi ro, hạn chế những tình trạng khiếu kiện, khiếu nại không cần thiết liên quan đến luật pháp, đến trách nhiệm dân sự…)

    1. Nguyên tắc khóan trong bảo hiểm con người

    Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự áp dụng quy tắc bồi thường thiệt hại và thế quyền hợp pháp nhưng trong bảo hiểm con người người ta lại phải áp dụng nguyên tắc khóan vì đối tượng của bảo hiểm con người có liên quan đến tính mạng, sức khỏe, tuổi thọ.Với đối tượng này người ta không thể lượng hóa được bằng tiền vì nó là vô giá, cho nên khi triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại các doanh nghiệp bảo hiểm thường đưa ra các hạng mức số tiền bảo hiểm khác nhau để đáp ứng nhu cầu của người tham gia. Tham gia bảo hiểm với số tiền nào thì mức phí sẽ tương ứng  với số tiền đó cho nên thực chất đây là một số tiền được khóan trước cho các nhà bảo hiểm. Đổi lại nhà bảo hiểm sẽ nhận được mức phí tương ứng với số tiền đó. Số tiền bảo hiểm mà người tham gia lựa chọn khi ký kết hợp đồng bảo hiểm thường phụ thuộc vào 2 yếu tố chủ yếu:

    • Khả năng tài chính của họ
    • Nhu cầu của họ trong tương lai

    Đây là 2 vấn đề rất lớn mà các tư vấn viên bảo hiểm (đại lý bảo hiểm) phải nắm bắt được thong qua quá trình tiếp xúc với khách hàng, tư vấn và gợi mở cho họ

    Mặc dù bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại áp dụng nguyên tắc khoán song vẫn còn có một nghiệp vụ áp dụng nguyên tắc bồi thường thiệt hại như nghiệp vụ bảo hiểm nằm viện phẫu thuật, bảo hiểm chi phí y tế…

    1. Phân loại bảo hiểm con người
    2. Căn cứ vào thời gian bảo hiểm:

    Chia bảo hiểm thành 2 loại

    Bảo hiểm ngắn hạn và bảo hiểm dài hạn

    Bảo hiểm ngắn hạn  thường dười 1 năm

    Bảo hiểm dài hạn thường trên 1 năm

    – Cách phân loại này sẽ giúp người tham gia bảo hiểm xác định đúng nhu cầu tham gia của mình để dễ dàng lựa chọn loại hình bảo hiểm và sản phẩm bảo hiểm

    Đối với doanh nghiệp bảo hiểm sẽ giúp họ soạn thảo được các quy tắc bảo hiểm đúng đắn phù hợp với từng loại khách hàng đồng thời còn giúp các tư vấn viên bảo hiểm cung cấp chính xác các thông tin về hợp đồng bảo hiểm

    1. Căn cứ vào hình thức bảo hiểm: người ta chia bảo hiểm con người ra làm 2 loại:

    Bảo hiểm con người bắt buộc

    Và bảo hiểm con người tự nguyện

    Trong đó bảo hiểm con người tự nguyện là chủ yếu song cũng có một số nghiệp vụ thực hiện bắt buộc

    Cách phân loại này:

    • Giúp khách hàng ý thức được việc chấp hành luật pháp của mình
    • Giúp doanh nghiệp bảo hiểm có định hướng triển khai từng nghiệp vụ
    • Giúp các cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm và các cơ quan khác có liên quan ban hành được những chính sách đúng đắn và kiểm tra việc thực hiện chính sách về bảo hiểm đồng thời góp phần thực hiện công tác xã hội hóa về bảo hiểm
    1. Căn cứ vào việc quản lý quỹ người ta chía bảo hiểm con người ra làm 2 loại:

    Loại 1: Bảo hiểm con người quản lý theo kỹ thuật phân chia nghĩa là phí bảo hiểm thu được hình thành nên quỹ và nguồn phí này lại được phân chia ra các quỹ thành phần để quản lý. Mỗi loại quỹ đều được cân đối ngay trong  năm tài chính

    Loại 2: Bảo hiểm con người quản lý theo kỹ thuật tồn tích nghĩa là phí bảo hiểm thu được đem tồn tích lại qua nhiều năm, nhà bảo hiểm không được chi dùng hết mà phải dùng trong nhiều năm

    Cách phân loại này giúp các doanh nghiệp bảo hiểm trích lập được quỹ dự phòng nghiệp vụ chính xác theo đúng pháp luật đồng thời giúp cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm kiểm tra giám sát chặt chẽ việc quản lý quỹ của tất cả loại hình kinh doanh rủi ro

    1. Căn cứ vào tính chất của rủi ro: Người ta chía bảo hiểm con người ra làm 2 loại:

    Loại 1: Bảo hiểm nhân thọ

    Loại 2 : Bảo hiểm Phi nhân thọ

    Cách phân loại này gíup:

    • Giúp các cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm hoạch định các chính sách về bảo hiểm và tổ chức thực hiện chính sách , đặc biệt là giúp phân định và quản lý tốt về thị trường bảo hiểm cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại.
    • Giúp các doanh nghiệp hoạch định được chiến lược kinh doanh của mình, xây dựng được các quy tắc thiết kế các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với từng loại hình bảo hiểm
    • Đối với khách hàng cách phân loại này cũng có ý nghĩa rất lớn là giúp họ nhận biết được từng loại hình bảo hiểm, từng loại sản phẩm bảo hiểm mà mình cần mua.

    II. Bảo hiểm con người phi nhân thọ

    1. Đặc điểm

    Các lọai hình bảo hiểm phi nhân thọ chỉ có tính rủi ro chứ không có tính tiết kiệm bởi vậy mà các mức phí của loại hình bảo hiểm này thường rất thấp và nó rất phù hợp với loại hình bảo hiểm nhóm

    • Thời hạn bảo hiểm thường ngắn (thông thường dưới 1 năm, chính vì vậy các doanh nghiệp bảo hiểm quản lý theo kỹ thuật phân chia nghĩa là sau khi thu phí bảo hiểm hình thành quỹ và quỹ này được chia thành các loại quỹ khác nhau như quỹ bồi thường chi trả…Cuối mỗi năm nghiệp vụ có thể thanh toán được ngay mức độ lỗ (lãi)
    • Hình thức bảo hiểm có thể bắt buộc hoặc tự nguyện nhưng chủ yếu là tự nguyện
    • Các nghĩa vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ thường ra đời trước bảo hiểm nhân thọ
    • Các nghĩa vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ thường được làm điều khoản bổ sung cho bảo hiểm nhân thọ
    1. Các nghiệp vụ bảo hiểm con ngừoi phi nhân thọ
    2. Bảo hiểm sinh mạng cá nhân: đây là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ ra đời sớm nhất.

    Mục đích: Góp phần ổn định cuộc sống của gia đình và người thân sau cái chết của người được bảo hiểm

    – Đối tượng tham gia: Thường bảo hiểm tất cả những người từ 18 đến 60 tuổi. Tuy nhiên, những người từ 61 đến 65tuổi muốn tham gia thì phải tham gia liên tục 1 số năm trước đó nhất định.

    Tuy nhiên những trường hợp sau không được tham gia: Những người mắc bệnh hiểm nghèo, tàn tật hoặc đang điều trị trong bệnh viện, chiến tranh, nội chiến, khủng bố…

    • Thời hạn bảo hiểm dưới 1 năm
    • Số tiền bảo hiểm: thường được quy định ở các mức khác nhau cho phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của người tham gia.
    • Phí bảo hiểm : P= f+d

    Phi b¶o hiÓm phụ thuộc chủ yếu vào số tiền bảo hiểm  và độ tuổi, ngành nghề công tác.

    • Nếu người tham gia bảo hiểm bị chết trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng thì số tiền chi trả bằng số tiền bảo hiểm
    1. Bảo hiểm tai nạn 24/24

    – Mục đích: giúp các cơ quan doanh nghiệp (người lao động) làm việc ở những ngành nghề, những lĩnh vực công tác dễ xảy ra tai nạn tham gia bảo hiểm. Từ đó góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân cũng như gia đình họ.

    – Đối tượng: thường bao gồm tất cả người từ 18 đến 60 t

    Những trường hợp bị tàn tật, những người đang điều trị trong bệnh viện …thì không tham gia bảo hiểm

    • Phạm vi bảo hiểm thường được quy định như sau:

    + Bị tai nạn do các nguyên nhân khác nhau như: những người tự thương hoặc cố tình gây tai nạn, vi phạm pháp luật, nhà bảo hiểm không tiến hành bồi thường.

    – Thời hạn bảo hiểm: dưới 1 năm và trong  1 ngày 24/24

    – Số tiền bảo hiểm: Được quy định ở các mức khác nhau để người tham gia dễ lựa chọn

    – Phí bảo hiểm : p= f +d

    • Việc tiến hành bồi thường được tính như sau:

    + Nếu bị tại nạn sau đó bị chết thì số tiền bt= số tiền bảo hiểm

    + Nếu bị tai nạn phải nằm viện điều trị phẫu thuật thì số tiền bồi thường= số tiền bảo hiểm * tỷ lệ thương tật (thông qua giám định y khoa)

    + Nếu bị tai nạn, nhà bảo hiểm đã bồi thường nhưng sau đó bị chết trong vòng 1 năm  kể từ ngày tham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm chi trả nốt phần chênh lệch ( giữa số tiền bảo hiểm với số tiền đã bồi thường)

    1. Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật

    – Mục đích: giúp người dân có điều kiện tham gia bảo hiểm để tiếp cận được  với những dịch vụ khám chữa bệnh hiện đại  nhằm đảm bảo cuộc sống cho họ để từ đó góp phần đảm bảo công bằng trong xã hội

    – Đối tượng tham gia: Bao gồm tất cả những người từ tròn 1 – 65t. Tuy nhiên những người mắc bệnh hiểm nghèo, những người tàn tật suy giảm 50% sức khỏe trở lên, nằm viện điều trị …thì không được bảo hiểm.

    – Phạm vi bảo hiểm: bị ốm đau, bệnh tật, nằm viện điều trị hoặc phẫu thuật

    Tuy nhiên những trường hợp sau không được bảo hiểm:

    + Điều trị bệnh bẩm sinh

    + Điều dưỡng, an dưỡng, chỉnh hình, thẩm mỹ

    + Những người điều trị phục hồi chức năng hoặc kế hoạch hóa gia đình

    • Thời hạn bảo hiểm:1 năm
    • Số tiền bảo hiểm được quy định ở các mức khác nhau để người tham gia dễ lựa chọn
    • Phí bảo hiểm: P=f+d
    • Nghiệp vụ bảo hiểm này nhà bảo hiểm áp dụng nguyên tắc bồi thường thiệt hại chứ không áp dụng nguyên tắc khoán. Chính vì vậy, việc chi trả bồi thường được tiến hành như sau:

    + Nếu người tham gia bảo hiểm phải nằm viện điều trị. Nhà bảo hiểm chi trả tòan bộ những chi phí liên quan

    + Nếu người tham gia bảo hiểm phải phẫu thuật, nhà bảo hiểm căn cứ  vào phác đồ điều trị  phẫu thuật để bồi thường

    + Những người tham gia bảo hiểm không may bị chết nhà bảo hiểm chi trả toàn bộ chi phí mai tang…

    Đương nhiên số tiền bảo hiểm không bao giờ vượt quá số tiền bảo hiểm

    • Chú ý: 3 nghiệp vụ bảo hiểm nói trên hiện nay đã được triển khai ở Việt Nam đồng thời tất cả các công ty bảo hiểm phi nhân thọ đều tiến hành triển khai kết hợp và được gọi chung là bảo hiểm kết hợp con người (bảo hiểm hỗn hợp con người ). Hiện nay, loại hình bảo hiểm tòan diện học sinh cũng được triển khai kết hợp  giống như bảo hiểm kết hợp con người.
    1. Bảo hiểm tai nạn hành khách: Đây cũng là một trong những loại hình bảo hiểm phi nhân thọ rất điển hình ở Việt Nam cũng như trên thế giới và đều quy định bắt buộc .
    • Mục đích:

    + Góp phần ổn định cuộc sống cho gia đình hành khách không may bị tai nạn

    + Giúp chính quyền các địa phương nơi xảy ra tai nạn kịp thời, nhanh chóng khắc phục hậu quả của vụ tai nạn.

    + Nghiệp vụ này góp phần đảm bảo an sinh giáo dục.

    • Đối tượng tham gia: Tất cả các hành khách đi trên các phương tiện giao thông công cộng có vé hoặc được miễn giảm gía vé.
    • Phạm vi bảo hiểm: Bị tai nạn do các nguyên nhân khác nhau trừ các trường hợp sau đây:

    + Bị trúng gió, ngộ độc thức

    + Vi phạm pháp luật

    • Số tiền bảo hiểm: cũng được quyết định thống nhất ở một mức nhất định trong 1 thời kỳ nhất định, riêng hành khách đi bằng máy bay chính phủ phải quyết định bằng hạn mức tối thiểu quốc tế (20000$/1 hành khách)
    • Thời hạn bảo hiểm: tính từ lúc hành khách bước lên các phương tiện đến khi xuống bến, sân ga, sân bay cuối cùng ghi trên vé.

    5 loại giao thông công cộng: taù hỏa, tàu thủy,máy bay, ôtô, phà…

    Vì đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc nên phí bảo hiểm tính ngay vào giá vé.

    – Phí bảo hiểm :P=f+d

    • Việc tiến hành bồi thường chi trả

    + Nếu hành khách bị tai nạn sau đó chết thì số tiền bồi thừơng= số tiền bảo hiểm

    + Nếu hành khách bị tai nạn phải nằm viện phẫu thuật thì số tiền bồi thừong= số tiền bảo hiểm* tỷ lệ thương tật(qua giám định y khoa)

    + Nếu bị tai nạn, nhà bảo hiểm đã bồi thường nhưng sau đó bị chết thì nhà bảo hiểm bồi thường nốt phần chênh lệch  giữa số tiền bảo hiểm và số tiền đã bồi thường.

    1. Bảo hiểm du lịch

    Đặc điểm của ngành du lịch tác động đến việc triển khai bảo hiểm

    • Du lịch là 1 trong những ngành dịch vụ phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển và mức thu nhập của người dân ngày càng cao thì nhu cầu đi du lịch của người dân ngày càng tăng lên nhanh chóng.
    • Nhìn chung, khách du lịch kế cả trong nước và nước ngòai là một bộ phận dân cư có mức thu nhập từ khá trở lên. Cho nên nếu hoạt động du lịch và những ngành có liên quan đến nó phát triến sẽ kích cầu khách tham gia du lịch.
    • Xét về mặt tâm lý: Người dân hoặc khách nước ngòai đi tham quan du lịch thì nhu cầu của họ là muốn thuận tiện, an tòan còn vấn đề tiền bạc không là vấn đề lớn
    • Nếu các cơ sở, địa phương có hoạt động du lịch cung như ngành du lịch biết phát huy lợi thế là phối hợp giữa tất cả các ngành, các lĩnh vực thì sẽ phát huy được tối đa tiềm năng du lịch của mình kéo theo đó sẽ làm cho tất cả các ngành dịch vụ khác phát triển. Bởi vậy, tất cả các nước trên thế giới hiện nay đã có phong trào tòan dân làm du lịch.
    • Kinh nghiệm của các nước trên thế giới làm du lịch hiện nay thì các công ty lữ hành bao giờ cũng phối hợp rất chặt chẽ với các ngành bảo hiểm, vận tải, ngân hàng, tài chính và chính quyền địa phương nơi có địa điểm du lịch trong đó bảo hiêm là lĩnh vực có quan hệ chặt chẽ nhất với ngành du lịch

    * Nội dung của nghiệp vụ bảo hiểm du lịch

    – Hiện nay các công ty bảo hiểm ở việt nam khi triển khai nghiệp vụ này đều chia ra 2 nhóm bảo hiểm khách du lịch trong nước và bảo hiểm người nước ngoài đến việt nam du lịch.

    – Đối tượng và phạm vi bảo hiểm:

    +  Là người dân trong nước đi du lịch trong nước hoặc du lịch nước ngoài

    + Người nước ngoài đi du lịch ở việt nam (tham quan, hội thao, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao) ăn nghỉ tại khách sạn (đối tượng tham gia bảo hiểm)

    Còn thực chất đối tượng bảo hiểm là tính mạng, tình trạng sức khỏe của các đối tượng tham gia nói trên. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn có 1 đặc điểm nói riêng là bảo hiểm tài sản cho khách du lịch

    • Thời hạn bảo hiểm thường bắt đầu từ khi khởi hành chuyến đi đến khi chuyến đi hoàn tất theo địa điểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm
    • Phạm vi bảo hiểm:
    • Đối với người dân trong nước : phạm vi bảo hiểm là các rủi ro gây thương tật thân thể, chết do ốm đau bệnh tật bất ngờ hoặc hành động cứu người, cứu tài sản của nhà nước và của người dân.
    • Đối với khách nước ngoài đến việt nam du lịch, phạm vi bảo hiểm giống như trên. Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm việt nam còn mở rộng thêm phạm vi bảohiểm bao gồm: Mất mát hành lý, vật dụng cá nhân mang theo người, mất nguyên kiện hành lý gửi theo chuyến hành trình

    Những trường hợp sau đây không thuộc phạm vi bảo hiểm:

    + Vi phạm pháp luật và nội quy của cơ quan hoặc chính quyền địa phương nơi du lịch

    + Bị tai nạn do ảnh hưởng của rượu bia, ma túy

    + Mất tiền, vàng bạc, đá quý, hộ chiếu, séc

    • Quyền lợi bảo hiểm:
    • Đối với người dân trong nước nếu chết do tai nạn, nhà bảohiểm chi trả tòan bộ số tiền bảo hiểm

    Nếu chết do ốm đau, bệnh tật, nhà bảo hiểm chi trả 50% số tiền bảo hiểm

    Nếu bị thương tật do tai nạn, nhà bảo hiểm chi trả theo bảng tỷ lệ thương tật(do bản thân các công ty xây dựng)

    • Đối với người nước ngòai đến du lịch ở việt nam nếu bị thương tật toàn bộ và bị tai nạn chết nhà bảo hiểm chi trả toàn bộ số tiền bảo hiểm

    Nếu bị chết không do tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm chi trả chi phí mai táng, hồi hương

    Nếu bị ốm đau do tai nạn phải điều trị doanh nghiệp bảo hiểm chi trả toàn bộ chi phí phát sinh

    Đối với tài sản hành lý bị mất. Doanh nghiệp bảo hiểm chi trả theo giá thực tế tại thời điểm bị mất,

    Nếu bị hư hỏng thanh toán chi phí  thay thế và sửa chữa

    Riêng về hành lý và tài sản cá nhân, doanh nghiệp chi trả tối đa 20% số tiền bảo hiểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm.

    • Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
    • Số tiền bảo hiểm do bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm quy định ở các mức khác nhau để đáp ứng nhu cầu của người tham gia.Kinh nghiệm của các nước cho thấy khi xác định số tiền bảo hiểm trong nghiệp vụ này cần tính đến 3 yếu tố sau:

    + Điều kiện kinh tế xã hội và mức trách nhiệm của mỗi người dân trong mỗi thời kỳ

    + Loại hình du lịch(tham quan, hội nghị, nghỉ ngơi, an táng, thi đấu thể thao)

    + Thời gian du lịch (thời hạn bảo hiểm)

    – Phí bảo hiểm du lịch phụ thuộc chủ yếu vào số tiền bảo hiểm, vào loại hình bảo hiểm du lịch và thời gian tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên, xác định chính xác mức phí thuần cần phải căn cứ vào tài liệu thống kê về số tiền bồi thường 1 số năm trước  đó, từng loại hình bảo hiểm, từng loại du khách và từng hạn mức số tiền bảo hiểm.

    Đối với bảo hiểm tài sản của du khách thì số tiền bảo hiểm được xác định theo giá trị thực tế

    * Thủ tục giải quyết bồi thường

    Khi rủi ro xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm hoặc người đại diện cần thông báo ngay cho doanh nghiệp biết và doanh nghiệp  phải có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng làm thủ tục. Vấn đề này doanh nghiệp bảo hiểm cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan du lịch  hoặc khách sạn, nhà nghỉ…

    • Nếu khách hàng tham gia bảo hiểm bị thiệt hại về người do ốm đau, tai nạn cần phải có biên bản, thủ tục, các chứng từ y tế có liên quan
    • Nếu thiệt hại về hành lý và vật dụng cá nhân cần phải có bằng chứng bị mất và biên bản kê khai chi tiết, với khách nước ngòai cần phải có giấy tờ hải quan

    –      Đối với khách nước ngòai, nếu hành lý bị thiệt hại do cháy nổ, phương tiện đâm va, lật chìm, rơi, bị mất nguyên kiện hàng trên chuyến hành trình nhà bảo hiểm cần lưu ý các nghiệp vụ khác có liên quan để giải quyết cho du khách 1 cách nhanh chóng, thuận lợi;

    • Đối với tài sản và hành lý, nhà bảo hiểm thường quy định mức miễn thường là 10$

    Mặc dù bảo hiểm du lịch cũng là 1 loại hình bảo hiểm con người phi nhân thọ nhưng lại được kết hợp với loại hình bảo hiểm tài sản. Bởi vậy, khi xây dựng quy tắc bảo hiểm giải quyết quyền lợi và thủ tục bảo hiểm, nhà bảo hiểm dứt khoát phải có một quy tắc riêng cho nghiệp vụ này, đồng thêi ph¶I tham chiÕu c¸c ®iÒu luËt kh¸c cã liªn quan. Cã nh­ vËy, míi h¹n chÕ ®ùoc t×nh tr¹ng khiÕu kiÖn kh«ng cÇn thiªt

    III. Bảo hiểm nhân thọ

    1. Khái quát chung về bảo hiểm nhân thọ: Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm bảo hiểm cho 2 sự kiện trái ngược nhau đó là sống và chết

    Hoặc: Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa 2 bên mà trong đó một bên đồng ý chi trả tiền bảo hiểm cho bên kia khi có các sự kiện xảy ra đối với người được bảo hiểm. Đổi lại họ sẽ nhận được mức phí tương ứng theo như quy định trong hợp đồng

    Hoặc: Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm liên quan trực tiếp đến tuổi thọ của con người. Bảo hiểm nhân thọ là một trong những loại hình bảo hiểm thương mại ra đời rất sớm

    • Người mua bảo hiểm nhân thọ đầu tiên vào năm 1583: là một công dân nước anh mua với số tiền bảo hiểm 45 bảng anh.
    • Công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời năm 1759
    • 1762 , một công ty bảo hiểm nhân thọ ra đời đầu tiên ở nước anh và bán bảo hiểm cho mọi người dân trong xã hội.Đây là mốc thời gian quan trọng đánh dấu sự ra đời 1 ngành nghề đó là kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

    Ở Việt nam bảo hiểm nhân thọ đựoc triển khai từ tháng 8 năm 1996. Bảo hiểm nhân thọ có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế:

    + Làm cho thị trường bảo hiểm phát triển toàn diện

    + Đối với mỗi cá nhân và gia đình trong xã hội  bảo hiểm nhân thọ ra đời đã giúp họ tiết kiệm được chi tiêu từ ngân sách gia đình để tạo lập các quỹ có liên quan như quỹ an sinh giáo dục, đầu tư mua sắm, trả nợ…Đặc biệt, tiết  kiệm khi mua bảo hiểm nhân thọ là loại hình tiết kiệm ngay trong nội bộ ngân sách của mỗi gia đình, mỗi cá nhân cho nên đây là loại hình tiết kiệm rất hiệu quả. Ngoài ra, bảo hiểm nhân thọ ra đời còn tạo lập một nếp sống văn minh, lành mạnh, giúp mọi người quan tâm đến nhau hơn

    + Đối với các cơ quan doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ra đời cũng có tác dụng về mặt giữ chân cán bộ chủ chốt và tạo lập mối quan hệ gắn bó hơn giữa các doanh nghiệp  và người lao động thông qua hợp đồng bảo hiểm nhóm.

    + Đối với xã hội: Bảo hiểm nhân thọ ra đời là loại hình tạo ra nhiều công ăn việc làm nhất cho xã hội đổng thời nó góp phần tiết kiệm chống lạm phát và cũng là  loại hình bảo hiểm hỗ trợ đắc lực cho an sinh xã hội (hỗ trợ cho tuổi già, những hòan cảnh éo le, bất hạnh khi những người chủ chốt bị chết…)

    1. Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ

    – Bảo hiểm nhân thọ vừa có yếu tố tiết kiệm vừa có yếu tố rủi ro. Bởi vậy khi nền kinh tế phát triển ổn định lạm phát một con số thì nhu cầu tham gia bảo hiểm ngày càng tăng nhanh

    – Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm đa mục đích nghĩa là nó đáp ứng được những mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm: GĐ con cái, khởi nghiệp kinh doanh, mua sắm tài sản, trả nợ. Cho nên khách hàng của bảo hiểm nhân thọ ngày càng đông đảo

    – Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng rất đa dạng, phong phú do đó hợpđồng bảo hiểm nhân thọ cũng bao gồm rất nhiều loại khác nhau. Chính vì vậy, việc quản lý hợp đồng là rất khó khăn phức tạp.

    – Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm dài hạn; tối thiểu 5 năm trở lên, cho nên việc tính phí bảo hiểm nhân thọcung rất khó khăn phức tạp, đồng thời phải dựa vào một số giả định cần thiết  khi tính phí ( như lạm phát một con số, dòng tiền tệ trong nền kinh tế luân chuyển ổn định,  cơ sở hạ tầng phát triển, chính trị xã hội ổn định…)

    – bảo hiểm nhân thọ chỉ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định ( ví dụ cơ sở hạ tầng phải phát triển, nền kinh tế phải có tốc độ phát triển nhanh và ổn định, trình độ dân trí về bảo hiểm phải tương đối cao…)

    1. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ:
    2. Bảo hiểm nhân thọ tử vong: chia làm 2 loại

    * Loại 1: Bảo hiểm tử kỳ

    – Mục đích tham gia bảo hiểm tử kỳ

    Góp phần ổn định cuộc sống của gia đình và người thân sau cái chết của người được bảo hiểm

    – Đặc điểm:

    + Thời hạn bảo hiểm luôn luôn xác định, phí bảo hiểm thường rất thấp nên phù hợp với hợp đồng bảo hiểm nhỏ và phí thường nôp một lần  ngay sau khi ký hợp đồng.

    + Số tiền bảo hiểm được trả 1 lần khi người được bảo hiểm bị chết trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng. Nếu không chết không được chi trả gì

    – Bảo hiểm từ kỳ bao gồm 7 loại chính sau:

    + Bảo hiểm tử kỳ cố định: nghĩa là phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm cố định không thay đổi trong suốt thời hạn hợp đồng.

    + Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi: nghĩa là bên tham gia có quyền chuyển đổi từ loại này sang loại khác và nhà bảo hiểm vẫn chấp nhận để đáp ứng nhu cầu của bên tham gia.

    + Bảo hiểm tử kỳ có một bộ phận số tiền bảo hiểm giảm dần mục đích là để mua hàng trả góp, mua tài sản trả góp.

    + bảo hiểm tử kỳ có số tiền bảo hiểm tăng dần theo thời gian mục đích là khắc phục tình trạng lạm phát của đồng tiền.

    + Bảo hiểm thu nhập gia đình: mục đích là ổn định cuộc sống gia đình sau khi người tạo ra thu nhập chết.

    + bảo hiểm thu nhập gia đình có số tiền bảo hiểm tăng dần theo thời gian nhằm 2 mục đích

    • Khắc phục tình trạng lạm phát
    • Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mỗi gia đình

    + Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện nghĩa là bên tham gia bảo hiểm có quyền đặt ra các điều kiện đối với các nhà bảo hiểm  và nhà bảo hiểm vẫn chấp nhận, điều kiện bảo hiểm ở đây thường  là người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm phải còn sống hoặc ở nước khác hoặc là một tập thể  hoặc người thụ hưởng phải được sắp xếp  theo trật tự ưu tiên…

    * Loại 2

    Bảo hiểm nhân thọ trọn đời:

    – Mục đích:

    Bảo hiểm nhân thọ trọn đời là một trong những loại hình  bảo hiểm cổ điển nhất, lâu đời nhất. Bởi vậy, cho đến nay mục đích của loại hình bảo hiểm này  được người ta khẳng định:

    + Góp phần ổn định cuộc sống của gia đình và người thân sau cái chết của người được bảo hiểm

    + Mua sắm tài sản và giữ gìn tài sản cho thế hệ sau

    + Khởi nghiệp kinh doanh

    + Trả nợ và vay thế chấp

    – Đặc điểm

    + Thời hạn bảo hiểm không xác định

    +  Số tiền bảo hiểm được trả bất cứ khi nào khi người được bảo hiểm bị chết

    + Phí bảo hiểm thường khá cao vì người được bảo hiểm chắc chắn chết

    + bảo hiểm nhân thọ trọn đời cũng có thể nộp phí một lần hoặc nộp phí liên tục cho đến khi chết

    Loại hình bảo hiêm nhân thọ trọn đời cũng có thể nộp phí 1 lần là loại hình bảo hiểm cổ điển nhất, mức phí rất cao.

    Bảo hiểm trọn đời bao gồm các loại sau:

    • Bảo hiểm nhân thọ trọn đời có tham gia chia lãi
    • Bảo hiểm nhân thọ trọn đời không tham gia chia lãi
    • Bảo hiểm nhân thọ trọn đời phí nộp một lần
    • Bảo hiểm nhân thọ trọn đời phí nộp liên tục. Loại này nhà bảo hiểm nhân thọ thiết kế phí nộp liên tục định kỳ theo tháng, quý, năm hoặc phí nộp liên tục theo 1 khoảng cách thời gian nhất định (5 năm, 10 năm) hoặc đóng phí đến một độ tuổi nhất định, qua độ tuổi đó nếu còn sống không phải nộp phí nữa nhưng vẫn đựợc bảo hiểm đến khi chết…
    1. Bảo hiểm sinh kỳ

    là loại hình bảo hiểm trong trường hợp sống, loại này cũng được chia thành 2 loại khác nhau

    * bảo hiểm sinh kỳ thuần túy: Loại này hòan toàn giống gửi tiền tiết kiệm cho nên cho đến nay hầu như các nhà bảo hiểm không triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này nữa

    * Bảo hiểm trợ cấp định kỳ: (H­u trÝ)

    – Mục đích

    + Đảm bảo ổn định cuộc sống khi về già

    + Giảm nhẹ gánh nặng phụ thuộc vào con cái và phúc lợi xã hội

    – Đặc điểm

    + Loại hình bảo hiểm này rất phù hợp với những ngừoi về hưu hoặc đến độ tuổi về hưu

    + Phí bảo hiểm thường đóng một lần khi ký hợp đồng

    + Số tiền bảo hiểm được trợ cấp định kỳ (tháng, qúy, năm) nên mỗi lần trợ cấp không thay đổi  và người bảo hiểm bị chết thì cũng hết trợ cấp

    + Thời hạn bảo hiểm có thể xác định hoặc không xác định

    • Nếu xác định người ta gọi là bảo hiểm niên kim nhân thọ tạm thời
    • Nếu không xác định người ta gọi là bảo hiểm niên kim nhân thọ trọn đời
    1. Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

    – Mục đích:

    + Góp phần ổn định cuộc sống và người thân sau cái chết của người được bảo hiểm

    + Tiết kiệm để tạo lập quỹ giáo dục con cái mua sắm tài sản, vay thế chấp, khởi nghiệp kinh doanh, cứoi xin…

    – Đặc điểm

    + Phí bảo hiểm có thể nộp một lần hoặc định kỳ

    + Thời hạn bảo hiểm luôn luôn xác định

    + Số tiền bảo hiểm được trả bất cứ khi nào khi người được bảo hiểm bị chết hoặc khi đáo hạn hợp đồng người được bảo hiểm còn sống.

    + Đây là loại hình bảo hiểm vừa có tính tiết kiệm vừa có tính rủi ro bởi vậy phí bảo hiểm thường khá cao

    + Loại hình bảo hiểm này là loại hình bảo hiểm nhân thọ rất cơ bản và bất kỳ quốc gia nào khi đã triển khai bảo hiểm nhân thọ thì đều triển khai loại hình này. Đặc biệt là loại hình bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp là loại hình rất dễ dàng đa dạng hóa sản phẩm

    1. Các điều khoản bổ sung

    Khi tiến hành đa dạng hóa các loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ để thực hiện cạnh tranh, để tạo ra những nét mới và sự khác biệt với đối thủ, nhà bảo hiểm nhân thọ còn sử dụng các điều khỏan bổ sung một cách hết sức linh hoạt. Thông thường, có một số điều khoản bổ sung sau đây được sử dụng

    • Bảo hiểm tai nạn
    • Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật
    • Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo

    Nếu đứng một mình thì các điều khoản bổ sung nói trên có mức phí rất thấp bởi vì chúng chỉ thuần túy có tính rủi ro , nhưng khi được kết hợp với các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản mức phí tăng lên  không đáng bao nhiêu nhưng khách hàng cảm giác quyền lợi của mình được tăng lên rất nhiều. Ngày nay, các công ty bảo hiểm nhân thọ còn sử dụng các điều khoản bổ sung khác mang tính văn hóa giáo dục nhiều hơn.

    1. Phí bảo hiểm nhân thọ
    2. a. Nguyên tắc định phí bảo hiểm nhân thọ

    Bảo hiểm nhân thọ là loại hình vừa có tính tiết kiệm, vừa có tính rủi ro, thời hạn bảo hiểm lại rất dài, bởi vậy việc định phí bảo hiểm nhân thọ là vô cùng khó khăn, phức tạp cho nên trước hết  tòan bộ quá trình định phí phải tuân thủ 4 nguyên tắc cơ bản

    • Phí bảo hiểm nhân thọ phải xác định sao cho nhà bảo hiểm có số thu đủ bù đắp số chi đồng thời phải có mức lãi hợp lý
    • Phí bảo hiểm nhân thọ khi xác định phải dựa vào những cơ sở khoa học nhất định mà cơ sở khoa học ở đây chủ yếu là bảng tỷ lệ tử vong và luật số lớn trong thống kê toán. Nếu không đảm bảo được những cơ sở khoa học này thì về lâu dài chắc chắn sẽ xảy ra 2 trường hợp:

    + Công ty không đảm bảo yếu tố cạnh tranh

    + Sẽ gặp khó khăn vè tài chính khi cân đối quyết toán hàng năm và những năm sau nữa.

    • Khi xây dựng phí bảo hiểm nhân thọ cần phải chọn lựa 1 số giả định sau đây

    + Bảng tỷ lệ tử vong lựa chọn để định phí phải sát thực tế

    + Lạm phát một con số và dòng tiền tệ luân chuyển ổn định

    + Tình hình chính trị và xã hội ổn định

    + Không có hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bị hủy bỏ

    Sở dĩ phải giả định những yếu tố đó là vì thời hạn của mỗi hợp đồng, mỗi sản phẩm rất dài cho nên không thể tránh khỏi sự tác động của các nhân tố đó

    • Phí bảo hiểm phải xác định sao cho bảo đảm yếu tố cạnh tranh cho công ty qua mỗi thời kỳ phát triển của thị trường bảo hiểm. Đây là một nguyên tắc rất nhạy cảm và cần phải năng động  khi vận dụng.

    Phải chăng trong thời kỳ đầu có thể hạ phí để thu hút khách hàng (thậm chí nhà bảo hiểm có thể thua lỗ)?

    Phải chăng phải tăng phí bởi vì thị trường chưa có đối thủ cạnh tranh hoặc đối thủ cạnh tranh ít, yếu?

    Phải chăng phải hạ phí  và tăng phí cho từng loại sản phẩm cho phù hợp để đáp ứng được nhu cầu cạnh tranh?

    1. Bảng tỷ lệ tử vong
    • Là một hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình tử vong của từng độ tuổi. Xét về bản chất nếu chúng ta quan sát một người ở một độ tuổi nào đó chúng ta không thể biết được là họ bị chết khi nào nhưng nếu ta quan sát một tập hợp người đủ lớn ở một độ tuổi nào đó người ta có thể xác định chắc chắn rằng xác suất chết của những người ở độ tuổi đó là bao nhiêu. Bởi vậy, đây là cơ sở rất quan trọng để xây dựng bảng tỷ lệ tử vong.

    Thực chất, người ta vận dụng quy luật số lớn trong thống kê để xây dựng bảng tỷ lệ tử vọng.

    • Tỷ lệ tử vong là tỷ số giữa số người chết trong một khoảng thời gian nào đó ( thường là 1 năm) chia cho số người sống tại điểm khởi đầu của khoảng thời gian đó.

    Nếu quan sát 1 hệ thống bảng tỷ lệ tử vong người ta có thể rút ra được 5 tính chất quy luật sau:

    • Tỷ lệ tử vong của nam bao giờ cũng cao hơn nữ
    • Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh là khá cao sau đó giảm dần, tỷ vong của những người từ 15 đến 24 tuổi bao giờ cũng thấp nhất sau đó tăng dần và ngày càng tăng lên nhanh chóng
    • Bảng tỷ lệ tử vong lập sau bao giờ cũng chính xác hơn bảng tỷ lệ tử vong lập trước đó.
    • Bảng tỷ lệ tử vong cảu các nước, các vùng miền, các dân tộc khác nhau là khác nhau.
    • Độ tuổi của người dân ngày 1 tăng cao.

    Về mặt hình thức có 2 loại bảng tỷ lệ tử vong

    Loại 1: Bảng tỷ lệ tử vong dân số: được lập trong các cuộc điều tra dân số và nhân khẩu học

    Loại 2: Bảng tỷ lệ tử vong kinh nghiệm được lập bởi các nhà bảo hiểm nhân thọ kinh doanh được nhiều năm

    Nên sử dụng loại 2 vì bảng 1 thì những người chêt ngòai đối tượng được bảo hiểm cũng được đưa vào còn bảng 2 thì loại ra sau đó mới tính

    Hình thức của bảng bao giờ cũng bao gồm các chỉ tiêu thể hiện ở các cột sau

    Độ tuổi Số sống Số chết Xác suất sống  Xác suất chểt
    x lx dx px qx
    0 100000 137 0,9983 0,00137
    1 99863      

    Độ tuổi ban đầu được chọn để lập bảng tỷ lệ tử vong bao giờ cũng là 0 tuổi; số người được chọn để lập bao giờ cũng là chẵn

    Về mặt nội dung: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng được thể hiện như sau:

    Lx= Lx+1+ dx

    Dx=Lx – Lx+1

    Lx+1=Lx- dx

    Qx= dx/lx= 1- px

    Px= Lx+1/Lx= 1- qx

    Với nội dung trên, nhà bảo hiểm nhân thọ hòan toàn có đầy đủ cơ sở khoa học để định phí bảo hiểm cho từng độ tuổi theo tất cả các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản

    1. Lãi suất trong bảo hiểm nhân thọ

    – hoạt động kinh doanh trong bảo hiểm nhân thọ có đặc điểm lớn nhất  đó là thời hạn hợp đồng dài và phí bảo hiểm thu trước, số tiền bảo hiểm chi trả sau. Bởi vậy, sau khi thu phí của khách hàng nhà bảo hiểm đem tồn tích lại thành 1 quỹ; khi chưa sử dụng đến thì quỹ này phải được đem đi đầu tư để thu lãi. Chính vì vậy, lãi suất và lãi suất đầu tư thu được là một yếu tố rất cơ bản để giảm phí bảo hiểm nhân thọ

    – Liên quan đến lãi suất và tiền lãi cần phải thống nhất 1 số khái niệm sau đây:

    + Lãi suất là tỷ lệ % giữa tiền lãi thu được so với số tiền ban đầu ( quỹ đầu tư ban đầu)

    + Tiền lãi giữa tiền lãi thu đựoc so với số tiền gốc trong một thời gian đầu tư nhất định

    Tiền lãi bao gồm 2 loại

    • Loại 1: lãi đơn là tiền lãi thu được trong các thời kỳ đều đặn và không được đem đi tái đầu tư; nghĩa là tiền lãi chỉ tính trên khoản tiền gốc ban đầu

    Lãi đơn= tiền gốc* lãi suất* thời kỳ đầu tư

    • Loại 2: lãi gộp là tiền lãi thu được phải được đem tái đầu tư sinh lời giống như tiền gốc

    Tiền gốc + tiền lãi gộp = TG(1+lãi suất) tkđt

    TiÒn l·I gép= TG (1+l·I suÊt)TK§T+TG

    T×Òn l·I gép= TG((1+l/s)TK§T-1)

    Trong ®ã: K lµ tiÒn gèc, i lµ l·I suÊt, n lµ thêi kú ®Çu t­, I lµ tiÒn l·i

    I=k*i*n

    I=k*((1+i)n-1)

    Trong nền kinh tế có rất nhiều loại lãi suất khác nhau (lãi có kỳ hạn, không kỳ hạn, lãi suất trái phiếu, cổ phiếu, ngân hàng…)

    Nhà bảo hiểm sẽ sử dụng loại lãi suất kỹ thuật để tính phí .Loại lãi suất này được tính trên cơ sở bình quân của tất cả các loại lãi suất trong nền kinh tế mà Nhà nước quy định.

    1. Giá trị hiện tại, gía trị đáo hạn và giá trị giải ước trong bảo hiểm nhân thọ
    • Giá trị hiện tại là giá trị cần có tại thời điểm hiện tại để đem đi đầu tư nhằm thu được một giá trị nào đó trong tương lai

    Ví dụ: Tính số tiền đầu tư cần thiết ở thời điểm hiện tại để thu được 100tr vào cuối năm thứ 10 với lãi suất 5%/năm

    100triệu (tương lai) ;n=10;i= 5%,GTHT?

    GTHT=100tr*1/(1+0.05*10) (l·I ®¬n)

    GTHT= 100tr*1/(1+0,05)10 (l·I gép)

    VËy c«ng thøc tÝnh gi¸ trÞ hiÖn t¹i= GTTS*1/(1+l·I suÊt)TK§T

    • Giá trị đáo hạn là giá trị thu được sau một thời gian nhất định từ quỹ đầu tư tại thời điểm hiện tại
    • Giá trị giải ước:

    Sau khi ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhưng có thể vì 1 lý do nào đó khách hàng xin hủy bỏ hợp đồng. Khi đó, nhà bảo hiểm có thể hòan lại cho khách hàng 1 số tiền nhất định. Số tiền này được gọi là giá trị giải ước hợp đồng.

    Với bảo hiểm tử kỳ thì nhà bảo hiểm không bao giờ hòan lại

    GT giải ước= dự phòng phí – phí giải ước

    1. Tính phí bảo hiểm nhân thọ

    Phí bảo hiểm nhân thọ được tính theo công thức tổng quát sau đây:

    P= f + h

    Trong đó:

    + H là phí hoạt động: thường bao gồm 3 bộ phận sau: Chi phÝ khai th¸c hîp ®ång míi, chi phÝ cho viÖc thu phÝ b¶o hiÓm, chi phÝ cho viÖc qu¶n lý hîp ®ång b¶o hiÓm

    + f lµ phÝ thuÇn:

    VÒ nguyªn t¾c khi x¸c ®Þnh phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm nh©n thä ph¶I ¸p dông nguyªn t¾c c©n b»ng thu chi(sè thu= sè chi)

    Khi tÝnh tãan phÝ thuÇn ph¶I dùa vµo b¶ng tû lÖ tö vong, l·I kü thuËt ®Ó tÝnh phÝ b¶o hiÓm nh©n thä, sè tiÒn b¶o hiÓm tö vong…

    C¸c ph­¬ng ph¸p tÝnh phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm nh©n thä

    • TÝnh phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm tö kú (phÝ nép 1 lÇn)

    F1 =

    Trong ®ã: Sb lµ sè tiÓn b¶o hiÓm, lx lµ sè ng­êi sèng ë ®é tuæi x tham gia b¶o hiÓm, i lµ l·I suÊt kü thuËt, n lµ thêi h¹n b¶o hiÓm

    • TÝnh phÝ phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm tö kú phÝ nép hµng n¨m

    F2=

    • iÒu kiÖn:

    PhÝ b¶o hiÓm nép hµng n¨m

    Sè tiÒn b¶o hiÓm tr¶ 1 lÇn khi ng­êi ®ùoc b¶o hiÓm chÕt trong thêi h¹n b¶o hiÓm

    • TÝnh phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm nh©n thä trän ®êi phÝ nép 1 lÇn

    F3 =

    Trong ®ã: m lµ ®é tuæi cuèi cïng trong b¶ng tû lÖ tö vong

    • iÒu kiÖn:

    + PhÝ b¶o hiÓm nép 1 lÇn khi ký hîp ®ång

    + STBH tr¶ 1 lÇn khi c¸I chÕt x¶y ra bÊt cø lóc nµo ®èi víi ng­êi ®­îc b¶o hiÓm

    • TÝnh phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm nh©n thä trän ®êi phÝ ®ãng hµng n¨m

    F4=

    k lµ n¨m cuèi cïng cña thêi h¹n ®ãng phÝ

    • TÝnh phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm trî cÊp ®Þnh kú

    + PhÝ thuÇn cho b¶o hiÓm niªn kim nh©n thä t¹m thêi

    F5=

    + PhÝ thuÇn cho b¶o hiÓm niªn kim nh©n thä trän ®êi(kh¸c nhau ë sè chi cßn sè thu lµ gièng nhau

    F6 =

    • TÝnh phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm sinh kú thuÇn tóy phÝ ®ãng 1 lÇn

    F7=

    • TÝnh phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm sinh kú thuÇn tóy phÝ ®ãng hµng n¨m

    F8=

    • TÝnh phÝ thuÇn trong b¶o hiÓm nh©n thä hçn hîp phÝ nép 1 lÇn

    F9=f1+f7

    1. Dự phòng toán học trong bảo hiểm nhân thọ

    Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, phí bảo hiểm được các nhà bảo hiểm thiết kế, xây dựng theo phương pháp thu phí định kỳ (tháng, năm, quý…) và mức phí thu mỗi lần là đều bằng nhau. Thực chất, đây là mức phí bình quân cho mỗi lần thu trong suốt thời hạn hợp đồng. Nhưng trong thực tế độ tuổi càng cao thì xác suất tử vong càng lớn. Cho nên đáng lẽ nhà bảo hiểm phải thu phí tăng dần theo thời gian thì mới đảm bảo cân bằng thu chi trong mọi thời điểm nhưng nếu làm như vậy sẽ gây khó khăn bất lợi cho người tham gia bảo hiểm bởi lẽ độ tuổi càng cao khả năng nộp phí càng cao khả năng nộp phí càng khó khăn cho nên hơn 100năm nay người ta đã chứng minh được thu phí bình quân là phù hợp nhất đồng thời vẫn đảm bảo được tính khoa học, bởi vì nửa thời gian đầu của hợp đồng số phí bảo hiểm > số tiền bảo hiểm phải chi trả, phần dư thừa này được nhà bảo hiểm tồn tích lại để dùng cho nửa cuối của hợp đồng, bởi vì nửa cuối của hợp đồng số tiền bảo hiểm thu được thấp hơn số phải chi.Chênh lệch giữa số phải chi và số phải thu là dấu âm. Phần chênh lệch dương của nửa đầu hợp đồng được dùng bù đắp cho chênh lệch âm cuối hợp đồng nhằm đảm bảo cân bằng thu chi với mọi thời điểm.

    Toàn bộ những vấn đề vừa đặt ra nhà bảo hiểm nhân thọ gọi là dự phòng toán học trong bảo hiểm nhân thọ.Nhưng phí hoạt động bao giờ cũng được các nhà bảo hiểm kế hoạch hóa được từ trước 1 cách rất đơn giản cho nên thực chất ở đây là dự  phòng phí thuần trong bảo hiểm nhân thọ. Để xác định được dự phòng phí thuần trong bảo hiểm nhân thọ từ trước đền nay nhà bảo hiểm áp dụng 2 cách tính

    Phương pháp 1: Phương pháp quá khứ

    Phương pháp 2: Phương pháp tương lai

    1. Phân chia lãi trong bảo hiểm nhân thọ

    – Khi khách hàng ký hợp đồng tham gia bảo hiểm nhân thọ có một số hợp đồng  liên quan đến 1 số loại sản phẩm mà 2 bên thỏa thuận với nhau là có tham gia chia lãi ( ví dụ: hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, hợp đồng bảo hiểm trọn đời)

    – Số lãi được chia như thế nào còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà trước hết là 2 yếu tố cơ bản

    + chênh lệch giữa chi phí bảo hiểm dự tính với chi phí thực tế

    + Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiêm nhân thọ

    • Tuy nhiên trong thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ lãi chia bao nhiêu và chia như thế nào còn phụ thuộc vào thực tế, vào khả năng cạnh tranh của công ty. Tuy nhiên, việc chia lãi phải tuân thủ 3 nguyên tắc cơ bản

    + Nguyên tắc công bằng: đây là nguyên tắc quan trọng số 1 với nhà bảo hiểm nhân thọ bởi vì bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm tự nguyện và có mức độ cạnh tranh rất khốc liệt. Nếu phần lãi chia không đảm bảo tính công bằng thì khách hàng sẽ có thể từ bỏ nhà bảo hiểm bằng cách hủy bỏ hợp đồng sau khi đáo hạn hợp đồng họ sẽ chuyển sang nhà bảo hiểm khác.

    + Nguyên tắc hợp lý đây là nguyên tắc giúp nhà bảo hiểm ổn định kinh doanh, bởi vì lãi thu được bao nhiêu phụ thuộc rất nhiều vào kết quả kinh doanh và khả năng thanh toán  của nhà bảo hiểm trong từng năm tài chính. Thậm chí nó phụ thuộc vào từng loại hình, từng sản phẩm bảo hiểm với mức độ lãi cho công ty.

    + Nguyên tắc thực tế thông thường lợi nhuận chia theo tỷ lệ phần trăm so với số tiền bảo hiểm của từng hợp đồng tham gia đóng góp trong tổng số những hợp đồng có tham gia chia lãi. Thực tế này không những đảm bảo tính công bằng mà còn đảm bảo được sự hợp lý cho nhà bảo hiểm. Cụ thể nhà bảo hiểm phải xác định những loại hợp đồng nào, những sản phẩm nào có tham gia chia lãi, tổng số tiền bảo hiểm của những sản phẩm, những hợp đồng đó là bao nhiêu, tổng mức lãi thu được trong năm tài chính là bao nhiêu, trên cơ sở  đó mới tính ra mức lãi của từng hợp đồng  hay từng sản phẩm

    Hiện nay, các công ty bảo hiểm trên thế giới có 3 phương thức chia lãi:

    + Phương thức 1: Lãi chia hàng năm, phương thức này có ưu và nhược điểm sau:

    • Ưu điểm:

    Khách hàng cảm thấy nhà bảo hiểm rất quan tâm tới mình

    Quyền lợi bảo hiểm thể hiện rất rõ

    Tạo lập mối quan hệ gắn bó giữa 2 bên từ đó làm cho khách hàng yên tâm hơn khi tham gia bảo hiểm nhân thọ

    • Nhược điểm:

    Nếu mức lãi chia hàng năm không ổn định khách hàng rất dễ nghi ngờ nhà bảo hiểm

    Nếu lãi chia hàng năm thì nhà bảo hiểm sẽ gặp những rủi ro hơn nếu như kết quả kinh doanh không ổn định.

    + Phương thức 2: Khi đáo hạn hợp đồng chia lãi luôn 1 thể

    • Ưu điểm

    + Luôn đảm bảo ổn định cho nhà bảo hiểm trong mọi  tình huống kể cả những tình huống xấu nhất

    + Khả năng chia lãi về sau sẽ lớn hơn rất nhiều

    • Nhược điểm:

    + Mối quan hệ gắn bó giữa khách hàng và nhà bảo hiểm hầu như rất lỏng lẻo  đặc biệt là trên thị trường  có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ  khác chia lãi hàng năm.

    + Không phù hợp với tâm lý của khách hàng trong thời buổi ngày nay ( thời buổi mà các công ty bảo hiểm nhân thọ  cạnh tranh quyết liệt bằng mọi biện pháp)

    + Phương thức 3: Để dung hòa 2 cách phân chia lãi nói trên các nhà bảo hiểm còn áp dụng phương pháp 3 là giành ra một khoản lãi nhất định  chia cho các hợp đồng hàng năm còn 1 phần để đến khi đáo hạn hợp đồng thì chia nốt.

    1. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ:
    2. Khái niệm: Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa 2 bên mà trong đó bên nhận bảo hiểm có trách nhiệm và nghĩa vụ chi trả cho bên tham gia bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Còn bên tham gia bảo hiểm có trách nhiệm và nghĩa vụ nộp phí theo như thỏa thuận trong hợp đồng.

    Như vậy, khi giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cần chú ý 3 vấn đề sau:

    • Sư kiện bảo hiểm: Ở đây rất đa dạng có thể là những rủi ro liên quan đến đối tượng được bảo hiểm hoặc người tham gia bảo hiểm hoặc cũng có thể là khi đáo hạn hợp đồng hoặc cũng có thể là những sự kiện mà 2 bên tự thỏa thuận với nhau về 1 loạt các vấn đề như: khám chữa bệnh, đi học, vay thế chấp, mua hàng trả góp…
    • Trong mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thực chất là có 2 bên giống như các hợp đồng kinh tế khác:

    Bên 1: Gọi là bên nhận bảo hiểm (DNBHNT), DNBHNT sau khi đã giao kết hợp đồng không có quyền hủy  bỏ hợp đồng hoặc thay đổi những điều khoản  trong hợp đồng nếu như không được pháp luật cho phép hoặc không có sự thỏa thuận trước với bên tham gia bảo hiểm. Bên nhận bảo hiểm cũng không có quyền trùy đòi phí bảo hiểm (hay không có quyền khiếu nại đòi phí bảo hiểm)

    Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có quyền tự động tính toán số tiền bảo hiểm giảm đi trong 1 số trường hợp đã được chứng minh rõ ràng như: tuổi của người được bảo hiểm cao hơn tuổi thực tế khi ký kết hợp đồng.

    Bên 2: Bên tham gia bảo hiểm có thể có 3 người sau đây:

    + Người được bảo hiểm : là người mà tính mạng, tình trạng sức khỏe và những sự kiện có liện quan đến tuổi thọ được bảo hiểm hoặc là người giao tên tuổi của mình cho người khác đi ký kết hợp đồng bảo hiểm.

    • Người tham gia bảo hiểm: là người trực tiếp đứng ra ký kết hợp đồng và nộp phí bảo hiểm, người tham gia phải có đủ năng lực, hành vi pháp lý.
    • Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm: là người do người tham gia chỉ định, họ là người được hưởng mọi quyền lợi từ hợp đồng bảo hiểm. Trong mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có 1 hoặc có nhiều người thụ hưởng thậm chí từ hợp đồng bảo hiểm, trong mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có 1 hoặc có nhiều người thụ hưởng thậm chí người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm còn được sắp xếp theo 1 trật tự ưu tiên.
    • Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể được thay đổi tùy theo sự thỏa thuận giữa bên tham gia với nhà bảo hiểm (thay đổi về điều khỏan, số tiền bảo hiểm, phương thức nộp phí…). Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể dùng làm vật thế chấp để vay vốn hoặc mua hàng trả góp

    Ngòai 3 điểm lưu ý cơ bản trên, khi ký kết hợp đồng bên tham gia còn quan tâm đến khía cạnh hủy bỏ hợp đồng.

    Hủy bỏ hợp đồng nhà bảo hiểm có thể hòan trả bên tham gia 1 số tiền nhất định gọi là giá trị giải ước hợp đồng với điều kiện:

    .+ Hợp đồng có 1 phần dự phòng phí đủ lớn mà nhà bảo hiểm đã tính tóan trước, đương nhiên có 1 số loại hợp đồng bảo hiểm từ kỳ thì việc hòan phí không bao giờ được đặt ra trong quá trình ký kết hợp đồng.

    Nhìn chung hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chủ yếu đáp ứng được yêu cầu của các cá nhân trong xã hộicòn các hợp đồng bảo hiểm nhóm thì rất ít.

    1. Một số vấn đề có liên quan trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ:

    – Tuổi của người được bảo hiểm: Ảnh hưởng trực tiếp đến mức phí phải nộp, bởi vậy phải xác định chính xác khi đặt bút ký hợp đồng. Trên thế giới từ trước đến nay có 2 cách tính tuổi khi ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

    + C1: Xác định tuổi gần với ngày sinh nhật (cách này chỉ được thực hiện trong giai đoạn đầu triển khai bảo hiểm nhân thọ )

    + C2: tính tuổi sau ngày sinh nhật, tuy nhiên thực tiễn để hạn chế tối đa sự sai sót của các đại lý đi khai thác bảo hiểm, nhà bảo hiểm chỉ quy định lấy năm bảo hiểm trừ đi năm sinh. Nhà bảo hiểm có thể chỉ tính 1 biểu phí của nam hoặc nữ sau đó tíen hành điều tra xem chênh lệch tuổi thọ bình quân của nam  – nữ  là bao nhiêu để thể hiện trong bảng phí bảo hiểm nhân thọ…

    – Phương thưc nộp phí: hòan tòan do bên tham gia thỏa thuận với các đại lý bảo hiểm. Cụ thể, nộp theo tháng, quý,năm…

    Địa điểm nộp phí, thời gian nộp phí:

    + Hợp đồng bảo hiểm nhóm: Nếu muốn tham gia hợp đồng bảo hiểm nhóm thì trong nhóm người đó phải có 1 người đại diện, người đại diện dứt khoát phải có liên quan đến tất cả mọi người trong nhóm (ví dụ: phó giám đốc, chủ tịch công đoàn…)

    Phải nộp danh sách của nhóm theo các tiêu chí nhà bảo hiểm yêu cầu, mọi giao dịch, nhà bảo hiểm chỉ làm việc với người trưởng nhóm

    Nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng nhóm người đó có vấn đề gì xảy ra trưởng nhóm phải thông báo bằng văn bản và trực tiếp làm việc với nhà bảo hiểm

    1. Đánh giá rủi ro khi ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ:

    – về nguyên tắc: Khi tham gia bảo hiểm nhà bảo hiểm phải tíên hành đánh giá rủi ro đối với người được bảo hiểm cũng như tham gia bảo hiểm. Nhà bảo hiểm thực hiện đánh giá rủi ro theo các bước sau đây:

    B1: Phát giấy yêu cầu bảo hiểm và bên tham gia ghi rõ đầy đủ

    B2: Nhà bảo hiểm tíen hành phân cấp để đánh giá rủi ro (có thể phân cấp theo số tiền bảo hiểm hoặc tình trạng sức khỏe)

    B3: Tiến hành đánh giá rủi ro: Ở đây nhà bảo hiểm không chỉ đánh giá rủi ro về mặt sức khỏe mà cả về mặt tài chính.

    B4: Thẩm định lại kết quả: Nếu đảm bảo yêu cầu nhà bảo hiểm sẽ tiến hành ký hợp đồng, ngược lại nhà bảo hiểm có thể tư vấn hoặc giải thích rõ để bên tham gia hiểu


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây 


  • CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN BẢO HIỂM

    CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN BẢO HIỂM

    CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN BẢO HIỂM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/C%C3%82U-H%E1%BB%8EI-TR%E1%BA%AEC-NGHI%E1%BB%86M-M%C3%94N-B%E1%BA%A2O-HI%E1%BB%82M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN BẢO HIỂM

    CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM CHƯƠNG : BẢO HIỂM

    NHÓM 8 – KHOA E

    Câu 1: Điều gì không phải là nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm

    1. Đảm bảo lợi ích cho người tham gia bảo hiểm
    2. Nguyên tắc lấy đông bù ít
    3. Sàng lọc rủi ro, định phí bảo hiểm phải dựa trên cơ sở các rủi ro
    4. Mọi rủi ro xảy ra với người tham gia bảo hiểm đều được nhận tiền bồi thường

    Câu 2: bảo hiểm thân thể và bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên được xuất hiện do sự cần thiết chính nào của bảo hiểm

    1. xuất phát từ rủi ro trong cuộc sống hàng ngày
    2. xuất phát từ nhu cầu kinh tế của doanh nghiệp và sự lo ngại của người dân
    3. xuất phát từ rủi ro phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh
    4. xuất phát từ vai trò thực hiện chức năng điều tiết, quản lý của nhà nước

    câu 3. Đặc điểm nào là đặc điểm của bảo hiểm xã hội

    1. Hoạt động của bảo hiểm hướng tới mục tiêu lợi nhuận
    2. Hoạt động của bảo hiểm mang tính phúc lợi xã hội
    3. VIệc thực hiện của bảo hiểm đc chia làm 2 phần, phần thực hiện chế độ hưu trí mang tính bồi hoàn, các chế độ còn lại vừa mang tính chất bồi hoàn vừa không bồi hoàn
    4. Đáp an B và C

    Câu 4: Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế

    1. Góp phần vào việc sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống xã hội trước những rủi ro bất ngờ
    2. Thiết lập hệ thống an toàn xã hội, hỗ trợ và thực hiện các biện pháp đề phòng ngăn ngừa tổn thất
    3. Góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế xã hội
    4. Tất cả đáp án trên

    Câu 5: chọn câu sai

    1. Bảo hiểm xã hội mang tính phúc lợi xã hội
    2. Sự tồn tại và phát triển của bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia
    3. bảo hiểm xã hội được xây dựng để thu lợi nhuận thông qua quá trình phân phối của tổ chức bảo hiểm xã hội
    4. bảo hiểm xã hội được tiến hành trên cơ sở huy động sự đóng góp của các chủ thể liên quan

    Câu 6: chọn câu đúng

    1. bảo hiểm xuất phát từ rủi ro trong cuộc sống của con người, trong sản xuất kinh doanh
    2. bảo hiểm xã hội là hình thức bắt buộc đối với mọi chủ thể đề phòng khi găp rủi ro hoặc mất thu nhập từ lao động
    3. Tính chất bồi hoàn của bảo hiểm kinh doanh là yếu tố xác định được thời gian, không gian
    4. Bất cứ rủi ro nào xảy ra, người tham gia bảo hiểm kinh doanh cũng được nhận tiền bồi thường

    Câu 7: chọn câu sai

    1. Bảo hiểm nhân thọ là 1 loại bảo hiểm kinh doanh
    2. Bảo hiểm nhân thọ là 1 loại bảo hiểm xã hội
    3. Bảo hiểm nhân thọ là 1 hình thức tiết kiệm sinh lãi
    4. Bảo hiểm nhân thọ được xây dựng trên cơ sở tình nguyện của mỗi người

    Câu 8: Bảo hiểm lao động được hình thành xuất phát từ sự cần thiết khách quan nào của bảo hiểm?

    1. Xuất phát từ những rủi ro phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh
    2. Xuất phát từ những rủi ro trong cuộc sống con người
    3. Xuất phát từ những rủi ro phát sinh trong quá trình lao động
    4. Xuất phát từ sự an toàn của sản phẩm tạo ra cho công ty nên công nhân cũng cần được đảm bảo.

    Câu 9: Bảo hiểm kinh doanh và bảo hiểm xã hội khác nhau cơ bản ở đặc điểm nào?

    1. Mục tiêu hướng tới lợi nhuận
    2. Tính chất bồi hoàn
    3. Mức độ bồi hoàn
    4. Ý kiến khác

    Câu 10. Vì sao các công ty bảo hiểm tai nạn và tài sản lại đầu tư nhiều vào trái phiếu Địa phương, trong khi các công ty bảo hiểm sinh mạng lại không làm như thế

    1. Vì sinh mạng con người là thứ quí nhất.
    2. Vì trái phiếu địa phương cũng là một dạng trái phiếu Chính Phủ an toàn nhưng không hấp dẫn đối với các công ty bảo hiểm sinh mạng.
    3. Vì loai hình bảo hiểm tai nạn và tài sản nhất thiết phải có lợi nhuận.
    4. Vì công ty bảo hiểm sinh mạng muốn mở rộng cho vay ngắn hạn để có hiệu quả hơn.

    Câu 11: Bảo hiểm thuộc loại:

    1. Quan hệ tài chính hoàn trả có điều kiện
    2. Quan hệ tài chính có hoàn trả
    3. Quan hệ tài chính không hoàn trả
    4. Cả 3 đáp án đều sai

    Câu 12: Quỹ tài chính của công ty bảo hiểm thương mại KHÔNG hình thành từ

    1. Sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước
    2. Phí bảo hiểm
    3. Lãi đầu tư
    4. b và c

    câu 13: Bảo hiểm là cách thức con người :

    A.ngăn ngừa rủi ro

    B.Loại trừ rủi ro

    C.Tránh rủi ro

    D.Đối phó với rủi ro

    Câu 14: Hạn mức trách nhiệm của người bảo hiểm có thể lấy từ

    A.Luật định

    B.Thỏa thuận của 2 bên

    C.Công ước

    D.Cả 3 đáp án trên

    Câu 15: Chức năng chính của bảo hiểm là

    A.Thúc đẩy sự phát triển của các Doanh nghiệp

    B.Giải quyết các vấn đề xã hội

    C.Làm giàu cho các DN

    D.Bồi thường tổn thất.

    Câu 16: Đối tượng nào sau đây không liên quan đến hợp đồng bảo hiểm

    1. A) Người bảo hiểm.
    2. B) Cơ quan đóng dấu xác nhận bảo hiểm
    3. C) Người tham gia bảo hiểm
    4. D) Người được bảo hiểm

    Câu 17: Quỹ bảo hiểm xã hội dùng để?

    1. A) Chi trả cho người nghèo

    B)chi trả cho bộ máy BHXH

    1. C) Chi trả cho người thất nghiệp
    2. D) Chi đầu tư phát triển quỹ

    câu 18: hình thức bảo hiểm mà các chủ thể tham gia bảo hiểm tự thành lập các quỹ dự trữ để bù đắp những tổn thất có thể xảy ra là
    A.Bảo hiểm thông qua các tổ chức
    B Tự bảo hiểm
    C.Bảo hiểm xã hội
    D.Bảo hiểm kinh doanh
    câu 19: hoạt động của bảo hiểm kinh doanh hướng đến:
    A.mục tiêu lợi nhuận
    B.mục tiêu từ thiện
    C.mục tiêu xã hội
    D.con người
    Câu 20: những người làm nghề tự do sẽ được tham gia bảo hiểm?
    A.bảo hiểm bắt buộc
    B.bảo hiểm kinh doanh
    C.bảo hiểm thất nghiệp
    D bảo hiểm tự nguyện

    Câu 21: Đặc diểm nào sau đây không phải là đặc điểm của bảo hiểm kinh doanh

    1. Hoạt động vì mục đích lợi nhuận
    2. bảo hiểm kinh doanh vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn
    3. Mục đích hoạt động không vì lợi nhuận

    D.Mức độ bồi hoàn của bảo hiểm kinh doanh thường lớn hơn rất nhiều so với mức phí bảo hiểm

    Câu 22  Trường hợp nào sau đây không được nhận tiền bồi hoàn bảo hiểm

    1. Bị tai nạn gãy chân và thời hạn bảo hiểm vẫn còn
    2. Ông An vừa đóng bảo hiểm lúc 13h10′ thì 13h15′ ông bị tai nạn đột ngột rồi qua đời
    3. Ông Bình vừa đóng BH  lúc 15h00′ thì 17h10′ ông qua đời vì căn bệnh tim
    4. không có đáp án nào

    Câu 23  Trong các đáp án sau đáp án nào đúng

    1. Giá trị bảo hiểm là giá trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm kí hợp đồng bảo hiểm
    2. Phí bảo hiểm là số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải đóng góp cho người bảo hiểm về các đối tượng được bảo hiểm
    3. Người được bảo hiểm là người vì tính mạng, sức khỏe của người đó khiến người tham gia bảo hiểm đi đến ký kết hợp đòng bảo hiểm với người bảo hiểm
    4. Tất cả đều đúng

    Câu 24: sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội không dùng cho mục đích:

    1. chi trả chế độ
    2. chi để đầu từ phát triển quỹ bảo hiểm xã hội
    3. chi cho bộ máy bảo hiểm xã hội
    4. chi cho họat động kình doanh

    câu 25: đặc điểm  nào không phải là đặc điểm của nhóm đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc?

    1. những người có công việc ổn định
    2. những người có thu nhập và việc làm tương đối ổn định
    3. những người làm nghề tự do
    4. những người có người sử dụng lao động đóng thêm phí bảo hiểm xã hội cho họ

    câu 26: bảo hiểm nhân thọ là bảo hiểm

    1. bảo hiểm con người
    2. bảo hiểm trách nhiệm dân sự
    3. bảo hiểm tài sản
    4. cả 3 đều sai

    câu 27: nghiệp vụ nào thuộc về bảo hiểm tài sản?

    1. bảo hiểm trách nhiệm dân sự lái xe cơ giứoi
    2. bảo hiểm tai nạn lao động
    3. bảo hiểm tín dụng
    4. bảo hiểm du lịch

    câu 28: chọn câu sai

    1. phải đóng bảo hiểm trước khi rủi ro xảy ra
    2. rủi ro không bất ngờ vẫn được thanh toán bảo hiểm
    3. những rủi ro do chủ quan, thiếu tinh thần trách nhiệm thì không được nhận tiền bảo hiểm
    4. mức bồi hoàn của bảo hiểm kinh doanh thường lớn rất nhiều so với mức phí bảo hiểm

    câu 29: dựa vào căn cứ nào để chia thành bảo hiểm rủi ro và bảo hiểm y tế?

    1. căn cứ vào mục đích họat động của các tổ chức bảo hiểm
    2. căn cứ vào hình thức xây dựng quỹ dự trữ bảo hiểm
    3. căn cứ vào phương thức họat động
    4. cả 3 đều sai

    câu 30: chọn câu sai

    1. doanh nghiệp bảo hiểm không được phép sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình để đầu tư
    2. bảo hiểm rủi ro góp phàn ổn định sản xuất và ổn định đời sống
    3. bảo hiểm xã hội phải nhằm mục đích bảo vệ người lao động, đặc biết là người làm công ăn lương
    4. hệ thông bảo hiểm xã hội nước ta gồm 3 cấp: bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bảo hiểm xã hội quận huyện thị xã.

    Câu hỏi trắc nghiệm môn tài chính- tiền tệ

    Chương 6: Bảo hiểm

    Câu 1: Bảo hiểm là cách thức con người:

    1. Ngăn ngừa rủi ro c. Loại trừ rủi ro
    2. Tránh rủi ro d. Đối phó với rủi ro

    Đáp án: d

    Câu 2: Chức năng chính của bảo hiểm là:

    1. Thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp
    2. Giúp giải quyết các vấn đề xã hội
    3. Kinh doanh và xuất khẩu vô hình
    4. Bồi thường tổn thất

    Đáp án: d

    Câu 3: Bảo hiểm ô tô, xe máy là loại hình bảo hiểm nào?

    1. bảo hiểm hàng hải
    2. bảo hiểm tài sản
    3. bảo hiểm con người
    4. bảo hiểm trách nhiệm dân sự

    Đáp án: b

    Câu 4: Hiện nay ở nước ta, chế độ bảo hiểm nào vẫn chưa được áp dụng?

    1. Trợ cấp ốm đau
    2. Trợ cấp thai sản
    3. Trợ cấp mất nhà
    4. Tiền mai táng và chế độ tuất

    Đáp án: C

    Câu 5: Người được bảo hiểm có thể thu được 1 khoản tiền bồi thường lớn hơn giá trị bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm khi:

    1. Bảo hiểm trùng
    2. Tái bảo hiểm
    3. Mua bảo hiểm với A> V
    4. Không có câu nào đúng

    Đáp án : D

    Câu 6: Hạn mức trách nhiệm của người bảo hiểm có thể lấy từ:

    1. Luật định
    2. Thỏa thuận của hai bên
    3. Công ước
    4. Cả ba nguồn trên

    Đáp án: D

    Câu 7: Khi người được bảo hiểm vi pham nguyên tắc trung thực tuyệt đối, hợp đồng bảo hiểm có thể vãn có hiêu lực nếu người được bảo hiểm:

    1. Vô tình không kê khai
    2. Giấu thông tin
    3. Cố ý kê khai sai
    4. Không câu nào đúng

    Đáp án:A

     Câu 8: Vai trò nào sau đây không phải là vai trò của bảo hiểm:

    A.Góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống xã hội trước những rủi ro bất ngờ

    B.Góp phần cung ứng nguồn tài chính cho quỹ tiền tệ

    1. Góp phần thiết lập hệ thống an toàn xã hội,hỗ trợ và thực hiện biện pháp đề phòng, ngắn ngừa, hạn chế tổn hại

    D.Góp phần cung ứn vốn cho phát triển kinh tế xã hội

    Đ/a: B

    Câu 9: Hoạt động của loại bảo hiểm nào sau chịu chi phối bởi quy luật kinh tế của cơ chế thị trường:

    A.Bảo hiểm kinh doanh

    B.Bảo hiểm y tế

    C.Bảo hiểm rủi ro

    D.Không phải cả ba loại trên

    Đ/a: A

      Câu 10: Đối tượng nào sau đây bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội:

    1. Những người làm nghề tự do

    B.Những người làm theo hợp đồng lao động có thời hạn !-3tháng

    C.Người lao động được đi học, công tác,thực tập trong và ngoài nước mà vẫn được hưởng lương

    D.Những người làm công việc có tính chất tạm thời

    Đ/a C

    Câu 11: Nguồn thu nào sau đây không phải nguồn thu cho bảo hiểm xã hôi:

    A.Thu từ người lao động đúng bằng 22% tiền lương cơ bản

    1. Tiền lại thu từ việc thực hiện các phương án bảo toàn và phát triển quỹ bảo hiểm xã hội

    C.Thu từ các nguồn tài trợ,viện trợ của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước

    D.Ngân sách nhà nước hỗ trợ đảm bảo thực hiện các chế dộ đối với người lao động.

    Đ/a A

    Câu 12: Loại bảo hiểm nào dưới đây không thuộc bảo hiểm bắt buộc:

    1. Bảo hiểm trách nhiệm của lái xe cơ giới
    2. Bảo hiểm nhân thọ
    3. Bảo hiểm hành khách đi lại trên các phương tiện giao thông
    4. Bảo hiểm xã hội của ddooois tượng là người có hợp đồng lao động không giới hạn

    Đáp án: B

    Câu 13: Đặc điểm nào là đặc điểm chung của bảo hiểm xã hội và bảo hiểm doanh nghiệp:

    1. Vừa mang tính bồi hoàn vừa mang tính không bồi hoàn
    2. Hướng tới mục tiêu lợi nhuận
    3. Phần thực hiện chế độ hưu mang tính chất bồi hoàn
    4. Mang tính phúc lợi vì quyền lợi của người lao động và của cải cộng đồng

    Đáp án: A

    Câu14: Đối tượng nào không được nhận bảo hiểm rủi ro:

    1. Người bị tai nạn giao thông
    2. Người thân của người bị mất do tai nạn lao động
    3. Người chết do bị bênh hiểm nghèo
    4. Không có đáp án nào đúng

    Đáp án: C

    Câu 15: Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm là:

    1. Xuất phát từ rủi ro trong cuộc sống con người và trong sản xuất kinh doanh
    2. Xuất phát từ vai trò thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
    3. Cả A và B
    4. Không có đáp án nào đúng

    Đáp án: C

    Câu 16: Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế là:

    1. Góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống xã hội trước những rủi ro bất ngờ
    2. Góp phần thiết lập hệ thống an toàn xã hội, hỗ trợ và thực hiện các biện pháp đề phòng, ngăn ngừa, hạn chế tổn thất
    3. Góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế, xã hội
    4. Cả ba vai trò trên

    Đáp án: D

    Câu 17: Loại bảo hiểm nào bắt buộc theo luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam

    1. Bảo hiểm cháy nổ
    2. Bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới
    3. Bảo hiểm TNDS của người vận chuyển hang hông đối với hành khách
    4. Tất cả các loại hình bảo hiểm trên

    Đáp án: D

    Câu 18:  Nguyên tắc góp phần và thế quyền không được áp dụng cho loại hình bảo hiểm:
    a. Tài sản b. Trách nhiệm dân sự
    c. Con người d. Không có câu nào đúng
    Đáp án: c

    Câu 19: Chức năng chính của bảo hiểm là:
    a. Thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp
    b. Giúp giải quyết các vấn đề xã hội
    c. Kinh doanh và xuất khẩu vô hình
    d. Bồi thường tổn thất
    Đáp án: d

    Câu 20: Nhận định nào sau đây đúng:

    1. Bảo hiểm là một phạm trù tài chính
    2. Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế
    3. Bảo hiểm là phạm trù lịch sử
    4. Không có câu nào đúng

    Đáp án: A

    Câu 21: Căn cứ vào đâu để phân loại hoạt động bảo hiểm:

    1. Căn cứ vào mục đích hoạt động của các tổ chức bảo hiểm
    2. Căn cứ vào hình thức xây dựng quỹ dự trữ bảo hiểm
    3. Căn cứ vào phương thức hoạt động
    4. Tất cả các ý kiến trên đều đúng

    Đáp án: D

    Câu 22: Căn cứ vào phương thức hoạt động, người ta chia ra làm mấy loại bảo hiểm:

    1. 1
    2. 2
    3. 3
    4. 4

    Đáp án: B

    Câu 23: loại bảo hiểm nào sau đây thuộc loại bỏa hiểm rủi ro:

    1. Bảo hiểm tài sản
    2. Bảo hiểm con người
    3. Bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện
    4. Tất cả các đáp án trên

    Đáp án: D

    Câu 24: Câu nào sau đây không đúng về vai trò của bảo hiểm rủi ro:

    1. Góp phần ổn định sản xuất và ổn định đời sống
    2. Góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế- xã hội
    3. Phòng trừ lúc ốm đau
    4. Cả A và B

    Đáp án: C

    Câu 24: Năm 1952, tổ chức lao động quốc tế ICO ra công ước đầu tiên về bảo hiểm xã hội gồm mấy chế độ:

    1. 5
    2. 8
    3. 9
    4. 6

    Đáp án: C

    Câu 25: Hiện nay, ở nước ta có mấy chế độ bảo hiểm xã hội áp dụng cho các đối tượng bắt buộc:

    1. 5
    2. 4
    3. 2
    4. 6

    Đáp án: A

    Câu 26:  Giá trị bảo hiểm (V) là khái niệm áp dung cho loại hình:
    a. Bảo hiểm tài sản
    b. Bảo nhiểm nhân thọ
    c. Bảo hiểm TNDS
    d. Cả ba loại hình trên
    Đáp án: a

    Câu 27: Bảo hiểm con người bao gồm các nghiệp vụ nào? Chọn câu trả lời đúng nhất:

    1. Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tai nạn lao động
    2. Bảo hiểm tai nạn hành khách, bảo hiểm tai nạn lao động
    3. Bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm nhân thọ
    4. Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tai nạn lao động ,bảo hiểm tai nạn hành khách, bảo hiểm tai nạn học sinh, sinh viên

    Đáp án: D

    Câu 28: Hình thành quỹ bảo hiểm xã hội từ các nguồn nào sau đây:

    1. Thu từ người sử dụng lao động
    2. Thu tù ngân sách nhà nước
    3. Các nguồn thu khác
    4. Tất cả các đáp án trên

    Đáp án: D

    Câu 29: Ở nước ta, hoạt động bảo hiểm xã hội được triển khai từ năm nào:

    1. 1962
    2. 1963
    3. 1964
    4. 1965

    Đáp án: A

    Câu 30: Nguyên tắc thực hiện bảo hiểm xã hội là:

    1. Phải nhằm mục đích bảo vệ gười lao động , đặc biệt là người làm công ăn lương
    2. Phải được thực hiện theo quy định của pháp luật
    3. Phải thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
    4. Tất cả các đáp án trên

    Đáp án: D


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-VN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    KHÁI NIỆM BẢO HIỂM: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.

    Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng.

    TÍNH CẦN THIẾT CỦA CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM:

    + SỞ LÝ LUẬN: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu của nhu cầu được bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện vọng của con người muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tương lai được đảm bảo. Theo thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất của con người nhưng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi người ta lầm tưởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhưng quyết định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I. Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu dùng và tiết kiệm. Người ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy con người ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các dịch vụ bảo hiểm là một tất yếu.

    + SỞ THỰC TIỄN: Tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp

    rủi ro. Hiện nay, trên thế giới có hơn 700000 người chết, hơn 10.000.000 người bị thương do tai nạn giao thông, thiệt hại kinh tế toàn cầu là 5000 tỷ đô la. Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc

    • các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á,…vẫn luôn thường trực xảy ra, đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người. Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người, thiên tai như lũ lụt, bão, động đất ngày càng hoành hành dữ dội tại nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp… Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng. Những năm gần đây, thị trường các lĩnh vực đầu tư khác rất bất ổn. Các thị trường chứng khoán New York , London, Paris…

    luôn chao đảo bởi sự kiện khủng bố ngày 11.9.2001, sự kiện phá sản của các tập đoàn Enron, bê bối tài chính của Worldcom, thảm hoạ tài chính của Vivendi… Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm. Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và phát triển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm trên thế giới.

    • Việt Nam cũng có rất nhiều nguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người. Theo thống kê, năm 2000 xảy ra 22.486 vụ tai nạn, tăng 8,5% so với năm 1999. Trong đó làm chết 7500 người, tăng 12.4% so với năm trước, số người bị thương là 25.400 người, tăng 6.2%. Đặc biệt tỷ lệ tai nạn giao thông đang tăng ở mức độ báo động do số lượng các phương tiện giao thông vận hành trên các đường phố ngày càng nhiều. Tai nạn do những người điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn, do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phương tiện còn lại gây ra khoảng 11,4%. Các hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên

    hơn, mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi người luôn luôn lo lắng cho cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những người xung quanh. Chính nhu cầu được bảo hiểm của con người là cơ sở cho sự ra đời của bảo hiểm.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Trong bài viết này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

    Phương pháp phân tích: Dựa vào các bài báo sưu tầm được, em phân tích để thấy được các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.

    Phương pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này được tổng hợp từ nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.

    Phương pháp thống kê: nhờ có phương pháp thống kê, em có thể tổng kết được các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phương pháp khác: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp mô hình hóa…

    NỘI DUNG: Đề án bao gồm các nội dung sau:

    Chương 1: Lý luận chung.

    Chương 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.

    Chương 3: Giải pháp.

    II.NỘI DUNG:

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM:

    Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro bất trắc có thể xảy ra. Sau này con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá nhân. Vào những năm 2.500 TCN ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. Khi thương nghiệp phát triển, các thương gia, thay vì tự tích cóp, người ta có thể vay tiền để đủ tiền cho một chuyến hàng. Vay cũng là một hình thức tự bảo hiểm khi họ cần những khoản chi tiêu đột suất. Ở Babylon (năm 1700 năm TCN) và ở Athen (năm

    • TCN) đã xuất hiện hệ thống vay mượn lãi suất cao. Tuy nhiên hình thức này có thể dẫn tới những khoản nợ chồng chất do lãi suất cao. Vì vậy, sau này đã xuất hiện hình thức góp cổ phần. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho một người vì nó được chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên những người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian để tìm đối tác, phải dàn xếp, thoả thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Những hạn chế của các biện pháp tự bảo hiểm đã tạo điều kiện cho hình thức bảo hiểm ra đời. Những thoả thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán bằng đường biển. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa- Italia vào năm 1347. Như vậy bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm.

    Khi xã hội phát triển, các hình thức cổ truyền không còn đảm bảo an toàn cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng nữa do vậy các loại bảo hiểm khác đã ra đời. Năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại Anh. Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công bảo hiểm nhân thọ đầu

    tiên ra đời tại Anh. Cuối thế kỷ 19 hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã ra đời như: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…

    1.2 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

    1.2.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM

    Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông: Quy luật này giúp các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

    Thứ nhất, là đối với người tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.

    Đối với người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.

    Nguyên tắc “nguyên nhân gần”: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi

    thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba gây ra.

    Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    1.2.2) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM CƠ BẢN

    Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM).

    a)bảo hiểm xã hội: BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại: thứ nhất, BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan hành chính sự nghiệp. Thứ hai, bảo hiểm chỉ giới hạn trong 5 chế độ chi trả đã kể trên, và trong mỗi chế độ đó còn hạn chế phạm vi được bảo hiểm.. Thứ ba, mức độ chi trả BHXH hiện nay vẫn còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của người lao động. Thứ tư, thủ tục chi trả chế độ

    BHXH còn mang tính quan liêu, hành chính … gây khó khăn cho người lao động.

    b)Bảo hiểm y tế: Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mục đích kinh doanh. BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp: khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những người tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục được hạn chế của BHXH là: BHYT được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí khám bệnh, 20% còn lại người bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý BHYT vẫn còn rườm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh ngoại trú và chữa bệnh nội trú.

    c)Bảo hiểm thương mại: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

    *) bảo hiểm nhân thọ: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp

    đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty

    *) bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

    Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung (xem 1.2.2), BHPNT còn có các đặc trưng chủ yếu sau:Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra.

    CHƯƠ NG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH BẢO HIỂM XHVN:

    2.1.1) NGUỒN THU:

    BHXH Việt nam là một quỹ BHXH được quản lý thống nhất và sử dụng để chi trả 5 chế độ BHXH (xem phần 1.2.4). Trong quá trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện cả theo 2 mô hình: nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia của giới chủ và giới. Theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ về việc ban hành điều lệ quy định: đối tượng tham gia BHXH được mở rộng cho cả những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng từ

    • lao động trở lên. Cũng theo quy định này, quỹ BHXH được hình thành

    từ: sự đóng góp của người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương. Số dư BHXH năm 2002 là 25.000 tỷ đồng. Số người tham gia BHXH năm 2002 là 4,8 triệu người. Ngoài ra, BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư. Lãi thu từ đầu tư của quỹ BHXH năm 2002 là 1.100 tỷ đồng.

    2.1.2)CHI:

    Từ nguồn thu nói trên quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí. Số người được hưởng chế độ BHXH năm 2002 khoảng 190.950 người. Đó là chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH từ sau 1/1/1995, vì những đối tượngvề hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ BHXH tồn tích của những năm trước để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm 2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.

    Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp được sử dụng để chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hưu trí và tử tuất. Nâng cao mức sống của những người lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.

    Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng trưởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.

    2.2) THỰC TRẠNG NGÀNH BHYT:

    Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)

    chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau:

    • Số người tham gia bảo hiểm tuy có xu hướng tăng nhanh:

    Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả rất quan trọng . Số người tham gia BHYT tăng nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nước. Ngoài khu vực BHYT

    Sè ng−êi tham gia BHYT ®Õn n¨m 2002

    15       12.7
        9.7  
    10      
      3.8    
          Sè ng−êi (triÖu)
    5 0    
         
           
    0 1992 1993 1998 2002
     

    bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu người đang tham gia các chương trình BHYT xã hội tự nguyện

    • sử dụng quỹ BHYT

    Nhiều năm qua, nguồn thu BHYT đã gần bằng 1/3 Ngân Sách Nhà nước dành cho ngành y tế và 50% Ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị. Trên 90% bệnh nhân chạy thận chu kỳ tại các trung tâm lọc máu là người có thẻ BHYT.

    Hàng năm thanh toán quỹ BHYT cho hàng ngàn người mắc bệnh, với chi phí tới hàng chục triệu đồng một người. Ngoài những dịch vụ y tế thiết yếu ,người có bảo hiểm BHYT còn được quỹ BHYT thanh toán chi phí cho các dịch vụ y tế kỹ thuật cao như các kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh hiện đại (siêu âm màu ,chụp ảnh cắt lớp vi tính CT Scaner, cộng hưởng từ hạt nhân MRI…các phương pháp điều trị chi phí cao (thận nhân tạo ,điều trị ung th-ư,mổ tim…)

    Hệ thống BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh đã phối hợp để tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được chăm sóc sức khoẻ ngay tại y tế tuyến xã. Đến cuối năm 2002, khoảng 50% trạm y tế xã trong toàn quốc đã tổ chức khám chữa bệnh thông thường cho người có thẻ BHYT.

    BHYT và các bệnh viện ở một số thành phố lớn đã triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận và khám bệnh, kê đơn cấp thuốc cho bệnh nhân BHYT. Quyền lợi bệnh nhân BHYT ngày càng được tăng cường và đảm bảo hơn.

    2.3) BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI:

    2.3.1 VIỆC HÌNH THÀNH NGÀNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

     

    Công ty hiểm Việt ngày nay.

    bảo hiểm đầu tiên được Nam (Bảo Việt)-tiền thân Bảo Việt được thành

    thành lập của tổng lập theo

    • Việt Nam là công ty bảo công ty bảo hiểm Việt Nam quy định số 179/CP ngày

    17/45/1964 của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá thành công trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    2.3.2) HỆ THỐNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    1. a) các công ty bảo hiểm nhà nước:

    Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình.

    *) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nước. Số vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng chiếm trên 2200 tỷ đồng.

    *) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Bảo Minh được thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh được thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.

    1. b) các công ty bảo hiểm cổ phần:

    *) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.

    1. c) các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:

    *) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi

    • công ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire insurance Co.-Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000 đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều

    cho cả hai công ty nước ngoài. Tính đến năm 2000 thị phần bảo hiểm của công ty chiếm 2%. Công ty VIA chỉ tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.

    *)công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG: Đây là công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Úc) và công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/1999 với thời hạn hoạt động 30 năm. Số vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 USD.

    1. d) Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife: đây là công ty 100% vốn nước ngoài liên doanh giữa tập đoàn Chinhfon-Đài Loan và tập đoàn Manulife-Canađa. Công ty liên doanh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/6/1999, có thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 đô la Mỹ. Lĩnh vực hoạt động là thị trường BHNT.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential: Đây là một công ty 100% vốn nước ngoài của Anh Quốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/10/1999. Vốn đăng ký kinh doanh 14.000.000 đô la Mỹ, hoạt động trong thời hạn 50 năm. Prudential có tốc độ khai thác tương đối tốt, chủ trương khuyến khích đại lý đi về các địa phương khai thác và tuyên truyền quảng cáo.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ (AIA): là một công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, đi vào hoạt động từ ngày 22/2/2000 với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.000.000 đô la Mỹ, có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Ngoài ra còn một số công ty bảo hiểm mới được cấp giấy phép kinh doanh như: công ty liên hiệp bảo hiểm UIC, công ty bảo hiểm Việt-Úc công ty bảo hiểm dầu khí, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Bưu, công ty môi giới bảo hiểm Bảo Việt-Inchcape, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Long, công ty

    Allianz, công ty 100% vốn nước ngoài Groupama-Gan hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp (cấp cuối năm 2001), công ty liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với một đối tác của Ôxtraylia đang chờ giấy phép thành lập…

    2.3.3) MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    1. a) Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:

    Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới, năm 1999 dân số Việt Nam vào khoảng 76 triệu dân. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó, mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không ngừng thay đổi và phát triển.

    Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn khoảng 6-

    • tỷ đô la, trong đó có khoảng 64% là nắm giữ dưới dạng bất động sản. Do đó nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.

    Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ đó nhu cầu bảo hiểm cũng tăng.

    Thứ tư, Việt Nam là dân tộc có truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần tương thân tương ái cũng chính là nội dung của bảo hiểm, vì vậy nét văn hoá Việt Nam chính là một thuận lợi của bảo hiểm.

    1. bảo hiểm Việt Nam đã có 1 hiệp hội riêng:

     

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam thống nhất thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam từ ngày 9/7/1999 theo quy định của bộ trưởng. Hiệp hội có 13 công ty thành viên gồm 7 công ty bảo hiểm Việt Nam, 3 công ty liên doanh,

    • công ty 100% vốn nước ngoài. Hiệp hội bảo hiểm thực hiện chức năng cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thực hiện quy chế tự quản, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
    1. BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ RIÊNG:

     

    Nhà nước Việt Nam đã có các thông tư hướng dẫn thi hành luật kinh

    doanh bảo hiểm bảo vệ lợi ích của người được bảo hiểm, người kinh doanh bảo hiểm và công chúng. Một số các luật và văn bản dưới luật về kinh doanh các loại hình bảo hiểm có thể được kể đến là:

    Luật dân sự ngày 9/11/1995 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ( mục 11, chương 2 từ điều 271 đến điều 584).

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 (bổ sung, sửa đổi ngày 9/6/2000) liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm tài sản và trách nhiệm với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam ( điều 28 chương 4)

    Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý khác như nghị định số 72/1998/NĐ-CP, nghị định số 92/1998/NĐ-CP, thông tư số 71/2001/TT-BTC, thông tư số 72/2002/TT-BTC … Đó chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

    2.3.4) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM:

    Các công ty BHTM là các công ty tài chính phi ngân hàng, do vậy nghiên cứu hoạt động của các công ty này chính là nghiên cứu hoạt động thu chi ngân quỹ của chúng.

    1. nghiệp vụ thu: phần lớn nguồn thu của các công ty BHTM được hình thành từ thu phí bảo hiểm, và một phần từ lợi nhuận từ đầu tư.

    *) Lĩnh vực BHNT:

    Trên thị trường BHNT có sự đua tranh sôi động của 5 công ty lớn đó là: công ty bảo hiểm Bảo Việt, Manulife, Prudential, Bảo Minh-CMG và AIA. Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT đã tăng lên đáng kể. Năm 2001 đạt 2.775 tỷ đồng chiếm 55% phí bảo hiểm toàn thị trường, đạt 0.55% GDP, năm 2002 đạt khoảng 4.500 tỷ đồng, năm 2001 tăng trưởng115.6% so với năm 2000, năm 2002 tăng trưởng 67,6% so với năm 2001. Như vậy, doanh thu phí BHNT chiếm 58,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường, đạt gần 1% GDP, phấn đấu đến năm 2005 đạt 2% GDP. Theo đánh giá, doanh thu phí BHNT có khả năng đạt 18.000 tỷ đồng vào năm 2007. Nếu tính theo số hợp đồng BHNT thì các con số cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh trong năm 2001 chỉ có khoảng 387.500 hợp đồng BHNT được ký kết và duy trì thì tính đến ngày cuối 2002 trên toàn thị trường có khoảng 2.346.700 hợp đồng BHNT đang có hiệu lực, đạt tốc độ tăng trưởng 19,41%.. Riêng công ty BHNT 100% vốn nước ngoài Prudential đã đạt được 1000000 hợp đồng vào cuối tháng 12 năm 2002. Bình quân cứ 25 người dân lại có 1 hợp đồng BHNT. Tuy nhiên những con số đạt được vẫn còn là khá khiêm tốn đối với một thị trường BHNT đầy tiềm năng như Việt Nam.

    *)Lĩnh vực BHPNT:

    Tốc độ tăng trưởng của BHPNT phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan: đó là tỷ lệ rủi ro và mức độ khốc liệt của nó. Năm 2002, tổng doanh thu ước đạt 3.180 tỷ đồng. Đánh giá hoạt động của ngành bảo hiểm Việt Nam người ta có thể đánh giá theo thị phần hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong năm 2002, trật tự của các công ty trên thị trường đã có sự thay đổi đáng kể. Nhóm thứ nhất gồm 4 công ty bảo hiểm đứng đầu về thị phần, nói chung không có sự thay đổi về vị trí nhưng thị phần của Bảo Việt đã giảm khoảng 9,5%, thị phần của PVIC tăng 7%. Nhóm 2 gồm 3 công ty bảo hiểm tiếp theo. Trong nhóm này đã có sự thay đổi vị trí Allianz đã bứt phá vị trí từ thứ 7 lên thứ 5, đẩy PTI và UIC xuống thứ 6 và thứ 7. Thị phần của

    các công ty bảo hiểm Việt Nam trong năm 2002 được thể hiện trong biểu đồ sau:

                AIA –                    
                        B¶o Minh-    
           
        Manulife-       4.7%    
                      1.8%      
        12%                      
                     
                                   
                                   
                                     
    c«ng ty                          
    kh¸c-                          
                           
                      Prudential-  
    18,2%                         34%      
                                     
                                     

    B¶o ViÖt-

    39%

    PVJC-

    15,4%

    B¶o ViÖt-

    47.5%

    B¶o Minh-

    27,4%

     

    Thị phần của các công ty BHPNT

    năm 2002

    Thị phần của các công ty BHNT

    năm 2002

    Ngoài nguồn thu từ phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn có thể thu từ các hoạt động đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận ở thị trường Việt Nam thấp, nhưng với số lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, nên lợi nhuận thu từ đầu tư của các công ty bảo hiểm cũng tương đối lớn.

    b)Sử dụng vốn:

    Các công ty bảo hiểm huy động vốn bằng các bán các hợp đồng bảo hiểm và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:

    *) Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm: để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu. Đối với các công ty BHNT việc chi trả có tính chất dài hạn và tương đối ổn định, ngoại trừ 1 số rủi ro phát sinh. Trong năm 2002 đã có nhiều hợp đồng BHNT đáo hạn cộng với những rủi ro đối với khách hàng,

    tổng số tiền chi trả của các công ty BHNT Bảo Việt là 150 tỷ đồng. Đối với lĩnh vực BHPNT, việc chi trả diễn ra khá thường xuyên và không ổn định. Tình hình tổn thất xảy ra trong năm 2002 không có biến động lớn so với năm 2001, tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1.200 tỷ đồng, chiếm 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm.

    *) Nghiệp vụ đầu tư:

    Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước. Tổng kết năm 2002 cho thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm khá đa dạng và đảm bảo các nguyên tắc đầu tư là: đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng, danh mục đầu tư có khả năng sinh lời, công cụ đầu tư phải có khả năng thanh khoản cao. Danh mục đầu tư cho thấy tại Việt Nam mối quan hệ giữa ngân hàng và các công ty bảo hiểm rất gắn bó vì có đến 52,9% số vốn nhàn rỗi của các công ty được gửi tại các ngân hàng. Các khoản mục đầu tư khác là: góp vốn liên doanh: 7.2%, đầu tư bất động sản 6.8%, cho vay trực tiếp 4.7%, đầu tư trái phiếu 29.2%.

    Cùng với Bảo Việt, sự tham gia đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm đã góp phần đáng kể vào việc sớm hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm khá nhanh, trong giai đoạn từ 1996-2002 khoảng 125,3%/ năm làm cho thị trường vốn thêm sôi động:

    512.1 Tốc độ tăng vốn đầu tư trở lại nền kinh  
    tế của các doanh nghiệp bảo hiểm(%)  
     
         
    112.16 45.578 67.834 64.012 65.775
       

    9.6491

    1996          1997           1998            1999         2000           2001            2002

    Hoạt động đầu tư tài chính đã tạo nên phần lớn lợi nhuận cho các doanh nghiệp bảo hiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2002, Bảo Việt tham gia đầu tư vào dự án nhà máy xi măng Thăng Long tại Hoành Bồ, Quảng Ninh với tổng số vốn đầu tư xấp xỉ 350 triệu USD với tư cách là cổ đông sáng lập góp 30% vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có thể kể tới một số hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm khác như góp vốn vào quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây. Hiện nay, tổng nguồn dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể đầu tư 6000 tỷ đồng.

    Đánh giá một cách tổng quan, BHTM Việt Nam trong năm 2002 có mức tăng trưởng khoảng 48,5%. Năm 2003, mức tăng BHNT dự kiến khoảng 50%, mức tăng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam dự kiến ở mức 38% so với tổng phí với tổng phí bảo hiểm trên 10.590 tỷ đồng (băng 1,8% GDP năm 2003).

    2.3.5) NHỮNG TỒN TẠI CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

     

    Bên cạnh những tiến bộ của ngành bảo hiểm Việt Nam, chúng ta còn có thể nhận thấy những tồn tại của bảo hiểm Việt Nam.

    Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo hiểm còn ít. Số phí BHNT chỉ chiếm 1% GDP năm 2002 (rất nhỏ so với 4-5% GDP của các nước trong khu vực và 13-15% GDP ở các nước phát triển). Tỷ lệ người tham gia BHNT mới là 3% (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 100%). Phần đông dân chúng chưa hiểu rõ về nghiệp vụ bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm còn ở dạng sơ khai, một số sản phẩm bảo hiểm mới đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và dân cư.

    Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều sản phẩm mang tính tiết kiệm cao, được tính phí với lãi suất kỹ thuật cao trong khi lãi suất đầu tư thực tế có thể thấp hơn lãi suất đã đưa vào tính phí nên có thể các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai.

    Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn thiếu công cụ đầu tư dài hạn, gây khó khăn cho vấn đề tái đầu tư mở rộng vốn của các công ty bảo hiểm dẫn đến cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn ít nhiều bất hợp pháp hợp lý đem lại tỷ suất sinh lời không cao, khả năng mở rộng nguồn quỹ còn hạn chế.

    Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định chưa rõ rang, chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu lực thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan chức năng còn chưa cao.

    Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…Đặc biệt là hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang trở thành

    một loại tội phạm mới ở Việt Nam. Ví dụ như khai bảo không trung thực khi mua bảo hiểm, tai nạn rồi mới mua bảo hiểm. Công ty PJC đầu năm 2003 đang phải đối đầu với 2 vụ trục lợi bảo hiểm, đó là: vụ tại nạn tại đèo gió-Bắc Kạn và vụ đắm tàu cá Nam Hải tại Nam Định. Hai vụ việc này hiện đang được cơ quan công an làm rõ.

    Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của mình. Trong khi công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare mới chỉ bước đầu giúp các công ty bảo hiểm gốc đàm phán và thu xếp các hoạt động tái bảo hiểm trong năm 2002 cho các hoạt động bảo hiểm về năng lượng và hàng không. Hoạt động tái bảo hiểm mới chỉ chú trọng thu xếp các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm bắt buộc mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài về Việt Nam, và chưa quan tâm đến việc khai thác và nhận tái bảo hiểm tự nguyện.

    Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Thậm chí, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều cán bộ bảo hiểm câu kết với người tham gia bảo hiểm khai tăng tổn thất, khai sai lệch nguyên nhân gây ra tai nạn để rút tiền từ quỹ bảo hiểm, nhiều cán bộ còn có thái độ làm việc hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm, làm mất lòng tin của nhân dân.

    Trên đây mới chỉ là một số vấn đề nổi cộm còn tồn tại trong hệ thống BHTM Việt Nam. Để khắc phục các yếu kém này, cần phải có những cố gắng từ phía nhà nước và từ phía các công ty bảo hiểm.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO BHTM VIỆT NAM.

    3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:

    3.1.1) NHÀ NƯỚC CẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CƠ QUAN QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp luật cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời tiến hành quản lý giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển ổn định nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh… Trên cơ sở các luật đã đề ra, nhà nước cần tăng cường và bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ phận này cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng chuyên giám sát và quản lý từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

    3.1.2) TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM:

    . Trong những năm trước mắt, tối thiểu hiệp hội phải có 10 cán bộ chuyên trách giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ. Để thu hút được nhân tài thì cơ chế tài chính phải hợp lý, tiền lương của cán bộ công nhân viên hiệp hội tối thiểu phải bằng tiền lương bình quân của cán bộ các công ty thành viên. Đi liền với cơ chế tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của hiệp hội phải đủ mạnh để xử phạt các thành viên vi phạm. Mặt khác, các công ty là hội viên phải được hưởng một số ưu đãi từ chính sách quản lý của nhà nước để thu hút thành viên tham gia hiệp hội, đẩy lùi các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.1.3) CẦN CÓ CÁC CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH HIỂM

    Trước hết, đó là chính là chính sách hội nhập cho các doanh nghiệp bảo hiểm:

    Nói chung, mức độ mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài còn ít. Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng có rất nhiều ích lợi đến sự phát triển của ngành bảo hiểm. Nhà nước khi xây dựng chính sách mở cửa cần phải đảm bảo một số nguyên tắc như: mở cửa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng vẫn phải bảo vệ và phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, giữ ổn định về môi trường chính sách để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư, đặt quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong khuôn khổ hội nhập tài chính quốc tế Việt Nam.

    Thứ hai, nhà nước nên có các chính sách phát triển các đại lý bảo hiểm:

    Việt Nam cần có thêm những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ đại lý bảo hiểm Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Khi quy định mức hoa hồng tối đa áp dụng cho toàn thị trường, nhà nước cần xác định mức hoa hồng của các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý và công bằng đồng thời tạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc chi trả hoa hồng.

    Thứ ba, nhà nước cần quan tâm đến lãi suất kỹ thuật của các công ty bảo hiểm: Nhà nước có thể đưa ra một mức lãi suất tham khảo để giúp các doanh nghiệp xác định được lãi suất kỹ thuật thích hợp đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai tránh trường hợp lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao, dẫn tới không cân đối được thu chi trong dài hạn.

    Thứ tư, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích đầu tư: Các chính sách như thực hiện ưu đãi thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư của doanh bảo hiểm đối với một lĩnh vực đầu tư cần khuyến khích như đầu tư vào thị trường chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, mua trái phiếu chính phủ… Nhà nước có thể chủ trương phát hành thêm các loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm, 25

    năm…để các doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội lựa chọn trong chiến lược đầu tư dài hạn.

    3.1.4) SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM:

    Người ta đã chứng minh được hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách thuế nếu có thể giảm thuế thu nhập một cách hợp lý. Người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương này là cố tổng thống Mỹ, Kennedy. Năm 1964, ông thực hiện giảm thuế thu nhập . Hiệu quả kinh tế xã hội ngay lập tức đã thể hiện sau đó: GDP tăng từ 5,3% từ năm 1964 lên 6% vào năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,7% năm 1963 xuống 4,5% năm 1965. Do vậy, để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà nước ta có thể miễn giảm một phần thu nhập đối với những cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ trước khi tính thu nhập chịu thuế cá nhân. Khi miễn giảm một phần thu nhập trước thuế khi tính thu nhập chịu thuế sẽ tác động mạnh đến tâm lý của người có thu nhập cao. Do đó, nhu cầu thực tế về bảo hiểm sẽ tăng, các công ty bảo hiểm có thêm nguồn thu phí. Từ đó sẽ tăng đầu tư trở lại nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển lâu dài.

    Nhà nước cũng nên thay đổi cả thuế thu nhập của đại lý bảo hiểm. Hiện nay quy định đánh thuế 5% trên hoa hồng của các đại lý dù hoa hồng. Thậm chí một số đại lý không đạt mức lương tối thiểu vẫn bị khấu trừ 5%. Thêm vào đó, để đạt được hoa hồng, đại lý bảo hiểm phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị… nên khi xác định thuế thu nhập cho đại lý cũng phải có cách xác định phù hợp.

    3.1.5) NHÀ NƯỚ C CẦN CÓ BIỆ N PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MÔI GIỚI.

    Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 công ty môi giới là AON-Inchinbrok và VIETQUOC. Song cả hai đều chưa thực hiện tốt được chức năng tư vấn cho các cá nhân và những doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Các công ty môi giới bảo hiểm Việt Nam thiên về sử dụng mối quan hệ với

    khách hàng ở góc độ này, góc độ khác để giới thiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm trả phí môi giới cao hơn. Do vậy, nhà nước tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty môi giới, quy định mức phí môi giới tương đối ngang bằng cho các công ty áp dụng. Hiệp hội bảo hiểm cũng phải tham gia quản lý các công ty môi giới để công ty môi giới là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng.

    3.2) GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP :

    3.2.1) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ:

    Các công ty bảo hiểm phải phát triển và cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp dịch vụ tổng hợp. Tức là, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm kèm theo các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ tư vấn tiêu dùng, tư vấn y tế, tư vấn luật… Đồng thời, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các loại sản phẩm dịch vụ, đưa ra nhiều mức phí bảo hiểm hợp lý phù hợp với các mức thu nhập.

    Các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm, khi cung cấp sản phẩm phải làm cho khách hàng thấy được ý nghĩa thực sự của sản phẩm, giúp họ thấy rõ sự khác nhau giữa bảo hiểm và các hình thức tiết kiệm khác như tiền gửi ngân hàng… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các kênh phân phối như: phân phối qua các tổ chức ngân hàng, các tổ chức tài chính, bán hàng qua internet, qua thư trực tiếp… Đặc biệt là sử dụng các đại lý. Đại lý bảo hiểm là một nghề mà thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào hoa hồng của những hợp đồng bán được. Các công ty bảo hiểm cần có các biện pháp để phát triển hệ thống đại lý, tạo điều kiện để các đại lý hoạt động có hiệu quả như: quy định mức phí phù hợp, phân bố mạng lưới các đại lý phù hợp, tránh chồng chéo thị trường, đào tạo nghiệp vụ cho các đại lý…

    3.2.2) CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ:

    Cán bộ bảo hiểm là người xây dựng uy tín, tên tuổi cho các doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, dạo đức nghề nghiệp, thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng… Để bảo hiểm có thể cung cấp cho thị trường những dịch vụ với chất lượng tốt, nâng cao uy tín của ngành.

    3.2.3) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ HỢP LÝ, DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÙ HỢP:

    Một chiến lược đầu tư đúng đắn sẽ có tác dụng làm tăng khả năng mang lại lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra, tăng khả năng chi trả cho người được bảo hiểm, nâng cao phúc lợi cho toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược đầu tư tài chính trong mỗi giai đoạn cho từng loại tài sản đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách linh hoạt trong các tài sản đầu tư.

    Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư. Các doanh nghiệp cần có 1 đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu về thị trường tài chính và đầu tư tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nên thành lập các định chế đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hay nắm giữ số cổ phần chi phối hay mua cổ phần trong những tổ chức đầu tư khác.

    Trong đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần xác định rõ nguồn vốn đầu tư cơ cấu lượng tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là khác nhau, luôn tồn tại 2 luồng tiền: ngắn hạn (phi nhân thọ) và dài hạn (nhân thọ), cần phải xác định rõ 2 luồng tiền này để có kế

    hoạch đầu tư đúng thời hạn, tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn luồng tiền ngắn hạn đầu tư dài hạn và ngược lại.

    3.2.4) HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác quản lý hoạt động kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí bảo hiểm, tăng cường khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức. Bởi vì, chỉ bằng cách này các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mới có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    3.2.5)CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜ NG HỢP TÁC GIÚP ĐỠ LẪN NHAU, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LĨNH VỰC KHÁC.

    Việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt: hợp tác đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ đại lý, xây dựng uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường…Các doanh nghiệp bảo hiểm cùng hợp tác phát triển.

    Tăng cường mối quan hệ giữa bảo hiểm với các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán: bảo hiểm và các ngân hàng thương mại (NHTM) đều là các tổ chức tài chính. Thực tế, trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng phát triển càng sự phát triển của bảo hiểm. Việc đầu tư của các NHTM chỉ có thể có hiệu quả và an toàn khi có sự tham gia của bảo hiểm. Vì vậy, nhà nước có quy định ở một số lĩnh vực như cho vay đóng tàu, mua sắm phương tiện vận tải.. thì người đi vay phải mua bảo hiểm. Để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác này, cần phải phát triển thị trường tiền tệ, tạo sự thâm nhập sâu hơn của các tổ chức bảo hiểm vào hoạt động ngân hàng và

    ngược lại, mở rộng việc các NHTM làm đại lý bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm (hiện nay có: NHTM cổ phần Á Châu làm đại lý cho Prudential)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành nhưng sự phát triển của nó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng của tác động này. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra cho bảo hiểm những cơ hội đầu tư vừa có lợi nhuận cao, mức độ an toàn cao mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản.

    Ngoài ra còn cần tăng cường mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm nhằm san sẻ bớt rủi ro.

    III. KẾT LUẬN:

    Hiện nay, bảo hiểm Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Xu hướng phát triển hiện nay là các công tăng cường liên kết với nhau để hình thành những tập đoàn có sức cạnh tranh lớn. Bảo hiểm cũng ngày càng lấn sân sâu vào lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng như cho vay các công ty, cho vay tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ khác… Bảo hiểm Việt Nam đã có đóng góp lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

    Do thời gian hạn hẹp, trình độ còn non kém nên khi viết đề án này em không tránh khỏi những thiếu sót, phần bố cục còn thiếu cân đối, còn thiếu số liệu trong các lĩnh vực bảo hiểm. Em mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo và các thầy cô trong bộ môn lý thuyết tiền tệ đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề án.

    CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí bảo hiểm
    2. Tạp chí ngân hàng
    3. Tạp chí tài chính
    4. Thời báo tài chính
    5. Báo thông tin tài chính
    6. Tập san của tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-n%C3%A2ng-cao-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-PR-cho-c%C3%B4ng-ty-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-nh%C3%A2n-th%E1%BB%8D-Prudential.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR (Public Relations_Quan hệ cộng đồng) cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong bối cảnh nền kinh tế Việt nam đang trên đà hội nhập cùng các tổ chức kinh tế thế giới người ta thấy rằng sự tồn tại của một thị trường Bảo hiểm lành mạnh là một yếu tố cấu thành cơ bản cho bất cứ nền kinh tế thành công nào. Nắm bắt được tầm quan trọng đó, chính phủ Việt nam mở cửa cho một ngành mới đó là Ngành Dịch vụ bảo hiểm

    Với mong muốn đáp ứng nhu cầu của thị trường mang lại sự an toàn về tài chính cho khách hàng, tạo sự an tâm trong cuộc sống của người dân Việt Nam,Công ty bảo hiểm PRUDENTIAL đã cung cấp cho thị trường các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phù hợp với điều kiện sống, phong cách sống và văn hoá của người Việt nam. Bên cạnh đó mục tiêu xây dựng một đội ngũ đại lý hùng hậu, chuyên nghiệp, có đạo đức nghề nghiệp, luôn biết đề cao quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu là một trong những mục tiêu của công ty bảo hiểm PRUDENTIAL

    Một trong những hoạt động quan trọng để tạo nên sự thành công của công ty bảo hiểm đó là hoạt động ” PR (PUBLIC RELATIONS_QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG” Vì PR là quá trình quản lý về truyên thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy trì những quan hệ hữu ích giữa một tổ chức cá nhân với một cộng đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến sự thành bại của tổ chức cá nhân đó.

    Cho đến nay khái niệm về PR còn khá mới mẻ với mỗi chúng ta cũng như với mỗi doanh nghiệp và khách hàng của họ. Vì thế khi nghiên cứu về đề tài một góc nhìn về ” PR (PUBLIC

     

    RELATIONS_QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG” của công ty bảo hiểm PRUDENTIAL trong thị trường bảo hiểm ở việt nam. Do hạn chế về lý luận, về kinh nghiệm thực tế, các mối quan hệ nên bài viết còn nhiều thiếu sót. Rất mong sự giúp đỡ của thầy cô giáo và bạn đọc

    Nội dung của đề tài:

    Chương 1. Tổng quan về PR

    Chương 2. Tổng quan về bảo hiểm.

    Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR của công ty bảo hiểm nhân thọ PRUDENTIAL

     

    2

    Chương 1:TỔNG QUAN VỀ PR

    1.1 KHÁI NIỆM PR

    PR theo tiếng Anh là PUBLIC RELATIONS tuy nhiên dịch sang tiếng việt thì chưa có sự thống nhất, có thể dịch là quan hệ cộng đồng, quan hệ công chúng, giao tế nhân sự…

    Nếu ta gọi PR là quan hệ công chúng thì chưa đủ vì PR còn bao gồm các nghiệp vụ trong đó có Government relations (Government affair), industry relation… Trong các nghiệp vụ này không thể coi các nhóm cộng đồng đồng nghiệp hay các nhóm quan chức chính trị là các nhóm công chúng. Cụm từ giao tế nhân sự thì không ổn vì bản chất của PR là để giải quyết vấn đề thông tin giữa người với người chứ không phải để giải quyết vấn đề nhân sự vốn là nghiệp vụ của ngành nhân sự. Như vậy có lẽ cụm từ quan hệ cộng đồng là thích hợp hơn cả. Và khắc phục điểm yếu của các cách dịch khác .

    Vậy PR là gì?

    Theo Rex Halow một trong những học giả hàng đầu về PR cho rằng có đến hơn 100 định nghĩa khác nhau về PR. Nhưng các định nghĩa đều đi đến sự thống nhất với nhau. PR là một quá trình quản lý về truyền thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy trì những quan hệ hữu ích giưã một tổ chức cá nhân với một cộng đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến sự thành bại của cá nhân đó”

    PR ra đời khi nào và ở đâu?

    PR ra đời vào cuối thế kỷ 19 xuất hiện ở Mỹ bởi một số nhà báo tiến bộ. Sau này nó được phổ biến ở các nước Châu Âu và gần đây nhất là ở Châu á khi các khái niệm và nội dung của nó gần được hoàn chỉnh.

    • Việt nam khái niệm này chỉ được biết đến trong một vài năm gần đây. nó còn khá mới mẻ và chưa thực sự trở thành một công cụ

    3

    quan trọng, hiệu quả trong quá trình hoạt động và kinh doanh của doanh nghiệp.

    Ngày nay người ta coi PR là bạn đồng hành của quảng cáo trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu. PR,cũng như quảng cáo, là một trong những nội dung của hoạt động truyền thông marketing. Nhưng trong khi quảng cáo trực tiếp giới thiệu về một tổ chức ,một sản phẩm cụ thể,thì PR có thể đi từ việc gây dựng nhận thức của cộng đồng về tổ chức hoặc sản phẩm đó,từ đó mà tạo nên hình ảnh,uy tín và hiệu quả cần thiết .PR vì vậy xét trên bình diện chung,có tác dụng lâu bền và hiệu quả hơn so với quảng cáo. 2/3 các vị giám đốc Marketing và giám đốc nhãn hiệu ở Mỹ tin rằng PR giữ vai trò quan trọng hơn quảng cáo trong việc xây dựng và quảng bá danh hiệu (” Nguồn marketing report 1999″).

    • Việt Nam ,PR được biết đến sau quảng cáo một thời gian khá dài,do đó trong khi chưa hiểu hết về PR,có nhiều người đã luôn
    • ánh đồng hai khái niệm đó thành một.Xét về chức năng,PR có những nghiệp vụ liên quan đến việc thu thập thông tin đầu vào và xử lí thông tin đầu ra.PR cũng làm một trong những nhiệm vụ đặc biệt là quảng bá cho hình ảnh của tổ chức (đôi khi người ta sử dụng cụm từ”đánh bóng thương hiệu”là chưa chính xác,vì PR khong chỉ
    • ánh bóng mà còn là một trong những bên tham gia chính trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu).Tuy nhiên ,những việc mà PR

    làm cũng như mục tiêu ,tính chất ,cách thức…của những việc đó cũng không hề giống quảng cáo nên không thể nói PR là quảng cáo hay một phần của quảng cáo.Điểm được coi là khác biệt lớn nhất giữa PR và quảng cáo đó là:quảng cáo bắt buộc phải trả tiền về địa

    • iểm hay thời gian của các phương tiện truyền tin còn PR thì không.

    Giám đốc một công ty quảng cáo(trước kia cũng làm về PR )đã từng nói: làm quảng cáo dễ hơn vì khái niệm quảng cáo đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam quen thuộc hơn rất nhiều.Tìm kiếm ngân

    4

    sách cho quảng cáo cũng thông thoáng hơn.Thực tế là có rất ít các doanh nghiệp Việt Nam làm PR hay có những bộ phận chuyên làm các hoạt động PR mà trong khi ngân sách dành cho quảng cáo thì ngày càng tăng.

    Vì sao?

    Theo tôi,điều này cũng là dễ hiểu vì ba lí do sau:thứ nhất, quảng cáo xuất hiện đã khá lâu rồi nên ai cũng có thể thấy và công nhận hiệu quả mà quảng cáo đem lại trong khi đó PR có quá ít thời gian để chứng tỏ điều đó;thứ hai ,nội dung về PR chưa được phổ biến và hoàn chỉnh ở Việt Nam ;thứ ba ,do nguồn ngân sách của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế.

    Thực ra công việc quan hệ với giới báo chí cũng là một hoạt động của PR, ngoài ra còn rất nhiều các hoạt động khác. Xét về nguồn gốc xuất xứ, người ta cho rằng PR bắt nguồn từ báo chí. Cho đến nay, các trường dạy báo chí phương Tây cũng chính là nơi đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu cho ngành PR. Học viên học các môn cơ sở như nhau, sau đó người học PR sẽ được đào tạo chuyên sâu thêm những nghiệp vụ của ngành đó để làm việc chuyên môn. Ở Việt Nam hiện nay chưa có một trường nào đào tạo chính thức và riêng rẽ về PR.Các cuốn sách viết về PR cũng chưa được xuất bản.Có thể nói chúng ta đang vừa học vừa làm PR. Trong thời gian sắp tới sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp đi tiên phong xây dựng nền tảng cho hoạt động PR ở Việt Nam.

    5

    1.2 VAI TRÒ CỦA PR

    Bằng những công việc cụ thể của mình, vai trò chính của PR là giúp doanh nghiệp truyền tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ. Khi truyền đi các thông điệp này, PR giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu.Ví dụ như tã lót Huggies đang tổ chức một chương trình PR rộng rãi được quảng cáo khá rầm rộ”Bé huggies năng động”, hoặc Unilever vận động chương trình “Gởi tặng đồng phục đi học mà bạn không dùng nữa cho bột giặt OMO” gửi cho các nữ sinh ở các vùng xa. Chương trình này có tính từ thiện, phục vụ cho cộng đồng nên đã tranh thủ được thiện cảm của công chúng. Hơn nữa, thông điệp PR ít mang tính thương mại do sử dụng các phương tiện trung gian như các hoạt động tài trợ, từ thiện, hoặc các bài viết trên báo, vì chứa đựng lượng thông tin phong phú nên dễ gây cảm tình và dễ được công chúng chấp nhận. Ví dụ các trường đại học trong và ngoài nước tham gia triển lãm “Ngày hội đào tạo và việc làm” tại khách sạn New World, do sứ quán Pháp tài trợ kinh phí nhằm mục đích tiếp cận với các đối tượng, quảng bá các chương trình đào tạo của họ. Tại triển lãm này, chính hoạt động PR đã giúp cho trường đại học chuyển tải nhiều thông tin cụ thể đến các đối tượng có liên quan.

    PR đặc biệt hữu hiệu trong các trường hợp:

    -Tung ra sản phẩm mới

    -Làm mới sản phẩm cũ

    -Nâng cao uy tín

    -Doanh nghiệp có ngân sách hạn chế

    -Doanh nghiệp gặp khủng hoảng

    Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể kể ngay ra sau đây ba lợi ích chính của hoạt động PR:

    • PR là phương cách tốt nhất để chuẩn bị và tạo những dư luận tốt. Quảng cáo không làm được việc này. Marketing cũng vậy. PR làm rất tốt công việc

    6

    này.PR giúp doanh nghiệp tạo dư luận tốt thông qua sự ủng hộ của giới truyền thông và các chuyên gia phân tích thương mại. Giữa hoạt động PR và Quảng cáo, phương pháp nào hiệu quả hơn-lựa chọn một mẫu quảng cáo về sản phẩm mới hay một bài báo hay viết về sản phẩm đó? Quảng cáo tuy dễ gây ấn tượng nhưng không dễ dàng thuyết phục công chúng tin. Về mặt này thì không chỉ đúng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà nó luôn đúng với bất kì doanh nghiệp nào.

    • Chi phí cho hoạt động PR thấp hơn các loại hình khuyến mãi khác. Khi so sánh chi phí cho chiến dịch tiếp thị trực tiếp hoặc đăng một mẫu quảng cáo với chi phí cho một thông cáo báo chí, đương nhiên mẫu thông cáo báo chí sẽ có chi phí thấp hơn khá nhiều trong khi lại thu hút được lượng công chúng rộng rãi hơn.

    Vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ không còn phải quá lo về chuyện ngân sách dành cho PR trong khi vẫn có thể từng bước xây dựng chỗ đứng của công ty trên thị trường

    • PR giúp doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực tài giỏi. Thông thường người lao động thích được làm việc cho những công ty nổi tiếng vì họ tin tưởng là công ty đó rất vững chắc và họ có thể có nhiều cơ hội thăng tiến.

    Hơn nữa, làm PR sẽ giúp cho doanh nghiệp vượt qua những sóng gió và những cơn bão táp. Khi có khủng hoảng, doanh nghiệp đó sẽ tìm được sự ủng hộ,bênh vực, hỗ trợ từ phía cộng đồng(đây là điều kì diệu mà không thể mua được bằng tiền) trong việc cứu vãn uy tín và giữ gìn nguyên vẹn hình ảnh của doanh nghiệp.

    1.3 KHÍA CẠNH XÃ HỘI CỦA PR

    Hoạt động PR chính là việc tạo ra một nhịp cầu thông tin ,tạo ra sự hiểu biết và thông cảm trong một xã hội đầy phức tạp như hiện nay

    Mỗi xẵ hội thì đều được cấu tạo nên từ rất nhiều cá nhân, mỗi cá nhân lại là những cá thể khác biệt,không cá nhân nào giống cá nhân nào về nhận thức,trình

    7

    độ ,lối sống,ý niệm….Vậy nên việc thống nhất suy nghĩ của xã hội về một vấn đề

    nào đó là vô cùng khó khăn.

    Chúng ta cùng quay trở lại với chiến dịch quyên góp áo trắng đi học của Unilever. Đây cũng chỉ là cách mà công ty lựa chọn để gắn hình ảnh bột giặt Omo với những chiếc áo trắng nhưng cái cách mà Omo quyên góp cho các học sinh nghèo đã tác động tới tình nhân ái, lòng trắc ẩn, sự yêu thương của con người đối với con người.Thông điệp mà Unilever sử dụng đã thuyết phục được mọi người, thúc giục mọi người hưởng ứng,chiếm trọn lòng tin yêu của cả xã hội.

    Các chiến dịch tranh cử tổng thống thuộc loại rầm rộ nhất như ở Mỹ cũng chính là các chiến dịch PR tổng lực với sự vận dụng các kĩ năng, các loại hình hoạt động PR cho mục tiêu chính trị. Qua đó công chúng sẽ có được những nhận thức công bằng và chính xác hơn cả về những ứng cử viên, ngược lại các ứng cử viên cũng có thể truyền đạt những thông điệp của mình một cách nhanh chóng và rộng rãi nhất.Lợi ích xã hội trong trường hợp này rất được đề cao khi mà công chúng có thể ‘chọn mặt gửi vàng ‘, chọn ra được người xứng đáng nhất, người sẽ đem lại lợi ích cho chính họ và cho cả xã hội. Kể cả sau khi được trúng cử, PR vẫn được xem trọng. Những cuộc họp báo chớp nhoáng ngay sau mỗi cuộc họp, hội đàm ở Vườn hồng của tổng thống Mỹ cũng chính là một ví dụ. Không chỉ các quĩ, hội, các chính trị gia mà ngay cả cảnh sát, nhà thờ, trường học…cũng cần PR cho những mục tiêu của mình và vì sự thông hiểu với cộng đồng nói chung.

    Ví như WWF (World Wild Fund_Quĩ quốc tế vè bảo vệ thiên nhiên)có tới

    • triệu hội viên trên toàn cầu và mỗi hội viên đó chỉ cần đóng góp 1 USD thì trong nháy mắt,WWF đã có một số tiền khổng lồ là 47 triệu USD. Nhưng các hội viên này đâu có góp tiền một cách dễ dàng. Họ phải được biết số tiền mình góp đã và sẽ được dùng làm gì ? Đem lại hiệu quả ra sao? Ở đâu và khi nào? Như vậy trong việc này nhất thiết phải có sự góp mặt của PR. PR sẽ tạo ra một

    8

    sự thông hiểu toàn diện sâu sắc và đúng đắn nhất giữa hội viên_tổ chức và cộng đồng nói chung nhằm làm cho các dự án ngày một phát triển.

    Có thể nói rằng PR hoạt động nhờ xã hội và hoạt động vì xã hội.

    1.4 PR SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ

    • Các mối Quan hệ báo chí, các hoạt động hỗ trợ, các hoạt động khuyến mại tài trợ , triển lãm hội chợ, các mối quan hệ với các cơ quan chức năng, xử lý thông tin khủng hoảng và các hoạt động hỗ trợ khác

    *Các hoạt động hỗ trợ

     

    Bao gồm việc tổ chức các lễ kỉ niệm hay các buổi giới thiệu sản phẩm dịch vụ hay ra mắt các công ty mới.

     

    Công cụ nay đòi hỏi một chi phí cao hơn và sự chuẩn bị kĩ lưỡng hơn. Hiện nay đã xuất hiện một số công ty chuyên làm về PR ở Việt Nam. Các công ty, doanh nghiệp thiếu nhân lực, thiếu kinh nghiệm hay ý tưởng thì có thể thuê các công ty này, và hãy tin tưởng vào tính chuyên nghiệp của họ. Công ty ACV communications là một ví dụ. Ngoài ra, có thể kể đến Thiên Ngân, Max communications, Starlit…Cũng còn có rất nhiều công ty tuy không chuyên hẳn về PR nhưng vẫn có thể làm PR khi có khách hàng. Đối với các công ty này, PR chỉ là một dịch vụ hỗ trợ bên cạnh những dịch vụ khác mà họ cung cấp cho khách hàng. Hầu hết các công ty này kinh doanh trong nghề quảng cáo, in ấn hoặc tư vấn đầu tư. Trên thực tế, đã có rất nhiều công ty PR mở ra hoạt động được một thời gian ngắn rồi nhanh chóng chuyển sang làm công việc khác. Một thực tế cũng đáng lưu tâm là, tại Việt Nam, dù đã có nhiều nhà đầu tư nước ngoài lớn,nhưng điểm mặt các anh tài của ngành PR thế giới cũng chỉ có vài công ty như Ogilvy & Mather hay Batey Bum.Giải thích về việc này ,Bùi Quang Huy, một nhân viên PR lâu năm nay làm việc tại một công ty quảng cáo cho rằng:lí do là vì thị trường của ngành PR ở Việt Nam còn rất nhỏ bé và công việc PR không ngon ăn như nhiều người vẫn lầm tưởng. Thị trường nhỏ bé như vậy, nên mặc dù số lượng không lớn, nhưng các công ty PR phải đối mặt với sự cạnh tranh khá quyết liệt. Do đặc thù của công việc PR, nên cạnh tranh về giá chưa

    9

    phải là tất cả, bởi những công ty đã bỏ tiền ra để thuê PR, điều mà họ quan tâm trước hết là chất lượng dịch vụ và hiệu quả của công việc. Không ở nghành kinh doanh nào mà ý nghĩa của câu “Thành công của khách hàng chính là thành công của chúng tôi” lại đúng như vậy. Công ty PR có thể nhanh chóng gây dựng được uy tín sau một vài lần tổ chức thành công chương trình PR cho khách hàng nhưng cũng có thể mất uy tín với tốc độ tương đương .Tuy nhiên Việt Nam vẫn là một thị trường tiềm năng đối với ngành PR. Mặc dù đầu tư nước ngoài vào Việt Nam những năm gần đây không tăng , nhưng nhiều công ty PR vẫn tìm thay lượng khách hàng tương đối ổn định. Một phần vì lượng kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn, phần khác vì họ ngày càng nhận thức được giá trị của PR trong công việc kinh doanh .

    Như vậy các công ty PR chỉ tập trung tìm kiếm khách hàng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( chủ yếu là các doanh nghiệp lớn) và một số ít doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Tuy nhiên các doanh nghiệp này thường chọn mặt gửi vàng, hoặc là sử dụng các công ty PR nước ngoài, hoặc là dùng các công ty PR đã thành danh trên thị trường. Do vậy để bắt đầu kinh doanh trong ngành PR ,những sáng lập viên của các công ty thường là các cựu nhân viên PR của các công ty PR hoặc nhân viên PR từ các công ty nước ngoài

    .Với các mối quan hệ sẵn có, cộng với kinh nghiệm làm việc,họ sẽ dần dần tạo dựng được danh tiếng và thị phần cho mình.

    Quay trở lại công ty Pepsi – IBC, với mục đích giới thiệu sản phẩm mới Aquafina, họ đã khẳng định mình bằng một ‘bữa tiệc’ văn hoá, nghệ thuật rất quy mô, hoành tráng và hoàn hảo cả về khâu tổ chức lẫn chất lượng chương trình. Có thể coi đây là một bước ngoặt về hoạt động PR tại Việt Nam .Ngoài các buổi lễ kỉ niệm ,ra mắt sản phẩm mới, còn có các buổi lễ đón nhận huân chương, bằng khen ,chứng nhận hay chứng chỉ về tiêu chuẩn chất lượng. Tất cả đều mang đến cho các doanh nghiệp những ‘điểm tốt’, tạo uy tín và hình ảnh cho các doanh nghiệp này trong tương lai.

    * Quan hệ báo chí

    10

    Quan hệ báo chí bao gồm nhiều hoạt động khác nhau từ việc viết thông cáo báo chí, đặt bài viết đăng báo hay tạp chí cho tới việc tổ chức các cuộc phỏng vấn với phóng viên báo, đài phát thanh, truyền hình cũng như tổ chức các cuộc họp báo để đưa ra các thông báo đặc biệt.

    Chi phí cho hoạt động này được coi là thấp so với các hoạt động khác của PR và cho quảng cáo. Trong khi tác dụng của nó lại rất đáng kể và có mức độ bao phủ rất lớn. Ngày nay báo, đài, truyền hình là những phương tiện truyền tin thông dụng, phổ biến và hiệu quả nhất ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác.

    Đa phần các doanh nghiệp khi bước đầu làm PR thì đều thực hiện quan hệ báo chí trước tiên vì rất dễ thành công với chi phí thấp.Nói chung với hoạt động này, các doanh nghiệp có thể tự mình thực hiện, ít khi phải thuê ngoài. Đó cũng là cái cách mà doanh nghiệp được tự thể hiện mình và thuyết phục lòng tin của đối tượng mục tiêu.

    Công ty Pepsi-ICB đã làm rất tốt việc này khi cho ra mắt sản phẩm mới nước tinh khiết Aquafina. Đồng thời tiến hành với buổi trình diễn ra mắt hoành tráng, một bài trò chuyện phỏng vấn giữa phóng viên báo với ông Phạm Phú Ngọc Trai _giám đốc công ty cũng được đăng tải trên Thời báo kinh tế Sài Gòn. Những ưu điểm, khác biệt và một hình ảnh mới trên thị trường nước tinh khiết được nhắc đến và khuyến dụ công chúng hãy cảm nhận. Qua bài báo này, những thông tin về tăng trưởng, thị phần, những chỉ số về thành phần, tiêu chuẩn chất lượng…được công bố cụ thể và rõ ràng đã tạo nên cảm giác tin tưởng,mong đợi , kì vọng đối với công chúng nhận tin và ai cũng sẵn sàng đón nhận “âm thanh của sự tinh khiết”.

    Không chỉ đối với lĩnh vực kinh tế, người ta còn sử dụng công cụ này trong cả các lĩnh vực khác như ca nhạc, phim ảnh, các hoạt động xã hội, chính trị nữa. Và nó đều phát huy được tác dụng của mình.

    *Khuyến mãi

    11

    Tổ chức và thực hiện các cuộc khuyến mãi và cạnh tranh- thường là trên báo chí hay trên bao bì các sản phẩm, hoặc trực tiếp qua thư từ. Tất cả nhằm giới thiệu tên của một tổ chức và các thông tin kèm theo nó.

    Công cụ này thường được sử dụng trong trường hợp cần phải kích thích tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn nữa, và nhắc nhở, khuấy động lại tâm trí của công chúng về sản phẩm cũng. Như công ty , doanh nghiệp .

    12

    *Tổ chức triển lãm, hội chợ

    Đó là việc thiết kế và xây dựng các gian hàng trưng bày tại các cuộc triển lãm. Ngoài việc phải làm thật bắt mắt,các doanh nghiệp cũng cần phải thổi được cái hồn, triết lí kinh doanh cũng như thông điệp của mình tới khách hàng.

    Trong một vài năm gần đây, người dân Việt Nam đã dần có được cái thói quen đi tới các cuộc triển lãm, họ không những xem mà còn dùng thử và mua một lượng hàng hoá khá lớn tại đây. Như vậy công cụ này đang có một điều kiện rất thuận lợi để thành công,các doanh nghiệp Việt Nam cần chớp ngay cơ hội sẵn có này.

    *Tài trợ

    Tức là phải làm các công việc đánh giá các chương trình tài trợ, chuẩn bị hợp đồng và các lễ kí, đảm bảo việc thực hiện hợp đồng đồng thời thông báo rộng rãi về hoạt động tài trợ.

    Các hoạt động tài trợ thu hút được đông đảo công chúng thường là tài trợ cho các chương trình giải trí trên truyền hình,radio,các quĩ học bổng, quĩ cho người nghèo,các cuộc thi mang tính cộng đồng cao…

    Trên truyền hình, OMO khá nhanh chân khi giành phần tài trợ cho chương trình “Chiếc nón kì diệu”một chương trình giải trí được coi là ăn khách nhất hiện nay thể hiện bằng số lượng người tham gia và số lượng người xem chương trình.

    Công cụ này cũng đòi hỏi công ty, doanh nghiệp phải có nguồn tài chính khá dư dật vì công việc này không thể làm một vài lần rồi thôi mà phải liên tục, lâu dài thì mới phát huy được hiệu quả của nó.

    *Các hoạt động hỗ trợ khác

    Bao gồm việc thiết kế, viết và làm các tờ rơi các bản tin và các vật liệu quảng cáo đặc biệt.

    Công việc này công ty nên thuê ngoài do sự cần thiết của tính chính xác,chuyên nghiệp và chi phí cho nó không lớn lắm.

    13

    • trên, tôi đã có nói tới một tổng công ty tự mình làm công việc PR(in sách giới thiệu ) và kết quả là không thu được hiệu quả do lỗi kĩ thuật. Công ty tuy đã nhận thức được tầm quan trọng của công việc này nhưng do quá chủ quan vì nghĩ rằng quá dễ để làm nên mới phải chịu thiệt hại (cả về vật chất,thời gian,công sức cũng như uy tín của công ty ) như vậy .

    *Quan hệ với các cơ quan chức năng

    Làm việc với các bộ, ban, ngành, các tổ chức thương mại và môi trường, đảng phái chính trị để giới thiệu về một số tổ chức và quan điểm của tổ chức đó nhằm tác động đến phản ứng của các tổ chức và cơ quan này. Hoạt động này rất quan trọng đối với những thị trường bị điều tiết nhiều như ở Việt Nam .

    *Xử lý thông tin khủng hoảng

    Chuẩn bị phương án dự phòng cho trường hợp xảy ra rủi ro và khủng hoảng. Chuẩn bị những sổ tay đề phòng rủi ro- những biện pháp đối phó khi có rủi ro và khủng hoảng,tổ chức các khoá học cho các nhà quản lý. Đặc biệt đưa ra những hỗ trợ cần thiết trong trường hợp khẩn cấp.

    14

    Chương 2: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM

    2.1.THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1.1 Khái niệm về công ty bảo hiểm.

    Sự tồn tại tất yếu của các rủi ro trong cuộc sống là nguồn gốc của hoạt động bảo hiểm. Thoạt đầu các hoạt động bảo hiểm ra đời do nhu cầu ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống với chức năng chủ yếu là phòng ngừa khắc phục các rủi ro và tai nạn bất ngờ. Nhưng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường các tổ chức bảo hiểm tồn tại không chỉ với tính chất là bảo hiểm rủi ro mà còn là nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường tài chính.

    Công ty bảo hiểm là một tổ chức tài chính mà hoạt động chủ yếu là nhằm bảo vệ cho những người có hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro về tử vong, thương tật, tuổi già, tài sản hoặc các rủi ro khác

    Sự tồn tại và phát triển của các tổ chức bảo hiểm là tất yếu khi con người hàng ngày phải đối mặt với những lĩnh vực làm ảnh hưởng tới khả năng tài chính cá nhân. Đó có thể là một tai nạn, vụ cháy, mất mát tài sản, căn bệnh hiểm nghèo. Để chống đỡ những rủi ro người ta tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm.

    Dựa vào nguyên tắc phân tán rủi ro theo quy luật số lớn, các tổ chức bảo hiểm có khả năng bù đắp rủi ro tài chính cho các khách hàng. Các hoạt động bảo hiểm có thể do các công ty bảo hiểm nhân thọ cung cấp hoặc do các công ty bảo hiểm tai nạn và tài sản cung cấp.

    Sản phẩm bảo hiểm là sự cam kết của người bảo hiểm – người bán dịch vụ đối với người mua – người tham gia,về việc bồi thường hay trả tiền bảo hiểm cho những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm. Như vậy, lời cam kết là sản phẩm vô hình mà cả người bán lẫn người mua không thể cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu sắc…Tuy nhiên người mua tin vào lời hứa,sự cam kết của người bán vì nhờ vào sự hoạt động marketing của người bán.

    Người tham gia bảo hiểm không mong đợi sự cố bảo hiểm xảy ra đối với mình để được bồi thường hay trả tiền bảo hiểm trừ bảo hiểm ngân thọ, bảo hiểm

    15

    hưu trí. Hơn nữa, “Giá trị sử dụng “của sản phẩm bảo hiểm không phát huy tác dụng ngay sau khi người mua bảo hiểm trả tiền, trả phí mà phải qua thời gian dài, có khi khá dài (bảo hiểm nhân thọ). Vì vậy, người mua bảo hiểm không “mong đợi “sản phẩm bảo hiểm phát huy tác dụng đối với mình .

    Người mua sản phẩm bảo hiểm thu được phí bảo hiểm từ người mua nhưng “anh ta” có thể bồi thường và cũng có thể không ; có thể bồi thường ngay sau khi bán cũng có thể sau thời gian dài, nhất là trong bảo hiểm nhân thọ .Vì vậy, có thể nói rất khó xác định hiệu quả kinh doanh trong thời kỳ nhất định ( thường là 1 năm ).

    Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền

    Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng sao chép các dạng sản phẩm của các nước, thậm chí của đối thủ cạnh tranh một cách máy móc ( trừ tên của mình ).

    Chính những đặc điểm này khẳng định lại một điều: sản phẩm bảo hiểm là một sản phẩm rất khó bán. Một bài toán khó đặt ra cho các công ty bảo hiểm là làm cách nào để có thể đẩy mạnh được việc tiêu thụ sản phẩm ‘khó bán’ này trên thị trường .

    2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Tăng trưởng nhanh, cạnh tranh quyết liệt ” đó là thực tiễn ngắn gọn chính xác nhưng đầy đủ để nói về thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay.

    Năm Doanh thu phí (tỷ VNĐ) % so với năm trước
         
    1994 741 100%
         
    1995 1026 138%
         
    1996 1253 122%
         
    1997 1450 123%
         
    1998 1715 118%
         

    Nghị định 100/NĐ – CP/ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm đã chấm dứt thời kỳ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm ở Việt nam . Một thời kỳ

    16

    bảo hiểm với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá về loại hình công ty bảo hiểm đã được hình thành. Tính đến nay, trên thị trường bảo hiểm ở Việt nam đã có 20 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế (trong đó có 4 DNNN, 3 Công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 4 công ty 100% vốn nước ngoài, 2 công ty môi giới bảo hiểm, 1 công ty tái bảo hiểm Quốc gia). Và trên 40 văn phòng đại diện của các công ty đại diện quốc tế đặt tại Việt nam cùng cung cấp 90sản phẩm bảo hiểm khác nhau.

    Trong 2 -3 năm trở lại đây trên thị trường bảo hiểm Việt nam phát triển với tốc độ nhanh chóng. Nếu như năm 1994 doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường chỉ đạt 741 tỷ VNĐ thì đến năm 2002 con số này đã lên tới 4600 tỷ VNĐ xấp xỉ bằng 1,93% GDP trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 2500 tỷ VNĐ chiếm 58,6% tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 3180tỷ VNĐ. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ở Việt Nam so với GDP bằng 0,6%, các nứoc khác là 2,4% GDP.

    Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những tháng đầu năm 2001 đã có bước tăng trưởng vượt bậc so với cùng kì này năm trước. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ( nhân thọ và phi nhân thọ ) toàn thị trường trong 6 tháng đầu năm đạt 2.264 tỷ VND tăng 67,5% so với 6 tháng đầu năm 2000,trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 1.014 tỷ VND tăng trên 19% cùng kỳ năm 2000. Đáng chú ý là lần đầu tiên trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đã vượt qua doanh thu phi bảo hiểm phi nhân thọ về giá trị tuyệt đối và chắc chắn trong thời gian tới sẽ còn tiếp tục tăng trưởng mạnh.Điều này đã được dự đoán trước, khi mà bước sang năm 2000, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngoài Bảo Việt được phép triển khai hoạt động bảo hiểm nhân thọ theo quyết định số 281/TC/TCNH ngày 20/3/1996 của Bộ Tài Chính, đã có thêm một số doanh nghiệp được cấp phép hoạt động. Đó là: Chinfon Manulife từ tháng 6/1999 ; Prudential; Bảo Minh – CMG từ tháng 10/1999 và AIA từ tháng 2/2000. Như vậy, trong năm 2000, thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng ở Việt Nam đã ‘nóng’ lên.

    17

    • Tính đến 31/12/2000, lực lượng cán bộ làm việc trong các công ty bảo hiểm nhân thọ, đại lý tư vấn và khai thác bảo hiểm là gần 15.000 người, tăng lên gấp trên 3 lần so với trước năm 1999.Như vậy thị trường bảo hiểm nhân thọ đã thu hút một số lượng lớn lực lượng lao động xã hội, giải quyết lao động xã hội và gánh nặng về việc làm cho xã hội .

    2.2.1. Bảo hiểm nhân thọ

    • Doanh thu phí bảo hiểm Việt nam trong 10 năm qua.

    Ra đời năm 1997 nhưng hai năm trở lại đây thị trường bảo hiểm nhân thọ đặc biệt sôi động với sự đua tranh của 5 công ty bảo hiểm dẫn đầu là Bảo Việt, kế đến là Prudential, Manulife, AIA, & cuối cùng là Bảo Minh CMG. Trong 9 tháng năm 2002 tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt 3261tỷ đồng tăng 89,93% so với cùng kỳ năm 2001. Cũng trong 9 tháng năm 2002, số bản hợp đồng khai thác mới của toàn thị trường đạt 913309 hợp đồng tăng 23,93% so với cùng kỳ năm 2001; số bản hợp đồng đang có hiệu lực tính đến 30/9/2002 đạt 2853484 hợp đồng tăng 59,56% so với cùng kỳ năm trước.

    Xếp về thị phần Bảo Việt vẫn dẫn đầu thị trường với 48,28%, tiếp đến là Prudential là 34,12%, Manulife 11,47%, AIA 4,49%, cuối cùng là Bảo Minh 1,64%. Về tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm thì AIA đạt tốc độ cao nhất 121,95% thứ 2 là Bảo Minh 106,31%, Prudential là 103,28% Manulife 91,54% cuối cùng là Bảo Việt 78,42%

    Số đại lý bảo hiểm nhân thọ của toàn thị trường tăng 77,81%. Tính đến hết ngày 30/9/2002 tổng số đại lý nhân thọ là 63084 người. Trong đó cùng kỳ năm 2001 mới chỉ có 35479 người. Ngoài kênh phân phối chính là các đại lý, các công ty bảo hiểm còn bán bảo hiểm qua mạng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, tung ra nhiều sản phẩm mới với thủ tục đơn giản tạo được niềm tin với khách hàng.

    -Khách hàng đã nhận thức đầy đủ hơn về lợi ích của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ .Bằng chứng là đã có khoảng 800.000 hợp đồng bảo hiểm được ký kết và đang có hiệu lực. Tương ứng với số lượng hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tích luỹ đến ngày 31/12/2000 đã vượt

    18

    qua con số 2000 tỷ đồng.Với doanh thu phí bảo hiểm như vậy, có thể bước đầu khẳng định, bảo hiểm nhân thọ là một trong những công cụ taì chính vô cùng quan trọng và có hiệu quả nhằm “hút ” vốn trong dân cư, để “bơm ” trở lại các dự án đầu tư phát triển kinh tế – xã hội trong nước. Đây chính là lý do tại các nước có nền kinh tế phát triển ,chính sách phát triển hoạt động bảo hiểm của các cy bảo hiểm trong nước luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế đất nước và được chính phủ rất quan tâm .

    -Bên cạnh đó, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã tiến hành các hoạt động xã hội như:hỗ trợ cho các vùng bị thiên tai lũ lụt và nhằm khuyến khích phát triển tài năng ngày một nhiều hơn…

    Đồng thời với sự sôi động của thị trường bảo hiểm nhân thọ, nhận thức về bảo hiểm trong dân cư đã nâng lên rõ rệt. Thay vì thói quen lảng tránh sự thật ” Cuộc sống luôn phải đối mặt với những rủi ro “, người dân Việt Nam đã dần dần thừa nhận rủi ro trong cuộc sống là điều không ai muốn nhưng vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy,đã có gần 1 triệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được ký kết nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho cá nhân và gia đình họ. Sự sôi động của thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng đã thúc đẩy tiết kiệm trong dân cư.Bởi lẽ sẽ không có ai đi gửi tiết kiệm 50.000 hay 100.000 đồng ,nhưng người dân đã tiết kiệm được số tiền này từ các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

    Nhìn chung các hoạt động của các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt nam đã đạt được một số các thành công xong điều đó còn quá nhỏ so với nước 80 triệu dân và so với các nước trong khu vực và thế giới. Yếu tố hàng đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt nam thời gian qua làm mức thu nhập của dân cư đã tăng lên rõ rệt, thêm vào đó là sự nhìn nhận về công ty bảo hiểm của dân chúng đã tích cực hơn nhiều. Với tính tích cự

    • như vậy hy vọng trong tương lai các công ty bảo hiểm nhân thọ còn phát triển hơn nữa.

    * Bảo hiểm phi nhân thọ

    Trong 9 tháng năm 2002 nhờ những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế tổng mức doanh thu phí toàn thị trường đạt 2217591,06 triệu đồng tăng 44,39%

    19

    so với cùng kỳ năm 2001 (1535799,06 triệu đồng ) xét về tốc độ tăng trưởng PVinsurance đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất là 191,91% Allianz đứng thứ 2 92,39% Bảo Minh 59,14%, Bảo Việt PJICO, PTI, Việt úc duy trì mức khá, còn UIC đạt mức tăng trưởng hơi thấp 3,88%. Doanh thu phí Bảo Việt vẫn đứng đầu trong 9tháng đạt 859620 triệu đồng. Doanh thu phí của PVinsurance tiếp tục tăng do phí bảo hiểm dầu khí của thị trường thế giới tiếp tục biến động từ quý 2 năm 2002. Về thị phần, Bảo Việt vẫn đứng đầu thị trường với 38,16% Tiếp đến là Bảo Minh. Việc Bảo Minh giảm tỷ lệ thị phần không có gì ngạc nhiên bởi chịu sự ảnh hưởng của việc tăng mạnh thị phần của PVinsurance, mặc dù doanh thu phí của Bảo Minh vẫn tương đương so với quý 2 năm 2002.

    Tình hình tổn thất xảy ra trong 2002 không có gì biến động lớn so với 2001. ước tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1200 tỷ VNĐ = 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm. Tuy nhiên trước đây chưa từng được quan tâm nhưng tổn thất xảy ra lại rất lớn như vụ cháy toà nhà ITC ( Thành phố HCM ) ngày 29/10, tình hình tai nạn giao thông đã đến hồi báo động. Đó chính là những lĩnh vực đòi hỏi các công ty bảo hiểm phi nhân thọ cần triển khai mạnh hơn và có những biện pháp phòng ngữa hữu hiệu hơn.

        Bảo     Bảo hiểm Bảo Bảo Bảo
        hiểm Bảo Bảo hiểm hiểm
        gián đọan hiểm tài
    TT Doanh nghiệp sức hiểm xe hiểm hàng hoá thân tàu
        khoẻ và cơ giới cháy nổ kinh vận và TNDS sản và
        doanh thiệt hại
        TNCN       chuyển chủ tàu  
                     
    1 Allianz/ AGF 0,28% 0,11 0,63 12,62 0,58 0,00 12,54
                     
    2 Bảo Long 0,84 1,69 2,36 0 3,82 0,8 0,17
                     
    3 Bảo Minh 13,16 30,73 25,91 36,57 21,92 22,26 38,27
                     
    4 Bảo việt 74,28 52,44 49,56 23,62 41,37 41,28 14,54
                     
    5 PJICO 4,4 9,14 7,59 0,24 12,73 9,93 2,13
                     
    6 PTI 1,89 3,12 2,24 0 2,96 0 7,41
                     
    7 PVinsurance 2,74 1,18 1,07 0 8,41 25,01 22,07
                     
    8 UIC 1,04 0,76 8,75 12,71 4,19 0,51 0,73
                     
    9 VIA 1,32 0,75 1,26 10,09 2,79 0,22 1,36
                     

    20

    10 Việt úc 0,07 0,07 0,64 4,16 1,21 0 0,78
                     

    21

    Trong số các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, nghiệp vụ bảo hiểm dầu khí có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tới 40% so với 6 tháng đầu năm 2000. Sở dĩ nghiệp vụ này tăng trưởng mạnh vì những hoạt động sôi nổi trở lại trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí.trên thềm lục địa Việt Nam. Nghiệp vụ hàng không cũng tăng trung bình 25%,chủ yếu là do xu hướng tăng phí đồng loạt trên thị trường thế giới để bù đắp cho những tổn thất trong một vài năm gần đây.Hãng hàng không Việt Nam cũng có tỷ lệ tổn thất tới 200% ,do đó việc tăng phí trong năm 2001 là tất yếu..

    Trong khai thác bảo hiểm, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ đã có nhiều cố gắng tăng cường tiếp cận các khách hàng mới, đặc biệt như trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá XNK,kim ngạch bảo hiểm hàng hoá trong 6 tháng đầu năm đạt 3,55 tỷ USD, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kỳ năm 1999 và tăng 26% so với cùng kỳ năm2000. Đây là một nỗ lực đáng kể của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hoá nhằm nâng cao tỷ lệ kim nghạch XNK tham gia bảo hiểm trong nước. Tuy nhiên, do tình hình cạnh tranh quyết liệt của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mà thủ thuật chủ yếu là dúng biện pháp giảm tỉ lệ phí, vì vậy kim nghạch hàng hoá XNK được bảo hiểm tăng 26% nhưng doanh thu phí bảo hiểm hàng hoá XNK chỉ tăng 1% so với cùng kỳ năm trước.

    Đối với nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nếu như trong các năm trước đây các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chỉ chú trọng khai thác ở lĩnh vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì đến đầu năm nay, họ tích cực hơn nhiều trong việc khai thác mở rộng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Tuy nhiên, do tỷ lệ phí ở thị trường trong nước giảm mạnh so với năm trước(có những dịch vụ phí giảm 40%) nên doanh thu phí từ nghiệp vụ này chỉ tăng 4%.

    Nếu như hầu hết doanh thu của các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đều tăng nhiều hoặc ít thì riêng nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật lại có doanh thu phí giảm 14% so cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên các nhà bảo hiểm kỹ thuật Việt

    22

    Nam đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện bảo hiểm nhằm bảo hiểm cho những dự án lớn chuẩn bị cho được triển khai như khu liên hợp thể thao, một số gói thầu của nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy phân đạm… do vậy dư đoán nghiệp vụ này sẽ có tốc độ tăng trưởng tốt hơn trong 6 tháng cuối năm .

    Trong 6 thang đầu năm 2001 đã xảy ra một số tổn thất lớn, như thiệt hại hệ thống neo của Phao CALM tại mỏ Đại Hùng ngày15-2-2001với số tiền dự phòng bồi thường lên đến 3,2 triệu USD; thiệt hại đối với máy phát điện AMAN trên giàn CTP-2 cháy ngày 11-5-2001 ước bồi thường 900.000USD; tổn thất toàn bộ của máy bay trực thăng MI17VN-8415, trong đó số tiền bồi thường thân máy bay là 1.140.000USD và bồi thường trách nhiệm ước tính hơn 500.000USD; tổn thất hàng hoá trên tàu “GOSELLA” từ Inđônêsia về cảng Quy Nhơn trị giá hơn 800.000USD; tổ thất toàn bộ của tàu Lục Nam tại Ấn Độ với giá trị thân hơn 1 triệu USD; tổn thất P&I do tàu “VINH” đâm va tàu cá tại Hàn Quốc ngày 29-4-2001 với số tiền bảo lãnh để giải phóng tàu lên tới 927.000USD; vụ cháy nhà máy Vissing Pack với tổng bồi thường lên tới 1,5 triệu USD.

    Trong 6 tháng đầu năm tuy không có thêm công ty bảo hiểm nhân thọ mới ra đời, song sự hoạt động mạnh mẽ của 5 công ty hiện nay đã khiến thị trường này thực sự sội động. Doanh thu phí nhân thọ toàn thị trường Việt Nam đạt 1.250 tỷ VND, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kì năm trước.

    Để hỗ trợ công tác khai thác, hoạt động quảng cáo tiếp thị bảo hiểm nhân thọ vẫn diễn ra rầm rộ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí, thông qua các hình thức khuyến mại và các hoạt động từ thiện, tài trợ. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đang tích cực, tăng cường mở rộng đại lý nhân thọ, tổng số đại lý nhân thọ của thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt con số gần 30.000 người. Tuy nhiên việc mở rộng cũng như chất lượng của đại lý nhân thọ trong thời gian qua vừa nảy sinh nhiều vấn đề cần nhanh chóng giải quyết ngay cả tại các công ty bảo hiểm nhân thọ lẫn các co quan quản lý Nhà Nước về bảo hiểm. Tổng số tiền bồi thường của bảo hiểm nhân thọ trong quí I-2001 là hơn 19 tỷ VND. Khi các hợp đồng nhân thọ phát huy tác

    23

    dụng bồi thường thì cũng đồng thời làm nảy sinh một số tranh chấp do sự thiếu hiểu biết của người tham gia bảo hiểm cũng như thiếu kinh nghiệm của đại lý.Đây là điều khó tránh khỏi trong một thị trường còn hết sức non trẻ, song cũng đặt ra vấn đề trách nhiệm của đại lý bảo hiểm nhân thọ trong việc hướng dẫn khách hàng khai báo các thông tin khi tham gia bảo hiểm.

    Trong 6 tháng vừa qua, Bộ Tài Chính đã cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm cho một công ty 100% vốn nước ngoài là Groupama-Gan.Công ty Groupama-Gan dự kiến sẽ phát triển các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp phục vụ cho nông dân.Đây là công ty 100% vốn nước ngoài thứ 2 trong lĩnh vực phi nhân thọ được cấp giấy phép hoạt đông tại Việt Nam, nâng tổng số doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm gốc trên thị trường lên 16 doanh nghiệp, trong đó 11 doanh nghiệp phi nhân thọ và 5 doanh nghiệp nhân thọ.

    Nghị định hướng dẫn luật kinh doanh bảo hiểm và nghị định hướng dẫn chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    24

    • DN bảo hiểm
    • DN BHNN
    • CTCPBH
    • DN BH liên doanh
    • DN100% vốn đầu tư nước ngoài

    Quy trình thành lập theo luật KDBH.

    Hồ sơ xin cấp giấy

    phép thành lập

    Gửi

    Bộ tài chính

    Từ chối cấp

    60 ngày đồng

    ý cấp

    Cấp giấy phép cho

    DN

    Nộp lệ phí cấp giấy

    phép

    Công bố nội dung

    hoạt động

    25

    2.3 ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ PRUDENTIAL VIỆT NAM

    2.3.1 Đôi nét về công ty

    Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Vương Quốc Anh và cũng là một trong những tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất trên thế giới, quản lý trên 250 tỷ đô la Mỹ, với bề dày hoạt động bảo hiểm trên 150 năm. Sự ổn định và vững mạnh về tài chính của tập đoàn Prudential được công ty chuyên đánh giá “Standard and Poor’s” xếp hạng AAA- thứ hạng cao nhất.Đó là nền tảng vững chắc khiến hơn 11 triệu khách hàng trên toàn thế giới đã “chọn mặt gửi vàng”, đặt niềm tin vào Prudential.

    Từ năm 1923 Prudential dẫn đầu cung cấp sản phẩm dịch vụ khách hàng Với hơn 80 năm kinh nghiệm tại châu Á Prudential hiện đang hoạt động

    tại 12 thị trường:Singapore, Malaysia, HongKong, Indonesia, Thailand, Philippines, Ấ Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc.

    Có mặt tại Việt Nam từ năm 1994 với hai văn phòng đại diện tại Hà Nội( khai trương năm 1995) và thành phố Hồ Chí Minh(1997), Prudential đã được Chính Phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào tháng 10 năm 1999. Với phương châm ” Luôn luôn lăng nghe. Luôn luôn thấu hiểu”, Prudential đang nhanh chóng phát triển và trở thanh công ty bảo hiểm nhân thọ có uy tín và lớn mạnh nhất Việt Nam với nhiều văn phòng tại các thành phố lớn. Ngoài hai trụ sở chính tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Prudential còn có các trung tâm phục vụ khách hàng tại Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Vinh và Đồng Nai.

    Sau gần hai năm hoạt động, đến cuối tháng9 năm 2001, Prudential đã bảo hiểm cho 285.291 khách hàng, và đã nhanh chóng giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho 92 trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm với số tiền gần 7,8 tỷ đồng và miễn nộp phí cho 43 hợp đồng với tổng số tiền bảo hiểm trên 1,6 tỷ đồng. Trong việc giải quyết đền bù bảo hiểm cũng như trong mọi hoạt động kinh doanh khác của mình, Prudential luôn luôn tuân thủ nguyên tắc: “Chính trực, Công bằng và Dịch vụ hoàn hảo”

    26

    Hiện nay, với một đội ngũ nhân viên trên 1014 người, Prudential đã phát triển, đào tạo một mạng lưới với hơn 32472 đại lý chuyên nghiệp, trong đó đa số đại lý có trình độ đại học và gần 2%có trính độ cao học. Với mục tiêu phát triển mạnh hơn, lớn hơn cùng xã hội, Prudential khẳng định con người là vốn quý nhất. Do đó ưu tiên hàng đầu của Prudential là đầu tư vào con người, tạo điều kiện cho mỗi nhân viên và đại lý phát huy khả năng chuyên môn để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn.

    Với cam kết hoạt động lâu dài tại Việt Nam, tin tưởng vào tiềm năng phát triển của kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm nhân thọ nói riêng, và để phát huy hơn nữa những thành công trong thời gian qua, vào cuối tháng 10 năm 2002, Bộ Tài Chính Việt Nam vừa cho phép công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam tăng vốn đầu tư lên 61 triệu đô la Mỹ.

    Như vậy, với số vốn ban đầu là 15 triệu đô la Mỹ, Prudential đã lần lượt tăng lên 40 triệu đô la Mỹ( tháng6 năm 2001) và lần này là 61 triệu đô la Mỹ. Với số vốn gần 1.000 tỷ đồng này, công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential trở thành nhà đầu tư lớn nhất trong số các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng và tài chính.

    Với số vốn tăng thêm này, Prudential sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới phục vụ khách hàng,đa dạng hoá sản phẩm…

    nhằm phục vụ khách hàng ngày một hoàn hảo hơn. Đồng thời, Prudential cũng sẽ đẩy mạnh các chương trình đầu tư tài chính một cách có hiệu quả, nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho khách hàng và góp phần xây dựng kinh tế Việt Nam.

    Việc tăng vốn lần này, một lần nữa khăng định lời cam kết của Prudential đối với khách hàng Việt Nam đối với cam kết hoạt đông lâu dài và hiệu quả của Prudential.

    27

    Kết quả kinh doanh sau 3 năm hoạt động của công ty

    (từ 11/1999 đến 11/2000 )

      1999 2000 2001 2002
             
    Tổng số nhân viên 80 352 675 1014
    (người )        
             
    Tổng số đại lý 281 5687 17201 32472
             
    Tổng số trung tâm phục vụ 2 5 12 19
    khách hàng        
             
    Tổng số trường hợp giải 0 21 162 308
    quyết quyền lợi bảo hiểm        
             
    Tổng số khách hàng 0 124249 453242 911743
    (người )        
             
    Tổng số tiền đền bù bảo hiểm 0 2,8 11 16,2
    ( tỷ đồng)        
             
    Doanh thu phí bảo hiểm 0 257 830 1295
    (tỷ đồng)        
             
    Tổng vốn đầu tư 15 40 40 61
    (tỷ đồng)        
             

    2.3.2 Quá trình hoạt động PR của công ty bảo hiểm Prudential.

    * Tài trợ

    Các hoạt động tài trợ mà công ty đã thực hiện bao gồm 4 hoạt động chủ yếu sau:

    Hoạt động từ thiện xã hội

    Hoạt động từ thiện PR trao học cụ cho học sinh nhận học bổng Nguyễn Hữu Cảnh tại Thành phố HCM.

    28

    Ngày 9/8/2003 Prudential trao học bổng cho 350 học sinh là con em của công nhân viên chức đang công tác trong khối. Ngày 25/7/2003 trao 60 suất học bổng cho con em đoàn viên công đoàn quận 1 Vượt khó học giỏi.

    Trao quà cho học sinh dân tộc ít người.

    Sáng 04/08 văn phòng đại diện tặng quà cho 100 học sinh trường tiểu học Phúc Thọ Lâm Đồng.

    • Để góp phần chia sẻ nỗi khó khăn của đồng bào vùng lũ lụt tại Nghệ An & Hà Tĩnh, trong 2 ngày 26&27 /9/2002, đại diện công ty
    • ã đến thăm ,trao tặng hỗ trợ 10 tấn gạo và 74 thùng mỳ tôm cho bà con gặp nạ
    • Ngày 3/4/2001 ,Prudential đã trao tặng quà cho trẻ em khuyết tật huyện Hóc Môn ,thông qua Hội bảo trợ người tàn tật , trẻ mồ côi Thành phố
    • Prudential đã giúp đỡ 230 bệnh nhân nghèo bị mù được mổ mắt miễn phí
    • Ngày 27/4/2001 ,Prudential đã trao tặng nhà tình nghĩa & tình thương tại huyện Củ
    • Ngày 4/1/2001,Prudential đã trao tặng 125 xe lăn cho người nghèo tàn tậ

    Hoạt động thể dục thể thao

    -Từ ngày 24/11/2002 đến 2/12/2002 tại thành phố Đà Nẵng,Prudential đã tài trợ cho “Giải bóng đá Đà Nẵng mở rộng tranh cúp Prudential năm 2002 ” do Sở Thể dục Thể thao Đà Nẵng tổ chức.

    -Prudential đã tài trợ cuộc thi chạy marathon “Charity” gây quĩ ủng hộ giúp đỡ người tàn tật.

    Hoạt động giáo dục ,đào tạo

    -Ngày 28/10/2002, Prudential đã phối hợp cùng báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chứ lễ trao tặng học bổng cho 300 em học sinh nghèo hiếu học ở 13 trường và các trung tâm giảng dạy Hoa Văn trên địa bàn thành phố HCM.

    29

    • Ngày 8/11/2002, tại xã Kỳ Xuân ,Kỳ Anh Tỉnh Hà Tĩnh đã diễn ra lễ khánh thành trường mẫu giáo mầm non do Prudential tài trợ kinh phí xây dựVới chính sách luôn chú trọng đến công tác đào tạo giáo dục ,Prudential sẽ tiếp tục ủng hộ các hoạt động xây trường mở lớp để các em học sinh có nơi học tập ,vui chơi.

    -Phối hợp với báo Sài Gòn Giải Phóng cùng Sở GD&DDT thành phố HCM , Prudential đã tài trợ tổ chức cuộc thi “Prudential _Văn hay chữ tốt “.

    -Một hoạt động thường niên của Prudential vào mỗi dịp 20/11 là tài trợ giải thưởng ” Võ Trường Toản “_trao tặng cho 24 thầy cô xuất sắc nhất của thành phố HCM.

    -Để hỗ trợ kinh phí học tập cho các em sinh viên xuất sắc & sinh viên

    nghèo học giỏi của các trường CĐ – DDH tại các tỉnh thành có mức thu nhập thấp,công ty đã tài trợ 1 chương trình học bổng tổng cộng 134 suất trong 4 năm liên tục từ niên học 2002-2003 đến niên học 2005-2006.

    -Ngày 10/9/2001,Prudential kết hợp với Đài tiếng nói Việt Nam ,tặng 2000 bộ sách nói (băng cassette ) tới Hội người mù Việt Nam ,học sinh trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu.

    -Trao tặng ngân phiếu tài trợ xây dựng sân chơi cho lớp mẫu giáo tại phường Hoà Hải ,Quận Ngũ Hành Sơn ,Đà Nẵng.

    Hoạt động vui chơi giải trí

    -Nối tiếp truyền thống hàng năm Prudential đã tổ chức chương trình “Pru_Giáng sinh” phục vụ các em thiếu nhi bắt đầu từ ngày 21/12 tại Hà Nội và được nối tiếp tại các tỉnh thành có đặt văn phòng của công ty vào các ngày 22&23/12.

    -Ngày 30/7/2001,ông Mark Tucker đã thay mặt cho Prudential trao tặng học bổng “Chevening 2001”.

    -Nhân ngày lễ quốc tế thiếu nhi 1/6/2000 Prudential đã tài trợ cho cuộc thi vẽ tranh mang chủ đề “Ước mơ thần tiên “.

    30

    -Tài trợ liên hoan văn nghệ và ẩm thực “Mặt trời tuổi thơ “tổ chức tại Đầm Sen trong 3 ngày 1,2,3/6/2000.Tại đây ,các em thiếu nhi đã được phục vụ vui chơi ẩm thực miễn phí và xem chương trình văn nghệ đặc sắc.

    31

    * Quan hệ báo chí

    _ Prudential có quan mối quan hệ rất tốt với báo Sài Gòn Giải Phóng trong việc phối hợp tổ chức và tài trợ các hoạt động như: trao tặng học bổng cho học sinh nghèo ,tổ chức cuộc thi “Prudential -Văn hay chữ tốt”.

    _ Bài báo “Prudential _Ba năm , một triệu khách hàng ” trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn(số 48/2002) ,đăng tải cuộc phỏng vấn giữa phóng viên báo với ông Huỳnh Thanh Phong _Tổng giám đốc Prudential Việt Nam đã thuyết phục công chúng bởi các chỉ số tăng lên rõ rệt và đáng nể mà công ty đã đạt được sau 3 năm hoạt động .

    Công ty đã rất chú trọng trong việc đăng bài trên các báo như Thời báo KTSG, hay Sài Gòn giải phóng một cách thường xuyên và họ đã rất thành công.

    * Quan hệ với các cơ quan chứ năng

    Tại mỗi tỉnh có đặt văn phòng đai diện ,Prudential thường có quan hệ rất tốt với chính quyền nơi đó thông qua việc phối hợp hoạt động ,tổ chức các chương trình tài trợ,các hoạt động từ thiện xã hội …Ví dụ như:

    -Tài trợ cho “Giải bóng đá Đà Nẵng mở rộng tranh cúp Prudential năm 20002” do sở TDTT Đà nẵng tổ chức.

    -Phối hợp với sở GD-ĐT thành phố HCM tổ chức cuộc thi “Prudential _Văn hay chữ tốt”.

    *Các hoạt động hỗ trợ

    Chiến dịch “Pru tình nguyện” trong dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 3 Ngay từ sáng sớm ngày 17/11/2002,đồng loạt tại 12 tỉnh thành trên

    cả nước, hàng ngàn nhân viên & đại lý trong trang phục nón trắng với logo đỏ và dòng chữ Pru tình nguyện trên áo,đã khởi động cho chương trình Pru tình nguyện _một chương trình đầy ý nghĩa và thiết thực đối với cộng đồng và xã hội.

    Các công tác tình nguyện được tiến hành như :

    32

    -Tặng quà ,giao lưu ,động viên các em ở trường mù Nguyễn Đình Chiểu và trẻ em mồ côi.

    -Thăm hỏi tăng quà các thương binh ,các bà mẹ Việt Nam anh hùng,các cán bộ hưu trí.

    -Thăm trại người già ,khám bệnh phát thuốc miễn phí cho họ.

    -Quét dọn đường phố.

    -Thăm và tặng quà cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo tại buôn Dlaya.

    -Cứu trợ đồng bào lũ lụt.

    Tặng quà trẻ em nghèo ở TP Buôn Ma Thuột 6/9/2000 Vùng lũ lụt Tiên Giang ngày 5/9/2001

    Khám bệnh phát thuốc dân tộc EACuorlap TP BMT 1/6/2002 Tham gia hội chữ thập đỏ 20/10/2001 TP.HCM.

    Tặng quà cho đồng bào lũ lụt tỉnh Tiên Giang 18/1/2001 *Các hoạt động hỗ trợ khác

    Prudential luôn cho ra đời các sản phẩm in ấn như catalog,tạp chí phát hành nội bộ hàng năm vào những dịp đặc biệt .Chúng được phát miễn phí cho khách hàng ,nhân viên và đại lý của công ty .Qua những ấn phẩm này ,chúng ta có thể biết thêm về những ngày đầu thành lập ,những thành viên trong hội đồng quản trị ,những hoạt động thiết thực ,những bài hát ,bài thơ,câu chuyện viết về công ty ,…Chúng luôn làm cho khách hàng cảm thấy tin tưởng và thân thiện với Prudential .Và quả thực bằng cách này Prudential đã đạt được mục đích chính của mình.

    * Khuyến mãi

    -TRong năm 2002,Prudential đã tặng cho khách hàng một quyển sổ nhỏ có chức năng giảm giá (từ 5 đến 15 % giá trị ) của rất nhiều mặt hàng khi khách

    33

    hàng mua chúng .Với cách này Prudential đã khích lệ được rất nhiều người mua và tiếp tục mua sản phẩm .

    -Hàng năm , vào mỗi dịp năm mới,Prudential luôn có quà tặng cho các khách hàng và nhân viên trong công ty ,đó là những tờ lịch treo tường rất đẹp và bắt mắt. Nó không những hữu ích cho khách hàng , đồng thời lại có tác dụng quảng bá thêm cho tên tuổi của công ty .

    Trên đây là một số hoạt động PR của Prudential đã và đang được thực hiện mà tôi đã sưu tầm được. Do hạn chế về thời gian thực hiện đề án ,có thể nó chưa hoàn toàn đầy đủ ,mong các thầy cô và quí độc giả thông cảm , giúp đỡ hoàn thiện thêm.

    34

    Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PR CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM

    PRUDENTIAL.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã được quốc hội thông qua 12/2000 tạo hành lang pháp lý cơ bản giúp cho thị trường bảo hiểm phát triển ổn định và tăng trưởng luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản

    hướng dẫn tiến hành đã thể hiện được tính minh bạch và lộ trình

    cũng như các yêu cầu cho hội nhập kinh tế.

    Cần đa dạng hoá các loại hình nghiệp vụ mở rộng phạm vi và

    địa bàn hoạt động.

    Xây dựng một cơ chế quản lý giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ động trong kinh doanh.

    Việc quản lý giám sát sẽ thông qua một hệ thống chỉ tiêu đánh gía, qua đó kịp thời phát hiện đề xuất giải pháp pháp củng cố và phát triển

    *Quan hệ báo chí

    Tiếp tục duy trì mối quan hệ với các báo như trước đây,xây dựng mối quan hệ mới với các báo mang tính xã hội ,cộng đồng cao,có số lượng độc giả lớn,rộng khắp cả nước.

    Ngoài các cách đã làm trước đây như đăng bài định kì ,trả lời phỏng vấn với phóng viên các báo ,phối hợp tổ chức các chương trình với các báo,Prudential nên khai thác nguồn lợi từ mối quan hệ với truyền hình.Vì truyền hình ở Việt Nam được coi là công cụ truyền tin đắc lực nhất,và vẫn là sản phẩm độc quyền nên mức độ bao phủ luôn là lớn nhất .

    35

    Các hoạt động hỗ trợ

    Trên thực tế,trong thời gian vừa qua,chương trình Pru tình nguyện được coi là sự kiện lớn nhất của công ty từ khi hoạt động đến nay,và đây cũng là sự kiện được nhiều người biết đến nhất.Việc cho ra mắt sản phẩm mới là Phú_Hoàn mỹ vào dịp 8/3/2003 vừa qua sẽ được công chúng chú ý đến hơn nếu công ty tổ chức một buổi lễ ra mắt cho sản phẩm .Trong buổi lễ đó có thể mời những người phụ nữ tiêu biểu của Việt Nam ,những người phụ nữ có tiếng nói trong xã hội .

    Vì để cho ra đời một sản phẩm được coi là mới trong lĩnh vực bảo hiểm là vô cùng khó khăn ,mặt khác sản phẩm đó lại không được bảo vệ về mặt bản quyền,nên công ty cần phải chú trọng rất nhiều đến công cụ này,một công cụ cho phép tạo được mức độ khác biệt lớn giữa các sản phẩm cũng như tên tuổi của các công ty .

    *Tài trợ

    Kể từ khi thành lập đến nay,các hoạt động tài trợ đã được Prudential thực hiện rất tốt,phong phú ,đa dạng,và ghi được dấu ấn sâu sắc trong lòng công chúng như một công ty bảo hiểm hàng đầu mang tính nhân bản là tấm lòng nhân ái cao .Tổng giá trị tài trợ từ năm 1994 đến nay đã lên đến hơn 8 tỷ đồng,thông qua nhiều chương trình hoạt động về xã hội ,từ thiện ,văn hoá,thể thao,y tế,giáo dục…

    Công ty nên tiếp tục duy trì các hoạt động mang tài trợ mang tính thường niên,hay nhân các dịp kỉ niệm,lễ Tết,các sự kiện lớn trong nước và quốc tế .

    *Quan hệ với các cơ quan chức năng

    Công ty muốn hoạt động kinh doanh hay tổ chức các hoạt động xã hội suôn sẻ ,đạt kết quả tốt thì cần phải có sự ungr hộ cũng như cho phép của các cơ quan chức năng .Vậy việc đặt mối quan hệ tốt với các cơ quan chức năng ở các tỉnh có văn phòng đại diện của công ty cũng như trên toàn quốc là việc khó khăn nhưng rất cần

    36

    thiết. Khi công ty đã thuyết phục được  các cơ quan chức năng thì

    • ệc chiếm trọn lòng tin của công chúng sẽ dễ dàng hơn nhiều. *Khuyến mãi

    Khuyến mãi là khía cạnh ít gặp nhất trong hoạt động của các công ty bảo hiểm ,do sản phẩm của nó không giống các loại sản phẩm thông thường khác.Tuy nhiên Prudential cũng đã thực hiện và thực hiện rất tốt.Khuyến mãi sẽ khuyến khích công chúng ra quyết định mua bảo hiểm Prudential dễ dàng hơn vì ít ra họ cũng có thể nhìn thấy những lợi ích trước mắt khi có được sản phẩm ,cái mà các công ty bảo hiểm khác không chỉ ra được.

    * Một số hoạt động hỗ trợ khác:

    Ngoài một số tờ rơi, tờ gấp, catalog, tạp chí nội bộ đã được phát hành trước đây, công ty nên có thêm những ấn phẩm thường kì với thời hạn ngắn hơn( trước đây một năm một lần ) để tổng kết hoạt động của công ty , báo cáo kết quả đạt được cho toàn thể khách hàng cũng như nhân viên công ty được biết. Đồng thời cũng nên có một chuyên mục”Khách hàng hỏi _ Prudential trả lời”, ở đó thường xuyên giải thích, trả lời những khúc mắc của khách hàng và nó sẽ tạo ra mối đồng cảm và thân thiện giữa khách hàng với công ty.

    * Tổ chức triển lãm:

    Do số lượng cũng như số năm hoạt động của Prudential ở Việt Nam còn hạn chế nên viậc tổ chức một cuộc triển lãm là rất khó khăn. Công việc này cố thể thực hiện trong thời gian tới, có thể là vào dịp kỉ niệm 10 năm hoạt động của Prudential tại Việt Nam.

    *Tổ chức toạ đàm:

    • ây là công cụ mà ở Việt Nam người ta ít dùng nhất, do đó công chúng cũng chưa quen với việc này. Trong lĩnh vực bảo hiểm

    37

    thì chưa từng được ứng dụng. Cũng có thể sau này sẽ thay đổi nhưng công cụ này hoàn toàn không quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    *Xử lí thông tin khủng hoảng:

    Bảo hiểm là ngành khá nhạy cảm với các cuộc khủng hoảng tiền tệ và tài chính. Vì ngoài phần nổi là việc đảm bảo cuộc sống bình an, hạnh phúc cho con người, thì phần chìm lại là việc “kinh doanh tiền tệ”. Về thực chất công việc mà các công ty bảo hiểm làm chính là “đi vay” và cho vay tiền. Do đó nếu gặp khủng hoảng thì các công ty sẽ phải chịu những hậu quả rất nặng nề.

    38

    KẾT LUẬN

    Công ty bảo hiểm Prudential là một công ty bảo hiểm lớn mạnh có bề dày lịch sử đang không ngừng phát triển và lớn mạnh có kết quả kinh doanh khả quan. Sự phát triển chính là hệ quả tất yếu của năng lực phát triển không ngừng góp phần phát triển thị trường bảo hiểm và thị trường tài chính.

    Trong nền kinh tế mở xuất hiện hàng loạt các công ty bảo hiểm đòi hỏi sự cạnh tranh gay gắt. Do đó sự tồn tại và phát triển của công ty bảo hiểm Prudential còn nhiều thách thức.

    Trên đây chỉ là một góc nhìn về một khía cạnh của quá trình hoạt động của công ty bảo hiểm Prudential do đó có nhiều hạn chế về lý luận và thiếu kinh nghiệm thực tế nên bài viết còn nhiều thiếu sót mong được sự giúp đỡ của thầy cô giáo và nhiều bạn đọc

    39


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-nh%C3%A2n-th%E1%BB%8D-Vi%E1%BB%87t-Nam-%E2%80%93-C%C6%A1-h%E1%BB%99i-v%C3%A0-th%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    A.LỜI NÓI ĐẦU

    Thờ i gian gầ n đây ,Bả o hiểm nhân thọ đã trở thành một chủ đề được nhắ c đế n và đã được đem ra bàn luận nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng , khen – chê đều có cả . Mặc dù Bảo hiểm nhân thọ mới được triển khai

    • Việt Nam nhưng đã có sức hấp dẫn vì vậy loại hình Bảo hiểm non trẻ này từ khi xuất hiện tới nay không ngừng tăng trưởng với tốc độ chóng mặt . Nó đem lại việc làm cho hàng chục nghìn lao động , là kênh huy động vốn hiệu qủa để đầu tư cho nền kinh tế Việt Nam ….. Nhưng bên cạnh sự phát triển của thị trường Bảo hiểm nhân thọ này thì cũng còn có rất nhiều điều đòi hỏi chúng ta phải lưu tâm và cần bàn.

    Và đề hiểu rõ hơn về thị trương Bảo hiểm nhân thọ hiện nay cũng như những cơ hội, khó khăn , thách thức em đã quyết định chọn đề tài “Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – cơ hội và thách thức “ .

    Đây là một chủ đề lớn , nội dung rộng và phong phú cho nên khi thực hiện đề tài này em không tránh khỏi những thiếu sót về nội dung , vì vậy em mong rằng thày sẽ thông cảm cho những thiếu sót của em.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn PGS – TS Nguyễn Văn Định – Người đã hướng dẫn , chỉ bảo và cung cấp cho em những thônh tin quý báu để em có thể hoàn thành đề tài môn học nay.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                                2

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    B. NỘI DUNG

     

    I.                   KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHNT:

    1.sự ra đời và phát triển của bhnt:

    c

    Đố i tượng tham gia của Bảo hiểm nhân thọ là r ất rộng và không có giới hạn. nó bao g ồm mọi người, mọi lứa tuổi, mọi t ầng lớp khác nhau trong xã hội. Lịch s ử ra đời củ a B ảo hiểm nhân thọ cũng rất sớm, cho đến nay nó đã được triển khai ở hầu hết các

    Hợp đồ ng Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế gi ới ra đời vào năm 1583, do công dân London là ông William Gybbon tham gia. Phí b ảo hiểm ông đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết năm đó người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh

    N ăm 1759 công ty bảo hiểm ra đời đầu tiên ở Philadenphia (Mỹ). Công ty này cho đế n nay vẫn còn hoạt động, nhưng lúc đầu chỉ bán bh cho các con chiên ở nhà thờ của mình. N ăm 1762, công ty bhnt Equitable ở nước Anh được thành lập và bán bhnt cho mọi người dân.

    • Châu Á, các công ty bhnt ra đời đầu tiên ở Nhật Bản. Năm 1868 công ty bh Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay.

    Các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây đã triển khai bhnt. Công ty bhnt

    • Liên Xô cũ ra đời vào năm 1929 Capitar.

    Vi ệt Nam trước đây công ty bh Hưng-Việt ra đời vào năm 1958 đã tiến hành kinh doanh bhnt vào năm 1973.

    Xét một cách tổ ng thể thì trên thế giới, bhnt là loại hình bh phát triển nhất, n ăm 1985 doanh thu phí bhnt mới chỉ đạt 630,5 tỷ USD, năm 1989 đã lên tới 1210,2 tỷ USD và năm 1993 con số này đã lên tới 1647 tỷ USD, chiếm gần 48% tổng phí bh.

    Hiện nay có 5 thị trường bhnt l ớn nhất thế giới đó là: Mỹ, Nhật, Đức, Anh và Pháp. theo số li ệu thống kê năm 1993, thì phí bhnt của năm thị trường này được thể hiện ở bảng sau.

      ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:  
      NGUYỄN TIẾN DƯỠNG          
        CƠ CẤU PHÍ BHNT CỦA NĂM THỊ TRƯỜNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI NĂM 1993
             
      Tên nước Tổng doanh thu Cơ cấu phí bảo hiểm (%)
          phí  bảo  hiểm Nhân thọ   Phi nhân thọ
          (tỷ USD)        
      1. Mỹ 522,468 41,44   58,56  
      2. Nhật 230,143 73,86   26,14  
      3. Đức 107,403 39,38   60,62  
      4. Anh 102,360 64,57   35,43  
      5. Pháp 84,303 56,55   43,65  
                     

    Nguồn: Giáo trình kinh tế bảo hiểm

    Sở dĩ BHNT phát triển rất nhanh doanh thu phí bảo hiểm ngày càng tăng bởi vì loại hình b ảo hi ểm này có vai trò rất lớn. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ không ch ỉ thể hiện trong từng gia đình và đối với từng cá nhân trong việc góp ph ần ổ n định cuộc sống, giả m bớt khó khăn v ề tài chính khi gặp các rủi ro, mà còn th ể hiện trên phạm vi toàn xã hộ i. Trên phạm vi xã hộ i, bảo hiểm nhân thọ góp ph ần thu hút vốn đầu tư n ước ngoài, huy động vốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằm trong dân cư. nguồn vốn này không chỉ có tác d ụng đầu tư dài h ạn mà còn góp phần thực hành tiết kiệm chống lạm phát và tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Việt Nam, Bảo hi ểm nhân thọ chính thức được triển khai từ tháng 8 năm 1996 còn trước đó chỉ là những d ự án thí đi ểm. Mặc dù nhà nước cố gắng đầu tư để phát triển lĩnh vực này trong một th ời gian nh ất định, giúp các nhà B ảo hiểm trong n ước về mặt tài chính, con người và trách nhiệm. Nhưng do sức ép quá lớn năm 1999, chúng ta phải mở cửa thị trường Bảo hiểm và trước hết là thị trường Bảo hiểm nhân th ọ cho phép 4 công ty lớn vào Việt Nam. Và cho đến nay thì thị trường Bảo hiểm nhân thọ có th ể nói là sôi động và phát tri ển nhất trong lĩnh vực Bảo hiểm với số thu phí t ăng nhanh. Bên cạnh đó là thị trường ti ềm năng lớn với số dân đông. Và có thể khẳng định chỉ một vài năm tớ i thì thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam không thua kém gì thị trường Bảo hiểm nhân thọ cuả các nước trong khu vực và thế giới.

    2. Những đặc điểm cơ bản của thị trường Bảo hiểm nhân thọ

    2.1 Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro. Có thể nói đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa

    Bảo hiểm nhân thọ v ới Bảo hiểm phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi người mua Bảo hiểm nhân thọ sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ ( gọi là phí Bảo hiểm ) cho người Bảo hiểm, người Bảo hiểm có trách nhiệm tr ả một số tiền l ớn (gọi là số tiền Bảo hiểm ) cho người được hưởng quyền lợi Bảo hi ểm như đã thoả thuận từ trước khi có các sự kiện Bảo hiểm xảy ra. Số tiền Bảo hiểm

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                                4

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    được trả khi ng ười được Bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nh ất định và được ấn định trong hợp đồ ng. Hoặc s ố tiền Bảo hiểm này được trả cho các thân nhân và gia đình người đượ c Bảo hiểm khi người này không may bị chết sớm. Số tiền này giúp họ trang trai những chi phí cần thiết như thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái…. Chính vì vậy Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính

    tiết kiệm vừa mang tính rủ i ro. Tính tiết kiệm được thể hi ện ngay trong từng gia đình, cá nhân một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỉ luật.

    Nội dung tiết kiệm khi mua Bảo hi ểm nhân thọ khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, ng ười Bảo hi ểm bảo đảm trả cho người tham gia Bảo hiểm hay thân nhân của họ mộ t số tiền rất l ớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là khi người tham gia Bảo hiểm không may gặp r ủi ro trong thời hạn đ ã được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền Bảo hiểm từ công ty Bảo hiểm. Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong Bảo hiểm nhân thọ.

    2.2 Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia Bảo hiểm

    Trong khi các nghiệp vụ Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia Bảo hiểm gặp s ự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia. Thì Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được nhiều mục đích, mỗi mục đích của Bảo hiểm nhân thọ được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chẳng hạn hợp đồng Bảo hiểm hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu cho người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp ph ần ổn định cuộc sống khi họ già yếu. Hợp đồng Bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được Bảo hiểm để lại cho gia đình một s ố tiền Bảo hiểm khi họ bị tử vong. Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố, như: trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng bố mẹ già….Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đôi khi còn có

    vai trò như một vật thế chấp để vay vố n hoặc Bảo hiểm nhân thọ tín dụng thường bán cho các đối tượng đi vay để mua xe h ơi, đồ dùng gia đình, hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác… Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình Bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm.

    2.3. Các hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng và phức tạp

    Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ được thể hiện ở ngay trong các sản phẩm của nó. Mỗi sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳ ng hạn có loại Bảo hiểm nhân thọ h ỗn hợp thời h ạn là 5 năm, 10 năm, 20 năm. mỗi hợp đồng khác nhau lại có sự khác nhau về số tiền Bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia….Ngay cả trong một bản hợp đồng mối quan hệ giữa các

    bên cũng đa dạng và phức tạp.  
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 5
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    2.4. Phí Bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp.

    Để xác đị nh phí cho một sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ là r ất khó khăn và phức tạp bởi vì các sản phẩm này chỉ là những sản phẩm vô hình không thể nào cân đong đo đếm được do đó nó chịu tác động của rất nhiều yếu tố như.

    Tuổi thọ của người được Bảo hiểm Tuổi thọ bình quân của con người Số tiền Bảo hiểm

    Thời gian tham gia

    Phương thức thanh toán

    Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền Lãi suất đầu tư

    Tỷ lệ chết ……………….

    Bên cạnh đó còn có các chi phí để tạo nên sản phẩm như chi phí thiết kế sản phẩm, chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng….

    Quá trình định phí ph ải phụ thu ộc vào các yếu tố trên. Nhưng đ iều khó kh ăn và phức tạp hơn là ở chỗ đôi khi các tỷ l ệ như: tỷ lệ ch ết, t ỷ lệ lãi đầu tư, t ỷ lệ lạm phát, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng…. Đó là những tỷ lệ mà ta phải giả định để phân tích

    2.5. Bả o hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định .

    • các nước phát triển, Bảo hiểm nhân thọ đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay . Ngược lại một số quốc gia cho đến nay chưa triển khai được Bảo hiểm nhân thọ mặc dù người ta hiểu rõ vai trò và lợi ích của nó . Để lý giải vấn đề này hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng,cơ sở chủ yếu để Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát trỉên là nhờ điều kiện kinh tế phát triển .

    Những điều kiện kinh tế như :

    Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội

    Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân trên một đầu người Mức thu nhập của dân cư

    Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền . Tỷ lệ hối đoái ……………

    Điều kiện về dân số .

    Tuổi thọ bình quân của người dân Trình độ học vấn

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 6
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh ……

    Ngoài điều kiện kinh tế xã hội thì môi tr ường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm nhân thọ .

    3.Các loại hình Bảo hiểm nhân thọ .

    Trong thực tế hiện nay ,có 3 loại hình Bảo hiểm nhân thọ cơ bản :

    Bảo hiểm trong trường hợp tử vong Bảo hiểm trong trường hợp sống Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

    Ngoài ra người ta còn áp dụng các điều khoản bổ sung cho các loại hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ cơ bản như.

    Bảo hiểm tai nạn Bảo hiểm sức khoẻ

    Bảo hiểm không nộp phí khi bị thương tật Bảo hiểm cho người đón phí ……

    Thực chất các đ iều khoản bổ sung không phải là Bảo hiểm nhân thọ ,vì không phụ thu ộc vào sinh mạng ,cuốc sống và tu ổi th ọ của con người ,mà là Bảo hiểm cho các r ủi ro khác có liên quan đến con người .Nhưng đôi khi người tham gia Bảo hi ểm vẫn thấy rất cần thiết phải tham gia để bổ sung cho các hợp đồng cơ bản .

    3.1. Bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp tử vong

    Đây là loại hình phổ biến nhất trong Bảo hiểm nhân thọ và được chia thành hai nhóm .

    a.Bảo hiểm tử kỳ .

    Được ký kết Bảo hi ểm cho cái ch ết xẩy ra trong thời gian quy định của hợp đồng . Nếu cái chết không xẩy ra trong thời gian đ ó thì người được bảo hiểm không nhận đượ c bất kỳ một khoản phí nào từ số phí Bảo hiểm đã đóng . Ngược l ại ,nếu cái chết xẩy ra trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng ,thì người Bảo hiểm phải có trách nhiệm thanh toán số tiền Bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi Bảo hiểm được chỉ định .

    Đặc điểm .

    • Thời hạn Bảo hiểm xác định
    • Trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời
    • Múc phí Bảo hiểm thấp vì không phải lập lên quỹ tiết kiệm cho người được bảo hiể

    Mục đích .

    • Bảo đảm cho các chi phí mai táng ,chôn cất
    • Bảo chợ cho gia đình và người thân trong mốt thời gian ngắn
    • Thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc thế

    chấp của người được Bảo hiểm .

    Bảo hiểm tử kỳ còn được đa dạng hoá thành các loại hình sau:

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 7
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Bảo hiểm tử kỳ cố định :Có mức phí Bảo hiểm và số tiền Bảo hiểm không thay đổi tróng suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng .Mức phí thấp nhất và người Bảo hiểm không thanh toán khi hết hạn hợp đồng . Hợp đồng hết hiệu lực nếu sau ngày gia hạn hợp đồng không nộp phí Bảo hiểm . Loại này chủ yếu nhằm thanh toán cho các khoản nợ tồn đọng trong trườn hợp người được Bảo hiểm bị tử vong.

    Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục : Loại này có thể tái tục vào ngày kết thúc hợp đồng và không yêu cầu có thêm bằng chứng nào về sức khoẻ của người được Bảo hiểm , nhưng có sự giới hạn về độ tuổi (thường độ tuổi tối đa là 65 tuổi). Tại lúc tái tục , phí Bảo hiểm tăng nên vì độ tuổi của người được bảo hiểm tăng nên.

    Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi : Đây là loại hình Bảo hiểm tử kỳ cố định nhưng cho phép người được Bảo hiểm có sự lựa chọn có thể chuyển đổi một phần hay toàn bộ hợp đồng đang có hiệu lực thành một hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ trọn đời hay Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp tại một thời điểm nào đó khi hợp đồng đang còn hiệu lực . Phí Bảo hiểm được tính dựa trên Bảo hiểm nhân thọ trọn đời hay Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .

    Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ giảm dần : Đây là loại hình Bảo hiểm mà có

    một b ộ phận của s ố tiền B ảo hiể m gi ảm hàng nă m theo một mức quy định . Bộ phận này giảm tới 0 vào cuối kỳ hạn hợp đồng . Đặc điểm của loại này là:

    Phí Bảo hiểm dữ lại ở mức cố định

    Phí thấp hơn Bảo hiểm tử kỳ cố định

    Giai đoạn nộ p phí ngắn h ơn toàn bộ thời hạn hợp đồng để tránh việc thanh toán vào cuối thời hạn của hợp đồng khi mà số tiền bảo hiểm còn rất nhỏ .

    Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ tăng dần :loại này được phát hành nhằm giúp người tham gia bảo hiểm có thể ngăn chặn được yếu tố lạm phát của đồng tiền . Có nghĩa là số tiền Bảo hiểm thực trong hợp đồng bị giảm do đồng tiền tụt giá trong một khoảng thời gian . Để ngăn chặn có thể:

    Tăng số tiền Bảo hiểm theo một tỷ lệ % được lập hàng năm

    Hoặc đưa ra hợp đồng ngắn hạn sau đó tái tục với một số tiền Bảo hiểm tăng dần.

    Bảo hiểm thu nhập gia đình : Loại hình Bảo hiểm này nhằm đảm bảo thu nhập cho một gia đình khi không may người trụ cột trong gia đình bị chết

    .Quyền lợi bảo hiểm mà gia đình nhận được sau cái chết của người trụ cột có thể là:

    Nhận được toàn bộ (trọn gói ).

    Nhận được từng phần dần dần cho đến khi hết hạn hợp đồng.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                                 8

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Nếu như ng ười được bảo hi ểm còn sống cho đến khi hết hạn h ợp đồng thì người được bảo hiểm cũng như gia đình sẽ không nhận được bất kỳ một khoản thanh toán nào từ công ty Bảo hiểm .

    Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng nên : LoạI hình Bảo hiểm này cũng nhằm tránh yếu tố lạm phát của đồng tiền . Đảm bảo các khoản thanh toán của công ty Bảo hiểm cho gia đình khi không may người được bảo hiểm bị chết , tương ưng với số tiên Bảo hiểm khi ký hợp đồng .

    Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ có đIều kiện : Điều kiện ở đây là việc thanh toán trợ cấp chỉ được thực hiện khi người được bảo hiểm bị chết , đồng thời người thụ hưởng quyền lợi Bảo hiểm được chỉ định trong hợp đồng Bảo hiểm phải còn sống .

    b.Bảo hiểm trọn đời.

    Đặc điểm :

    • Số tiền Bảo hiểm trả một lần khi người được bảo hiểm bị chết
    • Thời hạn Bảo hiểm không xác định phí Bảo hiểm có thể đóng định kỳ hay đóng một lần .
    • Phí Bảo hiểm cao hơn so với Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn . Vì rủi ro chết chắc chắn sẽ xẩy ra , nên số tiền bảo hiểm chắc chắn sẽ phảI trả

    +Bảo hiểm nhân thọ trọn đời là loại hình Bảo hiểm dài hạn, phí đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt qúa trình Bảo hiểm do đó tạo nên một khoản tiết kiệm cho người thụ hưởng Bảo hiểm vì chắc chắn người bảo hiểm sẽ chi trả số tiên Bảo hiểm .

    Mục đích:

    • Đảm bảo chi phí mai táng ,chôn cất
    • Đảm bảo thu nhập để ổn định cuộc sống cho gi đình .

    +Giữ gìn tàI sản , tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau.

    3.2. Bảo hiểm trong trường hợp sống :

    Thực chất của loạI hình Bảo hiểm này là người Bảo hiể m cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn trong suốt khoảng thời gian sác định hoặc trong suốt cuộc đời ngườ i tham gia Bảo hiểm . Nếu người tham gia Bảo hiểm chết trướ c ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ khoản tiền nào .

    Đặc đIểm:

    • Cấp định kỳ cho người được Bảo hiểm trong thời gian nhất định hoặc cho đến khi chết .
    • Phí Bảo hiểm đóng một lần .
    • Nếu trợ cấp định kỳ cho đến khi chết thì thời gian không xác định Mục đích :
    • Đảm bảo thu nhập cố đinh sau khi về hưu hay cao tuổi sức yếu
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 9
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    +Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cáI khi về già .

    +Bảo trợ mức sống trong suốt những năm tháng còn lạI của cuộc

    đời

    3.3.Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .

    Lo ạI hình b ảo hi ểm này là bảo hiểm cả trong trường hợp người bị tử vong hay còn sống . Yếu tố tiết ki ệm và rủi ro đan xen nhau vì thế nó được áp dụng rộng rãI ở hầu hết các nước trên thế giới .

    Đặc đIểm:

    • Số tiền Bảo hiểm được trả khi hết hạn hợp đồng hoặc người được bảo hiểm bị tử vong trong thời hạn hợp đồng còn hiệu lực .

    +Thời hạn Bảo hiểm xác định thường là: 5 năm , 10 năm, 20 năm

    …..

    • Phí Bảo hiểm thường đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời gian Bảo hiểm
    • Có thể được chia lãI thông qua đầu tư phí Bảo hiểm và cũng có thể được hoàn phí khi không có đIều kiện tiếp tục tham gia .

    Mục đích:

    +Đảm bảo cuộc sống cho gia đình và người thân . +Tạo lập quỹ giáo dục , hưu trí , trả nợ.

    +Dùng làm vật thế chấp để khởi nghiệp kinh doanh …..

    3.4.Các đIều khoản Bảo hiểm bổ sung .

    Khi triển khai các loạI hình Bảo hiểm nhân thọ , nhà Bảo hiểm còn nghiên cứu , đưa ra các đIều khoản bổ sung để đáp ứng nhu cầu đa dạng hoá của khách hàng , có các đIều khoản bổ sung sau đây được vận dụng :

    • ĐIều khoản bổ sung Bảo hiểm lằm viện và phẫu thuật: Có nghĩa là nhà Bảo hiểm cam kết trả các phí lằm viện và phẫu thuật khi người được bảo hiểm bị ốm đau và thương tật . Tuy nhiên , nếu người được bảo hiểm tự gây thương tích , tự tử ,mang thai và sinh nở …thì không được hưởng quyền lợi Bảo hiểm .

    Mục đích của đIều khoản này là nhằm trợ giúp người tham gia giảm nhen gánh nặng chi phí trong đIều trị phẫu thuật , đặc biệt là trong trường hợp ốm đau bất ngờ .

    • ĐIều khoản bổ sung Bảo hiểm tai nạn : Nhằm trợ giúp thanh toán chi phí trong đIều trị thương tật , từ đó bù đắp sự mất mát hoặc giảm thu nhập do bị chết hoặc thương tích của người được bảo hiểm . ĐIều khoản này có đặc đIểm là Bảo hiểm khá toàn diện các hậu quả tai nạn như : người được bảo hiểm bị tàn phế , thương tật toàn bộ , thương tích tạm thời ,tai nan sau đó bị chết . Những trường hợp tự thương , tai nạn do nghiện rượu , ma tuý … đều không được hưởng quyền lợi Bảo hiểm .
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 10
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    +ĐIều khoản bổ sung Bảo hiểm sức khoẻ : Thực chất đIều khoản Bảo hiểm này là nhà Bảo hiểm sẽ cam kết thanh toán khi người được bảo hiểm bị các chứng b ệnh hiểm nghèo như: Đau tim.

    Ung thư.

    Suy gan.

    Suy thận .

    Suy hô hấp.

    …………………..

    Mục đích tham gia Bảo hiểm ở đay nhằm có được những khoản tàI chính nhất định để trợ giúp thanh toán các khoản chi phí y tế lớn góp phần giảI quyết ,lo liệu các nhu cầu sinh hoạt trong thời gian đIều trị.

    NgoàI ra , trong một số trường h ợp các nhà Bảo hiểm đưa ra những đIểm bổ sung khác nhảutong hợp đồng Bảo hiể m của mình như: Hoàn phí Bảo hiểm , miễn thanh toán phí khi gặp tai nạn , thương tật …..nhằm tăng

    tính hấp dẫn để thu hút ngườ i tham gia .Mặc dù phí cao hơn , nhưng các hợp đồng Bảo hi ểm nhân thọ có các đIều khoản bổ sung đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tham gia .

    II-THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ .

    1.KháI niệm.

    Thị trườ ng hi ểu theo nghĩ a hẹp là sự tiếp súc giữa những người có mục đ ích giao dịch thương mạI thông qua mua bán . Như vậy thị trường là nơI có thể bán được hàng hoá và cũng là địa đIểm có thể mua được hàng hoá .

    Đứng trên góc độ là một nhà Bảo hiểm , thị trường Bả o hi ể m nhân thọ thực chất là nơI mua và bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ .

    Thị trường Bảo hiểm nhân thọ cũng có thể được hiểu là sự k ết hợp giữa cung và cầu sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ , trong đó , những người mua và những người bán bình đẳng, cùng cạnh tranh . S ố lượng người mua và bán nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường là lớn hay nhỏ .

    Dưới góc độ Marketing , thị trườ ng bao g ồm toàn bộ khách hàng hiện tạI và khách hàng tiềm năng củ a một lo ạI sản phẩm .Khách hàng hiện t ạI là khách hàng đang tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó . Khách hàng tiềm nă ng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và s ử dụ ng sản ph ẩm dó trong tương lai , khách hàng tiềm năng phảI thoả mãn các đIều kiện sau :

    • Có nhu cầu về sản phẩm
    • Có khả năng tàI chính
    • Là đối tượng thoả mãn các đIều kiện của sản phẩm
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 11
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    + Người bán có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với họ

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             12

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    2. Các bên tham gia vào thị trường Bảo hiểm nhân thọ

    Từ kháI ni ệm thị trường ở trên , th ị trườ ng Bảo hiể m nhân thọ là nơi mua và bán các các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ . Từ đó ta thấy thị trường muốn tồn tại và phát triển phải có đủ các đIều kiện sau đây :

    + Phải có người cung ứng , tức người bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân

    thọ.

    • Phải có khách hàng , tức người mua các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ.

    2.1. Người cung ứng các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ .

    Các bên tham gia vào quá trình cung ứng các sản phẩm Bảo hiểm nhân

    thọ bao gồm : Các doanh ngiệp Bảo hiểm nhân thọ , các đại lý Bảo hiểm nhân thọ ,các môI giới Bảo hiểm nhân thọ ,ngoàI ra còn có các cộng tác viên cũng tham gia vào quá trình cung ứng.

    *Doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ : Là doanh nghiệp được tổ chức và ho ạt động theo luật kinh doanh Bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh trong lĩnh vực Bảo hiểm nhân thọ .

    Các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ thường cung ứng các sản phẩm của mình một cách gián tiếp qua các đạI lý của công ty , qua các công ty môI giới ,các cộng tác viên , đôI khi cũng cung cẩp trực tiếp tới khách hàng ở các trụ sở , chi nhánh của mình .

    *Đại lý Bảo hiểm nhân thọ : Là tổ chức , cá nhân được doang ngiệp Bảo hiểm nhân thọ uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đạI lý B ảo hiểm theo quy định của luật kinh doanh Bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Đại lý Bảo hiểm nhân thọ có thể coi là người cung cấp chính các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường . ĐạI lý Bảo hi ểm nhân thọ được các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ uỷ quyền tiến hành các hoạt động sau đây :

    • Giới thiệu , chào bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ
    • Thu xếp , giao kết hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ

    +Thu phí Bảo hiểm

    +Thu x ếp giảI quyết bồi thường và chi trả tiền Bảo hiểm khi xảy ra các sự kiện Bảo hiểm .

    +Thự c hiện các hoạt động khác có liên quan đến thực hiện hợp đồng Bảo hiểm .

    • Môi giới Bảo hiểm : Doanh ngiệp thực hiện giới Bảo hiểm theo quy định của luật kinh doang Bảo hiểm và các pháp luật khác có liên quan.

    Doanh nghiệp môI giới Bảo hiểm cũng có vai tró rất quan trọng trong việc đưa sản phẩm của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tớ khách hàng

    .Và các công việc mà các doanh nghiệp môI giói Bảo hiểm phảI làm là:

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             13

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         
    • Cung cấp thông tin về loạI hình Bảo hiểm ,đIều kiện ,đIều khoản , phí Bảo hiểm , doanh nghiệp Bảo hiểm cho bên mua Bảo hiểm .
    • Tư vấn cho bên mua Bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro , lựa chọn loạI hình Bảo hiểm , đIều kiện ,điều khoản , biểu phí Bảo hiểm và doanh nghiệp Bảo hiểm .
    • Đàm phán , thu xếp hợp đồng giữa doanh nghiệp Bảo hiểm và bên mua Bảo hiểm .

    +Thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện thực hiện hợp đồng Bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua Bảo hiểm .

    2.2. Khách hàng.

    Theo góc độ Marketing , thị trường bao gồm toàn bộ khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng .Qua khái niệm này ta thấy khách hàng là yếu tố quan trọng nhất không thể thiếu được ,nó có vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của thị trường .Nếu không có khách hàng cũng đồng nghĩa với việc không có thị trường.

    Khách hàng hiện tại là khách hàng đang tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó .

    Khách hàng tiềm năng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm dó trong tương lai , khách hàng tiềm năng phảI thoả mãn các đIều kiện sau :

    • Có nhu cầu về sản phẩm
    • Có khả năng tàI chính
    • Là đối tượng thoả mãn các đIều kiện của sản phẩm
    • Người bán có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với

    họ

    Khách hàng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ là những cá nhân , các tổ chức , các hộ gia đình ,không phân chia giầu nghèo, giai cấp . Miễn là đối tượng đó có nhu cầu và quan tâm đến sản phẩm thì nhà Bảo hiểm sẵn sàng cung cấp các sản phẩm của mình.

    3.Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường Bảo hiểm nhân thọ .

    Về mặt lý luận và thực tiễn ,người ta coi thị trượng Bảo hiểm nhân thọ là một tổng thể. Nên các nhân tố ảnh hưởng nên thị trường này rất phong phú và đa dạng . Để đạt được hiệu quả cao trong việc nghiên cứu thị trường Bảo hiểm nhân thọ , cần phải phân loại các nhân tố trên các góc độ thích hợp *Trên góc độ sự tác động của các lĩnh vực và thị trường có thể phân

    thành các nhân tố kinh tế ,chính trị –xã hộ , tâm sinh lý……….

    • Các nhân tố kinh tế : Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với thị trường Bảo hiểm nhân thọ . Bởi vì nếu một nước có nền kinh tế phát triển , thu nhập của người dân được nâng cao, núc đó người ta mới nghĩ đến các hình thức tiết kiệm và các hình thức khác để đảm bảo cuộc sống và
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 14
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    đây là đi ều kiện để họ tìm đến các sản phẩm Bảo hi ểm nhân thọ với mục đích góp phần làm ổn định cuộc số ng, giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp các rủi ro , đảm bảo cho con cái có thẻ đi học , có nguồn thu nhập khi về già.

    Và thực tế cũng cho thấy hầu hết các nước có n ền kinh tế phát triển là những nước có nền kinh tế phát triển cụ th ể là 5 thị trường Bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới hiện nay là : Mỹ , Nhật , Đức , Anh và Pháp .

    • Các nhân tố chính trị – xã hội : Các nhân tố này ảnh hưởng tới thị trường Bảo hiểm nhân thọ thông qua các chủ trương chính sách của nhà nước về chính tri , trình đôn văn hoá của nhân dân và cả thói quen của người dân .

    Các chủ trương chính sách của Nhà nước có thể là chính sách đối nội ,đối ngoại , chính sách mở cửa kinh tế , chính sách hội nhập ……..các chính sách này có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển hay thu hẹp của thị trường Bảo hiểm nhân thọ của nước đó .

    Trình độ văn hoá của người dân cũng ảnh hưởng tới nhận thức của người dân về các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cũng như vai trò của Bảo hiểm nhân thọ đối với các cá nhân , các gia đình và toàn xã hội .

    • Các nhân tố tâm sinh lý : Đây cũng là yếu tố quan trọng bởi vì nếu các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cũng như các loại hình Bảo hiểm nhân thọ , tạo ra được liềm tin , tạo ra được cảm giác an toàn cho người tham gia Bảo hiểm thì sẽ dẫn tới các quyết định mua của khách hàng.

    *Ngoài ra còn có sự tác động của các cấp quản lý đến thị trường Bảo hiểm nhân thọ như các nhân tố quản lý vĩ mô,các nhân tố quản lý vi mô.

    • Các nhân tố quản lý vĩ mô : Như các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế , các chính sách về pháp luật , các chính sách thuế, lãi suất tín dụng

    … Các nhân tố này tạo nên môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp . Và các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cũng như các doanh nghiệp khác muốn làm ăn có hiệu quả , con đường quan trọng nhất là phải vận dụng một cách thích hợp các nhân tố này .

    • Các nhân tố vi mô là các công cụ để quản lý các doanh nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ với chất lượng cao và giá cả phù hợp
    • đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất dẫn tới mở rộng thị truờng của doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ .

    III.THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC.

    1.Một vài nét về thị trường Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam .

    Nói đến Việt Nam thì không ai không nhắc đến dân số Vi ệt Nam , tuy là mộ t nướ c nhỏ bé nhưng lại có dân số rất đông (Cụ thể là theo số liệu thống kê 0 giờ ngày25/10/2002 dân số Việt Nam là 80 triệu) và hiên nay

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             15

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    đang đứng thứ 2 Châu Á và đứng thứ 12 trên thế giới . Qua đó ta thấy thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là mộ t thị trường có ti ềm năng năng lớn . Và hiện nay đang được các công ty Bảo hiểm nước ngoài chú ý đến .

    Tuy vậy thị trường Bảo hiểm nhân th ọ ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ trong giai đ oạn đầu , manh mún, và còn non trẻ.Tháng 8/1996 hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được phát hành , đánh dấu sự ra đời và phát triển của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam .

    Năm 1999 , lần đầu tiên chúng ta mở cửa thị trường Bảo hiểm và trước hết là thị trường Bảo hiểm nhân thọ , và đ ó cũng là bước ngoặt quan trọng đối với thị trườ ng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam . Từ khi mở cửa,thị trưòng Bảo hiểm nhân thọ cho đến nay ,thị trưòng đã có 5 doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này đó là:Bảo việt,Bảo Minh- CMG, Manulife,Prudential và AIA.

    Bảo hiểm nhân th ọ Việt Nam mói chỉ hoạt động được 5 năm nhưng cũng đã có thành tựu rất to lớn .

    • Hiện nay Bảo hiểm nhân thọ đã có mặt trên 61 tỉnh thành
    • Thị trường đạt tốc độ tăng trưởng siêu mã
    • Các sản phẩm ngày cảng đa dạng và phong phú , ngày càng được hoàn thiện ,đáp ứng ngày một tốt hơn những nhu cầu của người tiêu dùng.
    • Chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao .
    • Thị trường ngày càng sôi động

    M ặc dù đã có những thành tựu nh ư vậy nhưng nó vẫn còn rất nhiều vấn đề cần xẽm xét. Và để nghiên cứu kỹ hơn thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ta đi tìm hiểu các phần sau đây.

    2.Sự phát triển của thị trường B ảo hi ểm nhân thọ Việt Nam . Tháng8/1996đánh dấu sự ra đời và phát triển của thị trường Bảo hiểm

    nhân thọ Việt Nam ,và tháng 6/2002 vừ qua là sinh nhật lần thứ 6 của thị trườ ng .Nhìn một cách tổng thể qua những n ăm hoạt độ ng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam có những nét nổi bật sau đây

    2.1.Thị trường sôi động , cạnh tranh ngày càng gay gắt và toàn diện.

    Từ tháng 8/1996 đến giữa năm 1999 chỉ có Bảo Việt “Một mình một chợ “ ,đến nay thị trường đã có 5 doanh nghiệp : Bảo việt,Bảo Minh- CMG, Manulife,Prudential và AIA. Từ khi có sự góp mặt thêm của 4 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – những tên tưổi lớn,đã có kinh nghiệm hoạt động

    • nước ngoài kèm theo cơ chế tài chính ,thù lao linh hoạt , thị trường sôi động cạnh tranh ngay càng toàn diện và phát triển với tốc độ cao .

    Tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt ,có thể thấy rõ ở các thị trường lớn như Hà Nội, Thành Phố HCM, Hải Phòng,Đà Nẵng………sự cạnh tranh thể hiện trên tất cả các mặt như thu hút khách hàng , thu hút đại lý

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 16
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    (chính sách thù lao) , sản phẩm,dịch vụ, địa bàn hoạt động ,quảng cáo , khuyến mại…….

    Nếu như mới hoạt độ ng Manulife,Prudential và AIA ch ỉ tập trung triển khai ỏ hai đia bàn là Hà Nội, Thành Phố HCM và chủ yếu hướ ng vào khách hàng có thu nhập trung bình khá trở nên , thì đến nay các công ty này đã tích cực mở rộng ph ạm vi hoạt động sang các địa bàn còn lại và h ướng tới các khách hàng có thu nhập trung bình , đến thời điểm này các đều lấy mục tiêu tăng trưởng , mở rộng thị trường là mục tiêu hàng đầu.

    Xét v ề mặt tích cực ,cạnh tranh thực sự trở thành một nhân tố quan trọng thúc đẩy thị trường phát triển .Chính nhờ sự hoạt động mạnh mẽ của các doạnh nghiệp, đã giúp dân chúng nhận thức rõ hơn về Bảo hiểm nhân thọ, giúp đưa d ịch vụ Bảo hiể m nhân thọ đến tận nhà khách hàng, cũng nhờ cạnh tranh các doanh nghiệp đã nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, chất lượng khai thác, đa dạng hoá sản ph ẩm, đồ ng thời thúc đẩy điều khoản, quy trình nghiệp vụ (như in bản mô tả quyền l ợi Bảo hiểm, đánh giá rủi ro…), bổ xung các dị ch vụ tăng giá trị( cho vay phí tự động, cho vay theo hợp đồng, khôi phục hiệu lực hợp đồ ng…), hoàn thiện mô hình tổ chức và ho ạt độ ng, trong đó đang chú trọng là mô hình đại lý, chế độ thù lao cho đại lý theo hướng hiệu qu ả hơn, phù hợp hơn v ới đặc điểm của kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ . Cạnh tranh cũng thôi thúc các doanh nghiệp tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh như ứng dụng tin học, đa dạng hoá các kênh phân phối. Thời gian qua các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ rất tích cực ứng dụng khoa học công nghệ thông tin vào h ầu hết các công việc như phát hành, quản lý hợp đồ ng, in hoá đơn, kế toán, thố ng kê quảng cáo giới thi ệu sản phẩm… Tuy v ậy hi ện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh (như tung tin giả), cạnh tranh theo kiểu chộp giật đã xuất hiện gây tác động xấu đến thị trường làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của ngành, mặc dù các doanh nghiệp đã đạt đượ c thoả thuận hợp tác chung tại bản ghi nhớ chung ngày 10 tháng 7 năm 2000 nhằm thiết lập một thị trường cạnh tranh lành mạnh

    Hình 1: Thị ph ần Bảo hiể m nhân thọ qua các năm ( Theo doanh thu phí)

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             17

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:  
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG        
      N¨m 2000 N¨m 2001 B¶o  
         
           
    Prudentia       ViÖt  
    B¶o ViÖt     54.30%  
    l Prudent  
    71.50%      
    19.40%      
      ial      
             
        29.90%      
    Manulife AIA Manulif BM- AIA  
     
    7.60%BM-0.80% e 3.60%  
    CMG
      CMG
      10.80%    
      0.70% 1.40%    
           

    Tính đến cu ối năm 2001 , dẫn đầu trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ vẫn là Bảo vi ệt – là doanh nghiệp nhà nước và là doanh nghi ệp duy nhất không có vốn đầu tư nước ngoài với thị phần là 54,3% , tốc độ tăng trưởng doanh thu phí đạt 64,8% và là doanh nghiệp duy nhất có mạng lưới phủ khắp các tỉnh thành .Các doanh nghiệp khác cũng đạt được kết quả rất tốt ,đặc biệt là Prudential đã đạt được kết qu ả khá ngoại mục . Chỉ trong vòng 2 năm Prudential đã vươ n nên vị trí thứ hai với gần 30% thị phần và trở thành đối trọng lớn đối v ới Bảo việt trên thị trường .AIA,BM -CMG,Manulife trong năm 2001 cũng gia tăng thị phần , tuy nhiên tính tới thời đi ểm này thì các doanh nghiệp này cũ ng chỉ chiếm được thị phần khá nhỏ . Với đặc đ iểm khách hành là các cá nhân , số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng , có thể nhận định được r ằng trong th ời gian tới thị trường Bảo hiể m nhân thọ Việt Nam sẽ thêm sôi động , cạnh tranh thêm sâu sắc c ả về mọi mặt theo hướng có lợi cho khách hàng , đồng thời chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ .

    Sự hoạt động mạnh mẽ của thị tr ường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong thời gian qua còn tạo ra sự cạnh tranh liên ngành , trong đó rõ rệt nhất là cạnh tranh giữa hệ thố ng ngân hàng , b ưu điện với ngành Bảo hiểm nhân thọ trong việc thu hút vốn nhàn rỗi từ công chúng .

    Mặ c dù là lĩnh vực kinh doanh ch ậm có lãi (cho đến thời đ iểm hi ện nay , các doanh nghi ệp Bảo hiể m nhân thọ Việt Nam đều chưa có lãi ), nhưng Bảo hiểm nhân thọ là lĩnh vực kinh doanh màu mỡ và bền vững , hấp dẫn các nhà đầu tư , nhất là các nhà đầu tư nước ngoài . Có thể nhận định rằng , cùng với chính sách hội nhập của Việt Nam cũng như việc thực hiện hiệp định Việt- Mỹ , trong thời gian tới chắc chắn sẽ xu ất hi ện nhiều gương mặt mới trên th ị trườ ng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam làm cho thị trường thêm sôi động . Việc t ăng vố n của các doanh nghiệp đang đang hoạt động trên thị trường cũng đã khẳng định điều này.

    2.2.Thành công lớn , trưởng thành nhanh.

     

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             18

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Mặc dù chúng ta mới thực hiện loại hình Bảo hiể m nhân thọ được vài năm nh ưng thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã đạt được kết quả rất đáng tự hào trên nhiều mặt cụ thể:

    *Tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu phí và số hợp đồng.

    Nếu như năm 1996 Bảo Việt mới triển khai thí điểm Bảo hiểm nhân thọ tại một số tỉnh thành và đạt được kết quả khá khiêm tố n vơí trên 1200 hợp đồng và doanh thu phí chưa đến 1 tỷ đồng thì đến n ăm 2000 doanh thu phí Bảo hiểm nhân thọ toàn thị trường đã đạt g ần 1300 tỷ đồng và gần 1 triệu hợp đồng có hiệu lực,năm 2001 là năm đáng ghi nhớ nhất của thị trườ ng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam với doanh thu phí đạt 2786 tỷ đồng (tương đương với 0,55% GDP),vượt khá xa so với tổng doanh thu phí Bảo hiểm phi nhân thọ của toàn thị trường ,số hiệu lực hợp đồng tính đến cuối năm 2001 đạt khoảng 1,6 triệu hợp đồng (tương đương với 1,9% dân số ).So với n ăm 2000,tốc độ tăng doanh thu phí của năm 2001 đạt 115,6%,trong đ ó tốc độ tăng doanh thu phí từ các hợp đồng mới đạt trên 89%.Nếu tính từ khi mới bắt đầu triển khai ,t ốc độ tăng doanh thu Bảo hiểm nhân thọ bình quân trong những năm qua đạt 250%/năm,còn nếu tính từ năm 1999,năm bắt đầu có sự gia nhập của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ khác ngoài Bảo Việt,tốc độ doanh thu phí bình quân đạt trên 135%/năm . Đây là tốc độ t ăng trưởng rất cao phản ánh sự trưởng thành nhanh chóng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam .

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001
    Tốc độ tăng 1742,1% 1060,0% 142,4% 162,6% 115,6
    doanh thu phí (so         %
    với năm tước)          
    Tû ®ång

    H×nh 2: Doanh thu phÝ b¶o hiÓm nh©n thä toμn thÞ tr−êng

    qua c¸c n¨m (tû ®ång)

    3000                                       2786  
                                           
    2500                                                
                                                   
                                                   
    2000                                                
                                  1292          
    1500                                        
                                           
    1000                                                
                                                   
                        492                    
    500             203                      
      0.95 17.5                              
                                   
    0                                      
                                         
                                                   
    1996 1997 1998 1999 2000 2001  
                          N¨m                  

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             19

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Bên c ạnh tốc độ tăng trưởng doanh thu phí ,thì chất lượng khai thác cũ được nâng nên đáng kể ,biểu hiện qua số tiền b ảo hiểm trung bình trên hợp đồng , số phí bảo hiểm bình quân /hợp đồng ,số phí bảo hiểm bình quân trên hợp đồng ngày càng cao , công tác đánh giá rủi ro được chú trọng hơn (thông qua việc đánh giá r ủi ro sức khoẻ ,tài chính ,mục đích tham gia,quyền lợi có th ể được bảo hiểm ),tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng của toàn thị trường dưới 6%/năm (thấp hơn rất nhiều so với các thị trường khác ).

    *Thiết l ập mạng lưới kinh doanh phủ khắp toàn quốc,mô hình tổ chức quản lý kinh doanh ngày càng được hoàn thiện :

    Thời gian qua ,các doanh nghiệp và đ iển hình là Bảở Việt đã xây dựng mạng lưới cung cấp dịch vụ khắp cả nước , nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân . Với mạng lưới phủ kh ắp các huy ện th ị và đội ngũ đại lý ,cán bộ khai thác đông đảở ,các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ đã len lỏi vào hang cùng ngõ hẻm ,từ thành thị tới nông thôn . Mô hình tổ chức và quản lý của các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả ,đi ển hình là chuyên môn hoá khai thác và thu phí .Việc đàở tạở cán bộ ,đại lý ngày càng được chú trọng và được xác định là nhân tố quan trọng quyết định dịch vụ cung cấp và thành công của doanh nghiệp .

    *Sản phẩm phong phú đa dạng,khách hàng thuộc nhiều tầng lớp .

    Khi Bảo Việt triển khai thí đ iểm Bảo hiểm nhân thọ ,ch ỉ có ba sản phẩm được đưa ra thị trường là Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thời hạn 5 năm ,

    • năm,và an sinh giáở dục .Cùng với sự phát triển của thị trường ,số sản phẩm đưa ra thị trường đã tăng nên nhanh tróng,đa dạng và ngày càng được hoàn thiện .Đến nay thị trường đã có sự hiện diện của tất cả các chủng loại Bảo hiểm nhân thọ truyền thống như hỗn hợp ,sinh kỳ ,tử kỳ ,trọn đời ,các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cách tân, các sản phẩm bảo hiểm hưu trí ,đồng thời còn nhiều loại sản phẩm bổ trợ khác .

    Với sự đa dạng về chủng loại các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng,phong phú và toàn diện của nhân dân về Bảo hiểm nhân thọ .Số liệu khai thác cho thấy , sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp và đặc biệt là bảở hiểm trẻ em là những sản phẩm bảo hiểm bán chạy nhất ,các sản phẩm mang tính bảở vệ thông thường như bảo hiểm tử kỳ ,bảo hiểm sinh kỳ ,bảo hiểm trọn đời ,bảo hiểm tai nạn ,bảo hiểm chi phí y tế ít được ưa chuộng .Điều này cho thấy thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn ưa tiết kiệm,đồng thời cũng phản ánh truyền thống ưa tiết kiệm ,hiếu học ,đức tính hy sinh về con cháu của người Việt Nam ,tuy nhiên nó cũng cho thấy Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam chưa thực sự trở thành tập quán của người Việt Nam . Thêm vào đó các sản phẩm bảo hiểm ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn ,phản ánh tâm lý lo lạm phát ,e ngại đầu tư dài hạn của công chúng . Gần đây , các doanh nghiệp lần lượt

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 20
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    đưa ra các sản phẩm bảo hiểm dài hạn hơn và nhiều sản ph ẩm bổ trợ mang tính bảo vệ như bảo hiểm b ệnh hiểm nghèo,bảo hiểm chăm sóc phụ nữ toàn diện ….,cho thấy những tín hiệu ban đầu về sự chuyển dịch sản phẩm .

    Ngoài Bảo hiểm nhân thọ ,các doanh nghiệp còn cung cấp thêm các dịch vụ khác cho khách hàng tham gia Bảo hiểm nhân thọ như tư vấn du học ,cho khách hàng vay tiền theo hợp đồ ng,thẻ giảm giá ,phiếu mua hàng …Với những lỗ lực của các doanh nghiệp ,chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao và mang tính toàn diện .

    *Tạo công ăn việc làm cho nhiều người

    Thời gian qua,ngành Bảo hiểm nhân thọ đã thu hút và tạo công ăn việc làm cho mộ t lực lượng đông đảo lao động dưới hình thức đaị lý chuyên nghiệp , bán chuyên nghiệp ,và cộng tác viên.

    Tính đến tháng 6 n ăm 2002 tổng số đại lý chuyên nghiệp trên toàn thị trường đã nên t ới con số 25240 người ,tăng 90,57% so với 6 tháng năm 2001 và nó được thể hiện rõ ở bảng dưới đây:

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             21

      ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:  
      NGUYỄN TIẾN DƯỠNG          
      Bảng 2:tốc độ tăng trưởng đại lý Bảo hiểm nhân thọ (người)
               
      Doanh nghiệp 6 tháng 2002 6 tháng 2001   % tăng giảm
      Tổng 52240   27413   90.57%  
      AIA 5862   3793   54.55%  
      BM-CMG 2664   1257   111,93%  
      Bảo Việt 14245   10532   35.25%  
      Manulife 5300   2626   101,83%  
      Prudential 24169   9205   162,56  

    Như v ậy qua bảng trên ta thấy chỉ trong vòng một năm trở lại đây thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam thực sự đã có bứơ c tiến dài ,số đại lý chuyên nghiệp không ngừng tăng nên với tốc độ chóng mặt ,và đ áng chú ý nhất đó là Prudential với t ốc độ tăng 162,56% so với năm 2001 và vươn nên đứng đầu trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam về số đại lý với 24169 người.

    Với những đặc trưng nổi bật :hoàn toàn độc l ập,tự chủ về thời gian ,đòi hỏi tính tự giác cao,hưở ng thù lao theo kết quả lao độ ng,tự hạch toán độ c lập không yêu cầu quá cao về bằng cấp,nghề đại lý Bảo hiểm nhân thọ đã thực sự trở thành một ngh ề có tính chuyên nghiệp ,được xã hội thừa nh ận là một trong những nghề có thu nhập khá cao ở Việt Nam hiện nay,đồng thời Bảo hi ểm nhân thọ Việt Nam đã tạo ra chỗ làm cho hàng nghìn người với t ư cách là cán bộ,nhân viên của các doanh nghiệp Bảo hiể m nhân thọ . Ngoài ra còn tạo việc làm cho các ngành có liên quan như công nghệ thông tin,ngân hàng, in ấn,quảng cáo…

    *Tạo kênh huy động và cung cấp vốn lớn cho nền kinh tế ,thúc đẩy nền kinh tế phát triển .

    Với chức năng gom nhặt và huy độ ng những khoản ti ền nhỏ,nhàn rỗi lằm rải rác trong dân cư ,Bảo hiểm nhân th ọ đã hình thành mộ t quỹ đầu tư lớn,cung cấp vốn cho nền kinh tế đặc biệt là nguồn vốn cung cấp dài hạn ,phục vụ đắc lự c cho công cuộc công nghệ hoá ,hiện đại hoá,góp phần phát triển kinh t ế xã hội . So v ới ngành ngân hàng,Bảo hiể m nhân thọ Việt Nam tuy mới có thâm liên hoạt động còn rất ngắn nhưng đ ã thực sự trở thành một kênh huy động và phân phố i vốn hữu hiệu cho nền kinh tế. Với số tài sản quản lý được tích luỹ (dướ i hình thức qu ỹ dự phòng) ngày càng lớn , cho phép các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ thực hiện những khoản đầu tư lớn dưới các hình th ức như góp vốn liên doanh,mua cổ phiếu,cho vay,tham gia dự án đầu tư,gửi tiết ki ệm ngân hàng …Lờy năm 2001 làm ví dụ ,như đã nêu trên,tổng phí Bảo hi ểm nhân thọ của toàn th ị trường đạt 2786 tỷ đồng,chiếm 0,55% GDP và như vậy tính đến thời điểm này ,tổng số vốn mà các doanh

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 22
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    nghiệp Bảo hi ểm có thể cung c ấp cho nền kinh tế nên tới 4000 t ỷ đồng (chủ yếu là quỹ dự phòng được tích tụ qua các năm ).Hoạt động đầu t ư tài chính cũng trở thành x ương sống nâng đỡ cho hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ ,tạo tiền đề và điều kiện để các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tham gia vào thị trường tài chính,tạo lập các quỹ đầu tư ,trên thực t ế , các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ đã tham gia vào rất nhiều các dự án đầu tư ,là cổ đông lớn trong nhiều công ty phần đồng thời cũng là thành viên th ường xuyên trong các cuộc đấu thầu tín phiếu,trái phiếu kho bạc,và cũng là người chơi lớn trên thị trường chứng khoán.

    Năm 1999,B ảo Việt thành lập công ty chứng khoán Bảo Việt- công ty chứng khoán đầu tiên của Việt Nam,t ạo ti ền đề để trở thành tập đoàn Bảo hiểm – Tài chính tổng hợp hàng đầu ở Việt Nam . Tuy nhiên,có th ể thấy,cho đến nay thị trường đầu tư của Việt Nam mới trong giai đoạn hình thành,còn thi ếu các công cụ đầu tư,nhất là các công cụ đầu tư dài hạn,do vậy hạn chế rất nhiều hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ .

    2.3.Môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện .

    Trong thời gian qua,môi trường pháp lý cho ho ạt độ ng kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ ngày càng được hoàn thiện tạo đ iều kiện thuận l ợi cho hoạt động kinh doanh,từng bước thiết l ập và duy trì một th ị trường cạnh tranh lành mạnh,nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.Trước hết là sự ra đời của luật khinh doanh Bảo hiểm ,bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/4/2001,tiếp đó là các nghị định (ngh ị đị nh số 42/2001/NĐ — CP ngày1/8/2001 quy định chi tiết một số điều của luật kinh doanh Bảo hiểm , Nghị định số 43/2001/NĐ- CP ngày1/8/2001quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp Bảo hiểm và môi gi ới Bảo hiểm )và thông tư hướng dẫn (Thông tư số 71/2001/TT- BTC ngày 28/8/2001 hướng dẫn thi hành nghị định 42/2001 NĐ- CP ngày 1/8/2001 và thông tư số 72/2001/TT- BTC ngày 28/8/2001 hướn dẫn thi hành nghị định 43/2001/NĐ- CP ngày 1/8/2001của chính phủ). Tuy vậy đến nay ,hệ thống pháp luật đ iều chỉnh hoạt độ ng kinh doanh Bảo hi ểm nhân thọ ở Việt Nam chưa thực sự đồng bộ ,mộ t số quy định cần thiết còn thiếu ,một số quy định chưa rõ ràng, chưa thực sự phù hợp với tập quán Bảo hiểm nhân thọ , chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp . Ngoài việc xây dựng và hoàn thiện môi trườ ng pháp lý ,trong thời gian qua Nhà nướ c còn có nhiều chính sách ưu đãi , hỗ trợ thúc đẩy thị trường Bảo hiểm nhân thọ như ưu đãi về thuế(theo luật thuế giá trị gia tăng ,hiện nay thị trường Bảo hiểm nhân thọ không thuộc diện chịu thếu).

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             23

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    3.Các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ và các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ hiện đang có mặt trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.

    Trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Vi ệt Nam tính đến thời điểm này hiện đang có 5 doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ đang ho ạt động trong đ ó có một công ty trong nước và một công ty liên doanh và 3 công ty 100% vốn nước ngoài.Và chúng được thể hiện rõ hơn ở bảng dưới đây.

    Bảng 2: Các DNBHNT hiện đang có mặt tại Việt Nam

    Doanh nghiệp Năm bắt Xuất xứ Loại hình Vốn(điều lệ) Vốn Vốn dự
      đầu triển   DN ban đầu hiện nay kiến xẽ
      khai               tăng
    1.Bảo Việt 1996 Việt Nhà nước 779 tỷ đồng 879 tỷ    
        Nam     (1996)   đồng    
                  (2000)    
    2.BM-CMG 1999 VN+ Liên   2 triệu USD 6 triệu 10 triệu
        ÚC doanh       USD USD  
    3.Manulife 1999 Canada 100% vốn 5 triệu USD 8,5 triệu 10 triệu
          nước       USD USD  
          ngoài              
    4.Prudential 1999 Anh 100% vốn 10 triệu 40 triệu    
          nước   USD   USD    
          ngoài       6/2001    
    5.AIA 2000 Mỹ 100% vốn 5 triệu USD 5 triệu 10 triệu
          nước       USD USD  
          ngoài              

    Nguồn:Tạp chí BH số 1/2002

    Thị phần của các doanh nghiệp qua năm 2001 (theo doanh thu phí)

    B¶o ViÖt

    N¨m 2001

    54.30%

    Prudential

    29.90%

    Manulife BM-CMG A IA  
    10.80%
    3.60%  
    1.40%
     
         

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             24

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    *Các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường Việt Nam.

    Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam nếu như năm 1996 duy nhất chỉ có mình Bảo Việt triển khai ở hai loại hình chính là Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm,10 năm và chương trình đảm bảo cho trẻ em đến tuổi trưở ng thành (an sinh giáo dục ).Thì cho đến nay đã có đã có 5 doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cùng hoạt động và cạnh tranh .Việc tham gia của ngày càng đ ông các doanh nghi ệp Bảo hiể m nhân thọ trên th ị trường cũng làm cho số lượng sản pảm Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường tăng nên đáng kể . Và sau đay là các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ của từng doanh nghiệp .

    a.Bảo Việt:

    Các sản phẩm chính:

    • Bảo hiểm và tiết kiệm trong thời hạn 5 năm,10 năm.
    • Bảo hiểm trọn đời.
    • Bảo hiểm an sinh giáo dục.
    • Niêm kinh nhân thọ.

    Các sản phẩm bổ sung.

    • Điều khoản riêng I:Bảo hiểm thương tật bộ phân,vĩnh viễn do tai nạn.
    • Điều khoản riêng II:Bảo hiểm chi phí phẫu thuật .
    • Điều khoản riêng III:Bảo hiểm sinh kỳ thuần tuý.
    • Điều khoản riêng IV:Bảo hiểm tử kỳ.

    b.Prudential:

    Các sản phẩm chính:

    • Phú trường an.
    • Phú tích luỹ an khang.
    • Phú tích luỹ giáo dục.
    • Phú tích luỹ định kỳ
    • Phú hoà nhân.

    Các sản phẩm bổ trợ:

    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí .
    • Bảo hiểm chết do tai nạn.
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn. Các sản phẩm trọn gói.
    • Phú tương lai:Là sự kết hợp của sản phẩm chính phú tích luỹ với sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm từ bỏ thu phí.
    • Phú bảo gia :Là sự kết hợp của sản phẩm chính phú tích luỹ an khang và sản phảm kèm theo Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạnvà sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn .

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             25

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         
    • Phú thành đạt:Là sự kết hợp của sản phẩm chính pú tích luỹ định kỳ với sản phẩm kèm theo Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn và sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             26

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    c.Manulife.

    Các sản phẩm chính :

    • Bảo hiểm hỗn hợp 5 năm,10 năm,15 nă
    • Bảo hiểm giáo dục h ỗ n hợp .
    • Bảo hiểm tử vong và thương tật do tai nạn .
    • Bảo hiểm trợ cấp y tế. d. Bảo Minh – CMG.
    • Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .
    • Bảo hiểm trẻ
    • Bảo hiểm hưu trí .
    • Bảo hiểm tử kỳ.
    • Bảo hiểm chết và thương tật do tai nạ
    • Bảo hiểm miễn phí .
    • Bảo hiểm miễn phí trong thời hạn thương tậ e. AIA:
    • Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có thời hạ
    • Bảo hiểm trọn đờ
    • Bảo hiểm giáo dục h ỗ n hợp .
    • Bảo hiểm tử kỳ .
    • Bảo hiểm chết và thương tật do tai nạ
    • Bảo hiểm miễn phí trong thời hạn thương tậ

    4. Cơ hội và thách thức của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam hiện nay

     

    Với sự thay đổi và phát triển nhanh chóng của môi trường kinh doanh, thể hiện ở áp lực cạnh tranh gia tăng, khuynh hướng toàn cầu hoá, biến đổi thói quen, nhu cầu khách hàng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đã đặt nhiều thách thức cũng như các cơ hội phát triển mới cho các công ty Bảo hiểm và đặc biệt là trong lĩnh vực Bảo hiểm nhân thọ.

     

    4.1. Đáp ứng nhu cầu khách hàng.

    Đối với sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ, nhu cầu khách hàng được dự báo là có những thay đổi về sản phẩm và hình thức dịch vụ sau:

    Xu hướng dân số già đi, thu nhập được tăng thêm, khách hàng có quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tài chính của họ trong những năm hưu trí, chăm sóc sức khoẻ, dẫn tới nhu cầu về sản phẩm Bảo hiểm tích luỹ, tử kỳ, niên kim, sẽ có nhiều triển vọng tăng trưởng. Việc quan tâm hơn của khách hàng tới những loại sản phẩm này cũng thể hiện xu hướng quan tâm hơn tới

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 27
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    phòng chống rủi ro tài chính do kh ả năng biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế. Bên cạnh đó, v ới sự phát triển của cuộc sống hiện đại, một số loại bệnh tật dễ mắc phải là nguyên nhân chính gây tử vong cho con người cũng đã làm phát sinh nhu cầu các loại hình Bảo hiểm cho các loại bệnh hiểm nghèo.

    Do nhận thức ngày càng cao về các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ, khách hàng có yêu cầu được lựa chọn những sản phẩm tinh vi phù hợp với nhu cầu của mình. Khách hàng có yêu cầu cá nhân hoá dịch vụ- mua sản phẩm được lắp ghép và thiết kế theo nhu cầu cá nhân của khách hàng, được hưởng các dị ch vụ theo sự lựa chọn của cá nhân.

    Sự phát triển của thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư và quá trình phát triển doanh nghiệp Bảo hiểm theo hướng chuyền nghiệp hoá trong lĩnh vực đầu tư cho phép các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm Bảo hiểm – đầu tư. khách háng cũng có những hiểu biết hơn về đầu tư tài chính và có nhu cầu sử dụng một tỷ lệ tài sản của mình tham gia vào hoạt động đầu tư hấp dẫn làm tăng giá trị của hợp đồng Bảo hiểm. Bên cạnh đó, khuynh hướng hạ thấp lãi suất( do sự phát triển của thị trướng tài chính) là thách thức đối với các doanh nghiệp Bảo hiểm khi đưa ra tỷ lệ lãi suất cố định trong các sản phẩm truyền thống trước đây. Đây cũng là sức ép các doanh nghiệp Bảo hiểm cung cấp các sản phẩm kết hợp Đầu tư – Bảo hiểm. Bên cạnh đó là quá trình gắn kết chặt chẽ của khách hàng với các trung gian tài chính trong các hoạt động thanh toán, đầu tư, Bảo hiểm, tư vấn tài chính….. dẫn tới nhu cầu từ phía khách hàng là được cung cấp các dịch vụ tài chính tổng hợp, chọn gói và thuận tiện từ phía tổ chức, trái với tình trạnh hiện nay là các dịch vụ này được cúng cấp từ các tổ chức tài chính khác nhau, không thuận tiện cho khách háng.

    Nhu cầu Bảo hiểm nhân thọ là một nhu cầu thụ động, khách háng ít khi chủ động tìm đến các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ để mua các sản phẩm mà chỉ mua các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ sau khi được người bán Bảo hi ểm thuyết phục, vận động ( thường sau rất nhiều lần ).

    Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, tin học đã góp phần vào việc gây biến đổi thói quen tiêu dùng của khách hàng, đây cũng là phương tiện tốt nhất để truyền đạt thông tin từ phía các doanh nghiệp tới khách hàng. Khách hàng có nhu cầu về sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ muốn tìm hiểu thông tin và đòi hỏi được cung cấp dịch vụ qua các phương tiện thông tin hiện đại như internet, qua điện thoại, e-mail, được cung cấp dịchvụ tài chính tổng hợp như: đầu tư – Bảo hiểm, thanh toán….. do vậy tất yếu là các doanh nghiệp Bảo hiểm phải triệt để ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin đáp ứng những yêu cầu mới của khách hàng.

    Khách hàng có yêu cầu cao hơn về dịch vụ gia tăng: do quá trình cạnh tranh đã làm đồng nhất về chất lượng dịch vụ, nên khách hàng đòi hỏi các

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 28
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    dịch v ụ gia tăng như dịch vụ cung cấp thông tin qua trung tâm dịch vụ khách hàng, cung c ấp thẻ thông tin hợp đồng hội chợ thanh toán, đầu tư vào các quyền lợi khác.

    4.2.Chế ngự sự phát triển của công nghệ .

    Việc tiếp nh ận và s ử dụng công nghệ mới,trong đó ch ủ yếu là thông tin một cách có hiệu quả là thách thức lớn nhất đối v ới doanh nhiệp Bảo hiểm . Doanh nghiệp Bảo hiểm phải cân đối giữa việc áp dụng công nghệ có sự thay đổi quá nhanh chóng để nâng cao n ăng lực cạnh tranh với những rủi ro tốn kém chi phí, năng lực qu ản lý không đáp ứng,không phù hợp vớ thình độ hiện tại của nhân lực và hiện trạng của cơ cơ cấu tổ chức .

    Việc ứng dụng công nghệ thông tin cho phép doanh nghiệp Bảo hiểm : *Vi tính hoá quá trình dịch vụ,giả m bớt tính cồng kềnh của cơ cấu tổ chức, tổ chức doanh nghiệp Bảo hiểm theo mô hình “doanh nghiệp thông tin”, và đa d ạng hoá kênh phân phối và hình thức dịch vụ t ạo ra cơ s ở dữ liệu chung phục vụ cho nhu câù lưu trữ, tra cứu và phân tích, cho phép thay đổi

    mô hình tổ chức theo hướng gọn nhẹ và chuyên nghiệp hoá cao.

    *Cho phép doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tăng cường dịch vụ khách hàng bằng các dị ch vụ bổ trợ kỹ thuật cao như Calling centre, xây dựng trang web, email, trả lời điện thoại, kết hợp thanh toán và các dịch vụ tài chính khác, cho phép doanh nghiệp Bảo hiểm nhân th ọ phục vụ khách hàng một cách nhanh chóng, thường xuyên, rút ngắn chu kỳ hoạt động .

    *Cho phép doanh nghiệp Bảo hi ểm nhân thọ cá nhân hoá các dịch vụ qua nghiên cứu và đáp ứng nhu cầu cá nhân.

    *Với sự áp dụng của công nghệ thông tin ngày càng hiện đại cho phép doanh nghiệp đưa các thông tin của mình tới khách hàng một cách nhanh nhất, cũng như thu được các thông tin quan trọng cần thiết t ừ phía khách hàng chuyển đến để từ đó doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn và vạch ra những kế hoạch chiến lược phát triển của doanh nhgiệp trong tương lai.

    *Công nghệ thông tin còn giúp các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ s ử lý thông tin một cách nhanh tróng, giúp cho việc lắm bắt thời cơ kịp thời , tránh bỏ những cơ hội lớn của công ty .

    *Hệ thống vi tính hoá còn đượ c áp dụng rộng rãi ở các phòng ban của doanh nghiệp, giúp cho việc quản lý dữ liệu,và đặc biệt giúp cho công tác kế toán, thống kê một cách chính xác và nhanh chóng.

    4.3.Đổi mới về tổ chức và quản lý công ty.

    Có một sức ép do tình hình cạnh tranh và công nghệ kinh doanh dẫn tới những yêu cầu về sự thay đôỉ tổ chức của công ty.

    *Tổ chức củ a doanh nghiệp Bảo hiểm theo định hướng khách hàng trung tâm : Vấn đề đáp ứng nhanh nhu cầu khách hàng là nhân tố quyết định

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 29
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    trong cạnh tranh do vậy về tổ chức, doanh nghiệp Bảo hiểm cần chú trọng đầu tư phát triển các b ộ phận nghiên cứu nhu cầu khách hàng, đ ánh giá thoả mãn khách hàng, thiết kế phát triển sản phẩm ,quản lý quan hệ khách hàng, phát triển các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng.

    *Yêu cầu đa dạng hoá hệ thống phân phối cũng làm thay đổi tổ chức của doanh nghiệp Bảo hiểm trong quản lý và phát triển các kênh phân phối mới.

    *Phát triển của công nghệ thông tin sẽ gây ảnh hưởng tới tổ chức doanh nghiệp Bảo hiểm và cách thức trao đổi thông tin . Do hệ thống thông tin hỗ trợ các quá trình trao đổi thông tin đa chiều các bộ phận trong doanh nghiệp Bảo hiểm và với khách hàng qua hệ thống mạng nên các khái niệm về không gian (VD: nh ư kho ảng cách giữa các phòng ban), thời gian trao đổi thông tin bị xoá nhoà. Điều này dẫn tới sự thay đổi về cơ c ấu tổ chức doanh nghiệp Bảo hiểm và cách th ức mà doanh nghiệp Bảo hiể m quan hệ với khách hàng. Ví dụ:mô hình quản lý thông tin theo nguyên tắc mở và tập trung d ự kiến có ảnh hưởng tới t ổ ch ức, đặc biệt theo hướng các hoạt độ ng kế toán , qu ản lý hợp đồng được tiến hành tập trung, hoạt động khai thác dịch vụ khách hàng được phân tán. Như vậy, thay cho việc các doanh nghiệp ph ải thành lập nhiều nhiều công ty, chi nhánh để mở rộng h ệ thống phân qhối trên các địa bàn với cơ cấu tổ chức cồng kềnh , thì với s ự hỗ trợ củ a công nghệ thông tin ,các doanh nghiệp Bảo hiểm chỉ cần thành lập các bộ phận chuyên quản lý các đại lý để bán sản phẩm phục v ụ khách hàng . Các hoạt động hạch toán, kế toán ,quản lý hợp đồng ….được quản lý tập trung. Mô hình trên sẽ giảm

    thiểu hoạt động trùng lắp, tăng cường chuyên môn hoá ,tăng cường chỉ đạo theo định hướng chiến lược phát triển và nâng cao được năng suất lao động, giả m chi phí ho ạt động. Nhờ vậy mà doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ có thể thay đổi mô hình nhiều cấp sang mô hình ít cấp hoặc hình sao với sự trao đổi thông tin đa chiều giữa các bộ phận . Điều này sẽ góp phần giảm b ớt các cấp quản lý trung gian vố n chỉ thực hiện chức năng tập hợp, báo cáo thông tin trình lãnh đạo ra quyết định .

    *Việc áp dụng các lý thuyết mới về quản lý doanh nghiệp nhằ m độ ng viên nâng cao tính chủ động cải tiến đổi mới của cán bộ, phát huy tính tri thức của cán b ộ cũ ng đòi hỏi đến sự biến đổi về cơ c ấu tổ chức để phát huy tính trí tuệ của cán bộ ,phát duy đóng góp của cán bộ vào hoạt động quản lý doanh nghiệp.

    4.4.Phát triển hệ thống phân phối .

    Do thay đổi v ề nhu cầu được phục vụ của khách hàng cùng với sự phát triển nhanh chóng củ a công nghệ thông tin, hệ thống phân phối có một số thách thức phát triển.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             30

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    *Thách thức trong đa dạng hoá hệ thố ng phân phối :Trướ c sự biến đổi của nhu cầ u khách hàng cả về sản phẩm và dị ch vụ , với sự hỗ trợ của công ngh ệ, việc đa dạng hoá kênh phân phối là tất yếu. Các kênh phân phối chủ yếu được đưa ra vẫn là phân phối trực tiếp, phân phối qua Internet, phân phố i qua ngân hàng .Vi ệc đa dạng hoá kênh phân phối nhằm phục vụ nhu cầu đa dạng hoá dịch vụ khách hàng .

    *Song song với sự phát triển về dich vụ thì khách hàng cũng có nhu cầu tư vấn tài chính , từ các tổ chứ c độc lập để đảm bảo lựa chọn dịch vụ tài chính phù hợp nhất với bản thân .

    *Thách thức trong việc nâng cao năng suất của hệ th ống đại lý :Sau nhiều cuộc thảo luận các nhà quản lý đều đi đến kết luận là trong Bảo hiểm nhân thọ ,vai trò củ a đại lý là không thể thay thế mặc dù có sự phát triển của công nghệ , do đặc trưng của sản ph ẩm Bảo hiểm nhân thọ là quan hệ giữa con người với con người .Tuy nhiên để phát huy vai trò của đại lý thì công ty cần phải:

    • Hỗ trợ hoạt động đại lý bằng những công nghệ thông tin khách hàng, web, email,…..trong giao dịch với khách hàng, phối hợp hiệu quả kênh phần phối đại lý với kênh phân phối không dùng đại lý. Chú trọng đào tạo đại lý bằng công nghệ đào tạo mới như sử dụng Audio,Tapes,Internet.

    +Tăng cường quản lý hoạt động đại lý trong đó chuyển hướng chú trọng vào chất lượng quá trình bán hàng của đại lý thay cho cách làm truyền thống là quản lý kết quả bán hàng của đại lý .

    +Tăng cường tổ chức mở các lớp đào tạo nâưng cao nghiệp vụ cho đại lý ,từ đó giúp các đại lý hoạt động ngày một hệu quả hơn.

    *Phân phối qua Internet :Việc phân phối qua Internet có triển vọng và tăng về doanh số, tuy nhiên đối với các nước chậm phát triển thì tăng cường sử dụng Internet cho công tác giới thiệu sản phẩm ,giải đáp thắc mắc và thông tin giao dịch của đại lý và công ty đối với khách hàng của mình .

    *Phát triển các hình thức bán Bảo hiểm qua ngân hàng :Tuy nhiên để thành công cần chú trọng gắn kết dịch vụ Bảo hiểm với dịch vụ tài chính, đầu tư của ngân hàng cung cấp cho khách hàng(thiết kế sản phẩm đơn giản , ví dụ : thời hạn Bảo hiểm có thể gắn với thời hạn vay vốn của khách hàng, thanh toán, trả quyền lợi Bảo hiểm gắn với dịch vụ thanh toán ,Credit Card của ngân hàng, sản ohẩm gắn với các hình thức đầu tư tại ngân hàng ). Thường xuyên trao đổi giữa lãnh đạo hai bên để thảo luận khắc phục,xác định đối tượng khách hàng, đặc biệt có các kỹ thuật hỗ trợ cho các cán bộ ngân hàng tính toán, tư vấn quyền lợi Bảo hiểm .

    4.5.Chuyên môn hoá hệ thống đại lý –Một thách thức lớn đối với các nhà quản lý Bảo hiểm nhân thọ.

     

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             31

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Lợi ích của việc chuyên môn hoá là rất rõ nét, đối vớ đại lý chuyên khai thác, nhờ không mất công sức, thời gian thu phí Bảo hiểm định kỳ nên đại lý có thể tăng s ố lượ ng h ợp đồng mới, khách hàng mới một cách nhanh chóng . Đây cũng là điều mà các công ty đều mong muốn .Không thể duy trì tình trạng mu ốn tăng doanh thu phí thì phải tăng số lượng đại lý .Vẫn bi ết đó là một quy luật tất yếu khách quan nhưng duy trì được khả nă ng vừa tăng số lượ ng đại lý v ừa tăng chất lượng khai thác củ a đại lý mới là tối ưu .Nh ờ có đại lý chuyên nghiệp thu phí,các công ty có thể thu được một số phí lớn, không nợ phí hoặc nợ phí thấp .Lúc này khách hàng sẽ là người có lợi nhất, đượ c nhiều đại lý cùng chăm sóc,d ịch vụ được thụ hưởng là dịch vụ tốt nhất cho nên khả năng huỷ bỏ hợp đồng là rất hiếm xẩy ra .

    Cuố i cùng các công ty trở thành người có ưu thế trong cạnh tranh . Vừa khai thác được nhiề u hợp đồng mới , vừa bảo đảm t ỷ lệ nợ phí, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng thấp, tính trung thành của khach hàng cao.

    Chủ trương thuyên môn hoá đại lý Bảo hiểm nhân th ọ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng muốn thực hi ện nó một cách triệt để,l ại là một công việc hết sức khó khăn và để chuyên môn hoá h ệ th ống đại lý Bảo hiểm nhân thọ thì nhất thiết phải giải quyết một số vấn đề sau đây:

    *Thứ nhất-giảm số lượ ng đại lý tổng hợp: Về tổng thể, các công ty đều đã có đại lý chyên khai thác và đại lý chuyên thu phí , nhưng số lượng đại lý tổng hợp vẫn còn khá lớn .Nguyên nhân chính là các đại lý tổng hợp trước đây vẫn hoàn thành một cách xuất sắc cả hai chức năng của mình là khai thác hợp đồng mới và thu phí Bảo hiểm định kỳ . Tuy nhiên số đại lý tổng hợp này thường được phân bố ở các vùng đặc thù xã hội, hẻo lánh, tiềm năng khai thác ít không th ể phân công được đại lý chuyên thu phí .Trong thời gian tới, cần giảm dần số lượng đại lý tổng h ợp bằng cách truyển đổi tất cả các đại lý này thành đại lý chuyên khai thác và đại lý chuyên thu .

    *Thứ hai-phân công đại lý chuyên thu theo đị a bàn và đại lý chuyên khai thác : hiện tại đại lý chuyên thu phí được giao theo dõi và thu phí các hợp đồng của nhiều đại lý chuyên khai thác,đại lý t ổng hợp khác nhau . Việc phân công như th ế này khiến đại lý chuyên thu phí mất nhiều thời gian, công sức để có thể thu đủ phí theo yêu cầu của công ty.

    Gi ải pháp tốt nhất là phân công mỗi địa bàn một đại lý chuyên thu phí chuyên trách . Ngoài ra, căn c ứ vào tình hình thực tế , khi bàn giao hợp đồn, đại lý chuyên khai thác,đaị lý tổng hợp đều có xu hướng chuyển cho những đại lý chuyên thu phí quen biết mình. Nên có thể phân công một đại lý chuyên thu phí nhận toàn bộ hợp đồng của từ1 1 đến 3 đại lý chuyên khai thác , nhất là các đại lý chuyên khai thác có mối quan hệ tốt với đại lý chuyên thu phí.

    *Thứ ba- Tăng cường hỗ trợ mạng đại lý chuyên khai thác.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 32
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Nhiệm vụ chính của đại lý chuyên khai thác là tìm kiế m khách hàng mới, thuyết phục khách hàng tham giaBảo hiểm , thu phí Bảo hiểm đầu tiên. Muố n tăng được doanh thu, t ăng s ố lượ ng h ợp đồng thì các đại lý chuyên khai thác phải nhận được phải nhận được mộ t sự hỗ trợ đặc biệt t ừ phía công ty như: Tìm kiếm các đầu mối khách hàng lớn là tổ chức, tập thể, hỗ trợ phương tiện , cơ sở vật chất để đại lý đi khai thác nh ư cung cấp tờ rơi , bố chí xe đưa đón đại lý ;trường hợp đại lý tự khai thác được các khách hàng lớn là tổ chức ,tập thể , thậm chí là các cá nhân nhưng khách hàng yêu cầu công ty đến làm việc, công ty bố trí thời gian làm việc với khách hàng , không khoán trắng đại lý ; xây dựng chế độ hoa hồng phù hợp ;tăng cường thi đua khen thưởng .

    4.6. Môi trường pháp lý trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ngày càng được hoàn thiện.

    Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, từng bước thiết l ập và duy trì mộ t th ị trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước đối v ới l ĩnh vực này, trước hết là sự ra đời của luật kinh doanh bảo hiểm, bắt đầu có hiệu l ực từ ngày 1/4/2001, ti ếp đó là nghị định và thương t ư hướng dẫn. Ngoài việc xây dựng và hoàn thiện môi trườ ng pháp lý, trong thời gian qua, nhà n ước cũng có những chính sách ưu đãi, hỗ chợ, thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ như ưu đãi về thuế (theo luật thuế giá trị gia tăng, bảo hiểm nhân thọ không thuộc diện ch ịu thu ế). Đây cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam phát triển.

    Với chính sách hội nhập kinh tế, n ền kinh tế nước ta đã và đang bước vào giai đoạn hồi phục, ổn định và phát triển với tố c độ cao, l ạm phát được đẩy lùi, thu nhập của ngườ i dân ngaỳ càng được cải thiện, tạo điều kiện tiền đề thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển. Đến nay bảo hiểm nhân thọ Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, doanh thu phí chiếm 0,55% GDP (rất nhỏ so với 2%-4% GDP của các n ướ c trong khu vực và 10-12% của các nướ c phát tri ển) và khoảng 2% dân số có hợp đồng bảo hi ểm nhân thọ (tỷ lệ này ở Trung Quốc là 22%, Nh ật Bản gần 100%) như vậy tiềm năng của thị trường còn rất lớn. Cùng với sự hoàn thiện củ a môi trường pháp lý, các chính sách hỗ trơ, khuyến khích của nhà nước, sự phát triển của khoa học công nghệ với sự hoạt động mạnh mẽ của các doanh nghiệp, có th ể dự đoán rằng , thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam sẽ còn phát triển cao trong những năm tiếp theo.

    4.6. Những hạn chế của th ị trường bảo hiểm nhân thọ Vi ệt Nam. Thị trường mới chủ yếu đạt được sự tăng trưởng cao, yếu tố hiệu quả và

    bền vững chưa cao. Đến nay, các doanh nghiệp v ẫn đặt trọ ng tâm và mục tiêu tăng trưởng, mở rộng thị trường. Tính không bền vững còn thể hiện ở

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 33
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    chỗ hiện nay có rất nhiều sản phẩm (phần lớn là mang tính tiết kiệm cao) được tính phí với lãi xuất k ỹ thuật khá cao điều này có thể d ẫn đến việ c lãi xuất đầu tư có thể thực hiện được trên thực tế nhở hơn so với lãi xuất đ ã đưa vào tính phí, không đảm bảo khả năng thanh toán đầy đủ quyền lợi bảo hiểm đã cam kết.

    Thị trường đầu t ư của Việt Nam mới trong giai đoạn hình thành, còn thi ếu các công cụ đầu tư, nhất là các công cụ đầu tư dài hạn, do vậy hạn chế rất lớn hiệu qủa hoạt động đầu t ư của các doanh nghi ệp b ảo hiểm nhân thọ nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà các sản phẩm tiết kiệm chiếm phần lớn.

    Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

    • Việt Nam chưa thực sự đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy đinh chưa rõ ràng, chưa thực sự phù hợp với tập quán bảo hiểm nhân thọ, chua tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp; hiệu lực thực thi các quy định cũng như việc kiểm tra giám sát của các cơ quan trức năng trên thực tế chưa cao.

    Những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh (như tung tin giả), trục lợi bảo hiểm, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng đã xuất hiện, gây tác động xấu đến thị trường, làm tổn hại đến hình ảnh và uy tín của ngành.

    Tập quán tham gia bảo hiểm nhân thọ, phần đông dân chúng trưa hiểu rõ về bảo hiểm nhân thọ, còn e dè, ngại ngần tham gia các hợp đồng dài hạn; các phương tiện thông tin đại chúng đôi khi còn gây hiểu sai lệch về bảo hiểm nhân thọ.

    Trình độ cán bộ, đại lý làm bảo hiểm nhân thọ còn bất cập; ngành bảo hiểm nhân thọ Việt Nam còn thiếu những chuyêng gia giỏi. Đây cũng là một thách thức đối với bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong những năm tới.

    5.Một số kiến nghị để phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ trong thời gian tới:

    Chỉ trong vòng 5 năm thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn .Tuy vậy, thị trường vẫn còn rất nhiều điều hạn chế cần khắc phục như cạnh tanh chưa lành mạnh đã xuất hiện, thị trường mới đạt được sự tăng trưởng cao, yếu tố hiệu quả và bền vững chưa cao,tập quán tham gia Bảo hiểm nhân thọ mới bắt đầu được hình thành ,phần đồng dân chúng chưa hểu rõ về Bảo hiểm nhân thọ,báo chí đôi khi đưa ra những thông tin sai lệch ,công cụ đầu tư còn nghèo làn ,khung pháp lý chưa hoàn thiện trình độcán bộ, đại lý làm Bảo hiểm nhân thọ còn bất cập, để thúc đẩy thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam phát triển bền vững,tăng cường vai trò của nó trong công cuộc công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước cần

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 34
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    phát huy những điểm mạnh, khắc ph ục những điểm yếu tồn tại hiện thời đồng thời phải chuẩn bị tốt để đối phó với những khó khăn thách thức và sắp tới là thách thức hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế

    Để thực hi ện nh ững nhiệm vụ trên cần có những chiến l ược và giải pháp mang tính đồng bộ, cả trên phương diện vĩ mô và vi mô. dưới đây là một số kiến nghị:

    Thứ nhất, nhà nước cần hoàn thi ện các quy định pháp luật điều chỉnh nhằm tạo khung pháp lý thu ận lợi cho hoạt động kinh doanh Bảo hi ểm nhân thọ. Tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia cũng như các doanh nghiệp b ảo hiểm , nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nướ c với hoạt đông kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ, đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ trong nền kinh tế thị tr ường theo định hướng xã h ội chủ nghĩa. Việc hoàn thiện môi trường pháp lý , trước hết là hoàn thiện và bổ sung các quy định phù hợp v ới tậ p quán kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ, điều kiện thực tiễn Việt nam , mục tiêu và định hướng phát triển thị trường. Song song với việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, cần xây dựng một cơ chế ki ểm tra giám sát hữu hiệu việc thực hiện trên thực t ế nh ặm xác lập và duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững.

    Thứ hai: nhà n ước c ần có chiế n lược, đị nh hướng phù hợp trong phát triển thị trường Bảo hiểm nhân th ọ, tr ước h ết là chiến lượ c , chính sách hội nhập. Đó là cần xác định lộ trình hội nhập và mở cửa thị trường Bảo hiểm nhân thọ. Tiếp đến, nhà nước cần có chính sách phù hợp để khuyến khích phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ, cụ thể:

    +Vì Bảo hiểm nhân thọ là ngành kinh doanh mang ý nghĩa xã hội sấu sắc, do vậy nhà nước cũ ng cầ n có những chính sách hỗ trợ, thúc đẩy ngành Bảo hiểm nhân thọ phát tri ển nh ư chính sách về đầu t ư (ưu tiên các doanh nghi ệp Bảo hiểm nhân thọ được đầu tư vào các công trình, dự án an toàn vốn, lợi tức đầu tư cao), chính sách thuế thu nhập đối với những ngưới tham gia Bảo hiểm nhân thọ (giống nh ư ở các nước khác )…Với chính sách ưu đãi về thuế đố i với người tham gia B ảo hiểm nhân thọ, nhà nướ c có thể thực hiện chính sách khấu trừ một phần phí Bảo hiểm nhân thọ mà cá nhân đóng phí Bảo hiểm nhân th ọ khỏi thu nh ập chịu thuế, mi ễn thuế đối với (một phần hoặc toàn bộ )số tiền bảo hiểm mà ng ưòi tham gia B ảo hiểm được nhận, cho phép tính một phần ho ặc toàn bộ số phí bảo hiểm mà doanh nghiệp đóng Bảo hiểm nhân thọ vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp.

    • Đối với vấn đề đại lý, do hoạt động đại lý Bảo hiểm nhân thọ có những điểm khác biệt so với các đại lý thương mại nói chung nên nhà nước cần có những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề Bảo hiểm nhân thọ. Đặc biệt để tiêu chuẩn
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 35
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    hoá được đôị ngũ đại lý Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Nhà nướ c cần quy định rõ nội dung đào tạo, đồng thời tiến hành tổ chức thi sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý, không nên giao hoặc uỷ quyền việc kiểm tra sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề đại lý cho các doanh nghi ệp. Thêm vào đó để đạt được hợp đồng đại lý Bảo hiể m nhân th ọ phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị,..(mỗi đại lý có thể được coi là một doanh nghi ệp), do vậy khi xác định thu ế thu nhập cho đại lý cũng cần có cách tính phù hợp. Ngoài ra để có thể phát triển nghề đại lý Bảo hiểm nhân thọ như là mộ t nghề chuyên nghiệp, cần bổ sung chính sách Bảo hiể m xã hộ i để đại lý yên tâm công tác lâu dài, có nguồn tài chính đảm bảo khi hết khả năng lao động(như dưới hình thức Bảo hiểm xã hội tự nguyện).

    +Trong Bảo hiểm nhân thọ, chính sách hoa hồng đóng một vai trò rất quan trọng. Do vậy, khi quy định định mức hoa hồ ng t ối đa áp dụng cho toàn thị trường, cần xác định định mức hoa hồng củ a các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý tương quan giữ các sản phẩm Bảo hiểm , các phương thức đóng phí , thời gian B ảo hiể m b ảo đảm sự linh hoạt cho các doanh nghiệp và có thể phát triển được độ i ngũ chuyên nghiệp trong Bảo hiểm nhân th ọ. Mặt khác cũng cần thiết lập một cơ chế kiể m tra giám sát chặt chẽ đối v ới việc sử dụng hoa hồng của các doanh nghiệp trên thực tế. Trong giai đọan hiện nay, định mứ c hoa hồng có thể quy định theo tỷ l ệ tối đ a củ a tổng hoa hồng trên tổng phí của hợp đồng (chẳng hạn với Bảo hiểm hỗ n hợp , thời hạn Bảo hi ểm 10 năm, tỷ lệ hoa hồng t ối đa là 7%) nhăm t ạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc tr ả hoa hồng vì với cùng thời hạn Bảo hiểm mỗi sản phẩm lại có cách thức nộp phí khác nhau(thời hạn nộ p phí có thể nhỏ hơn hoặc bằng thời hạn Bảo hiểm )và mỗi doanh nghiệp lại có cách th ức tr ả hoa hồng khác nhau (một số nước không quy định tỷ lệ hoa h ồng mà quy định tỷ lệ chi phí hoạt động tối đa trên tổng phí ). Tuy nhiên để đ iều tiết cạnh tranh khi thị trường mới hình thành, có thể quy định thêm tỷ lệ hoa hồng tối đa trong năm hợp đồng thư nhất. Trong giai đoạn tiếp theo, khi thị trường Bảo hiểm nhân thọ thiết lập được sự c ạnh tranh tương đối lành mạnh và đạt đến một trình độ phát triển nhất định, nhà n ước có thể thực hiện tự do hoá hoa hồng để tăng cường hiệu quả hoạt động của thị trường.

    • Một vấn đề nữa cũng cần được nhà nước quan tâm là lãi suất kỹ thuật. Được giả định cho một thời gian rất dài, lãi suất kỹ thuật được áp dụng trong tính phí Bảo hiểm nhân thọ là một yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng, quyết định sự an toàn kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và việc đảm bảo quyền lợi của khách hàng. Thực tiễn vừa qua cho thấy , sự sụp đổ của hàng loạt công ty Bảo hiểm nhân thọ Nhật Bản như NISSAN,KYOEI,
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 36
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    DAICHI,TOHO…chủ yếu là do lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao. Do vậy, nhà nước cũ ng cần có sự quan tâm thích đáng về vấn đề này (như đưa ra mức lãi suất kỹ thuật tham khảo )để giúp các doanh nghiệp xác định được mức lãi suất thích hợp đảm bảo cho khả nămg thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai.

    • Cuối cùng, nhà nước cần có các chính sách tạo ra sự bình đẳng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước có thể đứng trên cùng mặt bằng khi cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc loại hình khác trên các mặt như: tiền lương, chi phí quản lý …

    Thứ ba, các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cần nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ, phát triển và cung cấp các dịch vụ theo hướng cung cấp “dịch vụ tổng hợp”, đó là dịch vụ Bảo hiểm kết hợp với các dịch vụ tài chính hoặc các dịch vụ khác như tư vấn đầu tư, tư vấn tiêu dùng, tư vấn luật, tư vấn y tế… Cùng với việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, các doanh nghiệp cần thực hiện đa dạng hoá kênh phân phối như phân phối qua ngân hàng , các tổ chức tài chính để bán sản phẩm, bán hàng qua Internet, qua thư trực tiếp,..

    Thứ tư, các doanh nghiệp cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp (nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền Bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi Bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…), thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp để có thể cung câp cho thị trường Bảo hiểm nhân thọ với chất lượng tốt nhất, đồng thời nâng cao uy tín của ngành trong công chúng.

    Thư năm, các doanh nghiệp cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ đặc biệt là khoa học công nghệ thông tin vào quá trình khai thác và quản lý hoạt động kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí Bảo hiểm tăng khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của mội trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá của nền kinh tế tri thức.

    Thứ sáu, tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt như: đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi Bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ, đại lý xây dựng và tăng cường uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, thu thập và sử dụng số liệu thống kê liên quan. Đồng thời cần tăng cường vai trò của hiệp hội Bảo hiểm trong các lĩnh vực hợp tác nêu trên.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             37

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
     

    C. KẾT LUẬN

     

    Tóm lại qua nghiên cứu ta thấy thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là một thị trường trẻ, có rất nhiều tiền năng phát triển chong tương lai. Nhưng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều những khó khăn và thách thức mà đòi hỏi những năm tới chúng ta phải xây dựng hoàn thành.

    Như vậy để thị trường ngày một phát triển, thì nhà nước ta phải không ngừng có những chính sách hỗ trợ, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo ra một thị trường kinh doanh lành mạnh, thu hút các nhà bảo hiểm nhân thọ nước ngoài đầu tư vào thị trường .

    Bên cạnh đó cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện đúng những chính sách mà nhà nước đặt ra, cũng như có các chương trình tuyển dụng, đào tạo cán bộ, đại lý làm bảo hiểm nhân thọ.

     

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             38

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Tài liệu tham khảo

    1. Bài giảng kinh tế bảo hiểm.

     

    1. Giáo trình kinh tế boả hiểm.

     

    1. Luật kinh doanh bảo hiẻm.

     

    1. Tạp chí bảo hiểm số 4/99; số 1,2,3,4/2000; số 1,2,3,4/2001; số 1,2,3/2002
      1. Thời boá kinh tế số 99/2002

     

    1. Tạp chí tài chính tháng 4/2002

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]