Author: Nguyễn Huyền

  • ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tài liệu về thanh toán quốc tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%80-C%C6%AF%C6%A0NG-%C3%94N-T%E1%BA%ACP-M%C3%94N-THANH-TO%C3%81N-QU%E1%BB%90C-T%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ

    Đề thi bao gồm câu hỏi tự luận, trắc nghiệm và bài tập.

    Đề thi được phép sử dụng tài liệu.

     

    HỆ THỐNG CÂU HỎI ÔN TẬP

    Phần câu hỏi tự luận

    1. Đặc điểm TTQT
    2. Các nhân tố quyết định lựa chọn tiền tệ, thời gian thanh tóan, phương tiện, phương thức thanh toán và địa điểm thanh tóan.
    3. Có sở pháp lý điều chỉnh TTQT
    4. UCP 600: tính chất; nội dung và vận dụng để giải quyết các tình huống
    5. Hối phiếu: Đặc điểm, phân loại; hình thức; nội dung; ký hậu; chấp nhận B/E;
    6. Séc chú ý các loại séc: Séc du lịch; séc đích danh; séc vô danh; séc theo lệnh; séc xác nhận; séc bảo lãnh.
    7. Thẻ thanh toán: khái niệm; các loại thẻ
    8. Phương thức thanh toán nhờ thu và tín dụng chứng từ: Khái niệm; các chủ thể tham gia thanh tóan; quy trình thanh tóanh thanh; rủi ro đối với các chủ thể tham gia thanh tóan
    9. L/C: khái niệm; tính chất; nội dung; các loại L/C cơ sở và L/C đặc biệt (L/C chuyển nhượng, L/C giáp lưng, L/C đỏ, L/C dự phòng)
    10. Bộ chứng từ trong TTQT: B/L, chứng từ bảo hiểm, Invoice, các chứng từ khác
    11. Các hình thức tài trợ: Tài trợ theo phương thức thanh toán, đặc biệt chú ý tài trợ theo L/C

    PHẦN II: MỘT SỐ CÂU HỎI GỢI Ý ÔN TẬP

    1. Giải thích: quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP) là một văn bản pháp lý tuỳ ý.
    2. Nội dung của UCP 600:
    • Định nghĩa; xuất trình phù hợp; ngân hàng được chỉ định; xuất trình; chiết khấu; …
    • Một số thuật ngữ thường sử dụng trong L/C (điều 3, UCP 600)
    • Sửa đổi thư tín dụng;
    • Trách nhiệm của ngân hàng phát hành; ngân hàng xác nhận; các chủ thể tham
    • Quy định về chứng từ: hoá đơn; chứng từ vận tải; chứng từ bảo hiểm;
    • Giao hàng từng phần;
    • Chuyển tải;
    • Thời hạn thanh toán;
    • Ngày tháng lập chứng từ;
    • Địa chỉ các bên liên quan trên chứng từ;
    1. So sánh hối phiếu sử dụng trong thanh toán Nhờ thu và Tín dụng chứng từ
    2. Cách lập B/E
    3. Tại sao phải chấp nhận hối phiếu? Chủ thể chấp nhận hối phiếu trong thanh toán quốc tế? Hình thức chấp nhận hối phiếu?
    4. Phân biệt chấp nhận B/E và kí hậu B/E
    5. Những tiện ích khi sử dụng thẻ thanh toán. Phân biệt thẻ tín dụng và thẻ nợ. Những lưu ý khi sử dụng Credit Card?
    6. So sánh nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. ưu nhược điểm của nhờ thu chứng từ đối với các bên liên quan.
    7. So sánh để phân biệt những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa D/P  và D/A; giữa D/P trả ngay và D/P kỳ hạn.
    8. Phân tích trách nhiệm, quyền hạn của các thành phần tham gia thanh toán tín dụng chứng từ.
    9. Ưu, nhược điểm của thanh toán tín dụng chứng từ.
    10. Phân tích những nghiệp vụ chủ yếu của các ngân hàng tham gia thanh toán tín dụng chứng từ.
    11. Nội dung cơ bản của L/C
    12. Phân tích mối quan hệ giữa các thời hạn: hiệu lực của L/C, thời hạn giao hàng và thời hạn xuất trình chứng từ thanh toán.
    13. Phân tích tính chất của L/C
    14. Phân biệt thư tín dụng và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ?
    15. Những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa Transferable Credit và Back- to- Back credit?
    16. Trình bày đặc điểm của Back-to-Back credit, những lưu ý để hạn chế rủi ro cho nhà trung gian và ngân hàng phát hành L/C giáp lưng.
    17. So sánh để phân biệt những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa Đơn yêu cầu mở L/C và L/C?
    18. So sánh vai trò của ngân hàng nhà nhập khẩu trong thanh toán Nhờ thu và Tín dụng chứng từ?
    19. So sánh chiết khấu bộ chứng từ miễn truy đòi và chiết khấu có truy đòi trong thanh toán hàng xuất?
    20. Ý nghĩa của một xuất trình phù hợp trong thanh toán tín dụng  chứng từ?
    21. L/C xác nhận được sử dụng trong trường hợp nào? So sánh để phân biệt những điểm giống và khác nhau cơ bản về trách nhiệm của ngân hàng phát hành L/C và ngân hàng xác nhận L/C.
    22. Phân biệt ngân hàng thông báo số 1 và số 2
    23. Tại sao nói L/C là cam kết thanh toán có điều kiện của ngân hàng.
    24. Để đảm bảo an toàn cho ngân hàng phát hành L/C, B/L cần quy định như thế nào?
    25. Phân biệt thư tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng

    PHẦN III:  BÀI TẬP THAM KHẢO

    Bài 1.

    Công ty XNK A nhận được một L/C do Ngân hàng BOC – Singapore phát hành.

    Trên L/C đó có đoạn ghi như sau: “Ngân hàng BOC sẽ trả tiền ngay sau khi nhận được chấp nhận thanh toán của người xin mở L/C nếu hàng hóa phù hợp với chứng từ  của người hưởng lợi xuất trình”

    Đoạn cuối của L/C có ghi: “L/C nay áp dụng UCP 600, bản sửa đổi năm 2007 của ICC”

    Công ty XNK A có nên chấp nhận L/C này không? Tại sao?

    Bài 2.

    Công ty A mở L/C qua VCB với tổng trị giá 250.000 USD, trả chậm 120 ngày kể từ ngày giao hàng để nhập hàng của SONY – Nhật Bản.

    VCB đã ký chấp nhận hối phiếu trả chậm do SONY ký giá trị 250.000USD. Hàng của SONY có phẩm chất kém, do đó SONY đồng ý giảm giá cho công ty A số tiền 50.000USD.

    Đến hạn, công ty A chuyển tiền qua VCB trả cho SONY 200.000 USD. Ngân hàng của SONY so số tiền nhận được với hối phiếu chấp nhận bởi VCB thấy thiếu 50.000 USD, nên đã phản kháng VCB và dọa đưa ra Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam kiện.

    Quan điểm của bạn về vấn đề này như thế nào?

    Bài 3.

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Bộ chứng từ sai sót là:

    a/ Xuất trình chứng từ  thiếu so với yêu cầu của L/C

    b/ Xuất trình chứng từ  thừa so với yêu cầu của L/C

    c/ Có bất kỳ sự khác biệt nào so với yêu cầu của L/C

    Bài 4.

    Ngân hàng A phát hành một L/C không hủy ngang nhập khẩu 3.000MT bột ngọt theo yêu cầu của công ty TNHH B Hà Nội.

    Công ty ký qũy mở L/C với giá trị bằng 20% giá trị L/C.

    Ngân hàng A nhận được bộ chứng từ đòi tiền của người hưởng lợi và đã thanh toán 100% trị giá hối phiếu của bộ chứng từ đó vì chứng từ hoàn toàn phù hợp với L/C.

    Ngân hàng A báo cho công ty TNHH B hoàn trả nốt tiền, nhưng công ty này đã bị phá sản, giám đốc bỏ trốn.

    Vậy, bạn giải thích vấn đề này như thế nào?

    Bài 5.

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Ngân hàng xuất trình chứng từ (Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu) gửi các chứng từ đến Ngân hàng phát hành kèm theo bản công bố chúng hoàn toàn phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C. Như vậy:

    a/ Ngân hàng phát hành không thể bất đồng với Ngân hàng xuất trình vì Ngân hàng này hành động với tư cách là ngân hàng đaị lý của nó.

    b/ Ngân hàng phát hành không cần kiểm tra lại các chứng từ đó.

    c/ Ngân hàng phát hành phải kiểm tra lại các chứng từ đó.

    Bài 6.

    Công ty nhập khẩu Đức mua hàng của Việt Nam sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. L/C được mở bằng thư, nhà nhập khẩu yêu cầu giao hàng theo 8 ký mã và Ngân hàng Đức đã Fax L/C này cho Ngân hàng Việt Nam. Bản Fax đến tay Ngân hàng Việt Nam trước khi nhận được L/C gốc gửi bằng thư.

    Nhà xuất khẩu đã chuẩn bị hàng để giao theo tinh thần của bản Fax.        Khi nhận được L/C chuyển bằng thư thì đã có sự thay đổi 2/8 mã hàng so với bản Fax.

    Người xuất khẩu có được quyền khiếu kiện nhà Nk không? Tại sao?

    Bài 7.

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Vận đơn hoàn hảo được hiểu:

    a/ Là một vận đơn phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C trên mọi phương diện

    b/ Là một vận đơn không có bất cứ sự sửa lỗi nào

    c/ Là một vận đơn không có bất cứ sự ghi chú nào về khuyết tật của bao bì, hàng hóa

    Bài 8

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Theo UCP 500, UCP 600chứng từ nào là chứng từ tài chính trong các chứng từ sau đây:

    a/ Bill of lading

    b/ Bill of exchange

    c/ Invoice

    Bài 9

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Ngân hàng phát hành và Ngân hàng xác nhận có một khoảng thời gian hợp lý để kiểm tra chứng từ nhiều nhất không quá:

    a/ Năm ngày làm việc cho mỗi ngân hàng

    b/ Năm ngày ngân hàng cho mỗi ngân hàng

    c/ Bảy ngày ngân hàng cho mỗi ngân hàng

    1. Tuỳ thuộc vào nguồn luật dẫn chiếu

    Bài 10

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Khi Ngân hàng phát hành nhận được bộ chứng từ thể hiện trên bề mặt không phù hợp với điều khoản và điều kiện của L/C, thì:

    a/ Phải gửi ngay chứng từ trở lại Ngân hàng xuất trình

    b/ Phải giao cho người nhập khẩu để họ quyết định

    c/ Phải thông báo ngay cho người nhập khẩu biết tình trạng của bộ chứng từ và chờ khi nào nhận được ý kiến của người nhập khẩu sẽ trả lời nước ngoài.

    d/ Phải quyết định trả tiền nước ngoài hay không trên cơ sở có tham khảo ý kiến của người nhập khẩu

    Bài 11

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Nếu trong L/C không tuyên bố rõ ràng áp dụng UCP nào thì:

    a/ L/C áp dụng tự động UCP

    b/ L/C áp dụng tự động UCP 500

    c/ L/C áp dụng tự động UCP 600

    d/ L/C không áp dụng UCP nào

    Bài 12.

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Một L/C yêu cầu Hối phiếu ký phát đòi tiền người xin mở L/C

    a/ Yêu cầu này bị bỏ qua

    b/ Hối phiêu sẽ được kiểm tra như chứng từ phụ

    c/ UCP không cho phép sử dụng chỉ thị dạng này

    Bài 13

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Bằng việc xuất hàng theo một L/C, nhà xuất khẩu có thể chắc chắn rằng:

    a/ Sẽ nhận được tiền hàng

    b/ Sẽ nhận được tiền hàng khi có được bộ chứng từ hàng hóa phù hợp các điều khoản của L/C

    c/ Sẽ không gặp rủi ro trong thanh toán

    Bài 14

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Đối với một sửa đổi L/C

    a/ Người hưởng lợi có quyền chấp nhận một phần sửa đổi.

    b/ Người hưởng lợi không được quyền chấp nhận một phần sửa đổi

    c/ Người hưởng lợi phải chấp nhận sửa đổi

    Bài 15

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Ngân hàng phải kiểm tra các chứng từ theo yêu cầu của L/C để:

    a/ Đảm bảo chúng có tính chân thực và phù hợp

    b/ Đảm bảo rằng những tiêu chuẩn quốc tế về nghiệp vụ ngân hàng được phản ánh trên các chứng từ đó.

    c/ Đảm bảo rằng hàng hóa đã được giao đúng như Hợp đồng thương mại

    d/ Đảm bảo rằng chúng phù hợp trên bề mặt với các điều khoản và điều kiện của L/C

    Bài 16

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Ngày hết hạn hiệu lực của L/C được coi là:

    a/ Ngày giao hàng cuối cùng

    b/ Ngày hết hạn xuất trình chứng từ

    c/ Ngày clean on board trên B/L

    Bài 17

    Anh (chị) hãy lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

    Người xuất khẩu xuất trình chứng từ tới Ngân hàng A. Sau khi kiểm tra thấy “Giấy chứng nhận tuổi tàu” không có trong quy định của L/C, vì vậy Ngân hàng A đã:

    a/ Kết luận bộ chứng từ không hợp lệ

    b/ Kiểm tra chứng từ trên một cách cẩn thận thích đáng để gửi đi ngân hàng nước ngoài

    c/ Không kiểm tra Giấy chứng nhận tuổi tàu đó mà chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ khác, tuy nhiên vẫn gửi toàn bộ chứng từ của người xuất khẩu tới Ngân hàng nước ngoài đòi tiền

    Bài 18

    Ngân hàng phát hành nhận được bộ chứng từ với một số nội dung như sau:

    • Invoice phát hành ngày 30. 11. 2007, với số tiền 100.000 USD,
    • Packing list ký phát ngày 26.12.2007
    • B/L1, phát hành ngày 1.12. 2007, ghi chú ngày “clean on board” là 1.12.2007, cảng bốc Hải Phòng, cảng dỡ KOBE, tàu S1, chuyến 100.
    • B/L2, phát hành ngày 4.12.2007, ghi chú ngày “clean on board” là 3.12.2007, cảng bốc Hải Phòng, cảng dỡ OSAKA, tàu S1, chuyến 100.
    • Insurance Policy với số tiền 80.000 EUR, được phát hành 5.12.2007

    Cho biết:

    1. L/C quy định:
    • Ngày phát hành L/C: 15.11.2007.
    • Ngày hết hạn hiệu lực của L/C: 31.12.2007
    • Trị giá: 100.000 USD
    • Thời hạn giao hàng cuối cùng: 15.12.2007
    • Mua hàng theo điều kiện CIF
    • L/C dẫn chiếu UCP 600
    • Không cho phép giao hàng từng phần
      • Ngày xuất trình chứng từ là 01.01.2008

    Yêu cầu: Ngân hàng phát hành có được phép từ chối bộ chứng từ trên không? Tại sao?


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Tài liệu về thanh toán quốc tế

    Tài liệu về thanh toán quốc tế

    Tài liệu về thanh toán quốc tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề thi tham khảo – Thanh toán quốc tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%C3%A0i-li%E1%BB%87u-v%E1%BB%81-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tài liệu về thanh toán quốc tế

    LUẬT CÁC CÔNG CỤ CHUYỂN NHƯỢNG

    Chương I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    Luật này điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện. Công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường.

    Điều 2. Đối tượng áp dụng

    Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Điều 3. Cơ sở phát hành công cụ chuyển nhượng

    1. Người ký phát, người phát hành được phát hành công cụ chuyển nhượng trên cơ sở giao dịch mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, cho vay giữa các tổ chức, cá nhân với nhau; giao dịch cho vay của tổ chức tín dụng với tổ chức, cá nhân; giao dịch thanh toán và giao dịch tặng cho theo quy định của pháp luật.
    2. Quan hệ công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này độc lập, không phụ thuộc vào giao dịch cơ sở phát hành công cụ chuyển nhượng quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 4. Giải thích từ ngữ

    Trong Luật này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

    1. Công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định.
    2. Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
    3. Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
    4. Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng.
    5. Người ký phát là người lập và ký phát hành hối phiếu đòi nợ, séc.
    6. Người bị ký phát là người có trách nhiệm thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ, séc theo lệnh của người ký phát.
    7. Người chấp nhận là người bị ký phát sau khi ký chấp nhận hối phiếu đòi nợ.
    8. Người thụ hưởng là người sở hữu công cụ chuyển nhượng với tư cách của một trong những người sau đây:
    9. a) Người được nhận thanh toán số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng theo chỉ định của người ký phát, người phát hành;
    10. b) Người nhận chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng theo các hình thức chuyển nhượng quy định tại Luật này;
    11. c) Người cầm giữ công cụ chuyển nhượng có ghi trả cho người cầm giữ.
    12. Người phát hành là người lập và ký phát hành hối phiếu nhận nợ.
    13. Người có liên quan là người tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng bằng cách ký tên trên công cụ chuyển nhượng với tư cách là người ký phát, người phát hành, người chấp nhận, người chuyển nhượng và người bảo lãnh.
    14. Người thu hộ là ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm dịch vụ thu hộ công cụ chuyển nhượng.
    15. Phát hành là việc người ký phát hoặc người phát hành lập, ký và chuyển giao công cụ chuyển nhượng lần đầu cho người thụ hưởng.
    16. Chuyển nhượng là việc người thụ hưởng chuyển giao quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng cho người nhận chuyển nhượng theo các hình thức chuyển nhượng quy định tại Luật này.
    17. Chiết khấu công cụ chuyển nhượng là việc tổ chức tín dụng mua công cụ chuyển nhượng từ người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
    18. Tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng là việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng mua lại công cụ chuyển nhượng đã được tổ chức tín dụng khác chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.
    19. Chấp nhận là cam kết của người bị ký phát về việc sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ khi đến hạn thanh toán bằng việc ký chấp nhận trên hối phiếu đòi nợ theo quy định của Luật này.
    20. Trung tâm thanh toán bù trừ séc là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc tổ chức khác được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép để tổ chức, chủ trì việc trao đổi, thanh toán bù trừ séc, quyết toán các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ việc thanh toán bù trừ séc cho các thành viên là ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
    21. Chữ ký là chữ ký bằng tay trực tiếp trên công cụ chuyển nhượng của người có quyền và nghĩa vụ đối với công cụ chuyển nhượng hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật. Chữ ký của người đại diện của tổ chức trên công cụ chuyển nhượng phải kèm theo việc đóng dấu.
    22. Quan hệ công cụ chuyển nhượng là quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện về công cụ chuyển nhượng.

    Điều 5. Áp dụng Luật các công cụ chuyển nhượng và pháp luật có liên quan

    1. Các bên tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng phải tuân theo Luật này và pháp luật có liên quan.
    2. Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với công cụ chuyển nhượng khác.

    Điều 6. Áp dụng điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế trong quan hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài

    1. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
    2. Trong trường hợp quan hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài, các bên tham gia quan hệ công cụ chuyển nhượng được thoả thuận áp dụng các tập quán thương mại quốc tế gồm Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, Quy tắc thống nhất về nhờ thu của Phòng Thương mại quốc tế và các tập quán thương mại quốc tế có liên quan khác theo quy định của Chính phủ.
    3. Trong trường hợp công cụ chuyển nhượng được phát hành ở Việt Nam nhưng được chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện ở một nước khác thì công cụ chuyển nhượng phải được phát hành theo quy định của Luật này.
    4. Trong trường hợp công cụ chuyển nhượng được phát hành ở nước khác nhưng được chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện ở Việt Nam thì việc chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện được thực hiện theo quy định của Luật này.

    Điều 7. Các thời hạn liên quan đến công cụ chuyển nhượng

    1. Thời hạn thanh toán, thời hạn gửi thông báo truy đòi và thời hiệu khởi kiện khi có tranh chấp về quan hệ công cụ chuyển nhượng được tính cả ngày nghỉ lễ và ngày nghỉ cuối tuần; nếu ngày cuối cùng của thời hạn trùng vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ cuối tuần thì ngày cuối cùng của thời hạn là ngày làm việc tiếp theo ngay sau ngày nghỉ lễ hoặc ngày nghỉ cuối tuần đó.
    2. Thời hạn thanh toán cụ thể của từng công cụ chuyển nhượng do người ký phát, người phát hành xác định và ghi trên công cụ chuyển nhượng phù hợp với quy định của Luật này.
    3. Thời hạn gửi thông báo truy đòi, thời hiệu khởi kiện khi công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán được thực hiện theo quy định tại Điều 50 và Điều 78 của Luật này.

    Điều 8. Số tiền thanh toán trên công cụ chuyển nhượng

    Số tiền thanh toán trên công cụ chuyển nhượng phải được ghi bằng số và bằng chữ.

    Điều 9. Công cụ chuyển nhượng ghi trả bằng ngoại tệ

    1. Công cụ chuyển nhượng được ghi trả bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
    2. Công cụ chuyển nhượng ghi trả bằng ngoại tệ theo quy định tại khoản 1 Điều này được thanh toán bằng ngoại tệ khi người thụ hưởng cuối cùng được phép thu ngoại tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
    3. Công cụ chuyển nhượng ghi trả bằng ngoại tệ nhưng người thụ hưởng cuối cùng là người không được phép thu ngoại tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối thì số tiền trên công cụ chuyển nhượng được thanh toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán hoặc theo tỷ giá kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thực hiện việc thanh toán công bố tại thời điểm thanh toán, trong trường hợp ngân hàng thực hiện việc thanh toán.

    Điều 10. Ngôn ngữ trên công cụ chuyển nhượng

    Công cụ chuyển nhượng phải được lập bằng tiếng Việt, trừ trường hợp quan hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài thì công cụ chuyển nhượng có thể được lập bằng tiếng nước ngoài theo thoả thuận của các bên.

    Điều 11. Chữ ký đủ ràng buộc nghĩa vụ

    1. Công cụ chuyển nhượng phải có chữ ký của người ký phát hoặc người phát hành.
    2. Người có liên quan chỉ có nghĩa vụ theo công cụ chuyển nhượng khi trên công cụ chuyển nhượng hoặc tờ phụ đính kèm có chữ ký của người có liên quan hoặc của người được người có liên quan uỷ quyền với tư cách là người ký phát, người phát hành, người chấp nhận, người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh.

    Điều 12. Chữ ký giả mạo, chữ ký của người không được uỷ quyền

    Khi trên công cụ chuyển nhượng có chữ ký giả mạo hoặc chữ ký của người không được uỷ quyền thì chữ ký đó không có giá trị; chữ ký của người có liên quan khác trên công cụ chuyển nhượng vẫn có giá trị.

    Điều 13. Mất công cụ chuyển nhượng

    1. Khi công cụ chuyển nhượng bị mất, người thụ hưởng phải thông báo ngay bằng văn bản cho người bị ký phát, người ký phát hoặc người phát hành. Người thụ hưởng phải thông báo rõ trường hợp bị mất công cụ chuyển nhượng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của việc thông báo. Người thụ hưởng có thể thông báo về việc mất công cụ chuyển nhượng bằng điện thoại và các hình thức trực tiếp khác nếu các bên có thoả thuận.

    Trường hợp người bị mất công cụ chuyển nhượng không phải là người thụ hưởng thì phải thông báo ngay cho người thụ hưởng.

    1. Trường hợp công cụ chuyển nhượng bị mất chưa đến hạn thanh toán, người thụ hưởng có quyền yêu cầu người phát hành, người ký phát phát hành lại công cụ chuyển nhượng có cùng nội dung với công cụ chuyển nhượng bị mất để thay thế sau khi người thụ hưởng đã thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị mất và có văn bản cam kết sẽ trả thay cho người bị ký phát hoặc người phát hành nếu công cụ chuyển nhượng đã được thông báo bị mất lại được người thụ hưởng hợp pháp xuất trình để yêu cầu thanh toán.
    2. Khi đã nhận được thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị mất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người phát hành và người bị ký phát không được thanh toán công cụ chuyển nhượng đó. Việc kiểm tra, kiểm soát công cụ chuyển nhượng được thông báo bị mất thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
    3. Trường hợp công cụ chuyển nhượng mất đã bị lợi dụng thanh toán trước khi người bị ký phát, người phát hành nhận được thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị mất thì người bị ký phát, người phát hành được miễn trách nhiệm nếu đã thực hiện đúng việc kiểm tra, kiểm soát của mình và thanh toán công cụ chuyển nhượng theo các quy định của Luật này.
    4. Người bị ký phát, người phát hành có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thụ hưởng nếu thanh toán công cụ chuyển nhượng sau khi đã nhận được thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị mất.

    Điều 14. Hư hỏng công cụ chuyển nhượng

    1. Khi công cụ chuyển nhượng bị hư hỏng, người thụ hưởng được quyền yêu cầu người ký phát hoặc người phát hành phát hành lại công cụ chuyển nhượng có cùng nội dung để thay thế.
    2. Người ký phát, người phát hành có nghĩa vụ phát hành lại công cụ chuyển nhượng, sau khi nhận được công cụ chuyển nhượng bị hư hỏng nếu công cụ chuyển nhượng này chưa đến hạn thanh toán và còn đủ thông tin hoặc có bằng chứng xác định người có công cụ bị hư hỏng là người thụ hưởng hợp pháp công cụ chuyển nhượng.

    Điều 15. Các hành vi bị cấm

    1. Làm giả công cụ chuyển nhượng, sửa chữa hoặc tẩy xóa các yếu tố trên công cụ chuyển nhượng.
    2. Cố ý chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng hoặc xuất trình để thanh toán công cụ chuyển nhượng bị làm giả, bị sửa chữa, bị tẩy xóa.
    3. Ký công cụ chuyển nhượng không đúng thẩm quyền hoặc giả mạo chữ ký trên công cụ chuyển nhượng.
    4. Chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng khi đã biết công cụ chuyển nhượng này quá hạn thanh toán hoặc đã bị từ chối chấp nhận, bị từ chối thanh toán hoặc đã được thông báo bị mất.
    5. Cố ý phát hành công cụ chuyển nhượng khi không đủ khả năng thanh toán.
    6. Cố ý phát hành séc sau khi bị đình chỉ quyền phát hành séc.

    Chương II: HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ

    Mục 1: PHÁT HÀNH HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ

    Điều 16. Nội dung của hối phiếu đòi nợ

    1. Hối phiếu đòi nợ có các nội dung sau đây:
    2. a) Cụm từ “Hối phiếu đòi nợ” được ghi trên mặt trước của hối phiếu đòi nợ;
    3. b) Yêu cầu thanh toán không điều kiện một số tiền xác định;
    4. c) Thời hạn thanh toán;
    5. d) Địa điểm thanh toán;

    đ) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ của người bị ký phát;

    1. e) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân của người thụ hưởng được người ký phát chỉ định hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu đòi nợ theo lệnh của người thụ hưởng hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người cầm giữ;
    2. g) Địa điểm và ngày ký phát;
    3. h) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ và chữ ký của người ký phát.
    4. Hối phiếu đòi nợ không có giá trị nếu thiếu một trong các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, trừ các trường hợp sau đây:
    5. a) Thời hạn thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình;
    6. b) Địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ được thanh toán tại địa chỉ của người bị ký phát;
    7. c) Địa điểm ký phát không được ghi cụ thể trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ được coi là ký phát tại địa chỉ của người ký phát.
    8. Khi số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữ thì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán. Trong trường hợp số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi hai lần trở lên bằng chữ hoặc bằng số và có sự khác nhau thì số tiền có giá trị nhỏ nhất được ghi bằng chữ có giá trị thanh toán.
    9. Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ không có đủ chỗ để viết, hối phiếu đòi nợ đó có thể có thêm tờ phụ đính kèm. Tờ phụ đính kèm được sử dụng để ghi nội dung bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu. Người đầu tiên lập tờ phụ phải gắn liền tờ phụ với hối phiếu đòi nợ và ký tên trên chỗ giáp lai giữa tờ phụ và hối phiếu đòi nợ.

    Điều 17. Nghĩa vụ của người ký phát

    1. Người ký phát có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán.
    2. Trường hợp người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh đã thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng sau khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán thì người ký phát có nghĩa vụ thanh toán cho người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh số tiền ghi trên hối phiếu đó.

    Mục II: CHẤP NHẬN HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ

    Điều 18. Xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận

    1. Người thụ hưởng phải xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận trong những trường hợp sau đây:
    2. a) Người ký phát đã ghi trên hối phiếu đòi nợ là hối phiếu này phải được xuất trình để yêu cầu chấp nhận;
    3. b) Hối phiếu đòi nợ có ghi thời hạn thanh toán theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 42 của Luật này phải xuất trình để yêu cầu chấp nhận trong thời hạn một năm kể từ ngày ký phát.
    4. Việc xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận được coi là hợp lệ khi hối phiếu đòi nợ được người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người thụ hưởng xuất trình đúng địa điểm thanh toán, trong thời gian làm việc của người bị ký phát và chưa quá hạn thanh toán.
    5. Hối phiếu đòi nợ có thể được xuất trình để chấp nhận dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng. Ngày xuất trình hối phiếu đòi nợ để chấp nhận trong trường hợp này được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm.

    Điều 19. Thời hạn chấp nhận

    Người bị ký phát thực hiện việc chấp nhận hoặc từ chối chấp nhận hối phiếu đòi nợ trong thời hạn hai ngày làm việc, kể từ ngày hối phiếu đòi nợ được xuất trình; trong trường hợp hối phiếu đòi nợ được xuất trình dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng thì thời hạn này được tính kể từ ngày người bị ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu đòi nợ.

    Điều 20. Vi phạm nghĩa vụ xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận

    Khi người thụ hưởng không xuất trình hối phiếu đòi nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này thì người ký phát, người chuyển nhượng và người bảo lãnh cho những người này không có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu đòi nợ, trừ người bảo lãnh cho người bị ký phát.

    Điều 21. Hình thức và nội dung chấp nhận

    1. Người bị ký phát thực hiện việc chấp nhận hối phiếu đòi nợ bằng cách ghi trên mặt trước của hối phiếu đòi nợ cụm từ “chấp nhận”, ngày chấp nhận và chữ ký của mình.
    2. Trong trường hợp chỉ chấp nhận thanh toán một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ, người bị ký phát phải ghi rõ số tiền được chấp nhận.

    Điều 22. Nghĩa vụ của người chấp nhận

    Sau khi chấp nhận hối phiếu đòi nợ, người chấp nhận có nghĩa vụ thanh toán không điều kiện hối phiếu đòi nợ theo nội dung đã chấp nhận cho người thụ hưởng, người đã thanh toán hối phiếu đòi nợ theo quy định của Luật này.

    Điều 23. Từ chối chấp nhận

    1. Hối phiếu đòi nợ được coi là bị từ chối chấp nhận, nếu không được người bị ký phát chấp nhận trong thời hạn quy định tại Điều 19 của Luật này.
    2. Khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận toàn bộ hoặc một phần thì người thụ hưởng có quyền truy đòi ngay lập tức đối với người chuyển nhượng trước mình, người ký phát, người bảo lãnh theo quy định tại Điều 48 của Luật này.

    Mục III: BẢO LÃNH HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ

    Điều 24. Bảo lãnh hối phiếu đòi nợ

    Bảo lãnh hối phiếu đòi nợ là việc người thứ ba (sau đây gọi là người bảo lãnh) cam kết với người nhận bảo lãnh sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ nếu đã đến hạn thanh toán mà người được bảo lãnh không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.

    Điều 25. Hình thức bảo lãnh

    1. Việc bảo lãnh hối phiếu đòi nợ được thực hiện bằng cách người bảo lãnh ghi cụm từ “bảo lãnh”, số tiền bảo lãnh, tên, địa chỉ, chữ ký của người bảo lãnh và tên người được bảo lãnh trên hối phiếu đòi nợ hoặc trên tờ phụ đính kèm hối phiếu đòi nợ.
    2. Trong trường hợp bảo lãnh không ghi tên người được bảo lãnh thì việc bảo lãnh được coi là bảo lãnh cho người ký phát.

    Điều 26. Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh

    1. Người bảo lãnh có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu đòi nợ đúng số tiền đã cam kết bảo lãnh nếu người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán.
    2. Người bảo lãnh chỉ có quyền huỷ bỏ việc bảo lãnh trong trường hợp hối phiếu đòi nợ không đủ các nội dung bắt buộc quy định tại Điều 16 của Luật này.
    3. Sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, người bảo lãnh được tiếp nhận các quyền của người được bảo lãnh đối với những người có liên quan, xử lý tài sản bảo đảm của người được bảo lãnh và có quyền yêu cầu người được bảo lãnh, người ký phát, người chấp nhận liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền bảo lãnh đã thanh toán.
    4. Việc bảo lãnh hối phiếu đòi nợ của tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật liên quan đến bảo lãnh ngân hàng.

     

    Mục IV: CHUYỂN NHƯỢNG HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ

    Điều 27. Hình thức chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ

    Người thụ hưởng chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ theo một trong các hình thức sau đây:

    1. Ký chuyển nhượng;
    2. Chuyển giao.

    Điều 28. Hối phiếu đòi nợ không được chuyển nhượng

    Hối phiếu đòi nợ không được chuyển nhượng nếu trên hối phiếu đòi nợ có ghi cụm từ “không được chuyển nhượng”, “cấm chuyển nhượng”, “không trả theo lệnh” hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự.

    Điều 29. Nguyên tắc chuyển nhượng

    1. Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ là chuyển nhượng toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ. Việc chuyển nhượng một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ không có giá trị.
    2. Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho hai người trở lên không có giá trị.
    3. Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ bằng ký chuyển nhượng phải là không điều kiện. Người chuyển nhượng không được ghi thêm trên hối phiếu đòi nợ bất kỳ điều kiện nào ngoài nội dung quy định tại Điều 31 của Luật này. Mọi điều kiện kèm theo việc ký chuyển nhượng không có giá trị.
    4. Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ là sự chuyển nhượng tất cả các quyền phát sinh từ hối phiếu đòi nợ.
    5. Hối phiếu đòi nợ quá hạn thanh toán hoặc đã bị từ chối chấp nhận hoặc đã bị từ chối thanh toán thì không được chuyển nhượng.
    6. Người thụ hưởng có thể chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho người chấp nhận, người ký phát hoặc người chuyển nhượng.

    Điều 30. Chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng

    1. Chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng là việc người thụ hưởng chuyển quyền sở hữu hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng bằng cách ký vào mặt sau hối phiếu đòi nợ và chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng.
    2. Việc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng được áp dụng đối với tất cả hối phiếu đòi nợ, trừ hối phiếu đòi nợ không được chuyển nhượng quy định tại Điều 28 của Luật này.

    Điều 31. Hình thức và nội dung ký chuyển nhượng

    1. Việc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng phải được người thụ hưởng viết, ký trên mặt sau của hối phiếu đòi nợ.
    2. Người chuyển nhượng có thể ký chuyển nhượng theo một trong hai hình thức sau đây:
    3. a) Ký chuyển nhượng để trống;
    4. b) Ký chuyển nhượng đầy đủ.
    5. Khi chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng để trống, người chuyển nhượng ký vào mặt sau của hối phiếu đòi nợ và chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng. Việc ký chuyển nhượng cho người cầm giữ hối phiếu là ký chuyển nhượng để trống.
    6. Khi chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng đầy đủ, người chuyển nhượng ký vào mặt sau của hối phiếu đòi nợ và phải ghi đầy đủ tên của người được chuyển nhượng, ngày chuyển nhượng.

    Điều 32. Quyền và nghĩa vụ của người ký chuyển nhượng

    1. Người ký chuyển nhượng có nghĩa vụ bảo đảm hối phiếu đòi nợ đã chuyển nhượng sẽ được chấp nhận và thanh toán, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Khi hối phiếu này bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán một phần hoặc toàn bộ, người ký chuyển nhượng có nghĩa vụ thanh toán số tiền bị từ chối của hối phiếu đòi nợ đã chuyển nhượng.
    2. Người ký chuyển nhượng có thể không cho chuyển nhượng tiếp hối phiếu đòi nợ bằng cách ghi thêm cụm từ “không chuyển nhượng”, “cấm chuyển nhượng” hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự trong nội dung ký chuyển nhượng trên hối phiếu đòi nợ; trường hợp hối phiếu đòi nợ được tiếp tục chuyển nhượng thì người ký chuyển nhượng này không có nghĩa vụ thanh toán đối với người nhận chuyển nhượng sau đó.

    Điều 33. Chuyển nhượng bằng chuyển giao.

    1. Chuyển nhượng bằng chuyển giao là việc người thụ hưởng chuyển quyền sở hữu hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng bằng cách chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng.
    2. Việc chuyển nhượng bằng chuyển giao được áp dụng đối với các hối phiếu đòi nợ sau đây:
    3. a) Hối phiếu đòi nợ được ký phát trả cho người cầm giữ;
    4. b) Hối phiếu đòi nợ chỉ có một chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng để trống;
    5. c) Hối phiếu đòi nợ có chuyển nhượng cuối cùng là ký chuyển nhượng để trống.

    Điều 34. Quyền của người nhận chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ bằng chuyển giao hoặc ký chuyển nhượng để trống

    Người nhận chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ bằng hình thức chuyển giao hoặc ký chuyển nhượng để trống có các quyền sau đây:

    1. Điền vào chỗ trống tên của mình hoặc tên của người khác;
    2. Tiếp tục ký chuyển nhượng để trống hối phiếu đòi nợ bằng cách ký trên hối phiếu đòi nợ;
    3. Tiếp tục chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho người khác bằng chuyển giao;
    4. Ký chuyển nhượng đầy đủ hối phiếu đòi nợ.

    Điều 35. Chiết khấu, tái chiết khấu hối phiếu đòi nợ

    Hối phiếu đòi nợ có thể được chiết khấu hoặc tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước Việt nam, các tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Mục V: CHUYỂN GIAO ĐỂ CẦM CỐ VÀ CHUYỂN GIAO

    ĐỂ NHỜ THU HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ

    Điều 36. Quyền được cầm cố hối phiếu đòi nợ

    Người thụ hưởng có quyền cầm cố hối phiếu đòi nợ theo quy định tại Mục này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Điều 37. Chuyển giao hối phiếu đòi nợ để cầm cố

    Người cầm cố hối phiếu đòi nợ phải chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận cầm cố. Thoả thuận về cầm cố hối phiếu đòi nợ phải được lập thành văn bản.

    Điều 38. Xử lý hối phiếu đòi nợ được cầm cố

    Khi người cầm cố hoàn thành nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố hối phiếu đòi nợ thì người nhận cầm cố phải hoàn trả hối phiếu đòi nợ cho người cầm cố. Trong trường hợp người cầm cố không thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố hối phiếu đòi nợ thì người nhận cầm cố trở thành người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ và được thanh toán theo nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.

    Điều 39. Nhờ thu qua người thu hộ

    1. Người thụ hưởng có thể chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người thu hộ để nhờ thu số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ bằng cách chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người thu hộ theo quy định của Luật này kèm theo uỷ quyền bằng văn bản về việc thu hộ.
    2. Người thu hộ không được thực hiện các quyền của người thụ hưởng theo hối phiếu đòi nợ ngoài quyền xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán, quyền nhận số tiền trên hối phiếu, quyền chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người thu hộ khác để nhờ thu hối phiếu đòi nợ.
    3. Người thu hộ phải xuất trình hối phiếu đòi nợ cho người bị ký phát để thanh toán theo quy định tại Điều 43 của Luật này. Trường hợp người thu hộ không xuất trình hoặc xuất trình không đúng thời hạn hối phiếu đòi nợ để thanh toán dẫn đến hối phiếu đòi nợ không được thanh toán thì người thu hộ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thụ hưởng tối đa bằng số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ.
    4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể thủ tục nhờ thu hối phiếu đòi nợ qua người thu hộ.

    Mục VI: THANH TOÁN HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ

    Điều 40. Người thụ hưởng

    Người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ được coi là người thụ hưởng hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Cầm giữ hối phiếu đòi nợ chưa quá hạn thanh toán và không biết hối phiếu đòi nợ này đã có thông báo về việc bị từ chối chấp nhận, từ chối thanh toán;
    2. Xác lập quyền sở hữu đối với hối phiếu đòi nợ một cách hợp pháp. Trường hợp người thụ hưởng nhận chuyển nhượng hối phiếu thông qua ký chuyển nhượng thì các chữ ký chuyển nhượng trên hối phiếu phải liên tục, không ngắt quãng;
    3. Không có thông báo về việc những người ký chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ trước đó đã cầm giữ hối phiếu đòi nợ bằng cách gian lận, cưỡng bức, ép buộc hoặc cách thức không hợp pháp khác.

    Điều 41. Quyền của người thụ hưởng

    1. Người thụ hưởng cầm giữ hối phiếu đòi nợ theo quy định tại Điều 40 của Luật này có các quyền sau đây:
    2. a) Xuất trình hối phiếu đòi nợ để chấp nhận hoặc để thanh toán khi hối phiếu đòi nợ đến hạn;
    3. b) Yêu cầu những người có liên quan thanh toán hối phiếu đòi nợ khi đến hạn;
    4. c) Chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ theo các quy định của Luật này;
    5. d) Chuyển giao để cầm cố hoặc chuyển giao để nhờ thu hối phiếu đòi nợ;

    đ) Truy đòi, khởi kiện về hối phiếu đòi nợ.

    1. Quyền của người thụ hưởng cầm giữ hối phiếu đòi nợ theo quy định tại Điều 40 của Luật này vẫn được đảm bảo ngay cả khi những người có liên quan trước đó cầm giữ hối phiếu không hợp pháp.

    Điều 42. Thời hạn thanh toán

    1. Thời hạn thanh toán của hối phiếu đòi nợ được ghi theo một trong các thời hạn sau đây:
    2. a) Ngay khi xuất trình;
    3. b) Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày hối phiếu đòi nợ được chấp nhận;
    4. c) Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày ký phát;
    5. d) Vào một ngày được xác định cụ thể.
    6. Hối phiếu đòi nợ không có giá trị nếu ghi nhiều thời hạn thanh toán hoặc ghi thời hạn không đúng quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 43. Xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán

    1. Người thụ hưởng có quyền xuất trình hối phiếu đòi nợ tại địa điểm thanh toán để yêu cầu người bị ký phát thanh toán vào ngày hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán hoặc trong thời hạn năm ngày làm việc tiếp theo.
    2. Người thụ hưởng có thể xuất trình hối phiếu đòi nợ sau thời hạn ghi trên hối phiếu đòi nợ, nếu việc chậm xuất trình do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan gây ra. Thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn thanh toán.
    3. Hối phiếu đòi nợ có ghi thời hạn thanh toán là “ngay khi xuất trình” phải được xuất trình để thanh toán trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày ký phát.
    4. Việc xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán được coi là hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau đây:
    5. a) Do người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người thụ hưởng xuất trình;
    6. b) Hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán;
    7. c) Xuất trình tại địa điểm thanh toán theo quy định tại điểm d khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 16 của Luật này.
    8. Người thụ hưởng có thể xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng. Việc xác định thời điểm xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm.

    Điều 44. Thanh toán hối phiếu đòi nợ

    1. Người bị ký phát phải thanh toán hoặc từ chối thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được hối phiếu đòi nợ. Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ được xuất trình thanh toán dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng thì thời hạn này được tính kể từ ngày người bị ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu đòi nợ.
    2. Khi hối phiếu đòi nợ đã được thanh toán toàn bộ, người thụ hưởng phải ký, chuyển giao hối phiếu đòi nợ, tờ phụ đính kèm cho người đã thanh toán.

    Điều 45. Từ chối thanh toán

    1. Hối phiếu đòi nợ được coi là bị từ chối thanh toán, nếu người thụ hưởng không được thanh toán đầy đủ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này.
    2. Khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ, người thụ hưởng có quyền truy đòi ngay số tiền chưa được thanh toán đối với người chuyển nhượng trước mình, người ký phát và người bảo lãnh theo quy định tại Điều 48 của Luật này.

    Điều 46. Hoàn thành thanh toán hối phiếu đòi nợ

    Việc thanh toán hối phiếu đòi nợ được coi là hoàn thành trong các trường hợp sau đây:

    1. Người ký phát, người bị ký phát, người chấp nhận đã thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng;
    2. Người chấp nhận trở thành người thụ hưởng của hối phiếu đòi nợ vào ngày đến hạn thanh toán hoặc sau ngày đó;
    3. Người thụ hưởng huỷ bỏ hối phiếu đòi nợ hoặc từ bỏ quyền đối với hối phiếu đòi nợ khi việc huỷ bỏ hoặc từ bỏ này được ghi rõ trên hối phiếu đòi nợ bằng cụm từ “huỷ bỏ”, “từ bỏ” hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự, ngày huỷ bỏ, từ bỏ và chữ ký của người thụ hưởng.

    Điều 47. Thanh toán trước hạn

    Người bị ký phát thanh toán hối phiếu đòi nợ trước khi đến hạn thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng phải chịu mọi thiệt hại phát sinh do thanh toán trước hạn.

     

    Mục VII: TRUY ĐÒI DO HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ KHÔNG ĐƯỢC CHẤP NHẬN

    HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THANH TOÁN

    Điều 48. Quyền truy đòi

    1. Người thụ hưởng có quyền truy đòi số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này đối với những người sau đây:
    2. a) Người ký phát, người bảo lãnh, người chuyển nhượng trước mình trong trường hợp hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận một phần hoặc toàn bộ theo quy định của Luật này;
    3. b) Người ký phát, người chuyển nhượng, người bảo lãnh, khi hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán mà không được thanh toán theo nội dung của hối phiếu đòi nợ;
    4. c) Người ký phát, người chuyển nhượng, người bảo lãnh trong trường hợp người bị ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết hoặc mất tích, kể cả trường hợp hối phiếu đòi nợ đã được chấp nhận hoặc chưa được chấp nhận;
    5. d) Người chuyển nhượng, người bảo lãnh trong trường hợp hối phiếu đòi nợ chưa đến hạn thanh toán nhưng người ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết hoặc mất tích và hối phiếu đòi nợ chưa được chấp nhận.
    6. Người chuyển nhượng đã trả tiền cho người thụ hưởng được quyền truy đòi đối với người ký phát hoặc người chuyển nhượng trước mình.

    Điều 49. Văn bản thông báo truy đòi

    Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán, người thụ hưởng phải thông báo bằng văn bản cho người ký phát, người chuyển nhượng cho mình, người bảo lãnh cho những người này về việc từ chối đó.

    Điều 50. Thời hạn thông báo

    1. Người thụ hưởng phải thông báo cho người ký phát, người chuyển nhượng cho mình, người bảo lãnh cho những người này về việc hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán trong thời hạn bốn ngày làm việc, kể từ ngày bị từ chối.
    2. Trong thời hạn bốn ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, mỗi người chuyển nhượng phải thông báo bằng văn bản cho người chuyển nhượng cho mình về việc hối phiếu đòi nợ bị từ chối, kèm theo tên và địa chỉ của người đã thông báo cho mình. Việc thông báo này được thực hiện cho đến khi người ký phát nhận được thông báo về việc hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán.
    3. Trong thời hạn thông báo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu việc thông báo không thực hiện được do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan gây ra thì thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn thông báo.

    Điều 51. Trách nhiệm của những người có liên quan

    1. Người ký phát, người chuyển nhượng chịu trách nhiệm liên đới thanh toán cho người thụ hưởng toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ.
    2. Người chấp nhận, người bảo lãnh chịu trách nhiệm liên đới thanh toán cho người thụ hưởng số tiền đã cam kết chấp nhận hoặc cam kết bảo lãnh.

    Điều 52. Số tiền được thanh toán

    Người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán các khoản tiền sau đây:

    1. Số tiền không được chấp nhận hoặc không được thanh toán;
    2. Chi phí truy đòi, các chi phí hợp lý có liên quan khác;
    3. Tiền lãi trên số tiền chậm trả kể từ ngày hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Chương III: HỐI PHIẾU NHẬN NỢ

    Điều 53. Nội dung của hối phiếu nhận nợ

    1. Hối phiếu nhận nợ có các nội dung sau đây:
    2. a) Cụm từ “Hối phiếu nhận nợ” được ghi trên mặt trước của hối phiếu nhận nợ;
    3. b) Cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định;
    4. c) Thời hạn thanh toán;
    5. d) Địa điểm thanh toán;

    đ) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân của người thụ hưởng được người phát hành chỉ định hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu nhận nợ theo lệnh của người thụ hưởng hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu cho người cầm giữ;

    1. e) Địa điểm và ngày ký phát hành;
    2. g) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ và chữ ký của người phát hành.
    3. Hối phiếu nhận nợ không có giá trị nếu thiếu một trong các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, trừ các trường hợp sau đây:
    4. a) Trường hợp địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu nhận nợ thì địa điểm thanh toán là địa chỉ của người phát hành.
    5. b) Trường hợp địa điểm phát hành không được ghi trên hối phiếu nhận nợ thì địa điểm phát hành là địa chỉ của người phát hành.
    6. Khi số tiền trên hối phiếu nhận nợ được ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữ thì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán. Trong trường hợp số tiền trên hối phiếu nhận nợ được ghi hai lần trở lên bằng chữ hoặc bằng số và có sự khác nhau thì số tiền có giá trị nhỏ nhất được ghi bằng chữ có giá trị thanh toán.
    7. Trong trường hợp hối phiếu nhận nợ không có đủ chỗ để viết, hối phiếu nhận nợ đó có thể có thêm tờ phụ đính kèm. Tờ phụ đính kèm được sử dụng để ghi nội dung bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu. Người đầu tiên lập tờ phụ phải gắn liền tờ phụ với hối phiếu nhận nợ và ký tên trên chỗ giáp lai giữa tờ phụ và hối phiếu nhận nợ.

    Điều 54. Nghĩa vụ của người phát hành

    Người phát hành có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu nhận nợ cho người thụ hưởng khi đến hạn thanh toán và có các nghĩa vụ khác như người chấp nhận hối phiếu đòi nợ theo quy định của Luật này.

    Điều 55. Nghĩa vụ của người chuyển nhượng lần đầu hối phiếu nhận nợ

    Người chuyển nhượng lần đầu hối phiếu nhận nợ có nghĩa vụ như người ký phát hối phiếu đòi nợ theo quy định tại Điều 17 của Luật này.

    Điều 56. Hoàn thành thanh toán hối phiếu nhận nợ

    Việc thanh toán hối phiếu nhận nợ được coi là hoàn thành trong các trường hợp sau đây:

    1. Khi người phát hành trở thành người thụ hưởng của hối phiếu nhận nợ vào ngày đến hạn thanh toán hoặc sau ngày đó;
    2. Người phát hành đã thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu nhận nợ cho người thụ hưởng;
    3. Người thụ hưởng huỷ bỏ hối phiếu nhận nợ.

    Điều 57. Bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi hối phiếu nhận nợ

    Các quy định từ Điều 24 đến Điều 52 của Luật này về bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi hối phiếu đòi nợ cũng được áp dụng tương tự đối với hối phiếu nhận nợ.

    Chương IV: SÉC

    Mục I: CÁC NỘI DUNG CỦA SÉC VÀ KÝ PHÁT SÉC

    Điều 58. Các nội dung của séc

    1. Mặt trước séc có các nội dung sau đây:
    2. a) Từ “Séc” được in phía trên séc;
    3. b) Số tiền xác định;
    4. c) Tên của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là người bị ký phát;
    5. d) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân của người thụ hưởng được người ký phát chỉ định hoặc yêu cầu thanh toán séc theo lệnh của người thụ hưởng hoặc yêu cầu thanh toán séc cho người cầm giữ;

    đ) Địa điểm thanh toán;

    1. e) Ngày ký phát;
    2. g) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân và chữ ký của người ký phát.
    3. Séc thiếu một trong các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này thì không có giá trị, trừ trường hợp địa điểm thanh toán không ghi trên séc thì séc được thanh toán tại địa điểm kinh doanh của người bị ký phát.
    4. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức cung ứng séc có thể đưa thêm những nội dung khác mà không làm phát sinh thêm nghĩa vụ pháp lý của các bên như số hiệu tài khoản mà người ký phát được sử dụng để ký phát séc, địa chỉ của người ký phát, địa chỉ của người bị ký phát và các nội dung khác.
    5. Trường hợp séc được thanh toán qua Trung tâm thanh toán bù trừ séc thì trên séc phải có thêm các nội dung theo quy định của Trung tâm thanh toán bù trừ séc.
    6. Mặt sau của séc được sử dụng để ghi các nội dung chuyển nhượng séc.
    7. Số tiền ghi bằng số trên séc phải bằng với số tiền ghi bằng chữ trên séc. Nếu số tiền ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữ thì séc không có giá trị thanh toán.

    Điều 59. Kích thước séc và việc bố trí vị trí các nội dung trên séc

    1. Kích thước séc và việc bố trí vị trí các nội dung trên séc do tổ chức cung ứng séc thiết kế và thực hiện, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
    2. Trung tâm thanh toán bù trừ séc quy định về kích thước séc, nội dung và vị trí các nội dung trên séc đối với séc thanh toán qua Trung tâm thanh toán bù trừ séc.

    Điều 60. Ký phát séc

    1. Séc được ký phát để ra lệnh cho người bị ký phát thanh toán:
    2. a) Cho một người xác định và không cho phép chuyển nhượng séc bằng cách ghi rõ tên của người thụ hưởng và kèm theo một trong các cụm từ “không chuyển nhượng”, “không trả theo lệnh”;
    3. b) Cho một người xác định và cho phép chuyển nhượng séc bằng cách ghi rõ tên của người thụ hưởng và không có cụm từ không cho phép chuyển nhượng quy định tại điểm a Khoản này;
    4. c) Cho người cầm giữ séc, bằng cách ghi cụm từ “trả cho người cầm giữ séc” hoặc không ghi tên người thụ hưởng.
    5. Séc có thể được ký phát ra lệnh cho người bị ký phát thanh toán số tiền ghi trên séc cho chính người ký phát.
    6. Séc không được ký phát để ra lệnh cho chính người ký phát thực hiện thanh toán séc, trừ trường hợp ký phát để trả tiền từ đơn vị này sang đơn vị khác của người ký phát.
    7. Người ký phát séc là tổ chức, cá nhân có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Điều 61. Séc trả tiền vào tài khoản và séc trả tiền mặt

    1. Người ký phát séc hoặc người chuyển nhượng séc có thể không cho phép thanh toán séc bằng tiền mặt bằng cách ghi trên séc cụm từ ”trả vào tài khoản”. Trong trường hợp này, người bị ký phát chỉ được chuyển số tiền ghi trên séc đó vào tài khoản của người thụ hưởng mà không được phép trả bằng tiền mặt, kể cả trường hợp cụm từ “trả vào tài khoản” bị gạch bỏ.
    2. Trường hợp séc không ghi cụm từ ”trả vào tài khoản” thì người bị ký phát thanh toán séc cho người thụ hưởng bằng tiền mặt.

    Điều 62. Séc gạch chéo không ghi tên và séc gạch chéo có ghi tên

    1. Người ký phát hoặc người chuyển nhượng séc có thể quy định séc chỉ được thanh toán cho một ngân hàng hoặc cho người thụ hưởng có tài khoản tại ngân hàng bị ký phát bằng cách vạch lên trên séc hai gạch chéo song song.
    2. Người ký phát hoặc người chuyển nhượng séc có thể quy định séc chỉ được thanh toán cho một ngân hàng cụ thể hoặc cho người thụ hưởng có tài khoản tại ngân hàng đó bằng cách vạch lên trên séc hai gạch chéo song song và ghi tên của ngân hàng đó giữa hai gạch chéo này. Séc có tên hai ngân hàng giữa hai gạch chéo sẽ không có giá trị thanh toán, trừ trường hợp một trong hai ngân hàng có tên giữa hai gạch chéo là ngân hàng thu hộ.

    Mục II: CUNG ỨNG SÉC

    Điều 63. Cung ứng séc trắng

    1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cung ứng séc trắng cho các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
    2. Các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác cung ứng séc trắng cho tổ chức, cá nhân sử dụng tài khoản để ký phát séc.
    3. Tổ chức cung ứng séc quy định điều kiện, thủ tục đối với việc bảo quản, sử dụng séc do mình cung ứng.

    Điều 64. In, giao nhận và bảo quản séc trắng

    1. Tổ chức cung ứng séc tổ chức việc in séc trắng để cung ứng cho người sử dụng.
    2. Trước khi séc trắng được in và cung ứng để sử dụng, các tổ chức cung ứng séc phải đăng ký mẫu séc trắng tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
    3. Việc in, giao nhận, bảo quản và sử dụng séc trắng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về in, giao nhận, bảo quản và sử dụng ấn chỉ có giá.

    Mục III: CHUYỂN NHƯỢNG, NHỜ THU SÉC

    Điều 65. Chuyển nhượng séc

    Việc chuyển nhượng séc được áp dụng theo quy định về chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ tại Mục IV Chương II của Luật này, trừ trường hợp chuyển giao để nhờ thu séc cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo quy định tại Điều 66 của Luật này.

    Điều 66. Chuyển giao séc để nhờ thu séc

    1. Người thụ hưởng séc có thể chuyển giao séc để nhờ thu thông qua việc ký chuyển nhượng và chuyển giao séc cho người thu hộ.
    2. Người thu hộ chỉ có quyền thay mặt cho người chuyển giao để xuất trình séc, nhận số tiền ghi trên séc, chuyển giao séc cho người thu hộ khác nhờ thu séc; truy đòi số tiền ghi trên séc đối với người ký phát và người chuyển giao séc nếu người thu hộ đã thanh toán trước số tiền ghi trên séc cho người thụ hưởng và séc được nhờ thu bị người bị ký phát từ chối thanh toán.

    Mục IV: BẢO ĐẢM THANH TOÁN SÉC

    Điều 67. Bảo chi séc

    1. Trường hợp séc có đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 58 của Luật này và người ký phát có đủ tiền để thanh toán séc khi yêu cầu bảo chi séc thì người bị ký phát có nghĩa vụ bảo chi séc bằng cách ghi cụm từ ”bảo chi” và ký tên trên séc.
    2. Người bị ký phát có nghĩa vụ giữ lại số tiền đủ để thanh toán cho séc đã bảo chi khi séc đó được xuất trình trong thời hạn xuất trình.

    Điều 68. Bảo lãnh séc

    Việc bảo lãnh séc được thực hiện theo các quy định về bảo lãnh hối phiếu đòi nợ quy định từ Điều 24 đến Điều 26 của Luật này.

    Mục V: XUẤT TRÌNH VÀ THANH TOÁN SÉC

    Điều 69. Thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán séc và địa điểm xuất trình

    1. Thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán séc là ba mươi ngày, kể từ ngày ký phát.
    2. Người thụ hưởng được xuất trình yêu cầu thanh toán séc muộn hơn, nếu việc chậm xuất trình do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan gây ra. Thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán.
    3. Trong thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán, séc phải được xuất trình để thanh toán tại địa điểm thanh toán quy định tại điểm đ khoản 1 và khoản 2 Điều 58 của Luật này hoặc tại Trung tâm thanh toán bù trừ séc nếu được thanh toán qua Trung tâm này.
    4. Việc xuất trình séc để thanh toán được coi là hợp lệ khi séc được người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người thụ hưởng xuất trình tại địa điểm thanh toán quy định tại khoản 3 Điều này.
    5. Người thụ hưởng có thể xuất trình séc để thanh toán theo hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng. Việc xác định thời điểm xuất trình séc để thanh toán được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi.

    Điều 70. Xuất trình séc tại Trung tâm thanh toán bù trừ séc

    Ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác xuất trình yêu cầu thanh toán séc tại Trung tâm thanh toán bù trừ séc theo quy định của Trung tâm này.

    Điều 71. Thực hiện thanh toán

    1. Khi séc được xuất trình để thanh toán theo thời hạn và địa điểm xuất trình quy định tại Điều 69 của Luật này thì người bị ký phát có trách nhiệm thanh toán trong ngày xuất trình hoặc ngày làm việc tiếp theo nếu người ký phát có đủ tiền trên tài khoản để thanh toán.
    2. Người bị ký phát không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều này phải bồi thường thiệt hại cho người thụ hưởng, tối đa bằng tiền lãi của số tiền ghi trên séc tính từ ngày séc được xuất trình để thanh toán theo mức lãi suất phạt chậm trả séc do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định áp dụng tại thời điểm xuất trình séc
    3. Trường hợp séc được xuất trình để thanh toán trước ngày ghi là ngày ký phát trên séc thì việc thanh toán chỉ được thực hiện kể từ ngày ký phát ghi trên séc.
    4. Séc được xuất trình sau thời hạn xuất trình để thanh toán nhưng chưa quá sáu tháng kể từ ngày ký phát thì người bị ký phát vẫn có thể thanh toán nếu người bị ký phát không nhận được thông báo đình chỉ thanh toán đối với séc đó và người ký phát có đủ tiền trên tài khoản để thanh toán.
    5. Trường hợp khoản tiền mà người ký phát được sử dụng để ký phát séc không đủ để thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên séc theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu người thụ hưởng yêu cầu được thanh toán một phần số tiền ghi trên séc thì người bị ký phát có nghĩa vụ thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng trong phạm vi khoản tiền mà người ký phát hiện có và được sử dụng để thanh toán séc.
    6. Khi thanh toán một phần số tiền ghi trên séc, người bị ký phát phải ghi rõ số tiền đã được thanh toán trên séc và trả lại séc cho người thụ hưởng hoặc người được người thụ hưởng ủy quyền. Người thụ hưởng hoặc người được người thụ hưởng ủy quyền phải lập văn bản biên nhận về việc thanh toán đó và giao cho người bị ký phát.
    7. Văn bản biên nhận trong trường hợp này được coi là văn bản chứng minh việc người bị ký phát đã thanh toán một phần số tiền ghi trên séc.
    8. Trường hợp séc được xuất trình để thanh toán sau khi người ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì séc vẫn có hiệu lực thanh toán theo quy định tại Điều này.
    9. Việc thanh toán séc theo quy định tại khoản 4 Điều này chấm dứt sau sáu tháng, kể từ ngày ký phát ghi trên séc.

    Điều 72. Thanh toán séc đã được chuyển nhượng

    Khi thanh toán séc đã được chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng, người bị ký phát phải kiểm tra để bảo đảm tính liên tục của dãy chữ ký chuyển nhượng.

    Điều 73. Đình chỉ thanh toán séc

    1. Người ký phát có quyền yêu cầu đình chỉ thanh toán séc mà mình đã ký phát bằng việc thông báo bằng văn bản cho người bị ký phát yêu cầu đình chỉ thanh toán séc khi séc này được xuất trình yêu cầu thanh toán. Thông báo đình chỉ thanh toán chỉ có hiệu lực sau thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật này.
    2. Người ký phát có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên séc sau khi séc bị người bị ký phát từ chối thanh toán theo thông báo đình chỉ thanh toán của mình.

    Điều 74. Từ chối thanh toán séc

    1. Séc được coi là bị từ chối thanh toán nếu sau thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 71 của Luật này, người thụ hưởng chưa nhận được đủ số tiền ghi trên séc.
    2. Khi từ chối thanh toán séc, người bị ký phát, Trung tâm thanh toán bù trừ séc phải lập giấy xác nhận từ chối thanh toán, ghi rõ số séc, số tiền từ chối, lý do từ chối, ngày tháng xuất trình, tên, địa chỉ của người ký phát séc, ký tên và giao cho người xuất trình séc.

    Điều 75. Truy đòi séc do không được thanh toán

    Việc truy đòi séc do không được thanh toán được áp dụng tương tự theo các quy định từ Điều 48 đến Điều 52 của Luật này.

    Chương V: KHỞI KIỆN, THANH TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

    Điều 76. Khởi kiện của người thụ hưởng

    1. Sau khi gửi thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng, người thụ hưởng có quyền khởi kiện tại Toà án đối với một, một số hoặc tất cả những người có liên quan để yêu cầu thanh toán số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này. Hồ sơ khởi kiện phải có đơn kiện, công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán, thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán.
    2. Người thụ hưởng không xuất trình công cụ chuyển nhượng để thanh toán trong thời hạn quy định tại Điều 43 và Điều 69 của Luật này hoặc không gửi thông báo về việc bị từ chối chấp nhận hoặc từ chối thanh toán trong thời hạn quy định tại Điều 50 của Luật này thì mất quyền khởi kiện đối với những người có liên quan, trừ người phát hành, người chấp nhận hoặc người ký phát, người bảo lãnh cho người bị ký phát trong trường hợp hối phiếu đòi nợ chưa được chấp nhận.

    Điều 77. Khởi kiện của người có liên quan

    Người có liên quan bị khởi kiện theo quy định tại Điều 76 của Luật này được quyền khởi kiện người chuyển nhượng trước mình, người chấp nhận, người phát hành, người ký phát hoặc người bảo lãnh cho những người này về số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này, kể từ ngày người có liên quan này hoàn thành nghĩa vụ thanh toán công cụ chuyển nhượng.

    Điều 78. Thời hiệu khởi kiện

    1. Người thụ hưởng có quyền khởi kiện người ký phát, người phát hành, người bảo lãnh, người chuyển nhượng, người chấp nhận yêu cầu thanh toán số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán.
    2. Người có liên quan bị khởi kiện theo quy định tại Điều 76 của Luật này có quyền khởi kiện người ký phát, người phát hành, người chuyển nhượng trước mình, người bảo lãnh, người chấp nhận về số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này trong thời hạn hai năm, kể từ ngày người có liên quan này hoàn thành nghĩa vụ thanh toán công cụ chuyển nhượng.
    3. Trường hợp người thụ hưởng không xuất trình công cụ chuyển nhượng để thanh toán đúng hạn theo quy định tại Điều 43 và Điều 69 của Luật này hoặc không gửi thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán trong thời hạn quy định tại Điều 50 của Luật này thì chỉ có quyền khởi kiện người chấp nhận, người phát hành, người ký phát, người bảo lãnh cho người bị ký phát trong thời hạn hai năm, kể từ ngày ký phát công cụ chuyển nhượng.
    4. Trong thời hiệu khởi kiện quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, nếu xẩy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền khởi kiện của người thụ hưởng và người có liên quan thì thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện.

    Điều 79. Giải quyết tranh chấp

    1. Tranh chấp về công cụ chuyển nhượng có thể được giải quyết tại Toà án hoặc Trọng tài thương mại.
    2. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về công cụ chuyển nhượng. Toà án nhân dân giải quyết tranh chấp về công cụ chuyển nhượng một cách độc lập với các giao dịch cơ sở phát hành công cụ chuyển nhượng và chỉ dựa trên hồ sơ khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này. Trình tự và thủ tục giải quyết tranh chấp về công cụ chuyển nhượng tại Toà án được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
    3. Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về công cụ chuyển nhượng, nếu trước hoặc sau khi xẩy ra tranh chấp các bên có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Thoả thuận trọng tài và trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài thực hiện theo quy định của pháp luật về trọng tài.

    Điều 80. Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công cụ chuyển nhượng

    1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công cụ chuyển nhượng trong các giao dịch công cụ chuyển nhượng có liên quan đến hoạt động ngân hàng.
    2. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm trực tiếp hoặc phối hợp thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công cụ chuyển nhượng trong phạm vi quản lý của mình.
    3. Chính phủ quy định cụ thể việc phối hợp thanh tra theo Điều này.

    Điều 81. Xử lý vi phạm

    1. Cá nhân vi phạm các quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    2. Tổ chức vi phạm các quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    Chương VI: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 82. Hiệu lực thi hành

    1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006.
    2. Pháp lệnh thương phiếu ngày 24 tháng 12 năm 1999 và các văn bản quy phạm pháp luật khác về thương phiếu và séc hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực.

    Điều 83. Hướng dẫn thi hành

    Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này./.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.

     

     

    LUẬT THỐNG NHẤT GENEVA VỀ HỐI PHIẾU VÀ KỲ PHIẾU 1930 (ULB 1930)

    PHẦN I: HỐI PHIẾU

    Chương I: PHÁT HÀNH VÀ HÌNH THỨC CỦA HỐI PHIẾU

    Ðiều 1:

    Một hối phiếu chứa đựng

    1.Tiêu đề “Hối phiếu” ghi ở bề mặt của hối phiếu và được diễn đạt bằng ngôn ngữ ký phát hối phiếu.

    1. Một mệnh lệnh vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất định.

    3.Tên của người trả tiền.

    4.Thời hạn thanh toán.

    1. Ðịa điểm thanh toán.

    6.Tên của người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiện việc thanh toán.

    1. Ngày và nơi phát hành hối phiếu.

    8.Chữ ký của người ký phát hối phiếu.

    Ðiều 2:

    Một hối phiếu mà trong đó thiếu một trong những yêu cầu được nêu trong điều khoản trên sẽ là một hối phiếu vô hiệu lực, ngoại trừ những trường hợp được nêu sau đây:

    – Một hối phiếu mà trong đó không có nêu rõ thời gian thanh toán thì được xem như là được thanh toán ngay khi xuất trình.

    – Khi không có nêu rõ ràng địa điểm trả tiền, thì địa điểm được ghi bên cạnh tên của người trả tiền thì được xem là nơi trả tiền.

    – Một hối phiếu mà không có nêu địa điểm ký phát thì được xem như đã được ký phát tại nơi được nêu bên cạnh tên của người ký phát.

    Ðiều 3:

    Một hối phiếu có thể được ký phát để được thanh toán theo lệnh của người ký phát:

    – Nó có thể được ký phát cho chính người ký phát.

    – Nó có thể được ký phát cho quyền lợi của một người thứ ba.

    Ðiều 4:

    Một hối phiếu có thể được thanh toán tại nơi cư ngụ của người thứ ba hoặc tại nơi mà người trả tiền cư ngụ hoặc tại một nơi khác.

    Ðiều 5:

    Khi một hối phiếu được thanh toán ngay khi xuất trình hoặc vào một thời gian nhất định sau khi xuất trình, thì người ký phát có thể quy định rằng số tiền được thanh toán có tính cả tiền lãi. Còn trong trường hợp khác, sự quy định này được xem như không có giá trị.

    Tiền lãi được tính từ ngày ký phát hối phiếu, trừ trường hợp có quy định một ngày nào khác. Tỷ suất lợi tức ghi trên hối phiếu sẽ coi như không có giá trị, nếu như không có quy định khác.

    Ðiều 6:

    Khi số tiền của hối phiếu được diễn đạt bằng chữ và đồng thời bằng con số, mà có sự khác biệt giữa hai bên, thì số tiền ghi bằng chữ là số tiền được thanh toán.

    Khi một số tiền của hối phiếu được diễn đạt hoàn toàn bằng chữ mà có số lớn hơn hoặc số tiền diễn đạt hoàn toàn bằng số mà có số lớn hơn thì số tiền nhỏ hơn là số tiền được thanh toán.

    Ðiều 7:

    Nếu một hối phiếu có mang chữ ký của những người không có khả năng ràng buộc mình bằng hối phiếu, hoặc chữ ký giả mạo hoặc chữ ký của những người không có thật, hoặc một chữ ký mà vì bất cứ lý do nào đó không thể ràng buộc những người đã ký hối phiếu hoặc nhân danh người đó để ký, thì những nghĩa vụ của người khác đã ký hối phiếu tuy nhiên vẫn có hiệu lực.

    Ðiều 8:

    Bất kỳ ai ký tên mình vào một hối phiếu với tư cách đại diện cho một người mà người đó không có quyền hành động thì sẽ ràng buộc chính mình như một bên của hối phiếu và nếu người ký này thanh toán, thì anh ta sẽ có cùng những quyền hạn như người mà anh ta đã xem như đang hành động thay cho. Quy định tương tự cũng được áp dụng đối với người đại diện nào đã lạm quyền hạn của mình.

    Ðiều 9:

    Người ký phát hối phiếu đảm bảo cả việc chấp nhận lẫn việc thanh toán. Anh ta có thể giải thoát mình khỏi đảm bảo chấp nhận; mọi quy định theo đó anh ta giải thoát mình khỏi đảm bảo thanh toán được xem như không có giá trị pháp lý.

    Ðiều 10:

    Nếu một hối phiếu khi ký phát không được đầy đủ đã được bổ sung đầy đủ khác với những thoả thuận đã ghi trong hối phiếu, thì sự không tuân theo những thoả thuận này không thể không được dùng để kiện người cầm hối phiếu, trừ khi người này đã có được hối phiếu không trung thực, hoặc khi thủ đắc hối phiếu đã phạm lỗi hiển nhiên.

    Chương II: KÝ HẬU

    Ðiều 11:

    Tất cả các hối phiếu, ngay cả khi nó không được ký phát theo lệnh một cách rõ ràng, đều có thể được chuyển nhượng bằng cách ký hậu. Khi một người ký phát đã ghi vào hối phiếu những chữ “không trả theo lệnh” hoặc một câu nào tương tự, thì hối phiếu chỉ có thể chuyển nhượng theo luật và có hiệu lực của một sự chuyển nhượng thông thường. Hối phiếu có thể được ký hậu chuyển nhượng cho người trả tiền hối phiếu, cho dù ông ta có chấp nhận hay không, hoặc chuyển nhượng cho người ký phát, hoặc cho một bên nào đó liên quan đến hối phiếu. Những người này có thể tái ký hậu để chuyển nhượng cho người khác nữa.

    Ðiều 12:

    Một sự ký hậu phải vô điều kiện. Mọi điều kiện đối với ký hậu được xem là vô giá trị. Mọi sự ký hậu chuyển nhượng một phần được xem như là vô hiệu lực.

    Một sự ký hậu “cho người cầm phiếu” tương đương với ký hậu để trắng.

    Ðiều 13:

    Sự ký hậu phải được viết trên hối phiếu hoặc lên một mảnh giấy gắn vào hối phiếu. Nó phải được người ký hậu ký tên vào.

    Ký hậu có thể không nêu tên người thụ hưởng hoặc có thể chỉ có đơn thuần chữ ký của người ký hậu (ký hậu để trắng). ở trường hợp sau để ký hậu có hiệu lực thì nó phải được ghi lên phía sau hối phiếu hoặc lên mảnh giấy gắn liền vào hối phiếu (Allonge).

    Ðiều 14:

    Ký hậu là sự chuyển nhượng tất cả những quyền hạn phát sinh từ hối phiếu. Nếu là ký hậu để trống thì người cầm có thể:

    1. Ðiền vào chỗ trống hoặc là tên chính của mình hoặc là tên của một người nào khác.
    2. Tái ký hậu để trắng hoặc cho một người nào khác.
    3. Chuyển nhượng hối phiếu cho người thứ ba mà không điền vào chỗ để trống, và không ký hậu nó

    Ðiều 15:

    Khi không có quy định ngược lại, người ký hậu đảm bảo chấp nhận và thanh toán. Anh ta có thể cấm mọi ký hậu sau đó: Trong trường hợp này anh ta không đảm bảo cho những người mà sau đó hối phiếu được ký hậu cho họ.

    Ðiều 16:

    Người sở hữu hối phiếu được xem là người cầm giữ hối phiếu hợp pháp nếu ông ta xác lập được quyền sở hữu của mình đối với hối phiếu thông qua một loạt những ký hậu liên tục cho dù sự ký hậu sau cùng là để trắng. Trong quan hệ này những ký hậu bị huỷ bỏ được xem như không có giá trị.

    Khi một ký hậu để trắng được một ký hậu kế tiếp theo, người ký hậu cuối cùng này được xem như đã thủ đắc hối phiếu bằng ký hậu để trắng.

    Khi một người đã bị tước quyền sở hữu hối phiếu bằng bất kỳ cách nào, thì người cầm giữ hối phiếu xác lập quyền hạn của mình theo cách thức được nêu không buộc phải bỏ hối phiếu khi ông ta đã thủ đắc phiếu một cách không trung thực, hoặc trừ khi vào lúc thủ đắc phiếu, ông ta đã phạm lỗi lầm sơ suất hiển nhiên.

    Ðiều 17:

    Những người thua kiện về một hối phiếu không thể kiện người cầm hối phiếu căn cứ vào những mối quan hệ cá nhân của họ với người ký phát hoặc với những người cầm giữ trước đó, trừ khi người cầm hối phiếu khi thủ đắc hối phiếu đã cố tình hành động làm phương hại đến người mắc nợ.

    Ðiều 18:

    Khi ký hậu hối phiếu có ghi theo “trị giá nhờ thu” theo “nhờ thu” theo “uỷ quyền” hoặc một câu nào khác hàm ý một sự uỷ nhiệm đơn giản, thì người cầm giữ hối phiếu có thể sử dụng những quyền hạn phát sinh từ hối phiếu, nhưng anh ta chỉ có thể ký hậu hối phiếu với tư cách của mình mà thôi.

    Trong trường hợp này, các bên có trách nhiệm chỉ có thể kiện người cầm giữ hối phiếu những nội dung nào mà anh ta có thể kiện được người ký hậu.

    Sự uỷ nhiệm trong ký hậu không bị kết thúc vì lý do bên uỷ nhiệm đã chết hoặc vì lý do bên này đã bị mất năng lực về mặt pháp lý.

    Ðiều 19:

    Khi một ký hậu có ghi những câu ” giá trị cầm cố” (value in pledge) ,”giá tri đảm bảo”(Value in security), hoặc một câu nào khác hàm ý một sự cầm cố, thì người cầm giữ phiếu có thể sử dụng tất cả những quyền hạn phát sinh từ hối phiếu, nhưng ký hậu do anh ta thực hiện chỉ có hiệu lực của một ký hậu bởi bản thân mình mà thôi.

    Ðiều 20:

    Một ký hậu sau kỳ hạn trả tiền cũng có hiệu lực như ký hậu trước kỳ hạn trả tiền.Tuy nhiên, một sự ký hậu sau sự kháng nghị không thanh toán, hoặc sau khi thời hạn được định để kháng nghị kết thúc, thì sự ký hậu chỉ có giá trị như một sự uỷ thác bình thường. Khi không thể có bằng chứng ngược lại, một ký hậu không có ghi ngày tháng được xem như được ký hậu trước khi thời hạn ấn định để kháng nghị kết thúc

    Chương III: CHẤP NHẬN

    Ðiều 21:

    Cho đến khi hết hạn, hối phiếu có thể được hoặc do người cầm hối phiếu, hoặc do người có quyền sở hữu hối phiếu xuất trình cho người trả tiền chấp nhận tại nơi anh ta ở.

    Ðiều 22:

    Trong bất cứ một hối phiếu nào, người ký phát có thể quy định rằng, hối phiếu sẽ được xuất trình để chấp nhận có hoặc không có ấn định một hạn mức thời gian để xuất trình.

    Trừ trường hợp một hối phiếu được thanh toán tại địa chỉ của một bên thứ ba hoặc tại một nơi khác hơn là nơi cư trú của người trả tiền hoặc, trừ trường hợp một hối phiếu được ký phát để thanh toán vào một thời điểm cố định sau khi nhìn thấy hối phiếu, người ký phát có thể cấm việc xuất trình để xin chấp nhận.

    Anh ta cũng có thể quy định việc xuất trình để xin chấp nhận không được xảy ra trước một ngày chỉ định.

    Nếu người ký phát đã ngăn cấm việc chấp nhận thì tất cả những ký hậu vẫn có thể quy định rằng hối phiếu sẽ phải được xuất trình để xin chấp nhận có hoặc không có để ấn định một giới hạn thời gian để xuất trình chấp nhận.

    Anh ta cũng có thể quy định việc xuất trình để xin chấp nhận không được xảy ra trước một ngày chỉ định.

    Nếu người ký phát đã ngăn cấm việc chấp nhận thì tất cả những ký hậu vẫn có thể quy định rằng hối phiếu sẽ phải được xuất trình để xin chấp nhận có hoặc không có ấn định thời gian để xuất trình chấp nhận.

    Ðiều 23:

    Những hối phiếu được thanh toán vào một thời điểm cố định sau khi xuất trình, phải được xuất trình để xin chấp nhận trong vòng 1 năm theo ngày ký phát hối phiếu.

    Người ký phát có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời hạn này.

    Thời hạn này có thể được rút ngắn lại bởi những người ký hậu.

    Ðiều 24:

    Người trả tiền có thể yêu cầu là hối phiếu sẽ được xuất trình cho người ta một lần thứ hai vào ngày sau lần xuất trình thứ nhất. Các bên có liên quan không được phép dẫn rằng yêu cầu này không phù hợp, ngoại trừ trường hợp yêu cầu nêu trong kháng nghị.

    Người cầm giữ hối phiếu không bị bắt buộc phải giao cho người trả tiền một hối phiếu được xuất trình để xin chấp nhận.

    Ðiều 25:

    Chấp nhận phải được viết lên trên hối phiếu. Nó được diễn đạt bằng chữ “đã chấp nhận” hoặc thuật ngữ tương tự nào khác. Nó được người trả tiền ký vào. Người trả tiền chỉ ký đơn giản lên mặt của hối phiếu.

    Khi hối phiếu được thanh toán vào một thời điểm nhất định sau khi xuất trình, hoặc khi nó phải được xuất trình để xin chấp nhận trong một thời gian nhất định theo một quy định đặc biệt, sự chấp nhận phải được ghi ngày tháng và ngày hối phiếu được chấp nhận, trừ khi người cầm giữ hối phiếu yêu cầu là nó phải được ghi là ngày tháng xuất trình.

    Nếu nó không có ghi ngày tháng, người cầm giữ hối phiếu muốn lưu giữ quyền truy đòi của mình đối với người ký hậu và người ký phát, phải xác nhận sự bỏ sót bằng một giấy kháng nghị được lập ra theo đúng thời hạn.

    Ðiều 26:

    Chấp nhận là vô điều kiện, những người trả tiền có thể chấp nhận một phần của số tiền được thanh toán. Mọi sự chấp nhận thay đổi nội dung của hối phiếu sẽ được xem như sự từ chối chấp nhận. Tuy nhiên, người chấp nhận bị ràng buộc bởi những điều kiện của sự chấp nhận của anh ta.

    Ðiều 27:

    Khi người ký phát hối phiếu quy định địa điểm thanh toán khác với nơi cư trú của người trả tiền mà không nêu rõ địa chỉ của bên thứ ba là bên thụ hưởng, thì người trả tiền có thể nêu địa chỉ của người thứ ba vào thời điểm chấp nhận, khi không có sự chỉ định này, người chấp nhận được xem là đã cam kết thanh toán hối phiếu tại thời điểm thanh toán đã nêu lên.

    Nếu một hối phiếu được thanh toán tại địa điểm cư trú của người trả tiền, thì người này khi chấp nhận có thể chỉ định một địa điểm tại cùng một nơi mà việc thanh toán được thực hiện.

    Ðiều 28:

    Bằng việc chấp nhận hối phiếu, người trả tiền cam kết thanh toán hối phiếu khi nó đến hạn.

    Khi không được thanh toán, người cầm giữ hối phiếu, cho dù ông ta là người ký phát, có thể kiện ngay người chấp nhận về hối phiếu để đòi tất cả những gì có thể yêu cầu theo Ðiều 48Ðiều 49.

    Ðiều 29:

    Khi người trả tiền là người đã ký chấp nhận hối phiếu đã huỷ bỏ nó trước khi hoàn trả lại hối phiếu thì sự chấp nhận đưọc xem như bị từ chối. Nếu không có bằng chứng ngược lại, sự huỷ bỏ xem như đã xảy ra trước khi hối phiếu được hoàn trả.

    Tuy nhiên, nếu người trả tiền đã thông báo sự chấp nhận của mình bằng văn bản viết cho người cầm giữ hoặc cho bên ký hối phiếu, anh ta chịu trách nhiệm với những bên này theo những điều khoản của sự chấp nhận của mình.

    Chương IV: BẢO LÃNH

    Ðiều 30:

    Việc thanh toán một hối phiếu có thể đảm bảo bởi một sự “Bảo lãnh” (Aval) đối với toàn bộ hoặc một phần số tiền của hối phiếu. Sự bảo đảm này do một người thứ ba hoặc thậm chí do người đã ký như một bên liên quan đến hối phiếu.

    Ðiều 31:

    Sự bảo lãnh có thể được ghi hoặc là ở ngay trên hối phiếu hoặc là bằng một mảnh giấy đính kèm (Allonge).

    Nó được diễn đạt bằng chữ “Ðể bảo lãnh” hoặc bằng bất kỳ một câu nào tương tự. Nó được người “Bảo lãnh” ký.

    Sự bảo lãnh xem như được thành lập bằng chữ ký đơn thuần của người “Bảo lãnh” ghi trên mặt của hối phiếu, ngoại trừ trường hợp chữ ký của người trả tiền hoặc người ký phát.

    Một sự “Bảo lãnh” phải được nêu rõ là cho người nào. Nếu không có thì được xem là bảo lãnh cho người ký phát.

    Ðiều 32:

    Người bảo lãnh bị ràng buộc giống như người mà anh ta trở thành người bảo lãnh.

    Cam kết của người bảo lãnh có hiệu lực ngay khi cả trách nhiệm mà anh ta bảo lãnh không có hiệu lực đối với bất cứ lý do nào trừ trường hợp có sai sót về hình thức tạo lập hối phiếu

    Khi thanh toán một hối phiếu, anh ta có những quyền hạn phát sinh từ hối phiếu đối với người được đảm bảo và đối với những người chịu trách nhiệm với người này về hối phiếu.

     

    Chương V: THỜI HẠN THANH TOÁN

    Ðiều 33:

    Một hối phiếu có thể được ký phát để được thanh toán:

    • Ngay khi xuất trình
    • Vào một thời gian cố định sau khi xuất trình
    • Vào một thời gian cố định sau ngày ký phát hối phiếu
    • Vào một ngày cố định
    • Những hối phiếu ghi những cách khác hoặc được thanh toán từng phần là vô hiệu.

    Ðiều 34:

    Một hối phiếu được trả tiền ngay, được thanh toán vào ngày khi xuất trình.

    Nó phải được xuất tình để xin thanh toán trong vòng một năm kể từ ngày ký phát. Người ký phát có thể rút ngắn hoặc gia hạn thời hạn này. Những thưòi hạn này có thể được những người ký hậu rút ngắn lại.

    Người ký phát có thể quy định rằng hối phiếu thanh toán ngay khi không được xuất trình xin thanh toán trước ngày chỉ định. Trong trường hợp, thời gian xuất tình bắt đầu từ ngày đó.

    Ðiều 35:

    Kỳ hạn thanh toán của một hối phiếu được thanh toán vào một thời gian cố định sau khi xuất trình được xác định hoặc tính từ ngày chấp nhận hoặc tính từ ngày kháng nghị. Trong trường hợp không có kháng nghị, sự chấp nhận không ghi ngày tháng được tính đối với người chấp nhận, vào ngày cuối cùng của thời hạn quy định bắt buộc phải xuất trình để chấp nhận.

    Ðiều 36

    Khi một hối phiếu quy định thời hạn sau một hay nhiều tháng kể từ ngày ký phát hoặc sau khi xuất trình, thì hối phiếu đến hạn vào ngày tương ứng của tháng mà việc thanh toán phải thực hiện. Nếu không có ngày tương ứng thì hối phiếu hết hạn vào ngày cuối cùng của tháng này.

    Khi một hối phiếu quy định thời hạn thanh toán sau một tháng hoặc nhiều tháng và nửa tháng kể từ ngày ký phát hoặc khi xuất trình, thì phải tính cả tháng.

    Nếu kỳ hạn thanh toán được tính vào đầu tháng, vào giữa tháng (ví dụ trung tuần tháng một hoặc tháng hai) hoặc vào cuối tháng, thì phải hiểu là vào ngày 1, ngày 15 và ngày cuối cùng của tháng.

    Những câu “tám ngày” hoặc “mười lăm ngày” không chỉ một hay hai tuần, mà là một giai đoạn 8 hoặc 15 ngày hiện tại. Câu “nửa tháng” có nghĩa giai đoạn 15 ngày.

    Ðiều 37

    Khi một hối phiếu được thanh toán vào một ngày cố định tại một nơi mà lịch ở đó khác với lịch tại nơi phát hành hối phiếu, thì ngày hối phiếu đến hạn trả tiền được xem là ngày ấn định theo lịch của nơi thanh toán.

    Khi một hối phiếu được ký phát giữa hai nơi có lịch khác nhau, được thanh toán vào một thời điểm cố định sau kỳ hạn, ngày phát hành được xem như một ngày tương ứng của lịch nơi thanh toán, và kỳ hạn hối phiếu được ấn định tương ứng theo đó.

    Thời gian để xuất trình hối phiếu được tính căn cứ vào những quy định của những đoạn trên.

    Những quy định này không áp dụng nếu có một quy định trong hối phiếu hoặc thậm chí những điều ghi đơn giản của hối phiếu nếu cho thấy một ý định muốn áp dụng những quy định khác.

    Chương VI: THANH TOÁN

    Ðiều 38

    Người cầm giữ một hối phiếu được thanh toán vào một ngày cố định hoặc vào một thời gian cố định sau ngày ký phát hoặc sau khi xuất trình, phải được xuất trình hối phiếu để xin thanh toán ngay vào ngày hối phiếu được thanh toán vào một trong hai ngày làm việc kế tiếp.

    Việc xuất trình hối phiếu tại phòng bù trừ tương đương với việc xuất trình để xin thanh toán.

    Ðiều 39

    Người trả tiền thanh toán một hối phiếu có thể yêu cầu người cầm giữ phải đưa hối phiếu cho anh ta.

    Người cầm giữ không thể từ chối việc thanh toán từng phần. Trong trường hợp thanh toán từng phần, người trả tiền có thể yêu cầu ghi việc thanh toán này lên hối phiếu và cấp một biên lai cho anh ta.

    Ðiều 40

    Người cầm hối phiếu không thể bị ép buộc phải nhận thanh toán trước khi hối phiếu đến hạn.

    Người ta trả tiền thanh toán trước khi hối phiếu đến hạn khi hành động như vậy phải chịu mọi rủi ro.

    Người trả tiền thanh toán đúng kỳ hạn thì hết trách nhiệm, trừ khi anh ta phạm lỗi gian lận hoặc sơ suất hiển nhiên.

    Anh ta buộc phải kiểm tra sự hợp thức của dây chuyền ký hậu nhưng không phải kiểm tra chữ ký của người ký hậu.

    Ðiều 41:

    Khi một hối phiếu được ký phát để thanh toán bằng một đồng tiền không phải là đồng tiền của nơi thanh toán, số tiền được thanh toán phải được trả bằng tiền của quốc gia theo trị giá của nó vào ngày hối phiếu đến hạn. Nếu người mắc nợ không thực hiện được, người cầm phiếu có thể tuỳ ý yêu cầu số tiền của hối phiếu sẽ được thanh toán bằng tiền của quốc gia theo tỉ giá vào ngày hối phiếu đến hạn hoặc vào ngày thanh toán.

    Những tập quán của nơi thanh toán ấn định giá trị của đồng tiền nước ngoài. Tuy nhiên, người ký phát có thể quy định là số tiền được thanh toán sẽ được tính toán căn cứ vào tỉ giá được nêu trong hối phiếu.

    Những quy tắc đã đề cập trên sẽ không áp dụng cho trường hợp trong đó người ký phát đã qui định rằng việc thanh toán phải được thực hiện bằng một đồng tiền rõ rệt nào đó (quy định) về việc thanh toán có hiệu lực bằng ngoại tệ). Nếu số tiền của hối phiếu được nêu rõ bằng một đồng tiền có cùng một tên, nhưng có giá trị khác nhau tại nước phát hành hối phiếu và nước thanh toán hối phiếu, thì sẽ căn cứ vào đồng tiền của nơi thanh toán.

    Ðiều 42:

    Khi một hối phiếu không được xuất trình để xin thanh toán trong hạn mức thời gian ấn định bởi Ðiều 38, người mắc nợ được phép ký gửi số tiền với người chức trách có thẩm quyền, và người cầm phiếu phải chịu phí rủi ro.

    Chương VII: TRUY ĐÒI DO KHÔNG CHẤP NHẬN HOẶC

    KHÔNG THANH TOÁN HỐI PHIẾU

    Ðiều 43:

    Người cầm giữ phiếu có thể thực hiện quyền truy đòi của mình đối với những người ký hậu, người ký phát hoặc những bên có trách nhiệm khác.

    • Khi hối phiếu đến kỳ hạn trả tiền;
    • Nếu việc thanh toán không được thực hiện;
    • Thậm trí trước khi hối phiếu đến hạn;
    1. Nếu có sự từ chối một phần hay từ chối hoàn toàn việc chấp nhận.
    2. Trong trường hợp người trả tiền bị phá sản, dù ông ta có chấp nhận hay không, hoặc trong trường hợp có sự phán xét của Toà án, hoặc khi việc tiến hành đối với hàng hoá của ông ta không có kết quả.
    3. Trong trường hợp người ký phát bị phá sản mà hối phiếu không được chấp nhận.

    Ðiều 44:

    Sự không chấp nhận hoặc không thanh toán phải được chứng minh bằng một tờ chứng nhận xác thực (tờ kháng nghị không chấp nhận hoặc không thanh toán).

    Sự kháng nghị do không chấp nhận phải được thực hiện trong vòng thời hạn ấn định phải xuất trình phải xin chấp nhận. Nếu, trong trường hợp quy định ở Ðiều 24, đoạn hai dự liệu, sự xuất trình thứ nhất phải được diễn ra vào ngày cuối cùng của thời gian này, việc kháng nghị tuy nhiên có thể được soạn thảo vào ngày kế sau.

    Việc kháng nghị do không thanh toán một hối phiếu được thanh toán vào một ngày cố định hoặc vào một thời gian cố định sau ngày ký phát hoặc sau khi xuất trình phải được thực hiện vào một ngày hoặc 2 ngày làm việc kế tiếp ngày mà hối phiếu được thanh toán. Trong trường hợp một hối phiếu được thanh toán ngay khi xuất trình, kháng nghị phải được soạn thảo theo những điều kiện được nêu rõ trong đoạn nói trên đối với việc soạn thảo một kháng nghị do không chấp nhận.

    Việc kháng nghị do không chấp nhận không bao gồm việc xuất trình để xin thanh toán và kháng nghị do không thanh toán.

    Nếu có sự ngừng thanh toán về phía người trả tiền, cho dù ông ta có chấp nhân hay không, hoặc nếu việc thủ đắc hàng hoá của ông ta không có kết quả, người cầm giữ phiếu không thể thực hiện quyền truy đòi của mình cho đến sau khi xuất trình hối phiếu cho người được ký phát để thanh toán và sau khi phản kháng được soạn thảo.

    Nếu người trả tiền cho dù ông ta có ký chấp nhân hay không, bị tuyên bố phá sản, hoặc ngay cả trong trường hợp người ký phát một hối phiếu không được ký chấp nhận cũng bị phá sản, khi có phán xét của Toà án tuyên bố về sự phá sản thì cũng có đủ để cho người cầm giữ có thể thực hiện quyền truy đòi của mình.

    Ðiều 45:

    Người cầm giữ phiếu phải thông báo việc không chấp nhận hoặc không thanh toán cho người ký hậu và người ký phát trong vòng 4 ngày làm việc kế tiếp theo ngày kháng nghị hoặc trong trường hợp có một quy định “Retour sans frais”, ngày xuất trình. Mỗi người ký hậu, trong vòng 2 ngày làm việc kế tiếp ngày mà ông ta nhận thông báo, phải thông báo cho người ký hậu về thông tin mà anh ta nhận được, phải nêu tên và những địa chỉ của những người này cho đến người ký phát. Những thời gian được nêu ở trên được tính bắt đầu kể từ khi nhận được thông báo trước đó.

    Phù hợp với giai đoạn nêu trên, việc thông báo phải được gửi đến cho một người đã ký hối phiếu, một thông báo như vậy cũng phải được gửi trong cùng một thời hạn cho người bảo lãnh của anh ta.

    Khi một người ký hậu hoặc không nêu địa chỉ của mình hoặc đã nêu địa chỉ một cách không rõ ràng, thì chỉ cần gửi thông báo cho người ký hậu trước là đủ.

    Một người phải gửi thông báo, có thể gửi thông báo dưới mọi hình thức, thậm chí bằng cách gửi trả laị hối phiếu.

    Anh ta phải chứng tỏ rằng anh ta đã thông báo trong thời hạn cho phép. Thời hạn được xem là đã được tôn trọng nếu một thư thông báo đã được gửi bằng bưu điện trong thời hạn quy định.

    Một người không thông báo trong thời hạn nêu trên không bị mất những quyền hạn của mình. Anh ta phải chịu trách nhiệm về sự tồn tại, nếu có tồn tại do sự sơ suất của anh ta, nhưng tiền đền bù không vượt quá số tiền của hối phiếu.

    Ðiều 46:

    Người ký phát, một người ký hậu, hoặc một người đảm bảo thanh toán bằng bảo lãnh, hoặc bằng một quy định nào đó hoặc bằng bất kỳ một câu nào tương tự được viết lên trên phiếu và ký có thể giải thoát người cầm giữ khỏi việc kháng nghị do không chấp nhận hoặc không thanh toán thực hiện quyền truy đòi của mình.

    Quy định này không giải thoát người cầm giữ khỏi việc xuất trình hối phiếu trong thời gian quy định, hoặc khởi những thông báo mà ông ta phải gửi. Trách nhiệm chứng minh sự không tuân thủ giới hạn thông báo thuộc về người tìm cách kiện người cầm giữ phiếu.

    Nếu quy định do người ký phát phiếu viết ra thì nó có hiệu lực đối với tất cả những người đã ký hối phiếu. Nếu quy định do người ký hậu hoặc người bảo lãnh viết, thì nó chỉ có hiệu lực đối với người ký hậu hoặc bảo lãnh này.

    Ðiều 47:

    Tất cả những người ký phát, chấp nhận, những người ký hậu hoặc bảo đảm bằng bảo lãnh một hối phiếu đều chịu trách nhiệm liên đới và cá nhân đối với người cầm giữ phiếu.

    Người cầm giữ có quyền kiện tất cả những người này từng người một hoặc có chọn lọc mà không phải tôn trọng trật tự mà những người này bị ràng buộc.

    Tất cả những ai ký vào hối phiếu, đã nhận và thanh toán hối phiếu đều có quyền tương tự.

    Việc kiện tụng một trong những bên chịu trách nhiệm không ngăn cản việc kiện tụng những bên khác, cho dù họ có thể ở vị trí sau bên bị kiện đầu tiên.

    Ðiều 48.

    Người cầm giữ hối phiếu có thể truy đòi từ người mà ông ta đang thực hiện quyền truy đòi:

    1. Số tiền của hối phiếu không được chấp nhận hoặc không được thanh toán với lãi, nếu tiền lãi được quy định.
    2. Lãi ở mức 6 % kể từ ngày đến kỳ hạn của hối phiếu.
    3. Những chi phí kháng nghị và thông báo cũng như những chi phí khác. Nếu quyền truy đòi được thực hiện trước khi hối phiếu đến hạn thì số tiền của hối phiếu phải giảm bớt, số tiền giảm bớt này được tính căn cứ vào lãi chiết khấu chính thức (mức của ngân hàng) kể từ ngày thực hiện quyền truy đòi tại nơi cư ngụ của người cầm giữ phiếu.

    Ðiều 49:

    Ai đã tiếp nhận và trả tiền hối phiếu thì người đó có quyền đòi lại tiền những người có trách nhiệm đối với anh ta :

    1- Toàn bộ số tiền mà anh ta đã thanh toán;

    2- Tiền lãi của số tiền đã thanh toán là 6% tính từ ngày thanh toán;

    3- Mọi chi phí đã chi trả

    Ðiều 50:

    Mỗi người có trách nhiệm đối với việc bị truy đòi có hoặc có thể xẩy ra có quyền đòi hỏi phải trao trả lại cho mình khi thanh toán hối phiếu, bản kháng nghị và hoá đơn thu tiền.

    Mỗi người chuyển nhượng đã tiếp nhận và trả tiền hối phiếu có thể huỷ bỏ việc ký hậu của chính mình và những ký hậu của những người ký hậu tiếp theo.

    Ðiều 51:

    Trong trường hợp thực hiện quyền truy đòi đối với hối phiếu được chấp nhận từng phần, người nào thanh toán số tiền chưa được chấp nhận có thể đòi hỏi việc thanh toán này phải được phải được xác nhận trên hối phiếu và hoá đơn phải gửi cho anh ta. Người cầm phiếu cũng phải giao cho người đó một bản sao hối phiếu có công chứng và bản kháng nghị để có thể tiếp tục truy đòi sau này

    Ðiều 52:

    Trong trường hợp không có sự thoả thuận ngược lại , mỗi người hưởng quyền truy đòi có thể đòi hoàn trả tiền cho mình bằng cách ký phát một ” thoái phiếu ” trả ngay cho một trong những người có trách nhiệm hoàn trả tiền cho anh ta và có thể thanh toán tại nơi cư trú của bên đó

    Ngoài những khoản tiền quy định trong Ðiều 48 Điều 49, thoái phiếu bao gồm phí môi giới và lệ phí tem dán trên thoái phiếu đó.

    Nếu thoái phiếu do người cầm phiếu ký phát, thì số tiền thanh toán được quy định cùng mức của số tiền hối phiếu trả tiền ngay ký phát tại nơi mà hối phiếu gốc đòi tiền người có trách nhiệm trả tiền tại nơi cư trú của anh ta.

    Nếu thoái phiếu do người ký hậu ký phát, thì số tiền được thanh toán tại nơi cư trú của người có trách nhiệm trả tiền mà số tiền này được quy định cùng mức của số tiền hối phiếu trả ngay ký phát tại nơi mà người ký phát thoái phiếu cư trú.

    Ðiều 53:

    Khi hết hạn quy định:

    Ðối với việc xuất trình hối phiếu trả ngay khi xuất trình hoặc hối phiếu trả chậm sau khi xuất trình;

    Ðối với việc kháng nghị không chấp nhận thanh toán hoặc không thanh toán;

    Ðối với việc xuất trình thanh toán trong trường hợp có ghi chú miễn kháng nghị. thì người cầm phiếu mất quyền truy đòi lại tiền đối với người ký hậu,người ký phát và các bên có trách nhiệm khác , ngoại trừ người chấp nhận thanh toán.

    Nếu người ký phát không xuất trình để chấp nhận đúng hạn, thì người cầm phiếu sẽ mất quyền đòi lại tiền không thanh toán cũng như là không chấp nhận, trừ khi trên hối phiếu quy định các điều kiện rằng người ký phát có ý định từ bỏ sự đảm bảo của sự chấp nhận.

    Nếu quy định giới hạn của thời hạn xuất trình trong nội dung một ký hậu, thì chỉ riêng người ký hậu bị ràng buộc vào quy định này.

    Ðiều 54:

    Việc xuất trình hối phiếu hoặc đưa ra kháng nghị đúng hạn mà bị cản trở không thể khắc phục được ( như ngăn cấm pháp lý của Nhà nước hoặc các trường hợp bất khả kháng khác ) thì thời hạn có thể được gia hạn. Người cầm phiếu có trách nhiệm phải thông báo ngay trường hợp bất khả kháng cho người ký hậu hối phiếu cho mình và trong thông báo phải ghi rõ ngày tháng và chữ ký cũng như trên hối phiếu hoặc các chứng từ kèm theo, ngoài ra còn sẽ áp dụng Điều 45.

    Khi bất khả kháng chấm rứt, người cầm phiếu phải xuất trình ngay hối phiếu để đòi chấp nhận hoặc để yêu cầu thanh toán và nếu cần thì đưa ra kháng nghị.

    Nếu bất khả kháng kéo dài quá 30 ngày sau ngày đến hạn thanh toán, thì có thể thực hiện việc truy đòi và không cần thiết phải xuất trình cũng như đưa ra kháng nghị.

    Ðối với hối phiếu trả tiền ngay khi xuất trình hoặc trả tiền trong một thời gian cố định sau khi xuất trình , thì giới hạn của thời gian 30 ngày được tính từ ngày mà người cầm phiếu thông báo bất khả kháng cho người ký hậu trực tiếp cho mình ngay cả khi hết hạn xuất trình.

    Ðối với hối phiếu trả tiền trong một thời hạn nhất định sau khi xuất trình, thì giới hạn của thời gian 30 ngày nói trên sẽ được cộng thêm thời hạn sau xuất trình quy định trên hối phiếu.

    Những sự việc thuần tuý cá nhân đối với người cầm phiếu hoặc là đối với người mà anh ta uỷ nhiệm xuất trình hối phiếu hoặc đưa ra kháng nghị không được coi như là những trường hợp bất khả kháng.

    Chương VIII: ÐẠI DIỆN THANH TOÁN

    1. Những quy định chung

    Ðiều 55:

    Người ký phát, người ký hậu, hoặc một người cấp bảo lãnh có thể chỉ định một người đứng ra chấp nhận hoặc thanh toán trong trường hợp cấn thiết.

    Tuỳ thuộc vào những điều quy định dưới đây, một hối phiếu có thể được chấp nhận hoặc được thanh toán bởi người đại diện của bất cứ con nợ nào khi con nợ đó bị truy đòi lại tiền.

    Một người đại diện có thể là bên thứ ba, kể cả người trả tiền, ngoại trừ người chấp nhận thanh toán hoặc một người có trách nhiệm đối với hối phiếu.

    Trong vòng 2 ngày làm việc, người đại diện phải có trách nhiệm thông báo cho bên mà người đại diện tiến hành thanh toán cho bên đó. Nếu không thì anh ta phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do sự bất cẩn của anh ta, nếu có, nhưng tiền bồi thường thiệt hại sẽ không vượt quá số tiền của hối phiếu.

    2- Ðại diện chấp nhận thanh toán

    Ðiều 56:

    Có thể có sự chấp nhận của đại diện trong mọi trường hợp mà ở đó người cầm phiếu có quyền truy đòi hối phiếu có khả năng được chấp nhận trước khi đáo hạn.

    Nếu hối phiếu chỉ định người mà người này khi cần phải chấp nhận hoặc thanh toán tại địa điểm thanh toán, thì trước khi đáo hạn người cầm phiếu có thể không thực hiện quyền truy đòi người trả tiền thay, khi cần, và các bên kế tiếp sau này, trừ khi người cầm phiếu đã xuất trình hối phiếu cho người trả tiền thay và khi người đại diện từ chối chấp nhận, thì việc từ chối đó phải được nêu ra trong bản kháng nghị.

    Trong các trường hợp đại diện khác, người cầm phiếu có thể từ chối chấp nhận của đại diện. Tuy nhiên , nếu anh ta cho phép, thì anh ta mất quyền truy đòi trước khi hối phiếu đáo hạn đối với người thay mặt người đó chấp nhận và những người kế tiếp sau này.

    Ðiều 57:

    Chấp nhận của đại diện phải được ghi trên hối phiếu. Người đại diện phải ký tên.Việc chấp nhận phải nói rõ chấp nhận thanh toán cho ai, nếu không nói rõ điều đó thì chấp nhận thanh toán được coi như là cho người ký phát hối phiếu.

    Ðiều 58:

    Người đại diện chấp nhận có trách nhiệm đối với người cầm phiếu và đối với những người ký hậu và sau nữa là đối với người mà anh ta đại diện cho người đó và có trách nhiệm như là bản thân các người đó.

    Cho dù là chấp nhận của người đại diện, bên đã được chấp nhận thanh toán và các bên có trách nhiệm đối với anh ta có thể yêu cầu người cầm phiếu trao hối phiếu, bản kháng nghị và hoá đơn thu tiền, nếu có, khi thực hiện thanh toán số tiền quy định ở Điều 48.

    3- Ðại diện thanh toán

    Ðiều 59:

    Ðại diện thanh toán có thể thực hiện tại nơi mà người cầm phiếu có quyền truy đòi hối phiếu hoặc là khi đáo hạn hoặc là trước khi đáo hạn.

    Việc thanh toán phải bao gồm toàn bộ số tiền có thể thanh toán mà người đại diện thanh toán phải thực hiện.

    Việc đại diện thanh toán phải được thực hiện muộn nhất vào ngày kế theo ngày được phép cuối để đệ trình bản kháng nghị không thanh toán.

    Ðiều 60:

    Nếu hối phiếu được những người đại diện cư trú tại nơi thanh toán chấp nhận hoặc nếu những người cư trú tại nơi đã được ghi rõ như là người trả tiền thay, thì người cầm phiếu phải xuất trình hối phiếu tới tất cả những người này và nếu cần thiết phải đệ trình kháng nghị không thanh toán muộn nhất vào ngày kế theo ngày được phép cuối cùng đệ trình kháng nghị

    Nếu kháng nghị không đúng hạn, bên là người trả tiền thay khi cần hoặc bên là người đại diện chấp nhận hối phiếu và những người ký hậu kế tiếp sẽ được miễn trách nhiệm.

    Ðiều 61:

    Người cầm phiếu từ chối thanh toán của người đại diện sẽ mất quyền truy đòi đối với bất cứ những người mà lẽ ra những người này đã được miễn trách nhiệm.

    Ðiều 62:

    Việc thanh toán của đại diện phải được xác nhận trên hối phiếu và phải ghi rõ thanh toán cho ai . Nếu thiếu điều này thì việc thanh toán được coi như là cho người ký phát.

    Hối phiếu và bản kháng nghị, nếu có, phải được trao cho người đại diện thanh toán.

    Ðiều 63:

    Người đại diện thanh toán có các quyền phát sinh từ hối phiếu đối với người mà anh ta đã thanh toán cho người đó và đối với những người có trách nhiệm đối với anh ta trên hối phiếu. Tuy nhiên, người đại diện thanh toán không có thể tái ký hậu hối phiếu.

    Những người tiếp sau người mà việc thanh toán đã được thanh toán cho người đó sẽ hết trách nhiệm.

    Trong trường hợp có nhiều đại diện thanh toán, thì việc thanh toán sẽ ưu tiên cho người đại diện nào có người được miễn trách nhiệm đối với hối phiếu nhiều nhất. Bất cứ người nào hiểu biết sự việc mà vẫn làm trái với quy tắc này thì sẽ mất quyền truy đòi đối với những người lẽ ra sẽ được giải thoát khỏi trách nhiệm.

     

    Chương IX: SỐ BẢN CỦA MỘT BỘ VÀ CÁC BẢN SAO

    1. Số bản của một bộ

    Ðiều 64:

    Một hối phiếu có thể được ký phát thành 1 bộ gồm 2 hoặc nhiều bản giống nhau.

    Những bản này phải được đánh số ở trên mặt hối phiếu: nếu không mỗi bản sẽ được xem như một hối phiếu riêng biệt. Người cầm giữ hối phiếu mà phiếu này không ghi rõ là nó đăng ký phát thành 1 bản duy nhất, thì có thể chịu chi phí để yêu cầu được trao 2 hoặc nhiều bản.Với mục đích này người cầm giữ phải xin với người ký hậu của ông ta, và như vậy, thông qua tất cả những người ký hậu cho đến người ký phát. Người ký hậu phải ghi những ký hậu này lên những tờ mới của bộ hối phiếu.

    Ðiều 65:

    Việc thanh toán thực hiện với một bản của một bộ hối phiếu sẽ coi như thanh toán hết nợ, cho dù không có những quy định là việc thanh toán sẽ huỷ hiệu lực của những bản khác. Tuy nhiên, người trả tiền chỉ chịu trách nhiệm đối với bản mà anh ta đã ký chấp nhận.

    Người ký hầu như đã chuyển nhượng các bản của một bộ hối phiếu cho nhiều người khác nhau, cũng như những người ký hậu sau đó sẽ chịu trách nhiệm đối với tất cả những bản có mang chữ ký của họ.

    Ðiều 66:

    Người nào gửi, một bản để in chấp nhận phải ghi trên những bản khác của người đang cầm bản này. Người này buộc phải trao nó cho người cầm giữ hợp pháp của bản khác.

    Nếu ông ta từ chối thì người cầm giữ không thể thực hiện quyền truy đòi của mình cho đến khi có thư kháng nghị nêu rõ là:

    1. Bản được giữ để xin chấp nhận đã không được đưa cho ông ta theo yêu cầu của ông ta.
    2. Việc chấp nhận thanh toán đã không thể được chấp nhận đối với bản khác.
    3. Các bản sao

    Ðiều 67:

    Người cầm giữ hối phiếu có quyền lập bản sao của hối phiếu. Bản sao phải giống y như bản gốc. Bản sao có thể được ký hậu, ký bảo lãnh nếu bản gốc cho phép và phải nêu rõ bản gốc được lưu giữ ở đâu.

    Ðiều 68:

    Bản sao phải ghi rõ người sở hữu bản gốc hối phiếu. Người này có trách nhiệm phải giao hối phiếu này cho người cầm giữ bản sao hợp pháp. Nếu ông ta từ chối, người cầm giữ không thể thực hiện quyền truy đòi của mình đối với những người đã ký hậu bản sao hoặc đã đảm bảo nó bằng bảo lãnh cho đến khi ông có thư kháng nghị nêu rõ là bản gốc đã được trao cho ông khi ông yêu cầu. Một khi bản gốc, sau lần ký hậu cuối cùng, trước khi lập bản, có chứa đựng điều khoản “bắt đầu từ đây sự ký hậu chỉ có hiệu lực thực hiện trên bản sao” hoặc một quy định tương đương nào, thì sự ký hậu sao đó trên bản gốc là vô hiệu lực.

     

    Chương X: SỬA ĐỔI

    Ðiều 69:

    Trong trường hợp việc sửa đổi nội dung của một phiếu xảy ra trước khi các bên đã ký buộc phải theo những điều khoản của văn bản đã sửa đổi, còn sự sửa đổi xảy ra sau khi đã ký thì buộc phải theo các điều khoản của bản gốc.

     

    Chương XI: THỜI HIỆU

    Ðiều 70:

    Tất cả các quyền phát sinh từ hối phiếu đối với người chấp nhận sẽ hết hiệu lực sau 3 năm kể từ ngày đáo hạn của hối phiếu.

    Các quyền của người cầm phiếu đối với những người ký hậu và đối với người ký phát sẽ hết hiệu lực trong một năm kể từ ngày đưa đơn kháng nghị kịp thời hoặc kể từ ngày đáo hạn nếu có quy định miễn kháng nghị.

    Quyền của những người ký hậu đối với mỗi người ký hậu khác và đối với người ký phát sẽ hết hiệu lực trong vòng 6 tháng kể từ ngày khi người ký hậu tiếp nhận và thanh toán hối phiếu hoặc kể từ ngày khi mà anh ta bị thua kiện.

    Ðiều 71:

    Việc gián đoạn thời hiệu chỉ có hiệu lực đối với người mà thời hiệu bị gián đoạn đối với người đó.

     

    Chương XII. ÐIỀU KHOẢN CHUNG

    Ðiều 72:

    Việc thanh toán hối phiếu đến hạn vào ngày lễ theo quy định của pháp luật không thể được yêu cầu cho đến ngày làm việc tiếp theo. Cũng như vậy, mọi thủ tục khác liên quan đến hối phiếu, đặc biệt là việc xuất trình để chấp nhận và kháng nghị chỉ có thể được thực hiện vào 1 ngày làm việc.

    Nếu thủ tục thanh toán phải được thực hiện trong một khoảng thời gian giới hạn cụ thể nhưng ngày cuối cùng lại rơi vào ngày lễ theo quy định của pháp luật thì khoảng thời gian giới hạn sẽ được kéo dài cho đến ngày làm việc đầu tiên kế tiếp ngày hết hạn của thời hạn này. Những ngày lễ xen vào cũng được tính đến.

    Ðiều 73:

    Giới hạn của thời hạn pháp lý hoặc của hợp đồng không bao gồm ngày mà vào ngày đó thời hạn bắt đầu

    Ðiều 74:

    Không có những ngày ưu đãi dù cho có quy định của toà án hay của pháp luật

     

    PHẦN II: KỲ PHIẾU

    Ðiều 75:

    Một kỳ phiếu chứa đựng:

    1. Tiêu đề “kỳ phiếu” ghi ở bề mặt của kỳ phiếu và được diễn đạt bằng ngôn ngữ ký phát kỳ phiếu.
    2. Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất định.
    3. Thời hạn thanh toán.
    4. Ðịa điểm thanh toán.
    5. Tên của người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiện việc thanh toán.
    6. Ngày và nơi phát hành kỳ phiếu.
    7. Chữ ký của người ký phát kỳ phiếu.

    Ðiều 76:

    Một kỳ phiếu mà trong đó thiếu một trong những yêu cầu được nêu trong điều khoản trên sẽ là một kỳ phiếu vô hiệu lực, ngoại trừ những trường hợp được nêu sau đây:

    – Một kỳ phiếu mà trong đó không có nêu rõ thời gian thanh toán thì được xem như là được thanh toán ngay khi xuất trình.

    – Khi không có nêu rõ ràng địa điểm lập kỳ phiếu, thì địa điểm nơi lập kỳ phiếu được coi là địa điểm thanh toán và đồng thời là nơi cư trú của người lập kỳ phiếu.

    – Một kỳ phiếu phiếu mà không có nêu địa điểm lập thì được xem như đã được lập tại nơi được nêu bên cạnh tên của người lập kỳ phiếu.

    Ðiều 77

    Các quy định sau liên quan đến hối phiếu sẽ được áp dụng cho kỳ phiếu vì các quy định này không mâu thuẫn với bản chất của chúng,

    Ký hậu (Ðiều 11 đến Điều 20);

    Thời hạn thanh toán (Ðiều 33 đến Điều 37);

    Thanh toán (Ðiều 38 đến Điều 42);

    Truy đòi do không thanh toán (Ðiều 43 đến Điều 50, Điều 52 đến Điều 54);

    Ðại diện thanh toán (Ðiều 55, Điều 59 đến Điều 63);

    Các bản sao (Ðiều 67Điều 68);

    Sửa đổi (Ðiều 69);

    Thời hiệu (Ðiều 70Điều 71);

    Ngày lễ, cách tính giới hạn thời gian và giới hạn ngày ưu đãi (Ðiều 72, Điều 73Điều 74).

    Các quy định sau cũng được áp dụng cho kỳ phiếu: Các quy định liên quan đến hối phiếu thanh toán theo địa chỉ của một bên thứ ba hoặc tại 1 địa phương khác nơi cứ trú của người trả tiền (Ðiều 4Ðiều 27); quy định về tiền lãi (Ðiều 5); sự khác biệt về số tiền thanh toán (Ðiều 6); hậu quả của việc ký theo các điều kiện tại Ðiều 7, hậu quả của việc ký không có thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền (Ðiều 8); và các quy định liên quan đến hối phiếu để trống (Ðiều 10).

    Các quy định sau cũng được áp dụng cho kỳ phiếu: Các quy định liên quan đến bảo lãnh (Ðiều 30Điều32); trong trường hợp quy định tại Ðiều 31, đoạn cuối, nếu bảo lãnh không chỉ rõ người đại diện thì được coi là đại diện cho người lập kỳ phiếu.

    Ðiều 78:

    Người lập lỳ phiếu bị ràng buộc trách nhiệm đối với các phương thức giống như người chấp nhận hối phiếu.

    Kỳ phiếu được thanh toán vào một thời gian cụ thể sau khi sau khi nhìn thấy phải được xuất trình cho người lập ký phiếu trong khoảng thời gian được ấn định tại Ðiều 23. Giới hạn thời gian bắt đầu từ ngày được ghi khoảng thời hạn sau khi nhìn thấy.

    QUY TẮC THỐNG NHẤT VỀ NHỜ THU (URC 522)

    (Bản sửa đổi năm 1995, có hiệu lực 1/1/1996, xuất bản số 522 )

    A. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VÀ CÁC ĐỊNH NGHĨA

    ĐIỀU 1: Áp dụng các quy tắc thống nhất về nhờ thu (URC 522)

    1. a. Các quy tắc thống nhất về nhờ thu, sửa đổi năm 1995. Số xuất bản 522, của ICC sẽ được áp dụng cho tất cả nhờ thu như đã định nghĩa trong điều 2 khi mà các quy tắc như thế là một bộ phận cấu thành nội dung của “chỉ thị nhờ thu” được nói đến ở điều 4 và ràng buộc tất cả các bên liên quan trừ khi có sự thoả thuận khác rõ ràng hoặc trừ khi trái với các quy định trong luật của địa phương, một bang hay một quốc gia và/ hoặc các quy chế mà không thể bỏ qua được.
    2. b. Các ngân hàng sẽ không có nghĩa vụ phải tiến hành nhờ thu hoặc bất cứ chỉ thị nhờ thu nào, hoặc các chỉ thị liên quan sau này.
    3. c. Nếu một ngân hàng, vì một lý do nào đó không chịu tiến hành nhờ thu hoặc bất cứ các chỉ thị liên quan nào mà ngân hàng này nhận được thì ngân hàng này phải cần phải thông báo ngay cho bên ra chỉ thị nhờ thu bằng đường viễn thông, nếu không có thể, thì hoặc bằng các phương tiện khẩn cấp khác.

    ĐIỀU 2: Định nghĩa nhờ thu

    Nhằm phục vụ cho các điều khoản này

    1. “Nhờ thu” có nghĩa là các ngân hàng tiếp nhận các chứng từ như đã định nghĩa ở Điều phụ 2 (b) theo đúng các chỉ thị đã nhận được để:

    1.Tiến hành thu tiền và/hoặc để yêu cầu chấp nhận thanh toán, hoặc:

    2.Giao các chứng từ nếu được thanh toán và/hoặc chấp nhận thanh toán và/hoặc nếu được chấp nhận thanh toán, hoặc

    3.Giao các chứng từ khi các điều kiện khác đặt ra được thực hiện.

    1. “Các chứng từ” là những chứng từ tài chính và/hoặc những chứng từ thương mại
    2. “Các chứng từ tài chính” là bao gồm các hối phiếu, kỳ phiếu, séc hoặc các loại chứng từ tương tự khác dùng để thu tiền.
    3. “Các chứng từ thương mại” gồm các hoá đơn, các chứng từ vận tải, các chứng từ về quyền sở hữu hoặc những chứng từ tương tự hoặc bất cứ chứng từ nào khác miễn là không phải là các chứng từ tài chính.
    4. “Nhờ thu phiếu trơn” có nghĩa là nhờ thu các chứng từ tài chính không kèm theo các chứng từ.
    5. “Nhờ thu kèm chứng từ” có nghĩa là nhờ thu:

    1.Các chứng từ tài chính kèm theo các chứng từ thương mại;

    2.Các chứng từ thương mại không kèm theo chứng từ tài chính.

    ĐIỀU 3: Các bên tham gia trong nhờ thu

    1. a. Nhằm phục vụ cho các điều khoản này, các bên tham gia bao gồm:

    1.”Người nhờ thu” là bên giao uỷ thác nhờ thu cho một ngân hàng;

    2.”Ngân hàng chuyển” là ngân hàng mà người nhờ thu đã giao uỷ thác nhờ thu.

    3.”Ngân hàng thu” là bất kỳ một ngân hàng nào mà không phải là ngân hàng chuyển thực hiện quy trình nhờ thu.

    4.”Ngân hàng xuất trình” là ngân hàng thu có nhiệm vụ xuất trình chứng từ tới người trả tiền.

    1. b. “Người trả tiền” là người mà chứng từ xuất trình đòi tiền anh ta theo quy định của chỉ thị nhờ thu.

    B. HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CỦA NHỜ THU

    ĐIỀU 4: Chỉ thị nhờ thu

    a.1. Mọi chứng từ nhờ thu gửi đi đều phải kèm theo chỉ thị nhờ thu chỉ rõ việc nhờ thu phải theo URC 522 và có những chỉ dẫn đầy đủ và chính xác. Các ngân hàng chỉ được phép hành động theo các chỉ thị đã được quy định trong chỉ thị nhờ thu và phải tuân theo các quy định của Quy tắc này.

    a.2. Các ngân hàng sẽ không kiểm tra các chứng từ để thực hiện các chỉ thị.

    a.3. Trừ khi có sự uỷ quyền ngược lại trong chỉ thị nhờ thu, các ngân hàng sẽ không tuân theo mọi chỉ dẫn của bất cứ ngân hàng hoặc các bên nào trừ các ngân hàng hoặc các bên đã gửi cho họ chỉ thị nhờ thu.

    1. Một chỉ thị nhờ thu cần có những mục các thông tin tương ứng sau đây:
    2. Các chi tiết về ngân hàng nhận chỉ thị nhờ thu, bao gồm tên đầy đủ, địa chỉ bưu điện và hay địa chỉ SWIFT, số telex, phone, và fax và số tham chiếu.
    3. Các chi tiết về người nhờ thu: Họ và tên đầy đủ, địa chỉ bưu điện và số telex, điện thoại, và fax, nếu có.
    4. Các chi tiết về người trả tiền: Họ tên đầy đủ, địa chỉ bưu điện hoặc địa chỉ nơi xuất trình chứng từ hoặc số telex, phone, fax, nếu có.
    5. Chi tiết về ngân hàng xuất trình nếu có: Tên đầy đủ, địa chỉ bưu điện và số telex, phone, fax nếu có.
    6. Số tiền và loại tiền tệ sẽ nhờ thu.
    7. Danh sách các chứng từ gửi kèm và số thứ tự của từng chứng từ.
    8. a. Điều kiện thanh toán hoặc chứng từ thanh toán.
    9. Điều kiện giao chứng từ khi:
    10. Thanh toán và/hoặc chấp nhận thanh toán.
    11. Các điều kiện khác được thực hiện.

    Trách nhiệm của các bên đã đưa ra chỉ thị nhờ thu phải đảm bảo rằng các điều kiện chuyển giao các chứng từ phải được tuyên bố rõ ràng và không mơ hồ, ngược lại các ngân hàng sẽ không có trách nhiệm đối với bất cứ hậu quả nào phát sinh từ điều đó.

    1. Lệ phí sẽ thu cần chỉ rõ hoặc là phải được nhờ thu hay là bỏ qua.
    2. Tiền lãi sẽ được thu nếu có, cần chỉ rõ hoặc là có được thu hay là bỏ qua, bao gồm:
    3. Lãi suất
    4. Thời gian tính lãi.
    5. Cơ sở tính toán (Ví dụ một năm là 360 ngày hay 365 ngày)
    6. Phương thức thanh toán và hình thức thông báo thanh toán.
    7. Các trường hợp chỉ dẫn không thanh toán hay không chấp nhận thanh toán và/hoặc không tuân theo các chỉ dẫn khác.

    c.1. Các chỉ dẫn nhờ thu phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ người trả tiền hoặc nơi xuất trình chứng từ. Nếu địa chỉ không đầy đủ hoặc sai thì ngân hàng thu có thể cố gắng xác định địa chỉ thích hợp nhưng không chịu trách nhiệm về phía mình.

    c.2. Ngân hàng thu sẽ không có trách nhiệm đối với bất cứ sự chậm chễ nào do địa chỉ cùng cấp không đầy đủ, không đúng gây ra.

    C. HÌNH THỨC XUẤT TRÌNH

    ĐIỀU 5: Xuất trình chứng từ

    1. Nhằm phục vụ cho các điều này việc xuất trình là một thủ tục mà ngân hàng xuất trình chứng từ đòi tiền người trả tiền như đã chỉ thị.
    2. Trong chỉ thị nhờ thu cần ghi chính xác khoảng thời gian mà trong quãng thời gian đó người trả tiền phải thực hiện thanh toán.

    Các từ như: “Thứ nhất”, “Ngay”, “Lập tức” và các từ tương tự không nên dùng có liên quan đến việc xuất trình hoặc dẫn chiếu đến bất cứ thời hạn nào mà trong thời hạn đó chứng từ phải được tiếp nhận hoặc đối với bất cứ hành động nào mà người trả tiền phải thực hiện. Nếu những từ như thế được sử dụng thì ngân hàng sẽ không xem xét đến.

    1. Các chứng từ xuất trình chứng từ tới người trả tiền phải nguyên vẹn như lúc nhận, trừ khi các ngân hàng được phép dán vào đó bất cứ con tem cần thiết nào với chi phí do người nhờ thu phải gánh chịu, trừ khi có chỉ thị ngược lại, và ngân hàng tiến hành bất cứ ký hậu cần thiết nào hay đóng bất cứ dấu cao su nào hoặc mọi dấu hiệu khác hoặc các ký hiệu do tập quán hoặc theo yêu cầu của nghiệp vụ nhờ thu.
    2. Để thực hiện có hiệu quả của việc nhờ thu, ngân hàng chuyển sẽ dùng ngân hàng do người nhờ thu chỉ thị để làm ngân hàng thu tiền. Trong trường hợp không có sự chỉ định như thế, thì ngân hàng chuyển có thể dùng bất kỳ ngân hàng nào của chính mình hoặc chọn một ngân hàng khác ở nước trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán hoặc ở một nước mà ỏ đó các điều kiện nhờ thu tỏ ra phù hợp.
    3. Các chứng từ và chỉ thị nhờ thu có thể do ngân hàng chuyển gửi trực tiếp cho ngân hàng thu hoặc qua một ngân hàng khác làm trung gian.
    4. Nếu ngân hàng chuyển không chỉ định một ngân hàng xuất trình nào xuất trình riêng biệt thì ngân hàng thu sẽ tự chọn một ngân hàng xuất trình.

    ĐIỀU 6: Trả ngay/ chấp nhận

    Trong trường hợp chứng từ quy định thanh toán khi xuất trình thì ngân hàng xuất trình phải xuất trình không chậm chễ để được thanh toán ngay.

    Trong trường hợp chứng từ quy định thanh toán kỳ hạn mà không phải là trả ngay thì ngân hàng xuất trình, nếu yêu cầu chấp nhận thanh toán, phải ngay lập tức xuất trình chứng từ để được chấp nhận thanh toán và nếu yêu cầu thanh toán trước khi hối phiếu hết kỳ hạn.

    ĐIỀU 7: Trao các chứng từ thương mại

    Chấp nhận thanh toán đổi lấy chứng từ (D/A) ngược lại với

    Thanh toán đổi lấy chứng từ (D/P)

    1. Nếu các nhờ thu không bao gồm các hối phiếu có thể thanh toán vào một ngày trong tương lại thì các chỉ thị nhờ thu phải quy định rằng các chứng từ thương mại phải được giao khi nhận được thanh toán.
    2. Nếu nhờ thu bao gồm một hối phiếu có thể thanh toán vào một ngày trong tương lai thì chỉ thị nhờ thu phải ghi rõ chứng từ thương mại hoặc sẽ được giao cho người trả tiền để chấp nhận thanh toán (D/A) hay thanh toán ngay (D/P).

    Nếu không có quy định như thế thì chứng từ thương mại sẽ chỉ được giao khi thanh toán (D/P) và ngân hàng thu sẽ không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào phát sinh do bất cứ sự chậm trễ nào trong việc trao chứng từ.

    1. Nếu nhờ thu bao gồm một hối phiếu có thể thanh toán vào một ngày trong tương lai và chỉ thị nhờ thu quy định chứng từ thương mại sẽ được xuất trình khi thanh toán thì chứng từ chỉ được giao khi được thanh toán như thế và ngân hàng thu sẽ không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ hậu quả nào phát sinh từ bất cứ sự chậm chễ nào trong việc trao chứng từ.

    ĐIỀU 8: Việc tạo lập chứng từ

    Khi ngân hàng chuyển chỉ thị rằng hoặc là ngân hàng thu hoặc là người trả tiền sẽ phải tạo lập chứng từ (hối phiếu, kỳ phiếu, biên lai tin khác, thư cam kết hoặc các chứng từ khác) mà không có trong nhờ thu thì hình thức và lời văn cho những chứng từ như thế sẽ do ngân hàng chuyển quy định, ngược lại, ngân hàng thu sẽ không chịu trách nhiệm về hình thức và lời văn của bất kỳ chứng từ nào do người trả tiền và/hoặc ngân hàng thu cấp.

    1. NGHĨA VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM

    ĐIỀU 9: Sự thiện chí và sự cẩn thận hợp lý

    Các ngân hàng sẽ hành động với sự thiện chí và sự cẩn thận hợp lý.

    ĐIỀU 10: Các chứng từ đối với hàng hoá/ Dịch vụ/ Các thực hiện

    1. Hàng hóa không được gửi trực tiếp đến địa chỉ của một ngân hàng hoặc được chuyển đến hoặc được chuyển theo lệnh của một ngân hàng mà không có sự thoả thuận trước của ngân hàng đó.

    Tuy vậy, trong trường hợp hàng được gửi trực tiếp đến địa chỉ của ngân hàng hoặc được chuyển đến hoặc chuyển theo lệnh của một ngân hàng để trao cho người trả tiền khi họ thanh toán hoặc khi họ chấp nhận thanh toán hoặc khi những điều kiện khác được thực hiện mà không có sự thoả thuận khác hoặc không có sự thoả thuận trước của ngân hàng đó thì ngân hàng đó sẽ không có nghĩa vụ nhận hàng và rủi ro, trách nhiệm đối với hàng hoá vẫn thuộc về người gửi hàng.

    1. Các ngân hàng không có nghĩa vụ thực hiện bất cứ hành động nào đối với hàng hoá và phương thức nhờ thu kèm theo chứng từ có liên quan bao gồm việc lưu kho và bảo hiểm hàng hoá ngay cả khi chỉ thị nhờ thu nếu quy định cụ thể điều đó. Các ngân hàng sẽ chỉ làm điều đó nếu khi và ở chừng mực khi mà họ đồng ý là như vậy trong từng trường hợp. Dù cho có điều khoản ở Điều 1 (c), quy định này được áp dụng ngay cả khi không có bất cứ thông báo cụ thể nào về vấn đề này của ngân hàng thu.
    2. Tuy nhiên, nếu các ngân hàng tiến hành bảo vệ hàng hoá, dù có chỉ thị hay không, các ngân hàng này cũng không chịu trách nhiệm về số phận và/hoặc tình cảnh của hàng hoá và/hoặc về mọi hành động và/hoặc về thiếu sót của bất kỳ bên thứ ba nào được uỷ nhiệm lưu kho và hoặc bảo vệ hàng hoá. Tuy nhiên, ngân hàng thu phải thông báo ngay cho ngân hàng đã gửi chỉ thị nhờ thu về bất kỳ hành động nào thuộc loại này.
    3. Mọi lệ phí và hoặc chi phí của các ngân hàng có liên quan tới bất cứ hành động nào trong việc bảo vệ hàng hoá sẽ do bên gửi chỉ thị nhờ thu gánh chịu.

    e.1. Dù cho có điều khoản trong Điều 10(a) nếu hàng hoá được gửi đến hoặc gửi theo lệnh của ngân hàng thu và người trả tiền đã thanh toán, chấp nhận thanh toán hoặc các điều kịên khác đã được thực hiện và ngân hàng thu bố trí việc giao hàng, thì ngân hàng chuyển sẽ phải cho phép ngân hàng thu làm như vậy.

    1. Theo chỉ dẫn của ngân hàng chuyển hoặc theo Điều phụ 10(e)1, ngân hàng thu sắp xếp việc giao hàng thì ngân hàng chuyển sẽ hoàn trả mọi chi phí và thiệt hại mà ngân hàng thu đã chịu

    ĐIỀU 11: Sự miễn trách đối với hành động của một bên ra chỉ thị

    1. Các ngân hàng sử dụng dịch vụ của một ngân hàng khác hoặc các ngân hàng khác nhằm thực hiện có hiệu quả chỉ thị của người nhờ thu thì mọi chi phí và sự rủi ro đó sẽ do người nhờ thu gánh chịu.
    2. Các ngân hàng sẽ không có nghĩa vụ và chịu trách nhiệm gì nếu những chỉ thị nhờ thu mà họ chuyển không được thực hiện, thậm chí ngay cả khi bản thân họ lựa chọn các ngân hàng đó.
    3. Một bên chỉ thị cho bên khác thực hiện dịch vụ sẽ bị ràng buộc và chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm mà luật lệ và tập quán nước ngoài áp đặt đối với bên nhận chỉ thị.

    ÐIỀU 12. Miễn trách đối với chứng từ nhận được.

    1. Các ngân hàng phải xác định rằng các chứng từ nhận được đều được liệt kê trong bản chỉ thị nhờ thu và phải thông báo bằng đường viễn thông hoặc nếu không thể thì bằng các phương tiện hoả tốc, không chậm chễ cho bên đã gửi chỉ thị nhờ thu về bất kỳ một chứng từ nào bị thiếu hay khác với bản liệt kê. Về việc này các ngân hàng không có nghĩa vụ gì thêm.
    2. Nếu các chứng từ không được liệt kê trong bản chỉ thị nhờ thu thì ngân hàng chuyển sẽ không liên can đến tranh chấp về loại và số lượng các chứng từ giao cho ngân hàng thu.
    3. Theo Ðiều phụ 5(c) và 12 (b) ở trên, các ngân hàng sẽ xuất trình các chứng từ như đã nhận mà không phải kiểm tra gì thêm.

    ĐIỀU 13: Sự miễm trách về hiệu lực của các chứng từ

    Các ngân hàng không có nghĩa vụ hoặc chịu trách nhiệm gì đối với hình thức, độ đầy đủ, chính xác, độ chân thật hay giả dối, hoặc hiệu lực pháp lý của bất kỳ chứng từ nào, hoặc đối với các điều kiện chung và/hoặc riêng quy định cho các chứng từ hoặc kèm theo chúng, họ cũng không có nghĩa vụ hoặc chịu trách nhiệm đối với việc mô tả số lượng, chất lượng, trọng lượng, trạng thái, bao bì, việc giao hàng, giá trị hay sự tồn tại của hàng hóa thể hiện trong bất kỳ chứng từ nào, hoặc đối với sự thiện chí hoặc các hành vi và hoặc sự thiếu sót, khả năng trả nợ sự thực hiện nghĩa vụ hay sự tín nhiệm của những người gửi, những người vận chuyển, những người giao nhận, những người nhận hàng hay người bảo hiểm hàng hoá, hoặc đối với bất kỳ ai khác

    ĐIỀU 14: Sự miễn trách về việc chậm trễ, mất mát trong vận chuyển và dịch thuật

    1. Các ngân hàng không có nghĩa vụ hoặc chịu trách nhiệm về các hậu quả phát sinh từ việc chậm trễ và/hoặc việc mất mát các thư từ trong việc vận chuyển bất cứ các điện tín, các thư từ, các chứng từ nào hoặc đối với việc chậm trễ, cắt xén hay các sai sót khác phát sinh trong quá trình chuyển bất cứ điện tín nào hoặc đối với các lỗi trong dịch thuật và/hoặc giải thích đối với các thuật ngữ.
    2. Các ngân hàng sẽ không có nghĩa vụ hoặc chịu trách nhiệm đối với bất cứ sự chậm trễ nào gây ra bởi sự cần thiết phải làm sáng tỏ các chỉ thị nhờ thu được nhận.

    ĐIỀU 15. Trường hợp bất khả kháng

    Các ngân hàng không có nghĩa vụ hoặc chịu trách nhiệm về các hậu quả phát sinh do hoạt động kinh doanh của mình bị gián đoạn vì thiên tai, bạo loạn, dân biến, sự nổi dậy, chiến tranh hay bất kỳ nguyên nhân nào nằm ngoài sự kiểm soát của họ, hoặc đối với hậu quả của đình công, bế xưởng.

    1. THANH TOÁN

    ĐIỀU 16: Thanh toán không chậm trễ

    1. Số tiền thu được (trừ đi các cước phí và/hoặc các ứng chi và/hoặc chi phí nếu có) phải giao ngay cho bên đã nhận bản chỉ thị nhờ thu phù hợp với các điều kiện ghi trong bản điều kiện nhờ thu này.
    2. Dù cho có quy định trong Điều phụ 1(c), và trừ khi có sự thoả thuận ngược lại, ngân hàng thu sẽ chỉ thanh toán số tiền thu được cho ngân hàng chuyển.

    ĐIỀU 17: Thanh toán bằng tiền địa phương

    Trong trường hợp các chứng từ có thể thanh toán bằng tiền của nước trả tiền (tiền địa phương), ngân hàng xuất trình phải giao các chứng từ cho người trả tiền khi họ thanh toán bằng tiền địa phương chỉ khi nào khoản tiền đó đã có sẵn để trả ngay bằng phương thức thanh toán quy định trong bản chỉ thị nhờ thu, trừ khi có sự chỉ dẫn ngược lại trong chỉ thị nhờ thu.

    ĐIỀU 18: Thanh toán bằng ngoại t

    Trong trường hợp chứng từ có thể thanh toán bằng đồng tiền không phải là đồng tiền của nước trả tiến (ngoại tệ) thì ngân hàng xuất trình phải giao chứng từ cho người trả tiền khi họ thanh toán bằng một ngoại tệ đã thoả thuận chỉ khi nếu khoản ngoại tệ này có thể được chuyển ngay theo các chỉ dẫn trong bản chỉ dẫn nhờ thu, trừ khi có sự chỉ dẫn ngược lại trong chỉ thị nhờ thu.

    ĐIỀU 19: Thanh toán từng phần

    1. Đối với các nhờ thu phiếu trơn, việc thanh toán từng phần có thể được chấp nhận nếu như và ở mức độ và theo các điều kiện mà việc thanh toán từng phần được luật pháp hiện hành nơi thanh toán cho phép. Các chứng từ tài chính sẽ chỉ được giao cho người trả tiền khi người này mới thanh toán toàn bộ.
    2. Đối với các nhờ thu kèm chứng từ thanh toán từng bộ phận chỉ có thể được chấp nhận nếu như có sự cho phép đặc biệt ghi trong bản chỉ thị nhờ thu. Tuy nhiên ngân hàng xuất trình sẽ giao các chứng từ cho người trả tiền chỉ khi nào sẽ thanh toán toàn bộ, trừ khi có quy định khác, và ngân hàng xuất trình sẽ không chịu trách nhiệm đối với hậu quả, nếu có phát sinh từ bất cứ sự chậm trễ nào trong việc giao chứng từ.
    3. Trong mọi trường hợp thanh toán từng phần sẽ chỉ được chấp nhận khi phải tuân theo hoặc là các điều khoản trong Điều 17 và/hoặc là Điều 18.

    Nếu được chấp thuận, thanh toán từng phần sẽ được chấp hành theo các điều khoản của Điều 16.

    1. TIỀN LÃI, LỆ PHÍ VÀ CÁC CHI PHÍ

    ĐIỀU 20: Tiền lãi

    1. Nếu bản chỉ thị nhờ thu quy định sẽ phải thu lãi nhưng người trả tiền không chịu trả lãi thì ngân hàng xuất trình có thể giao chứng từ khi được thanh toán hoặc khi được chấp nhận thanh toán và khi các điều kiện khác được thực hiện nếu là trường hợp cần thiết mà không cần thu lãi, trừ khi áp dụng cho Điều 20(c).
    2. Nếu tiền lãi như thế sẽ phải thu được thì bản chỉ thị nhờ thu cần ghi rõ lãi suất, thời gian tính và cơ sở tính toán.
    3. Nếu bản chỉ thị nhờ thu nói rõ không bỏ qua tiền lãi mà người trả tiền từ chối thanh toán tiền lãi đó thì ngân hàng xuất trình sẽ không giao các chứng từ và sẽ không chịu trách nhiệm đối với bất cứ hậu quả nào phát sinh từ bất cứ sự chậm chễ nào trong việc giao chứng từ.

    Khi việc thanh toán tiền lãi đã bị từ chối, ngân hàng xuất trình phải thông báo ngay cho ngân hàng gửi chứng từ đến bằng đường viễn thông hoặc nếu không thể, bằng bất kỳ phương tiện hoả tốc nào.

    ÐIỀU 21:Lệ phí và các chi phí

    1. Nếu bản chỉ thị nhờ thu quy định cụ thể rằng mọi lệ phí và chi phí nhờ thu là do người trả tiền chịu và người này lại từ chối thanh toán thì ngân hàng xuất trình có thể giao các chứng từ khi được thanh toán hay khi được chấp nhận thanh toán hoặc khi các điều kiện khác được thực hiện nếu là cần thiết, không cần thu lệ phí và chi phí, trừ khi Ðiều 21 (b) được áp dụng.

    Nếu các chi phí và/hoặc lệ phí nhờ thu như thế phải thu thì bên đưa ra chỉ thị nhờ thu sẽ chịu những chi phí này hoặc có thể trừ vào số tiền thu được.

    1. Nếu bản chỉ thị nhờ thu quy định rõ ràng là các chi phí và lệ phí không có thể bỏ qua và người trả tiền từ chối thanh toán thì ngân hàng xuất trình sẽ không giao chứng từ và không chịu trách nhiệm đối với bất cứ hậu quả nào sinh ra từ bất cứ sự chậm trễ nào trong việc giao chứng từ. Khi việc thanh toán chi phí và lệ phí nhờ thu này bị từ chối thì ngân hàng xuất trình phải thông báo ngay bằng đường viễn thông hoặc nếu không thể bằng phương tiện hoả tốc khác cho ngân hàng đã gửi chỉ thị nhờ thu đến.
    2. Trong mọi trường hợp, nếu các điều kiện của chỉ thị nhờ thu nói rõ hoặc theo bản quy tắc này, mọi chi phí và tiền ứng chi cho người nhờ thu gánh chịu thì ngân hàng thu sẽ có quyền thu hồi ngay các khoản tiền chi phí có liên quan đến tiền ứng chi, lệ phí và các chi phí từ ngân hàng để gửi chỉ thị nhờ thu và Ngân hàng chuyển sẽ có quyền thu hồi lại ngay từ người nhờ thu bất cứ số tiền nào đã trả cùng với các lệ phí, chi phí và tiền ứng chi tương ứng, không cần biết đến kết quả nhờ thu như thế nào.
    3. Các ngân hàng có quyền đòi thanh toán trước những lệ phí và chi phí đối với bên đã gửi chị thị nhờ thu để trả những chi phí nhằm để thực hiện bất cứ các chỉ thị nào và khi chưa nhận được sự thanh toán trước này thì họ có quyền không thực hiện các chỉ thị nhờ thu này.
    4. CÁC ĐIỀU KHOẢN KHÁC

    ĐIỀU 22: Chấp nhận thanh toán

    Ngân hàng xuất trình có trách nhiệm xem xét hình thức chấp nhận thanh toán một hối phiếu có đầy đủ và đúng đắn hay không , nhưng lại không có trách nhiệm đối với tính xác thực của bất cứ chữ ký nào hoặc với sự uỷ quyền của bất cứ bên ký nào để ký nhận.

    ĐIỀU 23: Kỳ phiếu và phương tiện khác

    Ngân hàng xuất trình không có trách nhiệm đối với tính xác thực của bất cứ chữ ký nào có đối với sự uỷ quyền của bất cứ bên ký nào để ký một kỳ phiếu, hoá đơn thu tiền hay các phương tiện khác

    ĐIỀU 24: Kháng nghị

    Bản chỉ thị nhờ thu cần có những chỉ thị cụ thể về kháng nghị (hoặc bất kỳ quá trình tố tụng liên quan nào), về việc không thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán.

    Nếu không có những chỉ thị này, những ngân hàng liên quan đến nhờ thu sẽ không có nghĩa vụ phải có các chứng từ kháng nghị việc không thanh toán hoặc không chấp nhận.

    Bất cứ các chi phí và hoặc lệ phí của các ngân hàng có liên quan đến kháng nghị đó hoặc các tố tụng pháp lý khác sẽ bên gửi chỉ thị nhờ thu phải gánh chịu.

    ĐIỀU 25: Người đại diện khi cần thiết

    Nếu người nhờ thu chỉ định một người đại diện khi cần thiết phòng trường hợp không thanh toán và hoặc không chấp nhận thanh toán thì quyền hạn của người đại diện phải được ghi rõ trong bản chỉ thị nhờ thu, nếu không, các ngân hàng không chấp nhận bất cứ một chỉ thị nào của người này.

    ĐIỀU 26. Thông báo

    Các ngân hàng thu cần thông báo sự kiện theo các quy định sau:

    1. Hình thức thông báo

    Mọi thông báo hoặc thông tin từ ngân hàng thu gửi đến ngân hàng đã gửi chỉ thị nhừ thu trong mọi trường hợp đều phải ghi mọi chi tiết thích đáng bao gồm số tham chiếu của ngân hàng gửi lệnh nhờ thu đã được ghi trong chỉ thị nhờ thu.

    b.Phương pháp thông báo

    Ngân hàng chuyển sẽ có trách nhiệm chỉ dẫn ngân hàng thu về phương pháp thông báo được nói rõ trong mục (c) 1, (c) 2, và (c) 3 dưới đây. Nếu không có chỉ dẫn này thì ngân hàng thu sẽ gửi những thông báo tương ứng bằng phương pháp tự chọn với chi phí của ngân hàng gửi chỉ thị nhờ thu.

    c.1. Thông báo thanh toán

    Ngân hàng thu phải lập tức gửi thông báo về thanh toán đến ngân hàng đã gửi bản chỉ thị nhờ thu, nói rõ số tiền hoặc các số tiến thu được, các chi phí và/hoặc tiền ứng chi và hoặc các lệ phí đã khấu trừ, nếu có, và phương pháp chuyển tiền còn lại.

    c.2. Thông báo việc chấp nhận thanh toán

    Ngân hàng thu phải lập tức gửi thông báo về việc chấp nhận thanh toán cho ngân hàng đã gửi bản chỉ thị nhờ thu tới.

    c.3. Thông báo việc không thanh toán hay/ và không chấp nhận thanh toán

    Ngân hàng xuất trình cần tìm ra lý do của việc này không thanh toán khác và/hoặc không chấp nhận thanh toán và thông báo ngay cho ngân hàng đã gửi bản chỉ thị nhờ thu.

    Ngân hàng xuất trình phải gửi ngay thông báo không thanh toán và/hoặc thông báo không chấp nhận thanh toán cho Ngân hàng đã gửi chỉ thị nhờ thu.

    Khi nhận được thông báo này, ngân hàng chuyển phải có chỉ thị thích hợp về việc tiếp tục xử lý các chứng từ. Nếu sau 60 ngày kể từ khi gửi thông báo về việc không thanh toán và/hoặc không chấp nhận thanh toán mà ngân hàng xuất trình vẫn không nhận được những chỉ thị nói trên thì các chứng từ sẽ được chuyển trả lại ngân hàng đã gửi đến, ngân hàng xuất trình sẽ không chịu trách nhiệm gì thêm.

     

     

    TẬP QUÁN NGÂN HÀNG TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM TRA CHỨNG TỪ THEO THƯ TÍN DỤNG PHÁT HÀNH SỐ 681 (ISBP 681 2007 ICC)

    1. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG………………………………………………………………………………………………………………………………… 48
    2. HỐI PHIẾU VÀ CÁCH TÍNH NGÀY ĐÁO HẠN………………………………………………………………………………………………………. 50

    III. HÓA ĐƠN………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….. 51

    1. CHỨNG TỪ VẬN TẢI DÙNG CHO ÍT NHẤT HAI PHƯƠNG THỨC VẬN TẢI KHÁC NHAU………………………….. 52
    2. VẬN TẢI ĐƠN THEO HỢP ĐỒNG THUÊ TÀU………………………………………………………………………………………………………. 54
    3. CHỨNG TỪ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG……………………………………………………………………………………………………………………. 56

    VII.CÁC CHỨNG TỪ VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT VÀ ĐƯỜNG SÔNG………………………………………………………. 57

    VIII. TÌM HIỂU VỀ CHỨNG TỪ BẢO HIỂM………………………………………………………………………………………………………………. 58

    1. GIẤY CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ…………………………………………………………………………………………………………………………….. 59


    TẬP QUÁN NGÂN HÀNG TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM TRA CHỨNG TỪ THEO THƯ TÍN DỤNG PHÁT HÀNH SỐ 681 (ISBP 681-2007 ICC)

    1. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG
    2. Các chữ viết tắt:

    “LtD”  – “Limited”

    “IntL” – “International”

    “Co.”   – “Company”

    “kgs”   – “Kilos”

    “Ind”   – “Industry”

    “mfr”   – “manufacturer”

    “mt”    – “metric tons”

    1. Những chứng nhận và lời khai

    Một sự chứng nhận và lời khai hoặc các từ tương tự có thể là:

    -Một chứng từ riêng biệt

    -Một sự chứng nhận hoặc lời khai trong chứng từ khác do thư tín yêu cầu.

    1. Những sửa chữa và thay đổi
    2. Những sửa chữa và thay đổi hoặc số liệu trong chứng từ mà không phải do người thụ hưởng tạo lập thì phải có xác nhận của người phát hành chứng từ hoặc người được phát hành ủy quyền thực hiện. Đồng thời việc xác nhận, chứng thực đó phải thể hiện rõ chữ ký, tên của người tiến hành chứng thực; nếu không phải chỉ rõ tư cách của người chứng thực đó.
    3. Nếu những sửa chữa và thay đổi trong các chứng từ do bản thân người thụ hưởng phát hành thì không phải chứng thực, xác nhận (trừ hối phiếu).
    4. Nếu một chứng từ có nhiều sửa chữa và thay đổi thì có thể xác nhận một cách riêng lẻ hoặc là xác nhận chung gắn liền với các sửa chữa tương ứng.
    5. Ngày tháng
    6. Các hối phiếu, chứng từ vận tải, các chứng từ bảo hiểm đều phải ghi rõ ngày tháng. Ngoài ra các chứng từ khác có yêu cầu ghi ngày thàng hay không sẽ phụ thuộc vào tính chất và nội dung chúng từ đó.
    7. Tùy thuộc vào Thư tín dụng yêu cầu một chứng từ xác minh việc giám định trước khi giao hàng hay sau khi giao hàng mà các chứng từ bao gồm: giấy chứng nhận phân tích, giấy chứng nhận giám định phải chỉ rõ ra công việc giám định được thực hiện trước, trong hay sau ngày giao hàng.
    8. Nếu ngày tạo lập sớm hơn ngày ký thì ngày ký được coi là ngày xác nhận chứng từ.
    9. Từ “ within” khi dùng liên quan đến một ngày không bao gồm ngày đó trong thanh toán kỳ hạn.
    10. Các ngày tháng có thể diễn giải theo các hình thức khác nhau.Ví dụ: the 12th of November 2007, 12 Nov 2007,…
    11. Các chứng từ mà các điều kiện về vận tải trong UCP 600 không điều chỉnh
    12. Một số chứng từ có liên quan đến vận tải hàng hóa như: Lệnh giao hàng, biên lai nhận hàng của người giao nhận,… nhưng không phải là chứng từ đề cập trong các điều từ 19 đến 25 của UCP 600 thì sẽ được kiểm tra theo cách thức chung như các chứng từ khác mà UCP 600 không có điều chỉnh.
    13. Các bản sao các chứng từ vận tải không được coi như chứng từ vận tải thực sự trong các Điều 19 – 25 và 14(c) của UCP 600. Nếu như Thư tín dụng chấp nhận các bản sao thì Thư tín dụng đó phải quy định chi tiết rõ ràng.
    14. Các thuật ngữ không được định nghĩa trong UCP 600

    Theo tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế:

    1. “Chứng từ gửi hàng” là tất cả các chứng từ do Thư tín dụng yêu cầu(trừ Hối phiếu).
    2. “Các chứng từ đến chậm có thể chấp nhận” là chứng từ xuất trình sau 21 ngày dương lịch kể từ ngày giao hàng nhưng phải xuất trình không muộn hơn ngày hết hạn xuất trình quy định trong Thư ín dụng.
    3. “Chứng từ bên thứ ba có thể chấp nhận” là tất cả các chứng từ kể cả hóa đơn, trừ hối phiếu có thể ký phát bởi một bên mà bên đó không phải người thụ hưởng. Nếu ý định của ngân hàng phát hành là cho phép chứng từ vận tải có thể thể hiện người gửi hàng mà không phải là người thụ hưởng thì điều khoản này không cần thiết bởi vì Điều khoản 14(k) UCP 600 đã cho phép.
    4. “Nước xuất khẩu” là nước mà tại đó người thụ hưởng cư trú hoặc là nước xuất xứ của hàng hóa, hoặc là nước mà người chuyên chở nhận hàng hoặc là nước mà tại đó hàng được gửi đi.
    5. Người phát hành chứng từ

    Tùy theo yêu cầu của Thư tín dụng rằng có hay không: một chứng từ là phải do một tổ chức hay một cá nhân đích danh phát hành. Nếu có thì nó được thể hiện bằng cách: sử dụng tiêu đề trên chứng từ, hay chứng từ phải thể hiện là đã được lập hoặc ký bởi hoặc thay mặt tổ chức hoặc cá nhân đích danh đó.

    1. Ngôn ngữ

    Các chứng từ do người thụ hưởng phát hành phải bằng ngôn ngữ của Thư tín dụng. Nếu Thư tín dụng quy định có thể chấp nhận hai hay nhiều ngôn ngữ thì ngân hàng chỉ định khi thông báo Thư tín dụng có thể hạn chế số lượng ngôn ngữ có thể chấp nhận như là một điều kiện cam kết trong Thư tín dụng hoặc xác nhận.

    1. Tính toán

    Các ngân hàng chỉ có nghĩa vụ kiểm tra tổng giá trị so với Thư tín dụng và chứng từ khác.

    1. Lỗi chính tả hoặc đánh máy

    Nếu lỗi chính tả hoặc đánh máy không làm ảnh hưởng đến nghĩa của từ hoặc của câu thì có thể chấp nhận được. Ví dụ : “mashine” thay vì “machine”, “foutain pen” thay vì “fountain pen”… Nhưng “model 123” thay vì “model 321” thì không được.

    1. Các chứng từ nhiều trang và kèm theo hoặc các phụ lục
    2. Trừ khi Thư tín dụng quy định hoặc một chứng từ quy định khác, các trang được gắn kết tự nhiên với nhau, đánh số liên tiếp nhau hoặc phải có chỉ dẫn tham khảo bên trong. Nếu chứng từ có nhiều trang, thì nó phải có khả năng xác nhận các trang đó là bộ phận của cùng một chứng từ.
    3. Nếu Thư tín dụng hoặc bản thân chứng từ không quy định nơi phải ký hoặc ký hậu trên chứng từ gồm nhiều trang thì thông thường chữ ký phải ở trên trang đầu hoặc trang cuối của chứng từ.
    4. Bản gốc và bản sao
    5. Các chứng từ được phát hành hơn một bản gốc trên bề mặt có thể ghi chú: “Bản gốc đầu tiên”, “Hai bản gốc như nhau”, “Bản gốc thứ nhất”, …
    6. Số lượng bản gốc xuất trình ít nhất phải bằng số lượng mà Thư tín dụng yêu cầu, hoặc nếu chứng từ tự chỉ rõ phát hành bao nhiêu bản gốc thì số lượng phải bằng số lượng đã ghi trên chứng từ.
    7. Nếu Thư tín dụng không yêu cầu rõ ràng bản gốc hay bản sao thì có thể hiểu như một số trường hợp sau:

    – “Hóa đơn”, “Một hoá đơn” hoặc “Hóa đơn một bản” thì phải hiểu là yêu cầu một bản gốc hóa đơn.

    – “Hóa đơn 4 bản” thì phải hiểu ít nhất 1 bản gốc hóa đơn và số còn lại là bản sao.

    – “Một bản hóa đơn” thì phải hiểu hoặc là một bản sai, hoặc là một bản gốc hóa đơn.

    1. Trong trường hợp bản gốc không được chấp nhận để thay cho một bản sao, thì Thư tín dụng phải cấm dùng bản gốc.
    2. Các bản sao của chứng từ không cần thiết phải ký.
    3. Ký mã hiệu
    4. Nếu Thư tín dụng quy định chi tiết về ký mã hiễu thì các chứng từ đề cập để ký mã hiệu phải ghi những chi tiết đó, nhưng thông tin bổ sung có thể chấp nhận, miễn là nó không mâu thuẫn với các điều khoản của Thư tín dụng.
    5. Nếu chứng từ vận tải sử dụng trong vận chuyển hàng hóa bằng container đôi khi chỉ ghi số container dưới đầu đề “ký mã hiệu”. Các chứng từ khác lại ghi mã hiệu chi tiết thì điều này cũng không coi là có sự mâu thuẫn, có thể chấp nhận được.
    6. Các chữ ký
    7. Các hối phiếu, các giấy chứng nhận, các tờ khai, các chứng từ vận tải và chứng từ bảo hiểm đều phải được ký phù hợp với quy định của UCP 600.
    8. Nếu nội dung của một chứng từ chỉ ra rằng phải ký thì mới có giá trị thì chứng từ phải được ký.
    9. Chữ ký có thể bằng tay, bằng Fax, bằng đục lỗ, bằng đóng dấu, bằng ký hiệu hoặc bằng bất kỳ phương tiện điện tử hay cơ khí chân thực nào đều có giá trị.
    10. Chữ ký trên tờ giấy có tiêu đề của công ty sẽ được coi là chữ ký của chính công ty đó, trừ khi có quyết định khác. Tên công ty không cần thiết phải nhắc lại bên cạnh chữ ký.
    11. Tên của các chứng từ và chứng từ kết hợp
    12. Các chứng từ có thể được đặt tên theo yêu cầu của Thư tín dụng, mang 1 tên tương tự hoặc không có tên và nội dung của nó phải thể hiện được chức năng của chứng từ.
    13. Các chứng từ được liệt kê trong Thư tín dụng phải được xuất trình như các chứng từ riêng biệt.

     

    1. HỐI PHIẾU VÀ CÁCH TÍNH NGÀY ĐÁO HẠN
    2. Thời hạn
    • Thời hạn: Phải phù hợp với các điều kiện trong L/C.
    1. Nếu một hối phiếu được ký phát có thời hạn, thì ngày đáo hạn của nó phải được xác định từ bản thân hối phiếu đó.
    2. Nếu L/C quy định hối phiếu có thời hạn 60 ngày kể từ ngày vận tải đơn. Nếu ngày vận tải đơn là 7/7/2007, thì thời hạn

    -60 ngày sau ngày vận tải đơn 7/7/2007

    -60 ngày sau ngày 7/7/2007

    -5/9/2007

    +…\

    1. c) Nếu Thời hạn là xxx ngày sau ngày vận tải đơn thì ngày hang bốc lên tàu được coi là ngày vận tải đơn, ngay cả khi ngày bốc hàng lên tàu là trước hoặc sau ngày vận tải đơn.
    2. d) Cách tính ngày đáo hạn là ngày tiếp theo, ví dụ 10 ngày sau ngày 1/3 là ngày 11/3.
    3. e) Nếu một vận tải đơn thể hiện nhiều ghi chú bốc hàng lên tàu xuất trình theo một L/C yêu cầu hối phiếu ký phát, ví dụ 60 ngày sau ngày vận tải đơn, thì ngày sớm nhất được dùng để tính ngày đáo hạn. Vd:L/C yêu cầu giao hàng ở cảng ở Việt Nam, và vận tải đơn ghi chú hàng đã bốc lên tàu A từ cảng Nhơn Trạch (Đồng Nai) ngày 1/5 và lên tàu B ở cảng Hải Phòng ngày 15/5, thì hối phiếu sẽ được tính là 60 ngày sau ngày 1/5.
    4. f) Nếu L/C yêu cầu hối phiếu ký phát và nhiều bộ vận đơn được xuất trình theo một hối phiếu, thì ngày vận tải đơn cuối cùng được dung để tính ngày đáo hạn.
    • Các chứng từ vận tải khác cũng áp dụng nguyên tắc như vậy.
    1. Ngày đáo hạn
    • Nếu một hối phiếu quy định ngày đáo hạn là một ngày cụ thể thì nó phải phù hợp trong L/C.
    • Nếu một hối phiếu được ký phát xxx ngày sau ngày xuất trình:
    1. a) Chừng từ phù hợp hay không phù hợp nhưng ngân hàng trả tiền không thông báo từ chối, thì Ngày đáo hạn là xxx ngày từ ngày ngân hàng này nhận được chứng từ.
    2. b) Nếu ngân hàng trả tiền từ chối và sau đó chấp nhận thì Ngày đáo hạn là xxx ngày là muộn nhất sau ngày ngân hàng này chấp nhận hối phiếu.
    • Ngân hàng trả tiền phải thông báo ngày đáo hạn cho người xuất trình, việc tính Ngày đáo hạn cũng sẽ áp dụng với L/C thanh toán về sau.
    1. Ngày ngân hàng, ngày gia hạn, chuyển tiền chậm.
    • Việc thanh toán phải được thực hiện ngay vào ngày đến hạn tại nơi mà hối phiếu hoặc các chứng từ đòi tiền, miễn là trong ngày làm viêc của ngân hàng, nếu ngoài thì sẽ là ngày làm việc đầu tiên sau ngày đến hạn.
    1. Ký hậu

    Hối phiếu phải được ký hậu nếu cần thiết.

    1. Số tiền

    Tên bằng chữ và số phải bằng nhau, ghi bằng đơn vị tiền tệ trong L/C.

    Phù hợp với hóa đơn, nếu lớn hơn thì phải có sự đồng ý giữa các bên liên quan

    1. Hối phiếu được ký phát như thế nào

    Hối phiếu phải được ký phát đòi tiền bên đã được quy định trong L/C

    Người thụ hưởng ký phát.

    1. Hối phiếu đòi tiền người yêu cầu
    2. Các sữa chữa và thay đổi

    Sữa chữa và thay đổi nếu có thì phải được người ký phát ký xác nhận

    Nếu ngân hàng ghi chú trong L/C về việc không cho phép sữa chữa trong L/C thì việc sữa chữa và thay đổi không được chấp nhận ngay cả khi được người ký phát xác nhận.

     

    III. HÓA ĐƠN

    1. Định nghĩa

    Một Thư tín dụng yêu cầu 1 “hóa đơn” mà không giải thích thêm thì bất cứ các loại hóa đơn nào xuất trình đều có thể đáp ứng yêu cầu. Ví dụ: hóa đơn thương mại, hóa đơn hải quan, … Tuy nhiên hóa đơn “tạm thời”, “chiếu lệ” hoặc tương tự là không được chấp nhận.

    1. Mô tả hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện và những yêu cầu chung có liên quan đến hóa đơn.

    Mô tả hàng hóa dịch vụ và các thực hiện trong hóa đơn phải phù hợp với mô tả trong Thư tín dụng.

    Mô tả hàng hóa dịch vụ và các thực hiện trong hóa đơn phải phản ánh hàng hóa nào thực sự đã được giao hoặc đã được cung ứng. 1 hóa đơn mô tả toàn bộ hàng hóa như qui định trong Thư tín dụng sau đó ghi rõ là nhưng hàng nào đã được giao, cũng có thể chấp nhận được.

    Một hóa đơn phải kê khai giá trị hàng hóa đã giao hoặc dịch vụ hoặc các thực hiện đã được cung ứng. Đơn giá, nếu có, và đồng tiền ghi trong hóa đơn phải phù hợp với đồng tiền trong Thư tín dụng. Hóa đơn phải thể hiện mọi chiết khấu và giảm giá đã được yêu cầu trong thư tín dụng.

    Nếu điều kiện thương mại là 1 bộ phận của mô tả hàng hóa trong Thư tín dụng hoặc được ghi gắn liền với số tiền, thì hóa đơn phải ghi rõ điều kiện thương mại đó và nếu mô tả hàng hóa chỉ ra nguồn của các điều kiện thương mại, thì nó phải chỉ rõ nguồn của các thương mại đó.

    Trừ khi Thư tín dụng yêu cầu, hóa đơn không cần thiết phải ký và ghi ngày.

    Số lượng, trọng lượng và thể tích hàng hóa kê khai trong hóa đơn không mâu thuẫn với kê khai trong chứng từ khác.

    Hóa đơn không được thực hiện:Nếu giao hàng hóa vượt quá hoặc không được yêu cầu trong Thư tín dụng. Ví dụ: hàng mẫu, vật phẩm quảng cáo thì hóa đơn không được thể hiện điều đó, ngay cả khi nói rõ là miễn phí.

    Số lượng hàng hóa yêu cầu trong thư tín dụng có thể thay đổi trong 1 dung sai +/- 5% (ngoại trừ những Thư tín dụng qui định số lượng không được tăng hoặc giảm; hoặc đơn vị tính là bao, gói …). Một sự thay đổi tăng lên +5% về số lượng hàng hóa không cho phép số tiền thanh toán vượt quá số tiền của Thư tín dụng.

    Ngay cả khi cấm giao hàng từng phần, thì dung sai kém 5% trên số tiền của hóa đơn là được chấp nhận. Nếu Thư tín dụng không qui định số lượng thì hóa đơn coi như thanh toán cho toàn bộ số lượng.

    Nếu Thư tín dụng yêu cầu giao hảng nhiều lần thì mỗi lần giao hàng phải phù hợp với lịch trình giao hàng.

    1. CHỨNG TỪ VẬN TẢI DÙNG CHO ÍT NHẤT HAI PHƯƠNG THỨC VẬN TẢI KHÁC NHAU

    Áp dụng điều 19 UCP 600

    Phần này cho biết:

    Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau gọi là Chứng Từ Vận Tải Liên Hợp hoặc Đa Phương Thức; chỉ rõ rằng nó dùng để chuyên chở hàng từ nơi nhận hàng để chở hoặc từ cảng biển, sân bay hoặc từ nơi xếp hàng tới nơi đến cuối cùng quy định trong Thư tín dụng. Nếu một Thư tín dụng yêu cầu xuất trình chúng từ này thì sẽ áp dụng Điều 19 UCP 600. Khi đó, trong chứng từ không cần phải đề cập đến phương tiện vận tải chở nhưng cấm không được ghi là việc giao hàng chỉ do một phương thức vận tải thực hiện.

    Thuật ngữ “chứng từ vận tải đa phương thức” và thuật ngữ “chứng từ vận tải liên hợp” là như nhau.

    Một chứng từ không cần phải có tiếu đề “chứng từ vận tải đa phương thức” hoặc “chứng từ vận tải liên hợp” theo Điều 19 UCP 600.

    Bộ đầy đủ các bản gốc

    Điều 19 UCP 600 có quy định số lượng các bản gốc phát hành:

    Các chứng từ vận tải có ghi chú “Bản gốc thứ nhất”, “Bản gốc thứ hai”, “Bản gốc thứ ba”, “Bản gốc đầu tiên”, “Hai bản gốc như nhau”, “Ba bản gốc như nhau” v.v… hoặc các ghi chú tương tự đều là các bản gốc.

    Chứng từ vận tải đa phương thức không cần thiết phải có chữ “Original” mới được chấp nhận theo Thư tín dụng.

    Ký chứng từ vận tải đa phương thức

    Mục 19 (a) (i) UCP 600 quy định các bản gốc của chứng từ vận tải đa phương thức phải được ký bởi người chuyên chở đã được nhận biết. Người chuyên chở có thể là:

    Đại lý thay mặt cho người chuyên chở ký chứng từ vận tải đa phương thức: phải được nhận biết là người đại lý và phải nói rõ là ký thay mặt ai, nếu người chuyên chở đã được nhận biết ở nơi nào khác trên chứng từ thì không cần ghi.

    -Thuyền trưởng ký chứng từ vận tải đa phương thức: chữ ký phải được nhận biết là của thuyền trưởng và không cần phải ghi tên của thuyền trưởng.

    -Đại lý thay mặt thuyền trưởng ký chứng từ vận tải đa phương thức: đại lý phải được nhận biết là đại lý và không cần phải ghi tên của thuyền trưởng.

    Nếu một Thư tín dụng quy định “Chứng từ vận tải đa phương thức của người giao nhận là có thể chấp nhận” thì chứng từ này có thể do người giao nhận ký với tư cách của người giao nhận mà không cần thiết phải ghi là đại lý cho người chuyên chở đích danh và không cần thiết phải ghi tên của người chuyên chở.

    Những ghi chú đã bốc hàng:

    Phần này quy định ngày giao hàng và các ghi chú trên chứng từ

    Thông thường ngày phát hành chứng từ vận tải đa phương thức sẽ được coi là ngày gửi hàng, ngày nhận hàng để chở hoặc ngày bốc hàng lên tàu trừ khi có ghi chú riêng biệt về ngày gửi hàng, nhận hàng để chở hoặc bốc hàng  lên tàu từ một địa điểm quy định trong Thư tín dụng và trong trường hợp này ngày bốc hàng lên tàu sẽ được coi là ngày giao hàng dù ngày này có thể xảy ra hay không xảy ra trước hoặc sau ngày phát hành chứng từ.

    Trên chứng từ, nếu có ghi là: “Hàng đã bốc lên tàu nhìn bề ngoài ở trong điều kiện tốt”, “Đã bốc hàng lên tàu”, “Hàng đã bốc hoàn hảo” hoặc các cụm từ nào có từ “đã bốc”, “trên tàu” thì đều có nghĩa là “đã bốc hàng lên tàu”

    Nơi nhận hàng để chở, gửi hàng, bốc hàng lên tàu và nơi đến

    Khi Thư tín dụng quy định rằng: nơi nhận hàng để chở, gửi hàng, bốc hàng lên tàu và nơi đến là một khu vực địa lý ví dụ như bất kì cảng Châu Âu nào thì chứng từ vận tải đa phương thức phải ghi rõ địa điểm cụ thể mà địa điểm đó phải nằm trong khu vực địa lý hoặc trong loạt các cảng đã được quy định trong Thư

    Người nhận hàng, bên ra lệnh, người gửi hàng và ký hậu, bên thông báo

    Nếu Thư tín dụng yêu cầu:

    Hàng hóa phải được giao cho một người được chỉ định  hay còn gọi là giao hàng đích danh ví dụ “Giao cho Ngân hàng X” thì chúng từ vận tải đa phương thức không cần có chữ: “Theo lệnh”hoặc “Theo lệnh của” đứng trước tên của người được chỉ định ví dụ “Giao theo lệnh của Ngân hàng X”

    Hàng hóa được giao “Theo lệnh”hoặc “Theo lệnh của” một người được chỉ định ví dụ “Theo lệnh của Ngân hàng X” thì chúng từ vận tải đa phương thức không được ghi là giao hàng hóa cho người được chỉ định ví dụ “Giao cho Ngân hàng X”

    Người gừi hàng hoặc một người nhân danh người gửi hàng phải ký hậu chúng từ vận tải đa phương thức nếu nó được phát hành theo lệnh của người gửi hàng.

    Nếu Thư tín dụng không quy định vế việc thông báo cho ai thì ô thông báo trên chứng từ vận tải đa phương thức có thể để trống hoặc tìm mọi cách để điền vào

    Chuyển tải và giao hàng từng phần

    Trong vận tải đa phương thức chuyển tải sẽ xảy ra vì phải dở hàng xuống rồi lại phải bốc lên từ phương tiện vận tải này sang phương tiện khác trong suốt hành trình vận chuyển.

    Nếu trong L/C cấm giao hàng từng phần có nhiều bộ chứng từ vận tải đa phương thức thực hiện việc bốc hàng, gửi hàng và nhận hàng để chở từ một nhiều nơi xuất phát được xuất trình (do có sự cho phép hay L/C quy định thì các chứng từ đó sẽ được chấp nhận, miễn là nó chứng minh được là hàng hóa trên cùng một phương tiện vận chuyển, cùng một hành trình chuyên chở và cùng nơi đến. Nếu chúng có ngày giao hàng, gửi hàng, nhận hàng để chở khác nhau thì thời hạn xuất trình chứng từ là ngày muộn nhất trong các ngày đó.

    Khi giao hàng trên nhiều phương tiện vận tải thì đó là giao hàng từng phần, cho dù chúng xuất phát cùng ngày và chở đến cùng một nơi

    Chứng từ vận tải đa phương thức hoàn hảo

    Nếu ghi chú về tình trạng khuyết tật của hàng hóa, bao bì trên các chứng từ vận tải đa phương thức là điều không thể chấp nhận, ví dụ như bao bì không phù hợp cho hành trình là không được. Nhưng khi bạn ghi là bao bì có thể không phù hơp cho vận chuyển thì có thể chấp nhận.

    Nếu từ “Hoàn hảo” trên chứng từ bị xóa đi, thì điều đó không nghĩa là đó là ghi chú hay không hoàn hảo, trừ khi nó có điều khoản hay ghi chú nói rõ là hàng hóa hay bao bì có khuyết tật

    Mô tả hàng hóa

    Mô tả hàng hóa trên chứng từ vận tải đa phương thức có thể chung chung, miễn là không mâu thuẩn với L/C

    Những sửa chữa và thay đổi

    Những sửa chữa hay thay đổi trên chứng từ phải có xác nhận và phải do người chuyên chở hoặc bất cứ một đại lí nào đó của họ thực hiện (người này có thể khác với người đại lí đã phát hành hay kí chứng từ vận tải đa phương thức), miễn là họ phải thể hiện rõ họ là người đại lí của thuyền trưởng hay của người chuyên chở.

    Các bản sao mà có sự sửa đổi thì không cần xác nhận khi đã thực hiện trên bản gốc

    Cước phí và phụ phí

    Khi L/C yêu cầu chứng từ vận tải đa phương thức ghi rõ cước phí đã trả hay sẽ trả tại cảng đến thì chứng từ phải thực hiện.

    Những người yêu cầu hay các ngân hàng phát hành phải yêu cầu rõ chứng từ phải thể hiện cước phí phải trả trước hay sẽ thu sau

    Khi L/C không chấp nhận các phụ phí thì chứng từ không được ghi là phụ phí đã hay sẽ thanh toán, ngay cả việc dùng các thuật ngữ giao hàng mà nó liên quan tới các chi phí xếp dở hàng hóa: miễn xếp( FI), miễn xếp dở và sắp xếp( FIOS). Còn khi đề cập các chi phí do dở hàng chậm hay phát sinh sau khi hàng hóa đã được dở xuống như chi phí do trả container chậm thì không được xem là phụ phí

    Hàng hóa được cấp nhiều chứng từ vận tải đa phương thức

    Nếu một chứng từ có ghi là hàng đóng trong container ngoài chứng từ này thì còn nhiều chứng từ khác và phải được giao (hoặc các từ tương tự) thì phải xuất trình cùng lúc theo cùng một L/C để giải tỏa container. Nếu không thì sẽ không được chấp nhận.

    1. VẬN TẢI ĐƠN THEO HỢP ĐỒNG THUÊ TÀU

    1/Áp dụng điều 22 UCP

    Áp dụng điều 22 UCP 600 trong trường hợp:

    Khi hợp đồng vận tải yêu cầu xuất trình vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu

    Khi L/C cho phép xuất trình vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu và vận tải dơn theo hợp đồng thuê tàu được xuất trình.

    Một chứng từ vận tải chỉ ra là nó phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu thì nó là vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu tuân theo điều 22-UCP 600.

    2/ /Điều khoản:vận tải theo hợp đồng thuê tàu phải gồm một bộ đầy đủ các bản gốc

    Các bản gốc có thể được ghi chú là “Bản gốc thứ nhất”, “Bản gốc thứ 2”, “Hai bản gốc như nhau”, “Ba bản gốc như nhau”… hoặc các ghi chú tương tự.

    Không nhất thiết trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải có chữ “Original” mới được chấp nhận theo L/C.

    3//Điều khoản về ký vận đơn theo hợp đồng thuê tàu

    Bản gốc của một vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải có chữ ký theo hình thức quy định tại điều 22-UCP 600.

    Nếu vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu được ký bởi thuyền trưởng, người thuê tàu hoặc chủ tàu thì chữ ký phải được xác nhận là của những người này.

    Nếu vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu được ký bởi một đại lý thay mặt thuyền trưởng,người thuê tàu, chủ tàu thì đại lý đó phải được nhận biết: không cần ghi tên của thuyền trưởng nhưng tên người thuê tàu hoặc chủ tàu thì phải được ghi ra.

    4//Điều khoản về ghi chú đã bốc hàng lên tàu

    Nếu trên vận tải đơn theo hợp đồng thê tàu ghi “Đã bốc hàng” thì ngày phát hành vận đơn được coi là ngày giao hàng, trừ khi trên vận đơn đã có ghi chú về hàng đã bốc thì ngày trong ghi chú về hàng đã bốc đó được coi là ngày giao hàng.

    Có nhiếu cách diễn tả “Đã bốc hàng lên tàu”, như “Hàng đã bốc lên tàu nhìn bề ngoài trong điều kiện tốt”, hay “Hàng đã bốc lên tàu”, “Đã bốc”… và các cách diễn đạt tương tự.

    5//Điều khoản về cảng bốc và cảng dỡ

    Nếu L/C quy định về một khu vực địa lý, một cảng bốc hoặc một cảng dỡ cụ thể thì vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải ghi cảng bốc hàng thực tế mà phải nằm trong khu vực địa lý hoặc trong trong dãy các cảng đã được nêu, nhưng có thể nêu các cảng là cảng dỡ hàng hoặc có thể ghi theo khu vực địa lý

    6/Điều khoản về người nhận hàng, bên ra lệnh, người gửi hàng và ký hậu, bên thông báo

    Nếu L/ C yêu cầu một vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu ghi hàng hóa được giao cho một bên đích danh thì vận đơn theo hợp đồng thuê tàu không được ghi từ “Theo lệnh”, hoặc “Theo lệnh của” trước tên bên đích danh đó. Tương tự, nếu L/C quy định hàng hóa được giao “Theo lệnh”, “Theo lệnh của” thì không được ghi hàng hóa giao trực tiếp cho bên đích danh trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu.

    Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải được gửi hàng ký hậu nếu nó được phát hành theo lệnh, hoặc theo lệnh của người gửi hàng.(việc ký hậu cho thấy có thể cho phép thay mặt người gửi hang)

    Nếu L/C không ghi rõ tên người thông báo thì ô bên Thông báo trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu có thể để trống hoặc điền vào tùy ý cách.

    7/Điều khoản về vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu hoàn hảo

    Các điều khoản hoặc ghi chú trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu:

    Tuyên bố một cách rõ ràng về tình trạng khuyết tật của hàng hóa  hoặc bao bì là không thể chấp nhận.

    Không tuyên bố rõ ràng về tình trạng khuyết tật của bao bì thì không coi là có sai biệt.

    Tuyên bố rằng: “Bao bì không thích hợp chovận chuyển đường biển” thì không thể chấp nhận.

    Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu sẽ không được coi là hoàn hảo nếu từ “Hoàn hảo” ghi trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu và bị xóa đi, trừ khi có một điều khoản hoặc ghi chú nói rõ rằng hàng hóa hoặc bao bì có khuyết tật.

    8/Điều khoản về giao hàng từng phần

    Giao hàng trên nhiều con tàu gọi là giao hàng từng phần, ngay cả khi các tàu này khởi hành cùng một ngày để đến cùng một cảng đến.

    Nếu L/C cấm giao hàng từng phần và có nhiều vận tải đơn gốc được xuất trình cho lô hàng từ một hay nhiều cảng bốc hàng cho phép đặc biệt trong khu vực địa lý hoặc các loạt cảng quy định trong L/C với điều kiện là chúng dùng cho việc giao hàng trên một con tàu, cùng một hành trình, cùng một cảng dỡ hàng, loạt càng dỡ hàng hoặc khu vực địa lý.

    Nếu có nhiều ngày giao hàng khác nhau của nhiều bộ vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu được xuất trình thì ngày giao hàng muộn nhất trong các ngày đó sẽ dược dùng để tính bất cứ thời hạn xuất trình nào (ngày đó phải xảy ra hoặc trước ngày giao hàng muộn nhất quy định trong L/C).

    9/Điều khoản về mô tả hàng hóa

    Những mô tả hàng hóa trên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu phải được miêu tả không mâu thuẫn với những miêu tả trong L/C.

    10/Điều khoản về sửa chữa và thay đổi

    Những sữa chữa và thay đổi trên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu phải được xác nhận, do người chủ tàu, người thuê tàu, thuyền trưởng hoặc bất cứ đại lý nào của họ.

    Không cần phải xác nhận những thay đổi hoặc sửa chữa có thể đã được thể hiện trên bản gốc lên các bản sao vận đơn.

    11/Điều khoản về cước phí và phụ phí:

    Nếu L/c quy định vận đơn theo hợp đồng thuê tàu phải ghi cước phí đã trả hoặc sẽ trả tại cảng đến thì trên vận đơn đó phải ghi cho phù hợp

    Đối với các chứng từ trả trước hoặc sẽ thu sau phải có quy định rõ ràng của người yêu cầu và các ngân hàng phát hành.

    Không được ghi các phụ phí lên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu nếu L/C quy định không chấp nhận các phụ phí, các phụ phí này đề cập đến chi phí gắn liền với việc xếp dỡ hàng hóa như miễn xếp, miễn dỡ, miễn xếp dỡ, và sắp xếp.(các chi phí được đề cập trên chứng từ vận tải do dỡ hàng chậm hoặc chi phí sau khi dỡ hàng không được coi là phụ phí theo nghĩa này.

     

    1. CHỨNG TỪ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG

    Chứng từ vận tải hàng không là chứng từ được dùng để chuyên chở từ sân bay đến sân bay và được quy định ở điều 23 UCP 600.

    Nội dung của chứng từ vận tải hàng không

    1. Tiêu đề: “Vận tải đơn hàng không” hoặc “Giấy gửi hàng hàng không” hoặc tương tự

    Có thể không cần ghi tiêu đề.

    Chứng từ vận tải hàng không không phải là giấy chứng nhận quyền sở hữu vì thế không nên phát hành “Theo lệnh” hoặc “Theo lệnh của” bên đích danh, khi xuất trình chứng từ ghi là được giao cho bên đó vẫn được chấp nhận.

    Chứng từ vận tải hàng không phải là bản gốc dành cho người gửi hàng, cho dù thư tín dụng có quy định một bộ đầy đủ bản gốc.

    Các bản sao không cần thiết có bất cứ chữ kí nào của người chuyên chở hoặc đại lí hoặc bất cứ xác nhận những thay đổi hoặc sữa chữa nào đã được thực hiện trên bản gốc chứng từ vận tải hàng không.

    1. Chứng từ vận tải hàng không chỉ rõ tên của người chuyên chở và được kí bởi người chuyên chở hoặc đại lí đích danh cho hoặc thay mặt người chuyên chở.

    Trường hợp thư tín dụng tuyên bố “Chấp nhận vận tải đơn hàng không gom hàng” hoặc “Chấp nhận vận tải đơn hàng không của người giao nhận”, hoặc tương tự thì chứng từ vận tải hàng không có thể được kí bởi người giao nhận với tư cách người giao nhận, không cần nêu là người chuyên chở hoặc đại lí đích danh cho người chuyên chở. Trong trường hợp này cũng không cần thiết ghi tên người chuyên chở.

    1. Chứng từ vận tải hàng không phải ghi rõ hàng hóa được nhận để chuyên chở.
    2. Chứng từ vận tải hàng không phải ghi rõ ngày phát hành. Nếu chứng từ vận tải hàng không không có ghi chú cụ thể về ngày giao hàng thực tế thì ngày phát hành sẽ được tính là ngày giao hàng.
    3. Ghi rõ tên sân bay khởi hành và sân bay đến như quy định của thư tín dụng.

    Có thể xác định các sân bay bằng cách sử dụng các ký hiệu viết tắt của Liên hiệp vận tải hàng không quốc tế IATA.

    1. Mô tả hàng hóa trong chứng từ vận tải hàng không có thể mô tả một cách chung chung không mâu thuẫn những mô tả đó trong thư tín dụng.
    2. Nếu không có dỡ hàng xuống và lại bốc hàng lên giữa hai sân bay trong một hành trình chuyên chở từ sân bay khởi hành đến sân bay đén quy định rong thư tín dụng thì không được xem là chuyển tải.
    3. Giao hàng trên nhiều máy bay bất kể có khởi hành cùng ngày đến cùng một sân bay đến là giao hàng từng phần.
    4. Trong trường hợp có nhiều chứng từ vận tải hàng không được xuất trình có ngày giao hàng khác nhau thì ngày giao hàng muộn nhất trong các ngày này sẽ được dùng để tính toán thời hạn xuất trình và ngày đó phải xảy ra vào trước ngày giao hàng chậm nhất được quy định trong thư tín dụng.
    5. Cước phí vân tải được thể hiện trên chứng từ vận tải hàng không phù hợp với thư tín dụng vào ô riêng biệt in sẵn “Cước phí đã trả” hoặc “Cước phí sẽ thu sau” hoặc một thuật ngữ hay một chỉ dẫn tương tự.

    Phụ phí không bao gồm các chi phí do dỡ hàng chậm hoặc phát sinh sau khi hàng hóa đã được dỡ xuống. Chứng từ vận tải hàng không được thể hiện là phụ phí sẽ có nếu một thư tín dụng quy định là không thể chấp nhận phụ phí.

     

    VII.CÁC CHỨNG TỪ VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT VÀ ĐƯỜNG SÔNG

    Áp dụng điều 24 UCP 600.

    1/ Bản gốc và bản thứ hai của chứng từ vận tải

    Thư tín dụng yêu cầu chứng từ vận tải đường sắt hoặc đường sông thì chứng từ xuất trình đó được xem như một bản gốc (dù nó có ghi là bản gốc hay không).

    Chứng từ vận tải đường bộ phải chỉ ra rằng nó là bản gốc dành cho người gửi,người giao hàng hoặc không có ghi chú là chứng từ gửi cho ai.

    2/ Người chuyên chở, việc ký các chứng từ đường bộ, đường sắt, đường sông

    Người chuyên chở bao gồm:

    -Người chuyên chở phát hành

    -Người chuyên chở kế tiếp

    -Người chuyên chở thực tế

    -Người chuyên chở hợp đồng

    Nếu người chuyên chở hay đại lý thay mặt người chuyên chở đã ký chứng từ vận tải thì “Người chuyên chở” không cần thiết phải thể hiện ở bên chữ ký nếu có thể có cách khác xác minh được người chuyên chở.

    Việc đóng dấu,ký, ghi chú tiếp nhận trên chứng từ vận tải phải chứng minh được là do người chuyên chở đích thực hoặc một đại lý đích danh hoạt động và ký nhân danh người chuyên chở (Phải chỉ ra được năng lực của người chuyên chở).

    3/Các vấn đề khác

    Các chứng từ không phải là chứng từ về quyền sở hữu thì không nên phát hành “Theo lệnh” hoặc “Theo lệnh của” một bên đích danh. Các chứng từ đó có thể ghi hàng hóa giao thẳng cho bên kia.

    Giao hàng từng phần là hình thức giao hàng trên nhiều phương tiện chuyên chở (nhiều ô tô, nhiều tàu hỏa, nhiều tàu sông…) ngay cả khi các phương tiện này khởi hành cùng một ngày và đến cùng một địa điểm giao hàng.

    Hàng hóa có thể được mô tả một cách chung chung, không mâu thuẩn với quy định mô tả hàng hóa trong thư tín dụng.

    Các sửa chữa và thay đổi trên chứng từ vận tải phải đươc xác nhận bởi người chuyên chở hoặc bất cứ đại lý đích danh nào của họ. Đại lý này không phải là người phát hành hoặc ký chứng từ đó.

    Các bản sao không nhất thiết phải có sự xác nhận về việc sửa chữa đã được thay đổi trên bản gốc.

    Chứng từ phải được ghi chú cho phù hợp nếu thư tín dụng yêu cầu phải ghi cước phí đã trả hoặc có thể được trả tại nơi đến.

    Cần phải quy định cụ thể các yêu cầu đối với các chứng từ ghi cước phí phải được trả trước hoặc sẽ thu sau.

    VIII. TÌM HIỂU VỀ CHỨNG TỪ BẢO HIỂM

    1. Khái niệm bảo hiểm và chứng từ bảo hiểm

    Bảo hiểm

    Bảo hiểm là một chế độ cam kết bồi thường về mặt kinh tế trong đó người được bảo hiểm (insured) có trách nhiệm phải đóng một khoảng tiền gọi là phí bảo hiểm (insurance premium) cho đối tượng được bảo hiểm (subject_matter insured) theo các điều kiện bảo hiểm (insurance conditions) đã được quy định. Ngược lại người bảo hiểm (insurer) có trách nhiệm bồi thường những tổn thất của đối tượng bảo hiểm cho các rủi ro đã bảo hiểm gây nên.

    Chứng từ bảo hiểm

    Những chứng từ dùng để xác nhận đã kí kết một hợp đồng bảo hiểm và các điều khoản của hợp đồng đó, xác nhận việc trả phí bảo hiểm, thừa nhận hợp đồng bảo hiểm trên có hiệu lực và là chứng từ cần thiết khiếu nại hãng bảo hiểm để nhận tiền bồi thường bảo hiểm thì được gọi là chứng từ bảo hiểm.

    Chứng từ bảo hiểm bao gồm: Đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, tờ khai theo hợp đồng bảo hiểm, tất cả phải do một công ty hoặc một người bảo hiểm cấp, nếu là đại lý hoặc người được ủy quyền của họ kí phát phải ghi rõ đại lý hoặc người được ủy quyền đã kí thay, thay mặt công ty hoặc người bảo hiểm đã kí.

    Nếu chứng từ bảo hiểm được phát hành từ 2 bản gốc trở lên thì phải xuất trình tất cả.

    Phiếu bảo hiểm tạm thời sẽ không được chấp nhận khi xuất trình và khi có khiếu nại. Ngày phát hành chứng từ bảo hiểm không muộn hơn ngày giao hàng.

    1. Nội dung của đơn bảo hiểm

    Các điều khoản quy định trách nhiệm người bảo hiểm và người được bảo hiểm theo từng điều kiện bảo hiểm (các điều này thường được in sẵn).

    Các điều khoản riêng biệt của hợp đồng bảo hiểm thường được kí kết:

    -Đối tượng được bảo hiểm: tên hàng, số lượng, kí mã hiệu, phương tiện chuyên chở.

    -Về giá trị bảo hiểm: nếu không quy định trong tín dụng về mức bảo hiểm thì số tiền bảo hiểm tối thiểu bằng giá trị hàng hóa tính theo CIF hoặc CIP cộng 10% lời dự tính.

    Nếu kinh doanh theo CIP thì mức bồi thường bảo hiểm là 110%CIP

    Nếu kinh doanh theo CIF thì mức bồi thường bảo hiểm là 110%CIF

    Khi trị giá CIP và CIF không xác định được thì dựa vào số tiền thanh toán hoặc tổng giá trị lô hàng, tùy theo số tiền nào lớn hơn.

    -Đồng tiền bảo hiểm phải thể hiện bằng đồng tiền ghi trên hợp đồng hoặc L/C

    -Phải quy định rõ loại bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm: AR, WA, EPA, SRCC…Nếu đơn bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm mọi rủi ro mà có một chứng từ bảo hiểm không đề cập đến hay có ghi chú tiêu đề “Mọi rủi ro”thì vẫn được xem là chứng từ bảo hiểm mọi rủi ro.

    -Tổng số phí bảo hiểm phải trả.

    -Địa điểm hàng hóa bắt đầu được bảo hiểm và nơi hết trách nhiệm bảo hiểm như quy định trong tín dụng.

    -Giấy chứng nhận bảo hiểm: là chứng từ do công ty bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm để chấp nhận bảo hiểm cho một lô hàng nào đó.

    Giấy chứng nhận bảo hiểm có tác dụng:

    Thay thế đơn bảo hiểm, làm bằng chứng về một bảo hiểm được kí kết.

    Bằng chứng về phạm vi được bảo hiểm của hàng hóa, là chứng từ cần thiết trong hồ sơ khiếu nại bao gồm những điều gần giống như đơn bảo hiểm.

    1. GIẤY CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ

    Yêu cầu cơ bản

    Yêu cầu đối với giấy chứng nhận xuất xứ sẽ đươc đáp ứng khi xuất trình chứng từ đã ký và ghi ngày tháng xác nhận nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa.

    Những người phát hành giấy chứng nhận xuất xứ

    Giấy chứng nhận phải do người được qui định trong thư tín dụng phát hành. Tuy nhiên nếu thư tín dụng yêu cầu một giấy chứng nhận xuất xứ do người thụ hưởng, người xuất khẩu hoặc nhà sản xuất phát hành thì một chứng từ do phòng thương mại cấp có thể được chấp nhận. Nếu một thư tín dụng không qui định ai là người phát hành giấy chứng nhận, thì một giấy chứng nhận do bất kỳ ngươi nào phát hành vẫn có thể chấp nhận.

    Những nội dung yêu cầu của giấy chứng nhận xuất xứ

    Giấy chứng nhận xuất xứ phải thể hiện là có liên quan đến hàng hóa trong hóa đơn. Mô tả hàng hóa có thể mô tả chung chung nhưng không mâu thuẩn với mô tả đến hàng hóa ở các chứng từ được yêu cầu.

    Thông tin về người nhận hàng phải không mâu thuẫn với chứng từ vận tải. Tuy nhiên, nếu thư tín dụng yêu cầu một chứng từ vận tải phát hành “Theo lệnh” thì giấy chứng nhận xuất xứ có thể ghi tên người yêu cầu phát hành thư tín dụng hoặc người nào khác được chỉ định đích danh như người nhận hàng.

    Giấy chứng nhận xuất xứ có thể qui định người gửi hàng, hoặc là người xuất khẩu là một người mà không phải là người hưởng thụ của thư tín dụng hoặc người gửi hàng trong thư tín dụng.

     

     

    CÁC QUY TẮC VÀ THỰC HÀNH THỐNG NHẤT VỀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (UCP 600)

    (Bản sửa đổi năm 2007, số xuất bản 600 của Phòng thương mại quốc tế)

    Điều 1: Áp dụng UCP…………………………………………………………………………………………………………. 61

    Điều 2: Các định nghĩa……………………………………………………………………………………………………….. 61

    Điều 3: Giải thích………………………………………………………………………………………………………………… 62

    Điều 4: Thư tín dụng và hợp đồng………………………………………………………………………………………. 62

    Điều 5: Các chứng từ và hàng hóa/ dịch vụ hoặc thực hiện…………………………………………………… 63

    Điều 6: Thanh toán, ngày hết hạn và nơi xuất trình.…………………………………………………………….. 63

    Điều 7: Cam kết của ngân hàng phát hành………………………………………………………………………….. 63

    Điều 8: Cam kết của ngân hàng xác nhận……………………………………………………………………………. 63

    Điều 9: Thông báo Thư tín dụng và các sửa đổi…………………………………………………………………… 64

    Điều 10: Sửa đổi Thư tín dụng…………………………………………………………………………………………….. 64

    Điều 11: Thư tín dụng và sửa đổi được sơ báo và chuyển bằng điện……………………………………… 65

    Điều 12: Sự chỉ định……………………………………………………………………………………………………………. 65

    Điều 13: Thỏa thuận hoàn trả tiền giữa các ngân hàng…………………………………………………………. 65

    Điều 14: Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ……………………………………………………………………………….. 66

    Điều 15: Bộ chứng từ xuất trình hợp lệ………………………………………………………………………………… 67

    Điều 16 : Chứng từ có sai biệt, bỏ qua và thông báo…………………………………………………………….. 67

    Điều 17: Các chứng từ gốc và các bản sao……………………………………………………………………………. 68

    Điều18: Hóa đơn thương mại………………………………………………………………………………………………. 68

    Điều19: Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau.…………………… 68

    Điều 20: Vận đơn đường biển.…………………………………………………………………………………………….. 69

    Điều 21: Giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng (NNSWB)………………………………….. 70

    Điều 22: Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu……………………………………………………………………………. 71

    Điều 23: Chứng từ vận tải hàng không………………………………………………………………………………… 72

    Điều 24: Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa.……………………………….. 72

    Điều 25: Biên lai chuyển phát, biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm………………… 73

    Điều 26: “trên boong” “người gửi hàng xếp và đếm” “người gửi hàng kê khai gồm có” và chi phí phụ thêm vào cước phí.………………………………………………………………………………………………………………………. 73

    Điều 27: Chứng từ vận tải hoàn hảo……………………………………………………………………………………. 74

    Điều 28: Chứng từ bảo hiểm và bảo hiểm…………………………………………………………………………….. 74

    Điều 29: Gia hạn ngày hết hiệu lực hoặc ngày cuối cùng phải xuất trình……………………………….. 75

    Điều 30: Dung sai về số tiền, số lượng và đơn giá………………………………………………………………….. 75

    Điều 31: Giao hàng và trả tiền từng phần…………………………………………………………………………….. 75

    Điều 32: Giao hàng và trả tiền nhiều lần………………………………………………………………………………. 75

    Điều 33: Giờ xuất trình……………………………………………………………………………………………………….. 75

    Điều 34: Miễn trách về tính hợp lệ của Chứng từ…………………………………………………………………. 76

    Điều 35: Miễn trách về trao đổi thông tin và dịch thuật………………………………………………………… 76

    Điều 36: Bất khả kháng………………………………………………………………………………………………………. 76

    Điều 37: Miễn trách về hành động của một bên ra chỉ thị……………………………………………………… 76

    Điều 38: Thư tín dụng có thể chuyển nhượng………………………………………………………………………. 77

    Điều 39: Chuyển nhượng số tiền thu được…………………………………………………………………………… 78

    CÁC QUY TẮC VÀ THỰC HÀNH THỐNG NHẤT VỀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (UCP 600)

    (Bản sửa đổi năm 2007, số xuất bản 600 của Phòng thương mại quốc tế)

    Điều 1: Áp dụng UCP

    Các quy tắc Thực hành Thống nhất về tín dụng chứng từ, bản sửa đổi 2007, ICC xuất bản số 600 (“UCP”) là các quy tắc áp dụng cho bất kỳ tín dụng chứng từ (“Thư tín dụng”) nào (bao gồm cả thư Thư tín dụng dự phòng trong chừng mực mà các quy tắc này có thể áp dụng) nếu nội dung của Thư tín dụng chỉ ra một cách rõ ràng nó phụ thuộc vào các quy tắc này. Các quy tắc này ràng buộc tất cả các bên, trừ khi Thư tín dụng loại trừ hoặc sửa đổi một cách rõ ràng.

    Điều 2: Các định nghĩa

    Vì mục đích của những điều khoản trong bản qui tắc này:

    • Ngân hàng thông báo là ngân hàng thông báo Thư Thư tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành.
    • Người xin mở Thư Thư tín dụng là người yêu cầu phát hành Thư Thư tín dụng.
    • Ngày làm việc của ngân hàng là ngày mà ngân hàng thường mở cửa làm việc tại một nơi mà hoạt động có liên quan đến các quy tắc này được thực hiện.
    • Người thụ hưởng là bên mà vì quyền lợi của bên đó mà Thư tín dụng được phát hành.
    • Xuất trình chứng từ hợp lệ nghĩa là việc xuất trình chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của Thư tín dụng, những quy định áp dụng cho bản quy tắc này và tập quán ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế (ISBP)
    • Xác nhận là một cam kết chắc chắn của ngân hàng bổ sung vào xác nhận cam kết của ngân hàng phát hành sẽ thanh toán (đúng hạn) hay chiết khấu bộ chứng từ hợp lệ.
    • Ngân hàng xác nhận là ngân hàng thực hiện xác nhận của mình đối với một Thư tín dụng theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành,.
    • Thư tín dụng là bất cứ thỏa thuận nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, nhưng không thể hủy bỏ và do đó là một cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành về việc thanh tóan cho một bộ chứng từ hợp lệ.
    • Thanh toán (đúng hạn) có nghĩa là:

    -Trả ngay khi xuất trình, nếu Thư tín dụng có giá trị thanh toán ngay.

    -Cam kết trả sau và trả tiền khi đáo hạn, nếu Thư tín dụng có giá trị thanh toán về sau.

    -Chấp nhận hối phiếu đòi nợ (“draft”) do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn, nếu Thư tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận.

    • Ngân hàng phát hành là ngân hàng phát hành Thư tín dụng theo yêu cầu của người xin mở Thư tín dụng hoặc nhân danh chính mình.
    • Chiết khấu nghĩa là việc mua lại hối phiếu của ngân hàng được chỉ định (hối phiếu này ký phát cho một ngân hàng khác mà không phải là ngân hàng được chỉ định) và (hoặc) mua lại Bộ chứng từ hợp lệ bằng cách thanh toán trước hay chấp nhận thanh toán trước cho người thụ hưởng trước hoặc vào ngày ngân hàng được chỉ định phải thanh toán, ngày nay phải thanh toán, ngày này phải là ngày làm việc của ngân hàng.
    • Ngân hàng chỉ định là ngân hàng mà Thư tín dụng có giá trị thanh toán tại ngân hàng đó hoặc bất cứ ngân hàng nào trong trường hợp Thư tín dụng có giá trị thanh toán đối với bất cứ ngân hàng nào.
    • Xuất trình chứng từ nghĩa là việc chuyển giao chứng từ theo một Thư Thư tín dụng cho ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng chỉ định hoặc các chứng từ được chuyển giao như thế.
    • Người xuất trình chứng từ là người thụ hưởng, ngân hàng hoặc bất cứ bên nào khác thực hiện việc xuất trình chứng từ.

    Điều 3: Giải thích

    Vì mục đích của bản quy tắc này:

    • Ở những nơi cần thiết trong quy tắc này, các từ ở dạng số ít bao hàm cả ý số nhiều và các từ ở dạng số nhiều bao hàm cả ý số ít.
    • Một Thư tín dụng là không thể hủy bỏ ngay cả khi không có quy định về việc đó.
    • Một chứng từ có thể được ký bằng chữ ký tay, bằng FAX, bằng chữ ký đục lỗ, con dấu, bằng ký hiệu hoặc bất cứ phương pháp cơ học hoặc điện tử nào.
    • Yêu cầu chứng từ được hợp thức hóa, được thị thực hoặc được chứng thực hoặc tương tự sẽ được thỏa mãn bằng bất kỳ chữ ký, ký hiệu, con dấu hoặc nhãn hiệu nào ở trên chứng từ thể hiện là đáp ứng được yêu cầu đó.
    • Các chi nhánh của một ngân hàng ở các nước khác nhau được coi là các ngân hàng độc lập.
    • Những cụm từ như “hạng nhất”, “nổi tiếng”, “đủ tư cách”, “độc lập”, “chính thức”, “có thẩm quyền” hoặc “nội hạt” sử dụng để mô tả người phát hành chứng từ, cho phép bất cứ người phát hành nào, trừ người thụ hưởng, phát hành chứng từ đó.
    • Trừ khi có yêu cầu sử dụng trên chứng từ, các từ như “nhanh”, “ngay lập tức” hoặc “càng sớm càng tốt” sẽ không được xem xét đến.
    • Các cụm từ “vào hoặc vào khoảng” hoặc tương tự sẽ được hiểu là sự việc xảy ra trong một khoảng thời gian từ trước 05 ngày theo lịch cho đến sau 05 ngày theo lịch tính từ ngày quy định, kể cả ngày đầu tiên và ngày cuối cùng.
    • Các từ “đến”, “cho đến”, “cho đến khi”, “từ” và “giữa” nếu được dùng để quy định thời hạn giao hàng thì sẽ bao gồm cả ngày hoặc những ngày đó, và từ “trước” và “sau” thì không bao gồm ngày đó.
    • Các từ “từ” và “sau” nếu được dùng để quy định ngày đáo hạn sẽ không bao gồm ngày đó.
    • Các từ “nửa đầu” và “nửa cuối” của một tháng sẽ được hiểu tương ứng là kể từ ngày 01 đến 15 và từ ngày 16 đến ngày cuối cùng của một tháng, bao gồm cả các ngày đó.
    • Các từ “đầu”, “giữa” và “cuối” của một tháng sẽ được hiểu tương ứng là từ ngày 1 đến ngày 10, từ ngày 11 đến ngày 20 và từ ngày 21 đến ngày cuối cùng của một tháng, bao gồm cả các ngày đó.

    Điều 4: Thư tín dụng và hợp đồng

    1. Về bản chất, Thư tín dụng là một giao dịch độc lập với hợp đồng thương mại hoặc các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở của Thư tín dụng. Các ngân hàng không liên quan hoặc ràng buộc bởi các hợp đồng như vậy, ngay cả khi Thư tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó. Do đó, sự cam kết của một ngân hàng về việc thanh tóan, thương lượng thanh tóan hoặc thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào khác trong Thư tín dụng không phụ thuộc vào các khiếu nại hoặc khiến cáo của người yêu cầu phát hành Thư tín dụng phát sinh từ các quan hệ của họ với ngân hàng phát hàng hoặc người thụ hưởng.

    Trong bất cứ trường hợp nào, người thụ hưởng không được lợi dụng các quan hệ hợp đồng giữa các ngân hàng với nhau hoặc giữa người yêu cầu và ngân hành phát hành.

    1. Ngân hàng phát hành không khuyến khích các cố gắng của người yêu cầu nhằm đưa các bản sao của hợp đồng cơ sở, hóa đơn chiếu lệ và các chứng từ tương tự thành bộ phận không tách rời của Thư tín dụng.

     

    Điều 5: Các chứng từ và hàng hóa/ dịch vụ hoặc thực hiện

    Các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ chứ không phải bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các giao dịch khác mà các chứng từ có liên quan.

    Điều 6: Thanh toán, ngày hết hạn và nơi xuất trình.

    1. Thư tín dụng phải quy định nó có giá trị thanh toán với ngân hàng nào đó hoặc với bất kỳ ngân hàng nào. Một Thư tín dụng có giá trị thanh toán với ngân hàng chỉ định thì cũng có giá trị thanh toán với ngân hàng phát hành.
    2. Một Thư tín dụng phải quy định hoặc là nó có giá trị thanh toán trả ngay, trả sau, chấp nhận hoặc là có giá trị chiết khấu.
    3. Một Thư tín dụng không được phát hành là có giá trị thanh toán bằng một hối phiếu ký phát đòi tiền người yêu cầu mở Thư tín dụng.
    4. Thư tín dụng phải quy định ngày hết hạn xuất trình. Ngày hết hạn thanh toán hoặc chiết khấu sẽ được coi là ngày hết hạn xuất trình.

    Địa điểm của ngân hàng mà với ngân hàng đó Thư tín dụng có giá trị thanh toán cũng là địa điểm xuất trình. Địa điểm xuất trình của một Thư tín dụng có giá trị thanh toán với bất cứ ngân hàng nào là địa điểm xuất trình của ngân hàng bất kỳ đó. Địa điểm xuất trình khác với địa điểm của ngân hàng phát hành là địa điểm bổ sung vào địa điểm ngân hàng phát hành.

    1. Trừ trường hợp quy định tại mục a, điều 29, việc xuất trình chứng từ bởi người thụ hưởng hoặc bởi người thay mặt người thụ hưởng phải được thực hiện trước hoặc vào ngày hết hạn.

    Điều 7: Cam kết của ngân hàng phát hành

    1. Với điều kiện là các chứng từ quy định được xuất trình tới ngân hàng chỉ định hoặc tới ngân hàng phát hành và với điều kiện việc xuất trình là phù hợp, ngân hàng phát hành phải thanh toán nếu Thư tín dụng có giá trị thanh toán bằng cách:
    2. trả ngay, trả sau hoặc chấp nhận với ngân hàng phát hành;
    3. trả ngay tại một ngân hàng được chỉ định và ngân hàng chỉ định đó không thanh toán.
    • trả sau tại một ngân hàng chỉ định và ngân hàng chỉ định đó không cam kết trả sau hoặc đã cam kết trả sau nhưng không trả vào ngày đáo hạn;
    1. chấp nhận với một ngân hàng chỉ định và ngân hàng chỉ định đó không chấp nhận một hối phiếu ký phát đòi tiền nó hoặc đã chấp nhận hối phiếu đòi tiền nhưng không trả tiền khi đáo hạn;
    2. chiết khấu tại một ngân hàng chỉ định và ngân hàng chỉ định đó không chiết khấu.
    3. Ngân hàng phát hành bị ràng buộc không thể hủy ngang đối với việc thanh toán kể từ khi ngân hàng đó phát hành Thư tín dụng.
    4. Ngân hàng phát hành cam kết hoàn trả tiền cho một ngân hàng chỉ định mà ngân hàng này đã thanh toán hoặc đã chiết khấu cho một bộ chứng từ hợp lệ và đã chuyển giao các chứng từ cho ngân hàng phát hành. Việc hoàn trả số tiền của một bộ chứng từ hợp lệ thuộc một Thư tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận hoặc trả sau là vào lúc đáo hạn, dù cho ngân hàng chỉ định đã trả tiền trước hoặc đã mua trước khi đến hạn. Cam kết của ngân hàng phát hành về việc hoàn trả tiền cho một ngân hàng chỉ định là độc lập với cam kết của ngân hàng phát hành đối với người thụ hưởng.

    Điều 8: Cam kết của ngân hàng xác nhận

    1. Với điều kiện là các chứng từ quy định được xuất trình đến ngân hàng xác nhận hoặc đến bất cứ một ngân hàng chỉ định nào khác và với điều kiện việc xuất trình là phù hợp, ngân hàng xác nhận phải:
    2. thanh toán, nếu Thư tín dụng có giá trị thanh toán, bằng cách:
    • trả ngay, trả sau hoặc chấp nhận thanh toán với ngân hàng xác nhận.
    • trả ngay tại một ngân hàng chỉ định khác và ngân hàng chỉ định đó không trả tiền.
    • trả sau tại một ngân hàng chỉ định khác và ngân hàng chỉ định đó không cam kết trả sau hoặc có cam kết trả sau, nhưng không trả tiền khi đáo hạn.
    • chấp nhận với một ngân hàng chỉ định khác và ngân hàng chỉ định đó không chấp nhận hối phiếu đòi tiền nó hoặc có chấp nhận, nhưng không trả tiền khi đáo hạn.
    • chiết khấu tại một ngân hàng chỉ định khác và ngân hàng chỉ định đó không chiết khấu.
    1. Chiết khấu, miễn truy đòi, nếu Thư tín dụng có giá trị chiết khấu tại ngân hàng xác nhận.
    2. Ngân hàng xác nhận bị ràng buộc không thể hủy bỏ đối với việc thanh toán hoặc chiết khấu kể từ khi ngân hàng đó thực hiện xác nhận Thư tín dụng.
    3. Ngân hàng xác nhận cam kết hoàn trả tiền cho một ngân hàng chỉ định khác mà ngân hàng hàng này đã thanh toán hoặc đã chiết khấu cho một bộ chứng từ hợp lệ và đã chuyển giao các chứng từ cho ngân hàng xác nhận. Việc hoàn trả số tiền của một bộ chứng từ hợp lệ thuộc một Thư tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận hoặc trả sau là vào lúc đáo hạn, dù ngân hàng chỉ định đã trả tiền trước hoặc đã mua trước khi đến hạn. Cam kết của ngân hàng xác nhận hoàn trả tiền cho một ngân hàng chỉ định là độc lập với cam kết của ngân hàng xác nhận đối với người thụ hưởng.
    4. Nếu một ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy quyền hoặc yếu cầu xác nhận một Thư tín dụng nhưng ngân hàng này không sẵn sàng làm việc đó, thì nó phải thông báo cho ngân hàng phát hành ngay và có thể thông báo Thư tín dụng mà không có xác nhận.

    Điều 9: Thông báo Thư tín dụng và các sửa đổi

    1. Thư tín dụng và bất cứ sửa đổi nào có thể được thông báo cho người thụ hưởng thông qua ngân hàng thông báo. Ngân hàng thông báo, nhưng không phải là ngân hàng xác nhận, thông báo Thư tín dụng và các sửa đổi mà không cam kết về thanh toán hoặc chiết khấu.
    2. Bằng việc thông báo Thư tín dụng hoặc sửa đổi, ngân hàng thông báo cho biết rằng tự nó đã thỏa mãn về tính chân thật bề ngoài của Thư tín dụng hoặc của sửa đổi và rằng thông báo phản ánh chính xác các điều kiện và điều khoản của Thư tín dụng hoặc sửa đổi đã nhận.
    3. Ngân hàng thông báo có thể sử dụng dịch vụ của một ngân hàng khác (“ngân hàng thông báo thứ hai”) để thông báo Thư tín dụng và các sửa đổi cho người thụ hưởng. Bằng việc thông báo Thư tín dụng hoặc sửa đổi, ngân hàng thông báo thứ hai cho biết rằng tự nó đã thỏa mãn về tính chân thật bề ngoài của thông báo mà nó đã nhận được và rằng thông báo phản ánh chính xác các điều kiện và điều khoản của Thư tín dụng và sửa đổi đã nhận.
    4. Ngân hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng thông báo thứ hai để thông báo Thư tín dụng thì cũng phải sử dụng các ngân hàng đó để thông báo các sửa đổi của Thư tín dụng.
    5. Nếu một ngân hàng được yêu cầu thông báo Thư tín dụng hoặc sửa đổi nhưng quyết định không làm việc đó, thì nó phải thông báo không chậm trễ cho ngân hàng mà từ đó đã nhận được Thư tín dụng, sửa đổi hoặc thông báo.
    6. Nếu một ngân hàng được yêu cầu thông báo Thư tín dụng hoặc sửa đổi, nhưng tự nó không có thể thỏa mãn về tính chân thật bề ngoài của Thư tín dụng, của sửa đổi hoặc của thông báo, thì nó phải thông báo không chậm trễ cho ngân hàng mà từ đó đã nhận được chỉ thị. Tuy vậy, nếu ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng thông báo thứ hai quyết định thông báo Thư tín dụng hoặc sửa đổi, thì nó phải thông báo cho người thụ hưởng hoặc ngân hàng thông báo thứ hai biết rằng tự nó đã không thể thỏa mãn được tính chân thật bề ngoài của Thư tín dụng, của sửa đổi hoặc của thông báo.

    Điều 10: Sửa đổi Thư tín dụng

    1. Trừ khi có quy định khác tại điều 38, một Thư tín dụng không thể sửa đổi cũng như không thể hủy bỏ mà không có sự thỏa thuận của ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận (nếu có) và của người thụ hưởng.
    1. Ngân hàng phát hành bị ràng buộc không thể hủy bỏ bởi các sửa đổi kể từ khi ngân hàng phát hành sửa đổi, Ngân hàng xác nhận có thể xác nhận thêm cả sửa đổi và sẽ ràng buộc không thể hủy bỏ kể từ khi thông báo sửa đổi. Tuy vậy, ngân hàng xác nhận có thể lựa chọn thông báo sửa đổi mà không xác nhận thêm và nếu vậy, nó phải thông báo không chậm trễ cho ngân hàng phát hành và thông báo cho người thụ hưởng trong thông báo sửa đổi của mình.
    2. Các điều kiện và điều khoản của Thư tín dụng gốc (hoặc một Thư tín dụng đã đưa vào các sửa đổi được chấp nhận trước đó) sẽ vẫn còn nguyên hiệu lực đối với người thụ hưởng cho đến khi người thụ hưởng truyền đạt chấp nhận sửa đổi của mình đến ngân hàng đã thông báo sửa đổi đó. Người thụ hưởng phải thông báo chấp nhận hay từ chối sửa đổi. Nếu người thụ hưởng không thông báo như thế thì một bộ chứng từ hợp lệ với Thư tín dụng và với bất cứ sửa đổi nào chưa được chấp nhận, sẽ được coi như là thông báo chấp nhận sửa đổi của người hưởng thụ. Thư tín dụng sẽ được sửa đổi từ thời điểm đó.
    3. Ngân hàng thông báo sửa đổi phải báo cho ngân hàng mà từ đó nó nhận được sửa đổi về việc chấp nhận hay từ chối sửa đổi.
    4. Chấp nhận một phần sửa đổi là không được phép và sẽ được coi là thông báo từ chối sửa đổi.
    5. Một điều khoản trong sửa đổi quy định rằng sửa đổi sẽ có hiệu lực trừ khi người thụ hưởng từ chối trong một thời gian nhất định sẽ không được xem xét đến.

    Điều 11: Thư tín dụng và sửa đổi được sơ báo và chuyển bằng điện

    1. Một bức điện xác thực của Thư tín dụng hoặc sửa đổi được truyền đi một cách chân thực sẽ được coi như là Thư tín dụng hoặc sửa đổi có giá trị thực hiện, và bất cứ xác nhận bằng thư gửi sau này sẽ không được xem xét đến.

    Nếu điện chuyển ghi “chi tiết đầy đủ gửi sau” (hoặc các từ tương tự) hoặc ghi rằng xác nhận bằng thư sẽ là Thư tín dụng hoặc sửa đổi có giá trị thực hiện thì điện chuyển sẽ không được coi là Thư tín dụng hoặc sửa đổi có giá trị thực hiện. Ngân hàng phát hành sau đó phải phát hành không chậm trễ Thư tín dụng hoặc sửa đổi có giá trị thực hiện với các điều khoản không mâu thuẫn với điện chuyển.

    1. Thông báo sơ bộ về việc phát hành một Thư tín dụng hoặc sửa đổi (“tiền thông báo”) sẽ chỉ được gửi đi nếu ngân hàng phát hành đã sẵn sàng phát hành Thư tín dụng hoặc sửa đổi có giá trị thực hiện. Một ngân hàng phát hành đã gửi thông báo sơ bộ có nghĩa vụ không thể hủy bỏ phát hành không chậm trễ Thư tín dụng hoặc sửa đổi có giá trị thực hiện với các điều khoản không mâu thuẫn với thông báo sơ bộ.

    Điều 12: Sự chỉ định

    1. Trừ phi ngân hàng chỉ định là ngân hàng xác nhận việc ủy quyền thanh toán, chiết khấu không ràng buộc thêm nghĩa vụ đối với ngân hàng chỉ định về thanh toán hoặc chiết khấu, trừ khi có sự đồng ý rõ ràng của ngân hàng chỉ định và được truyền đạt đến người thụ hưởng.
    2. Bằng cách chỉ định một ngân hàng chấp nhận một hối phiếu hoặc thực hiện cam kết trả sau, ngân hàng phát hành đã ủy quyền cho ngân hàng chỉ định đó trả tiền trước hoặc mua một hối phiếu đã được chấp nhận hoặc thực hiện cam kết trả sau của ngân hàng chỉ định đó.
    3. Việc tiếp nhận hoặc kiểm tra và gửi chứng từ của ngân hàng chỉ định mà không phải là ngân hàng xác nhận, không làm cho ngân hàng chỉ định đó có trách nhiệm thanh toán hoặc chiết khấu, đồng thời cũng không phải là việc thanh toán hoặc chiết khấu .

    Điều 13: Thỏa thuận hoàn trả tiền giữa các ngân hàng

    1. Nếu một Thư tín dụng quy định rằng, số tiền hoàn trả sẽ do ngân hàng chỉ định (“ngân hàng đòi tiền”) đòi lại từ một ngân hàng khác (“ngân hàng hoàn trả”), thì Thư tín dụng phải nói rõ việc hoàn trả có tuân thủ các quy tắc của ICC về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng có hiệu lực vào ngày phát hành Thư tín dụng hay không.
    1. Nếu Thư tín dụng không quy định việc hoàn trả phải theo các quy tắc của ICC về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng, thì sẽ áp dụng như sau:
    2. Ngân hàng phát hành phải cấp cho ngân hàng hoàn trả một ủy quyền hoàn trả phù hợp với quy định về giá trị thanh toán ghi trong Thư tín dụng . Ủy quyền hòan trả không phụ thuộc vào ngày hết hạn của Thư tín dụng
    3. Ngân hàng đòi tiền không cần phải cung cấp cho ngân hàng hòan trả một giấy chứng nhận về sự phù hợp với các điều kiện và điều khoản của Thư tín dụng
    • Ngân hàng phát hành sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại về tiền lãi và mọi chi phí phát sinh, nếu việc hòan trả tiền không được thực hiện ngay khi có yêu cầu đầu tiên của ngân hàng hòan trả phù hợp với các điều kiện và điều khoản của Thư tín dụng
    1. Các chi phí của ngân hàng hoàn trả sẽ do ngân hàng phát hành chịu. Tuy nhiên, nếu chi phí đó là do người thụ hưởng chịu, thì ngân hàng phát hành có trách nhiệm ghi rõ điều đó trong Thư tín dụng và trong ủy quyền hoàn trả. Nếu chi phí của ngân hàng hoàn trả là do người thụ hưởng chịu, thì chi phí đó sẽ được trừ vào số tiền mà ngân hàng đòi tiền thu được khi hoàn trả tiền. Nếu việc hòan trả tiền không thực hiện được thì chi phí của ngân hàng hoàn trả vẫn thuộc trách nhiệm của ngân hàng phát hành .
    2. Ngân hàng phát hành không được miễn bất cứ nghĩa vụ nào của mình về hoàn trả tiền, nếu ngân hàng hoàn trả không trả được tiền khi có yêu cầu đầu tiên.

    Điều 14: Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ

    1. Ngân hàng chỉ định hành động theo sự chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có và ngân hàng phát hành phải kiểm tra việc xuất trình, chỉ dựa trên cơ sở chứng từ để giải quyết định chứng từ, thể hiện trên bề mặt của chúng, có tạo thành một bộ chứng từ hợp lệ hay không.
    2. Ngân hàng chỉ định hành động theo sự chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có và ngân hàng phát hành sẽ có tối đa cho mỗi ngân hàng là 5 ngày làm việc ngân hàng tiếp theo ngày xuất trình để quyết định xem việc xuất trình có phù hợp hay không. Thời hạn này không bị rút ngắn hoặc không bị ảnh hưởng bằng cách nào khác, nếu ngày hết hạn hay ngày xuất trình cuối cùng rơi đúng vào hoặc sau ngày xuất trình.
    3. Việc xuất trình một hoặc nhiều bản gốc các chứng từ vận tải theo các điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 và 25 phải do người thụ hưởng hoặc người thay mặt thực hiện không muộn hơn 21 ngày theo lịch sau ngày giao hàng như mô tả trong các quy tắc này, nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng không được muộn hơn ngày hết hạn của Thư tín dụng.
    4. Dữ liệu trong một chứng từ không nhất thiết phải giống hệt như dữ liệu của Thư tín dụng, của bản thân của chứng từ và của thực tiễn ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế, nhưng không được mâu thuẫn với dữ liệu trong chứng từ đó, với bất cứ chứng từ quy định khác hoặc với Thư tín dụng.
    5. Trong các chứng từ, trừ hóa đơn thương mại, việc mô tả hàng hóa, các dịch vụ hoặc thực hiện, nếu quy định, có thể mô tả một cách chung chung, miễn là không mâu thuẫn với mô tả hàng hóa trong Thư tín dụng
    6. Nếu Thư tín dụng yêu cầu xuất trình một chứng từ, trừ chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm hoặc hóa đơn thương mại mà không quy định người lập chứng từ hoặc nội dung dữ liệu của các chứng từ, thì các ngân hàng sẽ chấp nhận chứng từ như đã xuất trình, nếu nội dung của chứng từ thể hiện là đã đáp ứng được chức năng của chứng từ được yêu cầu và bằng cách khác, phải phù hợp với mục (d) điều 14.
    7. Một chứng từ xuất trình nhưng Thư tín dụng không yêu cầu sẽ không được xem xét đến và có thể trả lại cho người xuất trình.
    8. Nếu một Thư tín dụng có một điều kiện mà không quy định chứng từ phải phù hợp với điều kiện đó, thì các ngân hàng sẽ coi như là không có điều kiện đó và không xem xét.
    9. Một chứng từ có thể ghi ngày trước ngày phát hành Thư tín dụng nhưng không được ghi sau ngày xuất trình chứng từ.
    10. Khi các địa chỉ của người thụ hưởng và của người yêu cầu thể hiện trong các chứng từ quy định thì các địa chỉ đó không nhất thiết là giống như các địa chỉ quy định trong Thư tín dụng hoặc trong bất cứ chứng từ quy định nào khác, nhưng các địa chỉ đó phải ở trong một quốc gia như các địa chỉ tương ứng quy định trong Thư tín dụng. Các chi tiết giao dịch (Telefax, Telephone, email và các nội dung tương tự khác) được ghi kèm theo địa chỉ của người yêu cầu và của người thụ hưởng sẽ không được xem xét đến. Tuy nhiên, nếu địa chỉ và các chi tiết giao dịch của người yêu cầu thể hiện như là một bộ phận địa chỉ của nội dung về người nhận hàng hoặc bên thông báo trên chứng từ vận tải theo các điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 hoặc 25 thì phải ghi đúng như trong thư Thư tín dụng
    11. Người giao hàng hoặc người gởi hàng ghi trên các chứng từ không nhất thiết là người thụ hưởng của Thư tín dụng
    12. Một chứng từ vận tải có thể do bất cứ bên nào khác, không phải là người chuyên chở, chủ tàu, thuyền trưởng hoặc người thuê tàu phát hành miễn là chứng từ vận tải đó đáp ứng yêu cầu của các điều 19, 20, 21, 22, 23 hoặc 24 của quy tắc này.

    Điều 15: Bộ chứng từ xuất trình hợp lệ

    1. Khi một ngân hàng phát hành xác định việc xuất trình là phù hợp, thì nó bắt buộc phải thanh toán.
    2. Khi một ngân hàng xác nhận xác định việc xuất trình là phù hợp, thì nó phải thanh toán hoặc chiết khấu và chuyển giao các chứng từ tới ngân hàng phát hành
    3. Khi một ngân hàng chỉ định xác định việc xuất trình là phù hợp và ngân hàng đó thanh toán hoặc chiết khấu, thì nó phải chuyển giao các chứng từ đến ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng phát hành

    Điều 16 : Chứng từ có sai biệt, bỏ qua và thông báo

    1. Khi một ngân hàng chỉ định hành động theo sự chỉ định, một ngân hàng xác nhận, nếu có, hoặc ngân hàng phát hành xác định rằng việc xuất trình là không phù hợp thì ngân hàng đó có thể từ chối thanh toán hoặc chiết khấu.
    2. Khi một ngân hàng phát hành xác định rằng việc việc xuất trình không phù hợp, thì nó có thể theo cách thức riêng của mình tiếp xúc với người yêu cầu đề nghị bỏ qua các sai biệt. Tuy nhiên điều này không thể kéo dài hạn như qui định tại mục b điều 14.
    3. Khi một ngân hàng chỉ định hành động theo sự chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có, hoặc ngân hàng phát hành quyết định từ chối thanh toán hoặc chiết khấu, thì nó phải gởi thông báo riêng về việc đó cho người xuất trình.

    Thông báo phải ghi rõ:

    1. Ngân hàng đang từ chối thanh toán hoặc chiết khấu;
    2. Từng sai biệt mà ngân hàng từ chối thanh toán hoặc chiết khấu;
    • Ngân hàng đang giữ các chứng từ để chờ chỉ thị của người xuất trình, hoặc
    • Ngân hàng phát hành đang giữ các chứng từ cho đến khi nào nó nhận được sự bỏ qua sai biệt từ người yêu cầu và đồng ý chấp nhận sai biệt hoặc nhận được những chỉ thị khác từ người xuất trình trước khi đồng ý chấp nhận bỏ qua các sai biệt, hoặc
    • Ngân hàng đang chuyển trả lại chứng từ; hoặc
    • Ngân hàng đang hành động theo những chỉ thị đã nhận được trước đây từ người xuất trình.
    1. Thông báo được yêu cầu tại mục (c) điều 16 phải được thực hiện bằng phương tiện truyền thông hoặc nếu không thể thì bằng phương tiện nhanh chóng khác nhưng không được muộn hơn ngày làm việc ngân hàng thứ 5 tính từ ngày sau ngày xuất trình.
    1. Một ngân hàng chỉ định hành động theo sự chỉ định. Một ngân hàng xác nhận, nếu có, hoặc ngân hàng phát hành sau khi gởi thông báo được yêu cầu tại mục (c), (iii), (a) hoặc (b) điều 16 có thể gởi trả các chứng từ cho người xuất trình vào bất cứ thời gian nào.
    2. nếu ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận không hành động phù hợp với các quy định của điều khỏan này thì sẽ mất quyền khiếu nại về xuất trình không phù hợp.
    3. Khi một ngân hàng phát hành từ chối thanh toán hoặc một ngân hàng xác nhận từ chối thanh toán hoặc chiết khấu và đã gởi thông báo về việc đó phù hợp với điều khoản này, thì các ngân hàng đó có quyền đòi lại tiền, kể cả tiền lãi, hoặc bất cứ số tiền hoàn trả nào mà nó đã thực hiện.

    Điều 17: Các chứng từ gốc và các bản sao

    1. Ít nhất một bản gốc của mỗi chứng từ quy định trong Thư tín dụng phải được xuất trình.
    2. Ngân hàng sẽ coi lại chứng từ gốc bất kỳ chứng từ nào nhìn bề nào có chữ ký hoặc dấu hiệu hoặc nhãn gốc thực của người phát hành chứng từ, trừ khi chứng từ chỉ ra bản thân nó không phải là chứng từ gốc.
    3. Trừ khi chứng từ quy định khác ngân hàng sẽ chấp nhận chứng từ như là chứng từ gốc, nếu chứng từ:
    4. Thể hiện là được viết, đánh máy, đục lỗ hoặc đóng dấu bằng tay của người phát hành ; hoặc
    5. Thể hiện là giấy văn thư chính thức của người phát hành chứng từ hoặc.
    • Ghi rõ nó là chứng từ gốc, trừ khi nói rõ là không áp dụng đối với chứng từ xuất trình.
    1. Nếu Thư tín dụng yêu cầu xuất trình các bản sao của chứng từ, thì xuất trình bản gốc hoặc bản sao đều được phép.
    2. Nếu Thư tín dụng yêu cầu xuất trình chứng từ nhiều bản bằng cách sử dụng các từ như (hai bản giống như nhau) (gấp hai lần) hoặc (làm hai bản), thì có thể xuất trình ít nhất một bản gốc và số còn lại là các bản sao, trừ khi nào bản thân chứng từ quy định khác.

    Điều18: Hóa đơn thương mại

    a.Hóa đơn thương mại:

    i.phải thể hiện là do người thu hưởng phát hành (trừ trường hợp quy định tại Điều 38);

    ii.phải đứng tên người yêu cầu(trừ khi áp dụng Điều 38g);

    iii.phải ghi bằng loại tiền của Thư tín dụng; và iv.không cần phải kí.

    b.Một ngân hàng chỉ định hành động theo sự chỉ định, một ngân hàng xác nhận, nếu có, hoặc ngân hàng phát hành có thể chấp nhận một hóa đơn thương mại phát hành có số tiền vượt quá số tiền được phép của Thư tín dụng, và quyết định của nó sẽ ràng buộc tất cả các bên, miễn là ngân hàng đó chưa thanh toán hoặc chiết khấu cho số tiền vượt quá số tiền cho phép của Thư tín dụng.

    c.Mô tả hàng hóa, dịch vụ hoặc thực hiện trong hóa đơn thương mại phải phù hợp với mô tả hàng hóa trong Thư tín dụng.

    Điều19: Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau.

    Một chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau (chứng từ vận tải đa phương thức hoặc liên hợp) dù được gọi như thế nào, phải:

    i.Chỉ rõ tên của người chuyên chở và được kí bởi:

    • người chuyên chở hoặc đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt người chuyên chở, hoặc
    • thuyền trưởng hoặc đại lý được chỉ định hoặc thay mặt thuyền trưởng

    Các chữ kí của người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý phải xác định được chữ kí nào là của người chuyên chở, chữ kí nào là của thuyền trưởng hoặc của đại lý.

    Chữ kí của đại lý phải chỉ rõ là đại lý đã kí thay hoặc đại diện cho người chuyên chở hoặc đã kí thay hoặc đại diện cho thuyền trưởng.

    1. Chỉ rõ rằng hàng hóa đã được gửi, nhận để chở hoặc đã được xếp lên tầu tại nơi quy định trong Thư tín dụng, bằng:
    • in sẵn trên vận đơn, hoặc
    • đóng dấu hoặc ghi chú có ghi rõ ngày hàng hóa đã được gửi đi, nhận để gửi hoặc đã xếp lên tầu.

    Ngày phát hành chứng từ vận tải sẽ được coi là ngày gửi hàng, ngày nhận hàng để chở hoặc ngày xếp hàng lên tàu và là ngày giao hàng.Tuy nhiên, nếu chứng từ vận tải thể hiện bằng cách đóng dấu hoặc bằng cách ghi chú, có ghi ngày gửi hàng, ngày nhận hàng để chở hoặc ngày xếp hàng lên tầu thì ngày này sẽ được coi là ngày giao hàng.

    iii.Chỉ rõ nơi gửi hàng, nhận hàng để chở hoặc giao hàng và nơi hàng đến nơi cuối cùng quy định trong Thư tín dụng, ngay cả khi:

    • chứng từ vận tải ghi nơi gửi hàng, nơi nhận hàng để chở hoặc nơi giao hàng hoặc nơi đến cuối cùng khác, hoặc
    • chứng từ vận tải có ghi từ”dự định” hoặc các từ tương tự có liên quan đến con tàu, cảng xếp hoặc cảng dỡ hàng.

    iv.Là chứng từ vận tải gốc duy nhất hoặc, nếu phát hành nhiều hơn một bản gốc thì trọn bộ bản gốc như được ghi trên chứng từ vận tải.

    v.Chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở hoặc dẫn chiếu đến các nguồn khác chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở (chứng từ vận tải trắng lưng hoặc rút gọn). Nội dung các điều kiện và điều khoản chuyên chở sẽ không được xem xét.

    1. Không ghi là phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu.
    2. Nhằm mục đích của điều khoản này, chuyển tải có nghĩa là dỡ hàng xuống từ phương tiện vận tải này và lại xếp hàng lên một phương tiện vận tải khác (dù có cùng một phương thức vận tải) trong quá trình vận chuyển từ nơi gởi, nơi nhận hàng để chở hoặc nơi giao hàng đến nơi đến cuối cùng ghi trong Thư tín dụng .

    c.i. Một chứng từ vận tải có thể ghi là hàng hóa sẽ hoặc có thể được chuyển tải miễn là toàn bộ hành trình vận chuyển chỉ sử dụng một và cùng một chứng từ vận tải.

    1. Một chứng từ vận tải ghi rằng chuyển tải sẽ hoặc có thể diễn ra là có thể được chấp nhận, ngay cả khi Thư tín dụng không cho phép chuyển tải.

    Điều 20: Vận đơn đường biển.

    1. Một vận đơn đường biển, dù được gọi như thế nào, phải:
    2. chỉ rõ tên của người chuyên chở và đã được ký bởi:
    • người chuyên chở hoặc đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt người chuyên chở, hoặc
    • thuyền trưởng hoặc đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt thuyền trưởng.

    Các chữ ký của người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý phải phân biệt được đó là chữ ký của người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý.

    Các chữ ký của đại lý phải ghi rõ hoặc là đại lý đã ký thay cho hoặc đại diện cho người chuyên chở hoặc thay cho hoặc đại diện cho thuyền trưởng.

    1. Chỉ rõ hàng hóa đã được xếp lên một con tàu chỉ định tại cảng giao hàng quy định trong Thư tín dụng, bằng:
    • in sẵn trên vận đơn, hoặc
    • một ghi chú là hàng đã được xếp lên tàu, có ghi ngày xếp hàng lên tàu.

    Ngày phát hành vận đơn sẽ được coi như là ngày giao hàng, trừ khi trên vận đơn có ghi chú hàng đã xếp trên tàu có ghi ngày giao hàng, trong trường hợp này, ngày đã ghi trong ghi chú xếp hàng sẽ được coi là ngày giao hàng.

    Nếu vận đơn có ghi “con tàu dự định” hoặc tương tự liên quan đến tên tàu, thì việc ghi chú hàng đã xếp lên tàu, ghi rõ ngày giao hàng và tên của con tàu thực tế là cần thiết.

    iii. Chỉ rõ chuyến hàng được giao từ cảng xếp hàng tới cảng dỡ hàng quy định trong Thư tín dụng

    Nếu vận đơn không chỉ rõ cảng xếp hàng quy định trong Thư tín dụng như là cảng xếp hàng hoặc nếu vận đơn có ghi từ “dự định” hoặc tương tự có liên quan đến cảng xếp hàng, thì việc ghi chú hàng đã xếp lên tàu có ghi cảng xếp hàng như quy định trong Thư tín dụng, ngày giao hàng và tên của con tàu là cần thiết. Điều quy định này áp dụng ngay cả khi việc xếp hàng lên tàu hoặc giao hàng lên một con tàu chỉ định đã được ghi rõ bằng từ in sẵn trên vận đơn.

    1. Là bản vận đơn gốc duy nhất hoặc nếu phát hành hơn một bản gốc là trọn bộ bản gốc như thể hiện trên vận đơn.
    2. Chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở hoặc có dẫn chiếu các nguồn khác chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở (Vận đơn rút gọn hoặc trắng lưng). Nội dung các điều kiện và điều khoản chuyên chở sẽ không được xem xét.
    3. Không thể hiện là phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu.

    Nhằm mục đích của điều khỏan này, chuyển tải có nghĩa là dỡ hàng xuống từ con tàu này và lại xếp hàng lên con tàu khác trong quá trình vận chuyển từ cảng xếp hàng tới cảng dỡ hàng quy định trong Thư tín dụng

    c.i. Một vận đơn có thể ghi hàng hóa sẽ hoặc có thể chuyển tải miễn là toàn bộ hành trình vận chuyển chỉ sử dụng một và cùng một vận đơn.

    1. Một vận đơn ghi việc chuyển tải sẽ hoặc có thể xảy ra là có thể chấp nhận, ngay cả khi Thư tín dụng cấm chuyển tải, nếu hàng hóa được giao bằng container, xe móoc, hoặc xà lan tàu LASH ghi trên vận đơn.
    2. các điều khoản trong vận đơn quy định rằng người chuyên chở dành quyền chuyển tải sẽ không được xem xét.

    Điều 21: Giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng (NNSWB)

    1. Một giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng, dù gọi như thế nào, phải:
    2. Ghi rõ tên người chuyên chở và được ký bởi:
    • người chuyên chở hoặc một đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt mgười chuyên chở, hoặc
    • thuyền trưởng hoặc đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt thuyền trưởng.

    Các chữ ký của người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý phải phân biệt được đâu là chữ ký của người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý.

    Chữ ký của đại lý phải ghi rõ là đại lý đã ký thay mặt cho hoặc đại diện cho người chuyên chở hoặc thay mặt hay đại diện cho thuyền trưởng.

    1. Chỉ rõ rằng hàng hóa đã được xếp lên một con tàu chỉ định tại cảng xếp hàng quy định trong Thư tín dụng, bằng:
    • in sẵn trên vận đơn, hoặc
    • một ghi chú hàng đã xếp lên tàu có ghi ngày mà hàng đã được xếp lên tàu.

    Ngày phát hành NNSWB được coi như là ngày giao hàng, trừ khi NNSWB có ghi chú hàng đã xếp lên tàu có ghi ngày giao hàng, trong trường hợp này, ngày ghi ở trong ghi chú hàng đã xếp lên tàu đựơc coi là ngày giao hàng.

    Nếu NNSWB có ghi “con tàu dự định” hoặc tương tự có liên quan đến tên con tàu, thì việc ghi chú hàng đã xếp lên tàu kèm theo ngày giao hàng và tên con tàu thực tế là cần thiết.

    iii. Thể hiện việc giao hàng từ cảng xếp đến cảng dỡ hàng quy định trong Thư tín dụng

    Nếu NNSWB không thể hiện cảng xếp hàng quy định trong Thư tín dụng là cảng xếp hàng hoặc nếu có ghi từ “dự định” hoặc tương tự liên quan đến cảng xếp hàng, thì việc ghi chú đã xếp hàng, nói rõ cảng xếp hàng là cảng xếp quy định trong Thư tín dụng, ngày giao hàng và tên con tàu là cần thiết. Điều quy định này cũng áp dụng ngay cả khi việc xếp hàng lên tàu hoặc giao hàng cho con tàu chỉ định được thể hiện bằng từ in sẵn trên NNSWB.

    1. Là bản gốc duy nhất hoặc nếu phát hành nhiều hơn một bản gốc thì toàn bộ bản gốc như thể hiện trong NNSWB.
    2. Chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở hoặc có dẫn chiếu đến các nguồn khác chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở (NNSWB rút gọn hoặc trắng lưng). Nội dung các điều kiện và điều khoản chuyên chở sẽ không được xem xét.
    3. Không thể hiện là phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu.
    4. Nhằm mục đích của điều khỏan này, chuyển tải có nghĩa là dỡ hàng xuống từ một con tàu và xếp hàng lên một con tàu khác trong hành trình vận chuyển từ cảng xếp hàng tới cảng dỡ hàng quy định trong Thư tín dụng

    c.i. NNSWB có thể ghi hàng hóa sẽ hoặc có thể chuyển tải miễn là toàn bộ hành trình vận chuyển chỉ sử dụng một và cùng một NNSWB.

    1. Một NNSWB ghi chuyển tải sẽ hoặc có thể xảy ra là có thể chấp nhận, ngay cả khi Thư tín dụng cấm chuyển tải, nếu hàng hóa được giao bằng container, xe móoc hoặc xà lan tàu LASH thể hiện trên NNSWB.
    2. Các điều khoản trong NNSWB quy định rằng người chuyên chở dành quyền chuyển tải sẽ không được xem xét đến.

    Điều 22: Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu

    1. Một vận đơn, dù được gọi tên như thế nào, có ghi là phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu (vận đơn theo hợp đồng thuê tàu) phải:
    2. được ký bởi:
    • thuyền trưởng hoặc một đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt thuyền trưởng, hoặc
    • chủ tàu hoặc đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt chủ tàu
    • người thuê tàu và đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt người thuê tàu.

    Các chữ ký của thuyền trưởng, chủ tàu, người thuê tàu hoặc đại lý phải phân biệt được đó là chữ ký của thuyền trưởng, chủ tàu, người thuê tàu hoặc đại lý.

    Chữ ký của đại lý phải thể hiện là đại lý đã ký thay mặt cho hoặc đại diện cho thuyền trưởng, chủ tàu hoặc người cho thuê.

    Một đại lý khi ký cho hoặc thay mặt cho chủ tàu hoặc người thuê tàu phải ghi tên của chủ tàu hoặc của người thuê tàu.

    1. thể hiện hàng hóa đã được xếp lên con tàu chỉ định tại cảng xếp hàng quy định trong Thư tín dụng, bằng:
    • in sẵn trên vận đơn, hoặc
    • ghi chú hàng đã xếp lên tàu có ghi ngày mà vào ngày đó hàng hóa đã được xếp lên tàu.

    Ngày phát hành vận đơn theo hợp đồng thuê tàu sẽ được coi là ngày giao hàng, trừ khi trên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu có ghi chú hàng đã xếp lên tàu có ghi ngày giao hàng, trong trường hợp này, ngày ghi ở trong ghi chú hàng đã xếp lên tàu sẽ được coi là ngày giao hàng.

    iii. thể hiện việc giao hàng từ cảng xếp hàng tới cảng dỡ hàng quy định trong Thư tín dụng . Cảng dỡ hàng cũng có thể ghi là một loạt cảng hoặc một khu vực địa lý như quy định trong Thư tín dụng

    1. là một bản gốc vận đơn theo hợp đồng thuê tàu hoặc nếu phát hành nhiều hơn một bản gốc thì trọn bộ bản gốc như thể hiện trong vận đơn theo hợp đồng thuê tàu.
    2. Ngân hàng sẽ không kiểm tra các hợp đồng thuê tàu, ngay cả khi các hợp đồng thuê tàu này phải xuất trình theo yêu cầu của Thư tín dụng

    Điều 23: Chứng từ vận tải hàng không

    1. Một chứng từ vận tải hàng không, dù cho gọi tên như thế nào, phải:
    2. chỉ rõ tên của người chuyên chở và được ký bởi:
    • người chuyên chở, hoặc
    • một đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt người chuyên chở.

    Các chữ ký của người chuyên chở hoặc đại lý phải phân biệt được đó là chữ ký của người chuyên chở hoặc đại lý.

    Chữ ký của đại lý phải thể hiện là đại lý đã ký thay mặt cho hoặc đại diện cho người chuyên chở.

    1. chỉ rõ rằng hàng hóa đã được nhận để chở.
    • chỉ rõ ngày phát hành . Ngày này sẽ được coi là ngày giao hàng, trừ khi chứng từ vận tải hàng không có ghi chú cụ thể về ngày giao hàng thực tế, trong trường hợp đó, ngày ghi trong ghi chú đó sẽ được coi là ngày giao hàng.

    Bất cứ thông tin nào khác trên chứng từ vận tải hàng không có liên quan đến ngày và số chuyến bay sẽ không được xem xét để xác định ngày giao hàng.

    1. chỉ rõ sân bay khởi hành và sân bay đến quy định trong Thư tín dụng
    2. là bản gốc dành cho người gửi hàng hoặc người giao hàng, cho dù Thư tín dụng quy định một bộ đầy đủ bản gốc.
    3. chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở hoặc có dẫn chiếu đến các nguồn khác chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở. Nội dung các điều kiện và điều khoản chuyên chở sẽ không được xem xét.
    4. Nhằm mục đích của điều khỏan này, chuyển tải có nghĩa là dỡ hàng xuống từ máy bay này và lại xếp hàng lên máy bay khác trong một hành trình vận chuyển từ sân bay khởi hành tới sân bay đến quy định trong Thư tín dụng:

    c.i. Chứng từ vận tải hàng không có thể quy định rằng hàng hóa sẽ hoặc có thể được chuyển tải, miễn là toàn bộ hành trình vận chuyển một và cùng một chứng từ vận tải hàng không.

    1. Một chứng từ vận tải hàng không quy định rằng chuyển tải sẽ hoặc có thể xảy ra là có thể chấp nhận, ngay cả khi Thư tín dụng không cho phép chuyển tải.

    Điều 24: Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa.

    1. Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa, dù gọi tên như thế nào, phải:
    2. chỉ rõ tên của người chuyên chở và:
    • được ký bởi người chuyên chở, hoặc một đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt người chuyên chở, hoặc
    • thể hiện việc nhận hàng để chở bằng chữ ký, đóng dấu hoặc ghi chú bởi người chuyên chở hoặc đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt người chuyên chở.

    Các chữ ký, đóng dấu hoặc ghi chú nhận hàng hóa của người chuyên chở hoặc đại lý phải xác định được đó là của người chuyên chở hoặc đại lý.

    Các chữ ký, đóng dấu hoặc ghi chú nhận hàng hóa của đại lý phải chỉ rõ rằng đại lý đã ký hoặc hành động thay cho hoặc đại diện cho người chuyên chở.

    Nếu một chứng từ vận tải đường sắt không chỉ rõ được người chuyên chở, thì bất cứ chữ ký, đóng dấu của công ty đường sắt sẽ được chấp nhận như là bằng chứng về việc chứng từ đã được ký bởi người chuyên chở.

    1. chỉ ra ngày giao hàng hoặc ngày hàng hóa đã được nhận để giao, gửi đi hoặc chuyên chở tại nơi quy định trong Thư tín dụng . Trừ khi chứng từ vận tải có đóng dấu ghi ngày nhận hàng, có ghi ngày nhận hàng hoặc ngày giao hàng, nếu không ngày phát hành chứng từ vận tải sẽ được coi là ngày giao hàng.
    • chỉ ra nơi giao hàng và nơi hàng đến quy định trong Thư tín dụng

    b.i. Một chứng từ vận tải đường bộ phải thể hiện là bản gốc dành cho người gửi hàng hoặc cho người giao hàng hoặc không có dấu hiệu là dành cho ai.

    1. Một chứng từ vận tải đường sắt có ghi chú “bản gốc thứ hai” sẽ được chấp nhận như là bản gốc.
    • Một chứng từ vận tải đường sắt hoặc đường thủy nội địa sẽ được chấp nhận như là bản gốc, dù có ghi là bản gốc hay không.
    1. Trong trường hợp trên chứng từ vận tải không ghi số bản gốc đã được phát hành, thì số bản xuất trình sẽ được coi là một bộ đầy đủ.
    2. Nhằm mục đích của điều khoản này, chuyển tải có nghĩa là dỡ hàng xuống từ phương tiện vận chuyển này và xếp hàng lên một phương tiện vận chuyển khác, trong cùng một phương thức vận tải, trong quá trình vận chuyển

    từ nơi xếp hàng, gửi hàng hoặc nhận chuyên chở đến nơi đến quy định trong Thư tín dụng

    e.i. Một chứng từ vận tải đường sắt hoặc đường thủy nội địa có thể ghi là hàng hóa sẽ hoặc có thể chuyển tải, miễn là toàn bộ hành trình vận chuyển chỉ sử dụng một và cùng một chứng từ vận tải.

    1. Một chứng từ vận tải đường sắt hoặc đường thủy nội địa có thể ghi chuyển tải sẽ hoặc có thể xảy ra là có thể chấp nhận, ngay cả khi Thư tín dụng không cho phép chuyển tải.

    Điều 25: Biên lai chuyển phát, biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm

    1. Một biên lai chuyển phát, dù được gọi như thế nào, làm bằng chứng cho việc nhận hàng để chở, phải thể hiện:
    2. tên của công ty dịch vụ chuyển phát và đã được đóng dấu, hoặc đã ký bởi công ty dịch vụ chuyển phát chỉ định tại nơi hàng hóa sẽ được giao quy định trong Thư tín dụng
    3. ngày lấy hàng hoặc nhận hàng hoặc các từ tương tự. Ngày này được coi là ngày giao hàng.
    4. Một yêu cầu về chi phí chuyển phát sẽ trả hoặc trả trước có thể được thỏa mãn bằng một chứng từ vận tải do công ty dịch vụ chuyển phát phát hành trong đó quy định rằng chi phí chuyển phát sẽ do bên không phải là người nhận chịu.
    5. Biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm, dù cho được gọi tên như thế nào, là bằng chứng nhận hàng để chở phải được đóng dấu, ký tên và ghi ngày tại nơi giao hàng quy định trong Thư tín dụng . ngày này sẽ được coi là ngày giao hàng.

    Điều 26: “trên boong” “người gửi hàng xếp và đếm” “người gửi hàng kê khai gồm có” và chi phí phụ thêm vào cước phí.

    1. Chứng từ vận tải không được quy định là hàng hóa phải hoặc sẽ được xếp lên trên boong. Một điều khoản trên chứng từ vận tải quy định rằng hàng hóa có thể xếp trên boong sẽ được chấp nhận.
    1. Chứng từ vận tải có điều khoản ghi “Người gửi hàng xếp và đếm” và “Người gửi hàng kê khai gồm có” là có thể chấp nhận.
    2. Một chứng từ vận tải có thể bằng cách đóng dấu hoặc bằng cách khác, chỉ ra các chi phí phụ thêm vào cước phí.

    Điều 27: Chứng từ vận tải hoàn hảo

    Ngân hàng sẽ chỉ chấp nhận chứng từ vận tải hoàn hảo. Chứng từ vận tải hoàn hảo là chứng từ mà trên đó không có điều khoản hoặc ghi chú nào tuyên bố một cách rõ ràng về tình trạng khuyết tật của hàng hóa hoặc bao bì. Chữ hoàn hảo” hoàn hảo” không nhất thiết phải xuất hiện trên chứng từ vận tải, dù cho Thư tín dụng có yêu cầu đối với chứng từ vận tải là” đã xếp hoàn hảo”.

    Điều 28: Chứng từ bảo hiểm và bảo hiểm

    a.Chứng từ bảo hiểm, chẳng hạn như đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, hoặc tờ khai theo hợp đồng bảo hiểm bao, phải thể hiện là do một công ty bảo hiểm, người bảo hiểm hoặc đại lý hoặc người được ủy quyền của họ ký và phát hành.

    Chữ ký của đại lý hoặc của người được ủy quyền phải chỉ rõ là đại lý hoặc người được ủy quyền đã ký thay hoặc là đại diện cho công ty bảo hiểm hoặc người bảo hiểm.

    b.Nếu chứng từ bảo hiểm ghi rõ là đã được phát hành nhiều hơn một bản gốc, thì tất cả bản gốc phải được xuất trình.

    c.Phiếu bảo hiểm tạm thời sẽ không được chấp nhận.

    d.Đơn bảo hiểm được chấp nhận thay cho chứng nhận bảo hiểm hoặc tờ khai theo hợp đồng bảo hiểm bao.

    e.Ngày của chứng từ bảo hiểm không được muộn hơn ngày giao hàng, trừ khi trên chứng từ bảo hiểm thể hiện là bảo hiểm có hiệu lực từ một ngày không chậm hơn ngày giao hàng.

    f.i.Chứng từ bảo hiểm phải ghi rõ số tiền bảo hiểm và cùng loại tiền của Thư tín dụng.

    ii.Một yêu cầu của Thư tín dụng đối với mức bảo hiểm là theo tỷ lệ phần trăm của giá trị hàng hóa, của trị giá hóa đơn hoặc tương tự sẽ được coi là số tiền được bảo hiểm tối thiểu.

    Nếu không có quy định trong Thư tín dụng về mức bảo hiểm, thì số tiền bảo hiểm ít nhất phải bằng 110% của giá CIF hoặc CIP của hàng hóa.

    Khi trị giá CIF hoặc CIP không thể xác định được từ chứng từ, thì số tiền bảo hiểm phải được tính toán dựa trên cơ sở của số tiền thanh toán hoặc chiết khấu hoặc tổng giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn, tùy theo số tiền nào lớn hơn.

    iii. Chứng từ bảo hiểm phải ghi rõ rủi ro được bảo hiểm ít nhất là từ nơi nhân hàng để chở hoặc để giao đến nơi dỡ hàng hoặc nơi hàng đến cuối cùng như quy định trong Thư tín dụng

    1. Thư tín dụng phải quy định loại bảo hiểm được yêu cầu và những rủi ro phụ được bảo hiểm, nếu có. Một chứng từ bảo hiểm không đề cập đến các rủi ro không được bảo

    hiểm cũng sẽ được chấp nhận nếu như Thư tín dụng dùng những từ không rõ ràng như “rủi ro thông thường” hoặc “rủi ro tập quán”.

    1. Nếu Thư tín dụng yêu cầu bảo hiểm “mọi rủi ro” và một chứng từ bảo hiểm được xuất trình có điều khoản hoặc ghi chú “mọi rủi ro”, dù có hay không tiêu đề “mọi rủi ro”, thì chứng từ bảo hiểm vẫn được chấp nhận mà không cần phải xem một số rủi ro nào đó có bị loại trừ hay không.
    2. Chứng từ bảo hiểm có thể dẫn chiếu bất cứ điều khoản loại trừ nào.
    3. Chứng từ bảo hiểm có thể quy định việc bảo hiểm phụ thuộc vào mức miễn bồi thường (có trừ hoặc không trừ).

     

    Điều 29: Gia hạn ngày hết hiệu lực hoặc ngày cuối cùng phải xuất trình

    1. Nếu ngày hết hiệu lực của Thư tín dụng hoặc ngày cuối cùng phải xuất trình rơi vào ngày mà ngân hàng nhận xuất trình đóng cửa vì những lý do không phải là lý do đề cập đến tại điều 36, thì ngày hết hiệu lực hoặc ngày cuối cùng phải xuất trình, tùy từng trường hợp, có thể sẽ được gia hạn tới ngày làm việc tiếp theo đầu tiên của ngân hàng .
    2. Nếu việc xuất trình được thực hiện vào ngày làm việc tiếp theo đầu tiên của ngân hàng, thì ngân hàng chỉ định phải gửi cho ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận bản giải trình rằng xuất trình chứng từ được thực hiện trong giới hạn thời gian được kéo dài phù hợp với mục a điều 29.
    3. Ngày muộn nhất phải giao hàng sẽ không được gia hạn do hậu quả của mục a điều 29.

    Điều 30: Dung sai về số tiền, số lượng và đơn giá

    1. Các từ “khoảng” hoặc “ước chừng” được sử dụng có liên quan đến số tiền của Thư tín dụng hoặc số lượng hoặc đơn giá ghi trong Thư tín dụng được hiểu là cho phép một dung sai hơn hoặc kém 10% của số tiền hoặc số lượng hoặc đơn giá mà chúng nói đến.
    2. Một dung sai không vượt quá 5% hơn hoặc kém, về số lượng hàng hóa là được phép, miễn là Thư tín dụng không quy định số lượng tính bằng một số đơn vị bao kiện hoặc đơn vị chiếc và tổng số tiền thanh toán không vượt qua số tiền của Thư tín dụng
    3. Ngay cả khi cấm giao hàng từng phần, một dung sai không vượt 5% ít hơn số tiền của Thư tín dụng là được phép, miễn là số lượng hàng hóa, nếu quy định trong Thư tín dụng, được giao đầy đủ và đơn giá, nếu quy định trong Thư tín dụng, không được giảm hoặc mục b điều 30 không áp dụng. Dung sai này không áp dụng nếu Thư tín dụng quy định một dung sai cụ thể hoặc sử dụng cụm từ như đề cập tại mục b điều 30.

    Điều 31: Giao hàng và trả tiền từng phần

    1. Giao hàng và trả tiền từng phần là được phép.
    2. Việc xuất trình nhiều bộ chứng từ vận tải thể hiện việc giao hàng bắt đầu trên cùng một phương tiện vận tải và cùng chung một hành trình, miễn là có cùng một nơi đến, sẽ không được coi là giao hàng từng phần, ngay cả khi chứng từ vận tải ghi các ngày giao hàng khác nhau hoặc các cảng xếp hàng, nơi nhận hàng để chở hoặc nơi gửi hàng khác nhau. Nếu việc xuất trình gồm nhiều bộ chứng từ vận tải, thì ngày giao hàng sau cùng ghi trên bất cứ chứng từ vận tải nào sẽ được coi là ngày giao hàng.

    Việc xuất trình nhiều bộ chứng từ vận tải thể hiện giao hàng trên nhiều phương tiện vận tải trong cùng một phương thức vận tải sẽ được coi như là giao hàng từng

    phần, ngay cả khi các phương tiện vận tải rời cùng một ngày để đến cùng một nơi đến.

    1. Việc xuất trình nhiều biên lai chuyển phát, biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm sẽ không được coi là giao hàng từng phần, nếu như các biên lai chuyển phát, biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm đã được đóng dấu hoặc ký bởi cùng một hãng chuyển phát hoặc dịch vụ bưu điện tại cùng một nơi, cùng ngày và cùng nơi đến.

    Điều 32: Giao hàng và trả tiền nhiều lần

    Nếu việc trả tiền và giao hàng nhiều lần trong từng thời kỳ nhất định được quy định trong Thư tín dụng và bất cứ lần nào không trả tiền hoặc không giao hàng trong thời kỳ dành cho lần đó, thì Thư tín dụng không còn có giá trị đối với lần đó và bất cứ lần nào tiếp theo.

    Điều 33: Giờ xuất trình

    Ngân hàng không có nghĩa vụ tiếp nhận việc xuất trình ngoài giờ làm việc của mình.

     

    Điều 34: Miễn trách về tính hợp lệ của Chứng từ

    Ngân hàng chịu trách nhiệm đối với hình thức, sự đầy đủ, tính chíng xác, tính chân thực, sự giả mạo hoặc hiệu lực pháp lý của bất cứ chứng từ nào hoặc đối với các điều kiện chung hoặc điều kiện cụ thể quy định ở trong một chứng từ hoặc ghi thêm vào chứng từ đó; cũng như không cịu trách nhiệm đối với mô tả hàng hóa, số lượng, trọng lượng, chất lượng, điều kiện, bao gói, giao hàng, giá trị hoặc sự kiện hiện hữu của hàng hóa, dịch vụ hoặc các nội dung khác mà các chứng từ thể hiện. Ngân hàng cũng không chịu trách nhiệm về thiện chí hoặc các hành vi hoặc thiếu sót, khả năng thanh toán, thực hiện nghĩa vụ hoặc địa vị của người gửi hàng, người chuyên chở, người giao

    nhận, người nhận hàng hoặc người bảo hiểm hàng hóa hoặc bất cứ người nào khác.

    Điều 35: Miễn trách về trao đổi thông tin và dịch thuật

    Ngân hàng không chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh từ sự chậm trễ, thất lạc, thiệt hại hoặc các sai sót khác phát sinh trong quá trình truyền thư từ, điện tín, hoặc chuyển giao thư từ hoặc chứng từ nếu các điện tín, các thư từ hoặc các chứng từ được chuyển hoặc gửi đi phù hợp với các yêu cầu quy định trong Thư tín dụng, hoặc nếu ngân hàng có thể đã có sáng kiến trong việc lựa chọn dịch vụ chuyển giao khi Thư tín dụng không có hướng dẫn cụ thể.

    Nếu một ngân hàng chỉ định quyết định rằng việc xuất trình là phù hợp và chuyển chứng từ đến ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận, dù cho ngân hàng chỉ định đã thanh toán hoặc chiết khấu hay chưa, thì ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận phải thanh tóan hoặc chiết khấu hoặc hoàn lại tiền cho ngân hàng chỉ định, ngay cả khi các chứng từ đã bị mất trong quá trình chuyển giao giữa ngân hàng chỉ định và ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận hoặc giữa ngân hàng xác nhận và ngân hàng phát hành

    Ngân hàng không chịu trách nhiệm đối với các sai sót trong việc dịch hoặc giải thích các thuật ngữ chuyên môn và có thể chuyển nguyên các thuật ngữ đó mà không phải dịch chúng.

    Điều 36: Bất khả kháng

    Ngân hàng không chịu trách nhiệm đối với các hậu quả phát sinh ra từ sự gián đoạn hoạt động kinh doanh của mình do thiên tai, bạo động, dân biến, nổi dậy, chiến tranh, hành động khủng bố hoặc do bất cứ các cuộc đình công hoặc bế xưởng hoặc bất cứ các nguyên nhân nào khác vượt ra ngoài sự kiểm soát của họ.

    Khi bắt đầu hoạt động kinh doanh trở lại, ngân hàng không phải thanh tóan hoặc chiết khấu cho các Thư tín dụng đã hết hạn trong thời gian gián đọan kinh doanh của ngân hàng

    Điều 37: Miễn trách về hành động của một bên ra chỉ thị

    1. Một ngân hàng sử dụng dịch vụ của một ngân hàng khác để thực hiện các chỉ thị của người yêu cầu, thì ngân hàng làm việc đó với chi phí và rủi ro của người yêu cầu
    2. Ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng thông báo không chịu trách nhiệm nếu các chỉ thị mà họ truyền đạt tới ngân hàng khác không được thực hiện, ngay cả khi họ đã chủ động tự lựa chọn ngân hàng đó.
    3. Một ngân hàng chỉ thị cho ngân hàng khác thực hiện dịch vụ thì phải chịu trách nhiệm đối với bất cứ phí hoa hồng, lệ phí, các chi phí hoặc thủ tục phí mà ngân hàng nhận chỉ thị đã chi ra liên quan tới các chỉ thị đó của mình.

    Nếu Thư tín dụng quy định các chi phí là do người thụ hưởng chịu và các chi phí đó không thể thu được hoặc khấu trừ vào số tiền thu được, thì ngân hàng phát hành vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán các chi phí đó.

    Thư tín dụng hoặc sửa đổi không được quy định rằng việc thông báo cho người thụ hưởng sẽ được thực hiện là có điều kiện, nó phụ thuộc vào việc ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng thông báo thứ hai nhận được chi phí của người thụ hưởng.

    1. Người yêu cầu sẽ bị ràng buộc vào và có trách nhiệm bồi thường cho ngân hàng đối với mọi nghĩa vụ và trách nhiệm được quy định bởi luật và tập quán nước ngoài.

    Điều 38: Thư tín dụng có thể chuyển nhượng

    1. Ngân hàng không có nghĩa vụ chuyển nhượng Thư tín dụng, trừ khi ngân hàng đó đồng ý một cách rõ ràng về mức độ và cách chuyển nhượng.
    2. Nhằm mục đích của điều khoản này:

    Thư tín dụng có thể chuyển nhượng là một Thư tín dụng có quy định rõ ràng là “có thể chuyển nhượng” và có giá trị thanh toán toàn bộ hay từng phần cho người thụ hưởng khác (“người thụ hưởng thứ hai”) theo yêu cầu của người thụ hưởng (“thứ nhất”).

    Ngân hàng chuyển nhượng là một ngân hàng chỉ định để tiến hành chuyển nhượng Thư tín dụng hoặc, trong trường hợp Thư tín dụng có giá trị thanh toán với bất cứ ngân hàng nào, thì nó là một ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy quyền chuyển nhượng và thực hiện chuyển nhượng Thư tín dụng . Ngân hàng phát hành có thể là ngân hàng chuyển nhượng.

    Thư tín dụng được chuyển nhượng là Thư tín dụng đã có giá trị thanh toán được thực hiện bởi ngân hàng chuyển nhượng cho người thụ hưởng thứ hai.

    1. Trừ khi có sự thỏa thuận khác vào lúc chuyển nhượng, tất cả các chi phí (như hoa hồng, lệ phí, thủ tục phí hoặc chi phí) xảy ra liên quan đến việc chuyển nhượng là do người thụ hưởng thứ nhất thanh toán.
    2. Một Thư tín dụng có thể được chuyển nhượng từng phần cho nhiều người thụ hưởng thứ hai, miễn là Thư tín dụng cho phép trả tiền và giao hàng từng phần.

    Một Thư tín dụng chuyển nhượng không thể chuyển nhượng theo yêu cầu của người thụ hưởng thứ hai cho bất cứ người thụ hưởng kế tiếp nào. Người thụ hưởng thứ nhất không được coi là người thụ hưởng tiếp theo.

    1. Mọi yêu cầu chuyển nhượng phải ghi rõ sự cần thiết và điều kiện sửa đổi để có thể thông báo cho người thụ hưởng thứ hai. Thư tín dụng được chuyển nhượng phải quy định rõ những điều kiện này.
    2. Nếu một Thư tín dụng được chuyển nhựơng cho nhiều người thụ hưởng thứ hai, thì việc từ chối sửa đổi của một hay nhiều người thụ hưởng thứ hai không làm mất giá trị chấp nhận đối với cứ những người thụ hưởng thứ hai khác, và Thư tín dụng chuyển nhượng vẫn được sửa đổi một cách thông thường. Đối với bất cứ người thụ hưởng thứ hai nào đã từ chối sửa đổi, thì Thư tín dụng chuyển nhượng vẫn giữ nguyên, không sửa đổi.
    3. Thư tín dụng đã chuyển nhượng phải phản ánh chính xác các điều kiện và điều khoản của Thư tín dụng, bao gồm cả xác nhận, nếu có, trừ:
    • Số tiền của Thư tín dụng
    • đơn giá nêu trong Thư tín dụng
    • ngày hết hạn hiệu lực
    • thời hạn xuất trình chứng từ, hoặc
    • ngày giao hàng chậm nhất hoặc thời hạn giao hàng,
    • bất cứ hoặc tất cả các loại trừ nêu trên có thể giảm hoặc bớt đi.

    Tỷ lệ phải bảo hiểm có thể tăng tới mức của số tiền bảo hiểm quy định trong Thư tín dụng hoặc trong điều khoản này.

    Tên của người thụ hưởng thứ nhất có thể thay thế bằng tên của người yêu cầu trong Thư tín dụng

    Nếu Thư tín dụng đặc biệt đòi hỏi tên của người yêu cầu phải thể hiện trên mọi chứng từ, trừ hóa đơn, thì các yêu cầu đó phải được phản ánh trong Thư tín dụng chuyển nhượng.

    1. Người thụ hưởng thứ nhất có quyền thay thế hóa đơn và hối phiếu của mình, nếu có, bằng hóa đơn và hối phiếu của người thụ hưởng thứ hai nhưng số tiền không được vượt quá số tiền quy định trong Thư tín dụng, và khi thay thế chứng từ như thế, người thụ hưởng thứ nhất có thể đòi tiền theo Thư tín dụng số tiền chêch lệch, nếu có, giữa hóa đơn của mình với hóa đơn của người thụ hưởng thứ hai.
    2. Nếu người thụ hưởng thứ nhất phải xuất trình hóa đơn và hối phiếu của mình, nếu có, nhưng không thực hiện ngay khi có yêu cầu đầu tiên, hoặc nếu các hóa đơn xuất trình của nguời thụ hưởng thứ nhất có sự khác biệt mà trong xuất trình của người thụ hưởng thứ hai không có và người thụ hưởng thứ nhất không sửa chữa chúng trong lần yêu cầu đầu tiên, thì ngân hàng chuyển nhượng có quyền xuất trình chứng từ như đã nhận được từ người thụ hưởng thứ hai cho ngân hàng phát hành mà không chịu trách nhiệm gì thêm đối với người thụ hưởng thứ nhất.
    3. Người thụ hưởng thứ nhất, trong yêu cầu chuyển nhượng của mình, có thể quy định rằng việc thanh toán hoặc chiết khấu phải được thực hiện cho người thụ hưởng thứ hai tại nơi mà Thư tín dụng đã được chuyển nhượng, cho đến khi và bao gồm cả ngày Thư tín dụng hết hiệu lực. Điều này không làm phương hại đến quyền của người thụ hưởng thứ nhất theo quy định tại mục h điều 38.
    4. Việc xuất trình chứng từ của hoặc thay mặt người thụ hưởng thứ hai phải được thực hiện tới ngân hàng chuyển nhượng.

    Điều 39: Chuyển nhượng số tiền thu được

    Việc một Thư tín dụng không ghi là có thể chuyển nhượng được, sẽ không ảnh hưởng tới quyền của người thụ hưởng chuyển nhượng mọi khoản tiền mà mình có thể có quyền được hưởng theo Thư tín dụng, phù hợp với quy định của luật pháp hiện hành. Điều khoản này chỉ liên quan đến việc chuyển nhượng các khoản tiền chứ không liên quan đến việc chuyển nhượng thực hiện theo Thư tín dụng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây 


  • Đề thi tham khảo – Thanh toán quốc tế

    Đề thi tham khảo – Thanh toán quốc tế

    Đề thi tham khảo – Thanh toán quốc tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề thi giữa kỳ Thanh toán quốc tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%81-thi-tham-kh%E1%BA%A3o-Thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề thi tham khảo – Thanh toán quốc tế

    Đề thi tham khảo – Thanh toán quốc tế

    Câu 1:

     Loại hối phiếu mà ko cần kí hậu là:

    a)Hối phiếu đích danh

    b)Hối fiếu theo lệnh

    c)Hối fiếu xuất trình

    à C. Vì đây là loại hối fiếu vô danh. Trên hối fiếu ko ghi tên người hưởng lợi mà chỉ ghi “trả cho người cầm fiếu”à ai cầm đc hối fiếu thì người đó đc hưởng lợi, ko cần kí hậu

    Câu 2:

     Thuật ngữ “chiết khấu” có nghĩa là

    a)Thanh tóan ngay lập tức

    b)Kiểm tra chứng từ rồi gửi chứng từ đến NH FH L/C yêu cầu thanh toán

    c)Kiểm tra chứng từ và thanh toán trước ngày đáo hạn

    àC. Vì CK là dạng tài trợ ngắn hạn của NH cho người thụ hưởng, theo đó người thụ hưởng chuyển nhượng giấy tờ có giá chưa đáo hạn cho NH để nhận số tiền bằng mệnh giá trừ fần lãi và hoa hồng fí. Vì vậy khi CK chính là việc kiểm tra chứng từ để xem chứng tù có đủ đk để Ck hay ko và khi đủ đk CK thì sẽ đc CK và việc đc CK chính là việc thanh toán các giấy tờ có giá trước khi đáo hạn.

    Câu 3:

    Đồng tiền tính toán, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng thương mại fải là ngoại tệ tự do chuyển đổi

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vì việc lựa chọn đồng tiền tính tóan và đồng tiền thanh toán trog HĐTM là do 2 bên XK và NK thỏa thuận, nó có thể là đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi, nó có thể là đồng nội tệ của nước đó or đồng tiền của 1 nước thứ 3.

    Câu 4.

    Phương tiện thanh tóan có nhiều tiện ích, tiết kiệm tiền mặt, an toàn đơn giản linh hoạt

    a)Hối fiếu

    b)Lệnh fiếu

    c)Séc

    d)Thẻ

    àD. Vì khi sử dụng thẻ thì ko fải sử dụng nhiều tiền mặtà tiết kiệm đc CF in ấn, bảo quản, vận chuyển, gửi 1 nơi có thể rút đc nhiều nơi và vào bất cứ thời gian nào. Mặt khác các loại thẻ đc làm bằng công nghệ cao, mã hóa nên rất an tòan. Khi sử dụng thẻ còn giúp khách hàng điều chỉnh các khoản chi tiêu 1 cách hợp lí trong 1 khoảng thời gian nhất định với HMTD vì vậy nó cũng rất linh hoạt

    Câu 5:

    Loại L/C nào sau đây đc coi là phương tiện tài trợ vốn cho nhà xuất khẩu

    a)Irrevocable credit

    b)Red clause credit

    c)Revolving credit

    d)Irrevocable transferable credit

    àB. Vì đây là loại tín dụng ứng trước, nó cho fép NH thông báo hay NH xác nhận ứng tiền trước cho người thự hưởng trước khi họ xuất trình chứng từ hàng hóaà thường đc sử dụng như 1 phương tiện cấp vốn cho bên bán trước khi giao hàng

    Câu 6:

    Vì lợi ích quốc gia, nhà nhập khẩu nên lựa chọn đk giao hàng:

    a)FOB

    b)FAS

    c)CIF

    d)CFR (C&F)

    àA. Vì giá FOB rẻà Người nhập khẩu tiết kiệm chi trả ngoại tệ, người nhập khẩu là người chịu trách nhiệm thuê tầu và mua bảo hiểm: trả bằng nội tệ, mặt khác vì thuê ở trong nước nên nơi nào thuận tiện thì muaà tạo việc làm cho đối tác, mua tận gốc bán tận ngọn

    àB

    Câu 7:

    Theo UCP 500, khi L/C ko quy định thời hạn xuất trình chứng từ thì được hiểu là:

    a)7 ngày làm việc của NH

    b)7 ngày sau ngày giao hàng

    c)21 ngày sau ngày giao hàng

    d)21 ngày sau ngày giao hàng nhưng fải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C đó

    àD

    Câu 8:

     Trong mọi hình thức nhờ thu, trách nhiệm của Collecting Bank là:

    a)Trao chứng từ cho nhà nhập khẩu

    b)Khống chế chứng từ cho đến khi nhà NK trả tiền

    c)Khống chế chứng từ cho đến khi nhà NK kí chấp nhận hối phiếu

    d)Tất cả các câu trên đều ko chính xác

    àD. Vì +Trong thanh toán nhờ thu kèm chứng từ, nhà nhập khẩu gửi ủy thác bộ chứng từ cho NH phục vụ mình để thu tiền. NH nhờ thu chuyển chứng từ tới NH bên NK với chỉ thị chỉ giao các chứng từ này khi đã thanh toán (thanh tóan D/P) hoặc fải kí chấp nhận hối phiếu đòi nợ (D/A)

    +Trong thanh toán nhờ thu trơn: các chứng từ thương mại do bên xuất khẩu chuyển giao trực tiếp cho bên NK, thông qua NH

    Câu 9:

    Chiết khấu miễn truy đòi trong thanh toán tín dụng chứng từ thực chất là mua đứt bộ chứng từ hàng hóa:

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vì theo nghiệp vụ này khi NH chiết khấu đã thanh toán trả tiền cho nhà XK, sau đó NH chiết khấu vì bất cứ lí do gì nếu ko đòi tiền đc từ NH FH thì cũng ko đc đòi lại số tiền đã trả cho nhà XK. NH đứng ra chiết khấu chỉ là NH đc chỉ định chiết khấu, trả thay NH FH, sau khi chiết khấu song thì có quyền đòi lại số tiền chiết khấu từ NH FH (Chứng từ fải hợp lệ)

    àA

    Câu 10:

    Ngày giao hàng được hiểu là:

    a)Ngày “Clean on board” trên B/L

    b)Ngày FH B/L

    c)Tùy theo loại B/L sử dụng

    àC. vì nếu trên vận đơn ko có ghi chú riêng biệt về ngày giao hàng thì ngày fát hành vận đơn chính là ngày giao hàng. Còn nếu trên vận đơn được fát hành sau khi hàng hóa được bốc lên tàu thì ngày “lên tàu” được xem là ngày giao hàng.

    Câu 11:

    Sử dụng thẻ thanh toán có nhiều ưu điểm hơn séc du lịch, là

    a)Đúng

    b)Sai

    àA. Vì sử dụng thẻ thanh toán có thể rút tiền mặt ở nhiều nơi, vào bất cứ thời gian nào mà ko fải thông qua NH.Mặt khác, thẻ đc làm bằng công nghệ cao, có mã hóa nên tránh đc mất mát hay trộm cắp, khi sử dụng thẻ KH còn được sử dụng 1 số dvụ khác miễn phí và có sự ưu đãi…

    Câu 12:

    NH chuyển chứng từ (remitting bank) fải kiểm tra nội dung các chứng từ liệt kê trên yêu cầu nhờ thu nhận đc từ người nhờ thu, là:

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vì các NH chuyển chứng từ chỉ là trung tâm thanh toán, chỉ thực hiện việc chuyển chứng từ theo đúng những chỉ thị trong nhờ thu và trong nội dung fù hợp với quy định của URC đc dẫn chiếu mà ko có trách nhiệm fải kiểm tra nội dung các chứng từ

    Câu 13:

    Căn cứ xác định giao hàng từng fần trog vận tải biển

    a)Số lượng con tầu, hành trình

    b)Hành trình, số lượng cảng bốc, cảng dỡ

    c)Số lượng con tầu, số lượng cảng bốc cảng dỡ

    d)Tất cả đều ko chính xác

    àD. Vì trên vận đơn các thông số: con tầu hành trình chuyên chở, cảng đi, cảng đến, hàng hóa, số hiệu chuyến tàu…

    Câu 14:

    Người quyết định cuối cùng rằng bộ chứng từ có fù hợp với các đk và điều khoản của L/C là

    a)Issuing bank

    b)Applicant

    c)Negotiating bank

    d)Reimbursement bank

    àA. Vì NH FH chịu trách nhiệm chính về việc thanh toán giá trị của tín dụng. KHi NH thanh tóan gửi bộ chứng từ đến, NHFH fải kiểm tra xem có fù hợp với những điều khoản trong thư tín dụng ko. Nếu fù hợp thì trả tiền cho NH thanh toán, nếu ko fù hợp NH có quyền từ chối việc hoàn lại số tiền đã thanh toán

    Câu 15:

    Ko thể sử dụng 2 đồng tiền trong cùng 1 hợp đồng thương mại, là:

    a)ĐÚng

    b)Sai

    àB. Vì trong HĐTM có thể dùng đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh tóan là 2 đồng tiền khác nhau, tùy theo sự thỏa thuận của 2 bên

    Câu16:

    Điều khoản chuyển tải chỉ có thể thực hiện đc khi L/C đó cho phép giao hàng từng fần

    a)ĐÚng

    b)Sai

    àB.

    Câu 17:

    Để hạn chế rủi ro khi áp dung thanh tóan nhờ thu, nhà xuất khẩu nên lựa chọn hối fiếu trơn, là

    a)ĐÚng

    b)Sai

    àB. Vì phương thức thanh toán nhờ thu trơn là phương thức thanh toán ko kèm chứng từ. Vì vậy ko đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu, vì giữa việc nhận hàng và thanh toán của người nhập khẩu ko có sự ràng buộc lẫn nhauà người xuất khẩu gặp nhiều rủi ro

    Câu 18:

    UCP 500 là văn bản pháp lí bắt buộc tất cả các chủ thể tham gia thanh toán tín dụng chứng từ fải thực hiện là

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vì UCP 500 là loại văn bản mang tính pháp lí tùy ý , ko mang tính chất bắt buộc. Tính bắt buộc chỉ thể hiện khi các bên liên quan đã tuyên bố áp dụng nó và dẫn chiếu trong L/C

    Câu 19:

    Lợi thế của nhà nhập khẩu trong D/P và D/A là như nhau

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Đối với D/A nhà NK đc sử dụng hay bán hàng hóa mà chưa fải thanh toán cho đến khi hối phiếu đến hạn thanh toánà ko bị sức ép về vốnà rủi ro thuộc về người XK. Đối với D/P nhà NK fải trả tiền rồi mới đc nhận hàng, bị sức ép về vốnà rủi ro thuộc về người NK như hàng ko đúng chất lượng, yêu cầu, thời gian …

    Câu 20:

    Một B/L hoàn hảo bắt buộc fải có từ hoàn hảo clean trên bề mặt của vận đơn đó, là

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vận đơn sạch là vận đơn trên đó thuyền trưởng ko viết gì vào vận đơn hoặc viết vào đó nhg nói tất cả hàng hóa nhìn bề ngoài đều đảm bảo quy cách đóng gói xuất khẩu. Vì vậy 1 B/L hoàn hảo ko nhất thiết fải có từ clean trên bề mặt

    Câu 21:

    Thời điểm NH fát hành L/C bị ràng buộc trách nhiệm thanh toán đối với sửa đổi thư tín dụng đc xác định là:

    a)Từ ngày FH sửa đổi L/C đó

    b)7 ngày làm việc tiếp theo tính từ ngày FH sửa đổi L/C đó

    c)Tất cả đều ko chính xác

    àA. Vì thời hạn hiệu lực được tính từ ngày FH đến ngày hết hạn hiệu lực của thư tín dụng

    Câu 22:

    Hai loại hàng hóa đc quy định trong L/C là: 30 xe tải và 15 máy kéo. L/C cho phép giao từng fần. NH FH từ chối thanh tóan vì trên hóa đơn mô tả 20 xe tải, là:

    a)Đúng

    b)Sai

    àA. Vì trên hoá đơn fải mô tả tổng giá trị của hợp đồng (30 xe tải +15 xe kéo) vì từ ngày xuất trình ctừ thanh toán được thực hiện sau khi giao hàngà NH có quyền từ chối hóa đơn có số tiền ko khớp giá trị của L/C

    Câu 23:

    Trong phương thức thanh toán nhờ thu trơn (Clean Collection), nhà xuất khẩu fải xuất tình ctừ nào qua NH:

    a)Bill of Lading

    b)Bill of Exchange

    c)Invoice

    d)C/O

    àB. Vì trong phương thức nhờ thu trơn chỉ căn cứ vào hối fiếu do nhà XK lập ra. Các ctừ thương mại do bên XK chuyển giao trực tiếp cho bên nhập khẩu, ko qua NH. Mà các ctừ B/L, invoice, C/O lại là các ctừ thương mại, chỉ có B/L là ctừ tài chính

    Câu24: 1 NH đã xác định thư tín dụng thì fải có trách nhiệm xác nhận những sửa đổi của L/C đó:

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vì NH xác nhận là NH do người thụ hưởng ko tin tưởng vào khả năng thanh toán của NH FH nên họ thường yêu cầu NH có uy tín trong lĩnh vực tài chính tiền tệ xác nhận vào thư tín dụng, vì vậy NH xác nhận chịu trách nhiệm thanh tóan số tiền trong thư tín dụng cho người thụ hưởng. Còn trách nhiệm xác nhận những sửa đổi trong L/C đó do NHFH chịu trách nhiệm

    Câu 25: Bộ chứng từ hoàn hảo là cơ sở để

    a)Nhà xuất khẩu đòi tiền NH FH L/C

    b)Nhà nhập khẩu hòan trả NH FH số tiền đã thanh tóan cho người thụ hưởng

    c)NH xác nhận thực hiện cam kết thanh toán

    d)Tất cả các câu trên đều đúng

    àD. Vì nhà xuất khẩu xuất trình bộ ctừ fù hợp với đk quy định của L/C, NH bên NK (NHFH) sẽ thanh toán giá trị L/C cho người thụ hưởng. Sau đó NH sẽ giao lại bộ ctừ hoàn hảo này cho NH NK để họ nhận hàng với đk nhà NK fải thanh toán bồi hoàn giá trị L/C cho NH theo hợp đồng đã kí kết.

    Trong trường hợp sử dụng L/C xác nhận thì khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ ctừ fù hợp với đk của L/C thì sẽ đc chấp nhận thanh toán giá trị L/C như cam kết.

    Câu 26: Rủi ro của NH fục vụ nhà nhập khẩu trong thanh toán nhờ thu và tín dụng chứng từ là như nhau

    a)ĐÚng

    b)Sai

    àB. Vì trong thanh toán nhờ thu NH fục vụ người nhập khẩu chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán nên ko gặp rủi ro. Còn trong thanh toán L/C thì NH fục vụ người NK có thể gặp rủi ro khi người nhập khẩu chủ tâm ko hòan trả hoặc ko có khả năng hòan trả trong khi NH fải chịu trách nhiệm thanh tóan theo quy định của L/C

    Câu 27: Sửa đổi L/C chỉ được thực hiện bởi NH đã FH L/C đó, là

    a)Đúng

    b)Sai

    àA. Vì trong thanh toán tín dụng ctừ NHFH chịu trách nhiệm thanh toán, nên rủi ro thanh toán thuộc về NHFH. Vì vậy NHFH là người có quyền quyết định sửa đổi bổ xung các điều khoản của L/C

    Câu 28: Thông báo sửa đổi thư tín dụng cho người hưởng lợi chỉ được thực hiện bởi NH đã thông báo L/C đó, là:

    a)Đúng

    b)Sai

    àA. VÌ trong tín dụng ctừ NH thông báo có trách nhiệm chuyển thư tín dụng và thông báo cho người XK. Nên sau khi L/C đc sửa đổi bổ xung thì những nội dung sửa đổi, bổ xung sẽ đc gửi tới người XK thông qua NH thông báo

    Câu 29: Ngày 10/10/2005 Ngân hàng A tiếp nhận 1 B/E đòi tiền kí fát ngày 01/10/2005 có quy định thời hạn thanh tóan là: 30 days after sight. Là NH FH L/C, ngân hàng A fải trả tiền:

    a)30 ngày kể từ ngày 01/10/2005

    b)30 ngày kể từ ngày 11/10/2005

    àB. Vì theo quy định về thời hạn thanh toán của hối phiếu là 30 ngày sau khi nhìn thấy hối fiếu này (hối fiếu kì hạn). Vì vậy ngày 10/10/05 NH nhìn thấy thì NH sẽ fải trả tiền trong vòng 30 ngày kể từ ngày 11/10/05

    Câu30: L/C quy định cho fép xuất trình chứng từ tại VCB. Ctừ đc xuất trình tại ICB và ICB đã chuyển ctừ tời NH FH L/C để đòi tiền. Ngân hàng FH từ chối thanh toán, là:

    a)Đúng

    b)Sai

    àA. Vì trong L/C quy định xuất trình ctừ VCB, thì chỉ khi ctừ đc xuất trình tại VCB thì mới đc thanh toán còn xuất trình tại ICB thì sẽ ko đc thanh tóan mặc dù ctừ L/C hợp lệ. Vì vậy NHFH từ chối thanh tóan vì ctừ ko đc xuất trình đúng quy định

    Câu 31: Trong thanh toán nhờ thu người kí fát hối fiếu là:

    a)Xuất khẩu

    b)Nhập khẩu

    c)Ngân hàng

    àA. Vì trong phương thức nhờ thu, sau khi người XK giao hàng hóa hoặc cung cấp dvụ cho KH, người XK ủy thác cho NH fục vụ mình thu hộ số tiền ở người NK trên cơ sở tờ hối fiếu do người XK kí fát

    Câu 32: Trong thanh toán tín dụng chứng từ người trả tiền hối phiếu là

    a)Xuất khẩu

    b)Nhập khẩu

    c)NHFH

    d)NHTT

    àC. Vì trong thanh toán tín dụng ctừ thì NHFH có trách nhiệm chính về việc thanh toán giá trị của tín dụng

    Câu 33: Khi nhận đc các chỉ thị ko đầy đủ hoặc ko rõ ràng để thông báo thư tín dụng thì ai có trách nhiệm fải cung cấp các thông tin cần thiết ko chậm trễ để giúp NHTB xác minh tính chân thật bề ngoài của thư tín dụng

    a)XK                                                   e)NHXK

    b)NK                                                  f)NHCK        

    c)NHFH                                             g)NHHT

    d)NHTB                                             h)NHTT

    àC. Vì NHFH là NH biết rõ tình hình tài chính thẩm định các thông tin của người NK, sau khi xem xét kĩ lưỡng thì NHFH fát hành thư tín dụng và gửi thư tín dụng này cho ngừơi XK thông qua NHTB. VÌ vậy khi các chỉ thị ko rõ ràng… thì để xác minh tính chân thật bề ngòai của thư tín dụng thì fải gặp NHFH

    Câu 34: Người kí trả tiền kì fiếu là:

    a)NK

    b)XK

    c)Cả a và b

    àA. Vì kì fiếu là giấy nhận nợ, do con nợ tự lập và kí fát thành hối fiếu để nhận nợ với chủ nợ

    Câu 35: Trong thanh toán XNK có sử dụng hối fiếu. Các DN VN áp dụng ULB

    a)Đúng

    b)Sai

    c)Tùy từng hợp đồng

    àA. Vì ULB là luật thống nhất về hối phiếu luật quốc tế mà các quốc gia dựa vào đó để thực hiện. Do vậy các DN VN khi sử dụng hối fiếu mà áp dụng theo ULB là đúng

    Câu 36: Khi nhận đc các chỉ thị ko đầy đủ hoặc ko rõ ràng để thông báo thư tín dụng thì NHTB có thể thông báo sơ bộ cho người hưởng lợi biết mà ko fải chịu trách nhiệm gì:

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Khi nhận được các chỉ thị ko đầy đủ hoặc ko rõ ràng thì fải có trách nhiệm liên hệ với NH FH, nếu NH FH ko có trả lời thì NHTB có thể thông báo cho người hưởng lợi biết những thông tin đó mà ko fải chịu trách nhiệm. Còn khi NH FH có trả lời về các thông tin trên mà NHTB lại ko thông báo cho người XK thì khi xảy ra rủi ro thì NHTB fải chịu trách nhiệm

    Câu 37: Trong thanh toán nhờ thu người kí chấp nhận trả hối fiếu là

    a)XK

    b)NK

    c)Ngân hàng

    àB. Vì trong thanh toán nhờ thu người lập hối fiếu đòi tiền là người XK, người NK chỉ nhận được hàng hóa, dvụ sau khi họ kí chấp nhận trả tiền hối fiếu hoặc thanh toán tiền

    Câu 38: Sử dụng L/C xác nhận trong trường hợp người xuất khẩu ko tin tưởng vào khả năng thanh toán của NHFH là:

    a)Đúng

    b)Sai

    àA. Vì trong hợp đồng người thụ hưởng ko tin tưởng vào khả năng thanh toán của NH FH để đảm bảo quyền lợi của mình và hạn chế rủi ro, người XK yêu cầu sử dụng L/C xác nhận để đảm bảo rằng số hàng hóa, dvụ mà mình đem XK sẽ đc thanh tóan

    Câu 39: Sử dụng D/P kì hạn trong thanh toán nhờ thu an toàn cho nhà XK hơn D/A là

    a)Đúng

    b)Sai

    àA. VÌ D/P là phương thức mua bán trả tiền ngay, sau khi người NK trả tiền thò mới đc nhận hàng. Còn D/A là fương thức mua bán chịu, người chấp nhận chỉ fải kí chấp nhận trả tiền vào hối fiếu kì hạn thì sẽ đc NH trao ctừ hàng hóaà Người XK dễ gặp rủi ro trong thanh tóan

    Câu 40: Người kí fát kì fiếu là :

    a)NK

    b)XK

    c)Cả a và b

    àA. Vì kì fiếu là giấy nhận nợ do người nhập khẩu lập ra và kí fát cam kết trả nốt số tiền nhất định vào 1 ngày nhất định cho người thụ hưởng sau khi nhà NK nhận hàng.

    Câu 41: Người kí fát B/E là:

    a)Ngân hàng

    b)Xuất khẩu

    c)Tùy thuộc B/E sử dụng

    àB. Vì hối fiếu là 1 mệnh lệnh trả tiền vô đk do người Xk kí fát đòi tiền người nhập khẩu sau khi nhà XK giao hàng hóa dvụ

    Câu 42: Việc đánh số trên từng tờ hối fiếu là căn cứ để xác định bản chính bản fụ là:

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vì hối phiếu ko có bản chính bản fụ, nó có thể được thành lập 1 hay nhiều bản có đánh số thứ tự và giá trị như nhau. Việc đánh giá chỉ để tiện theo dõi khi gửi hối phiếu đi. Vì vậy, hối fiếu nào đến trước thì sẽ đc thanh tóan, còn các hối fiếu sau thì sẽ ko có giá trị thanh tóan

    Câu 43: Để hạn chế rủi ro cho mình trong thanh toán nhờ thu, nhà XK nên lựa chọn hối fiếu trơn là

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vì trong thanh tóan nhờ thu, việc lựa chọn hối fiếu trơn của nhà XK là sai vì sử dụng hối fiếu này ko có ctừ thương mại nên rủi ro chủ yếu thuộc về nhà XK

    Câu 44: Trong nghiệp vụ tín dụng ctừ, tất cả các bên hữu quan chỉ giao dịch căn cứ vào:

    a)Ctừ

    b)Hàng hóa, dvụ 

    c)Các giao dịch khác mà ctừ mà có thể liên quan đến

    àA. Vì tín dụng ctừ là 1 văn bản cam kết dùng trong thanh toán, trong đó NH FH sẽ chịu trách nhiệm trả tiền cho các bên liên quan, khi họ xuất trình đầy đủ các ctừ đã quy định và mọi điều khỏan, đk của thư tín dụng đã đc thực hiện đầy đủà vì vậy tín dụng chứng từ chỉ căn cứ vào các ctừ khi giao dịch mà ko căn cứ vào hàng hóa dvụ

    Câu 45: Đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh tóan trong HĐTM fải là ngoại tệ tự do chuyển đổi là:

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vì đồng tiền tính tóan và đồng tiền thanh toán sử dụng trong HĐTM là do sự thoả thuận của 2 bên XK và NK, nó có thể là đồng nội tệ, ngoại tệ mạnh hoặc đồng tiền của nước thứ 3, đồng tiền chung

    Câu 46: Trong thanh tóan nhờ thu người fải trả tiền hối fiếu là

    a)XK

    b)NK

    c)Ngân hàng

    àB. Vì trong thanh toán nhờ thu nhà Xk là người kí fát hối fiếu đòi tiền của nhà NK, người nhập khẩu là người mua hàng hóa vì vậy người nhập khẩu là người trả tiền hối fiếu

    Câu 47:Sử dụng thẻ thanh toán có nhiều ưu điểm hơn séc du lịch là

    a)Đúng

    b)Sai

    àA. Vì thẻ là sp của khoa học công nghệ, đc mã hóa caoàgiúp cho người sử dụng có thể thanh toán tiền hàng hóa, dvụ hoặc rút tiền tự động 1 cách nhanh chóng, thuận tiện, chính xác vào bất kì thời điểm nào mà ko fải qua NH

    Còn sử dụng séc du lịch thì fải đến NH hoặc các đại lí NH để đổi tiền sau khi NH kiểm tra chữ kíàmất thời gian, ko thuận tiện, bị hạn chế về giờ giấc và thời gian

    Câu 48: Trong thanh toán nhờ thu người kí hậu hối phiếu là:

    a)XK

    b)NK

    c)Ngân hàng

    àA. Vì trong thanh toán nhờ thu người kí fát đòi tiền (người thụ hưởng) là người XK. Vì vậy khi muốn chuyển nhượng hối fiếu thì người XK kí hậu vào hối fiếu

    Câu 49: Ngân hàng chuyển ctừ (Remitting bank) fải kiểm tra nội dung các chứng từ liệt kê trong giấy nhờ thu nhận đc từ người XK là

    a)Đúng

    b)Sai

    àB. Vì NH chuyển ctừ chỉ đóng vai trò là trung gian thanh toán, và NH sau khi nhận đc bộ ctừ và giấy nhờ thu từ người XK thì chuyển toàn bộ ctừ và giấy nhờ thu sang NH fục vụ người NK mà ko fải có trách nhiệm kiểm tra nội dung các từ liệt kê trong giầy nhờ thu nhận đc từ người Xk. Đây là 1 dvụ của NH và NH thực hiện để thu fí

    Câu 50:Trong thương mại quốc tế, nhà Xk nên sử dụng lại séc nào

    a)Theo

    b)Đích danh

    c)Gạch chéo

    d)Xác nhận

    àD. Vì séc xác nhận là loại séc đc Nh xác nhận việc trả tiềnà đảm bảo khả năng thanh tóan của tờ séc

    Câu 51: Trong TMQT khi tỷ giá hối đoái tăng (theo pp yết giá trực tiếp) thì có lợi cho ai?

    a)Nhà XK

    b)Nhà NK

    c)NH

    d)Tất cả các bên

    àA. Vì khi tỷ giá tăng (yết theo pp trực tiếp) thì đồng nội tệ giảm giá, đồng ngoại tệ lên giá. Khi đó nhà XK là người thu tiền về, do đó khi có ngoại tệ họ đổi ra đồng nội tệ và họ sẽ thu đc nhiều nội tệ hơn

    Câu 52: Theo URC 522 của ICC, ctừ nào sau đây là ctừ thương mại?

    a)Draft

    b)Promissory note

    c)Cheque

    d)Invoice

    àD. Vì theo URC 522 của ICC, ctừ tài chính gồm draft, promissory note, cheque; ctừ thương mại invoice, contract, B/L…

    Câu 53:Theo URC 522 của ICC, ctừ nào sau đây là ctừ thương mại

    a)Draft

    b)Promissory

    c)Cheque

    d)C/O

    àD. Vì theo URC 522 của ICC thì ctừ tài chính bao gồm: draft, promissory note, cheque. Còn ctừ thương mại bao gồm: Invoice, B/L, C/O, contract…à ctừ thương mại là C/O

    Câu 54: Giấy chứng nhận chất lượng hàng hóa do ai kí fát

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)Nhà sx

    d)Nhà sx, 1 tổ chức fáp nhân

    àD. Vì họ là người có căn cứ và có thẩm quyền, có chuyên môn, nghiệp vụ để kiểm tra, xác định về chất lượng hàng hóaà họ có quyền chứng nhận chất lượng hàng hóa để đảm bảo sự khách quan cho người nhập khẩu

    Câu55: Bộ ctừ thanh tóan quốc tế do ai lập?

    a)Nhà XK

    b)Nhà NK

    c)Ngân hàng NK

    d)Ngân hàng XK

    àA. Vì bộ ctừ gồm ctừ tài chính và ctừ thương mại trong đó bao gồm các hối fiếu, hóa đơn, giấy chứng nhận về hàng hóa… và là cơ sở để nhà XK giao hàng hóa và đòi tiền nhà NK

    Câu 56:Trong vận đơn đường biển ghi cước fí “Freight prepaid” thể hiện đây là điều kiện cơ sở giao hàng gì?

    a)FOB

    b)FAS

    c)CIF

    d)EXW

    àC. Vì CIF (cost, insurance, freight)-giá hàng, fí bảo hiểm, cước vận chuyển. Tại cảng đã quy định_giá CIF là giá đã bao gồm fí bảo hiểm, cước vận chuyển tại cảng bốc Freight prepaid_cước fí đã trả tại cảng bốc

    Câu 57: Trong vận đơn đường biển ghi cước fí “Freight to collect”, thể hiện đây là đk cơ sở giao hàng gì?

     a)FOB

    b)CIF

    c)C & F

    d)CPT

    àA. Vì FOB (free on board) giao hàng trên tàu trong đó giá hàng hóa là giá chưa bao gồm cước fí vận chuyển và fí bảo hiểmà cước fí trả sau. Freight to collect: cước fí vận chuyển do người nhận hàng trả sau khi hàng đến

    Câu 58: Trong thương mại quốc tế loại hối fiếu nào đc sử dụng fổ biến?

    a)Trả ngay, đích danh

    b)Kì hạn, vô danh

    c)Ngân hàng

    d)Theo lệnh

    àD. Vì hối fiếu theo lệnh là hối fiếu ghi rõ trả theo lệnh của người hưởng lợi. Muồn chuyển nhượng được người hưởng lợi fải kí hậuà thuận tiện cho người nắm giữ hối fiếu

    Câu 59:Trong thương mại quốc tế, loại séc nào đc sử dụng fổ biến

    a)Đích danh

    b)Vô danh

    c)Theo lệnh

    d)Xác nhận

    àC. Vì séc theo lệnh là loại séc có ghi trả theo lệnh. Loại séc này có thể chuyển nhượng đc bằng thủ tục kí hậuà thuận tiện cho người sử dụng séc.

    Câu 60: Mục “người nhận hàng” ở vận đơn đường biển trong bộ ctừ thanh tóan nhờ thu là ai ?

    a)NH NK

    b)Người NK

    c)Đại diện của người XK

    d)NH đc chỉ định

    àB. Trong thanh tóan nhờ thu NH chỉ làm trung gian thanh tóan mà ko fải là người thanh toán nên ko chịu rủi ro thanh tóan, người thanh toán là người NK nên mục người nhận hàng là người nhập khẩu

    Câu 61: Các tờ hối fiếu có thời hạn và số tiền giống nhau loại nào có khả năng chuyển nhượng cao hơn

    a)Hối fiếu theo lệnh

    b)Hối fiếu trong thanh toán nhờ thu

    c)Hối fiếu trong thanh toán L/C

    d)Hối fiếu đc bảo lãnh

    àD. Vì hối fiếu này hạn chế rủi ro về khả năng thanh toán do có sự bảo lãnh của các tổ chức có uy tínà ai cầm tờ hối fiếu này sẽ hạn chế đc rủi ro về khả năng thanh tóan

    Câu 62: Theo UCP 500 của ICC, ctừ bảo hiểm fải đc fát hành bằng loại tiền nào?

    a)Ghi trên hóa đơn thương mại

    b)Theo quy định của L/C

    c)Ghi trong hợp đồng thương mại

    d)Do người mua bảo hiểm chọn

    àB. Vì theo 34e về ctừ bảo hiểm, trừ những điều quy định khác trong tín dụng ctừ, loại tiền đc bảo hiểm fải cùng loại tiền như ghi trong L/C

    Câu 63: Theo URC 522 của ICC ctừ nào dưới đây là ctừ tài chính

    a)Invoice

    b)Contract

    c)Bill of lading

    d)Bill of exchange

    àD. Vì ctừ tài chính là những ctừ đc sử dụng để thanh tóan hàng hóa, dvụ, bao gồm hối fiếu (Bill of exchange); lệnh fiếu (Promissory note); sec (cheque). Còn ctừ thương mại bao gồm: ctừ hàng hóa, ctừ vận tải, ctừ bảo hiểm như invoice, contract, bill of lading, C/O…

    Câu 64: Theo URC 522 của ICC, ctừ nào dưới đây là ctừ tài chính

    a)Promissory note

    b)Contract

    c)Invoice

    d)C/O

    àA. Vì theo URC 522 của ICC thì ctừ tài chính bao gồm:Draft, promissory note, cheque; ctừ thương mại gồm C/O, B/L, invoice, contact…àctừ tài chính là promission note.

    Câu 65: L/C loại trả tiền ngay bằng điện, NH đc chỉ định thanh tóan khi trả tiền fải làm gì?

    a)Kiểm tra bộ ctừ fù hợp L/C

    b)Ko fải kiểm tra ctừ

    c)Kiểm tra hối fiếu thương mại

    d)Kiểm tra hóa đơn thương mại

    àB. VÌ (phương thức thanh tóan) nhờ thu là phương thức thanh tóan trong đó người XK (người bán hàng) sau khi hòan thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa hoặc cung ứng dvụ cho khách hàng, ủy thác cho NH fục vụ mình thu hộ số tiền ở người NK (người mua hàng) trên cơ sở tờ hối fiếu do người XK kí fát

    Câu 66: Trong thương mại quốc tế, khi nào lệnh (giấy) nhờ thu đc nhà XK lập?

    a)Trước khi giao hàng

    b)Sau khi giao hàng

    c)Đúng lúc giao hàng

    d)Nhà nhập khẩu nhận đc hàng hóa

    àB. Vì nhờ thu là fương thức thanh tóan , trong đó người XK (người bán hàng) sau khi hòan thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa hoặc cung ứng dvụ cho khách hàng, ủy thác cho NH fục vụ mình thu hộ số tiền ở người NK (người mua hàng), trên cơ sở hối fiếu do người xuất khẩu kí fát

    Câu 67: Trong L/C điều khỏan về hàng hóa ko xuất hiện con số dung sai và cũng ko có các thuật ngữ “For”, “about”, “circa”. Theo UCP 500 của ICC thì đc hiểu dug sai ntn?

    a)Ko

    b)+10%

    c)+5%

    d)+3%

    àC. Theo điều 39b-UCP500 trong L/C điều khỏan về hàng hóa ko xuất hiện con số dung sai và cũng ko có thuật ngữ “for”, “about”, “circa” thì dung sai đc hiểu là +5%

    Câu 68: Người nhận hàng ở vận đơn đường biển trong bộ ctừ thanh tóan L/C là ai?

    a)Người nhập khẩu

    b)Đại diện của người NK

    c)Theo lệnh của NH FH L/C

    d)NH đc chỉ định

    àC. Vì NHPH là người chịu trách nhiệm thanh tóan, nên để tránh rủi ro cho mình thì NHPH yêu cầu giao hàng theo lệnh của mình

    Câu 69: Khi nào giấy chứng nhận bảo hiểm hàng hóa đc kí fát

    a)Trước ngày giao hàng

    b)Cùng ngày giao hàng

    c)Sau ngày giao hàng

    d)Do NH đc lựa chọn

    àB. Vì nếu muộn hơn thì hàng hóa ko đc bảo hiểm trong 1 thời gian nhất địnhà dễ fải chịu tổn thất khi mua bảo hiểm sau ngày giao hàng, còn nếu ko fải bắt buộc mua bảo hiểm trước ngày giao hàng thì ko fải muaà tránh lãng fí vốn (đối với L/C thì để đc mở L/C nhà NK fải mua bảo hiểm trước khi L/C đc mở, kí hậu ctừ và chuyển cho NH mở L/Cà NH mở L/C là người hưởng lợi bảo hiểm)

    Câu 70: Ngày kí fát hóa đơn thương mại là ngày nào

    a)Trước ngày giao hàng

    b)Sau ngày chứng nhận bảo hiểm

    c)Sau ngày vận đơn đường biển

    d)Do người vận chuyển quyết định

    àA. Vì hóa đơn thương mại là 1 loại ctừ kế toán do nhà XK thiết lập, trong đó bao gồm các nội dung tên nhà XK, NK, số hiệu, ngày tháng và nơi lập, chữ kí của người lập và mô tả về hàng hóa, đơn giá, số lượng hàng hóa, tổng giá trị hàng hóa, đk giao hàng… vì vậy, nó đc xuất trình khi 2 bên tham gia kí kết hợp đồng và đc nhà NK chấp nhận những nội dung trong hóa đơn đó thì hợp đồng thương mại mới xảy raà nó đc kí fát trước khi giao hàng

    Câu 71:Khi nào vận đơn đường biển đc kí fát

    a)Trước ngày hối fiếu trả ngay

    b)Trước ngày bảo hiểm

    c)Trước ngày hóa đơn thương mại

    d)Sau ngày hóa đơn thương mại

    àD. Vì nếu ko ghi chú riêng biệt về ngày giao hàng trên vận đơn thì ngày fát hành (kí fát) vận đơn chính là ngày giao hàng. Nếu trên vận thể hiện ngày tháng “lên tàu” khác ngày fát hành vận đơn thì ngày lên tàu đc xem là ngày fát hành vận đơn cho dù fát hành trước hoặc sau vận đơn, mà hàng hóa thương mại đc kí fát trước ngày giao hàngà vận đơn đường biển đc kí fát sau ngày hóa đơn TM

    Câu 72: Trong bộ ctừ thanh tóan L/C quy định xuất trình “Insurrance policy” thì fải xuất trình

    a)Insurrance certificate

    b)Insurrance policy

    c)Insurrance certificate or Insurrance a policy

    d)Covernote

    àB. Vì theo quy định của L/C là fải xuất trình bộ ctừ fù hợp với yêu cầu của L/Cà yêu cầu xuất trình là Insurrance policy thì fải xuất trình đúng Insurrance policy, nếu xuất trình ko đúng thì bộ ctừ đó coi là ko fù hợpà ko đc thanh tóan

    Câu 73:Trong hợp đồng thanh toán chậm nhà XK nên chọn hối fiếu gì?

    a)Trả ngay

    b)Có kí chấp nhận

    c)Hối fiếu NH

    d)Có bảo lãnh

    àD. VÌ hối fiếu có bảo lãnh thì người đứng ra bảo lãnh fải là tài chính, DN có uy tín về tài chínhà khả năng thanh tóan cho nhà XK đc đảm bảoà Nhà XK hạn chế đc rủi ro

    Câu 74: Trong hối fiếu thương mại “Blank endorsed” đc hiểu là gì ?

    a)Ko kí hậu

    b)Kí hậu ghi rõ tên người chuyển nhượng và người đc chuyển nhượng

    c)Kí hậu ghi tên người chuyển nhượng

    d)Kí hậu ghi tên người đc chuyển nhượng

    àC. Blank endorsed: kí hậu để trống. Khi kí hậu để trống, nghĩa là chỉ có người chuyển kí, ko đề tên người đc nhận

    Câu 75: Trong thương mại quốc tế nhà XK nên sử dụng sec gì?

    a)Theo lệnh

    b)Gạch chéo

    c)Đích danh

    d)Xác nhận

    àD. Vì séc xác nhận là sec đc NH xác nhận việc trả tiềnà đảm bảo khả năng thanh tóan cho nhà XKà nhà XK hạn chế đc rủi ro

    Câu 76: Trong quan hệ thương mại quốc tế khi các bên tham gia hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau thì nên sử dụng phương thức thanh tóan nào?

    a)Chuyển tiền

    b)Mở tài khỏan ghi sổ

    c)Nhờ thu trơn

    d)Tín dụng ctừ

    àA. Vì chuyển tiền là phương thức thanh tóan quốc tế đơn giản nhất về thủ tục và thực hiện nhanh chóng

    Câu 77: Người thiết lập các điều khỏan nhờ thu D/P là ai?

    a)Importer

    b)Exporter

    c)Remiting

    d)Collecting bank

    àB. VÌ exporter lập lệnh nhờ thu nên các điều khỏan trong lệnh nhờ thu là do exporter thiết lập

    Câu 78: Trong thương mại quốc tế người yêu cầu sử dụng hình thức thanh tóan chuyển tiền (T/T; M/T) là ai?

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)NH bên NK

    d)NH bên XK

    àA. Vì người NK là người yêu cầu chuyển tiền để trả cho người XK. Vì vậy, tùy từng trường hợp cụ thể mà người NK yêu cầu sử dụng hình thức thanh toán chuyển tiền (M/T; T/T)

    Câu 79: VÌ sao trong thanh toán fi mậu dịch tại NH, tỷ giá mua ngoại tệ tiền mặt lại thấp hơn tỷ giá mua chuyển khoản?

    a)NH ko thích nhận tiền mặt

    b)NH thích nhận bằng chuyển khoản

    c)Cung ngoại tệ tiền mặt nhiều

    d)CF cho tiền mặt cao

    àD.

    Câu 80: Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng với L/C gốc fải ntn?

    a)Trước

    b)Sau

    c)Cùng ngày

    d)Tùy người giao hàng chọn

    àA. Vì sau khi nhận đc L/C do người NK mở cho mình hưởng, nhà XK căn cứ vào nội dung L/C này và dùng chính L/C này để thế chấp để mở 1 L/C khác cho người khác hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầuà Nhà XK sau khi có L/C mới gửi tới NHà người NK, nhà XK nhận đc hàng hóa từ L/C mới này và tiến hành giao lại hàng hóa này cho bên NK mở L/C gốc à đc sử dụng chủ yếu qua mua bán trung gian (người XK này đóng vai trò là trung gian)

    Câu 81:Trong phương thức gia công thương mại quốc tế các bên có thể áp dụng loại L/C nào dưới đây:

    a)Irrevocable credit

    b)Confirmed credit

    c)Reciprocab credit

    d)Red Clause credit

    àC. Reciprocal L/C: Thư tín dụng đối ứng: là loại L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi L/C đối ứng với nó đã mở ra. L/C đối ứng đc sử dụng trong phương thức gia công thương mại đối ứng

    Câu 82: Ở VN tổ chức nào fát hành C/O?

    a)Người XK

    b)Ngân hàng thương mại

    c)Phòng thương mại và công nghiệp VN

    d)Vinacontrol

    àC. Vì C/O_Certificate of origin: giấy chứng nhận xuất xứà do phòng thương mại và công nghiệp fát hành

    Câu 83: Bảo lãnh thanh toán hàng hóa XNK có lợi cho ai?

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)Ngân hàng NK

    d)Ngân hàng XK

    àB. Vì đảm bảo khả năng thanh tóan cho nhà XKà nhà XK ko fải chịu rủi ro trong thanh tóan

    Câu 84: Một hợp đồng thương mại đc bảo lãnh thanh tóan sẽ có lợi cho ai

    a)Người XK

    b)Người NK

    c)NH NK

    d)NH XK

    àA. Vì như vậy người XK sẽ đc đảm bảo khả năng thanh tóanà tránh đc rủi ro trong thanh tóan

    Câu 85:Trong L/C điều khoản về hàng hóa sử dụng các thuật ngữ “for”, “about”, “circa”-chỉ số lượng hàng hóa theo UCP500 của ICC thì dung sai là bao nhiêu

    a)Không

    b)+10%

    c)+5 %

    d)+3%

    àB. Theo điều 39a của UCP 500 thì khi sử dụng các thuật ngữ “for”, “ about”, “circa” thì dung sai cho fép là +10%

    Câu 86: Bộ ctừ thương mại quốc tế đc lập theo yêu cầu của ai?

    a)Nhà XK

    b)Nhà NK

    c)NH NK

    d)NH XK

    àB. Vì nó là căn cứ để nhà NK xác định xem hàng hóa có đc giao đúng như thỏa thuận trong hợp đồng hay ko, chất lượng, xuất xứ… của hàng hóa, ngày giao hàng có đúng ko? Để nếu có tranh chấp xảy ra thì nhà NK có bằng chứng để khởi kiện. Mặt khác nó cũng là căn cứ để nhà NK nhận đc hàng hóa khi xuất trình đc bộ ctừ

    Câu 87: Theo UCP 500 của ICC trong ctừ bảo hiểm nếu ko quy định rõ số tiền đc bảo hiểm thì số tiền tối thiểu fải là bao nhiêu?

    a)100%giá CIF

    b)110%giá CIF

    c)110%giá FOB

    d)100%giá hóa đơn

    àB. Vì theo điều 34 UCP 500 quy định, trong ctừ bảo hiểm nếu ko quy định rõ số tiền đc bảo hiểm thì số tiền tối thiểu fải là 110% giá CIF (trong đó 100%giá trị hợp đồng, 10% fụ trội: các khỏan CF, bù đắp phần lợi nhuận dự tính)

    Câu 88: NH kiểm tra chỉ chấp nhận thanh tóan loại vận đơn nào dưới đây

    a)Receive for shipment B/L

    b)Clean B/L

    c)Clean shipped on board B/L

    d)Order B/L endorsement in blank

    àC. Vì clean shipped on board B/L_vận đơn sạch khi hàng đã đc xếp lên boong tàu của vận đơn đường biểnà sau khi hàng hóa đã đc xếp lên boong tàu thì nhìn bề ngòai đều đảm bảo quy cách đóng gói, số lượng chủng loại

    Câu 89:Trong phương thức thanh tóan nhờ thu trơn (clean collection) người XK fải xuất trình ctừ nào?

    a)Bill of lading

    b)Bill of exchange

    c)Invoice

    d)Contract

    àB. Vì trong phương thức thanh tóan nhờ thu trơn thì nhà NK ủy nhiệm cho NH fục vụ mình thu hộ tiền ở người NK, chỉ căn cứ vào hối fiếu do nhà XK lập ra. Các ctừ thương mại do bên XK chuyển giao trực tiếp cho bên NK, ko qua NH.Vì B/E là hối fiếuà Người XK chỉ fải xuất trình B/E

    Câu 90: Ai là người kí fát hồi fiếu L/C

    a)Người XK

    b)NH thông báo

    c)Người thụ hưởng

    d)NH đc ủy quyền

    àC. Vì sau khi nhận đc thư tín dụng và chấp nhận nội dung thư tín dụng thì tiến hành giao hàng theo đk hợp đồng.Sau khi hòan thành việc giao hàng thì lập bộ ctừ thanh toán theo tín dụng, gửi tới NH fục vụ mình đề nghị thanh tóanà Người kí fát hối fiếu L/C là người thụ hưởng

    Câu 91: Một ctừ có ngày kí sau ngày lập ctừ thì từ ngày fát hành là:

    a)Ngày lập

    b)Ngày kí

    c)Có thể ngày lập hoặc ngày kí

    d)Do NH tự quyết định

    àB. Vì khi ctừ có chữ kí thì mới đảm bảo theo đúng quy định của PL và khi đó nó mới có hiệu lực thi hành (đảm bảo đc giá trị pháp lí nếu trong trường hợp có tranh chấp xảy ra)

    Câu 92: Ai là người quyết định sửa đổi L/C

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)NH thông báo

    d)NH fát hành

    àD. Vì NH FH là người chịu trách nhiệm thanh tóan, nên là người có quyền quyết định sửa đổi L/C

    Câu 93:L/C đc xác nhận có lợi cho ai?

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)NHFH

    d)Ngân hàng thông báo

    àC. Vì khi L/C đc xác nhận thì người XK hạn chế rủi ro thanh toán vì lúc này người XK có 2 phương án xuất trình ctừ là: Xuất trình cho NH FH để đc thanh tóan; xuất trình ctừ đến NH xác nhận để đc thanh tóan.NH…ko đc fép từ chối mỗi khi nhận đc ctừ hợp lệ theo L/C

    Câu 94: Tiền kí quỹ xác nhận L/C do ai trả

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)NH FH L/C

    d)NH thông báo

    àC. Vì NH xác nhận chịu trách nhiệm thanh toán số tiền trong thư tín dụng cho người thụ hưởng trả thay NHFH khi nhận đc bộ ctừ fù hợp từ người thụ hưởng. Vì vậy NH này yêu cầu NHFH fải đặt tiền kí quỹ xác nhận

    Câu 95: Những ctừ nào có thể do bên thứ 3 cấp theo yêu cầu của L/C “Third party documents acceptable”

    a)Draft

    b)Invoice

    c)C/O

    d)Packing list

    àC/O (certificate of origin) giấy chứng nhận xuất xứ. Giấy này có thể đc cấp bởi nhà sx hoặc các tổ chức pháp nhân có thẩm quyền cấp để chứng nhận nguồn gốc xuất xứ

    Câu 96: 1 L/C giao hàng đk CIF và yêu cầu 1 giấy chứng nhận bảo hiểm trong số các loại sau, giấy chứng nhận nào đc chấp nhận

    a)Bảo hiểm đóng 100% giá trị hóa đơn

    b)Bảo hiểm đóng 120% CIF

    c)Bảo hiểm 110% CIF, nếu L/C ko quy định số tiền bảo hiểm tối thiểu

    d)Bảo hiểm 110% số tiền bảo hiểm tối thiểu quy định trong L/C

    àC. Vì theo điều 34ii về ctừ bảo hiểm trong UCP 500 quy định thì số tiền bảo hiểm thág = 110% giá trị CIF hoặc 110% CIP, 110% giá hóa đơn , nếu L/C ko quy định số tiền bảo hiểm tối thiểu

    Câu 97:Theo UCP 500 của ICC hối fiếu có thể đc kí fát với số tiền ít hơn giá trị hóa đơn ko?

    a)Ko

    b)Có

    c)Tùy theo NH quy định

    d)Tùy theo nhà XK quy định

    àB. VÌ theo điều 39 của UCP 500 về dung sai số tiền, số lượng, đơn giá trong tín dụng thì nếu ko có “about”. “approximately”, “circa” thì dung sai đc fép là +5%. Còn nếu có “about”, “approximately” thì dung sai đc fép là +10%

    Câu 98: Tài khoản NOSTRO là tài khỏan tiền gửi của 1 NH mở ở đâu?

    a)NH ở nước ngòai bằng ngọai tệ

    b)NH nước ngòai bằng ngoại tệ

    c)NH trong nước bằng ngoại tệ

    d)NH trong nước bằng nội tệ

    àA. Vì tài khỏan NOSTRO là TK tiền gửi thanh toán của 1 ngân hàng (nội địa) mở tại 1NH nước ngòai bằng ngoại tệ

    Câu 99: Kí quỹ mở L/C sẽ có lợi cho ai?

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)NH FH

    d)NH thông báo

    àC. Vì NHFH tận dụng đc khỏan kí quỹ của khách hàngà tăng các hoạt động khác của NH, do NH có thêm 1 lượng vốnà quan hệ tín dụng đc mở rộng, các dvụ của NH cũng đc mở rộng do việc cung cấp dvụ thanh tóan cho KH. Tăng cường mqh với các đại lí làm tăng tiềm năng KD đối ứng giữa các NH

    Câu 100: Ai là người kí quỹ mở L/C nhập khẩu?

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)NH FH

    d)NH thông báo

    àA. Vì người NK khi đề nghị NH mở L/C thì NH FH yêu cầu người NK fải kí quỹ cho NH theo tỷ lệ nhất địnhà NH mới mở L/C và chịu trách nhiệm thanh tóan

    Câu 101: Hình thức mở L/C (thư, điện…) do ai quyết định

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)NH FH

    d)NH thông báo

    àA. Vì tùy thuộc vào từng yêu cầu cụ thể mà nhà NK đề nghị NH mở L/C. Mở L/C bằng thư hay điện, vì mỗi hình thức mở L/C khác nhau thì fí mở cũng khác nhau. Nên là người mở thì có quyền quyết định mở theo hình thức nào

    Câu 102: Là người NK trong thanh tóan L/C, nếu đc chọn loại L/C thì ko nên chọn loại nào?

    a)Irrevocable credit

    b)Irrevocable confirmed credit

    c)Revoling credit

    d)Red clause credit

    Câu 103: Người chịu trách nhiệm thanh tóan cho người thụ hưởng trong thanh tóan L/C là ai?

    a)Người NK

    b)NHFH

    c)NH thông báo

    àB

    Câu 104: Trong các loại L/C sau loại nào người trung gian ko fải lập ctừ hàng hóa?

    a)Irrvocable credit

    b)Transferable credit

    c)Back to back credit

    d)Revoling credit

    àB. Vì transferable credit (thư tín dụng chuyển nhượng) Lọai L/C này đc áp dụng trong trường hợp người hưởng lợi thứ nhất ko đủ số lượng hàng hóa để XK hoặc ko có hàng, họ chỉ là người môi giới thương mại nên đã đc chuyển nhượng 1 fần hay tòan bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cho những người hưởng lợi thứ 2. Những người hưởng lợi này sẽ tiền hành giao hàng và người lập ctừ hàng hóa để gửi tới NH FH L/C (bên NK)

    Câu 105: Trong thanh toán L/C người NK dựa vào văn bản nào để kiểm tra ctừ thanh tóan?

    a)Hợp đồng

    b)L/C

    c)Thỏa ước Nh

    d)Hợp đồng và L/C

    àB

    Câu 106: Giả sử người XK ko giao hàng nhưng xuất trình đc bộ ctừ fù hợp với điều khỏan của L/C thì NH FH xử lí ntn?

    a)Vẫn thanh tóan

    b)Ko thanh tóan

    c)Thanh tóan 50% giá trị

    d)Tùy NH quyết định

    à

    Câu 107: NH nước A muốn trả tiền cho NH nước B nhưng giữa 2 NH này chưa thiết lập quan hệ đại lí hỏi việc thanh tóan có thể thực hiện đc ko?

    a)Có

    b)Ko

    c)Tùy thuộc NH A

    d)Tùy thuộc NH B

    à A. Đc thanh tóan qua trung gian (bên thứ 3)

    Câu 108: Ngày xuất tronh ctừ trong thanh tóan L/C fải là ngày nào?

    a)Trước hoặc cùng ngày giao hàng

    b)Cùng ngày giao hàng

    c)Sau ngày giao hàng

    d)Trước hoặc cùng ngày hết hạn hiệu lực L/C

    àC. Vì sau khi giao hàng xong thì nhà XK mới tiến hành lập ctừ và mới có cơ sở để lập ctừ.Khi ctừ đc lập xong thì người hưởng thụ tiến hành xuất trình ctừ đến NH fục vụ mình để đc thanh toán

    Câu 109: Trong đk giao hàng CIF, trên B/L fải ghi fí cước ntn?

    a)Freight to collect

    b)Freight prepayable

    c)Freight prepaid

    d)Freight to be prepaid

    àC. Vì CIF-cost, insurance, freight-giá hàng, fí bảo hiểm, cước vận chuyển. Tại cảng đã quy định (Nhà XK chịu trách nhiệm thuê tàu, đóng bảo hiểm nên khi nhà NK thanh tóan cho nhà XK thì số tiền fải trả=giá hàng+fí bảo hiểm+cước vận chuyểnà cước trả trước). Freight prepaid: cước fí đã trả tại cảng bốc. Tức nhà XK chịu trách nhiệm thuê tàu, mua bảo hiểmà KHi nhà NK trả tiền thì cũng bao gồm giá hàng hóa+fí BH+cước vận chuyển

    Câu 110: Khi sử dụng L/C tuần hòan sẽ có lợi cho ai?

    a)Người NK

    b)Người XK

    c)NH FH

    d)NH thông báo

    àA. L/C tuần hòan là L/C ko thể hủy ngang mà sau này khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và tiếp tục đc sử dụng 1 cách tuần hòan trong 1 thời hạn nhất định cho đến khi tổng trị giá hợp đồng đc thực hiệnà khi sử dụng L/C tuần hòan có lợi: tránh đc ứ đọng vốn, giảm đc fí mở L/C, giảm đc tỷ lệ kí quỹ, người mua chủ động về nguồn hàng

    Câu 111: Khi sử dụng L/C có xác nhận sẽ có lợi cho người NK

    a)Đúng

    b)Sai

    c)Ko đúng hòan tòan

    d)Tùy thuộc NH FH

    àB. Khi sử dụng L/C xác nhận thì sẽ có lợi cho người XK chứ ko fải người NK vì người XK sẽ đc đảm bảo khả năng thanh tóan

    Câu 112: “ Stand by credit” là fương thức trả tiền hàng hóa XNK?

    a)Đúng

    b)Sai

    c)Ko đúng hòan tòan

    d)Tùy thuộc người trả tiền

    àB. “Stand by credit” thư tín dụng dự phòng. Để đảm bảo quyền lợi cho người NK, NH mở L/C dự phòng sẽ cam kết với người NK sẽ thanh tóan lại cho họ trong trường hợp người XK ko hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo L/C đã đề ra. Vì vậy, thư tín dụng dự phòng ko mang tính chất là phương thức thanh toán hàng hóa XNK, mà chỉ có tính chất là phương thức đảm bảo cho việc giao hàng, thực hiện đúng hợp đồng.

    Câu 113: “Stand by credit” là 1 công cụ đảm bảo thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế?

    a)Đúng

    b)Sai

    c)Thời kí thuộc NH

    d)Ko hòan tòan đúng

    àA. “Stand by credit” thư tín dụng dự phòng. Để đảm bảo quyền lợi cho người NK, NH mở L/C dự phòng sẽ cam kết với người NK sẽ thanh tóan lại cho họ trong TH người XK ko hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo L/C đã đề raà Ko mang tính chất là fương thức thanh tóan hàng hóa XNK, mà chỉ có tính chất là phương thức đảm bảo cho việc giao hàng, thực hiện đúng hợp đồng

    Câu 114: “Back to back credit” đc sử dụng trong trường hợp nào?

    a)2 bên XK ko tin nhau

    b)Mua bán chuyển … tái XK

    c)

    d)

    àB. “Back to back credit” thư tín dụng giáp lưng. Sau khi nhận đc L/C do người NK mở cho mình hưởng, nhà XK căn cứ vào nội dung L/C này và dùng chính L/C này để thế chấp mở 1 L/C khác cho người khác hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầuà đc sử dụng chủ yếu qua mua bán trung gian.

    Câu 115: Loại L/C nào sau đây đc coi là phương tiện cấp vốn cho bên… trước khi giao hàng

    a)Irrevocable credit

    b)Red clause credit

    c)Revoling credit

    d)Irrevocable transferable credit

    àB. Vì Red clause credit_TD điều khỏan đỏ (tín dụng ứng trước) Thư tín dụng này kèm theo 1 điều khỏan đặc biệt ủy nhiệm cho NH thông báo hoặc NH xác nhận, ứng tiền trước cho người hưởng trước khi họ xuất trình ctừ hàng hóaà đc sử dụng như 1 phương tiện cấp vốn cho bên bán trước khi giao hàng

    Câu 116: “Reciprocab credit” đc sử dụng trong trường hợp nào?

    a)Hàng đổi hàng

    b)NH 2 bên XNK tin tưởng nhau

    c)Nhà XK ko tin tưởng NH trả tiền

    d)2 bên XNK mở tài khỏan ở cùng 1 NH.

    àA. Reciprocal credit:thư tín dụng đối ứng. Là loại L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi L/C kia đối ứng với nó đã mở ra L/C đối ứng đc sử dụng trong phương thức hàng đổi hàng (Barter) và phương thức gia công thương mại quốc tế. Đặc điểmà người mở L/C này là người hưởng lợi L/C kia và ngược lại

    Câu 117: Loại L/C nào đc sử dụng khi người xuất khẩu đóng vai trò là người môi giới

    a)Revoling credit

    b)Transferable credit

    c)Stand by credit

    d)Red clause credit

    àB. Transferable credit: thư tín dụng chuyển nhượng. Loại L/C này đc áp dụng trong trường hợp người hưởng lợi thứ nhất ko có đủ số lượng hàng hóa để XK hoặc ko có hàng, họ chỉ là người môi giới thương mại nên đã chuyển nhượng 1 fần hay tòan bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cho những người hưởng lợi thứ 2.

    Câu 118: Một khách hàng có 1 tờ sec 20.000USD muốn đổi sang HKD. Biết tỷ giá USD/HKD=6,8514/20. Hỏi khách hàng sẽ nhận đc bao nhiêu HKD?

    a)137.038

    b)137.028

    c)137.048

    d)137.040

    àB. Ta có 1USD=6,8514HKD

    200.000USD à xHKD

    è x = 20.000 * 6,8514 = 137.028

    Câu 119: 1 khách du lịch có 2000 EUR muốn đổi sang VND với NH biết tỷ giá mua 1EUR=20.240 VND, 1 EUR=20.260 VND. Hỏi khách du lịch sẽ nhận đc số VND là bao nhiêu?

    a)40.520.000

    b)40.480.000

    c)40.620.000

    d)40.500.000

    àB. Ta có : 1EUR = 20240 VND

    2000EUR à x VND

    è x = 2000 * 20.240 = 40.480.000

    Câu 120: Một khách hàng đến NH chiết khấu 1 tờ hối fiếu thu đc 200.000SGD, họ đề nghị NH đổi sang JPY

    Biết tỷ giá USD/SGD=1,6812/20

                      USD/JPY=112,24/321

    Hỏi khách hàng sẽ nhận đc số tiền bằng JPY là bao nhiêu?                   

    a)13.354.735,15

    b)13.361.884,37

    c)13.346.016,65

    d)13.350.210,50

    àC. Ta có SGD/JPY = min (USD/JPY : USD/SGD) = 112,24/1,6820

    à1SGD = 112,24/1,6820 JPY

    à200.000SGD à x JPY

    ==> x = 200.000 * 112,24/1,6820 = 13.346.016,65

    Vậy khách hàng nhận đc số tiền là 13.346.016,65 JPY

    Câu 121: Một khách hàng đến NH chiết khấu hối fiếu thu đc 500.000 HKD, họ muốn đổi sang SGD để thanh tóan hàng NK. Biết tỷ giá: USD/HKD=7,4020/28

                USD/SGD=1,7826/32

    Hỏi số SGD khách hàng sẽ nhận đc là bao nhiêu?

    a)120.400,39

    b)120.453,93

    c)120.413,40

    d)120.420,42

    àA. Ta có HKD/SGD = min(USD/SGD : USD/HKD) = 1,7826/7,4028

    Cứ 1 HKD = 1,7826/7,4028 SGD

    500.000HKDà x SGD

    ==> x = 500.000 * 1,7826/7.4028 SGD = 120.400,39 SGD

    Vậy với 500.000HKD thì khách hàng đổi đc 120.400,39 SGD

    Câu 121: Nh chiết khấu 1 tờ hối fiếu trị giá 600.000 SGD lãi suất CK là 3% và số tiền CK 3000 SGD hỏi thời gian chiết khấu là bao nhiêu tháng?

    a)1,5

    b)2

    c)2,5

    d)3

    àB. Gọi thời gian chiết khấu là t.

    à3000 = (600.000 * 3%* t)/12

    àt = 2

    Vậy  thời gian chiết khấu là 2 tháng

    Câu 122: NH chiết khấu 1 tờ hối fiếu trị giá 600.000 USD và thời hạn 2 tháng số tiền chiết khấu là 3000 USD. Hỏi lãi xuất chiết khấu tính theo % năm là bao nhiêu?

    a)2,0

    b)3,0

    c)2,5

    d)4,0

    àB. Gọi l/s chiết khấu tính theo %năm là i

    à3000 = (600.000 * i *2)/12=3%

    Câu 123: NH chiết khấu 1 tờ hối fiếu trị giá 500.000 EUR, l/s chiết khấu 2,5%/năm. Thời hạn 3 tháng. Số tiền chiết khấu (EUR) là bao nhiêu?

    a)3125

    b)3150

    c)3200

    d)3250

    àA. Số tiền chiết khấu NH nhận đc (l/s chiết khấu)=(500.000*2.5%*3)/12=3125

    Câu 124: Ngân hàng chiết khấu 1 tờ hối fiếu, thời hạn chiết khấu 3 tháng, l/s chiết khấu 2,5%/năm, số tiền chiết khấu 3125 USD. Hỏi tờ hối fiếu này có giá trị ban đầu là bao nhiêu USD?

    a)502.000

    b)500.000

    c)520.000

    d)540.000

    àB. Gọi giá trị hối fiếu ban đầu là x.

    à3125=(x * 2,5% *3)/12

    àx = 500.000

    Câu 125: NH chiết khấu 1 tờ hối fiếu trị giá 500.000 USD thời hạn 3 tháng số tiền CK 3125 USD l/s tính % theo năm là bao nhiêu?

    a)2,0

    b)2,5

    c)3,0

    d)3,5

    àB. Gọi l/s tính theo năm là i

    à3125=(500.000*i*3)/12 ài=2,5%

    Câu 126 (79): NH chiết khấu 1 tờ hối fiếu trị giá 500.000 HKD, l/s chiết khấu 2,5%/năm. Số tiền CK 3125 HKD. Hỏi thời hạn chiết khấu hối fiếu tính theo tháng là bn?

    a)3,0

    b)2,0

    c)2,5

    d)3,5

    à

    Câu 127: Trong nhờ thu D/A người XK (A) chuyển nhượng hối fiếu đã đc chấp nhận cho người thụ hưởng mới (B) đến hạn người thu hưởng B đòi tiền nhưng người nhập khẩu ko trả tiền với lí do hàng hóa họ nhận đc ko đúng với hợp đồng. Hỏi trách nhiệm thanh tóan này ai fải gánh chịu

    a)Người XK

    b)Người NK

    c)Người XK và người thụ hưởng

    d)Người thụ hưởng

    àB. Vì hối fiếu có đặc điểm là tính bắt buộc trả tiền của hối fiếu. Khi nhà NK đã kí chấp nhận trả tiền hối fiếu thì theo quy định của pháp luật, người bị kí fát fải trả tiền theo đúng nội dung của hối fiếu, ko đc việc bất kì lí do riêng hoặc chung nào để từ chối trả tiền, trừ khi hối fiếu đc lập trái với luật điều chỉnh. Vì vậy khi nhà NK đã kí chấp nhận trả tiền hối fiếu thì nhà NK buộc fải trả tiền cho bất cứ ai là người cầm hối fiếu ngay cả trong trường hợp người XK ko giao hàng hóa cho người mua.

    Câu 128(81): NH xác nhận vẫn fải thanh tóan các ctừ fù hợp đc xuất trình đến NH sau ngày L/C. Xác nhận hết hạn nếu NH kiểm tra ctừ gửi văn bản xác nhận rằng ctừ đã đc xuất trình đến NH này trong thời gian hiệu lực của L/C

    a)Đúng

    b)Sai

    c)Do NH fát hành quy định

    d)Do NH thông báo

    Câu 129: Ctừ xuất trình chậm là ctừ xuất trình sau

    a)Khi L/C hết hạn hiệu lực

    b)Thời hạn xuất trình quy định

    c)

    d)

    àB. Vì trong hợp đồng thương mại có quy định thời hạn xuất trình ctừ, nếu xuất trình ctừ sau thời hạn quy định thì ctừ xuất trình chậm sẽ mất quyền đòi tiền

    Câu 130 (83): Theo UCP 500 của ICC nếu L/C ko quy định gì khác thì giá trị hối fiếu có đc phép vượt số dư của L/C hoặc giá trị cho phép trong L/C hay ko?

    a)Có

    b)Ko

    c)Do người XK quyết định

    d)Do NH thanh tóan quyết định

    à

    Câu 131: Là người XK trong thanh tóan L/C nếu đc chọn L/C thì nên chọn loại nào?

    a)Irrevocable credit

    b)Revocable credit

    c)Revoling credit

    d)Irrevocable confirmed credit

    àD. Irrevocable confirmed credit: thư tín dụng ko thể hủy ngang có xác nhận. Đây là loại thư tín dụng ko hủy ngang, đc 1 NH có uy tín đảm bảo trả tiền cho người thụ hưởng, theo yêu cầu của NH FH L/C , vì có 2 NH cam kết trả tiềnà đảm bảo quyền lợi cho người XK.

    Câu 132: Người XK khi kiểm tra L/C fát hiện sai sót cần bổ xung sửa đổi thì fải liên hệ đề nghị với ai?

    a)NH thông báo

    b)NH fát hành

    c)NH thanh tóan

    d)Người nhập khẩu

    àD. Vì người NK là người đề nghị mở thư tín dụng, nên có mqh với NH fát hành, mặt khác người XK và người NK có mqh với nhau dựa trên hợp đồng thương mại đã kí và dựa vào hợp đồng thì ngừơi XK kiểm tra sai sót sau đó liên hệ với người NK để sửa đổi bỏ sung L/C

    Câu 133: 1 L/C đã đc thanh tóan sau đó người NK nhận hàng fát hiện hàng hóa bị thiếu.Họ khiếu nại yêu cầu NH FH hòan trả lại số tiền của hàng hóa bị thiếu.Nhận xét của anh chị về khiếu nại này

    a)Sai

    b)Đúng

    c)Tùy NH quyết định

    d)Tùy người vận chuyển quyết định

    àA. Khiếu nại của người NK đến NHFH là sai, vì NHFH trả tiền căn cứ vào ctừ hàng hóa, chứ ko căn cứ vào hàng hóa chỉ chịu trách nhiệm thanh tóan chứ ko chịu trách nhiệm vầ chất lượng hàng hóa. Vì vậy, muốn khiếu nại thì fải khiếu nại nhà XK

    Câu 134: Một L/C có những thông tin

    Date of issve: 1-3-2005

    Period of presentation:20-4-2005

    Expiry date: 1-5-2005

    Hiệu lực L/C đc hiểu là ngày nào?

    a)1-3-2005

    b)20-4-2005

    c)1-5-2005

    d)Từ 1-3-2005 tới 1-5-2005

    àD. Vì thời hạn hiệu lực đc tính kể từ ngày fát hành đến ngày hết hạn hiệu lực của thư tín dụng

    Câu 135: Trong L/C xác nhận, người có nghĩa vụ thanh tóan cho người thụ hưởng là ai?

    a)Importer

    b)Issuing bank

    c)Advising bank

    d)Confiming bank

    àD. Confiming bank: NHXN. Vì khi L/C đã đc xác nhận thì NHXN fải có nghĩa vụ thanh toán, ko đc fép từ chối mỗi khi nhận đc bộ ctừ hoàn hảo, bất kể NHFH có thanh toán đc hay ko

    Câu 136: KHi nhận đc bộ ctừ thanh tóan L/C NH fát hiện có 1 ctừ ko có quy định của L/C thì NH sẽ xử lí ctừ này ntn?

    a)Fải kiểm tra

    b)Fải kiểm tra và gửi đi

    c)Gửi trả lại cho người xuất trình

    1. d) Gửi trả lại cho người xuất trình gửi ctừ này đi mà ko chịu trách nhiệm

    àD. Vì bộ ctừ gửi đi ko fù hợp với quy định của L/C, nên sẽ ko đc NH thanh tóan và đc NH gửi trả lại nơi lập ctừ mà ko fải chịu trách nhiệm gì. Trách nhiệm này thuộc về người lập ctứ.

    Câu 137: Một hối fiếu thương mại kì hạn đc người NK kí chấp nhận. Hối fiếu đã đc chuyển nhượng. Đến hạn thanh toán, người NK ko trả tiền hối fiếu với lí do hàng hóa hộ nhận đc chất lượng kém so với hợp đồng. Hỏi việc làm đó người NK là thế nào?

    a)Đúng

    b)Sai

    c)

    d)Tùy người NK quyết định

    àB. Vì hối fiếu có đặc điểm là tính bắt buộc trả tiền của hối fiếu.Khi người NK kí chấp nhận trả tiền hối fiếu thì theo quy định của fáp luật, người bị kí fát fải trả tiền theo đúng nội dung của hối fiếu, ko đc viện bất kì lí do riêng hoặc chung nào để từ chối trả tiền, trừ khi hối fiếu đc lập trái với luật điều chỉnh.Vì vậy, khi nhà NK kí chấp nhận trả tiền vào hối fiếu thì nhà NK buộc fải trả tiền cho bất cứ ai là người cầm hối fiếu ngay cả trong trường hợp người XK ko giao hàng cho người mua

    Câu 138: NH chiết khấu 1 tờ hối fiếu kì hạn 2 tháng l/s 3% năm số tiền chiết khấu 3000 SGD tờ hối fiếu có gía trị ban đầu là bao nhiêu SGD?

    a)580.000

    b)600.000

    c)620.000

    d)630.000

    àC. Gọi x là giá trị tờ hối fiếu ban đầu

    à3000 = ( x * 2*3%)/12

    à x = 600.000


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Đề thi giữa kỳ Thanh toán quốc tế

    Đề thi giữa kỳ Thanh toán quốc tế

    Đề thi giữa kỳ Thanh toán quốc tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%81-thi-gi%E1%BB%AFa-k%E1%BB%B3-Thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề thi giữa kỳ Thanh toán quốc tế

    Đề thi giữa kỳ Thanh toán quốc tế

    Thời gian làm bài: 15’

    1.     Học thuyết ngang giá sức mua tương đối phản ánh;

    1. Mối quan hệ giữa tỉ giá và mức giá của các quốc gia
    2. Mối quan hệ giữa lạm phát và tỉ giá hối đoái của các quốc gia
    3. Mối quan hệ giữa lãi suất và tỉ giá
    4. Công ty A ký hợp đồng kỳ hạn mua 30 ngày 1 triệu USD vào thứ 6, ngày 5, tháng 2 năm 2010. Ngày giá trị của hợp đồng kì hạn này là?
    5. 5/3/2010
    6. 7/3/2010
    7. 9/3/2010

    3.     Đặc điểm nào sau đây là đặc điểm của giao dịch tương lai?

    1. Rủi ro thanh khoản cao hơn so với giao dịch kỳ hạn
    2. Người mua có thể tất toán hợp đồng trước khi đáo hạn
    3. Rủi ro đối tác cao hơn so với giao dịch kỳ hạn
    4. Cả a và b
    5. VCB yết giá USD/THB 31,260/32,360 (USD là đồng yết giá), THB/VND 590,27/610,00 ( THB là đồg yết giá). Tỷ giá USD/ VND ( USD là đồng yết giá) mà VCB sử dụng để tính tỉ giá THB/VND là:
    6. 070/19.100
    7. 100/19.200
    8. 0,0309/20
    9. 0,0320/30
    10. Một nhà đầu tư mua hợp đồng quyền chọn mua thời hạn 90 ngày với giá thực hiện USD/VND (USD là đồng yết giá) là 19.300. Phí hợp đồng quyền chọn là 100VND. Vào lúc đáo hạn, tỉ giá giao ngay USD/VND là 19.200. Lỗ và lãi của nhà đầu tư?
    11. Lỗ 100VND/1USD
    12. Lãi 100VND/1USD
    13. Lỗ 200VND/USD
    14. Lãi 200VND/1 USD

    6.     Đặc điểm nào sau đây là  đặc điểm của giao dịch hoán đổi?

    1. Là giao dịch ko có rủi ro đối tác
    2. Là một giao dịch kép trong đó ngày giá trị mua và ngày giá trị bán là như nhau
    3. Mua và bán hai cặp tiền tệ khác nhau
    4. Cả a và b
    5. Khi đồng tiền của một quốc gia giảm giá (nước này thực hiện theo phương pháp yết giá trực tiếp)
    6. Hàng hóa xuất khẩu của quốc gia đó sẽ rẻ hơn và hàng hóa nhập khẩu sẽ đắt hơn (tỉ giá tăng lên, khuyến khik xk, hạn chế nk vì giá hh nk trở lên đắt)
    7. Nợ nước ngoài dưới dạng ngoại tệ sẽ tăng lên (vì ngoại tệ đắt hơn)
    8. Hàng hóa xuất khẩu của quốc gia đó sẽ đắt hơn, hàng hóa NK rẻ hơn
    9. Cả a và b
    10. Khi mua hợp đông quyền chọn, lãi tối đa của người mua hợp đồng quyền chọn là phí quyền chọn. nhận định trên là?
    11. Đúng
    12. Sai

    9.     Giao dịch nào sau đây làm tăng cung về USD trên thị trường ngoại hối?

    1. Công dân Mỹ mua otô của Đức trả bằng EUR
    2. Một nhà đầu tư mua một công ty TQ trả bằng CNY
    3. Công dân Mỹ đi du lịch ở TQ
    4. Cả 3 phương án trên
    5. Một ngân hàng A yết tỉ giá  EUR/USD= 1,3626/36(EUR là đồng yết giá) ngân hàng B yết giá EUR/USD= 1,3638/1,3642(EUR là đồng yết giá). Để ăn chênh lệch tỉ giá, nhà đầu tư nên……. Tại ngân hàng A, ……….. tại ngân hàng B, và thu lợi nhuận……
    6. Mua USD, bán USD, 0.0006EUR
    7. Mua EUR, bán EUR, 0,0002 USD
    8. Mua USD, bán USD, 0,0002EUR
    9. Mua EUR, bán EUR, 0,0012USD
    10. Sáu tháng trước đây, tỉ giá USD/ JPY= 285,71( USD là đồng yết giá). Hôm nay tỉ giá USD/JPY= 222.22. đồng USD đã biến động như thế nào so với JPY?
    11. Tăng khoảng 22%
    12. Tăng khoảng 29%
    13. Giảm khoảng 22%
    14. Giảm khoảng 29%
    15. Giao dịch nào dưới đây đc ghi nhận vào tài khoản thu nhập trên cán cân thanh toán của Việt Nam?
    16. Phí tư vấn do các nhà XK thủy sản Việt Nam trả cho các luật sư ở Mỹ
    17. Người VN định cư ở nước ngoài chuyển tiền về nước
    18. Một NĐT Singapore mua trái phiếu chính phủ ở VN
    19. A và b
    20. Một khoản đầu tư ODA dài hạn có hoàn lại của Nhật Bản cho VN sẽ được ghi nhận vào mục nào trên cán cân thanh toán của VN?
    21. Cán cân thương mại
    22. Cán cân chuyển giao
    23. Nợ trung và dài hạn
    24. Ko có hạng mục nào trong các hạng mục trên
    25. Để tài trợ cho sự thâm hụt của cán cân thanh toán, một QG có thể sử dụng biệp pháp nào trong các biện pháp sau:
    26. Giảm thuế NK
    27. Nâng giá tiền tệ?
    28. Vay nước ngoài
    29. Tất cả các biện pháp trên
    30. Một công ty mỹ trả 10.000USD cổ tức cho các nhà đầu tư VN thông qua việc ghi nợ tài khoản của các ngân hàng mỹ và ghi có tài khoản của các nhà đầu tư VN tại Mỹ. hạng mục nào sẽ được ghi Có trên cán cân thanh toán của mỹ?
    31. Cán cân vãng lai
    32. Cán cân tài chính

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây 


  • Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-%C4%91%E1%BA%B7c-%C4%91i%E1%BB%83m-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-c%C3%B4ng-ty-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-c%E1%BB%A5-th%E1%BB%83.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Đề tài số 2 :

    Phân tích đặc điểm hoạt động của công ty bảo hiểm? Đi sâu phân tích cụ thể một công ty.

    I.  KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    1.1 Khái niệm và yêu cầu cần thiết của doanh nghiệp bảo hiểm

    1.1.1  Khái niệm

    Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy đinh khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.

    1.1.2. Đặc trưng của doanh nghiệp bảo hiểm:

    ☺ Thứ nhất,doanh nghiệp bảo hiểm có hoạt động kinh doanh tài chính, chủ yếu thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh bảo hiểm. Tính đặc thù của kinh doanh bảo hiểm được thể hiện:

    • Đây là dịch vụ tài chính đặc biệt, là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro. Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình, nó là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm kèm theo là dịch vụ có liên quan.
    • Chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ đảo ngược, tức là sản phẩm được bán ra trước, doanh thu được thực hiện sau đó mới phát sinh chi phí.

    ☺ Thứ hai: doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức, thành lập và hoạt động theo các quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật.

    ☺Thứ ba: doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính.

    Để quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan quản lý nhà nước nhất định. Đây là đặc điềm giúp phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.

    1.1.3 Yêu cầu cần thiết:

    – về mặt kỹ thuật

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức tốt việc thống kê,lựa chọn rủi ro, tính phí bảo hiểm, giải quyết các khiếu nại khi có xảy ra sự kiện bảo hiểm

    – về mặt pháp lý

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được thành lập và vận động đúng theo quy định của luật pháp địa phương hoặc quốc gia mà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh.

    – về mặt kinh doanh

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được tổ chức thành một bộ máy hoàn chỉnh để có thể vận hành, gồm các bộ phận chức năng như : quản lý, nghiệp vụ, kinh doanh, tài chính, kế toán, hành chính nhân sự…

    – về mặt tài chính

    Doanh nghiệp bảo hiểm tập trung huy động vốn từ số đông khách hàng nên phải có sự đảm bảo về mặt tài chính(ký quỹ, quỹ dự phòng, vốn chủ sở hữu, hiệu quả đầu tư…) để hoạt động và tạo sự tin tưởng đối với khách hàng. Những yêu cầu về tài chính phải được giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý nhà nước.

    1.2 Nội dung, nguyên tắc hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm

    1.2.1. Nội dung:

    ☺Thứ nhất : kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm

    + Trong kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm dưới các hình thức sau: trực tiếp; thông qua các đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm; thông qua đấu thầu; các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.

    + Trong kinh doanh tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền nhượng chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhưng không được nhượng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác để hưởng hoa hồng tái bảo hiểm.

    ☺Thứ hai: quản lý quỹ và đầu tư vốn:

    + Quản lý quỹ:

    Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều lệ đã đóng góp không thấp hơn mức vốn pháp định đã quy định.

    + Trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ: là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.

    + Đầu tư vốn:

    Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm : vốn diều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ dự trữ tự nguyện, các khoản lãi những năm trước chưa sử dụng và các quỹ được sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại của doanh nghiệp, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.

    Đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi  từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm được sử dụng để đầu tư:

    – Mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế.

    – Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệp khác tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.

    – Kinh doanh bất dộng sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính-tín dụng tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp.

    ☺Thứ ba : doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện các hoạt động khác như : đề phong, hạn chế rủi ro, tổn thât; giám định tổn thất; đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn và các hoạt động khác theo quy định của pháp luât.

    1.2.2. Nguyên tắc hoạt động :

    – Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn: chỉ bảo hiểm một sự rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên ngoài ý muốn con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra.

    – Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối.

    – Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm.

    Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan, gắn liền hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm.

    – Nguyên tắc bồi thường.

    Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vi trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém.

    – Nguyên tắc thế quyền.

    Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ 3 trách nhiệm bồi thường cho mình.

    – Nguyên tắc lấy số đông bù số ít.

    Dựa trên cơ sở nghiên cứu về quy luật số lớn, người ta có thể xác định được mức độ thiệt hại bình quân cho những khoảng thời gian nhất định.

    Số người tham gia bảo hiểm càng đông thì khả năng bù đắp rủi ro càng lớn, độ an toàn càng cao  và ngược lại.

    1.3 Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm

    Có nhiều tiêu chí để phân loại, mỗi cách phân loại có  ý nghĩa và mục đích riêng.

    ☺ Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước: là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những nhiệm vụ nhà nước giao.

    – Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần đóng góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trọng phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty

    – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ: là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên.

    – Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài

    Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

    + Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ sở góp vốn giữa một bên nước Việt Nam với một bên nước ngoài( tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn 30% vốn điều lệ)

    + Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt Nam.

    ☺ Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm

    –  nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ: là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ của con người. Dấu hiệu đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ như sau: bảo hiểm nhân thọ có thời hạn hợp đồng dài và luôn có tính đền bù.

    – nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

    II. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    1. Đối tượng kinh doanh đa dạng.

    – Bảo hiểm tài sản: BH ô tô, xe máy, BH máy bay, BH tàu thủy, BH vận chuyển hàng hóa nội địa và xuất nhập khẩu, BH đầu máy và toa xe, BH tài sản cá nhân và doanh nghiệp, BH tín dụng.

    – Bảo hiểm con người: BH nhân thọ, BH tai nạn lao động, BH tai nạn hành khách, BH tai nạn học sinh, sinh viên…

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: BH trách nhiệm dân sự lái xe cơ giới, BH trách nhiệm dân sự chủ tàu, BH trách nhiệm dân sự chủ hãng hàng không…

    2. Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn lớn.

    Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn. Nguồn vốn này các Công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án có mức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận.

    3. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng bảo   hiểm – là nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    Doanh nghiệp phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt qua trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và phương án khôi phục. Nếu không khôi phục được khả năng thanh toán, doanh nghiệp sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.

    4. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh.

    Doanh nghiệp bảo hiểm làm quen với hội nhập hợp tác quốc tế và tạo ra sự cạnh tranh để doanh nghiệp bảo hiểm tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm đem lại lợi ích tốt hơn cho người tham gia bảo hiểm.

    Trong quá trình phát triển thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải hợp tác để đưa đến thống nhất và đòi hỏi canh tranh lành mạnh.

    5. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân theo các quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan.

    Để các DN bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan đến hoạt động bảo hiểm

     

    III. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

    3.1.Trước khi gia nhập WTO

    • Trước khi có nghị định 100/CP

    Ngày 17/12/1964 công ty bảo hiểm đầu tiên của VN được thành lập(Bảo Việt).

    Kể từ đó, đến tận năm 1994, ở Việt Nam chỉ có Bảo Việt là công ty bảo hiểm đầu tiên và duy nhất được chính phủ thành lập. Ở giai đoạn này, lịch sử phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam có thể coi như sự phát triển của Bảo Việt.

    Thị trường bảo hiểm Việt Nam từ khi hình thành đến trước khi có nghị định 100/CP là thị trường độc quyền, “sân chơi chỉ có 1 người” nhưng đã đạt được những tiến bộ đáng kể, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước qua các giai đoạn cam go ác liệt của lịch sử.

    Sau khi có nghị định 100/CP,thực hiện chính sách mở cửa và cải cách kinh tế của đảng và nhà nước, ngày 18-6-1993, chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Nghị định 100/CP của chính phủ ra đời khẳng định hướng phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ bao gồm nhiều thành phần kinh tế tham gia, cụ thể:

    • Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước
    • Doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần
    • Doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ
    • Doanh nghiệp liên doanh bảo hiểm
    • Chi nhánh của tổ chức bảo hiểm nước ngoài và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

    3.2. Sau khi gia nhập WTO

    3.2.1 Những cơ hội của ngành bảo hiểm khi VN gia nhập WTO

    – Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao, hàng hóa của VN sẽ có một thị trường rộng lớn hơn đó là các thành viên WTO, đồng thời hàng hóa nước họ sẽ được xâm nhập vào thị trường VN  tạo tiền đề cho các ngành nghề phát triển như: giao thông vận tải đường bộ, hàng không, xuất nhập khẩu làm tiền đề cho BH phát triển.

    – Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước phát triển nhanh chóng

    Đây cũng là cơ sở để ngành BH phát triển, đồng thời cũng đòi hỏi ngành BH phải có sản phẩm BH đáp ứng nhu cầu của tăng trưởng đầu tư nước ngoài và trong nước, nhất là những cơ sở đầu tư ngành nghề mới, công nghệ cao như đóng tàu, xây dựng đường tàu điện ngầm, xây dựng ngành điện tử công nghệ thông tin, xây dựng nhà máy lọc dầu, điện nguyên tử, vệ tinh, sản xuất linh kiện máy bay…

    – Lộ trình cổ phần hóa chuẩn bị hoàn thành

    Chế độ sở hữu tư nhân buộc người điều hành DN muốn bảo toàn vốn và tài sản trước mọi rủi ro cần phải có BH làm tăng nhu cầu BH để ngành BH phát triển. Khi các chủ DN coi trọng BH là lá chắn trước mọi rủi ro, tai nạn bất ngờ thì thị trường BH sẽ có nhiều cơ hội phát triển lành mạnh

    – Sự trợ cấp của Nhà nước ở một số lĩnh vực sẽ giảm dần

    Cùng với sự xã hội hóa hoạt động thể dục thể thao, y tế, văn hóa giáo dục đã kích thích nhu cầu tham gia BH. Sự trợ cấp của nhà nước càng giảm thì sự lo lắng thiên tai, tai nạn xảy ra bất ngờ dẫn đến người ta phải nghĩ tới BH.

    – Pháp luật ngày càng hoàn thiện và mang tính tương thích với nhau nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng của DN ngày một tốt hơn làm phát sinh theo nhu cầu BH như: BH trách nhiệm nghề nghiệp bác sĩ, luật sư, tư vấn thiết kế…; BH tài sản; BH rủi ro tài chính; BH trách nhiệm sản phẩm của các tổ chức sản xuất, kinh doanh; BH trách nhiệm dân sự của các chủ doanh nghiệp

    – Tầng lớp dân cư có thu nhập cao ngày càng đông đảo bao gồm giới chủ DN tư nhân, các chuyên gia giỏi trong DNVN và DN có vốn đầu tư nước ngoài, các chủ hộ kinh doanh, các chủ trang trại đều có nhu cầu BH Nhân thọ cho mình và người thân.

    – Nhận thức về nhu cầu, tác dụng của BH ngày một nâng cao thông qua công tác tuyên truyền của ngành BH,thông qua tập quán mua BH của giới chủ đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng lớn đến nhận thức của những khách hàng tiềm năng có nhu cầu dẫn tới quyết định tham gia BH ngày một đông đảo hơn.

    3.2.2  Những thách thức lớn đối với ngành bảo hiểm cần vượt qua

    – Số lượng các DNBH được cấp phép hoạt động ngày một gia tăng

    Các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước nếu đủ điều kiện thao luật định đều có quyền xin phép thành lập DNBH, trong đó có các DNBH nước ngoài theo đúng cam kết WTO. Tuy nhiên, việc có nhiều DNBH ra đời làm cho sự cạnh tranh vốn đã gay gắt này càng gay gắt hơn.

    – DNBH hoạt động ở nước ngoài được cung cấp một số sản phẩm BH qua biên giới

    Đây là điều đáng lo ngại trong cuộc cạnh tranh không cân sức đối với các DNBH đang hoạt động tại VN.Trước hết, họ không thể biết được thông tin về đối thủ cạnh tranh của họ. Thứ hai, vũ khí của đối thủ đang sử dụng là loại gì không được biết rõ.Thứ ba, DNBH đang hoạt động tại VN phải đóng thuế cho ngân sách nhà nước trong khi đó đối thủ không bị đóng góp các khoản thuế trên.

    – Kênh phân phối sản phẩm BH đã bộc lộ nhiều yếu kém

    BH phi nhân thọ vẫn giữ cung cách khai thác chủ yếu từ cán bộ BH, cạnh tranh về phí BH, tăng hoa hồng, tăng hỗ trợ cho đại lý, chưa xây dựng được đội ngũ đại lý BH phi nhân thọ mang tính chuyên nghiệp và các công ty môi giới cạnh tranh lẫn nhau, làm việc thiếu chuyên nghiệp, … gây bất lợi cho DNBH và thị trường BH.

    – Đầu tư công nghệ thiếu đồng bộ, kém hiệu quả

    Hệ thống công nghệ thông tin của các DNBH chưa cập nhật được từng hợp đồng BH phát sinh, chưa phân loại được khách hàng, rủi ro BH, chưa phân tích đánh giá được nguyên nhân, mức độ rủi ro tổn thất, còn nhiều lỗ hổng để trục lợi BH.

    – Cạnh tranh gay gắt chủ yếu bằng con đường hạ phí BH, không chú trọng nhiều đến dịch vụ chăm sóc khách hàng

    Phí BH trên thị trường BHVN hiện nay được hình thành chủ yếu qua con đường cạnh tranh hạ phí phi kĩ thuật mà không quan tâm đến đối tượng BH như thế nào, mức độ rủi ro ra sao. Chính vì vậy, việc quan tâm chăm sóc khách hàng cung cấp dịch vụ gia tăng bổ sung cho khách hàng cũng bị hạn chế.

    – Việc giải quyết bồi thường còn nhiều vướng mắc

    Trước hết, tính công khai minh bạch về hồ sơ, thủ tục giải quyết bồi thường chưa được thực hiện.

    Thứ hai, việc đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục bồi thường giảm phiền phức cho khách hàng chưa được cải thiện rõ rệt.

    Thứ ba, còn nhiều vướng mắc trong việc thu thập hồ sơ chứng từ để giải quyết bồi thường cho nạn nhân khi những hồ sơ chứng từ này buộc phải lấy từ cơ quan có thẩm quyền như công an, bệnh viện.

    Thứ tư, việc tự quyết, tự chịu trách nhiệm của DNBH trong việc giám định bồi thường tổn thất chưa được phát huy và hay bị hình sự hóa.

    Thứ năm, các DN hoạt động trong lĩnh vực tư vấn giám định và giải quyết bồi thường chưa hoạt động có hiệu quả và phán quyết của họ nhiều khi không được pháp luật công nhận.

    Cuối cùng là chưa có biện pháp xử phạt thích đáng DNBH trong việc chậm trễ bồi thường cũng như xử phạt thích đáng các hành vi trục lợi BH

    3.2.3 Các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm VN sau WTO

    – Xây dựng một hàng rào kỹ thuật về tiêu chuẩn thành lập DNBH và  hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    – Cần có sự biến đổi về chất của các DNBH nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng, phù hợp với mô hình phát triển DNBH theo chuẩn mực quốc tế.

    Trước hết, phải tập trung vào công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu quản lý BH từ khâu khai thác, theo dõi hợp đồng, khách hàng, tiếp nhận thông tin từ khách hàng, xử lý sự cố thiên tai, tai nạn, giám định bồi thường, tính phí, đánh giá rủi ro

    Thứ hai là tập trung cho công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực mang tính hệ thống, bài bản với những nội dung, chương trình đào tạo chuẩn mực quốc tế thay cho lối đào tạo truyền bá kinh nghiệm, kiến thức của người đi trước dạy bảo người đi sau.

    Thứ ba là cần tạo ra thế mạnh hơn hẳn của để cạnh tranh với các DNBH nước ngoài không hoạt động tại VN.

    – Các DNBHVN cần có sự hợp tác hơn nữa

    Nói đến thị trường tất yếu phải có sự cạnh tranh. Cạnh tranh không phải là để chia rẽ, phân hóa các DNBH mà trong cạnh tranh sẽ tạo tiền đề để các DNBH tiến tới hợp tác song phương, đa phương thậm chí tiến tới việc mua bán, hợp nhất, sáp nhập DNBH để tạo nên một sức mạnh cạnh tranh tốt hơn. Ngoài ra, các DNBH càng cần hợp tác với nhau trong việc xây dựng dữ liệu quản lý BH đánh giá rủi ro, phân tích rủi ro, cung cấp thông tin về bồi thường, nguyên nhân tổn thất, phòng chống trục lợi BH.

    3.3. Các sản phẩm bảo hiểm mới trên thị trường Việt Nam

    + Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ:

    Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ vừa giới thiệu hai sản phẩm bảo hiểm bổ trợ mới là Bảo hiểm trợ cấp phẫu thuật & điều trị ngoại khoa và Bảo hiểm trợ cấp nằm viện. Điểm khác biệt của hai sản phẩm bổ trợ này so với những sản phẩm cùng loại trên thị trường là việc mang lại quyền lợi cho cả bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm.

    – Korea Life với sản phẩm bảo hiểm: AN KHANG LINH HOẠT TRỌN ĐỜI

    Ngày 30/11/2009, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Korea Life đã chính thức giới thiệu ra thị trường sản phẩm An Khang Linh Hoạt Trọn Đời – một sản phẩm thuộc dòng Bảo hiểm Liên kết chung. Với ưu thế là sự linh hoạt tối đa trong tích lũy và bảo vệ, sản phẩm mới này hứa hẹn sẽ đáp ứng được mong đợi của nhiều khách hàng Việt Nam

    – 3 sản phẩm mới của Grest Eastern

    +Đại an khôi nguyên- lên kế hoạch cho con bạn từ hôm nay

    Với sản phẩm này, bạn có thể bắt đầu lập kế hoạch cho tương lai giáo dục của con bạn ngay khi đứa con yêu quý của bạn mới chào đời.Với việc nộp phí bảo hiểm trong 8 năm, con bạn sẽ được bảo vệ tới 22 năm, sự hỗ trợ có đảm bảo về tài chính sẽ bằng 130% Số tiền Bảo hiểm ban đầu cộng với tất cả bảo tức tích lũy đi kèm.

    +Đại an định kỳ gia tăng- thắp sáng ước mơ của bạn

    Đại an định kỳ gia tăng của Great Eastern không những bảo vệ mà còn mang

    lại cho bạn một khoản tiết kiệm, nhờ vậy, bạn có thể tăng thêm của cải và có thêm tiền mặt trong tay để thực hiện các mục tiêu lâu dài trong cuộc đời của mình.

    +Đại an  minh tâm- lập kế hoạch cho việc mưu cầu hạnh phúc của bạn

    Đại an minh tâm là giải pháp tuyệt vời hỗ trợ bạn và những người thân yêu của bạn về mặt tài chính, và điều quan trọng nhất là giúp cho ước mơ và kế hoạch tài chính của bạn trở thành hiện thực.

    – Prudential Việt Nam với sản phẩm “3 trong 1”

    Mới đây nhất, bảo hiểm Prudential Việt Nam vừa giới thiệu sản phẩm bảo hiểm nhân thọ “3 trong 1” dành cho những khách hàng đã có gia đình; sản phẩm này cho phép một hợp đồng của một thành viên trong gia đình có giá trị bảo hiểm cho cả gia đình 3 người.

    + Sản phẩm BH phi nhân thọ

    – BIC bảo hiểm cho các hộ chung cư

    Từ ngày 05/04/2010, BIC chính thức triển khai sản phẩm Bảo hiểm cho hộ gia đình sinh sống trong các khu chung cư.

    – CHILDREN CARE – Sản phẩm mới của PJICO

    PJICO quyết định thiết kế ra PJICO Children Care – một sản phẩm bảo hiểm hoàn toàn mới cho thiếu nhi với mức trách nhiệm cao, phạm vi bảo hiểm rộng và đặc biệt là người tham gia bảo hiểm được hưởng những dịch vụ y tế chất lượng cao.Điều này đã hạn chế các yếu tố : mức trách nhiệm bảo hiểm thấp, quyền lợi bảo hiểm hạn chế, …

    – Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)

    Ngay sau khi Cục Cảnh sát giao thông đường bộ thông báo sẽ kiểm tra gắt gao việc mua bảo hiểm bắt buộc, Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) đã nhanh chóng đưa ra thị trường sản phẩm “Phúc vạn dặm bảo hiểm vật chất cho xe ôtô”.

    – Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS)

    Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS) thì cho ra mắt Bảo hiểm nhà tư nhân, bảo hiểm cấu trúc ngôi nhà,tài sản bên trong ngôi nhà nếu bị cháy, nổ, sét đánh, động đất, trộm cướp, hành động cố ý phá hoại hay hành động ác ý đều được bồi thường.

    IV. CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO)

    Tìm hiểu tại: Văn phòng bảo hiểm khu vực II

    ĐC: 194 Hoàng Quốc Việt- Cầu Giấy-HN

    4.1 Quá trình hình thành và phát triển

    Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

    Tên giao dịch quốc tế : PETROLIMEX JOINT STOCK COMPANY

    Tên viết tắt                    :         PJICO

    Lôgô                     :

    Địa chỉ                  : Số 532 Đường Láng, Đống Đa, Hà Nội

    Điện thoại            : (04) 776 0865  – (04) 776 0926

    Fax                       : (04) 776 0868

    Thành lập                         : 15/6/1995

    Vốn điều lê:         –  6/1995 là 55 tỷ đồng

    –  4/2004 là 70 tỷ đồng

    –  31/3/2007 là 140 tỷ đồng

    2009 là      335,1 tỷ đồng

    Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) là Công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, được thành lập năm 1995 theo chính sách đổi mới phát triển kinh tế của Nhà nước, là sự tập hợp sức mạnh kinh tế và uy tín của các tổng công ty lớn của nhà nước như Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam, Tổng Công ty thép Việt Nam, Tổng Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Công ty điện tử Hà Nội HANEL….. Sau 13 năm phát triển, PJICO được đánh giá là một trong những công ty có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thị trường và hiện tại PJICO là một trong 4 nhà bảo hiểm hàng đầu trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

    – Hiện nay PJCO có 49 chi nhánh hoạt động tại tất cả các tỉnh thành trên cả nước với số lượng Đại lý là trên 4.500 đại lý. Tại thị trường quốc tế Công ty đã mở rộng và quan hệ với nhiều nhà Tái bảo hiểm quốc tế như Munich Re, Cologne Re, Hartford Re, Hannover Re, Willis Faber, LLoy’d …

    – Với những kết quả kinh doanh ấn tượng đã đạt được trong thời gian qua, PJICO đã vinh dự được nhận hàng loạt các giải thưởng, danh hiêu lớn: Huân chương lao động hạng III năm 2000, PJICO đã được bầu chọn Giải thưởng Sao đỏ năm 2003, Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt năm 2004, Giải “Thương Hiệu Mạnh Việt Nam 2009” Vào ngày 4/4/2010.

     

    4.2. Mô hình tổ chức

    4.3. Vị thế của Công ty trong ngành:

    Công ty đứng thứ tư trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, cung cấp  hầu hết các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cho thị trường bảo hiểm Việt Nam. Lợi thế cạnh tranh của Công ty tập trung ở một số lĩnh vực bán lẻ như bảo hiểm ôtô, xe máy chiếm gần 50% tổng doanh số kinh doanh bảo hiểm hàng năm và một số lĩnh vực bảo hiểm khác như bảo hiểm con người, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm xây dựng lắp đặt. Với các lĩnh vực bán lẻ, thương hiệu và uy tín của PJICO ngày càng cao, sau khi điểu chỉnh chiến lược kinh doanh, việc phục vụ khách hàng của PJICO ngày càng tốt hơn, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao. PJICO đang ngày một khẳng định vị thế của mình trên thị trường.

    4.4. Các sản phẩm bảo hiểm:

    4.4.1    Bảo hiểm xe cơ giới:

    Bao gồm các loại hình:

    • Bảo hiểm bắt buộc TNDS của Chủ xe cơ giới
    • Bảo hiểm tự nguyện TNDS của Chủ xe cơ giới
    • Bảo hiểm TNDS của Chủ xe cơ giới đối với hàng hoá trên xe.
    • Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe và lái, phụ xe.
    • Bảo hiểm vật chất xe.

    4.4.2   Bảo hiểm con người

    4.4.3   Bảo hiểm hàng hóa

    – Bảo hiểm hàng xuất nhập khẩu: Hàng hóa xuất nhập ra vào lãnh thổ Việt Nam

    – Bảo hiểm hàng vận chuyển trong nước: Hàng hóa vận chuyển nội địa bằng các loại phương tiện được phép tham gia giao thông trên lãnh thổ Việt Nam

    4.4.4  Bảo hiểm tàu thủy

    – Bảo hiểm thân, vỏ tàu: Các cấu trúc nổi có hoặc không có động cơ, chuyên dùng để hoạt động trên biển, sông hồ và các vùng nước có liên quan.

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu: Là trách nhiệm dân sự của chủ tàu, người quản lý, người điều hành, người thuê tàu (không phải là người thuê tàu chuyến)… phải bồi thường theo luật định.

    4.4.5  Tài sản & Trách nhiệm

    –  Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản

    – Hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt

    – Gián đoạn kinh doanh

    – Trách nhiệm công cộng, trách nhiệm sản phẩm

    – Trách nhiệm nghề nghiệp

    – Bảo hiểm khác:

    • Bảo hiểm tiền (trong két và vận chuyển)
    • Bảo hiểm trộm cắp
    • Bảo hiểm lòng trung thành (của nhân viên, người làm thuê …)

    4.4.6 Bảo hiểm kỹ thuật

    – Bảo hiểm kỹ thuật

    • CAR      : Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng
    • EAR      : Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt
    • M          : Bảo hiểm máy móc
    • EE         : Bảo hiểm thiết bị điện tử
    • DOS      : Hàng trong kho lạnh
    • MLOP    : Mất tổn thất do thiệt hại đối với máy móc
    • CECR    :Bảo hiểm mọi rủi ro công trình kỹ thuật dân dụng đã hoàn thành

    – Bảo hiểm xây dựng:

    • Công việc xây dựng
    • Trang thiết bị xây dựng
    • Máy móc xây dựng
    • Chi phí dọn dẹp hiện trường
    • Trách nhiệm đối với bên thứ ba

    4.5. Hoạt động của công ty

    4.5.1. Huy động vốn:

    + Vốn từ các cổ đông:

    TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU VIỆT NAM :Petrolimex là cổ đông lớn nhất của Công ty PJICO với tỷ lệ góp vốn là: 51%.

    NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 10%

    TỔNG CÔNG TY CP TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM:Tỷ lệ vốn góp trong PJICO: 8%

    TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM:Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 6%.

    CÔNG TY VẬT TƯ VÀ THIẾT BỊ TOÀN BỘ :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 3%

    CÔNG TY ĐIỆN TỬ HANEL:Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 2%.

    CÔNG TY THIẾT BỊ AN TOÀN :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 0,5%.

    + Vốn huy động từ phát hành cổ phiếu :

    Số vốn điều lệ đang lưu hành đầu năm 2007 của PJICO mới đạt 137,2 tỷ đồng là quá nhỏ so với quy mô và tầm hoạt động của chính PJICO và so với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường.  Do đó, công ty đã chào bán cổ phiếu vào cuối năm 2007 với  số lượng: 19.884.033 cổ phiếu

    Cuối năm 2009, sau khi được bộ tài chính và ủy ban chứng khoán chấp nhận, ĐHCĐ của CTCP Bảo hiểm Petrolimex thông qua phương án phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng. Cụ thể, PJICO phát hành 16.490.099 cổ phiếu với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá là 164,9 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Đại hội còn thông qua việc niêm yết toàn bộ 50 triệu cổ phiếu trên Sở GDCK TP. HCM (HOSE) và ủy quyền cho HĐQT thực hiện.

    4.5.2 Quản lý quỹ:

    Trích lập các Quỹ

    PJICO thực hiện trích lập và sử dụng các quỹ tại doanh nghiệp như sau:

    • Quỹ dự trữ bắt buộc được trích từ lợi nhuận sau thuế với tỷ lệ 5% cho tới khi bằng 10% mức vốn điều lệ của doanh nghiệp.
    • Quỹ đầu tư phát triển được trích lập từ lợi nhuận sau thuế với tỷ lệ 10 %.
    • Quỹ trợ cấp mất việc làm được trích theo quy định của pháp luật
    • Quỹ khen, thưởng phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế thông thường bằng 1 đến 1,5 tháng lương thực tế.

    Dự phòng nghiệp vụ.

    • Dự phòng phí chưa được hưởng: mức trích lập dự phòng phí đối với các loại hình bảo hiểm vận chuyển hàng hóa được tính bằng 25% mức phí giữ lại trong năm và bằng 50% mức phí giữ lại trong năm đối với các loại hình bảo hiểm khác.
    • Dự phòng dao động lớn: được áp dụng thống nhất đối với tất cả các loại hình nghiệp vụ là 5% phí giữ lại trong năm và được trích cho đến khi bằng 100% phí giữ lại.
    • Dự phòng bồi thường: được Công ty thực hiện trích lập theo phương pháp từng hồ sơ đối với các tổn thất thuộc phạm vị bảo hiểm khách hàng đã khiếu nại nhưng chưa giải quyết. Mức trích lập dựa trên ước tính tổn thất phát sinh và phần trách nhiệm giữ lại của Công ty.

    4.5.3 Hoạt động đầu tư:

    Không chỉ theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, PJICO còn quan tâm tới nhiệm vụ quản lý rủi ro, bảo toàn đồng vốn thông qua việc quản lý đầu tư tài chính khoa học, sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi, huy động tối đa tiền vào đầu tư sinh lợi, đồng thời vẫn đảm bảo nhu cầu chi tiêu thường xuyên của các đơn vị trong Công ty.

    PJICO đã triển khai đầu tư vào nhiều dự án có hiệu quả như đầu tư góp vốn vào Công ty cổ phần vận tải xăng dầu Vipco, góp vốn cổ phần vào Tổng công ty CP tái bảo hiểm Quốc Gia Việt Nam (Vinare), Công ty cổ phần Xây lắp I Petrolimex.; Công ty cổ phần Bất động sản Petrolimex (Pland), Công ty cổ phần Lương thực và Công nghệ thực phẩm (Foodinco)….., ngoài ra PJICO còn thường xuyên theo dõi sự biến động của Thị trường chứng khoán để lựa chọn danh mục đầu tư cổ phiếu hợp lý.

    Bảng 1: Một số dự án đã góp vốn đầu tư tính đến thời điểm 31/12/2009

    Đơn vị tính: đồng

    STT Tên dự án Hình thức tham gia Tỷ lệ góp vốn Số tiền góp vốn  
     
    1 Công ty CP Vận tải Vipco Góp vốn cổ phần 6,94% 24.350.000.000  
    2 Tổng Công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam Góp vốn cổ phần 3,5% 12.005.000.000  
    3 Công ty CP Xây lắp I Petrolimex Góp vốn cổ phần 10% 1.000.000.000  
    4 Công ty CP Bất động sản Petrolimex Góp vốn cổ phần 10% 10.000.000.000  
    5 Công ty CP Lương thực và Công nghệ thực phẩm (Foodinco) Góp vốn quỹ 7,57% 2.500.000.000  
    6 Công ty liên doanh kho xăng dầu Vân phong Góp vốn liên kết KD 15% 12.800.000.000  
               
      Tổng cộng     62.655.000.000  

    (Nguồn: Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex)

    4.5.4. Công tác dịch vụ khách hàng

    Với một mạng lưới dịch vụ trải dài rộng khắp, PJICO nhận bảo hiểm ở mọi nơi, mọi rủi ro trong cả nước. Hiện nay, PJICO đang nhận bảo hiểm hàng nghìn công trình lớn nhỏ với tổng giá trị lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng, trong đó có rất nhiều công trình mà giá trị bảo hiểm đã lên tới hàng trăm triệu Dollar Mỹ như toà nhà Daewoo, cao ốc Diamond Praha, cảng xăng dầu B12, trung tâm HITC, Cầu Bãi Cháy, Nhà máy Xi măng Hải Phòng….
    PJICO cũng nhận bảo hiểm cho hàng vạn xe cộ, hàng triệu người lao động, học sinh,mang lại niềm tin trong sản xuất, lao động và học tập. Đó chính là mục tiêu, là mong muốn mà PJICO có được ở khách hàng. Để đạt được điều đó PJICO đã phải có những nỗ lực vượt bậc trong quá trình phát triển, lập ra một quỹ dự trữ bồi thường gắn với một chế độ bồi thường hợp tình, hợp pháp đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng nhanh, thuận tiện, đúng đủ.

    Sau những năm hoạt động, PJICO đã bồi thường, trợ giúp hàng trăm ngàn vụ tổn thất, điển hình:

    • Đợt bão số 5 mang tên Linđa tràn vào Nam Trung bộ và Nam bộ (1997) gây thiệt hại nghiêm trọng, PJICO đã bồi thường hàng tỷ đồng để ổn định cuộc sống người dân.
    • Vụ cháy kho xăng dầu K131 trị giá 22 tỷ đồng
    • Vụ tổn thất tàu và hàng trong vụ đâm va 2 tàu dầu Petrolimex 01 và Formosa One tại Vũng Tàu năm 2001 với giá trị tổn thất là 18 tỷ đồng
    • Các tổn thất trên Đường Hồ Chí Minh trị giá 5,8 tỷ đồng, tổn thất Cầu Kỳ Lam, Cầu Đà Rằng-Sông Cái
    • Vụ tổn thất của Công ty Xi măng Hoàng Mai trị giá 5,79 tỷ đồng
    • Vụ tổn thất toàn bộ 11.000 tấn phân lân do đắm tàu MaritmeFelelity tại Singapore trị giá 1.4 triệu USD.
    • Hàng loạt các tổn thất cầu, đường, kho, hàng, tàu thuyền sau trận lụt miền Trung tháng 10/1999
    • PJICO thực hiện chế độ bồi thường hợp tình, hợp pháp, chi trả cho khách hàng nhanh, thuận tiện thể hiện rõ trong vụ lốc xoáy làm bung chân đế và đổ sập 3 cẩu rót than tại Công ty Tuyển than Cửa Ông
    • PJICO chỉ cung cấp dịch vụ Bảo hiểm thân tàu và không phải chịu trách nhiệm đối với các thuyền viên bị nạn, nhưng Công ty vẫn trợ cấp thăm hỏi gia đình nạn nhân có người thiệt mạng sự cố chìm tàu Đức Trí ngày 03/03/2008 tại Bình Thuận mức 2 triệu đồng/người…

    Từ khi thành lập tới nay PJICO đã chi bồi thường hàng trăm tỷ đồng để khắc phục những rủi ro, thiệt hại đã xảy ra với khách hàng. Ngày nay, PJICO đã trở thành một địa chỉ đáng tin cậy, một sự lựa chọn tốt nhất của bạn cho bản thân, gia đình bạn gửi gắm niềm tin, sự an tâm trong cuộc sống.

    4.5.5. Hoạt động cộng đồng

    Sự kiện chìm đò trên sông Gianh ngày 25/01/2009 làm 42 người chết gây chấn động dư luận. Chia sẻ mất mát đau thương với người dân Quảng Bình và trách nhiệm đối với cộng đồng, ngày 04/02/2009 Công ty Bảo hiểm PJICO đã đến thăm hỏi và tặng quà hỗ trợ đến gia đình các nạn nhân tổng số tiền 21.000.000 đồng

    Đầu tháng 11 năm 2009, thay mặt toàn thể cán bộ nhân viên Công ty cổ phần Bảo hiểm PJICO, đoàn cán bộ PJICO đã đến Văn phòng Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tại số 82 – Nguyễn Du – Hà Nội để trao quà ủng hộ đồng bào Miền Trung – Tây Nguyên ( 20.000.000 VND tiền mặt và 100kg quần áo, 100 cuốn sách giáo khoa )

    Nhân ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân , 25/12/2009 công ty bảo hiểm PJICO đã tổ chức cho các cựu chiến binh hiện đang công tác tại văn phòng công ty và Hội sở PJICO Hà Nội chuyến đi du lịch về nguồn, thăm lại chiến khu xưa

    Công ty Bảo hiểm PJICO hân hạnh là Nhà Tài Trợ cho Giải Tennis Khối Doanh nghiệp TW lần I – 2010 do Đoàn khối Doanh nghiệp TW tổ chức nhằm thiết thực chào mừng 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam và 79 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

    Chào mừng Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng tỉnh Kon Tum(31/3/2010), PJICO hân hạnh là Nhà tài trợ Giải quần vợt tranh Cúp Bảo hiểm PJICO lần thứ nhất năm 2010 do Liên đoàn quần vợt tỉnh Kon Tum tổ chức

    4.6. Chiến lược kinh doanh trong thời gian sắp tới

    Trong mấy năm vừa qua, bảo hiểm Petrolimex có mức tăng trưởng cao nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Mạng lưới kinh doanh bảo hiểm của Petrolimex trải rộng trên toàn quốc và được bảo đảm tài chính bởi các nhà tái bảo hiểm chuyên nghiệp hàng đầu thế giới như: Munich Re, Swiss Re, Hannover Re, Harfort Re, Aon Re… Năm 2004 là năm đầu tiên Bảo hiểm Petrolimex hướng sự hoạt động ra thị trường quốc tế và đã thu được khoản lợi nhuận trên 1 triệu USD. Chiến lược của Bảo hiểm Petrolimex trong thời gian tới là phát triển thành tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Namvề chất lượng và hiệu quả , khẳng định thương hiệu “PJICO – Nhà bảo hiểm chuyên nghiệp”; , đồng thời mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế.

    Để thực hiện mục tiêu phát triển này PJICO có những chiến lược :

    1. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm đồng bộ, đa dạng và có chất lượng cao định hướng vào khách hàng.

    –  Xây dựng hệ thống các chính sách để thực hiện tốt nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

    –  Tiếp tục hoàn thiện sản phẩm PJICO- Children-Care thiết kế dành riêng cho trẻ em lứa tuổi từ 1-16 tuổi, theo đó trẻ em được chăm sóc y tế chất lượng cao trong các trường hợp tai nạn, ốm đau, bệnh tật phải điều trị nội trú  Sản phẩm này bảo vệ cho trẻ em 24/24 trong thời gian ở trường , ở nhà và mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam

    1. Tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch, năng động và thân thiện để nhân viên phát huy tài năng và sáng tạo.

    Với mục tiêu phát triển một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, luôn quan tâm sâu sắc tới lợi ích của khách hàng…nên bảo hiểm PJICO áp dụng quy trình chặt chẽ ngay từ đầu vào để tuyển dụng những người có tố chất này, và sau đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp họ phát triển sự nghiệp. Chính chất lượng và thái độ của đội ngũ nhân viên bảo hiểm sẽ tạo nên sự khác biệt của một công ty bảo hiểm.

    1. Hợp tác hiệu quả với các đối tác để cùng phát triển và đóng góp xây dựng cộng đồng

    – Liên kết với ngân hàng: phát triển cho tương lai

    Cùng với việc tập trung phát triển và xây dựng kênh bán hàng qua đại lý thật vững mạnh và hiệu quả tại Việt Nam, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng kinh doanh sản phẩm ban-cassurance trong những năm qua đã đem lại lợi ích đáng kể cho các bên. Chính vì thế, liên kết với ngân hàng đang được bảo hiểm PJICO tận dụng triệt để. Bảo hiểm PJICO đang bắt tay với một số ngân hàng trong và ngoài nước để bán sản phẩm bảo hiểm. Để chuẩn bị cho tương lai PJICO đang âm thầm tìm kiếm những ngân hàng uy tín để ‘bắt tay”

    • Ưu đãi tối đa cho hệ thống đại lý

    PJICO vẫn luôn coi trọng việc bán sản phẩm thông qua các đại diện kinh doanh. Để phát triển mạng lưới đại lý của mình PJICO áp nhiều chế độ đãi ngộ hợp lý . Ngoài lợi nhuận của công ty thì quyền lợi của khách hàng  được PJICO coi trọng hàng đầu

    1. Phát triển bền vững để gia tăng giá trị cho các cổ đông thông qua đa dạng hóa hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính.
    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Giáo trình nguyên lý bảo hiểm- NXB thống kê

    – Thị trường bảo hiểm Việt Nam –cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập   NXB lý luận chính trị

    – Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm – đại học kinh tế quốc dân

    Website :

    http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/08/27/3695/

    www.pjico.com.vn

    www.petrolimex.com.vn

    www.webbaohiem.net/


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-trong-kinh-doanh-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    LỜI MỞ ĐẦU

    Công ty Prudential là một công ty đa quốc gia kinh doanh trong lĩnh vực Bảo Hiểm nhân thọ. Công ty đã vào Việt Nam và cung cấp các sản phẩm của mình cho khách hàng là những người Việt Nam. Mặc dù mới thâm nhập vào thị trường Việt Nam nhưng với bề dày kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực Bảo Hiểm nhân thọ bước đầu công ty đã đạt được những thành công vượt trội và trở thành công ty thành công nhất tạI thị trường Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. đIều gì đem đến thành công cho công ty bí quyết dẫn đến thành công cho công ty là gì , trong những thuận lợi thì công ty còn gặp phảI những khó khăn gì. Công ty đã tận dụng hết được những lợi thế và cơ hội của mình hay chưa. Đây là những vấn đề mà các nhà quản trị của công ty đang quan tâm và tìm những giảI pháp để khắc phục những khó khăn và tận dụng những thơI cơ mà công ty có được. Trong những yếu tố dẫn đến thành công của công ty thì chiến lược sản phẩm của công ty chiếm vai trò rất lớn và quan trọng hay có thể nói rằng chiến lược về sản phẩm đã mang lạI thành công cho công ty

    . Công ty đã sử dụng chiến lược đa dạng hoá sản phẩm cung cấp cho khách hàng một danh mục sản phẩm mà từ đó khách hàng có được sự lựa chọn phù hợp nhất với nhu cầu của mình. Mặc dù sản phẩm của công ty là đa dạng và phong phú so với các sản phẩm khác của đối thủ cạnh tranh trong bảo hiểm nhân thọ nhưng liệu những sản phẩm của công ty đã thoả mãn được tối đa nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ hay chưa ? Còn những nhu cầu gì của khách hàng mà công ty chưa nhìn thấy? Liệu công ty có nên mở rộng loạI hình sản phẩm của mình không? Chính những vấn đề này đã dẫn đến tầm quan trọng trong việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược sản phẩm của công ty đIều đó sẽ giúp cho công ty khắc phục điểm yếu trong sản phẩm của mình, đề ra những chiến lược về sản phẩm mới nhằm tăng khả năng cạnh tranh dựa trên sự thoả mãn một cách hoàn hảo nhu cầu của khách hàng và nổi trội hơn so với đối thủ cạnh tranh

    1

    PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ) TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO HIỂM.

    I) KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM.

     

    1 ) ĐỊNH NGHĨA DỊCH VỤ.

     

    Dịch vụ là mọi hàng động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.

     

    2 ) ĐẶC TRƯNG CỦA DỊCH VỤ.

     

    Dịch vụ là một loại hàng hoá đặc biệt, nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hoá hiện hữu không có. Dịch vụ có 4 đặc điểm nổi bật đó là

     

    1. 1 ) Tính vô hình ( Tính không hiện hữu )

     

    Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vu. Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất. Tính không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ. Nhờ đó người ta có thể xác định được mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung gian giữa dịch vụ và hàng hoá hiện hữu

    1. 2 ) Tính không tách rời được.

     

    Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đi đồng thời. ĐIều này không đúng đối với hàng hoá vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Nếu dịch vụ do một người thực hiện, thì người cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó. vì khách hàng cũng có mặt khi dịch vu được thực hiên, nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng và khách hgàng là một tính chất đặc biệt của dịch vụ.

     

    1. 3 ) Tính không ổn đinh.

     

    Các dịch vụ rất không ổn định, vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó.

    2

    1. 4 ) Tính không lưu giữ được.

    Không thể lưu giữ dịch vụ được. Vì dịch vụ gắn liền với quá trình sử dụng khi quá trình sử dụng bị tạm dừng hoặc kết thúc thì dich vụ sẽ mất theo.

    3 ) ĐẶC TRƯNG CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM.

    Dịch vụ bảo hiểm là một dịch vụ có đặc trưng rất cao. Đây là một loại dịch vụ đặc biệt, để thoả mãn riêng một cấp độ nhu cầu của con người đó là nhu cầu về sự an toàn. Theo Abraham Moslow thì nhu cầu về sự an toàn là nhu cầu thứ hai sau nhu cầu sinh lý. Khi con người được thoả mãn nhu cầu về sự an toàn thì họ sẽ cảm thấy yên tâm và sẽ tập trung để theo đuổi thoả mãn những nhu cầu khác.

    Khi tham gia dịch vụ bảo hiểm mọi người phải đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm theo định kỳ. đổi lại họ sẽ nhận được những bù đắp về mặt kinh tế khi có rủi ro xảy ra và họ sẽ nhận được toàn bộ số tiền đã đóng từ trước tới nay, cộng thêm với khoản bảo tức khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc đáo hạn hợp đồng. Ta thấy rằng tham gia bảo hiểm vừa là một hình thức tiết kiệm vừa thoả mãn được nhu cầu về sự đảm bảo rủi ro.

    Sự bù đắp kinh tế cho những rủi ro được các nhà kinh doanh bảo hiểm cung cấp trên mọi mặt của mọi lĩnh vực. Hầu như những lĩnh vực nào có hoặc tiềm tàng sự rủi ro thì đều xuất hiện các loại hình tương ứng

    Không như những loại dịch vụ khác có thời gian tiếp xúc và sử dụng dịch vụ ngắn, thường thì khi kết thúc sử dụng cũng là lúc dịch vụ không còn sự tác động. Đối với dịch vụ bảo hiểm khi khách hàng tham gia nó họ sẽ phải gắn bó với nó mà thời gian đã được quy định sẵn trong hợp đồng. Đây cũng là một đặc điểm khác biệt của dịch vụ bảo hiểm so với các loại dịch vụ khác.

    Trong dịch vụ bảo hiểm thì sự xem xét của khách hàng về mặt lợi hay hạI được thực hiện một cách kỹ lưỡng và người ta thấy rằng việc tham gia bảo hiểm

    3

    là một hoạt động thoả mãn được nhu cầu về sự an toàn của khách hàng trong những hoạt động của mình mà không hề tốn kém.

    II ) NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ ) TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM

    1 ) Nhu cầu của khách hàng.

    Trong marketing nhu cầu của khách hàng được xem là chìa khoá để dẫn đến thành công của mọi công ty. Người ta cần phải nhận biết được nhu cầu của khách hàng là gì và thứ gì sẽ đem lại giá trị để thoả mãn được nhu cầu đó. Một trong những nhu cầu quan trọng của con người đó là nhu cầu về sự an toàn và bảo hiểm là một trong những dịch vụ có thể thoả mãn được nhu cầu đó.

    Trong hoạt động hàng ngày diễn ra con người phải đối diện với rất nhiều những vấn đề và hầu như tất cả các vấn đề đều có nguy cơ sảy ra rủi ro và mỗi một sự rủi ro lại cần có một sự đảm bảo riêng lẻ tách rời. Chính điều này đã tạo nên nhiều loại hình (sản phẩm ) bảo hiểm khác nhau để thoả mãn từng nhu cầu riêng lẻ của khách hàng. Công ty prudential đã nghiên cứu và cơ bản nhận định được một số nhu cầu của khách hàng muốn tham gia bảo hiểm. Những nhu cầu đó là:

    • Được bảo vệ an toàn tài chính suốt cuộc đời nhưng vẫn tích luỹ được tài sản cho con cháu. ( Phú- Trường An )
    • Thực hiện một kế hoạch tích luỹ tài chính hiệu quả nhất để chăm lo tương lai cho con em mình. (Phú _ Tương lai . Phú _ Tích luỹ dáo giuc )
    • Tích luỹ tài chính để an tâm vui sống trong những năm tháng hưu trí. (Phú bảo gia , Phú trường khang, Phú tích luỹ an khang )
    • Tích luỹ tài chính trong 15 năm cho những kế hoạch dài hạn, nhưng vẫn được hưởng quyên lợi trả định kỳ mỗi 03 năm để chi tiêu cho các kế hoạch ngắn hạn. ( Phú Thành đạt, Phú tích luỹ định kỳ )

    4

    • Luôn có được sự chăm sóc hoàn hảo về tài chính cho từng giai đoạn quan trọng khác nhau của cuộc đời và một sự bảo vệ toàn diện trước bất trắc của ngày mai. (Phú hoàn mỹ )
    • Được bảo vệ an toàn tài chính nhưng vẫn được hoàn phí khi đáo hạn. ( Phú Hoà nhân an )
    • Nhân viên luôn có được sự an tâm, đem hết nhiêt tình chung sức vào sự phát triển của tổ chức, công ty mình. ( Phú An nghiệp )
    • Được tăng cường khả năng bảo vệ tài an toàn tài chính khi chẳng may gặp tai nạn dẫn đến tử vong hoặc tàn tật. ( Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn )
    • Được tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tài chính khi chẳng may gặp tai nạn dẫn đến tử vong . ( Bảo hiểm chết do tai nạn )
    • Được trợ giúp tài chính khi chẳng may mắc bệnh hiểm nghèo. ( Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo, Bảo hiểm thu phí bệnh hiểm nghèo )
    • ) Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty a ) Những căn cứ lựa chọn chiến lược của công ty.

     

    Như ta đã biết để đưa ra được một chiến lược đúng đắn các nhà hoạch định chiến lược của công ty phảI căn cứ vào những thông tin do những người làm công tác tiếp thị của công ty cung cấp. Mà công việc cụ thể họ phảI làm là đánh giá những sản phẩm nào cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch, và cần loạI bỏ…v..v..

     

    Những căn cứ để đưa ra chiến lược mà người làm tiếp thị cung cấp cho các nhà hoạch định chiến lược có thể là thông tin về thị trường, về nhu cầu khách hàng,

    về đối thủ cạnh tranh, về chu kỳ sống của sản phẩm …v..v . Một trong những căn cứ để lựa chọn danh mục sản phẩm hay chiến lược về sản phẩm đó là dựa vào nhu cầu của khách hàng. Khách hàng có thể có nhiều nhu cầu về chủng loạI sản phẩm hay là nhu cầu về chuyên sâu trong một chủng loạI sản phẩm. Theo

    5

    những nghiên cứu của công ty thì nhu cầu của khách hàng là đa dạng, đòi hỏi phảI có những sản phẩm khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó.

    1. b) Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty Prudential

    theo những căn cứ như trên đã đưa ra các nhà hoạch định chiến lược của công ty Prudential đã quyết định chọn chiến lược đa dạng hoá sản phẩm đây là chiến lược đã làm cho công ty Prudential là công ty có số sản phẩm nhiều nhất và luôn có sản phẩm mới sớm nhất để đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng trong số nhứng công ty cùng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam. Trong danh mục sản phẩm của công ty có rất nhiều sản phẩm để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó khách hàng được tư vấn để có thể có được chọn lựa được những sản phẩm thích hợp nhất với nhu cầu của mình. Những sản phẩm của công ty không chỉ dừng lại ở những sản phẩm đã đưa ra mà nó luôn được bổ xung những sản phẩm mới làm cho danh mục sản phẩm ngày càng đa dạng phong phú. Đây là hệ quả của việc nắm bắt tốt những nhu cầu của khách hàng và nhạy bén với những xu thế biến đổi nhu cầu đó.

    III) KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM DỊCH VỤ BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    Theo các nhà phân tích kinh tế thì Việt Nam là một trong những nước thuộc khu vực Đông Nam Á có sức thu hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó lĩnh vực Bảo Hiểm là một trong những lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia. Vì sao lại như vậy? ở những nước tư bản thì Bảo Hiểm là một dịch vụ phổ biến và phát triển từ lâu, còn ở Việt Nam đây là một dịch vụ mặc dù đã xuất hiện khá lâu nhưng cho mãi đến những năm gần đây thì mới có sự đổi mới và phát triển. Người dân đã bắt đầu chú ý hơn đến những sản phẩm bảo hiểm để thoả mãn nhu cầu về an toàn của mình. Những năm trước đây Việt

    6

    Nam vẫn còn là nước nghèo cuộc sống của người dân nói chung chỉ đủ ăn ngoàI ra còn rất nhìều nhu cầu khác cần phải được thoả mãn nhưng đều không có điều kiện kinh tế. Khi nền kinh tế thị trường phát triển cuộc sống của người dân được cảI thiện thu nhập tăng lên, từ đó người dân đã chú ý hơn đến việc thoả mãn những nhu cầu khác. Theo thang bậc nhu cầu thì sau nhu cầu về sinh lý được thoả mãn thì nhu cầu tiếp đến của con người là nhu câu về an toàn, chính đIều này đã tạo nên cho Việt Nam một tiềm năng lớn về các dịch vụ bảo hiểm. Vì thế trong những năm gần đây có rất nhiều công ty bảo hiểm nước ngoàI đầu tư ráo riết vào Việt Nam trong đó có Prudential và công ty này đã đạt được những thành tựu nổi bật trong việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cho các khách hàng là người Việt Nam. Bên cạnh công ty Prudential còn có rất nhiều công ty khác tham gia trên thị trường cung cấp các sản phẩm bảo hiểm như AIA, Bảo Việt, Bảo Minh …v.. v. các công ty với những điểm mạnh của riêng mình cũng đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng sét chung thì chỉ có Prudential là thành công nhất trong bảo hiểm nhân thọ, Thị trường bảo hiểm hiện đang rất sôi động các sản phẩm cũng rất phong phú điều đó cho thấy là khách hàng đã tiếp thu rất tốt và có hiểu biết về Bảo hiểm. Sự thành công của Prudential là một điều đáng mừng cho thấy dấu hiệu đi lên và phát triển của nền kinh tế.

    PHẦN II. THỰC TRẠNG VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ ) CỦA CÔNG TY

    2.1) LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY PRUDENTIAL.

    Công ty Prudential được thành lập năm 1848 tại Luân Đôn, Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất vương quốc Anh và cũng là một trong

    7

    ngững tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới. Quản lý trên 250 tỷ đô la Mỹ và có hơn 20 000 nhân viên trên toàn cầu. Prudential cung cấp các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, hưu trí, quỹ tương hỗ, ngân hàng, quản lý đầu tư và bảo hiểm phi nhân thọ. Tập đoàn Prudential toàn cầu đã chính thức khai trương văn phòng đạI diện thứ nhất tại Việt Nam từ năm 1995 va được Chính Phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào thãng 10 năm 1999. Hiện nay, Prudential vinh dự được hơn 1 000 000 khách hàng Việt Nam giao phó trọng trách bảo vệ an toàn tài chính và tương lai cho gia đình mình.

    Vào tháng 6 năm 2001. Prudential Việt Nam đã tăng vốn đầu tư từ 15 triệu đô là lên 40 triệu đô là Mỹ. Tháng 10 năm 2002. Một lần nữa Prudential Việt Nam tăng vốn đầu tư từ 40 triệu lên 61 triệu đô là Mỹ. Với khả năng tài chính vững chắc, Pruential Việt Nam đang đầu tư ráo riết vào việc đa dạng hoá sản phẩm và xây dựng hệ thống phục vụ hiệu quả nhằm phục vụ khách hàng ngày càng hoàn hảo hơn.

    Nhằm đáp ứng niềm tin to lớn của người dân Việt Nam với tinh thần trách nhiệm cao, Prudential cam kết chỉ tham gia đầu tư các hoạt động an toàn và hiệu quả để đem lại lợi nhuận cao nhất cho khách hàng và góp phần xây dựng kinh tế nước nhà.

    2 . 2 ) HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY PRUDENTIAL

    Prudential có nghĩa là “thận trọng”, người ta đã rất khôn ngoan khi chọn tên công ty là prudential vì chính cái tên có thể phần nào đã gợi lên sự tin tưởng cho khách hàng. Sản phẩm chính của công ty là bảo hiểm nhân thọ ngoài ra công ty còn phát triển thêm nhiều sản phẩm kèm theo và sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Với hơn 80 năm kinh nghiệp tại Châu á, Prudential hiện đang hoạt động tại 12 trị trường đó là Malaysia, Singapore, Hồng Kông , Indonesia, Thai lan, Philippines, ấn độ, Trung Quốc, ĐàI Loan, Việt Nam, Nhật

    8

    Bản và Hàn Quốc. Chỉ riêng trong khu vực châu á TháI Bình Dương, Prudential đã đầu tư hơn 9 tỉ đôla. Trong đó Việt Nam chiếm 61 triệu Mỹ Kim.

    Qua những năm kinh doanh tạI thị trường Việt Nam công ty Prudential đã đạt

    được những thành tựu nhất định sau đây là kết quả kinh doanh của công ty.

    Năm 2002 nếu tính riêng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh thu của

    tập đoàn đạt 2,8 ty Bảng Anh (tương đương 21,1 tỷ USD ) tăng 12% so với năm

    1. Doanh thu phí bảo hiểm hàng năm của Prudential Châu Á tăng 18% . Với

    Công ty đầu tư M&G của Prudential – Công ty hàng đầu trong lĩnh vực quản lý

    đầu tư cá nhân, tổng thu nhập của quỹ đầu tư tại công ty này đạt 1 tỷ Bảng Anh

    ( Tương đương 1,6 Tỷ đô là USD ), tăng 11 % ( Thu nhập ròng của quỹ đầu tư

    tại M & G tăng 79 % )

    Cũng trong năm 2002 Prudential hiện đang có 511376 hợp đồng có hiệu lực tính đến cuối tháng 6 và 24169 đại lý từ khi hoạt động ở Việt Nam đến nay, Prudential đã giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho 340 trường hợp với số tiền lên đén 20.4 tỷ đồng. Sau hơn hai năm hoạt động, Prudential có trên 900 000 khách hàng với 18 trung tâm phục vụ khách hàng trên khắp cả nước trong thời gian qua Prudential đã giải quyết hơn 500 trường hợp với số tiền đền bù lên dến 30 tỷ đồng.

    Ngày 17/11/2002, Prudential kỉ niệm 3 năm ngày có mặt ở thị trường Việt Nam. Với số vốn gần 1000 tỷ đồng công ty đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài có nguồn vốn cao nhất trong lĩnh vực bảo hiểm, Ngân hàng và dịch vụ tài chính.

    2.3) THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM Ở CÔNG TY PRUDENTIAL.

    2.3 .1 ) Những sản phẩm của công ty

     

    với chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của mình công ty đa có nhiều những sản phẩm để thoả mãn những nhu cầu riêng biệt của khách hàng, công ty có những loạI sản phẩm sau

    9

    • ) Sản phẩm chính

     

    Sản phẩm chính là các sản phẩm có thể tham gia riêng lẻ mà không cần kèm

    theo bất kỳ một sản phẩm nào khác trong một hợp đồng bảo hiểm. Trong đó có cả sản phẩm tham gia chia lãi và cả sản phẩm không tham gia chia lãi. Những sản phẩm chính gồm:

    + Phú _ Trường an

    Đây là loại sản phẩm mà mục đích của nó là mang đến cho khách hàng sự an tâm vì đã được bảo vệ an toàn tài chính trong suốt cuộc đời và giúp khách hàng tích luỹ một tài sản cho con cháu sau này. Sản phẩm này nhằm thoả mãn cho nhu cầu được bảo vệ an toàn tài chính suốt đời nhưng vẫn tích luỹ được tài sản cho con cháu. Đặc điểm của sản phẩm này là

    • Thuộc các sản phẩm bảo hiểm chính
    • Có tham gia chia lãI ( có bảo tức tích luỹ – có giá trị hoàn lại )
    • Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 0 đến 55
    • Tuổi khi đáo hạn hợp đồng
    • Thời hạn hợp đồng từ 44 đến 99 năm

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm bổ trợ và sản phẩm kèm theo sau:

    • Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Bảo hiểm từ bỏ thu phí ( chỉ dành cho hợp đồng bảo hiểm trẻ em dưới 15 tuổi + Phú _ Tích luỹ an khang

    Đây là loại bảo hiểm mà mục đích của nó là cùng khách hàng tạo dựng nguồn tài chính vững chắc, đảm bảo một tương lai tốt đẹp bằng chính những dành dụm

    10

    của ngày hôm nay. Đồng thời, mang đến cho khách hàng sự an tâm vì được bảo vệ an toàn tài chính nếu chẳng may sảy ra rủi ro. Sản phẩm bảo hiểm này nhằm thoả mãn nhu cầu: tích luỹ tài chính để an tâm vui sống trong những năm tháng hưu trí. ở đây cần nói thêm rằng một nhu cầu có thể có rất nhiều sản phẩm để thoả mãn chứ không nhất thiết phải một sản phẩm thoả mãn một nhu cầu. Sản phẩm bảo hiểm này thuộc nhóm các sản phẩm bảo hiểm chính, có tham gia chia lãI ( có bảo tức tích luỹ – có giá trị hoàn lại). Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 0 đến 65 tuổi, Tuổi tối đa khi đáo han hợp đồng là 75 tuổi. Thời hạn hợp đồng từ 10 đến 30 năm.

    Khi đã tham gia phú Tích luỹ _ An khang khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm kèm theo và sản phẩm bổ trợ nếu dưới đây nhằm mục đích tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tài chính cho bản thân và gia đình trong mọi hoàn cảnh.

    • Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí ( chỉ dành cho trẻ em dười 15 tuổi )

    + Phú _ Tích luỹ giáo dục

    Đây là loại bảo hiểm mà mục đích của nó là sat cánh cùng các bậc cha mẹ chuẩn bị nguồn tài chính vững chắc làm hành trang cho đứa con thân yêu vào đời. Sản phẩm này nhằm thoả mãn nhu cầu: Thực hiện một kế hoạch tích luỹ hiệu quả nhất để chăm lo cho con em mình. Sản phẩm này có một số đặc điểm đặc biệt. Khi tham gia phu_ tích luỹ giáo dục bằng hợp đồng dành cho trẻ em dưới 15 tuổi, khách hàng nên tham gia thêm sản phẩm bổ trợ “ Bảo hiểm từ bỏ thu phí” với các quyền lợi ưu tiên để có thể hoàn toàn yên tâm về tích luỹ tài

    11

    chính cho đứa con thân yêu của mình cho dù bất kỳ chuyện gì sản ra với mình đi chăng nữa.

    Với các hợp đồng “ Phú _ tích luy” dành cho người được bảo hiểm từ 15 tuổi trở lên, khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm kèm theo và sản phẩm bổ trợ sau:

    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Tích luỹ định kỳ

    Đây là sản phẩm bảo hiểm với mục đích giúp khách hàng tích luỹ tàI chính trong 15 năm cho các kế hoạch dàI hạn nhưng vẫn nhận được các khoản chi trả định kỳ ( mỗi 3 năm ) để chi trả cho những mục tiêu ngắn hạn khác. và tất nhiên, khách hàng sẽ hoàn toàn yên tâm vì đã được bảo vệ an toàn tàI chính nếu chẳng may sảy ra rủi ro.

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia các sản phẩm bổ trợ kèm theo khác

    + Phú _ Hoà nhân an

    Đây là sản phẩm bảo hiểm với mục đích mang đến cho khách hàng và gia đình sự an tâm thanh thản vì đã được bảo vệ an toàn tài chính chỉ với một mức phí bảo hiểm vừa phải. Đặc điểm của loại sản phẩm này là để thoả mãn nhu cầu được bảo vệ an toàn tài chính nhưng vẫn được hoàn phí khi đáo hạn. Hầu hết khách hàng tham gia bảo hiểm này đều được bình an và không gặp phải rủi ro nào phải yêu cầu bảo hiểm, do đó sau khi đáo hạn hợp đồng khách hàng vẫn xem như đã tiết kiệm được một khoản tiền đãng kể.

    Một số thông tin về sản phẩm như sau

    Thuộc nhóm các sản phẩm bảo hiểm chính

    12

    Không tham gia chia lãI ( Không có bảo tức tích luỹ – không có giá trị hoàn lại )

    Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 15 đến 60 tuổi. Tuỏi tối đa khi đáo hạn hợp đồng là 65

    Thời hạn hợp đồng 5 hoặc 8 năm

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia các sản phẩm bổ trợ và sản phẩm kèm theo sau.

    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn b ) Sản phẩm bổ trợ kèm theo

    Đây là những sản phẩm bảo hiểm giúp khách hàng mở rộng thêm quyền lợi bảo hiểm với mức phí phải chăng . Tất cả các sản phẩm của nhóm này đều thuộc nhóm sản phẩm không tham gia chia lãi (không có bảo tức tích luỹ – không có giá trị hoàn lại)

    Khách hàng chỉ có thể tham gia sản phẩm này nếu đã tham gia một sản phẩm chính hoặc sản phẩm trọn gói của Prudential.

    Nhóm này gồm 6 sản phẩm :

    + Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo

    Đây là sản phẩm thuộc nhóm sản phẩm bổ trợ kèm theo và luôn kết hợp với bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo. Sản phẩm này có mục đích hầu gánh giúp khách hàng gánh những nỗi lo về tài chính để chữa trị chẳng may lâm trọng bệnh. Khi tham gia bảo hiểm khách hàng sẽ chăm lo về tài chính khi mắc những bệnh như: Tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, Ung thư, Suy thận, Lao màng não…

    + Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo

    Đây là loạI bảo hiểm luôn kết hợp với “ bảo hiểm bệnh hiểm nghèo” hầu gánh giúp khách hàng những nỗi lo về tàI chính để yên tâm chữa trị khi chẳng may

    13

    lâm trọng bệnh. Khi tham gia sản phẩm này khách hàng được tham gia thêm các sản phẩm chính ở trên .

    + Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn

    Đây là loạI bảo hiểm nhằm mục đích mang đến cho khách hàng cơ hội tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tàI chính cho bản thân và gia đình.khi tham gia sản phẩm này khách hàng cũng được tham gia thêm một số sản phẩm chính ở trên.

    + Bảo hiểm từ bỏ thu phí

    Sản phẩm này mang đến sự an tâm tuyệt đối cho các bậc cha mẹ về tích luỹ tàI chính cho đứa con thân yêu, cho dù có chuyện gì xảy ra với mình đI chăng nữa.

    + Bảo hiểm chết do tai nạn

    Sản phẩm này giúp khách hàng tăng cường khả năng bảo vệ tàI chính khi chẳng may gặp tai nạn.

    + Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Sản phẩm gíup khách hàng tăng cường khả năng bảo vệ tàI chính nếu chẳng may tử vong hoặc tàn tật do tai nạn.

    • ) Sản phẩm trọn gói

     

    Nhằm giúp khách hàng chon lựa được sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu của

    mình Prudential đã nghiên cứu và đưa ra một số hợp đồng bảo hiểm trọn gói tiêu biểu. Những sản phẩm bảo hiểm trọn gói này là sự kết hợp giữa một sản phẩm chính và một hoặc nhiều sản phẩm bổ trợ kèm theo khác. Nhóm này sản phẩm gồm 6 sản phẩm trọn gói sau

    + Phú _ Tương lai

    Kết hợp giữa phú _ tích luỹ giáo dục và bảo hiểm từ bỏ thu phí

    + Phú _ Bảo gia

     

    14

    Gồm phú _ tích luỹ an khang kết hơp với bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn và Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Thành đạt

    Gôm Phú _ tích luỹ định kỳ kết hợp với Bảo hiểm Nhân Thọ có kỳ hạn và Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Trường khang

    Gồm Phú _ tích luỹ an khang kết hợp với Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ An nghiệp

    Gồm Phú _ hoà nhân an kết hợp với Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Đây là những sản phẩm kết hợp giữa những sản phẩm chính và sản phẩm bổ trợ kèm theo. Việc đưa ra sản phẩm trọn gói là một chiến lược của công ty Prudential. Khách hàng có thể tham gia riêng một phầm sản phẩm trọn gói, hoặc cũng có thể tham gia thêm các sản phẩm bổ trợ hoặc sản phẩm kèm theo khác theo hướng dẫn của công ty.

    • với danh mục sản phẩm như trên công ty đã thực hiện được mục tiêu của mình đó là đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Với sự đan xen giữa các sản phẩm bảo hiểm với nhau đã tạo ra vô số những sản phẩm mà khách hàng có thể lựa chọn để phù hợp với nhu cầu của bản thân mình. Với chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của mình Prudential đã gặt hái được những thành công to lớn. Bên cạnh đó công ty không ngừng nghiên cứu và giới thiệu những sản phẩm mới. Nhân dịp 8/3/2003 Công ty đã cho ra mắt khách hàng một sản phẩm mới đó là “ Phú _ Hoàn mỹ “ đây là bảo hiểm dành cho phái nữ. Đây là sản phẩm trọn gói gồm “Phú _ Tích luỹ an khang” kết hơp với một số sản phẩm bổ trợ đặc thù dành riêng cho phụ nữ: Bảo hiểm cơ bản, bảo hiểm đặc biệt dành cho phụ nữ, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo và bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo, boả hiểm từ bỏ thu phí mở rộng.

    15

    Theo đại diện của Prudential, việc giới thiệu sản phẩm mới này nằm trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty với mục đích đáp ứng tốt nhất nhu cầu bảo hiểm ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, nhất là nhu cầu được bảo vệ tối đa của ngưòi phụ nữ trong những tình huống không mong đợi.

    Đại diện của Prudential cho biết, khi tham gia Phu _ Hoàn mỹ, ngoài việc chủ động lựa chọn thời gian đáo hạn hợp đồng sao cho phù hợp với những kế hoạch tài chính trong tương lai, khách hàng còn nhận được những quyền lợi về tiền mặt khác thích ững với nhu cầu tài chính của từng giai đoạn quan trọng trong cuộc đời người phụ nữ. Đó là quyền lợi tiền mặt khi sinh con và quyền lợi tiền mặt vào các ngày đáo niền thứ 5 và thứ 10 của hợp đồng.

    “ Chúng tôi đã đưa quyền lợi chăm sóc quả phụ vào phú hoàn mỹ để có thể trợ giúp khách hàng một khoản tiền mặt tương đưong với 10 % số tiền bảo hiểm, giúp phần nào vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của cuộc sống khi chẳng may người chồng qua đới do tai nạn. khách hàng có thể mua thêm sản phẩm bổ trợ tuỳ chọn “ Từ bỏ thu phí mở rộng “ để nếu chẳng may người chồng qua đời hay bị thương tật toàn bộ và vĩnh viễn thì họ sẽ được miễn toàn bộ phí phải đống con lại mà vẫn được hưởng mọi quyền lợi bảo hiểm trong xuốt thời hạn của hợp đồng” . Trên đây là những nét sơ qua về một sản phẩm nằm trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm mà công ty mới đưa ra vào ngày 8/3 của năm nay đây là kết quả của sự nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu khách hàng, công ty đã chọn khách hàng mục tiều của mình là phụ nữ đã có gia đình và chưa có gia đình đây quả thực là một sản phẩm có ý nghĩa có thể đáp ứng nhu cầu mà phụ nữ mong đợi bấy lâu nay. Với những chiến lược và sản phẩm hoàn hảo công ty Prudential sẽ ngày càng có được những thành công vượt trội trên con đường kinh doanh của mình.

    16

    2.3.3 ) Đánh giá khả năng thoả mãn nhu cầu khách hàng của những sản phẩm (dịch vụ ) ở công ty Prudential.

     

    • Những ưu thế trong sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh.

    Như ta đã thấy bên cạnh công ty là rất nhiều đối thủ cạnh tranh với những tiềm lực không kém gì Prudential. Vấn đề là ở chỗ công ty đã vượt qua các đối thủ cạnh tranh để trở thành một tập đoàn lớn mạnh nhất thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, điều gì đã giúp công ty thành công đến như vậy. Một trong những lý do dẫn đến thành công của công ty đó chính là sự khác biệt và những ưu thế trong chiến lược sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh. để có được những sản phẩm có ưu thế và sự khác biệt so với đối thủ công ty đã nghiên cứu và nắm bắt rất nhanh chóng nhu cầu của khách hàng hay nói cách khác công ty luôn bám sát được nhu cầu của khách hàng. Vì vậy công ty đã hiểu được những gì mà khách hàng đang tìm kiềm và mong đợi. Phương châm phục vụ của Prudential là “ Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu” , lắng nghe và thấu hiểu chính nhờ điều này mà công ty luôn có sản phẩm ( dịch vụ ) có thể đáp ứng một cách nhanh nhất hoàn hảo nhất những nhu cầu của khách hàng. Những sản phẩm của công ty luôn coi trọng và đặt quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu, khi tham gia bảo hiểm của công ty khách hàng cảm thấy yên tâm, cảm thấy mình có một cảm giác được bảo vệ thật sự. Một số công ty kinh doanh bảo hiểm khác khi khách hàng tham gia họ cảm thấy mình như bị lợi dụng và họ cho rằng bảo hiểm chỉ là hình thức, các công ty chỉ lợi dụng số tiền của họ. Đây

    17

    cũng chính là điểm khác biệt mà Prudential đã tạo được trong tâm trí khách hàng so với các hãng kinh doanh bảo hiểm khác.

    Có một điều hết sức đặc biệt trong các sản phẩm của công ty prudential. Như ta đã biết Prudential đưa ra 3 nhóm sản phẩm đó là sản phẩm chính , sản phẩm bổ trợ và sản phẩm trọn gói. Mỗi một sản phẩm trong nhóm này lại kết hợp với một hoặc nhiều sản phẩm của nhóm khác để tạo nên rất nhiều những loại sản phẩm mới nhờ thế mà danh mục sản phẩm của công ty trở nên đa dạng và phong phú. Nhờ đặc điểm này các sản phẩm của công ty đã thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, có thể đáp ững những nhu cầu khác nhau chỉ trong một sản phẩm kết hợp. đây là điều đặc biệt mà các đối thủ cạnh tranh khác không có hoặc không bằng. Bên cạnh đó công ty cúng tỏ ra rất nhanh nhậy trong việc đưa ra sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của khách hàng ví dụ: như trong dịp 8/3 công ty đã tung ra sản phẩm mới Phú _ Hoàn Mỹ để đáp ứng nhu cầu an toàn sắc đẹp cho phụ nữ và chỉ dành riêng cho giới nữ.

    Trong dịch vụ bảo hiểm thì những quyền lợi và đIều khoản trong hợp đồng là hết sức quan trọng đối với những sản phẩm phẩm của công ty Prudential thì những đIều khoản trong hợp đồng là hết sức chặt chẽ điều đó làm cho công ty có được sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, nhưng nó cũng làm cho khách hàng cảm thấy công ty quá chắc chắn làm cho họ phải suy nghĩ đến những quyền lợi của riêng mình nhận được khi tham gia bảo hiểm. Nhưng mặt khác khi khách hàng tham gia bảo hiểm của Prudential thì họ nhận được những lợi ích và các điều khoản rõ ràng trong hợp đồng đã tạo được sự tin cậy của khách hàng nhiều hơn so với các công ty khác.

    Công ty Prudential với kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ khi tham gia thị trường Việt Nam đã được thừa hưởng những kinh nghiệm về bảo hiểm từ công ty mẹ ở Anh Quốc nên họ nhanh chóng tiếp cận được với thị

    18

    trường Việt Nam, cộng thêm với nguồn tài chính lớn mạnh nên có thể tổ chức nghiên cứu thị trường một cách nhanh chóng và kỹ lưỡng.

    Ngoài ra bên cạnh việc cung cấp sản phẩm công ty Prudential có rất nhiều những dịch vụ chăm sóc khách hàng kèm theo sản phẩm như sinh nhật hay các ngày lễ, khách hàng cảm thấy mình thực sự được quan tâm.

    Chính những điều trên đã dẫn đến những thành công vượt trội của công ty Prudential.

    • Những điểm hạn chế của sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh

     

    • Trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng.

    Trên đời không có gì là hoàn hảo cả bất kể thứ gì có điểm mạnh tất sẽ có điểm yếu, Prudential cũng không nằm ngoài quy luật này. mặc dù sản phẩm và dịch vụ của Prudential khá đầy đủ nhưng vẫn chưa thoả mãn được triệt để nhu cầu của khách hàng. chiến lược sản phẩm của công ty tương đối độc đáo như khi khách hàng tham gia một sản phẩm chính thì có thể tham gia thêm một số sản phẩm kèm theo, điều này đã phần nào tạo nên một sự bù đắp cho những hạn chế của sản phẩm chính. Sự hạn chế của sản phẩm chính là sự thoả mãn chưa tối đa cho một nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó mức phí bảo hiểm của Prudential vẫn còn khá cao so với các công ty khác trên thị trường Việt Nam nên nó hạn chế trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng. NgoàI ra việc thu phí bảo hiểm khá cao ảnh hưởng lớn khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Dân số Việt Nam đa phần là có thu nhập thấp dù có mong muốn tham gia bảo hiểm thì cũng khó có thể mà thực hiện được.

    Trong số các loại sản phẩm của công ty bao gồm những sản phẩm có bảo tức tích luỹ _ có giá trị hoàn lại và không có giá trị hoàn lại. Trong hai nhóm sản phẩm trên thì khách hàng chủ yếu là tham gia vào sản phẩm có giá trị hoàn lại và có bảo tức tích luỹ. Bởi vì khách hàng Việt Nam phần lớn là những người có thu nhập không phải là cao nên họ không muốn ném tiền

    19

    vào một sản phẩm mà khi không có sự kiện bảo hiểm thì họ không nhận được gì hết. Chính điều này đã làm cho những sản phẩm thuộc nhóm không có giá trị hoàn lại của công ty ít phát huy tác dụng.

    Một mặt hạn chế lớn nữa của sản phẩm của công ty đó là các sản phẩm của công ty chủ yếu tập trung vào bảo hiểm nhân thọ, trong khi đó các công ty khác họ tham gia rất nhiều các lĩnh vực cần bảo hiểm khác hoặc giả nếu có thì những sản phẩm của công ty không được hoàn hảo bằng đối thủ cạnh tranh.

    • Một số đánh giá cụ thể của khách hàng về khả năng đáp ứng nhu cầu của họ.

    Theo một số khách hàng thì các sản phẩm của Prudential đã thoả mãn được nhu cầu của khách hàng có rất nhiều người biết đến Prudential nhưng họ vẫn chưa có được khả năng tiếp cận với sản phẩm. Một số ngưòi khác muốn tham gia bảo hiểm của Prudential vì công ty này đã tỏ ra rất đáng tin cậy nhưng mức phí vẫn còn cao và thủ tục tham gia bảo hiểm cũng rất phức tạp mất thời gian. Gây tâm lý ngần ngại trong quá trình quyết định tham gia bảo hiểm.

     

    PHẦN III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM Ở CÔNG TY PRUDENTIAL NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG THOẢ MÃN NHU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG

     

    I ) Định hướng phát triển của công ty.

     

    1 ) Mục tiêu và thị trường mục tiêu của công ty.

    Mục tiêu của công ty trước mắt là tích cực quảng bá sản phẩm để tăng thêm khả năng tiếp cận tìm hiểu của khách hàng nhằm tăng thị phần của công ty và cạnh tranh đối với các đối thủ khác. Tăng cường công tác nghiên cứu nhu cầu và su thế biến đổi nhu cầu của khách hàng để nhanh chóng có những chiến lược về sản phẩm để khắc phục thích ứng với những biến đổi trong nhu cầu đó. bên cạnh đó công ty còn trú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ đi kèm với sản phẩm cùng với quá trình marketing của công ty.

    20

    Về thị trường mục tiêu thì thị trường mục tiêu của Prudential có xu hướng ngày càng mở rộng thêm nhiều đối tượng. Mục đích của Prudential là mong muốn thoả mãn mọi khách hàng thuộc mọi tầng lớp có nhu cầu về sản phẩm bảo hiểm. Hiện nay sản phẩm của công ty đa số tập trung ở các thành phố lớn và những tỉnh có kinh tế khá, sản phẩm của công ty vẫn chưa được quảng bá một cách rộng rãi cho toàn bộ người dân và phí Bảo hiểm vẫn còn cao vì vậy công ty có gắng giảm phí bảo hiểm để có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng . đây là điều mà trong tương lai công ty Prudential cố gắng thực hiện

    2 ) Định hướng phát triển.

    Trong những năm sắp tới công ty sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và nâng cao hơn nữa khả năng phục vụ và chăm sóc khách hàng. với những chiến lược hoàn thiện sản phẩm ( dịch vụ ) và tung ra những sản phẩm mới để đãp ứng nhu cầu đa dạng và thay đổi nhanh chóng của khách hàng. Prudential luôn luôn giữ vững nguyên tắc trong kinh doanh của mình đó là : “Chính trực – Công bằng – Dịch vụ hoàn hảo” và phương châm phục vụ “ Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu”.

    II ) Triển vọng thị trường sản phẩm của công ty.

    Với những gì mà Prudential đã làm trong những năm qua thì đó quả là một thành công và là một điều đáng mừng. Prudential đã không ngừng đầu tư vào Việt Nam điều đó chứng tỏ Prudential đã thành công ở Việt Nam và thị trường này tỏ ra ngày càng có nhiều triển vọng. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng đi lên đồng nghĩa với việc người dân hay khách hàng ngày càng có thu nhập cao hơn cuộc sống khá hơn họ sẽ có xu hướng tập trung vào thoả mãn những nhu cầu cao hơn trong đó có cả nhu cầu về các loại sản phẩm bảo hiểm. Vì vậy có thể nói thị trường Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho các nhà kinh doanh bảo hiểm, còn việc họ có kinh doanh thành công hay không thì lại tuỳ thuộc vào khả năng của chính họ. Theo nhận định thì thị trường về sản phẩm bảo hiểm ở

    21

    Việt Nam mới ở giai đoạn đầu trong chu kỳ sống của sản phẩm, vì vậy trên thị trường có rất nhiều hãng kinh doanh bảo hiểm nhầy vào cạnh tranh. Công việc đặt ra cho Prudential là luôn luôn có những sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo để đáp ứng nhu cầu của khách tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Nếu trong tương lai mà Prudential vẫn duy trì và phát triển hơn nữa những chiến lược kinh doanh như hiện nay thì có lẽ Prudential sẽ vẫn là người thành công trên thương trường.

    III ) Hoàn thiện chiến lược sản phẩm của công ty Prudential.

    Chiến lược sản phẩm mà công ty Prudential theo đuổi đó là chiến lược đa dạng hoá sản phẩm. Chiến lược này bắt nguồn từ sự đa dạng trong nhu cầu về mặt hàng bảo hiểm của khách hàng. Hiện tại chiến lược này của công ty tỏ ra tương đối thành công , thực chất thì sản phẩm của công ty chưa phải là nhiều mặc dù công ty đã có những phương pháp như kết hợp các sản phẩm với nhau để tạo ra sản phẩm mới nhằm tăng sự đa dạng trong sản phẩm , nhưng thực ra thì các sản phẩm đó chỉ thoả mãn được một số nhu cầu nhất định. Còn rất nhiều những nhu cầu hiện tại và tiềm năng mà công ty chưa nhìn thấy chưa có sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu đó.

    ta thấy rằng xuyên xuốt các sản phẩm của công ty thì hầu như sản phẩm của công ty đều liên quan đến bảo hiểm nhân thọ, còn rất nhiều các lĩnh vực khác cũng cần được bảo hiểm mà công ty chưa tham gia điều này có thể gây ra những thiệt hạI gián tiếp cho công ty. Ví dụ như các công ty khác như Bảo Việt

    • Bảo Minh còn tham gia các lĩnh vực bảo hiểm khác như tài chính, giao thông vận tảI ..v..v . khi tham gia vào các lĩnh vực bảo hiểm này thì cũng đồng nghĩa với việc danh tiếng của công ty tăng theo và thị phần của công ty cũng lớn mạnh nếu khi đó các công ty cạnh tranh có một chiến lược sản phẩm mới thì rất có thể công ty mất đi thị phần của mình và bị bật khỏi thị trường.

    Công ty có lẽ cần phải hoàn thiện hơn nữa chiến lược sản phẩm của mình nhằm chiếm toàn bộ thị phần về bảo hiểm nói chung và nhân thọ nói riêng.

    22

    Trước mắt công ty cần tập trung nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để có thể đưa ra được những sản phẩm mới ví dụ: Thời gian gần đây có xuất hiện một loại bệnh mới đó là bệnh viêm hô hấp cấp làm cho người dân rất lo lắng. Nói chung trên thế giới sẽ luôn xuất hiện những bệnh mới lợi dụng điều đó công ty có thể có một loại bảo hiểm về chuẩn đoán và chữa trị khi chẳng may mắc phải chứng bệnh mới này. Nói chung để có được một sản phẩm mới không phải là chuyện dễ dàng cần có thời gian nghiên cứu và hoàn thiện, trên đây chỉ là ý tưởng của em về một sản phẩm nhỏ có thể đưa ra.

    Công ty Prudential khi đã chiếm lĩnh được thị trường bảo hiểm rồi thì cũng có thể đưa ra những sản phẩm tương tự như sản phẩm của đối thủ cạnh tranh mục đích làm đa dạng hoá sản phẩm của mình và lợi dụng được ưu thế thị trường của mình.

    không chỉ trong bảo hiểm nhân thọ mà trong cả các lĩnh vực khác công ty cũng nên đưa ra những sản phẩm có thể đáp ứng những nhu cầu về bảo hiểm phi nhân thọ của khách hàng. mặt khác tăng cường các hoạt động truyền thông để cho khách hàng biết đến công ty đang có những thứ mà họ cần.

    Bên cạnh chiến lược chủ chốt đó là chiến lược đa dạng hoá sản phẩm công ty cũng cần phải có thêm chiến lược hỗ trợ cho chiến lược chính. Dù chú trọng vào việc tung ra sản phẩm mới để thoả mãn những nhu cầu mới nhưng công ty vẫn phải tiếp tục nghiên cứu nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm hiện thời để phát hiện ra những mặt mạnh và mặt yếu của sản phẩm để từ đó đưa ra biện pháp khắc phục nhằm hoàn thiện hơn nữa chiến lược sản phẩm của mình.

    23

    KẾT LUẬN.

    Công ty Prudential là một công ty thành công trong lĩnh vực Bảo hiểm tại thị trường Việt Nam với những chiến lược sản phẩm và dịch vụ đặc biệt. Công ty đã trở thành công ty dẫn đầu. Nhưng điều đó sẽ không có gì là chắc chắn trong thời buổi kinh tế hiện nay nếu chỉ cần lơi là tự đắc một chút thì ngay lập tức sẽ có kẻ khác đứng lên tiếm ngôi của mình. Mà trong thời buổi hiện nay thua kém có nghĩa là thất bại. Vì vậy công ty phải luôn luôn không ngừng “ Lắng nghe và Thấu hiểu”. Luôn luôn tiếp cận với khách hàng để cho khách hàng coi mình như là một người thân không thể thiếu, bên cạnh đó phải ra sức hoàn thiện chiên lược đa dạng hoá sản phẩm của mình nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng thay đổi của khách hàng, và luôn duy trì một dịch vụ chăm sóc khách hàng thật hoàn hảo. chỉ có như vậy thì công ty mới luôn thành công và tồn tại được.

    24

    MỤC LỤC

     

    25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006

    LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006

    LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006 

    LUẬT

    BẢO HIỂM XÃ HỘI

    CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006

    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

    Luật này quy định về bảo hiểm xã hội.

    CHƯƠNG I

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

     

    1. Luật này quy định về chế độ, chính người lao động, của cơ quan, tổ chức, hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ về bảo hiểm xã hội.

    sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của

    cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội; tổ chức bảo

    tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước

    1. Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm mang tính kinh doanh.

    Điều 2. Đối tượng áp dụng

    1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
    1. Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
    1. Cán bộ, công chức, viên chức;
    1. Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
    1. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

    đ) Hạ s ĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

    1. Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
    1. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà

    nướ c, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạ t động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

    1. Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều này.
    1. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động quy định tại khoản 2 Điều này có sử dụng từ mười lao động trở lên.
    1. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này.
    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội.

    Người lao động tham gia bả o hiểm xã hội bắ t buộc, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đây gọi chung là người lao động.

    Điều 3. Giải thích từ ngữ

    Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

    1. Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
    1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
    1. Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội.
    1. Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
    1. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội là thời gian được tính từ khi người lao động bắt đầu

    đóng bảo hiểm xã hội cho đến khi dừng đóng. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm

    xã hội không liên tục thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

    1. Mức lương tối thiểu chung là mức lương thấp nhất do Chính phủ công bố ở từng thời kỳ.
    1. Thân nhân là con, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng của người tham gia bảo hiểm xã hội; người khác mà người tham gia bảo hiểm xã hội phải chịu trách nhiệm nuôi dưỡng.

    Điều 4. Các chế độ bảo hiểm xã hội

    1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây: a) ốm đau;
    1. b) Thai sản;
    1. c) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; d) Hưu trí;

    đ) Tử tuất.

    1. Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây: a) Hưu trí;
    2. b) Tử tuất.
    1. Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ sau đây:
    1. Trợ cấp thất nghiệp;
    1. Hỗ trợ học nghề;
    1. Hỗ trợ tìm việc làm.

    Điều 5. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội

    1. Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
    1. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền

    lương, tiền công của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên

    cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

    1. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
    1. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
    1. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.

    Điều 6. Chính sách của Nhà nước đối với bảo hiểm xã hội

    1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội.
    1. Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội và các biện pháp cần thiết khác để bảo toàn, tăng trưởng quỹ. Quỹ bảo hiểm xã hội được Nhà nước bảo hộ, không bị phá sản.

    Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội được miễn thuế.

    Điều 7. Nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

    1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội.
    1. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về bảo hiểm xã hội.
    1. Tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm xã hội; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác bảo hiểm xã hội.
    1. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội.

    Điều 8. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

     

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    1. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    1. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội trong phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

    Điều 9. Hiện đại hoá quản lý bảo hiểm xã hội

    1. Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm áp dụng phương pháp quản lý bảo hiểm xã hội hiện đại.
    1. Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm xã hội.

    Điều 10. Thanh tra bảo hiểm xã hội

    1. Thanh tra lao động – thương binh và xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về bảo hiểm xã hội.
    1. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra chuyên ngành về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.

    Điều 11. Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn

    1. Tổ chức công đoàn có các quyền sau đây:
    1. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội;
    1. Yêu cầu người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về bảo hiểm xã hội của người lao động;
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Tổ chức công đoàn có các trách nhiệm sau đây:
    1. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người lao động;
    1. Kiến nghị, tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội;
    1. c) Tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    Điều 12. Quyền và trách nhiệm của đại diện người sử dụng lao động

    1. Đại diện người sử dụng lao động có các quyền sau đây:
    1. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội;
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Đại diện người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:
    1. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người sử dụng lao động;
    1. Kiến nghị, tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội;
    1. Tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    Điều 13. Chế độ báo cáo, kiểm toán

    1. Hằng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.
    1. Định kỳ ba năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ bảo hiểm xã hội và báo cáo kết quả với Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, quỹ bảo hiểm xã hội được kiểm toán đột xuất.

    Điều 14. Các hành vi bị nghiêm cấm

    1. Không đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.
    1. Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội.
    1. Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội sai mục đích.
    1. Gây phiền hà, trở ngại, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động.
    1. Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về bảo hiểm xã hội.

    CHƯƠNG II

    QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG, NGƯỜI SỬ DỤNG LAO

    ĐỘNG, TỔ CHỨC BẢO HIỂM XÃ HỘI

     

    Điều 15. Quyền của người lao động

     

    Người lao động có các quyền sau đây:

    1. Được cấp sổ bảo hiểm xã hội;
    1. Nhận sổ bảo hiểm xã hội khi không còn làm việc;
    1. Nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời;
    1. Hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp sau đây:
    1. Đang hưởng lương hưu;
    1. Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng;
    1. Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;
    1. Uỷ quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội;
    1. Yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin quy định tại điểm h khoản 1 Điều 18; yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin quy định tại khoản 11 Điều 20 của Luật này;
    1. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;
    1. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 16. Trách nhiệm của người lao động

    1. Người lao động có các trách nhiệm sau đây:
    1. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này;
    1. Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội;
    1. Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội theo đúng quy định;
    1. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
    1. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn có các trách nhiệm sau đây:
    1. a) Đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;
    1. Thông báo hằng tháng với tổ chức bảo hiểm xã hội về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp;
    1. Nhận việc làm hoặc tham gia khoá học nghề phù hợp khi tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu.

    Điều 17. Quyền của người sử dụng lao động

    Người sử dụng lao động có các quyền sau đây:

    1. Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;
    1. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;
    1. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 18. Trách nhiệm của người sử dụng lao động

    1. Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:
    1. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 92 và hằng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội;
    1. Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội của người lao động trong thời gian người lao động làm việc;
    1. Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làm việc;
    1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng bảo hiểm xã hội;

    đ) Trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động;

    1. Giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41, Điều 51 và điểm b khoản 1 Điều 55 của Luật này;
    1. Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
    1. Cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;
    1. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
    1. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, hằng tháng người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 102 và trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 102 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

    Điều 19. Quyền của tổ chức bảo hiểm xã hội

    Tổ chức bảo hiểm xã hội có các quyền sau đây:

    1. Tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản theo quy định của pháp luật;
    1. Từ chối yêu cầu trả bảo hiểm xã hội không đúng quy định;
    1. Khiếu nại về bảo hiểm xã hội;
    1. Kiểm tra việc đóng bảo hiểm xã hội và trả các chế độ bảo hiểm xã hội;
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội;
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội;
    1. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 20. Trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm xã hội

    Tổ chức bảo hiểm xã hội có các trách nhiệm sau đây:

    1. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động, người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội;
    1. Thực hiện việc thu bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này;
    1. Tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội; thực hiện việc trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn;
    1. Cấp sổ bảo hiểm xã hội đến từng người lao động;
    1. Quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;
    1. Thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội;
    1. Tổ chức thực hiện công tác thống kê, kế toán, hướng dẫn nghiệp vụ về bảo hiểm xã

    hội;

    1. Giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 41 của Luật này;
    1. ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm xã hội; lưu trữ hồ sơ của người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;
    1. Định kỳ sáu tháng, báo cáo Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội. Hằng năm, báo cáo Chính phủ và cơ quan quản lý nhà nước về tình hình quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội;
    1. Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ

    tục thực hiện bảo hiểm xã hội khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;

    1. Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
    1. Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện bảo hiểm xã hội;
    1. Thực hiện hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội;
    1. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

    CHƯƠNG III

    BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

    MỤC 1

    CHẾ ĐỘ ỐM ĐAU

    Điều 21. Đối tượng áp dụng chế độ ốm đau

    Đối tượng áp dụng chế độ ốm đau là người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này.

    Điều 22. Điều kiện hưởng chế độ ốm đau

    1. Bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế.

    Trườ ng hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự huỷ hoại sức khoẻ, do say rượu hoặc sử dụng ma tuý, chất gây nghiện khác thì không được hưởng chế độ ốm đau.

    1. Có con dưới bảy tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế.

    Điều 23. Thời gian hưởng chế độ ốm đau

    1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:
    1. Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên;
    1. Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên.
    1. Người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:
    1. Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;
    1. Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn.
    1. Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật này tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân.

    Điều 24. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau

    1. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là hai mươi ngày làm việc nếu con dưới ba tuổi; tối đa là mười lăm ngày làm việc nếu con từ đủ ba tuổi đến dưới bảy tuổi.
    1. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 25. Mức hưởng chế độ ốm đau

    1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều
    • và Điều 24 của Luật này thì mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
    1. Người lao động hưởng tiếp chế độ ốm đau quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Luật này thì mức hưởng được quy định như sau:
    1. Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ ba mươi năm trở lên;
    1. Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm;
    1. Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm.
    1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này thì mức hưởng bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
    1. Mức hưởng chế độ ốm đau tính theo quy định tại khoản 2 Điều này nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung.

    Điều 26. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau

    1. Người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 23 của Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày trong một năm.
    1. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

    MỤC 2

    CHẾ ĐỘ THAI SẢN

    Điều 27. Đối tượng áp dụng chế độ thai sản

    Đối tượng áp dụng chế độ thai sản là người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này.

    Điều 28. Điều kiện hưởng chế độ thai sản

    1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Lao động nữ mang thai;
    1. Lao động nữ sinh con;
    1. Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi;
    1. d) Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.
    1. Người lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

    Điều 29. Thời gian hưởng chế độ khi khám thai

    Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai năm lần, mỗi lầ n một ngày; trường hợp ở xa cơ sở y t ế hoặc ngườ i mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ hai ngày cho mỗi lần khám thai.

    Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Điều 30. Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu

    Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến dướ i ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên.

    Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Điều 31. Thời gian hưởng chế độ khi sinh con

    1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định sau đây: a) Bốn tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường;
    2. Năm tháng, nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc là nữ quân nhân, nữ công an nhân dân;
    1. Sáu tháng đối với lao động nữ là người tàn tật theo quy định của pháp luật về người tàn tật;
    1. Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm ba mươi ngày.
    1. Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới sáu mươi ngày tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc chín mươi ngày tính từ ngày sinh con; nếu con từ sáu mươi ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc ba mươi ngày tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc

    hưở ng chế độ thai sản không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điề u này; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.

    1. Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.
    1. Thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Điều 32. Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi

    Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.

    Điều 33. Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai

    1. Khi đặt vòng tránh thai người lao động được nghỉ việc bảy ngày.
    1. Khi thực hiện biện pháp triệt sản người lao động được nghỉ việc mười lăm ngày.
    1. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Điều 34. Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi

    Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dướ i bốn tháng tuổi thì được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

    Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết khi sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

    Điều 35. Mức hưởng chế độ thai sản

    1. Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 29, 30, 31, 32 và 33 của Luật này thì mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
    1. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 36. Lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con

    1. Lao động nữ có thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này khi có đủ các điều kiện sau đây:
    1. Sau khi sinh con từ đủ sáu mươi ngày trở lên;
    1. Có xác nhận của cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại cho sức khoẻ của người lao động;
    1. Phải báo trước và được người sử dụng lao động đồng ý.
    1. Ngoài tiền lương, tiền công của những ngày làm việc, lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này.

    Điều 37. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản

    1. Lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 30, khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày trong một năm.
    1. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

    MỤC 3

    CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP

    Điều 38. Đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

    Đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệ nh nghề nghiệp là người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 2 của Luật này.

    Điều 39. Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động

    Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;
    2. Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
    1. Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;
    1. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 40. Điều kiện hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp

    Người lao động được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại;
    1. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 41. Giám định mức suy giảm khả năng lao động

    1. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Sau khi thương tật, bệnh tật đã được điều trị ổn định;
    1. Sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định.
    1. Người lao động được giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp;
    1. Bị tai nạn lao động nhiều lần;
    1. Bị nhiều bệnh nghề nghiệp.

    Điều 42. Trợ cấp một lần

    1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.
    1. Mức trợ cấp một lần được quy định như sau:
    1. Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung;
    1. Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

    Điều 43. Trợ cấp hằng tháng

    1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.
    1. Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau:
    1. Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung;
    1. Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

    Điều 44. Thời điểm hưởng trợ cấp

    1. Thời điểm hưởng trợ cấp quy định tại các điều 42, 43 và 46 của Luật này được tính từ tháng người lao động điều trị xong, ra viện.
    1. Trường hợp thương tật hoặc bệnh tật tái phát, người lao động được đi giám định lại mức suy giảm khả năng lao động thì thời điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa.

    Điều 45. Cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình

    Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật.

    Điều 46. Trợ cấp phục vụ

    Người lao động bị suy gi ảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng quy định tại Điều 43 của Luật này, hằng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung.

    Điều 47. Trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

    Ngườ i lao động đang làm việc bị chế t do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu tháng lương tối thiểu chung.

    Điều 48. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị thương tật, bệnh tật

    1. Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày.
    1. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

    MỤC 4

    CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

    Điều 49. Đối tượng áp dụng chế độ hưu trí

    Đối tượng áp dụng chế độ hưu trí là người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này.

    Điều 50. Điều kiện hưởng lương hưu

    1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của Luật này có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;
    1. Nam từ đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.
    1. Người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật này có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Nam đủ năm mươi lăm tuổi, nữ đủ năm mươi tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hoặc Luật công an nhân dân có quy định khác;
    1. Nam từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi, nữ từ đủ bốn mươi lăm tuổi đến đủ năm mươi tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

    Điều 51. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

    Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên,

    hưởng lương hưu vớ i mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng l ương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên;
    1. Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.

    Điều 52. Mức lương hưu hằng tháng

    1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 58, Điều 59 hoặc Điều 60 của Luật này tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
    1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 51 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%.
    1. Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung.

    Điều 53. Điều chỉnh lương hưu

    Lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá sinh hoạt và tăng trưởng kinh tế. Mức điều chỉnh cụ thể do Chính phủ quy định.

    Điều 54. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

    1. Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trên ba mươi năm đối với nam, trên hai mươi lăm năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.
    1. Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 55. Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu

    1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của Luật này được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Ra nước ngoài để định cư.
    1. Người lao động quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật này được

    hưởng bảo hiểm xã h ội một lần khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.

    Điều 56. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần

    Mức hưở ng bảo hiểm xã hội một l ần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi nă m tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 57. Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội

    Người lao động khi nghỉ việ c mà chưa đủ điề u kiện để hưởng lươ ng hưu theo quy định tại Đi ều 50 và Điề u 51 hoặc chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lầ n theo quy đị nh tại Điều 55 và Điều 56 của Luật này thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 58. Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính l ương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995

    1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của năm năm cuối trước khi nghỉ hưu.
    1. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
    1. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 59. Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một l ần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến trước ngày Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực

    1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:
    1. Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu năm cuối trước khi nghỉ hưu;
    1. Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tám năm cuối trước khi nghỉ hưu.
    1. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
    1. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 60. Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực

    1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của mười năm cuối trước khi nghỉ hưu.
    1. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
    1. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 61. Điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội

    1. Tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định tại khoản 1 Điều 94 của

    Luật này được điều chỉnh theo mức lương tối thiểu chung tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí.

    1. Tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định tại khoản 2 Điều 94 của Luật này được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

    Điều 62. Tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng

    Người lao động đang hưở ng lương hưu, trợ cấp bảo hi ểm xã hội hằng tháng bị tạm dừ ng hưở ng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;
    1. Xuất cảnh trái phép;
    1. Bị Toà án tuyên bố là mất tích.

    MỤC 5

    CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT

    Điều 63. Trợ cấp mai táng

    1. Các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng:
    1. Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này đang đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Người đang hưởng lương hưu; hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc.
    1. Trợ cấp mai táng bằng mười tháng lương tối thiểu chung.
    1. Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp quy định tại khoản 2 Điều này.

    Điều 64. Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng

    1. Các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật này thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất hằng tháng:
    1. Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ mười lăm năm trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần;
    1. Đang hưởng lương hưu;
    1. Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
    1. Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
    1. Thân nhân của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, bao gồm:
    1. Con chưa đủ mười lăm tuổi; con chưa đủ mười tám tuổi nếu còn đi học; con từ đủ mười lăm tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
    1. Vợ từ đủ năm mươi lăm tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ sáu mươi tuổi trở lên; vợ dưới năm mươi lăm tuổi, chồng dưới sáu mươi tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
    1. Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối

    tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ đủ sáu mươi tuổi trở lên đối với nam, từ đủ năm mươi lăm tuổi trở lên đối với nữ;

    1. Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu dưới sáu mươi tuổi đối với nam, dưới năm mươi lăm tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

    Thân nhân quy định tại các điểm b, c và d khoản này phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

    Điều 65. Mức trợ cấp tuất hằng tháng

    1. Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung.
    1. Trường hợp có một người chết thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này thì số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng không quá bốn người; trường hợp có từ hai người chết trở lên thì thân nhân của những người này được hưởng hai lần mức trợ cấp quy định tại khoản 1 Điều này.
    1. Thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng được thực hiện kể từ tháng liền kề sau tháng mà người lao động, người hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chết.

    Điều 66. Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất một lần

    Các đối tượng quy định t ại khoản 1 Điều 63 của Luật này thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần:

    1. Người chết không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này;
    1. Người chết thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 64 nhưng không có thân nhân hưởng tiền tuất hằng tháng quy định tại khoản 2 Điều 64 của Luật này.

    Điều 67. Mức trợ cấp tuất một lần

    1. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người lao động đang làm việc hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội; mức thấp nhất bằng ba tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng.
    1. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng bốn mươi tám tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng ba tháng lương hưu đang hưởng.

    Điề u 68. Tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tu ất đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đó đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Người lao động đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đó đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được cộng với thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.
    1. Cách tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng hoặc mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định.

    CHƯƠNG IV

    BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

    MỤC 1

    CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

     

    Điều 69. Đối tượng áp dụng chế độ hưu trí

    Bảo hiểm xã hội tự nguyện áp dụng đối với người lao động quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật này.

    Điều 70. Điều kiện hưởng lương hưu

    1. Người lao động hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;
    1. b) Đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.
    1. Trường hợp nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi nhưng thời gian đóng

    bảo hiể m xã hội còn thiếu không quá năm năm so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì được đóng tiếp cho đến khi đủ hai mươi năm.

    Điều 71. Mức lương hưu hằng tháng

    1. Mức lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 76 của Luật này tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
    1. Việc điều chỉnh lương hưu được thực hiện như quy định tại Điều 53 của Luật này

    Điều 72. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

    1. Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trên ba mươi năm đối với nam, trên hai mươi lăm năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.
    1. Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 73. Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng

    Người lao động được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 70 của Luật này;
    1. Không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Ra nước ngoài để định cư.

    Điều 74. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần

    Mức hưở ng bảo hiểm xã hội một l ần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 75. Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội

    Người lao động dừng đóng bảo hi ểm xã hội tự nguyệ n mà chưa đủ điều ki ện để hưởng lương hưu theo quy định tại Điề u 70 hoặc chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại Điều 73 và Điều 74 của Luật này thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 76. Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội

    1. Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
    1. Thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập

    tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

    MỤC 2

    CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT

    Điều 77. Trợ cấp mai táng

    1. Các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng: a) Người lao động đã có ít nhất năm năm đóng bảo hiểm xã hội;
    2. b) Người đang hưởng lương hưu.
    1. Trợ cấp mai táng bằng mười tháng lương tối thiểu chung.
    1. Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp quy định tại khoản 2 Điều này.

    Điều 78. Trợ cấp tuất

    1. Người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội, người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người đang hưởng lương hưu khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần.
    1. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người lao động đang đóng hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
    1. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết

    đượ c tính theo thời gian đã hưởng lươ ng hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng l ương hưu thì tính bằng bốn mươi tám tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.

    Điề u 79. Tính hưở ng chế độ hưu trí và chế độ t ử tuất đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sau đó đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện

    1. Người lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sau đó đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được cộng với thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.
    1. Cách tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng hoặc mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định.

    CHƯƠNG V

    BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

    Điều 80. Đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp

    Bả o hiểm th ất nghiệp áp dụng bắt buộc đối người lao động quy định tại khoản 3 và người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật này.

    Điều 81. Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

    Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;
    1. Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;
    1. Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này.

    Điều 82. Trợ cấp thất nghiệp

    1. Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp.
    1. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:
    1. Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
    1. Sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo

    hiểm thất nghiệp;

    1. Chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
    1. Mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.

    Điều 83. Hỗ trợ học nghề

    Người đang hưởng trợ c ấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá sáu tháng. Mức hỗ trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề.

    Điều 84. Hỗ trợ tìm việc làm

    Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí.

    Điều 85. Bảo hiểm y tế

    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.

    Điều 86. Tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp

    Người đang hưởng tr ợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Không thực hiện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 của Luật này;
    1. Bị tạm giam.

    Điều 87. Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:
    1. a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;
    1. Có việc làm;
    1. Thực hiện nghĩa vụ quân sự;
    1. Hưởng lương hưu;

    đ) Sau hai lần từ chối nhận việc làm do tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

    1. Không thực hiện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 của Luật này trong ba tháng liên tục;
    1. Ra nước ngoài để định cư;
    1. Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;
    1. Bị chết.
    1. Các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này sẽ được hưởng khoản trợ cấp một lần bằng giá trị còn lại của trợ cấp thất nghiệp quy định tại Điều 82 của Luật này.
    1. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp lần sau.

    CHƯƠNG VI

    QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI

    MỤC 1

    QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

    Điều 88. Nguồn hình thành quỹ

    1. Người sử dụng lao động đóng theo quy định tại Điều 92 của Luật này.
    1. Người lao động đóng theo quy định tại Điều 91 của Luật này.
    1. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Hỗ trợ của Nhà nước.
    1. Các nguồn thu hợp pháp khác.

    Điều 89. Các quỹ thành phần

    1. Quỹ ốm đau và thai sản.
    1. Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
    1. Quỹ hưu trí và tử tuất.

    Điều 90. Sử dụng quỹ

    1. Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định tại Chương III của Luật này.
    1. Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.
    1. Chi phí quản lý.
    1. Chi khen thưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Luật này.
    1. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này.

    Điều 91. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động

    1. Hằng tháng, người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%.
    1. Người lao động hưởng tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần.
    1. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động quy định tại điểm e khoản 1 Điều
    • của Luật này do Chính phủ quy định.

    Điều 92. Mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động

    1. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
    1. 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ quy định tại Mục 1 và Mục 2 Chương III của Luật này và thực hiện quyết toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội;
    1. 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
    1. 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.
    1. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên mức lương tối thiểu chung đối với mỗi người lao động quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
    1. 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
    1. 16% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.
    1. Người sử dụng lao động thuộc các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh thì mức đóng hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần.

    Điều 93. Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất

    1. Trong trường hợp người sử dụng lao động gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh hoặc gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa dẫn đến việc người lao động và người sử dụng lao động không có khả năng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thì được tạm dừng đóng trong thời gian không quá mười hai tháng.
    1. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện, khoảng thời gian tạm dừng đóng và thẩm quyền quyết định việc tạm dừng đóng.

    Điều 94. Tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.
    1. Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động.
    1. Trường hợp mức tiền lương, tiền công quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.

    Điều 95. Chi phí quản lý

    1. Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc hằng năm được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

    Điều 96. Nguyên tắc đầu tư

    Hoạt động đầ u tư từ quỹ bảo hiểm xã hội phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết.

    Điều 97. Các hình thức đầu tư

    1. Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của ngân hàng thương mại của Nhà nước.
    1. Cho ngân hàng thương mại của Nhà nước vay.
    1. Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia.
    1. Các hình thức đầu tư khác do Chính phủ quy định.

    MỤC 2

    QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

    Điều 98. Nguồn hình thành quỹ

    1. Người lao động đóng theo quy định tại Điều 100 của Luật này.
    1. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Hỗ trợ của Nhà nước.
    1. Các nguồn thu hợp pháp khác.

    Điều 99. Sử dụng quỹ

    1. Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định tại Chương IV của Luật này.
    1. Đóng bảo hiểm y tế cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng lương hưu.
    1. Chi phí quản lý.
    1. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này.

    Điều 100. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động

    1. Mức đóng hằng tháng bằng 16% mức thu nhập người lao động lựa chọn đóng bảo

    hiểm xã hội; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.

    Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng bảo hiểm xã hội được thay đổi tuỳ theo khả nă ng của người lao động ở từng thờ i kỳ, nhưng thấ p nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.

    1. Người lao động được chọn một trong các phương thức đóng sau đây: a) Hằng tháng;
    2. b) Hằng quý;
    1. c) Sáu tháng một lần.

    Điều 101. Chi phí quản lý

    1. Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội tự nguyện hằng năm được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội tự nguyện bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

    MỤC 3

    QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

    Điều 102. Nguồn hình thành quỹ

    1. Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
    1. Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
    1. Hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng

    đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.

    1. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Các nguồn thu hợp pháp khác.

    Điều 103. Sử dụng quỹ

    1. Trả trợ cấp thất nghiệp.
    1. Hỗ trợ học nghề.
    1. Hỗ trợ tìm việc làm.
    1. Đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp.
    1. Chi phí quản lý.
    1. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này.

    Điều 104. Chi phí quản lý

    Chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

    Điều 105. Tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp

    Tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính như quy định tại Điều 94 của Luật này.

    CHƯƠNG VII

    TỔ CHỨC BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Điều 106. Tổ chức bảo hiểm xã hội

    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội là tổ chức sự nghiệp, có chức năng thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.
    1. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của tổ chức bảo hiểm xã hội do Chính phủ quy định.

    Điều 107. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội

    1. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội do Chính phủ thành lập, có trách nhiệm chỉ đạo và giám sát hoạt động của tổ chức bảo hiểm xã hội.
    1. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội gồm đại diện Bộ Lao động – Thương binh và Xã

    hội, Bộ Tài chính, Tổng liên đoàn lao động Vi ệt Nam, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, tổ chức bảo hiểm xã hội và một số thành viên khác do Chính phủ quy định.

    1. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
    1. Quy chế làm việc của Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội do Chính phủ quy định.

    Điều 108. Nhiệm vụ của Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội

    1. Thẩm định kế hoạch hoạt động hằng năm, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của tổ chức bảo hiểm xã hội.
    1. Quyết định hình thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội theo đề nghị của tổ chức bảo hiểm xã hội.
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, chiến lược phát triển của ngành, kiện toàn hệ thống tổ chức của tổ chức bảo hiểm xã hội, cơ chế quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.
    1. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh lãnh đạo của tổ chức bảo hiểm xã hội.

    CHƯƠNG VIII

    THỦ TỤC THỰC HIỆN BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Điều 109. Sổ bảo hiểm xã hội

    1. Sổ bảo hiểm xã hội được cấp đối với từng người lao động để theo dõi việc đóng,

    hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội và là cơ sở để giải quyết các chế độ bảo hi ểm xã hội theo quy định của Luật này. Mẫu Sổ bảo hiểm xã hội do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.

    1. Sổ bảo hiểm xã hội sẽ được dần thay thế bằng thẻ bảo hiểm xã hội điện tử trong quá trình áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý bảo hiểm xã hội. Chính phủ quy định thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội khi sử dụng thẻ bảo hiểm xã hội điện tử.

    Điều 110. Hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội

     

    1. Hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
    1. Tờ khai cá nhân của người lao động theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định;
    1. Danh sách người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc do người sử dụng lao động lập;
    1. Bản sao quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động đối với người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội lần đầu; hợp đồng lao động đối với người sử dụng lao động là cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động.
    1. Hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.
    1. Hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm:
    1. Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định;
    1. Danh sách người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp do người sử dụng lao động lập.

    Điều 111. Cấp Sổ bảo hiểm xã hội

    1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng, người sử dụng lao động nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 110 của Luật này.
    1. Người lao động nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm cấp sổ bảo hiểm xã hội trong thời hạn ba

    mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người tham gia b ảo hiể m xã h ội bắt buộc và bảo hiể m thấ t nghiệ p; hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợ p lệ c ủa người tham gia bả o hiểm xã hội tự nguyện; trường hợp không cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 112. Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Giấy xác nhận nghỉ ốm đối với người lao động điều trị ngoại trú, giấy ra viện đối với người lao động điều trị nội trú tại cơ sở y tế, giấy ra viện hoặc phiếu hội chẩn của bệnh viện đối với người lao động mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày.
    1. Xác nhận của người sử dụng lao động về điều kiện làm việc đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên.
    1. Giấy xác nhận của người sử dụng lao động về thời gian nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, kèm theo giấy khám bệnh của con đối với người lao động nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau.
    1. Danh sách người nghỉ ốm và người nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau do người sử

    dụng lao động lập.

    Điều 113. Hồ sơ hưởng chế độ thai sản

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con hoặc giấy chứng tử trong trường hợp sau khi sinh con mà con chết hoặc mẹ chết.

    Trườ ng hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chế t lưu, ngườ i lao động thực hiện các biện pháp tránh thai phải có giấy xác nhận của c ơ sở y tế có thẩm quyền; nh ận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi phải có chứng nhận theo quy định của pháp luật.

    1. Xác nhận của người sử dụng lao động về điều kiện làm việc đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc xác nhận của người sử dụng lao động đối với lao động nữ là người tàn tật.
    1. Danh sách người hưởng chế độ thai sản do người sử dụng lao động lập.

    Điều 114. Hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Biên bản điều tra tai nạn lao động, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định là tai nạn lao động thì phải có thêm bản sao Biên bản tai nạn giao thông.
    1. Giấy ra viện sau khi đã điều trị tai nạn lao động.
    1. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa.
    1. Văn bản đề nghị giải quyết chế độ tai nạn lao động.

    Điều 115. Hồ sơ hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Biên bản đo đạc môi trường có yếu tố độc hại, trường hợp biên bản xác định cho nhiều người thì hồ sơ của mỗi người lao động có bản trích sao.
    1. Giấy ra viện sau khi điều trị bệnh nghề nghiệp, trường hợp không điều trị tại bệnh viện thì phải có giấy khám bệnh nghề nghiệp.
    1. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa.
    1. Văn bản đề nghị giải quyết chế độ bệnh nghề nghiệp.

    Điều 116. Hồ sơ hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ

    1. Danh sách người đã hưởng chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà sức khoẻ còn yếu do người sử dụng lao động lập.
    1. Văn bản đề nghị giải quyết trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.

    Điều 117. Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau ốm đau, thai sản

    1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động quy định tại Điều 112 và Điều 113 của Luật này, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động.
    1. Hằng quý, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ của những người lao

    động đã được gi ải quyết chế độ ốm đau, thai s ản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại các điều 112, 113 và 116 của Luật này.

    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quyết toán trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 118. Giải quyết hưở ng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

    1. Người sử dụng lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại các điều 114, 115 và 116 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 119. Hồ sơ hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Quyết định nghỉ việc đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội; đơn đề nghị hưởng lương hưu đối với người bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
    1. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa đối với người nghỉ hưu theo quy định tại Điều 51 của Luật này.

    Điều 120. Hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Quyết định nghỉ việc trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55; quyết định phục viên, xuất ngũ, thôi việc trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 55 của Luật này.
    1. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 55 của Luật này.
    1. Bản sao giấy tờ định cư ở nước ngoài trong trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 55 của Luật này.
    1. Đơn đề nghị của người lao động trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 55 của Luật này.

    Điều 121. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội và người bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm:
    1. Sổ bảo hiểm xã hội;
    1. Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết;
    1. Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định;
    1. Biên bản điều tra tai nạn lao động, bệnh án điều trị bệnh nghề nghiệp trong trường hợp chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất của người đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên bao gồm:
    1. Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết;
    1. Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.

    Điều 122. Giả i quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Người sử dụng lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 119, Điều 120 và khoản 1 Điều 121 của Luật này.
    1. Người lao động không còn quan hệ lao động thì trực tiếp nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 của Luật này.
    1. Thân nhân của người đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 121 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người hưởng lương hưu; mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp hưởng bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 123. Hồ sơ hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

    1. Hồ sơ hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần bao gồm: a) Sổ bảo hiểm xã hội;
    1. b) Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất bao gồm:
    1. Sổ bảo hiểm xã hội đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết;
    1. Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.

    Điều 124. Giải quyết hưởng chế độ hưu trí, chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

    1. Người lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 123, thân nhân của người đang hưởng lương hưu nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người hưởng lương hưu; mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp hưởng bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 125. Hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp

    1. Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.
    1. Bản sao hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hết hạn hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc xác nhận của đơn vị cuối cùng trước khi thất nghiệp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đúng pháp luật.

    Điều 126. Giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp

    1. Người lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 125 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 127. Hồ sơ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với người chấp hành xong hình phạt tù

    1. Đối với người chưa hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, hồ sơ bao gồm: a) Sổ bảo hiểm xã hội;
    1. b) Bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù; c) Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội.
    1. Đối với người đã hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội thì hồ sơ bao gồm: a) Bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù;
    2. b) Đơn đề nghị hưởng tiếp bảo hiểm xã hội.

    Điều 128. Giải quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần đối với người chấp hành xong hình phạt tù

    1. Người lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 127 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 129. Di chuyển nơi hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội

    Khi người đang hưở ng lươ ng hưu, trợ c ấp bảo hiểm xã hội hằ ng tháng chuyển đến nơi ở khác trong nướ c mà muốn được hưởng bảo hiểm xã hội ở nơi mới thì phải có đơn gửi tổ chức bảo hiểm xã hội nơi đang hưởng.

    Tổ chức bảo hiể m xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn năm ngày, kể t ừ ngày nhận được đơn; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    CHƯƠNG IX

    KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Điều 130. Khiếu nại về bảo hiểm xã hội

    1. Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và những người khác có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
    1. Người sử dụng lao động có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    Điều 131. Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại

    1. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
    1. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện như sau:
    1. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu về bảo hiểm xã hội là người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại.

    Trong trườ ng hợp người có quyết định, hành vi về bảo hi ểm xã hội bị khiếu nại không còn tồn tại thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có thẩm quyền giải quyết;

    1. b) Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại

    lần đầu hoặc quá thờ i hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh;

    1. Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án;
    1. Thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    Điều 132. Tố cáo, giải quyết tố cáo về bảo hiểm xã hội

    Việc tố cáo và giả i quyết tố cáo vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    CHƯƠNG X

    KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

    Điều 133. Khen thưởng

    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện Luật này hoặc phát hiện vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
    1. Người sử dụng lao động thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được khen thưởng từ quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Chính phủ.

    Điều 134. Các hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội

    1. Không đóng.
    1. Đóng không đúng thời gian quy định.
    1. Đóng không đúng mức quy định.
    1. Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội.

    Điều 135. Các hành vi vi phạm pháp luật về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội

    1. Cố tình gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động.
    1. Không cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của Luật này.

    Điều 136. Các hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội

    1. Sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội trái quy định của pháp luật.
    1. Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội.

    Điều 137. Các hành vi vi phạm pháp luật về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội

    1. Gian lận, giả mạo hồ sơ.
    1. Cấp giấy chứng nhận, giám định sai.

    Điều 138. Xử lý vi phạm

    1. Cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại các điều 134, 135, 136 và
    • của Luật này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    1. Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại các điều 134, 135, 136 và 137 của Luật này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    1. Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 134 của Luật này từ ba mươi ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải đóng số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội trong năm.

    Trong trường hợp ngườ i sử dụng lao động không thực hiện quy định tại khoả n này thì theo yêu cầ u của người có thẩ m quyền xử lý vi phạm hành chính, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích tiền t ừ tài khoả n tiề n gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này.

    CHƯƠNG XI

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 139. Quy định chuyển tiếp

    1. Các quy định của Luật này được áp dụng đối với người đã tham gia bảo hiểm xã hội từ trước ngày Luật này có hiệu lực.
    1. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tiền tuất hằng tháng và người bị đình chỉ hưởng bảo hiểm xã hội do vi phạm pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn thực hiện theo các quy định trước đây và được điều chỉnh mức hưởng theo quy định của pháp luật.
    1. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng trước ngày Luật này có hiệu lực thì khi chết được áp dụng chế độ tử tuất quy định tại Luật này.
    1. Người lao động có thời gian làm việc trong khu vực nhà nước trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 nếu chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp một lần, trợ cấp xuất ngũ, phục viên thì thời gian đó được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
    1. Hằng năm, Nhà nước chuyển từ ngân sách một khoản kinh phí vào quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc để bảo đảm trả đủ lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995; đóng bảo hiểm xã hội cho thời gian làm việc trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 đối với người quy định tại khoản 4 Điều này.
    1. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật này không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức.

    Điều 140. Hiệu lực thi hành

    1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007; riêng đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện thì từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, đối với bảo hiểm thất nghiệp thì từ ngày
    • tháng 01 năm 2009.
    1. Những quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ.

    Điều 141. Hướng dẫn thi hành

    Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006.

    Chủ tịch Quốc hội

    Nguyễn Phú Trọng

  • Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Qu%E1%BB%B9-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    LỜI NÓI ĐẦU

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sẩy, hết tuổi lao động, qua đời.

    Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua , chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.

    Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH (thu – chi quỹ BHXH) nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả trong việc thu -chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động BHXH.

    Là sinh viên Khoa Bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để đóng góp một phần sức lực của mình cho việc phát triển các chính sách BHXH và sự ổn định Quỹ BHXH mà cụ thể là việc nâng cao hiệu quả của công tác thu

    • chi quỹ BHXH. Qua bài viết này em xin nêu lên và đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ BHXH. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong các thầy côđóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần viết sau co điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thị Thiên Hương đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng dạy để có thể hoàn thành bài viết này.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.

    PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH

    I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận của chính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia. Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hình bảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định.

    1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội

    Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển của con người.

    Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.

    Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chăm sóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác nhau như tương

    trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn đi xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước. Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

    Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người thuê lao động). Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền công từ giới chủ. Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của người lao động. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hoà mâu thuẫn này. Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chi trả cho việc này. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này. Mặt khác cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chất lượng của việc bảo đảm cho người lao động cũng ngày càng được tốt hơn.

    Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Từ đây ta có thể nêu ra bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:

    • Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường,

    mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.

    • Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động và gia đình họ).
    • Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảo hiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.
    • Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ nguồn quỹ BHXH. Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước bù thiếu.
    • Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
    • Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
    • Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
    • Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật & trẻ em.

    Với những mục tiêu trên BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/48 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng BHXH, quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.

    2. Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.

     

    1. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

     

    Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già… vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

    Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác.

    1. Chức năng của BHXH.
    • Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
    • Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.
    • Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.
    • Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.
    1. Tính chất của BHXH.
    • Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.
    • BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.
    • BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi).

    3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.

    Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:

    • BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.
    • Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
    • Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người mà họ sử dụng.
    • Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.
    • Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình sử dụng.

    – Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:

    • Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.
    • Ngành nghề công tác của người lao động
    • Thời gian công tác và tiền lương của người lao động
    • Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp
    • Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.
    • Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.
    • Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.

    II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI, NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG QUỸ

    BHXH.

    1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    • Người lao động đóng góp
    • Người sử dụng đóng góp
    • Nhà nước bù thiếu
    • Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

    • Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.
    • Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.
    • Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.

    Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.

    Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.

    Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.

    Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.

    Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…

    2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

     

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:

    • Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.
    • Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.

    Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau:

    1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
    1. Trợ cấp ốm đau
    1. Trợ cấp thất nghiệp
    1. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
    1. Trợ cấp tuổi già
    1. Trợ cấp gia đình
    1. Trợ cấp sinh đẻ
    1. Trợ cấp khi tàn phế.
    1. Trợ cấp cho người còn sống.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.

    Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội mà các nước tham gia công ước quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người còn sống.

    Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    • Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.
    • Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.
    • Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.
    • Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
    • Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.
    • Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
    • Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
    • Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.

    Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.

    PHẦN II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP – 1993.

    Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách mạng tháng 8 – 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị của họ.

    Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số văn bản sau:

    Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức nghỉ hưu.

    Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.

    Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.

    Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.

    Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm sau đây:

    • Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ

    trang.

    • Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nước.
    • Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với các chính sách xã hội khác.
    • Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động, công đoàn, Bộ Tài chính…).

    Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân

    xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược vào thống nhất đất nước.

    Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau. Từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .

    BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp chị em ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.

    Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.

    Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất lớn đó là:

    • Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa thấy hết được vai trò của nó.
    • Chính sách này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực.
    • Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực

    tế.

    • Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

    2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.

     

    Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao động”.

    Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”.

    Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tượng tham gia BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê mướn.

    Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong BHXH.

    Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:

    • Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:… mà còn mở rộng cho người lao

    động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

    • Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.
    • Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.
    • Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.
    • Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động sự nghiệp BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.

    Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.

    Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.

    II. THỰC TRẠNG QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

     

    1. Trước Nghị định 43/CP/1993.

    Như chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

    Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

    Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

    Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm

    • chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà

    nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.

    1. Sau nghị định 43CP/1993

    Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

    Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo.

    Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

    • Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.
    • Nguồn lao động đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.
    • Nhà nước hỗ trợ thêm.
    • Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

    • Chi quản lý hành chính sự nghiệp
    • Chi trợ cấp cho các chế độ

    Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, vậy chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

    Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

    2. Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.

    1. Thu từ người sử dụng lao động và người lao động.

    Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

    • BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.
    • Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.
    • Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam)

    Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước.

    Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 15% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 5% tiền lương.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

    Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

    Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã khẳng định phần nào sự trưởng thành của hoạt động thu BHXH cụ thể:

    Năm Lao động(người) Tỉ lệ (NS/NT) Số thu(triệu) Tỉ lệ
            (NS/NT)
             
    1995 2.275.998   788.486  
             
    1996 2.961.444 128,4% 2569733  
             
    1997 3.162.352 108,2% 3.445.611 134,1%
             
    1998 3.355.589 106,1% 3875956 112,5%
             
    1999 3579427 106,6% 4188382 108,1%
             

    Bảng số liệuu trên cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt số lao động năm tham gia BHXH năm 1999 so với 1995 tăng 1303439 lao động (tăng 57,3%) BHXH 1999 thu được 4.188382 triệu đạt 106,9% kế hoạch năm.

    Với kết quả trên, BHXH Việt Nam đã hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán đôc lập với ngân sách nhà nước chủ động chi trả cho người lao động, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH (bình quân hiện nay mỗi năm 3% nhưng mức giảm này sẽ ngày càng cao). Mặt khác quỹ BHXH có số tích luỹ sẽ ngày một tăng bảo đảm chi trả ổn định lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đạt được kết quả trên là do các nguyên nhân sau:

    • Đối tượng tham gia đã được mở rộng hơn so với trước đây (doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên phải tham gia đóng BHXH…)
    • Công tác quản lý thu BHXH từng bước đi vào nề nếp, người lao động và người sử dụng lao động đã ý thức được trách nhiệm quyền lợi của họ khi tham gia BHXH.
    • Công tác thu BHXH của các tỉnh, thành phố ngày một hoàn thiện, tuyên truyền vận động phối hợp với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác BHXH được đảm bảo. Một mặt tích cực rà soát, tuyên truyền vận động để tăng thêm đối tượng tham gia đóng BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa tham gia BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên cạnh đó, là công tác truy thu nợ đọng để ngăn chặn không để có công nợ phát sinh.
    • Trình độ cán bộ không ngừng được nâng cao, BHXH các tỉnh thành phố từng bước áp dụng công nghệ tin học vào quản lý hoạt động BHXH. Nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng…

    Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng công tác quản lý thu BHXH còn có những nhược điểm cần khắc phục nhằm ổn định tăng trưởng quỹ. Các nhược điểm đó là:

    • Đối tượng tham gia BHXH còn chưa mở rộng, hiện nay ở nước ta đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ chiếm 14% lực lượng lao động xã hội, còn trên 86% chưa tham gia BHXH. Điều này cho thấy chúng ta đã để lãng phí một nguồn thu rất lớn từ lực lượng lao động chưa tham gia BHXH này không đảm bảo được quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng, chưa đáp ứng được khuyến cáo của tổ chức lao động thế giới ILO. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thì không đáng kể. Mặt khác một số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH, nhất là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa thực hiện đăng ký nộp BHXH, nói chính xác hơn thì phần lớn các đơn vị này cố tình trốn tránh việc tham gia đóng BHXH cho người lao động mà họ sử dụng thông qua việc lợi dụng các khe hở của pháp luật.
    • Tình trạng nộp thiếu, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

    Mức nợ quỹ BHXH qua các năm.

    Năm Nợ đọng (%)
       
    1995 11,3
       
    1996 8,3
       
    1997 11,2
       
    1998 10,0
       
    1999 9,0
       

    Riêng năm 1999 tình trạng nợ quỹ BHXH điển hình ở một số tỉnh như

    sau:

    BHXH tỉnh Phó Thọ 18 tỉ /73 tỉ Chiếm 24%
         
    BHXH tỉnh Hoà Bình 13 tỉ/120 tỉ Chiếm 20%
         
    BHXH tỉnh Thái Bình 7,7/38 tỉ Chiếm 15%
         
    BHXH tỉnh Thanh hoá 6,6 tỉ/44 tỉ Chiếm 15%
         
    BHXH tỉnh Gia Lai 46,6 tỉ/102 tỉ Chiếm 16%
         

    Điều này là do các nguyên nhân sau:

    • Do những khó khăn của đơn vị sử dụng lao động và người lao động vừa thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống quá khó khăn dẫn tới việc không thực hiện nộp BHXH đúng kỳ đúng số.
    • Do chủ sử dụng lao động thiếu ý thức chưa thực sự quan tâm tới việc nộp BHXH.
    • Do một số tồn tại nợ trước đây dồn tính lại, đơn vị sử dụng lao động chưa có nguồn hoặc chưa đủ cơ sở để xử lý hoặc là nộp hoặc là giải **** xử lý xoá nợ, nên vẫn theo nợ trên sổ sách.
    • Mặt khác trong việc quản lý thu còn có một số công việc chưa thực hiện kịp thời đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra, đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.
    • Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để đưa ra tỉ lệ đóng góp là 20% (người sử dụng lao động 15%, người lao động 5%) chưa dựa vào cơ sở khoa học vững chắc, so với một số nước trên thế giới và khu vực thì tỉ lệ đóng góp của chúng ta còn thấp.

    Tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH ở một số nước đóng góp trên thế giới.

      Người LĐ so với lương Người SDLĐ so với quỹ lương (%)
         
    CHLB Đức 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
         
    CH Pháp 11,82 19,68
         
    Malayxia 9,5 12,75
         

    Và với tỉ lệ thu như thế này thì theo dự báo của chuyên gia ILO tình hình quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian tới như sau:

      1997 2000 2010 2020 2030
               
    Số người đóng BHXH (ngàn) 3110 3271 4406 5233 58057
               
    Số người hưởng BHXH (ngàn) 1792 1802 1739 1808 1867
               
    Trong đó:          
    Thưởng trước 1995 1732 1635 1195 706 290
    Thưởng sau 1995 60 167 549 1102 1577
               
    Thu BHXH (ngàn tỉ) 7,9 11,6 23,4 35,1 49,6
               
    Chi BHXH (ngàn tỉ) 5,9 8,7 17,9 33,4 63,0
               
    Chênh lệch thu chi (ngàn tỉ) +2,0 +2,8 +5,5 +1,8 -13,5
               

    Vậy theo dự báo của các chuyên gia ILO thì tới năm 2030 quỹ BHXH Việt Nam sẽ bị thâm hụt trầm trọng.

    Với những ưu nhược điểm vừa nêu trên trong công tác thu BHXH của nước ta trong thời gian đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thu BHXH trong thời gian tới

    đảm bảo sự tăng trưởng ổn đinh của quỹ BHXH nói riêng và ổn định hoạt động BHXH nói chung.

    1. Thu từ ngân sách nhà nước đóng góp và các khoản thu khác.

    Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước.

    Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước trợ giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần (mỗi năm giảm bình quân khoảng 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

    Đối với các khoản thu khác: từ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức từ thiện, từ đầu tư vốn nhàn rỗi… cũng đã góp phần gia tăng quy mô của quỹ BHXH. Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH có vai trò vô cùng quan trọng, bởi hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm hoạt động tài chính, thông qua việc đầu tư, sử dụng vốn nhàn rỗi để sinh lời, có hoạt động đầu tư vốn mới đảm bảo được việc chi trả quỹ BHXH trong tương lai. Cuối năm 1999 số vốn tạm thời nhàn rỗi của BHXH là 12000 tỉ đồng. Số tiền này BHXH được chính phủ cho phép đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mua trái phiếu, công trái và gửi ngân hàng của nhà nước để phát triển giá trị của quỹ. (đợt mua công trái vừa qua BHXH đã mua 500 tỉ đồng). Tổng số tiền sinh lời là 631 tỉ đồng.

    Kết quả trên đạt được là do các nguyên nhân:

    • Thứ nhất là do hiệu quả ngày càng cao trong công tác thu phí BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động như nêu ở trên.
    • Nhà nước quyết định đưa quỹ BHXH ra hạch toán độc lập điều này khiến cho các cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH tự hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của mình trong việc quản lý hệ thống BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng nâng cao hiệu quả trong quản lý quỹ.
    • Bước vào cơ chế thị trường, được nhà nước giao cho toàn quyền srư dụng quỹ BHXH, các cán bộ quản lý BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, tích luỹ kiến thức mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực vừa có hiệu quả kinh tế vừa an toàn góp phần tăng nguồn thu của quỹ.

    Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả ở công tác này trong thời gian qua, tuy nhiên cũng ở công tác này trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

    Mặc dù có giảm nhưng ngân sách nhà nước cấp cho BHXH còn tương đối lớn nó bao gồm tất cả chi phí trợ cấp BHXHcho những người được hưởng chế độ BHXH trước 1/1/1995 và một phần chi phí các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH sau 1/1/1995 mà số lượng những người này hiện nay còn rất đông và do hậu quả của các chính sách, chế độ trước đây để lại nêu đây vẫn còn là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    • Trong vấn đề đầu tư vốn nhàn rỗi do quỹ BHXH là một quỹ đặc biệt, liên quan đến đời sống của hàng triệu người lao động trong xã hội nên hoạt động đầu tư chỉ được sử dụng một phần vốn nhàn rỗi và phải hết sức cẩn trọng.

    Vì vậy hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi có hiệu quả chưa cao bởi tính cẩn trọng khiđầu tư vốn (theo quy luật rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao) đồng thời do thị trường chứng khoán của chúng ta mới hình thành còn nhiều vướng mắc, các cán bộ quản lý quỹ BHXH kinh nghiệm chưa nhiều với đầu tư chủ yếu là gửi ngân hàng, mua trái phiếu kho bạc, muc công trái… nên lãi suất còn thấp.

    Từ các vấn đề đã nêu trong công tác thu BHXH cho chúng ta thấy được mặc dù công tác thu BHXH đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, dần dần góp phần đưa BHXH thoát khỏi sự bao cấp nặng nề của nhà nước. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho việc tăng trưởng, phát triển nguồn quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống người lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, ổn định kinh tế – xã hội.

    3. Tình hình chi BHXH trong thời gian qua.

    Như đã nêu ở trên quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích đó là:

    • Chi trả trợ cấp các chế độ BHXH
    • Chi quản lý quỹ BHXH

    Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH. Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất.

    Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

    Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

    Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ.

    Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXHlà việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng hết sức tiến bộ. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ, thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam.

    BHXH Việt Nam cũng đã quy định BHXH các cấp chi trả trực tiếp cho những người được hưởng chế độ hưu một lần hoặc trợ cấp một lần nhằm mục đích tăng cường sự tiếp cận với người hưởng BHXH. Trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người

    lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn: Đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.

    Bình quân số tiền chi trả lương lương hưu và các loại trợ cấp cho hơn 6 triệu người lao động là 6000 tỉ đồng một năm nhưng BHXH đã thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ theo chế độ, tất cả những người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng đều được nhận một lần trước ngày 15. Đặc biệt ngày 24/6/1999 BHXH Việt Nam đã ban hành văn bản số 860/BHXH – QLC có hiệu lực từ 1/7/1999 về việc chi trả lương cho đối tượng tạm vẵng đến nơi tạm trú. Theo văn bản này thì các đối tượng đến ở nơi tạm trú từ 3 tháng trở lên có thể nhận lương hưu tại nơi tạm trú một cách thuận lợi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa làm được.

    Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đã làm cho đối tượng yên tâm và yêu mến những người làm công tác BHXH.

    Hệ thống biểu mẫu, sổ sách được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước, nhằm phục vụ đăc lực cho công tác chi trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình hiện nay. Với việc ra đời của sổ BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ dàng, chính xác, kịp thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

    BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý của ngành góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

    Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác quản lý chi vẫn còn phải đặt ra nhiều vốn cần tiếp tục củng cố trong thời gian tới, cụ thể là:

    • Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp cho người lao động, thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của người lao động cũng như gia đình họ.
    • Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm. Việc

    tổ chức vận chuyển tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chi trả chưa đảm bảo dễ xảy ra mất mát, thiếu hụt. Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

    • Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

    Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai đảm bảo việc tăng trưởng và ổn định quỹ, ổn định xã hội.

    III. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CÂN ĐỐI QUỸ BHXH VIỆT NAM.

    1. Biện pháp tăng thu BHXH.

    1. Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.
    • Trước hết về phía quản lý vĩ mô của nhà nước cần phải có được hệ thống văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.
    • Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là lấy số đông bù số ít.
    • Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ

    BHXH qua các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.

    • Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính toán của các nhà nghiên cứu trong nước thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là 35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.
    1. Với các khoản thu khác.
    • Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong nước và ngoài nước.
    • Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.
    • Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa đảm bảo ổn định quỹ.
    • Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra đời thị trường chứng khoán.

    2. Các biện pháp giảm chi BHXH.

    • Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.
    • Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.
    • Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí điều kiện mới.
    • Ứng dụng công nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói chung, quản lý thu – chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện Ngân hàng)
    • Giáo trình Bảo hiểm (Trường Đại học KTQD)
    • Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số: 1, 3, 5, 6/2000 xuân canh thìn
    • Tạp chí Lao động & Xã hội các số 4/1997; 8,9,12/1998; 3/1999; 3/2000
    • Nghị định 43CP ra ngày 22/6/1993
    • Nghị định 12CP ra ngày 26/11/1995
    • Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam chương 12

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-th%E1%BA%A5t-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đề án môn học

    LỜI MỞ ĐẦU

    Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với người lao động. Trong quá trình thực hiện, chế độ BHXH không ngừng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển nhằm đảm bảo quyền lợi đối với người lao động .

    Trong các chế độ của hệ thống BHXH có chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Mục đích của chế độ này là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để họ có những cơ hội mới về việc làm.

    Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể.Tuy nhiên những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã bộc lộ khá rõ, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp. Nhà nước đã giải quyết vấn đề này bằng nhiều biện pháp như chính sách dân số, kinh tế, …

    Mặc dù hiện nay nước ta chưa triển khai BHTN song những năm vừa qua Nhà nước, ngành lao động- thương binh xã hội đã có nhiều đề án và đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này để chuẩn bị triển khai trong những năm sắp tới. Đây là vấn đề bức xúc và tất yếu, là trách nhiệm của cả Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động.

    Để triển khai BHTN, phải xây dựng được chính sách hay pháp lệnh về BHTN, tạo hành trang pháp lý trong quá trình tổ chức thực hiện. Hy vọng rằng BHTN sẽ sớm được triển khai ở Việt Nam góp phần giải quyết căn bệnh cố hữu do cơ chế thị trường đẻ ra, đó là thất nghiệp.

    Mục tiêu đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận , thực tiễn Thất nghiệp , các chính sách BHTN trên cơ sở tống hợp thông tin.

    Kết cấu của đề tài : Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 phần chính :

    1. Một số vấn đề về thất nghiệp.
    1. Bảo hiểm Thất nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    III. Chính sách Bảo hiểm Thất nghiệp của Việt Nam hiện tại và tương

    lai.

    Bài viết của em còn nhiều thiếu sót, mong sự chỉ bảo của cô.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    NỘI DUNG

    I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THẤT NGHIỆP

    1.Khái niệm về thất nghiệp

    Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều tổ chức,nhiều nhà khoa học bàn luận.Song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp.Luật Bảo hiểm thất nghiệp (viết tắt BHTN)cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: “Thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn”.

    Tại Pháp người ta cho rằng,thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm.

    Thái Lan, định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp là không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc”.

    Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm”.

    Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ,”Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành”.

    Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ đưa ra định nghĩa:”Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây:

    • Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm.
    • Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sử dụng lao động chẳng hạn ) hoặc đã thôi việc.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Người lao động không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định.
    • Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương. Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất

    việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:

    • Có khả năng lao động.
    • Đang không có việc làm
    • Đang đi tìm việc làm.
    • Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đồi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định.

    Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc.

    Định nghĩa thất nghiệp ở Việt Nam : “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”.

    2. Các nguyên nhân gây thất nghiệp

    Có 3 nguyên nhân gây thất nghiệp

    – Do chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi:

    Theo chu kỳ phát triển kinh tế , sau hưng thịnh đến suy thoáim khủng hoảng. Ở thời kỳ được mở rộng, nguồn nhân lực xã hội được huy động vào sản xuất, nhu cầu về sức lao động tăng nhanh nên thu hút nhiều lao động.Ngược lại thời kỳ suy thoái sản xuất đình trệ , cầu lao động giảm không những không tuyển thêm lao động mà còn một số lao động bị dôi dư gây nên tình trạng thất nghiệp. Theo kinh nghiệm của các nhà kinh tế nếu năng lực sản xuất xã hội giảm 1% so với khả năng , thất nghiệp sẽ tăng lên 2%.

    – Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật:

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Đặc biệt quá trình tự động hóa quá trình sản xuất.Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tự động hóa quá trình sản xuất sẽ tiết kiệm được chi phí, năng suất lao động tăng cao , chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá thành lại rẻ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Chính vì thế, các nhà sản xuất luôn tìm cách đổi mới công nghệ, sử dụng những dây truyền tự động vào sản xuất, máy móc được sử dụng nhiều, lao động sẽ dôi dư. Số lao động này sẽ bổ sung vào đội quân thất nghiệp.

    • Sự gia tăng dân số và nhuồn lực là áp lực đối với việc giải quyết việc làm. Điều này thường xảy ra đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển hoặc đang phát triển. Ở đây, nguồn lực dồi dào nhưng do kinh tế hạn chế nên không có điều kiện đào tạo và sử dụng hết nguồn lao động hiện có.

    3. Phân loại thất nghiệp

    Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu rõ về nó. Căn cứ vào từng chỉ tiêu đánh giá, ta có thể chia thất nghiệp thành các loại sau:

    a.Phân theo đặc trưng của người thất nghiệp.

    Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào, ngành nghề nào…Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế. Với mục đích đó có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:

    • Thất nghiệp theo giới tính.
    • Thất nghiệp theo lứa tuổi.
    • Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ.
    • Thất nghiệp chia theo ngành nghề.
    • Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.
    1. b. Phân loại theo lý do thất nghiệp .

    Trong khái niệm thất nghiệp , cần phải phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc.Trong

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    nền kinh tế thị trường năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề , cấp bậc). Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người. Cho nên, người lao động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ. Vì thế xảy ra hiện tượng:

    Thất nghiệp tự nguyện :Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con…).Thất nghiệp loại này thường tạm thời.

    Thất nghiệp không tự nguyện là: Thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái , cung lớn hơn cầu về lao động…

    Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.

    Kết cục của những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn . Có những người ( bỏ việc, mất việc…) sau một thời gian nào đó sẽ được trở lại làm việc . Nhưng cũng có một số người không có khả năng đó và họ phải ra khỏi lực lượng lao động do không có điều kiện bản thân phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động hoặc do mất khả năng hứng thú làm việc ( hay còn có thể có những nguyên nhân khác).

    Như vậy, con số thất nghiệp là con số mang tính thời điểm . Nó luôn biến động theo thời gian. Thất nghiệp xuất phát từ nhu cầu cần việc làm, có việc rồi lại mất việc, từ không thất nghiệp trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi trạng thái đó. Vì thế việc nghiên cứu dòng lưu chuyển thất nghiệp là rất có ý nghĩa.

    1. c. Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp.

    Tìm hiểu nguồn gốc thất có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực trạng thất nghiệp , từ đó tìm ta hướng giải quyết. Có thể chia thành 4 loại:

    Thất nghiệp tạm thời là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    giai đoạn khác nhau của cuộc sống.Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này đến nơi khác ; phụ nữ có thể quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con…

    Thất nghiệp có tính cơ cấu : Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung – cầu lao động ( giữa các ngành nghề , khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải. Chính vì vậy , thất nghiệp loại này còn gọi là thất nghiệp công nghệ. Trong nền kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy ra. Khi sự biến động này là mạnh và kéo dài , nạn thất nghiệp trở nên nghiêm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống, và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao tăng lên.

    Thất nghiệp do thiếu cầu : Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống . Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu . Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi nghề.

    Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được gọi theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà còn quan hệ với mức sống tối thiểu nên nhiều quốc gia ( Chính phủ hoặc công đoàn ) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động ( có thể diễn ra ngay cả khi thị trường lao động đang cân bằng). Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thi trường lao động bị mất cân bằng. Còn thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển do các yếu tố xã hội, chính trị tác động. Sự phân biệt đó là then chốt để nắm bắt tình hình chung của thị trường lao động.

    4. Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế – xã hội.

    Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế –xã hội, trong đó có những yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là kết quả. Ngược lại, thất nghiệp có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vì vậy , cần phân tích rõ tác động qua lại giữa các yếu tố kinh tế –xã hội đối với thất nghiệp và ngược lại, ảnh hưởng của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế –xã hội; hạn chế những tác động đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.

    a.Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát.

    Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội- nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế – xã hội. Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa là nền kinh tế đang suy thoái- suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư ( vì vốn ngân sách vị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến ( bờ vực) của lạm phát.

    Mối quan hệ nghịch lý 3 chiều giữa tăng trưởng kinh tế – thất nghiệp và lạm phát luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) mà giảm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm, kéo theo tỷ lệ lạm phát phát cũng giảm. Mối quan hệ này cần được quan tâm khi tác động vào các nhân tố kích thích phát triển kinh tế – xã hội.

    b.Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập. Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ se khó khăn. Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp, trở lại thị trường lao động; con cái họ sẽ gặp khó khăn khi đến trường; sức khỏe họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp “đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chán nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc…

    1. Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội.

    Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống…tăng lên; hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm…Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị.

    Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế – xã hội khó khăn và nan giải của quốc gia, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế – xã hội.

    Giải quyết tình trạng thất nghiệp không phải “một sớm, một chiều”, không chỉ bằng một chính sách hay một biện pháp mà phải là một hệ thống các chính sách đồng bộ, phải luôn coi trọng trong suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Bởi lẽ, thất nghiệp luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường và tăng (giảm) theo chu kỳ phát triển của nền kinh tế thị trường.

    Trong hàng loạt các chính sách và biện pháp để khắc phục tình trạng thất nghiệp, Bảo hiểm thất nghiệp có vị trí quan trọng.

    II. BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    1.Một số khái niệm.

    1.1 .Bảo hiểm xã hội

    Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm xã hội, nhưng có thể khái niệm như sau: bảo hiểm xã hội là sự vảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối cới người lao động khi họ gặp phải những biến

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo sự an toàn đời sống cho người lao động, và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

    Vai trò của Bảo hiểm xã hội: trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm xã hội là một lĩnh vực không thể thiếu được đối với người lao động, người sử dụng lao động nói chung, còn phía Nhà nước đây là một chính sách xã hội rộng lớn mà quốc gia nào cũng phải có bởi vì:

    Thứ nhất, đối với người lao động:

    Bảo hiểm xã hội giúp người lao động và gia đình họ ổn định cuộc sống. Khi chưa có bảo hiểm xã hội thì bản thân người lao động cũng như gia đình họ gặp khó khăn khi xảy ra rủi ro như : tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau hay không còn khả năng lao động để đảm bảo cuộc sống…Nhờ có bảo hiểm xã hội sẽ bù đắp phần thu nhập bị mất của người lao động, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động.

    –  Thứ hai, đối với người sử dụng lao động:

    Bảo hiểm xã hội là tấm lá chắn giúp họ trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất và thu hút được lao động, vì bảo hiểm xã hội đảm bảo chi trả những khoản tiền lớn khi người lao động không may gặp những rủi ro hoặc khi hết tuổi lao động.Bảo hiểm xã hội không ảnh hưởng lớn đến tài chính của đơn vị.

    Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội:

    Bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động , nên về lâu dài nó góp phần nâng cao năng suất lao động vì cuộc sống của người lao động được đảm bảo hơn, do đó họ quan tâm hơn trong lao động sản xuất và cảm thấy phấn khởi, từ đó thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển .Đồng thời đảm bảo an toàn xã hội và văn minh xã hội.

    Ngoài ra, nguồn quỹ của bảo hiểm xã hội còn nhàn rỗi rất lớn, trong khi đó nó luôn được bổ sung liên tục, vì vậy phần quỹ nhàn rỗi chưa sử dụng

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    được đầu tư để tăng trưởng, nên đã tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân phát triển, giảm bớt khó khăn về vốn đầu tư cho nhà nước.

    Vì vậy bảo hiểm xã hội có vai trò là gắn với lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước với nhau, tạo thành một mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy xã hội phát triển.

    1.2. Bảo hiểm thất nghiệp.

    a.Lịch sử hình thành BHTN.

    BHTN xuất hiện lần đầu ở Châu Âu, trong một nghề khá phổ biến và phát triển: nghề sản xuất các nặt hàng thủy tinh ở Thụy Sĩ. Nghề này rất cần thợ lành nghề và được tổ chức trong một phạm vi nhỏ hẹp khoảng 20 đến 30 công nhân. Để giữ được những công nhân có tay nghề cao gắn bó với mình, năm 1893 các chủ doanh nghiệp ở Thụy Sĩ đã lập ra quỹ doanh nghiệp để rẹơ cấp cho những người thợ phải nghỉ việc vì lý do thời vụ sảm xuất. Sau đó, nhiều nghiệp đoàn ở Châu Âu cũng đã lập ra quỹ công đoàn để trợ cấp cho đoàn viên trong những trường hợp phải nghỉ việc , mất việc. Tiền trợ cấp ccược tính vào giá thành sản phẩm và người dụng hàng hóa phải gánh chịu. Khi thấy rõ vai trò và tác dụng của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với công nhân, nhiều cấp chính quyền địa phương đã tổ chức liên kết các doanh nghiệp, các nghiệp đoàn lao động để hình thành quỹ trợ cấp, thực chất đó là quỹ BHTN. Qũy BHTN tự nguyện đầu tiên ra đời tại Bécnơ (ThụySĩ) vào năm1893. Tham gia đóng góp cho quỹ lúc này không chỉ có giới chủ nà cả những người lao động có công việclàm không ỏn định. Để tăng mức trợ cấp thất nghiệp đòi hỏi quy mô của quỹ phải lớn, cho nên đã có sự tham gia đóng góp của chính quyền địa phương và trung ương.

    Năm 1900 và 1910, Nauy và Đan Mạch ban hành Đạo luật quốc gia về BHTN tự nguyện có sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nước.

    Năm 1911 , Vương quốc Anh ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắt buộc và tiếp sau đó là một số nước khác ở Châu Âu như :Thụy Điển, Cộng hòa Liên bang Đức…

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Sau cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) một số nước

    Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành các Đạo luật về BHXH và BHTN, chẳng hạn :

    • Mỹ năm 1935,Canađa vào năm 1939.

    Sau chiến tranh thế giới lần thứ II ,đặc biệt là sau khi có Công ứơc số102, năm 1952 của Tỏ chức lao động quốc tế (ILO) thì một loạt nước trên thế giới đã triển khai BHTN và trợ cấp thất nghiệp. Tính đến năm 1981, có 30 nước thực hiện BHTN bắt buộc và 7 nước thực hiện BHTN tự nguyện, đến năm 1992 những con số trên là 39 và 12 nước. Ở Châu Á , các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,…đều đã thực hiện BHTN.

    b.Khái niệm

    BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹ bảo hiểm thất nghiệp – được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia ( người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước ) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về việc làm. Mặt khác, trợ cấp thất nghiệp của Nhà nước và trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm khác với việc hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một quá trình thường xuyên, liên tục, và có sự tham gia đóng góp của cả người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. BHTN không những là sự đóng góp chung rủi ro mất việc làm cùng tham gia đóng góp vào quỹ và từ quỹ đó hỗ trợ tài chính cho mộ bộ phận nhỏ những người không may rơi vào tình trạng thất nghiệp; mà còn là sự góp chung rủi ro giữa các doanh nghiệp với nhau.

    1. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm.

    Là một bộ phận của BHXH, BHTN là bảo hiểm bổi thường cho người lao động bị thiệt hạivề thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thi trương lao động.

    Như vậy, mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để có

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    những cơ hội mới về việc làm. Vì thế, một số nhà kinh tế học còn cho rằng BHTN là hạt nhân của thị trường lao động và nằm trong chính sách kinh tế – xã hội của quốc gia. Chính sách này trước hết vì lợi ích của người lao động và người cử dụng lao động sau nữa là vì lợi ích xã hội.

    BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người , song nó có một số đặc điểm khác như : Không có hợp đồng trước, người tham gia và người thụ hưởng quyền lợi là một, không có việc chuyển rủi ro của ngững người bị thất nghiệp sang những người khác có khả năng thất nghiệp. BHTN khộng có dự báo chính xác về số lượng và phạm vi và có thể bị thiệt hại về kinh tế rất lớn , đặc biệt là trọng những thời kì nền kinh tế bị khủng hoảng.

    Mặc dù nhiều nước triển khai BHTN độc lập với BHXH, song đối tượng của BHTN cũng giống đối tượng của BHXH ,đó là thu nhập của người lao động.Còn đối tượng tham gia BHTN cũng là người lao động và người sử dụng lao động, song đối tượng này rộng hay hẹp còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy định của từng nước.Đại đa số các nước đều quy định đối tượng tham gia BHTN là những người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Bao gồm:

    • Những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp có sử dụng một số lượng lao động nhất định.
    • Những người làm việc theo hợp đồng lao động với một thời gian nhất định ( thường là một năm trở lên ) trong các doanh nghiệp , các cơ quan đoàn thể, các đơn vị hành chính sự nghiệp ( nhưng không phải là viên chức và công chức).

    Những công chức, viên chức Nhà nước; những người lao động độc lập không có chủ ; những người làm thuê theo mùa vụ thường không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Bởi vì , hoặc là họ được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm lâu dài nên khả năng thất nghiệp thấp, hoặc là những người khó xác định thu nhập để xác định phí bảo hiểm, thời gian làm việc ngắn, công việc không ổn định , thời gian đóng phí bảo hiểm không đủ . Về

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    phía người sử dụng lao động, họ cũng có trách nhiệm đóng góp BHTN cho người lao động mà họ sử dụng .Vì rủi ro việc làm trong một chừng mực nào đó xuất phát từ phía người sử dụng lao động. Như vậy , đối tượng tham gia BHTN hẹp hơn rất nhiều so với BHXH.

    • Rủi ro thuộc phạm vi BHTN là rủi ro nghề nghiệp , rủi ro việc làm. Người lao động tham gia BHTN bị mất việc làm họ sẽ được hưởng trợ cấp BHTN. Điều kiện để được hưởng trợ cấp BHTN khá chặt chẽ:
    • Người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm trong một thời gian nhất định
    • Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động;
    • Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm kiếm việc làm tại Cơ quan lao động có thẩm quyền do Nhà nước quy định;
    • Phải sẵn sàng làm việc;
    • Có sổ BHTN để chứng nhận có tham gia đóng phí BHTN đủ thời hạn quy định.

    Những người thất nghiệp nặc dù có đóng BHTN nhưng không được hưởng trợ cấp khi họ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật , bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động hoặc từ chối không đi làm việc do cơ quan lao động việc làm giới thiệu…Để được hưởng trợ cấp BHTN , người lao động phải có một thời gian nhất định đã tham gia đóng góp vào quỹ BHTN – thời gian dự bị. Việc đặt ra thời gian dự bị có nhiều tác dụng. Một mặt nó đảm bảo rằng, chỉ có những người thường xuyên tham gia hoạt động kinh tế mới được xem như bị mất thu nhập thực sự do bị thất nghiệp, còn đối với những người chưa từng có việc làm, chưa có thu nhập , không được coi họ là những người bị thiệt hại về thu nhập. Mặt khác, thông qua thời gian dự bị , quỹ BHTN có thể đảm bảo số đóng góp của mỗi người lao động đạt tới một mức tối thiểu trước khi xảy ra thất nghiệp. Điều này sẽ tích cực góp phần cân đối quỹ tài chính BHTN.

    1. d. Qũy BHTN và mức trợ cấp BHTN.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Qũy Bảo hiểm thất nghiệp.

    Là một quỹ tài chính độc lập tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.

    Qũy được hình thành chủ yếu từ nguồn sau đây:

    • Người sử dụng đóng góp.
    • Người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng góp.
    • Nhà nước bù thiếu.

    Ngoài ra còn đươc bổ sung bởi lãi suất đầu tư đem lại từ phần quỹ nhàn rỗi ( vì quỹ BHTN thường được cân đối thu chi trong năm kế hoạch ). Cũng như BHXH , người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và người sử dụng lao động đóng góp bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tiền lương và tổng quỹ lương.

    Hầu hết các quốc gia quy định mức đóng góp bảo hiểm thất nghiệp trong hoạt động tài chính để đảm bảo an toàn và chắc chắn cho quỹ hoạt động.

    Qũy BHTN nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia và số người tham gia BHTN. Tỷ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động phụ thuộc chủ yếu vào tủ lệ thất nghiệp, mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN cũng như nội dung sử dụng quỹ.

    Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ số giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động. Lực lượng lao động phải được xác định thống nhất với nội dung của đối tượng và phạm vi bảo hiểm. Còn số người thất nghiệp được xác định thông qua điều tra hay dựa vào số liệu thống kê những người đã đăng ký thất nghiệp. Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp thường xuyên biến động, vì thế nó là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia BHTN cũng như sự hỗ trợ của Nhà nước. Sự hỗ trợ của nhà nướccho quỹ BHTN là không thể thiếu, bởi vì thất nghiệp là một vấn đề mang tính xã hội rộng lớn. Nhà nước không chỉ ban hành chính sách , mà còn phải quan tâm đến việc thực hiện chính sách, bằng cách trích một khoản ngân sách đáng kể hỗ trợ quỹ BHTN. Mặc dù chỉ hỗ trợ một phần nhưng Nhà nước có một nguồn quỹ rất lớn để khắc phục tình trạng thất nghiệp , từ đó góp phần ổn định xã hội. Mặt

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    khác, nhiều khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh , lao động bị thất nghiệp nhiều không hẳn tại doanh nghiệp hay người lao động mà tại nhà nước, do nhà nước thay đổi chính sách kinh tế , do quản lý thị trường yếu kém và tiền vốn cấp phát không kịp thời v.v…Vì vậy, Nhà nước cũng phải tham gia đóng góp vào quỹ BHTN . Nhà nước có thể tham gia theo một trong hai hình thức sau:

    • Thứ nhất, đóng góp thường xuyên thông qua việc trích ngân sách hỗ trợ qũy BHTN.
    • Thứ hai là, Nhà nước chỉ tham gia với tư cách là người bảo hộ khi đóng góp của người lao động và người lao động và người sử dụng lao động không đủ bù đắp các khoản chi hoặc khi quỹ BHTN có những biến động lớn do lạm phát…

    Mức độ tham gia đóng góp vào quỹ BHTN trong những năm gần đây của một số nước thực hiện BHTN cũng rất khác nhau. Có nước quy định người lao động , người sử dụng lao động và Nhà nước đóng góp như nhau. Ngoài ra còn có những nước quy định người sử dụng lao động đóng gấp đôi người lao động, nhà nước chỉ tiến hành bù thiếu.

    Qũy BHTN được sử dụng chủ yếu để chi trả trợ cấp BHTN . Ngoài ra nó còn được sử dụng cho các hoạt động nhằm đưa người thất nghiệp mau chóng trở lại vị trí làm việc ( như : đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho người lao động; chi phí tìm kiếm và môi giới việc làm,…); Chi cho tổ chức hoạt động BHTN…

    • Mức trợ cấp BHTN.

    Về nguyên tắc mức trợ cấp thất nghiệp phải thấp hơn thu nhập của người lao động khi đang làm việc. Việc xác định mức trợ cấp phải dựa trên cơ sở đảm bảo cho người thất nghiệp đủ sống ở mức tối thiểu trong thời gian không có việc làm, đồng thời sao cho họ không thể lạm dụng để muốn hưởng trợ cấp hơn là đi làm. Vì vậy, hầu hết các nước đã triển khai BHTN , đều dựa trên những cơ sở sau đây để xác định mức trợ cấp thất nghiệp .

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Mức lương tối thiểu ;
    • Mức lương bình quân cá nhân;
    • Mức lương tháng cuối cùng trước khi bị thất nghiệp.

    Dựa vào mức lương nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, nhưng mức lương nào dùng để xác định mức trợ cấp thất nghiệp cũng là mức lương làm căn cứ đóng phí BHTN . Theo ILO , mức trợ cấp BHTN tối thiểu bằng 45% thu nhập trước khi thất nghiệp.

    • Thời gian hưởng trợ cấp BHTN

    Thời gian hưởng trợ cấp BHTN tối đa phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố tài chính, vào quỹ bảo hiểm và thời gian tham gia BHTN , ngoài ra còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế – xã hội. Trong các thời kỳ mà tỷ lệ thất nghiệp thấp, người lao động có khả năng tìm kiếm được việc làm và có nhiều ngành nghề, mức cầu về lao động còn có khả năng thu hút dễ hơn, thì thời hạn hưởng trợ cấp sẽ hạ thấp xuống. Ngược lại, vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, số người thất nghiệp gia tăng thì thời hạn hưởng được kéo dài, nhưng cũng chỉ có thể kéo dài trong phạm vi quỹ BHTN có thể chịu được.

    Cụ thể, người lao động thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp trong một thời gian ngắn, sau đó có việc làm sẽ ngừng hưởng trợ cấp vì họ đã có lương. Thời hạn hưởng trợ cấp tối đa phải được quy định cụ thể, nếu quá thời hạn tối đa mà người thất nghiệp chưa có việc làm vẫn phải ngừng trợ cấp và khi đó họ có thể được trợ giúp từ phía xã hội.Nhìn chung, các nước thường quy định thời hạn trợ cấp tối đa từ 12 đến 52 tuần ( từ 3 tháng đến 1 năm).Thời hạn tạm chờ từ 3 đến 7 ngày đầu thất nghiệp không được hưởng trợ cấp. Điều này làm giảm nhẹ tài chính cho quỹ bảo hiểm và đơn giản hóa khâu quản lý trong trường hợp thất nghiệp ngắn ngày.

    Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế – xã hội, là vấn đề nan giải đối với mỗi quốc gia. Để khắc phục và đẩy lùi hiện tượng thất nghiệp các nước đã có nhiều biện pháp và chính sách cụ thể. Song BHTN vẫn luôn được coi là chính

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    sách hữu hiệu mang tính chiến lược lâu dài. Việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước.

    2. Thất nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay

    Phát triển kinh tế là nhân tố quan trọng để phát triển các ngành kinh tế lên trình độ sản xuất hiện đại , nâng cao tốc độ tăng trưởng , tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh ở nước ta. Hàng năm nền kinh tế thị trường tạo ra khoảng 1,3-1,45 triệu việc làm , trong đó số việc làm từ nông nghiệp chiếm 38%. Bên cạnh những mặt tích cực , quá trình chuyển dịch kinh tế ở góc độ nhất định cũng làm nảy sinh thất nghiệp. Có thể xem xét vấn đề này ở các giác độ sau:

     

    Tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với đầu tư và tạo thêm việc làm.Hệ số co giãn việc làm theo GDP của nền kinh tế nước ta giai đoạn 1991-2000 là 0,33% , đây là con số tương đối thấp, trong khi đó Đài Loan là 0,67% giai đoạn 1958-1972. Các nước như: Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, Singapore… giai đoạn đầu công nghiệp hóa, cơ cấu lại kinh tế, có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm rất cao và duy trì được tủ lệ thất nghiệp dưới 3%(các năm 1976-1986 tăng trưởng kinh tế bình quân /năm của Malaixia là 15,54%, Thái Lan 21,59%…).Có thể nói, đảm bảo kích thích tăng trưởng đầu tư, tăng trưởng kinh tế để nâng cao mức cầu lao động, đặc biệt là cầu lao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ là một trong những yếu tố rất cơ bản để khống chế tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Ở nước ta , thất nghiệp xảy ra phổ biến hơn ở khu vực thành thị và trở thành vấn đề xã hội khá bức xúc của các thành phố lớn.

     

    Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị qua các năm

    Năm 1996 1998 1999 2000 2001 2002 2003
                   
    Tỷ   lệ 5,88 6,85 7,4 6,42 6,28 6,01 5,6

    (%)

    (Nguồn : Bộ lao động thương binh – xã hội )

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Qúa trình cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, với việc thực hiện các hình thức cổ phần hóa, giao, khoán, bán, cho thuê, giải thể nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động, khả năng cạnh tranh, đã dẫn đến đổi mới lao động trong DN thuộc các ngành nghề. Các năm 1999-2000 lao động thất nghiệp trong khu vực DN nhà nước chiếm khoảng 7,2% tổng số lao động của khu vực này, bao gồm lao động của các DN bị phá sản, giải thể, DN chuyển đổi sở hữu, cơ cấu lại. Đồng thời , phần lớn hợp tác xã kiểu cũ chuyển đổi hình thức sở hữu hoặc giải thể và xã viên mất việc làm, bổ sung bào đội ngũ thất nghiệp, tác động đến quan hệ cung- cầu lao động trên thị trường lao động.
    • Để tăng cường khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, DN, các thành phần kinh tế đã thực hiện các giải pháp như : đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng lao động, cơ cấu lại sản phẩm và tổ chức lại sản xuất , nâng cao trình độ quản lý , kết quả dẫn đến biến động lao động, một bộ phận bị đưa ra khỏi dây chuyền sản xuất kinh doanh, trở thành thất nghiệp. Số liệu khảo sát thị trường lao động gần đây cho thấy, tại Bình Dương các năm gần đây tỷ lệ lao động rời DN là 18,68%, con số tương tự này tại Cần Thơ : 8,97%, Đồng Nai : 12,92%, TP.HCM: 22,66%, Hải Phòng 9,4%. Xu hướng thất nghiệp này xảy ra thường xuyên, với biên độ cao hơn trong giai đoạn đầu tham gia mạnh mẽ vào quá trình tự do hóa thương mại, toàn cầu hóa kinh tế.
    • Trong các năm phát triển kinh tế thị trường, tốc độ tăng lực lượng lao động của nước ta khoảng 2,7-2,8%/năm trong khi tốc độ tăng việc làm là 2,3-2,4%/năm. Ở khu vực thành thị, với nức cung lao động cao hơn so với cầu lao động là nguyên nhân của một bộ phận lao động không tìm kiếm được việc làm trên thị trường lao động và trở thành thất nghiệp. Trong đó, đại bộ phận là lao động lần đầu bước vào tuổi lao động, chưa qua đào tạo, không có kỹ năng nghề nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế với xu hướng tất yếu là thu hẹp dần số việc làm giản đơn và phát triển số việc làm kỹ thuật, việc làm có năng suất lao động cao. Các ngành : công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, du lịch,

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    tài chính, ngân hàng, công nghiệp chế biến…và các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất có nhu cầu lao động kỹ năng lớn, nhưng thực tế gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động. Nguyên nhân là do tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thành thị thấp, năm2002 là34,03% (nông thôn 5,74%) và bất cập về chất lượng đào tạo, một bộ phận lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động. Do đó, đa số lao động thất nghiệp trên thị trường lao động thành thị là lao động giản đơn.

    Thất nghiệp cơ cấu : chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy một bộ phận lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong thời gian đổi nghề đã xảy ra tình trạng thất nghiệp cơ cấu. Lao động thất nghiệp do cơ cấu thuộc loại này có xu hướng tìm việc làm mới tốt hơn, mức tiền công cao hơn trên thị trường lao động kể cả việc di chuyển đến các vùng khác và đặc biệt là dòng di chuyển lao động nông thôn ra thành thị. Các năm 1990-1998 qui mô di chuyển lao động nông thôn- thành thị phạm vi toàn quốc 70-90 nghìn người / năm. Di chuyển lao động nông thôn – thành thị có vai trò quan trọng trọng trong cung ứng lao động rút ra khỏi ngành nông nghiệp cho sự phát triển của các ngành nghề có hàm lượng kỹ thuật cao, các ngành nghề mới và sự phát triển của các khu vực kinh tế tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài, khu công nghiệp, khu chế xuất, kích thích sự hoạt động sôi động của thị trường lao động. Các năm qua , khoảng hơn 22% lao động nông thôn thay đổi nghề, có mức thu nhập bình quân tăng 30-50% so với các hoạt động trước đó. Một số khu chế suất, khu công nghiệp tập trung thu hút trên 70% lao động di chuyển từ nông thôn đến ( khu công nghiệp Đồng Nai, Bình Dương, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Ninh,…) nhưng bên cạnh đó là tình trạng thất nghiệp cơ cấu diễn ra phổ biến.

    Thất nghiệp tự nguyện: bao gồm những người không muốn làm các công việc có mức lương thấp và những người ẩn náu trong các công việc nội trợ gia đình do các mức tiền công thấp không đủ sống. Thất nghiệp tự nguyện có khuynh hướng gia tăng , năm 1998 khoảng 4.8 triệu người và năm 2003 có

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    khoảng 2,547 triệu người làm nội trợ và 4,414 triệu người không có nhu cầu làm việc chiếm hơn 7% lao động từ 15 tuổi trở lên. Số liệu điều tra cho thấy, có tới 40-50% số lao động này muốn tìm việc làm , nhưng không tìm được việc làm phù hợp, đây cũng là nguồn cung lao động tiềm năng cho thị trường lao động.

    Ngoài ra, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn tồn tại thất nghiệp do nguyên nhân bất cập của hệ thống đào tạo.Đó là việc đào tạo theo ngành nghề chưa phù hợp với nhu cầu , tín hiệu của thị trường lao động.

    III.CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

    1.Thực trạng hỗ trợ người thất nghiệp

     

    Một mặt Nhà nước ban hành nhiều chính sách vĩ mô về phát triển kinh tế nhiều thành phần : chính sách đất đai, thuế, tài chính tiền tệ, tín dụng, tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế hộ gia đình, trang trại hộ gia đình, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất…hướng vào tạo ra bầu không khí đầu tư lành mạnh cho toàn xã hội phát triển kinh tế, tạo mở việc làm, sử dụng tốt các tiềm năng lao động xã hội.

    Bộ luật lao động được ban hành và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995 đã quy định cụ thể những chế độ liên quan tới lao động bị mất việc làm bao gồm:

    • Điều 17 quy định: Do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ làm cho người lao động làm việc thường xuyên trong các doanh nghiệp từ 1 năm trở lên bị mất việc thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đào tạo lại để họ có thể tiếp tục làm việc thì doanh nghiệp phải trợ cấp mất việc làm, mỗi năm làm việc trả một tháng lương, thấp nhất là hai tháng lương.
    • Điều 42 quy định: Đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan tổ chức từ một năm trở lên người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương nếu có.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tiếp theo. Trong đó, Chính phủ quy định những biện pháp cụ thể nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi và cơ hội có việc làm nhiều hơn cho những người thất nghiệp hoặc người đến tuổi lao động nhưng chưa tìm thấy việc làm. Đây là Nghị quyết đánh dấu sự thay đổi mới căn bản trong lĩnh vực lao động việc làm phù hợp với cơ chế thị trường và lần đầu tiên Qũy quốc gia về giải quyết việc làm đã được thành lập với nhiều nguồn quỹ khác nhau ( từ ngân sách nhà nước, từ Hợp tác quốc tế và sự đóng góp củă dân), cùng với hệ thống trunh tâm xúc tiến việc làm cũng ra đời và phát triển nhanh chóng. Nghị quyết 120/HĐBT thực sự trở thành bà đỡ trong cơ chế thị trường giúp người thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn và nhóm xã hội yếu thế có cơ hội tìm kiếm việc làm trong cơ chế thị trường.

    Những chính sách và biện pháp thực hiện trong những năm qua đã góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tìm hoặc tạo việc làm mới, hòa nhập trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên trong thực tế còn một số lượng khá lớn người lao động sau khi thôi việc họ cũng không tìm được việc làm.Do vậy đây là áp lực rất lớn cho xã hội.

    Trên thế giới đã có nhiều nước áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp và đạt được thành tựu lớn như Trung Quốc,Mông Cổ…Nhận thức rõ về tác hại về tình trạng thất nghiệp và những nhược điểm của những chính sách đã thực thi, Đảng và Nhà nước ta đang chuẩn bị ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

    2.Chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong tương lai

    Theo dự thảo mới nhất Luật BHXH, chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ được đưa vào một mục thuộc chương 1 về BHXH bắt buộc.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ bao gồm người lao động làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ 1 năm trở lên hoặc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

    Khi người lao động đã đóng phí bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên và mất việc 30 ngày trở lên mà chưa có việc làm nếu có đơn sữ được cấp một khoản trợ cấp thất nghiệp. Cùng với khoản trợ cấp được hưởng, người lao động sẽ được giới thiệu việc làm, đào tạo lại nghề phù hợp nếu có yêu cầu. Chế độ này không áp dụng đối với các công chức nhà nước, sỹ quan, quân nhân phục vụ quân đội.

    Theo ông Đặng Anh Duệ, Phó Vụ trưởng Vụ BHXH ( Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội )qua khảo sát ý kiến của các chuyên gia và phân tích tỷ lệ đóng BHXH, mức đóng BHTN được đưa ra là 3% tiền lương tháng của người lao động, trong đó doanh nghiệp sẽ đóng 2% còn người lao động đóng1%.

    Về mức hưởng BHTN có hai quan điểm, thứ nhất là tỷ lệ hưởng của người lao động phụ thuộc vào thời gian đóng quỹ. Quan điểm thứ hai cho rằng nên quy định số tiền cụ thể để chi trả cho tất cả những người lao động. Mức này cao nhất là tiền lương tối thiểu hiện hành.Theo ông Bùi Văn Rự – Vụ chính sách lao động việc làm – Bộ LĐ-TB-XH: với mức hưởng là 60% lương, trong khoảng từ 6 đến 18 tháng thì tỷ lệ đóng là 3,6%.Nếu người sử dụng lao động và người lao động đóng bằng nhau thì tỷ lệ đóng là 1,8%.Nếu người sử dụng lao động đóng 2/3 thì tỷ lệ này sẽ là 2,4% và 1,2%.

    Việc thi hành chế độ bảo hiểm xã hội có hiệu quả hay không còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố: xác định chính xác người được hưởng, sự tham gia của người lao động và người sử dụng lao động, quy mô quỹ BHTN…

    Hiện nay, BHTN đang được thí điểm tại TP.HCM và Đồng Nai.

    3. Một số vấn đề bàn cãi về việc thi hành chính sách BHTN.

    • Thực hiện thống kê nguồn lao động : Để có thể thực hiện được công tác giải quyết thất nghiệp, tạo việc làm thì trước tiên cần thiết là phải nắm bắt

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    được vấn đề cần phải giải quyết( cả về số lượng và chất lượng ). Đó là nhiệm vụ của công tác kiểm kê, kiểm soát nguồn lao động. Vì nó là điều kiện tiên quyết trong công tác giải quyết thất nghiệp và việc làm hay thiết lập chính sách BHTN.

    Vấn đề quản lý được lao động thất nghiệp, xác định số người thất nghiệp/năm. Vì hiện nay thực chất chưa có con số chính xác về lao động thất nghiệp và chưa có cơ quan quản lý hiệu quả vì các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả thì có số lượng công nhân làm theo mùa vụ và nghỉ việc nhiều nhất.

    Chính sách BHTN phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển, cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

    Vì vậy việc xác định số lượng người thất nghiệp ở nước ta vẫn chưa chính xác, do đó việc thi hành chính sách BHTN còn rất khó khăn.

    • Đối với người lao động , BHTN là một phần hỗ trợ khi họ gặp rủi ro mất việc làm. Nhưng để được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì họ phải đóng phí BHTN trong một thời gian nhất định, mà người lao động không hưởng ứng vấn đề này lắm. Mặt khác thì việc đóng phí BHTN thường xuyên trong một thời gian đối với người lao động mùa vụ là rất khó khăn , mà đây là đối tượng có khả năng thất nghiệp cao nhất

    Việc xác định đối tượng hưởng BHTN, thời gian hưởng BHTN, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp cần phải chính xác nếu không sẽ gây ra tình trạng người lao động sẽ dựa vào đó mà không tích cực làm việc và đi tìm việc. Điều đó sẽ gây khó khăn cho việc quản lý của Nhà nước.

    • Đối với người sử dụng lao động , việc thi hành BHTN thì họ phải bỏ ra một khoản tiền để đóng vào quỹ BHTN , do đó sẽ thêm một phần chi phí sản xuất kinh doanh mà họ không muốn một chút nào. Do đó nếu việc quản lý không chặt sẽ có nhiều doanh nghiệp sẽ chốn khoản đóng góp này.
    • Đối với Nhà nước thì phải chi một phần ngân sách cho hoạt động BHTN nhưng cũng phần nào khắc phục được tình trạng thất nghiệp.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Vì vậy phải cân nhắc giữa những mặt tốt và hạn chế của việc thi hành chính sách BHTN.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    KẾT LUẬN

    Hiện nay,dưới tác động của khoa học kỹ thuật và toàn cầu hóa nên tình trạng thất nghiệp đang có xu hướng trầm trọng, vì vậy cần có những chính sách giải quyết vấn đề này. Việc xây dựng một chế độ bảo hiểm đang có nhiều khả thi và đang được nhiều nước áp dụng.Tuy nhiên việc ban hành chính sách này còn nhiều vấn đề bàn cãi, nhất là đối với Việt Nam có một lực lượng lao động khó kiểm soát.Vì vậy việc ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam là cần đến khi thời điểm thích hợp thực hiện, để đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước rủi ro thất nghiệp, giúp họ yên tâm sản xuất đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời cũng góp phần đảm bảo an toàn xã hội, thể hiện vai trò của Nhà nước đối với người lao động. Do vậy việc nghiên cứu để ban hành chính sách Bảo hiểm thất nghiệp là rất quan trọng, nhất là trong thời kỳ nền kinh tế nước ta đang có sự chuyển dịch,lao động trong nền kinh tế đang không ổn định,

    Việc đưa BHTN vào hệ thống BHXH là một bước hoàn thiện mới trong vấn đề xử lý tình trạng thất nghiệp và cũng đưa nước ta hòa nhập với các nước trên thế giới , tiếp tục sự nghiệp toàn cầu hóa nền kinh tế.

    Mặc dù hiện nay vẫn chưa thi hành chính sách BHTN , cùng với việc thí điểm tại TP.HCM và Đồng Nai , tôi mong rằng bài viết của mình sẽ được tham khảo để chính sách BHTN sớm được thi hành.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nguyễn Văn Định : Giáo trình kinh tế Bảo Hiểm – NXB Thống Kê 2004
    2. Giáo trình Kinh tế Lao Động ( Khoa Lao Động và Dân số -ĐHKTQD )
    1. Bùi Văn Rự- Bộ Lao động TB- XH : Định hướng Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
    2. Tạp chí :

    -Lao động xã hội – số 228+229 (12/2003)

    • KT&PT- số 48/2001
    • TTLĐ số 04/2001
    • BHXH số 02/2001
    1. http:// VNECONOMY.com.vn cập nhật ngày 05/05/2004
    1. Tác giả: Nguyễn Trần Quế : Chuyển dịch cơ cấu Kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21

    NXB : Khoa học xã hội.

    1. Ngành Bảo hiểm VN trước thềm hội nhập 2/2003
    1. Bộ luật lao động Việt Nam được bổ sung sửa đổi 1994
    1. Các nghị định chính phủ.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ án Bảo hiểm

    Đồ án Bảo hiểm

    Đồ án Bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    KHÁI NIỆM BẢO HIỂM: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.

    Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng.

    TÍNH CẦN THIẾT CỦA CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM:

    + SỞ LÝ LUẬN: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu của nhu cầu được bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện vọng của con người muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tương lai được đảm bảo. Theo thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất của con người nhưng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi người ta lầm tưởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhưng quyết định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I. Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu dùng và tiết kiệm. Người ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy con người ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các dịch vụ bảo hiểm là một tất yếu.

    + SỞ THỰC TIỄN: Tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp

    rủi ro. Hiện nay, trên thế giới có hơn 700000 người chết, hơn 10.000.000 người bị thương do tai nạn giao thông, thiệt hại kinh tế toàn cầu là 5000 tỷ đô la. Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc

    • các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á,…vẫn luôn thường trực xảy ra, đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người. Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người, thiên tai như lũ lụt, bão, động đất ngày càng hoành hành dữ dội tại nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp… Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng. Những năm gần đây, thị trường các lĩnh vực đầu tư khác rất bất ổn. Các thị trường chứng khoán New York , London, Paris…

    luôn chao đảo bởi sự kiện khủng bố ngày 11.9.2001, sự kiện phá sản của các tập đoàn Enron, bê bối tài chính của Worldcom, thảm hoạ tài chính của Vivendi… Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm. Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và phát triển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm trên thế giới.

    • Việt Nam cũng có rất nhiều nguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người. Theo thống kê, năm 2000 xảy ra 22.486 vụ tai nạn, tăng 8,5% so với năm 1999. Trong đó làm chết 7500 người, tăng 12.4% so với năm trước, số người bị thương là 25.400 người, tăng 6.2%. Đặc biệt tỷ lệ tai nạn giao thông đang tăng ở mức độ báo động do số lượng các phương tiện giao thông vận hành trên các đường phố ngày càng nhiều. Tai nạn do những người điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn, do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phương tiện còn lại gây ra khoảng 11,4%. Các hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên

    hơn, mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi người luôn luôn lo lắng cho cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những người xung quanh. Chính nhu cầu được bảo hiểm của con người là cơ sở cho sự ra đời của bảo hiểm.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Trong bài viết này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

    Phương pháp phân tích: Dựa vào các bài báo sưu tầm được, em phân tích để thấy được các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.

    Phương pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này được tổng hợp từ nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.

    Phương pháp thống kê: nhờ có phương pháp thống kê, em có thể tổng kết được các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phương pháp khác: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp mô hình hóa…

    NỘI DUNG: Đề án bao gồm các nội dung sau:

    Chương 1: Lý luận chung.

    Chương 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.

    Chương 3: Giải pháp.

    II.NỘI DUNG:

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM:

    Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro bất trắc có thể xảy ra. Sau này con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá nhân. Vào những năm 2.500 TCN ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. Khi thương nghiệp phát triển, các thương gia, thay vì tự tích cóp, người ta có thể vay tiền để đủ tiền cho một chuyến hàng. Vay cũng là một hình thức tự bảo hiểm khi họ cần những khoản chi tiêu đột suất. Ở Babylon (năm 1700 năm TCN) và ở Athen (năm

    • TCN) đã xuất hiện hệ thống vay mượn lãi suất cao. Tuy nhiên hình thức này có thể dẫn tới những khoản nợ chồng chất do lãi suất cao. Vì vậy, sau này đã xuất hiện hình thức góp cổ phần. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho một người vì nó được chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên những người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian để tìm đối tác, phải dàn xếp, thoả thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Những hạn chế của các biện pháp tự bảo hiểm đã tạo điều kiện cho hình thức bảo hiểm ra đời. Những thoả thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán bằng đường biển. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa- Italia vào năm 1347. Như vậy bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm.

    Khi xã hội phát triển, các hình thức cổ truyền không còn đảm bảo an toàn cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng nữa do vậy các loại bảo hiểm khác đã ra đời. Năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại Anh. Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công bảo hiểm nhân thọ đầu

    tiên ra đời tại Anh. Cuối thế kỷ 19 hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã ra đời như: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…

    1.2 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

    1.2.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM

    Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông: Quy luật này giúp các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

    Thứ nhất, là đối với người tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.

    Đối với người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.

    Nguyên tắc “nguyên nhân gần”: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi

    thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba gây ra.

    Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    1.2.2) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM CƠ BẢN

    Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM).

    a)bảo hiểm xã hội: BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại: thứ nhất, BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan hành chính sự nghiệp. Thứ hai, bảo hiểm chỉ giới hạn trong 5 chế độ chi trả đã kể trên, và trong mỗi chế độ đó còn hạn chế phạm vi được bảo hiểm.. Thứ ba, mức độ chi trả BHXH hiện nay vẫn còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của người lao động. Thứ tư, thủ tục chi trả chế độ

    BHXH còn mang tính quan liêu, hành chính … gây khó khăn cho người lao động.

    b)Bảo hiểm y tế: Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mục đích kinh doanh. BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp: khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những người tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục được hạn chế của BHXH là: BHYT được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí khám bệnh, 20% còn lại người bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý BHYT vẫn còn rườm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh ngoại trú và chữa bệnh nội trú.

    c)Bảo hiểm thương mại: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

    *) bảo hiểm nhân thọ: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp

    đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty

    *) bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

    Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung (xem 1.2.2), BHPNT còn có các đặc trưng chủ yếu sau:Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra.

    CHƯƠ NG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH BẢO HIỂM XHVN:

    2.1.1) NGUỒN THU:

    BHXH Việt nam là một quỹ BHXH được quản lý thống nhất và sử dụng để chi trả 5 chế độ BHXH (xem phần 1.2.4). Trong quá trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện cả theo 2 mô hình: nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia của giới chủ và giới. Theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ về việc ban hành điều lệ quy định: đối tượng tham gia BHXH được mở rộng cho cả những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng từ

    • lao động trở lên. Cũng theo quy định này, quỹ BHXH được hình thành

    từ: sự đóng góp của người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương. Số dư BHXH năm 2002 là 25.000 tỷ đồng. Số người tham gia BHXH năm 2002 là 4,8 triệu người. Ngoài ra, BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư. Lãi thu từ đầu tư của quỹ BHXH năm 2002 là 1.100 tỷ đồng.

    2.1.2)CHI:

    Từ nguồn thu nói trên quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí. Số người được hưởng chế độ BHXH năm 2002 khoảng 190.950 người. Đó là chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH từ sau 1/1/1995, vì những đối tượngvề hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ BHXH tồn tích của những năm trước để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm 2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.

    Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp được sử dụng để chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hưu trí và tử tuất. Nâng cao mức sống của những người lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.

    Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng trưởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.

    2.2) THỰC TRẠNG NGÀNH BHYT:

    Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)

    chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau:

    • Số người tham gia bảo hiểm tuy có xu hướng tăng nhanh:

    Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả rất quan trọng . Số người tham gia BHYT tăng nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nước. Ngoài khu vực BHYT

    Sè ng−êi tham gia BHYT ®Õn n¨m 2002

    15       12.7
        9.7  
    10      
      3.8    
          Sè ng−êi (triÖu)
    5 0    
         
           
    0 1992 1993 1998 2002
     

    bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu người đang tham gia các chương trình BHYT xã hội tự nguyện

    • sử dụng quỹ BHYT

    Nhiều năm qua, nguồn thu BHYT đã gần bằng 1/3 Ngân Sách Nhà nước dành cho ngành y tế và 50% Ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị. Trên 90% bệnh nhân chạy thận chu kỳ tại các trung tâm lọc máu là người có thẻ BHYT.

    Hàng năm thanh toán quỹ BHYT cho hàng ngàn người mắc bệnh, với chi phí tới hàng chục triệu đồng một người. Ngoài những dịch vụ y tế thiết yếu ,người có bảo hiểm BHYT còn được quỹ BHYT thanh toán chi phí cho các dịch vụ y tế kỹ thuật cao như các kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh hiện đại (siêu âm màu ,chụp ảnh cắt lớp vi tính CT Scaner, cộng hưởng từ hạt nhân MRI…các phương pháp điều trị chi phí cao (thận nhân tạo ,điều trị ung th-ư,mổ tim…)

    Hệ thống BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh đã phối hợp để tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được chăm sóc sức khoẻ ngay tại y tế tuyến xã. Đến cuối năm 2002, khoảng 50% trạm y tế xã trong toàn quốc đã tổ chức khám chữa bệnh thông thường cho người có thẻ BHYT.

    BHYT và các bệnh viện ở một số thành phố lớn đã triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận và khám bệnh, kê đơn cấp thuốc cho bệnh nhân BHYT. Quyền lợi bệnh nhân BHYT ngày càng được tăng cường và đảm bảo hơn.

    2.3) BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI:

    2.3.1 VIỆC HÌNH THÀNH NGÀNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

     

    Công ty hiểm Việt ngày nay.

    bảo hiểm đầu tiên được Nam (Bảo Việt)-tiền thân Bảo Việt được thành

    thành lập của tổng lập theo

    • Việt Nam là công ty bảo công ty bảo hiểm Việt Nam quy định số 179/CP ngày

    17/45/1964 của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá thành công trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    2.3.2) HỆ THỐNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    1. a) các công ty bảo hiểm nhà nước:

    Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình.

    *) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nước. Số vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng chiếm trên 2200 tỷ đồng.

    *) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Bảo Minh được thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh được thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.

    1. b) các công ty bảo hiểm cổ phần:

    *) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.

    1. c) các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:

    *) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi

    • công ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire insurance Co.-Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000 đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều

    cho cả hai công ty nước ngoài. Tính đến năm 2000 thị phần bảo hiểm của công ty chiếm 2%. Công ty VIA chỉ tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.

    *)công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG: Đây là công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Úc) và công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/1999 với thời hạn hoạt động 30 năm. Số vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 USD.

    1. d) Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife: đây là công ty 100% vốn nước ngoài liên doanh giữa tập đoàn Chinhfon-Đài Loan và tập đoàn Manulife-Canađa. Công ty liên doanh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/6/1999, có thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 đô la Mỹ. Lĩnh vực hoạt động là thị trường BHNT.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential: Đây là một công ty 100% vốn nước ngoài của Anh Quốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/10/1999. Vốn đăng ký kinh doanh 14.000.000 đô la Mỹ, hoạt động trong thời hạn 50 năm. Prudential có tốc độ khai thác tương đối tốt, chủ trương khuyến khích đại lý đi về các địa phương khai thác và tuyên truyền quảng cáo.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ (AIA): là một công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, đi vào hoạt động từ ngày 22/2/2000 với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.000.000 đô la Mỹ, có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Ngoài ra còn một số công ty bảo hiểm mới được cấp giấy phép kinh doanh như: công ty liên hiệp bảo hiểm UIC, công ty bảo hiểm Việt-Úc công ty bảo hiểm dầu khí, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Bưu, công ty môi giới bảo hiểm Bảo Việt-Inchcape, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Long, công ty

    Allianz, công ty 100% vốn nước ngoài Groupama-Gan hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp (cấp cuối năm 2001), công ty liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với một đối tác của Ôxtraylia đang chờ giấy phép thành lập…

    2.3.3) MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    1. a) Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:

    Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới, năm 1999 dân số Việt Nam vào khoảng 76 triệu dân. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó, mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không ngừng thay đổi và phát triển.

    Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn khoảng 6-

    • tỷ đô la, trong đó có khoảng 64% là nắm giữ dưới dạng bất động sản. Do đó nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.

    Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ đó nhu cầu bảo hiểm cũng tăng.

    Thứ tư, Việt Nam là dân tộc có truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần tương thân tương ái cũng chính là nội dung của bảo hiểm, vì vậy nét văn hoá Việt Nam chính là một thuận lợi của bảo hiểm.

    1. bảo hiểm Việt Nam đã có 1 hiệp hội riêng:

     

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam thống nhất thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam từ ngày 9/7/1999 theo quy định của bộ trưởng. Hiệp hội có 13 công ty thành viên gồm 7 công ty bảo hiểm Việt Nam, 3 công ty liên doanh,

    • công ty 100% vốn nước ngoài. Hiệp hội bảo hiểm thực hiện chức năng cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thực hiện quy chế tự quản, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
    1. BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ RIÊNG:

     

    Nhà nước Việt Nam đã có các thông tư hướng dẫn thi hành luật kinh

    doanh bảo hiểm bảo vệ lợi ích của người được bảo hiểm, người kinh doanh bảo hiểm và công chúng. Một số các luật và văn bản dưới luật về kinh doanh các loại hình bảo hiểm có thể được kể đến là:

    Luật dân sự ngày 9/11/1995 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ( mục 11, chương 2 từ điều 271 đến điều 584).

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 (bổ sung, sửa đổi ngày 9/6/2000) liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm tài sản và trách nhiệm với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam ( điều 28 chương 4)

    Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý khác như nghị định số 72/1998/NĐ-CP, nghị định số 92/1998/NĐ-CP, thông tư số 71/2001/TT-BTC, thông tư số 72/2002/TT-BTC … Đó chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

    2.3.4) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM:

    Các công ty BHTM là các công ty tài chính phi ngân hàng, do vậy nghiên cứu hoạt động của các công ty này chính là nghiên cứu hoạt động thu chi ngân quỹ của chúng.

    1. nghiệp vụ thu: phần lớn nguồn thu của các công ty BHTM được hình thành từ thu phí bảo hiểm, và một phần từ lợi nhuận từ đầu tư.

    *) Lĩnh vực BHNT:

    Trên thị trường BHNT có sự đua tranh sôi động của 5 công ty lớn đó là: công ty bảo hiểm Bảo Việt, Manulife, Prudential, Bảo Minh-CMG và AIA. Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT đã tăng lên đáng kể. Năm 2001 đạt 2.775 tỷ đồng chiếm 55% phí bảo hiểm toàn thị trường, đạt 0.55% GDP, năm 2002 đạt khoảng 4.500 tỷ đồng, năm 2001 tăng trưởng115.6% so với năm 2000, năm 2002 tăng trưởng 67,6% so với năm 2001. Như vậy, doanh thu phí BHNT chiếm 58,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường, đạt gần 1% GDP, phấn đấu đến năm 2005 đạt 2% GDP. Theo đánh giá, doanh thu phí BHNT có khả năng đạt 18.000 tỷ đồng vào năm 2007. Nếu tính theo số hợp đồng BHNT thì các con số cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh trong năm 2001 chỉ có khoảng 387.500 hợp đồng BHNT được ký kết và duy trì thì tính đến ngày cuối 2002 trên toàn thị trường có khoảng 2.346.700 hợp đồng BHNT đang có hiệu lực, đạt tốc độ tăng trưởng 19,41%.. Riêng công ty BHNT 100% vốn nước ngoài Prudential đã đạt được 1000000 hợp đồng vào cuối tháng 12 năm 2002. Bình quân cứ 25 người dân lại có 1 hợp đồng BHNT. Tuy nhiên những con số đạt được vẫn còn là khá khiêm tốn đối với một thị trường BHNT đầy tiềm năng như Việt Nam.

    *)Lĩnh vực BHPNT:

    Tốc độ tăng trưởng của BHPNT phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan: đó là tỷ lệ rủi ro và mức độ khốc liệt của nó. Năm 2002, tổng doanh thu ước đạt 3.180 tỷ đồng. Đánh giá hoạt động của ngành bảo hiểm Việt Nam người ta có thể đánh giá theo thị phần hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong năm 2002, trật tự của các công ty trên thị trường đã có sự thay đổi đáng kể. Nhóm thứ nhất gồm 4 công ty bảo hiểm đứng đầu về thị phần, nói chung không có sự thay đổi về vị trí nhưng thị phần của Bảo Việt đã giảm khoảng 9,5%, thị phần của PVIC tăng 7%. Nhóm 2 gồm 3 công ty bảo hiểm tiếp theo. Trong nhóm này đã có sự thay đổi vị trí Allianz đã bứt phá vị trí từ thứ 7 lên thứ 5, đẩy PTI và UIC xuống thứ 6 và thứ 7. Thị phần của

    các công ty bảo hiểm Việt Nam trong năm 2002 được thể hiện trong biểu đồ sau:

                A IA –              
                        B¶o Minh-    
           
        Manulife-       4.7%    
                      1.8%    
        12%                    
                   
                             
                             
                               
    c«ng ty                    
    kh¸c-               Prudential-
    18,2%                 34%    
                               

    B¶o ViÖt-

    39%

    PVJC-

    15,4%

    B¶o ViÖt-

    47.5%

    B¶o Minh-

    27,4%

     

    Thị phần của các công ty BHPNT

    năm 2002

    Thị phần của các công ty BHNT

    năm 2002

    Ngoài nguồn thu từ phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn có thể thu từ các hoạt động đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận ở thị trường Việt Nam thấp, nhưng với số lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, nên lợi nhuận thu từ đầu tư của các công ty bảo hiểm cũng tương đối lớn.

    b)Sử dụng vốn:

    Các công ty bảo hiểm huy động vốn bằng các bán các hợp đồng bảo hiểm và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:

    *) Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm: để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu. Đối với các công ty BHNT việc chi trả có tính chất dài hạn và tương đối ổn định, ngoại trừ 1 số rủi ro phát sinh. Trong năm 2002 đã có nhiều hợp đồng BHNT đáo hạn cộng với những rủi ro đối với khách hàng,

    tổng số tiền chi trả của các công ty BHNT Bảo Việt là 150 tỷ đồng. Đối với lĩnh vực BHPNT, việc chi trả diễn ra khá thường xuyên và không ổn định. Tình hình tổn thất xảy ra trong năm 2002 không có biến động lớn so với năm 2001, tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1.200 tỷ đồng, chiếm 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm.

    *) Nghiệp vụ đầu tư:

    Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước. Tổng kết năm 2002 cho thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm khá đa dạng và đảm bảo các nguyên tắc đầu tư là: đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng, danh mục đầu tư có khả năng sinh lời, công cụ đầu tư phải có khả năng thanh khoản cao. Danh mục đầu tư cho thấy tại Việt Nam mối quan hệ giữa ngân hàng và các công ty bảo hiểm rất gắn bó vì có đến 52,9% số vốn nhàn rỗi của các công ty được gửi tại các ngân hàng. Các khoản mục đầu tư khác là: góp vốn liên doanh: 7.2%, đầu tư bất động sản 6.8%, cho vay trực tiếp 4.7%, đầu tư trái phiếu 29.2%.

    Cùng với Bảo Việt, sự tham gia đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm đã góp phần đáng kể vào việc sớm hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm khá nhanh, trong giai đoạn từ 1996-2002 khoảng 125,3%/ năm làm cho thị trường vốn thêm sôi động:

    512.1 Tốc độ tăng vốn đầu tư trở lại nền kinh  
    tế của các doanh nghiệp bảo hiểm(%)  
     
         
    112.16 45.578 67.834 64.012 65.775
       

    9.6491

    1996          1997           1998            1999         2000           2001            2002

    Hoạt động đầu tư tài chính đã tạo nên phần lớn lợi nhuận cho các doanh nghiệp bảo hiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2002, Bảo Việt tham gia đầu tư vào dự án nhà máy xi măng Thăng Long tại Hoành Bồ, Quảng Ninh với tổng số vốn đầu tư xấp xỉ 350 triệu USD với tư cách là cổ đông sáng lập góp 30% vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có thể kể tới một số hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm khác như góp vốn vào quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây. Hiện nay, tổng nguồn dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể đầu tư 6000 tỷ đồng.

    Đánh giá một cách tổng quan, BHTM Việt Nam trong năm 2002 có mức tăng trưởng khoảng 48,5%. Năm 2003, mức tăng BHNT dự kiến khoảng 50%, mức tăng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam dự kiến ở mức 38% so với tổng phí với tổng phí bảo hiểm trên 10.590 tỷ đồng (băng 1,8% GDP năm 2003).

    2.3.5) NHỮNG TỒN TẠI CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

     

    Bên cạnh những tiến bộ của ngành bảo hiểm Việt Nam, chúng ta còn có thể nhận thấy những tồn tại của bảo hiểm Việt Nam.

    Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo hiểm còn ít. Số phí BHNT chỉ chiếm 1% GDP năm 2002 (rất nhỏ so với 4-5% GDP của các nước trong khu vực và 13-15% GDP ở các nước phát triển). Tỷ lệ người tham gia BHNT mới là 3% (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 100%). Phần đông dân chúng chưa hiểu rõ về nghiệp vụ bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm còn ở dạng sơ khai, một số sản phẩm bảo hiểm mới đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và dân cư.

    Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều sản phẩm mang tính tiết kiệm cao, được tính phí với lãi suất kỹ thuật cao trong khi lãi suất đầu tư thực tế có thể thấp hơn lãi suất đã đưa vào tính phí nên có thể các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai.

    Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn thiếu công cụ đầu tư dài hạn, gây khó khăn cho vấn đề tái đầu tư mở rộng vốn của các công ty bảo hiểm dẫn đến cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn ít nhiều bất hợp pháp hợp lý đem lại tỷ suất sinh lời không cao, khả năng mở rộng nguồn quỹ còn hạn chế.

    Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định chưa rõ rang, chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu lực thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan chức năng còn chưa cao.

    Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…Đặc biệt là hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang trở thành

    một loại tội phạm mới ở Việt Nam. Ví dụ như khai bảo không trung thực khi mua bảo hiểm, tai nạn rồi mới mua bảo hiểm. Công ty PJC đầu năm 2003 đang phải đối đầu với 2 vụ trục lợi bảo hiểm, đó là: vụ tại nạn tại đèo gió-Bắc Kạn và vụ đắm tàu cá Nam Hải tại Nam Định. Hai vụ việc này hiện đang được cơ quan công an làm rõ.

    Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của mình. Trong khi công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare mới chỉ bước đầu giúp các công ty bảo hiểm gốc đàm phán và thu xếp các hoạt động tái bảo hiểm trong năm 2002 cho các hoạt động bảo hiểm về năng lượng và hàng không. Hoạt động tái bảo hiểm mới chỉ chú trọng thu xếp các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm bắt buộc mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài về Việt Nam, và chưa quan tâm đến việc khai thác và nhận tái bảo hiểm tự nguyện.

    Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Thậm chí, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều cán bộ bảo hiểm câu kết với người tham gia bảo hiểm khai tăng tổn thất, khai sai lệch nguyên nhân gây ra tai nạn để rút tiền từ quỹ bảo hiểm, nhiều cán bộ còn có thái độ làm việc hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm, làm mất lòng tin của nhân dân.

    Trên đây mới chỉ là một số vấn đề nổi cộm còn tồn tại trong hệ thống BHTM Việt Nam. Để khắc phục các yếu kém này, cần phải có những cố gắng từ phía nhà nước và từ phía các công ty bảo hiểm.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO BHTM VIỆT NAM.

    3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:

    3.1.1) NHÀ NƯỚC CẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CƠ QUAN QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp luật cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời tiến hành quản lý giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển ổn định nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh… Trên cơ sở các luật đã đề ra, nhà nước cần tăng cường và bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ phận này cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng chuyên giám sát và quản lý từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

    3.1.2) TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM:

    . Trong những năm trước mắt, tối thiểu hiệp hội phải có 10 cán bộ chuyên trách giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ. Để thu hút được nhân tài thì cơ chế tài chính phải hợp lý, tiền lương của cán bộ công nhân viên hiệp hội tối thiểu phải bằng tiền lương bình quân của cán bộ các công ty thành viên. Đi liền với cơ chế tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của hiệp hội phải đủ mạnh để xử phạt các thành viên vi phạm. Mặt khác, các công ty là hội viên phải được hưởng một số ưu đãi từ chính sách quản lý của nhà nước để thu hút thành viên tham gia hiệp hội, đẩy lùi các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.1.3) CẦN CÓ CÁC CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH HIỂM

    Trước hết, đó là chính là chính sách hội nhập cho các doanh nghiệp bảo hiểm:

    Nói chung, mức độ mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài còn ít. Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng có rất nhiều ích lợi đến sự phát triển của ngành bảo hiểm. Nhà nước khi xây dựng chính sách mở cửa cần phải đảm bảo một số nguyên tắc như: mở cửa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng vẫn phải bảo vệ và phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, giữ ổn định về môi trường chính sách để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư, đặt quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong khuôn khổ hội nhập tài chính quốc tế Việt Nam.

    Thứ hai, nhà nước nên có các chính sách phát triển các đại lý bảo hiểm:

    Việt Nam cần có thêm những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu

    chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ đại lý bảo hiểm Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Khi quy định mức hoa hồng tối đa áp dụng cho toàn thị trường, nhà nước cần xác định mức hoa hồng của các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý và công bằng đồng thời tạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc chi trả hoa hồng.

    Thứ ba, nhà nước cần quan tâm đến lãi suất kỹ thuật của các công ty bảo hiểm: Nhà nước có thể đưa ra một mức lãi suất tham khảo để giúp các doanh nghiệp xác định được lãi suất kỹ thuật thích hợp đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai tránh trường hợp lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao, dẫn tới không cân đối được thu chi trong dài hạn.

    Thứ tư, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích đầu tư: Các chính sách như thực hiện ưu đãi thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư của doanh bảo hiểm đối với một lĩnh vực đầu tư cần khuyến khích như đầu tư vào thị trường chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, mua trái phiếu chính phủ… Nhà nước có thể chủ trương phát hành thêm các loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm, 25

    năm…để các doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội lựa chọn trong chiến lược đầu tư dài hạn.

    3.1.4) SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM:

    Người ta đã chứng minh được hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách thuế nếu có thể giảm thuế thu nhập một cách hợp lý. Người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương này là cố tổng thống Mỹ, Kennedy. Năm 1964, ông thực hiện giảm thuế thu nhập . Hiệu quả kinh tế xã hội ngay lập tức đã thể hiện sau đó: GDP tăng từ 5,3% từ năm 1964 lên 6% vào năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,7% năm 1963 xuống 4,5% năm 1965. Do vậy, để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà nước ta có thể miễn giảm một phần thu nhập đối với những cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ trước khi tính thu nhập chịu thuế cá nhân. Khi miễn giảm một phần thu nhập trước thuế khi tính thu nhập chịu thuế sẽ tác động mạnh đến tâm lý của người có thu nhập cao. Do đó, nhu cầu thực tế về bảo hiểm sẽ tăng, các công ty bảo hiểm có thêm nguồn thu phí. Từ đó sẽ tăng đầu tư trở lại nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển lâu dài.

    Nhà nước cũng nên thay đổi cả thuế thu nhập của đại lý bảo hiểm. Hiện nay quy định đánh thuế 5% trên hoa hồng của các đại lý dù hoa hồng. Thậm chí một số đại lý không đạt mức lương tối thiểu vẫn bị khấu trừ 5%. Thêm vào đó, để đạt được hoa hồng, đại lý bảo hiểm phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị… nên khi xác định thuế thu nhập cho đại lý cũng phải có cách xác định phù hợp.

    3.1.5) NHÀ NƯỚ C CẦN CÓ BIỆ N PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MÔI GIỚI.

    Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 công ty môi giới là AON-Inchinbrok và VIETQUOC. Song cả hai đều chưa thực hiện tốt được chức năng tư vấn cho các cá nhân và những doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Các công ty môi giới bảo hiểm Việt Nam thiên về sử dụng mối quan hệ với

    khách hàng ở góc độ này, góc độ khác để giới thiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm trả phí môi giới cao hơn. Do vậy, nhà nước tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty môi giới, quy định mức phí môi giới tương đối ngang bằng cho các công ty áp dụng. Hiệp hội bảo hiểm cũng phải tham gia quản lý các công ty môi giới để công ty môi giới là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng.

    3.2) GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP :

    3.2.1) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ:

    Các công ty bảo hiểm phải phát triển và cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp dịch vụ tổng hợp. Tức là, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm kèm theo các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ tư vấn tiêu dùng, tư vấn y tế, tư vấn luật… Đồng thời, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các loại sản phẩm dịch vụ, đưa ra nhiều mức phí bảo hiểm hợp lý phù hợp với các mức thu nhập.

    Các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm, khi cung cấp sản phẩm phải làm cho khách hàng thấy được ý nghĩa thực sự của sản phẩm, giúp họ thấy rõ sự khác nhau giữa bảo hiểm và các hình thức tiết kiệm khác như tiền gửi ngân hàng… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các kênh phân phối như: phân phối qua các tổ chức ngân hàng, các tổ chức tài chính, bán hàng qua internet, qua thư trực tiếp… Đặc biệt là sử dụng các đại lý. Đại lý bảo hiểm là một nghề mà thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào hoa hồng của những hợp đồng bán được. Các công ty bảo hiểm cần có các biện pháp để phát triển hệ thống đại lý, tạo điều kiện để các đại lý hoạt động có hiệu quả như: quy định mức phí phù hợp, phân bố mạng lưới các đại lý phù hợp, tránh chồng chéo thị trường, đào tạo nghiệp vụ cho các đại lý…

    3.2.2) CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ:

    Cán bộ bảo hiểm là người xây dựng uy tín, tên tuổi cho các doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, dạo đức nghề nghiệp, thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng… Để bảo hiểm có thể cung cấp cho thị trường những dịch vụ với chất lượng tốt, nâng cao uy tín của ngành.

    3.2.3) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ HỢP LÝ, DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÙ HỢP:

    Một chiến lược đầu tư đúng đắn sẽ có tác dụng làm tăng khả năng mang lại lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra, tăng khả năng chi trả cho người được bảo hiểm, nâng cao phúc lợi cho toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược đầu tư tài chính trong mỗi giai đoạn cho từng loại tài sản đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách linh hoạt trong các tài sản đầu tư.

    Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư. Các doanh nghiệp cần có 1 đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu về thị trường tài chính và đầu tư tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nên thành lập các định chế đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hay nắm giữ số cổ phần chi phối hay mua cổ phần trong những tổ chức đầu tư khác.

    Trong đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần xác định rõ nguồn vốn đầu tư cơ cấu lượng tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là khác nhau, luôn tồn tại 2 luồng tiền: ngắn hạn (phi nhân thọ) và dài hạn (nhân thọ), cần phải xác định rõ 2 luồng tiền này để có kế

    hoạch đầu tư đúng thời hạn, tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn luồng tiền ngắn hạn đầu tư dài hạn và ngược lại.

    3.2.4) HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác quản lý hoạt động kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí bảo hiểm, tăng cường khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức. Bởi vì, chỉ bằng cách này các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mới có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    3.2.5)CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜ NG HỢP TÁC GIÚP ĐỠ LẪN NHAU, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LĨNH VỰC KHÁC.

    Việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt: hợp tác đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ đại lý, xây dựng uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường…Các doanh nghiệp bảo hiểm cùng hợp tác phát triển.

    Tăng cường mối quan hệ giữa bảo hiểm với các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán: bảo hiểm và các ngân hàng thương mại (NHTM) đều là các tổ chức tài chính. Thực tế, trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng phát triển càng sự phát triển của bảo hiểm. Việc đầu tư của các NHTM chỉ có thể có hiệu quả và an toàn khi có sự tham gia của bảo hiểm. Vì vậy, nhà nước có quy định ở một số lĩnh vực như cho vay đóng tàu, mua sắm phương tiện vận tải.. thì người đi vay phải mua bảo hiểm. Để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác này, cần phải phát triển thị trường tiền tệ, tạo sự thâm nhập sâu hơn của các tổ chức bảo hiểm vào hoạt động ngân hàng và

    ngược lại, mở rộng việc các NHTM làm đại lý bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm (hiện nay có: NHTM cổ phần Á Châu làm đại lý cho Prudential)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành nhưng sự phát triển của nó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng của tác động này. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra cho bảo hiểm những cơ hội đầu tư vừa có lợi nhuận cao, mức độ an toàn cao mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản.

    Ngoài ra còn cần tăng cường mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm nhằm san sẻ bớt rủi ro.

    III. KẾT LUẬN:

    Hiện nay, bảo hiểm Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Xu hướng phát triển hiện nay là các công tăng cường liên kết với nhau để hình thành những tập đoàn có sức cạnh tranh lớn. Bảo hiểm cũng ngày càng lấn sân sâu vào lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng như cho vay các công ty, cho vay tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ khác… Bảo hiểm Việt Nam đã có đóng góp lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

    Do thời gian hạn hẹp, trình độ còn non kém nên khi viết đề án này em không tránh khỏi những thiếu sót, phần bố cục còn thiếu cân đối, còn thiếu số liệu trong các lĩnh vực bảo hiểm. Em mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo và các thầy cô trong bộ môn lý thuyết tiền tệ đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề án.

    CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí bảo hiểm
    2. Tạp chí ngân hàng
    3. Tạp chí tài chính
    4. Thời báo tài chính
    5. Báo thông tin tài chính
    6. Tập san của tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]