Author: Nguyễn Huyền

  • Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BẢO HIỂM XÃ HỘI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-H%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-S%C3%B4ng-%C4%90%C3%A0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    LỜI MỞ ĐẦU

    Nêu ra 3 yếu tố của lao động, đó là: lao động của con người, đối tượng lao động và công cụ lao động. Thiếu một trong ba yếu tố đó quá trình sản xuất sẽ không diễn ra. Nếu xét về mức độ quan trọng thì lao động của con người là yếu tố đóng vai trò quyết định nhất. Không có sự tác động của con người vào tư liệu sản xuất (2 yếu tố sau) thì tư liệu sản xuất không thể phát huy được tác dụng.

    Đối với người lao động, sức lao động họ bỏ ra là để đạt được lợi ích cụ thể, đó là tiền công (lương) mà người sử dụng lao động của họ sẽ trả. Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình phân tích hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn) rất được người lao động quan tâm. Trước hết là họ muốn biết lương chính thức được hưởng bao nhiêu, họ được hưởng bao nhiêu cho bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và họ có trách nhiệm như thế nào với các quỹ đó. Sau đó là việc hiểu biết về lương và các khoản trích theo lương sẽ giúp họ đối chiếu với chính sách của Nhà nước quy định về các khoản này, qua đó biết được người sử dụng lao động đã trích đúng, đủ cho họ quyền lợi hay chưa. Cách tính lương của doanh nghiệp cũng giúp cán bộ công nhân viên thấy được quyền lợi của mình trong việc tăng năng suất lao động, từ đó thúc đẩy việc nâng cao chất lượng lao động của doanh nghiệp.

    Còn đối với doanh nghiệp, việc nghiên cứu tìm hiểu sâu về quá trình hạch toán lương tại doanh nghiệp giúp cán bộ quản lý hoàn thiện lại cho đúng, đủ, phù hợp với chính sách của Nhà nước, đồng thời qua đó cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp được quan tâm bảo đảm về quyền lợi sẽ yên tâm hăng hái hơn trong lao động sản xuất. Hoàn thiện hạch toán lương còn giúp doanh nghiệp phân bổ chính xác chi phí nhân công vào giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nhờ giá cả hợp lý. Mối quan hệ giữa chất lượng lao động (lương) và kết quả sản xuất kinh doanh được thể hiện chính xác trong hạch toán cũng giúp rất nhiều cho bộ máy quản lý doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định chiến lược để nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Xuất phát từ tầm quan trọng của lao động tiền lương, trong thời gian trực tập tại Xí nghiệp XD Sông Đà 903, nhờ sự giúp đỡ của phòng kế toán và sự hướng dẫn của Thầy giáo, em đã đi sâu tìm hiểu đề tài: “Hạch toán tiền lương và bảo hiểm”.

    NỘI DUNG CỦA CHUYÊN ĐỀ ĐƯỢC XÂY DỰNG GỒM 3 CHƯƠNG:

    Chương I:       Những lý luận cơ bản về tiền lương và bảo hiểm

    Chương II: Thực trạng hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà.

    Chương III: Nhận xét, đánh giá và một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và bảo hiểm ở công ty xây dựng Sông Đà.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHƯƠNG I

    NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM

    I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG

     

    • Việt Nam trước đây, trong nền kinh tế bao cấp, tiền lương được hiểu là một phần thu nhập quốc dân, được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động.

    Chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh nhưng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, tiền lương được hiểu theo đúng nghĩa của nó trong nền kinh tế đó. Nhà nứơc định hướng cơ bản cho chính sách lương mới bằng một hệ thống được áp dụng cho mỗi người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế quốc dân và Nhà nước công nhận sự hoạt động của thị trường sức lao động.

    Quan niệm hiện nay của Nhà nước về tiền lương như sau:

    “Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dụng sức lao động, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật cung – cầu”.

    Trong cơ chế mới, cũng như toàn bộ các loại giá cả khác trên thị trường, tiền lương và tiền công của người lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh do thị trường quyết định. Nguồn tiền lương và thu nhập của người lao động là lấy từ hiệu quả sản xuất kinh doanh (một phần trong giá trị mới sáng tạo ra). Tuy nhiên sự quản lý vĩ mô của Nhà nước về tiền lương đối với khu vực sản xuất kinh doanh buộc các doanh nghiệp phải bảo đảm cho người lao động có thu nhập tối thiểu bằng mức lương tối thiểu do Nhà nước ban hành để ngươì lao động có thể ăn, ở, sinh hoạt và học tập ở mức cần thiết.

    Còn những người lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp hưởng lương theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định theo chức danh và tiêu chuẩn, trình độ nghiệp vụ cho từng đơn vị công tác. Nguồn chi trả lấy từ ngân sách Nhà nước.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Tuy khái niệm mới về tiền lương đã thừa nhận sức lao động là hàng hoá đặc biệt (là tổng thể của các mối quan hệ xã hội) và đòi hỏi phải trả lương cho người lao động theo sự đóng góp và hiệu quả cụ thể nhưng do đang ở thời kỳ chuyển đổi nên tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh, các cơ quan hành chính sự nghiệp ở khu vực Nhà nước ở nước ta chưa hoàn toàn hoạt động trả lương như các đơn vị sản xuất tư nhân, cần có đầy đủ thời gian chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho việc trả lương theo hướng thị trường.

    • nghĩa của tiền lương đối với người lao động, đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng to lớn nếu đảm bảo đầy đủ 4 chức năng:
    1. Chức năng thước đo giá trị: là cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả (bao gồm cả sức lao động) biến động
    2. Chức năng tái sản xuất sức lao động: nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả trên cơ sở tiền lương bảo đảm bù đắp được sức lao động đã hao phí cho người lao động.
    3. Chức năng kích thích lao động: bảo đảm khi người lao động làm việc có hiệu quả thì được nâng lương và ngược lại.
    4. Chức năng tích luỹ: đảm bảo có dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi người lao động hết khả năng lao động hoặc gặp bất trắc rủi ro.

    Trong bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần sử dụng một lực

    lượng lao động nhất định tuỳ theo quy mô, yêu cầu sản xuất cụ thể. Chi phí về tiền lương là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, sử dụng hợp lý lao động cũng chính là tiết kiệm chi phí về lao động sống (lương), do đó góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho công nhân viên, cho người lao động trong doanh nghiệp.

    Tiền lương không phải là vấn đề chi phí trong nội bộ từng doanh nghiệp thu nhập đối với người lao động mà còn là một vấn đề kinh tế – chính trị – xã hội mà Chính phủ của mỗi quốc gia cần phải quan tâm.

    II – CÁC HÌNH THỨC TRẢ TIỀN LƯƠNG

    Trong các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác nhau của nền kinh tế thị trường có rất nhiều loại lao động khác nhau; tính

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    chất, vai trò của từng loại lao động đối với mỗi quá trình sản xuất kinh doanh lại khác nhau. Vì thế, mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức trả lương cho người lao động sao cho hợp lý, phù hợp với đặc điểm công nghệ, phù hợp với trình độ năng lực quản lý.

    Hiện nay, việc trả lương trong các doanh nghiệp phải thực hiện theo luật lao động và theo Nghị định NĐ 197 CP 31-12-1994 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tại điều 58 Bộ luật lao động nước ta. Các doanh nghiệp có thể áp dụng 3 hình thức trả lương như sau:

    • Hình thức trả lương
    • Hình thức trả lương
    • Hình thức trả lương

    theo thời gian

    theo sản phẩm

    khoán

    A. Hình thức trả lương theo thời gian:

    Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lương là thời gian làm việc và trình độ nghiệp vụ của người lao động.

    Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau, mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng, trong mỗi một thang lương lại tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỷ luật, chuyên môn mà chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định.

    Tiền lương theo thời gian có thể tính theo các đơn vị thời gian như: tháng, tuần, ngày, giờ.

    Lương tháng được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương, nó có nhiều nhược điểm bởi không tính được người làm việc nhiều hay ít ngày trong tháng, do đó không có tác dụng khuyến khích tận dụng đủ số ngày làm việc quy định. Lương tháng thường áp dụng để trả lương cho nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất.

    Lương tuần được trả cho người lao động căn cứ vào mức lương tháng và số tuần thực tế trong tháng. Lương tuần áp dụng trả cho các đối tượng lao động có thời gian lao động không ổn định mang tính chất thời vụ.

    Lương ngày trả cho người lao động căn cứ vào mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Lương ngày thường áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương thời gian,

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    tính lương cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập hoặc làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH). Hình thức này có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán, phản ánh được trình độ kỹ thuật và điều kiện làm việc của người lao động. Song, nó chưa gắn tiền lương với kết quả lao động của từng người nên không kích thích việc tận dụng thời gian lao động, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.

    Mức lương giờ tính dựa trên cơ sở mức lương ngày, nó thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp trong thời gian làm việc không hưởng theo sản phẩm. Ưu điểm của hình thức này

    là đã tận dụng được thời gian lao động của công nhân nhưng nhược điểm là vẫn chưa gắn tiền lương với kết quả lao động với từng người, theo dõi phức tạp…

    Thực tế cho thấy đơn vị thời gian để trả lương càng ngắn thì việc trả lương càng gần với mức độ hao phí lao động thực tế của người lao động.

    *Tiền lương

    Tiền lương cấp bậc

    Số ngày làm việc

     

    =

    ×

     

    tháng

    chức vụ 1 ngày

    thực tế trong tháng

     

    Tiền lương tháng

    ×

    12 tháng

     

    *Tiền lương tuần =

    Số tuần làm việc theo chế độ (52)

    Tiền lương tháng

    *Tiền lương ngày =

    Số ngày làm việc theo chế độ (26)

    Tiền lương ngày

    *Tiền lương giờ =

    Số giờ làm việc theo chế độ

    Hình thức trả lương này có nhược điểm là không phát huy đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động vì nó không xét đến thái độ lao động, đến cách sử dụng thời gian lao động, sử dụng nguyên vật liệu,

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    máy móc thiết bị, chưa chú ý đến kết quả và chất lượng công tác thực tế của người lao động.

    B. Hình thức trả lương theo sản phẩm

    Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lương là số lượng và chất lượng sản phẩm hoàn thành.

    Đây là hình thức trả lương phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn bó chặt chẽ thù lao lao động với kết quả sản xuất, kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy năng lực, khuyến khích tài năng, sử dụng và phát huy được khả năng của máy móc trang thiết bị để tăng năng suất lao động.

    Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những hạn chế có thể khắc phục được như năng suất cao nhưng chất lượng kém do làm ẩu, vi phạm quy trình, sử dụng quá năng lực của máy móc… đó là do quá coi trọng số lướng sản phẩm hoàn thành và một phần cũng do các định mức kinh tế kỹ thuật xây dựng quá lỏng lẻo, không phù hợp với điều kiện và khả năng sản xuất của doanh nghiệp.

    Bởi vậy, trong việc trả lương theo sản phẩm, vấn đề quan trọng là phải xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật để làm cơ sở cho việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từng loại sản phẩm, từng công việc một cách hợp lý .

    Tuỳ thuộc vào điều kiện và tình hình cụ thể ở từng doanh nghiệp, hình thức trả lương theo sản phẩm được vận dụng theo các phương pháp cụ thể:

    • Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế
    • Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
    • Trả lương theo sản phẩm có thưởng – phạt
    • Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến
    1. Tiền lương trả theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế

    Với cách này, tiền lương phải trả cho người lao động được trích trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy định không chịu một sự hạn chế nào.

    Error!

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Đơn giá tiền lương trả cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành được xây dựng căn cứ vào mức lương cấp bậc công việc và định mức thời gian hoặc định mức sản lượng cho công việc đó. Ngoài ra , nếu có phụ cấp khu vực thì đơn giá tiền lương còn có thêm cả tỷ lệ phụ cấp khu vực.

    Error!

    hoặc

    Error!

    Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế có ưu điểm đơn giản, dễ hiểu, quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, lương trả cho công nhân càng cao khi sản xuất ra càng nhiều sản phẩm, do đó khuyến khích được người công nhân nâng cao năng suất lao động. Đây là hình thức phổ biến được các doanh nghiệp sử dụng để tính lương phải trả cho lao động trực tiếp.Tuy nhiên cách trả lương này cũng có nhược điểm nâng cao lợi ích cá nhân, không khuyến khích người lao động quan tâm đến lợi ích chung của tập thể.

    1. Tiền lương trả theo sản phẩm luỹ tiến

    Theo hình thức này, ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn căn cứ vào mức độ hoàn thành tỷ lệ luỹ tiến. Mức luỹ tiến này còn có thể quy định bằng hoặc cao hơn định mức sản lượng. Những sản phẩm dưới mức khởi điểm luỹ tiến được tính theo đơn giá tiền lương chung cố định, những sản phẩm vượt mức càng cao thì suất luỹ tiến càng lớn.

    Lương trả theo sản phẩm luỹ tiến có tác dụng kích thích mạnh mẽ việc tăng nhanh năng suất lao động, nhưng thường dẫn đến tốc độ tăng tiền lương cao hơn tăng năng suất lao động và làm tăng khoản mục chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Vì vậy, hình thức này được sử dụng như một giải pháp tạm thời như áp dụng trả lương ở những khâu quan trọng cần thiết để đẩy nhanh tốc độ sản xuất đảm bảo cho sản xuất cân đối, đồng bộ hoặc có thể áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp phải thực hiện gấp một đơn đặt hàng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    nào đó. Trường hợp không cần thiết thì doanh nghiệp không nên sử dụng hình thức này.

    1. Tiền lương trả theo sản phẩm gián tiếp

    Tiền lương của người được trả lương theo sản phẩm gián tiếp được xác định bằng cách nhân số lượng sản phẩm thực tế của người lao động trực tiếp được người đó phục vụ với đơn giá lương cấp bậc của họ (hoặc mức lương cấp bậc nhân với tỷ lệ % hoàn thành định mức sản lượng bình quân của người lao động trực tiếp).

    Tiền lương trả theo Số lượng sản phẩm   Đơn giá lương  
    =       ×      
    sản phẩm trực tiếp của công nhân trực tiếp gián tiếp  
          Số lượng sản phẩm của  
      Mức lương cấp bậc công nhân trực tiếp  
    = ×     ×100  
       
      của lao động gián tiếp Sản lượng định mức  
    Như vậy:              
        Mức lương cấp bậc của lao động gián tiếp  
    Đơn giá tiền lương gián tiếp =            
    Sản lượng định mức  
       

    Hình thức trả lương này áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất như công nghệ điều chỉnh máy, sửa chữa thiết bị, bảo dưỡng máy móc, lao động làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu, thành phẩm…

    Trả lương theo thành phẩm gián tiếp khuyến khích những người lao động gián tiếp phối hợp với lao động trực tiếp để nâng cao năng suất lao động, cùng quan tâm tới kết quả chung. Tuy nhiên, hình thức này không đánh giá được đúng kết quả lao động của người lao động gián tiếp.

    1. Tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng, phạt

    Để khuyến khích người công nhân có ý thức trách nhiệm trong sản xuất, công tác, doanh nghiệp có chế độ tiền thưởng khi người công nhân đạt được những chỉ tiêu mà doanh nghiệp đã quy định như

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    thưởng về chất lượng sản phẩm tốt, thưởng về tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư.

    Trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, lãng phí vật tư, không đảm bảo ngày công quy định… thì có thể phải chịu mức tiền phạt trừ vào mức tiền lương theo sản phẩm mà họ được hưởng.

    Thực chất của hình thức trả lương này là sự kết hợp giữa tiền lương trích theo sản phẩm với chế độ tiền thưởng, phạt mà doanh nghiệp quy định.

    Hình thức này đánh vào lợi ích người lao động, làm tốt được thưởng, làm ẩu phải chịu mức phạt tương ứng, do đó, tạo cho người công nhân có ý thức công việc, hăng say lao động. Nhưng hình thức này nếu làm tuỳ tiện sẽ dẫn đến việc trả thưởng bừa bãi, không đúng người đúng việc, gây tâm lý bất bình cho người lao động.

    C. Hình thức trả lương khóan

    Theo hình thức này, công nhân được giao việc và tự chịu trách nhiệm với công việc đó cho tới khi hoàn thành.

    Có 2 phương pháp khoán: khoán công việc và khoán quỹ lương.

    • Khoán công việc:

    Theo hình thức này, doanh nghiệp quy định mức tiền lương cho mỗi công việc hoặc khối lượng sản phẩm hoàn thành. Người lao động căn cứ vào mức lương này có thể tính được tiền lương của mình thông qua khối lượng công việc mình đã hoàn thành.

    Mức lương quy định        Khối lượng công

    việc

     

    Tiền lương khoán công việc =

    ×

     

    cho từng công việc

    đã hoàn thành

     

    Cách trả lương này áp dụng cho những công việc lao động đơn giản, có tính chất đột xuất như bốc dỡ hàng, sửa chữa nhà cửa…

    • Khoán quỹ lương

    Theo hình thức này, người lao động biết trước số tiền lương mà họ sẽ nhận sau khi hoàn thành công việc và thời gian hoàn thành công việc được giao. Căn cứ vào khối lượng từng công việc hoặc khối lượng sản phẩm và thời gian cần thiết để hoàn thành mà doanh nghiệp tiến hành khoán quỹ lương.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Trả lương theo cách khoán quỹ lương áp dụng cho những công việc không thể định mức cho từng bộ phận công việc hoặc những công việc mà xét ra giao khoán từng công việc chi tiết thì không có lợi về mặt kinh tế, thường là những công việc cần hoàn thành đúng thời hạn.

    Trả lương theo cách này tạo cho người lao động có sự chủ động trong việc sắp xếp tiến hành công việc của mình từ đó tranh thủ thời gian hoàn thành công việc được giao. Còn đối với người giao khoán thì yên tâm về thời gian hoàn thành.

    Nhược điểm của phương pháp trả lương này là dễ gây ra hiện tượng làm bừa, làm ẩu, không đảm bảo chất lượng do muốn đảm bảo thời gian hoàn thành. Vì vậy, muốn áp dụng phương pháp này thì công tác kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm trước khi giao nhận phải được coi trọng, thực hiện chặt chẽ.

    Nhìn chung, ở các doanh nghiệp do tồn tại trong nền kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên mục tiêu hàng đầu nên việc tiết kiệm được chi phí lương là một nhiệm vụ quan trọng, trong đó cách thức trả lương được lựa chọn sau khi nghiên cứu thực tế các loại công việc trong doanh nghiệp là biện pháp cơ bản, có hiệu quả cao để tiết kiệm khoản chi phí này. Thông thường ở một doanh nghiệp thì các phần việc phát sinh đa dạng với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Vì vậy, các hình thức trả lương được các doanh nghiệp áp dụng linh hoạt, phù hợp trong mỗi trường hợp, hoàn cảnh cụ thể để có được tính kinh tế cao nhất.

    II- LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, KINH PHÍ CÔNG ĐOÀN.

    1. Bảo hiểm xã hội (BHXH):

    Trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện để sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác như ốm đau, tai nạn, tuổi già mất sức lao động… nhưng những nhu cầu cần thiết của cuộc sống không những mất đi hay giảm đi mà thậm chí còn tăng lên, xuất hiện thêm những nhu cầu mới (khi ốm đau cần chữa bệnh…). Vì vậy, con người và xã

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    hội loài người muốn tồn tại, vượt qua được những lúc khó khăn ấy thì phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau.

    Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, khó khăn bất lợi của mỗi người được cả cộng đồng san sẻ gánh chịu. Còn ở xã hội phong kiến quan lại, những lúc gặp khó khăn thì cậy nhờ ở Vua, dân cư gặp khó khăn thì trông cậy vào sự đùm bọc, hảo tâm của họ hàng làng xã. Như vậy là tất cả đều ở thế bị động, thụ động trông chờ vào sự hảo tâm của phía giúp đỡ mà hoàn toàn không được chắc chắn.

    Tiến bộ hơn, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển xuất hiện mối quan hệ chủ – thợ. Khi hai bên cam kết về lao động, điều kiện về sự đảm bảo một phần thu nhập để trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn… cho người lao động đã được người lao động quan tâm đến. Tuy nhiên, mới đầu do việc đảm bảo này chỉ liên quan giữa hai bên chủ- thợ mà chủ thì rõ ràng không muốn chi ra, thợ thì luôn đòi hỏi, vì vậy, tranh chấp giữa họ luôn xảy ra.

    Điều kiện khách quan đó làm xuất hiện một bên thứ ba, là nhân vật đóng vai trò trung gian để giúp thực hiện những cam kết giữa chủ- thợ bằng những hoạt động thích hợp của nó. Nhân vật thứ ba có đủ khả năng và sự tín nhiệm để làm bên trung gian, đó là Nhà nước.

    Nhà nước quy định hàng tháng giới chủ phải trích ra một khoản tiền nho nhỏ được tính toán chặt chẽ trên cơ sở xác xuất những biến cố của tập hợp những người lao động làm thuê để giao cho bên thứ ba, khi có biến cố thì bên thứ ba chi trả, không phụ thuộc vào giới chủ, số tiền không phải dùng đến (chưa phải chi trả) sẽ tồn tích lâu ngày thành quỹ.

    Việc Nhà nước can thiệp vào với vai trò là bên thứ ba, một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế trong các mối quan hệ xã hội, mặt khác làm tăng chi cho ngân sách Nhà nước.

    Nhà nước bằng những cơ sở lý luận khoa học đã buộc giới chủ đóng góp vào quỹ BHXH với một khoản tiền phù hợp đủ cho người lao động, đồng thời cũng yêu cầu giới thợ đóng góp một phần tiền lương của mình vào quỹ để đảm bảo cho cuộc sống của chính mình.

    Nhờ các hoạt động của Nhà nước này mà mâu thuẫn giữa chủ-thợ được giải quyết, cả hai bên đều hài lòng, cảm thấy mình có lợi và được bảo vệ.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    Như vậy, ta có được khái niệm về BHXH như sau:

    “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.

    • Việt Nam hiện nay, mọi người lao động có tham gia đóng BHXH đều có quyền hưởng BHXH. Đóng BHXH là tự nguyện hay bắt buộc tuỳ thuộc vào loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để đảm bảo cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH thích hợ Phương thức đóng BHXH dựa trên cơ sở mức tiền lương quy định để đóng BHXH đối với mỗi người lao động.

    Quỹ BHXH

    Theo chế độ hiện hành, quỹ BHXH được tính theo tỷ lệ 20% trên tổng quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao động thực tế trong kỳ hạch toán.

    Trong đó, 15% người sử dụng lao động phải nộp và khoản này tính vào chi phí kinh doanh, còn 5% do người lao động trực tiếp đóng góp (trừ trực tiếp vào lương).

    Chi của quỹ BHXH cho người lao động theo chế độ căn cứ

    vào:

    +Mức lương ngày của người lao động

    +Thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ)

    +Tỷ lệ trợ cấp BHXH.

    2. Bảo hiểm y tế (BHYT):

    Gần giống như ý nghĩa của BHXH, BHYT là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần chi phí khám chữa bệnh cho người lao động khi họ gặp rủi ro ốm đau, tai nạn… bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người lao động.

    Quỹ BHYT

    Quỹ BHYT được hình thành bằng cách trích 3% trên số thu nhập tạm tính của người lao động; trong đó người sử dụng lao động phải chịu

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    2%, khoản này được tính vào chi phí kinh doanh, người lao động trực tiếp nộp 1% (trừ vào thu nhập).

    Quỹ BHYT do Nhà nước tổ chức, giao cho một cơ quan là cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để tăng cường chất lượng trong việc khám chữa bệnh. Vì vậy, khi tính được mức trích BHYT, các nhà doanh nghiệp phải nộp toàn bộ cho cơ quan BHYT.

    3. Kinh phí công đoàn (KPCĐ)

    Người lao động để bảo vệ quyền lợi của mình trước giới chủ, họ lập ra tổ chức công đoàn. Tổ chức này chuyên trách việc đại diện cho người lao động để thương thuyết với giới chủ đòi quyền lợi cho công nhân và giải quyết các tranh chấp bất công giữa chủ- thợ.

    Nguôn kinh phí cho các hoạt động của tổ chức này lấy từ quỹ “Kinh phí công đoàn”

    Quỹ KPCĐ

    • mỗi doanh nghiệp đều phải có tổ chức công đoàn để đại diện bảo vệ quyền lợi của người lao động và tập thể lao độ Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm các phương tiện làm việc cần thiết để công đoàn hoạt động. Người làm công tác công đoàn chuyên trách do quỹ công đoàn trả lương và được hưởng các quyền lợi và phúc lợi tập thể như mọi người lao động trong doanh nghiệp, tuỳ theo quy chế doanh nghiệp hoặc thoả ước tập thể.

    Như vậy, KPCĐ là quỹ tài trợ cho hoạt động công đoàn các cấp. Theo chế độ hiện hành thì kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ tiền lương phải trả cho người lao động và người sử dụng lao động phải chịu khoản chi phí này (khoản này cũng tính vào chi phí kinh doanh). Thông thường khi xác định được mức tính kinh phí công đoàn trong kỳ thì một nửa doanh nghiệp phải nộp cấp trên, một nửa thì được sử dụng để chi tiêu cho công đoàn tại các đơn vị.

    IV – NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    1. Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian và kết quả lao động, tính lương và tính trích các khoản theo lương, phân bổ chi phí nhân công đúng đối tượng sử dụng lao độ
    1. Hướng dẫn kiểm tra các nhân viên hạch toán ở các bộ phận sản xuất kinh doanh, các phòng ban thực hiện đầy đủ các chứng từ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương, mở sổ cần thiết và hạch toán nghiệp vụ lao động tiền lương đúng chế độ, đúng phương pháp.
    1. Lập các báo cáo về lao động tiền lương thuộc phần việc do mình phụ trách.
    1. Phân tích tình hình quản lý, sử dụng thời gian lao động, chi phí nhân công, năng suất lao động, đề xuất các biện pháp nhằm khai thác, sử dụng triệt để có hiệu quả mọi tiềm năng lao động sẵn có trong doanh nghiệ

    V- CHỨNG TỪ BAN ĐẦU ĐỂ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG, BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Sổ sách của bộ phận lao động tiền lương trong doanh nghiệp được lập dựa trên cơ sở các chứng từ ban đầu lập khi tuyển dụng nâng bậc, thôi việc… mọi biến động về lao động được ghi chép kịp thời vào sổ sách lao động làm căn cứ cho việc tính lương phải trả và các chế độ khác cho người lao động được kịp thời.

    Hạch toán thời gian lao động

    Hạch toán thời gian lao động là công việc đảm bảo ghi chép kịp thời chính xác số ngày công giờ công làm việc thực tế cũng như ngày nghỉ việc ngừng việc của từng người lao động, từng bộ phận sản xuất, từng phòng ban trong doanh nghiệp. Trên cơ sở này để tính lương phải trả cho từng người.

    Bảng chấm công là chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch toán thời gian lao động trong các doanh nghiệp. Bảng chấm công dùng để ghi chép thời gian làm việc trong tháng thực tế và vắng mặt của cán bộ công nhân viên trong tổ, đội, phòng ban… Bảng chấm công phải lập riêng cho từng tổ sản xuất, từng phòng ban và dùng trong một tháng. Danh sách người lao động ghi trong sổ danh sách lao động của từng bộ phận được ghi trong bảng chấm công, số liệu của chúng phải khớp nhau. Tổ trưởng tổ sản xuất hoặc trưởng các phòng ban là người trực tiếp ghi bảng chấm công căn cứ vào số lao động có mặt, vắng mặt

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    đầu ngàylàm việc ở đơn vị mình. Trong bảng chấm công những ngày nghỉ theo quy định như ngày lễ tết, chủ nhật đều phải được ghi rõ ràng.

    Bảng chấm công phải để tại một địa điểm công khai để người lao động giám sát thời gian lao động của mình. Cuối tháng tổ trưởng, trưởng phòng tập hợp tình hình sử dụng lao động cung cấp cho kế toán phụ trách. Nhân viên kế toán kiểm tra và xác nhận hàng ngày trên bảng chấm công. Sau đó tiến hành tập hợp số liệu báo cáo tổng hợp lên phòng lao động tiền lương. Cuối tháng, các bảng chấm công được chuyển cho phòng kế toán tiền lương để tiến hành tính lương. Đối với các trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động… thì phải có phiếu nghỉ ốm do bệnh viện, cơ sở y tế cấp và xác nhận. Còn đối với các trường hợp ngừng việc xảy ra trong ngày do bất cứ nguyên nhân gì đều phải được phản ánh vào biên bản ngừng việc , trong đó nêu rõ nguyên nhân ngừng việc và người chịu trách nhiệm để làm căn cứ tính lương và xử lý thiệt hại xảy ra. Những chứng từ này được chuyển lên phòng kế toán làm căn cứ tính trợ cấp, BHXH sau khi đã được tổ trưởng căn cứ vào chứng từ đó ghi vào bảng chấm công theo những ký hiệu quy định.

    Hạch toán kết quả lao động

    Hạch toán kết quả lao động là một nội dung quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý và hạch toán lao động ở các doanh nghiệp sản xuất. Công việc tiến hành là ghi chép chính xác kịp thời số lượng hoặc chất lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành của từng cá nhân, tập thể làm căn cứ tính lương và trả lương chính xác.

    Tuỳ thuộc vào loại hình và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp, người ta sử dụng các chứng từ ban đầu khác nhau để hạch toán kết quả lao động. Các chứng từ ban đầu được sử dụng phổ biến để hạch toán kết quả lao động là phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành, hợp đồng giao khoán…

    Phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành là chứng từ xác nhận số sản phẩm (công việc) hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động.

    Phiếu này do người giao việc lập và phải có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng sản phẩm

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    và người duyệt. Phiếu được chuyển cho kế toán tiền lương để tính lương áp dụng trong hình thức trả lương theo sản phẩm.

    Hợp đồng giao khoán công việc là chứng từ giao khoán ban đầu đối với trường hợp giao khoán công việc. Đó là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán với khối lượng công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi mỗi bên khi thực hiện công việc đó. Chứng từ này là cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán. Trường hợp khi nghiệm thu phát hiện sản phẩm hỏng thì cán bộ kiểm tra chất lượng cùng với người phụ trách bộ phận lập phiếu báo hỏng để làm căn cứ lập biên bản xử lý. Số lượng, chất lượng công việc đã hoàn thành và được nghiệm thu được ghi vào chứng từ hạch toán kết quả lao động mà doanh nghiệp sử dụng, và sau khi đã ký duyệt nó được chuyển về phòng kế toán tiền lương làm căn cứ tính lương và trả lương cho công nhân thực hiện.

    Hạch toán thanh toán lương với người lao động

    Hạch toán thanh toán lương với người lao động dựa trên cơ sở các chứng từ hạch toán thời gian lao động (bảng chấm công), kết quả lao động (bảng kê khối lượng công việc hoàn thành, biên bản nghiệm thu…) và các chứng từ khác có liên quan (giấy nghỉ ốm, biên bản nghỉ việc…) kế toán tiền lương tiến hành tính lương sau khi đã kiểm tra các chứng từ trên. Công việc tính lương , tính thưởng và các khoản khác phải trả cho người lao động theo hình thức trả lương đang áp dụng tại doanh nghiệp, kế toán lao động tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương (gồm lương chính sách, lương sản phẩm, các khoản phụ cấp, trợ cấp, bảo hiểm cho từng lao động), bảng thanh toán tiền thưởng.

    Bảng thanh toán tiền thưởng là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương,phụ cấp cho người lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh. Bảng thanh toán tiền lương được thanh toán cho từng bộ phận (phòng ban…) tương ứng với bảng chấm công. Trong bảng thanh toán tiền lương, mỗi công nhân viên được ghi một dòng căn cứ vào bậc, mức lương, thời gian làm việc để tính lương cho từng người. Sau đó kế toán lao động tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương tổng hợp cho toàn doanh nghiệp, tổ đội, phòng ban mỗi tháng một tờ. Bảng thanh toán tiền lương cho toàn doanh nghiệp sẽ chuyển sang cho kế toán trưởng, thủ trưởng đơn vị ký duyệt. Trên cơ sở đó, kế toán thu chi viết phiếu chi và thanh toán lương cho từng bộ phận.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Việc thanh toán lương cho người lao động thường được chia làm 2 kỳ trong tháng:

    +Kỳ 1: tạm ứng

    +Kỳ 2: thanh toán nốt phần còn lại sau khi đã trừ đi các khoản phải khấu trừ vào lương của người lao động theo chế độ quy định.

    Tiền lương được trả tận tay người lao động hoặc tập thể lĩnh lương đại diện do thủ quỹ phát. Khi nhận các khoản thu nhập, người lao động phải ký vào bảng thanh toán tiền lương.

    Đối với lao động nghỉ phép vẫn được hưởng lương thì phần lương này cũng được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Việc nghỉ phép thường đột xuất, không đều đặn giữa các tháng trong năm do đó cần tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân vào chi phí của từng kỳ hạch toán. Như vậy, sẽ không làm cho giá thành sản phẩm bị biến đổi đột ngột.

    Mức trích trước tiền lương   Tiền lương thực tế Tỷ lệ
    nghỉ phép của công nhân = của công nhân sản xuất × trích
    sản xuất theo kế hoạch   trong tháng trước

    Trong đó:

    Tỷ lệ   Tổng số tiền lương nghỉ phép kế hoạch của công nhân sản xuất
    trích =  
     
    trước   Tổng số tiền lương chính kế hoạch năm của công nhân sản xuất

    *Các chứng từ ban đầu được sử dụng để tính tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp cũng là cơ sở để tính trích quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ bởi vì các khoản này được tính theo phần trăm của lương và các khoản thu nhập khác của ngươì lao động.

    Ngoài ra, khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH cho từng người và từ các phiếu này kế toán phải lập bảng thanh toán BHXH.

    VI – HẠCH TOÁN TỔNG HỢP VỀ TIỀN LƯƠNG:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    A. Tài khoản sử dụng:

    TK 334- “Phải trả công nhân viên”

    Tài khoản này được dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán lương cho người lao động của doanh nghiệp về tiền lương và các khoản có tính chất lương thuộc về thu nhập của người lao động.

    Kết cấu và nội dung của các khoản này như sau:

    • Số dư đầu kỳ (thường ghi bên Có): phản ánh các khoản tiền lương, tiền thưởng còn phải trả cho người lao động lúc đầu kỳ.
    • Phát sinh tăng (ghi bên Có): phản ánh

    . Tính ra tiền lương phải trả cho các bộ phận trong doanh nghiệp

    . Tính ra tiền lương phải trả cho công nhân nghỉ phép hoặc công nhân nghỉ theo mùa vụ

    + Phát sinh giảm (ghi bên Nợ): phản ánh

    . Số tiền lương doanh nghiệp đã trả cho cán bộ công nhân viên . Số tiền lương doanh nghiệp khấu trừ của cán bộ công nhân viên

    . Số tiền lương của một số người chưa nhận do đi công tác, kế toán kết chuyển về TK 338 để nhận sau.

    + Số dư cuối kỳ: tương tự như số dư đầu kỳ.

    • Tài khoản 334 có thể có số dư bên Nợ nếu số tiền đã trả quá số phải trả về tiền lương, tiền công, tiền thưởng và các khoản khác cho công nhân viên.

    TK 334 có 2 tài khoản cấp 2:

    TK 3341– Tiền lương: dùng để hạch toán các khoản tiền lương , tiền thưởng và các khoản phụ cấp trợ cấp có tính chất lương (tính vào quỹ lương của doanh nghiệp).

    TK 3342– Các khoản khác: dùng để hạch toán các khoản tiền trợ cấp, tiền thưởng có nguồn bù đắp riêng như trợ cấp BHXH, trợ cấp khó khăn, tiền thưởng thi đua…

    B. Nghiệp vụ hạch toán:

    1. Kế toán căn cứ vào các chứng từ để tính ra tiền lương phải trả cho các bộ phận: trực tiếp sản xuất, bán hàng, quản lý…

    Nợ TK 662, 627, 641, 642. Có TK 334

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Quỹ tiền lương của doanh nghiệp thường trả thành 2 kỳ cho cán bộ công nhân viên.
    2. Kỳ 1- tạm ứng:

    Nợ TK 141

    Có TK 111

    1. Kỳ 2- thanh toán

    Nợ TK 334

    Có TK 141, 111

    1. Phản ánh các khoản khấu trừ tiền lương của cán bộ công nhân viên:

    Nợ TK 334 Có TK 141 Có TK 1381

    Có TK 333 (thuế thu nhập)

    4.-Kết chuyển tiền lương của những người chưa nhận về TK 3388 để nhận sau:

    Nợ TK 334

    Có TK 3388

    -Sau khi họ nhận, kế toán ghi:

    Nợ TK 3388

    Có TK 111

    5.-Tính ra số BHXH phải trả cho cán bộ công nhân viên theo chế độ:

    Nợ TK 3383

    Có TK 334

    -Khi đã trả khoản này bằng tiền cho cán bộ công nhân viên, kế toán ghi :

    Nợ TK 334

    Có TK 111

    6.Trích trước tiền lương của công nhân nghỉ phép hoặc nghỉ theo mùa vụ (áp dụng đối với những doanh nghiệp có số lượng công nhân nghỉ phép không đồng đều giữa các tháng và đối với những doanh nghiệp sản xuất theo mùa vụ).

    1. Kế toán căn cứ vào kế hoạch trích trước để tính vào các tháng: Nợ TK 622, 627, 641, 642

    Có TK 335

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    1. Tính ra tiền lương của công nhân nghỉ phép hoặc nghỉ theo mùa vụ phải trả trong kỳ:

    Nợ TK 335 Có TK 334

    1. Sau khi đã trả khoản này cho cán bộ công nhân viên:

    Nợ TK 334

    Có TK 1117.

    1. Tiền lương trả quá phải thu hồi.
                          Sơ đồ hạch toán tổng hợp tiền lương                  
    TK 111                         TK 334       TK 622,627,641,642
                TK 141     1                        
        2a                      
                                          TK 335                  
                                  2b                                
                                                                         
            TK 141,138,333 6b               6a              
                                                                         
                                                                         
                          3               5a         TK 338  
                                                     
                                                                     
                                                                         
                TK   338                                            
                                                           
                                                     
                                                                     
            4b                 4a           7             TK 138
                                                                   
                                                                 
                                                             
                5b                                    
                                                       
                6c                                    

    VII – HẠCH TOÁN TỔNG HỢP VỀ BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Hạch toán BHXH

    -Tài khoản hạch toán:

    TK 3383- BHXH: phản ánh tình hình trích và thanh toán BHXH ở doanh nghiệp

    +Số dư đầu kỳ (bên Có): phản ánh số BHXH hiện có ở đơn vị đầu kỳ hạch toán

    +Phát sinh tăng (bên Có): tính ra quỹ BHXH phải trả cho các bộ phận

    +Phát sinh giảm (bên Nợ): . nộp BHXH lên cơ quan cấp trên hoặc cơ

    quan      BHXH

    . tính ra số BHXH trả tại đơn vị

    +Số dư cuối kỳ: tương tự số dư đầu kỳ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    -Nghiệp vụ hạch toán:

    1.Kế toán căn cứ vào quỹ lương cơ bản để tính ra quỹ BHXH phải trả cho các bộ phận

    Nợ TK 622,627,641,642 (15%)
    Nợ TK 334 (5%)
    Có TK 3383 (20%)
    1. Theo định kỳ đơn vị nộp quỹ BHXH lên cấp trên hoặc cơ quan BHXH:

    Nợ TK 3383

    Có TK 111,112

    1. Tính ra số BHXH trả tại đơn vị : a. Tính:

    Nợ TK 3383 Có TK 334

    1. Trả cho công nhân: Nợ TK 334

    Có TK 111

    Xí nghiệp Sông Đà 903

      Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                 Nguyễn Thị Nga      
                        Sơ đồ hạch toán tổng hợp BHXH:                          
              TK 111,112 TK 338   TK 622,627,641,642      
                                                                     
                  2               1                      
                                                                     
                                                                     
                                                      TK 334      
      TK 111                                                      
        TK 334                                              
                                                                     
          3b               3a                                        
                                                               
                                                               
                                                                   
                                                TK 111,112      
                                            4                      
                                                                 
                                                                     
                                                                     
                                                                     

    Hạch toán BHYT

    -Tài khoản hạch toán:

    TK 3384- BHYT: phản ánh tình hình trích và thanh toán BHYT ở doanh nghiệp

    +Số dư đầu kỳ (bên Có): phản ánh số quỹ BHYT hiện có lúc đầu kỳ của doanh nghiệp.

    +Phát sinh tăng (bên Có): tính ra quỹ BHYT phải trả cho các bộ phận. +Phát sinh giảm (bên Nợ): theo định kỳ đơn vị nộp quỹ BHYT lên cơ quan cấp trên hoặc cơ quan BHYT để mua thẻ bảo hiểm. +Số dư cuối kỳ (bên Có): ghi tương tự số dư đầu kỳ.

    -Nghiệp vụ hạch toán :

    1.Kế toán căn cứ vào quỹ lương cơ bản để tính ra quỹ BHYT phải trả cho các bộ phận :

    Nợ TK 622,627,641,642 (2%)
    Nợ TK 334 (1%)
    Có TK 3384 (3%)

    2.Định kỳ đơn vị nộp quỹ BHYT lên cơ quan cấp trên hoặc cơ quan

    BHYT:

    Nợ TK 3384

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp   Nguyễn Thị Nga  
        Có TK 111,112          
          Sơ đồ hạch toán tổng hợp BHYT:        
    TK 111,112   TK 3384   TK 622,627,641,642  
        2   (3%) 1   (2%)    
                         
                         

    TK 334

    (1%)

    Hạch toán KPCĐ

    -Tài khoản hạch toán:

    TK 3382- KPCĐ: phản ánh tình hình trích và thanh toán KPCĐ ở doanh nghiệp

    +Số dư đầu kỳ (bên có): quỹ KPCĐ hiện có đầu kỳ tại doanh nghiệp +Phát sinh tăng (bên Có): tính ra KPCĐ phải trả cho cán bộ công nhân viên

    +Phát sinh giảm (bên Nợ): . chi tiêu qũy KPCĐ tại đơn vị

    . nộp quỹ KPCĐ lên công đoàn cấp trên

    +Số dư cuối kỳ (bên Có): tương tự như số dư đầu kỳ.

    -Nghiệp vụ hạch toán:

    1.Kế toán căn cứ vào quỹ lương cơ bản để tính ra KPCĐ:

    Nợ TK 622,627,641,642                         (2%)

    Có TK 3382

    1. Theo định kỳ nộp quỹ KPCĐ lên công đoàn cấp trên Nợ TK 3382

    Có TK 111,112    (1%)

    1. Chi tiêu KPCĐ tại đơn vị cho các hoạt động công đoàn Nợ TK 3382

    Có TK 111,112

    1. Vượt chi KPCĐ cấp bù

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp         Nguyễn Thị Nga    
            Sơ đồ hạch toán tổng hợp KPCĐ:                    
    TK 111,112     TK 3382     TK 622,627,641,642    
                                           
      (1%) 2 (1%)   (2%) 1 (2%)          
                                         
          3             4   TK 111,112          
                             
                                         
                                         
                                           
                                           

    VIII – HÌNH THỨC TỔ CHỨC SỔ TIỀN LƯƠNG :

    Việc tổ chức hạch toán và ghi sổ tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương là phụ thuộc vào hình thức ghi sổ mà doanh nghiệp chọn.

    Chế độ hình thức ghi sổ kế toán được quy định áp dụng thống nhất đối với doanh nghiệp bao gồm 4 hình thức:

    • Nhật ký chứng từ
    • Nhật ký chung
    • Chứng từ ghi sổ
    • Nhật ký sổ cái

    Doanh nghiệp phải căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật tính toán để lựa chọn hình thức sổ kế toán phù hợp và nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của các hình thức sổ kế toán đó về các mặt: loại sổ, kết cấu các loại sổ, mối quan hệ và sự kết hợp giữa các loại sổ, trình tự và kỹ thuật ghi chép các loại sổ kế toán.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TL & BH TẠI XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY.

    Xí nghiệp XD Sông Đà 903 là Công ty Nhà nước, đơn vị thành viên của Tổng Công ty xây dựng Sông Đà. Công ty do Bộ trưởng Bộ xây dựng quyết định thành lập theo quyết định số 130A /BXD – TCLĐ ngày 26/3/96.

    Công ty có các nhiệm vụ chính sau đây:

    • xây dựng các công trình công nghiệp, công cộng, nhà ở và xây dựng khác .
    • San lấp, đào đắp măt bằng xây dựng
    • Kinh doanh nhà ở và trang trí nội thất
    • kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng.
    • Dược xuất nhập khẩu trực tiếp máy móc xây dựng và vật liệu xây dựng.
    • Được liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để xây dựng và kinh doanh khách sạn, du lịch.

    Công ty có :

    1. Tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
    1. Tên riêng là Xí nghiệp XD Sông Đà 903 ( Viết tắt là SONGDA 903)
    2. Trụ sở giao dịch đóng tại phường Văn Mỗ – thị xã Hà Đông – tỉnh Hà Tây.
    3. Con dấu, tài khoản mở tại kho bạc Nhà nước và các ngân hàng trong nước.
    4. Vốn và tài sản, chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ trong phạm vi số vốn do Công ty quản lý.
    5. Bảng cân đối tài sản, các quỹ theo qui định của điều lệ tổ chức và hoạt động và qui chế tài chính của Tổng công ty Xây dựng Sông Đà.
    6. Điều lệ tổ chức và hoạt động, bộ máy quản lý và điều hành. * Công ty được quản lý và điều hành bởi giám đốc.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Công ty chịu sự quản lý của Nhà nước của các bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; đồng thời chịu sự quản lý của các cơ quan này với tư cách là cơ quan thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước theo qui định tại luật DN Nhà nước và các qui định khác của pháp luật.

    Công ty chịu sự điều hành và quản lý trực tiếp của Tổng công ty XD Sông Đà.

    • Đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị:

    Đơn vị hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tương ứng với các nhiệm vụ được giao, trong đó hoạt động trên lĩnh vực xây lắp là hoạt động chủ yếu của công ty.

    Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, hoàn toàn được thực hiện bởi các tổ đội sản xuất (hay các đơn vị sản xuất) của công ty. Các đơn vị sản xuất này trực thuộc, chịu sự điều hành quản lý của công ty nhưng việc hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh là hoàn toàn độc lập, chỉ có các báo cáo tài chính sau khi hoàn thành được gửi lên công ty theo định kỳ để kế toán công ty tập hợp và tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị, tổ đội sản xuất, tính ra kết quả sản xuất kinh doanh chung của cả công ty.

    * Tìm hiểu tình hình kinh doanh của công ty:

      97 98 99 (dự kiến)
           
    – Tổng giá trị sản lượng 123,4 tỉ 97,7 tỉ 105 tỉ
    Trong đó: + Xây lắp 121,6 tỉ 92,95 tỉ 98 tỉ
    + Kinh doanh khác 1,8 tỉ 4,75 tỉ 7 tỉ
           
    – Tổng doanh thu 113 tỉ 85,1 tỉ 100 tỉ
           
    – Nộp thuế vào NSNN và phụ phí cấp trên 8,2 tỉ 5,3 tỉ 6 tỉ
           
    – Thu nhập trước thuế 2,4 tỉ 1,1 tỉ 1,5 tỉ
           
    – Thu nhập bình quân/tháng người lao động 0,998 triệu 1,0 triệu 1,0 triệu
           
    • Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, giống như các công ty xây lắp khác, Xí nghiệp XD Sông Đà 903 bị ảnh hưởng khá nặng nề cụ thể là:

    + Tổng giá trị sản lượng năm 1998 giảm 21% so với năm 97.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Tổng doanh thu năm 98 giảm so với năm trước là 25%.
    • Thu nhập trước thuế năm 98 bị giảm hơn 50% so với năm 97. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty rõ ràng là bị sa sút

    nghiêm trọng, nhưng theo như dự kiến năm 99 của lãnh đạo công ty thì hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sẽ dần được khắc phục với cố gắng của toàn bộ tập thể cán bộ công nhân viên của công ty.

    Tổng giá trị sản lượng năm 1999 công ty phấn đấu đạt 105 tỉ, tăng 7,3 tỉ so với năm 98. Trong đó, lĩnh vực xây lắp tăng 1,05 lần so với năm trước trong khi lĩnh vực kinh doanh khác tăng 1,47 lần. Như vậy là doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhằm kiếm lợi nhuận nhiều hơn, lĩnh vực hoạt động kinh doanh xây lắp có thể coi như có tăng nhưng không đáng kể thể hiện rằng lãnh đạo công ty không mấy lạc quantin tưởng vào lợi ích từ việc phát triển các ý kiến đánh giá chung của các nhà nghiên cứu về tình hình kinh tế năm 1999 nên việc chuyển hướng kinh doanh như vậy là là một quyết định đúng đắn, là một giải pháp mang lại hiệu quả cao trog tình trạng khó khăn hiện tại cả Công ty. Hơn nữa năm 1998, do hoạt động xây lắp khó khăn đơn vị đã nhanh chóng tăng cườg các hoạt động kinh doanh lên 4,75 tỉ, đóng góp thêm 1 phần không nhỏ vào lợi nhuận ít ỏi (1,1 tỉ) trong năm 1998. Đó là bước đã thuận lợi để Công ty phát triển hoạt động kinh doanh ở lĩnh vực này trong năm 99, bù đắp cho sự khó khăn của lĩnh vực kinh doanh kinh doanh xây dựng.

    Đối với chỉ tiêu tổng doanh thu, lãnh đạo Công ty cũng vạch kế hoạch cụ thể, cố gắng tăng doanh thu không để tình trạng khó khăn kéo dài. Công ty có kế hoạch đạt 100 tỷ đồng doanh thu trong năm 99, tăng 17% so với năm 1998, khắc phục được hơn 1/2 trong số 25% lượng doanh thu bị thua thiệt trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng TC năm 1998.

    Cùng với kế hoạch tăng doanh thu, đơn vị cũng dự kiến tăng số tiền nộp ngân sách Nhà nước từ 5,3 tỷ năm 98 lên 6 tỉ năm 99. Tuy rằng con số này vẫn chưa cho thấy sự phát triển mạch của Công ty sau thời kỳ khó khăn nếu so với 8,2 tỉ nộp ngân sách Nhà nước của Công ty năm 97, nhưng để có thêm 0,7 tỷ đồng nộp ngân sách Nhà nước đơn vị cũng sẽ phải cố gắng rất nhiều nhất là trong tình hình hiện nay, cuộc khủng hoảng TC vẫn còn để lại nhiều ảnh hưởng gây khó khăn cho các

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    hoạt động kinh doanh bao gồm cả hoạt động XL và các hoạt động kinh doanh khác mà Công ty dự định sẽ đẩy mạnh phát triển trong năm 1999.

    Với phương châm nhanh chóng khắc phục khó khăn.

    Công ty dự định sẽ đạt được 1,5 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong năm 99 tức là tăng 0,4 tỷ đồng so với năm 98, tăng 41%. Nhưng con số 1,5 tỷ đồng này nếu phân tích sâu hơn thì e rằng Công ty khó mà hoàn thành được theo dự kiến doanh thu chỉ tăng 18%, tổng sản lượng tăng 7% mà lợi nhuận dự kiến tăng 41% thì quả là khó đạt được trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như ở Việt Nam hiện nay, nhất là trong lĩnh vực XL. Như vậy là khả năng nâng cao thu nhập cải thiện tình hình theo dự kiến của Công ty là rất khó thực hiện. Tuy nhiên nếu giữ được con số 1,1 tỉ đồng lợi nhuận là đã có thể coi là Công ty hoạt động bình thường có dấu hiệu của những khó khăn về Tài chính gây ảnh hưởng xấu đến sự tồn tại và phát triển của Công ty.

    Mặc dù có những biến động lớn trong các chỉ tiêu như doanh thu, sản lượng, thu nhập doanh nghiệp giưã các năm 97, 98, 99 nhưng Công ty vẫn quyết giữ ổn định mức lương bình quân của CBCNV ở con số 1 triệu đồng/tháng. Đây là mức lương thuộc loại cao, có thể đảm bảo cuộc sống của người lao động đầy đủ cả về vật chất và tinh thần. Chỉ tiêu này cũng thể hiện sự quan tâm chăm sóc của Công ty đối với nhân viên trong doanh nghiệp là rất tốt, rất tích cực.

    Như vậy nhìn chung tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty bình thường. ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực vừa qua đã có tác động nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, nhưng thiệt hại cũng chưa đến mức nghiêm trọng, cụ thể là lợi nhuận trước thuế năm 98 đạt 1,1 tỉ đồng và dự kiến sẽ nâng lên 1,5 tỉ đồng trong năm 99 (tuy nhiên, theo dự kiến thì Công ty sẽ cải thiện được tình hình, nhưng có thực hiện được hay không còn là cả một vấn đề lớn) với tình hình cả hoạt động kinh doanh trong khu vực biến động như hiện nay, không ai có thể nói chắc được điều gì. Vì vậy, lãnh đạo Công ty có vực được Công ty dậy hay Công ty lại tiếp tục xuống dốc ở một loạt các chỉ tiêu doanh thu, tổng sản lượng… thì còn phải chờ kết quả thực tế, ở các báo cáo tài chính cuối năm 1999 thì mới kết luận được. Đây cũng là tình cảnh chung của các Công ty hoạt động XL trong khu vực bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga

    II – BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY

     

         
      GIÁM ĐỐC  
         

    PHÓ GĐ

                     
      Phòng tổ chức hành   Phòng kế hoạch   Phòng tài chính kế  
      chính   tổng hợp   toán  
                     

    Các đơn vị sản xuất của Công ty

    Các đơn vị sản xuất hiện tại của Công ty gồm có:

    1. Xí nghiệp XL và thi công cơ giới thuỷ lực.
    1. Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh nhà
    1. Chi nhánh Xí nghiệp XD Sông Đà 903 tại thành phố Hồ Chí Minh.
    1. Các đội xây dựng từ số 1 đến số 9 và các cửa hàng kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng.
    1. Trung tâm tư vấn chống thấm PosToc Sông Đà.
    1. Xưởng xây dựng và thiết kế trang bị nội thất.

    III – BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY.

    KẾ TOÁN TRƯỞNG

    Bộ phận tài   Bộ phận kế   Bộ phận kế   Bộ phận   Các phòng kế
    chính   toán văn   toán tổng hợp   kiểm tra kế   toán ở các đơn
          phòng       toán   vị sản xuất trực
                      thuộc
                         
    Kế toán vật   Kế toán   Kế toán   Kế toán   ……..  
        TSCĐ   LĐTL và các   tiêu thụ      
              khoản trích          
              theo lương          
                         
                         

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Ngoài phòng kế toán ở Công ty, ở các đơn vị sản xuất trực thuộc Công ty có các bộ phận kế toán riêng với nhiệm vụ kiểm tra thu thập, xử lý chứng từ ban đầu và hạch toán chi tiết, tổng hợp các hoạt động của đơn vị mình tuỳ theo sự phân cấp quản lý trong doanh nghiệp, rồi định kỳ gửi số liệu, tài liệu đã hạch toán của bộ phận mình về phòng kế toán ở Công ty. Phòng kế toán ở Công ty thực hiện việc tổng hợp số liệu báo cáo của các đơn vị sản xuất trực thuộc và hạch toán các nghiệp vụ chung toàn Công ty, lập đầy đủ các báo cáo kế toán định kỳ.

    (–> Hình thức tổ chức công tác kế toán của Công ty là theo kiểu “phân tán”)

    Phòng kế toán tại Công ty gồm 8 người (kể cả kế toán trưởng hoạt động theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của kế toán trưởng để thực hiện ba nhiệm vụ chính sau đây.

    1. Tổ chức bộ máy kế toán
    1. Tổ chức kế toán
    1. Thực hiện công tác tài chính tín dụng.

    Các phần việc được kế toán trưởng nghiên cứu và giao cho các nhân viên kế toán của phòng thực hiện, các nhân viên này sẽ chia nhau làm việc theo thông lệ: người này phụ trách tính lương và các khoản trích theo lương, người khác làm kế toán thanh toán … để hoàn thành công việc một cách nhanh nhất, kết quả kế toán được kế toán trưởng kiểm tra và chịu trách nhiệm trước Tổng Công ty và Nhà nước.

    Hình thức ghi sổ kế toán tại Công ty là hình thức Nhật ký chung, do đó trình tự ghi sổ hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương như sau:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHỨNG TỪ GỐC:

    • BẢNG CHẤM CÔNG
    • DANH SÁCH XÉT THI ĐUA
    • BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG
    Ghi chú: NHẬT KÝ CHUNG SỔ KẾ TOÁN CHI TIẾT

    GHI HÀNG NGÀY

    GHI CUỐI THÁNG

    QUAN HỆ ĐỐI CHIẾU

     IV – Đ

    SỔ CÁI BẢNG TỔNG HỢP CHI TIẾT

    TK 334,338

    BẢNG CÂN ĐỐI

    SỐ PHÁT SINH

    BÁO CÁO KẾ TOÁN

     

     

    IV. ĐẶC ĐIỂM VỀ LAO ĐỘ NG TIỀ N LƯƠNG Ở CÔNG TY

    QUYẾT ĐỊNH CỦA GIÁM ĐỐC CÔNG TY

    (về việc: Phê duyệt quy chế trả lương)

    GIÁM ĐỐC XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    • Căn cứ quyết định số 86/TCT – HĐQT ngày 18 tháng 09 năm 1996 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty xây dựng Sông Đà phê chuyển điều lệ tổ chức và hoạt động của Xí nghiệp XD Sông Đà 903.
    • Căn cứ quyết định số: 65/TCT – TCLĐ, ngày 10 tháng 4 năm 1997 của Tổng Công ty về phân cấp quản lý tổ chức, quản lý cán bộ công nhân viên và tiền lương cho các đơn vị trực thuộc.
    • Căn cứ quyết nghị số 161/TCT – HĐQT ngày 29/8/1998 của Hội đồng quản trị Tổng Công ty xây dựng Sông Đà phê duyệt quy chế

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    trả lương cho cán bộ công nhân viên Tổng Công ty xây dựng Sông Đà.

    – Xét tờ trình của Hội đồng lương Công ty.

    QUYẾT ĐỊNH

    Điều 1: Phê duyệt quy chế trả lương cho cán bộ công nhân viên trong toàn Xí nghiệp XD Sông Đà 903 ban hành kèm theo quyết định này (có quy chế chi tiết kèm theo).

    Điều 2: Quy chế này được áp dụng từ 1/10/1998. Những quy định trước đây trái với quy chế này đều không có hiệu lực.

    Điều 3: Các ông: Giám đốc các đơn vị thành viên; Trưởng các phòng Công ty và cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty có trách nhiệm thi hành quyết định này theo đúng những quy định của Tổng Công ty, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và pháp luật Nhà nước.

    QUY CHẾ TRẢ LƯƠNG CHO CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN

    CỦA XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    (Kèm theo quyết định 136/CT – TCHC, ngày 28/10/1998)

    Để cụ thể hoá quy chế trả lương cho cán bộ công nhân viên của Tổng Công ty. Nay Công ty ban hành quy chế trả lương cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty theo tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của Công ty.

    1. NGUYÊN TẮC TRẢ LƯƠNG:
    1. Cán bộ công nhân viên thuộc bộ máy quản lý của Công ty và các đơn vị thành viên được trả lương theo đúng trình độ về chuyên môn nghiệp vụ đã được Công ty và Tổng Công ty xếp hệ số bậc lương, nhiệm vụ được giao và mức độ hoàn thành.
    2. Việc trả lương phải phù hợp với sức lao động bỏ ra của người lao động, đảm bảo tính công bằng.
    3. Để đảm bảo việc trả lương chính xác, các đồng chí giám đốc các đơn vị thành viên và trưởng các phòng Công ty phải căn cứ vào khả năng của từng người và hệ số lương của cán bộ nhân viên đang hưởng để phân công công việc cho phù hợp với trình độ của cấp bậc tiền lương đó.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Việc trả lương hàng tháng phải căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh trong tháng của Công ty và các đơn vị thành viên trong Công ty và quỹ lương đã được giao trong dự toán chi phí quản lý.
    2. Căn cứ vào nhiệm vụ của từng đơn vị và các phòng Công ty để các đồng chí giám đốc đơn vị thành viên và trưởng các phòng Công ty phân công nhiệm vụ cụ thể từng cán bộ nhân viên hàng tuần, tháng làm căn cứ xếp loại để trả lương.
    1. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ:
    1. LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP.
    • Đối với nhân viên trực tiếp làm các công việc như: Trực điện nước, phục vụ nước uống, nấu ăn, làm tạp vụ, vệ sinh trong cơ quan Công ty và các đơn vị thành viên được trả lương theo hệ số điều chỉnh là 1,5 lần LCB. Đồng thời được tính thêm các khoản phụ cấp: Phụ cấp lưu động 20% LTT; Phụ cấp không ổn định sản xuất: 10% LCB.
    • Đối với công nhân lái xe con phục vụ được trả lương theo hệ số điều chỉnh là 1,8 lần LCB. Phụ cấp trách nhiệm lái xe cho Giám đốc Công ty là 20%/LTT có hệ số điều chỉnh. Đối với lái xe phục vụ còn lại phụ cấp trách nhiệm là 15%/LTT có hệ số điều chỉnh. Lái xe làm thêm các ngày chủ nhật, ngày lễ vẫn được thanh toán tăng ca.
    1. LAO ĐỘNG GIÁN TIẾP
    • Xếp loại trả lương: Căn cứ vào cấp bậc tiền lương đang hưởng để các đồng chí giám đốc các đơn vị thành viên trưởng các phòng Công ty bố trí việc làm cho phù hợp với cấp bậc tiền lương đó. Nhưng để khuyến khích những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn và đem lại hiệu quả kinh tế cao và ngược lại thì việc trả lương theo hình thức xếp loại là công bằng và hợp lý. Việc xếp loại hệ số điều chỉnh tiền lương tối thiểu được thực hiện như sau:

    Loại 1: Hệ số 2,3 lần lương cơ bản (LCB) những không vượt quá 50% số người trong phòng, ban.

    Loại 2: Hệ số 2,0 lần LCB nhưng không vượt quá 30% số người trong phòng ban.

    Loại 3: Hệ số 1,8 lần LCB số người còn lại.

    (Kèm theo phụ lục I quy định về tiêu chuẩn xếp loại cán bộ nhân viên của bộ máy quản lý Công ty và các đơn vị thành viên).

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Phụ cấp trách nhiệm cho các chức danh lãnh đạo và phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ kiêm nhiệm công tác Đảng, Công đoàn (phụ lục II kèm theo).
    • Các loại phụ cấp (Phụ lục III kèm theo)
    • Đối với các trường hợp dưới đây:
    • Cán bộ nhân viên thuyên chuyển từ các cơ quan khác đến công tác tại bộ máy quản lý Công ty được hưởng mức lương bằng 85% trong thời gian 3 tháng.
    • Đối với cán bộ do Công ty xin từ đơn vị ngoài về làm việc tại bộ máy Công ty việc trả lương sẽ có quyết định riêng.
    • Đối với sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp được hưởng mức lương bằng 85% trong vòng 12 tháng.
    • Đối với cán bộ được Tổng Công ty và Công ty cử đi học các lớp quản lý kinh tế, tập huấn nâng cao nghiệp vụ, học các lớp chính trị được hưởng 100% và các khoản phụ cấp (nếu có) và các quyền lợi khác.
    • Đối với cán bộ nhân viên được Công ty cử đi học Đại học tại chức được hưởng nguyên lương chính trong thời gian đi học (tiền học phí cá nhân tự đóng, Công ty không thanh toán)
    1. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
    1. Quy chế này áp dụng để tính và trả lương cho cán bộ công nhân viên thuộc lao động trực tiếp và lao động gián tiếp của toàn Công ty trong những ngày làm việc.
    2. Những ngày lễ, tết, nghỉ phép và hưởng theo lương BHXH tính theo mức lương tối thiểu là 144.000 đồng (không có hệ số điều chỉnh).
    3. Các khoản phụ cấp trách nhiệm cho các chức vụ của bộ máy quản lý Công ty, bộ máy quản lý các đơn vị thành viên và các đoàn thể (phụ lục II kèm theo) được tính theo mức lương tối thiểu với hệ số điều chỉnh được xếp loại.
    4. Đối với cán bộ nhân viên làm thêm giờ thì các phòng bố trí nghỉ bù vào ngày thích hợp, trường hợp đặc biệt phải có kế hoạch và được Giám đốc Công ty duyệt trước khi thanh toán.
    5. Việc trả lương hàng tháng phải căn cứ vào tỷ lệ % thực hiện kế hoạch.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Căn cứ vào việc thực hiện nhiệm vụ hàng tháng các đơn vị thành viên và các phòng Công ty phải xét duyệt theo tỷ lệ để trả lương một cách công bằng và hợp lý.
    2. Thời gian áp dụng quy chế này từ ngày 1 tháng 10 năm 1998. Những quy định trước đây trái với quy chế này đều không có hiệu lực.
    3. Giao cho các Giám đốc đơn vị thành viên và trưởng các phòng Công ty phổ biến đến từng cán bộ nhân viên và tổ chức thực hiện quy chế này. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc đơn vị phản ánh về Công ty qua phòng tổ chức hành chính để trình hội đồng lương xem xét.

    PHỤ LỤC I

    QUY ĐỊNH VỀ TIÊU CHUẨN XẾP LOẠI CÁN BỘ CÔNG

    NHÂN VIÊN CỦA BỘ MÁY QUẢN LÝ.

    Việc phân loại để trả lương cho cán bộ công nhân viên Công ty được phân loại theo những tiêu chuẩn sau đây:

    Loại Tiêu chuẩn xếp loại Tỷ lệ/ Σ người
         
      – Là những người hoàn thành xuất sắc các công  
      việc được giao trong tháng phù hợp với hệ số  
      cấp bậc công việc đang hưởng lương; Có tinh  
    Loại 1 thần trách nhiệm cao, chủ động trong công 50%
      việc, có khả năng thực hiện độc lập các công  
      việc đó.  
      – Số ngày nghỉ trong tháng không quá 2 ngày  
      – Hệ số điều chỉnh tiền lương là 2,3 LTT  
         
      – Là những người hoàn thành tốt các công việc  
      được giao giải quyết trong phạm vi nhất định  
    Loại 2 về nghiệp vụ, hiệu quả công việc đạt mức khá. 30%
      – Số ngày nghỉ trong tháng không quá 3 ngày  
      – Hệ số điều chỉnh tiền lương là 2,0 LTT  
         
      – Là những người hoàn thành công việc ở mức  
      trung bình.  
    Loại 3 – Là những người mới chuyển đến đang trong 20%
    thời gian tìm hiểu công việc được hưởng mức
      lương bằng 85% trong thời gian 3 tháng.  
      – Là học sinh ở các trường đại học, trung học  
         

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    chuyên nghiệp mới về nhận công tác (tập sự) được hưởng mức lương bằng 85% trong thời gian 12 tháng.

    – hệ số điều chỉnh tiền lương là 1,8 LTT

    Là những người làm các công việc như: Trực

    Loại 4 điện, nước; làm tạp vụ, vệ sinh và phục vụ nước uống ở Công ty và các đơn vị thành viên

    – Hệ số điều chỉnh là 1,5 LTT

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    PHỤ LỤC II

    MỨC PHỤ CẤP TRÁCH NHIỆM CHO CÁC CHỨC DANH

    LÃNH ĐẠO

    TT Chức danh lãnh đạo Phụ cấp, Ghi chú  
    chức vụ
           
    1 Bí thư Đảng uỷ Công ty 0.6 LTT    
             
    2 Thường trực Đảng uỷ Công ty 0.4 LTT    
             
    3 Chủ tịch công đoàn Công ty 0.5 LTT    
             
    4 Phó chủ tịch công đoàn – Kiêm trưởng 0.3 LTT    
      ban nữ công      
             
    5 Bí thư chi bộ 0.25 LTT    
             
    6 Trưởng phòng Công ty 0.4 LTT    
             
    7 Phó phòng Công ty và chức vụ tương 0.3 LTT    
      đương      
             
    8 Đội trưởng trực thuộc Công ty 0.3 LTT    
             
    9 Giám đốc đơn vị thành viên 0.4 LTT    
             
    10 P.giám đốc đơn vị thành viên 0.3 LTT    
             
    11 Trưởng ban đơn vị thành viên 0.25 LTT    
             
    12 Phó ban đơn vị thành viên 0.2 LTT    
             
    13 Các đội trưởng trực thuộc đơn vị 0.25 LTT    
      thành viên      
             
    14 Chủ tích công đoàn đơn vị thành viên 0.3 LTT    
             
    15 Phó chủ tịch CĐ đơn vị thành viên 0.2 LTT    
             

    Ghi chú: Mức lương tối thiểu để tính phụ cấp trách nhiệm căn cứ vào mức lương tối thiểu đã điều chỉnh hệ số xếp loại.

    PHỤ LỤC III

    CÁC KHOẢN PHỤ CẤP CHO CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN

    TRONG TOÀN CÔNG TY

    TT Các khoản phụ cấp % Phụ cấp Ghi chú
    1. Phụ cấp lưu động 20% LTT  
    2. Phụ cấp không ổn định sản xuất 10% LCB  
           
    • – QUÁ TRÌNH HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Hình thức trả lương và quỹ tiền lương của Công ty

    Nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích chung của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động, đồng thời với mong muốn có hình thức trả lương đúng đắn để làm đòn bẩy kinh tế, khuyến khích người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động, đảm bảo ngày công, giờ công và năng suất lao động phòng kế toán Công ty xây dựng Sông Đà đã nghiên cứu thực trạng lao động ở Công ty (cả bộ phận làm công việc hành chính và bộ phận các xí nghiệp, tổ đội làm công tác sản xuất kinh doanh) và đưa ra quyết định lựa chọn các hình thức trả lương sau đây áp dụng tại Công ty.

    A – HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG THỜI GIAN THEO SẢN PHẨM

    Đây là hình thức trả lương vừa căn cứ vào thời gian làm việc theo ngành nghề và trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn của người lao động vừa căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc đã hoàn thành.

    Tuy nhiên, khối lượng, chất lượng công việc hoàn thành (lương theo sản phẩm) trong hình thức kết hợp này chỉ là tính gián tiếp cho lương của người lao động vì hình thức trả lương thời gian theo sản phẩm được Công ty áp dụng cho công nhân viên bộ phận làm công việc hành chính, không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Mức hoàn thành sản lượng kế hoạch là căn cứ để tính lương thời gian theo sản phẩm cho các nhân viên văn phòng hành chính.

    Cách tính lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty:

    Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau mà mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng như: thang lương công nhân cơ khí, thang lương công nhân lái xe… Trong mỗi thang lương lại tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuật, chuyên môn mà chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức nhất định mà Công ty gọi là “Mức lương cơ bản” của mỗi người lao động.

    Mức lương cơ bản = Hệ số lương (bậc lương) x LTT

    VD: Hệ số lương = 2,5 –> Mức LCB = 2,5 x 144.000 đ = 360.000đ

    LTT: Lương tối thiểu (theo quy định là 144.000đ) đơn vị tính lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty là “ngày”

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Lương ngày là tiền lương Công ty trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Như vậy, tiền lương Công ty phải trả cho người lao động trong tháng được tính như sau:

    Error!

    Error!

    VD:

    Error!

    Tiền lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty cũng chia làm hai loại: – Tiền lương thời gian theo sản phẩm giản đơn

    – Tiền lương thời gian theo sản phẩm có thưởng.

    Tiền lương thời; gian theo sản; phẩm giản đơn (tháng) = Error!

    Tiền lương thời; gian theo sản; phẩm có thưởng = Error!

    Tuỳ từng bộ phận tính lương (kế toán tính lương VP Công ty hay kế toán tiền lương ở các xí nghiệp sản xuất tính lương cho VP các xí nghiệp), giám đốc quyết định tính theo lương có thưởng hay không có thưởng. Cụ thể trong chuyên đề này, kế toán Công ty tính lương cho BP văn phòng Công ty theo tiền lương có thưởng, còn kế toán xí nghiệp kinh doanh vật tư tính lương cho bộ phận văn phòng xí nghiệp theo lương giản đơn.

    • – HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG KHOÁN

     

    • Công ty, hiện tại trong việc trả lương cho người lao động có hai hình thức khoán:

    – Khoán công việc – Khoán quỹ lương.

    + Hình thức khoán công việc được Công ty áp dụng cho những công việc lao động giản đơn mà rõ nhất là thể hiện ở việc Công ty giao khoán công việc cho các công việc bảo vệ, quản lý công trình sẽ được đề cập đến trong chuyên đề.

    Error!

    VD:  – Bảo vệ                                           400.000đ/tháng

    – Quản lý công trình          600.000đ/tháng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Hình thức khoán quỹ lương là một dạng đặc biệt của tiền lương trả theo sản phẩm (trả theo khối lượng công việc) được Công ty sử dụng để trả lương cho người lao động tại các đội xây dựng trực thuộc Công ty. Căn cứ vào các phần việc ở từng công trình, Công ty giao khoán mỗi phần việc cho các đội xây dựng chuyên môn từ số 1 đến số 9 thuộc Công ty. Mỗi phần việc tương ứng một khoản tiền mà khi đội hoàn thành công việc sẽ được quyết toán và số tiền này chính là quỹ lương của đội do Công ty giao khoán. Tiền lương thực tế của từng nhân viên trong đội xây dựng số tiền lương Công ty giao khoán sẽ được chia cho số lượng nhân viên trong đội.

    VD: Công ty giao cho tổ (đội) xây dựng: Nề

    1. Xây móng mác 75# : 169,337 m3.

    Đơn giá           : 45.000đ/m3.

    Thành tiền  : 7.620.165 đồng.

    Như vậy, sau khi hoàn thành công việc và được nghiệm thu chất lượng sản phẩm, đội Nề sẽ được hưởng 7.620.165 đồng tiền lương khoán, trên cơ sở đó tiền lương của mỗi công nhân trong đội được chia theo quy định riêng của đội (tính theo khối lượng công việc hoàn thành của mỗi người).

    C – QUỸ TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY

    Công ty có bộ phận nhân viên văn phòng Công ty (quản lý) do kế toán lương Công ty phụ trách, bộ phận nhân viên các đội xây dựng do kế toán công trình phụ trách. Do đó, quỹ tiền lương của Công ty cũng có ba loại tương ứng.

    • Quỹ tiền lương của nhân viên quản lý Công ty do kế toán lương Công ty phụ trách.
    • Quỹ tiền lương của nhân viên các xí nghiệp do kế toán tiền lương các xí nghiệp phụ trách.
    • Quỹ tiền lương khoán của nhân viên (công nhân) các đội xây dựng do kế toán công trình phụ trách.
    1. Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ của Công ty.

    Công ty xây dựng Sông Đà là một doanh nghiệp Nhà nước, vì vậy, Công ty là đối tượng nộp BHXH, BHYT, KPCĐ bắt buộc theo quy định của Nhà nước.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    A – Quỹ BHXH

    Không phân tách độc lập như quỹ lương, quỹ BHXH của Công ty được kế toán bảo hiểm Công ty trích lập cho cả nhân viên văn phòng Công ty (nhân viên quản lý Công ty), cả nhân viên ở các xí nghiệp sản xuất, cả công nhân ở các đội xây dựng. Cuối quý, sau khi trích lập, toàn bộ quỹ BHXH của Công ty được nộp lên cơ quan BHXH.

    Hiện nay, theo chế độ hiện hành, Công ty trích quỹ BHXH theo tỷ lệ 20% tổng quỹ lương cấp bậc của người lao động trong cả Công ty thực tế trong kỳ hạch toán.

    Thông thường, Công ty tiến hành trích lập 20% quỹ BHXH 3 tháng 1 lần và phân bổ với các mức như sau cho các đối tượng:

    – Nhân viên quản lý Công ty

    5% khấu trừ trực tiếp lương nhân viên

    15% tính vào chi phí quản lý Công ty.

    • Nhân viên các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực thuộc Công ty 5% trừ trực tiếp vào lương nhân viên

    15% phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh của cụ thể từng xí

    nghiệp.

    Các xí nghiệp phải trích đủ 20% và nộp lên quỹ BHXH của Công ty theo quy định.

    • Công nhân xây dựng ở các đội xây dựng trực thuộc Công ty và một số nhân viên khác thuộc diên không tham gia đóng BHXH thì Công ty không trích quỹ BHXH cho những người này.
    • Ngoài ra, ở Công ty có những nhân viên thuộc diện nghỉ không lương, theo quy định đóng toàn bộ 20% BHXH vào quỹ BHXH của Công ty. Vì vậy, hàng quý những người này phải trực tiếp đem tiền lên nộp quỹ BHXH trên Công ty với mức 20% lương cấp bậc, Công ty không nộp % nào cho những trường hợp này.

    B – Quỹ BHYT

    Giống như quỹ BHXH, quỹ BHYT được trích lập tập trung tại Công ty với mức trích là 3% tổng quỹ lương cơ bản của người lao động trong cả Công ty thực tế trong kỳ hạch toán và được nộp cho cơ quan BHYT 3 tháng 1 lần.

    Các mức phân bổ trích BHYT như sau:

    • Nhân viên quản lý Công ty: Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1% Khấu trừ trực tiếp lương của người lao động

    2% tính vào chi phí quản lý Công ty.

    • Nhân viên các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực thuộc Công ty: 1% khấu trừ trực tiếp lương của nhân viên

    2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của từng xí nghiệp Các xí nghiệp phải trích và nộp 3% này lên quỹ BHYT tập

    trung của Công ty theo quy định.

    • Công nhân xây dựng ở các đội xây dựng trực thuộc Công ty và một số nhân viên khác không thuộc diện tham gia đóng BHYT thì Công ty không trích lập quỹ BHYT cho những người này.
    • Ngoài ra, những nhân viên nghỉ không lương ở Công ty phải mang số tiền 3% BHYT lên Công ty nộp vào quỹ BHYT Công ty ít nhất 3 tháng 1 lần (Công ty không có trách nhiệm nộp thay cho nhân viên 2%)

    C – Quỹ KPCĐ.

    Khác với quỹ BHXH, BHYT quỹ KPCĐ của Công ty không được trích lập, nộp trực tiếp lên cơ quan công đoàn cấp trên mà quỹ KPCĐ của Công ty sau khi tập trung lại sẽ nộp lên Tổng Công ty để Tổng Công ty trực tiếp thanh toán với công đoàn cấp trên.

    Quỹ KPCĐ được trích lập theo tỷ lệ 2% tổng quỹ lương thực trả cho người lao động trong Công ty trong kỳ hạch toán (quý).

    Trong 2% này, 0,8% sẽ được giữ lại làm quỹ KPCĐ chi trả cho các hoạt động công đoàn tại mỗi bộ phận tính lương (Công ty, xí nghiệp), còn lại 1,2% phải nộp tập trung lên quỹ KPCĐ của Tổng Công ty.

    Toàn bộ số tiền trích lập quỹ KPCĐ, được phân bổ hoàn toàn vào chi phí sản xuất kinh doanh, cụ thể.

    • Ở văn phòng Công ty: tính vào chi phí nhân viên quản lý.
    • Ở các xí nghiệp sản xuất kinh doanh: tính vào chi phí nhân viên
    • cụ thể từng bộ phận (nhân viên phân xưởng, nhân viên quản lý…)
    • Đối với nhân viên ở các đội sản xuất, nhân viên nghỉ không lương thì KPCĐ không được trích cho số người này.
    1. Hạch toán số lượng lao động ở Công ty

    Chỉ tiêu số lượng lao động của Công ty được phòng tổ chức hành chính theo dõi, ghi chép trên các sổ danh sách lao động. Căn cứ vào số lao động hiện có của Công ty bao gồm cả số lao động dài hạn

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    và tạm thời, cả lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp, cả lao động ở bộ phận quản lý và lao động ở bộ phận sản xuất kinh doanh, phòng tổ chức – hành chính lập các sổ danh sách lao động cho từng khu vực (văn phòng Công ty, khu đầm 7, xưởng Cầu Giấy, xí nghiệp kinh doanh vật tư…) tương ứng với các bảng thanh toán lương sẽ được lập cho mỗi nhóm nhân viên ở mỗi khu vực.

    Cơ sở để ghi sổ danh sách lao động là các chứng từ ban đầu về tuyển dụng, thuyên chuyển công tác, nâng bậc, thôi việc…

    Mọi biến động về lao động đều được ghi chép vào sổ danh sách lao động để làm căn cứ cho việc tính lương và các chế độ khác cho người lao động.

    Ví dụ: Mẫu sổ số 1.

    Văn phòng Xí DANH SÁCH LAO ĐỘNG Xí nghiệp XD
    nghiệp XD Sông Đà   Lập ngày 1/1/1999 Sông Đà 903
    903              
                     
      TT   Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú
      1   Phạm Minh     5,72      
      .         .      
      .         .      
      28   Ngô Đức Dũng     1,78      
      29   Dư Đức Hiệp     1,78      
      30   Nguyễn Đình Thuận   1,78      
                       

    Kèm theo 30 hợp đồng lao động

    Người lập biểu

    (Ký tên)

    Giám Đốc

    (Ký tên)

     

    Sổ danh sách lao động của Công ty gồm 4 cột.

    • Cột 1: Ghi thứ tự Cột 2: Họ và tên

    Cột 3: Theo dõi cấp bậc công nhân (nhân viên)

    Cột 4: “Ghi chú”

    Trường hợp nhân viên hưởng lương khoán không tham gia

    đóng BHXH, BHYT thì cột này không được theo dõi theo hệ số cấp bậc mà ghi “HĐ” nghĩa là lương khoán theo hợp đồng.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Xưởng Cầu Giấy DANH SÁCH LAO ĐỘNG    Xí  nghiệp  XD
        Lập ngày 1/1/1999 Sông Đà 903
                 
    TT Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú
    1 Phạm Văn Cần   2,55   Khoán lương  
    2 Phương Đình Nga     Khoán lương  
    3 Đỗ Duy THanh     Khoán lương  
                 
        Kèm theo 3 hợp đồng lao động        
        Người lập biểu   Giám Đốc  
          (Ký tên)   (Ký tên)  
      Đầm 7 DANH SÁCH LAO ĐỘNG Xí nghiệp XD Sông  
          Lập ngày 1/1/1999   Đà 903  
                     
    TT     Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú  
    1   Nguyễn Văn Chấp   1,85   Khoán lương  
    2   Vũ Mạnh Khiêm     Khoán lương  
                   
        Kèm theo 2 hợp đồng lao độ ng        
        Người lập biểu   Giám Đốc  
          (Ký tên)   (Ký tên)  
                         

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Đội: Nề DANH SÁCH LAO ĐỘNG Xí nghiệp XD Sông
        Lập ngày 1/1/1999   Đà 903
               
    TT   Họ và tên Cấp bậc   Ghi chú
    1 Nguyễn Văn Lợi   Lương khoán
    2 Huỳnh Đa Phước   Lương khoán
    .          
    49 Ngô Tiến Long   Lương khoán
    50 Lương Việt Hùng   Lương khoán
             
      Kèm theo 50 hợp đồng lao động    
        Người lập biểu   Giám Đốc
        (Ký tên)   (Ký tên)

    Văn phòng Xí nghiệp        DANH SÁCH LAO ĐỘNG    Xí nghiệp XD

    kinh doanh vật tư Lập ngày 1/1/1999 Sông Đà 903
             
    TT Họ và tên   Cấp bậc Ghi chú
    1 Hoàng Anh   3,48  
    2 Hà Quang Du   2,50  
    .        
    8 Cao Hoàng Hà   1,70  
    9 Nguyễn Mạnh Chiến   1,78  
    10 Nguyễn Đình Lê   Lương khoán
             

    Kèm theo 10 hợp đồng lao động

    Người lập biểu                                                        Giám Đốc

    (Ký tên)                                                                    (Ký tên)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

      Chuyên đề thực tập tốt nghiệp     Nguyễn Thị Nga
      Công trình Nhà tập võ              
      vật TT TDTT Quốc gia              
      Xí nghiệp kinh DANH SÁCH LAO ĐỘNG    Xí nghiệp XD
        doanh vật tư Lập ngày 1/1/1999   Sông Đà 903
                     
      TT   Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú
      1   Lê Văn Hà     2,74        
      2   Trần Thị Hường     2,21        
      8   Dương Đức Thịnh       Lương khoán  
                       
          Kèm theo 8 hợp đồng lao độ ng          
          Người lập biểu Giám Đốc
          (Ký tên)       (Ký tên)
    1. Hạch toán sử dụng thời gian lao động tại Công ty:

    Hạch toán tiền lương theo thời gian được tiến hành cho khối cơ quan đoàn thể của Công ty. Nói cách khác, đối tượng áp dụng hình thức trả lương theo thời gian ở Công ty là cán bộ công nhân viên ở các bộ phận phòng ban văn phòng Công ty và công nhận ở các đội.

    • mỗi bộ phận văn phòng (văn phòng Công ty, văn phòng các xí nghiệp) có người theo dõi thời gian làm việc của CBCNV (theo mẫu số 01 – LĐTL).
    • mỗi đội xây dựng có sự phân chia nhóm công nhân làm việc theo yêu cầu của từng công việc cụ thể được Công ty giao ở từng công trình. Mỗi nhóm cử ra một người lập bảng chấm công và theo dõi ngày làm việc thực tế của các thành viên trong nhóm

    Hàng ngày căn cứ vào sự có mặt của từng người trong danh sách theo dõi trên Bảng chấm công, người phụ trách việc chấm công đánh dấu lên Bảng chấm công ghi nhận thời gian làm việc của từng người trong ngày tương ứng từ cột 1 – cột 31. Bảng chấm công được công khai cho mọi người biết và người chấm công là người chịu trách nhiệm về sự chính xác của Bảng chấm công.

    Cuối tháng, Bảng chấm công ở các văn phòng được chuyển về phòng kế toán tương ứng (chấm công văn phòng Công ty thì chuyển về kế toán lương của Công ty, chấm công văn phòng xí nghiệp kinh

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    doanh vật tư thì chuyển về kế toán lương của xí nghiệp kinh doanh vật tư …) để làm kế toán căn cứ tính lương, tính thưởng và tổng hợp thời gian lao động sử dụng trong Công ty, trong xí nghiệp. Thời hạn nộp chậm nhất là 2 ngày sau khi hết tháng.

    Bảng chấm công ở các nhóm thuộc các đội ở các công trình được theo dõi cũng theo tháng nhưng ở các công trình được theo dõi cũng theo tháng nhưng phải đến khi hoàn thành công việc được giao thì Bảng chấm công mới được tập hợp để tính ngày lao động của từng người. Số tiền lương khoán sau đó sẽ được chia cho mọi người căn cứ vào số ngày công thực tế của mỗi công nhân thể hiện trên Bảng chấm công.

    Bộ phận nhân viên hưởng lương khoán công việc thì mức lương khoán đã được tính cho tháng làm việc nên Công ty không theo dõi thời gian sử dụng lao động của số nhân viên này.

    Nếu có trường hợp CBCNV chỉ làm một phần thời gian lao động theo quy định trong ngày, vì lý do nào đó vắng mặt trong thời gian còn lại của ngày thì người chấm công căn cứ vào số thời gian làm việc của người đó để xem xét tính công ngày đó cho họ là 1 hay 1/2 hao là “0”.

    Nếu CBCNV nghỉ việc do ốm đau, thai sản… phải có các chứng từ nghỉ việc của cơ quan y tế, bệnh viện cấp, và được ghi vào bảng chấm công theo những ký hiệu quy định như: ốm “ô”, con ốm “cô”, thai sản “TS”… Trường hợp nghỉ phép “P” thì ở Công ty chỉ cần công nhân viên có báo trước cho người chấm công thì ngày nghỉ của họ được ghi là “P”.

    VD: Trên bảng chấm công T3 của bộ phận văn phòng xí nghiệp kinh doanh vật tư các ngày từ 1 –> 31 ghi 27 công nghỉ đẻ “TS” của chị Vũ Bích Phượng có chứng từ kèm theo là giấy khám bệnh của bệnh viện như sau:

    (kèm giấy xin nghỉ TS trước 1 tháng)

    PHIẾU KHÁM BỆNH

    Họ và tên: Vũ Bích Phượng

    Địa chỉ: xí nghiệp kinh doanh vật tư – Xí nghiệp XD Sông Đà 903

    Khoa khám bệnh: – Sản –

    Chẩn đoán

    Ngày sinh con: 25/3 – 29/3

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Ngày nghỉ theo quy định: 4 tháng.

    Ngày 15 tháng 3 năm 1999

    Giám đốc bệnh viện         Hành chính khoa                 Bệnh nhân ký

    Các cột “quy đổi” gồm 3 cột lương – lương 100% – Nghỉ không lương tuy có được thể hiện trên Bảng chấm công nhưng người phụ trách chấm công không có trách nhiệm phải ghi chép vào các cột này. Chỉ khi tính lương, các bảng chấm công mới được quy đổi ra thành số ngày tính lương thực tế, số ngày nghỉ tính lương theo chế độ 100% lương cơ bản, số ngày nghỉ không được tính lương cho mỗi người lao động ứng với mỗi dòng trên bảng chấm công.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Mẫu sổ số 2

    Văn phòng xí nghiệp       BẢNG CHẤM CÔNG         Xí nghiệp kinh doanh vật tư –
    kinh doanh vật tư         Tháng 3 năm 1999           Xí nghiệp XD Sông Đà 903 –
                                                   
                                          Quy đổi   Ghi
      STT Họ và tên 1 2 3   4 5 6 7 …… 27 28 29 30   31 lương   lương   Nghỉ chú
                                            100%   KL  
      1 Hoàng Anh x x x   x x x CN …………. x CN x x   x            
      2 Trương Bá Đức x x x   x x x   …………. x   x x   x            
                                                   
      3 Hà Quang Du x x x   x x x x …………. x   x x   x            
      4 Đỗ Hoàng Liên x x x   x x x   …………. x   x x   x            
      5 Cao Hoàng Hà x x H   H H x   …………. x   0 x   x            
                                                   
      6 Nguyễn Khánh Hùng x x x   x x x     x   x x   x            
      7 Nguyễn Ngọc Hoa 0 0 0   x x x     x   x 0   x            
      8 Vũ Bích Phượng TS TS TS   TS TS TS     TS   TS TS   TS            
                                                   
      9 Nguyễn Mạnh Chiến x x x   x x x     x   x x   x            
        Người chấm công           Phụ trách bộ phận           Giám đốc duyệt    

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Hạch toán kết quả lao động
    • Ở bộ phận văn phòng Công ty, để hạch toán kết quả lao động, làm cơ sở để tính lương, kế toán sử dụng các danh sách xét thi đua (Bảng xếp loại) làm chứng từ ban đầu.

    Danh sách xét thi đua do trưởng phòng của các phòng ban ở bộ phận văn phòng Công ty lập vào cuối tháng để chấm xếp loại kết quả công việc của từng nhân viên trong phòng ban của mình trên cơ sở các quy định về việc xếp loại CBCNV của bộ máy quản lý trong quy chế trả lương của Công ty (đã nêu trong đặc điểm LĐ TL ở Xí nghiệp XD Sông Đà 903). Hệ số xếp loại hay hệ số điều chỉnh (HSĐC) được quy đổi ra cho từng nhân viên theo xếp loại trong bảng danh sách xét thi đua là một căn cứ quan trọng để tính lương cho nhân viên của bộ máy quản lý Công ty (nhân viên văn phòng Công ty).

    VD: Trưởng phòng TC – KT căn cứ vào bảng chấm công tháng 3 và kết quả công việc của Phan Đình Cường chấm xếp loại cho ông Cường HSĐC: 2,3 (loại 1) với lý do:

    – Số ngày nghỉ trong tháng không quá 2 ngày – Hoàn thành xuất sắc các công việc được giao.

    Mẫu số 3:

    XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    Phòng TC – KT

    DANH SÁCH XÉT THI ĐUA

    Tháng 3 năm 1999

    TT Họ và tên   Xếp loại   Ghi chú  
    2,3 2 1,8
           
    1 Ngô Doãn x        
                 
    2 Phan Đình Cường x        
                 
    3 Tăng Bích Trâm x        
                 
    4 Đặng Thị Thu   x      
                 
    5 Vũ Thị Nga x        
                 
    6 Lê Nguyên Bảo   x      
                 
    7 Phạm Thị Đà Giang   x      
                 
    8 Ngô Đức Dũng     x    
                 

    Hà nội, ngày 28 tháng 3 năm 1999.

    Trưởng phòng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    (kí tên)

    Một số nhân viên thuộc bộ máy quản lý công ty nhưng không thuộc phòng ban nào thì HSĐC được qui định rõ trong qui chế lương công ty là căn cứ để hạch toán kết quả lao động của họ.

    Ví dụ:

    Công nhân lái xe con → HSĐC: 1,8

    Nhân viên tạp vụ           → HSĐC: 1,5

    Hệ số điều chỉnh (HSĐC) sẽ được dùng làm căn cứ để tính “lương xếp loại” cho nhân viên bộ máy quản lý như sau:

    Lương theo;xếp loại = Mức lương;cơ bản x Hệ số;điều chỉnh

    Ví dụ: một người có mức lương cơ bản = 360.000 đ

    Trong tháng được xếp loại: 2,3

    • Lương theo xếp loại = 360.000 đ x 2,3 = 828.000 đ
    • Tuỳ theo khả năng của các xí nghiệp SXKD trực thuộc công ty mà bộ phận văn phòng của các đơn vị này có được hạch toán kết quả lao động hay không. Hiện tại, bộ phận nhân viên văn phòng XNXD và KDVT cũng được hạch toán kết quả lao động theo xếp loại HSĐC.
    • Đối với người lao động ở các đội XD của công ty, công ty giao khoán quỹ lương cho các đội và đối với các đội sản xuất ở các xí nghiệp do xí nghiệp thuê giao khoán công việc, vì vậy chứng từ hạch toán kết quả lao động của bộ phận này là Hợp đồng làm khoánbiên bản nghiệm thu kỹ thuật.

    Tháng 3 năm 1999, công ty giao khoán công việc cho đội Nề trực thuộc công ty ở công trình: Trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị. Giữa công ty và đội ký hợp đồng làm khoán. Hết tháng, hoàn thành phần việc được giao, đội Nề và công ty lập biên bản nghiệm thu kỹ thuật cho phần việc đã hoàn tất.

    Hợp đồng làm khoán hạng mục cổng, tường rào ở công trình “Trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị” và biên bản nghiệm thu kỹ thuật cho phần việc khoán này là chứng từ ban đầu để cho phần việc khoán này là chứng từ ban đầu để hạch toán kết quả lao động tháng 3 cho đội Nề. Biên bản nghiệm thu kỹ thuật đã công nhận

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    chất lượng công việc đội Nề hoàn thành, vì vậy số tiền ghi trên hợp đồng làm khoán sẽ được công ty thanh toán và là quỹ lương khoán tháng 3 của công ty giao cho đội.

    • Còn lại, với những trường hợp nhân viên giao khoán lương (VD: bảo vệ: 400.000 đ) thì chứng từ ban đầu để hạch toán kết quả lao động là hợp đồng nhân công. Hợp đồng này là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán về công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên khi thực hiện công việc đó. Chứng từ này là cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán.

    VD: Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư – Xí nghiệp XD Sông Đà 903 ký hợp đồng nhân công, giao khoán cho Nguyễn Đình Lê lương bảo vệ: 300.000 đ/tháng.

    Hàng tháng, căn cứ vào số tiền ghi trong hợp đồng này, kế toán lương tính trả lương tháng cho ông Lê 300.000đ

    HỢP ĐỒNG NHÂN CÔNG Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư Xí nghiệp XD Sông Đà 903

    Hôm nay, ngày 1 tháng 1 năm 1999 Chúng tôi gồm: Hoàng Anh – Giám đốc xí nghiệp (Bên A)

    Nguyễn Đình Lê – Người lao động (Bên B)

    Hai bên cùng nhau ký kết hợp đồng với nội dung sau:

    Điều I: Trách nhiệm bên B:

    • Chịu trách nhiệm về an ninh tại trụ sở xí nghiệp (186 Ngô Gia Tự – Gia

    Lâm)

    • Chấp hành nội quy và quy định chung của xí nghiệp.

    Điều II: Trách nhiệm bên A:

    • Trả lương tháng đúng hạn (vào cuối tháng)
    • Đảm bảo điều kiện làm việc cho nhân viên. Điều III: Số tiền lương khoán 300.000đ/tháng

    Bên giao việc A                                               Bên nhận việc B

    Ký tên                                                                         Ký tên

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Ngoài ra, chứng từ hạch toán kết quả lao động ở Công ty còn có các báo cáo sản lượng.
      • Công ty, các báo cáo sản lượng của các xí nghiệp sản xuất được gửi lên hàng tháng thông báo tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế toán tổng hợp ở Công ty tổng hợp các báo cáo sản lượng tính ra mức hoàn thành kế hoạch sản lượng bình quân của Công ty để làm căn cứ tính lương thời gian theo sản phẩm cho nhân viên quản lý Công ty.
    • các xí nghiệp sản xuất, các báo cáo sản lượng được lập ở các công trình, hết tháng nộp lên kế toán xí nghiệp để xí nghiệp tổng hợp ra mức hoàn thành kế hoạch sản lượng bình quân của cả xí nghiệp, lấy số liệu lập báo cáo sản lượng nộp lên kế toán Công ty đồng thời làm căn cứ tính lương thời gian theo sản phẩm cho nhân viên bộ máy quản lý xí nghiệp.
    1. Hạch toán tiền lương và thanh toán với người lao động.

    A – Tính lương:

    Công việc tính lương và các khoản khác phải trả cho người lao động được thực hiện tập trung tại phòng kế toán Công ty trước khi tính lương, kế toán tập hợp các chứng từ hạch toán thời gian lao động (Bảng chấm công …) kết quả lao động (hợp đồng giao khoán, biên bản nghiệm thu sản phẩm…) và kiểm tra tính hợp lý hợp lệ của toàn bộ số chứng từ này để dùng làm căn cứ tính lương.

    1. Tính lương cho CBCNV áp dụng hình thức trả lương thời gian theo sản

     

    phẩm.

     

    Như đã giới thiệu sơ qua về hình thức trả lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty (phần I), các nhân viên của Công ty áp dụng trả lương theo hình thức này được kế toán tính lương tháng như sau:

    Tháng 3 năm 1999, bộ phận quản lý Công ty được kế toán lương tính lương trên bảng thanh toán lương tháng 3 như sau:

    VD:

     

    lấy ví dụ nhân viên số thứ tự là một Phạm Minh ở văn phòng Công ty được kế toán tính lương như sau:

    * Mức lương cơ bản                               =

    Hệ số lương; (cấp bậc) x Mức lương; tối thiểu

      = 5,72 x 144.000đ
      = 823.680 đồng.
    * Lương theo xếp loại = Mức lương; cơ bản x Hệ số điều chỉnh
      = 823.680đ x 2,3 = 1.894.464 đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    *

    Error!

    • 894.464đ + 28.800 + 82.368 + 198.720
    • 204.352 đ

    Trong đó các mức phụ cấp được quy định trong quy chế trả lương của Công ty (đã nêu ở đặc điểm LĐTL)

    • Phụ cấp lưu động 20% LTT = 20% x 144000đ = 28.800 đ
    • Phụ cấp không ổn định sản xuất 10% LCB = 10% x 823.680 = 82.368đ
    • Phụ cấp TN Bí thư đảng uỷ Công ty = 0,6 x 144.000 x 2,3 = 198720 đ (0,6 LTT có HSXL)

    Error!

    • 204.352 x 69%
    • 521.003 đồng

    Error! x Error!

    • Error!
    • 579.503 đồng

    Error!

    = 1.579.503 đ + 0 = 1.579.503 đ

    Tháng 3 ông Minh không có ngày nghỉ phép nào nên số tiền lương được

    trả cho thời gian làm việc trong tháng bằng số tiền tổng cộng được trả.

    *                                                         Thực                                                         lĩnh                                                         =

    Error!

    • 579.503 – 123.552 – 24.710
    • 431.241 đ

    (BHXH, BHYT bị trừ lương theo quy định sẽ được trịnh bày ở phần sau)

    • các xí nghiệp sản xuất kinh doanh, lương bộ phận quản lý xí nghiệp được tính tương tự như bên văn phòng Công ty, tuy nhiên xí nghiệp là đơn vị sản xuất nên bảng thanh toán lương có kết cấu và cách tính hơi khác một chút.

    Việc phải làm thêm công, thêm giờ là chuyện xảy ra thường xuyên đối với các bộ phận sản xuất, vì vậy trên bảng thanh toán lương của các xí nghiệp thường có thêm phần “lương tăng giờ” gồm 2 cột “Công” “Tiền” để tính trả tiền lương làm thêm giờ của nhân viên.

    BHXH, BHYT phải thu trực tiếp của người lao động không thể hiện trên bảng thang toán lương.

    VD:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Nhân viên Hoàng Anh ở dòng thứ 1 trên bảng thanh toán lương tháng 3 của xí nghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư – Xí nghiệp XD Sông Đà 903, có các số liệu cơ bản như sau:

    – Cấp bậc lương : 3,48
    – HSĐC : 2,3
    – Số ngày công : 27
    • PC trách nhiệm : 0,4 x 144.000đ x 2,3 = 132.480 đồng (thường trực Đảng uỷ Công ty)

    – PC lưu động               : 66.240 (0,2 x LTT x HSĐC)

    • PC không ổn định sản xuất: 119.691đ (0,1 x LCB)
    • Tiền lương 10 công: 870.674 đ

    làm thêm giờ

    • Lương cấp bậc = 3,48 x 144.000 đ = 501.120 đồng
    • Lương theo XL = 501.120 x 2,3 = 1.152.576 đồng
    • Error!
    • Lương cơ bản; tiền lương được XN; trả cho thời gian làm; việc quy định 27 ngày = 1.196.906 đ + (132.480 + 66.240 + 119.691)
    • 515.317 đồng

    +

    Error!

    = 2.385.991 đồng

    +

    Error!

    1. Tính lương cho CBCNV áp dụng hình thức trả lương khoán:

     

    + Khoán công việc:

     

    Ở mỗi bộ phận lương trong công ty, căn cứ vào đặc điểm công việc của

    nhân viên, các việc như bảo vệ, quản lý công trình thường được khoán lương tháng cho mỗi công việc.

    Mức lương khoán được tính toán căn cứ vào công việc và mức lương theo cấp bậc công việc bình quân.

    VD:

    • Tiền lương;bảo vệ phụ = 3,125 x 144.000 đ ≈000 đ Công trình Đầm 7
    • Tiền lương;bảo vệ chính = 3,47 x 144.000 đ ≈000 đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Công trình Đầm 7

    Mức lương khoán được ghi trong hợp đồng lao động và được dùng làm căn cứ để lập Bảng Thanh Toán Lương.

    * Khoán quỹ lương:

    Với các phần việc ở các công trình XD của công ty, công ty thường áp dụng hình thức khoán quỹ lương cho các đội XD để nhân viên trong các đội chia nhau hoàn thành công việc.

    Mức khoán quỹ lương thường được xây dựng dựa trên cấp công việc, mức lương theo cấp bậc công việc định mức về sản lượng, định mức về thời gian hoàn thành công việc mà Công ty giao cho.

    Error!

    VD: Trong hợp đồng làm khoán hạng mục cổng tường rào, công trình trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị, Công ty xây dựng Sông Đà giao khoán quỹ lương cho đội Nề tháng 3 như sau:

    1. Xây móng mác 75#: 169,337 m3; Đơn giá 45.000đ/m3
    –> thành tiền 7.620.165 đồng
    2. Xây trụ tường rào 50#: 346,078 m3, Đơn giá: 45000 đ/m3
    –> Thành tiền 15.573.510 đồng
    3. Trát trụ, tường 75#: 1.066,304 m2; Đơn giá: 6000 đ/m2
    –> Thành tiền 6.397.824
         

    Tổng quỹ lương giao khoán cho đội Nề là tổng tiền sẽ thanh toán cho 100% khối lượng công việc đã giao cho đội tháng ba hoàn thành

    • 620.165 + 15.573.510 + 6.397.824
    • 591.499 đồng

    Các đội hoàn thành công việc sẽ nhận tiền lương khoán và chia theo thời gian làm việc cho mọi người (theo Bảng chấm công) VD: Tổng quỹ lương được chia cho 1480 công của đội trong tháng 3 –> 1 công = 20.000 đ –> 1 người: 30 công hưởng 600.000 đ tháng 3

    Khi thanh toán lương với người lao động, người lao động nhận lương phải có trách nhiệm ký vào cột cuối cùng của bảng thanh toán lương “ký nhận” để xác nhận việc nhận lương của mình.

    • bộ phận quản lý Công ty thì người thanh toán lương với nhân viên là kế toán lương của Công ty, còn ở đội xây dựng thì đội trưởng sau khi nhận được lương khoán sẽ thanh toán với các LĐ trong đội. Tại các xí nghiệp và thanh toán với kế toán lương ở đơn vị mình.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Khi bảng thanh toán lương đã tính và trả xong cho người lao động, kế toán các xí nghiệp tiến hành phân bổ chi phí tiền lương vào các tài khoản chi phí phù hợp (TK 622, TK 627, TK 642). Ở các đội thì bảng thanh toán lương được nộp lên phòng kế toán Công ty để kế toán Công ty phân bổ vào chi phí nhân công từng công trình để xác định giá thành công trình. Kế toán tiền lương Công ty thì phân bổ chi phí tiền lương bộ máy quản lý công ty vào chi phí quản lý Công ty (TK 6421)

    1. Tính bảo hiểm . được trích:

    BHXH, BHYT, như đã nêu ở phần quỹ BHXH, BHYT của công ty.

    Tuy nhiên, theo cách tính lương, BHXH, BHYT trích bằng cách khấu trừ lương của nhân viên văn phòng công ty hay văn phòng xí nghiệp 5% BHXH, 1% BHYT, thì cũng được trích 15% BHXH, 25 BHYT vào chi phí còn lại, KPCĐ nhân viên quản lý tương ứng.

    • bộ phận nhân viên các công trình, kế toán trích 5% BHXH, 1% BHYT khấu trừ lương những nhan viên có gia nộp bảo hiểm và đồng thời kích 15% BHXH, 4% BHYT, KPCĐ còn lại tính vào chi phí nhân viên trực tiếp xây dựng, nhân viên quản lý công trình tương ứng.

    Những khoản trợ cấp thực tế cho người lao động tại doanh nghiệp trong các trướng hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động…(hưởng lương BHXH) được tính toán trên cơ sở mức lương ngày của họ, thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ) và tỷ lệ trợ cấp BHXH.

    Khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH, kế toán ở công ty (hoặc kế toán ở xí nghiệp tuỳ thuộc đối tượng nghỉ thuộc bộ phận nào quản lý) lập phiếu nghỉ lương BHXH cho từng người (mẫu số 03 – LĐTL chế độ chứng từ kế toán) và từ các phiếu nghỉ hưởng BHXH , kế toán lập bảng thanh toán BHXH, (mẫu số 04 LĐTL chế độ chứng từ kế toán). Sau đó, nếu nhân viên nghỉ hưởng BHXH ở các xí nghiệp trực thuộc thì các đơn vị này giử các chứng từ trên lên công ty để công ty gom lại lập bảng thanh toán BHXH cho toán Công ty. Các chứng từ này sẽ là chứng từ dể công ty thanh toán với cơ quan BHXH vào cuối mỗi năm.

    Các mẫu biểu các số thanh toán BHXH cho nhân viên như sau:

    Mẫu biểu: Nhân viên VBP, cấp bậc lương, 1,94 xin nghỉ đẻ từ 1.4 đếm 31.7.

    Xí nghiệp xây dựng         PHIẾU NGHỈ HƯỞNG BHXH         Công ty xây

    Xí nghiệp Sông Đà 903

        Chuyên đề thực tập tốt nghiệp       Nguyễn Thị Nga
        kinh doanh vật tư                 dựng Sông đà I
        Số: 15                              
        Họ tên: Vũ Bích Phượng, tuổi: 29                  
                                       
                Số ngày nghỉ Y, bác   Số   Xác  
        Tên cơ Ngày               sĩ ký     nhận  
                         
                        gnày    
        quan y tháng Lý do Tổng   Từ Đến hết tên     của phụ  
        tế năm     số   ngày ngày đóng   thực   trách  
                nghỉ    
                          dấu     BP  
                                 
                                         
        Bệnh 19/3/99   Nghỉ 4Tháng   1.4 31.7     104      
        viện C     đẻ                          
        PHẦN THANH TOÁN                      
                       
        số ngày nghỉ   Lương bình   % tính BHXH   Số tiền hưởng
        tính BHXH   quân 1 ngày             BHXH  
                           
        104   10.744.61538 Đ   100%     1.117.440    
                         
        1 tháng lương BHXH trợ các cho trường hợp nghỉ đẻ       279.360    
                               
              Tổng cộng           1.396.800    
                            Ngày 27 tháng 02 năm 1999
          Người lập       Kế toán BHXH      
          (tiền lương bình quân 1 ngày dùng làm cơ sở để tính lương nghĩ hưởng
      BHXH được tính như sau:                  
          TL bình quân 1 ngày = Error!                  
          Chị Vũ Bích Phượng:                  
          Cấp bâc: 1,94 ⇒ Tiền lương =   144.000 x 1 = 10744.61538đ      
            94 ; 26        
      Xí nghiệp XD và   BẢNG THANH TOÁN BHXH   Xí nghiệp XD Sông Đà  
        KD vật tư   Tháng 2 năm 1999   903      
                            Nợ TK 136  
                            TK 1111  
                             
    TT Họ tên   Nghỉ ốm Nghỉ con Nghỉ đẻ   Nghỉ sẩy thai sinh   Nghỉ tai nạn lao Tổng số  
      ốm     đẻ kế hoạch     động tiền   nhận
                       
                                   

    Xí nghiệp Sông Đà 903

        Chuyên đề thực tập tốt nghiệp       Nguyễn Thị Nga
                                       
          số Số số Số số Số tiền Khoản Số Khoản Số S`ố Số tiền      
          ngày tiền ngày tiền ngày chi ngày chi ngày ngày    
                                   
    1 Vũ Bính Phượng         104 1.396.800             1.396.800 (Đã ký)
      Cộng         104 1.396.800             1.396.800    

    Tổng số tiền (viết bằng chữ): một triệu ba trăm chín sáu ngàn tám trăm.

          Kế toán BHXH     Kế toán trưởng      
      Xí nghiệp XD Sông BẢNG THANH TOÁN BHXH – Tổng Công ty xây dựng  
        Đà 903       Tháng 2 năm 1999         Sông Đà    
                              Nợ TK 3385      
                              TK 1361 – XNTL  
                                     
          Nghỉ ốm Nghỉ con ốm Nghỉ đẻ Nghỉ sẩy thai SĐKH Nghỉ tai nạn LĐ Tổng số
    TT Họ tên   số Số số   Số số   Khoản Số   Khoản Số   S`ố   Số
        Số tiền       tiền nhận
          ngày tiền ngày   tiền ngày   chi ngày   chi ngày   ngày   tiền    
    1 Vũ Bính Phượng           104 1.396.800                   1.396.800 (Đã ký)
      Cộng             104 1.396.800                   1.396.800  
            Tổng số tiền: Một triệu ba trăm chín sáu ngàn tám trăm.  
          Kế toán BHXH     Kế toán trưởng      

    Từ các giấy nghỉ của bệnh viện, phiếu nghỉ hưởng BHXH và bảng thanh toán BHXH của xí nghiệp xây dựng kinh doanh vật tư kế toán BHXH của công ty.

    Tuy nhiên, trong tháng 3, do cả công ty (bao gồm cả các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực thuộc) chỉ có 1 trường hợp hưởng BHXH pháp minh tại xí nghiệp xây dựng kinh doanh vật tư nên ở cả 2 bảng T.T’ BHXH đếu chỉ phương án cùng 1 nghiệp vụ pháp minh.(Tuy vậy định khoản cho số tiền thanh toán BHXH 2 nơi khác nhau.

    Error!

    Error!

    1. Hạch toán chi tiết, hạch toán tổng hợp tiền lương Bh và tình hình thanh toán với ngưòi lao động tại Công ty:

    Tài khoản sử dụng hạch toán lương: TK 141 – tạm ứng TK cấp 21411-tạm ứng lương sử dụng để hạch toán thanh toán lương với lao động trực tiếp ở các công trình – TK 334- phải trả CNV.

    Trong đó, kế toán của Công ty, của các XNSX thống nhất sử dụng TK

     

    3314 để hạch toán tiền lương và tình hình thanh toán lương với CNV bộ phận quản lý (lao động gián tiếp)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Bên nợ: các khoản tiền lương tiền thưởng BHXH và các khoản khac đã trả, đã ứng cho người lao động.

    • Các khoản khấu trừ vào tiền lương của người lao động.
    • Bên có: – Các khoản tiền lương, tiền thưởng BHXH thực tế phải trả cho người lao động.

    Số dư bên có: – các khoản tiêng lương còn phải trả cho người lao động. Tài khoản sử dụng để hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ

    Để hạch toán tổng hợp BHXH, BHYT, KPCĐ, kế toán bảo hiển công ty sử dụng các TK cấp 2 sau: TK 3382, TK 3383, TK 3384

    TK 3382 – KPCĐ:

    Bên nợ: – chi tiêu kinh phí công đoàn tại công ty.

    • Kinh phí công đoàn đã nộp lên tổng công ty.

    Bên có: – Trích kinh phí công đoàn vào chi pí QLND

    • Báo nợ KPCĐ cho các đơn vị trực thuộc Số dư bên có: KPCĐ chưa nộp, chưa chi

    Số dư bên nợ: KPCĐ vượt chi.

    TK 3383: – BHXH.

    Bên nợ: – BHXH phải trả cho người lao động.

    • BHXH đã nộp cho cơ quan quản lý. Bên có: – Trích BHXH vào chi phí QLDN
    • Trích BHXH trừ vào thu nhập của người lao động.
    • Báo nợ BHXH của các đối tượng phải thu.

    Số dư bên nợ: BHXH vượt chi

    Số dư bên có: BHXH chưa nộp.

    TK 3384 – BHYT:

    Bên nợ: – Nộp BHYT.

    Bên có: – Trích BHYT tình vào chi phí QLDN.

    • Trích BHYT trừ vào thu nhập của người lao động.
    • Báo nợ BHTYT của các đối tượng phải thu.

    Số dư bên có: – BHYT chưa nộp.

    NGHIỆP VỤ HẠCH TOÁN LƯƠNG

    1. Kế toán Công ty phân bổ tiền lương cuả bộ máy quản lý Công ty vào chi phí nhân viên quản lý Công ty:

    Nợ TK 6421- Chi phí nhân viên quản lý Công ty:

     

    Có Tk 3341 – lương tiền lương nhân viên quản lý.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Trường hợp tiền lương NC xd nhà xưởng của Công ty, kế toán ghi Nợ TK 2412- XDCB

    Có TK 3341- tiền lương

    1. Kế toán công ty phân bổ tiền lương của bộ máy quản lý Công ty vào chi phí nhân viên quản lý Công ty:

    Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp( chi tiết cho từng công trình) Nợ TK 6271- chi phí NV phân xưởng

     

    Có TK 1411 – Tam ứng chi tiết cho từng công trình

     

    1. Kế toán các XN sản xuất kinh doanh phân bổ tiền lương nhân viên văn phòng, nhân viên quản lý vào chi phí sản xuất kinh doanh.

    Nợ TK: 6271 – chi phí NV phân xưởng

     

    Nợ TK 6421 – chi phí NV quản lý xí nghiệp Có TK 3341 – tiền lương

     

    1. Kế toán các xí nghiệp phân bổ chi phí nhân viên sản xuất, nhân viên quản lý vào các công trình:

    Nợ TK 622 – chi phí nhân công trực tiếp ( chi tiết cho từng công trình)

     

    Nợ TK 627 – chi phí nhân viên quản lý công trình ( chi tiết cho từng công trình ) Có TK 141 – tạm ứng (chi tiết cho từng công trình)

     

    1. Tạm ứng trước tiền lương cho nhân viên Công ty, kế toán phụ trách lương nhân viên (Kế tóan Công ty, kế toán xí nghiệp) ghi

    Nợ TK 138 – phải thu khác

     

    Có TK 1411 – Tạm ứng lương công trình ( chi tiết cho từng công trình) Ví dụ: Tại Công ty phát sinh 1 số nghiệp vụ lương sau

    + Ở BP quản lý Công ty.

     

    1a. Trả lương cho nhân viên xưởng cầu giấy: căn cứ vào bảng thanh toán lương xưởng Cầu Giấy T3, giao số tiền 893.246 đồng cho ông Phạm văn Cầu về phát lương , kế toán ghi:

    Nợ TK 3314: 893.346đ

     

    Có TK 1111 : 893.264đ

     

    1b. Số tiền BHXH, BHYT đã khấu trừ lương của nhân viên xưởng cầu giấy được định khoản như sau:

    Nợ TK 3314: 506736đ

     

    Có TK 3383: 220.320đ

     

    Có TK 334: 33.048đ

     

    Có TK 3388: 253.368đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    (Số tiền 253.368 ở TK3388 là số tiền BHXH 220.320đ, BHYT 33.2048 ông Cần nộp thay cho vợ là nhân viên Công ty đã nghỉ không lương)

    2a- Trả lương cho nhân viên khu đầm bảy: căn cứ vào bảng thanh toán lương cho khu đầm bảy T3, giao số tiền 902.048 cho ông Nguyễn Văn Chấp về phát lương định khoản được ghi như sau:

    Nợ TK 3341: 902.048đ

    Có TK 1111: 902.048đ

    2b. Số tiền BHXH, BHYT đã khấu trừ lương của nhân viên đầm bảy được định khoản như sau:

    Nợ TK 3341 : 47925đ

    Có TK 3384 : 39960đ

    Có TK 3384 : 7.992đ

    3a. Trả lưong cho nhân viên khối văn phòng Công ty: Căn cứ vào bảng thanh toán tiền lương khối VPT3, giao cho Ngô Đức Dũng, nhân viên phòng TCKT số tiền

    19.326.906đ pháy lương cho nhân viên, kế toán ghi:

    Nợ TK 3341: 19.326.906đ

    Có TK 1111: 19.326.960đ

    3b. Số tiền BHXH, BHYT đã khấu trừ lương của nhân viên khối Vp được định khoản như sau:

    Nợ TK 3341: 2.257.728đ

    Có TK 3383: 1.1881.440đ

    Có TK 3384: 376.288đ

    • – Phân bổ tiền lương tháng 3 của khối văn phòng và khu đầm 7 vào chi phí QLND:

    Nợ TK 6421: 22.984.634 đ Có TK 3341: 22.984.634đ

    • – Phân bổ tiền lương tháng 3 của nhần viên quản lý công trình xây dựng: Xưởng cầu giấy.

    Nợ TK 2412: 950.000đ

    Có TK 3341: 950.000đ

    6- Phân bổ lượng nhân viên sản xuất đội nề T 3 vào chi phí công trình Nợ TK 1411 (công trình tram…): : 29.591.500đ

    Có TK 1111: : 29.591.500đ

    • – Trả lương cho nhân viên đội sản xuất nề

    Nợ TK 622 (công trình trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị. Có TK 1411: : 29.591.500đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    8 – BHXH, BHYT, khấu trừ lương nhân viên đội nề cho 3 tháng 1,2,3. Nợ TK 1411: 2.970.000đ

    Có TK 3383: 2.475.000đ

    Có TK 3384: 495.000đ

    + ở bộ phận xínghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư:

    • – Người 6/3/99. Nguyễn Ngọc Hoa phòng TC – HC nhận tiền thanh toán lương tháng 2/99 cho CB CNV xí nghiệp, KT ghi

    Nợ TK 3341 : 29.741.938đ Có TK 1111: 29.741.938đ

    1. Phân bổ tiền lương phải trả: cán bộ công nhiên viên xí nghiệp Nợ TK 6271: 20.590.603đ

    Nợ TK 6421: 7.211.573đ

    Có TK 3311: 27.802.176đ

    • – Trả lương cho nhân viên công trình nhà tập võ vật quản giáo: a, trích: Nợ TK 622 (công trình nhà tập võ…): 4.374.000

    Nợ TK 627 ((công trình nhà tập võ…): 1.986.000

    Có TK 1411 (công trình nhà tập võ…): 6.360.000 b. Trả lương + khấu trừ bảo hiểm:

    Khấu trừ bảo hiểm

    Nợ TK 1411 (công trình nhà tập võ…): 604.978 đ Có TK 3383: 504.144đ

    Có TK 3384: 100.829 đ Trả lương:

    Nợ TK 1411 (công trình nhà tập võ…): 5.755.027đ Có TK 1111(công trình nhà tập võ…): 5.755.027đ

    Nhiệm vụ hoạch toán…..(trang 9)

    NGHIỆP VỤ HẠCH TOÁN BHXH, BHYT, KPCĐ TẠI ĐÂY CÔNG TY

    1. Phản ánh BHYT trợ cấp cho người LĐ tại Công ty, căn cứ vào bảng thanh toán BHXH, kế toán ghi:

    Nợ TK 3383 – BHXH

     

    Có TK 3341 – tiền lương nhân viên đơn vị.

     

    Có TK 1368 phải thu nội bộ khác công ty trả cho nhân viên xí nghiệp trực thuộc.

     

    1. Khi tính trích các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK 3341 – tiền lương (trừ thu nhập nhân viên quản lý.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Nợ TK 3388 – phải tra, phải nộp khác (thu của nhân viên nghỉ không lương)

    Nợ TK 6421 – chi phí nhân viên quản lý (trích vào chi phí quản lý).

    Nợ TK 1368 – phí nội bộ khác (báo nợ cho các xí nghiệp.

    Nợ TK 1411 – tạm ứng lương nhân viên các đội sản xuất

    Nợ TK 622,627….

    Có TK 3382. TK 3383, TK 3384.

    1. Phản ánh chi tiêu kinh phí công đoàn tại đơn vị, kế toán ghi. Nợ TK 3382 – KPCĐ

     

    Có TK 111.112 – tiến mặt, tiều gửi ngân hàng.

     

    Có TK 1368 – phải thu nội bộ khác (cấp trả KPCĐ cho các xí nghiệp trực thuộc).

     

    1. KPCĐ Công ty phải nộp lên tổng Công ty theo tỷ lệ quy định vì vậy, khi tổng, Công ty báo thu KPCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK 3382 – KPCĐ (trường hợp xí nghiệp xí nghiệp nộp KPCĐ lên công ty, kế toán ghi tương tự).

    Có TK 336 – phải trả nội bộ

    Nộp KPCĐ cho tổng;công ty kế toán ghi {Nợ TK 336; Có TK111} 112

    1. Khi được báo nộp BHXH, BHYT, kế toán xí nghiệp ghi: Nợ TK 3383, TK 3384

    Có TK 111,112.

     

    1. Trường hợp BHXH , KPCĐ vượt chi được cấp bù kế toán ghi: Nợ TK 111,112

    Có TK 3382, 3383

     

    * Ví dụ: Cụ thể trong 3 tháng đầu văn tài bộ phận quản lý Công ty có các

    nghiệp vụ về BHXH, BHYT, KPCĐ, phát sinh như sau:

    • – Vũ Bích Phượng (xí nghiệp) xin lấy trước tiền lương để, số tiền là 1.396.800đ. Kế toán xí nghiệp xây dựng kinh doanh vật tư chuyển bảng thanh toán BHXH lên công ty, kế toán công ty định khoản như sau:

    → Nợ TK 3383: 1.396.800đ Có TK 1368: 1.396.800đ

    1. Tính trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho quý I, kế toán ghi:

    a/ + khấu trừ lương nhân viên do kế toán lương Công ty quản lý:

    → Xưởng CG:

    Nợ TK 334: 253.368đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Có TK 3383: 220.320đ

    Có TK 3384: 33.048đ

    • Đầm 7:
    • Văn phòng:

    Nợ TK 334: 2258.728đ

    Có TK 3383: 1881.440đ

    Có TK 3384: 376.288đ

    b/+ Thu trực tiếp của nhân viên nghỉ không lương{20% BHXH; 3% BHYT }

    Trần Thị Hà:

    • Nợ TK 3388: 337.824đ Có TK 3383: 295.760đ
    Có TK 3384: 44.064đ    
    Thu của các nhân viên:    
    Đặng Thị Phúc: BHXH (đ)   BHYT (đ)
    Văn Đức Vinh: 118.656   17.798
    Nguyễn Thị Thanh Hà:  153.792 23.069
    Nguyễn Thị Bình: 220.320 33.048
    được ghi định khoản tương tự:    

    c/+ Trích 15% BHXH, 2% BHYT tính vào 6421 cho nhân viên kế toán lương công ty quản lý:

    • 15% BHXH của khối văn phòng; Công ty + ban QLCT Đầm 7 =5.644.320đ + 119.880 = 5.764.200đ

    (số liệu đã tính ở gần “tính và trích bảo hiểm”). Nợ TK 6421: 5.764.200đ

    Có TK 3383:5.764.200đ

    • 2% BHYT của khối văn phòng; Công ty +ban QLCT Đầm 7 = 752.456đ + 15.984đ = 768.440đ

    (số liệu đã tính ở gần “tính và trích bảo hiểm”).

    • kế toán ghi:

    Nợ TK 6421: 768.440

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Có TK 3384: 768.440

    d, Báo nợ BHXH, BHYT cho các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực

    thuộc (thu 20% và 3%)        
    –> kế toán ghi báo nợ xí nghiệp kinh doanh nhà:  
    Nợ TK 1368: 6.124.550      
    Có TK 3383: 5.325.696      
    Có TK 3384 : 798.854      
    Tương tự: BHXH BHYT  
    Xí nghiệp kinh doanh vật tư 3.010.752 459.320
    Xí nghiệp thuỷ lực   16.388.352 1.832.673

    Báo nợ các xí nghiệp này được ghi tương tự theo số liệu cụ thể tại các xí nghiêp.

    e/+ Trích KPCĐ của toàn công ty kế toán căn cứ vào lương thực trả ở mỗi bộ phận lương trích ra 2% KPCĐ và ghi vào định khoản như sau:

    Nợ TK 1368 (xí nghiệp thuỷ lực): 1.183.033đ

    Nợ TK 1368 (xí nghiệp kinh doanh nhà): 1.173.506đ

    Nợ TK 6421 (vănphòng Công ty): 1.400.905đ

    Có TK 3382: 3757.444đ

    • – Tổng công ty báo thu kinh phí công đoàn 6 tháng cuối năm 1998 số tiền là 5.701.006

    → Nợ TK 3382: 5.701.006đ Có TK 336: 5.701.006đ

    4a/ Công ty cấp trả 0,8% kinh phí công đoàn quý I/99 cho xí nghiệp kinh doanh nhà, kế toán ghi:

    → Nợ TK 3382: 469.402đ Có TK 1368: 469.402đ

    4b/ Công ty cấp trả 0,8% kinh phí công đoàn quý I/99 cho xí nghiệp thuỷ

    lực:

    → Nợ TK 3381: 473.213đ

    4c/ Công ty trích 0,8% kinh phí công đoàn quý I/99 trên tổng quỹ lương thực trả của văn phòng Công ty + BLCT đầm 7 sang quỹ công đoàn văn phòng Công ty:

    → Nợ TK 3382: 560.362đ Có TK 1111: 560.362đ

    Ghi sổ các nghiệp vụ hạch toán tiền lương:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Hàng tháng, kế toán Công ty, kế toán xí nghiệp tập hợp các chứng từ hạch toán thời gian lao động, kết quả lao động ở các bộ phận nhân viên để tính lương xong trước ngày cuối tháng, làm căn cứ để trả lương cho CBCNV vào đầu tháng.

    Các nghiệp vụ hạch toán lương được ghi vào sổ kế toán theo các định khoản (đã nêu ở phần giới thiệu các nghiệp vụ hạch toán tiền lương).

    Công ty áp dụng thống nhất hình thức ghi sổ nhật ký chung vì vậy, các chứng từ hạch toán tiền lương trước tiên là được ghi vào các sổ chi tiết và sổ nhật ký chung của đơn vị. Sổ chi tiết được mở theo dõi tiền lương nhân viên quản lý đơn vị là sổ chi tiết TK 3341 – Tiền lương.

    Còn sổ chi tiết theo dõi tiền lương của nhân viên sản xuất ở Công ty là sổ chi tiết TK 1411 – Tạm ứng lương.

    • cả kế toán Công ty và kế toán các xí nghiệp đều mở sổ chi tiết TK 1411 để theo dõi lương công nhân xây dựng cho các công trình mà mình quản lý để kết chuyển vào chi phí tính giá thành từng công trình xây dựng.

    Từ sổ nhật ký chung, kế toán theo quy tắc là phải mở sổ cái TK 3341, TK

    1411 để theo dõi lương cho 1 quý (3 tháng) nhưng ở Xí nghiệp XD Sông Đà 903, các bộ phận kế toán đều dùng sổ chi tiết TK 3341, TK 1411 mở các tháng làm căn cứ để lập bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính thay cho sổ cái và sổ cái TK 3341, 1411 không được mở.

    Các sổ chi tiết được dùng để hạch toán tiền lương tại Công ty như sau.

    1. SỔ CHI TIẾT TK 3314 VÀ SỔ CHI TIẾT TK 1411: (ĐƯỢC COI NHƯ LÀ SỔ CÁI)

    Sổ chi tiết TK 3341 – Tiền lương và sổ chi tiết TK 1411 – tạm ứng lương được mở để theo dõi tình hình thanh toán lương của Công ty với nhân viên quản lý và nhân viên sản xuất của Công ty.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Mẫu biểu như sau.

    Tổng Công ty XD

    Sông Đà

    Sổ chi tiết tài khoản Xí nghiệp XD Sông Đà
    Tháng 3 năm 1999 903
    3341 – Lương  
      Số dư đầu kỳ:

     

    SCT Ngày CT Ngày GS Diễn giải Đối ứng Phát sinh nợ Phát sinh có Số dư
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 1111 893.264   893.264
    cho NV  
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 3383 220.320   1.113.584
    cho NV  
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 3384 33.048   1.146.632
    cho NV  
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 3388 253.368   1.400.000
    cho NV  
                   
    123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 1111 902.048   2.302.048
    cho NV  
                   
    123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 3383 39960   2.342.008
    cho NV  
                   
    123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 3384 7.922   2.350.000
    cho NV  
                   
    124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương 1111 19.326.906   21.676.906
    T3 cho NV  
                   
    124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương 3383 1.881.440   23.558.346
    T3 cho NV  
                   
    124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương 3384 376.288   23.934.634
    T3 cho NV  
                   
    PBTL 31/3/99 31/3/99 Hạch toán phân bổ tiền lương T3/99 2412   950.000 22.984.634
                   
    PBTL 31/3/99 31/3/99 Hạch toán phân bổ tiền lương T3/99 6421   22.984.634  
          Tổng phát sinh   23.934.634 23.934.634  

    Số dư cuối kỳ:

    Ngày 12/04/1999

    Người lập biểu                                                    Kế toán trưởng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
    Sổ chi tiết TK 1411 – Tạm ứng lương .  

    Xí nghiệp XD và kinh doanh vật tư

    Sổ chi tiết tài khoản                       Xí nghiệp XD Sông

    Tháng 3 năm 1999                                           Đà 903

    1411 – Tạm ứng Lương

    Số dư đầu kỳ:

     

    SCT Ngày CT Ngày GS Diễn giải Đối ứng Phát sinh nợ Phát sinh có Số dư
                   
    A76 31/3/99 31/3/99 Công trường A76 Nội Bài 6221   5.025.000 5.025.000
                   
    TDT 31/3/99 31/3/99 CT Nhà tập võ vật TT TDTT Quốc gia 6222   7.754.000 12.779.000
    T              
    PTTH 31/3/99 31/3/99 CT trường PTTH Liên Hà 6223   7.500.000 20.279.000
                   
    A76 31/3/99 31/3/99 Công trường A76 Nội Bài 1111 5.025.000   15.254.000
                   
    TDT 31/3/99 31/3/99 CT Nhà tập võ vật TT TDTT Quốc gia 1111 6.500.000   8.754.000
    T              
    PTTH 31/3/99 31/3/99 CT trường PTTH Liên Hà 1111 7.500.000   1.254.000
          Tổng phát sinh   19.025.000 7.512.779  
              Số dư cuối kỳ: 1.254.000
            Ngày 04/04/1999  
        Người lập biểu Kế toán trưởng  

    Dòng số dư đầu kỳ: được lấy số liệu từ sổ chi tiết TK 3341 của tháng trước. Cột số dư được kế toán theo dõi số dư có TK 3341 số dư Nợ được kế toán Công ty ghi âm theo quy định của BTC (ghi số dư Nợ trong ngoặc đơn).

    • tháng 3, TK 3341 của Công ty không có số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ, vì thế trên sổ chi tiết tài khoản 3341 các dòng số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ không có số liệu.
    • – SỔ NHẬT KÝ CHUNG CỦA CÔNG TY.

    Sổ Nhật ký là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của Công ty theo trình tự thời gian.

    Các số liệ ghi trên sổ Nhật ký chung được dùng làm căn cứ để ghi sổ cái của các TK.

    Sổ Nhật ký chung của Công ty có kết cấu và phương pháp ghi sổ giống như quy định của Bộ tài chính.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

        Tổng Công ty XD Sổ Nhật Ký chung Xí nghiệp XD Sông Đà
        Sông Đà   Năm 1999     903  
                       
    STT Số CT Ngày CT Ngày GS   Diễn giải   Tài Phát sinh nợ Phát sinh Có
        khoản
                     
                       
    .                  
    178 122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần-Xưởng CG T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 893.264  
              Tiền Việt Nam   1111   893.264
                   
    179 122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần-Xưởng CG T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 506.736  
              BHXH   3383   220.320
              BHYT   3384   33.048
              Phải trả, phải nộp khác   3388   253.368
                   
    180 123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 902.048  
              Tiền Việt Nam   1111   902.048
                   
    181 123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 47.952  
              BHXH   3383   39.960
              BHYT   3384   7.992
                   
    182 124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương cho NV      
              Lương   3341 19.326.906  
              Tiền Việt Nam   1111   19.326.906
                   
    183 124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương cho NV      
              Lương   3341 2.257.728  
              BHXH   3383   1.881.440
              BHYT   3384   376.288
                     
    184 PBTL 31/3/99 31/3/99 Hạch toán phân bổ tiền lương tháng 3/99        
              XDCB Đ – Đầm 7   2412 950.000  
              Chi phí NV quản lý   6421 22.984.634  
              Lương   3341   23.934.634
                       

    Ghi sổ các nghiệp vụ hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ tại kế toán công

    ty:

    Tương tự như trình tự ghi sổ tiền lương, các nghiệp vụ hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ sau khi được định khoản kế toán sẽ ghi vào sổ chi tiết các TK 3382, TK3383, TK 3384 và các sổ chi tiết có liên quan khác như sổ chi tiết TK 6421, TK 1368, TK 3388… và sổ nhật ký chung của công ty. Sau đó, căn cứ vào sổ nhật ký chung kế toán ghi sổ cái TK 3382, sổ cái TK 3383 và sổ cái TK 3384.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Sổ Nhật ký chung, các sổ chi tiết TK 3382, TK 3383, TK 3384 được lập

    và ghi chép tương tự như đã trình bày trong phần giới thiệu các sổ hạch toán chi

    tiết, hạch toán tổng hợp tiền lương.

    Mẫu sổ như sau:

      Tổng Công ty Sổ chi tiết tài khoản Xí nghiệp XD Sông
      XD Sông Đà Tháng 3 năm 1999   Đà 903
              3382 – Kinh phí công đoàn      
                  Số dư đầu kỳ: 6.334.426  
                         
    SCT Ngày CT Ngày GS     Diễn giải Đối ứng Phát sinh nợ Phát sinh có Số dư  
                       
    TCT01 31/3/99 31/3/99   Tổng Công ty báo thu KPCĐ 6 tháng 336 5.701.006   633.420  
      cuối 98      
                       
    126C 31/3/99 31/3/99   Vũ Thị Nga – PTCKT trích KPCĐ quý 1111 560.362   73.058  
      I/99      
                     
    KPCĐ 31/3/99 31/3/99 Trích 2% KPCĐ cho khối VP Công ty 6421   1.400.905 1.473.963  
                       
    XNKDN 31/3/99 31/3/99   Công ty báo nợ XNKD nhà KPCĐ quý 1368   1.1736.506 2.647.469  
      I/99      
                       
    XNKDN 31/3/99 31/3/99   Công ty cấp trả 0,8% KPCĐ cho XNKD 1368 469.402   2.178.1067  
      nhà      
                     
    XNTL 31/3/99 31/3/99 Công ty báo nợ XNTL KPCĐ quý I/99 1368   1.183.033 3.361.100  
                     
    XNTL 31/3/99 31/3/99 Công ty cấp trả 0,8% KPCĐ cho XNTL 1368 473.213   2.887.887  
          Tổng phát sinh   7.203.983 3.757.444    
                  Số dư cuối kỳ: 2.887.887  
                Ngày 14/04/1999    
        Người lập biểu Kế toán trưởng    

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHƯƠNG III

    NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM TẠI XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903.

    1. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903.

    Xí nghiệp XD Sông Đà 903 là Công ty con của Tổng Công ty và các hoạt động đặc biệt là công tác kế toán của Công ty được Tổng Công ty giám sát một cách chặt chẽ. Hệ thống máy vi tính phòng kế toán của Công ty được nối mạng với hệ thống máy vi tính của Tổng Công ty, đồng thời các mẫu sổ sách kế toán, các chương trình, công thức tính toán nói chung và tính lương nói riêng cũng do một đội ngũ cán bộ chuyên trách trên Tổng Công ty xuống đơn vị cài đặt vào máy, hướng dẫn cách làm. Có thể nói, đó là một thuận lợi lớn cho công tác kế toán của Công ty vì các mẫu sổ sách, trình tự ghi sổ, các định khoản. Công tác kế toán của Công ty đã được Tổng Công ty kiểm tra phê duyệt và hoàn toàn phù hợp với chế độ kế toán hiện hành.

    Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên làm kế toán của Công ty là những người có năng lực, trình độ chuyên môn, có trách nhiệm trong công việc nên việc vận dụng các hướng dẫn của Tổng Công ty trong công tác kế toán được thực hiện rất tốt.

    Trong công tác hạch toán Tiền lương và Bảo hiểm (các khoản trích theo lương), Công ty đã thực hiện nghiêm túc với quy định của chế độ kế toán về hệ thống chứng từ, sổ sách về Tiền lương. Việc ghi sổ được kế toán tiến hành thực hiện theo đúng trình tự quy định. Việc tổ chức công tác kế toán tiền lương có thể nói là đã thống nhất với kế toán tiền lương ở các đơn vị khác trong Tổng Công ty.

    Hình thức ghi sổ nhật ký chung áp dụng ở Công ty rất phù hợp với đặc điểm công tác kế toán của đơn vị và đặc biệt rất thuận tiện trong việc kế toán Tiền lương và Bảo hiểm (Có ít nghiệp vụ phát sinh, các nghiệp vụ hạch toán lương đơn giản, dễ hiểu, dễ phân bố).

    Hình thức trả lương của Công ty rất đáng chú ý. Nó thể hiện khả năng phân tích, đánh giá, ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn kế toán Tiền lương của đơn vị một cách khoa học, hợp lý. Công ty áp dụng hình thức trả lương thời gian theo

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    sản phẩm (như đã trình bày) để tính lương cho nhân viên quản lý là rất tốt.(Họ vừa là nhân viên làm công tác hành chính, vừa là nhân viên của một Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp là chủ yếu). Trả lương theo hình thức kết hợp giữa trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm phản ánh chính sách hiệu quả (kết quả) công việc, tính đúng giá trị sức lao động của các nhân viên ở các bộ phận văn phòng Công ty. Tương tự cách trả lương khoán cho các nhân viên các đội sản xuất và nhân viên quản lý công trình ở các xưởng, các công trình (làm việc xa Công ty, không tiện quản lý theo dõi thời gian và hiệu quả lao động), cũng rất phù hợp, khuyến khích người lao động làm việc có trách nhiệm đáp ứng lòng tin của cán bộ lãnh đạo.

    Kế toán tính Tiền lương cho người lao động đầy đủ, chính xác đảm bảo lợi ích cho nhân viên của Công ty, giúp họ yên tâm làm việc, gắn bó với công việc.

    Về hạch toán BHXH, BHYT, KBCĐ cũng được Công ty quan tâm một cách thích đáng, cụ thể là

    Công ty luôn hoàn thành nộp các quỹ này đủ, đúng thời hạn.Điều này thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Công ty đối với các quyền lợi của người lao động.

    Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực trong công tác kế toán nói chung và công tác tổ chức hạch toán Tiền lương nói riêng, Công ty còn nhiều tồn tại cần giải quyết.

    1. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM Ở XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903.

    Như đã nêu trên, phần mềm kế toán tại Công ty được Tổng Công ty chuẩn hoá và cài đặt vào chương trình thực hiện kế toán của Công ty. Đó là một thuận lợi lớn cho Công ty nhưng mặt khác nó cũng tác động xấu đến việc tổ chức hạch toán của Công ty.

    Đó là việc làm kế toán theo chương trình của Tổng Công ty khiến cho bộ máy kế toán của Công ty trở lên thụ động, kém linh hoạt trong việc xử lý các công việc bất thường hay các vấn đề mà Tổng Công ty bỏ qua trong phần hướng dẫn thực hiện công tác kế toán của Công ty.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Sau khi nghiên cứu công tác tổ chức hạch toán Tiền lương và Bảo hiểm tại Công ty tôi xin nêu ra một số khuyết điểm và cách sửa đổi mà Công ty nên khắc phục như sau:

    Thứ nhất:

    Đầu tiên, trong chứng từ ban đầu hạch toán sử dụng thời gian là bảng chấm công của Công ty, việc ghi chép không được rõ ràng, thống nhất.

    • Việc theo dõi thời gian làm việc của người lao động để chấm không có mặt “O”, hay nghỉ có phép “P” không hoàn theo giấy nghỉ phép theo quy định. Chỉ cần người nghỉ có báo miệng trước cho người chấm công thì coi như ngày nghỉ đó của họ là có phép và được tính lương theo 100% LCB.Thêm vào đó, Công ty cũng không có quy định số ngày nghỉ phép tối đa được hưởng lương. Đây là một sơ hở rất lớn của lãnh đạo Công ty, và kế toán lương vốn rất biết điều này nhưng không hề có góp ý với phòng tổ chức hành chính – nơi theo dõi chấm công, là một theo sai sót không đáng có và cũng không nên tiếp tục để tình trạng này tồn tại, tái diễn. Nó sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến kỷ luật của Công ty.
    • Thứ hai: 3 cột cuối của trong mục quy đổi trên bảng Chấm công của Công ty, do không có hướng dẫn cách ghi cụ thể của kế toán cho người chấm công nên các cột này thường không dược ghi, có tháng nhân viên chấm công có ghi thì lại không ghi đúng nơi quy định nào cả.

    Việc này tuy kế toán Tiền lương ở Công ty cho là chuyện nhỏ nhưng thực chất nó gây không ít ảnh hưởng xấu đến quá trình tính lương của kế toán lương. Nếu nhìn vào bảng chấm công không có ghi gì ở phần Quy đổi này, kế toán sẽ phải mất thời gian quy đổi bảng chấm công vào các cột (làm thay cho phần việc của người chấm công) để làm căn cứ tính lương CBCNV. Còn trường hợp người chấm công có ghi chép ở các cột “quy đổi” thì cũng ghi tuỳ tiện, kế toán sẽ không chắc được là người chấm công ghi số liệu gì ở đó (nội dung của số liệu được tính), có thể là ngày công thực tế làm việc của nhân viên trong tháng hoặc là tổng số ngày công thực tế và số ngày được hưởng phép của nhân viên…

    Để chấm dứt tình trạng này, làm gọn nhẹ hơn cho công tác hạch toán lương, tôi xin đưa ra đây một giải pháp cụ thể như sau:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Kế toán lương của Công ty thay vì sử dụng mẫu biểu Bảng chấm công như hiện nay sẽ sử dụng mẫu biểu Bảng chấm mới cho toàn Công ty.

    Trong bảng chấm công mới này, phần Quy đổi gồm 3 cột với nội dung giống như cũ nhưng tên cột được ghi rõ hơn để người chấm công chỉ cần đọc tên cột là có thể hiểu được cách ghi ở mỗi cột. Tuy nhiên bên cạnh đó, kế toán lương Công ty cũng cần ra quy định bắt buộc, các bảng chấm công trước khi gửi lên phòng kế toán phải đã được tính toán, ghi chép số liệu vào các cột “ Qui đổi” theo đúng qui định, nếu cóp sai sót trong tính toán phần này, người chấm công và người có trách nhiệm kiểm tra bảng chấm công phải hoàn chỉnh trách nhiệm. Có như vậy, việc thực hiện nghiêm chỉnh các qui định trong công tác kế toán mới được nhân viên công ty tiếp thu và chấp hành.

    Bảng chấm công T3 bộ phận văn phòng Công ty nếu áp dụng giải pháp mới sẽ được lập như sau:

    Thứ ba: Hiện tại, ở các xí nghiệp sản xuất các đội sản xuất đang sử dụng bảng chấm công để theo dõi thời gian làm thêm giờ của người lao động (là bảng chấm công thứ hai được lập song song với bảng chấm công theo dõi thời gian làm việc chính) với mẫu số bảng chấm công. Làm như vậy là rất không khoa học bởi vì thời gian làm thêm thực tế thường là tính theo giờ. Thông thường, các xí nghiệp, các đội xây dựng tính miệng thì ghi vào một công thứ tự từ cột số một đến cột số 31. Hết tháng bảng chấm công làm thêm giờ này được chuyển lên kế toán lương của xí nghiệp để tính lương cho lao động trong đội)

    Việc ghi chép thời gian làm thêm của người lao động như hiện giờ không theo dõi được chính xác số giờ công lao động thêm của nhân viên do nhẩm giờ làm theo trí nhớ rồi gộp lại ghi công Ædễ bị thiếu hoặc thừa giờ công) gây nên sự thiếu công bằng trong việc tính lương.

    Theo tôi, có thể giải quyết vấn đề này một cách đơn giản là kế toán công ty xây dựng nên có mẫu bảng chấm công làm thêm hiện tại và áp dụng thống nhất cho toàn công ty( ở các bộ phận tính lưong). Mẫu bảng chấm công giờ công làm thêm mới có như sau:

    (Lấy ví dụ áp dụng chấm công làm thêm cho bộ phận quản lý xí nghiệp XD&KD vật tư tháng 3)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Thứ bốn: Để đảm bảo tính thống nhất của kế toán trong toàn Công ty, kế toán lương cần hướng dẫn các phòng ban ở bộ phận quản lý đơn vị( Công ty, xí nghiệp …) phải lập.

    Danh sách xét thi đua( làm căn cứ để xác định HSĐC) theo một mẫu thống nhất duy nhất. Không để tình trạng như hiện tại kéo dài: Các danh sách được lập cùng một nội dung là xếp loại HSĐC cho nhân viên trong phòng ban nhưng

    • mỗi phòng ban lại lập theo 1 mẫu riêng, mỗi danh sách có một tiêu đề khác nhau như: danh sách xếp loại, danh sách xếp thi đua, bảng xếp loại …

    Có thể thống nhất sử dụng mẫu bảng danh sách xet thi đua sau đây cho các bộ phận quản lý ở xí nghiệp, Công ty sau đây:

    XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    Phòng TC – KT

    Danh sách xét thi đua

    Tháng 3 năm 1999

    STT Họ và tên   Xếp loại( HXĐC)   Ghi chú
               
    2.3   2   1.8  
             
                   
    1. Ngô Doãn x          
                   
    2. Phan đình Cường x          
                   
    3. Tăn bích Tâm x          
                   
    4. Đặng thị Thu     x      
                   
    5. Vũ thị Nga x          
                   
    6. Lê nguyên Bảo     x      
                   
    7. Phạm thị đà Giang         x  
                   
    8. Ngô đức Dũng         x  
                   

    Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 1999

    Trưỏng phòng

    ( ký tên)

    Thứ năm: Ở ngay phòng kế toán công ty, lương nhân viên của 2 khu vực Đầm Bảy và Cầu Giấy đều là lương khoán nhưng kế toán lương lại lập 2 bảng thanh toán lương theo 2 mẫu có kết cấu khác nhau (cùng một nội dung).

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Rồi thì sau đó, trên 2 bảng thanh toán lương này kế toán ghi tuỳ tiện các cột không cần thiết được ghi một cách miễn cưỡng, lúc có ghi, lúc không ghi bỏ trống.

    Việc này có thể hiện công tác hạch toán chưa hoàn thiện. Cho dù Tổng công ty khi hướng dẫn đã bỏ sót không đưa ra mẫu bảng thanh toán lương cho nhân viên lương khoán nhưng kế toán Công ty phải ý thức được sự thiếu hoàn thiện này chủ động lập, xây dựng 1 mẫu thống nhất áp dụng cho từ Công ty đến các đơn vị sản xuất, từng bước nâng cao chất lượng sổ sách kế toán nói chung, sổ sách kế toán lương nói riêng của Công ty.

    Ví dụ: hai bảng thanh toán lương tháng 3 cho nhân viên lương khoán Đầm 7 và xưởng Cầu Giấy đã được kế toán lập như sau:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

      Chuyên đề thực tập tốt nghiệp     Nguyễn Thị Nga          
        Đầm 7     BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG Xí nghiệp XD Sông Đà 903    
                  Tháng 3 năm 1999          
                                 
      STT Họ và tên   Ngày công Bậc lương Thành tiền Tăng công tăng, tăng giờ Tổng cộng Các khoản phải trừ Số còn được Ký nhận  
                 
                  Công Tiền   BHXH (5%) BHYT (1%) lĩnh    
                         
                                 
      1 Nguyễn Văn   31 266.400 500.000     500.000 39.960 7.992 452.048    
        Chấp                        
                                 
      2 Vũ Mạnh Khiêm   31 465.120 450.000     450.000     450.000    
                                 
        Cộng             950.000 39.960 7.920 902.048    
                                 

    Chín trăm linh hai ngàn không trăm bốn tám đồng./.

                Hà Nội , ngày 31/3/99        
      Lập biểu     Kế toán trưởng     Giám đốc  
    Xưởng Cầu Giấy BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG Công ty xây dựng Sông Đà I  
          THÁNG 3/99          
                             
    TT Họ và tên Bậc lương Thành   Phụ   Cộng Các khoản phải trừ   Số còn được Ký nhận
    BHXH (20%) BHYT (3%)  
          tiền   cấp       lĩnh  
    1 Phạm Văn Cần 367.200 600.000       600.000 220.320 33.048   346.632  
    2 Phương Đình Nga   400.000       400.000       400.000  
    3 Đỗ Duy Thanh   400.000       400.000       400.000  
      Tổng cộng           1.400.000 440.640 66.096   1.146.632  

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Công ty có thể nghiên cứu mẫu Bảng thanh toán lương sau đây để áp dụng cho bộ phận nhân viên hưởng lương khoán (thống nhất toàn công ty).

      Đầm 7:     BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG KHOÁN CTY XD SĐ I    
              Tháng 3/99                
                                 
        Hệ Mức Lương tháng Phụ   Các khoản phải trừ   Số còn    
        cấp                
    TT Họ và tên lương Cộng BHXH BHYT Ký nhận  
    số lương khoán (nếu được lĩnh
        cơ bản                
            có)   Mức tiền Tiền Mức tiền   Tiền      
    1 Nguyễn   Văn 1,85 266.400 500.000   5.000.000 5% 39.960 1%   7.992 452.048    
      Chấp                          
    2 Vũ Mạnh Khiêm 3,23 465.120 450.000   450.000           450.000    
      Tổng cộng     950.000   950.000   39.960     7.992 902.048    

    (Chín trăm linh hai ngàn không trăm bốn tám đồng ./…)

        Người lập biểu     Kế toán trưởng     Giám đốc  
          (ký tên)     (ký tên)       (ký tên)  
      Xưởng Cầu Giấy       BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG KHOÁN CTY XD SĐ I  
                                   
        Hệ   Mức   Lương tháng Phụ   Các khoản phải trừ   Số còn  
            cấp              
    TT Họ và tên   lương   Cộng BHXH BHYT Ký nhận
    số lương   khoán (nếu được lĩnh
        cơ bản                
            Mức tiền Tiền Mức tiền   Tiền  
                có)        
    1 Phạm Văn Cầu 2,55 367.200   600.000   600.000 20% 220.320 3%   33.048 346.632  
    2 Phương   Đình         400.000   400.000           400.000  
      Nga                            
    3 Đỗ Duy Thanh         400.000   400.000           400.000  
      Tổng cộng         1.400.000   1.400.000   220.320     33.048 1.146.632  

    (Một triệu một trăm bốn sáu ngàn sáu trăm ba mươi hai ./…)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Người lập biểu                                                        Kế toán trưởng                                                                                                Giám đốc

    (ký tên)                                                                             (ký tên)                                                                                                 (ký tên)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Thứ sáu: bảng thanh toán lương ở các đội, tuy chia lương độc lập nhưng các bảng thanh toán lương ở các dội cũng được gửi lên phòng kế toán Công ty lưu cùng với hợp đồng giao khoán, biên bản nghiệm thu kĩ thuật … cho từng công trình. Vì vậy, kế toán lương không theo mẫu cụ thể nào như hiện nay. Ví dụ: bảng thanh toán lương

    Kế toán Công ty có thể nghiên cứu mẫu bảng thanh toán lương dưới đây để xay dựng một mẫu bảng thanh toán lưong thống nhất hướng dẫn một mẫu bảng thanh toán lương thống nhất hướng dẫn cho các đội sử dụng:

    Xí nghiệp XD Sông Đà 903

    Công trình: trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị

    Tổ: nề

    BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG

    TT Họ và Tên Ngày công Đơn giá/1công Thành tiền  
    (đồng) nhận  
             
                   
    1 Nguyễn Văn Lợi 30 20.000   600.000    
                   
    2 Huỳnh Đa Phước 30 20.000   600.000    
                   
    3 ……………………..            
                   
    ………………………            
                   
      Cộng       12.000.000    
                   
            Hà Nội, ngày 29/3/99  
      Đội trưởng     Người lập    

    Thứ bẩy: tại Công ty, số người không tham gia nộp Bảo hiểm khá nhiều và lẫn trong các nhân viên nộp Bảo hiểm trên bảng thanh toán lương. Vì vậy nên chăng kế toán Công ty tiến hành tách hai loại nhân viên:

    • Nộp Bảo hiểm
    • Không nộp Bảo hiểm

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Để tính lương riêng và khấu trừ hay không khấu trừ Bảo hiểm vào lương một cách đồng loạt. Làm như vậy, dòng tổng cộng cuối mỗi bảng thanh toán lương sẽ thể hiện được rõ được:

    Tổng số tiền trích quỹ Bảo hiểm = % Bảo hiểm phải khấu trừ x tổng số quỹ lương cơ bản của số nhân viên có tham gia nộp Bảo hiểm .

    Thứ tám – Trong điều lệ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế thì mức trích quỹ BHXH, BHYT phải trích theo “tiền lương cấp bậc, chức vụ, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) ghi trong hợp đồng lao động và các khoản phụ cấp khu vực, đắt đỏ, chứcvụ, thâm niên”.

    Như vậy, nếu theo đúng quy định thì tại Công ty BHXH, BHYT phải được tính theo số tiền sau:

    Tổng tiền làm căn cứ để trích quỹ BHXH, BHYT = Mức tiền tháng cơ bản + Phụ cấp lưu động + Phụ cấp trách nhiệm (nếu có)

    Hiện tại Công ty mới chỉ trích Bảo hiểm trên mức lương cơ bản của nhân viên, như vậy là mức BHXH, BHYT đơn vị trích tính vào chi phí sản xuất kinh doanh vẫn còn ít hơn so với quy định. Đơn vị chưa làm tròn trách nhiệm đối với quyền lợi của cán bộ công nhân viên trong Công ty. Đây là một vấn đề rất quan trọng mà Công ty cần phải lưu tâm để điều chỉnh kịp thời, vào chuyện này, gây tâm lý không tốt cho người lao động đối với Công ty.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    KẾT LUẬN

    Nền kinh tế hàng hoá , tiền tệ buộc các doanh nghiệp phải đối mặt với thị trường. Để tồn tại, phát triển và kinh doanh có hiệu quả thì bên cạnh các hoạt động đa dạng và phong phú về sản xuất kinh doanh, tất yếu các doanh nghiệp phải có một cơ chế dự báo, kiểm tra, giám đốc một cách toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trong quá thực tập tại Xí nghiệp XD Sông Đà 903, mặc dù chỉ đi sâu vào vấn đề lao động tiền lương của công ty nhưng qua đó có thể thấy được vai trò, tác dụng của việc tổ chức hoạch toán kinh doanh trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của công ty.

    Do điều kiện thời gian tiếp xúc với công việc thực tế không nhiều, kiến thức học ở trường về lao động tiền lương chưa sâu, kinh nghiệm viết đề tài còn ít ỏi nên khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực viết chuyên đề. Rất mong được thầy cô hướng dẫn chỉ bảo thêm để em có thể nâng cao bài viết trong luận văn sắp tới.

    Qua bài viết này, em xin chân thành cảm ơn thầy Đỗ Đức Kiên đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình viết chuyên đề.

    Em cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo công ty Xây Dựng Sông Đà, bộ phận kế toán công ty, các xí nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp số liệu cho bài viết này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BẢO HIỂM XÃ HỘI

    BẢO HIỂM XÃ HỘI

    BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:CÁC DẠNG BÀI TẬP MẪU BẢO HIỂM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%E1%BA%A2O-HI%E1%BB%82M-X%C3%83-H%E1%BB%98I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BẢO HIỂM XÃ HỘI

    BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Bảo hiểm xã hội là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội. Trong các cơ chế chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội, Bảo hiểm xã hội là trụ cột quan trọng nhất.

     

    Lịch sử

     

    Các chế độ của Bảo hiểm xã hội đã hình thành khá lâu truớc khi xuất hiện thuật ngữ an sinh xã hội. Hệ thống Bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Bismarck (1850) và sau đó được hoàn thiện (18831889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động; người sử dụng lao động và Nhà nước. Kinh nghiệm về Bảo hiểm xã hộiở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các nước châu Âu (Anh: 1991, Ý: 1919, Pháp: từ 1918 …), tiếp đến là các nước châu Mỹ Latinh, Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng là các nước châu Phi, châu Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2).

    Các chế độ đảm bảo

    Theo tổng kết của ILO (công ước 102 năm 1952), Bảo hiểm xã hội bao gồm chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất. Công ước cũng nói rõ là những nước phê chuẩn công ước này có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít nhất phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tử tuất. Việc áp dụng Bảo hiểm xã hội trên của quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lí có thể đáp ứng. Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế – xã hội, Bảo hiểm xã hội sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ.

    Theo thống kê của ILO, đến năm 1981, có 139 nước có thực hiện hệ thống an sinh xã hội nói chung, Bảo hiểm xã hội nói riêng, trong đó có 127 nước có chế độ trợ cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất; 79 nước có chế độ trợ cấp ốm đau và thai sản, 136 nước có chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 37 nước có chế độ trợ cấp thất nghiệp.

    1

    Bảo hiểm xã hội bước sang giai đoạn mới.

    Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XI, ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội thông qua một số Luật quan trọng trong đó có Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) số 71/2006/QH11 và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký lệnh số 13/2006/L-CTN ban hành ngày 12/7/2006.

    Với 11 chương 141 điều Luật BHXH quy định về chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia Bảo hiểm xã hội; tổ chức Bảo hiểm xã hội; quỹ Bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện Bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội.

    Điểm mới của văn bản Luật này là, ngoài hình thức BHXH bắt buộc, việc mở rộng hình thức BHXH tự nguyện và hình thức BH thất nghiệp, đã được quy định tại Chương IV và Chương V . Đây là đổi mới quan trọng trong chính sách BHXH của Đảng và Nhà nước ta để tiến tới BHXH cho mọi người lao động ở bất cứ thành phần kinh tế nào cũng đều có nghĩa vụ tham gia và thụ hưởng những quyền lợi về chế độ BHXH đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

    Như vậy các chế độ Bảo hiểm xã hội bao gồm:

    • Bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm các chế độ ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử tuất.
    • Bảo hiểm xã hội tự nguyện gồm các chế độ: Hưu trí; Tử tuất.
    • Bảo hiểm thất nghiệp gồm các chế độ Trợ cấp thất nghiệp; Hỗ trợ học nghề; Hỗ trợ tìm việc làm

    Nếu hiệu lực chung của Luật này là thi hành từ ngày 1/1/2007, thì BHXH tự nguyện có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2008 còn BHXH thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009. Luật BHXH này không áp dụng đối với bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm mang tính kinh doanh.

    Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước qui định mức bình quân của tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến trước ngày Luật BHXH có hiệu lực trước khi nghỉ hưu được qui định tại mục 4 điều 59 như sau:

    “Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31-12 năm 2000 thì tính bình quân của tiền luơng tháng đóng BHXH của 6 năm cuối trước khi nghỉ hưu; Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01tháng 01 năm 2001 đến ngày 31-12-2006 thì tính bình quân của tiền luơng tháng đóng BHXH của 8 năm cuối trước khi nghỉ hưu” (Đối với ngưòi lao động bắt đầu tham gia BHXH trước ngày ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì cách tính lương hưu vẫn như qui định hiện hành).

    Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia BHXH, từ ngày Luật BHXH có hiệu lực được qui định tại điều 60 mục 1: “Người lao động thuộc

    2

     
    Bảo hiểm xã hội

    đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước qui định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của mười năm cuối trước khi nghỉ hưu”.

    Mức đóng                                                        bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của

    người lao động. Mức đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

    Mức hưởng Bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng Bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia Bảo hiểm xã hội.

    Người lao động vừa có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng Bảo hiểm xã hội.

    Một điểm khác nữa là Luật không khống chế số tháng được hưởng trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu mà “Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương,tiền công tháng đóng BHXH” – Khoản 2 điều 54.

    Hằng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội.

    Định kỳ ba năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ Bảo hiểm xã hội và báo cáo kết quả với Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, quỹ Bảo hiểm xã hội được kiểm toán đột xuất…

    Trong thời điểm Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO thì việc ban hành Luật BHXH là cần thiết để đảm bảo an sinh xã hội, nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của nước ta hiện nay và trong tương lai./.

    3

    Những quy định mới về bảo hiểm xă hội bắt buộc

    26-07-2006

    Luật Bảo hiểm xã hội đã được Quốc hội thông qua và ngày 12-7, Chủ tịch nước ký lệnh công bố. Luật gồm 11 chương với 141 điều, trong đó Chương III quy định về Bảo hiểm xã hội bắt buộc, cụ thể là chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động… So với các quy định hiện hành thì nội dung chương này có một số điểm mới dưới đây:

    Trước hết, về chế độ ốm đau, Luật bổ sung quy định trường hợp con nhỏ ốm đau người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc, không khống chế chỉ thực hiện với con thứ nhất, thứ hai; tăng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau (thêm 10 ngày) đối với người có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội từ 30 năm trở lên.

    Luật cũng quy định chi tiết hơn về mức hưởng ốm đau đối với người mắc bệnh cần chữa trị dài ngày. Theo đó, người lao động mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau: Tối đa không quá 180 ngày trong một năm tính cả ngày lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Hết thời hạn 180 ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn. Cụ thể là:

    • Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng Bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên.
    • Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng Bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm.
    • Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội của tháng liền kề, trước khi nghỉ việc nếu đã đóng Bảo hiểm xã hội dưới 15 năm.

    Thứ hai, về chế độ thai sản, Luật quy định thời gian tối thiểu đóng Bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ thai sản khi sinh con, nhận nuôi con nuôi sơ sinh. Theo đó, lao động nữ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi phải đóng Bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

    Luật tăng số lần nghỉ việc đi khám thai từ ba lên năm lần; Quy định thời gian nghỉ việc do sẩy thai thuỳ thuộc vào tháng tuổi của thai; Bổ sung quy định nghỉ sáu tháng với lao động nữ là người tàn tật; Tăng thời gian nghỉ sinh con khi con bị chết từ 75 ngày lên 90 ngày; 15 ngày lên 30 ngày. Sau khi sinh mà mẹ chết thì người bố (hoặc người nuôi dưỡng) được hưởng chế độ của thời gian còn lại mà người mẹ chưa hưởng; Trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu cho mỗi con.

    4

    Thứ ba, về chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, Luật bổ sung quy định giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi người lao động vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp hoặc bị tai nạn lao động nhiều lần hoặc bị nhiều bệnh nghề nghiệp. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được chia thành nhiều mức tuỳ thuộc vào từng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

    Mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được tính gồm có hai phần: phần trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động được hưởng trên nền mức lương tối thiểu chung và phần trợ cấp tính theo thời gian đóng Bảo hiểm xã hội được hưởng trên nền tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội. Điều chỉnh mức trợ cấp từ 80% mức lương tối thiểu chung, lên bằng mức lương tối thiểu chung đối với người phục vụ người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. Nâng mức trợ cấp một lần từ 24 tháng mức lương tối thiểu chung lên 36 tháng đối với thân nhân khi người lao động chết vì tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

    Thứ tư, về chế độ hưu trí, Luật bổ sung quy định thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tối thiểu để đủ điều kiện nghỉ hưu là 20 năm. Mức lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá sinh hoạt và tăng trưởng kinh tế. Không khống chế số tháng được nhận trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Nâng mức hưởng trợ cấp một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng cứ mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội tính bằng một tháng lên 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội.

    Cách tính mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ tính lương hưu đối với người thuộc diện thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được chia thành ba giai đoạn: người bắt đầu tham gia Bảo hiểm xã hội trước ngày 1 tháng 1 năm 1995 cách tính lương hưu vẫn như quy định hiện hành; người tham gia Bảo hiểm xã hội từ 1-1-1995 đến trước ngày Luật có hiệu lực thì thời gian tính bình quân sáu năm và tám năm; người tham gia Bảo hiểm xã hội sau ngày Luật có hiệu lực thì tính bình quân 10 năm.

    Tiền lương, tiền công đã đóng BHXH của người lao động thuộc diện thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

    Thứ năm, về chế độ tử tuất, Luật nâng mức trợ cấp mai táng từ tám lên 10 tháng mức lương tối thiểu; Nâng định suất từ 40% lên 50% mức lương tối thiểu chung; Nâng mức trợ cấp tuất một lần cho thân nhân người đang đóng Bảo hiểm xã hội bị chết, mỗi năm bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội, không khống chế mức tối đa, thấp nhất bằng ba tháng. Trợ cấp một lần cho thân nhân người đang hưởng hương hưu mà chết, cao nhất bằng 48 tháng lương hưu.

    VŨ HOÀNG LONG

    5

    Vi phạm Bảo hiểm xã hội có thể bị phạt 20 triệu đồng

    Theo Nghị định 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, mức phạt cao nhất là 20 triệu đồng.

    Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn hoặc không thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; ngoài ra còn bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra.

    Cụ thể, nếu không cấp sổ BHXH hoặc không chốt sổ BHXH đúng hạn cho người lao động; không giải quyết chế độ đúng hạn cho người lao động tham BHXH theo quy định; không cấp giấy chứng nhận hoặc cấp giấy chứng nhận sai của các cơ sở y tế, Hội đồng giám định y khoa để người lao động được hưởng chế độ BHXH có thể bị phạt đến 20 triệu đồng.

    Nghị định 135/2007/NĐ-CP cũng quy định rất rõ ràng: Người sử dụng lao động có hành vi không đóng BHXH cho toàn bộ số người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc thì tùy thuộc vào số người lao động mà bị phạt cảnh cáo (vi phạm với từ 1 đến 10 người lao động) hoặc phạt tiền từ 100 nghìn đồng đến 20 triệu đồng (mức phạt cao nhất áp dụng khi vi phạm với từ 501 người lao động trở lên).

    Còn mức xử phạt đối với người lao động có hành vi không đóng, chậm đóng BHXH bắt buộc hoặc thỏa thuận với người sử dụng lao động không nộp BHXH bắt buộc thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100 nghìn đồng đến 1 triệu đồng; bị buộc truy nộp số tiền BHXH vào quỹ BHXH trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định xử phạt.

    Mai Phương

    6

    Bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa hợp với người thu nhập thấp

    Lý Hà

     

    Phạm vi thực hiện, đối tượng áp dụ ng sẽ như thế nào; bảo toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguy ện ra sao; việc liên thông giữa bảo hiểm xã hội bắ t buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện, thủ tục tham gia và hưởng chính sách thế nào cho phù hợp..

    Trên đây là nh ững v ấn đề đã được đưa ra thảo luận trong Hội thảo “Xây dựng Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hộ i về Bảo hiểm xã hội tự nguyện”, vừa được tổ chức tại Hà Nội và Tp.HCM.

    Dự thảo Nghị đị nh hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội tự nguyện, gồm có 5 chương, 42 điều, quy định phạm vi, đối t ượng áp dụng; quyền và trách nhiệm của các bên tham gia B ảo hiểm xã hội tự nguyện; các ch ế độ Bảo hiểm xã h ội tự nguyện; quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguyện; thủ tục thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện; khiếu nại, tố cáo về Bảo hiểm xã hộ i tự nguyện và quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Dần dần, khi nền kinh tế phát tri ển, thì chính sách sẽ có những sửa đổi để hoàn thiện hơn, cũng như sẽ mở rộng hơn các đối tượng được tham gia.

    Đối t ượng áp dụng củ a Dự thảo Nghị định là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc diện áp dụ ng của pháp luật về Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Các chế độ Bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng là hưu trí và tử tuất.

    Về mức đóng được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện và được tính trên mức thu nhập do người tham gia Bảo hiểm xã hội lựa chọn nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu chung; cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung.

    Mức hưởng được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Ngoài ra, Dự thảo Nghị định còn quy định, người vừa có thời gian đ óng Bảo hiểm xã h ội bắt buộc vừa có thời gian đóng Bảo hiể m xã hội tự nguyện được hưởng ch ế độ hưu trí và chế độ t ử tuất trên cơ sở tổng thời gian đã đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc và thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Về điều kiện để được hưởng l ương h ưu theo Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội trở lên.

    Tại hộ i thảo, nhi ều đại biểu đã th ống nhất và đồng tình với Dự thảo Nghị định nêu trên. Theo đại diện Bảo hiểm xã hội Tp.HCM, Điều 8, 9, 11 và đặc biệt là Điều 19 trong Dự thảo chưa phù hợp với thực tế.

    Trong khoản 1 Đi ều 19 của Dự thảo Nghị định quy đị nh ng ười đ ang h ưởng lương hưu hàng tháng bị tạm dừng hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp như: chấp hành hình phạt tù không được hưởng án treo, xuất cảnh trái phép, bị Toà án tuyên bố mất tích.

    Lương hưu hàng tháng đượ c tiếp tụ c thực hiện khi người bị phạt tù đ ã chấp hành xong hình phạt tù hoặc khi ng ười được toà án tuyên bố mất tích trở về hoặc ng ười xuất cảnh trở về định cư hợp pháp. Trong trường hợp toà có kết luận bị oan thì được truy lĩnh tiền lương hưu trong thời gian bị đình chỉ.

    7

    Theo các đại biểu, người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện chẳng có ảnh h ưởng gì đến việc khi b ị phạt tù hay xuất cảnh trái phép. Bởi đây là họ tự nguyện đ óng tiền để hưởng chế độ, do đó vi ệc quy định tạm dừng hưởng chế độ h ưu trí của ng ười tham gia Bảo hiểm xã h ội tự nguyện là không khả thi, nó khác với người tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của luật hiện hành.

    Có một vướng mắc hiện nay, nếu ngườ i đã tham gia B ảo hiểm xã hội bắt buộc đ ã đủ năm công tác nh ưng chưa đủ tuổi nhận lương hưu, nay đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện một lần cho đủ số năm còn lại, nếu sau khi đóng mà được hưởng lương h ưu ngay thì sẽ có nhiều người tham gia. Còn nếu nh ư phải chờ đến khi đủ tuổi mới được nhận lương hưu thì sẽ không thu hút nhiều đối tượng tham gia.

    Ông Nguyễn Thái Dũng, đại diện Hội Nông dân tỉnh Đồng Nai đề nghị, nên cho phép các đối tượng tham gia đóng một lần, đồng thời cần mở rộng đối tượng được tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Còn ông Phạm Minh Thành, Bảo hi ểm xã hội tỉnh Đồng Nai cho rằng cần có sự liên thông giữa Bảo hiểm xã hội bắt buộc v ới Bảo hiểm xã hội tự nguyện, điều này sẽ tạo cho người tham gia Bảo hiểm xã hội có nhiều điều kiện thuận lợi để được hưởng chính sách an sinh xã hội Nhà nước.

    Theo Thứ trưởng Bộ Lao độ ng – Thương binh và Xã hội Lê Bạch Hồng, không nên kỳ vọng chính sách này ra đời sẽ làm vừa lòng tất cả mọi người, cũng như mọi người đều được tham gia ngay từ đầu.

    Về mặt nguyên tắc thì tất cả đều có thể tham gia, nhưng thực tế ch ỉ có người có mức sống trung bình tr ở lên mới có đủ điề u kiện để tham gia. Dần dần, khi nền kinh tế phát triển, thì chính sách sẽ có những sửa đổi để hoàn thiện hơn, cũng như sẽ mở rộng hơn các đối tượng được tham gia.

    Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội Phạm Đỗ Nhật Tân cho biết, những ý kiến đóng góp của nhi ều đại bi ểu là chuyên gia pháp lu ật, các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý Nhà nước và đơ n vị Bảo hiểm xã hội, Ban soạn thảo đã tiếp thu và sẽ lấy thêm một số ý kiến đóng góp, bổ sung để hoàn thiện trình Chính phủ trong thời gian tới.

    Xét trên bình diện thế giới hiện nay thì Việt Nam là 1/67 quốc gia có chương trình Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Theo lộ trình, đến ngày 1/1/2008, Luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ bắt đầu có hiệu lực thi hành.

    8

    Vỡ quĩ bảo hiểm y tế

    Thứ hai 26.11.2007, 09:51

    Quĩ bảo hiểm y tế (BHYT) đã vỡ nhanh quá mức tưởng tượng của nhiều người.

    Chỉ tròn một năm kể từ ngày sửa đổi điều lệ BHYT mới (tháng 6/2006), đến giữa năm 2007, quĩ BHYT đã tiêu hết sạch 2.800 tỉ đồng kết dư từ gần mười năm nay. Nhiều người đổ lỗi cho việc qui định mới mở rộng quá mức quyền lợi của người bệnh, làm quĩ BHYT nhanh chóng hết tiền. Nhưng thực tế cho thấy một phần quan trọng của nguyên do vỡ quĩ là phương thức thanh toán BHYT và quản lý chi tiêu.

    Vỡ quĩ do phương thức thanh toán!

    Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội VN, riêng năm 2006 quĩ BHYT đã bội chi khoảng 1.800 tỉ đồng. Sang năm 2007, tốc độ bội chi còn khủng khiếp hơn: nửa đầu năm 2007, riêng bộ phận BHYT tự nguyện đã bội chi 700 tỉ đồng.

    Một nguồn tin có trách nhiệm tại Bảo hiểm xã hội VN ước tính trong cả năm 2007, riêng bộ phận BHYT tự nguyện có thể bội chi 2.000 tỉ đồng!

    Chính vì lý do này, hôm 22/11, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng vừa ký văn bản cho phép Bảo hiểm xã hội VN được sử dụng 2.000 tỉ đồng tạm ứng từ quĩ Bảo hiểm xã hội bắt buộc để giao cho các cơ sở y tế phục vụ việc khám chữa bệnh trong quí I năm 2008.

    Lý giải nguyên nhân quĩ BHYT vỡ quá nhanh, phó vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế) Nghiêm Trần Dũng cho biết phương thức thanh toán hiện tại là theo phí dịch vụ, khuyến khích cơ sở y tế sử dụng nhiều dịch vụ, vì sử dụng dịch vụ nào thì quĩ BHYT thanh toán dịch vụ đó! Về lý do vỡ quĩ vì qui định mới mở rộng quyền lợi cho người có thẻ thì ông Dũng cho rằng không hẳn như vậy, qui định mới không mở rộng gì ghê gớm mà chỉ phân định rõ ràng cái gì thuộc phạm vi bảo hiểm chi trả.

    Trưởng Ban Bảo hiểm xã hội tự nguyện (Bảo hiểm xã hội VN) Hoàng Kiến Thiết cũng thừa nhận quĩ BHYT hết tiền quá nhanh có một phần do khâu kiểm soát chi trả. “Có trạm y tế phường ở tỉnh Sóc Trăng đã lập khống hàng trăm hồ sơ để rút quĩ BHYT trên 50 triệu đồng. Một trạm y tế phường đã như vậy, chúng ta có 11.000 trạm y tế, hàng ngàn bệnh viện các tuyến” – ông Thiết nói.

    Phải làm gì?

    Quĩ BHYT hết tiền, nhưng không phải cứ hết tiền là nâng mức đóng của người tham gia. Ông Nghiêm Trần Dũng nhấn mạnh như vậy. Hiện Bộ Y tế đang tính toán đề nghị Chính phủ nâng mức hỗ trợ cho nhóm được Nhà nước cấp thẻ BHYT miễn phí. Theo đó, đề nghị nâng mệnh giá thẻ BHYT của người nghèo (hiện là 80.000 đồng/thẻ), trẻ em dưới sáu tuổi (khoảng 110.000 đồng/thẻ)… lên cao hơn.

    Theo ông Hoàng Kiến Thiết, muốn quĩ BHYT bảo đảm an toàn cần nâng mệnh giá thẻ cho nhóm người nghèo, trẻ dưới sáu tuổi, người có công với cách mạng lên 200.000 đồng/thẻ/người.

    Một gợi ý nữa của ông Nghiêm Trần Dũng là phải khai thác tối đa nhóm doanh nghiệp đang “trốn” BHYT của người lao động bằng cách khai thấp số lao động, khai thấp mức lương của người lao động…

    9

    Hôm nay 26/11, tại Bộ Y tế sẽ có một cuộc họp nhằm xóa bỏ qui định phải 10% số dân trong cộng đồng tham gia thì mới được mua BHYT tự nguyện. Hơn nửa năm kể từ khi thay đổi cách thức thực hiện BHYT tự nguyện, số người tham gia loại hình này đã tụt từ ba triệu người còn khoảng 700.000 người.

    Làm hạ số người tham gia BHYT tự nguyện là một trong những cách thức nhằm hạn chế chi tiêu, chống vỡ quĩ.

    Nhưng thực tế quĩ vẫn vỡ và còn có nhiều cách để quản lý quĩ tốt.

    Ví dụ như cần chuẩn hóa các xét nghiệm, không thể để tình trạng ở huyện xét nghiệm, lên tỉnh lại xét nghiệm và lên trung ương làm thêm một loạt xét nghiệm tương tự nữa…

    10

    Những nguyên tắc cơ bản của BHXH

    15/07/2006 Tìm hiểu Luật BHXH

    Nội dung cụ thể trong từng Chương, Điều của Luật phải đảm bảo tuân thủ và thể hiện được những nguyên tắc cơ bản đã được quy định. Nguyên tắc của BHXH trong Luật BHXH được quy định tại Điều 5 gồm những nội dung sau:

    1. Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.

    Nguyên tắc này được thể hiện trên các mặt sau: có đóng BHXH thì được hưởng chế độ; thời gian tham gia đóng BHXH nhiều, mức đóng góp cao thì mức trợ cấp ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, lương hưu, trợ cấp tử tuất và trợ cấp thất nghiệp được hưởng với mức cao và ngược lại. Tuy nhiên, với đặc tính của bảo hiểm thì chia sẻ giữa những người tham gia là không thể thiếu, nguyên tắc chia sẻ của BHXH được thể hiện ở tất cả các chế độ, nhưng rõ nết nhất là ở các chế độ: ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN và trợ cấp thất nghiệp (số đông người tham gia đóng góp để chi trả cho một số người không may rủi ro hoặc khi sinh sản).

    1. Mức đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

    Nguyên tắc này quy định người tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đóng BHXH theo tỷ lệ xác định trên cơ sở tiền lương, tiền công mà không đóng BHXH trên mức thu nhập thực tế như: tiền lương tăng thêm, các khoản phụ cấp khác (trừ phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề), thu nhập do lương tăng thêm, do thực hiện chế độ khoán sản phẩm đem lại…Việc quy định nguyên tắc này vừa đảm bảo cho việc sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp được ổn định, vừa đảm bảo cho thực hiện quản lý thu BHXH trong điều kiện thực tế hiện nay (việc xác định thu nhập của người lao động còn khó khăn). Đối với BHXH tự nguyện mức đóng BHXH được quy định trên cơ sở mức thu nhập do người tham gia lựa chọn tùy khả năng kinh tế của họ nhưng không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu, đây là quy định hợp lý nhằm thu hút và tạo điều kiện để đông đảo người lao động trong xã hội có thể tham gia BHXH.

    1. Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đóng BHXH.

    Với nguyên tắc này, giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có sự liên thông, đảm bảo cho người tham gia BHXH khi hết tuổi lao động có nhiều cơ hội được hưởng chế độ hưu trí do thời gian đóng BHXH được tính bằng tổng thời gian đóng BHXH của 2 loại hình. Tuy nhiên theo quy định của Luật BHXH thì trong cùng một thời điểm, người lao động chỉ được tham gia đóng BHXH bắt buộc hoặc BHXH tự nguyện.

    1. Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.

    11

    Nguyên tắc này quy định quỹ BHXH được quản lý thống nhất và hạch toán theo các quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích nhằm đảm bảo cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụ cho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều chỉnh về chính sách cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu – chi, điều chỉnh kịp thời khi các quỹ thành phần tạm thời bị mất cân đối, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH.

    1. Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.

    Với nguyên tắc này, việc thực hiện BHXH đối với người lao động phải được nghiên cứu để quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình, thời hạn giải quyết sao cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động, người sử dụng lao động khi tham gia BHXH và khi giải quyết hưởng các chế độ BHXH.

    Nhìn chung những nguyên tắc của BHXH nêu trên đã thể hiện quan điểm và thể chế hóa đường lối của Đảng và

    Nhà nước về BHXH, đó là:

    • Xây dựng trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện những quy định trong pháp luật về BHXH hiện hành, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời có tham khảo kinh nghiệm của các nước, đặc biệt là các nước trong khu vực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế;
    • Chế độ BHXH xây dựng mức hưởng trên cơ sở mức đóng và chia sẻ giữa những người tham gia BHXH nhằm góp phần thực hiện an sinh xã hội; bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa các đối tượng tham gia BHXH ở các thời kỳ khác nhau; bảo đảm quan hệ hài hòa giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội; mở rộng đối tượng tham gia BHXH, các chế độ BHXH và loại hình BHXH; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và tiến trình công nghiệp hóa.
    • Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được hạch toán tương ứng với từng nhóm chế độ; quản lý và sử dụng theo nguyên tắc cân đối thu – chi, bảo toàn và phát triển; được Nhà nước bảo hộ.

    Quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động

    19/07/2006 Tìm hiểu Luật BHXH

    Quyền và trách nhiệm củ người sử dụng lao động (NSDLĐ) khi tham gia BHXH được quy định tại các Điều 17 và Điều 18 của Luật BHXH, cụ thể như sau:

    12

    1. NSDLĐ có các quyền:
    • Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về BHXH;
    • Khiếu nại, tố cáo về BHXH;
    • Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Với quy định trên, NSDLĐ được quyền từ chối thực hiện những yêu cầu không có quy định hoặc không đúng quy định của pháp luật về BHXH trong việc thực hiện BHXH từ NLĐ hoặc tổ chức BHXH như: về yêu cầu thu nộp BHXH trước thời hạn quy định; về thanh quyết toán chế độ ốm đau, thai sản; về lập hồ sơ hưởng chế độ hưu trí, tử tuất, TNLĐ-BNN… Ngoài ra, có quyền khiếu nại với cơ quan BHXH và cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện ra toà án về quyết định, hành vi của tổ chức BHXH khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về BHXH, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình và có các quyền khác mà pháp luật cho phép có liên quan đến BHXH.

    1. Trách nhiệm của NSDLĐ:
    • Đóng BHXH theo quy định và hàng tháng trích từ tiền lương, tiền công của NLĐ theo quy định để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH;
    • Bảo quản sổ BHXH của NLĐ trong thời gian NLĐ làm việc;
    • Trả sổ BHXH cho NLĐ khi người đó không còn làm việc;
    • Lập hồ sơ để NLĐ được cấp sổ, đóng và hưởng BHXH;
    • Trả trợ cấp BHXH cho NLĐ;
    • Giới thiệu NLĐ trong đơn vị đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa khi bị TNLĐ-BNN và nghỉ hưu trước tuổi quy định do suy giảm khản năng lao động.
    • Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thông tin về việc đóng BHXH của NLĐ khi NLĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;
    • Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

    Với các nội dung trên, trách nhiệm của NSDLĐ được quy định rất cụ thể và đầy đủ. Có thể tổng hợp theo các nhóm trách nhiệm là:

    • Nhóm liên quan đến việc đóng BHXH: Hàng tháng trích tiền để đóng BHXH theo quy định từ quỹ tiền lương của đơn vị để nộp cho cơ quan BHXH, trong đó bao gồm cả phần đóng góp của NSDLĐ và của NLĐ trong đơn vị để nộp cùng một lúc vào quỹ BHXH; từ 1/1/2009 thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, NSDLĐ thuộc đối tượng tham gia còn có trách nhiệm đóng bảo hiểm tự nguyện và trích từ tiền công, tiền lương của NLĐ theo đúng quy định để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
    • Nhóm liên quan đến sổ BHXH: Thực hiện việc lập hồ sơ tham gia BHXH để cơ quan BHXH cấp sổ BHXH cho từng NLĐ trong đơn vị; bảo quản sổ BHXH trong thời gian NLĐ làm việc và khi NLĐ chấm dứt quan hệ lao động như: nghỉ hưu, chấm dứt hợp đồng lao động, buộc thôi việc, chết… NSDLĐ có trách nhiệm lập thủ tục về BHXH và trả sổ BHXH cho NLĐ lưu giữ.
    • Nhóm liên quan đến giải quyết hưởng các chế độ BHXH: Chi trả chế độ trợ cấp BHXH ốm đau, thai sản và trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản cho NLĐ trong đơn vị và quyết toán với tổ chức BHXH; lập hồ sơ hưởng các chế độ BHXH theo quy định của NLĐ trong đơn vị kịp thời, chuyển cho tổ chức

    13

    BHXH giải quyết; Lập hồ sơ và giới thiệu NLĐ trong đơn vị bị TNLĐ-BNN và nghỉ hưu trước tuổi quy định đi giám định mức suy giảm khả năng lao động.

    • Nhóm liên quan đến việc cung cấp tài liệu, thông tin: Cung cấp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi có yêu cầu; khi NLĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu thì NSDLĐ có trách nhiệm cung cấp các thông tin về đóng BHXH của NLĐ.

    Việc quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của NSDLĐ trong Luật BHXH không những là cơ sở để NSDLĐ thực hiện đầy đủ trách nhiệm cũng như xác định các quyền của mình mà còn là căn cứ pháp lý để NLĐ, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về BHXH và là cơ sở pháp lý để giải quyết khi có khiếu nại, tố cáo về BHXH của NLĐ.

    14

    Quyền và trách nhiệm của tổ chức BHXH

    01/08/2006 Tìm hiểu Luật BHXH

    Theo quy định của Luật BHXH thì tổ chức BHXH là tổ chức sự nghiệp, có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH, quản lý và sử dụng các quỹ BHXH theo quy định. Về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của tổ chức BHXH do Chính phủ quy định phù hợp với tình hình thực tế, nhằm đảm bảo thực hiện tốt và có hiệu quả chế độ chính sách BHXH đối với người tham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.

    Quyền và trách nhiệm của tổ chức BHXH được quy định tại các Điều 19 và Điều 20 của Luật BHXH, nội dung cụ thể như sau:

    1. Quyền của tổ chức BHXH:
    • Tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản theo quy định;
    • Từ chối yêu cầu trả BHXH không đúng quy định;
    • Khiếu nại về BHXH;
    • Kiểm tra việc đóng BHXH và trả các chế độ BHXH;
    • Kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH và quản lý quỹ BHXH;
    • Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BHXH;
    • Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Với quy định trên, ngoài quyền theo quy định đối với tổ chức sự nghiệp của Nhà nước trong việc tổ chức quản lý nhân sự, tài chính, tài sản, tổ chức BHXH với chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH theo quy định, còn được quyền từ chối những yêu cầu không đúng về trả BHXH của các tổ chức, cá nhân; có quyền kiểm tra BHXH và trả các chế độ BHXH của người sử dụng lao động (SDLĐ) đối với người lao động (NLĐ) để hướng dẫn, yêu cầu thực hiện theo đúng quy định và trong trường hợp phát hiện vi phạm về BHXH thì kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý. Ngoài ra, tổ chức BHXH được quyền kiến nghị trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH và quản lý quỹ BHXH phù hợp với quyền lợi của các bên tham gia BHXH.

    1. Trách nhiệm của tổ chức BHXH:
    • Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ BHXH đối với NLĐ, người SDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH;
    • Thực hiện việc thu BHXH theo quy định;
    • Tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ BHXH; thực hiện việc trả lương hưu, trợ cấp BHXH đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn;
    • Cấp sổ BHXH đến từng NLĐ;
    • Quản lý, sử dụng quỹ BHXH theo quy định;
    • Thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH;
    • Tổ chức thực hiện công tác thống kê, kế toán, hướng dẫn nghiệp vụ về BHXH;

    15

    • Giới thiệu NLĐ đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa đối với NLĐ vị TNLĐ-BNN khi thương tật, bệnh tật tái phát, người vừa bị TNLĐ vừa bị BNN hoặc người bị TNLĐ nhiều lần, người bị nhiều BNN.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý BHXH; lưu trữ hồ sơ của người tham gia BHXH theo quy định;
    • Định kỳ sáu tháng, báo cáo Hội đồng quản lý BHXH về tình hình quản lý và sử dụng quỹ BHXH;
    • Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện BHXH khi NLĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;
    • Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
    • Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện BHXH;
    • Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

    Theo các nội dung nêu trên, trách nhiệm của tổ chức BHXH được quy định rất cụ thể, chi tết từ việc thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn thủ tục thực hiện BHXH, cấp sổ BHXH, thu BHXH, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và chi trả các chế độ BHXH, quản lý và sử dụng quỹ BHXH, quản lý nghiệp vụ, lưu trữ hồ sơ của người tham gia, cung cấp tài liệu, thông tin… cho đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thực hiện BHXH cũng như các trách nhiệm khác liên quan đến BHXH.

    Nhìn chung, Luật BHXH đã quy định đầy đủ, chi tiết về quyền, trách nhiệm của các bên tham gia BHXH, nhất là quyền và trách nhiệm của tổ chức BHXH. Đây sẽ là căn cứ để thực hiện đúng pháp luật về BHXH và là căn cứ để giải quyết khi có tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về BHXH, nhằm mục tiêu là đảm bảo tốt quyền tham gia và hưởng BHXH của NLĐ.

    16

    Chế độ ốm đau

    01/09/2006 Tìm hiểu Luật BHXH

    Chế độ ốm đau là một trong các chế độ của BHXH bắt buộc. Chế độ ốm đau được quy định tại Mục 1

    Chương III của Luật BHXH từ Điều 21 đến Điều 26, nội dung cụ thể như sau:

    1. Đối tượng áp dụng: Là NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc quy định tại Luật BHXH, trừ đối tượng là hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; người làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

     

    1. Điều kiện hưởng: NLĐ bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế theo quy định, trừ trường hợp tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác; con dưới bảy tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế theo quy định.

     

    1. Thời gian hưởng chế độ: NLĐ được nghỉ tối đa trong 1 năm tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần như sau:

     

    – Làm việc trong điều kiện bình thường: 30 ngày, nếu đóng BHXH dưới 15 năm; 40 ngày, nếu đóng BHXH từ

     

    • năm đến dưới 30 năm; 60 ngày, nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên.

    – Làm các nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên: 40 ngày, nếu đóng BHXH dưới 15 năm; 50 ngày, nếu đóng BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày, nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên.

    – Nghỉ chăm sóc con ốm: 20 ngày nếu con dưới 3 tuổi, 15 ngày nếu con từ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định.

    Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân (sau đây gọi là cán bộ lực lượng vũ trang). Thời gian hưởng chế độ ốm đau tùy thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân.

    Đối với người lao động bị mắc các bệnh thuộc danh mục cần điều trị dài ngày (sau đây gọi là người mắc bệnh dài ngày) được nghỉ hưởng trợ cấp ốm đau tối đa 180 ngày/năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần (không căn cứ thời gian đóng BHXH). Trường hợp hết 180 ngày còn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ với mức thấp hơn.

    1. Mức hưởng chế độ ốm đau:
    • Mức hưởng đối với người ốm đau bình thường và con ốm đau: bằng 75% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Đối với cán bộ lực lượng vũ trang thì mức hưởng chế độ ốm đau bằng 100% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
    • Mức hưởng đối với người mắc bậnh dài ngày nếu hết 180 ngày cần tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ với mức bằng 65% mức tiền lương đóng BHXH trước khi nghỉ việc nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên; bằng

    17

    55% nếu đóng BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm; bằng 45% nếu đóng BHXH dưới 15 năm. Trường hợp mức hưởng thấp hơn mức lươn tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung.

    1. Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe: Người lao động thuộc đối tượng nêu trên, sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 ngày đến 10 ngày trong một năm. Mức hưởng 1 ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ tại gia đình; bằng 40% nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại cơ sở tập trung.

    Với quy định về chế độ ốm đau của Luật BHXH nêu trên, so với quy định hiện nay có một số nội dung thay đổi đó là:

    • Tăng thời gian tối đa hưởng chế độ đối với người có trên 30 năm đóng BHXH: Làm việc trong điều kiện bình thường được nghỉ 60 ngày (hiện nay là 50 ngày); làm việc điều kiện nặng nhọc, độc hại được nghỉ 70 ngày (hiện nay là 60 ngày).
    • Không khống chế số lượng con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc (hiện nay chỉ hưởng trợ cấp đối với con thứ nhất, thứ hai).
    • Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định (hiện nay không có quy định).
    • Mức hưởng đối với người mắc bệnh dài ngày nếu hết 180 ngày còn tiếp tục điều trị được hưởng theo 3 mức tùy theo thời gian đóng BHXH và nếu thấp thì tính bằng mức lương tối thiểu chung.
    • Trường hợp nghỉ việc để thực hiện các biện pháp tránh thai thuộc chế độ trợ cấp thai sản (hiện nay là chế độ ốm đau).Chế độ ốm đau quy định trong Luật BHXH về cơ bản đã giải quyết được những bất hợp lý và những vấn đề chưa quy định cụ thể về chế độ ốm đau của Điều lệ BHXH, đồng thời có quy định tăng quyền lợi hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động tham gia BHXH.

    18

    Chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp

    20/03/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN) là một trong những chế độ BHXH bắt buộc được quy định tại Mục 3 Chương III Luật BHXH từ Điều 38 đến Điều 48. Ngoài những quy định về đối tượng áp dụng; điều kiện hưởng; Luật BHXH quy định về mức hưởng chế độ TNLĐ-BNN như sau:

    a. Mức hưởng trợ cấp một lần:

    NLĐ bị TNLĐ- BNN suy giảm KNLĐ từ 5% đến 30%. Mức hưởng được tính như sau: Suy giảm 5% KNLĐ thì được hưởng 5 tháng lương tồi thiểu (LTT) chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng LTT chung. Ngoài ra, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

    Trường hợp chết do TNLĐ-BNN: Thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 tháng LTT chung và được hưởng chế độ tử tuất theo quy định.

    Mức trợ cấp hàng tháng:

     

    • NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hàng tháng. Mức trợ cấp được tính như sau: Suy giảm 31% KNLĐ thì được hưởng bằng 30% mức LTT chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức LTT chung. Ngoài ra, còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH , từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.
    • NLĐ bị TNLĐ-BNN mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật.
    • NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 81 % trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng quy định, hàng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức LTT chung.
    • NLĐ sau khi điều trị ổn định thương tật do TNLĐ hoặc bệnh tật do BNN mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ từ 5 ngày đến 10 ngày. Mức hưởng 1 ngày bằng 25% mức LTT chung nếu nghỉ tại gia đình; bằng 40% nếu nghỉ tại cơ sở tập trung.

    Ngoài ra, người bị TNLĐ-BNN hưởng trợ cấp hàng tháng, nếu nghỉ việc thì được BHYT do quỹ BHXH trả; được giám định tổng hợp mức suy giảm KNLĐ khi vừa bị TNLĐ vừa bị BNN, bị TNLĐ nhiều lần; bị nhiều BNN; khi vết thương tái phát được đi giám định lại mức độ suy giảm KNLĐ do thương tật.

    So với quy định tại Điều lệ BHXH, chế độ TNLĐ-BNN quy định tại Luật BHXH có những thay đổi đảm bảo giải quyết được những bất hợp lý và những vấn đề chưa quy định cụ thể; nâng cao quyền lợi cũng như mục tiêu hỗ trợ tăng cường sức khoẻ đối với người tham gia BHXH khi bị TNLĐ hoặc mắc BNN, cụ thể những thay đổi đó là:

    19

    • Thứ nhất: Mức hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN một lần, hàng tháng theo tỷ lệ suy giảm KNLĐ và được tính theo LTT chung (nếu người có cùng tỷ lệ thương tật thì mức hưởng như nhau). Nhưng ngoài ra, còn được hưởng thêm tính theo số năm đã đóng BHXH và tiền lương, tiền công đóng BHXH (đây là khoản tính theo đóng góp).
    • Thứ hai: Mức trợ cấp phục vụ hàng tháng tăng từ 0,8 mức LTT chung (theo quy định tại Điều lệ BHXH) lên bằng mức LTT chung.
    • Thứ ba: Tăng mức trợ cấp chết do TNLĐ-BNN từ 24 tháng LTT chung (theo quy định Điều lệ BHXH) lên bằng 36 tháng.
    • Thứ tư: Quy định được giám định tổng hợp mức suy giảm KNLĐ khi vừa bị TNLĐ vừa bị BNN, bị TNLĐ nhiều lần; bị nhiều BNN; khi vết thương tái phát được đi giám định lại mức độ suy giảm KNLĐ do thương tật.
    • Thứ năm: Quy định cụ thể thời điểm hưởng trợ cấp đối với trường hợp bị TNLĐ-BNN lần đầu và trường hợp đi giám định lại mức suy giảm KNLĐ do thương tật hoặc bệnh tật tái phát.

    20

    Chế độ tử tuất

    01/04/2007

    Một trong 5 chế độ của BHXH bắt buộc là chế độ tử tuất được quy định tại Mục 5 chương III Luật BHXH từ Điều 63 đến Điều 68 và khoản 3 Điều 139, bao gồm các quy định về đối tượng áp dụng; điều kiện về người chết và thân nhân để được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng hoặc trợ cấp tuất một lần; mức trợ cấp mai táng, mức trợ cấp hàng tháng, mức trợ cấp .một lần

    So với quy định tại Điều lệ BHXH, một số nội dung về chế độ tử tuất trong Luật BHXH có những thay đổi như sau:

    Thứ nhất: Bổ sung thêm đối tượng là hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn được tham gia đóng BHXH để hưởng chế độ tử tuất. Ngoài ra, quy định cụ thể đối tượng gồm những người lao động đang đóng BHXH, người bảo lưu thời gian đóng BHXH, người hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng đã nghỉ việc (bao gồm cả người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, TNLĐ-BNN hàng tháng trước 1/1/2007)

    Thứ hai: Về điều kiện để thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng:

    • Điều kiện đối với người chết, nhìn chung quy định như Điều lệ BHXH là người tham gia BHXH phải có đủ 15 năm đóng BHXH trở lên chưa hưởng BHXH một lần, người đang hưởng lương hưu, người chết do TNLĐ-BNN (không phụ thuộc thời gian đóng BHXH). Riêng đối với người đang hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng có mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì thân nhân mới được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng (Điều lệ BHXH quy định quy định mức suy giảm khả năng lao động từ 31 % trở lên).
    • Điều kiện đối với thân nhân người chết, cơ bản như quy định tại Điều lệ BHXH gồm con chưa đủ 15 tuổi; con chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học; vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng khi còn sống có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ không có thu nhập hoặc có thu nhập hàng tháng nhưng thấp hơn mức lương tối thiếu chung.

    Ngoài ra, Luật BHXH có quy định đối tượng con từ đủ 15 tuổi trở lên. vợ dưới 55 tuổi, chồng dưới 60, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chổng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu dưới 60 đối với nam; dưới 55 tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên thì được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.

    Thứ ba: Về mức trợ cấp mai táng và trợ cấp hàng tháng:

    • Quy định trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung (Điều lệ BHXH quy định bằng 8 tháng)
    • Quy định mức trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương tối thiểu chung (Điều lệ

    21

    BHXH quy định bằng 40% mức lương tối thiểu chung). Mức trợ cấp hàng tháng đối với trường hợp thân nhân không có người được tiếp nuôi dưỡng vẫn là 70% mức lương tối thiểu chung

    – Vẫn quy định số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng cho một người chết không quá 4 người, nhưng mỗi thân nhân có từ 2 người chết trở lên thì được hưởng 2 lần mức trợ cấp hàng tháng.

    Thứ tư: Về điều kiện và mức trợ cấp tuất một lần:

    • Thân nhân người chết hưởng trợ cấp tuất một lần khi người lao động đóng BHXH chưa đủ 15 năm (trừ trường hợp chết do TNLĐ-BNN), người đang hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng có mức suy giảm khả năng lao động dưới 61% hoặc người chết đủ điều kiện để thân nhân hưởng trợ cấp hàng tháng nhưng không có thân nhân hưởng trợ cấp hàng tháng.
    • Mức hưởng trợ cấp tuất một lần:
    • Đối với người đang tham gia BHXH, người bảo lưu thời gian đóng BHXH mà chết tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, mức thấp nhất bằng 3 tháng mức bình quân tiền lương. tiền công tháng (Điều lệ BHXH quy định cứ mỗi năm tính bằng 0,5 tháng và khống chế tối đa bằng 12 tháng).
    • Đối với người hưởng lương hưu chết, quy định nếu chết trong 2 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó thì cứ hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng 3 tháng lương hưu đang hưởng (Điều lệ BHXH quy định chết ở năm thứ nhất được hưởng 12 tháng lương hưu, sau đó từ năm thứ 2 trở đi cứ thêm 1 năm hưởng trừ đi 1 tháng, tối thiều mức hưởng là 3 tháng).

    Với quy định trong Luật BHXH, về cơ bản chế độ tử tuất vẫn đảm bảo 2 hình thức trợ cấp là trợ cấp tuất hàng tháng và trợ cấp tuất một lần, mức hưởng đều được quy định tăng so với trước đây, kể cả tiền mai táng, trợ cấp tuất hàng tháng và nhất là trợ cấp tuất một lần (tính như người hưởng trợ cấp BHXH một lần, ngoài ra còn được hưởng thêm tiền mai táng).

    22

    BHXH tự nguyện

    02/04/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Luật BHXH đã được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006. Ngoài loại hình BHXH bắt buộc, Luật BHXH còn quy định loại hình BHXH tự nguyện (TN) được thực hiện từ ngày 1/1/2008.

    BHXH TN trong Luật BHXH được quy định tại chương IV, từ Điều 69 đến Điều 79 và Điều 100, cụ thể như sau:

    Thứ nhất: Đối tượng tham gia BHXH TN là tất cả công dân Việt Nam trong độ tuổi LĐ, mà không thuộc đối tượng đang tham gia đóng BHXH bắt buộc. Với quy định này, không nhất thiết người lao động (NLĐ) trong độ tuổi LĐ phải có việc làm mới được tham gia mà bao gồm cả những người trong độ tuổi LĐ nhưng không có khả năng LĐ, nhưng có nguồn thu nhập để đóng BHXH theo quy định.

    Thứ hai: Chế độ mà người tham gia BHXH TN được hưởng gồm hưu trí và tử tuất, nội dung của các chế độ này về cơ bản quy định như đối với đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, đó là:

    1. Chế độ hưu trí:

    – Được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên.

    Trường hợp nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH (kể cả BHXH bắt buộc và BHXH TN) còn thiếu không quá 5 năm so với thời gian qui định thì được đóng tiếp cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu hàng tháng.

    • Mức lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; tối đa bằng 75%.

    Mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian. Thu nhập tháng đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

    • NLĐ đã đóng BHXH trên 30 năm đối với nam, trên 25 năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần. Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH kể từ năm 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng BHXH được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.
    • NLĐ được hưởng BHXH một lần khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc trường hợp ra nước ngoài để định cư. Mức hưởng BHXH một lần được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.
    • NLĐ dừng đóng BHXH TN mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu hoặc chưa nhận BHXH một lần thì được bảo lưu thời gian đóng BHXH.
    1. Chế độ tử tuất:

    23

    Có đủ 5 năm đóng BHXH trở lên hoặc đang hưởng lương hưu, khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung và trợ cấp tuất một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH đối với người đang đóng hoặc người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH chết, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng bình quân thu nhập tháng đóng BHXH và được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu đối với người đang hưởng lương hưu chết, nếu chết trong 2 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 1 tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.

    Thứ ba: Luật BHXH quy định người LĐ đóng BHXH bắt buộc sau đó đóng BHXH TN thì thời gian đóng BHXH bắt buộc được cộng với thời gian đóng BHXH TN hoặc ngược lại để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.

    Thứ tư: Mức đóng BHXH hàng tháng bằng 16% mức thu nhập NLĐ lựa chọn; từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%. Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng BHXH được thay đổi tùy theo khả năng của NLĐ ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung. Người lao động được chọn các phương thức đóng theo hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần.

    Quy định BHXH TN trong Luật BHXH đã đảm bảo công bằng về quyền được tham giam BHXH và hưởng BHXH đối với mọi NLĐ trong xã hội, đồng thời quy định liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH TN đã tạo điều kiện thuận lợi khi chuyển dịch LĐ, đảm bảo cuộc sống ổn định cả khi đang làm việc và khi ngừng việc, nhất là khi hết tuổi LĐ; đảm bảo từng bước ổn định xã hội và an sinh xã hội của đất nước.

    24

    Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp

    04/04/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Bảo hiểm thất nghiệp được quy định tại chương V Luật BHXH từ điều 80 đến điều 87. Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc và được quy định thi hành từ 1/1/2009. Nội dung cụ thể về BH thất nghiệp như sau:

    1.         Đối tượng áp dụng:

    BH thất nghiệp áp dụng bắt buộc đối với NLĐ là công dân Việt Nam làm việc theo HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và người SDLĐ có sử dụng từ 10 lao động trở lên.

    2. Điều kiện hưởng:

    NLĐ đang đóng BH thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm được hưởng BH thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

    • Đã đóng BH thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp;
    • Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức BHXH;
    • Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp.

    3. Quyền lợi được hưởng khi thất nghiệp:

    1. Hàng tháng được hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BH thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp và số tháng được hưởng phụ thuộc vào thời gian đóng BH thất nghiệp: được hưởng 3 tháng nếu đóng. BH thất nghiệp từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng; 6 tháng nếu đóng BH thất nghiệp từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng; 9 tháng nếu đóng BH thất nghiệp từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng và 12 tháng nếu đóng BH thất nghiệp từ đủ 144 tháng trở lên.
    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá 6 tháng. Mức hỗ trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề
    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí.
    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được cấp thẻ BHYT.

    4. Tạm dừng và chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp:

    • Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp khi không thực hiện thông báo hàng tháng với tổ chức BHXH về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc bị tạm giam.
    • Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp khi hết thời hạn hưởng trợ cắp thất nghiệp; khi có việc làm; khi thực hiện nghĩa vụ quân sự; khi hưởng lương hưu; khi mà sau 2 lần từ chối nhận việc làm do tổ chức BHXH giới thiệu mà không có lý do chính đáng; khi không thực hiện quy định thông báo hàng tháng với tổ chức BHXH về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp trong 3 tháng liên tục; khi ra nước ngoài để định cư; khi chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo

    25

    dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo và khi bị chết.

    Các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do có việc làm hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ được hưởng khoản trợ cấp một lần bằng giá trị còn lại của trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại điểm e khoản 3 nêu trên.

    Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thì thời gian đóng BH thất nghiệp trước đó không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp lần sau.

    BH thất nghiệp là một nội dung mở trong chính sách BHXH của nước ta. Mục tiêu của BH thất nghiệp là nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm. Với những nội dung quy định về BH thất nghiệp trong Luật BHXH đã đảm bảo phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội của nước ta trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập.

    Với mốc thời gian thực hiện được quy định trong Luật BHXH bắt đầu từ 1/1/2009 sẽ đảm bảo có đủ thời giản để chuẩn bị cho việc triển khai thực hiện chính sách BH thất nghiệp được tốt. BH thất nghiệp khi thực hiện sẽ từng bước đảm bảo đời sống của NLĐ và gia đình họ; đồng thời góp phần đảm bảo ổn định xã hội và an sinh xã hội.

    26

    Quỹ BHXH bắt buộc

    07/04/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Quỹ BHXH bắt buộc được quy định tại Mục 1 chương VI Luật BHXH từ điều 88 đến điều 97, nội dung cụ thể như sau:

    Nguồn hình thành và sử dụng:

     

    • Quỹ BHXH được hình thành từ đóng góp của NLĐ và NSDLĐ tham gia BHXH; tiền sinh lời của các hoạt động đầu tư quỹ; hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác.
    • Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH; đóng BHYT cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ TNLĐ-BNN hàng tháng; chi phí quản lý chi khen thưởng cho NSDLĐ thực hiện tốt công tác BHXH, phòng ngừa TNLĐ-BNN và chi cho công tác đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ.
    • Quỹ BHXH được quy định thành các quỹ thành phần là: Quỹ ốm đau và thai sản; quỹ TNLĐ-BNN và quỹ hưu trí và tử tuất.

    2. Mức đóng và phương thức đóng của NLĐ và NSDLĐ:

    • Hàng tháng, NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định (trừ đối tượng là hạ sỹ quan, binh sỹ QĐNĐ và hạ sỹ quan, binh sỹ CAND phục vụ có thời hạn) đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi cứ 2 năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%. Riêng NLĐ hưởng tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh trong các DN nông nghiệp, lâm nghiệp, ngưnghiệp, diêm nghiệp thì được đóng BHXH theo hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần. Đối với người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc thì mức đóng và phương thức

    đóng                    được                     giao                     cho                     Chính                    phủ                     quy                    định.

    • Hàng tháng, NSDLĐ đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của người lao động với mức 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó NSDLĐ giữ lại 2% để trả kịp thời cho NLĐ đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau, thai sản và thực hiện quyết toán hàng quý với tổ chức BHXH; 1% vào quỹ TNLĐ-BNN; 11%vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi mức đóng là 14%.
    • Hàng tháng, NSDLĐ đóng trên mức lương tối thiểu chung đối với mỗi NLĐ thuộc đối tượng là hạ sỹ quan, binh sỹ QĐND và hạ sỹ, quan binh sỹ CAND phục vụ có thời hạn với mức 1% vào quỹ TNLĐ-BNN; 16% vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ nărn 2010 trở đi cứ 2 năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.
    • Riêng NSDLĐ thuộc các DN nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh thì thực hiện đóng BHXH theo hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần.

    3. Tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc:

    • NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH là tiền lương theo ngạch bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.

    27

    • Đối với NLĐ đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH là mức tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ.
    • Trường hợp mức tiền lương, tiền công cao hơn 20 tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH 20 tháng lương tối thiểu chung.

    4. Một số quy định khác:

    • Trong trường hợp NSDLĐ gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh hoặc khó khăn do thiên tai, mất mùa dẫn đến việc NLĐ và NSDLĐ không có khả năng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thì được tạm dừng đóng BHXH trong thời gian không quá 12 tháng. Điều kiện, khoảng thời gian tạm dừng đóng và thẩm quyền quyết định việc tạm dừng đóng được giao cho Chính phủ quy định cụ thể.
    • Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH phải bảo đảm nguyên tắc an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết; quỹ BHXH được đầu tư vào các hình thức: Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của ngân hàng thương mại của Nhà nước, cho ngân hàng thương mại của Nhà nước vay, đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia và các hình thức đầu tư khác do Chính phủ quy định.
    • Chi phí quản lý BHXH bắt buộc hàng năm bằng chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước và được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.

    So với Điều lệ BHXH. quỹ BHXH trong Luật đã quy định cụ thể nguồn hình thành và sử dụng; quy định các quỹ thànhphần và mức đóng đối với từng quỹ thành phần; giảm mức đóng để thực hiện chế độ ốm đau, thai sản. TNLĐ-BNN từ 5% trước đây còn 4% (ốm đau, thai sài 3%. TNLĐ-BNN 1%) để tăng vào quỹ hưu trí, tử tuất từ 15% trước đây lên 16% cho phù hợp và quy định tăng dần mức đóng bắt đầu từ năm 2010 đối với NLĐ và NSDLĐ để đến năm 2014 đạt 22% nhằm đảm bảo một bước cân đối quỹ hưu trí, tử tuất được lâu dài, đủ khả năng chi trả lương hưu trong tương lai và không để lại gánh nặng về tài chính cho các thế hệ sau.

    Ngoài ra, Luật còn quy định NSDLĐ được giữ lại 2% mức đóng BHXH để trả kịp thời chế độ ốm đau, thai sản cho NLĐ; qui định về tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; quy định về hoạt động đầu tư quỹ, chi phí quản lý BHXH và quy định mức tiền lương cao nhất (mức trần) phải thực hiện đóng BHXH (điều lệ BHXH không có quy định này), với quy định này trong tương lai sẽ giảm khoảng cách chênh lệch về lương hưu giữa những người nghỉ hưu, chênh lệch về trợ cấp được hưởng khi nghỉ ốm đau, nghỉ thai sản cũng giảm và góp phần đảm bảo quỹ cân đối lâu dài, bền vững.

    28

    Sổ Bảo hiểm xã hội

    01/05/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Điều 15 Luật BHXH quy định NLĐ khi tham gia BHXH được quyền cấp sổ BHXH và nhận lại sổ BHXH khi không còn làm việc. Vời quy định này, việc cấp sổ BHXH đối với NLĐ đã được quy định cụ thể trong Chương VIII Luật BHXH từ Điều 109 đến Điều 111, nội dung quy định về sổ BHXH, hồ sơ tham gia BHXH và quy trình, thời hạn cấp sổ BHXH như sau:

    1. Sổ BHXH được cấp đối với từng NLĐ để theo dõi việc đóng, hưởng các chế độ BHXH và là cơ sở để giải quyết các chế độ BHXH theo quy định.

    Mẫu Sổ BHXH do tổ chức BHXH và sẽ được dần thay thế bằng thẻ BHXH điện tử trong quá trình áp dụng CNTT vào quản lý BHXH, thủ tục BHXH khi sử dụng thẻ BHXH điện tử được Chính phủ quy định.

     

    1. Hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:
    • Tờ khai cá nhân của NLĐ theo mẫu do tổ chức BHXH quy định;
    • Danh sách NLĐ tham gia BHXH bắt buộc do người SDLĐ lập;
    • Bản sao quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đang ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động đối với người SDLĐ tham gia BHXH lần đầu; HĐLĐ đối người SDLĐ là cá nhân có thuê mướn, sử dụng LĐ.
    1. Hồ sơ tham gia BHXH TN là tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức BHXH quy định.

     

     

    1. Hồ sơ tham gia BHXH thất nghiệp bao gồm:
    • Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức BHXH quy định;
    • Danh sách NLĐ them gia bảo hiểm thất nghiệp do người SDLĐ lập.
    1. Về cấp sổ BHXH:
    • Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày giao kết HĐLĐ, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng, người SDLĐ nộp hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc và hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định nêu trên cho tổ chức BHXH.
    • NLĐ tham gia BHXH TN nộp hồ sơ tham gia BHXH (tờ khai cá nhân theo mẫu) cho tổ chức BHXH.
    • Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hổ sơ hợp lệ đối với người tham gia BHXH bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp; 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của người tham gia BHXH tự nguyện, tổ chức BHXH có trách nhiệm cấp sổ BHXH cho từng NLĐ; trường hợp không cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Việc cấp sổ BHXH theo quy định của Luật BHXH không những đảm bảo cho người tham gia BHXH sớm được cấp sổ BHXH, không phải lo ngại về quyền lợi tham gia BHXH do hiện nay còn có hiện tượng tham gia BHXH nhưng chưa được cấp sổ BHXH (vì chưa có quy định thời hạn đề nghị cấp sổ BHXH đối với người SDLĐ sau khi NLĐ giao kết HĐLĐ, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng), góp phần yên tâm làm việc, nâng cao hiệu quả công việc được giao. Ngoài ra, sổ BHXH được cấp đầy đủ, kịp thời sẽ tạo thuận lợi cho tổ chức BHXH trong việc quản lý thu – nộp BHXH và nhất là giải quyết các chế độ BHXH cho NLĐ.

    29

    Việc quy định mẫu Sổ BHXH do tổ chức BHXH quy định và được dần thay thế bằng thẻ BHXH điện tử đảm bảo phù hợp với thực tế về quản lý BHXH. Trong tương lai khi sử dụng thẻ BHXH điện tử sẽ tạo thuận tiện trong việc theo dõi việc đóng – hưởng BHXH của từng người tham gia BHXH, đảm bảo chính xác trong giải quyết các chế độ BHXH, giảm khối lượng quản lý sổ BHXH ở đơn vị SDLĐ và người tham gia BHXH có thể biết được tình hình đóng – hưởng BHXH của mình bất kỳ khi nào.

    30

    Hồ sơ và việc giải quyết hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN 22/05/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Hồ sơ và việc giải quyết hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN được quy định từ Điều 112 đến Điều 118 Chương VIII Luật BHXH, nội dung quy định cụ thể như sau:

    1. Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau gồm: Sổ BHXH; Giấy xác nhận nghỉ ốm đối với trường hợp điều trị ngoại trú, giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội trú tại cơ sở y tế, giấy ra viện hoặc phiếu hội chẩn của bệnh viện đối với trường hợp mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; Xác nhận của NSDLĐ về điều kiện làm việc đối với NLĐ làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên; Giấy xác nhận của NSDLĐ về thời gian nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, kèm theo giấy khám bệnh của con đối với NLĐ nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau; Danh sách người nghỉ ốm và người nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau do NSDLĐ lập.

     

    1. Hồ sơ hưởng chế độ thai sản gồm: Sổ BHXH; Bản sao giấy chứng sinh hợac bản sao giấy khai sinh của con (hoặc giấy chứng tử trong trường hợp sau khi sinh con mà con chết hoặc mẹ chết); Trường hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, NLĐ thực hiện các biện pháp tránh thai phải có giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền; nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải có chứng nhận theo quy định của pháp luật; Xác nhận của NSDLĐ về điều kiện làm việc đối với NLĐ làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc xác nhận của NSDLĐ đối với lao động nữ là người tàn tật; Danh sách người hưởng chế độ thai sản do NSDLĐ lập.

     

    1. Hồ sơ hưởng chế độ TNLĐ gồm: Sổ BHXH; Biên bản điều tra TNLĐ, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định là TNLĐ thì phải có thêm bản sao Biên bản tai nạn giao thông; Giấy ra viện sau khi đã điều trị TNLĐ; Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa; Văn bản đề nghị giải quyết chế độ TNLĐ của NSDLĐ.

     

    1. Hồ sơ hưởng chế độ BNN gồm: Sổ BHXH; Biên bản đo đạc môi trường có yếu tố độc hại, trường hợp Biên bản xác định cho nhiều người thì hồ sơ của mỗi NLĐ có bản trích sao; Giấy ra viện sau khi điều trị BNN, trường hợp không điều trị tại bệnh viện thì phải có giấy khám BNN; Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa; Văn bản đề nghị giải quyết chế độ BNN của NSDLĐ

     

    1. Hồ sơ hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe gồm: Danh sách người đã hưởng chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN mà sức khỏe còn yếu do NSDLĐ lập; Văn bản đề nghị giải quyết trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe của NSDLĐ.

     

    1. Về giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản: trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ NLĐ, NSDLĐ có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động và hàng quý nộp hồ sơ của những NLĐ đã được giải

    31

    quyết chế độ cho tổ chức BHXH để quyết toán trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    1. Về giải quyết hưởng chế độ TNLĐ-BNN, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị TNLĐ-BNN: NSDLĐ nộp hồ sơ cho tổ chức BHXH để giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

     

    Nhìn chung, hồ sơ và thời hạn giải quyết hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN trong Luật BHXH được quy định cụ thể, rõ ràng các giấy tờ đối với hồ sơ từng loại chế độ, đảm bảo đủ căn cứ để thực hiện chế độ và việc quy định cụ thể về hồ sơ đối với mỗi chế độ đã tạo thuận lợi cho NLĐ, NSDLĐ khi giải quyết chế độ, hạn chế việc đòi hỏi thủ tục giấy tờ không cần thiết.

    Ngoài ra, Luật BHXH quy định cụ thể về thời hạn giải quyết, quyết toán các chế độ, góp phần đảm bảo thu nhập, ổn định sinh hoạt thường xuyên cho NLĐ; đồng thời nâng cao trách nhiệm của NSDLĐ, của tổ chức BHXH trong việc thực hiện chế độ BHXH đối với NLĐ, góp phần thực hiện một bước trong tiến trình cải cách hành chính.

    32

    Hồ sơ và việc giải quyết chế độ hưu, BHXH một lần và tử tuất 25/05/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Hồ sơ và việc giải quyết hưởng lương hưu, BHXH một lần và chế độ tử tuất đối với người tham gia

    BHXH bắt buộc được quy định tại các điều từ Điều 119 đến Điều 122 và Điều 127, 128 Chương VIII Luật

    BHXH, nội dung quy định cụ thể như sau:

    1. Hồ sơ hưởng lương hưu gồm: Sổ BHXH; Quyết định nghỉ việc đối với người đang đóng BHXH hoặc đơn đề nghị hưởng lương hưu đối với người bảo lưu thời gian đóng BHXH. Đối với người hưởng chế độ hưu trí khi suy giảm khả năng lao động có thêm biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa.

     

    1. Hồ sơ hưởng BHXH một lần là Sổ BHXH. Ngoài ra đối với từng đối tượng, hồ sơ có thêm:
    • Quyết định nghỉ việc trong trường hợp NLĐ đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH.
    • Quyết định phục viên, xuất ngũ, thôi việc đối với cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang.
    • Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa trong trường hợp NLĐ suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH;
    • Bản sao giấy tờ định cư ở nước ngoài trong trường hợp NLĐ ra nước ngoài để định cư.
    • Đơn đề nghị của NLĐ trong trường hợp sau 1 năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH;
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất:
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người đang đóng BHXH và người bảo lưu thời gian đóng BHXH gồm: Sổ BHXH; giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết; tờ khai của thân nhân theo mẫu của tổ chức BHXH. Trường hợp chết do TNLĐ-BNN thì có thêm biên bản điều tra TNLĐ hoặc bệnh án điều trị BNN.
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất của người đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng thuộc đối tượng được hưởng chế độ tử tuất theo quy định, gồm: Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết; tờ khai của thân nhân theo mẫu của tổ chức BHXH.

    Ngoài ra, Luật BHXH cũng quy định hồ sơ hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH đối với người chấp hành xong hình phạt tù, cụ thể là:

    • Đối với người chưa hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, hồ sơ gồm: Sổ BHXH; bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù và đơn đề nghị hưởng chế độ BHXH.
    • Đối với người đã hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, hồ sơ gồm: Đơn đề nghị hưởng tiếp BHXH và bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù.
    1. Về giải quyết hưởng lương hưu, BHXH một lần, chế độ tử tuất: Luật BHXH quy định việc nộp hồ sơ và giải quyết chế độ như sau:

    33

    NSDLĐ nộp hồ sơ cho tổ chức BHXH đối với người đang làm việc tại đơn vị; NLĐ không còn quan hệ lao động, người chấp hành xong hình phạt tù và thân nhân của người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng thuộc đối tượng được hưởng chế độ tử tuất theo quy định thì trực tiếp nộp hồ sơ cho tổ chức BHXH.

    Tổ chức BHXH có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người hưởng lương hưu và người chấp hành xong hình phạt tù hưởng lương hưu, BHXH một lần; 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp NLĐ hưởng BHXH một lần, chế độ tử tuất. Trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Nhìn chung, hồ sơ và thời hạn giải quyết hưởng chế độ hưu trí, tử tuất trong Luật BHXH được quy định cục thể, rõ ràng các giấy tờ đối với hồ sơ từng loại chế độ, đảm bảo đủ căn cứ để thực hiện chế độ và việc quy định cụ thể về hồ sơ đối với mỗi chế độ đã tạo thuận lợi cho NLĐ, NSDLĐ khi giải quyết chế độ, hạn chế những thủ tục giấy tờ không cần thiết.

    34

    PHÁC THẢO LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ BỨC TRANH TOÀN CỤC HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM

    NGUYỄN TIẾ N HÙNG (Bài tham luận tại Hội thảo “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xã hội” tổ chức tại Học Viện Tài chính – Phân viện TP.HCM tháng 8/2002)

    Việc nghiên cứu hoàn thiện các chế độ BHXH nói riêng, các đảm bảo xã hội nói chung phải dựa trên 2 xuất phát điểm: một là, phải xây dựng hệ thống cơ sở lý luận làm hệ qui chiếu cho đối tượng nghiên cứu và mục tiêu hướng tới cho giải pháp hoàn thiện; hai là, mô tả được thực trạng của đối tượng cần hoàn thiện. Trong phạm vi bài viết này, tác giả không có ý định xây dụng chuẩn mực lý thuyết về ASXH, BHXH, cũng không có tham vọng mô tả chi tiết, đầy đủ về hệ thống ASXH, BHXH ở Việt Nam, chỉ hy vọng phác thảo những nét chính trong bức tranh toàn cục về hệ thống đó ở Việt Nam mà thôi.

    HỆ THỐNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

    Ở nước ta, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước đã ban hành nhiều sắc lệnh nhằm thực hiện BHXH:

    • Sắc lệnh số 54/SL ngày 1/11/1945 ấn định những điều kiện cho công chức về hưu;
    • Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức;
    • Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ấn định cụ thể hơn các chế độ trợ cấp hưu trí, thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn, tiền tuất đối với công chức;
    • Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 ấn định các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân sản xuất.

    Những văn bản trên cho thấy nhà nước ta đã sớm có nhận thức và sớm thực hiện BHXH theo hình thức hiện đại so với nhiều nước trên thế giới và khu vực, sớm chứng tỏ là một nhà nước tiên tiến của giai cấp công nhân và người lao động.

    Tuy nhiên, phải đến năm 1961, chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước mới thực sự thực hiện trên cơ sở thành lập Quĩ BHXH thống nhất toàn quốc (riêng thời kỳ 61-75: toàn miền Bắc) sau khi Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/11/1961 với 6 loại trợ cấp (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất). Quĩ BHXH, lúc này, là Quĩ độc lập thuộc ngân sách nhà nước (NSNN) nhưng nguồn thu chủ yếu từ sự tài trợ của NSNN, tiếp đến là sự đóng góp từ các cơ quan và xí nghiệp quốc doanh theo % trên tổng Quĩ lương (từ 1962 đến 1987: 4,7%, từ 1987 đến 1993: 15%) còn công nhân và viên chức không cần đóng phí BHXH. Việc quản lý BHXH được giao cho Bộ lao động, Thương binh và Xã hội và Tổng công đoàn Việt Nam (nay là Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam) đảm trách. Đối với khu vực ngoài quốc doanh, Điều lệ BHXH đối với xã viên hợp tác xã các tổ hợp sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng được ban hành (Quyết định 292/BCH-LĐ ngày 15/2/82 của LHX trung ương) nhưng chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn ngủi, từ năm 1982 đến năm 1989.

    Kể từ sau Đại hội VII của Đảng công cuộc đổi mới đất nước đi vào chiều sâu, trong đó việc đổi mới BHXH để phù hợp với điều kiện kinh tế -xã hội mới là một yêu cầu bức bách nhằm thực hiện các chính sách xã hội. Việc

    35

    đổi mới được đánh dấu bằng việc tách với một bộ phận cấu thành của BHXH – chế độ chăm sóc y tế khi ốm đau cho người lao động thành một Quĩ độc lập: Bảo hiểm y tế (Nghị định 299/HĐBT) ngày 15-8-1992 ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế) với việc qui định không chỉ người sử dụng lao động mà cả người lao động cũng phải tham gia đóng phí. Tiếp theo đó, ngày 22 tháng 6 năm 1993, Chính phủ lại ban hành Nghị định 43/CP qui định tạm thời chế độ BHXH mở đầu cho cuộc cải cách sâu rộng, toàn diện BHXH chằm vào mục đích xóa sự bao cấp của NSNN đối với BHXH, mở rộng diện bắt buộc không chỉ đối với công nhân, viên chức nhà nước như trước đây mà đối với tất cả người lao động hưởng lương, qui định lại nguồn thu chi, cơ cấu nguồn thu dùng cho mỗi loại chế độ…

    Việc cải cách thực sự đi vào thực tiễn khi hàng loạt các văn bản pháp qui được ban hành từ năm 1995:

    • Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ BHXH;
    • Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam;
    • Quyết định số 606/ Ttg ngày 26/09/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Qui chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam;
    • Nghị định số 93/1998/NĐ – CP ngày 12/11/1998 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH (ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ) Như đã nêu trên, việc áp dụng BHXH trên của quốc gia khác nhau thường cùng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lí có thể đáp ứng. Có nước quan tâm thực hiện các chế độ đảm bảo cho các rủi ro dễ xảy ra trước mắt như chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, các nước khác lại quan tâm đến các chế độ đảm bảo cho tuổi già, tuổi hưu trí, cho cái chết. Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế-xã hội, phù hợp với đặc điểm của từng nơi, bảo hiểm sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ. Hiện nay nội dung thực hiện BHXH ở Việt Nam theo qui định tại chương XII Bộ Luật lao động (được Quốc hội thông qua ngày 23/06/1994) bao gồm 5 chế độ sau: Chế độ ốm đau; Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Chế độ trợ cấp thai sản; Chế độ hưu trí; Chế độ tiền tử. Ngoài ra, người lao động còn được hưởng chế độ chăm sóc y tế (khám và chữa bệnh) theo Điều lệ bảo hiểm y tế. Và đặc biệt là kể từ ngày 21/03/2001, người lao động tham gia BHXH còn được hưởng chế độ trợ cấp nghỉ dưỡng sức (Quyết định số 37/2001/QĐ–TTg của Thủ tướng Chính phủ).

    Việc thực hiện BHXH được tiến hành theo 2 hình thức: bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện áp dụng cho 2 nhóm

    đối tượng khác nhau: người lao động làm công ăn lương và nhóm người lao động tự do (không có người sử dụng lao động ổn định). Như vậy, hiện nay căn cứ vào những gì đang diễn ra ở Việt Nam thì BHXH là một chế định pháp lý nhằm bảo vệ người lao động bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ người lao động, người sử dụng lao động, cộng với sự hỗ trợ của nhà nước, thực hiện việc trợ cấp vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và gia đình họ trong các trường hợp người lao động tham gia BHXH bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo luật định hoặc chết làm họ hoặc gia đình mất hoặc giảm thu nhập bất ngờ.

    • nước ta, mặc dù đến những năm gần đây, nội dung các chế độ và phương thức quản lí thực hiện mới được đổi mới theo xu thế hiện đại, phù hợp với nền kinh tế thị trường đang được xây dựng, nhưng nếu tính từ 1945 đến nay, chúng ta đã áp dụng hầu hết các chế độ trợ cấp đã nêu ở trên chứng tỏ nội dung cơ bản của BHXH đã được nhận thức và dược áp dụng ở Việt Nam.

    36

    HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM

    Ngoài việc sớm thực hiện các chế độ trợ cấp thuộc cơ chế BHXH, nước ta cũng đã sớm thực hiện nhiều cơ chế khác thuộc hệ thống ASXH.

    Cứu trợ xã hội

    Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thường xuyên có thiên tai (bão tố, lũ lụt, …), hơn nữa, liên miên trải qua chiến tranh chống xâm lược, vì vậy một bộ phận không nhỏ người dân luôn sống trong tình trạng nghèo túng, khó khăn. Tinh thần tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam sớm nảy nở và phát huy cao độ.

    Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã phá kho thóc bị Nhật chiếm đóng, chia cho người người, ngăn chặn nạn đói đã làm hơn 2 triệu người chết. Sau khi thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã xác định rõ phải chống 3 loại giặc, trong đó có giặc đói, phát động nhường cơm sẻ áo, lập “hũ gạo tiết kiệm” trợ giúp những người nghèo khó. Trong cải cách ruộng đất, người nghèo, tàn tật, neo đơn được chia ruộng, giảm tô. Tháng 11/1954, Hội đồng chính phủ (HĐCP) lập Ban Cứu tế xã hội ở trung ương và địa phương. Tháng 8/1965, HĐCP ban hành Thông tư 157/CP về cứu trợ đột xuất; tháng 11/1966, ban hành Thông tư 202/CP về chính sách đối với người già không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người tàn tật. Tháng 9/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 236/HĐBT qui định lại chế độ cứu trợ thường xuyên và chế độ nuôi dưỡng các đối tượng cứu trợ xã hội ở các cơ sở tập trung.

    Từ khi thực hiện đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước ta càng quan tâm thực hiện các chính sách cứu trợ, bảo trợ xã hội đối với những người nghèo khó, tàn tật. Cụ thể, nhiều văn bản được ban hành và triển khai thực hiện, đặc biệt là từ năm 1995 đến nay:

    • Chính sách cứu trợ đối với trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa: bao gồm trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất;
    • Chính sách đối với người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số: Thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, Thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo, quan tâm đến người lao động nghèo trong quá trình chuyển đổi DNNN thành công ti cổ phần, Thành lập Ban chủ nhiệm chương trình mục tiêu XĐGN, Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa;
    • Chính sách đối với người tàn tật: Ban hành pháp lệnh người tàn tật, Khuyến khích thành lập và hỗ trợ Hội bảo trợ người tàn tật (Hội người mù,…);
    • Chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam: Thành lập Quĩ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam, …
    • Chính sách cứu trợ xã hội đối với công chức nhà nuớc, người hưởng lương trong lực lượng vũ trang qua hình thức trợ cấp khó khăn đột xuất và thường xuyên.

    Bên cạnh việc hàng năm bỏ ra nhiều tỷ đồng NSNN từ cấp Trung ương đến địa phương để trợ cấp khó khăn, làm công tác cứu trợ, bảo trợ người nghèo, khó khăn, tàn tật, nhà nuớc đã tạo cơ chế để mở rộng sự trợ giúp từ cộng đồng: ban hành qui chế tổ chức và hoạt động của Quĩ xã hội, Quĩ từ thiện, phát động phong trào tình nguyện (Nhà tình thương, Vì đàn em,…) đã thu hút được sự đóng góp của rất nhiều người từ tiền của đến công sức. Đặc biệt trong thời gian gần đây, nguồn nhân tài vật lực đóng góp cho cứu trợ xã hội không chỉ được đóng góp từ trong nước mà còn đến từ kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và cả kiều bào nước ngoài.

    37

    Chăm sóc y tế

    • nước ta, việc chăm sóc y tế được thực hiện theo cách khác nhau qua ba giai đoạn:
    • Giai đoạn từ năm 1961 đến 1992: Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH năm 1961 coi việc chăm sóc y tế cùng với chế độ trợ cấp ốm đau là một chế độ quan trọng hàng đầu của BHXH. Cụ thể như sau:
    • Đảm bảo chăm sóc y tế cho công nhân, viên chức nhà nước;
    • Đảm bảo cho cả trường hợp ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, mang thai và sinh đẻ;
    • Thực hiện chăm sóc y tế miễn phí tức toàn bộ do nhà nước đài thọ (cung cấp dịch vụ khám, điều trị, tiền thuốc men, bồi dưỡng, phí tổn tàu xe đi lại khám – chữa bệnh, …). Tuy nhiên, có sự phân biệt nơi khám và điều trị theo nhóm mức lương, nhóm cán bộ, công nhân, nhân viên.
      • Giai đoạn từ năm 1992 đến 2002: Ngày 15/08/1992, Nghị định 299/ HĐBT ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế và chính thức tách Bảo hiểm y tế ra hệ thống BHXH đặt dưới sự quản lý của Bộ Y tế. Hệ thống cơ quan bảo hiểm y tế được thành lập từ trung ương đến địa phương. Các nét chính của chế độ chăm sóc y tế giai đoạn này là:
    • Đảm bảo chăm sóc y tế theo chế độ bắt buộc không chỉ đối với công nhân, viên chức nhà nước mà còn mở rộng ra đối với mọi người lao động ăn lương;
    • Đảm bảo chăm sóc y tế trong trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm y tế bị ốm đau, thai sản, không đảm bảo chăm sóc y tế trong trường hợp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp (Điều này là điểm khác so với giai đoạn trước và khác với Công ước 102) , không đảm bảo chăm sóc y tế đối với những bệnh xã hội , bệnh tật bẩm sinh, điều dưỡng, an dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng, tạo hình thẩm mỹ, làm chân giả – tay giả

    – mắt giả, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, dịch vụ bảo vệ sức khỏe đặc biệt, dịch vụ y tế tự chọn, khám chữa bệnh ở nước ngoài, tai nạn chiến tranh, thiên tai;

    • Nguồn tài chính đảm bảo cho chăm sóc y tế được huy động từ người lao động (1% tiền lương) và người sử dụng lao động (2% Quĩ lương) không có sự hỗ trợ của nhà nước. Mặc dù cơ quan bảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế nhưng việc chăm sóc y tế vẫn theo mô hình gián tiếp qua việc ký hợp đồng khám chữa bệnh giữa Bảo hiểm y tế và cơ sở y tế.
      • Giai đoạn hiện nay: Bắt đầu thực hiện chủ trương chuyển Bảo hiểm y tế sang quản lý chung với BHXH vì các lý do sau:

    – Đối tượng quản lý của BHXH và Bảo hiểm y tế là tương đồng (loại áp dụng chế độ bắt buộc), việc sát nhập làm cho việc quản lý thuận lợi hơn, vừa tiết kiệm, vừa đảm bảo phục vụ tốt hơn cho người được bảo hiểm;

    – Dù trước đây, Bảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế nhưng việc chăm sóc y tế vẫn là theo mô hình gián tiếp. Về lâu dài, dù muốn chắc chắn nước ta cũng chưa có thể áp dụng mô hình trực tiếp chăm sóc y tế, nên việc chuyển về BHXH một mặt, vẫn giữ nguyên mô hình gián tiếp; mặt khác, vai trò, trách nhiệm một người quản lý Quĩ tiền sẽ dễ phát huy hơn trong việc tổ chức thu – chi, giám sát việc cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế của cơ sở y tế, đầu tư và phát triển Quĩ, …

    Ưu đãi xã hội

    Cơ chế ưu đãi xã hội là nét riêng có trong hệ thống ASXH Việt Nam. Cơ chế này nhằm đảm bảo cho 2 nhóm người chủ yếu như sau:

    38

    Nhóm những người đã có công sức đóng góp cho vận mệnh của đất nước, công cuộc cách mạng của dân tộc bao gồm: những người đã gắn bó cả cuộc đời của mình với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của cộng đồng; những người gặp rủi ro trong quá trình hoạt động cho sư nghiệp chung của cộng đồng. Phần lớn những người thuộc nhóm này thường bị suy giảm, mất khả năng lao động, khả năng cầu tiến trong điều kiện cạnh tranh của thị trường trong khi sự đóng góp của họ là vô giá (tính mạng, thân thể, gia sản, …). Việc ưu đãi đặc biệt những người này so với những người lao động bình thường kể cả những người lao động bất hạnh khác là phù hợp với truyền thống lâu đời của dân tộc: uống nước nhớ nguồn. Các chính sách đãi ngộ nhóm người này gồm có:

    • Chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, những người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam;
    • Chính sách ưu đãi đối với gia đình liệt sỹ, gia đình có công giúp đỡ Cách mạng.

    Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1946, Hồ Chủ tịch đã kêu gọi thành lập Hội Binh sĩ bị thương, khởi xướng phong trào “Mùa đông binh sĩ”, luôn quan tâm thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sĩ, … Sắc lệnh 20/SL ngày 18/02/1947 ban hành chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ qui định những khoản BHXH đặc biệt như: hưu bổng, thương tật, tử tuất. Sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 đều có những chính sách bảo đảm cho công nhân viên ngành quân giới bị thương được hưởng quyền lợi giống như quân nhân và quyền lợi ưu tiên như đối với thương binh. Tháng 05/1954, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ có văn bản qui định cho nhân viên, cán bộ dân chính, công an dân quân hoặc thường dân tham gia dân công, tham gia chiến đấu mà bị thương thì cũng coi là thương binh.

    Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, chính sách ưu đãi đối với người có công được tiếp tục bổ sung, đổi mới: xác định khái niệm thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, qui định chế độ trợ cấp thương tật, chế độ đối với thương binh ở trại, chế độ miễn, giảm tiền tàu xe, ưu tiên sắp xếp việc làm, xác định khái niệm “liệt sĩ”thay cho “tử sĩ”, trợ cấp tử tuất cho gia đình liệt sĩ, chính sách trợ giúp thương binh, gia đình liệt sĩ trong hoạt động hợp tác xã nông nghiệp. Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, thanh niên xung phong, quân dân du kích, tự vệ, quân nhân dự bị, sửa đổi chế độ phụ cấp thương tật, trợ cấp tử tuất. Chính sách ưu đãi đối với người có công tiếp tục được mở rộng trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đối với mọi đối tượng trực tiếp tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà bị thương tật, hy sinh như: thanh niên xung phong, dân công thời chiến, lực lượng vận tải nhân dân, lao động nghĩa vụ, cán bộ y tế xã, hợp tác xã, khối phố, …

    Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, rồi cuộc chiến biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam, chiến tranh tình nguyện ở Campuchia xảy ra, công việc xác định liệt sỹ, tìm kiếm, qui tập hài cốt, xây dựng nghĩa trang liệt sỹ, xác nhận thương binh, thống nhất chính sách đối với người có công và gia đình có công được làm hàng ngày, hàng giờ liên tục từ đó đến nay. Ngoài những chính sách hỗ trợ trực tiếp (trợ cấp), trong thời kỳ này, nhà nước ta cũng đã qui định nhiều chính sách ưu tiên trong các hoạt động kinh tế đối với người và gia đình có công. Năm 1994, Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng và Pháp lệnh qui định danh hiệu danh dự nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng được công bố đã hoàn thiện chính sách ưu đãi xã hội về nhiều mặt đối với người có công với cách mạng.

    39

    Nhóm những người đã và sẽ cung cấp sức lao động quiù báu cho nền kinh tế-xã hội bao gồm những người già đã có quá trình làm việc, lao động lâu năm, cống hiến sức lao động cho xã hội, những bà mẹ có công sinh nở, nuôi nấng con trẻ và trẻ em – nguồn sức lao động cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai lâu dài. Các chính sách đãi ngộ nhóm người này ở Việt Nam gồm có:

    • Chính sách đối với người cao tuổi (Pháp lệnh người cao tuổi);
    • Chính sách đối với bà mẹ và trẻ em.

    Nguồn tài chính để tạo Quĩ ưu đãi xã hội đối với những người này trước tiên là NSNN, tiếp đó là sự đóng góp của toàn cộng đồng đầy tính nhân văn qua các phong trào, hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, phong trào tình nguyện đã và đang diễn dưới nhiều hình thức da dạng và hiệu quả, thiết thực ở khắp mọi miền đất nước.

    Dịch vụ xã hội

    Dịch vụ xã hội và trợ cấp (bằng tiền) ASXH (trợ cấp BHXH, bảo hiểm y tế, ưu đãi xã hội, …) là 2 mặt của cùng một hành động bảo vệ an toàn cho xã hội nói chung và cho người lao động nói riêng. Sẽ không thể có hiệu quả tích cực dù tiền trợ cấp có cao đến đâu mà dịch vụ nghèo nàn không đáp ứng nhu cầu của người lao động. Dịch vụ xã hội có thể bao gồm những dịch vụ y tế, phòng ngừa y tế (vệ sinh phòng dịch, y tế dự phòng, …), phòng ngừa tai nạn, dịch vụ đối với người tàn tật (phục hồi chức năng, cung cấp bộ phận giả, …), dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, thực hiện tái thích ứng nghề,…Tùy thuộc vào sự phát triển của kinh tế cũng như nhu cầu của xã hội trong từng thời kỳ mà dịch vụ xã hội phát triển ở những loại nào nhưng hầu như quốc gia nào cũng quan tâm đến việc cung cấp dịch vụ y tế để đảm bảo cho rủi ro ốm đau lên hàng đầu.

    Việc tổ chức và phát triển hệ thống dịch vụ xã hội trước tiên phải dựa vào sự đầu tư từ NSNN đặc biệt cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đào tạo cán bộ y tế. Tuy nhiên, nhà nước có thể thu hồi khoản đầu tư này khi sử dụng mạng lưới chăm sóc y tế không chỉ cho những người lao động được bảo hiểm y tế, BHXH trợ cấp mà còn còn cung cấp dịch vụ cho rộng rãi người dân trong cộng đồng.

    • Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước đến nay, nhà nước ta đã có nhiều quan tâm đến nhiều nội dung dịch vụ xã hội: tổ chức mạng lưới y tế đến thôn xã, đào tạo cán bộ y tế, thực hiện y tế dự phòng phòng chống bệnh bướu cổ, AIDS, các dịch bệnh truyền nhiễm, thực hiện một thời gian dài cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh miễn phí, thực hiện hệ thống trường dạy nghề để tái thích ứng nghề cho người lao động nói chung, người lao động thương tật nói riêng. Hiện nay, từ khi đổi mới kinh tế, nhà nước ta có chính sách khuyến khích phát triển hệ thống dịch vụ xã hội bằng các nguồn lực đa dạng của xã hội, điều này, một mặt làm cho cơ sở vật chất dịch vụ xã hội ngày càng tốt hơn, mặt khác, nhà nước có thể tập trung nguồn lực của mình để chăm sóc tốt hơn cho các đối tượng ưu đãi xã hội và BHXH.

    Các khoản đảm bảo khác được cung cấp bởi người sử dụng lao động

    1. Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc

    Trợ cấp thôi việc là khoản tiền của người sử dụng lao động trả cho người lao động thuộc quyền quản lý khi người lao động thôi việc theo các truờng hợp đã có qui định của pháp luật như: mãn hạn hợp đồng, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng một các hợp pháp, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không phải vì lý do nguời lao động phạm lỗi nặng bị sa thải. Trợ cấp mất việc là trợ cấp cho người lao

    40

    động bị thôi việc do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ khiến cho người lao động chưa đến hạn hoặc chưa đến lúc chấm dứt hợp đồng đã bị mất việc một cách bị động. Trợ cấp mất việc vừa bao hàm ý nghĩa là trợ cấp thôi việc vừa có ý nghĩa là một khoản bồi thường, bù đắp thiệt thòi cho người lao động do người sử dụng lao động dơn phương đình chỉ hợp đồng.

    Việc thực hiện 2 chế độ trợ cấp này thường được áp dụng chung trong giai đoạn trước 1994 và sau đó mới tách ra riêng biệt từ khi có Luật Lao động.

    • Giai đoạn 1945 – 1954: Ngày 01/10/1945, Bộ Lao động ban hành văn bản bắt buộc các xưởng kỹ nghệ, các nhà thương mại phải báo trước một tháng trước khi sa thải công nhân và ấn định tiền phụ cấp cho công nhân bị sa thải. Năm 1947, Chủ tịch Hồ chí Minh ký sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 qui định chủ sử dụng lao động phải trả “phụ cấp thâm niên” cho công nhân khi bị thải hồi không phải vì tự ý xin thôi việc để ra làm việc ở một sở khác hay để ra làm ăn kinh doanh riêng. Ngày 20/05/1950 và ngày 22/05/1950, chính phủ ban hành 2 sắc lệnh số 76/SL và 77/SL qui định trợ cấp thôi việc vì thiếu sức khoẻ đối với người lao động trong lĩnh vực nhà nước.
    • Giai đoạn 1955 – 1985: Thông tư 88/TTg ngày 01/10/1964 của Thủ tướng Chính phủ qui định áp dụng trợ cấp thôi việc chung của các trường hợp do cơ quan, xí nghiệp kiện toàn tổ chức, giảm nhẹ biên chế hoặc giải thể, cả trường hợp do công nhân, viên chức nhà nước tự xin thôi việc vì hoàn cảnh gia đình khó khăn đặc biệt, vì hưởng úng các cuộc vận động lớn của nhà nước đi khai hoang, đi xây dựng kinh tế miền núi,… hoặc vì có nguyện vọng riêng nhưng phù hợp với nhu cầu giảm nhẹ biên chế của cơ quan, xí nghiệp. Mức trợ cấp được qui định phân biệt đối với người làm việc trước và sau ngày 20/07/1954. Đối với người làm việc trước 20/07/1954, cứ mỗi năm làm việc được trợ cấp bằng nửa tháng lương kể cả trợ cấp thường xuyên và trợ cấp con. Đối với người làm sau ngày 20/07/1954, mức trợ cấp được tính như trên nhưng có khống chế mức tối đa và tối thiểu: tối đa bằng 5 tháng lương và tối thiểu bằng nửa tháng lương (và phụ cấp). Ngoài ra, người được trợ cấp thôi việc còn được trợ cấp thêm một lần bằng từ nửa tháng lương đến ba tháng lương (kể cả phụ cấp) nhưng không vượt quá số tiền đã làm việc, được trợ cấp thêm tiền tàu xe, cước phí hành lý, tiền ăn dọc đường cho bản thân và gia đình về đến trú quán, được tiếp tục cấp phiếu gạo như khi đang làm việc, …
    • Giai đoạn 1985 – 1994:
    • Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 về đổi mới kế hoạch và hạch toán kinh doanh đối với các xí nghiệp quốc doanh và thông tư số 1-LĐTBXH-TT ngày 09/01/1988 hướng dẫn thực hiện Nghị định 217 qui định là người lao động (trong biên chế hoặc làm việc theo hợp đồng lao động) bị nghỉ việc do thu hẹp sản xuất, giải thể xí nghiệp được trợ cấp một tháng lương kể cả phụ cấp và bù giá. Còn đối với người lao động thôi việc do vi phạm kỷ luật nhưng chưa đến mức bị thi hành kỷ luật buộc thôi việc, hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cứ mỗi năm công tác được trợ cấp nửa tháng lương kể cả phụ cấp và bù giá.
    • Ngày 29/12/1987, Quyết định số 227/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng về sắp xếp lại tổ chức, tinh giản biên chế các khu vực hành chính sự nghiệp qui định những cán bộ, công nhân, viên chức tự nguyện xin thôi việc để về sản xuất ở gia đình hoặc tự kiếm việc làm thì được trợ cấp cứ mỗi năm công tác trong cơ quan nhà nước bằng một tháng lương và các khoản trợ cấp, phụ cấp nếu có.
    • Ngày 09/10/1989, Quyết định số 176/HĐBT về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh qui định trợ cấp thôi việc trả cho những lao động ra làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh cứ mỗi năm công tác liên tục được trợ cấp một tháng lương cơ bản công với phụ cấp nếu có và tối thiểu là 3 tháng do đơn vị trả. Nhà

    41

    nước chỉ hỗ trợ đối với những đơn vị khó khăn nhưng tối đa chỉ ½ khoản trợ cấp. Đây là khoản trợ cấp một lần và trả trực tiếp cho người lao động, nhưng nếu nguồn chi trả và tiền mặt khó khăn thì có thể thỏa thuận trả rải ra một số lần.

    • Ngày 12/04/1991, Hội đồng bộ trưởng ban hành Quyết định số 111/HĐBT về một số chính sách trong việc sắp xếp lại biên chế trong các cơ quan hành chính sự nghiệp qui định rằng những người thôi việc chuyển hẳn ra ngoài biên chế nhà nước thì mỗi năm công tác được trả một tháng lương và phụ cấp, tối thiểu là 3 tháng.
    • Ngày 30/08/1990, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh Hợp đồng lao động để điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương và người sử dụng lao động trong đó có qui định về trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, Nghị định 165/HĐBT ngày 12/05/1992 qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh trên đã ấn định mức trợ cấp thôi việc bằng ½ tháng tiền công hoặc tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm làm việc đối với trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động, hoặïc một trong hai bên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái với qui định của Pháp lệnh Hợp đồng lao động. Còn trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động ốm đau, thương tật đã điều trị 6 tháng liền không khỏi hoặc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là phụ nữ có thai đang nghỉ đẻ theo chế độ, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người lao động đang ốm đau, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người lao động đang nghỉ chế độ hàng năm, nghỉ phép thì người lao động được hưởng mức trợ cấp gấp rưỡi mức trên (tức ¾ tháng lương). Nếu người lao động từ 45 tuổi trở lên đối với nam, 40 tuổi đối với nữ đã làm liên tục 5 năm liên tục với người sử dụng lao động thì người lao động còn được trợ cấp thêm ít nhất 2 tháng tiền công hoặc tiền lương, phụ cấp lương. Đối với việc chấm dứt hợp đồng lao động theo một công việc nhất định, theo mùa vụ có hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm thì được trợ cấp 1 tháng tiền công hoặc tiền lương và phụ cấp lương (nếu có). Trợ cấp thôi việc được trả trực tiếp cho người lao động một lần. Ngoài khoản trợ cấp nói trên, người lao động làm việc trên 1 năm còn được cấp tiền tàu xe, cước phí hành lý, tiền ăn dọc đường cho bản thân về đến nơi cư trú theo chế độ hiện hành. • Giai đoạn 1994 đến nay: Chế độ trợ cấp thôi việc và mất việc được phân biệt rõ ràng
    • Luật Lao động và sau đó là Nghị định 198/CP ngày 31/12/1994 qui định người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động theo mức cứ mỗi năm làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên là ½ tháng lương cộng với phụ cấp lương nếu có khi chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu người sử dụng lao động là doanh nghiệp thì trợ cấp thôi việc được hạch toán vào giá thành, chi phí lưu thông, còn nếu là tổ chức cá nhân không là doanh nghiệp thì phải tự tìm nguồn trang trải.
    • Luật Lao động qui định rõ người sử dụng lao động phải lập Quĩ dự phòng về trợ cấp mất việc làm; khi phải cho người lao động thôi việc do phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ một năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng lương. Việc lập quĩ dự phòng về trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp bằng cách trích trong lợi nhuận ròng. Đối với địa phương, ngành có quá nhiều người mất việc làm do thay đổi cơ cấu và công nghệ mới có thể có sự hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước.
    1. Sự đảm bảo của người sử dụng lao động đối với người lao động tàn tật

    Đây có thể xem là một loại chế độ cứu trợ xã hội đối với người lao động tàn tật, chỉ có điều là nhà nước không trực tiếp thực hiện mà qui định buộc người sử dụng lao động phải thực hiện. Luật Lao động có mục riêng về lao động là người tàn tật có qui định các doanh nghiệp phải nhận một tỷ lệ lao động là người tàn tật so với tổng số lao động để làm việc ở vị trí thích hợp, nếu không nhận thì phải nộp một khoản tiền góp vào Quĩ tạo việc làm

    42

    cho người tàn tật, qui định các chế độ ưu đãi giảm, miễn thuế cho những doanh nghiệp dành riêng cho người tàn tật hoặc nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ qui định.

    1. Sự đảm bảo của người sử dụng lao động đối với lao động bị tai nạn lao động

    Trong phần chăm sóc xã hội, chúng ta thấy chế độ chăm sóc y tế ở Việt Nam thông qua bảo hiểm y tế đối với người lao động không bao gồm trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (khác với công uớc 102 – ILO). Tuy nhiên, Luật Lao động có qui định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.

    MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

    1. Hệ thống ASXH mà đặc biệt là cơ chế BHXH đã hình thành rất sớm ở Việt Nam ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này đã khẳng định tầm nhìn của những người lãnh đạo và chính sách xã hội của nhà nước ta – nhà nước của giai cấp công – nông, của những người lao động.
    1. Về nội dung thực hiện, xét từ năm 1945 đến nay, ở nước ta gần như thực hiện đầy đủ các chế độ cần có của cơ chế BHXH và rất nhiều cơ chế khác của ASXH mà các quốc gia khác trên thế giới đang thực hiện, hơn nữa, cơ chế ưu đãi xã hội được chú trọng thực hiện thể hiện nét riêng có, sáng tạo trong hệ thống ASXH của Việt Nam. Hiện nay, hệ thống này tương đối phức tạp bao gồm: BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, chăm sóc xã hội, dịch vụ xã hội và các đảm bảo khác cung cấp bởi người sử dụng lao động (xem sơ đồ ở cuối bài).
    1. Do ảnh hưởng của chiến tranh liên miên, kinh tế – xã hội không ổn định, thay đổi qua nhiều thời kỳ dẫn đến tình trạng nội dung các chế độ đảm bảo của BHXH nói riêng, ASXH nói chung có tính ổn định không cao, đôi lúc chạy theo việc giải quyết nhu cầu xã hội trước mắt, chứ không được xây dựng có hệ thống, lâu dài.
    2. Do cơ chế quản lý kinh tế – xã hội theo kiểu tập trung bao cấp nên một thời gian dài, cũng như các vấn đề khác, BHXH, ASXH với rất nhiều chế độ đều gần như được bao cấp miễn phí từ nhà nước, cơ chế huy động từ nhiều phía vốn có và vốn là thế mạnh của hệ thống này không được vận dụng. Điều này, một mặt, là gánh nặêng cho NSNN trong điều kiện xây dựng và phát triển kinh tế thời chiến, khủng hoảng kinh tế kéo dài, một mặt, không thể đáp ứng nhu cầu đảm bảo tốt cho các đối tượng được đảm bảo trong xã hội, nếu có chỉ trong một nhóm nhỏ, thời gian ngắn rồi không có điều kiện tiếp tục duy trì.
    1. Một thời gian dài, cũng do đặc điểm cơ chế quản lý kinh tế-xã hội, chế độ đảm bảo của BHXH và ASXH chỉ mới chăm lo cho công nhân – viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang, người có đóng góp cho cách mạng chứ chưa thực sự mở rộng đảm bảo cho mọi người lao động trong xã hội.
    2. Hiện nay, hệ thống ASXH nói chung, hệ thống BHXH nói riêng ở Việt Nam đã bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới và đang đứng trước một đói hỏi bức bách là phải nhanh chóng hoàn thiện các chế độ đảm bảo (số lượng, nội dung đảm bảo, nguồn huy động,…), nhằm đảm bảo tốt cho mọi người lao động (hưởng lương và cả tự do, công chức nhà nước lẫn hợp đồng lao động với mọi chủ sử dụng lao động khác) trong một điều kiện mới (kinh tế thị trường, phát triển khu vực kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế).
    1. Việc tổ chức quản lý tài chính và nghiệp vụ đối với các cơ chế của ASXH trong thời gian qua thay đổi nhiều lần (BHXH), phân tán manh mún và không hợp lý (bảo hiểm y tế), nhập nhằng, chưa xác định rõ ràng (ưu đãi xã hội), hoặc quản lý chưa chặt chẽ (cứu trợ xã hội) cũng đặt ra một yêu cầu hoàn thiện để thích ứng cho giai đoạn mới.

    43


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • CÁC DẠNG BÀI TẬP MẪU BẢO HIỂM

    CÁC DẠNG BÀI TẬP MẪU BẢO HIỂM

    CÁC DẠNG BÀI TẬP MẪU BẢO HIỂM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/C%C3%81C-D%E1%BA%A0NG-B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-M%E1%BA%AAU-B%E1%BA%A2O-HI%E1%BB%82M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÁC DẠNG BÀI TẬP MẪU BẢO HIỂM

    CÁC DẠNG BÀI TẬP MẪU BẢO HIỂM

    Câu 1:

    Một lô hàng trị giá 2.000.000 USD ( giá CFR ) được bảo hiểm cho toàn bộ giá trị cộng lãi ước tính 10%, tỷ lệ phí

    là 0,5%. Yêu cầu: xác định phí bảo hiểm cho lô hàng? (Kết quả lấy tròn số).

    Phí bảo hiểm = (C+F) x (a+1) x R/(1-R) = 2.000.000 x (1+0,1) x 0,05/(1-0,05)

    Câu 2:

    Một tài sản trị giá 10.000 USD được mua bảo hiểm đúng giá trị , v ới điều ki ện mi ễn thường có kh ấu trừ 1.500 USD. Trên đườ ng vận chuy ển, tài sản bị thiệt hại trị giá 8.000 USD do rủi ro được bảo hiểm gây ra. Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của công ty bảo hiểm theo nguyên tắc bồi thường có miễn thường?

    Số tiền bảo hiểm = 8.000 – 1.500

    Câu 3:

    Xe khách Y bị tai nạn thiệt hại vào ngày 01/06/2002 (lỗi hoàn toàn thuộc xe khách Y) :

    • Chi phí sửa chữa xe: 60 trđ
    • Hành khách thứ nhất bị thương, chi phí điều trị : 18 trđ
    • Hành khách thứ hai bị thương, chi phí điều trị : 15 trđ
    • Lái xe Y bị thương, chi phí điều trị : 10 trđ

    Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của nhà bảo hi ểm theo hợp đồng b ảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách vận chuyển trên xe? Biết chủ xe đã thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm bắt buộc ở mức trách nhiệm 30trđ/ng/vụ về tài sản/vụ.

    Số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm = 18 + 15

    Câu 4:

    Một hợp đồng bảo hiểm có số liệu sau:

    • Giá trị BH: 10.000 USD
    • Số tiền BH: 8.000 USD
    • Mức khấu trừ 5% giá trị tổn thất không thấp hơn 500 USD
    • Giá trị tổn thất 3.500 USD

    Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm trong trường hợp này? Biết rằng mức khấu trừ được áp dụng sau khi áp dụng điều khoản bồi thường theo tỉ lệ.

    Mức khấu trừ = 0,05 x 3.500 = 175 <500 (vì không thấp hơn 500 USD nên lấy là 500 USD)

    Số tiền bảo hiểm = (3.500 x 8.000/10.000) – 500

    Câu 5:

     Khi kí kết hợp đồng BH, phí bảo hiểm mà ngườ i tham gia bảo hiểm nộp là 120.000 đồng. Một vụ tổn thất x ảy ra, thiệt hại là 2 triệu đồng. Do xác định lại mức độ rủi ro, ng ười bảo hiểm xác định mức phí lẽ ra người tham gia bảo hiểm phải nộp là 150.000 đồng. Mức miễn thường có khấu trừ 100.000 đồng. Số tiền bồi thường của người bảo hiểm là bao nhiêu?

    Số tiền bảo hiểm = Trị giá thiệt hai x (Số phí đã nộp/Số phí lẽ ra phải nộp) . Và ở đây có mức miễn thường nên trừ đi 100.000.

    STBT = [ 2.000.000 x (120.000/150.000) ] – 100.000 = 1.500.000 đồng

    Câu 6:

    Công ty lương thực thực phẩm X nhập khẩu 400.000 bao bộ t mỳ trị giá 3.200.000 USD. Chủ hàng mua bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm A (QTCB 1998) trên toàn bộ trị giá lô hàng là 3.520.000 USD. Khi hàng về đến cảng bị hư hỏng như sau:

    • 000 bao bị ngấm nước, trong đó 5.000 bao bị hư hỏng hoàn toàn, 2.000 bao bị giảm giá trị 30%.
    • 000 bao bị rách vỡ giảm giá trị 30% ( vận đơn ghi chú “bao bì mục, một số bị rách”)
    • Chủ hàng yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường 88.000 USD trị giá hàng hư hỏng.

    Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường về hàng hóa của công ty bảo hiểm cho chủ hàng? (không kể chi phí giảm định)

    STBT = [(5.000 + 2.000 x 30%) x 3.520.000] / 400.000 = 49.280 USD

    Câu 7:

    Một tài sản trị giá 10.000 USD được mua bảo hiểm với số tiền 8.500 USD. Trên đường vận chuyển tài sản thiệt

    hại trị giá 8.000 USD do rủi ro được bảo hiểm gây ra. Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của công ty bảo hiểm theo quy tắc bồi thường theo tỉ lệ ?

    STBT = 8.000 x 8.500/10.000 = 6.800 USD

    Câu 8:

    Một tài sản trị giá 20.000 ĐVTT, được bảo hiểm bằng 2 hợp đồng bảo hiểm:

    • Hợp đồng 1: STBH = 8.000 ĐVTT

    [1]

     

    • Hợp đồng 2: STBH = 14.000 ĐVTT
    • Tổn thất là 11.200 ĐVTT

    Số tiền bồi thường của mỗi hợp đồng là bao nhiêu ?

    @Chú ý:

    • Nếu STBH của 2 hợp đồng < TGTS thì STBH hợp đồng 1 = GTTH x (STBH1 /GTBH) Tương tự : STBH hợp đồng 2 = GTTH x (STBH2 /GTBH)

     

    • Nếu STBH 2 hợp đồng > TGTS thì là bảo hiểm trùng
    • đây vì STBH 2 hợp đồng > TGTS –> là bảo hiểm trùng. Cần tính như sau:

    STBT của từng hợp đồng = TGTH x (STBH của từng hợp đồng / Tổng số tiền bảo hiểm của các hợp đồng)

    • STBT của hợp đồng A: 11.200 x (8.000 / 22.000 ) = 4.080 ĐVTT -STBT của hợp đồng B: 11.200 x (14.000 / 22.000) = 7.140 ĐVTT -Tổng = 11.220 ĐVTT

    Câu 9:

    Công ty Vinafood nhập khẩu 10.000 tấn bộ t mỳ, giá trị ghi trên hóa đơn thương mại là 2.500.000 USD. Chi phí vận chuyển do ngườ i mua chịu là 60.000 USD . Tỷ lệ phí bảo hiểm là 0,3%. Công ty đã mua bảo hiể m cho lô hàng theo giá CIF cộng lãi ước tính 10%. Yêu cầu: Tính phí bảo hiểm của lô hàng bột mỳ trên? (Kết quả lấy tròn số)

    Phí bảo hiểm = [(2.500.000 + 60.000) x (1 + 10%) x 0,3%] / (1 – 0,3%) = 8.473 USD

    Câu 10:

    Tai nạ xảy ra giữa 2 xe A và B, gây hậu quả cho xe B. Xe B bị thiệt hại như sau:

    Thiệt hại thân vỏ: 200.000.000 VNĐ

    • Động cơ: 200.000.000 VNĐ
    • Chi phí kéo, cẩu xe: 5.000.000 VNĐ
    • Xe B đang tham gia bảo hiểm thân vỏ xe với số tiền bảo hiểm bằng 100% giá trị bộ phận tham gia BH.
    • Theo bảng tỷ lệ cấu thành xe, bộ phận thân vỏ chiếm 60% giá trị xe

    Vì bảo hiểm thân xe là 100% nên STBT = 200.000.000 VNĐ

     

    Câu 11:

    Trong tai nạn xe máy, chị Hoa bị gãy chân, chi phí điều trị hết 1.000.000 VNĐ. Người đ i xe máy ngược chiều có lỗi hoàn toàn. Chị Hoa đang tham gia hợp đồng bảo hiểm tai nạn ng ười ngồ i trên xe với số tiền bảo hiểm 10.000.000VNĐ/chỗ ngồi/vụ. Tỷ lệ trả tiền bảo hiểm thương tật được áp dụng với gãy x ương là 20%. Yêu cầu: Xác định khoản tiền bồi thường của người đi xe máy ngược chiều và khoản tiền người bảo hiểm trả cho chị Hoa trong vụ tai nạn trên?

    Tổng STBT = 1.000.000 + (10.000.000 x 20%) = 3.000.000 VNĐ

    Câu 12:

     Một hợp đồng bảo hiểm có số tài liệu như sau:

    • Giá trị bảo hiểm: 10.000 ĐVTT
    • Số tiền bảo hiểm: 9.000 ĐVTT
    • Mức miễn thường có khấu trừ: 10% giá trị thiệt hại không thấp hơn 1.500 ĐVTT
    • Tổn thất: 5.000 ĐVTT

    Người bảo hiểm phải bồi thường số tiền là bao nhiêu?

    Mức miễn thường = 5.000 x 10% = 500 < 1.500 nên lấy 1.500

    STBT = [5.000 x (9.000/10.000)] – 1.500 = 3.000 ĐVTT

    Câu 13:

     Anh Bình là cán bộ công nhân viên ch ức thuộc Bộ Giao thông vận tải bị xơ gan cổ chướng, phải điều trị h ết 60 ngày (trong đó 18 ngày là ngày lễ và chủ nhật). Tiền lương làm căn cứ tính bảo hiểm xã hội củ a anh Bình trước khi nghỉ ốm là 550.00 VNĐ. Thời gian làm việc 26 ngày/tháng. Yêu cầu: Xác định mức trợ cấp ốm đau mà anh Bình nhận được? (kết quả lấy tròn số).Biết rằng: Xơ gan cổ chướng là loại bệnh cần điều trị dài ngày theo danh mục y tế .

    Mức trợ cấp ốm đau = [(550.000 x 75%)/26] x (60 – 18) = 666.346 VNĐ

    Câu 14:

    Công ty Vinafood nhập khẩu 10.000 tấn bột mỳ, giá ghi trên hóa đơn thương mại là 2.500.000 USD. Chi phí vận chuyển đo người mua chịu là 60.000 USD. Tỷ lệ phí bảo hiểm là 0,3%. Công ty đã mua bả o hiểm cho lô hàng theo giá CIF cộng lãi ước tính 10%. Yêu cầu: Tính số tiền bảo hiểm của lô hàng bột mỳ trên? (kết quả lấy tròn số)

    STBH = 2.500.000 + 60.000 = 2.560.000 USD

    Câu 15:

    Tháng 1/2002 xe ôtô tải va vào 1 người đi xe máy làm người này bị thương nhẹ và thiệt hại như sau: chí phí điều trị hết 200.000 VNĐ, xe máy trị giá 32.000.000 VNĐ hư hại giảm giá trị 50%. Xe tải đã tham gia bảo hiểm trách nhiệm

    [2]

     

    dân sự chủ xe cơ giới với người th ứ 3 với mức 30.000.000VNĐ/ng/vụ và 30.000.000 VNĐ về tài sản/v ụ. Yêu cầu: tính số tiền bồi thường của bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong vụ tai nạn này? Biết lỗi xe ôtô tải là 100%

    STBT = 200.000 + (32.000.000 x 50%) = 16.200.000 VNĐ

    Câu 16:

    Trong 1 tai nạn lao động, anh Hải bị thương. Theo giám định của cơ quan y tế, anh Hải bị suy giảm 28% khả năng lao động. Theo quy định của chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành, anh Hải được hưởng trợ cấp 1 lần bằng 12 tháng tiền lương cơ bản. L ương cơ bản theo quy định hi ện hành của pháp luật là 210.000 VNĐ/tháng. Phụ cấp anh Hải được hưởng là 2,6. Yêu cầu: Xác định mức trợ cấp mà anh Hải được hưởng?

    Mức trợ cấp = 210.000 x 12 = 2.520.000 VNĐ

    Câu 17:

    Tài sản A trị giá 200.000 VNĐ đang được bảo hiểm đồng thời 2 hợp đồng có phạm vi bảo hiểm tương tự nhau:

    • Hợp đồng bảo hiểm 1 có số tiền bảo hiểm: 160.000.000 VNĐ
    • Hợp đồng bảo hiểm 2 có số tiền bảo hiểm: 120.000.000 VNĐ

    Tài sản A bị thiệt hại do 1 rủi ro thuộc trách nhiệm của cả 2 hợp đồng gây ra. Giá trị thiệt hại 140.000.000 VNĐ. Yêu cầu:

    Tính số tiền bồi thường của mỗi hợp đồng bảo hiêm?

    Đây là bảo hiểm trùng do STBH 2 hợp đồng > TGTS

    STBT của hợp đồng 1: 140.000.000 x (160.000.000 / 280.000.000) = 80.000.000 VNĐ STBT của hợp đồng 2: 140.000.000 x (120.000.000 / 280.000.000) = 60.000.000 VNĐ Tổng = 140.000.000 VNĐ

    Câu 18:

    Xe B tham gia b ảo hiểm thiệt hại v ật chất xe cơ giới tại Bảo Việt với sô tiền bảo hiểm 240.000.000 VNĐ. Xe bị lật đổ, thiệt hại và chi phí phát sinh như sau:

    • Dự tính chi phí sửa chữa xe: 40.000.000 VNĐ
    • Chi phí kéo, cẩu xe: 3.000.000 VNĐ

    Yêu cầu: Xác định số tiền bồi thường của người bảo hiểm trong vụ tai nạn trên? Biết rằng: Giá trị xe là 300.000.000 VNĐ và tai nạn xảy ra trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

    STBT = (40.000.000 + 3.000.000) x (240.000.000/300.000.000) = 34.400.000 VNĐ

    Câu 19:

    Trong quá trình lưu hành xe máy, do sơ suất chị Tâm bị tai nạn gãy xương cổ tay, chấn thương sọ não kín. Chị Tâm đã tham gia bảo hiểm tai nạn ng ười ngồi trên xe vớ i số tiền bảo hiểm 10.000.000VNĐ/chỗ ngồi/vụ. Tai nạn xảy ra trong thờ i hạn hiệu lực của h ợp đồng. Hỏi số tiền mà chi Tâm được nhận là bao nhiêu? Nế tỷ lệ trả tiền bảo hiểm thương tật tương ứng với gãy xương cổ tay là 8%, chấn thương sọ não kín là 20%

    STBT = (10.000.000 x 8%)+ (10.000.000 x20%) = 2.800.000 VNĐ

    Câu 20:

    Chị Hoa sinh con đầu lòng và nghỉ việc hưởng trợ cấp theo chế độ thai sản. Tiền lương đóng Bảo hiểm xã hội

    làm căn cứ tính trợ cấp nghỉ sinh con của chị Hoa là 410.000 VNĐ. Yêu cầu: Tính số tiền trợ cấp thai sản mà chi Hoa được hưởng theo chế độ Bảo hiểm xã hội? Biết rằng thời gian nghỉ thai sản của chị Hoa là 4 tháng.

    Số tiền trợ cấp = 410.000 x 4 = 1.640.000 VNĐ

    Câu 21:

    Xe tải A đâm va với xe khách B gây hậu quả:

     
        Xe A Xe B
    Về tài sản: -Thân vỏ: 60 trđ -Thân vỏ: 120 trđ
        -Động cơ: 20 trđ -Động cơ: 30 trđ
    Về người: -Người lái xe: 20 trđ -Hành khách thứ nhất: 25 trđ
          -Hành khách thứ hai: 8 trđ
    Lỗi 30% 70%

    Xe tải A tham gia bảo hiểm bộ phận thân vỏ đúng giá trị tại Bảo Minh

    Xe B tham gia bảo hiểm thân xe với số tiền bảo hiểm bằng 80% giá trị xe tại Bảo Việt

    Yêu cầu: Tính số tiền bồi thường của Bảo Minh cho xe A trong vụ tai nạn trên

    STBT = 60 trđ x 70% = 42 trđ

    Câu 22:

    Xe tải X đâm va vào 1 em học sinh gây hậu quả như sau:

    • Em học sinh bị gãy xương hàm
    • Chi phí điều trị hết 5.000.000 VNĐ

    Yêu cầu: Xác định số tiền em học sinh nhận được từ các hợp đồng bảo hiểm? Biết rằng:

    [3]

     

    • Xe tải X đã tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 ở mức bắt buộc tối thiểu (30 trđ về tài sản/vụ và 30 trđ/ng/vụ)
    • Em học sinh tham gia bảo hiểm toàn diện học sinh với số tiền bảo hiểm 10 trđ
    • Tỷ lệ trả tiền bảo hiểm tương ứng với gãy xương hàm là 10%
    • Lỗi hoàn toàn thuộc về xe tải X

    Số tiền em học sinh nhận được = 5 trđ + (10 trđ x 10%) = 6 trđ

    Câu 23:

     Lô hàng máy móc, thiết bị nhập khẩu từ Singapore v ề Việt Nam trị giá 6.000.000 USD (Tính theo giá CIF). Lô hàng trên đang được bảo hiểm bởi 2 hợp đồng bảo hiểm có rủi ro giống nhau:

    • Hợp đồng 1 với Bảo Minh có số tiền bảo hiểm: 4.000.000 USD
    • Hợp đồng 2 với Bảo Việt có số tiền bảo hiểm: 4.000.000 USD

    Trên hành trình lô hàng bị tổn thất toàn bộ do 1 rủ i ro được bảo hiểm gây ra. Yêu cầu: xác định số tiền bảo hiểm của các nhà bảo hiểm cho lô hàng trên? Biết rằng chủ hàng có bảo hiểm cả phần lãi ước tính (lãi ước tính = 10%)

    Đây là bảo hiểm trùng do STBH 2 hợp đồng > TGTS

    STBT của hợp đồng 1: 6.600.000 x (4.000.000 / 8.000.000) = 3.300.000 VNĐ

    STBT của hợp đồng 2: 6.600.000 x (4.000.000 / 8.000.000) = 3.300.000 VNĐ

    Câu 24:

    Chị Anh nghỉ sinh con lần thứ 2, sinh thai đôi. Lươ ng làm căn cứ đ óng bảo hiểm xã hộ i trước khi nghỉ sinh con của ch ị Anh là 660.000 VNĐ/tháng (Bao gồm lương và phụ cấp). Theo quy định chi Anh được ngh ỉ 4 tháng và sinh đôi trở lên theo quy đị nh tại Điều 12 NĐ 12/CP (26/01/1995) thì thời gian nghỉ thêm cho mỗi con tính từ đứa thứ 2 là 1 tháng. Yêu cầu: xác định mức trợ cấp mà chị Anh được hưởng?

    Vì chị Anh sinh đôi và lần này là lần thứ 2 nên chị được nghỉ là 6 tháng.

    Mức trợ cấp: 660.000 x 6 = 3.960.000 VNĐ

     

    Câu 25:

    Một cán bộ X thuộc doanh nghiệp Nhà nước b ị tai nạn lao động làm suy giảm 30% khả năng lao động. M ức lương tối thiểu mà người cán bộ được hưởng là 250.000 VNĐ/tháng. Mức trợ cấp 1 lần đối với trường hợp suy giảm từ 21% – 30% là 12 tháng lương tối thiểu. Số tiền trợ cấp tai nạn lao động và trợ cấp ốm đau của Bảo hiểm xã hội cho cán bộ X là bao nhiêu?

    Số tiền trợ cấp lao động: 250.000 x 12 = 3.000.000 VNĐ

    Câu 26:

    Một tài sản trị giá 600 trđ được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm là 450 trđ. Phí đã nộp một lần theo tỷ lệ phí là 0,4%. Tài sản bị tổn thất trong thờ i hạn hiệu l ực của hợp đồng với giá trị thiệt hại là 100 trđ. Khi giám định tổn thất phát hiện sai sót không cố ý của chủ tài sản ở khâu khai báo rủi ro. Nếu khai báo chính xác thì tỷ lệ phí bảo hiểm là 0,5%. Yêu cầu; Tính toán số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm trong trường hợp này?

    STBT = (450/600) x (0,4/0,5) x 100 = 60 trđ

    Câu 27:

    M ột người đàn ông 56 tuổi, Bảo hiểm xã hội 26 năm. Mức bình quân tiền lương là 1.000.000 VNĐ. Lương hưu hàng tháng là bao nhiêu?

    2 % với đàn ông và 3% với đàn bà.

    • năm đầu thì cả 2 đều được tính 45% Vì đây là người đàn ông nên tính 2%

     

    Từ năm 16 đến 26 là được 11 năm: 11 x 2%/năm = 22%

    Tổng số phần trăm được hưởng: 45% + 22% = 67%

    Mà theo quy định của Luật lao động thì tuổi nghỉ hưu đối với đàn ông là 60 tuổi, đàn bà là 55 tuổi. Người đàn ông 56 tuổi này đã nghỉ hưu sớm 4 năm nên mỗi năm phải trừ đi 1%

    Vậy số phần trăm còn được hưởng 67% – 4% = 63% Lương hưu tháng là 63% x 1.000.000 = 630.000 VNĐ

    Câu 28:

    M ột người đàn à B về nghỉ hưu lúc 51 tuổi, có thời gian Bảo hiểm xã hội là 22 năm. Tính tỷ lệ bồi thường lương hưu của bà B?

    Đàn bà tỷ lệ 3%

    15 năm đầu là 45%

    7 năm còn lại : 7 x 3%/năm = 21%

    Tổng số phần trăm được hưởng: 45% + 21% = 66%

    [4]

     

    Câu 29:

    Một người đàn ông về hưu lúc 60 tuổi, Bảo hiểm xã hội 38 năm. Xác định tỷ lệ hưởng lương hưu của người này?

    Đàn ông tính 2%

    15 năm đầu : 45%

    Từ năm 16 đến 38 là được 23 năm: 23 x 2%/năm = 46%

    Tổng số phần trăm được hưởng: 45% + 46% = 91%

    Nhưng hạn mức tối đa là 75% nên tỷ lệ hưởng lương hưu của người này là 75%

    Câu 30:

    Anh Bình nghỉ ốm 5 ngày (không có ngày lễ, ch ủ nhật). Hệ số lương cơ b ản theo quy định 210.000 VNĐ/tháng. Thời gian làm việc 26 ngày/tháng. Hỏi khoản trợ cấp Bảo hiểm xã hội mà anh Bình nhận được?

    Trợ cấp BHXH = [(210.000 x 0,2 + 210.000 x 2,64) x 0,75 x 5]/26 = 86.019 VNĐ

    [5]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tổng quan về Logistics kinh doanh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    LỜI MỞ ĐẦU

               Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam bước sang một thời kỳ phát triển mới. Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế – xã hội to lớn cho đất nước. Nhiều lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh, đời sống nhân dân cũng ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển đó, bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh nói riêng cũng như với cuộc sống nói chung. Đồng thời, bảo hiểm cũng đã trở thành một ngành kinh doanh giàu tiềm năng phát triển, thu hút rất nhiều lao động.

               Ngành bảo hiểm nước ta mới thực sự bắt đầu phát triển từ cách đây khoảng 10 năm khi thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xoá bỏ theo nghị định 100 CP được Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993. Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến đáng kể và nếu được phát triển đúng hướng, ngành sẽ góp phần rất tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ mới. Việc tìm hiểu thực trạng tình hình kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam để từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm trong giai đoạn tới là rất cần thiết.

               Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, và với lòng yêu thích môn học Bảo hiểm, em xin được chọn nghiên cứu đề tài “Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển” cho bài khoá luận tốt nghiệp của mình, với nội dung:

               Chương I: Khái quát chung về bảo hiểm

               Chương II: Thực trạng hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua

               Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam

               Do những hạn chế về kiến thức thực tế cũng như nguồn tài liệu, bài khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong sẽ nhận được ý kiến chỉ bảo, đóng góp từ phía các thầy cô và các bạn để hoàn thiện hơn nữa đề tài nghiên cứu của mình. Em xin được chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt là thầy giáo TS. Vũ Sĩ Tuấn đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này. Ngoài ra, em cũng rất cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình nghiên cứu.       

    Hà Nội, tháng 12/2003

    CHƯƠNG I:

    KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM

    *******************

    I.    KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO HIỂM

    1. Nguồn gốc của bảo hiểm

    Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh phát triển rất mạnh, với tốc độ tăng trưởng trung bình khá cao. Đặc biệt, ở một số nước trên thế giới, bảo hiểm đã trở thành một phần không thể thiếu trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống nói chung. Vậy bảo hiểm có nguồn gốc như thế nào?

    Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại. Tuy nhiên, bảo hiểm thực sự xuất hiện từ khi nào thì người ta vẫn chưa có được câu trả lời chính xác. Ý tưởng về bảo hiểm được coi là đã xuất hiện từ khá lâu, khi mà người xưa đã nhận ra lợi ích của việc xây dựng một kho thóc lúa dự trữ chung phòng khi mất mùa, chiến tranh… Như vậy, ngay từ xa xưa, con người đã có ý thức về những bất trắc có thể xảy đến với mình, và tìm cách phòng tránh chúng.

    Ý tưởng về sự rủi ro (risk) được hình thành một cách rõ nét vào khoảng thế kỷ XV, khi châu Âu mở những cuộc thám hiểm, khai phá tới các miền đất ở châu Á, châu Mỹ. Nhu cầu giao thương giữa các châu lục trở nên mạnh mẽ, ngành hàng hải ngày càng phát triển. Những đội tàu buôn lớn ra đi, và trở về với sự giàu có từ nguồn hàng dồi dào, hấp dẫn từ những miền đất mới. Tuy nhiên, đồng hành với đó cũng là những trường hợp rủi ro không quay về được do nhiều nguyên nhân như: dông bão, lạc đường, cướp biển… Những nhà đầu tư cho những chuyến đi mạo hiểm như vậy đã cảm thấy sự cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi ro để tránh tình trạng một số người bị mất trắng khoản đầu tư của mình do một hiện tượng ngẫu nhiên khiến tàu của họ bị thiệt hại hoặc mất tích. Để thực hiện điều này, người ta có hai lựa chọn: thành lập liên doanh để cùng “lời ăn, lỗ chịu”, hoặc tham gia bảo hiểm. Ở trường hợp thứ hai, một số cá nhân hay công ty sẽ nhận được phí bảo hiểm (premium) bằng tiền mặt, đổi lại là lời cam kết sẽ trả một khoản bồi thường (indemnity) cho chủ tàu trong trường hợp tàu bị mất tích. Những người bảo hiểm (the insurers) đã tạo ra một quỹ chung mà họ cam kết sử dụng để thanh toán cho người được bảo hiểm (the insured) khi rủi ro xảy ra.

    Vào thời kỳ đầu, khi tổn thất xảy ra, người nhận bảo hiểm phải bán một số tài sản, hoặc rút tiền từ tài khoản ngân hàng để thanh toán cho người được bảo hiểm. Tuy nhiên, một số nhà kinh doanh đã nhanh chóng nhận ra rằng rất nhiều thành viên của cộng đồng không muốn nhận bảo hiểm cho những rủi ro lớn như vậy. Và khái niệm góp vốn chung đã dược hình thành cùng với việc kêu gọi mọi người mua cổ phần của các công ty bảo hiểm. Chỉ cần các khai thác viên chuyên nghiệp tính toán một cách đầy đủ, chính xác trong việc lựa chọn rủi ro để bảo hiểm và số phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi loại rủi ro cụ thể thì quỹ này sẽ luôn có khả năng bồi thường tổn thất cho người được bảo hiểm nếu xảy ra rủi ro. Đồng thời, các cổ đông cũng vẫn có lãi cổ phần ở mức đủ để họ hài lòng với việc đầu tư của mình.

    Bảo hiểm hình thành do sự tồn tại các loại rủi ro và sự đòi hỏi con người phải có những biện pháp đề phòng, ngăn chặn việc xảy ra rủi ro, đồng thời, khắc phục, hạn chế những hậu quả của rủi ro. Bắt đầu từ bảo hiểm hàng hải, rồi tới những loại bảo hiểm khác như bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm nhân thọ…, bảo hiểm ngày nay đã phát triển nhanh chóng trên nhiều mặt và dần dần đóng vai trò rất quan trọng đối với con người.

    2. Định nghĩa

    Mặc dù bảo hiểm đã có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời, nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ này, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm. Theo các chuyên gia bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quĩ tiền tệ (quĩ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau tạo thành một nhóm tương tác.

    Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm. Theo Dennis Kessler, “bảo hiểm là sự đóng góp của  số đông vào sự  bất hạnh của số ít.” Còn theo Monique Gaullier, “bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.”

    Các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặc quá thiên về góc độ kinh tế, kĩ thuật, ít nhiều cũng còn thiếu sót, chưa phải là một khái niệm bao quát, hoàn chỉnh. Nói một cách chính xác, bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, dựa trên cơ sở tính toán khoa học, áp dụng biện pháp huy động nhiều người, nhiều đơn vị cùng tham gia xây dựng quỹ bảo hiểm bằng tiền để bồi thường thiệt hại về tài chính do tài sản hoặc tính mạng của người được bảo hiểm gặp phải tai nạn rủi ro bất ngờ. Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ) định nghĩa: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”.

    Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban hành ngày 09/12/2000) thì “kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

    Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm”.

        3. Bản chất của bảo hiểm

    Bằng sự đóng góp của số đông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro, quĩ sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít. Mỗi cá nhân hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các công ty bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường. Khoản tiền bồi thường này được lấy từ số phí mà tất cả những người tham gia bảo hiểm đã nộp. Tất nhiên, chỉ có một số người tham gia bảo hiểm gặp tổn thất, còn những người không gặp tổn thất sẽ mất không số phí bảo hiểm. Như vậy, có thể thấy, thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Do đó, một nghiệp vụ bảo hiểm muốn tiến hành được phải có nhiều người tham gia, tức là, bảo hiểm chỉ hoạt động được trên cơ sở luật số đông (the law of large numbers), càng nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro đối với mỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi.

    Với hình thức số đông bù cho số ít người bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi ro, tiết kiệm được nguồn chi cho ngân sách nhà nước. Như vậy, thực chất mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, mà suy rộng ra, nó là tổng thể các mối quan hệ giữa những người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm. Quĩ bảo hiểm được tạo lập thông qua việc huy động phí bảo hiểm, số người tham gia càng đông thì quĩ càng lớn. Quĩ được sử dụng trước hết và chủ yếu là để bù đắp những tổn thất cho người được bảo hiểm, không làm ảnh hưởng đến sự liên tục của đời sống xã hội và hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế. Ngoài ra, quĩ còn được dùng để trang trải chi phí, tạo nên nguồn vốn đầu tư cho xã hội. Bảo hiểm thực chất là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với người được bảo hiểm, đảm bảo quá trình tái sản xuất được thường xuyên, liên tục.

        4. Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm

    Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày nay đã đạt đến trình độ phát triển cao ở nhiều nước trên thế giới, với rất nhiều loại hình, cũng như đối tượng được bảo hiểm ngày càng rộng mở và trở nên hết sức phong phú. Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm vẫn được tiến hành trên cơ sở một số nguyên tắc cơ bản của nó.

    4.1. Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (fortuity not certainty)

    Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro, tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra.

    Như vậy, người ta chỉ bảo hiểm cho những gì có tính chất rủi ro, bất ngờ, không lường trước được, nghĩa là không bảo hiểm cái gì đã xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra. Bởi lẽ, bảo hiểm được thực hiện chính là nhằm giải quyết hậu quả của những sự cố rủi ro ngoài ý muốn của con người, những rủi ro mà con người không thể hạn chế được hoặc chỉ hạn chế được phần nào. Người khai thác không nhận bảo hiểm khi biết chắc chắn rủi ro được bảo hiểm sẽ xảy ra, ví dụ như xe cơ giới không đảm bảo an toàn kỹ thuật, con tàu không đủ khả năng đi biển… Người ta cũng không bảo hiểm cho những gì đã xảy ra, ví dụ như bảo hiểm cho tàu, xe sau khi chúng đã gặp tai nạn.

    4.2. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith)

    Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực với nhau. Tuy nhiên, trong bảo hiểm, điều này được thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ hơn, và ràng buộc cao hơn về mặt trách nhiệm. Theo nguyên tắc này, hai bên trong mối quan hệ bảo hiểm (người bảo hiểm và người được bảo hiểm) phải tuyệt đối trung thực với nhau, tin tuởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp. Nếu một bên vi phạm thì hợp đồng bảo hiểm trở nên không có hiệu lực. Nguyên tắc này thể hiện như sau:

    Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm… cho người được bảo hiểm biết. Ví dụ, trong bảo hiểm hàng hải, mặt 1 của đơn bảo hiểm bao gồm  các nội dung như điều kiện bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, tỷ lệ bảo hiểm…, mặt 2 bao gồm quy tắc, thể lệ bảo hiểm của công ty bảo hiểm có liên quan. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm. Người bảo hiểm cũng không được nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn.

    Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm. Họ cũng phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro, về những mối đe dọa nguy hiểm hay làm tăng thêm rủi ro…mà mình biết được hoặc đáng lẽ phải biết. Người được bảo hiểm cũng không được mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tổn thất.

    Sở dĩ có nguyên tắc này là vì trong giao dịch bảo hiểm, chỉ có người chủ (hoặc người quản lý, sử dụng) mới biết được tất cả mọi yếu tố của đối tượng bảo hiểm, biết rủi ro mình yêu cầu bảo hiểm, còn người bảo hiểm thường không biết rõ rủi ro mà chỉ dựa vào những thông tin do người yêu cầu bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình đối với rủi ro: nhận hay không nhận bảo hiểm, nhận bảo hiểm theo điều kiện, điều khoản như thế nào và tính tỉ lệ phí bảo hiểm bao nhiêu… Do đó, người yêu cầu bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báo mọi yếu tố liên quan một cách đầy đủ và trung thực và phải khai báo sự phát sinh các yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng đến đối tượng được bảo hiểm trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực hoặc khi tái tục hợp đồng.

    Ví dụ, một người mua bảo hiểm thiệt hại do hoả hoạn, lụt lội, trộm cắp cho một ngôi nhà và biết rằng vùng đó thưòng có nguy cơ xảy ra bão lụt nhưng khi mua bảo hiểm lại không khai báo gì về điều đó. Khi bão đến gây ra thiệt hại cho ngôi nhà, người đó cũng không được bảo hiểm bồi thường. Một ví dụ khác là khi tàu, xe đã gặp tai nạn, chủ tàu, chủ xe mới tham gia bảo hiểm để được bồi thường, bằng cách mua bảo hiểm ghi lùi lại ngày tháng trước tai nạn, hoặc tìm cách để có hồ sơ tai nạn ghi ngày tháng xảy ra sau ngày mua bảo hiểm. Trong trường hợp đó, người bảo hiểm sau khi biết người được bảo hiểm không khai báo thật, có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hoặc không bồi thường tổn thất xảy ra.

                  4.3. Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest)

    Quyền lợi có thể được bảo hiểm, hay lợi ích bảo hiểm, là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Như vậy, quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Người nào có quyền lợi có thể được bảo hiểm ở một đối tượng bảo hiểm nào đó có nghĩa là quyền lợi của người đó sẽ được đảm bảo nếu đối tượng đó được an toàn, và ngược lại, quyền lợi của người đó sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm đó gặp rủi ro. Nói khác đi, người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro. Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có một số quan hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận. Đó có thể là người chủ sở hữu của đối tượng bảo hiểm đó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận cầm cố tài sản. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong bảo hiểm, có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì mới được ký kết hợp đồng bảo hiểm. Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm rồi mới được bồi thường.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ ra rằng, người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. Trong bảo hiểm hàng hải, quyền lợi có thể được bảo hiểm không nhất thiết phải có khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất.

    4.4. Nguyên tắc bồi thường (indemnity)

    “Bồi thường” có thể được hiểu là “sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm pháp lý”. Ở đây, “đảm bảo” và “bảo vệ” rất phù hợp với ý nghĩa của bảo hiểm. Mục đích của bảo hiểm chính là nhằm khôi phục vị trí tài chính như ban đầu cho người được bảo hiểm ngay sau khi tổn thất xảy ra. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp các công ty bảo hiểm không thể khôi phục được hoàn toàn vị trí tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm mà chỉ có thể cố gắng khôi phục được gần như thế.

    Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Trong bảo hiểm, số tiền bồi thường mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong một rủi ro được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, không được lớn hơn thiệt hại thực tế. Người được bảo hiểm cũng không thể được bồi thường nhiều hơn thiệt hại do tổn thất, không được kiếm lời bằng con đường bảo hiểm, tối đa người được bảo hiểm cũng chỉ được bồi thường đầy đủ, chứ không thể nhiều hơn thiệt hại.

    Ở đây, ta thấy có mối liên hệ giữa bồi thường và quyền lợi được bảo hiểm. Khi xảy ra trường hợp phải bồi thường, số tiền trả cho người được bảo hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi của người đó. Tuy nhiên, đôi khi, người được bảo hiểm chỉ được nhận số tiền ít hơn giá trị lợi ích của họ. Cùng với quyền lợi được bảo hiểm, nguyên tắc bồi thường phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh giá tài chính, và như vậy, khi xem xét giá trị sinh mạng, hoặc bồi thường thương tật con người, chúng ta không thể đưa ra được số tiền chính xác.

    4.5. Nguyên tắc thế quyền (subrogation)

    Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình. Tất cả các khoản tiền nào có thể thu hồi được để giảm bớt thiệt hại đều thuộc quyền sở hữu của người bảo hiểm, tức là người đã trả tiền bồi thường tổn thất. Khi số tiền phải bồi thường càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng quan trọng và có ý nghĩa. Thế quyền có thể được thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất. Trong trường hợp này, người bảo hiểm được thay mặt người được bảo hiểm để làm việc với các bên liên quan. Để thực hiện được nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ… cần thiết cho người bảo hiểm.

    Điều cần chú ý là, người được bảo hiểm cũng có thể được bồi thường từ một nguồn khác ngoài nguồn bồi thường từ công ty bảo hiểm, nhưng trong trường hợp đó, bất cứ số tiền nào mà người được bảo hiểm thu được cũng phải đặt dưới danh nghĩa của công ty bảo hiểm đã thực hiện bồi thường. Do mối quan hệ chặt chẽ giữa thế quyền và bồi thường, một công ty bảo hiểm không được phép thu nhiều hơn số tiền họ đã bồi thường. Người bảo hiểm chỉ được thực hiện thế quyền ở mức độ tương đương với số tiền đã trả hoặc sẽ trả. Điều này cũng có nghĩa là không chỉ người được bảo hiểm mà cả công ty bảo hiểm đều không được phép thu lời từ việc thực hiện quyền của mình.

    5. Các loại hình bảo hiểm

    Trải qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm ngày nay đã bao gồm nhiều hình thức hết sức đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở các tiêu chí khác nhau, chúng ta lại có được các loại hình khác nhau của bảo hiểm. Người ta có thể phân loại dựa trên cơ chế hoạt động, tính chất, đối tượng của bảo hiểm, cũng như có thể dựa theo quy định của pháp luật.

                  5.1. Căn cứ vào cơ chế hoạt động của bảo hiểm

    Theo tiêu chí này, bảo hiểm có thể phân ra thành:

                  *  Bảo hiểm xã hội (social insurance): là chế độ bảo hiểm của nhà nước, của đoàn thể xã hội hoặc của các công ty nhằm trợ cấp cho các viên chức nhà nước, người làm công… trong trường hợp ốm đau, bệnh tật, bị chết hoặc tai nạn trong khi làm việc, về hưu.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. So với các loại hình bảo hiểm khác, đối tượng, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt. BHXH có một số đặc điểm: có tính chất bắt buộc; hoạt động theo những luật lệ quy định chung; không tính đến những rủi ro cụ thể; không nhằm mục đích kinh doanh… Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước, hình thành chủ yếu từ các nguồn đóng góp hay ủng hộ của người lao động, người sử dụng lao động, nhà nước, các tổ chức, cá nhân từ thiện… Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong công ước 102 tháng 6/1952 tại Giơnevơ, quỹ BHXH được sử dụng để trợ cấp cho:

    • Chăm sóc y tế
    • Trợ cấp ốm đau
    • Trợ cấp thất nghiệp
    • Trợ cấp tuổi già
    • Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
    • Trợ cấp gia đình
    • Trợ cấp sinh đẻ
    • Trợ cấp khi tàn phế
    • Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)

    Còn theo điều 2 Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ:

    • Trợ cấp ốm đau
    • Trợ cấp thai sản
    • Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
    • Trợ cấp hưu trí
    • Trợ cấp tử tuất

                  *  Bảo hiểm thương mại (commercial insurance): là loại hình bảo hiểm mang tính chất kinh doanh, kiếm lời. Khác với BHXH, loại hình bảo hiểm này có những đặc điểm: không bắt buộc, có tính đến từng đối tượng, từng rủi ro cụ thể; nhằm mục đích kinh doanh.

    Bảo hiểm thương mại hiện nay cũng có rất nhiều loại nghiệp vụ:

    • Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
    • Bảo hiểm thân tàu
    • Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
    • Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
    • Bảo hiểm hàng không
    • Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
    • Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
    • Bảo hiểm rủi ro xây dựng và lắp đặt
    • Bảo hiểm thiệt hại máy móc
    • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
    • Bảo hiểm tai nạn con người
    • Bảo hiểm sinh mạng cá nhân
    • Bảo hiểm cây trồng
    • Bảo hiểm chăn nuôi
    • Bảo hiểm sắc đẹp

    …………

    5.2. Căn cứ vào tính chất của bảo hiểm

    Theo tiêu chí phân loại này, chúng ta lại có hai loại bảo hiểm:

                  *  Bảo hiểm nhân thọ (life insurance): là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết. Thực chất đây là bảo hiểm tính mạng hoặc tuổi thọ của con người nhằm bù đắp cho người được bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi người được bảo hiểm bị chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Nói cách khác, bảo hiểm nhân thọ là việc bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người. Đối tượng tham gia bảo hiểm nhân thọ rất rộng, bao gồm nhiều người ở các lứa tuổi khác nhau.

    Bảo hiểm nhân thọ ngày nay phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, với doanh thu phí bảo hiểm ngày càng lớn, có lẽ bởi vai trò to lớn của nó. Đối với mỗi cá nhân, mỗi gia đình, bảo hiểm nhân thọ giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp rủi ro, góp phần ổn định cuộc sống. Trên phạm vi rộng, nó góp phần huy động vốn đầu tư từ các nguồn nhàn rỗi, góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

    Bảo hiểm nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ:

    • Bảo hiểm trọn đời
    • Bảo hiểm sinh kỳ
    • Bảo hiểm tử kỳ
    • Bảo hiểm hỗn hợp
    • Bảo hiểm trả tiền định kỳ

    …………

                  *  Bảo hiểm phi nhân thọ (non-life insurance): là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

    Bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh. Các nghiệp vụ của bảo hiểm phi nhân thọ cũng hết sức phong phú. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam (ban hành 09/12/2000) thì bảo hiểm phi nhân thọ gồm:

    • Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người
    • Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại
    • Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không
    • Bảo hiểm hàng không
    • Bảo hiểm xe cơ giới
    • Bảo hiểm cháy, nổ
    • Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu
    • Bảo hiểm trách nhiệm chung
    • Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính
    • Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh
    • Bảo hiểm nông nghiệp

    ………..

    Ngoài ra, bảo hiểm phi nhân thọ cũng còn một số loại nghiệp vụ khác như: bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm du lịch, bảo hiểm trách nhiệm của người sử dụng lao động…

    5.3. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm

    Nếu xem xét theo đối tượng bảo hiểm, có thể phân chia như sau:

                  *  Bảo hiểm con người (insurance of the person): là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con người. Bảo hiểm con người bao gồm các loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người bao gồm các loại như bảo hiểm an sinh giáo dục, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm tiết kiệm và đầu tư, bảo hiểm chi phí khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm tai nạn học sinh, lao động… Bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho chính bản thân mình hoặc vợ, chồng, con, cha, mẹ; anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; và người khác nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

    Trong bảo hiểm tai nạn con người, người thụ hưởng nhận được số tiền trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào thương tật thực tế của người được bảo hiểm và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Còn trong bảo hiểm sức khỏe con người, người được bảo hiểm được nhận số tiền trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe của người đó do bệnh tật hoặc tai nạn gây ra và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

                  *  Bảo hiểm tài sản (property insurance): là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu động) của người được bảo hiểm (tập thể hay cá nhân) bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản. Nhóm các loại sản phẩm bảo hiểm tài sản bao gồm bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy, bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm nhà, bảo hiểm công trình… Có 3 loại hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị, hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị và hợp đồng bảo hiểm trùng.

    5.4. Căn cứ vào quy định của pháp luật

                  Nếu xét trên cơ sở quy định của pháp luật, các loại hình bảo hiểm lại có thể được phân chia thành bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện.

                  *  Bảo hiểm bắt buộc: là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện. Loại bảo hiểm này chỉ áp dụng với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.

    Các nước có những quy định khác nhau về các loại hình bảo hiểm bắt buộc. Theo Luật kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam được ban hành ngày 09/12/2000, các loại hình bảo hiểm sau là bắt buộc:

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người bảo hiểm hàng không đối với hành khách

    • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật
    • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
    • Bảo hiểm cháy, nổ

    Tuy nhiên, căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ, Chính phủ trình Uỷ ban thưòng vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác.

                  *  Bảo hiểm không bắt buộc: là những loại bảo hiểm khác, không thuộc bảo hiểm bắt buộc.

    II.  SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

    1. Sự cần thiết của bảo hiểm

    Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh hết sức phát triển và dần trở nên một khái niệm quen thuộc với hầu hết mọi người. Ở nhiều quốc gia, mua bảo hiểm từ lâu đã là một việc làm không thể thiếu đối với người dân. Bảo hiểm trở nên thực sự cần thiết như vậy cũng bởi rất nhiều lý do.

    1.1. Sự tồn tại của các loại rủi ro

    Trong cuộc sống sinh hoạt nói chung cũng như trong những hoạt động sản xuất – kinh doanh phục vụ cuộc sống, con người luôn gặp phải những tai hoạ, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra, gây thiệt hại về tài sản và con người. Những tai họa, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên ấy gọi là rủi ro. Từ thời nguyên thuỷ xa xưa đến thời đại khoa học kỹ thuật phát triển ngày nay, con người vẫn luôn phải đối mặt với những rủi ro tồn tại trong cuộc sống. Chúng diễn ra thường xuyên, liên tục và thường đặt con người vào thế bị động. Hậu quả để lại thường là những thiệt hại về vật chất và tinh thần khó khắc phục, thậm chí có khi không thể khắc phục nổi. Có nhiều loại rủi ro xuất hiện, chi phối cuộc sống của con người. Đó có thể là các rủi ro do thiên nhiên, rủi ro mang tính kỹ thuật hoặc rủi ro do môi trường xã hội gây ra.

                  * Các rủi ro xảy ra do môi trường thiên nhiên là các rủi ro do các hiện tượng trong tự nhiên như động đất, núi lửa phun, bão, lụt, sóng thần… Các rủi ro này thường mang tính bất ngờ, gây ra tác hại to lớn trên phạm vi rộng và để lại những hậu quả nặng nề, lâu dài. Ngày nay, những tiến bộ khoa học kỹ thuật đã giúp con người phần nào hạn chế được những tổn thất do thiên tai gây ra. Bằng các phương tiện thông tin liên lạc, các phương pháp dự báo hiện đại, người ta có thể biết trước được thời gian hay địa điểm mà một cơn bão sẽ tràn tới hay một trận động đất sẽ đi qua. Tuy vậy, các thảm hoạ thiên nhiên vẫn luôn là nỗi kinh hoàng, là mối đe doạ cho cuộc sống con người, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Đặc biệt, trong những thập kỷ gần đây, cùng với những biến đổi mang tính toàn cầu về môi trường, những thảm hoạ lớn như những trận bão lụt, động đất, cháy rừng tự nhiên… xảy ra ngày càng nhiều với tính chất ngày càng nghiêm trọng. Hàng năm, thiên tai gây tổn thất hàng chục tỷ USD về vật chất, cướp đi sinh mạng hàng chục nghìn người, thiệt hại tinh thần không thể tính được. Theo báo cáo Sigma của Swiss Re, tổn thất từ các thảm hoạ do thiên nhiên và con người gây ra trong năm 2002 là 40 tỷ USD và 19.000 người chết, trong đó, nặng nề nhất là hai trận lụt lớn ở Châu Âu vào tháng 6 va tháng 8 với tổn thất về tài sản ước tính là 3,2 tỷ USD. (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 12/11/2003)

    Chỉ tính riêng vài năm trở lại đây, những cơn bão, lũ quét ở Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ tàn phá, gây  ra những thiệt hại nặng về người và của. Tháng 10/1997 cơn bão quốc tế Linda tràn vào các tỉnh nam trung bộ và nam bộ nước ta đã gây hậu quả nặng nề, 445 người chết, hơn 3000 người mất tích, thiệt hại ước tính trên 7000 tỉ VND (Nguồn: Báo Doanh nghiệp số tháng 8/2000). Thiên tai đã làm cho hàng trăm người bị chết, hàng nghìn người bị mất nhà cửa, tổn thất hàng nghìn tỷ đồng về tài sản, hậu quả của nó thậm chí vẫn còn nặng nề tới nhiều năm sau.

    Như vậy, các rủi ro do môi trường thiên nhiên đã gây ra những thiệt hại nặng nề về người, về tài sản, trong đó có những cơ sở hạ tầng quan trọng với sự phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia. Các thiệt hại này thường đến bất ngờ và nhanh chóng làm tiêu tan những tài sản tích luỹ của cả đời người và kết quả đầu tư bao năm của Nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội.

                  *  Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học – kỹ thuật là những rủi ro do chính con người gây ra trong quá trình sống và lao động sản xuất. Xét một cách toàn diện, khoa học – kỹ thuật phát triển đem lại những sự thay đổi mang tính tích cực đối với quá trình phát triển chung của loài người, thúc đẩy sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi, đem lại nhiều tiện ích cho cuộc sống của chúng ta. Tuy nhiên, đôi khi, chính những sản phẩm con người tạo ra được nhờ sự phát triển khoa học – kỹ thuật cũng gây hại cho chính con người.

    Những phương tiện giao thông hiện đại, đầy tiện nghi cho phép sự di chuyển từ nơi này sang nơi khác với thời gian ngày càng rút ngắn, nhưng những sự cố về tai nạn giao thông cũng ngày một gia tăng, với tổng thiệt hại ngày một lớn. Vô số những vụ tai nạn ôtô, xe máy từng giờ, từng phút vẫn liên tục xảy ra khắp mọi nơi trên thế giới. Máy bay là một phát minh mang tính lích sử của loài người, mở ra một kỷ nguyên chinh phục khoảng không, và được coi là an toàn hơn so với các loại phương tiện giao thông hiện đại khác. Tuy con số tử vong do tai nạn hàng không thấp hơn nhiều so với đường bộ, đường thuỷ… nhưng những vụ tai nạn này thường vô cùng thảm khốc và con người hiếm có cơ may sống sót. Ngay cả máy bay siêu thanh Concorde, vốn được coi là loại máy bay an toàn nhất, là sản phẩm đầy tự hào của khoa học hàng không Anh – Pháp, cũng không tránh khỏi một vụ tai nạn với 114 người thiệt mạng. Ngoài ra, hàng ngày, tai nạn trong lao động – sản xuất, rủi ro trong quá trình vận chuyển và tiêu thụ hàng hóa… vẫn luôn xảy ra. Những rủi ro này thường chỉ xảy ra trên phạm vi hẹp, có ảnh hưởng trực tiếp tới một hoặc vài cá nhân, đơn vị sản xuất kinh doanh. Nhưng nếu xét trên phạm vi toàn xã hội, những rủi ro này lại xảy ra với tần suất lớn và có tổng thiệt hại không phải nhỏ.

    Ngoài ra, các vụ cháy, nổ do sự bất cẩn của con người hay do các yêu cầu về kỹ thuật phòng cháy không đảm bảo đã gây ra những tổn thất vô cùng to lớn. Những vụ nổ nhà máy điện nguyên tử không chỉ gây thiệt hại về người và của hết sức thảm khốc mà những hậu quả để lại cho môi trưòng xung quanh cũng rất nặng nề và lâu dài. Các vụ cháy nổ có tổn thất lớn xảy ra nhiều ở Mỹ, đất nước được coi là đầu tầu trong phát triển khoa học – kỹ thuật. Năm 1999, thiệt hại vụ nổ một nhà máy điện là 650 triệu USD, vụ nổ một nhà máy luyện nhôm là 275 triệu USD và vụ nổ một nhà máy lọc dầu là 247 triệu USD. (Nguồn: Tạp chí Thông tin thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm số tháng 11/1999)

    Theo báo cáo Sigma của Swiss Re, các thảm hoạ do con người gây ra năm 2002 với các nguyên nhân chủ yếu là cháy, tai nạn hàng không và đổ vỡ đã làm các công ty bảo hiểm tổn thất khoảng 2 tỷ USD (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 20/10/2003). Tại Việt Nam, vụ cháy chợ Đồng Xuân trước đây đã đẩy hàng nghìn hộ kinh doanh và đại lý ở đây vào hoàn cảnh khó khăn. Mới đây, vụ cháy Trung tâm thương mại Quốc tế ITC ở thành phố Hồ Chí Minh cũng làm hàng trăm người chết và bị thương, tổn thất về tài sản là hàng chục tỷ đồng. Cháy, nổ đã làm thiệt hại đến tài sản, nhà cửa, nhà xưởng, văn phòng…, cướp đi sinh mạng của bao người. Kinh doanh gián đoạn, sản xuất ngưng trệ và nền kinh tế bị ảnh hưởng không nhỏ.

    Các tổn thất lớn trong ngành năng lượng trên thế giới

    Năm
    Nơi xảy ra

    tổn thất

    Số tiền

     

    tổn thất

    (triệu USD)

    Nguyên nhân

     

    Indonesia

    75 Giếng phụt ngoài khơi
      Singapore 100 Tổn thất tàu chở dầu do đâm va
    1997 Visakhopalam 52 Nổ tại nhà máy lọc dầu
      Nam Phi 151 Nổ tại nhà máy lọc dầu
      Malaysia 350 Nổ tại nhà máy lọc dầu
      Main Pass 15 Tổn thất trong quá trình khoan
      Mexico 30
    Hư hỏng cơ trong quá trình khoan
    1998 Biển Bắc 20 Hư hỏng cơ trong quá trình hoạt động
      Jamnagar 12 Hư hỏng cơ của hệ thống đường ống
      Lousiana, Mỹ 120 Hư hỏng của sà lan khoan
      Newfoundland 61 Cháy tại phân xưởng hydrocracking

    Nguồn: Sedgwick, 2000

                  *  Các rủi ro xảy ra do môi trường xã hội cũng là một trong các nguyên nhân gây nên những thiệt hại cho con người. Môi trường xã hội, với tất cả những tính chất phức tạp và đầy biến động của nó, luôn ẩn chứa những rủi ro bất ngờ. Nhân loại đang dần tiến lên một xã hội văn minh hơn, tiến bộ hơn, nhưng ở chỗ này hay chỗ khác, con người vẫn luôn bị đe doạ bởi những tai họa có hậu quả nguy hiểm chẳng kém thiên tai, hay những tác động tiêu cực của khoa học – kỹ thuật.

    Những vấn nạn của xã hội như thất nghiệp, tội phạm… vẫn luôn là những nguy hiểm thường trực đối với loài người. Hàng năm, người lao động làm việc trong các ngành giao thông ở Châu Âu vẫn phải tổ chức những cuộc đình công đòi quyền lợi, gây bất tiện cho nhu cầu đi lại của người dân, cũng như gây tổn thất không nhỏ cho giới chủ. Ngoài ra, các cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, những cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo… vẫn xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là các cuộc chiến tranh với những hậu quả tàn khốc. Như vậy, những rủi ro xảy ra do môi trường xã hội cũng là một mối nguy hiểm lớn có thể gây ảnh hưởng nguy hại đến con người.

    1.2. Các biện pháp hạn chế rủi ro

                  Cho dù là vì nguyên nhân nào, rủi ro khi xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trong cuộc sống, có thể gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất – kinh doanh của các cá nhân, tổ chức, tới đời sống xã hội… Để đối phó với các rủi ro, con người đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm hạn chế, cũng như khắc phục những hậu quả do rủi ro gây nên. Hiện nay, theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu quả của nó: nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro.

    1.2.1. Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro:

                  *  Tránh rủi ro (risk advoidance): nghĩa là không làm một việc gì đó quá mạo hiểm, không chắc chắn. Biện pháp này được sử dụng khá thường xuyên trong cuộc sống. Ở một chừng mực nào đó, cẩn trọng là tốt, nhưng biện pháp này cũng có nhược điểm là làm cho con người lúc nào cũng sợ sệt, không dám làm việc gì, mà như vậy cũng có nghĩa là không thu được gì. Khi tránh né rủi ro như vậy, người ta cũng đã tự loại trừ đi các cơ hội. Thực tế cho thấy, trong kinh doanh, công việc càng có mức độ rủi ro cao thì càng có khả năng thu lời lớn.

                  *  Ngăn ngừa, hạn chế rủi ro (risk prevention): là việc đưa ra những biện pháp nhằm đề phòng, ngăn ngừa, hạn chế rủi ro và các hậu quả của nó. Việc này thể hiện ở việc các cá nhân, tổ chức sử dụng các hệ thống phòng cháy, chữa cháy, hệ thống bảo vệ chống trộm cắp, các biện pháp an toàn lao động, các biện pháp hạn chế tai nạn giao thông… Tuy nhiên, các biện pháp này cũng không thể ngăn chặn hết được các rủi ro, bởi một trong các tính chất của rủi ro là tính không lường trước được.

    1.2.2. Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro

                  *  Tự khắc phục rủi ro (risk assumption): là việc người gặp phải rủi ro tự chấp nhận, tự khắc phục khoản tổn thất do rủi ro đó gây ra. Biện pháp này thể hiện ở việc các cá nhân, tổ chức dự trữ một khoản tiền nhất định để khi có rủi ro xảy ra sẽ dùng khoản tiền đó bù đắp, giải quyết hậu quả. Nó còn được gọi là tự bảo hiểm (self insurance). Tuy nhiên, hạn chế của biện pháp này là ở chỗ không phải cá nhân, tổ chức nào cũng có, hoặc có đủ dự trữ về tài chính để bù đắp những rủi ro với tổn thất mang tính thảm hoạ. Mặt khác, khi nhiều cá nhân, tổ chức đều dành ra những khoản lớn để dự trữ như vậy sẽ gây đọng vốn lớn trong xã hội.

                  *  Chuyển nhượng rủi ro (risk transfer): là khi cá nhân, tổ chức, trước khi rủi ro xảy ra, tự thấy mình không chịu được hậu quả của nó nên tìm cách san sẻ bằng cách chuyển nhượng rủi ro cho người khác bằng cách đóng một khoản tiền. Khi đã nhận tiền từ bên chuyển nhượng rủi ro, người khác đó phải bồi thường những thiệt hại do rủi ro đã thoả thuận gây ra. Biện pháp đó chính là bảo hiểm. Nó là biện pháp tối ưu trong các biện pháp đối phó với rủi ro bởi rất nhiều ưu điểm: không gây đọng vốn trong xã hội, phạm vi, khả năng bù đắp lớn… Chính thực tế phát triển mạnh mẽ của ngành bảo hiểm cũng đã chứng minh điều này.

    Chính sự tồn tại của các loại rủi ro, cũng như nhu cầu cấp thiết phải có những biện pháp đối phó với rủi ro đã cho thấy sự cần thiết của bảo hiểm. Bảo hiểm đã tạo sự an toàn trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh và tự thân nó cũng đã, đang và vẫn sẽ là một ngành kinh doanh phát đạt. Khái niệm “bảo hiểm” trở nên gần gũi với mọi người, mọi tổ chức sản xuất – kinh doanh bởi tác dụng và vai trò của nó là rất to lớn.

    2. Tác dụng và vai trò của bảo hiểm

    Xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm trong tương quan chung với sự phát triển của toàn nền kinh tế ở nhiều nước, nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định tác dụng to lớn, cũng như vai trò không thể thiếu của bảo hiểm đối với nền kinh tế. Thực tế cũng cho thấy, sự tồn tại của một thị trường bảo hiểm mạnh là một trong những yếu tố cơ bản của bất cứ nền kinh tế thành công nào. Trong cuốn “Các nguyên tắc bảo hiểm“, hai tác giả người Mỹ là Mehr và Commack đã viết: “Việc Anh Quốc nổi lên như một cường quốc thương mại và đồng thời loại hình bảo hiểm hoả hoạn cũng phát triển trong cùng một thời kỳ không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.

    Tác dụng của bảo hiểm thể hiện rõ trên nhiều phương diện. Ngoài việc giúp bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác. Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước hàng năm có nguồn đóng góp không nhỏ, mọi người có được tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất được tăng cường…

    2.1. Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất

    Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời. Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người. Khi có tổn thất xảy đến với đối tượng được bảo hiểm thì nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm là khắc phục những hậu quả đó, ổn định đời sống và quá trình sản xuất – kinh doanh.

    Việc mua bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức cho phép họ chuyển rủi ro sang các công ty bảo hiểm. Các cá nhân khắc phục được khó khăn về tài chính, dễ dàng ổn định cuộc sống hơn, các tổ chức kinh doanh bảo toàn vốn, tài sản, giữ cho chu kỳ sản xuất – kinh doanh không bị gián đoạn dẫn đến phá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề. Chi phí bồi thường của các công ty bảo hiểm thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí hoạt động kinh doanh, khoảng 60 – 80%. Thậm chí, chi phí bồi thường còn có thể lớn hơn, nhất là với những rủi ro do thiên tai có sức tàn phá lớn trên diện rộng. Ở Mỹ, từ năm 1949 đến năm 1994, trung bình mỗi năm có tới 25 vụ thảm họa thiên nhiên, gây tổn thất 1,6 tỉ USD/năm (theo thời giá năm 1983), trong đó, lớn nhất là cơn bão Adrew và trận động đất Northridge đều có 15,5 tỉ USD tài sản được bảo hiểm. Trong vụ nổ máy bay Concorde, các công ty bảo hiểm đã phải bồi thường một số tiền là khoảng 350 triệu USD, trong đó khoảng 260 triệu USD là để bồi thường cho gia đình các hành khách và phi hành đoàn bị thiệt mạng và 30 triệu USD bảo hiểm máy bay. (Nguồn: Báo Doanh nghiệp số 8/2000)

    Nguồn: www.baoviet.com.vn, 30/10/2003

    2.2. Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất

    Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực hiện một nội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro. Đó là đề phòng và hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra. Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế – xã hội cũng được chủ động phòng tránh. Dựa trên cơ sở các rủi ro xảy ra hàng năm, các tổ chức kinh doanh bảo hiểm tiến hành nghiên cứu các rủi ro, thống kê các tai nạn, tổn thất, từ đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thiệt hại. Những nghiên cứu này giúp các công ty bảo hiểm có thể đề ra được các biện pháp kiểm soát ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất nhằm giảm đến mức thấp nhất tổn thất có thể xảy ra.

    Việc các công ty bảo hiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro không chỉ để giảm bớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà quan trọng hơn, nó góp phần giảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất cũng như tinh thần khi xảy ra tổn thất. Khi xây dựng các qui tắc, điều khoản, biểu phí… cũng như trong quá trình triển khai nghiệp vụ, kể từ khi đánh giá rủi ro, ký kết hợp đồng, quản lý hợp đồng cho đến lúc giám định tổn thất, giải quyết bồi thường, các tổ chức bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết. Việc đó không chỉ nhằm bảo vệ đối tượng bảo hiểm mà còn góp phần bảo đảm an toàn cho tính mạng, sức khoẻ con người, của cải vật chất của toàn xã hội.

    Các công ty bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các cá nhân, tổ chức tham gia mua bảo hiểm tăng cường các biện pháp bảo vệ tài sản của chính mình. Đồng thời, họ cũng tuyên truyền, giáo dục mọi tầng lớp nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ an toàn giao thông, an toàn lao động… Do bảo hiểm không có nghĩa là đổ hết trách nhiệm cho người bảo hiểm nên ở các cơ quan, xí nghiệp thường có các qui tắc, qui định cho an toàn lao động, các qui định về phòng cháy chữa cháy, các thiết bị chống trộm, báo cháy…

                  2.3. Sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác

    Trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh, người ta luôn phải tính đến những rủi ro có thể gặp phải, và luôn muốn chủ động trong các tình huống xấu nhất. Việc tự khắc phục rủi ro đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn lập quỹ dự phòng. Xét trên toàn xã hội, tổng các quỹ dự phòng sẽ là một khoản tiền không nhỏ, có khả năng sinh lợi lớn nếu đem đầu tư. Do vậy, người ta có thể đóng cho các công ty bảo hiểm một khoản nhỏ hơn thay vì bỏ một khoản tiền lớn lập quỹ, và có thể dùng tiền đó nâng cao đời sống hoặc đầu tư kinh doanh. Bảo hiểm đã trở thành lựa chọn tối ưu trong môi trường đầy rủi ro hiện nay, đảm bảo mức độ an toàn tương đối về khả năng tài chính khi xảy ra rủi ro mà vẫn không gây đọng vốn.

    Vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng thì phải có một thị trường vốn phát triển lành mạnh, các kênh thu hút vốn đa dạng để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu về vốn. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, muốn tăng tốc nền kinh tế thì tỉ lệ tích lũy vốn trong nước thường phải chiếm khoảng 30% GDP. Ngày nay, các công ty bảo hiểm là một kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và đang ngày càng được khai thác một cách hiệu quả, do phạm vi hoạt động rộng, các loại hình bảo hiểm phong phú. Thông qua các hợp đồng bảo hiểm, các công ty bảo hiểm đã tập trung lượng tiền phân tán rải rác thành những quĩ tiền tệ khá lớn. Quĩ bảo hiểm đã trở thành một định chế tài chính trung gian quan trọng trên thị trường vốn. Đặc biệt, thông qua loại hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm đã khuyến khích các tầng lớp nhân dân tăng cường tiết kiệm và qua đó đã thu hút được một khối lượng lớn vốn nhàn rỗi để đầu tư. Tổng giá trị đầu tư của các công ty bảo hiểm của Pháp năm 1998 lên đến 4.267,5 tỷ FFR, chiếm trên 20% tổng giá trị đầu tư trong nước. Ở Đài Loan năm 1995, riêng các công ty bảo hiểm nhân thọ đã đầu tư vào nền kinh tế 39 tỷ USD, chiếm 15% tổng thu nhập quốc dân. Trong các tổ chức tài chính trung gian, các công ty bảo hiểm nhân thọ có tổng giá trị tài sản lên tới hàng nghìn tỷ USD, chỉ đứng sau các ngân hàng thương mại. Ở những nước có thị trường bảo hiểm phát triển, nhìn chung, các công ty bảo hiểm là những chủ thể tham gia tích cực vào hoạt động đầu tư trên thị trường tài chính. (Nguồn: Tạp chí Tài chính số 2/2001).

    2.4.  Tăng thu cho ngân sách nhà nước

    Qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm tự thân nó đã trở thành một ngành kinh doanh độc lập, có hạch toán thu chi, lỗ lãi rõ ràng. Vì vậy, các công ty bảo hiểm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước như mọi doanh nghiệp khác hoạt động trong nền kinh tế. Hàng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, bảo hiểm cũng góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc thực hiện tốt khâu phòng ngừa và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản công cộng, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc. Điều này giúp Nhà nước giảm bớt chi tiêu những khoản lớn để bù đắp cho những tổn thất như phải xây dựng lại đường xá, cầu cống, nhà xưởng, công trình… Ngoài ra, một thị trường bảo hiểm phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các cá nhân và tổ chức mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm trong nước, góp phần tiết kiệm một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách Nhà nước.

    2.5. Tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống

    Khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì người ta càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai. Môi trường kinh doanh cũng như môi trường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới. Những rủi ro do thiên nhiên như bão lũ, hạn hán, sóng thần, cháy rừng tự nhiên… đang trở nên hết sức phức tạp, khó dự đoán do môi trường thế giới đang thay đổi theo chiều hướng xấu. Chiến tranh, xung đột, khủng bố, đình công… không những không giảm bớt mà lại ngày càng diễn biến phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới. Trong tình hình như vậy, bảo hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống cho con người.

     

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

    *******************

    III.    SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

        1. Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm trên thế giới

    Khái niệm bảo hiểm đã hình thành từ lâu và ngành bảo hiểm trên thế giới đã có lịch sử phát triển khá lâu dài. Trước công nguyên, ở Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã biết thành lập “quỹ tương trợ” để giúp đỡ nạn nhân trong các vụ tai nạn. Từ đó, các hoạt động mang tính chất của bảo hiểm phát triển dần theo sự phát triển của xã hội loài người. Bắt đầu bằng hình thức các quĩ dự trữ, tương trợ đơn giản, các loại hình bảo hiểm dần dần được hình thành và phát triển.

    Bảo hiểm hàng hải được coi là có lịch sử phát triển sớm nhất trong các ngành bảo hiểm còn tồn tại đến ngày nay, và nó đã đặt nền móng cho sự phát triển của bảo hiểm sau này. Người ta cho rằng bảo hiểm hàng hải ra đời từ những người cho vay nặng lãi sống ở miền Bắc Italia, với hình thức cho vay kiêm bảo hiểm. Một trong những đơn bảo hiểm đầu tiên được tìm thấy là đơn bảo hiểm cấp vào năm 1347 tại Genoa, Italia. Tuy nhiên, đến khoảng cuối thế kỷ XV, bảo hiểm hàng hải mới thực sự phát triển. Vào thời gian này, nhu cầu giao thương giữa Châu Âu và các lục điạ tăng mạnh và hầu hết việc đi lại được thực hiện bằng đường biển. Những thỏa thuận bảo hiểm hàng hải xuất hiện đảm bảo bồi thường cho các khách hàng nếu tàu của họ gặp rủi ro. Từ Italia, bảo hiểm phát triển sang Anh một cách nhanh chóng và đầy đủ hơn. Ngay từ thế kỷ XVII, Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm tàu và hàng (Lloyd’s SG form) vẫn áp dụng cho đến ngày nay. Lloyd’s ra đời năm 1720, và dần phát triển thành hãng bảo hiểm có uy tín vào bậc nhất.

    Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời sau bảo hiểm hàng hải và là lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các công ty bảo hiểm trong thời kỳ đầu. Vào thế kỷ XVII, tại các thành phố đông đúc ở Châu Âu, nhà cửa chủ yếu được dựng bằng gỗ và lửa được dùng nhiều để sưởi ấm, chiếu sáng… Do vậy, rủi ro cháy là rất cao, đòi hỏi sự ra đời của các công ty bảo hiểm cung cấp các dịch vụ cứu hoả và bồi thường thiệt hại xảy cho người được bảo hiểm khi xảy ra cháy. Sau đám cháy khủng khiếp ở thủ đô London kéo dài 5 ngày (năm 1666), những công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên đã xuất hiện ở Anh như: The Fire Office, Friendly Society Fire Office. Sau đó, một loạt các công ty bảo hiểm cháy khác tiếp tục ra đời ở Anh: Amicable (1696), Sun (1713), Union (1714), London (1714)… Sau đó, bảo hiểm cháy mở rộng ra các nước khác trên lục địa Châu Âu: ở Đức năm 1667, Pháp năm 1686. Sang thế kỷ XVIII, nhiều công ty bảo hiểm hoả hoạn nổi tiếng ở Mỹ cũng ra đời.

    Bảo hiểm nhân thọ ra đời khá sớm sau bảo hiểm hàng hải nhưng do thiếu cơ sở khoa học nên bị nhà thờ cấm đoán. Đến thế kỷ 17, Ferma, Pascal và sau đó là Bernouli khai sinh và phát triển xác suất thống kê toán. Cơ sở khoa học của bảo hiểm đã được hình thành. Công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời ở Anh vào năm 1762. Đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, các nghiệp vụ bảo hiểm mới nối tiếp nhau ra đời để bảo đảm cho các rủi ro mới: bảo hiểm hàng không, bảo hiểm rủi ro xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm khai thác dầu khí… Bên cạnh các công ty bảo hiểm, các tổ chức tái bảo hiểm ra đời càng góp phần mang lại những bước phát triển ngày mạnh mẽ và vững chắc của bảo hiểm trên toàn thế giới.

    2. Sự hình thành và phát triển ngành bảo hiểm  ở Việt Nam

    2.1. Quá trình hình thành và phát triển

    Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của ngành bảo hiểm thế giới do nhiều điều kiện chủ quan cũng như khách quan. Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo hiểm đang dần dần bắt kịp xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu vực và quốc tế và ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của mình đối với nền kinh tế. Chúng ta có thể nhận thấy điều này khi theo dõi quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ những ngày đầu đến nay.

    2.1.1.  Trước năm 1986

    Hoạt động bảo hiểm ở nước ta ít nhiều cũng đã có những bước phát triển ngay từ thời thực dân Pháp. Cho tới khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở miền Nam khá phát triển dưới chế độ Ngụy quyền.

                  *  Ở miền Nam trước năm 1975, có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã triển khai các loại hình nghiệp vụ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm chuyên chở, bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động… Các công ty hoạt động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần nào nhu cầu về bảo hiểm trên toàn thị trường miền Nam. Các công ty bảo hiểm trong nước thường được thành lập dưới dạng Hội vô danh và Hội tương hỗ. Các công ty nước ngoài thành lập ở Việt Nam dưới hình thức công ty chi nhánh. Hầu hết các công ty đều đặt trụ sở chính ở Sài Gòn. Mạng lưới trung gian bảo hiểm là môi giới và đại lý bảo hiểm được sử dụng phổ biến để kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi toàn miền Nam. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh lành mạnh, các công ty bảo hiểm đã sớm thành lập hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm của mình. Hiệp hội có chức năng thông tin tư vấn, đào tạo, tạo ra một môi trường hợp tác. Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được thực hiện thông qua Bộ Tài chính. Các văn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo hiểm cũng sớm ra đời. Ngoài ra, Hội đồng tư vấn bảo hiểm  quốc gia cũng đóng vai trò khá quan trọng.

                  *  Ở miền Bắc trước năm 1975, hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi có sự ra đời của Bảo Việt. Để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, ngày 17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Công ty Bảo hiểm Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt. Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt chính thức đi vào hoạt động. Đây cũng là công ty bảo hiểm Nhà nước duy nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Từ ngày thành lập cho đến trước năm 1975, do những điều kiện khó khăn của chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt ở miền Bắc chưa phát triển. Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ có trụ sở ở Hà Nội và chi nhánh ở Hải Phòng thực hiện chủ yếu 3 nghiệp vụ: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tàu và tái bảo hiểm. Tỉ lệ tái bảo hiểm cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba Lan lúc đó cũng tương đối cao.

                  *  Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cũng như tất cả các ngành kinh tế khác, các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam được tiến hành quốc hữu hoá. Công ty Bảo hiểm và Tái bảo hiểm Việt Nam được thành lập để thực hiện tiếp trách nhiệm của các công ty cũ đối với những người được bảo hiểm muốn tiếp tục hợp đồng. Đối với các công ty bảo hiểm nước ngoài, công ty có trách nhiệm thanh toán và đòi nợ theo đúng hợp đồng. Năm 1976, khi hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, công ty được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Thời kỳ này, Bảo Việt là công ty duy nhất hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch toán kế toán kinh tế thống nhất toàn ngành. Công ty trực thuộc Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ Tài chính thống nhất quản lý công tác bảo hiểm Nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước. Trong giai đoạn này, ở Việt Nam, Bảo Việt độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo hiểm. Có thể nói, thời gian này, hoạt động bảo hiểm ở nước ta vẫn chưa phát triển.

    2.1.2. Từ năm 1986 đến nay

    Năm 1986 đánh dấu một bước ngoạt trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI diến ra vào năm này đã đưa ra chính sách đổi mới, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh theo các quy định của pháp luật. Đồng thời, Việt Nam cũng đã tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư từ nhiều quốc gia, khu vực. Hoạt động sản xuất – kinh doanh từng bước phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao đòi hỏi ngành bảo hiểm cũng phải đổi mới để đáp ứng nhu cầu, thích hợp với hoàn cảnh mới. Sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm mới, công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài… sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển bảo hiểm ở nước ta.

    Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được Chính phủ ban hành, mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Nó phá vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế. Mặc dù vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời: Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO… và các công ty liên doanh bảo hiểm như: UIC, VIA,… Ngoài ra, với khoảng 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài và hơn 70.000 đại lý bảo hiểm thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triển ngày một sôi động.

    Việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng như sự xuất hiện của các công ty mới đã tạo điều kiện cho bảo hiểm phát triển mạnh mẽ trong một môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Các công ty liên tục hoàn thiện những sản phẩm cũ, đồng thời nghiên cứu và giới thiệu những loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới đa dạng và hấp dẫn. Người tham gia bảo hiểm có thể tự do lựa chọn người bảo hiểm, loại hình dịch vụ bảo hiểm với mức phí cạnh tranh nhất. Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽ ngày càng đa dạng hơn và số lượng, chủng loại sản phẩm chắc chắn sẽ còn được rộng mở. Không chỉ có vậy, để nâng cao tính cạnh tranh, công tác chăm sóc khách hàng cũng ngày càng được chú trọng. Bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một thị trường vẫn đang rất giàu tiềm năng phát triển.

    2.2. Vài nét về Luật kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam

    Nền kinh tế thị trường mở ra nhiều cơ hội kinh doanh, nhưng đồng thời, nó cũng đặt ra yêu cầu phải có những biện pháp quản lý thích hợp: chặt chẽ mà vẫn đảm bảo tính linh hoạt. Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm Việt Nam, có thể thấy, ngành bảo hiểm hiện nay đã tiến bước sang một giai đoạn mới. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng trở nên sôi động hơn, mức độ cạnh tranh cũng dần quyết liệt hơn nhiều. Yêu cầu phải có một luật riêng điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm là vô cùng cấp thiết bởi hệ thống văn bản pháp lý liên quan vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ.

    Thấy rõ tầm quan trọng của bảo hiểm đối với nền kinh tế – xã hội, đặc biệt là sự cần thiết của việc quản lý các doanh nghiệp bảo hiểm, ngày 09/12/2000, Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 8 đã ban hành Luật kinh doanh Bảo hiểm (Luật KDBH). Đây là luật đầu tiên quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm. Luật KDBH sẽ góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Kể từ khi có hiệu lực thi hành vào ngày 01/04/2001, Luật KDBH đã phát huy tác dụng và chứng tỏ được vai trò của mình trong việc thực hiện các mục tiêu Nhà nước đã đề ra.

    Luật KDBH gồm 9 chương 129 điều, với các nội dung chính như sau:

    • Chương I (11 điều): Những quy định chung
    • Chương II (45 điều): Hợp đồng bảo hiểm, trong đó:

    + Mục I (18 điều): Quy định chung về hợp đồng bảo hiểm

    + Mục II (9 điều): Hợp đồng bảo hiểm con người

    + Mục III (12 điều): Hợp đồng bảo hiểm tài sản

    + Mục IV (6 điều): Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

    • Chương III (26 điều): Doanh nghiệp bảo hiểm, trong đó:

    + Mục I (12 điều): Cấp giấy phép thành lập và hoạt động

    + Mục II (4 điều): Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

    + Mục III (3 điều): Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm

    + Mục IV (7 điều): Khôi phục khả năng thanh toán, giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo hiểm

    • Chương IV (10 điều): Đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, trong đó:

    + Mục I (5 điều): Đại lý bảo hiểm

    + Mục II (5 điều): Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    • Chương V (11 điều): Tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo tài chính
    • Chương VI (15 điều): Doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài
    • Chương VII (3 điều): Quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
    • Chương VIII (4 điều): Khen thưởng và xử lý vi phạm
    • Chương IX (3 điều): Điều khoản thi hành

    Luật KDBH đã quy định chi tiết về các loại hợp đồng bảo hiểm, về các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động ở Việt Nam, đồng thời đưa ra những nội dung cơ bản về công tác quản lý… Việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho DNBH như điều kiện, hồ sơ, thời hạn cấp giấy phép… được đề cập đến một cách khá cụ thể. Luật cũng dành ra một chương quy định cụ thể về việc cấp phép, hình thức, nội dung hoạt động… của DNBH có vốn đầu tư nước ngoài.

    Một điểm mà đáng lưu tâm ở Luật KDBH là các quy định về doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH). Xuất phát từ các đặc trưng riêng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các DNBH được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam có các đặc trưng pháp lý riêng. Công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân không được phép thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm vì hai loại hình doanh nghiệp này chưa đáp ứng được các yêu cầu về bộ máy quản lý và kiểm soát, về quy mô và khả năng huy động vốn để tham gia kinh doanh. Mặt khác, do tính chất pháp lý riêng, DNBH phải hoạt động ổn định, tồn tại lâu dài và không phụ thuộc vào sự thay đổi về chủ sở hữu. Như vậy, việc thành lập DNBH tại Việt Nam có những điểm khác biệt so với những quy định tại các luật khác như Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

    Các quy định về vấn đề trên khá chi tiết và cụ thể cho thấy nỗ lực của Nhà nước trong việc tạo ra một môi trường pháp lý đầy đủ và hoàn thiện hơn. Qua hơn 2 năm đi vào thực hiện, Luật KDBH đã thực hiện tốt các chức năng của nó và đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản về mặt quản lý, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở nước ta. Tuy nhiên, do còn thiếu nhiều kinh nghiệm phát triển và quản lý, Luật KDBH vẫn còn nhiều chỗ chưa được phù hợp với thực tế. Việc sửa đổi, bổ sung sao cho hợp lý, kịp thời đòi hỏi rất nhiều nỗ lực từ phía Nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, cũng như sự đóng góp ý kiến xác đáng từ các cá nhân, tổ chức có liên quan.

    IV.         II. CÁC TỔ CHỨC KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    Thị trường kinh doanh bảo hiểm Việt Nam đã trở nên rất sôi động từ sau khi Nhà nước có chủ trương đa dạng hoá các loại hình công ty kinh doanh bảo hiểm. Các công ty bảo hiểm mới lần lượt xuất hiện, phá bỏ tình trạng độc quyền kinh doanh trước đó. Hiện nay, trên thị trường đã có nhiều loại hình công ty hoạt động tích cực, tạo ra một môi trường cạnh tranh mới.

        1. Các công ty kinh doanh bảo hiểm

    Các công ty kinh doanh bảo hiểm, hay các doanh nghiệp bảo hiểm, là doanh nghiệp được thành lập tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật KDBH và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm. Theo Luật KDBH, doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước, công ty cổ phần bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

       

    Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt

    1.1. Doanh nghiệp nhà nước

    1.1.1  Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt)

    Bảo Việt được bắt đầu đi vào hoạt động từ 15/01/1965. Công ty có các đơn vị thành viên, các chi nhánh trên toàn quốc, đồng thời tham gia góp vốn vào nhiều công ty khác như công ty liên doanh Bảo hiểm Quốc tế (VIA), công ty liên doanh bảo hiểm Bảo Việt – AON (AIB), công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt, quỹ đầu tư Quốc gia… Ngoài ra, Bảo Việt đã thành lập Công ty đại lý bảo hiểm tại Anh Quốc BAVINA (UK) Ltd và hiện có mối quan hệ với hơn 40 quốc gia trên khắp thế giới.

    Với kinh nghiệm, uy tín và nỗ lực hoàn thiện không ngừng, Bảo Việt đang chứng tỏ mình vẫn là doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Tổng doanh thu kinh doanh năm 2002 đạt 3.787 tỷ đồng, tăng 40% so với năm trước, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm đạt 3.367 tỷ. Tổng giá trị tài sản của công ty đạt 6.726 tỷ đồng. Xét về hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận trước thuế toàn tổng công ty ước đạt 129 tỷ, nộp ngân sách cũng đạt 110 tỷ đồng.

    Đến hết 6 tháng đầu năm 2003, doanh thu phí đạt gần 800 tỷ đồng, thị phần bảo hiểm phi nhân thọ đạt 46%, thị phần bảo hiểm nhân thọ cũng đạt 42%. Công ty dự kiến tổng doanh thu năm 2003 sẽ đạt gần 5.000 tỷ đồng, trong đó bảo hiểm nhân thọ chiếm khoảng 2.800 tỷ đồng, bảo hiểm phi nhân thọ chiếm khoảng 1.600 tỷ đồng và đầu tư tài chính là 450 tỷ đồng. Vào thời điểm cuối năm 2003, tổng giá trị tài sản của Bảo Việt ước đạt hơn 8.000 tỷ đồng. Trong năm 2003, Bảo Việt tiếp tục tham gia vào các dự án đầu tư lớn như dự án xây dựng dàn khoan của Tổng công ty Dầu khí trị giá gần 2 triệu USD, góp vốn đầu tư xây dựng cao ốc Ký Con trị giá 1 triệu USD. Tới nay, thu từ hoạt động đầu tư đã lên tới 200 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% tổng doanh thu của công ty. (Nguồn: Thông tin từ hoạt động kinh doanh của Bảo Việtwww.baoviet.com.vn, ngày 21/11/2003). Thời gian tới, công ty sẽ được Nhà nước đầu tư thêm về vốn để trở thành tập đoàn tài chính – bảo hiểm vững mạnh nhất Việt Nam.

    1.1.2. Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) trước đây là một thành viên của Bảo Việt, được tách ra hoạt động độc lập vào năm 1995. Bảo Minh là doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước lớn thứ hai sau Bảo Việt, kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và làm đại lý bồi thường và giám định tổn thất cho nhiều công ty bảo hiểm nước ngoài và hội P&I. Hiện nay, số vốn điều lệ của công ty là 67 tỷ đồng và sắp tới sẽ được tăng lên thành 70 tỷ đồng. Hiện nay, công ty có 22 chi nhánh và 6 văn phòng đại diện trên toàn quốc và có mối quan hệ hợp tác với nhiều công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm nước ngoài. Bảo Minh đã góp vốn thành lập hai công ty liên doanh bảo hiểm là UIC và  Bảo Minh – CMG.

    Năm 2002, tổng phí bảo hiểm gốc lĩnh vực tài sản – kỹ thuật và thiệt hại của Bảo Minh đạt gần 70 tỷ đồng, tăng hơn 143% so với năm 2001. Thị phần năm 2002 của công ty là 28,08%. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt) Bảo Minh đã cùng với Bảo Việt, PJICO, Allianz đồng bảo hiểm một số công trình có giá trị lớn như công trình đường Hồ Chí Minh, cầu Mỹ Thuận với phí bảo hiểm 78,5 triệu đôla Australia, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 3.250 triệu USD, thuỷ điện Đại Ninh 160 triệu USD… (Nguồn: www.vneconomy.com.vn, ngày 30/10/2003)

    1.1.3. Bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVI)

    PVI là công ty bảo hiểm chuyên ngành đầu tiên ở nước ta, trực thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), được thành lập năm 1996 với số vốn 20 tỉ đồng. Công ty chủ yếu hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí. Hiện nay, tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, PVI là một trong 3 công ty đạt doanh thu trên 500 tỷ đồng/năm. Nếu tính các chỉ tiêu năng suất lao động, tỷ suất lợi nhuận và nộp ngân sách trên đầu người, PVI được đánh giá là doanh nghiệp dẫn đầu trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Thị phần năm 2002 của công ty đã đạt 14,5%. Tính đến hết tháng 9/2003, PVI đã đạt doanh thu 426 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch cả năm 2003 do PetroVietnam giao (Nguồn: PVI, 2003). Theo số liệu công bố mới nhất của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2003, PVI là một trong những công ty có tốc độ tăng trưởng cao nhất thị trường, đồng thời dẫn đầu thị trường về bảo hiểm dầu khí, hàng hải, xây dựng lắp đặt.

    1.2. Công ty cổ phần

    1.2.1. Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO)

    Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) được thành lập ngày 15/06/1995. Các cổ đông sáng lập của công ty đều là những tổ chức kinh tế lớn của Nhà nước, có uy tín và tiềm năng: Petrolimex, Vietcombank, VINARE, Tổng công ty thép Việt Nam, công ty điện tử Hà Nội… Là công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên ra đời tại Việt Nam, tới nay, PJICO vẫn giữ vị trí thứ 3 về bảo hiểm phi nhân thọ. Hiện nay, PJICO đang nhận bảo hiểm hàng nghìn công trình lớn nhỏ, với tổng giá trị hàng trăm nghìn tỷ đồng, trong đó nhiều công trình có giá trị bảo hiểm lên tới hàng trăm triệu USD như toà nhà Deawoo, Diamond Plaza, cảng xăng dầu B12, trung tâm HITC. Công ty cũng nhận bảo hiểm cho hàng vạn xe cộ cùng hàng triệu người lao động, học sinh trong các hoạt động sản xuất, học tập. Theo báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2003 của PJICO, doanh thu phí bảo hiểm của công ty đạt 138 tỷ đồng, đạt 60% kế hoạch cả năm. Tổng doanh thu kinh doanh (bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, đầu tư) của công ty đạt khoảng 160 tỷ đồng, đạt 52% kế hoạch đề ra.

    1.2.2. Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI)

    Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/9/1998 với tổng số vốn đầu tư là 70 tỉ đồng, thời hạn hoạt động là 50 năm. PTI là công ty bảo hiểm cổ phần do Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) phối hợp cùng với 6 cổ đông khác: VNPT là cổ đông lớn nhất với số vốn góp chiếm 41%, Bảo minh (10%), VINARE (8%), Ngân hàng Thương Mại cổ phần quốc tế Việt Nam, tổng công ty Xây dựng Hà Nội, Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam và Công ty vật tư Bưu điện I. Lợi thế của PTI là có được sự tham gia của các công ty, tổng công ty có nguồn vốn dồi dào và các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm giàu kinh nghiệm. Nếu như năm 2000, tổng thu phí của công ty mới đạt gần 73 tỷ đồng thì đến năm 2002 đã đạt gần 128 tỷ đồng, tăng 175%. Năm 2002, PTI chiếm 28,48% thị phần bảo hiểm gốc trong nghiệp vụ kỹ thuật. Hiện tại, công ty đang bảo hiểm cho hệ thống mạng điện thoại Cityphone với tổng giá trị bảo hiểm gần 177 tỷ đồng. Ngoài các đối tượng là đơn vị trong ngành, PTI đã phát triển dịch vụ bảo hiểm sang các ngành khác. (Nguồn: PTI, 2003)

    1.2.3. Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long)

    Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng được thành lập ngày 11/7/1995, với số vốn pháp định ban đầu là 22 tỉ đồng. Bảo Long là công ty cổ phần thứ hai ở Việt Nam, với sự tham gia của Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng cổ phần hàng hải, Ngân hàng cổ phần Á Châu, Ngân hàng Tân Việt và các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu lớn như PETEC, FIDECO, Huy Hoàng, Thêu may Thanh Ngọc… Bảo Long chủ yếu nhận bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt, đường hàng không, bảo hiểm thân tàu, trách nhiệm dân sự chủ tàu và các sản phẩm bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tai nạn con người, hoả hoạn… Bảo Long còn nhận và nhượng tái bảo hiểm trong nước và nước ngoài. Với sự tham gia của nhiều ngân hàng và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn, Bảo Long đã tạo được uy tín và đang ngày càng khẳng định vị thế của mình. Thị phần năm 2002 của công ty mới chỉ đạt 1,09% nhưng tiềm năng phát triển của công ty còn rất lớn. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.3. Công ty liên doanh

    1.3.1. Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh – CMG

    Bảo Minh – CMG là liên doanh bảo hiểm nhân thọ duy nhất ở Việt Nam giữa Bảo Minh và CMG – Colonial Mutual Group – tập đoàn bảo hiểm lớn nhất của Úc. Công ty được chính phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào cuối tháng 10 năm 1999, với số vốn điều lệ ban đầu là 6 triệu USD, nay đã được tăng lên 10 triệu USD. Bảo Minh – CMG đang dần trở thành một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ có sức cạnh tranh trên thị trường. Đầu năm 2002, công ty đã ký kết được hơn 15.000 hợp đồng mới với tổng doanh thu 45 tỷ đồng. (Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 5/2002). Thị phần và doanh thu của công ty vẫn liên tục tăng đều. Với uy tín và kinh nghiệm của hai đối tác là một công ty bảo hiểm Nhà nước và một công ty bảo hiểm quốc tế, Bảo minh – CMG đang giành được thị phần ngày càng lớn trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.

    1.3.2. Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế (VIA)

    VIA là công ty liên doanh bảo hiểm đầu tiên được hình thành bởi sự hợp tác giữa Bảo Việt, Tokyo Marine and Fire Insurance và Commercial Union Assurance trong đó, số vốn góp của Bảo Việt là 51% và mỗi công ty nước ngoài góp 24,5%. Năm 2001, Tokyo Marine and Fire Insurance mua lại toàn bộ cổ phần của Commercial Union Assurance. VIA bắt đầu hoạt động năm 1996 với tổng vốn đầu tư là 6 triệu USD, thời gian hoạt động là 25 năm. Với năng lực của các bên đối tác và sự cộng tác của các công ty tái bảo hiểm hàng đầu thế giới, hoạt động của VIA đã có nhiều bước phát triển mạnh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Năm 2000, tổng doanh thu phí bảo hiểm của công ty là 3,6 triệu USD và tổng lợi nhuận là 340.000 USD. Thị phần năm 2002 của công ty là 1,41%. (Nguồn: www.via.com.vn, ngày 22/11/2003)

    1.3.3. Công ty liên doanh bảo hiểm Việt – Úc (BIDV – QBE)

    Công ty liên doanh bảo hiểm Việt – Úc được thành lập năm 1999, với tổng vốn đầu tư là 4 triệu USD, thời gian hoạt động là 20 năm. Đây là kết quả của sự hợp tác giữa QBE – tập đoàn bảo hiểm và tái bảo hiểm lớn nhất, có hoạt động hơn 100 năm của Úc và Ngân hàng Đầu tư và phát triển của Việt Nam, mỗi bên góp 50% số vốn. Với sự tham gia của hai đối tác tin cậy, công ty có thể kết hợp kỹ năng chuyên môn bảo hiểm hàng đầu của Úc và của thế giới với sức mạnh và uy tín của một ngân hàng lớn của Việt Nam. Đây là công ty bảo hiểm có vốn nước ngoài đầu tiên được phép cung cấp trực tiếp các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ cho khách hàng Việt Nam. Công ty ra đời nhằm đa dạng hoá sản phẩm hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và phát triển, với cam kết đảm bảo an toàn cho vốn vay và hoạt động của các khách hàng tín dụng của ngân hàng. Các nghiệp vụ chủ yếu mà công ty cung cấp là: bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt, bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, bảo hiểm máy móc thiết bị xây dựng, bảo hiểm rủi ro trong xây dựng và lắp đặt…

    1.3.4. Công ty bảo hiểm liên hợp (United Insurance Company of Vietnam – UIC)

    Công ty bảo hiểm liên hiệp UIC được thành lập năm 1997 với số vốn điều lệ là 6 triệu USD, thời gian hoạt động là 25 năm. Đây là liên doanh giữa Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh và hai tập đoàn bảo hiểm lớn của Nhật là: Mitsui Marine and Fire Insurance Co và The Yasuda Fire and Marine Insurance Co, trong đó, Bảo Minh góp 51%, mỗi bên nước ngoài góp 24,5%. Với sự am hiểu thị trường bảo hiểm Việt Nam của Bảo Minh và kinh nghiệm hoạt động lâu năm, công nghệ bảo hiểm hiện đại, khả năng tài chính vững chắc của hai tập đoàn bảo hiểm lớn nhất Nhật Bản, UIC đang không ngừng phát triển. Thị phần của công ty tăng từ 1,62% năm 1998 lên 2% năm 2002. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.3.5. Công ty TNHH bảo hiểm Samsung –  Vina

    Công ty TNHH bảo hiểm Samsung – Vina được thành lập năm 2002, với số vốn điều lệ là 5 triệu USD, hoạt động trên lĩnh vực phi nhân thọ. Đây là liên doanh giữa công ty VINARE và công ty Samsung Fire Marine Insurance với tỷ lệ góp vốn mỗi bên là 50%. Công ty bảo hiểm Samsung – Vina,  sẽ tận dụng được lợi thế là các khách hàng Hàn Quốc ở Việt Nam. Hiện nay, do Hàn Quốc đang đứng thứ tư về đầu tư vào Việt Nam với số vốn là khoảng 3,7 tỷ USD, công ty đang có tiềm năng phát triển rất lớn. Sắp tới, khi VINARE được cổ phần hoá, công ty bảo hiểm Samsung – Vina sẽ được củng cố và hoạt động của công ty sẽ tập trung vào các chiến lược kinh doanh có hiệu quả.

    1.3.6. Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Châu Á – Ngân hàng Công thương (IAI)

    IAI là liên doanh giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam – một trong bốn Ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam và công ty bảo hiểm Châu Á – một trong những công ty bảo hiểm lâu đời và uy tín nhất tại Singapore vừa chính thức khai trương hoạt động tại Việt Nam. Với số vốn điều lệ là 6 triệu USD trong đó mỗi bên đối tác góp 50%, IAI được phép khai thác và nhận bảo hiểm tất cả các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ. Ngoài ra, công ty cũng được phép nhượng và nhận tái bảo hiểm, quản lý rủi ro, giám định tổn thất, xét bồi thường, đòi người thứ ba bồi hoàn, tham gia đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Ngoài kinh nghiệm và uy tín của cả hai bên đối tác, mạng lưới 600 văn phòng, chi nhánh giao dịch và quỹ tiết kiệm trên toàn quốc của Ngân hàng Công thương cũng như mạng lưới kinh doanh bảo hiểm rộng khắp khu vực Đông Nam Á của Công ty bảo hiểm Châu Á cho thấy IAI sẽ là một mô hình hợp tác hiệu quả và có một tiềm năng phát triển rất lớn.

    1.4. Công ty 100% vốn nước ngoài

    1.4.1. Công ty TNHH bảo hiểm Prudential

    Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất nước Anh và cũng là một trong những tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới, quản lý hơn 250 tỷ USD và khoảng 21.000 nhân viên trên toàn cầu. Prudential khai trương văn phòng đại diện thứ nhất tại Việt Nam từ năm 1995 và được chính phủ cấp giấy phép đầu tư vào tháng 10/1999. Hiện nay, Prudential đã có hơn 1,5 triệu khách hàng Việt Nam và với năng lực cạnh tranh của mình, thị phần bảo hiểm nhân thọ của công ty năm 2002 đã đạt 34,94%, chỉ sau Bảo Việt. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    Tháng 6/2001, Prudential Việt Nam đã tăng vốn từ 15 triệu lên 40 triệu USD, và tháng 10/2002 công ty tiếp tục tăng vốn lên 61 triệu USD. Với số vốn đầu tư ngày càng tăng, Prudential đang tạo ra một khả năng tài chính vững chắc để có thể đầu tư vào việc đa dạng hoá sản phẩm và xây dựng hệ thống phục vụ hiệu quả nhằm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu của khách hàng. Prudential hiện có các văn phòng giao dịch, văn phòng đại lý và trung tâm phục vụ khách hàng tại 14 tỉnh, thành phố trên toàn quốc (Nguồn: prudential.com.vn, ngày 1/12/2003). Sự xuất hiện của Prudential trên thị trường bảo hiểm nhân thọ với những sản phẩm bảo hiểm nhiều ưu đãi, công tác chăm sóc khách hàng chu đáo đã tạo ra một không khí cạnh tranh mới.

    1.4.2. Công ty TNHH bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIA)

    AIA là công ty thành viên 100% vốn của tập đoàn AIG – tập đoàn hàng đầu trên thế giới về bảo hiểm và dịch vụ tài chính, đồng thời là tập đoàn thẩm định hàng đầu trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp tại Mỹ. AIA được thành lập năm 1931, là một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ hoạt động lâu đời nhất tại Châu Á. AIA đã có hoạt động tại Việt Nam từ trước năm 1975

    và quay trở lại vào năm 1993. Công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ AIA Việt Nam được chính phủ cấp phép thành lập ngày 22/02/2000, với số vốn điều lệ là 10 triệu USD và thời gian hoạt động là 50 năm. Năm 2002, công ty đã được Bộ Tài chính phê duyệt tăng vốn lên 25 triệu USD.

    AIA là công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài đầu tiên được phép cung cấp sản phẩm nhóm tại thị trường Việt Nam: bảo hiểm nhân thọ nhóm, bảo hiểm tử vong và tàn tật do tai nạn, bảo hiểm hỗ trợ viện phí nhóm. AIA Việt Nam hiện đang hỗ trợ dự án đầu tư trị giá 580 triệu USD của AIG tại Khu công nghiệp Đình Vũ. Ngoài ra, công ty cũng đã chính thức tham gia đấu thầu trái phiếu chính phủ. Thị phần năm 2002 của công ty là 4,4%. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.4.3. Công ty TNHH bảo hiểm Manulife

    Manulife Việt Nam vốn là công ty Chinfon – Manulife – liên doanh bảo hiểm giữa Chifon Global Group (Đài Loan), tập đoàn có số vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam và Manulife Financial (Canada). Liên doanh này được cấp giấp phép hoạt động vào năm 1999, sau đó Manulife tiến hành mua lại cổ phần của Chinfon. Công ty cung cấp cho khách hàng Việt Nam đầy đủ các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ/tiết kiệm, thu nhập hưu trí. Các sản phẩm chính của công ty là bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, bảo hiểm giáo dục hỗn hợp, bảo hiểm bổ sung (trợ cấp y tế, tai nạn).

    Đầu năm 2002, công ty đã có 4.600 đại lý và hơn 100.000 hợp đồng còn hiệu lực. Năm 2002, công ty đã xin phép Bộ Tài chính cho tăng vốn điều lệ từ 5 triệu USD lên 10 triệu USD. Việc tăng vốn này sẽ giúp tăng thêm sức mạnh cho công ty để cạnh tranh cùng các tập đoàn bảo hiểm nước ngoài khác như Prudential, AIA… Năm 2002, thị phần bảo hiểm nhân thọ của công ty là 11,92%, đứng thứ 3 tại Việt Nam. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.4.4. Công ty TNHH bảo hiểm Allianz

    Allianz là công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài đầu tiên và duy nhất hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, được thành lập năm 1999, với số vốn điều lệ là 5 triệu USD. Đây vốn là liên doanh giữa Allianz và AGF, tuy nhiên, mới đây, Allianz đã mua lại toàn bộ phần vốn góp là 49% của AGF. Hoạt động của Allianz sẽ tạo những cơ hội hợp tác, chuyển giao công nghệ trên lĩnh vực bảo hiểm với các doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay, công ty cung cấp các dịch vụ chủ yếu sau: bảo hiểm tài sản và các bảo hiểm liên quan đến tài chính, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm phương tiện giao thông, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm thân tàu, tái bảo hiểm… Allianz chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng là các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 2000, Allianz đã có được thị phần là 0,89% và thị phần năm 2002 là 2,62%. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.4.5. Công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam

    Groupama Việt Nam được thành lập năm 2002 với số vốn pháp định là 5 triệu USD, thời gian hoạt động là 30 năm. Đây là công ty 100% vốn nước ngoài được thành lập bởi Groupama – tập đoàn bảo hiểm tổng hợp của Pháp và cũng là một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất Châu Âu. Groupama là công ty bảo hiểm nước ngoài đầu tiên được phép kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm thiệt hại ở khu vực nông thôn Nam Bộ. Công ty cung cấp các dịch vụ về sản xuất nông nghiệp và cuộc sống nông thôn, bảo hiểm cây trồng, vật nuôi, tài sản, thiệt hại, vận tải hàng hoá, trách nhiệm công cộng tai nạn con người, đầu tư, giám định và phân bổ tổn thất…

    Tuy mới áp dụng ở Việt Nam từ cuối năm 2002 đến nửa đầu năm 2003, Groupama Việt Nam đã thu hút được 1.850 hợp đồng bảo hiểm các loại vật nuôi. Thời gian đầu công ty chấp nhận lỗ hoặc hoà vốn để lấy niềm tin của nông dân do bảo hiểm nông nghiệp rất có tiềm năng ở Việt Nam. Trong năm 2003, Groupama Việt Nam đã mở rộng mạng lưới hoạt động tại 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền Đông Nam bộ. Công ty đã ký hợp đồng với Ngân hàng Nông nghiệp – phát triển nông thôn trong việc thực hiện dự án bảo hiểm trọn gói 6 loại vật nuôi cho nông dân. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 7/2003)

    1.5. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

    Theo Luật KDBH Việt Nam, tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên. Thành viên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu, vừa là bên mua bảo hiểm. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ do Chính phủ quy định.

    Thực chất, đây là một hình thức bảo hiểm theo nhóm, trong đó các thành viên lập và duy trì một quỹ chung được sử dụng khi có tổn thất xảy ra với thành viên. Đây là mô hình được hình thành sớm nhất, tạo nền móng cho các tổ chức kinh doanh bảo hiểm và ngày nay phát triển rất mạnh trong các lĩnh vực như bảo hiểm nông nghiệp, hành hải và bảo hiểm nhân thọ. Rất nhiều công ty bảo hiểm hàng đầu hiện nay là công ty bảo hiểm tương hỗ. Về bản chất kinh doanh, công ty bảo hiểm tương hỗ cũng hoạt động vì mục đích lợi nhuận, nhưng loại hình công ty này nhằm phục vụ lợi ích cho chính những thành viên của mình (chủ sở hữu công ty). Ngoài ra, nó còn đảm bảo được tính độc lập và ổn định do không bị mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán (công ty bảo hiểm tương hỗ không phát hành cổ phiếu)

    Tại Việt Nam, thị trường bảo hiểm chưa phát triển cao, các doanh nghiệp bảo hiểm tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu nhưng tổ chức bảo hiểm tương hỗ chưa thực sự hình thành. Trong khi đó, mô hình tổ chức bảo hiểm tương hỗ ở Việt Nam rất phù hợp với tính chất và đặc thù của nền kinh tế do 80% dân số Việt Nam vẫn làm nông nghiệp. Bảo hiểm tương hỗ có ý nghĩa tích cực trong việc giúp những hộ làm nông nghiệp, thuỷ sản… có sự đảm bảo về tài chính trước rủi ro mất mùa, dịch bệnh, thiên tai… Hiện nay, Việt Nam mới thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ dưới dạng quỹ bảo hiểm ngành trên các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản. Hiện nay, Quỹ bảo hiểm rủi ro tín dụng giữa các ngân hàng cũng đang được nghiên cứu để triển khai.

        2. Tổ chức tái bảo hiểm

    Cũng như hầu hết các công ty Trách nhiệm hữu hạn khác, nhiều công ty bảo hiểm được thành lập với một số vốn nhất định. Do vậy, các công ty chỉ có khả năng nhận bảo hiểm cho một số rủi ro giới hạn trong phạm vi số vốn này. Tuy nhiên, trên thực tế kinh doanh, công ty có thể nhận được đơn bảo hiểm với số tiền bảo hiểm vượt xa khả năng bồi thường của mình. Vì vậy, để có thể bảo hiểm cho những rủi ro lớn như vậy, các công ty bảo hiểm phải nhờ tới các công ty tái bảo hiểm khác trên thị trường. Các công ty tái bảo hiểm có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định kinh doanh cho các công ty bảo hiểm khi xảy ra rủi ro với các đối tượng có giá trị bảo hiểm lớn.

    Theo Luật KDBH của Việt Nam, kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Ở Việt Nam hiện nay, khi thị trường bảo hiểm đang trong quá trình hình thành và phát triển, số lượng công ty bảo hiểm trong nước còn ít, năng lực vốn còn hạn chế, lại chịu sự cạnh tranh từ các công ty bảo hiểm quốc tế, việc thành lập Công ty tái bảo hiểm quốc gia (VINARE) là rất cần thiết và hợp lý.

    VINARE thành lập ngày 27/09/1994, chính thức đi vào hoạt động ngày 01/01/1995 với số vốn được cấp ban đầu là 40 tỷ đồng. Hiện nay, vốn điều lệ của công ty là 40,5 tỷ đồng, và sẽ được tăng lên thành 70 tỷ đồng trong hai năm 2003 – 2004. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003). VINARE hoạt động trên các lĩnh vực bảo hiểm tai nạn cháy, nổ, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển, bảo hiểm thân tàu, P&I, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm nhân thọ.

    3. Các tổ chức trung gian bảo hiểm

    Trong quá trình kinh doanh, để tăng cường hiệu quả hoạt động, các công ty bảo hiểm thường phải sử dụng các trung gian bảo hiểm gồm đại lý  bảo hiểm và môi giới bảo hiểm. Các trung gian bảo hiểm được phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, song họ không tạo ra các sản phẩm bảo hiểm, không mua bán các sản phẩm bảo hiểm mà làm cầu nối giữa người được bảo hiểm, công ty bảo hiểm gốc, công ty tái bảo hiểm. Hoạt động của các trung gian bảo hiểm là rất cần thiết trong việc tạo sự gặp nhau giữa cung và cầu trên thị trường.

    3.1. Đại lý bảo hiểm

    Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hoạt động đại lý bảo hiểm, thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm. Nội dung hoạt động của đại lý bảo hiểm là: giới thiệu, chào bán bảo hiểm; thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; thu phí bảo hiểm; thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và thực hiện các hoạt động khác liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm đều chú ý xây dựng hệ thống đại lý bảo hiểm bởi tầm quan trọng của nó. Đại lý bảo hiểm giúp doanh nghiệp bảo hiểm triển khai hoạt động trên một phạm vi rộng lớn, đưa sản phẩm bảo hiểm đến từng địa phương, cơ sở, đến tận đối tượng có nhu cầu bảo hiểm, từ đó góp phần làm tăng doanh thu, thị phần cho doanh nghiệp bảo hiểm. Đến nay, ở Việt Nam đã có 70.568 đại lý bảo hiểm nhân thọ và 10.548 đại lý bảo hiểm phi nhân thọ (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003). Đội ngũ đại lý này đang dần trở nên chuyên nghiệp hơn với chuyên môn, phong cách phục vụ, đạo đức nghề nghiệp được nâng cao.

    3.2. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    Theo Luật KDBH Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm với các nội dung như cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm… cho bên mua bảo hiểm, đồng thời, tư vấn cho bên mua trong việc đánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng tiền hành đàm phán, thu xếp giao kết và thực hiện các công việc khác liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua. Hiện trên thế giới có trên 85% các rủi ro công nghiệp được bảo hiểm qua môi giới. Môi giới bảo hiểm làm tăng thêm lợi ích cho cả người được bảo hiểm và các công ty bảo hiểm. Ở Việt Nam, sự góp mặt của các môi giới bảo hiểm đã ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Chính các nhà môi giới đã đem lại dịch vụ cho các công ty bảo hiểm trong nước và góp phần thiết kế các sản phẩm mới.

    Công ty liên doanh dịch vụ bảo hiểm Bảo Việt – AON (AIB) là doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam. Đây là công ty liên doanh giữa Bảo Việt và tập đoàn bảo hiểm Inchcape của Anh (sau này thuộc tập đoàn bảo hiểm AON của Mỹ), được thành lập năm 1993 với số vốn điều lệ là 250.000 USD. AIB bắt đầu hoạt động từ tháng 6/1994 với nhiệm vụ thuyết phục các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tham gia bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm Việt Nam. Công ty đã góp phần không nhỏ trong việc giúp đỡ các nhà đầu tư vào Việt Nam, giúp tiết kiệm ngoại tệ của đất nước, đồng thời góp phần đáng kể vào việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Mới đây, Bộ Tài chính vừa cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt. Đây là công ty môi giới bảo hiểm có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam hiện nay với số vốn điều lệ là 6 tỷ đồng. Các lĩnh vực hoạt động chính của công ty sẽ là môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm. Cụ thể là công ty sẽ cung cấp các dịch vụ môi giới bảo hiểm theo theo các nội dung quy định của Luật KDBH. Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt sẽ cùng với AIB góp phần vào sự lớn mạnh của bảo hiểm Việt Nam. Tháng 9/2003, Gras Savoye, công ty môi giới bảo hiểm lớn nhất nước Pháp và lớn thứ 3 thế giới cũng đã chính thức hoạt động tại Việt Nam thay vì chỉ có văn phòng đại diện như trước kia.

    4. Hiệp hội bảo hiểm  Việt Nam (AIV)

    Trong bối cảnh ngành bảo hiểm Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, các công ty đều phải rất nỗ lực để cạnh tranh để có thể tồn tại và lớn mạnh. Trong quá trình đó, các công ty bảo hiểm cũng gặp phải nhiều khó khăn chung buộc họ phải hợp tác với nhau để cùng giải quyết. Để đảm bảo thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh, Chính phủ và Bộ Tài chính đã cho phép thành lập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam – một tổ chức phi chính phủ, đại diện cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường. Hiệp hội được thành lập để các thành viên có thể cùng hợp tác, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, góp phần xây dựng thị trường bảo hiểm Việt Nam ổn định và phát triển.

    Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã được thành lập ngày 24/09/1999 với 10 sáng lập viên là các công ty bảo hiểm hàng đầu trên thị trường Việt Nam như: Bảo Việt, Bảo Minh, VINARE, các công ty bảo hiểm cổ phần và liên doanh bảo hiểm… và đến nay, Hiệp hội đã được mở rộng lên thành 16 thành viên. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam có nhiệm vụ đại diện cho các hội viên, tham gia đóng góp ý kiến vào việc soạn thảo các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan. Đồng thời, Hiệp hội cũng đứng ra tổ chức tuyên truyền bảo hiểm trong và ngoài nước, thiết lập mối quan hệ với các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế và các đoàn thể có liên quan đến hoạt động của Hiệp hội, hợp tác với các hiệp hội bảo hiểm các nước. Khi cần thiết, Hiệp hội thực hiện việc hoà giải tranh chấp giữa các hội viên, kiến nghị với các cơ quan chức năng của Nhà nước về việc xử lý các trường hợp vi phạm luật trong lĩnh vực bảo hiểm. Trong quá trình hoạt động của mình, Hiệp hội đã chứng tỏ vai trò là tổ chức đại diện cho tiếng nói và quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời, cũng là tổ chức đứng ra phối hợp hoạt động của các thành viên.

    Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam ra đời hoàn toàn đúng lúc và đáp ứng sự cấp thiết của thị trường, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trên con đường phát triển bảo hiểm Việt Nam. Đây cũng là bước mở đầu cho sự tăng cường hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, lành mạnh hóa và thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển đúng đường lối, chính sách mà Nhà nước đã đề ra. Tuy nhiên, do mới được thành lập, lại chưa có kinh nghiệm quản lý, khả năng điều tiết của Hiệp hội còn rất hạn chế. Hiệp hội chưa xây dựng được các quy chế gắn kết quyền lợi của các thành viên cũng như chưa có một quy chế tự quản thích hợp. Tổ chức Hiệp hội cũng thiếu cơ quan giám sát thi hành các thoả thuận của các thành viên, dẫn tới hiện tượng vượt rào về mức phí thoả thuận cạnh tranh, tranh giành đại lý giữa các thành viên…

    V.     THỰC TRANG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

    Sau hơn 10 năm mở cửa thị trường, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới với những bước phát triển nhanh chóng. Thị trường bảo hiểm có sự tham gia ngày càng đông đảo của các công ty bảo hiểm. Số lượng công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng tăng, với các loại hình sở hữu đa dạng. Số lượng các sản phẩm bảo hiểm tăng lên nhanh chóng ở cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ thuộc cả ba lĩnh vực bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Sự đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ cùng với việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng nhằm tạo ra tính cạnh tranh của các công ty đã và đang từng bước thoả mãn tốt hơn nhu cầu của các khách hàng.

    Tổng hợp một số chỉ tiêu bảo hiểm chủ yếu

    Đơn vị: tỷ đồng

    Chỉ tiêu 1993 1996 1999 2002 Tăng trưởng bình quân 1993 – 2002
    1. Doanh thu phí bảo hiểm 700 1.264 2.901 6.992 29,1%
    – bảo hiểm phi nhân thọ 700 1.263 1.606 2.624 19,39%
    – bảo hiểm nhân thọ   0,95 485 4.268  
    2. Tỷ trọng phí bảo hiểm/GDP 0,37% 0,46% 0,52% 1,3%  
    3. Vốn kinh doanh 145 397 980 1900  
    4. Bồi thường bảo hiểm 120 760 789 1400  
    5. Dự phòng nghiệp vụ 188 741 2.020 8.330  
    6. Nộp ngân sách Nhà nước 68 82 145 290 17%

     Nguồn: Tạp chí Tài chính số 11/2003

    Doanh thu phí bảo hiểm thị trường tăng nhanh qua các năm với tỷ lệ đóng góp vào GDP ngày càng lớn, nộp ngân sách Nhà nước cũng ngày càng tăng. Sự phát triển của bảo hiểm cũng góp phần đem lại công ăn việc làm cho hàng vạn lao động. Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào hoạt động bảo hiểm cũng ngày một tích cực. Các doanh nghiệp bảo hiểm còn đã lập được nguồn vốn lớn và dài hạn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, trong đó, sự đóng góp của các công ty bảo hiểm nhân thọ chiếm tỷ lệ lớn. Hoạt động bảo hiểm thời gian qua đã thực sự đóng một vai trò tích cực trong việc ổn định nền kinh tế – xã hội, cũng như ổn định đời sống người dân, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    1. Thực trạng các mặt hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua

    Sau gần 20 năm mở cửa nền kinh tế và hơn 10 năm ngành bảo hiểm có những bước đổi mới và phát triển, ngành bảo hiểm Việt Nam đã thu được những thành tựu không nhỏ trên nhiều mặt, bên cạnh đó, cũng có những hạn chế cần được khắc phục. Để có được cái nhìn toàn diện, chi tiết hơn, chũng ta sẽ xem xét cụ thể các mặt của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua.

    1.1. Số lượng, loại hình sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm

    Kể từ sau khi Nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm ra đời, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt các công ty bảo hiểm ra đời thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đã tạo một diện mạo mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Luật KDBH Việt Nam ra đời càng tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các công ty được diễn ra lành mạnh và đúng hướng.

    Nếu như trước năm 1993, ở nước ta chỉ có Bảo Việt độc quyền kinh doanh, hoạt động dưới hình thức bao cấp thì đến hết năm 2002 đã có tới 23 doanh nghiệp thuộc nhiều loại hình sở hữu tham gia kinh doanh: các doanh nghiệp nhà nước là Bảo Việt, Bảo Minh, PVI và VINARE; các công ty cổ phần PJICO, PTI, Bảo Long; các doanh nghiệp liên doanh Bảo Minh – CMG, VIA, UIC, IAI, BIDV-QBE, Samsung – Vina và 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài gồm: Prudential, AIA, Manulife, Alianz, Groupama cùng với 5 công ty môi giới bảo hiểm: AIB, Đại Việt, Gras Savoye… Bên cạnh đó, sự hiện diện của hơn 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài có uy tín càng đẩy mạnh sự phát triển của ngành bảo hiểm (Nguồn: Báo Đầu tư số tháng 11/2003).

    1.2. Doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành

    Doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành có những bước tăng trưởng mạnh mẽ kể từ khi Nhà nước quyết định mở cửa ngành bảo hiểm. Trong thời gian từ năm 1995 đến 2002, mức tăng trưởng bình quân doanh thu dịch vụ bảo hiểm là 29,1%/năm. Trong giai đoạn này, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng gần 6 lần, năm 2002 đạt 2.624 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ năm đầu tiên hoạt động (1996) chỉ là chưa tới 1 tỷ đồng thì tới cuối năm 2002, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của toàn thị trường đạt 4.368 tỷ đồng. Đây là một mức tăng rất cao trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực đang lâm vào khó khăn. (Nguồn: Tạp chí Tài chính số 11/2003).

    Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2002, 11/2003

    Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường bảo hiểm giàu tiềm năng và có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, ổn định nhất trong khu vực. Qua hơn 10 năm phát triển, ngành bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng rất cao do với các nước khác. Tuy nhiên, đến hết năm 2003, tỷ lệ tổng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP mới chỉ đạt 1,3%. Nếu đem so với tỷ lệ trung bình 8% của thế giới hay 2,5 – 7% của các nước trong khu vực thì có thể thấy con số này là quá thấp. Tổng doanh thu phí bảo hiểm mới chỉ tương đương với 3,61% tổng số tiền tiết kiệm trong dân cư. Ngay cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ hiện đang phát triển với tốc độ cao cũng chỉ thu hút được 2% số dân tham gia trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốclà 22%, ở Nhật Bản là gần 100%. Mức tham gia bảo hiểm trung bình chỉ đạt 1,5 USD/người trong khi các nước trong khu vực đạt con số cao hơn nhiều: Singapore đạt 1.320 USD/người, Thái Lan đạt 53,4 USD/người, Indonesia đạt 12,5 USD/người. (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 2/12/2003)

    1.3.    Các loại hình bảo hiểm, chất lượng dịch vụ và công tác bồi thường

    Với sự gia nhập thị trường của các công ty bảo hiểm mới, số lượng sản phẩm bảo hiểm cũng tăng lên rõ rệt từ 20 sản phẩm năm 1993 đến nay đã là hơn 500 sản phẩm. Để tạo ra sức cạnh tranh cho mình, các công ty bảo hiểm đã không ngừng nghiên cứu nhằm hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ đã có, cũng như cho ra đời các loại hình dịch vụ mới để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Giờ đây, khách hàng có thể lựa chọn các sản phẩm bảo hiểm thích hợp nhất, với biểu phí và điều kiện bảo hiểm tối ưu.

    Để thu hút thêm khách hàng, việc đẩy mạnh chất lượng dịch vụ là rất quan trọng. Các công ty bảo hiểm càng hiểu rõ hơn điều này, đặc biệt là trong môi trường đầy tính cạnh tranh như hiện nay. Sản phẩm có thể được cung cấp tới tận nơi cho khách hàng theo yêu cầu, cùng với đầy đủ dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ. Các kênh tiếp thị và phân phối đang ngày càng hoàn thiện. Công tác giám định tổn thất và bồi thường cũng dần trở nên nhanh chóng, chính xác và thuận tiện. Các kênh thông tin hai chiều cũng được tạo lập để có thể tiếp thu những ý kiến phản hồi từ khách hàng. Bảo Việt luôn có bộ phận cơ động trực 24/24 để giám định tổn thất và giải quyết bồi thường khi có tai nạn xảy ra. Prudential hiện cũng đã có 47 trung tâm và điểm phục vụ khách hàng ở 33 tỉnh và thành phố. Ngoài ra, các công ty đều có những hình thức ưu đãi cho khách hàng như quà tặng, phiếu giảm giá, thẻ mua hàng, hoặc thậm chí, gửi thiếp, quà chúc mừng sinh nhật cho khách hàng… Những công ty lớn còn có thể tham gia vào nhiều hoạt động xã hội, từ thiện, tài trợ cho các cuộc thi… nhằm quảng bá và nâng cao hình ảnh của mình.

    Công tác bồi thường của ngành bảo hiểm thời gian qua đóng một vai trò tích cực trong việc ổn định cuộc sống và kinh doanh. Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm trong 10 năm qua là 7.600 tỷ đồng, trong đó có nhiều vụ tổn thất lớn như vụ phụt giếng khoan dầu Lan Tây, vụ cháy chợ Đồng Xuân, vụ tai nạn máy bay ở Camphuchia, những thiệt hại do cơn bão Linda… (Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số tháng 4/2003). Công tác bồi thường đã được từng bước nâng cao chất lượng với thời gian, thủ tục đòi bồi thường đã được giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc thực hiện vẫn còn nhiều bất cập. Khách hàng gặp rất nhiều phiền hà, cũng như mất nhiều thời gian trong việc đòi bồi thường cho những tổn thất xảy ra với mình, mặc dù nhiều trường hợp tổn thất xảy ra nằm trong các rủi ro được bồi thường. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh đang mất lòng tin ở các công ty bảo hiểm Việt Nam bởi công tác bồi thường được thực hiện chưa tốt. Đó cũng chính là lý do tại sao khi mua bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu, cũng như mua bảo hiểm kỹ thuật cho các công trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, các chủ hàng, cũng như các chủ đầu tư thường lựa chọn các công ty bảo hiểm nước ngoài lớn, có uy tín. Các công ty bảo hiểm Việt Nam chưa tận dụng được ưu thế về địa lý, sự hiểu biết về pháp luật cũng như quan hệ với khách hàng trong nước để giải quyết việc bồi thường tổn thất một cách thuận tiện, nhanh chóng. Để nâng cao ưu thế cạnh tranh với các công ty nước ngoài, đây là một trong những nhược điểm lớn mà các công ty bảo hiểm Việt Nam cần phải sớm khắp phục.

    1.4. Hệ thống đại lý

    Sự phát triển của bảo hiểm cũng góp phần đem lại công ăn việc làm cho khoảng gần 77.000 lao động trong ngành, trong đó khoảng 50% đang làm việc cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Mạng lưới đại lý bảo hiểm được mở rộng và đã dần phủ kín toàn quốc. Bảo Việt đã có hệ thống đơn vị thành viên ở tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước gồm 61 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 56 công ty bảo hiểm nhân thọ, 5 chi nhánh bảo hiểm nhân thọ, 1 trung tâm đào tạo… với gần 5.000 nhân viên, trên 18.000 đại lý và cộng tác viên hoạt động trên khắp mọi miền đất nước (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 2/12/2003). Bằng cách mở rộng mạng lưới đại lý, ngành bảo hiểm đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Nếu như năm 2000, tính cả thị trường bảo hiểm nhân thọ mới có khoảng 17.000 đại lý thì đến năm 2002, số lượng đại lý của 5 công ty bảo hiểm nhân thọ đã vượt qua con số 70.000, trong đó, Prudential dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng đại lý, với gần 40.000 đại lý bảo hiểm đang hoạt động (Nguồn: www.prudential.com.vn, ngày 2/12/2003).

    Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, đại lý bảo hiểm của các công ty vẫn chưa thực sự đáp ứng được những yêu cầu phát triển mới, chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp cần phải có. Những lao động trong ngành bảo hiểm không chỉ cần vững về chuyên môn, nghiệp vụ mà do đặc thù nghề nghiệp, họ còn phải có nhiều phẩm chất cần thiết khác như trung thực, nhiệt tình, cởi mở… Trong chiến lược phát triển của các công ty bảo hiểm hiện nay, việc xây dựng một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, công tác đào tạo về kiến thức chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, phong cách phục vụ khách hàng còn chưa được chú trọng đúng mức. Khách hàng của bảo hiểm nhân thọ vẫn thường phàn nàn về hiện tượng một số đại lý đã tư vấn sai, hoặc qua loa, thông đồng với khách hàng che giấu bệnh tật, hoặc không chăm sóc khách hàng chu đáo khi hợp đồng đã được ký kết… Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, tình trạng đánh giá chưa chính xác các rủi ro, sách nhiễu khách hàng khi phải bồi thường tổn thất vẫn xảy ra. Đặc biệt, khi các công ty bảo hiểm đều chú trọng ứng dụng các công nghệ mới, mở rộng hình thức tiếp cận khách hàng như giao dịch qua mạng, qua hệ thông ngân hàng, nếu không có kiến thức rộng hơn cũng như không có tính chuyên nghiệp cao thì đội ngũ nhân viên, đại lý, tư vấn sẽ không thế đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng khó tính của khách hàng.

    1.5. Năng lực về vốn, công nghệ

    Các công ty bảo hiểm hiện nay cũng đang gặp phải những khó khăn chung mà các công ty hoạt động trong các ngành nghề khác đang gặp phải. Đó chính là sự hạn chế năng lực về vốn, công nghệ, đặc biệt là ở nhiều công ty bảo hiểm Nhà nước hay các công ty cổ phần. Trừ các công ty 100% vốn nước ngoài có nguồn gốc từ những tập đoàn tài chính lớn trên thế giới, nguồn vốn của hầu hết các công ty bảo hiểm Việt Nam vẫn còn khá nhỏ bé trong khi đăc thù của kinh doanh bảo hiểm lại đòi hỏi tiềm lực tài chính vững mạnh. Tổng vốn của công ty bảo hiểm lớn nhất của Việt Nam là Bảo Việt cũng chưa tới 52 triệu USD trong khi một công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài khác là Prudential đã thực hiện việc tăng vốn lên 61 triệu USD vào năm 2002. Để có thể đứng vững trước môi trường cạnh tranh hiện nay, các công ty bảo hiểm Việt Nam cần phải có nguồn vốn lớn hơn.

    Công nghệ bảo hiểm của các công ty Việt Nam còn khá lạc hậu so với khu vực và thế giới. Công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nghiệp vụ bảo hiểm, quyết định tới 60 – 80% sự thành bại của các doanh nghiệp. Nó đơn giản hoá được một khối lượng công việc hành chính khổng lồ và nhiều nghiệp vụ phức tạp, tạo ra nhiều tiện ích cho khách hàng, cũng như hình thành nên các kênh thông tin đa chiều… Trong khi đó, việc ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ mới chỉ được tiến hành ở một số công ty lớn, lại không được thường xuyên, và tính hiệu quả cũng chưa cao. Năm 2003, Bảo Việt đã dành khoảng 6 triệu USD, tương đương 70% lợi nhuận của công ty năm 2002 để đầu tư vào xây dựng mạng nội bộ, ứng dụng các tiện ích đa phương tiện… (Nguồn: www.vnexpress.net, ngày 5/12/2003). Một số công ty bảo hiểm hàng đầu khác như Bảo Minh, PVI… cũng đều có bộ phận phụ trách phát triển công nghệ và đang tích cực triển khai các dự án công nghệ thông tin. Tuy nhiên, việc ứng dụng vẫn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều lý do: cơ sở hạ tầng viễn thông nước ta vẫn yếu kém, tiềm lực tài chính của các công ty còn hạn hẹp… Đặc biệt, do đặc thù của các nghiệp vụ bảo hiểm, mô hình ứng dụng công nghệ vào các công ty còn đòi hỏi sự điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với mục đích và trình độ quản lý, sử dụng. Trong khi đó, với sự hỗ trợ từ AIG, AIA Việt Nam đã đưa vào sử dụng những phần mềm, phần cứng do công ty mẹ cung cấp, và hiện đang có một hệ thống liên lạc hiện đại không kém so với các chi nhánh AIA toàn cầu.

    1.6. Quy tắc bảo hiểm áp dụng

    Trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bảo Việt ban hành nhiều quy tắc bảo hiểm áp dụng cho các lĩnh vực, tạo rất nhiều thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam. Trong số đó có thể kể đến “Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển” lần đầu tiên ra đời năm 1965, và được sửa đổi, bổ sung vào năm 1990. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã ban hành được nhiều quy tắc khác như: các quy tắc về bảo hiểm thân tàu ở Việt Nam, Quy tắc bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam năm 1992, Quy tắc về bảo hiểm hàng không năm 1991, Quy tắc và biểu phí bảo hiểm hỏa hoạn (1989, 1993, 1989)…

    Các quy tắc và biểu phí áp dụng trong bảo hiểm ở Việt Nam hầu hết được xây dựng dựa trên quy tắc quốc tế hoặc quy tắc của các nước có nền bảo hiểm phát triển trên thế giới. Do vậy, Việt Nam có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm và cũng tạo được sự tương đồng nhất định với quy tắc của các nước. “Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển” chủ yếu dựa trên các điều kiện bảo hiểm A, B, C của Viện ILU nước Anh (Instiute Cargo Clauses A, B, C). Quy tắc về bảo hiểm hàng không chủ yếu dựa theo các quy tắc của Anh, Mỹ, Quy tắc về bảo hiểm hoả hoạn cũng được nghiên cứu dựa trên các quy tắc của Đức, Anh… Các quy tắc của Việt Nam cũng đã có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp vời điều kiện thực tế ở Việt Nam nhưng nhìn chung các quy tắc trên cũng không tránh khỏi nhiều chỗ thiếu sót. Mặt khác, hệ thống các quy tắc bảo hiểm ở Việt Nam vẫn chưa đầy đủ. Nhiều loại nghiệp vụ bảo hiểm vẫn chưa có quy tắc riêng để áp dụng, gây khó khăn không nhỏ cho cả bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm. Điển hình là quy tắc bảo hiểm chiến tranh đình công với hàng hoá vận chuyển bằng đường hành không vẫn chưa được nghiên cứu, áp dụng trong khi hiện nay đây là một quy tắc rất cần thiết.

    1.7. Hoạt động đầu tư

    Với sự phát triển nhanh trong thời gian qua, ngành bảo hiểm đang dần chứng tỏ được vai trò của mình như một kênh huy động vốn đầu tư, một trung gian tài chính có hiệu quả. Hoạt động đầu tư của các công ty đều được thực hiện theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả, đáp ứng kịp thời các yêu cầu chi trả tiền bồi thường cho người tham gia bảo hiểm, đồng thời đem lại lợi nhuận hợp lý để trang trải cho các chi phí hoạt động và mở rộng phạm vi kinh doanh. Riêng công ty Bảo Việt cũng thời gian qua đã góp vốn vào thành lập nên 15 công ty cổ phần lớn, trong đó có các công ty như Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế, Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu… Nhiều dự án có giá trị kinh tế – xã hội cao cũng có sự tham gia góp vốn của các công ty bảo hiểm: Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia, Khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây, Khu công nghiệp Đình Vũ… Ngoài ra, các công ty bảo hiểm cũng góp vốn vào hàng trăm công trình xây dựng có giá trị đầu tư lớn.

    Doanh thu phí, tốc độ tăng và đóng góp vào các quỹ đầu tư của các công ty bảo hiểm nhân thọ.

    Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
    Doanh thu phí (tỷ VND) 0,95 17,5 203 492 1.280 2.775 4645
    Tốc độ tăng doanh thu phí (so với năm trước)   1,74% 1,06% 142% 160% 117% 167%
    Quỹ đầu tư (tỷ VND) 0,7 15 178 582 1.654 4.001 6.700

    (Quỹ đầu tư ước tính vào cuối mỗi năm tương ứng với quỹ dự phòng nghiệp vụ, không tính nguồn vốn điều lệ).

    Nguồn: Tạp chí Tài chính 4/2002, 11/2003

    Tuy nhiên, kết quả hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm vẫn chưa thực sự xứng đáng với tiềm năng của mình. Hoạt động góp vốn liên doanh, cho vay theo pháp luật ngân hàng, đầu tư vào bất động sản có xu hướng giảm do lo sợ rủi ro tài chính trong lĩnh vực tín dụng – ngân hàng, và do sự giảm lợi nhuận trên thị trường bất động sản. Cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm vẫn còn khá đơn điệu, chủ yếu tập trung vào những công cụ đầu tư có tính thanh khoản cao nhưng hiệu quả không cao. Hình thức đầu tư phổ biến nhất hiện nay (chiếm tới hơn 50%) vẫn là gửi tiền vào các ngân hàng thương mại để hưởng lãi, trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ này là rất thấp (ở Anh, Pháp, Đức chỉ khoảng 1,1 – 1,9%). Kinh doanh chứng khoán mới chiếm khoảng hơn 30%, trong khi ở hầu hết các nước, đây là công cụ đầu tư được sử dụng rộng rãi nhất (ở Anh là hơn 51%, ở Pháp là hơn 87%) (Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2002). Ngoài các lý do khách quan như hạn chế của pháp luật về mức vốn đầu tư, tỷ lệ lập quỹ dự phòng theo pháp luật, môi trường đầu tư chưa thông thoáng, ổn định, thiếu các dự án khả thi, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển… các công ty bảo hiểm cũng chưa có sự quan tâm thích đáng đến việc đẩy mạnh hoạt động đầu tư. Trừ Bảo Việt đã có đơn vị độc lập chuyên về đầu tư chứng khoán (Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt), các công ty chủ yếu tiến hành hoạt động đầu tư thông qua các phòng ban ở hội sở chính.

    Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2002

    1.8. Hoạt động cạnh tranh

    Sự xuất hiện của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một môi trường cạnh tranh đầy tính tích cực. Sự cạnh tranh quyết liệt đã khiến các công ty phải giảm phí, mở rộng điều kiện, điều khoản bảo hiểm. Các công ty đều phải có chiến lược cụ thể và lâu dài vì giờ đây, khách hàng đã có nhiều lựa chọn. Và như vậy, chính khách hàng đang được hưởng lợi nhiều nhất từ những hoạt động nhằm nâng cao tính cạnh tranh của các công ty. Nhận thức của các cá nhân, tập thể về vai trò của bảo hiểm cũng được nâng cao thông qua các chương trình quảng cáo. Theo Bảo Việt thì hiện nay có khoảng 76% người dân thành phố đã biết đến bảo hiểm nhân thọ. Đây là một kết quả rất đáng mừng bởi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ chỉ mới bắt đầu triển khai ở Việt Nam trong thòi gian chưa lâu.

    Tuy nhiên, do vẫn còn khá non trẻ, lại phải chịu nhiều sức ép mới, ngành bảo hiểm nước ta đã xuất hiện một số tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh cũng như đến hình ảnh của toàn ngành. Tình trạng cạnh tranh về phí bảo hiểm phi nhân thọ đang trở nên ngày càng phức tạp. Ở nhiều dự án xây dựng lớn bằng vốn đầu tư của Nhà nước, dù đã có thoả thuận đồng bảo hiểm với nhau nhưng tình trạng cạnh tranh trong giảm phí và hạ mức khấu trừ tới mức các nhà bảo hiểm đánh giá là phi kỹ thuật vẫn xảy ra. Việc mở rộng điều kiện và điều khoản bảo hiểm một cách quá mức, không phù hợp với thông lệ quốc tế cũng đang xảy ra. Mức bảo hiểm kỹ thuật ở Việt Nam đang thấp hơn từ 20 – 25% so với mức phí đang áp dụng cho những dự án tương tự trên thế giới, trừ Trung Quốc. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003). Trong bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm P&I, sự cạnh tranh gia tăng giữa các doanh nghiệp cũng dẫn đến tỷ lệ phí áp dụng tiếp tục giảm, nhất là phí cho những con tàu mới mua, gây ảnh hưởng lớn tới việc thu xếp tái bảo hiểm. Với đặc thù của ngành bảo hiểm, việc cạnh tranh bằng hạ phí làm năng lực tài chính của công ty bí giảm sút, sẽ gây tác động xấu trở lại khách hàng do hạ phí làm giảm khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm khi xảy ra rủi ro. Vấn đề hạ phí sẽ có tác động rất xấu khi các công ty bảo hiểm nước ngoài với tiềm lực tài chính vững mạnh sẽ chấp nhận lỗ trong thời gian đầu để chiếm lĩnh thị trường rồi tiến tới lũng đoạn.

    Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hiện tỏ ra vượt trội về nhiều mặt, đặc biệt là có ưu thế về kinh nghiệm, uy tín, khả năng phát triển hệ thống đại lý, mở rộng thị trường… Các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước vốn chưa quen với việc môi trường cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường đã sử dụng nhiều biện pháp không lành mạnh như dùng mệnh lệnh hành chính để tác động đến thị trường, gây bất bình đẳng trong cạnh tranh và đi ngược lại những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, tình trạng đưa thông tin sai lệch gây tổn hại đến hình ảnh của đối thủ cạnh tranh nhằm lôi kéo khách hàng cũng thường xuyên xảy ra.

    Hiện tượng “độc quyền công ty” hiện nay cũng diễn ra phổ biến với sự tham gia của các công ty cổ phần bảo hiểm. Hầu hết các cổ đông thành lập nên các công ty cổ phần bảo hiểm là các doanh nghiệp nhà nước đang nắm vai trò quan trọng trong nền kinh tế như: xăng dầu, dầu khí, bưu điện… Điều này dẫn tới một thực tế là các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc ngành, thuộc tổng công ty có cổ phần ở công ty bảo hiểm nào sẽ phải mua bảo hiểm tại đó. Bảo Việt đã phải chuyển bảo hiểm cho hành khách đường sắt cho PJICO vì Tổng công ty đường sắt Việt Nam là cổ đông của PJICO. Tình trạng này sẽ khiến các công ty bảo hiểm ỷ lại, không chịu khó tìm kiếm thêm thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ.

    1.9. Công tác quản lý nhà nước và hệ thống văn bản pháp quy

    Trước năm 1986, bảo hiểm cũng như các ngành kinh tế khác hoạt động theo cơ chế bao cấp, đồng nhất quản lý với kinh doanh. Đến năm 1992, để thích ứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, bộ phận quản lý Nhà nước chuyên trách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được thành lập, thuộc Vụ Tài chính các Ngân hàng và các tổ chức tài chính trực thuộc Bộ Tài chính. Mới đây, Bộ trưởng Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 134/2003/QĐ – BTC  quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ bảo hiểm, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi cả nước. Hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm cũng đã được ban hành. Đây là một công cụ hỗ trợ cơ quan quản lý bảo hiểm theo dõi, kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh, việc chấp hành cách chính sách, pháp luật Nhà nước của doanh nghiệp bảo hiểm.

    Công tác quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm đã từng bước hoàn thành các mục tiêu của mình, trong đó, việc bảo vệ tối đa quyền lợi của người tham gia bảo hiểm rất được chú ý. Nhà nước buộc các công ty bảo hiểm đảm bảo khả năng tài chính bằng việc quy định mức vốn pháp định, tỷ lệ lập quỹ dự phòng… Việc quản lý nội dung, phạm vi hoạt động, quản lý đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm cũng đang dần được tiến hành một cách đầy đủ và nghiêm túc. Các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp mất khả năng thanh toán và việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm trong các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm giải thể hoặc phá sản đều chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan chức năng là Bộ Tài chính. Công tác quản lý nhà nước cũng đã chú trọng đến việc tăng cường khả năng tài chính cho các doanh nghiệp bảo hiểm, khuyến khích việc tích luỹ vốn để tái đầu tư, đảm bảo cho thị trường bảo hiểm phát triển ổn định.

    Các văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cũng đã từng bước được soạn thảo, thi hành. Việc xây dựng được hệ thống văn bản pháp lý vừa tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm phát triển đúng hướng vừa bảo đảm sự kiểm tra giám sát của nhà nước. Luật KDBH có hiệu lực vào 01/04/2000 điều chỉnh các mặt của kinh doanh bảo hiểm đã đặt nền móng cho quá trình hoàn thiện môi trường pháp lý cho ngành. Kèm theo luật là các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành với nhiều chi tiết cụ thể, giúp các đối tượng điều chỉnh của Luật khỏi lúng túng trong quá trình thực hiện. Ngày 29/08/2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2003 – 2010, đưa ra một số chỉ tiêu, giải pháp chủ yếu để thực hiện chiến lược về phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Tuy nhiên, do còn thiếu kinh nghiệm, quá trình thực hiện lại nảy sinh nhiều vấn đề mới, hệ thống pháp luật hiện nay chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu. Các văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm hiện có rất nhiều nhưng chưa đầy đủ, chưa thống nhất, đồng bộ. Luật KDBH không cho phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm là công ty Trách nhiệm hữu hạn, nhưng cho phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài mà theo quy định tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hai loại hình doanh nghiệp trên cũng là công ty Trách nhiệm hữu hạn. Ngoài ra, quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài chưa chi tiết và đầy đủ, chưa đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp. Luật cần tạo sự yên tâm đầu tư và kinh doanh ở Việt Nam cho các công ty nước ngoài, song cũng cần bảo hộ một cách hợp lý cho các công ty trong nước, tránh cho ngành bảo hiểm nói riêng và thị trường tài chính nói chung bị thao túng.

    Hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua xảy ra nhiều hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, gây tổn hại nhiều mặt cũng vì chúng ta thiếu một hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động cạnh tranh. Do chưa có Luật cạnh tranh, Nhà nước thiếu đi một công cụ hữu hiệu để quản lý và kiểm soát việc cạnh tranh, cũng như không có một chế tài xử phạt đối với các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại tới đối thủ, tới khách hàng, và tới nền kinh tế – xã hội. Khi những hành vi đó gây hậu quả xấu, cũng không có cơ sở cho việc tính toán để bù đắp thiệt hại. Như vậy, đây vẫn là một kẽ hở pháp luật cần phải loại bỏ để ngành kinh doanh bảo hiểm có thể tiếp tục đi lên và đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.

    1.10. Hợp tác quốc tế

    Ngành bảo hiểm Việt Nam tuy gần đây mới thực sự đạt được một số thành tựu, nhưng lại hứa hẹn rất nhiều tiềm năng. Các công ty bảo hiểm nước ngoài lớn trên thế giới đã nhìn thấy triển vọng của thị trường Việt Nam và các công ty này đã tạo một động lực phát triển mới. Việc cho phép các công ty bảo hiểm trong nước hợp tác liên doanh với các công ty bảo hiểm nước ngoài và thành lập các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không chỉ góp phần thu hút vốn đầu tư mà còn thể hiện nỗ lực hợp tác của ngành bảo hiểm Việt Nam. Các công ty bảo hiểm nước ngoài với tiềm lực kinh tế vững chắc, kinh nghiệm, uy tín lâu năm, công nghệ bảo hiểm hiện đại, quan hệ rộng khắp với các tổ chức tài chính mạnh trên thế giới sẽ đáp ứng được các nhu cầu bảo hiểm mà các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước không có khả năng, đồng thời, tạo ra môi trường cạnh tranh. Qua đó, Việt Nam cũng học tập được những kinh nghiệm quản lý tiên tiến và công nghệ bảo hiểm hiện đại. Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng nằm trong tiến trình hội nhập với khu vực và quốc tế theo các hiệp định quốc tế như Hiệp định khung về hợp tác dịch vụ ASEAN, WTO, Hiệp định Thương mại Việt Mỹ…

    Hiện nay, các công ty bảo hiểm đều có mối quan hệ hợp tác bảo hiểm và tái bảo hiểm với các tập đoàn bảo hiểm hàng đầu thế giới như: Commercial Union, Tokyo Marine, Yasuda, Sedgwich, Willis Corroon, Munich Re, Swiss Re… Bộ Tài Chính cũng không ngừng mở rộng mối quan hệ hợp tác với các cơ quan quản lý bảo hiểm của EU, ASEAN, từ đó, từng bước chuẩn hóa môi trường kinh doanh bảo hiểm để phù hợp với tình hình chung của khu vực và thế giới. Nhiều nghị định, dự án hợp tác nhằm phát triển ngành bảo hiểm đã được ký kết với các tổ chức quốc tế đã và đang thu kết quả tốt như: Hiệp định hợp tác về triển khai dự án trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng về bảo hiểm giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Liên đoàn các công ty bảo hiểm Pháp ngày 21/06/1993; dự án trợ giúp sự phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam trong chương trình trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường do ủy ban Châu Âu phối hợp với Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài chính… Ngày 11/11/2003, Thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm cũng đã được ký kết giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm liên bang Mỹ (NAIC) với những nội dung trợ giúp kỹ thuật theo định kỳ hoặc theo vụ việc.

    Trong năm 2003, Việt Nam cũng đã đứng ra tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm như diễn đàn bảo hiểm ASEAN, Hội nghị các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN lần thứ 6 (AIRM6), Hội nghị hội đồng bảo hiểm ASEAN lần thứ 29 (AIC29) và Hội nghị lần thứ 4 hội đồng các cơ quan quốc gia ASEAN… Nội dung của các hội nghị tập trung vào việc tăng cường và nâng cao hiệu quả hợp tác giữa các nước ASEAN trong lĩnh vực bảo hiểm. Ngoài ra, Việt Nam đã lần đầu tiên tham gia vào “Chương trình bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới ASEAN”. Đây là chương trình nhằm mục đích hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận tải hàng hoá quá cảnh và liên quốc gia trong các nước ASEAN. Đây là những cơ hội rất tốt cho ngành bảo hiểm Việt Nam hội nhập vào kinh tế khu vực.

    2. Nhận xét chung

    Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm đã làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trở nên sôi động, hoạt động ngày càng mạnh mẽ. Tốc độ tăng doanh thu phí của bảo hiểm Việt Nam ở mức khá cao so với thế giới và khu vực. Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO… Sự tăng trưởng mạnh mẽ đó đã làm cho số vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng lên và theo đó khả năng giữ lại phí bảo hiểm trong nước cũng được nâng lên tương ứng. Qui định của nhà nước về tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE đã giúp mức phí giữ lại của toàn thị trường tăng đều qua các năm. Tổng mức phí giữ lại chiếm khoảng 70% tổng phí bảo hiểm gốc, giảm được một lượng không nhỏ phí bảo hiểm chảy ra nước ngoài.

    Khả năng tài chính và uy tín của các công ty bảo hiểm trong nước ngày càng lớn mạnh. Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã có thể phục vụ các ngành kinh tế, các tầng lớp nhân dân với việc tham gia vào nhiều hợp đồng có mức trách nhiệm lớn, lên đến hàng tỷ USD như bảo hiểm trong các lĩnh vực hàng không, dầu khí… Nhiều công trình có trị giá bảo hiểm lớn như: nhà máy xi măng Chinfon, nhà máy điện Phú Mỹ, các toà nhà, khách sạn lớn cùng với hàng nghìn nhà xưởng, văn phòng… cũng được bảo hiểm  rủi ro xây dựng, lắp đặt, bảo hiểm hoả hoạn và bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại các công ty bảo hiểm Việt Nam. Hoạt động đầu tư của các công ty cũng đang tạo ra một nguồn vốn lớn cho xã hội.

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam cũng đang tích cực hợp tác, giúp đỡ nhau cùng có lợi. Các công ty bảo hiểm đã có được bản đồng thoả thuận về khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt. Các công ty bảo hiểm gốc cũng cùng nhau đề nghị Bộ Tài chính sửa đổi biểu phí, qui tắc của bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, theo đó Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 115/CP-1998 về bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới. Đặc biệt, sự ra đời của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đại diện cho các doanh nghiệp cũng thể hiện những bước tiến tích cực của bảo hiểm Việt Nam.

    Ngành bảo hiểm tuy mới thực sự phát triển trong vài năm gần đây song cũng đã và đang phát triển với tính ổn định tương đối cao, từng bước hình thành một thị trường tài chính lành mạnh ở nước ta. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thấy rằng, thị trường bảo hiểm của Việt Nam vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm vẫn còn khá nhiều hạn chế. Công tác giải quyết bồi thường chưa được thực hiện tốt, chưa đảm bảo tối đa quyền lợi của khách hàng khi gặp thiệt hại. Các sản phẩm bảo hiểm tuy đã đa dạng hơn trước, nhưng vẫn còn hạn chế, chưa phát triển trong nhiều lĩnh vực quan trọng như thiên tai, nông nghiệp, tín dụng và rủi ro tài chính, hoạt động hành nghề y dược, luật sư…

    Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ cũng như bảo hiểm nhân thọ đều chưa phát triển xứng đáng với tiềm năng. Kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt hơn 11 tỷ USD trong nửa đầu năm 2003 nhưng số hàng hoá mua bảo hiểm trong nước chỉ đạt khoảng 5%. Tỷ lệ mua bảo hiểm trong nước cho hàng hoá nhập khẩu cũng chỉ chiếm 24% (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 5/2003). Có thể thấy, các công ty bảo hiểm Việt Nam đã mất một nguồn thu phí bảo hiểm rất lớn vào tay các công ty bảo hiểm nước ngoài, làm chảy mất một lượng ngoại tệ lớn và giảm đáng kể nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Theo tính toán của VINARE, trung bình mỗi năm hơn 70 triệu USD phí bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bị chuyển ra nước ngoài, làm ngân sách Nhà nước mất đi một khoản thu thuế lên tới 3 triệu USD/năm. Trong những năm gần đây, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng lên với rất nhiều công trình xây dựng có giá trị lớn, nhưng tổng doanh thu phí mà các công ty bảo hiểm Việt Nam tham gia cung cấp dịch vụ cho các công trình này chỉ chiếm khoảng 10 – 15%. (Nguồn: www.vneconomy.com.vn, ngày 5/12/2003). Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt chưa thực sự được đẩy mạnh trong khi hàng năm, ở nước ta, tai nạn do cháy nổ vẫn gia tăng với tốc độ cao một cách đáng báo động.

    Ngay cả thị trường bảo hiểm nhân thọ gần đây trở nên rất sôi động, nay cũng đang có vài dấu hiệu chững lại. Năm 2003, do nhu cầu của khách hàng tăng chậm, các công ty không đưa ra nhiều sản phẩm bảo hiểm như năm trước. Năm 2002, trung bình một người dân mới chỉ bỏ ra 4 USD để mua bảo hiểm nhân thọ. Tỷ lệ dân chúng tham gia mua bảo hiểm mới chỉ đạt khoảng 2%, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Với số dân 80 triệu người, trong đó khoảng 1/2 trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ này là không tương xứng. (Nguồn: www.vnexpress.net, ngày 27/11/2003)

    Hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh, đầu tư chưa hiệu quả… Bên cạnh yếu tố chủ quan từ các công ty, có thể thấy sự thiếu hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật và công tác quản lý Nhà nước cũng đang ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển lành mạnh của ngành bảo hiểm. Để đạt được những bước tiến nhanh và bền vững, đồng thời hoàn thành mục tiêu đã được đề ra trong “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”, ngành bảo hiểm Việt Nam vẫn còn phải khắc phục rất nhiều hạn chế.

    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

    *******************

    VI.  ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM VIỆT NAM

        1. Vai trò của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

    Như đã trình bày ở phần II của chương I, bảo hiểm có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia. Thực tế cho thấy, hầu hết những nền kinh tế đứng đầu hiện nay đều chú trọng phát triển ngành bảo hiểm. Với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, bảo hiểm càng đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng một nền tài chính vững mạnh, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Ngành bảo hiểm Việt Nam đã đóng góp tích cực vào việc ổn định nền kinh tế xã hội và đời sống nhân dân, giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Mỗi năm, trung bình các doanh nghiệp bảo hiểm đã chi 1.200 tỷ để bồi thường cho các cá nhân, tổ chức gặp phải rủi ro.Năm 2002, chỉ riêng nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ đã bồi thường thiệt hại cho khách hàng gần 3 triệu USD (chưa kể những tổn thất của công trình xây dựng đường Hồ Chí Minh). Trong số đó, các vụ tổn thất lớn là vụ cháy tại Công ty chế biến thực phẩm Hoàng Long ở Quảng Nam thiệt hại 560.000 USD, cháy phòng làm việc ở dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước Hà Nội thiệt hại 300.000 USD, cháy Bưu điện Quy Nhơn thiệt hại 233.000 USD… Năm 2003, bảo hiểm kỹ thuật đã bồi thường nhiều tổn thất lớn, tổng giá trị lên đến khoảng14 triệu USD: vụ rơi máy phát điện của nhà máy điện Phú Mỹ 3 thiệt hại 6 triệu USD, vụ cháy nhà máy chế biến thức ăn Interfood thiệt hại khoảng 6 triệu USD, thiệt hại cáp điện trong quá trình vận chuyển của nhà máy điện Phú Mỹ 3 thiệt hại khoảng 1 triệu USD, cháy nhà máy nhựa Phú Mỹ thiệt hại 500.000 USD, cháy nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 với số tiền bồi thường cũng lên tới khoảng 430.000 USD. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003)

    Ngoài tác dụng bồi thường, tạo sự ổn định về mặt kinh tế cho các cá nhân, tổ chức khi gặp phải những rủi ro, bảo hiểm còn là kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế nước ta. Ở Việt Nam, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vốn bên ngoài tuy rất quan trọng nhưng đôi khi hạn chế và dễ bị tác động các yếu tố ngoại cảnh. Vì vậy, thu hút nguồn vốn trong nước là một việc làm hết sức cấp thiết. Bảo hiểm đã góp phần tích cực vào việc hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Các công ty bảo hiểm đã trở thành một trung gian tài chính của nền kinh tế, thu hút vốn, cung ứng vốn, góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy phát triển nhanh sự luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Phạm vi cũng như hình thức đầu tư của bảo hiểm rất đa dạng. Các công ty có thể cấp các khoản vay khác nhau hoặc mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường tự do, tạo vốn cho ngành công nghiệp và thương mại, đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật, gửi tiền vào ngân hàng hoặc tham gia góp vốn đầu tư vào các công ty…

    Mặt khác, hàng năm, các công ty bảo hiểm cũng đã đem lại một khoản thu không nhỏ cho ngân sách Nhà nước. Nếu như năm 1993, nộp ngân sách của các doanh nghiệp bảo hiểm mới đạt 68 tỷ đồng thì đến năm 2002 đã là 290 tỷ đồng. Đóng góp vào GDP cũng tăng từ 0,37% (1993) lên 1,3% (2002) (Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2003). Nhiều công ty bảo hiểm tham gia rât tích cực vào hoạt động xã hội như ủng hộ các quỹ từ thiện, Bảo hiểm cũng có vai trò lớn trong việc tăng cường công tác đề phòng rủi ro, hạn chế tổn thất. Nhiều công ty bảo hiểm rất tích cực nâng cao hiểu biết và trang bị dụng cụ nhằm đảm bảo an toàn lao động, an toàn cháy nổ… cho các các nhân, tổ chức. Nhờ đó, hàng năm, chúng ta tránh được nhiều thiệt hại đáng tiếc về con người, về tài sản. Ngoài ra, bảo hiểm đã tạo ra tâm lý an tâm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đời sống nhân dân, mang lại chỗ dựa về tài chính khi xảy ra những tình huống ngoài ý muốn.

                2. Định hướng phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam thời gian tới

    Để có được sự đi lên mạnh mẽ, ổn định cho ngành bảo hiểm, việc xây dựng định hướng phát triển cho ngành cần dựa trên chiến lược phát triển chung của ngành Tài chính. Bởi vì, bảo hiểm là một bộ phận không thể tách rời của ngành Tài chính, đồng thời, phát triển ngành bảo hiểm cũng là nhằm phát triển một nền tài chính vũng mạnh.

    2.1. Định hướng phát triển của ngành tài chính Việt Nam

    Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010, mà trước mắt là hoàn thành kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, nhiệm vụ đặt ra cho ngành tài chính là rất nặng nề. Để thực hiện những trọng trách mà Đảng và Nhà nước đã giao phó, cũng như để đóng góp nhiều hơn nữa cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành Tài chính đã đề ra các mục tiêu chiến lược cho giai đoạn tới. Đó là: Xây dựng nền tài chính quốc gia có tiềm lực đủ mạnh, đảm bảo chiến lược tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, phục vụ sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; Hệ thống chính sách động viên, phân phối tài chính công bằng, ổn định tích cực, năng động, phù hợp nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đủ sức phát triển nội lực, chủ động hội nhập, thu hút ngoại lực, quản lý và sử dụng có hiệu quả toàn bộ nguồn lực tài chính của đất nước; Xây dựng nền tài chính công khai, minh bạch, dân chủ, được kiểm toán, kiển soát, làm cho tài chính trở thành thước đo hiệu quả quá trình hoạt động kinh tế của các chủ thể trong xã hội; Năng lực hiệu lực quản lý Nhà nước về tài chính được tăng cường, đổi mới và cải cách mạnh thủ tục hành chính, từng bước hiện đại hoá công nghệ quản lý tài chính, đội ngũ cán bộ tài chính thực sự là những cán bộ cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; Củng cố và nâng cao vị trí tài chính Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

    Để thực hiện tốt tất cả các mục tiêu trên, ngành Tài chính đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm cho một số lĩnh vực hoạt động tài chính.

    Huy động và phân phối sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư: Ngành Tài chính sẽ kiến nghị Nhà nước ban hành các cơ chế, chính sách để cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh doanh. Ngành sẽ tiến hành xây dựng hệ thống chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực phát triển cho cả nước, phát triển mạnh mẽ thị trường vốn và thị trường các yếu tố sản xuất, xây dựng cơ chế, chính sách cho vay lại đối với khu vực tư nhân. Mặt khác, ngành Tài chính cũng sẽ tiến hành hoàn thiện chính sách quản lý tài chính, hoàn thiện hệ thống giám sát và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các dự án và các chương trình sử dụng vốn vay nước ngoài, đảm bảo khả năng thu hồi vốn trả nợ nước ngoài đúng thời hạn. Một nhiệm vụ khác rất quan trọng hiện nay là phải nghiên cứu, ban hành chính sách tài chính nhằm tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh, khắc phục tình trạng phân biệt đối xử trong kinh doanh giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

                     *  Hoàn thiện quản lý ngân sách Nhà nước: Để thực hiện mục tiêu này, trong giai đoạn tới, ngành sẽ thực hiện nguyên tắc ưu tiên vốn ngân sách cho đầu tư phát triển: ưu tiên các công trình hạ tầng cơ sở không có khả năng thu hồi vốn, nhưng có tầm quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, ưu tiên các công trình trọng điểm của Nhà nước. Cơ chế hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước sẽ bị xoá bỏ và Nhà nước sẽ thực hiện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu sản phẩm hoặc lĩnh vực quan trọng. Ngành Tài chính cũng sẽ cố gắng khống chế bội chi ngân sách Nhà nước và xây dựng mức dự phòng tài chính ở mức hợp lý, đảm bảo đủ nguồn tài chính cho các hoạt động của bộ máy Nhà nước. Nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước tập trung, thống nhất sẽ được thực hiện đồng thời với việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp, các ngành. Việc thực hiện và cải tiến cơ chế điều tiết tỷ lệ nguồn thu tiếp tục được thực hiện, theo hướng phân định rõ ràng, cụ thể, ổn định lâu dài các nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách địa phương.

                     *  Đổi mới và phát triển tài chính doanh nghiệp: Ngành sẽ tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách để hoàn thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nhằm khuyến khích phát triển và đảm bảo quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường cho mọi loại hình doanh nghiệp, thực hiện chế độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp trong đầu tư, trong kinh doanh, trong phân phối và sử dụng kết quả tài chính, giảm sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ được tạo nhiều điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, hỗ trợ về tài chính, củng cố và hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính…

                     * Phát triển mạnh mẽ thị trường tài chính: Hệ thống các thị trường tài chính sẽ được xây dựng và hoàn thiện nhằm hình thành một hệ thống thực hiện tài chính đồng bộ, vận hành theo các nguyên tắc thị trường với quy trình công nghệ hiện đại, chủ động hội nhập vào thị trường tài chính khu vực và thế giới theo cam kết lộ trình mở cửa dịch vụ tài chính của Chính phủ. Hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đầu tư sẽ được phát triển rộng rãi, đồng thời với phát triển quỹ đầu tư phát triển ở các tỉnh, thành phố. Các công ty, doanh nghiệp cổ phần được khuyến khích phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các công cụ vay nợ khác, khuyến khích niêm yết công khai trên Trung tâm giao dịch chứng khoán.

    Ngoài ra, ngành Tài chính sẽ tiến hành cải cách lãi suất, mở rộng quy mô tín dụng, tăng tỷ lệ huy động vốn, xử lý cơ chế lãi suất nội và ngoại tệ một cách hợp lý, đồng thời, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, tiến tới thành lập Ngân hàng chính sách. Các định chế tài chính trên thị trường chứng khoán sẽ được hoàn thiện và thiết lập mới theo nhiều loại hình khác nhau, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo.

    Thị trường bảo hiểm sẽ được chú trọng đẩy mạnh phát triển với mức tăng trưởng bình quân 20 – 25%/năm trên cơ sở hoàn thiện và phát triển dịch vụ bảo hiểm theo hướng đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp và loại hình sản phẩm: thành lập thêm các doanh nghiệp bảo hiểm với nhiều loại hình sở hữu, trong đó doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, hoàn thiện và phát triển các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm, đặc biệt là những loại giàu tiềm năng. Hoạt động bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội sẽ được xã hội hoá nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, đồng thời phát triển bảo hiểm tự nguyện bổ sung cho các đối tượng có yêu cầu cao hơn.

    *  Chủ động hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính: Việc chủ động hội nhập quốc tế được thực hiện trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh kinh tế và tài chính theo lộ trình đã cam kết. Ngành Tài chính sẽ phấn đấu tạo cho cán cân thanh toán luôn thặng dư. Biểu thuế nhập khẩu sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo lộ trình giảm thuế của các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, đồng thời triển khai xác định giá trị hải quan và các chính sách thuế quan liên quan đến thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng…

    Lĩnh vực bảo hiểm sẽ được thực hiện mở cửa một cách thận trọng với việc quy định cụ thể nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài và văn phòng đại diện ở Việt Nam, tuy nhiên, cũng cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài góp vốn thành lập quỹ đầu tư. Việc mở cửa cho sự tham gia của nước ngoài vào thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam được thực hiện từng bước, theo lộ trình mở cửa dịch vụ tài chính đã cam kết với các tổ chức quốc tế.

    *  Tăng cường hệ thống giám sát tài chính: Hệ thống kế toán, kiểm toán và hệ thống giám sát tài chính đủ mạnh sẽ được xây dựng và hoàn thiện. Bên cạnh việc xây dựng hệ thống khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế và Việt Nam, nghiệp vụ và khả năng hội nhập quốc tế cũng phải được nâng cao.

    *  Tăng cường cải cách hành chính và nâng cao năng lực quản lý tài chính quốc gia: Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính cần được hoàn thiện hơn nữa. Trong những năm tới, bộ máy Tài chính sẽ được thiết kế theo cơ cấu tổ chức phù hợp để hình thành các bộ phận nghiên cứu và ban hành chính sách, các tổ chức quản lý chuyên ngành và tổ chức sự nghiệp… Đồng thời, công tác cải cách hành chính và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức sẽ được tiến hành sớm.

    2.2. Định hướng phát triển cho bảo hiểm  Việt Nam

    Nhận thức được vai trò quan trọng của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế đất nước, Nhà nước đã đề ra những định hướng cụ thể nhằm xây dựng một ngành bảo hiểm lớn mạnh, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày 29/08/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 175/2003/QĐ – TTG, phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 – 2010″. Mục tiêu mà chiến lược đề ra là: Phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư; bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội; nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Quyết định trên cũng khẳng định: Nhà nước quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế.

    Như vậy, thời gian sắp tới, ngành bảo hiểm sẽ phải phải phát huy tối đa các nguồn lực nhằm hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu mà Nhà nước đã giao phó: Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm; trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm; Tỷ trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm 2005 và 4,2% năm 2010. Ngoài ra, đến năm 2010, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phấn đấu tăng tổng dự phòng nghiệp vụ khoảng 12 lần; tăng tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 14 lần so với năm 2002. Ngành cũng sẽ cố gắng tạo công ăn việc làm cho khoảng 150.000 người vào năm 2010 và nộp ngân sách Nhà nước giai đoạn 2003 – 2010 tăng bình quân 20%/năm. Để thực hiện được các mục tiêu, chỉ tiêu mà Nhà nước đặt ra, ngành bảo hiểm đã đề ra đường lối phát triển cụ thể.

    2.2.1. Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường bảo hiểm với mức tăng trưởng 24%/năm, đóng góp 2,5% trong GDP vào năm 2005 và 4,2% vào năm 2010

    Thời gian qua, ngành bảo hiểm đã có những bước phát triển tương đối nhanh chóng và đạt kết quả cao. Đóng góp vào GDP của ngành ngày càng tăng. So với quốc tế và khu vực, tốc độ phát triển tuy cao, song tỷ lệ trong GDP vẫn còn thấp. Với quy mô dân số gần 80 triệu người, nền kinh tế tăng trưởng cao trong những năm gần đây với tốc độ cao, khoảng 7 – 7,5%/năm, rõ ràng tiềm năng phát triển của bảo hiểm Việt Nam vẫn còn rất lớn. Đặc biệt, trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cơ sở hạ tầng kinh tế cũng như môi trường kinh doanh đã và đang được xây dựng và hoàn thiện. Chính vì vậy, ngành bảo hiểm đang có những tiền đề kinh tế, kỹ thuật rất thuận lợi để có thể đạt được những mục tiêu phát triển mà Chính phủ đã giao phó.

    Bảo hiểm đang ngày càng chứng tỏ là một trung gian tài chính hiệu quả của nền kinh tế. Do vậy, đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành bảo hiểm cũng là nâng cao khả năng huy động vốn cho một nền kinh tế đang rất cần những khoản đầu tư như nước ta. Việc hoàn thành các mục tiêu phát triển trên sẽ tạo thuận lợi cho các ngành kinh tế khác phát triển. Ngoài ra, việc thúc đẩy bảo hiểm phát triển cũng sẽ góp phần tăng thu ngân sách, giảm gánh nặng cho Nhà nước cũng như các cá nhân, tổ chức khi xảy ra những rủi ro, gây tổn thất về các mặt kinh tế và đới sống xã hội.

    2.2.2. Hoàn thiện và phát triển các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm, tập trung phát triển các loại hình còn nhiều tiềm năng khai thác

    Trong giai đoạn tới đây, việc hoàn thiện những sản phẩm bảo hiểm đã có, đồng thời nghiên cứu, phát triển thêm các nghiệp vụ bảo hiểm mới là việc làm rất quan trọng. Hầu hết các công ty bảo hiểm hiện nay đều cố gắng thực hiện chiến lược “đa dạng hoá sản phẩm” nhằm hướng tới phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau của nhiều đối tượng khách hàng hơn nữa. Việc đa dạng hoá sản phẩm không chỉ là nghiên cứu, áp dụng những sản phẩm mới, mà đó cũng có thể là việc kết hợp các sản phẩm đã tồn tại để cho ra đời một loại hình mới đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng. Trong chiến lược phát triển ngành bảo hiểm, điều này có ý nghĩa rất lớn nhằm mở rộng thị phần của các công ty bảo hiểm nói riêng, và mở rộng phạm vi hoạt động của toàn ngành bảo hiểm nói chung, đưa bảo hiểm đến với đông đảo các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế cũng như toàn xã hội.

    Mặt khác, khi kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, nhiều sản phẩm bảo hiểm hiện nay không còn đáp ứng được những yêu cầu mới. Nhiều lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, hậu quả kinh tế – xã hội lớn chưa được sự quan tâm đúng mức của bảo hiểm. Bảo hiểm trong nông nghiệp, bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp… là rất cần thiết, và cũng có nhiều tiềm năng song vẫn mới được triển khai ở một mức độ rất hạn chế. Nhiều lĩnh vực bảo hiểm đã rất phổ biến ở các nước, nhưng ở Việt Nam vẫn còn là một khái niệm rất xa lạ như bảo hiểm sắc đẹp, bảo hiểm giọng hát, bảo hiểm mỹ thuật… Chính vì vậy, hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ bảo hiểm, trong đó tập trung vào những loại hình giàu tiềm năng là một nhiệm vụ mà ngành bảo hiểm Việt Nam cần quan tâm và tập trung các nguồn lực để thực hiện.

               2.2.3. Xã hội hoá hoạt động bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo hướng giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước

    Hiện nay ở Việt Nam có 3 hệ thống bảo hiểm tồn tại độc lập:

    –       Bảo hiểm xã hội, do cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý.

    • Bảo hiểm y tế, do Bộ y tế quản lý.

    –     Bảo hiểm thương mại, do các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành dưới sự quản lý của Bộ Tài chính.

    Do những đặc thù riêng, các dịch vụ bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) đều do các tổ chức thuộc Nhà nước cung cấp và quản lý. Tuy nhiên, trước những yêu cầu phát triển mới, ngành BHXH và BHYT đều đang gặp phải nhiều khó khăn với những gánh nặng mà ngân sách Nhà nước rất khó có thể đáp ứng đầy đủ. Nhu cầu xã hội hoá một số lĩnh vực thuộc BHXH, BHYT đang được đặt ra hết sức cấp thiết từ nhiều phía, từ người được bảo hiểm cũng như cơ quan quản lý. Mặt khác, việc thực hiện xã hội hoá BHXH, BHYT với sự trợ giúp của các công ty bảo hiểm đáp ứng được yêu cầu không chỉ giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước mà còn mở ra một triển vọng phát triển mới. Các doanh nghiệp bảo hiểm có thể mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời, những người được bảo hiểm có thể được hưởng những chăm sóc tốt hơn, đầy đủ hơn.

    Tuy nhiên, do có thể gây ra những tác động to lớn trên nhiều mặt nên việc xã hội hoá hai lĩnh vực bảo hiểm này cần phải được tiến hành một cách thận trọng trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm ở các nước khác, đồng thời nghiên cứu một cách kỹ lưỡng tình hình cụ thể ở nước ta. Việc xã hội hoá chỉ nên thực hiện ở một số lĩnh vực ít gây ảnh hưởng lớn, đồng thời, chỉ nên giao cho những doanh nghiệp bảo hiểm lớn, có uy tín và trách nhiệm.

    2.2.4. Đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm với nhiều hình thức sở hữu, trong đó doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo

    Các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua đã trở nên rất đa dạng với các doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Thời gian tới đây, các loại hình doanh nghiệp sẽ được đa dạng hoá với nhiều hình thức sở hữu hơn nữa. Trong Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010, Chính phủ cũng đã chú trọng tới việc phát triển và sắp xếp các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục tiêu phát triển các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ theo hướng đa dạng hoá hình thức sở hữu, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức bảo hiểm tương hỗ.

    Theo hướng phát triển mới, các doanh nghiệp Nhà nước sẽ không được phép dùng vốn Nhà nước để thành lập thêm doanh nghiệp bảo hiểm mới hoặc các công ty bảo hiểm chuyên ngành. Các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay sẽ được sắp xếp lại để nâng cao năng lực tài chính, giữ vững thị trường lớn trên thị trường trong nước, tiến tới tham gia thị trường bảo hiểm khu vực và quốc tế. Bảo Việt sẽ trở thành doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước duy nhất kinh doanh bảo hiểm. Công ty sẽ được xây dựng thành một tập đoàn tài chính – bảo hiểm lớn mạnh nhất Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ, đầu tư, chứng khoán, trong đó hoạt động chủ yếu là kinh doanh bảo hiểm. Vốn điều lệ của công ty sẽ được tăng từ 776 tỷ đồng như hiện nay lên mức 3000 tỷ đồng vào năm 2005 và 5000 tỷ đồng vào năm 2010. Bảo Việt sẽ thành lập Bảo Việt nhân thọ vào năm 2003 và Bảo Việt phi nhân thọ vào năm 2004. Đây sẽ là hai công ty hạch toán độc lập, trực thuộc Bảo Việt, do Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 10/2003)

    Các công ty bảo hiểm Nhà nước khác như Bảo Minh, VINARE, PVI sẽ được tiến hành cổ phần hoá. Bảo Minh sẽ được chuyển thành công ty bảo hiểm cổ phần có vốn Nhà nước chi phối, chủ yếu kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Số vốn điều lệ của công ty cũng sẽ được tăng từ 67 tỷ hiện có lên 70 tỷ trong 2 năm tới. Công ty cũng sẽ phát hành cổ phiếu mới, trị giá tối thiểu 500 tỷ đồng (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 10/2003). Khi thị trường tiếp tục mở cửa, công ty hoạt động đơn ngành như PVI sẽ khó có khă năng cạnh tranh, do vậy PVI sẽ chuyển thành một cổ đông của Bảo Minh, phần vốn Nhà nước của PVI sẽ là cổ phần của PVI sẽ là cổ phần của Tổng Công ty dầu khí Việt Nam trong Bảo Minh. VINARE cũng sẽ được tiến hành cổ phần hoá thành công ty cổ phần, vốn do Nhà nước chi phối và sẽ là công ty hoạt động trên lĩnh vực tái bảo hiểm duy nhất tại Việt Nam. Việc cổ phần hoá VINARE sẽ được tiến hành theo hướng Nhà nước nắm cổ phần chi phối với sự tham gia góp vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động trên thị trường nhằm nâng cao mức giữ lại để hạn chế việc chuyển phí tái bảo hiểm ra nước ngoài, duy trì sự an toàn và ổn định của thị trường bảo hiểm Việt Nam.  Đến năm 2005, VINARE sẽ đủ sức giữ vai trò điều tiết thị trường tái bảo hiểm Việt Nam, không phụ thuộc vào thị trường tái bảo hiểm quốc tế trong việc thu xếp các dịch vụ bảo hiểm phức tạp như tái bảo hiểm hàng không, dầu khí, năng lượng… Tới năm 2010, VINARE sẽ có đủ năng lực tài chính và năng lực kinh doanh để tham gia thị trường tái bảo hiểm quốc tế.

    Việc sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức sở hữu của các công ty Nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình công ty bảo hiểm mới. Việc giảm bớt sự chi phối của Nhà nước trong các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn, khuyến khích sự thành lập của các công ty mới. Ngoài ra, hiện nay, loại hình tổ chức bảo hiểm tương hỗ đang rất cần được nghiên cứu, triển khai mạnh mẽ. Tính hiệu quả của các tổ chức này đã được chứng minh bằng thành công ở nhiều quốc gia nhưng ở Việt Nam, đây vẫn còn là một khái niệm xa lạ với nhiều người. Việc không cho phép thành lập thêm các doanh nghiệp bảo hiểm chuyên ngành cũng sẽ tạo thuận lợi cho mô hình này phát triển.

    VII.    KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu phát triển từ sau khi Đảng và Nhà nước đề ra chính sách đổi mới cách đây chưa đầy 20 năm. Đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nhiều lĩnh vực kinh tế vẫn còn rất mới mẻ với nước ta, do vậy, việc học hỏi kiến thức, kinh nghiệm từ các nước đi trước là hết sức quan trọng. Bảo hiểm là một ngành kinh tế mới mẻ, đang trong quá trình định hình, lại đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, do vậy, chúng ta cũng cần thận trọng nghiên cứu quá trình phát triển của ngành bảo hiểm ở các nước có nền bảo hiểm phát triển để từ đó có những áp dụng thích hợp vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam.

    1. Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở các nước Châu Âu.

    Các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU) có lịch sử rất lâu đời về phát triển bảo hiểm. Những đơn bảo hiểm đầu tiên được tìm thấy ở Châu Âu, và những nghiệp vụ bảo hiểm đầu tiên cũng được ra đời ở đây. Tính đến nay, qua nhiều bước phát triển thăng trầm, bảo hiểm đã khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhiều nước EU. Hàng năm, doanh thu từ phí bảo hiểm của các nước chiếm khoảng 8% GDP (tương đương 670 USD). Để có được sự phát triển mạnh mẽ và vững chắc đó, vai trò của hệ thống pháp luật cùng các hoạt động quản lý Nhà nước đóng một vai trò rất quan trọng.

    Do các yếu tố lịch sử và truyền thống pháp lý khác nhau, ở Châu Âu tồn tại song song hệ thống pháp luật chung (Common Law) và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Continental Law). Tuy nhiên, dù theo hệ thống pháp luật nào, các nước Châu Âu đều chú trọng xây dựng Luật bảo hiểm từ rất sớm. Đến nay, với mục tiêu xây dựng một thị trường bảo hiểm chung, về cơ bản, các nước EU đã thống nhất các quy định pháp luật về quản lý, giám sát, cấp giấy phép cho các công ty bảo hiểm… thông qua việc ban hành các chỉ thị về bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ mà tất cả các nước thành viên đều phải tuân thủ. Nhìn chung, hoạt động bảo hiểm ở hầu hết các nước EU đều chịu sự điều chỉnh của Luật về doanh nghiệp bảo hiểm (hay Luật về quản lý, giám sát bảo hiểm) và Luật về hợp đồng bảo hiểm. Một số loại bảo hiểm đặc thù như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, tái bảo hiểm… thường được điều chỉnh bằng các văn bản luật riêng. Trong các chừng mực khác nhau và tuỳ theo trường hợp cụ thể, các luật khác liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng, thương mại, lao động… cũng có thể được dẫn chiếu.

    Các nước EU đều nhất trí rằng một thị trường cạnh tranh và ít có sự can thiệp của Nhà nước sẽ có lợi cho người tham gia bảo hiểm cũng như có lợi cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nhận thức rõ tầm quan trọng của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế – xã hội và sự phát triển của mỗi quốc gia, ngay từ khi mới ra đời, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở các nước EU đã chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Ở nhiều nước, cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trực thuộc các bộ Tài chính, Kinh tế, Thương mại… như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý… hoặc Cơ quan quản lý Dịch vụ tài chính như Anh, có những nước dành cho cơ quan quản lý bảo hiểm vị trí độc lập và đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng (Đức). Mục tiêu hoạt động của các cơ quan quản lý bảo hiểm là bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm. Nguyên tắc hoạt động của các cơ quan nàylà “đầy đủ, khách quan, nhất quán và minh bạch”. Tại hầu hết các nước EU, ngân sách dành cho cơ quan quản lý bảo hiểm được hình thành từ các khoản đóng góp của các doanh nghiệp bảo hiểm, rất ít nước phải dùng đến tài trợ của ngân sách Nhà nước.

    Tại các nước EU, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể kinh doanh dưới những hình thức pháp lý nhất định và phải có tư cách pháp nhân. Hình thức doanh nghiệp bảo hiểm ở các nước EU khá đa dạng về cơ cấu sở hữu và hình thức pháp lý. Về cơ bản, loại hình phổ biến nhất là công ty cổ phần bảo hiểm, tiếp đó là các Hội (hay công ty) bảo hiểm tương hỗ và các chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài. Tuỳ theo quy định của pháp luật mỗi nước, hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn có thể tiến hành thông qua công ty bảo hiểm Nhà nước (Ý, Bồ Đào Nha), Lloyd’s (Anh), hội hợp tác (Bỉ), các hội tiết kiệm (Thụy Điển)… Theo quy định của các luật về doanh nghiệp bảo hiểm, một công ty không được phép kinh doanh đồng thời cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ.

    Tại tất cả các nước EU, một tổ chức nhất thiết phải có giấy phép mới được kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Giấy phép này có giá trị trong toàn bộ EU và được cấp cho từng loại nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể (bao gồm cả nội dung kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tái bảo hiểm). Thông thường, giấy phép kinh doanh bảo hiểm được cấp vô thời hạn. Việc cấp giấy giấy phép kinh doanh bảo hiểm ở các nước EU chỉ căn cứ vào các yêu cầu về tài chính, pháp lý, kế toán, kỹ thuật, nhân sự theo nguyên tắc thận trọng mà không phụ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế. Thời hạn xét cấp giấy phép được quy định là 6 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Trong các điều kiện cấp giấy phép, điều kiện về tài chính được đặt lên hàng đầu. Tại tất cả các nước EU, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về vốn pháp định, tuỳ thuộc vào loại nghiệp vụ. Tuy nhiên, số vốn pháp định nói trên sẽ được tăng lên do các yếu tố lạm phát và sự phát triển của thị trường. Ngoài ra, số vốn cổ phần đã đóng không được thấp hơn vốn pháp định và không thấp hơn 20 – 50% số vốn điều lệ của công ty. Các nước cũng quy định mức yêu cầu ký quỹ tương đương 25% vốn pháp định.

    Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ đáp ứng các yêu cầu về biên khả năng thanh toán và trích lập đủ các khoản sự phòng nghiệp vụ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, các nước EU đã từ bỏ việc áp dụng chế độ tái bảo hiểm bắt buộc cho một tổ chức do Chính phủ chỉ định. Trừ các loại hình bảo hiểm bắt buộc, các bên tham gia bảo hiểm có toàn quyền thoả thuận các điều kiện của hợp đồng bảo hiểm, cũng như ấn định mức phí bảo hiểm thích hợp.

    Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm được EU kiểm soát khá chặt chẽ. Pháp luật các nước đều có sự phân định các loại tài sản mà một doanh nghiệp bảo hiểm có thể dùng để đầu tư, bao gồm: các quỹ dự phòng nghiệp vụ để chi trả các khiếu nại cho người được bảo hiểm và các tài sản dùng để thanh toán cho các chủ nợ khác. Do có các tính chất khác nhau, mỗi loại tài sản phải tuân theo các quy định riêng về đầu tư. Nguyên tắc của hoạt động đầu tư mà các doanh nghiệp đều phải tuân thủ là “đa dạng hoá, phân tán rủi ro và đảm bảo tính thanh khoản cao” nhằm đáp ứng các yêu cầu về độ an toàn và khả năng sinh lời. Mặc dù có mức độ tự do hoá cao, các nước EU vẫn chú trọng yêu cầu “nội địa hoá tài sản đầu tư”, theo đó, các tài sản tạo thành biên khả năng thanh toán phải được cất giữ lại một nước EU, nơi có hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Theo định kỳ, doanh nghiệp bảo hiểm phải báo cáo cho cơ quan quản lý bảo hiểm về cơ cấu tài sản và biến động trong danh mục đầu tư của mình.

    Do những đặc thù riêng, hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm được kiểm soát chặt chẽ hơn qua việc quản lý các thoả thuận tái bảo hiểm của các công ty nhượng tái và hoạt động tái bảo hiểm của công ty bảo hiểm gốc trong nước. Các nước đều áp dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các công ty nhận tái bảo hiểm là các công ty có uy tín trên thị trường và có năng lực tài chính tốt, đảm bảo đáp ứng các trách nhiệm phát sinh theo hợp đồng tái bảo hiểm.

    Tất cả các nước EU đều duy trì ít nhất một loại bảo hiểm bắt buộc. Đó là bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba. Ngoài ra, ở một số nước, bảo hiểm trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người làm công, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cũng là bắt buộc. Thông thường, phí bảo hiểm bắt buộc chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lý bảo hiểm.

    2. Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở Trung Quốc.

    Trong những năm qua, ngành bảo hiểm Trung Quốc đã có những bước phát triển rất nhanh chóng và mạnh mẽ. Theo Uỷ ban giám sát quản lý bảo hiểm Trung Quốc, trong thời gian qua, các công ty bảo hiểm trong nước của Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ rất tốt. So với cùng kỳ năm 2002, tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng hơn 58%, trong đó bảo hiểm nhân thọ tăng hơn 84%. Theo dự đoán của nhiều chuyên gia, trong 5 năm tới, nhịp độ tăng trưởng của ngành bảo hiểm Trung Quốc có thể đạt tới 20 – 30%, và xu thế này có thể kéo dài trong 15 – 20 năm. Đến năm 2005, tổng doanh thu phí bảo hiểm thương nghiệp của Trung Quốc sẽ đạt tới 5000 tỷ NDT, chiếm 12% GDP, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ sẽ đạt tới 3000 tỷ NDT, chiếm 6,8% GDP, sẽ vượt qua Anh, Đức, Pháp, về tổng doanh thu phí sẽ đứng thứ 5 thế giới. (Nguồn: www.vnn.vn, ngày 3/12/2003)

    Sự ra đời của Công ty bảo hiểm Tân Cương vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX và hàng loạt các công ty bảo hiểm mới cùng với sự tham gia của các tập đoàn bảo hiểm nước ngoài đã xoá bỏ tình trạng độc quyền của Công ty bảo hiểm nhân dân Trung Quốc (PICC), tạo môi trường cạnh tranh mới. Hệ thống thị trường bảo hiểm được xây dựng, trong đó không chỉ có sự tham gia của người bảo hiểm, người được bảo hiểm mà còn có các cơ quan môi giới bảo hiểm. Hiệp hội bảo hiểm Trung Quốc được thành lập với ính chất là một bộ máy tổ chức toàn quốc có tính tự nguyện. Hội những người tiêu dùng cũng được hình thành nhằm nâng cao hiểu biết, bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm. Hệ thống pháp lý giám sát, quản lý bảo hiểm chuyên nghiệp được xây dựng với Luật bảo hiểm và Uỷ ban giám sát, quản lý bảo hiểm có chi nhánh ở các địa phương trong nước. Sau khi đã kiện toàn về pháp lý giám sát, quản lý bảo hiểm Trung Quốc mới tiến hành thị trường hoá tỷ lệ phí bảo hiểm để tránh gây rối loạn thị trường.

    Trước thách thức cạnh tranh của hàng chục công ty bảo hiểm nước ngoài thâm nhập vào thị trường, Trung Quốc cũng đã tham khảo, học tập các kinh nghiệm thành công và các biện pháp quản lý tiên tiến của các công ty bảo hiểm nước ngoài để đổi mới các công ty bảo hiểm trong nước. Trung Quốc đã tiến hành cải cách mô hình tổ chức ở các công ty bảo hiểm và thực hiện những biện pháp quản lý mới. Cách thức tổ chức theo kiểu cũ với hình thức quản lý, phân cấp theo hệ thống dọc đã được thay thế bằng mô hình tổ chức mới có tính co giãn linh hoạt. Mô hình này có rất ít cấp quản lý, giảm bớt rất nhiều các cấp trung gian trong bộ phận chức năng của doanh nghiệp. Nhiều ban, nhóm được hình thành với những cán bộ chuyên trách để tăng hiệu quả làm việc, đồng thời các công ty cũng tiến hành đào tạo hoặc tuyển dụng từ nước ngoài những nhân tài có phẩm chất tốt.

    Việc học hỏi kinh nghiệm phát triển ở những nước có nền bảo hiểm phát triển như các nước EU cũng như từ Trung Quốc – nước có nhiều mặt tương đồng với Việt Nam là rất cần thiết. Để ngành bảo hiểm Việt Nam có được những bước tiến vững chắc, quá trình nghiên cứu sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, cũng như việc áp dụng sẽ phải rất linh hoạt.

    VIII.  MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

    Để hoàn thành tốt những mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra, ngành bảo hiểm sẽ phải nỗ lực rất nhiều để tăng tốc độ phát triển trong khi vẫn đạt hiệu quả cao. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực từ rất nhiều phía: các cơ quan Nhà nước, các công ty bảo hiểm trên thị trường, cũng như những cá nhân, tổ chức khác có lên quan. Các bộ phận trên cần thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời, phải có được sự phối hợp chặt chẽ với nhau để có thể đạt được những mục tiêu mà chiến lược phát triển ngành bảo hiểm đã đề ra.

    1. Về phía nhà nước

    Ngành bảo hiểm nước ta vẫn còn rất non trẻ, mới thực sự bắt đầu phát triển trong vòng 10 năm trở lại đây nên. Đây lại là một ngành có nhiều đặc thù riêng và có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế. Do vậy, vai trò của Nhà nước trong quản lý, phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm là rất to lớn. Trong giai đoạn tới đây, Nhà nước cần thực hiện tốt công tác quản lý, tạo được môi trường pháp lý thuận lợi, đồng thời có những cơ chế, chính sách ưu đãi để ngành bảo hiểm có được những bước phát triển ổn định và đúng hướng.

    1.1. Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước

    Luật KDBH đã có những quy định rất rõ ràng về các cơ quan quản lý Nhà nước và các nội dung quản lý về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Theo điều 121, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm với cơ quan chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ là Bộ Tài chính. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng có trách nhiệm quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Như vậy, để hoạt động kinh doanh bảo hiểm được diễn ra thuận lợi và đúng luật, các cơ quan kể trên sẽ phải hoàn thành tốt công tác quản lý, cụ thể là 10 nội dung quy định tại điều 120 của Luật KDBH.

    Để tạo sự yên tâm cho các công ty kinh doanh bảo hiểm, Nhà nước cần phải tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh an toàn, ổn định,  bình đẳng và thuận lợi. Điều này thể hiện trước hết ở việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường. Trong công tác quản lý, Nhà nước cần sử dụng các công cụ pháp lý một cách thích hợp và hiệu quả, đặc biệt cần phải hạn chế tối đa sự cạnh tranh không lành mạnh, kiểm soát độc quyền, đảm bảo một môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng. Nhà nước cũng phải có chủ trương đổi mới phương thức và nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tiến dần tới thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực quản lý bảo hiểm quốc tế.

    Việc thực hiện các chính sách vĩ mô cũng cần được tiến hành một cách tích cực và đảm bảo hiệu quả cao. Chức năng kinh doanh của doanh nghiệp và chức năng quản lý kinh tế của các cơ quan Nhà nước cần được phân biệt rõ ràng. Nhà nước giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông qua hệ thống các chỉ tiêu về hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật, không can thiệp hành chính vào hoạt động của các doanh nghiệp. Tới đây, Nhà nước sẽ chỉ đạo việc kiện toàn bộ máy tổ chức của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam để Hiệp hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.

    Do tính chất quan trọng của ngành bảo hiểm đối với nền kinh tế, trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước cũng cần phải tiến hành can thiệp và điều tiết thị trường. Việc duy trì vai trò chủ đạo của doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước vẫn hết sức quan trọng, nhằm tránh những tác động xấu của ngoại cảnh, cũng như tránh sự thâu tóm của các công ty nước ngoài. Việc thực hiện được công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ để nắm thế chủ động, trong khi vẫn tạo môi trường tự do kinh doanh là rất khó khăn, đòi hỏi nhiều kiến thức, kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm, cũng như sự linh hoạt trong việc áp dụng các công cụ quản lý Nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước phải mở cửa thị trường theo các hiệp định và cam kết quốc tế, ngành bảo hiểm đang đứng trước thách thức và vận hội mới, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước phải có những cải cách phù hợp. Do vậy, việc đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ quản lý Nhà nước về lĩnh vực bảo hiểm là rất cấp thiết.

    1.2. Xây dựng hệ thống văn bản pháp lý đầy đủ, thống nhất

    Luật KDBH được ban hành từ cuối năm 2000 và có hiệu lực từ 01/04/2001 đã tạo cơ sở pháp lý căn bản cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam. Cùng với Luật là rất nhiều văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành một cách cụ thể, tạo rất nhiều thuận lợi cho các đối tượng tham gia hoạt động bảo hiểm. Tuy nhiên, thực tế áp dụng trong thời gian qua cho thấy Luật và nhiều văn bản Luật vẫn còn nhiều chỗ chưa thống nhất, chưa đầy đủ, hoặc chưa thích hợp với điều kiện cụ thể của nước ta. Chính vì thế, tới đây, những nhà làm luật cần học hỏi thêm kinh nghiệm xây dựng luật của các nước, đồng thời có những nghiên cứu cụ thể các điều kiện của Việt Nam để có những điều chỉnh thích hợp hơn nữa.

    Sự thiếu hụt một khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cạnh tranh ở nước ta hiện nay đang gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của nhiều ngành nghề, trong đó bảo hiểm chịu tác động không nhỏ. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng đặt ra trong thời gian tới là Chính phủ cùng các bộ, ngành liên quan tiến hành nghiên cứu, soạn thảo và trình Quốc hội thông qua Luật Cạnh tranh. Trước khi Luật Cạnh tranh được ban hành, các cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cụ thể là Bộ Tài chính, cần ban hành thông tư, chế tài cụ thể để quản lý, kiểm soát hoạt động cạnh tranh và xử lý vi phạm về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm.

    1.3. Tạo cơ chế, chính sách ưu đãi, tạo môi trường thuận lợi để phát triển hoạt động bảo hiểm

    Ngoài việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước, xây dựng môi trường pháp lý đầy đủ, thống nhất, Nhà nước sẽ phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm để thị trường phát triển lành mạnh, an toàn, phù hợp với yêu cầu hội nhập, đồng thời vẫn bảo đảm tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Một chính sách phù hợp để khuyến khích việc tham gia bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức, khuyến khích việc mở rộng thị trường, phạm vi hoạt động của các công ty bảo hiểm là rất cần thiết.

    Trước hết, Nhà nước sẽ có chính sách khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ như sử dụng các ưu đãi về thuế như thực hiện việc khấu trừ một phần phí bảo hiểm mà người được bảo hiểm phải đóng ra khỏi thu nhập chịu thuế. Chính sách ưu đãi về thuế cũng có thể áp dụng cho số tiền bảo hiểm mà người được bảo hiểm được nhận bằng cách miễn một phần hay toàn bộ thuế phải đóng.

    Ngoài ra, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm bằng cách cho hưởng chính sách ưu đãi khi cung cấp các dịch vụ bảo hiểm trong các lĩnh vực có ý nghĩa kinh tế – xã hội cao như bảo hiểm nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ có tính chất đầu tư dài hạn… đặc biệt là ưu đãi cho những doanh nghiệp bảo hiểm chú trọng mở rộng phạm vi hoạt động đến các vùng sâu, vùng xa. Doanh nghiệp bảo hiểm được phép thành lập quỹ đầu tư, quỹ tín thác và công ty quản lý quỹ theo qui định của pháp luật. Các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng phí bảo hiểm thu được để đầu tư tại Việt Nam cũng được áp dụng các cơ chế, chính sách về đầu tư như các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước. Nhà nước cũng có thể ưu tiên các doanh nghiệp bảo hiểm bảo hiểm nhân thọ được đầu tư vào các dự án, công trình có độ an toàn về vốn lớn, lợi tức đầu tư cao… Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm cần được khuyến khích hiện đại hoá công nghệ quản lý kinh doanh, đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ trình độ theo các chuẩn mực quốc tế, được thuê chuyên gia trong nước và ngoài nước để quản lý một số lĩnh vực hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.

    2. Về phía các công ty bảo hiểm

    Để phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam, bên cạnh những điều kiện thuận lợi mà Nhà nước tạo ra, sự cố gắng hơn nữa của các công ty bảo hiểm trong việc phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để tạo sức mạnh bền vững là điều kiện tiên quyết.

    2.1. Nâng cao hơn nữa năng lực, tính cạnh tranh của các công ty bảo hiểm

    Đối với một công ty bảo hiểm, năng lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, kinh doanh… là những yếu tố rất quan trọng tạo nên sức mạnh. Nếu không tự hoàn thiện và nâng cao năng lực, các công ty bảo hiểm trong nước sẽ khó có thể đứng vững và thành công trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt như hiện nay. Trong giai đoạn tới, khi Nhà nước thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước chỉ giữ lại Bảo Việt, các công ty này sẽ phải tự hoạt động, cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Vì vậy, ngay từ bây giờ, các công ty bảo hiểm trong nước cần tự tạo cho mình một vị thế vững chắc, duy trì và mở rộng thị phần, tạo niềm tin ở khách hàng. Các công ty bảo hiểm không những phải đa dạng hoá sản phẩm,  nâng cao chất lượng dịch vụ, mà cũng phải chú trọng đến việc chăm sóc khách hàng, giải quyết nhanh chóng, hợp lý công tác bồi thường tổn thất trong các trường hợp xảy ra rủi ro được bảo hiểm. Việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ kinh doanh,  đại lý môi giới bảo hiểm cũng rất cần thiết.

    Các công ty bảo hiểm cũng cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác và quản lý hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm chi phí quản lý, hạ phí bảo hiểm một cách hợp lý. Hoạt động đầu tư cũng cần được đẩy mạnh một cách có hiệu quả, bằng cách tận dụng tối đa các công cụ đầu tư tài chính, tham gia tích cực vào thị trường chứng khoán. Khi tham gia đầu tư vào các công trình, các dự án có vốn lớn, các công ty cần chú trọng công tác thẩm định để đảm bảo mức độ an toàn, tính thanh khoản cũng như khả năng sinh lời cho đồng vốn.

    Hoạt động cạnh tranh trong thời gian tới báo hiệu sẽ rất sôi nổi, gay gắt. Tuy nhiên, trong quá trình củng cố chỗ đứng trên thị trường, các công ty cũng cần chú ý đến việc cạnh tranh một cách lành mạnh bằng chính chất lượng dịch vụ, uy tín nghề nghiệp, cùng với việc đầu tư hiệu quả, tiết kiệm chi phí hoạt động… Có như vậy, các công ty mới tạo được hình ảnh tốt, uy tín lớn đối với khách hàng. Với sự tham gia của nhiều công ty nước ngoài hơn trong thời gian tới, thị trường bảo hiểm hứa hẹn sẽ có những bước phát triển mới đòi hỏi tất các các công ty phải có chiến lược phát triển cụ thể để có thể thích nghi với môi trường kinh doanh mới, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, hướng tới nền kinh tế tri thức.

    2.2. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại

    Trong tình hình cạnh tranh đang ngày càng mạnh mẽ, hoạt động xúc tiến thương mại là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên thành công của một doanh nghiệp. Trong lĩnh vực bảo hiểm, yếu tố này có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức của người dân về sự cần thiết của bảo hiểm đối với nền kinh tế, cũng như đối với đời sống xã hội vẫn còn hạn chế. Đây là một cơ hội tốt để các doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao hiểu biết của người dân về bảo hiểm, đồng thời xây dựng được hình ảnh của công ty mình trong những khách hàng tiềm năng. Việc quảng bá các sản phẩm bảo hiểm, khuếch trương hình ảnh của công ty thông qua quảng cáo, qua các hoạt động xã hội mang tính nhân đạo là những phương thức mà các công ty nên hướng tới. Thực tế là cũng đã có nhiều công ty bảo hiểm thành công bằng phương pháp này như Bảo Việt, Prudential, AIA…

    Các công ty cũng nên thực hiện việc đa dạng hoá các kênh phân phối thông qua nhiều hình thức khác nhau. Một trong các phương pháp thường gặp hiện nay ở các công ty bảo hiểm là tiến hành qua hệ thống ngân hàng, qua các tổ chức tài chính. Qua đây, các công ty bảo hiểm sẽ có cơ hội tiếp cận với đông đảo các khách hàng giàu tiềm năng với khả năng tài chính cao và nhu cầu lớn. Ngoài ra, việc tiếp cận khách hàng bằng thư trực tiếp hoặc Internet cũng có thể mang lại hiệu quả rất cao. Trong xu thế thương mại điện tử đang ngày càng phát triển như hiện nay, việc bán bảo hiểm qua mạng đang ngày càng phổ biến. Hầu hết các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam đều đã có website riêng, song mới chỉ có một vài công ty cho phép khách hàng đăng ký mua bảo hiểm, cũng như thanh toán trực tuyến. Việc triển khai hình thức này vẫn còn nhiều khó khăn, do hạ tầng thông tin nước ta còn yếu kém, việc thanh toán bằng tiền mặt vẫn rất phổ biến… song đây cũng là một phương thức hiệu quả mà các công ty bảo hiểm cần lưu tâm.

    2.3. Tăng cường hợp tác trong nước, quốc tế

    Để tăng cường sức mạnh trong môi trường kinh doanh mới, bên cạnh việc phát huy nội lực, các công ty bảo hiểm rất cần phải bắt tay hợp tác với nhau trong nhiều mặt. Thông qua Hiệp hội bảo hiểm, các thành viên có thể có những tác động tích cực nhằm mở rộng, định hướng cho thị trường, duy trì sự cạnh tranh lành mạnh, chống trục lợi bảo hiểm… tạo điều kiện phát triển có lợi cho toàn ngành. Các công ty trong Hiệp hội nên cùng nhau thiết lập những quy tắc kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp trong ngành, xử lý những trường hợp vi phạm. Ngoài ra, các công ty cũng có thể liên kết với nhau tạo ra một tiếng nói chung để đóng góp ý kiến, kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước những giải pháp phát triển chung cho ngành bảo hiểm cũng như cùng nhau có những bước đi thích hợp khi thị trường có những diễn biến xấu. Đồng thời, việc hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc đào tạo cán bộ, đại lý, thu thập, sử dụng các số liệu thống kê liên quan, xây dựng, tăng cường uy tín và hình ảnh tốt đẹp của toàn ngành… sẽ giúp các công ty sử dụng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả khai thác nguồn thông tin, nguồn nhân lực…

    Không chỉ tăng cường hợp tác trong nước, các công ty bảo hiểm Việt Nam cũng phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Các công ty có thể tạo lập, củng cố mối quan hệ với các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm có kinh nghiệm, uy tín trong khu vực và quốc tế nhằm hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho nguồn nhân lực, trợ giúp về kỹ thuật, công nghệ, trao đổi thông tin… Việc thúc đẩy hợp tác quốc tế cũng sẽ mở ra những cơ hội kinh doanh mới cho cả hai phía, tạo thuận lợi cho ngành bảo hiểm Việt Nam vươn ra với thế giới.

    3. Về phía các tổ chức khác

    Để hoàn thành các mục tiêu mà Chính phủ đề ra cho ngành bảo hiểm trong giai đoạn 2003 – 2010, bên cạnh các việc những nỗ lực từ phía Nhà nước, từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm, sự tham gia của các tổ chức khác có liên quan sẽ có vai trò rất to lớn. Các doanh nghiệp thuộc nền kinh tế đều cần có nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan trọng của bảo hiểm, đồng thời, tích cực chủ động tham gia mua bảo hiểm cho tài sản, con người, cũng như trách nhiệm dân sự. Nhiều lĩnh vực bảo hiểm thiết yếu như bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trong nông nghiệp… chưa được các cá nhân, đơn vị quan tâm một cách đúng mức. Đặc biệt, với những lĩnh vực có tiềm năng lớn như bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm hàng không… các công ty bảo hiểm rất cần sự hợp tác của các bên liên quan. Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần nhận thức ý nghĩa của việc giành quyền mua bảo hiểm, để chuyển từ tập quán bán FOB, mua CIF sang bán CIF, mua FOB. Đồng thời, các doanh nghiệp này cũng nên chú trọng mua bảo hiểm ở những công ty trong nước, vừa tiết kiệm ngoại tệ, vừa thuận tiện trong giao dịch, trong giải quyết bồi thường, lại góp phần vào việc phát triển nền bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, sự phát triển của thị trường bảo hiểm cũng không thể tách rời khỏi sự phát triển chung của thị trường tài chính. Thời gian tới, thị trường chứng khoán, thị trường liên ngân hàng… phải được phát triển hơn nữa, đồng thời, các ngành bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán cần đẩy mạnh hợp tác. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh bất động sản cũng phải được chuẩn hoá theo nguyên tắc kinh tế thị trường.

     

    KẾT LUẬN

               Bảo hiểm là một lĩnh vực tài chính rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu phát triển ngành bảo hiểm như đã được đề ra trong “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”, ngành bảo hiểm Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm, trong đó, cả Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân liên quan đều phải hết sức nỗ lực và có sự phối hợp tích cực với nhau.

               Với đề tài “Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển”, em hy vọng có thể mang lại cái nhìn tổng thể nhất về thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay, cũng như đưa ra được những giải pháp thiết thực cho sự lớn mạnh của ngành. Những nghiên cứu của em có thể còn chưa hoàn toàn chính xác và đầy đủ, do vậy, em rất mong nhận được đóng góp nhiệt tình của thầy cô và các bạn. Một lần nữa, em xin được chân thành cảm ơn những người đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này, đặc biệt là thầy giáo TS. Vũ Sĩ Tuấn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bảo hiểm trong kinh doanh, TS. Hoàng Văn Châu, TS. Vũ Sĩ Tuấn, TS. Nguyễn Như Tiến, NXB Khoa học kỹ thuật, 2002
    2. Bảo hiểm – nguyên tắc và thực hành, TS. David Bland, NXB Tài chính, 1998.
    3. Giáo trình bảo hiểm, PGS.TS Hồ Sĩ Hà (chủ biên), NXB Thống kê, 2000.
    4. Nghị định 100/1993/NĐ – CP của Chính phủ về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
    5. Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10
    6. Nghị định 42/2001/NĐ – CP của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm
    7. Thông tư 71/2001/TT – BTC của Bộ Tài chính qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm
    8. Nghị định 77/2003/ NĐ – CP của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
    9. Quyết định 153/2003/QĐ – BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm
    10. Quyết định 175/2003/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”
    11. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2002 – Bảo Việt
    12. Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt, 2002
    13. Giới thiệu Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm tại các nước thuộc Liên minh Châu Âu – Bảo Việt
    14. Làm thế nào để bảo hiểm nhân thọ trở thành thói quen của người dân Việt Nam (Tạp chí bảo hiểm – số 3/2001)
    15. Cải cách mô hình tổ chức của công ty bảo hiểm Trung Quốc (Tạp chí bảo hiểm – số 3/2001)
    16. Tăng nhanh tốc độ thị trường hoá tỷ lệ phí bảo hiểm ở Trung Quốc (Tạp chí bảo hiểm – số 4/2001 và số 3/2002)
    17. Nhìn lại thị trường bảo hiểm nhân thọ sau 5 năm hoạt động (Tạp chí bảo hiểm – số 1 và 2/2002)
    18. Kinh doanh bảo hiểm – kênh huy động vốn đầu tư có hiệu quả (Tạp chí Tài chính – số 2/2001)
    19. Nâng cao tiềm lực tài chính quốc gia, đảm bảo chíên lược thị trường kinh tế nhanh, bền vững (Tạp chí Tài chính – số 1/2001)
    20. Luật KDBH – các đặc trưng cơ bản của các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm (Tạp chí Tài chính – số 5/2001)
    21. Nhằm phát triển bền vững thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam (Tạp chí Tài chính – số 4/2002)
    22. Bảo hiểm và thị trường chứng khoán (Tạp chí Tài chính – số 11/2002)
    23. Bước đột phá của ngành bảo hiểm Việt Nam (Tạp chí Tài chính – số 11/2003)
    24. “Xã hội hoá bảo hiểm xã hội (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 6/1/2003)
    25. Tiềm năng thị trường bảo hiểm còn lớn (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 2/6/2003)
    26. Doanh thu phí bảo hiểm đầu tư vào đâu (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 23/6/2003)
    27. Cạnh tranh bảo hiểm phi nhân thọ (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 15/9/2003)
    28. Thông tin từ các website:

    + www.laodong.com.vn

    + www.vnexpress.net

    + www.vnn.vn

    + www.vneconomy.com.vn

    + www.mofa.gov.vn

    + www.mof.gov.vn

    + www.media.vdc.com.vn

    + www.tintucvietnam.com

    + www.vcci.com.vn

    + www.saigonnet.vn

    + www.vietlaw.gov.vn

    + www.baoviet.com.vn

    + www.prudential.com.vn

    + www.pjico.com.vn

    + www.aia.com.vn

    + www.via.com.vn

    + www.dddn.com.vn

    + www.bussiness.com.vn

    + www.aon.com.vn

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tổng quan về Logistics kinh doanh

    Tổng quan về Logistics kinh doanh

    Tổng quan về Logistics kinh doanh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận APL Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%E1%BB%95ng-quan-v%E1%BB%81-Logistics-kinh-doanh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổng quan về Logistics kinh doanh

    CHƯƠNG 1.             ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC

    1.1    Khái niệm,  bản chất và nội dung của logistics kinh doanh thương mại

    ” Logistics thật là độc đáo: nó không bao giờ dừng lại !Logistics diễn ra khắp quả địa cầu, 24 h một ngày, 7 ngày một tuần, và kéo dài suốt 52 tuần trong một năm”.

    1.1.1    Khái niệm

    Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hilạp (logistikos), để phản ánh một khoa học vận dụng các phép tư duy, suy luận, phương pháp và kỹ thuật logic hỗ trợ cho các quá trình chủ chốt. Như vậy, tư tưởng của logistics là một khoa học nghiên cứu các tính chất quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là logistics) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu.

    Thuật ngữ Logistics được đề cập nhiều trong lĩnh vực quân sự, bao gồm các hoạt động đảm bảo nguồn lực vật chất, nhân lực cho quân đội

    Logistics là ngành khoa học quân sự có liên quan đến các hoạt động tập trung, dự trữ và vận chuyển vật tư, con người và các phương tiện vật chất.

    (Guralnik, David B, ed, Webster/s mw wold Dictionary of American language. 2nd College edition – New york Simon & Schusten, 1980).

    Định nghĩa này không phù hợp với lĩnh vực kinh doanh do khác nhau về mục tiêu và hoạt động. Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ (CLM – Council of Logistic Management) thì:

    Logistics là quá trình hoạch định, thực thi và kiểm tra dòng vận động và dự trữ một cách hiệu quả của vật liệu thô, dự trữ trong quá trình sản xuất, thành phẩm và thông tin từ điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng.

    Các chuyên gia về marketing và logistics cũng có định nghĩa tương tự. Như vậy, logistics là một hệ thống bắt đầu từ nguồn cung cấp vật liệu và kết thúc khi đã phân phối hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng. Tham gia hệ thống logistics bao gồm nhiều tổ chức. Các trung gian thương mại thực hiện các hoạt động logistics trong kênh phân phối. Vậy:

    Logistics kinh doanh thương mại là quá trình phân phối hàng hoá thông qua các hành vi thương mại (mua, bán), bao gồm việc hoạch định, thực thi và kiểm tra dòng vận động của hàng hoá, dịch vụ và thông tin từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu mua hàng của khách hàng và thu được lợi nhuận.

    Thông qua định nghĩa, chúng ta nhận thấy:

    – Logistics là quá trình quản trị, là chức năng quản trị cơ bản của doanh nghiệp thương mại; kinh doanh thương mại là kinh doanh dịch vụ logistics.

    – Logistics thương mại là quá trình dịch vụ khách hàng thông qua các hành vi mua, bán hàng hoá.

    – Nhu cầu của khách hàng trong logistics là nhu cầu mua hàng: những lợi ích có được trong khi mua hàng – dịch vụ mặt hàng về số lượng, cơ cấu, và chất lượng; nhu cầu dịch vụ về thời gian cả về tốc độ, độ ổn định, và tính linh hoạt; nhu cầu dịch vụ về địa điểm; nhu cầu lợa chọn hàng hoá; và nhu cầu dịch vụ bổ sung.

    1.1.2    Bản chất của logistics kinh doanh thương mại

    Thông qua định nghĩa, thì rõ ràng, bản chất của logistics là dịch vụ khách hàng – là quá trình cung cấp các giá trị gia tăng cho khách hàng trong hệ thống kênh phân phối hàng hoá với hiệu lực chi phí cao nhất.

    Khách hàng của logistics là bất kỳ những ai được cung ứng hàng hoá. Trong kinh doanh thương mại, khách hàng của logistics bán lẻ (và cũng là của kinh doanh thương mại bán lẻ ) là người tiêu dùng và hộ gia đình; khách hàng của logistics bán buôn (và cũng là của kinh doanh thương mại bán buôn ) là các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, hoặc các doanh nghiệp thương mại bán buôn khác, các khách hàng công nghiệp, khách hàng chính phủ. Sản phẩm của logistics là dịch vụ khách hàng và do đó sản phẩm của kinh doanh thương mại chính là dịch vụ logistics-dịch vụ khách hàng. Khác với các loại dịch vụ thông thường, dịch vụ logistics luôn luôn gắn với đối tượng vật chất hữu hình – hàng hoá, là quá trình sáng tạo, cung ứng các giá trị gia tăng trong hệ thống kênh phân phối hàng hoá.

    1.1.3    Nội dung của quản trị logistics kinh doanh thương mại

    Như đã trình bày ở trên, kinh doanh thương mại là kinh doanh dịch vụ logistics, và do đó toàn bộ hoạt động tạo ra giá trị của doanh nghiệp nằm trong quá trình logistics. Các hoạt động logistcs kinh doanh thương mại thể hiện trên hình 1.1.

    • Hình 1.1. Quá trình logistics trong doanh nghiệp thương mại

    Có nhiều cách phân loại nghiệp vụ logistics: Theo khách hàng (logistics bán buôn và logistics bán lẻ); theo quá trình nghiệp vụ (logistics nội bộ và logistics bán hàng) và theo mức độ ảnh hưởng (hoạt động cơ bản và hoạt động hỗ trợ).

    Theo mức độ và vai trò ảnh hưởng của các quyết định logistics trong doanh nghiệp thì có thể phân loại thành những hoạt động cơ bản và bổ trợ như sau:

    a.  Quản trị các hoạt động then chốt:

    a.1.          Các tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng kết hợp với marketing để:

    – Xác định nhu cầu và mong muốn của khách hàng về dịch vụ logistics.

    – Xác định sự đáp ứng của khách hàng về dịch vụ.

    – Chọn mức dịch vụ khách hàng.

    a.2.          Qui hoạch các cơ sở Logistics KDTM
    • Mạng lưới bán lẻ hàng hoá
    • Mạng lưới kho hàng hoá
    a.3.          Vận chuyển:

    – Chọn phương thức vận chuyển

    – Lựa chọn phương tiện vận tải.

    – Xác định tuyến đường vận chuyển.

    – Phối hợp vận chuyển.

    – Thiết kế quá trình nghiệp vụ vận chuyển

    – Xử lý các yêu cầu.

    – Kiểm soát cước phí.

    a.4.          Quản trị dự trữ.

    – Phân loại hàng hóa và các mục tiêu dự trữ

    – Xác định hệ thống dự trữ

    – Các mô hình kiểm tra và xác định qui mô lô hàng

    – Xác định dự trữ bảo hiểm

    a.5.          Quá trình cung cấp hàng hoá cho khách hàng

    – Cung ứng hàng hoá cho khách mua buôn.

    – Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    b.              Các hoạt động hỗ trợ

    b.1.          Quản trị nghiệp vụ  kho:

    – Thiết kế quá trình nghiệp vụ kho

    – Qui hoạch diện tích kho

    – Cung ứng thiết bị kho

    – Tổ chức lao động kho

    b.2.          Quản trị mua hàng:

    – Chọn nguồn hàng

    – Xác định chính sách mua

    – Quá trình nghiệp vụ mua

    b.3.          Quản trị nghiệp vụ bao bì và bao gói:

    – Chức năng Logistics và marketing

    – Thiết kế và lựa chọn bao bì

    – Quá trình nghiệp vụ bao bì

    b.4.          Đảm bảo thông tin:

    – Hệ thống thông tin

    – Dòng thông tin

    1.2    Những đặc trưng cơ bản của logistics kinh doanh thương mại.

    Logistics kinh doanh thương mại là một loại hình dịch vụ khách hàng, và do đó có những đặc điểm chung của các loại dịch vụ. Tổng hợp những đặc điểm chung và riêng của logistics kinh doanh thương mại là những đặc trưng sau:

    1.2.1    Luôn luôn gắn liền với sự vận động của hàng hoá.

    Đây là đặc trưng cơ bản của logistics. Logistics kinh doanh thương mại tuy là dịch vụ, nhưng luôn luôn được tiến hành cùng với hàng hoá – đối tượng vật chất hữu hình. Như vậy, dịch vụ logistics phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá của khách hàng, đồng thời thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá. Chính vì vậy, quản trị hiệu quả logistics kinh doanh thương mại trước hết phải quản trị tốt dịch vụ mặt hàng kinh doanh, bao gồm cả việc mua hàng và dự trữ hàng hoá.

    1.2.2    Đặc trưng thống nhất của các nghiệp vụ logistics

    Quá trình logistics kinh doanh thương mại là hệ thống các nghiệp vụ có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất, bắt đầu từ việc mua hàng ở nguồn hàng, vận chuyển, bảo quản ở trong kho, cửa hàng và kết thúc khi hàng hoá được phân phối và bán cho khách hàng. Quá trình nghiệp vụ logistics thống nhất vào dòng dự trữ và thông tin, thể hiện ở hình 1.2.

     
       
    • Hình 1.2. Đặc trưng thống nhất của các nghiệp vụ Logistics

    Dòng dự trữ là quá trình vận động của hàng hoá từ khi mua hàng ở các nguồn hàng và kết thúc khi hàng hoá được bán cho khách hàng. Dòng thông tin logistics (LIS) bao gồm: dòng hoạch định phối hợp và dòng nghiệp vụ. Như vậy, giữa các yếu tố của quá trình quản trị và nghiệp vụ có mối liên hệ thông tin chặt chẽ.

    1.2.3    Đặc trưng chu kỳ của quá trình logistics

    Chu kỳ nghiệp vụ logistics là đơn vị cơ sở để phân tích hệ thống logistics. Nghiên cứu chu kỳ nghiệp vụ logistics cho ta tổng quan động thái, ranh giới và các quyết định liên quan, phối hợp với nhau để tăng cường hệ thống nghiệp vụ. Ởcấp cơ sở, nguồn hàng, doanh nghiệp thương mại và khách hàng liên kết với nhau bằng truyền tin và vận chuyển. Những vị trí hợp lý mà các chu kỳ hoạt động nghiệp vụ liên kết với nhau được coi là “nút”. Ởcác “nút”, chu kỳ nghiệp vụ đòi hỏi phải có dự trữ.

    Về bản chất, cấu trúc chu kỳ nghiệp vụ logistics là hệ thống thực thi logistics thống nhất; chu kỳ nghiệp vụ logistics là đơn vị cơ sở để thiết kế và kiểm tra nghiệp vụ

    Có 3 quan điểm quan trọng để nắm vững cấu trúc hệ thống logistics thống nhất:

    – Chu kỳ nghiệp vụ là đơn vị cơ sở để phân tích các chức năng logistics.

    – Cấu trúc chu kỳ nghiệp vụ về cơ bản là không thay đổi dù chúng có liên hệ với các chu kỳ khác nhau.

    – Bất kể cấu trúc hệ thống logistics có rộng và phức tạp như thế nào đi chăng nữa thì ranh giới bản chất và quá trình quản trị phải được xác định và đánh giá trong phạm vi từng chu kỳ khi nghiên cứu tổng hợp quá trình. Trong hệ thống logistics kinh doanh thương mại, về cơ bản có 3 loại chu kỳ:

    a.             Chu kỳ bán hàng trong thương mại:

    Chu kỳ logistics bán buôn được thể hiện trên hình 1.3.

     
       
    • Hình 1.3. Chu kỳ bán buôn hàng hóa

    b.              Chu kỳ bán lẻ hàng hoá

    Chu kỳ bán lẻ hàng hóa được thể hiện trên hình 1.4

     
       
    • Hình 1.4. Chu kỳ bán lẻ hàng hóa

    c.              Chu kỳ hỗ trợ (nghiệp vụ kho hoặc cửa hàng bán lẻ )

    Chu kỳ nghiệp vụ kho được thể hiện trên hình 1.5

    • Hình 1.5. Chu kỳ nghiệp vụ kho hàng hóa

    d.              Chu kỳ nghiệp vụ mua hàng: được thể hiện ở hình 1.6

     
       
    • Hình 1.6. Chu kỳ mua hàng

    1.2.4    Đặc trưng không ổn định của các nghiệp vụ logistics

    Các nghiệp vụ logistics có đặc trưng không ổn định về thời gian thực hiện do sự không ổn định của các tác nghiệp trong từng chu kỳ. Các tác nghiệp này thường bị biến đổi là có nhiều nhân tố tác động. Ví dụ về phân phối thời gian thực hiện các thao tác nghiệp vụ trong cả chu kỳ bán – thực hiện đơn đặt hàng cho khách hàng như hình 1.7

     
       

     

    • Hình 1.7. Phân phối thời gian cho cả chu kỳ thực hiện đơn đặt hàng

    Phân phối thời gian của cả chu kỳ chịu ảnh hưởng của phân phối thời gian các tác nghiệp trong quá trình thực hiện đơn đặt hàng (hình 1.7a – 1.7e)

           
         
       
     

     

     

     

           
         
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

                                          

    Mục tiêu cơ bản của quản trị logistics là giảm bớt sự không ổn định trong chu kỳ nghiệp vụ logistics. Vấn đề khó khăn là ở chỗ, bản thân cấu trúc chu kỳ hoạt động, điều kiện nghiệp vụ, chất lượng nghiệp vụ phối hợp với nhau làm tăng thêm sự không ổn định. Để quản trị được mục tiêu này, cần phải quản trị tốt toàn bộ hệ thống logistics: tổ chức mạng lưới logistics hợp lý, cải tiến hệ thống thông tin, quản trị dự trữ, cải tiến các nghiệp vụ logistics công nghệ hoá các quá trình.

    1.3    Nhiệm vụ của logistics kinh doanh thương mại

    Sản phẩm của logistics là dịch vụ khách hàng, do đó, nhiệm vụ bao gồm: dịch vụ và chi phí.

    a.              Phải tăng cường chất lượng dịch vụ khách hàng.

    Theo kết quả nghiên cứu những khiếu nại của khách hàng, thì có những dữ liệu như sau:

    • 31% là về chất lượng sản phẩm
    • 44% là do chuyển giao hàng đến chậm
    • 12% là do hàng hoá bị hư hỏng, hoặc hao hụt
    • 6% là do cơ cấu mặt hàng không đầy đủ như yêu cầu
    • 7% – các lý do khác

    Những con số nói trên cho ta thấy điều gì? Sự yếu kém về chất lượng sản phẩm chỉ chưa chiếm tới 1/3 trong số các khiếu nại. Còn lại là do sự yếu kém của hoạt động dịch vụ, mà chủ yếu là logistics, đã làm khách hàng không được hài lòng. Bởi vậy, đây chính là điểm mà logistics phải khắc phục. Và đồng thời cũng phải nhận thức được rằng đây chính là mục tiêu số một của lĩnh vực này.

    Chất lượng dịch vụ khách hàng trong logistics được đo lường bởi các tiêu chuẩn sau:

    a.1.          Tiêu chuẩn 1: Tiêu chuẩn đầy đủ về hàng hoá.

    Các cơ sở logistics phải đảm bảo dự trữ thoả mãn nhu cầu về hàng hoá cho khách hàng cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào hệ thống quản trị dự trữ và tổ chức mạng lưới logistics (kho, cửa hàng ). Những chỉ tiêu đánh giá tiêu chuẩn này bao gồm:

    – Tần số thiếu dự trữ: Là khả năng xẩy ra thiếu dự trữ, hay là hàng hoá có đủ để bán cho khách hàng không. Chỉ tiêu này ra: bao nhiêu lần nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp hàng hoá.

    – Tỷ lệ đầy đủ: Đo lường tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của thiếu dự trữ trong cả một thời gian. Tỷ lệ đẩy đủ phụ thuộc vào tần số thiếu dự trữ, thể hiện mưc độ đáp ứng nhu cầu mua hàng của khách.

    Tần số thiếu dự trữ và tỷ lệ đầy đủ liên quan đến chính sách và chiến lược dự trữ.

    – Thời gian bổ sung dự trữ: Là thông số thời gian để có dự trữ đáp ứng yêu cầu bán hàng.

    Ba chỉ tiêu này phối hợp với nhau để xác định phạm vi mà chiến lược dự trữ của doanh nghiệp đap sứng những mong đợi của khách hàng.

    a.2.          Tiêu chuẩn 2: Tiêu chuẩn vận hành nghiệp vụ

    Tiêu chuẩn này được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

    – Tốc độ: là chi phí thời gian mua hàng của khách hàng. Trong bán buôn: là thời gian kể từ khi đặt hàng đến khi giao hàng. Chỉ tiêu này rất khác nhau tuỳ thuộc vào tổ chức hệ thống logistics (mạng lưới, thông tin, vận chuyển, …). Tốc độ cung ứng hàng hoá ảnh hưởng đến thời cơ kinh doanh và chi phí của khách hàng. Trong bán lẻ: chi phí thời gian mua hàng theo các phương pháp bán hàng kể từ khi quyết định cho khách hàng có được hàng hoá. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào việc hoàn thiện các phương pháp bán hàng, phân bố mạng lưới, hình thức tổ chức kinh doanh (loại hình cửa hàng ). Tuỳ thuộc vào đặc trưng nhu cầu mua hàng mà xác định thời gian mua hàng phù hợp. Chẳng hạn, hàng đơn giản không cần lựa chọn có nhu cầu hàng ngày thì phải rút ngắn thời gian mua hàng.

    – Độ ổn định: là sự giao động về chi phí thời gian mua hàng của khách so với trung bình. Trong bán buôn: độ ổn định kém làm cho khách hàng phải tăng dự trữ bảo hiểm để chống lại việc cung ứng chậm trễ. Độ ổn định liên quan đến tiêu chuẩn đầy đủ và dự trữ, năng lực quản trị quá trình cung cấp hàng hoá. Trong bán lẻ: sự giao động thời gian mua hàng ảnh hưởng đến thời điểm và thời gian tiêu dùng hàng hoá, và do đó, không thoả mãn nhu cầu về thời gian cho khách hàng.

    – Độ linh hoạt: là khả năng đáp ứng những yêu cầu dịch vụ bất thường của khách hàng (về hàng hoá, về thời gian, về địa điểm cung ứng và các dịch vụ khác ). Những tình thế chủ yếu cần phải độ linh hoạt nghiệp vụ là:

    + Có những biễn đổi trong hệ thống dịch vụ cơ bản: thay đổi thời gian giao hàng (bán buôn ); phát triển các phương pháp bán hàng và dịch vụ bổ sung (bán lẻ ).

    + Cần phải hỗ trợ cho chương trình marketing và bán hàng.

    + Kinh doanh mặt hàng mới và áp dụng phương pháp bán mới.

    + Chuyển giai đoạn chu kỳ sống sản phẩm.

    + Tình trạng gián đoạn trong cung ứng.

    + Tái đặt hàng.

    + Định hướng khách hàng theo trình độ dịch vụ.

    + Thay đổi mặt hàng hoặc định hướng khách hàng trong hệ thống logistics như làm giá, bao gói, …

    – Độ sai sót nghiệp vụ: Mức độ vi phạm những yêu cầu của khách hàng về: mặt hàng, thời gian, ….Cần phải thiết kế các chương trình không lỗi và có các phương án khắc phục những sai sót.

    a.3.          Tiêu chuẩn 3: Độ tin cậy.

    Độ tin cậy thể hiện tổng hợp chất lượng logistics. Độ tin cậy bao gồm khả năng thực hiện tiêu chuẩn 1 và 2, khả năng cung cấp thông tin cho khách hàng chính xác, khả năng cải tiến liên tục các nghiệp vụ.

    Cần phải xác định 3 vấn đề khi đo lường chất lượng dịch vụ: biến số đo, đơn vị đo, cơ sở đo.

    b.  Phải giảm tổng chi phí của cả hệ thống logistics.

    Tổng chi phí của hệ thống logistics được đo lường theo công thức sau:

    å F = Fm+ Fv+ Fd+ Ft+ Fđ

    Ở đây: å F – Tổng chi phí hệ thống logistics

    Fm = gm ´ M – Chi phí giá trị hàng hoá mua

    gm:  Giá mua hàng chịu ảnh hưởng của qui mô lô hàng

    M:  Tổng lượng hàng hoá mua trong kỳ kế hoạch

    Fv = gv ´ M – Cước phí vận chuyển hàng hoá

    gv:  Giá cước vận chuyển hàng chịu ảnh hưởng của qui mô lô hàng

    Fd = f + fdq + fb – Chi phí dự trữ hàng hoá

    f = k ´ gm ´ (mtb ´ ttb) – Chi phí dự trữ trên đường

    k – Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ trên đường (%)

    mtb – Mức tiêu thụ hàng hoá bình quân một ngày

    ttb – Thời gian trung bình vận chuyển hàng hoá

    fdq = kdk ´ gk ´  -Chi phí dự trữ lô hàng ở kho

    kdk – Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ tại kho (%)

    gk = gm + gv – Giá hàng hoá nhập kho

    Q – Qui mô lô hàng nhập kho

    fb = kdk ´ gk ´ d ´ z – Chi phí dự trữ bảo hiểm hàng hoá ở kho

    d =  – Độ lệch tiêu chuẩn chung

    dm – Độ lệch tiêu chuẩn nhu cầu

    dh – Độ lệch tiêu chuẩn thời gian thực hiện đơn đặt hàng

    th – Thời gian bình quân thực hiện đơn đặt hàngcủa nguồn hàng

    tk – Thời gian chu kỳ kiểm tra dự trữ hàng hoá (trường hợp kiểm tra định kỳ dự trữ )

    z – Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn tương ứng với xác suất đảm bảo dự trữ hàng hoá tại kho pr (tra bảng)

    Ft = – Chi phí thiếu bán hàng hoá

    t – Chi phí thiếu bán 1 đơn vị hàng hoá

    (z) – Hàm phân phối chuẩn tương ứng với chỉ số độ lệch z (tra bảng)

    Fđ = – Chi phí đặt hàng

    h – Chi phí một lần đặt hàng

    Như vậy, chi phí của cả hệ thống logistics chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và vận động theo những chiều hướng ngược nhau dưới ảnh hưởng của qui mô lô hàng nhập. Vấn đề là phải xác định qui mô lô hàng hợp lý, đảm bảo cho tổng chi phí thấp nhất.

    1.4    Tối ưu hoá dịch vụ logistics

    Giữa trình độ dịch vụ khách hàng và chi phí Logistics có mối quan hệ xác định. Khi tăng trình độ dịch vụ khách hàng, chi phí tăng và ngược lại. Tuy nhiên trong điều kiện môi trường xác định, mối quan hệ này nằm trên một đường cong hợp lý thể hiện trên đồ thị của hình 1.10.

    Những phương án hoạt động Logistics thể hiện mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí nằm trên đường cong là hợp lý, có nghĩa với điều kiện môi trường xác định, với trình độ dịch vụ nhất định, đòi hỏi phải đầu tư một lượng chi phí xác định; Những phương án có điểm giao nhau giữa trình độ dịch vụ và chi phí Logistics nằm phía trên đường cong là không hợp lý, có nghĩa với lượng chi phí bỏ ra chỉ có thể đem lại trình độ dịch vụ thấp hơn, và do đó có thể cải thiện trình độ dịch vụ lên ở mức cao hơn.

    Trên đường cong hợp lý, có một điểm mà tại đó, ứng với trình độ dịch vụ nhất định, đòi hỏi chi phí xác định, nhưng có thể cho ta một mức lợi nhuận cao nhất. Trình độ dịch vụ đó gọi là trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu.

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    • Hình 1.8. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí

    Tối ưu hoá dịch vụ logistics là quá trình xác định trình độ dịch vụ khách hàng để đạt được khả năng lợi nhuận tối đa. Xác định trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu có liên quan đến mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí.

    1.4.1    Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu

    Kết quả bán hàng chịu ảnh hưởng bởi trình độ cung cấp dịch vụ logistics cho khách hàng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, dịch vụ logistics có ảnh hưởng đến doanh số và sau đó là doanh thu, thị phần. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu được thể hiện trên hình 1.9

    Có 4 phương pháp xây dựng mô hình quan hệ doanh số dịch vụ: phương pháp 2 điểm, phương pháp trước và sau kinh nghiệm, phương pháp trò chơi, và phương pháp điều tra người mua.

    a.  Phương pháp 2 điểm:

    Phương pháp này bao gồm việc tạo nên 2 điểm trên đường cong quan hệ doanh thu – dịch vụ mà qua đó, đường thẳng bị cắt. Đường này được coi như xấp xỉ với quan hệ đường cong, thể hiện ở hình 1.10.

    .

    • Hình 1.9. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu
    • Hình 1.10. Phương pháp 2 điểm xác định quan hệ doanh thu – dịch vụ

    Phương pháp này dựa trên ý kiến cho rằng, các điểm xác định đường cong khá tốn kém hoặc không thực tế, và khó có khả năng mô tả mối quan hệ với độ chính xác cao.

    Phương pháp này bao gồm trước hết chọn dịch vụ logistics khách hàng ở trình độ cao cho sản phẩm xác định và xem xét doanh thu có thể đạt được. Sau đó giảm dịch vụ đến mức thấp và ghi lại doanh thu. Tuy kỹ thuật có vẻ đơn giản, nhưng một số vấn đề có thể hạn chế ích lợi của phương pháp. Thứ nhất, không thể thay đổi trình độ dịch vụ đối với sản phẩm đang bán để thu thập thông tin đáp ứng doanh thu. Thứ hai, Thời lượng mà dịch vụ thay đổi là đang hiệu quả, khách hàng nào sẽ cho thông tin thay đổi, và các hoạt động nào khác ảnh hưởng đến doanh thu (xúc tiến, giá, chất lượng sản phẩm, …) có thể là các biến ảnh hưởng đến kết quả doanh thu.

    b.  Phương pháp trước và sau thử nghiệm:

    Việc xây dựng đường cong doanh thu – dịch vụ ở phạm vi rộng có thể là không thực tế. Do đó, đáp ứng doanh thu có thể đơn giản được xác định bằng cách tạo ra sự thay đổi trình độ dịch vụ khách hàng và theo dõi sự thay đổi doanh thu, hoặc bằng cách quan sát ảnh hưởng tương tự từ các báo cáo lịch sử khi dịch vụ thay đổi trong quá khứ. Sự thay đổi dịch vụ cần đủ lớn sao cho những khác biệt doanh thu không bị che lấp bởi dao động doanh thu bình thường hoặc do sai số đo lường.

    Phương pháp này tương tự phương pháp 2 điểm, tuy nhiên nó dễ thực hiện do trình độ dịch vụ hiện tại được coi là “trước” điểm dữ liệu, và chỉ cần biết “sau”điểm dữ liệu.

    c.   Phương pháp trò chơi:

    Đúng đắn hơn trong việc đo lường sự đáp ứng doanh thu với sự thay đổi dịch vụ là kiểm soát môi trường sao cho chỉ xác định ảnh hưởng của trình độ dịch vụ logistics khách hàng. Phương pháp này giống như tạo ra phòng thí nghiệm hoặc tình thế trò chơi, ở đó các quyết định được diễn ra trong môi trường được kiểm soát. Môi trường này cố gắng sao chụp các yếu tố biến đổi nhu cầu, cạnh tranh, chiến lược logistics và những cái khác tương tự hoàn cảnh thực tế. Trò chơi gồm các quyết định về các mức hoạt động logistics (do đó là các mức dịch vụ) với mục tiêu tạo nên doanh thu tương ứng với chi phí tạo ra chúng. Bằng việc theo dõi trò chơi theo thời gian, có thể có được dữ liệu khái quát để xây dựng đường cong doanh thu – dịch vụ.

    d.  Điều tra người mua:

    Đây là phương pháp phổ biến nhất để thu thập thông tin dịch vụ khách hàng.

    1.4.2    Chi phí và dịch vụ

    Dễ thấy rằng dịch vụ logistics khách hàng là kết quả của các mức hoạt động logistics. Mỗi mức dịch vụ có một mức chi phí tương ứng. Thực ra có nhiều phương án chi phí hệ thống logistics đối với từng mức dịch vụ, tuỳ thuộc vào sự phối hợp các hoạt động logistics. Khi biết được các mối quan hệ doanh thu – dịch vụ, có thể xác định được chi phí tương ứng với dịch vụ (Hình 1.9).

    Chi phí
    Trình độ dịch vụ
    • Hình 1.11. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí

    1.4.3    Xác định trình độ dịch vụ tối ưu

    Khi đã biết doanh thu và chi phí logistics đối với từng trình độ dịch vụ, chúng ta có thể xác định được trình độ dịch vụ sẽ tối đa hoá đóng góp lợi nhuận cho doanh nghiệp. Bằng phương pháp phân tích cận biên theo trình độ dịch vụ khách hàng trong kinh tế, có thể tìm được điểm dịch vụ tối ưu. Tiến hành nghiên cứu lý thuyết và sau đó vận dụng lý thuyết trong thực tế.

    a.              Lý thuyết

    Giả sử mục tiêu là tối đa hoá đóng góp lợi nhuận. Về mặt toán học, lợi nhuận tối đa đạt được ở điểm tại đó, sự biến đổi doanh thu bằng biến đổi chi phí: doanh thu biên bằng chi phí biên. Để minh hoạ, giả sử cho đường cong doanh thu – dịch vụ là: .Ởđây, D- trình độ dịch vụ khách hàng: % số đơn hàng có thời gian chu kỳ đặt hàng 5 ngày. Bản chất của đường cong như sau (H.10).

     
       
    • Hình 1.12. Tối ưu hoá dịch vụ logistics lý thuyết

    Đường cong chi phí tương ứng C = 0,00055D2. Biểu thức tối ưu hoá:

    P = 0,5D1/2 – 0,00055D2

    Ở đây: P- Đóng góp lợi nhuận ($)

    Lấy đạo hàm bậc nhất của P theo D: P/(D) ®

    P cực đại khi: D* = (0,5/4.  0,00055)2/3 ® D* = 37,2%

    b.  Thực tế: nghiên cứu ví dụ

    Một hãng thực phẩm dự trữ nước chanh ép để cung ứng cho các khách hàng của mình. Hãng muốn dự trữ với mức dịch vụ để cho lợi nhuận tôí đa.

    Theo nghiên cứu, cứ thay đổi 1% trình độ dịch vụ thì sẽ thay đổi 0,1% doanh thu. Chiết khấu thương mại là 5.500đ/hộp với doanh số qua kho là 59.904 hộp. Giá phí một hộp ở kho là 53.800đ/hộp, và chi phí đảm bảo dự trữ năm là 25%. Thời gian cung ứng và chu kỳ đặt hàng là 1 tuần với doanh số trung bình tuần là 1.152 hộp và độ lệch tiêu chuẩn là 350 hộp.

    Các bước tính toán như sau:

    Dịch vụ tối ưu khi D R = D C. Do đáp ứng doanh số là hằng số (không đổi ) cho mọi trình độ dịch vụ, nên sự biến đổi trong doanh thu là:

    D R = Chiết khấu thương mại ´ tỷ lệ đáp ứng doanh số ´ doanh số năm

    = 0,55 ´ 0,001 ´ 59.904 = 329.500đ/năm.  1% thay đổi trình độ dịch vụ.

    Sự thay đổi trong chi phí là do chi phí dự trữ bảo hiểm cần để duy trì trình độ dịch vụ. Sự biến đổi trong dự trữ bảo hiểm là:

    D C = chi phí dự trữ năm ´ Giá phí một hộp ´ Độ lệch tiêu chuẩn nhu cầu trong chu kỳ đặt hàng ´ sự biến đổi của Z

    Z- Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn tương ứng với xác suất đảm bảo dự trữ hàng hoá tại kho .

    Do vậy:             D C = 0,25 ´ 53.800 ´ 350 ´ D Z / năm

    Sự biến đổi chi phí dự trữ bảo hiểm với các giá trị khác nhau của D Z được trình bày ở bảng 1.1

    • Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa chi phí dự trữ bảo hiểm và trình độ dịch vụ
    Biến đổi trình độ dịch vụ Biến đổi về Z Biến đổi chi phí dự trữ bảo hiểm
    87-86    1,125-1,08  = 0,045 211.800
    88-87     1,17 -1,12  = 0,045 211.800
    89-88 1.23  -1,17   = 0,05 235.400
    90-89 1,28  – 1,23  = 0,05 235.400
    91-90 1,34 – 1,28  = 0,06 282.500
    92-91 1,41  – 1,34  = 0,07 329.500
    93-92 1,48  – 1,41  = 0,07 329.500
    94-93 1,55  – 1,48  = 0,07 329.500
    95-94 1,65  – 1,55  = 0,10 470.800
    96-95 1,75  – 1,65  = 0,10 470.800
    97-96 1,88  – 1,75  = 0,13 612.000
    98-97 2,05  – 1,88  = 0,17 800.300
    99-98 2,33  – 2,05  = 0,28 1.318.810

    Thể hiện D R và D C trên đồ thị (H.11),ta được trình độ dịch vụ tối ưu là 93% cho ta DR = DC = 329.500đ

    Thường thì dịch vụ khách hàng được coi là có giới hạn đối với hệ thống logistics khi không thể phát triển được mối quan hệ doanh thu – dịch vụ. Trong trường hợp này, có thể chọn trình độ dịch vụ khách hàng định trước, và hệ thống logistics được thiết kế để đáp ứng trình độ này với chi phí tối thiểu. Trình độ dịch vụ thường dựa vào các yếu tố như: trình độ dịch vụ của đối thủ cạnh tranh, ý kiến người bán hàng, và truyền thống. Theo cách này, không thể đảm bảo rằng, trình độ dịch vụ có sự cân đối tốt nhất giữa doanh thu và chi phí.

    Để thiết kế hệ thống tối ưu khi khi dịch vụ được coi là có giới hạn, có thể sử dụng phân tích độ nhạy. Trong trường hợp này, phân tích độ nhạy bao gồm biến đổi các nhân tố tạo nên dịch vụ và sau đó tìm thiết kế hệ thống mới có chi phí tối thiểu. Nếu lặp lại kiểu phân tích này một số lần, có thể thu được chi phí hệ thống với các trình độ dịch vụ khác nhau, và được minh hoạ ở bảng 1.2.

     
       
    • Hình 1.13. Biến đổi doanh thu và chi phí theo trình độ dịch vụ

    1.4.4    Dịch vụ có giới hạn

    Tuy rằng chưa biết được thiết kế hệ thống logistics và trình độ dịch vụ khách hàng ảnh hưởng ra sao đến doanh thu, nhưng có thể xác định được giá trị của trình độ dịch vụ. Theo ví dụ ở bảng 1.2, để cải thiện trình độ dịch vụ khách hàng từ 85% lên 90%, chi phí logistics sẽ tăng từ 7 triệu $ lên 9 triệu $ mỗi năm. Cải thiện trình độ dịch vụ khách hàng lên 5% phải tăng chi phí lên 2 triệu $. Do vậy doanh thu do cải tiến dịch vụ này phải tăng lên để bù đắp chi phí logistics tăng thêm. Chọn mức dịch vụ cuối cùng thuộc vào quyết định quản trị, tuy nhiên thông tin về chi phí của các trình độ dịch vụ khách hàng khác nhau hỗ trợ cho các quá trình quyết định.

    • Bảng 1.2 Chi phí thiết kế hệ thống Logistics là hàm của trình độ dịch vụ khách hàng khác nhau
    Phương án Thiết kế hệ thống logistics Chi phí logistics hàng năm Trình độ dịch vụ khách hàng
    1 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển đường thuỷ, mức dự trữ thấp 5.000.000 $ 80%
    2 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển đường sắt, mức dự trữ thấp 7.000.000 $ 85%
    3 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển ôtô, mức dự trữ thấp 9.000.000 $ 90%
    4 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển đường sắt, mức dự trữ cao 12.000.000$ 93%
    5 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển ôtô, mức dự trữ cao 15.000.000$ 95%
    5 Chuyển đơn hàng bằng điện thoại, vận chuyển ôtô, mức dự trữ cao 16.000.000$ 96%

    1.4.5    Những đột biến dịch vụ

    Đa số các kế hoạch và nỗ lực logistics được lãnh đạo theo hướng hiệu quả trong những điều kiện bình thường. Đồng thời phải chuẩn bị cho những trường hợp bất thường có thể làm đình trệ hệ thống hoặc làm ảnh hưởng lớn đến những đặc điểm hoạt động trong thời gian ngắn, như đình công, hoả hoạn, lũ lụt, …Có 2 đột biến phổ biến là sự đình trệ hệ thống và loại bỏ sản phẩm.

    1.5    Đối tượng, phương pháp nghiên cứu môn học

    1.5.1    Đối tượng và nội dung môn học

    Logistics kinh doanh thương mại là môn khoa học kinh tế nghiên cứu các hiện tượng và tính qui luật của quá trình logistics kinh doanh thương mại.

    Như vậy, đối tượng của môn học logistics kinh doanh thương mại là những hiện tượng và tính qui luật của quá trình logistics: mua, dự trữ vận chuyển, kho, bán hàng và dịch vụ khách hàng, ..

    Nội dung nghiên cứu môn học bao gồm toàn bộ quá trình quản trị logistics, từ hoạch định, thực thi, cho đến kiểm soát các hoạt động logistics. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào các đối tượng chuyên ngành mà nội dung nghiên cứu có thể toàn diện, sâu sắc hay chỉ đề cập đến những nội dung cơ bản nhất.

    1.5.2    Vị trí và phương pháp môn học

    Logistics kinh doanh thương mại là môn học chuyên ngành quản trị kinh doanh thương mại, cung cấp những kiến thức cơ bản và thực tế cho các nhà quản trị trong các doanh nghiệp thương mại.

    Môn học logistics kinh doanh thương mại có quan hệ chặt chẽ với các môn học chuyên ngành quản trị kinh doanh: marketing, quản trị doanh nghiệp, kinh tế doanh nghiệp, …

    Môn học cung cấp kiến thức cơ bản của kinh doanh thương mại làm cơ sở cho nhận thức, lĩnh hội các môn học khác.

    Logistics kinh doanh thương mại là hoạt động có tính công nghệ thống nhất chặt chẽ, do đó nghiên cứu môn học này phải áp dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống; là môn học gắn liền với hoạt động thực tiễn, do đó phải áp dụng phương pháp tư duy biện chứng, gắn liền lý luận với thực tiễn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Tiểu luận APL Logistics

    Tiểu luận APL Logistics

    Tiểu luận APL Logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Logistic Kinh doanh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-APL-Logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận APL Logistics

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu hiện nay, tính hiệu quả chính là yếu tố
    quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Làm thế nào để đạt được hiệu quả
    trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp suốt từ khâu đầu tiên của quá trình sản
    xuất đến khâu cuối cùng trong quá trình phân phối. Logistics ra đời đã giúp doanh
    nghiệp giải quyết vấn đề trên và ngày càng đóng vai trò quyết định đến sự thành bại
    của doanh nghiệp.

    Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền. Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%, và ở Việt Nam thì dịch vụ logistics chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Và APL Logistics – Một trong những công ty điển hình cho Logistics, một trong những công ty hàng đầu về thiết kế và hoạt động chuỗi cung ứng dịch vụ Logistics trên toàn thế giới – Là đề tài tiểu luận mà nhóm đã chọn để nghiên cứu . Nội dung của bài tiểu luận gồm các nội dung chính sau:

    Chương 1: Giới thiệu chung về Logistics

    Chương 2: APL Logistics trên thế giới

    Chương 3: APL Logistics tại Việt Nam

    Chương 4: Những thuận lợi và khó khăn của APL Logistics

    Bài tiểu luận của nhóm được làm trong quá trình học nên không thể tránh được những thiếu sót. Mong thầy góp ý tận tình để bài tiểu luận của nhóm được hoàn thiện hơn.

     

    Chương I: Giới thiệu chung về logistics

    1.1. Các  Khái  Niệm  Về  Logistics

    Logistics  là  một  trong  những  số  ít  thuật  ngữ  khó  dịch  nhất,  giống  như  từ “Marketing”  ,  từ  Tiếng  Anh  sang  Tiếng  Việt  và  thậm  chí  cả  những  ngôn ngữ  khác.  Bởi  vì  bao  hàm  nghĩa  của  từ  này  quá  rộng  nên  không  một  từ  đơn ngữ  nào  có  thể  truyền  tải  được  hết  ý  nghĩa  của  nó.  Nhưng  rất  nhiều  công  ty giao  nhận  vận  tải  lại  được  đăng  ký  là  ví  dụ  như  AB  Logistics  như  vậy  vô tình  công  ty  này  có  thể  được  hiểu  là  nhà  cung  cấp  dịch  vụ  logistics,  mà không  biết  logistics  là  gì?

    Một  số  định  nghĩa  Logistics  là  hậu  cần,  số  khác  lại  định  nghĩa  là  nhà  cung ứng  các  dịch  vụ  kho  bãi  và  giao  nhận  hàng  hoá  vv  …và  chúng  ta  thấy  rằng đây  giống  như  là  một  cái  áo  thời  trang  mà  công  ty  giao  nhận  vận  tải  hàng hóa  nào  cũng  muốn  có  để  tăng  thêm  sức  mạnh cho mình.

    Vậy  Logistics  Là  Gì?

    Có  rất  nhiều  khái  niệm  về  thuật  ngữ  này  :

    Logistics  được  hiểu  là  quá  trình  hoạch  định,  thực  hiện  và  kiểm

    soát  sự  lưu  thông  và  tích  trữ  một  cách   hiệu  qủa   tối  ưu  các  loại  hàng  hoá, nguyên  vật  liệu,  thành  phẩm  và  bán  thành  phẩm,  dịch  vụ  và  thông  tin  đi kèm  từ  điểm  khởi  đầu  tới  điểm  kết  thúc  nhằm  mụch  đích  tuân  theo  các  yêu cầu  của  khách  hàng.

    Logistics  có  thể  được  định  nghĩa  là  việc  quản  lý  giòng  chu
    chuyển  và  lưu  kho  nguyên  vật  liệu,  quá  trình  sản  xuất,  thành  phẩm  và  xử
    lý  các  thông  tin  liên  quan…..từ  nơi  xuất  xứ  đến  nơi  tiêu  thụ  cuối  cùng  theo
    yêu  cầu  của  khách  hàng.  Hiểu  một  cách  rộng  hơn  nó  còn  bao  gồm  cả  việc

    thu  hồi  và  xử  lý  rác  thải  (Nguồn  :  UNESCAP……….)

    Logistics  là  quá  trình  xây  dựng  kế  hoạch,  cung  cấp  và  quản  lý
    việc  chu  chuyển  và  lưu  kho  có  hiệu  quả  hàng  hoá,  dịch  vụ  và  các  thông  tin

    tập  đoàn  Logistics  lớn  trên  thế  giới  với  mạng  lưới  logistics  toàn  cầu,  có phương  cách  hoạt  động  phù  hợp  với  từng  địa  phương. liên  quan  từ  nơi  xuất  xứ  đến  nơi  tiêu  thụ  vì  mục  tiêu  đáp  ứng  nhu  cầu  của khách  hàng  (World  Marintime  Unviersity  Đại  học  Hàng  Hải  Thế  Giới,  D. Lambert  1998).

    Thực  ra  Logistics  được  áp  dụng  rất  rộng  rãi  trong  nhiều  ngành không  chỉ  trong  Quân  sự  từ  rất  lâu,  được  hiểu  là  hậu  cần,  mà  nó  còn  áp dụng  trong  sản  xuất  tiêu  thụ,  giao  thông  vận  tải  vv..

    Vì  vậy  trên  cơ  sở  Logistics  tổng  thể  (Global  Logistic)  người  ta  chia  hoạt động  logistics  thành  Supply  Chain  Managment  Logistics  -Logistics  quản lý  chuỗi  cung  ứng.  Transportation  Management  Logistics

    Như  vậy  quản  lý  Logistics  là  sự  điều  chỉnh  cả  một  tập  hợp  các  hopạt  động
    của  nhiều  ngành  cùng  một  lúc  và  chỉ  khi  nào  người  làm  giao  nhận  có  khả
    năng  làm  tất  cả  các  công  việc  liên  quan  đến  cung  ứng,  vận  chuyển,  theo  dõi
    sản  xuất,  kho  bãi,  thủ  tục  hải  quan,  phân  phối….mới  được  công  nhận  là
    nhà  cung  cấp  dịch  vụ  logistics.  Xét  về  điều  kiện  này  thì  hầu  như  chưa  có
    công  ty  Việt  Nam  nào  có  thể  làm  được,  chỉ  một  số  rất  it  các  công  ty  nước
    ngoài  và  cũng  chỉ  đếm  trên  đầu  ngón  tay  như:  DHL  Danzas,  TNT
    Logistics……

    Vì  lĩnh  vực  Logistics  rất  đa  dạng,  bao  gồm  nhiều  quy  trình  và  công  đoạn khác  nhau  nên  hiện  nay  người  ta  chia  thành  4  phương  thức  khai  thác  hoạt động  Logistic  như  sau:

    • Logistics tự cung cấp

    Các  công  ty  tư  thực  hiện  các  hoạt  động  logistics  của  mình.  Công  ty  sở  hữu
    các  phương  tiện  vận  tải,  nhà  xưởng,  thiết  bị  xếp  dỡ  và  các  nguồn  lực  khác
    bao  gồm  cả  con  người  để  thực  hiện  các  hoạt  động  logistics.  Đây  là  những  tập  đoàn  Logistics  lớn  trên  thế  giới  với  mạng  lưới  logistics  toàn  cầu,  có phương  cách  hoạt  động  phù  hợp  với  từng  địa  phương.

    • Second  Party  Logistics  (2PL)

    Là  việc  quản  lý  các  hoạt  động  logistics  truyền  thống  như  vận  tải  hay  kho vận.  Công  ty  không  sở  hữu  hoặc  có  đủ  phương  tiện  và  cơ  sở  hạ  tầng  thì  có thể  thuê  ngoài  các  dịch  vụ  cung  cấp   logistics  nhằm  cung  cấp  phương  tiện thiết  bị  hay  dịch  vụ  cơ  bản.  Lý  do  của  phương  thức  này  là  để  cắt  giảm  chi phí  hoặc  vốn  đầu  tư.

    • Third  Party  Logistics  (TPL)  hay  logistics  theo  hợp  đồng.

    Phương  thức  này  có  nghĩa  là  sử  dụng  các  công  ty  bên  ngoài  để  thực  hiện
    các  hoạt  động  Logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý Logistics hoặc chỉ một
    số hoạt động có chọn lọc. cách giải thích khác của TLP là các hoạt động do một công ty cung cấp dịch vụ Logistics thực hiện trên danh nghĩa khách hàng của họ, tối thiểu bao gồm việc quản lý  và thực hiện hoạt động vận tải và kho vận ít nhất một năm có hoặc không có hợp đồng hợp tác. Đây được coi như một liên minh chặt chẽ giữa một công ty và những nhà cung cấp dịch vụ Logistics mà còn chia sẻ thông tin, rủi ro và các lợi ích theo một hợp đồng dài hạn.

    • Fourth Party Logistics (FPL)

    FPL là một khái niệm phát triển trên nền tảng của TPL nhằm tạo ra đáp ứng dịch vụ, hướng về khách hàng và linh hoạt hơn. FPL quản lý và thực hiện các hoạt động Logistics phức hợp như quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát và các chức kiến trúc và tích hợp các hoạt động Logistics. FPL bao gôm lĩnh vực rộng lớn gồm cả hoạt động TPL, các dịch vụ công nghệ thông tin, và quản lý các tiến trình kinh doanh. FPL được xem là các điểm liên lạc duy nhất, nơi thực hiện việc quản lý, tổng hợp các nguồn lực và giám sát các chức năng TPL trong suốt chuỗi phân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và các mối quan hệ lâu bền.

    Trong một số nghiên cứu người ta lại phân loại các công ty cung cấp dịch vụ Logistics theo các nhóm như sau:

    Các Công Ty cung cấp Dịch vụ Vận tải

    – Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phương thức.

    VD: Công ty cung cấp dịch vụ vận tải đường bộ, đường sắt, hμng không, đường biển.

    –  Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức

    –  Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng

    –  Các công ty môi giới vận tải

    • Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Phân Phối

    -Công ty cung cấp dịch vụ kho bãi

    -Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối

    • Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Hàng Hoá

    – Các công ty môi giới khai thuê hải quan

    – Các công ty giao nhận, gom hàng lẻ

    – Các công ty chuyên ngành hàng nguy hiểm

    – Các công ty dịch vụ đóng gói vận chuyển

    • Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Logistics Chuyên Ngành

    –  Các công ty công nghệ thông tin

    –  Các công ty viễn thông

    –  Các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm

    –  Các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục vμ đμo tạo

    Các công ty này lại có thể được chia thành 2 loại: Các công ty cung cấp dịch vụ Logistics có vụ không có tài sản.

    Các công ty sở hữu tài sản thực sự có riêng đội vận tải , nhà kho vv và sử dụng chúng

    để quản lý tất cả hay một phần các hoạt động Logistics cho khách hμng của mình.

    Các công ty Logistics không sở hữu tμi sản thì hoạt động như một người hợp nhất các

    dịch vụ Logistics và phần lớn các dịch vụ là đi thuê ngoài. Họ có thể phải đi thuê phương tiện vận tải, như kho, bến bãi ..Việc thuê ngoài đã nhanh chóng phát triển trong vài năm gần đây. Ngày nay có rất nhiều loại hình dịch vụ Logistics nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng khác nhau của các ngành hàng khác nhau. Khác với trước đây, không chỉ các dịch vụ Logistics cơ bản như vận tải và kho vận mà các loại dịch vụ phức tạp và đa dạng khác cũng đã xuất hiện. Việc thuê ngoài các dịch vụ Logistics gọi theo thuật ngữ chuyên ngành là Outsourcing.

    1.2. Những bước cơ bản của qui trình Logistics

    Bước thực hiện        khách hàng        chủ hàng     công ty Logistics        hàng thu

    Kiểm tra số PO                                                        kiểm tra số PO

    Và quyết định                                                       trong hệ thống hoặc

    xin ý kiến khách hàng

    nhập chi tiết Bookinh

    Giải Booking cho công                                          vào hệ thống

    Ty Logistics

    Xác định Booking từ                                             xác nhận booking với

    Công ty Logistics và                                              chủ tàu/lịch tàu/ thời gian

    Chẩn bị giao hàng                                                 cut- oof

    Cung cấp

    Chất hàng lên xe tải                                                Booking contaner với              Booking cho

    Hàng thu                                      công ty Logistic

    Giao hàng tại kho cảng

    Với chứng từ cần thiết                                            Dỡ hàng, kiểm tra

    Kiểm hóa/ đóng hàng

    Vào contaner/ hàng                           Hạ bãi

    bãi

    Tàu chạy

    Cập nhật thông tin trong

    Hệ thống

    Gửi bản copy FCR cho                  Làm BL/SWB

    Nhận kiểm tra FCR và                      chủ hàng/ xác nhận chính            Gửu/copy cho

    Kiểm tra nội dung                                xác B/L, SWB                                Cty Logistics

    Nhận SWB, B/L gốc, in FCR gốc

    Nhận Shipping advice                           Gửi Shipping advice

    Cho khách hàng

    Nộp chứng từ theo yêu cầu

    Nhận FCR gốc                                           kiểm tra chứng từ

    Nhận trứng từ và khai báo                  phân loại chứng từ và

    Hải quan                                                 gửi cho khách hàng

    Giữa người mua hàng và công ty Logistics sau khi đạt được thoả thuận về dịch vụ được cung cấp, bên cung cấp dịch vụ sẽ xây sựng lên quy trình Logistics trong đố thể hiện rõ mọi yêu cầu về dịch vụ của người mua hàng mà theo đó công ty Logistics bổn phận phải thực hiện đúng. Quy trỡnh  này  thường  cú  tờn  là  quy  trình Logistics   hiện   hành   hay   quy   trình   khai   thác   tiêu   chuẩn (Standard Operating  Procedure).  Quy  trình  Logistics  bao  gồm  các  bước  sau:

    Booking:  Theo  hợp  đồng  thương  mại  ký  kết  với  khách  hàng  về
    một  đơn  hàng  cụ  thể,  chủ  hàng  sẽ  gửi  chi  tiết  số  đơn  hàng  (Purchasing Oder)  theo  mẫu  booking  quy  định  cho  công  ty  Logistics  bao  gồm  số  PO,  số loại  hàng,  số  chiếc,  số  khối……….Những  chi  tiết  yêu  cầu  này  thay  đổi  tuỳ theo  khách  hàng,  được  quy  định  trong  quy  trình  Logistics.  Ngoài  ra  trong mẫu  booking  cần  có  những  thông  tin  quan  trọng  khác  như  tên  người  gửi hàng,  người  nhận  hàng,  số  L/C…Sau  khi  nhận  được  booking  từ  chủ  hàng, người  phụ  trách  khách  hàng  của  công  ty  Logistics  sẽ  kiểm  tra  những  chi tiết  này  trên  hệ  thống  dữ  liệu  mà  đã  được  khách  hàng  cập  nhật.  Ngoài  ra quy  trình  cũng  quy  định  thời  gian  chủ  hàgn  gửi  booking  cho  công  ty Logistics,  chủ  hàng  không  thể  tuỳ  tiện  gửi  booking  theo  tình  hình  hàng hóa.

    Giao  hàng:  Hàng  sau  khi  được  Booking  sẽ  được  xuất  theo  hai
    dạng  là  hàng  lẻ  hoặc  container.  Đối  với  hàng  lẻ,  chủ  hàng  phải  giao  hàng trước  thời  gian  cut off  time  của  công  ty  Logistics.  Tại  kho,  mã  số  hàng  hoá phải  được  quét  mã  vạch,  việc  quét  mã  vạch  này  được  công  ty  Logistics  thực hiện  khi  nhận  hàng  và  đóng  hàng  vào  container.  Dữ  liệu  trên  sẽ  được  cập nhật  trên  hệ  thống  của  công  ty  Logistics.  Một  số  trường  hợp  hàng  hóa  phải có  thư  cam  kết  (Letter  of  Guarantee)  từ  phía  chủ  hàng.  Vd:  Hàng  nguy hiểm,  hàng  chất  lỏng…Việc  thực  hiện  thủ  tục  hải  quan  hàng  xuất  tại  kho  sẽ do  chủ  hàng  thực  hiện  nhưng  chủ  yếu  vẫn  là  các  công  ty  Logistics  làm  thay cho  chủ  hàng,  như  vậy  sẽ  thuận  tiện  và  nhanh  chóng  hơn.  Khi  nhận  đủ hàng  từ  chủ  hàng,  công  ty  Logistics  sẽ  đóng  hàng  vào  container  theo  kế hoạch  đóng  hàng  và  hạ  bãi.

    Chứng  từ:  Sau  khi  giao  hàng  vào  kho  của  công  ty  Logistics hoặc  hạ  bãi  container  chủ  hàng  sẽ  cung  cấp  chi  tiết  lô  hàng  cho  công  ty Logistics  để    làm  vận  đơn  đường  biển  (Bill  of  Lading B/L,  Seaway  Bill SWB  hay  House  Bill)  chứng  nhận  nhận  hàng  (Forwarder’s  Cargo  ReceiptFCR).  Dựa  trên  chi  tiết  cung  cấp  kết  hợp  với  chi  tiết  thực  nhận  trong  kho, nhân  viên  chứng  từ  công  ty  Logistics  sẽ  cập  nhật  vào  hệ  thống  và  in  ra chứng  từ  đã  nêu  cho  chủ  hàng.  Hầu  hết  các  công  ty  Logistics đảm  nhận  luôn công  việc  phân  loại,  kiểm  tra  và  gửi  toàn  bộ  chứng  từ  của  lô  hàng  cho khách  hàng.  Như  vậy  khi  chủ  hàng  lấy  B/L,  SWB  hay  FCR  gốc,  chủ  hàng cần  phải  nộp  chứng  từ  gốc  cần  thiết  cho  công  ty  Logistics  như  (commercial invoice,  packing  list,  certificate  of  origin…)

    Sau  khi  hoàn  thành  việc  cập  nhật  chi  tiết  lô  hàng  vào  hệ  thống,  công  ty Logistics  sẽ  gửi  thông  báo  hàng  xuất  cho  khách  hàng  (Shipping  Advice) bao  gồm  những  thông  tin  cơ  bản  về  lô  hàng  (PO,  số  container,  ngày  tàu chạy…..) Đa  số    những  công  ty  cung  cấp  dịch  vụ  Logistics  tại  Việt  nam  đều  hoạt động  theo  nội  dung  của  quy   trình  Logistics  đã  nêu  trên.  Quy  trình  này  bao hàm  những  dịch  vụ  được  cung  cấp  như  quản  lý  đơn  hàng,  gom  hàng,  quản lý  chứng  từ,  dịch  vụ  tại  kho…..Nhưng  thực  ra  đây  mới  chỉ  là  những  khâu cơ  bản  nhất  trong  chuỗi  Logistics  mà  các  công  ty  Việt  nam  đã  và  đang  làm được.

    Chương II:Chương II: APL logistics trên thế giới

     

    2.1 Giới thiệu về APL logistics

    Hãng tàu APL tên tiếng Anh là American President Lines Ltd.

    APL có lịch sử bắt nguồn từ công ty Pacific Mail Steamship Company do William Henry Aspinwall thành lập năm 1848 tại Hoa Kỳ. Sau lịch sử phát triển 160 năm, công ty này đã phát triển thành một hãng tàu hàng đầu trong lĩnh vực vận tải container, và là hãng tàu có lịch sử lâu đời nhất Hoa Kỳ. APL là công ty lo về kho bãi đứng thứ 2 tại Mỹ, có vị trí thứ 5 trong số các hãng tàu lớn nhất trên thế giới. Hãng tàu này cung cấp dịch vụ trên 140 quốc gia với một mạng lưới hoạt động rộng khắp, bao gồm cả vận tải đa phương thức, được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin và thương mại điện tử.

    APL hiện là công ty con của NOL (Neptune Orient Lines), tập đoàn vận tải và logistics toàn cầu có trụ sở tại Singapore.

    Năm 1997, công ty vận tải biển NOL của Singapore đã mua lại APL với giá 285 triệu USD. Đây là vụ thôn tính lớn chưa từng có bởi một công ty Singapore. Trên thực tế, APL lớn gấp 2 lần NOL, khi đó thuộc sở hữu Nhà nước của Singapore.

    APL đã sớm thấu hiểu những khó khăn và quan ngại mà khách hàng thực sự đối mặt, để từ đó phát triển những sản phẩm dịch vụ có thể thực sự giải quyết khó khăn ấy cho khách hàng, đồng thời đem lại hiệu quả kinh doanh tuyệt vời cho APL. APL Logistics – một nhánh của chuỗi dịch vụ cung cấp cho khách hàng – đã ra đời từ quan điểm ấy.

    APL Logistics đã thực sự tạo ra cái mà ta gọi là Đại dương xanh thời bấy giờ và thành công đến mức nó trở thành hình mẫu cho nhiều doanh nghiệp logistics khác. Tất nhiên dịch vụ mới mẻ mà APL Logistics tạo ra đã trở thành Đại dương đỏ trong giai đoạn hiện nay, song nó là nền móng cho một APL Logistics mạnh mẽ, với mạng lưới rộng khắp văn phòng và khách hàng.

    Độ bao phủ: APL logicstics có tầm phủ gần 100 quốc gia ở Châu Á, Bắc Mỹ và Châu Âu.

    Sở hữu: 5000 nhân viên, 162 kho hàng, 99 máy kéo, 251 xe kéo.

    Hệ thống thông tin: rất tốt và áp dụng nhiều công nghệ mới, TMS-i2, IT, e-commeree (Thương mại điện tử).

    Lĩnh vực hoạt động chính: tự động, hàng công nghiệp, công nghệ, hàng tiêu dùng lẻ, chăm sóc sức khỏe, bán lẻ.

    Khách hàng chính: 3M, Bird-Eye, Bobcat, Colgate-Palmolive, Dell computer, General Motors, Nike, Procter & Gamble.

    2.2. Lịch Sử hình thành và phát triển của công ty APL Logistic

    1948: Mexico Chiến tranh kết thúc, Mỹ Duyên hải Thái Bình Dương kéo dài từ Puget Sound đến San Diego. William Henry Aspinwall là thành công trong một giá thầu cho một hợp đồng chính phủ 10-năm để phân phối thư giữa Panama và Oregon. Trong tháng Tư, Thượng viện New York kết hợp Thái Bình Dương Công ty Steamship Mail để thực hiện hợp đồng. Aspinwall được bầu làm tổng thống của công ty, sớm nhất của người tiền nhiệm của APL. Xây dựng bắt đầu vào ba bằng gỗ, mái chèo bánh hấp cho Mail Steamship Thái Bình Dương Công ty. Các keel của California được đặt vào tháng Giêng tại nhà máy đóng tàu của William H. Webb, và bàn ủi được tung ra vào tháng Năm.Mail đầu tiên của bàn ủi Thái Bình Dương, California,khởi hành New York vào ngày 06 tháng 10 sẽ diễn ra của nó trong công ty là Panama – dịch vụ Oregon.

    1850: Mail Thái Bình Dương sẽ mở ra một West Coast văn phòng tại San Francisco. Công ty cổ phần trả cổ tức cao là 50%.Mail Thái Bình Dương sẽ mở ra một West Coast văn phòng tại San Francisco. Công ty cổ phần trả cổ tức cao là 50%.

    Đại hội New Granada phê chuẩn một hợp đồng cho các Công ty Đường sắt Panama, kiểm soát một phần bởi Aspinwall, độc quyền cho một tuyến đường sắt qua eo đất Panama.Mail Thái Bình Dương mua hai tàu hơi từ Empire City Line để duy trì sự độc quyền trong thương mại Panama-Oregon.

    Mail Thái Bình Dương bắt đầu một chương trình đóng tàu mở rộng. Bốn tàu kết được thiết kế cho các nhu cầu của thương mại mở rộng California.

    1855: Panama cung cấp dịch vụ đường sắt giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương bên của eo đất này. Các chuyến đi từ đại dương đến biển là giảm từ bốn ngày đến bốn giờ. Phối hợp của đường sắt và tàu hơi nước kết quả lịch trình trong thời gian đi du lịch trong khoảng 21 ngày giữa New York và San Francisco.

    1867: Ngày 01 Tháng 1, Colorado rời San Francisco trên một chuyến đi đánh dấu các dịch vụ đầu tiên thường xuyên giữa Hoa Kỳ và Yokohama và Hồng Kông; dịch vụ feeder được thành lập từ Yokohama để Hakodate, Kobe, Nagasaki, và Thượng Hải.

    1875: William Henry Aspinwall chết ngày 18 tháng 1 năm 1875, ở tuổi 68.Mail Thái Bình Dương bắt đầu dịch vụ cho Australia và New Zealand.

    1896: Mail Thái Bình Dương cung cấp dịch vụ trực tiếp đến Honolulu, Kobe, Nagasaki, và Thượng Hải.

    1961: APL bắt đầu chuyển sang Container. Đối với các container để thành công, tàu phải được sửa đổi. Tương tự như vậy, cảng và hệ thống giao thông nội địa trên thế giới đã được nâng cấp để đáp ứng một tiêu chuẩn mới.lãnh đạo Công nghiệp, cũng như khách hàng, hoài nghi. Một trong những container đầu tiên được sử dụng cho thương mại quốc tế.

    1967: Năm chiếc tàu Seamaster lớp được đưa vào dịch vụ. Giống như hàng hải Thạc sĩ, họ cũng sẽ được chuyển đổi thành container trong năm 1973.

    1969: 23% toàn bộ hàng hóa vận chuyển bằng APL tại Thái Bình Dương di chuyển trong các thùng chứa.

    1971: 58% hàng hóa của APL vận chuyển tại Thái Bình Dương di chuyển trong các thùng chứa.  APL ra mắt ba tàu lớp C-8, sẽ được chuyển đổi sang container trong năm 1978.

    1979 APL là công ty vận chuyển đầu tiên để thiết lập dịch vụ tàu chuyên dụng nối liền thành phố cảng với các nội thất của các tàu Mỹ và tàu được điều phối lịch trình, mà kết quả trong một thời gian quá cảnh cải thiện đáng kể và độ tin cậy cho khách hàng của APL.

    1980: Phát triển mạng lưới intermodal theo dõi bởi một kết quả hệ thống điện tử tinh vi theo dõi lợi nhuận kỷ lục cho APL chuyên gia giao thông của công ty tiếp tục tinh chỉnh các khái niệm intermodal.APL giả định kiểm soát của một công ty nhỏ hợp nhất châu Á hàng hóa và đặt tên là Công ty TNHH Dịch vụ Hợp nhất Mỹ Hai hoạt động đầu tiên tại Hồng Kông và Đài Loan.

    Từ năm 1980 đến năm 1982, APL có giao về tổng cộng năm C-9 tàu lớp học, tất cả đều được container. Ba trong số các mạch sử dụng nhiên liệu diesel, cho phép công ty để thực hiện tiết kiệm chi phí đáng kể.

    1983: APL Logistics công khai cổ phiếu giao dịch trên chứng khoán New York.

    1984: APL logistics tiên phong container-tracing công nghệ cho phép khách hàng truy cập trực tiếp đến thông tin giao hàng, do đó loại trừ lao động và giấy chuyên sâu quy trình.

    1994: APL Logistics bắt đầu dịch vụ đến Việt Nam và mở một văn phòng tại TP Hồ Chí Minh.

    1996: APL logistics tiên phong về giao dịch hàng trực tuyến thông qua Internet.

    1998: APL nhập vào các thỏa thuận New World Alliance, cho phép công ty cung cấp phạm vi bảo hiểm toàn diện hơn nữa của các thị trường trên thế giới cho khách hàng.APL Logistics được thành lập. Một tỷ đô-la cộng với đơn vị của NOL, APL Logistics bây giờ là một nhà cung cấp hàng đầu các dịch vụ quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu, cung cấp hợp nhất kho bãi, giao nhận, quản lý giao thông vận tải, và một loạt các dịch vụ chuỗi cung ứng khác.

    1999: APL Logistics giới thiệu homeport ® , các ngành công nghiệp vận chuyển container của cổng Web tùy biến đầu tiên. Với homeport, khách hàng có thể thực hiện một loạt các giao dịch điện tử với một công ty vận chuyển. Homeport đại diện cho một bước chuyển quan trọng cho ngành công nghiệp trong sự thuận tiện và dễ dàng trong kinh doanh.

    2001: BL in mới nhất của APL sẽ trở thành ứng trước điện tử. Lần đầu tiên trong lịch sử ngành công nghiệp, khách hàng có thể sử dụng Internet để in vận đơn tại các địa điểm từ xa như ngân hàng của họ và giao nhận vận tải hàng hóa. Dịch vụ mới cho phép các chủ hàng phải nộp đối với hàng hoá của họ nhanh hơn và loại bỏ các thủ tục giấy tờ nặng nề và chi phí định kỳ để cung cấp các tài liệu giấy bằng đường hàng không thể hiện.

    2005: Tại đầu cuối của mình tại cảng Los Angeles,  APL logistics sẽ trở thành công ty vận chuyển bằng container cài đặt hệ thống định vị bằng cách sử dụng nhận dạng tần số vô tuyến (RFID). Hệ thống dịch vụ tốc độ giao hàng cho các lái xe tải gọi điện thoại để nhận container cho khách hàng.

    2006: APL và APL Logistics với đội ngũ tài xế Mỹ Côn-longhaul cách để giới thiệu OceanGuaranteed SM, vận chuyển của ngành công nghiệp đầu tiên ngày-định cung cấp dịch vụ cho containerload ít hơn (LCL) hàng. Các dịch vụ mới cung cấp một thay thế chi phí thấp để vận tải hàng không cho hàng hóa nhạy cảm với thời gian vận chuyển hàng lẻ.

    2007: APL sẽ trở thành công ty vận chuyển đầu tiên sử dụng container 53-foot trên tàu container trên một cơ sở thường xuyên hàng tuần,. đổi mới này đẩy các lợi thế kinh tế của container lớn ngoài xa hơn trở lại trong chuỗi cung ứng, cho phép các chủ hàng đặt hàng nhiều hơn nữa vào một hộp duy nhất cho một chuyến đi biển.

    2.3.  Hệ thống dịch vụ của APL Logistics thế giới

    – VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN

    Nhờ có nhiều ưu thế vượt trội, vận tải đường biển là phương thức vận tải được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới.APL có thể cung cấp cho khách hàng những dịch vụ vận tải đường biển tốt nhất với mức giá cạnh tranh nhất.Dịch vụ vận chuyển thích hợp đối với tất cả các chủng loại hàng hoá, vận tải hàng nguyên container và vận tải hàng lẻ container tới tât cả các vùng miền trên thế giới.Ngoài ra, khách hàng có rất nhiều lựa chọn về các tuyến đi thắng, các tuyến chuyển cảng và các điều kiện khác mà khách hàng cảm thấy phù hợp nhất. Bộ phận chăm sóc khách hàng sẽ theo dõi lô hàng trong suốt quá trình vận chuyển cho tới khi hàng tới được đích đến cuối cùng.Giá thành vận tải luôn là ưu thế hàng đầu của vận tải đường biển. Do đó, đội ngũ nhân viên kinh doanh luôn cố gắng cung cấp cho khách hàng những mức giá linh động, phù hợp với nhiều mục tiêu khác nhau của khách hàng. Do đó, quý khách có thể yên tâm rằng quý khách đang tận dụng được hết mọi lợi thế của phương thức vận tải đường biển.

    Tập đoàn Vận tải biển APL của Mỹ vừa công bố kế hoạch mở thêm tuyến dịch vụ chuyển hàng từ Việt Nam và Thái Lan tới các nước trong khu vực châu Á.Ngày 21/10/2010, tập đoàn vận tải biển APL của Mỹ công bố kế hoạch mở thêm tuyến dịch vụ chuyển hàng từ Việt Nam và Thái Lan tới Nhật Bản và Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông.

    Tuyến dịch vụ mới với tên gọi tuyến Nhật Bản – Thái Lan – Việt Nam (JTV) sẽ giúp tăng cường mạng lưới vận tải biển đường ngắn và phục vụ tốt hơn các thị trường sản xuất và tiêu dùng chủ chốt trong nội vùng châu Á.  APL sẽ triển khai 3 tàu vận tải, mỗi tàu có sức chứa 1.200 container. Dịch vụ JTV sẽ vận chuyển hàng theo lộ trình từ Tokyo, Yokohama, Kobe, Chiwan, Hồng Công, Laem Chabang, TPHCM, Kaohsiung và trở lại Tokyo.

    Tuyến dịch vụ trên sẽ giúp các nhà nhập khẩu và xuất khẩu tiếp cận mạng lưới toàn cầu của APL thông qua Hong Kong và Cao Hùng. Tuyến dịch vụ này sẽ bắt đầu từ cảng Tokyo tới Yokohama, Kobe (Nhật Bản) và Chiwan (Trung Quốc), Hong Kong, Laem Chabang (Thái Lan), thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam), Cao Hùng (Đài Loan) rồi quay trở lại cảng Tokyo.

    Tháng 6/2010, APL đã khai trương tuyến dịch vụ vận chuyển trực tiếp từ Việt Nam tới Mỹ.

    Theo Tổng giám đốc  APL Việt Nam Barry Akbar, việc mở rộng dịch vụ ở Việt Nam nằm trong kế hoạch đầu tư lâu dài của tập đoàn tại Việt Nam, quốc gia đang nổi lên là một trung tâm sản xuất và xuất khẩu.

    APL hy vọng khối lượng hàng vận chuyển từ Việt Nam sẽ tăng trong thời gian tới, khi các nhà sản xuất hàng dệt may, giày dép, đồ dùng gia đình và đồ gỗ sẽ chuyển cơ sở sản xuất tới đây nhằm khai thác nguồn nhân công giá rẻ và đa dạng hoá nguồn cung.

    –         VẬN TẢI ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG

    Nếu khách hàng cần đảm bảo những yêu cầu chăt chẽ về mặt thời gian và an toàn, vận tải đường hàng không là lựa chọn tốt nhất dành cho bạn. Với APL, khách hàng có thể chắc chắn rằng chuyến hàng của bạn sẽ nhận được sự chăm sóc đặc biệt kể từ điểm xuất phát cho tới điểm đến cuối cùng. Hệ thống đại lý rộng khắp và đáng tin cậy của chúng tôi sẽ giúp vận chuyển hàng hoá của bạn trơn tru, tới nơi đúng hẹn và an toàn để phục vụ các mục đích khác nhau của bạn.

    Vào mùa cao điểm, công ty có thể đảm bảo với khách hàng về thời gian chuyển tải qua các điểm trung chuyển như Bangkok, Singapore, Kuala Lumpur hoặc Hong Kong.

     

    –         VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN VÀ ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG KẾT HỢP

    Vận tải biển và vận tải hàng không là một sự kết hợp tuyệt vời trong vận tải đa phương thức.Dịch vụ kết hợp giữa vận tải biển và vận tải hàng không của công ty sẽ giúp bạn tiết kiệm chi phí và đảm bảo các yêu cầu về mặt thời gian. Hơn nữa, đội ngũ nhân viên được đào tạo kỹ của chúng tôi luôn làm việc hết sức nhằm tránh và giải quyết tốt nhất các vấn đề phát sinh để khách hàng  không phải lo về những vấn đề đó nữa.

     

    –         VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ

    Vận tải đường bộ là phần không thể tách rời khỏi dây chuyền cung ứng dịch vụ giao nhận kho vận khác. Union cung ứng các dịch vụ vận tải theo lịch trình, hàng gom và thuê nguyên chuyến.

    Dịch vụ vận tải đường bộ bao gồm:

    * Bốc xếp và sắp đặt hàng.

    * Giao nhận vận tải hàng trọn gói.

    * Vận tải hàng siêu trường, siêu trọng, hàng rời và hàng đặc biệt.

    * Vận chuyển hàng đồ dùng gia đình và tài sản cá nhân.

    * Vận chuyển hàng quá cảnh.

    * Vận chuyển hàng tạm nhập-tái xuất và tạm xuất-tái nhập.

    * Lưu kho và phân phối hàng hoá

    –         KHO BÃI

     

    Với hệ  thống kho bãi rộng gần 1,000 m2  ở cảng Hải Phòng, UNION LOGISTICS sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng về lưu kho, vận chuyển và  phân phối hàng hóa thông qua hệ thống vận tải toànquốc. Cung cấp dịch vụ kho bãi và đóng hàng xuất nhập theo yêu cầu của tất cả các khách hàng trong và ngoài nước. Dịch vụ của chúng tôi gồm sắp xếp và đóng rút hàng vào ra cho các loại Container, kể cả Container khung và Container phằng. Đảm bảo an toàn cho hàng hoá với nhiều chủng loại khác nhau.

    –         LƯU KHO VÀ PHÂN PHỐI

     

    Công ty cung cấp dịch vụ lưu kho tại những điểm đến quan trọng ở Việt Nam.Hàng hoá sẽ được bảo quản cần thận cho tới khi hàng được giao hoặc phân phối.
    Các dịch vụ lưu kho và phân phối bao gồm:
    + Nhận và lưu kho hàng hoá

    + Xe nâng và cần cẩu

    + Lựa chọn, đóng gói, đóng thùng, dán nhãn mác, phân loại và cách ly hàng hoá

    + Giao hàng và phân phối từng phần nhanh

    + Đảm bảo an toàn cho hàng hoá 24/24 giờ

    + Quản lý dự án nhằm đảm bảo quá trình thực hiện dự án trôi chảy

    –         VẬN TẢI NỘI ĐỊA

    Vận tải nội địa là một phần quan trọng của chuỗi logistics. Do vậy, Công tyluôn cố gắng nâng cao chất lượng của các dịch vụ vận tải nội địa.

    Cung cấp các dịch vụ vận tải đường bộ như sau:

    + Xếp hàng hoá tự động

    + Vận chuyển hàng nặng, hàng quá khổ, hàng rời và các hàng hoá nhanh hỏng
    + Vận chuyển đặc biệt các hàng gia dụng và tài sản cá nhân
    +Vận tải chuyển tải hàng hoá đi qua Việt Nam.Ngoài dịch vụ vận tải đường bộ, Cty cũng cung cấp danh mục các dịch vụ vận tải đường sắt như gom hàng theo lịch, vận tải hàng nguyên và vận tải hàng lẻ.

    –         MÔI GIỚI HẢI QUAN

    Sự rắc rối và phức tạp liên quan đến luật lệ và tập quán ở các nước khác nhau khiến cho việc thông quan hàng hoá nhanh chóng trở nên khó khăn, từ đó giảm hiệu quả của cả quá trình vận chuyển và ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình kinh doanh của bạn.Đến với chúng tôi, bạn sẽ không còn phải lo lắng về các thủ tục hải quan nữa. Đội ngũ nhân viên môi giới hải quan và hệ thống đại lý rộng khắp trên toàn thế giới sẽ giúp bạn về các vấn đề liên quan đến thủ tục hải quan. Mục tiêu của chúng tôi là giảm thiểu tối đa các rắc rối và chậm trễ có thể xả đến với bạn.

    –         XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI

    Trong kinh doanh, thông tin không hoàn hảo là khó khăn chung của tất cả các doanh nghiệp. Nhằm hỗ trợ sự phát triển của khách hàng, Công ty cung cấp rất nhiều thông tin về thương mại, kinh doanh trên toàn thế giới như tình hình nền kinh tế các quốc gia, hội chợ thương mại, đối tác kinh doanh, danh bạ công ty, môi giới, thống kê kinh tế, tin tức thị trường và tin tức đầu tư. Hay nói một cách khác, bất cứ khi nào khách hàng cần bất cứ thông tin gì để phục vụ cho công việc kinh doanh của mình, hãy liên lạc với Cty và thông tin khách hàng cần sẽ nằm ngay trong tay.

    • MÔI GIỚI TÀU BIỂN

    Khách hàng đang cần gi ?( đang tìm thuê nột chiếc tàu, hay đang muốn vận chuyển một chuyển một chuyến hàng hóa, hoặc là đang muốn cho thuê một chiếc tàu,…)Nếu vậy, hãy liên lạc với Cty và những nhân viên môi giới ở đây sẽ giúp khách hàng tìm được đối tác thích hợp.Cty nhận tất cả các loại hàng hoá và tàu biển.Khi đã hợp tác với Cty, khách hàng sẽ nhận được thông tin thường xuyên về tàu cho thuê, nguồn hàng và nhu cầu thuê tàu

    • OVERVIEW

    Ngày nay, dịch vụ logistics toàn diện trở nên quan trọng đối với kinh doanh hơn bao giờ hết.Tại Công ty đã thiết kế các dịch vụ sao cho phù hợp nhất với những yêu cầu của từng khách hàng riêng biệt.Vì thế, Cty có thể khai khác tối đa tất cả những tiềm năng đang có nhằm phục vụ cho sự thành  của kháchhàng

    Trong những năm vừa qua, Cty đã và đang nỗ lực tìm kiếm nhiều hơn nữa các tuyến đi thẳng, các tuyến tiết kiệm chi phí; mở rộng mạng lưới đại lý trên toàn thế giới; hợp tác với những đối tác có uy tín. Tất cả đều nhằm đạt được một mục đích duy nhất là cung cấp được những dịch vụ logistics toàn diện và sáng tạo, thoả mãn tối đa những yêu cầu đa dạng của khách hàng.

    Ngoài ra, dịch vụ tư vấn luôn sẵn sàng phục vụ bất cứ khi nàokhách hàng với cần bất cứ thông tin hoặc giải thích nào.

    BẢNG: So sánh dịch vụ được cung cấp bởi các nhà cung cấp logistics nước ngoài.

    Công ty Logistics đầu vào Kho bãi Quản lý tồn kho Lấy hàng/

     

    đong gói và lắp ráp

    Quản lý trung tâm phân phối Marketing/

     

    dịch vụ khách hàng

    Dịch vụ tại nguồn Giao hang thẳng tới kho
    APL logistics ü ü ü ü ü ü ü ü
    Maersk Logistics ü ü ü ü ü ü ü ü
    MOL logistics ü ü ü     ü    
    NYK logistics ü ü ü ü ü     ü
    Schenker ü ü ü ü ü ü ü ü
    DHL / Exel ü ü ü ü ü ü ü ü
    UPS ü ü ü ü ü ü ü  
    Expeditors ü ü ü ü ü ü   ü
    Kuehne & Nagel ü ü ü ü ü ü ü ü
    Panalpina   ü ü ü ü ü ü  
    TNT Logistics ü ü ü ü ü      

     

    Nguồn : Tổng hợp của APL Logistics và phân tích của Frost & Sullivan

    Chương III: APL logistics tại Việt Nam

    3.1. Giới thiệu chung về công ty APL logistics Việt Nam

        3.1.1.  Lịch sử hình thành và phát triển APL logistics tại việt nam

         APL có lịch sử bắt nguồn từ công ty Pacific Mail Steamship Company do William Henry Aspinwall thành lập năm 1848 tại Hoa Kỳ. Sau lịch sử phát triển 160 năm, công ty này đã phát triển thành một hãng tàu hàng đầu trong lĩnh vực vận tải container, và là hãng tàu có lịch sử lâu đời nhất Hoa Kỳ.

    Năm 1997, công ty vận tải biển NOL của Singapore đã mua lại APL với giá 285 triệu USD. Đây là vụ thôn tính lớn chưa từng có bởi một công ty Singapore. Trên thực tế, APL lơn gấp 2 lần NOL, khi đó thuộc sở hữu Nhà nước của Singapore.

    Ngày 7/9, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cho ý kiến về chủ trương thực hiện Dự án thành lập Công ty APL- NOL Việt Nam chuyên cung cấp dịch vụ hàng hải theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

    Theo đó, căn cứ thỏa thuận của hiệp định khung về kết nối hai liền kinh tế Việt nam – Singapore ký ngày 6/12/2005, Thủ tướng đồng ý về nguyên tắc chủ trương cấp phép dự án thành lập Công ty APL- NOL Việt Nam (doanh nghiệp 100% vốn của Singapore) với mục tiêu hoạt động cung cấp các dịch vụ hàng hải (bao gồm cả dịch vụ đại lý vận tải hàng hoá đường biển) tại Việt Nam.

    Tại Việt Nam, APL là một trong 3 hãng tàu đầu tiên (cùng Maersk Line và MOL) thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, mang tên Công ty APL- NOL Việt Nam. Công ty này có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh tại Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng. Cụ thể như sau:

    Tên đại diện : Cty APL-NOL Việt Nam TNHH

    Người đại diện: Ông Barry Akbar

    Chức vụ: Tổng Giám Đốc

    Loại công ty: 100% Vốn Nước Ngoài

    Ngành nghề hoạt động: Giao Nhận & Dịch Vụ Vận Chuyển , Vận Tải Biển , Công Ten Nơ-Vận Tải Bằng Công Ten Nơ

    Địa chỉ doanh nghiệp (trụ sở chính): 22 Phạm Ngọc Thạch, P. 6, Q. 3, Tp. Hồ Chí Minh

    Điện thoại: (84-8) 38221199, 38221166, 38239675, 38990788

    Fax: (84-8) 38227880, 38227875

    Website: www.apl.com

    Ngoài ra còn có văn phòng đại diện tại

     Đà Nẵng

    • Địa chỉ: 113 Hoàng Văn Thụ, P. Phước Ninh, Q. Hải Châu, Đà Nẵng
    • Điện thoại: 0511-3562966
    • Fax: 0511-3562965
    • Email: [email protected]

     Hà Nội

    • Địa chỉ: Phòng 501-502, 43 Trần Xuân Soạn, Hà Nội
    • Điện thoại: 04-39780859
    • Fax: 04-39780858
    • Email: [email protected]

    Hải Phòng

    • Địa chỉ: 05 Lý Tự Trọng, P. Minh Khai, Q. Hồng Bàng, Hải Phòng
    • Điện thoại: 031-3747918
    • Fax: 031-3821516
    • Email: [email protected]

    3.1.2. Cơ sở vật chất và kỹ thuật của công ty

    Hãng tàu APL, tên tiếng Anh là American President Lines Ltd, đứng ở vị trí thứ 5 trong số các hãng tàu lớn nhất trên thế giới. Hãng tàu này cung cấp dịch vụ trên 140 quốc gia với một mạng lưới hoạt động rộng khắp, bao gồm cả vận tải đa phương thức, được hỗ trợ bởi công nghệ thông thin và thương mại điện tử.

    Tại APL Logistics, chúng tôi làm việc chăm chỉ để xây dựng mối quan hệ lâu dài.  Những mối quan hệ đến từ làm những cách làm việc chuyên nghiệp, tập trung vào nhu cầu kinh doanh  , mục tiêu, và ưu tiên đối với khách hàng .  Đã làm việc trong các ngành công nghiệp tương ứng của nó trong nhiều năm, nhân viên của các chuyên gia là không ai sánh kịp. Apl tự hào với đội ngũ nhân viên làm việc chuyên nghiêp, thường xuyên được đào tạo năng cao nghiệp vụ ở những nơi có ngành logistics phát triển mạnh.  Chúng tôi đã hợp tác với một số các tên tuổi lớn nhất trong kinh doanh và công nghiệp hàng đầu hoạt động thành lập tốt nhất cho phép chúng tôi cung cấp các giải pháp logistics thực sự.  Và chúng tôi tiếp tục đầu tư mạnh vào công nghệ để giúp bạn luôn đi đầu trong thị trường toàn cầu ngày nay.

    Là một nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu về dịch vụ hậu cần-kho vận với hơn 24 triệu feet met vuông thuộc quyền quản lí, apl logistics có cơ sở hạ tầng và chuyên môn để hõ trợ sự phân bố các bộ phận hậu mãi cho các ngành công nghiệp ô tô và các ngành công nghiệp nặng khác…

    APL Logistics sử dụng một số hệ thống đã được chứng minh CNTT để quản lý vận chuyển trên tất cả các chế độ. Hệ thống chuyên ngành của APL để tổng hợp, giao nhận và chuyển tải trên toàn cầu  cho phép chúng ta  có thể kiểm soát chặt chẽ phong  trào vận chuyển hàng hóa và quản lý tài liệu và thông tin tài chính từ một nguồn duy nhất. Khách hàng được hưởng lợi từ cải thiện hiệu quả trong hoạt động và tiết kiệm chi phí đóng góp vào dòng dưới cùng.

    Vận tải biển: ACS 123 là hệ thống sở hữu độc quyền của APL logistics để tổng hợp và quản lí vận tải biển. Nó cung cấp sự linh hoạt trong việc sao chép, lưu kho, giao hàng và hoạt động vận chuyển hàng hóa. ACS 123 cũng đảm bảo sự hài lòng của khách hàng về thủ tục giao nhận, và các yêu cầu của nhà cung cấp. Với việc đặt văn phòng trực tuyến để thuận tiện cho nhà cung cấp và tính chính xác, ACS 123 tạo ra tài liệu và dữ liệu cần thiết cho vận chuyển, giao dịch thủ tục hải quan và tài chính.

    Hỗ trợ biển APL Logistics và giao nhận vận tải hàng hóa là một hệ thống web cho phép hoạt động thiết kế dành cho quản lý vận chuyển thời gian thực và dịch vụ khách hàng. Tính năng bao gồm đặt phòng trực tuyến, theo dõi và truy tìm, và tích hợp với bộ APL Logistics ‘của các công cụ quản lý khả năng hiển thị và dữ liệu.

    APL logistics sử dụng hệ thống  quản lí đáng tin cậy để quản lí xe tải và hệ thống đường sắt trong giao thông vận tải, hỗ trợ quản lí các lô hàng, người vận chuyển và các giao dịch tài chính có liên quan. Khách hàng tự động được chấp nhận đơn đặt hàng và chi phí tự động được phân bổ dựa trên các dịch vụ, đánh giá vận chuyển và các thông số hoạt đông khác. Đơn đặt hàng được hợp nhất với các tuyến đường nhằm tối ưu hóa và giảm thiểu chi phí  vận chuyển. Một  hệ thống mạng nội bộ được quản lí chặt chẽ và xuyên suốt , thực hiện quản lí  các thiết bị và tải trọng theo dõi, và tự động thanh toán hóa đơn vận chuyển. Khách hàng được hưởng lợi từ trao đổi dữ liệu giảm và chi phí vận chuyển, dự báo cải thiện, trong khi đáp ứng yêu cầu giao hàng của khách hàng.

    Tự động hoá dây chuyền cung ứng hiệu quả của bạn phụ thuộc vào thông tin chính xác Mã hàng cấp, từ các nhà cung cấp của bạn. Bộ công cụ cho phép các nhà cung cấp số hiệu mạng để tạo ra nhãn mã vạch, và quét và cung cấp danh sách đóng gói dữ liệu điện tử thông qua các chi tiết trước tàu Thông báo (ASN).

    Để tích hợp đầy đủ trình tự, vận chuyển và quy hoạch hệ thống, APL Logistics cung cấp một kinh nghiệm trong việc lập bản đồ số hiệu mạng để hoạt động của khách hàng và hệ thống ERP. Dù bị bắt gặp ở vị trí nhà cung cấp của bạn thông qua các bộ công cụ hiệu mạng, hoặc khi nhận tại một cơ sở APL Logistics, chúng tôi cung cấp những dữ liệu bạn cần để hoàn thành chu trình lệnh giao hàng.

    Các sản phẩm hoặc thùng hàng có thể đã được sẵn sàng, nhưng nó không thể lưu thông  mà không có nhãn.Công nghệ quét và chặn nhãn của APL logistics trong trường họp máy ghi nhãn không đọc được, không chính xác hoặc muộn dẫn  đến  trì hoãn các lô hàng của bạn. Các nhà cung cấp của bạn có thể liên hệ với  APL Logistics ở địa phương  từ mạng lưới toàn cầu của chúng tôi.

    3.2. Các dịch vụ của APL logistics tại Việt Nam

    APL Việt Nam cung cấp dịch vụ logistics tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.

    Hiện APL Việt Nam cung cấp dịch vụ logistics trên 3 mảng chính:

    • Dịch vụ gom hàng – (Consolidation) là việc biến các lô hàng lẻ thành hàng nguyên gửi đi nhằm tiết kiệm chi phí vận tải, là một dịch vụ không thể thiếu được trong vận tải container. Dịch vụ này cũng có thể do người chuyên chở (hãng tàu) hoặc người giao nhận hoặc một người khác đảm nhiệm, gọi là người gom hàng (Consolidator)
    • Dịch vụ vận tải quốc tế – International Freight Service: dịch vụ vận chuyển hàng không, đường biển, thủ tục hải quan, vận chuyển đường bộ
    • Dịch vụ kho bãi – Warehouse Management Service: đáp ứng nhu cầu của khách hàng về lưu kho để vận chuyển và  phân phối hàng hóa

    Với các dịch vụ cụ thể:

    • Cung cấp 14 ngày lưu kho bãi miễn phí
    • Dịch vụ logistics cho hàng vận chuyển bằng đường hàng không: dành cho các loại hàng hóa cao cấp, cần vận chuyển gấp ngoài ra còn có thể theo dõi, giám sát các hàng hóa đang vận chuyển từ các nước khác đến Việt Nam hoặc ngược lại theo yêu cầu của khách hàng
    • Dịch vụ gom hàng:

    Quy trình giao hàng lẻ diễn ra như sau

    – Người gom hàng nhận hàng lẻ từ các chủ hàng và họ sẽ cấp cho người gửi một chứng từ gọi là vận đơn gom hàng (House B/L)

    – Người gom hàng đóng các hàng lẻ vào container và gửi nguyên container cho           người chuyên chở thực (hãng tàu)

    – Hãng tàu nhận container và sẽ cấp cho người gom hàng một vận đơn gọi   là vận đơn chủ (Master B/L) . Hãng tàu vận chuyển container đến cảng đến, dỡ khỏi tàu và giao nguyên container cho đại lý của người gom hàng tại cảng đến trên cơ sở các người nhận đó xuất trình Master B/L

    – Đại lý của người gom hàng, bằng chi phí của mình, dỡ hàng ra  khỏi container và giao hàng cho người nhận trên cơ sở các người nhận đó xuất trình House B/L

    • Dịch vụ chứng từ và Dịch vụ làm thủ tục hải quan: làm bộ chứng từ, khai báo hải quan ( hàng tàu, hàng nguyên container, hàng lẻ, hàng rời với tất cả các loại hình: kinh doanh, đầu tư, đầu tư nộp thuế, tạm nhập – tái xuất…)
    • Truyền dữ liệu qua hệ thống EDI: hệ thống EDI là phương tiện phục vụ cho việc xử lý, lưu trữ dữ liệu và liên lạc. Trong vận tải đa phương thức, việc truyền thông tin dữ liệu là rất cần thiết. Do đó, mỗi nước cần phải thiết lập một hệ thống EDI để khai thác và cập nhật tới tất cả các đại lý trong nước có liên quan, mà còn có thể nối mạng với các nước trong khu vực, cũng như với mạng của hệ thống thông tin toàn cầu GII (Global International Infrastructure)
    • Dịch vụ NVOCC: người thầu vận chuyển hàng lẻ (NVOCC) thường do công ty giao nhận đảm trách với tư cách người gom hàng, là người chuyên chở theo hợp đồng vận chuyển (Contracting Carrier) chứ không phải là đại lý (agent). Người thầu vận chuyển hàng lẻ chịu trách nhiệm suốt quá trình vận chuyển hàng từ khi nhận hàng tại cảng gửi đến khi giao trả hàng xong tại cảng đích. Vận đơn họ ký phát cho người gửi hàng có thể là vận đơn tập thể (House Bill of Lading) hoặc vận đơn do Hiệp hội những người giao nhận quốc tế soạn thảo (FIATA Bill of Lading) nếu họ là thành viên của hội này
    • Logistics ngược: thu hồi lại hàng hóa, tái chế, thay thế và tái sử dụng lại các nguyên vật liệu, làm mới, sửa chữa, thay thế thiết bị hoặc phục hồi sản phẩm bởi các lý do không kiểm soát được như hỏng hóc, tồn kho mùa vụ, thay thế hàng, do lỗi bảo hành hoặc tỷ lệ tồn kho quá cao
    • Book chỗ với các hãng tàu: nhận booking từ các doanh nghiệp, nhà xuất khẩu (vendor) để liên hệ book chỗ với các hãng tàu uy tín để giảm thiểu chi phí và rủi ro trong quá trình vận chuyển cho đơn hàng
    • Kiểm đếm và đóng hàng vào container: APL Logistics cung cấp giải pháp logistics theo chiều sâu cảu sản phẩm. Thông thường hàng hóa chỉ được quản lý đến cấp độ PO ( đơn hàng), bằng hệ thống thông tin của mình, APL Logistics có thể quản lý đơn hàng chặt chẽ đến cấp độ từng đơn vị hàng hóa (SKU) và liên kết với các vendors – nhà xuất khẩu để kiểm tra độ chính xác của đơn hàng. Và tùy theo lượng hàng được book, APL Logistics sẽ lên kế hoạch đóng hàng phù hợp, kế hoạch đóng hàng sẽ được gửi trực tiếp cho người mua – nhà nhập khẩu
    • Dịch vụ kho bãi gia tăng giá trị: Kiểm kiện, phân loại, tuyển chọn, tái chế, lắp ráp, tu chỉnh, sửa chữa, thử mẫu, đóng bao, dán nhãn sản phẩm, trao đổi hàng hoá, vệ sinh công nghiệp, quản trị đơn hàng bán buôn và bán lẻ, thu hồi bao bì/ dụng cụ…
    • Dịch vụ điều phối hàng lưu kho: nhận hàng từ các vendors, kiểm tra về số lượng, nhãn hàng, tình trạng bao bì…Hàng được giao sẽ được xếp đúng quy cách như quy định của khách hàng

    Ngoài ra APL Việt Nam còn cung cấp những dịch vụ đặc biệt sau:

    • Dịch vụ See Change: cho phép các huyên gia logistics và người mua hàng có thể truy suất được dữ liệu về dây chuyền cung ứng chính xác dù hàng hóa đang ở bất cứ đâu, vận chuyển bằng phương tiện gì.
    • Dịch vụ giám sát đơn đặt hàng: hỗ trợ khách hàng hoàn tất các yêu cầu của đơn đặt hàng chính xác và hiệu quả hơn thông qua hệ thống thông tin của APL
    • Quản trị dữ liệu của nhà máy thông qua công cụ ASN ( Advanced Ship Notice): với độ chính xác cao đến từng đơn vị hàng hóa, công cụ ASN giúp nhận dạng hàng hóa qua mã vạch, scan và truyền dữ liệu đến hệ thống của khách hàng.
    • In nhãn và scan hàng hóa: công nghệ in nhãn và scan mã vạch trên thùng hàng carton của APL giúp khách hàng có thể tránh được các nhãn in ấn sai lệch.

     

    Chương IV: Những thuận lợi và khó khăn của công ty APL Logistics

    Thuận lợi

    • APL logistics là công ty có kinh nghiệm trên 100 năm hoạt động.
    • Tầm phủ của APL Logisitics là gần 100 quốc gia.
    • Trong chuỗi logisitics hiện đại thì APL Logisitics bao gồm rất nhiều dịch vụ đa dạng với giá trị gia tăng cao mà chúng ta có thể liệt kê ở đây như: Giao nhận hàng không ( từ cửa tới cửa), giao nhận hàng hải (từ cửa tới cửa), gom hàng nhanh tại kho, quản lý đơn hàng, quản lý và theo dõi cam kết của nhà cung cấp, dịch vụ kho bãi giá trị gia tăng, gom hàng từ nhiều quốc gia đến một cảng trung chuyển thường là Singapore, Kaoshiung, Hong Kong, dịch vụ kiểm soát chất lượng hàng hoá, dịch vụ kiểm soát quá trình sản xuất kịp thời hạn, quản lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu đầu cuối cho khách hàng, dịch vụ quét và in mã vạch….
    • APL Logisitics là nhà cung cấp dịch vụ logisitics cho Nike.
    • Đã xây dựng hệ thống cảng biển, công ty vận tải biển, hãng hàng không, công ty logisitics thành một chuỗi dịch vụ theo đúng mô hình One-Stop Shop.
    • Xây dựng thương hiệu mạnh trong ngành logisitics .
    • Sử dụng sáng tạo công nghệ thông tin cho khả năng hiển thị tối đa và kiểm soát chuỗi cung ứng.
    • APL Logistics là một nhà lãnh đạo ngành công nghiệp trong việc áp dụng công nghệ đã được chứng minh để tăng hiệu suất chuỗi cung cấp.

     Khó khăn

    • Ở các nước đang phát triển cần nhiều vốn đầu tư, chuyên môn và cơ sở hạ tầng hơn. Cơ sở hạ tầng đường bộ, kho bãi chưa đạt chuẩn quốc tế là cản trở lớn đối với việc phát triển hệ thống giao thông – vận tải cũng như hoạt động logistics một cách có hiệu quả và tiết kiệm chi phí.
    • Khủng hoảng kinh tế có ảnh hưởng đến quá trình đầu tư của APL ở các nước.

    Giải pháp

    • Về vận chuyển hoặc vận tải quản lý: cần tăng chuyên ngành công nghệ để giảm thiểu chi phí vận chuyển tốc độ và bảo đảm giao hàng đúng hạn →giảm giá cước.
    • Về quản lý kho hàng: phải tạo lợi thế cạnh tranh hiệu quả kho, thời gian chu kỳ và thực hiện đơn hàng.
    • Về con người: cần tăng nguồn lực chuyên gia và các công cụ thực hành tốt nhất để đảm bảo thành công.
    • Tăng các thử nghiệm APL Logistics đã thành lập sẽ giúp khám phá các cơ hội trong tương lai được cung cấp bởi RFID bao gồm cả sản phẩm theo dõi vào và từ các cửa hàng.
    • Cần chú trọng hơn nữa các vấn đề về Marketing.
    • Sản phẩm dữ liệu: Sản phẩm kết nối dữ liệu thông qua chuỗi cung cấp – từ bất kỳ nhà cung cấp hoặc vị trí.

     

     

    KẾT LUẬN

    Logistics là một ngành mới mẻ đối với Việt Nam tuy nhiên nó lại là ngành mang lại nguồn lợi lớn cho các nước phát triển. Dịch vụ của APL Logistics bao gồm quản lý chuỗi cung ứng, củng cố hàng và nhà cung cấp dịch vụ, quản lý giao thông vận tải,  quản lý giao nhận vận tải hàng hóa toàn cầu và quản lý hải quan, quản lý tài sản, kho bãi trong khu vực và mạng lưới phân phối, thực hiện giải pháp toàn cầu.

    APL Logistics trên thế giới đã rất phát triển, có kinh nghiệm trên 100 năm hoạt động, mở rộng ra nhiều nước, và khi đầu tư vào Việt Nam  cũng đã góp phần rất lớn trong chuỗi hệ thống cung ứng dịch vụ Logistics Việt Nam. Tuy nhiên, APL Logistics ở Việt Nam cũng đã gặp rất nhiểu khó khăn bởi vốn đầu tư lớn về chuyên môn và cơ sở hạ tầng. Vì vậy, nhóm cũng đã nêu ra một số giải pháp nhằm giúp công ty phát triển hơn ở Việt Nam để góp nâng cao hiệu quả quản lý, làm tăng hiệu năng chuỗi cung ứng và giảm chi phí.

     

    Tài Liệu Tham Khảo

     

    1. http://www.apl.com/
    2. http://www.apllogistics.com/wps/portal/apll
    3. http://www.importgenius.com/suppliers/apl-logistics-vietnam
    4. http://www.apl.hrvietnam.com/vi/jobseekers/35A56BDC/logistics-coordinator.html
    5. http://www.360vietnam.com/scm/tag/apl-logistics/
    6. http://www.apl.com/tracking/
    7. http://www.tailieu.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Logistic Kinh doanh

    Tiểu luận Logistic Kinh doanh

    Tiểu luận Logistic Kinh doanh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Logistic-Kinh-doanh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Logistic Kinh doanh

     

    CHƯƠNG 1.                                                                                                                               I, Lý thuyết:

     

    1.1    1.1.Khái niệm tối ưu  hóa dịch vụ logistics

        Tối ưu hoá dịch vụ logistics là quá trình xác định trình độ dịch vụ khách hàng để đạt được khả năng lợi nhuận tối đa..

    1.2    1.2.Bản chất kinh tế của tối ưu hóa dịch vụ logistics

    Xác định mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí K Biết doanh thu và chi phí logistics đối với từng trình độ dịch vụ, chúng ta có thể xác định được trình độ dịch vụ sẽ tối đa hoá đóng góp lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu

    Kết quả bán hàng chịu ảnh hưởng bởi trình độ cung cấp dịch vụ logistics cho khách hàng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, dịch vụ logistics có ảnh hưởng đến doanh số và sau đó là doanh thu, thị phần

    Mối quan hệ giữa chi phí và dịch vụ

    Dịch vụ logistics khách hàng là kết quả của các mức hoạt động logistics. Mỗi mức dịch vụ có một mức chi phí tương ứng. Thực ra có nhiều phương án chi phí hệ thống logistics đối với từng mức dịch vụ, tuỳ thuộc vào sự phối hợp các hoạt động logistics. Khi biết được các mối quan hệ doanh thu – dịch vụ, có thể xác định được chi phí tương ứng với dịch vụ (Hình 1.1).

    Chi phí
    Trình độ dịch vụ
    • Hình 1.1. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí

     

    1.3    1.3.Các phương pháp tối ưu hóa dịch vụ khách hàng

    1.3.1    1.3.1.Quan điểm về dịch vụ khách hàng:

    Dịch vụ khách hàng đề cập đến một chuỗi các hoạt động đặc biệt thỏa mãn  khách hàng thường bắt đầu bằng hoạt động  đặt hàng và kết thúc bằng bằng việc giao hàng cho khách. Trong một số trường hợp có thế tiếp tục với các dịch vụ vận tải, bảo dưỡng và kĩ thuật hỗ trợ khác.

    Nhà kinh doanh cần có sự phân biệt rõ ràng giữa khách hàng và những người tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ của công ty. Người tiêu dùng là người tham gia cuỗi cùng trong chuỗi hoạt động của ngành hậu cần, họ sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích tiêu dùng lần cuối của dịch vụ.

    Từ khái niêm trên có thể hiểu dịch vụ khách hàng là tất cả những gì mà doanh nghiệp cung cấp cho người mua hàng hóa và dịch vụ của công ty. Tuy nhiên trên thực thế có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ khách hàng.

    Theo các nhà quản trị marketing, sản phẩm có 3 mức độ (1) lợi ích cốt lõi, (2) sản phẩm hữu hình, (3) lợi ích gia tăng thì dịch vụ khách hàng là lớp thứ (3), bao gồm những lợi ích cộng thêm.

    Theo khái niêm nêu trên thì Dịch vụ khách hàng là quá trình sáng tạo và cung cấp những lợi ích gia tăng trong chuỗi cung ứng nhằm tối đa hóa tổng giá trị tới khách hàng. Dịch vụ khách hàng  là một quy trình diễn ra giữa người bán và người mua và bên thứ 3 là nhà thầu phụ. Kết thúc quá trình này thì quá trình này thì sản phẩm hàng hóa và dịch vụ được thêm một giá trị nào đó.

    Trong phạm vi của một doanh nghiệp, dịch vụ khách hàng được coi là những phương tiện nhờ đó công ty có được khả năng phân biệt sản phẩm,duy trì sự trung thành của khách hàng, tăng doanh thu lợi nhuận. Dịch vụ khách hàng thường xuyên ảnh hưởng tới mọi hoạt động của công ty.

    1.3.2    1.3.2.Vai trò và tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng.

    -Dịch vụ khách hàng như một hoạt động: ở mức độ này công ty coi dịch vụ khách hàng như một nhiệm vụ đặc biệt mà doanh nghiệp phải hoàn thành để thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Giải quyết đơn hàng, lập hóa đơn, gửi trả hàng yêu cầu bốc dỡ là những ví dụ điển hình của mức dịch vụ này. Khi đó hoạt động logistics dừng lại ở mức độ hoàn thiện giao dịch. Phòng dịch vụ khách hàng là cơ cấu chức năng chính đại diện cho mức dịch vụ này.

    – Dịch vụ khách hàng như thước đo kết quả thực hiện: nhấn mạnh việc đo lường kết quả thực hiện cho phép lượng hóa được sự thành công của doanh nghiệp trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với công ty đang cố gắng thực hiện  chương trình cải tiến liên tục.

    – Dịch vụ khách hàng như một triết lý: coi phần giá trị tăng thêm như mục tiêu triết lý của dịch vụ khách hàng. Dịch vụ khách hàng được nâng lên thành thỏa thuận cam kết của công ty nhằm cung cấp sự thỏa mãn cho khách hàng thông qua các dịch vụ cao hơn.

    Và dịch vụ khách hàng có tác động tới doanh nghiệp ở nhiều mặt như:

    – Ảnh Hưởng Đến Doanh Số Bán:

    Các nhà quản trị hậu cần tin tưởng rằng có sự ảnh hưởng rất to lớn của dịch vụ khách hàng tới doanh số bán,thực tế cho thấy rằng, dịch vụ hậu cần chỉ đại diện cho một tổng thể trong tổng dịch vụ khách hàng, do đó doanh nghiệp không đo lường chính xác chất lượng và kết quả  của dịch vụ hậu cần.

    – Ảnh Hưởng Đến Thói Quen Của Khách Hàng

    Dịch vụ khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các khách hàng quan trọng quen thuộc và duy trì long trung thành của họ. nếu xét theo quan điểm tài chính, thì đầu tư vào cung cấp các dịch vụ khách hàng sẽ hiệu quả hơn đầu tư cho hoạt động xúc tiến hoặc hoạt động phát triển khách hàng khác.

    1.3.3.Các phương pháp  tối ưu hóa dịch vụ khách hàng

     

    1.3.3.1.Tăng cường dịch vụ khách hàng.

    Để tối ưu hóa dịch vụ khách hàng cần đảm bảo các đầy đủ các tiêu chuẩn sau:

    *Tiêu chuẩn đầy đủ về hàng hoá.

    Các cơ sở logistics phải đảm bảo dự trữ thoả mãn nhu cầu về hàng hoá cho khách hàng cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào hệ thống quản trị dự trữ và tổ chức mạng lưới logistics (kho, cửa hàng ). Những chỉ tiêu đánh giá tiêu chuẩn này bao gồm:

    – Tần số thiếu dự trữ: Là khả năng xẩy ra thiếu dự trữ, hay là hàng hoá có đủ để bán cho khách hàng không. Chỉ tiêu này ra: bao nhiêu lần nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp hàng hoá.

    – Tỷ lệ đầy đủ: Đo lường tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của thiếu dự trữ trong cả một thời gian. Tỷ lệ đẩy đủ phụ thuộc vào tần số thiếu dự trữ, thể hiện mưc độ đáp ứng nhu cầu mua hàng của khách.

    Tần số thiếu dự trữ và tỷ lệ đầy đủ liên quan đến chính sách và chiến lược dự trữ.

    – Thời gian bổ sung dự trữ: Là thông số thời gian để có dự trữ đáp ứng yêu cầu bán hàng.

    Ba chỉ tiêu này phối hợp với nhau để xác định phạm vi mà chiến lược dự trữ của doanh nghiệp đap sứng những mong đợi của khách hàng

    * Tiêu chuẩn vận hành nghiệp vụ

    Tiêu chuẩn này được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

    – Tốc độ: là chi phí thời gian mua hàng của khách hàng. Trong bán buôn: là thời gian kể từ khi đặt hàng đến khi giao hàng. Chỉ tiêu này rất khác nhau tuỳ thuộc vào tổ chức hệ thống logistics (mạng lưới, thông tin, vận chuyển, …). Tốc độ cung ứng hàng hoá ảnh hưởng đến thời cơ kinh doanh và chi phí của khách hàng. Trong bán lẻ: chi phí thời gian mua hàng theo các phương pháp bán hàng kể từ khi quyết định cho khách hàng có được hàng hoá. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào việc hoàn thiện các phương pháp bán hàng, phân bố mạng lưới, hình thức tổ chức kinh doanh (loại hình cửa hàng ). Tuỳ thuộc vào đặc trưng nhu cầu mua hàng mà xác định thời gian mua hàng phù hợp. Chẳng hạn, hàng đơn giản không cần lựa chọn có nhu cầu hàng ngày thì phải rút ngắn thời gian mua hàng.

    – Độ ổn định: là sự giao động về chi phí thời gian mua hàng của khách so với trung bình. Trong bán buôn: độ ổn định kém làm cho khách hàng phải tăng dự trữ bảo hiểm để chống lại việc cung ứng chậm trễ. Độ ổn định liên quan đến tiêu chuẩn đầy đủ và dự trữ, năng lực quản trị quá trình cung cấp hàng hoá. Trong bán lẻ: sự giao động thời gian mua hàng ảnh hưởng đến thời điểm và thời gian tiêu dùng hàng hoá, và do đó, không thoả mãn nhu cầu về thời gian cho khách hàng.

    – Độ linh hoạt: là khả năng đáp ứng những yêu cầu dịch vụ bất thường của khách hàng (về hàng hoá, về thời gian, về địa điểm cung ứng và các dịch vụ khác ).

    – Độ sai sót nghiệp vụ: Mức độ vi phạm những yêu cầu của khách hàng về: mặt hàng, thời gian, ….Cần phải thiết kế các chương trình không lỗi và có các phương án khắc phục những sai sót.

    * Độ tin cậy.

    Độ tin cậy thể hiện tổng hợp chất lượng logistics. Độ tin cậy bao gồm khả năng thực hiện 2 tiêu chuẩn , khả năng cung cấp thông tin cho khách hàng chính xác, khả năng cải tiến liên tục các nghiệp vụ.

    Cần phải xác định 3 vấn đề khi đo lường chất lượng dịch vụ: biến số đo, đơn vị đo, cơ sở đo.

    1.3.3.2.Giảm tổng chi phí của cả hệ thống logistics.

    Tổng chi phí của hệ thống logistics bao gồm: chi phí mua hàng, chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí dự trữ hàng hóa, chi phí thiếu bán hàng hóa, chi phí đặt hàng và chi phí khác.

    Chi phí của cả hệ thống logistics chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và vận động theo những chiều hướng ngược nhau dưới ảnh hưởng của qui mô lô hàng nhập.

    -Chi phí mua hàng chịu ảnh hưởng của:

    +Quy mô lô hàng

    +Tổng lượng hàng hóa mua trong kỳ

    -Chi phí vận chuyển hàng hóa chịu ảnh hưởng

    +Cước phí vận chuyển hàng hóa

    +Tổng lượng hàng hóa mua trong kỳ kế hoạch

    -Chi phí dự trữ hàng hóa gồm: chi phí dự trữ trên đường, dự trữ lô hàng trong kho, dự trữ bảo hiểm ở trong kho. Các chi phí nay chịu ảnh hưởng của:

    + Thời gian trung bình vận chuyển hàng hoá

    +Mức tiêu thụ hàng hoá bình quân một ngày

    +Giá hàng hoá nhập kho

    +Qui mô lô hàng nhập kho

    +Thời gian chu kỳ kiểm tra dự trữ hàng hoá (trường hợp kiểm tra định kỳ dự trữ )

    +Thời gian bình quân thực hiện đơn đặt hàngcủa nguồn hàng

    …..

    -Chi phí đặt hàng chịu ảnh hưởng của:

    +Quy mô lô hàng nhập

    +Chi phí một lần đặt hàng.

    +Tổng lượng hàng hóa mua trong kỳ kế hoạch.

    Để tối ưu hóa dịch vụ khách hàng, trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi phí cần phải xác định qui mô lô hàng hợp lý, đảm bảo cho tổng chi phí thấp nhất.

    1.3.3.3, Một số phương pháp Tối ưu hóa dịch vụ khách hàng dựu trên mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí:

    Tối ưu hóa dịch vụ logistics là quá trình xác đinh trình độ dịch vụ khách hàng  để đạt được khả năng lợi nhuận tối đa.

    Xác định trình độ khách hàng tối ưu có liên quan đến mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí

    a, Ph­¬ng ph¸p 2 ®iÓm:

    Ph­¬ng ph¸p nµy bao gåm viÖc t¹o nªn 2 ®iÓm trªn ®­êng cong quan hÖ doanh thu – dÞch vô mµ qua ®ã, ®­êng th¼ng bÞ c¾t. §­êng nµy ®­îc coi nh­ xÊp xØ víi quan hÖ ®­êng cong

     
       

    Doanh

    thu

    Tr×nh ®é dÞch vô

    H.8- Ph­¬ng ph¸p 2 ®iÓm x¸c ®Þnh quan hÖ doanh thu – dÞch vô

    Ph­¬ng ph¸p nµy dùa trªn ý kiÕn cho r»ng, c¸c ®iÓm x¸c ®Þnh ®­êng cong kh¸ tèn kÐm hoÆc kh«ng thùc tÕ, vµ khã cã kh¶ n¨ng m« t¶ mèi quan hÖ víi ®é chÝnh x¸c cao.

    Ph­¬ng ph¸p nµy bao gåm tr­íc hÕt chän dÞch vô logistics kh¸ch hµng ë tr×nh ®é cao cho s¶n phÈm x¸c ®Þnh vµ xem xÐt doanh thu cã thÓ ®¹t ®­îc. Sau ®ã gi¶m dÞch vô ®Õn møc thÊp vµ ghi l¹i doanh thu. Tuy kü thuËt cã vÎ ®¬n gi¶n, nh­ng mét sè vÊn ®Ò cã thÓ h¹n chÕ Ých lîi cña ph­¬ng ph¸p. Thø nhÊt, kh«ng thÓ thay ®æi tr×nh ®é dÞch vô ®èi víi s¶n phÈm ®ang b¸n ®Ó thu thËp th«ng tin ®¸p øng doanh thu. Thø hai, Thêi l­îng mµ dÞch vô thay ®æi lµ ®ang hiÖu qu¶, kh¸ch hµng nµo sÏ cho th«ng tin thay ®æi, vµ c¸c ho¹t ®éng nµo kh¸c ¶nh h­ëng ®Õn doanh thu (xóc tiÕn, gi¸, chÊt l­îng s¶n phÈm, …) cã thÓ lµ c¸c biÕn ¶nh h­ëng ®Õn kÕt qu¶ doanh thu.

    b, Ph­¬ng ph¸p tr­íc vµ sau thö nghiÖm:

    ViÖc x©y dùng ®­êng cong doanh thu – dÞch vô ë ph¹m vi réng cã thÓ lµ kh«ng thùc tÕ. Do ®ã, ®¸p øng doanh thu cã thÓ ®¬n gi¶n ®­îc x¸c ®Þnh b»ng c¸ch t¹o ra sù thay ®æi tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng vµ theo dâi sù thay ®æi doanh thu, hoÆc b»ng c¸ch quan s¸t ¶nh h­ëng t­¬ng tù tõ c¸c b¸o c¸o lÞch sö khi dÞch vô thay ®æi trong qu¸ khø. Sù thay ®æi dÞch vô cÇn ®ñ lín sao cho nh÷ng kh¸c biÖt doanh thu kh«ng bÞ che lÊp bëi dao ®éng doanh thu b×nh th­êng hoÆc do sai sè ®o l­êng.

    Ph­¬ng ph¸p nµy t­¬ng tù ph­¬ng ph¸p 2 ®iÓm, tuy nhiªn nã dÔ thùc hiÖn do tr×nh ®é dÞch vô hiÖn t¹i ®­îc coi lµ “tr­íc” ®iÓm d÷ liÖu, vµ chØ cÇn biÕt “sau”®iÓm d÷ liÖu.

    c, Ph­¬ng ph¸p trß ch¬i:

    • óng ®¾n h¬n trong viÖc ®o l­êng sù ®¸p øng doanh thu víi sù thay ®æi dÞch vô lµ kiÓm so¸t m«i tr­êng sao cho chØ x¸c ®Þnh ¶nh h­ëng cña tr×nh ®é dÞch vô logistics kh¸ch hµng. Ph­¬ng ph¸p nµy gièng nh­ t¹o ra phßng thÝ nghiÖm hoÆc t×nh thÕ trß ch¬i, ë ®ã c¸c quyÕt ®Þnh ®­îc diÔn ra trong m«i tr­êng ®­îc kiÓm so¸t. M«i tr­êng nµy cè g¾ng sao chôp c¸c yÕu tè biÕn ®æi nhu cÇu, c¹nh tranh, chiÕn l­îc logistics vµ nh÷ng c¸i kh¸c t­¬ng tù hoµn c¶nh thùc tÕ. Trß ch¬i gåm c¸c quyÕt ®Þnh vÒ c¸c møc ho¹t ®éng logistics (do ®ã lµ c¸c møc dÞch vô ) víi môc tiªu t¹o nªn doanh thu t­¬ng øng víi chi phÝ t¹o ra chóng. B»ng viÖc theo dâi trß ch¬i theo thêi gian, cã thÓ cã ®­îc d÷ liÖu kh¸i qu¸t ®Ó x©y dùng ®­êng cong doanh thu – dÞch vô.

    d, §iÒu tra ng­êi mua:

    • ©y lµ ph­¬ng ph¸p phæ biÕn nhÊt ®Ó thu thËp th«ng tin dÞch vô kh¸ch hµng.

     

    1.4    1.4. Vận dụng quan điểm tối ưu hóa Dịch vụ khách hàng trong Quản trị dự trữ hàng hóa:

    1.4.1    1.4.1 Khái Niệm Quản Trị Dự Trữ:

    Tõ khi cã s¶n xuÊt vµ l­u th«ng hµng ho¸, dù tr÷ hµng ho¸ xuÊt hiÖn nh­ lµ mét hiÖn t­îng tÊt yÕu. Theo C.Mark th× “Dù tr÷ hµng ho¸ lµ sù cè ®Þnh vµ ®éc lËp ho¸ h×nh th¸i cña s¶n phÈm “. Nh­ vËy, s¶n phÈm ®ang trong qu¸ tr×nh mua, b¸n vµ cÇn thiÕt cho qu¸ tr×nh mua b¸n lµ n»m trong h×nh th¸i dù tr÷.

    Sù vËn ®éng cña hµng ho¸ trong hÖ thèng hËu cÇn ®Òu d­íi h×nh th¸i dù tr÷. Nh­ vËy, dù tr÷ hµng ho¸ trong hÖ thèng hËu cÇn lµ c¸c h×nh th¸i kinh tÕ cña vËn ®éng hµng ho¸ trong kªnh hËu cÇn nh»m tháa m·n nhu cÇu mua hµng cña kh¸ch hµng trªn thÞ tr­êng môc tiªu víi chi phÝ thÊp nhÊt.

    Trong toµn bé nÒn kinh tÕ quèc d©n, dù tr÷ hµng ho¸ lµ tÊt yÕu do sù c¸ch biÖt vÒ kh«ng gian vµ thêi gian gi÷a s¶n xuÊt vµ tiªu dïng hµng ho¸, do ®Æc ®iÓm kh¸c biÖt gi÷a hµng ho¸ s¶n xuÊt vµ hµng ho¸ tiªu dïng, do ®iÒu kiÖn ®Þa lý, tù nhiªn vµ khÝ hËu, hoÆc do ph¶i ®Ò phßng nh÷ng mÊt c©n ®èi lín cã thÓ xÈy ra (chiÕn tranh, thiªn tai, …).

    • èi víi doanh nghiÖp, dù tr÷ cÇn thiÕt lµ do yªu cÇu c¶i thiÖn dÞch vô kh¸ch hµng, nh­: dù tr÷ cung cÊp s¶n phÈm vµ dÞch vô cho kh¸ch hµng ®Çy ®ñ vµ nhanh, ®¸p øng yªu cÇu dÞch vô cao cho kh¸ch hµng, vµ do ®ã duy tr× vµ ph¸t triÓn doanh sè. MÆt kh¸c, dù tr÷ trong c¸c doanh nghiÖp gióp gi¶m chi phÝ do: duy tr× s¶n xuÊt æn ®Þnh vµ n¨ng suÊt cao, tiÕt kiÖm trong mua vµ vËn chuyÓn (trong mua: gi¶m gi¸ v× l­îng hoÆc mua tr­íc thêi vô; cßn trong vËn chuyÓn viÖc t¨ng dù tr÷ do t¨ng qui m« l« hµng sÏ ®¶m b¶o vËn chuyÓn tËp trung víi chi phÝ thÊp ), vµ nhê dù tr÷ mµ c¸c doanh nghiÖp gi¶m nh÷ng chi phÝ do nh÷ng biÕn ®éng kh«ng thÓ l­êng tr­íc.

    1.4.2    1.4.2 Vận Dụng Quan Điểm Tối Ưu Hóa Dịch Vụ Khách Hàng Trong Quản Trị Dự Trữ Hàng Hóa:

    Tr×nh ®é dÞch vô lµ viÖc x¸c ®Þnh c¸c môc tiªu ho¹t ®éng mµ dù tr÷ ph¶i cã kh¶ n¨ng thùc hiÖn. Tr×nh ®é dÞch vô ®­îc x¸c ®Þnh b»ng thêi gian thùc hiÖn ®¬n ®Æt hµng; hÖ sè tho¶ m·n mÆt hµng, nhãm hµng vµ ®¬n ®Æt hµng (b¸n bu«n ); hÖ sè æn ®Þnh mÆt hµng kinh doanh hÖ sè tho¶ m·n nhu cÇu mua hµng cña kh¸ch (b¸n lÎ ). Nh÷ng chØ tiªu tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng trªn ®©y phô thuéc kh¸ lín vµo viÖc qu¶n trÞ dù tr÷ hµng ho¸. Tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng do dù tr÷ thùc hiÖn ®­îc tÝnh to¸n theo c«ng thøc sau:

    d- Tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng (mét mÆt hµng)

     

    mt– L­îng hµng ho¸ thiÕu b¸n cho kh¸ch hµng

    Mc– Nhu cÇu cña kh¸ch hµng c¶ kú

    Tr­êng hîp kh¸ch hµng mua nhiÒu mÆt hµng, th× tr×nh ®é dÞch vô chung ®èi víi kh¸ch hµng ®­îc tÝnh nh­ sau:

    dc– Tr×nh ®é dÞch vô chung cho mét kh¸ch hµng

     

    di– Tr×nh ®é dÞch vô cña mÆt hµng i

    n- Sè l­îng mÆt hµng cung cÊp cho kh¸ch hµng

    ChØ tiªu tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng kÕ ho¹ch ®­îc x¸c ®Þnh theo c«ng thøc sau:

     
       
    • Ó n©ng cao tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng cña dù tr÷, cã thÓ sö dông nh÷ng gi¶i ph¸p sau:

    – Thø nhÊt lµ gi¶i ph¸p truyÒn thèng: t¨ng c­êng dù tr÷. Gi¶i ph¸p nµy cã thÓ ®¹t ®Õn tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng nhÊt ®Þnh, nh­ng cã thÓ lµm t¨ng chi phÝ dù tr÷ vµ c¶ hÖ thèng hËu cÇn.

    – Thø hai lµ gi¶i ph¸p c¶i tiÕn: vËn chuyÓn hµng ho¸ nhanh, chän nguån hµng tèt h¬n vµ qu¶n trÞ th«ng tin hiÖu qu¶ h¬n. Gi¶i ph¸p nµy nh»m chän ph­¬ng ¸n tèi ­u trong qu¶n trÞ dù tr÷ hµng ho¸.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1.5    2, Liên hệ thực tế về tối ưu hóa dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thương mại hiện nay:

    1.5.1    2.1. Giới thiệu về Ngân hàng Techcombank:

    Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam ( Techcombank) được thành lập ngày 27/09/1993 với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng, trải qua hơn 16 năm hoạt động, đến nay đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt trên 107.910 tỷ đồng (tính đến hết tháng 6/2010).
    Techcombank có cổ đông chiến lược là ngân hàng HSBC với 20% cổ phần Với mạng lưới gần 230 chi nhánh, phòng giao dịch trên hơn 40 tỉnh và thành phố trong cả nước, dự kiến đến cuối năm 2010, Techcombank sẽ tiếp tục mở rộng, nâng tổng số Chi nhánh và Phòng giao dịch lên 300 điểm trên toàn quốc. Hiện tại, với đội ngũ nhân viên lên tới trên 5000 người, Techcombank luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu về dịch vụ dành cho khách hàng. Techcombank hiện phục vụ trên 1 triệu khách hàng cá nhân, gần 42.000 khách hàng doanh nghiệp.
    Tầm nhìn: Trở thành Ngân hàng tốt nhất và doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam.
    – Sứ mệnh:
     • Trở thành đối tác tài chính được lựa chọn và đáng tin cậy nhất của khách hàng nhờ khả năng cung cấp đầy đủ các sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng và dựa trên cơ sở luôn coi khách hàng làm trọng tâm.
    • Tạo dựng cho cán bộ nhân viên một môi trường làm việc tốt nhất với nhiều cơ hội để phát triển năng lực, đóng góp giá trị và tạo dựng sự nghiệp thành đạt.
    • Mang lại cho cổ đông những lợi ích hấp dẫn, lâu dài thông qua việc triển khai một chiến lược phát triển kinh doanh nhanh mạnh song song với việc áp dụng các thông lệ quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro chặt chẽ theo tiêu chuẩn quốc tế.
    5 Giá trị cốt lõi:

    1. Khách hàng là trên hết : trân trọng từng khách hàng và luôn nỗ lực mang đến những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
      2. Liên tục cải tiến : đã tốt nhưng luôn có thể tốt hơn, không ngừng học hỏi và cải thiện.
      3. Tinh thần phối hợp: tin tưởng vào đồng nghiệp của mình và hợp tác để cùng mang lại điều tốt nhất cho ngân hàng.
      4. Phát triển nhân lực: tạo điều kiện cán bộ nhân viên có thể phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân và khen thưởng xứng đáng cho những người đạt thành tích.
      5. Cam kết hành động: luôn đảm bảo rằng công việc đã được cam kết sẽ phải được hoàn thành .

    1.5.2    2.2 Tình Hình Chung Về Hoạt Động Tối Ưu Hóa Dịch Vụ Khách Hàng Tại Ngân Hàng Techcombank:

    Năm 2009, Techcombank vẫn khẳng định là một ngân hàng vững mạnh, an toàn và hiệu quả.

    * Với khách hàng cá nhân:

    Mở rộng mạng lưới phân phối và tối ưu hóa dịch vụ khách hàng hơn nữa. Năm 2009, công tác mở rộng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch của Techcombank có những bước tiến đáng kể. Với tổng số hơn 40 điểm giao dịch mở mới trong năm 2009, Techcombank đã tăng số lượng chi nhánh và phòng giao dịch lên gần 170 điểm trải rộng trên 35 tỉnh thành trong cả nước. Dự kiến, trong năm 2010 Techcombank sẽ mở thêm một số chi nhánh, phòng giao dịch mới tại các địa bàn kinh tế lớn nhằm tăng khả năng huy động dân cư, phát triển tín dụng cá nhân và phát triển dịch vụ phi tín dụng.

    Các sản phẩm mới lần lượt được giới thiệu và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều khách hàng như các sản phẩm tiết kiệm trúng thưởng, Tiết kiệm bội thu, linh, Tiết kiệm linh hoạt, sản phẩm internetbanking – F@st i bank, F@st E-Bank, thẻ đồng thương hiệu TECHCOMBANK – VISA – VIETNAM AIRLINES…. được nâng cấp hoàn thiện và phục vụ rộng rãi các đối tượng khách hàng. Các sản phẩm mới ra mắt được đánh giá là đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường và được khách hàng đón nhận. Đặc biệt sản phẩm internet banking F@st I-bank/F@st E-Bank tạo rất nhiều thuận tiện cho khách hàng trong việc quản lý tài khoản, thanh toán, kiểm soát các giao dịch với ngân hàng đem lại nhiều tiện lợi hơn cho khách hàng. Techcombank trở thành ngân hàng đầu tiên và là ngân hàng có nhiều nhất số lượng các khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam.
    Năm 2009, Techcombank phát hành gần 300 000 thẻ các loại trong đó có gần 100000 thẻ VISA debit và credit, trở thành ngân hàng có số lượng phát hành thẻ VISA debit lớn nhất Việt Nam, và là 1 trong số 3 ngân hàng phát hành thẻ quốc tế lớn nhất Việt Nam với thị phần 14% thẻ quốc tế phát hành ở Việt Nam.
    Công tác quản lý chất lượng dịch vụ cũng được tăng cường mạnh mẽ với phương châm đem lại sự hài lòng cho khách hàng, Techcombank đã liên tục tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ đặc biệt của đội ngũ cán bộ giao dịch khách hàng. Với việc thành lập bộ phận dịch vụ khách hàng Call Center. Thông qua số điện thoại nóng 04 9427444 giải đáp 24/7, Khách hàng được nhanh chóng giải đáp các vấn đề thắc mắc, truy vấn thông tin tài khoản. Bên cạnh việc trả lời thắc mắc của khách hàng qua điện thoại, dịch vụ Call Center còn tiếp nhận và trả lời 100 email được khách hàng gửi qua trang chủ Techcombank mỗi tháng.

    Đề án nghiên cứu việc xây dựng hệ thống Quản trị quan hệ khách hàng CRM tại Techcombank đã được hoàn thành. Nhiều kết quả nghiên cứu của đề án đã được sử dụng để đề xuất các cải tiến cho quy trình cấp tín dụng, xây dựng các cơ sở tri thức của ngân hàng.

    * Bên cạnh nhóm khách hàng cá nhân, Techcombank đặc biệt chú trọng mảng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống phục vụ đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp. Với sự hiểu biết sâu sắc về đặc thù hoạt động, nhu cầu của từng lớp đối tượng, Ngân hàng đưa ra các sản phẩm, dịch vụ chuyên biệt, nhằm vào Doanh nghiệp lớn (Big Corporate), doanh nghiệp vừa (MME), doanh nghiệp nhỏ (SME), doanh nghiệp rất nhỏ và các hộ kinh doanh (MSME). Dựa trên sự phân khúc này, năm 2008, Techcombank tiếp tục thay đổi sâu sắc để hoàn thiện cơ cấu tổ chức của các bộ phận từ hội sở tới đơn vị trực thuộc, chi nhánh trực tiếp giao dịch với khách hàng để chuyên môn hóa hoạt động kinh doanh, phục vụ khách hàng doanh nghiệp ngày càng chuyên nghiệp hơn. Đối với mỗi phân khúc, Techcombank tập trung nghiên cứu nhu cầu thị trường để đưa ra các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp, đồng bộ, đa dạng và có tính cạnh tranh cao. Đối với phân khúc MSME và SME, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng sẽ được chuẩn hóa, quy định rõ các điều kiện áp dụng và chính sách định giá cao với mức độ chấp nhận rủi ro cao. Với phân khúc MME, các sản phẩm dịch vụ chủ yếu là sản phẩm chuẩn, bên cạnh việc thiết kế một số giải pháp riêng biệt để đáp ứng các nhu cầu dịch vụ tài chính cao hơn của khách hàng. Với phân khúc Corporate, Techcombank sẽ thiết kế các giải pháp cụ thể cho từng khách hàng, trên cơ sở kết hợp các sản phẩm cơ bản về tín dụng, thanh toán, ngoại hối và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng  cao cấp.

    Không những vậy, Techcombank cũng đã chú trọng phát triển mối quan hệ tốt với các hiệp hội, ngành nghề như Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hiệp hội Sản xuất và kinh doanh điều, cà phê, hồ tiêu, Hiệp hội Thép…, để vừa hợp tác, trao đổi kinh nghiệm kinh doanh, cập nhật các thông tin thị trường phục vụ công tác phát triển kinh doanh và quản trị rủi ro, đồng thời thông qua đó làm cầu nối tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng tới các doanh nghiệp, mở rộng thị trường khách hàng.

    Theo ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng Giám đốc Techcombank, với mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, việc liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng là một yêu cầu trọng tâm của Techcombank.

    Techcombank có rất nhiều đối tác lớn là các doanh nghiệp hàng đầu trong và ngoài nước, đây chính là cơ hội để Techcombank xây dựng các chương trình nhằm tận dụng thế mạnh của các đối tác để cung cấp thêm các dịch vụ tiện ích cho khách hàng

    Techcombank đã triển khai những chương trình liên kết từ rất sớm để có những sản phẩm với tính năng ưu việt cho khách hàng. Chẳng hạn như “Cho vay mua ô tô” do Techcombank liên kết với các nhà phân phối xe hơi để cung cấp dịch vụ cho vay, thanh toán… cho khách hàng mua xe; chương trình “Cho vay du học tại chỗ” mà Techcombank kết hợp với các trường, trung tâm đào tạo cao học của nước ngoài tại tại Hà Nội, TPHCM; chương trình liên kết dài hạn với Bảo Việt nhân thọ đưa ra những sản phẩm liên kết ngân hàng – bảo hiểm (bankcasurance) rất thành công thời gian qua.

    Đặc biệt, với chương trình “Cho vay mua nhà”, Techcombank không chỉ kết hợp với chủ đầu tư các khu đô thị mà còn kết hợp với các định chế tài chính lớn như ADB, IFC… để có nguồn vốn dài hạn cho vay khách hàng trả góp với thời hạn lên tới 20 năm.

    Việc hợp tác với các đối tác để đưa ra các sản phẩm, chương trình trong nhiều năm qua là một bước đi đúng đắn của Techcombank. “Sự thành công của các chương trình này chứng tỏ khách hàng đây là hướng đi đúng đắn và lâu dài mà Techcombank lựa chọn

     

    1.5.3    2.3. Những thành tựu đạt được:

    Các giải thưởng trong 3 năm gần đây của Techcombank

     

    Thấu hiểu khách hàng, với phương châm “Khách hàng  là trên hết”, định hướng phát triển của Techcombank luôn hướng tới sự phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường, tập trung đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu về dịch vụ cũng như sự mong đợi của khách hàng.

    “Thương hiệu Việt yêu thích nhất 2010” do báo Sài Gòn Giải Phóng trao tặng. Là minh chứng cho sự tin yêu, tín nhiệm của người tiêu dùng dành cho các thương hiệu Việt, suốt 5 năm qua, giải thưởng đã trở thành một phần thưởng quý giá, là nguồn khích lệ lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đối với Techcombank, giải thưởng một lần nữa góp phần khẳng định sự tin yêu, ghi nhận của khách hàng cho nỗ lực của toàn bộ tập thể cán bộ nhân viên Techcombank trong việc mang đến cho khách hàng nhiều sản phẩm đa dạng, tiện ích nhất và phục vụ tận tâm nhất.

    “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2010 (Best Bank in Vietnam 2010) do Tạp chí tài chính quốc tế Euromoney (Anh Quốc) bình chọn. Giải thưởng được trao cho Techcombank dựa trên những tiêu chí: doanh số giao dịch, tính đổi mới và năng lực lãnh đạo, định mức tín nhiệm, chất lượng tài sản có và lợi nhuận, các hệ số về hiệu quả hoạt động. Techcombank đã thêm một lần nữa khẳng định uy tín quốc tế của mình đồng thời giải thưởng cũng là minh chứng cho những nỗ lực không ngừng của Techcombank.

    ” Giải thành tựu ứng dụng công nghệ” do Financial Insights, chi nhánh của IDC thuộc IDG, công nhận những thành tựu về ứng dụng công nghệ, đi đầu trong giải pháp phát triển thị trường. Techcombank đã vượt gần 70 ứng viên là các tổ chức tài chính, ngân hàng lớn trong khu vực châu Á. Các tiêu chí, điều kiện xem xét hết sức khắt khe:
    • Ngân hàng phải xây dựng được một chiến lược phát triển tổng thể rõ ràng
    • Đạt được sự đồng thuận và cam kết hỗ trợ từ đội ngũ lãnh đạo đến tận từng cán bộ, nhân viên đối với việc triển khai chiến lược
    • Hiệu quả hoạt động phải lớn hơn các đối thủ cạnh tranh
    • Hoàn thiện quy trình và hiệu quả hoạt động, cắt giảm chi phí, không ngừng cải tiến sản phẩm và đưa ra các sản phẩm mới; qua đó, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng…
    • Chứng minh được vai trò tiên phong về công nghệ và đóng góp của công nghệ vào việc triển khai các chương trình chiến lược….

    Đây là lần đầu tiên, một ngân hàng Việt Nam được Financial Insights, một tổ chức tư vấn uy tín thế giới trao giải .

    Những con số đáng tự hào:

    Cùng với sự tăng trưởng về quy mô của Ngân hàng và đội ngũ bán hàng, quy mô khách hàng của Techcombank đã tăng trưởng nhanh chóng qua các năm. Điều này cũng khẳng định những lựa chọn đúng đắn của Techcombank trong việc xác định thị trường mục tiêu và xây dựng đội ngũ bán hàng, cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ ngân hàng đa dạng của các doanh nghiệp tại Việt Nam.Đến cuối năm 2009, Techcombank đạt số lượng 38.500 khách hàng mở tài khoản giao dịch, tăng 15.000 tài khoản so với cùng kỳ năm trước và chiếm gần 10% tổng số doanh nghiệp trên toàn lãnh thổ Việt Nam (Nguồn: số liệu của phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI năm 2009 về số lượng doanh nghiệp), trong đó phần lớn là khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ theo phân nhóm của Techcombank. Số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ là 14.500 khách hàng, chiếm gần 38% khách hàng doanh nghiệp của Techcombank. Doanh nghiệp nhỏ đạt 21.000 khách hàng và doanh nghiệp vừa là 2.700 khách hàng, chiếm 55% và 7% quy mô khách hàng. Điều này chứng tỏ, Techcombank đã và đang thực hiện đúng theo định hướng chiến lược đã lựa chọn, là ngân hàngphục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ hàng đầu Việt Nam.

    Để đạt được kết quả đáng tự hào nêu trên, Techcombank đã xây dựng một mô hình kinh doanh về dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp hiện đại, từ xác định thị trường mục tiêu, phát triển đội ngũ bán hàng, xây dựng kịch bản bán hàng chuẩn cũng như tiến hành đào tạo thường xuyên cho các đơn vị kinh doanh trên toàn hệ thống. Đồng thời, hệ thống hỗ trợ kinh doanh của Techcombank đã chủ động tìm hiểu, nghiên cứu thị trường tại các địa bàn nhằm cung cấp những chỉ dẫn kinh doanh và danh sách khách hàng cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai hoạt động bán hàng. Kết quả mang lại là số lượng khách hàng mới tăng lên một cách rất nhanh chóng và tỷ lệ khách hàng có giao dịch thường xuyên tăng lên đáng kể so với năm trước

    • Tăng trưởng cho vay doanh nghiệp có những tăng trưởng đáng ghi nhận

    Tổng dư nợ của khối khách hàng doanh nghiệp tính đến thời điểm 31/12/2009 đạt mức 30.750 tỷ đồng, tăng 70% so với con số dư nợ 18.028 tỷ đồng năm 2008. Kết quả là phân khúc khách hàng doanh nghiệp đã đóng góp tới 73% tổng dư nợ toàn hệ thống Techcombank trong năm 2009.

    • Cơ cấu cho vay theo loại hình doanh nghiệp

    Mảng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục chứng tỏ là phân khúc mũi nhọn trong hoạt động tín dụng của Techcombank. Cụ thể, cho vay doanh nghiệp cỡ vừa năm 2009 đạt 10.601 tỷ đồng, xấp xỉ con số này là mảng cho vay doanh nghiệp nhỏ với 10.400 tỷ đồng tổng dư nợ. Trong khi đó, với chiến lược hướng tới khách hàng doanh nghiệp lớn để khẳng định uy tín và thương hiệu Techcombank, năm qua cho vay khối khách hàng này đã phát triển mạnh với dư nợ đạt 6.172 tỷ đồng. Cuối cùng là phân khúc khách hàng doanh nghiệp siêu nhỏ với dư nợ 3.576 tỷ đồng.

    1.5.4    2.4. Những Hạn Chế của Techcombank cũng như của các Ngân hàng TM Việt Nam trong dịch vụ khách hàng:

    Tuy đạt được nhiều thành công trong những năm qua song Techcombank vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, mà có thể nói đó là những hạn chế chung của các ngân hàng Việt Nam. Có thể kể đến như:

    Thứ nhất, chất lượng và số lượng các dịch vụ tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Có thể nói, một điểm yếu phổ biến và nổi bật của các NHTM Việt Nam là sự đơn điệu trong hoạt động kinh doanh. Doanh thu  vẫn dựa chủ yếu từ cho vay trong khi hoạt động cho vay là một lĩnh vực nhiều rủi ro. Ðối với thị trường thẻ – một lĩnh vực được đánh giá là có bước phát triển vượt bậc thời gian qua nhưng vẫn mang tính rời rạc do có sự khác biệt trong quan điểm giữa các NHTM, các liên minh. Phạm vi phát hành và sử dụng thẻ mới chủ yếu tập trung ở một số tỉnh, thành phố lớn; đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu tập trung vào những đối tượng đang làm việc trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và mới đây là đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Nhiều trường hợp cây ATM không có tiền để khách hàng rút, dẫn đến gây khó khăn cho khách hàng trong công việc.

    Thứ hai, hiệu quả tối đa mang lại cho từng ngân hàng từ việc ứng dụng công nghệ hiện đại còn chưa cao. Trên thực tế, việc ứng dụng các công nghệ hiện nay còn nhiều bất cập, mặt bằng trình độ công nghệ của các ngân hàng còn ở mức thấp, khoảng chênh lệch trình độ công nghệ giữa các ngân hàng khá xa dẫn đến hai tình trạng trái ngược nhau: hoặc là chỉ có thể ứng dụng công nghệ ở mức độ thấp do hạn chế về vốn hoặc lại chưa khai thác sử dụng hết tính năng công nghệ hiện đại do một số quy trình, chuẩn mực nghiệp vụ chưa được ban hành đầy đủ. Chính điều này cũng là nguyên nhân khiến các ngân hàng khó kết nối với nhau. Từ đó gây khó khăn cho khách hàng trong các giao dịch liên ngân hàng.

    Thứ ba, vấn đề quản lý rủi ro còn nhiều bất cập. Các DVNH hiện đại được sử dụng ngày càng nhiều là một dấu hiệu khả quan, là thành công của ngân hàng, song cũng là thách thức không nhỏ đối với các ngân hàng khi chưa có khả năng quản lý rủi ro có hiệu quả, chưa có đủ các biện pháp phòng chống gian lận, bảo mật, an toàn tốt nên dễ có khả năng rủi ro xảy ra cho ngân hàng. Vấn đề an toàn trên internet banking và cả tại các cây ATM, như trường hợp các vụ lừa đảo, ăn trộm thông tin tài khoản, hay ăn trộm tiền trong cây ATM đặt ra những vấn đề cần được khắc phục kịp thời.

    Những nguyên nhân đằng sau những bất cập này thì rất nhiều, cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, như nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh DVNH hiện đại còn thiếu, chưa có tính chuyên nghiệp; kỹ năng xử lý của các nhân viên ngân hàng cũng còn thấp; hành lang pháp lý chưa hoàn thiện và đồng bộ; hạ tầng cơ sở thông tin viễn thông còn kém phát triển, thiếu sự đồng bộ, kết nối giữa các ngân hàng,… Song có thể thấy, vấn đề năng lực tài chính của các NHTM còn hạn chế, thiếu vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng, CNTT phục vụ cho việc triển khai các DVNH hiện đại và thói quen ưa thích sử dụng tiền mặt của người dân cộng với những lo sợ vì DVNH hiện đại thường chứa đựng nhiều rủi ro là những nguyên nhân cơ bản nhất cản trở sự phát triển của DVNH hiện đại.

    Với một thị trường rộng lớn với hơn 85 triệu dân, đây là một tiềm năng to lớn để phát triển các DVNH bán lẻ nói chung và DVNH hiện đại nói riêng. Tuy vậy, thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch thanh toán hàng ngày không dễ gì thay đổi trong một sớm một chiều và chính tâm lý ngại thay đổi thói quen chi tiêu khiến nhiều người dân chưa muốn tiếp cận với những dịch vụ mới. Mặt khác, nhu cầu đối với các DVNH hiện đại của nhiều bộ phận dân cư không thật sự cấp bách. Ngay như đối với dịch vụ thẻ, nhiều người còn cảm thấy rắc rối khi phải dùng thẻ bởi cho tới thời điểm hiện nay, khả năng thanh toán bằng thẻ chưa cao, các tiện ích của thẻ chưa được khai thác hết, nhiều người vẫn quan niệm rằng thẻ ATM là để rút tiền mặt.

    Một hạn chế nữa là do tâm lý người Việt rất ngại để người khác biết thu nhập của mình, kể cả trong trường hợp các nguồn thu nhập là hoàn toàn hợp pháp chứ chưa nói tới những nguồn thu nhập “không tên”. Vì thế, dù có rất nhiều phương thức thanh toán không dùng tiền mặt như thẻ, ủy nhiệm chi, séc, nhưng khách hàng vẫn rút tiền để thanh toán và người bán lại mang tiền đến nộp vào ngân hàng.

    2.5 Giải pháp:
    – Đổi mới công nghệ, Tăng cường hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán, cần tăng mức vốn đầu tư để trang bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, các dự án đầu tư công nghệ cần tính toán kỹ lưỡng để sử dụng công suất phù hợp với chiến lược mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Chú ý trang bị một hệ thống logistic hiện đại, tiến bộ, và phù hợp.

    – Đa dạng hóa và cá biệt hóa các sản phẩm dịch vụ, ngày càng tạo ra sự thuận lợi cho khách hàng nhất khi tham gia các giao dịch với ngân hàng, mọi lúc mọi nơi, nhanh chóng thuận tiện và an toàn nhất. Và luôn luôn mang lại lợi ích cho khách hàng.

    – Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, gia tăng các chương trình khuyến mại, thu hút tiền gửi tiết kiệm, tích cực tham gia các hoạt động xã hội nhằm góp phần mang lại cho xã hội sự phát triển thịnh vượng.

    – Phát triển nguồn nhân lực, Nhân lực chất lượng cao là động lực để bức phá. Nâng cao năng lực cán bộ thông qua nâng cao trình độ quản trị điều hành. Có kế hoạch đào tạo và phát triển một đội ngũ nhân viên logistic chuyên nghiệp, năng động. Sử dụng tối đa, triệt để tiềm năng logistic của doanh nghiệp để không để bị hao phí nguồn lực logistic. Đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên tại các điểm giao dịch, tạo không khí thoải mái, thân thiện với khách hàng khi đến với ngân hàng giao dịch.
    – Nâng cao năng lực quản trị và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh, thực hiện quản trị ngân hàng thương mại từ chiều rộng sang chiều sâu theo hướng nâng cao năng lực quản trị rủi ro thông qua việc hoàn thiện bộ máy tổ chức quản trị nội bộ, thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra và chế độ báo cáo thường xuyên.
    – Cần phải tạo ra sự hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức đơn vị có liên quan; phải thực hiện quản lý thống nhất, bảo đảm tính đồng bộ và tiện ích trong việc cung cấp dịch vụ tối ưu cho khách hàng.

    Có như vậy, các DVNH hiện đại mới có thể phát triển và nhanh chóng trở thành những dịch vụ được khách hàng và ngân hàng chấp nhận như một loại giao dịch không thể thiếu trong cuộc sống.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Lu%E1%BA%ADt-kinh-t%E1%BA%BF-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    ĐỀ TÀI: LOGISTICS- CÓ HAY KHÔNG NHỮNG THÁCH THỨC VÀ RÀO CẢN

    Ông Trần Văn Thanh hiện đang có trong tay một số vốn là 20 tỷ đồng và muốn thành lập một công ty kinh doanh về việc vận chuyển kho bãi…còn gọi là dịch vụ logistics. Tuy nhiên, ông còn có nhiều thắc mắc xung quanh những qui định của pháp luật dành cho loại hình kinh doanh này. Thắc mắc trên đã được ông mang đến văn phòng luật sư Hoàng Minh Duy. Và sau đây, chúng ta cùng theo dõi cuộc trao đổi giữa luật sư Duy và ông Thanh.

     

    Ông Thanh:” Trước tiên, tôi muốn hiểu rõ logistics là gì và những điều kiện cần có để kinh doanh dịch vụ này.”

    Luật sư:

    • Theo điều 233 luật Thương mai: dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển,lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.

    Điều kiện cần có để kinh doanh dịch vụ này:

                            1.Đối với thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics  chủ yếu: 

    Thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics chủ yếu phải đáp ứng các điều kiện: phải là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam; có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu. Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc đáp ứng các điều kiện trên, chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn chế này chấm dứt vào năm 2014.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 2014.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014.
    1. Đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ logistic liên quan đến vận tải.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic liên quan đến vận tải phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam; tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định trên chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải thì chỉ được thành lập công ty liên doanh vận hành đội tàu từ năm 2009, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; được thành lập liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này chấm dứt vào năm 2012.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ nội địa thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010.

    Không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    1. Đối với thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics liên quan khác.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác phải là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam . Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật: đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ thì chỉ được thực hiện dưới hình thức liên doanh sau ba năm hoặc dưới các hình thức khác sau năm năm, kể từ khi doanh nghiệp tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó. Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải. Việc thực hiện dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ thương mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.

    Không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    Ông Thanh:” Vậy khi tham gia vào logistics thì thương nhân sẽ có những quyền và nghĩa vụ gì?”

    Luật sư:

    Luật Thương mại quy định: trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

    • Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác.
    • Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
    • Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn.
    • Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.

    Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.

    Ông Thanh: “Thế tôi có phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những tổn thất trong quá trình tổ chức vận tải hay không?”

    Luật sư:” Không hẳn là thế. Luật thương mại Việt Nam và Nghị định cũng có những qui định giới hạn trách nhiệm cùng một số trường hợp miễn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

    • Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan về giới hạn trách nhiệm trong lĩnh vực vận tải.
    • Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không thuộc phạm vi quy định trên đây do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không có thoả thuận thì thực hiện như sau:

    + Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về gía trị của hàng hoá thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường.

    + Trường hợp khách hàng đã thông báo trước về giá trị của hàng hoá và được thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xác nhận thì giới hạn trách nhiệm là toàn bộ giá trị của hàng hoá đó.

    • Giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.

    Theo quy định tại Luật Thương mại 2005 (Điều 294), thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm trong các trường hợp sau:

    • Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:
    • Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận.
    • Xảy ra sự kiện bất khả kháng.
    • Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia.
    • Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
    • Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.

    Để được miễn trách nhiệm trong các trường hợp trên, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải thực hiện việc thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm như sau:

    • Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra.
    • Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.
    • Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình.

    Ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật Thương mại năm 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp sau đây:

    • Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.
    • Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.
    • Tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá.
    • Tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận.

    • Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ logistics sai địa điểm không do lỗi của mình.

    • Tuy nhiên, hiện nay dịch vụ logistics vẫn còn những khó khăn và hạn chế trong cả lĩnh vực kinh tế lẫn pháp luật Việt Nam:

    Trong lĩnh vực kinh tế, với doanh số hàng tỷ USD, dịch vụ này rất hấp dẫn các nhà đầu tư và họ đang đầu tư và kinh doanh sôi động tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng nói là các DN trong nước hiện đang thua hoàn toàn trên thị trường này, nguồn lợi lớn từ dịch vụ logistics đang chảy vào túi các đại gia nước ngoài, DN Việt Nam đang làm thuê trên sân nhà.

    Sở dĩ logistics là một dịch vụ quan trọng, thị trường lớn bởi sự phát triển của nó có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Thực tế cho thấy với một nền sản xuất phát triển mạnh mẽ, nhu cầu xuất nhập khẩu tăng cao. Nếu chỉ tính theo tỷ lệ trên đây thì phí dịch vụ logistics trên thị trường Việt Nam có một doanh số khổng lồ và hứa hẹn tốc độ tăng trưởng rất mạnh mẽ. Dịch vụ logistics ở Việt Nam chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Ước tính GDP nước ta năm 2006 khoảng 57,5 tỷ USD. Như vậy, chi phí logistics chiếm khoảng 8,6-11,1 tỷ USD. Đây là một khoản tiền rất lớn. Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ 40-60% chi phí thì cũng đã là một thị trường dịch vụ khổng lồ.

    Nhưng nhìn về khía cạnh kinh tế, logistics ở Việt Nam đang phải đối đầu với những khó khăn và thách thức sau:

    • Tầm quan trọng và cơ hội phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam đã được khẳng định. Tuy nhiên, điều đáng nói là nguồn lợi lớn từ dịch vụ này hiện không nằm trong tay các DN Việt Nam mà đang chảy về túi các đại gia nước ngoài. Một nguồn lợi lớn trên sân nhà chưa được các DN Việt Nam tận dụng mà họ đang là những người làm thuê cho các tập đoàn nước ngoài.
    • Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì DN trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài. Điều này thực sự là một thua thiệt lớn cho DN Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển. Năm 2006 lượng hàng qua các cảng biển Việt Nam là 153 triệu tấn và tốc độ tăng trưởng lên đến 19,4%. Đây thực sự một thị trường mơ ước mà các tập đoàn nước ngoài đang thèm muốn và tập trung khai phá.
    • Thực trạng trên bắt nguồn từ việc dịch vụ logistics của các doanh nghiệp Việt Nam mới đang ở giai đoạn phôi thai, phần lớn hệ thống logistics chưa được thực hiện một cách thống nhất. Thị trường dịch vụ logistics Việt Nam có 800 DN nhưng đa phần đều nhỏ bé, hạn chế về vốn, công nghệ và nhân lực. Bên cạnh đó, cũng phải nói đến cơ sở hạ tầng về vận tải còn nghèo nàn quy mô nhỏ bố trí bất hợp lí, kho hàng còn yếu kém.
    • Điều đáng nói, trong khi DN trong nước còn non yếu, chưa có sự liên minh, liên kết thì lại xuất hiện kiểu kinh doanh chụp giựt, manh mún, cạnh tranh theo kiểu hạ giá thành để làm đại lý cho nước ngoài một cách không lành mạnh. Trong khi đó, các hãng cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài đã đổ xô vào thị trường chúng ta, hầu hết các tên tuổi lớn đã có mặt và ăn nên làm ra rên thị trường Việt Nam, gây sức ép lớn cho chính các DN trong nước.

    Những khó khăn và hạn chế trong luật pháp Việt Nam:

    1. Về vấn đề giấy phép kinhdoanh (ĐKKD) logistics:

    – Tổng quan: Rắc rối, rườm rà, nhiều khâu=> làm khó doanh nghiệp

    – Chi tiết: Logistics là 1 ngành nghề kinh doanh có điều kiện nghĩa là ngoài GPKD, doanh nghiệp cần có thêm một số chứng chỉ hành nghề. Tuy nhiên các cơ quan chính phủ đã không hiểu hết được thực trạng,nguồn lợi to lớn mà logistics mang lại nên đã đặt ra những điều kiện mà doanh nghiệp khó lòng đáp ứng và đôi khi lại không cần thiết.

    • Chủ doanh nghiệp sau khi đăng kí kinh doanh tại sở kế hoạch đầu tư phải xin được giấy phép kinh doanh đa phương thức của Bộ GTVT cấp, giấy phép đại lý làm thủ tục hải quan do cục Hải quan cấp, GPKD kho hải quan, điểm thông quan ngoài khu vực cửa khẩu và cảng cạn….
    • Một số chứng từ trong hồ sơ xin phép DN phải xuất trình được “bản kê khai tài sản doanh nghiệp do cơ quan tài chính quản lý doanh nghiệp xác nhận”….. trong khi đó thực tế ở Việt Nam ;đặc biệt khu vực tư nhân không có cơ quan này
    • Để đủ điều kiện làm đại lý hải quan DN phải có một nhân viên làm trong lĩnh vực hải quan (được cấp chứng chỉ nghiệp vụ hải quan sau khi tham gia 1 khóa học do cơ quan hải quan tổ chức)

    => DN phải mất rất nhiều thời gian để ĐKKD (thực tế các DN này vẫn hoạt động không giấy phép)

    1. Về vấn đề làm ăn với đối tác nước ngoài :trong khi làm ăn với nước ngoài DN thường không nẳm rõ các điều ước quốc tế,tập tục hải quan.Các văn bản luật lại quá sơ sài thiếu chi tiết làm doanh nghiệp không có môt cơ sở pháp lý.Thực tế trong các vụ làm ăn DN chịu rất nhiều rủi ro khi không nắm luật quốc tế.Rõ ràng là luật định về vấn đề này của Việt Nam vô tình đem nguồn lợi dâng cho đối tác nước ngoài.
    2. Rất nhiều qui định thiếu hợp lý dẫn đến những tình huống “dở khóc dở cười”:
    • Quy định về tải trọng :sự chồng chéo và thiếu nhất quán của các quy định về pháp luật.
    • Nhiều DN phải hủy hợp đồng hoặc không dám nhận hợp đồng vận chuyển hàng về các tỉnh ĐB Sông Cửu Long vì những qui định của nhà nước về tải trọng vận chuyển hàng hóa qua cầu đường
    • Đường cắm biển báo tải trọng đường,cầu cắm biển báo tải trọng cầu làm cho các xe đang vận chuyển không đáp ứng được “những biển báo”!!! Và họ buộc lòng phải vi phạm pháp luật mà không thể hạ tải hay tháo dỡ hàng.
    1. Về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp:
    • Vì không nằm trong các danh mục hàng hóa do nhà nước qui định nên giá dịch vụ cảng biển Việt Nam hoàn toàn do các doanh nghiệp tự quyết định. Điều này một mặt tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh nhưng một mặt cũng đem lại những bất cập:doanh nghiệp lao vào cuộc chiến giảm giá cước vô tội vạ làm giảm đi phần giá trị gia tăng mà logistics mang lại. Như vậy từ mục đích tạo lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thì đã bị biến thành sự cạnh tranh thiếu lành mạnh.
    • Tình trạng trên còn dẫn đến những nguy cơ bị các tập đoàn đa quốc gia lợi dụng để chiếm lĩnh thị phần, ngư ông đắc lợi.
    1. Luật Hàng hải Việt Nam còn đứng ngoài quá nhiều công ước quốc tế:
    • Những công ước quốc tế thường quy định những tiêu chuẩn về môi trường như chất lượng sơn tàu,
    • Lực lượng an ninh cảng biển của nước ngoài thường rất “chú ý” đến tàu Việt Nam, những qui định lỏng lẻo của pháp luật Việt Nam đã giảm đi năng lực cạnh tranh quốc tế.Tệ hơn khi tàu bị giữ lại thì rất nhiều khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chịu.Từ đó làm cho doanh nghiệp rất ngại làm ăn ở nước ngoài.Doanh nghiệp chỉ dám làm ăn trong nội địa,vốn dĩ đã thiếu lành mạnh,hoạt động thiếu hiệu quả.
    1. Những quy định về thuế rất bất hợp lý: giá mua và giá bán được coi là bí mật kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.Thế nhưng Bộ Tài chính lại yêu cầu các doanh nghiệp giao nhận vận tải quốc tế phải  khai báo những thông tin này ngay trong hợp đồng và… hóa đơn tài chính. Đó là nội dung Công văn 15448/BTC – TCT ngày 2/11/2009 về việc thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) 10% trên chênh lệch giữa giá bán và giá mua cước vận tải quốc tế (VTQT). Điều này trái với thông lệ quốc tế, hơn nữa Luật thuế GTGT quy định thuế suất 0% đối với vận tải quốc tế. Rõ ràng luật đã chồng chéo lên nhau làm cho doanh nghiệp tiến thoái lưỡng nan.
    2. Về hành lang pháp lý: thực ra Logistics mới chỉ được công nhận là một hành vi thương mại trong Luật Thương mại sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1-1-2006. Tháng 9-2007 vừa qua, Chính phủ mới ban hành Nghị định 140 “Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics”,như vậy trong lĩnh vực mang lại lợi nhuận rất lớn này qui định còn rất sơ sài. Doanh nghiệp thực sự gặp khó khăn lớn trong việc sử dụng luật để bảo vệ quyền lợi cho mình.

    Ông Thanh:”Xin cảm ơn luật sư đã làm sáng tỏ những khúc mắc của tôi. Nếu có những thắc mắc khác tôi sẽ liên lạc với luật sư.

    Luật sư:” Hy vọng những tư vấn của tôi sẽ có thể giúp ích cho ông trong hoạt động kinh doanh. Chúc ông thành công”.

     

     

    NHẬN XÉT

     

    Qua mẩu đối thoại tư vấn luật ở trên, chúng ta thấy rằng: logistic là một ngành đầy tiềm năng phát triển nhưng vẫn chưa nhận được sự hỗ trợ đầy đủ của một hành lang pháp lý cụ thể, sâu sát. Chúng ta đang tự đánh mất dần lợi thế to lớn của mình, vô tình dâng nguồn lợi to lớn cho các công ty quốc tế, tập đoàn xuyên quốc gia. Chính vì thế, chúng ta cần phải học hỏi những kinh nghiệm thực tế từ các tập đoàn logistic lớn ở các nước trên thế giới. Có thể nói, hiện nay khu vực Bắc Mỹ và châu Âu có ngành dịch vụ logistic phát triển trên thế giới. Ở châu Á thì Singapore cũng là một nước có nền công nghiệp- dịch vụ logistic phát triển vượt bậc. Điểm nổi bật trong kinh nghiệm phát triển logistics của Singapore là chính sách cảng mở và đầu tư xây dựng các trung tâm phân phối vùng. Nhà nước cho phép xây dựng các trung tâm cung cấp dịch vụ và phân phối hàng hóa,các trung tâm này cung cấp cho khách hàng của mình những thông tin liên quan cần thiết. Ngoài ra, hoạt động hiệu quả của hiệp hội logistics  Singapore đóng vai trò quan trọng trong quản lý, điều hòa hoạt động của các thành viên, đồng thời hiệp hội cũng thống nhất quy định các chi phí liên quan đến giao nhận, chuyển tải. Nhờ thế nên Singapore đã trở thành trung tâm logistics lớn nhất Đông Nam Á với hơn 12 triệu TEOs container thông qua cảng biển quốc tế và hơn 1,2 triệu tấn hàng vận tải qua sân bay Changi mỗi năm.

    Mặc dù còn nhiều hạn chế về mặt kinh tế lẫn hành lang pháp lý, hiện nay ngành công nghiệp- dịch vụ logistics ở Việt Nam đang có những bước chuyển đổi mới .Đánh dấu cho  bước chuyền đổi đó là vào ngày 14/05/2007, 4 doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực phân phối của Việt Nam là Satra, Hapro, Saigon Co.op và Phú Thái Group đã liên kết lại và chính thức ra mắt Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam với tổng số vốn đầu tư lên đến 6000 tỷ đồng. Đây được xem là mở đầu cho một kỷ nguyên mới của ngành phân phối ở nước ta với hy vọng Việt Nam sẽ trở thành: ”Wall Mart của Việt Nam”.

    Hết

    Tài liệu tham khảo:

    1.Văn bản pháp luật dành cho học phần Luật kinh tế-NXB Phương Đông.

    2.Nghị định của Chính phủ ban hành về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics.

    3.Những kinh nghiệm phát triển Logistics trên thế giới- trang vietmarine.org.

    4.Thực trạng Logistics- trang vietbao.net

    5.Trang vietship.vn


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-CUNG-%E1%BB%A8NG-H%C3%80NG-H%C3%93A-CHO-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-TRONG-KINH-DOANH-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-TRONG-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    Chương 4:          QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    4.1-  Mục tiêu, nguyên tắc của quản trị quá trình cung ứng hàng hoá cho khách hàng trong thương mại bán buôn

    4.1.1- Vị trí của cung ứng hàng hóa cho khách hàng trong kinh doanh thương mại

    Hệ thống logistics kinh doanh thương mại bao gồm nhiều công đoạn, trong đó có công đoạn trực tiếp cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng (Hình 4.1). Như vậy, cung ứng hàng hóa cho khách hàng là quá trình trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ logistics cho khách hàng thông qua hành vi bán hàng, đảm bảo kịp thời, nhanh chóng chính xác, với số lượng, chất lượng và cơ cấu hàng hoá phù hợp với nhu cầu khách hàng và chi phí thấp nhất.

     
       

     

    • Vị trí của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng                       trong hệ thống logistics doanh nghiệp thương mại

    Kết quả của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng chịu ảnh hưởng và thể hiện chất lượng của toàn bộ hệ thống logistics. Số lượng, cơ cấu, và chất lượng hàng hoá, thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng phụ thuộc vào tổ chức và phân bố mạng lưới logistics. phụ thuộc vào hệ thống cung ứng hàng hoá cho mạng lưới logistics, thể hiện ở công tác quản trị dự trữ, mua hàng, quá trình kho vận,. ..Mặt khác, chất lượng dịch vụ khách hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Do đó, cần phải tổ chức và quản trị tốt quá trình này.

    Bán hàng là kết quả của 2 hoạt động có mối quan hệ khăng khít với nhau: hoạt động marketing và logistics. Các hoạt động marketing sẽ tạo nên thương vụ, còn hoạt động cung ứng hàng hóa cho khách hàng là thực hiện các thương vụ.  Quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng có tính chu kỳ, và như vậy vấn đề đặt ra đối với cung ứng hàng hóa cho khách hàng là phải rút ngắn chu kỳ, tăng tần số các thương vụ.

    4.1.2- Mục tiêu và nguyên tắc quản trị cung ứng hàng hóa cho khách hàng

    Mục tiêu chung của quản trị cung ứng hàng hóa cho khách hàng là: Phát triển doanh số trên cơ sở cung cấp trình độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lược với tổng chi phí thấp nhất.

    Mục tiêu này đòi hỏi phải tối ưu hoá dịch vụ khách hàng, có nghĩa, phải đảm bảo trình độ dịch vụ khách hàng của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng đem lại khả năng lợi nhuận cao nhất.

    Mục tiêu tác nghiệp của cung ứng hàng hóa cho khách hàng bao gồm:

    – Đáp ứng nhanh: Có nghĩa thời gian thực hiện đơn đặt hàng trong kinh doanh thương mại bán buôn và chi phí thời gian mua hàng của khách hàng trong kinh doanh thương mại bán lẻ là ít nhất. Việc cải tiến phương pháp và quá trình cung ứng hàng hóa sẽ rút ngắn được thời gian cung ứng hàng hóa cho khách hàng đến mức thấp nhất.

    – Tối thiểu hoá các sai lệch: Quá trình giao hàng cho khách hàng trong kinh doanh bán buôn phải đúng với mong đợi của khách hàng được thể hiện trong hợp đồng mua bán, đặc biệt phải giảm đến mức thấp nhất những sai lệch thời gian. Trong kinh doanh bán lẻ phải thoả mãn đến mức cao nhất những nhu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, yêu cầu lựa chọn hàng hoá. ..như đã truyền tin và định vị đối với khách hàng trên thị trường mục tiêu.

    – Mục tiêu chi phí: Sử dụng công nghệ xử lý và thực hiện đơn đặt hàng và bán hàng tiên tiến, hiện đại để nâng cao năng suất và độ chính xác. Phải dần từng bước cơ giới hoá và tự động hoá các thao tác của quá trình, vừa đảm bảo được mục tiêu dịch vụ và chi phí.

    Để thực hiện được những mục tiêu trên đây, quản trị cung ứng hàng hóa cho khách hàng phải thực hiện các nguyên tắc sau:

    – Phải thực hiện nguyên tắc cam kết: Thực hiện đầy đủ những cam kết đối với khách hàng được thể hiện trong hợp đồng mua bán đã ký kết; phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng qui định trong các cửa hàng bán lẻ.

    – Phải thực hiện nguyên tắc linh hoạt và ưu tiên: Khi có những yêu cầu bất thường của khách hàng, phải huy động mọi nỗ lực logistics để đáp ứng cho dù có thể không thu được lợi nhuận như mong muốn. Đồng thời phải thực hiện chính sách ưu tiên theo qui tắc phân loại 80/20 (qui tắc ABC).

    – Phải đảm bảo nguyên tắc hệ thống công nghệ: Việc triển khai quá trình theo một qui trình hợp lý, thống nhất.

    4.2-  Quản trị cung ứng hàng hoá cho khách hàng trong thương mại bán buôn

    4.2.1- Các quyết định căn bản của quản trị cung ứng hàng hoá cho khách hàng

    Các quyết định này bao gồm: Xác định mục tiêu dịch vụ và chi phí; Xác định các phương pháp bán hàng; Xác định tổng lượng và cơ cấu lưu chuyển hàng hoá theo mặt hàng và khách hàng; Thiết kế các qui trình nghiệp vụ bán hàng.

    a-   Xác định mục tiêu dịch vụ cung ứng hàng hóa cho khách hàng.

    Chất lượng dịch vụ khách hàng là kết quả của toàn bộ hệ thống logistics, đòi hỏi phải có sự phối hợp của toàn bộ hệ thống. Đồng thời, mỗi công đoạn nghiệp vụ phải đề ra mục tiêu riêng. Mục tiêu của cung ứng hàng hóa cho khách hàng chủ yếu tập trung vào tốc độ và tính ổn định trong cung ứng hàng hoá cho khách hàng.

    Phải xác định thời gian tối đa kể từ khi nhận được đơn đặt hàng hoặc ký hợp đồng mua bán hàng hoá. Phải dự đoán nhu cầu dịch vụ của từng khách hàng mục tiêu để đáp ứng, đảm bảo lợi thế cạnh tranh. Trong từng thời kỳ, phải thiết kế được cửa sổ dịch vụ nhằm xác định trình độ dịch vụ cần đạt để từ đó, xác định thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng tương ứng. Cách thức thiết kế cửa sổ dịch vụ được thể hiện trên hình 4.2

    • Cửa sổ dịch vụ khách hàng

    Theo cửa sổ dịch vụ thì muốn đạt được chỉ tiêu trình độ dịch vụ 95%, thời gian thực hiện đơn đặt hàng của khách hàng không được vượt quá 6 ngày. Nếu vượt quá, có nghĩa đã giảm trình độ dịch vụ khách hàng xuống.

    Tuy nhiên, do có mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và chi phí, khả năng lợi nhuận, cho nên xác định mục tiêu cung ứng hàng hóa cho khách hàng có thể theo một số cách như sau:

    – Xác định mục tiêu dịch vụ khách hàng, sau đó bằng mọi nỗ lực để giảm chi phí đến mức thấp nhất;

    – Xác định mức chi phí tối đa, sau đó cải thiện các hoạt động logistics để đạt được trình độ dịch vụ cao nhất có thể ;

    – Xác định trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu, có nghĩa xác định trình độ dịch vụ khách hàng mà tại đó, cho khả năng thu lợi nhuận cao nhất.

    b-   Xác định tổng mức và cơ cấu lưu chuyển hàng hoá bán buôn.

    Trên cơ sở kế hoạch marketing thương mại đã định, phải tiến hành đo lường và dự báo nhu cầu làm cơ sở cho việc xác định định mức bán và ngân sách bán. Phải sử dụng các phương pháp đo lường và dự báo đảm bảo độ chính xác và kịp thời. Kế hoạch lưu chuyển hàng hoá phải cụ thể, chi tiết theo từng nhóm, mặt hàng, theo từng đối tượng khách hàng để dự tính các giải pháp logistics hợp lý, đảm bảo những mục tiêu dịch vụ logistics đã đề ra.

    c-   Xác định các phương pháp bán hàng.

    Tuỳ thuộc yêu cầu dịch vụ của khách hàng mà phải có các phương pháp bán hàng thích hợp. Các phương pháp bán phụ thuộc vào các quyết định về giá. Quyết định về giá trực tiếp xác định bộ phận nào trong thương vụ có trách nhiệm thực hiện các hoạt động logistics, chuyển giao sở hữu, và trách nhiệm pháp lý. Có 2 phương pháp định giá bán: Giá F.O.B nơi giao và giá F.O.B nơi nhận (hình 4.3).

           
           

    vv

           
           
     
           
    • Giá bán và trách nhiệm tương ứng

    Như vậy, tuỳ thuộc vào phương pháp bán hàng theo các kiểu giá khác nhau mà các cơ sở logistics bán buôn phải thực hiện nhiều hay ít dịch vụ logistics. Và do đó, qui trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng cũng đơn giản hay phức tạp.

    d-   Thiết kế các qui trình thực hiện đơn đặt hàng cho khách hàng

    Để chủ động và tiết kiệm chi phí, tăng tốc độ quá trình logistics, cần phải thiết kế các qui trình thực hiện đơn đặt hàng phù hợp với các phương pháp bán hàng. Nếu chỉ tính trách nhiệm dịch vụ giữa các bên trong quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng, thì có 2 phương pháp bán hàng chủ yếu: bán hàng tại kho người giao (bán), và bán hàng vận chuyển giao hàng tại kho người nhận. Qui trình bán đầu đơn giản hơn qui trình sau. Trong thiết kế qui trình, cần phải chú ý một số nguyên tắc sau:

    – Nguyên tắc ưu tiên thực hiện đơn hàng: Trong quá trình thực hiện đơn hàng, cần phải ưu tiên cung cấp hàng hoá cho một số khách hàng có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, nên áp dụng qui tắc 80/20 hay phân loại A,B,C khách hàng để có chính sách thích đáng.

    – Nguyên tắc đồng bộ thực hiện đơn hàng: Để tiết kiệm thời gian, tăng nhanh tốc độ cung ứng, không nên chỉ nhấn mạnh vào tính tuần tự của qui trình. Nếu một số thao tác của qui trình có thể thực hiện đồng thời thì triển khai song song.

    – Nguyên tắc tập trung: Để tăng năng suất lao động và giảm chi phí trong việc chuẩn bị lô hàng và vận chuyển, phải đảm bảo nguyên tắc tập trung. Nguyên tắc này đòi hỏi tập trung chuẩn bị và xử lý nhiều lô hàng cùng một lúc, hoặc tập trung vận chuyển nhiều lô hàng trong cùng một đợt nhằm lợi dụng tính kinh tế nhờ qui mô, giảm chi phí.

    4.2.2- Quá trình thực hiện đơn đặt hàng của khách hàng trong thương mại bán buôn

    Cung ứng hàng hoá cho khách hàng trong thương mại bán buôn được thực hiện thông qua việc thực hiện đơn đặt hàng.

    Quá trình thực hiện đơn đặt hàng là tập hợp các hoạt động có đặc trưng chu kỳ nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng, đảm bảo thỏa mãn đơn đặt hàng của khách hàng với chi phí thấp nhất.

    Quá trình này được thể hiện trên hình 4.4

     
       
    • Quá trình thực hiện đơn đặt hàng bán buôn

    a-   Tập hợp, xử lý đơn đặt hàng và hợp đồng

    Đây là quá trình thu thập, xử lý và truyền tin giữa các bên mua bán nhằm thiết lập quan hệ mua bán theo hình thức pháp lý nhất định. Nội dung của công đoạn này bao gồm 3 công tác:

    a.1-   Chuẩn bị đơn hàng và hợp đồng của khách hàng:

    Đây là hoạt động truyền tin những yêu cầu của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ cho người bán. Nội dung có thể là: hoàn thiện hình thức đặt hàng, yêu cầu người bán cung cấp những thông tin cần thiết để chuẩn bị đơn hàng.

    a.2-       Chuyển đơn hàng hoặc yêu cầu về hợp đồng của khách hàng:

    Bao gồm việc chuyển yêu cầu đặt hàng từ điểm tiếp nhận đến nơi xử lý đơn hàng. Có 2 phương pháp chuyển đơn đặt hàng: bằng sức người, và bằng điện tử. Sử dụng sức người thì tốc độ chậm, nhưng đỡ tốn chi phí. Sử dụng điện tử thông qua hệ thống điện thoại, Fax, mạng vi tính. ..;đơn đặt hàng được chuyển nhanh, độ tin cậy cao, chính xác, nhưng tất nhiên là tốn chi phí.

    a.3-       Xử lý đơn đặt hàng:

    Bao gồm các hoạt động như, kiểm tra độ chính xác của thông tin đơn hàng về số lượng, cơ cấu, giá cả; kiểm tra khả năng dự trữ; chuẩn bị những tài liệu, văn kiện từ chối (nếu cần); kiểm tra tình trạng tín dụng của khách hàng; sao chép thông tin về đơn đặt hàng nếu thấy cần thiết.

    b-   Xây dựng chương trình giao hàng

    Chương trình giao hàng là bản thuyết minh các hoạt động hoặc các bước cần thiết để thực hiện kế hoạch logistics, hợp đồng mua bán, đơn đặt hàng của khách hàng với chi phí thấp nhất.

    Căn cứ để xây dựng chương trình giao hàng:

    – Kết quả xử lý đơn hàng và hợp đồng, phân tích tình hình bán buôn hàng hoá

    – Phân tích tình hình dự trữ hàng hoá và nguồn hàng.

    – Khả năng vận chuyển hàng hoá của doanh nghiệp

    c-   Chuẩn bị giao hàng

    Trên cơ sở chương trình giao hàng, phải tiến hành công tác chuẩn bị giao hàng. Nội dung chuẩn bị giao hàng bao gồm:

    – Chuẩn bị nguồn cung cấp hàng hoá cho khách hàng: Xác định vị trí kho phát hàng. Trong trường hợp cung cấp hàng hoá từ nguồn hàng, phải tiến hành đặt hàng hoặc ký hợp đồng mua hàng với nguồn hàng. Phải khẩn trương xúc tiến việc mua hàng để tránh chậm trễ trong việcc giao hàng cho khách hàng.

    – Chuẩn bị lô hàng: Việc chuẩn bị các lô hàng để giao được thực hiện trong các kho hàng hoá. Chuẩn bị lô hàng chiếm tỷ lệ thời gian khá lớn, do đó, phải nâng cao năng suất và cơ giới hoá các công tác chuẩn bị hàng hoá ở kho.

    – Chuẩn bị phương tiện giao hàng: bao gồm chuẩn bị phương tiện vận tải, chất xếp, tiến hành ký hợp đồng hoặc đặt hàng vận chuyển hàng hoá với các đơn vị vận tải

    – Chuẩn bị giấy tờ: Phải chuẩn bị đầy đủ các chứng từ hợp lệ, thuận tiện cho quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hoá, bao gồm: hoá đơn, giấy phép vận chuyển, giấy đảm bảo chất lượng,. …

    – Chuẩn bị lao động: chuẩn bị lao động chất xếp, lao động bảo vệ hàng hoá và giao hàng nếu cần thiết.

    d-   Tiến hành giao hàng

    Tuỳ thuộc vào phương pháp bán hàng, việc giao hàng được tiến hành ở kho người bán hoặc cơ sở logistics của người mua. Nếu giao hàng tại cơ sở logistics của người mua, người bán phải đảm nhiệm công tác tổ chức vận chuyển hàng hoá và phải thực hiện quá trình nghiệp vụ vận chuyển. Cạnh tranh trong kinh doanh thương mại đòi hỏi người bán phải đảm nhiệm công tác vận chuyển với chi phí hạ, tốc độ nhanh và ổn định.

    Quá trình giao hàng phải thực hiện đúng những cam kết với khách hàng, đặc biệt là cam kết về địa điểm và thời gian giao hàng.

    e-   Thông báo và kiểm tra tình hình giao hàng

    Đây là hoạt động cuối cùng trong quá trình thực hiện đơn đặt hàng, nó cam kết rằng một dịch vụ khách hàng tốt đã được cung ứng thông qua việc duy trì thông tin cho khách hàng về bất cứ sự chậm trễ nào trong quá trình đặt hàng hoặc giao đơn đặt hàng.  Cụ thể nó bao gồm: (1) theo dõi đơn hàng trong toàn bộ chu kỳ thực hiện đơn đặt hàng; (2) thông tin tới khách hàng tiến trình thực hiện đơn đặt hàng. Đây là hoạt động kiểm tra và nó không ảnh hưởng đến tổng thời gian để thực hiện đơn đặt hàng.

    4.3-  QUẢN TRỊ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ TRONG CỬA HÀNG BÁN LẺ

    4.3.1- Nguyên tắc, căn cứ quản trị quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ chính là quá trình cung ứng hàng hóa  cho khách hàng trong kinh doanh thương mại bán lẻ. Quá trình này là tập hợp các thao tác có mối liên hệ chặt chẽ kế tiếp nhau trong cửa hàng nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng thông qua hành vi bán lẻ với trình độ thoả mãn cao nhất và chi phí ít nhất.

    Quá trình công nghệ qui định và liên kết nội dung, vị trí, thời gian và trật tự thực hiện xử lý dòng hàng từ khi hàng hoá đến cửa hàng cho đến khi bán cho khách. Sơ đồ công nghệ tổng quát quá trình công nghệ trong cửa hàng được thể hiện trên hình 4.5.

     
       
    • Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Tuỳ thuộc vào đặc điểm của quá trình nhập hàng vào cửa hàng và các phương pháp bán hàng mà có thể có 3 kiểu dòng công nghệ: (1)-Dòng hoàn chỉnh bao gồm đầy đủ 4 công đoạn; (2) – dòng ngắn hơn bao gồm 3 công đoạn; (3)- dòng ngắn nhất chỉ 2 công đoạn.

    Dòng (1) áp dụng đối với những hàng hoá có thể dự trữ một số ngày tại cửa hàng trong điều kiện kho phân phối cách khá xa cửa hàng, hoặc hàng hoá phải trải qua giai đoạn biến đổi mặt hàng trong cửa hàng.

    Dòng (2) áp dụng đối với những hàng hoá không thể hoặc không cần dự trữ tại cửa hàng như thực phẩm tươi sống,. ..

    Dòng (3) áp dụng đối với những hàng hoá đã được chuẩn bị sẵn sàng để bán tại cửa hàng, chẳng hạn như các siêu thị – hàng hoá đã được chuẩn bị sẵn tại các kho.

    Quá trình công nghệ bao gồm các nghiệp vụ có tính độc lập tương đối. Nghiệp vụ là phần đồng nhất của quá trình do một số nhân viên hoàn thành và thực hiện những tác động nhất định đến đối tượng ở một vị trí công tác với một thiết bị nào đó

    Quản trị quá trình công nghệ phải thực hiện các nguyên tắc sau:

    – Nguyên tắc phương án bán hàng tối ưu – Thiết kế các phương án bán hàng là những quyết định marketing, và do đó, triển khai quá trình công nghệ phải trên cơ sở các phương pháp bán hàng đã định.

    – Nguyên tắc tiến bộ kỹ thuật

    – Nguyên tắc hệ thống

    Những căn cứ để tiến hành quản trị quá trình công nghệ:

    – Căn cứ vào công nghệ bán lẻ hàng hoá tại các cửa hàng

    Mỗi công nghệ bán hàng có trình độ thoả mãn nhu cầu mua hàng của khách khác nhau, và do đó ảnh hưởng đến nội dung của quá trình công nghệ trong cửa hàng.

    – Căn cứ vào hệ thống nhập hàng vào cửa hàng

    Hệ thống nhập hàng vào cửa hàng quyết định cơ cấu và qui mô các nghiệp vụ và các dòng công nghệ trong cửa hàng.

    – Căn cứ vào cơ sở vật chất – kỹ thuật của doanh nghiệp thương mại và cửa hàng.

    – Căn cứ vào thành tựu tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong thương mại.

    4.3.2- Nội dung cơ bản của quản trị quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Những nội dung cơ bản quản trị quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ bao gồm: Xác định các mục tiêu của quá trình công nghệ bán lẻ; Thiết kế các quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ; Qui hoạch mặt bằng công nghệ trong cửa hàng; Xây dựng phương án cung cấp thiết bị công nghệ; Tổ chức lao động công nghệ bán lẻ.

    a-   Xác định các mục tiêu của quá trình công nghệ bán lẻ

    Bao gồm các mục tiêu: Doanh thu (lưu chuyển bán lẻ), các mục tiêu về dịch vụ khách hàng

    – Mục tiêu doanh thu:

    Trên cơ sở một kế hoạch marketing đã định, phải dự báo nhu cầu thị trường của doanh nghiệp về mặt tổng lượng và cơ cấu. Và cũng trên cơ sở dự báo nhu cầu, doanh nghiệp xác định kế hoạch ngân sách bán lẻ để triển khai kế hoạch logistics và các kế hoạch khác. Cần phải dự tính mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ theo các phương pháp bán hàng và theo các kiểu dòng công nghệ.

    – Mục tiêu dịch vụ khách hàng:

    Có nhiều chỉ tiêu dịch vụ khách hàng khác nhau, cần phải xác định để đảm bảo cho quá trình công nghệ trong cửa hàng đạt được mục tiêu dịch vụ.

    – Thời gian khách mua hàng

    – Hệ số thoả mãn nhu cầu mua hàng cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng

    – Hệ số ổn định mặt hàng kinh doanh

    b-   Thiết kế quá trình công nghệ và qui hoạch mặt bằng công nghệ trong cửa hàng

    Trên cơ sở các phương pháp bán hàng và đặc điểm cung ứng hàng hoá, phải thiết kế các quá trình công nghệ thích ứng và chi tiết. Có thiết kế chi tiết quá trình công nghệ thì mới nắm vững những đặc điểm của từng công đoạn, từng thao tác công nghệ để xỷ lý dòng hàng thoả mãn nhu cầu dịch vụ khách hàng với chi phí thấp nhất.

    Để thực hiện tốt quá trình công nghệ đã được thiết kế, cần phải qui hoạch hợp lý mặt bằng cửa hàng. Cơ cấu các loại diện tích trong cửa hàng phải phù hợp với sơ đồ công nghệ, trong đó cần phải chú ý qui hoạch tốt diện tích phòng bán hàng.

    Để đánh giá trình độ sử dụng hợp lý diện tích doanh nghiệp trong cửa hàng tự phục vụ (siêu thị), có thể dùng hệ số sử dụng diện tích lắp đặt thiết bị và hệ số diện tích trưng bày.

    Hệ số sử dụng diện tích lắp đặt thiết bị được xác định bằng tỷ số diên tích dùng để đặt thiết bị trên diện tích gian hàng:

    K- Hệ số sử dụng diện tích lắp đặt thiết bị

     

    c- Diện tích lắp đặt thiét bị (m2)

    c1– Diện tích gian hàng (m2)

     

    K tối ưu trong cửa hàng tự phục vụ: 0,30 – 0,32

    Hệ số diện tích trưng bày được xác định bằng tỷ số diện tích dùng để bày hàng trên diện tích gian hàng:

    K- Hệ số sử dụng diện tích bày hàng

     

    c2– Diện tích bày hàng (m2)

    c1– Diện tích gian hàng (m2)

    Trong cửa hàng bán hàng theo phương pháp cổ truyền, hệ số này bằng 0,33 – 0,40, trong cửa hàng tự phục vụ (siêu thị), hệ số này bằng 0,65 – 0,75

    c-   Xây dựng phương án cung cấp thiết bị công nghệ bán hàng

    Mỗi một công nghệ bán hàng đòi hỏi cung cấp thiết bị tương ứng. Phải tính toán số lượng, cơ cấu thiết bị hợp lý, đảm bảo đầy đủ và phát huy hết công suất. Có như vậy, quá trình công nghệ mới diễn ra liên tục thống nhất, phục vụ khách hàng tốt nhất và với chi phí thấp nhất.

    Phải xây dựng phương án cơ giới hoá quá trình công nghệ trong cửa hàng. Cơ giới hoá đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho cửa hàng bởi nó tiết kiệm thời gian mua hàng của khách, nâng cao trình độ văn minh thương mại, đồng thời cải thiện điều kịn lao động của nhân viên cửa hàng. Áp dụng cơ giới hoá sẽ nâng cao khả năng thu lợi nhuận, giảm bớt chi phí lưu thông. Do vậy, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ giới hoá là chỉ tiêu đo lường hiệu quả vốn đầu tư.

    4.3.3- Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Quá trình công nghệ bao gồm nhiều công đoạn và thao tác khác nhau, nhưng về cơ bản có 4 công đoạn chính: Tiếp nhận hàng, bảo quản hàng, chuẩn bị hàng để bán, và bán hàng.

    a-   Tiếp nhận hàng hoá

    Là nghiệp vụ cần thiết trong cửa hàng. Nó được thực hiện kế tiếp và đồng thời với việc bốc dỡ hàng hoá. Tổ chức tiếp nhận hàng hoá phải đảm bảo kịp thời, nhanh chóng, và giữ gìn tốt chất lượng. Tiếp nhận hàng hoá phụ thuộc vào quá trình cung ứng hàng hoá của nguồn hàng.

    Nôi dung tiếp nhận hàng hoá bao gồm: tiếp nhận về số lượng và chất lượng. Các phương pháp tiếp nhận hàng hoá ở cửa hàng thường là đơn giản để có thể đưa hàng hoá vào bán hoặc bảo quản được ngay. Trong quá trình tiếp nhận, nếu phát hiện hàng hoá thừa, thiếu hoặc không đảm bảo chất lượng thì phải lập biên bản để qui trách nhiệm vật chất giữa các bên. Sau khi giao nhận hàng hoá, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng để cung cấp thông tin cho kiểm soát quá trình cung ứng.

    Hàng hoá sau khi tiếp nhận có thể được chuyển thẳng ra gian hàng để bán, hoặc chuyển sang bộ phận chuẩn bị hàng, và phần lớn chuyển sang phòng bảo quản để dự trữ thường xuyên cho bán ra.

    b-   Bảo quản hàng hoá trong cửa hàng

    Tổ chức bảo quản hàng hoá trong cửa hàng bao gồm: phân bố và chất xếp hàng hoá, chăm sóc và giữ gìn hàng hoá.

    Đối với mỗi loại hàng hoá bảo quản trong cửa hàng, cần cố định vị trí của chúng có tính đến kích thước, tần số bán, khối lượng công tác chuẩn bị hàng và điều kiện di chuyển hàng hoá ra gian hàng. Trong các cửa hàng thực phẩm, cần phải bố trí các thiết bị lạnh để duy trì chế độ bảo quản bình thường cho hàng hoá.

    Việc áp dụng bao bì – thiết bị cho phép giảm bớt đáng kể thời hạn bảo quản hàng hoá trong cửa hàng, và do bđó giảm được diện tích các phòng dùng để dự trữ và bảo quản trong cửa hàng. Sử dụng bao bì – thiết bị trong các cửa hàng tổng hợp có thể giảm được từ 40- 60% diện tích phòng bảo quản, và tương ứng tăng diện tích doanh nghiệp.

    Việc áp dụng giao và bán hàng hoá băng thùng tải đem lại hiệu quả kinh tế to lớn: giảm chi phí lao động và thời gian của nhân viên cửa hàng (hơn 7 lần), tăng tốc độ chu chuyển hàng hoá, giảm dự trữ hàng hoá trong cửa hàng.

    Để duy trì mặt hàng ổn định trong cửa hàng, số lượng thùng tải dùng cho mỗi nhóm hàng được xác định như sau:

     
       

    c-   Chuẩn bị hàng để bán và bày hàng nơi bán hàng

    Bao gồm các nghiệp vụ: mở bao bì, phân loại, làm sạch, pha lọc, lắp ráp, chỉnh lý, định lượng, bao gói, ghi ký mã hiệu lên bao bì,…Đây là những nhiệm vụ logistics của sản xuất hoặc kho trong điều kiện hiện đại. Cần phải tập trung các nghiệp vụ chuẩn bị hàng để bán cho phép sử dụng các thiết bị, diện tích, lao động và vật liệu hiệu quả.

    Tổ chức pha lọc, bao gói hàng hoá có ý nghĩa quan trọng trong kinh doanh hàng thực phẩm. Phần lớn hàng thực phẩm được bao gói bởi các ngành sản xuất công nghiệp và các kho trong hệ thống logistics thương mại. Điều này đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, có một bộ phận đáng kể hàng hoá đưa đến mạng lưới bán lẻ chưa được chuẩn bị sẵn sàng để bán, do đó, cần phải tổ chức chỉnh lý, bao gói trong cửa hàng.

    Tổ chức bao gói trong cửa hàng cần dự tính: Tổ chức hợp lý nơi công tác; phân công lao động hợp lý; Sử dụng thiết bị và công cụ chuyên dùng. Đồng thời, phân bố thiết bị và vị trí công tác phải đảm bảo cho quá trình bao gói liên tục, giảm bớt con đường vận động của hàng hoá, bao bì và vật liệu bao gói.

    Hàng hoá sau khi đã chuẩn bị được di chuyển và trưng bày tại gian hàng. Việc trưng bày hàng hoá tại gian hàng vừa đảm bảo dự trữ hàng hoá tại nơi công tác, vừa là hoạt động xúc tiến (trưng bày, giới thiệu hàng hoá), vừa là nội dung của tổ chức nơi công tác bán hàng – đảm bảo thuận tiện cho việc lấy hàng của nhân viên bán hàng hoặc của khách hàng.

    Giao hàng và di chuyển hàng hoá trong cửa hàng thuộc loại lao động nặng, chi phí nhiều lao động, do đó cần phải cơ giới hoá.

    d-   Bán hàng

    Là sự phối hợp giữa 2 hoạt động: logistics và marketing, sử dụng 3 công cụ marketing: con người, bằng chứng vật chất, và quá trình. Tuỳ thuộc vào các phương pháp bán hàng mà có các qui trình kỹ thuật bán hàng khác nhau.

    Bán lẻ hàng hoá là hoạt động chủ yếu của quá trình công nghệ trong cửa hàng, kết thúc quá trình logistics, quá trình phân phối và vận động hàng hoá.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bản chất kinh tế của Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-NGHI%E1%BB%86P-V%E1%BB%A4-KHO-H%C3%80NG-V%C3%80-BAO-B%C3%8C-TRONG-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    Chương 6:              QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO VÀ BÌ

    6.1-  Quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    6.1.1- Mục tiêu và nguyên tắc cuả quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    a-   Vị trí và nội dung của quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    Trong hệ thống các nghiệp vụ logistics, nghiệp vụ kho là những hoạt động logistics tiếp nối và hỗ trợ cho quá trình cung ứng và đặc biệt là quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Do đó, nghiệp vụ kho chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bán hàng, quản trị dự trữ và quản trị mua hàng.

    Nghiệp vụ kho hàng hoá là hệ thống các mặt công tác được thực hiện đối với hàng hoá trong quá trình vận động qua kho nhằm đáp ứng cho quá trình vận động và mua, bán hàng hoá qua kho với chi phí thấp nhất.

    Quản trị nghiệp vụ kho có vai trò to lớn trong hệ thống logistics kinh doanh thương mại:

    – Nghiệp vụ kho đảm bảo hàng hoá sẵn sàng cho quá trình bán hàng, quá trình logistics trực tiếp. Cơ cấu, số lượng và chất lượng lô hàng cung ứng cho khách hàng là kết quả của quá trình nghiệp vụ kho; thời gian cung ứng hàng hoá chịu ảnh hưởng lớn của quá trình nghiệp vụ kho, đặc biệt chịu ảnh hưởng của công tác chuẩn bị hàng trong công đoạn phát hàng ở kho. Và như vậy, trình độ dịch vụ khách hàng cũng chịu ảnh hưởng khá lớn của nghiệp vụ kho.

    – Nghiệp vụ kho tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các quyết định của quản trị mua và dự trữ hàng hoá; nghiệp vụ kho đáp ứng những điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật để bảo quản qui mô và cơ cấu dự trữ hàng hoá tối ưu, kiểm tra và cung cấp thông tin tình hình biến động dự trữ hàng hoá để quản trị có hiệu quả dự trữ hàng hoá trong kho; nghiệp vụ kho trực tiếp kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá trong quá trình mua hàng, ngăn chặn hàng hoá không đảm bảo chất lượng lọt vào kênh logistics, đồng thời nâng cao hiệu lực của quá trình mua hàng.

    – Quá trình nghiệp vụ kho sử dụng các phương pháp công nghệ tiên tiến hợp lý, một mặt, nâng cao chất lượng dịch vụ của quá trình, mặt khác, giảm chi phí nghiệp vụ kho và do đó giảm chi phí của toàn bộ quá trình logistics

    Quản trị nghiệp vụ kho bao gồm những nội dung sau: 1- Thiết kế quá trình nghiệp vụ kho; 2- Qui hoạch mặt bằng nghiệp vụ kho; 3- Quản trị thiết bị nghiệp vụ kho; 4- Tổ chức lao động nghiệp vụ kho; Trong đó nội dung đầu là quan trọng nhất vì nó quyết định nội dung của những nội dung sau.

    b-   Mục tiêu và nguyên tắc quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    Xuất phát từ vị trí và vai trò của quản trị nghiệp vụ kho đã nêu ở trên, quản trị nghiệp vụ kho tập trung vào những mục tiêu sau:

    – Thứ nhất, là mục tiêu đáp ứng nhanh những yêu cầu của quá trình mua bán hàng hoá qua kho. Mục tiêu này gắn liền với chức năng hỗ trợ của nghiệp vụ kho hàng hoá.

    – Thứ hai, là mục tiêu hợp lý hoá việc phân bố dự trữ hàng hoá trong kho. Mục tiêu này liên quan đến quản trị dự trữ hàng hoá và sử dụng hợp lý diện tích và dung tích kho.

    – Thứ ba, là mục tiêu chất lượng hàng hoá bảo quản. Mục tiêu này liên quan đến việc quản trị chất lượng hàng hoá trong kinh doanh thương mại được tập trung chủ yếu trong kho hàng hoá.

    Các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện các mục tiêu này bao gồm: Số lần vi phạm hợp đồng cung cấp hàng hoá cho khách hàng; tỷ lệ các lô hàng bị trả lại; thời gian trung bình chuẩn bị một lô hàng để phát cho khách hàng; tốc độ chu chuyển hàng hoá ở kho; hệ số sử dụng diện tích và dung tích kho; tỷ lệ hao hụt hàng hoá ở kho; giá thành nghiệp vụ kho,…

    Các nguyên tắc quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá:

    • Nguyên tắc hiệu quả: đạt mục tiêu với chi phí thấp
    • Nguyên tắc tiến bộ kỹ thuật
    • Nguyên tắc hệ thống
    • Nguyên tắc giảm hao hụt

    6.1.2- Quá trình nghiệp vụ kho hàng hoá

    Tuỳ thuộc vào loại hàng hoá dự trữ và bảo quản, loại hình kho và các điêù kiện khác mà quá trình nghiệp vụ kho khác nhau. Tuy nhiên quá trình bao gồm 3 giai đoạn: tiếp nhận hàng, bảo quản hàng, phát hàng. Sơ đồ tổng quát quá trình nghiệp vụ kho được thể hiện ở hình 6.1

    a-   Nghiệp vụ tiếp nhận hàng

    a.1- Các yêu cầu tiếp nhận hàng ở kho

    Tiếp nhận hàng là hệ thống các mặt công tác kiểm tra tình trạng số lượng và chất lượng hàng hoá thực nhập vào kho, xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên giao nhận, vận chuyển hàng hoá trong việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền quản lý hàng hoá theo các văn bản pháp lý qui định.

    Tiếp nhận hàng hoá là công đoạn nghiệp vụ trung gian giữa quá trình nghiệp vụ mua hàng, nghiệp vụ vận chuyển, và nghiệp vụ kho. Do đó, tiếp nhận hàng hoá thể hiện mối quan hệ kinh tế – pháp lý giữa các đơn vị kinh tế: nguồn hàng, đơn vị vận chuyển, và doanh nghiệp thương mại. Chính vì vậy, tiếp nhận hàng phải đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Phải xác định trách nhiệm vật chất cụ thể giữa đơn vị cung ứng và người nhận hàng.

    Đây là xác định rõ trách nhiệm vật chất trong việc thực hiên các cam kết kinh tế – pháp lý giữa người bán (nguồn hàng) và người mua (doanh nghiệp thương mại ), và đơn vị vận chuyển hàng hoá đã được ký kết trong hợp đồng mua-bán và hợp đồng vận chuyển hàng hoá.

    – Phải kiểm tra việc thực hiện kế hoạch nhập hàng của doanh nghiệp, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng mua bán và vận chuyển giữa các bên.

    Thông qua tiếp nhận hàng hoá, có thể tập hợp được thông tin về mua hàng và vận chuyển hàng hoá, do đó, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng ở kho một cách chi tiết và cụ thể.

    2
    1
    1.1
    1.2
    1.1a
    1.1b
    • Sơ đồ tổng quát quá trình nghiệp vụ kho

    – Phải đảm bảo tiếp nhận kịp thời, nhanh chóng và chính xác.

    Yêu cầu này nhằm tiết kiệm thời gian hàng hoá dừng lại ở công đoạn tiếp nhận, do đó giải phóng nhanh phương tiện vận tải, nhanh chóng đưa hàng hoá vào nơi bảo quản. Tính kịp thời và nhanh chóng không được làm ảnh hưởng đến tính chính xác trong việc kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá.

    a.2-           Nội dung tiếp nhận hàng

    Công đoạn tiếp nhận hàng ở kho bao gồm: tiếp nhận số lượng, tiếp nhận chất lượng, và làm chứng từ nhập hàng.

    • Tiếp nhận số lượng

     là tiến hành kiểm tra số lượng hàng hoá thực nhập và xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên trong việc giao nhận hàng hoá về mặt lượng.

    Chế độ, kỹ thuật tiếp nhận, phương pháp, thời hạn, các thủ tục tiếp nhận…sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí tiếp nhận, phương tiện vận tải, đặc điểm của bao bì, tính chất của hàng hoá… đã được qui định trong trong các văn bản pháp lý.

    Tiếp nhận hàng hoá có thể bao gồm 2 bước:

    – Tiếp nhận sơ bộ: Tiếp nhận theo đơn vị bao bì hàng hoá bằng phương pháp đếm số lượng các đơn vị bao bì chứa lượng hàng hoá tiêu chuẩn để xác định tổng lượng hàng hoá. Tiếp nhận sơ bộ nhằm giải phóng nhanh phương tiện vận tải chờ bốc dỡ. Tiếp nhận sơ bộ chỉ trong trường hợp hàng hoá đựng trong bao bì tiêu chuẩn nguyên vẹn, không bị dập vỡ, không có dấu hiệu mất an toàn. Kết thúc tiếp nhận sơ bộ, trách nhiệm vật chất về hàng hoá vẫn chưa chuyển giao cho bên nhận.

    – Tiếp nhận chi tiết: áp dụng trong trường hợp hàng hoá đã qua tiếp nhận sơ bộ, hoặc hàng hoá không có bao bì, bao bì không an toàn. Tiếp nhận chi tiết theo đơn vị hàng hoá bằng các phương pháp và đơn vị đo lường hợp pháp của nhà nước. Tiếp nhận chi tiết có thể được tiến hành trên mẫu đại diện, thường là từ 15 -20% qyi mô lô hàng. Sau khi tiếp nhận chi tiết, trách nhiệm vật chất về mặt lượng của hàng hoá được chuyển giao cho bên nhận hàng.

    Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào cam kết giữa các bên mà hàng hoá chỉ cần qua bước tiếp nhận sơ bộ nguyên đai kiện rồi chuyển vào kho mà không cần qua bước tiếp nhận chi tiết.

    Trong quá trình tiếp nhận, nếu phát hiện hàng hoá thừa hoặc thiếu, phải lập biên bản để qui trách nhiệm vật chất.

    • Tiếp nhận chất lượng hàng hoá

     Bao gồm các mặt công tác nhằm kiểm tra tình trạng chất lượng hàng hoá thực nhập và xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên giao nhận về tình trạng không đảm bảo chất lượng của hàng hoá nhập kho.

    “Chất lượng hàng hoá là khả năng hàng hoá thực hiện những chức năng của mình; chất lượng hàng hoá bao gồm độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, dễ vận hành và sửa chữa, và các đặc tính giá trị khác”. Các đặc tính chất lượng hàng hoá được đo lường bằng các chỉ tiêu khác nhau, nhưng chủ yếu là các chỉ tiêu lý, hoá, sinh, và các chỉ tiêu cảm quan.

    Tiếp nhận chất lượng hàng hoá phải căn cứ vào các văn bản có tính pháp lý, như: hợp đồng, các văn bản tiêu chuẩn về chất lượng hàng hoá, chế độ qui định tiếp nhận hàng hoá; đồng thời phải căn cứ vào các chứng từ đi kèm như hoá đơn, giấy đảm bảo chất lượng,…

    Tiếp nhận chất lượng hàng hoá phải tiến hành theo các bước sau:

    – Thứ nhất, phải lấy mẫu kiểm tra chất lượng: Việc kiểm tra chất lượng không thể tiến hành đối với toàn bộ lô hàng được, do đó phải lấy mẫu để kiểm tra. Mẫu kiểm tra phải được lấy theo phương pháp khoa học theo qui định hoặc đã thoả thuận giữa các bên. Mẫu kiểm tra phải được đánh dấu hoặc niêm phong có gắn nhãn hiệu kèm chữ ký của những người tham gia tiếp nhận, đồng thời phải lập biên bản lấy mẫu. Mẫu lựa chọn để kiểm tra phải được bảo quản cẩn thận cho tới khi tiếp nhận xong và không có sự tranh chấp giữa các bên nữa.

    – Thứ hai, phải xác định phương pháp kiểm tra và đánh giá chất lượng. Tuỳ thuộc vào đặc điểm hàng hoá, những qui định và sự thoả thuận giữa các bên mà có thể sử dụng phương pháp kiểm tra thích hợp. Có 2 phương pháp kiểm tra chủ yếu: phương pháp cảm quan và phương pháp phân tích thí nghiệm.

    Phương pháp cảm quan là phương pháp sử dụng các giác quan của con người để kiểm tra chất lượng. Các chỉ tiêu cảm quan thường là: màu sắc, mùi vị, âm thanh độ cứng,… Phương pháp này có ưu điểm là: đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền, thiết bị dụng cụ không phức tạp, và trong một số trường hợp, phải dùng chỉ tiêu cảm quan mới đánh giá chất lượng tổng hợp một cách chính xác như các loại hàng kích thích,… Nhược điểm của phương pháp này là thiếu chính xác, thiếu khách quan, phụ thuộc vào trình độ cảm quan và các yếu tố tâm sinh lý của người kiểm tra.

    Phương pháp phân tích thí nghiệm là phương pháp sử dụng các thiết bị phân tích trong phòng thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu chất lượng về lý, hoá, sinh,… Yêu cầu quan trọng của phương pháp này là phải có những thiết bị có độ chính xác cao. Ưu điểm của phân phối này là kiểm tra chính xác và khách quan chất lượng hàng hoá. Nhược điểm của phương pháp này là đòi hỏi phải có thiết bị phức tạp, thời gian để phân tích lâu. Ngày nay, do phát triển của khoa học kỹ thuật, các thiết bị phân tích trở nên tinh vi, đảm bảo kiểm tra nhanh mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao

    Đối với phương pháp kiểm tra cảm quan, phải sử dụng phương pháp cho điểm để đánh giá chất lượng; còn đối với phương pháp phân tích thí nghiệm, việc đánh giá dựa trên cơ sở kết quả phân tích định lượng.

    Thời gian tiếp nhận chất lượng hàng hoá không được vượt quá giới hạn qui định. Thời gian tiếp nhận tuỳ thuộc vào tính chất hàng hoá, khoảng cách giữa nơi giao và nơi nhận, điều kiện giao thông vận tải, phương thức giao nhận,…

    – Trong quá trình kiểm tra và đánh giá, nếu phát hiện thấy chất lượng hàng hoá không đảm bảo tiêu chuẩn và các cam kết, bao bì và hàng hoá không đúng qui cách, phải lập biên bản về tình trạng chất lượng có mặt bên giao hàng hoặc cơ quan giám định chất lượng hàng hoá.

    Hàng hoá không đảm bảo chất lượng phải xử lý theo những qui định của pháp luật và sự thoả thuận giữa các bên. Nguyên tắc xử lý là: pháp lý, thoả thuận, và giảm chi phí cho cả các bên.

    • Làm chứng từ nhận hàng

    Làm chứng từ nhận hàng bao gồm những công tác nhằm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá và tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng.

    Sau khi kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá, nếu lô hàng đảm bảo thì người nhận hàng (thủ kho) ký vào hoá đơn giao hàng và kết thúc việc nhận hàng. Trường hợp hàng hoá không đảm bảo số lượng và chất lượng hoặc không có chứng từ đi kèm thì phải tiến hành lập biên bản và tuỳ theo tình hình cụ thể để xử lý.

    Sau khi tiếp nhận, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng vào kho. Mỗi một lô hàng nhập kho phải ghi sổ theo dõi tình hình nhập hàng, đồng thời phải ghi chép số liệu hàng nhập vào trong thẻ kho để nắm được tình hình nhập xuất và tồn kho.

    b-   Nghiệp vụ bảo quản hàng hoá ở kho

    b.1-          Yêu cầu đối với nghiệp vụ bảo quản

    Bảo quản hàng hoá là hệ thống các mặt công tác nhằm đảm bảo giữ gìn nguyên vẹn số lượng và chất lượng hàng hoá trong quá trình dự trữ, tận dụng đến mức cao nhất diện tích và dung tích kho, nâng cao năng suất thiết bị và lao động kho.

    Trong toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho, bảo quản hàng hoá là công đoạn nghiệp vụ cơ bản và phức tạp nhất, quyết định chất lượng công tác kho, thực hiện tốt chức năng cơ bản của kho hàng hoá; công đọan nghiệp vụ này có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng của công đoạn nghiệp vụ tiếp nhận và phát hàng, thực hiện mục tiêu của quá trình nghiệp vụ kho.

    Công đoạn nghiệp vụ bảo quản hàng hoá ở kho phải thực hiện những yêu cầu sau:

    – Phải giữ gìn tốt số lượng và chất lượng hàng hoá bảo quản ở kho, phấn đấu giảm đến mức thấp nhất hao hụt hàng hoá ở kho;

    – Tận dụng diện tích và dung tích kho, nâng cao năng suất các loại thiết bị và lao động kho;

    – Tạo điều kiện để thực hiện tốt nhất quá trình nghiệp vụ kho.

    Quá trình bảo quản hàng hoá ở kho bao gồm 3 mạt công tác cơ bản: Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho; Chăm sóc và giữ gìn hàng hoá bảo quản ở kho; Quản trị định mức hao hụt hàng hoá ở kho.

    b.2-          Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho

    Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho là sự qui hoạch vị trí của hàng hoá bảo quản, là phương pháp để hàng hoá tại những nơi qui định thích hợp với đặc điểm, tính chất hàng hoá, kho, bao bì và thiết bị kho.

    Phân bố và chất xếp hàng hoá hợp lý ở kho sẽ đảm bảo thuận tiện cho việc bảo quản hàng hoá, tiếp nhận và phát hàng, đồng thời tận dụng tốt nhất diện tích và dung tích kho hàng hoá.

    Nguyên tắc của phân bố và chất xếp hàng hoá: Phải theo khu vực và theo loại hàng, tránh ảnh hưởng có hại lẫn nhau giữa các loại hàng hoá và môi trường bảo quản và bố trí lân cận những hàng hoá có liên quan với nhau trong tiêu dùng; đảm bảo trật tự và vệ sinh- dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm kê hàng hoá; đảm bảo mỹ quan cho kho hàng hoá.

    Có nghĩa những hàng hoá giống nhau về điều kiện và kỹ thuật bảo quản thì có thể bảo quản trong cùng một khu vực kho; tuy nhiên, đối với nhiều loại hàng hoá do đặc tính thương phẩm mà ảnh hưởng có hại lẫn nhau tuy rằng có cùng điều kiện bảo quản, thì cần phải để cách ly nhau như chè, thuốc lá,. ..

    Do những hàng hoá có liên quan trong tiêu dùng thường được phát trong cùng một lô hàng, cho nên để thuận tiện cho phát hàng, cần được bố trí gần nhau.

    Yêu cầu chung trong phân bố và chất xếp: Đảm bảo thuận tiện cho việc tiến hành các nghiệp vụ kho; đảm bảo an toàn cho con người, hàng hoá và phương tiện; bảo đảm tiết kiệm sức lao động, giảm chi phí, không ngừng nâng cao năng suất lao động, tận dụng sức chứa của kho, công suất thiết bị

    Những căn cứ để tiến hành phân bố và chất xếp: Tính chất, đặc điểm của hàng hoá, kho và thiết bị; các phương pháp và điều kiện kỹ thuật bảo quản hàng hoá; điều kiện khí hậu khu vực kho; các tiêu chuẩn và định mức kinh tế – kỹ thuật đối với con người, hàng hoá và thiết bị.

    Nội dung của phân bố và chất xếp hàng hoá trong kho:

    1/ Phân loại hàng hoá bảo quản theo các đặc trưng kinh tế và kỹ thuật:

    Những đặc trưng kinh tế đối với hàng hoá bảo quản bao gồm: qui mô lưu chuyển và dự trữ hàng hoá, tốc độ chu chuyển hàng hoá, tính liên quan trong tiêu dùng hàng hoá. Những hàng hoá có tốc độ chu chuyển nhanh, cường độ xuất nhập cao sẽ được phân bố ở những vị trí thuận tiện cho di chuyển và xếp dỡ; những hàng hoá có liên quan trong tiêu dùng được bố trí lân cận nhau,. ..

    Những đặc trưng kỹ thuật đối với hàng hoá: tính chất và đặc điểm thương phẩm của hàng hoá.

    2/ Xác định các phương pháp chất xếp hàng hoá trong kho:

    Phương pháp chất xếp là cách thức để hàng tại những vị trí bảo quản hàng hoá. Mỗi loại hàng hoá khác nhau với những tính chất và bao bì khác nhau có thể áp dụng các phương pháp chất xếp khác nhau. Mỗi loại phương pháp chất xếp có những ưu và nhược điểm nhất định, và có tải trọng chất xếp trên một đơn vị diện tích khác nhau. Có 3 phương pháp chất xếp phổ biến:

    – Phương pháp đổ đống: Thường áp dụng đối với những hàng hoá ở dạng hạt rời và không có bao bì.

    Ưu điểm của phương pháp này là: Sử dụng triệt để diện tích và dung tích nhà kho, đỡ tốn chi phí bao bì trong quá trình bảo quản hàng hoá tại kho.

    Nhược điểm: Cần phải có thiết bị ngăn ô phức tạp, khó khăn cho quá trình di chuyển hàng hoá trong kho, đặc biệt là những kho chưa được cơ giới hoá; khó kiểm tra, phát hiện hàng hoá bị hư hỏng, kém chất lượng.

    – Phương pháp xếp trên giàn, giá, bục, tủ: Thường áp dụng để chất xếp những hàng hoá đã mở bao, hàng lẻ, hàng xuất còn thừa,hoặc hàng cần bảo quản trên giá tủ chuyên dùng.

    Ưu điểm của phương pháp này: Có chiều cao chất xếp lớn, đảm bảo tính chính xác của quá trình công nghệ kho, thuận tiện cho cơ giới hoá kho.

    Nhược điểm: Giá trị của các thiết bị chứa đựng khá cao, hệ số sử dụng diện tích và dung tích không lớn, phải có các thiết bị xếp dỡ phức tạp, nhất là khi chiều cao chất xếp lớn.

    – Phương pháp xếp hàng thành chồng: Thường sử dụng đối với hàng hoá bảo quản nguyên bao, nguyên kiện.

    Ưu điểm: Đảm bảo tính trật tự của các chồng hàng, có thể sử dụng tốt diện tích, dung tích nhà kho khi bao bì đảm bảo; thuận tiện cho công tác xuất nhập, kiểm kê, kiểm tra và bảo quản hàng hoá.

    Nhược điểm: Không thật sử dụng triệt để dung tích nhà kho, kém an toàn cho con người và hàng hoá.

    Phương pháp xếp thành chồng hiện nay được áp dụng phổ biến ở nước ta. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của hàng hoá, mà có các loại hình chất xếp thành chồng: chồng hình vuông, hình chữ nhật và hình chóp. Xếp chồng hình chóp áp dụng cho các loại hàng đóng bao như muối, đường, gạo đỗ,. ..;xếp theo hình chữ nhật và hình vuông áp dụng khi bao bì chắc chắn. Xếp chồng hình chữ nhật có 6 kiểu: 1- Xếp thẳng thành chồng; 2- Xếp cách ván thành chồng; 3- Xếp đứng thành chồng; 4- Xếp chéo thành chồng (kiểu chữ thập); 5- Xếp ngược thành chồng; và 6- Xếp miệng giếng thành chồng.

    Dựa vào các phương pháp chất xếp và đặc điểm của hàng hoá, xác định tiêu chuẩn chất xếp trên một đơn vị diện tích bảo quản.

    3/ Tính toán diện tích bảo quản:

    Trên cơ sở qui mô hàng hoá nhập kho và tiêu chuẩn chứa hàng trên một đơn vị diện tích, có thể xác định được diện tích cần thiết để bảo quản hàng hoá.

    4/ Xác định vị trí phân bố hàng hoá:

    Vị trí phân bố hàng hoá bảo quản thường được xác định tuỳ thuộc vào hệ thống qui hoạch diện tích bảo quản. Trong kho, có 2 hệ thống qui hoạch: qui hoạch động và qui hoạch cố định.

    – Hệ thống qui hoạch động (định vị động): cho phép định vị hàng hoá bảo quản trong kho thay đổi theo thời gian nhập lô hàng mới với mục đích sử dụng hiệu quả dung tích kho.

    – Hệ thống qui hoạch cố định: Mỗi loại hàng hoá được định vị lâu ở khu vực lựa chọn. Lợi thế của hệ thống này là xác định ngay được vị trí bảo quản hàng hoá để đưa hàng vào và lấy hàng ra. Tuy nhiên, hệ thống này sử dụng không hiệu quả diện tích và dung tích bảo quản hàng hoá ở kho.

    5/ Tiến hành chất xếp hàng hoá vào vị trí bảo quản – đánh dấu hoặc ghi ký, mã hiệu hàng hoá lên sơ đồ qui hoạch diện tích bảo quản hàng hoá.

    Tiến hành chất xếp hàng hoá vào vị trí bảo quản theo các phương pháp dự tính. Di chuyển và chất xếp hàng hoá là loại lao động nặng nhọc, cần phải được cơ giới hoá. Đồng thời để xác định nhanh chóng vị trí bảo quản hàng hoá, đáp ứng yêu cầu của nghiệp vụ phát hàng, cần phải đánh dấu vị trí phân bố hàng hoá trên sơ đồ qui hoạch. Trong trường hợp tự động hoá quá trình công nghệ kho, cần phải mã hoá khu vực bảo quản.

    b.3-          Chăm sóc, giữ gìn hàng hoá bảo quản ở kho

    Hàng hoá trong thời gian bảo quản tại kho, dưới ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài có thể bị suy giảm số lượng và chất lượng. Để tạo nên điều kiện thích hợp bảo quản hàng hoá, phát hiện hàng hoá bị giảm sút chất lượng, đề phòng hàng hoá mất mát, phải sử dụng một hệ thống các mặt công tác: Quản lý nhiệt độ, độ ẩm; vệ sinh, sát trùng ở kho; phòng cháy, chữa cháy, phòng gian bảo mật; kiểm tra và giám sát chất lượng hàng hoá.

    • Quản lý nhiệt độ, độ ẩm hàng hoá và kho

    Nhiệt độ và độ ẩm là 2 yếu tố cơ bản của điều kiện bảo quản hàng hoá. Do tính chất thương phẩm mà mỗi loại hàng hoá có những khác nhau trong việc chống lại những tác động của môi trường, và do đó, đòi hỏi phải được bảo quản ở nhiệt độ và độ ẩm nhất định.

    Quản lý nhiệt độ, độ ẩm ở kho là một hệ thống các biện pháp khác nhau nhằm tạo ra cũng như duy trì nhiệt độ và độ ẩm thích hợp với yêu cầu bảo quản hàng hoá.

    Nội dung của quản lý nhiệt độ, độ ẩm ở kho bao gồm 2 công tác cơ bản: Xây dựng chế độ về nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho từng loại hàng hoá khác nhau; và kiểm tra và tạo lập, duy trì nhiệt độ độ ẩm theo yêu cầu.

    Các biện pháp tạo ra và duy trì nhiệt độ, độ ẩm ở kho bao gồm: Thông gió; dùng chất hút ẩm; sấy, và bịt kín.

    a/ Thông gió

    Thông gió là quá trình làm thay đổi không khí trong kho để cải thiện điều kiện bảo quản: điều hoà nhiệt độ, độ ẩm thích hợp với yêu cầu bảo quản hàng hoá, loại trừ các khí có hại trong kho ra ngoài (CO2, NO2, NH3,. ..)

    Có 2 phương pháp thông gió: thông gió tự nhiên và nhân tạo.

    Thông gió tự nhiên là quá trình làm thay đổi không khí trong kho dựa vào các điều kiện tự nhiên. Để thông gió tự nhiên, phải nắm vững thời cơ thông gió và phương pháp mở cửa kho.

    Thời cơ thông gió phải đảm bảo 4 điều kiện sau:

    • Điều kiện 1: Ngoài trời không mưa, không có sương mù, sấm sét, và không có gió mạnh từ cấp 4 trở lên.
    • Điều kiện 2: Nhiệt độ ngoài kho không được thấp hơn 10oC và cao quá 32oC.
    • Điều kiện 3: Độ ẩm tuyệt đối ngaòi kho phải thấp hơn độ ẩm tuyệt đối trong kho.
    • Điều kiện 4: Nhiệt độ thấp nhất của một trong 2 môi trường (trong hoặc ngoài kho) không được thấp hơn quá 10C so với nhiệt độ điểm sương của môi trường có nhiệt độ cao hơn.

    Như vậy, nếu điều kiện thời tiết không đảm bảo 4 điều kiện trên thì không phải là thời cơ thông gió. Bảng 6.1 cho ta ví dụ về thời cơ thông gió.

    Ở nước ta, thời cơ thông gió thường là các tháng nóng và khô ráo, còn các tháng nhiều mưa và độ ẩm cao (tháng 3,4,8,9) ít có thời cơ thông gió. Trong ngày, theo kinh nghiệm thì có thể mở cửa kho thông gió vào lúc 8- 9 h và 17- 18 h hàng ngày, nhất là về mùa hè.

    Để thông gió tốt, phải biết cách mở cửa thông gió và tính toán diện tích cửa thông gió. Diện tích cửa thông gió được tính theo công thức sau:

     
       
    • Bảng xác định thời cơ thông gió

    a/ Trường hợp nhiệt độ không đổi, độ ẩm tương đối khác nhau

    Điều kiện Nhiệt độ (0C) Độ ẩm tương đối (%) Độ ẩm tuyệt đối (g/cm3) Điểm sương (0C)
    Trong kho 30 65 20 22,5
    Ngoài

    kho

    Tốt nhất 22 65 12,83 15
    22 70 16,64 16
    22 75 14,49 17
    Có thể

    được

    22 80 15,54 18,2
    22 85 16,32 19
    Không

    lợi

    22 95 18,33 21
    22 100 19,43 22

    a/ Trường hợp nhiệt độ thay đổi, độ ẩm tương đối khác nhau

    Điều kiện Nhiệt độ (0C) Độ ẩm tương đối (%) Độ ẩm tuyệt đối (g/cm3) Điểm sương (0C)
    Trong kho 30 65 20 22,5
    Ngoài

    kho

    Không lợi 22      
    22      
    22      
    Tốt nhất 22 65 12,83 15
    22 75 14.49 17
    22 80 15,54 18,2
    Tổ

    chức

    thông

    gió

    được

    23 65 13,64 16
    23 75 15,43 18
    23 80 16,46 19,2
    24 65 14,16 16,7
    24 75 18,34 19
    24 80 17,43 20,2
    25 65 14,98 17,6
    25 75 17,29 20
    25 80 18,44 21

    Trình tự thông gió:

    – Mở cửa thông gió theo hướng gió thổi tới để tạo nên luồng gió mạnh vào kho.

    – Mở dần những cửa hai bên để cho luồng không khí mới đó thổi đều vào kho có thể lùa vào các đống hàng.

    – Mở những cửa còn lại để luồng gió mới đưa không khí không thích hợp ra ngoài.

    Tác dụng của thông gió tự nhiên: Điều chỉnh được nhiệt độ và độ ẩm trong kho, tốn ít chi phí, nhanh chóng và đơn giản, cải thiện môi trường công tác của cán bộ và nhân viên kho.

    Tuy nhiên thông gió tự nhiên phụ thuộc vào điều kện thiên nhiên, chỉ áp dụng đối với một số loại kho nhất định. Đối với một số kho hàng và trong điều kiện thời tiết, khí hậu không cho phép thông gió tự nhiên, phải tiến hành thông gió nhân tạo: kết hợp quạt thông gió với máy lạnh, máy điều hoà nhiệt độ. Dùng phương pháp này có ưu điểm là chủ động điểu hoà nhiệt độ độ ẩm, nhưng chi phí cao, thiết kế, thiết bị phức tạp.

    b/ Dùng chất hút ẩm

    Là sử dụng một số chất có khả năng hấp thụ hơi nước trong không khí nhằm giảm độ ẩm trong kho.

    Dùng chất hút ẩm chỉ có khả năng làm giảm độ ẩm chứ không giảm được nhiệt độ và thay đổi thành phàan không khí trong kho.

    Những yêu cầu khi sử dụng chất hút ẩm: Kho phải kín, chất hút ẩm phải có năng suất hút ẩm cao, không làm nhiễm bẩn môi trường, gây mùi lạ đối với hàng hoá, độc với người, giá thành hạ, sử dụng nhiều lần, tốn ít thể tích.

    Những chất hút ẩm thường dùng:

    CaCl2: là chất hút ẩm mạnh nhất, có thể hút ẩm đến 200% trọng lượng của nó, nhưng giá đắt.

    CaO (vôi sống): có khả năng hút ẩm 30%. Khi hút ẩm, vôi sống toả nhiệt và tăng thể tích 2- 3 lần, và sau đó bở ra thành vôi bột có thể bay trong không khí làm ảnh hưởng đến hàng hoá. Tuy nhiên, vôi sống rẻ và dễ tìm.

    Ngoài ra, tuỳ loại kho và hàng hoá, có thể dùng các chất chống ẩm khác, như tro, than, trấu,. ..

    c/ Phương pháp sấy hàng hoá

    Dùng nhiệt độ cao để chống ẩm cho hàng hoá. Sấy làm giảm hàm lượng nước ở hàng hoá đến độ ẩm an toàn.

    Có thể dùng ánh nắng mặt trời để sấy, hoặc trong những trường hợp nhất định, có thể sấy bằng lò, bằng hơi nóng, bằng ánh điện, bằng tia hồng ngoại, và đặc biệt có thể sấy chân không nhiệt độ thấp.

    d/ Phương pháp bịt kín

    Nhằm ngăn cách môi trường bảo quản với môi trường bên ngoài, tạo nên điều kiện bảo quản phù hợp vơí yêu cầu và tính chất của hàng hoá.

    Phương pháp này giữ được độ ẩm không khí an toàn đối với một số hàng dễ hút ẩm như chè, thuốc lá, hàng khô,. ..,giữ được chất lượng đối với một số hàng vị giác và hương phẩm, tránh ảnh hưởng có hại của một số hàng có mùi vị lạ.

    Có nhiều cách bịt kín: trong chum, vại, thùng,. ..Với một số lượng lớn có thể áp dụng một số phương pháp sau:

    – Bịt kín toàn kho: lô hàng lớn và ít nhập xuất.

    – Bịt kín từng ô gian, đống hàng: lượng hàng hoá nhỏ, hàng đống gói lẻ.

    Yêu cầu đối với hàng hoá đưa vào bảo quản bịt kín là phải có thuỷ phần an toàn

    • Vệ sinh, sát trùng ở kho

    Là một hệ thống các biên pháp để tiêu diệt sinh vật, vi sinh vật và loại trừ các tạp chất ảnh hưởng có hại đối với hàng hoá và kho.

    Những căn cứ để làm vệ sinh, sát trung ở kho:

    – Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá và bao bì

    – Căn cứ vào tập tính sinh hoạt của từng loại sinh vật và vi sinh vật.

    – Căn cứ vào vị trí và tình trạng kiến trú nhà kho, điều kiện thiết bị bảo quản và làm vệ sinh sát trùng.

    Nội dung của công tác vệ sinh sát trùng ở kho:

    1/ Đảm bảo những điều kiện vệ sinh, phòng ngừa trùng bọ phát sinh

    – Điều kiện vệ sinh kho tàng: Phải thường xuyên làm tốt công tác vệ sinh trong và ngoài kho. Trong kho không được tạo nên những điều kiện cho sinh vật làm tổ. Trước khi nhập hàng, phải sát trung kho. Phải đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm trong kho thích hợp với hàng hoá.

    – Điều kiện hàng hoá: Hàng hoá phải sạch sẽ, đảm bảo các tiêu chuẩn bảo quản, đặc biệt đảm bảo thuỷ phần an toàn, không bị nhiễm trùng; cách ly hàng hoá nhiễm và không nhiễm trùng, hàng tốt và hàng bị giảm chất lượng.

    – Điều kiện bao bì và thiết bị: Bao bì và thiết bị cũng phải luôn luôn sạch sẽ, không bị nhiễm trùng.

    – Điều kiện con người: Người làm công tác kho cũng phải đảm bảo luôn luôn sạch sẽ.

    2/ Xây dựng và tổ chức thực hiện các chế độ kiểm tra vệ sinh, chế độ vệ sinh sát trùng kho, hàng hoá và thiết bị.

    3/ Sử dụng hiệu quả các phương pháp diệt trùng:

    – Phương pháp lý học, cơ học: Dùng nhiệt độ cao như ánh sáng mặt trời, sấy, dùng ánh sáng hấp dẫn côn trùng để tập trung tiêu diệt, dùng tia cực tím, sóng điện từ,. ..;Dùng bẫy đánh bắt,. ..

    – Phương pháp sinh thái học: Thay đổi môi trường sống của trùng bọ bằng cách thay đổi hàng hoá bảo quản trong kho nhằm hạn chế tốc độ sinh trưởng hoặc tiêu diệt chúng.

    – Phương pháp hoá học: Đây là phương pháp phổ biến tiêu diệt triệt để các loại sinh vật và vi sinh vật trên phạm vi rộng.

    • Phòng cháy, chữa cháy, phòng gian bảo mật

    Cháy là hiện tượng thường dễ xảy ra do sơ suất trong sản xuất, sinh hoạt như: hút thuốc lá không đúng nơi qui định, mang xách những vật có lửa không thận trọng, hệ thống dây điện, thiết bị điện, lò sấy, ống khói không đảm bảo an toàn, so các thiết điện, thiết bị sản xuất, động cơ đốt trong không có vật bảo hiểm, do sấm sét, và thậm chí còn do sản phẩm tự bốc cháy.

    Cháy làm tổn thất nghiêm trọng tài sản của doanh nghiệp và xã hội, do đó phòng chống cháy là công tác cần phải được quan tâm đặc biệt. Ở kho có thể sử dụng các biện pháp phòng chống chaý sau:

    – Biện pháp về tổ chức

    – Biện pháp về sử dụng thiết bị

    – Biện pháp kỹ thuật

    – Biện pháp có tính chế độ

    – Các biện pháp chạy hoả

    – Những biện pháp phòng ngừa, chữa cháy

    – Những biện pháp phòng hoả tĩnh điện

    – Những biện pháp trong thiết kế xây dựng

    Những biện pháp bảo mật phòng gian:

    – Phải xây dựng nội qui phòng gian bảo mật và kiểm tra, đôn đốc nhân viên kho thực hiện tốt chế độ và nội qui đó.

    – Tổ chức lực lượng bảo vệ kho tàng, hàng hoá. Thường xuyên tuần tra, canh gác, xây dựng các phương án bảo vệ kho và hàng hoá.

    – Xây dựng và trang bị các công trình, thiết bị bảo vệ: nhà kho phải có khoá chắc chắn, có điện bảo vệ ban đêm, có hàng rào xung quanh kho,. ..

    – Giáo dục và nêu cao tinh thần cảnh giác phòng chống trộm cắp cho cán bộ và nhân kho.

    • Giám sát và kiểm tra hàng hoá, kho tàng

    Giám sát và kiểm tra là 2 mặt công tác có mối quan hệ mật thiết với nhau. Giám sát là là hoạt động có tính chất thường xuyên nhằm theo dõi quá trình nghiệp vụ kho, tình trạng kho, hàng hoá, thiết bị, phát hiện kịp thời những hiện tượng bất thường để có biện pháp xử lý. Kiểm tra là tập hợp những thao tác cụ thể nhằm xác định cụ thể tình trạng kho, hàng hoá, thiết bị, tình hình thực hiện các chế độ, nội qui, qui trình, qui phạm kỹ thuật,. ..tại một thời điểm nhất định để có biện pháp xử lý kịp thời.

    Phải qui định chế độ kiểm tra thường kỳ, lúc cần thiết có thể kiểm tra đột xuất; nếu theo dõi thấy hiện tượng khác thường cũng phải tổ chức kiểm tra ngay để phát hiện ra nguyên nhân, từ đó có biện pháp xử lý.

    b.4-          Quản trị định mức hao hụt hàng hoá

    Quản trị định mức hao hụt hàng hoá là việc sử dụng những biện pháp tổ chức và kỹ thuật nhằm giảm đến mức thấp nhất hao hụt tự nhiên và loại trừ hao hụt do chủ quan gây ra.

    Như vậy, nội dung của quản trị định mức hao hụt bao gồm:

    – Xây dựng định mức

    – Xét duyệt, ban hành và tổ chức thực hiện định mức

    – Kiểm tra giám sát việc thực hiện định mức, điều chỉnh định mức.

    • Xây dựng định mức hao hụt hàng hoá

    Định mức hao hụt hàng hoá là việc xác định lượng tiêu hao vật chất cần thiết và hợp lý, phù hợp với những điều kiện kinh tế, kỹ thuật và xã hội trong bảo quản hàng hoá tại kho.

    Hao hụt ở kho là do những nguyên nhân sau:

    – Do ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên của chính bản thân hàng hoá

    Tức là do tính chất thương phẩm của hàng hoá trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố môi trường bên ngoài: Do các quá trình sinh hoá, sinh lý của hàng hoá; Do tính chất hoá lý sinh của hàng hoá,. ..Với môi trường bên ngoài khác nhau, cường độ của các quá trình này cũng khác nhau. Nhiệm vụ công tác kho là tạo ra điều kiện môi trường nhằm hạn chế đến mức tối đa các quá trình tự nhiên này. Loại hao hụt do nguyên nhân này còn gọi là hao hụt tự nhiên.

    – Hao hụt tất yếu do thực hiện các thao tác nghiệp vụ kỹ thuật kho

    Trong quá trình thực hiện các thao tác nghiệp vụ kho như di chuyển, xếp dỡ, biến đổi hàng hoá,. ..có thể xẩy ra hao hụt không thể tránh khỏi. Tuy nhiên có thể hạn chế những hao hụt này bằng cách cải tiến phương pháp nghiệp vụ, hoàn thiện các thiết bị kỹ thuật kho. Loại hao hụt này được gọi là hao hụt tất yếu nghiệp vụ.

    Hao hụt tự nhiên và tất yếu thuộc hao hụt định mức, và chỉ định mức cho 2 loại hao hụt này.

    – Hao hụt do lỗi của nhân viên kho không thực hiện đúng các chế độ, qui trình, qui phạm bảo quản hàng hoá ở kho mà để xẩy ra hao hụt. Đây là hao hụt do chủ quan gây nên, và cán bộ kho phải chịu trách nhiệm vật chất.

    – Hao hụt do tai hoạ thiên nhiên không khắc phục được.

    Những hao hụt do 2 nguyên nhân sau không có tính khách quan, hoặc không lường trước được, nên không phải thuộc phạm vi định mức, mà là hao hụt vượt định mức.

    Những căn cứ để xây dựng định mức hao hụt:

    – Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá: Mỗi loại hàng hoá có những đặc điểm và tính chất tự nhiên khác nhau, trong những điều kiện và kỹ thuật bảo quản nhất định, sẽ có hao hụt khác nhau. Vì thế, khi xây dựng định mức hao hụt phải phân biệt theo loại hàng.

    – Căn cứ vào điều kiện và kỹ thuật bảo quản, vận chuyển hàng hoá.

    – Căn cứ vào trình độ kỹ thuật của cán bộ và nhân viên kho.

    Các phương pháp tính định mức hao hụt:

    Có 2 phương pháp tính định mức hao hụt: phương pháp thống kê – kinh nghiệm, và phương pháp tính toán kinh tế – kỹ thuật.

    – Phương pháp thống kê – kinh nghiệm: là phương pháp tính định mức dựa trên tập hợp thống kê tỷ lệ hao hụt hàng hoá trong những thời gian đã qua, kết hợp với kinh nghiệm của người làm công tác định mức.

    Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, nhanh chóng, tốn ít chi phí và trong những điều kiện công tác kho thường xuyên biến động, phương pháp này tương đối hợp lý. Nhược điểm của phương pháp này là: không loại trừ được những nguyên nhân chủ quan gây nên hao hụt.

    – Phương pháp tính toán kinh tế – kỹ thuật: là phương pháp tính định mức dựa trên cơ sở thiết lập các điều kiện kinh tế – kỹ thuật hợp lý trong bảo quản hàng hoá, loại trừ các nguyên nhân chủ quan gây nên hao hụt.

    Phương pháp này có ưu điểm là đảm bảo độ chính xác cao, loại trừ được các nguyên nhân chủ quan, đồng thời khuyến khích người làm công tác bảo quản tìm mọi cách để giảm hao hụt. Nhược điểm chủ yếu của phương pháp này là thời gian khảo sát lâu, chi phí tốn kém, và trong trường hợp điều kiện bảo quản không ổn định, con số định mức có độ tin cậy không cao.

    Định mức hao hụt phải là con số trung bình tiên tiến mới có tác dụng quản trị hao hụt.

    • Xét duyệt, ban hành và tổ chức thực hiện định mức

    Sau khi xây dựng định mức, các cấp có thẩm quyền phải tiến hành xét duyệt và ban hành định mức kịp thời, nếu không định mức có thể sau một thời gian sẽ trở nên lạc hậu.

    Tổ chức thực hiện định mức bao gồm những nội dung sau:

    – Phải tổ chức nghiên cứu và hướng dẫn việc thực hiện định mức một cách tỉ mỉ và cẩn thận cho mọi người.

    – Phải tạo mọi điều kiện bảo quản hàng hoá hợp lý, động viên mọi người bảo quản hàng hoá theo đúng các qui trình, qui phạm đã ban hành, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để giảm hao hụt hàng hoá đến mức thấp nhất.

    – Phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong việc thực hiện định mức. Để đánh giá việc thực hiện định mức, phải so sánh giữa mức hao hụt thực tế và mức hao hụt được phép tính theo định mức:

           
       
       
    Ht– Hao hụt thực tế trong một thời kỳ nhất định

    Dc– Tồn kho cuối kỳ theo sổ sách

    Dk– Tồn kho cuối kỳ thực tế

     

    Ht = Dc – Dk ;

           
       
    Hđ– Hao hụt tính theo định mức

    M- Mức lưu chuyển hàng hoá trong kỳ báo cáo

    Dc– Tồn kho cuối kỳ theo sổ sách

    k- Tỷ lệ hao hụt định mức có tính đến thời gian bảo quản trung bình

       
     

    Hđ = (M + Dc).k

           
       
    ki– Tỷ kệ hao hụt định mức trong thời gian bảo quản i

    kn– tỷ lệ hao hụt định mức thời gian bảo quản cuối

    tn– Thời lượng bảo quản hàng hoá nằm trong thời gian bảo

    quản cuối

    Tn– Thời gian bảo quản cuối có tỷ lệ hao hụt kn

       
     

    Nếu Ht £ Hđ thì thực hiện tốt định mức và được khen thưởng;

    Nếu Ht > Hđ thì không thực hiện định mức và phải xác định nguyên nhân và xử lý kịp thời, xác định trách nhiệm vật chất về hàng hoá hao hụt vượt định mức.

    • Kiểm tra, theodõi việc thựchiện định mức, điều chỉnh định mức

    Để tăng cường tính khoa học, tính thực tiễn và tính hành chính của định mức ban hành, các cấp xây dựng xét duyệt, ban hành định mức và tổ chức thực hiện định mức phải kiểm tra, theo dõi việc thực hiện định mức.

    Nội dung của công tác này bao gồm:

    – Kiểm tra việc chấp hành các qui định về điều kiện và kỹ thuật bảo quản hàng hoá, qui trình, qui phạm công tác kho.

    -Kiểm tra việc thực hiện các chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong công tác tổ chức thực hiện định mức.

    – Trong quá trình kiểm tra, theo dõi, có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý của định mức trong thực tế và cần phải điều chỉnh. Định mức quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng xấu đến kết quả công tác kho.

    c-   Nghiệp vụ phát hàng ở kho

    c.1-           Vị trí và yêu cầu

    Phát hàng là công đoạn nghiệp vụ cuối cùng thể hiện chất lượng của toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho hàng hoá. Những mục tiêu cơ bản của nghiệp vụ kho đều được thực hiện ở công đoạn nghiệp vụ này. Nghiệp vụ phát hàng cấu thành nên quá trình nghiệp vụ vận chuyển, và đặc biệt là bộ phận cấu thành của quá trình logistics trực tiếp (logistics bán hàng ) trong doanh nghiệp thương mại bán buôn. Chính vì vậy, nghiệp vụ phát hàng phải thực hiện được những yêu cầu sau:

    – Xác định rõ trách nhiệm vật chất cụ thể giữa các bộ phận công tác kế hoạch, chuẩn bị và giao hàng;

    – Phải đảm bảo phát hàng kịp thời, nhanh chóng và chính xác cho khách hàng theo hợp đồng và lệnh xuất kho.

    – Phải đảm bảo giảm những chi phí cho toàn bộ quá trình phát hàng.

    Công đoạn nghiệp vụ phát hàng bao gồm 3 công tác chủ yếu: xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng; chuẩn bị phát hàng; và tiến hành giao hàng.

    c.2-           Nội dung nghiệp vụ phát hàng
    • Xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng

    Xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng là quá trình dự tính các chỉ tiêu và các giải pháp nghiệp vụ kỹ thuật nhằm thực hiện tốt việc phát hàng đồng thời sử dụng tốt nhất lực lượng lao động và thiết bị kỹ thuật kho.

    Như vậy kế hoạch nghiệp vụ phát hàng dự tính nội dung, thời hạn hạn chuẩn bị và tổng hợp các lô hàng theo đơn đặt hàng, thời gian cung cấp phương tiện vận tải và tiến hành vận chuyển hàng hoá; trong kế hoạch nghiệp vụ cũng dự tính lực lượng lao động cần thiết để thực hiện các thao tác nghiệp vụ. Kế hoạch nghiệp vụ đảm bảo phát hàng cho khách hàng một cách nhanh chóng, cân đối, chính xác, đồng thời sử dụng triệt để lao động kho và thiết bị.

    Yêu cầu đối với kế hoạch nghiệp vụ là: một mặt phải đảm bảo cung cấp hàng hoá cho khách hàng một cách cân đối, mặt khác, phải theo đúng hợp đồng, lệnh xuất kho.

    Căn cứ để lập kế hoạch nghiệp vụ phát hàng là: hợp đồng, đơn đặt hàng mua bán và vận chuyển hàng hoá, tình hình bán buôn hàng hoá từ kho.

    Nội dung của kế hoạch nghiệp vụ bao gồm:

    – Các chỉ tiêu nghiệp vụ: Số lượng, cơ cấu các lô hàng giao, thời hạn giao hàng cho các đối tượng khách hàng khác nhau; đặc trưng các lô hàng giao.

    – Các giải pháp nghiệp vụ: thời hạn và nội dung chuẩn bị và tổng hợp các lô hàng; phương án vận chuyển và bố trí lực lượng lao động thiết bị xếp dỡ và giao hàng

    • Chuẩn bị phát hàng

    Bao gồm chuẩn bị hàng hoá, chuẩn bị lao động và phương tiện, đặc biệt là chuẩn bị hàng hoá.

    Chuẩn bị hàng hoá là quá trình biến đổi hình thức hàng hoá và tổng hợp lô hàng theo địa chỉ khách hàng. Việc biến đổi hàng hoá là cần thiết, vì hàng hoá nhập kho là theo yêu cầu của kho và doanh nghiệp thương mại đã được ghi trong hợp đồng mua bán, còn hàng hoá giao từ kho là theo yêu cầu của khách hàng.

    Quá trình chuẩn bị hàng để phát bao gồm:

     
       

    Có 2 phương pháp tổng hợp các lô hàng: phương pháp phân tán và tập trung.

    – Phương pháp phân tán: Thực hiện toàn bộ quá trình chuẩn bị hàng phân tán theo từng đơn hàng. Phương pháp này thường áp dụng ở những kho hàng có qui mô nhỏ, lô hàng nhỏ, và tần số xuất nhập hàng hoá không cao.

    – Phương pháp tập trung: thực hiện toàn bộ quá trình chuẩn bị hàng một cách tập trung, chuyên môn hoá theo từng giai đoạn của quá trình, cho nhiều đơn đặt hàng cùng một lúc. Phương pháp này thường áp dụng trong những kho qui mô lớn, cường độ xuất nhập lớn, phải chuẩn bị hàng hoá để phát một cách tập trung để tăng năng suất, giảm chi phí.

    • Giao hàng

    Bao gồm các thao tác nghiệp vụ để chuyển giao hàng hoá cho các đối tượng nhận hàng. Có 2 hình thức giao hàng: giao hàng từ kho của doanh nghiệp thương mại, và giao hàng ở cơ sở logistics của khách hàng.

    Trường hợp giao hàng ở kho của doanh nghiệp gồm những thao tác sau: Kiểm tra chứng từ, hoá đơn thanh toán và lệnh xuất kho; kiểm tra người nhận hàng; kiểm tra hàng hoá và phương tiện vận tải; chất xếp hàng hoá lên phương tiện vận tải; làm chứng từ giao hàng; làm giấy phép vận chuyển.

    Để kiểm tra, theo dõi tình hình giao hàng và bán buôn hàng hoá từ kho, cũng như biến động của dự trữ, phải mở sổ theo dõi hàng xuất, đồng thời khi xuất các lô hàng, phải ghi chép cẩn thận vào thẻ kho để kiểm tra biến động của dự trữ hàng hoá nhằm bổ sung kịp thời.

    6.2-  Quản trị nghiệp vụ bao bì hàng hoá

    6.2.1-    Chức năng và yêu cầu đối với bao bì hàng hoá

    a-   Khái niệm và chức năng của bao bì

    Bao bì là phương tiện đi theo hàng để bảo quản, bảo vệ, vận chuyển và giới thiệu hàng hoá từ khi sản xuất đến khi tiêu thụ hàng hoá.

    Như vậy, bao bì hàng hoá cần thiết là do những yếu tố khách quan sau:

    – Do tính chất của hàng hoá.

    Hàng hoá trong quá trình vận động trong hệ thống phân phối, do những tính chất tự nhiên, dươí ảnh hưởng của môi trường bên ngoài có thể làm suy giảm chất lượng và hao hụt số lượng. Để thường xuyên ngăn cản những tác động này, cần phải có phương tiện thường xuyên gắn liền với hàng hoá, đó là bao bì.

    – Do phải đảm bảo thuận tiện cho quá trình vận động của hàng hoá.

    Bao bì có vai trò là những đơn vị hàng hoá lớn đảm bảo thuận tiện cho viẹc giao nhận về mặt số lượng, thuận tiện cho xếp dỡ hàng hoá trong vận chuyển và trong dự trữ, bảo quản hàng hoá.

    – Do yêu cầu đảm bảo thuận tiện cho bán hàng.

    Bán hàng cũng có nghĩa chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa các bên, đòi hỏi phải xác định nhanh số lượng, do đó, bao bì có vai trò là đơn vị lớn định lượng hàng hoá. Ngoài ra trong bán lẻ, bao bì chứa đựng lượng hàng hoá phù hợp với yêu cầu mua và tiêu dùng hàng hoá của khách hàng; đồng thời, bao bì còn giúp áp dụng các phương pháp bán hàng, như phương pháp bán hàng tự phục vụ.

    Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng, bao bì hàng hoá có những chức năng sau:

    – Chức năng hậu cần: Bao bì gắn liền với toàn bộ quá trình hậu cần trong hệ thống kênh phân phối và trong hệ thống hậu cần doanh nghiệp. Bao bì hỗ trợ cho quá trình mua, bán, vận chuyển và dự trữ, bảo quản hàng hoá.

    – Chức năng marketing: Bao bì thúc đẩy quá trình bán hàng, đảm bảo truyền tin marketing cho khách hàng về hàng hoá và về doanh nghiệp.

    b-   Yêu cầu đối với bao bì hàng hoá

    Để thực hiện những chức năng của mình, bao bì hàng hoá phải đảm bảo những yêu cầu sau:

    • Phải đảm bảo giữ gìn hàng hoá

    Đây là yêu cầu cơ bản đối với bao bì, đặc biệt đối với bao bì ngoài (bao bì công nghiệp). Chính vì vậy, bao bì phải phù hợp với đặc điểm và tính chất của hàng hoá, của những điều kiện trong quá trình vận động hàng hoá (vận chuyển và dự trữ, bảo quản).

    • Phải đúng qui cách và hạ giá cước vận chuyển

    Bao bì phải đúng với những qui định của các văn bản pháp lý: tiêu chuẩn, hợp đồng. Khối lượng bao bì phải nhỏ, kích thước phải phù hợp với kích thước phương tiện vận tải, và phải đảm bảo thuận tiện cho việc xếp dỡ hàng hoá.

    • thuận tiện cho mua bán, đẹp, và đảm bảo truyền tin marketing

    Bao bì, đặc biệt là bao bì trong (bao bì tiêu dùng) phải thực hiện đầy đủ chức năng marketing. Do đó, khi thiết kế và chọn bao bì, cần phải nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng về bao bì, bao gói: nhu cầu cung cấp thông tin, nhu cầu sử dụng hàng hoá và bao bì, nhu cầu thẩm mỹ.

    • Giá thành sản xuất bao bì phải giảm

    Giá thành sản xuất giảm, tạo điều kiện để giảm giá hàng hoá bán ra. Muốn vậy, cần cải tiến công nghệ sản xuất và sử dụng bao bì: vật liệu chế tạo, phương pháp công nghệ, thiết bị sản xuất, vv .

    6.2.2-    Những căn cứ thiết kế và lựa chọn bao bì

    Khi thiết kế để sản xuất và lựa chọn bao bì để đưa vào sử dụng trong hệ thống kênh hậu cần, phải căn cứ vào những yếu tố sau:

    a-   Căn cứ vào đặc điểm và tính chất của hàng hoá

    Căn cứ vào yếu tố này để thiết kế hoặc lựa chọn bao bì với vật liệu, hình dáng, kích thước thích hợp, đáp ứng những yêu cầu đối với bao bì.

    b-   Căn cứ vào những điều kiện của vận chuyển hàng hoá

    Những điều kiện của vận chuyển hàng hoá bao gồm: Khoảng cách, con đường, phương tiện vận chuyển, điều kiện thiết bị xếp dỡ hàng hoá. Những điều kiện này nhằm thiết kế và chọn bao bì về vật liệu, kích thước, trọng tải,… nhằm đảm bảo an toàn cho hàng hoá trong vận chuyển, mặt khác tiết kiệm chi phí và hao hụt.

    c-   Căn cứ vào những điều kiện của dự trữ và bảo quản hàng hoá

    Những điều kiện đó là: tình trạng kiến trúc xây dựng kho, thiết bị và phương pháp công nghệ kho.

    d-   Căn cứ vào phương pháp bán hàng

    Các phương pháp bán hàng khác nhau đòi hỏi bao bì, bao gói thích hợp (bao bì trong), thuận tiện cho quá trình bán hàng và mua hàng của khách hàng. Bao bì dùng trong phương pháp bán hàng tự phục vụ cần phải thiết kế thích hợp với quá trình mua hàng của khách hàng.

    e-   Căn cứ vào nhu cầu sử dụng bao bì của khách hàng

    Những yêu cầu về truyền tin marketing của khách hàng, thói quen và tập quán tiêu dùng bao bì.

    f-     Căn cứ vào những điều kiện có tính pháp lý

    Các văn bản tiêu chuẩn hóa về bao bì, hợp đồng mua bán hàng hoá.

    g-   Căn cứ vào khả năng tài chính của doanh nghiệp

    Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định việc sử dụng bao bì với vật liệu chế tạo đắt hay rẻ.

    6.2.3-    Phân loại và tiêu chuẩn hoá bao bì

    a-   Phân loại bao bì

    Bao gồm các tiêu thức phân loại sau:

    • Theo tác dụng của bao bì

    Thực ra là theo chức năng của bao bì, bao gồm 2 loại: Bao bì ngoài (bao bì công nghiệp, bao bì vận tải, bao bì bán buôn). Chức năng của loại bao bì này hậu cần, bao gồm mâm tải, thùng tải và các loại bao kiện; và bao bì trong (bao bì tiêu dùng, bao bì bán lẻ) với chức năng chủ yếu là marketing, bao gồm các loại bao gói trực tiếp với hàng hoá.

    • Theo số lần sử dụng

    Bao gồm các loại:

    – Bao bì dùng một lần: chỉ sử dụng cho một lần để bao gói hàng hoá, chủ yếu là bao bì tiêu dùng.

    – Bao bì dùng lại: có thể sử dụng lại. Tùy thuộc vào điều kiện của quá trình phân phối mà số lần sử dụng từ 2 trở lên, bao gồm chủ yếu là các loại bao kiện và một số bao bì trong (chai lọ,…)

    – Bao bì dùng nhiều lần: số lần và thời gian sử dụng đã định trước; là tài sản của bên giao hàng, thường là các loại mâm tải (pallet) và thùng tải (container).

    • Theo độ cứng

    Bao gồm bao bì cứng, mềm, và nửa mềm.

    • Bao bì cứng: chịu được các tác động cơ học cao trong quá trình vận động, bao gồm các loại thùng kiện hàng (bao bì vận tải).
    • Bao bì nửa cứng: chịu được tác động hạn chế của lực bên ngoài trong quá trình vận động, thường là các loại bao bì bằng bìa, các tông.
    • Bao bì mềm: dễ biến đổi hình dạng khi sử dụng như các loại bao tải, túi chất dẻo,…
    • Theo kết cấu

    Bao gồm bao bì nguyên dạng, bao bì tháo lắp, bao bì gấp xếp, và bao bì thiết bị. Bao bì tháo lắp và gấp xếp có tác dụng trong việc vận chuyển không có hàng, tận dụng công suất của phương tiện vận tải.

    • Theo nguyên liệu chế tạo

    Bao gồm bao bì: gỗ, kim loại, gốm và thủy tinh, các tông và giấy, nhựa và chất dẻo, cao su, bao bì bằng vải,… Mỗi loại có yêu cầu riêng về tiêu chuẩn vật liệu.

    b-   Tiêu chuẩn hóa bao bì

    Tiêu chuẩn hóa bao bì là quá trình xây dựng và thống nhất áp dụng các tiêu chuẩn về bao bì trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hoá.

    Tiêu chuẩn hóa bao bì cũng như các lĩnh vực tiêu chuẩn hóa khác, có ý nghĩa rất to lớn trong nền kinh tế quốc dân. Tiêu chuẩn hóa đảm bảo sản xuất và sử dụng bao bì tiết kiệm và hiệu quả.

    Các cấp tiêu chuẩn bao bì: tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn Nhà nước, và tiêu chuẩn quốc tế. Cấp tiêu chuẩn càng thấp thì càng có nhiều tiêu chuẩn, và tiêu chuẩn càng chi tiết. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn cấp thấp hơn phải đảm bảo thống nhất với cấp tiêu chuẩn cấp cao hơn.

    Các loại tiêu chuẩn bao bì gồm: vật liệu chế tạo, độ bền, kích thước, hình dạng, kết cấu, cách ghi nhãn hiệu hàng hoá và các dấu hiệu, màu sắc,…

    Trong các loại tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn kích thước được đặc biệt chú ý vì nó liên quan đến việc sử dụng phương tiện vận tải, xếp dỡ hàng hoá, phương pháp bảo quản hàng hoá trong các kho,…. Tiêu chuẩn hóa về kích thước bao bì phù hợp với kích thước của phương tiện vận tải được gọi là thống nhất hóa kích thước bao bì.

    Thống nhất hóa kích thước bao bì là quá trình xây dựng và thống nhất áp dụng tiêu chuẩn hệ thống kích thước bao bì phù hợp với nhau và phù hợp với kích thước của phương tiện vận tải và các phương tiện bảo quản và xếp dỡ hàng hoá dựa trên Môdun (Module) đơn vị.

    Module đơn vị là kích thước của thùng tải (Container) tiêu chuẩn và mâm tải (Pallet) tiêu chuẩn (1200 m.m ´ 800 m.m). Kích thước Module này là tiêu chuẩn để xác định kích thước của các loại bao bì bên trong, thùng chứa hàng của phương tiện vận tải, cơ cấu phương tiện xếp dỡ, diện tích nhà kho, …

    Bao bì trong thống nhất kích thước về chiều dài và chiều rộng, chiều sâu được xác định theo công thức sau:

    A: Kích thước bên trong bao bì thống nhất

    M: Kích thước Module đơn vị [thùng tải hoặc mâm tải đơn vị (800 ´ 1200)]

    N: Số nguyên (ước số của chiều dài, chiều rộng, hoặc chiều sâu)

    K: Hệ số, tính khe hở giữa các bao kiện chứa trong Module đơn vị, thường là 0,95.

    c-   Mâm tải hóa và hòm tải hóa trong tổ chức vận động hàng hóa

    Để cơ giới hóa toàn bộ quá trình vận động hàng hóa, bao gồm vận chuyển, xếp dỡ, bảo quản hàng hóa trong các cơ sở hậu cần, ngoài việc phải có các phương tiện cơ giới hóa, như phương tiện vận tải, nhà kho, phương tiện xếp dỡ, còn cần phải có các phương tiện bao bì, bao gói cơ giới hóa. Những phương tiện bao bì, bao gói thuận tiện cho cơ giới hóa thống nhất toàn bộ quá trình vận động hàng hóa là hệ thống thùng tải và mâm tải.

    Như vậy, mâm tải và thùng tải có ý nghĩa to lớn trong hệ thống hậu cần. Nhờ áp dụng mâm tải và thùng tải mà đảm bảo thống nhất áp dụng cơ giới hóa trong kênh hậu cần, nâng cao trình độ dịch vụ và giảm chi phí trong phân phối và vận động hàng hóa và kinh doanh thương mại.

    Tất nhiên, để áp dụng có hiệu quả mâm tải và thùng tải, các yếu tố của quá trình vận động phải được cơ giới hóa đồng bộ: phương tiện vận tải, phương tiện xếp dỡ, thiết bị và các công trình cơ sở hậu cần.

    c.1-           Mâm tải hóa

    Mâm tải hóa là quá trình sử dụng bao bì bao gói kiêm thiết bị vận chuyển được thống nhất kích cỡ theo các tiêu chuẩn qui định trong phân phối và vận động hàng hóa.

    Mâm tải có cấu tạo thường bằng các thanh gỗ độ bền cao ghép định hình với nhau thành các bản gỗ theo kết cấu qui định. Kích thước của mâm tải thường là 1200 ´ 1600 (m.m), 1200 ´ 800 (m.m). Kích thước này tùy thuộc vào các loại phương tiện vận tải:

    • Vận tải đường biển: Mâm tải có kích thước 1600 ´ 1200 ´ 180 (m.m); trọng lượng cả bì là 1,5 T, tạong lượng của riêng mâm tải là 70 – 80 kg.
    • Vận tải đường sắt: Kích thước mâm tải là 1200 ´ 800 ´ 150 (m.m). trọng lượng của riêng mâm tải 23-25 kg được coi là hợp lý nhất.

    Theo tiêu chuẩn ISO thì kích thước mâm tải quốc tế 1200 ´ 1600, 1200 ´ 1800; tải trọng tối đa là 2T.

    Hàng hóa được ghép thành kiện chặt chẽ trên mâm tải, sau đó được cần cẩu xếp vào các khoang tàu hoặc toa xe lửa để vận chuyển. Do đặc điểm chỉ có một mặt để xếp hàng hóa nên việc ghép kiện hàng trên mâm tải và gia cố để kiện hàng ổn định, chắc chắn là đặc biệt quan trọng.

    Khi xếp hàng lên mâm tải, cần sử dụng hết trọng tải của mâm tải, giảm đến mức thấp nhất khoảng trống giữa các bao hàng. Cự ly nhô ra của kiện hàng hóa ngoài mâm tải không quá 150 m.m. chiều cao tối đa của kiện hàng đã ghép là 1,6 m.

    Phương pháp ghép kiện trên mâm tải khác nhau tùy thuộc vào kích thước và hình dạng của bao hàng, tính chất hàng hóa, và loại phương tiện vận tải cungf các nghiệp vụ xếp dỡ.

    Khi ghép mâm tải, vấn đề đặt ra là phải tính toán số bao hàng và lớp hàng tối ưu, có nghĩa có hệ số sử dụng trọng tải tối đa nhưng kích thước không vượt quá dung sai qui định (50 m.m). Ta có:

    ;                   Suy ra:

    Qn = N.qm + qn             hay:

    ;                     ;

    đây:

    Np: Số bao xếp trên một lớp của mâm tải

    L: Số lớp bao xếp trên mâm tải

    N: Tổng số bao xếp trên mâm tải

    qm: Khối lượng cả bao của một bao hàng (kg)

    qn: Khối lượng bản thân mâm tải (kg)

    Qn: Khối lượng của kiện hàng trên mâm tải (kg)

    Qn £ Qmax (Qmax: Tải trọng tối đa của mâm tải)

    Np là số bao xếp trên một lớp mâm tải. Ở đây kết hơp với phương pháp xếp, ta có thể xác định được diện tích bề mặt của một lớp. Nếu diện tích chất xếp vượt quá diện tích cho phép, ta phải điều chỉnh phương pháp xếp hoặc giảm Qn để đạt được mục đích.

    Trong những năm gần đây, trong ngành vận tải biển đã xuất hiện loại mâm tải lớn có kích thước 6,1 ´ 2,44 (m) và 12,2 ´ 2,4 (m).

    Các mâm tải sau khi dỡ hàng được chuyển trả về cới cung ứng theo hành trình ngược.

    c.2-           Thùng tải hóa

    Cùng với quá trình mâm tải hóa là quá trình thùng tải hóa (Conteiner). Thùng tải là loại bao gói quay vòng nhiều lần, thuộc loại bao bì vận chuyển có kích thước lớn nhất hiện nay.

    Đây là loại bao bì kiêm thiết bị vận chuyển có những đặc trưng xác định, bền chắc, sử dụng nhiều lần, có kết cấu chuyên dụng bảo đảm vận chuyển bằng hoặc nhiều loại phương tiện vận tải mà không phải đóng gói lại, chuyển tải nhanh từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác có dung tích từ 1m3 trở lên.

    Vận chuyển bằng thùng tải đem lại hiệu quả cao:

    – Hàng vận chuyển trong thùng tải có thể giảm chi phí lao động từ 8-10 lần. Thời gian xếp dỡ khi sử dụng thùng tải giảm từ 5-7 lần, trên mâm tải gảim từ 3-4 lần so với xếp dỡ từng bao kiện riêng lẻ;

    – Vận chuyển trong thùng tải cho phép bảo quản tốt chất lượng, số lượng hàng hóa. Hàng hóa vận chuyển trong thùng tải hoặc một số hàng vận chuyển trên mâm tải có thể bảo quản ngoài kho. Giao nhận bằng thùng tải hoặc mâm tải theo đơn vị thùng tải và mâm tải, do đó gảim thời gian giao nhận. Cùng khối lượng hàng hóa như nhau, nhưng nếu sử dụng thùng tải sẽ tiết kiệm vật liệu sản xuất hơn rất nhiều nếu chỉ chứa đựng trong bao bì thông thường.

    Thùng tải có nhiều loại: loại cố định, loại không cố định, loại cứng, loại mềm, loại bằng gỗ khung kim loại, loại bằng kim loại, chất dẻo,…Có thể phân loại thùng tải  chuyên dùng và thùng tải dùng chung. Loại dùng chung được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Theo tiêu chuẩn ISO, thùng tải có kích thước như sau:

    R: 2,44m ´ C: 2,59m ´ D: 3,05m

    R: 6,10m ´ C: 9,15m ´ D: 12,2m

    Dung tích thùng tải khoảng 9 – 60 m3, trọng tải 5 – 30T, hệ số bao bì khoảng 0,25 – 0,35.

    Hệ số chất xếp hàng hóa vào thùng tải ít nhất là 80% mới được coi là xếp đầy hàng. Kết cấu thùng tải có thêm những phụ kiện cần thiết để tiện cho xếp dỡ hàng hóa.

    Vận chuyển trong thùng tải tuy có nhiều ưu điểm, nhưng cũng có những hạn chế nhất định do vốn đầu tư lớn, tải trọng của thùng tải lớn làm tăng hệ số bao bì, và trong nhiều trường hợp, phải tốn kém nhiều chi phí vận chuyển thùng tải hoàn trả.

    Thùng tải được áp dụng nhiều nhất trong vận chuyển quốc tế.

    6.2.4-    Quá trình trình luân chuyển bao bì

    a-   Tiếp nhận bao bì

    Là hệ thống các mặt công tác nhằm kiểm tra và đánh giá tình trạng số lượng và chất lượng bao bì thực nhập cùng với hàng hoá.

    Yêu cầu của tiếp nhận bao bì: xác định trách nhiệm vật chất của các bên trong việc chuyển giao bao bì căn cứ vào các văn bản pháp lý.

    Trong trường hợp sử dụng bao bì để đóng gói hàng hoá, thì việc tiếp nhận bao bì được tiến hành riêng như tiếp nhận một loại hàng hoá, còn trong trường hợp bao bì gắn liền với hàng hoá thì việc tiếp nhận bao bì nằm trong nội dung tiếp nhận hàng hoá ở kho hay cửa hàng.

    Tiếp nhận bao bì cũng bao gồm: tiếp nhận số lượng và tiếp nhận chất lượng. Căn cứ để tiếp nhận là các văn bản pháp qui về bao bì (tiêu chuẩn hóa về bao bì, qui định về tiếp nhận hàng hoá, bao bì,…), vào các cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng.

    Trong trường hợp bao bì không đảm bảo số lượng và chất lượng, phải lập biên bản nhằm qui trách nhiệm vật chất rõ ràng.

    b-   Mở và bảo quản bao bì

    Bao gồm các mặt công tác để tháo dỡ hàng hoá ra khỏi bao bì và giữ gìn số lượng và chất lượng bao bì trong quá trình mở và bảo quản bao bì.

    Yêu cầu: đảm bảo giữ gìn tốt bao bì trong quá trình tháo dỡ hàng hoá và bảo quản, tận dụng diện tích và thể tích khu vực bảo quản.

    Nguyên tắc của mở bao bì: theo đúng qui trình, đúng kỹ thuật và dụng cụ. Do đó đối với mỗi loại bao bì cần xây dựng qui trình, qui phạm mở bao bì thích hợp.

    Nội dung của bảo quản bao bì:

    • Vệ sinh và phân loại bao bì theo quyền sở hữu và mức độ chất lượng để thuận tiện cho việc xử lý bao bì và bảo quản bao bì;
    • Phân bố và chất xếp bao bì đảm bảo tận dụng diện tích và dung tích nơi bảo quản, thuận tiện cho việc chăm sóc, giữ gìn bao bì;
    • Đảm bảo các điều kiện giữ gìn tốt bao bì: tránh mưa nắng, chống các hiện tượng sử dụng bao bì không đúng mục đích.

    c-   Hoàn trả và tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng

    Bao gồm những mặt công tác nhằm hoàn trả bao bì sử dụng nhiều lần cho chủ sở hữu và tiêu thụ bao bì theo các hình thức xác định.

    Sử dụng lại bao bì và tận dụng vật liệu bao bì đã qua sử dụng có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế và đối với bản thân các doanh nghiệp:

    + Với nền kinh tế: Tiết kiệm nguồn tài nguyên, lao động và các chi phí để chế tạo bao bì.

    + Với các doanh nghiệp: Đối với doanh nghiệp sản xuất, giảm chi phí vật liệu và lao động sản xuất bao bì, tiết kiệm chi phí sản xuất bao bì và hàng hoá.

    + Với doanh nghiệp thương mại: Tăng thu nhập cho doanh nghiệp,

    Yêu cầu: Hoàn trả bao bì cho chủ sở hữu theo đúng chế độ và cam kết giữa các bên, tận thu và tiêu thụ những bao bì đã qua sử dụng với chi phí thấp nhất.

    + Hoàn trả: Những bao bì dùng nhiều lần, là tài sản của bên chủ hàng hoặc bên cho thuê mướn bao bì (container) phải tiến hành hoàn trả lại theo các cam kết pháp lý.

    + Tiêu thụ: Bán các loại bao bì hoặc vật liệu bao bì đã qua sử dụng cho các đơn vị sản xuất hàng hoá hoặc sản xuất bao bì để sử dụng lại hoặc dùng làm vật liệu chế tạo bao bì.

    Nội dung:

    • Xây dựng kế hoạch hoàn trả và tiêu thụ bao bì: xác định số lượng, thời gian và thời hạn hoàn trả cho chủ sở hữu; xác định khách hàng và nhu cầu tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng, nhận đơn đặt hàng hoặc ký hợp đồng tiêu thụ bao bì.
    • Chuẩn bị bao bì hoàn trả và cung ứng: thu thập bao bì từ các cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp và từ trong dân chúng; phân loại, vệ sinh, đóng gói bao bì gọn gàng nhằm tận dụng dung tích phương tiện vận tải.
    • Giao bao bì cho các đối tượng nhận: vận chuyển, giao nhận bao bì. Cần chú ý chất xếp để tận dụng trọng tải và dung tích của phương tiện vận tải, xây dựng hành trình giao bao bì hợp lý nhằm giảm cự ly vận chuyển bình quân, tăng tốc độ giao bao bì, giảm chi phí.

    6.2.5-    Những biện pháp giảm chi phí bao bì

    a-   Những nguyên nhân tạo nên chi phí bao bì

    Đối với các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại bán buôn, phải sử dụng bao bì cho nhiều hoạt động hậu cần: bao gói và bao gói lại hàng hoá, đóng kiện hàng hoá trong các bao bì vận tải thuận tiện cho vận chuyển,…Còn đối với các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, phải sử dụng bao bì để bao gói lẻ hàng hoá, đặc biệt đối với các siêu thị bán hàng theo phương pháp tự phục vụ. Vì vậy, quản trị nghiệp vụ bao bì một mặt nhằm thỏa mãn yêu cầu sử dụng bao bì của doanh nghiệp, mặt khác, tiết kiệm chi phí bao bì thực hiện tốt những nhiệm vụ của hậu cần ke thương mại. Cần phải nắm vững những nguyên nhân gây nên chi phí về bao bì để từ đó có những giải pháp hợp lý.

    Những nguyên nhân chi phí bao bì bao gồm:

    a.1-           Nguyên nhân khách quan
    • Do tính chất tự nhiên của bao bì: những tính chất lý, hóa, sinh hóa,… của bao bì trong mối quan hệ với các nhân tố của môi trường làm cho bao bì giảm độ bền, hư hỏng, như dưới tác động của môi trường, bao bì có thể bị mục nát (bao bì gỗ), lão hóa (bao bì chất dẻo), han rỉ (bao bì kim loại).
    • Do quá trình sử dụng bao bì: do chứa đựng hàng hoá, vận chuyển, xếp dỡ,…(sử dụng) nên tiêu hao giá trị sử dụng, và tất nhiên làm suy giảm số lượng và chất lượng bao bì.
    a.2-           Nguyên nhân chủ quan
    • Do nhận thức chưa đúng đắn về bao bì của cán bộ và nhân viên trong các doanh nghiệp thương mại: coi bao bì không phải là tài sản của doanh nghiệp, không phải là nguồn thu nhập của doanh nghiệp; chưa nhận thức rằng, tiết kiệm bao bì có lợi ích rất lớn cho nền kinh tế quốc dân;
    • Do cán bộ và nhân viên không chấp hành đúng những qui định về công tác bao bì, chủ yếu là thực hiện quá trình nghiệp vụ bao bì: tiếp nhận, mở và bảo quản bao bì, hoàn trả bao bì.

    b-   Những biện pháp giảm chi phí bao bì

    b.1-          Biện pháp giảm chi phí do chủ quan
    • Giáo dục cho cán bộ và nhân viên trong các doanh nghiệp thương mại nhận thức ý nghĩa kinh tế quốc dân của bao bì, tầm quan trọng của bao bì trong việc tăng thu nhập của doanh nghiệp: coi bao bì đã qua sử dụng là mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Xây dựng các qui định, chế độ công tác về bao bì; chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong việc không làm tốt những qui định về công tác bao bì.
    • Tổ chức bộ phận chuyên trách quản trị nghiệp vụ bao bì trong các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt trong các doanh nghiệp thương mại bán buôn.
    b.2-          Biện pháp giảm chi phí do khách quan

    – Hoàn thiện các điều kiện thực hiện nghiệp vụ bao bì, đặc biệt nghiệp vụ bảo quản và hoàn trả, tiêu thụ bao bì.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây