Category: Thương Mại – Marketing

  • TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ DỰ TRỮ VÀ MUA HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%90%C3%93NG-G%C3%93I-H%C3%80NG-H%C3%93A-TRONG-HO%E1%BA%A0T-%C4%90%E1%BB%98NG-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

    A. Mở đầu:

    Ngày nay, thuật ngữ logistics được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế như một ngành mang lại nhiều nguồn lợi to lớn. Theo Luật Thương mại Việt Nam, logistics là một hoạt động thương mại do các thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho bãi, làm thủ tục hải quan và các loại giấy tờ, tư vấn khách hàng, đóng gói, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa để hưởng phí thù lao.Như vậy hoạt động đóng gói cũng là một bộ phận một công đoạn của quá trình logistics.

    Theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận (logistics) sẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp tới 15% GDP cả nước. Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn. Dự báo, đến năm 2010, hàng container qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt từ 3,6-4,2 triệu TEU. Con số này đến năm 2020 chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu TEU.
    Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu, do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển. Từ thực tế này cho thấy công đoạn đóng gói trong cả quá trình logistics lại càng có thêm cơ hội phát triển.Phát triển cả về thu nhập lẫn sự gia tăng nguồn nhân lực.

    Công đoạn đóng gói hiện nay được thực hiện chủ yếu ở Việt Nam bằng việc gia công trực tiếp của công nhân đồng thời với sự giám sát của hoạt động quản trị logistics. Như ta đã biết với lợi thế đường bờ biển dài Việt Nam có khá nhiều cảng biển lớn như Đà Nẵng, Hải Phòng, Vũng Tàu, Cam Ranh…do đó lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển là rất lớn.Và thực hiện trên một qui trình cụ thể.  Vì vậy công đoạn đóng gói cho hàng hóa vận chuyển bằng đường biển chiếm phần lớn bên cạnh việc đóng gói cho các loại hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không, đường bộ và đường sắt. Dù hàng hóa sau khi được đóng gói vận chuyển bằng phương tiện gì đi chăng nữa thì công đoạn đóng gói luôn được chú trọng sao cho hàng hóa an toàn nhất, và giữ được chất lượng tốt nhất  cho đến khi đến tận tay của khách hàng. Do đó đóng gói là một mắt xích cực kỳ quan trọng trong chuỗi cung ứng hàng hóa ngày càng phát triển như hiện nay. Do vậy tiềm năng phát triển của công đoạn này cả về hình thức tổ chức, thực hiện qui trình, và thu hút nguồn nhân lực dự báo sẽ rất lớn trong tương lai tới.

    Ở bài luận này chúng tôi chỉ nghiên cứu một cách sơ lược những thực trạng đang diển ra hiện nay trong các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện như thế nào cho công đoạn đóng gói. Đồng thời cung cấp những qui trình cụ thể về công đoạn đóng gói đối với từng loại mặt hàng khác nhau. Bên cạnh đó là vấn đề nguồn nhân lực hiện nay ở Việt Nam như thế nào khi các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện công đoạn đóng gói. Nhằm có thể tìm ra được một hướng đi về cơ hội việc  làm trong tương lai.

    B. Nội dung:

    I. Cái nhìn tổng quan về đóng gói hàng hóa:

    1. Thực trạng của khâu đóng gói hàng hóa trong ngành logistics tại Việt Nam:

    Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực logistics với một thị phần vô cùng nhỏ bé. Với tổng số các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics là 800-900 doanh nghiệp. Và đa phần chỉ là những doanh nghiệp vừa và nhỏ với trang thiết bị chủ yếu còn cũ kỹ.Và việc đáp ững nhu cầu về logistics chỉ mới ¼ nhu cầu logistics trong nước và còn lại là sự nhúng tay của các doanh nghiệp nước ngoài vào lĩnh vực này. Cùng với thực tế đó công đoạn đóng gói hàng hóa mà chủ yếu là đóng gói hàng hóa cho vận tải bằng đường biển để xuất khẩu,và còn lại là đóng gói để vận tải bằng đường bộ,và đường hàng không. Thì việc đáp ứng nhu cầu cho công đoạn đóng gói nhìn chung các doanh nghiệp không thể với tay tới hết được. Thị trường trong nước còn vô cùng dồi dào nhưng các doanh nghiệp Việt Nam lại không thể khai thác hết được toàn bộ thị trường này. Một sự thật vô cùng trớ trêu diển ra  hiện nay ở thị trường Việt Nam là: Nhân công lao động của Việt Nam trực tiếp hoạt động trong công đoạn đóng gói cho doanh  nghiệp nước ngoài để nhận tiền công, thì bên cạnh đó sự cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam làm cho giá thành rẻ hơn thì theo đó giá công nhân công mà doanh nghiệp Việt trả cho nhận công thấp hơn doanh nghiệp nước ngoài vì vậy xảy ra hiện tượng thiếu lực lượng lao động trong công đoạn này ở công đoạn đóng gói. Gà nhà đá nhau các doanh nghiệp Việt Nam thi nhau hạ giá thành dich vụ thì những thương nhân nước ngoài hưởng lợi doanh nghiệp nước ngoài cùng cạnh tranh trong lĩnh vực thì vô tình lại đớp được miếng mồi ngon này.

    Nói như vậy không có nghĩa là doanh nghiệp Việt Nam không có lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp nước ngoài về công đoạn này. Chúng ta với lợi thế về sân nhà việc di chuyển trang thiết bị dễ dàng, nguồn nguyên liệu mà các doanh nghiệp Việt tìm được trong việc thiết kế và dán nhãn bao bì rõ ràng sẽ dễ dàng và giá thành sản phẩm sẽ rẻ hơn. Đồng thời với nguồn nhân lực với chuyên  môn ngày càng được nâng cao tay nghề, để áp dụng máy móc trong công đoạn đóng gói thì đó là một thế mạnh cạnh tranh không nhỏ trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời trình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam ngày càng được nâng cao hơn, trình độ đại học, cao đẳng tham gia vào hoạt động này càng nhiều. Đó là một tiền đề quan trong để các doanh nghiệp Việt Nam tăng lợi thế cạnh tranh và chiếm được nhiều thị phần hơn không những ở thị trong nước mà còn ở thị trường nước ngoài.

    Như vậy đóng gói hàng hóa ngày nay không chỉ còn là một công đoạn nhỏ mà nó ngày càng trở thành một hiện tượng công việc mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại. Tầm quan trọng của đóng gói hàng hóa rõ ràng rất lớn. Như vậy tầm quan trọng của đóng gói hàng hóa như thế nào?

    1. Tầm quan trọng của đóng gói hàng hóa:

    Không phải lúc nào bạn cũng có thể nói về một cuốn sách nhờ vào bìa sách. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi bạn không còn nhận ra một thương hiệu quen thuộc thông qua bao bì của nó. Thật sự sẽ là một nghịch cảnh nếu như hàng hóa được sản xuất không được đóng gói . Công đoạn đóng gói trở thành một vấn đề vô cùng quan trong trong cả quá trình sản xuất và kinh doanh. Nó chính là bức thông điệp mà nhà cung ứng muốn gửi tới khách hàng.Và ngược lại bao bì được đóng gói là một tín hiệu để khách hàng nhận ra doang nghiệp và khẳng định chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp. Do đó đóng gói góp một tác dụng không nhỏ trong việc marketing của doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại dịch vụ mà chủ yếu là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa, chuyển phát nhanh. Không những thế đóng gói  góp phần quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa an toàn tới tận tay của khách hàng.

    – Tầm quan trọng của đóng gói hàng hóa trong marketing sản phẩm, và quảng bá thương hiệu doanh nghiệp: các doanh nghiệp sản xuất dùng bào bì để đóng gói hàng hóa của họ, trên đó có ghi thành phần tạo nên hàng hóa, và chất lượng hàng hóa. Đồng thời họ cũng dùng bao bì này để quảng cáo cho chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp tạo ra. Khách hàng khi nhìn thấy hàng hóa được đóng gói cẩn thận cũng có thiện cảm thì sẽ nảy sinh hành động mua hàng. Một thực tế chứng minh rằng có nhiều khách hàng mua hàng hóa tuy chua hẳn đã hiểu hết được chất lượng của hàng hóa nhưng chỉ vì bao bì đẹp, được đóng gói cẩn thận nên dẫn đến việc mua hàng. Do đó việc thiết kế bao bì để đóng gói hàng hóa là một công việc cực kỳ quan trọng. Bỡi thế Pepsico đã không ngần ngại bỏ ra hơn 35 triệu USD cũng chỉ để thuê Armen group thiết kế lại hộp đựng Tropicana Pure Premium.Còn đối với các doanh nghiệp dịch vụ nhận hàng để đóng gói sau đó vận chuyển thì đóng gói lại là vấn đề ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng dịch vụ. Nhờ việc đóng gói mà những doanh nghiệp như interlink, hay vinatrans ngày càng khẳng định thương hiệu của mình trong lĩnh vực logistics. Do đó việc thiết kế mẫu mã bao bì để đóng gói không những ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa mà nó còn là một nền tảng quan trọng để nâng tầm cao thương hiệu của doanh nghiệp.

    -Tầm quan trọng của đóng gói trong quá trình vận chuyển hàng hóa: hàng hóa trước khi vận chuyển cần phải được đóng gói bỡi lẽ nó sẽ giúp cho việc giữ an toàn hàng hóa trong quá trình vận chuyển. Khi vận chuyển, hàng hóa sẽ chịu tác động của lực xóc làm cho hàng hóa có thể bị hư hỏng do đó việc đóng gói hàng hóa theo những qui trình và cách thức phù hợp sẽ giúp cho hàng hóa giảm thiểu được tình trạng này. Ngoài ra việc vận chuyển đòi hỏi sẽ mất một lượng thời gian nhất định, những mặt hàng như nông sản thực phẩm sẽ chịu tác động của quá trình tác dụng hóa học làm cho hàng hóa không còn giữ được chất lượng tốt như ban đầu vì vậy việc đóng gói hàng hóa góp phần giúp cho hàng hóa tránh được một phần sự biến đổi hóa học này. Đảm bảo quá trình chu chuyển hàng hóa được thực hiện một cách tốt nhất và giữ chất lượng tốt nhất trước khi đến tay của khách hàng.

    II. Hoạt động đóng gói trong các doanh nghiệp:

    1. Hình thức tổ chức:

    *Qui trình đóng gói:

    Việc đóng gói phải tuân theo những qui trình như thế nào thì còn tùy thuộc vào từng loại hàng hóa mà doanh nghiệp đó kinh doanh. Viêc nhập hay xuất xưởng của từng loại hàng hóa cụ thể phải tuân theo những qui trình chuyên biệc. Do đó qui trình đóng gói là không giống nhau ở các doanh nghiệp khác nhau. Chẳng hạn như các doanh nghiệp sản xuất đồ thủy tinh thì phải chờ đợi thủy tinh hạ nhiệt độ trong một khoảng thời gian nhất định mới tiến hàng đóng gói, các doanh nghiệp đóng gói những hàng hóa đã sản xuất sẳn đóng gói sau đó vận chuyển thì yêu cầu phải kiểm tra chất lượng hàng hóa trước khi đóng gói, hay một ví dụ điển hình nữa đó là việc đóng gói đồ hộp phải có quá trình bảo ôn sản  phẩm đồ hộp bỡi lẽ việc sản xuất đồ hộp phải bảo ôn thì mới có thể được ổn định về mặt phẩm chất. Sau khi các doanh nghiệp  bảo ôn hay kiểm tra chất lượng hàng hóa thì lúc đó hàng hóa được đưa vào đóng gói. Tuy cách đóng gói của từng loại hàng hóa là khác nhau nhưng nhìn chung cũng đều phải tuân theo nhưng qui trình cơ bản:

    – Dán nhãn: các hộp, chai, lọ được đưa vào dán nhãn phải sạch, kín không nứt nẻ nếu phát hiện các hộp chai lọ nào bẩn cần phải được đem rửa sạch ngay. Rồi sau đó mới dán nhãn.

    -Đóng thùng: sau khi hàng hóa được dán nhãn phải đem hàng hóa đóng thùng việc đóng thùng hàng hóa phải tuân theo nguyên tắc là đem lại sự an toàn cao nhất cho hàng hóa trong quá trình vận chuyển.Thông thường các doanh nghiệp dùng thùng carton hoặc thùng gỗ để đóng thùng. Nếu dùng thùng carton thì phải là thùng chắc chắn và là giấy dày để tránh việc rách thùng trong cả quá trình vân chuyển. Nếu là thùng gỗ thì gỗ phải sạch, nhẹ để đảm bảo dễ dàng cho việc bốc xếp, và đặc biệt là không mục nát.

    *Máy móc trang thiết bị dùng cho hoạt động đóng gói:

    Trong thời kỳ đầu của những năm 90 thế kỷ 20 khi kỹ thuật còn kém phát triển việc đóng gói hàng hóa không được chú trọng nhiều do đó nên việc đóng gói chủ yếu là thực hiện trên việc gia công. Ngày nay khi logistics ngày càng phát triển, tốc độ chu chuyển hàng hóa ngày càng nhanh thì bên cạnh đó việc đóng gói cũng đang dần được hiện đại hóa. Nhiều doanh nghiệp sản xuất đồ hộp đã dùng máy in chữ để in trực tiếp trên hộp sản phẩm nhằm tiết kiệm được nhiều nhất thời gian dán nhãn và công suất làm việc cao hơn. Đảm bảo số lượng hàng hóa được đưa vào vận chuyển tới tay khách hàng một cách nhanh và nhiều hơn. Tương tự như vây hiện nay trên thị trường cũng đã có “máy đóng gói túi trà dạng kép” cho các doanh nghiệp sản xuất trà trong nước với nhiều tính năng ưu việt. Không sử dụng bất cứ một ghim kẹp kim loại, chất phụ gia hoặc vật liệu độc hại nào khác, máy này cố định nếp gấp đỉnh túi bằng hai nếp gấp liên tiếp tạo bởi cùng một sợi chỉ nối (không có chỉ phụ). Đặc điểm tiên tiến này giúp máy có thể cạnh tranh một cách hiệu quả cho yêu cầu của thị trường mới.Dưới đây là hình ảnh máy túi trà dạng kép:

    MÁY ĐÓNG GÓI TÚI TRÀ DẠNG KÉP

    Nhìn chung việc đóng gói hiện nay đang dần được phát triển lên một tầm cao mới và việc đóng gói chủ yếu dựa vào nhân công lao động làm bằng tay được thay thế bằng máy móc hiện đại hơn.

    *Nhân lực trong hoạt động đóng gói: tốc độ phát triển của nền kinh tế ngày càng nhanh, thêm vào đó là sự hoan thiện vượt bậc về cơ sở vật chất kỹ thuật đã làm cho vấn đề nguồn nhân công có sự thay đổi. Vấn đề chính ở đây không phải là nguồn nhân công rẻ mà phải là nguồn nhân công có tay nghề và trình độ chuyên môn cao. Tuy rằng các doanh nghiệp hoạt động trong công đoạn nhìn chung lực lượng nhân công có tay nghề và trình độ chuyên môn cao vẫn còn thiếu. Nhưng việc thay đổi dần cung cách quản lý đã làm cho trình trạng này dần được thay đổi.

    1. Mục đích trực tiếp:

    Việc đóng gói cho hàng hóa dùng để xuất khẩu và đóng gói hàng hóa trong kinh doanh nội địa nhìn chung là có khác nhau. Vậy sự khác nhau của việc đóng gói dùng cho hai mục đích này là gì?

    – Đóng gói dùng cho hoạt động xuất khẩu: yêu cầu hàng hóa được đóng gói phải đảm bảo chắc chắn trong cả quá trình vận chuyển dài. Do đó yêu câu của việc đóng gói hàng hóa để xuất khẩu luôn khắc khe hơn. Vật liệu dùng để đóng gói thường đắt hơn. Trong kinh doanh xuất khẩu nếu việc đóng gói không đảm bảo chất lượng dẫn đến làm mất chất lượng hàng hóa và dẫn đến mất lòng tin của đối tác cho doanh nghiệp. Một ví dụ điển hình cho vấn đề này thể hiện ở các doanh nghiệp xuất khẩu chè của Việt Nam sang Pakistan” Thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Pakistan cho biết, theo những nhà nhập khẩu nước này, bao giấy kraft thường bị rách, ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng chè, đặc biệt là đối với chè xuất khẩu sang Pakistan để tái xuất đi Apganistan. Việc sử dụng bao bì phù hợp, đảm bảo không bị rách vỡ trong quá trình vận chuyển lưu thông đường bộ cần phải được lưu ý.”

    – Đóng gói hàng hóa trong kinh doanh nội địa: trong kinh doanh nội địa hàng hóa sau khi được đóng gói vận chuyển với đoạn đường ngắn hơn trong kinh doanh xuất khẩu, do đó việc đóng gói không nhất thiết phải yêu cầu khắt khe như kinh doanh hàng hóa xuất khẩu. Nhưng đối với những loại hàng hóa trong kinh doanh nội địa việc đóng gói cũng phải tuân theo một qui trình và chất lượng đã được định sẳn. Bỡi lẽ việc đóng gói không nằm ngoài mục đích đảm bảo an toàn cho hàng hóa trước khi đến tay khách hàng và giữ được chất lượng tốt nhất.

    II. Cách đóng gói cho các mặt hàng cụ thể:

    1. Đóng gói hàng điện tử:

    Máy tính xách tay, máy in, điện thoại, màn hình …

    Sử dụng chất liệu đệm là Mút, xốp, Bọt Mềm.

    Bọt mềm là những tấm lót đặc biệt như polyetylen (PE), polyuretan (PU), và polypropylen (PP) có những đặc tính đệm có nhiều tác động.

    Những miếng bọt này bảo vệ các mặt hàng dễ vỡ khỏi va chạm và ảnh hưởng trong các điều kiện xử lý gói hàng bình thường và duy trì mức độ bảo vệ này trong toàn bộ quá trình phân phối.

    Những bọt này được thiết kế đặc biệt và được sản xuất trước phù hợp với

    Các kích thước và trọng lượng sản phẩm

     

    Đóng gói hàng điện tử

     

     

     

    1. Cách đóng gói đối với các mặt hàng làm bằng chất liệu thủy tinh, dễ vỡ : nước hoa, bóng đèn gốm, sứ, tượng.

    Chất liệu là bọt khí cuộn kín sản phẩm. Các bọt khí này có chức năng đàn hồi chống va đập. Giấy gói bubble ô lớn.

    Giấy gói Bubble ô lớn là vật liệu gói được làm từ các bóng khí cao 1/2 inch (1,27 cm) giữa hai tấm nilon khi chúng được gắn vào nhau. Quá trình gắn này cho phép nilon xốp tạo đệm để tránh va chạm.

    Giấy gói bubble ô lớn có khả năng đệm, và có thể được gói ngoài hầu hết các sản phẩm, không kể hình dạng hoặc kích thước.

    Khi sử dụng giấy gói bubble ô lớn, dùng vài lớp để đảm bảo toàn bộ sản phẩm được đệm, và đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ các góc và cạnh. Khi gói nhiều hàng hoá, bọc riêng từng mặt hàng. Những mặt hàng dễ vỡ cần phải đặt cách nhau và cách các góc, các cạnh, mặt trên và mặt dưới thùng.

    Mỗi mặt hàng cần được bọc bằng tấm bọt có kích thước ít nhất là hai inch (5,08 cm) và đặt cách vách thùng hai inch (5,08 cm). Điều này sẽ giúp cho các sản phẩm không bị hư hỏng do va chạm vào nhau và bảo vệ sản phẩm không bị rung do lực truyền vào từ ngoài thùng. Sử dụng đủ tấm bọt để bảo đảm không di

    chuyển mặt hàng bên trong khi lắc thùng.

    Đóng gói hàng thủy tinh dễ vỡ

    1. Cách đóng gói đối với các bình chai lọ chưa chất lỏng: phải được bịt kín không cho chất lỏng chảy ra ngoài dù bị dộc ngược. Nếu nhiều chai lọ để trong một thùng phải được ngăn cách bởi vách ngăn hoặc dùng các vật liệu có độ đàn hồi chèn kín giữa các khoản trống để không cho xê dịch sản phẩm. Các vật liệu chèn như: tấm bọt khí, mút, xốp, hạt nở …

    Cách đóng gói cho chai lọ chứa chất lỏng:

    1. Cách đóng gói đối với các vật phẩm cuộn tròn: Tranh vẽ, bản đồ …: Được cuộn tròn và cho vào ống nước bằng nhựa hoặc bọc bởi giấy có độ giai rồi cho vào hộp giấy.
    2. Cách đóng gói cho các vật còn lại: Chọn hộp chứa hàng vận chuyển đúng kích thước hàng hoá của bạn hoặc dùng vật liệu gói hàng bên trong phù hợp để giữ cho các mặt hàng không di chuyển bên trong gói hàng. Dùng các vật liệu không bị xẹp do trọng lượng của các mặt hàng nặng. Ví dụ: giấy gói hàng loại dày được lót chặt có thể dùng để lấp những khoảng trống trong hộp chứa hàng vận chuyển.

    Đóng gói đối với các vật còn lại

    III. Hình thức đóng gói để tăng độ an toàn cho các loại hàng hóa:

    1. Hộp kép:

    Đóng hộp kép hoặc đóng nhiều hộp là một phương pháp hiệu quả để bảo vệ các mặt hàng dễ vỡ ở những nơi mà việc đóng gói không phù hợp để vận chuyển qua các hãng vận tải như UPS sử dụng hệ thống phân phối thủ công và tự động.

    Đảm bảo gói hàng ban đầu ở tình trạng tốt và nguyên vẹn. Nên thay thế hoặc sửa chữa các miếng bọt bị nứt hoặc gãy. Đảm bảo rằng mặt hàng không thể di chuyển trong gói hàng ban đầu.

    Chọn một hộp chứa hàng vận chuyển mới có độ bền được khuyến nghị lớn hơn ít nhất 6 inch (15,24 cm) so với kích thước của thùng ban đầu. Lót xuống đáy của hộp chứa hàng vận chuyển mới bằng hai hoặc ba inch (5,08 cm đến 7,62 cm) vật liệu ép lỏng (đối với hàng hoá có khối lượng lên đến 10 lbs/ 4,54 kg), giấy gói bubble (đối với hàng hoá có khối lượng lên đến 50 lbs/22,68kg), bọt phủ, tấm phủ polyetylen hoặc các vật liệu lót khác.

    Đặt thùng của nhà sản xuất ban đầu ở trên vật liệu lót và ở giữa hộp chứa hàng vận chuyển và đặt tấm lót xung quanh năm cạnh còn lại. Dán kín các nắp hộp bằng vật liệu và phương pháp được khuyên dùng.

    1. Cách đóng hộp:

     Dán kín nắp hộp chứa hàng vận chuyển bằng sáu dải băng giấy gói hàng kích hoạt. Sử dụng băng dính loại 60ls rộng ít nhất ba inch (72mm) với băng dính nhựa. Với hộp chứa hàng có rãnh đều (RSC) trong đó các nắp giao nhau ở giữa, dán ba dải băng dính từ mặt trên đến mặt đáy của thùng, như vậy đường nối phần giữa và hai cạnh sẽ được gắn lại. Với hộp chứa hàng gấp nếp trong đó các nắp chồng lên nhau (FOL), dán ba dải băng dính từ mặt trên đến mặt đáy của thùng, như vậy đường ba cạnh sẽ được gắn lại. Không dùng băng phủ, băng giấy bóng kính (văn phòng), băng dạng ống, dây hoặc giấy bọc ngoài.

    1. Cách đặt nhãn vận chuyển:

    Dán nhãn vận chuyển vào đỉnh của gói hàng. Để tránh nhầm lẫn, đảm bảo chỉ ghi một địa chỉ trên gói hàng. Nếu bạn sử dụng phiếu giao hàng, dán phiếu lên cùng bề mặt như nhãn địa chỉ.

    Không dán nhãn lên đường nối hoặc chỗ đóng hộp hoặc trên phần đầu băng dính.

    Loại bỏ nhãn hoặc vết đánh dấu cũ trên thùng đã sử dụng.

    Dán nhãn tương tự hoặc mẫu nhận dạng khác vào trong gói hàng của bạn.

    Nhãn hàng đi trong nước phải có các thông tin sau: Tên người nhận, địa chỉ rõ ràng (số nhà, tên đường, tổ, ấp, phường, xã, quận, huyện, thành phố, tỉnh), điện thoại người nhận.

    Đối với lô hàng quốc tế, cũng cần cung cấp tên liên lạc, số điện thoại và mã bưu điện.

    IV. Yêu cầu về nhân lực của hoạt động đóng gói hiện nay, và cơ hội việc làm cho sinh viên khi mới ra trường hoạt động trong lĩnh vực này:

    Sự phát triển của logistics ngày càng nhanh thì theo đó yêu cầu về nhân lực hoạt động trong công đoạn đóng gói cũng càng cao hơn. Việc áp dụng trang thiết bị khoa học kỹ thuật khiến cho công đoạn đóng gói được tiến hành một cách nhanh chóng, đem lại hiệu quả lớn. Thì nhân lực lao động không còn là vấn đề giá rẻ mà phải là có tay nghề vững và biết kiểm soát máy móc. Do đó đội ngũ quản lý cũng cần phải được cải thiện về trình độ. Vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm là làm sao có được đội ngũ lao động thật sự biết cách làm việc và gắn bó tâm huyết với nghề. Do đó nhìn chung nước ta có số người trong độ tuổi lao động là khá đông hơn 40 triệu người nhưng nhìn chung việc thiếu lao động hoạt động trong công đoạn đóng gói vẫn đang diển ra do yêu cầu về nhân lực ngày càng cao hơn.

    Vì vậy cơ hội cho sinh viên hoạt động trong ngành logistics nói chung và trong công đoạn đóng gói nói riêng là rất lớn. Xuất phát từ thực trạng trên việc sinh viên khi mới ra trường tìm được cho mình một chỗ đứng cũng là một vấn đề đơn giản nếu rằng chúng ta thật sự có được một nền tảng kiến thức chắc chắn nhằm để đáp áp dụng vào thực tế một cách linh hoạt hơn.

    C. Kết thúc:

    Ngày nay đóng gói hàng hóa không chỉ đơn thuần là “mặc cho hàng hóa một chiếc áo” mà nó còn đóng góp một phần quan trong trong việc kinh doanh và sản xuất bỡi lẽ ngoài tác dụng làm cho hàng hóa được đẹp mắt hơn trong con mắt của người tiêu dùng mà nó còn góp một phần quan trong trọng việc bảo vệ sản phẩm trong quá trình vận chuyển. Đóng gói đã trở thành một công việc kinh doanh mà nhiều doanh nghiệp có thể khai thác và kiếm được lợi nhuận từ công việc này. Khi xã hội phát triển thì yêu cầu về nhân lực hoạt động trong ngành cũng ngày càng cao hơn. Việc tham gia của đội ngũ lao động có trình độ tay nghề và chuyên môn cao sẽ làm cho công đoạn đóng gói dần được trở thành một công đoạn mang tính chuyên môn hóa sâu sắc. Từ đó sẽ làm cho hiệu quả lao động được cao hơn.

    Người quản trị logistics cũng cần phải thấy rõ được rằng trong tương lai không xa công đoạn đóng gói sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế và đòi hỏi phải có một lực lượng lao động đông có tay nghề vững vàng. Do đó người quản trị logistics cũng cần phải có một động thái và phương sách phù hợp để kịp thích nghi với sự thay đổi này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ DỰ TRỮ VÀ MUA HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI LOGISTICS

    TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ DỰ TRỮ VÀ MUA HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI LOGISTICS

    TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ DỰ TRỮ VÀ MUA HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận nguồn nhân lực logistics việt nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-D%E1%BB%B0-TR%E1%BB%AE-V%C3%80-MUA-H%C3%80NG-TRONG-KINH-DOANH-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ DỰ TRỮ VÀ MUA HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI LOGISTICS

    CHƯƠNG 3.             QUẢN TRỊ DỰ TRỮ VÀ MUA HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    Dự trữ hàng hóa là một trong những hoạt động logistics then chốt. Chính vì vậy, nhiều khi có thể nói quản trị Logistics là quản trị dòng dự trữ, bởi một lẽ, các trạng thái của hàng hóa trong kênh Logistics đều là dự trữ. Trong kinh doanh thương mại, dự trữ cần thiết để đảm bảo quá trình bán hàng diễn ra liên tục, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng với chi phí thấp. Đáp ứng những quyết định của dự trữ là hoạt động mua hàng. Mua hàng là hành vi thương mại nhằm tạo nên lực lượng hàng hóa dự trữ trong doanh nghiệp. Chính vì vậy, dự trữ và mua hàng là những hoạt động luôn luôn gắn bó với nhau.

    3.1    Quản trị dự trữ hàng hóa trong kinh doanh thương mại

    3.1.1    Chức năng và các loại hình dự trữ hàng hoá trong kinh doanh thương mại

    a.   Khái niệm và sự cần thiết phải có dự trữ hàng hoá

    Từ khi có sản xuất và lưu thông hàng hoá, dự trữ hàng hoá xuất hiện như là một hiện tượng tất yếu. Theo C.Mark thì “Dự trữ hàng hoá là sự cố định và độc lập hoá hình thái của sản phẩm “. Như vậy, sản phẩm đang trong quá trình mua, bán và cần thiết cho quá trình mua bán là nằm trong hình thái dự trữ.

    Sự vận động của hàng hoá trong hệ thống logistics đều dưới hình thái dự trữ. Như vậy, dự trữ hàng hoá trong hệ thống logistics là các hình thái kinh tế của vận động hàng hoá trong kênh logistics nhằm thỏa mãn nhu cầu mua hàng của khách hàng trên thị trường mục tiêu với chi phí thấp nhất.

    Trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, dự trữ hàng hoá là tất yếu do sự cách biệt về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng hàng hoá, do đặc điểm khác biệt giữa hàng hoá sản xuất và hàng hoá tiêu dùng, do điều kiện địa lý, tự nhiên và khí hậu, hoặc do phải đề phòng những mất cân đối lớn có thể xẩy ra (chiến tranh, thiên tai, …).

    Đối với doanh nghiệp, dự trữ cần thiết là do yêu cầu cải thiện dịch vụ khách hàng, như: dự trữ cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng đầy đủ và nhanh, đáp ứng yêu cầu dịch vụ cao cho khách hàng, và do đó duy trì và phát triển doanh số. Mặt khác, dự trữ trong các doanh nghiệp giúp giảm chi phí do: duy trì sản xuất ổn định và năng suất cao, tiết kiệm trong mua và vận chuyển (trong mua: giảm giá vì lượng hoặc mua trước thời vụ; còn trong vận chuyển việc tăng dự trữ do tăng qui mô lô hàng sẽ đảm bảo vận chuyển tập trung với chi phí thấp ), và nhờ dự trữ mà các doanh nghiệp giảm những chi phí do những biến động không thể lường trước.

    b.              Các chức năng dự trữ hàng hoá trong thương mại

    Dự trữ hàng hóa trong thương mại hiện 3 chức năng cơ bản: chức năng cân đối cung – cầu, và chức năng điều hoà các biến động, và chức năng giảm chi phí.

    Chức năng cân đối cung – cầu đảm bảo cho sự phù hợp giữa nhu cầu và nguồn cung ứng về số lượng, không gian và thời gian. Trong kinh doanh bán buôn, phải tập trung khối lượng dự trữ thời vụ, dự trữ chở đến trước do điều kiện giao thông vận tải và khí hậu, dự trữ đề phòng những biến động của nền kinh tế. Chức năng này là do ảnh hưởng của môi trường vĩ mô đến quan hệ cung – cầu.

    Chức năng điều hoà những biến động: Dự trữ để đề phòng những biến động ngắn hạn do sự biến động của nhu cầu và chu kỳ nhập hàng. Thực hiện chức năng này, cần phải có dự trữ bảo hiểm.

    Chức năng giảm chi phí: Có nhiều khi, dự trữ không chỉ do cân đối cung cầu hoặc điều hòa các biến động mà còn do yêu cầu phải giảm chi phí, chẳng hạn, do phải giảm chi phí trong trường hợp vận chuyển với cự ly xa, phải vận chuyển với khối lượng hàng lớn và do đó làm tăng dự trữ tại các kho.

    c.              Các loại dự trữ hàng hoá trong kinh doanh thương mại

    Trong kinh doanh thương mại, có nhiều cách phân loại dự trữ khác nhau tùy thuộc yêu cầu quản trị. Có một số cách phân loại phổ biến:

    c.1.           Phân theo trạng thái của thời kỳ kinh doanh:

    – Dự trữ đầu kỳ: Dự trữ của cuối thời kỳ kinh doanh trước đảm bảo tiếp tục cho đầu thời kỳ kinh doanh mới

    – Dự trữ cuối kỳ: Lượng hàng hóa dự trữ cuối kỳ nhằm duy trì hoạt động kinh doanh liên tục cho thời kỳ kinh doanh tiếp theo

    – Dự trữ trung bình: Bằng ½ tổng của dự trữ đầu kỳ và cuối kỳ

    c.2.           Phân theo giới hạn của dự trữ:

    – Dự trữ cao nhất: Lượng dự trữ cao nhất tại một thời điểm xác định, thường là thời điểm nhập mới một lô hàng.

    – Dự trữ thấp nhất: Lượng dự trữ thấp nhất tại thời điểm xác định, thường vào thời điểm quyết định nhập hàng để bổ sung dự trữ (điểm đặt hàng)

    – Dự trữ trung bình: Bằng ½ tổng dự trữ cao nhất và thấp nhất

    c.3.           Phân theo đặc điểm của nhu cầu và sản xuất theo thời gian:

    – Dự trữ thường xuyên: Dự trữ đáp ứng nhu cầu hoặc sản xuất ổn định theo thời gian

    – Dự trữ thời vụ: Dự trữ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng thời vụ; Nếu sản xuất có tính thời vụ thì doanh nghiệp thương mại phải tập trung dự trữ vào thời vụ thu hoạch để đảm bảo hàng hóa bán ra cho cả năm; Nếu nhu cầu có tính thời vụ thì doanh nghiệp thương mại cũng phải dự trữ với khối lượng đủ để đáp ứng nhu cầu lớn tập trung vào một thời ký nhất định.

    c.4.           Phân theo các yếu tố cấu thành dự trữ trung bình

    – Dự trữ chu kỳ: Dự trữ nhằm đảm bảo cho bán ra giữa hai chu kỳ nhập hàng. Loại dự trữ này được thể hiện bằng qui mô lô hàng nhập. Dự trữ chu kỳ tham gia vào dự trữ trung bình bằng một nửa qui mô lô hàng.

    Dv– Dự trữ hàng hoá trên đường

     

    – Mức tiêu thụ hàng hoá bình quân một ngày

    – Thời gian trung bình hàng hoá trên đường

    – Dự trữ trên đường: Dự trữ trong quá trình vận chuyển hàng hoá. Loại dự trữ này tuỳ thuộc vào vị trí chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa các bên mua, bán. Dự trữ trên đường phụ thuộc vào qui mô tiêu thụ hàng hoá và thời gian trung bình vận chuyển hàng hoá:

    ;

    Db– Dự trữ bảo hiểm

     

    d- Độ lệch tiêu chuẩn chung

    z- Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn

    – Dự trữ bảo hiểm: Dự trữ đề phòng những biến động do nhu cầu hoặc thời gian nhập hàng. Dự trữ này phụ thuộc vào cường độ biến động và yêu cầu đảm bảo dự trữ của doanh nghiệp. Trình độ dịch vụ khách hàng là do chính sách dự trữ bảo hiểm của doanh nghiệp:

    Db = d.  z

    Trong quản trị dự trữ hàng hóa tại các cơ sở Logistics của các doanh nghiệp thương mại, thường sử dụng cách phân loại này.

    3.1.2    Các mục tiêu của quản trị dự trữ hàng hóa

    Các mục tiêu của quản trị dự trữ hàng hoá trong kinh doanh thương mại bao gồm: Mục tiêu dịch vụ khách hàng, và mục tiêu chi phí dự trữ.

    3.1.3            Mục tiêu dịch vụ khách hàng

    Trình độ dịch vụ là việc xác định các mục tiêu hoạt động mà dự trữ phải có khả năng thực hiện. Trình độ dịch vụ được xác định bằng thời gian thực hiện đơn đặt hàng; hệ số thoả mãn mặt hàng, nhóm hàng và đơn đặt hàng (bán buôn); hệ số ổn định mặt hàng kinh doanh hệ số thoả mãn nhu cầu mua hàng của khách (bán lẻ). Những chỉ tiêu trình độ dịch vụ khách hàng trên đây phụ thuộc khá lớn vào việc quản trị dự trữ hàng hoá. Trình độ dịch vụ khách hàng do dự trữ thực hiện được tính toán theo công thức sau:

    d- Trình độ dịch vụ khách hàng (một mặt hàng)

     

    mt– Lượng hàng hoá thiếu bán cho khách hàng

    Mc– Nhu cầu của khách hàng cả kỳ

    Trường hợp khách hàng mua nhiều mặt hàng, thì trình độ dịch vụ chung đối với khách hàng được tính như sau:

    dc– Trình độ dịch vụ chung cho một khách hàng

     

    di– Trình độ dịch vụ của mặt hàng i

    n- Số lượng mặt hàng cung cấp cho khách hàng

    Chỉ tiêu trình độ dịch vụ khách hàng kế hoạch được xác định theo công thức sau:

    Để nâng cao trình độ dịch vụ khách hàng của dự trữ, có thể sử dụng những giải pháp sau:

    – Thứ nhất là giải pháp truyền thống: tăng cường dự trữ. Giải pháp này có thể đạt đến trình độ dịch vụ khách hàng nhất định, nhưng có thể làm tăng chi phí dự trữ và cả hệ thống logistics.

    – Thứ hai là giải pháp cải tiến: vận chuyển hàng hoá nhanh, chọn nguồn hàng tốt hơn và quản trị thông tin hiệu quả hơn. Giải pháp này nhằm chọn phương án tối ưu trong quản trị dự trữ hàng hoá.

    3.1.4            Mục tiêu chi phí dự trữ

    Chi phí dự trữ là những chi phí bằng tiền có liên quan đến dự trữ. Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ là % của tỷ số chi phí đảm bảo dự trữ /giá trị trung bình của dự trữ.

    Cấu thành chi phí đảm bảo dự trữ bao gồm:

    – Chi phí vốn: chi phí bằng tiền do đầu tư vốn cho dự trữ. Chi phí vốn phụ thuộc vào giá trị dự trữ trung bình, thời gian hạch toán và suất thu hồi vốn đầu tư. Thông thường trên thị trường tiền tệ, tỷ lệ chi phí vốn được tính theo lãi suất tiền vay ngân hàng. Tỷ lệ chi phí vốn trung bình là 15%, dao động từ 8-40%.

    – Chi phí công nghệ kho, thường gọi là chi phí bảo quản hàng hoá dự trữ ở kho. Trung bình chi phí này là 2%, dao động từ 0-4%.

    – Hao mòn vô hình: giá trị hàng hoá dự trữ giảm xuống do không phù hợp với thị trường (tình thế marketing ). Thể hiện của chi phí này là % giảm giá bán. Chi phí này trung bình là 1,2%, dao động từ 0,5 – 2%.

    – Chi phí bảo hiểm:  là chi phí đề phòng rủi ro theo thời gian. Chi phí bảo hiểm tuỳ thuộc vào giá trị hàng hoá và tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật. Chi phí này trung bình 0,05%, dao động từ 0 – 2%.

    – Ngoài ra còn có thể chi phí về thuế liên quan đến vị trí, địa phương, coi dự trữ là tài sản và bị đánh thuế.

    Chi phí đảm bảo dự trữ một đơn vị hàng hóa có thể viết dưới dạng sau:

     
       

    Tổng chi phí có liên quan đến quản trị dự trữ bao gồm:

     
       

    – Chi phí đặt hàng: Fđ =;

     
       

    – Chi phí dự trữ: ;

    – Chi phí thiếu hàng để bán:

    ;

    3.1.5       Phân loại hàng hoá dự trữ và các hệ thống dự trữ hàng hóa

    a.              Phân loại hàng hoá dự trữ và xác định mục tiêu dịch vụ khách hàng

    a.1.          Phân loại hàng hóa dự trữ

    Phân loại hàng hoá dự trữ thành các nhóm A,B,C theo tầm quan trọng với những đặc trưng để quản trị dự trữ. Sự phân loại có thể dựa vào một số tiêu thức: doanh số, lợi nhuận, giá trị dự trữ, …Trong quản trị, người ta hay sử dụng tiêu thức doanh số.

    Qui tắc Pareto*, hay còn gọi là qui tắc 80/20 thường được sử dụng trong phân loại hàng hoá dự trữ. Theo qui tắc này, những hàng hoá nào có tỷ trọng đơn vị dự trữ hàng hoá (hoặc tỷ trọng khách hàng, đơn đặt hàng, người cung ứng ) thấp (20%), nhưng có tỷ trọng doanh số cao (80%) thì được xếp vào loại A. Tương tự, tỷ trọng đơn vị dự trữ cao hơn (30%), nhưng tỷ trọng doanh số thấp hơn (15%) được xếp vào loại B, và loại C có tỷ trọng đơn vị dự trữ hàng hoá cao nhất (50%), và tỷ trọng doanh số thấp nhất (5%). Cách phân loại này xác định tầm quan trọng của mặt hàng, khách hàng trong kinh doanh để có chiến lược thích ứng.

    Phương pháp phân loại này như sau:

    – Trước hết lập bảng phân loại (bảng 3.1)

    – Sắp xếp hàng hoá theo thứ tự từ doanh số cao đến thấp trên bảng phân loại. Sau đó, tính tỷ trọng doanh số của từng mặt hàng và điền vào bảng.

    – Tính tỷ trọng cộng dồn(tần suất tích luỹ) doanh số và mặt hàng theo từng mặt hàng.

    – Tiến hành phân nhóm hàng hoá căn cứ vào kết quả tính toán và qui tắc phân loại.

    • Bảng3.1 Bảng phân loại hàng hóa dự trữ theo qui tắc Pareto
    Số T.T mặt hàng Tên, ký hiệu mặt hàng Doanh số Tỷ trọng doanh số

     

    mi/M

    Tỷ trọng D.S cộng dồn

     

    åmi/M

    Tỷ trọng mặt hàng cộng dồn

     

    i/n

    Xếp loại hàng hóa
    1 ….. m1(max) d1(max) k1 h1 A
    2 ….. m2 d2 k2=80% h2=20%
    3 ….. m3 d3 k3 h3 B
    …. …. …. ….
    ….. …. …. …. ….
    ….. …. …. ….=95% ….=50%
                C
               
               
    n ….. mn dn kn= 100% hn= 100%
        M 100%      

    Có thể mô tả cách phân loại hàng hoá theo qui tắc Pareto ở hình 3.1

     
       
    • Hình 3.1 Đường cong Pareto và phân loại A,B,C
    a.2.          Sử dụng kết quả phân loại
    • Xác định mục tiêu và mô hình quản trị dự trữ: Trên cơ sở kết quả phân loại, có thể xác định mục tiêu và chính sách dự trữ thích hợp. Những hàng hoá thuộc nhóm A yêu cầu chỉ tiêu dịch vụ cao nhất và áp dụng mô hình kiểm tra dự trữ thường xuyên; Những hàng thuộc nhóm C không cần chỉ tiêu dịch vụ cao, và áp dụng mô hình kiểm tra dự trữ định kỳ thông thường.
    • Áp dụng phân loại để kế hoạch hoá vốn dự trữ:

    Trên cơ sở phân loại hàng hoá theo các nhóm A, B, C kết hợp với một số dữ liệu kế hoạch, có thể dự tính vốn dùng cho dự trữ trong thời kỳ kế hoạch. Qui trình tính toán theo các bước như sau:

    • Bước 1: Tính toán dự báo tổng doanh số của các mặt hàng trong năm kế hoạch; xác định tốc độ chu chuyển dự trữ của các nhóm hàng.
    • Bước 2: Xác định tỷ trọng mặt hàng cộng dồn, và trên cơ sở đó xác định tỷ trọng doanh số cộng dồn trong năm kế hoạch dựa vào mối quan hệ giữa tỷ trọng doanh số và mặt hàng cộng dồn theo công thức sau:
     
       
    • Bước 3: Tính tỷ trọng doanh số của từng mặt hàng năm kế hoạch: yi = Yi – Yi-1, và trên cơ sở đó tính doanh số của từng mặt hàng trong năm kế hoạch: mi = M.yi (M: Tổng doanh số năm kế hoạch).
    • Bước 4: Phân loại hàng hoá dự trữ trong năm kế hoạch thành các nhóm A, B, C theo qui tắc phân loại.
    • Bước 5: Xác định vốn dự trữ trung bình của từng mặt hàng trong năm kế hoạch và tổng vốn dự trữ :
    Vdi: Vốn dự trữ của mặt hàng i

     

    Ci: Tốc độ chu chuyển dự trữ nhóm hàng i (A,B,C)

    và:         Vd = åVdi

    Ví dụ bài tập ứng dụng:

    Giả sử ở một kho hàng bảo quản 11 mặt hàng và có mối quan hệ là: X = 0,21; Y = 0,68. Ta xác định được A = 0,12. Kho có chính sách dự trữ khác nhau theo nhóm hàng hoá khác nhau. Tốc độ chu chuyển nhóm hàng A = 7:  1; nhóm B = 5:  1; nhóm C = 3:  1. Nếu doanh số / năm của kho là 25 tỷ đồng thì cần đầu tư dự trữ như thế nào?

    Cách xác định:

    Trước hết ta tính: X1 = 1/N = 1/11 = 0,090;   X2 = 2/11 = 0,1818;  . …

    Từ đây ta tính được Y, ví dụ ta tính Y1

    Và từ đây ta tính được doanh số của mặt hàng 1 là 12.068 triệu (tức, 0,4827 ´ 25.000 triệu). Tương tự tính cho Xi và  Yi được bảng 3.2

    b.              Các hệ thống dự trữ

    b.1.          Hệ thống “kéo” và “đẩy”

    Việc hình thành dự trữ hàng hoá tại các cơ sở logistics có thể do từng cơ sở này quyết định tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của minh; Hoặc có thể do một trung tâm của doanh nghiệp đưa ra các quyết định dự trữ cho cả hệ thống. Vì vậy có 2 hệ thống quản trị dự trữ trong một doanh nghiệp.

    • Hệ thống “kéo”: Với hệ thống này, xem mối cơ sở logistics (điểm dự trữ ) độc lập so với các cơ sở khác trong kênh. Việc hình thành dự trữ được tính toán tuỳ thuộc vào điều kiện của từng vị trí.

     

    • Bảng3.2 Xây dựng kế hoạch dự trữ trên cơ sở phân loại A,B,C
    Thứ tự sản phẩm Tần suất tích luỹ mặt hàng

     

    (Xi)

    Doanh số tích luỹ Doanh số dự tính Dự trữ trung bình Tốc độ c.c

     

    dự trữ

    1

     

    A
    0,0909 12.068 12.068 1.724 7:1
    2 0,1818 16.867   4.798    685 7:1
    3 0,2727 19.444   2.577    515 5:1
    4

     

    B
    0,3636 21.052   1.608    322 5:1
    5 0,4545 22.151   1.099    220 5:1
    6 0,5454 22.950      799    160 5:1
    7 0,6363 23.557      607    202 3:1
    8 0,7272 24.039      477    159 3:1
    9

     

    C
    0,8181 24.419      384    128 3:1
    10 0,9090 24.735      316    105 3:1
    11 1,0000 25.000      265      88 3:1
    12     25.000 4.308  

    Chú ý: Dự trữ trung bình = Doanh số / tốc độ chu chuyển dự trữ.

    Hệ thống kéo phổ biến trong các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là các doanh nghiệp thương mại bán lẻ hoặc bán buôn có qui mô nhỏ.

    – Hệ thống “đẩy”: là hệ thống hình thành dự trữ tại các cơ sở logistics không chỉ tuỳ thuộc vào điều kiện của từng cơ sở logistics (nhu cầu và dự trữ hiện có) mà phụ thuộc vào yêu cầu tập trung và phân phối dự trữ của cả hệ thống (doanh nghiệp ); Hệ thống do một trung tâm điều tiết dự trữ chung (quyết định “đẩy” sản phẩm dự trữ vào các đơn vị”

    Hệ thống này khá phức tạp nhằm tối ưu dự trữ cho cả hệ thống, trong điều kiện hiện nay do phát triển thông tin, hệ thống này càng được áp dụng rộng rãi. Hệ thống này thường được áp dụng đối với chuỗi bán lẻ.

    Mỗi hệ thống dự trữ có các cách thức tính toán các thông số khác nhau và rất phong phú. Nhưng hệ thống nào đi chăng nữa cũng phải đáp ứng các yêu cầu của quản trị dự trữ.

    b.2.          Xác định các thông số dự trữ của hệ thống “đẩy”

    Xác định các thông số của hệ thống này phải trả lời các câu hỏi: ở mỗi kho sẽ duy trì lượng dự trữ bao nhiêu? Phân phối số lượng hàng hoá mua được cho mỗi điểm dự trữ là bao nhiêu?

    Có nhiều phương pháp khác nhau để tính toán các thông số của hệ thống “đẩy”. Ngày nay, do áp dụng công nghệ thông tin hiện đại, có thể xây dựng các mô hình điều tiết dự trữ của hệ thống “đẩy”. Ở đây, chúng ta nghiên cứu 2 phương pháp đơn giản áp dụng trong hệ thống “đẩy”: phương pháp theo tỷ lệ nhu cầu dự báo, và phương pháp theo ngày dự trữ chung.

    • Phương pháp theo tỷ lệ nhu cầu dự báo

    Quá trình tính toán theo phương pháp này như sau:

    – Bước 1: Xác định nhu cầu của thời kỳ kinh doanh cho từng cơ sở logistics (kho).

    – Bước 2: Xác định số lượng hàng hoá dự trữ hiện có ở mỗi cơ sở logistics.

    – Bước 3: Xác định xác suất đảm bảo dự trữ ở mỗi kho.

    – Bước 4: Xác định tổng lượng hàng hoá cần thiết ở mỗi cơ sở logistics trên cơ sở lượng hàng hoá dự báo cộng với lượng hàng hoá dự trữ bảo hiểm.

    – Bước 5:Xác định lượng hàng hoá bổ sung dự trữ – chênh lệch giữa tổng lượng hàng hoá cần thiết và dự trữ hàng hoá hiện có.

    – Bước 6:Xác định số lượng hàng hoá phân phối vượt quá yêu cầu cho từng điểm dự trữ theo tỷ lệ nhu cầu trung bình theo dự báo.

    Bước 7:Xác định số lượng hàng hoá phân phối cho từng điềm dự trữ bằng cách cộng lượng hàng hoá bổ sung dự trữ (bước5) với lượng hàng hoá phân phối vượt quá yêu cầu (bước 6).

    Ví dụ: Một công ty nông sản dự tính mua 125.000 T hàng hoá và sau đó đưa vào dự trữ ở 3 kho phân phối. Công ty phải xây dựng phương án phân phối lượng hàng hoá này cho 3 kho như thế nào đó cho hợp lý. Những dữ liệu báo cáo ở 3 kho như sau:

    – Xác định tổng lượng hàng hoá cần thiết ở từng cơ sở = Dự báo + ( Z ´ sai số dự báo)

    Z: Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn tương ứng với xác suất đảm bảo dự trữ hàng hoá (tra bảng). Chẳng hạn, với xác suất đảm bảo dự trữ Pr = 90%, thì Z = 1,28.

    Kho Dự trữ

     

    hiện có

    (T)

    Nhu cầu theo dự báo

     

    (T)

    Sai số dự báo

     

    (T)

    Xác suất đảm bảo dự trữ(%)
    1   5.000 10.000   2.000 90
    2 15.000 50.000   1.500 95
    3 30.000 70.000 20.000 90

    Kết quả tính toán được thể hiện ở bảng sau:

    Kho Tổng lượng cần thiết (1) Dự trữ

     

    hiện có (2)

    Lượng hàng bổ sung (3)=(1)-(2) Lượng hàng vượt yêu cầu (4) Tổng lượng phân phối

     

    (5)=(3)+(4)

    1   12.560   5.000     7.560   1.105     8.665
    2   52.475 15.000   37.475   5.525   43.000
    3   95.600 30.000   65.600   7.735   73.335
    å 160.635   110.635 14.365 125.000

    Chú ý: Tổng lượng hàng phân phối vượt quá yêu cầu: 14.365 = 125.000 – 110.635. Tỷ lệ phân phối hàng vượt quá yêu cầu: 10.000/50.000/70.000.

    • Phương pháp ngày dự trữ chung

    Đây là phương pháp đơn giản trên cơ sở phân phối từ cùng một nguồn tập trung (như tổng kho) cho mỗi cơ sở logistics trực thuộc một lượng hàng hoá bổ sung dự trữ đảm bảo cho các cơ sở này đều có cùng số ngày dự trữ (tiêu thụ) hàng hóa như nhau. Các bước tiến hành theo phương pháp này như sau:

    Bước 1: Xác định tổng lượng hàng hoá hiện có tại nguồn tập trung, lượng hàng hoá cần dự trữ ở ở nguồn tập trung và lượng hàng hoá cần phân phối cho các cơ sở logistics trực thuộc.

    Bước 2: Xác định lượng hàng hoá dự trữ hiện có và mức tiêu thụ hàng hoá bình quân hàng ngày ở từng cơ sở logistics trực thuộc.

    Bước 3: Xác định số ngày dự trữ chung của cả hệ thống theo công thức sau:

    nd– Số ngày dự trữ chung của cả hệ thống

     

    Qt– Tổng lượng hàng hoá phân phối từ nguồn tập trung

    Di– Số lượng hàng hoá dự trữ hiện có ở từng cơ sở logistics

    – Mức tiêu thu hàng hoá trung bình ngày ở từng cơ sở logistics

    Bước 4: Xác định số lượng hàng hoá phân phối cho mỗi cơ sở logistics theo công thức sau:

    Ví dụ: Một tổng kho xây dựng phương án phân phối hàng hoá cho các kho khu vực trên cơ sở các số liệu trình bày ở bảng sau:

    Đơn vị Dự trữ

     

    hiện có

    Mức tiêu thụ b.q một ngày
    Tổng kho 600 đv  
    Kho 1   50 10 đv
    Kho 2 100 50
    Kho 3   75 15

    Tổng kho muốn giữ lại 100 đv và phân phối 500 đv cho các kho khu vực.

    Theo công thức, ta tính được số ngày dự trữ chung

    ngày

    Từ đây ta tính được:

    đơn vị

    đơn vị

    đơn vị

    3.1.6       Các mô hình kiểm tra dự trữ của hệ thống “kéo”

    Kiểm tra là hoạt động tất yếu của quản trị dự trữ, do đó phải xác định phương pháp kiểm tra. Phải xác định mô hình kiểm tra dự trữ trước vì nó ảnh hưởng đến các thông số quản trị dự trữ như: Điểm đặt hàng, qui mô lô hàng, dự trữ trung bình, và tất nhiên trình độ dịch vụ khách hàng và chi phí. Đối với hệ thống “kéo”, có các mô hình: Mô hình kiểm tra thường xuyên; Mô hình kiểm tra định kỳ thông thường; và Mô hình kiểm tra định kỳ biến dạng.

    a.   Mô hình kiểm tra thường xuyên dự trữ

    Đây là mô hình phải thường xuyên kiểm tra tình trạng dự trữ để đưa ra các quyết định điều tiết dự trữ. Mô hình này thường áp dụng đối với những hàng hoá thuộc nhóm A, hàng có tốc độ chu chuyển nhanh.

    Đối với mô hình này, điểm đặt hàng[1] được xác định như sau:

     
       

    Dđ =

    Qui mô lô hàng được xác định theo cách tính qui mô lô hàng kinh tế Qo

    Khi kiểm tra dự trữ, nếu xẩy ra trường hợp sau:

    Dk + Qđ £ Dđ   ; ở đây, Qđ – Qui mô lô hàng đã đặt (đang thực hiện)

    Dk– Dự trữ thực tế tại thời điểm kiểm tra

    thì tiến hành đặt hàng với qui mô lô hàng kinh tế.

    Với mô hình này, dự trữ trung bình được xác định theo công thức sau:

    b.       Mô hình kiểm tra định kỳ thông thường

    Với mô hình này, sau một thời gian nhất định thì lại tiến hành kiểm tra dự trữ và xác định các thông số dự trữ. Mô hình này có chu kỳ kiểm tra dự trữ dài ngày và thường áp dụng đối với hàng thuộc nhóm C – hàng có tốc độ chu chuyển chậm nhất

    Đối với mô hình này, điểm đặt hàng được tính theo công thức sau:

    Dđ =        ;L- Chu kỳ kiểm tra dự trữ (ngày)

    Qui mô lô hàng cũng được xác định theo cách tính qui mô lô hàng kinh tế Qo

    Dự trữ trung bình trong trường hợp này sẽ là:

    Mô hình này có dự trữ trung bình cao hơn, nhưng vì là hàng có tốc độ chu chuyển thấp (= nhỏ) nên mức độ tăng của dự trữ trung bình không lớn. Bù lại mô hình này giảm được những chi phí cập nhật thông tin thường xuyên.

    c.       Các mô hình kiểm tra biến dạng

    Bao gồm 2 mô hình: mô hình hệ thống chu kỳ đặt hàng cố định, và mô hình 2 mức dự trữ (min- max).

    c.1.           Mô hình hệ thống chu kỳ đặt hàng cố định.

    Đối với mô hình này, chu kỳ kiểm tra cũng đồng thời là chu kỳ đặt hàng, và do đó Dđ = Dk. Mô hình này được áp dụng trong trường hợp đơn đặt hàng có nhiều mặt hàng và thường áp dụng trong các cửa hàng thương mại bán lẻ. Qui mô lô hàng của từng mặt hàng được xác định như sau:

    Qh = Dmax – Dk – Qđ

    ở đây, Dmax– Mức dự trữ bổ sung mục tiêu:

    Với hệ thống này, dự trữ trung bình của từng mặt hàng sẽ là:

    , có thể coi

    Quá trình tính toán các thông số dự trữ của mô hình này như sau:

    – Trước hết, phải xác định chu kỳ kiểm tra chung theo công thức sau:

     
       

    ;

    Từ đây, tính các thông số khác:

    – Tính ;

    – Tính

    – Tính tổng chi phí:

    F = Fđ + Fd + Ft      ở đây, Fđ– Chi phí đặt hàng; Fd– Chi phí dự trữ;

    Ft– Chi phí thiếu hàng

    Fđ =

    – Tính trình độ dịch vụ đối với từng mặt hàng:

    ;

    Ví dụ: Một cửa hàng bán lẻ nhập 2 mặt hàng từ cùng một nguồn hàng trong cùng một lô hàng. Hãy xác định các thông số kế hoạch dự trữ đối với 2 mặt hàng này trên cơ sở các dữ liệu sau:

                               Các dữ liệu Mặt hàng
    A B
    Dự báo nhu cầu (đơn vị/ngày) 25 30
    Sai số dự báo – dm (đơn vị/ngày) 7 11
    Thời gian thực hiện đơn hàng (ngày) 14 14
    Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ (%) 30 30
    Chi phí chung một lần đặt hàng(1000đ)              30
    Chi phí riêng một lần đặt hàng(1000đ) 10 10
    Xác suất đảm bảo dự trữ hàng hoá (%) 70 75
    Giá nhập một đơn vị hàng hoá (1000đ) 150 75
    Chi phí thiếu bán một đơn vị hàng hoá (1000đ) 10 15
    Số ngày trong năm            365

    Các bước tính toán như sau:

    – Xác định chu kỳ kiểm tra dự trữ:

    ngày

    – Xác định Dmax:

    + Tính DmaxA cho mặt hàng A:

    Ta có đơn vị

    PrA =0,70 ® zA =0,52. Vậy DmaxA = 25.(4+14) + 0,52.29,7 = 465 đơn vị

    + Tính DmaxB cho mặt hàng B:

    đơn vị

    PrB =0,75   zB =0,67. Vậy DmaxB =50.(4+14) + 0,67.46,67 = 931 đơn vị

    – Tính dự trữ trung bình:

    đơn vị

    đơn vị

    – Tính tổng chi phí:

    Fđ = nghìn đ

    Fd = FdA + FdB = 0,3.150.65 + 0,3.75.131 = 2925 + 2947,5 =5872,5 nghìn đ

    Ft – Để tính Ft cần  tìm giá trị hàm phân phối chuẩn f(z).

    f(zA) = f(0,52) = 0,1917;   f(zB) = f(0,67) = 0,1503

    Ta có  nghìn

    Vậy F = 4562,5 + 5872,5 + 14796,4 = 25231,4 nghìn

    – Tính trình độ dịch vụ:

    Ta có QA = 25.  4,01 = 101 đơn vị;   QB = 30.  4,03 =121 đơn vị

    Vậy:

    c.2.           Hệ thống 2 mức dự trữ (hệ thống min-max)

    Mô hình này thường được áp dụng với hàng nhóm B với chu kỳ kiểm tra ngắn ngày. Với hệ thống này, tại thời điểm kiểm tra nếu:

    Dk + Qđ < Dmin thì tiến hành đặt hàng với qui mô lô hàng Qh = Dmax – Dk – Qđ

    ở đây, Dmin– Dự trữ thấp nhất, và Dmin = Dđ =

    Dự trữ trung bình cũng được tính theo công thức của mô hình kiểm tra với chu kỳ đặt hàng cố định.

    3.1.7       Xác định qui mô lô hàng (hệ thống dự trữ “kéo”)

    Quan điểm xác định qui mô lô hàng là hợp lý, nghĩa là tận dụng triệt để nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp (vốn, cơ sở vật chất,…) và với chi phí thấp nhất. Có nhiều mô hình xác định qui mô lô hàng nhập. Trong kinh doanh thương mại, thường áp dụng các mô hình: Mô hình nhập từng lần, Mô hình tái cung ứng ngay. Mô hình tái cung ứng ngay thường hay áp dụng và rất phong phú cho nhiều tình thế khác nhau.

    a.       Xác định qui mô lô hàng nhập từng lần

    Mô hình này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp nhập và tiêu thụ hết lô hàng rồi mới đặt tiếp lô hàng sau. Thường áp dụng trong kinh doanh rau quả tươi hoặc kinh doanh những hàng hóa có tính thời vụ hoặc hàng kiểu, mốt.

    Để tìm qui mô lô hàng kinh tế Qo, chúng ta có thể tiến hành phân tích giới hạn kinh tế, có nghĩa qui mô lô hàng mà tại đó, lợi nhuận cận biên của một đơn vị hàng bán ra phải bằng lỗ cận biên không bán được đơn vị hàng hoá đó.

    Lợi nhuận một đơn vị bán ra là:  Lợi nhuận = giá – chi phí đơn vị

    Lỗ một đơn vị bán ra là:        Lỗ    = chi phí đơn vị – chi phí thu hồi đơn vị

    Ta có: CPn ´ Lỗ đơn vị = (1 – CPn ).Lãi đơn vị

    ở đây, CPn– Tần suất tích luỹ bán tối thiểu n đơn vị sản phẩm.

    Từ đó ta có:

    ;

    Có nghĩa, sẽ tiếp tục tăng qui mô lô hàng cho đến khi tần suất tích luỹ bán thêm một đơn vị bằng tỷ lệ

    Ví dụ 1: Một cửa hàng dự tính sẽ bán 100 T hàng trong tuần tới. Phân phối nhu cầu là chuẩn với độ lệch tiêu chuẩn là 20 T. Cửa hàng bán với giá 590.000đ/T, và họ phải trang trải chi phí là 250.000đ/T.

    Trước hết chúng ta tính:

    Tra bảng phân phối chuẩn với tần suất tích luỹ 0,58 thì sẽ có Z = 0,21. Như vậy số lượng lô hàng sẽ là:

    Qo = 100 T + 0,21.  20 T = 104,2 T

    Ví dụ 2: Một cửa hàng thời trang muốn xây dựng đơn đặt hàng tối ưu về một loại hàng hoá kiểu mới. Giá bán mỗi đơn vị hàng hoá là 950.000đ khi mốt đang thịnh hành, và giá đặt mỗi đơn vị là 700.000đ. Khi lạc mốt, họ chỉ bán được với giá 500.000đ. Biết nhu cầu dự đoán với phân phối như sau:

    Số đơn vị bán ra(1000) Tần suất

     

    nhu cầu

    Tần suất

     

    tích luỹ

    0 0,10 0,10
    1 0,15 0,25
    2 0,20 0,45
    3 0,30 0,75
    4 0,20 0,95
    5 0,05 1,00

    Chúng ta chọn qui mô đơn đặt hàng ở:

    Giá trị CPn nằm giữa 2.000 và 3.000, chúng ta chọn Qo = 2.500 đơn vị

    b.       Xác định qui mô lô hàng tái cung ứng ngay

    Lô hàng tái cung ứng ngay là lô hàng dặt để bổ sung dự trữ kịp thời đáp ứng yêu cầu tiêu thụ. Lô hàng tái cung ứng ngay thường áp dụng trong kinh doanh thương mại, đặc biệt trong các cửa hàng bán lẻ. Xác định qui mô lô hàng phải đảm bảo tổng chi phí thấp nhất

    b.1.          Trường hợp đơn giản

    Khi nhu cầu liên tục và có tốc độ ổn định, phải xác định qui mô lô hàng và tần số nhập hàng. Đây là bài toán xác định qui mô lô hàng để có tổng chi phí thấp nhất. Công thức xác định qui mô lô hàng như sau:

    ;

    Trong một số trường hợp, nếu tốc độ cung ứng lớn hơn tốc độ nhu cầu, thì công thức trên phải điều chỉnh như sau:

    ;

    áp dụng mô hình trên đây đòi hỏi một số ràng buộc:

    – Phải đảm bảo thoả mãn mọi nhu cầu

    – Nhu cầu có tính liên tục, ổn định và với cơ cấu đã biết.

    – Thời gian thực hiện chu kỳ nhập hàng ổn định.

    – Giá hàng ổn định không phụ thuộc vào qui mô lô hàng và thời gian (giá mua và chi phí vận chuyển không giảm theo số lượng )

    – Không giới hạn phạm vi kế hoạch hoá.

    -Không có sự tác động qua lại giữa cơ cấu dự trữ.

    – Không tính dự trữ trên đường.

    – Không giới hạn khả năng vốn và diện tích bảo quản hàng hoá.

    Tuy nhiên mô hình trên có những tác dụng trong lập kế hoạch dự trữ:

    – Tìm thấy điểm mà tại đó, chi phí thực hiện đơn hàng và định mứcả bảo dự trữ hàng năm bằng nhau.

    – Xác định được dự trữ trung bình chu kỳ bằng 1/2 qui mô lô hàng.

    – Trong trường hợp mọi cái khác như nhau, giá trị của đơn vị dự trữ có ảnh hưởng đến chu kỳ nhập hàng: hàng có giá trị cao sẽ được đặt nhiều lần hơn.

    b.2.          Trường hợp giảm giá mua và vận chuyển vì lượng

    Do những chính sách marketing mà nguồn hàng và đơn vị vận tải có thể giảm giá khi mua hoặc vận chuyển với đơn đặt hàng có qui mô lớn. Có 2 chính sách giảm giá: chính sách giảm giá toàn phần và chính sách giảm giá từng phần. Chúng ta nghiên cứu phương pháp xác định qui mô lô hàng đối với từng chính sách.

    v   Chính sách giảm giá vì lượng toàn phần.

    Với chính sách này, nguồn hàng sẽ giảm giá cho tất cả các đơn vị hàng hoá khi qui mô lô hàng vượt quá giới hạn nhất định. Có thể tóm tắt chính sách này như sau:

    Qui mô lô hàng(Qi)                             Giá(pi)

    0 < Qi < Q1                                                                 p1

    Qi ³ Q1                                                        p2

    ở đây, Qi– Qui mô lô hàng cần mua;  Q1-Giới hạn qui mô lô hàng có mức giá p1

    p2– Giá hàng hoá khi qui mô lô hàng vượt quá giới hạn Q1

    Việc xác định qui mô lô hàng kinh tế dựa trên cơ sở xác định tổng chi phí thấp nhất của chi phí giá trị hàng hoá mua, chi phí đặt hàng và chi phí dự trữ. Công thức xác định tổng chi phí này như sau:

    ở đây:

    F- Tổng chi phí mua và dự trữ cho cả thời kỳ với qui mô lô hàng Qi

    p– Giá mua với qui mô lô hàng Qi

    M- Nhu cầu cho cả thời kỳ kế hoạch

    fh– Chi phí một lần đặt hàng

    Qi– Qui mô lô hàng cần mua;  kd– Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ

    Đường cong tổng chi phí đối với chính sách này được thể hiện ở hình 3.2

           
       
         
     Qui mô lô hàng
     Q1
     0

    Đường cong xác định (hiện thực)

    đường cong không xác định (không hiện thực)

    • Hình 3.2 Đồ thị tổng chi phí theo qui mô lô hàng

    Quá trình xác định qui mô lô hàng kinh tế theo các bước như sau:

    – Bước 1: Tính qui mô lô hàng kinh tế Qon với mức giá thấp nhất pn. Nếu Qon xác định thì đó là qui mô lô hàng cần tìm. Nếu không, tính tiếp ở bước 2.

    – Bước 2: Lần lượt tính qui mô lô hàng tối ưu với mức giá thấp hơn cho đến khi đạt giá trị nằm trong khoảng xác định. Tính tổng chi phí F theo qui mô lô hàng tối ưu Q0i xác định mức giá pi và theo các qui mô lô hàng giới hạn Qi-1 đến Qn với mức giá thấp hơn.

    – Bước 3: So sánh các phương án chi phí trên, phương án nào có chi phí thấp hơn thì qui mô lô hàng ứng với phương án đó là qui mô lô hàng kinh tế cần tìm.

    Ví dụ: Một trạm bán buôn cần mua một mặt hàng với nhu cầu dự báo là 2.600 đơn vị / năm. Chi phí một đơn đqặt hàng là 100.000đ/đơn, tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ là 20%/năm. Nguồn hàng có chính sách giảm giá vì lượng toàn bộ với 2 mức giá như sau: p1 = 50.000đ/đơn vị cho qui mô mua Qi < 500 đơn vị, và giảm 5% giá khi số lượng mua ³ 500 đơn vị. Vậy trạm bán buôn cần mua với qui mô bao nhiêu để tổng chi phí mua cả năm là thấp nhất?

    – Trước hết ta tính qui mô lô hàng kinh tế Q0 ứng với 2 mức giá;

    đơn vị

    Tương tự ta tính được Q02:

    đơn vị

    Ta nhận thấy Q02 không xác định (234 < 500), tính tiếp.

    – Tính tổng chi phí F(228) và F(500):

    F(228) =nghìn

    F(500) =

    So sánh ta thấy F(500) < F(228). Vậy qui mô lô hàng kinh tế là Q0 = 500 đơn vị

    v   Chính sách giảm giá vì lượng từng phần

    Đối với chính sách này, khi qui mô lô hàng mua vượt quá giới hạn xác định thì nguồn hàng sẽ giảm giá mua cho số lượng đơn vị hàng hoá vượt quá giơí hạn. Có nghĩa:

    Qui mô mua (Qi)                                             Giá mua (pi)

    Qi < Q1                                                              p1

    Qi ³ Q1                                                   p1cho Q1 và p2<p1cho Q2 = Qi-Q1

    Có thể diễn tả đường cong tổng chi phí theo chính sách giảm giá này ở hình 3.3

     
       

    0                                   Q1

    • Hình 3.3 Đồ thị tổng chi phí với chính sách giảm giá một phần

    Để tìm qui mô lô hàng kinh tế Q0, ta tìm cực tiểu của hàm số sau:

    Giải ra ta được:

    Nếu Qx xác định với mức giá thấp nhất p2 thì đây chính là qui mô lô hàng mua kinh tế Q02. Nếu Q02 không xác định thỉ lúc này qui mô lô hàng mua là qui mô lô hàng kinh tế Q01 với mức giá cao hơn p1, tức là:

    Có thể viết công thức tổng quát xác định Qx như sau:

     

    Ví dụ: Cũng với ví dụ trên, nhưng giá chỉ giảm 5% cho lượng hàng ³ 500 đơn vị, tức là cho Q2 = Qx – 499.

    áp dụng công thức tính qui mô lô hàng kinh tế, ta được:

    đơ n vị

    Q02 = 826 xác định với mức giá p2 do đó là qui mô kinh tế.

    b.3.          Trường hợp hạn chế vốn đầu tư và diện tích bảo quản hàng hoá

    Khi doanh nghiệp bị hạn chế vốn dự trữ hoặc không đủ diện tích bảo quản, nghĩa là:

     
       

    Trong điều kiện cần có dự trữ bảo hiểm, thì biểu thức trên là:

    Do yêu cầu phải đảm bảo dự trữ bảo hiểm đáp ứng trình độ dịch vụ khách hàng, và do đó vốn cần thiết cho dự trữ bảo hiểm không thay đổi, thì qui mô lô hàng của các mặt hàng phải điều chỉnh sao cho:

    ; ở đây, Vdb– Vốn dùng để dự trữ bảo hiểm

    Đặt: Vd – Vdb = VQ     ta có

    Các bước tiến hành để xác định qui mô lô hàng Qi như sau:

    -Bước 1:Xác định qui mô lô hàng kinh tế và dự trữ bảo hiểm của từng mặt hàng, sau đó xét xem có phù hợp với giới hạn về vốn dự trữ không:

    ;  ở đây Qoi– Qui mô lô hàng kinh tế

    Nếu thoả mãn biểu thức trên thì không cần phải điều chỉnh. Nếu không thì tiến hành sang bước 2

    – Bước 2:Xác định vốn dùng để dự trữ bảo hiểm và giới hạn vốn dự trữ chu kỳ VQ

    – Bước 3:Xác định hệ số điều chỉnh qui mô lô hàng theo công thức sau:

    Công thức tính hệ số điều chỉnh được xác định trên cơ sở phương trình sau:

    – Bước 4:Xác định qui mô lô hàng điều chỉnh đối với từng mặt hàng bằng cách thêm hệ số điều chỉnh vào công thức tính qui mô lô hàng kinh tế:

    Lẽ dĩ nhiên là khi điều chỉnh, qui mô lô hàng sẽ không còn là kinh tế nữa và tất nhiên tổng chi phí liên quan đến dự trữ sẽ tăng lên.

    Ví dụ: Giả sử một trạm bán buôn kinh doanh 3 mặt hàng. Vốn để đầu tư cho dự trữ 3 mặt hàng này là 130 triệu đ, trong đó 30 triệu dùng để dự trữ bảo hiểm. Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ là 30%/năm. Dữ liệu 3 mặt hàng này như sau:

    Mặt hàng Chi phí

     

    đặt hàng(đ)

    Giá mua

     

    (đ)

    Dự báo

     

    nhu cầu(đ.v)

    1 500.000 200.000 12.000
    2 500.000 100.000 25.000
    3 500.000 150.000   8.000

    Trước hết, chúng ta tính Q0i theo công thức tính kinh tế:

    Q01 = 447,21    Q02 = 912,87 Q03 = 421,64

    Vốn dùng để dự trữ chu kỳ: VQ = 130 tr – 30 tr =100 tr

    Ta có:                ;

    Vậy cần phải điều chỉnh qui mô lô hàng:

    – Xác định hệ số điều chỉnh a

    a = 0,15

    Thay a vào công thức điều chỉnh, ta được:

    đơn vị

    Tương tự ta tính được Q2 = 765 đ.v    và Q3 = 344 đ.v

    b.4.          Xác định qui lô hàng trong trường hợp đã biết chi phí thiếu hàng

    Khi đã biết được chi phí thiếu hàng, không cần phải xác định trình độ dịch vụ khách hàng. Có thể sử dụng phương trình tính lặp sau đây để xác định qui mô lô hàng theo các bước sau:

    – Bước 1:Tính gần đúng qui mô lô hàng theo công thức sau:

    – Bước 2:Tính xác suất đảm bảo dự trữ trong cả thời gian nhập hàng Pr:

    ; ở đây ft– Chi phí thiếu bán một đơn vị hàng hoá

    Xác định độ lệch tiêu chuẩn chung d, xác định giá trị z tương ứng với xác suất Pr. Từ đó, tính giá trị hàm phân phối chuẩn f(z).

    – Bước 3:Tiếp tục tính qui mô lô hàng gần đúng theo công thức sau:

    – Bước 4: Lặp lại bước 2 và 3 cho tới khi không còn sự biến đổi của Pr hoặc Q, và Q cuối cùng đó chính là qui mô lô hàng cần tìm.

    3.1.8       Xác định dự trữ bảo hiểm

    Một trong những chức năng quan trọng của quản trị dự trữ là phải khắc phục những biến động của nhu cầu và chu kỳ nhập hàng có thiếu dự trữ, và như vậy cần phải có dự trữ bảo hiểm.

    Để xác định dự trữ bảo hiểm, cần phải tính được độ lệch tiêu chuẩn của nhu cầu và chu kỳ nhập hàng. Dựa vào số liệu thống kê tình hình nhu cầu và nhập hàng của thời gian đã qua, có thể tính được độ lệch theo công thức sau:

    Trên cơ sở xác định độ lệch của nhu cầu và chu kỳ nhập hàng, có thể xác định được độ lệch chung theo công thức sau:

     
       

    Và dự trữ bảo hiểm phụ thuộc vào độ lệch tiêu chuẩn và xác suất đảm bảo dự trữ. Dự trữ bảo hiểm được xác định theo công thức sau:

    Db = d. z ;  ở đây, Db– Dự trữ bảo hiểm,

    z- Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn phụ thuộc vào xác suất đảm bảo dự trữ

    a.       Xác định các thông số dự trữ trong trường hợp đơn đặt hàng có nhiều mặt hàng

    3.2     QUẢN TRỊ MUA HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    3.2.1    Căn cứ và nguyên tắc mua hàng

    a.       Khái niệm, vai trò của mua hàng trong kinh doanh thương mại

    Mua hàng là hệ thống các mặt công tác nhằm tạo nên lực lượng hàng hoá tại các cơ sở logistics, đáp ứng các yêu cầu dự trữ và bán hàng với tổng chi phí thấp nhất

    Về bản chất kinh tế, mua hàng là hành vi thương mại đầu tiên nhằm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa doanh nghiệp thương mại và các đơn vị nguồn hàng. Mua hàng không phải là mục đích tự thân trong kinh doanh thương mại mà do yêu cầu chia sẻ rủi ro giữa doanh nghiệp thương mại và các doanh nghiệp nguồn hàng trong hệ thống kênh phân phối và vận động hàng hoá. Thực chất, mua hàng là những hoạt động nhằm tạo nguồn lực hàng hoá để triển khai toàn bộ hệ thống logistics, do đó, chất lượng và chi phí logistics chịu ảnh hưởng rất lớn của hoạt động mua hàng. Tuy rằng không phải mọi hoạt động mua có liên quan trực tiếp đến nhà quản trị logistics, nhưng mua ảnh hưởng gián tiếp đến dòng hàng trong kênh logistics. Các quyết định liên quan đến việc lựa chọn điểm giao hàng, việc xác định số lượng và thời gian mua, lựa chọn hình thức hàng hoá và phương pháp vận chuyển đôi khi là những quyết định quan trọng ảnh hưởng đến chi phí logistics. Ngược lại, các hoạt động liên quan đến thương lượng hợp đồng, đánh giá nguồn hàng, đảm bảo số lượng và phân tích giá trị không trực tiếp tạo ra sự di chuyển, dự trữ hàng hoá trong kênh cung ứng. Do đó, có thể nói rằng, mua hàng không hoàn toàn là trách nhiệm của các nhà quản trị logistics. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa mua và các hoạt động kho – vận có thể là rất quan trọng. Trong chương này, chúng sẽ chỉ nghiên cứu các hoạt động mua có liên quan đến logistics.

    Vai trò của mua hàng trong kinh doanh thương mại:

    – Tạo nguồn lực logistics – hàng hoá – ban đầu để triển khai toàn bộ hệ thống logistics: Đảm bảo bổ sung dự trữ kịp thời với cơ cấu hợp lý và chất lượng đảm bảo. Trên cơ sở đó, thoả mãn tốt nhất nhu cầu dịch vụ của khách hàng, đặc biệt dịch vụ mặt hàng, dịch vụ thời gian.

    – Tạo điều kiện để giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho kinh doanh thương mại.

    Mua hàng có vị thế quan trọng do trong doanh nghiệp thương mại, giá trị hàng hoá do mua chiếm tỷ lệ lớn, từ 60% – 80% doanh thu. Do dố, chỉ cần giảm chi phí tương đối trong mua là đã ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận hơn là giảm những chi phí khác. Ảnh hưởng này của mua được gọi là nguyên lý đòn bẩy.

    Ví dụ: Nguyên lý đòn bẩy có thể được thể hiện thông qua bản thuyết minh lỗ lãi với mục tiêu là tăng lợi nhuận lên gấp đôi (Bảng 3.3)

    • Bảng3.3 Nguyên lý đòn bẩy của giảm chi phí mua

    Đơn vị: triệu đ

    Chỉ tiêu Hiện tại Tăng doanh thu +25% Tăng giá bán +5% Giảm chi phí LĐTL -25% Giảm chi phí quản lý -33% Giảm chi phí mua

     

    -8,5%

    1. Doanh thu 100 125 105 100 100 100
    2. Giá trị hàng hoá 60 75 60 60 60 55
    3. Lao động và tiền lương 20 25 20 15 20 20
    4. Quản lý 15 15 15 15 10 15
    5. Lợi nhuận 5 10 10 10 10 10

    Đồng thời, giảm giá mua còn làm tăng hiệu quả thu hồi vốn do làm tăng lợi nhuận và giảm vốn dùng cho mua.

    Ví dụ: Giả sử một công ty đạt đươc 100 tr.đồng doanh số năm với tổng chi phí là 95 tr.đồng, tổng vốn là 50 tr, trong đó có 20 tr dùng để dự trữ, trị giá (chi phí ) mua chiếm 50% doanh thu. Công ty có thể giảm được 5% giá mua vì lượng. Vậy có thể cải thiện mức thu hồi vốn như thế nào ?

    Chúng ta có thể sử dụng mô hình phân tích thu hồi vốn như hình 3.4

    Theo mô hình, Giảm giá mua làm tăng 50% lợi nhuận và giới hạn lợi nhuận – hiệu quả đòn bẩy. Mặt khác, Giảm giá mua làm giảm vốn do giá trị dự trữ chỉ còn 95% so với giá trị ban đầu. Việc đó làm tăng tốc đọ chu chuyển vốn lên 2,04% so với 2,00% ban đầu. Suất thu hồi trên vốn tăng đến 15,3% so với ban đầu 10%, có nghĩa tăng thêm 5,3%.

     
       
    • Hình 3.4 Hiệu quả thu hồi vốn do giảm giá mua theo mô hình thu hồi vốn

    b.       Các căn cứ và nguyên tắc mua

    Để mua hàng một cách hợp lý, cần phải căn cứ vào những yếu tố sau;

    – Căn cứ vào các quyết định marketing về mặt hàng, giá, trình độ dịch vụ khách hàng

    – Căn cứ vào kết quả phân tích giá trị gia tăng, phân tích dự trữ, tình hình bán hàng, phân tích chi phí, phân tích nguồn hàng.

    – Căn cứ vào khả năng vốn dùng cho dự trữ, dùng cho mua hàng hoá

    Các nguyên tắc để tiến hành mua hàng bao gồm:

    – Nguyên tắc nhiều nhà cung ứng: Nguyên tắc này nhằm tránh cho doanh nghiệp khỏi bị lệ thuộc vào nguồn hàng, do đó, tránh được những rủi ro và bị nguồn hàng đưa ra những điều kiện bất lợi, gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

    – Nguyên tắc cân đối lợi ích, tạo mối liên hệ lâu dài, bền vững giữa doanh nghiệp thương mại và nguồn hàng, thực hiện tốt marketing các mối liên hệ.

    – Nguyên tắc dịch vụ và chi phí logistics: Đảm bảo cung cấp hàng hoá để bổ sung dự trữ kịp thời, giảm chi phí cho toàn bộ quá trình cung ứng.

    3.2.2    Các quyết định cơ bản trong quản trị mua hàng

    Kế hoạch mua gồm những nội dung cơ bản sau: Xác định số lượng, cơ cấu hàng hoá mua; xác định tổng trị giá hàng hoá mua; xác định nguồn hàng mua; xác định các chính sách thời điểm và lô hàng mua.

    a.       Xác định số lượng, cơ cấu và tổng trị giá hàng hoá mua

    Thông thường, để tính số lượng hàng hoá cần mua có thể dựa vào công thức cân đối. Theo quan điểm logistics, có thể xác định số lượng hàng mua theo công thức sau:

    M = (B + K + X + H) – (D + N)

    Ở đây,   M: Lượng hàng hoá cần mua

    B : Dự báo bán

    K: Lượng hàng mà khách hàng đã đặt hoặc ký hợp đồng

    X: Lượng hàng dùng để xúc tiến

    H: Lượng hàng hoá hao hụt (nếu có)

    D: Dự trữ hiện có

    N: Lượng hàng hoá đã đặt hoặc đã ký hợp đồng với nguồn hàng

    Trên cơ sở tính số lượng hàng hoá cần mua, dự tính giá mua, có thể xác định được tổng trị giá hàng hoá mua trong thời kỳ kế hoạch nhằm tính toán các chỉ tiêu chi phí vốn mua và các chỉ tiêu khác trong kinh doanh. Đồng thời phân bổ khối lượng, doanh số mua cho từng thời kỳ, theo từng đơn vị logistics (trạm bán buôn, cửa hàng bán lẻ ), và có thể theo đơn vị nguồn hàng.

    b.       Quyết định nguồn hàng

    Chất lượng cung ứng hàng hóa cho khách hàng và hiệu quả mua hàng phụ thuộc rất lớn vào việc xác định đúng nguồn hàng.

    b.1.          Tầm quan trọng của nguồn hàng

    Nguồn hàng là các hãng hoặc cá nhân cung cấp hàng hóa cho doanh nghiệp thương mại.

    Chọn Nguồn hàng có tầm quan trọng lớn trong hoạt động Logistics và trong kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.

    • Nguồn hàng đảm bảo cung cấp hàng hóa với số lượng đầy đủ, chất lượng, ổn định, chính xác,…đáp ứng yêu cầu của kinh doanh với chi phí thấp.
    • Chọn nguồn hàng tạo nên các mối quan hệ chiến lược, thực hiện marketing các mối quan hệ.
    • Chọn nguồn hàng tốt sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

    Theo giáo sư Wibur England thì:

     “ Một nhà cung cấp đáng tin cậy là người luôn trung thực và công bằng trong quan hệ với khách hàng, nhân viên và với chính bản thân minh; Họ có đầy đủ các trang thiết bị, máy móc thích hợp, có phương pháp công nghệ tốt để có thể cung cấp vật tư hàng hóa đủ số lượng, đúng chất lượng, kịp thời hạn với giá cả hợp lý; Nhà cung cấp tin cậy có tình hình tài chính lành mạnh, chính sách quản trị tiên tiến, linh hoạt, sáng tạo, không ngừng cải tiến quy trình sản xuất cho hoàn thiện hơn, và cuối cùng, nhà cung cấp hiểu được rằng quyền lợi của anh ta được đáp ứng nhiều nhất khi anh ta phục vụ khách hàng tốt nhất”

    Như vậy, nguồn hàng là tài sản vô giá, một trong những nhân tố chiến lược của môi trường vi mô trong các doanh nghiệp thương mại: 3C+1S (Customer, Competator, Company, Suplier)

    b.2.          Quá trình lựa chọn nguồn hàng

    Quá trình nghiên cứu và chọn nguồn hàng có thể theo sơ đồ của hình 5.1

    v Giai đoạn thu thập thông tin

    Nguồn dữ liệu bao gồm sơ cấp và thứ cấp. Trước hết cần thu thập thông tin thứ cấp: Các báo cáo về tình hình mua và phân tích nguồn hàng trong doanh nghiệp, thông tin trong các ấn phẩm (niên giám, bản tin thương mại, báo, tạp chí,…), thông qua những thông tin xúc tiến của các nguồn hàng.

    • Hình 3.5 Quá trình lựa chọn nguồn hàng

    Tất nhiên thông tin thứ cấp có thể đã cũ hoặc không chính xác, không có. Và do đó cần phải có những dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra khảo sát trực tiếp tại các nguồn hàng. Tùy thuộc vào những tiêu chuẩn cần để đánh giá các nguồn hàng mà tiến hành thu thập những dữ liệu cần thiết

    v Giai đoạn đánh giá, lựa chọn

    Trước hết, cần phân loại các nguồn hàng theo các tiêu thức cơ bản, như theo thành phần kinh tế, theo vị trí trong kênh phân phối, theo trình độ công nghệ,…Mỗi loại nguồn hàng theo các cách phân loại sẽ cho những đặc điểm nhất định để đánh giá, lựa chọn

    Tiếp theo, cần đánh giá các nguồn hàng theo các tiêu chuẩn xác định. Các tiêu chuẩn có thể khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp, đặc điểm của các nguồn hàng theo các cách phân loại, nhưng về cơ bản bao gồm những tiêu chuẩn về Sức mạnh marketing – chất lượng, giá cả; Sức mạnh tài chính – năng lực vốn kinh doanh, qui mô,…; Sức mạnh Logistics – Độ tin cậy trong việc giao hàng, cung cấp dịch vụ,…

    Để thuận tiện cho việc xếp loại nguồn hàng, có thể sử dụng mô hình lượng hóa đánh giá nguồn hàng

           
         
       
     

    Theo mô hình này, có thể xếp loại sơ bộ các nguồn hàng theo điểm đánh giá từ cao đến thấp (Bảng 3.4)

    • Bảng3.4 Ví dụ về phân tích nguồn hàng
    Các tiêu chuẩn Xếp loại
    Rất kém

     

    (0£1)

    Kém

     

    (1£2)

    Khá tốt

     

    (2£3)

    Tốt

     

    (3<4)

    Rất tốt

     

    (4)

    – Khả năng kỹ thuật và sản xuất         ´
    – Cạnh tranh giá     ´    
    – Chất lượng sản phẩm         ´
    – Độ tin cậy cung ứng     ´    
    – Khả năng dịch vụ         ´
    4 + 2 + 4 + 2 + 4 = 16          
    Điểm trung bình: 16/5 =3,2          

    Ghi chú: Nguồn hàng này mạnh trừ 2 tiêu chuẩn. Đại diện mua phải quyết định xem 2 điểm yếu này có quan trọng không. Sẽ phải phân tích lại đồng thời sử dụng độ quan trọng đối với 5 tiêu chuẩn.

    v Giai đoạn tiếp xúc, đề nghị

    Là giai đoạn của quá trình trong đó, doanh nghiệp cử cán bộ mua thăm nguồn hàng để đưa ra những đề nghị. Những đề nghị này có tính nguyên tắc thiết lập mối quan hệ mua, bán giữa doanh nghiệp và nguồn hàng về sản phẩm mua, giá cả, cách thức đặt hàng và cung ứng, thủ tục và hình thức thanh toán,…

    Trên cơ sở những thông tin sau khi tiếp xúc với các nguồn hàng, kết hợp với những thông tin thông qua giai đoạn đánh giá, tiến hành xếp loại nguồn hàng theo thứ tự ưu tiên để tiến hành các mối quan hệ mua.

    v Giai đoạn thử nghiệm

    Sau giai đoạn tiếp xúc, đề nghị chỉ mới xếp loại được các nguồn hàng có nhiều tiềm năng nhất, chứ chưa phải là những nguồn hàng chính thức quan hệ lâu dài có tính chiến lược, và do đó phải trải qua giai đoạn thử nghiệm.

    Giai đoạn thử nghiệm nhằm kiểm tra trong một thời gian nhất định các nguồn hàng có đảm bảo đạt được những tiêu chuẩn thông qua các thương vụ mua bán hay không. Nếu các nguồn hàng đạt được những tiêu chuẩn và đảm bảo độ tin cậy cao, có thể xếp các nguồn hàng vào quan hệ đối tác lâu dài. Nếu các nguồn hàng qua thời gian thử nghiệm không đạt được những tiêu chuẩn đặt ra, cần chọn và tiến hành thử nghiệm đối với nguồn hàng tiếp theo trong danh sách những nguồn hàng tiềm năng.

    3.2.3    Xác định chính sách mua

    a.              Chính sách thời điểm mua

    Thời điểm mua hàng có ảnh hưởng đến giá cả, chi phí vận chuyển, chi phí đảm bảo dự trữ. Có chính sách mua tức thì, tức là chính sách mua chỉ đáp ứng khi có nhu cầu; chính sách mua trước có lợi thế khi giá mua sẽ cao hơn trong tương lai; chính sách mua hỗn hợp:  phối hợp mua tức thì và mua trước. Cần phân biết mua trước với mua đầu cơ. Mua đầu cơ có động cơ phong toả tăng giá trong tương lai, do đó, số lượng mua có thể vượt quá tông nhu cầu thời vụ dự đoán.

    Chính sách mua tức thì có ưu thế khi giá đang giảm và do đó, hiện tại không nên mua với số lượng lớn khi mua dần có thể đem lại giá thấp hơn. Mặt khác, mua trước là hành động mua với số lượng vượt quá nhu cầu hiện tại, nhưng không vượt quá nhu cầu dự báo trong tương lai. Chính sách này hấp dẫn khi mà giá mua trong tương lai sẽ tăng, và nếu mua trước sẽ với mức giá thấp. Tuy nhiên lúc này, dự trữ sẽ tăng và do đó sẽ phải cân nhắc giữa tăng chi phí dự trữ và lợi thế giá thấp. Khi nhu cầu có tính thời vụ, việc kết hợp 2 chính sách này – gọi là chính sách mua hỗn hợp – có thể đem lại hiệu quả.

    Ví dụ: Giả sử một trạm bán buôn có nhu cầu tiêu thụ một mặt hàng trong năm là 10000 đv/tháng. Biểu giá thời vụ được cho ở bảng 3.5

    • Bảng3.5 Bảng giá theo các tháng trong năm

    Đơn vị tính: đồng

    Tháng Giá Tháng Giá
    1 30.000                                  7 10.000
    2 26.000                                  8 14.000
    3 22.000                                  9 18.000
    4 18.000                                10 22.000
    5 14.000                                11 26.000
    6 10.000                                12 30.000

    Trong trường hợp này, trạm sẽ chọn chính sách mua hỗn hợp. Do giá giảm dần từ tháng 1 đến tháng 6 nên trạm sử dụng chính sách mua tức thì ở thời kỳ này, còn từ tháng 7 đến tháng 12, trạm sử dụng chính sách mua trước có thể từ 2, 3, 6 tháng. Việc lựa chọn chính sách mua tốt nhất đòi hỏi phải cân đối được việc giảm chi phí do mua trước với chi phí dự trữ gia tăng do mua trước. Nếu chi phí đảm bảo 1 đv dự trữ là 100000đ/năm thì chi phí dự trữ trung bình đối với phương án mua tức thì là:  (10000/2)´100000 = 500 tr.đ/năm. Với chính sách mua trước 2 tháng vào 6 tháng sau, chi phí dự trữ sẽ là: [(10000/2).6/12 + (20000/2).6/12 ].100000 =750 tr. Chi phí dự trữ đối với chính sách mua trước 3 tháng và 6 tháng sẽ là 1000 tr(1 tỷ) và 1750tr (1,75 tỷ). Tổng chi phí đối với các chính sách mua được thể hiện ở bảng 3.6.

    Nhìn vào bảng, ta thấy tổng chi phí thấp nhất đối với chính sách mua tức thì cả năm. Chi phí dự trữ tăng nhanh hơn vào thời kỳ mua trước. Tuy nhiên, nếu có sự giảm giá mua và cước phí vận chuyển do tăng qui mô thì mua trước có thể kinh tế hơn.

    • Bảng3.6 Các chính sách mua hỗn hợp
    Tháng Chi phí giá trị hàng hoá mua
    Mua tức thì Mua trước

     

    2 tháng

    Mua trước

     

    3 tháng

    Mua trước

     

    6 tháng

    1 300 tr 300 tr 300 tr 300 tr
    2 260 – 260 – 260 – 260 –
    3 220 – 220 – 220 – 220 –
    4 180 – 180 – 180 – 180 –
    5 140 – 140 – 140 – 140 –
    6 100 – 100 – 100 – 100 –
    7 100 – 200 – 300 – 600 –
    8 140 –
    9 180 – 360 –
    10 220 – 660 –
    11 260- 520 –
    12 300 –
    Cộng         2400 tr         2280 tr        2160 tr          1800
    Chi phí

     

    dự trữ

     500 tr  750 tr        1000 tr   1750 tr
    Tổng

     

    cộng

    2900 tr 3030 tr        3160 tr  3555 tr

    Như vậy để lựa chọn chính sách mua thích hợp, cần phải tính tổng chi phí giá trị mua và dự trữ của từng chính sách mua theo công thức sau:

    Ơ đây: Fm: Tổng chi phí mua trong cả kỳ kế hoạch

    pi: Giá mua vào thời điểm mua lượng hàng hoá mi

    mi: Lượng hàng hoá mua vào thời điểm ứng với giá pi

    d: Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ hàng hoá

    Tkh: Tổng thời gian trong cả kỳ kế hoạch

    ti: Khoảng thời gian đầu và cuối kỳ nhập lượng hàng hoá mi

    b.       Xác định chính sách qui mô lô hàng

    Qui mô lô hàng mua phải được tính toán để đảm bảo tổng chi phí mua và dự trữ nhỏ nhất, tức là xác định qui mô lô hàng hợp lý. Các phương pháp xác định qui mô lô hàng đã được trình bày trong phần quản trị dự trữ hàng hoá.

    3.2.4    Thiết kế và triển khai quá trình nghiệp vụ mua hàng

    Là tập hợp các công tác liên hệ kế tiếp nhau có tính chu kỳ nhằm thực hiện từng thương vụ mua

    Ngoài việc lựa chọn nguồn hàng, các chính sách mua thì thiết kế và triển khai quá trình nghiệp vụ mua ảnh hưởng lớn đến kết quả mua. Tùy thuộc vào các quyết định của dự trữ, đặc điểm của nguồn hàng và hàng hóa cần mua, yêu cầu của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng mà quá trình nghiệp vụ mua khác nhau, nhưng về cơ bản diễn ra theo một quá trình thể hiện trên hình

     
       
    • Hình 3.6 Quá trình nghiệp vụ mua hàng

    a.       Quyết định mua

    Giai đoạn đầu tiên của quá trình nghiệp vụ mua là quyết định mua, có nghĩa khi nào thì mua, mua cái gì và bao nhiêu, và cách thức mua.

    Mua được tiến hành khi có quyết định đặt hàng bổ sung dự trữ tùy thuộc vào mô hình kiểm tra dự trữ áp dụng, khi đòi hỏi đáp ứng lô hàng cung ứng trực tiếp cho khách hàng, khi phải khai thác những cơ hội trên thị trường (mua mặt hàng mới, mua để tận dụng sự biến động của giá cả trên thị trường,…)

    Thời điểm mua tùy thuộc vào việc xác định chính sách mua của doanh nghiệp: Mua tức thời, mua trước,…

    Trong giai đoạn quyết định mua, đồng thời phải xác định đặc điểm của lô hàng mua: hàng hóa cần mua, số lượng, chất lượng, thời gian nhập hàng, giá cả,…nhằm tiến hành đặt hàng hoặc thương lượng với các nguồn hàng.

    Cần xác định phương thức mua: Mua lại không điều chỉnh, mua lại có điều chỉnh, hoặc mua mới

    Mua lại không điều chỉnh được tiến hành đối với nguồn hàng đã có quan hệ mua theo mối liên kết chặt chẽ. Là phương thức mua không có những vấn đề gì lớn cần phải điều chỉnh, thương lượng với nguồn hàng. Phương thức này thường được thực hiện dưới các hình thức đặt hàng đơn giản từ phía người mua. Những nguồn hàng đang cung ứng (gọi là người cung ứng trong – insuppliers) thường nỗ lực nâng cao  chất lượng cung ứng để duy trì mối quan hệ này. Phương thức mua này thường áp dụng trong hệ thống kênh tiếp thị dọc.

    Mua lại có điều chỉnh là phương thức mua lại nhưng cần thương lượng, điều chỉnh để đi đến thống nhất giữa người mua và bán về hàng hoá, giá cả, cách thức cung ứng, …trong trường hợp tình thế môi trường thay đối và những quyết định mua bán của các bên không phù hợp. Nếu không đi đến thống nhất, có thể phải chuyển nguồn cung ứng (người cung ứng ngoài – out-suppliers).

    Mua mới là phương thức mua bắt đầu tạo lập mối quan hệ với nguồn cung ứng để mua trong trường hợp doanh nghiệp mới bắt đầu kinh doanh, hoặc kinh doanh mặt hàng mới, thay đổi công nghệ chế tạo sản phẩm, hoặc không triển khai được phương thức mua có điều chỉnh, hoặc xuất hiện nguồn hàng mới với những đề nghị hấp dẫn. Lúc này phải xác định lại nguồn hàng, và cần thiết phải nghiên cứu và phân tích lựa chọn nguồn hàng.

    b.       Xác định nguồn hàng

    Mỗi thương vụ có thể phải xác định nguồn hàng tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Những căn cứ để xác định nguồn hàng:

    • Căn cứ vào phương thức mua: Trường hợp mua lại không điều chỉnh hoặc mua lại có điều chỉnh nhưng 2 bên đi đến thống nhất những vấn đề trong mua thì không cần xác định nguồn hàng. Trường hợp mua mới hoặc mua lại có điều chỉnh nhưng không đạt được thỏa thuận giữa các bên thì cần phải xác định lại nguồn hàng.
    • Căn cứ vào danh sách xếp loại nguồn hàng: theo danh sách xếp loại ưu tiên đã nghiên cứu để chọn nguồn hàng “thay thế” nguồn hàng hiện tại.
    • Căn cứ kết quả đánh giá nguồn hàng sau những lần mua trước: Sau mỗi thương vụ đều có đánh giá các nguồn hàng. Những nguồn hàng không đạt được những yêu cầu của doanh nghiệp thì cần phải thay thế, và do đó phải xác định lại nguồn hàng.
    • Căn cứ vào sự xuất hiện nguồn hàng mới hấp dẫn: Trường hợp này cần phải tiến hành nghiên cứu, đánh giá nguồn hàng mới một cách cẩn thận.

    c.       Đặt hàng, ký hợp đồng mua

    Đặt hàng, ký hợp đồng mua nhằm tạo nên hình thức pháp lý của quan hệ mua bán. Có thể có 2 cách tiến hành:

    Cách 1:

     
       

    Cách này thường áp dụng đối với phương thức mua lại không điều chỉnh hoặc mua lại có điều chỉnh trong trường hợp nguồn hàng chấp nhận những thay đổi của bên mua. Cách này đơn giản theo đó, người mua chỉ việc lập đơn hàng rồi sử dụng các phương tiện chuyển phát đơn hàng cho bên mua (fax, email,…)

    Cách 2:

    Cách này thường áp dụng với phương thức mua mới với nguồn hàng mới, phương thức mua lại có điều chỉnh trong trường hợp nguồn hàng và bên mua cần gặp nhau để thương lượng, hoặc trong trường hợp thay thế nguồn hàng hiện tại.

    Để đàm phán đạt kết quả, cần tuân thủ qui trình hợp lý sau:

    • Giai đoạn chuẩn bị
    • Giai đoạn tiếp xúc
    • Giai đoạn đàm phán
    • Giai đoạn kết thúc đàm phán – ký kết hợp đồng cung ứng
    • Giai đoạn rút kinh nghiệm

    Những thông tin cần có trong đơn hàng hoặc hợp đồng mua bán:

    • Tên và địa chỉ của công ty đặt hàng
    • Số, ký mã hiệu của đơn đặt hàng
    • Thời gian lập Đơn đặt hàng
    • Tên và địa chỉ của nhà cung cấp
    • Tên, chất lượng, qui cách hàng hóa cần mua
    • Số lượng hàng hóa cần mua
    • Giá cả
    • Thời gian, địa điểm giao hàng
    • Thanh toán…
    • Ký tên

    Mối điều  khoản trong đơn hàng và hợp đồng phải tính toán cẩn thận theo cách tiếp cận phương án kinh doanh.

    d.       Nhập hàng

    Là quá trình thực hiện đơn đặt hàng, hợp đồng mua bán và đưa hàng hoá vào các cơ sở Logistics (kho, cửa hàng bán lẻ). Nội dung nhập hàng bao gồm giao nhận hàng hoá và vận chuyển.

    Giao nhận hàng hoá là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa nguồn hàng và doanh nghiệp. Quá trình giao nhận có thể tại kho của nguồn hàng hoặc tại cơ sở logistics của bên mua. Trong trường hợp giao nhận tại kho của nguồn hàng, bên mua phải chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hoá. Nội dung giao nhận hàng hoá bao gồm tiếp nhận số lượng và chất lượng hàng hoá, làm chứng từ nhập hàng.

    Nguồn hàng thường chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hoá, bởi nó có thể tiết kiệm được chi phí cho cả người mua và bán. Nhưng trong những trường hợp nhất định, bên mua phải tự mình vận chuyển hàng hoá (do đặc điểm hàng hoá phải có phương tiện vận tải chuyên dụng, hoặc nguồn hàng không có khả năng tổ chức vận chuyển hàng hoá ). Trong trường hợp này, bên mua phải có phương án vận chuyển hợp lý đảm bảo chi phí thấp nhất.

    Về mặt tác nghiệp quan hệ kinh tế, sau khi giao nhận là kết thúc một lần mua hàng. Nhưng theo góc độ quản trị, sau khi giao nhận hàng hoá, cần phải tiến hành đánh giá quá trình nghiệp vụ mua nhằm cung cấp thông tin để điều chỉnh chu kỳ mua sau đạt kết quả tốt hơn.

    e.       Đánh giá sau mua

    Là việc đo lường kết quả sau mua theo các tiêu chuẩn, xác định nguyên nhân của thương vụ không đáp ứng yêu cầu.

    Các tiêu chuẩn đánh giá sau mua:

    • Tiêu chuẩn lô hàng: Mức độ đáp ứng yêu cầu mua về số lượng, cơ cấu, chất lượng.
    • Tiêu chuẩn hoạt động: Gồm thời gian thực hiện đơn hàng hoặc hợp đồng, tính chính xác của thời gian và địa điểm giao nhận
    • Tiêu chuẩn chi phí: Mức độ tiết kiệm chi phí trong quá trình mua.

    So sánh kết quả thực hiện với các tiêu chuẩn. Nếu thực hiện chưa tốt các tiêu chuẩn đặt ra, cần xác định nguyên nhân để có hành động thích hợp. Nguyên nhân có thể do bên bán hoặc mua.

    * Vilfredo Pareto – Nhà kinh tế học Italia phát minh qui tắc này năm 1906

    [1] Là Tiêu chuẩn dự trữ để so sánh với dự trữ thực tế kiểm tra nhằm quyết định đặt hàng (mua hàng)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận nguồn nhân lực logistics việt nam

    Tiểu luận nguồn nhân lực logistics việt nam

    Tiểu luận nguồn nhân lực logistics việt nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Chuỗi cung ứng Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-logistics-vi%E1%BB%87t-nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận nguồn nhân lực logistics việt nam

    Tiểu luận ” nguồn nhân lực logistics việt nam “

    LOGISTICS “LẠ” NHƯNG KHÔNG “MỚI”

    Logistics hoàn toàn không phải là lĩnh vực mới mẻ tuy nhiên để hiểu đúng thuật ngữ này là một vấn đề khó khăn. Ngày xưa Logistics chỉ đơn thuần là một hoạt động chức năng đơn lẻ, là công việc “hậu cần” cho một tổ chức. Ngày nay logistic đã phát triển mở rộng sang nhiều lĩnh vực và phạm vi khác nhau. Những lợi ích to lớn mà nó mang lại thì không phải bàn cải. Trong lĩnh vực kinh tế thuật ngữ logistics được sử dụng như một ngành mang lại nhiều nguồn lợi to lớn. Theo Luật Thương mại Việt Nam, logistics là một hoạt động thương mại do các thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho bãi, làm thủ tục hải quan và các loại giấy tờ, tư vấn khách hàng, đóng gói, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa để hưởng phí thù lao. Hoặc hiểu một cách đơn giản, logistics là việc thực hiện và kiểm soát toàn bộ hàng hóa cùng những thông tin có liên quan từ nơi hình thành nên hàng hóa cho đến điểm tiêu thụ cuối cùng

    Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%.Sự phát triển dịch vụ logistic có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất,kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẻ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    VÀI NÉT VỀ LOGISTICS VIỆT NAM

    Nếu như những năm đầu thập niên 90, số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận, logistics chỉ đếm được trên đầu ngón tay thì đến nay, như đã nói ở trên, số doanh nghiệp kinh doanh loại hình dịch vụ “béo bở” này đã lên tới hàng ngàn doanh nghiệp. Thời kỳ cao điểm, gần như tuần nào cũng có một công ty giao nhận, logistics được cấp phép hoạt động hoặc bổ sung chức năng logistics.

    Trong những năm gần đây, ngành dịch vụ logistics tại Việt Nam đã và đang phát triển rất nhanh chóng, từ một vài doanh nghiệp giao nhận quốc doanh của đầu thập niên 90 đến nay đã có hơn 600 công ty được thành lập và hoạt động từ Nam, Trung, Bắc. Theo thông tin từ Sở kế hoạch đầu tư TP.HCM thì trung bình mỗi tuần có một công ty giao nhận, logistics được cấp phép hoạt động hoặc bổ sung chức năng logistics. Hiện nay, đối với doanh nghiệp làm dịch vụ giao nhận, logistics tại Việt Nam, vốn và trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, ngay cả các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn của ngành cũng không còn là rào cản và lợi nhuận biên (profit margin), lợi nhuận trên vốn tương đối cao (theo các thống kê ở mức trung bình ngành vào khoảng 18-20%). Cứ theo đà này thì trong vài năm nữa Việt Nam sẽ vượt cả Thái Lan (1100 công ty), Singapore (800), Indonesia, Philipin (700-800) về số lượng các công ty logistics đăng ký hoạt động trong nước. Các công ty giao nhận nước ngoài, mặc dù các quy định về pháp luật Việt Nam chưa cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, bằng cách này, cách nọ cũng thành lập chừng vài chục doanh nghiệp, chủ yếu tại TP.HCM. Việc phát triển nóng của ngành logistics theo chúng tôi là điều đáng lo ngại do các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, xét về quy mô (con người, vốn, doanh số…) vẫn rất nhỏ bé, ngoại trừ vài chục doanh nghiệp quốc doanh và cổ phần là tương đối lớn (từ 200-300 nhân viên), số còn lại trung bình từ 10-20 nhân viên, trang thiết bị, phương tiện, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, chủ yếu mua bán cước tàu biển, cước máy bay, đại lý khai quan và dịch vụ xe tải, một số có thực hiện dịch vụ kho vận nhưng không nhiều. Nói chung là hoạt động thiếu đồng bộ, manh mún và quy mô nhỏ, mức độ công nghệ chưa theo kịp các nước phát triển trong khu vực Đông Nam Á.

    Theo bảng xếp hạng của Ngân hàng thế giới về chỉ số hiệu quả hoạt động logistics, Việt Nam đứng thứ 53 trên toàn thế giới và thứ 5 trong khu vực ASEAN. Trong một hội thảo về logistics hồi tháng 9 năm nay, các chuyên gia cho biết chi phí logistics của Việt Nam chiếm đến 25% GDP, chứng tỏ dịch vụ này chưa phát triển trong khi chi phí này ở Mỹ chiếm 9,5% GDP, Nhật là 11%, Hàn Quốc 16%, Trung Quốc 21,6%.

    Theo nghiên cứu và đánh giá của viện Nomura (Nhật Bản), các doanh nghiệp kho vận (logistics) tại Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics. Nguyên nhân và cũng là bài toán nan giải chính là nguồn nhân lực.

    NGUỒN NHÂN LỰC LOGISTICS VIỆT NAM THIẾU CẢ VỀ “CHẤT” VÀ “LƯỢNG”

    Do phát triển nóng nên nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường logistics tại Việt Nam hiện nay trở nên thiếu hụt trầm trọng. Theo thông tin chúng tôi có được từ các công ty săn đầu người như KPMG về việc tuyển chọn nhân viên kinh doanh (sales), các doanh nghiệp tư nhân tại TP.HCM đăng báo tìm người… trong 3, 4 tháng vẫn không tìm ra người theo yêu cầu.

    Nhân lực cho hoạt động logistics hiện đang thiếu trầm trọng.Theo VIFFAS (Hiệp hội giao nhận kho vận VN), hiện chưa có thống kê chính xác về nguồn nhân lực phục vụ. Nếu chỉ tính riêng các công ty thành viên Hiệp hội (có đăng ký chính thức), tổng số nhân viên vào khoảng 5000 người. Đây là lực lượng được coi là chuyên nghiệp. Ngoài ra ước tính có khoảng 4000–5000 người thực hiện dịch vụ giao nhận vận tải bán chuyên nghiệp hoặc chuyên nghiệp khác nhưng chưa tham gia hiệp hội. Số lượng nhân viên chính thức của doanh nghiệp thường không nhiều. Ví dụ như Công ty TNHH mạng lưới vận tải Quốc tế Trân Châu hoặc Công ty cổ phần tiếp vận Quốc tế Safway-Safway logistics tham gia trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thương mại, kho bãi và nhà xưỡng, vận tải container, vận tải logistics, vận chuyển hàng không, vận tải đường biển nhưng cũng chỉ có 30 nhân viên, Công ty TNHH vận chuyển Quốc tế Marilink chỉ có 10 nhân viên. Các nguồn nhân lực nói trên được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Ở trình độ cấp đại học, được đào tạo chủ yếu từ trường đại học Kinh Tế và đại học Ngoại Thương. Ngoài ra, nguồn nhân lực còn được bổ sung từ những ngành đào tạo khác như hàng hải, giao thông, vận tải, ngoại ngữ…Đội ngũ công nhân lao động trực tiếp thì phần đông trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo tác phong làm việc chuyên nghiệp. Trong khi đó, chúng ta vẫn chưa có một trường chuyên ngành về logistics, sinh viên chỉ được học 15-20 tiết trong môn vận tải và bảo hiểm ngoại thương và nội dung chủ yếu nghiêng về vận tải biển và giao nhận đường biển.

    Đánh giá về nguồn nhân lực phục vụ trong ngành logistics hiện nay, trước hết là đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành. Trong các doanh nghiệp quốc doanh và cổ phần hóa thì cán bộ chủ chốt được Bộ, ngành chủ quản điều động về điều hành các công ty, đơn vị trực thuộc ở miền Nam là thời gian sau ngày giải phóng. Đội ngũ này hiện nay đang điều hành chủ yếu các doanh nghiệp tương đối lớn về quy mô và có thâm niên trong ngành, chẳng hạn trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải, kho vận, đa số đạt trình độ đại học. Hiện thành phần này đang được đào tạo và tái đào tạo để đáp ứng nhu cầu quản lý. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại phong cách quản lý cũ, chưa chuyển biến kịp để thích ứng với môi trường mới, thích sử dụng kinh nghiệm hơn là áp dụng khoa học quản trị hiện đại, chưa theo kịp sự thay đổi của thời đại. Đôi lúc gây cản trở sự phát triển của nghành. Sẽ dần được thay thế bởi một đội ngũ cán bộ quản lý trẻ, năng động hơn, có trình độ đại học được đào tạo đúng chuyên nghành và nhiều tham vọng. Đây sẽ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước.

    Về đội ngũ nhân viên phục vụ: là đội ngũ nhân viên chăm lo các tác nghiệp hàng ngày, phần lớn tốt nghiệp đại học nhưng không chuyên, phải tự nâng cao trình độ nghiệp vụ, tay nghề trong quá trình làm việc. Lực lượng trẻ chưa tham gia nhiều vào hoạch định đường lối, chính sách, ít tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng và phát triển ngành nghề.

    Về đội ngũ nhân công lao động trực tiếp: chủ  yếu là lao động phổ thông nên trình độ học vấn thấp, công việc chủ yếu là bốc xếp, kiểm đếm ở các kho bãi, lái xe vận tải, chưa được đào tại tác phong công nghiệp, sử dụng sức lực nhiều hơn là bằng phương tiện máy móc. Sự yếu kém này một mặt là do phương tiện lao động còn lạc hậu, chưa đòi hỏi lao động chuyên môn, mặt khác là do doanh nghiệp chưa chú trọng đào tạo nguồn nhân lực.

    Về chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề trong ngành logistics hiện nay, theo chúng tôi, được thực hiện ở 3 cấp độ sau:

    1. Tại các cơ sở đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng:

    Theo đánh giá của VIFFAS chương trình đào tạo về logistics còn yếu và nhỏ lẻ (khoảng 15-20 tiết học trong môn vận tải và bảo hiểm ngoại thương), chủ yếu đào tạo nghiên về vận tải biển và giao nhận đường biển. Tại các trường đại học Kinh tế, trong chương trình quản trị sản xuất (operation management-OM) có trình bày sơ lược về quản trị dây chuyền cung ứng (supply chain management-SCM) và quản trị vật tư, như một phần của môn vận trù học. Nghiệp vụ logistics trong giao nhận hàng không chưa được xây dựng thành môn học, chưa có trường đại học nào đào tạo hay mở những lớp bồi dưỡng ngắn hạn. Với thời lượng môn học như vậy, bài giảng chỉ tập trung giới thiệu những công việc trong giao nhận, quy trình và các thao tác thực hiện qua các công đoạn. Chương trình tương đối lạc hậu, giảng dạy theo nghiệp vụ giao nhận truyền thống là chủ yếu. Các kỹ thuật giao nhận hiện đại ít được cập nhật hóa như vận tải đa phương thức, kỹ năng quản trị dây chuyền chuỗi cung ứng, các khái niệm mới như “one stop shopping”, Just in time (JIT-Kanban)… Tính thực tiễn của chương trình giảng dạy không cao, làm cho người học chưa thấy hết vai trò và sự đóng góp của logistics, giao nhận vận tải trong nền kinh tế.

    2. Về phía Hiệp hội:

    Trong thời gian qua VIFFAS đã và đang kết hợp với các hiệp hội giao nhận các nước ASEAN (AFFA), các chương trình của Bộ Giao thông vận tải, tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ giao nhận, gom hàng đường biển, liên kết với trường Cao đẳng Hải quan mở lớp đào tạo về đại lý khai quan, cấp bằng, chứng chỉ cho các hội viên tại TP.HCM, Đà Nẵng và Hà Nội. Về giao nhận hàng không, trước kia, hiệp hội vận tải hàng không quốc tế – IATA thông qua Vietnam Airlines đã tổ chức được một số lớp học nghiệp vụ và tổ chức thi cấp bằng IATA có giá trị quốc tế. Hiện nay, chương trình này vẫn không tiến triển do tính không chính thức, số lượng người tham gia hạn chế, chỉ mang tính nội bộ và chưa có tổ chức bài bản trong chương trình đào tạo của hiệp hội. Hiện nay, mỗi năm VIFFAS tổ chức được 1-2 khóa nghiệp vụ, quy mô này là chưa tương xứng với nhu cầu hiện tại và tương lai của các hội viên và ngoài hội viên. VIFFAS hiện chưa thực hiện được chương trình đào tạo và tái đào tạo khởi xướng bởi FIATA và AFFA hàng năm. Theo chúng tôi, đây là chương trình rất phù hợp với ngành nghề logistics và có phần tài trợ của FIATA theo đề nghị của từng quốc gia và hiệp hội của quốc gia đó.

    3. Về mãng đào tạo nội bộ tại các công ty:

    Do nguồn đào tạo chính quy thiếu hụt nên các công ty sau khi tuyển dụng nhân viên đều phải tự trang bị kiến thức nghề nghiệp bằng các khóa tự mở trong nội bộ công ty cho các nhân viên mới với lực lượng giảng dạy là những cán bộ đang tại chức. Lực lượng này là những người đang kinh doanh nên có nhiều kinh nghiệm thực tế, tuy nhiên khả năng sư phạm và phương pháp truyền đạt chưa đảm bảo. Điều này dẫn đến sự khập khễnh, chênh lệch về nghiệp vụ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ của nhân viên giữa các công ty. Chất lượng đào tạo chưa cao, dễ gây lúng túng  khi gặp sự cố bất thường. Sự thiếu hụt này cần được ngành và các doanh nghiệp giải quyết nhanh chóng vì xu thế chung trong giao nhận vận tải quốc tế nhất là thời kỳ hội nhập như hiện nay đòi hỏi bắt buộc nhân viên phải có trình độ cao về ngoại ngữ, chuyên môn sâu, có kiến thức rộng về địa lý, am tường luật lệ liên quan đến xuất nhập khẩu, các quy định và luật Hải quan trong nước và quốc tế, thông thạo và hiểu biết về pháp luật quốc gia và luật quốc tế, có kiến thức về cả ngân hàng, bảo hiểm và hàng không, máy bay, tàu biển…

    Cần phải nói rằng, giao nhận kho vận và điều hành logistics là một công nghệ mang tính chuyên nghiệp cao nên nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này cần được đào tạo một cách có hệ thống và được trang bị đầy đủ kiến thức như những nhà giao nhận quốc tế. Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội hội nhập kinh tế thì tực tế nguồn nhân lực Logistic Việt Nam đang gặp những khó khăn và thách thức không nhỏ.

    KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI CỦA NGUỒN NHÂN LỰC LOGISTICS VIỆT NAM

    1. Khó khăn:

    Vấn đề đáng quan tâm là nghiệp vụ logistics chưa được xây dựng thành môn học, chưa có trường đại học nào đào tạo hay mở những lớp bồi dưỡng ngắn hạn. Các bài giảng trong nhà trường mới chỉ tập trung giới thiệu những công việc trong giao nhận, quy trình và các thao tác thực hiện qua các công đoạn. Chương trình tương đối lạc hậu, giảng dạy theo nghiệp vụ giao nhận truyền thống là chủ yếu. Các kỹ thuật giao nhận hiện đại ít được cập nhật hóa như vận tải đa phương thức, kỹ năng quản trị dây chuyền chuỗi cung ứng… Tính thực tiễn của chương trình giảng dạy không cao, làm cho người học chưa thấy hết vai trò và sự đóng góp của logistics, giao nhận vận tải trong nền kinh tế. Có thể khẳng định rằng các chuyên gia được đào tạo chuyên nghiệp về lĩnh vực này quá ít so với yêu cầu phát triển dịch vụ. Phần lớn kiến thức mà cán bộ công nhân viên trong ngành có được là từ thực tiễn khi làm đại lý hoặc đối tác cho các công ty nước ngoài chuyên làm dịch vụ này. Kiến thức và kỹ năng liên quan đến vận tải đa phương thức, liên vận chuyển, thiếu và mờ nhạt. Hiện tại, nhân lực của ta trong lĩnh vực này, ngoài một số rất ít được đào tạo bài bản ở nước ngoài, số còn lại chủ yếu làm theo kiểu “tay quen”, làm theo kinh nghiệm. Được biết, cả nước ta vẫn chưa có một trường chuyên ngành giảng dạy về vận tải và điều hành Logistic, về giao nhận kho vận.

    Ở một số trường có tổ chức giảng dạy chuyên nghành logistics nhưng gặp rất nhiều khó khăn. Vì logistics là một ngành còn mới mẻ ở Việt Nam và do điều kiện thực tế của các nhà trường, nên khi triển khai ngành học mới này ít nhận sự hưởng ứng. Mặt khác,  đội ngũ giảng viên của ngành hiện nay còn rất ít chủ yếu là giảng viên của khoa kinh tế vận tải biển. Những giảng viên này chỉ được tham gia một số lớp tập huấn ngắn hạn ở nước ngoài, trong đó có bộ môn logistic. Đồng thời, nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy cũng còn rất thiếu, ngoài một số ít cuốn giáo trình logistics tiếng Việt, còn lại phải tham khảo tư liệu nước ngoài, các sinh viên học ngành này luôn là đích ngắm của các doanh nghiệp FDI vì tính thực tiễn của nó đối với xã hội.

    Việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành này mới chỉ dừng ở mức vài cuộc hội thảo, vài khóa đào tạo ngắn hạn (chủ yếu là do Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam tổ chức hoặc tranh thủ các nguồn tài trợ nước ngoài để mở các khoá đào tạo ngắn hạn). Chừng đó chưa thấm tháp vào đâu so với tầm quan trọng và vị thế của nghành. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động liên quan đến logistics, đều khiếm khuyết, nếu không nói là chưa có đội ngũ nhân lực chuyên về logictics hoặc hiểu về logictics còn chung chung”. Tác phong làm việc chưa hiện đại chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm. Chưa co nhiều kiến thức về logistics và luật pháp quốc tế, đặc biệt là kiến thức ngoại ngữ còn yếu kém nên gặp nhiều khó khăn khi làm việc với các đối tác nước ngoài.

    Để khắc phục tình trạng này Logistics Việt Nam cần chú trọng phát triển các khoá đào tạo dài hạn tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Đây không phải là việc dễ, cũng không thể làm trong một sớm một chiều song cũng không thể không làm.

    2. Thuận lợi:

    Việt Nam với mức dân số đang ở trong giai đoạn trẻ nên nguồn nhân lực khá dồi dào với giá tương đối rẻ. Đây là một thuận lợi mà các DN hoạt động trong lĩnh vực logistics đang thiếu nguồn nhân lực cần phải chú trọng khai thác triêt để và phát huy với khả năng có thể. Khi các DN biết tận dụng những thuận lợi đó thì có thể giảm bớt được chi phí nhân công, góp phần tăng lợi nhuận kinh doanh. Dựa trên nguồn nhân lực dồi dào đó để có những biện pháp và chính sách lựa chọn những người tài và có kỹ năng nghề nghiệp tốt.

    Người lao động Việt Nam vốn có bản chất thông minh, nhanh nhẹn, tiếp thu nhanh và có truyền thống chăm chỉ, cần cù, ham học hỏi, đoàn kết và giúp đỡ nhau. Chính vì vậy những lao động trong nghành cũng mang trong mình những bản chất vốn có sẵn, truyền thống đó của đất nước. Ngày nay, trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa  đất nước cùng với xu thế toàn cầu hóa thì người lao động có những bản chất này là rất tốt cho các DN. Biết học hỏi và tiếp thu những cái mới là điều quan trọng để có một nguồn nhân lực vững mạnh về chất  cho DN mình.

    NGUỒN NHÂN LỰC LOGISTICS VIỆT NAM! CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI.

    1. Cơ hội:

       Logistics tại Việt Nam đang được coi là nghành dịch vụ khá mới mẻ vì vậy các DN nước ngoài và chính phủ đang có những chính sách quan tâm, ưu đãi khá đặc biệt với lao động nghành này. Nếu như các DN Việt Nam biết tận dụng những chính sách đó thì sẽ  tạo thêm được nhiều động lực cho người lao động….Khi thực hiện cam kết mở cửa áp lực cạnh tranh sẽ càng lớn các doanh nghiệp trong nước muốn tồn tại buộc phải có sự thay đổi cả về tư duy và nhận thức. Khi các doanh nghiệp nước ngoài vào nước ta sẽ là cơ hội đễ các doanh nghiệp trong nước làm quen và học hỏi tác phong công nghiệp, làm việc khoa học, được tiếp cận với nền logistics hiện đại của thế giới cũng như luật pháp quốc tế. Đây cũng sẽ trở thành những cơ sỡ đào tạo có hiệu quả cho nguồn nhân lực nước nhà. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt sẽ loại bỏ những nhân tố chưa hoàn hảo tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp còn trụ lại có thể phát triển hơn. Trên con đường hội nhập chúng ta sẽ tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổ chức thế giới: Tổ chức thương mại thế giới, Ủy ban Kinh tê và Xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP), Hiệp hội Giao nhận Châu Á (AFFA), Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA)…để có nguồn kinh phí cũng như tài liệu để tổ chức thêm nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức logistics trong và ngoài nước.

    2. Thách thức:

    Trong thời đại hiện nay khi Việt Nam đã gia nhập WTO cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế thế giới nói chung và ngành logistics nói riêng buộc các doanh nghiệp trong ngành của nước nhà phải có sự thay đổi cả trong tư duy và nhận thức nếu không muốn bị lép vế trên thị trường. Theo cam kết gia nhập WTO của VN, 5 năm kể từ ngày gia nhập, các công ty vận tải biển nước ngoài có thể thành lập DN 100% vốn đầu tư nước ngoài tại VN. Với một nguồn nhân lực chắp vá, vừa thiếu lại vừa yếu, Logistics Việt Nam sẽ không có nổi một cơ hội để cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ đến từ những hãng vận tải lớn và danh tiếng của nước ngoài đang xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta. Đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp ngành dịch vụ logistics VN sẽ phải tự “chèo chống” để tồn tại. Trước tiên phải hoàn thiện hệ thống nguồn nhân lực cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

    Sức hút từ các doanh nghiệp logistics nổi tiếng của nước ngoài sẽ đặt bộ phận nguồn nhân lực có chất lượng của nước nhà trước sự lựa chọn có phần thiên về xu hướng hướng ngoại. Nếu không muốn tình trạng “chảy máu chất xám” tiếp tục xảy ra, sẽ mất đi nguồn nhân lực có chất lượng hiện tại khi mà chưa có người để thay thế thì các DN trong nước cần có chính sách bồi dưỡng, đãi ngộ hợp lý đối với những người có tài và có anh hưỡng lớn đến sự phát triển của DN để giữ chân họ.

    Logistics trên thế giới phát triển với một nguồn nhân lực vững mạnh về chất và lượng. Nếu như chúng ta không biết chú trọng đào tạo và bổ sung nguồn nhân lực kịp thời thì sẽ tạo vô vàn khó khăn và thách thức cho ngành trong tương lai không xa.

    Gia nhập WTO là bước vào một sân chơi mới vừa có những cơ hội lại vừa có những thách thức. Tuy nhiên, cơ hội không tự nhiên sẵn có và khó khăn thử thách luôn ở phía trước. Vì vậy, để nguồn nhân lực của các DN logistics tại Việt Nam có thể đáp ứng kịp tốc độ phát triển của logistics, tận dụng mọi cơ hội, vượt qua các thử thách, trong thời gian tới cần chú ý một số giải pháp phát triển triển theo hướng chính quy, chuyên nghiệp có kế hoạch phát triển cả dài hạn và ngắn hạn.

    GIẢI PHÁP

    Định hướng phát triển nguồn nhân lực logistics theo quan điểm của VIFFAS là phát triển theo hướng chính quy, chuyên nghiệp, kế hoạch cả về ngắn hạn và dài hạn.

     Trong chiến lược dài hạn, hiệp hội đề nghị Chính phủ và các cơ quan chức năng tài trợ, hỗ trợ, quan tâm trong xây dựng và hoạch định chính sách có định hướng, liên quan đến ngành logistics. Thực hiện các văn bản dưới luật nhằm hiện thực hóa Bộ luật thương mại, chương về logistics. Đề nghị mở các bộ môn và khoa logistics trong các trường đại học, cao đẳng kinh tế ngoại thương. Tìm kiếm các nguồn tài trợ trong nước và quốc tế cho các chương trình đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nước. Phối hợp và tranh thủ hợp tác với các tổ chức FIATA, IATA và các tổ chức phi chính phủ khác để có nguồn kinh phí đào tạo thường xuyên hơn.

    Về tổ chức tuyên truyền, VIFFAS nên tổ chức xuất bản một tờ tạp chí riêng (như tờ Việt Nam Logistics chẳng hạn) cho mình để làm diễn đàn cho các hội viên tham gia đóng góp ý kiến về các vấn đề thuộc về ngành nghề của mình, có tiếng nói với chính phủ, các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách cũng như xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành logistics Việt Nam. Các chương trình đào tạo sẽ được thông báo rộng rãi đến các hội viên để tích cực tham gia và tổ chức đào tạo. VIFFAS sẽ cung cấp các sách báo, tài liệu nghiệp vụ cho các hội viên để tham khảo.

    Về ngắn hạn các công ty, doanh nghiệp có thể thông báo cho Hiệp hội về nhu cầu đào tạo, các lĩnh vực quan tâm cũng như mời các chuyên gia kinh nghiệm đào tạo nội bộ doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hiện nay đang có kế hoạch đầu tư con người để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi và cung cấp dịch vụ có hàm lượng chất xám cao hơn. Đào tạo và chuyên môn hóa lực lượng lo thủ tục Hải quan trong các công ty giao nhận quốc tế. Xây dựng kế hoạch, cử người đi tham quan, học hỏi ở nước ngoài, có chính sách đãi ngộ tốt và xứng đáng với các nhân viên giỏi chuyên môn, kỹ thuật. Đào tạo và tái đào tạo nguồn lực hiện có, thu hút lao động từ xã hội có trình độ đại học, cao đẳng chuyên ngành liên quan, am tường ngoại ngữ, có kiến thức địa lý, ngoại thương, cập nhật thường xuyên kỹ thuật mới trong nghiệp vụ giao nhận vận tải quốc tế. Các công ty cần có chương trình hỗ trợ sinh viên thực tập, thuyết trình về thực tiễn hoạt động ngành hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới cho sinh viên. Các công ty phải có đóng góp vật chất cụ thể cho đào tạo, hỗ trợ chuyên môn cho các trường nếu muốn sử dụng sinh viên tốt nghiệp từ những trường này.

    Việc có đúng người với đúng kỹ năng là bước đầu tiên tiến tới sự hoàn hảo trong chuỗi cung ứng. Để tiếp cận với đúng kỹ năng cần thiết sẽ đòi hỏi một chiến lược nhân sự vững chắc bao gồm cả việc phát triển những nhân viên tài năng từ mảng chuỗi cung ứng, từ những phòng ban và thậm chí là từ các công ty khác, tuyển chọn những sinh viên ưu tú từ các trường đại học. Ngoài ra cần có chương trình đánh giá chi tiết kiến thức và kỹ năng nhân viên thường xuyên để có những chương trình đào tạo và huấn luyện phù hợp. Những nỗ lực này sẽ giúp DN đạt tới mục tiêu chung.

    Có thể khẳng định tính cấp thiết của việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cung cấp cho dịch vụ logistics. Theo nhiều chuyên gia, nhiệm vụ trọng tâm trước mắt của chúng ta là phải cập nhật những kiến thức luật pháp trong nước và quốc tế về vận tải đa phương thức, các hoạt động chính của logistics và kỹ năng vận hành dịch vụ logistics cho nguồn nhân lực hiện có. Song song với việc đào tạo nghiệp vụ chuyên môn là đào tạo nâng cao trình độ tiếng Anh, đảm bảo được việc giao dịch, thủ tục và lập chứng từ nghiệp vụ. Việc đào tạo cần được tiến hành ở cả ba cấp độ cán bộ hoạch định chính sách, quản lý và nghiệp vụ cụ thể. Một nguồn nhân lực được đào tạo bài bản sẽ là chìa khoá thành công cho các doanh nghiệp kinh doanhlogistics của chúng ta vốn còn đang rất nhỏ lẻ và thiếu kinh nghiệm “chiến trường”. Với bài toán về nhân lực, trước mắt cần tổ chức thêm nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức logistic trong nước và nước ngoài thông qua các tổ chức như Uỷ ban Kinh tế và Xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP), Hiệp hội Giao nhận Châu Á (AFFA), Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA)… Về lâu dài, cần chú trọng phát triển các khóa đào tạo dài hạn tại các trường đại học, cao đẳng. “Một trong các chiến lược dài hạn phát triển nguồn nhân lực cho ngành logistics là mở các bộ môn và khoa logistics trong các trường đại học, cao đẳng kinh tế, ngoại thương…

    Thực hiện tốt các giải pháp có tính định hướng nói trên sẽ góp phần tăng cường xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ logistics ở nước ta. Một nguồn nhân lực tốt, chất lượng sẽ là tiền đề cho sự phát triển và tăng cường mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập trước và sau WTO. Các giải pháp về nguồn nhân lực nói trên sẽ góp phần thúc đẩy kinh doanh giao nhận vận tải Việt Nam vượt qua những khó khăn hiện tại để có thể vững bước vào thế kỷ 21 bằng chính đôi chân của mình, lạc quan và thắng lợi.

    KẾT LUẬN

    Hòa cùng nhịp đập phát triển kinh tế của cả nước,  thị trường logisitics trong nước cũng đang được coi là phát triển “nóng”, là một mảng thị trường khá mới mẻ mặc dù đã rất phổ biến trên thế giới. Dịch vụ được xem là tâm điểm của sự phát triển kinh tế thương mại này tuy đã xuất hiện nhiều năm tại nước ta nhưng vẫn còn manh mún, phân tán và hoạt động kém hiệu quả. Logistics Việt Nam đang trên đà phát triển tuy nhiên nguồn nhân lực vừa “thiếu” lại vừa “yếu”,cộng thêm những lý do: Trình độ công nghệ logistics (mang tính chất thủ công giấy tờ), khả năng ứng dụng công nghệ thông tin kém, phương tiện vận tải còn lạc hậu, củ kỹ, năng suất lao động thấp, cơ sở hạ tầng không đáp ứng yêu cầu, tổ chức quản lý không đồng bộ, nên thực tế, hầu hết DN VN chỉ như những nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh, làm thuê cho các công ty logistics nước ngoài, chỉ cung cấp những dịch vụ cơ bản như khai quan, vận tải, chưa có doanh nghiệp nào đủ sức tổ chức, điều hành toàn bộ quy trình hoạt động logistics. Để logistics nước ta thật sự phát triển thì ngay từ bây giờ cần phải có nhiều sự thay đổi đăc biệt là việc phát triển nguồn nhân lực logistic.

    Một tín hiệu đáng mừng cho nguồn nhân lực logistic Việt Nam là sự chuyển biến tích cực trong công tác đào tạo. Trong những năm trở lại đây một số trường đại học đã nhận thức được tầm quan trọng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành đã mở thêm những chuyên ngành đào tạo nguồn nhân lực thật sự có hiệu quả bổ sung nguồn nhân lực kịp thời để nhanh chóng khắc phục được tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực trầm trọng cả về chất và lượng như hiện nay. Đơn cử như việc khẩn trương đào tạo  trong năm 2008, Khoa kinh tế vận tải biển (Đại học Giao thông vận tải Tp.HCM) đã lần đầu tiên trong cả nước mở chuyên ngành Quản trị logistics và vận tải đa phương thức. Chuyên ngành nhằm đào tạo những nhân sự có kiến thức chuyên sâu về việc tổ chức khai thác, kinh doanh, và quản lý trong lĩnh vực logistics ở mức độ quốc gia và quốc tế; có kiến thức về kinh doanh và quản lý vận tải đa phương thức, sử dụng hiệu quả hệ thống công nghệ thông tin vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp; có kiến thức về việc thiết kế mạng lưới logistics và xây dựng chuỗi cung ứng hiệu quả, dự báo nhu cầu khách hàng, phân tích và lập kế hoạch logistics cho các doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất. Đó chỉ là một trong số những đơn vị điển hình cho việc phát triển nguồn nhân lực nước. Nguồn nhân lực logistics Việt Nam nói riêng và logistic Việt Nam nói chung hứa hẹn sẽ có nhiều chuyển biến tích cực trong thời gian tới, sẽ đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nươc ngoài.

    Nguồn nhân lực Logistics Việt Nam là đề tài tương đối rộng, khó và cần có nhiều điều tra khảo sát thực tế. Vì vậy, với trình độ lý luận về logistics của chúng tôi như hiện nay cùng với những kinh nghiệm thực tế chưa có nên bài viết sẽ khó tránh khỏi những sai sót. Nhóm chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy và các bạn để chúng tôi có thể hoàn thiện bài viết tốt hơn.

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Chuỗi cung ứng Logistics

    Tiểu luận Chuỗi cung ứng Logistics

    Tiểu luận Chuỗi cung ứng Logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Dịch vụ Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Chu%E1%BB%97i-cung-%E1%BB%A9ng-Logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Chuỗi cung ứng Logistics

                BÀI LUẬN CHUỖI CUNG ỨNG LOGISTICS

                ĐỀ TÀI: BAO BÌ

    A. Phần mở đầu

    I.Tổng quan về chuỗi cung ứng logistics
    Logistics là nghệ thuật và khoa học của quản lý và điều chỉnh luồng di chuyển của hàng hoá, năng lượng, thông tin và những luồng dịch vụ khác như sản phẩm, dịch vụ và con người, từ nguồn lực sản xuất cho đến thi trường. Thật là khó khi hoàn thành việc tiếp thị hay sản xuất mà không có sự hỗ trợ của logistics. Nó thể hiện sự hợp nhất của thông tin liên lạc, vận tải, tồn kho, lưu trữ, giao nhận nguyên vât liệu, bao bì đóng gói. Trách nhiệm vận hành của hoạt động logistics là việc tái định vị(theo mục tiêu địa lý) của nguyên vật liệu thô, của công việc trong toàn quá trình, và tồn kho theo yêu cầu chi phí tối thiểu có thể.
    Vậy logistics là gì?
    Từ những tiên đề trên ta có thể hiểu định nghĩa của logistics đơn giản như là thời gian liên quan đến việc định vị các nguồn lực. Vì vậy, logistics nhìn chung được coi như một nhánh của quá trình tạo ra một hệ thống liên quan đến nguồn lực con người hơn là hệ thống về máy móc.
    Điều này rất quan trọng, nó chỉ rõ nguồn lực tập trung là con người với vai trò vừa là đối tượng, vừa là công cụ tác động, vừa là chủ thể của quá trình.
    Vậy còn cơ sở của logistics thì sao? Từ khái niệm trên logistics có thể được hiểu như là việc có được số lượng cần thiết ở đúng thời điểm và với chi phí phù hợp. Nó là nghệ thuật, là một quá trình khoa học. Nó phối hợp tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, quản lý vòng đời dự án, chuỗi cung cấp và hiệu quả.

    Logistics có khái niệm bắt nguồn từ nhu cầu quân sự trong việc cung cấp cho chính họ trong quá trình di chuyển của các đoàn quâ từ căn cứ ra tiền tuyến.
    Trong thời kì Hi Lạp cổ đại, đế chế Roman và Byzantine, đã có những sỹ quan với mác “logistikas” là người chị trách nhiệm đến các vấn đề về tài chính cũng như cung cấp phân phối.
    Còn theo định nghĩa của Oxford thì logistics được hiểu là một nhánh của khoa học quân sự liên quan đến việc tiến hành, duy trì và vận chuyển phương tiện thiết bị và nhân sự .
    Còn logistics có khái niệm liên quan đến kinh doanh bắt nguồn từ những năm 1950. Điều này chủ yếu là do sự gia tăng trong việc cung cấp, vận chuyển trong một thế giới toàn cầu hoá đòi hỏi phải có những nhà chuyên gia trong lĩnh vực này.

    II.Giới thiệu sơ lược về bao bì trong chuỗi cung ứng logistics

    Bao bì hàng hoá đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, phân phối và tiếp thị sản phẩm ra thị trường. Ngày nay, bao bì không để trình bày, mô tả, quảng cáo cho sản phẩm hay đơn thuần là vật bảo quản, chứa đựng sản phẩm mà bao bì còn đảm nhận vai trò như công một cụ tiếp thị cho sản phẩm, là hình ảnh tượng trưng cho sản phẩm và có vai trò quan trọng trong việc quyết định mua hàng của khách hàng tiềm năng
    1. Khái niệm và chức năng của bao bì
    a. khái niệm:
    Bao bì là phương tiện đi theo hàng để bảo quản, bảo vệ, vận chuyển và giới thiệu hàng hoá từ sản xuất đến tiêu dùng.
     b. Chức năng:
    Có 2 chức năng chính:
    – Chức năng maketing (bao bì tiêu dùng / bao bì bên trong ) : có vai trò chính là thúc đẩy quá trình bán hàng, đảm bảo tryuền tin maketing cho khách hàng về hàng hoá và về doanh nghiệp.
    Bao bì là hình ảnh riêng về sản phẩm giúp cho người tiêu dùng dễ nhận biết, lựa chọn trong vô số loại hàng hoá có giá trị sử dụng giống nhau hoặc gần nhau. Thông qua các hình thức trang trí trên bao bì, người ta hướng dẫn người mua sử dụng, người bảo quản về cách thức bảo vệ sản phẩm khỏi hư hỏng, cách tháo mở bao bì, và lắp đặt sản phẩm.
    – Chức năng logistics (bao bì công nghiệp/bao bì bên ngoài):bao bì gắn liền với toàn bộ quá trình logistics trong kênh phân phối và trong hệ thống logistics doanh nghiệp.Bao bì hổ trợ cho quá trình mua, bán, vận chuyển và dư trữ, bảo quản sản phẩm, nguyên liệu, hàng hoá.
    Bao bì xuất hiện với tư cách là đồ vật để chứa đựng, bọc giữ hàng hoá đóng gói bên trong chống hư hỏng mất mát.Vì vậy, chức năng bảo quản, bảo vệ hàng hoá của bao bì là chức năng quan trọng đầu tiên vẫn giữ nguyên ý nghĩa à giá trị của nó.

    1. Mục đích của bao bì

      Nhiều mặt hàng cần các bao bì bảo vệ, đặc biệt khi di chuyển, đặc biệt là những hàng  ỏng manh như đồ điện tử hoặc đồ sứ. Đôi khi bao bì có thể bảo vệ khỏi các tác động của môi trường như nắng hoặc mưa, đôi khi cần phải tách các hàng hoá không được di chuyển chung như đường và dầu, hoặc đôi khi phải bảo quản cho sạch sẽ như thực phẩm và dược phẩm.

     

    B. Nội dung:

    I.Các gói hàng chuẩn:
             Việc tập trung hàng hoá vào các kiện hàng chuẩn được gọi là tập hợp hàng thành đơn vị vận chuyển.Rõ ràng là dễ dàng hơn trong việc di chuy ển các đơn vị vận chuyển so với việc di chuyển các kiện hàng có qui mô và kích cỡ khác nhau. Nếu một công ty luôn  sử dụng các đơn vị vận chuyển chuẩn, thì nó có thể thiết đạt tất cả các thiết  bị chuyển hàng tham gia vào việc di chuy ển h àng ho á m ột c ách c ó hi ệu qu ả. Đó là lí do vì sao mà việc di chuyển hàng trong siêu thị với hàng hoá các kích cỡ khác nhau nhưng được đặt trong các xe đẩy tay chuẩn được di chuyển chỉ bằng xe tải.Việc xếp tất cả hàng hoá vào trong các container nên công ty chỉ di chuyển các container thay vì di chuyển các hàng hoá riêng lẻ lích kích.
    Một lợi ích khác của kiện hàng chuẩn là chúng có thể tăng tầng suất kho hàng.
    Do vậy một trong những lợi ích rõ ràng của việc bao gói là nó làm cho việc di chuyển hàng dễ dàng hơn. Đó là lí do vì sao khi đi du lịch bạn lại xếp quần áo vào va li thay vì mang chung riêng lẻ. Nhưng còn có những lí do khác liên quan đến việc sử dụng các bao gói đúng kích cỡ
         II.Các yêu cầu đối với bao bì:
    Tuỳ thuộc vào tính chất của hàng hoá  và quá trình vận động của chúng mà có rất nhiều loại bao bì khác nhau. Nhưng để thực hiện chức năng logistics của mình, bao bì hàng hoá phải đảm bảo những yêu cầu sau:
    + Gĩư gìn nguyên vẹn về số lượng và chất lượng sản phẩm
    + Tạo điều kiện thuận lợi cho việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, tiêu dùng sản phẩm, góp phần nâng cao năng suất lao động
    + Tạo điều kiện để sử dụng triệt để diện tích và dung tích nhà kho
    + Tạo điều kiện để đảm bảo an toàn lao động, và bảo vệ sức khoẻ cho nhân viên làm công tác giao nhận, vận chuyển, xếp dỡ, bảo quản.
    + Đảm bảo chi phi hợp lí.
              1. Yêu cầu đối với các nhà xuất khẩu về bao bì:

    Đối với hàng hoá xuất khẩu, chức năng vận chuyển, bảo quản của bao bì rất quan trọng. Đặc biệt nếu hàng hoá trải qua một chặng đường khá dài để đến tay người tiêu dùng cuối cùngểơ thị trường mục tiêu. Do vậy, các nhà xuất khẩu cần lưu ý các tính năng sau đây của bao bì trong quá trình vận chuyển, bảo quản:

    * Phù hợp với loại hình vận chuyển( tàu biể, máy bay, xe tải, hàng rời, hàng container…)
    * Có kích thước phù hợp để dễ dàng trong việc lưu kho bãi, trên những pallet hoặc trong container
    * Đáp ứng được yêu cầu vè độ bền, dẻo dai để chịu được sự va chạm, kéo, đẩy trong quá trình lưu trữ, bốc xếp và vận chuyển đường biển, đường hàng không cũng như đường bộ
    * Phù hợp với việc thay đổi khí hậu, thời tiết ở các châu lục khác nhau
    * Dảm bảo tính năng bảo vệ sản phẩm của bao bì để không làm sản phẩm  bị biến mùi, ẩm mốc, hư hỏng.
    * Thể hiện rõ những yêu cầu cần lưu ý trong quá trình xếp hàng, vận chuyển, bốc xếp,…trên bao bì.

    Nhà xuất khẩu cần kiểm tra bao bì trước khi tiến hành đóng gói. Tuỳ từng trường hợp cụ thể, nhà xuất khẩu có thể kiểm tra các tính năng sau đây:

    – Độ bền cơ học
    – Độ bền kéo dứt
    – Độ trong suốt
    – Độ bền va đập
    – Tính năng cản hơi nước
    – Độ bền với nước
    – Tính ngăn cản oxy
    – Độ chịu nhiệt
    – Tính giữ mùi
    – Độ chịu ánh sáng
    – Tính an toàn cho trẻ em và người già
    – Tính tiện dùng

    Đặt biệt các nhà xuất khẩu cần biết rõ các yêu cầu pháp lý (mang tính bắt buộc) và yêu cầu của người mua hàng(phát sinh theo nhu cầu thực tế tại thị trường mục tiêu) liên quan đến bao bì. Các yêu cầu này thường là yêu cầu chung về bao bì hoặc cho từng sản phẩm, nghành hàng cụ thể. Một điều quan trọng nữa là, các doanh nghiệp thường có xu hướng sử dụng chung một loại bao bì đang lưu hành trên thị trường nội địa để xuất khẩu. Nếu không xem xét cẩn trọng, việc này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như: bị khách hàng từ chối lô hàng,  không trả hoặc chậm trả tiền hàng vì khách hàng hoặc chính phủ của nước nhập khẩu bắt buộc nhà xuất khẩu hàng phải khắc phục lỗi dã gây ra, bị đóng phạt, quan trọng hơn là việc này đã làm xấu đi hình ảnh đối với khách hàng.
                  2. Các loại chất liệu được sử dụng làm bao bì và cách ghi kí hiệu trên bao bì gỗ:

    * Hiện nay trên thị trường các doanh nghiệp thường lựa chọn 5 loại chất liệu sau để sử dụng làm bao bì:
    1.Thuỷ tinh: dễ lau chùi, tái sử dụng hoặc tái chế được nhưng dở vỡ, đắt tiền và khó làm.

    1. Nhựa: nhẹ, rẻ, và có thể tái chế nhưng có thể đắt tiền và khó làm hoặc khó sử dụng lại
      3. Thùng giấy: rẻ, có thể tái chế nhưng ít chắc chắn và không bền
      4. Gỗ: chắc chắn, dễ sử dụng và có thể tái sử dụng nhưng nặng, chiếm diện tích và khó chùi rửa.
      5. Kim loại: chắc và bền, nhưng nặng và đắt tiền

       

      Việc lựa chọn các loại vật liệu này phù thuộc vào loại sản phẩm, vào quá trình di chuyển và các điều kiện bảo quản kèm theo. Đây có thể là một quyết định khó, trong việc cân đối giữa nhiều yếu tố. Chẳng hạn, bạn nên sử dụng loại chai nhựa cho một loai sản phẩm lỏng nhưng rõ ràng điều này sẽ không tạo hình ảnh tốt nếu bạn sử dụng cho các loại rượu, một sản phẩm mà thường chứa trong các loại chai thuỷ tinh.
      * Cách ghi kí hiệu trên bao bì gỗ:
      –  XX là mã nước 2 chữ cái theo qui ước của tổ chức ISO
      –  000 là mã số riêng do tổ chức bảo vệ thực vật quốc gia cấp cho cơ sở xử lý gỗ
      – YY hoặc HT hoặc MB
      – Trường hợp được miễn trừ: Các loại bao bì gỗ được miễn thực hiện quy định này : hoàn toàn là gỗ chế tạo( ví dụ: ván ép, gỗ dán), thùng rượu vang và whisky và những miếng gỗ mỏng(dày từ 6mm trở xuống). Bao bì bằng gỗ đến từ Canada được phép vào Hoa Kỳ không cần ký hiệu IPPC, nhưng sẽ được kiểm dịch sâu bọ.
                3. Những quy định liên quan đến bao bì:

      Thông thường  có những quy định liên quan đến bao bì như sau:
      + Quy định chung về bao bì thị trường mục tiêu, bao gồm quy định của khối thị trường chung và từng quốc gia cụ thể
      + Quy định về bao bì cho từng nghành, loại sản phẩm cụ thể( thực phẩm, dược phẩm, hoá chất,…)
      + Quy định về chất liệu sản xuất bao bì xuất khẩu:bao bì được sản xuất từ chất liệu gì? Giấy, nhựa, kim loại, gỗ? Có quy định cho riêng từng loại chất liệu bao bì hay không? Chất liệu này có được chấp nhận tại thị trường mục tiêu hay không? Có chất liệu nào bị hạn chế sử dụng hay không?

    Ví dụ như PVC, nhựa …
    + Các quy định về hình ảnh, màu sắc, kiểu dáng, trọng lượng của bao bì: hình ảnh có phản ánh đúng với sản phẩm chưa đựng bên trong bao bì không? Hình ảnh có mang tính phản bác tín ngưỡng hoặc văn hoá của một bộ phận người tiêu dùng nào đó trên thị trường mục tiêu không?…
    + Các quy định liên quan đến việc ghi kí hiệu, nhãn mác trên sản phẩm như: ngôn ngữ sử dụng, tên sản phẩm, trọng lượng hàng hoá, thành phần/dinh dưỡng, xuất xứ,v.v….
    + Các quy định về môi trường tại thị trường mục tiêu
    +  Các quy định liên quan đến việc truy nguyên nguồn gốc lô hàng khi có sự cố xảy ra …

    Ở các nước đang phát triển, việc tìm hiểu các thông tin như thế này còn rất hạn chế. Nếu nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển chỉ xuất các mặt hàng thô hoặc sản phẩm nguyên liệu,  đóng trong các loại bao đay, bao PP 25kg hoặc 50kg thì yêu cầu về bao bì tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, khi đề cập đến những quy định pháp lý liên quan đế các loại bao bì bằng cotton, đay hoặc bao bì vải, bẳng gỗ thì các nhà xuất khẩu thường tỏ ra lung túng vì không nắm được quy định. Tuy khách hàng có thể là nguồn thông tin rất quan trọng để nhà xuất khẩu hiểu về các quy định của thị trường mục tiêu nhưng việc lệ  thuộc thông tin thường làm nhà xuất khẩu chịu thiệt thòi trước đối tác của mình là khách hàng. Do vậy, trước khi tiến hàng xuất khẩu hàng hóa, một trong những vấn đề ưu tiên mà nhà xuất khẩu cần lưu ý là nắm rõ các quy định về ngành hàng, sản phẩm mà mình cần xuất khẩu.

                4.Liên hệ thực tế về những quy định liên quan đến bao bì trong việc xuất khẩu hàng hoá:

    Theo quy định mới của Mỹ, kể từ ngày 16/9/2005 không cho phép nhập khẩu hàng bao bì bằng một số loại vật liệu đóng gói bằng gỗ, điều này đã làm cho một số doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng sang Mỹ cảm thấy hoang mang khi không biết rõ về quy định mới này.

    Như vậy sau khi tìm hiểu  thông tin này các doanh nghiệp được một toà soạn giải đáp các quy  mới về bao bì đóng gói bằng gỗ của Mỹ như sau:

    Theo Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, quy định mới của Hoa Kỳ không cho phép nhập khẩu hàng có bao bì bằng gỗ (wood packaging materials – WPM) không đúng qui định sẽ có hiệu lực từ ngày 16-9-05.            Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến tất cả các lô hàng có bao bì là WPM như: kệ (pallet), thùng thưa (crate), thùng kín (box), lót (dunnage), khối (block), vật liệu chèn (skid)… nhập khẩu vào Hoa Kỳ vào hoặc sau ngày 16-9-2005.

    Tất cả bao bì gỗ đóng gói hàng nhập khẩu phải được xử lý và ghi ký mã hiệu theo quy định mới này trừ những trường hợp miễn trừ. Bao bì gỗ không thực hiện đúng theo các yêu cầu trên sẽ bị tái xuất cùng với tất cả hàng hoá; không cho phép xử lý hoặc tiêu hủy. Hàng đóng gói bằng kệ (pallet) nhựa, nhưng dùng gỗ không phù hợp để chèn, lót… cũng phải tái xuất.

    Bao bì gỗ không có ký mã hiệu có thể tách khỏi hàng hoá nhập khẩu nếu nhân viên kiểm dịch xác định rằng việc tách đó có thể thực hiện được mà không để phát tán sâu bọ gây hại. Tuy nhiên, một số cảng đã cho biết họ sẽ yêu cầu tái xuất toàn bộ lô hàng vi phạm đóng trong container bởi vì các phương tiện ở cảng không đủ để tránh phát tán sâu bọ, trong khi đó các lô hàng rời sẽ được xem xét từng trường hợp một. Chủ hàng phải nộp cho Cơ quan kiểm dịch phí giám sát tách hàng. Cơ quan kiểm dịch sẽ cho phép tái chế hàng nếu sâu bọ gây hại không xuất phát từ gỗ được khoanh lại bằng bao bì gỗ có ký mã hiệu IPPC.

    Hiện nay, qui định hạn chế nhập khẩu hàng có bao bì bằng gỗ chỉ ảnh hưởng đến hàng hóa nhập từ Trung Quốc và Hong Kong. Quy định này đã phần nào gây khó khăn cho các nhà sản xuất Trung Quốc, vì họ phải tốn thêm chi phí nghiên cứu và đặt sản xuất các loại bao bì mới, hoặc tốn chi phí cho việc thanh trùng và ghi mã hiệu cho bao bì gỗ.

    Những yêu cầu về xử lý và ghi ký mã hiệu: Do Cơ quan kiểm dịch động thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ ban hành cuối năm 2004 theo tiêu chuẩn quốc tế yêu cầu bao bì gỗ gồm:
    * Phải được xử lý nhiệt hoặc hun trùng: Cụ thể, gỗ dùng làm bao bì sử dụng trong thương mại quốc tế hoặc phải được xử lý nhiệt tới nhiệt độ tối thiểu cho gỗ là 56 độ C trong khoảng thời gian tối thiểu là 30 phút hoặc được hun trùng bằng metyl bromua khoảng 16 tiếng.
    * Phải có ký mã hiệu quốc tế xác nhận đã xử lý: Bao bì bằng gỗ phải có ký hiệu logo của Công ước bảo vệ cây trồng quốc tế (IPPC) và mã 2 chữ cái theo qui định của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đối với nước đã xử lý gỗ bao bì. Ký mã hiệu cũng phải bao gồm cả số riêng mà tổ chức bảo vệ thực vật quốc gia cấp cho công ty chịu trách nhiệm đảm bảo WPM được xử lý đúng qui định, cùng với chữ viết tắt HT (heat treatment) hoặc MB (metyl bromua). Không cần phải có giấy chứng nhận xử lý.

    III. Tiêu chuẩn hoá bao bì
            1.Khái niệm và nội dung của tiêu chuẩn hoá bao bì
    Tiêu chuẩn hoá về bao bì là sự quy định thống nhất về các yêu cầu và các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật đối với các loại bao bì nhằm bảo đảm iữu gìn tốt sản phẩm được bao gói và tạo điều kiện thống nhất trong sản xuất, lưu thông, sử dụng, cũng như tiết kiệm nguyên vật liệu bao bì
    * Nội dung chủ yếu của tiêu chuẩn hoá bao bì :
    – Yêu cầu về hình dạng và kích thước bao bì
    – Yêu cầu về chỉ tiêu và thông số kỹ thuật
    – Yêu cầu về ghi nhãn, bao gói, vận chuyển, và phương pháp thử nghiệm
    * Những điển hình về tiêu chuẩn hoá bao bì
    + Mâm tải: có cấu tạo  bằng gỗ hoặc nhựa cứng, có kích thước tuỳ vào loại phương tiện vận tải
    + Thùng tải(Container): là loại thùng chứa hàng dặt biệt, có kích thước được tiêu chuẩn hoá(độ dài
    20ft=6,1m; 40ft=12,2m và 45ft=13,7m).
    Thùng tải có nhiều loại: cố định, không cố định, loại cứng, loại mềm, loại bằng gỗ khung kim loại, loại bằng kim loại, chất dẻo…Có thể phân loại thùng tải chuyên dùng và thùng tải dùng chung.
                2. Tác dụng của tiêu chuẩn hoá bao bì
    + Tạo điều kiện để sản xuất hàng loạt, nâng cao năng sất lao động, hạ giá thành
    + Giảm bớt và đơn giản hoá các thao tác trung gian trong quá trình vận chuyển, rút ngắn thời gian vận chuyển…
    + Đảm bảo an toàn hàng hoá, tránh đổ vỡ, hao hụt, xáo trộn, mất cắp…
    + Là điều kiện quan trọng để chuyên môn hoá dụng cụ tháo mở bao bì

               3.Liên hệ thực tế về tiêu chuẩn hoá bao bì:

    Tiêu chuẩn hóa bao bì không chỉ quan trọng với sức khỏe và độ an toàn, nó cũng đang trở nên quan trọng đối với quản lý sản xuất, chất lượng, sản xuất thân thiện với môi trường và trách nhiệm xã hội.
    Cụ thể là hiện nay trong nghành Bưu chính  đang đặt ra câu hỏi là cần tiêu chuẩn hoá bưu gửi theo tiêu chuẩn nào, có quá khó hay không?

    Theo như nghiên cứu của Học viện công nghệ BCVT, Bưu chính một số nước xác định kích thước tối đa và tối thiểu, sao cho tiêu chuẩn bao bì, kích thước bưu phẩm phù hợp với các loại bưu gửi.

    +Ví dụ: tờ A4 có kích thước là 210x297mm, để chứa các tờ giấy đó mà không gấp thì phong bì phải có kích thước 229x324mm. Họ còn quy định về kích thước phong bì bưu gửi để đóng gói thư từ là các tờ giấy A4 gấp đôi và gấp tư.

    – Đồng thời, tiêu chuẩn giấy cũng được quy định để đảm bảo hai yếu tố là bao bì vừa đủ độ bền, chắc để bảo vệ giấy tờ bên trong, vừa phù hợp với thiết kế của máy chia thư và các thiết bị khác trong dây chuyền xử lý.

    – Tiêu chuẩn phong bì cũng được tính toán kỹ về khối lượng để giảm thiểu cước gửi.

    Đối với bưu kiện, nhiều nước sử dụng bao bì carton gợn sóng và thùng gỗ kín có đục lỗ để chở hoa quả. Quy chuẩn bao bì được giải quyết theo hai loại:

    – Bao bì sử dụng nhiều lần

    – Bao bì bằng carton gợn sóng.

    Trong thực tế, kích cỡ bưu kiện được chuẩn hoá theo hướng càng thiết kế nhiều loại thì chất lượng phục vụ khách hàng sẽ càng tốt hơn, nhưng nếu số lượng tăng nhiều quá khiến cho cấu trúc thiết bị xử lý (khay, máng trượt), và thiết bị bốc dỡ sẽ trở nên phức tạp, do đó cần phải hạn chế số lượng kích thước bao bì ở mức tối thiểu nhất.

    Tổ chức Bưu chính châu Á Thái Bình Dương quy định có 5 kích cỡ cho những bưu kiện gói nhỏ, 4 kích cỡ cho bưu kiện loại vừa, 4 kích cỡ cho bưu kiện loại to, 1 kích cỡ cho loại bưu kiện cực to.

    Từ năm 2003, công ty Bưu chính liên tỉnh và quốc tế (VPS) đã đầu tư hệ thống sản xuất phong bì, song không phải trên toàn mạng bưu chính đều dùng các loại phong bì tiêu chuẩn của VPS, bởi vì chưa có quy định nào bắt buộc khách hàng cũng như Bưu điện tỉnh phải sử dụng phong bì chuẩn để gửi bưu điện.

    “Việc sản xuất phong bì đã được xã hội hoá, do vậy cần phải có một cơ quan quản lý nhà nước về tiêu chuẩn ban hành quy chuẩn về kích cỡ, chất lượng phong bì để bất cứ doanh nghiệp sản xuất lớn, nhỏ nào cũng phải tuân theo”, ông Trần Phương Đông nói.

    Đối với bưu kiện có nhiều khó khăn hơn, Bưu chính nhiều nước họ phát không bao bì bưu kiện cho người gửi, một số nước thì bán cho khách hàng tại các điểm giao dịch, hoặc các điểm cung ứng hàng hoá. Ở Việt Nam, bưu kiện vẫn là dịch vụ bưu chính đang bù lỗ, do đó nếu cung cấp miễn phí bao bì bưu chính sẽ càng lỗ nặng hơn.

    Hiện có nhiều ý kiến cho rằng, cần coi việc cung cấp bao bì bưu kiện phục vụ cho bưu chính, chuyển phát là một lĩnh vực có cạnh tranh, và doanh nghiệp nào có đủ điều kiện sẽ được sản xuất. Song có một vấn đề đặt ra là, doanh nghiệp phải dự báo sản lượng từng loại bưu kiện thế nào để xác định được phương án sản xuất từng loại bao bì.

    Để làm được điều này cần phải đánh giá được nhiều thông số như: mối quan hệ giữa trọng lượng và kích thước bưu kiện, tần số xuất hiện các loại bưu kiện, kết cấu chất liệu bao bì phổ biến, dự báo được nhu cầu sử dụng từng loại bưu kiện. Điều này các nhà cung cấp dịch vụ làm được còn khó, cho nên cách doanh nghiệp ngoài khó chen chân vào lĩnh vực này.

    Một số ý kiến khác cho rằng, trong khi đợi Nhà nước ban hành được hệ thống tiêu chuẩn, để sử dụng hiệu quả hệ thống khai thác, chia chọn tự động, Bưu chính Việt Nam cần chủ động quy định một tiêu chuẩn thống nhất trên toàn mạng lưới. Khi đó, giao dịch viên có căn cứ đề nghị khách hàng sử dụng phong bì, bao bì bưu kiện đúng tiêu chuẩn.
    IV.Nghiên cứu thị trường cho mẫu bao bì mới.
               1.Yếu tố cơ bản để thiết kế thành công một bao bì sản phẩm
    Vai trò của bao bì ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc xây dựng một thương hiệu mạnh và nhất quán. Bao bì không chỉ có tác dụng bảo vệ, mô tả và giới thiệu sản phẩm mà nó còn chứa đựng rất nhiều nhân tố tác động đến khách hàng và việc quyết định lựa chon mua hàng của họ. Để luôn là lựa chọn số một của khách hàng trước những đối thủ cạnh tranh thì đâu là yếu tố chính trong việc xây dựng những yếu tố thành công trong việc thiết kế bao bì ?
    Dựa trên cơ sở những nhân tố tác động đến khách hàng khi lựa chọn và so sánh những sản phẩm cùng loại chúng ta hãy tham khảo 8 yếu tố cơ bản trong việc lựa chọn thiết kế một bao bì đẹp, đó là:

    1.1 Sự phối hợp nhất quán
    Đây là tiêu chuẩn cốt lõi của một bao bì thành công. Sự phối hợp nhất quán là phải thể hiện được một phong cách riêng của thương hiệu sản phẩm. Màu sắc, bố cục, phông nền là những yếu tố giúp cho việc nhận dạng hình ảnh thương hiệu nhanh hơn nhiều lần, và giúp cho khách hàng có thể nhớ được những đặc tính riêng của sản phẩm đó, mặc dù họ có thể mua hàng ở nhiều cửa hàng khác nhau. Một sản phẩm có thể thay đổi màu sắc bao bì theo từng giai đoạn để tạo sự hấp dẫn, nhưng nó phải tuân theo nguyên tắc nhất quán trong việc nhận diện thương hiệu sản phẩm đó

    1.2 Sự ấn tượng
    Khi tặng quà cho một ai đó thì việc gói quà đã thể hiện sự tôn trọng đối với người nhận. Một món quà được gói đẹp và chăm chút trước hết đã gây được một ấn tượng ban đầu tốt đẹp đối với người nhận, cho dù chưa biết món quà bên trong như thế nào. Bao bì của sản phẩm cũng vậy, cách thiết kế và đóng gói bao bì cũng đã thể hiện được một phần của sản phẩm bên trong bao bì. Tính ấn tượng còn đặc biệt có ý nghĩa với những  bao bì cao cấp dành cho những sản phẩm sang trọng. Việc thiết kế bao bì cho những mặt hàng đắt giá đòi hỏi phải có sự chọn lựa kĩ từ chất liệu cho đến màu sắc thiết kế, thông qua đó thể hiện được “đẳng cấp” của người mua.
    1.3 Sự nổi bật
    Trên một kệ trưng bày không chỉ có sản phẩm của chúng ta mà còn có thể có các sản phẩm khác cùng loại của đối thủ cạnh tranh. Vì vậy sự nổi bật là một yếu tố rất quan trọng để tạo ra sự khác biệt. Nhà thiết kế phải hiểu rằng sản phẩm sẽ được người tiêu dùng so sánh, nhận định với hàng loạt những sản phẩm khác với rất nhiều phong cách và màu sắc đa dạng. Và để có thể cạnh tranh được, nhà thiết kế phải làm cách nào để sản phẩm của mình sẽ là điểm nhấn giữa một loạt sản phẩm khác. Muốn làm được điều này đòi hỏi nhà sản xuất đã phải nghiên cứu kĩ thị trường từ bước định vị sản phẩm đầu tiên đến việc xây dựng một hệ thống nhận diện thương hiệu hiệu quả. Khả năng sáng tạo cao cũng sẽ giúp việc thiết kế bao bì tránh được những lối mòn quen thuộc đến nhàm chán của các bao bì ngoài thị trường.

    1.4 Sự hấp dẫn
    Trong một số ngành hàng, đặc biệt trong ngành mỹ phẩm, bao bì phải thể hiện được sự hấp dẫn, lôi cuốn, gây thiện cảm và nhấn mạnh các đặc tính của sản phẩm. Bao bì trong những ngành này có thể được xem như một phần của sản phẩm tạo ra những giá trị cộng thêm cho khách hàng. Sản phẩm được thiết kế dành cho nam giới bao bì phải thể hiện được sự nam tính, khác hẳn với sản phẩm dành cho nữ giới với những đường nét mềm mại quyến rũ.

    1.5 Sự đa dụng
    Bao bì thông thường người ta chỉ nghĩ đến việc đựng sản phẩm và sử dụng xong rồi bỏ,  rất lãng phí. Vì vậy trong cuộc cạnh tranh ngày nay người ta thường tìm cách thêm giá trị sử dụng cho bao bì. Những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt đôi khi sẽ là một lợi thế cạnh tranh lớn của sản phẩm so với các đối thủ khác. Bao bì sữa tắm ngày nay thường có thêm móc để treo trong phòng tắm thuận tiện , hình dáng thon để cầm nắm được dễ dàng. Nắp đậy của của những chai Comfort làm mềm vải  có thêm chức năng làm mức đo lượng sử dụng. Hộp bánh kẹo bằng thiếc rất sang trọng và khi dùng hết có thể sử dụng làm hộp đựng linh tinh.Tất cả những điều này giúp cho sản phẩm trở nên thông dụng và phù hợp hơn trong đời sống hàng ngày của người tiêu dùng

    1.6 Chức năng bảo vệ
    Đã là bao bì thì luôn phải có chức năng bảo vệ sản phẩm bên trong. Tuy nhiên không thiếu những bao bì đã không xem trọng chức năng này. Bao bì phải được thiết kế làm sao bảo vệ được sản phẩm bên trong một cách an toàn nhất. Người ta ưa thích dùng bao bì kín hoặc hút chân không để giúp cho sản phẩm để được lâu hơn. Bao bì dành cho thực phẩm và đồ uống phải đáp ứng được những tiêu chuẩn bắt buộc trong việc bảo đảm chất lượng sản phẩm.

    1.7 Sự hoàn chỉnh

    Yếu tố này giúp cho việc thiết kể kiểu dáng bao bì phù hợp với sản phẩm bên trong của nó và điều kiện sử dụng sản phẩm đó. Bao bì phải thích hợp với việc treo hoặc trưng bày trên kệ bán hàng, có thể dễ dàng để trong hộp carton. Bao bì dành cho thức ăn phải để được vào tủ lạnh vừa vặn và không tốn không gian.. Bút viết dành cho trẻ em phải khác với bút viết dành cho nguời lớn. Bút để kẹp trên áo khác với bút cất trong cặp. Rất nhiều yếu tố mà khách hàng quan tâm cần phải được nhà thiết kế xem xét một cách tỉ mỉ để tạo cho bao bì một sự hoàn thiện tránh mọi khuyết điểm không đáng có. Sẽ có sự lựa chọn nên nhấn mạnh điểm nào giữa sự tiện lợi, sự nổi bật hay sự đa dụng để tạo ra sự hoàn chỉnh cho sản phẩm

     1.8 Sự cảm nhận qua các giác quan
    Một bao bì tốt phải thu hút được sự cảm nhận tốt của người tiêu dùng về sản phẩm thông qua việc nhìn ngắm, săm soi và sờ mó vào sản phẩm. Chúng ta thường ít chú ý đến xúc giác của người tiêu dùng mà thường chỉ nhấn mạnh vào yếu tố bắt mắt. Nhưng xúc giác lại có vai trò quan trọng trong việc cảm nhận về kích cỡ, kết cấu sản phẩm, chất liệu bao bì và từ đó ảnh hưởng đến việc nhận xét chất lượng sản phẩm.  Chúng ta không thể bỏ qua một yếu tố nào trong những  yếu tố trên vì nó sẽ làm mất đi một lợi thế không nhỏ so với đối thủ cạnh tranh. Việc áp dụng những yếu tố này còn đỏi hỏi phải tìm hiểu kĩ nhu cầu và đối tượng khách hàng hướng đến. Xác định được đâu là nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng đối  một sản phẩm và đối với bao bì sản phẩm sẽ giúp cho việc định hướng và thiết kế được nhanh hơn và hiệu quả hơn
     2.Nghiêm cứu thị trường cho mẫu bao bì mớia phát triển bao bì.

    Các công ty tiếp cận thách thức này bằng cách áp dụng hoặc chấp nhận các phương pháp nghiên cứu mà họ đang sử dụng để đánh giá hiệu quả của quảng cáo. Mặc dù vậy, việc áp dụng này cũng đặt ra một số khó khăn, vì nhiều nhân tố của bao bì – và marketing tại điểm bán – thường là khác so với hoạt động quảng cáo. Với suy nghĩ này, chúng ta có thể sử dụng 5 nguyên tắc để đảm bảo rằng các nghiên cứu định tính đo lường chính xác ảnh hưởng của hệ thống bao bì mới – cũng như giúp đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác.

    Nguyên tắc 1: Tránh các cuộc thi:

    Bao bì chính là để thông tin và thuyết phục khách hàng, nhưng những nghiên cứu về bao bì nếu không được thực hiện tốt có thể sẽ chỉ đưa ra được những kết luận không cần thiết về “thiêt kế hình vẽ”, thay vì cần phải đánh giá hiệu quả thông tin của bao bì. Chính vì lý do này, một nguyên tắc quan trọng nhất khi nghiên cứu bao bì là thiết kế một nghiên cứu hoàn chỉnh, từng người tham gia nghiên cứu sẽ nhìn và phản ứng lại từng bao bì – và những kết quả tìm được sẽ được so sánh chéo (những người đã thấy lọai bao bì đang lưu hành với những người được quan sát bao bì mới đang nghiên cứu). Cách làm này thúc đẩy sự phát triển và đưa ra các bao bì mới, và nó cũng đánh giá hiệu quả các thay đổi về bao bì ảnh hưởng tới thái độ và ứng xử của người mua như thế nào.

    Khi người mua hàng so sánh trực tiếp những mẫu bao bì khác nhau (của cùng một nhãn hiệu) trên cơ sở đặt cạnh nhau, việc so sánh sẽ tạo ra một cái nhìn không chính xác – vì cách nhìn đó ít khi người mua gặp phải tại cửa hàng. Khi đó, sự so sánh đặt cạnh nhau thường làm cho mục tiêu nghiên cứu trở thành kiểm tra trình độ của “Nhà chỉ đạo nghệ thuật” (Art Directors) hay “Nhà quản trị thương hiệu” (Brand Managers) thay vì mục tiêu nghiên cứu cũ là xem xét xem người mua hàng quyết định có mua hàng hay không. Do đó, kết quả là “80% khách hàng thích nhãn hiệu mới hơn nhãn hiệu cũ” không có ý nghĩa nhiều tới việc thay đổi bao bì có ảnh hưởng tới bán hàng như thế nào. Cuối cùng, sự đánh giá về hệ thống bao bì không chỉ là về các yếu tố về thiết kế, mà là về mức độ ảnh hưởng tới hành vi mua như thế nào.

    Nguyên tắc 2: Đo lường khả năng bắt mắt ngay trên kệ hàng:

    Bao bì là thông tin duy nhất về sản phẩm trên kệ hàng, nó phải thực thi nhiệm vụ thu hút khách hàng trong thời gian rất ngắn – thông thường chỉ 10 – 20 giây, đó là thời gian trung bình của người mua ra quyết định mua. Theo đó, thách thức cho bao bì là cần phải tạo ra cơ hội bán hàng trong 10 – 20 giây ngắn ngủi ấy. Trong thực tế, sau nhiều năm nghiên cứa của  PRS Eye-Tracking cho thấy rằng người mua hàng thậm chí chưa bao giờ nhìn quá một phần ba số thương hiệu trưng bày. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng nếu bao bì được chú ý một cách nhanh chóng cũng có nghĩa là sẽ có nhiều khả năng được mua hơn.

    Đối với các thương hiệu lớn, vấn đề là làm sao thúc đẩy mua hàng nhanh chóng bằng cách hướng người mua hàng tới các sản phẩm mà họ mong muốn – và có khả năng tăng cường hành vi mua bằng cách làm nổi bật tính năng mới của sản phẩm. Trong bất cứ trường hợp nào, nếu người mua hàng không thể tìm thấy hàng muốn mua trong 10-15 giây thì họ sẽ chuyển sang mua thương hiệu khác.

    Thật không may rằng có ít cách thức đo lường hiệu quả trưng bày trên kệ bán của sản phẩm – các điều tra nhanh và ẩu về truyền tải thông tin rất dễ dấn đến hiểu lầm. Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra rằng khi bao bì được trưng bày tách biệt (trên bảng hoặc trên màn hình), người mua không thể đo lường một cách chính xác khả năng dễ phát hiện trên giá của hàng hoá cũng như khả năng trưng bày tại cửa hàng. Thêm vào đó, nếu khả năng nhớ lại việc tiêu dùng sản phẩm là kém và các chỉ số về đánh giá hiệu quả trưng bày được đo sai, nhà sản xuất khó đưa ra quyết định đúng. Điểm chủ chốt là không có cách thức nào khác để đo lường những hiện tượng xảy ra khi người mua hàng tiếp xúc với bao bì trên giá hàng, chẳng hạn họ sẽ để ý cái gì, những gì họ thấy, họ cầm lấy những gì và mua những gì. Điều quan trọng là hầu hết các quyết định thiết kế bao bì lại bị ảnh hưởng bởi những kiến thức thu được từ những điều tra như thế này, thay vì phải nghiên cứu xem thực tế người mua hàng nghĩ gì hay nhớ gì.

    Nguyên tắc 3: Cần có sự cạnh tranh

    Bao bì khác với quảng cáo ở chỗ bao bì thường phải cạnh tranh trực tiếp với bao bì khác của đối thủ cạnh tranh được đặt ngay cạnh trên giá. Nói cách khác, bao bì ít khi được đánh giá một mình. Đối với thiết kế bên ngòai cần đánh giá trên nguyên tắc cạnh tranh – và nghiên cứu cần thu thập dữ liệu trên cơ sở so sánh các bao bì với nhau, trong đó cần so sánh với bao bì của các thương hiệu hàng đầu.

    Thêm vào đó, bởi vì các khách hàng thường dành vài giây trong việc so sánh các sản phẩm khác nhau, nên cần so sánh các hệ thống bao bì khác nhau về khả năng truyền đạt tthông điệp ngay tức khắc. Môt thiết kế bao bì tốt thường sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng  bằng cách nắm bắt được hướng tiếp cận chủ chốt thông qua sự trình bày độc đáo (màu sắc, hình dáng, biểu tượng) hoặc nổi bật rõ ràng thông điệp tạo sự khác biệt. Về khía cạnh truyền đạt thôgn điệp, nghiên cứu PRS Eye-Tracking về nhãn hiệu chỉ rõ rằng “càng đơn giản càng tốt”, và nếu đưa ra quá nhiều thông điệp sẽ giảm hiệu quả. Chiến lược hiệu quả nhất là xác đinh một hoặc hai thông điệp thật hiệu quả và khác biệt, và chắc chắn rằng các thông điệp này được chuyền tải nhanh và nhất quán.

    Nguyên tắc 4: Đưa ra bao bì “hoàn chỉnh”, không trình bày chỉ những thành phần đơn lẻ: 

    Để tạo ra sự rõ ràng và hiệu quả, cần định rõ các đặc điểm cụ thể của bao bì. Tuy nhiên, khách hàng thường phản ứng hoặc đánh giá các đặc điểm của bao bì (như logo, màu sắc…) trên quan điểm mỹ thuật thay vì quan điểm mua hàng. Hướng suy nghĩ này dẫn tới nhiều nhận định rằng các yếu tố cụ thể của bao bì được xếp tương đương với phản ứng của khách hàng đối với bao bì. Quan trọng hơn, tách rời cách yếu tố của bao bì sẽ dẫn tới trạng thái tâm lý rằng thiết kế cần tối ưu hoá từng thành phần của bao bì thay vì tổng thể (như nắp chai, màu săc tốt nhât)

    Để rõ ràng, nhiều nghiên cứu thu thập các dữ liệu về phản ứng của khách hàng đối với bao bì trên quan điểm tổng thể – và các nghiên cứu này đã khám phá ra những yếu tố nào của bao bì ảnh hưởng tới phản ứng của khách hàng. Ngừơi bán hàng có thể kiểm tra các version khác nhau của bao bì để xác định khả năng ảnh hưởng của từng yếu tố của bao bì nếu đặt trên giá bán hàng và thông điệp có thể mang lại. Xét tổng quan, mục tiêu quan trọng nhất là có thể xác định được điểm mạnh và hạn chế của bao bì và xác định các vấn đề quan trọng cũng như vấn đề đáng quan tâm, thông điệp đem lại. Những thông tin này giúp cho cho chuyên gia marketing và thiết kế xây dựng các giải pháp giải quyết các vấn đề.

    Nguyên tắc 5: Không dựa vào một giải pháp duy nhất:

    Các Chuyên gia tiếp thị luôn phải tìm kiếm những giải pháp mới cho thiết kế bao bì. Vấn đề cần quan tâm ở đây là “Liệu những cải tiến mới có thể tạo ra nhiều đơn hàng hơn không?”

    Dù vậy, nghiên cứu chỉ ra rằng mua hàng một lần chỉ là môt phần nhỏ của câu chuyện – và có một số ít bao bì thay đổi có thể đáp ứng được mục tiêu là tăng đột biến lượng bán. Thực tế là một lần thay đổi bao bì ít tồn tại được trong thời gian dài nhưng có thể làm cho khách hàng của đối thủ chuyển sang dùng thử nếu thấy đặc biêt. Nói cách khác, mục tiêu là tạo ra một khả năng tiêu dùng cho người chưa phải là khách hàng.

    Để có một sự phỏng đoán khá chính xác về tỷ suất đầu tư (ROI), các nghiên cứu về bao bì nên có thêm các nghiên cứu về kích thích mua hàng với một loạt các nghiên cứu liên quan trực tiếp tới tiềm năng xây dựng khách hàng trong dài hạn ví dụ nghiên cứu cách trình bày trên giá, về thẩm mỹ, khả năng tạo sự khác biệt và cách thuyết phục người mua hàng.

    Cuối cùng các công ty đầu tư vào nghiên cứu bao bì sẽ thu được nhiều lợi ích từ phát triển bán hàng, tạo ra những mẫu bao bì độc đáo thúc đẩy bán hàng trên thị trường

                 3.Sức mạnh của kiểu dáng bao bì
    *Nói đến bao bì không chỉ đơn thuần là nói đến hình dáng bên ngoài.

    Đây chính là sự kết hợp phức tạp của các biểu tượng, thông tin được một công ty sử dụng như dấu hiệu để nhận biết sản phẩm của mình. Ngoài ra, bao bì còn mang ý nghĩa thứ yếu nữa là có thể giúp người tiêu dùng xác định nguồn gốc hàng hóa hay dịch vụ, trên thế giới luôn coi bao bì là một sản phẩm trí tuệ được pháp luật công nhận và bảo vệ.

    Bao bì không chỉ có tác dụng bảo vệ sản phẩm (Protection) mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xúc tiến sản phẩm (Promotion), xét từ góc độ kinh doanh. Hình ảnh thiết kế trên bao bì được pháp luật bảo vệ, tránh trường hợp bị các đối thủ cạnh tranh sao chép hay làm giả sản phẩm. Đó là chức năng bảo vệ. Còn với chức năng xúc tiến, bao bì có tác dụng thu hút khách hàng và tạo ra nét đặc trưng hay phong cách riêng cho sản phẩm. Một sản phẩm, nếu đã gặt hái thành công nhất định tại một thị trường, thì cùng với bao bì đó, sản phẩm sẽ không mấy khó khăn để chinh phục người tiêu dùng tại những thị trường khác.

    Nhận ra tầm quan trọng của bao bì sản phẩm, ngày nay, các công ty luôn chú ý đến quá trình thiết kế và kiểm tra bao bì, mà phương pháp phổ biến hơn cả thường được các công ty áp dụng cho sản phẩm của mình là VIEW- viết tắt của 4 từ tiếng Anh, thể hiện 4 đặc trưng trên bao bì sản phẩm.

    V:Visibility- sự rõ ràng

    Bao bì phải làm cho sản phẩm có thể được phân biệt dễ dàng đối với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

    Ví dụ:

    Hãng phim Konica đã sử dụng bao bì màu xanh dương ở thị trường Âu Mỹ nhằm phân biệt với bao bì màu vàng của Kodak và màu xanh lá cây của Fuji. Ngoài ra, bao bì của bất kỳ sản phẩm nào cũng không được phép trùng lặp với bao bì của sản phẩm khác đã có mặt trên thị trường.

    I: Informative – cung cấp nhiều thông tin:

    Bao bì phải thể hiện được thông tin tối đa về bản chất sản phẩm, chẳng hạn như tên sản phẩm, trọng lượng, ngày sản xuất, thành phần, điều kiện bảo quản, hướng dẫn sử dụng… Đây là những thông tin quan trọng mà khách hàng luôn muốn tìm hiểu để biết kỹ hơn về sản phẩm họ định mua.

    Ví dụ:

    Trên mỗi chai trà xanh không độ đều có ghi: ngày sử dụng, nơi sản xuất, điều kiện bảo quản, uống ngon hơn khi ướp lạnh…

    E: Emotional impact – tác động về mặt cảm xúc:

           Kiểu dáng bao bì phải tạo ấn tượng và làm khách hàng ưa chuộng. Khách hàng sẽ chú ý trước tiên đến những sản phẩm có bao bì đẹp, nhiều màu sắc, tao nhã hay pha chút gì đó độc đáo, lạ mắt. Sức hút của bao bì thể hiện ở đặc điểm này: nó làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh hơn và hấp dẫn hơn đối với người tiêu dùng.

     Ví dụ:

    Khi người tiêu dùng uống bia thì khi cầm chai bia heniken khách hàng sẽ có cảm giác thích ưống hơn vì màu xanh lơ của chai heniken trông dễ chịu,sang trọng hơn so với các loại khác như tiger,laru….
    W: Workability – giá trị sử dụng:

         Chức năng của bao bì là vừa phải bảo vệ sản phẩm, vừa phải hữu ích sau khi sản phẩm đã được sử dụng xong. Đôi khi khách hàng cảm thấy tiếc, nếu sử dụng xong sản phẩm cũng là lúc vứt đi bao bì rất đẹp và chắc chắn của sản phẩm đó. Nguyên nhân là do bao bì không được thiết kế dành cho những công năng khác. Giá trị sử dụng của bao bì thể hiện ở chỗ nó có thể được sử dụng vào nhiều mục đích khác như đựng thức ăn, đồ uống, gói đồ, để lót nền, và thậm chí có thể cả trưng bày.
    Yếu tố ngôn ngữ cũng cần được các công ty đặc biệt chú trọng khi thiết kế bao bì sản phẩm. Tuỳ theo từng thị trường tại mỗi quốc gia cụ thể mà công ty đề ra chính sách về ngôn ngữ cho phù hợp.

    Ví dụ:

    Đối với sản phẩm bán ở Ðức, bao bì phải in tiếng Ðức, sản phẩm bán ở Canada, bao bì phải in song ngữ Anh và Pháp, sản phẩm bán ở Ðan mạch và một vài nước Châu Âu khác thì bao bì chỉ cần in tiếng Anh là đủ. Hiện nay, bao bì đa ngôn ngữ đang dần trở nên phổ biến đối với khách hàng tiêu dùng. Hãng Kellogg của Ðức đã in …10 thứ tiếng trên vỏ bao sản phẩm đĩa mềm của mình.

    Số lượng sản phẩm được đóng gói bên trong các bao bì cũng khá quan trọng và thay đổi tuỳ thuộc vào những sở thích khác nhau của người tiêu dùng.

    Ví dụ: ở thị trường Nhật, mỗi bao bì không nên gói 4 đơn vị sản phẩm, vì từ “four” tiếng Anh sẽ được phát âm gần giống như từ “chết” trong tiếng Nhật. Hộp bánh quy ở Mỹ còn cần có thêm các bao bì phụ bọc từng gói nhỏ trong hộp bánh, trong khi ở các thị trường khác chỉ cần một bao bì gói chung tất cả là đủ.

              4.Sự lãng phí trong bao bì:

          Bao bì là một khía cạnh quan trọng của việc di chuyển hàng hoá. Nó phục vụ một số mục đích bao gồm bảo quản, tạo thuận lợi trong di chuyển và cung cấp thông tin về sản phẩm. Tuy nhiên, khi bạn mua món hàng nào đó, bạn có thể ngạc nhiên về số lượng bao bì. Bánh kẹo và chocolat thường có 3 lớp bao bì, đôi khi bạn có thể thấy nó có 5 lớp. Nhưng hãy nhớ rằng bạn chỉ thấy lớp bao bì dành cho khách hàng tiêu dùng cuối cùng, và có thể còn 2 lớp bao công nghiệp đã được dỡ bỏ. Rõ ràng vấn đề về số lượng bao bì đang ngày càng lớn liên quan đến chi phí và việc xử lý rác thải, Anh quốc sản xuất  trung bình khoảng 8 triệu tấn bao bì mỗi năm và một nữa trong số đó là bao bì công nghiệp.

    Thông thường thì bao bì công nghiệp có thể tái sử dụng và tái chế nhiều lần so với bao bì tiêu dùng vì chúng chắc chắn hơn và có thể thu thập dễ. Bao bì tiêu dùng phân tán hơn nhưng có một số công ty, như bodyshop, có chính sách giảm vấn đề này bằng cách sử dụng các bao bì có thể tái sử dụng. Đây là một vấn đề quan trọng, EU, và các khu vực khác đều đưa ra các giới hạn liên quan đến số lượng bao bì mà công ty có thể vướt bỏ. Một số nước chỉ cho phép bao bì bằng thuỷ tinh nếu chúng được thu thập lại và tái sử dụng hoặc ít nhất là tái chế. Cũng có các quy định tương tự đối với các bao bì bằng kim loại, đặc biệt là các thùng nhôm. Có lẽ đáng lưu ý nhất là các quy định về các loại bao bì khác,  những quy định này ngày càng gây sức ép đối vơí các tổ chức trong việc báo cáo số lượng bao bì mà họ sử dụng và số bao bì họ tái chế. Nếu họ không thành công trong việc đạt các mục tiêu về tái chế bao bì, họ sẽ phải đối mặc với heavy fines.EU cũng theo kịch bản này với tỷ lệ tái chế mục tiêu là 50%.

                             V.Qúa trình nghiệp vụ bao bì.

    1.Tiếp nhận bao bì.

    Tiếp nhận bao bì là công tác nhằm kiểm tra và đánh giá tình trạng số lượng và chất lượng bao bì và cũng là hình thức tiếp nhận số lượng và tiếp nhận chất lượng. Vì vậy khi tiếp nhận phải xác định trách nhiệm vật chất của các bên trong việc chuyển giao bao bì căn cứ vào các văn bản pháp lý như các tiêu chuẩn về bao bì, quy định về tiếp nhận hàng hoá, bao bì …vào các cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặc hàng. Trong trường hợp bao bì không đảm bảo số lượng và chất lượng phải lập biên bản nhằm quy trách nhiệm vật chât rõ ràng.

    2.Mở và bảo quản bao bì.

    Là công tác để phá dở hàng hoá ra khỏi bao bì và giữ gìn số lượng và chất lượng bao bì trong,  sau khi mở bao bì.

    Về yêu cầu:đảm bảo giữ gìn tốt bao bì trong quá trình tháo dở hàng hoá và bảo quản, tận dụng diện tích và thể tích khu vực bảo quản.

    Nguyên tắc của mở bao bì:theo đúng quy trình, đúng kỷ thuật và dụng cụ. Do đó đối với mỗi loại bao bì cần xây dựng quy trình, quy phạm mở bao bì thích hợp.

    Nội dung của bảo quản bao bì:

    +Vệ sinh và phân loại bao bì theo quyền sở hữu vào mức độ chất lượng để thuận tiện cho việc xử lý bao bì và bảo quản bao bì.

    +Phân bố và chất xếp bao bì đảm bảo tận dụng diện tích và dung tích nơi bảo quản, thuận tiện cho việc chăm sóc giữ gìn bao bì.

    +Đảm bảo các điều kiện giữ gìn tốt bao bì: tránh nắng mưa, chống các hiện tượng sử dụng bao bì không đúng mục đích.

    3.Hoàn trả và tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng

          Là công tác nhằm hoàn trả bao bì sử dụng nhiều lần cho chủ sở hữu và tiêu thụ bao bì theo các hình thức xác định.

    Sử dụng lại bao bì và tận dụng vật liệu bao bì đã qua sử dụng có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế và đối với bản thân các doanh nghiệp, cụ thể: tiết kiệm nguồn tài nguyên, lao động và các chi phí để chế tạo bao bì.

    Yêu cầu hoàn trả bao bì cho chủ sở hửu theo đúng chế độ và cam kết giữa các bên, tận thu và tiêu thụ nhưng bao bì đã qua sử dụng với chi phí thấp nhất.

    -Hoàn trả: nhữg bao bì dùng nhiều lần, là tài sản của bên chủ hàng hoặc bên cho thuê mướn bao bì phải tiến hành hoàn trả lại theo cam kết pháp lý.

    -Tiêu thụ: bán các loại bao bì hoặc vật liêu bao bì đã qua sử dụng cho các đơn vị sản xuất hàng hoá hoặc sản xuất bao bì để sử dụng lại hoặc dùng làm vật liệu chế tạo bao bì.

    1. Kết luận:Như ông cha ta ngày xưa có nói:
      “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
      Đây là câu tục ngữ có chứa hàm ý là nói về nội dung bên trong và hình thức bên ngoài của một vấn đề.
      Câu tục ngữ này là một câu nói không hoàn toàn đúng mà nó chỉ đúng một phần thôi, nội dung đúng là quan trọng thật thế nhưng hình thức cũng không kém phần quan trọng, cụ thể điều này chúng ta có thể thấy qua thị trường hàng hoá ngày nay, một người khi muốn mua một món quà nào đó thì điều đầu tiên họ quan tâm đó là chất lượng bên trong sản phẩm, nhưng để món quà đó có tính sang trọng, và thể hiện được giá trị và sự đặc biệt của món quà thì hình thức sẽ là một yếu tố tạo nên sự sang trọng và quý phái đó. Chẳng hạn khi bạn muốn mua một hộp bánh trung thu để tặng cho cấp trên thì điều đầu tiên mà bạn quan tâm đó là thương hiệu của bánh ,sau đó là mẫu mã và kiểu dáng bao ngoài của bánh, nếu như chất lượng bánh đã tốt có thương hiệu nổi tiến thế nhưng bao bì bên ngoài không được đẹp thì nó cũng không phản ánh hết được giá trị bên trong của sản phẩm. Vì vậy để  chọn được một sản phẩm ưng ý , bạn nên chọn sản phẩm đó bằng cách kết hợp cả nội dung bên trong và hình thức bên ngoài.
      Như vậy để kích thích cũng như thoã lòng khách hàng thì bên cạnh việc để ý đến chất lượng của sản phẩm thì các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến bao bì bên ngoài vì lớp bao bì này sẽ làm tăng tính tò mò và sự hài lòng trong việc mua hàng.

           Như các bạn đã biết thì trước đây yếu tố bao bì chỉ được xem như là một lớp ngoài để bảo vệ sản phẩm nhưng ngày nay bao bì giới thiệu một kiểu phân phối mới, gợi ra những phẩm chất của sản phẩm của doanh nghiệp, giúp cho người tiêu dùng dễ nhận biết sản phẩm và nhãn hiệu, tạo ra cho người tiêu dùng sự tin tưởng và an tâm khi lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu của doanh nghiệp.
    Vì vậy khi quyết định tung ra thị trường một loại sản phẩm nào đó thì các doanh nghiệp cần chú ý đến việc tạo ra bao bì như thế nào cho phù hợp với sản phẩm và làm toát lên ý nghĩa của sản phẩm thông qua bao bì đó.
    Do đó các doanh nghiệp không ngừng nghiên cứu để tạo ra các loại bao bì mới cho phù hợp với sản phẩm , trước đây, một mẫu bao bì có thể đứng trên thị trường 15 lăm năm rồi mới cần cải tiến nhưng trong môi trường đổi mới ngày nay sự thay đổi là rất nhanh chóng, đa số các doanh nghiệp phải xem xét lại bao bì của mình sau 2 hoặc 3 năm nếu không baobì bên ngoài của sản phẩm sẽ không còn được sự ưu ái của khách hàng nữa vì nó quá lỗi thời .
    Tóm lại, để các doanh nghiệp có thể tạo chỗ đứng cho mình trên thị trường thì cần tạo ra được những sản phẩm tốt với mẫu mã đẹp mới có thể thoã mãn được nhu cầu của người têu dùng, được người tiêu dùng tin tưởng và tiều dùng .
    Như vậy, qua đây chúng ta có thể thấy được sự quan trọng không thể thiếu của bao bì, thông qua bao bì các doanh nghiệp có thể quảng bá được chất lượng của sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp mình.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-D%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-Logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    A.   MỞ BÀI

    . Lý Do Chọn Đề Tài

    Dịch vụ Logistics là một quá trình “trọn gói” từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát hàng hóa… đến nơi tiêu thụ cuối cùng là người tiêu dùng, nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, an toàn, liên tục và hiệu quả với chi phí thấp.

    Logistics bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau từ vận tải, xếp dỡ, kho bãi… Cả nước hiện có 600 DN hoạt động trong lĩnh vực này. Logistics với nhiều loại hình dịch vụ khác nhau góp phần giảm giá thành hàng hóa xuất khẩu, tăng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.

    Một phân hệ hoàn chỉnh, cung cấp đầy đủ các thông tin về hàng hóa, nguyên vật liệu, sản phẩm trên toàn bộ hệ thống kho của công ty. Doanh nghiệp có bao nhiêu kho tùy ý, nhưng sẽ không có gì bị bỏ quên. Phân hệ này là công cụ hỗ trợ đắc lực cho nhiệm vụ nhập, xuất, di chuyển nội bộ, kiểm kê và thực hiện các chức năng nghiệp vụ theo yêu cầu của doanh nghiệp.

    Vì vậy mà nhóm đã quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu, và là nội dung thực hiện bài luận trong học phần “Quản Trị Chuỗi Cung ứng”.

    I.                   Khái niệm, vai trò, chức năng và loại hình kho bãi

    1.     Khái niệm

    Kho là loại hình cở logistics thực hiện việc dự trữ, bảo quản và chẩn bị hàng hoá nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng với trình độ dịch vụ cao nhất và chi phí thấp nhất.

    2. Vai trò

        – Đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất và phân phối hàng hoá:

    Nhu cầu tiêu dùng có thể biến thiên theo mùa vụ và có những dao động khó lường.Các nguồn cung cũng luôn có những diễn biến phức tạp trong khi hoạt động sản xuất cần được duy trì liên tục để đảm bảo chất lượng ổn định với chi phí hợp lí, do vậy lượng dự trữ nhất định trong kho giúp doanh nghiệp có thể đối phó được với những thay đổi bất thường của điều kiện kinh doanh phòng ngừa rủi ro.

    Trong hệ thống sản xuất thì kho được xem như là 1 bể điều tiết các hoạt động của quá trình sản xuất vì vậy mà nó còn đảm bảo điều hòa sản xuất. Khi bể này tắt nghẽn thì sẽ làm cho toàn bộ quá trình sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa kịp thời bị gián đoạn ngay.

    Góp phần giảm chi phí sản xuất, vận chuyển, phân phối: Nhờ có kho nên có thể chủ động đặt các đơn, lô hàng với quy mô kinh tế lớn trong quá trình sản xuất và phân phối nhờ đó mà giảm chi phí bình quân trên 1 đơn vị.

    Hơn nữa, kho góp phần vào việc tiết a việc đảm bảo hàng hoá sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng được kiệm chi phí lưu thông qua việc quản lý tốt định mức hao hụt hàng hoá, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả cơ sở vật chất của kho.

    Hỗ trợ quá trình cung cấp dịch vụ: Khách hàng cuả doanh nghiệp thông qua việc đảm bảo hàng hóa sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng giao, góp phần giao hàng đúng thời gian và địa điểm.

    Hỗ trợ việc thực hiện quy trình “logistics ngược”:    Thông qua việc thu gom, xử lý, tái sử dụng bao bì, sản phẩm hỏng, sản phẩm thừa…

     

    3. Chức năng

    Gom hàng: Khi hàng hoá, nguyên liệu đươch nhập từ nhiều nguồn nhỏ, lẻ khác nhau thì kho đóng vai trò là điểm tập kết để hợp nhất thành lô hàng lớn. Như vậy, sẽ có được lợi thế nhờ quy mô khi tiếp tục vậnc huyển tới nhà máy/ thị trường bằng các phương tiện đẩy toa/ xe/ thuyền.

    Phối hợp hàng hoá: Để đáp ứng tốt đơn hàng gồm nhiều mặt hàng đa dạng của khách hàng, kho bãi có nhiệm vụ tách lô hàng lớn ra phối hợp và ghép nhiều loại hàng hoá khác nhau thành một đơn hàng hoàn chỉnh, đảm bảo hàng hoá sẵn sàng cho quá trình bán hàng. Sau đó, từng đơn hàng sẽ đựợc vận chuyển bằng các phưong tiện nhỏ tới khách hàng.

    Bảo quản và lưu trữ hàng hoá: Đảm bảo hàng hoá nguyên vẹn về số lượng, chất lượng trong suốt quá trình tác nghiệp tận dụng tối đa diện tích và dung tích kho; chăm sóc, giữ gìn hàng hoá trong kho

    4. Các loại hình kho bãi:

    4.1  Phân theo đối tượng phục vụ:

    Kho định hướng thị trường: Kho đáp ứng yêu cầu của khách hàng trên thị trường mục tiêu. Loại hình kho này còn được gọi là kho phân phối hay kho cung ứng. Kho này có chức năng chủ yếu là dịch vụ khách hàng: tổng hợp các lô hàng và cung ứng thoả mãn các nhu cầu của khách hàng

    Kho định hướng nguồn hàng: Kho có vị trí ở các khu vực sản xuất, đáo ứng các yêu cầu cung cấp nguyên liệu, phụ từng, và các yếu tố đầu vào khác của các nhà sản xuất và do đó chức năng chủ yếu là thu nhận và tập trung vận chuyển tiếp tục quá trình sản xuất và dự trữ thời vụ.

    4.2  Phân theo quyền sở hữu:

    Kho riêng: Thuộc quyền sở hữu và sử dụng của riêng từng doanh nghiệp (thương mại) có quyền sở hữu hàng hoá dự trữ và bảo quản tại kho

    Kho công cộng: Khác với kho dùng riêng, kho công cộng hoạt động như một đơn vị kinh doanh độc lập cung cấp một loạt các dịch vụ như dự trữ, bảo quản và vận chuyển trên cơ sở tiền thù lao cố định hoặc biến đổi. Kho công cộng cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn cho mọi khách hàng.

    4.3 Phân theo điều kiện thiết kế, thiết bị:

    Kho thông thường: Có đặc điểm thiết kế, kiến trúc xây dựng và thiết bị thực hiện quá trình công nghệ trong điều kiện bình thường.

    Kho đặc biệt: Có đặc điểm thiết kế, kiến trúc xây dựng và thiết bị riêng biệt để bảo quản những hàng hoá đặc biệt do tính chất thương phẩm và yêu cầu của quá trình vận động hàng hoá (kho lạnh, kho động vật sống)

    4.4   Phân theo đặc điểm kiến trúc:

    Kho kín: Có khả năng tạo môi trường bảo quản kín; chủ động duy trì chế độ bảo quản, ít chịu ảnh hưởng của các thông số môi trường bên ngoài.

    Kho nửa kín: Chỉ có thể che mưa, nắng cho hàng hoá, không có các kết cấu (tường) ngăn cách với môi trường ngoài kho.

    Kho lộ thiên (bãi chứa hàng: ) Chỉ là các bãi tập trung dự trữ những hàng hoá ít hoặc không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của khí hậu, thời tiết.

     

    4.5  Phân theo mặt hàng bảo quản:

    Kho tổng hợp: Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá cao. Kho bảo quản nhiều loại hàng hoá theo các khu kho và nhà kho chuyên môn hoá.

    Kho chuyên nghiệp: Chuyên bảo quản một nhóm hàng/ loại hàng nhất định.

    Kho hỗn hợp: Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá thấp nhất. Kho bảo quản nhiều laọi hàng hoá trong một khu kho hoặc nhà kho.

    B. NỘI DUNG CHÍNH

    II. Nghiệp Vụ Kho

    1.     Nghiệp vụ tiếp nhận hàng (Nhập kho)

    Tiếp nhận hàng hóa nhận kho là công đoạn trung gian giữa quá trình nghiệp vụ mua hàng, nghiệp vụ vận chuyển, nghiệp vụ kho. Tuy nhiên, đây lại là khâu mở đầu của quá trình nghiệp vụ kho, do vậy mà nó ảnh hưởng trực tiếp tới các khâu nghiệp vụ sau và ảnh hưởng tới công tác kinh doanh, việc xác định trách nhiệm vật chất giữa các đơn vị giao hàng ( Đơn vị cung ứng-Người bán ), và đơn vị nhận hàng ( Người mua-Doanh nghiệp ), đảm bảo cho các khâu nghiệp vụ sau được thuận lợi, giảm chi phí bảo quản nâng cao chất lượng công tác kho. Đồng thời giúp ngăn chặn hàng không đạt yêu cầu chất lượng lọt vào lưu thông, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.

    • Nguyên tắc kiểm tra hàng hóa khi tiếp nhận:

    Phạm vi kiểm tra: Tất cả các hàng hóa khi tiếp nhận điều phải kiểm tra.

    Căn cứ để kiểm tra: Đơn đặt hàng, Hơp đồng mua bán, Mẫu hàng , Tiêu chuẩn.

    Nơi kiểm tra: tại nơi giao nhận hàng mà 2 bên đã thỏa thuận và phải co người đại diện vật chất của cả 2 bên.

    Thời gian kiểm tra: Ngay khi giao nhận

    Hình thức kiểm tra và phương pháp kiểm tra: Tùy vào từng điều kiện cụ thể của lô hàng hóa và thỏa thuận trong hợp đồng mà áp dụng hình thức kiểm tra toàn bộ hay đại diện, Phương pháp kiểm nghiệm cảm quan, hay thí nghiệm nhưng phải đảm bảo yêu cầu nhanh gọn, chính xác và tiết kiệm.

    • Nội dung tiếp nhận

    1.2.1 Công tác chuẩn bị:

    – Chuẩn bị phương tiện bốc dỡ như; Xe nâng hàng, xe bốc hàng, bơm nâng, pallet..,phương tiện vận chuyển phải phù hợp với loại hàng hóa, khối lượng hàng sẽ nhận, phù hợp với khoản cách từ nơi nhận hàng tới nơi chứa hàng.

    – Chuẩn bị các thiết bị và dụng cụ cần thiết để cân đo đong hoặc đếm, kiểm tra lấy mẫu hay kiểm nghiệm.

    – Chuẩn bị phân công cán bộ, công nhân viên tiếp nhận hàng, tùy vào số lượng cũng như tính chất lô hàng mà có sự phân công số lượng cũng như chuyên môn phù hợp nhất.

    – Chuẩn bị các giấy tờ và chứng từ cần thiết theo thủ tục quy định.

    1.2.2 Tiến hành tiếp nhận.

    1. Tiếp nhận hàng hóa về số lượng:

    Là việc người nhận hàng kiểm tra số lượng hàng thực nhận và đối chiếu với số lượng hàng trên chứng từ kèm theo như Hợp đồng kinh tế, chứng từ giao nhận, vận đơn (bill of lading)…và tùy theo tính chất, đặt điểm của từng loại hàng hóa, và cách đóng gói mà có thể dùng phương pháp cân, đo, đong, đếm.

    Đối với các hàng hóa nhận từ các cơ quan như đường Sắt, Thủy, Bộ mà không có người của đơn vị giao hàng đi kèm thì bên nhận hàng cùng với đại diện của cơ quan vận tải phải tiến hành kiểm tra sơ bộ khi hàng còn ở trên phương tiện vận tải, xác định xem hàng có bị mất mát ở dọc đường, hay còn niêm phong cặp chì, seal hay không. Sau đó mới nhận hàng rồi tiến hành cân đo, đong đếm để xác định số lượng.

    Phải có đủ các đại diện hợp pháp để ghi nhận các kết quả kiểm tra.

    1. Tiếp nhận hàng hóa về chất lượng:

    Là việc xác định hàng hóa có đúng phẩm chất, quy cách, kích thước, đồng bộ theo quy định hay không. Nội dung của việc nhận theo chất lượng bao gồm những sự xác định về:

    – Tính chất cơ lý hóa của hàng hóa

    – Hình thái, màu sắc, kích thước,đề tài của hang hóa

    – Sự đồng bộ của hàng hóa

    – Số lượng hàng hư hỏng và mức độ hành hư hỏng

    – Ký mã hiệu hàng hóa

    Việc tiếp nhận hàng theo số lượng và chất lượng được tiến hành đồng thời và hoàn thành trong một thời gian ngắn nhất, nhằm tránh lãng phí thơi gian, phương tiện và nhân công, tránh để hàng hóa lưu kho bãi quá lâu gây nên hư hỏng mất mát.

    1. Thủ tục những trường hợp cần xử lý:

    – Những kiện hàng có nghi vấn đều phải qua kiểm tra, khi kiểm tra xong thì phải để riêng.

    – Hàng kiểm tra xong nếu có thừa thiếu, sai quy cách, hàng không có chứng từ đi kèm thì phải lập biên bản.

    – Hàng đã kiểm tra xong nếu có nghi vấn bên giao muốn kiểm tra lại, thì bên giao phải chịu toàn bộ chi phí.

    1. Lập chứng từ nhận hàng:

    Khi hoàng thành việc tiếp nhận  hàng hóa theo số lượng, chất lượng, tất cả hàng hóa nhập kho phải ghi và sổ nhập kho hay nhật ký nhận hàng.

    2.     Tác Nghiệp Trong Kho

    • Nghiệp vụ chất xếp hàng hóa trong kho

    Việc phân bố hàng hóa trong kho là việc phân chia khu vực bảo quản cho từng loại hàng, nhóm hàng một cách hợp lý, đồng thời giúp cho việc tiếp nhận, phát hàng và tận dụng tốt nhất diện tích và dung tích kho hàng hóa.

    2.1.1 Phân loại hàng nhập kho

    Để thuận lợi cho công tác dự trữ và tăng tốc độ giải phóng kho, cần thiết phải nhận dạng sản phẩm một cách nhanh chóng. Giải pháp đơn giản nhất là sử dụng tên gọi của chúng, nhưng cách gọi tên này thường ít được sử dụng, đặc biệt khi chúng gồm những chỉ dẫn kỹ thuật hoặc kích cỡ, do đó doanh nghiệp thường sử dụng một bộ mã số (chẳng hạn như: 1234) hoặc cả chữ cái và số cho mỗi mặt hàng dự trữ.

    • Bố trí không gian và tìm vị trí cất giữ.
    1. Cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Hàng hóa trong kho không gây ảnh hưởng xấu lẫn nhau, bố trí cách ly những hàng kỵ nhau ví dụ như: Không để những hàng dễ tỏa mùi bên cạnh những hàng hút mùi, hàng dễ bốc cháy bên cạnh những hàng dễ bén lửa,hàng có hàm lượng nước cao bên cạnh hàng dễ hút nước, hàng cồng kềnh với hàng dễ vỡ.

    – Địa điểm cố định cho từng loại hàng, nhóm hàng để tiện theo dõi, kiểm tra và xuất nhập.

    – Nghiệp vụ kho được tiến hành thuận tiện, năng suất lao động cao, tiết kiệm dung tích và diện tích kho.

    – Việc chất xếp phải chú ý đến đảm bảo an toàn cho người và hàng hóa, đảm bảo trật tự và vệ sinh, dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm kê hàng hóa, hoặc xếp đúng ký hiệu hướng dẫn ngoài bao bì, đảm bảo mỹ quan cho kho hàng hóa.

    –  Các hàng hoá đặc biệt: Các vật tư vật liệu dễ cháy nổ được sắp xếp ở các kho có trang thiết bị phòng chống cháy nổ và ở xa các công trình, kho tàng khác theo quy định hiện hành của Nhà nước và Công ty Mẹ.

    1. Các phương pháp chất xếp:

    – Các phương pháp chất xếp thường gặp như:

    + Đổ đống đối với các loại hàng như; cát, muối, lúa gạo…

    + Xếp thành chồng như Xi Măng, Gạch…

    + Xếp lên giá hàng đối với các hàng tiêu dùng, như việc xếp hàng trên các giá, kệ ở các siêu thị như Metro, Big C, CoopMart….

    1. Xác định vị trí phân bổ hàng hóa: Vị trí phân bổ hàng hóa thường được xác định tùy thuộc vào 3 yếu tố; Thời gian lưu giữ trong kho, kích thước và hình khối của hàng hóa và thường theo các phương pháp sau:

    – Phương pháp: “Mỗi chỗ một vật, mỗi vật ở chỗ của mình” là dành cho mỗi một loại sản phẩm một chỗ quy định. Ưu điểm là dễ dàng định vị sản phẩm, vật tư trong kho; xác định lượng dự trữ thừa hay thiếu một cách nhanh chóng. Nhưng nhược điểm là không tận dụng được diện tích kho tàng.

    Phương pháp phổ quát vị trí: “bất kỳ vật gì, bất kỳ chỗ nào” là sử dụng vị trí nào còn trống lúc đưa hàng vào kho, một sản phẩm có nhiều điạ chỉ. Ưu điểm của nó là tận dụng được diện tích kho tàng, nhưng khó về mặt thông tin để định vị được chỗ trống khi nhập kho và tìm địa chỉ sản phẩm khi xuất kho.

    Phương pháp tần suất quay vòng: Loại hàng nào ra vào nhiều nhất được xếp ở chỗ thuận nhất.

    • Phương pháp hai kho: Kho được chia làm hai bộ phận: Kho dự trữ được cung ứng do nhập kho và cung cấp số lượng nhỏ cho kho phân phối từ đó xác lập các đơn đặt hàng.
      • Nghiệp vụ bảo quản hàng trong kho.

    Là quá trình hàng chế đến mức thấp nhất sự mất mát, hư hỏng, giảm sút chất lượng hàng hóa và thuận tiện khi xuất hàng từ kho ra.

    Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thì mục đích của việc bảo quản hàng trong kho là để tiếp tực làm thủ tục xuất khẩu, hoặc để chờ đợi người mua mở L/C (Letter of Credit), chờ đợi phương tiện vận tải…

    2.2.1 Các yêu cầu đối với nghiệp vụ bảo quản.

    – Giữ gìn tốt chất lượng và giảm thiểu đến mức thấp nhất hao hụt về số lượng hàng hóa.

    – Đảm bảo an toàn cho người, cho hàng hóa, thiết bị trong kho.

    – Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ, thể lệ, nguyên tắc về quản lý nghiệp vụ kỹ thuật.

    2.2.2 Nội dung nghiệp vụ bảo quản hàng hóa trong kho.

    1. Khống chế các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hàng hóa.

    Hàng hóa trong quá trình bảo quản chịu tác động của các yếu tố bên ngoài như; khí hậu, vi sinh vật, côn trùng…,làm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng hàng hóa, vì vậy trong công tác bảo quản phải tìm mọi biện pháp khống chế.

    a.1 Nhóm yếu tố khí hậu: Ảnh hưởng của độ ẩm không khí, nhiệ độ và các biện pháp chống ẩm, chống nóng.

    – Khi độ ẩm không khí lên cao, hàng hóa sẽ hút ẩm làm cho tính chất thay đổi, và nếu kéo dài thì chất lượng sẽ giảm. Ví dụ; Xi măng, vải, giấy, kim loại, chè, bánh kẹo…

    – Khi độ ẩm không khí xuống thấp hàng hóa sẽ bị bay hơi, tỉ lệ hao hụt tăng,chất lượng giảm. Ví dụ như các mặt hàng Xăng dầu, Rau quả tươi, gỗ…

    – Khi nhiệt độ lên cao cũng làm cho hàng hóa bị hao hụt, biến dạng, mất hẳng về chất lượng.

    – Khi nhiệt độ thấp sẽ làm thay đổi một số sản phẩm như cao su, dầu ăn…

    – Khi nhiệt độ giao động sẽ làm giảm chất lượng của các mặt hàng như đông lạnh, gây hiện tượng điểm sương ngưng đọng nước…

    + Các biện pháp chống ẩm:

    . Thông gió tự nhiên, lợi dụng điều kiện tự nhiên  cho phép, trời không mưa bão, có gió nhưng không quá cấp 4.

       . Dùng chất hút ẩm như CaCO2, CaO thì sẽ có tác dụng hút được khoản 30% khối lượng toàn kho. Hoặc Silicagen (keo thủy tinh), loại hợp chất này có tác dụng chống ẩm khoảng tù 30-50% thường được sử dụng trong các túi, thùng hàng hóa như đồ điện tử.

    + Các biện pháp chống nóng như; thông gió tự nhiên, che phủ, kho có trần, mái chống nóng, dùng máy điều hòa nhiệt độ.

    a.2 Ảnh hưởng của vi sinh vật như nấm, vi trùng, các mầm bệnh

    – Biện pháp chủ yếu là dùng hóa chất thường xuyên theo dõi, khử trùng,vệ sinh phòng dịch.

    a.3 Ảnh hưởng của côn trùng và chuột, các loại côn trung nguy hiểm như mọt, chúng sinh sản rất nhanh và phá hoại cung rất lớn, chúng thường để lại phân, xác,lâu ngày sẽ gây nên nấm mốc, ố cho hàng hóa và để lại mùi hôi. Một loại côn trùng khác cung nguy hiểm không kém là mối và đặt biệt là chuột, vì phạm vi phá hoại rộng nhờ hàm răng chắc khỏe.

    – Biện pháp chủ yếu là dùng hóa chất, bẫy.

    1. Quản lý định mức hao hụt hàng hóa trong kho.

    Hao hụt định mức: là hoa gụt do bản thân hàng hóa và là hao hụt tất yếu xảy ra trong qua trình bảo quản. Hao hụt này được xác định thành tỉ lệ cho phép, đối với mỗi loại hàng trong điều kiện bảo quản nhất định.

    Hao hụt ngoài định mức: Là hao hụt vượt ra ngoài tỉ lệ cho phép, hao hụt này thường do trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm, điều kiện bảo quản kém hay do thiên tai gây nên. Vì vậy phải xem xét và quy trách nhiệm cụ thể.

    + Các biện pháp giảm hao hụt trong kho.

    . Phải tổ chức tốt quá trình nghiệp vụ kho từ khâu nhập hàng đến khâu xuất hàng

    . Xây dựng và thực hiện tốt định mức hao hụt cho từng mặt hàng bảo quản.

    . Cải tiến và nâng cao điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật.

    . Chăm lo bồi dưỡng trình độ chính trị, chuyên môn cho nhân viên kho, tổ chức thi đua khen thưởng kịp thời.

    • Tập hợp đơn hàng.

    Là quá trình biến đổi hình thức hàng hóa thành lô hàng theo yêu cầu đơn hàng.

    Hàng hóa nhập kho thường sắp xếp theo yêu cầu kỹ thuật của kho, theo hợp đồng mua bán, tuy nhiên đơn hàng thường  gồm nhiều mặt hàng khác nhau theo yêu cầu đa dạng của khách hàng. Do vậy việc tập hợp đơn hàng là cần thết và quan trọng, là cơ sở cho việc thực hiện đúng đơn hàng. Các quá trình gồm:

    – Nhận bản Fax, photo,bản sao đơn đặt hàng từ phòng kinh doanh sau đó kiểm tra thông tin trên đơn đặt hàng và lượng hàng hóa dự trữ trong kho.

    – Tiến hành gom hàng (Cargo consolidater ) theo đơn, chọn lấy hàng ra khỏi nơi bảo quản. Đối với đơn hàng gồm nhiều mặt hàng thì việc gom hàng thành lô sẽ phức tạp hơn như; liệt kê danh mục hàng cần ghép thành lô, rồi tìm các lô, kệ hàng chứa trong kho hiện có, sau đó dung xe nâng, bôc dỡ hàng đến nơi ghép hàng thành lô theo yêu cầu đặt hàng.

    – Biến đổi mặt hàng theo yêu cầu, là việc chuyển đổi một số yếu tố mang tính vật lý đơn giản của các mặt hàng như tôn, lúa gạo trong kho sẽ được đóng bao theo yêu cầu đặt hàng là trọng lượng bao chẳng hạng là 50kg, 20kg, 10kg…

    – Tiến hành đóng gói, dáng nhãn và xếp theo thứ tự. Đối với bao bì thì nên ghi ký mã hiêu đầy đủ, đối vói bao bì thương mại thì phải thuyết minh hình vẽ,ký hiệu đảm bảo các tiêu chuẩn về chỉ định, hướng dẫn, cảnh báo.

    Việc ghi mã số mã vạch giúp tiêt kiêm chi phí đồng thời giúp phân biệt được chính xác các loại hành hóa, chống hàng giả, hàng kém chất lượng, thuận tiện để kiểm tra khi giao nhận hàng, hay thực hiện quá trình xuất nhập khẩu đối vơi hàng hóa xuất khẩu, khi làm thủ tục thông quân hàng hóa, kiểm dịch, xông khói…      Đồng thời đối với khía cạnh Marketing thì việc ghi mã vạch, mã số giúp tăng niềm tin nơi khách hàng, phục vụ người tiêu dùng tốt hơn.

    Hiện nay hệ thống mã số mã vạch được các nước, các khu vực kinh tế sử dụng rất phổ biến, như khu vực Bắt Mỹ thì thường sử dụng hệ thống mã vạch chuỗi 8 số. Ở khu vực châu Âu thì dùng hệ thống mã số chuỗi 13 số theo tiêu chuẩn EAN (European Article Number), hiện nay Việt Nam đang dùng hệ thống mã số theo tiêu chuẩn châu Âu EAN-VN.

    – Sau cùng là việc tổng hợp các lô hàng theo địa chỉ khách hàng để thuận tiện cho việc vận chuyển tiết kiệm chi phí.

    3. Xuất Hàng (Giao Hàng)

    Là công đoạn nghiệp vụ cuối cùng thể hiện toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho hàng hóa.

    Việc xuất kho giao hàng có thể có nhiều mục đích khác nhau như: để xuất khẩu, để gia công chế biến, xuất bán trong nước, điều chuyển giữa các kho trong nội bộ doanh nghiệp…..Nhưng dù có mục đích nào thì việc xuất kho hàng đều phải đúng với các thử tuck quy định  và phải có đầy đủ các văn bản hợp lệ.

    3.1 Yêu cầu nghiệp vụ:

    – Hàng xuất phải đúng với phiếu yêu cầu hoặc lệnh xuất kho.

    – Hàng xuất kho phải đúng với nguyên tắc xuất nhập hàng hóa, xuất nhanh, gọn, chính xác, kịp thời.

    – Thực hiện đầy đủ việc cập nhật sổ sách, thẻ kho, báo cáo và thu dọn kho sạch sẽ.

    3.2 Nguyên tắc xuất kho

    – Hàng hóa chỉ được xuất kho khi có phiếu hoặc lệnh xuất kho hợp lệ.

    – Tuyệt đối không được tạm xuất hay xuất treo.

    – Xuất hàng nhanh gọn và liên tục

    – Hàng nhập trước xuất trước, hàng nhập sau xuất sau (theo phương pháp FIFO). Xuất đến đâu ghi vào nhật ký xuất kho tới đó.

    + Một số phương pháp trong xuất kho khác

    . Phương pháp :nhập sau xuất trước (nếu giá cả thị trường tăng lên)

    .  Phương pháp: bình quân gia quyền

    .  Phương pháp :đích danh

    – Hàng đã làm thử tục xuất kho nhưng vì lý do nào đó phải gửi lại thì phải để riêng và hai bên cùng có trách nhiệm quản lý.

    3.3 Nội dung của nghiệp vụ xuất kho.

    – Kiểm tra tính hợp lệ của hóa đơn thanh toán, phiếu nhập hàng, phiếu yêu cầu xuất kho, lệnh xuất kho nội bộ.

    + Đối với khách hàng ngoài Công ty phải có hóa đơn với đầy đủ chữ ký, dấu, giấy giới thiệu của cơ quan, hay giấy bảo lãnh của phụ trách phòng kinh doanh.Ngoài ra nếu hóa đơn chứng từ tẩy xóa phải có chữ ký và dấu bên cạnh.

    + Đối với nhân viên trong Công ty thì phải có hóa đơn xuất nội bộ hoặc lệnh xuất hàng của phụ trách phòng kinh doanh với đầy đủ chữ ký.

    – Hoạch định thời gian, phương tiện và trình tự giao các loại hàng, theo thủ tục ưu tiên về mức độ cấp bách và thời hạng thực hiện đơn hàng.

    – Chuẩn bị nhân lực và địa điểm để tiến hành giao hàng, phương tiện vận chuyển (Carrier), đối với phương tiện vận tải là tàu thủy, máy bay  thì phải chuẩn bị kho, bãi tại cảng bốc hàng lên, xe rơmoc, tàu hỏa. Riêng đối với hàng hóa xuất khẩu thì còn có liên quan tới các thủ tục hải quan, và việc chuẩn bị phương tiện vận tải liên quan đến quyền vận tải và quyền mua bảo hiểm hàng hóa theo các điều kiện về thương mại quốc tế Incoterms 2000.

    Ví dụ như các hình thức thuê phương tiện vận tải biển như: thuê tàu chợ (Booking Liner), thuê tàu chuyến (Voyage Charter), thuê tàu định hạng (Time Charter)

    – Hướng dẫn kiểm tra kỹ càng quá trình bốc, xếp hàng lên phương tiện vận tải để tránh nhầm lẫn và hư hao, thiệt hại do hỏng hàng.

    – Cùng với người nhận hàng tiến hành kiểm tra về số lượng và chất lượng hàng ( Nếu là hàng giao ngay tại kho người bán). Người giao hàng và người nhận hàng cùng ký vào phiếu xuất kho hay phiếu giao hàng.

    – Ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác, đầy đủ các tình trạng hàng hóa về số lượng cũng như chất lượng vào nhật ký xuất kho, thẻ kho để kiểm tra biến động của dự trữ hàng hóa nhằm bổ sung kịp thời.

    3.4 Một số vấn đề phát sinh trong quá trình xuất hàng.

    Trong một số trường hợp khách hàng đến nhận hàng không đem theo hoá đơn mua hàng thì trong trường hợp đó người thủ kho không nên yêu cầu khách hàng quay về lấy hoá đơn mà vẫn xuất hàng nhưng phải lập một biên bản và yêu cầu khách hàng ký vào và đề nghị bổ xung hoá đơn  sau.

    Trong một số trường hợp hàng hóa xuất đi bị hư hỏng hoặc thiếu khi hàng hóa về đến nơi người nhận thì nên tìm hiểu rõ nguyên nhân sau đó đổi hoặc bổ xung

    Trong một số trường hợp trong lúc làm thủ tục xuất giao hàng mà trong kho không đủ hàng giao (có thể là do nhà cung cấp của công ty giao hàng chưa kịp …) thì phải chủ động thương lương với khách hàng để bổ xung sau .

    C. KẾT LUẬN

    Tóm lại trong quá trình nghiên cứu về đề tài này nhóm đã tìm hiểu được rất nhiều thông tin còn thiếu, chưa rõ về Logistics, và đặc biệt là về vấn đề kho bãi một phần khổng thể thiếu trong việc xác lập chuỗi cung ứng có hoàn thiện và có hiệu quả cao. Thông qua việc hoàn thành bài luận là cơ sở giúp nhóm tự tin hơn trong việc hoàn thành bài Báo cáo thực tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic

    Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic

    Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tổng quan về Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-H%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-th%C3%B4ng-tin-Logistic.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic

    Phần 1: Lời giới thiệu

     

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, ngành Logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Chỉ mới gần đây thôi, từ Logistics được du nhập vào Việt Nam, trở thành từ cửa miệng, “mốt thượng thời” của một số người, người ta bàn về việc lập những khu Logistics, cảng Logistics, công ty Logistics, kho Logistics…Vì là một ngành còn rất mới ở nước ta, thế nên nó cần được nghiêng cứu một cách có hệ thống, toàn diện, kỹ lưỡng, để áp dụng có hiệu quả ở nước ta …

    Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các nhập lượng đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Các nguồn tài nguyên đầu vào không chỉ bao gồm vốn,vật tư, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ thông tin, bí quyết và công nghệ.

    Trong quá trình hoạt động Logistics thì các hoạt động dịch vụ khách hàng, dự trữ, vận chuyển là những hoạt động then chốt. Tuy nhiên để những hoạt động này đạt kết quả tốt cần phải có những hoạt động hỗ trợ như thu mua, nghiệp vụ kho và bao bì, vận chuyển và một hoạt động không kém phần quan trọng là quá trình quản trị hệ thống thông tin Logistics.

    Thông tin trong quản trị Logistics là chất kết dính hoạt động Logistics trong các nỗ lực hợp nhất của nhà quản trị, thông tin Logistics cung cấp cơ sở cho các quyết định lập kế hoạch, thực thi và kiểm tra Logistics hiệu quả. Nếu không quản trị tốt thông tin, các nhà quản trị Logistics không thể biết được khách hàng muốn gì, cần dự trữ bao nhiêu và khi nào cần sản xuất và vận chuyển.

    Với sự quan trong của LIS trong quản trị Logistics, nhóm 7 quyết định chọn đề tài này. Hi vọng sẽ giúp các bạn cũng như chính bản thân mình hiểu thêm một phần nào đó về quản trị Logistics.

     

    Phần 2: Nội dung bài luận

     

    I. Khái niệm, mô hình hệ thống thông tin Logistics:

    1.1 Khái niệm:

    Thông tin giúp cho doanh nghiệp thấy được các hoạt động Logistics một cách rõ nét, nhờ đó nhà quản trị có thể cải thiện tốt hơn trong quá trình thực hiện. Hện thống thông tin Logistics là một một bộ phận của hện thống thông tin toàn doanh nghiệp và nó hướng tới những vấn đề đặc thù của quá trình ra các quyết định Logistics về số lượng và quy mô của mạng lưới cơ sở Logistics, về hoạt động mua và dự trữ hàng hóa, về việc lựa chọn phương thức vận chuyển và đơn vị vận tải phù hợp…

    Hệ thống thông tin Logistics được hiểu là một cấu trúc tương tác giữa con người, thiết bị, các phương pháp và quy trình nhằm cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản trị Logistics với mục tiêu lập kế hoạch, thực thi và kiểm soát Logistics hiệu quả.

    1.2 Mô hình hệ thống thông tin Logistics (LIS):

    LIS giúp nắm vững thông tin về biến động của nhu cầu,thị trường và nguồn cung ứng, giúp cho các nhà quản trị chủ động được kế hoạch mua hàng, giao hàng, dự trữ,mua dịch vụ vận tải…một cách hợp lí thỏa mãn yêu cầu của khách hàng với mức chi phái thấp nhất. LIS góp phần đảm bảo việc sự dụng linh hoạt các hoạt động Logistics, xây dụng chương trình Logistics hiệu quả, chỉ rõ thời gian,không gian và phương pháp vận hành các chu kỳ hoạt động trong Logistics.

    Mô hình hệ thống thông tin Logistics:

    Hệ thống thông tin Logistics
    Môi trường Logistics

     

    – Hoạt động kinh doanh

    -Quản trị Logistics

    -Hoạt động Logistics

    • Hệ thống lập kế hoạch: Bao gồm một loạt các kỹ thuật liên quan đến việc thiết kế các kế hoạch tầm chiến lược như thiết kế mạng lưới, lập kế hoạch và dự đoán nhu cầu, phối hợp các nguồn lực, kế hoạch hóa cung ứng, sắp xếp và lên kế hoạch sản xuất, kế hoạch phân phối, các kế hoạch tầm chiến thuật như quản trị dự trữ, vận tải, và các tác nghiệp như nghiệp vụ kho, quá trình đặt hàng và các sự kiện xảy ra hàng ngày.
    • Hệ thống thực thi: Bao gồm các kỹ thuật đảm nhiệm các chức năng triển khai Logistics trong thời gian ngắn hoặc hàng ngày về quản lý nhà kho, vận tải, mua sắm, dự trữ, quản lý hiệu quả các đơn hàng của khách hàng.
    • Hệ thống nghiêng cứu và thu thập thông tin: Để thích nghi với các nhân tố môi trường vĩ mô, môi trường kênh và nguồn lực bên trong công ty. Hệ thông nghiêng cứu và thu thập thông tin có vai trò quan sát môi trường, thu thập thông tin bên ngoài, thông tin có sẵn trong lĩnh vực Logistics và trong nội bộ công ty.
    • Hệ thống báo cáo kết quả: Hệ thống báo cáo là thành phần cuối cùng trong LIS. Nếu các báo cáo và kết quả không được truyền đạt hiệu quả thì các tư tưởng, nghiên cứu hữu ích và giải pháp quản lý sẽ không thể đạt được. Các báo cáo hỗ trợ quyết định quản trị Logistics tập trung vào 3 loại.
      • Báo cáo để lập kế hoạch gồm các thông tin có tính lịch sử và thông tin trong tương lai như thông tin về xu hướng bán, khuynh hướng dự báo, các thông tin thị trường,các yếu tố chi phí của dự án kinh doanh.
      • Báo cáo hoạt động cung cấp những thông tin sẵn có cho nhà quản trị và người giám sát về hoạt động thực tế như việc nắm giữ hàng tồn kho, thu mua, đơn hàng vận tải, kế hoạch sản xuất và kiểm soát, vận chuyển.
      • Báo cáo kiểm soát cụ thể tổng kết chi phí và thông tin hoạt động ở các giai đoạn thích hợp, so sánh ngân sách và chi phí hiện tại,chúng tạo ra nền tảng cho việc tiếp cận chiến lược hoạt động và các sách lược.

     

    II. Cấu trúc của hệ thống thông tin Logistics

    Hình minh hoạ dưới đây cho bạn một tổng quan về các thành phần riêng lẻ của các hệ thống thông tin Logistics.

    Hệ thống thông tin Logistics (LIS) được tạo thành bởi hệ thống thông tin sau:
    + Hệ thống thông tin bán hàng

    + Hệ thống thông tin mua
    + Kiểm soát hàng tồn kho
    + Hạ Tầng hệ thống thông tin
    + Hệ thống thông tin bảo trì
    + Hệ thống thông tin quản lý chất lượng
    + Hệ thống thông tin bán lẻ (RIS)
    + Hệ thống thông tin giao thông vận tải (TIS)

    Các hệ thống thông tin của LIS có một cấu trúc riêng. Các loại cấu trúc đó cho ta các hệ thống thông tin với tính năng đặc biệt của chúng và cho phép ta không chỉ để đánh giá các dữ liệu thực tế, mà còn để tạo ra dữ liệu hoạch định. Bạn có thể sử dụng kho dữ liệu từ hệ thống thông tin Logistics để đáp ứng yêu cầu riêng của công ty. Nhờ vào hệ thống thông tin này ta có thể biết được tình hình hoạt động và dự báo cũng như cảnh báo sớm về hệ thống. Qua đây sẻ hổ trợ cho việc ra quyết định, nhằm đạt mục tiêu và giám sát các khu vực hoạt động kém. LIS còn giúp ta phát hiện sớm các tình huống xấu có thể xảy ra và xử lý các tình huống không mong muốn. Ngoài ra còn có thư viện thông tin Logistics là một phần thêm vào LIS. Thư viện thông tin Logistics giúp ta có thể truy cập vào hệ thống LIS một cách dễ dàng và nhanh chóng.

    Để rõ hơn về các hệ thống cấu thành LIS thì ta sẻ đi vào từng phần:

    2.1 Hệ thống thông tin bán hàng

    Các tiêu chuẩn phân tích hệ thống thông tin bán hàng trong Logistics bao gồm:

    • Khách hàng
    • Vật liệu
    • Tổ chức bán hàng
    • Địa điểm giao hàng
    • Nhân viên bán hàng
    • Phòng kinh doanh
    • Quy mô bán hàng
    • Phân tích tài chính

    2.2 Hệ thống thông tin mua hàng
    Hệ thống thông tin bán hàng được đánh giá qua những chỉ tiêu sau:

    • Nhóm mua hàng
    • Người bán hàng
    • Khối lượng nguyên vật liệu
    • Loại nguyện vật liệu
    • Đánh giá của nhân viên 
    • Kế hoạch dài hạn
    • Phân tích tài chính mua hàng

    Ngoài những thông tin trên thì hệ thống thông tin bán hàng còn được biết đến qua những lô hàng đã hoàn thành, lưu nội bộ.

    2.3 Kiểm soát hàng tồn kho

    Tiêu chuẩn đánh giá việc kiểm soát thông tin hàng tồn kho:

    • Tại nhà máy/Các địa điểm lưu trử/Nguyên vật liệu
    • Các lô hàng
    • Nhóm nguyên vật liệu
    • Các thông số dữ liệu kiểm soát
    • Yêu cầu kho (hiện tại và kế hoạch lâu dài)
    • Quản lý kho
    • Phân tích nguồn tài chính

    Việc quản lý hàng tồn kho tập trung vào các việc: Phân loại, kích thước lô, biên nhận tại kho, bảo quản kho, quản lý dự trữ, so sánh dự trữ, …

    2.4 Hạ Tầng hệ thống thông tin Logistics

    Được xác định thông qua việc doanh nghiệp kinh doanh về sản phẩm, dịch vụ gì, hoạt động như thế nào, các nguyên vật liệu phục vụ và việc quản lý hoạt động.  Tiêu chuẩn đánh giá được xác định qua:

    • Thông tin điều hành(nhân sự, phòng ban, kết cấu)
    • Hoạt động chính của doanh nghiệp
    • Cơ sở vật chất
    • Đơn đặt hàng sản xuất
    • Vật liệu sử dụng
    • Lịch trình
    • Chi phí sản phẩm
    • Báo cáo thống kê
    • Kaban(Thủ tục kiểm soát luồng vật chất để tối đa hóa chi phí)
    • Phân tích tài chính

    2.5 Hệ thống thông tin bảo trì

    Được xác định thông qua:

    • Đối tượng
    • Nhà sản xuất
    • Vị trí
    • Nhómthực hiện kế hoạch
    • Phân tíchthiệt hại
    • Đối tượng thống kê
    • Sự hư hỏng
    • Chi phí
    • Thông tin từ khách hàng

    2.6 Hệ thống thông tin quản lý chất lượng

    Chúng ta có thể tham khảo thông qua các nguồn thông tin từ:

    • Nhân viên
    • Nguyên vật liệu
    • Khách hàng
    • Từ những hồ sơ thanh tra

    2.7 Hệ thống thông tin bán lẻ

    Tiêu chuẩn phân tích của hệ thống thông tin bán lẻ:

    Lĩnh vực kinh doanh Tiêu chuẩn phân tích
    Mua hàng Mua hàng
      Open-to-Buy
      Việc giải quyết
    Bán hàng Lợi nhuận bán lẻ ngắn hạn
      Khách hàng/ Loại hàng hóa
    Điều lệ Điều lệ {Ext.}
      Điều lệ bổ sung
      Khách hàng/ điều lệ
    Quy trình đăc biệt Khuyến mãi
      Theo mùa
      Tính chất(hư hại, dễ hỏng)
      Đặc điểm hàng tồn
      Những bổ sung
    Kiểm toán bán hàng Thu ngân
      Biên nhận bán hàng
      Cân bằng tại điểm bán
      Tập hợp từ điểm bán
    Phân tích thị trường Theo biên nhận bán hàng
      Biên lai hóa đơn
      Hóa đơn/ điều lệ
      Hổ trợ bán hàng
    Ước lượng khối lượng công việc Tổng quát

    2.8 Hệ thống thông tin giao thông vận tải (TIS)

    Tiêu chuẩn phân tích trên các tiêu chí sau:

    • Giao thông vận tải
      Các phân tích vận tải hiển thị thông tin từ các vấn đề về vận chuyển và giao hàng. Các số liệu chính cho việc hoàn thành vận chuyển (chẳng hạn như khoảng cách, thời gian giao hàng, trọng lượng) được cập nhật trong  liên quan đến phương tiện vận tải, loại vận chuyển, dịch vụ đại lý, điểm bắt đầu, và điểm đến…
    • Các tuyến đường giao thông vận tải

    Các thông tin liên quan được biết thông qua các phương tiện vận chuyển, loại hàng vận chuyển, dịch vụ của nhà cung cấp,…

    • Phương thức vận chuyển

    Tùy thuộc vào yêu cầu, tính chất đơn hàng, điều kiện vật lý, …của khách hàng.

    • Thông tin về việc vận chuyển

    Chủ yếu tập trung vào phương tiện, loại hàng hóa và địa điểm giao hàng.

    • Thời gian vận chuyển
    • Vật liệu vận tải
    • Điều kiện ngoại cảnh

    III. Chức năng và tác dụng của LIS:

    LIS là sợi chỉ liên kết các hoạt động Logistics vào một quá trình thống nhất. Sự phối hợp này được xây dựng dựa trên 4 mức chức năng: tác nghiệp, kiểm tra quản trị, phân tích quyết định, và hệ thống kế hoạch hoá chiến lược.

    3.1 Chức năng tác nghiệp

    Được đặc trưng bằng các luật lệ chính thức, các thủ tục và những giao tiếp chuẩn hóa một số lớn các tác nghiệp và nghiệp vụ hàng ngày.Việc phối hợp các quá trình trong cấu trúc và một số lượng lớn các tác nghiệp cho thấy tầm quan trọng của hệ thống thông tin ở mức độ thấp nhất này. Hệ thống thông tin tác nghiệp khởi xướng và ghi lại các hoạt động và chức năng Logistics riêng biệt như: Nhận đơn hàng, xử lý, giải quyết yêu cầu, khiếu nại. Như vậy quá trình thực hiện đơn hàng phải thực hiện dựa trên một loạt các thông tin tác nghiệp.Triển khai LIS đảm bảo cải tiến hiệu suất hệ thống tác nghiệp, là cơ sở của lợi thế cạnh tranh: giảm chi phí tác nghiệp để giảm giá; tuy có tăng chi phí đầu tư cho hệ thống thông tin, nhưng hiệu suất tác nghiệp tăng nhanh, do đó giảm chi phí tương đối hoạt động tác nghiệp.

    3.2 Chức năng kiểm soát

     Nhằm vào việc đo lường hoạt động nghiệp vụ và báo cáo, việc đo lường là cần thiết để có được sự quan tâm điều chỉnh ngược, cũng như tiết kiệm các nguồn lực hữu ích. Nó cũng cần thiết để nhận ra những hoạt động ngoại lệ và cung cấp thông tin để xử lý các trường hợp này. Chức năng kiểm soát của LIS giúp phát hiện kịp thời những vướng mắc về chất lượng dịch vụ trong mối tương quan với các nguồn lực hiện có để phục vụ khách hàng, từ đó có những giải pháp điều chỉnh phù hợp.

    3.3 Chức năng phân tích và ra quyết định

    Tập trung vào các công cụ phần mềm nhằm hỗ trợ các nhà quản trị nhận ra, đánh giá và so sánh các phương án chiến lược và chiến thuật Logistics có khả năng thay thế, cho phép gia tăng hiệu quả hoạt động. Chức năng phân tích và ra quyết định thể hiện mức độ xử lí cao và phức tạp của LIS. Với những thông tin có tính tổng hợp và dài hạn, với những dự báo về thị trường và các nguồn cung ứng, LIS hỗ trợ nhà quản trị với các quyết định quan trọng như việc qui hoạch mạng lưới cơ sở Logistics, trong việc lựa chọn hệ thống quản trị dự trữ hàng hoá, trong việc lựa chọn các nguồn hàng ổn định và chất lượng, v.v.

    3.4 Chức năng hoạch định chiến lược

    Tập trung vào các thông tin hỗ trợ việc xây dựng và tái lập các chiến lược Logistics. Các quyết  định này là sự mở rộng các quyết định phân tích ở mức độ khái quát và trừu tượng thậm chí không có cấu trúc chi tiết và thực hiện trong thời gian dài. Chức năng hoạch định chiến lược của LIS được kết hợp với các hệ thống thông tin khác (Marketing, kế toán-tài chính…) để rà soát các cơ hội và thách thức của môi trường kinh doanh. Từ đó, doanh nghiệp sẽ chuẩn bị nguồn lực để khai thác các tiềm năng thị trường và vượt qua những khó khăn, dựa vào những thế mạnh sẵn có của mình.

    Một hệ thống thông tin hiểu quả, hỗ trợ đắc lực cho quá trình ra các quyết định Logistics phải đảm bảo được chất lượng thông tin. Cụ thể, LIS phải đảm bảo các yêu cầu: đầy đủ, sẵn sàng (Availability); chọn lọc (Selective); chính xác (Accuracy); linh hoạt (Flexibility); kịp thời (Timeliness); dễ sử dụng (Appropriate format).

    Việc truyền đạt thông tin phải được thực hiện dưới ngôn ngữ của người nhận nếu không việc tiếp nhận thông tin sẽ trở nên rất khó khăn. Hơn nữa, việc truyền đạt thông tin đôi khi cũng bị gián đoạn khi người tiếp nhận bỏ qua những thông tin mà họ thấy không cần thiết – đó được coi là sự tiếp nhận có lựa chọn. Cuối cùng việc truyền đạt thông tin chỉ diễn ra khi thông tin đó phù hợp với người nhận và gắn liền với những quyêt định quản trị mà người tiếp nhận cần đưa ra.

    IV. Dòng thông tin Logistics trong doanh nghiệp:

    Hệ thống thông tin Logistics trong doanh nghiệp gồm 2 dòng chính, đó là sự kết hợp chặt chẽ của các hoạt động kế hoạch- phối hợp và các hoạt động tác nghiệp.

    4.1 Dòng thông tin hoạch định – phối hợp:

    4.1.1 Kế hoạch chiến lược:

    Kế hoạch chiến lược là kim chỉ nam, là thông tin định hướng cho các nhà doanh nghiệp xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện ở các chức năng. Kế hoạch chiến lược tập trung vào hai mục tiêu marketing và tài chính.

    1. Mục tiêu marketing: Các chính sách, mục tiêu marketing và chính sách dịch vụ khách hàng quyết định các hoạt động Logistics. Tiêu chuẩn đảm bảo hàng hóa ( mức độ hàng thiếu , tỷ lệ thỏa mãn, tổng hợp lô hàng); tiêu chuẩn vận hành nghiệp vụ ( tốc độ, độ ổn định, linh hoạt,xử lí bất trắc); tiêu chuẩn tin cậy.
    2. Mục tiêu tài chính:

    Thể hiện nở các chỉ số doanh thu, chi phí khả năng thu hồi, vốn đầu tư và lợi nhuận. Mục tiêu tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ và tổng chi phí Logistics.

    Như vậy cả 2 mục tiêu chiến lược sẽ cung cấp thông tin về thị trường (khách hàng), mặt hàng kinh doanh, dịch vụ và trình độ hoạt động Logistics mà các nhà quản trị Logistics phải đảm bảo trong phạm vi kế hoạch.

    4.1.2  Kế hoạch nguồn lực:

    Đây là bước khởi đầu xác định khả năng nguồn lực đáp ứng Logistics. Kế hoạch nguồn lực cần được xác định các yếu tố bao gồm nguồn hàng, kho hàng, vốn dự trữ, phương tiện vận chuyên và nhân sự. Kế hoạch này giúp quản trị nguồn nhân lực có hiệu quả đáp ứng nhu cầu thị trường. Với mỗi mặt hàng kinh doanh , kế hoạch nguồn lực phải xác định được vị trí(ở đâu); thời gian(khi nào); và  số lượng(bao nhiêu); để thu mua dự trữ và vận chuyển.

    • Kế hoạch Logistics:

    Kế hoạch này phối hợp cơ sở vật chất, thiết bị, lao động và nguồn dự trữ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ Logistics. Kế hoạch Logistics bị ràng buộc bởi kế hoạch nguồn lực, thông tin dự báo về nhu cầu thị trường. Kế hoạch này bao gồm việc xác định rõ mục tiêu; quá trình tác nghiệp cho các hoạt động cơ bản( dự trữ, vận chuyển ) và hoạt động bổ trợ( kho, bao bì, LIS)

    • Quản trị dự trữ :

    Đây là giao điểm giữa dòng hoạch định – phối hợp và dòng nhiệm vụ, chỉ rõ thời điểm và vị trí tạo nên dự trữ. Từ điều kiện thông tin, hình thành dự trữ chỉ rõ cái gì, ở đâu và khi nào của quá trình Logistics tổng thể.

    4.2. Dòng thông tin nghiệp vụ:

    • Quản lý đơn hàng và thực hiện đơn hàng:

    Hoạt động này liên quan đến việc chuyển thông tin về nhu cầu giữa các thành viên tham gia phân phối hàng hóa. hoạt động chủ yếu của hoạt động đơn đặt hàng là tiếp nhận chính xác và đáp ứng yêu cầu đơn đặt hàng của khách hàng. Công cụ chuyển tin: Điện thoại, fax, Internet,… xử lí đơn hàng là các công cụ để chuẩn bị thực hiện đơn hàng của khách hàng. Thời gian đáp ứng đơn hàng chịu ảnh hưởng nhiều của năng lực xử lí thông tin của LIS. Trên cơ sở nhu cầu và dự báo bán, quyết định về trình độ dịch vụ khách hàng, doanh nghiệp đuă ra những quyế định về dự trữ, lô hàng nhập và dự trữ bảo hiểm.

       4.2.2  Hoạt động phân phối:

    Quá trình này tạo điều kiện để tiến hành cung cấp hàng hóa và dịch vụ kho khách hàng.Quá trình này đòi hỏi cung cấp thông tin để tạo thuận lợi và phối hợp các hoạt động ở kho để cung ứng hàng hóa thỏa mãn đơn hàng. Vấn đề là phải thỏa mãn yêu cầu của khách hàng trong điều kiện dự trữ ở kho phải thấp.

    • Nghiệp vụ vận chuyển và giao hàng:

    Khả năng tích hợp hệ thống thông tin trong công tác vận chuyển và giao hàng đem lại tiện ích đáng kể nâng cao khả năng kiểm soát hành trình lô hàng cho cả doanh nghiệp và khách hàng.

    • Nghiệp vụ mua và nhập hàng:

    Trên cơ sở những thông tin về kế hoạch mua , về nhu cầu của khách hàng và tình hình dự trữ hàng hóa, danh nghiệp đưa ra những quyết định mua và nhập hàng vào cư sở Logistics (kho hoặc cơ sở sản xuất).

    Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, máy vi tính ngày càng có nhiều tiện ích. Internet ngày càng lan rộng và bao phủ khắp toàn cầu, các phần mềm chuyên dụng ngày càng nhiều thêm…

     

    Phần 3: Kết luận

    Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thì vai trò của thông tin càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.

    Trong môi trường Logistics, sự cần thiết của hệ thống thông tin Logistics để nhằm cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản trị với mục tiêu lập kế hoạch, thực thi và kiểm soát Logistics  hiệu quả. Để đạt được những mục tiêu kết quả đã đề ra, mà trong đó giúp cho việc hổ trợ quản lý là một yêu cầu thiết yếu thì vai trò của nó như là một chất kết dính, phản ánh mọi quá trình của hệ thống. Các hệ thống thông tin cấu thành nên LIS có một cấu trúc riêng. Các loại cấu trúc đó tương ứng với các hệ thống thông tin với các tính năng đặc biệt và cho phép ta không chỉ để đánh giá các dữ liệu thực tế, mà còn để tạo ra dữ liệu hoạch định. Cũng chính nhờ vào hệ thống thông tin này mà ta có thể biết được tình hình hoạt động và đưa ra các dự báo cũng như cảnh báo sớm về hệ thống để có biện pháp khắc phục xử lý cho các bộ phận hoạt động kém hiệu quả.

    Tóm lại, hệ thống thông tin Logistics là một cấu trúc tương tác giữa con người, thiết bị, các phương pháp và quy trình nhằm cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản trị Logistics với mục tiêu lập kế hoạch, thực thi và kiểm soát Logistics hiệu quả.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Tốt nghiệp Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam trong điều kiện hội nhập

    Luận văn Tốt nghiệp Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam trong điều kiện hội nhập

    Luận văn Tốt nghiệp Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam trong điều kiện hội nhập

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật tù trưởng Đam Săn qua trích đoạn “Chiến thắng Mơtao Mơxây” trong thi sử “Đam Săn”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-T%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-logistics-c%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-ty-C%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-Vinalines-Logistics-%E2%80%93-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-%C4%91i%E1%BB%81u-ki%E1%BB%87n-h%E1%BB%99i-nh%E1%BA%ADp.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Tốt nghiệp Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam trong điều kiện hội nhập

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong giai đoạn mở cửa hiện nay, kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển, ngành kinh doanh dịch vụ Logistics là một trong những triển vọng phát triển kinh tế mang lại kết quả tích cực cho đất nước.

    Với nền kinh tế phát triển, dịch vụ vận tải đa phương thức (logistics) đã trở thành một ngành dịch vụ tích hợp nhiều hoạt động có giá trị gia tăng cao, đem lại lợi ích kinh tế lớn, Việt Nam với môi trường kinh doanh thuận lợi, cơ hội phát triển cao hứa hẹn phát triển mạnh thị trường dịch vụ trong thời gian tới.

    Phát triển logistics ở các nước có thu nhập thấp và trung bình có thể thúc đẩy thương mại tăng trưởng và đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng với giá rẻ hơn và chất lượng dịch vụ đảm bảo.

    Tuy nhiên, ngành dịch vụ logistics của nước ta hiện còn nhiều hạn chế, để có thể phát triển mạnh cần xem xét đến nhiều yếu tố và phương hướng phát triển.

    Vinalines Logistics là một trong những thành viên của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam ra đời nhằm đáp ứng một cách toàn diện các chiến lược phát triển dịch vụ logistics của Công ty mẹ trên phạm vi trong và ngoài nước. Vinalines Logistics đang tiến hành đầu tư vào ngành công nghiệp logistics để mở rộng dịch vụ vận tải đa phương thức với tiềm năng phát triển cao.

    Bởi vậy em chọn đề tài “Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM trong điều kiện hội nhập” mong đem lại cái nhìn cụ thể về thị trường Logistics nói chung và logistics trong Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM nói riêng.

     

    CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

     

    1.1. Quá trình hình thành phát triển Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

       1.1.1. Thông tin chung

    Công ty Vinalines Logistics – Việt Nam là một công ty cổ phần, có tư cách pháp nhân phù hợp với pháp luật Việt Nam. Công ty được hoạt động theo quy định của pháp Luật doanh nghiệp và các quy định có liên quan của pháp luật và Điều lệ của công ty. Công ty cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam là công ty con của Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty con theo quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam.

    Tên công ty

    Tên viết bằng tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    Tên viết bằng tiếng Anh: VINALINES LOGISTICS – VIETNAM JOINT STOCK COMPANY

    Tên viết tắt                         : VINALINES LOGISTICS

    Trụ sở Công ty                   : Phòng 405 Tầng 4, tòa nhà Ocean Park, Số 1 Đào Duy Anh, Phường Phương Mai , Quận Đống Đa, Hà Nội

    Điện thoại                          : 04.35772036

    Fax                                   : 04.35772046

    Email                                : [email protected]

    Website                            : http://www.vinalineslogistics.com.vn

    1.1.2. Lịch sử hình thành phát triển

    Dịch vụ logistics là một lĩnh vực có nhiều ý nghĩa hết sức quan trọng trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, mang lại rất nhiều việc làm cho người lao động, lượng vốn đầu tư đòi hỏi không nhiều nhưng lại thu được lợi nhuận cao. Hàng năm chi phí cho dịch vụ này chiếm 15% GDP, đạt khoảng 8 đến 12 tỷ USD tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc hiện nay là phần lớn lợi nhuận trên đã và đang rơi vào tay các công ty, tập đoàn lớn của nước ngoài.

    Hiện cả nước có khoảng 800 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Logistics là một con số khá lớn nhưng thực tế đa phần là những doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ. Điều này dẫn đến những hạn chế về nguồn vốn, nhân lực, công nghệ…. Việt Nam chưa có bất cứ doanh nghiệp nào đủ sức đứng ra tổ chức, điều hành toàn bộ quy trình trong lĩnh vực này.

    Với điều kiện đặc điểm và thực trạng như trên, và dựa trên các cơ sở pháp lý hiện hành như:

    – Luật đầu tư số 59/2005/QH11, được Quốc Hội khóa XI kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005.

    – Luật thương mại số 36/2005/QH 11 được Quốc Hội khóa XI kì họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005.

    – Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH 11 được Quốc Hội khóa Xi kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005.

    – Các văn bản khác quy định về điều kiện kinh doanh cảng nội địa (ICD), kho ngoại quan, vận tải đa phương thức…Ngày 03/08/2007 tại Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam đã có cuộc họp đại hội đồng cổ đông về việc thành lập Công ty cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam, trên cơ sở đó Công ty cổ phần Vianlines Logistics Việt Nam được thành lập theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 0103018983 do Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp ngày 10 tháng 8 năm 2007, với số vốn điều lệ là 158.000.000.000 đồng (Một trăm năm mươi tám tỷ đồng).

    Công ty thành lập với một số nhiệm vụ sau:

    • Thứ nhất, Vinalines Logistics sẽ là đầu mối tập hợp, liên kết các công ty thành viên trong hoạt động Logistics thành một mạng lưới Logistics của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đủ sức mạnh để cạnh tranh trong điều kiện hội nhập toàn cầu, hỗ trợ tích cực chủ trương chiếm lĩnh, làm chủ thị trường, vận chuyển khai thác container nội địa; đồng thời liên kết với các đối tác nước ngoài để thiết lập mạng lưới hoạt động tại các nước trong khu vực như Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc và thâm nhập vào thị trường các nước phát triển như Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ…
    • Thứ hai, Công ty chủ trương không cạnh tranh với các công ty thành viên mà hoạt động chính là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại các đầu mối trọng điểm.

    1.1.3. Ngành nghề lĩnh vực kinh doanh

    • Dịch vụ Logistics;
    • Bốc xếp hàng hóa;
    • Lưu giữ hàng hóa trong kho ngoại quan, kho đông lạnh và kho khác;
    • Giao nhận hàng hóa nội địa, hàng hóa xuất nhập khẩu;
    • Dịch vụ khai thuê hải quan;
    • Dịch vụ đại lý tàu biển;
    • Dịch vụ đại lý vận tải đường biển, đường bộ, đường sắt, đường hàng không;
    • Dịch vụ đại lý container;
    • Dịch vụ môi giới hàng hải ;
    • Dịch vụ kiểm đếm hàng hóa ;
    • Vận tải hàng hóa, container, hàng hóa siêu trường siêu trọng bằng đường bộ, đường sắt, đường biển ;
    • Vận tải đa phương thức ;
    • Cho thuê phương tiện, thiết bị chuyên dùng để bốc xếp, bảo quản và vận chuyển hàng hóa ;
    • Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa, môi giới thương mại, đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa ;
    • Dịch vụ tư vấn cho khách hàng về việc vận chuyển, giao nhận, lưu kho và các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa ;
    • Dịch vụ ủy thác và nhận ủy thác đầu tư.

    Vinalines Logistics đang tiến hành đầu tư vào ngành công nghiệp logistics để mở rộng dịch vụ vận tải đa phương thức.

    1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức

    1.2.1. Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức

    Bảng 1.1: Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

    Hội đồng quản trị

    • Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của Công ty;
    • Quyết định việc Công ty hoặc bất kỳ chi nhánh, đơn vị trực thuộc nào của Công ty ký kết các hợp đồng, giao dịch với các đối tượng quy định tại khoản 1, Điều 120 Luật Doanh nghiệp với các giá trị nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản của Công ty và các Chi nhánh, đơn vị trực thuộc của Công ty; quyết định về các loại cổ phần cổ phiếu chào bán.
    • Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
    • Bổ nhiệm và miễn nhiệm cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng với ban quản lý;
    • Quyết định cơ cấu tổ chức, các quy chế quản lý nội bộ Công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doannh nghiệp khác;

    Ban giám đốc

    Ban giám đốc trong công ty là Tổng giám đốc và Phó Tổng giám đốc

    • Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của Công ty trên cơ sở quyền hạn và nhiệm vụ được quy định như sau:

    + Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc hàng ngày của Công ty mà không phải có quyết định của Hội đồng quản trị, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức các chức danh quản lý

    +Quyết định lương và phụ cấp (nếu có) đối với người lao động trong Công ty, kể cả cán bộ quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Hội đồng quản trị

    + Quyết định hợp đồng kinh doanh;

    + Tuyển dụng, thuê mướn và bố trí sử dụng lao động;

    + Quản lý toàn bộ tài sản của Công ty.

    + Tìm kiếm việc làm cho Công ty.

    + Chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông và pháp luật về những sai phạm gây tổn thất cho Công ty.

    Ban kiểm soát

    Là tổ chức thay mặt cổ đông để giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành Công ty.

    Gồm 3 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu và bãi miễn bằng thể thức bỏ phiếu kín trực tiếp.

    Quyền hạn nhiệm vụ của Ban kiểm soát:

    • Thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành Công ty; chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao;
    • Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trung thực và mức độ khẩn trọng trong công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính của Công ty và kiến nghị khắc phục sai phạm;
    • Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và sáu tháng của Công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị và trình Đại hội đồng cổ đông báo cáo thẩm định tại các cuộc họp thường niên.

    Phòng tài chính kế toán

    Phòng tài chính kế toán là phòng có chức năng nhiệm vụ tham mưu cho Tổng giám đốc công tác điều hành công việc quản lý tài sản, tiền vốn đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh cho đúng Pháp luật. Tham mưu kịp thời việc bảo toàn và phát triển vốn của Công ty.

    Phòng đầu tư & phát triển thị trường

    Là phòng có chức năng trong lĩnh vực đầu tư, triển khai, điều hành công tác đầu tư, lập hồ sơ và hoàn thiện các thủ tục đầu tư phát triển thị trường.

    Nghiên cứu và phát triển thị trường trong và ngoài nước để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty và các Chi nhánh trực thuộc.

    Làm đầu mối xây dựng dự thảo chiến lược đầu tư phát triển trung hạn và dài hạn của Công ty.

    Phòng kinh doanh

    Chức năng, nhiệm vụ của phòng kinh doanh gồm:

    – Tham mưu cho Tổng giám đốc trong việc ký kết các hợp đồng vận tải hàng hóa trong và ngoài nước.

    – Làm dịch vụ vận tải, dịch vụ kiểm đếm hàng hóa, dịch vụ đại lý container, dịch vụ môi giới hàng hải.

    – Làm dịch vụ tư vấn cho khách hàng về việc vận chuyển; Trực tiếp phụ trách công tác cho thuê phương tiện, thiết bị chuyên dùng để bốc xếp, bảo quản, và vận chuyển hàng hóa.

    Phòng thương mại & dịch vụ

    Nghiên cứu tìm hiểu thị trường trong và ngoài nước, giao dịch nắm bắt yêu cầu xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu v.v…

    Xây dựng các chiến lược về xuất nhập khẩu, chiến lược kinh doanh và chiến lược thị trường, chính sách khách hàng với Công ty.

    Phòng tổ chức hành chính

    Phòng tổ chức hành chính là phòng tham mưu cho Tổng giám đốc Công ty về công tác tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh, thực hiện công tác lao động và tiền lương, quyền lợi, chế độ chính sách của Nhà nước, phòng chống cháy nổ, quân sự, tự vệ, thi đua khen thưởng kỷ luật và công tác hành chính quản trị, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ CBCNV

    Chi nhánh tại Lào Cai, chi nhánh tại Hải Phòng, chi nhánh tại Quảng Ninh, chi nhánh tại T.p Hồ Chí Minh

    Trực tiếp quản lý, điều hành, khai thác đội xe container của Công ty, khai thác kinh doanh.

    – Tham mưu cho tổng giám đốc về cách quản lý, sử dụng đội xe container có hiệu quả.

    – Tham mưu cho Tổng giám đốc về cách trả thù lao cho lái xe container.

    – Lập kế hoạch và triển khai theo dõi, giám sát công tác cải tạo, nâng cấp, sửa chữa định kỳ đội xe container.

    • Kho ngoại quan: Phục vụ hàng XNK, hàng tạm nhập tái xuất, hàng tạm xuất tái nhập, hàng quá cảnh.
    • Quản lý và triển khai trực tiếp dịch vụ đóng gói hàng hóa;
    • Thực hiện công tác thống kê, báo cáo định kỳ tải trọng khai thác, quản lý kho CFS theo quy định của Công ty;
    • Quản lý và khai thác trực tiếp bãi đóng/ rút hàng container;
    • Lập kế hoạch khai thác/ bốc xếp bãi container có hàng; bãi container rỗng và bãi container hàng lạnh;

    Lập kế hoạch điều độ hiện trường sản xuất; tổ chức, quản lý và sử dụng hiệu quả các phương tiện nâng hạ, xếp đỡ và vận tải phục vụ khai thác.

    Văn phòng đại diện tại Móng Cái

    Là đầu mối khai thác nguồn hàng kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty sang thị trường nước ngoài. Hoạt động trong kinh doanh xuất nhập khẩu

    1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

    Bảng 1.2: Đánh giá kết quả kinh doanh của công ty

    Chỉ tiêu Kế hoạch

     

    2008

    Thực hiện 2008

     

     

    Kế hoạch 2009 Thực hiện 2009

     

     

    Tỉ lệ thực hiện %
    2008 2009
    1. Doanh số bán hàng, cung cấp dịch vụ 670.000.000 952,369,574 805.000.000 1,011.471.242 142.14 125.65
    4. Lợi nhuận trước thuế 7.000.000 13.667.914 5.000.000 8.905.172 195,26 179.82

     

    Trong năm 2008, mặc dù tình hình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn do diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng nặng nề, đơn giá dịch vụ liên tục thay đổi theo hướng bất lợi, nhưng Công ty đã tập trung nắm bắt tốt các cơ hội kinh doanh, xác định thời điểm đầu tư hợp lý, kiểm soát rủi ro để hạn chế phần nào tác động tiêu cực trên. Vì vậy, kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cả năm đã vượt kế hoạch do Hội đồng quản trị đề ra, cụ thể như sau:

    Bảng 1.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM năm 2008

    Đơn vị tính: nghìn đồng

    Chỉ tiêu Kế hoạch 2008 Thực hiện 2008 Tỉ lệ thực hiện %
    1. Doanh số bán hàng, cung cấp dịch vụ 670.000.000 952,369,574 142.14
    2. Chi phí quản lý doanh nghiệp 3000.000 3.786.044 126.20
    2. Chi phí thuế TNDN hiện hành 1.800.000 3.447.382 191.53
    3. Lợi nhuận sau thuế TNDN 5.200.000 10.220.532 196.55
    4. Lợi nhuận trước thuế 7.000.000 13.667.914 195,26

     

    Nguồn: Báo cáo kiểm toán tài chính năm 2008

     

    Năm 2009 đã được Hội đồng quản trị Công ty xác định là một năm rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế, kim ngạch xuất nhập khẩu giảm mạnh, hoạt động kinh doanh, thương mại, dịch vụ Logistics… gặp ảnh hưởng không nhỏ. Tình hình xuất nhập khẩu tháng 9/2009 đã có những dấu hiệu tích cực so với dự đoán từ đầu năm, tuy nhiên vẫn giảm so với cùng kì năm 2008. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng năm 2009 ước đạt 90 tỷ USD, giảm 20,5% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó xuất khẩu ước đạt 41,7 tỷ USD, giảm 14,3% và nhập khẩu ước là 48,3 tỷ USD, giảm 25,2%. Việc thực hiện các gói giải pháp kích cầu và các giải pháp tích cực về quản lý vĩ mô nền kinh tế  của Chính phủ tuy đã hạn chế phần nào ảnh hưởng của các tác động tiêu cực nhưng những khó khăn chung của nền kinh tế vĩ mô trong thời kì khủng hoảng kinh tế, những khó khăn cụ thể của các Doanh nghiệp vận tải đa phương thức đã làm cho các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu của Công ty đạt được kết quả chưa cao như kế hoạch đề ra. Các chỉ tiêu đạt được năm 2009 được tổng hợp theo bảng sau:

    Bảng 1.4: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM năm 2009

    Đơn vị tính: nghìn đồng

    Chỉ tiêu Kế hoạch 2009 Thực hiện 2009 Tỉ lệ thực hiện %
    1. Doanh số bán hàng, cung cấp dịch vụ 805.000.000 1,011.471.242 125.65
    2. Doanh thu tính lương (lãi gộp) 30.000.000 34.646.797 115.49
    2. Lợi nhuận trước thuế 5.000.000 8.905.172 179.82
    3. Thuế TNDN 1.250.000 1.514.506 179.82

    Nguồn : Báo cáo kiểm toán tài chính năm 2009

    Về hoạt động vận tải: sức cầu giảm của nhu cầu vận chuyển hàng hoá khiến cho doanh thu từ hoạt động vận tải năm 2009 đạt chưa cao, tuy nhiên với sự chỉ đạo quyết liệt của ban lãnh đạo, tìm các giải pháp, tiếp cận các khách hàng để đạt được sản lượng khai thác. Đội xe vận chuyển Container tại Hải Phòng khai thác đạt 1776 TUES, lãi gộp ước đạt 3 tỉ. Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh tuy mới được thành lập và khai thác đội xe vào tháng 10/2009 nhưng đã có những cố gắng nỗ lực ban đầu, trong 2 tháng tháng 11 và tháng 12 năm 2009 đã khai thác được 400TUES, lãi gộp ước đạt 700 triệu đồng. Đây là cơ sở tạo tiền đề để hoạt động vận tải chung của Công ty đạt kết quả trong những năm sau.

    Về hoạt động thương mại dịch vụ của Công ty trong năm 2009 vẫn là hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu cho Công ty. Năm 2009 là năm có nhiều biến động ảnh hưởng trực triếp đến dịch vụ tạm nhập tái xuất mà Công ty đang triển khai đặc biệt là giai đoạn từ tháng 4 năm 2009 đến tháng 9 năm 2009. Đây là khoảng thời gian mà tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đều rất khó khăn, hàng không giải phóng được hoặc lúc giải phóng được thì các hãng tàu đều hạn chế cho hàng về. Đi theo đó là rất nhiều vấn đề phát sinh khác không thể lường hết. Nguyên nhân chủ yếu việc giao nhận hàng hóa bị ảnh hưởng do lượng hàng trên thị trường bị ảnh hưởng nặng nề do khủng hoảng kinh tế. Ngoài ra do chi phí vận chuyển tăng, các phát sinh do lưu kho, bãi lớn do ách tách hàng hóa tại các cửa khẩu. Tuy nhiên, đến tháng 10 trở đi đã có những chuyển biến rất khả quan, lượng hàng được khai thác trở lại đạt hiệu quả, thời gian làm hàng nhanh, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Mặc dù có nhiều lúc khách hàng chưa được hài lòng hoàn toàn nhưng năm 2009 được đánh giá là năm Công ty đã giữ và phát huy hơn nữa những gì đã làm được của năm 2008 như: giữ và tìm kiếm được khách hàng mới, mở rộng thêm một số mặt hàng, quan hệ với các hãng tầu, với các cơ quan quản lý nhà nước được khẳng định, các nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ công nhân viên đã dần đi vào ổn định…

    Về hoạt động tài chính: lãi suất huy động 9 tháng đầu năm giảm làm cho doanh thu từ hoạt động tài chính của Công ty cũng giảm đáng kể. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến doanh thu cả Công ty 9 tháng đầu năm đạt chưa cao so với kế hoạch đề ra.

    Bảng 1.5: Tình hình sản xuất kinh doanh năm 2010 của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    Đơn vị tính: nghìn đồng

    Chỉ tiêu Kế hoạch 2010 Thực hiện

     

    2010

    Tỉ lệ thực hiện %
    1. Doanh số bán hàng, cung cấp dịch vụ 900.000.000 1670400000 185,6
    2. Doanh thu tính lương (lãi gộp) 32.000.000 40102400 125,32
    2. Lợi nhuận trước thuế 5.500.000 8426000 153,2

    Báo cáo 2010 Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    Trong năm 2010 vừa qua, Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM đã đạt được thành tích đáng kể. Doanh thu năm 2010 vượt so với kế hoạch là 1670400 triệu đồng tăng 185,6% đạt mức cao nhất so với 2 năm trước và nâng lợi nhuận đạt mức 8426 triệu đồng tăng 153,2% so với kế hoạch. Do trong năm qua công ty mở rộng sang các hoạt động kinh doanh, đầu tư phát triển cảng ICD Lào Cai, củng cố thêm năng lực vận tải để cạnh tranh và tăng trưởng đạt mức cao trong các quý.

    Trong chiến lược dài hạn Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM đang phấn đấu đạt mức lợi nhuận cao, chiếm thị phần lớn trên thị trường quốc tế.

    1.4. Những thuận lợi và khó khăn của công ty

    1.4.1 Thuận lợi

    Tình hình kinh doanh tại Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM đang trên đà phát triển do có được sự đầu tư về hệ thống cơ sở vật chất hợp lý, phối hợp phòng ban cùng với sự phát triển của xu hướng logistics Việt Nam và quốc tế. Cảng Lào Cai là một trong những hoạt động đi đầu mũi nhọn đang từng bước hoàn thiện đi vào hoạt động đem lại kết quả khởi sắc cho công ty.

    1.4.2 Khó khăn

    Trước mắt doanh nghiệp còn gặp một số trở ngại hạn chế về đội ngũ lao động. Là một doanh nghiệp mới còn trẻ trên thị trường logistics nên Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM còn có nhiều hạn chế về chuyên môn và hợp đồng kinh doanh khác.

     

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KINH DOANH LOGISTICS

    CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES

    LOGISTICS – VIỆT NAM

     

              2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh dịch vụ logistics của Công ty

    2.1.1.  Điều kiện địa lý

    Điều kiện địa lý thuận lợi là một trong những yếu tố để phát triển logistics. Nước ta là một quốc gia có biển, với chiều dài bờ biển hơn 3200 km, hệ thống cảng biển đa dạng trải đều từ Bắc vào Nam lại nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế,phải nói rằng thiên nhiên ưu đãi cho Việt Nam một điều kiện địa lý rất lý tưởng để phát triền vận tải đường biển. Với sự ưu đãi này không những tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển buôn bán với các quốc gia, các khu vực trên thế giới mà còn có thể đưa Việt Nam trở thành nơi trung chuyển hàng hóa trong khu vực. Ngoài lợi thế về đường biển, hệ thống sông ngòi Việt Nam cũng đa dạng và phong phú đặc biệt là đồng bằng Nam bộ, tạo điều kiện phát triển giao thông nội thủy. Hàng hóa được dỡ khỏi cảng biển, tiếp tục lên các phương tiện vận tải nội thủy theo các đường sông đi sâu vào đất liền để giao hàng.Với hai vùng châu thổ (đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ) bằng phẳng, rộng lớn được nối với nhau bởi dẻo đất Trung bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường sắt và ô tô – một mắt xích không thể thiếu được trong vận tải đa  phương thức.

    Với điều kiện địa lý như đã đề cập trên đây, Công ty có đầy đủ các điều kiện để áp dụng và phát triển hoạt động logistics.

    2.1.2. Cơ sở hạ tầng

    2.1.2.1. Hệ thống kho vận

    Cho đến nay Việt Nam hiện có 266 cảng biển lớn nhỏ tại 24 tỉnh, thành vùng duyên hải. Trong đó, 9 cảng có khả năng cải tạo, nâng cấp để tiếp nhận tàu 50.000 DWT (loại tàu trung bình của thế giới) hoặc tàu chở container đến 3.000 TEU.

    Ở khu vực miền Bắc, hàng hoá chủ yếu được vận chuyển qua cảng Hải Phòng và Cái Lân (được khai thác từ năm 2005). Trong 5 năm qua, mức tăng trưởng vận tải hàng hoá tại cảng Hải Phòng là 25%. Đây là tốc độ cao nhất tại Việt Nam và sẽ còn tiếp tục tăng trưởng cao hơn trong thời gian tới. Cảng Hải Phòng hiện có quy mô lớn gấp 8 lần cảng Cái Lân, có thuận lợi là gần thủ đô Hà Nội. Một chuyên gia nước ngoài cho rằng Chính phủ Việt Nam cần tập trung đầu tư hơn nữa cho cảng Hải Phòng, nhất là nâng mức mớn nước lên trên 20m để các tàu có trọng tải lớn có thể cập cảng.

    Tại miền Nam, hệ thống cảng gồm: Cát Lái, VICT, Sài Gòn, Bến Nghé, ICP Phước Long, New Port ICP, Cái Mép – Thị Vải, Vũng Tàu, Hiệp Phước… hiện đang bị quá tải. Trong năm 2008, cảng biển khu vực miền Nam chiếm tới 72% lượng hàng hoá vận chuyển của cả nước. Từ đầu năm 2009 đến nay, toàn hệ thống cảng biển miền Nam vận tải hàng hoá đạt 2,7 triệu TEU (đơn vị tính khả năng chở hàng của tàu container); phấn đấu đến hết năm 2009 đạt 3 triệu TEU.

    Tại miền Trung, hai cảng lớn Đà Nẵng và Quy Nhơn chỉ đáp ứng 2% lượng hàng hoá vận chuyển của cả nước. Tính trung bình, hàng hoá vận chuyển thông qua cảng Đà Nẵng chỉ đạt 40.000 TEUs/năm và cảng Quy Nhơn 50.000 TEUs/năm. Con số này chứng tỏ lượng hàng hoá vận chuyển qua hệ thống cảng miền Trung là không nhiều.

    2.1.2.2. Hệ thống cảng hàng không

    Cụm cảng hàng không miền Bắc được thành lập ngày 28/02/1977. Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, đã từng bước trưởng thành, vươn lên mạnh mẽ, ngày càng đổi mới, đạt được nhiều thành tích trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo an ninh an toàn hàng không; xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật của Cảng hàng không, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh của thị trường hàng không trong nước và quốc tế. Là một doanh nghiệp Nhà nước được giao nhiệm vụ khai thác Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và các cảng hàng không khu vực miền Bắc gồm Cảng hàng không Cát Bi – thành phố Hải Phòng, Cảng hàng không Vinh – tỉnh Nghệ An, Cảng hàng không Nà Sản – tỉnh Sơn La, Cảng hàng không Điện Biên – tỉnh Điện Biên. Trong hệ thống các cảng hàng không khu vực miền Bắc, Cảng hàng không quốc tế Nội Bài là một cảng hàng không lớn của thủ đô Hà Nội, có vị trí kinh tế, chính trị, địa lý hết sức quan trọng và thuận lợi, là điểm đến hấp dẫn của hành khách, là trung tâm trung chuyển hàng hoá đầy tiềm năng. Hiện tại có 22 hãng hàng không đang khai thác tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, với 06 đường bay nội địa và 18 đường bay quốc tế. Được quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng như: xây dựng ga hàng hoá với công suất 126.000 tấn/năm, hệ thống trang thiết bị dẫn đường, điều hành cất hạ cánh, giám sát an ninh, an toàn hàng không và công trình đường cât hạ cánh thứ hai (11R/29L) đạt tiêu chuẩn CAT2 đã được đưa vào khai thác từ tháng 7/2006. Công tác chuẩn bị đầu tư Dự án Nhà ga hành khách T2 của sân bay quốc tế Nội Bài với công suất 8 – 10 triệu hành khách/năm đang được triển khai theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ. Lúc đó sân bay Nội Bài sẽ có công suất phục vụ 14-16 triệu khách năm. Cụm cảng hàng không miền Bắc đặc biệt quan tâm tới việc phát triển mạng lưới cảng hàng không dân dụng trong khu vực. Dự kiến năm 2008 sẽ đưa vào khải thác Cảng hàng không Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình. Khi hoàn thành đưa vào khai thác, cảng hàng không Đồng Hới sẽ góp phần mở rộng giao lưu thương mại, đầu tư và du lịch, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Bình và khu vực Bắc Trung Bộ. Cụm cảng đang triển khai thủ tục để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt các dự án quy hoạch, đầu tư xây dựng cảng hàng không Gia Lâm – thành phố Hà Nội, Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh, Lào Cai – tỉnh Lào Cai… Trong những năm qua, Cảng hàng không Cát Bi – thành phố Hải Phòng đã khai thác hiệu quả các đường bay trong nước. Từ tháng 5/2006 đường bay quốc tế Cát Bi – Macau với tần suất 01 chuyến/ngày đã được đưa vào khai thác với sản lượng hành khách ngày càng tăng. Cụm cảng Hàng không miền Bắc luôn quan tâm phát triển, mở rộng các loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của hành khách và các hãng hàng không như: cung ứng dịch vụ phục vụ mặt đất, kinh doanh hàng miễn thuế, dịch vụ ăn uống giải khát, sách báo, thông tin liên lạc, bách hoá, hàng lưu niệm…

    Cụm cảng Hàng không miền Trung được thành lập theo quyết định số 113/1988/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó quy định là doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, cung ứng các dịch vụ hàng không và phi hàng không. Cụm cảng hàng không miền Trung được Cục hàng không dân dụng Việt Nam uỷ quyền một số chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực hàng không dân dụng của các cảng hàng không trong khu vực miền Trung Việt Nam. Cụm cảng hàng không miền Trung là một cơ quan trực thuộc Cục hàng không Dân dụng Việt Nam, Bộ Giao thông Vận tải. Cụm cảng Hàng không miền Trung có trụ sở tại Sân bay Quốc tế Đà Nẵng và quản lý các sân bay sau: Sân bay Quốc tế Đà Nẵng, sân bay Quốc tế Phú Bài, sân bay Quốc tế Cam Ranh, sân bay Phù Cát, sân bay Pleiku, sân bay Đông Tác, sân bay Chu Lai.

    Cụm cảng Hàng Không miền Nam là cơ quan trực thuôc Cục hàng không Việt Nam, được hình thành sau tháng 4-1975 trên cơ sở tiếp quản, quản lý và khai thác các cảng hàng không khu vực miền Nam do chế độ cũ thất bại để lại.. Hơn 30 năm xây dựng và phấn đấu Cụm cảng Hàng không Miền Nam đã có những bước tiến dài trên con đường phát triển và hội nhập, đáp ứng nhu cầu ngày một cao của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.Trụ sở chính của Cụm cảng Hàng Không miền Nam đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất số 1 đường Trường Sơn, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụm cảng Hàng Không miền Nam quản lý tất cả các sân bay ở miền Nam Việt Nam (bao gồm Sân bay Tân Sơn Nhất, Sân bay Liên Khương, Sân bay Trà Nóc, Sân bay Buôn Ma Thuật, Sân bay Cà Mau, Sân bay Cỏ ông, Sân bay Rạch Giá, Sân bay Dương Đông… ) Các công ty trực thuộc Cụm cảng Hàng Không miền Nam gồm có Sacco, Sags…Năm 2006, các sân bay của Cụm cảng hàng không miền Nam đã phục vụ hơn 9 triệu lượt khách, trong đó, riêng  Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất phục vụ 8,5 triệu khách.

    2.1.2.3. Hệ thống đường bộ (sắt – ô tô)

    Đường sắt Việt Nam được xây dựng và phát triển đến nay đã trên 120 năm. Với tổng chiều dài 2.632 km, đường sắt Việt Nam nối liền các khu dân cư, trung tâm văn hoá nông nghiệp và công nghiệp trên cả nước trừ khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài mạng lưới đường ray,đường sắt Việt Nam còn có một hệ thống cầu cống, hầm, đầu tầu và toa xe chuyên chở hàng và hành khách.

    Hiện tại, mạng lưới đường sắt có 2.632km đường chính tuyến, 403km đường ga và 108km đường nhánh. Trong đó 85% là đường khổ 1.000mm, 6% là đường khổ 1.435mm và 9% là đường lồng (lồng chung 2 khổ 1.000mm và 1.435mm).

    Chiều dài của các loại đuờng

    Đường chính và đuờng nhánh 2.632 km
    Trong đó:  
    – Đường khổ 1.000 mm 2.237 km
    – Đường khổ 1.435 mm 158 km
    – Đường lồng 237 km
    Đường tránh và đuờng nhánh 511 km
    Tổng cộng 3.143 km

    Một số cơ sở hạ tầng khác của ngành 

    Hệ thống đường sắt có tất cả 1.790 cầu đường sắt với chiều dài 45.368 mét và 31 cầu chung đường sắt – đường bộ dài 11.753 mét, trong đó tổng chiều dài cầu trên tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh là 36.056 mét, chiếm tỷ lệ 63% tổng chiều dài cầu trên đường sắt. Có 180 cầu dầm thép tạm thời dài 18.084 mét, chiếm 31% tổng chiều dài cầu Đường sắt. Tổng chiều dài các cầu bê tông là 13.274 mét trong đó 9.179 mét trên tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh. Ngành có 5.128 cống với chiều dài 80.850 mét trên Đường sắt, 39 hầm với chiều dài 11.512 mét trong đó tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh có 27 hầm với chiều dài 8.335 mét.

    Về hệ thống thông tin, đường sắt Việt Nam sử dụng hầu hết máy tải ba 1 kênh, 3 kênh, 12 kênh được sản xuất tại Hungary giữa những năm 1972 và 1979. Hệ thống radio tần số cao được dùng cho hệ thống dự trữ khẩn cấp ở một số khu vực của mạng lưới đường sắt. Hệ thống dây trần được sử dụng nhiều trong việc truyền tải thông tin đuờng dài. Loại cáp đôi đồng được sử dụng cho thông tin tín hiệu địa phương. Từ năm 1998, Tổng Công ty đường sắt Việt Nam sử dụng hệ thống nhân kênh trên kênh truyền số liệu tốc độ 64 kbps thuê của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam trên hướng Hà Nội – TP Hồ Chí Minh và Hà Nội – Đà Nẵng để truyền số liệu và điện thoại băng công nghệ Microband ATM (chế độ truyền dẫn không đồng bộ vi băng).

    2.1.2.4. Hệ thống đường sông

    Đường sông cũng là một lợi thế tạo thêm sự đa dạng và phong phú trong hệ thống giao thông vận tải ở Việt Nam. Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường sông những năm qua cũng được chú trọng đầu tư phát triển.Các tuyến vận tải đường sông chính được hình thành ở phía Bắc như Hải Phòng – Hà Nội, Nam Định, Việt Trì. Phía Nam như Sài Gòn – Rạch Giá, Hà Tiên hay Sài Gòn – Cần Thơ – Cà Mau là những tuyến đường tiếp nối vận tải hàng hóa bằng đường biển vào sâu trong đất liền hay vận chuyển hàng hóa từ sâu trong nội địa gom hàng cung cấp cho vận tải biển để tạo thành hành trình đi suốt cho hàng hóa. Cũng như vận tải đường biển, vận tải đường sông năng lực chuyên chở cũng khá lớn và chi phí tương đối thấp so với một số phương thức vận tải khác cho nên góp phần giảm chi phí trong vận chuyển. Vận tải đường sông sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc chuyên chở hàng hóa bằng tàu LASh (Light Aboard Ship).

    Qua phân tích trên về cơ sở hạ tầng của Việt Nam có thể nhận thấy rằng đây là những yếu tố rất thuận lợi cho việc áp dụng và phát triển mô hình logistics trong vận tải giao nhận ở Việt Nam. Cho dù về cơ sở hạ tầng hiện trạng cũng còn nhiều vấn đề bất cập song cùng với sự phát triển đi lên của đất nước chắc chắn hạ tầng cơ sở phục vụ cho ngành giao thông vận tải sẽ được phát triển và hoàn thiện đáp ứng những yêu cầu mới của ngành đặt ra.

    • Môi trường pháp lý

    Điều kiện địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng đảm bảo là những nhân tố tạo khả năng áp dụng và phát triển công nghệ logistics ở quốc gia hay khu vực.Song hoạt động logistics có mang lại hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào môi trường pháp lý có đầy đủ và đảm bảo sự thông thoáng hay không. Ngày nay hoạt động của các doanh nghiệp hiện đại đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ và chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho họ trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Các quy định về thương mại, giao nhận, vận tải, hải quan… đều phải được hệ thống hóa bằng pháp luật.Nếu không có hoặc không rõ ràng trong hệ thống luật, các hoạt động của doanh nghiệp khó có thể đạt được hiệu quả như mong muốn.

    Nhìn lại quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam thời gian qua chúng ta thấy hệ thống luật phục vụ các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, quan hệ kinh tế quốc tế, giao thông vận tải… luôn được Nhà nước và Quốc hội quan tâm.Chỉ trong một thời gian ngắn, một loạt các hoạt động trong xã hội đã được thể chế hóa bằng luật như: Luật Hàng hài, Luật Dân  sự, Luật  Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Bảo hiểm… Bên cạnh các bộ luật chuyên ngành còn có các văn bản dưới luật như pháp lệnh, quy định, quy chế… liên quan bổ sung, hướng dẫn trong quá trình thực thi pháp luật hiện hành. Một số bộ luật khác đang được xây dựng hoặc sửa đổi bổ sung cho hoàn thiện và sẽ được ban hành trong thời gian không xa. Ngoài sự cố gắng xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp trong nước, Chính phủ Việt Nam còn tham gia ký hoặc phê chuẩn các công ước, điều ước, hiệp định song biên hoặc đa biên mang tính quốc tế hay khu vực liên quan tới các hoạt động buôn bán, vận tải giao nhận, sản xuất kinh doanh… nhằm tạo điều kiện cho quá trình phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới.

    Qua phân tích trên đây có thể thấy hệ thống pháp luật Việt Nam tuy chưa đầy đủ và còn nhiểu bất cập, song cùng với sự đổi mới của nền kinh tế xã hội, hệ thống pháp luật Việt Nam sẽ được điều chỉnh, phát triển và hoàn thiện, nhằm tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có hoạt động của logistics.

    • Sự phát triển của công nghệ thông tin

    Đối với Việt Nam, công nghệ thông tin và thương mại điện tử còn mới mẻ, song lại có tốc độ phát triển rất nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Số người dân  sử dụng máy vi tính và kết nối mạng internet ngày càng gia tăng. Các chương trình đào tạo từ tiểu học đến đại học đều có đề cập tới kiến thức tin học với các câp độ khác nhau. Các đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh đều ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin trong việc duy trì và quản lý mọi hoạt động của đơn vị mình. Ở Việt Nam hiện nay, số doanh nghiệp sử dụng và khai thác mạng internet để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phổ biến, bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Một số đã áp dụng thương mại điện tử trong các lĩnh vực marketing, ký kết hợp đồng mua bán, giao nhận vận tải hàng hóa, bào hiểm, thanh toán…

    Với hiện trạng và xu hướng phát triển công nghệ thông tin cũng như thương mại điện tử  của Việt Nam sẽ tạo ra nhiều cơ hội và khả năng áp dụng công nghệ logistics trong họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận. Vị trí của logistics trong toàn bộ quá trình phân phối vật chất, thực chất là sử dụng và  xử lý thông tin để tổ chức và quản lý chu trình di chuyển hàng hóa qua nhiều cung đoạn, chặng đường, phương tiện, địa điểm khác nhau đáp ứng yêu cầu kịp thời, đúng lúc.

    • Nguồn nhân lực thực hiện kinh doanh

    Logistics còn là lĩnh vực mới mẻ đối với Việt Nam, do vậy kiến thức toàn diện về logistics cũng như quản trị logistics chưa được đào tạo và trang bị đầy đủ. Song cho dù chưa được phát triển ở Việt Nam, nhưng đứng về nguồn nhân lực cung cấp phục vụ họat động logistics thì hiện tại ở Việt Nam khá dồi dào. Qua khảo sát thực tế số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải và giao nhận trong cả nước thuộc các loại hình cũng phải lên tới con số gần 800. Theo VIFFAS (Hiệp hội giao nhận-kho vận Việt Nam) nếu chỉ tính riêng nhân viên trong những công ty là hội viên của Hiệp hội con số này cũng phải lên tới gần 3000 người, ngoài ra ước tính còn có khoảng 5000 đến 6000 người thực hiện giao nhận vận tải bán chuyên nghiệp. Nguồn nhân lực trên đây được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Ở cấp trình độ đại học, được đào tạo chủ yếu từ trường đại học Ngoại thương, Kinh tế quốc dân, Hàng hải, Giao thông vận tải, Thương mại…Những năm qua do nhận thức được vai trò và vị trí của logistics đối với hoạt động vận tải giao nhận, VIFFAS đã phối hợp với các tổ chức quốc tế khác như FIATA, ESCAP… thường xuyên tổ chức hội thảo, mở các khóa đào tạo chuyên về giao nhận và vận tải quốc tế, vận tải đa phương thức, logistics nhằm trang bị kiến thức mới cho các hội viên để có thể áp dụng và phát triển nghiệp vụ của mình đáp ứng yêu cầu phát triển chung của đất nước. Ở lĩnh vực này phải nói rằng nguồn nhân lực của Việt Nam khá dồi dào có thể đáp ứng mọi yêu cầu cho việc áp dụng và phát triển mô hình logistics trong sản xuất kinh doanh cũng như trong hoạt động vận tải giao nhận ở  Việt Nam.

    • Hội nhập kinh tế quốc tế

    Sau gần 10 năm Việt Nam hội nhập, các doanh nghiệp nước ngoài góp phần thúc đẩy ngành logistics của Việt Nam nhưng đồng thời cũng là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp gây sức ép rất nhiều đối với doanh nghiệp nội. Các doanh nghiệp ngoại có khả năng quản trị, nguồn vốn dồi dào, nhờ vậy đã có nhiều lợi thế hơn trên đất Việt Nam.

    Theo Bộ Công Thương VN, dịch vụ logistics ngày nay đã trở thành ngành dịch vụ xương sống của hoạt động thương mại quốc tế và mặc dù mới được hội nhập trong vòng 2 năm, nhưng logistics đã là sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng kinh tế ASEAN. Theo Thứ trưởng Bộ Công thương VN, Nguyễn Cẩm Tú, mục tiêu của lộ trình hội nhập nhanh dịch vụ logistics là đẩy nhanh tự do hóa và thuận lợi hóa các phân ngành, với thời hạn là năm 2013 và trong dài hạn sẽ biến ASEAN thành trung tâm dịch vụ logistics của Châu Á Thái Bình Dương. Theo các quan chức kinh tế ASEAN, cần 4 bước để dịch vụ logistics hội nhập nhanh, gồm: Tự do hóa thương mại, dỡ bỏ rào cản thuế và phi thuế cho hàng hóa lưu chuyển thuận lợi; tạo cơ hội cho DN trong lĩnh vực logistics; nâng cao năng lực quản lý logistics và phát triển nguồn nhân lực. Được biết, đến năm 2010, khu vực thương mại tự do ASEAN đã hoàn thành 99,1% số dòng thuế của 6 nước ASEAN cũ là 0%và 97% số dòng thuế đạt 0 -5% đối với 3 nước Lào, Mianmar và Campuchia. Theo lộ trình, đến năm 2015, dòng thuế nội bộ ASEAN sẽ đạt 0%.

    2.2.      Thực trạng kinh doanh của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics

    2.2.1.1. Kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics hình thức giao nhận:

    Khối lượng hàng hóa giao nhận bằng đường biển luôn chiếm tỉ trọng cao trong tổng khối lượng hàng hóa giao nhận của Công ty, trung bình khoảng 60-70% khối lượng hàng hóa được giao nhận. Điều này cũng phù hợp với thực tế giao nhận hàng hóa ở Việt Nam, bởi vì trong chuyên chở hàng hóa quốc tế thì vận tải biển đóng vai trò quan trọng nhất. Vận tải đường biển có năng lực vận chuyển lớn vì phương tiện trong vận tải biển là các tàu có sức chở rất lớn, lại có thể chạy nhiều tàu trong cùng một thời gian trên cùng một tuyến đường. Vận tải biển thích hợp cho hầu hết các loại hàng hóa, đặc biệt thích hợp và hiệu quả trong việc chuyên chở các loại hàng hóa rời, có khối lượng lớn và giá trị thấp. Mặt khác, trong phương thức vận tải biển thì giá thành rất thấp, vào loại thấp nhất trong các phương thức vận tải.

    Bảng 2.1: Khối lượng hàng hóa giao nhận theo phương thức vận tải

    ĐVT: Tấn

    Chỉ tiêu Năm
    2008 2009 2010
    GNĐB Số tuyệt đối 126.167 122.670 130.654
    Tốc độ tăng(%) 4,8 -2,9 6,1
    GNHK Số tuyệt đối 12.921 14.996 23.108
    Tốc độ tăng(%) 20 13,8 35,1

    (Nguồn: Báo cáo kế toán của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM)

    Khối lượng hàng hóa giao nhận bằng đường biển khá ổn định, tốc độ tăng không đáng kể, đạt cao nhất là năm 2010 là 130.654 tấn. Năm 2009 khối lượng hàng hóa giao nhận bằng đường biển có giảm, đây là tình hình hoạt động chung của Công ty năm 2009. Những năm gần đây, tỉ trọng giao nhận bằng đường biển có phần giảm xuống. Nguyên nhân không phải do Công ty không khai thác tốt mảng hoạt động giao nhận vận tải biển mà do Công ty đã phát triển được hoạt động giao nhận bằng phương thức hàng không. Tỉ trọng hàng hóa giao nhận của phương thức này trong những năm gần đây tăng khá. Công ty đã mở rộng được phạm vi kinh doanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng trong giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế.

    • Kết quả kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa đại lý

    Bảng 2.3: Số lượng hãng giao nhận quốc tế kí hợp đồng đại lý với Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    Loại hình đại lý Năm
    2008 2009 2010
    Đại lý hàng hải 55 60 64
    Đại lý hàng không 16 20 25
    Tổng 71 80 89
    Tốc độ tăng (%) 11,25 10,1

                                              ( Nguồn: Tài liệu lưu trữ về hợp đồng đại lý)

    Theo số liệu ta thấy, tình hình mở rộng đại lý tăng dần theo các năm, năm 2009 tăng 11,25%, năm 2010 tăng 10,1%. Mức tăng khác nhau do năm 2009 bắt đầu đưa vào sử dụng hệ thống vận tải hàng không mở rộng nên tốc độ các đại lý gia tăng mạnh hơn trong năm 2010, cụ thể tăng thêm 9 đại lý hàng không so với năm 2008 và 5 đại lý hàng hải so với năm 2009.

    Số lượng hãng giao nhận quốc tế có mối quan hệ với Công ty là gần 90 hãng. Đa số các hãng này có quan hệ với Công ty lâu đời và một số hãng do chính Công ty thiết lập mối quan hệ trong thời gian hoạt động. Trong hệ thống các đại lý của Công ty thì những đại lý như: IFB, SAIMA, SANKYU, ABX…là những hãng có mối quan hệ truyền thống, lượng hàng chỉ định của những hãng này thường chiếm tỉ trọng cao hơn so với các đại lý khác của Công ty. Các đại lý nay có mặt hầu hết ở các nước trên thế giới và mỗi đại lý lại có văn phòng đại diện và chi nhánh ở các nước khác nhau. Chính điều này đã tạo cho hoạt động của Công ty có thể diễn ra ở mọi nơi trên thế giới, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng.

    • Kết quả kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế

    Đại lý giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế là hoạt động kinh doanh chính của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM. Hoạt động này đem lại thu nhập chủ yếu cho Công ty, chiếm khoảng 70-75% doanh thu và lợi nhuận của Công ty. Kết quả kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế tăng qua các năm hoạt động, đặc biệt là lợi nhuận có tốc độ tăng rất nhanh, nhanh hơn nhiều so với doanh thu.

    Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế

    ĐVT : triệu đồng

    Năm 2008 2009 2010
    Doanh thu (T) Thực hiện 5001 5271 7310
    So với năm trước Mức tăng tuyệt đối 273 270 2039
    Tốc độ tăng (%) 5,45 5,12 27,89
    Lợi nhuận (P) Thực hiện 525 805 1341
    So với năm trước Mức tăng tuyệt đối 138 280 536
    Tốc độ tăng (%) 26,28 34,78 39,97
    Tỉ suất P/T (%) 10,49 15,27 18,34

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM)

    Theo số liệu thống kê có thể thấy mức độ tăng nhanh của hình thức giao nhận hàng hóa góp phần làm cho doanh thu lợi nhuận từ hàng hóa quốc tế gia tăng mạnh, nhất là trong năm 2010. Tình hình mở rộng hình thức kinh doanh và quan hệ quốc tế làm gia tăng lượng hàng lưu chuyển và đem lại tỷ suất lợi nhuận lên đến 18,34% cao nhất trong các năm qua.

    2.2.2. Thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ logistics

          Hình 2.1: Khối lượng hàng hóa giao nhận của phương thức đường biển

     

    Doanh thu từ hoạt động giao nhận đường biển cũng tăng đều qua các năm, đặc biệt năm 2009 mặc dù khối lượng giảm chỉ đạt 122.670 tấn hàng hoá, tốc độ tăng không bằng năm 2008 song doanh thu và lợi nhuận đều cao hơn, đặc biệt tỉ suất lợi nhuận/doanh thu cao hơn rất nhiều. Trong hoạt động giao nhận nói chung và giao nhận biển nói riêng, Công ty đã áp dụng rất nhiều biện pháp để giảm chi phí hoạt động, nhờ đó nâng cao được hiệu quả kinh doanh như: giảm chi phí làm hàng, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các hãng tàu nhờ đó mà giành được giá ưu đãi trong thời điểm nhiều hàng…

     

    Hình 2.2: Khối lượng hàng hóa giao nhận của phương thức hàng không

    (Nguồn: Báo cáo kế toán của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM)

    Giao nhận hàng không cũng là mảng hoạt động chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong hoạt động kinh doanh của Công ty cả về khối lượng hàng hóa giao nhận lẫn doanh thu và lợi nhuận. Năm 2008 Công ty bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch mở rộng thị trường giao nhận hàng không và bước đầu có quan hệ với các hãng giao nhận hàng không trên thế giới như: Translink, Sinotransport Co, Piomeer Express…Đây đều là các hãng hàng không lớn, có uy tín trên thị trường giao nhận.

    2.2. Đánh giá thực trạng kinh doanh logistics

    2.3.1. Ưu điểm

            Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM trong 3 năm kinh doanh vừa qua đã có mức tăng trưởng đáng kể, đặc biệt trong năm 2010. Có được kết quả đó là nhờ nắm bắt thời cơ, mở rộng thị trường, đa dạng hóa hình thức kinh doanh và các mối quan hệ trong nước và thế giới trong lĩnh vực logistics. Đáng kể là trong năm 2009 mặc dù có nhiều biến động nhưng Công ty đã liên tục mở rộng mạng lưới, góp phần củng cố thương hiệu và uy tín trên thị trường.

    2.3.2. Nhược điểm và nguyên nhân

    Tuy nhiên, trong năm vừa qua, logistics đã có nhiều chuyển biến tích cực, mở rộng mạng lưới quốc tế và hình thức giao nhận góp phần đẩy mạnh cạnh tranh trong ngành. Một số công ty lớn có thâm niên lâu đời cạnh tranh mạnh trên thị trường trong khi Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM mới chỉ hoạt động trong vòng 3 năm nên có nhiều hạn chế.

    Để cạnh tranh trên thị trường logistis đang bùng nổ hiện nay cả trong và ngoài nước, Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM cần phải xác định năng lực cạnh tranh mũi nhọn của mình, từ đó đầu tư xây dựng, phát triển xuyên tâm nhằm chiếm thị phần đang tăng trưởng. Trong năm qua tuy đã chú trọng phát triển hệ thống đại lý, các cảng biển, hàng không, tuy nhiên cần đầu tư mở rộng hơn nữa trong những năm tới ở một số cảng chủ chốt tập trung nhiều đầu mối quan trọng như Đà Nẵng, Cái Lân, ICD Lào Cai…

    Mặt khác trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay, thông tin là vàng có thể giúp cho doanh nghiệp tinh giảm thời gian vận chuyển, xác nhận loại hàng đơn hàng, và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, hạn chế rủi ro…, doanh nghiệp chưa nghiêm túc đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin cơ sở.

    Trong giai đoạn trước mắt, khi có nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ trong nước và nước ngoài đang cạnh tranh trong lĩnh vực logistics mà có nhiều chính sách ưu đãi của nhà nước, góp phần tăng cạnh tranh trên thị trường, càng đòi hỏi doanh nghiệp cần có mối quan hệ tốt với khách hàng, bởi vậy doanh nghiệp cần xem xét lại dịch vụ marketing nhằm đẩy mạnh tiêu thụ dịch vụ và quảng bá thương hiệu.

     

    CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

     

    3.1. Cơ hội và thách thức với kinh doanh dịch vụ logistic ở VN

    Những cơ hội

    • Outsourcing – cơ hội giúp ngành logistics Việt Nam phát triển

    Trong một bài báo gần đây trên tạp chí Global Logistics and Supply Chain Strategies, tác giả Robert J.Bowman đã nhận xét rất lý thú rằng, chưa bao giờ mà thị trường dịch vụ logistics lại sinh sôi, nảy nở mạnh mẽ như hiện nay bởi một yếu tố vo cùng quan trọng, đó chính là xu hướng outsourcing (thuê ngoài). Nếu quan sát thì phần lớn các tập đoàn lớn trên thế giới đều đã outsource các hoạt động logistics hoặc chuỗi cung ứng ra bên ngoài cho một nhà cung cấp dịch vụ thứ ba hoặc thứ tư. Những cái tên mà chúng ta có thể kể đến là Dell, Walmart, Nortel, Gap, Nike…Chính xu hướng ấy đã giúp thị trường logistics thế giới tăng trưởng ở mức hai con số. Điều này cũng đã rất phổ biến tại Việt Nam do sự hiện diện của nhiều tập đoàn đa quốc gia. Song nếu quan sát kỹ thì toàn bộ các hoạt động thuê ngoài của các tập đoàn đa quốc gia ở Việt Nam đều giành cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ ba của nước ngoài. Nike thì sử dụng APL Logistics và Maersk Logistics, Adidas sử dụng Maersk Logistics, Kmart sử dụng APL Logistics, Nortel sử dụng Kuehne – Nagel…Điều này cho thấy chưa có xu hướng này thể hiện ở các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực logistics. Chúng ta có thể thấy việc các doanh nghiệp Việt Nam thuê các công ty quảng cáo nước ngoài xây dựng chiến lược và thực hiện các hoạt động quảng cáo và marketing ở Việt Nam nhưng chúng ta lại chưa thấy các doanh nghiệp Việt Nam thuê các công ty Việt Nam hay nước ngoài cung cấp dịch vụ logistics trọn gói ở Việt Nam. Điều này bắt nguồn từ nguyên nhân nhưng một nguyên nhân quan trọng có lẽ chính là việc thiếu một cầu nối giữa nhà sử dụng dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ logistics mà ở đây vai trò của Nhà nước và Hiệp hội vô cùng quan trọng. Nếu coi VIFFAS (Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam) là đại diện cho những nhà cung cấp dịch vụ logistics Việt Nam thì vai trò của VIFFAS là quá nhạt nhoà và thiếu sự năng động cần thiết. Điều này góp phần làm giảm tiếng nói và hình ảnh của chính cộng đồng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics. Một điểm sáng gần đây là việc tập đoàn VDA đã chính thức kí kết đối tác chiến lược với tập đoàn Vinalines trong hoạt động logistics và vận tải hỗ trợ cho sự phát triển của VDA. Đây là tín hiệu đáng mừng và là cơ hội để thị trường dịch vụ logistics của Việt Nam phát triển.

    • Liên kết và cổ phần hoá – động lực cho sự phát triển

    Thị trường logistics Việt Nam đang ở trong giai đoạn cực kì phân tán và manh mún. Các nhà cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam chỉ thuần tuý hoạt động trong một số phạm vi hẹp và truyền thống như vận tải, giao nhận, kho bãi mà thiếu một tư duy chiều sâu. Đã đến lúc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cần ngồi lại với nhau, cùng hợp tác và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói. Điều này giúp họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con người và hệ thống thông tin. Đây là hai thế mạnh rất nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài. Cùng với xu hướng cổ phần hoá mạnh mẽ, các doanh nghiệp nhà nước đã tạo đà cho khả năng hợp tác liên kết chiến lược trở lên rất khả thi. Gần đây đã có nhiều công ty đi theo mô hình này mà cụ thể là giữa các công ty dịch vụ cảng, kho bãi và vận chuyển. Song việc liên kết hợp tác không chỉ là việc 1+1 mà là cả một quá trình tích hợp điểm mạnh và loại bỏ điểm yếu, quá trình ấy đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện việc tái lập đến tận gốc rễ quy trình kinh doanh cố hữu của mình và hơn hết họ cần một đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp đảm bảo việc tích hợp thành công.

    • Tiêu chuẩn hoá – nền tảng cho sự phát triển bền vững

    Thiếu một quy chuẩn thống nhất là điều đang tồn tại rất rõ trong ngành dịch vụ logistics Việt Nam. Cho đến nay bản thân khái niệm logistics mới chỉ được đề cập đến trong bộ luật Thương mại như là một văn bản chính thức thừa nhận sự hiện diện của ngành này. Bản thân điều này cũng đòi hỏi một quá trình dài bởi logistics chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam mấy năm gần đây. Nói thế không có nghĩa chúng ta không xây dựng được bộ tiêu chuẩn cho ngành logistics để giúp nâng cao sự minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và đặc biệt khuyến khích cho sự phát triển của ngành.

    Cơ hội cải tiến và đổi mới ngành logistics của Việt Nam là rất lớn và mạnh mẽ. Nếu như thập niên 90 chúng ta chứng kiến phong trào tin học hoá rộng rãi thì cũng đã đến lúc chúng ta cần một phong trào như thế cho logistics ở Việt Nam. Đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì càng có nhiều cơ hội để phát triển của logistics Việt Nam. Điều đó được thể hiện qua năm nội dung sau:

    Thứ nhất, chính sách hội nhập. Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế thông qua những cải cách về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ đưa Việt Nam thành một quốc gia mở cửa về thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư.

    Thứ hai, lợi thế về khu vực. Việt Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi cho vận tải quốc tế, nằm ở khu vực chiến lược trong cùng Đông Nam Á. Bờ biển dài trên 2.000km, có nhiều cảng nước sâu, các sân bay quốc tế, hệ thống đường sắt xuyên quốc gia và mạng lưới giao thông là tiền đề khả quan để phát triển logistics.

    Thứ ba, vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể là nguồn vốn ODA nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và các nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho Việt Nam ngày càng tăng.

    Thứ tư, lĩnh vực dịch vụ đang được quan tâm phát triển, hoạt động logistics đã bắt đầu thu hút sự chú ý của các cấp quản lý Nhà nước cũng như của các doanh ngiệp trong và ngoài nước

    Thứ năm, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Đây chính là một trong những điều kiện tiên quyết để ngành công nghiệp logistics Việt Nam phát triển, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

    Những thách thức

    • Tại Việt Nam, thị trường logistics là một mảng thị truờng khá mới mẻ, mặc dù logistics đã phổ biến trên thế giới hàng trăm năm nay. Theo tính toán cho thấy, chi tiêu hàng năm của một quốc gia cho mảng logistics là rât lớn. Các nước Châu Âu và Mỹ là những nước có nhiều kinh ngiệm về chuỗi quản lý logistics thì chi tiêu cho logistics cũng chiếm gần 10% GDP. Còn các nước đang phát triển như Trung Quốc, chi tiêu cho logistics cũng đã chiếm tới 19%.
    • Phải nói thẳng thắn rằng ở Việt Nam, ngành logistics chưa được coi trọng tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế. Các doanh nghiệp vận tải Việt Nam thì chỉ mới dừng lại ở một trong rất nhiều chuỗi logistics là hình thức giao nhận vận tải, cho thuê kho bãi và vận chuyển nội địa. Tầm cỡ của các công ty Việt Nam trong lĩnh vực này là rất yếu và thiếu chuyên nghiệp. Nguyên nhân sâu xa của những vấn đề này là:
    • Các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp sinh sau đẻ muộn so với rất nhiều công ty nước ngoài có lịch sử phát triển kinh doanh từ rất lâu đời như Strenker Logistics, Maersk Logistics…
    • Tầm bao phủ hoạt động của các công ty Việt Nam chỉ trong phạm vi nội địa hoặc một vài nước trong khu vực, trong khi tầm bao phủ của các công ty nước ngoài là cấp độ toàn cầu. Đây là một cản trở rất lớn khi các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hang, vì ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, các công ty lớn thường có xu hướng sourcing (khai thác nguồn hàng và dịch vụ) từ nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới như: Nike, Adidas, Nokia…Chúng ta có thể tính đến vai trò của các đại lý mà các công ty Việt Nam thiết lập ở các quốc gia khác, nhưng mối quan hệ này rất lỏng lẻo và không đồng nhất.
    • Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chỉ tập trung vào khai thác những mảng nhỏ trong toàn bộ chuỗi cung ứng mà chúng ta thấy phổ biến là hình thức giao nhận vận tải (Freight Fowarding). Đây là hình thức khá đơn giản, các công ty giao nhận đóng vai trò là người buôn cước sỉ sau đó bán lại cho người mua lẻ. Thông qua các hãng vận tải biển cũng như hàng không, hàng sau khi được gom thành những container đầy sẽ được vận chuyển đến quốc gia của người nhận. Tại đó các đại lý mà các công ty Việt Nam có đối tác sẽ làm thủ tục hải quan và giao hàng cho người nhận tại kho. Như vậy hình thức này chỉ là một phần nhỏ trong chuỗi giá trị gia tăng logistics. Trong chuỗi logistics hiện đại mà các công ty logistics lớn đang cung cấp cho khách hàng của mình thì nó bao gồm rất nhiều dịch vụ đa dạng với giá trị gia tăng cao mà chúng ta có thể liệt kê:
      • Dịch vụ giao tận nhà/Door to Door.
      • Gom hàng nhanh tại kho/Consolidation Docking.
      • Quản lý đơn hàng/PO Management.
      • Dịch vụ kho bãi giá trị gia tăng/Value Added Warehousing.
      • Gom hàng từ nhiều quốc gia đến một cảng trung chuyển thường là Singapore, Hong Kong, Kaosiung – Cao Hùng/Multi – Country Consolidation.
      • Dịch vụ kiểm soát chất lượng hàng hoá/QA – QI Program.
      • Dịch vụ container treo (dành cho hàng may mặc)/Hanger Pack Service.
      • Quản lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu đầu cuối cho khách hàng/Data Management/EDI clearing house.
      • Dịch vụ quét và in mã vạch/Barcode scanning and Label Production.
      • Dịch vụ xây dựng bộ tiêu chuẩn cho hoạt động logistics.
      • Dịch vụ NVOOC/NVOOC Operation.
      • Dịch vụ theo dõi kiểm hàng thông qua mạng Internet/System Track and Trace/Web base Visisbility.
      • Dịch vụ nhà cung cấp logistics thứ tư (FPL). Đây là mô hình dịch vụ logistics rất mới giúp cho các hang logistics gia tăng dịch vụ trị giá gia tăng của mình.
    • Trong quan hệ thương mại quốc tế, phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu hàng theo điều kiện FOB, FCA nghĩa là chỉ cần bán hàng qua lan can tàu tại cảng bốc hàng theo quy định là hết trách nhiệm. Như vậy quyền định đoạt về vận tải đều do người mua chỉ định và dĩ nhiên người mua sẽ chỉ định một công ty nước họ để thực hiện điều này. Và các công ty logistics Việt Nam sẽ là người ngoài cuộc. Bất cập này không phải dễ dàng giải quyết vì phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam đều gia công hoặc xuất hàng cho những khách hàng lớn – người mà đã có những hợp đồng dài hạn và toàn cầu với các công ty logistics. Ví dụ như công ty giày NIKE, đây là công ty có rất nhiều hợp đồng làm ăn với các doanh nghiệp Việt Nam nhưng riêng về khâu vận tải và logistics thì các doanh nghiệp Việt Nam không thể tham gia vào quá trình thương thảo. Rõ ràng một ông lớn như NIKE thì việc kí được hợp đồng gia công với họ đã là quá tốt đối với các doanh nghiệp giày da của Việt Nam rồi chứ đừng nói đến việc đàm phán về vận tải và logistics. Trên thực tế hai công ty đang cung cấp dịch vụ logistics cho NIKE là Maersk Logistics và APL

    Nhưng đối với các nhà nhập khẩu Việt Nam thì sao? Nếu nhìn vào cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam thì chúng ta thấy rõ là Việt Nam luôn nhập siêu. Và đây chính là thị trường khá tốt cho các công ty logistics Việt Nam. Trên thực tế thì mảng nhập khẩu cũng là thế mạnh của các công ty Việt Nam. Nếu như trước đây các nhà nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu mua hàng theo điều kiện CIF, CIP thì nay các doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam đang dần chuyển sang hình thức mua FOB, điều này tạo ra cơ hội cho các công ty logistics Việt Nam khai thác. Tuy nhiên một phần khá lớn trong miếng bánh này vẫn nằm trong tay các hãng logistics nước ngoài do có nhiều công ty nước ngoài đầu tư trực tiếp tại Việt Nam mà cũng chính họ là người nhập khẩu hàng nhiều nhất. Hơn thế nữa phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa có nhiều ý thức trong việc đầu tư vào quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng. Điều này cho thấy rõ ở chỗ hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam không có phòng quản lý logistics hoặc chuỗi cung ứng mà phòng này thường được hiểu là phòng kinh doanh xuất nhập khẩu. Điều này tạo ra rào cản đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc chào các dịch vụ logistics giá trị gia tăng.

    • Chúng ta dang đối mặt với hệ thống hạ tầng giao thông vận tải còn rất thiếu và yếu. Điều này làm cho các chi phí logistics của Việt Nam cao hơn hẳn các nước khác. Bản thân các công ty logistics sẽ tốn nhiều chi phí đầu tư, làm giảm lợi nhuận của họ cũng như khả năng mở rộng dịch vụ.
    • Về hạ tầng thông tin, đây chính là điểm yếu của các doanh nghiệp Việt Nam. Mặc dù các doanh nghiệp logistics đã có nhiều ý thức trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh của mình nhưng những điều này vẫn còn kém xa so với trình độ quốc tế. Nếu chỉ xét về khía cạnh xây dựng website thì phần lớn website của Việt Nam chỉ dơn thuần giới thiệu về mình,về dịch vụ của mình mà thiếu hẳn các tiện ích mà khách hàng cần như công cụ Track & Trace (theo dõi đơn hàng, theo dõi lịch trình tàu), booking, theo dõi chứng từ. Chúng ta nên biết khả năng nhìn thấy và kiểm soát đơn hàng là một yếu tố được các chủ hàng đánh giá rất cao khi họ lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics cho mình. Để làm được điều này đòi hỏi phải có giải pháp đầu tư tổng thể và chi tiết, có định hướng dài hạn. Hơn thế nữa việc đầu tư xây dựng hệ thống IT cũng giúp chính các doanh nghiệp hiệu quả và năng suất. Cụ thể trong lĩnh vực logistics các doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng hệ thống phần mềm WMS (Warehouse Management System). Đây là hệ thống phần mềm quản lý kho giúp quản lý một cách hiệu quả, giảm chi phí, nâng cao năng suất hơn rất nhiều.
    • Cho đến nay, tính liên kết của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu, các công ty hầu như hoạt động độc lập. Trong xu hướng outsourcing, mỗi doanh nghiệp cần tập trung vào thế mạnh của mình và sẽ thuê ngoài các dịch vụ không phải là thế mạnh, như vậy thì tính liên kết là cần thiết hơn bao giờ hết. Đã đến lúc chúng ta cần ngồi lại và hợp tác để có thể đưa ra thị trường một chuỗi các dịch vụ logistics tổng thể cho khách hàng. Một công ty giao nhận có thể liên kết với một công ty về kho bãi, về vận tải, môi giới, hàng không tạo thành một chuỗi liên kết chặt chẽ.
    • Vấn đề thương hiệu: Hiện tại Việt Nam vẫn chưa có được thương hiệu mạnh tầm cỡ khu vực chứ chưa nói gì đến tầm cỡ thế giới. Về vấn đề này cần có sự hỗ trợ chặt chẽ và nhiệt tình từ phía nhà nước thì mới có thể làm được. Chúng ta cần có những thương hiệu đầu ngành làm đầu kéo cho ngành logistics phát triển đúng hướng.
    • Nhân lực: Chúng ta đang thiếu một đội ngũ chuyên viên trong ngành logistics chuyên nghiệp và được đào tạo bài bản. Bản thân các trường đại học lớn cũng chưa hề có khoa dạy về nghề này. Hơn bao giờ hết sự thành công bắt đầu từ con người.

    Được biết nhiều năm qua, ngành dịch vụ logistics đã được Chính phủ bảo hộ thông qua các biện pháp ngăn chặn các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận thị trường trong nước. Nhưng nay sau khi gia nhập WTO, các biện pháp bảo hộ buộc phải chấm dứt. Trong tình hình như vậy, các doanh nghiệp phải tự mình tạo ra khả năng cạnh tranh cao. Rõ ràng ngành logistics đang đứng trước viễn cảnh không mấy sáng sủa khi phải đối đầu trực tiếp với các tập đoàn hàng đầu thế giới.

    Các doanh nghiệp dịch vụ logistics sẽ đối mặt với áp lực cạnh tranh căng thẳng, bởi chúng ta đã cam kết cho nước ngoài thiết lập ngay các doanh nghiệp liên doanh với tỷ lệ góp vốn từ 49% đến 51% để thực hiện kinh doanh các dịch vụ vận tải, giao nhận, kho bãi. Ba năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài được tăng lên và họ có thể thành lập công ty 100% vốn sáu năm đến bảy năm. Hiện tại chúng ta chưa có doanh nghiệp nào tham gia cung ứng dịch vụ tại nước ngoài. Ngoài ra, doanh nghiệp logistics trong nước đa phần thuộc loại vừa và nhỏ, vì vậy cơ hội thắng thầu đều thuộc về các doanh nghiệp lớn chuyên ngành logistics có mạng lưới cung cấp dịch vụ toàn cầu. Cơ hội xuất khẩu dịch vụ là rất hạn chế xét về nhiều mặt. Cạnh tranh cung ứng dịch vụ logistics sẽ xảy ra ngay trên sân nhà mà cơ hội giành chiến thắng của chúng ta là rất thấp, nếu ngay từ bây giờ không có một chiến lược cho ngành này.

    3.2. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    3.2.1. Phát triển các dịch vụ logistics mũi nhọn của Công ty

    3.2.1.1. Đầu tư phát triển dịch vụ cho thuê kho bãi

    Nhận thức được tầm quan trọng của hành lang kinh tế Côn  Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Dự án đầu tư xây dựng Cảng nội địa ICD Lào Cai do Công ty CP Vinalines Logistics Việt Nam làm chủ đầu tư vừa được chính thức khởi công tại cụm công nghiệp Đông Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

    Với chức năng là lưu giữ, bảo quản hàng hoá, kho ngoại quan phải có thiết kế, trang thiết bị phù hợp với dặc điểm bảo quản của từng loại hàng hoá nhằm bảo đảm giữ nguyên chất lượng, trạng thái ban đầu của hàng hoá hoặc hạn chế những thiệt hại do việc vận chuyển xếp dỡ hàng hoá gây ra.

    Ngày nay, khối lượng trao đổi, buôn bán hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam với nước ngoài ngày càng tăng nhanh, đòi hỏi phải có sự mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng phục vụ của kho ngoại quan là một yêu cầu cấp bách, nhằm nâng cao năng lực xếp dỡ lưu chuyển hàng hoá của các cảng.

    3.2.1.2 Phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức (VTĐPT)

    Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải đa phương thức

    Để nâng cao chất lượng dịch vụ VTĐPT ngoài các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đảm bảo cho Công ty cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt nhất, giá thành dịch vụ thấp nhất, hoàn thành dịch vụ đúng thời hạn và độ tin cậy của dịch vụ được đảm bảo thì Công ty cần có sự nhận thức đầy đủ về  VTĐPT  và phải phát triển kết cầu hạ tầng đầy đủ, đồng bộ. Bên cạnh đó Công ty còn phải xem xét đến các yếu tố sau:

    – Đơn giản hóa các thủ tục có liên quan tới vận tải và giao nhận hàng hóa.

    – Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng VTĐPT.

    – Phối hợp chặt chẽ giữa các phương thức vận tải.

    Tăng cường liên hiệp các vận tải đa phương thức

    Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy, không cần phải tất cả các phương thức vận tải tham gia phục vụ chuyên chở hàng hóa trong buôn bán quốc tế phải mạnh mới thực hiện quyền chuyên chở hàng hóa, mà trong quá trình mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại, phải coi trọng việc tăng cường liên kết các công ty vận tải trong nước và quốc tế để cho thị trường vận tải được thông suốt. Việc liên kết các công ty vận tải giúp cho việc khai thác phương tiện vận tải đi về nhiều chiều trên các đại dương theo những tuyến đường phù hợp và ổn định thông qua các công ty vận tải hoặc trung tâm giao nhận – vận chuyển dặt ở một số nước. Việc liên kết VTĐPT giúp cho người kinh doanh VTĐPT thâu tóm được tất cả mọi khâu của quá trình đưa hàng xuất nhập khẩu từ nơi sản xuất đến cơ sở của người mua.

    Đẩy mạnh đào tạo cán bộ công nhân viên

    Giáo dục và rèn luyện con nguời luôn là biện pháp quan trọng hàng đầu trong mọi lĩnh vực. Nó xuất phát từ nguyên tắc coi trọng con người. Người làm VTĐPT vừa là nhà giao nhận vừa là nhà tổ chức, nhà kiến trúc sư vận tải. Họ phải lựa chọn phương tiện, người vận tải thích hợp…để có hiệu quả kinh tế nhất. Điều đó đòi hỏi người làm vận tải phải có kiến thức sâu rộng về địa lý, thông hiểu luật lệ trong nước và quốc tế, nắm vững nghiệp vụ ngoại thương và phải biết sử dụng thành thạo các phương tiện thông tin điện tử. Bên cạnh đó, sự hiểu biết các lĩnh vực liên quan cũng là một vấn đề cần thiết như: hàng hải, ngân hàng, bảo hiểm…Do đó một giải pháp Công ty cần hết sức quan tâm, chú trọng đó là bồi dưỡng, đào tạo cán bộ công nhân viên

    3.2.2. Ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý và khai thác

    Tổ chức và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, ứng dụng các phần mềm tin học cho phép Công ty phát hiện ra các điểm yếu trong toàn bộ chu trình lưu chuyển của hàng hóa, kiểm soát chặt chẽ luồng lưu chuyển của hàng hóa, loại bỏ được thời gian lưu kho ở các điểm chuyển tải. Cho nên ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý và khai thác dịch vụ vận tải giao nhận sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi và nâng cao được hiệu quả cho việc điều hành hệ thống logistics của Công ty.

    3.2.3. Tăng cường hoạt động Marketing nhằm thu hút khách hàng

    Thời gian qua, hoạt động marketing trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận Việt Nam chưa được các doanh nghiệp quan tâm và phát triển thích đáng. Vì vậy cũng phần nào hạn chế việc thu hút của doanh nghiệp. Để phát triển hoạt động kinh doanh của Công ty, thu hút được khách hàng thì việc tăng cường hoạt động marketing phải được xem là hoạt động ưu tiên hàng đầu đối với Công ty hiện nay. Do đó trước mắt Công ty cần tiến hành những công việc sau:

    • Xác định khách hàng

    – Thực hiện nghiên cứu thị trường, giá cả, xác định tuyến vận tải mạnh, yếu của Công ty.

    – Khai thác và tập hợp thông tin về các nhà xuất nhập khẩu để thực hiện khai thác.

    – Thường xuyên liên lạc, thăm hỏi khách hàng, khắc phục các điểm chưa phù hợp để phục vụ khách hàng tốt hơn.

    • Gặp gỡ khách hàng để xác định những yêu cầu về dịch vụ

    – Dàn xếp những cuộc tiếp xúc với khách hàng để tìm ra những yêu cầu của họ như cước phí, thời gian vận chuyển, cảng đến và những yêu cầu đặc biệt về dịch vụ khách hàng cũng như về chứng từ.

    – Xem lại các yêu cầu của khách hàng có phù hợp với dịch vụ của Công ty hay không và chuẩn bị những đề xuất chào bán dịch vụ bao gồm các thông tin về nơi nhận hàng, cảng đích, điều khoản mua bán, cước phí, các phụ phí, ngày có hiệu lực, loại hình vận chuyển, tuyến đường, thời gian vận chuyển.

    • Chào giá

    Đàm phán với khách hàng khi có sự phản hồi. Xin ý kiến của chủ tàu khi chủ hàng có đề nghị giá thấp.

    • Chính sách về dịch vụ của Công ty:

    – Khách hàng là nhân tố quan trọng nhất, quyết định sự thành công trong kinh doanh của Công ty.

    – Không ngừng thoả mãn yêu cầu của khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ với giá cạnh tranh bằng cách:

    • Thao tác nghiệp vụ nhanh chóng, chính xác và an toàn.
    • Làm đúng ngay từ đầu.
    • Giao hàng đúng hẹn.

    – Đối với khách hàng là nhà sản xuất (chủ hàng): tiếp cận, theo dõi, khuyến khích dựa trên chính sách của các hãng tàu.

    – Đối với khách hàng là các hãng tàu: bám sát từ khâu nước ngoài và dành nhiều chính sách ưu đãi.

     

    KẾT LUẬN

     

    Logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết tới sự cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp.

    Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối. là dịch vụ cốt yếu đối với hiệu quả tăng trưởng kinh tế, bảo đảm sự ổn định vĩ mô của bất cứ quốc gia nào. Nâng cao hiệu quả dịch vụ gắn với sự tham gia tích cực và hiệu quả của các doanh nghiệp logistics là chìa khóa thành công của chiến lược phát triển kinh tế. Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài tóan đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả. Logistics có thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…logistics còn giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Phân phối giống như mạch máu của nền kinh tế. Nắm được hệ thống phân phối chính là nắm được phần thắng trong tay. Và logistics là một mắt xích quan trọng trong hệ thống phân phối ấy.

    Bởi vậy phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM trong điều kiện hội nhập là rất cần thiết để đẩy mạnh kinh doanh trong lĩnh vực này và mang lại một hướng đi vững vàng cho doanh nghiệp trẻ đầy triển vọng.
    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Nội quy lao động của Công ty Cổ phần VINALINES
    2. LOGISTICS VIỆT NAM (kèm theo Quyết định số:63 VNLL/QĐ-TCHC ngày 13 tháng 9 năm 2010 của Tổng giám đốc Công ty)
    3. Quy chế tổ chức và hoạt động của cảng Nội địa (ICD) Lào Cai (ban hành kèm theo quyết định số 95/QĐ-HĐQT ngày 2/12/2009 của HĐQT Công ty Cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam)
    4. Quy chế tổ chức và hoạt động chi nhánh Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM Tại Quảng Ninh (ban hành kèm theo Quyết định số 12/QĐ-HĐQT ngày 18 tháng 6 năm 2008 của HĐQT Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM )
    5. Quy chế tổ chức và hoạt động chi nhánh Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM Tại Hải Phòng (ban hành kèm theo Quyết định số 08/QĐ-HĐQT ngày 10 tháng 12 năm 2007 của HĐQT Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM )
    6. Quy chế tổ chức và hoạt động chi nhánh Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM Tại TP Hồ Chí Minh (ban hành kèm theo Quyết định của HĐQT Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM)
    7. Quyết định “Về việc Ban hành Quy định Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các phòng ban” năm 2010
    8. Điều lệ tổ chức và hoạt động Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM (năm 2007)
    9. Báo cáo kế hoạch thực hiện các dự án đầu tư và chất lượng, số lượng nguồn nhân lực (ngày 15 tháng 9 năm 2010)
    10. Báo cáo tổng kết hoạt động, sản xuất kinh doanh năm 2009 phương hướng kế hoạch thực hiện năm 2010 Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM
    11. Báo cáo Đại hội đồng cổ đông 2008

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Tổ chức giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty VOSA Sài Gòn

    Đồ án Tổ chức giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty VOSA Sài Gòn

    Đồ án Tổ chức giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty VOSA Sài Gòn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Vận chuyển và giao nhận hàng hóa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-T%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-giao-nh%E1%BA%ADn-h%C3%A0ng-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u-b%E1%BA%B1ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-bi%E1%BB%83n-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-VOSA-S%C3%A0i-G%C3%B2n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Tổ chức giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty VOSA Sài Gòn

    Article I.     LỜI MỞ ĐẦU

    Thương mại quốc tế của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng trong vòng 15 năm trở lại đây từ khi mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới( WTO). Bên cạnh đó, trong vài thập niên gần đây Logistics đã phát triển nhanh chóng giúp con người sử dụng các nguồn lực một cách tối ưu nhằm mang lại những sản phẩm, dịch vụ với chất lượng cao nhất và chi phí thấp nhất đến người sử dụng cuối cùng. Trong nhiều nội dung quan trọng thì hoạt động tổ chức giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty VOSA Sài Gòn cũng là một trong những nội dung quan trọng của quản trị Logistics. Trong đó, hoạt động tổ chức giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty VOSA Sài Gòn hiện nay trở thành một hoạt động không thể thiếu trong việc giao thương hàng hóa quốc tế

    Vì vậy qua thời gian thực tập nhằm nâng cao kiến thức, so sánh giữa lý thuyết và thực tiễn trong hoạt động giao nhận hàng nhập khẩu bằng container đường biển, tìm hiểu và nghiên cứu tại phòng Đại lý vận tải- Công ty VOSA Sài Gòn, cùng với sự giúp đỡ của các nhân viên chuyên hàng container và sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn Thị Phương Chi, tác giả xin đưa ra thực trạng hoạt động cũng như một số giải pháp căn bản nhằm hoàn thiện tổ chức giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty VOSA Sài Gòn. Đề tài gồm 3 chương:

    Chương 1: Giới thiệu chung về Công ty VOSA Sài Gòn.

    Chương 2: Thực trạng tổ chức giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại công ty VOSA Sài Gòn.

    Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển tại VOSA Sài Gòn.

    Mặc dù đã rất nổ lực, cố gắng nhưng khó có thể tránh khỏi những thiếu sót về nội dung cũng như hình thức. Rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp ý kiến của quý công ty và giáo viên hướng dẫn để đề tài này được hoàn thiện hơn.

    Article II.    CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY VOSA SÀI GÒN

    Section 2.01    I. Quá trình hình thành và phát triển

    (a)   1. Giới thiệu về công ty

    Tên công ty:  CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI LÝ HÀNG HẢI VIỆT NAM – ĐẠI LÝ HÀNG HẢI SÀI GÒN

    Tên giao dịch: VOSA CORPORATION – VOSA SÀI GÒN

    Địa chỉ: Số 3-5-7 Nguyễn Huệ, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

    Điện thoại:  (848) 38231662 / 38216048

    Fax: (848) 38212227

    Mã số thuế: 0300437898-014

    Email: [email protected]

    Website:  http://www.vosagroup.com

    (b)   2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty VOSA Sài Gòn

    VOSA Sài Gòn là chi nhánh của Công ty Cổ phần Đại lý Hàng hải Việt Nam được tách ra hoạt động độc lập từ ngày 01/01/2001 với nhiều chức năng và dịch vụ như: kiểm đếm container, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, dịch vụ kho bãi, môi giới mua bán tàu…, xây dựng được Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000 và hoạt động ngày càng hiệu quả.

    VOSA Sài Gòn luôn không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng công tác phục vụ của mình, vì muốn khách hàng và các hãng tàu trên thế giới biết đến VOSA Sài Gòn là một đại lý hàng hải phục vụ tốt nhất và uy tín nhất tại Việt Nam, nhất là trong tình hình cạnh tranh khốc liệt giữa các đại lý khác trong thời gian hiện nay.

    VOSA Sài Gòn được công nhận không chỉ là một trong những sự lựa chọn tốt nhất về đại lý tàu biển, mà còn là nơi có dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường biển và đường hàng không có uy tín đối với khách hàng trong và ngoài nước.

    Section 2.02           II. Chức năng và nhiệm vụ

    (a)   1. Chức năng

    Đại lý tàu biển: VOSA Sài Gòn đứng ra làm đại lý cho các hãng tàu, xếp dỡ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, kiểm đếm và làm thủ tục giám định hàng hóa, thu xếp cứu hộ, cứu nạn, tham gia giải quyết tranh chấp hàng hải, dịch vụ thuyền viên, dịch vụ cung ứng dầu, nước ngọt, vật tư thiết bị…và sửa chữa tàu.

    Môi giới hàng hải: Thuê và môi giới thuê tàu, môi giới mua, bán tàu.

    Đại lý vận tải: Nhận vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, đường biển, đường bộ, giao hàng tận nơi( door-to-door), dịch vụ kho bãi.

    (b)   2. Nhiệm vụ

    Thay mặt người ủy thác, phối hợp với cảng và các cơ quan liên quan để thực hiện tốt nhiệm vụ: bốc xếp giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, đại lý và các dịch vụ hàng hải khác, thu ngoại tệ về cho đất nước và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người ủy thác.

    Xây dựng phương án đóng góp vào sự phát triển chung của Đại lý Hàng hải Việt Nam, tham gia tốt vào các tổ chức quốc tế. Duy trì và mở rộng các hoạt động vận tải truyền thống. Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trẻ thông qua kế hoạch tuyển dụng và đào tạo nhằm tạo ra động lực phát triển cho từng cá nhân, từng bước kế thừa và tiếp thu những kinh nghiệm từ đội ngũ cán bộ công nhân viên giàu kinh nghiệm.

    Nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực hàng hải cũng như vào luật pháp hàng hải. Phát triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như đại lý vận tải, kinh doanh kho bãi, kho ngoại quan, dịch vụ xuất nhập khẩu hàng hóa, đầu tư xây dựng mạng lưới kho bãi rộng lớn, đầy đủ phương tiện xếp dỡ hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế, đầu tư phương tiện vận tải như sà lan, tàu, ô tô.

    Tham gia thực hiện tốt việc huấn luyện đào tạo, giáo dục công nhân viên theo chức năng và quyền hạn thông qua công tác đại lý, tham gia tích cực vào công tác bảo vệ an ninh quốc gia, chính trị, giữ vững trật tự an toàn xã hội, bí mật nhà nước, nội bộ

    Xây dựng quy hoạch cán bộ, các quy chế quản lý công ty phù hợp với chê độ chính sách của VOSA nói riêng, của Nhà nước nói chung và các quy định, hướng dẫn của cấp trên. Hướng dẫn kiểm tra thực hiện các chế độ chính sách và các thể lệ, nội quy đã ban hành. Quản lý vật tư, tiền vốn, tổ chức và hạch toán các hoạt động kinh doanh với quyền hạn của đơn vị hiện hành.

    Section 2.03           III. Cơ cấu tổ chức của công ty

    (a)   1. Sơ đồ tổ chức

                       
         
     
         
     
             
     
           
                   
                   
     
       
               
               
     

     

    Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của VOSA Sài Gòn.( nguồn: tác giả tự tổng hợp)

    (b)   2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban

    Ban Giám đốc: Chịu trách nhiệm về việc thực hiện kế hoạch, trực tiếp chỉ đạo việc thi hành nghiệp vụ của đại lý, sắp xếp phù hợp cho đại lý, phân bổ kế hoạch cho đại lý, trực tiếp tham gia bàn bạc ký kết hợp đồng, tham gia vào công tác đối ngoại, chịu trách nhiệm chung về sự hoạt động của toàn bộ đại lý.

    Phòng Tổ chức hành chính: Theo dõi quan sát các vấn đề hành chính của cơ quan, thực hiện công tác lưu trữ văn thư, quản lý kho, phân bố những trang thiết bị phục vụ cho cơ quan.

    Phòng Tài chính kế toán: Theo dõi tình hình tài chính trong và ngoài đơn vị, nhận và phân bố tiền gửi ngân hàng của các hãng tàu nước ngoài, kiểm tra và lập các chứng từ thanh toán, giám sát theo dõi tình hình thu chi của cơ quan, nhận chứng từ của các cơ quan đã phục vụ cho tàu, lập bảng thanh toán và đòi tiền của hãng đó, thống kê thời gian sử dụng của các tàu, tính cước, kiểm tra cước thị thực theo yêu cầu của các hãng tàu, quyết toán với khách hàng.

    Phòng Đại lý vận tải: Gom hàng và lưu kho, thu xếp việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, đường hàng không, cung cấp dịch vụ từ kho đến kho, dịch vụ vận chuyển trong nước, thông báo vị trí tàu cho người chủ nhận hàng, đảm bảo việc chuẩn bị và lập các chứng từ văn bản, tìm cho tàu nguồn hàng xuất khẩu, thu xếp hoặc làm các thủ tục hải quan và tất cả các dịch vụ khác liên quan đến việc tàu vào cảng, lưu cảng, rời cảng, thu xếp việc giao hàng xuất nhập, chăm lo phục vụ hành khách, thu cước hàng xuất, nhập khẩu, chăm lo đến việc giải quyết tổn thất chung, khiếu nại và thủ tục khác, thông báo lịch tàu, chào giá cước và điều chỉnh.

    Sơ đồ tổ chức của Phòng Đại lý vận tải:

                                                 
         
     
         
     
             
           
     
                 
     
               
             
     

    Sơ đồ 1.2 Cơ cấu tổ chức của Phòng Đại lý vận tải.( nguồn: tác giả tự tổng hợp)

    Phòng Đại lý thương vụ: Theo dõi tin tức của các tàu, các hãng tàu trên thế giới cũng như các cơ quan có liên quan đến nghiệp vụ đại lý, theo dõi tất cả các hợp đồng và ký kết hợp đồng, dịch các công văn giấy tờ, làm công tác Marketing, làm môi giới hàng hải.

    Phòng Đại lý tàu: Theo dõi và hướng dẫn tàu nước ngoài vào cảng, thông báo cho các cơ quan hải quan để đón tàu, bố trí hoa tiêu và làm thủ tục xuất nhập cảng cho tàu, theo dõi và thực hiện các yêu cầu của tàu trong thời gian nhập cảng, nắm lịch trình tàu đến và tàu rời cảng, theo dõi và thực hiện các yêu cầu của tàu trong thời gian nhập cảng, nắm lịch trình tàu đến và tàu rời cảng, theo dõi thời gian làm việc của tàu, thường xuyên làm việc với thuyền trưởng và đại diện của tàu, giúp đỡ tàu khi tàu vào cảng thì điện báo cho hãng tàu biết những nội dung mà hãng tàu yêu cầu.

    Phòng dịch vụ: Thực hiện các dịch vụ về thuyền viên, cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu cho tàu.

    Bộ phận giao nhận: Giao nhận chứng từ, thu xếp việc giao hàng xuất nhập.

    Đội phương tiện: Quản lý các phương tiện của cơ quan, sử dụng phương tiện để phục vụ cho công việc đại lý, lập kế hoạch xăng dầu hàng năm, lập phương án dự trữ, phụ tùng thay thế, sửa chữa, lập kế hoạch mua sắm phương tiện mới.

    Phòng Đại lý container: Xếp container, thông báo cho chủ hàng có liên quan đến nhận hàng, sửa chữa và cho thuê container.

    Section 2.04           IV. Tình hình hoạt động giao nhận trong những năm gần đây của công ty giai đoạn 2008 đến nay

    (a)   1. Kết quả hoạt động kinh doanh của VOSA Sài Gòn

    Kết quả  phục vụ: nhìn chung kết quả phục vụ tại VOSA Sài Gòn có chiều hướng tăng lên theo thời gian.

    Bảng 1.1 Kết quả phục vụ của VOSA Sài Gòn từ 2008- 2010

    Chỉ tiêu Đơn vị 2008 2009 2010
    Số tàu phục vụ Chuyến 391 418 442
    Số tấn trọng tải phục vụ Tấn/km 1.794.378 2.486.177 2.848.548
    Số tấn hàng hóa phục vụ Tấn/km 1.514.787 2.216.214 2.628.832

    (Nguồn: Báo cáo KQHĐKD của VOSA Sài Gòn, Phòng Đại lý vận tải)

    Về số tàu phục vụ: Trong năm 2010, VOSA Sài Gòn đã phục vụ được 442 chuyến tàu, là đơn vị dẫn đầu trong các đơn vị thành viên của VOSA chiếm 14,5% toàn VOSA( VOSA: 3056 chuyến ). Năm 2009 lượng tàu VOSA Sài Gòn phục vụ tăng 6,9% so với năm 2008. Năm 2010 lượng tàu VOSA Sài Gòn phục vụ tăng 5,7% so với năm 2009. Tốc độ tăng có giảm một phần do ảnh hưởng của sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu, làm cho lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng chậm, dẫn đến số tàu phục vụ có tăng nhưng chậm hơn giai đoạn trước.

    Về số tấn trọng tải phục vụ: Năm 2010, số tấn trọng tải phục vụ đạt 2.848.548 tấn/km chiếm 15,1% tổng số tấn trọng tải phục vụ của toàn VOSA ( VOSA: 18.839.603 tấn/km ), tăng 14,6% so với năm 2009. Điều này cho thấy VOSA Sài Gòn có một vị thế vững chắc trong nước cũng như trên thế giới.

    Số tấn hàng hóa phục vụ: Số tấn hàng hóa phục vụ tăng lên rõ rệt từ 1.514.787 tấn/km năm 2008 lên 2.216.214 tấn/km năm 2009, tăng 46,3%. Năm 2010, số tấn hàng hóa phục vụ tăng 18,6% so với năm 2010. Tốc độ tăng chậm lại do ảnh hưởng của nền kinh tế. Nhưng nhìn chung, VOSA Sài Gòn vẫn giữ được mức tăng trưởng khá ổn định so với các công ty khác cùng ngành.

    (b)   2. Số lượng tàu container do VOSA Sài Gòn phục vụ( 2008- 2010)

    Bảng 1.2 Số lượng tàu container do VOSA Sài Gòn phục vụ( 2008- 2010)

    Chỉ tiêu Đơn vị 2008 2009 2010
    Số lượng tàu container do VOSA Sài Gòn phục vụ Chiếc 98 121 148
    Số tấn trọng tải Tấn/km 279.384,655 414.942,941 512.168,930
    Số container phục vụ TEUs 1.013 2.013 2.217

    (Nguồn: Báo cáo KQHĐKD của VOSA Sài Gòn, Phòng Đại lý vận tải)

    VOSA Sài Gòn cung cấp dịch vụ đại lý liner cho các hãng tàu nước ngoài như: NYK, SYMS, China Shipping, Maersk-Sealand… Dịch vụ đại lý liner bao gồm thực hiện các thủ tục xuất nhập hàng container, thu gom hàng, giao nhận hàng hóa v.v…Năm 2010, VOSA Sài Gòn phục vụ được 148 lượt tàu container (chiếm 33.56% tổng số chuyến phục vụ) với tổng số tấn trọng tải là 512.168,930 tấn/km, và số lượng container phục vụ là 2.217 TEUs.

    (c)   3. Kết quả hoạt động kinh doanh của VOSA Sài Gòn trong 3 năm 2008-2009-2010

    Bảng 1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của VOSA Sài Gòn trong 3 năm 2008-2010.

    (Đơn vị: Triệu đồng)

    Chỉ tiêu 2008 2009 2010
    Tổng doanh thu 22.805,698 25.232,315 27.917,765
    Tổng chi phí 20.867,250 22.961,407 25.265,582
    Lợi nhuận thực hiện 1.938,448 2.270,908 2.652,183
    Lợi nhuận sau thuế 1.938,448 2.270,908 1.909,572

    (Nguồn: Báo cáo KQHĐKD của VOSA Sài Gòn 2008-2010, Phòng Tài chính-Kế toán)

    Doanh thu năm 2008 tăng 10,6% so với năm 2007 và đạt 27.917,765 triệu đồng chiếm 8,8% tổng doanh thu của toàn VOSA Sài Gòn (tổng doanh thu của VOSA Sài Gòn đạt 317.969 triệu đồng ). Tình hình hoạt động kinh doanh của VOSA Sài Gòn nhìn chung là khá ổn định

    Về tổng chi phí: Chi phí năm 2009 tăng 2.094,157 triệu đồng, tức tăng 10% so với năm 2008. Chi phí năm 2010 tăng 2.685,450 triệu đồng, tức tăng vẫn ở mức xấp xỉ 10%. Do doanh thu tăng, khối lượng hàng hóa và dịch vụ VOSA Sài Gòn phục vụ cũng tăng lên nên dẫn đến phát sinh thêm các chi phí trong quá trình hoạt động.

    Về lợi nhuận: Lợi nhuận năm 2009 tăng 332,46 triệu đồng so với năm 2008, nhưng trong giai đoạn này VOSA Sài Gòn được hưởng ưu đãi nên không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận trước thuế năm 2010 tăng 381,275 triệu đồng, nhưng lợi nhuận sau thuế giảm 15,9% thực ra là do VOSA Sài Gòn phải nộp thêm phần thuế thu nhập doanh nghiệp cho Nhà Nước với mức thuế suất là 28%.

    Article III.  CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY VOSA SÀI GÒN

    Section 3.01           I. Quy trình giao nhận hàng nhập khẩu bằng container đường biển

    (a)   1. Sơ đồ quy trình

     
       
    ĐẠI LÝ Ở NƯỚC NGOÀI
    1. Gửi thông báo:

    –  Vận đơn chính

    –  Vận đơn phụ

    – Bảng liệt khai hàng hóa

    –  Hóa đơn

    –  Phiếu đóng gói

    VOSA SÀI GÒN
    1. Gửi giấy thông báo hàng

    đến

           
         
     
       
    1. Nhận Lệnh giao hàng

    và trả phí

     
     
    NGƯỜI NHẬN HÀNG

    Sơ đồ 2.1 Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng container đường biển tại VOSA Sài Gòn( nguồn: tác giả tự tổng hợp)

    (b)   2.  Chi tiết các bước tiến hành giao nhận hàng hóa nhập khẩu

    Bước 1: Nhận thông báo về lô hàng từ Đại lý nước ngoài

    Trước khi gửi hàng về Việt Nam các Đại lý nước ngoài đều gửi thông báo chi tiết về lô hàng cho VOSA Sài Gòn bằng fax hoặc e-mail bao gồm:

    Vận đơn chính(MBL): Trên vận đơn chính thể hiện số vận đơn, chuyến tàu, ngày tàu chạy, tên người gửi, người nhận, số cont, số seal, số ký, số khối.

    Vận đơn phụ(HBL): Trên vận đơn thể hiện số vận đơn phụ, chuyến tàu, ngày tàu chạy.

    Bảng liệt khai hàng hóa( Manifest).

    Hóa đơn( Invoice) và Phiếu đóng gói( Packing list) của lô hàng và các giấy tờ khác (nếu có).

    Bước 2:  Theo dõi và kiểm tra với hãng tàu 

    Khi đã nhận được e-mail hoặc fax này, nhân viên của phòng Đại lý vận tải cần phải kiểm tra thông tin trên bộ hồ sơ có đồng bộ, chính xác hay không và xác nhận với Đại lý nước ngoài. Sau đó nhân viên giao nhận cần phải căn cứ theo thông báo này tiến hành theo dõi và kiểm tra hành trình của chuyến tàu với hãng tàu.

    Bước 3: Nhận Giấy báo hàng đến

    Sau một thời gian, Đại lý giao nhận sẽ nhận Giấy báo hàng đến hay Thông báo hàng đến. Tùy theo mỗi hãng tàu mà các mẫu thông báo hàng đến khác nhau, nhưng đều có những nội dung cơ bản như sau: tên tàu; số vận đơn; dự kiến thời gian tàu đến; người gởi hàng; người nhận hàng; tên hàng; số lượng, trọng lượng; cảng bốc; cảng dỡ; những lưu ý khi đi nhận lệnh giao hàng( D/O).

    Bước 4: Thông báo hàng đến cho người nhận hàng

    Trên thông báo hàng đến cho người nhận hàng sẽ thể hiện các thông tin sau: Người nhận hàng, chuyến tàu, ngày tàu cập cảng, số cont, số seal, số ký (KG), số khối (CBM), tên hàng, phí chứng từ và các phí khác( nếu có).

    Yêu cầu người nhận hàng khi đến nhận chứng từ cần xuất trình các giấy tờ sau: Giấy báo nhận hàng, Giấy giới thiệu của cơ quan( nếu là hàng của các cơ quan, tổ chức), hoặc Hộ khẩu và CMND( nếu là hàng của cá nhân), Bill gốc (đối với những lô hàng không có điện giao hàng) và đóng phí chứng từ cũng như các phí khác.

    Bước 5: Nhận Lệnh giao hàng( D/O) từ hãng tàu

    Khi ngày tháng đã cận kề ngày dự kiến tàu đến, nhân viên giao nhận cần chủ động liên lạc với hãng tàu là tàu đã về hay chưa, lúc nào sẽ cập cảng dỡ. Sau khi biết tàu đã cập cảng dỡ, nhân viên giao nhận cầm vận đơn surrender và giấy giới thiệu cùng với chứng minh thư( nếu có) đi đến văn phòng đại diện của hãng tàu, tại địa chỉ được thể hiện trên giấy báo hàng đến để lấy D/O.

    Sau khi đến văn phòng đại diện của hãng tàu, trình giấy giới thiệu, vận đơn surrender, chứng minh thư( nếu có) cho nhân viên của văn phòng đại diện hãng tàu, nhân viên này sẽ tiếp nhận và sẽ đưa ra mức phí phải đóng. Tùy theo phương hướng kinh doanh của mỗi hãng tàu mà các khoản phí đóng sẽ khác nhau. Ví dụ phí chứng từ, phí CFS, phí D/O v.v… Nhân viên giao nhận đóng phí theo yêu cầu, ký tên vào biên lai thu tiền, biên lai giá trị gia tăng( lưu ý tên và mã số thuế của doanh nghiệp trên các hóa đơn là của công ty VOSA Sài Gòn) nhận D/O và các biên. Khi nhận D/O thì trên D/O sẽ được văn phòng đại diện đóng con dấu của hãng tàu( Tại Việt Nam).

    Vì khi người nhận hàng giao chứng từ cho công ty VOSA Sài Gòn thì người nhận hàng đã kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ, hay đã tu chỉnh khi xảy ra bất hợp lệ, nên các số liệu trong các chứng từ đã khớp với nhau, lúc này khi nhận D/O, nhân viên giao nhận chỉ cần kiểm tra, đối chiếu nội dung D/O với vận đơn là đủ, nhằm phát hiện sai sót của D/O( nếu có) và tu chỉnh ngay, tránh trường hợp D/O không có giá trị hiệu lực. Vậy khi nhận lệnh, nhân viên giao nhận cần đối chiếu lệnh với vận đơn ngay khi còn ở đại lý hãng tàu những nội dung chủ yếu sau: tên tàu; số vận đơn; tên và địa chỉ người nhận hàng; người gởi hàng; tên hàng; loại hàng; cảng bốc; cảng dỡ.

    Đặc biệt nhân viên giao nhận phải chú ý thời hạn hiệu lực của D/O trong vấn đề lưu kho, lưu bãi, lưu container( có hãng tàu miễn phí, có hãng tàu tính phí sau khi D/O hết hiệu lực) để mà sắp xếp thời gian hợp lý, tiến hành làm thủ tục nhận hàng tránh tình trạng phát sinh thêm các chi phí này, do D/O quá hạn hiệu lực lấy hàng.

    Bước 6: Làm thủ tục hải quan và đưa hàng về kho VOSA Sài Gòn hoặc giao cho người nhận hàng.

    Nhân viên giao nhận cần chuẩn bị bộ hồ sơ và làm thủ tục hải quan. Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan, nhân viên giao nhận cần tìm lô hàng nhập đang ở đâu để dẫn kiểm hóa viên đến kiểm tra hàng hóa.

    + Nếu là hàng lẻ( LCL) : Nếu là hàng lẻ thì nhân viên giao nhận vào kho CFS( Container Freight Station) gặp thủ kho trình D/O yêu cầu biết vị trí hàng để kiểm hóa. Nhân viên giao nhận chuẩn bị xe, kho( của công ty dịch vụ giao nhận) và liên lạc với người nhận hàng, thông tin cho người nhận ngày giờ dự tính sẽ giao hàng, để người nhận bố trí kho, nhân viên để nhận hàng. Nhân viên giao nhận điều xe vào kho CFS( Container Freight Station). Trong khi chờ xe vào kho, nhân viên giao nhận tới thương vụ trình D/O, yêu cầu giao hàng CFS, có cảng thì thương vụ cho ra phiếu xuất kho, ví dụ cảng Vict (Kp5 Đường A5, Phường Tân Thuận Đông, Quận 7, Hồ Chí Minh), có cảng thì thương vụ đóng dấu lên D/O: “ Đề nghị giao hàng CFS”. Ví dụ Tân Cảng. Sau đó nhân viên giao nhận cầm phiếu xuất kho vào kho CFS (nếu D/O có đóng dấu: “ đề nghị giao hàng CFS” cho thủ kho thì thủ kho sẽ ra phiếu xuất kho) trình cho thủ kho. Tiến hành bốc hàng lên xe sau chở về kho của VOSA Sài Gòn.

    +  Nếu là hàng nguyên container (FCL) : Nếu là hàng nguyên container thì nhân viên giao nhận chạy ra bãi container, tìm xem container đang ở vị trí nào, nếu như container đang ở trên cao, hoặc đang ở dưới đất mà không thể mở nắp container ra để kiểm hóa viên kiểm tra hàng thì nhân viên giao nhận tới phòng điều độ trình D/O, yêu cầu hạ container xuống để kiểm hóa, tiện thể yêu cầu điều độ viên đóng dấu:“cắt seal”. Lúc nhân viên giao nhận yêu cầu hạ container nếu ở Tân Cảng thì phải cho điều độ viên phí hạ container, 1 container 20’ là 10.000 VNĐ, 1 container 40’ là 15.000 VNĐ. Phí này thuộc dạng như tiền bo, không có hóa đơn hay biên lai thu, còn nếu ở các cảng khác hay ở ICD thì không phải đóng phí này, dĩ nhiên nếu container đang ở dưới đất mà có thể mở nắp container ra dễ dàng thì không phải nhờ điều độ viên hạ container.

    Nhân viên giao nhận điều xe ra bãi container.

    Sau đó vào đại lý hãng tàu( thường thì trong cảng và ICD đều có) trình D/O, yêu cầu lấy nguyên container về hay rút ruột tại bãi, đại lý hãng tàu sẽ thu tiền cược container, ra biên lai cược thu tiền cược khoảng 400.000 VNĐ/container 20’ và khoảng 1.200.000 VNĐ/container 40’ đồng thời đóng dấu vào D/O là “ lấy nguyên container” hay “ rút ruột tại bãi” và dấu của đại lý hãng tàu, đóng tiền cược container và giữ phiếu thu tiền cược.

    Nhân viên giao nhận đem D/O đó vào thương vụ, trình D/O xin rút ruột tại bãi hoặc xin đem container về. Thương vụ sẽ thu tiền và ra hóa đơn, lúc này mã số thuế và tên doanh nghiệp trên hóa đơn là của công ty VOSA Sài Gòn. Nếu doanh nghiệp đem container về thì trình hóa đơn cho phòng giao nhận container, lấy phiếu giao nhận container và ra bãi container để tiến hành bốc container đem về hay rút ruột tại bãi, tiến hành cho bốc hàng lên xe. Giao cho người nhận hoặc chở về kho thuộc VOSA Sài Gòn

    Bước 7: Phát bộ chứng từ cho người nhận hàng và thu các phí khác

    Khi người nhận hàng xuất trình các giấy tờ và đóng đầy đủ các phí, VOSA Sài Gòn sẽ phát hành hóa đơn thu phí và phát bộ chứng từ cho người nhận hàng tới kho VOSA để nhận hàng đối với hàng lẻ hoặc tới cảng hoặc kho nhận container đối với hàng nguyên container.

    Bước 8: Trả container rỗng

    Nếu trường hợp đem container về thì sau khi dỡ hàng ra, người nhận hàng cho xe chở container rỗng về trả tại cho VOSA Sài Gòn để nhân viên giao nhận tới nơi mà trên phiếu cược công đã đề cập, cầm theo mẫu hạ container rỗng trình cho nơi trả container, nơi này sẽ giữ lại phiếu hạ container rỗng, thu tiền hạ rỗng và sẽ cấp lại một phiếu thể hiện tình trạng container ví dụ là container sạch, tốt, không hư hỏng v.v…

    Người giao nhận cầm phiếu này cùng với giấy cược container lại đại lý hãng tàu để nhận lại tiền cược container.

    Bước 9: Thông báo cho Đại lý nước ngoài và lưu hồ sơ

    Sau khi đã phát bộ chứng từ cho người nhận hàng, VOSA Sài Gòn sẽ thông báo cho đại lý nước ngoài về việc trên bằng e-mail.

    Bước 10: Thanh quyết toán với tài vụ

    Vào cuối mỗi tháng sẽ tiến hành thanh quyết toán với Tài vụ về các chi phí liên quan đến các lô hàng nhập trong tháng căn cứ trên hóa đơn, chứng từ thu chi.

    Thường thì ngoài những chi phí hợp pháp có hóa đơn chứng từ thu, còn xuất hiện những chi phí phụ, tất cả những loại phí này điều được doanh nghiệp khoán cho nhân viên giao nhận. Sau đây là điển hình những phí (VNĐ) phải bỏ ra để doanh nghiệp hoàn tất giao dịch:

    Phí kẹp vào bộ hồ sơ làm thủ tục thông quan: 50.000 – 100.000.

    Phí cho kiểm hóa viên: 300.000/container. Nhiều container thì phí giảm xuống ví dụ có 10 container thì chi khoảng 1.000.000. Tùy theo tính chất hàng và số lượng container.

    Phí cho đội thuế: khoảng 30.000.

    Phí cho đối chiếu lệnh: 10.000/ container.

    Phí cho xe nâng: 1 container 40’ 40.000, 1 container 20’ 20.000.

    Phí cho hạ container: 10.000/ container 20’, 15.000/ container 40’.

    Tài xế cho mỗi xe nâng: 10.000.

    Phí cho hải quan cổng: 10.000/ 1 xe ra cổng.

    Những mức phí trên chỉ mang tính tương đối, tùy hải quan khu vực mà có loại phí, có loại không có và giá khác nhau.

    Section 3.02           II. Điểm khác biệt của quy trình giao nhận hàng xuất khẩu trên thực tế và lý thuyết

    Thứ nhất, trên lý thuyết việc giao nhận hàng hóa chủ yếu thực hiện trên vận đơn gốc, tuy nhiên như ta thấy ở quy trình trên, việc trao đổi chứng từ lại chủ yếu là vận đơn surrender. Việc làm này, sẽ giúp tiết kiệm được thời gian, tiền bạc cho Đại lý Vận tải cũng như với doanh nghiệp.

    Thứ hai, trên lý thuyết thì việc làm thủ tục Hải quan là do người gửi hàng đảm trách. Nhưng trên thực tế công việc này có thể do nhân viên của Đại lý Hàng hải Vosa làm. Việc này được làm theo yêu cầu của khách hàng( người nhận hàng nhập khẩu), và khách hàng sẽ phải trả thêm một khoản phí cho người giao nhận.

    Tuy có những điểm khác biệt như trên nhưng trong quá trình làm việc vẫn luôn có sự kết hợp hài hòa giữa  thực tế và lý thuyết mà không tạo ra những khác biệt rõ rệt. Nên về căn bản thì quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng container đường biển tại VOSA Sài Gòn không khác gì nhiều so với lý thuyết, chỉ đơn thuần là sự hoàn thiện và cắt giảm một số khâu cho phù hợp.

    Section 3.03           III. Đánh giá chung về tổ chức giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng container đường biển ở công ty VOSA Sài Gòn

    (a)   1. Thành tựu

    Nhân tố chủ chốt không thể thiếu trong quá trình giao nhận là đội ngũ nhân viên  tại VOSA Sài Gòn nhưng góp phần quan trọng nhất là Phòng Đại lý vận tải. VOSA Sài Gòn có 118 nhân viên, trong đó tỷ lệ nhân viên nam chiếm 69,5%, tỷ lệ nhân viên nữ chiếm 30,5%. Trình độ của nhân viên: số nhân viên có trình độ đại học và sau đại học chiếm 58,45%, đây cũng là một lợi thế mà VOSA Sài Gòn có được. Hơn nữa, đội ngũ nhân viên trong công ty có nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn nên tạo điều kiện thuận lợi cho các công việc trong công ty.Từ việc tìm kiếm khách hàng, nhận hàng, liên hệ với Đại lý Hãng tàu, giao nhận hàng… đã được thực hiện một cách chuyên nghiệp. Tuy lực lượng còn mỏng nhưng với trình độ kinh nghiệm nhiều năm trong ngành mọi tình huống khó nhất đều được giải quyết một cách nhanh chóng và mang lại sự hài lòng cho khách hàng.

    Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về mặt thời gian, địa điểm, đảm bảo được an toàn cho hàng hóa trong quá trình đóng hàng cũng như vận chuyển hàng đến tay người nhận hàng. Thông tin nhanh, chính xác nên không làm ảnh hưởng đến tiến độ của hoạt động giao nhận. Minh chứng cho điều này là kết quả phục vụ của VOSA Sài Gòn trong 3 năm 2008- 2010 (theo bảng 1.1).

    Mặc dù có nhiều vấn đề còn tồn đọng nhưng hoạt động giao nhận tại VOSA Sài Gòn vẫn diễn ra nhộn nhịp và được khách hàng tin tưởng, chính vì vậy doanh thu hàng năm luôn tăng lên và đạt 22.805.698.000 đồng (2008), 25.232.315.000 đồng (2009), 27.917.765.000 đồng (2010).

    (b)   2. Hạn chế

    Bên cạnh những thành tựu mà VOSA Sài Gòn đã gặt hái được trong nhiều năm qua, hoạt động của công ty vẫn còn một số vấn đề tồn tại và đáng quan tâm như sau:

    Hầu hết tại VOSA Sài Gòn ít đảm nhiệm công tác khai Hải quan cho khách hàng vì lượng khách hàng tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Bình Dương, Đồng Nai nên tình trạng Hải quan làm khó dễ trong quá trình giao nhận do việc hàng hóa không khớp với tờ khai.

    Tại Phòng Đại lý Vận tải chỉ có 1 máy photocopy, 2 máy fax, 2 máy in và 1 máy scan nhưng chúng đã được dùng lâu năm nên khác lạc hậu. Lượng giấy tờ và chứng từ và giấy tờ rất nhiều nên chúng phải hoạt động liên tục. Do đó, thường xuyên xảy ra các trục trặc kỹ thuật, mất thời gian để chờ chúng hoạt động trở lại. Các trang thiết bị này làm việc rất chậm và thường không đáp ứng được số lượng nhiều. Ngoài ra hệ thống máy vi tính là trung tâm của mọi hoạt động nhưng cũng bị xuống cấp, hiện nay Phòng Đại lý Vận tải có 16 máy vi tính, trong đó có 12 máy đã quá cũ và lạc hậu nên không đáp ứng được tốc độ xử lý nhanh công việc, thường xảy ra các lỗi như bị virus, mạng quá tải nên phải mất thời gian chờ xử lý.

    Với diện tích bãi Container là 8.000m2 số container lưu kho còn quá mỏng, tăng chậm. Năm 2008, số container được kéo vào bãi để đóng hàng đều do thuê từ Đại lý Hãng tàu nên số lượng còn ít vì chi phí quá tốn kém. Đến năm 2009, VOSA Sài Gòn đã trang bị được 2 xe đầu kéo container, 1 xe nâng, 4 xe xếp hàng nên số lượng đã tăng lên 12,5% so với năm 2008. Trong năm 2010, VOSA Sài Gòn trang bị thêm 2 xe đầu kéo container, 4 xe xếp hàng nhưng số lượng container chỉ tăng 34,8% so với năm 2009.

    Điều này chứng tỏ, VOSA Sài Gòn chưa khai thác hết năng lực hiện có của mình cả trong kho và ngoài bãi container. Trong kho, máy móc thiết bị được trang bị nhưng đôi khi diện tích trống khá nhiều, lượng hàng hư hỏng vẫn còn đáng kể. Ngoài bãi container, xe chuyên dụng đã được trang bị nhưng lượng container lưu tại bãi còn thưa thớt, nhiều xe xếp hàng còn lạnh máy.

    Hiện công ty chưa có phòng marketing riêng, cũng như hoạt động này còn rất hạn chế so với các công ty giao nhận khác. Khách hàng của VOSA Sài Gòn chủ yếu là các khách hàng lâu năm, hoặc khách hàng do đại lý giao nhận ở nước ngoài chỉ định. Thêm vào đó là thiếu một lực lượng nhân sự giỏi ngoại ngữ để giao dịch, đàm phán với các đối tác nước ngoài.

    Một số vấn đề như sai chi tiết, thiếu thông tin hàng hóa, sự cố trong việc tiếp nhận thông tin hay chuyên chở hàng hóa. Điều này gây lãng phí và tốn kém về thời gian, tiền bạc, nhân lực và nhất là uy tín của công ty.

    Hiện công ty vẫn thiếu một lực lượng nhân sự giỏi ngoại ngữ để giao dịch, đàm phán với các đối tác nước ngoài nên đôi khi việc gặp gỡ đối tác vẫn còn hạn chế về mặt giao tiếp.

    Hàng hóa nhập khẩu thường bị thụ động về thông tin, thiếu thông tin hoặc chứng từ do không liên lạc được với đại lý nước ngoài. Do đó, đôi khi dẫn đến chậm trễ trong việc làm thủ tục hải quan, hay hàng về đến cảng chậm hơn dự kiến mà hãng tàu không thông báo kịp thời đến khách hàng… Đây cũng là tình trạng chung của một số hãng giao nhận khác.

    Công ty chưa chủ động trong việc tìm kiếm khách hàng, còn phụ thuộc khá nhiều vào các đại lý và hãng tàu nước ngoài.

    Bên cạnh đó, VOSA Sài Gòn chưa có kho bãi riêng nên phải đi thuê kho bãi từ các công ty khác. Điều này đồng nghĩa với việc công ty mất một khoản thu nhập từ việc cho thuê kho bãi và mất thêm một khoản phí thuê kho bãi riêng cho hàng hóa.

    Article IV. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU BẰNG CONTAINER ĐƯỜNG BIỂN TẠI VOSA SÀI GÒN

    Section 4.01    I. Mục tiêu và phương hướng phát triển của VOSA trong thời gian tới

    Năm 2010- 2011, Sau khi nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng bất ổn định tài chính, bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007, cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, tiếp tục gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại ở hầu hết các nước khác. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, thêm vào đó tình hình lạm phát và bất ổn của nền kinh tế tạo ra thêm nhiều khó khăn cho doanh nghiệp. Do đó, điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới khách hàng của công ty giao nhận hay đại lý vận tải. Chính vì vậy, đòi hỏi các ngành nghề trong hệ thống kinh tế Việt Nam nói chung và VOSA Sài Gòn nói riêng phải nắm sát diễn biến thị trường và có những biện pháp kịp thời trong thời gian tới.

    Duy trì và phát triển các loại hình dịch vụ truyền thống trên cơ sở phát huy lợi thế kinh doanh của đơn vị VOSA Sài Gòn. Tiếp tục duy trì thị phần đại lý tàu rời, đồng thời gia tăng thêm công việc và sản lượng của đại lý vận tải và đại lý liner. Phát triển các loại hình dịch vụ mới: đại lý chuyển tải dầu, dịch vụ logistics, cho thuê kho bãi, đại lý thủ tục hải quan, kinh doanh khai thác tàu container, sản xuất vỏ container…

    Mở rộng công tác tiếp thị cả trong và ngoài nước. Giữ chặt mối quan hệ với chủ tàu, người ủy thác, các chủ hàng xuất nhập để giành thêm các hợp đồng mới. Đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo, điều hành hai lĩnh vực quan trọng nhất là kinh doanh và tài chính đối với đơn vị VOSA Sài Gòn. Duy trì, phát huy quyền tự chủ kinh doanh, mở rộng, phát triển sản xuất của VOSA Sài Gòn trên cơ sở chiến lược chung có tính đến hiệu quả đầu tư và sự phân công phạm vi, lĩnh vực, thị trường cho từng đơn vị.

    Đưa ra những chính sách giá hợp lý hơn để nâng cao tính cạnh tranh với các đại lý khác, những chính sách ưu đãi cho thân chủ và đại diện hãng tàu để được sự ủng hộ hơn của đại diện đối với công ty VOSA Sài Gòn.

    Nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ, tự hoàn thiện hơn nữa về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ. Đưa cán bộ, nhân viên đi tập huấn trong và ngoài nước. Đảm bảo mức tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của VOSA Sài Gòn trên thị trường dịch vụ hàng hải.

    Section 4.02           II. Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giao nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển.

    (a)   1. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, cải thiện bộ máy quản lý

    Nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên trong công ty, đặc biệt là trình độ về ngoại ngữ bằng cách tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo các khóa ngắn ngày trong công ty, mời các chuyên gia đến để giảng dạy. Không chỉ nâng cao trình độ nghiệp vụ mà nhân viên cũng cần phải học hỏi để nắm bắt việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc.

    Xây dựng cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm người có năng lực đảm nhận các vị trí chủ chốt theo hướng trẻ hóa cán bộ, tuyển dụng thêm nhân viên mới có trình độ chuyên môn giỏi, có thể liên kết với các trường đại học trong thành phố để tuyển dụng được những nhân viên xuất sắc cho công ty, và đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho họ ngay từ khi mới tuyển dụng.

    Duy trì thái độ giao tiếp, ứng xử chu đáo, nhiệt tình với khách hàng để tạo ấn tượng tốt đối với khách hàng. Cần có chế độ đãi ngộ tương xứng đối với các cán bộ nhân viên trong công ty để toàn VOSA Sài Gòn có thể hoạt động năng động và hiệu quả nhất. Tạo bầu không khí làm việc năng động, đoàn kết và thoải mái trong công ty để tao ra hiệu quả cao trong công việc. Có thể tổ chức các buổi dã ngoại cho toàn thể nhân viên trong công ty vào dịp Lễ như 8/3, 20/10, 26/3…, hoặc tổ chức đi du lịch trong nước 1 tuần/ năm cho nhân viên và gia đình họ vào dịp hè…

    (b)   2. Mở rộng thị trường hoạt động trong nước và quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ

    Hiện nay VOSA Corporation có tất cả 14 chi nhánh hoạt động rải khắp cả nước, trong đó VOSA Sài Gòn là chi nhánh hoạt động mạnh nhất. Các chi nhánh cần liên kết chặt chẽ với nhau để tạo nên một khối vững chắc, làm cơ sở cho việc tổ chức theo mô hình công ty mẹ -con ty con trong những năm sau. Vì có đứng vững ở thị trường trong nước mới có thể mở rộng sang thị trường nước ngoài, đặc biệt là các thị trường lớn như EMEA, Châu Mỹ… Để thực hiện được điều này VOSA Sài Gòn cần có mối quan hệ tốt với các hãng tàu ở trong nước và nước ngoài, phát triển hoạt động marketing nhắm vào các thị trường tiềm năng để xây dựng thương hiệu cho VOSA ở thị trường nước ngoài, chuẩn bị nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn quốc tế để thực hiện việc mở rộng thị trường.

    Việc liên doanh với các hãng tàu hay các công ty logistics lớn như NYK, China Shipping,… tạo điều kiện thuận lợi cho VOSA Sài Gòn dễ dàng trong giao dịch song phương giữa các quốc gia. Càng có nhiều mối quan hệ thì VOSA Sài Gòn càng có cơ hội mở rộng thị trường, các hoạt động diễn ra nhanh chóng, dễ dàng hơn, giảm được chi phí, đem lại lợi nhuận và uy tín cho công ty.

    (c)   3. Đầu tư cải tiến cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin liên lạc

    Cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc là điều kiện thiết yếu cấu thành nên sự thành công của doanh nghiệp nhất là trong hoạt động giao nhận vì lĩnh vực này đòi hỏi rất nhiều khâu, nhiều công đoạn.

    Hiện nay, tại VOSA Sài Gòn cơ sở vật chất khá thiếu thốn, trang thiết bị cho nhân viên làm việc tại văn phòng đã dần lạc hậu. Vì vậy, đòi hỏi một đại lý giao nhận như VOSA Sài Gòn muốn đứng vững được trên thị trường giao nhận khốc liệt như hiện nay cần phải có những chính sách hoàn thiện.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Vận chuyển và giao nhận hàng hóa

    Tiểu luận Vận chuyển và giao nhận hàng hóa

    Tiểu luận Vận chuyển và giao nhận hàng hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:GIAO NHẬN VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-V%E1%BA%ADn-chuy%E1%BB%83n-v%C3%A0-giao-nh%E1%BA%ADn-h%C3%A0ng-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Vận chuyển và giao nhận hàng hóa

    GIAO NHAN HANG HOA

    Trình tự giao hàng xuất khẩu

    Ðối với hàng xuất khẩu phải lưu kho, bãi của cảng
    Việc giao hàng gồm 2 bước lớn: chủ hàng ngoại thương (hoặc người cung cấp trong nước) giao hàng xuất khẩu cho cảng, sau đó cảng tiến hành giao hàng cho tàu.
    1. Giao hàng XK cho cảng:
    – Giao Danh mục hàng hoá XK ( Cargo List) và đăng ký với phòng điều độ để bố trí kho bãi và lên phương án xếp dỡ
    – Chủ hàng liên hệ với phòng thương vụ để ký kết hợp đồng lưu kho, bốc xếp hàng hoá với cảng
    – Lấy lệnh nhập kho và báo với hải quan và kho hàng,
    – Giao hàng vào kho, bãi của cảng.
    2. Giao hàng XK cho tàu:
    – Chuẩn bị trước khi giao hàng cho tàu:
    + Kiểm nghiệm, kiểm dịch (nếu cần), làm thủ tục hải quan
    + Báo cho cảng ngày giờ dự kiến tàu đến (ETA), chấp nhận Thông báo sẵn sàng
    + Giao cho cảng Danh mục hàng hoá Xk để cảng bố trí phương tiện xếp dỡ. Trên cơ sở Cargo List này, thuyền phó phụ trách hàng hoá sẽ lên Sơ đồ xếp hàng ( Cargo plan)
    + Ký hợp đồng xếp dỡ với cảng,
    – Tổ chức xếp và giao hàng cho tàu.
    + Trước khi xếp phải vận chuyển hàng từ kho ra cảng, lấy lệnh xếp hàng, ấn định số máng xếp hàng, bố trí xe và công nhân và người áp tải (nếu cần)
    + Tiến hành giao hàng cho tàu. Việc xếp hàng lên tàu do công nhân cảng làm. Hàng sẽ được giao cho tàu dưới sự giám sát của đại diện của hải quan. Trong quá trình giao hàng, nhân viên kiểm đếm của cảng phải ghi số lượng hàng giao vào Final Report. Phía tàu cũng có nhân viên kiểm đếm và ghi kết quả vào Tally Sheet.
    + Khi giao nhận một lô hoặc toàn tàu, cảng phải lấy Biên lai thuyền phó (Mate’s Receipt) để lập vận đơn.
    Sau khi xếp hàng lên tàu, căn cứ vào số lượng hàng đã xếp ghi trong Tally Sheet, cảng sẽ lập Bản tổng kết xếp hàng lên tàu (General Loading Report) và cùng ký xác nhận với tàu. Ðây cũng là cơ sở để lập B/L.
    – Lập bộ chứng từ thanh toán.
    Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C, cán bộ giao nhận phải lập hoặc lấy các chứng từ cần thiết để tập hợp thành bộ chứng từ thanh toán, xuất trình cho ngân hàng để thanh toán tiền hàng.
    Bộ chứng từ thanh toán theo L/C thường gồm: B/L. hối phiếu, hoá đơn thương mại, giấy chứng nhận phẩm chất, Giấy chứng nhận xuất xứ, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận trọng lượng, số lượng..
    Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng hoá nếu cần.
    – Thanh toán các chi phí cần thiết cho cảng như chi phí bốc hàng, vận chuyển, bảo quản, lưu kho.
    – Tính toán thường phạt xếp dỡ, nếu có
    .

    Ðối với hàng hóa không lưu kho bãi tại cảng
    Ðây là các hàng hoá XK do chủ hàng ngoại thương vận chuyển từ các kho riêng của mình hoặc từ phương tiện vận tải của mình để giao trực tiếp cho tàu . Các bước giao nhận cũng diễn ra như đối với hàng qua cảng. Sau khi đã đăng ký với cảng và ký kết hợp đồng xếp dỡ, hàng cũng sẽ được giao nhận trên cơ sở tay ba ( cảng, tàu và chủ hàng). Số lượng hàng hoá sẽ được giao nhận, kiểm đếm và ghi vào Tally Sheet có chữ ký xác nhận của ba bên.

    Ðối với hàng XK đóng trong container
    * Nếu gửi hàng nguyên( FCL/FCL)
    – Chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác điền vào Booking Note và đưa cho đại diện hãng tàu hoặc đại lý tàu biển để xin ký cùng với Danh mục hàng XK.
    – Sau khi ký Booking Note, hãng tàu sẽ cấp lệnh giao vỏ container để chủ hàng mượn và giao Packing List và Seal;
    – Chủ hàng lấy container rỗng về địa điểm đóng hàng của mình- – Chủ hàng mời đại diện hải quan, kiểm nghiệm, kiểm dịch, giám định( nếu có) đến kiểm tra và giám sát việc đóng hàng vào container. Sau khi đóng xong, nhân viên hải quan sẽ niêm phong kẹp chì container. Chủ hàng điều chỉnh lại Packing List và Cargo List, nếu cần;
    – Chủ hàng vận chuyển và giao container cho tàu tại CY quy định hoặc hải quan cảng, trước khi hết thời gian quy định  ( closing time) của từng chuyến tàu ( thường là 8 tiếng trước khi bắt đầu xếp hàng) và lấy Mate’s Receipt;
    – Sau khi hàng đã được xếp lên tàu thì mang Mate’s Receipt để đổi lấy vận đơn.
    * Nếu gửi hàng lẻ (LCL/LCL)
    – Chủ hàng gửi Booking Note cho hãng tàu hoặc đại lý của hãng tàu, cung cấp cho họ những thông tin cần thiết về hàng xuất khẩu. Sau khi Booking Note được chấp nhận, chủ hàng sẽ thoả thuận với hãng tàu về ngày, giờ, địa điểm giao nhận hàng;
    -Chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác mang hàng đến giao cho người chuyên chở hoặc đại lý tại CFS hoặc ICD
    – Các chủ hàng mời đại diện hải quan để kiểm tra, kiểm hoá và giám sát việc đóng hàng vào container của người chuyên chở hoặc người gom hàng. Sau khi hải quan niêm phong, kẹp chì container, chủ hàng hoàn thành nốt thủ tục để bốc container lên tàu và yêu cầu cấp vận đơn,
    – Người chuyên chở xếp container lên tàu và vận chuyển đến nơi đến;
    – Tập hợp bộ chứng từ để thanh toán.

    Trình tự nhận hàng nhập khẩu

    Ðối với hàng phải lưu kho, lưu bãi tại cảng
     1. Cảng nhận hàng từ tàu:
    – Trước khi dỡ hàng, tàu hoặc đại lý phải cung cấp cho cảng Bản lược khai hàng hoá (Cargo Manifest), sơ đồ hầm tàu để cảng và các cơ quan chức năng khác như Hải quan, Ðiều độ, cảng vụ tiến hành các thủ tục cần thiết và bố trí phương tiện làm hàng;
    – Cảng và đại diện tàu tiến hành kiểm tra tình trạng hầm tàu. Nếu phát hiện thấy hầm tàu ẩm ướt, hàng hoá ở trong tình trạng lộn xộn hay bị hư hỏng, mất mát thì phải lập biên bản để hai bên cùng ký. Nếu tàu không chịu ký vào biên bản thì mời cơ quan giám định lập biên bản mới tiến hành dỡ hàng
    – Dỡ hàng bằng cần cẩu của tàu hoặc của cảng và xếp lên phương tiện vận tải để đưa về kho, bãi. Trong quá trình dỡ hàng, đại diện tàu cùng cán bộ giao nhận cảng kiểm đếm và phân loại hàng hoá cũng như kiểm tra về tình trạng hàng hoá và ghi vào Tally Sheet;
    – Hàng sẽ được xếp lên ô tô để vận chuyển về kho theo phiếu vận chuyển có ghi rõ số lượng, loại hàng, số B/L;
    – Cuối mỗi ca và sau khi xếp xong hàng, cảng và đại diện tàu phải đối chiếu số lượng hàng hoá giao nhận và cùng ký vào Tally Sheet;
    – Lập Bản kết toán nhận hàng với tàu ( ROROC) trên cơ sở Tally Sheet. Cảng và tàu đều ký vào Bản kết toán này, xác nhận số lương thực giao so với Bản lược khai hàng (Cargo Manifest) và B/L;
    – Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận như Giấy chứng nhận hàng hư hỏng (COR) nếu hàng bị hư hỏng hay yêu cầu tàu cấp Phiếu thiếu hàng (CSC), nếu tàu giao thiếu.
    2. Cảng giao hàng cho chủ hàng:
    – Khi nhận được thông báo hàng đến, chủ hàng phải mang vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để nhận lệnh giao hàng(D/O- Delivery order). Hãng tàu hoặc đại lý giữ lại vận đơn gốc và trao 3 bản D/O cho người nhận hàng;
    – Chủ hàng đóng phí lưu kho, phí xếp dỡ và lấy biên bản;

     

    – Chủ hàng mang biên lai nộp phí, 3 bản D/O cùng Invoice và Packing List đến văn phòng quản lý tàu tại cảng để ký xác nhận D/O và tìm vị trí hàng, tại đây lưu 1 bản D/O;

    – Chủ hàng mang 2 bản D/O còn lại đến bộ phận kho vận để làm phiếu xuất kho. Bộ phận này giữ một D/O và làm hai phiếu xuất kho cho chủ hàng;
    – Chủ hàng làm thủ tục hải quan
    Sau khi hải quan xác nhận hoàn thành thủ tục hải quan chủ hàng có thể mang ra khỏi cảng và chở hàng về kho riêng.

    Ðối với hàng không lưu kho, bãi tại cảng
    Khi chủ hàng có khối lượng hàng hoá lớn chiếm toàn bộ hầm hoặc tàu hoặc hàng rời như phân bón, xi măng, clinker, than quặng, thực phẩm…thì chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác có thể đứng ra giao nhận trực tiếp với tàu.

    Trước khi nhận hàng, chủ hàng phải hoàn tất các thủ tục hải quan và trao cho cảng B/L, lệnh giao hàng( D/O). Sau khi đối chiếu với Bản lược khai hàng hoá Manifest, cảng sẽ lên hoá đơn cước phí bốc xếp và cấp lệnh giao hàng thẳng để chủ hàng trình cán bộ giao nhận cảng tại tàu để nhận hàng.

    Sau khi nhận hàng, chủ hàng và giao nhận cảng cùng ký bản tổng kết giao nhận và xác nhận số lượng hàng hoá đã giao nhận bằng Phiếu giao hàng kiêm phiếu xuất kho. Ðối với tàu vẫn phải lập Tally sheet và ROROC như trên.
    Ðối với hàng nhập bằng container
    1. Nếu là hàng nguyên (FCL/FCL)
    – Khi nhận được thông báo hàng đến ( Notice of arrival), chủ hàng mang B/L gốc và giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để lấy D/O;
    – Chủ hàng mang D/O đến hải quan làm thủ tục và đăng ký kiểm hoá 9 chủ hàng có thể đề nghị đưa cả container về kho riêng hoặc ICD để kiểm tra hải quan nhưng phải trả vỏ container đúng hạn nếu không sẽ bị phạt;
    – Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan, chủ hàng phải mang toàn bộ chứng từ nhận hàng cùng D/O đến Văn phòng quản lý tàu tại cảng để xác nhận D/O;
    – Lấy phiếu xuất kho và nhận hàng.
    2. Nếu là hàng lẻ( LCL/LCL)
    Chủ hàng mang vận đơn gốc hoặc vận đơn gom hàng đến hãng tàu hoặc đại lý của người gom hàng để lấy D/O, sau đó nhận hàng tại CFS quy định và làm các thủ tục như trên.

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu) 

    Hợp đồng tàu chuyến

    1. Tên và địa chỉ người thuê tàu, người vận chuyển.
    2. Quy định về tàu:
    – Tên tàu
    – Cờ tàu
    – Năm đóng
    – Trọng tải
    – Dung tích đăng ký toàn phần và dung tích đăng ký tịnh
    – Loại hạng của tàu
    – Cơ quan đăng kiểm khả năng đi biển
    – Vị trí của tàu lúc ký hợp đồng
    3. Thời gian tàu đến cảng xếp: phải quy định rõ khoảng thời gian
    – Nếu tàu đến chậm quá quy định, người thuê tàu có quyền huỷ hợp đồng (tuỳ theo sự thoả thuận).
    – Tàu được xem như đã đến cảng nếu xảy ra một trong ba trường hợp sau:
    + Tàu đã cập cầu cảng hoặc đến vùng thương mại của cảng quy định trong C/P
    + Tàu đã sẵn sàng để xếp hoặc dỡ hàng của người thuê
    + Tàu đã trao thông báo sẵn sàng NOR (Notice of Readiness) cho người được ghi trong C/P (tức người thuê)
    4. Quy định về hàng:
    – Tên hàng
    – Loại bao bì
    – Trọng lượng (có dung sai)
    – Thể tích
    Lưu ý:
    – Ðơn vị trọng lượng có thể dùng MT (Metric Ton: 1000kg), tấn dài (Long Ton: 1016kg) hay tấn ngắn (Short Ton: 907kg).
    – Về thể tích có thể dùng mét khối hay tấn khối Anh (CFT).

    Chủ tàu được lựa chọn hoặc dùng trọng lượng hay thể tích để tính tiền cước điều nào có lợi cho họ.
    Nếu người thuê tàu cung cấp không đủ số lượng hàng quy định, cũng phải chịu cước như hàng đã đầy tàu. Nếu có chèn lót, cần quy định ai chịu chi phí và cung cấp vật liệu chèn lót (chủ tàu hay người thuê tàu)
    5. Cảng xếp dỡ:
    Có thể là một hay nhiều cảng hoặc ở một khu vực hay một nhóm cảng.
    – Cảng xếp phải là cảng an toàn về hàng hải và chính trị tức là phải đủ độ sâu để tàu luôn nổi hoặc nếu chạm bùn vẫn đảm bảo an toàn cho tàu và không có chiến tranh, đình công, bạo loạn.
    6. Chi phí xếp dỡ hàng:
    Bốn cách chủ yếu quy định ai phải chịu chi phí xếp dỡ:
       – Theo điều kiện tàu chợ (Liner Terms): người vận chuyển phải chịu trách nhiệm và chi phí xếp dỡ hàng. Các chi phí xếp dỡ đã được tính gộp trong giá cước thuê tàu. Theo cách này, mức xếp dỡ được quy định theo tập quán của cảng (người ta ghi According to customs of port hoặc With all despatch hoặc customary quick despatch chứ không quy định tiền thưởng phạt xếp dỡ nhanh hay chậm như thuê tàu chuyến
    Theo điều kiện miễn xếp (Free In: FI): Chủ tàu được miễn phí xếp xuống tàu, nhưng phải chịu phí dỡ hàng tại cảng đến.
    Theo điều kiện miễn dỡ (Free Out: FO): chủ tàu được miễn phí dỡ hàng khỏi tàu tại cảng đến nhưng phải chịu chi phí xếp hàng xuống tàu tại cảng xếp.
    Theo điều kiện miễn xếp. dỡ (Free In and Out: FIO): Người thuê tàu phải chịu các phí chi phí xếp hàng xuống tàu tại cảng xếp cũng như phí dỡ hàng khỏi tàu tại cảng dỡ..
    Ngoài ra còn quy định chi phí san hàng (Trimming) đối với hàng rời và xếp đặt (Stowage) đối với hàng có bao bì ở hầm tàu do ai chịu.
    Nếu chủ tàu được miễn phí xếp dỡ, san xếp thì ghi FIOST ở sau giá cước. Thí dụ: Freight: USD 15/MT, FIOST
    7. Cước phí và thanh toán:
    – Giá cước: Trong hợp đồng cần ghi rõ giá cước, loại tiền thanh toán; đồng thời đơn vị tính cước là theo trọng lượng hay thể tích đều có thể dùng chung một đơn vị là tấn cước (Freight Ton).
    Khi ấn định giá cước, cần xác định ai chịu phí xếp, dỡ và chi phí xếp hàng dưới tàu.
           Thí dụ : Freight: USD 30 FIO and Stowed Per Metric Ton (Giá cước là 30 đôla Mỹ một tấn mét, chủ tàu được miễn phí xếp dỡ và xếp   hàng dưới tàu) hoặc USD 30 M3 FIO (30 đôla Mỹ một mét khối , miễn phí xếp dỡ).
    Nếu tính cước theo trọng lượng, cũng cần ghi rõ trọng lượng tính cước phí theo số lượng hàng xếp lên tàu ở cảng xếp hay theo số lượng hàng giao ở cảng đến.
    – Thanh toán tiền cước:
    + Cước phí trả trước (Freight Prepaid): người thuê phải trả toàn bộ tiền cước cho chủ tàu sau khi xếp xong hàng hoặc sau khi ký B/L một số ngày do hai bên quy định nếu bán theo CIF, CF.
          Thí dụ: Cước phí phải trả trong vòng 04 ngày kể từ ngày ký B/L , không được khấu trừ và không hoàn lại dù tàu và/hoặc hàng mất hay không mất (freight to be paid in four days after signing B/L, discountless and not returnable, ship and/or cargo lost or not lost)
    + Cước phí trả sau (Freight to collect):
    Thời điểm trả có thể ấn định:
          Trả tiền trước khi mở hầm tàu để dỡ hàng (freight payable before breaking bulk- b.b.b)

     

          Trả đồng thời với việc dỡ hàng (freight payable concurent ưith discharge)
    Trả sau khi dỡ xong hàng (freight payable after completion of discharge)

    + Trả trước một phần và trả sau một phần (advance freight):
          Thí dụ: trả 80% tiền cước tại cảng xếp sau khi ký B/L, số tiền còn lại trả đứt trong vòng 5 ngày sau khi dỡ hàng xong.
    Việc giữ lại một phần tiền cước nhằm giúp người thuê gây áp lực nếu có tranh chấp, thưởng phạt với hãng tàu.
    Hợp đồng cũng phải quy định tiền cước được thanh toán tại ngân hàng nào, cách thức trả tiền…
    8. Thông báo sẵn sàng NOR (Notice of Readiness):
    Có hai loại thông báo:
    – Thông báo ngày dự kiến tàu đến cảng
    Việc thông báo ngày dự kiến tàu đến cảng trong một khoảng thời gian ngắn (7,5,3 ngày) trước khi tàu đến cảng xếp dỡ là rất cần cho có đủ thời gian làm thủ tục cho tàu ra vào cảng và chuẩn bị xếp dỡ hàng theo đúng lịch trình đã quy định giữa hai bên chủ tàu và người thuê tàu.
    – Thông báo sẵn sàng xếp dỡ hàng.
    Thời gian được phép đưa thông báo sẵn sàng xếp dỡ là thời gian tàu đã đến bến, tàu đã sẵn sàng để nhận hoặc giao hàng.
    Ðối với các mặt hàng ngũ cốc, theo tập quán vận chuyển sản phẩm này, bản thông báo sẵn sàng xếp hàng thường phải kèm theo một biên bản giám định các khoang hầm đã sạch sẽ có thể
    nhận hàng được.
    Thời gian đưa thông báo sẵn sàng xếp dỡ còn tuỳ thuộc vào điều khoản về tàu đến bến.
    + Nếu hợp đồng thuê tàu quy định Tàu đến lượt (In turn hay In regular turn) khi có nhiều tàu phải chờ đợi, bao giờ tàu chở hàng đến lượt mình cập cầu, lúc ấy thuyền trưởng mới được đưa thông báo sẵn sàng xếp dỡ cho người thuê tàu, cũng giống như điều khoản vị trí (berth clause). Nếu thuê tàu nên chọn cách này.
    + Nếu hợp đồng quy định Miễn đến lượt tức là không cần tàu cập cầu (Free turn) hay Thời gian chờ cầu cũng tính (time waiting for berth to count), khi tàu đã sẵn sàng là có thể đưa thông báo sẵn sàng xếp dỡ và người thuê tàu phải chịu trách nhiệm về thời gian tàu chờ cầu để cập cầu.
    + Nếu hợp đồng quy định Ðến lượt không quá 48 giờ tức là đến lượt cập cầu nhưng 48 tiếng rồi mà vẫn chưa cập cầu, tàu cứ đưa NOR (In turn not exceding 48 hours), tàu chỉ chờ tối đa 48 giờ đồng hồ sau đó nếu cần phải chờ nữa, người thuê tàu phải chịu trách nhiệm.
    9. Mức xếp dỡ (Loading/ Discharging Rate): là số lượng đơn vị, trọng lượng hoặc thể tích hàng phải xếp hoặc dỡ trong vòng 01 giờ hay 01 ngày .
    Có hai cách thoả thuận về mức xếp dỡ.
    – Quy định mức xếp dỡ trung bình cho cả tàu là bao nhiêu tấn/ ngày
    – Quy định mức xếp dỡ trung bình cho từng khoảng hầm là bao nhiêu tấn / ngày
    10. Thời gian xếp dỡ (Laytime hay Layday):
    Có hai cách quy định về thời hạn xếp dỡ (Loading/Discharging Laytime):
    – Phân chia thời hạn xếp dỡ làm 2 giai đoạn: Thời hạn xếp và dỡ hàng Cargo to be loaded at the rate of 3000 MT and discharge at the rate of 900 MT per weather working day of 24 hours, sunday and holiday excepted both and even if used (hàng được xếp với mức 3000 tấn và dỡ với mức 900 tấn ngày làm việc nghỉ, có làm cũng không tính (S.H.E.X.E.U)
    – Gộp thời gian xếp dỡ hàng làm một để tính: gọi là thời hạn xếp dỡ bù trừ (reversible laydays) 2000 MT per weather working day of 24 consecutive hours, sundays and holidays excepted unless used (SHEXUU). Như vậy nếu tàu chở 10 000 MT thời hạn xếp dỡ sẽ là: 10 000 MT/ 2000 MT = 5 ngày quy định (5 WWDSHEX UU- Working days sundays holidays excepted, unless used) có nghĩa là 5 ngày làm việc, chủ nhật, ngày lễ được nghỉ nhưng nếu có làm thì tính)
    Ngoài ra, còn quy định thời hạn xếp dỡ được tính từ thời điểm nào:
    Thí dụ: Theo mẫu hợp đồng thuê tàu GENCON, thời hạn xếp dỡ bắt đầu tính từ 1 giờ chiều nếu thông báo sẵn sàng xếp dỡ được trao và chấp nhận trước 12 giờ trưa; bắt đầu tính từ 6 giờ sáng ngày làm việc hôm sau, nếu NOR xếp dỡ được trao trong giờ làm việc buổi chiều ngày hôm trước.

    11. Thưởng phạt về xếp dỡ (Demurage/ Despatch money: DEM/DES): mức tiền bội thường hoặc phạt thường được quy định theo ngày hoặc tấn dung tích đăng ký toàn phần của tàu mỗi ngày
    Thí dụ: quy định mức phạt USD 2000/ngày hoặc USD 0,3/GRT/ngày… Nguyên tắc của phạt là : Khi đã phạt là luôn bị phạt ,tức các ngày sau đó dù là ngày chủ nhật, ngày lễ, xấu hay tốt trời đều bị phạt.
    Mức thưởng thường chỉ bằng 1/ 2 mức phạt. Tiền thưởng thường được tính theo ngày hoặc theo tỷ lệ một phần của ngày( Pro-rata), không hẳn ngày chẵn mà còn tính thêm giờ phút.

    Lưu ý : tàu chợ không có tiền thưởng phạt về xếp dỡ nhanh chậm, chỉ có trong tàu chuyến.

    12. Ðiều khoản cầm giữ hàng ( Lien clause):
    Chủ tàu sẽ cầm giữ hàng thay cho cước phí, cước khống tiền phạt.
    Người thuê vẫn còn trách nhiệm về cước khống và tiền phạt do mình gây ra ở cảng xếp và trách nhiệm về cước phí và tiền phạt ở cảng dỡ hàng nếu chủ tàu không thu được tiền thanh toán do việc cầm giữ hàng.

    13. Ðiều khoản trọng tài ( arbitration clause):
    Bất kì tranh chấp nào nảy sinh ngoài hợp đồng hiện tại sẽ được chuyển cho trọng tài thuộc : Phòng Trọng tài Hàng hải( Chambre arbitral marinetime) ở Paris chẳng hạn. Quyết định đưa ra theo quy tắc của Phòng trọng tài sẽ là phán quyết cuối cùng ràng buộc hai bên.

    14. Trách nhiệm và miễn trách của người vận chuyển.
    Nói chung các hợp đồng đều quy định chủ tàu phải chịu trách nhiệm như Công ước Brussels 1924 đã nói : Tổn thất hư hỏng của hàng hoá do xếp không cẩn thận, do chèn lót không tốt, do hun khói, do thiếu cần mẫn thích đáng nên tàu không đủ khả năng đi biển…
    Các trường hợp miễn trách nhiệm (exemption from liability) gồm: thiên tai, tai hoạ ngoài biển, thuỷ thủ phá hoại, cháy, cướp biển, ẩn tỳ của vỏ tàu và máy móc, do bản chất hàng, sơ sót của thuyền trưởng, bị cầm giữ do vua chúa và chính phủ, đi lệch hướng( deviation). Ngoài ra, chủ tàu được miễn trách do trì hoãn lúc khởi hành và trong chuyến hải trình bởi đình công , thiếu thuỷ thủ hoặc những người ảnh hưởng đến hải trình.

    15. Các điều khoản khác:
    Hợp đồng thuê tàu còn có các điều khoản tổn thất chung( General average), 2 tàu đâm nhau cùng có lỗi ( Both to blame collíion clause), chiến tranh, đình công( Strike), băng giá( ice). Khi kí hợp đồng, nếu thấy điều khoản nào không thích hợp hai bên có thể loại bỏ.
    Ngoài ra, cần xác định rõ chủ tàu hay người cho thuê chịu các chi phí sau:
    – Chi phí cung cấp vật liệu chèn lót, cung cấp cần trục, dây buộc
    – Chi phí thuê người điều khiển cần trục, di chuyển cần trục, đóng mở hầm tàu
    – Chi phí làm ngoài giờ, kiểm đếm thuế má, cảng phí

    Cách thức thuê tàu chuyến

    Thuê tàu chuyến phức tạp hơn công việc thuê tàu chợ, đòi hỏi người thuê tàu phải am hiểu tuyến, luồng vận tải; am hiểu đặc điểm kinh doanh của từng hãng tàu; am hiểu về giá cước phí

    Những công việc chính khi thuê tàu chuyến:
    – Xác định loại hình tàu chuyến sẽ thuê phục vụ cho kinh doanh:
    + Thuê chuyến một (Single voyage)
    + Thuê khứ hồi (Round voyage)
    + Thuê nhiều chuyến liên tục (Consecutive voyage)
    + Thuê bao cả tàu trong một thời gian (Lumpsum)

     

    – Uỷ thác cho công ty giao nhận hoặc trực tiếp đứng ra đàm phán ký Hợp đồng thuê tàu (Voyage charter party) với hãng tàu

    – Tập kết hàng để giao lên tàu (khi xuất khẩu theo điều kiện nhóm C, D) lấy Biên lai thuyền phó (Mate’s receipt), sau đó đổi lấy Vận đơn sạch đã xếp hàng (B/L clean on board)

    Lưu ý: Nếu thuê tàu để chỉ định chuyên chở trong trường hợp mua hàng theo điều kiện FOB thì người thuê phải kịp thời thông báo cho nhà xuất khẩu các thông tin về ngày giờ con tàu sẽ vào lấy hàng để người xuất khẩu chuẩn bị hàng tập kết lên tàu. Trong trường hợp này, người lấy B/L không phải là người thuê tàu mà là người xuất khẩu.

    – Thanh toán cước phí, tiền bốc dỡ, tiền thưởng phạt xếp dỡ

    Theo Kỹ thuật kinh doanh XNK (PGS.TS Võ Thanh Thu)

    Thể thức lập vận đơn

    – Lập một tờ khai vận chuyển ghi rõ: tên tàu, tên người gửi hàng, tên người nhận hàng, nơi đến, số, ký mã hiệu, kiện hàng, tính chất hàng, trọng lượng hay khối lượng, trị giá hàng nếu cần. Sau đó người gửi hàng ký tên vào tờ khai đó.
    – Giao tờ khai cho nhân viên tàu tính tiền cước và chi phí phụ
    – Nhận lại một phiếu xếp hàng để xếp hàng xuống tàu đã chỉ định.
    – Nhân viên nhận hàng của tàu ký xác nhận vào phiếu xếp hàng sau đó chuyển cho bộ phận chuyên trách
    – Bộ phận chuyên trách cấp chính thức một vận đơn hợp lệ cho người gửi hàng, có chữ ký của thuyền trưởng hay đại lý.

     

    Theo Nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương ( Dương Hữu Hạnh)

    Cách thức thuê tàu chợ

    Bước 1: Tập trung đủ số lượng hàng quy định

     

    Bước 2: Nghiên cứu lịch trình tàu chạy. Lịch này thường được
    đăng trên các báo Sài Gòn giải phóng, báo Nhân Dân. Từ đó
    chọn hãng tàu có uy tín và cước phí thấp. Hiện tại, giữa các
    hãng tàu có sự cạnh tranh lớn nên người thuê tàu thường được
    hưởng một khoản hoa hồng nhất định.

    Bước 3: Chủ hàng lập Bảng kê khai hàng (Cargo list) và uỷ thác
    cho công ty đại lý vận tải giữ chỗ trên tàu. Chủ hàng ký Ðơn xin
    lưu khoang (booking note) với đại lý sau khi hãng tàu đồng ý
    nhận chuyên chở, đồng thời đóng cước phí vận chuyển.

    Bước 4: Giao hàng cho tàu. Nếu là hàng nguyên container thì
    làm thủ tục mượn container để chất xếp hàng, sau đó giao
    container cho bãi hoặc trạm container

    Bước 5: Lấy Vận đơn (Bill of Lading)

    Bước 6: Thông báo cho người mua về kết quả giao hàng

          Theo Kỹ thuật kinh doanh XNK (PGS.TS Võ Thanh Thu

     

    AIR TRANSPORTATION

    Thông báo tổn thất và khiếu nại đối với người chuyên chở hàng không

    Thời hạn khiếu nại:

    – Ðối với hư hỏng dễ thấy của hàng hoá : ngay sau khi phát hiện hư hỏng và muộn nhất là sau 14 ngày kể từ ngày nhận hàng;
    – Các trường hợp hư hỏng khác: trong vòng 14 ngày kể từ ngày nhận hàng;
    – Ðối với chậm trễ: trong vòng 21 ngày kể từ ngày hàng hoá được đặt dưới sự định đoạt của người nhận ;
    – Ðối với trường hợp không giao hàng; trong vòng 120 ngày kể từ ngày phát hành vận đơn hàng không;
    – Khiếu nại tiền cước lạm thu: trong vòng 180 ngày kể từ ngày phát hành vận đơn hàng không;
    – Ðối với hư hỏng hành lý: trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận hàng.

    Thông báo tổn thất và khiếu nại có thể gửi cho:

     

    + Người chuyên chở có vận đơn đang sử dụng,
    + Người chuyên chở thứ nhất,
    + Người chuyên chở cuối cùng,
    + Người chuyên chở thực tế đã gây ra mất mát, hư hỏng trên chặng đường anh ta chuyên chở.

    Nếu người chuyên chở hàng không không giải quyết khiếu nại hoặc giải quyết không thoả đáng thì chủ hàng có quyền kiện ra toà.
    Thời gian đi kiện là 2 năm, kể từ:
    – Ngày máy bay đến, hoặc ngày đáng lẽ máy bay đến,
    – Ngày mà việc vận chuyển chấm dứt.

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

    Trách nhiệm của người chuyên chở hàng không

    Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại trong trường hợp hàng hoá, hành lý bị phá huỷ, mất mát hoặc hư hỏng với điều kiện là sự cố gây ra thiệt hại đó xảy ra trong quá trình vận chuyển hàng không.

    Vận chuyển hàng không bao gồm thời gian mà hàng hoá nằm trong sự trông nom, quản lý của người chuyên chở, dù ở sân bay, ở trong máy bay hoặc trong trường hợp phải hạ cánh ngoài sân bay thì ở bất kì nơi nào.

    Người chuyên chở hàng không sẽ không chịu trách nhiệm nếu anh ta chứng minh được rằng sự phá huỷ, mất mát hoặc hư hỏng là do các nguyên nhân sau đây gây ra:
    – Tính chất hoặc khuyết tật vốn có của hàng hoá
    – Khuyết điểm về bao bì của hàng hoá do một người không phải là người chuyên chở hoặc đại lý của họ gây ra;
    – Hành động chiến tranh hoặc xung đột vũ trang ;
    – Hành động của nhà cầm quyền liên quan đến việc vào, ra hay quá cảnh của hàng hoá.

     

    Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở hàng không đối với hàng hóa và hành lý ký gửi là 250 Fr ( tương đương với 17 SDR hay 20 USD) cho mỗi kg hàng hóa bị mất, trừ trường hợp người gửi hàng đã kê khai giá trị hàng hoá khi giao hàng cho người chuyên chở. Trong trường hợp này, người chuyên chở sẽ bồi thường theo giá trị kê khai, nếu giá trị kê khai đó là chính xác.
    Người chuyên chở hàng không sẽ mất quyền hưởng giới hạn trách nhiệm nói trên, nếu người chuyên chở hàng không phạm lỗi cố ý hoặc cẩu thả, mặc dù biết rằng tổn thất có thể xảy ra.

    Ngoài ra, người chuyên chở còn phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do chậm trễ trong việc vận chuyển hành khách, hành lý và hàng hoá. Tuy vậy, người chuyên chở không chịu trách nhiệm về chậm trễ nếu người chuyên chở chứng minh được anh ta và người làm công hay đại lý của anh ta đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để tránh thiệt hại hoặc đã không thể áp dụng được những biện pháp như vậy.

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

    Các loại cước hàng không

    Cước hàng bách hoá (General Cargo Rates- GCR)
    Là loại cước áp dụng cho những hàng hoá thông thường vận chuyển giữa hai sân bay mà không áp dụng bất kỳ một loại cước đặc biệt nào. Cước này cao hay thấp phụ thuộc vào trọng lượng của hàng hoá, khối lượng hàng: càng nhiều thì giá cước càng hạ.

    Cước tối thiểu ( Minimum Charges- M)

    Là giá cước thấp nhất mà một hãng hàng không có thể vận chuyển một lô hàng, có tính đến các chi phí cố định mà hãng hàng không phải chi ra để vận chuyển.

    Cước đặc biệt ( Specific Commodity Rates- SCR)
    Là loại cước áp dụng cho những hàng hoá đặc biệt xuất phát từ một địa điểm t cụ thể đến một nơi đến cụ thể. Cước này thường thấp hơn cước hàng bách hoá và được công bố cho những hàng đặc biệt hay hàng hoá chuyên chở trên những tuyến đường đặc biệt. Mục đích của cước này là dành cho chủ hàng một giá cước cạnh tranh nhằm khuyến khích họ gửi hàng bằng máy bay để tận dụng khả năng chuyên chở của hãng hàng không.

    Cước phân loại hàng ( Class Rates/ Commodity Classification Rates)
    Cước này thường được thể hiện bằng số phần trăm của cước bách hoá hoặc một khoản phụ thêm vào cước bách hoá và được áp dụng cho một số ít mặt hàng ở trong hoặc giữa các khu vực quy định. Cước này được áp dụng khi không có cước đặc biệt cho hàng hoá nào đó. Các mặt hàng thường được áp dụng loại cước này là: Ðộng vật sống (150% GCR); hàng giá trị cao; vàng bạc, đá quý( 200% GCR); sách báo, tạp chí, catalô. sách cho người mù( 50%), hài cốt…

    Cước áp dụng cho tất cả mặt hàng ( Freight All Kinds- FAK)
    Giá cước loại này tính theo khối lượng và áp dụng cho tất cả các mặt hàng trong một container không phân biệt đó là hàng gì. Cước này không áp dụng cho các mặt hàng như hàng dễ hư hỏng, động vật sống, hàng giá trị cao…

    Cước container ( Container Rates)
    Nếu hàng được đóng trong container thích hợp với việc vận chuyển bằng máy bay thì hãng hàng không sẽ áp dụng một giá cước hạ hơn.

    Cước giá trị
    Là cước heo giá trị hàng hoá kê khai. Ví dụ, nếu hàng có giá trị trên 20 USD/kg thì cước là 5% giá trị kê khai.

     

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

      Các loại cước hàng không
      Cước hàng bách hoá (General Cargo Rates- GCR)
    Là loại cước áp dụng cho những hàng hoá thông thường vận chuyển giữa hai sân bay mà không áp dụng bất kỳ một loại cước đặc biệt nào. Cước này cao hay thấp phụ thuộc vào trọng lượng của hàng hoá, khối lượng hàng: càng nhiều thì giá cước càng hạ.

    Cước tối thiểu ( Minimum Charges- M)

    Là giá cước thấp nhất mà một hãng hàng không có thể vận chuyển một lô hàng, có tính đến các chi phí cố định mà hãng hàng không phải chi ra để vận chuyển.

    Cước đặc biệt ( Specific Commodity Rates- SCR)
    Là loại cước áp dụng cho những hàng hoá đặc biệt xuất phát từ một địa điểm t cụ thể đến một nơi đến cụ thể. Cước này thường thấp hơn cước hàng bách hoá và được công bố cho những hàng đặc biệt hay hàng hoá chuyên chở trên những tuyến đường đặc biệt. Mục đích của cước này là dành cho chủ hàng một giá cước cạnh tranh nhằm khuyến khích họ gửi hàng bằng máy bay để tận dụng khả năng chuyên chở của hãng hàng không.

    Cước phân loại hàng ( Class Rates/ Commodity Classification Rates)
    Cước này thường được thể hiện bằng số phần trăm của cước bách hoá hoặc một khoản phụ thêm vào cước bách hoá và được áp dụng cho một số ít mặt hàng ở trong hoặc giữa các khu vực quy định. Cước này được áp dụng khi không có cước đặc biệt cho hàng hoá nào đó. Các mặt hàng thường được áp dụng loại cước này là: Ðộng vật sống (150% GCR); hàng giá trị cao; vàng bạc, đá quý( 200% GCR); sách báo, tạp chí, catalô. sách cho người mù( 50%), hài cốt…

    Cước áp dụng cho tất cả mặt hàng ( Freight All Kinds- FAK)
    Giá cước loại này tính theo khối lượng và áp dụng cho tất cả các mặt hàng trong một container không phân biệt đó là hàng gì. Cước này không áp dụng cho các mặt hàng như hàng dễ hư hỏng, động vật sống, hàng giá trị cao…

    Cước container ( Container Rates)
    Nếu hàng được đóng trong container thích hợp với việc vận chuyển bằng máy bay thì hãng hàng không sẽ áp dụng một giá cước hạ hơn.

    Cước giá trị
    Là cước heo giá trị hàng hoá kê khai. Ví dụ, nếu hàng có giá trị trên 20 USD/kg thì cước là 5% giá trị kê khai.

     

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

       

    Trình tự giao hàng xuất khẩu

    Người xuất khẩu tiến hành giao hàng vận chuyển bằng đường hàng không theo các bước sau:

     

    1. Lưu cước với hãng hàng không hoặc với người giao nhận:
    Người gửi hàng phải điền vào Booking Note theo mẫu của hãng hàng không với các nội dung như: tên người gửi, người nhận, bên thông báo; mô tả hàng hoá: loại hàng, trọng lượng, số lượng, thể tích; tên sân bay đi, tên sân bay đến; cước phí và thanh toán…

    2.Vận chuyển, đóng hàng và giao hàng cho người chuyên chở:
    – Chuẩn bị mọi giấy tờ cần thiết cho lô hàng;
    – Lập phiếu cân hàng ( Scaling Report);
    – Ðóng gói, ghi ký mã hiệu, dán nhãn hiệu;
    – Làm thủ tục hải quan;
    – Giao hàng cho hãng hàng không.

    3. Lập Airway Bill (AWB)
    Sau khi hàng được xếp vào pallet, igloo hay container, cán bộ giao nhận liên hệ với hãng hàng không để nhận AWB và điền các chi tiết vào AWB.
    Nếu gửi hàng qua người giao nhận sẽ có hai loại AWB được sử dụng là Master AWB (MAWB) do hãng hàng không cấp cho người giao nhận và House AWB (HAWB) do người giao nhận cấp khi người này làm dịch vụ gom hàng.

    4. Thông báo cho người nhận về việc gửi hàng
    Nội dung của thông báo gồm: số HAWB/MAWB; người gửi, người nhận, tên hàng, số lượng, trọng lượng, thể tích, tên sân bay đi, tên sân bay đến, ngày khởi hành( ETD), ngày dự kiến đến(ETA)…

    5. Lập bộ chứng từ thanh toán và thanh toán các khoản cần thiết.

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

     
    Trình tự nhận hàng nhập khẩu
    Người nhập khẩu tiến hành nhận hàng vận chuyển bằng đường hàng không theo các bước sau:

    1. Nhận các giấy tờ, chứng từ:
    Sau khi nhận được giấy báo hàng đến, người nhận phải đến hãng hàng không để nhận được các giấy tờ, chứng từ liên quan.

    2. Nhận hàng tại sân bay:
    Người nhận hàng mang chứng minh thư và giấy giới thiệu để nhận hàng tại sân bay. Khi nhận phải kiểm tra hàng hoá, nếu có hư hỏng, đổ vỡ phải lập biên bản giám định, có xác nhận của kho để khiếu nại sau này.

    3. Làm thủ tục hải quan:
    Trước khi làm thủ tục, phải đăng ký tờ khai. Hồ sơ đăng ký làm thủ tục hải quan bao gồm ( thường đăng ký trước một buổi):
    – Vận đơn hàng không (AWB) bản gốc 2;
    – Phiếu đóng gói (Packing List)
    – Hoá đơn thương mại (Commercial invoice)
    Sau khi xem xét hồ sơ, hải quan tiến hành kiểm và ký thông báo thuế.

    4.Thanh toán các khoản liên quan và đưa hàng ra khỏi sân bay

     

    Theo Vận tải và giao nhận hàng hoá XNK (PGS.TS Hoàng Văn Châu)

    TRANSPORTATION BY CONTAINERS

    Phương thức gửi hàng lẻ

    Phương thức gửi hàng lẻ được sử dụng khi người gửi hàng không đủ lượng hàng để xếp đầy một container.

    Quy trình

    – Người gom hàng đóng nhiều lô hàng lẻ của các chủ hàng khác nhau vào cùng một container bằng chi phí của mình.
    – Người vận chuyển xếp container lên tàu.
    – Tại cảng đến, đại lý giao nhận nhận container được dỡ từ tàu xuống, vận chuyển về trạm làm hàng lẻ để rút hàng.
    – Các lô hàng được tách ra riêng biệt và giao cho người nhận
    ( người NK)

     

    Trách nhiệm của các bên:

    * Người gửi hàng:
    – Vận chuyển hàng từ kho hay nơi chứa hàng của mình đến trạm làm hàng lẻ của cảng gửi giao cho người gom hàng và phải chịu chi phí vận chuyển này.
    – Chuyển các chứng từ cần thiết liên quan đến thương mại, vận tải, thủ tục xuất khẩu cho người gom hàng.
    – Nhận vận đơn và trả cước hàng lẻ.

    * Người nhận hàng:
    – Xin giấy phép nhập khẩu và làm thủ tục hải quan cho lô hàng.
    – Xuất trình vận đơn hợp lệ cho người nhận hàng.
    – Nhanh chóng nhận hàng tại trạm CFS.

    * Người vận chuyển hàng lẻ:
    Có thể là người vận chuyển thực sự ( effective carrier) tức hãng tàu hoặc có thể là người thầu vận chuyển hàng lẻ nhưng lại không có tàu ( NVOCC: Non Vessel Operating Common Carrier).
    Người vận chuyển thực sự ( hãng tàu) vận chuyển hàng lẻ với tư cách người gom hàng, ký phát vận đơn thực ( Master B/L) cho người gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyên chở đến cảng đích và dỡ hàng xuống cảng, giao hàng cho người nhận tại trạm CFS cảng đến.
    Người thầu vận chuyển hàng lẻ ( NVOCC) thường do công ty giao nhận đảm trách với tư cách người gom hàng, là người chuyên chở theo hợp đồng vận chuyển ( Contracting Carrier) chứ không phải là đại lý ( agent).
    Người thầu vận chuyển hàng lẻ chịu trách nhiệm suốt quá trình vận chuyển hàng từ khi nhận hàng tại cảng gửi đến khi giao trả hàng xong tại cảng đích. Vận đơn họ ký phát cho người gửi hàng có thể là vận đơn tập thể ( House Bill of Lading) hoặc vận đơn do Hiệp hội những người giao nhận quốc tế soạn thảo ( FIATA Bill of Lading) nếu họ là thành viên của hội này.

    Theo Nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương (Dương Hữu Hạnh)

    Phương thức gửi hàng đầy container

    Phương thức gửi hàng đầy container được sử dụng khi người gửi hàng có lượng hàng đủ chứa đầy một hay nhiều container hoặc hàng hoá có tính chất đòi hỏi phải chứa trong một container, nên thuê cả một hay nhiều container để gửi hàng.

    Quy trình

    – Chủ hàng đóng hàng vào container tại kho riêng hoặc tại bãi. Sau khi làm thủ tục hải quan kiểm hoá, container được niêm phong kẹp chì.
    – Chủ hàng hay công ty giao nhận vận chuyển container đến bãi chứa container (C/Y) để chờ xếp lên tàu.
    – Tại cảng đến, người vận tải sắp xếp và chịu chi phí vận chuyển container vào bãi chứa của mình.
    – Từ bãi chứa container, người nhận hàng hoặc công ty giao nhận sắp xếp và làm thủ tục hải quan, vận chuyển về kho riêng và rút hàng

     

    Trách nhiệm của các bên:

    * Người gửi hàng( Shipper)
    – Vận tải hàng từ kho hay nơi chứa hàng trong nước đến bãi chứa container của cảng gửi hàng.
    – Ðóng hàng vào container, kể cả chất xếp và chèn lót.
    – Ghi ký mã hiệu ( markings) và dấu hiệu chuyên chở.
    – Niêm phong và cặp chì container theo quy chế xuất khẩu và làm thủ tục hải quan.
    – Chịu mọi chi phí liên quan.
    Việc đóng hàng vào container có thể thực hiện tại bãi chứa container hoặc tại kho riêng của người gửi hàng nếu có yêu cầu, nhưng người gửi hàng phải đảm bảo an toàn và chịu chi phí điều vận container đi và về bãi chứa.
    * Người nhận hàng ( Consignee)
    – Xin giấy phép nhập khẩu và làm thủ tục hải quan cho lô hàng.
    – Xuất trình B/L hợp lệ cho người vận chuyển để nhận hàng.
    – Rút hàng tại bãi chứa hoặc tại kho của mình để hoàn trả container rỗng cho người chuyên chở kịp thời, tránh bị phạt.
    * Người vận chuyển ( Carrier)
    – Chăm sóc, giữ gìn, bảo quản hàng xếp trong container kể từ khi nhận từ người gửi tại bãi chứa của cảng gửi cho đến khi giao trả hàng cho người nhận tại bãi chứa ở cảng đến.
    – Xếp hàng từ bãi chứa ở cảng gửi lên tàu kể cả việc xếp hàng trên tàu.
    – Dỡ hàng từ tàu xuống bãi chứa ở cảng đến.
    – Giao hàng cho người nhận có vận đơn hợp pháp.
    – Chịu mọi chi phí xếp dỡ container lên xuống tàu.

    Theo Nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương (Dương Hữu Hạnh)

     
    Các loại hợp đồng thuê container
    Hợp đồng thuê chuyến ( Trip Leasing)
    Hợp đồng thuê tàu chuyến được sử dụng khi người thuê có nhu cầu sử dụng ngay container. Giá tiền thuê chuyến được tính theo đơn vị container/ngày hoặc container/tháng, biến động theo thị trường và thường cao hơn giá cho thuê ở các loại hợp đồng khác.

     

    Nói chung, người cho thuê container không thích cách cho thuê này vì nó có tính tạm thời, thiếu ổn định và nếu không có các biện pháp hữu hiệu sẽ có thể dẫn đến sự đảo lộn kế hoạch bố trí khai thác, tạo ra sự tồn đọng container ở một địa điểm nào đó.

    Hợp đồng không thuê quy định số lượng container bắt buộc (Rate agreement)
    Hợp đồng này chủ yếu quy định giá tiền thuê container không thay đổi trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng, bất kể container nằm ở địa điểm nào miễn là thuộc phạm vi quản lý quy định của người cho thuê.
    Hợp đồng không quy định số lượng container bắt buộc hai bên phải thực hiện. Người thuê tuỳ theo nhu cầu từng chuyến mà đề nghị số lượng và người cho thuê tuỳ theo khả năng của mình vào lúc ấy mà đáp ứng. Hợp đồng quy định địa điểm hoàn trả container, số lượng hoàn trả trong mỗi tháng và phí hoàn trả container ( nếu có).

    Hợp đồng cho thuê có quy định số lượng container tối thiểu bắt buộc ( Master lease)
    Hợp đồng này quy định người thuê sử dụng một số lượng container tối thiểu trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng và phải trả đủ số tiền thuê quy định, mặc dù có khi người thuê không sử dụng hết. Mặt khác, người thuê có thể thuê vượt quá số lượng quy định nếu có nhu cầu.
    Hợp đồng còn quy định điều kiện hoán đổi, có nghĩa là trong thời gian thuê, người thuê có quyền hoàn trả một số lượng container ở nơi này và nhận một số lượng tương ứng trong khu vực mà hai bên thoả thuận.
    Cách thuê này có lợi cho người thuê vì nó cho phép người thuê điều chỉnh số lượng container khớp với nhu cầu thực tế nhưng lại đòi hỏi người cho thuê phải bố trí mạng lưới container rộng khắp và do đó chi phí quản lý hành chính sẽ tăng lên.

    Hợp đồng thuê dài hạn ( Long term lease)
    Hợp đồng này quy định người thuê sử dụng một số lượng container trong suốt thời gian thuê mà không có sự hoán đổi và chỉ hoàn trả container khi hết hạn hợp đồng. Nếu người thuê vi phạm sẽ phải nộp tiền phạt. Các công ty vận chuyển container thường sử dụng cách này.
    Ðôi khi hợp đồng thuê container dài hạn có thể biến dạng thành hợp đồng thuê mua ( purchase- lease contract), nghĩa là người thuê sử dụng dài hạn, trả tiền thuê cho đến hết hạn quy định trong hợp đồng thì quyền sở hữu container chuyển sang luôn cho người thuê. Người thuê sử dụng luôn cách thuê mua vì họ không muốn hoặc không có khả năng chi trả ngay một lần tiền mua container.

    Trong các hợp đồng thuê container nói trên, giá tiền thuê, phí bảo hiểm, điều kiện thuê, việc nhận, hoàn trả container là các điều khoản chủ yếu cần lưu ý.


    Theo Nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương (Dương Hữu Hạnh)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án tốt nghiệp Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển bằng container của Công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận chuyển thương mại Siêu Ký

    Đồ án tốt nghiệp Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển bằng container của Công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận chuyển thương mại Siêu Ký

    Đồ án tốt nghiệp Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển bằng container của Công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận chuyển thương mại Siêu Ký

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Giao nhận vận tải hàng hoá bằng đường biển


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Quy-tr%C3%ACnh-giao-nh%E1%BA%ADn-h%C3%A0ng-h%C3%B3a-xu%E1%BA%A5t-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-bi%E1%BB%83n-b%E1%BA%B1ng-container-c%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-ty-TNHH-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-giao-nh%E1%BA%ADn-v%E1%BA%ADn-chuy%E1%BB%83n-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Si%C3%AAu-K%C3%BD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển bằng container của Công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận chuyển thương mại Siêu Ký

    CHƯƠNG I – GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH DV GN VC TM SIÊU KỶ

    I – Quá trình hình thành và phát triển của công ty

    1.1 Sự hình thành

    Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Sự giao thương giữa Việt Nam với các nước ngày càng phát triển mạnh dẫn đến nhu cầu về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu cũng không ngừng phát triển. Đồng thời, dịch vụ giao nhận vận tải ngày càng thể hiện và chứng minh vai trò quan trọng của mình trong quá trình thực hiện các hợp đồng kinh tế ngoại thương.

    Trên thực tế cho thấy bản thân các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu không thể thực hiện đầy đủ và hiệu quả nhất việc đưa hàng hóa của mình ra nước ngoài và ngược lại do sự hạn chế trong chuyên môn và nghề nghiệp. Chính vì vậy việc ra đời của các Công ty dịch vụ giao nhận vận tải đang là nhu cầu cần thiết.Công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ cũng là một trong những công ty ra đời trong hoàn cảnh trên.

    Công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ là công ty tư nhân với 100% vốn trong nước. Công ty được thành lập vào ngày 21 tháng 11 năm 2007 theo Giấy phép kinh doanh số 030527754 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Thành Phố Hồ Chí Minh cấp.

    Tên giao dich Tiếng Việt : CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ –  GIAO NHẬN –  VẬN CHUYỂN – THƯƠNG MẠI SIÊU KỶ

    Tên giao dịch quốc tế     : SUPPERTRANS LOGISTICS CO.LTD

    Vốn điều lệ                    : 500.000.000 VND

    Văn phòng chính           : 4/9C Nguyễn Thị Minh Khai, P.Dakao, Q1, TP.Hồ Chí Minh.

    Điện thoại                      : (848) 39115330/ 39115331

    Fax                                :  848 39115334

    Email                             : [email protected]

    Website                          : http://www.supertransvn.com

    Chủ doanh nghiệp         : Dương Tấn Triển

    Số lượng nhân viên        : 10 nhân viên

    Lĩnh vực hoạt động        : Vận tải và giao nhận hàng hóa

    Loại hình kinh doanh     : Đại lí giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu

    1.2. Quá trình phát triển

    Công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ là một công ty tư nhân, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, hạch toán độc lập. Cũng như các Công ty dịch vụ khác, công ty luôn hoạt động theo phương châm: “Đảm bảo uy tín, Phục vụ nhanh chóng, An toàn chất lượng, Mọi lúc mọi nơi, Giá cả cạnh tranh” làm phương châm phục vụ khách hàng.

    Chính vì thế,tuy mới thành lập 3 nhưng công ty đã tạo dựng cho mình một vị thế khá vững trong ngành dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu và đã được nhiều khách hàng lớn cả trong, ngoài nước tin cậy và chọn lựa.

    Công ty không những mở rộng được mạng lưới kinh doanh mà còn đẩy mạnh các loại hình kinh doanh như: đại lý giao nhận vận tải quốc tế, vận tải nội địa, dịch vụ khai thuê Hải quan, xuất nhập khẩu ủy thác, dịch vụ gom hàng…Với sự tự tin và lòng nhiệt tình mọi thành viên trong công ty luôn phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của mình và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ đối với khách hàng, để hướng đến mục tiêu trở thành cầu nối hiệu quả giữa công ty với các đại lí, các đối tác nước ngoài và khách hàng. Công ty luôn nổ lực nâng cao chất lượng các dịch vụ dể tạo dưng được lòng tin và sự ủng hộ của khách hàng.

    Những thành quả đạt được hôm nay cho thấy công ty  đã có những chiến lược kinh doanh phù hợp, đúng đắn, kết hợp giữa đầu tư và am hiểu thị trường….Vì vậy, công ty đã đạt được mục tiêu đề ra:

    – Đảm bảo và phát triển nguồn vốn.

    – Nâng cao doanh thu nhằm đạt được lợi nhuận cao.

    – Nâng cao chất lượng cuộc sống của công nhân viên.

    – Hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước.

    1.3 Chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của công ty

    1.3.1 Chức năng

    Phối hợp với các tổ chức khác trong và ngoài nước để tổ chức chuyên chở, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng ngoại giao, hàng quá cảnh, hàng hội chợ triển lãm, hàng tư nhân, tài liệu chứng từ liên quan, chứng từ phát nhanh.

    Nhận ủy thác dịch vụ về giao nhận, kho vận, thuê kho bãi, mua bán cước các phương tiện vận tải (ô tô, tàu biển. máy bay, xà lan, container…) thực hiện các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa nói trên như : việc gom hàng, chia hàng lẻ, làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu, thủ tục hải quan, mua bảo hiểm hàng hóa và giao hàng đó cho người chuyên chở để chuyên chở đến nơi quy định.

    Thực hiện các dịch vụ tư vấn về vấn đề giao nhận , vận tải kho hàng và các vấn đề khác có liên quan theo yêu cầu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

    Tiến hành các dịch vụ giao nhận , vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng hóa quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam và ngược lại bằng các phương tiện vận chuyển khác nhau.

    Làm đại lý cho các hãng tàu, hãng hàng không trong và ngoài nước, liên doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước trong lĩnh vực vận chuyển, giao nhận , kho bãi , thuê tàu…

    • Nhiệm vụ

    Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh theo quy chế hiện hành nhằm thực hiện mục đích và chức năng mà Công ty đề ra.

    Bảo đảm việc bảo toàn và bổ sung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn, bảo đảm trang trải về tài chính, sử dụng hợp lý theo đúng chế độ, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà nước.

    Thông qua các liên doanh, liên kết trong và ngoài nước để thực hiện việc giao nhận, chuyên chở hàng hóa bằng các phương thức tiên tiến, hợp lý, an toàn trên các luồng, các tuyến vận tải, cải tiến việc chuyên chở, chuyển tải, lưu kho, lưu bãi giao hàng hóa và đảm bảo hàng hóa an toàn trong phạm vi trách nhiệm của mình.

    Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quản lí tài chính, tài sản các chế độ chính sách cán bộ và quyền lợi của người lao động theo chế độ tự chủ, chăm lo đời sống, đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân của công ty để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ kinh doanh ngày càng cao.

    • Phạm vi hoạt động

    Công ty có mạng lưới đại lí rộng khắp và mối quan hệ với các hãng tàu, hãng hàng không uy tín như : Hanjin, OOCL, Mearsk, Wanhai, VN Airline,MH cargo…cho phép công ty cung cấp dịch vụ vận chuyển cả đường hàng không đường biển và nội địa. Các lĩnh vực hoạt động chính của công ty bao gồm :

     » Dịch vụ vận tải

    • Vận tải nội địa
    • Đại lí vận tải quốc tế bằng đường biển và hàng không

    » Ủy thác xuất nhập khẩu

    • Nhập khẩu hàng hóa
    • Xuất khẩu hàng đi các nước
    • Ký kết hợp đồng thương mại

    » Dịch vụ giao nhận

    • Giao nhận hàng hóa nội địa
    • Dịch vụ gom hàng
    • Dịch vụ thủ tục hàng hóa XNK, hàng chuyển cửa khẩu
    • ….

    » Đại lý giao nhận cho các công ty ở nước ngoài

    • Hiện nay, công ty đang làm đại lý cho các công ty giao nhận hàng hóa lớn ở các nước trong khu vực Asean, Nhật Trung Quốc, EU và Mỹ.
    • Các dịch vụ do đại lý cung cấp gồm : liên lạc với hãng tàu, thông báo cho khách hàng, mua bán cước, đặt chổ, khai thuê hải quan…

    II – Cơ cấu tổ chức và bộ máy nhân sự của công ty

    2.1.  Cơ cấu tổ chức

    Là một công ty chuyên về dịch vụ, Siêu Kỷ không cần quá nhiều nhân sự nhưng tất cả liên kết chặt chẽ với nhau, mỗi người được phân bổ một nhiệm vụ rõ ràng cụ thể, kết nối công việc của từng người thành một công việc. Hoạt động từng thành viên ở công ty đều được chỉ dẫn và giám sát của Giám đốc với một cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đơn giản mà hoạt động rất hữu ích.

    Sơ đồ 1 – SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY SIÊU KỶ

    2.2.  Chức năng và nhiệm vụ

    Như sơ đồ trên chúng ta thấy Giám Đốc là người điều hành mọi hoạt động của công ty như :

    • Quyết định các hoạt động kinh doanh của công ty.
    • Tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh cua công ty.
    • Ban hành các quy chế quản lý nội bộ.
    • Bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản lí,….

    Trực tiếp quản lý các bộ phận trong công ty.

    • Bộ phận kinh doanh 

    Đây là bộ phận trung tâm đầu não quan trọng nhất trong công ty, bộ phận kinh doanh gồm có các mảng : mua bán cước vận tải nội địa, quốc tế. Nhân viên kinh doanh tìm kiếm khách hàng , tiếp nhận nhu cầu xuất nhập khẩu của đại lý hoặc khách hàng có nhu cầu, chào giá dịch vụ của công ty đến đại lý, khách hàng, đầm phán với các hãng tàu, hãng hàng không để có giá cước tốt nhất cho khách hàng … Sau đó tiến hành xem xét và báo giá , hai bên thỏa thuận và ký kết hợp đồng giao nhận.

    • Bộ phận giao nhận 

     

    Thực hiện tất cả các nội dung công việc trong hoạt động kinh doanh XNK : từ khi lên chứng từ đến khi hòn tất thủ tục xuất hàng đi nước ngoài hoặc nhập hàng về kho của doanh nghiệp đăng ký làm dịch vụ.

    Giải quyết mọi vướng mắc của khách hàng một cách nhanh gọn và dứt điểm cho từng lô hàng.

    Tiết kiệm chi phí mức thấp nhất, tạo uy tín tốt đối với khách hàng.

    • Bộ phận chứng từ 

    Quản lý lưu trữ chứng từ và các công văn, soạn thảo bộ hồ sơ Hải quan, các công văn cần thiết giúp cho bộ phận giao nhận hoàn thành tốt công việc được giao. Thường xuyên theo dõi quá trình làm hàng, liên lạc tiếp xúc với khách hàng để thông báo những thông tin cần thiết cho lô hàng. Theo dõi booking hàng hóa, thông báo tàu đến, tàu đi cho khách hàng, chịu trách nhiệm phát hành vận đơn, lệnh giao hàng…

    • Bộ phận kế toán

    Phụ trách công việc thu chi của công ty, hoạch toán đầy đủ các nghiệp vụ kế toán phát sinh, báo cáo các số liệu chính xác định kỳ, theo dõi và tổ chức cho hoạt động kinh doanh liên tục và hiệu quả, chi tạm ứng cho nhân viên giao nhận hoàn thành công tác. Cung cấp các số liệu , thông tin phục vụ công tác dự báo.

    Nhìn chung các phòng ban trong công ty có mối quan hệ khắng khích và hỗ trợ lẫn nhau, hoạt động thông suốt nhắm đẩy mạnh kinh doanh giao nhận vận tải có hiệu quả trong bối cảnh thị trường ngành đang cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

    2.3.  Tình hình nhân sự

    Công ty khoảng 10 nhân viên rất năng động và nhiều kinh nghiệm, thích ứng nhanh với môi trường, có trình độ lao động và tay nghề khá cao, có tinh thần trách nhiệm cao, đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng.

    III –  Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của công ty

    3.1. Tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty

    Do công ty mới thành lập cuối năm 2007 nên số liệu nghiên cứu chỉ có từ năm 2008 đến năm 2010, tuy mới thành lập nhưng nhân viên công ty luôn nỗ lực cung cấp cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất để làm sao tối thiểu hóa chi phí và  tối đa hóa lợi nhuận.

    3.2.  Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2008 đến năm 2010

    Để đạt được mục tiêu trên, toàn thể công ty đã luôn cố gắng làm việc và đạt được kết quả khả quan như sau :

    + Doanh thu năm 2008 đạt 2.540 triệu đồng

    + Doanh thu năm 2009 đạt 2.820 triệu đồng

    + Doanh thu năm 2010 đạt 3.160 triệu đồng

    (Trích lược báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Siêu Kỷ từ năm 2008 đến  năm 2010)

    Bảng 1 : Bảng kết quả kinh doanh của Công ty.  (Đơn vị : triêu đồng)

               Năm

     

    Chỉ tiêu

    2008 2009 2010
    Doanh thu 2.540 2.820 3.160
    Chi phí 2.253 2.445 2.630
    Lợi nhuận trước thuế 287 375 530
    Lợi nhuận sau thuế 215,25 281,25 379,5

     Nguồn: Phòng Kế toán

    Hình 1 –  Biểu đồ kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2008 đến năm 2010

    3.3.  Phân tích – đánh giá

    Qua bảng số liệu ta thấy doanh thu hoạt động kinh doanh của công ty không ngừng tăng trưởng. Cụ thế :

    • Doanh thu năm 2009 so với năm 2008 tăng 11% tương ứng 280 triệu đồng.
    • Doanh thu năm 2010 so với năm 2009 tăng 12% tương ứng 340 triệu đồng.

    à  So sánh tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009 với năm 2010 ta nhận thấy tỷ lệ tăng doanh thu năm 2010 tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009.

    Nguyên nhân làm cho tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009 thấp hơn năm 2010 là do:

    • Năm 2008 khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nước ta cũng bị ảnh hường không nhỏ từ sự khủng hoảng này.Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên hầu hết mọi hoạt động xã hội của người dân cũng đều ảnh hưởng, tiêu dùng giảm mạnh, các Công ty cũng hạn chế sản xuất do vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động  xuất nhập khẩu của công ty.
    • Một lý do nữa là do sự cạnh tranh của các Công ty đối thủ, ngày càng có nhiều công ty giao nhận ra đời dẫn đến cạnh tranh ngày càng gây gắt hơn.
    • Mặt khác, Công ty mới thành lập cuối năm 2007 nên khách hàng chưa nhiều vì vậy doanh thu chưa cao.
    • Về vấn đề chi phí thì cũng đã giảm mạnh. Cụ thể là:
    • Chi phí năm 2009 cao hơn so với năm 2008 là: 192 triệu đồng.
    • Chi phí năm 2010 cao hơn so với năm 2009 là: 185 triệu đồng.

    à Nhìn chung tốc độ tăng chí phí bình quân giảm dần qua các năm.

    F Nguyên nhân là do năm 2008 đến 2009 công ty đã đầu tư một khoản chi phí lớn  hoạt động và trang bị  một số máy móc thiết bị phục vụ cho công tác văn phòng. Mặt khác, trong năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nước ta bị lạm phát nên giá cả tăng cao.

    • Về lợi nhuận thì công ty vẫn đảm bảo ở mức tăng an toàn.
    • Năm 2009 so với 2008 tăng 66 triệu đồng chiếm tỷ lệ 13,29% .
    • Năm 2010 so với 2009 tăng 98,25 triệu đồng chiếm tỷ lệ 14,87%.
    • Dù rằng chịu nhiều tác động và ảnh hưởng kinh tế song công ty vẫn đảm bảo được lợi nhuận cho hoạt động của mình. Điều này chứng minh  tầm nhìn, chiến lược và hoạch định mà Ban Lãnh đạo của công ty vạch ra là rất đúng đắn.

    3.4.  Tình hình kinh doanh giao nhận hàng nguyên container (FCL) của Công ty

    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL xuất khẩu bằng đường biển của Công ty

     

     

     

    Bảng 2  Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL xuất khẩu

    Chỉ tiêu Năm
    2008 2009 2010
    Tổng doanh thu 2.540 2.820 3.160
    Doanh thu  giao nhận hàng FCL xuất khẩu đường biển. 635 850 1.169
    Tỷ trọng doanh thu hàng FCL xuất khẩu bằng đường biển trên tổng doanh thu. 25% 30,14% 36,99%

    Nguồn: Bộ phận  kinh doanh

     

    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL nhập khẩu bằng đường biển của Công ty

    Bảng 3  Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL nhập khẩu

     

    Chỉ tiêu Năm
    2008 2009 2010
    Tổng doanh thu 2.540 2.820 3.160
    Doanh thu  giao nhận hàng FCL nhập khẩu đường biển. 765 1.015 1.350
    Tỷ trọng doanh thu hàng FCL nhập khẩu bằng đường biển trên tổng doanh thu. 30,12% 36% 42,72%

    Nguồn:Bộ phận kinh doanh

     

     

     

     

    Hình 2 – Biểu đồ thể hiện tỷ trọng doanh thu  của công ty Siêu Kỷ năm 2010

    • Nhận xét

    Qua 2 bảng số liệu trên ta thấy:

    • Tỷ trọng của hoạt động giao nhận hàng FCL xuất – nhập khẩu bằng đường biển chiếm con số khá cao trong tổng doanh thu.

    + Năm 2008 là 55,12%  trong tổng doanh thu.

    + Năm 2009 là 66,14% trong tổng doanh thu.

    + Năm 2010 là 79,71% trong tổng doanh thu.

    à Điều này cho thấy hoạt động giao nhận hàng hóa FCL  xuất – nhập khẩu đường biển là hoạt động khá quan trọng tạo nên doanh thu và lợi nhuận cho công ty. Mặt khác, điều này cũng nói lên trình độ container hóa của nước ta ngày càng cao theo xu hướng của Thế giới.

    3.5  Cơ cấu thị trường xuất – nhập khẩu của Công ty

    • Cơ cấu thị trường xuất khẩu

    Bảng 4 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty năm 2010

     

    Thị trường Giá trị

     

    (Triệu đồng)

    Tỷ lệ (%)
    EU 1.576 25,72
    Singapore 1.280 20,9
    Trung Quốc 1.020 16,64
    Malaysia 856 13,96
    Thị trường khác 1.396 22,78

    Nguồn: Bộ phận kinh doanh  

    Hình 3 – Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu của công ty năm 2010

    ¬ Nhận xét

    Qua biểu đồ trên ta thấy thị trường EU là thị trường tiềm năng nhất trong lĩnh vực xuất khẩu.Hàng năm, công ty đảm nhận dich vụ xuất khẩu qua thi trường này khá lớn. Những mặt hàng thường được xuất khẩu qua thị trường này là hàng may mặc, Bàn ghế, Thực phẩm,Gỗ, Ván ép…..Có thể nói thị trường EU là thị trường khó tính, đòi hỏi cao về chất lượng, về mấu mã sản phẩm và hàng hóa phải chịu nhiều rào cản (kỹ thuật, thuế quan). Trong khi đó lượng hàng hóa xuất khẩu sang thị trường này càng gia tăng chứng tỏ rằng các sản phẩm của các doanh nghiệp nước ta ngày càng hoàn thiện về hình thức cũng như chất lượng và ngày càng được khách hàng nước ngoài yêu thích.

    Mặt khác, cơ cấu thị trường xuất khẩu sang các nước trong Đông Nam Á, Châu Á ngày càng nhiều nhờ được hưởng thuế suất ưu đãi và thủ tục Hải Quan đơn giản, nhanh chóng .

    • Cơ cấu thị trường nhập khẩu

     

              Bảng 5  Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Công ty năm 2010

     

    [                                                           

    Thị trường Giá trị

     

    (Triệu đồng)

    Tỷ lệ (%)
    Trung Quốc 2.196 25,67
    Mỹ 1.850 21,63
    Hàn Quốc 1.423 16,64
    Thái Lan 1.150 13,44
    Thị trường khác 1.935 22,62

    Nguồn: Bộ phận kinh doanh  

    Hình 4 – Biểu đồ cơ cấu thị trường nhập khẩu của công ty năm 2010

     

    ¬ Nhận xét

    Qua bảng số liệu trên ta thấy mặc dù chủ trương của Nhà nước ta luôn khuyến khích xuất khẩu hạn chế nhập khẩu song trên thực tế kim ngạch xuất khẩu của nước ta luôn nhỏ hơn kim ngạch nhập khẩu. Chính vì vậy mà giá trị nhập khẩu của Công ty lớn hơn giá trị xuất khẩu.

    Biểu đồ trên cho ta  thấy lượng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tỷ lệ khá cao 25,67%, cũng chính vì vậy mà hàng hóa Trung Quốc tràn lan trên thị trường Việt Nam. Các mặt hàng nhập chủ yếu từ Trung Quốc thường là: Máy móc thiết bị, phụ tùng thay thế, hóa chất,…..

    Nhìn chung các mặt hàng Việt Nam nhập về chủ yếu là hàng công nghiệp, máy móc thiết bị phục vụ cho nông nghiệp và công nghiệp.Vì ngành công nghiệp chế tạo của nước ta chưa phát triển mạnh.

    F Qua hai bản số liệu trên ta thấy thị trường xuất – nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu là thị trường Châu Á. Các thị trường lớn như EU và Mỹ vẫn có nhưng số lượng còn rất ít so với tiềm năng. Vì vậy, nước ta cần đổi mới công nghệ cũng như mở rộng quan hệ buôn bán với các thị trường này nhằm đem ngoại tệ về cho Đất nước.

    CHƯƠNG II – QUY TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU ĐƯỜNG BIỂN BẰNG CONTAINER CỦA CÔNG TY

     

    I – Khái quát chung về giao nhận hàng hóa đường biển bằng container

     

    Việc tăng tốc độ kỹ thuật của công cụ vận tải sẽ không đạt hiệu quả kinh tế cao nếu không giảm được thời gian công cụ vận tải dừng ở các điểm vận tải. Yếu tố cơ bản nhất để giảm thời gian dừng lại ở các điểm vận tải là tăng cường cơ giới hóa khâu xếp dỡ ở các điểm vận tải. Một biện pháp quan trọng để giải quyết cơ giới hóa toàn bộ khâu xếp dỡ hàng hóa là tạo ra những kiện hàng lớn thích hợp. Và đó cũng chính là lý do container ra đời. Việc sử dụng container trong hoạt động xuất nhập khẩu đã mang đến rất nhiều thuận lợi như: bảo vệ hàng hóa tối đa hơn, tiết kiệm được chi phí bao bì, giảm được thời gian xếp dỡ và chờ đợi ở cảng, bền và có thể sử dụng nhiều lần và một yếu tố nửa là giúp người vận tải vận dụng được dung tích tàu, giảm trách nhiệm về khiếu nại và tổn thất hàng hóa.

    Nước ta có nhiều hệ thông cảng biển gồm 114 cảng lớn nhỏ, phân bố dọc theo bờ biển từ Bắc xuống Nam như cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn, VICT, Tân Thuận, Cát Lái…. Hiện nay, theo thống kê thì có khoảng 95% tổng khối lượng hàng hoá buôn bán quốc tế được vận chuyển bằng đường biển. Do vậy, việc vận chuyển hàng hóa bằng container đối với việc  giao nhận hàng hóa bằng đường biển là rất quan trọng.

    Là một công ty chuyên cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hoá, Công ty TNHH DV GN VC TM Siêu kỷ đã tổ chức thực hiện các thủ tục và nghiệp vụ giao nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển rất chặt chẽ, chuyên nghiệp để tiết kiệm chi phí và thời gian.

    II – Quy trình giao nhận hàng hóa xuất khẩu đường biển bằng container (FCL) tại công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ

    2.1. Quy trình giao nhận hàng hóa xuất khẩu đường biển bằng container tại Công ty

           
       
     
         

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ 2 – Quy trình giao nhận hàng hóa xuất khẩu đường biển bằng container tai công ty Siêu Kỷ

     

    2.2 Diễn giải quy trình giao nhận

    2.2.1 Nhận và xử lí thông tin khách hàng đăng ký dịch vụ                  

    Những thông tin mà nhân viên kinh doanh tiếp nhận từ khách hàng như sau:

    • Loại hàng: Căn cứ vào loại hàng, số lượng hàng mà công ty sẽ tư vấn cho khách hàng loại container phù hợp ( nếu hàng tươi sống , rau quả tươi sẽ chọn cont lạnh:20’RF,40’RH tùy vào số lượng hàng; hàng bách hóa hoặc nông sản thì chọn cont khô: 20’DC, 40’DC hoặc 40’HC “đối với hàng cồng kềnh”).Cũng như các quy định của nước nhập khẩu về mặt hàng đó. Ví dụ như: hàng thực phẩm thì phải có giấy kiểm dịch vệ sinh an toàn thực phẩm, hàng gỗ thì phải khử trùng….
    • Cảng đi, cảng đến: Đây là yếu tố quyết định giá cước vận chuyển vì khoảng cách vận chuyển càng gần, thời gian vận chuyển càng ngắn thì cước phí càng thấp và ngược lại.
    • Hãng tàu: Tùy vào nhu cầu của khách hàng đến cảng nào mà nhân viên kinh doanh sẽ tư vấn cho khách hàng chọn dịch vụ của hãng tàu uy tín với giá cước phù hợp.Tuy nhiên cũng có một số khách hàng quen sử dụng dịch vụ của một hãng tàu cho hàng hóa của mình thì công ty thì xét báo giá cước cho khách hàng đó biết.
    • Thời gian dự kiến xuất hàng để công ty tìm một lịch trình tàu chạy phù hợp.

    2.2.2 Liên hệ với các hãng tàu để hỏi cước và lịch trình vận chuyển

    Căn cứ vào những thông tin mà khách hàng cung cấp nhân viên kinh doanh sẽ liên hệ với hãng tàu để hỏi giá và lịch trình tàu chạy  phù hợp vì mỗi hãng tàu có lịch trình tàu chạy, tuyến chạy tàu cũng như có thế mạnh riêng trên các tuyến đường.

    Ví dụ: Hãng tàu Hanjin, OOCL, ZIM line… có thế mạnh trên các tuyến đi  Châu Âu  và Mỹ. Trong khi đó hãng tàu TS line, Wanhai, Evergeen, NYK lại có thế mạnh trên các tuyến đi Châu Á.

    2.2.3 Chào giá cho khách hàng

    Nhân viên kinh doanh căn cứ vào giá chào của các hãng tàu, tính toán chi phí và tiến hành chào giá cho khách hàng. Các giao dịch liên quan đến giá cả và lịch trình tàu đều phải lưu lại để đối chứng khi cần thiết.

    2.2.4 Chấp nhận giá

    Nếu giá cước và lịch trình tàu chạy đưa ra được khách hàng chấp nhận thì khách hàng sẽ gởi booking request ( yêu cầu dặt chổ) cho bộ phận kinh doanh. Booking request này xác nhận lại thông tin hàng hóa liên quan: Người gửi hàng, người nhận hàng, tên hàng, trọng lượng, loại container, nơi đóng hàng (đóng kho người gửi hàng hay đóng tại bãi container của cảng), cảng hạ container có hàng để thông quan xuất khẩu (hạ container ở cảng nào thì thông quan tại cảng đó), cảng đến (nước nhập khẩu), ngày tàu chạy…

    2.2.5 Liên hệ với hãng tàu để đặt chỗ

    Bộ phận kinh doanh sẽ căn cứ trên booking request của khách hàng và gửi booking request đến hãng tàu để đặt chổ. Sau đó hãng tàu sẽ xác nhận việc đặt chỗ đã thành công cho bộ phận kinh doanh bằng cách gởi booking confirmation hay còn gọi là Lệnh cấp container rỗng.Lệnh cấp container rỗng này chứa đựng những thông tin cần thiết sau: Số booking, tên tàu, cảng xếp hàng (port of loading), cảng giao hàng ( port of delivery), cảng chuyển tải ( port of discharge (nếu có)), bãi duyệt lệnh cấp container rỗng, giờ cắt máng( losing time)…

    Sau khi có booking confirmation của hãng tàu, nhân viên kinh doanh sẽ gởi booking này cho khách hàng để họ sắp xếp đóng hàng và làm thủ tục thông quan xuất khẩu.

    Trường hợp khách hàng sử dụng dịch vụ thuê khai hải quan và vận chuyển nội địa của công ty thì khách hàng sẽ gởi lệnh cấp container rỗng, thông tin chi tiết lô hàng xuất khẩu thời gian đóng hàng cho bộ phận giao nhận của công ty. Sau khi tiếp nhận nhân viên phòng giao nhận sẽ theo dõi và phối hợp với khách hàng để sắp xếp đưa container rỗng đến đóng hàng và vận chuyển ra cảng hoặc vận chuyển hàng đến đóng vào container ở cảng. Sau đó tiến hành làm thủ tục thông quan cho lô hàng xuất khẩu đó.

    Lập booking profile

    Nhân viên kinh doanh sẽ lập booking profile để kê khai sơ lược thông tin về lô hàng và chuyển cho bộ phận chứng từ theo dõi tiếp. Những thông tin trên booking profile như sau:

    • Tên người gửi hàng (công ty xuất khẩu), người phụ trách, số điện thoại/fax
    • Tên hãng tàu
    • Cảng đi, cảng đến, ngày tàu chạy
    • Điều khoản thanh toán cước: trả trước (freight prepaid) hay trả sau ( freight collect)
    • Giá mua, giá bán, các phụ phí liên quan…

    2.2.6 Chuẩn bị chứng từ và hàng hóa xuất khẩu

    • Chuẩn bị hàng hóa

     

    Bước này công ty không làm mà người xuất khẩu làm.

    2.2.6.2 Chuẩn bị phương tiện vận tải

     

    Nhân viên giao nhận sẽ đem lệnh cấp container rỗng đến phòng điều độ của hãng tàu ( thường ở cảng do hãng tàu chỉ định) để đổi lệnh lấy container. Ớ bước này phòng điều độ ở cảng sẽ giao cho nhân viên giao nhận bộ hồ sơ gồm : packing list container, seal tàu, vị trí cấp container, lệnh cấp container có ký tên của điều độ cảng cho phép lấy container rỗng.

    Nhân viên giao nhận sẽ giao bộ hồ sơ này cho tài xế kéo container đến bãi chỉ định của hãng tàu xuất trình lệnh cấp container rỗng đã được duyệt, đóng phí nâng container cho phòng thương vụ bãi và lấy conttainer rỗng vận chuyển đến kho người xuất khẩu đóng hàng.

    Sau khi đóng hàng xong sẽ vận chuyển container có hàng hạ bãi tại cảng chờ xếp hàng ( theo trên booking confirm) và đóng phí hạ container cho cảng vụ .

    2.1.6.3 Chuẩn bị chứng từ khai hải quan

     

    • Hồ sơ hải quan gồm

    + Tờ khai hải quan : 2 bản chính( 1 bản dành cho người xuất khẩu, 1 bản dành cho hải quan lưu)

    + Hợp đồng mua bán hàng hóa :1 bản chính

    + Hóa đơn thương mại (invoice) : 1 bản chính

    + Phiếu đóng gói (packing list) : 1 bản chính

    + Giấy phép đăng ký kinh doanh : bản sao y kèm bản chính đối chiếu      ( nếu doanh ngiệp mới xuất khẩu lần đầu)

    + Giấy giới thiệu của công ty xuất khẩu : 1 bản

    • Nếu mặt hàng xuất khẩu là hàng thực phẩm thì phải đăng lý kiểm dịch, hồ sơ gồm có :

    + 2 giấy phép đăng ký kiểm dịch thực vật theo mẫu của trung tâm đăng ký kiểm dịch thực vật

    + Hợp đồng ngoại thương ( sao y)

    + 1 invoice ( bản chính )

    + 1 packing list ( bản chính )

    + Mẫu hàng để kiểm dịch (nếu có)

    + Vận đơn (vận đơn này sẽ được nộp sau khi tàu chạy để lấy chứng thư)

    Khi đã chuẩn bị hoàn chỉnh hồ sơ, nhân viên giao nhận mang bộ hồ sơ đó đến cơ quan kiểm dịch thực vật để đăng ký kiểm dịch. Nhân viên tiếp nhận sẽ kiểm tra bộ hồ sơ, nếu thấy đầy đủ sẽ ký và đóng dấu vào giấy đăng ký.

    Khi hàng đã về đến cảng, nhân viên giao nhận sẽ đưa nhân viên kiểm dịch đến vị trí container và tiến hành kiểm tra hàng. Hàng sẽ được cấp chứng thư sau khi đã kiểm tra đạt tiêu chuẩn. chứng thư này là chứng nhận tình trạng của hàng hóa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

    • Thông quan hàng xuất khẩu
      • Truyền số liệu qua mạng hải quan điện tử

     

    Dựa trên những chứng từ mà khách hàng cung cấp cũng như những thông tin về hàng hóa mà công ty thu thập được như:

    + Hợp đồng thương mại

    + Invoice

    + Packing lish

    +….

    Nhân viên giao nhận dùng phần mềm khai báo hải quan điện tử  « ECUSKD » để truyền số liệu lên tờ khai qua mạng. Nếu truyền thành công hệ thống mạng của hải quan tự động báo số tiếp nhận hồ sơ, số tờ khai và phân luồng hàng hóa. Nhờ bước cải tiến này mà thời gian làm thủ tục nhanh hơn so với thủ công trước đây vì nhân viên hải quan không phải nhập lại số liệu trên tờ khai vào máy.

    – Phân luồng hàng hóa có 3 luồng

    + Luồng xanh : Miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra  thực tế hàng hóa. Cán bộ hải quan chuyển hồ sơ qua lãnh đạo chi cục duyệt, đóng dấu thông quan  «  đã làm thủ tục hải quan » vào tờ khai xuất khẩu.

    + Luồng vàng : Miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, hồ sơ chuyển qua bộ phận tính giá thuế để kiểm tra chi tiết hồ sơ. Nếu hồ sơ hợp lệ sẽ được chuyển hồ sơ qua lãnh đạo chi cục duyệt, đóng dấu thông quan  «  đã làm thủ tục hải quan » vào tờ khai xuất khẩu.

    + Luồng đỏ : Hồ sơ được chuyển qua bộ phận kiểm tra thực tế hàng hóa . Tuỳ tỷ lệ phân kiểm hóa của lãnh đạo chi cục mà chủ hàng xuất trình 5%, 10% hay 100% hàng để hải quan kiểm tra. Sau khi kiểm tra nếu hàng háo đúng với khai báo của tờ khai và chứng từ liên quan, cán bộ hải quan sẽ bấm niêm phong hải quan vào container và sẽ ghi chú vào tờ khai xác nhận hàng hóa đúng khai báo và chuyển hồ sơ qua lãnh đạo chi cục duyệt, đóng dấu thông quan  «  đã làm thủ tục hải quan » vào tờ khai xuất khẩu.

    Lưu ý : Đăng ký làm thủ tục ở cửa khẩu nào thì truyền số liệu vào cửa khẩu đó.

    ¯ Những tiêu chí cần thiết của tờ khai xuất khẩu

    Ví dụ: Tờ khai hải quan điện tử về hàng xuất khẩu của Công ty TNHH Bình An

    • Ô số 1: Người xuất khẩu: Mã số thuế, tên công ty, địa chỉ.
    • Ô số 2: Người nhập khẩu: tên công ty, địa chỉ.
    • (Mã số thuế của công ty Xuất khẩu ở đây không cần thiết phải có)
    • Ô số 3: Để tên người uỷ thác ( nếu có).
    • Ô số 4: Đại lý làm thủ tục hải quan ( nếu có).
    • Ô số 5: Loại hình xuất khẩu tuỳ thuộc vào mục đích xuất khẩu của công ty.

    Trong trường hợp này là xuất để kinh doanh.(XKD01)

    • Ô số 6: Giấy phép ( nếu có).

    Trong truờng hợp này không có giấy phép kinh doanh.

    • Ô số 7: Hợp đồng số: MK 050311/PMG

    Ngày:03/02/2011

    • Ô số 8: Hoá đơn thương mại số: MK 050311/PMG

    Ngày: 05/03/2011

    • Ô số 9: Cảng xếp hàng: C048

    Cảng Cát Lái/ TPHCM

    • Ô số 10:Nước nhập khẩu:IT (Italy)
    • Ô số 11: Điều kiện giao hàng: FOB
    • Ô số 12:Phương thức thanh toán: TTR
    • Ô số 13: Đồng tiền thanh toán: USD
    • Ô số 14: Tỷ giá tính thuế: 20.663
    • Ô số 15: Kết quả phân luồng và hướng dẫn làm thủ tục Hải Quan

    (Luồng Xanh)

    Chấp nhận thông quan

    Chấn nhận thông quan trên cơ sở khai báo của Doanh nghiệp

    • Ô số 16: Chứng từ Hải Quan trước đó (Nếu có)
    • Ô số 17: Tên hàng quy cách phẩm chất:

    ( Chi tiết theo phụ lục đính kèm )

    (Ô này chỉ có thể khai báo 3 mặt hàng, do đó nếu nhiều hơn 3 mặt hàng thì sẽ được thể hiện ở phụ lục tờ khai)

    • Ô số 18 : Mã số hàng hoá:

    (Nếu nhiều loại hàng hoá thì mã số hàng hoá cũng khác nhau. Vì vậy khi lên tờ khai cần tra cứu về mã số hàng hoá một cách kỹ lưỡng trong biểu thuế nhằm tránh sai sót gây chậm trễ cho việc giao nhận hàng.)

    (Ở lô hàng của công ty vì mã số hàng hóa được thể hiện ở phụ lục tờ khai nên ô này để trống.)

    • Ô số 19 : Xuất xứ

    (Ô này ở tờ khai của công ty Bình An được để trống vì nó được thể hiện ở phụ lục)

    • Ô số 20 : Số lượng

    (Ô này ở tờ khai của công ty Bình An được để trống vì nó được thể hiện ở phụ lục)

    • Ô số 21: Đơn vị tính
    • Ô số 22: Đơn giá nguyên tệ

    ( Dựa vào hợp đồng ngoại thương và hóa đơn thương mại)

    ( Ở đây đơn giá nguyên tệ cũng được thể hiện ở phụ lục tờ khai.)

    • Ô số 23 : Trị giá nguyên tệ
    • Ô số 24: Thuế nhập khẩu gồm có: Trị giá tính thuế, thuế suất, tiền thuế đều qui đổi sang VNĐ và được thể hiện rõ ở phụ lục.
    • Ô số 25: Thu khác gồm có: Tỷ lệ (%) và Số tiền
    • Ô số 26: Tổng số tiền thuế và thu khác ( 24+25+26)
    • Ô số 27: Tổng trọng lượng: 1000 kg

    Tổng số container: Cont 20:1

    Tổng số kiện: 38

    Số hiệu kiện, cont:

    + Số cont: TPHU 6777800

    + Số seal: MSC 6492650

    • Ô số 28:Ghi chép khác:

    Số hiệu tàu: BUXLAGOON

    Số chuyến: 81111R

    • Ô số 29: Xác nhận giải phóng hàng/ đưa hàng về bảo quản (nếu có)
    • Ô số 30: Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm trước Pháp Luật về những nội dung khai báo trên tờ khai này.

    (Giám đốc Công ty xuất khẩu ký tên, đóng dấu)

    • Ô số 31: Xác nhận đã qua khu vực giám sát
    • Ô số 32: Xác nhận thông quan
    • Ô số 33: Xác nhận thực xuất
      • Phụ lục tờ khai hải quan điên tử

    (Chi tiết chứng từ đính kèm sau báo cáo)

    2.2.7.2 Làm thủ tục Hải Quan tại cảng

    Chia thành 2 trường hợp:

    1. Trường hợp 1: Hàng hóa xuất khẩu miễn kiểm ( luồng xanh)

     

    Bước 1 : Đăng ký mở tờ khai xuất khẩu

    • Nhân viên giao nhận in tờ khai Hải Quan điện tử (in 2 bản), mang tờ khai đến cho khách hàng kí tên và đóng dấu xác nhận..
    • Sau đó, mang bộ chứng từ bao gồm:

    + Giấy giới thiệu

    + 2 tờ khai Hải Quan

    – Hải quan sẽ tiếp nhận bộ hồ sơ của nhân viên công ty và tiến hành kiểm tra xem việc chấp hành pháp luật Hải quan của doanh nghiệp trên hệ thống mạng hải quan có vi phạm gì không. Kế tiếp xem việc kê khai trên tờ khai có phù hợp  với chứng từ hay không và xem hàng xuất khẩu có thuộc danh mục hàng cấm hay không.

    – Sau đó, Hải quan đóng dấu vào tờ khai và chuyển sang bộ phận trả tờ khai.

    Bước 2 Trả tờ khai

    • Nhân viên giao nhận mua tem ( lệ phí Hải Quan) dán vào tờ khai .
    • Hải quan sau khi kiểm tra trả lại cho nhận viên giao nhận 1 tờ khai và giữ lại tờ khai dán tem.

    Bước 3 Thanh lý hải quan bãi

    • Nhân viên mang tờ khai đã thông quan đến hải quan giám sát bãi ghi số container/ seal và thanh lý hải quan bãi ô 27của tờ khai để tiến hành thanh lí tờ khai.
    • Nhận viên giao nhận pho to tờ khai Hải quan điện tử. Sau đó, nộp tờ khai ( pho to và gốc để kiểm tra) tại phòng thanh lí.
    • Hải quan thanh lí kiểm tra đóng dấu xác nhận và tra lại tờ khai bản gốc.

    Bước 4 Vào sổ tàu hàng xuất

    – Căn cứ vào Booking nhân viên giao nhận viết số hiệu tàu, số hiệu chuyến đi, số container, số seal vào ô 28, 29 tờ khai để tiến hành vào sổ tàu.

    • Nhân viên giao nhận nộp tờ khai để Hải quan vào sổ tàu.
    • Hải quan trả lại tờ khai và phiếu xác nhận vào sổ tàu.

    Kết thúc quá trình làm thủ tục thông quan cho lô hàng xuất khẩu tại cảng. Hàng hóa sẽ được sắp xếp lên tàu theo kế hoạch của hãng tàu.

    Lưu ý: Phải vào sổ tàu trước khi đến giờ Closing time nếu không hàng sẽ rớt lại không xuất khẩu được mặc dù đã thông quan.

    1. Trường hợp 2: Hàng hóa xuất khẩu kiểm hóa ( luồng đỏ )

     

    Bước 1 : Đăng ký mở tờ khai xuất khẩu

    • Nhân viên giao nhận in tờ khai Hải Quan điện tử (in 2 bản), mang tở khai đến cho khách hàng kí tên và đóng dấu xác nhận..
    • Sau đó, mang bộ chứng từ bao gồm:

    + Giấy giới thiệu

    + 2 tờ khai Hải Quan

    + Hợp đồng thương mại ( sao y)

    + Invoice ( bản chính)

    + Packing list ( bản chính)

    – Hải quan sẽ tiếp nhận bộ hồ sơ của nhân viên công ty và tiến hành kiểm tra xem việc chấp hành pháp luật Hải quan của doanh nghiệp trên hệ thống mạng hải quan có vi phạm gì không. Kế tiếp xem việc kê khai trên tờ khai có phù hợp  với chứng từ hay không và xem hàng xuất khẩu có thuộc danh mục hàng cấm hay không.

    – Sau đó, Hải quan đóng dấu và chuyển bộ phận kiểm hóa.

    Bước 2 Kiểm hóa hàng xuất

    –     Nhân viên giao nhận đăng ký chuyển bãi kiểm hóa tại bộ phận chuyển bãi và rút ruột container.

    • Nhân viên giao nhận xem kết quả phân kiểm để liên lạc với Hải quan kiểm hóa.
    • Xuống bãi tìm container tiến hành cắt seal và liên lạc với Hải quan kiểm hóa xem cắt seal và kiểm tra hàng hóa (5%,10% tùy vào mức độ mà Hải quan yêu cầu kiểm hóa).
    • Sau đó, nhân viên giao nhận bấm lại seal mới ( gồm seal Hải quan và hãng tàu).

    Bước 3 Trả tờ khai

    • Nhân viên giao nhận mua tem ( lệ phí Hải Quan) dán vào tờ khai .
    • Hải quan sau khi kiểm tra trả lại cho nhận viên giao nhận bộ chứng từ bao gồm:

    + 1 tờ khai và giữ lại tờ khai dán tem.

    + Hợp đồng thương mại ( sao y)

    + Invoice ( bản chính)

    + Packing list ( bản chính)

    Bước 4 Thanh lý hải quan bãi

    • Nhân viên mang tờ khai đã thông quan đến hải quan giám sát bãi ghi số container/ seal và thanh lý hải quan bãi ô 27của tờ khai để tiến hành thanh lí tờ khai.
    • Nhận viên giao nhận pho to tờ khai Hải quan điện tử. Sau đó, nộp tờ khai ( pho to và gốc để kiểm tra) tại phòng thanh lí.
    • Hải quan thanh lí kiểm tra đóng dấu xác nhận và tra lại tờ khai bản gốc.

    Bước 5  Vào sổ tàu hàng xuất

    –   Căn cứ vào Booking nhân viên giao nhận viết số hiệu tàu, số hiệu chuyến đi vào ô 28 tờ khai để tiến hành vào sổ tàu.

    • Nhân viên giao nhận nộp tờ khai để Hải quan vào sổ tàu.
    • Hải quan trả lại tờ khai và xác nhận vào sổ tàu.

    Kết thúc quá trình làm thủ tục thông quan cho lô hàng xuất khẩu tại cảng. Hàng hóa sẽ được sắp xếp lên tàu theo kế hoạch của hãng tàu.

    Lưu ý: Phải vào sổ tàu trước khi đến giờ Closing time nếu không hàng sẽ rớt lại không xuất khẩu được mặc dù đã thông quan.

    • Phát hành vận đơn

    2.2.8.1  Trường hợp 1 Khách hàng sử dụng dịch vụ quốc tế của công ty

    Nhân viên giao nhận sẽ chuyển bộ hồ sơ cho bộ phận chứng từ hàng xuất để phát hành vận đơn cho khách hàng.

    Bộ phận chứng từ có trách nhiệm theo dõi lô hàng để lập chứng từ hàng xuất. Công việc cụ thể của nhận viên chứng từ như sau:

    • Liên lạc với khách hàng để kiểm tra xem lô hàng xuất hoàn tất thủ tục xuất hàng hay chưa.
    • Lấy số container báo cho hãng tàu để họ cập nhật sắp xếp container lên tàu.
    • Yêu cầu người gửi hàng cung cấp thông tin để phát hành vận đơn.

    Nội dung vận đơn gồm những chi tiết sau :

    • Số vận đơn (B/L no)
    • Người gửi hàng(Shipper)
    • Người nhận hàng(Consignee)
    • Tên tàu\ số chuyến(vessel\voy)
    • Cảng xếp hàng(Port of loading)
    • Cảng dỡ hàng(Port of discharge)
    • Nơi giao hàng(Place of delivery)
    • Điều kiện vận chuyển hàng :CY\Door
    • Ngày xếp hàng lên tàu :Shipped on board date……(Những thông tin về tên tàu số chuyến cảng đi, cảng đến phải trùng khớp với booking confirmation của hãng tàu đã gửi trước đó)
    • Số container\số kẹp chì( container\ Seal no)
    • Số lượng container(number of container)
    • Mô tả hàng hóa(Descreption of goods)
    • Số kiện( number of package)
    • Trọng lượng hàng cả bì(Gross weight)
    • Nơi phát hành vận đơn(place and date of issue :
    • Tên, trụ sở người chuyên chở hoặc đại lí :
    • Đại lí giao nhận ở cảng đến của Siêu Kỷ(Delivery Agent) :
    • Điều khoản về cước phí(freight and charges)
    • Số lượng bản vận đơn gốc (No. Of original B(s)/L) :
    • Chữ ký của người chuyên chở hay đại lý của người chuyên chở :
    • Các điều kiện, điều khoản trách nhiệm chuyên chở, thườgf được in sẵn ở mặt sau vận đơn, không thương lượng được, nếu có thỏa thuận khác thì phải thể hiện thêm ở mặt trước vận đơnvì vậy người thuê chuyên chở phải tìm hiểu kỹ các điều khoản phía sau vận đơn, hiểu các quy ước quốc tế điều chỉnh vận đơn.
    • Người gửi hàng chịu trách nhiệm cân đong, đo đếm và đóng hàng của mình vào container và niêm phong kẹp chì trước khi giao cho người chuyên chở vì thế miễn trách nhiệm cho người chuyên chở về số lượng, chất lượng hàng hóa bên trong container, trên vận đơn thường có ghi chú «  said to contain » « Shipper’s load »  « count and seal »(đóng xếp hàng, đếm hàng và kẹp chì do người gửi hàng chịu trách nhiệm).

    Sau khi có đầy đủ những thông tin trên, bộ phận chứng từ hàng xuất sẽ phát hành vận đơn (HB/L) cho người gửi hàng và gửi bản vận đơn nháp cho khách hàng kiểm tra lại thông tin nhằm tránh những sai sót về sau. Đồng thời, gửi thông tin cho hãng tàu liên quan phát hành vận đơn cho Siêu Kỷ(MB/L). Trong đó :

    • Shipper :
    • Consignee :
    • Loại B/L được phát hành, thông thường là Bill Surrender or seaway bill
    • Những thông tin còn lại như trên HB/L

    Sau khi có được MB/L từ hãng tàu, nhân viên chứng từ kiểm tra đối chiếu lại HB/L và MB/L xem có gì khác biệt không để chỉnh sửa (nếu có).

    2.2.8.2 Trường hợp 2 Khách hàng không sử dụng dịch vụ quốc tế của công ty.

    Nếu không thì nhân viên giao nhận chuyển bộ hồ sơ( bản sao) cho khách hàng để họ gửi thông tin cho hãng tàu liên quan để yêu cầu cấp vận đơn.

    Sau khi hàng đã xếp lên tàu, lấy được vận đơn có ký tên đóng dấu của người chuyên chở hoặc đại lý của hộ thì nhân viên giao nhận sẽ mang tờ khai, invoice và B/L đến hải quan cảng xác nhận hàng đã thực xuất. Để doanh nghiệp lấy đó làm cơ sở hoạch toán với các cơ quan( thuế, ngân hàng..).

    • Thực xuất tờ khai

    Sau khi tàu chạy, Hãng tàu sẽ gửi vận đơn cho bộ phận chứng từ của công ty. Bộ phận chứng từ sẽ dưa cho nhân viên giao nhận vận đơn để thực xuất.

    Nhân viên giao nhận đến Chi cục Hải quan nộp tờ khai và vận đơn để Hải quan đóng dấu xác nhận thực xuất.

    • Gửi bộ chứng từ cho đại lí ở nước ngoài

     

    Sau khi hoàn tất bộ chứng từ hàng xuất (HB/L, MB/L) nhân viên chứng từ sẽ gửi thông báo mô tả sơ lược về lô hàng vận chuyển :Shipper/ Consignee, tên tàu/ số chuyến, cảng đi/ cảng đến, ETD/ETA (Ngày đi / ngày dự kiến đến), Số vận đơn (HB/L,MB/L), loại vận đơn (surrender, Original, seaway bill…), hợp đồng, invoice, packing list cho đại lý liên quan để đại lý theo dõi tiếp lô hàng tại cảng đến, đính kèm là bản sao HB/L,MB/L.

    • Lập chứng từ kế toán và lưu hồ sơ
      • Lập chứng từ kết toán

     

    Dựa vào booking Profile, điều khoản về cước phí là trả trước (freight prepaid) nên nhân viên chứng từ sẽ làm Debit note (giấy báo nợ) gửi khách hàng và chuyển cho bộ phận kế toán để theo dõi thu công nợ. Chỉ khi nào người gửi hàng thanh toán cước phí và các khoản phí liên quan ( THC, Bill fee, Seal fee…) thì nhân viên chứng từ mới cấp phát vận đơn cho họ.

    Trong trường hợp cước phí trả sau (freight collect) nhân viên chứng từ sẽ làm Debit note (giấy báo nợ) thu cước người nhận hàng gửi đại lý tại cảng đến nhờ thu hộ, người gửi hàng chỉ đóng phụ phí tại Việt Nam và nhận vận đơn.

    • Quyết toán và lưu hồ sơ

     

    Sau khi hoàn thành xong thủ tục thông quan và vào sổ người giao nhận phải :

    Kiểm tra và sắp xếp lại các chứng từ thành 1 bộ hoàn chỉnh, người giao nhận sẽ trả chứng từ lại cho khách và công ty cũng lưu lại 1 bộ. Đồng thời, kèm theo đó là 1 bản debit note ( giấy báo nợ) « 1 bản dành cho khách hàng, 1 bản dành cho công ty ». Trên đó gồm : các khoản chi phí mà công ty đã nộp cho khách hàng có hóa đơn đỏ, phí dịch vụ vận chuyển, các chi phí khác…Sau đó giám đốc ký tên và đóng dấu vào giấy báo nợ này. Người giao nhận mang toàn bộ chứng từ cùng vứi debit note quyết toán với khách hàng.

    III – Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu đường biển bằng container (FCL) tại công ty TNHH DV GN VC TM Siêu Kỷ

    3.1 Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng container tại Công ty

     
       
     
       

    Sơ đồ 3 – Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu đường biển bằng container tai công ty Siêu Kỷ

    3.2 Diễn giải quy trình

    3.2.1 Nhận thông tin chi tiết hàng từ đại lý và yêu cầu từ khách hàng

    Nhân viên kinh doanh tiếp nhận nhu cầu nhập khẩu của đại lý hoặc khách hàng. Sau đó tiến hành xem xét và báo giá, hai bên thỏa thuận và ký kết hợp đồng giao nhận.

    Sau khi hoàn tất việc giao hàng và bộ chứng từ cần thiết cho hãng tàu thì đại lý của Công ty ở nước ngoài sẽ gửi chứng từ sang cho Công ty thông qua hệ thống email bao gồm các nội dung được đính kèm file: Master Bill of Lading, House Bill of Lading, Debit/ Credit Note, thông  tin về con tàu và ngày dự kiến tàu đến, các nội dung yêu cầu Công ty kiểm tra và xác nhận.

    Trong đó Master Bill of Lading thể hịên mối quan hệ giữa người gửi hàng và người nhận hàng. Debit note: giấy dùng thể thanh toán tỷ lệ hoa hồng mà Công ty phải trả cho đại lý Công ty. Credit note: giấy đòi tiền đại lý phát sinh khi đại lý nhờ Công ty đóng hộ cước hãng tàu.

    Tất cả chứng từ này thể hiện mối liên hệ và tình trạng công nợ giữa đại lý và Công ty nhằm xác định khoản thu chi và lợi nhuận giữa hai bên.

    3.2.2  Kiểm tra bộ chứng từ

    Sau đó nhân viên chứng từ sẽ tiến hành kiểm tra chứng từ của đại lý gửi về một cách nhanh chóng nhưng cẩn thận bằng cách xem thông tin trên vận đơn có trùng khớp và đầy đủ các thông tin, tên người gửi, người nhận, tên tàu và ngày tàu đến, số cont và số seal, chi tiết hàng hóa.

    Trong trường hợp không trùng khớp với các số liệu giữa các chứng từ với nhau, nhân viên chứng từ có nhiệm vụ liên lạc với đại lý để kịp thời bổ sung và thông báo cho Công ty khi có sự điều chỉnh gấp. Một số trường hợp do lỗi của đại lý không bổ sung chứng từ cho Công ty kịp thời thì phải chịu trách nhiệm về các khoản chi phí điều chỉnh.

    3.2.3 Lấy lệnh giao hàng( lệnh D/O)

    Trước ngày dự kiến hàng đến thông thường từ 1 đến 2 ngày sẽ nhận được  giấy báo hàng đến của hãng tàu. Dựa vào số vận đơn trên giấy báo để kẹp vào các debit /credit của lô hàng.

    Nhân viên giao nhận thực hiện việc đi đổi lệnh  phải cầm giấy giới thiệu  kèm theo giấy báo nhận hàng chờ xuất hoá đơn để lấy lệnh. Đối với hàng FCL thì khách hàng trực tiếp đóng tiền cược cont và đóng dấu chuyển thẳng tại đại lý hãng tàu khi có nhu cầu.

    3.2.4 Thông quan hàng nhập

    3.2.4.1 Chuẩn bị các chứng từ cần thiết để mở tờ khai.

    • Hồ sơ hải quan gồm

    + Tờ khai hải quan : 2 bản chính (1 bản dành cho người nhập khẩu, 1 bản dành cho hải quan lưu)

    + Hợp đồng mua bán hàng hóa :1 bản chính

    + Hóa đơn thương mại(invoice) : 1 bản chính

    + Phiếu đóng gói (packing list) : 1 bản chính

    + Giấy giới thiệu của công ty nhập khẩu : 1 bản

    3.2.4.2 Truyền số liệu qua mạng hải quan điện tử

    Nhân viên giao nhận dùng phần mềm khai báo hải quan điện tử  « ECUSKD » để truyền số liệu lên tờ khai qua mạng. Nếu truyền thành công hệ thống mạng của hải quan tự động báo số tiếp nhận hồ sơ, số tờ khai và phân luồng hàng hóa. Nhờ bước cải tiến này mà thời gian làm thủ tục nhanh hơn so với thủ công trước đây vì nhân viên hải quan không phải nhập lại số liệu trên tờ khai vào máy.

    Luồng hàng hóa có 3 luồng: luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ.( giống như hàng xuất khẩu).

    ¯ Những tiêu chí cần thiết của tờ khai nhập khẩu

    Ví dụ: Tờ khai hải quan điện tử về hàng nhập khẩu của Công ty TNHH TM DV XNK B

    • Ô số 1: Người xuất khẩu
    • Ô số 2: Người nhập khẩu: Mã số thuế:
    • Ô số 3: Để tên người uỷ thác ( nếu có).
    • Ô số 4: Đại lý làm thủ tục hải quan ( nếu có).
    • Ô số 5: Loại hình nhập khẩu tuỳ thuộc vào mục đích nhập của công ty.

    Trong trường hợp này là nhập để kinh doanh (NKD01)

    • Ô số 6: Hóa đơn thương mại
    • Số :DA0758
    • Ngày: 25/02/2011
    • Ô số 7: Giấy phép (nếu có)
    • Ô số 8: Hợp đồng
    • Số: 0103-2011
    • Ngày: 05/02/2011
      • Ô số 9: Vận tải đơn
    • Số: ABKSGN62761
    • Ngày: 28/02/2011
    • Ô số 10:Cảng xếp hàng

    BANGKOK, THAILAND

    • Ô số 11: Cảng dỡ hàng: C48

    Cảng Cát Lái/ TP.HCM

    • Ô số 12:Phương tiện vận tải: Đường biển

    LANTAU ARROW

    • Ô số 13: Nước xuất khẩu: TH (Thái Lan)
    • Ô số 14: Điều kiện giao hàng: CIF
    • Ô số 15: Phương thức thanh toán: TTR
    • Ô số 16: Đồng tiền thanh toán: USD
    • Ô số 17: Tỷ giá tính thuế: 20.663
    • Ô số 18 : Kế quả phân luồng và hướng dẫn làm thủ tục Hải quan

    – Kiểm tra thực tế hàng hóa (luồng đỏ)

    (Nếu nhiều loại hàng hoá thì mã số hàng hoá cũng khác nhau. Vì vậy khi lên tờ khai cần tra cứu về mã số hàng hoá một cách kỹ lưỡng trong biểu thuế nhằm tránh sai sót gây chậm trễ cho việc giao nhận hàng.)

    (Ở lô hàng của công ty vì mã số hàng hóa được thể hiện ở phụ lục tờ khai nên ô này để trống.)

    • Ô số 19 : Chứng từ Hải quan trước đó (nếu có)
    • Ô số 20 : Tên hàng, quy cách phẩm chất
    • Ô số 21:Mã số hàng hóa
    • Ô số 22: Xuất xứ
    • Ô số 23 : Số lượng
    • Ô số 24: Đơn vị tính
    • Ô số 25: Đơn giá nguyên tệ
    • Ô số 26: Trị giá tính thuế
    • Ô số 27: Thuế nhập khẩu
    • Ô số 28: Thuế GTGT
    • Ô số 29: Thu khác
    • Ô số 30: Tổng số tiền thuế vá thu khác (27 + 28 + 29)
    • Ô số 31: Tổng trọng lượng: 437 kgs
    • Ô số 32: Ghi chép khác
    • Ô số 33: Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm trước Pháp Luật về những nội dung khai báo trên tờ khai này.

    (Giám đốc Công ty xuất khẩu ký tên, đóng dấu)

    • Ô số 34: Xác nhận đã qua khu vực giám sát
    • Ô số 35: Xác nhận giải phóng hàng/ đưa hàng về bảo quản/ chuyển cửa khẩu
    • Ô số 36: Xác nhận thông quan

    (Chi tiết chứng từ đính kèm sau báo cáo)

    3.2.4.3 Làm thủ tục Hải quan tại Cảng

    Chia thành 2 trường hợp :

    1. Trường hợp 1 : Hàng hóa nhập khẩu miễn kiểm ( luồng xanh)

    Bước 1 : Mở tờ khai Hải quan        

    • Nhân viên giao nhận sau khi lập tờ khai hải quan, khai báo qua mạng để lấy số tiếp nhận, số tờ khai, phân luồng kiểm hóa. Sau đó, tiến hành đăng ký mở tờ khai hải quan tại cả
    • Nhân viên kinh doanh đến Hải quan mở tơ khai tìm «  báo cáo vi phạm pháp luật », xem Doanh nghiệp nhập khẩu có nợ thuế hay bị phạt chậm nộp thuế hay không đóng thuế cho Doanh nghiệp.

    + Nếu không vi pham thì nộp lại cùng với bộ chứng từ để Hải quan kiểm tra.

            Các chng t phi np:

    – Báo cáo vi phạm pháp luật

    –  Tờ  khai Hải quan nhập khẩu HQ/2002-NK (2 bản chính: 1 bản lưu Hải quan và 1 bản lưu người khai Hải quan

    –  Hợp đồng mua (1 bản sao y bản chính)

    –  Hóa đơn thương mại (1 bản chính )

    –  Vận đơn đường biển (sao y) « có ký hậu của Ngân hàng nếu thanh toán bằng L/C »

    – Lệnh giao hàng (1bản chính).

    –  Packing list (1bản chính).

    –  Giấy giới thiệu của công ty

    – Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) (nếu có).

    –  Chứng từ đăng ký viện vệ sinh (đối với hàng thực phẩm,…).

    + Nếu Doanh nghiệp vi phạm chậm nộp thuế thì nhân viên giao nhận tiến hành nộp thuế cho Doanh nghiệp . Sau đó, sao y  « Biên nhận nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước » nộp lại Hải quan tiếp nhận hồ sơ cùng với bộ chứng từ để Hải quan kiểm tra.

    • Hải quan sẽ tiếp nhận bộ hồ sơ của nhân viên công ty và từ đó dựa vào mã số thuế của doanh nghiệp, hải quan sẽ tra cứu trên mạng xem doanh nghiệp có tên trong danh sách bị cưỡng chế hay không và kiểm tra ân hạn thuế, bảo lãnh thuế.
    • Sau khi kiểm tra xong Hải quan sẽ chuyển qua bộ phận tính giá thuế.

    Bước 2 : Tính giá thuế

    • Hải quan kiểm tra lại thuế tính trong tờ khai có đúng với số tiền thực tế mà doanh nghiệp phải nộp không.

    –   Nếu doanh nghiệp được ân hạn thuế thì đóng dấu xác nhận

    • Nếu doanh nghiệp phải đóng thuế ngay thì nhân viên giao nhận đóng thuế và sao y biên nhận nộp tiền vào ngân sách Nhà nước Nộp lại cho cửa tính thuế xác nhận.

    Bước 3: Trả tờ khai Hải quan

    • Sau khi kiểm tra và đóng dấu xong Hải quan sẽ chuyển qua cửa trả tờ khai Hải quan.
    • Nhân viên giao nhận mua tem ( lệ phí Hải quan) dán vào tờ khai.
    • Hải quan trả lại bộ chứng từ bao gồm :

    + Tờ khai Hải quan

    + Phiếu ghi kết quả kiểm tra chứng từ

    1. Trường hợp 2 : Hàng hóa nhập khẩu kiểm hóa ( luồng đỏ)

    Bước 1 Mở tờ khai Hải quan

    • Nhân viên giao nhận sau khi lập tờ khai hải quan, khai báo qua mạng để lấy số tiếp nhận, số tờ khai, phân luồng kiểm hóa. Sau đó, tiến hành đăng ký mở tờ khai hải quan tại cả
    • Nhân viên kinh doanh đến Hải quan mở tơ khai tìm «  báo cáo vi phạm pháp luật », xem Doanh nghiệp nhập khẩu có nợ thuế hay bị phạt chậm nộp thuế hay không đóng thuế cho Doanh nghiệp.

    + Nếu không vi pham thì nộp lại cùng với bộ chứng từ để Hải quan kiểm tra.

            Các chng t phi np:

    – Báo cáo vi phạm pháp luật

    –  Tờ  khai Hải quan nhập khẩu HQ/2002-NK (2 bản chính: 1 bản lưu Hải quan và 1 bản lưu người khai Hải quan

    –  Hợp đồng mua (1 bản sao y bản chính)

    –  Hóa đơn thương mại (1 bản chính )

    –  Vận đơn đường biển (sao y) « có ký hậu của Ngân hàng nếu thanh toán bằng L/C »

    – Lệnh giao hàng (1bản chính).

    –  Packing list (1bản chính).

    –  Giấy giới thiệu của công ty

    – Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) (nếu có).

    –  Chứng từ đăng ký viện vệ sinh (đối với hàng thực phẩm,…).

    + Nếu Doanh nghiệp vi phạm chậm nộp thuế thì nhân viên giao nhận tiến hành nộp thuế cho Doanh nghiệp . Sau đó, sao y  « Biên nhận nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước » nộp lại Hải quan tiếp nhận hồ sơ cùng với bộ chứng từ để Hải quan kiểm tra.

    • Hải quan sẽ tiếp nhận bộ hồ sơ của nhân viên công ty và từ đó dựa vào mã số thuế của doanh nghiệp, hải quan sẽ tra cứu trên mạng xem doanh nghiệp có tên trong danh sách bị cưỡng chế hay không và kiểm tra ân hạn thuế, bảo lãnh thuế.
    • Sau khi kiểm tra xong Hải quan sẽ chuyển qua bộ phận tính giá thuế.

    Bước 2 : Tính giá thuế

    • Hải quan kiểm tra lại thuế tính trong tờ khai có đúng với số tiền thực tế mà doanh nghiệp phải nộp không.

    –   Nếu doanh nghiệp được ân hạn thuế thì đóng dấu xác nhận

    • Nếu doanh nghiệp phải đóng thuế ngay thì nhân viên giao nhận đóng thuế và sao y biên nhận nộp tiền vào ngân sách Nhà nước Nộp lại cho cửa tính thuế xác nhận.

    Bước 3 Kiểm hóa

    • Nhân viên giao nhận xem bản phân công kiểm hóa để liên lạc với Hải quan kiểm hóa.
    • Sau đó đăng ký chuyển bãi kiểm hóa cho container và mua seal cho container
    • Xuống bãi làm « giấy cắt seal », kêu công nhân cắt seal đến cắt seal. Đồng thời, liên lạc với Hải quan kiểm hóa xuống bãi xem cắt seal và kiểm tra hàng hóa theo mức độ mà Hải quan yêu cầu.
    • Sau đó, nhân viên giao nhận bấm seal lại.

    Bước 4 Trả tờ khai Hải quan

    • Sau khi kiểm tra và đóng dấu xong Hải quan sẽ chuyển qua cửa trả tờ khai Hải quan.
    • Nhân viên giao nhận mua tem ( lệ phí Hải quan) dán vào tờ khai.
    • Hải quan trả lại bộ chứng từ bao gồm :

    + Tờ khai Hải quan

    + Phiếu ghi kết quả kiểm tra chứng từ

    + Phiếu ghi kết quả kiểm tra hàng hóa

    3.2.5 Xuất phiếu EIR

    Nhân viên giao nhân đến phòng Thương vụ (ở cảng) nộp D/O ( có dấu giao thẳng của Hãng tàu ) và đóng tiền nâng/ hạ, lưu container để xuất phiếu EIR.

    3.2.6 Thanh lý Hải quan cổng

    – Nhân viên công ty mang bộ chứng từ gồm :

    + Lệnh giao hàng

    + Phiếu EIR

    +Tờ khai Hải quan( bản chính và copy)

    – Hải quan sẽ vào sổ hải quan về lô hàng và đóng dấu vào tờ khai và Phiếu EIR.

    – Hải quan sẽ trả lại tờ khai Hải quan (bản chính) và phiếu EIR cho nhân viên giao nhận.

    3.2.7 Giao hàng cho Khách hàng

    Nhân viên giao nhận cho xe vào Cảng chở hàng ra giao đến kho cho khách hàng.

    3.2.8 Quyết toán và lưu hồ sơ

    Sau khi hoàn thành xong thủ tục thông quan và chuyển hàng về kho cho khách hàng xong thì người giao nhận phải :

    Kiểm tra và sắp xếp lại các chứng từ thành 1 bộ hoàn chỉnh, người giao nhận sẽ trao trả chứng từ lại cho khách hàng và Supertrans cũng lưu lại một bộ. Đồng thời kèm theo đó là 1 bản Debit Note – Giấy báo nợ (1 bản dành cho khách hàng, 1 bản dành cho công ty), trên đó gồm : các khoản phí mà công ty đã nộp cho khách hàng có hóa đơn đỏ, phí dịnh vụ vận chuyển hàng hóa, các chi phí phát sinh (nếu có)… sau đó Giám đốc ký tên và đóng dấu vào giấy báo nợ này. Người giao nhận mang toàn bộ chứng từ cùng với Debit Note quyết toán với khách hàng.

    CHƯƠNG III

    GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ FCL XUẤT – NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY SIÊU KỶ

    I – Mục tiêu và phương hướng phát triển của Công ty trong những thời gian tới.

    Trong thời gian trước mắt, mục tiêu của Công ty là tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ của mình, tạo uy tín cho khách hàng và phấn đấu để trở thành cầu nối hiệu quả giữa công ty, các đại lý ở nước ngoài và khách hàng. Song song với việc giữ vững thị trường hiện có là tìm biện pháp thích hợp để mở rộng các hoạt động dịch vụ, vươn xa hơn nữa ra các thị trường nước ngoài. Cụ thể là để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Công ty và chuẩn bị cơ sở cho một sự phát triển lâu dài và ổn định trong thời gian tới, Công ty cần tập trung vào một số nhiệm vụ sau :

    – Tiếp tục mở rộng quan hệ giao dịch đối ngoại với các tổ chức giao nhận quốc tế. Giữ vững mối quan hệ đại lý, những khách hàng và những hợp đồng ký kết. Đồng thời, tích cực tìm kiếm khách hàng mới, tìm hiểu thông tin, nắm chắc khả năng, yêu cầu uỷ thác của khách hàng trong và ngoài nước.

    – Phát triển kinh doanh dịch vụ giao nhận phải gắn liền với đẩy mạnh công tác giao nhận, vận tải và bảo quản trong nước, củng cố năng lực trong nước vững mạnh về tổ chức và giỏi về nghiệp vụ.

    – Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Marketing trong chiến lược kinh doanh của mình với trụ cột là chiến lược dịch vụ mới, chiến lược giá cả mềm dẻo, linh hoạt.

    – Dần dần củng cố và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác giao nhận bằng vốn ngân sách, vốn tự có, vốn liên doanh liên kết.

    – Ổn định mức chi phí tiền lương trong khâu kinh doanh dịch vụ giao nhận.

    Những chủ trương nói trên của Ban Giám đốc Công ty được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu như sau :

    Bảng 6 : Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của Siêu Kỷ trong 2 năm 2011 và năm 2012

     Đơn vị tính: Triệu đồng

    Chỉ tiêu          Năm 2011 2012
    Doanh thu 3700 4200
    Lợi nhuận 400 450

    Nguồn:Trích kế hoạch cho năm 2011 và 2012 của Siêu Kỷ

    Để có thể thực hiện tốt các mục tiêu, phương hướng đề ra, để tiếp tục phát triển một cách ổn định và vững mạnh, Siêu Kỷ cần phải khắc phục kịp thời những khó khăn tồn tại đồng thời phát huy tối đa những lợi thế của mình.

          II –  Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giao nhận hàng hóa  xuất – nhập khẩu bằng đường biển của  Công ty

             2.1  Nhóm biện pháp đối với doanh nghiệp.

    Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối mặt với những khó khăn, thách thức. Để tồn tại và phát triển mỗi doanh nghiệp cần phải tự mình đưa ra các giải pháp để khắc phục khó khăn tồn tại. Với Siêu Kỷ cũng vậy, để dịch vụ giao nhận đường biển phát triển, công ty cần có các biện pháp sau :

    2..1.1  Mở rộng thị trường kinh doanh.

    Để tạo tính ổn định trong hoạt động kinh doanh của mình, tránh các biến động của thị trường thì song song với việc giữ vững thị trường hiện có, công ty phải tìm biện pháp thích hợp để mở rộng hoạt động của dịch vụ giao nhận đường biển hơn nữa ra thị trường nước ngoài.

    Có hai hình thức mở rộng thị trường, đó là mở rộng thị trường của công ty theo chiều rộng và theo chiều sâu. Trong đó :

    Mở rộng thị trường theo chiều rộng chính là mở rộng thị trường theo phạm vi địa lý. Cho đến nay Siêu Kỷ đã vươn ra khá nhiều thị trường trên hầu hết các châu lục trên thế giới. Tuy nhiên vẫn còn một số thị trường rất giàu tiềm năng mà Công ty chưa có đủ khả năng khai thác như Mexico, Nam Mỹ, Trung Đông.

    Mở rộng thị trường theo chiều sâu là  đa dạng hoá phạm vi dịch vụ của công ty để thu hút được nhiều khách hàng đạt doanh thu hoạt động cao hơn nhằm khai thác triệt để và giữ vững thị trường hiện có của Công ty.

    Để tiếp cận và mở rộng được thị trường, Công ty cần phải tiến hành nghiên cứu thị trường. Vì nghiên cứu thị trường, nắm bắt những thông tin về thị trường sẽ giúp cho các cán bộ quản lý, các nhà hoạch định chính sách của Công ty vạch ra những chiến lược cụ thể trong việc giữ vững, mở rộng thị trường kinh doanh của mình. Để làm được điều đó Siêu Kỷ cần phải :

    – Trước hết, Công ty cần liên doanh liên kết với các Công ty nước ngoài đã quen thuộc với thị trường mà công ty chưa khai thác được để chen chân vào thị trường đó.

    – Công ty cần cử các cán bộ đi tham quan, trao đổi kinh nghiệm ở các công ty nước ngoài, tận dụng tối đa các cơ hội để nắm bắt các thông tin cần thiết .

    – Công ty cần tiến tới mở thêm một số các văn phòng đại diện ở nước ngoài, những nước mà công ty đã có nhiều khách hàng thường xuyên.

    – Tiếp tục mở rộng mối quan hệ với các đại lý ở nước ngoài thông qua các mối quan hệ hiện có.

    • Tăng cường chiến lược Marketing xây dựng hình ảnh công ty

     

    Thường xuyên nâng cấp Website công ty vì đây là phương tiện để khách hàng tiếp cận với công ty nhanh nhất, tạo ấn tượng ban đầu tốt đẹp với khách hàng. Hiện nay, Website công ty mới chỉ có một ngôn ngữ là Tiếng Anh. Điều này một mặt tạo ra sự chuyên nghiệp trong phong cách làm việc của công ty, nhưng mặt khác tiếng Anh đôi khi cũng là rào cản ngôn ngữ cho khách hàng. Vì thế, cách tốt nhất là Website công ty nên dùng cả hai ngôn ngữ Anh và Việt để dễ dàng tiếp cận cho cả khách hàng trong và ngoài nước.

    Hơn nữa, hiện nay Công ty chưa có bộ phận marketing nên việc marketing cho Công ty do Bộ phận kinh doanh đảm nhận, vì vậy việc marketing quảng bá hình ảnh của Công ty chưa được quan tâm đúng mức. Mặt khác, để việc sales dễ dàng hơn thì hình ảnh công ty cần phải xuất hiện và có uy tín trên thị trường. Chính vì thế, công ty cần phải có kế hoạch và chiến lược marketing cụ thể trong từng tháng và từng năm.

    Công ty cũng nên có nhiều chiến  lược quảng cáo  tên  tuổi của công  ty đến với các doanh nghiệp  như:  tổ  chức một  số buổi hội  thảo,  tham dự  các hội  chợ  giới  thiệu  việc làm…

    • Nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chất lượng dịch vụ.
    • Giảm thời gian chờ đợi đối với bộ phận chứng từ và giao nhận đồng thời mở kênh tiếp thị cũng như chăm sóc khách hàng.
    • Thường xuyên tạo lập mối quan hệ thân thiết và lâu bền với khách hàng. Hỗ trợ khách hàng bằng cách tư vấn cho khách hàng hiểu rõ và chủ động hơn trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh và quảng bá.
    • Thường xuyên cung cấp những dịch vụ phụ trợ cho khách hàng, có những chính sách ưu đãi về giá cả đối với khách hàng thường xuyên của công ty. Cần chú trọng đến khâu giải quyết khiếu nại của khách khi có sự cố xảy ra, phải đề xuất những cách giải quyết có lợi nhất cho khách, không làm mất lòng tin nơi khách hàng.
    • Mở rộng thêm quy mô cũng như tăng số lượng nhân viên để phát triển thị trường trong và ngoài nước.
    • Tăng cường đội xe để đẩy nhanh tốc độ giao hàng, tránh trường hợp bị động về phương tiện vận chuyển đồng thời tiết kiệm được nhiều chi phí khi phải thuê ngoài vừa có thể kiểm soát tốt khâu cuối cùng trong công tác giao nhận.
    • Với các  đối  thủ  cạnh  tranh,  tìm hiểu và xác định những điểm mạnh, điểm yếu, mục  tiêu,  chính  sách của họ. Từ đó, học hỏi ở họ những  cái hay  có  thể ứng dụng cho mình và tránh những điểm yếu họ gặp phải.
      • Phát triển nguồn nhân lực mang tính chuyên nghiệp liên quan đến hoạt động giao nhận.

    Chú ý khâu tuyển dụng, lựa chọn đầu vào của công ty, nên tuyển thêm các nhân viên có trình độ nghiệp vụ vững vàng, có kiến thức chuyên ngành để nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động giao nhận.

    Nâng cao trình độ cho mỗi nhân viên hơn nữa bằng các khóa nghiệp vụ ngắn hạn đồng thời tạo điều kiện cho nhân viên có môi trường làm việc tốt hơn, có ý thức chia sẻ và gắn bó lâu dài với công ty hơn.

    Các nhân viên cần tích cực học hỏi để nâng cao nghiệp vụ. Bên cạnh sự cẩn thận, chính xác trong việc lập, lưu các chứng từ, các nhân viên phải luôn luôn cập nhật các kiến thức, thông tin mới về giao nhận, phải nhanh chóng nắm bắt sự thay đổi các điều luật thương mại về giao nhận xuất nhập khẩu, hay cả các chính sách về giá, thuế trong từng thời kỳ để thực hiện tốt hơn trong công việc.

    Xây dựng chế độ khen thưởng rõ ràng, cụ thể, lập bảng thành tích đồng thời có khen thưởng cụ thể trong từng tháng để các bộ phận hoạt động có hiệu quả, khuyến khích tinh thần làm việc tích cực của nhân viên.

    2.2. Đối với nhà nước

    2.2.1  Nâng cao hiệu quả hoạt động của hải quan cảng.

     

    Có biện pháp xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế phát sinh tiêu cực làm cản trở cho các doanh nghiệp. Kiên quyết chống hành vi tham ô, nhũng nhiễu trong đội ngũ hải quan.

    Công chức hải quan cần hướng dẫn cụ thể, chỉ ra cái sai cho doanh nghiệp. Tùy từng trường hợp mà xử lý từ cảnh báo tới phạt hành chính để tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện đúng quy định pháp luật. Khi được phân bổ nhiệm vụ, công chức hải quan cần nhanh chóng làm việc để đảm bảo tiến độ công việc giúp doanh nghiệp nhận hàng, tránh tình trạng lưu kho lưu bãi.

    Các khâu làm thủ tục hải quan mất nhiều thời gian làm ảnh hưởng tới tiến trình kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, giải pháp bức thiết là  đơn giản hóa thủ tục hải quan theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa giúp việc thông quan hàng hóa nhanh chóng, tránh những phiền toái không cần thiết.

    2.2.2 Tăng cường chính sách hợp tác quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội.

    Việc Việt Nam ra nhập ASEAN, AFTA, APEC, WTO…đã nâng tầm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho kinh tế Việt Nam phát triển. Nhưng số nước có quan hệ kinh tế với Việt Nam không nhiều, chúng ta cần thiết lập mối quan hệ tin tưởng, hai bên cùng có lợi với các quốc gia khác đặc biệt là trong hoạt động đầu tư nước ngoài. Từ đó, gián tiếp thúc đẩy việc xuất nhập khẩu hàng hóa, tạo điều kiện cho ngành giao nhận phát triển. Hơn nữa, việc cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp nỗ lực phấn đấu và trưởng thành hơn.

    2.2.3 Xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ và nhất quán, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.

    Một hệ thống pháp luật đồng bộ và thống nhất sẽ tạo một hành lang pháp lý ổn định, tạo tư tưởng an tâm cho các doanh nghiệp vận tải và giao nhận trong nước cũng như những nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, Nhà nước phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, các chính sách về thuế, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính…nhằm thúc đẩy và phát triển hệ thống giao nhận.

    2.2.4 Nhà nước tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ giao nhận đường biển.

    Nhà nước cần đầu tư thích đáng để xây dựng cơ sở vật chất cho việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biển như xây dựng và mở rộng cảng biển, hiện đại hoá thiết bị xếp dỡ vận chuyển hàng hoá. Ngoài ra, Nhà nước cần đầu tư để mở rộng tuyến đường sắt sao cho đạt tiêu chuẩn quốc tế, nâng cấp tu sửa hệ thống đường bộ, cầu cống… để cùng với vận tải đường biển, người giao nhận có thể thực hiện vận tải hàng hoá đa phương thức một cách thuận tiện, dễ dàng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]