Category: Thương Mại – Marketing

  • Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: GIẢI BÀI TẬP MÔN TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-theo-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-ch%E1%BB%A9ng-t%E1%BB%AB.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    LỜI CẢM ƠN

     

    Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Mai Thanh Quế và tập thể cán bộ phòng thanh toán quốc tế tại SGD I – NHĐT&PTVN đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

     

     

     

    Sinh viên

     

     

    Đỗ Thị Thúy Mai

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng mở rộng. Sự giao lưu buôn bán hàng hoá giữa các quốc gia khác nhau với khối lượng ngày một lớn đã  đòi hỏi qúa trình thị trường hàng hoá xuất nhập khẩu phải nhanh chóng thuận tiện cho các bên.

    Sau thời gian thực tập tại phòng Thanh toán quốc tế – Sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (SDG I – NHĐT&PTVN), em nhận thấy tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được áp dụng phổ biến nhất hiện nay.  Bởi lẽ nó đáp ứng được nhu cầu của hai phía: Người bán hàng đảm bảo nhận tiền, người mua nhận được hàng và có trách nhiệm trả tiền. Đây là  phương thức tín  dụng quốc tế được áp dụng phổ biến và an toàn nhất hiện nay, đặc biệt là trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu.

    Trong năm qua SGD I – NHĐT&PTVN đã không ngừng đổi mới và nâng  cao các nghiệp vụ thanh toán của mình để phục vụ  tốt cho khách hàng, đáp ứng  nhu cầu thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu của khách hàng. Cùng với chính sách kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng, thông thoáng của Chính phủ, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển. Do đó, hình thức thanh toán tín  dụng chứng từ ngày càng được phát triển và hoàn thiện hơn.

    Xuất phát từ vấn đề nêu trên, Em muốn đi sâu  nghiên cứu đề  tài: “Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ” (Nghiên cứu tại SGD I – NHĐT&PTVN) nhằm tìm hiểu thêm về hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD I – NHĐT&PTVN. Đồng thời tìm ra giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGD I.

    Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề gồm 3 chương:  Chương 1: Tổng quan về thanh toán quốc tế và tín dụng chứng từ.

    Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng

    chứng từ tại SGD I – NHĐT&PTVN.

    Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD I –

    NHĐT&PTVN.

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

     

    1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ.

    1.1.1 Khái niệm:

    Với sự phát triển của thương mại, nhu cầu trao đổi không chỉ dừng lại ở một số nước mà hoạt động mua bán đã lan rộng ra khắp các nước, các khu  vực trên  toàn thế giới. Vì vậy, một nghiệp vụ mới ra đời đáp ứng được đòi hỏi đó. Đó là: “ Nghiệp vụ thanh toán quốc tế”.

    Như vậy,thanh toán quốc tế là việc chi trả cá nghĩa vụ tiền tệ phát sinh trong các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tế, giữa các hãng, các cá nhân của các quốc gia khác nhau.

    1.1.2. Các điều kiện thanh toán quốc tế.

    Trong quan hệ thanh toán giữa các nước, các vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà đôi bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện được quy định lại thành những điều kiện gọi là: Điều kiện thanh toán quốc tế.

    Mặt khác, nghiệp vụ Thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện Thanh toán quốc tế. Những điều kiện này được thể hiện ra trong các điều khoản thanh toán của các hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền giữa các nước, của các hợp đồng mua bán ngoại thương ký kết giữa người mua và người  bán.

    Các điều kiện thanh toán quốc tế bao gồm: Điều kiện tiền tệ, điều  kiện  về địa điểm, điều kiện về thời gian, điều kiện về phương thức thanh toán.

    Điều kiện tiền tệ:

    Trong thanh toán quốc tế các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định của một nước nào đó. Vì vậy, trong các hiệp định và hợp đồng đều có quy định tiền tệ. Điều kiện này quy định việc sử dụng đồng tiền nào để thanh toán trong hợp đồng

    ngoại thương và hiệp định ký kết giữa các nước. Đồng thời điều kiện này cũng quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó biến động. Người ta có thể chia thành hai loại tiền sau:

    • Đồng tiền tính toán (Account Currency): Là loại tiền được dùng để thể

    hiện giá cả và tính toán tổng giá trị hợp đồng.

    • Đồng tiền thanh toán (Payment Currency): Là loại tiền để chi trả nợ nần, hợp đồng mua bán ngoại thương. Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền của  nước nhập khẩu, của nước xuất khẩu hoặc có thể là đồng tiền quy định thanh toán của nước thứ

    Điều kiện về địa điểm thanh toán:

    • Địa điểm thanh toán được quy định rõ trong hợp đồng ký kết giữa các bên. Địa điểm thanh toán có thể là nước nhập khẩu hoặc nước người xuất khẩu hay có thể là một nước thứ
    • Tuy nhiên, trong TTQT giữa các nước, bên nào cũng muốn trả tiền tại nước mình, lấy nước mình làm địa điểm thanh toán. Sở dĩ như vậy vì thanh toán tại nước mình thì có nhiều điểm thuận lợi hơn.Ví dụ như có thể đến ngày mới phải chi tiền, đỡ đọng vốn nếu là người nhập khẩu, hoặc có thể thu tiền về nhanh nên luân chuển vốn nhanh nếu là người xuất khẩu, hay có thể tạo điều kiện nâng cao được địa vị của thị trường tiền tệ nước mình trên thế giới…
    • Trong thực tế, việc xác định địa điểm thanh toán là sự so sánh lực lượng giữa hai bên quyết định, đồng thời còn thấy rằng dùng đồng tiền của nước nào thì địa điểm thanh toán là nước ấy.

    Điều kiền về thời gian thanh toán:

    Điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ với  việc luân chuyển  vốn, lợi tức, khả năng có thể tránh được những biến động về tiền tệ thanh toán. Do đó, nó là vấn đề quan trọng và thường xẩy ra tranh chấp giữa các bên trong đàm phán ký kết hợp đồng.

    Thông thường có 3 cách quy định về thời gian thanh toán:

    • Trả tiền trước là việc bên nhập khẩu trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hay một phần tiền hàng sau khi hai bên ký kết hợp đồng hoặc sau khi bên xuất khẩu chấp nhận đơn đặt hàng của bên nhập khẩu.
    • Trả tiền ngay là việc người nhập khẩu trả tiền sau khi người xuất khẩu hoàn hành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi quy định hoặc  sau khi người nhập khẩu nhận được hàng tại nơi quy định.
    • Trả tiền sau là việc người nhập khẩu trả tiền cho gnười xuất khẩu sau một

    khoảng thời gian nhất định kể từ khi giao hàng.

    Điều kiện về phương thức thanh toán:

    Đây là điều kiện quan trọng nhất trong hoạt động thanh toán quốc  tế.  Phương thức thanh toán là cách mà người mua trả tiền và  người bán thu tiền về  như thế nào. Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Tuỳ từng điều  kiện cụ thể mà người mua và người bán có thể thoả thuận để xác định phương thức thanh toán cho phù hợp.

    1.1.3. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng thương mại.

    a.     Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại (KTĐN).

    Thanh toán quốc tế là khâu then chốt, cuối cùng để khép kín một chu trình mua bán hàng hoá hoạc trao đổi dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.

    Thanh toán quốc tế là cầu nối trong mối quan hệ kinh tế đối ngoại, nếu  không có hoạt động thanh toán quốc tế thì không có hoạt động kinh tế đối ngoại. Thanh toán quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển. Việc tổ chức Thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất yên tam và đẩy mạnh hoạt động XNK của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, đặc biệt là hoạt động ngoại thương.

    Đồng thời, hoạt động Thanh toán quốc tế góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý các đối tác xa nhau nên việc tìm hiểu các khả năng tài chính, khả năng thanh

    toán của người mua gặp nhiều khó khăn. Nếu tổ chức tốt công tác Thanh toán quốc tế thì sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng hoá XNK hạn chế được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.

    Tóm lại, có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có mở rộng được hay không một phần nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế có tốt hay không. Thanh toán quốc tế  tốt sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, phát triển sản xuất trong nước, khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hoá.

    b.     Đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.

    Đối với hoạt động của Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế mà nhất là hình thức tín dụng chứng từ có vị trí quan trọng. Nó không chỉ thuần tuý là dịch vụ mà còn được coi là một mặt hoạt động không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

    • Trước hết, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng thu hút thêm được khách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng phát triển  thêm quy mô, tăng thêm nguồn thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
    • Thứ hai, thông qua hoạt động Thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng được nguồn vốn huy động tạm thời do quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân có quan hệ Thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
    • Thứ ba, giúp Ngân hàng thu được một nguồn ngoại tệ lớn từ đó Ngân hàng có thể phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế khác.
    • Thứ tư, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng tăng tính thanh khoản thông qua lượng tiền ký quỹ.Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàn của từng khách hàng cụ thể. Song xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ này phát  sinh một cách thường xuyên và ổn định.Vì vậy trong thời gian chờ đợi thanh toán,

    ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, thậm

    chí có thể sử dụng để kinh doanh,đầu tư ngắn hạn để kiếm lời.

    • Hơn thế nữa, hoạt động thanh toán quốc tế còn giúp Ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng trên cơ sở nâng cao uy tín của Ngân hàng.

    Có thể nói, trong xu thế ngày nay hoạt động Thanh toán quốc tế có vai trò  hết sức quan trọng trong hoạt động ngân hàng nói riêng và hoạt động KTĐN nói chung. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trang để có biện pháp thực hiện nghiệp vụ Thanh toán quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phục vụ tốt hơn cho công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam.

    1.1.4. Các phương thức thanh toán quốc tế.

    a.     Phương thức chuyển tiền.

    • Định nghĩa:

    Phương thức chuyển tiền là phương thức trong đó khách hàng (Người trả  tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người  khác (Người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển  tiền cho khách hàng theo yêu cầu.

    *   Các bên tham gia

    • Người yêu cầu chuyển tiền(Remitter): là người yêu cầu ngân hàng thay mình thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài. Họ thườg là người nhập khẩu, mắc nợ hoắc có nhu cầu chuyển vốn.
    • Người thụ hưởng (Beneficicary): là người nhận được số tiền chuyển tới thông qua ngân hàng. Họ thường là gười xuất khẩu, chủ nợ hoặc nói chung là người yêu cầu chuyển tiền chỉ định.
    • Ngân hàng nhận uỷ nhiệm chuyển tiền (Remitting bank): là ngân hàng phục vụ người chuyển tiền.
    • Ngân hàng trả tiền (Paying bank):là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng.Thường là ngân hàng đại lý hay chi nhánh ngân hàng chuyển tiền và ở nước người thụ hưởng.

    *   Quy trình thực hiện

    Sơ đồ 1: trình tự nghiệp vụ chuyển tiền

     

           
           
     
    NH Đại lý
    NH Chuyển tiền

    (3)

    (2)                                                                                                                   (4)

    Người hưởng
    Người chuyển

    (1)

    (1): Giao dịch thương mại.

    (2): Người mua sau khi nhận hàng tiến hành viết đơn yêu cầu chuyển tiền ( bằng thư hoặc bàng điện)cùng với uỷ nhiệm chi(nếu có tài khoản mở tại ngân hàng) gửi đến ngân hàng phục vụ mình.

    (3): Ngân hàng chuyển tiền kiểm tra chứng từ nếu thấy hợp lệ thì tiến hành chuyển tiền qua ngân hàng dại lý.

    (4): Ngân hàng đại lý tiến hành chuyển tiền chongười hưởng lợi.

    *  Trường hợp áp dụng.

    • Phương thức chuyển tiền được áp dụng trong trường hợp trả tiền hàng hoá xuất khẩu nước ngoài, thường là khi nhận đầy đủ hàng hoá hoặc chứng từ gửi hàng.
    • Thanh toán hàng hoá trong lĩnh vực thương mại và các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá, chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư hoặc chi tiêu thương mại, chuyển kiều hối

    *  Các yêu cầu về chuyển tiền.

    • Muốn chuyển tiền phải có giấy phép của Bộ chủ quản hoặc Bộ Tài chính, hợp đồng mua bán ngoại thương, giấp phép kinh doanh xuất nhập khẩu, bộ chứng từ, UNC ngoại tệ và phí chuyển tiền.
    • Trong đơn chuyển tiền càn ghi đầy đủ tên, địa chỉ của người hưởng lợi,số tài khoản nếu người hưởng lơi yêu cầu,số ngoại tệ,loại ngoại tệ,ý do chuyển tiền và những yêu cầu khác ,sau đó ký tên và đóng dấu.

    b.     Phương thức nhờ thu.

    • Định nghĩa:

    Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng sẽ uỷ thác cho Ngân hàng của mình thu hộ số tiền từ người mua trên cơ sở chứng từ lập ra.

    Đây là phương thức thanh toán an toàn hơn so với phương thức chuyển tiền. Tuy nhiên phương thức này có thể mang lại rủi ro cho người bán trong trường hợp người mua có thể đơn phương huỷ hợp đồng. Ngân hàng thu không chịu trách nhiệm trong trường hợp này. Họ chỉ việc chuyển chứng từ thông báo cho  người  bán trong trường hợp người mua không trả tiền. Chính vì vậy, phương thức thanh toand này không được sử dụng phổ biến , nó chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể.

    *  Trường hợp áp dụng.

    Thứ nhất, người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc có quan hệ liên doanh với nhau, hoặc giữa công ty mẹ công ty con, hoặc giữa các chi nhánh của cùng một công ty với nhau.

    Thứ hai, hàng mua bán lần đầu mang tính chất chào hàng. Thứ ba, hàng ứ đọng khó tiêu thụ.

    *  Các bên tham gia gồm 4 bên:

    • Người nhờ thu là bên giao chỉ thị nhờ thu cho một ngân hàng, thông thường là người xuất khẩu, cung ứng dịch vụ.
    • Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng mà người nhờ thu đã giao chỉ thị nhờ
    • Ngân hàng thu là bất kỳ một ngân hàng nào ngoài ngân hàng chuyển tiền

    thực hiện quá trình nhờ thu.

    • Người trả tiền là người mà chứng từ xuất trình đòi tiền anh ta,là người nhập

    khẩu, người sử dụng dịch vụ được cung ứng( người mua).

    * Các hình thức của phương thức nhờ thu.

    Theo loại hình người ta có thể chia thành nhờ thu phiếu trơn, và nhờ thu kèm chứng từ.

    – Nhờ thu phiếu trơn:

    Đây là phương thức thanh toán trong đó người người bán uỷ thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ  gửi hàng thì gửi thẳng cho cho người mua không qua Ngân hàng.

    Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu phải trải qua các bước sau:

    (1): Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mu, họ sẽ lập một hối phiếu đòi tiền người mua và uỷ thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu.

    (2): Ngân hàng phục vụ người bán kiểm tra chứng từ, sau đó  gửi thư uỷ thác  nhờ thu kèm hối phiếu cho ngân hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu tiền.

    (3): Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (nếu trả tiền ngay)

    hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu (nếu mua chịu).

    (4): Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán thông qua ngân hàng chuyển chứng từ. Nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán. Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người mua và thực hiện việc chuyển tiền như trên.

    Sơ đồ 2 : Trình tự nhờ thu phiếu trơn.

     

     

     
       
    NH thu & xu ất trì nh ch ứng từ
    NH Chuyển chứng từ

    (2)

    (4)

    (1)                (4)                                                                  (4)                  (3)

           
           

    Gửi hàng & Chứng từ

    Phương thức nhờ thu phiếu trơn chỉ áp dụng trong các trường hợp người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc là có quan hệ liên doanh với nhau giữa công ty

    mẹ, công ty con hoặc chi nhánh của nhau. Hoặc trong trường hợp thanh toán về

    các dịch vụ có liên quan tới xuất khẩu hàng hoá.

    Phương thức nhờ thu phiếu trơn không áp dụng thanh toán nhiều trong mậu dịch và nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán. Đối với người mua, áp dụng phương thức này cũng gặp nhiều bất lợi, vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không.

    Nhờ thu kèm chứng từ:

    Đây là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ và bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì Ngân hàng mới trao toàn bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng.

    Sơ đồ 3: Trình tự nhờ thu kèm chứng từ

     

     

    NH thu & xu ất trì nh ch ứng từ
    NH Chuyển chứng từ

    (2)

           
           

    (4)

    (1)              (4)                                                                    (4)                 (3)

    Người mua
    Người bán

    Gửi hàng

     
       

    (1): Người bán sau khi gửi hàng cho người mua, lập bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ tiền. Bộ chứng từ gồm hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo.

    (2): Ngân hàng phục vụ người bán uỷ thác cho ngân hàng đai lý của mình ở  nước người mua nhờ thu tiền.

    (3): Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền. Ngân hàng chỉ trao chứng từ

    gửi hàng cho người mua nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu.

    (4): Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho nguời bán thông qua ngân hàng chuyển chứng từ.

    Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bàn ngoài việc nhờ thu hộ tiền còn có việc nhờ ngân hàng khống chế chứng từ vận tải đối với người mua.  Với cách  khống chế này thì quyền lợi người bán được đảm bảo hơn.

    Tuy nhiên, nó có nhược điểm là người bán không khống khế được việc trả tiền của người mua, người mua có thể kéo dài thời gian tả tiền  khi thấy tình hình  thị trường bất lợi cho họ hay việc trả tiền tiến hành quá chậm chạp.Mặt khác, Ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian thu tiền hộ, chứ không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua.

    c.  Thanh toán biên giới.

    * Định nghĩa.

    Thanh toán biên giới là hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tại khu

    vực biên giới đường bộ các nước.

    Đặc điểm của thanh toán biên giới.

    Thanh toán biên giới có những đặc điểm sau:

    • Đồng tiền sử dụng trong thanh toán biên giới là đồng nội tệ, đồng tiền của nước có chung biên giới và đồng ngoại tệ mạnh.
    • Phương thức giao dịch được sử lý trực tiếp giữa hai Ngân hàng, không phải sử dụng thanh toán quốc tế qua mạng.
    • Ngân hàng được phép hoạt động thanh toán biên giới được trực tiếp giao dịch mở tài khoản, thực hiện các nghiệp vụ liên quan với Ngân hàng nước có  chung biên giới.

    Điều kiện của thanh toán biên giới.

    • Ngân hàng được thực hiện thanh toán biên giới trên cơ sở các điều kiện

    sau:

    • Chính phủ, ngân hàng Nhà nước đã cho phép ngân hàng đó thanh toán biên

    giới với nước bạn.

    • Đã có hiệp định hoặc văn bản pháp lý được ký kết chính thức giữa ngân hàng đó với ngân hàng nước bạn.
    • Ngân hàng đó có đủ cán bộ có trình độ cần thiết về chuyên môn, ngoại ngữ

    và công cụ phương tiện làm việc giao dịch với ngân hàng bạn.

    d.  Tín dụng chứng từ (L/C).

    Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại Ngân hàng thương mại hiện nay. Tín dụng chứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau như: Letter of Credit, Credit, Document Credit. ở Việt Nam ngoài tên là tín dụng chứng từ còn có các tên khác như L/C, thư tín dụng …Trước đây, thư tín dụng còn được gọi là tín dụng thương mại nhưng nay thì từ này không còn được dụng nữa mà thông dụng nhất là “ tín dụng chứng từ” vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng từ.

    Vậy tín dụng chứng từ là gì?

    1.2. TÍN DỤNG CHỨNG TỪ – PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU

    VÀ QUAN TRỌNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

    1.2.1. Định nghĩa:

    Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một  Ngân  hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người  yêu cầu  mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.

    1.2.2. Các bên tham gia.

    Các bên tham gia vào quá trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng

    từ gồm 4 bên.

    Thứ nhất là người yêu cầu mở L/C (Applicant): là người mua, người nhập

    khẩu hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác.

    Thứ hai là người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán, người xuất khẩu.

    Thứ ba là ngân hàng phát hành (Issuing Bank): là Ngân hàng phát hành L/C, là Ngân hàng phục vụ người mua.

    Thứ tư là ngân hàng thông báo (Advising Bank): là Ngân hàng ở nước người hưởng lợi.

    Ngoài ra, trong thực tế vận dụng phương thức tín dụng chứng từ, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể còn có sự tham gia của một số ngân hàng khác như: Ngân hàng xác nhận (Congiring Bank), Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank), Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank)…

    1.2.3. Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C.

    Sơ đồ 1. Trình tự nghiệp vụ thanh toán L/C.

    Ngân hàng thông báo (Advising Bank)
    Ngân hàng phát hành (Issing Bank)

    (3)

     
       

    (6)

    (7)

    (2)        (8)        (9)                                        (4)          (6)      (7)

    (1)

    Người yêu cầu mở

    L/C

    (5)

    Người thụ hưởng

    (Benificiary)

    • : Trong quá trình thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, người xuất khẩu và người nhập khẩu ký hợp đồng thương mại với nhau. Nếu người xuất khẩu yêu cầu thanh toán hàng hoá theo phương thức tín dụng chứng từ thì trong hợp đồng thương mại phải có điều khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
    • : Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại lập đơn xin mở L/C

    tại Ngân hàng phục vụ mình.

    • : Ngân hàng phát hành sẽ kiểm tra xem đơn mở thư tín dụng đó đã hợp lệ hay chưa. Nếu đáp ứng đủ yêu cầu Ngân hàng sẽ mở L/C và thông báo qua Ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu về việc mở L/C và chuyển 1 bản gốc cho người xuất khẩu.
    • : Khi nhận được thông báo về việc mở L/C và 1 bản gốc L/C, Ngân hàng thông báo chuyển L/C cho người thụ hưởng.
    • : Người xuất khẩu khi nhận được 1 bản gốc L/C, nếu chấp nhận nội dung L/C thì sẽ tiến hành giao hàng theo đúng quy định đã ký kết trong hợp đồng. Nếu không họ sẽ yêu cầu Ngân hàng chỉnh sửa theo đúng yêu cầu của mình rồi mới tiến hành giao hàng.
    • : Sau khi chuyển giao hàng hoá, người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán theo quy định của L/C và gửi đến Ngân hàng phát hành thông  qua Ngân hàng thông báo để yêu cầu được thanh toán. Ngoài ra, người xuất khẩu cũng có thể xuất trình bộ chứng từ thanh toán cho Ngân hàng được chỉ định thanh toán được xác định trong L/C.
    • : Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp  với quy định trong L/C thì tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Nếu Ngân hàng thấy không phù hợp thì sẽ từ chối thanh toán và trả hồ sơ  cho người xuất khẩu.
    • : Ngân hàng phát hành giao lại bộ chứng từ thanh toán cho người xuất

    khẩu và yêu cầu thanh toán.

    • : Người phát hành kiểm tra lại bộ chứng từ và tiến hành hoàn trả tiền cho

    ngân hàng.

    • Trên đây là toàn bộ trình tự nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phương thức

    tín dụng chứng từ.

    1.2.4. Thư tín dụng.

    a.     Khái niệm:

    Thư tín dụng là một phương tiện rất quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ. Nếu không mở thư tín dụng thì phương thức thanh toán này không thể xác lập được và người xuất khẩu sẽ không giao hàng cho người nhập khẩu.

    Vậy thư tín dụng là gì?

    Thư tín dụng là một bức thư do Ngân hàng lập ra trên cơ sở yêu cầu của khách hàng, trong đó Ngân hàng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nếu họ xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung thư tín dụng.

    b.  Vai trò.

    Thư tín dụng là một văn bản mang tính pháp lý nó là căn cứ pháp lý để Ngân hàng quyết định việc trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu, là cơ sở  để  người mua có trả tiền cho Ngân hàng hay không. Ngoài ra thư tín dụng là một công cụ hiệu quả trong việc cụ thể, chi tiết, hoàn thiện hoá những nội dung mà hợp đồng chưa bàn tới, khắc phục những sai sót, những điều khoản không có lợi trong hợp đồng nếu xét thấy việc huỷ hợp đồng là có lợi.

    Thư tín dụng có vai trò rất quan trọng như vậy vì tuy được thành lập trên cơ sở hợp đồng mua bán nhưng sau khi được mở nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán.Điều này có nghĩa là khi thanh toán, các ngân hàng chỉ căn cứ vào các bộ chứng từ phù hợp mà thôi. Tính chất độc lập tương đối của thư tín dụng đã  chi  phối toàn bộ các khâu của quá trình thanh toán, quy định toàn bộ nghĩa vụ của các bên tham gia.

    Bản thân phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn so với những phương thức khác, song nó không phải là phương thức đảm bảo tránh được rủi ro cho các bên tham gia, trong đó có Ngân hàng.

    c.  Nội dung của thư tín dụng.

    Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán, nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán. Một thư tín dụng có thể có những điều khoản sau:

    • : Số hiệu, địa điểm, và ngày mở L/C.
    • : Tên và địa chỉ của những người có liên quan tới phương thức tín dụng

    chứng từ.

    • : Số tiền của L/C.

    Số tiền của L/Cvùa được nghi băng số ,vừa được nghi bằng chữ và phải  thống nhất với nhau. Đồng thời, tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng.

    • : Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong L/C.

    Thời hạn hiệu lực

    Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp  với những điều kiện ghi trong L/C.Thời hạn hiệu lựuc L/C bắt đầu tính từ  ngày mở  L/C đến ngày hết hiệu lực L/C.

    Thời hạn trả tiền của L/C

    – Là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền sau. Điều này hoàn toàn phụ thuộc  quy định của hợp đồng.

    Thời hạn trả tiền có thể nằm trong hoặc ngoài thời hạn hiệu lực của L/C.

    Thời hạn giao hàng.

    Thời hạn giao hàng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định.Thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.

    • : Những nội dung về hàng hoá như: Tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả,

    quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu…cũng được ghi trong L/C.

    • : Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng (FOB, CIF, CFR…), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng.
    • : Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình là một nội dung then

    chốt của L/C, bởi vì bộ chứng từ quy định trong L/C là một bằng chứng của

    người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định của L/C. Do vậy, Ngân hàng phải tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu nếu bộ chứng từ phù hợp với những điều quy định trong L/C.

    • : Sự cam kết trả tiền của Ngân hàng mở L/C, đây là nội dung cuối cùng của L/C. Nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C. Ngân hàng cam kết sẽ trả tiền khi người xuất khẩu trình đầy đủ bộ chứng từ hợp lệ.
    • : Những điều khoản đặc biệt khác.

    (10): Chữ ký của Ngân hàng mở L/C.

    L/C thực chất là một khế ước dân sự, do vây, người ký  nó cũng phải là  người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia và thực hiện quan hệ dân luật.

    d.   Hình thức thư tín dụng (L/C).

    Có rất nhiều cách phân loại thư tín dụng. Tuỳ theo từng tiêu thức khác nhau người ta có thể phân loại khác nhau.

    • Theo loại hình người ta có thể chia làm hai loại là L/C có thể huỷ ngang

    và L/C không huỷ ngang.

    L/C có thể huỷ ngang.

    • Đây là loại L/C mà người yêu cầu mở có toàn quyền đề nghị Ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ xung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần báo trước cho người hưởng lợi biết (Đương nhiên là việc huỷ bỏ phải được thực hiện trước khi L/C thanh toán).
    • Như vậy, L/C có thể huỷ ngang thuộc loại cam kết không bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, loại thư tín dụng này không đảm bảo được quyền lợi của người bán vì người mua có thể đơn phương huỷ bỏ L/C. Chính vì vậy ngày nay loại L/C này ít được sử dụng trong thương mại quốc tế.

    L/C không thể huỷ ngang.

    Đây là loại L/C  mà sau khi  mở  thì mọi  việc liên quan đến sửa đổi, bổ  xung

    hoặc huỷ bỏ nó Ngân hàng phát hành chỉ có thể tiến hành trên cơ sở có sự thoả

    thuận của các bên có liên quan. Vì thế quyền lợi của người bán được đảm bảo. Tuy nhiên, L/C không thể không thể huỷ ngang không có nghĩa không thể huỷ bỏ.  Trong trường hợp các bên đồng ý huỷ bỏ L/C thì nó được công nhận là không còn giá  trị thực hiện. Đây là loại L/C được sử dụng nhiều nhất trong thương mại quốc  tế ngày nay.

    • Theo phương thức sử dụng người ta phân chia L/C thành nhiều loại khác

    nhau.

    L/C không huỷ ngang có giá trị trực tiếp.

    Đây là loại L/C mà chứng từ được yêu cầu xuất trình trực tiếp để thanh toán tại Ngân hàng phát hành. Do vậy, thời hạn hiệu lực sẽ kết thúc tại Ngân hàng phát hành.

    Trong thư tín dụng này sẽ không thể hiện điều khoản chiết khấu và chỉ định ngân hàng chiết khấu. Mặc dù thư tín dụng không có giá trị chiết khấu và cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành chỉ có giá trị duy nhất đối với người hưởng, ngân hàng chuyển chứng từ cũng có thể ứng tiền cho khách hàng nếu chứng từ  hoàn toàn hợp lệ.Sau khi nhận được chứng từ hợp lệ,ngân hàng phát hành chuyển trả tiền cho người hưởng theo chỉ dẫn của ngân hàng chuyển chứng từ.Vai trò của ngân hàng chuyển chứng từ là bảo vệ quyền lợi của người hưởng và cũng chính là bảo vệ quyền lợi của chính mình nếu họ đã chiết khấu chứng từ.

    L/C không huỷ ngang, miễn truy đổi.

    • Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà sau khi thụ hưởng sẽ được hoàn tiền thì Ngân hàng mở không có quyền đòi lại tiền trong bất kỳ tình huống nào.
    • Khi sử dụng loại thư tín dụng này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu

    “Miễn truy hồi người ký phát” đồng thời thư tín dụng cũng phải ghi như vậy.

    L/C không huỷ ngang và có xác nhận.

    Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang được một Ngân hàng khác đảm

    bảo trả tiền cho người thụ hưởng theo yêu cầu của Ngân hàng mở thư tín dụng đó.

    Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nên loại thư tín dụng này được coi là rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán, và đương nhiên phải thanh toán một khoản phí nhất định đối với ngân hàng xác nhận.Trên thực tế, nhu cầu thư tín dụng này phụ thuộc nhiều yếu tố song chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm và tình hình tài chính của ngân hàng mở thư tín dụng.

    L/C tuần hoàn.

    Đây là loại L/C mà sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực lại có

    giá trị như cũ và được trực tiếp sử dụng sau một thời gian nhất định.

    Thư tín dụng tuần hoàn được chỉ rõ ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng,số lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó.Đồng thời, cũng phải quyđịnh số dư của hạn nghạch L/C dùng chưa hết lần trước được hay lhông được cộng dồn vào hạn nghạch  L/C  sử dụng lần kế tiếp.

    L/C với điều kiện “Đỏ”.

    Đây là loại L/C mà theo đó người mở L/C cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay sau khi thư tín dụng được mở. Hai bên đối tác phải có quan hệ làm ăn lâu dài và uy tín. Phía nhập khẩu phải là công ty đủ vốn, phía xuất khẩu phải có nguồn  hàng hoá, sản xuất nhưng thiếu vốn.

    Với điều kiện Đỏ, ngân hàng phát hành cam kết ứng một số tiền nhất định( khoảng 30 hoặc 50% trị giá L/C)khi nhận được các chứng từ, thông thường là: hối phiếu của số tiền ứng trước,hoá đơn, cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng và các chứng từ khác tuỳ theo thoả thuận.

    L/C dự phòng.

    Là loại thư tín dụng được phát hành với mục tiêu nhằm trực tiếp bảo vệ

    quyền lợi cho bên mua.

    Bên mua yêu cầu bên bán thông qua ngân hàng phục vụ mình mở thư tín dụng dự phòng cho bên mua hưởng.Trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng thương mại đã ký kết gây thiệt hại cho họ thì ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán đền bù những thiệt hại đó.

    L/C chuyển nhượng.

    Là loại L/C không thể huỷ ngang mà Ngân hàng trả tiền được phép hoàn trả toàn bộ một phần số tiền của thư  tín dụng cho một người hay nhiều người theo  lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.

    Một thư tín dụng muốn chuyển nhượng được phải có lệnh đặc biệt của ngân hàng mở, trên thư tín dụng phải ghi”có thể chuyển nhượng được”.Lưu ý rằng việc chuyển nhượng chỉ được thực hiệnmột lần cho thư tín dụng đó.

    L/C giáp lưng.

    Là loại thư tín dụng được mở trên số tiền của một thư tín dụng khác đã được mở trước.Loai thư tín dụng này thường được sử dụng nhiều lần trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu.Vieeecj vận hành nói chung khá phức tạp,đặc biệt là những điều kiện về thời hạn,về bộ chứng từ…

    L/C đối ứng.

    Là loại L/C không thể huỷ ngang chỉ bắt đầu có giá trị hiệu lực khi L/C đối ứng với nó đã được mở ra, thường được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, ngoài ra không loại trừ khả năng dùng trong phương thức gia công.Tuy nhiên việc sử dụng trong gia công có nhiều phức tạp.

    1.2.6. Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ.

    a.  Ưu điểm.

    Đối với người mua.

    Phương thức thanh toán L/C giúp người mua  có thể mở rộng nguồn cung  cấp hàng hoá cho mình mà không phải tốn thời gian, công sức trong việc tìm đối  tác uy tín và tin cậy. Bởi lẽ, hầu hết các giấy tờ chứng từ đều được Ngân hàng đối tác kiểm tra và chịu trách nhiệm hoàn toàn về sai sót này. Người mua được đảm  bảo về mặt tài chính rằng bên bán giao hàng thì mới phải trả tiền hàng. Ngoài ra,  các khoản ký quỹ mở L/C cũng được hưởng lãi theo quy định.

    Đối với người bán.

    Người bán hoàn toàn được đảm bảo thanh toán với bộ chứng từ hợp lệ. Việc thanh toán không phụ thuộc vào nhà nhập khẩu. Người bán sau khi giao hàng tiến hành lập bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của L/C  sẽ được thanh toán bất kể trường hợp người mua không có khả năng thanh toán. Do vậy, nhà xuất khẩu sẽ thu hồi vốn nhanh chóng, không bị ứ đọng vốn trong thời gian thanh toán.

    Đối với Ngân hàng phát hành.

    Thực hiện nghĩa vụ thanh toán này, Ngân hàng thu được các khoản phí thủ tục, ngoài ra, Ngân hàng còn thu hút được một khoản tiền khá lớn (Khi có ky quỹ). Khi thực hiện nghiệp vụ này, Ngân hàng còn thực hiện được một số  nghiệp vụ  khác như cho vay xuất khẩu, bảo lãnh, xác nhận, mua bán ngoại tệ… Hơn nữa, thông qua nghiệp vụ này uy tín và vai trò của Ngân hàng trên thị trương tài chính quốc tế được củng cố và mở rộng.

    b.  Nhược điểm.

    Có thể nói, thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ là hình thức  thanh toán an toàn và phổ biến nhất trong thương mại quốc tế hiện nay. Hình thức này có nhiều ưu việt hơn hẳn các hình thức thanh toán quốc tế khác. Tuy nhiên, nó cũng không tránh khỏi những nhược điểm.

    • Nhược điểm lớn nhất của hình thức thanh toán này là quy trình thanh toán rất tỷ mỷ, máy móc, các bên tiến hành đều rất thận trọng trong khâu lập và kiểm tra chứng từ. Chỉ cần có một sai sót nhỏ trong việc lập và kiểm tra chứng từ cũng là nguyên nhân để từ chối thanh toán. Đối với Ngân hàng phát hành, sai sót trong  việc kiểm tra chứng từ cũng dẫn đến hậu quả rất lớn.
    • Với các phương thức thanh toán quốc tế đề cập ở trên, việc lựa chọn phương thức nào trong hoạt động thanh toán quốc tế cũng là một vấn đề hết sức quan trọng đối với các Ngân hàng thương mại. Hiện nay, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thực hiện hầu hết các hình thức nêu trên. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế khách quan cũng như ưu nhược điểm của từng phương thức mà phương  thức thanh toán theo tín dụng chứng từ hiện là phương thức thanh toán phổ biến tại các Ngân hàng thương mại Việt

    v

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

    TẠI SGDI-NGÂN HÀNG ĐT&PT VN

     

     

    2.1.  GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SGDI-NGÂN HÀNG ĐT&PT VN

    2.1.1.   Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của SGDI-ngân hàng

    ĐT&PT VN

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam ( NHĐT&PTVN ) là một trong  bốn ngân hàng quốc doanh lớn nhất Việt Nam với 100 chi nhánh tại các tỉnh thành phố, gần 5000 cán bộ, quan hệ đại lý với hơn 500 ngân hàng trong và ngoài nước, cùng với 45 năm hình thành và phát triển, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nói chung và sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng VN nói riêng.

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt  Nam với tư cách là một NHTM của  Nhà nước được thành lập để thực hiện chức năng nhiệm vụ Nhà nước giao. Vì vậy cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Ngân hàng đã có những bước thay đổi có tính chất lịch sử nhằm đáp ứng được những nhiệm vụ mới đề ra. Ngày 26/4/1957, theo quyết định số 177- TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài Chính được thành lập với nhiệm vụ chính là cấp phát vốn xây dựng đầu tư cơ bản theo kế hoạch Nhà nước.

    Năm 1981, với mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế trong quản lý vốn xây dựng đầu tư cơ bản, Chính phủ ra quyết định 259- CP chuyển Ngân hàng  Kiến  thiết trực thuộc Bộ Tài Chính sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng  Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được thành lập. Nhiệm vụ của Ngân hàng là cho  vay vốn đầu tư cho các công trình XDCB không do NSNN cấp và cho vay vốn lưu động đối với các tổ chức kinh doanh trong lĩnh  vực XDCB, bên cạnh hoạt động  cho vay từ nguồn vốn do Ngân sách cấp.

    Năm 1990 cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế đất nước, Ngân hàng đổi

    mới theo mô hình đa năn và chính thức lấy tên là Ngân hàng Đầu tư và

    phát triển Việt Nam ( BIDV ) với chức năng nhiệm vụ sau:

    • Huy động vốn trung dài hạn để cho vay dự án đầu tư phát triển.
    • Nhận vốn ngân sách cấp để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước.
    • Kinh doanh lĩnh vực tiền tệ tín dụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh

    vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển.

    Từ năm 1995 hoạt động cấp phát vốn đầu tư xây dựng được giao hoàn toàn cho Tổng Cục đầu tư bên cạnh nghiệp vụ cho vay đầu tư XDCB theo kế hoạch Nhà Nướcl

    Ngày 28/3/1996 theo quyết định 186- TTg cho phép Ngân hàng hoạt

    động như một doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Quyết  định này chính thức đưa NHĐT&PT chính thức trở thành một bộ phận trong hệ thống NHTM, tạo điều kiện cho Ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũng như các hình thức huy động vốn để đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũng như các hình thức huy động vốn để tăng khả năng cạnh tranh, củng cố vị thế của mình trên thị trường góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

    Đến nay, sau 45 năm xây dựng và trưởng thành gắn liền với các giai đoạn lịch sử của đất nước, NHĐT&PTVN trở thành Ngân hàng có uy tín lớn trong nước và quốc tế, ngày càng khẳng định vị thế một trong bố  NHTM chủ chốt của nền  kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như sự phát triển và thành đạt của các doanh nghiệp VN nói riêng.

    SGD I là đại diện pháp nhân của NHĐT&PTVN , hạch toán nội bộ trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, trụ sở đặt tại tầng 1 và tầng 2 toà nhà số 53 phố Quang Trung, Hà Nội.

    Sở giao dịch I được thành lập theo thông báo 572 TCBB/ĐT ngày  26/12/1990 của vụ tổ chức cán bộ Ngân hàng Nhà nước về tổ chức bộ máy Ngân

    hàng ĐT & PT và theo quyết định349 QĐ/NH5 ngày 16/10/1997 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về điều lệ phê chuẩn tổ chức hoạt động của NHĐT&PTVN.

    Các chức năng chủ yếu của Sở giao dịch I:

    SGD I được huy động vốn trung và dài hạn , ngắn hạn bằng VNĐ và  ngoại  tệ từ nguồn trong và ngoài nước dưới các hình thức chủ yếu sau:

    –    Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh

    toán của tất cả các tổ chức, dân cư.

    –    Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu dưới tên Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và các loại giấy tờ có giá khác.

    • Vay vốn của các Tổ chức tín dụng trên các thị trường.

    Các nghiệp vụ tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàng chủ yếu Sở giao dịch I

    thực hiện là:

    • Cho vay ngắn trung dài hạn theo cơ chế tín dụng hiện hành.
    • Chiết khấu các hình thức có giá.
    • Các nghiệp vụ bảo lãnh.

    Trực tiếp thực hiện hoặc làm đại lý cho thuê tài chính theo sự  uỷ  nhiệm của Tổng giám đốc hoặc Công ty cho thuê Tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    • Mua bán, chuyển đổi ngoại tệ và các dịch vụ ngoại hối.
    • Dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước.
    • Tham gia đấu thầu mua trái phiếu, tín phiếu chính phủ, trái phiếu Ngân hàng Nhà nước tổ chức khi được Giám đốc cho phép.
    • Dịch vụ tư vấn cho khách hàng.

    SGD I là nơi thử nghiệm đầu tiên cho những cơ chế chính sách, dịch vụ mới của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam. Từ khi thành lập  SGD không ngừng  phát triển góp phần không nhỏ vào sự thành công cũng như mở rộng uy tín về hệ thống ngân hàng.

    2.1.2.    Mô hình hoạt động kinh doanh của SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN.

     

    Về cơ cấu tổ chức, hiện nay SGDI có trụ sở chính tại 53 Quang Trung – Quận Hai Bà Trưng-HN. Có 14 phòng ban với hơn 200 cán bộ công nhân viên và 14 đơn vị trực thuộc. Ban giám đốc gồm giám đốc và 3 phó giám đốc.

    SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC SGDI – NHĐT&PT VIỆT NAM:

     
       

     

    2.1.3.   Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2003 của SGDI-Ngân hàng

    ĐT&PT VN.

    Năm 2002 là một năm có nhiều biến động đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế đất nước nói riêng.Trước tình hình đó, NHĐT&PTVN đã có định hướng hoạt động phát triển cho toàn ngành như tích cực cơ cấu lại tài sản Nợ

    – Có theo hướng bền vững, xử lý nợ quá hạn tồn đọng, chú trọng phát triển dịch vụ Ngân hàng và huy động vốn…

    Với tinh thần nỗ lực phấn đấu theo định hướng của ngành , năm 2002, SGD đã đạt được những kết quả chính sau:

    a. Hoạt động nguồn vốn-Huy động vốn.

    Công tác nguồn vốn đã trở thành một công cụ điều hành quan trọng giúp ban giám đốc quản lí sử dụng nguồn vốn hợp lí, hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo an toàn, sinh lợi. Bước đầu thực hiện việc kinh doanh tiền tệ nhằm tăng thêm thu nhập cho Ngân Hàng.

    Tổng nguồn vốn huy động cuối năm 2001 đạt 3.193.859 triệu đồng, trong đó tiền gửi khách hàng và phát hành kì phiếu, trái phiếu đạt 1.007.182 triệu, chiếm 21% nguồn vốn của SGD.

    Năm 2002, nhờ có chính sách huy động vốn tương đối nhạy bén, linh hoạt  tổng nguồn vốn huy động của sở đạt 5.339.022 triệu, tăng 67.2% so với năm 2001, Trong đó, tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm 35.6%. Trong năm, cùng với toàn hệ thống, Sở Giao Dịch đã thực hiện phát hành trái phiếu đợt 3 năm 2002 theo chỉ  định của NHĐT&PTVN với tổng số huy động được gần 397 tỉ đồng (USD là 93%) chiếm gần 30% số trái phiếu huy động đợt 3 của toàn nghành, đưa số dư huy động trái phiếu đạt hơn 1265 tỉ VND (bao gồm cả ngoại tệ qui đổi), tăng 5.2%  so  với đầu năm, cải thiện cơ cấu kì hạn của nguồn vốn huy động.

    Đến 31/12/2003, nguồn vốn huy động là 6.650.856 triệu, tăng 24.6% so với năm 2002, trong đó huy động vốn dân cư tăng 17.8%, tiền gửi khách hàng tăng

    31.5% giữ vững được thị phần huy động vốn của sở, góp phần tạo một nền vốn tương đối ổn định cho hoạt động Ngân Hàng .

    b.  Hoạt động tín dụng

    Trên cơ sở nguồn huy động vốn như trên Sở cũng đã thực hiện hàng loạt  danh mục đầu tư, cho vay theo đúng tính  chất của một Ngân hàng hiện đại, đáp  ứng phần nào nhu cầu vốn, của các doanh nghiệp, của nền kinh tế. Ví dụ tín dụng ngắn, trung, dài hạn, cho vay theo kế hoạch Nhà nước, cho vay uỷ thác, làm trung gian giải ngân vốn ODA, FDI, cho vay đồng tài trợ.

    Tình hình tín dụng của Sở giao dịch I

    (Đơn vị: tỷ đồng)

    Chỉ tiêu Năm

     

    2001

    Năm 2002 Năm 2003
    Dư nợ ± (%) Dư nợ ± (%)
    1.Cho vay NH 565 939 374 166 1.310 371 140
    2.Cho vay T-DH 547 726 179 133 1.813 1.087 250
    3.Cho vay KHNN 2.147 2.491 344 116 1.027 -1.464 41
    4.Cho vay uỷ thác ODA 409 357 -48 87 388 31 109
    5.Cho vay TCTD khác 10 43 33 430 381 338 888
    6.Cho vay đồng tài trợ 381 342 41 90 305 -37 89
    Tổng 4.059 4.897 838 121 5.224 327 107

    ( Nguồn: Phòng Nguồn vốn kinh doanh, SGDI-NHĐT&PTVN)

    Với nguồn vốn huy động được tăng đều qua các năm. Sở giao dịch cũng đã thực hiện tốt công tác sử dụng và quản lý vốn, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng. Tính đến 31/12/2003, dư nợ tín dụng là 5224 tỷ, tăng 7% so với 31/12/2002 tương đương với 327 tỷ đồng.

    Trong tổng số dư nợ đó thì lượng nội tệ đạt 2.677 tỷ đồng chiếm 51.25% tổng dư nợ cho vay. Dư nợ bằng ngoại tệ (đổi sang VND) là 2547 tỷ VND chiếm  48,75% tổng số dư nợ cho vay.

    + Tín dụng ngắn hạn: đều tăng nhanh qua các năm, nhất là nội tệ. Doanh số cho vay trong năm 2003 là 1310 tỷ. Trong năm ngân hàng đặc biệt chú trọng đến công tác Marketing, phục vụ tốt khách hàng sẵn có, mở rộng tìm kiếm khách hàng mới, chú trọng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đến 31/12/2003 dư nợ  tín dụng ngắn hạn ngoài quốc doanh đạt 117 tỷ VND. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng thực hiện chính sách khách hàng trên cơ sở các chỉ tiêu phân loại đánh giá khách

    hàng, xây dựng và thực hiện cho vay theo hợp đồng khung, hợp đồng hạn mức tín dụng thường xuyên cả bằng VND và ngoại tệ đối với các tổng công ty, các khách hàng có quan hệ thường xuyên, giảm thiểu hồ sơ thủ tục vay vốn nhưng vẫn bảo đảm an toàn tín dụng, áp dụng nhiều hình thức cho vay linh hoạt, cải tiến và nâng cao chất lượng giao dịch.

    Kết quả là có nhiều khách hàng có doanh số và dư nợ thường xuyên lớn như: PETROLIMEX, công ty dệt Hà Nội, công ty FPT, LILAMA, tổng công ty cơ khí xây dựng…

    + Tín dụng trung và dài hạn thương mại:

    Xác định đây là hoạt động chủ yếu của Sở giao dịch khi tín dụng T-D hạn  giảm dần, ngay từ đầu năm 2003, Sở giao dịch đã triển khai tích cực công tác tín dụng đầu tư, chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, tiếp xúc và làm việc với các doanh nghiệp nhanh chóng làm hoàn thiện hồ sơ để có thể ký hợp đồng tín dụng. Doanh số cho vay trong năm 2003 đạt gần 2000 tỷ VND, trong đó doanh số cho  vay bằng VND đạt gần gấp 3 lần và doanh số cho vay ngoại tệ đạt gần gấp 4 lần doanh số cho vay trong năm 2002 đưa số dư tín dụng trung và dài hạn thương mại chiếm gần 42% tổng dư nợ. Các dự án lớn như: nhà máy xi măng CHINFON Hải Phòng, tổng công ty Sông Đà…

    +Tín dụng kế hoạch nhà nước:

    Ta thấy rằng tín dụng kế hoạch nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho thị trường, nó chiếm đến hơn 50 % vào các năm 2001,2002 nhưng sang năm 2003 thì dư nợ tín dụng đối với kế hoạch  nhà nước chỉ còn 1027 tỷ VND giảm 1464 tỷ VND hay giảm 59% so với năm 2002 và chiếm 20%.

    + Phần tín dụng với các tổ chức tín dụng khác cũng tăng một cách đáng kể. Năm 2001 đạt 10 tỷ VND chiếm 0,25% trong tổng tín dụng sang năm 2002 dư nợ này tăng lên 43 tỷ VND tốc độ tăng đến 330 % chiếm 0,88%, sang năm  2003 dư  nợ đạt 381 tỷ VND tăng 788% chiếm 7,3%.

    + Với các khoản cho vay đồng tài trợ ta thấy: doanh số giảm liên tục qua các năm. Cụ thể năm 2001 đạt 381 tỷ VND, sang năm 2002 chỉ còn 342 tỷ VND giảm 10%, sang năm 2003 đạt 305 tỷ VND giảm 11% so với năm 2002

    c.  Hoạt động Thanh toán quốc tế .

    Năm 2003, SGDI tiếp tục mở rộng các nghiệp vụ Thanh toán quốc tế. Cuối năm 2003 ngân hàng đã có quan hệ đại lý và thanh toán với hơn 690 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài.Tuy nhiên, hoạt động thanh toán XNK năm  2003 lại có chiều hướng giảm so với năm 2002.

    Bảng 3: Doanh số Thanh toán xuất nhập khẩu của SGDI:

    Nội dung Số phát sinh tăng
    Năm2001 Năm 2002 Năm 2003
    Sốmón Doanh số

     

    ( 1000 USD)

    Số món Doanh số

     

    ( 1000 USD)

    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    I. L/Cnhập khẩu 850 165,000 1.200 290,000 750 123,000
    II. L/C xuất khẩu 550 35,000 800 75,000 700 ,47,500
    Doanh số Thanh toán quốc tế 550,000 680,000 650,000
    Doanh số XNK 360,000 400,000 450,000

    Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2001,2002,2003 của SGDI – NHĐT&PTVN

    Về nhập khẩu, năm vừa qua ngân hàng đã mở được 750 L/C trị giá 123 triệu

    USD,giảm 57% so với năm 2002.

    Về xuất khẩu, ngân hàng đã gửi chứng từ đòi tiền và thanh toán được 700

    món, trị giá 47,5 triệu USD, giảm 36% so với năm 2002.

    Về hình thức nhờ thu, ngân hàng đã thu 230 món, trị giá 6,2 triệu USD, giảm

    72% so với năm 2002.

    Như vậy, trong năm 2001, doanh số Thanh toán Quốc tế Sở đã đạt được 550triệu USD, tăng 18%. Năm 2002, doanh số đó đã tăng 23%, tức là đạt được 680 triệu USD.Bước sang năm 2003 doanh số Thanh toán quốc tế chỉ đạt 650 triệu  USD, giảm 4,4% so với năm 2002, nhưng doanh số XNK lại tăng 12,5% so với  năm 2002.

    Năm 2003, tỷ giá giữa đồng USD, đồng EURO và đồng VN  không ngừng  tăng trong khi giá xuất khẩu của nhiều mặt hàng giảm mạnh như cà phê,gạo và các mặt hàng nông sản khác làm cho xuất khẩu chậm. Bên cạnh đó, bài học Mỹ kiện Việt Nam bán phá giá cá Basa và Tôm đông lạnh cộng với việc các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trươc thách thức và sức ép cạnh tranh với hàng hoá ngoại  nhập gây tâm lý cho nhiều doanh nghiệp không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng làm cho nguồn ngoại tệ vốn đã khan hiếm từ năm 2002 thì sang năm 2003 lại càng khó khăn hơn.Thấu hiểu những khó khăn của doanh nghiệp cũng là khó khăn của ngân hàng nhất là trong Thanh toán quốc tế nên SGD đã tìm nhiều biện pháp khắc phụcnhằm cung ứng đủ lượng ngoại tệ cần thiết cho doanh nghiệp thanh toán nhập khẩu.Do đó phần lớn các nhu cầu về ngoại tệ trong năm đều được đáp ứng đầy đủ, không để xảy ra tình trạng thanh toán chậm.

    Kết quả trong năm qua, doanh số XNK của SGD đã tăng từ 400 Triệu USD năm 2002 lên 450 Triệu USD (tăng 12.5%). Có được kết quả khả quan như vậy là nhờ có sự cố gắng của toàn thể cán bộ nhân viên và ban Giám đốc SGD.Bên cạnh đó,SGD đã phát hành nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ(kể cả nhân dân tệ)và tổ chức   thanh toán mậu biên nhằm đảm bảo thuận lợi cho khách hàng có qua hệ với Trung Quốc.

    2.1.4.   Hoạt động của phòng Thanh toán quốc tế.

    Cùng xu thế phát triển mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của các  doanh nghiệp, đầu năm 1999 phòng Thanh toán Quốc tế trước đây trực  thuộc Trung  Ương đã tách ra thành trực thuộc SGD I. Bước đầu phòng đã gặp rất nhiều  khó khăn do trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế, máy móc thiết bị lạc hậu, thêm vào đó, bản thân các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu cũng chưa có những cán bộ am hiểu về Thanh toán Quốc tế cũng như ưu nhược điểm của từng phương thức thanh toán này. Vì  vậy, để hoạt động Thanh toán quốc tế của ngân hàng diễn ra  một cách an toàn, hiệu quả và  tuân thủ những quy định của pháp luật về Thanh  toán quốc tế, bản thân SGD đã tự xác định hoạt động Thanh toán quốc tế phải phù hợp với thông lệ về thanh toán do phòng thương mại quốc tế(ICC) ban hành như

    UCP500, URR525, URC522 cùng các quy định của pháp luật, Chính phủ, NHNN Việt Nam và các hiệp định, thoả thuận quốc tế mà tổng giám đốc  NHĐT&PTVN đã ký kết.

    Tuy nhiên, do hoạt động trên địa bàn Hà Nội, một địa bàn đầy khó khăn  phức tạp với sự tồn tại của nhiều ngân hàng thương mại trong và ngoài nước nên hoạt động Thanh toán quốc tế của SGD vấp phải sức ép cạnh tranh rất lớn. Song  với quan điểm cho rằng cạnh tranh là động lực của sự phát triển nên trong quá trình hoạt động ban lãnh đạo Ngân hàng đã chỉ đạo sát sao mọi nghiệp vụ ngân hàng,  một mặt không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng như tư vấn miễn  phí cho khách hàng khi mở L/C, giảm thiểu các thủ tục không cần thiết  gây phiền hà cho khách hàng khi thực hiện các dịch vụ Thanh toán Quốc tế, mặt khác Ngân hàng còn không ngừng nâng cao trình độ cho cán bộ thông qua các lớp bồi dưỡng ngắn , dài hạn về ngoại ngữ, nghiệp vụ Thanh toán Quốc tế, tăng số lượng cán bộ của phòng lên 13 người để xử lý công việc được nhanh hơn, không ngừng đầu tư phát triển hệ thống Thanh toán Điện tử, củng cố và mở rộng các quan hệ đại lý với các Ngân hàng nước ngoại trong khu vực và trên Thế giới. Do đó, hoạt đông Thanh toán quốc tế dần được củng cố và hoàn thiện.

    Nhiệm vụ chính của phòng là thực hiện các hoạt động thanh toán Quốc tế và thực hiện Bảo lãnh nước ngoài. Trong đó hoạt động thanh toán theo phương thức Tín dụng chứng từ vẫn chiếm ưu thế hơn so với nhưng phương thức khác. Có thể nói,tuy hoạt động chưa lâu nhưng với tinh thần phục vụ hết mình cho khác hàng  nên phòng Thanh toán quốc tế –SGDI NHĐT&PTVN rất được khác hàng tín nhiệm.Hàng năm đội ngũ cán bộ của phòng đã đóng góp một phần không nhỏ vào thành quả chung của toàn SGD.

    2.2.  THỰC TRẠNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SGDI-NHĐT&PTVN.

    Năm 2003, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,24%, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 17 tỷ, tăng 12% so với năm 2002.

    Nhập khẩu đạt trên 20 tỷ đồng, tăng 20,1% so với năm 2002.

    Cùng với sự phát triển nền kinh tế đất nước, trong những năm qua , SGDI đã không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán, đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán L/C để phục vụ tốt cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu  cầu thanh toán hàng hoá XNK qua SGD, từ đó ngân hàng đã thu dược nhiều kết  quả đáng khích lệ.

    2.2.1.   Thực trạng thanh toán hàng nhập khẩu theo phương thức tín dụng

    chứng từ.

    Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ cho hàng hoá nhập khẩu tại SGDI_NHĐT&PTVN không những đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng mà còn góp phần nâng cao uy tín của hệ thống NHĐT&PT Việt Nam.

    Thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đang là một hoạt động chủ yếu của phòng thanh toán quốc tế Chi nhánh NHNN & PTNT Hà Nội.Bởi lẽ:

    • Trước hết, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức Thanh toán quốc

    tế phổ biến và an toàn nhất trong điều kiện hiện nay.

    • Thứ hai, hầu hết khách hàng có giao dịch thanh toán với SGD chỉ chuyên kinh doanh hàng nhập khẩu.
    • Thứ ba, do đặc điểm kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay đã có những bước

    phát triển mới, giao lưu thương mại quốc tế đã tăng lên nhiều lần.

    Hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI được diễn ra theo một trình tự nhất định theo quy định của NHĐT&PTVN.

    a.  Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C nhập khẩu tại SGDI –NHĐT&PTVN.

    Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ.

    Khi khách hàng có nhu cầu thanh toán hàng hoá nhập khẩu bằng phương  thức tín dụng chứng từ yêu cầu ngân hàng mở L/C thì phải gửi đến ngân hàng một bộ hồ sơ bao gồm:

    • Thư yêu cầu mở L/C. Trong thư khách hàng phải điền đầy đủ, chính xác

    các thông tin phù hợp với thư yêu cầu của mình.

    • Bản sao có xác nhận sao y bản chính của khách hàng ( ký, đóng

    dấu).Khách hàng chịu trách nhiệm pháp lý về việc sao y từ văn bản chinhd .

    • Hợp đồng nhập khẩu .
    • Văn bản cho phép nhập khẩu của bộ thương mại hoặc cơ quan chủ quản

    quản lý chuyên nghành.(đối với ngành hàng kinh doanh có điều kiện)

    • Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số XNK.(đối với khách hàng giao dịch lần đầu tiên
    • Vào bìa hồ sơ L/C.

    Sau khi tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, thanh toán viên tiến hành kiểm  tra hồ sơ mở L/C, kiểm tra nội dung thư yêu cầu mở L/C. Nếu nộidung không rõ ràng, các điều kiện, chỉ thị có sự mâu thuẩn, thanh toán viên sẽ hướng dẫn khách hàng hoàn chỉnh trước khi mở L/C. Thanh toán viên không tự đông sửa chữa hoặc bổ sung các chi tiết thay khách hàng. Thư yêu cầu mở L/C phải có đầy đủ chữ ký của chủ tài khoản và kế toán trưởng.

    Khi kiểm tra hồ sơ xong nếu thấy phù hợp thanh toán  viên sẽ  tiến hành xác định mức ký quỹ.

    -Đối với khách hàng có quan hệ tín dụng, cán bộ tín dụng theo dõi khách hàng sẽ đề suất mức ký quỹ, phụ trách phòng tín dụng ký và trình lãnh đạo duyệt.

    -Đối với khách hàng không có quan hệ tín dụng thì Giám đốc sẽ giao cho phòng tín dụng hoặc phòng Thanh toán quốc tế đề suất mức ký quỹ,sau đó trình lãnh đạo duyệt .

    Sau khi xác định mức ký quỹ, khách hàng phải chuyển đủ số tền vào tài khoản ký quỹ trước khi mở L/C. Trưởng phòng kế toán sẽ xác định số tiền ký quỹ và ký tên.

    Tiếp theo thanh toán viên sẽ tiến hành kiểm tra nguồn vốn thanh toán L/C.

    -Nếu khách hàng đề nghị thanh toán  L/C hoàn toàn bằng vốn tự có với mức

    ký quỹ thấp hơn 100% trị giá l/C, cán bộ tín dụng hoặc thanh toán viên sẽ xem xét

    và đề xuất với lãnh đạo( trong truờng hợp khách hàng có quan hệ tín dụng). Sau đó phụ trách phòng tín dụng hoặc phòng Thanh toán quốc tế ký và trình duyệt lãnh  đạo trên cơ sở các điều kiện cụ thể.

    -Nếu khách hàng đề nghị vay vốn ngân hàng để thanh toán L/C số tiền còn  lại sau khi ký quỹ bằng vốn tự có:

    + Phòng tín dụng sẽ xét duyệt mức cho vay theo chế độ tín dụng hiện hành của Tổng giám đốc NHĐT&PTVN.

    +Nếu đồng ý vay ngân hàng và khách hàng sẽ ký sẵn đơn xin vay, giấy nhận nợ nhưng để trống ngày nhận nợ. Ngày ngân hàng thanh toán bộ chứng từ là ngày hạch toán nhận nợ vay và được ghi vào giấy nhận nợ.

    +Trong hồ sơ thanh toán bằng vốn tín dụng phải có đơn xin vay, khế ước nhận nợ. Lưu ý rằng, khách hàng mở L/C chính là người ký đơn xin vay, giấy nhận nợ để thanh toán L/C đó.

    Mở L/C nhập khẩu .

    Khi hồ sơ của khách hàng đã có đầy đủ các diều kiện, thanh toán viên sẽ tién

    hành mở L/C theo trình tự.

    -Đăng ký số tham chiếu L/C.

    -Chọn ngân hàng thông báo/ ngân hàng thương lượng.

    -Đưa dữ liệu vào máy vi tính để mở thư yêu cầu của khách hàng.

    -L/C phải dẩn chiếu UCP500 nếu mở băng Telex hoặc thư. Nếu mở bằng

    SWIFT thì không cần.

    -Hạch toán nội bảng số tiền ký quỹ hoặc lập phiếu báo nợ gửi tới bộ phận kế toá, nhập ngoại bảng số tiền mở L/C, thu phí mở L/C theo quy định hiện hành của NH ĐT&PTVN.

    -Chuyển toàn bộ hồ sơ cùng điện mở L/C trình phụ trách phòng, báo cáo  trình lãnh đạo ký duyệt.

    -Giao một bảng gốc cho khách hàng có dấu chữ ký của lãnh đạo SGD.

    Sửa đổi L/C.

    Trong quá trình giao dịch, nếu khách hàng có nhu cầu cần sửa đổi một số nội dung trong L/C thì họ sẽ xuất trình thư yêu cầu sửa đổi L/C( theo mẫu in sẵn của ngân hàng ) kèm theo văn bản thoả thuận giữa người mua và người bán(nếu có).

    Căn cứ theo yêu cầu của khách hàng thanh toán viên phát hành sửa đổi  và  gửi ngân hàng thông báo.

    Trong trường hợp có ý kiến của người hưởng lợi về sửa đổi L/C, trong nội dung phảo ghi rõ:”Trong vòng 2 ngày làm việc nếu không nhận được ý kiến gì từ phía các Ngài, sửa đổi này coi như được chấp nhận”.Nếu phí sửa đổi do người hưởng lợi chịu, trong sửa đổi L/C phải ghi rõ :” phí do người hưởng lợi chịu và sẽ được trừ khi thanh khoản”.

    Sau đó thanh toán viên sẽ chuyển hồ sơ cùng điện sửa đổi L/C trình  phụ  trách phòng, báo cáo lãnh đạo ký duyệt và giao một bản gốc cho khách hàng.

    .Xử lý điện đòi tiền của ngân hàng nước ngoài.

    Sau khi nhận được L/C và các sửa đổi có liên quan, người bán sẽ tiến hành giao hàng và lập bộ chứng từ thanh toán gửi đến ngân hàng thông qua ngân hàng của người bán. Tại SGD sau khi nhận điện, in bảng kê điện đã nhận, phụ trách phòng xem xét rồi giao cho thanh toán viên. Thanh toán viên kiểm  tra điện đòi  tiền.

    +Nếu phù hợp, thanh toán viên kiểm tra nguồn tiền thanh toán L/C đồng thời thông báo ngay cho khách hàng và gửi phòng tín dụng ( nếu thanh toán bằng vốn tín dụng) về việc ngân hàng nước ngoài đòi tiền để cho vay, hạch toán ngày nhận nợ.

    Tiếp theo thanh toán viên trả tiền bằng điện SWIFT rồi trích ký quỹ, thu phí , hạch toán xuất ngoại bảng số tiền thanh toán, rút số dư trên bìa hồ sơ L/C. Thanh toán viên chuyển toàn bộ điện trả tiền, các chứng từ liên quan và hồ sơ L/C trình phụ trách phòng ký duyệt.

    +Nếu điện báo không phù hợp, thanh toán viên phải gửi thông báo cho khách hàng kèm một bản sao điện của ngân hàng nước ngoài thông báo chứng từ không phù hợp, yêu cầu khách hàng trong vòng 3 ngày làm việc phải có ý kiến bằng văn bản để SGD trả lời ngân hàng nước ngoài.Nếu khách hàng chấp nhận sai sót và

    đồng ý thanh toán thì ngân hàng tiến hành thanh toán. Nếu khách hàng không chấp nhận sai sót, ngân hàng sẽ lập điện từ chối thanh toán theo mẫu SWITF, trình phụ trách phòng báo cáo lãnh đạo SGD ký gửi ngân hàng nước ngoài.

    Việc hạch toán thu phí dịch vụ được thự hiện thống nhất theo quy định

    thông nhất của NHĐT&PTVN, cụ thể như sau:

    Phí sửa đổi L/C                                                    :10$

    Phí bảo lãnh nhận hàng không kèm vận đơn  :30$

    (Thu thêm 20$ nếu không hoàn trả bảo lãnh sau một tháng kể từ ngày ký) Phí huỷ L/C                                                                               :10$

    Phí phạt trả chậm                                                :150% lãi sất vay ngoại tệ /số

    ngày trả chậm.

    b.  Hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu tại SGDI-NHĐT&PTVN.

    Thanh toán hàng nhập khẩu là một trong những nghiệp vụ rất được SGDI_NHĐT&PTVN quan tâm và dần hoàn thiện để nâng cao hiệu quả của hoạt động này.Mặc dù quy mô còn nhỏ bé nhưng SGD đã thực sự  khẳng định được vị  trí và chỗ đứng vững chắc của mình trong quá trình thực hiện nghiệp vụ này.

    Để có thể thấy được những kết quả mà SGDI-NHĐT&PTVN đã đạt được trong năm qua, chúng ta hãy cùng xem xết tình hình thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng này.

    Bảng 4: Giá trị L/C được mở qua các năm 2001-2002-2003.

     

     

     

     

    Nội dung

    Phát sinh tăng
    Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    L/C nhập khẩu 850 165,000 1,200 290,000 750 123,000
    1.Trả ngay 760 85,000 1,120 265,000 700 120,000
    2. Trả chậm dưới 1 năm 60 75,000 80 25,000 50 3,000

    Nguồn: Báo cáo thường niên của SGD I – NHĐT&PTVN trong năm

    2001, 2002,2003

    Năm 2001 là năm mà hoạt động Thanh toán quốc tế tại SGD đã có những thay đổi đáng kể.SGD đã vượt qua mhững khó khăn do dư âm của cuộc khủng khoảng tài chính- tiền tệ năm 1997.Vì thế, cùng với sự cố gắng của đội ngũ cán bộ phòng Thanh toán quốc tế mà số lượng L/C dược mở là 850 món với tổng trị giá là 165 triệu USD, trong đó L/C trả ngay là 760 món, trị giá 85 triệu USD chiếm  51.5% tổng số L/C nhập khẩu.Điều này cho thấy rằng ngay trong thời kỳ khó khăn ngân hàng vẫn duy trì được một doanh số giao dịch tương đối ổn định.

    Bước sang năm 2002, hoạt động thanh toán  hàng hoá nhập khẩu bằng L/C  có sự gia tăng đột biến, số món L/C được mở là 1200 món với tổng trị giá là 290 triệu USD, tăng 75.7% so với năm 2001.Trong đó số L/C nhập khẩu trả ngay tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2001, chiếm 91% trong tổng số L/C nhập khẩu. Đây quả là một kết quả rất đáng khích lệ với ngân hàng.

    Tuy nhiên, năm 2003 doanh số thanh toán hàng hoá nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ lại có sự giảm sút lớn. Số món L/C được mở giảm xuống còn 750 món, trị giá 123 triệu USD, giảm 167 triệu USD( giảm 57%) so với năm 2002. Phần lớn kết quả của những biến động này xuất phát từ sự thay đổi bất thường trong doanh số giao dịch của khách hàng. Các doanh nghiệp đã co hẹp hoạt động nhập khẩu do có nhiều biến động trên thế giới về chính trị, kinh tế.

    Mặt khác, trên thực tế, các khách hàng của ngân hàng khi kinh doanh hàng nhập khẩu chỉ có nhu cầu sử dụng các loại L/C không huỷ ngang, L/C không huỷ ngang có xác nhận, còn các loại hìn L/C khác vẫn chưa được sử dụng nhiều. Điều này có thể do đặc điểm kinh doanh chưa cần thiết hoặc chưa phù hợp để sử dụng các hình thức đó.

    Một tiêu thức nữa giúp chúng ta có thể nhận thức đầy đủ hơn về tình hình thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN là xem xét doanh số XNK mà sở đã đạt được trong năm qua.

    Biểu đồ 1: tỷ trọng thanh toán L/C nhập khẩu tại SGDI.

     

     

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy, hoạt động Thanh toán Quốc tế qua hình th

     

    Nhi

    Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu chiếm một tỷ trọng lớn trong hoạt động thanh toán XNK. Trong 3 năm qua hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu có sự thay đổi đáng kể. Năm 2001 doanh số L/C nhập khẩu đạt 165 triệu USD chiếm 45,8% trong tổng doanh số XNK.

    Bước sang năm 2002, hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu của ngân hàng thực sự có hiệu quả. Đây là một kết quả rất khả quan, để có được thành công này ngân hàng đã không ngừng đổi mới trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho quá trình thanh toán. Ngân hàng đã cho lắp đặt Internet để khai thác tin tức kinh tế thương mại, pháp luật qua mạng ;lắp đặt mạng thanh toán SWIFT với các ngân hàng trên thế giới. Kết quả là, năm 2002 doanh số thanh toán tăng từ 165 triệu  USD năm 2001 lên 290 triệu USD. Bên cạnh đó doanh số XNK cung tăng lên đáng kể, đạt  400 triệu USD. Doanh số thanh toán L/C nhập khẩu chiếm 72,5% tổng doanh số XNK, gấp hơn 1.5 lần so với năm 2001.

    Tuy nhiên, năm 2003 lại cho thấy một kết quả không mấy khả quan trong hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu của sở. Năm 2003 doanh số thanh toán L/C nhập khẩu giảm mạnh từ 290 triệu USD năm 2002 xuống còn 123 triệu USD, giảm 57,5% so với năm 2002. Doanh số thanh toán L/C nhập khẩu tuy có giảm mạnh nhưng bên cạnh đó doanh số XNK vẫn tăng đều qua các năm, năm 2003 tăng

    12,5% so với năm 2002. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do ảnh hưởng của các chính sách thắt chặt với các doanh nghiệp kinh doanh XNK như giới hạn mức Quata một mặt hàng. Một nguyên nhân nữa đó là trong năm nay hoạt động chuyển tiền của sở đã dược thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiệ, an toàn với chi phí thấp nên rất nhiều doanh nghiệp đã chuyển sang lựa chọn phương thức này.

    Như vậy, có thể nói hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đã đạt đựợc những thành tựu đáng kể , đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng và cho khách hàng. Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều những hạn chế  mà SGD cần khắc phục để đưa hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ ngày một phát triển, có thể sánh ngang với  các  ngân hàng truyền thống trong lĩnh vực này như ngân hàng Ngoại thương  Việt  Nam.

    2.2.2.   Thực trạng hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức

    tín dụng chứng từ tại SGDI-NHĐT&PTVN.

    Song song với hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ, SGDI-NHĐT&PTVN cũng rất quan tâm tới việc mở rộng hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu theo  phương thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên,  do khách hàng của Ngân hàng chủ yếu là kinh doanh hàng nhập khẩu nên hoạt  động thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng còn có nhiều hạn chế. Đây được coi là một thị trường tiềm năng để phát triển trong thời gian tới.

    Mặc dù vậy, trình tự thực nghiệp vụ thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ vẫn được thực hiện theo đúng quy định của NHĐT&PTVN.

    a.  Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C xuất khẩu tại SGDI_NHĐT&PTVN.

    SGDI-NHĐT&PTVN là đầu mối thực hiện các giao dịch với ngân hàng  nước ngoài, tất cả các L/C do ngân hàng nước ngoài gửi về trước khi chuyển đến chi nhánh đều phải được sở giao dịch kiểm tra xác thực. Sau khi SGD kiểm tra  xong sẽ gửi chuyển xuống cho các chi nhánh ngân hàng của SGD.

    Tiếp nhận, thông báo L/C đến chi nhánh.

    Khi nhận được L/C, sửa đổi L/C do ngân hàng nước ngoài gửi về thanh toán

    viên có trách nhiệm:

    -Trước hết thanh toán viên phải kiểm tra tính xác thực của L/C. Đồng thời,

    thanh toán viên kiểm tra L/C phải có dẫn chiếu UCP500.

    -Tiếp theo thanh toán viên đăng ký số tham chiếu của L/C vào sổ theo dõi thông báo L/C, nhập dữ liệu vào máy tính để theo dõi.

    -Lập thông báo cho khách hàng, hoặc cho ngân hàng chi nhánh. Thư thông

    báo L/C, sửa đổi L/C lập thành 02 bản, lưu một bản tại hồ sơ L/C.

    -Lập phiếu thu dịch vụ, chuyển kế toán hạch toán.

    Sau đó, phụ trách phòng hoặc kiểm soát viên có trách nhiệm kiểm tra nội dung L/C hoặc nội dung sửa đổi L/C trước khi chuyển cho lãnh đạo hoặc người được uỷ quyền ký duyệt.

    -Sau khi hoàn tất việc kiểm tra, kiểm soát ( lưu ý L/C gốc phải đóng dấu và ghi ngày ký), ngân hàng sẽ giao một bản gốcL/C cho người thụ hưởng. Thanh toán viên theo dõi việc thông báo cho khách hàng. Đông thời thanh toán viên thông báo cho ngân hàng phát hành về việc nhận được L/C, sửa đổi L/C hoặc ý kiến của  khách hàng về sửa đổi L/C nếu được yêu cầu.

    Kiểm tra chứng từ.

    -Thanh toán viên tiếp nhận bộ chứng từ của khách hàng xuất trình bao gồm bản gốc L/C,các sửa đổi L/C có liên quan(nếu có )cùng thư thông báo L/C,sửa đổi L/C có xác nhận chữ ký m.

    -Thanh toán viên tiến hành kiểm tra sơ bộ chứng từ, số hiệu của từng loại chứng từ và thư yêu cầu thanh toán của khách hàng. Sau đó thanh toán viên ký  nhận chứng từ, phải ghi rõ ngày giờ nhận chứng từ trên thư yêu cầu thanh toán của khách hàng.

    -Tiếp theo thanh toán viên tiến hành kiểm tra sự phù hợp về nội dung, số lượng chứng từ so với các kiều kiện, điều khoản quy định trong L/C và sửa đổi liên

    quan (nếu có). Kiẻm tra sự phù hợp giữa các chứng từ với nhau, kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với UCP500.

    -Khi kiểm tra xong, thanh toán vien phải ghi ý kiến của mình  trên phiếu  kiểm tra chứng từ và chuyển toàn bộ hồ sơ, chứng từ liên quan đén kiểm soát viên hoặc phụ trách phòng.Kiểm soát viên sẽ kiểm tra lại toàn bộ chứng từ, các ý kiến của thanh toán viên và ghi rõ ý kiến của mình trên phiếu kiểm tra chứng từ, ký tên và chuyển lại cho thanh toán viên.

    -Sau khi có ý kiến của phụ trách phòng về tình trạng bộ chứng từ, nếu chứng

    từ có sai sót, thanh toán viên phải thông báo ngay cho khách hàng.

    Gửi chứng từ và đòi tiền.

    -Trong tất cả các trường hợp thanh toán viên chỉ lập điện, thư đòi tiền theo quy định của L/C khi có ý kiến của kiểm soát viên hay phụ trách phòng.

    Sau khi kiểm tra chứng từ, nếu chứng từ phù hợp, không có sai sót, ngân  hàng sẽ lập thư gửi chứng từ và lệnh đòi tiền bằng thư hoặc bằng điện rồi gửi cho ngân hàng nhận chứng từ được chỉ định trong L/C.Điện đòi tiền và thư đòi  tiền  kèm bộ chứng từ trước khi gửi đi phải được kiểm soát viên hay phụ trách phòng trình lãnh đạo ký duyệt, ký hậu hối phiếu nếu cần thiết.

    Tiếp theo đó, thanh toán viên nhập ngoại bảng trị giá bộ chứng từ đã gửi đi  để theo dõi.

    Thanh toán, chấp nhận thanh toán L/C xuất khẩu.

    Khi nhận được thông báo của ngân hàng nước ngoài thanh toán viên thực  hiện như sau:

    -Chuyển kế toán báo có cho khách hàng sau khi đã khấu trừ chiết khấu ( nếu

    có), lãi chiết khấu và thu phí theo quy định hiện hành của SGDI-NHĐT&PTVN.

    -Hạch toán suất ngoại bảng số tiền ngân hàng nước ngoài thanh toán.

    -Hạch toán xuất ngoại bảng số dư L/C sử dụng không hết.

    Việc hạch toán thu phí dịch vụ được thực hiện theo quy định của SGDI- NHĐT&PTVN.

    Phí thông báo L/C                        :15$ Thông báo sửa lỗi                                                             :10$

    Đòi tièn theo bộ chứng từ           :0.2%/giá trị bộ chứng từ.

    b.   Hoạt động thanh toán L/C xuất khẩu tại SGDI_NHĐT&PTVN.

    Hoạt động thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI_NHĐT&PTVN tuy chưa thật đều đặn, an toàn và  hiệu quả,song đã  góp một phần nhỏ bé vào sự tăng trưởng của hoạt động thanh toán quốc tế nói  chung & hoạt động thanh toán L/C nói riêng của Ngân hàng.

    Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của cuộc  khủng hoảng kinh tế –  Tài chính khu vực, sự thay đổi của tỷ giá, sự khan hiếm ngoại tệ nên doanh số  thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN có nhiều thay đổi đáng kể.

    Bảng 5: Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng

    chứng từ tại Chi nhánh NHNN & PTNT Hà Nội.

    Đơn vị: USD.

    Năm Thanh toán xuất khẩu bằng L/C Doanh số TT

     

    XNK bằng L/C

    Tỷ trọng

     

    XK/NK (%)

    Doanh số +/- (%)
    1999 1.370.000 70.760.000 1.93
    2000 2.642.000 +92.8 101.225.000 2.61
    2001 2.359.051 -10.7 110.014.402 2.14
    2002 1.589.830 -32.6 90.709.327 1.75

    (Nguồn: Báo cáo TTQT – NHNN & PTNT Hà Nội).

    Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997 đã ảnh hưởng kéo dài tới những năm sau.Hơn nữa, do kinh nghiệm trong hoạt động thương mại nước ta còn ít nên thị trường xuất khẩu nước ta chủ yếu là các nước Châu á ( theo số lượng ước tính thì 70% kinh nghạch mậu dịch của Việt Namlà với các nước Đông Nam  á). Thậm chí, có khi muốn xuất khẩu sang các nước Châu âu, ta  phải đưa hàng  sang các nước Châu á rồi từ đó hàng mới có thể đi tiếp. Chính vì thế kim nghạch xuất khẩu của nước ta còn thấp.

    Bắt đầu từ năm 1999, chính sách của Đảng và nhà nước cho phép mọi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu nếu có khả năng, do đó, số thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đã có sự thay đổi đáng   kể. Năm 2001 doanh số thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đạt 35 triệu USD.

    Sang năm 2002, nhờ sự cố gắng của cán bộ, nhân viên cùng sự quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn của ban lãnh đạo SGD nên doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGD đã tăng đột biến, đạt 75 triệu USD, tăng 114,2% so với năm 2002.Tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu chiếm 18,7% trong  tổng số doanh số XNK. Như vậy, chúng ta có thể thấy năm 2002 là một năm rất thành công của SGD trong hoạt động thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ.

    Tuy nhiên, bước sang năm 2003 doanh số hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu lại giảm rõ rệt. Năm 2003, doanh số chỉ đạt 47,5 triệu USD, giảm 36,6% so với năm 2002 kéo theo tỷ trọng hàng xuất khẩu cũng giảm xuông 10,5 % so với năm 2002. Sở dĩ có sự giảm sút đáng kể như vậy, một mặt là do sự biến động của thị trường làm cho tỷ giá thay đổi  , khan hiếm ngoại tệ…Khi đồng Việt Nam bị  phá giá ở mức cao đã tạo sức ép đối với hàng nhập khẩu Việt Nam sang thỉtường thế giới phải giảm giá, nếu không họ sẽ không nhập hàng xuất khẩu của ta. Do vậy nguồn thu từ xuất khẩu hàng hoá đã giảm bớt do giá xuất khẩu giảm làm cho các

    doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có thể phải ngừng sản xuất vì doanh thu

    không đủ để trang trải các yếu tố đầu vào.

    Mặt khác trong năm qua chúng ta liên tiếp phải đối mặt dịch bệnh :dịch SARS, cúm gà …cùng với bài học Mỹ kiện Việt Nam  bán phá giá cá Basa  và Tôm  đông lạnh cộng với việc các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trươc thách thức  và sức  ép cạnh tranh với hàng hoá ngoại nhập, đã tạo nên lý e dè trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho doanh   số L/C xuất khẩu trong năm qua giảm mạnh đến như vậy.

    Bảng 6: Trị giá đòi tiền L/C xuất khẩu qua các năm tại SGDI-

    NHĐT&PTVN.

     

     

     

     

     

     

     

    Chỉ tiêu

    Năm 2002 Năm 2003
    Số món Trị giá

     

    (Triệu$)

    +/- (%)

     

    /2001

    Số món Trị giá

     

    (Triệu$)

    +/- (%)

     

    /2002

    Thông báo 270 36 +227.2 250 25 -30.5
    Thanh toán 530 39 +62.5 450 22.5 -42.3

    (Nguồn :Báo cáo tổng kết hoạt động Thanh toán quốc tế tại SGDI_NHĐT&PTVN)

    Nhìn vào số liệu trên ta thấy số món và trị giá thanh toán hàng xuất  khẩu  theo phương thức tín dụng chứng từ nhỏ hơn rất nhiều so với số món và trị giá  thanh toán hàng nhập khẩu. Nếu như năm 2002, số món gửi chứng từ  đòi tiền là 270 món với trị giá là 36 triệu USD thì năm 2003, số món gửi đòi tiền giảm xuống 250 món với giá trị chỉ đạt 25 triệu USD, giảm 30.5% so với nam 2002. Điều này bắt nguồn từ những khó khăn mà ngân hàng phải đối mặt.

    Có thể nói, tình hình thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI còn thấp. Câu hỏi đặt ra là làm như thế nào để thúc đẩy nhanh hoạt động thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ

    tạiSGDI-NHĐT&PTVN luôn là nỗi bức xúc của toàn thể cán bộ công nhân viên Ngân hàng. Đây thực sự là bài toán khá hóc búa của Ngân hàng trong tương lai.

    Như vậy, từ thực trạng nghiệp vụ thanh toán hàng hoá XNK tại SGDI_NHĐT&PTVN, trên nền một số thành quả nhất định là một loạt vấn đề nổi cộm, cần tìm được nguyên nhân giải quyết.

    2.2.3.   Đánh giá thành quả đạt được và những hạn chế.

    a.   Thành quả đạt được.

    Sau hơn 6 năm thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế tại SGDI- NHĐT&PTVN đã thu được những kết quả đáng khích lệ.

    • Hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu tại SGDI-ngân hàngĐT&PT VN.Điều gì đã giúp SGDI có được kết quả đó? Lý do ở chỗ, nghiệp vụ thanh toán ngày càng rút ngắn về thời gian, độ chính xác an toàn cao, đạt được sự tín nhiệm của khách hàng. Mặt khác, trong thời gian qua tại Chi nhánh chưa xảy ra một trường hợp nào bị từ chối thanh toán do bộ chứng từ có lỗi hay có tranh chấp xảy ra.Hay có thể nói, SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN hoàn toàn có uy tín tốt trong Thanh toán quốc tế.
    • Để làm được điều này phải kể đến đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi. Hầu hết nhân viên phòng thanh toán quốc tế đều có trình độ đại học, trình độ tiếng Anh, sử dụng thành thạo mạng Swift với các Ngân hàng trên thế giới. Phong cách giao dịch với khách hàng tận tình, văn minh, lịch sự, sẵn sàng hướng dẫn khách hàng giải quyết mọi vướng mắc trong khâu dự thảo,ký hợp đồng hay tư vấn cho khách hàng về các điều khoản trong thư tín dụng sao cho có lợi cho khách hàng nhất.
    • Đặc biệt, Ngân hàng còn xúc tiến tăng cường mối quan hệ đại lý với các Ngân hàng trên thế giới, do vậy, quan hệ thanh toán được mở rộng. Mạng lưới Ngân hàng rộng khắp đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh toán của Ngân hàng. Cho đến nay ngân hàng đã có quan hệ đại lý với hơn 690 ngân hàng, và có quan hệ đại lý với hơn 70 nước. Điều đó chứng tỏ uy tín của ngân hàng ngày càng được nâng lên trên thị trường quốc tế và trong lòng khách hàng. Chính điều đó đã

    giúp ngân hàng từng bước thâm nhập thị trường quốc , từng bước mở rọng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế nói chung và nghiệp vụ Thanh toán quốc tế theo phương  thức tín dụng chứng từ nói riêng.

    • Ngoài ra, với biểu phí dịch vụ hấp dẫn nên NHNN & PTNT Hà Nội có khả năng thu hút được nhiều khách hàng.

    -Với phương châm “nhanh chóng, chính xác, an toàn” trong tất cả các lĩnh vựchoạt động,công tác Thanh toán quốc tế của ngân hàng đã được tổ chức chặt chẽ,bỏ đi các khâu trung gian phiền hà, rắc rối mất nhiều thời gian cho khách hàng.Đồng thời quy trình thanh toán được cải tiến và phù hợp, đảm bảo thông tin nhanh chóng kịp thời cho khách hàng, kiểm tra chính xác, kịp thời, nhanh  chóng.Tất cả đều là kết quả, là thành công nỗ lực của bản thân ngân hàng trong  hoạt động kinh doanh.

    • Những kết quả mà NHNN & PTNT Hà Nội đã đạt được thật đáng biểu dương, khích lệ. Song cũng rất thiếu sót nếu không đề cập đến những hạn chế tồn tại.Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng hoàn thiện mình để trong tương lai không xa  sẽ vươn tới đỉnh cao trong hoạt đông kinh danh đối ngoại.

    b.   Hạn chế.

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN vẫn còn nhiều hạn chế làm kìm hãm tốc độ tăng trưởng của hoạt động thanh toán hàng xuất nhập khẩu qua Ngân hàng.

    Từ số liệu thực tế cho thấy kinh doanh thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tạiSGDI-NHĐT&PTVN chưa mở rộng diện phục vụ. Số lượng khách hàng đến tham gia thanh toán tại Ngân hàng chưa nhiều, đặc biệt số lượng khách hàng thanh toán hàng nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ còn ít.

    c.  Nguyên nhân.

    Sở dĩ hoạt đông thanh toán hàng XNK theo phương thức tín dụng chứng từ

    còn nhiều hạn chế do nhiều nghuyên nhân khác nhau,cả khách quan lẫn chủ quan.

    Nguyên nhân khách quan.

    • Môi trường pháp lý:

    Cho đến nay,chính sách của Nhà nước và các văn bản của các nghành chưa đồng bộ và chưa phù hợp với tình hình phát triển của công tác thanh toán.Các văn bản pháp quy của nghành ngân hàng cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế chưa đáp ứng kịp thời hoăc đầy đủ.

    Trong thời kỳ mở cửa lợi dụng kẽ hở của hành lang pháp lý và cán bộ kém năng lực, nhiều doanh nghiệp  vay vốn Ngân hàng sử dụng trái mục đích, đồng  thời không trả được nợ Ngân hàng dẫn đến các Ngân hàng không dám đầu tư, hoạt động thanh toán quốc tế giảm sút.

    • Sự cạnh tranh của Ngân hàng khác.

    Năm 2002, sau khi thực hiện đề án chấn chỉnh lại hoạt động NHTMCP trên địa bàn HN có 36 NHCP trong đó có 21NHCP đô thị và 15  NHCP nông thôn. Chính vì vậy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra ngày càng quyết liệt.Các ngân hàng này thường có vốn điều lệ lớn nên được cho phép vay dự án lớn, nhờ  vậy có điều kiện ràng buộc người vay thanh toán qua họ.Như vậy, với số lượng đông đảo các ngân hàng trên địa bàn chật hẹp, việc chia sẻ khách hàng, phân tán nghiệp vụ là điều không thể tránh khỏi.Hơn nữa, các ngân hàng nước ngoài lại có lợi thế về công nghệ thông tin hiện đại,thủ tục tín dụng đơn giản,có kinh nghiệm trong chính sách khách hàng. Chính ví vậy,SGDI không thể tránh khỏi những khó khăn trong việc thu hút khách hàng.

    • Trình độ kinh nghiệm của khách hàng :

    Mặc dù số lượng khách hàng được phép trực tiếp kinh doanh  XNK ngày  càng tăng nhưng kinh nghiệm trong thanh toán XNK vẫn chưa có, trình độ am hiểu về công tác Thanh toán quốc tế còn hạn chế gây không ít khó khăn cho ngân hàng

    Hầu hết các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam rất yếu về các nghiệp vụ ngoại thương. Ngoài ra các doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ luật kinh tế , thủ tục tố tụng nên trong trường hợp có tranh chấp thì không khiếu nại kịp thời,đúng chỗ mà chỉ biết khiếu nại ngân hàng. Từ chỗ không nắm vững được luật pháp sẽ dẫn  đến những sơ hở về mặt pháp lý trong việc ký hợp đồng thương mại.

    • Ngân hàng luôn đối phó với những hành vi lừa đảo: Là một trung gian thanh toán nên Ngân hàng luôn phải đối đầu với các hành vi lừa đảo có thể xuất phát từ ngươì xuất khẩu, người nhập khẩu hoặc người vận chuyển. Đặc biệt là sự xuất hiện của nhiều công ty ma, với nhiều thủ thuật lừa đảo ngày càng tinh vi. Do đó Ngân hàng cần có cơ chế quản lý giám sát chặt chẽ để tránh mọi rủi ro có thể xảy

    Nguyên nhân chủ quan:

    Thứ nhất, Công tác Marketing chưa được vận dụng một cách triệt để trong

    hoạt động thanh toán của Ngân hàng .

    Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng số lượng khắch  hàng mà  phòng Thanh toán quốc tế thu hút không nhiều.Ngân hàng chưa có chương trình công tác cụ thể theo đuổi các mục tiêu chung trong chiến lược khách hàng tại ngân hàng.

    Mặt khách tuy đã ứng dụng Marketing vào quá trình cung ứng dịch vụ Thanh toán quốc tế nhưng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Trong quá trình giao dịch với khách hàng,thái độ nhân viên rất đúng mực,lịch sự,có tinh thần trách nhiệm với khách hàn,không gây phiền hà, không để khách hàng khiếu nại.Song đến nay ngân hàng vẫn chưa có phòng Marketing riêng.

    Hơn nữa, hoạt đông thanh toán hàng xuất khẩu chưa thực sự  được quan  tâm đúng mức.Thực tế cho thấy,thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ còn rất hạn chế so với thanh toán hàng nhập khẩu.Hầu hết khách hàng của ngân hàng đều là những doanh nghiệp kinh doanh hàng nhập khẩu hoặc một số khách hàng có kinh doanh cả hàng hoá xuất khẩu nhưng lại thanh toán hàng xuất ở ngân hàng khác, do vậy không thúc đẩy hoạt động Thanh toán quốc tế.

    • Thứ hai, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban, đặc biệt là giữa phòng kinh doanh và thanh toán quốc tế trong công tác tìm hiểu khách hàng.

    Điều này có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động của phong Thanh toán quốc  tế  tại SGDI-NHĐT&PT VN.Nếu thực hiện được điều này công tác thanh toán  L/C  nói riêng sẽ tiết kiệm được rất nhiều về cả thời gian và nhân sự. Không chỉ có vậy, thông qua sự phối hợp này,mọi hợp đồng L/C sẽ có được hàng rào bảo hiểm trước

    rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tác nghiệp- loại rủi ro cơ bản của nghệp vụ thanh

    toán L/C.

    • Thứ ba, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ nhân viên còn nhiều hạn

    chế.

    Mặc dù ngân hàng đã thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn cho đội

    ngũ cán bộ bằng việc tạo điều kiện đi khảo sát và trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ với các chi nhánh thực hiện Thanh toán quốc tế trong hệ thống cũng như học tập nghiệp vụ ngân hàng hiện đại tại các ngân hàng đại lý song vẫn còn thua kém  những ngân hàng nước ngoài. Họ có chiến lược khách hàng hợp lý, theo dõi khách hàng sát sao, áp dụng triệt  để Marketing ngân hàng trong hoạt động kinh doanh  nên tác phong của họ phần nào cũng năng động hơn.

    • Thứ tư, hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị và giờ làm việc.

    Mặc dù trụ sở SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN khá đủ điều kiện và  tiên nghi khá tốt. Tuy nhiên, diện tích phòng làm việc thì lại nhỏ. Điều này gây cho khách hàng tâm lý chưa thoải mái trong giao dịch tại ngân hàng.Hơn nữa cũng ảnh hưởng tới điều kiện làm việc của cán bộ ngân hàng.

    Mặt khác, trang thiết bị của ngân hàng dù đã được trang bị khá hiện đại song

    vẫn còn nhiều hạn chế, điều này làm chậm tiến trình giao dịch với khách hàng.

    Giờ làm việc của SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN cũng không thể cạnh tranh  với các ngân hàng nước ngoài. Trong khi các ngân hàng nước ngoài mở cửa làm việc đến 18h thì ngân hàng đóng cửa vào lúc 16h30.Điều này làm hạn chế lượng khách hàng đến giao dịch với ngân hàng.

    • Thứ năm, hạn chế về Ngân hàng đại lý.

    Với số lượng ngân hàng đại lý như hiện nay, SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN vẫn chưa đủ khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác( chẳng hạn ngân hàng Ngoại thương VN có 1600 ngân hàng đại lý).

    Hơn nữa,ngân hàng chưa nắm bắt được các chính sách, quy định của các ngân hàng đại lý ở nước ngoài trong các giao dịch thanh toán với các ngân hàng

    VN, chưa khai thác tối đa dịch vụ ngân hàng do họ cung cấp để đáp ứng nhu cầu

    giao dịch với khách hàng.

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG

    CHỨNG TỪ TẠI SGDI – NGÂN HÀNG ĐT&PTVN

    VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

     

     

    3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA SGDI-NGÂN HÀNG

    ĐT&PTVN TRONG THỜI GIAN TỚI.

    Trải qua 46 năm xây dựng và phát triển từ một cơ quan cấp phát vốn ngân sách, đến nay NHĐT&PTVN đã trở thành một trong bốn NHTM quốc doanh có  ảnh hưởng lớn nhất đến thị trường tài chúnh NH Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ tốt cho đầu tư phát triển  kinh tế xã hội Những kết quả đạt được trong suốt thời gian qua đã được Đảng và Nhà nước công nhận bằng việc trao tặng những phần thưởng cao quý, bạn hàng tin tưởng và hợp tác.Cho đến tháng tư này kỷ niện 46 năm ngày truyền thống của ngân hàng , tổng tài sản của NHĐT&PTVN đã vượt qua con số 80.000 tỷ đồng. Đây là điều rất đỗi tự hào song cũng là trách nhiệm nặng nề của BIDV và nhiệm vụ này càng nặng nề hơn khi đất nước đang trong tiến trình CNH_HĐH  đất nước, từng bước hội  nhập kinh tế quốc tế.

    Nhận thức được những thời cơ và thách thức, quán triệt chủ trương và đường lối của Đảng và Chính phủ SGDI_NHĐT&PTVN đã đề ra định hướng phát triển hoạt động Thanh toán quốc tế trong giai đoạn tới như sau:

    Thứ nhất, một mặt củng cố và mở rộng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ, mặt khác phát triển đồng bộ các  phương  thức thanh toán khác nhau như phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền,thanh toán mậu biên…đáp ứng nhanh chóng chính xác nhu cầu giao dịch thanh toán của khách hàng.

    Thứ hai, hoàn thiện hơn các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, đáp ứng đủ nhu cầu

    ngoại tệ cho khách hàng trong thanh toán hàng hoá XNK.

    Thứ ba, mở rộng có hiệu quả mạng lưới ngân hàng đại lý và cơ cấu tiền gửi hợp lý. Đây là nhiệm vụ chiến lược trong việc phát triển và mở rộng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế ở ngân hàng.Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần phải cân đối nguồn ngoại tệ dự trữ để cho hoạt động Thanh toán quốc tế đạt hiệu quả cao.

    Thứ tư là hiện đại hoá công nghệ thanh toán ngân hàng theo hướng hội nhập

    với cộng đồng thế giới.

    Thứ năm, phối hợp tác nghiệp hơn nữa giữa các phòng nghiệp vụ chuyên  môn để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu Thanh toán quốc tế.

    Thứ sáu,tiếp tục đào tạo trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác Thanh toán quốc tế, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm và thái độ văn minh trong  giao dịch với khách hàng.

    Thứ bảy, tổ chức thanh toán quốc tế tại các chi nhánh ngân hàng quận.

    3.2. Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán L/C tại chi nhánh NHNN

    & PTNT.

    Với những gì đã nghiên cứu ở trên, chúng ta thấy việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN là một định hướng hoàn toàn đúng đắn. Vấn đề đặt ra là phải tiếp cận định hướng đó bằng cách nào để biến nó thành hiện thực? Sau đây em xin mạnh  dạn đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN. Cơ cấu lại phòng Thanh toán quốc tế theo hướng nghiệp vụ thanh toán đa năng.

    3.1.1. Phát triển tổ chức nhân sự, đào tạo mở rộng phạm vi hoạt động.

    Con người là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Việc xây dựng một mẫu hình con người có nhân cách tốt, biết lấy lợi ích chung làm mục tiêu hành động sẽ tạo nên nhân tố mấu chốt cho sự phát triển nhanh chóng bền  vững của SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN.

    Để quy trình thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ được nhanh chóng, có hiệu quả và tránh được nhiều rủi ro,thanh toán viên phải có

    khả năng xử lý nghiệp vụ một cách thuần thục, chính xác, phù hợp với các thông lệ quốc tế.Muốn vậy thanh toán viên không chỉ có trình độ về công tác Thanh toán quốc tế mà còn cần các kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực ngoại thương và các thị trường mà mình phụ trách.Do đó,SGDI cần tiêu chuẩn hoá  đội ngũ cán bộ bằng  các biện pháp sau:Thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận, học tập kinh nghiệm lẫn nhau để nâng cao trình độ hiểu biết về các nghiệp vụ ngoại thương, bảo hiểm

    ,vận tải.Đồng thời, trang bị kiến thức về pháp luật cho cán bộ,mời các chuyên gia giỏi về đào tao nghiệp vụ,đào tạo và âng cao trình độ ngoại ngữ của các thanh toán viên.

    Về vấn đề đạo đức, Ngân hàng cần tăng cường công tác tư tưởng, rèn luyện đạo đức Ngân hàng cho cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, có năng lực, kịp thời thay thế các cán bộ yếu kém về năng lực, thoái hoá về phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ cho cán bộ Ngân hàng đặc biệt là nâng cao trình độ tin học, trình độ lập trình quản lý cho cán bộ kỹ thuật.

    Ngoài ra, ngân hàng cần thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý và điều hành kinh doanh,phát huy tính chủ động sáng tạo của từng cán bộ nhân viên.

    3.1.2. Cải tiến kỹ thuật công nghệ:

    Trước hết Ngân hàng cần sử dụng hiệu quả mạng thanh toán SWIFT. Việc ngân hàng tham gia mạng SWIFT không chỉ đơn thuần nhằm phục vụ nhu cầu phát triển nghiệp vụ Thanh toán quốc tế mà còn nhằm chuẩn bị các điều kiện tham  gia thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán quốc tế. Do đó, ngân hàng cần giải quyết tốt vấn đề luân chuển chứng từ Đi-Đến trong nội bộ ngân hàng bằng cách phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, tự động hoá các giao dịch trong nước, chuẩn hoá nghiệp vụ.

    Hơn nữa, ngân hàng cần cải tiến đầu tư kỹ thuật và trang thiết bị công nghệ phục vụ thanh toán. Trong  những năm tới, Ngân hàng cần tiếp tục đầu tư trang  thiết bị máy tính có công suất lớn, đọc và xử lý chứng từ một cách tự động, đồng

    thời cần đầu tư thực hiện các chương trình phần mềm cho đồng bộ với việc đầu tư phần cứng nhằm nâng cao tính an toàn trong thanh toán.Mặt khác, phải tiếp tục chương trình cải tiến và hoàn thiện hạch toán kế toán ngân hàng.

    3.1.3. Đẩy mạnh tài trợ hoạt động xuất nhập khẩu.

    Hiệu quả của hoạt động thanh toán hàng hoá XNK bằng phương thức tín  dụng chứng từ phụ thuộcvào tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá XNK. Nếu các doanh nghiệp này được tài trợ nguồn vốn sẽ kinh doanh có hiệu quả, có uy tín từ đó giúp đẩy mạnh họt động thanh toán hàng hoá XNK.

    Thực trạng của SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN là yếu kém về mảng thanh toán L/C xuất khẩu và sự chênh lệnh nhau quá lớn giữa thanh toán nhập khẩu và thanh toán xuất khẩu gây mất cân đối ngoại tệ. Điều này cho thấy giải  pháp hữu hiệu  nhất hiện nay là Ngân hàng cần cân đối hoạt động tài trợ cho các doanh nghiệp  kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu .

    3.1.4. Xây dựng chính sách khách hàng phù hợp, phân tích đối thủ cạnh

    tranh và áp dụng Marketing vào hoạt động TTQT.

    -Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt bởi sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần,nhất là sự có mặt của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài,SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN cần có chính sách khách hàng hấp dẫn, linh hoạt và hiệu quả.

    -Trước hết ngân hàng cần chủ động tìm kiếm khách hàng.Đây là hoạt đông không thể thiếu nhằm giúp ngân hàng mở rộng và nâng cao số lượng khách hàng đến với mình.

    -Thưa hai,ngân hàng cần nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng, tăng cường công tác tư vấn và đẩy mạnh công tác tiếp thị quảng cáo để củng cố khách hàng truyền thống và mở rộng khách hàng tiềm năng.

    – Bên cạnh những biện pháp trên, Ngân hàng  cần phân tích và nắm rõ các đối

    thủ cạnh  tranh  của  mình.  Từ  đó đưa ra  các biện pháp  hơn hẳn  để thu hút khách

    hàng. Đồng thời Ngân hàng cũng cần phải tự xét thấy các mặt ưu nhược điểm của

    mình để phát huy đồng thời khắc phục những yếu kém còn tồn tại.

    3.1.5. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát.

    Để đảm bảo hoạt động Thanh toán quốc tế đặc biệt là hoạt động thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ đi đúng định hướng phát triển và theo đúng hành lang pháp lý của Nhà  nước,của ngân hàng ĐT&PTVN,SGDI  cần tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát.

    Trước hết, Ngân hàng cần lựa chọn cán bộ tham gia kiểm tra kiểm soát là những người công tư phân minh, thiết tha với sự nghiệp phát triển của Ngân hàng. Các cán bộ kiểm tra, kiểm soát phải phát hiện, uốn nắn kịp thời nâng cao nhận thức toàn diện cho nhân viên. Hơn nữa trong thời gian tới, Ngân hàng cần đẩy mạnh công tác kiểm toán nội bộ cho các lĩnh vực như: kiểm toán báo cáo tài chính…

    3.1.6. Đa dạng hoá các ngoại tệ trong kinh doanh và dịch vụ.

    Cùng với sự khôi phục lại của nền kinh tế các nước Châu á sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, thị trường Châu á đang dần chiếm lại niềm tin đối với các đối tượng Phương Tây và hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng sẽ có cơ hội tăng trưởng, nhu cầu về ngoại tệ sẽ tăng lên. Do đó, Ngân hàng cần khai thác các nguồn vốn ngoại tệ mạnh để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu  thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu của khách hàng.

    3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    3.3.1.Đối với cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có sự  quản lý  ĩ mô của nhà nước,theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò điều khiể vĩ mô Nhà nước ngày càng được khẳng định. Hơn nữa, xu thế quốc tế hoá nền kinh tế của thế  giới đã  đem lại cho mỗi quốc gia những cơ hội đồng thời cũng là những  thách  thức lớn.Lức này, cần phải có bàn tay định hướng của Nhà nước để đưa đất nước đi  đúng mục tiêu của mình.

    Đối với hoạt động Thanh toán quốc tế nói chung và hoạt động thanh toán

    hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng trong mỗi thời kỳ rất

    cần đến sự lãnh đạo và định hướng của chính phủ để ngày càng mở rộng và phát triển, đồng thời tránh các rủi ro có thể xảy ra cho các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp kinh doanh XNK.

    Như vậy, với thực trạng hệ thống pháp luật chưa đồng bộ như nước ta hiện nay, Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản pháp luật cho giao dịch thanh toán XNK, như các văn bản luật, dưới luật quy định và hướng dẫn giao dịch thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ, trong đó quy định rõ quyền lợi và  nghĩa vụ của người mua và người bán trong hợp đồng ngoại thương cũng như quyền và lợi ích của các ngân hàng tham gia trong giao dịch thanh toán tín dụng chứng từ.

    Hiệu quả của hoạt động thanh toán hàng hoá XNK bằng phương thức tín  dụng chứng từ chịu sự ảnh hưởng của chất lượng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp XNK.Do đó, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trong chính sách tiền tệ để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động XNK.

    Mặt khác, để đẩy mạnh hoạt động XNK, Nhà nướccần có chính sách đẩy mạnh công tác đối ngoại, đặc biệt là công tác thương mại với các thị trường mới như Nhật Bản,Mỹ, các nước trong khối ASEAN…, tham gia tổ chức thương mại  thế giới WTO.

    Ngoài ra,Nhà nước cần củng cố và phát triển Hiệp hội ngân hàng VN, tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại VN hợp tác tìm hiểu khách hàng và đối tác,giúp đở và tương trương trợ lẫn nhau trong quá trình hoà nhập vào cộng đồng thế giới, cùng nghiên cứu trao đổi, hạn chế bớt rủi ro.

    Hơn nữa, cần cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chín trong quản lý XNK, tinh giảm thủ tục hải quan.Tăng cường hơn nữa công tác chống buôn lậu  và  quản lý thị  trường nội địa nhằm tăng thu ngân sách, bảo hộ nền sản xuất trong nước,  tăng cường ngoại tệ thanh toán qua ngân hàng.

    Hiện nay, tỷ giá giữa đồng VND $ USD, EURO liên tục biến động đã tác động tới tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp XNK. Vì vây, ngân  hàng cân có chính sách điều tiết tỷ giá thích hợp theo hướng tự do hoá với những bước đi thích hợp nhằm kích thích xuất khẩu và bảo hộ nhập khẩu trong nước.

    3.3.2. Đối với ngân hàng Nhà nước.

    a.    NHNN cần có những biện pháp hoàn thiện và phát triển thị trường

    mua bán ngoại tệ liên ngân hàng.

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường nhằm giải quyết các quan hệ trao đổi, cung cấp ngoại tệ giữa NHNN với các ngân hàng thương mại và giữa các ngân hàng thương mại với nhau.

    Vì vậy, để SGDI_NHĐT&PTVN mở rộng quan hệ thanh toán quốc tế, phục vụ  tốt cho hoạt động XNK hàng hoá thì việc phát triển thị trường ngoại tệ liên  ngân hàng là rất cần thiết.

    Trong thời gian tới, để hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, ngân hàng Ngân hàngà nước và các đối tượng có liên quan cần thực hiện các công việc sau:

    Thứ nhất, cần giám sát và buộc các NHTM phải xử lý trạng thái ngoại hói  của mình trong ngay bằng việc mua bán ngoại tệ trên thị trườngngoại tệ liên ngân hàng.

    Thứ hai, mở rộng đối tượng tham gia vào thị truờng.

    Thứ ba, phát triển các nghiệp vụ vay mượn ngoại tệ, nghiệp vụ đầu cơ và các

    hình thức mua bán ngoại tệ như mua bán kỳ hạn, hợp đồng tương lai…

    b.   Ngân hàng Nhà nước nên thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái thích

    hợp sao cho tỷ giá luôn dảm bảo có lợi cho các nhà XNK.

    NHNN với vai trò tham mưu cho Chính Phủ đưa ra những chính sách quản   lý ngoại tệ có hiệu quả nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động XNK.

    3.3.3. Đối với SGDI-NHĐT&PTVN.

    SGD cần chú trọng tới công tác đào tạo và tái đào tạo các thanh toán  viên,  tạo cơ hội cho họ cập nhật những kiến thức mới trong lĩnh vực Thanh toán quốc tế. Hơn nưa, ngân hàng nên thành lập quỹ đào tạo, liên hệ với các ngân hàng đại lý cử cán bộ đi học hỏi kinh nghiệm và thực tế ở nước ngoài.

    Mặt khác, đội ngũ cán bộ thanh toán viên của ngân hàng còn thiếu, đặc biệt  là ở các chi nhánh. Một cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, giải quyết công việc đôi khi bị chồng chéo. Do đó, NHĐT&PTVN cần bổ xung nhân  lực cho các chi nhánh, nhất là cán bộ có kiến thức chuyên môn, giỏi ngoại ngữ và am hiểu tin học.

    Bên cạnh đó NH nên đa dạng hoá các hình thức cho vay tai trợ, nâng cao  mức chiết khấu bộ chứng từ và có chính sách cho vay ưu đãi đối với các khách  hàng có uy tín, có nguồn trả nợ bảo đảm.

    Hơn thế nữa, NH nên tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại, phù hợp đảm bảo cạnh tranh, hội nhập, mở rộng thị phần, nhất là ở những địa bàn trọng điểm.

    Cuối cùng, NH cần quan tâm mở rộng mạng lưới quan hệ đại lý với các NH đại lý trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động Thanh toán quốc tế. Từ  đó nâng cao chất lượng và phạm vi hoạt  động Thanh toán quốc tế theo phương  thức tín dụng chứng từ.

    KẾT LUẬN

     

    Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường và hội nhập vào nền kinh tế mậu dịch thế giới từ cuối thập niên 80. Hoạt động thương mại và Ngân hàng đang ngày một sôi động và phát triển, nhất là khi có sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. Hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu không những tăng lên về kim ngạch mà tăng lên cả về quy mô và chất lượng.

    Cùng với sự phát triển đó, hoạt động của các Ngân hàng thương mại trong nước ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, hoạt động này cũng vấp phải rất nhiều khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt với các Ngân hàng liên doanh, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. SGDI_NHĐT&PTVN cũng là một trong số các Ngân hàng thương mại nước ta đang đứng trước thực trạng đó. Để đứng vững duy trì và phát triển uy tín của mình trên thị trường quốc tế thì  việc nâng cao chất lượng thanh  toán hàng hoá theo phương thức tín dụng chứng từ là yêu cầu bức thiết với Ngân hàng.

    Em hy vọng với chừng mực nào đó, những nghiên cứu và giải pháp nêu trên sẽ giúp ích đối với công việc của cán bộ thanh toán quốc tế, góp  phần mở  rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN .

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo TS. Mai Thanh Quế và các anh chị phòng Thanh toán quốc tế – SGDI- NHĐT&PTVN để em có thể hoàn thành chuyên đề này.

    Em xin chân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

    Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

    Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%C3%ACnh-h%C3%ACnh-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

     

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    &

    Trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay,khi hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra ngày càng nhiều và các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng trở nên phổ biến, việc thanh toán giữa người bán và người mua ở những vị trí địa lí cách xa nhau, với những rào cản về ngôn ngữ, thói quen mua bán, luật lệ…không hề đơn giản.Dẫn tới nhu cầu cần thiết phải có các phương tiện để thanh toán tiện lợi, ít rủi ro. Do đó các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng đa dạng và phổ biến.

    Với mỗi phương thức thanh toán khác nhau, người mua phải trả tiền bằng cách nào, người bán sẽ nhận tiền ra sao, họ giao nhận trực tiếp hay thông qua trung gian…Giữa các hình thức thanh toán đa dạng, tại sao công ty A lại áp dụng loại này, công ty B áp dụng kiểu kia…

    Tất cả những thắc mắc trên sẽ được giải đáp phần nào trong bài tiểu luận này.

    A.Các Loại Phương Thức Thanh Toán Quốc Tế ở

     Việt Nam.

    I. Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection):

    Nghiệp vụ thanh toán nhờ thu được hướng dẫn theo “Quy tắc thống nhất về nhờ thu” do Phòng Thương mại quốc tế sửa đổi và ban hành theo xuất bản số 522 năm 1995, có hiệu lực thực hiện từ 01/01/1996 (The Uniform Pules for Collection-ICC Pub. No 522-1995 Revision).

    1. Khái niệm:

    Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ giao hàng thì lập hối phiếu gửi đến ngân hàng nhờ thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu. Trong trường hợp này ngân hàng đóng vai trò trung gian giúp thu hộ tiền và được hưởng tỷ lệ phần trăm trên số tiền thu được.

    2. Chúng từ trong phương thức nhờ thu:

    • Chứng từ tài chính (financial documents): hối phiếu đòi nợ (bill of exchange), hối phiếu nhận nợ (promissory note), séc (cheque),…
    • Chứng từ thương mại (commercial documents): hoá đơn thương mại (invoice), chứng từ vận tải (transport documents), chứng từ sở hữu hoặc các chứng từ khác có giá trị tương đương, hoặc chứng từ khác không phải là chứng từ tài chính.

    3. Các hình thức thanh toán nhờ thu:

    • Nhờ thu trơn (clean collection): là phương thức nhờ thu mà sau khi người bán (nhà xuất khẩu) giao hàng hoá hoặc thực hiện dịch vụ sẽ gửi chứng từ tài chính nhờ ngân hàng đòi tiền người mua (nhà nhập khẩu) mà không kèm theo chứng từ thương mại.

    Sơ đố nhờ thu phiếu trơn

    Giải thích sơ đồ:

    • Người bán giao hàng lập bộ chứng từ gửi thẳng người mua.
    • Người bán ký hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ ngân hàng thu hộ tiền của hối phiếu đó.
    • Ngân hàng bên bán chuyển hối phiếu cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua.
    • Ngân hàng bên mua chuyển hối phiếu cho người mua và yêu cầu trả tiền.
    • Người mua trả tiền hoặc từ chối trả tiền, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của họ. Nói chung sau khi nhận hàng người mua mới trả tiền.
    • Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán.
    • Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán.

     

    *Trường hợp áp dụng:

    • Hai bên mua bán tin cậy lẫn nhau hoặc hai bên cùng trong nội bộ công ty với nhau.
    • Dùng đề thanh toán cước phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng, lợi tức,…
    • Phương thức này chỉ áp dụng cho hình thức trả ngay và trả sau.
    • Nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection): là phương thức nhờ thu mà sau khi người bán giao hàng hoặc thực hiện dịch vụ sẽ nhờ ngân hàng đòi tiền người mua dựa trên:
      • Chứng từ thường mại + chứng từ tài chính, hoặc
      • Chứng từ thương mại.

    Tuỳ theo thời hạn trả tiền ta chia phương thức này làm 2 loại:

    • Nhờ thu trả tiền đổi chúng từ (deliver documents against payment-D/P): người mua phải thanh toán ngay khi nhận bộ chứng từ.

    Ví dụ thực tế: ta có bảng hợp đồng nhờ thu sau

    Hợp đồng ngoại thương này được ký kết bởi:

                      Nhà xuất khẩu: Bình đông Fisheries Joint stock Company, địa chỉ: đường 49 bến Bình Đông, phường 11, quận 8, Tp,HCM

                      Và nhà nhập khẩu:

    Effegi Service S.P.A, địa chỉ: Via Spallanzani, 2  46100 Mantova, Italy.

    Theo hợp đồng, sẽ tiến hành thanh toán bằng phương thức  D/P trả ngay ,theo đó Công ty Bình đông Fisheries Joint stock sẽ sản xuất và giao hàng lên tàu, sau đó làm BCT  đưa lên ngân hàng Đông Á, ngân hàng Đông Á sẽ gửi BCT tới ngân hàng người mua và ngân hàng này sẽ giao BCT cho Effegi Service S.P.A với điều kiện Công ty này phải trả tiền thanh toán ngay.

    • Nhờ thu chấp nhận trả tiền đổi chứng từ (deliver documents against acceptance-D/A): người mua khộng phải thanh toán ngay khi nhận bộ chứng từ mà phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu và sẽ thanh toán vào ngày đáo hạn.

    =>So với phương thức nhờ thu phiếu trơn thì phương thức nhờ thu kèm chứng từ có tính an toàn trong thanh toán cao hơn vì ngân hàng thay mặt người bán dùng bộ chứng từ khống chế người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. Tuy nhiên , nhờ thu kèm chứng từ cũng không phải là phương thức thanh toán an toàn tuyệt đối với người xuất khẩu vì việc nhờ ngân hàng thu hộ tiền chỉ diễn ra sau khi người xuất khẩu đã thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng.

    4.Nhận Xét:

    Ưu điểm:

    An toàn cho cả người mua và người bán (đối với hình thức D/P)

    • Người mua:
    • Chủ động trong việc thanh toán
    • Nguời bán:
    • Đảm bảo việc thanh toán từ người mua (đối với hình thức D/P).

    Nhược điểm:

    • Người mua:
    • Nhận BCT giả.
    • Không đảm bảo về số lượng và chất lượng của lô hàng.
    • Người bán:
    • Tốc độ thanh toán chậm.
    • Không bảo đảm quyền lợi cho người mua vì việc thanh toán tuỳ thuộc vào ý thiện chí của người mua.
    • Người mua không nhận hàng.

    => Trong phương thức thanh toán này người bán chịu rủi ro co nhất.

    Giải pháp: nhằm giảm rủi ro cho người bán:

    • Người mua đặt cọc trước số tiền thanh toán.
    • Người mua mở L/C dự phòng nhằm đảm bảo quyền lợi cho người bán.
    • Đối với trường hợp người mua không nhận hang: người bán coá thể đàm phán với người mua để giảm giá, hay kiếm đối tác khác để bán.

     

     

    5.Giới thiệu nguồn pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức nhờ thu-URC (Unifprm Rules for Collection):

    URC do ICC (Phòng thương mại quốc tế trực thuộc Liên Hiệp quốc) ban hành vào năm 1956.

    Mục đích ra đời:

    • Thống nhất cách hiểu về phương thức nhờ thu.
    • Làm cơ sở giải pháp tranh chấp (nếu có).

    Do sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế , URC đã sửa đổi 3 lần . Gần đây nhất là URC 522  theo xuất bản số 522 năm 1995, có hiệu lực thực hiện từ 01/01/1996. Gồm 7 phần và 26 điều khoản:

    • Những điều khoản và định nghĩa chung.
    • Hình thức và cấu trúc của nhờ thu.
    • Hình thức nhờ thu.
    • Trách nhiệm và nghĩa vụ.
    • Thanh toán.
    • Lãi, phí và các chi phí khác.
    • Các điều khoản khác.
    • Văn bản này mang tính tuỳ ý.

     

    II. Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance):

    1. Khái niệm:

    Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu, người mắc nợ…) uỷ nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định chuyển cho một người khác (người bán, người xuất khẩu, chủ nợ,…) ở một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.

    2. Quy trình nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền:

    Quy trình thanh toán chuyển tiền ứng trước (toàn bộ):

     

     

     

    Giải thích qui trình:

    • Người mua đến ngân hàng viết lệnh chuyển tiền và nộp các giấy tờ cần thiết theo yêu cầu của ngân hàng (hợp đồng ngoại thương một bản chính, một bản sao, giấy phép nhập khẩu nếu có…).
    • Nhân viên ngân hàng sau khi kiểm tra hồ sơ của nhà nhập khẩu thì thực hiện chuyển tiền bằng điện (TT) hoặc bằng thư (MT) cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài, đồng thời thông báo cho nhà nhập khẩu biết lệnh chuyển tiền của họ đã được chấp thuận (2b).
    • Ngân hàng dịch vụ đại lý báo cho người bán.
    • Người bán giao hàng theo hợp đồng ngoại thương đã ký.

    Quy trình thanh toán chuyển tiền trả ngay hoặc trả chậm:

     
       

    Giải thích quy trình:

    • Sau khi thoả thuận đi đến ký hợp đồng mua bán ngoại thương, người xuất khẩu thực hiện việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người nhập khẩu, đồng thời chuyển giao toàn bộ chứng từ cho người nhập khẩu.
    • Người nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ, hoá đơn… viết lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình.
    • Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu để chuyển tiền, gửi giấy báo nợ và giấy báo đã thanh toán cho nhà nhập khẩu.
    • Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh (bằng thư hay điện báo) cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài để chuyển tiền trả cho người xuất khẩu.
    • Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người xuất khẩu (trực tiếp hoặc gián tiếp qua ngân hàng khác) và gửi giấy báo cho đơn vị đó.

     

    3.Hình thức chuyển tiền:

    Hình thức điện báo (telegraphic transfer-T/T)

    Ngân hàng chuyển tiền thực hiện việc chuyển tiền theo cách ra lệnh bằng điện cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi.

    Ví dụ thực tế: Ta có bảng hợp đồng ngoại thương sau

    Giải thích:

    Hợp đồng ngoại thương giữa:

                      Nhà xuất khẩu: Công ty Phong Cách Việt. địa chỉ: 16/38 đường 304, phường 25, quãn Bình Thạnh, Tp.HCM.

                      Và nhà nhập khẩu: Carmen Wallstein, địa chỉ: 8 Steen Lane, Somerset West 7129 Capetown, South Africa.

    Theo qui định hợp đồng áp dụng phương thức thanh toán T/T theo qui định hợp đồng, Carmen Wallstein sẽ trả trước 50% giá trị của hợp đồng tức là số tiền 549 USD, phần còn lại sẽ được trả sau khi Carmen Wallstein nhận được bản B/L qua fax từ Công ty Phong Cách Việt.

    Hình thức thư chuyển tiền (mail transfer-M/T):

    Ngân hàng chuyển tiền thực hiện việc chuyển tiền theo cách gửi thư ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi.

    =>Trong hai hình thức trên thì hình thức chuyển tiền bằng điện có lợi chi nhà xuất khẩu vì nhận tiền nhanh nhưng điện phí cao.

    4. Nhận xét:

    Ưu điểm:

    • Qui trình đơn giàn, dễ thực hiện.
    • Chi phí rẻ.
    • Thủ tục nhanh chóng.
    • Hạn chế sử dụng tiền mặt.

    Nhược điểm:

    Người mua:

    • Trả ngay khi nhận BCT: không yên tâm về chất lượng, số lượng hàng hoá.
    • Trả trước: Người bán không giao hang, giao hang thiếu.

    Người  bán:

    Không nhận được tiền thanh toán từ người mua.

    III. Phương thức đổi chứng từ trả tiền (Cash against documents-CAD)

    1. Khái niệm:

    Đây là phương thức thanh toán mà người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoả ký thác (Trust Account) để thanh toán tiền cho ngừơi xuất khẩu khi người xuất khẩu xuất trình đầy đủ chứng từ theo yêu cầu.

    Phương thức thanh toán này rất được ưa chuộng và khá phổ biến trên thế giới vì nhận tiền nhanh trong ngày và thủ tục ít phức tạp.

    Sơ đồ qui trình CAD:

    3.Nhận xét:

    Ưu điểm:

    Ngừơi bán: Nhà xuất khẩu thanh toán bằng phương thức này rất có lợi.

    • Giao hàng xong là lấy được tiền ngay và bộ chứng từ xuất trình đơn giản.
    • Đảm bảo vịêc thanh toán từ người mua.

    Người mua:

    • Không sợ BCT giả.
    • An tâm về việc giao hang của người bán vì đã sự giám sát của người đại diện.

    Nhược điểm:

    • Người mua: Không chắc đủ số lượng, chất lượng và người bán giao hang không đúng thời hạn.
    • Người bán: Người mua nhận được BCT nhưng chưa chắc họ trả tiền liền.

    3. Điều kiện áp dụng:

    • Người mua và người bán có quan hệ mua bán tốt, tin tưởng lẫn nhau.
    • Áp dụng trong mua bán những mặt hàng khan hiếm, bán chạy, thị trường ở bên người xuất khẩu.
    • Áp dụng cho phương thức trả tiền ngay, không áp dụng cho phương thức trả tiền chậm.

    IV. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (documentary credit):

    1. Khái niệm:

    Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do ngừơi thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp những quy định đã đề ra trong thư tín dụng.

     

     

    2.. Thư tín dụng (Letter of credit-L/C):

    a.Khái niệm:

    Thư tín dụng là một bức thư do ngân hàng viết ra theo yêu cầu của người nhập khẩu (người mở tín dụng thư) cam kết trả tiền cho người xuất khẩu ( người hưởng lợi) số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong lá thư đó.

                      Theo UCP 600:Thư tín dụng là bất cứ sự thoả thuận nào,dù được gọi hay mô tả như thế nào thì nó cũng không huỷ ngang và vì vậy tạo thành cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho bộ chứng từ hợp lệ.

    Thư tín dụng là một văn bản pháp lý quan trọng của phương thức tín dụng thư.

    Tín dụng thư hoạt động theo 2 nguyên tắc:

    • Độc lập:

    Theo điều 4 UCP 600:

    Một thư tín dụng về bản chất là những giao dịch độc lập với hợp đồng thương mại hay các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở cho thư tín dụng. Ngân hàng không có ràng buộc với hợp đồng như vậy,ngay cả khi trong thư tín dụng có dẫn chiếu đến những hợp đồng này.Vì thế,cam kết của ngân hàng về việc thanh toán,chiết khấu hay thực thi bất cứ nghĩa vụ nào của Thư tín dụng không phụ thuộc vào sự khiếu nại hay biện hộ của người mở phát sinh từ mối quan hệ của người mở với ngân hàng phát hành hoặc với người hưởng.

    Bất kì trường hợp nào,người hưởng không được lợi dụng quan hệ giữa các ngân hàng hay giữa người mở với ngân hàng phát hành.

    Một ngân hàng phát hành không khuyến khích bất kì cố gắng nào của người mở để đưa những bản hợp đồng tiềm ẩn,hoá đơn tạm va những cái tương tự như vậy vào thư tín dụng như một bộ phận không thể tách rời.

    Theo điều 5 UCP600:

      Chứng từ và hàng hoá,dịch vụ hay các giao dịch khác ngân hàng chỉ giao dịch bằng chứng từ chứ không phải hàng hoá,dịch vụ hay giao dịch khác mà chứng từ đó có thể liên quan.

    • Tuân thủ nghiêm ngặt

    Ngân hàng chỉ thanh toán nếu các chứng từ giao hàng hoàn toàn phù hợp với L/C, đúng với các chỉ dẫn của người mua.

    b.Các loại thư tín dụng.

    Trong thanh toán quốc tế có những loại L/C thông dụng sau:

    b.1. Thư tín dụng có thể hủy bỏ( Revocable Letter of Credit):

    Nhận dạng loại L/C này:

    • Theo UCP -400, nếu L/C không ghi rõ chữ “Irrevocable” hoặc ghi rõ chữ “Revocable” thì đều là các loại L/C có thể hủy bỏ.
    • Nhưng theo UCP -500, trên L/C phải ghi rõ “Revocable L/C” thì mới coi là loại L/C có thể hủy bỏ.

    Đây là loại L/C mà ngân hàng mở L/C có thể sửa đổi, bổ sung hoặc có thể hủy bỏ L/C bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. Loại L/C có thể hủy bỏ này trong thanh toán quốc tế ít được sử dụng bởi vì L/C có thể hủy bỏ thực chất chỉ là lời hứa trả tiền chứ không phải là sự cam kết.

    Những trường hợp áp dụng L/C có thể hủy bỏ :

    Người mua mở L/C có thể hủy bỏ để người bán có cơ sở xin phép giấy phép xuất khẩu. Sau khi nhận được giấy phép xuất khẩu, có 2 trường hợp:

    • Thư tín dụng có thể hủy ngay tự động có hiệu lực như một thư tín dụng không thể hủy ngang. Điều này cần phải định rõ trong L/C .
    • Người mua yêu cầu ngân hàng mở tín dụng không thể hủy ngang có nội dung tương tự như thư tín dụng hủy ngang đã mở.

    Các hợp đồng mua bán được kí kết qua điện thoại, telex, fax, email thường không được tin cậy và không đầy đủ để thực hiện hợp đồng. Do đó người mua thường mở thư tín dụng có thể hủy ngang để dễ dàng bổ sung và hoàn thiện. Khi người bán chấp nhận thư tín dụng này thì người mua mở thư tín dụng không thể hủy ngang cho người bán .

    Đối với thư tín dụng có thể hủy ngang, ngân hàng mở thư tín dụng vẫn có một số trách nhiệm như sau:

    • Hoàn trả tiền cho chi nhánh hoặc ngân hàng khác khi nơi này đã thanh toán những khoản tiền thanh toán ngay, chấp nhận hoặc chiết khấu theo đúng các điều khoản của thư tín dụng trước khi nhận được thông báo của ngân hàng phát hành về việc sửa đổi hoặc hủy bỏ thư tín dụng đó.
    • Hoàn lại tiền cho chi nhánh hoặc ngân hàng khác khi nơi này đã thanh toán những khoản trả chậm theo đúng các điều khoản của thư tín dụng trước khi nhận được thông báo của ngân hàng phát hành về việc sửa đổi hoặc hủy bỏ thư tín dụng đó.

    b.2 Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C)

    • Việc hủy bỏ hay sửa đổi L/C phải được chấp thuận của Người thụ hưởng, ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận (nếu có).
    • Được sử dụng phổ biến rộng rãi nhất trong thanh toán quốc tế bởi vì nó đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu.
    • Theo UCP500, nếu tín dụng thư ghi không rõ có thể hủy ngang hay không hủy ngang thì được coi là không thể hủy ngang.
    • Theo UCP600, thư tín dụng là bất cứ sự thỏa thuận nào, dù được gọi hay mô tả như thế nào thì nó cũng không hủy ngang và vì vậy tạo thành cam kết chắc chắn của Ngân hàng phát hành về việc thanh toán Bộ chứng từ hợp lệ.

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ KHÔNG HỦY NGANG

     

    Giải thích sơ đồ:

    (1) Người nhập khẩu và người xuất khẩu ký kết hợp đồng thương mại với điều khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.

    (2) Người nhập khẩu làm giấy đề nghị mở tín dụng thư gửi đến ngân hàng của mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu.

    (3) Căn cứ vào yêu cầu và giấy đề nghị mở tín dụng thư, ngân hàng phát hành một thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo.

    (4) Ngân hàng thông báo nhận được bản gốc thư tín dụng sẽ thông báo ngay cho nguời xuất khẩu.

    (5) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng. Nếu không chấp nhận thì đề nghị người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng và tiến hành giao hàng.

    (6) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của thư tín dụng. Tuỳ theo nội dung L/C mà người xuất khẩu sẽ xuất trình đến ngân hàng được quy định trong L/C.

    (7) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì tiến hanh trả tiền cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo. Nếu thấy không phù hợp ngân hàng từ chối thanh toán và có thể gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu.

    (8) Ngân hàng mở thư tín dụng giao lại bộ chứng từ thanh toán cho người nhập khẩu và yêu cầu thanh toán bồi hoàn.

    (9) Người nhập khẩu hoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở thư tín dụng.

    Ví dụ thực tế, ta có hợp đồng ngaọi thương sau:

    Giải thích bảng hợp đồng ngoại thương trên:

    Hợp đồng ngoại thương giữa:

    Nhà nhập khẩu:

    Công ty Phương Đông, địa chỉ :107 Võ Trần Toản, Phường 2, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

    Và nhà xuất khẩu:

    B.Q  Plast Public Company Limited, địa chỉ: 19/111 Moo 7 Thkarm Rd, Samaedam Bangkhuntien, Bangkok 10150, Thailand.

    Theo hợp đồng sẽ thanh toán bằng phương thức L/C trả ngay không hủy ngang giá trị hóa đơn. Theo đó ngày 12/3/09, Công ty Phương Đông đến ngân hàng Đông Á đề nghị mở L/C trị giá 37400USD. Ngân hàng Đông Á sau khi xem xét và tiến hành mở L/C dựa trên hợp đồng số PN 387 ngày 07/03/09.

    Sau đó ngân hàng Đông Á gửi L/C đến ngân hàng người thụ hưởng là Bankok bank publicCo.,LTD, khi nhận được L/C, ngân hàng này sẽ thông báo đến BQ. Plast Public Company Limited; nếu không tu chỉnh thì nhà xuất khẩu sẽ tiến hành giao hàng theo qui định trong hợp đồng. Tiếp theo nhà xuất khẩu sẽ hoàn chỉnh bộ chứng từ và đem đến cho Bankok bank publicCo.,LTD kiểm tra và nhận tiền .

     b.3 Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C):

    Là loại L/C không thể hủy ngang và được một ngân hàng có uy tín đảm bảo thanh toán theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C.

    Loại L/C này được yêu cầu khi người bán không hiểu rõ khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành. Ngân hàng đảm bảo này được gọi là ngân hàng xác nhận (Confirming bank). Phí xác nhân rất cao, gấp 3 lần phí mở L/C.

     

    Ký kết hợp đồng ngoại thương
    Nhà xuất khẩu
    Nhà nhập khẩu

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ XÁC NHẬN

           
         
     
       

    b.4 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)

    • Là L/C không hủy ngang, trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
    • Người thụ hưởng đầu tiên chỉ được chuyển nhượng cho một hoặc nhiều người thụ hưởng thứ hai.
    • Có thể chuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C .
    • Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu.

     

     

     

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ CHUYỂN NHƯỢNG

    b.5 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C):

    Là L/C không hủy ngang, trong đó quy định rằng khi L/C sử dụng hết kim ngạch hoặc sau khi hết hạn hiệu lực L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ, và cứ như vậy L/C tuần hoàn đến khi nào hoàn tất giá trị hợp đồng. Loại L/C này được áp dụng trong trường hợp hai bên xuất khẩu, nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không đổi.

    • L/C tuần hoàn chia làm 2 loại
      • Loại L/C tuần hoàn có tích lũy : là loại L/C cho phép chuyển kim ngạch đợt giao hàng trước vào đợt giao hàng sau
      • Loại L/C tuần hoàn không tích lũy: là loại L/C không cho phép chuyển số dư của đợt giao hàng trước vào đợt giao hàng sau
    • L/C có thể chia ra làm 3 cách tuần hoàn
      • L/C tuần hoàn tự động : hết hạn đợt giao hàng trước thì đợt giao hàng sau tự động có giá trị mà không cần sự thông báo của ngân hàng mở L/C
      • L/C tuần hoàn không tự động: đợt giao hàng sau muốn có giá trị, phải có sự thông báo của ngân hàng mở L/C .
      • L/C tuần hoàn bán tự động: nếu sau ngày kể từ ngày mở L/C, trước thời hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết giá trị L/C mà không có ý kiến thông báo nào của ngân hàng mở L/C thì L/C sau sẽ tự động có hiệu lực

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ TUẦN HOÀN

     
       

    b.6 Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C) :

    • Là loại L/C mở dựa vào một L/C khác . Nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình, người xuất khẩu yêu cầu ngân hàng mình mở một L/C khác dựa vào L/C gốc cho nhà cung cấp hàng hóa với nội dung gần giống như L/C ban đầu  (master L/C) .L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng.
    • Loại L/C này thường áp dụng đối với trường hợp mua bán qua trung gian
    • Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc
    • Kim ngạch L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc.
    • Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc.

     

     

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ GIÁP LƯNG

     

    b.7.Thư tín dụng dự phòng (Stand-by letter of credit):

    • L/C quy định ngân hàng thanh toán thay cho người xuất khẩu/ nhập khẩu nếu họ không thực hiện theo cam kết như L/C quy định .
    • Trị giá của L/C Stand-by khoảng 2%-15% trị giá hợp đồng ngoại thương.
    • Thường áp dụng đảm bảo cho nghiệp vụ thanh toán tiền ứng trước , hoàn tiền đặt cọc , đảm bảo giao hàng…
    • Loại L/C này được áp dụng phổ biến ở Anh và Mỹ.

     

     

     

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ DỰ PHÒNG

     

     

     

    b.8 Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red-clause L/C):

    Là một sự ủy quyền của ngân hàng mở L/C đối với ngân hàng chiết khấu ,ứng trước một khoản tiền cho người được hưởng, để giúp người này có thê nguồn vốn giao hàng cho L/C đã mở. Theo L/C này khi nhận tiền thanh toán người được hưởng chỉ nhận được số tiền bằng số tiền  của hóa đơn trừ đi số tiền đã ứng trước theo điều khoản đỏ.

    L/C này được chia làm 2 loại:

    • L/C điểu khoản đỏ không đảm bảo: là khoản tiền ứng trước không được đảm bảo đối với ngân hàng mở L/C.
    • L/C điều khoản đỏ có đảm bảo: là bên cạnh các giấy tờ trên, người xuất khẩu còn phải xuất trình thêm chứng từ có giá trị như bảo lãnh của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu hay giấy nhập kho.

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ ĐIỂU KHOẢN ĐỎ

     

     

     

     

    b.9 Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C):

                      Là loại L/C được qui định là chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra. Nghĩa là khi người xuất khẩu nhận được L/C do người nhập khẩu mở, thì mở lại một L/C tương ứng thì mới có giá trị.

                      L/C ban đầu thường có ghi: “L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để chỉ người mở L/C này hưởng” và trong L/C đối ứng phải ghi câu “L/C này đối ứng với L/C số…ngày…qua ngân hàng…”.

                      L/C đối ứng thường được sử dụng trong việc mua bán trên cơ sở đổi hàng (Barter), ngoài ra không loại trừ khả năng dùng để thanh toán trong những phương thức gia công quốc tế có nhiều phức tạp.

    Sơ đồ qui trình nghiệp vụ thư tín dụng đối ứng:

     

     

     

     

     

     

     

    Ngoài ra còn có các loại thư tín dụng đặc biệt khác:

    • Thư tín dụng thanh toán (payment credits)
    • Thư tín dụng chấp nhận (acceptance credits)
    • Thư tín dụng thương lượng (negotiation credits)
    • Thư tín dụng nhờ thu (collection credits)
    • Thư tín dụng có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện (TTR credits)
    • Thư tín dụng không có điều khoản bồi hoàn bằng điện (non-TTR credits)

    3. Ưu và nhược điểm:

    • Ưu điểm:
    • Rất an toàn cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu
      • Nhược điểm:
        • Chi phí cao
        • Thời gian thanh toán chậm.
        • Phức tạp
        • Tuy an toàn nhưng vẫn tồn tại một số rủi ro.

     

    4. Rủi ro và cách phòng tránh:

    Đối với nhà xuất khẩu:

                      Phương thức thanh toán L/C là phương thức thường được áp dụng nhiều nhất vì nó đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu trong thanh toán. Tuy nhiên đây không phải là phương thức an toàn tuyệt đối cho nhà xuất khẩu. Sau đây là một số rủi ro mà nhà xuất khẩu thường  gặp:

    Nguồn gốc rủi ro Nội dung của rủi ro Biện pháp hạn chế rủi ro
    1. Rủi ro từ phía ngân hàng phát hành L/C không có uy tín thanh toán. Ngân hàng không giữ đúng cam kết thanh toán
    1. Lựa chọn ngân  ngân hàng đích danh có uy tín ngay từ khâu ký kết hợp đồng.
    2. L/C được xác nhận bởi ngân hàng được nêu đích danh hoặc chi nhánh của ngân hàng phát hành tại nước xuất khẩu.
    2. Rủi ro doanh nghiệp xuất khẩu không thực hiện được đúng những điều kiện mà L/C quy định a. Thời gian giao hàng chậm so với quy định củ L/C.

     

    b. Chuyên chở hàng hóa không đúng qui định của L/C.

    c. Giao hàng không đúng cơ cấu yêu cầu.

    Dùng kinh nghiệm thực tế để lập bảng chiết tính thời gian, gồm hai bảng:

     

    • Thời gian thu mua và chuẩn bị hàng hóa
    • Thời gian đưa hàng lên tàu

    Nếu không thỏa mãn với khung thời gian cho phép trong L/C thì phải tu chỉnh ngay.

    Trường hợp chuyển tải:

    −    Điều tra từ trước về tuyến đường vận tải

    −    Xem hãng tàu mạnh ở tuyến nào.

    −    Thuê tàu chuyến nếu tàu lớn.

    −    Tu chỉnh rồi mới giao hàng nếu không giải quyết vấn đề chuyển tải được.

    Trường hợp giao hàng từng phần, nhà xuất khẩu đọc kỹ L/C và đề nghị tu chỉnh khi cần.

    −    L/C cho phép giao hàng mấy lần

    −    Thời gian, khối lượng của từng lần giao hàng

    o   Đọc kỹ L/C và chuẩn bị hàng hóa theo đúng qui định.

    o   Đề nghị tu chỉnh L/C khi cần.

    3. Rủi ro trong khâu thanh toán Người xuất khẩu lập BCT lập không đúng quy định của L/C.
    • Bố trí nhân sự giỏi về nghiệp vụ ở khâu lập BCT.
    • Lụa chọn đối tác nhập khẩu có thiện chí.
    • Đọc nghiên cứu kỹ qui định của L/C đối với BCT.
    • Nghiên cứu kỹ những rủi ro sai sót thường gặp đối với từng chứng từ lập và cách khắc phục.

    Thỏa thuận ngay với nhà nhập khẩu từ khâu ký hợp đồng ngoại thương về các chứng từ cần xuất trình khi thanh toán.

    Đề nghị tu chỉnh L/C khi cần.

     

    Đối với nhà nhập khẩu:

    Nguồn gốc rủi ro Nội dung rủi ro Biện pháp hạn chế rủi ro
    1. Từ phía nhà xuất khẩu Không cung cấp được hàng hóa theo đúng qui định của L/C mặc dù người nhập khẩu đã khuynh loát vốn cho L/C. o Tìm hiểu kỹ bạn hàng

     

    o Tham vấn ý kiến ngân hàng về lịch sử kinh doanh của người cung cấp.

    o Quy định trong hợp đồng điều khoản Penalty, trong đó quy định phạt bên nào khọng thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ.

    o Yêu cầu kí quỹ cả hai bên tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng.

    o Yêu cầu những công cụ của ngân hàng như: Standby letter of credit, Bank Guaratee, Performance bond…để bảo vệ quyền lợi nhà nhập khẩu.

    2. Thanh toán dựa trên chứng từ mà thôi o Chứng từ giả

     

    o Chứng từ không trung thực

    o Mâu thuẫn giữa hàng hóa và chứng từ

    o Yêu cầu về nội dung chứng từ và hình thức chứng từ phải rất chặt chẽ, không yêu cầu chung chung.

     

    o Những chứng từ phải do các cơ quan đáng tin cậy cấp.

    o Vận đơn do hãng tàu đích danh lập với lô hàng nhập khẩu lớn. Khi xếp hàng hóa phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu  để kịp thời đối chiếu sự thật giả của vận đơn và lịch trình tàu.

    o Đề nghị nhà xuất khẩu gởi ngay 1/3 bộ vận đơn gốc thẳng tới nhà nhập khẩu.

    o Hóa đơn thương mại có thể được đòi hỏi phải có sự xác nhận  của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc của phòng thương mại hoặc đòi hẳn hóa đơn lãnh sự.

    o Giấy chứng nhận số lượng, chất lượng phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc đại diện của thương mại Việt Nam.

    o Cung cấp giấy chứng nhận, kiểm tra.

    3. Các rủi ro khác Hãng tàu không tin cậy

     

    Hư hỏng hàng hóa

    o Giành quyền chủ động thuê tàu(nhập khẩu theo điều kiện nhóm F)

     

    o Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng giao dịch tại nước nhà nhập khẩu.

    o Mua bảo hiểm cho hàng hóa.

    o Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF stowed…

    4. Rủi ro từ phía ngân hàng mở L/C Ngân hàng này không đảm bảo khả năng thanh toán. o Yêu cầu mở L/C tại các ngân hàng uy tín, có tên tuổi

     

    o Ngân hàng xác nhận được chỉ đích danh hay là ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành L/C tại nước xuất khẩu.

     

     

    5.Giới thiệu “Qui tắc và thực hiện thống nhất về tín dụng chứng từ”

    1. UCP 500:

                      UCP 500 – Quy tắc và thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ là những quy định được soạn thảo bởi Phòng thương mại quốc tế( (Paris) có hiệu lực từ 01/01/1994, nhưng được coi là “luật” quốc tế về ngân hàng trong giao dịch tín dụng chứng từ và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

    UCP 500 gồm 7 phần, 49 điều khoản:

    Quy định chung và định nghĩa                                                Từ điều 1 đến điều 5

    Hình thức và thông báo tín dụng thư                                     Từ điều 6 đến điều 12

    Nghĩa vụ và trách nhiệm                                                         Từ điều 13 đến điều 19

    Chứng từ                                                                                 Từ điều 20 đến điều 38

    Những quy định khác                                                             Từ điều 39 đến điều 47

    Tín dụng thư chuyển nhượng                                                 Điều 48

    Chuyển nhượng tiền hàng xuất khẩu                                      Điều 49

    a.1 Phạm vi áp dụng:

    • Áp dụng tất cả các tín dụng chứng từ, kể cả tín dụng thư dự phòng, nếu tín dụng thư có dẫn chiếu áp dụng bản quy tắc này.
    • Trừ khi tín dụng thư quy định khác, bảng quy tắc ràng buộc tất cả các bên liên quan.

     

     

     

    b.UCP 600:

    b.1 Lý do chỉnh sửa UCP 500:

    • Nhằm giảm thiểu về các tranh chấp trong giao dịch tín dụng chứng từ giữa các quốc gia do các điều khoản của UCP 500 không rõ ràng.
    • Nhằm giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp trong việc tranh cãi các chứng từ không phù hợp với L/C.
    • Nhằm đơn giản hóa, giải thích rõ nghĩa các quy tắc của UCP 500.
    • Nhằm chuẩn hóa các điều khoản L/C phù hợp với thực tế trong giao dịch thương mại quốc tế.

    b.2 Những điều khoản thay đổi của UCP 600:

    • UCP 600 gồm 39 điều khoản và đã loại bỏ 8 điều khoản của UCP 500.
    • Các điều khoản giải thích rõ ràng dễ hiểu.
    • Xác định rõ ràng về mối quan hệ giữa tín dụng thư và hợp đồng, trách nhiệm ngân hàng phát hành về tu chỉnh L/C.
    • Quy định tiêu chuẩn kiểm chứng từ, từ chối và thông báo chứng từ bất hợp lệ.
    • Quy định cụ thể các chứng từ liên quan vận tải, bảo hiểm.

    Hiệu lực của UCP 600

    Có hiệu lực từ 01/07/2007.

    V. Phương thức thanh tóan ghi sổ ( Open Account):

    1. Khái niệm:

    Là phương thức thanh toán mà trong đó người xuất khẩu sau khi thực hiện giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người nhập khẩu, thì mở một tài khoản (hoặc 1 cuốn sổ) ghi nợ cho người mua và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện sau một thời hạn nhất định do 2 bên mua bán thỏa thuận trước.

    Phương thức này chỉ thực hiện khi người xuất khẩu tin tưởng hoàn toàn vào khả năng tài chính của người mua vào ngày đáo hạn và đây cũng là hình thức cấp tín dụng thương mại của người xuất khẩu cho người nhập khẩu.

    2. Quy trình thanh toán ghi sổ:

    (1)              người bán giao hàng và gửi bộ chứng từ cho người mua.

    (2)              người bán gửi giấy báo nợ cho người mua.

    (3)              người mua đến ngân hàng làm thủ tục chuyển tiền trả cho người bán.

    (4)              ngân hàng nhập khẩu chuyển tiền trả cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng dịch vụ người xuất khẩu.

    (5)              ngân hàng báo có cho người xuất khẩu.

    3. Nhận xét:

    • Ưu điểm:
      • Ngân hàng không tham xử lý các chứng từ và can thiệp vào quá trình thanh toán nên các thủ tục được giảm nhẹ, tiết kiệm được chi phí thanh toán.
      • Đối với người xuất khẩu: đây là hình thức khuyến mãi bán chịu, tăng khả năng bán hàng, thiết lập mối quan hệ làm ăn lâu dài đối với bên mua.
      • Đối với người mua: đây là phương thức thanh toán rất có lợi, thường bán xong hàng mới trả tiền. quyền định đoạt về hàng hóa và thanh toán do người mua quyết định.
    • Nhược điểm:
      • Đây là phương thức thanh toán không có lợi đối với người xuất khẩu: rủi ro trong thanh toán cao, vốn lưu động bị ứ đọng.

    4. Điều kiện áp dụng:

    Khuyến cáo các doanh nghiệp Việt Nam nên áp dụng trong các trường hợp:

    • Là nhà nhập khẩu.
    • Áp dụng thanh toán giữa công ty mẹ và các công ty con có trụ sở đóng ở các nước.
    • Người bán và người mua có quan hệ tin cậy, người bán khống chế được sự trả tiền của người mua.

    VI. Mua bán đối lưu( Counter Trade):

    1.Khái niệm:

    Thực chất đây là phương thức thanh toán không sử dụng tiền làm phương tiện toán, mà dùng hàng hóa đổi lấy hàng hóa.

    Có 2 hình thức mua bán đối lưu cơ bản

    • Barter: hàng đổi hàng, người bán đồng thời là người mua, người mua đồng thời là người bán: Giao gạo để lấy phân bón, bán phân bón để mua gạo
    • Buy-Back: là hình thức người bán cung cấp máy móc, thiết bị, công nghệ…và người mua sử dụng chúng để làm ra sản phẩm giao lại cho người bán.

    2.Nhận xét:

    • Ưu điểm của hình thức thanh toán hàng đổi hàng là mở rộng khả năng xuất khẩu sang thị trường thiếu ngoại tệ mạnh để mua hàng. Giảm được sự rủi ro trong thanh toán, khi có sự biến động về tỉ giá hối đoái.
    • Nhược điểm: thực hiện thanh toán và đảm bao hàng đổi hàng phức tạp đặc biệt trong trường hợp nhu cầu về trao đổi hàng hai bên mua bán khác nhau: ví dụ bán gạo để mua phân bón nhưng người mua phân bón cần café.

    VII. Trả tiền mặt ( by cash):

    Người mua thanh toán tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặc chấp nhận đơn đặt hàng của người mua.

    Phương thức thanh toán này tuy đơn giản nhưng hiện nay ít được áp dụng trong thanh toán quốc tế vì rủi ro cao và hiệu quả thấp.

     

    B. Tình Hình Sử Dụng các Phương Thức Thanh Toán Của Một Số Doanh Nghiệp Trên Địa Bàn Thành Phố:

    1. Công ty Bắc Sinh. (Nguồn: do chị Dương Thị An Ry, nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty Bắc Sinh cung cấp)
    • Địa chỉ: 170 QL1A, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, TP.HCM
    • Lĩnh vực kinh doanh: Công ty chuyên về lĩnh vực gia công hàng may mặc xuất khẩu.
    • Thị trường xuất khẩu: Châu Âu nhưng chủ yếu là Mỹ.
    • Phương thức thanh toán quốc tế mà Công ty áp dụng: do là một đơn vị gia công nên Công ty sử dụng phương thức thanh toán chuyển tiền bằng hình thức T/T

                      Do Công ty làm ăn dựa trên sự tin tưởng với khách hàng và giá trị hợp đồng không cao => khả năng xảy ra rủi ro thấp . Vì vậy theo Công ty, nhà nhập khẩu không cần đặt cọc truớc số tiền thanh toán

    1. Công Ty Cổ Phần Thủ Công Mỹ Nghệ Phong Cách Việt – Viet Style Handicrafts Corporation.(Nguồn: do chị Lê Thị Trúc Mai, nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty Phong Cách Việt cung cấp)
    • Địa chỉ: 16/38 đường 304, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Lĩnh vực kinh doanh: Công ty chuyên về lĩnh vực xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: tranh sơn mài, các loại bàn ghế bằng mây, tre…
    • Thị trường xuất khẩu chủ yếu là châu âu.
    • Các phương thừc thanh toán quốc tế mà Công ty thường sử dụng trong các hợp đồng:
    • Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

    Đối với những trường hợp: giá trị đơn đặt hàng lớn, bảo đảm đúng thời gian cho nhà nhập khẩu …, những khách hàng mà Công ty không tin tưởng vào  khả năng thanh toán của họ (Châu Phi) =>  Công ty thường áp dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Các bước thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ của công ty và nhà nhập khẩu hoàn toàn tương tự như lý thuyết đã nêu ở mục A. Ngân hàng thông báo của Công ty là ngân hàng Vietcombank. Loại L/C mà Công ty thường áp dụng là L/C không huỷ ngang.

    • Phương thức thanh toán chuyển tiền bằng hình thức điện báo (T/T) (thường áp dụng nhiều nhất):

    Đối với phương thức thanh toán bằng T/T,  đa phần khách hàng của Công ty phải đặt cọc 40% số tiền thanh toán. Sau khi Công ty hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và fax B/L cho nhà nhập khẩu thì nhà nhập khẩu sẽ chuyển 60% số tiền thanh toán còn lại cho Công ty và Công ty sẽ gửi bộ chứng từ cho người bán.

    Công ty chọn giải pháp đặt cọc tiền để tránh trường hợp nhà nhập khẩu không nhận hàng hoặc nếu có thì thiệt hại sẽ được giảm bớt.Trong trường hợp đối tác là khách hàng tin cậy, làm ăn lâu năm, Công ty sẽ giảm số tiền đặt cọc xuống. Công ty thường áp dụng phương thức này đối với những hợp đồng có giá trị không cao chỉ vào khoảng 5-10 triệu USD.

    Phân tích mô hình Swot về vấn đề lựa chọn phương thức thanh toán T/T:

    Điểm mạnh Điểm yếu
    o Việc nhà nhập khẩu đặt cọc 40% số lượng tiền thanh toán giúp cho Công ty giảm thiểu được rủi ro trong việc thanh toán

     

    o Nhận được tiền thanh toán nhanh giúp cho Công ty có thể xoay vòng vốn nhanh.

    o Thủ tục nhanh chóng, đơn giản, chi phí thấp.

    o Việc nhận hàng phụ thuộc vào ý muốn của nhà nhập khẩu. Do đó Công ty dễ gặp rủi ro nếu nhà nhập khẩu không thanh toán 60% số tiền thanh toán còn lại.

     

    o Hàng hóa bị tồn đọng do nhà nhập khẩu không nhận hàng, gây khó khăn cho Công ty

    Cơ hội Thách thức
    o Nhà nhập khẩu đặt cọc trước 40% :

     

    ·   Sẽ làm gia tăng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của Công ty, do đó tránh được tình trạng vay ngân hàng khi Công ty thiếu vốn

    ·   Tạo điều kiện cho Công ty thực hiện tốt hợp đồng nhằm tạo uy tín cho Công ty, nhờ vậy nhận được nhiều hợp đồng hơn.

    o Công ty cần tạo sự tin tưởng cho bên mua vì có những trường hợp nhà xuất khẩu nhận tiền đặt cọc nhưng không chịu sản xuất.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Các phương thức thanh toán quốc tế trong kinh doanh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-b%E1%BA%B1ng-LC-t%E1%BA%A1i-Sacombank.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Phần 1: Cơ Sở Lý Luận Về Thanh Toán Quốc Tế

    I.             Khái quát chung:

    Trong kinh doanh ngày nay, thanh toán quốc tế đang ngày trở nên phổ biến. Những phương thức thanh toán truyền thống như tiền mặt đã dần được thay thế bằng những phương thức thanh toán hiện đại hơn, nhanh chóng hơn.

    Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu. Trong quan hệ ngoại thương đối với các nước tư bản chủ nghĩa có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: phương thức thanh toán chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ…Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu và nhược điểm, thể hiện thành mâu thuẫn quyền lợi giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu. Vì vậy việc vận dụng phương thức thanh toán thích hợp,  phải được hai bên bàn bạc thống nhất ghi vào hợp đồng mua bán ngoại thương.

    II.           Một số phương thức thanh toán quốc tế

    1.    Phương thức chuyển tiền: (Remittance-Remise)

    Phương thức chuyển tiền là phương thức đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người trả tiền, người nhập khẩu) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác ( người thụ hưởng, người xuất khẩu) ở một địa điểm xác định và trong một thời gian nhất định.

    Trong phương thức chuyển tiền có các bên liên quan

    • Người phát lệnh chuyển tiền,
    • Ngân hàng nhận thực hiện việc chuyển tiền(ngân hàng nơi đơn vị chuyển tiền mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ).
    • Ngân hàng chi trả, chuyển tiền (ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền).
    • Người nhận chuyển tiền (người bán, tổ chức xuất khẩu)

    Phương thức chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai cách:

    • Chuyển tiền bằng điện (T/T Telegraphic Transfer): ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.
    • Chuyển tiền bằng thư (M/T Mail Transfer): ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách gửi thư ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.

    Trong phương thức chuyển tiền Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thực hiện việc thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng thủ tục phí(hoa hồng) và không bị ràng buộc gì cả. Việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua do đó nếu dùng phương thức này quyền lợi của tổ chức xuất khẩu không đảm bảo. Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế. Nó được sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng như các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước vận tải, bảo hiểm, bồi thường…

    2.    Phương thức ghi sổ (Open account-Compte Ouvert)

    Phương thức ghi sổ là phương thức thanh toán mà trong đó tổ chức xuất khẩu khi xuất khẩu hàng hoá, cung ứng dịch vụ thì ghi nợ cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ riêng của mình và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện trong thời kỳ nhất định (hàng tháng, quý).

    Khi thực hiện phương thức này, tức là tổ chức xuất khẩu đã thưc hiện một tín dụng thương mại. Thông thường phương thức này chỉ áp dụng trong thanh toán giữa hai đơn vị quan hệ thường xuyên và tin cậy lẫn nhau.

    3.    Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment-Encaissement)

    Phương thức thanh toán nhờ thu được thực hiện theo “quy tắc thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu” do phòng thương mại quốc tế ban hành số xuất bản 522-1995 có giá trị hiệu lực kể từ ngày 1/1/1996 (The uniform rules for collection-ICC- PUB N-522-1995 Revision).

    Phương thức nhờ thu là nghiệp vụ xử lý của ngân hàng đối với các chứng từ quy định theo đúng chị thị nhận được nhằm để:

    • Chứng từ đó được thanh toán hoặc được chấp nhận.
    • Chuyển giao khi chứng từ được thanh toán hoặc chuyển giao khi chứng từ được thanh toán hoăc được chấp nhận
    • Chuyển giao chứng từ theo đúng các điều khoản và điều kiện khác.

    Chứng từ (Documents) bao gồm:

    • Chứng từ tài chính (financail documents): hối phiếu, lệnh phiếu, séc…
    • Chứng từ thương mại (commercail documents):hóa đơn, vận đơn, giấy chứng nhận số lượng, chất lượng, phiếu đóng gói,….

    Người xuất khẩu sau khi hoàn thành nhiệm vụ xuất chuyển hàng hoá cho người nhập khẩu thì uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra.

    Các thành phần chủ yếu tham gia phương thức thanh toán này như sau:

    • Người xuất khẩu
    • Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
    • Ngân hàng đại lý của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (đó là ngân hàng quốc gia của người nhập khẩu)
    • Người nhập khẩu

    Phương thức nhờ thu được phân ra làm hai loại như sau:

    1. Nhờ thu trơn (Clean Collection): Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá, lập các chứng từ hàng hoá gửi trực tiếp cho người nhập khẩu (không qua ngân hàng), đồng thời uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra, không kèm theo một điều kiện nào cả của việc trả tiền.

    Phương thức thanh toán này ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian đơn thuần, thu được hay không thì ngân hàng cũng thu thù tục phí, Ngân hàng không chịu trách nhiệm nếu bên nhập khẩu không chịu thanh toán. Vì vậy nếu là tổ chức xuất khẩu ta chỉ sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu trơn trong trường hợp là tín nhiệm hoàn toàn tổ chức nhập khẩu, hoặc là giá trị xuất khẩu nhỏ, thăm dò thị trường, hàng hóa ứ đọng khó tiêu thụ…

    1. Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection): là phương thức trong đó người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu, không những chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá, gửi kèm theo với điều kiện là người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn, thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ hàng hoá để đi nhận hàng.

    Như vậy trong trường hợp đơn vị nhập khẩu không đồng ý trả tiền, thì ngân hàng không giao bộ chứng từ tức là hàng hóa đã cung ứng qua nước nhập khẩu vẫn thuộc quyền sở hữu của nước nhập khẩu.

    Trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ có hai trường hợp:

    • Nếu là nhờ thu trả tiền ngay (D/P- Documents against payment) thì tổ chức nhập khẩu phải trả tiền thanh toán ngay, ngân hàng mới gia bộ chứng từ gốc để nhân hàng.
    • Nếu là nhờ thu chấp nhận trả tiền theo chứng từ (D/A- Documents against acceptance) thỉ tổ chức nhập khẩu chỉ cần ký chấp nhận lên hối phiếu, Ngân hàng sẽ giao bộ chứng từ.

    Theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ này ngân hàng không chỉ là người thu hộ tiền mà còn là người khống chế bộ chứng từ hàng hoá. Vai trò Ngân hàng được nâng cao thêm trách nhiệm.Với cách khống chế này quyền lợi của người xuất khẩu được đảm bảo hơn.

    III.          Phương thức tín dụng chứng từ:

    Trong các phương thức thanh toán đã trình bày ở phần trước, chúng ta thấy rằng ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian trong thanh toán mà  không hề có cam kết gì về việc chắc chắn thu được tiền cho nhà xuất khẩu, cho nên, quyền lợi của nhà xuất khẩu vẫn chưa được đảm bảo. Muốn có sự cam kết thu được tiền từ phía ngân hàng, nhà xuất khẩu nên dùng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

    1.    Sơ lược về ICC-UCP 500

    Nội dung phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo bản “Quy tắc và thực hành  thống nhất về tín dụng chứng từ” (UCP-Uniform Customs and Practice for Documentary Credits) do Phòng Thương Mại Quốc Tế (ICC- International Commercial of Chamber) ban hành. Văn bản đầu tiên được xuất bản năm 1933 sau đó được sửa đổi và bổ sung qua các năm 1951,1962,1974,1983 (thường gọi là UCP 400) và năm 1993 (UCP 500) có giá trị hiệu lực kể từ ngày 1/1/1994. Gần đây nhất là ngày 25/10/2006 ICC đã công bố UCP 600 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2007.

    UCP là một văn bản pháp lý quốc tế không mang tính chất bắt buộc các bên mua bán quốc tế phải áp dụng. Do đó nếu áp dụng UCP thì phải dẫn chiếu điều ấy trong thư tín dụng của mình. Đến nay đã có hơn 160 nước trên thề giới công nhận và tuyên bố áp dụng UCP. Điều đáng lưu ý là các văn bản ra đời sau không hủy bỏ các văn bản trước đó, cho nên các văn bản đều có giá trị thực hành trong thanh tóan quốc tế.

    Ngoài ra UCP 500 còn nhân mạnh đến việc thanh toán chỉ dựa vào chứng từ, đồng thời đa dạng hóa việc sử dụng thư tín dụng (L/C) ngoài việc dùng chủ yếu trong thương mại, nay còn có thể sử dụng các hoạt động phi thương mại như đầu tư, dịch vụ du lịch…UCP500 chỉ áp dụng trong thanh toán quốc tế không áp dụng trong thanh toán nội địa

    Nội dung của UCP500 gồm 49 điều khoản chia ra làm 7 phần:

    • Phần A gồm 5 điều (1-5) các quy định chung và định nghĩa
    • Phần B gồm 7 điều (6-12) quy định các hình thức và thông báo thư tín dụng
    • Phần C gồm 7 điều (13-19) quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của ngân hàng, các trường hợp miễn trách.
    • Phần D gồm 19 điều (20-38) quy định về các loại chứng từ, chủ yếu là chứng từ vận tải, bảo hiểm, hóa đơn thương mại.
    • Phần E gồm 9 điều (39-47) các quy định khác như thời hạn hiệu lực, dung sai, số lượng, số tiền, thời gian xuất trình.
    • Phần F gồm 1 điều (48) quy định về việc chuyển nhượng số tiền thu được của người hưởng lợi.
    • Phần G gồm 1 điều (49) quy định nhượng tiền thu được

    Khi thực hiện phương thức tín dụng chứng từ cần tham khảo thêm:

    Bản Quy tắc thống nhất hoàn trả liên bang theo tín dụng chứng từ (The Uniform Rules For Bank-To-Bank Reimbursement Under Documentary Credits-URR 525-1995-ICC) có giá trị từ 1/7/1996.

    Phụ bản của UCP: bao gồm UCP 500.1 và UCP 500.2

    UCP 500.1 hay còn gọi là eUCP (The Supplement To The Uniform And Practice For Documentary Credits For Electronic Presentation) xuất bản 1/2002 áp dụng cho xuất trình chừng từ điện tử theo L/C. eUCP co 12 điều khoản.

    UCP 500.2 hay còn gọi là ISBP 645 (The International Standard Banking Pratice For Examination For Documents Under Documentary Credits). Thực hành nghiệp vụ ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ theo L/C xuất bản 10/2002

    • Một số điểm khác nhau cơ bản giữa UCP 500 và UCP 600:

    Thứ nhất, về hình thức, UCP 600 được bố cục lại với 39 điều khoản (so với 49 điều khoản của UCP 500), trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500. Chẳng hạn, điều 2 “Definitions” (Định nghĩa) của UCP 600 đã nêu ra một loạt định nghĩa như: Advising bank, Applicant, Beneficiary, Complying presentation, Confirmation, Confirming bank, Credit, Honour, Negotiation, Presentation…

    Thứ hai, UCP 600 đã quy định rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp nhận các chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm việc ngân hàng” (five banking days). ở UCP 500, khoảng thời gian này được quy định không rõ ràng là “Thời gian hợp lý” (Reasonable Time) và “Không chậm trễ” (Without delay) để kiểm tra chứng từ và thông báo chứng từ bất hợp lệ.

    Thứ ba, UCP 600 đã đưa ra quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và người hưởng lợi thư tín dụng phải được thể hiện trên chứng từ xuất trình đúng như trong L/C.

    Thứ tư, theo UCP 600, ngân hàng phát hành được phép từ chối chứng từ và giao bộ chứng từ cho người yêu cầu mở thư tín dụng khi nhận được chấp nhận bộ chứng từ bất hợp lệ của họ.

    2.    Khái niệm về tín dụng chứng từ

    Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng-mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp thuận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều kiện quy định trong thư tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ

    Qua khái niệm phương thức tín dụng chứng từ, ta có thể thấy các bên tham gia gồm có:

    • Người xin mở L/C ( Applicant): thông thường là người mua, tổ chức nhập khẩu.
    • Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán hay là người xuất khẩu.
    • Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thư tín dụng (The Issuing Bank): là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước người nhập khẩu, cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên nhâp khẩu và xuất khẩu thỏa thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng thương mại. Nếu không có sự quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn.
    • Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The Advising Bank): là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu, thông báo cho nhà xuất khẩu biết thư tín dụng đã mở. Ngân hàng này thường là ở nước người xuất khẩu và có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành thư tín dụng

    Ngoài ra còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này, bao gồm:

    • Ngân hàng xác nhận (The Confirming Bank): là ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng, bảo đảm việc trả tiền cho bên xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo thư tín dụng hay là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu. Thường là một ngận hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế.
    • Ngân hàng thanh toán (The Paying Bank): có thể là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc có thể là ngân hàng khác do ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình thanh toán trả tiền hay chiết khấu hối phiếu cho người xuất khẩu.
    • Ngân hàng thương lượng (The Negotiating Bank): là ngân hàng đứng ra thương lượng bộ chứng từ và thường cũng là ngân hàng thông báo L/C. Trường hợp L/C quy định thương lượng tự do thì bất kỳ ngân hàng nào cũng là ngân hàng thương lượng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp L/C quy định thương lượng tại một ngân hàng nhất định.
    • Ngân hàng chuyển nhượng (The Transfering Bank), Ngân hàng chỉ định (The Nominated Bank), Ngân hàng hoàn trả (The Reimbursing Bank), Ngân hàng đòi tiền (The Claiming bank), Ngân hàng chấp nhận (The Accepting Bank), Ngân hàng chuyển chứng từ (The Remitting Bank). Tất cả được giao trách nhiệm cụ thể trong thư tín dụng.

    3.    Nội dung thư tín dụng (L/C):

    Mặt khác khái niệm tín dụng chứng từ còn cho chúng ta thấy rằng tín dụng thư hay còn gọi là thư tín dụng là văn bản quan trọng nhất trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Vậy thư tín dụng là gì?

    • Thư tín dụng (Letter of Credit) gọi tắt là L/C là văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng đứng ra cam kết sẽ trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định nếu người này xuất trình bộ chứng từ phù hợp với những quy định đã nêu trong văn bản đó

    Thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng thương mại, tức là phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu của hợp đồng để người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng. Nhưng sau khi đã được mở, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hoạt động thương mại đó. Điều đó có nghĩa là khi thanh toán, ngân hàng chỉ căn cứ vào nội dung thư tín dụng mà thôi.

    Nội dung thư tín dụng gồm có các phần sau:

    • Số hiệu mở L/C:

    Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó. Tác dụng của số hiệu là dùng để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C. Số hiệu của L/C còn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan trong bộ chứng từ thanh toán của L/C.

    • Địa điểm mở L/C:

    Là nơi ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Địa điểm này có liên quan đến việc tham chiếu luật lệ áp dụng, giải quyết xung đột, bất đồng xảy ra (nếu có).

    • Ngày mở L/C:

    Là ngày bắt đầu phát sinh vá có hiệu lực về sự cam kết của ngân hàng mở L/C đối với người thụ hưởng, là ngày ngân hàng mở chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của người nhập khẩu. là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhâp khẩu có thực hiện việc mở L/C đúng thời hạn như trong hợp đồng không.

    • Loại thư tín dụng:

    Mỗi loại L/C đều có tính chất, nội dung khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của những người liên quan cũng rất khác nhau. Do đó khi mở thư tín dụng, người có nhu cầu cần phải xác định cụ thể loại thư tín dụng cần mở.

    • Tên và địa chỉ của những người liên quan:

    Người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo L/C…

    • Số tiền của thư tín dụng:

    Là một nội dung rất quan trọng. vì vậy việc quy định nó trong L/C cũng rất chặt chẽ, thể hiện qua việc vừa ghi bằng số vừa ghi bằng chữ và phải thống nhất với nhau. Tên đơn vị tiền tệ phải rõ ràng, cụ thể. Theo điều 39 UCP 500 thì các từ “vào khoảng”, “xấp xỉ”, “độ chừng” được hiểu là cho phép dung sai 10%.

    • Thời hạn hiệu lực của L/C:

    Là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó và phù hợp với những điều đã quy định trong L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C. Ngày mở L/C trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý.

    • Thời hạn trả tiền của L/C:

    Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào quy định của hợp đồng. Thời hạn trả tiền có thể nằm trong  thời hạn hiệu lực của L/C (nếu trả ngay) hoặc có thề nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C (nếu trả chậm).

    • Thời hạn giao hàng:

    Được ghi trong thư tín dụng và cũng do hợp đồng thương mại quy định. Đấy là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực. thời hạn giao hàng liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lục của thư tín dụng.

    • Điều khoản về hàng hóa:

    Gồm có tên hàng, số lượng và trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký hiệu…

    • Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa:

    Điều kiện, cơ sở giao hàng (FOB, CIF, C&F), nơi gởi hàng, nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng…cũng được ghi vào L/C. Thông thường điều kiện giao hàng tùy thuộc vào khả năng cng ứng hàng của nhà xuất khẩu, khả năng nhận hàng của nhà nhập khẩu, khả năng vận chuyển của phương tiện vận tải. Nếu nhận thấy những điều kiện giao hàng ghi trong L/C không thể thực hiện được thì người xuất khẩu có thể đề nghị điều chỉnh L/C.

    • Các chứng từ phải xuất trình:

    Yêu cầu về việc ký phát các loại chứng từ cần phải được nêu rõ ràng cụ thể và chặt chẽ trong L/C. Các yêu cầu này xuất phát từ đặc điểm của hàng hóa, của phương thức vận tải, của công tác thanh toán và tín dụng, của tính chất hợp đồng và các nguồn pháp lý có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng đó.

    • Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C:

    Là nội dung cuối cùng của L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C đối với L/C này.

    • Những điều kiện đặc biệt khác như:

    Phí ngân hàng được tính cho bên nào, điều kiện đặc biệt hướng dẫn đối với ngân háng chiết khấu, dẫn chiếu số UCP áp dụng…

    • Chữ ký của ngân hàng mở L/C:

    L/C thực chất là một khế ước dân sự. Do đó người ký L/C cũng phải là người có năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia vào thực hiện một quan hệ dân luật. Nếu gởi bằng Telex, Swift thì không có chữ ký, khi đó căn cứ vào mã khóa (textkey).

    4.    Các loại thư tín dụng chủ yếu là:

    1. Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): Đây là loại thư tín dụng mà sau khi đã được mở thì việc bổ sung sửa chữa hoặc huỷ bỏ có thể tiến hành một cách đơn phương.
    2. Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C): Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở thì việc sữa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ chỉ được ngân hàng tiến hành theo thoã thuận của tất cả các bên có liên quan. Trong thương mại quốc tế thư tín dụng này được sử dụng phổ biến nhất.
    3. Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (Confirmed irrevocavle L/C): Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, được một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở thư tín dụng.
    4. Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C): Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả hoàn toàn hay trả một phần của thư tín cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.

    Và còn nhiều loại khác nữa. Tuy nhiên, hiện nay thì các ngân hàng thường sử dụng L/C không thể hủy bỏ có xác nhận. Nhưng cần lưu ý nếu L/C không ghi rõ là L/C “irrevocable” hay “revocable” thì đó là Irrevocable tức là không được hủy bỏ. Tương tự như vậy, nếu L/C không ghi rõ là L/C “confirmed” thì đó là L/C “inconfirmed” tức là không có xác nhận.

    5.    Quy trình phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

     
       

     

     

     

     

     

     

    • Hai bên xuất khẩu và nhập khẩu ký hợp đồng thương mại.
    • Người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho người xuất khẩu thụ hưởng.
    • Ngân hàng mở L/C mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C sang ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết.
    • Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở.
    • Dựa vào nội dung của L/C, người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu.
    • Người xuất khẩu sau khi giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân hàng thông báo để được thanh toán.
    • Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở L/C xem xét trả tiền.
    • Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi có cho người thụ hưởng. Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán.
    • Ngân hàng thông báo ghi có và báo có cho người xuất khẩu.
    • Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho người nhâp khẩu.
    • Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ chứng từ để người nhâp khẩu có thể nhận hàng.

    Qua nội dung và trình tự các bước tiến hành thanh toán như trên, chúng ta thấy rằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng phẳng đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu. trong phương thức này ngân hàng đóng vai trò chủ động trong thanh toán chứ không phải chì làm trung gian đơn thuần như những phương thức thanh toán khác. Chính vì vậy, hiện nay phương thức này được sử dụng nhiều nhất trong thanh toán quốc tế.

    6.    Đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ.

    1. Phương thức thanh toán chứng từ liên quan đến hai quan hệ hợp đồng độc lập:

    Đó là quan hệ giữa người mở thư tín dụng với ngân hàng phát hành và quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người xuất khẩu.

    Thỏa thuận xin mở thư tín dụng giữa người mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành là một hợp đồng kinh tế dịch vụ. Người nhập khẩu phải làm đơn yêu cầu mở thư tín dụng, trả một khoản lệ phí mở thư tín dụng và ký quỹ một số tiền nhất định tùy theo quy định của ngân hàng. Ngân hàng căn cứ vào đó mở thư tín dụng cho người xuất khẩu và chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người xuất khẩu trình. Nếu chứng từ hoàn toàn phù hợp với nội dung điều kiện của L/C thì ngân hàng sẽ nhận chứng từ và thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu, sau đó ngân hàng thu lại tiền của người nhập khẩu và giao chứng từ cho người nhập khẩu đi lấy hàng.

    1. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có 2 nguyên tắc cơ bản:

    Nguyên tắc độc lập của thư tín dụng: tuy thư tín dụng được mở trên cơ sở hợp đồng mua bán giữa người xuất khẩu và nhập khẩu, nhưng khi ra đời, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại hay bất kỳ một hợp đồng nào khác làm cơ sở cho thư tín dụng. Thay vào đó, nó phụ thuộc vào khả năng xuất trình các chứng từ phù hợp với thư tín dụng của nhà xuất khẩu. Ngân hàng mở thư tín dụng không thể từ chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán với lý do người xuất khẩu đã giao hàng kém chất lượng, hay vì một lý do tương tự. Ngân hàng sẽ thanh toán tiền cho người hưởng lợi miễn là người này xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với yêu cầu của L/C.

    Nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ: khi kiểm tra các chứng từ xuất trình, các ngân hàng chỉ thanh toán cho người hưởng lợi khi các chứng từ này tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu của thư tín dụng.

    1. Các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hóa:

    Các chứng tử xuất trình là căn cứ duy nhất để ngân hàng quyết định trả tiền hay từ chối thanh toán cho người hưởng lợi thư tín dụng, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất để người nhập khẩu hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng. Ngân hàng không chịu trách nhiệm về số phận thật sự của hàng hóa mà bất cứ chứng từ nào đại diện. Như vậy trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng từ có một tầm quan trọng to lớn, nó là minh chứng cho giá trị hàng hóa mà người bán đã giao và là căn cứ cho người xuất khẩu đòi ngân hàng thanh toán tiền hàng và cũng là cơ sở để ngân hàng chấp nhận hay thanh toán cho người xuất khẩu.

    1. Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo một cách tương đối quyền lợi của người bán và người mua trong hoạt động ngoại thương.

    Trong quan hệ mua bán, người mua luôn muốn nhậ được hàng hóa rồi mới trẻ tiền, còn người bán lại muốn giao hàng xong là được thanh tóan ngay. Trong ngoại thương. Việc giải quyết mối quan hệ này gặp nhiều khó khăn hơn so với mua bán nội địa do khoảng cách về không gian giữa người mua và người bán. Do đó, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức đáng tin cậy nhất: khi người bán lập được bộ chứng từ xem như đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, còn người mua nhận được bộ chứng từ có thể yên tâm là hàng hóa đã được giao.

    1. Ngân hàng phát hành L/C là người phải thanh toán cho người hưởng lợi:

    Khi quyết định việc mở L/C, ngân hàng mở L/C phải hiểu rằng chính ngân hàng mở L/C là người thanh toán cho người hưởng lợi khi họ thực hiện đúng các quy định trong L/C cho dù người mở L/C có tiền hay không có tiền, còn tồn tại hay phá sản. Do đó ngân hàng mở L/C phải đánh giá khả năng kinh doanh, tài chính của người mở. Đặc biệt là hiệu quả của phương án nhập hàng.

    Phần 2:Giới Thiệu Tổng Quan Về Ngân Hàng Thương Mại Cố Phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)

    I.             Giới thiệu về ngân hàng Sacombank

    Tên ngân hàng:

    NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

    Tên giao dịch quốc tế:

    SAIGON THUONG TIN COMMERCIAL JOINT STOCK BANK

    Tên viết tắt:  SACOMBANK

    Hội sở : 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh

    Điện thoại:(84-8) 9320 420

    Fax:(84-8) 9320 424

    Website: www.sacombank.com.vn

    Logo

    Vốn điều lệ: 4.449.000.000.000 đồng

    Giấy phép thành lập:Số 05/GP-UB ngày 03/01/1992 của UBND TP.HCM

    Giấy phép hoạt động:Số 0006/GP-NH ngày 05/12/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    Giấy CNĐKKD: Số 059002 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư TP. HCM cấp

    (đăng ký lần đầu ngày 13/01/1992, đăng ký thay đổi lần thứ 24ngày 10/04/2006)

    Tài khoản: Số 4531.00.804 tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP.HCM

    Mã số thuế:0301103908

    Ngành nghề kinh doanh:

    • Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi;
    • Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;
    • Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn;
    • Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá; Hùn vốn và liên doanh theo pháp luật;
    • Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;
    • Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế;
    • Huy động vốn từ nước ngoài và các dịch vụ khác

    II.           Lịch sử hình thành và phát triển

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được thành lập theo.Quyết định số 05/GP-UB ngày 03/01/1992 của Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh và hoạt động theo Quyết định số 0006/NH-GP ngày 05/12/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sacombank chính thức đi vào hoạt động từ ngày 21/12/1991, trên cơ sở chuyển thể
    Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp và sáp nhập 03 Hợp tác xã tín dụng Tân Bình-Thành Công – Lữ Gia. Vào thời điểm đó, cả 04 đơn vị này đều trong giai đoạn cực kỳ khó khăn về tài chính.

    Giai đoạn 1991 – 1995, khởi đầu với số vốn điều lệ ban đầu chỉ có 3 tỷ đồng, mạng lưới hoạt động chủ yếu ở các quận ven, phạm vi kinh doanh đơn điệu, Sacombank đã tạo được những điểm son đáng ghi nhận trong những năm đầu thành lập thông qua các quyết sách, chủ trương như tập trung xử lý các khoản nợ khó đòi, mở rộng mạng lưới, phát hành kỳ phiếu, thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhanh, …

    Giai đoạn 1995 – 1998, Sacombank tập trung cho nhiệm vụ hoạch định và phát triển song song với việc tiếp tục củng cố và chấn chỉnh. Với sáng kiến phát hành cổ phiếu đại chúng, vốn điều lệ của Sacombank đã tăng từ 23 tỷ đồng lên 71 tỷ đồng, qua đó bước đầu xác lập được năng lực tài chính đối với quá trình phát triển của Sacombank.

    Giai đoạn 1999 – 2001, vốn điều lệ từ 71 tỷ đồng tăng lên 190 tỷ đồng; xây dựng Hội sở khang trang tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nâng cấp trụ sở các Chi nhánh trực thuộc; mở rộng mạng lưới đến hơn 20 tỉnh thành và các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời xác lập quan hệ với hơn 80 chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên khắp thế giới. Đồng thời, Sacombank trở thành thành viên của Hiệp Hội Viễn Thông Liên Ngân Hàng toàn cầu (SWIFT), Visa và Master Card

    Giai đoạn 2001 – 2005, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế và mục tiêu phát triển đề ra cho thời kỳ kế hoạch 5 năm. Đặc biệt với sự tham gia góp vốn của 03 cổ đông nước ngoài là  các tổ chức tài chính – ngân hàng mạnh trên thế giới và khu vực đã hỗ trợ Sacombank tiếp cận công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản trị điều hành hiện đại, chuẩn bị cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, Ngân hàng bước đầu phát triển thành công mô hình hợp tác liên doanh, liên kết thông qua việc góp vốn thành lập Công ty liên doanh quản lý quỹ – Công ty chứng khoán – Công ty bảo hiểm, …

    Giai đoạn 2006: Cổ phiếu của Sacombank được niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.

    Qua hơn 15 năm hoạt động, Sacombank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam, tăng từ 190 tỷ đồng năm 2001 lên 4.449 tỷ đồng vào tháng 12/2007. Mạng lưới hoạt động với trên 210 chi nhánh và phòng giao dịch trải rộng từ Bắc vào Nam, đội ngũ nhân viên gồm 6.000 người, quan hệ với trên 9.700 đại lý thuộc 250 ngân hàng tại 91 quốc gia trên thế giới. Sacombank còn là ngân hàng TMCP có số lượng cổ đông đại chúng lớn nhất Việt Nam với hơn 37000 cổ đông, các cổ đông chiến lược của Sacombank là các tập đoàn tài chính và ngân hàng lớn trên thề giới như:

    • Dragon Financial Holdings thuộc Anh Quốc
    • International Financial Company (IFC) trực thuộc World Bank
    • Tập đoàn Ngân hàng Australia và Newzealand (ANZ)

    Cùng với những thành quả đạt được, Sacombank hướng đến mục tiêu trở thành một ngân hàng bán lẻ đa năng – hiện đại – tốt nhất Việt Nam và có quy mô lớn trong khu vực

    I)      Cơ cấu tổ chức

     

    III.          Chức năng và nhiệm vụ:

    1. Khối doanh nghiệp

    Quản lý, phát triển, tiếp thị sản phẩm truyền thống cho KH doanh nghiệp.

    Quản lý công tác chăm sóc, xây dựng chính sách KH doanh nghiệp

    Quản lý công tác TTQT, chuyển tiền quốc tế.

    Quản lý hệ thống Swift

    Thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các định chế tài chính.

    Quản lý ngân hàng đại lý.

    Quản lý tài khoản Nostro

    1. Khối cá nhân

    Quản lý, phát triển và tiếp thị sản phẩm truyền thống cho KH cá nhân.

    Xây dựng, quản lý và điều phối chỉ tiêu bán hàng theo các sản phẩm cụ thể.

    Tiếp thị và phát triển kinh doanh.

    Quản lý mạng lưới ATM.

    1. Khối tiền tệ

    Kinh doanh trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ.

    Quản lý và điều hành thanh khoản của ngân hàng

    Thực hiện kinh doanh ngoại tệ,vàng

    Xây dựng và phát triển các sản phẩm của khối tiền tệ

    1. Khối đầu tư

    Đầu mối tiếp nhận thông tin về dự án đấu tư. Dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác để cho vay hợp vốn.

    Thẩm định các dự án ngân hàng tài trợ

    Quản lý hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần bằng nguồn vốn tự có của Ngân hàng

    1. Khối điều hành

    Tham mưu xây dựng và triển khai chiến lược phát triển của Ngân hàng

    Tổng hợp báo cáo hoạt động của toàn Ngân hàng.

    Công tác mở rộng mạng lưới.

    Quản lý chính sách tín dụng

    Quản lý quy trình chất lược, công tác pháp chế, cơ cấu tổ chức bộ máy.

    Công tác xây dựng và kiểm tra chế độ tài chính kế toán.

    Tham mưu xây dựng các chính sách về quản lý rủi ro.

    Quản lý thu hồi nợ, rủi ro tín dụng và phi tín dụng.

    Tái thẩm định hồ sơ cấp tín dụng vượt hạn mức phán quyết của các chi nhánh liên quan đến khách hàng và thẩm định các hồ sơ theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.

    1. Khối hỗ trợ

    Quản lý và phát hành văn thư, công tác hành chính phục vụ

    Quản lý chi phí điều hành.

    Quản lý hoạt động quan hệ công chúng.

    Quản bá thương hiệu

    Quản lỳ công tác xây dựng cơ bản

    Đào tạo theo kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng.

    Quản lý công tác thanh toán nội địa.

    Quản lý công tác ngân quỹ,thực hiện hỗ trợ cho họat động khối tiền tệ

    1. Khối CNTT

    Công tác quản trị mạng

    Công tác an toàn và bảo mật thông tin

    Phân tích và mô tả các yêu cầu về sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng, về khai thác hệ thống thông tin, dữ liệu trên hệ thống ngân hàng lõi, về xây dựng các ứng dụng phần mềm ngoài hệ thống ngân hàng lõi

    Phân tích thiết kế và lập trình các phân hệ phần mềm để thực hiện các yêu cầu về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, và để khai thác hệ thống thông tin, dữ liệu trên hệ thống ngân hàng lõi và các ứng dụng phần mềm ngoài hệ thống ngân hàng lõi

    1. Kiểm tra, kiểm soát nội bộ

    Kiểm tra, giám sát tuân thủ các quy định cảu pháp luật và các quy chế, quy trình nghiệp vụ, quy định nội bộ của Ngân hàng.

    Đánh giá kiểm tra tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ

    1. Nhân sự

    Tuyển dụng nhân sự.

    Quản lý nhân sự.

    Xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng.

    Quản lý cơ chế tiền lương và chính sách đãi ngộ nhân sự

    IV.         Các sản phẩm của Sacombank

    1.    Cá nhân

    j)      Sản phẩm tiền vay

    Cho vay tiêu dùng đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

    Cho vay sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

    Cho  vay  cầm  cố  chứng  từ  có  giá,  vàng, ngoại tệ

    Cho vay phục vụ đời sống

    Cho vay liên kết mua xe ô tô

    Cho vay mua chứng khoán

    Cho vay liên kết chuyển nhượng bất động sản

    Cho vay liên kết mua nhà, sửa chữa nhà

    Cho vay cán bộ nhân viên

    Cho vay lãi cấn trừ bất động sản

    Cho vay tiểu thương chợ

    Cho vay sản xuất kinh doanh

    Cho vay cầm cố thẻ tiền gửi

    Cho vay sản xuất kinh doanh mở rộng tỷ le đảm bảo

    Cho vay nông nghiệp

    Cho vay du học

    k)    Tiền gửi :

    Chứng chỉ huy động vàng và VNĐ bảo đảm giá trị theo vàng

    Tiết kiệm không kỳ hạn

    Tiết kiệm bậc thang

    Tiền gửi thanh toán

    Tiết kiệm tích lũy

    Tiết kiệm có kỳ hạn

    Tài khoản Âu Cơ

    l)       Thẻ

    Thẻ  Ladies First

    Thẻ  thanh  toán  quốc  tế  Sacombank  Visa

    Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa Credit

    Thẻ đồng thương hiệu VNPAY

    Thẻ tín dụng nội địa SacomPassport

    Thẻ thanh toán nội địa SacomPassport

    m) Chuyển tiền

    Chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam

    Chuyển tiền nhanh tận nhà

    Chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài

    Chuyển tiền trong nước

    Chuyển tiền bằng BankDraft

    n)    Khác:

    Dịch vụ giữ hộ tài liệu

    E-banking

    Mobile Banking

    Phone Banking

    Dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ

    Dịch vụ bảo lãnh

    Dịch vụ hỗ trợ du học

    Cho thuê ngăn tủ sắt

    2. Doanh nghiệp:

    1. Sản phẩm tiền vay:

    Cho vay SXKD đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

    Cho vay bằng nguồn vốn RDF II

    Cho vay bằng nguồn vốn SMEDF

    Cho vay kinh doanh trả góp doanh nghiệp vừa và nhỏ

    Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, chứng từ có giá

    Cho vay dự án – đầu tư

    Cho vay sản xuất kinh doanh

    1. Sản phẩm tiền gửi:

    Tiền gửi định kỳ doanh nghiệp

    Tiết kiệm tích lũy thưởng

    Tiền gửi có kỳ hạn

    Tiền gửi thanh toán

    1. Khác:

    Dịch vụ chi trả hộ lương cho CB-CNV

    Dịch vụ thấu chi tài khoản

    Dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ

    Dịch vụ thu chi hộ

    Dịch vụ thanh toán quốc tế

    Dịch vụ bảo lãnh

    Bao thanh toán nội địa

    V.          Kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank từ 2005-2007

    2)    Các chỉ số tài chính chủ yếu: (đơn vị: Tỷ đồng)

    (Bản Tin Sacombank 2008)

    3)    Tình hình tăng trưởng qua các năm

    Tổng tài sản của Sacombank tăng đều qua các năm từ 2002-2005 và tăng vọt trong năm 2007 lên đến con số ấn tượng 63.484 tỷ đồng đạt mức tăng trưởng 156% so với năm 2006. dự kiến trong năm nay đạt kế hoạch 93.000 tỷ đồng. Sacombank là một trong những ngân hàng TMCP có tổng tại sản lớn nhất Việt Nam hiện nay.

    Năm 2007 vừa qua là năm thứ 16 Sacombank liên tục có lãi và cũng là năm đạt lợi nhuận cao nhất từ trước đến giờ, lợi nhuận trước thuế đạt 1452 tỷ đồng đạt mức tăng trưởng 167% so với năm 2006. Tổng vốn huy động quy VNĐ đạt 54.777 tỷ đổng , tăng 155%  và dư nợ cho vay tăng gần 136% đạt mức 34.317 tỷ đồng. Nhìn chung tình hình huy động vốn và cho vay của Sacombank đạt ở mức cao, tốc độ tăng trưởng cao hơn bình quân ngành (cả nước trung bình cho vay 38% và huy động vốn đạt 37.5%)

    VI.         Chiến lược phát triển dài hạn của Sacombank

    Mục tiêu chiến lược thời kỳ 2007-2010 là quyết tâm xây dựng Sacombank trở thành Ngân hàng bán lẻ, hiện đại, đa năng, đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực và từng bước hình thành một Tập đoàn tài chính đa chức năng, trong đó Sacombank là đơn vị hạt nhân trong giai đoạn 2011-2020.

    • Về năng lực tài chính

    Tiếp tục tăng nhanh vốn tự có bằng việc tăng cường tích lũy thông qua việc phát triển mạnh các quỹ dự trữ và dự phòng, phấn đấu đến cuối năm 2010 vốn tự có đạt khoảng 16.000 – 16.500 tỷ đồng (tương đương 1 tỷ dollars Mỹ). Trong đó, vốn điều lệ tính đến năm 2010 đạt khoảng trên 11.500 tỷ đồng chủ yếu bằng phương thức tái đầu tư từ cổ tức của cổ đông hiện hữu.

    • Về tổng tài sản

    Tổng tài sản của Sacombank đến năm 2010 dự kiến sẽ đạt mức tối thiểu 155.000 tỷ đồng tăng gấp gần 10,5 lần so với cuối năm 2005. Trong đó, giai đoạn 2007-2010 nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trưởng bình quân 60-65%.

    • Về hoạt động tín dụng

    Tổng dư nợ cho vay đến cuối năm 2010 dự kiến sẽ đạt 82.000 – 85.000 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 65% – 70% trên tổng nguồn vốn huy động, tăng bình quân mỗi năm khoảng 55% -60% so với năm trước. Trong đó, dư nợ cho vay nhỏ, phân tán phải chiếm tỷ trọng 55% -60%. Nợ quá hạn chiếm tỷ trọng dưới 2%/ tổng dư nợ tín dụng.

    • Về kinh doanh dịch vụ

    Trong thời kỳ kế hoạch 2006 – 2010, Sacombank sẽ tập trung hết sức vào quá trình phát triển mở rộng các dịch vụ ngân hàng; quan tâm đặc biệt đến các dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng quốc tế. Dự kiến đến năm 2010 thu nhập phi tín dụng phải chiếm tỷ trọng khoảng 32% – 35% trên tổng thu nhập của ngân hàng.

    • Về lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính

    Trong những năm 2007 – 2010 đảm bảo lợi nhuận trước thuế tăng bình quân mỗi năm 55% – 60% so với năm trước. Tỷ suất lợi nhuận/ tổng tài sản vào năm 2010 dự kiến đạt 1,7% -1,9% và tỷ suất sinh lời/ vốn vào năm 2010 đạt 22% – 23%.

    • Về mạng lưới hoạt động

    Phấn đấu đến cuối năm 2010, mạng lưới chi nhánh của Sacombank sẽ có mặt tại tất cả các tỉnh, thành miền Nam, miền Trung và tại tất cả các tỉnh thành kinh tế trọng điểm miền Bắc. Dự kiến mạng lưới hoạt động của Sacombank vào năm 2010 sẽ đạt trên 320 điểm. Đồng thời tiến hành thành lập các chi nhánh tại các quốc gia lân cận, văn phòng đại diện tại Mỹ, Châu Âu và Châu Úc.

    • Về hệ thống công nghệ thông tin

    Mục tiêu đặt ra Sacombank phải là một trong những ngân hàng có hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và tiên tiến nhất trong hệ thống các ngân hàng thương mại trong cả nước.

    • Về phát triển nguồn nhân lực

    Nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố cốt lõi để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Dự kiến đến năm 2010 đội ngũ CBNV của Ngân hàng đạt trên 5.800 người, Sacombank sẽ khẩn trương xây dựng Trung tâm đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo căn bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo nâng cao và đào tạo cán bộ quản lý điều hành các cấp.

    • Về tái cấu trúc tổ chức và hoạt động của Ngân hàng

    Hoàn thiện bộ máy điều hành theo dòng sản phẩm hướng về khách hàng, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên theo hướng chuyên nghiệp hóa, tăng cường kỹ năng quản trị – điều hành – giám sát, đồng thời trong năm 2007 hoàn tất chương trình chuẩn mực hóa, mô hình hoá các quy trình tác nghiệp để nâng cao năng suất lao động và chăm sóc tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng.
    Phần 3: Quy Trình Thanh Toán Bằng L/C Nhập Khẩu  Tại Sacombank

    I.             Những thủ tục cần thiết khi mở L/C tại Sacombank.

    • Giấy yêu cầ mở L/C (theo mẫu).
    • Hợp đồng ngoại thương (bản sao y).
    • Hợp đồng bảo hiểm (nếu có).
    • Giấy phép nhập khẩu (mặt hàng nhập khẩu theo giấy phép).
    • Hợp đồng bảo lãnh (L/C trả chậm).
    • Bản sao hồ sơ pháp lý (đối với khách hàng giao dịch lần đầu tiên).
    • Tờ trỉnh tín dụng được duyệt, phương án vay ốn (nếu ngân hàng có tài trợ).
    • Đơn xin mua ngoại tệ.
    • Giấy ủy quyền cử người đại diện giao dịch với ngân hàng.
    • Văn bản cam kết lịch thanh toán (L/C trả chậm).

    II.           Quy trình phương thức thanh toán bằng L/C nhập khẩu tại Sacombank

    1.    Quy trình phát hành L/C

    1. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ khách hàng theo các tiêu chí sau:

    Hồ sơ đủ loại chứng từ từ

    Chứng từ có chữ ký thẩm quyền

    Giấy yêu cầu mở L/C không thiếu các chi tiết quan trọng, nếu có chỉnh sửa phải có dấu xác nhận chỉnh sửa của đơn vị.

    Nội dung HĐ bảo hiểm phù hợp với nội dung L/C yêu cầu mở.

    1. Lập tờ trình:

    Trên tờ trình cần thể hiện:

    Hàng hóa nhập khẩu: mãi lực, mức độ chuyên dùng và mục đích sử dụng tại đơn vị nhập khẩu có thuộc diện cấm nhập hoặc nhập khẩu có điều kiện không.

    Nhà cung cấp là đối tác quen thuộc của nhà nhập khẩu, có uy tín trên thương trường quốc tế.

    Trường hợp có tài trợ thì hồ sơ tài trợ được lập và lưu theo đúng cơ chế cho vay sản xuất kinh doanh hiện nay.

    1. Thực hiện ký quỹ, xuất nhập ngoại bảng, soạn và in điện L/C:

    Tiến hành các bước trong giao dịch mở L/C của phân hệ tài trợ thương mại- Smartbank để thực hiện ký quỹ, nhập ngoại bảng, soạn điện L/C và in bản thảo điện MT700 từ Smartbank. Căn cứ có giá trị pháp lý duy nhất để soạn thảo L/C là giấy yêu cầu phát hành L/C của khách hàng, HĐ chỉ có giá trị tham khảo.

    Kiểm tra nội dung bản thảo điện L/C.

    1. Trình ký và trình duyệt điện phát hành L/C

    Trình toàn bộ hồ sơ vừa thực hiện ở bước trên cho kiểm soát/trưởng phòng kiểm tra, có ý kiến và trình tiếp cho giám đốc.

    Trình ban lãnh đạo chi nhánh duyệt ký quỹ và và ký duyệt điện phát hành L/C để chuyển điện L/C lên hội sở.

    • Lưu ý:

    Trường hợp có tài trợ khách hành thanh toán L/C: phải hoàn tất hồ sơ vay song song với hồ sơ L/C để trình ban lãnh đạo chi nhánh duyệt một lần, L/C chỉ được phát hành khi tờ trình L/C được duyệt.

    Trường hợp bảo lãnh thanh toán trả chậm: việc phát hành L/C chỉ được thực hiện khi hoàn tất hồ sơ cầm cố/ thế chấp tài sản để ngân hàng bảo lãnh và không được hoàn lại vì bất cứ lý do gì.

    Trường hợp trình phát hành L/C vượt hạn mức phán quyết của GĐCN, GĐCN phải có ý kiến đế xuất, trình Ban Tổng Giám Đốc.

    1. Hội sở tiếp nhận, kiểm tra và xử lý hồ sơ từ chi nhánh:

    Trường hợp 1: Hồ sơ phát hành thuộc hạn mức GĐCN

    Kiểm tra nội dung L/C để đảm bảo các điều khoản quy định rõ ràng, hợp lý, không mâu thuẫn nhau. Nếu có mâu thuẫn giữa bản thảo và đơn xin mở thì căn cứ vào bản thảo đã có chữ ký của GĐ để điều chỉnh.

    Kiểm tra và xác định lại ngân hàng nhận điện L/C

    Trình kiểm soát viên / trưởng phòng hội sở ký

    Đối chiếu file điện MT700 chi nhánh gửi lên bằng smartbank và bản thảo điện GĐCN đã ký duyệt. Nếu có sai biệt thì căn cứ vào bản thảo điện MT700 để điều chỉnh.

    Trường hợp 2: Hồ sơ vượt hạn mức phát hành của GĐCN

    Thực hiện các bước như trường hợp 1

    Có ý kiến đề xuất trên tờ trình về việc phát hành L/C vượt hạn mức chi nhánh

    Trình KSV hội sở/ TP hội sở ký

    Trình Ban Tổng Giám Đốc ký duyệt tờ trình.

    1. Hội sở chuyển điện Swift ra nước ngoài:

    Sau khi hồ sơ phát hành L/C được duyệt, tiến hành duyệt điện từ Smartbank qua Swift.

    Vào Swift duyệt bước 1.

    Duyệt điện swift bước 2.

    Duyệt điện swift bước 3.

    Trả điện về chi nhánh

    1. Hoàn tất hồ sơ phát hành:
    • Tại hội sở:

    In điện Swift

    Mở bìa lưu hồ sơ

    • Tại chi nhánh:

    Nhận điện 700 hội sở chuyển về

    In điện từ Smartbank, trình ký GĐCN.

    Giao điện L/C cho khách hàng.

    Mở bìa lưu hồ sơ.

    2.    Quy trình tu chỉnh L/C

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ:

    Tiếp nhận giấy yêu cầu tu chỉnh của khách hàng.

    Kiểm tra nội dung yêu cầu tu chỉnh. Nếu yêu cầu tu chỉnh chưa hợp lệ, yêu cầu khách hàng chỉnh sửa.

    1. Xử lý hồ sơ:

    Thực hiện ký quỹ, hạch toán ngoại bảng (TH tu chỉnh tăng tiền).

    Thực hiện các bước trong giao dịch tu chỉnh L/C-phân hệ TTTM, Smartbank và soạn điện MT707. Căn cứ duy nhất để soạn điện tu chỉnh là giấy yêu cầu tu chỉnh của khách hàng.

    In điện tu chỉnh từ Smartbank.

    1. Trình ký và trình duyệt điện Smartbank chuyển lên hội sở

    Trình toàn bộ hồ sơ vừa thực hiện cho KSVCN/TP kiểm tra, có ý kiến để trình tiếp GĐCN.

    Trình GĐCN ký duyệt, đóng dấu lên bản thảo điện tu chỉnh

    Trình GĐCN duyệt điện tu chỉnh trên Smartbank

    Chuyển điện lên hội sở

    1. Hội sở tiếp nhận và xử lý hồ sơ từ chi nhánh:

    Kiểm tra nội dung tu chỉnh để đảm bảo các điều khoản tu chỉnh rõ ràng, hợp lý không gây bất lợi cho ngân hàng. Nếu có bất hợp lý trên bản thảo điện thì căn cứ vào bản thảo điện có chữ ký của GĐCN để điều chỉnh.Trình kiểm soát/TP ký trên bản thảo điện.

    Nếu tu chỉnh tăng tiền vượt hạn mức CN, trình hồ sơ qua lãnh đạo phòng có ý kiến trước khi trình ban TGĐ.

    Đối chiếu file điện MT707 chi nhánh gửi lên bằng smartbank và bản thảo điện GĐCN đã duyệt. nếu có sai biệt thì căn cứ vào bản thảo điện MT707 để điều chỉnh.

    1. Duyệt và chuyển điện Swift ra:

    TTVHS duyệt trên Smartbank căn cứ trên các chỉnh sửa trên bản thảo có đầy đủ chữ ký của GĐCN và TP TTQT, chuyển điện từ Smartbank qua Swift.

    Duyệt điện Swift bước 1, bước 2, bước 3

    Trả điện về chi nhánh.

    1. Hoàn tất hồ sơ tu chỉnh:
    • Tại hội sở:

    In điện Swift, Mở bìa lưu hồ sơ.

    • Tại chi nhánh:

    In điện, giao điện tu chỉnh cho khách hàng, mở bìa lưu hồ sơ

    3.    Quy trình xử lý L/C

     

    1. Tiếp nhận BCT từ nước ngoài gửi về

    Mở bì thư, đóng dấu Chứng Từ Đến.

    Lưu lại một bộ photo các chứng từ cùng chỉ dẫn thanh toán (cover letter) của ngân hàng nước ngoài.

    1. Kiểm tra BCT:

    Cơ sở kiểm tra:

    • L/C do Sacombank phát hành
    • UCP theo qui định trong L/C

    Thông báo BCT đã về cho khách hàng bằng phương tiện nhanh nhất trong vòng 24h để khách hàng chuẩn bị nguồn thanh toán

    `Cập nhật dữ liệu chứng từ về vào Smartbank để theo dõi ngày đến hạn thanh toán và cập nhật lên bìa hồ sơ 2 chi tiết chính: ngày chứng từ về, trị giá BCT

    Nếu BCT hợp lệ, yêu cầu khách hàng nộp tiền thanh toán và trao toàn bộ BCT gốc cho khách hàng (trừ Cover Letter gốc).

    Nếu BCT bất hợp lệ, chuyển lên hội sở bản gốc Cover Letter, bản sao Hối Phiếu, Invoice, B/L và các chứng từ khác có bất hợp lệ

    1. Xử lý chứng từ BHL:
    • Gửi thông báo BHL:

    Soạn điện thông báo BHL trên Smartbank, in điện trình KSVCN/TPCN kiểm tra và trình tiếp GĐCN ký và duyệt trên Smartbank.

    Gửi thông báo cho phòng TTQT: ngày Fax thông báo BHL cho P.TTQT chậm nhất 16h ngày làm việc thứ 5 kể từ ngày chứng từ đến chi nhánh, ghi rõ các điểm sai biệt.

    Thông báo cho khách hàng, chi nhánh chỉ được thông báo các BHL cho khách hàng bằng văn bản sau khi đã thống nhất với P.TTQT.

    P.TTQT tiếp nhận hồ sơ từ chi nhánh và kiểm tra hồ sơ

    Trình lãnh đạo phòng ký

    Duyệt điện trên Smartbank chuyển vào Swift

    Duyệt Swift bước 1, bước 2, bước 3

    Kết nối Swift, chuyển điện ra nước ngoài.

    Chuyển điện về chi nhánh, chí nhánh in điện giao cho khách hàng

    • Gia hạn thanh toán:

    Việc gia hạn thanh toán phải được hoàn tất trước ngày đáo hạn L/C

    Nhận văn bản của KH

    Thực hiện các bước trên Smartbank, soạn điện đề nghị nước ngoài gia hạn thanh toán.

    Trình KSVCN/TPCN có ý kiến và trình tiếp GĐCN ký bản thảo và duyệt điện trên Smartbank chuyển về hội sở.

    TTVHS duyệt điện trên Smartbank trình KSVHS/TPHS ký

    Duyệt điện Smartbank qua Swift. Kết nối chuyển điện ra nước ngoài và chuyển điện về chi nhánh

    Chi nhánh thông báo cho khách hàng kết quả khi nhận điện của hội sở.

    Cập nhật ngày thanh tóan mới nếu được gia hạn

    • Giảm giá trị thanh toán:

    Thực hiện giống như gia hạn thanh toán trừ trường hợp ngân hàng chuyển chứng từ chủ động gởi điện đồng ý giảm giá trị thanh toán.

    • Hoàn trả BCT:

    Việc từ chối thanh toán và việc hoàn trả BCT chỉ được thực hiện khi có văn bản chính thức của khách hàng với điều kiện:

    BCT bất hợp lệ

    Có điện yêu cầu ngân hàng hoàn trả chứng từ

    Xác định thương vụ có tích chất lừa đảo

    Nhận văn bản của KH, lập phiếu đề nghị, trình KSVCN/TPCN và GĐCN ký rồi chuyển BCT và 2 văn bản này lên P.TTQT.

    TTVHS bảo quản toàn bộ BCT nghiêm ngặt

    Lập Cover Letter hoàn trả BCT khi nhận diện có mật mã đồng ý thu hồi lại BCT của ngân hàng chuyển BCT, trình KSVHS/TPHS và ban TGĐ ký.

    Photo toàn bộ bản gốc BCT lưu hồ sơ

    Chi nhánh thu phí phát sinh

    Cập nhật phát sinh vào chương trình Smartbank và bìa hồ sơ.

    1. Ký hậu vận tải đơn/ phát hành thư bảo lãnh nhận hàng:

    Chi nhánh chỉ được ký hậu vận tải đơn cho KH khi họ đã hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng (nộp đủ tiền thanh toán, hoàn tất thủ tục cầm cố, thế chấp và quản chấp hàng hóa-nếu có yêu cầu tài trợ).

    Trích chuyển tiền tập trung thanh toán vào tài khoản ký quỹ hoặc phong tỏa phần tiền chờ thanh toán nếu BCT chưa về đến nhằm tránh tình trạng tài khoản không đủ số dư thanh toán.

    Giao vận đơn và BCT bản chính cho KH ký nhận

    Lưu bản sao vận đơn đã được GĐCN ký hậu vào hồ sơ L/C

     

    4.    Quy trình thanh toán L/C

     

     

     

    1. L/C trả ngay

    BCT hợp lệ: phải thanh toán trong vòng 7 ngày làm việc(đp61i với UCP 500) và 5 ngày (đối với UCP 600) từ ngày nhận chứng từ.

    BCT có BHL: khi thanh toán phải phiếu đề nghị ký hậu vận đơn đã có chữ ký xác nhận của GĐCN.

    GDVCN cho khách hàng ký quỹ bổ sung và, xuất ngoại bảng,lập phiếu thanh toán theo mẫu 02-TTQT. GDVTK xác nhận số dư hạch toán.

    Tiến hành soạn điện MT202, MT576, MT999(nếu có) trên chương trình Smartbank, in điện trình ký kiểm soát ở các bước 1 và 3 qua KSCVN/TPCN, trình tiếp toàn bộ hồ sơ và B/L (ký hậu) cho GDCN. Duyệt điện chuyển lên hội sở đồng thời chuyển bản thảo điện, phiếu thanh toán có chữ ký GĐCN và phiếu chuyển khoản về hội sở.

    Hội sở căn cứ vào điện MT202 chỉnh sửa cho đúng ký thuật thanh toán, duyệt điện Smartbank vào Swift và chuyển điện ra nước ngoài. Sau đó chuyển điện đã duyệt về cho chi nhánh.

    Cập nhật và mở bìa lưu hồ sơ.

    Chi nhánh nhận điện từ hội sở, in điện, giao điện cho khách hàng, tách chứng từ giao kế toán và lưu hồ sơ.

    1. L/C trả chậm:

    Sau khi nhận hối phiếu đã được khách hàng ký chấp nhận thanh toán, chi nhánh chuyển phiếu đề nghị đi điện chấp nhận thanh toán lên hội sở, đến ngày đáo hạn mới thực hện thanh toán như trên.

    1. L/C xác nhận:

    Việc phát hành, tu chỉnh, thanh toán sẽ được xử lý theo từng trường hợp tùy theo yêu cầu cụ thể của khách hàng và của ngân hàng xác nhận.

    5.    Quy trình hủy L/C

    1. Hủy L/C còn hiệu lực
    • Điều kiện:

    L/C không hủy ngang chỉ được hủy khi có sự đồng ý của các bên tham gia.

    Chỉ được thực hiện yêu cầu hủy L/C của KH khi BCT chưa được xuất trình hoặc đã thanh toán hết các BCT đã xuất trình.

    • Người mở yêu cầu hủy L/C:

    GDVCN tiếp nhận, kiểm tra điều kiện hủy.

    Tiến hành các bước trên smartbank, soạn điện hủy L/C gửi đến ngân hàng người thụ hưởng yêu cầu họ thông báo đến cho người thụ hưởng và điện xác nhận lại cho Sacombank.

    Trình KSVCN/TPCN kiểm soát và trình tiếp GĐCN duyệt.

    Chuyển bản thảo và truyền điện lên P.TTQT

    P.TTQT kiểm tra và duyệt điện theo nội dung bản thảo rồi kết nối chuyển điện ra nước ngoài.

    Sau khi nhận được điện trả lời từ nước ngoài xác nhận người thụ hưởng đồng ý hủy L/C. P.TTQT giao điện cho chi nhánh.

    GDVCN tiến hành giải tỏa tiền ký quỹ cho KH, đồng thời thu các phí phát sinh, xuất ngoại bảng và đóng hồ sơ.

    • Ngân hàng thông báo yêu cầu hủy L/C:

    GDVCN nhận điện từ P.TTQT, thông báo ngay cho người mở L/C và đề nghị trả lời bằng văn bản.

    Sau khi nhận được văn bản trả lời từ KH, nếu ngân hàng nước ngoài yêu cầu, chi nhánh phải soạn điện phúc đáp, trình KSVCN/TPCN ký, rồi chuyển bản thảo và file điện lên P.TTQT để gửi ngân hàng nước ngoài.

    TTVHS kiểm tra nội dung bản thảo điện, trình ký KSVHS+TPHS.

    Tiến hành duyệt điện Smartbank và đẩy điện ra nước ngoài qua Swift.

    Nếu L/C được hủy, GDVCN tiến hành giải tỏa tiền ký quỹ cho KH đồng thời thu các phí phát sinh, xuất ngoại bảng và đóng hồ sơ.

    1. Hủy L/C đã hết hạn hiệu lực

    GDVCN tiến hành giải tỏa ký quỹ cho KH đồng thời thu các phí phát sinh, xuất ngoại bảng và thông báo cho hội sở đóng hồ sơ với điều kiện.

    L/C đã hết hạn hiệu lực sau 15 ngày, KH phải yêu cầu hủy bằng văn bản.

    L/C hết hạn hiệu lực chưa đến 15 ngày, KH phải cam kết đảm bảo thanh toán nếu sau khi rút tiền ký quỹ, có chứng từ gửi đến phù hợp với điều kiện và điều khoản của L/C.

    Trường hợp L/C hết hạn hiệu lực 3 tháng trở lên và không nhận được văn bản đề nghị của KH. Chi nhánh lập văn bản thông báo cho KH, đề nghị KH có ý kiến về việc đóng hồ sơ. Nếu KH đồng ý đóng hồ sơ, GDVCN thu phí, xuất ngoại bảng đồng thời thông báo cho Hội sở.

    6.    Đánh giá quy trình thực hiện:

    1. Thuận lợi:

    Quy trình thực hiện phương thức thanh toán chứng từ nhập khẩu của Sacombank được chuẩn hóa theo một mô hình và tiêu chuẩn hợp lý từ giai đoạn phát hành L/C cho đến giai đoạn kết thúc.

    Thời gian phát hành một L/C cho khách hàng nhanh chóng, thủ tục đơn giản.

    Mỗi giai đoạn của một quy trình luôn luôn được thực hiện qua hai bước kiểm duyệt từ cấp chi nhánh và một bước kiểm duyệt từ hội sở để đảm bảo độ chính xác và hạn chế rủi ro cho cả phía khách hàng lẫn ngân hàng Sacombank.

    Sử dụng hệ thống xử lý Smartbank online trên toàn hệ thống, giao diện thân thiện, dễ sử dụng, luôn luôn cập nhật kịp thời số dư tài khoản của khách hàng để đảm bảo thanh toán kịp thời cho các khách hàng.

    Trình độ nhân viên giao dịch cao,làm việc chuyên nghiệp. trong quá trình kiểm tra bộ chứng từ chính xác và nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng là các doanh nghiệp nhậu khẩu.

    Việc thanh toán phí được thực hiện theo từng giai đoạn rõ ràng cho khách háng dể hiểu và thuận tiện cho việc kiểm toán về sau.

    Việc lưu hồ sơ khách hàng được phân chia nhằm quản lý những khách hàng giao dịch thường xuyên và khách hàng mới để có những chính sách cũng như ưu đãi đối với từng loại khách hàng.

    1. Hạn chế:

    Hệ thống xử lý Smartbank vẫn còn nhiều bất cập, thường xuyên xảy ra tình trạng treo hệ thống, quá trình tạo báo cáo mất nhiều thời gian dẫn đến công tác thực hiện của các giao dịch viên bị chậm trễ,  mất thời gian chờ đợi của khách hàng.

    Chưa áp dụng tiêu chuẩn chất lượng ISO

    Việc trình ký nhiều lần cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tiến độ thực hiện bị gián đoạn.

    Chứng từ kế toán còn nhiều loại.

    III.          Tình hình hoạt động của phòng TTQT qua các năm

    1.   Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua

    Sacombank là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, tuy không giống ngân hàng ngoại thương (Vietcombank) có bề dày kinh nghiệm và mạng lưới khách hàng xuất nhập khẩu rộng lớn, nhưng được sự quan tâm của ban lãnh đạo ngân hàng, cùng với sự vươn lên của bản thân, hoạt động TTQT của Sacombank cũng như dịch vụ thanh toán bằng L/C nhập khẩu đã từng bước trưởng thành và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường TTQT Việt Nam vô cùng sôi động và cạnh tranh quyết liệt.

    Tình hình xuất nhập khẩu trong những thời gian qua:

    (tốc độ tăng trưởng so với năm trước)

    Đơn vị: tỷ USD

      Kim ngạch XNK Tốc độ tăng trưởng Xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng Nhập khẩu Tốc độ tăng trưởng
    2005 69.42 18.8% 32.44 22.4% 36.98 15.7%
    2006 84.7 22% 39.8 22.8% 44.9 21.4%
    2007 111.2 31.3% 48.5 21.9% 62.7 40%

    (Tổng cục hải quan www.gso.gov.vn)

    Trong 3 năm vừa qua, kim ngạch xuất nhập khẩu đều tăng, đặc biệt trong năm 2007, với việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 111.2 tỷ USD đạt mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay với 31.3%, trong đó nhập khẩu luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhâp khẩu, tổng kim ngạch nhập khẩu tăng gần 40% so với năm 2006. Việc mới tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, hợp tác với nhiều đối tác mới nước ngoài thì việc thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ là phổ biến nhất. Việc tốc độ tăng trưởng hàng nhập khẩu tăng đồng nghĩa với việc thanh toán với đối tác nước ngoài là khá lớn. Do đó đây vừa là một cơ hội cho bộ phận thanh toán quốc tế vừa là một áp lực cho ngân hàng Sacombank nói riêng và hệ thống các ngân hàng nói chung.

    2.    Những kết quả  tích cực:

     

    • Doanh số TTQT (Đơn vị: tỷ USD)
      2005 2006 2007
    Tổng DT TTQT 1.52 1.92 3.1
    Tăng trưởng 25% 26% 60%

    ( Báo cáo thường niên Sacombank 2005, 2006, 2007)

     

    Doanh số của Sacombank trong lĩnh vực hoạt động thanh toán quốc tế tăng đều qua các năm. Trong năm 2007 doanh số từ hoạt động này đạt gần 3.1 tỷ USD, tăng gần 60% so với năm 2006.

    Cùng với sự tăng trưởng của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước ta, sự gia tăng doanh số của phòng TTQT , đặc biệt trong năm 2007 doanh số TTQT tăng đến gần 60% cho thấy Sacombank đã có được tầm nhìn xa, biết nắm lấy thời cơ, cơ hội của sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và có những chiến lược phát triển đúng đắn, những chính sách tài trợ thương mại hiệu quả cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và đã lôi kéo được nhiều khách hàng về Ngân hàng. Doanh số tăng đồng nghĩa với việc ngày càng có nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ của Ngân hàng và giá trị thanh toán ngày càng lớn, đây là một thành tựu đáng khích lệ.

    Cùng với việc đạt được doanh số TTQT cao, tính từ đầu năm 2007, đã 4 lần Sacombank nhận giải thưởng lớn về thanh toán quốc tế từ các ngân hàng danh tiếng trên thế giới gồm: HSBC, Wachovia, Standard Chartered và American Express.

    • Tổng số tiền của thư tín dụng quy đổi VND còn hiệu lực cho đến cuối năm:

    (ĐVT: triệu VND)

    Năm 2005 2006 2007
    L/C trả ngay 1. 119.224 2.103.415 5.873.117
    L/C trả chậm 83.389 119.213 265.046

    (Báo cáo thường niên Sacombank 2005, 2006, 2007)

    Cho đến cuối năm 2007 vừa qua , tổng số dư thanh toán toán bằng LC trả ngay quy đổi còn hiệu lực lên đến con số 5.873.117 triệu VND, trong khi L/C trả chậm chỉ đạt 265.046 triệu VND, sự chênh lệch này cho thấy việc thanh toán bằng L/C trả ngay chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng giá tri thanh toán bằng L/C, con số này còn nói lên hoạt động phương thức thanh toán bằng L/C chiếm một tỷ trọng khá lớn trong hoạt động TTQT nói chung của Sacombank

    Tổng giá trị quy đổi của dịch vụ thanh toán bằng L/C tăng đều qua các năm, đặc biệt việc tăng nhanh từ con số 2.103.415 triệu VND lên đến 5.873.117 triệu VND trong một năm cho thấy hoạt động thanh toán bằng LC của Sacombank chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong các phương thức thanh toán như D/P, D/A, TTR  và đã đạt được một kết quả khả quan nhất định, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt của các hệ thống ngân hàng với nhau.

     

    • Mạng lưới đại lý ngân hàng ngày càng được mở rộng:
    Năm 2005 2006 2007
    Số đại lý 6500 8900 9700

    (Báo cáo thường niên Sacombank 2007)

    Việt Nam gia nhập WTO đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp mở rộng quan hệ mua bán với nhiều đối tác nước ngoài trên thế giới. nắm bắt được cơ hội đó cùng với việc thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đại lý trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, từ năm 2005 đến nay, Sacombank không ngừng mở rộng quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài. Số lượng ngân hàng đại lý và số nước thiết lập quan hệ đại lý với Sacombank ngày càng nhiều. Từ chỗ hoàn toàn không có quan hệ với nước ngoài trong những năm đầu, đến năm 2007, Sacombank đã có hơn 9700 đại lý thuộc 250 ngân hàng tại 91 quốc gia trên toàn thế giới.

    • Thương hiệu của Sacombank ngày càng được nâng cao:

    Cùng với việc thiết lập nhiều mối quan hệ đại lý với các ngân hàng lớn trên thế giới, Sacombank đang ngày càng khẳng định mình trên con đường hội nhập quốc tế, ngày càng được nhiều đối tác lớn nước ngoài biết đến, đó cũng là một trong những tiền đề giúp cho Sacombank ngày càng phát triển vững mạnh hệ thống TTQT.

    Đối với một nước có truyền thống nhập khẩu lớn như Việt Nam thì việc chọn một ngân hàng có nhiều đại lý trên thế giới là một ưu tiên hàng đầu của các doanh nhiệp nhập khẩu, giúp họ hạn chế tối đa về mặt chi phí khi không phải thông qua nhiều trung gian ngân hàng khác. Và Sacombank được biết đến như là một trong những ngân hàng có mạng lưới đại lý rộng khắp

    Việc xây dựng hoàn thành Trung tâm dữ liệu lớn nhất trong hệ thống ngân hàng đầu năm 2008 vừa qua cũng là một thành tựu to lớn góp phần vào việc phát triển hệ thống TTQT nói riêng và toàn bộ hệ thống xử lý giao dịch của Sacombank nói chung.

    3.    Những mặt hạn chế:

    Bên cạnh những kết quả khả quan thì hoạt động TTQT của Sacombank cũng bộc lộ những hạn chế nhất định.

    Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên đến 111.2 tỷ USD trong năm 2007, mà doanh số thanh toán quốc tế của Sacombank chỉ đạt được 3.1 tỷ USD, chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, trong khi đó, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của Vietcombank đạt 26.32 tỷ USD, chiếm hơn 23% mặc cho sự cạnh tranh khốc liệt về tỷ giá, lãi suất chiết khấu; phí thanh toán, thủ tục thanh toán; dịch vụ chăm sóc, phục vụ khách hàng v.v ..Điều này cho thấy hoạt động TTQT của Sacombank chỉ chiếm một thị phần nhỏ trong toàn hệ thống ngân hàng chưa xứng đáng với quy mô cũng như mạng lưới hoạt động của Sacombank.

    Xét trên phạm vi toàn quốc, thị phần TTQT nói chung và thị phần thanh toán hàng nhập nói riêng của Sacombank không thực sự cạnh tranh lắm.

    Sacombank chưa áp dụng tiêu chuẩn quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, chưa tạo được lòng tin tuyệt đối từ phía khách hàng.

    Phí dịch vụ chưa mang tính cạnh tranh cao (phí ký hậu vận đơn tại Sacombank là 5 USD, trong khi tại ACB chỉ có 2 USD)

    Dịch vụ thanh toán quốc tế tại Sacombank chưa mang tính cạnh tranh cao, chưa có tiêu chí phân loại khách hàng rõ ràng để có những ưu đãi cho từng đối tượng khách hàng cụ thể, điều này có thể làm giảm mức tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng

    Chưa xây dựng cơ sở đánh giá năng lực làm việc của nhân viên thực sự cụ thể, nên không có tác dụng kích thích nhân viên phấn đấu hơn trong công việc.

    Sự cạnh tranh về doanh số so với các ngân hàng khác trong hệ thống chưa cao: VCB có doanh số thanh toán xuất nhập khẩu lớn nhất với khách hàng là các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, Ngân hàng Đông Á đứng đầu về doanh số chi trả kiều hối và có nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ phát triển; ACB với chiến lược marketing rất chuyên nghiệp.

    Công nghệ ngân hàng chưa cao: hiện nay Sacombank sử dụng chương trình Smartbank do FPT cung cấp để quản lý và xử lý các giao dịch phát sinh hàng ngày. Chương trình Smartbank vẫn còn nhiều bất cập khi số lượng truy cập hệ thống cùng lúc lớn , trong khi đó ACB và EAB đã có những hệ thống xử lý giao dịch có khả năng xử lý lớn hơn (ACB sử dụng chương trình TCBS, còn EAB sử dụng chương trình Flexcube như giải pháp ngân hàng lõi)

     

    Phần 4: Giải Pháp Và Đề Xuất Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Thanh Toán Tín Dụng Chứng Từ Nói Riêng Và Hoạt Động TTQT Nói Chung Tại Sacombank

    I.             Mục đích việc đưa ra các giải pháp

    Với mục tiêu chiến lược là quyết tâm xây dựng và phát triển  Sacombank trở thành một Ngân hàng bán lẻ hiện đại đa năng đạt mức tiên tiến trong khu vực, được biết đến với chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt và phong cách phục vụ chuyên nghiệp. Với định hướng như vậy, Sacombank cần phải nổ lực hoàn thiện mình từng trong từ khâu, từng lĩnh vực để có thể thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng, kể cả khách hàng khó tính nhất, tạo cho khách hàng sự hài lòng tuyệt đối, có lòng tin vào dịch vụ mà Sacombank cung cấp. Đặc biệt trong  lĩnh vực TTQT, một trong những mũi nhọn đem lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng

    II.           Giải pháp về quy trình thanh toán bằng L/C nhập khẩu

    Quy trình thanh toán cần luôn luôn được cập nhật, bổ sung, sửa đổi trực tiếp từ các qui trình thực tế của các giao dịch viên, cũng như từ những thay đổi về các điều lệ và quy định của ICC cho phù hợp với quy trình thanh toán của thế giới.

    Cần nâng cấp và cải tiến phần mềm quản lý Smartbank, tránh tình trạng hệ thống thường xuyên bị treo làm chậm tiến độ thực hiện.

    Nên áp dụng theo một tiêu chuẩn thanh toán quốc tế để tạo và nâng cao niềm tin cũng như sự tin tưởng của khách hàng.

    Có những chính sách ưu đãi dành cho những khách hàng lớn và thường xuyên thanh toán bằng thư tín dụng thông qua hệ thống ngân hàng.

    Bộ phận TTQT cần giữ quan hệ chặt chặt chẽ và mật thiết với bộ phận tín dụng để luôn luôn cập nhật và bổ sung hồ sơ của khách hàng một cách thường xuyên.

    Hạn chế và giảm thiểu những chứng từ kế toán không cần thiết hoặc kết hợp chung để giảm tính phức tạp, tiết kiệm thời gian nhân viên giao dịch làm thay công việc kế toán.

    Đặc điểm kinh doanh của Sacombank trong hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động nhập khẩu chiếm một tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với hoạt động xuất khẩu, do đó gặp nhiều khó khăn trong việc cân đối nguồn ngoại tệ.. Vì vậy Ngân hàng cần có những chính sách, chương trình phù hợp để thu hút khách hàng có nguồn thu ngoại tệ lớn nhằm tái tạo và cân bằng nguồn ngoại tệ.

    Nhu cầu nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn, đa số thanh toán bằng vốn vay. Do đó khi sử dụng hết hạn mức vay tại ngân hàng này, khách hàng sẽ tìm đến một ngân hàng khác xin cấp một hạn mức tín dụng khác để nhập khẩu, đó cũng là tình trang chung hiện nay của các doanh nghiệp nhập khẩu. Vì vậy Sacombank cần có những chính sách ưu đãi về hạn mức tín dụng đối với những khách hàng lớn và tiềm năng, thường xuyên giao dịch với ngân hàng. Để thực hiện tốt việc này, phòng TTQT cần kết hợp với phòng tín dụng, cán bộ tín dụng cần làm tốt công tác thẩm định dự án, quản lý tài sản đảm bảo đánh giá chính xác năng lực tài chính doanh nghiệp, xếp loại chất lượng tín dụng cho từng khách hàng, trên cơ sở đó xây dựng những hạn mức mở L/C, hạn mức chiết khấu bộ chứng từ.

    Xác lập những chi nhánh Ngân hàng hoạt động tốt, có doanh số cao để nâng cao hạn mức mở L/C cấp chi nhánh, tạo điều kiện cho việc thanh toán nhanh chóng, tiện lợi.

    Vì thanh toán bằng L/C nhập khẩu là một trong những hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Sacombank trong hoạt động thanh toán quốc tế, do đó cần tăng cường các công tác kiểm tra kiểm soát hoạt động, quy trình một cách thường xuyên nhằm đản bảo thực hiện đúng quy trình, pháp luật, phù hợp thông lệ quốc tế, nhanh chóng phát hiện ra sai sót để xử lý kịp thời.

    III.          Giải pháp về hoạt động TTQT tại Sacombank:

    SWOT O

     

    ·Việt Nam là thành viên tổ chức WTO.

    ·Tổng giá trị kim ngạch XNK Việt Nam lớn.

    ·Chính sách XNK ngày càng thông thoáng.

    T

     

    ·Nhiều ngân hàng 100% vốn nước ngoài đang thâm nhập vào VN.

    ·Cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng trong nước.

    S

     

    ·Có hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp trên thế giới.

    ·Mạng lưới hoạt động rộng lớn.

    ·Trình độ NV TTQT cao

    S1/O1

     

    S3/O2, O3

    S2, S3/ T1, T2
    W

     

    ·Chiến lược Marketing còn yếu.

    ·Hệ thống phần mềm giao dịch còn nhiều vấn đề

    W1/O1,O2 W1/T1,T2

    Kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu của Sacombank với các cơ hội và đe dọa từ môi trường bên ngoài, có thể đưa ra một số giải pháp sau:

    • Kết hợp S/O

    Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO trong năm vừa qua là một cơn hội lớn cho các tổ chức tài chính nói chung và Sacombank nói riêng, tranh thủ sự kiện đó Sacombank cần kết hợp những điểm mạnh của mình như thiết lập thêm nhiều quan hệ đại lý với các ngân hàng có uy tín trên thế giới. việc mở rộng quan hệ đại lý sẽ cho ta học hỏi được phong cách làm việc và các phương thức TTQT hiện đại của các ngân hàng lớn trên thế giới. Từng bước thâm nhập vào thị trường tài chính tiền tệ thế giới bằng cách mở các văn phòng đai diện tại nước ngoài, mà việc thành lập văn phòng đại diện tại Trung Quốc trong năm vừa qua là một bước khởi đầu.

    Luôn luôn nâng cao kiến thức chuyên môn và thực tiễn cho nhân viên giao dịch TTQT cho phù hợp với tiến độ phát triển của thế giới.

    • Kết hợp S/T

    Đi cùng với những cơ hội to lớn khi Việt Nam gia nhập WTO là những thách thức và đe dọa không nhỏ. Với một hệ thống mạng lưới rộng lớn sẵn có,  Sacombank cần tiếp tục mở rộng hệ thống chi nhánh trong cả nước, phù hợp với mục tiêu chiến lược là có mạng lưới hoạt động trải dài từ Bắc vào Nam, vừa tranh thủ được lộ trình thâm nhập vào Việt Nam của các tổ chức tài chính lớn trên thế giới để phát huy thế mạnh và chiếm một thị phần lớn, vừa nâng cao vị thế cạnh tranh của Sacombank đối với các ngân hàng trong nước.

    Việc mở rộng hệ thống chi nhánh sẽ tạo cơ hội cho Sacombank tiếp cận được nhiều hơn với các doanh nghiệp và hoạt động TTQT cũng sẽ được đẩy mạnh hơn.

    • Kết hợp W/O, W/T

    Xây dựng chiến lược Marketing bài bản, chuyên nghiệp, quảng bá hình ảnh Sacombank không chỉ trong nước và khu vực mà còn mở rộng ra toàn thế giới.

    Kết hợp với những chương trình khuyến mãi để thu hút thêm nhiều khách hàng nhằm nâng cao thị phần TTQT của Sacombank so với các ngân hàng khác.

    Cần nâng cấp hệ thống phần mềm giao dịch, cải tiến quy trình làm việc cho chuyên nghiêp, phù hợp với trình độ chung của thế giới, nhăm nâng cao năng lực của Sacombank so với các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới khi họ thâm nhập vào Việt Nam.

    Đa dạng hóa sản phẩm dịch TTQT, tìm hiểu và phát triển những phương thức thanh toán còn mới ở Việt Nam.

    1.    Giải pháp về quản lý đào tạo.

    Để hạn chế đa các rủi ro trong thanh toán bằng thư tín dụng nhập khẩu, các cán bộ phòng TTQT phải thường xuyên cập nhật, bổ sung kiến thức về pháp luật quốc gia và quốc tế. Nắm vững các quy định quy chế có liên quan đến hoạt động thanh toán bằng chứng từ nhập khẩu của Ngân hàng nhà nước.

    Các giao dịch viên luôn nắm vững các quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán nhập khẩu, các thao tác xử lý và vai trò của mình trong từng giao dịch, thực hiện tuân thủ chặt chẽ các bước trong quy trình nghiệp vụ.

    Chủ động thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề, phối hợp với các cơ quan tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ có liên quan đến TTQT, gửi cán bộ đi đào tạo nghiệp vụ tại các ngân hàng lớn trên thế giới.

    Tiêu chuẩn hóa các cán bộ làm công tác TTQT: bố trí các cán bộ đủ năng lực trình độ chuyên môn và ngoại ngữ phù hợp với công việc.

    Thường xuyên cập nhật những thông tin quốc tế nhằm tạo điều kiện cho cán bộ bắt kịp tình hình biến động của thế giới.

    Cần thiết lập cơ sở đánh giá năng lực làm việc của nhân viên một cách rõ ràng, cụ thể. Thanh toán quốc tế là một lĩnh vực khó có thể xác định những tiêu chí để đánh giá đúng năng lực của nhân viên, vì thế bộ phận nhân sự nên có những chỉ tiêu nhằm đánh giá khả năng làm việc của nhân viên.

    Có cơ chế chính sách khuyến khích bằng cách hình thức vật chất hoặc khen thưởng cho các cán bộ TTQT tự học để nâng cao trình độ phù hợp với cương vị được giao.

    2.    Giải pháp về công nghệ.

    Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng theo trình độ của một tập đoàn tài chính lớn trong khu vực., điều này không chỉ nâng cao chất lược dịch vụ TTQT tại Sacombank mà còn cung cấp cho ngân hàng một công cụ hữu hiệu để quản lý hoạt động TTQT trong toàn hệ thống. Việc xây dựng Trung tâm dữ liệu ở tỉnh Bình Dương vừa qua được xem như là bước đi đầu tiên trong việc hiện đại hóa công nghệ.

    Hiện đại hóa ngân hàng với sự hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế trong toàn hệ thống Sacombank.

    Phát triển và nâng cao các hệ thống, chế độ bảo mật các phòng ban, nâng cao mức độ chính xác an toàn, bảo mật trong giao dịch, hạn chế được nguy cơ bị xâm nhập hệ thống.

    Song song với việc hiện đại hóa công nghệ, Sacombank cần nghiên cứu, tìm hiểu và mở rộng các phương thức thanh tóan quốc tế để áp dụng tại Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các các ngân hàng khác trong cùng khối.

    3.    Giải pháp về Marketing

    Tìm hiểu hoạt động thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng lớn trên thế giới để học tập và cải tiến những điều mà Sacombank còn yếu kém trong nghiệp vụ và tổ chức quản lý.

    Tìm hiểu chiến lược cạnh tranh mà các Ngân hàng khác đang áp dụng để có chiến lược phù hợp-trước mắt là các Ngân hàng trong nước và dài lâu là những ngân hàng nước ngoài.

    Xây dựng một phòng quan hệ khách hàng hoàn chỉnh và hiệu quả, là cầu nối giữa Sacombank và khách hàng. Cán bộ là TTQT luôn bận rộn với việc giải quyết những nghiệp vụ phát sinh hàng ngày nên không có nhiều thời gian hướng dẫn và tìm hiểu tâm tư khách hàng. Trong khi đó vẫn có rất nhiều khách hàng cần được hướng dẫn và giúp đỡ ở mức độ khác nhau. Do đó phòng quan hệ khách hàng đóng vai trò khá quan trọng trong việc tìm hiểu và tìm kiếm khách hàng.

    Xây dựng lại biểu phí hợp lý mang tính cạnh tranh cao

    Cần phải lưu ý đến vai trò của các dịch vụ bổ sung trong chính sách sản phẩm của mình. Những dịch vụ cộng thêm này không nhằm mục đích sinh lời cho ngân hàng, nhưng trong trong điều kiện môi trường cạnh tranh như ngày nay, chúng sẽ giúp ngân hàng duy trì được lượng khách hàng hiện hữu, làm tăng sự trung thành của họ và thu hút thêm khách hàng mới. Với việc thực hiện những dịch vụ bổ sung có hiệu quả sẽ là một lợi thế cạnh tranh của ngân hàng so với các đối thủ trên thị trường.

    Từ việc tiếp xúc với khách hàng thường xuyên, phòng quan hệ khách hàng sẽ có được những thông tin phản hồi tốt nhất từ khách hàng để tham mưu cho ban lãnh đạo và phòng TTQT để có những chính sách khách hàng hợp lý, tăng khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng về dịch vụ TTQT của Sacombank.

    Xây dựng một chiến lược Marketing bài bản và chuyên nghiệp, góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu Sacombank trong khu vực và quốc tế.

    Cần áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000, vì ISO 9000 là một trong các tiêu chuẩn thương mại quan trọng và như một chứng chỉ để tham gia vào thị trường quốc tế và đặc biệt quản lý hướng vào khách hàng, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Những ngân hàng không có được chứng nhận ISO, sức cạnh tranh kém và sẽ chịu nhiều thua thiệt

    Từng bước thiết lập quan hệ và mở các văn phòng đại diện tại các nước trong khu vực để tìm hiểu và thâm nhập vào thị trường tài chính tiền tệ thế giới, nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và góp phần thúc đẩy Sacombank trở thành một tập đoàn tài chính lớn.

    4.    Giải pháp về việc lựa chọn và phát triển các ngân hàng đại lý

    Tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động TTQT, củng cố mối quan hệ đối ngoại vốn có với các ngân hàng đại lý nước ngoài.

    Tiếp tục mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng nước ngoài theo định hướng lựa chọn các ngân hàng, các đối tác nước ngoài có uy tín, phù hợp trong từng lĩnh vực để xây dựng các mối quan hệ ngân hàng đại lý chặt chẽ.

    Những thuận lợi của việc sử dụng mối quan hệ với các ngân hàng đại lý là chi phí thâm nhập thị trường nước ngoài thấp, học hỏi được những kinh nghiệm cũng như công nghệ của họ.

    Việc mở rộng quan hệ đại lý còn là một trong những yếu tố giúp lôi kéo khách hàng về Sacombank do chi phí thanh toán và trung gian cho việc thanh toán nước ngoài thấp hơn so với một ngân hàng trong nước không có quan hệ đại lý với nước ngoài.

    Định kỳ đánh giá, cập nhật thông tin về ngân hàng đại lý để có sự điều chỉnh quan hệ đại lý phù hợp với tình hình vận động của thế giới.

    Đánh giá uy tín của các ngân hàng nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm lực chọn những ngân hàng đại lý có uy tín cao trên thị trường quốc tế. việc đánh giá này phải dựa vào những tài liệu của các tổ chức quốc tế có uy tín,có độ tin cậy cao.

    Một số tiêu chí đánh giá uy tín của các ngân hàng đại lý:

    Môi trường kinh tế toàn cầu

    Những thành tựu đạt được.

    Uy tín, thương hiệu

    Phần 5: Một Số Kiến Nghị

    I.             Một số kiến nghị với Nhà nước:

    Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động TTQT và kinh doanh tiền tệ đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ, minh bạch, phù hợp với các thông  lệ quốc tế.

    Ban hành các chính sách và cơ chế thích hợp vừa phù hợp với lộ trình thực hiện cam kết của WTO  trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng vừa bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong nước trước sự tham gia ngày càng rộng lớn của các tập đoàn tài chính lớn nước ngoài.

    Ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các ngân hàng trong việc đầu tư nhằm hiện đại hóa ngân hàng.

    Công tác xúc tiến thương mại cần được củng cố và duy trì thường xuyên, thông qua các tham tán thương mại của Việt Nam ở nước ngoài, giới thiệu các ngân hàng trong nước đến nước ngoài, đồng thời cung cấp các thông tin về các ngân hàng nước ngoài cho các ngân hàng trong nước.

    Ngoài ra, Hệ thống số liệu và dữ liệu thông tin chuyên ngành, trực tiếp phục vụ công tác dự báo kinh tế chưa có tính thống nhất. Hiện tại. các thông tin kinh tế thường của Việt Nam bị phân tán và thiếu chuẩn hóa thống nhất giữa các nguồn và đơn vị quản lý. Cần phải khắc phục và hoàn thiện

    Nhà nước cần có những chính sách quản lý, dự báo hợp lý để vận hành tốt thị trường tiền tệ nói riêng và nền kinh tế nói chung, tránh tình trạng xảy ra lạm phát cao như năm nay, ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động của hệ thống ngân hàng trong nước.

    II.           Một số kiến nghị với Ngân hàng trung ương

    Trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành, Ngân hàng nhà nước cần phải có các văn bản dưới luật hướng dẫn các nghiệp vụ thanh toán quốc tế.

    Cần phải có văn bản quy định mối quan hệ về nghĩa vụ, trách nhiệm quyền lợi của nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu và các ngân hàng tham gia sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C trên cơ sở luật quốc gia

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường trao đổi cung cấp các loại ngoại tệ nhằm giải quyết các mối quan hệ ngoại tệ giữa các ngân hàng với nhau. Vì vậy việc hoàn thiện và phát triển thì trường này của ngân hàng nhà nước Việt Nam  vừa là một trong những điều kiện quan trọng để các ngân hàng thương mại mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh vừa là cơ sở cho việc hình thành thị trường hối đoái hoàn chỉnh ở Việt Nam .

    Xây dựng cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với thực tế.

    Ngân hàng nhà nước cần nâng cao dự trữ ngoại tệ tương ứng với nhịp độ phát triển của kim ngạch xuất nhập khẩu, xác định cơ cấu dự trữ trên cơ sở đa dạng hóa rổ ngoại tệ mạnh, không nên neo giữ đồng VND và USD trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ có nhiều biến động lớn.

    Cần phải có tầm nhìn chiến lược dài hạn về thị trường tài chính tiền tệ quốc tế cũng như trong nước, tránh tình trạng như năm vừa qua việc Ngân hàng nhà nước yêu cầu các Ngân hàng TMCP mua tín phiếu bắt buộc làm ảnh hưởng đến nguồn vốn hoạt động của các Ngân hàng kéo theo hậu quả là việc tài trợ thương mại bị giảm sút vì các Ngân hàng TMCP không đủ nguồn vốn cho vay.

    Ngoài ra, Ngân hàng nhà nước còn cần phải có những quy định về các phương thức thanh toán quốc tế hiện đại như Factoring, Forfeighting (Factoring và Forfeiting cũng gần gần giống nhau nghĩa là đều là dạng tài trợ những khoản phải thu nhưng Factoring dành cho những khoản tài trợ ngắn hạn còn Forfeiting dành cho những khoản trung và dài hạn và withour recourse.), Packing Credit (tài trợ pre shipment), Bill Purchase…vốn đã rất phổ biến trên thế giới nhưng lại là một dịch vụ còn rất mới ở Việt Nam..

    Không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm tín dụng Ngân hàng nhà nước (CIC)

    III.          Một số kiến nghị với Sacombank.,

    Về việc xây dựng lại biểu phí hợp lý mang tính cạnh tranh hơn: những phí còn thấp so với các ngân hàng khác thì nên tăng lên nhằm tăng doanh thu , chẳng hạn việc tính phí cho một BCT có BHL chỉ là 40$ trong khi các ngân hàng quốc tế khác phí bất hợp lệ cao hơn nhiều.

    Cần nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn về sản phẩm của Ngân hàng cho nhân viên quan hệ khách hàng nói riêng và toàn bộ nhân viên Ngân hàng nói chung, tránh tình trạng khi khách hàng cần tư vấn thì nhân viên không đủ nghiệp vụ và chuyên môn, làm khách hàng phàn nàn.

    Cần xây dựng một hệ thống tuyển dụng nhân sự bài bản, chuyên nghiệp, đưa ra được những nhu cầu, tiêu chỉ tuyển dụng rõ ràng. Tránh tình trạng tuyển dụng không mục đích làm gia tăng chi phí. Cần học hỏi những kiến thức từ các ngân hàng khác trong cùng hệ thống ngành.

    Nên áp dụng một hệ thống đo lường tiêu chuẩn nhất định để chuẩn hóa quy trình hoạt động của hệ thống ngân hàng Sacombank nói chung và phòng thanh toán quốc tế nói riêng vừa nhằm nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên, vừa tạo được uy tín, niềm tin nơi khách hàng.

    Cũng như việc tuyển dụng nhân sự, Sacombank cần có một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá ngân hàng đại lý nhằm mở rộng những đại lý nước ngoài có uy tín và chấm dứt quan hệ những đại lý hoạt động không hiệu quả.

    Vì phòng TTQT và phòng kinh doanh ngoại tệ có quan hệ mật thiết với nhau, do đó phòng kinh doanh ngoại tệ cần phải có những chích sách và chiến lược kinh doanh đúng đắn và phù hợp nhằm hạn chế việc không đủ nguồn ngoại tệ cho việc tài trợ thương mại, dẫn đến việc khách hàng sẽ tìm kiếm một ngân hàng khác.

    Phát triển đa dạng các loại hình thanh toán quốc tế nhăm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Lý thuyết tài chính tiền tệ: Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam

    Đồ án Lý thuyết tài chính tiền tệ: Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam

    Đồ án Lý thuyết tài chính tiền tệ: Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngaybản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Trắc nghiệm thanh toán quốc tế có lời giải


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-L%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C3%A1c-h%C3%ACnh-th%E1%BB%A9c-thanh-to%C3%A1n-kh%C3%B4ng-d%C3%B9ng-ti%E1%BB%81n-m%E1%BA%B7t-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Lý thuyết tài chính tiền tệ: Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam

     
    CHƯƠNG 2 :

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển đã kéo theo các phương thức thanh toán phát triển, phương thức này là sự kế thừa và phát triển của phương thức trước đó. Khắc phục những nhược điểm của phương thức thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt là phương thức thanh toán mới ưu việt hơn, đáp ứng một cách tốt hơn cho yêu cầu của sự phát triển kinh tế.

     

    Hiện nay ở rất nhiều nước trên thế giới việc thanh toán không dùng tiền mặt đã trở nên quen thuộc với mỗi người dân, trong khi đó ở Việt Nam khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt còn chiếm tỷ lệ rất hạn chế. Thanh toán không dùng tiền mặt chưa được người dân chấp nhận rộng rãi, thậm chí nhiều người còn chưa nhìn thấy tờ séc, tấm thẻ tín dụng bao giờ. Có thể nói một chúng ta chưa phát huy được tính ưu việt của thanh toán không dùng tiền mặt và như vậy chúng ta chưa tận dụng hết các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của nền kinh tế.

     

    Hiện nay khi mà thanh toán bằng tiền mặt đang là phổ biến thì việc tìm ra giải pháp cho sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt là rất cần thiết tuy rằng điều đó không đơn giản. Nó đòi hỏi phải có sự quan tâm, nghiên cứu một cách đầy đủ, phải có cái nhìn sâu hơn, rộng hơn. Với mong muốn các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sẽ ngày càng được chấp nhận rộng rãi em đã chọn đề tài : “Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam”.

     

    Nội dung chính của đề tài bao gồm :

     

    CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT.

     

     

     

    THỰC TRẠNG VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

     

     

     

     

    CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

     

    1

     

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    • Giới hạn Đề tài :Với mong muốn thanh toán không dùng tiền mặt sẽ phát triển và được chấp nhận rộng rãi, nhất là các cá nhân, ở đề án này em chỉ tập trung vào hai hình thức thanh toán là Séc và Thẻ Thanh Toán – hai hình thức tiện dụng nhất và các cá nhân nên sử dụng nhất.

     

    • Đối tượng của Đề án : Chủ yếu của đề án là các cá nhân, người tiêu dùng trong các hoạt động thanh toán.

     

    • Phương pháp nghiên cứu :

    Đây là đề tài rộng, phức tạp và được nhiều ngưòi quan tâm, vì vậy với kiến thức còn hạn chế trong phạm vi đề tài này em mới chỉ dừng lại ở việc tổng hợp lại một số lý thuyết đã có, tham khảo các tài liệu, tạp chí, so sánh với thực trạng của Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số nhận xét ban đầu và các giải pháp cho vấn đề này.

    Do khả năng phân tích đánh giá thực tế và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, đề tài rộng, thời gian nghiên cứu không nhiều cho nên những vấn đề đưa ra, các nhận xét đánh giá và kiến nghị chắc chắn không tránh khỏi sai sót, lệch lạc. Em rất mong được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo để đề án của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    Hà Nội, 10/2004.

    2

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Chương 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT.

    1.1 lưu thông tiền tệ.

    1.1.1 Khái niệm và vai trò của lưu thông tiền tệ.

    • Lưu thông tiền tệ là sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế để thực hiện các quan hệ thương mại, hàng hoá, phân phối thu nhập, hình thành nguồn vốn và phúc lợi xã hội.

    Có thể nói, sự lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế đóng vai trò như hệ thống mạch máu trong một cơ thể sống, nếu hệ thống mạch máu này hoạt động tốt thì cơ thể sẽ khoẻ mạnh và phát triển, ngược lại nếu hệ thống mạch máu này hoạt động trục trặc, hoặc hơn thế nữa là bị tắc nghẽn thì cơ thể sẽ ốm yếu và sẽ không thể phát triển bình thường.

    1.1.2 Các hình thức lưu thông tiền tệ.

    1.1.2.1     Lưu thông bằng tiền mặt:

    +khái niện: Đó là sự vận động của tiền mặt trong nền kinh tế phục vụ cho các quan hệ thương mại với quy mô nhỏ và trong nội bộ dân cư là chính.

    Đây là hình thức trong đó tiền tệ và hàng hoá đồng thời vận động với nhau.

    • Ưu điểm : Đây là hình thức đơn giản, chu chuyển nhanh, không gây ách tắc trong chu chuyển và nó có hiệu quả kinh tế cao đối với người tham gia lưu thông.
    • Nhược điểm :
    • Tốn kém về mặt chi phí lưu thông tiền tệ như : in ấn, bảo quản, tổ chức lưu thông…

    3

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    – Gây ra những hiện tượng tiêu cực xã hội : Trộm cắp, rửa tiền, trốn

    thuế…

    – Nạn tiền giả.

    1.1.2.2 Lưu thông không dùng tiền mặt:

    • khái niệm: Đây là hình thức lưu thông trong đó tiền tệ và hàng hoá vận động tưông đối độc lập với nhau, đáp ứng cho nhu cầu thanh toán với quy mô lớn, thông thường là các doanh nghiệp.
    • Nhược điểm :
    • Phải có trình độ nhất định mới tham gia được.
    • Mọi thanh toán phải thông qua ngân hàng.
    • Trang bị cơ sở vật chất ban đầu khá tốn kém.

    -Vấn đề bảo mật.

    • Ưu điểm :
    • Khắc phục được một phần chi phí lưu thông.
    • Tăng cường khẳ năng kiểm soát của nhà nước, của ngân hàng.
    • Tạo ra sự văn minh lịch sự trong thanh toán

    1.2 Sự cần thiết phải phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

    1.2.1 Nguồn gốc của thanh toán không dùng tiền mặt.

    Trong xã hội loài người, nếu còn sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá, thì sự tồn tại của mối quan hệ Tiền – Hàng là một tất yếu khách quan. Đó là mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau.

    Theo tiến trình lịch sử hình thành tiền tệ, đồng tiền đã có những bước phát triển từ thấp đến cao. Trong nền kinh tế tự nhiên khép kín, do nhu cầu còn rất

    4

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    đơn giản con người tự sản xuất được những gì mình cần và do đó họ không có nhu cầu trao đổi. Khi xã hội phát triển và mở rộng hơn, họ thấy rằng mình không thể tự sản xuất mọi thứ mà mình cần do nhiều lý do, lúc này nhu cầu trao đổi xuất hiện và vấn đề là trao đổi như thế nào. Vấn đề trùng lắp nhu cầu xuất hiện. Nhưng không phải lúc nào và ở đâu cũng có sự trùng lắp nhu cầu. Muốn trao đổi được hàng hoá người ta nghĩ tới một hàng hoá mà nhiều người cùng cần, đó là vật đứng ra làm vật ngang giá chung – hình thức đầu tiên của tiền tệ. Lúc đầu vật ngang giá chung rất đơn giản, nó có thể là vỏ sò vỏ hến hay con bò, miếng đồng…Do yêu cầu thuận tiện trong trao đổi người ta thấy rằng cần phải có vật ngang giá chung thế nào đó dễ vận chuyển, dễ chia nhỏ, không hao mòn và có thể tích trữ dùng cho sau này. Con người đã chọn vàng.

    Sản suất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá đưa vào lưu thông càng nhiều, đòi hỏi phải có thêm lượng tiền đưa vào thêm đáp ứng nhu cầu của hàng hoá đưa vào lưu thông. Hơn nữa người ta thấy rằng trong mua bán chịu, tờ giấy ghi nợ cũng có giá trị như tiền vậy. Tiền giấy ra đời và nó đã giúp cho việc trao đổi hàng hoá diễn ra thuận lợi hơn rất nhiều.

    Nhưng sản xuất không ngừng phát triển, khối lượng tiền đưa vào lưu thông ngay một lớn, đặc biệt là khi có lạm phát. Tiền giấy bộc lộ những hạn chế nhất định như : Chi phí in ấn, bảo quản, tiền giả, kiểm đếm…Hơn nữa trong nền kinh tế phát triển như ngày nay khối lượng tiền trong một giao dịch là rất lớn, nếu thanh toán bằng tiền mặt thì rõ ràng là bất tiện. Như vậy đòi hỏi phải có phương thức thanh toán mới ưu việt hơn khắc phục được những hạn chế trên, phù hợp với một giai đoạn phát triển kinh tế mới.Thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện như một tất yếu, thể hiện bước phát triển và hoàn thiện

    • đỉnh cao của lịch sử phát triển của tiền tệ.

    1.2.2 Sự cần thiết phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

    5

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Thanh toán là cầu nối giữa sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng. Đồng thời nó cũng là khâu mở đầu và là khâu kết thúc của quá trình tái sản xuất xã hội. Tổ chức tốt công tác thanh toán nói chung sẽ tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách trôi chảy nhịp nhàng. Ngược lại việc thanh toán bị trục trặc, ách tắc thì quá trình sản xuất kinh daonh sẽ lâm vào trì trệ.

    Hiện nay khi mà nền kinh tế thế giới đã phát triển sang một giai đoạn mới, lúc này ngân hàng phải phát huy đầy đủ các chức năng của mình đó là trung tâm thanh toán trong nền kinh tế.

    • đây ta hiểu thanh toán không dùng tiền mặt là sự vận động của tiền tệ với chức năng là phưong tiện thanh toán giữa các tổ chức cá nhân trong xã hội bằng cách trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản này sang tài khoản khác hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian thanh toán của ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác.

    Đối với nền kinh tế thị trường thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò rất lớn.

    • Đối với nền kinh tế nói chung :
    • Thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ phục vụ cho các hoạt động của các tổ chức, cá nhân mà nó còn góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.
    • Thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hoá , vật tư, tăng nhanh tốc độ lưu chuyển vốn trong nền kinh tế.
    • Đối với ngân hàng :
    • Thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho ngân hàng tập chung được các nguồn vốn trong dân cư.

    6

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    • Giúp cho ngân hàng có được khoản thu từ phí cung cấp dịch vụ thanh toán ổn định và an toàn.
    • Tạo điều kiện cho Ngân hàng nhà nước kiểm soát và điều tiết lượng tiền đi vào lưu thông, từ đó có các chính sách phù hợp tác động vào nền kinh tế.

    -Với vai trò là các trung gian tài chính việc thanh toán qua ngân hàng giúp cho việc thu thập các nguồn thông tin về doanh nghiệp và sự chuyển dịch vốn trong nền kinh tế. Tạo điều kiện cho việc thẩm định các dự án đầu tư được tố hơn.

    • Đối với xã hội :

    – Tạo môi trường thanh toán văn minh, lịch sự, thuận tiện và nhanh chóng.

    • Giúp người dân có thói quen thanh toán qua ngân hàng và sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
    • Hạn chế nạn tiền giả, rửa tiền, thành lập các quỹ đen…

    1.3  Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

    Theo quyết định 22/NH 21/01/1994 do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được áp dụng trong hệ thống ngân hàng bao gồm : Séc, Uỷ nhiệm chi, Uỷ nhiệm thu, Thư tín dụng, Ngân phiếu thanh toán, Thẻ thanh toán.

    Quyết định 22/QĐ-NH1 ngày 21/12/1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là văn bản hướng dẫn đầy đủ nhất về TTKDTM. Tuy nhiên, bản thân nội dung văn bản này cũn nhiều bất cập. Điều 7 Quyết định đưa ra các hỡnh thức TTKDTM: sộc, ủy nhiệm chi – chuyển tiền, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, ngân phiếu thanh toán, thẻ thanh toán. Một số chuyên gia cho rằng ngân phiếu thanh toán không phải là TTKDTM mà chẳng qua là một loại tiền mệnh giá lớn. Cũn nếu coi ủy nhiệm chi – chuyển tiền là một thể thức TTKDTM thỡ

    7

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    là sai về khỏi niệm, vỡ ủy nhiệm chi là một thể thức thanh toỏn, nhưng chuyển

    tiền lại là phương thức thanh toán…

    Gần đây nhất theo quyết định số 235/2002/QĐ-NHNN ngày 27/03/2002 của thống đốc NHNN về việc chấm dứt việc phát hành trái phiếu thanh toán. Theo đó kể từ ngày 1/4/2002 NHNN sẽ không phát hành ngân phiếu thanh toán nữa. Vậy nên với nội dung chính của đề tài là các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay tại Việt Nam nên em xin không đề cập đến hình thức thanh toán bằng ngân phiếu thanh toán, Uỷ nhiệm thu, Uỷ nhiệm chi.

    1.3.1 Thanh toán bằng Séc.

    Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng của ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình mở tại ngân hàng để trả cho người cầm Séc hoặc cho người được chỉ định trên tờ Séc ( tổ chức kinh tế hay cá nhân ).

    Séc là một mệnh lệnh, chứ không phải là một yêu cầu, do đó khi nhận được Séc Ngân hàng chấp nhận vô điều kiện, trừ trường hợp tài khoản của người phát hành không đủ hoặc không có tiền trả.

    Cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt của nước ta quy định về xử phạt những tờ Séc phát hành quá số dư tiền gửi hoặc tiền lưu ký như sau :

    + Người phát hành Séc phải chịu phạt bằng 30% số tiền phát hành quá số

    dư.

    • Người phát hành Séc phỉa chịu phạt về chậm trả ( kể từ ngày tờ Séc quay về ngân hàng phục vụ người phát hành Séc đến ngày có đủ tiền thanh toán).

    Ngoài ra nếu người chủ tài khoản vi phạm phát hành Séc đến tờ thứ hai, Ngân hàng nhà nước trung ương sẽ thông báo đến tất cả các ngân hàng, khách hàng phát hành Séc quá số dư sẽ bị đình chỉ việc sử dụng loại Séc đó, thời gian

    8

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    đình chỉ tối thiểu là 3 tháng. Trường hợp việc vi phạm nguyên tắc phát hành Séc dẫn tới hậu quả nghiêm trọng thì Người phát hành Séc sẽ bị truy tố theo quy định của pháp luật.

    Các loại Séc bao gồm :

    – Séc chuyển khoản.

    Séc chuyển khoản – Séc thông thường là loại Séc được sử dụng rộng rãi, nó có giá trị thanh toán như tiền tệ, do đó trên tờ séc phải có đầy đủ những yếu tố bắt buộc theo luật định. Thông thường séc được in sẵn, người phát hành chỉ việc điền vào chỗ quy định bằng loại mực không phai.

    Viẹc ghi trên tờ séc phải bảo đảm tính hợp lệ, hợp pháp đối với việc sử dụng Séc. Séc chuyển khoản cũng như các loại séc khác chỉ có hiệu lực trong phạm vi thời hạn nhất định. Bởi vậy trong thời hạn hiệu lực của tờ Séc ngân hàng phải thanh toán ngay khi người thụ hưởng Séc nộp Séc vào ngân hàng. Cơ chế sử dụng Séc chuyển khoản hiện nay quy định : Thời hạn hiệu lực của Séc là 10 ngày và séc chuyển khoản chỉ được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở một chi nhánh ngân hàng hoặc khác chi nhánh ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ và giao nhận chứng từ trực tiếp hàng ngày.

    – Séc bảo chi và Séc định mức.

    Séc bảo chi và Séc định mức là loại Séc xác nhận được ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán và chống lại việc phát hành khống.

    – Séc chuyển tiền.

    Séc chuyển tiền hay Séc chuyển tiền cầm tay là một loại chuyển tiền được sử dụng theo yêu cầu của khách hàng. Việc chuyển tiền mặt giữa các tỉnh thành phố qua ngân hàng được các ngân hàng thực hiện bằng phương thức chuyển tiền nhanh bằng điện đến địa chỉ người lĩnh tiền, hoặc cấp séc chuyển tiền cho khách hàng.

    9

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    – Séc cá nhân.

    Séc cá nhân được áp dụng đối với khách hàng có tài khoản tiền gửi đứng tên cá nhân tại ngân hàng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác.

    Hiện nay theo quy định của ngân hàng Séc cá nhân có số tiền trên 5 triệu phải làm thủ tục bảo chi Séc, người thụ hưởng phải yêu cầu người phát Séc xuất trình CMND để kiểm tra và chỉ nhận Séc do đích thân người có tên trên và sau tờ Séc và phải ký tên tại chỗ.

    Thời hạn hiệu lực của Séc cá nhân là 10 ngày và chỉ được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở một chi nhánh ngân hàng hoặc khác chi nhánh ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ và giao nhận chứng từ trực tiếp hàng ngày.

    1.3.2 Thanh toán bằng hình thức thẻ thanh toán.

    Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn với kỹ thuật tin học ứng dụng trong ngân hàng. Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng của mình ( các doanh nghiệp, cá nhân ) để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, thanh toán nợ và lĩnh tiền mặt. Ở một số nước các hãng, các công ty lớn cũng phát hành thẻ thanh toán để thu tiền bán hàng của hãng mình.

    Thẻ thanh toán bao gồm thẻ từ và thẻ điện tử. Thẻ từ là loại thẻ dùng kỹ thuật băng từ để ghi và đọc thông tin trên thẻ. Thẻ điện tử là loại thẻ có gắn bộ nhớ vi điện tử trên thẻ, ghi và đọc thông tin qua bộ nhớ vi điện tử.

    Có 3 loại thẻ thanh toán được áp dụng :

    –  Thẻ thanh toán không phải ký quỹ.

    10

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Người sử dụng thẻ không phải lưu ký tiền vào tài khoản để đảm bảo thanh toán. Căn cứ để thanh toán là số dư tài khoản tiền gửi của người chủ sở hữu thẻ mở tại ngân hàng với hạn mức tối đa do ngân hàng quy định. Hạn mức được ghi vào bộ nhớ của thẻ nếu là thẻ điện tử, vào giải băng từ nếu là thẻ điện tử.

    • nước ta quy định thẻ thanh toán không phải ký quỹ là loại thẻ A. nó được áp dụng cho những khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán tốt và thường xuyên, có tín nhiệm với ngân hàng.
    • Thẻ thanh toán phải ký quỹ trước tại ngân hàng .

    Người sử dụng thẻ phải lưu ký một số tiền nhất định vào tài khoản để đảm bảo thanh toán. Số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và được ghi vào bộ nhớ của thẻ.

    Loại thẻ này được quy định là loại thẻ B, nó được áp dụng với mọi loại khách hàng.

    – Thẻ tín dụng.

    Thẻ tín dụng là loại thẻ không phải ký quỹ và được quy định là loại thẻ C. Nó được áp dụng đối với những khách hàng được vay vốn ngân hàng. Mức tiền cho vay là hạn mức tín dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ.

    11

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Chương 2

    THỰC TRẠNG VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG

    TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.

    2.1 Những quy định mang tính nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt .

    Thanh toán không dùng tiền mặt là nghiệp vụ trung gian của ngân hàng, nghiệp vụ này có liên quan chặt chẽ đến quan hệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ của tất cả các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế. Để hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt diễn ra thuận lợi, an toàn, bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia, cần phải thống nhất công tác tổ chức và có những quy định cụ thể. Ngân hàng nhà nước đã có quy định như sau :

    2.1.1 Quy định chung.

    Các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, đoàn thể, cá nhân được quyền lựa chọn ngân hàng để mở tài khoảngiao dịch và thực hiện thanh toán.

    Việc mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, kho bạc nhà nước thì thực hiện qua tài khoản được ghi bằng đồng Việt Nam. Trường hợp ghi bằng ngoại tệ phải thực hiệntheo quy chế quản lý ngoại hối của chính phủ Việt Nam ban hành.

    2.1.2 Quy định đối với ngân hàng.

    Thực hiện uỷ thác thanh toán của chủ tài khoản, bảo đảm chính xác, an toàn, thuận tiện. Các ngân hàng và kho bạc có trách nhiệm chi trả bằng tiền mặthoặc chuyển khoản trong phạm vi số dư tiền gửi theo yêu cầu của chủ tài khoản.

    12

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản trước khi thực hiện thanh toán và được uỷ quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ tiền, đồng 1thời không chịu trách nhiệm về những nội dung liên đới của bên khách hàng.

    Nừu thiếu sót trong quá trình thanh toán, gây thiệt hại cho khách hàng thì ngân hàng và kho bạc phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và tuỳ theo mức độ thiệt hại mà có thể bị xử lý theo pháp luật.

    Khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng ngân hàng được thu phí theo quy định của thống đốc Ngân hàng nhà nước.

    2.1.3 Quy định đối với khách hàng.

    Để đảm bảo thực hiện thanh toán đầy đủ kịp thời, các chủ tài khoản phải có đủ tiền trên tài khoản, mọi trường hợp thanh toán quá số dư là phạm pháp và phải xử lý theo quy định của pháp luật.

    Chủ tài các chứng từ hàng.

    khoản phải lập chứng từ theo mẫu in sẵn do ngân hàng ấn hành và phải đầy đủ các yếu tố quy định về mẫu, chữ ký dăng ký tại ngân

    2.2  Thực trạng về các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

    Đã có một thời, việc kiểm soát tiền mặt tồn quỹ được thực hiện ráo riết, tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) tăng cao, thanh toán bằng tiền mặt giảm mạnh. Nhưng biện pháp hành chính đó không phù hợp với cơ chế thị trường. Đến nay, nhiều chuyên gia ngân hàng cho rằng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam vẫn chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 30% tổng doanh số thanh toán trong nền kinh tế. Nhiều nghìn tỷ đồng tiền mặt đang rải rác trong từng cá nhân, gia đình, quỹ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp để thanh toán trực tiếp khi mua hàng, kể cả mua bất động sản trị giá hàng tỷ đồng. Sử dụng tiền mặt phổ biến trong thanh toán vừa gây nhiều lãng phí, vừa là kẽ hở lớn

    13

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    cho nạn tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế luồn lách, lẩn trốn sự kiểm soát của Nhà nước và xã hội.

    Đến nay dân số Việt Nam có 80 triệu người, trong đó 80% là nông nghiệp có thu nhập thấp, 20% còn lại phân bổ thu nhập không đều. Bình quân thu nhập 400 USD/ 1 người/ 1 năm (là nước có thu nhập thấp so với thế giới) hệ thống ngân hàng Việt Nam gồm Ngân hàng Trung Ương và 64 chi nhánh trong cả nước. Hệ thống các ngân hàng Thương mại và tổ chức tín dụng đa dạng (80 đơn vị); bao gồm: 5 ngân hàng Thương mại Quốc doanh, 24 NHCP đô thị; 12 NHCP nông thôn; 4 ngân hàng liên doanh, 34 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 1 quý tín dụng nhân dân trung ương và 90 quý tín dụng nhân dân cơ sở và 13 tổ chức tài chính phi ngân hàng. Về giải pháp công nghệ mới có 0,8 ngân hàng đã có hệ thống kế toán tập trung tài khoản, 12 ngân hàng đã có máy ATM, 20 ngân hàng đã phát hành thẻ thanh toán, 42 ngân hàng đã tham gia hệ thống thanh toán quốc tế, 3 ngân hàng đang triển khai ứng dụng dịch vụ Internet banking. Với hệ thống rộng lớn này là các điều kiện rất cơ bản, có nhiều cơ hội sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt trong hoạt động ngân hàng

    Trong thời kỳ tập trung bao cấp, Nhà nước ta cũng rất quan tâm đề ra những chủ trương lớn về việc sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơ chế mệnh lệnh hành chính quan liêu cùng với hệ thống ngân hàng một cấp, việc mở rộng thanh toán chuyển khoản chỉ phát huy hiệu lực trong bộ phận kinh tế nhà nước. Lợi ích chính đáng và hợp pháp của chủ thể thanh toán không được tôn trọng đúng mức chính là lý do làm cho những chủ trương nói trên trở nên kém thực thi, thậm chí còn bị biến dạng trở thành phương tiện thể hiện quyền lực nhằm mục đích gây sách nhiễu, phiền hà. Trước năm 1985, thanh toán không dùng tiền mặt chiếm 80%, nhưng trong cuộc lạm phát phi mã 1985 – 1988, thanh toán

    14

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    không dùng tiền mặt sút giảm ghê gớm vì tiền mặt khan hiếm đến mức các ngân hàng quốc doanh khi đó, với thế độc quyền, đã khất chi tiền mặt. Một cái séc chuyển khoản nộp vào ngân hàng phải 15 ngày sau mới tính ra bằng tiền mặt được.

    Thực tế trên đã ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay, nhất là khi nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trường. Mọi việc lại trở nên “quá đà” khi xã hội không chấp nhận rộng rãi các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Hệ thống thanh toán thông qua định chế tài chính – ngân hàng mặc dù có bước phát triển vượt bậc so với trước đây, nhưng nhìn chung còn bất cập trong xu thế hội nhập quốc tế, chưa đi vào cuộc sống, thậm chí còn rất xa lạ với đại đa số dân cư.

    Thực trạng xã hội nước ta vẫn là “một quốc gia sử dụng quá nhiều tiền mặt” như nhận xét của nhiều khách nước ngoài. Thực trạng đó theo Phó Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng : “…làm cho việc điều hoà lưu thông tiền tệ và quản lý kho quỹ rất khó khăn, phân tán, tốn kém, ảnh hưởng rất lớn đến việc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và cấu trúc lại hệ thống…”.

    2.2.1 Thanh toán bằng Séc.

    Ngày 9/5/1996, chính phủ đã ban hành nghị định 30 về phát hành và sử dụng Séc. Ngày 27/12/1996 Ngân hàng nhà nước đã ban hành thông tư 07 hướng dẫn việc thi hành nghị định trên của chính phủ. Những văn bản pháp quy về phát hành và sử dụng Séc có hiệu lực hơn 5 năm nay. Nhưng, Séc vẫn chưa đi vào cuộc sống. Như vậy, những văn bản pháp quy trên, nhất là thông tư 07 của Ngân hàng nhà nước có những điểm chưa phù hợp, nên Séc chưa đi vào cuộc sống. Ta có thể thấy rõ điều này qua các con số thống kê về thanh toán không dùng tiền mặt tại TP. Hồ Chí Minh.

    15

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    TP.HCM là một thành phố lớn có tốc độ phát triển và thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước. Nhưng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt cũng phát triển rất “ì ạch”.Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi được ưa chuộng nhất trong khâu thanh toán do thủ tục đơn giản, hiện đang chiếm vị trí tuyệt đối trong khâu thanh toán giữa các thể nhân và pháp nhân khác nhau trong nền kinh tế. Tính hết 6 tháng đầu năm nay, thể thức này chiếm tỷ trọng 90,97% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Trong khi đó, tỷ trọng thanh toán bằng séc qua ngân hàng còn rất khiêm tốn, tỷ trọng này chỉ là 0,31% trong tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt tại Tp.HCM tính đến 6 tháng đầu năm nay. Còn uỷ nhiệm thu, tỷ trọng thanh toán cũng rất thấp, chỉ bằng 2,07% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Vậy vì sao các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt ở một đô thị lớn như Tp.HCM lại phát triển chậm và lệch lạc như vậy?… dẫu rằng không phải chúng không thấy được tác dụng tích cực của nó.

    Đây là một ví dụ, dẫn chứng thực tế :

    Vừa qua, các doanh nghiệp (DN) lắp ráp xe gắn máy hai bánh đó mua linh kiện của cỏc DN sản xuất trong nước, thực hiện nội địa hoá, với số tiền hơn tỷ đồng, thanh toán một lần bằng tiền mặt để trốn thuế. Xảy ra hiện tượng này một phần là do dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng (NH) chưa phát triển, Chính phủ chưa ban hành cơ chế; phạm vi và số tiền tối đa được thanh toán bằng tiền mặt.

    • Mặc dù có nhiều công cụ thanh toán hiện đại xuất hiện, nhưng séc vẫn là một công cụ thanh toán phổ biến trên thế giới. Phần lớn ở các nước đều có Luật séc riêng, hoặc séc sẽ được quy định trong luật Thương Mại, hoặc nếu không sẽ sử dụng ngay Luật Thống nhất về séc, nên khi sử dụng séc tính pháp lý rất cao, quyền lợi của người sử dụng séc được đảm bảo. Còn ở Việt Nam chưa có luật Séc, trong Luật Thương mại cũng không quy định mà mới chỉ

    16

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    được ban hành dưới dạng Nghị định của Chính phủ. Song thực tế Nghị định này và Thông tư hướng dẫn của NHNN để thực hiện Nghị định về séc còn nhiều điểm chưa phù hợp, do vậy tính khả thi không cao, tính pháp lý chưa đảm bảo vững chắc, quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia sử dụng séc không rõ ràng.

    NGUYÊN NHÂN.

    • Một là, vấn đề mở tài khoản :

    Trong thông tư của Ngân hàng nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định 30 về phát hành và sử dụng séc chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và văn bản pháp quy của Ngân hàng nhà nước. Trong thông tư 07 dùng ngôn từ “tài khoản thanh toán” trong khi đó hệ thông kế toán của ngân hàng thương mại do Ngân hàng nhà nước ban hành chỉ có tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và tài khoản tiền gửi có kỳ hạn. Trên thế giới, doanh nghiệp, cá nhân cùng một lúc mở hai tài khoản tiền gửi tại ngân hàng và chỉ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn mới có quyền rút tiền mặt hoặc thanh toán không dùng tiền mặt.

    • Hai là, Hình thức tờ Séc do Ngân hàng nhà nước thiết kế không phù hợp với thực tế.

    Theo mẫu Séc kèm theo thông tư 07 của Ngân hàng nhà nước, người phát hành Séc ngoài việc ghi họ tên người thụ hưởng còn phải gi số ngày cấp và nơi cấp CMND ; số hiệu tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và địa chỉ người thụ hưởng. Điều này thực tế rất khó thực hiện. Ngườiphát hành Séc và người thị hươngr cùng thành phố, phải gặp nhau mới thực hiện được nội dung tờ Séc này yêu cầu.

    Nội dung trên là không cần thiết mà nên dành cho chi nhánh ngân hàng hoặc kho bạc nhà nước tiếp nhận tờ Séc. Khi đó người thụ hưởng Séc phải xuất trình Séc cùng chứng minh thư.

    17

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Trên tờ Séc đòi hỏi hai chữ ký : Kế toán trưởng và chủ tài khoản. Điều này gây phiền phức cho bên phát hành Séc. Các chuyên gia cho rằng trên tờ Séc chỉ cần một chữ ký của chủ tài khoản hoặc người dược chủ tài khoản uỷ quyền.

    – Ba là, phạm vi thanh toán của Séc qúa hẹp.

    Như trong phần lý luận chung ta đã thấy thanh toán bằng séc có phạm vi khá hẹp, không cho thanh toán ngoài hệ thống, ngoài địa bàn thành phố nên bị hạn chế. Thủ tục luân chuyển séc cũng chậm vì còn yêu cầu ghi nợ trước, ghi nợ sau. Trường hợp 2 đơn vị mua bán có tài khoản tại 2 nơi khác nhau, phải mất thời gian chuyển cho ngân hàng bên mua để ghi nợ trước rồi ngân hàng bên bán mới được ghi có sau vào tài khoản đơn vị bán. Việc này áp dụng với cả séc bảo chi gây không ít phiền hà cho khách vì phải lưu ký tiền trên tài khoản mà không rút ngắn được thời gian luân chuyển chứng từ.1

    – Với các dịch vụ thanh toán, việc sử dụng các công cụ thanh toán ban hành theo Nghị định 91/CP, Quy định 22-NH và Thông tư 08 của Ngân hàng Nhà nước về kinh doanh thương mại hiện nay không còn phù hợp với thực tế. Các hình thức thanh toán như séc định mức, thư tín dụng hoàn toàn không được sử dụng, séc chuyển tiền chỉ được sử dụng rất ít.

    – Một số thủ tục còn rườm rà như trong chế độ quy định khi mua séc, chủ tài khoản phải lập giấy đề nghị bán séc, đồng thời uỷ nhiệm chi trích tài khoản tiền gửi để mua séc, hay loại chứng từ cho cùng một nội dung. Một số trường hợp như người thụ hưởng séc nộp séc vào ngân hàng quá thời hạn thanh toán, đơn vị thu hộ chuyển séc chậm cho đơn vị thanh toán… phải đến UBND xã, phường nơi cư trú hoặc đóng trụ sở để xin xác nhận lý do bất khả kháng. Quy định này khiến cho công chúng cân nhắc việc lựa chọn sử dụng séc vì các cơ

    1 Theo thời báo ngân hàng ngày 11/1/2002

    18

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    quan chức năng nói trên chưa chắc đã am tường về séc để dễ dàng xác nhận trên chứng từ. Do đó, cần xác định rõ thế nào là yếu tố “bất khả kháng” để các cơ quan chức năng có thể dễ dàng xác nhận.

    Với tài khoản cá nhân, chỉ được uỷ quyền từng lần phát hành séc hoặc uỷ quyền trong một thời gian nhất định, mỗi lần uỷ quyền phải ra UBND huyện, quận xác nhận. Đối với pháp nhân, chủ tài khoản là người toàn quyền chịu trách nhiệm về sử dụng tài khoản của mình. Mỗi khi uỷ quyền tạm thời cho người khác, chủ tài khoản cũng phải ra UBND quận huyện xác nhận là điều vô lý. Đối với thời hạn hiệu lực, nếu chỉ cho phép có 15 ngày thì quá ngắn so với thông lệ ở các nước khác 6 tháng hay 1 năm. Do hiện nay, séc được phép chuyển nhượng nên nếu kéo dài thời hạn hiệu lực của tờ séc sẽ làm cho người thụ hưởng séc an tâm hơn, không phải lo đi minh chứng yếu tố bất khả kháng tại các cơ quan chức năng. Theo các chuyên gia, không cần ghi địa chỉ người phát hành séc vì họ đã có tài khoản tín dụng, và địa chỉ của họ đã lưu trong hồ sơ mở tài khoản. Cũng không cần ghi số chứng minh nhân dân của người thụ hưởng trên tờ séc vì một khi séc đã cho phép chuyển nhượng thì người thực sự trình séc lãnh tiền ở ngân hàng có thể không phải là người thụ hưởng có tên ghi trên séc, còn với séc vô danh thì người nào trình séc người đó lĩnh tiền.

    2.2.2 Thẻ thanh toán.

    Thanh toỏn bằng thẻ, dự cũn khỏ khiờm tốn nhưng được coi là khả quan và có chiều hướng phát triển vỡ đang hấp dẫn cá nhân sử dụng. Sau thời kỳ hoàng kim những năm đầu thập kỷ 90, tỡnh hỡnh sử dụng thẻ tớn dụng tại Việt Nam đó chững hẳn lại, và chỉ gần đây mới sôi động lên với sự tham gia của nhiều ngân hàng phát hành và thanh toán.

    19

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Ta có thể thấy thực trạng của hoạt động thanh toán thẻ qua sự phát triển và một số vấn đề của hình thức thanh toán này ở các ngân hàng lớn tại Việt Nam.

    2.2.2.1 Cỏc ngõn hàng trong cuộc đua ATM .

    Theo ông Nguyễn Thanh Toại, phó tổng giám đốc Ngân hàng Á châu (ACB): Rồi đây, trong cuộc đua sử dụng thẻ rút tiền tự động, các ngân hàng VN sẽ đi vào vết xe đổ như từng xảy ra tại Singapore: một siêu thị có tới hàng chục máy rút tiền.

    Automated Teller Machine (ATM) là hỡnh thức đang được nhiều ngân hàng thương mại phát triển, chủ yếu tại các thành phố lớn, nhằm giảm tải nhu cầu giao dịch bằng tiền mặt. Máy này cho phép chủ tài khoản có thể rút, chuyển tiền, xem số dư tài khoản…

    Hiện nay, Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng công thương, ACB, Vietcombank… đang ráo riết thương thảo các hợp đồng thuê chỗ đặt máy ATM. Sẽ lắp thêm 100 máy ở một số tỉnh, thành trong cả nước. Và hiện đang có 400 máy ATM khăp cả nước.

    Giải bài toán đầu tư phát triển dịch vụ thẻ thanh toán không phải dễ, cần có thời gian cho nhân viên làm quen với công việc mới cũng như để khách hàng chấp nhận sử dụng tiện ích mới. Vietcombank bắt đầu phát hành thẻ này từ năm 1993, nhưng đến tháng 12/1999 phải cho ngừng hoạt động vỡ khụng hiệu quả.

    Chi phí để mua máy (30.000 USD/máy) không tốn bằng chi phí vận hành hệ thống máy. Mỗi năm, ACB đó phải chi bạc tỷ cho trung tõm thẻ hoạt động, trong khi phải mất đến 5 năm, trung tâm này mới làm ra lói.

    Ngân hàng Nhà nước TP HCM vừa khuyến nghị các ngân hàng thương mại nên cân nhắc khi đầu tư và phát triển hệ thống ATM sao cho hiệu quả. Do

    20

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    thiếu phối hợp trong khâu phát hành thẻ nên thẻ của ngân hàng nào chỉ có thể rút được tiền từ máy của ngân hàng đó.

    Do vậy, nếu muốn tạo thuận lợi cho người rút tiền thỡ cựng một nơi công cộng, phải trang bị nhiều loại máy của từng ngân hàng khác nhau, rất lóng phớ. Trờn thực tế, hầu hết cỏc mỏy rỳt tiền hiện chỉ được lắp đặt tại ngay trụ sở ngân hàng, chưa có tại nơi công cộng, do vậy ít người sử dụng.

    2.2.2.2     Chưa thể ngăn chặn nạn dùng thẻ tín dụng giả.

    Thanh toán bằng thẻ tín dụng mới xuất hiện ở Việt Nam, nhưng đă xảy ra nhiều vụ sử dụng thẻ giả để mua hàng hóa, ăn chơi, thậm chí “móc trộm” của ngân hàng cả trăm nghń USD. Tuy nhiên, việc điều tra, tấn công loại tội phạm này mới dừng lại ở phần ngọn

    Trung tâm an toàn thẻ của tổ chức Master Card khu vực Châu á đánh giá cao công tác chống loại tội phạm này ở Việt Nam. Tuy nhiên, mọi việc điều tra, thu giữ, giám định thẻ giả được thực hiện lâu nay mới chỉ là phần ngọn, cṇ phần gốc là những tổ chức đường dây làm thẻ giả th́rất mờ mịt.

    Cơ quan Điều tra (Bộ Công an), cho biết, sử dụng thẻ tín dụng giả để lừa đảo xảy ra ở nhiều nước trên thế giới. Là thị trường mới áp dụng thẻ thanh toán không dùng tiền mặt, Việt Nam đang trở thành “điểm hẹn” của bọn tội phạm tiêu thụ thẻ giả, mà chủ yếu là người nước ngoài.

    2.2.2.3 Hệ thống ATM có được khai thác hiệu quả?.

    Hiện nay, hệ thống ATM đó bắt đầu được triển khai khá rộng rói tại cỏc ngõn hàng Việt Nam. Cú nhiều nguồn tin cho rằng việc đầu tư vào các hệ thống ATM là không có hiệu quả, bởi vỡ chi phớ vận hành hàng năm cho một máy ATM có thể lên tới 300 triệu đồng, trong khi đó số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ này thỡ lại quỏ ớt.

    21

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Hiện nay cú rất nhiều ý kiến cho rằng, cỏc ngõn hàng nờn cõn nhắc khi đầu tư và phát triển hệ thống ATM

    Khi cỏc ngõn hàng cú một khoản chi phớ, thay vỡ mua hoặc xõy thờm một trụ sở hay mở thờm một chi nhỏnh họ sẽ đầu tư trang bị máy ATM. Hệ thống ATM sẽ giúp cho xó hội được văn minh hơn và tăng các giao dịch không sử dụng tiền mặt. Việc đầu tư thêm thiết bị mới sẽ giúp các ngân hàng có phương tiện để kinh doanh hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc đầu tư vào hệ thống ATM để có lợi nhuận ngay thỡ đến nay trên thế giới vẫn chưa có ngân hàng nào thực hiện được, bởi vỡ để tính chi phí và doanh thu riêng cho một dịch vụ là rất khó. Một cá nhân sử dụng dịch vụ ATM có thể thực hiện nhiều giao dịch có liên quan khác như: kiểm tra các thông số về thẻ tín dụng, gửi nhận tiền và các dịch vụ khác… Do vậy việc đánh giá hiệu quả của dịch vụ này ngay khi đầu tư là rất khó.

    Cú một tỡnh trạng hiện nay là thẻ của ngõn hàng nào thỡ chỉ cú thể rỳt tiền từ mỏy ATM do ngõn hàng đó trang bị, điều này đó gõy ra rất nhiều bất lợi cho người sử dụng và lóng phớ. Cần phải làm gỡ để giải quyết được vấn đề này? Các ngân hàng có nên liên minh về hệ thống ATM?

    Đây là vấn đề sử dụng một hay nhiều thẻ. Nếu như không có một chuẩn công nghệ chung thỡ sẽ cú tỡnh trạng hàng trăm hệ thống dịch vụ sẽ tương ứng với hàng trăm loại thẻ khác nhau. Do vậy ở đây cần phải có vai trũ của Chớnh phủ trong việc tạo ra một cơ sở pháp lý để các ngân hàng hoạt động thống nhất với nhau trên một nền tảng công nghệ chung. Nền tảng công nghệ chung ở đây có nghĩa là mỗi ngân hàng có thể có một kiến trúc khác nhau nhưng sẽ có một chuẩn công nghệ quốc gia để các ngân hàng có thể giao tiếp được với nhau và các dịch vụ của ngõn hàng cú thể cung cấp cho khỏch hàng theo nhiều kờnh khỏc nhau. Và khi cú vai trũ của Chớnh phủ, thỡ chỉ cần cú một thẻ mà cỏc ngõn hàng vẫn thể cạnh tranh một cỏch bỡnh đẳng.

    22

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Cũn việc liờn minh giữa cỏc ngõn hàng về hệ thống ATM thỡ đây là vấn đề tự các ngân hàng nhận thấy là có cần thiết hay không? Về bản chất ATM chỉ là một trong 16 kênh dịch vụ của ngành tài chính ngân hàng.

    Xu hướng phát triển các dịch vụ từ hệ thống ATM?

    Hệ thống ATM không đơn giản là dịch vụ rút tiền tự động, mà hệ thống ATM cũn cho phộp ngõn hàng triển khai cỏc dịch vụ như tra cứu số dư tài khoản, tra cứu thông tin về tỷ giá, lói suất của ngõn hàng, chuyển khoản, thanh toỏn cỏc loại hoỏ đơn như tiền điện thoại, điện, nước, trả lương cho cán bộ công nhân viên. Thậm chí, hệ thống ATM có thể phát hành được các ấn phẩm như tem, vé xem phim…

    Hơn thế nữa, hệ thống ATM không chỉ dùng cho các giao dịch của ngân hàng, mà nó cũn liờn quan đến ngành thuế, hải quan, bảo hiểm và các ngành kinh tế khác. Trong tương lai, khi xó hội ngày càng phỏt triển thỡ khối lượng giao dịch tiền mặt sẽ ngày càng thấp đi, và xu hướng giao dịch bằng một thẻ sẽ là tất yếu. Trong xó hội hiện đại đó, một thẻ có thể dùng cho mọi giao dịch liên quan như: chứng minh thư, bảo hiểm, y tế, ngân hàng, các hệ thống siêu thị…

    Và người dùng sử dụng dịch vụ nào sẽ trả tiền cho dịch vụ đó. Tại khu vực châu Á, Hồng Kông và Malaysia là hai ví dụ điển hỡnh trong việc xõy dựng một lộ trỡnh hướng tới mọi giao dịch thông qua một thẻ duy nhất.

    Nếu ai đó từng sống hay đi qua các nước kinh tế phát triển, sẽ thấy các giao dịch thanh toán của người dân thông qua dùng thẻ thanh toán hay thẻ tín dụng là rất phổ biến, thậm chí có nước giá trị thanh toán đó lên đến trên 90% tổng giá trị thanh toán tiêu dùng. Vậy tại sao thanh toán bằng thẻ vẫn chưa thành hỡnh ở nước ta như ở các nước phát triển, thiết nghĩ cú 3 yếu tố:

    • Thứ nhất, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin của họ rất đầy đủ. Bởi vậy, hầu như tất cả các cửa hàng, thậm chí ở trong trường học họ đều có máy

    23

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    thanh toán tiền trực tuyến. Điều này Việt Nam chưa hội đủ điều kiện. Mặt khác luật pháp của Việt Nam chưa có quy định nào bắt buộc các cơ sở kinh doanh phải có máy thanh toán (quy định này có thể nằm trong Luật Doanh nghiệp chứ không cần phải quy định trong Luật các Tổ chức Tín dụng hay Luật Ngân hàng Nhà nước).

    • Thứ hai, nhỡn về vấn đề thu nhập ở các nước kinh tế phát triển, người dân có thu nhập đều và cao, do đó số dư tiền gửi trên tài khoản thanh toán là khoản tiền ổn định và khá lớn, số tiền này được gọi là khoản vốn vóng lai trong hoạt động ngân hàng. Do ngân hàng có thể sử dụng một phần số tiền đó để kinh doanh, nên khi người sử dụng tài khoản thanh toán thỡ chỉ phải trả một khoản phớ rất nhỏ hoặc thậm chớ bằng khụng. Núi dựng tiền mặt “rẻ hơn” tiền thẻ là hoàn toàn đúng với Việt Nam. Trên thực tế các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ khó có thể đưa ra giá thành rẻ hơn.
    • Thứ ba, về thói quen người tiêu dùng và trỡnh độ nhận thức, một phần do người dân và một phần do cả Ngân hàng Nhà nước cũn chưa quan tâm đến việc khuyến khích người dân dùng thẻ thanh toán. Thực sự ngạc nhiên, tại sao Ngân hàng Công thương lại lắp đặt hai máy rút tiền tự động trong Sở Giao dịch của Ngân hàng Nhà nước. Trong khi muốn để người dân tiếp cận việc thanh toán thẻ, cần có sự tiện lợi rút và gửi tiền qua các máy ATM. Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước chủ yếu lại là nơi giao dịch của các doanh nghiệp ngân hàng và một bộ phận nhỏ là cán bộ của Ngân hàng Nhà nước. Nếu số tiền đầu tư cho hai máy ATM trên được lấy từ quỹ hiện đại hóa ngân hàng do World Bank tài trợ thỡ quả là phớ, khụng hiệu quả về mặt kinh tế và chưa phục vụ cho việc phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.

    Thiết nghĩ, trên góc độ phát triển kinh tế, Ngân hàng Nhà nước nên quan tâm và đưa chiến lược phát triển thanh toán thẻ vào trong những chiến lược phát triển và củng cố hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam hiện nay.

    24

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Mặc dù chi phí đầu tư ban đầu lớn nhưng xét về tổng thể, thanh toán thẻ sẽ giảm chi phí cho nền kinh tế về in tiền, hủy tiền hiện nay, hạn chế tiền giả, tăng tính minh bạch trong nền kinh tế, kích thích tiêu dùng và đồng thời giúp cho việc chống tham nhũng ở nước ta. Theo nghiên cứu về kinh tế của nhiều nước, họ đều kết luận rằng người sử dụng thẻ tiêu dùng cao hơn dùng tiền mặt. Trong khi Chính phủ Việt Nam đang cần kích cầu nền kinh tế, thiết nghĩ đây có thể sẽ là đũn bẩy quan trọng.

    2.3      ĐÁNG GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

    2.3.1 MẶT TÍCH CỰC

    +Thị trường thẻ tín dụng “nóng” trở lại .

    Trong những năm đổi mới hệ thống các công cụ chủ yếu của Việt Nam bao gồm: séc; uỷ nhiệm chi; uỷ nhiệm thu; thư tín dụng; thanh toán điện tử – thẻ thanh toán, các công cụ thanh toán này được thực hiện trên các hệ thống thanh toán: Thanh toán điện tử liên ngân hàng: thanh toán bù trừ (trên địa bàn tỉnh, thành phố) thanh toán chuyển tiền điện tử liên ngân hàng; thanh toán nội bộ các ngân hàng và thanh toán quốc tế. Đến nay các phương tiện thanh toán này phát huy tác dụng phục vụ nền kinh tế đang chuyển đổi và phát triển (theo bảng thống kê).

    BẢNG CÔNG CỤ THANH TOÁN 2002 – 2003

                Đơn vị: Tỷ đồng  
                       
      STT Các công cụ TT Số món Số tiền Số món Số tiền Số món %   Số tiền %
          (2002) (2002) (2003) (2003)      
                       
      1 Séc 252.135 35.609 323.821 74.946 Tăng 28%   Tăng
                      110%
                       
        Trong đó: Séc bảo chi 54.509 5.010 38.310 4.638 Giảm   Giảm 7%
                       
                      25
                     

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

                30%  
                   
    2 Uỷ N/ chi:c/ tiền 9.918.307 3.768.006 12.752.256 4.320.663 Tăng Giảm
                29% 15%
                   
    3 Uỷ nhiệm thu 440.968 88.780 343.579 43.912 Giảm Giảm
                22% 52%
                   
    4 Thẻ 340.142 156.603 1.157.593 21.694 Tăng Giảm
                240% 86%
                   
    5 P/ tiện TT khác 7.121.952 2.580.261 9.063.847 3.752.114 Tăng 27% Tăng 45%
                   

    PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN 2002 – 2003

    Đơn vị: Tỷ đồng

    STT Các công Số món Số tiền Số món Số tiền Số món Số tiền
      cụ TT (2002) (2002) (2003) (2003) % %
                   
    1 TT nội bộ 12.526.386 3.955.786 16.671.557 5.332.503 Tăng Tăng
                33% 35%
                   
    2 TT 4.248.196 1.511.073 4.858.500 1.446.797 Tăng Giảm
      bù trừ         14% 4%
                   
    3 TT qua 714.896 832.139 981.169 1.121.863 Tăng Tăng
      TK NHNN         37% 35%
                   

    Thanh toán điện tử liên Ngân hàng chính thức hoạt động từ tháng 5/2002. Đến nay đã qua hơn 2 năm hoạt động. Bình quân 9.000 – 10.000 món/ ngày. Chỉ tính riêng từ 1/1/2004 đến 31/7/2004 toàn hệ thống có 1.538.395 món giao dịch, với doanh số là 930.958 tỷ đồng. Luồng giá trị thấp mới thì điểm ở Hà Nội từ 3/11/2003 (TP. HCM triển khai từ 28/7/2004), đã có 27.193 món giao dịch với doanh số 1.139 tỷ. Hệ thống thẻ điện tử và máy rút tiền tự

    26

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    động (ATM) có bước phát triển nhanh: 400 máy đã được lắp đặt, 356.250 thẻ đã được phát hành, trong đó, 256.250 thẻ trong nước và 100.000 thẻ quốc tế. Intêrnt Banking, E – Banking, Tel – Banking…đang được các Ngân hàng nghiên cứu, từng bước ứng dụng. Do môi trường pháp lý và nhiều yếu tố khách quan tác động chưa thuận lợi, vì vậy việc ứng dụng còn hạn chế, bước đầu chỉ dành cho các doanh nghiệp truyền thống của Ngân hàng.

    Hệ thống Thanh toán điện tử liên Ngân hàng trong những năm tới sẽ có mức tăng trưởng bình quân cao. Hàng năm có thể đạt mức tăng trưởng là 35% đối với số lượng giao dịch (số món), doanh số tăng 24%/ năm. Như vậy, sau 3 năm có thể đạt mức tăng trưởng 200% về số lượng giao dịch và sau 4 năm tăng 200% về doanh số. Tương ứng, bình quân theo ngày sẽ đạt 20 đến 25 ngàn giao dịch và doanh số là 10 đến 15 ngàn tỷ đồng. Lượng giao dịch trong nền kinh tế có thể đạt tới con số 15 triệu món/ ngày. Thẻ thanh toán có thể đạt 13 đến 15 triệu thẻ, doanh số trên hệ thống này là 21 đến 25 ngàn tỷ đồng. Số lượng máy ATM có thể lên đến 1.500 đến 2.000 chiếc.

    +Là nước đi sau:

    Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước, nhờ đó có thể tránh được một số rủi ro nhất định.

    • Người tiêu dùng Việt Nam

    Rất nhanh trong việc thích nghi và ứng dụng các dịch vụ mới. Ví dụ : Dịch vụ điện thoại thẻ, điện thoại di động, dịch vụ Internet trong một thời gian ngắn đã phát triển rất nhanh chóng trong khi nhu cầu thực sự không đến mức như vậy. Như vậy không có lý do gì mà không thể phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt – một hình thức thanh toán rất tích cực và văn minh. Đó là xu hướng chung của thế giới.

    2.3.2 MẶT HẠN CHẾ

    27

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Thời gian không còn sớm đối với yêu cầu phải đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghệ ngân hàng đối với các ngân hàng trong nớc. Trong lộ trình hội nhập, những hàng rào bảo hộ dần đợc gỡ bỏ, các ngân hàng trong nớc sẽ phải đối mặt với những cạnh tranh của ngân hàng nớc ngoài mạnh hơn nhiều lần, đặc biệt khi mà chỉ còn vài năm nữa, những rào cản trong lĩnh vực ngân hàng phải đợc dỡ bỏ theo Hiệp định Thơng mại Việt – Mỹ. Hiện tại, nhiều ngân hàng đang chạy đua phát triển đa dạng dịch vụ của mình.

    Qua thực trạng và các nguyên nhân trên ta có thể đưa ra nhận xét sơ bộ ban đầu như sau:

    + Thiếu cơ sở pháp lý cho thanh toỏn khụng dựng tiền mặt.

    Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng là hai văn bản pháp lý cao nhất quy định về hoạt động thanh toán không dựng tiền mặt (TTKDTM). Tuy nhiên, việc áp dụng thể thức thanh toán này vẫn dựa trên những văn bản dưới luật ra đời cách đó 2-4 năm và đang gây nhiều khó khăn cho hoạt động tài chính.

    • Dùng tiền mặt phổ biến hơn thanh toán qua ngân hàng.

    Những khó khăn mà các ngân hàng đến nay vẫn đề cập là sự chậm chạp trong việc cải tiến các hình thức thanh toán qua ngân hàng, việc thay đổi tập quán thanh toán tiền mặt trong rất nhiều giao dịch. Đề cập riêng ở lĩnh vực thẻ thanh toán – một phơng tiện thanh toán tiên tiến và phổ biến trên thế giới, thế nhưng đến nay cũng chỉ mới có ba ngân hàng trong nớc là có phát hành thẻ tín dụng quốc tế với số lợng chỉ vài chục ngàn thẻ. Đối với giao dịch của cá nhân trong nước, chỉ mới có 20 ngân hàng đã phát hành thẻ thanh toán. Như vay cũng chưa đủ để hình thức mới này trở nên phổ biến – thanh toán không dùng tiền mặt.

    28

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    • Thu nhập bình quân chưa cao

    Thu nhập của dân cư nói chung còn thấp, nhu cầu thiết yếu dân cư còn mua ở chợ “ tự do” là chủ yếu; thêm vào dó la thói quen sự dụng tiền mặt đơn giạn thuận tiện bao đời nay không dễ một sớm , một chiều thay đổi được; đòng thời muốn sự dụng phương tiện thanh toán hiện đại lại cũng cần co sợ hiểu biết nhất định

    • Cơ sở hạ tầng công nghệ thanh toán

    Đang trong giai đoạn hình thành với việc vận dụng các kỹ thuật , qui trình công nghệ thông tin, thanh toán hiện đại, một vấn đề phức tập rất cần có sự phối hợp trên nhiều phương tiện : vốn, phương tiện thanh toán va kỹ thuật thanh toán mới tiên tiến, lượng thời gian cần thiết trình độ tổ chức vận hành thực hiện. V. v.

    Đồng thời các khu công nghiệp, siêu thị tập trung chưa phát triển , dang trong giai đoạn qui hoạch , nên chư có điều kiện thu hút tiêu dùng cua dân cư, nên chưa được sụ dụng các công nghệ hiện đại tương thích.

    +Các ngân hàng vẫn thiếu sự hợp tác với nhau.

    Mặc dù có những nỗ lực cải tiến công nghệ, đa dạng các dịch vụ ngân hàng, nhưng theo nhiều ý kiến chuyên viên, việc tự mỗi ngân hàng vận động mà không có sự hợp tác đã làm giảm đi hiệu quả đầu tư, đơn cử như trong lĩnh vực phát hành và thanh toán thẻ. Mới đây nhất là việc cùng lúc nhiều ngân hàng cùng tự trang bị máy rút tiền tự động ATM chỉ để sử dụng cho thẻ của riêng ngân hàng mình. Theo Trung tâm thẻ ACB, chi phí đầu tư trang bị và vận hành máy ATM không nhỏ. Trung bình giá mỗi máy ATM khoảng 30.000 USD, nhưng đáng kể hơn còn chi phí tốn kém thường xuyên trong các hoạt động phục vụ khách hàng từ máy này. Trong khi đó, mỗi máy lại chỉ phục vụ

    29

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    cho việc rút tiền của một loại thẻ thay vì cần đợc sử dụng chung cho các loại thẻ của các ngân hàng khác nhau.

    Tuy đi sau nhưng chúng ta đang đi theo vết xe đổ của một số nước trong khu vực : Sảy ra tình trạng trong một cửa có hàng chục loại máy ATM của các ngân hàng khác nhau.

    Tại sao chúng ta không thống nhất sử dụng một chuẩn công nghệ chung, như thế vừa tiết kiệm, vừa thuận lợi cho khách hàng, lại vừa dễ quản lý ?

    30

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Chương 3

    GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG

    DÙNG TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.

    3.1 Một số đinh hướng phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại việt nam.

    • Hình thành môi trường minh bạch, lành mạnh và bình đẳng cho hoạt động tiền tệ – ngân hàng. Ứng dụng phổ biến công nghệ thông tin, mở rộng nhanh các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán qua ngân hàng. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, cho vay, cung ứng các dịch vụ và tiện ích ngân hàng thuận lợi và thông thoáng đến mọi doanh nghiệp và dân cư, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh và đời sống, chú trọng khu vực nông nghiệp, nông thôn.
    • Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong kinh doanh tiền tệ – ngân hàng.
    • Cùng với việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức, đào tạo cán bộ, xây dựng hoàn chỉnh cơ chế chính sách, hệ thống thanh tra, kiểm soát… Ngành Ngân hàng cần đặc biệt chú ý đến lĩnh vực đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng nhanh sự tiến bộ của Khoa học Công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động Ngân hàng.
    • Ứng dụng các thiết bị hiện đại cho hoạt động Ngân hàng.

    Trong cơ chế thị trường, để phục vụ cho nền kinh tế, tăng cường sức cạnh

    tranh lành mạnh của từng Ngân hàng: Mở rộng, đa dạng các loại hình dịch vụ và hoạt động Ngân hàng của một Ngân hàng hiện đại, nhất thiết phải đầu tư, trang bị các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, xây dựng một hệ thống kỹ thuật công nghệ thông tin hiện đại. Việc xác định điểm xuất phát, lựa chọn giải pháp và hướng đi là bài toán khó, cho dù chúng ta có lợi thế của “người đi sau”, thông qua những kinh nghiệm của “người đi trước”. Tuy nhiên, vấn đề này

    31

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    phải được nghiên cứu thận trọng, tỷ mỷ, khoa học trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam để quyết định một hướng đi, một giải pháp khoa học. Chúng ta không thể theo giải pháp “đóng” của các nước đã đi trước khi mà xu thế của thế giới là toàn cầu hóa, đa dạng hóa. Giải pháp “mở” sẽ tạo ra chúng ta nhiều cơ hội thuận lợi trong đầu tư những thiết bị mạnh nhất, phù hợp với khả năng tài chính và kỹ thuật.

    • Nhân lực cho công nghệ. Đây là yếu tố rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công.

    Khi đổi mới từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, không chỉ trang bị thêm cho đội ngũ cán bộ Ngân hàng kiến thức quản lý mới, nghiệp vụ mới, mà còn phải trang bị thêm những kiến thức công nghệ hiện đại, thay đổi cách nghĩ, cách làm, kỹ năng mới. Trong chiến lược cán bộ thì đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ Ngân hàng hiện có mang ý nghĩa quan trọng; bởi lẽ, đây là đội ngũ nòng cốt, có bề dày công tác, nhiều kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ. Đồng thời, tăng cường chất lượng lực lượng cán bộ trẻ được đào tạo chính quy tại các trường đại học trong nước, ngoài nước để vận hành, quản lý Ngân hàng hiện đại trong tương lai. Khi đó, không chỉ đơn thuần trong mối quan hệ điều hành giữa Người với Người trước đây, nó được thay thế bằng mối quan hệ giữa Người với Máy tính. Sự điều hành, tác nghiệp của mỗi cán bộ Ngân hàng trên cơ sở những thông tin chính xác do máy tính thu nhận, phân tích và cung cấp. Vì vậy, đòi hỏi từ thực tiễn phải chuẩn bị một lực lượng khoa học công nghệ cho hiện tại và tương lai.

    • Sử dụng các công cụ Marketing nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng.

    3.2 Giải pháp.

    32

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Qua việc phân tích thực trạng, thuận lợi, khó khăn và hướng phát triển nêu trên, để có thể mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, phát huy đầy đủ thế mạnh và vai trò của nó trong nền kinh tế thiết nghĩ cần phải thực hiện một số giải pháp sau :

    • thứ nhất, xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản pháp quy có hiệu lực cao để tạo môi trường và hành lang pháp lý vững chắc cho các hoạt động thanh toán.

    Cần hoàn thiện Luật Séc. Hiện nay Séc vẫn là công cụ thanh toán rất phổ biến ngay cả khi có các công cụ thanh toán mới xuất hiện như thẻ thanh toán. Do vậy cần hoàn thiện luật Séc, có vậy thì mới điều chỉnh được các quan hệ về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên liên quan. Cả khách hàng và ngân hàng sẽ thực sự yên tâm hơn khi sử dụng Séc.

    + Thứ hai, thúc đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng.

    Đầu tư trang thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ ngân hàng để thực hiện nhanh chóng, an toàn và chính xác là chủ trương lớn mà nghành ngân hàng đã đề ra từ nhiều năm nay.

    • Ngân hàng nhà nước phải có kế hoạch, biện pháp tiếp nhận và sử dụng hợp lý các nguồn tài trợ của nước ngoài, đặc biệt là của WorldBank.
    • Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại phải phối hợp với nhauđể nghiên cứu xây dựng quy trình chuyển tiền thanh toán điện tử đồng bộ, thống nhất dựa trên một số nguyên tắc chung nhất. Tránh tình trạng tự phát gây sự lãng phí lớn và thiếu đồng bộ.
    • Thứ ba, là tiếp tục triển khai, khuyến khích tổ chức cá nhân mở tài khoản và thanh toán tại ngân hàng.
    • Ngân hàng phải cung cấp các thông tin về hoạt động của ngân hàng, các tiện ích của các dịch vụ mà ngân hàng cung ứng bằng cách tuyên truyền,

    33

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    quảng cáo bằng nhiều hình thức khác nhau. Đây phải là việc làm thường xuyên tích cực chứ không phải qua loa đại khái, hình thức. Nói cách khác các ngân hàng phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

    • Trong giai đoạn đầu, để khuyến khích sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt, chúng ta có thể chú trọng phát triển theo chiều rộng để người dân thấy được ưu điểm của nó. Các ngân hàng nên thu phí dịch vụ thấp, thậm chí chịu lỗ trong giai đoạn đầu, thể hiện sự “nhìn xa trông rộng của mình”.
    • Thứ tư, la nâng cao năng lực trình độ của cán bộ làm công tác thanh toán, tiếp xúc khách hàng.
    • Trong hoạt động ngân hàng nói chung và lĩnh vực thanh toán nói riêng, yếu tố tổ chức và con người là quyết định. Do vậy người làm công tác thanh toán phải có đầy đủ năng lực, chuyên môn. Ngoài ra còn phải nắm vững luật pháp và chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, của nghành.
    • Tất cả những yếu tố như cơ sở vật chất, con người…dưới con mắt khách hàng đó là hình ảnh của ngân hàng. Vì vậy cần hết sức lưu ý. Chúng ta phải xây dựng hệ thống ngân hàng hiện đại nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh. Đại bộ phận dân cư còn có mức thu nhập thấp, họ rất ngại đến ngân hàng và tiếp xúc với nhân viên ngân hàng. Hình ảnh một nhân viên tiếp xúc khách hàng với vẻ mặt khó đăm đăm, hành chính là rất khó chịu với khách hàng. Đây cũng là yếu tố khiến cho cách hoạt động của ngân hàng chưa được xã hội hoá.

    Vì vậy phải đào tạo đội ngũ nhân viên ngân hàng cỏi mở, phải xây dựng hình ảnh ngân hàng luôn là bạn tốt của Doanh nghiệp, của người dân. Không những cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng mà còn có khả năng tư vấn, hỗ trợ khách hàng.

    -Vấn đề an toàn, bảo mật :

    34

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Hiện nay rất nhiêu người còn e dè chưa giám sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt vì vấn đề an toàn và bảo mật thông tin. Nhà nước nên coi các hành vi trộm cắp các thông tin về tài khoản, mã số …là hành

    • vi phạm pháp luật và có khung hình phạt thích đáng. Đồng thời các ngân hàng phải phối hợp tìm giải pháp bảo mật thông tin cho khách hàng. Phải để khách hàng thấy rằng gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và kinh tế hơn là cất trong két sắt. Điều còn có lợi cho ngân hàng trong việc huy động vốn phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
    • Các cơ quan nhà nước nên đi đầu trong lĩnh vực này. Chẳng hạn thay vì dùng thủ quỹ trả lương cho nhân viên như hiện nay chúng ta chuyển lương vào tài khoản của nhân viên mở tại ngân hàng, tạo thói quen và nhân rộng các hoạt động thanh toán qua ngân hàng .
    • Về phía ngân hàng, phải làm tốt thanh toán liên hàng nói riêng và sự hợp tác giữa các ngân hàng nói chung.

    Trên đây là một số giải pháp chung, cơ bản để có thể phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam hiện nay.

    • Thứ năm, có chính sách vĩ mô về quản lý bằng tiền mặt, trước mắt là các tổ chức , doanh nghiệp nhà nước.

    3.3 KIẾN NGHỊ

    • Ngân hàng Nhà nước:
    • Nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.
    • Không nên chỉ để cho ngân hàng thương mại quốc doanh độc quyền kinh doanh hoạt động thanh toán thẻ. Theo kinh nghiệm điển hỡnh của Nhật

    35

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Bản, Cụng ty Dịch vụ Tiết kiệm của Tổng cụng ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.

    + Tổng công ty Bưu chính Viễn thông:

    Cần đầu tư xây dựng và giảm chi phí thuê bao đường truyền thanh toán trực tuyến cho các cửa hàng.

    + Chớnh phủ:

    Nên có quy định bắt buộc các cơ sở bán hàng, dịch vụ có số vốn lớn, như các siêu thị, phải trang bị thiết bị thanh toán thẻ. Xét trên khía cạnh tài chính chống thất thu thuế, đây có thể là giải pháp rất hiệu quả.

    + Bộ tài chớnh:

    Nên miễn khoản thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh thanh toán cho các ngân hàng thương mại.

    3.4 Kết luận.

    Phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt là rất cần thiết đối với Việt Nam hiện nay.

    • Đối với nền kinh tế nó làm tăng tốc độ chu chuyển vốn; huy động tốt hơn các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tổ chức cá nhân; hình thành môi trường thanh toán minh bạch, thuận tiện và văn minh; góp phần chống lại các tệ nạn xã hội;

    Và nó đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện hiện nay khi mà cả nước đang như một công trường xây dựng, nhu cầu về vốn là rất lớn. Chúng ta vẫn phải vay vốn nước ngoài, điều kiện thì khó khăn, phải trả lãi cao, chịu sự can thiệp về chính trị… trong khi hàng tỷ đôla đang vẫn nằm nhàn rỗi trong tay dân cư trong nước. Nếu huy động được thì đó là nguồn vốn hiệu quả nhất, hiệu quả về

    36

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    nhiều mặt. Chúng ta có thể làm được điều này bằng cách khuyến khích người dân mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng.

    • Đối với tổ chức cá nhân đó là sự tiện lợi, nhanh chóng; an toàn; thể hiện trình độ dân trí cao.
    • Đối với ngân hàng : Nhiều nghìn tỷ đồng tiền mặt đang rải rác trong từng cá nhân, gia đình, quỹ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp để thanh toán trực tiếp khi mua hàng, kể cả mua bất động sản trị giá hàng tỷ đồng sẽ được huy động phục vụ nhu cầu về vốn cho nền kinh tế đồng thời là nguồn thu phí dịch vụ quan trọng cho ngân hàng .
    • Đối với quản lý xã hội : Sử dụng tiền mặt phổ biến trong thanh toán vừa gây nhiều lãng phí, vừa là kẽ hở lớn cho nạn tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế luồn lách, lẩn trốn sự kiểm soát của Nhà nước và xã hội.

    Tác dụng của thanh toán không dùng tiền mặt là rất tích cực, chúng ta đã biết, nhưng để thanh toán không dùng tiền mặt đi vào cuộc sống thì thật không đơn giản, nó là cả một qua trình. Nó phải được cả xã hội quan tâm ủng hộ.

    Là một sinh viên kinh tế, em thực sự mong muốn thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam sẽ phát triển cả về chất và về lượng phục vụ tốt nhất cho phát triển Kinh tế –Xã hội.

    37

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính (Frederic S. Mishkin)
    1. Lý thuyết Tài chính- tiền tệ (Đại học tài chính-kế toán)
    1. Giáo trình Kinh tế-chính trị Mác-Lê nin (Đại học kinh tế quốc dân)
    1. Bài giảng Lý thuyết tài chính- tiền tệ (Ts. Đặng Ngọc Đức và Ts. Trần Thu Hà- Giảng viên trường ĐH KTQD – HN )
    1. Tạp chí Ngân Hàng, Thời báo Ngân hàng
    1. Tạp chí Thị trường tài chính-tiền tệ
    1. Tạp chí tài chính.
    1. Báo điện tử : vnexpress, vneconomy, Nhân dân, Lao động, Sài Gòn Giải Phóng.

    38


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Bài tập lớn Phân tích tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay

    Bài tập lớn Phân tích tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay

    Bài tập lớn Phân tích tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-c%C3%A1n-c%C3%A2n-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-2001-%C4%91%E1%BA%BFn-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phân tích tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay

    Đề tài:

    PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CÁN CÂN

    THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 ĐẾN NAY

    I.Khái niệm:

    Cán cân thanh toán (Balance of Payment) của một quốc gia là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.

    Cán cân thanh toán gồm 4 bộ phận chính: cán cân vãng lai, cán cân vốn, cán cân tổng thể, cán cân bù đắp chính thức.

    II.Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam từ 2001 đến nay:

    Bước sang thế kỷ 21, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến rất quan trọng, đặc biệt là vào 11/07/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, đã khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều đó làm nền kinh tế nước ta thay đổi đáng kể, vậy trước đó, từ năm 2001 đến 2006, nền kinh tế Việt Nam mà cụ thể là cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam như thế nào?

    1.Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam từ 2001 đến 2006:

    Bảng thống kê sau thể hiện tình hình BOP của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006:

    BẢNG I

    USDmillion 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Cán cân thương mại 481 -1,054 -2,581 -3,854 -2,439 -2,776
    Cán cân dịch vụ -572 -749 -778 61 -219 -8
    Cán Cân thu nhập -477 -721 -811 -891 -1,219 -1,429
    Chuyển nhượng ròng 1,250 1,921 2,239 3,093 3,380 4,049
    Khu vực tư nhân 1,100 1,767 2,100 2,919 3,150 3,800
    Khu vực nhà nước 150 154 139 174 230 249
    Cán cân vãng lai 682 -603 -1,931 -1,591 -497 -164
    Đầu tư trực tiếp nước ngoài 1,300 1,400 1,450 1,610 1,889 2,315
    Khoản vay trung và dài hạn 139 -51 457 1,162 921 1,025
    Khoản vay ngắn hạn -22 7 26 -54 46 -30
    Danh mục vốn đầu tư 865 1,313
    Tài khoản tiền gửi -1,197 624 1,372 35 -634 -1,535
    Tài khoản vốn 220 1,980 2,533 2,753 3,087 3,088
    Lỗi và sai sót -862 -1,020 777 -279 -459 1,398
    Cán cân tổng thể 40 357 2,151 883 2,131 4,322
    % GDP 2001 2002 2003 2004 2005 2006

    (nguồn IMF và GSO)

    • Cán cân vãng lai:

    Bảng sau thể hiện “khả năng chịu đựng thâm hụt của cán cân vãng lai” giai đoạn 2001-2006:

    BẢNG II

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Cán cân vãng lai (% GDP) 2.3 -1.9 -4.9 -3.4 -0.9 -0.3
    Cán cân vãng lai loại trừ

     

    chuyển giao ròng (%GDP)

    -1.8 -9.8 -10.5 -8.9 -7.3 -6.9
    Cán cân  thương mại (% GDP) 1.9 -3 -6.5 -5 -4.6 -4.6
    Xuất khẩu (% GDP) 46.2 47.7 50.9 58.2 61.2 65.2
    Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/xuất khẩu  (%) 10.6 8.6 7.8 6.0 5.6 5.3
    Nợ nước ngoài /GDP (%) 41.6 35 33.7 33.5 32.2 30.2
    Nợ nước ngoài/xuất khẩu (%) 89.4 78.3 67.1 53 48.3 43
    Dự trữ ngoại hối/nhập khẩu (%) 23.6 20.7 24.7 21.9 24.5 26.9
    Dự trữ ngoại hối/ nợ nước ngoài (%) 26.3 28.2 41.5 41.3 50.8 62,6
    Cán cân tiết kiệm đầu tư (%GDP) 2.2 -1.9 -4.9 -3.4 -0.9 -0.3
    Dự trữ ngoại hối (triệu USD) 3387 3692 5619 6314 8557 11483
    Nợ nước ngoài (triệu USD) 12874 13083 13535 15266 16833 18330

    Nguồn: IMF Country Report, No 03/382, December, 2003.

    IMF Country Report, No 07/338, December 2007.

                                           Economist Intelligece Unit, Country Report Vietnam, May 2008

    Thâm hụt cán cân vãng lai Việt Nam giai đoạn 2001-2006 ( % so với GDP):

    Khả năng chịu đựng được của cán cân vãng lai “được định nghĩa nhằm hàm ý thể hiện tính bền vững của các nguồn tài trợ thâm hụt cán cân vãng lai trong điều kiện:

    -Nhập khẩu tăng cùng với mức tăng của GDP thực.

    -Không có sự sụt giảm các dòng thanh toán quốc tế bình thường

    -Không có sự sụt giảm dự trữ ngoại hối

    Thâm hụt cán cân vãng lai được coi là có khả năng chịu đựng được do được đánh giá trên những tiêu chí sau:

    • Mức thâm hụt cán cân vãng lai/GDP giai đoạn 2001-2006 luôn ở mức thấp và giảm dần đến 2006 đạt con số ấn tượng 0.3%
    • Tỉ lệ nợ nước ngoài so với GDP của Việt Nam trong duy trì ở mức dưới 40% so với ngưỡng an toàn là 50%.
    • Bên cạnh đó, các chỉ tiêu như nợ nước ngoài so với xuất khẩu, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trên xuất khẩu luôn nằm ở mức an toàn (ngưỡng an toàn cho phép của nợ nước ngoài/xuất khẩu là 150, ngưỡng cho phép của nghĩa vụ trả nợ trên xuất khẩu là 25%.
    • Tình trạng nhập siêu đã dần được cải thiện, kông đáng lo ngại.

    1.2 Tình hình cụ thể của cán cân thương mại:

    *Tình hình nhập khẩu giai đoạn 2001 – 2006:

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Giá trị nhập khẩu (triệu USD) 14,546 17,760 22,730 30,339 34.886 42,602
    Tốc độ tăng trưởng (%) 3,37 22,10 27,98 33,48 14,99 22,12

    *Tình hình xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2006:

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Giá trị xuất khẩu (triệu USD) 15,027 16,706 20,149 26,485 32,447 39,826
    Tốc độ tăng trưởng (%) 4.01 11.17 20.61 31.45 22.51 22.74

    Nhận xét:

    Việt Nam là quốc gia nhập siêu, hàng năm đều phải nhập về nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, trong khi lại xuất đi chủ yếu là nông phẩm và những mặt hàng có giá trị không cao nên tình trạng thâm hụt thương mại thường xuyên xảy ra.(Bảng II)

    Nguyên nhân gây thâm hụt thương mại cán cân vãng lai là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư. Cán cân dịch vụ, thu nhập đầu tư ròng trong thời gian qua đều có tác động tiêu cực đến cán cân vãng lai: cán cân dịch vụ thường xuyên thiếu hụt trong khoảng 200-800 triệu USD trong giai đoạn 2001-2006. Tuy nhiên, mức độ đóng góp vào thâm hụt cán cân vãng lai của hai nhân tố này đã giảm từ 59,4% năm 2002 xuống còn 34% năm 2006. Trong khi đó, thâm hụt thương mại ngày càng có xu hướng tăng, trong giai đoạn 2002-2006, thâm hụt thương mại bình quân khoảng 5% GDP, cán cân vãng lai năm 2005 chỉ chiếm 0,9% GDP, giảm mạnh so vơi smwcs thâm hụt 969 triệu USD (2,1% GDP) của năm 2004, chủ yếu do cán cân thương mại và dịch vụ được thu hẹp: kim ngạch xuất khẩu 32,447 triệu USD, tăng 22,51% so với năm 2004, trong khi chỉ tiêu đề ra là 30,7 triệu USD, đồng thời tiền tư nhân ( chủ yếu là chuyển tiền kiều hối) chuyển đạt 3 triệu USD tiếp tục duy trì thặng dư ở mức cao, tương đương mức thăng dư của cán cân vốn.

    Tuy nhiên, ta thấy mức độ thâm hụt giảm dần theo từng năm, đặc biệt năm 2006 đạt con số ấn tượng 0.3% GDP. Tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu và nhập khẩu tương đương nhau thậm chí tốc độ tăng trưởng xuất khẩu còn nhỉnh hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu. Ngoài ra, năm 2005 chính phủ phát hành 750 triệu USD trái phiếu, thu về nguồn ngoại tệ tương đối lớn giúp giảm áp lực đáng kể lên cán cân vãng lai.

    1.3 Cán cân vốn:

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    FDI 1300 1400 1450 1610 1899 2315
    Nợ trung và dài hạn 139 -51 457 1162 921 1025
    Nợ ngắn hạn -22 7 26 -54 46 -30
    Danh mục vốn đầu tư _ _ _ _ 865 1313
    Tài khoản tiền gửi -1197 642 1372 35 -634 -1535
     Tài khoản vốn 220 1980 2533 2753 3087 3088
    % GDP 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    FDI 4 4 3,7 3,5 3,6 3,8
    Nợ trung và dài hạn 0,4 -0,1 1,2 2,6 1,7 1,7
    Nợ ngắn hạn -0,1 0 0,1 -0,1 0,1 0
    Danh mục vốn đầu tư _ _ _ _ 1,6 2,2
     Tài khoản tiền gửi -3,7 1,8 3,5 0,1 -1,2 -2,5
    Tài khoản vốn 0,7 5,6 6,4 6 5,8 5,1

    Tài khoản vốn giai đoạn 2001-2006 luôn dương, luồng tiền đi vào trong nước ở các khoản mục nhìn chung có xu hướng tăng dần.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục gia tăng do môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện hơn, lợi thế về chi phí đầu tư, như chi phí lao động, giá điện đang cạnh tranh với các nước trong khu vực. Đặc biệt, việc tăng cường công tác xây dựng pháp luật trong thời gian qua theo yêu cầu của việc gia nhập WTO phù hợp với luật quốc tế Việt Nam thể hiện việc chấp nhận luật chơi chung. Đây là nguồn vốn quan trọng giúp phát triển nền kinh tế Việt Nam, tiềm năng thu hút vốn FDI còn có thể tăng nữa nếu như Việt Nam chú trọng hơn nữa tới việc thực hiện các dự án.

    Nợ trung và dài hạn tuy chiếm tỉ trọng thấp trong GDP, trong đó có vốn việc trợ ODA đóng vai trò quan trọng, nguồn vốn này thường được dung trong các lĩnh vực đầu tư của nhà nước như cầu đường, giáo dục, y tế…

    Nợ  ngắn hạn và danh mục đầu tư chiếm tỉ trọng khá nhỏ trong tổng GDP. Tại Việt Nam chính là các dòng vốn gián tiếp đầu tư qua các Quỹ. Nhìn chung vốn ngắn hạn có chi phí cao và thường đi kèm với kỳ vọng mang lại lợi nhuận nhanh chóng. Nợ ngắn hạn biến động ít, thường xuyên quanh mốc 0. Đó là dấu hiệu đáng mừng thể hiện tình trạng phát triển của kinh tế Việt Nam.

    Về tài khoản tiền gửi, do hiện nay số lượng lao động tham gia xuất khẩu lao động nhiều, lương ngoại hối cũng theo đó tăng lên. Đây là một nguồn tiền quan trọng, đóng góp vào nguồn quỹ dự trữ quốc gia để điều hành tỉ giá. Đến 2 năm 2005, 2006 chúng ta thấy cán cân tài khoản tiền gửi của Việt Nam âm ( -634 triệu USD và đến năm 2006 đột biến là -1353 triệu USD) điều này có thể giải thích do trong hai năm 2005, 2006 số lượng người nước ngoài vào Việt Nam làm việc tăng lên.

    1.4 Về tỉ lệ dự trữ ngoại hối:

    Trong giai đoạn 2001-2006 dự trữ ngoại hối của Việt Nam theo thống kê của IMF như sau:

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Dự trữ ngoại hối (triệu USD) 3387 3692 5619 6314 8557 11483
    TỐC ĐỘ TĂNG (%) 11,78 9,00 52,19 12,24 35,52 34,19

    Theo thống đốc NHNN lúc bấy giờ, lượng dự trữ ngoại hối năm 2005 tăng đột biến, tốc độ tăng 35,52% tuy chưa phải mức tăng cao nhất trong giai đoạn nhưng lại đạt trên 10 tuần xuất khẩu, con số chưa từng có.

    Nguyên nhân của việc tăng dự trữ ngoại hối bên cạnh việc gia tăng của tài khoản tiền gửi còn do các nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn vào Việt Nam thông qua các kênh như ODA, FDI, FII,…

    2.Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam năm 2007 và 2008:

    2.1 Cán cân vãng lai:

    Nếu nhìn nhận cán cân vãng lai theo giao dịch cán cân vãng lai bao gồm các giao dịch về xuất nhập khẩu hàng hóa,dịch vụ,thu nhập và chuyển tiền. Trước những diễn biến khó lường của kinh tế thế giới, việc hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng đã tác động tới cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam. Thâm hụt cán cân vãng lai tăng mạnh, vượt xa mức cảnh báo với mức tăng từ 0,27% GDP năm 2006 lên mức 9,8% GDP năm 2007 và tiếp tục gia tăng tới trên 20% GDP trong 6 tháng đầu năm 2008 do cán cân thương mại, dịch vụ, thu nhập đều thâm hụt, đặc biệt là sự mở rộng về thâm hụt cán cân thương mại từ mức 4,6% GDP năm 2006 lên mức 15% GDP trong năm 2007 và khoảng 30% trong 6 tháng đầu năm 2008.

    2.1.1 Cán cân thương mại:

    Trong cán cân vãng lai của việt nam,xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm tỷ trong lớn nhất trong tổng thu chi của cán cân vãng lai.

    Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007, bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, đóng góp 50,3%.

    Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của các loại hàng hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu do giá trên thị trường thế giới tăng. Xuất khẩu dầu thô ước tính đạt 13,9 triệu tấn, tương đương 10,5 tỷ USD, tuy giảm 7,7% về lượng nhưng tăng 23,1% về kim ngạch so với năm trước do giá dầu tăng cao trong những tháng giữa năm.

    Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng 12/2008 ước tính đạt 5,4 tỷ USD,. Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%. Nhập siêu năm 2008 ước tính 17,5 tỷ USD, tăng 24,1 % so với năm 2007, bằng 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhập siêu đã giảm nhiều so với dự báo những tháng trước đây nhưng mức nhập siêu năm nay vẫn khá cao.

    Thâm hụt thương mại năm 2008 là 17,5 tỷ USD.

    2.1.2 Cán cân dịch vụ :

    Cùng với sự mở cửa nền kinh tế,các ngành kinh doanh dịch vụ phát triển mạnh mẽ nhưng vẫn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thu chi cán cân vãng lai. Tổng trị giá xuất khẩu dịch vụ năm 2008 ước tính đạt 7,1 tỷ USD, tăng 9,8% so với năm 2007, trong đó dịch vụ du lịch đạt 4 tỷ USD, tăng 7,2%; dịch vụ vận tải hàng không đạt 1,3 tỷ USD, tăng 23,7%; dịch vụ vận tải biển đạt 1 tỷ USD, tăng 27,7%. Tổng trị giá nhập khẩu dịch vụ năm 2008 ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 10,3% so với năm 2007, trong đó dịch vụ du lịch 1,3 tỷ USD, tăng 6,6%; dịch vụ vận tải hàng không 800 triệu USD, giảm 2,4%; dịch vụ hàng hải 300 triệu USD, tăng 20%.

    Nhập siêu dịch vụ năm 2008 là 0,8 tỷ USD.

    2.1.3 Cán cân thu nhập:

    Xuất phát từ nền kinh tế thếu vốn, việt nam đã chú trọng việc thu hút vốn nước ngoài(chủ yếu dưới dạng đầu tư trực tiếp vốn nước ngoàivà vay nợ nước ngoài)

    Cán cân vãng lai tiếp tục được hỗ trợ bởi thặng dư lớn trong hạng mục chuyển tiền tư nhân, các nhà đầu tư trên thế giới tiếp tục tin tưởng vào sự phát triển kinh tế Việt Nam trong trung hạn, điều này phản ánh qua số vốn cam kết không ngừng tăng lên: Trong 8 tháng đầu năm, số vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt tới 47,15 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 6 tỷ USD, tăng 32,1% so cùng kỳ, trong đó khoảng 80-90% là giải ngân của phía nước ngoài; Luồng vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh, số lượng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài năm 2007 tăng gấp 3 lần so với năm 2006, giá trị chứng khoán do nhà đầu tư nước ngoài mua vào nhiều hơn bán ra ở mức trên 6 tỷ USD.

    2.1.4 Nguyên nhân thâm hụt cán cân vãng lai:

    Thâm hụt cán cân vãng lai gia tăng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân:

    • Thứ nhất, nhu cầu đầu tư và tiêu dùng gia tăng sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
    • Thứ hai, nhu cầu nhập khẩu cao nhờ được tài trợ bởi luồng vốn nước ngoài như nguồn vốn đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và các khoản vay nước ngoài.
    • Thứ ba, giá cả hàng hoá quốc tế tăng cao, đặc biệt là giá các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất đã khiến kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh.
    • Thứ tư, nhập khẩu tăng mạnh và cao hơn nhiều so với xuất khẩu chứng tỏ khi thực hiện các cam kết đa phương trong WTO, giảm nhiều dòng thuế đã làm cho hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam, trong khi đó muốn tăng trưởng xuất khẩu lại cần có thời gian.
    • Thứ năm, lạm phát trong nước cao hơn lạm phát của các đối tác thương mại, trong khi tỷ giá danh nghĩa giữa VND và USD và tỷ trọng thương mại của Việt Nam với các nước tương đối ổn định khiến VND lên giá thực, tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu.

    Một trong những nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại nặng nề ở Việt Nam trong những năm qua là VND đã lên giá so với đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu. Tỷ giá hiệu dụng thực của VND giảm trong giai đoạn 2000 – 2003 nhưng sau đó gần như tăng liên tục, làm cho nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu.

    Bên cạnh đó, tuy vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng, song khả năng cạnh tranh hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam còn thấp; tăng trưởng kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu; sản xuất trong nước phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu hàng hoá của nước ngoài; thâm hụt cán cân vãng lai tăng mạnh bởi đầu tư đang vượt xa so với mức tiết kiệm hiện có của nền kinh tế; mặc dù thu hút vốn FDI mang lại nhiều lợi thế cho Việt Nam như tận dụng được lợi thế chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, nhưng vẫn có một số vấn đề đối với luồng vốn này; và hiệu quả sử dụng vốn thấp…

    2.1.5 Giải pháp:

    Khai thác lợi thế so sánh để tăng kim ngạch xuất khẩu theo hướng tập trung đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh các mặt hàng nông sản, hàng gia công, thủ công mỹ nghệ mang giá trị gia tăng cao; Tăng cường công tác dự báo thị trường, xu hướng diễn biến của giá cả hàng hoá, điều tiết lượng hàng xuất khẩu hợp lý để đảm bảo xuất khẩu hàng hoá với mức giá cao nhất có thể. Tăng cường hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, đa dạng hoá thị trường và mặt hàng xuất khẩu; Hạn chế những mặt hàng chưa thiết yếu để giảm nhập siêu; việc giảm nhập siêu được xem xét không những theo mặt hàng mà cần có chiến lược giảm nhập siêu đối với các đối tác thương mại lớn như Trung Quốc, Đài Loan; Đồng thời, phát triển các ngành dịch vụ theo hướng tăng thu xuất khẩu. Tiếp tục thu hút nguồn và sử dụng có hiệu quả nguồn kiều hối để cải thiện cán cân vãng lai, tránh tình trạng găm giữ ngoại tệ trong dân; để cải thiện cán cân vãng lai, cần tăng cường tiết kiệm quốc gia, giảm và nâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh tế; điều chỉnh cơ cấu luồng vốn theo hướng khuyến khích luồng vốn trung dài hạn, giảm bớt luồng vốn ngắn hạn thông qua áp dụng các biện pháp lọc vốn để đảm bảo cơ cấu tài trợ cán cân vãng lai lành mạnh, không chứa đựng rủi ro rút vốn đột ngột; đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn FDI và ODA cho các dự án đầu tư hiệu quả.

    2.2 Cán cân vốn:

    Kiều hối theo thống kê của NHNN năm 2008 đạt 8 tỷ USD, viện trợ chính thức không hoàn lại ước đạt 0,188 tỷ USD (theo số liệu chính thức từ Tổng cục thống kê ngày 23/9/2008).

    Theo số liệu từ Tổng cục thống kê, trong năm 2008, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký đạt mức kỷ lục 64 tỷ USD, gần gấp 3 lần năm 2007, trong đó 60,3 tỷ USD là vốn đầu tư đăng ký mới, 3,7 tỷ USD là vốn đăng ký tăng thêm. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký tương đương 32,6 tỷ USD; lĩnh vực dịch vụ 27,4 tỷ USD, chiếm 45,5%. Tuy nhiên con số trong khoản mục đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng thì chúng ta chỉ tính đến con số giải ngân thực tế.

    Vay nợ dài và trung hạn năm 2008 ước đạt 1,227 tỷ USD

    Vay nợ ngắn hạn năm 2008 là 0,261 tỷ USD

    Đầu tư danh mục chứng khoán ròng năm 2008 là -1,82 tỷ USD,

    Năm 2008 đầu tư danh mục chứng khoán ròng của các nhà đầu tư nước ngoài là -31.005 tỷ đồng. Trong đó danh mục trái phiếu bán ròng 37.383 tỷ đồng (-2,2 tỷ USD), danh mục trái phiếu mua ròng 6.378 tỷ đồng (+0,38 tỷ USD).

    Cán cân thanh toán tổng thể năm 2008 đạt mức thặng dư 0,16 tỷ USD đưa mức dự trữ ngoại hối cuối năm 2008 đạt 23,76 tỷ USD.

    3.Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2009:

    Thâm hụt cán cân thanh toán năm 2009 của Việt Nam không quá nghiêm trọng,dự báo thâm hụt cán cân thanh toán năm này chỉ khoảng 0.5 tỷ USD, đây là mức không lớn so với con số trên 24 tỷ USD dự trữ ngoại hối của NHNN hiện nay.

    3.1 Cán cân vãng lai:

    Trong nửa đầu năm 2009, cán cân vãng lai của Việt Nam đang âm 2,4 tỷ USD.

    3.1.1 Cán cân thương mại:

    Cán cân thương mại 6 tháng đầu năm chỉ thâm hụt 2.1 tỷ USD, thấp hơn con số 13.77 tỷ USD của cùng kỳ năm trước, dự báo xuất khẩu năm 2009 sẽ giảm 15%, còn nhập khẩu giảm 23%, thâm hụt thương mại năm nay vào khoảng 8.4 tỷ USD.

    6 tháng đầu năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu chỉ đạt 27,6 tỷ USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 14 tỷ USD, tăng 0,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,6 tỷ USD, giảm 19%. Nếu loại trừ vàng tái xuất thì kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đạt 25,1 tỷ USD, giảm 18,6% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 6 tháng giảm chủ yếu do giá cả trên thị trường thế giới giảm sút và đứng ở mức thấp.

    Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới nên kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2009 sang các thị trường chủ yếu đều giảm so với cùng kỳ năm trước.

    Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34,1% so với cùng kỳ năm 2008.Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng giảm do một số mặt hàng nhập khẩu giảm về lượng, nhưng chủ yếu là do giá trên thị trường thế giới giảm: Nhập siêu hàng hoá tháng 6/2009 ước tính 1,2 tỷ USD, thấp hơn mức nhập siêu 1,25 tỷ USD của tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2009 nhập siêu 2,1 tỷ USD, bằng 14,7% cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ vàng tái xuất của quý I thì nhập siêu hàng hoá 6 tháng là 4,6 tỷ USD, trong đó quý I nhập siêu 1 tỷ USD; quý II nhập siêu 3,6 tỷ USD.

    3.1.2 Cán cân dịch vụ:

    Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 2737 triệu USD, giảm 25,7% so với cùng kỳ năm trước, Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng ước tính đạt 3256 triệu USD, giảm 26,2% so với cùng kỳ năm 2008.

    Nhập siêu dịch vụ 6 tháng là 519 triệu USD, giảm 29,1% so với 6 tháng đầu năm 2008.

    3.1.3 Cán cân thu nhập:

    Trong 6 tháng đầu năm 2009, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 4 tỷ USD, bằng 81,6% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó vốn từ nước ngoài dự kiến 3,3 tỷ USD. So với mục tiêu giải ngân 8 tỷ USD năm 2009, trong 6 tháng đầu năm 2009 cả nước có 306 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 4,7 tỷ USD. Tuy chỉ bằng 13,3% so với cùng kỳ 2008   Trong 6 tháng đầu năm 2009, có 68 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,1 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2008. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 6 tháng đầu năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 8,87 tỷ USD, bằng 22,6% so với cùng kỳ 2008.

     3.2 Cán cân vốn:

    Nếu tính cả tái xuất vàng, về phía cán cân vốn, dù được “hỗ trợ” của 3 tỷ USD giải ngân vốn FDI, nhưng cân đối vĩ mô này vẫn còn âm 1,15 tỷ USD,6 tháng đầu năm, Việt Nam chỉ thu hút được gần 9 tỉ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài, bằng khoảng 1/5 so với cùng kỳ năm ngoái.

    Đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm cả về tỷ trọng và giá trị tuyệt đối. Vốn FDI giải ngân trong 6 tháng đầu năm 4 tỷ USD, giảm 18.4%, vốn FDI đăng ký giảm 77.4% so với cùng kỳ năm trước, dự báo FDI giải ngân năm nay sẽ giảm 30% so với năm 2008. Tức là số vốn giải ngân năm nay chỉ khoảng 8.2 tỷ USD. Giải ngân vốn ODA trong 6 tháng đầu năm tăng 1.27 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Bất chấp khó khăn của kinh tế thế giới, vốn ODA vào Việt Nam vẫn tăng và dự báo giải ngân có thể đạt 2.5 tỷ USD trong năm nay.

    3.3 Biện pháp:

    1 – Chính sách tỷ giá: Trong thời gian qua, Chính phủ đã điều hành chính sách tỷ giá theo hướng tích cực: mở rộng biên độ dao động lên ± 5% và cho phép tỷ giá VND/USD biến động theo hướng phù hợp với thực trạng cung, cầu ngoại hối trên thị trường.

    2 – Chính sách hỗ trợ tín dụng xuất khẩu: Nguồn kinh phí của gói kích cầu 1 tỷ USD cần được sử dụng đúng nơi, đúng chỗ nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu

    3 – Chính sách hỗ trợ chi phí xuất khẩu: Hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu để giảm các loại chi phí liên quan tới xuất khẩu như chi phí tại cảng biển, sân bay và chi phí vận tải; giảm tối đa thủ tục hành chính gây phiền hà cho doanh nghiệp xuất – nhập khẩu

    4 – Đa dạng hóa cơ cấu thị trường xuất – nhập khẩu: Cơ cấu thị trường xuất – nhập khẩu của nước ta cho thấy, thị trường xuất – nhập khẩu của Việt Nam tập trung cao độ vào một số thị trường trọng điểm đang chịu ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng tài chính thế giới. Do vậy, cần mở rộng thị trường mới.

    5 – Cải thiện cơ cấu mặt hàng xuất – nhập khẩu: Việc cải thiện cơ cấu mặt hàng xuất – nhập khẩu không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, cần xây dựng lộ trình cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa sản xuất trong nước, đặc biệt là các sản phẩm xuất khẩu truyền thống, đồng thời tìm thị trường cho các sản phẩm xuất khẩu mới

    6 – Khai thác thị trường trong nước: Cần khai thác tối đa thị trường trong nước để giảm quy mô nhập khẩu, nhằm giảm mức độ phụ thuộc của Việt Nam vào các thị trường nguyên, nhiên, vật liệu đối với các nước trong khu vực

    7 – Chính sách thưởng xuất khẩu và giảm thuế cho các doanh nghiệp xuất khẩu: Có cơ chế thưởng xuất khẩu xứng đáng, đồng thời giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp xuất khẩu

    8 – Các chính sách tài khóa khác: Để giảm tác động tiêu cực của suy giảm sản xuất xuất khẩu, đặc biệt là vấn đề công ăn việc làm và thu nhập cho công nhân sản xuất hàng xuất khẩu, Chính phủ cần nghiên cứu chế độ trợ cấp thất nghiệp cho công nhân của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất khẩu bị mất việc làm.

    9 – Chính sách tiền tệ: Cần nới lỏng chính sách tiền tệ một cách từ từ, nhằm tạo thanh khoản và huy động nguồn lực cho chính sách tài khóa của Chính phủ .

    KẾT LUẬN

     

    Mất cân đối cán cân thanh toán thể hiện ở cả cán cân vãng lai và tài khoản vốn. Tính đến hết 6 tháng đầu năm nay, cán cân thanh toán của Việt Nam đang đứng trước sức ép rất lớn từ khoản thâm hụt lên tới gần 3,6 tỷ USD này. Và tình hình dường như đang xấu hơn vì những dẫn chứng mà đại diện IMF tại Việt Nam đưa ra chưa tính đến khoản xấp xỉ 3 tỷ USD nhập siêu trong hai tháng gần đây (tháng 7 và tháng 8).

    III.Cán cân thanh toán quốc tế của Trung Quốc hiện nay:

    Mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới nhưng Trung Quốc đã có những dấu hiệu phục hồi kinh tế một cách nhanh chóng.

    Kinh tế Trung Quốc phục hồi nhanh chóng như thế là bắt nguồn từ 3 nỗ lực bao gồm các gói kích thích kinh tế, ngân hàng tự do cho vay chính phủ hỗ trợ xuất khẩu mạnh mẽ. Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc đã nỗ lực nới lỏng việc cho vay và hỗ trợ xuất khẩu.

    Thậm chí Trung Quốc còn miễn giảm thuế và áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ đắc lực khác cho các nhà xuất khẩu. Các biện pháp hỗ trợ bao gồm đặt nhiều rào cản lên nhập khẩu và ngăn chặn sự can thiệp sâu sắc vào thị trường tiền tệ để giữ giá đồng nhân dân tệ, giúp xuất khẩu của Trung Quốc cạnh tranh thậm chí ngay trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bị suy yếu.

    Hơn thế nữa, ở các cấp chính quyền khác nhau, nhiều chính sách hỗ trợ cũng được áp dụng. Các số liệu thống kê cho thấy nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ giảm 14,2% trong 7 tháng đầu tiên trong năm nay trong khi nhập khẩu từ các quốc gia còn lại tăng tới 32,6%. Thặng dư thương mại của Trung Quốc vốn đứng đầu thế giới, đạt 108 tỷ USD cho 7 tháng đầu năm.

    Hệ thống ngân hàng được vốn hoá tốt cũng cho phép đầu tư nhanh chóng. tổng nợ tồn đọng của các định chế tài chính được bảo hiểm bởi FDIC đã giảm 249 tỷ USD, tức 3,2% trong nửa đầu năm nay.

    Dự trữ ngoại hối trên 2.100 tỷ USD, thặng dư thương mại và thặng dư tài khoản vãng lai lớn, ngân sách quốc gia dồi dào chính là những đòn bẩy cho nền kinh tế và hệ thống tài chính Trung Quốc.

    Quý 2/2009, thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt 35 tỷ USD, thấp hơn 40% so với cùng kỳ năm trước. Thặng dư tài khoản vãng lai cũng sụt giảm, ước tính chỉ còn 6% GDP trong năm nay so với mức 11% GDP của năm 2007.

    So với Trung Quốc nền kinh tế nước ta cũng đang phục hồi tuy nhiên vẫn chưa bằng Trung Quốc, bởi các lý do sau:

    Trước hết, Việt Nam có cán cân thanh toán yếu hơn Trung Quốc và phải dựa vào các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp) mà hiện nay đang bị suy giảm, để duy trì mức tăng trưởng cao.

    Thứ hai, Việt Nam công bố kế hoạch kích thích tài chính với giá trị tương đương 6 tỷ đô la Mỹ (100 nghìn tỉ đồng), hoặc 6,8% GDP. Song, tăng trưởng ở Việt Nam phục hồi sau giai đoạn tăng trưởng thấp kỷ lục trong thập kỷ vào quí 1-2009. Mức tăng trưởng GDP giảm còn 3,1% ( so với cùng kỳ năm ngoái) trong quí 1. Nhờ chính sách kích thích phát huy được tác dụng, mức tăng trưởng đã đạt được mức 4,5% (so với cùng kỳ năm ngoái) trong quí 2.

    Lạm phát lại tái diễn. Mặc dù tỷ lệ lạm phát giảm từ mức đỉnh điểm là 27,9% vào tháng 9/2008 xuống mức 2,0% và tháng 8 năm nay, nhưng áp lực về giá lại bắt đầu gia tăng. Khi lạm phát gia tăng, lãi suất thực sẽ giảm, làm gia tăng động lực cho cầu, bao gồm cả nhập khẩu.

    Lĩnh vực xuất khẩu vẫn ở mức tăng trưởng chậm. Các lô hàng xuất cảng trong tháng 8 đã giảm 18,9% so với năm ngoái. Bên cạnh đó, nhập khẩu đã tăng trở lại trong tháng 8 – lần đầu tiên sau 10 tháng, tăng 5,1% so với năm ngoái.

    Thứ ba, thâm hụt thương mại hàng tháng đáng kể lại xuất hiện. Từ chỗ thặng dư trong quí 1, cán cân thương mại đã xấu đi nhanh chóng khi nhập khẩu bắt đầu hồi phục trong khi xuất khẩu vẫn còn yếu. Ngược lại, cán cân thương mại và cán cân tài khoản vãng lai của Trung Quốc duy trì ở mức thặng dư ổn định.

    Khi cán cân thương mại xấu đi, nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng rút bớt. Đây là sự xảy ra đồng thời đáng lo ngại. Việc giải ngân FDI giảm xuống còn 22,5% trong tháng 7 ở mức 4,6 tỉ đô la Mỹ; số vốn FDI cam kết năm nay cũng giảm xuống còn khoảng 80%, xuống mức 10,1 tỉ đô la Mỹ.

    Thứ tư, mức nợ của các ngành kinh tế công so với GDP vào cuối năm 2008 ở mức 38% GDP (số liệu của Trung Quốc là 17%).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-trong-kinh-doanh-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    LỜI MỞ ĐẦU

    Công ty Prudential là một công ty đa quốc gia kinh doanh trong lĩnh vực Bảo Hiểm nhân thọ. Công ty đã vào Việt Nam và cung cấp các sản phẩm của mình cho khách hàng là những người Việt Nam. Mặc dù mới thâm nhập vào thị trường Việt Nam nhưng với bề dày kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực Bảo Hiểm nhân thọ bước đầu công ty đã đạt được những thành công vượt trội và trở thành công ty thành công nhất tạI thị trường Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. đIều gì đem đến thành công cho công ty bí quyết dẫn đến thành công cho công ty là gì , trong những thuận lợi thì công ty còn gặp phảI những khó khăn gì. Công ty đã tận dụng hết được những lợi thế và cơ hội của mình hay chưa. Đây là những vấn đề mà các nhà quản trị của công ty đang quan tâm và tìm những giảI pháp để khắc phục những khó khăn và tận dụng những thơI cơ mà công ty có được. Trong những yếu tố dẫn đến thành công của công ty thì chiến lược sản phẩm của công ty chiếm vai trò rất lớn và quan trọng hay có thể nói rằng chiến lược về sản phẩm đã mang lạI thành công cho công ty

    . Công ty đã sử dụng chiến lược đa dạng hoá sản phẩm cung cấp cho khách hàng một danh mục sản phẩm mà từ đó khách hàng có được sự lựa chọn phù hợp nhất với nhu cầu của mình. Mặc dù sản phẩm của công ty là đa dạng và phong phú so với các sản phẩm khác của đối thủ cạnh tranh trong bảo hiểm nhân thọ nhưng liệu những sản phẩm của công ty đã thoả mãn được tối đa nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ hay chưa ? Còn những nhu cầu gì của khách hàng mà công ty chưa nhìn thấy? Liệu công ty có nên mở rộng loạI hình sản phẩm của mình không? Chính những vấn đề này đã dẫn đến tầm quan trọng trong việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược sản phẩm của công ty đIều đó sẽ giúp cho công ty khắc phục điểm yếu trong sản phẩm của mình, đề ra những chiến lược về sản phẩm mới nhằm tăng khả năng cạnh tranh dựa trên sự thoả mãn một cách hoàn hảo nhu cầu của khách hàng và nổi trội hơn so với đối thủ cạnh tranh

    1

    PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ) TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO HIỂM.

    I) KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM.

     

    1 ) ĐỊNH NGHĨA DỊCH VỤ.

     

    Dịch vụ là mọi hàng động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.

     

    2 ) ĐẶC TRƯNG CỦA DỊCH VỤ.

     

    Dịch vụ là một loại hàng hoá đặc biệt, nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hoá hiện hữu không có. Dịch vụ có 4 đặc điểm nổi bật đó là

     

    1. 1 ) Tính vô hình ( Tính không hiện hữu )

     

    Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vu. Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất. Tính không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ. Nhờ đó người ta có thể xác định được mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung gian giữa dịch vụ và hàng hoá hiện hữu

    1. 2 ) Tính không tách rời được.

     

    Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đi đồng thời. ĐIều này không đúng đối với hàng hoá vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Nếu dịch vụ do một người thực hiện, thì người cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó. vì khách hàng cũng có mặt khi dịch vu được thực hiên, nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng và khách hgàng là một tính chất đặc biệt của dịch vụ.

     

    1. 3 ) Tính không ổn đinh.

     

    Các dịch vụ rất không ổn định, vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó.

    2

    1. 4 ) Tính không lưu giữ được.

    Không thể lưu giữ dịch vụ được. Vì dịch vụ gắn liền với quá trình sử dụng khi quá trình sử dụng bị tạm dừng hoặc kết thúc thì dich vụ sẽ mất theo.

    3 ) ĐẶC TRƯNG CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM.

    Dịch vụ bảo hiểm là một dịch vụ có đặc trưng rất cao. Đây là một loại dịch vụ đặc biệt, để thoả mãn riêng một cấp độ nhu cầu của con người đó là nhu cầu về sự an toàn. Theo Abraham Moslow thì nhu cầu về sự an toàn là nhu cầu thứ hai sau nhu cầu sinh lý. Khi con người được thoả mãn nhu cầu về sự an toàn thì họ sẽ cảm thấy yên tâm và sẽ tập trung để theo đuổi thoả mãn những nhu cầu khác.

    Khi tham gia dịch vụ bảo hiểm mọi người phải đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm theo định kỳ. đổi lại họ sẽ nhận được những bù đắp về mặt kinh tế khi có rủi ro xảy ra và họ sẽ nhận được toàn bộ số tiền đã đóng từ trước tới nay, cộng thêm với khoản bảo tức khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc đáo hạn hợp đồng. Ta thấy rằng tham gia bảo hiểm vừa là một hình thức tiết kiệm vừa thoả mãn được nhu cầu về sự đảm bảo rủi ro.

    Sự bù đắp kinh tế cho những rủi ro được các nhà kinh doanh bảo hiểm cung cấp trên mọi mặt của mọi lĩnh vực. Hầu như những lĩnh vực nào có hoặc tiềm tàng sự rủi ro thì đều xuất hiện các loại hình tương ứng

    Không như những loại dịch vụ khác có thời gian tiếp xúc và sử dụng dịch vụ ngắn, thường thì khi kết thúc sử dụng cũng là lúc dịch vụ không còn sự tác động. Đối với dịch vụ bảo hiểm khi khách hàng tham gia nó họ sẽ phải gắn bó với nó mà thời gian đã được quy định sẵn trong hợp đồng. Đây cũng là một đặc điểm khác biệt của dịch vụ bảo hiểm so với các loại dịch vụ khác.

    Trong dịch vụ bảo hiểm thì sự xem xét của khách hàng về mặt lợi hay hạI được thực hiện một cách kỹ lưỡng và người ta thấy rằng việc tham gia bảo hiểm

    3

    là một hoạt động thoả mãn được nhu cầu về sự an toàn của khách hàng trong những hoạt động của mình mà không hề tốn kém.

    II ) NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ ) TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM

    1 ) Nhu cầu của khách hàng.

    Trong marketing nhu cầu của khách hàng được xem là chìa khoá để dẫn đến thành công của mọi công ty. Người ta cần phải nhận biết được nhu cầu của khách hàng là gì và thứ gì sẽ đem lại giá trị để thoả mãn được nhu cầu đó. Một trong những nhu cầu quan trọng của con người đó là nhu cầu về sự an toàn và bảo hiểm là một trong những dịch vụ có thể thoả mãn được nhu cầu đó.

    Trong hoạt động hàng ngày diễn ra con người phải đối diện với rất nhiều những vấn đề và hầu như tất cả các vấn đề đều có nguy cơ sảy ra rủi ro và mỗi một sự rủi ro lại cần có một sự đảm bảo riêng lẻ tách rời. Chính điều này đã tạo nên nhiều loại hình (sản phẩm ) bảo hiểm khác nhau để thoả mãn từng nhu cầu riêng lẻ của khách hàng. Công ty prudential đã nghiên cứu và cơ bản nhận định được một số nhu cầu của khách hàng muốn tham gia bảo hiểm. Những nhu cầu đó là:

    • Được bảo vệ an toàn tài chính suốt cuộc đời nhưng vẫn tích luỹ được tài sản cho con cháu. ( Phú- Trường An )
    • Thực hiện một kế hoạch tích luỹ tài chính hiệu quả nhất để chăm lo tương lai cho con em mình. (Phú _ Tương lai . Phú _ Tích luỹ dáo giuc )
    • Tích luỹ tài chính để an tâm vui sống trong những năm tháng hưu trí. (Phú bảo gia , Phú trường khang, Phú tích luỹ an khang )
    • Tích luỹ tài chính trong 15 năm cho những kế hoạch dài hạn, nhưng vẫn được hưởng quyên lợi trả định kỳ mỗi 03 năm để chi tiêu cho các kế hoạch ngắn hạn. ( Phú Thành đạt, Phú tích luỹ định kỳ )

    4

    • Luôn có được sự chăm sóc hoàn hảo về tài chính cho từng giai đoạn quan trọng khác nhau của cuộc đời và một sự bảo vệ toàn diện trước bất trắc của ngày mai. (Phú hoàn mỹ )
    • Được bảo vệ an toàn tài chính nhưng vẫn được hoàn phí khi đáo hạn. ( Phú Hoà nhân an )
    • Nhân viên luôn có được sự an tâm, đem hết nhiêt tình chung sức vào sự phát triển của tổ chức, công ty mình. ( Phú An nghiệp )
    • Được tăng cường khả năng bảo vệ tài an toàn tài chính khi chẳng may gặp tai nạn dẫn đến tử vong hoặc tàn tật. ( Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn )
    • Được tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tài chính khi chẳng may gặp tai nạn dẫn đến tử vong . ( Bảo hiểm chết do tai nạn )
    • Được trợ giúp tài chính khi chẳng may mắc bệnh hiểm nghèo. ( Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo, Bảo hiểm thu phí bệnh hiểm nghèo )
    • ) Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty a ) Những căn cứ lựa chọn chiến lược của công ty.

     

    Như ta đã biết để đưa ra được một chiến lược đúng đắn các nhà hoạch định chiến lược của công ty phảI căn cứ vào những thông tin do những người làm công tác tiếp thị của công ty cung cấp. Mà công việc cụ thể họ phảI làm là đánh giá những sản phẩm nào cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch, và cần loạI bỏ…v..v..

     

    Những căn cứ để đưa ra chiến lược mà người làm tiếp thị cung cấp cho các nhà hoạch định chiến lược có thể là thông tin về thị trường, về nhu cầu khách hàng,

    về đối thủ cạnh tranh, về chu kỳ sống của sản phẩm …v..v . Một trong những căn cứ để lựa chọn danh mục sản phẩm hay chiến lược về sản phẩm đó là dựa vào nhu cầu của khách hàng. Khách hàng có thể có nhiều nhu cầu về chủng loạI sản phẩm hay là nhu cầu về chuyên sâu trong một chủng loạI sản phẩm. Theo

    5

    những nghiên cứu của công ty thì nhu cầu của khách hàng là đa dạng, đòi hỏi phảI có những sản phẩm khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó.

    1. b) Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty Prudential

    theo những căn cứ như trên đã đưa ra các nhà hoạch định chiến lược của công ty Prudential đã quyết định chọn chiến lược đa dạng hoá sản phẩm đây là chiến lược đã làm cho công ty Prudential là công ty có số sản phẩm nhiều nhất và luôn có sản phẩm mới sớm nhất để đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng trong số nhứng công ty cùng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam. Trong danh mục sản phẩm của công ty có rất nhiều sản phẩm để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó khách hàng được tư vấn để có thể có được chọn lựa được những sản phẩm thích hợp nhất với nhu cầu của mình. Những sản phẩm của công ty không chỉ dừng lại ở những sản phẩm đã đưa ra mà nó luôn được bổ xung những sản phẩm mới làm cho danh mục sản phẩm ngày càng đa dạng phong phú. Đây là hệ quả của việc nắm bắt tốt những nhu cầu của khách hàng và nhạy bén với những xu thế biến đổi nhu cầu đó.

    III) KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM DỊCH VỤ BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    Theo các nhà phân tích kinh tế thì Việt Nam là một trong những nước thuộc khu vực Đông Nam Á có sức thu hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó lĩnh vực Bảo Hiểm là một trong những lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia. Vì sao lại như vậy? ở những nước tư bản thì Bảo Hiểm là một dịch vụ phổ biến và phát triển từ lâu, còn ở Việt Nam đây là một dịch vụ mặc dù đã xuất hiện khá lâu nhưng cho mãi đến những năm gần đây thì mới có sự đổi mới và phát triển. Người dân đã bắt đầu chú ý hơn đến những sản phẩm bảo hiểm để thoả mãn nhu cầu về an toàn của mình. Những năm trước đây Việt

    6

    Nam vẫn còn là nước nghèo cuộc sống của người dân nói chung chỉ đủ ăn ngoàI ra còn rất nhìều nhu cầu khác cần phải được thoả mãn nhưng đều không có điều kiện kinh tế. Khi nền kinh tế thị trường phát triển cuộc sống của người dân được cảI thiện thu nhập tăng lên, từ đó người dân đã chú ý hơn đến việc thoả mãn những nhu cầu khác. Theo thang bậc nhu cầu thì sau nhu cầu về sinh lý được thoả mãn thì nhu cầu tiếp đến của con người là nhu câu về an toàn, chính đIều này đã tạo nên cho Việt Nam một tiềm năng lớn về các dịch vụ bảo hiểm. Vì thế trong những năm gần đây có rất nhiều công ty bảo hiểm nước ngoàI đầu tư ráo riết vào Việt Nam trong đó có Prudential và công ty này đã đạt được những thành tựu nổi bật trong việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cho các khách hàng là người Việt Nam. Bên cạnh công ty Prudential còn có rất nhiều công ty khác tham gia trên thị trường cung cấp các sản phẩm bảo hiểm như AIA, Bảo Việt, Bảo Minh …v.. v. các công ty với những điểm mạnh của riêng mình cũng đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng sét chung thì chỉ có Prudential là thành công nhất trong bảo hiểm nhân thọ, Thị trường bảo hiểm hiện đang rất sôi động các sản phẩm cũng rất phong phú điều đó cho thấy là khách hàng đã tiếp thu rất tốt và có hiểu biết về Bảo hiểm. Sự thành công của Prudential là một điều đáng mừng cho thấy dấu hiệu đi lên và phát triển của nền kinh tế.

    PHẦN II. THỰC TRẠNG VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ ) CỦA CÔNG TY

    2.1) LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY PRUDENTIAL.

    Công ty Prudential được thành lập năm 1848 tại Luân Đôn, Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất vương quốc Anh và cũng là một trong

    7

    ngững tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới. Quản lý trên 250 tỷ đô la Mỹ và có hơn 20 000 nhân viên trên toàn cầu. Prudential cung cấp các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, hưu trí, quỹ tương hỗ, ngân hàng, quản lý đầu tư và bảo hiểm phi nhân thọ. Tập đoàn Prudential toàn cầu đã chính thức khai trương văn phòng đạI diện thứ nhất tại Việt Nam từ năm 1995 va được Chính Phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào thãng 10 năm 1999. Hiện nay, Prudential vinh dự được hơn 1 000 000 khách hàng Việt Nam giao phó trọng trách bảo vệ an toàn tài chính và tương lai cho gia đình mình.

    Vào tháng 6 năm 2001. Prudential Việt Nam đã tăng vốn đầu tư từ 15 triệu đô là lên 40 triệu đô là Mỹ. Tháng 10 năm 2002. Một lần nữa Prudential Việt Nam tăng vốn đầu tư từ 40 triệu lên 61 triệu đô là Mỹ. Với khả năng tài chính vững chắc, Pruential Việt Nam đang đầu tư ráo riết vào việc đa dạng hoá sản phẩm và xây dựng hệ thống phục vụ hiệu quả nhằm phục vụ khách hàng ngày càng hoàn hảo hơn.

    Nhằm đáp ứng niềm tin to lớn của người dân Việt Nam với tinh thần trách nhiệm cao, Prudential cam kết chỉ tham gia đầu tư các hoạt động an toàn và hiệu quả để đem lại lợi nhuận cao nhất cho khách hàng và góp phần xây dựng kinh tế nước nhà.

    2 . 2 ) HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY PRUDENTIAL

    Prudential có nghĩa là “thận trọng”, người ta đã rất khôn ngoan khi chọn tên công ty là prudential vì chính cái tên có thể phần nào đã gợi lên sự tin tưởng cho khách hàng. Sản phẩm chính của công ty là bảo hiểm nhân thọ ngoài ra công ty còn phát triển thêm nhiều sản phẩm kèm theo và sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Với hơn 80 năm kinh nghiệp tại Châu á, Prudential hiện đang hoạt động tại 12 trị trường đó là Malaysia, Singapore, Hồng Kông , Indonesia, Thai lan, Philippines, ấn độ, Trung Quốc, ĐàI Loan, Việt Nam, Nhật

    8

    Bản và Hàn Quốc. Chỉ riêng trong khu vực châu á TháI Bình Dương, Prudential đã đầu tư hơn 9 tỉ đôla. Trong đó Việt Nam chiếm 61 triệu Mỹ Kim.

    Qua những năm kinh doanh tạI thị trường Việt Nam công ty Prudential đã đạt

    được những thành tựu nhất định sau đây là kết quả kinh doanh của công ty.

    Năm 2002 nếu tính riêng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh thu của

    tập đoàn đạt 2,8 ty Bảng Anh (tương đương 21,1 tỷ USD ) tăng 12% so với năm

    1. Doanh thu phí bảo hiểm hàng năm của Prudential Châu Á tăng 18% . Với

    Công ty đầu tư M&G của Prudential – Công ty hàng đầu trong lĩnh vực quản lý

    đầu tư cá nhân, tổng thu nhập của quỹ đầu tư tại công ty này đạt 1 tỷ Bảng Anh

    ( Tương đương 1,6 Tỷ đô là USD ), tăng 11 % ( Thu nhập ròng của quỹ đầu tư

    tại M & G tăng 79 % )

    Cũng trong năm 2002 Prudential hiện đang có 511376 hợp đồng có hiệu lực tính đến cuối tháng 6 và 24169 đại lý từ khi hoạt động ở Việt Nam đến nay, Prudential đã giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho 340 trường hợp với số tiền lên đén 20.4 tỷ đồng. Sau hơn hai năm hoạt động, Prudential có trên 900 000 khách hàng với 18 trung tâm phục vụ khách hàng trên khắp cả nước trong thời gian qua Prudential đã giải quyết hơn 500 trường hợp với số tiền đền bù lên dến 30 tỷ đồng.

    Ngày 17/11/2002, Prudential kỉ niệm 3 năm ngày có mặt ở thị trường Việt Nam. Với số vốn gần 1000 tỷ đồng công ty đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài có nguồn vốn cao nhất trong lĩnh vực bảo hiểm, Ngân hàng và dịch vụ tài chính.

    2.3) THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM Ở CÔNG TY PRUDENTIAL.

    2.3 .1 ) Những sản phẩm của công ty

     

    với chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của mình công ty đa có nhiều những sản phẩm để thoả mãn những nhu cầu riêng biệt của khách hàng, công ty có những loạI sản phẩm sau

    9

    • ) Sản phẩm chính

     

    Sản phẩm chính là các sản phẩm có thể tham gia riêng lẻ mà không cần kèm

    theo bất kỳ một sản phẩm nào khác trong một hợp đồng bảo hiểm. Trong đó có cả sản phẩm tham gia chia lãi và cả sản phẩm không tham gia chia lãi. Những sản phẩm chính gồm:

    + Phú _ Trường an

    Đây là loại sản phẩm mà mục đích của nó là mang đến cho khách hàng sự an tâm vì đã được bảo vệ an toàn tài chính trong suốt cuộc đời và giúp khách hàng tích luỹ một tài sản cho con cháu sau này. Sản phẩm này nhằm thoả mãn cho nhu cầu được bảo vệ an toàn tài chính suốt đời nhưng vẫn tích luỹ được tài sản cho con cháu. Đặc điểm của sản phẩm này là

    • Thuộc các sản phẩm bảo hiểm chính
    • Có tham gia chia lãI ( có bảo tức tích luỹ – có giá trị hoàn lại )
    • Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 0 đến 55
    • Tuổi khi đáo hạn hợp đồng
    • Thời hạn hợp đồng từ 44 đến 99 năm

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm bổ trợ và sản phẩm kèm theo sau:

    • Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Bảo hiểm từ bỏ thu phí ( chỉ dành cho hợp đồng bảo hiểm trẻ em dưới 15 tuổi + Phú _ Tích luỹ an khang

    Đây là loại bảo hiểm mà mục đích của nó là cùng khách hàng tạo dựng nguồn tài chính vững chắc, đảm bảo một tương lai tốt đẹp bằng chính những dành dụm

    10

    của ngày hôm nay. Đồng thời, mang đến cho khách hàng sự an tâm vì được bảo vệ an toàn tài chính nếu chẳng may sảy ra rủi ro. Sản phẩm bảo hiểm này nhằm thoả mãn nhu cầu: tích luỹ tài chính để an tâm vui sống trong những năm tháng hưu trí. ở đây cần nói thêm rằng một nhu cầu có thể có rất nhiều sản phẩm để thoả mãn chứ không nhất thiết phải một sản phẩm thoả mãn một nhu cầu. Sản phẩm bảo hiểm này thuộc nhóm các sản phẩm bảo hiểm chính, có tham gia chia lãI ( có bảo tức tích luỹ – có giá trị hoàn lại). Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 0 đến 65 tuổi, Tuổi tối đa khi đáo han hợp đồng là 75 tuổi. Thời hạn hợp đồng từ 10 đến 30 năm.

    Khi đã tham gia phú Tích luỹ _ An khang khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm kèm theo và sản phẩm bổ trợ nếu dưới đây nhằm mục đích tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tài chính cho bản thân và gia đình trong mọi hoàn cảnh.

    • Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí ( chỉ dành cho trẻ em dười 15 tuổi )

    + Phú _ Tích luỹ giáo dục

    Đây là loại bảo hiểm mà mục đích của nó là sat cánh cùng các bậc cha mẹ chuẩn bị nguồn tài chính vững chắc làm hành trang cho đứa con thân yêu vào đời. Sản phẩm này nhằm thoả mãn nhu cầu: Thực hiện một kế hoạch tích luỹ hiệu quả nhất để chăm lo cho con em mình. Sản phẩm này có một số đặc điểm đặc biệt. Khi tham gia phu_ tích luỹ giáo dục bằng hợp đồng dành cho trẻ em dưới 15 tuổi, khách hàng nên tham gia thêm sản phẩm bổ trợ “ Bảo hiểm từ bỏ thu phí” với các quyền lợi ưu tiên để có thể hoàn toàn yên tâm về tích luỹ tài

    11

    chính cho đứa con thân yêu của mình cho dù bất kỳ chuyện gì sản ra với mình đi chăng nữa.

    Với các hợp đồng “ Phú _ tích luy” dành cho người được bảo hiểm từ 15 tuổi trở lên, khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm kèm theo và sản phẩm bổ trợ sau:

    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Tích luỹ định kỳ

    Đây là sản phẩm bảo hiểm với mục đích giúp khách hàng tích luỹ tàI chính trong 15 năm cho các kế hoạch dàI hạn nhưng vẫn nhận được các khoản chi trả định kỳ ( mỗi 3 năm ) để chi trả cho những mục tiêu ngắn hạn khác. và tất nhiên, khách hàng sẽ hoàn toàn yên tâm vì đã được bảo vệ an toàn tàI chính nếu chẳng may sảy ra rủi ro.

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia các sản phẩm bổ trợ kèm theo khác

    + Phú _ Hoà nhân an

    Đây là sản phẩm bảo hiểm với mục đích mang đến cho khách hàng và gia đình sự an tâm thanh thản vì đã được bảo vệ an toàn tài chính chỉ với một mức phí bảo hiểm vừa phải. Đặc điểm của loại sản phẩm này là để thoả mãn nhu cầu được bảo vệ an toàn tài chính nhưng vẫn được hoàn phí khi đáo hạn. Hầu hết khách hàng tham gia bảo hiểm này đều được bình an và không gặp phải rủi ro nào phải yêu cầu bảo hiểm, do đó sau khi đáo hạn hợp đồng khách hàng vẫn xem như đã tiết kiệm được một khoản tiền đãng kể.

    Một số thông tin về sản phẩm như sau

    Thuộc nhóm các sản phẩm bảo hiểm chính

    12

    Không tham gia chia lãI ( Không có bảo tức tích luỹ – không có giá trị hoàn lại )

    Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 15 đến 60 tuổi. Tuỏi tối đa khi đáo hạn hợp đồng là 65

    Thời hạn hợp đồng 5 hoặc 8 năm

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia các sản phẩm bổ trợ và sản phẩm kèm theo sau.

    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn b ) Sản phẩm bổ trợ kèm theo

    Đây là những sản phẩm bảo hiểm giúp khách hàng mở rộng thêm quyền lợi bảo hiểm với mức phí phải chăng . Tất cả các sản phẩm của nhóm này đều thuộc nhóm sản phẩm không tham gia chia lãi (không có bảo tức tích luỹ – không có giá trị hoàn lại)

    Khách hàng chỉ có thể tham gia sản phẩm này nếu đã tham gia một sản phẩm chính hoặc sản phẩm trọn gói của Prudential.

    Nhóm này gồm 6 sản phẩm :

    + Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo

    Đây là sản phẩm thuộc nhóm sản phẩm bổ trợ kèm theo và luôn kết hợp với bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo. Sản phẩm này có mục đích hầu gánh giúp khách hàng gánh những nỗi lo về tài chính để chữa trị chẳng may lâm trọng bệnh. Khi tham gia bảo hiểm khách hàng sẽ chăm lo về tài chính khi mắc những bệnh như: Tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, Ung thư, Suy thận, Lao màng não…

    + Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo

    Đây là loạI bảo hiểm luôn kết hợp với “ bảo hiểm bệnh hiểm nghèo” hầu gánh giúp khách hàng những nỗi lo về tàI chính để yên tâm chữa trị khi chẳng may

    13

    lâm trọng bệnh. Khi tham gia sản phẩm này khách hàng được tham gia thêm các sản phẩm chính ở trên .

    + Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn

    Đây là loạI bảo hiểm nhằm mục đích mang đến cho khách hàng cơ hội tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tàI chính cho bản thân và gia đình.khi tham gia sản phẩm này khách hàng cũng được tham gia thêm một số sản phẩm chính ở trên.

    + Bảo hiểm từ bỏ thu phí

    Sản phẩm này mang đến sự an tâm tuyệt đối cho các bậc cha mẹ về tích luỹ tàI chính cho đứa con thân yêu, cho dù có chuyện gì xảy ra với mình đI chăng nữa.

    + Bảo hiểm chết do tai nạn

    Sản phẩm này giúp khách hàng tăng cường khả năng bảo vệ tàI chính khi chẳng may gặp tai nạn.

    + Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Sản phẩm gíup khách hàng tăng cường khả năng bảo vệ tàI chính nếu chẳng may tử vong hoặc tàn tật do tai nạn.

    • ) Sản phẩm trọn gói

     

    Nhằm giúp khách hàng chon lựa được sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu của

    mình Prudential đã nghiên cứu và đưa ra một số hợp đồng bảo hiểm trọn gói tiêu biểu. Những sản phẩm bảo hiểm trọn gói này là sự kết hợp giữa một sản phẩm chính và một hoặc nhiều sản phẩm bổ trợ kèm theo khác. Nhóm này sản phẩm gồm 6 sản phẩm trọn gói sau

    + Phú _ Tương lai

    Kết hợp giữa phú _ tích luỹ giáo dục và bảo hiểm từ bỏ thu phí

    + Phú _ Bảo gia

     

    14

    Gồm phú _ tích luỹ an khang kết hơp với bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn và Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Thành đạt

    Gôm Phú _ tích luỹ định kỳ kết hợp với Bảo hiểm Nhân Thọ có kỳ hạn và Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Trường khang

    Gồm Phú _ tích luỹ an khang kết hợp với Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ An nghiệp

    Gồm Phú _ hoà nhân an kết hợp với Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Đây là những sản phẩm kết hợp giữa những sản phẩm chính và sản phẩm bổ trợ kèm theo. Việc đưa ra sản phẩm trọn gói là một chiến lược của công ty Prudential. Khách hàng có thể tham gia riêng một phầm sản phẩm trọn gói, hoặc cũng có thể tham gia thêm các sản phẩm bổ trợ hoặc sản phẩm kèm theo khác theo hướng dẫn của công ty.

    • với danh mục sản phẩm như trên công ty đã thực hiện được mục tiêu của mình đó là đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Với sự đan xen giữa các sản phẩm bảo hiểm với nhau đã tạo ra vô số những sản phẩm mà khách hàng có thể lựa chọn để phù hợp với nhu cầu của bản thân mình. Với chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của mình Prudential đã gặt hái được những thành công to lớn. Bên cạnh đó công ty không ngừng nghiên cứu và giới thiệu những sản phẩm mới. Nhân dịp 8/3/2003 Công ty đã cho ra mắt khách hàng một sản phẩm mới đó là “ Phú _ Hoàn mỹ “ đây là bảo hiểm dành cho phái nữ. Đây là sản phẩm trọn gói gồm “Phú _ Tích luỹ an khang” kết hơp với một số sản phẩm bổ trợ đặc thù dành riêng cho phụ nữ: Bảo hiểm cơ bản, bảo hiểm đặc biệt dành cho phụ nữ, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo và bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo, boả hiểm từ bỏ thu phí mở rộng.

    15

    Theo đại diện của Prudential, việc giới thiệu sản phẩm mới này nằm trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty với mục đích đáp ứng tốt nhất nhu cầu bảo hiểm ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, nhất là nhu cầu được bảo vệ tối đa của ngưòi phụ nữ trong những tình huống không mong đợi.

    Đại diện của Prudential cho biết, khi tham gia Phu _ Hoàn mỹ, ngoài việc chủ động lựa chọn thời gian đáo hạn hợp đồng sao cho phù hợp với những kế hoạch tài chính trong tương lai, khách hàng còn nhận được những quyền lợi về tiền mặt khác thích ững với nhu cầu tài chính của từng giai đoạn quan trọng trong cuộc đời người phụ nữ. Đó là quyền lợi tiền mặt khi sinh con và quyền lợi tiền mặt vào các ngày đáo niền thứ 5 và thứ 10 của hợp đồng.

    “ Chúng tôi đã đưa quyền lợi chăm sóc quả phụ vào phú hoàn mỹ để có thể trợ giúp khách hàng một khoản tiền mặt tương đưong với 10 % số tiền bảo hiểm, giúp phần nào vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của cuộc sống khi chẳng may người chồng qua đới do tai nạn. khách hàng có thể mua thêm sản phẩm bổ trợ tuỳ chọn “ Từ bỏ thu phí mở rộng “ để nếu chẳng may người chồng qua đời hay bị thương tật toàn bộ và vĩnh viễn thì họ sẽ được miễn toàn bộ phí phải đống con lại mà vẫn được hưởng mọi quyền lợi bảo hiểm trong xuốt thời hạn của hợp đồng” . Trên đây là những nét sơ qua về một sản phẩm nằm trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm mà công ty mới đưa ra vào ngày 8/3 của năm nay đây là kết quả của sự nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu khách hàng, công ty đã chọn khách hàng mục tiều của mình là phụ nữ đã có gia đình và chưa có gia đình đây quả thực là một sản phẩm có ý nghĩa có thể đáp ứng nhu cầu mà phụ nữ mong đợi bấy lâu nay. Với những chiến lược và sản phẩm hoàn hảo công ty Prudential sẽ ngày càng có được những thành công vượt trội trên con đường kinh doanh của mình.

    16

    2.3.3 ) Đánh giá khả năng thoả mãn nhu cầu khách hàng của những sản phẩm (dịch vụ ) ở công ty Prudential.

     

    • Những ưu thế trong sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh.

    Như ta đã thấy bên cạnh công ty là rất nhiều đối thủ cạnh tranh với những tiềm lực không kém gì Prudential. Vấn đề là ở chỗ công ty đã vượt qua các đối thủ cạnh tranh để trở thành một tập đoàn lớn mạnh nhất thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, điều gì đã giúp công ty thành công đến như vậy. Một trong những lý do dẫn đến thành công của công ty đó chính là sự khác biệt và những ưu thế trong chiến lược sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh. để có được những sản phẩm có ưu thế và sự khác biệt so với đối thủ công ty đã nghiên cứu và nắm bắt rất nhanh chóng nhu cầu của khách hàng hay nói cách khác công ty luôn bám sát được nhu cầu của khách hàng. Vì vậy công ty đã hiểu được những gì mà khách hàng đang tìm kiềm và mong đợi. Phương châm phục vụ của Prudential là “ Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu” , lắng nghe và thấu hiểu chính nhờ điều này mà công ty luôn có sản phẩm ( dịch vụ ) có thể đáp ứng một cách nhanh nhất hoàn hảo nhất những nhu cầu của khách hàng. Những sản phẩm của công ty luôn coi trọng và đặt quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu, khi tham gia bảo hiểm của công ty khách hàng cảm thấy yên tâm, cảm thấy mình có một cảm giác được bảo vệ thật sự. Một số công ty kinh doanh bảo hiểm khác khi khách hàng tham gia họ cảm thấy mình như bị lợi dụng và họ cho rằng bảo hiểm chỉ là hình thức, các công ty chỉ lợi dụng số tiền của họ. Đây

    17

    cũng chính là điểm khác biệt mà Prudential đã tạo được trong tâm trí khách hàng so với các hãng kinh doanh bảo hiểm khác.

    Có một điều hết sức đặc biệt trong các sản phẩm của công ty prudential. Như ta đã biết Prudential đưa ra 3 nhóm sản phẩm đó là sản phẩm chính , sản phẩm bổ trợ và sản phẩm trọn gói. Mỗi một sản phẩm trong nhóm này lại kết hợp với một hoặc nhiều sản phẩm của nhóm khác để tạo nên rất nhiều những loại sản phẩm mới nhờ thế mà danh mục sản phẩm của công ty trở nên đa dạng và phong phú. Nhờ đặc điểm này các sản phẩm của công ty đã thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, có thể đáp ững những nhu cầu khác nhau chỉ trong một sản phẩm kết hợp. đây là điều đặc biệt mà các đối thủ cạnh tranh khác không có hoặc không bằng. Bên cạnh đó công ty cúng tỏ ra rất nhanh nhậy trong việc đưa ra sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của khách hàng ví dụ: như trong dịp 8/3 công ty đã tung ra sản phẩm mới Phú _ Hoàn Mỹ để đáp ứng nhu cầu an toàn sắc đẹp cho phụ nữ và chỉ dành riêng cho giới nữ.

    Trong dịch vụ bảo hiểm thì những quyền lợi và đIều khoản trong hợp đồng là hết sức quan trọng đối với những sản phẩm phẩm của công ty Prudential thì những đIều khoản trong hợp đồng là hết sức chặt chẽ điều đó làm cho công ty có được sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, nhưng nó cũng làm cho khách hàng cảm thấy công ty quá chắc chắn làm cho họ phải suy nghĩ đến những quyền lợi của riêng mình nhận được khi tham gia bảo hiểm. Nhưng mặt khác khi khách hàng tham gia bảo hiểm của Prudential thì họ nhận được những lợi ích và các điều khoản rõ ràng trong hợp đồng đã tạo được sự tin cậy của khách hàng nhiều hơn so với các công ty khác.

    Công ty Prudential với kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ khi tham gia thị trường Việt Nam đã được thừa hưởng những kinh nghiệm về bảo hiểm từ công ty mẹ ở Anh Quốc nên họ nhanh chóng tiếp cận được với thị

    18

    trường Việt Nam, cộng thêm với nguồn tài chính lớn mạnh nên có thể tổ chức nghiên cứu thị trường một cách nhanh chóng và kỹ lưỡng.

    Ngoài ra bên cạnh việc cung cấp sản phẩm công ty Prudential có rất nhiều những dịch vụ chăm sóc khách hàng kèm theo sản phẩm như sinh nhật hay các ngày lễ, khách hàng cảm thấy mình thực sự được quan tâm.

    Chính những điều trên đã dẫn đến những thành công vượt trội của công ty Prudential.

    • Những điểm hạn chế của sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh

     

    • Trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng.

    Trên đời không có gì là hoàn hảo cả bất kể thứ gì có điểm mạnh tất sẽ có điểm yếu, Prudential cũng không nằm ngoài quy luật này. mặc dù sản phẩm và dịch vụ của Prudential khá đầy đủ nhưng vẫn chưa thoả mãn được triệt để nhu cầu của khách hàng. chiến lược sản phẩm của công ty tương đối độc đáo như khi khách hàng tham gia một sản phẩm chính thì có thể tham gia thêm một số sản phẩm kèm theo, điều này đã phần nào tạo nên một sự bù đắp cho những hạn chế của sản phẩm chính. Sự hạn chế của sản phẩm chính là sự thoả mãn chưa tối đa cho một nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó mức phí bảo hiểm của Prudential vẫn còn khá cao so với các công ty khác trên thị trường Việt Nam nên nó hạn chế trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng. NgoàI ra việc thu phí bảo hiểm khá cao ảnh hưởng lớn khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Dân số Việt Nam đa phần là có thu nhập thấp dù có mong muốn tham gia bảo hiểm thì cũng khó có thể mà thực hiện được.

    Trong số các loại sản phẩm của công ty bao gồm những sản phẩm có bảo tức tích luỹ _ có giá trị hoàn lại và không có giá trị hoàn lại. Trong hai nhóm sản phẩm trên thì khách hàng chủ yếu là tham gia vào sản phẩm có giá trị hoàn lại và có bảo tức tích luỹ. Bởi vì khách hàng Việt Nam phần lớn là những người có thu nhập không phải là cao nên họ không muốn ném tiền

    19

    vào một sản phẩm mà khi không có sự kiện bảo hiểm thì họ không nhận được gì hết. Chính điều này đã làm cho những sản phẩm thuộc nhóm không có giá trị hoàn lại của công ty ít phát huy tác dụng.

    Một mặt hạn chế lớn nữa của sản phẩm của công ty đó là các sản phẩm của công ty chủ yếu tập trung vào bảo hiểm nhân thọ, trong khi đó các công ty khác họ tham gia rất nhiều các lĩnh vực cần bảo hiểm khác hoặc giả nếu có thì những sản phẩm của công ty không được hoàn hảo bằng đối thủ cạnh tranh.

    • Một số đánh giá cụ thể của khách hàng về khả năng đáp ứng nhu cầu của họ.

    Theo một số khách hàng thì các sản phẩm của Prudential đã thoả mãn được nhu cầu của khách hàng có rất nhiều người biết đến Prudential nhưng họ vẫn chưa có được khả năng tiếp cận với sản phẩm. Một số ngưòi khác muốn tham gia bảo hiểm của Prudential vì công ty này đã tỏ ra rất đáng tin cậy nhưng mức phí vẫn còn cao và thủ tục tham gia bảo hiểm cũng rất phức tạp mất thời gian. Gây tâm lý ngần ngại trong quá trình quyết định tham gia bảo hiểm.

     

    PHẦN III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM Ở CÔNG TY PRUDENTIAL NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG THOẢ MÃN NHU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG

     

    I ) Định hướng phát triển của công ty.

     

    1 ) Mục tiêu và thị trường mục tiêu của công ty.

    Mục tiêu của công ty trước mắt là tích cực quảng bá sản phẩm để tăng thêm khả năng tiếp cận tìm hiểu của khách hàng nhằm tăng thị phần của công ty và cạnh tranh đối với các đối thủ khác. Tăng cường công tác nghiên cứu nhu cầu và su thế biến đổi nhu cầu của khách hàng để nhanh chóng có những chiến lược về sản phẩm để khắc phục thích ứng với những biến đổi trong nhu cầu đó. bên cạnh đó công ty còn trú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ đi kèm với sản phẩm cùng với quá trình marketing của công ty.

    20

    Về thị trường mục tiêu thì thị trường mục tiêu của Prudential có xu hướng ngày càng mở rộng thêm nhiều đối tượng. Mục đích của Prudential là mong muốn thoả mãn mọi khách hàng thuộc mọi tầng lớp có nhu cầu về sản phẩm bảo hiểm. Hiện nay sản phẩm của công ty đa số tập trung ở các thành phố lớn và những tỉnh có kinh tế khá, sản phẩm của công ty vẫn chưa được quảng bá một cách rộng rãi cho toàn bộ người dân và phí Bảo hiểm vẫn còn cao vì vậy công ty có gắng giảm phí bảo hiểm để có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng . đây là điều mà trong tương lai công ty Prudential cố gắng thực hiện

    2 ) Định hướng phát triển.

    Trong những năm sắp tới công ty sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và nâng cao hơn nữa khả năng phục vụ và chăm sóc khách hàng. với những chiến lược hoàn thiện sản phẩm ( dịch vụ ) và tung ra những sản phẩm mới để đãp ứng nhu cầu đa dạng và thay đổi nhanh chóng của khách hàng. Prudential luôn luôn giữ vững nguyên tắc trong kinh doanh của mình đó là : “Chính trực – Công bằng – Dịch vụ hoàn hảo” và phương châm phục vụ “ Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu”.

    II ) Triển vọng thị trường sản phẩm của công ty.

    Với những gì mà Prudential đã làm trong những năm qua thì đó quả là một thành công và là một điều đáng mừng. Prudential đã không ngừng đầu tư vào Việt Nam điều đó chứng tỏ Prudential đã thành công ở Việt Nam và thị trường này tỏ ra ngày càng có nhiều triển vọng. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng đi lên đồng nghĩa với việc người dân hay khách hàng ngày càng có thu nhập cao hơn cuộc sống khá hơn họ sẽ có xu hướng tập trung vào thoả mãn những nhu cầu cao hơn trong đó có cả nhu cầu về các loại sản phẩm bảo hiểm. Vì vậy có thể nói thị trường Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho các nhà kinh doanh bảo hiểm, còn việc họ có kinh doanh thành công hay không thì lại tuỳ thuộc vào khả năng của chính họ. Theo nhận định thì thị trường về sản phẩm bảo hiểm ở

    21

    Việt Nam mới ở giai đoạn đầu trong chu kỳ sống của sản phẩm, vì vậy trên thị trường có rất nhiều hãng kinh doanh bảo hiểm nhầy vào cạnh tranh. Công việc đặt ra cho Prudential là luôn luôn có những sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo để đáp ứng nhu cầu của khách tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Nếu trong tương lai mà Prudential vẫn duy trì và phát triển hơn nữa những chiến lược kinh doanh như hiện nay thì có lẽ Prudential sẽ vẫn là người thành công trên thương trường.

    III ) Hoàn thiện chiến lược sản phẩm của công ty Prudential.

    Chiến lược sản phẩm mà công ty Prudential theo đuổi đó là chiến lược đa dạng hoá sản phẩm. Chiến lược này bắt nguồn từ sự đa dạng trong nhu cầu về mặt hàng bảo hiểm của khách hàng. Hiện tại chiến lược này của công ty tỏ ra tương đối thành công , thực chất thì sản phẩm của công ty chưa phải là nhiều mặc dù công ty đã có những phương pháp như kết hợp các sản phẩm với nhau để tạo ra sản phẩm mới nhằm tăng sự đa dạng trong sản phẩm , nhưng thực ra thì các sản phẩm đó chỉ thoả mãn được một số nhu cầu nhất định. Còn rất nhiều những nhu cầu hiện tại và tiềm năng mà công ty chưa nhìn thấy chưa có sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu đó.

    ta thấy rằng xuyên xuốt các sản phẩm của công ty thì hầu như sản phẩm của công ty đều liên quan đến bảo hiểm nhân thọ, còn rất nhiều các lĩnh vực khác cũng cần được bảo hiểm mà công ty chưa tham gia điều này có thể gây ra những thiệt hạI gián tiếp cho công ty. Ví dụ như các công ty khác như Bảo Việt

    • Bảo Minh còn tham gia các lĩnh vực bảo hiểm khác như tài chính, giao thông vận tảI ..v..v . khi tham gia vào các lĩnh vực bảo hiểm này thì cũng đồng nghĩa với việc danh tiếng của công ty tăng theo và thị phần của công ty cũng lớn mạnh nếu khi đó các công ty cạnh tranh có một chiến lược sản phẩm mới thì rất có thể công ty mất đi thị phần của mình và bị bật khỏi thị trường.

    Công ty có lẽ cần phải hoàn thiện hơn nữa chiến lược sản phẩm của mình nhằm chiếm toàn bộ thị phần về bảo hiểm nói chung và nhân thọ nói riêng.

    22

    Trước mắt công ty cần tập trung nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để có thể đưa ra được những sản phẩm mới ví dụ: Thời gian gần đây có xuất hiện một loại bệnh mới đó là bệnh viêm hô hấp cấp làm cho người dân rất lo lắng. Nói chung trên thế giới sẽ luôn xuất hiện những bệnh mới lợi dụng điều đó công ty có thể có một loại bảo hiểm về chuẩn đoán và chữa trị khi chẳng may mắc phải chứng bệnh mới này. Nói chung để có được một sản phẩm mới không phải là chuyện dễ dàng cần có thời gian nghiên cứu và hoàn thiện, trên đây chỉ là ý tưởng của em về một sản phẩm nhỏ có thể đưa ra.

    Công ty Prudential khi đã chiếm lĩnh được thị trường bảo hiểm rồi thì cũng có thể đưa ra những sản phẩm tương tự như sản phẩm của đối thủ cạnh tranh mục đích làm đa dạng hoá sản phẩm của mình và lợi dụng được ưu thế thị trường của mình.

    không chỉ trong bảo hiểm nhân thọ mà trong cả các lĩnh vực khác công ty cũng nên đưa ra những sản phẩm có thể đáp ứng những nhu cầu về bảo hiểm phi nhân thọ của khách hàng. mặt khác tăng cường các hoạt động truyền thông để cho khách hàng biết đến công ty đang có những thứ mà họ cần.

    Bên cạnh chiến lược chủ chốt đó là chiến lược đa dạng hoá sản phẩm công ty cũng cần phải có thêm chiến lược hỗ trợ cho chiến lược chính. Dù chú trọng vào việc tung ra sản phẩm mới để thoả mãn những nhu cầu mới nhưng công ty vẫn phải tiếp tục nghiên cứu nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm hiện thời để phát hiện ra những mặt mạnh và mặt yếu của sản phẩm để từ đó đưa ra biện pháp khắc phục nhằm hoàn thiện hơn nữa chiến lược sản phẩm của mình.

    23

    KẾT LUẬN.

    Công ty Prudential là một công ty thành công trong lĩnh vực Bảo hiểm tại thị trường Việt Nam với những chiến lược sản phẩm và dịch vụ đặc biệt. Công ty đã trở thành công ty dẫn đầu. Nhưng điều đó sẽ không có gì là chắc chắn trong thời buổi kinh tế hiện nay nếu chỉ cần lơi là tự đắc một chút thì ngay lập tức sẽ có kẻ khác đứng lên tiếm ngôi của mình. Mà trong thời buổi hiện nay thua kém có nghĩa là thất bại. Vì vậy công ty phải luôn luôn không ngừng “ Lắng nghe và Thấu hiểu”. Luôn luôn tiếp cận với khách hàng để cho khách hàng coi mình như là một người thân không thể thiếu, bên cạnh đó phải ra sức hoàn thiện chiên lược đa dạng hoá sản phẩm của mình nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng thay đổi của khách hàng, và luôn duy trì một dịch vụ chăm sóc khách hàng thật hoàn hảo. chỉ có như vậy thì công ty mới luôn thành công và tồn tại được.

    24

    MỤC LỤC

     

    25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Qu%E1%BB%B9-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    LỜI NÓI ĐẦU

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sẩy, hết tuổi lao động, qua đời.

    Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua , chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.

    Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH (thu – chi quỹ BHXH) nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả trong việc thu -chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động BHXH.

    Là sinh viên Khoa Bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để đóng góp một phần sức lực của mình cho việc phát triển các chính sách BHXH và sự ổn định Quỹ BHXH mà cụ thể là việc nâng cao hiệu quả của công tác thu

    • chi quỹ BHXH. Qua bài viết này em xin nêu lên và đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ BHXH. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong các thầy côđóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần viết sau co điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thị Thiên Hương đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng dạy để có thể hoàn thành bài viết này.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.

    PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH

    I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận của chính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia. Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hình bảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định.

    1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội

    Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển của con người.

    Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.

    Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chăm sóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác nhau như tương

    trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn đi xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước. Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

    Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người thuê lao động). Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền công từ giới chủ. Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của người lao động. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hoà mâu thuẫn này. Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chi trả cho việc này. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này. Mặt khác cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chất lượng của việc bảo đảm cho người lao động cũng ngày càng được tốt hơn.

    Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Từ đây ta có thể nêu ra bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:

    • Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường,

    mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.

    • Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động và gia đình họ).
    • Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảo hiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.
    • Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ nguồn quỹ BHXH. Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước bù thiếu.
    • Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
    • Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
    • Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
    • Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật & trẻ em.

    Với những mục tiêu trên BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/48 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng BHXH, quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.

    2. Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.

     

    1. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

     

    Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già… vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

    Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác.

    1. Chức năng của BHXH.
    • Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
    • Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.
    • Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.
    • Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.
    1. Tính chất của BHXH.
    • Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.
    • BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.
    • BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi).

    3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.

    Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:

    • BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.
    • Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
    • Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người mà họ sử dụng.
    • Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.
    • Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình sử dụng.

    – Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:

    • Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.
    • Ngành nghề công tác của người lao động
    • Thời gian công tác và tiền lương của người lao động
    • Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp
    • Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.
    • Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.
    • Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.

    II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI, NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG QUỸ

    BHXH.

    1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    • Người lao động đóng góp
    • Người sử dụng đóng góp
    • Nhà nước bù thiếu
    • Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

    • Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.
    • Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.
    • Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.

    Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.

    Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.

    Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.

    Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.

    Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…

    2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

     

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:

    • Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.
    • Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.

    Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau:

    1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
    1. Trợ cấp ốm đau
    1. Trợ cấp thất nghiệp
    1. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
    1. Trợ cấp tuổi già
    1. Trợ cấp gia đình
    1. Trợ cấp sinh đẻ
    1. Trợ cấp khi tàn phế.
    1. Trợ cấp cho người còn sống.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.

    Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội mà các nước tham gia công ước quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người còn sống.

    Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    • Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.
    • Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.
    • Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.
    • Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
    • Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.
    • Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
    • Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
    • Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.

    Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.

    PHẦN II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP – 1993.

    Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách mạng tháng 8 – 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị của họ.

    Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số văn bản sau:

    Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức nghỉ hưu.

    Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.

    Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.

    Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.

    Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm sau đây:

    • Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ

    trang.

    • Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nước.
    • Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với các chính sách xã hội khác.
    • Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động, công đoàn, Bộ Tài chính…).

    Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân

    xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược vào thống nhất đất nước.

    Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau. Từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .

    BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp chị em ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.

    Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.

    Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất lớn đó là:

    • Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa thấy hết được vai trò của nó.
    • Chính sách này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực.
    • Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực

    tế.

    • Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

    2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.

     

    Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao động”.

    Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”.

    Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tượng tham gia BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê mướn.

    Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong BHXH.

    Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:

    • Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:… mà còn mở rộng cho người lao

    động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

    • Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.
    • Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.
    • Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.
    • Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động sự nghiệp BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.

    Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.

    Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.

    II. THỰC TRẠNG QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

     

    1. Trước Nghị định 43/CP/1993.

    Như chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

    Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

    Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

    Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm

    • chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà

    nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.

    1. Sau nghị định 43CP/1993

    Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

    Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo.

    Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

    • Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.
    • Nguồn lao động đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.
    • Nhà nước hỗ trợ thêm.
    • Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

    • Chi quản lý hành chính sự nghiệp
    • Chi trợ cấp cho các chế độ

    Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, vậy chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

    Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

    2. Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.

    1. Thu từ người sử dụng lao động và người lao động.

    Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

    • BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.
    • Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.
    • Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam)

    Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước.

    Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 15% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 5% tiền lương.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

    Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

    Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã khẳng định phần nào sự trưởng thành của hoạt động thu BHXH cụ thể:

    Năm Lao động(người) Tỉ lệ (NS/NT) Số thu(triệu) Tỉ lệ
            (NS/NT)
             
    1995 2.275.998   788.486  
             
    1996 2.961.444 128,4% 2569733  
             
    1997 3.162.352 108,2% 3.445.611 134,1%
             
    1998 3.355.589 106,1% 3875956 112,5%
             
    1999 3579427 106,6% 4188382 108,1%
             

    Bảng số liệuu trên cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt số lao động năm tham gia BHXH năm 1999 so với 1995 tăng 1303439 lao động (tăng 57,3%) BHXH 1999 thu được 4.188382 triệu đạt 106,9% kế hoạch năm.

    Với kết quả trên, BHXH Việt Nam đã hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán đôc lập với ngân sách nhà nước chủ động chi trả cho người lao động, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH (bình quân hiện nay mỗi năm 3% nhưng mức giảm này sẽ ngày càng cao). Mặt khác quỹ BHXH có số tích luỹ sẽ ngày một tăng bảo đảm chi trả ổn định lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đạt được kết quả trên là do các nguyên nhân sau:

    • Đối tượng tham gia đã được mở rộng hơn so với trước đây (doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên phải tham gia đóng BHXH…)
    • Công tác quản lý thu BHXH từng bước đi vào nề nếp, người lao động và người sử dụng lao động đã ý thức được trách nhiệm quyền lợi của họ khi tham gia BHXH.
    • Công tác thu BHXH của các tỉnh, thành phố ngày một hoàn thiện, tuyên truyền vận động phối hợp với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác BHXH được đảm bảo. Một mặt tích cực rà soát, tuyên truyền vận động để tăng thêm đối tượng tham gia đóng BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa tham gia BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên cạnh đó, là công tác truy thu nợ đọng để ngăn chặn không để có công nợ phát sinh.
    • Trình độ cán bộ không ngừng được nâng cao, BHXH các tỉnh thành phố từng bước áp dụng công nghệ tin học vào quản lý hoạt động BHXH. Nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng…

    Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng công tác quản lý thu BHXH còn có những nhược điểm cần khắc phục nhằm ổn định tăng trưởng quỹ. Các nhược điểm đó là:

    • Đối tượng tham gia BHXH còn chưa mở rộng, hiện nay ở nước ta đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ chiếm 14% lực lượng lao động xã hội, còn trên 86% chưa tham gia BHXH. Điều này cho thấy chúng ta đã để lãng phí một nguồn thu rất lớn từ lực lượng lao động chưa tham gia BHXH này không đảm bảo được quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng, chưa đáp ứng được khuyến cáo của tổ chức lao động thế giới ILO. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thì không đáng kể. Mặt khác một số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH, nhất là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa thực hiện đăng ký nộp BHXH, nói chính xác hơn thì phần lớn các đơn vị này cố tình trốn tránh việc tham gia đóng BHXH cho người lao động mà họ sử dụng thông qua việc lợi dụng các khe hở của pháp luật.
    • Tình trạng nộp thiếu, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

    Mức nợ quỹ BHXH qua các năm.

    Năm Nợ đọng (%)
       
    1995 11,3
       
    1996 8,3
       
    1997 11,2
       
    1998 10,0
       
    1999 9,0
       

    Riêng năm 1999 tình trạng nợ quỹ BHXH điển hình ở một số tỉnh như

    sau:

    BHXH tỉnh Phó Thọ 18 tỉ /73 tỉ Chiếm 24%
         
    BHXH tỉnh Hoà Bình 13 tỉ/120 tỉ Chiếm 20%
         
    BHXH tỉnh Thái Bình 7,7/38 tỉ Chiếm 15%
         
    BHXH tỉnh Thanh hoá 6,6 tỉ/44 tỉ Chiếm 15%
         
    BHXH tỉnh Gia Lai 46,6 tỉ/102 tỉ Chiếm 16%
         

    Điều này là do các nguyên nhân sau:

    • Do những khó khăn của đơn vị sử dụng lao động và người lao động vừa thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống quá khó khăn dẫn tới việc không thực hiện nộp BHXH đúng kỳ đúng số.
    • Do chủ sử dụng lao động thiếu ý thức chưa thực sự quan tâm tới việc nộp BHXH.
    • Do một số tồn tại nợ trước đây dồn tính lại, đơn vị sử dụng lao động chưa có nguồn hoặc chưa đủ cơ sở để xử lý hoặc là nộp hoặc là giải **** xử lý xoá nợ, nên vẫn theo nợ trên sổ sách.
    • Mặt khác trong việc quản lý thu còn có một số công việc chưa thực hiện kịp thời đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra, đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.
    • Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để đưa ra tỉ lệ đóng góp là 20% (người sử dụng lao động 15%, người lao động 5%) chưa dựa vào cơ sở khoa học vững chắc, so với một số nước trên thế giới và khu vực thì tỉ lệ đóng góp của chúng ta còn thấp.

    Tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH ở một số nước đóng góp trên thế giới.

      Người LĐ so với lương Người SDLĐ so với quỹ lương (%)
         
    CHLB Đức 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
         
    CH Pháp 11,82 19,68
         
    Malayxia 9,5 12,75
         

    Và với tỉ lệ thu như thế này thì theo dự báo của chuyên gia ILO tình hình quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian tới như sau:

      1997 2000 2010 2020 2030
               
    Số người đóng BHXH (ngàn) 3110 3271 4406 5233 58057
               
    Số người hưởng BHXH (ngàn) 1792 1802 1739 1808 1867
               
    Trong đó:          
    Thưởng trước 1995 1732 1635 1195 706 290
    Thưởng sau 1995 60 167 549 1102 1577
               
    Thu BHXH (ngàn tỉ) 7,9 11,6 23,4 35,1 49,6
               
    Chi BHXH (ngàn tỉ) 5,9 8,7 17,9 33,4 63,0
               
    Chênh lệch thu chi (ngàn tỉ) +2,0 +2,8 +5,5 +1,8 -13,5
               

    Vậy theo dự báo của các chuyên gia ILO thì tới năm 2030 quỹ BHXH Việt Nam sẽ bị thâm hụt trầm trọng.

    Với những ưu nhược điểm vừa nêu trên trong công tác thu BHXH của nước ta trong thời gian đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thu BHXH trong thời gian tới

    đảm bảo sự tăng trưởng ổn đinh của quỹ BHXH nói riêng và ổn định hoạt động BHXH nói chung.

    1. Thu từ ngân sách nhà nước đóng góp và các khoản thu khác.

    Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước.

    Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước trợ giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần (mỗi năm giảm bình quân khoảng 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

    Đối với các khoản thu khác: từ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức từ thiện, từ đầu tư vốn nhàn rỗi… cũng đã góp phần gia tăng quy mô của quỹ BHXH. Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH có vai trò vô cùng quan trọng, bởi hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm hoạt động tài chính, thông qua việc đầu tư, sử dụng vốn nhàn rỗi để sinh lời, có hoạt động đầu tư vốn mới đảm bảo được việc chi trả quỹ BHXH trong tương lai. Cuối năm 1999 số vốn tạm thời nhàn rỗi của BHXH là 12000 tỉ đồng. Số tiền này BHXH được chính phủ cho phép đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mua trái phiếu, công trái và gửi ngân hàng của nhà nước để phát triển giá trị của quỹ. (đợt mua công trái vừa qua BHXH đã mua 500 tỉ đồng). Tổng số tiền sinh lời là 631 tỉ đồng.

    Kết quả trên đạt được là do các nguyên nhân:

    • Thứ nhất là do hiệu quả ngày càng cao trong công tác thu phí BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động như nêu ở trên.
    • Nhà nước quyết định đưa quỹ BHXH ra hạch toán độc lập điều này khiến cho các cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH tự hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của mình trong việc quản lý hệ thống BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng nâng cao hiệu quả trong quản lý quỹ.
    • Bước vào cơ chế thị trường, được nhà nước giao cho toàn quyền srư dụng quỹ BHXH, các cán bộ quản lý BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, tích luỹ kiến thức mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực vừa có hiệu quả kinh tế vừa an toàn góp phần tăng nguồn thu của quỹ.

    Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả ở công tác này trong thời gian qua, tuy nhiên cũng ở công tác này trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

    Mặc dù có giảm nhưng ngân sách nhà nước cấp cho BHXH còn tương đối lớn nó bao gồm tất cả chi phí trợ cấp BHXHcho những người được hưởng chế độ BHXH trước 1/1/1995 và một phần chi phí các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH sau 1/1/1995 mà số lượng những người này hiện nay còn rất đông và do hậu quả của các chính sách, chế độ trước đây để lại nêu đây vẫn còn là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    • Trong vấn đề đầu tư vốn nhàn rỗi do quỹ BHXH là một quỹ đặc biệt, liên quan đến đời sống của hàng triệu người lao động trong xã hội nên hoạt động đầu tư chỉ được sử dụng một phần vốn nhàn rỗi và phải hết sức cẩn trọng.

    Vì vậy hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi có hiệu quả chưa cao bởi tính cẩn trọng khiđầu tư vốn (theo quy luật rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao) đồng thời do thị trường chứng khoán của chúng ta mới hình thành còn nhiều vướng mắc, các cán bộ quản lý quỹ BHXH kinh nghiệm chưa nhiều với đầu tư chủ yếu là gửi ngân hàng, mua trái phiếu kho bạc, muc công trái… nên lãi suất còn thấp.

    Từ các vấn đề đã nêu trong công tác thu BHXH cho chúng ta thấy được mặc dù công tác thu BHXH đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, dần dần góp phần đưa BHXH thoát khỏi sự bao cấp nặng nề của nhà nước. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho việc tăng trưởng, phát triển nguồn quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống người lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, ổn định kinh tế – xã hội.

    3. Tình hình chi BHXH trong thời gian qua.

    Như đã nêu ở trên quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích đó là:

    • Chi trả trợ cấp các chế độ BHXH
    • Chi quản lý quỹ BHXH

    Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH. Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất.

    Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

    Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

    Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ.

    Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXHlà việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng hết sức tiến bộ. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ, thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam.

    BHXH Việt Nam cũng đã quy định BHXH các cấp chi trả trực tiếp cho những người được hưởng chế độ hưu một lần hoặc trợ cấp một lần nhằm mục đích tăng cường sự tiếp cận với người hưởng BHXH. Trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người

    lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn: Đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.

    Bình quân số tiền chi trả lương lương hưu và các loại trợ cấp cho hơn 6 triệu người lao động là 6000 tỉ đồng một năm nhưng BHXH đã thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ theo chế độ, tất cả những người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng đều được nhận một lần trước ngày 15. Đặc biệt ngày 24/6/1999 BHXH Việt Nam đã ban hành văn bản số 860/BHXH – QLC có hiệu lực từ 1/7/1999 về việc chi trả lương cho đối tượng tạm vẵng đến nơi tạm trú. Theo văn bản này thì các đối tượng đến ở nơi tạm trú từ 3 tháng trở lên có thể nhận lương hưu tại nơi tạm trú một cách thuận lợi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa làm được.

    Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đã làm cho đối tượng yên tâm và yêu mến những người làm công tác BHXH.

    Hệ thống biểu mẫu, sổ sách được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước, nhằm phục vụ đăc lực cho công tác chi trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình hiện nay. Với việc ra đời của sổ BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ dàng, chính xác, kịp thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

    BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý của ngành góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

    Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác quản lý chi vẫn còn phải đặt ra nhiều vốn cần tiếp tục củng cố trong thời gian tới, cụ thể là:

    • Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp cho người lao động, thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của người lao động cũng như gia đình họ.
    • Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm. Việc

    tổ chức vận chuyển tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chi trả chưa đảm bảo dễ xảy ra mất mát, thiếu hụt. Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

    • Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

    Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai đảm bảo việc tăng trưởng và ổn định quỹ, ổn định xã hội.

    III. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CÂN ĐỐI QUỸ BHXH VIỆT NAM.

    1. Biện pháp tăng thu BHXH.

    1. Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.
    • Trước hết về phía quản lý vĩ mô của nhà nước cần phải có được hệ thống văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.
    • Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là lấy số đông bù số ít.
    • Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ

    BHXH qua các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.

    • Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính toán của các nhà nghiên cứu trong nước thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là 35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.
    1. Với các khoản thu khác.
    • Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong nước và ngoài nước.
    • Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.
    • Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa đảm bảo ổn định quỹ.
    • Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra đời thị trường chứng khoán.

    2. Các biện pháp giảm chi BHXH.

    • Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.
    • Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.
    • Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí điều kiện mới.
    • Ứng dụng công nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói chung, quản lý thu – chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện Ngân hàng)
    • Giáo trình Bảo hiểm (Trường Đại học KTQD)
    • Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số: 1, 3, 5, 6/2000 xuân canh thìn
    • Tạp chí Lao động & Xã hội các số 4/1997; 8,9,12/1998; 3/1999; 3/2000
    • Nghị định 43CP ra ngày 22/6/1993
    • Nghị định 12CP ra ngày 26/11/1995
    • Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam chương 12

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-n%C3%A2ng-cao-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-PR-cho-c%C3%B4ng-ty-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-nh%C3%A2n-th%E1%BB%8D-Prudential.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR (Public Relations_Quan hệ cộng đồng) cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong bối cảnh nền kinh tế Việt nam đang trên đà hội nhập cùng các tổ chức kinh tế thế giới người ta thấy rằng sự tồn tại của một thị trường Bảo hiểm lành mạnh là một yếu tố cấu thành cơ bản cho bất cứ nền kinh tế thành công nào. Nắm bắt được tầm quan trọng đó, chính phủ Việt nam mở cửa cho một ngành mới đó là Ngành Dịch vụ bảo hiểm

    Với mong muốn đáp ứng nhu cầu của thị trường mang lại sự an toàn về tài chính cho khách hàng, tạo sự an tâm trong cuộc sống của người dân Việt Nam,Công ty bảo hiểm PRUDENTIAL đã cung cấp cho thị trường các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phù hợp với điều kiện sống, phong cách sống và văn hoá của người Việt nam. Bên cạnh đó mục tiêu xây dựng một đội ngũ đại lý hùng hậu, chuyên nghiệp, có đạo đức nghề nghiệp, luôn biết đề cao quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu là một trong những mục tiêu của công ty bảo hiểm PRUDENTIAL

    Một trong những hoạt động quan trọng để tạo nên sự thành công của công ty bảo hiểm đó là hoạt động ” PR (PUBLIC RELATIONS_QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG” Vì PR là quá trình quản lý về truyên thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy trì những quan hệ hữu ích giữa một tổ chức cá nhân với một cộng đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến sự thành bại của tổ chức cá nhân đó.

    Cho đến nay khái niệm về PR còn khá mới mẻ với mỗi chúng ta cũng như với mỗi doanh nghiệp và khách hàng của họ. Vì thế khi nghiên cứu về đề tài một góc nhìn về ” PR (PUBLIC

     

    RELATIONS_QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG” của công ty bảo hiểm PRUDENTIAL trong thị trường bảo hiểm ở việt nam. Do hạn chế về lý luận, về kinh nghiệm thực tế, các mối quan hệ nên bài viết còn nhiều thiếu sót. Rất mong sự giúp đỡ của thầy cô giáo và bạn đọc

    Nội dung của đề tài:

    Chương 1. Tổng quan về PR

    Chương 2. Tổng quan về bảo hiểm.

    Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR của công ty bảo hiểm nhân thọ PRUDENTIAL

     

    2

    Chương 1:TỔNG QUAN VỀ PR

    1.1 KHÁI NIỆM PR

    PR theo tiếng Anh là PUBLIC RELATIONS tuy nhiên dịch sang tiếng việt thì chưa có sự thống nhất, có thể dịch là quan hệ cộng đồng, quan hệ công chúng, giao tế nhân sự…

    Nếu ta gọi PR là quan hệ công chúng thì chưa đủ vì PR còn bao gồm các nghiệp vụ trong đó có Government relations (Government affair), industry relation… Trong các nghiệp vụ này không thể coi các nhóm cộng đồng đồng nghiệp hay các nhóm quan chức chính trị là các nhóm công chúng. Cụm từ giao tế nhân sự thì không ổn vì bản chất của PR là để giải quyết vấn đề thông tin giữa người với người chứ không phải để giải quyết vấn đề nhân sự vốn là nghiệp vụ của ngành nhân sự. Như vậy có lẽ cụm từ quan hệ cộng đồng là thích hợp hơn cả. Và khắc phục điểm yếu của các cách dịch khác .

    Vậy PR là gì?

    Theo Rex Halow một trong những học giả hàng đầu về PR cho rằng có đến hơn 100 định nghĩa khác nhau về PR. Nhưng các định nghĩa đều đi đến sự thống nhất với nhau. PR là một quá trình quản lý về truyền thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy trì những quan hệ hữu ích giưã một tổ chức cá nhân với một cộng đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến sự thành bại của cá nhân đó”

    PR ra đời khi nào và ở đâu?

    PR ra đời vào cuối thế kỷ 19 xuất hiện ở Mỹ bởi một số nhà báo tiến bộ. Sau này nó được phổ biến ở các nước Châu Âu và gần đây nhất là ở Châu á khi các khái niệm và nội dung của nó gần được hoàn chỉnh.

    • Việt nam khái niệm này chỉ được biết đến trong một vài năm gần đây. nó còn khá mới mẻ và chưa thực sự trở thành một công cụ

    3

    quan trọng, hiệu quả trong quá trình hoạt động và kinh doanh của doanh nghiệp.

    Ngày nay người ta coi PR là bạn đồng hành của quảng cáo trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu. PR,cũng như quảng cáo, là một trong những nội dung của hoạt động truyền thông marketing. Nhưng trong khi quảng cáo trực tiếp giới thiệu về một tổ chức ,một sản phẩm cụ thể,thì PR có thể đi từ việc gây dựng nhận thức của cộng đồng về tổ chức hoặc sản phẩm đó,từ đó mà tạo nên hình ảnh,uy tín và hiệu quả cần thiết .PR vì vậy xét trên bình diện chung,có tác dụng lâu bền và hiệu quả hơn so với quảng cáo. 2/3 các vị giám đốc Marketing và giám đốc nhãn hiệu ở Mỹ tin rằng PR giữ vai trò quan trọng hơn quảng cáo trong việc xây dựng và quảng bá danh hiệu (” Nguồn marketing report 1999″).

    • Việt Nam ,PR được biết đến sau quảng cáo một thời gian khá dài,do đó trong khi chưa hiểu hết về PR,có nhiều người đã luôn
    • ánh đồng hai khái niệm đó thành một.Xét về chức năng,PR có những nghiệp vụ liên quan đến việc thu thập thông tin đầu vào và xử lí thông tin đầu ra.PR cũng làm một trong những nhiệm vụ đặc biệt là quảng bá cho hình ảnh của tổ chức (đôi khi người ta sử dụng cụm từ”đánh bóng thương hiệu”là chưa chính xác,vì PR khong chỉ
    • ánh bóng mà còn là một trong những bên tham gia chính trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu).Tuy nhiên ,những việc mà PR

    làm cũng như mục tiêu ,tính chất ,cách thức…của những việc đó cũng không hề giống quảng cáo nên không thể nói PR là quảng cáo hay một phần của quảng cáo.Điểm được coi là khác biệt lớn nhất giữa PR và quảng cáo đó là:quảng cáo bắt buộc phải trả tiền về địa

    • iểm hay thời gian của các phương tiện truyền tin còn PR thì không.

    Giám đốc một công ty quảng cáo(trước kia cũng làm về PR )đã từng nói: làm quảng cáo dễ hơn vì khái niệm quảng cáo đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam quen thuộc hơn rất nhiều.Tìm kiếm ngân

    4

    sách cho quảng cáo cũng thông thoáng hơn.Thực tế là có rất ít các doanh nghiệp Việt Nam làm PR hay có những bộ phận chuyên làm các hoạt động PR mà trong khi ngân sách dành cho quảng cáo thì ngày càng tăng.

    Vì sao?

    Theo tôi,điều này cũng là dễ hiểu vì ba lí do sau:thứ nhất, quảng cáo xuất hiện đã khá lâu rồi nên ai cũng có thể thấy và công nhận hiệu quả mà quảng cáo đem lại trong khi đó PR có quá ít thời gian để chứng tỏ điều đó;thứ hai ,nội dung về PR chưa được phổ biến và hoàn chỉnh ở Việt Nam ;thứ ba ,do nguồn ngân sách của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế.

    Thực ra công việc quan hệ với giới báo chí cũng là một hoạt động của PR, ngoài ra còn rất nhiều các hoạt động khác. Xét về nguồn gốc xuất xứ, người ta cho rằng PR bắt nguồn từ báo chí. Cho đến nay, các trường dạy báo chí phương Tây cũng chính là nơi đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu cho ngành PR. Học viên học các môn cơ sở như nhau, sau đó người học PR sẽ được đào tạo chuyên sâu thêm những nghiệp vụ của ngành đó để làm việc chuyên môn. Ở Việt Nam hiện nay chưa có một trường nào đào tạo chính thức và riêng rẽ về PR.Các cuốn sách viết về PR cũng chưa được xuất bản.Có thể nói chúng ta đang vừa học vừa làm PR. Trong thời gian sắp tới sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp đi tiên phong xây dựng nền tảng cho hoạt động PR ở Việt Nam.

    5

    1.2 VAI TRÒ CỦA PR

    Bằng những công việc cụ thể của mình, vai trò chính của PR là giúp doanh nghiệp truyền tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ. Khi truyền đi các thông điệp này, PR giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu.Ví dụ như tã lót Huggies đang tổ chức một chương trình PR rộng rãi được quảng cáo khá rầm rộ”Bé huggies năng động”, hoặc Unilever vận động chương trình “Gởi tặng đồng phục đi học mà bạn không dùng nữa cho bột giặt OMO” gửi cho các nữ sinh ở các vùng xa. Chương trình này có tính từ thiện, phục vụ cho cộng đồng nên đã tranh thủ được thiện cảm của công chúng. Hơn nữa, thông điệp PR ít mang tính thương mại do sử dụng các phương tiện trung gian như các hoạt động tài trợ, từ thiện, hoặc các bài viết trên báo, vì chứa đựng lượng thông tin phong phú nên dễ gây cảm tình và dễ được công chúng chấp nhận. Ví dụ các trường đại học trong và ngoài nước tham gia triển lãm “Ngày hội đào tạo và việc làm” tại khách sạn New World, do sứ quán Pháp tài trợ kinh phí nhằm mục đích tiếp cận với các đối tượng, quảng bá các chương trình đào tạo của họ. Tại triển lãm này, chính hoạt động PR đã giúp cho trường đại học chuyển tải nhiều thông tin cụ thể đến các đối tượng có liên quan.

    PR đặc biệt hữu hiệu trong các trường hợp:

    -Tung ra sản phẩm mới

    -Làm mới sản phẩm cũ

    -Nâng cao uy tín

    -Doanh nghiệp có ngân sách hạn chế

    -Doanh nghiệp gặp khủng hoảng

    Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể kể ngay ra sau đây ba lợi ích chính của hoạt động PR:

    • PR là phương cách tốt nhất để chuẩn bị và tạo những dư luận tốt. Quảng cáo không làm được việc này. Marketing cũng vậy. PR làm rất tốt công việc

    6

    này.PR giúp doanh nghiệp tạo dư luận tốt thông qua sự ủng hộ của giới truyền thông và các chuyên gia phân tích thương mại. Giữa hoạt động PR và Quảng cáo, phương pháp nào hiệu quả hơn-lựa chọn một mẫu quảng cáo về sản phẩm mới hay một bài báo hay viết về sản phẩm đó? Quảng cáo tuy dễ gây ấn tượng nhưng không dễ dàng thuyết phục công chúng tin. Về mặt này thì không chỉ đúng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà nó luôn đúng với bất kì doanh nghiệp nào.

    • Chi phí cho hoạt động PR thấp hơn các loại hình khuyến mãi khác. Khi so sánh chi phí cho chiến dịch tiếp thị trực tiếp hoặc đăng một mẫu quảng cáo với chi phí cho một thông cáo báo chí, đương nhiên mẫu thông cáo báo chí sẽ có chi phí thấp hơn khá nhiều trong khi lại thu hút được lượng công chúng rộng rãi hơn.

    Vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ không còn phải quá lo về chuyện ngân sách dành cho PR trong khi vẫn có thể từng bước xây dựng chỗ đứng của công ty trên thị trường

    • PR giúp doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực tài giỏi. Thông thường người lao động thích được làm việc cho những công ty nổi tiếng vì họ tin tưởng là công ty đó rất vững chắc và họ có thể có nhiều cơ hội thăng tiến.

    Hơn nữa, làm PR sẽ giúp cho doanh nghiệp vượt qua những sóng gió và những cơn bão táp. Khi có khủng hoảng, doanh nghiệp đó sẽ tìm được sự ủng hộ,bênh vực, hỗ trợ từ phía cộng đồng(đây là điều kì diệu mà không thể mua được bằng tiền) trong việc cứu vãn uy tín và giữ gìn nguyên vẹn hình ảnh của doanh nghiệp.

    1.3 KHÍA CẠNH XÃ HỘI CỦA PR

    Hoạt động PR chính là việc tạo ra một nhịp cầu thông tin ,tạo ra sự hiểu biết và thông cảm trong một xã hội đầy phức tạp như hiện nay

    Mỗi xẵ hội thì đều được cấu tạo nên từ rất nhiều cá nhân, mỗi cá nhân lại là những cá thể khác biệt,không cá nhân nào giống cá nhân nào về nhận thức,trình

    7

    độ ,lối sống,ý niệm….Vậy nên việc thống nhất suy nghĩ của xã hội về một vấn đề

    nào đó là vô cùng khó khăn.

    Chúng ta cùng quay trở lại với chiến dịch quyên góp áo trắng đi học của Unilever. Đây cũng chỉ là cách mà công ty lựa chọn để gắn hình ảnh bột giặt Omo với những chiếc áo trắng nhưng cái cách mà Omo quyên góp cho các học sinh nghèo đã tác động tới tình nhân ái, lòng trắc ẩn, sự yêu thương của con người đối với con người.Thông điệp mà Unilever sử dụng đã thuyết phục được mọi người, thúc giục mọi người hưởng ứng,chiếm trọn lòng tin yêu của cả xã hội.

    Các chiến dịch tranh cử tổng thống thuộc loại rầm rộ nhất như ở Mỹ cũng chính là các chiến dịch PR tổng lực với sự vận dụng các kĩ năng, các loại hình hoạt động PR cho mục tiêu chính trị. Qua đó công chúng sẽ có được những nhận thức công bằng và chính xác hơn cả về những ứng cử viên, ngược lại các ứng cử viên cũng có thể truyền đạt những thông điệp của mình một cách nhanh chóng và rộng rãi nhất.Lợi ích xã hội trong trường hợp này rất được đề cao khi mà công chúng có thể ‘chọn mặt gửi vàng ‘, chọn ra được người xứng đáng nhất, người sẽ đem lại lợi ích cho chính họ và cho cả xã hội. Kể cả sau khi được trúng cử, PR vẫn được xem trọng. Những cuộc họp báo chớp nhoáng ngay sau mỗi cuộc họp, hội đàm ở Vườn hồng của tổng thống Mỹ cũng chính là một ví dụ. Không chỉ các quĩ, hội, các chính trị gia mà ngay cả cảnh sát, nhà thờ, trường học…cũng cần PR cho những mục tiêu của mình và vì sự thông hiểu với cộng đồng nói chung.

    Ví như WWF (World Wild Fund_Quĩ quốc tế vè bảo vệ thiên nhiên)có tới

    • triệu hội viên trên toàn cầu và mỗi hội viên đó chỉ cần đóng góp 1 USD thì trong nháy mắt,WWF đã có một số tiền khổng lồ là 47 triệu USD. Nhưng các hội viên này đâu có góp tiền một cách dễ dàng. Họ phải được biết số tiền mình góp đã và sẽ được dùng làm gì ? Đem lại hiệu quả ra sao? Ở đâu và khi nào? Như vậy trong việc này nhất thiết phải có sự góp mặt của PR. PR sẽ tạo ra một

    8

    sự thông hiểu toàn diện sâu sắc và đúng đắn nhất giữa hội viên_tổ chức và cộng đồng nói chung nhằm làm cho các dự án ngày một phát triển.

    Có thể nói rằng PR hoạt động nhờ xã hội và hoạt động vì xã hội.

    1.4 PR SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ

    • Các mối Quan hệ báo chí, các hoạt động hỗ trợ, các hoạt động khuyến mại tài trợ , triển lãm hội chợ, các mối quan hệ với các cơ quan chức năng, xử lý thông tin khủng hoảng và các hoạt động hỗ trợ khác

    *Các hoạt động hỗ trợ

     

    Bao gồm việc tổ chức các lễ kỉ niệm hay các buổi giới thiệu sản phẩm dịch vụ hay ra mắt các công ty mới.

     

    Công cụ nay đòi hỏi một chi phí cao hơn và sự chuẩn bị kĩ lưỡng hơn. Hiện nay đã xuất hiện một số công ty chuyên làm về PR ở Việt Nam. Các công ty, doanh nghiệp thiếu nhân lực, thiếu kinh nghiệm hay ý tưởng thì có thể thuê các công ty này, và hãy tin tưởng vào tính chuyên nghiệp của họ. Công ty ACV communications là một ví dụ. Ngoài ra, có thể kể đến Thiên Ngân, Max communications, Starlit…Cũng còn có rất nhiều công ty tuy không chuyên hẳn về PR nhưng vẫn có thể làm PR khi có khách hàng. Đối với các công ty này, PR chỉ là một dịch vụ hỗ trợ bên cạnh những dịch vụ khác mà họ cung cấp cho khách hàng. Hầu hết các công ty này kinh doanh trong nghề quảng cáo, in ấn hoặc tư vấn đầu tư. Trên thực tế, đã có rất nhiều công ty PR mở ra hoạt động được một thời gian ngắn rồi nhanh chóng chuyển sang làm công việc khác. Một thực tế cũng đáng lưu tâm là, tại Việt Nam, dù đã có nhiều nhà đầu tư nước ngoài lớn,nhưng điểm mặt các anh tài của ngành PR thế giới cũng chỉ có vài công ty như Ogilvy & Mather hay Batey Bum.Giải thích về việc này ,Bùi Quang Huy, một nhân viên PR lâu năm nay làm việc tại một công ty quảng cáo cho rằng:lí do là vì thị trường của ngành PR ở Việt Nam còn rất nhỏ bé và công việc PR không ngon ăn như nhiều người vẫn lầm tưởng. Thị trường nhỏ bé như vậy, nên mặc dù số lượng không lớn, nhưng các công ty PR phải đối mặt với sự cạnh tranh khá quyết liệt. Do đặc thù của công việc PR, nên cạnh tranh về giá chưa

    9

    phải là tất cả, bởi những công ty đã bỏ tiền ra để thuê PR, điều mà họ quan tâm trước hết là chất lượng dịch vụ và hiệu quả của công việc. Không ở nghành kinh doanh nào mà ý nghĩa của câu “Thành công của khách hàng chính là thành công của chúng tôi” lại đúng như vậy. Công ty PR có thể nhanh chóng gây dựng được uy tín sau một vài lần tổ chức thành công chương trình PR cho khách hàng nhưng cũng có thể mất uy tín với tốc độ tương đương .Tuy nhiên Việt Nam vẫn là một thị trường tiềm năng đối với ngành PR. Mặc dù đầu tư nước ngoài vào Việt Nam những năm gần đây không tăng , nhưng nhiều công ty PR vẫn tìm thay lượng khách hàng tương đối ổn định. Một phần vì lượng kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn, phần khác vì họ ngày càng nhận thức được giá trị của PR trong công việc kinh doanh .

    Như vậy các công ty PR chỉ tập trung tìm kiếm khách hàng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( chủ yếu là các doanh nghiệp lớn) và một số ít doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Tuy nhiên các doanh nghiệp này thường chọn mặt gửi vàng, hoặc là sử dụng các công ty PR nước ngoài, hoặc là dùng các công ty PR đã thành danh trên thị trường. Do vậy để bắt đầu kinh doanh trong ngành PR ,những sáng lập viên của các công ty thường là các cựu nhân viên PR của các công ty PR hoặc nhân viên PR từ các công ty nước ngoài

    .Với các mối quan hệ sẵn có, cộng với kinh nghiệm làm việc,họ sẽ dần dần tạo dựng được danh tiếng và thị phần cho mình.

    Quay trở lại công ty Pepsi – IBC, với mục đích giới thiệu sản phẩm mới Aquafina, họ đã khẳng định mình bằng một ‘bữa tiệc’ văn hoá, nghệ thuật rất quy mô, hoành tráng và hoàn hảo cả về khâu tổ chức lẫn chất lượng chương trình. Có thể coi đây là một bước ngoặt về hoạt động PR tại Việt Nam .Ngoài các buổi lễ kỉ niệm ,ra mắt sản phẩm mới, còn có các buổi lễ đón nhận huân chương, bằng khen ,chứng nhận hay chứng chỉ về tiêu chuẩn chất lượng. Tất cả đều mang đến cho các doanh nghiệp những ‘điểm tốt’, tạo uy tín và hình ảnh cho các doanh nghiệp này trong tương lai.

    * Quan hệ báo chí

    10

    Quan hệ báo chí bao gồm nhiều hoạt động khác nhau từ việc viết thông cáo báo chí, đặt bài viết đăng báo hay tạp chí cho tới việc tổ chức các cuộc phỏng vấn với phóng viên báo, đài phát thanh, truyền hình cũng như tổ chức các cuộc họp báo để đưa ra các thông báo đặc biệt.

    Chi phí cho hoạt động này được coi là thấp so với các hoạt động khác của PR và cho quảng cáo. Trong khi tác dụng của nó lại rất đáng kể và có mức độ bao phủ rất lớn. Ngày nay báo, đài, truyền hình là những phương tiện truyền tin thông dụng, phổ biến và hiệu quả nhất ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác.

    Đa phần các doanh nghiệp khi bước đầu làm PR thì đều thực hiện quan hệ báo chí trước tiên vì rất dễ thành công với chi phí thấp.Nói chung với hoạt động này, các doanh nghiệp có thể tự mình thực hiện, ít khi phải thuê ngoài. Đó cũng là cái cách mà doanh nghiệp được tự thể hiện mình và thuyết phục lòng tin của đối tượng mục tiêu.

    Công ty Pepsi-ICB đã làm rất tốt việc này khi cho ra mắt sản phẩm mới nước tinh khiết Aquafina. Đồng thời tiến hành với buổi trình diễn ra mắt hoành tráng, một bài trò chuyện phỏng vấn giữa phóng viên báo với ông Phạm Phú Ngọc Trai _giám đốc công ty cũng được đăng tải trên Thời báo kinh tế Sài Gòn. Những ưu điểm, khác biệt và một hình ảnh mới trên thị trường nước tinh khiết được nhắc đến và khuyến dụ công chúng hãy cảm nhận. Qua bài báo này, những thông tin về tăng trưởng, thị phần, những chỉ số về thành phần, tiêu chuẩn chất lượng…được công bố cụ thể và rõ ràng đã tạo nên cảm giác tin tưởng,mong đợi , kì vọng đối với công chúng nhận tin và ai cũng sẵn sàng đón nhận “âm thanh của sự tinh khiết”.

    Không chỉ đối với lĩnh vực kinh tế, người ta còn sử dụng công cụ này trong cả các lĩnh vực khác như ca nhạc, phim ảnh, các hoạt động xã hội, chính trị nữa. Và nó đều phát huy được tác dụng của mình.

    *Khuyến mãi

    11

    Tổ chức và thực hiện các cuộc khuyến mãi và cạnh tranh- thường là trên báo chí hay trên bao bì các sản phẩm, hoặc trực tiếp qua thư từ. Tất cả nhằm giới thiệu tên của một tổ chức và các thông tin kèm theo nó.

    Công cụ này thường được sử dụng trong trường hợp cần phải kích thích tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn nữa, và nhắc nhở, khuấy động lại tâm trí của công chúng về sản phẩm cũng. Như công ty , doanh nghiệp .

    12

    *Tổ chức triển lãm, hội chợ

    Đó là việc thiết kế và xây dựng các gian hàng trưng bày tại các cuộc triển lãm. Ngoài việc phải làm thật bắt mắt,các doanh nghiệp cũng cần phải thổi được cái hồn, triết lí kinh doanh cũng như thông điệp của mình tới khách hàng.

    Trong một vài năm gần đây, người dân Việt Nam đã dần có được cái thói quen đi tới các cuộc triển lãm, họ không những xem mà còn dùng thử và mua một lượng hàng hoá khá lớn tại đây. Như vậy công cụ này đang có một điều kiện rất thuận lợi để thành công,các doanh nghiệp Việt Nam cần chớp ngay cơ hội sẵn có này.

    *Tài trợ

    Tức là phải làm các công việc đánh giá các chương trình tài trợ, chuẩn bị hợp đồng và các lễ kí, đảm bảo việc thực hiện hợp đồng đồng thời thông báo rộng rãi về hoạt động tài trợ.

    Các hoạt động tài trợ thu hút được đông đảo công chúng thường là tài trợ cho các chương trình giải trí trên truyền hình,radio,các quĩ học bổng, quĩ cho người nghèo,các cuộc thi mang tính cộng đồng cao…

    Trên truyền hình, OMO khá nhanh chân khi giành phần tài trợ cho chương trình “Chiếc nón kì diệu”một chương trình giải trí được coi là ăn khách nhất hiện nay thể hiện bằng số lượng người tham gia và số lượng người xem chương trình.

    Công cụ này cũng đòi hỏi công ty, doanh nghiệp phải có nguồn tài chính khá dư dật vì công việc này không thể làm một vài lần rồi thôi mà phải liên tục, lâu dài thì mới phát huy được hiệu quả của nó.

    *Các hoạt động hỗ trợ khác

    Bao gồm việc thiết kế, viết và làm các tờ rơi các bản tin và các vật liệu quảng cáo đặc biệt.

    Công việc này công ty nên thuê ngoài do sự cần thiết của tính chính xác,chuyên nghiệp và chi phí cho nó không lớn lắm.

    13

    • trên, tôi đã có nói tới một tổng công ty tự mình làm công việc PR(in sách giới thiệu ) và kết quả là không thu được hiệu quả do lỗi kĩ thuật. Công ty tuy đã nhận thức được tầm quan trọng của công việc này nhưng do quá chủ quan vì nghĩ rằng quá dễ để làm nên mới phải chịu thiệt hại (cả về vật chất,thời gian,công sức cũng như uy tín của công ty ) như vậy .

    *Quan hệ với các cơ quan chức năng

    Làm việc với các bộ, ban, ngành, các tổ chức thương mại và môi trường, đảng phái chính trị để giới thiệu về một số tổ chức và quan điểm của tổ chức đó nhằm tác động đến phản ứng của các tổ chức và cơ quan này. Hoạt động này rất quan trọng đối với những thị trường bị điều tiết nhiều như ở Việt Nam .

    *Xử lý thông tin khủng hoảng

    Chuẩn bị phương án dự phòng cho trường hợp xảy ra rủi ro và khủng hoảng. Chuẩn bị những sổ tay đề phòng rủi ro- những biện pháp đối phó khi có rủi ro và khủng hoảng,tổ chức các khoá học cho các nhà quản lý. Đặc biệt đưa ra những hỗ trợ cần thiết trong trường hợp khẩn cấp.

    14

    Chương 2: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM

    2.1.THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1.1 Khái niệm về công ty bảo hiểm.

    Sự tồn tại tất yếu của các rủi ro trong cuộc sống là nguồn gốc của hoạt động bảo hiểm. Thoạt đầu các hoạt động bảo hiểm ra đời do nhu cầu ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống với chức năng chủ yếu là phòng ngừa khắc phục các rủi ro và tai nạn bất ngờ. Nhưng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường các tổ chức bảo hiểm tồn tại không chỉ với tính chất là bảo hiểm rủi ro mà còn là nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường tài chính.

    Công ty bảo hiểm là một tổ chức tài chính mà hoạt động chủ yếu là nhằm bảo vệ cho những người có hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro về tử vong, thương tật, tuổi già, tài sản hoặc các rủi ro khác

    Sự tồn tại và phát triển của các tổ chức bảo hiểm là tất yếu khi con người hàng ngày phải đối mặt với những lĩnh vực làm ảnh hưởng tới khả năng tài chính cá nhân. Đó có thể là một tai nạn, vụ cháy, mất mát tài sản, căn bệnh hiểm nghèo. Để chống đỡ những rủi ro người ta tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm.

    Dựa vào nguyên tắc phân tán rủi ro theo quy luật số lớn, các tổ chức bảo hiểm có khả năng bù đắp rủi ro tài chính cho các khách hàng. Các hoạt động bảo hiểm có thể do các công ty bảo hiểm nhân thọ cung cấp hoặc do các công ty bảo hiểm tai nạn và tài sản cung cấp.

    Sản phẩm bảo hiểm là sự cam kết của người bảo hiểm – người bán dịch vụ đối với người mua – người tham gia,về việc bồi thường hay trả tiền bảo hiểm cho những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm. Như vậy, lời cam kết là sản phẩm vô hình mà cả người bán lẫn người mua không thể cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu sắc…Tuy nhiên người mua tin vào lời hứa,sự cam kết của người bán vì nhờ vào sự hoạt động marketing của người bán.

    Người tham gia bảo hiểm không mong đợi sự cố bảo hiểm xảy ra đối với mình để được bồi thường hay trả tiền bảo hiểm trừ bảo hiểm ngân thọ, bảo hiểm

    15

    hưu trí. Hơn nữa, “Giá trị sử dụng “của sản phẩm bảo hiểm không phát huy tác dụng ngay sau khi người mua bảo hiểm trả tiền, trả phí mà phải qua thời gian dài, có khi khá dài (bảo hiểm nhân thọ). Vì vậy, người mua bảo hiểm không “mong đợi “sản phẩm bảo hiểm phát huy tác dụng đối với mình .

    Người mua sản phẩm bảo hiểm thu được phí bảo hiểm từ người mua nhưng “anh ta” có thể bồi thường và cũng có thể không ; có thể bồi thường ngay sau khi bán cũng có thể sau thời gian dài, nhất là trong bảo hiểm nhân thọ .Vì vậy, có thể nói rất khó xác định hiệu quả kinh doanh trong thời kỳ nhất định ( thường là 1 năm ).

    Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền

    Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng sao chép các dạng sản phẩm của các nước, thậm chí của đối thủ cạnh tranh một cách máy móc ( trừ tên của mình ).

    Chính những đặc điểm này khẳng định lại một điều: sản phẩm bảo hiểm là một sản phẩm rất khó bán. Một bài toán khó đặt ra cho các công ty bảo hiểm là làm cách nào để có thể đẩy mạnh được việc tiêu thụ sản phẩm ‘khó bán’ này trên thị trường .

    2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Tăng trưởng nhanh, cạnh tranh quyết liệt ” đó là thực tiễn ngắn gọn chính xác nhưng đầy đủ để nói về thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay.

    Năm Doanh thu phí (tỷ VNĐ) % so với năm trước
         
    1994 741 100%
         
    1995 1026 138%
         
    1996 1253 122%
         
    1997 1450 123%
         
    1998 1715 118%
         

    Nghị định 100/NĐ – CP/ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm đã chấm dứt thời kỳ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm ở Việt nam . Một thời kỳ

    16

    bảo hiểm với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá về loại hình công ty bảo hiểm đã được hình thành. Tính đến nay, trên thị trường bảo hiểm ở Việt nam đã có 20 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế (trong đó có 4 DNNN, 3 Công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 4 công ty 100% vốn nước ngoài, 2 công ty môi giới bảo hiểm, 1 công ty tái bảo hiểm Quốc gia). Và trên 40 văn phòng đại diện của các công ty đại diện quốc tế đặt tại Việt nam cùng cung cấp 90sản phẩm bảo hiểm khác nhau.

    Trong 2 -3 năm trở lại đây trên thị trường bảo hiểm Việt nam phát triển với tốc độ nhanh chóng. Nếu như năm 1994 doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường chỉ đạt 741 tỷ VNĐ thì đến năm 2002 con số này đã lên tới 4600 tỷ VNĐ xấp xỉ bằng 1,93% GDP trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 2500 tỷ VNĐ chiếm 58,6% tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 3180tỷ VNĐ. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ở Việt Nam so với GDP bằng 0,6%, các nứoc khác là 2,4% GDP.

    Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những tháng đầu năm 2001 đã có bước tăng trưởng vượt bậc so với cùng kì này năm trước. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ( nhân thọ và phi nhân thọ ) toàn thị trường trong 6 tháng đầu năm đạt 2.264 tỷ VND tăng 67,5% so với 6 tháng đầu năm 2000,trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 1.014 tỷ VND tăng trên 19% cùng kỳ năm 2000. Đáng chú ý là lần đầu tiên trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đã vượt qua doanh thu phi bảo hiểm phi nhân thọ về giá trị tuyệt đối và chắc chắn trong thời gian tới sẽ còn tiếp tục tăng trưởng mạnh.Điều này đã được dự đoán trước, khi mà bước sang năm 2000, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngoài Bảo Việt được phép triển khai hoạt động bảo hiểm nhân thọ theo quyết định số 281/TC/TCNH ngày 20/3/1996 của Bộ Tài Chính, đã có thêm một số doanh nghiệp được cấp phép hoạt động. Đó là: Chinfon Manulife từ tháng 6/1999 ; Prudential; Bảo Minh – CMG từ tháng 10/1999 và AIA từ tháng 2/2000. Như vậy, trong năm 2000, thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng ở Việt Nam đã ‘nóng’ lên.

    17

    • Tính đến 31/12/2000, lực lượng cán bộ làm việc trong các công ty bảo hiểm nhân thọ, đại lý tư vấn và khai thác bảo hiểm là gần 15.000 người, tăng lên gấp trên 3 lần so với trước năm 1999.Như vậy thị trường bảo hiểm nhân thọ đã thu hút một số lượng lớn lực lượng lao động xã hội, giải quyết lao động xã hội và gánh nặng về việc làm cho xã hội .

    2.2.1. Bảo hiểm nhân thọ

    • Doanh thu phí bảo hiểm Việt nam trong 10 năm qua.

    Ra đời năm 1997 nhưng hai năm trở lại đây thị trường bảo hiểm nhân thọ đặc biệt sôi động với sự đua tranh của 5 công ty bảo hiểm dẫn đầu là Bảo Việt, kế đến là Prudential, Manulife, AIA, & cuối cùng là Bảo Minh CMG. Trong 9 tháng năm 2002 tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt 3261tỷ đồng tăng 89,93% so với cùng kỳ năm 2001. Cũng trong 9 tháng năm 2002, số bản hợp đồng khai thác mới của toàn thị trường đạt 913309 hợp đồng tăng 23,93% so với cùng kỳ năm 2001; số bản hợp đồng đang có hiệu lực tính đến 30/9/2002 đạt 2853484 hợp đồng tăng 59,56% so với cùng kỳ năm trước.

    Xếp về thị phần Bảo Việt vẫn dẫn đầu thị trường với 48,28%, tiếp đến là Prudential là 34,12%, Manulife 11,47%, AIA 4,49%, cuối cùng là Bảo Minh 1,64%. Về tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm thì AIA đạt tốc độ cao nhất 121,95% thứ 2 là Bảo Minh 106,31%, Prudential là 103,28% Manulife 91,54% cuối cùng là Bảo Việt 78,42%

    Số đại lý bảo hiểm nhân thọ của toàn thị trường tăng 77,81%. Tính đến hết ngày 30/9/2002 tổng số đại lý nhân thọ là 63084 người. Trong đó cùng kỳ năm 2001 mới chỉ có 35479 người. Ngoài kênh phân phối chính là các đại lý, các công ty bảo hiểm còn bán bảo hiểm qua mạng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, tung ra nhiều sản phẩm mới với thủ tục đơn giản tạo được niềm tin với khách hàng.

    -Khách hàng đã nhận thức đầy đủ hơn về lợi ích của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ .Bằng chứng là đã có khoảng 800.000 hợp đồng bảo hiểm được ký kết và đang có hiệu lực. Tương ứng với số lượng hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tích luỹ đến ngày 31/12/2000 đã vượt

    18

    qua con số 2000 tỷ đồng.Với doanh thu phí bảo hiểm như vậy, có thể bước đầu khẳng định, bảo hiểm nhân thọ là một trong những công cụ taì chính vô cùng quan trọng và có hiệu quả nhằm “hút ” vốn trong dân cư, để “bơm ” trở lại các dự án đầu tư phát triển kinh tế – xã hội trong nước. Đây chính là lý do tại các nước có nền kinh tế phát triển ,chính sách phát triển hoạt động bảo hiểm của các cy bảo hiểm trong nước luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế đất nước và được chính phủ rất quan tâm .

    -Bên cạnh đó, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã tiến hành các hoạt động xã hội như:hỗ trợ cho các vùng bị thiên tai lũ lụt và nhằm khuyến khích phát triển tài năng ngày một nhiều hơn…

    Đồng thời với sự sôi động của thị trường bảo hiểm nhân thọ, nhận thức về bảo hiểm trong dân cư đã nâng lên rõ rệt. Thay vì thói quen lảng tránh sự thật ” Cuộc sống luôn phải đối mặt với những rủi ro “, người dân Việt Nam đã dần dần thừa nhận rủi ro trong cuộc sống là điều không ai muốn nhưng vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy,đã có gần 1 triệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được ký kết nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho cá nhân và gia đình họ. Sự sôi động của thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng đã thúc đẩy tiết kiệm trong dân cư.Bởi lẽ sẽ không có ai đi gửi tiết kiệm 50.000 hay 100.000 đồng ,nhưng người dân đã tiết kiệm được số tiền này từ các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

    Nhìn chung các hoạt động của các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt nam đã đạt được một số các thành công xong điều đó còn quá nhỏ so với nước 80 triệu dân và so với các nước trong khu vực và thế giới. Yếu tố hàng đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt nam thời gian qua làm mức thu nhập của dân cư đã tăng lên rõ rệt, thêm vào đó là sự nhìn nhận về công ty bảo hiểm của dân chúng đã tích cực hơn nhiều. Với tính tích cự

    • như vậy hy vọng trong tương lai các công ty bảo hiểm nhân thọ còn phát triển hơn nữa.

    * Bảo hiểm phi nhân thọ

    Trong 9 tháng năm 2002 nhờ những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế tổng mức doanh thu phí toàn thị trường đạt 2217591,06 triệu đồng tăng 44,39%

    19

    so với cùng kỳ năm 2001 (1535799,06 triệu đồng ) xét về tốc độ tăng trưởng PVinsurance đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất là 191,91% Allianz đứng thứ 2 92,39% Bảo Minh 59,14%, Bảo Việt PJICO, PTI, Việt úc duy trì mức khá, còn UIC đạt mức tăng trưởng hơi thấp 3,88%. Doanh thu phí Bảo Việt vẫn đứng đầu trong 9tháng đạt 859620 triệu đồng. Doanh thu phí của PVinsurance tiếp tục tăng do phí bảo hiểm dầu khí của thị trường thế giới tiếp tục biến động từ quý 2 năm 2002. Về thị phần, Bảo Việt vẫn đứng đầu thị trường với 38,16% Tiếp đến là Bảo Minh. Việc Bảo Minh giảm tỷ lệ thị phần không có gì ngạc nhiên bởi chịu sự ảnh hưởng của việc tăng mạnh thị phần của PVinsurance, mặc dù doanh thu phí của Bảo Minh vẫn tương đương so với quý 2 năm 2002.

    Tình hình tổn thất xảy ra trong 2002 không có gì biến động lớn so với 2001. ước tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1200 tỷ VNĐ = 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm. Tuy nhiên trước đây chưa từng được quan tâm nhưng tổn thất xảy ra lại rất lớn như vụ cháy toà nhà ITC ( Thành phố HCM ) ngày 29/10, tình hình tai nạn giao thông đã đến hồi báo động. Đó chính là những lĩnh vực đòi hỏi các công ty bảo hiểm phi nhân thọ cần triển khai mạnh hơn và có những biện pháp phòng ngữa hữu hiệu hơn.

        Bảo     Bảo hiểm Bảo Bảo Bảo
        hiểm Bảo Bảo hiểm hiểm
        gián đọan hiểm tài
    TT Doanh nghiệp sức hiểm xe hiểm hàng hoá thân tàu
        khoẻ và cơ giới cháy nổ kinh vận và TNDS sản và
        doanh thiệt hại
        TNCN       chuyển chủ tàu  
                     
    1 Allianz/ AGF 0,28% 0,11 0,63 12,62 0,58 0,00 12,54
                     
    2 Bảo Long 0,84 1,69 2,36 0 3,82 0,8 0,17
                     
    3 Bảo Minh 13,16 30,73 25,91 36,57 21,92 22,26 38,27
                     
    4 Bảo việt 74,28 52,44 49,56 23,62 41,37 41,28 14,54
                     
    5 PJICO 4,4 9,14 7,59 0,24 12,73 9,93 2,13
                     
    6 PTI 1,89 3,12 2,24 0 2,96 0 7,41
                     
    7 PVinsurance 2,74 1,18 1,07 0 8,41 25,01 22,07
                     
    8 UIC 1,04 0,76 8,75 12,71 4,19 0,51 0,73
                     
    9 VIA 1,32 0,75 1,26 10,09 2,79 0,22 1,36
                     

    20

    10 Việt úc 0,07 0,07 0,64 4,16 1,21 0 0,78
                     

    21

    Trong số các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, nghiệp vụ bảo hiểm dầu khí có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tới 40% so với 6 tháng đầu năm 2000. Sở dĩ nghiệp vụ này tăng trưởng mạnh vì những hoạt động sôi nổi trở lại trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí.trên thềm lục địa Việt Nam. Nghiệp vụ hàng không cũng tăng trung bình 25%,chủ yếu là do xu hướng tăng phí đồng loạt trên thị trường thế giới để bù đắp cho những tổn thất trong một vài năm gần đây.Hãng hàng không Việt Nam cũng có tỷ lệ tổn thất tới 200% ,do đó việc tăng phí trong năm 2001 là tất yếu..

    Trong khai thác bảo hiểm, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ đã có nhiều cố gắng tăng cường tiếp cận các khách hàng mới, đặc biệt như trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá XNK,kim ngạch bảo hiểm hàng hoá trong 6 tháng đầu năm đạt 3,55 tỷ USD, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kỳ năm 1999 và tăng 26% so với cùng kỳ năm2000. Đây là một nỗ lực đáng kể của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hoá nhằm nâng cao tỷ lệ kim nghạch XNK tham gia bảo hiểm trong nước. Tuy nhiên, do tình hình cạnh tranh quyết liệt của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mà thủ thuật chủ yếu là dúng biện pháp giảm tỉ lệ phí, vì vậy kim nghạch hàng hoá XNK được bảo hiểm tăng 26% nhưng doanh thu phí bảo hiểm hàng hoá XNK chỉ tăng 1% so với cùng kỳ năm trước.

    Đối với nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nếu như trong các năm trước đây các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chỉ chú trọng khai thác ở lĩnh vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì đến đầu năm nay, họ tích cực hơn nhiều trong việc khai thác mở rộng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Tuy nhiên, do tỷ lệ phí ở thị trường trong nước giảm mạnh so với năm trước(có những dịch vụ phí giảm 40%) nên doanh thu phí từ nghiệp vụ này chỉ tăng 4%.

    Nếu như hầu hết doanh thu của các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đều tăng nhiều hoặc ít thì riêng nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật lại có doanh thu phí giảm 14% so cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên các nhà bảo hiểm kỹ thuật Việt

    22

    Nam đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện bảo hiểm nhằm bảo hiểm cho những dự án lớn chuẩn bị cho được triển khai như khu liên hợp thể thao, một số gói thầu của nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy phân đạm… do vậy dư đoán nghiệp vụ này sẽ có tốc độ tăng trưởng tốt hơn trong 6 tháng cuối năm .

    Trong 6 thang đầu năm 2001 đã xảy ra một số tổn thất lớn, như thiệt hại hệ thống neo của Phao CALM tại mỏ Đại Hùng ngày15-2-2001với số tiền dự phòng bồi thường lên đến 3,2 triệu USD; thiệt hại đối với máy phát điện AMAN trên giàn CTP-2 cháy ngày 11-5-2001 ước bồi thường 900.000USD; tổn thất toàn bộ của máy bay trực thăng MI17VN-8415, trong đó số tiền bồi thường thân máy bay là 1.140.000USD và bồi thường trách nhiệm ước tính hơn 500.000USD; tổn thất hàng hoá trên tàu “GOSELLA” từ Inđônêsia về cảng Quy Nhơn trị giá hơn 800.000USD; tổ thất toàn bộ của tàu Lục Nam tại Ấn Độ với giá trị thân hơn 1 triệu USD; tổn thất P&I do tàu “VINH” đâm va tàu cá tại Hàn Quốc ngày 29-4-2001 với số tiền bảo lãnh để giải phóng tàu lên tới 927.000USD; vụ cháy nhà máy Vissing Pack với tổng bồi thường lên tới 1,5 triệu USD.

    Trong 6 tháng đầu năm tuy không có thêm công ty bảo hiểm nhân thọ mới ra đời, song sự hoạt động mạnh mẽ của 5 công ty hiện nay đã khiến thị trường này thực sự sội động. Doanh thu phí nhân thọ toàn thị trường Việt Nam đạt 1.250 tỷ VND, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kì năm trước.

    Để hỗ trợ công tác khai thác, hoạt động quảng cáo tiếp thị bảo hiểm nhân thọ vẫn diễn ra rầm rộ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí, thông qua các hình thức khuyến mại và các hoạt động từ thiện, tài trợ. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đang tích cực, tăng cường mở rộng đại lý nhân thọ, tổng số đại lý nhân thọ của thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt con số gần 30.000 người. Tuy nhiên việc mở rộng cũng như chất lượng của đại lý nhân thọ trong thời gian qua vừa nảy sinh nhiều vấn đề cần nhanh chóng giải quyết ngay cả tại các công ty bảo hiểm nhân thọ lẫn các co quan quản lý Nhà Nước về bảo hiểm. Tổng số tiền bồi thường của bảo hiểm nhân thọ trong quí I-2001 là hơn 19 tỷ VND. Khi các hợp đồng nhân thọ phát huy tác

    23

    dụng bồi thường thì cũng đồng thời làm nảy sinh một số tranh chấp do sự thiếu hiểu biết của người tham gia bảo hiểm cũng như thiếu kinh nghiệm của đại lý.Đây là điều khó tránh khỏi trong một thị trường còn hết sức non trẻ, song cũng đặt ra vấn đề trách nhiệm của đại lý bảo hiểm nhân thọ trong việc hướng dẫn khách hàng khai báo các thông tin khi tham gia bảo hiểm.

    Trong 6 tháng vừa qua, Bộ Tài Chính đã cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm cho một công ty 100% vốn nước ngoài là Groupama-Gan.Công ty Groupama-Gan dự kiến sẽ phát triển các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp phục vụ cho nông dân.Đây là công ty 100% vốn nước ngoài thứ 2 trong lĩnh vực phi nhân thọ được cấp giấy phép hoạt đông tại Việt Nam, nâng tổng số doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm gốc trên thị trường lên 16 doanh nghiệp, trong đó 11 doanh nghiệp phi nhân thọ và 5 doanh nghiệp nhân thọ.

    Nghị định hướng dẫn luật kinh doanh bảo hiểm và nghị định hướng dẫn chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    24

    • DN bảo hiểm
    • DN BHNN
    • CTCPBH
    • DN BH liên doanh
    • DN100% vốn đầu tư nước ngoài

    Quy trình thành lập theo luật KDBH.

    Hồ sơ xin cấp giấy

    phép thành lập

    Gửi

    Bộ tài chính

    Từ chối cấp

    60 ngày đồng

    ý cấp

    Cấp giấy phép cho

    DN

    Nộp lệ phí cấp giấy

    phép

    Công bố nội dung

    hoạt động

    25

    2.3 ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ PRUDENTIAL VIỆT NAM

    2.3.1 Đôi nét về công ty

    Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Vương Quốc Anh và cũng là một trong những tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất trên thế giới, quản lý trên 250 tỷ đô la Mỹ, với bề dày hoạt động bảo hiểm trên 150 năm. Sự ổn định và vững mạnh về tài chính của tập đoàn Prudential được công ty chuyên đánh giá “Standard and Poor’s” xếp hạng AAA- thứ hạng cao nhất.Đó là nền tảng vững chắc khiến hơn 11 triệu khách hàng trên toàn thế giới đã “chọn mặt gửi vàng”, đặt niềm tin vào Prudential.

    Từ năm 1923 Prudential dẫn đầu cung cấp sản phẩm dịch vụ khách hàng Với hơn 80 năm kinh nghiệm tại châu Á Prudential hiện đang hoạt động

    tại 12 thị trường:Singapore, Malaysia, HongKong, Indonesia, Thailand, Philippines, Ấ Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc.

    Có mặt tại Việt Nam từ năm 1994 với hai văn phòng đại diện tại Hà Nội( khai trương năm 1995) và thành phố Hồ Chí Minh(1997), Prudential đã được Chính Phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào tháng 10 năm 1999. Với phương châm ” Luôn luôn lăng nghe. Luôn luôn thấu hiểu”, Prudential đang nhanh chóng phát triển và trở thanh công ty bảo hiểm nhân thọ có uy tín và lớn mạnh nhất Việt Nam với nhiều văn phòng tại các thành phố lớn. Ngoài hai trụ sở chính tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Prudential còn có các trung tâm phục vụ khách hàng tại Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Vinh và Đồng Nai.

    Sau gần hai năm hoạt động, đến cuối tháng9 năm 2001, Prudential đã bảo hiểm cho 285.291 khách hàng, và đã nhanh chóng giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho 92 trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm với số tiền gần 7,8 tỷ đồng và miễn nộp phí cho 43 hợp đồng với tổng số tiền bảo hiểm trên 1,6 tỷ đồng. Trong việc giải quyết đền bù bảo hiểm cũng như trong mọi hoạt động kinh doanh khác của mình, Prudential luôn luôn tuân thủ nguyên tắc: “Chính trực, Công bằng và Dịch vụ hoàn hảo”

    26

    Hiện nay, với một đội ngũ nhân viên trên 1014 người, Prudential đã phát triển, đào tạo một mạng lưới với hơn 32472 đại lý chuyên nghiệp, trong đó đa số đại lý có trình độ đại học và gần 2%có trính độ cao học. Với mục tiêu phát triển mạnh hơn, lớn hơn cùng xã hội, Prudential khẳng định con người là vốn quý nhất. Do đó ưu tiên hàng đầu của Prudential là đầu tư vào con người, tạo điều kiện cho mỗi nhân viên và đại lý phát huy khả năng chuyên môn để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn.

    Với cam kết hoạt động lâu dài tại Việt Nam, tin tưởng vào tiềm năng phát triển của kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm nhân thọ nói riêng, và để phát huy hơn nữa những thành công trong thời gian qua, vào cuối tháng 10 năm 2002, Bộ Tài Chính Việt Nam vừa cho phép công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam tăng vốn đầu tư lên 61 triệu đô la Mỹ.

    Như vậy, với số vốn ban đầu là 15 triệu đô la Mỹ, Prudential đã lần lượt tăng lên 40 triệu đô la Mỹ( tháng6 năm 2001) và lần này là 61 triệu đô la Mỹ. Với số vốn gần 1.000 tỷ đồng này, công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential trở thành nhà đầu tư lớn nhất trong số các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng và tài chính.

    Với số vốn tăng thêm này, Prudential sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới phục vụ khách hàng,đa dạng hoá sản phẩm…

    nhằm phục vụ khách hàng ngày một hoàn hảo hơn. Đồng thời, Prudential cũng sẽ đẩy mạnh các chương trình đầu tư tài chính một cách có hiệu quả, nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho khách hàng và góp phần xây dựng kinh tế Việt Nam.

    Việc tăng vốn lần này, một lần nữa khăng định lời cam kết của Prudential đối với khách hàng Việt Nam đối với cam kết hoạt đông lâu dài và hiệu quả của Prudential.

    27

    Kết quả kinh doanh sau 3 năm hoạt động của công ty

    (từ 11/1999 đến 11/2000 )

      1999 2000 2001 2002
             
    Tổng số nhân viên 80 352 675 1014
    (người )        
             
    Tổng số đại lý 281 5687 17201 32472
             
    Tổng số trung tâm phục vụ 2 5 12 19
    khách hàng        
             
    Tổng số trường hợp giải 0 21 162 308
    quyết quyền lợi bảo hiểm        
             
    Tổng số khách hàng 0 124249 453242 911743
    (người )        
             
    Tổng số tiền đền bù bảo hiểm 0 2,8 11 16,2
    ( tỷ đồng)        
             
    Doanh thu phí bảo hiểm 0 257 830 1295
    (tỷ đồng)        
             
    Tổng vốn đầu tư 15 40 40 61
    (tỷ đồng)        
             

    2.3.2 Quá trình hoạt động PR của công ty bảo hiểm Prudential.

    * Tài trợ

    Các hoạt động tài trợ mà công ty đã thực hiện bao gồm 4 hoạt động chủ yếu sau:

    Hoạt động từ thiện xã hội

    Hoạt động từ thiện PR trao học cụ cho học sinh nhận học bổng Nguyễn Hữu Cảnh tại Thành phố HCM.

    28

    Ngày 9/8/2003 Prudential trao học bổng cho 350 học sinh là con em của công nhân viên chức đang công tác trong khối. Ngày 25/7/2003 trao 60 suất học bổng cho con em đoàn viên công đoàn quận 1 Vượt khó học giỏi.

    Trao quà cho học sinh dân tộc ít người.

    Sáng 04/08 văn phòng đại diện tặng quà cho 100 học sinh trường tiểu học Phúc Thọ Lâm Đồng.

    • Để góp phần chia sẻ nỗi khó khăn của đồng bào vùng lũ lụt tại Nghệ An & Hà Tĩnh, trong 2 ngày 26&27 /9/2002, đại diện công ty
    • ã đến thăm ,trao tặng hỗ trợ 10 tấn gạo và 74 thùng mỳ tôm cho bà con gặp nạ
    • Ngày 3/4/2001 ,Prudential đã trao tặng quà cho trẻ em khuyết tật huyện Hóc Môn ,thông qua Hội bảo trợ người tàn tật , trẻ mồ côi Thành phố
    • Prudential đã giúp đỡ 230 bệnh nhân nghèo bị mù được mổ mắt miễn phí
    • Ngày 27/4/2001 ,Prudential đã trao tặng nhà tình nghĩa & tình thương tại huyện Củ
    • Ngày 4/1/2001,Prudential đã trao tặng 125 xe lăn cho người nghèo tàn tậ

    Hoạt động thể dục thể thao

    -Từ ngày 24/11/2002 đến 2/12/2002 tại thành phố Đà Nẵng,Prudential đã tài trợ cho “Giải bóng đá Đà Nẵng mở rộng tranh cúp Prudential năm 2002 ” do Sở Thể dục Thể thao Đà Nẵng tổ chức.

    -Prudential đã tài trợ cuộc thi chạy marathon “Charity” gây quĩ ủng hộ giúp đỡ người tàn tật.

    Hoạt động giáo dục ,đào tạo

    -Ngày 28/10/2002, Prudential đã phối hợp cùng báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chứ lễ trao tặng học bổng cho 300 em học sinh nghèo hiếu học ở 13 trường và các trung tâm giảng dạy Hoa Văn trên địa bàn thành phố HCM.

    29

    • Ngày 8/11/2002, tại xã Kỳ Xuân ,Kỳ Anh Tỉnh Hà Tĩnh đã diễn ra lễ khánh thành trường mẫu giáo mầm non do Prudential tài trợ kinh phí xây dựVới chính sách luôn chú trọng đến công tác đào tạo giáo dục ,Prudential sẽ tiếp tục ủng hộ các hoạt động xây trường mở lớp để các em học sinh có nơi học tập ,vui chơi.

    -Phối hợp với báo Sài Gòn Giải Phóng cùng Sở GD&DDT thành phố HCM , Prudential đã tài trợ tổ chức cuộc thi “Prudential _Văn hay chữ tốt “.

    -Một hoạt động thường niên của Prudential vào mỗi dịp 20/11 là tài trợ giải thưởng ” Võ Trường Toản “_trao tặng cho 24 thầy cô xuất sắc nhất của thành phố HCM.

    -Để hỗ trợ kinh phí học tập cho các em sinh viên xuất sắc & sinh viên

    nghèo học giỏi của các trường CĐ – DDH tại các tỉnh thành có mức thu nhập thấp,công ty đã tài trợ 1 chương trình học bổng tổng cộng 134 suất trong 4 năm liên tục từ niên học 2002-2003 đến niên học 2005-2006.

    -Ngày 10/9/2001,Prudential kết hợp với Đài tiếng nói Việt Nam ,tặng 2000 bộ sách nói (băng cassette ) tới Hội người mù Việt Nam ,học sinh trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu.

    -Trao tặng ngân phiếu tài trợ xây dựng sân chơi cho lớp mẫu giáo tại phường Hoà Hải ,Quận Ngũ Hành Sơn ,Đà Nẵng.

    Hoạt động vui chơi giải trí

    -Nối tiếp truyền thống hàng năm Prudential đã tổ chức chương trình “Pru_Giáng sinh” phục vụ các em thiếu nhi bắt đầu từ ngày 21/12 tại Hà Nội và được nối tiếp tại các tỉnh thành có đặt văn phòng của công ty vào các ngày 22&23/12.

    -Ngày 30/7/2001,ông Mark Tucker đã thay mặt cho Prudential trao tặng học bổng “Chevening 2001”.

    -Nhân ngày lễ quốc tế thiếu nhi 1/6/2000 Prudential đã tài trợ cho cuộc thi vẽ tranh mang chủ đề “Ước mơ thần tiên “.

    30

    -Tài trợ liên hoan văn nghệ và ẩm thực “Mặt trời tuổi thơ “tổ chức tại Đầm Sen trong 3 ngày 1,2,3/6/2000.Tại đây ,các em thiếu nhi đã được phục vụ vui chơi ẩm thực miễn phí và xem chương trình văn nghệ đặc sắc.

    31

    * Quan hệ báo chí

    _ Prudential có quan mối quan hệ rất tốt với báo Sài Gòn Giải Phóng trong việc phối hợp tổ chức và tài trợ các hoạt động như: trao tặng học bổng cho học sinh nghèo ,tổ chức cuộc thi “Prudential -Văn hay chữ tốt”.

    _ Bài báo “Prudential _Ba năm , một triệu khách hàng ” trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn(số 48/2002) ,đăng tải cuộc phỏng vấn giữa phóng viên báo với ông Huỳnh Thanh Phong _Tổng giám đốc Prudential Việt Nam đã thuyết phục công chúng bởi các chỉ số tăng lên rõ rệt và đáng nể mà công ty đã đạt được sau 3 năm hoạt động .

    Công ty đã rất chú trọng trong việc đăng bài trên các báo như Thời báo KTSG, hay Sài Gòn giải phóng một cách thường xuyên và họ đã rất thành công.

    * Quan hệ với các cơ quan chứ năng

    Tại mỗi tỉnh có đặt văn phòng đai diện ,Prudential thường có quan hệ rất tốt với chính quyền nơi đó thông qua việc phối hợp hoạt động ,tổ chức các chương trình tài trợ,các hoạt động từ thiện xã hội …Ví dụ như:

    -Tài trợ cho “Giải bóng đá Đà Nẵng mở rộng tranh cúp Prudential năm 20002” do sở TDTT Đà nẵng tổ chức.

    -Phối hợp với sở GD-ĐT thành phố HCM tổ chức cuộc thi “Prudential _Văn hay chữ tốt”.

    *Các hoạt động hỗ trợ

    Chiến dịch “Pru tình nguyện” trong dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 3 Ngay từ sáng sớm ngày 17/11/2002,đồng loạt tại 12 tỉnh thành trên

    cả nước, hàng ngàn nhân viên & đại lý trong trang phục nón trắng với logo đỏ và dòng chữ Pru tình nguyện trên áo,đã khởi động cho chương trình Pru tình nguyện _một chương trình đầy ý nghĩa và thiết thực đối với cộng đồng và xã hội.

    Các công tác tình nguyện được tiến hành như :

    32

    -Tặng quà ,giao lưu ,động viên các em ở trường mù Nguyễn Đình Chiểu và trẻ em mồ côi.

    -Thăm hỏi tăng quà các thương binh ,các bà mẹ Việt Nam anh hùng,các cán bộ hưu trí.

    -Thăm trại người già ,khám bệnh phát thuốc miễn phí cho họ.

    -Quét dọn đường phố.

    -Thăm và tặng quà cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo tại buôn Dlaya.

    -Cứu trợ đồng bào lũ lụt.

    Tặng quà trẻ em nghèo ở TP Buôn Ma Thuột 6/9/2000 Vùng lũ lụt Tiên Giang ngày 5/9/2001

    Khám bệnh phát thuốc dân tộc EACuorlap TP BMT 1/6/2002 Tham gia hội chữ thập đỏ 20/10/2001 TP.HCM.

    Tặng quà cho đồng bào lũ lụt tỉnh Tiên Giang 18/1/2001 *Các hoạt động hỗ trợ khác

    Prudential luôn cho ra đời các sản phẩm in ấn như catalog,tạp chí phát hành nội bộ hàng năm vào những dịp đặc biệt .Chúng được phát miễn phí cho khách hàng ,nhân viên và đại lý của công ty .Qua những ấn phẩm này ,chúng ta có thể biết thêm về những ngày đầu thành lập ,những thành viên trong hội đồng quản trị ,những hoạt động thiết thực ,những bài hát ,bài thơ,câu chuyện viết về công ty ,…Chúng luôn làm cho khách hàng cảm thấy tin tưởng và thân thiện với Prudential .Và quả thực bằng cách này Prudential đã đạt được mục đích chính của mình.

    * Khuyến mãi

    -TRong năm 2002,Prudential đã tặng cho khách hàng một quyển sổ nhỏ có chức năng giảm giá (từ 5 đến 15 % giá trị ) của rất nhiều mặt hàng khi khách

    33

    hàng mua chúng .Với cách này Prudential đã khích lệ được rất nhiều người mua và tiếp tục mua sản phẩm .

    -Hàng năm , vào mỗi dịp năm mới,Prudential luôn có quà tặng cho các khách hàng và nhân viên trong công ty ,đó là những tờ lịch treo tường rất đẹp và bắt mắt. Nó không những hữu ích cho khách hàng , đồng thời lại có tác dụng quảng bá thêm cho tên tuổi của công ty .

    Trên đây là một số hoạt động PR của Prudential đã và đang được thực hiện mà tôi đã sưu tầm được. Do hạn chế về thời gian thực hiện đề án ,có thể nó chưa hoàn toàn đầy đủ ,mong các thầy cô và quí độc giả thông cảm , giúp đỡ hoàn thiện thêm.

    34

    Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PR CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM

    PRUDENTIAL.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã được quốc hội thông qua 12/2000 tạo hành lang pháp lý cơ bản giúp cho thị trường bảo hiểm phát triển ổn định và tăng trưởng luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản

    hướng dẫn tiến hành đã thể hiện được tính minh bạch và lộ trình

    cũng như các yêu cầu cho hội nhập kinh tế.

    Cần đa dạng hoá các loại hình nghiệp vụ mở rộng phạm vi và

    địa bàn hoạt động.

    Xây dựng một cơ chế quản lý giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ động trong kinh doanh.

    Việc quản lý giám sát sẽ thông qua một hệ thống chỉ tiêu đánh gía, qua đó kịp thời phát hiện đề xuất giải pháp pháp củng cố và phát triển

    *Quan hệ báo chí

    Tiếp tục duy trì mối quan hệ với các báo như trước đây,xây dựng mối quan hệ mới với các báo mang tính xã hội ,cộng đồng cao,có số lượng độc giả lớn,rộng khắp cả nước.

    Ngoài các cách đã làm trước đây như đăng bài định kì ,trả lời phỏng vấn với phóng viên các báo ,phối hợp tổ chức các chương trình với các báo,Prudential nên khai thác nguồn lợi từ mối quan hệ với truyền hình.Vì truyền hình ở Việt Nam được coi là công cụ truyền tin đắc lực nhất,và vẫn là sản phẩm độc quyền nên mức độ bao phủ luôn là lớn nhất .

    35

    Các hoạt động hỗ trợ

    Trên thực tế,trong thời gian vừa qua,chương trình Pru tình nguyện được coi là sự kiện lớn nhất của công ty từ khi hoạt động đến nay,và đây cũng là sự kiện được nhiều người biết đến nhất.Việc cho ra mắt sản phẩm mới là Phú_Hoàn mỹ vào dịp 8/3/2003 vừa qua sẽ được công chúng chú ý đến hơn nếu công ty tổ chức một buổi lễ ra mắt cho sản phẩm .Trong buổi lễ đó có thể mời những người phụ nữ tiêu biểu của Việt Nam ,những người phụ nữ có tiếng nói trong xã hội .

    Vì để cho ra đời một sản phẩm được coi là mới trong lĩnh vực bảo hiểm là vô cùng khó khăn ,mặt khác sản phẩm đó lại không được bảo vệ về mặt bản quyền,nên công ty cần phải chú trọng rất nhiều đến công cụ này,một công cụ cho phép tạo được mức độ khác biệt lớn giữa các sản phẩm cũng như tên tuổi của các công ty .

    *Tài trợ

    Kể từ khi thành lập đến nay,các hoạt động tài trợ đã được Prudential thực hiện rất tốt,phong phú ,đa dạng,và ghi được dấu ấn sâu sắc trong lòng công chúng như một công ty bảo hiểm hàng đầu mang tính nhân bản là tấm lòng nhân ái cao .Tổng giá trị tài trợ từ năm 1994 đến nay đã lên đến hơn 8 tỷ đồng,thông qua nhiều chương trình hoạt động về xã hội ,từ thiện ,văn hoá,thể thao,y tế,giáo dục…

    Công ty nên tiếp tục duy trì các hoạt động mang tài trợ mang tính thường niên,hay nhân các dịp kỉ niệm,lễ Tết,các sự kiện lớn trong nước và quốc tế .

    *Quan hệ với các cơ quan chức năng

    Công ty muốn hoạt động kinh doanh hay tổ chức các hoạt động xã hội suôn sẻ ,đạt kết quả tốt thì cần phải có sự ungr hộ cũng như cho phép của các cơ quan chức năng .Vậy việc đặt mối quan hệ tốt với các cơ quan chức năng ở các tỉnh có văn phòng đại diện của công ty cũng như trên toàn quốc là việc khó khăn nhưng rất cần

    36

    thiết. Khi công ty đã thuyết phục được  các cơ quan chức năng thì

    • ệc chiếm trọn lòng tin của công chúng sẽ dễ dàng hơn nhiều. *Khuyến mãi

    Khuyến mãi là khía cạnh ít gặp nhất trong hoạt động của các công ty bảo hiểm ,do sản phẩm của nó không giống các loại sản phẩm thông thường khác.Tuy nhiên Prudential cũng đã thực hiện và thực hiện rất tốt.Khuyến mãi sẽ khuyến khích công chúng ra quyết định mua bảo hiểm Prudential dễ dàng hơn vì ít ra họ cũng có thể nhìn thấy những lợi ích trước mắt khi có được sản phẩm ,cái mà các công ty bảo hiểm khác không chỉ ra được.

    * Một số hoạt động hỗ trợ khác:

    Ngoài một số tờ rơi, tờ gấp, catalog, tạp chí nội bộ đã được phát hành trước đây, công ty nên có thêm những ấn phẩm thường kì với thời hạn ngắn hơn( trước đây một năm một lần ) để tổng kết hoạt động của công ty , báo cáo kết quả đạt được cho toàn thể khách hàng cũng như nhân viên công ty được biết. Đồng thời cũng nên có một chuyên mục”Khách hàng hỏi _ Prudential trả lời”, ở đó thường xuyên giải thích, trả lời những khúc mắc của khách hàng và nó sẽ tạo ra mối đồng cảm và thân thiện giữa khách hàng với công ty.

    * Tổ chức triển lãm:

    Do số lượng cũng như số năm hoạt động của Prudential ở Việt Nam còn hạn chế nên viậc tổ chức một cuộc triển lãm là rất khó khăn. Công việc này cố thể thực hiện trong thời gian tới, có thể là vào dịp kỉ niệm 10 năm hoạt động của Prudential tại Việt Nam.

    *Tổ chức toạ đàm:

    • ây là công cụ mà ở Việt Nam người ta ít dùng nhất, do đó công chúng cũng chưa quen với việc này. Trong lĩnh vực bảo hiểm

    37

    thì chưa từng được ứng dụng. Cũng có thể sau này sẽ thay đổi nhưng công cụ này hoàn toàn không quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    *Xử lí thông tin khủng hoảng:

    Bảo hiểm là ngành khá nhạy cảm với các cuộc khủng hoảng tiền tệ và tài chính. Vì ngoài phần nổi là việc đảm bảo cuộc sống bình an, hạnh phúc cho con người, thì phần chìm lại là việc “kinh doanh tiền tệ”. Về thực chất công việc mà các công ty bảo hiểm làm chính là “đi vay” và cho vay tiền. Do đó nếu gặp khủng hoảng thì các công ty sẽ phải chịu những hậu quả rất nặng nề.

    38

    KẾT LUẬN

    Công ty bảo hiểm Prudential là một công ty bảo hiểm lớn mạnh có bề dày lịch sử đang không ngừng phát triển và lớn mạnh có kết quả kinh doanh khả quan. Sự phát triển chính là hệ quả tất yếu của năng lực phát triển không ngừng góp phần phát triển thị trường bảo hiểm và thị trường tài chính.

    Trong nền kinh tế mở xuất hiện hàng loạt các công ty bảo hiểm đòi hỏi sự cạnh tranh gay gắt. Do đó sự tồn tại và phát triển của công ty bảo hiểm Prudential còn nhiều thách thức.

    Trên đây chỉ là một góc nhìn về một khía cạnh của quá trình hoạt động của công ty bảo hiểm Prudential do đó có nhiều hạn chế về lý luận và thiếu kinh nghiệm thực tế nên bài viết còn nhiều thiếu sót mong được sự giúp đỡ của thầy cô giáo và nhiều bạn đọc

    39


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-nh%C3%A2n-th%E1%BB%8D-Vi%E1%BB%87t-Nam-%E2%80%93-C%C6%A1-h%E1%BB%99i-v%C3%A0-th%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    A.LỜI NÓI ĐẦU

    Thờ i gian gầ n đây ,Bả o hiểm nhân thọ đã trở thành một chủ đề được nhắ c đế n và đã được đem ra bàn luận nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng , khen – chê đều có cả . Mặc dù Bảo hiểm nhân thọ mới được triển khai

    • Việt Nam nhưng đã có sức hấp dẫn vì vậy loại hình Bảo hiểm non trẻ này từ khi xuất hiện tới nay không ngừng tăng trưởng với tốc độ chóng mặt . Nó đem lại việc làm cho hàng chục nghìn lao động , là kênh huy động vốn hiệu qủa để đầu tư cho nền kinh tế Việt Nam ….. Nhưng bên cạnh sự phát triển của thị trường Bảo hiểm nhân thọ này thì cũng còn có rất nhiều điều đòi hỏi chúng ta phải lưu tâm và cần bàn.

    Và đề hiểu rõ hơn về thị trương Bảo hiểm nhân thọ hiện nay cũng như những cơ hội, khó khăn , thách thức em đã quyết định chọn đề tài “Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – cơ hội và thách thức “ .

    Đây là một chủ đề lớn , nội dung rộng và phong phú cho nên khi thực hiện đề tài này em không tránh khỏi những thiếu sót về nội dung , vì vậy em mong rằng thày sẽ thông cảm cho những thiếu sót của em.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn PGS – TS Nguyễn Văn Định – Người đã hướng dẫn , chỉ bảo và cung cấp cho em những thônh tin quý báu để em có thể hoàn thành đề tài môn học nay.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                                2

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    B. NỘI DUNG

     

    I.                   KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHNT:

    1.sự ra đời và phát triển của bhnt:

    c

    Đố i tượng tham gia của Bảo hiểm nhân thọ là r ất rộng và không có giới hạn. nó bao g ồm mọi người, mọi lứa tuổi, mọi t ầng lớp khác nhau trong xã hội. Lịch s ử ra đời củ a B ảo hiểm nhân thọ cũng rất sớm, cho đến nay nó đã được triển khai ở hầu hết các

    Hợp đồ ng Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế gi ới ra đời vào năm 1583, do công dân London là ông William Gybbon tham gia. Phí b ảo hiểm ông đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết năm đó người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh

    N ăm 1759 công ty bảo hiểm ra đời đầu tiên ở Philadenphia (Mỹ). Công ty này cho đế n nay vẫn còn hoạt động, nhưng lúc đầu chỉ bán bh cho các con chiên ở nhà thờ của mình. N ăm 1762, công ty bhnt Equitable ở nước Anh được thành lập và bán bhnt cho mọi người dân.

    • Châu Á, các công ty bhnt ra đời đầu tiên ở Nhật Bản. Năm 1868 công ty bh Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay.

    Các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây đã triển khai bhnt. Công ty bhnt

    • Liên Xô cũ ra đời vào năm 1929 Capitar.

    Vi ệt Nam trước đây công ty bh Hưng-Việt ra đời vào năm 1958 đã tiến hành kinh doanh bhnt vào năm 1973.

    Xét một cách tổ ng thể thì trên thế giới, bhnt là loại hình bh phát triển nhất, n ăm 1985 doanh thu phí bhnt mới chỉ đạt 630,5 tỷ USD, năm 1989 đã lên tới 1210,2 tỷ USD và năm 1993 con số này đã lên tới 1647 tỷ USD, chiếm gần 48% tổng phí bh.

    Hiện nay có 5 thị trường bhnt l ớn nhất thế giới đó là: Mỹ, Nhật, Đức, Anh và Pháp. theo số li ệu thống kê năm 1993, thì phí bhnt của năm thị trường này được thể hiện ở bảng sau.

      ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:  
      NGUYỄN TIẾN DƯỠNG          
        CƠ CẤU PHÍ BHNT CỦA NĂM THỊ TRƯỜNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI NĂM 1993
             
      Tên nước Tổng doanh thu Cơ cấu phí bảo hiểm (%)
          phí  bảo  hiểm Nhân thọ   Phi nhân thọ
          (tỷ USD)        
      1. Mỹ 522,468 41,44   58,56  
      2. Nhật 230,143 73,86   26,14  
      3. Đức 107,403 39,38   60,62  
      4. Anh 102,360 64,57   35,43  
      5. Pháp 84,303 56,55   43,65  
                     

    Nguồn: Giáo trình kinh tế bảo hiểm

    Sở dĩ BHNT phát triển rất nhanh doanh thu phí bảo hiểm ngày càng tăng bởi vì loại hình b ảo hi ểm này có vai trò rất lớn. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ không ch ỉ thể hiện trong từng gia đình và đối với từng cá nhân trong việc góp ph ần ổ n định cuộc sống, giả m bớt khó khăn v ề tài chính khi gặp các rủi ro, mà còn th ể hiện trên phạm vi toàn xã hộ i. Trên phạm vi xã hộ i, bảo hiểm nhân thọ góp ph ần thu hút vốn đầu tư n ước ngoài, huy động vốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằm trong dân cư. nguồn vốn này không chỉ có tác d ụng đầu tư dài h ạn mà còn góp phần thực hành tiết kiệm chống lạm phát và tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Việt Nam, Bảo hi ểm nhân thọ chính thức được triển khai từ tháng 8 năm 1996 còn trước đó chỉ là những d ự án thí đi ểm. Mặc dù nhà nước cố gắng đầu tư để phát triển lĩnh vực này trong một th ời gian nh ất định, giúp các nhà B ảo hiểm trong n ước về mặt tài chính, con người và trách nhiệm. Nhưng do sức ép quá lớn năm 1999, chúng ta phải mở cửa thị trường Bảo hiểm và trước hết là thị trường Bảo hiểm nhân th ọ cho phép 4 công ty lớn vào Việt Nam. Và cho đến nay thì thị trường Bảo hiểm nhân thọ có th ể nói là sôi động và phát tri ển nhất trong lĩnh vực Bảo hiểm với số thu phí t ăng nhanh. Bên cạnh đó là thị trường ti ềm năng lớn với số dân đông. Và có thể khẳng định chỉ một vài năm tớ i thì thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam không thua kém gì thị trường Bảo hiểm nhân thọ cuả các nước trong khu vực và thế giới.

    2. Những đặc điểm cơ bản của thị trường Bảo hiểm nhân thọ

    2.1 Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro. Có thể nói đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa

    Bảo hiểm nhân thọ v ới Bảo hiểm phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi người mua Bảo hiểm nhân thọ sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ ( gọi là phí Bảo hiểm ) cho người Bảo hiểm, người Bảo hiểm có trách nhiệm tr ả một số tiền l ớn (gọi là số tiền Bảo hiểm ) cho người được hưởng quyền lợi Bảo hi ểm như đã thoả thuận từ trước khi có các sự kiện Bảo hiểm xảy ra. Số tiền Bảo hiểm

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                                4

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    được trả khi ng ười được Bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nh ất định và được ấn định trong hợp đồ ng. Hoặc s ố tiền Bảo hiểm này được trả cho các thân nhân và gia đình người đượ c Bảo hiểm khi người này không may bị chết sớm. Số tiền này giúp họ trang trai những chi phí cần thiết như thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái…. Chính vì vậy Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính

    tiết kiệm vừa mang tính rủ i ro. Tính tiết kiệm được thể hi ện ngay trong từng gia đình, cá nhân một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỉ luật.

    Nội dung tiết kiệm khi mua Bảo hi ểm nhân thọ khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, ng ười Bảo hi ểm bảo đảm trả cho người tham gia Bảo hiểm hay thân nhân của họ mộ t số tiền rất l ớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là khi người tham gia Bảo hiểm không may gặp r ủi ro trong thời hạn đ ã được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền Bảo hiểm từ công ty Bảo hiểm. Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong Bảo hiểm nhân thọ.

    2.2 Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia Bảo hiểm

    Trong khi các nghiệp vụ Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia Bảo hiểm gặp s ự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia. Thì Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được nhiều mục đích, mỗi mục đích của Bảo hiểm nhân thọ được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chẳng hạn hợp đồng Bảo hiểm hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu cho người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp ph ần ổn định cuộc sống khi họ già yếu. Hợp đồng Bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được Bảo hiểm để lại cho gia đình một s ố tiền Bảo hiểm khi họ bị tử vong. Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố, như: trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng bố mẹ già….Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đôi khi còn có

    vai trò như một vật thế chấp để vay vố n hoặc Bảo hiểm nhân thọ tín dụng thường bán cho các đối tượng đi vay để mua xe h ơi, đồ dùng gia đình, hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác… Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình Bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm.

    2.3. Các hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng và phức tạp

    Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ được thể hiện ở ngay trong các sản phẩm của nó. Mỗi sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳ ng hạn có loại Bảo hiểm nhân thọ h ỗn hợp thời h ạn là 5 năm, 10 năm, 20 năm. mỗi hợp đồng khác nhau lại có sự khác nhau về số tiền Bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia….Ngay cả trong một bản hợp đồng mối quan hệ giữa các

    bên cũng đa dạng và phức tạp.  
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 5
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    2.4. Phí Bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp.

    Để xác đị nh phí cho một sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ là r ất khó khăn và phức tạp bởi vì các sản phẩm này chỉ là những sản phẩm vô hình không thể nào cân đong đo đếm được do đó nó chịu tác động của rất nhiều yếu tố như.

    Tuổi thọ của người được Bảo hiểm Tuổi thọ bình quân của con người Số tiền Bảo hiểm

    Thời gian tham gia

    Phương thức thanh toán

    Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền Lãi suất đầu tư

    Tỷ lệ chết ……………….

    Bên cạnh đó còn có các chi phí để tạo nên sản phẩm như chi phí thiết kế sản phẩm, chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng….

    Quá trình định phí ph ải phụ thu ộc vào các yếu tố trên. Nhưng đ iều khó kh ăn và phức tạp hơn là ở chỗ đôi khi các tỷ l ệ như: tỷ lệ ch ết, t ỷ lệ lãi đầu tư, t ỷ lệ lạm phát, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng…. Đó là những tỷ lệ mà ta phải giả định để phân tích

    2.5. Bả o hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định .

    • các nước phát triển, Bảo hiểm nhân thọ đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay . Ngược lại một số quốc gia cho đến nay chưa triển khai được Bảo hiểm nhân thọ mặc dù người ta hiểu rõ vai trò và lợi ích của nó . Để lý giải vấn đề này hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng,cơ sở chủ yếu để Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát trỉên là nhờ điều kiện kinh tế phát triển .

    Những điều kiện kinh tế như :

    Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội

    Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân trên một đầu người Mức thu nhập của dân cư

    Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền . Tỷ lệ hối đoái ……………

    Điều kiện về dân số .

    Tuổi thọ bình quân của người dân Trình độ học vấn

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 6
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh ……

    Ngoài điều kiện kinh tế xã hội thì môi tr ường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm nhân thọ .

    3.Các loại hình Bảo hiểm nhân thọ .

    Trong thực tế hiện nay ,có 3 loại hình Bảo hiểm nhân thọ cơ bản :

    Bảo hiểm trong trường hợp tử vong Bảo hiểm trong trường hợp sống Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

    Ngoài ra người ta còn áp dụng các điều khoản bổ sung cho các loại hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ cơ bản như.

    Bảo hiểm tai nạn Bảo hiểm sức khoẻ

    Bảo hiểm không nộp phí khi bị thương tật Bảo hiểm cho người đón phí ……

    Thực chất các đ iều khoản bổ sung không phải là Bảo hiểm nhân thọ ,vì không phụ thu ộc vào sinh mạng ,cuốc sống và tu ổi th ọ của con người ,mà là Bảo hiểm cho các r ủi ro khác có liên quan đến con người .Nhưng đôi khi người tham gia Bảo hi ểm vẫn thấy rất cần thiết phải tham gia để bổ sung cho các hợp đồng cơ bản .

    3.1. Bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp tử vong

    Đây là loại hình phổ biến nhất trong Bảo hiểm nhân thọ và được chia thành hai nhóm .

    a.Bảo hiểm tử kỳ .

    Được ký kết Bảo hi ểm cho cái ch ết xẩy ra trong thời gian quy định của hợp đồng . Nếu cái chết không xẩy ra trong thời gian đ ó thì người được bảo hiểm không nhận đượ c bất kỳ một khoản phí nào từ số phí Bảo hiểm đã đóng . Ngược l ại ,nếu cái chết xẩy ra trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng ,thì người Bảo hiểm phải có trách nhiệm thanh toán số tiền Bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi Bảo hiểm được chỉ định .

    Đặc điểm .

    • Thời hạn Bảo hiểm xác định
    • Trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời
    • Múc phí Bảo hiểm thấp vì không phải lập lên quỹ tiết kiệm cho người được bảo hiể

    Mục đích .

    • Bảo đảm cho các chi phí mai táng ,chôn cất
    • Bảo chợ cho gia đình và người thân trong mốt thời gian ngắn
    • Thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc thế

    chấp của người được Bảo hiểm .

    Bảo hiểm tử kỳ còn được đa dạng hoá thành các loại hình sau:

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 7
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Bảo hiểm tử kỳ cố định :Có mức phí Bảo hiểm và số tiền Bảo hiểm không thay đổi tróng suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng .Mức phí thấp nhất và người Bảo hiểm không thanh toán khi hết hạn hợp đồng . Hợp đồng hết hiệu lực nếu sau ngày gia hạn hợp đồng không nộp phí Bảo hiểm . Loại này chủ yếu nhằm thanh toán cho các khoản nợ tồn đọng trong trườn hợp người được Bảo hiểm bị tử vong.

    Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục : Loại này có thể tái tục vào ngày kết thúc hợp đồng và không yêu cầu có thêm bằng chứng nào về sức khoẻ của người được Bảo hiểm , nhưng có sự giới hạn về độ tuổi (thường độ tuổi tối đa là 65 tuổi). Tại lúc tái tục , phí Bảo hiểm tăng nên vì độ tuổi của người được bảo hiểm tăng nên.

    Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi : Đây là loại hình Bảo hiểm tử kỳ cố định nhưng cho phép người được Bảo hiểm có sự lựa chọn có thể chuyển đổi một phần hay toàn bộ hợp đồng đang có hiệu lực thành một hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ trọn đời hay Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp tại một thời điểm nào đó khi hợp đồng đang còn hiệu lực . Phí Bảo hiểm được tính dựa trên Bảo hiểm nhân thọ trọn đời hay Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .

    Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ giảm dần : Đây là loại hình Bảo hiểm mà có

    một b ộ phận của s ố tiền B ảo hiể m gi ảm hàng nă m theo một mức quy định . Bộ phận này giảm tới 0 vào cuối kỳ hạn hợp đồng . Đặc điểm của loại này là:

    Phí Bảo hiểm dữ lại ở mức cố định

    Phí thấp hơn Bảo hiểm tử kỳ cố định

    Giai đoạn nộ p phí ngắn h ơn toàn bộ thời hạn hợp đồng để tránh việc thanh toán vào cuối thời hạn của hợp đồng khi mà số tiền bảo hiểm còn rất nhỏ .

    Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ tăng dần :loại này được phát hành nhằm giúp người tham gia bảo hiểm có thể ngăn chặn được yếu tố lạm phát của đồng tiền . Có nghĩa là số tiền Bảo hiểm thực trong hợp đồng bị giảm do đồng tiền tụt giá trong một khoảng thời gian . Để ngăn chặn có thể:

    Tăng số tiền Bảo hiểm theo một tỷ lệ % được lập hàng năm

    Hoặc đưa ra hợp đồng ngắn hạn sau đó tái tục với một số tiền Bảo hiểm tăng dần.

    Bảo hiểm thu nhập gia đình : Loại hình Bảo hiểm này nhằm đảm bảo thu nhập cho một gia đình khi không may người trụ cột trong gia đình bị chết

    .Quyền lợi bảo hiểm mà gia đình nhận được sau cái chết của người trụ cột có thể là:

    Nhận được toàn bộ (trọn gói ).

    Nhận được từng phần dần dần cho đến khi hết hạn hợp đồng.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                                 8

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Nếu như ng ười được bảo hi ểm còn sống cho đến khi hết hạn h ợp đồng thì người được bảo hiểm cũng như gia đình sẽ không nhận được bất kỳ một khoản thanh toán nào từ công ty Bảo hiểm .

    Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng nên : LoạI hình Bảo hiểm này cũng nhằm tránh yếu tố lạm phát của đồng tiền . Đảm bảo các khoản thanh toán của công ty Bảo hiểm cho gia đình khi không may người được bảo hiểm bị chết , tương ưng với số tiên Bảo hiểm khi ký hợp đồng .

    Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ có đIều kiện : Điều kiện ở đây là việc thanh toán trợ cấp chỉ được thực hiện khi người được bảo hiểm bị chết , đồng thời người thụ hưởng quyền lợi Bảo hiểm được chỉ định trong hợp đồng Bảo hiểm phải còn sống .

    b.Bảo hiểm trọn đời.

    Đặc điểm :

    • Số tiền Bảo hiểm trả một lần khi người được bảo hiểm bị chết
    • Thời hạn Bảo hiểm không xác định phí Bảo hiểm có thể đóng định kỳ hay đóng một lần .
    • Phí Bảo hiểm cao hơn so với Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn . Vì rủi ro chết chắc chắn sẽ xẩy ra , nên số tiền bảo hiểm chắc chắn sẽ phảI trả

    +Bảo hiểm nhân thọ trọn đời là loại hình Bảo hiểm dài hạn, phí đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt qúa trình Bảo hiểm do đó tạo nên một khoản tiết kiệm cho người thụ hưởng Bảo hiểm vì chắc chắn người bảo hiểm sẽ chi trả số tiên Bảo hiểm .

    Mục đích:

    • Đảm bảo chi phí mai táng ,chôn cất
    • Đảm bảo thu nhập để ổn định cuộc sống cho gi đình .

    +Giữ gìn tàI sản , tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau.

    3.2. Bảo hiểm trong trường hợp sống :

    Thực chất của loạI hình Bảo hiểm này là người Bảo hiể m cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn trong suốt khoảng thời gian sác định hoặc trong suốt cuộc đời ngườ i tham gia Bảo hiểm . Nếu người tham gia Bảo hiểm chết trướ c ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ khoản tiền nào .

    Đặc đIểm:

    • Cấp định kỳ cho người được Bảo hiểm trong thời gian nhất định hoặc cho đến khi chết .
    • Phí Bảo hiểm đóng một lần .
    • Nếu trợ cấp định kỳ cho đến khi chết thì thời gian không xác định Mục đích :
    • Đảm bảo thu nhập cố đinh sau khi về hưu hay cao tuổi sức yếu
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 9
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    +Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cáI khi về già .

    +Bảo trợ mức sống trong suốt những năm tháng còn lạI của cuộc

    đời

    3.3.Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .

    Lo ạI hình b ảo hi ểm này là bảo hiểm cả trong trường hợp người bị tử vong hay còn sống . Yếu tố tiết ki ệm và rủi ro đan xen nhau vì thế nó được áp dụng rộng rãI ở hầu hết các nước trên thế giới .

    Đặc đIểm:

    • Số tiền Bảo hiểm được trả khi hết hạn hợp đồng hoặc người được bảo hiểm bị tử vong trong thời hạn hợp đồng còn hiệu lực .

    +Thời hạn Bảo hiểm xác định thường là: 5 năm , 10 năm, 20 năm

    …..

    • Phí Bảo hiểm thường đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời gian Bảo hiểm
    • Có thể được chia lãI thông qua đầu tư phí Bảo hiểm và cũng có thể được hoàn phí khi không có đIều kiện tiếp tục tham gia .

    Mục đích:

    +Đảm bảo cuộc sống cho gia đình và người thân . +Tạo lập quỹ giáo dục , hưu trí , trả nợ.

    +Dùng làm vật thế chấp để khởi nghiệp kinh doanh …..

    3.4.Các đIều khoản Bảo hiểm bổ sung .

    Khi triển khai các loạI hình Bảo hiểm nhân thọ , nhà Bảo hiểm còn nghiên cứu , đưa ra các đIều khoản bổ sung để đáp ứng nhu cầu đa dạng hoá của khách hàng , có các đIều khoản bổ sung sau đây được vận dụng :

    • ĐIều khoản bổ sung Bảo hiểm lằm viện và phẫu thuật: Có nghĩa là nhà Bảo hiểm cam kết trả các phí lằm viện và phẫu thuật khi người được bảo hiểm bị ốm đau và thương tật . Tuy nhiên , nếu người được bảo hiểm tự gây thương tích , tự tử ,mang thai và sinh nở …thì không được hưởng quyền lợi Bảo hiểm .

    Mục đích của đIều khoản này là nhằm trợ giúp người tham gia giảm nhen gánh nặng chi phí trong đIều trị phẫu thuật , đặc biệt là trong trường hợp ốm đau bất ngờ .

    • ĐIều khoản bổ sung Bảo hiểm tai nạn : Nhằm trợ giúp thanh toán chi phí trong đIều trị thương tật , từ đó bù đắp sự mất mát hoặc giảm thu nhập do bị chết hoặc thương tích của người được bảo hiểm . ĐIều khoản này có đặc đIểm là Bảo hiểm khá toàn diện các hậu quả tai nạn như : người được bảo hiểm bị tàn phế , thương tật toàn bộ , thương tích tạm thời ,tai nan sau đó bị chết . Những trường hợp tự thương , tai nạn do nghiện rượu , ma tuý … đều không được hưởng quyền lợi Bảo hiểm .
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 10
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    +ĐIều khoản bổ sung Bảo hiểm sức khoẻ : Thực chất đIều khoản Bảo hiểm này là nhà Bảo hiểm sẽ cam kết thanh toán khi người được bảo hiểm bị các chứng b ệnh hiểm nghèo như: Đau tim.

    Ung thư.

    Suy gan.

    Suy thận .

    Suy hô hấp.

    …………………..

    Mục đích tham gia Bảo hiểm ở đay nhằm có được những khoản tàI chính nhất định để trợ giúp thanh toán các khoản chi phí y tế lớn góp phần giảI quyết ,lo liệu các nhu cầu sinh hoạt trong thời gian đIều trị.

    NgoàI ra , trong một số trường h ợp các nhà Bảo hiểm đưa ra những đIểm bổ sung khác nhảutong hợp đồng Bảo hiể m của mình như: Hoàn phí Bảo hiểm , miễn thanh toán phí khi gặp tai nạn , thương tật …..nhằm tăng

    tính hấp dẫn để thu hút ngườ i tham gia .Mặc dù phí cao hơn , nhưng các hợp đồng Bảo hi ểm nhân thọ có các đIều khoản bổ sung đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tham gia .

    II-THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ .

    1.KháI niệm.

    Thị trườ ng hi ểu theo nghĩ a hẹp là sự tiếp súc giữa những người có mục đ ích giao dịch thương mạI thông qua mua bán . Như vậy thị trường là nơI có thể bán được hàng hoá và cũng là địa đIểm có thể mua được hàng hoá .

    Đứng trên góc độ là một nhà Bảo hiểm , thị trường Bả o hi ể m nhân thọ thực chất là nơI mua và bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ .

    Thị trường Bảo hiểm nhân thọ cũng có thể được hiểu là sự k ết hợp giữa cung và cầu sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ , trong đó , những người mua và những người bán bình đẳng, cùng cạnh tranh . S ố lượng người mua và bán nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường là lớn hay nhỏ .

    Dưới góc độ Marketing , thị trườ ng bao g ồm toàn bộ khách hàng hiện tạI và khách hàng tiềm năng củ a một lo ạI sản phẩm .Khách hàng hiện t ạI là khách hàng đang tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó . Khách hàng tiềm nă ng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và s ử dụ ng sản ph ẩm dó trong tương lai , khách hàng tiềm năng phảI thoả mãn các đIều kiện sau :

    • Có nhu cầu về sản phẩm
    • Có khả năng tàI chính
    • Là đối tượng thoả mãn các đIều kiện của sản phẩm
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 11
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    + Người bán có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với họ

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             12

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    2. Các bên tham gia vào thị trường Bảo hiểm nhân thọ

    Từ kháI ni ệm thị trường ở trên , th ị trườ ng Bảo hiể m nhân thọ là nơi mua và bán các các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ . Từ đó ta thấy thị trường muốn tồn tại và phát triển phải có đủ các đIều kiện sau đây :

    + Phải có người cung ứng , tức người bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân

    thọ.

    • Phải có khách hàng , tức người mua các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ.

    2.1. Người cung ứng các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ .

    Các bên tham gia vào quá trình cung ứng các sản phẩm Bảo hiểm nhân

    thọ bao gồm : Các doanh ngiệp Bảo hiểm nhân thọ , các đại lý Bảo hiểm nhân thọ ,các môI giới Bảo hiểm nhân thọ ,ngoàI ra còn có các cộng tác viên cũng tham gia vào quá trình cung ứng.

    *Doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ : Là doanh nghiệp được tổ chức và ho ạt động theo luật kinh doanh Bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh trong lĩnh vực Bảo hiểm nhân thọ .

    Các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ thường cung ứng các sản phẩm của mình một cách gián tiếp qua các đạI lý của công ty , qua các công ty môI giới ,các cộng tác viên , đôI khi cũng cung cẩp trực tiếp tới khách hàng ở các trụ sở , chi nhánh của mình .

    *Đại lý Bảo hiểm nhân thọ : Là tổ chức , cá nhân được doang ngiệp Bảo hiểm nhân thọ uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đạI lý B ảo hiểm theo quy định của luật kinh doanh Bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Đại lý Bảo hiểm nhân thọ có thể coi là người cung cấp chính các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường . ĐạI lý Bảo hi ểm nhân thọ được các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ uỷ quyền tiến hành các hoạt động sau đây :

    • Giới thiệu , chào bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ
    • Thu xếp , giao kết hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ

    +Thu phí Bảo hiểm

    +Thu x ếp giảI quyết bồi thường và chi trả tiền Bảo hiểm khi xảy ra các sự kiện Bảo hiểm .

    +Thự c hiện các hoạt động khác có liên quan đến thực hiện hợp đồng Bảo hiểm .

    • Môi giới Bảo hiểm : Doanh ngiệp thực hiện giới Bảo hiểm theo quy định của luật kinh doang Bảo hiểm và các pháp luật khác có liên quan.

    Doanh nghiệp môI giới Bảo hiểm cũng có vai tró rất quan trọng trong việc đưa sản phẩm của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tớ khách hàng

    .Và các công việc mà các doanh nghiệp môI giói Bảo hiểm phảI làm là:

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             13

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         
    • Cung cấp thông tin về loạI hình Bảo hiểm ,đIều kiện ,đIều khoản , phí Bảo hiểm , doanh nghiệp Bảo hiểm cho bên mua Bảo hiểm .
    • Tư vấn cho bên mua Bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro , lựa chọn loạI hình Bảo hiểm , đIều kiện ,điều khoản , biểu phí Bảo hiểm và doanh nghiệp Bảo hiểm .
    • Đàm phán , thu xếp hợp đồng giữa doanh nghiệp Bảo hiểm và bên mua Bảo hiểm .

    +Thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện thực hiện hợp đồng Bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua Bảo hiểm .

    2.2. Khách hàng.

    Theo góc độ Marketing , thị trường bao gồm toàn bộ khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng .Qua khái niệm này ta thấy khách hàng là yếu tố quan trọng nhất không thể thiếu được ,nó có vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của thị trường .Nếu không có khách hàng cũng đồng nghĩa với việc không có thị trường.

    Khách hàng hiện tại là khách hàng đang tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó .

    Khách hàng tiềm năng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm dó trong tương lai , khách hàng tiềm năng phảI thoả mãn các đIều kiện sau :

    • Có nhu cầu về sản phẩm
    • Có khả năng tàI chính
    • Là đối tượng thoả mãn các đIều kiện của sản phẩm
    • Người bán có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với

    họ

    Khách hàng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ là những cá nhân , các tổ chức , các hộ gia đình ,không phân chia giầu nghèo, giai cấp . Miễn là đối tượng đó có nhu cầu và quan tâm đến sản phẩm thì nhà Bảo hiểm sẵn sàng cung cấp các sản phẩm của mình.

    3.Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường Bảo hiểm nhân thọ .

    Về mặt lý luận và thực tiễn ,người ta coi thị trượng Bảo hiểm nhân thọ là một tổng thể. Nên các nhân tố ảnh hưởng nên thị trường này rất phong phú và đa dạng . Để đạt được hiệu quả cao trong việc nghiên cứu thị trường Bảo hiểm nhân thọ , cần phải phân loại các nhân tố trên các góc độ thích hợp *Trên góc độ sự tác động của các lĩnh vực và thị trường có thể phân

    thành các nhân tố kinh tế ,chính trị –xã hộ , tâm sinh lý……….

    • Các nhân tố kinh tế : Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với thị trường Bảo hiểm nhân thọ . Bởi vì nếu một nước có nền kinh tế phát triển , thu nhập của người dân được nâng cao, núc đó người ta mới nghĩ đến các hình thức tiết kiệm và các hình thức khác để đảm bảo cuộc sống và
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 14
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    đây là đi ều kiện để họ tìm đến các sản phẩm Bảo hi ểm nhân thọ với mục đích góp phần làm ổn định cuộc số ng, giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp các rủi ro , đảm bảo cho con cái có thẻ đi học , có nguồn thu nhập khi về già.

    Và thực tế cũng cho thấy hầu hết các nước có n ền kinh tế phát triển là những nước có nền kinh tế phát triển cụ th ể là 5 thị trường Bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới hiện nay là : Mỹ , Nhật , Đức , Anh và Pháp .

    • Các nhân tố chính trị – xã hội : Các nhân tố này ảnh hưởng tới thị trường Bảo hiểm nhân thọ thông qua các chủ trương chính sách của nhà nước về chính tri , trình đôn văn hoá của nhân dân và cả thói quen của người dân .

    Các chủ trương chính sách của Nhà nước có thể là chính sách đối nội ,đối ngoại , chính sách mở cửa kinh tế , chính sách hội nhập ……..các chính sách này có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển hay thu hẹp của thị trường Bảo hiểm nhân thọ của nước đó .

    Trình độ văn hoá của người dân cũng ảnh hưởng tới nhận thức của người dân về các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cũng như vai trò của Bảo hiểm nhân thọ đối với các cá nhân , các gia đình và toàn xã hội .

    • Các nhân tố tâm sinh lý : Đây cũng là yếu tố quan trọng bởi vì nếu các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cũng như các loại hình Bảo hiểm nhân thọ , tạo ra được liềm tin , tạo ra được cảm giác an toàn cho người tham gia Bảo hiểm thì sẽ dẫn tới các quyết định mua của khách hàng.

    *Ngoài ra còn có sự tác động của các cấp quản lý đến thị trường Bảo hiểm nhân thọ như các nhân tố quản lý vĩ mô,các nhân tố quản lý vi mô.

    • Các nhân tố quản lý vĩ mô : Như các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế , các chính sách về pháp luật , các chính sách thuế, lãi suất tín dụng

    … Các nhân tố này tạo nên môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp . Và các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cũng như các doanh nghiệp khác muốn làm ăn có hiệu quả , con đường quan trọng nhất là phải vận dụng một cách thích hợp các nhân tố này .

    • Các nhân tố vi mô là các công cụ để quản lý các doanh nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ với chất lượng cao và giá cả phù hợp
    • đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất dẫn tới mở rộng thị truờng của doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ .

    III.THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC.

    1.Một vài nét về thị trường Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam .

    Nói đến Việt Nam thì không ai không nhắc đến dân số Vi ệt Nam , tuy là mộ t nướ c nhỏ bé nhưng lại có dân số rất đông (Cụ thể là theo số liệu thống kê 0 giờ ngày25/10/2002 dân số Việt Nam là 80 triệu) và hiên nay

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             15

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    đang đứng thứ 2 Châu Á và đứng thứ 12 trên thế giới . Qua đó ta thấy thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là mộ t thị trường có ti ềm năng năng lớn . Và hiện nay đang được các công ty Bảo hiểm nước ngoài chú ý đến .

    Tuy vậy thị trường Bảo hiểm nhân th ọ ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ trong giai đ oạn đầu , manh mún, và còn non trẻ.Tháng 8/1996 hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được phát hành , đánh dấu sự ra đời và phát triển của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam .

    Năm 1999 , lần đầu tiên chúng ta mở cửa thị trường Bảo hiểm và trước hết là thị trường Bảo hiểm nhân thọ , và đ ó cũng là bước ngoặt quan trọng đối với thị trườ ng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam . Từ khi mở cửa,thị trưòng Bảo hiểm nhân thọ cho đến nay ,thị trưòng đã có 5 doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này đó là:Bảo việt,Bảo Minh- CMG, Manulife,Prudential và AIA.

    Bảo hiểm nhân th ọ Việt Nam mói chỉ hoạt động được 5 năm nhưng cũng đã có thành tựu rất to lớn .

    • Hiện nay Bảo hiểm nhân thọ đã có mặt trên 61 tỉnh thành
    • Thị trường đạt tốc độ tăng trưởng siêu mã
    • Các sản phẩm ngày cảng đa dạng và phong phú , ngày càng được hoàn thiện ,đáp ứng ngày một tốt hơn những nhu cầu của người tiêu dùng.
    • Chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao .
    • Thị trường ngày càng sôi động

    M ặc dù đã có những thành tựu nh ư vậy nhưng nó vẫn còn rất nhiều vấn đề cần xẽm xét. Và để nghiên cứu kỹ hơn thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ta đi tìm hiểu các phần sau đây.

    2.Sự phát triển của thị trường B ảo hi ểm nhân thọ Việt Nam . Tháng8/1996đánh dấu sự ra đời và phát triển của thị trường Bảo hiểm

    nhân thọ Việt Nam ,và tháng 6/2002 vừ qua là sinh nhật lần thứ 6 của thị trườ ng .Nhìn một cách tổng thể qua những n ăm hoạt độ ng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam có những nét nổi bật sau đây

    2.1.Thị trường sôi động , cạnh tranh ngày càng gay gắt và toàn diện.

    Từ tháng 8/1996 đến giữa năm 1999 chỉ có Bảo Việt “Một mình một chợ “ ,đến nay thị trường đã có 5 doanh nghiệp : Bảo việt,Bảo Minh- CMG, Manulife,Prudential và AIA. Từ khi có sự góp mặt thêm của 4 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – những tên tưổi lớn,đã có kinh nghiệm hoạt động

    • nước ngoài kèm theo cơ chế tài chính ,thù lao linh hoạt , thị trường sôi động cạnh tranh ngay càng toàn diện và phát triển với tốc độ cao .

    Tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt ,có thể thấy rõ ở các thị trường lớn như Hà Nội, Thành Phố HCM, Hải Phòng,Đà Nẵng………sự cạnh tranh thể hiện trên tất cả các mặt như thu hút khách hàng , thu hút đại lý

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 16
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    (chính sách thù lao) , sản phẩm,dịch vụ, địa bàn hoạt động ,quảng cáo , khuyến mại…….

    Nếu như mới hoạt độ ng Manulife,Prudential và AIA ch ỉ tập trung triển khai ỏ hai đia bàn là Hà Nội, Thành Phố HCM và chủ yếu hướ ng vào khách hàng có thu nhập trung bình khá trở nên , thì đến nay các công ty này đã tích cực mở rộng ph ạm vi hoạt động sang các địa bàn còn lại và h ướng tới các khách hàng có thu nhập trung bình , đến thời điểm này các đều lấy mục tiêu tăng trưởng , mở rộng thị trường là mục tiêu hàng đầu.

    Xét v ề mặt tích cực ,cạnh tranh thực sự trở thành một nhân tố quan trọng thúc đẩy thị trường phát triển .Chính nhờ sự hoạt động mạnh mẽ của các doạnh nghiệp, đã giúp dân chúng nhận thức rõ hơn về Bảo hiểm nhân thọ, giúp đưa d ịch vụ Bảo hiể m nhân thọ đến tận nhà khách hàng, cũng nhờ cạnh tranh các doanh nghiệp đã nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, chất lượng khai thác, đa dạng hoá sản ph ẩm, đồ ng thời thúc đẩy điều khoản, quy trình nghiệp vụ (như in bản mô tả quyền l ợi Bảo hiểm, đánh giá rủi ro…), bổ xung các dị ch vụ tăng giá trị( cho vay phí tự động, cho vay theo hợp đồng, khôi phục hiệu lực hợp đồ ng…), hoàn thiện mô hình tổ chức và ho ạt độ ng, trong đó đang chú trọng là mô hình đại lý, chế độ thù lao cho đại lý theo hướng hiệu qu ả hơn, phù hợp hơn v ới đặc điểm của kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ . Cạnh tranh cũng thôi thúc các doanh nghiệp tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh như ứng dụng tin học, đa dạng hoá các kênh phân phối. Thời gian qua các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ rất tích cực ứng dụng khoa học công nghệ thông tin vào h ầu hết các công việc như phát hành, quản lý hợp đồ ng, in hoá đơn, kế toán, thố ng kê quảng cáo giới thi ệu sản phẩm… Tuy v ậy hi ện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh (như tung tin giả), cạnh tranh theo kiểu chộp giật đã xuất hiện gây tác động xấu đến thị trường làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của ngành, mặc dù các doanh nghiệp đã đạt đượ c thoả thuận hợp tác chung tại bản ghi nhớ chung ngày 10 tháng 7 năm 2000 nhằm thiết lập một thị trường cạnh tranh lành mạnh

    Hình 1: Thị ph ần Bảo hiể m nhân thọ qua các năm ( Theo doanh thu phí)

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             17

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:  
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG        
      N¨m 2000 N¨m 2001 B¶o  
         
           
    Prudentia       ViÖt  
    B¶o ViÖt     54.30%  
    l Prudent  
    71.50%      
    19.40%      
      ial      
             
        29.90%      
    Manulife AIA Manulif BM- AIA  
     
    7.60%BM-0.80% e 3.60%  
    CMG
      CMG
      10.80%    
      0.70% 1.40%    
           

    Tính đến cu ối năm 2001 , dẫn đầu trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ vẫn là Bảo vi ệt – là doanh nghiệp nhà nước và là doanh nghi ệp duy nhất không có vốn đầu tư nước ngoài với thị phần là 54,3% , tốc độ tăng trưởng doanh thu phí đạt 64,8% và là doanh nghiệp duy nhất có mạng lưới phủ khắp các tỉnh thành .Các doanh nghiệp khác cũng đạt được kết quả rất tốt ,đặc biệt là Prudential đã đạt được kết qu ả khá ngoại mục . Chỉ trong vòng 2 năm Prudential đã vươ n nên vị trí thứ hai với gần 30% thị phần và trở thành đối trọng lớn đối v ới Bảo việt trên thị trường .AIA,BM -CMG,Manulife trong năm 2001 cũng gia tăng thị phần , tuy nhiên tính tới thời đi ểm này thì các doanh nghiệp này cũ ng chỉ chiếm được thị phần khá nhỏ . Với đặc đ iểm khách hành là các cá nhân , số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng , có thể nhận định được r ằng trong th ời gian tới thị trường Bảo hiể m nhân thọ Việt Nam sẽ thêm sôi động , cạnh tranh thêm sâu sắc c ả về mọi mặt theo hướng có lợi cho khách hàng , đồng thời chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ .

    Sự hoạt động mạnh mẽ của thị tr ường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong thời gian qua còn tạo ra sự cạnh tranh liên ngành , trong đó rõ rệt nhất là cạnh tranh giữa hệ thố ng ngân hàng , b ưu điện với ngành Bảo hiểm nhân thọ trong việc thu hút vốn nhàn rỗi từ công chúng .

    Mặ c dù là lĩnh vực kinh doanh ch ậm có lãi (cho đến thời đ iểm hi ện nay , các doanh nghi ệp Bảo hiể m nhân thọ Việt Nam đều chưa có lãi ), nhưng Bảo hiểm nhân thọ là lĩnh vực kinh doanh màu mỡ và bền vững , hấp dẫn các nhà đầu tư , nhất là các nhà đầu tư nước ngoài . Có thể nhận định rằng , cùng với chính sách hội nhập của Việt Nam cũng như việc thực hiện hiệp định Việt- Mỹ , trong thời gian tới chắc chắn sẽ xu ất hi ện nhiều gương mặt mới trên th ị trườ ng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam làm cho thị trường thêm sôi động . Việc t ăng vố n của các doanh nghiệp đang đang hoạt động trên thị trường cũng đã khẳng định điều này.

    2.2.Thành công lớn , trưởng thành nhanh.

     

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             18

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Mặc dù chúng ta mới thực hiện loại hình Bảo hiể m nhân thọ được vài năm nh ưng thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã đạt được kết quả rất đáng tự hào trên nhiều mặt cụ thể:

    *Tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu phí và số hợp đồng.

    Nếu như năm 1996 Bảo Việt mới triển khai thí điểm Bảo hiểm nhân thọ tại một số tỉnh thành và đạt được kết quả khá khiêm tố n vơí trên 1200 hợp đồng và doanh thu phí chưa đến 1 tỷ đồng thì đến n ăm 2000 doanh thu phí Bảo hiểm nhân thọ toàn thị trường đã đạt g ần 1300 tỷ đồng và gần 1 triệu hợp đồng có hiệu lực,năm 2001 là năm đáng ghi nhớ nhất của thị trườ ng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam với doanh thu phí đạt 2786 tỷ đồng (tương đương với 0,55% GDP),vượt khá xa so với tổng doanh thu phí Bảo hiểm phi nhân thọ của toàn thị trường ,số hiệu lực hợp đồng tính đến cuối năm 2001 đạt khoảng 1,6 triệu hợp đồng (tương đương với 1,9% dân số ).So với n ăm 2000,tốc độ tăng doanh thu phí của năm 2001 đạt 115,6%,trong đ ó tốc độ tăng doanh thu phí từ các hợp đồng mới đạt trên 89%.Nếu tính từ khi mới bắt đầu triển khai ,t ốc độ tăng doanh thu Bảo hiểm nhân thọ bình quân trong những năm qua đạt 250%/năm,còn nếu tính từ năm 1999,năm bắt đầu có sự gia nhập của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ khác ngoài Bảo Việt,tốc độ doanh thu phí bình quân đạt trên 135%/năm . Đây là tốc độ t ăng trưởng rất cao phản ánh sự trưởng thành nhanh chóng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam .

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001
    Tốc độ tăng 1742,1% 1060,0% 142,4% 162,6% 115,6
    doanh thu phí (so         %
    với năm tước)          
    Tû ®ång

    H×nh 2: Doanh thu phÝ b¶o hiÓm nh©n thä toμn thÞ tr−êng

    qua c¸c n¨m (tû ®ång)

    3000                                       2786  
                                           
    2500                                                
                                                   
                                                   
    2000                                                
                                  1292          
    1500                                        
                                           
    1000                                                
                                                   
                        492                    
    500             203                      
      0.95 17.5                              
                                   
    0                                      
                                         
                                                   
    1996 1997 1998 1999 2000 2001  
                          N¨m                  

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             19

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Bên c ạnh tốc độ tăng trưởng doanh thu phí ,thì chất lượng khai thác cũ được nâng nên đáng kể ,biểu hiện qua số tiền b ảo hiểm trung bình trên hợp đồng , số phí bảo hiểm bình quân /hợp đồng ,số phí bảo hiểm bình quân trên hợp đồng ngày càng cao , công tác đánh giá rủi ro được chú trọng hơn (thông qua việc đánh giá r ủi ro sức khoẻ ,tài chính ,mục đích tham gia,quyền lợi có th ể được bảo hiểm ),tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng của toàn thị trường dưới 6%/năm (thấp hơn rất nhiều so với các thị trường khác ).

    *Thiết l ập mạng lưới kinh doanh phủ khắp toàn quốc,mô hình tổ chức quản lý kinh doanh ngày càng được hoàn thiện :

    Thời gian qua ,các doanh nghiệp và đ iển hình là Bảở Việt đã xây dựng mạng lưới cung cấp dịch vụ khắp cả nước , nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân . Với mạng lưới phủ kh ắp các huy ện th ị và đội ngũ đại lý ,cán bộ khai thác đông đảở ,các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ đã len lỏi vào hang cùng ngõ hẻm ,từ thành thị tới nông thôn . Mô hình tổ chức và quản lý của các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả ,đi ển hình là chuyên môn hoá khai thác và thu phí .Việc đàở tạở cán bộ ,đại lý ngày càng được chú trọng và được xác định là nhân tố quan trọng quyết định dịch vụ cung cấp và thành công của doanh nghiệp .

    *Sản phẩm phong phú đa dạng,khách hàng thuộc nhiều tầng lớp .

    Khi Bảo Việt triển khai thí đ iểm Bảo hiểm nhân thọ ,ch ỉ có ba sản phẩm được đưa ra thị trường là Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thời hạn 5 năm ,

    • năm,và an sinh giáở dục .Cùng với sự phát triển của thị trường ,số sản phẩm đưa ra thị trường đã tăng nên nhanh tróng,đa dạng và ngày càng được hoàn thiện .Đến nay thị trường đã có sự hiện diện của tất cả các chủng loại Bảo hiểm nhân thọ truyền thống như hỗn hợp ,sinh kỳ ,tử kỳ ,trọn đời ,các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cách tân, các sản phẩm bảo hiểm hưu trí ,đồng thời còn nhiều loại sản phẩm bổ trợ khác .

    Với sự đa dạng về chủng loại các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng,phong phú và toàn diện của nhân dân về Bảo hiểm nhân thọ .Số liệu khai thác cho thấy , sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp và đặc biệt là bảở hiểm trẻ em là những sản phẩm bảo hiểm bán chạy nhất ,các sản phẩm mang tính bảở vệ thông thường như bảo hiểm tử kỳ ,bảo hiểm sinh kỳ ,bảo hiểm trọn đời ,bảo hiểm tai nạn ,bảo hiểm chi phí y tế ít được ưa chuộng .Điều này cho thấy thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn ưa tiết kiệm,đồng thời cũng phản ánh truyền thống ưa tiết kiệm ,hiếu học ,đức tính hy sinh về con cháu của người Việt Nam ,tuy nhiên nó cũng cho thấy Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam chưa thực sự trở thành tập quán của người Việt Nam . Thêm vào đó các sản phẩm bảo hiểm ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn ,phản ánh tâm lý lo lạm phát ,e ngại đầu tư dài hạn của công chúng . Gần đây , các doanh nghiệp lần lượt

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 20
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    đưa ra các sản phẩm bảo hiểm dài hạn hơn và nhiều sản ph ẩm bổ trợ mang tính bảo vệ như bảo hiểm b ệnh hiểm nghèo,bảo hiểm chăm sóc phụ nữ toàn diện ….,cho thấy những tín hiệu ban đầu về sự chuyển dịch sản phẩm .

    Ngoài Bảo hiểm nhân thọ ,các doanh nghiệp còn cung cấp thêm các dịch vụ khác cho khách hàng tham gia Bảo hiểm nhân thọ như tư vấn du học ,cho khách hàng vay tiền theo hợp đồ ng,thẻ giảm giá ,phiếu mua hàng …Với những lỗ lực của các doanh nghiệp ,chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao và mang tính toàn diện .

    *Tạo công ăn việc làm cho nhiều người

    Thời gian qua,ngành Bảo hiểm nhân thọ đã thu hút và tạo công ăn việc làm cho mộ t lực lượng đông đảo lao động dưới hình thức đaị lý chuyên nghiệp , bán chuyên nghiệp ,và cộng tác viên.

    Tính đến tháng 6 n ăm 2002 tổng số đại lý chuyên nghiệp trên toàn thị trường đã nên t ới con số 25240 người ,tăng 90,57% so với 6 tháng năm 2001 và nó được thể hiện rõ ở bảng dưới đây:

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             21

      ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:  
      NGUYỄN TIẾN DƯỠNG          
      Bảng 2:tốc độ tăng trưởng đại lý Bảo hiểm nhân thọ (người)
               
      Doanh nghiệp 6 tháng 2002 6 tháng 2001   % tăng giảm
      Tổng 52240   27413   90.57%  
      AIA 5862   3793   54.55%  
      BM-CMG 2664   1257   111,93%  
      Bảo Việt 14245   10532   35.25%  
      Manulife 5300   2626   101,83%  
      Prudential 24169   9205   162,56  

    Như v ậy qua bảng trên ta thấy chỉ trong vòng một năm trở lại đây thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam thực sự đã có bứơ c tiến dài ,số đại lý chuyên nghiệp không ngừng tăng nên với tốc độ chóng mặt ,và đ áng chú ý nhất đó là Prudential với t ốc độ tăng 162,56% so với năm 2001 và vươn nên đứng đầu trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam về số đại lý với 24169 người.

    Với những đặc trưng nổi bật :hoàn toàn độc l ập,tự chủ về thời gian ,đòi hỏi tính tự giác cao,hưở ng thù lao theo kết quả lao độ ng,tự hạch toán độ c lập không yêu cầu quá cao về bằng cấp,nghề đại lý Bảo hiểm nhân thọ đã thực sự trở thành một ngh ề có tính chuyên nghiệp ,được xã hội thừa nh ận là một trong những nghề có thu nhập khá cao ở Việt Nam hiện nay,đồng thời Bảo hi ểm nhân thọ Việt Nam đã tạo ra chỗ làm cho hàng nghìn người với t ư cách là cán bộ,nhân viên của các doanh nghiệp Bảo hiể m nhân thọ . Ngoài ra còn tạo việc làm cho các ngành có liên quan như công nghệ thông tin,ngân hàng, in ấn,quảng cáo…

    *Tạo kênh huy động và cung cấp vốn lớn cho nền kinh tế ,thúc đẩy nền kinh tế phát triển .

    Với chức năng gom nhặt và huy độ ng những khoản ti ền nhỏ,nhàn rỗi lằm rải rác trong dân cư ,Bảo hiểm nhân th ọ đã hình thành mộ t quỹ đầu tư lớn,cung cấp vốn cho nền kinh tế đặc biệt là nguồn vốn cung cấp dài hạn ,phục vụ đắc lự c cho công cuộc công nghệ hoá ,hiện đại hoá,góp phần phát triển kinh t ế xã hội . So v ới ngành ngân hàng,Bảo hiể m nhân thọ Việt Nam tuy mới có thâm liên hoạt động còn rất ngắn nhưng đ ã thực sự trở thành một kênh huy động và phân phố i vốn hữu hiệu cho nền kinh tế. Với số tài sản quản lý được tích luỹ (dướ i hình thức qu ỹ dự phòng) ngày càng lớn , cho phép các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ thực hiện những khoản đầu tư lớn dưới các hình th ức như góp vốn liên doanh,mua cổ phiếu,cho vay,tham gia dự án đầu tư,gửi tiết ki ệm ngân hàng …Lờy năm 2001 làm ví dụ ,như đã nêu trên,tổng phí Bảo hi ểm nhân thọ của toàn th ị trường đạt 2786 tỷ đồng,chiếm 0,55% GDP và như vậy tính đến thời điểm này ,tổng số vốn mà các doanh

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 22
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    nghiệp Bảo hi ểm có thể cung c ấp cho nền kinh tế nên tới 4000 t ỷ đồng (chủ yếu là quỹ dự phòng được tích tụ qua các năm ).Hoạt động đầu t ư tài chính cũng trở thành x ương sống nâng đỡ cho hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ ,tạo tiền đề và điều kiện để các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tham gia vào thị trường tài chính,tạo lập các quỹ đầu tư ,trên thực t ế , các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ đã tham gia vào rất nhiều các dự án đầu tư ,là cổ đông lớn trong nhiều công ty phần đồng thời cũng là thành viên th ường xuyên trong các cuộc đấu thầu tín phiếu,trái phiếu kho bạc,và cũng là người chơi lớn trên thị trường chứng khoán.

    Năm 1999,B ảo Việt thành lập công ty chứng khoán Bảo Việt- công ty chứng khoán đầu tiên của Việt Nam,t ạo ti ền đề để trở thành tập đoàn Bảo hiểm – Tài chính tổng hợp hàng đầu ở Việt Nam . Tuy nhiên,có th ể thấy,cho đến nay thị trường đầu tư của Việt Nam mới trong giai đoạn hình thành,còn thi ếu các công cụ đầu tư,nhất là các công cụ đầu tư dài hạn,do vậy hạn chế rất nhiều hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ .

    2.3.Môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện .

    Trong thời gian qua,môi trường pháp lý cho ho ạt độ ng kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ ngày càng được hoàn thiện tạo đ iều kiện thuận l ợi cho hoạt động kinh doanh,từng bước thiết l ập và duy trì một th ị trường cạnh tranh lành mạnh,nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.Trước hết là sự ra đời của luật khinh doanh Bảo hiểm ,bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/4/2001,tiếp đó là các nghị định (ngh ị đị nh số 42/2001/NĐ — CP ngày1/8/2001 quy định chi tiết một số điều của luật kinh doanh Bảo hiểm , Nghị định số 43/2001/NĐ- CP ngày1/8/2001quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp Bảo hiểm và môi gi ới Bảo hiểm )và thông tư hướng dẫn (Thông tư số 71/2001/TT- BTC ngày 28/8/2001 hướng dẫn thi hành nghị định 42/2001 NĐ- CP ngày 1/8/2001 và thông tư số 72/2001/TT- BTC ngày 28/8/2001 hướn dẫn thi hành nghị định 43/2001/NĐ- CP ngày 1/8/2001của chính phủ). Tuy vậy đến nay ,hệ thống pháp luật đ iều chỉnh hoạt độ ng kinh doanh Bảo hi ểm nhân thọ ở Việt Nam chưa thực sự đồng bộ ,mộ t số quy định cần thiết còn thiếu ,một số quy định chưa rõ ràng, chưa thực sự phù hợp với tập quán Bảo hiểm nhân thọ , chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp . Ngoài việc xây dựng và hoàn thiện môi trườ ng pháp lý ,trong thời gian qua Nhà nướ c còn có nhiều chính sách ưu đãi , hỗ trợ thúc đẩy thị trường Bảo hiểm nhân thọ như ưu đãi về thuế(theo luật thuế giá trị gia tăng ,hiện nay thị trường Bảo hiểm nhân thọ không thuộc diện chịu thếu).

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             23

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    3.Các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ và các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ hiện đang có mặt trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.

    Trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Vi ệt Nam tính đến thời điểm này hiện đang có 5 doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ đang ho ạt động trong đ ó có một công ty trong nước và một công ty liên doanh và 3 công ty 100% vốn nước ngoài.Và chúng được thể hiện rõ hơn ở bảng dưới đây.

    Bảng 2: Các DNBHNT hiện đang có mặt tại Việt Nam

    Doanh nghiệp Năm bắt Xuất xứ Loại hình Vốn(điều lệ) Vốn Vốn dự
      đầu triển   DN ban đầu hiện nay kiến xẽ
      khai               tăng
    1.Bảo Việt 1996 Việt Nhà nước 779 tỷ đồng 879 tỷ    
        Nam     (1996)   đồng    
                  (2000)    
    2.BM-CMG 1999 VN+ Liên   2 triệu USD 6 triệu 10 triệu
        ÚC doanh       USD USD  
    3.Manulife 1999 Canada 100% vốn 5 triệu USD 8,5 triệu 10 triệu
          nước       USD USD  
          ngoài              
    4.Prudential 1999 Anh 100% vốn 10 triệu 40 triệu    
          nước   USD   USD    
          ngoài       6/2001    
    5.AIA 2000 Mỹ 100% vốn 5 triệu USD 5 triệu 10 triệu
          nước       USD USD  
          ngoài              

    Nguồn:Tạp chí BH số 1/2002

    Thị phần của các doanh nghiệp qua năm 2001 (theo doanh thu phí)

    B¶o ViÖt

    N¨m 2001

    54.30%

    Prudential

    29.90%

    Manulife BM-CMG A IA  
    10.80%
    3.60%  
    1.40%
     
         

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             24

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    *Các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường Việt Nam.

    Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam nếu như năm 1996 duy nhất chỉ có mình Bảo Việt triển khai ở hai loại hình chính là Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm,10 năm và chương trình đảm bảo cho trẻ em đến tuổi trưở ng thành (an sinh giáo dục ).Thì cho đến nay đã có đã có 5 doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cùng hoạt động và cạnh tranh .Việc tham gia của ngày càng đ ông các doanh nghi ệp Bảo hiể m nhân thọ trên th ị trường cũng làm cho số lượng sản pảm Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường tăng nên đáng kể . Và sau đay là các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ của từng doanh nghiệp .

    a.Bảo Việt:

    Các sản phẩm chính:

    • Bảo hiểm và tiết kiệm trong thời hạn 5 năm,10 năm.
    • Bảo hiểm trọn đời.
    • Bảo hiểm an sinh giáo dục.
    • Niêm kinh nhân thọ.

    Các sản phẩm bổ sung.

    • Điều khoản riêng I:Bảo hiểm thương tật bộ phân,vĩnh viễn do tai nạn.
    • Điều khoản riêng II:Bảo hiểm chi phí phẫu thuật .
    • Điều khoản riêng III:Bảo hiểm sinh kỳ thuần tuý.
    • Điều khoản riêng IV:Bảo hiểm tử kỳ.

    b.Prudential:

    Các sản phẩm chính:

    • Phú trường an.
    • Phú tích luỹ an khang.
    • Phú tích luỹ giáo dục.
    • Phú tích luỹ định kỳ
    • Phú hoà nhân.

    Các sản phẩm bổ trợ:

    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí .
    • Bảo hiểm chết do tai nạn.
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn. Các sản phẩm trọn gói.
    • Phú tương lai:Là sự kết hợp của sản phẩm chính phú tích luỹ với sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm từ bỏ thu phí.
    • Phú bảo gia :Là sự kết hợp của sản phẩm chính phú tích luỹ an khang và sản phảm kèm theo Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạnvà sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn .

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             25

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         
    • Phú thành đạt:Là sự kết hợp của sản phẩm chính pú tích luỹ định kỳ với sản phẩm kèm theo Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn và sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             26

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    c.Manulife.

    Các sản phẩm chính :

    • Bảo hiểm hỗn hợp 5 năm,10 năm,15 nă
    • Bảo hiểm giáo dục h ỗ n hợp .
    • Bảo hiểm tử vong và thương tật do tai nạn .
    • Bảo hiểm trợ cấp y tế. d. Bảo Minh – CMG.
    • Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .
    • Bảo hiểm trẻ
    • Bảo hiểm hưu trí .
    • Bảo hiểm tử kỳ.
    • Bảo hiểm chết và thương tật do tai nạ
    • Bảo hiểm miễn phí .
    • Bảo hiểm miễn phí trong thời hạn thương tậ e. AIA:
    • Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có thời hạ
    • Bảo hiểm trọn đờ
    • Bảo hiểm giáo dục h ỗ n hợp .
    • Bảo hiểm tử kỳ .
    • Bảo hiểm chết và thương tật do tai nạ
    • Bảo hiểm miễn phí trong thời hạn thương tậ

    4. Cơ hội và thách thức của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam hiện nay

     

    Với sự thay đổi và phát triển nhanh chóng của môi trường kinh doanh, thể hiện ở áp lực cạnh tranh gia tăng, khuynh hướng toàn cầu hoá, biến đổi thói quen, nhu cầu khách hàng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đã đặt nhiều thách thức cũng như các cơ hội phát triển mới cho các công ty Bảo hiểm và đặc biệt là trong lĩnh vực Bảo hiểm nhân thọ.

     

    4.1. Đáp ứng nhu cầu khách hàng.

    Đối với sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ, nhu cầu khách hàng được dự báo là có những thay đổi về sản phẩm và hình thức dịch vụ sau:

    Xu hướng dân số già đi, thu nhập được tăng thêm, khách hàng có quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tài chính của họ trong những năm hưu trí, chăm sóc sức khoẻ, dẫn tới nhu cầu về sản phẩm Bảo hiểm tích luỹ, tử kỳ, niên kim, sẽ có nhiều triển vọng tăng trưởng. Việc quan tâm hơn của khách hàng tới những loại sản phẩm này cũng thể hiện xu hướng quan tâm hơn tới

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 27
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    phòng chống rủi ro tài chính do kh ả năng biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế. Bên cạnh đó, v ới sự phát triển của cuộc sống hiện đại, một số loại bệnh tật dễ mắc phải là nguyên nhân chính gây tử vong cho con người cũng đã làm phát sinh nhu cầu các loại hình Bảo hiểm cho các loại bệnh hiểm nghèo.

    Do nhận thức ngày càng cao về các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ, khách hàng có yêu cầu được lựa chọn những sản phẩm tinh vi phù hợp với nhu cầu của mình. Khách hàng có yêu cầu cá nhân hoá dịch vụ- mua sản phẩm được lắp ghép và thiết kế theo nhu cầu cá nhân của khách hàng, được hưởng các dị ch vụ theo sự lựa chọn của cá nhân.

    Sự phát triển của thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư và quá trình phát triển doanh nghiệp Bảo hiểm theo hướng chuyền nghiệp hoá trong lĩnh vực đầu tư cho phép các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm Bảo hiểm – đầu tư. khách háng cũng có những hiểu biết hơn về đầu tư tài chính và có nhu cầu sử dụng một tỷ lệ tài sản của mình tham gia vào hoạt động đầu tư hấp dẫn làm tăng giá trị của hợp đồng Bảo hiểm. Bên cạnh đó, khuynh hướng hạ thấp lãi suất( do sự phát triển của thị trướng tài chính) là thách thức đối với các doanh nghiệp Bảo hiểm khi đưa ra tỷ lệ lãi suất cố định trong các sản phẩm truyền thống trước đây. Đây cũng là sức ép các doanh nghiệp Bảo hiểm cung cấp các sản phẩm kết hợp Đầu tư – Bảo hiểm. Bên cạnh đó là quá trình gắn kết chặt chẽ của khách hàng với các trung gian tài chính trong các hoạt động thanh toán, đầu tư, Bảo hiểm, tư vấn tài chính….. dẫn tới nhu cầu từ phía khách hàng là được cung cấp các dịch vụ tài chính tổng hợp, chọn gói và thuận tiện từ phía tổ chức, trái với tình trạnh hiện nay là các dịch vụ này được cúng cấp từ các tổ chức tài chính khác nhau, không thuận tiện cho khách háng.

    Nhu cầu Bảo hiểm nhân thọ là một nhu cầu thụ động, khách háng ít khi chủ động tìm đến các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ để mua các sản phẩm mà chỉ mua các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ sau khi được người bán Bảo hi ểm thuyết phục, vận động ( thường sau rất nhiều lần ).

    Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, tin học đã góp phần vào việc gây biến đổi thói quen tiêu dùng của khách hàng, đây cũng là phương tiện tốt nhất để truyền đạt thông tin từ phía các doanh nghiệp tới khách hàng. Khách hàng có nhu cầu về sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ muốn tìm hiểu thông tin và đòi hỏi được cung cấp dịch vụ qua các phương tiện thông tin hiện đại như internet, qua điện thoại, e-mail, được cung cấp dịchvụ tài chính tổng hợp như: đầu tư – Bảo hiểm, thanh toán….. do vậy tất yếu là các doanh nghiệp Bảo hiểm phải triệt để ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin đáp ứng những yêu cầu mới của khách hàng.

    Khách hàng có yêu cầu cao hơn về dịch vụ gia tăng: do quá trình cạnh tranh đã làm đồng nhất về chất lượng dịch vụ, nên khách hàng đòi hỏi các

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 28
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    dịch v ụ gia tăng như dịch vụ cung cấp thông tin qua trung tâm dịch vụ khách hàng, cung c ấp thẻ thông tin hợp đồng hội chợ thanh toán, đầu tư vào các quyền lợi khác.

    4.2.Chế ngự sự phát triển của công nghệ .

    Việc tiếp nh ận và s ử dụng công nghệ mới,trong đó ch ủ yếu là thông tin một cách có hiệu quả là thách thức lớn nhất đối v ới doanh nhiệp Bảo hiểm . Doanh nghiệp Bảo hiểm phải cân đối giữa việc áp dụng công nghệ có sự thay đổi quá nhanh chóng để nâng cao n ăng lực cạnh tranh với những rủi ro tốn kém chi phí, năng lực qu ản lý không đáp ứng,không phù hợp vớ thình độ hiện tại của nhân lực và hiện trạng của cơ cơ cấu tổ chức .

    Việc ứng dụng công nghệ thông tin cho phép doanh nghiệp Bảo hiểm : *Vi tính hoá quá trình dịch vụ,giả m bớt tính cồng kềnh của cơ cấu tổ chức, tổ chức doanh nghiệp Bảo hiểm theo mô hình “doanh nghiệp thông tin”, và đa d ạng hoá kênh phân phối và hình thức dịch vụ t ạo ra cơ s ở dữ liệu chung phục vụ cho nhu câù lưu trữ, tra cứu và phân tích, cho phép thay đổi

    mô hình tổ chức theo hướng gọn nhẹ và chuyên nghiệp hoá cao.

    *Cho phép doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tăng cường dịch vụ khách hàng bằng các dị ch vụ bổ trợ kỹ thuật cao như Calling centre, xây dựng trang web, email, trả lời điện thoại, kết hợp thanh toán và các dịch vụ tài chính khác, cho phép doanh nghiệp Bảo hiểm nhân th ọ phục vụ khách hàng một cách nhanh chóng, thường xuyên, rút ngắn chu kỳ hoạt động .

    *Cho phép doanh nghiệp Bảo hi ểm nhân thọ cá nhân hoá các dịch vụ qua nghiên cứu và đáp ứng nhu cầu cá nhân.

    *Với sự áp dụng của công nghệ thông tin ngày càng hiện đại cho phép doanh nghiệp đưa các thông tin của mình tới khách hàng một cách nhanh nhất, cũng như thu được các thông tin quan trọng cần thiết t ừ phía khách hàng chuyển đến để từ đó doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn và vạch ra những kế hoạch chiến lược phát triển của doanh nhgiệp trong tương lai.

    *Công nghệ thông tin còn giúp các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ s ử lý thông tin một cách nhanh tróng, giúp cho việc lắm bắt thời cơ kịp thời , tránh bỏ những cơ hội lớn của công ty .

    *Hệ thống vi tính hoá còn đượ c áp dụng rộng rãi ở các phòng ban của doanh nghiệp, giúp cho việc quản lý dữ liệu,và đặc biệt giúp cho công tác kế toán, thống kê một cách chính xác và nhanh chóng.

    4.3.Đổi mới về tổ chức và quản lý công ty.

    Có một sức ép do tình hình cạnh tranh và công nghệ kinh doanh dẫn tới những yêu cầu về sự thay đôỉ tổ chức của công ty.

    *Tổ chức củ a doanh nghiệp Bảo hiểm theo định hướng khách hàng trung tâm : Vấn đề đáp ứng nhanh nhu cầu khách hàng là nhân tố quyết định

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 29
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    trong cạnh tranh do vậy về tổ chức, doanh nghiệp Bảo hiểm cần chú trọng đầu tư phát triển các b ộ phận nghiên cứu nhu cầu khách hàng, đ ánh giá thoả mãn khách hàng, thiết kế phát triển sản phẩm ,quản lý quan hệ khách hàng, phát triển các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng.

    *Yêu cầu đa dạng hoá hệ thống phân phối cũng làm thay đổi tổ chức của doanh nghiệp Bảo hiểm trong quản lý và phát triển các kênh phân phối mới.

    *Phát triển của công nghệ thông tin sẽ gây ảnh hưởng tới tổ chức doanh nghiệp Bảo hiểm và cách thức trao đổi thông tin . Do hệ thống thông tin hỗ trợ các quá trình trao đổi thông tin đa chiều các bộ phận trong doanh nghiệp Bảo hiểm và với khách hàng qua hệ thống mạng nên các khái niệm về không gian (VD: nh ư kho ảng cách giữa các phòng ban), thời gian trao đổi thông tin bị xoá nhoà. Điều này dẫn tới sự thay đổi về cơ c ấu tổ chức doanh nghiệp Bảo hiểm và cách th ức mà doanh nghiệp Bảo hiể m quan hệ với khách hàng. Ví dụ:mô hình quản lý thông tin theo nguyên tắc mở và tập trung d ự kiến có ảnh hưởng tới t ổ ch ức, đặc biệt theo hướng các hoạt độ ng kế toán , qu ản lý hợp đồng được tiến hành tập trung, hoạt động khai thác dịch vụ khách hàng được phân tán. Như vậy, thay cho việc các doanh nghiệp ph ải thành lập nhiều nhiều công ty, chi nhánh để mở rộng h ệ thống phân qhối trên các địa bàn với cơ cấu tổ chức cồng kềnh , thì với s ự hỗ trợ củ a công nghệ thông tin ,các doanh nghiệp Bảo hiểm chỉ cần thành lập các bộ phận chuyên quản lý các đại lý để bán sản phẩm phục v ụ khách hàng . Các hoạt động hạch toán, kế toán ,quản lý hợp đồng ….được quản lý tập trung. Mô hình trên sẽ giảm

    thiểu hoạt động trùng lắp, tăng cường chuyên môn hoá ,tăng cường chỉ đạo theo định hướng chiến lược phát triển và nâng cao được năng suất lao động, giả m chi phí ho ạt động. Nhờ vậy mà doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ có thể thay đổi mô hình nhiều cấp sang mô hình ít cấp hoặc hình sao với sự trao đổi thông tin đa chiều giữa các bộ phận . Điều này sẽ góp phần giảm b ớt các cấp quản lý trung gian vố n chỉ thực hiện chức năng tập hợp, báo cáo thông tin trình lãnh đạo ra quyết định .

    *Việc áp dụng các lý thuyết mới về quản lý doanh nghiệp nhằ m độ ng viên nâng cao tính chủ động cải tiến đổi mới của cán bộ, phát huy tính tri thức của cán b ộ cũ ng đòi hỏi đến sự biến đổi về cơ c ấu tổ chức để phát huy tính trí tuệ của cán bộ ,phát duy đóng góp của cán bộ vào hoạt động quản lý doanh nghiệp.

    4.4.Phát triển hệ thống phân phối .

    Do thay đổi v ề nhu cầu được phục vụ của khách hàng cùng với sự phát triển nhanh chóng củ a công nghệ thông tin, hệ thống phân phối có một số thách thức phát triển.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             30

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    *Thách thức trong đa dạng hoá hệ thố ng phân phối :Trướ c sự biến đổi của nhu cầ u khách hàng cả về sản phẩm và dị ch vụ , với sự hỗ trợ của công ngh ệ, việc đa dạng hoá kênh phân phối là tất yếu. Các kênh phân phối chủ yếu được đưa ra vẫn là phân phối trực tiếp, phân phối qua Internet, phân phố i qua ngân hàng .Vi ệc đa dạng hoá kênh phân phối nhằm phục vụ nhu cầu đa dạng hoá dịch vụ khách hàng .

    *Song song với sự phát triển về dich vụ thì khách hàng cũng có nhu cầu tư vấn tài chính , từ các tổ chứ c độc lập để đảm bảo lựa chọn dịch vụ tài chính phù hợp nhất với bản thân .

    *Thách thức trong việc nâng cao năng suất của hệ th ống đại lý :Sau nhiều cuộc thảo luận các nhà quản lý đều đi đến kết luận là trong Bảo hiểm nhân thọ ,vai trò củ a đại lý là không thể thay thế mặc dù có sự phát triển của công nghệ , do đặc trưng của sản ph ẩm Bảo hiểm nhân thọ là quan hệ giữa con người với con người .Tuy nhiên để phát huy vai trò của đại lý thì công ty cần phải:

    • Hỗ trợ hoạt động đại lý bằng những công nghệ thông tin khách hàng, web, email,…..trong giao dịch với khách hàng, phối hợp hiệu quả kênh phần phối đại lý với kênh phân phối không dùng đại lý. Chú trọng đào tạo đại lý bằng công nghệ đào tạo mới như sử dụng Audio,Tapes,Internet.

    +Tăng cường quản lý hoạt động đại lý trong đó chuyển hướng chú trọng vào chất lượng quá trình bán hàng của đại lý thay cho cách làm truyền thống là quản lý kết quả bán hàng của đại lý .

    +Tăng cường tổ chức mở các lớp đào tạo nâưng cao nghiệp vụ cho đại lý ,từ đó giúp các đại lý hoạt động ngày một hệu quả hơn.

    *Phân phối qua Internet :Việc phân phối qua Internet có triển vọng và tăng về doanh số, tuy nhiên đối với các nước chậm phát triển thì tăng cường sử dụng Internet cho công tác giới thiệu sản phẩm ,giải đáp thắc mắc và thông tin giao dịch của đại lý và công ty đối với khách hàng của mình .

    *Phát triển các hình thức bán Bảo hiểm qua ngân hàng :Tuy nhiên để thành công cần chú trọng gắn kết dịch vụ Bảo hiểm với dịch vụ tài chính, đầu tư của ngân hàng cung cấp cho khách hàng(thiết kế sản phẩm đơn giản , ví dụ : thời hạn Bảo hiểm có thể gắn với thời hạn vay vốn của khách hàng, thanh toán, trả quyền lợi Bảo hiểm gắn với dịch vụ thanh toán ,Credit Card của ngân hàng, sản ohẩm gắn với các hình thức đầu tư tại ngân hàng ). Thường xuyên trao đổi giữa lãnh đạo hai bên để thảo luận khắc phục,xác định đối tượng khách hàng, đặc biệt có các kỹ thuật hỗ trợ cho các cán bộ ngân hàng tính toán, tư vấn quyền lợi Bảo hiểm .

    4.5.Chuyên môn hoá hệ thống đại lý –Một thách thức lớn đối với các nhà quản lý Bảo hiểm nhân thọ.

     

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             31

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Lợi ích của việc chuyên môn hoá là rất rõ nét, đối vớ đại lý chuyên khai thác, nhờ không mất công sức, thời gian thu phí Bảo hiểm định kỳ nên đại lý có thể tăng s ố lượ ng h ợp đồng mới, khách hàng mới một cách nhanh chóng . Đây cũng là điều mà các công ty đều mong muốn .Không thể duy trì tình trạng mu ốn tăng doanh thu phí thì phải tăng số lượng đại lý .Vẫn bi ết đó là một quy luật tất yếu khách quan nhưng duy trì được khả nă ng vừa tăng số lượ ng đại lý v ừa tăng chất lượng khai thác củ a đại lý mới là tối ưu .Nh ờ có đại lý chuyên nghiệp thu phí,các công ty có thể thu được một số phí lớn, không nợ phí hoặc nợ phí thấp .Lúc này khách hàng sẽ là người có lợi nhất, đượ c nhiều đại lý cùng chăm sóc,d ịch vụ được thụ hưởng là dịch vụ tốt nhất cho nên khả năng huỷ bỏ hợp đồng là rất hiếm xẩy ra .

    Cuố i cùng các công ty trở thành người có ưu thế trong cạnh tranh . Vừa khai thác được nhiề u hợp đồng mới , vừa bảo đảm t ỷ lệ nợ phí, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng thấp, tính trung thành của khach hàng cao.

    Chủ trương thuyên môn hoá đại lý Bảo hiểm nhân th ọ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng muốn thực hi ện nó một cách triệt để,l ại là một công việc hết sức khó khăn và để chuyên môn hoá h ệ th ống đại lý Bảo hiểm nhân thọ thì nhất thiết phải giải quyết một số vấn đề sau đây:

    *Thứ nhất-giảm số lượ ng đại lý tổng hợp: Về tổng thể, các công ty đều đã có đại lý chyên khai thác và đại lý chuyên thu phí , nhưng số lượng đại lý tổng hợp vẫn còn khá lớn .Nguyên nhân chính là các đại lý tổng hợp trước đây vẫn hoàn thành một cách xuất sắc cả hai chức năng của mình là khai thác hợp đồng mới và thu phí Bảo hiểm định kỳ . Tuy nhiên số đại lý tổng hợp này thường được phân bố ở các vùng đặc thù xã hội, hẻo lánh, tiềm năng khai thác ít không th ể phân công được đại lý chuyên thu phí .Trong thời gian tới, cần giảm dần số lượng đại lý tổng h ợp bằng cách truyển đổi tất cả các đại lý này thành đại lý chuyên khai thác và đại lý chuyên thu .

    *Thứ hai-phân công đại lý chuyên thu theo đị a bàn và đại lý chuyên khai thác : hiện tại đại lý chuyên thu phí được giao theo dõi và thu phí các hợp đồng của nhiều đại lý chuyên khai thác,đại lý t ổng hợp khác nhau . Việc phân công như th ế này khiến đại lý chuyên thu phí mất nhiều thời gian, công sức để có thể thu đủ phí theo yêu cầu của công ty.

    Gi ải pháp tốt nhất là phân công mỗi địa bàn một đại lý chuyên thu phí chuyên trách . Ngoài ra, căn c ứ vào tình hình thực tế , khi bàn giao hợp đồn, đại lý chuyên khai thác,đaị lý tổng hợp đều có xu hướng chuyển cho những đại lý chuyên thu phí quen biết mình. Nên có thể phân công một đại lý chuyên thu phí nhận toàn bộ hợp đồng của từ1 1 đến 3 đại lý chuyên khai thác , nhất là các đại lý chuyên khai thác có mối quan hệ tốt với đại lý chuyên thu phí.

    *Thứ ba- Tăng cường hỗ trợ mạng đại lý chuyên khai thác.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 32
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Nhiệm vụ chính của đại lý chuyên khai thác là tìm kiế m khách hàng mới, thuyết phục khách hàng tham giaBảo hiểm , thu phí Bảo hiểm đầu tiên. Muố n tăng được doanh thu, t ăng s ố lượ ng h ợp đồng thì các đại lý chuyên khai thác phải nhận được phải nhận được mộ t sự hỗ trợ đặc biệt t ừ phía công ty như: Tìm kiếm các đầu mối khách hàng lớn là tổ chức, tập thể, hỗ trợ phương tiện , cơ sở vật chất để đại lý đi khai thác nh ư cung cấp tờ rơi , bố chí xe đưa đón đại lý ;trường hợp đại lý tự khai thác được các khách hàng lớn là tổ chức ,tập thể , thậm chí là các cá nhân nhưng khách hàng yêu cầu công ty đến làm việc, công ty bố trí thời gian làm việc với khách hàng , không khoán trắng đại lý ; xây dựng chế độ hoa hồng phù hợp ;tăng cường thi đua khen thưởng .

    4.6. Môi trường pháp lý trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ngày càng được hoàn thiện.

    Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, từng bước thiết l ập và duy trì mộ t th ị trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước đối v ới l ĩnh vực này, trước hết là sự ra đời của luật kinh doanh bảo hiểm, bắt đầu có hiệu l ực từ ngày 1/4/2001, ti ếp đó là nghị định và thương t ư hướng dẫn. Ngoài việc xây dựng và hoàn thiện môi trườ ng pháp lý, trong thời gian qua, nhà n ước cũng có những chính sách ưu đãi, hỗ chợ, thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ như ưu đãi về thuế (theo luật thuế giá trị gia tăng, bảo hiểm nhân thọ không thuộc diện ch ịu thu ế). Đây cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam phát triển.

    Với chính sách hội nhập kinh tế, n ền kinh tế nước ta đã và đang bước vào giai đoạn hồi phục, ổn định và phát triển với tố c độ cao, l ạm phát được đẩy lùi, thu nhập của ngườ i dân ngaỳ càng được cải thiện, tạo điều kiện tiền đề thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển. Đến nay bảo hiểm nhân thọ Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, doanh thu phí chiếm 0,55% GDP (rất nhỏ so với 2%-4% GDP của các n ướ c trong khu vực và 10-12% của các nướ c phát tri ển) và khoảng 2% dân số có hợp đồng bảo hi ểm nhân thọ (tỷ lệ này ở Trung Quốc là 22%, Nh ật Bản gần 100%) như vậy tiềm năng của thị trường còn rất lớn. Cùng với sự hoàn thiện củ a môi trường pháp lý, các chính sách hỗ trơ, khuyến khích của nhà nước, sự phát triển của khoa học công nghệ với sự hoạt động mạnh mẽ của các doanh nghiệp, có th ể dự đoán rằng , thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam sẽ còn phát triển cao trong những năm tiếp theo.

    4.6. Những hạn chế của th ị trường bảo hiểm nhân thọ Vi ệt Nam. Thị trường mới chủ yếu đạt được sự tăng trưởng cao, yếu tố hiệu quả và

    bền vững chưa cao. Đến nay, các doanh nghiệp v ẫn đặt trọ ng tâm và mục tiêu tăng trưởng, mở rộng thị trường. Tính không bền vững còn thể hiện ở

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 33
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    chỗ hiện nay có rất nhiều sản phẩm (phần lớn là mang tính tiết kiệm cao) được tính phí với lãi xuất k ỹ thuật khá cao điều này có thể d ẫn đến việ c lãi xuất đầu tư có thể thực hiện được trên thực tế nhở hơn so với lãi xuất đ ã đưa vào tính phí, không đảm bảo khả năng thanh toán đầy đủ quyền lợi bảo hiểm đã cam kết.

    Thị trường đầu t ư của Việt Nam mới trong giai đoạn hình thành, còn thi ếu các công cụ đầu tư, nhất là các công cụ đầu tư dài hạn, do vậy hạn chế rất lớn hiệu qủa hoạt động đầu t ư của các doanh nghi ệp b ảo hiểm nhân thọ nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà các sản phẩm tiết kiệm chiếm phần lớn.

    Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

    • Việt Nam chưa thực sự đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy đinh chưa rõ ràng, chưa thực sự phù hợp với tập quán bảo hiểm nhân thọ, chua tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp; hiệu lực thực thi các quy định cũng như việc kiểm tra giám sát của các cơ quan trức năng trên thực tế chưa cao.

    Những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh (như tung tin giả), trục lợi bảo hiểm, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng đã xuất hiện, gây tác động xấu đến thị trường, làm tổn hại đến hình ảnh và uy tín của ngành.

    Tập quán tham gia bảo hiểm nhân thọ, phần đông dân chúng trưa hiểu rõ về bảo hiểm nhân thọ, còn e dè, ngại ngần tham gia các hợp đồng dài hạn; các phương tiện thông tin đại chúng đôi khi còn gây hiểu sai lệch về bảo hiểm nhân thọ.

    Trình độ cán bộ, đại lý làm bảo hiểm nhân thọ còn bất cập; ngành bảo hiểm nhân thọ Việt Nam còn thiếu những chuyêng gia giỏi. Đây cũng là một thách thức đối với bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong những năm tới.

    5.Một số kiến nghị để phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ trong thời gian tới:

    Chỉ trong vòng 5 năm thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn .Tuy vậy, thị trường vẫn còn rất nhiều điều hạn chế cần khắc phục như cạnh tanh chưa lành mạnh đã xuất hiện, thị trường mới đạt được sự tăng trưởng cao, yếu tố hiệu quả và bền vững chưa cao,tập quán tham gia Bảo hiểm nhân thọ mới bắt đầu được hình thành ,phần đồng dân chúng chưa hểu rõ về Bảo hiểm nhân thọ,báo chí đôi khi đưa ra những thông tin sai lệch ,công cụ đầu tư còn nghèo làn ,khung pháp lý chưa hoàn thiện trình độcán bộ, đại lý làm Bảo hiểm nhân thọ còn bất cập, để thúc đẩy thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam phát triển bền vững,tăng cường vai trò của nó trong công cuộc công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước cần

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 34
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    phát huy những điểm mạnh, khắc ph ục những điểm yếu tồn tại hiện thời đồng thời phải chuẩn bị tốt để đối phó với những khó khăn thách thức và sắp tới là thách thức hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế

    Để thực hi ện nh ững nhiệm vụ trên cần có những chiến l ược và giải pháp mang tính đồng bộ, cả trên phương diện vĩ mô và vi mô. dưới đây là một số kiến nghị:

    Thứ nhất, nhà nước cần hoàn thi ện các quy định pháp luật điều chỉnh nhằm tạo khung pháp lý thu ận lợi cho hoạt động kinh doanh Bảo hi ểm nhân thọ. Tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia cũng như các doanh nghiệp b ảo hiểm , nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nướ c với hoạt đông kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ, đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ trong nền kinh tế thị tr ường theo định hướng xã h ội chủ nghĩa. Việc hoàn thiện môi trường pháp lý , trước hết là hoàn thiện và bổ sung các quy định phù hợp v ới tậ p quán kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ, điều kiện thực tiễn Việt nam , mục tiêu và định hướng phát triển thị trường. Song song với việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, cần xây dựng một cơ chế ki ểm tra giám sát hữu hiệu việc thực hiện trên thực t ế nh ặm xác lập và duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững.

    Thứ hai: nhà n ước c ần có chiế n lược, đị nh hướng phù hợp trong phát triển thị trường Bảo hiểm nhân th ọ, tr ước h ết là chiến lượ c , chính sách hội nhập. Đó là cần xác định lộ trình hội nhập và mở cửa thị trường Bảo hiểm nhân thọ. Tiếp đến, nhà nước cần có chính sách phù hợp để khuyến khích phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ, cụ thể:

    +Vì Bảo hiểm nhân thọ là ngành kinh doanh mang ý nghĩa xã hội sấu sắc, do vậy nhà nước cũ ng cầ n có những chính sách hỗ trợ, thúc đẩy ngành Bảo hiểm nhân thọ phát tri ển nh ư chính sách về đầu t ư (ưu tiên các doanh nghi ệp Bảo hiểm nhân thọ được đầu tư vào các công trình, dự án an toàn vốn, lợi tức đầu tư cao), chính sách thuế thu nhập đối với những ngưới tham gia Bảo hiểm nhân thọ (giống nh ư ở các nước khác )…Với chính sách ưu đãi về thuế đố i với người tham gia B ảo hiểm nhân thọ, nhà nướ c có thể thực hiện chính sách khấu trừ một phần phí Bảo hiểm nhân thọ mà cá nhân đóng phí Bảo hiểm nhân th ọ khỏi thu nh ập chịu thuế, mi ễn thuế đối với (một phần hoặc toàn bộ )số tiền bảo hiểm mà ng ưòi tham gia B ảo hiểm được nhận, cho phép tính một phần ho ặc toàn bộ số phí bảo hiểm mà doanh nghiệp đóng Bảo hiểm nhân thọ vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp.

    • Đối với vấn đề đại lý, do hoạt động đại lý Bảo hiểm nhân thọ có những điểm khác biệt so với các đại lý thương mại nói chung nên nhà nước cần có những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề Bảo hiểm nhân thọ. Đặc biệt để tiêu chuẩn
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 35
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    hoá được đôị ngũ đại lý Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Nhà nướ c cần quy định rõ nội dung đào tạo, đồng thời tiến hành tổ chức thi sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý, không nên giao hoặc uỷ quyền việc kiểm tra sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề đại lý cho các doanh nghi ệp. Thêm vào đó để đạt được hợp đồng đại lý Bảo hiể m nhân th ọ phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị,..(mỗi đại lý có thể được coi là một doanh nghi ệp), do vậy khi xác định thu ế thu nhập cho đại lý cũng cần có cách tính phù hợp. Ngoài ra để có thể phát triển nghề đại lý Bảo hiểm nhân thọ như là mộ t nghề chuyên nghiệp, cần bổ sung chính sách Bảo hiể m xã hộ i để đại lý yên tâm công tác lâu dài, có nguồn tài chính đảm bảo khi hết khả năng lao động(như dưới hình thức Bảo hiểm xã hội tự nguyện).

    +Trong Bảo hiểm nhân thọ, chính sách hoa hồng đóng một vai trò rất quan trọng. Do vậy, khi quy định định mức hoa hồ ng t ối đa áp dụng cho toàn thị trường, cần xác định định mức hoa hồng củ a các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý tương quan giữ các sản phẩm Bảo hiểm , các phương thức đóng phí , thời gian B ảo hiể m b ảo đảm sự linh hoạt cho các doanh nghiệp và có thể phát triển được độ i ngũ chuyên nghiệp trong Bảo hiểm nhân th ọ. Mặt khác cũng cần thiết lập một cơ chế kiể m tra giám sát chặt chẽ đối v ới việc sử dụng hoa hồng của các doanh nghiệp trên thực tế. Trong giai đọan hiện nay, định mứ c hoa hồng có thể quy định theo tỷ l ệ tối đ a củ a tổng hoa hồng trên tổng phí của hợp đồng (chẳng hạn với Bảo hiểm hỗ n hợp , thời hạn Bảo hi ểm 10 năm, tỷ lệ hoa hồng t ối đa là 7%) nhăm t ạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc tr ả hoa hồng vì với cùng thời hạn Bảo hiểm mỗi sản phẩm lại có cách thức nộp phí khác nhau(thời hạn nộ p phí có thể nhỏ hơn hoặc bằng thời hạn Bảo hiểm )và mỗi doanh nghiệp lại có cách th ức tr ả hoa hồng khác nhau (một số nước không quy định tỷ lệ hoa h ồng mà quy định tỷ lệ chi phí hoạt động tối đa trên tổng phí ). Tuy nhiên để đ iều tiết cạnh tranh khi thị trường mới hình thành, có thể quy định thêm tỷ lệ hoa hồng tối đa trong năm hợp đồng thư nhất. Trong giai đoạn tiếp theo, khi thị trường Bảo hiểm nhân thọ thiết lập được sự c ạnh tranh tương đối lành mạnh và đạt đến một trình độ phát triển nhất định, nhà n ước có thể thực hiện tự do hoá hoa hồng để tăng cường hiệu quả hoạt động của thị trường.

    • Một vấn đề nữa cũng cần được nhà nước quan tâm là lãi suất kỹ thuật. Được giả định cho một thời gian rất dài, lãi suất kỹ thuật được áp dụng trong tính phí Bảo hiểm nhân thọ là một yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng, quyết định sự an toàn kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và việc đảm bảo quyền lợi của khách hàng. Thực tiễn vừa qua cho thấy , sự sụp đổ của hàng loạt công ty Bảo hiểm nhân thọ Nhật Bản như NISSAN,KYOEI,
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 36
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    DAICHI,TOHO…chủ yếu là do lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao. Do vậy, nhà nước cũ ng cần có sự quan tâm thích đáng về vấn đề này (như đưa ra mức lãi suất kỹ thuật tham khảo )để giúp các doanh nghiệp xác định được mức lãi suất thích hợp đảm bảo cho khả nămg thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai.

    • Cuối cùng, nhà nước cần có các chính sách tạo ra sự bình đẳng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước có thể đứng trên cùng mặt bằng khi cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc loại hình khác trên các mặt như: tiền lương, chi phí quản lý …

    Thứ ba, các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cần nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ, phát triển và cung cấp các dịch vụ theo hướng cung cấp “dịch vụ tổng hợp”, đó là dịch vụ Bảo hiểm kết hợp với các dịch vụ tài chính hoặc các dịch vụ khác như tư vấn đầu tư, tư vấn tiêu dùng, tư vấn luật, tư vấn y tế… Cùng với việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, các doanh nghiệp cần thực hiện đa dạng hoá kênh phân phối như phân phối qua ngân hàng , các tổ chức tài chính để bán sản phẩm, bán hàng qua Internet, qua thư trực tiếp,..

    Thứ tư, các doanh nghiệp cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp (nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền Bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi Bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…), thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp để có thể cung câp cho thị trường Bảo hiểm nhân thọ với chất lượng tốt nhất, đồng thời nâng cao uy tín của ngành trong công chúng.

    Thư năm, các doanh nghiệp cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ đặc biệt là khoa học công nghệ thông tin vào quá trình khai thác và quản lý hoạt động kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí Bảo hiểm tăng khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của mội trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá của nền kinh tế tri thức.

    Thứ sáu, tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt như: đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi Bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ, đại lý xây dựng và tăng cường uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, thu thập và sử dụng số liệu thống kê liên quan. Đồng thời cần tăng cường vai trò của hiệp hội Bảo hiểm trong các lĩnh vực hợp tác nêu trên.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             37

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
     

    C. KẾT LUẬN

     

    Tóm lại qua nghiên cứu ta thấy thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là một thị trường trẻ, có rất nhiều tiền năng phát triển chong tương lai. Nhưng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều những khó khăn và thách thức mà đòi hỏi những năm tới chúng ta phải xây dựng hoàn thành.

    Như vậy để thị trường ngày một phát triển, thì nhà nước ta phải không ngừng có những chính sách hỗ trợ, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo ra một thị trường kinh doanh lành mạnh, thu hút các nhà bảo hiểm nhân thọ nước ngoài đầu tư vào thị trường .

    Bên cạnh đó cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện đúng những chính sách mà nhà nước đặt ra, cũng như có các chương trình tuyển dụng, đào tạo cán bộ, đại lý làm bảo hiểm nhân thọ.

     

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             38

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Tài liệu tham khảo

    1. Bài giảng kinh tế bảo hiểm.

     

    1. Giáo trình kinh tế boả hiểm.

     

    1. Luật kinh doanh bảo hiẻm.

     

    1. Tạp chí bảo hiểm số 4/99; số 1,2,3,4/2000; số 1,2,3,4/2001; số 1,2,3/2002
      1. Thời boá kinh tế số 99/2002

     

    1. Tạp chí tài chính tháng 4/2002

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tổng quan về Logistics kinh doanh

    Tổng quan về Logistics kinh doanh

    Tổng quan về Logistics kinh doanh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận APL Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%E1%BB%95ng-quan-v%E1%BB%81-Logistics-kinh-doanh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổng quan về Logistics kinh doanh

    CHƯƠNG 1.             ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC

    1.1    Khái niệm,  bản chất và nội dung của logistics kinh doanh thương mại

    ” Logistics thật là độc đáo: nó không bao giờ dừng lại !Logistics diễn ra khắp quả địa cầu, 24 h một ngày, 7 ngày một tuần, và kéo dài suốt 52 tuần trong một năm”.

    1.1.1    Khái niệm

    Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hilạp (logistikos), để phản ánh một khoa học vận dụng các phép tư duy, suy luận, phương pháp và kỹ thuật logic hỗ trợ cho các quá trình chủ chốt. Như vậy, tư tưởng của logistics là một khoa học nghiên cứu các tính chất quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là logistics) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu.

    Thuật ngữ Logistics được đề cập nhiều trong lĩnh vực quân sự, bao gồm các hoạt động đảm bảo nguồn lực vật chất, nhân lực cho quân đội

    Logistics là ngành khoa học quân sự có liên quan đến các hoạt động tập trung, dự trữ và vận chuyển vật tư, con người và các phương tiện vật chất.

    (Guralnik, David B, ed, Webster/s mw wold Dictionary of American language. 2nd College edition – New york Simon & Schusten, 1980).

    Định nghĩa này không phù hợp với lĩnh vực kinh doanh do khác nhau về mục tiêu và hoạt động. Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ (CLM – Council of Logistic Management) thì:

    Logistics là quá trình hoạch định, thực thi và kiểm tra dòng vận động và dự trữ một cách hiệu quả của vật liệu thô, dự trữ trong quá trình sản xuất, thành phẩm và thông tin từ điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng.

    Các chuyên gia về marketing và logistics cũng có định nghĩa tương tự. Như vậy, logistics là một hệ thống bắt đầu từ nguồn cung cấp vật liệu và kết thúc khi đã phân phối hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng. Tham gia hệ thống logistics bao gồm nhiều tổ chức. Các trung gian thương mại thực hiện các hoạt động logistics trong kênh phân phối. Vậy:

    Logistics kinh doanh thương mại là quá trình phân phối hàng hoá thông qua các hành vi thương mại (mua, bán), bao gồm việc hoạch định, thực thi và kiểm tra dòng vận động của hàng hoá, dịch vụ và thông tin từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu mua hàng của khách hàng và thu được lợi nhuận.

    Thông qua định nghĩa, chúng ta nhận thấy:

    – Logistics là quá trình quản trị, là chức năng quản trị cơ bản của doanh nghiệp thương mại; kinh doanh thương mại là kinh doanh dịch vụ logistics.

    – Logistics thương mại là quá trình dịch vụ khách hàng thông qua các hành vi mua, bán hàng hoá.

    – Nhu cầu của khách hàng trong logistics là nhu cầu mua hàng: những lợi ích có được trong khi mua hàng – dịch vụ mặt hàng về số lượng, cơ cấu, và chất lượng; nhu cầu dịch vụ về thời gian cả về tốc độ, độ ổn định, và tính linh hoạt; nhu cầu dịch vụ về địa điểm; nhu cầu lợa chọn hàng hoá; và nhu cầu dịch vụ bổ sung.

    1.1.2    Bản chất của logistics kinh doanh thương mại

    Thông qua định nghĩa, thì rõ ràng, bản chất của logistics là dịch vụ khách hàng – là quá trình cung cấp các giá trị gia tăng cho khách hàng trong hệ thống kênh phân phối hàng hoá với hiệu lực chi phí cao nhất.

    Khách hàng của logistics là bất kỳ những ai được cung ứng hàng hoá. Trong kinh doanh thương mại, khách hàng của logistics bán lẻ (và cũng là của kinh doanh thương mại bán lẻ ) là người tiêu dùng và hộ gia đình; khách hàng của logistics bán buôn (và cũng là của kinh doanh thương mại bán buôn ) là các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, hoặc các doanh nghiệp thương mại bán buôn khác, các khách hàng công nghiệp, khách hàng chính phủ. Sản phẩm của logistics là dịch vụ khách hàng và do đó sản phẩm của kinh doanh thương mại chính là dịch vụ logistics-dịch vụ khách hàng. Khác với các loại dịch vụ thông thường, dịch vụ logistics luôn luôn gắn với đối tượng vật chất hữu hình – hàng hoá, là quá trình sáng tạo, cung ứng các giá trị gia tăng trong hệ thống kênh phân phối hàng hoá.

    1.1.3    Nội dung của quản trị logistics kinh doanh thương mại

    Như đã trình bày ở trên, kinh doanh thương mại là kinh doanh dịch vụ logistics, và do đó toàn bộ hoạt động tạo ra giá trị của doanh nghiệp nằm trong quá trình logistics. Các hoạt động logistcs kinh doanh thương mại thể hiện trên hình 1.1.

    • Hình 1.1. Quá trình logistics trong doanh nghiệp thương mại

    Có nhiều cách phân loại nghiệp vụ logistics: Theo khách hàng (logistics bán buôn và logistics bán lẻ); theo quá trình nghiệp vụ (logistics nội bộ và logistics bán hàng) và theo mức độ ảnh hưởng (hoạt động cơ bản và hoạt động hỗ trợ).

    Theo mức độ và vai trò ảnh hưởng của các quyết định logistics trong doanh nghiệp thì có thể phân loại thành những hoạt động cơ bản và bổ trợ như sau:

    a.  Quản trị các hoạt động then chốt:

    a.1.          Các tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng kết hợp với marketing để:

    – Xác định nhu cầu và mong muốn của khách hàng về dịch vụ logistics.

    – Xác định sự đáp ứng của khách hàng về dịch vụ.

    – Chọn mức dịch vụ khách hàng.

    a.2.          Qui hoạch các cơ sở Logistics KDTM
    • Mạng lưới bán lẻ hàng hoá
    • Mạng lưới kho hàng hoá
    a.3.          Vận chuyển:

    – Chọn phương thức vận chuyển

    – Lựa chọn phương tiện vận tải.

    – Xác định tuyến đường vận chuyển.

    – Phối hợp vận chuyển.

    – Thiết kế quá trình nghiệp vụ vận chuyển

    – Xử lý các yêu cầu.

    – Kiểm soát cước phí.

    a.4.          Quản trị dự trữ.

    – Phân loại hàng hóa và các mục tiêu dự trữ

    – Xác định hệ thống dự trữ

    – Các mô hình kiểm tra và xác định qui mô lô hàng

    – Xác định dự trữ bảo hiểm

    a.5.          Quá trình cung cấp hàng hoá cho khách hàng

    – Cung ứng hàng hoá cho khách mua buôn.

    – Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    b.              Các hoạt động hỗ trợ

    b.1.          Quản trị nghiệp vụ  kho:

    – Thiết kế quá trình nghiệp vụ kho

    – Qui hoạch diện tích kho

    – Cung ứng thiết bị kho

    – Tổ chức lao động kho

    b.2.          Quản trị mua hàng:

    – Chọn nguồn hàng

    – Xác định chính sách mua

    – Quá trình nghiệp vụ mua

    b.3.          Quản trị nghiệp vụ bao bì và bao gói:

    – Chức năng Logistics và marketing

    – Thiết kế và lựa chọn bao bì

    – Quá trình nghiệp vụ bao bì

    b.4.          Đảm bảo thông tin:

    – Hệ thống thông tin

    – Dòng thông tin

    1.2    Những đặc trưng cơ bản của logistics kinh doanh thương mại.

    Logistics kinh doanh thương mại là một loại hình dịch vụ khách hàng, và do đó có những đặc điểm chung của các loại dịch vụ. Tổng hợp những đặc điểm chung và riêng của logistics kinh doanh thương mại là những đặc trưng sau:

    1.2.1    Luôn luôn gắn liền với sự vận động của hàng hoá.

    Đây là đặc trưng cơ bản của logistics. Logistics kinh doanh thương mại tuy là dịch vụ, nhưng luôn luôn được tiến hành cùng với hàng hoá – đối tượng vật chất hữu hình. Như vậy, dịch vụ logistics phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá của khách hàng, đồng thời thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá. Chính vì vậy, quản trị hiệu quả logistics kinh doanh thương mại trước hết phải quản trị tốt dịch vụ mặt hàng kinh doanh, bao gồm cả việc mua hàng và dự trữ hàng hoá.

    1.2.2    Đặc trưng thống nhất của các nghiệp vụ logistics

    Quá trình logistics kinh doanh thương mại là hệ thống các nghiệp vụ có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất, bắt đầu từ việc mua hàng ở nguồn hàng, vận chuyển, bảo quản ở trong kho, cửa hàng và kết thúc khi hàng hoá được phân phối và bán cho khách hàng. Quá trình nghiệp vụ logistics thống nhất vào dòng dự trữ và thông tin, thể hiện ở hình 1.2.

     
       
    • Hình 1.2. Đặc trưng thống nhất của các nghiệp vụ Logistics

    Dòng dự trữ là quá trình vận động của hàng hoá từ khi mua hàng ở các nguồn hàng và kết thúc khi hàng hoá được bán cho khách hàng. Dòng thông tin logistics (LIS) bao gồm: dòng hoạch định phối hợp và dòng nghiệp vụ. Như vậy, giữa các yếu tố của quá trình quản trị và nghiệp vụ có mối liên hệ thông tin chặt chẽ.

    1.2.3    Đặc trưng chu kỳ của quá trình logistics

    Chu kỳ nghiệp vụ logistics là đơn vị cơ sở để phân tích hệ thống logistics. Nghiên cứu chu kỳ nghiệp vụ logistics cho ta tổng quan động thái, ranh giới và các quyết định liên quan, phối hợp với nhau để tăng cường hệ thống nghiệp vụ. Ởcấp cơ sở, nguồn hàng, doanh nghiệp thương mại và khách hàng liên kết với nhau bằng truyền tin và vận chuyển. Những vị trí hợp lý mà các chu kỳ hoạt động nghiệp vụ liên kết với nhau được coi là “nút”. Ởcác “nút”, chu kỳ nghiệp vụ đòi hỏi phải có dự trữ.

    Về bản chất, cấu trúc chu kỳ nghiệp vụ logistics là hệ thống thực thi logistics thống nhất; chu kỳ nghiệp vụ logistics là đơn vị cơ sở để thiết kế và kiểm tra nghiệp vụ

    Có 3 quan điểm quan trọng để nắm vững cấu trúc hệ thống logistics thống nhất:

    – Chu kỳ nghiệp vụ là đơn vị cơ sở để phân tích các chức năng logistics.

    – Cấu trúc chu kỳ nghiệp vụ về cơ bản là không thay đổi dù chúng có liên hệ với các chu kỳ khác nhau.

    – Bất kể cấu trúc hệ thống logistics có rộng và phức tạp như thế nào đi chăng nữa thì ranh giới bản chất và quá trình quản trị phải được xác định và đánh giá trong phạm vi từng chu kỳ khi nghiên cứu tổng hợp quá trình. Trong hệ thống logistics kinh doanh thương mại, về cơ bản có 3 loại chu kỳ:

    a.             Chu kỳ bán hàng trong thương mại:

    Chu kỳ logistics bán buôn được thể hiện trên hình 1.3.

     
       
    • Hình 1.3. Chu kỳ bán buôn hàng hóa

    b.              Chu kỳ bán lẻ hàng hoá

    Chu kỳ bán lẻ hàng hóa được thể hiện trên hình 1.4

     
       
    • Hình 1.4. Chu kỳ bán lẻ hàng hóa

    c.              Chu kỳ hỗ trợ (nghiệp vụ kho hoặc cửa hàng bán lẻ )

    Chu kỳ nghiệp vụ kho được thể hiện trên hình 1.5

    • Hình 1.5. Chu kỳ nghiệp vụ kho hàng hóa

    d.              Chu kỳ nghiệp vụ mua hàng: được thể hiện ở hình 1.6

     
       
    • Hình 1.6. Chu kỳ mua hàng

    1.2.4    Đặc trưng không ổn định của các nghiệp vụ logistics

    Các nghiệp vụ logistics có đặc trưng không ổn định về thời gian thực hiện do sự không ổn định của các tác nghiệp trong từng chu kỳ. Các tác nghiệp này thường bị biến đổi là có nhiều nhân tố tác động. Ví dụ về phân phối thời gian thực hiện các thao tác nghiệp vụ trong cả chu kỳ bán – thực hiện đơn đặt hàng cho khách hàng như hình 1.7

     
       

     

    • Hình 1.7. Phân phối thời gian cho cả chu kỳ thực hiện đơn đặt hàng

    Phân phối thời gian của cả chu kỳ chịu ảnh hưởng của phân phối thời gian các tác nghiệp trong quá trình thực hiện đơn đặt hàng (hình 1.7a – 1.7e)

           
         
       
     

     

     

     

           
         
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

                                          

    Mục tiêu cơ bản của quản trị logistics là giảm bớt sự không ổn định trong chu kỳ nghiệp vụ logistics. Vấn đề khó khăn là ở chỗ, bản thân cấu trúc chu kỳ hoạt động, điều kiện nghiệp vụ, chất lượng nghiệp vụ phối hợp với nhau làm tăng thêm sự không ổn định. Để quản trị được mục tiêu này, cần phải quản trị tốt toàn bộ hệ thống logistics: tổ chức mạng lưới logistics hợp lý, cải tiến hệ thống thông tin, quản trị dự trữ, cải tiến các nghiệp vụ logistics công nghệ hoá các quá trình.

    1.3    Nhiệm vụ của logistics kinh doanh thương mại

    Sản phẩm của logistics là dịch vụ khách hàng, do đó, nhiệm vụ bao gồm: dịch vụ và chi phí.

    a.              Phải tăng cường chất lượng dịch vụ khách hàng.

    Theo kết quả nghiên cứu những khiếu nại của khách hàng, thì có những dữ liệu như sau:

    • 31% là về chất lượng sản phẩm
    • 44% là do chuyển giao hàng đến chậm
    • 12% là do hàng hoá bị hư hỏng, hoặc hao hụt
    • 6% là do cơ cấu mặt hàng không đầy đủ như yêu cầu
    • 7% – các lý do khác

    Những con số nói trên cho ta thấy điều gì? Sự yếu kém về chất lượng sản phẩm chỉ chưa chiếm tới 1/3 trong số các khiếu nại. Còn lại là do sự yếu kém của hoạt động dịch vụ, mà chủ yếu là logistics, đã làm khách hàng không được hài lòng. Bởi vậy, đây chính là điểm mà logistics phải khắc phục. Và đồng thời cũng phải nhận thức được rằng đây chính là mục tiêu số một của lĩnh vực này.

    Chất lượng dịch vụ khách hàng trong logistics được đo lường bởi các tiêu chuẩn sau:

    a.1.          Tiêu chuẩn 1: Tiêu chuẩn đầy đủ về hàng hoá.

    Các cơ sở logistics phải đảm bảo dự trữ thoả mãn nhu cầu về hàng hoá cho khách hàng cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào hệ thống quản trị dự trữ và tổ chức mạng lưới logistics (kho, cửa hàng ). Những chỉ tiêu đánh giá tiêu chuẩn này bao gồm:

    – Tần số thiếu dự trữ: Là khả năng xẩy ra thiếu dự trữ, hay là hàng hoá có đủ để bán cho khách hàng không. Chỉ tiêu này ra: bao nhiêu lần nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp hàng hoá.

    – Tỷ lệ đầy đủ: Đo lường tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của thiếu dự trữ trong cả một thời gian. Tỷ lệ đẩy đủ phụ thuộc vào tần số thiếu dự trữ, thể hiện mưc độ đáp ứng nhu cầu mua hàng của khách.

    Tần số thiếu dự trữ và tỷ lệ đầy đủ liên quan đến chính sách và chiến lược dự trữ.

    – Thời gian bổ sung dự trữ: Là thông số thời gian để có dự trữ đáp ứng yêu cầu bán hàng.

    Ba chỉ tiêu này phối hợp với nhau để xác định phạm vi mà chiến lược dự trữ của doanh nghiệp đap sứng những mong đợi của khách hàng.

    a.2.          Tiêu chuẩn 2: Tiêu chuẩn vận hành nghiệp vụ

    Tiêu chuẩn này được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

    – Tốc độ: là chi phí thời gian mua hàng của khách hàng. Trong bán buôn: là thời gian kể từ khi đặt hàng đến khi giao hàng. Chỉ tiêu này rất khác nhau tuỳ thuộc vào tổ chức hệ thống logistics (mạng lưới, thông tin, vận chuyển, …). Tốc độ cung ứng hàng hoá ảnh hưởng đến thời cơ kinh doanh và chi phí của khách hàng. Trong bán lẻ: chi phí thời gian mua hàng theo các phương pháp bán hàng kể từ khi quyết định cho khách hàng có được hàng hoá. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào việc hoàn thiện các phương pháp bán hàng, phân bố mạng lưới, hình thức tổ chức kinh doanh (loại hình cửa hàng ). Tuỳ thuộc vào đặc trưng nhu cầu mua hàng mà xác định thời gian mua hàng phù hợp. Chẳng hạn, hàng đơn giản không cần lựa chọn có nhu cầu hàng ngày thì phải rút ngắn thời gian mua hàng.

    – Độ ổn định: là sự giao động về chi phí thời gian mua hàng của khách so với trung bình. Trong bán buôn: độ ổn định kém làm cho khách hàng phải tăng dự trữ bảo hiểm để chống lại việc cung ứng chậm trễ. Độ ổn định liên quan đến tiêu chuẩn đầy đủ và dự trữ, năng lực quản trị quá trình cung cấp hàng hoá. Trong bán lẻ: sự giao động thời gian mua hàng ảnh hưởng đến thời điểm và thời gian tiêu dùng hàng hoá, và do đó, không thoả mãn nhu cầu về thời gian cho khách hàng.

    – Độ linh hoạt: là khả năng đáp ứng những yêu cầu dịch vụ bất thường của khách hàng (về hàng hoá, về thời gian, về địa điểm cung ứng và các dịch vụ khác ). Những tình thế chủ yếu cần phải độ linh hoạt nghiệp vụ là:

    + Có những biễn đổi trong hệ thống dịch vụ cơ bản: thay đổi thời gian giao hàng (bán buôn ); phát triển các phương pháp bán hàng và dịch vụ bổ sung (bán lẻ ).

    + Cần phải hỗ trợ cho chương trình marketing và bán hàng.

    + Kinh doanh mặt hàng mới và áp dụng phương pháp bán mới.

    + Chuyển giai đoạn chu kỳ sống sản phẩm.

    + Tình trạng gián đoạn trong cung ứng.

    + Tái đặt hàng.

    + Định hướng khách hàng theo trình độ dịch vụ.

    + Thay đổi mặt hàng hoặc định hướng khách hàng trong hệ thống logistics như làm giá, bao gói, …

    – Độ sai sót nghiệp vụ: Mức độ vi phạm những yêu cầu của khách hàng về: mặt hàng, thời gian, ….Cần phải thiết kế các chương trình không lỗi và có các phương án khắc phục những sai sót.

    a.3.          Tiêu chuẩn 3: Độ tin cậy.

    Độ tin cậy thể hiện tổng hợp chất lượng logistics. Độ tin cậy bao gồm khả năng thực hiện tiêu chuẩn 1 và 2, khả năng cung cấp thông tin cho khách hàng chính xác, khả năng cải tiến liên tục các nghiệp vụ.

    Cần phải xác định 3 vấn đề khi đo lường chất lượng dịch vụ: biến số đo, đơn vị đo, cơ sở đo.

    b.  Phải giảm tổng chi phí của cả hệ thống logistics.

    Tổng chi phí của hệ thống logistics được đo lường theo công thức sau:

    å F = Fm+ Fv+ Fd+ Ft+ Fđ

    Ở đây: å F – Tổng chi phí hệ thống logistics

    Fm = gm ´ M – Chi phí giá trị hàng hoá mua

    gm:  Giá mua hàng chịu ảnh hưởng của qui mô lô hàng

    M:  Tổng lượng hàng hoá mua trong kỳ kế hoạch

    Fv = gv ´ M – Cước phí vận chuyển hàng hoá

    gv:  Giá cước vận chuyển hàng chịu ảnh hưởng của qui mô lô hàng

    Fd = f + fdq + fb – Chi phí dự trữ hàng hoá

    f = k ´ gm ´ (mtb ´ ttb) – Chi phí dự trữ trên đường

    k – Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ trên đường (%)

    mtb – Mức tiêu thụ hàng hoá bình quân một ngày

    ttb – Thời gian trung bình vận chuyển hàng hoá

    fdq = kdk ´ gk ´  -Chi phí dự trữ lô hàng ở kho

    kdk – Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ tại kho (%)

    gk = gm + gv – Giá hàng hoá nhập kho

    Q – Qui mô lô hàng nhập kho

    fb = kdk ´ gk ´ d ´ z – Chi phí dự trữ bảo hiểm hàng hoá ở kho

    d =  – Độ lệch tiêu chuẩn chung

    dm – Độ lệch tiêu chuẩn nhu cầu

    dh – Độ lệch tiêu chuẩn thời gian thực hiện đơn đặt hàng

    th – Thời gian bình quân thực hiện đơn đặt hàngcủa nguồn hàng

    tk – Thời gian chu kỳ kiểm tra dự trữ hàng hoá (trường hợp kiểm tra định kỳ dự trữ )

    z – Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn tương ứng với xác suất đảm bảo dự trữ hàng hoá tại kho pr (tra bảng)

    Ft = – Chi phí thiếu bán hàng hoá

    t – Chi phí thiếu bán 1 đơn vị hàng hoá

    (z) – Hàm phân phối chuẩn tương ứng với chỉ số độ lệch z (tra bảng)

    Fđ = – Chi phí đặt hàng

    h – Chi phí một lần đặt hàng

    Như vậy, chi phí của cả hệ thống logistics chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và vận động theo những chiều hướng ngược nhau dưới ảnh hưởng của qui mô lô hàng nhập. Vấn đề là phải xác định qui mô lô hàng hợp lý, đảm bảo cho tổng chi phí thấp nhất.

    1.4    Tối ưu hoá dịch vụ logistics

    Giữa trình độ dịch vụ khách hàng và chi phí Logistics có mối quan hệ xác định. Khi tăng trình độ dịch vụ khách hàng, chi phí tăng và ngược lại. Tuy nhiên trong điều kiện môi trường xác định, mối quan hệ này nằm trên một đường cong hợp lý thể hiện trên đồ thị của hình 1.10.

    Những phương án hoạt động Logistics thể hiện mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí nằm trên đường cong là hợp lý, có nghĩa với điều kiện môi trường xác định, với trình độ dịch vụ nhất định, đòi hỏi phải đầu tư một lượng chi phí xác định; Những phương án có điểm giao nhau giữa trình độ dịch vụ và chi phí Logistics nằm phía trên đường cong là không hợp lý, có nghĩa với lượng chi phí bỏ ra chỉ có thể đem lại trình độ dịch vụ thấp hơn, và do đó có thể cải thiện trình độ dịch vụ lên ở mức cao hơn.

    Trên đường cong hợp lý, có một điểm mà tại đó, ứng với trình độ dịch vụ nhất định, đòi hỏi chi phí xác định, nhưng có thể cho ta một mức lợi nhuận cao nhất. Trình độ dịch vụ đó gọi là trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu.

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    • Hình 1.8. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí

    Tối ưu hoá dịch vụ logistics là quá trình xác định trình độ dịch vụ khách hàng để đạt được khả năng lợi nhuận tối đa. Xác định trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu có liên quan đến mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí.

    1.4.1    Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu

    Kết quả bán hàng chịu ảnh hưởng bởi trình độ cung cấp dịch vụ logistics cho khách hàng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, dịch vụ logistics có ảnh hưởng đến doanh số và sau đó là doanh thu, thị phần. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu được thể hiện trên hình 1.9

    Có 4 phương pháp xây dựng mô hình quan hệ doanh số dịch vụ: phương pháp 2 điểm, phương pháp trước và sau kinh nghiệm, phương pháp trò chơi, và phương pháp điều tra người mua.

    a.  Phương pháp 2 điểm:

    Phương pháp này bao gồm việc tạo nên 2 điểm trên đường cong quan hệ doanh thu – dịch vụ mà qua đó, đường thẳng bị cắt. Đường này được coi như xấp xỉ với quan hệ đường cong, thể hiện ở hình 1.10.

    .

    • Hình 1.9. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu
    • Hình 1.10. Phương pháp 2 điểm xác định quan hệ doanh thu – dịch vụ

    Phương pháp này dựa trên ý kiến cho rằng, các điểm xác định đường cong khá tốn kém hoặc không thực tế, và khó có khả năng mô tả mối quan hệ với độ chính xác cao.

    Phương pháp này bao gồm trước hết chọn dịch vụ logistics khách hàng ở trình độ cao cho sản phẩm xác định và xem xét doanh thu có thể đạt được. Sau đó giảm dịch vụ đến mức thấp và ghi lại doanh thu. Tuy kỹ thuật có vẻ đơn giản, nhưng một số vấn đề có thể hạn chế ích lợi của phương pháp. Thứ nhất, không thể thay đổi trình độ dịch vụ đối với sản phẩm đang bán để thu thập thông tin đáp ứng doanh thu. Thứ hai, Thời lượng mà dịch vụ thay đổi là đang hiệu quả, khách hàng nào sẽ cho thông tin thay đổi, và các hoạt động nào khác ảnh hưởng đến doanh thu (xúc tiến, giá, chất lượng sản phẩm, …) có thể là các biến ảnh hưởng đến kết quả doanh thu.

    b.  Phương pháp trước và sau thử nghiệm:

    Việc xây dựng đường cong doanh thu – dịch vụ ở phạm vi rộng có thể là không thực tế. Do đó, đáp ứng doanh thu có thể đơn giản được xác định bằng cách tạo ra sự thay đổi trình độ dịch vụ khách hàng và theo dõi sự thay đổi doanh thu, hoặc bằng cách quan sát ảnh hưởng tương tự từ các báo cáo lịch sử khi dịch vụ thay đổi trong quá khứ. Sự thay đổi dịch vụ cần đủ lớn sao cho những khác biệt doanh thu không bị che lấp bởi dao động doanh thu bình thường hoặc do sai số đo lường.

    Phương pháp này tương tự phương pháp 2 điểm, tuy nhiên nó dễ thực hiện do trình độ dịch vụ hiện tại được coi là “trước” điểm dữ liệu, và chỉ cần biết “sau”điểm dữ liệu.

    c.   Phương pháp trò chơi:

    Đúng đắn hơn trong việc đo lường sự đáp ứng doanh thu với sự thay đổi dịch vụ là kiểm soát môi trường sao cho chỉ xác định ảnh hưởng của trình độ dịch vụ logistics khách hàng. Phương pháp này giống như tạo ra phòng thí nghiệm hoặc tình thế trò chơi, ở đó các quyết định được diễn ra trong môi trường được kiểm soát. Môi trường này cố gắng sao chụp các yếu tố biến đổi nhu cầu, cạnh tranh, chiến lược logistics và những cái khác tương tự hoàn cảnh thực tế. Trò chơi gồm các quyết định về các mức hoạt động logistics (do đó là các mức dịch vụ) với mục tiêu tạo nên doanh thu tương ứng với chi phí tạo ra chúng. Bằng việc theo dõi trò chơi theo thời gian, có thể có được dữ liệu khái quát để xây dựng đường cong doanh thu – dịch vụ.

    d.  Điều tra người mua:

    Đây là phương pháp phổ biến nhất để thu thập thông tin dịch vụ khách hàng.

    1.4.2    Chi phí và dịch vụ

    Dễ thấy rằng dịch vụ logistics khách hàng là kết quả của các mức hoạt động logistics. Mỗi mức dịch vụ có một mức chi phí tương ứng. Thực ra có nhiều phương án chi phí hệ thống logistics đối với từng mức dịch vụ, tuỳ thuộc vào sự phối hợp các hoạt động logistics. Khi biết được các mối quan hệ doanh thu – dịch vụ, có thể xác định được chi phí tương ứng với dịch vụ (Hình 1.9).

    Chi phí
    Trình độ dịch vụ
    • Hình 1.11. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí

    1.4.3    Xác định trình độ dịch vụ tối ưu

    Khi đã biết doanh thu và chi phí logistics đối với từng trình độ dịch vụ, chúng ta có thể xác định được trình độ dịch vụ sẽ tối đa hoá đóng góp lợi nhuận cho doanh nghiệp. Bằng phương pháp phân tích cận biên theo trình độ dịch vụ khách hàng trong kinh tế, có thể tìm được điểm dịch vụ tối ưu. Tiến hành nghiên cứu lý thuyết và sau đó vận dụng lý thuyết trong thực tế.

    a.              Lý thuyết

    Giả sử mục tiêu là tối đa hoá đóng góp lợi nhuận. Về mặt toán học, lợi nhuận tối đa đạt được ở điểm tại đó, sự biến đổi doanh thu bằng biến đổi chi phí: doanh thu biên bằng chi phí biên. Để minh hoạ, giả sử cho đường cong doanh thu – dịch vụ là: .Ởđây, D- trình độ dịch vụ khách hàng: % số đơn hàng có thời gian chu kỳ đặt hàng 5 ngày. Bản chất của đường cong như sau (H.10).

     
       
    • Hình 1.12. Tối ưu hoá dịch vụ logistics lý thuyết

    Đường cong chi phí tương ứng C = 0,00055D2. Biểu thức tối ưu hoá:

    P = 0,5D1/2 – 0,00055D2

    Ở đây: P- Đóng góp lợi nhuận ($)

    Lấy đạo hàm bậc nhất của P theo D: P/(D) ®

    P cực đại khi: D* = (0,5/4.  0,00055)2/3 ® D* = 37,2%

    b.  Thực tế: nghiên cứu ví dụ

    Một hãng thực phẩm dự trữ nước chanh ép để cung ứng cho các khách hàng của mình. Hãng muốn dự trữ với mức dịch vụ để cho lợi nhuận tôí đa.

    Theo nghiên cứu, cứ thay đổi 1% trình độ dịch vụ thì sẽ thay đổi 0,1% doanh thu. Chiết khấu thương mại là 5.500đ/hộp với doanh số qua kho là 59.904 hộp. Giá phí một hộp ở kho là 53.800đ/hộp, và chi phí đảm bảo dự trữ năm là 25%. Thời gian cung ứng và chu kỳ đặt hàng là 1 tuần với doanh số trung bình tuần là 1.152 hộp và độ lệch tiêu chuẩn là 350 hộp.

    Các bước tính toán như sau:

    Dịch vụ tối ưu khi D R = D C. Do đáp ứng doanh số là hằng số (không đổi ) cho mọi trình độ dịch vụ, nên sự biến đổi trong doanh thu là:

    D R = Chiết khấu thương mại ´ tỷ lệ đáp ứng doanh số ´ doanh số năm

    = 0,55 ´ 0,001 ´ 59.904 = 329.500đ/năm.  1% thay đổi trình độ dịch vụ.

    Sự thay đổi trong chi phí là do chi phí dự trữ bảo hiểm cần để duy trì trình độ dịch vụ. Sự biến đổi trong dự trữ bảo hiểm là:

    D C = chi phí dự trữ năm ´ Giá phí một hộp ´ Độ lệch tiêu chuẩn nhu cầu trong chu kỳ đặt hàng ´ sự biến đổi của Z

    Z- Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn tương ứng với xác suất đảm bảo dự trữ hàng hoá tại kho .

    Do vậy:             D C = 0,25 ´ 53.800 ´ 350 ´ D Z / năm

    Sự biến đổi chi phí dự trữ bảo hiểm với các giá trị khác nhau của D Z được trình bày ở bảng 1.1

    • Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa chi phí dự trữ bảo hiểm và trình độ dịch vụ
    Biến đổi trình độ dịch vụ Biến đổi về Z Biến đổi chi phí dự trữ bảo hiểm
    87-86    1,125-1,08  = 0,045 211.800
    88-87     1,17 -1,12  = 0,045 211.800
    89-88 1.23  -1,17   = 0,05 235.400
    90-89 1,28  – 1,23  = 0,05 235.400
    91-90 1,34 – 1,28  = 0,06 282.500
    92-91 1,41  – 1,34  = 0,07 329.500
    93-92 1,48  – 1,41  = 0,07 329.500
    94-93 1,55  – 1,48  = 0,07 329.500
    95-94 1,65  – 1,55  = 0,10 470.800
    96-95 1,75  – 1,65  = 0,10 470.800
    97-96 1,88  – 1,75  = 0,13 612.000
    98-97 2,05  – 1,88  = 0,17 800.300
    99-98 2,33  – 2,05  = 0,28 1.318.810

    Thể hiện D R và D C trên đồ thị (H.11),ta được trình độ dịch vụ tối ưu là 93% cho ta DR = DC = 329.500đ

    Thường thì dịch vụ khách hàng được coi là có giới hạn đối với hệ thống logistics khi không thể phát triển được mối quan hệ doanh thu – dịch vụ. Trong trường hợp này, có thể chọn trình độ dịch vụ khách hàng định trước, và hệ thống logistics được thiết kế để đáp ứng trình độ này với chi phí tối thiểu. Trình độ dịch vụ thường dựa vào các yếu tố như: trình độ dịch vụ của đối thủ cạnh tranh, ý kiến người bán hàng, và truyền thống. Theo cách này, không thể đảm bảo rằng, trình độ dịch vụ có sự cân đối tốt nhất giữa doanh thu và chi phí.

    Để thiết kế hệ thống tối ưu khi khi dịch vụ được coi là có giới hạn, có thể sử dụng phân tích độ nhạy. Trong trường hợp này, phân tích độ nhạy bao gồm biến đổi các nhân tố tạo nên dịch vụ và sau đó tìm thiết kế hệ thống mới có chi phí tối thiểu. Nếu lặp lại kiểu phân tích này một số lần, có thể thu được chi phí hệ thống với các trình độ dịch vụ khác nhau, và được minh hoạ ở bảng 1.2.

     
       
    • Hình 1.13. Biến đổi doanh thu và chi phí theo trình độ dịch vụ

    1.4.4    Dịch vụ có giới hạn

    Tuy rằng chưa biết được thiết kế hệ thống logistics và trình độ dịch vụ khách hàng ảnh hưởng ra sao đến doanh thu, nhưng có thể xác định được giá trị của trình độ dịch vụ. Theo ví dụ ở bảng 1.2, để cải thiện trình độ dịch vụ khách hàng từ 85% lên 90%, chi phí logistics sẽ tăng từ 7 triệu $ lên 9 triệu $ mỗi năm. Cải thiện trình độ dịch vụ khách hàng lên 5% phải tăng chi phí lên 2 triệu $. Do vậy doanh thu do cải tiến dịch vụ này phải tăng lên để bù đắp chi phí logistics tăng thêm. Chọn mức dịch vụ cuối cùng thuộc vào quyết định quản trị, tuy nhiên thông tin về chi phí của các trình độ dịch vụ khách hàng khác nhau hỗ trợ cho các quá trình quyết định.

    • Bảng 1.2 Chi phí thiết kế hệ thống Logistics là hàm của trình độ dịch vụ khách hàng khác nhau
    Phương án Thiết kế hệ thống logistics Chi phí logistics hàng năm Trình độ dịch vụ khách hàng
    1 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển đường thuỷ, mức dự trữ thấp 5.000.000 $ 80%
    2 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển đường sắt, mức dự trữ thấp 7.000.000 $ 85%
    3 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển ôtô, mức dự trữ thấp 9.000.000 $ 90%
    4 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển đường sắt, mức dự trữ cao 12.000.000$ 93%
    5 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển ôtô, mức dự trữ cao 15.000.000$ 95%
    5 Chuyển đơn hàng bằng điện thoại, vận chuyển ôtô, mức dự trữ cao 16.000.000$ 96%

    1.4.5    Những đột biến dịch vụ

    Đa số các kế hoạch và nỗ lực logistics được lãnh đạo theo hướng hiệu quả trong những điều kiện bình thường. Đồng thời phải chuẩn bị cho những trường hợp bất thường có thể làm đình trệ hệ thống hoặc làm ảnh hưởng lớn đến những đặc điểm hoạt động trong thời gian ngắn, như đình công, hoả hoạn, lũ lụt, …Có 2 đột biến phổ biến là sự đình trệ hệ thống và loại bỏ sản phẩm.

    1.5    Đối tượng, phương pháp nghiên cứu môn học

    1.5.1    Đối tượng và nội dung môn học

    Logistics kinh doanh thương mại là môn khoa học kinh tế nghiên cứu các hiện tượng và tính qui luật của quá trình logistics kinh doanh thương mại.

    Như vậy, đối tượng của môn học logistics kinh doanh thương mại là những hiện tượng và tính qui luật của quá trình logistics: mua, dự trữ vận chuyển, kho, bán hàng và dịch vụ khách hàng, ..

    Nội dung nghiên cứu môn học bao gồm toàn bộ quá trình quản trị logistics, từ hoạch định, thực thi, cho đến kiểm soát các hoạt động logistics. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào các đối tượng chuyên ngành mà nội dung nghiên cứu có thể toàn diện, sâu sắc hay chỉ đề cập đến những nội dung cơ bản nhất.

    1.5.2    Vị trí và phương pháp môn học

    Logistics kinh doanh thương mại là môn học chuyên ngành quản trị kinh doanh thương mại, cung cấp những kiến thức cơ bản và thực tế cho các nhà quản trị trong các doanh nghiệp thương mại.

    Môn học logistics kinh doanh thương mại có quan hệ chặt chẽ với các môn học chuyên ngành quản trị kinh doanh: marketing, quản trị doanh nghiệp, kinh tế doanh nghiệp, …

    Môn học cung cấp kiến thức cơ bản của kinh doanh thương mại làm cơ sở cho nhận thức, lĩnh hội các môn học khác.

    Logistics kinh doanh thương mại là hoạt động có tính công nghệ thống nhất chặt chẽ, do đó nghiên cứu môn học này phải áp dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống; là môn học gắn liền với hoạt động thực tiễn, do đó phải áp dụng phương pháp tư duy biện chứng, gắn liền lý luận với thực tiễn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây