Category: Thương Mại – Marketing

  • Đồ án tốt nghiệp Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa

    Đồ án tốt nghiệp Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa

    Đồ án tốt nghiệp Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận dịch vụ giao nhận hàng hóa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-%C3%81p-d%E1%BB%A5ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-trong-giao-nh%E1%BA%ADn-h%C3%A0ng-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa

    LỜI NÓI ĐẦU

    Việt nam đang trên đường đổi mới, hoà nhập vào sự phát triển chung trong khu vực và trên thế giới, thương mại điện tử ngày một phát triển đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, trong việc buôn bán trao đổi hàng hóa đặc biệt trong giao nhận hàng hóa giữa Việt nam, khu vực và thế giới.

    Để đẩy mạnh hợp tác kinh tế, các nước ASEAN trong đó có Việt Nam tìm cách hướng tới việc tự do hoá thương mại, dịch vụ và đầu tư trong khu vực. Song song với việc thực hiện Khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), các nước ASEAN đang triển khai việc thực hiện Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ trong đó có dịch vụ vận tải và giao nhận hàng hoá hứa hẹn một sự phát triển mạnh mẽ của loại hình dịch vụ này. Có thể nói phát triển dịch vụ giao nhận vân tải hàng hoá quốc tế ở mỗi nước gắn liền với sự phát triển kinh tế của nước đó.  Ký kết hợp đồng, vận chuyển hàng hoá đến cảng đích và tiến hành giao nhận là những khâu then chốt trong bất kỳ thương vụ nào. Với tính chất là một nghiệp vụ tổng hợp, người giao nhận phải nắm vững về các nghiệp vụ ngoại thương và phải biết phối kết hợp một cách nhuần nhuyễn các khâu nghiệp vụ khi thực hiện một hợp đồng giao nhận. Đây là một loại hình kinh doanh dịch vụ mang tính phân công lao động cao của một xã hội hiện đại đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải hiểu biết một cách  đầy đủ về ngoại thương, các tập quán buôn bán quốc tế cũng như luật kinh tế, các quy định của Nhà nước về luật thuế, luật Hải quan và hơn nữa phải có một hệ thống đại lý rộng rãi trên thế giới để có thể cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất với giá cả cạnh tranh nhất. Đặc biệt trong giai đoạn mà áp dụng thương mại điện tử vào trong các loại hình kinh doanh, sản xuất là một trong những mảng được Chính phủ nhiều nước trong khu vực và trên thế  giới rất quan tâm, được coi là điều kiện cần thiết cho sự hội nhập kinh tế của mỗi nước. Hình thức thương mại này, mang lại cho xã hội, các doanh nghiệp, đến từng cá nhân một công cụ hoạt động mới, tiện lợi, dễ dàng và hiệu quả hơn nhiều. Ngày nay, thương mại điện tử được áp dụng ngày càng nhiều và tốc độ càng nhanh với hiệu quả hết sức nhãn tiền trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau với nhiều mức độ khác nhau.

    Với mong muốn nước ta bước vào nền kinh tế tri thức trong thế kỷ tới một cách thành công, theo kịp sự phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới cùng với mối quan tâm đến sự phát triển của thương mại điện tử trong dịch vụ giao nhận vận tải trong kỷ nguyên công nghệ thông tin,  tôi đã quyết định chọn đề tài:  “ Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa” làm đề tài tốt nghiệp của mình.

    Hiện nay, áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa tại Việt Nam là một vấn đề lớn và đang được xem xét để có thể triển khai rộng rãi, một phần do tỷ lệ người dùng Internet thấp và thói quen giao dịch qua mạng chưa nhiều. Tuy nhiên Việt Nam là một thị trường lớn với trên 56.000 doanh nghiệp, việc tiến hành thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa là xu hướng tất yếu. Các doanh nghiệp ngay từ bây giờ cần tạo lập những điều kiện cơ bản ban đầu cho thương mại điện tử phát triển, trước hết là cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin để từ đó phát triển các lĩnh vực trong thương mại điện tử đặc biệt là giao nhận hàng hóa. Ngoài ra, đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhà nước và các Bộ, Ngành cần có những giải pháp để hỗ trợ trong lĩnh vực này.

    Mục đích của khóa luận là làm rõ lợi ích của việc ứng dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa, hình thức áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa, và đề xuất các các giải pháp phát triển thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa.

    Cấu trúc của khóa luận gồm:

    Lời nói đầu

    Ba chương:

    Chương I: Sự ra đời của thương mại điện tử, lợi ích của việc ứng dụng thương mại điện tử, các điều kiện phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam.

    Chương II: Hiện trạng áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa.

    Chương III: Kiến nghị các giải pháp phát triển thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa ở Việt Nam.

    Kết luận

    Tài liệu tham khảo.

     

    CHƯƠNG I

    SỰ RA ĐỜI CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, LỢI ÍCH CỦA VIỆC ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG KINH DOANH GIAO NHẬN, CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

     

    I. KHÁI QUÁT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

    1.1. Sự ra đời và phát triển của mạng Internet

    Lịch sử của INTERNET được bắt đầu từ năm 1957: Đây là thời kỳ chiến tranh lạnh giữa các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đang diễn ra hết sức gay gắt. Ở Mỹ các khoản đầu tư dành cho quân sự là rất lớn. Năm 1957 Mỹ đã hình thành nên một cơ quan nghiên cứu phát triển ARPA (Advanced Research Project Agency), dưới sự quản lý của Uỷ ban phòng vệ DoD (Department of Defence), để phối hợp nghiên cứu khoa học và công nghệ ứng dụng vào lĩnh vực quân sự.

    Đến năm 1965 ARPA tài trợ cho dự án mạng máy tính TX-2 tại phòng thí nghiệm Lincoln của Viện công nghệ Massachusetts, Lexington và dự án Q-32 hợp tác với công ty phát triển hệ thống (system development) Santa Monica California.

    Năm 1967 kế hoạch về mạng PS (Packet – Switching) được đưa ra, đồng thời bản kế hoạch đầu tiên về mạng ARPANET (Advanced Research Projects Agency Network) được đưa ra bởi Lawrence G.Roberts – viện công nghệ Massachusetts. Vào vào tháng 7 năm 1968 ARPA đề nghị kết nối 4 địa điểm đầu tiên bằng các máy tính gồm: Viện nghiên cứu Standford, trường Đại học tổng hợp California ở Los Angeles, UC (University of California) tại Santa Babara và trường Đại học tổng hợp Utah.

    Đến năm 1969 Uỷ ban phòng vệ DoD (Department of Defense) giao cho ARPA đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực mạng. Và cũng trong năm 1969 bốn địa điểm trên chính thức được nối thành mạng. Do vậy cho đến nay thì người ta lấy nguồn gốc đầu tiên của Internet là hệ thống máy tính cuả Bộ Quốc Phòng Mỹ, gọi là mạng ARPANET.

    Đầu năm 1970  Thư điện tử đã bắt đầu được sử dụng.

    Năm 1973 sự nối kết quốc tế đầu tiên với ARPANET của trường đại học London – Anh.

    Năm 1979:  Nhằm phát triển rộng rãi mạng đã được thiết lập, các nhà khoa học máy tính từ đại học Wisconsin DARPA (Defense Advanced Research Project Agency) và NSF (National Science Foundation) tập trung thảo luận về việc cùng tổ chức một ban nghiên cứu khoa học máy tính, nghiên cứu mạng máy tính.

    Đến năm 1990 ARPANET được thay thế bằng mạng NSFNET (National Science Foundation Network). NSFNET mang tính chất hoạt động dân sự nhiều hơn. Thực ra trong các số liệu thống kê, người ta chỉ tính mốc thừa nhận một cách rộng rãi sự ra đời của Internet từ năm 1990 khi công nghệ mạng được áp dụng một kỹ thuật mới là World Wide Web(www). Và cũng kể từ thời điểm ấy số người hoà nhập vào mạng Internet mới tăng nên một cách nhanh chóng.

    Đến năm 1990 số các nước đã tham gia nối với mạng này là:

    “Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Nauy, Thụy Điển” (1988), “Australia, Đức, Israel, Italy, Nhật Bản, Mexico, Netherlands, Newzealand, Puerto Rico, Anh” (1989), “Agentina, Austria, Bỉ, Brazil, Chile, Greece, Ân Độ, Ireland, Hàn Quốc, Thuỵ Sĩ” (1990) .

    Sau đó các nước khác cũng tham gia vào mạng toàn cầu Internet:

    Năm 1991: Croatia, Czech Repuplic, Hongkong, Hungary, Poland, Portugal, Singapore, Taiwan, Tunisia…..

    Đến năm 1997:  toàn thế giới đã có 110 quốc gia nối mạng Internet, trong đó có Việt Nam.

    Những địa chỉ của những tổ chức lớn xuất hiện trên Internet là Liên Hợp Quốc (1993), Nhà Trắng (1993), Ngân hàng thế giới (1992), Thủ tướng Nhật (1994), Uỷ ban ngân khố Anh (1994),Thủ tướng Newzealand (1994)…..”1 [1] 

     

    Trong những năm gần đây Internet đã phát triển một cách nhanh chóng và được ứng dụng một cách rộng rãi trong mọi mặt của đời sống xã hội. Nếu xét lịch sử phát triển của các lĩnh vực thông tin đại chúng khác thì Internet vượt xa tất cả. Điều này cho thấy thế giới có thể sẽ sắp bước vào một xã hội toàn cầu Internet. Người ta đưa ra một ví dụ so sánh để thấy được sự phát triển của Internet so với các phương tiện thông tin đại chúng khác là rất lớn.

    Hình 1-1:  Sự tăng trưởng của Internet trong các năm 1994-2000,và dự báo mức tăng trưởng các năm 2002-2005.”[2]

    Để đạt được con số 50 triệu người sử dụng đài phát thanh phải chờ sau 40 năm, truyền hình mất 13 năm, truyền hình cáp mất 10 năm, trong khi đó Internet đạt được con số trên chưa đầy 5 năm.

    Cũng theo tạp chí tin học ngân hàng số 4 tháng 8 năm 2000, Năm 1994 toàn thế giới có khoảng 3 triệu người nối mạng Internet. Năm 1996 con số đã lên tới 67 triệu người. Năm 1997 đã có 110 quốc gia nối mạng Internet. Năm 1998 toàn thế giới đã có hơn 100 triệu người nối mạng Internet. Đến cuối năm 1999 toàn thế giới có khoảng 259 triệu người nối mạng Internet. Đồng thời vào năm 2000 con số này là 349 triệu người.

    “Dự báo vào năm 2002 số người nối mạng Internet là 490 triệu người, năm 2003 là 502 triệu người và đến 2005 toàn thế giới sẽ có khoảng 765 triệu người nối mạng Internet” (gần 1/6 dân số thế giới).

    Tuy nhiên, sự phát triển của mạng Internet là hết sức chênh lệch giữa các quốc gia, giữa những nước đang phát triển và những nước công nghiệp hóa. Hiện nay, một nửa trong số những người truy cập mạng Internet trên thế giới là thuộc khu vực Bắc Mỹ. Người ta đưa ra một sự so sánh hình tượng rằng cả Châu Phi chưa bằng số người nối mạng ở riêng thành phố New York. “ 3 [3]

    Khi một công nghệ mới ra đời thì thông thường người ta khó mà lường hết được sự mở rộng của nó. Trước đây khi điện thoại được phát minh, người ta cũng có cảm nghĩ rằng nó là một công cụ hết sức xa vời, nhưng cho đến nay thì không ai là không phải thừa nhận rằng nó đã trở thành một phương thức giao dịch không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày. Internet – một công nghệ vượt bậc, là đỉnh cao của thế kỷ XX chắc chắn cũng sẽ như vậy. Hiện nay trên thế giới con số người nối kết với Internet chưa nhiều song chắc chắn rằng trong tương lai không xa, Internet sẽ là phương tiện thân thiện của mọi nhà trên khắp hành tinh.

     

    1.2. Khái niệm về thương mại điện tử (E-commerce)

    Trước khi đi vào khái niệm về thương mại điện tử chúng ta xem xét qua về khái niệm kinh doanh điện tử:  Kinh doanh điện tử ( Electronic Business) là một bước biến đổi cơ bản của các phương thức kinh doanh thông qua việc sử dụng các công nghệ của mạng máy tính Internet, Intranet…

    Hiện nay có nhiều quan điểm về vấn đề định nghĩa thương mại điện tử.

    “Quan điểm thứ nhất :  Thương mại điện tử được định nghĩa một cách đơn giản là sự chuyển giao các giá trị qua Internet của một trong bốn dạng hoạt động: Mua, Bán, Đầu tư và vay mượn. “ 6 [6] 

     

    “Quan điểm thứ hai với nghĩa rộng: Thương mại điện tử gồm các giao dịch tài chính và thương mại được thực hiện bằng các phương tiện điện tử.

     

    Quan điểm thứ ba xuất phát từ thực tiễn của thương mại điện tử: Thương mại điện tử là các hoạt động thương mại được thực hiện qua mạng thông tin toàn cầu Internet.” 7 [7]

    Hiểu theo quan điểm  thứ hai thì thương mại điện tử thực tế đã tồn tại từ rất lâu. Có lẽ sớm nhất và phổ biến nhất là người ta ứng dụng hoạt động kinh doanh của mình qua điện thoại, sau đó nổi bật nữa là truyền hình, fax, radio… đây cũng là các phương tiện điện tử được ứng dụng khá rộng rãi trong hoạt động thương mại.

    Tuy nhiên các hình thức này chỉ hỗ trợ cho thương mại. Trong hầu hết các hoạt động thương mại các phương tiện này không thực hiện được một cách hoàn chỉnh. Song nhờ Internet người ta có thể thực hiện hoàn chỉnh một giao dịch thương mại như: mua bán, chào hàng, chọn hàng, ký kết hợp đồng, giao hàng, thanh toán, bảo hành, các dịch vụ sau bán… Do vậy trên thực tiễn nói thương mại điện tử, người ta thường hiểu là loại trừ các phương tiện điện tử không phải là Internet. Thương mại điện tử là hoạt động thương mại bằng phương tiện Internet.

    Như vậy, theo quan điểm thực tiễn thương mại, có thể đưa ra một định nghĩa về thương mại điện tử như sau:” Thương mại điện tử là việc sử dụng các công nghệ mạng Internet trong các hoạt động  giao dịch thương mại” “Electronic commerce is an emerging concept that describes the process of buying and selling or exchanging of products, services, and information via computer networks including the internet“[ 8] .

    Trong Luật mẫu về thương mại điện tử của Liên Hợp Quốc – UNCITRAL Model Law on electronic commerce – không có điều khoản nào định nghĩa về thương mại điện tử. Tuy nhiên hiểu theo tinh thần điều chỉnh của luật này thì “Electronic Commerce” cần được hiểu theo nghĩa rộng ở trên.

    1. LỢI ÍCH CỦA VIỆC ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG KINH DOANH GIAO NHẬN HÀNG HÓA.

    Trong loại hình cơ bản nhất của giao dịch, khách hàng đến cửa hàng lựa chọn những sản phẩm mà họ muốn mua, trả cho người bán một khoản tiền và mang hàng về. Ngày nay trước sự bùng nổ về công nghệ thông tin – mạng máy tính và sự kết nối khắp toàn cầu – thương mại điện tử đã nổi lên như một phương thức kinh doanh quan trọng của thế kỷ .

    Khi con người càng nhận thức rõ hơn, hiểu biết nhiều hơn về Internet thì thị trường điện tử cũng ngày càng trở nên quen thuộc với họ. Nếu khuynh hướng tăng trưởng số người nối mạng Internet như hiện nay được duy trì thì sẽ chẳng bao lâu nữa trong tương quan giữa hai loại thị trường, thị trường thực sẽ có xu hướng nhường chỗ dần cho thị trường ảo, thế giới của thông tin, hình ảnh. Các công ty cũng sẽ chuyển dần hoạt động kinh doanh truyền thống của mình sang kinh doanh điện tử để khai thác những lợi ích được tạo ra từ phương thức kinh doanh này.

    Đối với các doanh nghiệp giao nhận ở nước ta, có lẽ bước đầu tiên để có thể khuyến khích họ phát triển kế hoạch áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa đó là việc làm thế nào để họ có thể nhận thức được những ích lợi mà thương mại điện tử có thể mang lại. Làm rõ vấn đề này sẽ là động lực, và phương hướng chủ  đạo cho các nhà doanh nghiệp mạnh dạn áp dụng công nghệ mới.

    2.1. Tính kịp thời, tính cập nhật của thông tin thương mại

    Internet là một thư viện khổng lồ nhất được cập nhật một cách liên tục. Ngày nay, nhận, gửi, khai thác thông tin trên Internet là nhu cầu của toàn thế giới. Thông tin chính xác đầy đủ, nhanh chóng là một đòi hỏi ngày càng cao trong hoạt động kinh doanh giao nhận.

    Trong thương mại điện tử hiện nay người ta có thể dễ dàng thu thập và tìm kiếm thông tin ở khắp các nơi trên thế giới. Dựa vào đó doanh nghiệp có thể theo sát sự biến động của thị trường nước ngoài, nắm bắt liên tục và thường xuyên các thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do khả năng thu thập được các thông tin cập nhật và truyền tin nhanh chóng, doanh nghiệp có thể thực hiện nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, tìm hiểu đối tác và ra các quyết định kinh doanh của mình ở các thời điểm và địa điểm khác nhau.

    Nói về tính kịp thời của thông tin thương mại trên Internet, nhiều người đặt câu hỏi sử dụng điện thoại, fax… với khả năng truyền tin nhanh thì vẫn đảm bảo tính kịp thời, vậy ưu thế nổi trội của Internet so với các phương tiện này là gì?

    Điện thoại là một phương tiện phổ thông dễ sử dụng và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại. Tuy nhiên trên quan điểm kinh doanh công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh. Mọi cuộc giao dịch cuối cùng vẫn phải kết thúc bằng giấy tờ, hay các tài liệu có thể lưu trữ (hiện nay thương mại điện tử trên thế giới, người ta thừa nhận giá trị pháp lý của các tài liệu truyền qua Internet, vì vậy các tài liệu này có thể thay cho giấy tờ truyền thống). Ngoài ra nếu tính yếu tố chi phí thì có lẽ giao dịch điện thọai nhất là giao dịch đường dài, điện thoại cao gấp nhiều lần so với  các giao dịch thông qua mạng Internet.

    Với máy fax, có thể thay thế được dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống. Nhưng Fax lại có hạn chế là: không thể tải được âm thanh, hình ảnh phức tạp, đồng thời giá máy và chi phí còn rất cao. Hơn nữa qua thương mại điện tử bằng Internet người ta vẫn có thể gửi và nhận Fax nếu cần.

    2.2. Giảm được chi phí tiếp thị và giao dịch

    Nhờ thương mại điện tử thông qua Internet, Công ty có thể thiết lập trực tiếp mối quan hệ với khách hàng hay rút ngắn được quá trình giao hàng. Doanh nghiệp có thể hạ được giá thành các dịch vụ giao nhận, giảm thấp chi phí tiếp thị mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận.

    Bằng phương tiện Internet/Web, một nhân viên giao nhận có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, ca-ta-lô điện tử (eletronic catalogue) trên trang Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với ca-ta-lô in ấn (có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời). Theo số liệu thống kê của hãng máy bay Boeing của Mỹ, có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng thông qua Internet và còn nhiều hơn nữa các đơn hàng về dịch vụ kỹ thuật, sửa chữa, giao nhận và mỗi ngày giảm được 600 cú điện thoại.

    Thương mại điện tử qua Internet/Web còn giúp các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch giao hàng, giao dịch thanh toán). Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện; chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng khoảng 5% chi phí giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng từ 10% đến 20% cho phí thanh toán theo lối thông thường.

    Trong những yếu tố cắt giảm, yếu tố thời gian là đáng kể nhất vì việc nhanh chóng làm cho thông tin dịch vụ tiếp cận khách hàng (mà không phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còn đối với kinh doanh giao nhận.

    Thông thường đối với một nhà sản xuất rất khó có thể thiết lập được một mạng lưới tiêu thụ rộng lớn để trực tiếp cung cấp và liên hệ với những người bán lẻ hay các khách hàng. Song hiện nay nhờ thương mại điện tử mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể làm được điều đó. Khi thiết lập một cơ sở kinh doanh trên Internet, doanh nghiệp đã cùng một lúc thiết lập một đại lý phân phối ở nhiều nơi khác nhau, hoàn toàn loại bỏ được kênh phân phối nhiều cấp. Điều này là có lợi cho cả doanh nghiệp và khách hàng.

     

    2.3. Kinh doanh sử dụng cửa hàng ảo – Kinh doanh tại nhà

    Với một cơ sở kinh doanh ảo, lợi dụng công nghệ truyền tin Internet, nhận và xử lý thông tin ở bất cứ nơi nào, cho phép các nhà quản lý kinh doanh chỉ ngồi tại nhà nhưng lại có thể kinh doanh ở bất kỳ đâu.

    Chẳng hạn khi doanh nghiệp thiết lập một Website – khác với cơ sở kinh doanh thực, nó hiện hữu trên các máy tính nối mạng Internet. Khi đó các khách hàng thông qua việc truy cập địa chỉ Internet của công ty, sẽ thực hiện mọi giao dịch cần thiết. Cả khách hàng và doanh nghiệp đều có thể tiến hành các giao dịch thương mại tại nhà, hay bất cứ nơi đâu. Nhờ đặc tính này mà ngay cả các hộ gia đình cũng dễ dàng tham gia kinh doanh trên mạng Internet và cạnh tranh một cách bình đẳng với những doanh nghiệp lớn. Hiện nay đặc điểm này còn được thực hiện một cách dễ dàng hơn nhờ những thiết bị mới như: Điện thoại di động nối mạng Internet.

     

    2.4. Nâng cao khả năng phục vụ và duy trì mối quan hệ thường xuyên với khách hàng.

    Nhờ bộ nhớ máy tính và phần mềm được lập trình sẵn, thương mại điện tử có khả năng tự động phân tích, tổng hợp dữ liệu trên cơ sở kinh doanh ảo của doanh nghiệp giao nhận. Khi khách hàng có nhu cầu giao nhận hàng và gửi những thông tin về mình cho doanh nghiệp thì toàn bộ thông tin này sẽ được lưu vào máy tính và tất cả các giao dịch giữa doanh nghiệp giao nhận và khách hàng sẽ được giữ lại như một cơ sở dữ liệu. Đây sẽ là những thông tin hữu ích cho doanh nghiệp giao nhận khi nhận biết các khách hàng quen thuộc.

    Với cơ sở dữ liệu đó, doanh nghiệp có thể nắm được đặc điểm của từng khách hàng, nhóm khách hàng. Từ đó, phân đoạn thị trường, hướng những chính sách phù hợp riêng biệt cho từng khách hàng.

    Kể từ giao dịch đặt cung cấp dịch vụ thứ hai trở đi doanh nghiệp không cần khách hàng phải cung cấp chi tiết các thông tin về mình nữa mà có thể xác định một cách nhanh chóng và cực kỳ chính xác khách hàng đó là ai. Cung cấp dịch vụ đúng với đòi hỏi của từng khách hàng sẽ là một ưu thế lớn trong việc duy trì các khách hàng quen thuộc.

    Tuy nhiên, để có thể tận dụng được ưu thế này thì cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp cần phải có những điều chỉnh thích hợp. Phải đặc biệt chú trọng mối liên hệ giữa bộ phận lưu trữ, xử lý dữ liệu với các bộ phận khác, nhằm mục đích thoả mãn ngay cả một nhóm nhu cầu hay thậm chí là nhu cầu riêng biệt của từng khách hàng. Đây là lợi ích lớn cho doanh nghiệp áp dụng thương mại điện tử. Tuy nhiên sẽ là nguy cơ cho các doanh nghiệp chậm trễ trong việc triển khai một chiến lược trong thương mại điện tử, vì nếu chậm chân sẽ có nguy cơ bị mất thị trường bởi những đối thủ đi trước, do khách hàng không muốn thay đổi nhà cung cấp của mình.

    2.5. Dễ dàng đa dạng hoá dịch vụ

    Với Internet doanh nghiệp giao nhận có thể kinh doanh hỗn hợp các dịch vụ khác nhau.Với kiểu giao hàng truyền thống (người giao nhận phải đến trực tiếp địa điểm giao nhận và làm các thủ tục cần thiết cho lô hàng, tốn nhiều thời gian đi lại) rất khó để có thể đa dạng hóa các dịch vụ như dịch vụ kê khai tờ khai thuê, đóng thuế, chuyên trở … vì điều này đòi hỏi phải trang bị đầu tư rất lớn một lực lượng lao động được đào tạo chuyên ngành cho nhiều vị trí ở các địa điểm khác nhau. Nhưng khi áp dụng thương mại điện tử không quan trọng là hàng hoá giao nhận được đặt như thế nào để ở đâu. Bởi doanh nghiệp giao nhận sẽ dễ dàng theo dõi được nhiều lô hàng ở nhiều nơi và đồng thời thực hiện các nghiệp vụ giao nhận và các dịch vụ khác qua Internet. Điều quan tâm chính của doanh nghiệp là làm thế nào giao nhận hàng hóa tới khách hàng theo phương thức phù hợp hoặc theo phương thức mà khách hàng yêu cầu. Do đó, kể cả khi hàng hoá được để hỗn hợp thì vẫn có thể được xắp xếp và giao nhận theo đúng yêu cầu của khách hàng bất cứ lúc nào.

     

    2.6. Giảm chi phí sản suất

    Tiết kiệm chi phí là một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong thương mại điện tử. Liên quan đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp có thể có rất nhiều loại chi phí khác nhau. Tính tiết kiệm chi phí diễn ra ở hầu hết các khâu của thương mại điện tử. Khía cạnh này có thể dễ nhận thấy ở những hoạt động như:

    2.6.1./ Kinh doanh trên Internet giảm được chi phí thuê văn phòng.

    Văn phòng trên Internet của doanh nghiệp được mở ngay tại nhà của khách hàng trước màn hình máy tính. Chỉ cần đầu tư một lần bằng khoản tiền không lớn doanh nghiệp  đã có rất nhiều văn phòng ở khắp mọi nơi, điều này cũng đồng nghĩa với việc giảm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.

    2.6.2./ Giảm chi phí trong các hoạt động giao dịch trao đổi giấy tờ

    Trong doanh nghiệp việc phát sinh các chi phí cho hoạt động giao dịch giấy tờ là rất lớn. Giao dịch giữa khách hàng – doanh nghiệp, doanh nghiệp – đối tác, và trong nội bộ doanh nghiệp luôn luôn diễn ra. Dòng chảy thông tin thông suốt và liên tục có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp. Thương mại điện tử qua Internet có thể giúp cho doanh nghiệp thực hiện một cách nhanh chóng các hoạt động giao dịch với dung lượng không hạn chế và chi phí thấp nhất.

    2.6.3./ Giảm chi phí trong giới thiệu dịch vụ.

    Doanh nghiệp kinh doanh giao nhận có thể thông qua Web site của mình để giới thiệu dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng các hình ảnh, phụ đề minh họa, những thành tựu đã đạt được giúp khách hàng dễ cập nhật và thực sự tin tưởng khi lựa chọn.

    2.6.4./ Giảm chi phí trong quản lý

    Nhờ hoạt động kinh doanh thông qua mạng các máy tính mà trong doanh nghiệp giao nhận có thể hạn chế được khoản chi phí đầu tư cho việc thuê quản lý. Sự trao đổi thông tin không hạn chế qua Internet có thể giúp cho một nhà quản lý có khả năng quản lý được nhiều chi nhánh, cơ sở cùng một lúc mà không phải thuê người quản lý mới.

    2.6.5./ Giảm chi phí thực hiện các dịch vụ kỹ thuật hướng dẫn khách hàng.

    Các tài liệu kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng dịch vụ có thể gửi trực tiếp cho khách hàng qua Internet mà không cần in ấn, vận chuyển vừa tốn kém cho khách hàng lại vừa tốn kém cho công ty.

    2.6.6./ Giảm chi phí trong việc hoạt động quảng cáo chào hàng.

    Quảng cáo qua Internet là hình thức quảng cáo kinh tế nhất. Doanh nghiệp có thể tự giới thiệu về mình trên quy mô toàn cầu mà không cần thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và phải trả phí dịch vụ rất cao.

    Nhờ Internet mà một số bộ phận nhân viên trong doanh nghiệp có thể làm việc tại nhà mà không cần tới trụ sở làm việc. Điều này có thể giúp cho doanh nghiệp giảm bớt các khoản phụ cấp dành cho đi lại, giảm chi phí dành cho việc thuê văn phòng hay sinh hoạt cho nhân viên tại cơ quan.

    2.6.7./ Giảm chi phí trong việc tuyển mộ nhân viên

    Nhờ Internet doanh nghiệp không phải tìm lao động qua các tổ chức trung gian. Doanh nghiệp có thể đưa những thông tin về tuyển dụng lao động lên mạng Internet, hoặc cũng có thể gửi email trực tiếp đến các trường đại học. Ở Việt Nam cũng có những địa chỉ trên đó có thể tìm được việc làm, tuy nhiên số công ty trực tiếp mở trang Web để tuyển mộ nhân viên chưa nhiều.

     

    2.7.  Hỗ trợ kỹ thuật, sử dụng dịch vụ cho khách hàng

    Những yêu cầu thắc mắc của khách hàng trên Web site sẽ được tự động chuyển về doanh nghiệp. Các nhân viên tư vấn chuyên ngành về dịch vụ giao nhận của doanh nghiệp có thể ngồi ở văn phòng đưa ra được phương hướng  giải quyết cho khách hàng. Vì vậy công ty luôn luôn sẵn sàng cung cấp, sẵn sàng giải đáp thắc mắc của khách hàng mà không gặp một trở ngại nào. Cả khách hàng và doanh nghiệp luôn hài lòng với những dịch vụ sau bán như hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng, yêu cầu giải đáp thắc mắc… đơn giản, thuận tiện, và tiết kiệm chi phí.

    Khi kinh doanh trên Internet, doanh nghiệp có thể hình thành các chuyên mục như giải đáp thắc mắc, hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng, bảo quản… những chuyên mục này sẽ rất có lợi cho doanh nghiệp, để giải quyết một cách tự động những vấn đề này trên Website mà không phải tốn chi phí và đầu tư nhân lực.

     

    2.8. Thiết lập củng cố quan hệ đối tác

    Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành tố tham gia vào quá trình giao nhận: Thông qua mạng (nhất là dùng Internet/Web) các thành tố tham gia (người tiêu dùng, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau (liên lạc trực tuyến) gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa; nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục; các bạn hàng mới, các cơ hội mới kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.

     

    2.9. Tạo điều kiện cho tiếp cận  Kinh tế số hoá

    Xét trên bình diện quốc gia, trước mắt thương mại điện tử sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế; nhìn rộng hơn thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (digital economy) mà xu thế và tầm quan trọng đã được đề cập tới ở trên. Lợi ích này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong các doanh nghiệp giao nhận  ở các nước đang phát triển; nếu không nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế số hay nền kinh tế số hoá hay còn gọi nền “kinh tế ảo” (Virtual economy) thì sau một thập kỷ nữa các nước đang phát triển có thể bị bỏ rơi hoàn toàn. Khía cạnh lợi ích này mang tính tiềm tàng, tính chiến lược công nghệ và tính chính sách phát triển của các nước chưa công nghiệp hoá cần lưu ý; ví có luận điểm cho rằng: sớm chuyển sang nền kinh tế số hoá thì một nước đang phát triển có thể tạo ra một bước nhảy vọt (leapfrog), có thể tiến kịp các nước đã đi trước trong một thời gian ngắn hơn.        

     

    III. CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM.

    3.1. Điều kiện về con người, nhận thức.

    Thương mại điện tử là sản phẩm của công nghệ, do vậy muốn vận dụng nó thì phải nắm được công nghệ. Hiện tại ở nước ta nhận thức về công nghệ thông tin còn thấp. Hầu hết các trường học, ở tất cả các cấp học nước ta kể cả Đại học tỷ lệ nối mạng Internet là rất ít. Các sinh viên – học sinh tầng lớp trí thức của tương lai còn chưa hiểu sâu Internet là gì, chưa hề có khái niệm về thương mại điện tử. Đối với các doanh nghiệp, những người đóng vai trò chính trong thương mại điện tử cũng không hề biết sử dụng Internet, không nhận thức được tầm quan trọng của thương mại điện tử.

    Về phía Chính phủ, người thứ ba quan trọng trong thương mại điện tử, các  quy chế, các biện pháp quản lý kiểm soát của Nhà nước lại chủ yếu thiên về khía cạnh chính trị, văn hoá, xã hội của Internet (vốn chỉ là những ảnh hưởng phụ, những vấn đề có thể giải quyết bằng giải pháp công nghệ,

    giáo  dục hơn là giải quyết bằng những quy định bằng pháp luật nhằm tạo ra những rào cản cho phát triển thương mại điện tử) mà chưa chú ý tới tính thương mại và lợi ích mà Internet mang lại. Vì vậy cả về phía Nhà nước ta, vấn đề nhận thức vẫn là vấn đề quan trọng hàng đầu.

    3.2. Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật

    Cơ sở vật chất cho công nghệ thông tin nước ta còn thấp, nhân tố này có thể dẫn tới gia tăng các chi phí cho việc phát triển các ứng dụng của thương mại điện tử. Do hạ tầng viễn thông còn lạc hậu, do đó thời gian truy cập Internet lâu, phí truy cập Internet cao, gây ra những trở ngại lớn với những người muốn tham gia nối mạng Internet

    Dịch vụ tài chính, hệ thống ngân hàng và thanh toán điện tử chưa phát triển. Hệ thống thanh toán thẻ mới hình thành còn đang trong giai đoạn thử nghiệm. Như vậy để tiến đến hình thức thanh toán điện tử ở nước ta có lẽ phải cần đến một thời gian khá dài, ngay cả nếu chúng ta tiến hành những nỗ lực và đầu tư cần thiết ngay từ bây giờ.

    3.3. Điều kiện kinh tế

    Về điều kiện kinh tế, trên quan điểm tìm hiểu về thương mại điện tử xét trên hai giác độ:

    3.3.1/ Thứ nhất về thu nhập của người dân.

    Thu nhập của người dân nước ta còn rất thấp, chính vì vậy điều này sẽ gặp nhiều khó khăn khi tương phản với thu nhập là mức cước truy nhập Internet cao nhất thế giới. Thu nhập còn chưa cao do đó thông thường một lẽ tự nhiên là yếu tố giá cả, chất lượng thường được xem là những nhân tố quan trọng hơn nhiều là sự tiện lợi. Người tiêu dùng sẽ rất hạn chế tham gia vào thương mại điện tử nếu như để trả cho sự tiện lợi từ việc mua hàng hoá, hưởng dịch vụ của thương mại điện tử mà phải trả một khoản chi phí với cước truy nhập rất cao.

    3.3.2/ Thứ hai về quy mô của các doanh nghiệp

    Doanh nghiệp nước ta là các doanh nghiệp nhỏ, thiếu vốn, thông thường trong cạnh tranh bị thua thiệt trước các doanh nghiệp lớn. Đây chính là một trong những trở ngại lớn nhất cho các doanh nghiệp Ngoại Thương Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới. Khi nghiên cứu thương mại điện tử và phương hướng ứng dụng tại Việt Nam, chúng ta cần phải chú ý nhận thức vấn đề này.

    Bối cảnh các quy chế, quy định của Nhà nước ở nước ta hiện nay chưa có quy chế trực tiếp điều chỉnh thương mại điện tử nhưng có các quy định ảnh hưởng đến sự phát triển của thương mại điện tử. Đáng chú ý là:

    Quyết định số 136/ TTg ngày 5/ 3/ 1997 thành lập Ban điều phối quốc gia về mạng Internet. Trong đó có các quy định về quản lý và kiểm soát mạng Internet của các bộ, ngành tương ứng.

    Nghị định 49/ CP về kế hoạch tổng thể Công nghệ thông tin Quốc gia, trong đó việc xây dựng mạng thông tin thương mại và thị trường đã được nêu thành một dự án cần được ưu tiên thực hiện. Tuy nhiên trong thực tế việc triển khai chưa được chú ý.

    Công văn số 363/ VPCP ngày 3/ 2/ 1999 thể hiện sự quan tâm của Chính phủ tới thương mại điện tử theo đó Thủ tướng chính phủ giao Bộ thương mại lập dự án về việc thành lập Hội đồng Quốc gia về thương mại điện tử.

    Công văn số 994/ VPCP ngày 09/ 3/ 1999, Thủ tướng giao Bộ Thương Mại và Tổng Cục Bưu Điện nghiên cứu phương án tham gia thương mại điện tử của Việt Nam.

    Xét về các quy định hiện đang tồn tại ở Việt Nam hiện nay, có thể nói là chưa có tác dụng kích thích sự phát triển của thương mại điện tử ở nước ta. Thương mại điện tử chưa có môi trường để hoạt động, chưa được thừa nhận một cách hợp pháp. Các quy chế khác có liên quan thì chủ yếu mang tính kiểm soát, quản lý về mặt nội dung của Internet. Các quy định hiện thời về văn bản, chữ ký, tài liệu gốc… không phù hợp với bối cảnh phát triển thương mại điện tử. Để tạo điều kiện phát triển thương mại điện tử ở nước ta Nhà nước cần nhanh chóng hình thành môi trường pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử tạo chỗ dựa cho doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh điện tử.

    CHƯƠNG II.

    HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG

    GIAO NHẬN HÀNG HÓA

    1. HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NÓI CHUNG Ở VIỆT NAM

    Mặc dù cho đến thời điểm hiện nay Chính phủ Việt Nam chưa có một tuyên bố chính thức nào về thương mại điện tử, nhưng trong thực tế Chính phủ đã có những bước đi chắc chắn và bài bản trên con đường tiến tới triển khai và ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam. Có thể nói đến lúc này vấn đề đặt ra không còn là có chấp nhận hay không chấp nhận, mà là chúng ta sẽ tham gia, sẽ áp dụng thương mại điện tử sao cho phù hợp với lợi ích, điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam.

    Riêng trong hai tổ chức APEC và ASEAN mà nước ta là thành viên, đã đạt được thoả thuận về các nguyên tắc chỉ đạo chung (trong ASEAN) và chương trình hành động (trong APEC) về thương mại điện tử. Nước ta đã tham gia Tiểu ban điều phối về thương mại điện tử của ASEAN và tham gia soạn thảo và thoả thuận các nguyên tắc chung cho thương mại điện tử của Tổ chức này. Ngày 24/11/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ký Hiệp định khung về E-ASEAN, khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc phát triển không gian điện tử và thương mại điện tử trong khuôn khổ các nước ASEAN.

    Ngày 5/3/1997 được xem là dấu mốc đầu tiên đánh dấu Internet Việt nam khởi động làm cơ sở cho thương mại điện tử bằng việc ban hành Nghị định 21/CP Chính phủ đã chính thức tạo hành lang pháp lý cho quyền khai thác, sử dụng mạng Internet ở Việt Nam một cách hợp pháp. Cùng với Nghị định 21/CP, Nhà nước đã ban hành quyết định số 136/TTg ngày 5/3/1997 thành lập Ban điều phối quốc gia về mạng Internet ở Việt Nam.

    Nói đến thương mại điện tử nghĩa là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mại hay nói chính xác hơn là việc trao đổi thông tin thương mại qua các phương tiện điện tử. Phương tiện điện tử bao gồm điện thoại, điện báo, máy fax, truyền hình, Internet/Web … Nếu hiểu theo nghĩa của thương mại điện tử như trên thì thương mại điện tử đã được áp dụng trong thương mại của tất cả các doanh nghiệp từ rất lâu.

    Việt Nam với trên 56.000 doanh nghiệp cả Nhà nước và tư nhân hoạt động thương mại trên mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… thì việc áp dụng các phương tiện của thương mại điện tử là việc tất yếu mang tính sống còn đối với doanh nghiệp.

    1.1. Điện thoại.

    Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dễ sử dụng và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại của doanh nghiệp. Qua điện thoại doanh nghiệp có thể trao đổi và cung cấp các thông tin cần thiết cho khách hàng. Với sự phát triển của điện thoại di động, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên càng rộng rãi hơn. Tuy nhiên công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh, mọi cuộc giao dịch cuối cùng vẫn phải kết thúc bằng văn bản. Ngoài ra, chi phí giao dịch điện thoại nhất là điện thoại đường dài và điện thoại ngoài nước vẫn còn cao. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    1.2. Máy fax

    Nhờ máy fax, doanh nghiệp có thể thay thế các dịch vụ giao dịch giấy tờ, đưa công văn truyền thống, ký kết hợp đồng ngoại thương mà không cần phải trực tiếp gặp gỡ. Đến nay, máy fax gần như đã thay thế hẳn máy Telex chỉ truyền được lời văn. Nhưng máy fax có một số mặt hạn chế như: không thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều, ngay cả các hình ảnh phức tạp cũng không truyền tải được. Hơn nữa, giá máy và chi phí sử dụng còn cao.

    1.3. Truyền hình

    Ngày nay, truyền hình trở thành một trong những công cụ điện tử phổ thông nhất. Truyền hình đóng vai trò quan trọng trong thương mại nhất là trong quảng cáo hàng hóa. Ở Việt Nam, quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp chiếm tới 1/4 tổng chi phí quảng cáo hàng năm. Song truyền hình chỉ là một công cụ viễn thông “một chiều”; qua truyền hình khách hàng không thể tìm kiếm được các chào hàng, không thể đàm phán với người bán về các điều khoản mua bán cụ thể. Nay, máy thu hình được nối kết với máy tính điện tử thì công dụng của nó được mở rộng hơn.

    1.4. Thanh toán điện tử

    Mục tiêu cuối cùng của mọi cuộc mua bán là người mua nhận được hàng và người bán nhận được tiền trả cho số hàng đó, thanh toán vì thế là khâu quan trọng bậc nhất của thương mại, và thương mại điện tử không thể thiếu được công cụ thanh toán điện tử thông qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử mà bản chất là các phương tiện tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác. Nay đã xuất hiện cả hình thức tự động chuyển tiền mặt thông qua các “túi tiền điện tử” (electronic purse). Thanh toán điện tử sử dụng rộng rãi các máy rút tiền tự động (ATM: Automatic Teller Machine), thẻ tín dụng (credit card) các loại, thẻ mua hàng (purchasing card), thẻ thông minh (smart card) v.v.

    1.5. Internet/Web

    Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet. Khi nói Internet, ta nói tới một phương tiện liên kết các mạng với nhau trên phạm vi toàn cầu tạo ra hàng chục dịch vụ khác nhau. Sự ra đời của Internet tại Việt Nam nhận được sự hoan nghênh và nhiệt tình ủng hộ từ phía các tổ chức quốc tế, các cơ quan thông tấn báo chí mà đặc biệt là từ phía các doanh nghiệp cả trong nước và nước ngoài. Sau một năm kể từ ngày 19/11/1997 mốc của sự gia nhập mạng toàn cầu của nước ta (theo Thời báo kinh tế số 2 ngày 06/01/1999) số máy nối kết với Internet tại Việt Nam là 17.000 với tốc độ tăng trung bình là 23% mỗi tháng.

    Trong số 17.000 khách hàng thì chỉ riêng tại thành phố Hồ Chí Minh con số đã là 6.300 người tương ứng với 55% tổng số người sử dụng trên cả nước. Thành phần sử dụng Internet đa số là các cá nhân Việt Nam chiếm 42%, sau đó là các công ty, cơ quan và người nước ngoài chiếm 33%. Các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, các công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 16%, trong khi các doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm 6% và khu vực cơ quan hành chính sự nghiệp là 3%.

    Trung bình theo thống kê của Việt Nam vào thời gian này, thì cước phí hàng tháng mà một máy tính truy cập Internet phải trả ở nước ta là 350.000 đ/tháng. Rõ ràng với mức đó còn quá cao so với thu nhập ở nước ta. Ở đây có một nghịch lý là thu nhập bình quân đầu người ở nước ta rất thấp trong khi đó thì cước phí thu do sử dụng Internet lại thuộc loại rất cao, có thể nói là cao nhất thế giới. Do đó cùng với số người kết nối rất ít, thì trong số đó người sử dụng không thường xuyên là chủ yếu. Cước cao chính là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển Internet ở Việt Nam.

    Trước thực tế đó, kể từ ngày 1/ 1/ 1999 quyết định giảm cước đã được áp dụng nhằm tạo điều kiện mở rộng đối tượng nối kết với Internet. Trước đây cước thuê bao hàng tháng từ 50.000 đồng xuống còn 45.000 đồng. Đến nay cước truy cập được tính theo số giờ truy cập, tính ra trung bình cũng là 45.000 đến 50.000 đồng/1 tháng. Cước truy cập gián tiếp qua mạng điện thoại từ 400 đồng/ phút xuống còn 290 đồng/ phút ban ngày và 200 đồng/ phút ban đêm. Với mức cước này tuy vẫn còn cao hơn nhiều giá quốc tế song chắc chắn sẽ làm tăng nhanh số máy tính truy cập vào Internet ở nước ta.

    Và thực tế sau quyết định giảm phí truy cập lần đầu này số người hoà mạng Internet đã tăng lên nhanh chóng. Theo báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 29 tháng 12 năm 1999 thì con số thuê bao Internet ở nước ta đã tăng lên 50.000 người, tăng 300 % so với cùng kỳ năm 1998.

    Gần đây để tạo thuận lợi hơn nữa cho phát triển Internet và thương mại điện tử đợt giảm cước thứ hai đã được tiến hành và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2000. (Bảng cước sau trích từ http://www.fpt.vn )

    Cước thuê bao 30,000 VND/tháng
    Ngày bình th­ường (Thứ Hai đến Thứ Sáu)
    Từ 07:00 đến 19:00 250 VND/phút
    Từ 19:00 đến 24:00 180 VND/phút
    Từ 00:00 đến 07:00 150 VND/phút
    Các ngày lễ, Thứ Bảy và Chủ Nhật
    Từ 07:00 đến 19:00 180 VND/phút
    Từ 19:00 đến 07:00 150 VND/phút

    Internet ở nước ta trong những năm qua đạt được tỷ lệ tăng cao thể hiện được tiềm năng to lớn trong triển vọng phát triển mạng Internet tại nước ta. Tính từ tháng 11 năm 1997 chúng ta mới chính thức tiến hành nối mạng Internet, nếu tính đến nay thì thời gian còn chưa được bao lâu, hơn nữa nền tảng công nghệ cũng như nhận thức, trình độ công nghệ thông tin trong nước chưa cao, song đạt được mức độ tăng trưởng như vậy cũng là một kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên tiềm năng tăng trưởng là rất lớn vì có rất nhiều người có nhu cầu kết nối nhưng do gặp khó khăn về mức cước còn quá cao so với thu nhập. Đây có lẽ là trở ngại lớn nhất mà chúng ta cần phải giải quyết trong giai đoạn này.

    Cơ sở vật chất của chúng ta mặc dù còn chưa đáp ứng được yêu cầu đầy đủ của thương mại điện tử, song hiện tại nhìn vào ngành công nghệ thông tin nước ta, chúng ta cũng có những tiềm năng đáng kể không phải là nhỏ: Lực lượng lao động trong ngành công nghệ thông tin khá lớn, con số 30.000 người, số lượng khoảng 1.200.000 máy PC đang được sử dụng, tốc độ phát triển chung của thị trường công nghệ thông tin – viễn thông tới 40% mỗi năm, trong đó sự tăng trưởng trong lĩnh vực Internet là mạnh nhất. Với tốc độ tăng trưởng số người nối mạng Internet như hiện nay, tính đến năm 2001 có 230.000 người dùng Internet. Con số này vào năm 2003 có thể sẽ đạt đến hơn 1,2 triệu (tài liệu FPT).

    Sự tăng trưởng số người nối mạng Internet ở nước ta sẽ có xu hướng ngày càng mạnh khi hạ tầng viễn thông của chúng ta đang dần dần được cải thiện, chi phí nối kết có xu hướng giảm xuống, nhận thức xã hội ngày càng cao, thông tin và các dịch vụ trên mạng Internet ngày càng đa dạng hấp dẫn, máy tính ngày càng rẻ cùng với thu nhập ngày càng cao, dẫn tới khả năng trang bị một máy vi tính, điện thoại và modem để nối với Internet không còn là một vấn đề xa vời đối với đa số người dân nước ta. Lợi ích từ thương mại điện tử ngày càng được nhận thức rõ. Sự phát triển của Internet trên khắp các quốc gia, châu lục với tốc độ chóng mặt. Xã hội thông tin số hóa không biên giới gắn liền với toàn cầu hóa là xu hướng không thể đảo ngược mà bất kỳ quốc gia nào cũng có thể dễ dàng nhận thấy… Tất cả những yếu tố đó, chúng ta có thể chắc chắn khẳng định được rằng sự tăng trưởng số người hòa mạng ở nước ta sẽ ngày càng cao hơn.

    Nhưng nổi bật nhất tới nay trong các dịch vụ Internet là dịch vụ World Wide Web (gọi tắt là Web, viết tắt là WWW hoặc W3) là công nghệ sử dụng các siêu liên kết văn bản (hyper link, hyper text). Web với tư cách là một không gian ảo cho thông tin đã được toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng chấp nhận làm tiêu chuẩn giao tiếp thông tin.

    Ngày nay, do công nghệ Internet được phát triển rộng rãi, các doanh nghiệp đã tiết kiệm được nhiều chi phí, tốc độ xử lý thông tin cũng như giao dịch qua Internet tăng nhanh. Qua địa chỉ của mình trên Internet, doanh nghiệp tiến hành các hoạt động quảng cáo, tiếp thị, tìm khách hàng hay giao tiếp với khách hàng. Đây là một phương tiện phục vụ kinh doanh quan trọng và có hiệu quả nhất của thương mại điện tử.

    Mặc dù có hay không có Internet/Web doanh nghiệp vẫn có thể thực hiện thương mại điện tử (qua các phương tiện điện tử khác) song ngày nay, nói tới thương mại điện tử thường có nghĩa là nói tới Internet/Web vì thương mại đã và đang trong tiến trình toàn cầu hóa và hiệu quả hóa nên các doanh nghiệp đã và sẽ phải sử dụng triệt để Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hóa cao độ và có hiệu quả sử dụng cao. Có như vậy thương mại điện tử mà thực chất là kinh doanh trên Internet sẽ ngày càng tăng và phổ biến rộng rãi.

    II/ HỆN TRẠNG ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA.

    2.1. Vai trò của giao nhận hàng hoá trong kinh doanh

    Giao nhận hàng hóa là ngành nghề dịch vụ thương mại gắn liền và liên quan mật thiết tới hoạt động ngoại thương và vận tải đối ngoại. Đây là một loại hình dịch vụ thương mại không cần đầu tư nhiều vốn nhưng mang lại một nguồn lợi tương đối chắc chắn và ổn định nếu biết khéo léo tổ chức và điều hành trên cơ sở tận dụng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có.

    Trước đây khi sản xuất và lưu thông chưa phát triển thì giao nhận là một khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Khi sản xuất và lưu thông phát triển ở mức độ cao, nhu cầu vận chuyển hàng hóa lớn thì hoạt động giao nhận tách riêng thành một nghề mới. Trong xu thế quốc tế hóa đời sống như hiện nay thì hoạt động giao nhận càng có vai trò quan trọng. Điều này thể hiện ở:

    • Đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế là người mua và người bán ở những nước khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao hàng tức là hàng được vận chuyển từ người bán sang người mua. Để cho quá trình vận chuyển đó được bắt đầu, tiếp tục và kết thúc tức là hàng hóa tới tay người mua, cần phải thực hiện một loạt các công việc khác nhau liên quan tới chuyên chở như: đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận … Tất cả những công việc đó là nghiệp vụ của người giao nhận. Như vậy trước tiên nghiệp vụ giao nhận là điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thương mại quốc tế.
    • Hoạt động giao nhận tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm mà không cần có sự tham gia hiện diện của người gửi cũng như người nhận hàng.
    • Giúp người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ vòng quay của các phương tiện vận tải; tận dụng một cách tối đa và có hiệu quả dung tích, trọng tải của các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ khác.
    • Tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu có thể tập trung vào hoạt động kinh doanh của họ.
    • Góp phần giảm giá thành hàng hóa xuất nhập khẩu.
    • Bên cạnh đó giao nhận cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt các chi phí không cần thiết khác như: chi phí xây dựng kho tàng, bến bãi nhờ vào việc sử dụng kho tàng, bến bãi của người giao nhận, chi phí đào tạo nhân công …

    2.2. Các hình thức áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa.

    Giao nhận hàng hoá là một loại hình dịch vụ của xã hội hiện đại, của sự chuyên môn hoá cao. Trong thương mại điện tử thì cơ hội phát triển hay quảng bá dịch vụ của người giao nhận là rất lớn. Một hoạt động thương mại điện tử diễn ra có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Có doanh nghiệp chỉ áp dụng thương mại điện tử như một phương thức để quảng cáo giới thiệu hàng hoá, có doanh nghiệp chỉ áp dụng thương mại điện tử như một công cụ để tiến hành các trao đổi giao dịch v.v. Tuy nhiên, xét một cách tương đối đầy đủ thì hoạt động giao nhận hàng hóa áp dụng thương mại điện tử diễn ra theo các hình thức sau:

    2.2.1. Thư điện tử

    Doanh nghiệp giao nhận sau khi đã đăng ký một địa chỉ trên Internet thì có thể sử dụng hòm thư điện tử để gửi thư cho các đối tác một cách “trực tuyến”. Thư điện tử (electronic mail: E-mail) là một phương tiện trao đổi thông tin ở dạng “phi cấu trúc” (unstructured form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận trước hoặc định sẵn. Ngoài ra, thư điện tử còn là một phương tiện trao đổi thông tin với một thời gian ngắn nhất, chi phí rẻ nhất có thể sử dụng được mọi lúc, đến được mọi nơi trên thế giới. Qua thư điện tử, doanh nghiệp giao nhận và đối tác tiến hành các giao dịch về chọn tuyến đường, phương thức vận tải, người chuyên chở thích hợp, các chứng từ cần thiết… và thảo luận các điều khoản và điều kiện có liên quan để ký kết hợp đồng giao nhận.

    2.2.2. Thanh toán điện tử.

    Thanh toán điện tử (electronic payment) là quá trình thanh toán dựa trên hệ thống thanh toán tài chính tự động mà ở đó diễn ra sự trao đổi các thông điệp điện tử (electronic message) với chức năng là tiền tệ, thể hiện giá trị của một cuộc giao dịch. Như đã nói ở trên, thương mại điện tử không thể thiếu được công cụ thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử. Doanh nghiệp giao nhận sau khi đã hoàn tất công việc thì yêu cầu khách hàng thanh toán cho doanh nghiệp bằng một số hình thức chính sau:

    * Trao đổi dữ liệu tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử.

    * Tiền mặt Internet (Internet card): Tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (Ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, sử dụng trên phạm vi thế giới và tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa (digital cash). Sử dụng tiền mặt số hóa này có thể được dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, do chi phí giao dịch mua hàng và chi phí chuyển tiền rất thấp. Hơn nữa nó không đòi hỏi một qui chế được thoả thuận từ trước, có thể tiến hành giữa hai con người, hai công ty bất kỳ, hoặc là các thanh toán vô hình. Tiền mặt nhận được đảm bảo là tiền thật, tránh được nguy cơ tiền giả.

    * Thẻ thông minh (smart card) là một loại thẻ giống như thẻ tín dụng nhưng ở mặt sau của thẻ, thay vì cho dải từ, lại là một con chíp máy tính điện tử có một bộ nhớ nhỏ để lưu trữ tiền số hóa. Tiền ấy chỉ được “chi trả” khi người sử dụng và thông điệp được xác thực là “đúng”.

    * Giao dịch ngân hàng số hóa (Digital banking): Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống:

    • Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng.
    • Thanh toán giữa các ngân hàng với các đại lý thanh toán.
    • Thanh toán trong nội bộ hệ thống ngân hàng.
    • Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác (thanh toán liên ngân hàng).

    2.2.3. Trao đổi dữ liệu điện tử.

    Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, gọi tắt là EDI) là việc trao đổi dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các doanh nghiệp giao nhận đã thoả thuận với nhau một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thỏa thuận từ trước khuôn dạng cấu trúc của các thông tin). Theo Uỷ ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa pháp lý sau đây: “Trao đổi dữ liệu điện tử” (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được thoả thuận để cấu truc thông tin. EDI được sử dụng từ trước khi có Internet, trước tiên người ta dùng “mạng gia tăng giá trị” (Value added network: VAN) để liên kết các đối tác EDI với nhau. Cốt lõi của VAN là một hệ thống thư tín điện tử cho phép các máy tính điện tử liên lạc được với nhau và hoạt động như một phương tiện lưu trữ và tìm gọi: khi kết nối vào VAN, doanh nghiệp sẽ có thể liên lạc với rất nhiều máy tính điện tử nằm ở mọi nơi trên thế giới. Ngày nay VAN được xây dựng chủ yếu là trên nền Internet.

    2.2.4. Bán lẻ hàng hóa vô hình.

    Bán lẻ hàng hóa trên mạng Internet là việc tiến hành bán tất cả các sản phẩm mà một công ty có thể có thông qua mạng Internet. Nhưng đối với doanh nghiệp giao nhận, “hàng hóa” ở đây là một trang Web gồm: hệ thống quảng cáo dịch vụ, hệ thống tư vấn và hỗ trợ khách hàng trực tuyến… giúp các doanh nghiệp có nhu cầu thuê dịch vụ giao nhận được tư vấn, kiểm chứng và củng cố lòng tin về các dịch vụ của doanh nghiệp giao nhận.

    III. NHỮNG VIỆC CÒN TỒN TẠI KHI ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA.

    Trong giao nhận hàng hóa để áp dụng hết các cơ hội mà thương mại điện tử đem lại thì khó có thể thực hiện được. Điều này cũng không có gì khó hiểu vì chúng ta mới chỉ bước vào công nghệ thông tin được hơn một thập kỷ, tham gia mạng Internet được vài năm nên nhận thức của chúng ta còn nhiều hạn chế. Do vậy, thương mại điện tử đã và đang đặt ra hàng loạt các vấn đề phải giải quyết.

    3.1. Hạ tầng về cơ sở công nghệ

    Thương mại điện tử không phải là một sáng kiến ngẫu hứng mà là hệ qủa tất yếu của sự phát triển kỹ thuật số hóa của công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật máy tính. Vì thế chỉ có thể thực sự tiến hành thương mại điện tử có hiệu quả khi các doanh nghiệp kinh doanh giao nhận đã có một mạng lưới máy tính được nối mạng hoàn thiện.

    Hạ tầng cơ sở công nghệ không chỉ có nghĩa là tính hiện hữu (availability); mà còn hàm nghĩa có tính kinh tế sử dụng (affordability), nghĩa là chi phí trang bị các phương tiện công nghệ thông tin (điện thoại, máy tính, modem v.v.) và chi phí dịch vụ truyền thông (phí điện thoại, phí nối mạng và truy cập mạng) phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận được. Điều này các doanh nghiệp giao nhận cần có sự hỗ trợ của Nhà nước.

    3.2. Hạ tầng cơ sở về nhân lực.

    Thương mại trong khái niệm “thương mại điện tử” động chạm tới mọi con người, từ người tiêu thụ tới người sản xuất phân phối, tới các cơ quan Chính phủ, tới các nhà công nghệ và phát triển. Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa tất yếu làm nảy sinh yêu cầu mọi nhân viên trong doanh nghiệp giao nhận phải quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng. Ngoài ra, các nhân viên này phải thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới phát triển để phục vụ cho thương mại điện tử và các thông tin về kinh doanh giao nhận của các doanh nghiệp khác để từ đó rút ra những kinh nghiệm cho mình.

    Khi sử dụng Internet/Web, thì một yêu cầu tự nhiên nữa của kinh doanh trực tuyến là tất cả những nhân viên giao nhận tham gia đều phải giỏi Anh ngữ, ngôn ngữ chủ yếu được sử dụng trong thương mại nói chung, và thương mại điện tử qua mạng Internet nói riêng, vẫn là tiếng Anh.

    Đòi hỏi này của thương mại điện tử sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo cuả các quốc gia muốn tham gia đầy đủ vào hệ thống giao dịch thương mại điện tử toàn cầu nói chung và hoạt động kinh doanh giao nhận nói riêng trong tương lai.

    3.3. Hạ tầng cơ sở về kinh tế và pháp lý.

    Môi trường kinh tế, pháp lý của mỗi doanh nghiệp giao nhận phải hòa nhập được với môi trường kinh tế, pháp lý quốc gia và quốc tế bởi vì, ngay trong bản thân của nền kinh tế tri thức và thương mại điện tử mang tính toàn cầu hóa rất cao. Một số vấn đề sẽ bị thay đổi có tính đảo lộn so với truyền thống kinh doanh trước đây, thí dụ, đánh thuế trong thương mại điện tử áp dụng trong giao nhận hàng hóa như thế nào? Đánh thuế các dung liệu (hàng hóa phi vật thể: Âm nhạc, phần mềm, …)? Những hàng hóa, dịch vụ truyền qua mạng mang tính không biên giới và không qua hải quan như vậy thì ta phải xây dựng tính pháp lý trong thương mại điện tử như thế nào? Tuy nhiên về mặt pháp lý, cần phải giải quyết được một số vấn đề:

    • Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch thương mại điện tử.
    • Bảo vệ pháp lý đối với các hoạt động thương mại điện tử.
    • Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử, chữ ký số hóa.
    • Xây dựng các thiết chế pháp lý, các cơ quan pháp lý thích hợp cho việc xác thực/chứng nhận hay chứng thực (Authentication/Certification) chữ ký điện tử và chữ ký số hóa.

    Vì những lý do tương tự như trên, giao nhận hàng hóa trong thương mại điện tử đang được các nước xem xét một cách chiến lược và thận trọng.

    3.4. An toàn và bảo mật

    Giao dịch thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn, nhất là khi hoạt động trên Internet/Web:

    • Bản thân mạng viễn thông phải đảm bảo an toàn và tin cậy;
    • Phải có các công cụ hữu hiệu để bảo vệ các hệ thống thông tin kết nối tới các mạng viễn thông đó;
    • Phải có những biện pháp hữu hiệu để xác nhận và bảo đảm tính bảo mật của dữ liệu điện tử tránh được những truy nhập trái phép.

    Trong lĩnh vực giao nhận, người giao hàng thì lo người nhận hàng không thanh toán cho các hợp đồng đã được ký kết theo kiểu điện tử qua Web, người nhận hàng thì lo các chi tiết của thẻ tín dụng của mình bị lộ, kẻ xấu sẽ lợi dụng mà rút tiền.

    Kỹ thuật mã hóa (cryptography) hiện đại (trong đó có kỹ thuật “Mã hóa công khai/bí mật”), với khóa dài tối thiểu tới 1024, 2048 bit, cùng với các công nghệ SSL (Secure Sockets Layer), SET (Secure Electronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này, trong đó có vấn đề “chữ ký điện tử” (electronic signature), “chữ kỹ số hóa” (digital signature) (là chữ ký biểu diễn bằng các bit điện tử, và được xác thực thông qua giải mã).

    * Mã khoá công khai/bí mật

    Ta biết rằng, mật mã thường dùng trước đây là hệ mã đối xứng, tức là dùng một cặp mã khóa giống nhau cho cả hai bên để mã hóa và giải mã, hệ mã này rất phức tạp trong quá trình phân phát khóa, do vậy không thể triển khai trên mạng được. Từ năm 1976 người ta đã khắc phục những thiếu sót của hệ mã cũ, kỹ thuật mã công khai/bí mật được đưa vào sử dụng. Với mật mã khóa công khai/bí mật, mỗi bên có hai khóa: một khóa công khai và một khoá bí mật, một văn bản bất kỳ được mã bằng khóa công khai và giải mã bằng khóa bí mật. Khoá bí mật chỉ người nhận mới có và không thể tính toán suy được khoá mật từ khoá công khai. Nếu bên giao hàng muốn gửi thông báo bí mật cho bên nhận hàng, bên giao hàng lấy khóa công khai của bên nhận hàng rồi mã hóa thông báo đó. Chỉ bên nhận hàng có mã khóa bí mật của mình mới giải mã được thông báo đó và nhận được văn bản gốc.

    Tuy nhiên, bản thân các mã bí mật cũng có thể bị khám phá bởi các kỹ thuật giải mã tinh vi, nhất là kỹ thuật của bên có đẳng cấp công nghệ cao hơn hẳn. Vì vậy, nếu không có các luật và các phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin, thì một doanh nghiệp giao nhận rất có thể sẽ bị cách ly khỏi hoạt động kinh doanh giao nhận trong thương mại điện tử quốc tế.

    3.5. Hệ thống thanh toán tài chính tự động

    Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện khi đã tồn tại một hệ thống thanh toán tài chính (financial payment) phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động. Như vậy cần phải xây dựng một hệ thống mạng thanh toán liên ngân hàng. Để đảm bảo an ninh, mạng liên ngân hàng là mạng riêng, không kết nối với Internet và không xây dựng trên chuẩn TCP/CP (giao thức chuẩn quốc tế). Với việc thiết lập một mạng nghiệp vụ tài chính ngân hàng toàn cầu đã cung cấp các dịch vụ ngân hàng trong đó thông tin trao đổi đã được chuẩn hóa như dịch vụ mở tín dụng thư, dịch vụ chuyển tiền. Ngoài ra, hệ thống thương mại điện tử cung cấp dịch vụ thanh toán cho Internet user (người sử dụng Internet) từ Internet thanh toán vào mạng riêng của ngân hàng. Hệ thống thương mại điện tử sẽ đóng vai trò như một cổng (Gateway) giữa Internet và mạng ngân hàng. Khi chưa có hệ thống này thì doanh nghiệp giao nhận chỉ ứng dụng được phần trao đổi thông tin, thanh toán vẫn phải kết thúc bằng các phương tiện thanh toán truyền thống, khi ấy hiệu quả của kinh doanh giao nhận trong thương mại điện tử bị giảm thấp và có thể không đủ để bù lại các chi phí trang bị công nghệ đã bỏ ra. Để hoạt động kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp giao nhận phải có sự hội nhập và thiết lập một hệ thống thanh toán tài chính hoàn thiện trên nền tảng của thương mại điện tử.

    3.6. Bảo vệ sở hữu trí tuệ và người tiêu dùng

    Giá trị sản phẩm ngày càng chứa trong nó hàm lượng chất xám ngày càng cao, và giá trị sản phẩm được quyết định bởi giá trị tri thức kết tinh trong đó. Chất xám (tài sản cơ bản của từng đất nước, từng tổ chức, và từng con người) đã và đang chuyển thành “tài sản chất xám”. Thông tin trở thành tài sản, bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ có nghĩa là bảo vệ thông tin.

    Ngày nay, bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền chính là bảo vệ các giá trị thông tin trên Internet/Web. Các thông tin trên mạng như: quảng cáo, nhãn hiệu thương mại, tên sản phẩm, tên công ty, tên miền, sơ sở dữ liệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng … đang đặt trước tình hình cần phải có một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, qui định cụ thể.

    Trong thương mại điện tử, thông tin về hàng hóa đều là thông tin số hóa, khách hàng không được tiếp xúc trực tiếp với hàng hóa, không được nhìn, sờ mó, nếm thử … Còn thông tin về các dịch vụ thì khách hàng không thể kiểm tra hay kiểm định chất lượng dịch vụ dẫn đến không có khả năng đánh giá chính xác chất lượng của sản phẩm và dịch vụ. Hoặc với các cơ sở dữ liệu, tính chính xác của nguồn thông tin cung cấp, của bản thân những thông tin đó có trung thực và có giá trị hay không là vô cùng khó xác định. Vì vậy cần thiết phải có một tổ chức, hay một trung gian đảm bảo về chất lượng hoạt động có hiệu quả. Nhà nước có thể xây dựng một khung luật pháp về chương trình hành động để có thể bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như uy tín của doanh nghiệp.

    CHƯƠNG III.

    KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM.

    I. PHƯƠNG HƯỚNG ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM.

    Nghiên cứu một mô hình thương mại điện tử tại Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu rất kỹ môi trường hiện tại, chiều hướng thay đổi của môi trường, điều kiện cần và đủ cho thương mại điện tử trong nước và điểm mạnh, điểm yếu của các doanh nghiệp. Cho đến nay, thương mại điện tử ở nước ta còn mới, thực tiễn chưa có nhiều. Vì vậy, bên cạnh tìm hiểu kỹ thực trạng phát triển thương mại điện tử trong nước, chúng ta phải kết hợp xem xét thực tiễn thương mại điện tử ở các nước đi trước, những nước phát triển nhất đồng thời có những điều kiện mô hình tương tự như chúng ta, để có thể đưa ra được một giải pháp phù hợp sát thực tiễn và khả thi, cụ thể:

    • Tích cực chủ động song tiến hành từng bước vừa làm vừa rút kinh nghiệm từ phạm vi hẹp rồi mở rộng dần.
    • Triển khai đan xen các khâu chuẩn bị, ứng dụng, từng bước hoàn thiện các hạ tầng cơ sở cho thương mại điện tử, đồng thời tiến hành các hoạt động thử nghiệm ứng dụng, đẩy mạnh các hoạt động nâng cao nhận thức, kỹ năng cho các doanh nghiệp và dân chúng về thương mại điện tử, tăng cường đào tạo phát triển nguồn nhân lực.
    • Tích cực tham gia hợp tác quốc tế để tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, nguồn kinh phí.
    • Nhà nước đề ra mục tiêu phát triển, tạo khuôn khổ pháp lý, xây dựng hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin; doanh nghiệp chủ động tham gia vào thương mại điện tử.

     

    Trở lại với thực tiễn: Hiện nay các ứng dụng Internet của ta chủ yếu ở các hoạt động: mua bán hàng hoá, trao đổi thông tin, quảng cáo, triển lãm trên mạng … đang nhắm tới các đối tượng thuê bao Internet. Trong khi số lượng thuê bao Internet ở nước ta hiện nay lại rất thấp. Điều này khiến cho các siêu thị điện tử ở Việt Nam thất vọng vì vắng khách, do dung lượng thị trường còn quá nhỏ bé. Năm 1998 công ty trách nhiệm hữu hạn Duy Việt đã thử nghiệm bán hàng qua mạng nhưng, đến nay đã ngừng hoạt động. Vietnam Cybermall thì cũng gặp khó khăn với quy mô lớn nhưng khách thì chỉ có khoảng 200 người một tháng. FPT huỷ bỏ kế hoạch khai trương siêu thị điện tử lớn nhất với khoảng 1000 mặt hàng… Thực tế có không ít các doanh nghiệp muốn tham gia vào kinh doanh điện tử, thực hiện bán hàng qua mạng, nhưng một phần ngưng lại, một phần chuyển hướng, còn lại hoạt động cầm chừng vì vắng khách.

    Tại sao “Chợ điện tử” “Siêu thị điện tử” lại chưa hợp trong điều kiện nước ta? Hiện số người sử dụng Internet chưa nhiều, giá cước truy cập cao, phương tiện thanh toán chưa phát triển. Ở nước ta đa phần người làm việc trên máy tính là nam giới, trong khi đó đa số công việc mua sắm là do phụ nữ đảm nhiệm … Như vậy mô hình thích hợp cho thương mại điện tử ở nước ta trong giai đoạn đầu là gì?

    Trước tiên, một điều dễ nhận thấy là với điều kiện hiện nay, một giải pháp áp dụng toàn diện là chưa thể vận dụng được khi điều kiện và phương tiện kỹ thuật của chúng ta chưa cho phép.

    Hiện vẫn chưa có tài liệu nào đề cập đến vấn đề sử dụng Internet trong ngoại thương của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy rằng ở nước ta đã có một số công ty xuất hiện trên Internet với mục đích kinh doanh, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm … Song đó chưa phải là một kế hoạch tập trung hướng thị trường nước ngoài. Đây mới chính là phương hướng mà khóa luận nhắm tới, bởi vì trước mắt số người nối kết Internet ở Việt Nam còn rất ít, hơn nữa bằng những phương pháp cũ doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải rất nhiều bế tắc trong tiếp cận thị trường nước ngoài.

    Ở nước ta, nếu trông chờ ở những người mua hàng trên Internet trong nước, thì con số này thật khó có thể sinh lời. Với kinh doanh quốc tế và thị trường nước ngoài khó tiếp cận bằng phương pháp thông thường thì lại dễ dàng hơn nếu tiếp cận bằng phương pháp kinh doanh điện tử. Trong điều kiện tiềm lực kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu, khó có điều kiện thiết lập hệ thống đại lý ở nước ngoài. Internet và những ưu thế vốn có của nó, có thể là rất phù hợp với các doanh nghiệp giao nhận nói riêng ở nước ta.

    II. NHỮNG KHÓ KHĂN, THUẬN LỢI KHI ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỂN TỬ

       TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA.

     

    2.1. Những khó khăn

    Ngoài những khó khăn mà thương mại điện tử Việt Nam nói chung và áp dụng trong giao nhận hàng hóa nói riêng đã gặp phải, trong những năm tới để đề ra những kiến nghị vừa khắc phục được những khó khăn hiện tại lại vừa tránh được những rào cản tương lai. Phần này khoá luận sẽ phân tích những khía cạnh khó khăn khi áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa có thể phải có biện pháp khắc phục để vượt qua.

    2.1.1/ Thiếu nguồn nhân lực:

    Rất có thể, đây sẽ là một trở ngại lớn cho việc phát triển thương mại điện tử của chúng ta trong giai đoạn tới. Cho đến nay,  nước ta chưa hề có loại hình đào tạo thương mại điện tử. Trước xu thế phát triển rất nhanh của phương thức kinh doanh này có lẽ chúng ta sẽ cần tới một đội ngũ nhân viên lao động trong lĩnh vực này khá lớn. Song thực sự thì ở nước ta chưa hề thấy xuất hiện dấu hiệu nào về việc chuẩn bị nguồn lực ấy trong những năm tới đây. Hiện nay, ngay cả các sinh viên của các trường đại học được đào tạo chuyên ngành công nghệ thông tin cũng không hề được đào tạo ứng dụng, và được thực hành về mạng, thương mại điện tử. Hơn nữa để có một nhân viên thực sự vận hành và áp dụng được thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa, ngoài kiến thức về công nghệ thông tin thông thường, còn cần phải có một kỹ năng xuất nhập khẩu, nghiệp vụ giao nhận cần thiết.  Nếu chúng ta không có một biện pháp tiếp cận vấn đề này một cách kịp thời, rất có thể đây sẽ là một lỗ hổng lớn trong vài năm tới.

    2.1.2/ Thiếu ph­ương thức thanh toán thuận lợi: 

    Dịch vụ tài chính, hệ thống ngân hàng và thanh toán điện tử sẽ là một thách thức lớn trong việc phát triển thương mại điện tử áp dụng trong kinh doanh giao nhận ở nước ta cả hiện tại và trong vài năm tới đây. Trong tương lai gần, tình trạng này rất khó có thể khắc phục. Các ngân hàng tại Việt Nam vẫn chưa thể chuyển đổi từ mô hình giao dịch cũ sang mô hình ngân hàng hiện đại, phục vụ cho thương mại điện tử qua Internet. Trong khi đó vấn đề thanh toán điện tử đòi hỏi an toàn và bảo mật rất cao, vấn đề này còn nan giải với ngay cả những nước phát triển. Ngoài yếu tố từ phía ngân hàng và hình thành hệ thống thanh toán, ở nước ta số người sử dụng thẻ tín dụng cũng rất ít, trong khi ở nhiều nước thẻ tín dụng, séc điện tử, thẻ thông minh (smart card) đư­ợc sử dụng hết sức rộng rãi. Tâm lý người tiêu dùng còn e ngại, còn thiếu tin tưởng vào ngân hàng, nhất là dư âm lịch sử về hệ thống ngân hàng quan liêu, yếu kém trước  đây, chưa xoá đi được mặc cảm của họ về hoạt động dịch vụ ngân hàng. Hơn nữa tiêu tiền mặt đã trở thành thói quen, ngay cả hình thức thanh toán cheque cũng còn chưa mấy ai sử dụng.

    2.1.3/ Thiếu hiểu biết:

    Vấn đề này tuy đơn giản, song cũng còn khá nan giải cả hiện nay và trong thời gian tới. Nhiều doanh nghiệp nhầm lẫn và hiểu mập mờ về thương mại điện tử, nhiều người được hỏi, tỏ ra không hề quan tâm đến hình thức này. Tình trạng thiếu hiểu biết đầy đủ về thương mại điện tử của các nhân viên cũng có thể làm cho hoạt động giao nhận trong doanh nghiệp kém hiệu quả và lãng phí. Nhiều người chỉ nghĩ thương mại điện tử là để trao đổi tin tức với khách hàng, đối tác bằng thư điện tử. Ngoài ra, sự thiếu hiểu biết về công nghệ thông tin, mạng, thương mại điện tử còn khiến nhiều Công ty e ngại trư­ớc các thành tựu công nghệ mới. Thái độ luôn “nhìn nhau” tr­ước khi áp dụng cái mới d­ường nh­ư là một thuộc tính cố hữu của không ít ng­ười. Họ chờ xem những ngư­ời đi trư­ớc thành công hay thất bại, rồi mới có quyết định tiến hay thoái. Điều này cũng dễ hiểu bởi nhận thức của họ là hết sức mơ hồ, song lại ảnh h­ưởng không nhỏ đến tốc độ tăng tr­ưởng của th­ương mại điện tử cũng nh­ư Internet và các ứng dụng công nghệ thông tin khác.

    2.1.4/ Cơ sở pháp lý chuẩn bị hành lang cho thương mại điện tử chưa đựơc hình thành.                                                                                                                         

    Luật pháp là chỗ dựa cho các doanh nghiệp giao nhận hoạt động một cách hợp pháp. Các bên tham gia thương mại điện tử áp dụng trong giao nhận hàng hóa cần phải được bảo vệ về tính hợp pháp, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, tài liệu điện tử, hợp đồng điện tử. Hiện nay ở nước ta chưa hề thấy xuất hiện một dấu hiệu nào về việc nghiên cứu và triển khai vấn đề này. Vì vậy, các doanh nghiệp giao nhận sẽ phải nhờ vào luật pháp nước ngoài để giải quyết, nếu như doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh điện tử với đối tác nước ngoài. Nếu như vậy không phải trong trường hợp nào cũng có thể thực hiện được và những điều bất lợi chắc chắn sẽ xảy ra về phía doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời các doanh nghiệp cũng hết sức nghi ngại khi tham gia vào phương thức kinh doanh này.

    2.1.5/ Khía cạnh chính trị:                                                                               

    Nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa. Sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trong khi đó thì chủ nghĩa tư bản đồng thời tạm lắng dịu những mâu thuẫn vốn có của nó, tạm thời đạt được những thành tựu rất lớn về nhiều mặt. Do đó có thể nói rằng nước ta đang và sẽ là mục tiêu chống phá quyết liệt của các thế lực trong và ngoài nước. Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng là hết sức quyết liệt. Những công cụ mà bọn phản động thường sử dụng là các phương tiện truyền tin, và đặc biệt lại càng nguy hiểm hơn trước sự phát triển của Internet. Internet –  một phương thức trao đổi phổ biến tin tức không biên giới, rất khó kiểm soát. Vì vậy, mặc dù phải hết sức tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển Internet và thương mại điện tử thì đồng thời phải có những biện pháp che chắn cần thiết, nhằm quản lý việc sử dụng và kiểm soát nội dung thông tin trao đổi trên Internet.

    Rõ ràng để quản lý và kiểm soát thành công Internet-phương tiện của thương mại điện tử không phải là một vấn đề dễ dàng. Tuy nhiên vấn đề này thiên nhiều về mặt kỹ thuật, Nhà nước và các bên hữu quan nhất thiết phải tránh quan điểm kiểm soát, quản lý bằng các biện pháp nhằm hạn chế việc tăng cường sử dụng Internet kể cả về mặt kinh tế lẫn hành chính, chẳng hạn như ban hành cước cao để hạn chế truy cập.

    Trên đây là những khó khăn chủ yếu mà chúng ta đang và sẽ gặp phải. Tất nhiên đây hoàn toàn là những trở ngại không phải là cố hữu, bản chất. Do đó chúng ta hoàn toàn có thể khắc phục được. Việc mở đường cho Internet cũng là việc chúng ta đẩy mạnh hội nhập vào thế giới, tạo điều kiện để mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại, đặc biệt là hoạt động giao nhận ngoại thương.

    2.2. Những thuận lợi

    Một chiến lược phù hợp không thể không tính đến những diễn biến tương lai. Việc nhìn nhận và dự báo những thuận lợi khi áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa vì vậy là hết sức cần thiết để đề ra phương hướng ứng dụng thích hợp. Phần này khoá luận trình bày một số nhận định về những thuận lợi có thể có trong điều kiện ở nước ta vào thời gian tới.

    Trong tương lai cùng với tốc độ phát triển rất nhanh của công nghệ thông tin, tin học, khả năng cuộc sống sinh hoạt của con người chuyển sang một giai đoạn mới. Công nghệ thông tin sẽ còn phát triển với một tốc độ nhanh chóng không thể dự báo trước. Điều này rõ ràng là một thuận lợi lớn nếu như nước ta kịp thời, nhanh nhạy nắm bắt được xu hướng và áp dụng biện pháp cần thiết nâng đỡ phát triển hình thức thương mại này. Song đó cũng là một thách thức, bởi vì rất có thể chúng ta lại gia tăng khoảng cách với các quốc gia khác. Hiện tại chúng ta có thể chứng kiến vấn đề này từ một nước anh em Singapore. Ngay từ giai đoạn đầu, chính phủ nước này đã nhanh chóng nhìn nhận vấn đề và cho tới nay Singapore đã chuẩn bị tươm tất hành trang để bước vào kỷ nguyên nền kinh tế Internet và thương mại điện tử.

    Một trong những thuận lợi mà chúng ta có thể dự báo, cần phải nhận thấy, và nắm bắt đó là: “Xu hướng toàn cầu hoá”. Nếu chúng ta nhìn nhận vấn đề này một cách sâu sắc thì sẽ thấy được tầm quan trọng của phát triển thương mại điện tử. Internet ra đời, cùng với nó là thương mại điện tử áp dụng trong các loại hình kinh doanh là một trong những công cụ phục vụ đắc lực cho nước ta tham gia một cách mạnh mẽ hơn vào quá trình toàn cầu hoá và phân công lao động quốc tế một cách dễ dàng hơn. Nhờ thương mại điện tử, các nước nhỏ, các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp giao nhận với điều kiện như nước ta có thể tham gia vào thương mại quốc tế, giao nhận hàng hóa quốc tế không còn khó khăn như trước đây.

    Sự giúp đỡ và cộng tác từ khu vực, từ các tổ chức quốc tế cũng có thể là một thuận lợi trong tương lai mà chúng ta có thể khai thác. Nếu trong khu vực chúng ta vốn được coi là một khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, thì trong giai đoạn bước vào nền kinh tế toàn cầu Internet, ASEAN cũng đã khẳng định được mình. Nhiều nước trong khu vực đã đạt được những kết quả rất đáng khâm phục về thương mại điện tử, Singapore đã được cả thế giới biết đến. Vì vậy, chúng ta có thể học tập, dựa vào họ và kêu gọi sự giúp đỡ phát triển thương mại điện tử từ các nước trong khu vực. Các chương trình về thương mại điện tử áp dụng trong kinh doanh giao nhận mà khu vực đã, đang và sẽ tiến hành, chúng ta có thể tham gia một cách tích cực và cùng với các nước đề ra các phương hướng phát triển cho cả khối. Sự hợp tác mạnh mẽ sẽ giúp chúng ta có thể tiết kiệm được cả nhân lực và đầu tư cho thương mại điện tử. Kinh nghiệm này có thể học tập từ các nước EU, toàn khối này đã có những chương trình phát triển thương mại điện tử chung và áp dụng trong kinh doanh giao nhận một cách có hiệu quả.

    Xét về nguồn lực trong nước: Tính cần cù và thông minh của dân tộc Việt Nam bộc lộ rất rõ trong lĩnh vực toán và tin học. Việc phát triển các phần mềm tin học, công nghệ mạng và thương mại điện tử chắc chắn sẽ là sở trường của chúng ta. Khuynh hướng này chắc chắn sẽ bộc lộ rõ hơn trong vài năm tới, khi chúng ta hoà nhập với thế giới mạnh hơn trong lĩnh vực này. Có một cơ sở đội ngũ tin học vững chắc, công nghệ thông tin mạnh sẽ là một lợi thế lớn cho phát triển thương mại điện tử ở nước ta.

    Trước xu thế ứng dụng mạnh mẽ của thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa của các nước trong khu vực và trên thế giới, Nhà nước ta chắc chắn sẽ ngày càng cởi mở hơn, hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho khu vực Internet và thương mại điện tử áp dụng loại hình kinh doanh này. Các doanh nghiệp giao nhận có thể nhận được những khuyến khích ưu đãi từ Nhà nước về việc triển khai chiến lược kinh doanh điện tử. Chi phí truy cập Internet, cước điện thoại chắc chẵn sẽ còn tiếp tục giảm xuống, điều này sẽ tạo ra lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp. Số người truy cập Internet tăng lên sẽ tạo ra dung lượng thị trường tiêu thụ ảo lớn hơn, các doanh nghiệp có khả năng tăng lượng hàng hoá tiêu thụ, tăng các dịch vụ quảng cáo, tiếp thị qua Internet không chỉ ở nước ngoài mà ngay tại trong nước.

    Khung pháp lý về thương mại điện tử rồi sẽ được hình thành, các giao dịch điện tử, chứng từ điện tử, chữ ký điện tử sẽ được thừa nhận giá trị pháp lý. Môi trường hoạt động cho thương mại điện tử sẽ được pháp luật bảo vệ.  Điều này chắc chắn sẽ tạo nhiều thuận lợi và làm cho thương mại điện tử ngày càng tăng lên ở nước ta.

    Trang bị kỹ thuật ngày càng được hoàn thiện hơn. Ngành công nghệ thông tin nước ta rõ ràng trong những năm gần đây đã đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ. Xu hướng này chắc chắn sẽ còn tiếp tục trong những năm tới, trong xu thế hợp tác, hội nhập, đầu tư quốc tế như hiện nay. Hành trang kỹ thuật hoàn thiện hơn trong tương lai sẽ tạo dễ dàng hơn cho thương mại điện tử áp dụng các nghiệp vụ kinh doanh giao nhận.

    III. KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM.

    3.1. Giải pháp của doanh nghiệp kinh doanh giao nhận

    3.1.1. Quảng cáo, tiếp thị dịch vụ ra thị trường thế giới

    Thiết lập các đại lý hay thuê các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài để quảng cáo, tiếp thị sản phẩm thường tốn chi phí rất lớn, điều mà chẳng mấy doanh nghiệp Việt Nam nào có thể thực hiện được. Như vậy quảng cáo qua Internet có những ưu điểm gì so với quảng cáo thông thường. Lợi ích và hiệu quả của nó phải rõ ràng trước khi đề xuất áp dụng cho doanh nghiệp.

    Nếu như xét về số người sử dụng, thì toàn thế giới hiện nay có lẽ số lượng máy thu hình là lớn nhất. Do số người sử dụng lớn, khiến cho truyền hình trở thành một trong những công cụ điện tử phổ biến nhất ngày nay. Vì vậy, nhiều người nghĩ rằng truyền hình là phương tiện quảng cáo hữu hiệu nhất. Song hạn chế của nó là gì? Truyền hình chỉ là công cụ quảng cáo viễn thông một chiều. Qua truyền hình người mua không thể tìm kiếm được các chào hàng, không đàm phán đựơc với người bán về các điều khoản mua bán cụ thể. Hơn nữa, ngày nay qua máy tính và mạng Internet người ta vẫn có thể xem được truyền hình.

    Khác với truyền hình, khi quảng cáo trên Internet doanh nghiệp có thể tạo ra được những quảng cáo hai chiều, không có sự tách rời giữa chủ thể quảng cáo và đối tượng mà quảng cáo nhắm tới. Quảng cáo trên Internet là quảng cáo sống, nó không tĩnh như các phương tiện quảng cáo khác. Vừa quảng cáo song lại vừa là thật khi khách hàng có yêu cầu gì về sản phẩm lập tức sẽ được đáp lại ngay.

    Doanh nghiệp kinh doanh Giao nhận có thể khai thác việc quảng cáo qua Internet trên các phương diện sau:

    • Quảng cáo trên Internet thì cũng như việc đồng thời cung cấp cho khách hàng một chào hàng dịch vụ và nếu muốn khách hàng có thể đặt hàng sử dụng dịch vụ ngay.
    • Quảng cáo có khả năng nhắm vào từng đối tượng bạn hàng một cách thích hợp nhất. Để khai thác được khía cạnh này bộ phận lưu trữ dữ liệu của doanh nghiệp phải được tổ chức một cách hợp lý. Chú ý đến khả năng lưu trữ, xử lý dữ liệu tự động của máy tính.
    • Khả năng quảng cáo với nội dung thông tin chi tiết hơn tất cả các phương tiện quảng cáo khác, vì vậy doanh nghiệp có thể kết hợp giữa quảng cáo đơn thuần và cung cấp thông tin cho khách hàng về môi trường đầu tư trong nước cũng như cung cấp một số trang Web giới thiệu về Việt nam…
    • Quảng cáo trên Internet là quảng cáo trên khắp hành tinh với thời lượng liên tục 24/24h vào tất cả các ngày.
    • Có thể tự đánh giá quảng cáo của mình bằng cách xem số lượt truy cập của khách hàng vào Website của doanh nghiệp, từ đó điều chỉnh cho thích hợp hơn. Đặc điểm của quảng cáo trên Internet là nếu như có bao nhiêu lượt truy cập vào Website thì máy tính có thể xác định được. Qua đó doanh nghiệp có thể tự hoàn thiện các chương trình quảng cáo của mình.

    3.1.2. Nghiên cứu tiếp cận thị trường thế giới

    Nghiên cứu thị trường thế giới truyền thống có thể thực hiện bằng hai phương pháp: Nghiên cứu tại bàn và Nghiên cứu tại hiện trường (Bài giảng môn Marketing Quốc Tế – Đại Học Ngoại Thương). Ngày nay với thương mại điện tử các doanh nghiệp xuất nhập khẩu  hay doanh nghiệp kinh doanh giao nhận nói riêng được mở ra một phương pháp mới: hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn. Phương pháp này là: Nghiên cứu thị trường Quốc tế qua Internet. Có thể nói phương pháp này là sự tổng hợp của cả hai phương pháp Nghiên cứu tại bàn và Nghiên cứu tại hiện trường.

    Đối với phương pháp nghiên cứu tại bàn:

    Đây là phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu. Như vậy, nếu sử dụng Internet sẽ thuận tiện hơn nhiều phương pháp thu thập tài liệu qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình… Internet là một thư viện ảo cập nhật nhất với vô vàn các loại thông tin, do đó việc tìm kiếm tin tức thị trường thế giới trên Internet là có thể thực hiện nhanh chóng bất cứ lúc nào.

    Internet có thể được dùng như một phương tiện nghiên cứu tại hiện trường.

    Trên Internet doanh nghiệp có thể điều tra trực tiếp khách hàng ở khắp nơi trên thế giới. Việc điều tra khách hàng có thể thực hiện thông qua e-mail hoặc có thể thông qua các câu hỏi đã được soạn sẵn trên cơ sở kinh doanh ảo của doanh nghiệp. Những câu hỏi mà khi khách hàng trả lời thì câu trả lời đó sẽ được tự động chuyển về doanh nghiệp ngay lập tức, đồng thời nó lại có thể tự động lưu giữ như một cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp. Đây là tài sản hết sức quý báu cho doanh nghiệp để cung cấp sản phẩm sát với đòi hỏi của khách hàng, đối tác.

    Những lợi ích như vậy là rất rõ ràng vì vậy người giao nhận cần chú trọng khai thác khía cạnh này.

     

    3.1.3.  Ký kết các hợp đồng thương mại quốc tế.

    Thực hiện ký kết các hợp đồng điện tử là vấn đề hoàn toàn có thể thực hiện được và sẽ tạo ra một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận trong giao thương quốc tế (điều này chưa thể áp dụng trong các giao dịch hợp đồng trong nước vì ở nước ta chưa có luật điều chỉnh vấn đề này). Việc thực hiện các giao dịch đàm phán ký kết qua mạng Internet có thể đem lại thuận lợi và hiệu quả rất lớn cho doanh nghiệp, giảm chi phí về chuyển giao giấy tờ, đi lại, đàm phán. Đặc biệt là các hợp đồng đại lý với các hãng giao nhận lớn trên thế giới.

    Khi ký kết các hợp đồng cung cấp dịch vụ quốc tế trong thương mại điện tử, các doanh nghiệp có thể tham chiếu tới luật điều chỉnh ở những nước khác hay luật quốc tế có quy phạm điều chỉnh lĩnh vực này.

    Một sự kiện mà các doanh nghiệp nước ta cần phải hết sức quan tâm và  nên xem xét nghiên cứu kỹ đó là các điều khoản trong E-terms sắp được đưa ra bởi sự hợp tác giữc ICC và Nhóm làm việc về thực tiễn về thương mại điện tử (Electronic Trade Practices Working Group). Những quy định trong E-Terms sẽ tạo rất nhiều thuận lợi cho việc soạn thảo các hợp đồng trực tuyến. Trong  E-Terms có rất nhiều điều khoản mẫu có thể được quy định trong các hợp đồng điện tử. Các doanh nghiệp cần thông tin thêm về E-Terms liên hệ theo email [email protected].

    Trong Luật mẫu của Liên Hợp Quốc về thương mại điện tử Điều 16 đề cập đến hợp đồng vận tải hàng hoá điện tử. Điều 17 trình bày về các chứng từ vận tải trong đó nêu rõ rằng: ở nơi nào mà luật pháp bắt buộc các hợp đồng vận tải hàng hoá phải bằng văn bản hay phải bằng các tài liệu giấy tờ thì sự đòi hỏi này sẽ được đáp ứng nếu như các văn bản tài liệu dưới dạng các thông điệp dữ liệu. Thông điệp dữ liệu “Data Message” được xác định: Đây là thông tin được hình thành, gửi, nhận hoặc lưu giữ bằng các phương tiện điện tử, quang học, và các phương tiện có ý nghĩa tương tự bao gồm, nhưng không giới hạn ở: Trao đổi dữ liệu (EDI), thư điện tử (E-mail), điện tín (Telegram), điện báo (Telex), hoặc sao chép từ xa (Telecopy). Đây cũng là nguồn luật quốc tế mà người giao nhận có thể tham chiếu.

    Bên cạnh việc thừa nhận hợp đồng điện tử, ở những nước có luật chữ ký điện tử, luật thương mại điện tử và Luật mẫu của Liên Hợp Quốc còn thừa nhận cả những bằng chứng là các tài liệu, phụ kiện của hợp đồng dưới dạng điện tử. Thông thường để đi đến một hợp đồng thương mại quốc tế hoàn chỉnh, các bên giao dịch phải trải qua rất nhiều các trao đổi chứng từ thương mại khác nhau. Đồng thời, trong quá trình thực hiện hợp đồng điện tử, thì cũng có thể phát sinh rất nhiều các tài liệu điện tử chẳng hạn như: Thông báo gặp bất khả kháng, đề nghị kéo dài thời hạn hiệu lực hợp đồng, gia hạn hợp đồng, thông báo giao hàng, thông báo ngày tàu rời cảng, thông báo dỡ hàng, hoá đơn cước phí …. Tất cả những chứng từ này đều được thừa nhận giá trị pháp lý và có thể xem như là một bằng chứng để chứng minh thực hiện hợp đồng tại Toà án. Vì vậy các doanh nghiệp Ngoại Thương có thể hoàn toàn yên tâm ký kết và thực hiện hoàn chỉnh một hợp đồng điện tử trong thương mại quốc tế.

     

    3.1.4. Trao đổi tài liệu, chứng từ với bạn hàng nước ngoài

    Đây là khía cạnh mà doanh nghiệp giao nhận cần phải khai thác triệt để nhằm tiết kiệm chi phí giao dịch. Các trao đổi trong thương mại quốc tế, khi các chủ thể ở những nước có khoảng cách xa nhau, thường rất tốn kém chi phí và thời gian nếu sử dụng các phương pháp trao đổi thông thường như bưu điện, điện thoại, fax… hơn nữa lại không truyền tải được một lượng thông tin, tài liệu lớn. Với thương mại điện tử, các doanh nghiệp giao nhận có thể lợi dụng Internet như một phương thức hiệu quả nhất để tiến hành các trao đổi này, nhờ vào các chức năng xử lý và lưu trữ của máy tính, khả năng luân chuyển thông tin tốc độ cao và chi phí rẻ.

    Song một vấn đề gây e ngại cho các doanh nghiệp khi trao đổi các tài liệu quan trọng trên Internet, đó là hiệu lực pháp lý của nó. Ở nước ta chưa có quy chế nào chính thức thừa nhận vấn đề này. Tuy nhiên, các doanh nghiệp giao nhận có thể dựa vào nguồn luật quốc tế điều chỉnh lĩnh vực này. Hiện nay, hầu hết các luật về thương mại điện tử đều thừa nhận giá trị pháp lý của các tài liệu điện tử. Cả người gửi và người nhận các tài liệu này không thể từ chối hiệu lực pháp lý của nó và cũng không thể từ chối rằng mình đã gửi hay đã nhận tài liệu đó.

     

    3.1.5. Tiếp cận chính sách, quy định xuất khâủ, nhập khâủ của nước ngoài.

    Bằng việc truy cập tới các địa chỉ thuộc các trung tâm thương mại ở nước ngoài, người giao nhận có thể thu thập được các quy định của thị trường đó về xuất nhập khâủ như: chính sách về thuế xuất nhập khâủ, chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu v.v… Đây là những vấn đề rất quan trọng đối với một doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường  và người giao nhận sẽ cung cấp những hiểu biết của mình về thị trường quốc tế cho khách hàng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp .

     

    3.1.6. Sử dụng thư điện tử trong các hoạt động giao nhận ngoại thương

    Thư điện tử là ứng dụng rộng rãi nhất của Internet và thương mại điện tử. Trong giao nhận ngoại thương khi khoảng cách địa lý giữa người giao nhận và khách hàng rất lớn thì thư điện tử càng thể hiện ưu thế của mình do chi phí hạ và tính kịp thời. Sử dụng thư điện tử có thể thay thế được hoàn toàn những giao dịch thông thường. Ngoài ra dưới đây xin đề xuất một số ứng dụng khác của thư điện tử trong các ứng dụng của các nghiệp vụ Ngoại thương nói chung và giao nhận nói riêng:

    Dùng thư điện tử để đàm phán với bạn hàng nước ngoài

    Đàm phán thông thường được thực hiện dưới 3 hình thức, đàm phán bằng gặp mặt trực tiếp, đàm phán bằng điện thoại và đàm phán bằng thư. Trong đàm phán bằng gặp mặt trực tiếp thì rất tốn kém về chi phí đi lại, chi phí chuẩn bị, đồng thời chậm về mặt thời gian. Đàm phán bằng điện thoại giữa những nước khác nhau cũng hêt sức tốn kém, với những vấn đề lớn phức tạp thì không thể sử dụng điện thoại để đàm phán, hình thức này phổ biến với những vấn đề nhỏ đơn giản. Phương pháp đàm phán bằng thư đảm bảo chi tiết, có thời gian để suy nghĩ kỹ lưỡng song lại hết sức chậm chạp mất thời gian chờ đợi hơn nữa chi phí cũng rất lớn.

    Sử dụng thư điện tử trong đàm phán quốc tế mang lại rất nhiều lợi ích cho người giao nhận. Những ưu điểm nổi bật của phương thức này là:

     Có thể chuẩn bị một cách kỹ lưỡng trước khi đàm phán. Ưu điểm này cũng giống như đàm phán bằng thư thông thường.

    ‚ Đảm bảo nhanh chóng. Thư điện tử được truyền với tốc độ điện thoại.  Ưu điểm này cũng giống như đàm phán bằng điện thoại.

    ƒ Tiết kiệm hơn tất cả 3 hình thức trên.

    „ Có thể xem xét kỹ lưỡng thư điện tử của của đối tác.

    … Gửi thư điện tử có thể gửi kèm cả âm thanh, hình ảnh một cách liên tục. Do vậy nó cũng có những ưu điểm của hình thức đàm phán bằng gặp mặt trực tiếp.

    Dùng để gửi chào hàng:

    Đặc điểm của thư điện tử là chỉ cần gửi một lần có thể đến được rất nhiều địa chỉ. Vì vậy có thể sử dụng Email để gửi chào hàng tới nhiều khách hàng cùng một lúc.

    Gửi các tài liệu thương mại khác:

    Với tính năng nhanh kịp thời, không có sự khác biệt giữa trong nước và quốc tế của thư điện tử mà nó có thể được sử dụng để gửi các thông báo về hàng hải, thời gian vận chuyển, ngày dự kiến hàng hoá tới, số lượng hàng giao… đảm bảo nhanh chóng, chính xác và chi tiết.

    3.2. Giải pháp của chính phủ:

    Qua nghiên cứu thương mại điện tử ở phần trên cho chúng ta thấy tầm quan trọng đặc biệt của thương mại điện tử, tình hình phát triển thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa. Để thương mại điện tử nói chung và áp dụng trong giao nhận hàng hóa nói riêng ở nước ta không bị tụt hậu, ngoài nhận thức của các doanh nghiệp, cá nhân thì Nhà nước đóng một vai trò quyết định thông qua sự đầu tư, khuyến khích, hỗ trợ, định hướng và chính sách. Những nỗ lực mà chúng ta đã thực hiện thực sự còn chưa đủ để có thể tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử.

    Trên cơ sở điều kiện thực tiễn ở nước ta kết hợp với một số kinh nghiệm phát triển thương mại điện tử của các nước, cộng với mong muốn của khoá luận là nước ta có thể bước vào nền kinh tế và thương mại số hoá trong thế kỷ tới một cách thành công, theo kịp sự phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới, lãnh đạo Đảng và Nhà nước cần có những hỗ trợ như:

    3.2.1. Tạo khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử ở nước ta

    Cho đến nay chúng ta chưa hề có một văn bản pháp lý nào về thương mại điện tử. Mặc dù trên thực tế, chúng ta đã có một số văn bản pháp lý về quản lý mạng Internet nhưng đó chỉ là những quy chế thiên về tính kiểm soát việc sử dụng Internet. Quyết định 136/ TTg ngày 05 tháng 3 năm 1997 của Thủ tướng chính phủ về việc thành lập Ban điều phối quốc gia về mạng Internet. Hai công văn của Thủ tướng chính phủ về thương mại điện tử, mới chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề thuộc cơ sở hạ tầng viễn thông, cơ sở vật chất kỹ thuật, hoàn toàn chưa phải là chỗ dựa pháp lý cho các chủ thể hoạt động thương mại điện tử. Hiện nay ở nước ta thương mại điện tử đang được hình thành và chắc chắn sẽ ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong tương lai. Cùng với sự hình thành của thương mại điện tử thì có rất nhiều các mối quan hệ cần phải được điều chỉnh.

    Có thể nói chừng nào chưa có hành lang pháp lý, chưa được thừa nhận tính hợp pháp thì chưa thể ra đời được thương mại điện tử. Rõ ràng điều này là hoàn toàn chính xác. Ở nước ta “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật“, như vậy nếu như nước ta chưa có pháp luật cho thương mại điện tử thì chưa thể coi là thương mại điện tử đã được hình thành theo đúng nghĩa của nó.

    Chính vì vậy việc chuẩn bị hành lang pháp lý cho thương mại điện tử là hết sức cần thiết. Khung pháp lý là môi trường chính thức hoá, hợp pháp hoá hoạt động của các chủ thể. Môi trường ấy phải đơn giản, nhất quán, tối thiểu, và có thể tiên liệu được. Đây là một công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Vì vậy có ban hành một hành lang pháp luật thì thương mại điện tử mới có chỗ dựa để phát triển.

    Trên cơ sở thực tiễn Việt Nam và xem xét một số quy định về thương mại điện tử ở một số nước, khu vực và quốc tế khoá luận có những đề xuất về quan điểm và phương hướng cho việc hình thành khung pháp lý cho thương mại điện tử ở Việt Nam.

    Để có thể tạo một chỗ dựa trước mắt cho thương mại điện tử trước khi ban hành điều luật chính thức. Nhà nước nên ban hành quy chế tạm thời về việc công nhận giá trị pháp lý của các dữ liệu tài liệu điện tử. Điều  này sẽ tạo tâm lý tin tưởng cho các doanh nghiệp khi áp dụng thương mại điện tử hiện nay, đặc biệt trong các hoạt động giao dịch đối ngoại.

    Đảm bảo tính đồng bộ của luật pháp

    Khi đặt ra những quy chế về thương mại điện tử thì vấn đề là làm thế nào để đảm bảo tính đồng bộ của luật pháp. Luật pháp ở nước ta từ trước, vốn được thiết kế để điều chỉnh cho thương mại chưa tính đến thương mại điện tử. Vì vậy các luật hiện có của chúng ta đòi hỏi phải được đánh giá lại, đảm bảo rằng các quy chế về thương mại điện tử không bị phá vỡ bởi những quy định của pháp luật hiện hành. Hiện nay hầu hết các văn bản pháp luật của chúng ta đều có cách hiểu về  “Văn bản được ký””Thoả thuận bằng văn bản””Chứng từ gốc”…  không phù hợp với thời đại thương mại điện tử. Do đó cùng với việc ban hành khung pháp lý cho thương mại điện tử cần phải tính đến loại bỏ những quy định trên. “Ký””Văn bản””Gốc” cần giải thích rõ là như thế nào trong môi trường thương mại điện tử vì nếu không sẽ gây ra sự không ổn định trong các quy chế và hiệu lực của các tài liệu điện tử.

    Đảm bảo tính hợp với thông lệ quốc tế.

    Thương mại điện tử có tính toàn cầu rất cao bởi nó xuất hiện từ một phương tiện thông tin toàn cầu Internet. Tính quốc tế của nó, đòi hỏi các chế định pháp lý cũng cần hợp với thông lệ quốc tế điều chỉnh lĩnh vực này, không phân biệt đối xử giữa những người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau. Vì vậy khi nghiên cứu đưa ra các văn bản pháp luật về thương mại điện tử cần phải xem xét kỹ đó là các điều luật có liên quan, của các tổ chức quốc tế, khu vực và những nước phát triển khác. Hiện nay nguồn luật đặc biệt quan trọng mà chúng ta cần nghiên cứu rất kỹ đó là: Luật mẫu của Liên Hợp Quốc về thương mại điện tử. Luật này được xem là một định hướng quốc tế cho các quy chế về thương mại điện tử mà nước ta có thể tham khảo, áp dụng.

    Nên ban hành riêng một đạo luật cho thương mại điện tử ở nước ta.

    Hiện nay có một số quan điểm cho rằng thương mại điện tử nên được chỉ ở mức Nghị định. Tính phức tạp trong thương mại điện tử đòi hỏi phải có những quy định mới, những quy định phức tạp hơn. Đối với thương mại điện tử không chỉ liên quan đơn thuần đến khía cạnh thương mại mà còn khía cạnh kỹ thuật. Một khi đã thừa nhận các tài liệu điện tử, chứng từ điện tử, chữ ký điện tử, hợp đồng điện tử… thì có thể nói là về căn bản các quy định có hiệu lực, cách giải quyết pháp lý trước đây đã bị thay đổi. Hiệu lực của các chế định pháp lý còn phải được hỗ trợ, đảm bảo bằng những công nghệ khoa học, chẳng hạn như chữ  ký điện tử, an toàn tài liệu phải được đảm bảo bằng khoa học mật mã. Hiện nay ở hầu hết các nước đều để riêng luật cho thương mại điện tử, thậm chí nhiều nước còn có cả luật riêng về chữ ký điện tử. Vì vậy nên để riêng luật thương mại điện tử và luật thương mại. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước mắt nước ta có thể xem xét khả năng đưa các quy định về thương mại điện tử vào một Chương trong Luật thương mại.

     

    3.2.2. Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông quốc gia.

    • Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam cần nghiên cứu tiến hành nâng cấp hệ thống truyền thông quốc gia lên ngang tầm với các nước trung bình trong khu vực ASEAN.
    • Giảm thuế nhập khẩu đối với các loại linh kiện máy tính
    • Xây dựng chính sách ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp sản xuất linh kiện và lắp ráp thiết bị công nghệ thông tin.
    • Giảm cước sử dụng Internet xuống ngang bằng hoặc thấp hơn so với giá cước trung bình của các nước ASEAN.
    • Khuyến khích các hoạt động liên doanh liên kết với nước ngoài, đầu tư vào nước ta trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
    • Lập dự án nghiên cứu và sản xuất các loại sản phẩm mật mã (trong đó có mã khóa công khai (PKI) nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng cho hệ thống thương mại điện tử.

     

    3.2.3. Xúc tiến các chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức về thương mại điện tử.

    Một trong những trở ngại lớn nhất cho thương mại điện tử ở Việt Nam là vấn đề đào tạo và nâng cao nhận thức về thương mại điện tử. Nếu xét thực trạng hiện nay của chúng ta về vấn đề đào tạo nhân lực cho thương mại điện tử thì quả là một vấn đề rất đáng báo động.

    Hiện nay hầu hết các sinh viên ở nước ta, đội ngũ tri thức tiếp quản xã hội trong tương lai, ngay cả với những sinh viên được đào tạo chuyên ngành tin học cũng nhiều người còn chưa hiểu Internet là gì, thương mại điện tử là gì. Đây vẫn còn là một công cụ xa vời. Trong khi ở những nước tiên tiến, Internet được truy cập miễn phí thì ở nước ta ngay cả máy tính nhiều sinh viên cũng không có, thực hành ở trường thì eo hẹp, các máy tính ở trường học thì thậm chí cũng chẳng có hoà mạng Internet. Vấn đề này, ở nước ta cho đến nay vẫn phải chờ vào con mắt mủi lòng của người nước ngoài chẳng hạn như kế hoạch hỗ trợ Internet của hãng Intel giúp trường đại học kỹ thuật dân lập thành phố Hồ Chí Minh giúp sinh viên được truy cập Internet miễn phí.

    Nếu chúng ta cứ để tình trạng này diễn ra thì có lẽ còn rất lâu sau Việt Nam mới có thể hoà nhập vào thương mại điện tử toàn cầu.

    Thiết nghĩ đây là một vấn đề phải nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước một cách thiết thực và mạnh mẽ, để chúng ta có thể có được lớp người tới đây có đủ khả năng làm chủ công nghệ và tham gia tích cực vào thương mại điện tử. Theo quan điểm của khoá luận, phương hướng hỗ trợ của Nhà nước nên tập trung vào một số khía cạnh sau:

    Thứ nhất: Hỗ trợ các trường đại học thực hiện dự án: Các máy tính ở trường dành cho sinh viên thực hành được nối mạng Internet. Kỹ năng sử dụng Internet sẽ quyết định sự tiếp cận với thương mại điện tử. Các sinh viên khi thực tập tin học tại trường có thể được phép truy cập Internet theo thời lượng quy định.

    Thứ hai: Thực hiện kế hoạch: Hỗ trợ sinh viên truy cập Internet tại nhà: Nếu như sinh viên nào tự trang bị được máy tính và có mong muốn nối mạng Internet. Nhà nước khi đó sẽ cho các sinh viên này hưởng phí ưu đãi truy cập Internet.

    Thứ ba: Mở các lớp đào tạo ngắn hạn cho những người có nhu cầu, các doanh nghiệp, đặc biệt là các cán bộ đang làm việc trong các cơ quan hành chính, doanh nghiệp Nhà nước những kiến thức cơ bản về Internet và thương mại điện tử và kỹ năng làm việc trên mạng máy tính. Đồng thời khuyến khích tư nhân mở những lớp như vậy.

    Thứ tư: Giao cho Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, các viện nghiên cứu xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về thương mại điện tử và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin cho cán bộ tất cả các Bộ, ngành và doanh nghiệp.

    Thứ năm: Phổ biến rộng rãi về thương mại điện tử trên báo chí, truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Có cơ quan giải đáp thắc mắc về kỹ thuật và các pháp lý khi các doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia thương mại điện tử.

    Thứ sáu: Có kế hoạch đào tạo các doanh nghiệp sử dụng thương mại điện tử như một công cụ kinh doanh mới bên cạnh các công cụ kinh doanh truyền thống.

     

    3.2.4. Nhà nước nên đóng vai trò tích cực hơn trong việc xúc tiến hình thành một hệ thống thanh toán điện tử tại Việt Nam.

    Để có thể phát triển thương mại điện tử một cách toàn diện, đòi hỏi phải có một hệ thống thanh toán điện tử hoàn chỉnh. Cho đến nay, thanh toán điện tử ở Việt Nam mặc dù đã có sự quan tâm đầu tư của chính phủ, song khoản đầu tư này còn quá hạn chế để có thể tạo ra những chuyển biến đáng kể đối với một hệ thống thanh toán còn quá lạc hậu như ở nước ta.

    Để chuẩn bị một cơ sở vững chắc cho những ứng dụng rộng rãi của thương mại điện tử, Nhà nước nên đầu tư hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa theo các hướng sau đây:

    Thứ nhất: Hỗ trợ, đầu tư, và khuyến khích trong việc hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và nâng cao nhận thức. Đầu tư phát triển những ứng dụng về công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng. Hỗ trợ đào tạo các cán bộ ngân hàng nắm vững những kiến thức về mạng và công nghệ thông tin. Nâng cao nhận thức cho chính các ngân hàng, chính họ phải thấy được những lợi ích, tầm quan trọng trong việc khẩn trương chuẩn bị hình thức thanh toán này.

    Thứ hai: Hỗ trợ cho các ngân hàng trong việc đẩy mạnh hình thức thanh toán dùng thẻ ở Việt Nam. Tập trung phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng trong việc phổ biến những lợi ích của việc thanh toán thẻ để khuyến khích sử dụng rộng rãi trong nhân dân.

    Thứ 3: Tạo hành lang pháp lý, chỗ dựa cho hoạt động thanh toán điện tử để khuyến khích các ngân hàng áp dụng. Hoàn cảnh mới thì cần phải có những quy chế mới. Khi xem xét nghiên cứu hành lang pháp lý cho thanh toán điện tử cũng cần lưu ý thông lệ quốc tế trong lĩnh vực này.

    3.2.5. Vấn đề bảo mật thông tin và bảo đảm an ninh, an toàn trong thương mại điện tử.

    Tổ chức thực hiện tốt Pháp lệnh Cơ yếu đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 4/4/2001, nhanh chóng ban hành Nghị định của Chính phủ thi hành Pháp lệnh Cơ yếu về quản lý hoạt động nghiên cứu, sản xuất, sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin không thuộc bí mật Nhà nước nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện cho mật mã thương mại phát triển. Ban Cơ yếu Chính phủ chủ trì xây dựng chính sách mật mã quốc gia và hạ tầng mật mã khóa công khai (PKI) sử dụng trong thương mại điện tử; phối hợp với Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu về “tiền điện tử”. Có chính sách khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu, sản xuất các loại sản phẩm mật mã của Việt Nam đáp ứng cho yêu cầu bảo mật thông tin trong thương mại điện tử.

    3.2.6. Bảo vệ sở hữu trí tuệ và người tiêu dùng.

    Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường chủ trì phối hợp với các Bộ Ngành liên quan nghiên cứu việc chấp nhận và tham gia các Hiệp ước của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).

    Rà soát các văn bản pháp lý hiện hành về bảo vệ sở hữu trí tuệ và người tiêu dùng, sửa đổi cho phù hợp với ứng dụng trong thương mại điện tử.

    3.2.7. Các vấn đề tài chính và thuế trong thương mại điện tử

    Bộ Tài chính phối hợp với các cơ quan có liên quan tham khảo kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong khu vực và các dự án thử nghiệm, nghiên cứu xây dựng các chính sách tài chính và thuế trong thương mại điện tử.

    3.2.8. Thành lập một Website tập hợp tất cả các doanh nghiệp kinh doanh giao nhận tại Việt nam.

    Hiệp hội giao nhận kho vận Việt nam VIFFAS (Vietnam Freight Forwarders Association) nên đứng ra thành lập một Website có tính chất là một sợi dây liên kết các doanh nghiệp kinh doanh giao nhận của Việt Nam với các hiệp hội giao nhận khác hay khách hàng trên toàn thế giới.

    Website sẽ tập hợp tất cả các doanh nghiệp giao nhận và sẽ có một góc tra cứu các ngành nghề cũng như doanh nghiệp xuất khâủ, nhập khâủ của Việt Nam. Địa chỉ của Website này sẽ được phổ biến trên khắp các công cụ tìm kiếm toàn cầu, Yahoo, Excite, Altavista, Lycos… đồng thời tạo các liên kết với các Website nổi tiếng của thế giới. Qua đây các doanh nghiệp Giao nhận Việt Nam có thể đẩy mạnh việc quảng cáo dịch vụ, đồng thời qua đó truyền bá một cái nhìn toàn diện của nước ngoài về sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, tiềm năng Việt Nam. Một mặt đẩy mạnh sự phát triển của dịch vụ, mặt khác các nhà đầu tư quốc tế khi truy cập vào đây sẽ hiểu biết kỹ hơn về môi trường đầu tư Việt Nam và thúc đẩy đầu tư nước ngoài. Trên Website này cũng tạo các liên kết tới các Website của các cơ quan kinh tế thương mại khác, chẳng hạn như Khu công nghiệp, Khu chế xuất v.v..

    Phương án này, có thể áp dụng cho các bộ ngành khác. Chẳng hạn như Bộ kế hoạch và đầu tư sẽ thiết lập một trang chủ tập hợp tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và giới thiệu môi trường đầu tư tại Việt Nam. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cũng sẽ có một trang chủ tập hợp các doanh nghiệp hoạt động về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn…. Giải pháp này sẽ giúp cho các đối tác nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước tiếp cận, tìm hiểu nhau dễ dàng hơn rất nhiều so với tình trạng lộn xộn như hiện nay.

    * Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên phủ định những gì Đảng và Nhà nước đã hết sức cố gắng thể hiện quyết tâm thúc đẩy ngành công nghệ thông tin phát triển, đã công bố một loạt các chỉ thị, nghị quyết, quyết định nhằm động viên, thúc đẩy và tạo điều kiện cho công nghệ thông tin phát triển.

    Chính phủ ra Quyết định số 211/TTg ngày 07/04/1995 phê duyệt kế hoạch tổng thể về phát triển công nghệ thông tin Việt Nam cho đến năm 2000.

    Quyết định số 212/TTg ngày 06/05/1994 và quyết định số 154/TTg ngày 11/03/1995 của Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Chương trình quốc Gia về công nghệ thông tin. Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin triển khai hoạt động giai đoạn 1996-1999.

    Ngày 11/05/1999 Chính phủ ra Quyết định số 123/1999/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo Chương trình Kỹ thuật-Kinh tế về công nghệ thông tin (Chính phủ đã ra Quyết định số 192/1999/QĐ-TTg ngày 20/9/1999 giải thể Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin).

    Ngày 05/06/2000 Chính phủ ban hành nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005.

    Tháng 10/2000 Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 58CT/TƯ về đẩy mạnh ứng dụng phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiếp theo đó tháng 11/2000 Thủ tướng đã ra quyết định 128/2000/QĐ-TTg về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển công nghệ phần mềm.

    Tại các Bộ, Ngành, các Hội Trung ương và địa phương đã có nhiều hoạt động phối hợp với các công ty đa quốc gia, công ty tin học hàng đầu trong nước tạo ra các diễn đàn trao đổi, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử và các dự án cụ thể để khuyến khích phát triển ứng dụng thương mại điện tử trong các lĩnh vực ngoại thương, đặc biệt là hoạt động giao nhận hàng hóa.

    Ngày 06/06/2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và ngày 09/06/2000 tại Hà Nội, các hãng Compaq, Intel và VASC đã tổ chức hội thảo “Intel động lực cho sự thành công của bạn trong trào lưu kinh doanh điện tử”. Các chủ để được nêu ra là các giải pháp có liên quan tới kinh doanh điện tử và thương mại điện tử trong nền kinh tế mới. Intel Việt Nam dự báo doanh thu thương mại thực hiện qua thương mại điện tử vào năm 2004 trên toàn cầu là 7292 tỷ USD. Công ty phát triển phần mềm VASC đưa ra các giải pháp giúp triển khai thương mại điện tử cho các doanh nghiệp và hiện trạng thương mại điện tử ở Việt Nam.

    Tại Hải Phòng ngày 17/04/2000, Trung tâm tin học Bưu điện và công ty Intel đã phối hợp tổ chức buổi Hội thảo mang tên “Thương mại điện tử trên thế giới và triển vọng tại Việt Nam”, vấn đề được quan tâm nhiều trong Hội thảo là sự phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và xây dựng một khung pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam. Hiện nay, ngoài hạ tầng truy cập Internet, Bưu điện Hải phòng đang có kế hoạch xây dựng một mạng Intranet riêng của thành phố phục vụ cho các Web quảng cáo thương mại, góp phần thực hiện bước đầu cho hoạt động thương mại điện tử của Hải Phòng.

    Tại Hải Dương, hội thảo triển khai thương mại điện tử do Hội Tin học- Điện tử Hải Dương tổ chức ngày 24/07/2000, với sự tham gia của nhiều công ty tin học địa phương, trong và ngoài nước. Theo tin từ Hội thảo này, đã có 30 doanh nghiệp giữ chỗ trên mạng ETCNet để chào bán sản phẩm và tự giới thiệu mình. ETCNet là mạng intranet hoàn toàn miễn phí, cung cấp các cơ sở dữ liệu thông tin kinh tế, xã hội của địa phương, các báo, tạp trí, … do công ty Điện tử và công nghệ Hải Dương (ETC) xây dựng, đã có trên 500 người sử dụng. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Hải Dương tiếp cận với thương mại điện tử.

    Ngày 15/03/2000, Trung tâm tin học Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Thương mại tổ chức Hội thảo về thương mại điện tử. Trong hội thảo các tham luận đã đề cập đến các hình thái hoạt động liên quan đến thương mại điện tử, vấn đề hạ tầng cơ sở công nghệ và pháp lý cho thương mại điện tử, thanh toán điện tử. Tiếp sau hội thảo còn có ba khóa học liên tiếp về đào tạo một số kỹ năng thương mại điện tử như: khái quát về thương mại điện tử, các kiến thức về Internet, Web, kỹ năng sử dụng trình duyệt Internet, gửi nhận e-mail, thử tra cứu, cách mua bán, quảng cáo trên một trang thương mại điện tử, cách đăng ký account Internet, e-mail.

    Ban thương mại điện tử (Bộ Thương mại) đã triển khai dự án Quốc gia về kỹ thuật thương mại điện tử. Dự án gồm nhiều tiểu dự án:

    • Dự án phát triển nâng cao nhận thức về thương mại điện tử,
    • Dự án bảo hộ trí tuệ và người tiêu dùng,
    • Dự án nghiên cứu về các khía cạnh xã hội liên quan,
    • Dự án về vai trò Nhà nước và quản lý của Chính phủ trong thương mại điện tử,
    • Dự án về hạ tầng cơ sở tiêu chuẩn hóa công nghiệp và thương mại trong thương mại điện tử,…

    Trong lĩnh vực ngân hàng-tài chính (theo tin của Thương Hiền, báo Khoa học và Phát triển ngày 10/01/2001), việc chuyển dần từ phương pháp giao dịch giữa người với người sang người với máy và máy với máy đã cho phép ngành Tài chính-Ngân hàng có thêm nhiều dịch vụ hơn. Chính những thuận tiện trong giao dịch tài chính là môi trường tốt nhất cho phát triển thương mại điện tử. Các dự án ứng dụng thương mại điện tử trong ngành tài chính-ngân hàng đã từng bước được ứng dụng tại Việt Nam và thu được những kết quả khả quan. Các Website của Bảo Việt, Ngân hàng công thương Việt Nam, Intranet của Kho bạc Nhà nước, … sẽ là những bước thúc đẩy cho sự phát triển mạnh mẽ của Internet và thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên so với các nước trong khu vực, Việt Nam đang triển khai giai đoạn đầu của thương mại điện tử.

    Một trong những hình thức tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển đó là: công ty phát triển phần mềm VASC đã khai trương công viên công nghệ thông tin ảo (Itpark), là công viên đầu tiên thuộc loại này ở Việt Nam, (theo tin của Nguyễn Thanh Lâm, báo Khoa học và phát triển, 14/01/2000) công viên được thiết kế theo bốn mảng chính: nghiên cứu phát triển, đào tạo, thương mại-dịch vụ và giải trí.

    Việc tham gia công viên ảo dễ dàng và thuận lợi, có thể ngồi tại nhà hoặc ở nơi nào đó (thông qua Internet) đều có thể tham gia công viên. Các chuyên gia phần cứng và phần mềm trong nước có thể trực tiếp làm việc cho đối tác nước ngoài thông qua dịch vụ tư vấn trên công viên ảo. Đặc biệt với sự tham gia của nhiều trường đại học lớn trong và ngoài nước như: Viện Hàn lâm khoa học Nga, Đại học quốc gia Hà Nội, … Công viên ảo sẽ là thư viện công nghệ thông tin trực tuyến lớn nhất ở Việt Nam. Công viên ảo cũng là nơi để các doanh nghiệp tin học Việt Nam giới thiệu thử nghiệm các phần mềm của mình. Các đơn vị có nhu cầu chỉ cần truy cập vào mạng là có thể đặt mua các loại sản phẩm về công nghệ thông tin. Mảng giáo dục-đào tạo, các đối tượng có nhu cầu học tập nghiên cứu về công nghệ thông tin sẽ được cung cấp qua dịch vụ đào tạo trực tuyến. Mảng thông tin quảng cáo, các doanh nghiệp có nhu cầu lựa chọn mua bán bất kỳ sản phẩm gì, tư vấn dùng bất kỳ dịch vụ gì cho hoạt động kinh doanh của mình đều có thể tra cứu nhanh. Trong giao nhận hàng hóa, khách hàng có thể lựa chọn, tìm hiểu công ty kinh doanh giao nhận nào có uy tín thông qua tra cứu về lịch sử và quá trình hoạt động của Công ty đó. Mảng vui chơi giải trí sẽ tập hợp những trò chơi hấp dẫn được đông đảo người chơi ưa thích. Người tham gia có thể chọn các trò chơi trực tuyến hay tải xuống lưu vào máy riêng của mình. Mảng nghiên cứu phát triển là mảng lớn nhất trong Itpark. Thông qua công viên ảo, các thành viên tham gia có thể trình bày các ý tưởng, dự định nghiên cứu của mình để mọi người cùng tham gia bàn luận, hoàn thiện.

    KẾT LUẬN

    Kinh doanh giao nhận kho vận thực sự là một dịch vụ quan trọng trong sự phát triển của giao lưu buôn bán quốc tế nói chung. Không có công tác giao nhận kho vận tốt cùng với việc tổ chức loại hình kinh doanh giao nhận kho vận hợp lý thì việc buôn bán hàng hoá giữa các nước sẽ gặp vô vàn khó khăn cản trở, tốn kém thời gian, kinh phí cho các nhà xuất nhập khẩu đặc biệt là trong thời buổi mà công nghệ thông tin, thương mại điện tử phát triển như hiện nay .

    Ngày nay, một số chuyên gia của thế giới định nghĩa kinh doanh giao nhận kho vận là: “Làm tất cả những gì có thể được để phục vụ cho việc di chuyển, lưu kho, và phân phối hàng hoá từ khâu tiền sản xuất tới tay người tiêu dùng cuối cùng”. Do đó, việc xây dựng một cơ cấu giao nhận khoa học, một đội ngũ các nhà kinh doanh giao nhận kho vận tài ba là một trong những mối quan tâm lớn của các  nhà kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận trên toàn thế giới. Hoạt động kinh doanh kho vận không những chỉ phát triển trong lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển, mà còn vươn tới các cảng sân bay, các nhà ga, không những liên quan đến các nhà xuất nhập khẩu mà còn có ảnh hưởng đến các nhà sản xuất, kinh doanh trong và ngoài nước.

    Trước những yêu cầu và đòi hỏi của nghề nghiệp, trong thời gian tới đây, khi quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, việc giao lưu hàng hoá ngày càng lớn, đòi hỏi người làm công tác kinh doanh giao nhận kho vận phải không ngừng mở mang, nâng cao kiến thức, học hỏi kinh nghiệm về nghề nghiệp của mình không những chỉ trong lĩnh vực giao nhận, mà còn phải có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực khác có liên quan đến công việc giao nhận như công nghệ thông tin, vận tải biển, vận tải hàng không, kiến thức về hàng nguy hiểm… Đó là một phần trong vô vàn công việc mà người giao nhận phải nắm vững để có thể phát triển trong xu thế toàn cầu hoá trên mọi lĩnh vực như hiện nay để phát triển loại hình dịch vụ này trong kỷ nguyên công nghệ thông tin và thương mại điện tử.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngoại thương”. Tập thể các tác giả, Trường Đại học Ngoại thương – xuất bản năm 1991.
    2. Luật sư Võ Nhật Thăng và các tác giả. “Dự thảo Bộ luật thương mại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam”. 10/1996
    3. Jan Ramberg – Professor of Private Law. “The Law of freight forwarding and the 1992 FIATA Multimodal transport Bill of Lading”.  Stockholm University.
    4. Jones Peter. “FIATA Legal Handbook on Freight Forwarding”. Canadian Cataloguing in Publication Data.
    5. Http://www.commercenet.com;
    6. Http://www.thuongmaidientu.com
    7. http://www.un.or.at/unictral; http://www.gov.sg
    8. Thương mại điện tử – Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải, Hà Nội.
    9. Giao nhận vận tải hàng hoá quốc tế”. Tập thể các tác giả PGS.TS Đinh Ngọc Viện chủ biên, NXB Giao thông Vận tải Hà nội – năm 2002
    10. VASC – Mạng và Internet, E-Commerce, E-Business
    11. “Incoterm 2000” . Phòng Thương mại Công nghiệp Việt nam – 2000
    12. “Thương mại điện tử” NXB Thống kê
    13. Bản tin điện tử của Trung tâm tin học tư liệu khoa học công nghệ Quốc gia.
    14. Tin học và đời sống – Hội tin học Việt Nam
    15. PC World – Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận dịch vụ giao nhận hàng hóa

    Tiểu luận dịch vụ giao nhận hàng hóa

    Tiểu luận dịch vụ giao nhận hàng hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-giao-nh%E1%BA%ADn-h%C3%A0ng-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận dịch vụ giao nhận hàng hóa

    DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ

    I.  GIỚI THIỆU

    Giao nhận hàng hoá là gì?

    Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải, hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng).

    Người làm dịch vụ giao nhận khi nhận việc vận chuyển hàng hoá thì phải tuân theo quy định của pháp luật chuyên ngành về vận tải.

    Trong xu thế thương maiû toàn cầu hoá cùng với sự phát triển nhiều hình thức vận tải mới trong những thập niên qua. Ngày nay, người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá giữ vai trò quan trọng trong vận tải và buôn bán quốc tế. Những dịch vụ người giao nhận thực hiện không chỉ dừng lại ở các công việc cơ bản truyền thống như đặt chổ đóng hàng, nơi dùng để kiểm tra hàng hoá, giao nhận hàng hoá mà còn thực hiện những dịch vụ chuyên nghiệp hơn như tư vấn chọn tuyến đường vận chuyển, chọn tàu vận tải, đóng gói bao bì hàng hoá, .v.v…

    Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày về những hoạt động khác nhau trong dịch vụ giao nhận hàng hoá, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của người làm dịch vụ giao nhận, cũng như mối quan hệ giữa người làm dịch vụ giao nhận với các tổ chức liên quan khác.

    II.  CÁC DOANH NGHIỆP THAM GIA VÀO DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG

    HOÁ.

    Theo nghị định của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng hải, ban hành ngày 19/03/2001 (có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký), các doanh nghiệp có ngành nghề đăng ký kinh doanh sau đây có thể tham gia vào dịch vụ giao nhận hàng hoá ngoại thương:

    1. Dịch vụ đại lý vận tải đường biển;
    2. Dịch vụ môi giới hàng hải;
    3. Dịch vụ kiểm đếm hàng hóa;
    4. Dịch vụ bốc dỡ hàng hóa tại cảng biển.

    1. Hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ hàng hải.

    1.1 Dịch vụ đại lý vận tải đường biển

    Dịch vụ đại lý vận tải đường biển là dịch vụ thực hiện các công việc sau đây theo ủy thác của chủ hàng:

    1. Tổ chức và tiến hành các công việc phục vụ quá trình vận chuyển, giao nhận hàng hóa, vận chuyển hành khách và hành lý trên cơ sở hợp đồng vận chuyển bằng đường biển hoặc hợp đồng vận tải đa phương thức;
    2. Cho thuê, nhận thuê hộ phương tiện vận tải biển, thiết bị bốc dỡ, kho tàng, bến bãi, cầu tàu và các thiết bị chuyên dùng hàng hải khác;
    3. Làm đại lý công-te-nơ (container);
    4. Giải quyết các công việc khác theo ủy quyền.

    `1.2 Dịch vụ môi giới hàng hải

    Dịch vụ môi giới hàng hải là dịch vụ thực hiện các công việc sau:

    1. Làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý;
    2. Làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng bảo hiểm hàng hải;
    3. Làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng cho thuê tàu, hợp đồng mua bán tàu, hợp đồng lai dắt, hợp đồng thuê và cho thuê thuyền viên;
    4. Làm trung gian trong việc ký kết các hợp đồng khác có liên quan đến hoạt động hàng hải do người ủy thác yêu cầu theo từng hợp đồng cụ thể.

    1.3 Dịch vụ kiểm đếm hàng hóa

    Dịch vụ kiểm đếm hàng hóa là dịch vụ thực hiện kiểm đếm số lượng hàng hóa thực tế khi giao hoặc nhận với tàu biển hoặc các phương tiện khác theo ủy thác của người giao hàng, người nhận hàng hoặc người vận chuyển.

    1.4 Dịch vụ bốc dỡ hàng hóa tại cảng biển

    Dịch vụ bốc dỡ hàng hóa tại cảng biển là dịch vụ thực hiện các công việc bốc, dỡ hàng hóa tại cảng theo quy trình công nghệ bốc, dỡ từng loại hàng.

    2 Ðiều kiện kinh doanh doanh dịch vụ hàng hải

    2.1 Ðiều kiện kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải đường biển

    Doanh nghiệp được phép kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải đường biển khi có đủ các điều kiện sau:

    1. Giám đốc doanh nghiệp có thời gian công tác tối thiểu 02 (hai) năm trực tiếp đảm nhiệm nghiệp vụ đại lý vận tải đường biển;
    2. Ðại lý viên có đủ các điều kiện sau:
    3. a)   Tốt nghiệp Ðại học Hàng hải hoặc Ðại học Ngoại thương hoặc có thời gian thực hiện nghiệp vụ liên quan đến đại lý vận tải đường biển tối thiểu 03 (ba) năm;
    4. b)   Có giấy xác nhận về trình độ chuyên môn nghiệp vụ đại lý vận tải đường biển của Hiệp hội Giao nhận kho vận;
    5. Doanh nghiệp có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đại lý vận tải đường biển.

    2.2 Ðiều kiện kinh doanh dịch vụ môi giới hàng hải

    Doanh nghiệp được phép kinh doanh dịch vụ môi giới hàng hải khi có đủ các điều kiện sau:

    1. Giám đốc doanh nghiệp có thời gian công tác tối thiểu 02 (hai) năm trực tiếp đảm nhiệm nghiệp vụ hàng hải;
    2. Nhân viên môi giới hàng hải tốt nghiệp Ðại học Hàng hải hoặc Ðại học Ngoại thương hoặc có thời gian thực hiện nghiệp vụ hàng hải tối thiểu 03 (ba) năm.

    2.3 Ðiều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm đếm hàng hóa

    Doanh nghiệp được phép kinh doanh dịch vụ kiểm đếm hàng hóa khi có đủ các điều kiện sau:

    1. Giám dốc doanh nghiệp có thời gian công tác tối thiểu 02 (hai) năm trực tiếp đảm nhiệm nghiệp vụ kiểm đếm hàng hóa;
    2. Nhân viên kiểm đếm tốt nghiệp trung cấp trở lên, hoặc có thời gian công tác tối thiểu 03 (ba) năm thực hiện nghiệp vụ hàng hải.

    2.4 Ðiều kiện kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hóa

    Doanh nghiệp được phép kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hóa khi có đủ các điều kiện sau:

    1. Giám đốc doanh nghiệp có thời gian công tác tối thiểu 02 (hai) năm trực tiếp đảm nhiệm nghiệp vụ bốc dỡ hàng hóa;
    2. Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ bốc dỡ bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và có đội ngũ công nhân bốc dỡ đáp ứng với yêu cầu theo quy định.

    III. PHẠM VI CỦA DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ

    1 Ðại diện cho người xuất khẩu

    Người giao nhận với những thoả thuận cụ thể sẽ giúp khách hàng của mình (người xuất khẩu) những công việc sau:

    –    Lựa chọn truyến đường vận tải.

    –    Ðặt/ thuê địa điểm để đóng hàng theo yêu cầu của người vận tải.

    –    Giao hàng hoá và cấp các chứng từ liên quan (như: biên lai nhận hàng – the Forwarder Certificate of Receipt hay chứng từ vận tải – the Forwarder Certificate of Transport).

    –    Nghiên cứu các điều kiện của thư tín dụng (L/C) và các văn bản luật pháp của chính phủ liên quan đến vận chuyển hàng hoá của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu, kể cả các quốc gia chuyển tải (transit) hàng hoá, cũng như chuẩn bị các chứng từ cần thiết.

    –    Ðóng gói hàng hoá (trừ khi hàng hoá đã đóng gói trước khi giao cho người giao nhận).

    –    Tư vấn cho người xuất khẩu về tầm quan trọng của bảo hiểm hàng hoá (nếu được yêu cầu).

    –    Chuẩn bị kho bao quản hàng hoá, cân đo hàng hoá (nếu cần).

    –    Vận chuyển hàng hoá đến cảng, thực hiện các thủ tục về lệ phí ở khu vực giám sát hải quan, cảng vụ, và giao hàng hoá cho người vận tải.

    –    Nhận B/L từ người vận tải, sau đó giao cho người xuất khẩu.

    –    Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hoá đến cảng đích bằng cách liện hệ với người vận tải hoặc đại lý của người giao nhận ổ nước ngoài.

    –    Ghi chú về những mất mát, tổn thất đối với hàng hoá (nếu có).

    –    Giúp người xuất khẩu trong việc khiếu nại đối với những hư hỏng, mất mát hay tổn thất của hàng hoá.

    2 Ðại diện cho người nhập khẩu

    khẩu) những công việc sau:

    –   Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hoá trong trường hợp người nhập khẩu chịu trách nhiệm về chi phí vận chuyển.

    –   Nhận và kiểm tra tất cả các chứng từ liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hoá.

    –   Nhận hàng từ người vận tải.

    –   Chuẩn bị các chứng từ và nộp các lệ phí giám sát hải quan, cũng như các lệ phí khác liên quan.

    –   Chuẩn bị kho hàng chuyển tải (nếu cần thiết).

    –   Giao hàng hoá cho người nhập khẩu.

    –   Giúp người nhập khẩu trong việc khiếu nại đối với những tổn thất, mất mát của hàng hoá.

      3. Các dịch vụ khác

    Ngoài các dịch vụ kể trên, người giao nhận còn cung cấp các dịch vụ khác theo yêu cầu của khách hàng như dịch vụ gom hàng, tư vấn cho khách hàng về thị trường mới, tình huống cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, các điều kiện giao hàng phù hợp, v.v..

    IV.  QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN

    1 Doanh nghiệp làm dịch vụ giao nhận hàng hoá

    • Ðược hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác.
    • Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.
    • Quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
    •     Sau khi ký kết hợp đồng, nếu xẩy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được toàn bộ hoặc một phần những chỉ dẫn củ a khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng biết để xin chỉ dẫn thêm.
    • Trong trường hợp hợp đồng không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.

      2 Quyền, nghĩa vụ của khách hang

    • Lựa chọn người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá đáp ứng với yêu cầu của mình.
    • Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng.
    • Yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá vi phạm hợp đồng.
    • Cung cấp đầy đủ chỉ dẫn cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá.
    • Thông tin đầy đủ, chi tiết và chính xác về hàng hoá cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá.
    • Ðóng gói, ghi ký mã hiệu hàng hoá theo hợp đồng mua bán hàng hoá, trừ trường hợp người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá đảm nhận công việc này.
    • Bồi thường thiệt hại, trả các chi phí phát sinh cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nếu người đó đã thực hiện đúng chỉ dẫn của khách hàng hoặc do lỗi của khách hàng gây ra.
    • Trả cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá mọi khoản tiền đã đến hạn thanh toán.

    3 Giới hạn trách nhiệm

    Trách nhiệm của người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá trong mọi trường hợp không vượt quá giá trị hàng hoá, trừ khi các bên có thoả thuận khác trong hợp đồng.

    • Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá không được miễn trách nhiệm nếu không chứng minh được việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng không phải do lỗi của mình gây ra.
    • Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá không phải chịu trách nhiệm, khi họ không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn 14 ngày, kể từ ngày giao hàng, không tính ngày chủ nhật, ngày lễ; không nhận được thông báo bằng văn bản về việc bị kiện tại Toà án hoặc Trọng tài trong thời hạn 9 tháng, kể từ ngày giao hàng.

      4 Các trường hợp miễn trách nhiệm

    Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.

    • Ðã làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.
    • Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp.
    • Do khách hàng hoặc người được khách hàng uỷ quyền thực hiện việc xếp, dỡ hàng hoá.
    • Do khuyết tật của hàng hoá.
    • Do có đình công hoặc các trường hợp khác bất khả kháng.
    • Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá cũng không phải chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ khách hàng được hưởng về sự chậm chễ hoặc giao hàng sai địa chỉ mà không phải do lỗi của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

      5. Quyền cầm giữ và định đoạt hàng hoá

    • Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá có quyền cầm giữ số hàng hoá nhất định và các chứng từ có liên quan đến hàng hoá để đòi tiền nợ đã đến hạn của khách hàng và thông báo ngay bằng văn bản cho khách hàng.
    • Sau 45 ngày kể từ ngày cầm giữ, nếu khách hàng không trả tiền nợ thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá có quyền định đoạt hàng hoá hoặc chứng từ đó theo các quy định của pháp luật, mọi chi phí cầm giữ và định đoạt hàng hoá do khách hàng chịu.

    V.  MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC CHỦ THỂ LIÊN QUAN

    1 Các tổ chức của chính phủ

    Các đơn vị hải quan.

    –         Các đơn vị quản lý cửa khẩu.

    –         Các ngân hàng.

    –         Các cơ quan kiểm dịch động-thực vật.

    –         Các cơ quan giám định hàng xuất nhập khẩu.

    –         Các đơn vị cấp C/O.

    –         Phòng quản lý xuất nhập khẩu khu vực.

    2 Các tổ chức tư nhân

    –         Người vận tải và các đại lý vận tải.

    –         Nguời quản lý kho hàng.

    –         Người bảo hiểm.

    –         Các doanh nghiệp đóng gói hàng hoá.

    –         Các ngân hàng thương mại.

    VI. XU HƯỚNG MỚI TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI VẬN TẢI VÀ NGƯỜI GIAO NHẬN HÀNG HOÁ

    Khi sự liên minh/ liên kết toàn cầu cùng sự cạnh tranh giữa các tập đoàn/ công ty vận tải phát triển, những người kinh doanh tàu luôn phải tiếp tục tìm cách tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của họ để đạt được lợi thế cạnh tranh với các hãng vận tải khác bằng cách cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng. Vì thế, họ-những người vận tải-lại cạnh tranh với những người hoạt động trong lĩnh vực giao nhận hàng hoá khi họ cố gắng thực hiện các dịch vụ gần gủi hơn với người xuất/ nhập khẩu.

    Người giao nhận hàng hoá, vì phải duy trì vai trò trong cộng đồng cửa khẩu/ vận tải, nên mối quan hệ mâu thuẩn khách hàng-đối thủ cạnh tranh của họ với người vận tải vẫn phải duy trì. Theo các nhà phân tích, mối quan hệ giữa người vận tải-người giao nhận hiện nay hoàn toàn phụ thuộc vào khối lượng công việc được kiểm soát bởi người giao nhận và mối quan hệ của họ với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    B.     GIÁM ÐỊNH HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

    I.   GIÁM ÐỊNH HÀNG HOÁ

    1 Khái niệm

    Giám định hàng hoá nhằm xác định tình trạng thực tế của hàng hoá theo yêu cầu của doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, được cơ quan Nhà nước, có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ giám định hàng hoá mới được phép thực hiện dịch vụ giám địch và cấp chứng thư giám định hàng hoá.

    Nội dung giám định hàng hoá gồm giám định về số lượng, chất lượng, quy cách, bao bì, giá trị hàng hoá, tổn thất, an toàn vệ sinh và các yêu cầu khác.

    2 Yêu cầu giám định hàng hoá

    Hàng hoá được giám định theo yêu cầu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá, nếu hợp đồng không có quy định thì các bên có quyền lựa chọn tổ chức giám định.

    Nếu theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, Tổ chức giám định có nghĩa vụ thực hiện việc giám định hàng hoá theo các quy định của pháp luật và được trả phí giám định.

    3 Quyền và nghĩa vụ của bên yêu cầu giám định hàng hoá

    –         Yêu cầu tổ chức giám định thực hiện việc giám định hàng hoá theo nội dung đã thoả thuận.

    –         Yêu cầu giám định lại nếu nghi ngờ kết quả giám định; trong trường hợp tổ chức giám định cấp chứng thư giám định sai, thì có quyền đòi tiền phạt.

    –         Cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các tài liệu cần thiết cho tổ chức giám định khi có yêu cầu;

    –         Trả phí giám định theo thoả thuận

    4 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức giám định hàng hoá

    –         Giám định độc lập, khách quan, kịp thời, chính xác;

    –         Cấp chứng thư giám định

    –         Nhận phí giám định theo thoả thuận

    –         Trả tiền phạt trong trường hợp giám định sai theo thoả thuận giữa hai bên.

    5 Uỷ quyền giám định hàng hoá

    Trong trường hợp các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá thoả thuận thuê tổ chức giám định nước ngoài thực hiện dịch vụ giám định hàng hoá mà người tổ chức đó chưa được phép hoạt động tại Việt Nam, thì tổ chức giám định nước ngoài đó được uỷ quyền cho tổ chức giám định đã được phép hoạt động tại Việt Nam thực hiện dịch vụ giám định hàng hoá, nhưng phải chịu trách nhiệm về kết quả giám định.

    II. KIỂM TRA NHÀ NƯỚC ÐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG HÀNG HOÁ XNK

    Trong trường hợp hàng hoá XNK thuộc “danh mục phải kiểm tra Nhà nước về chất lượng” do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường công bố theo từng thời kỳ thì doanh nghiệp có XNK này phải làm thủ tục kiểm tra chất lượng.

    Hàng hoá XNK thuộc danh mục phải qua kiểm tra Nhà nước về chất lượng (Quyết định số 2579/QÐ-TÐC ngày 28/10/1996 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường) chỉ được lưu thông hoặc tiêu thụ trong nước hoặc xuất nhập khẩu sau khi được kiểm tra và có giấy xác nhận của cơ quan kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hoá XNK.

    Căn cứ để kiểm tra Nhà nước về chất lượng đối với hàng hoá XNK bao gồm: các TCVN quy định về chất lượng đối với hàng hoá; các quy định khác về chất lượng, an toàn, vệ sinh và môi trường do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

    Hàng hoá thuộc danh mục phải kiểm tra chỉ được cơ quan hải quan làm thủ tục thông quan sau khi cơ quan kiểm tra nhà nước cấp một trong các văn bản sau:

    –         Giấy xác nhận đạt chất lượng xuất khẩu, nhập khẩu, nếu hàng hoá đạt các yêu cầu về chất lượng sau khi đã kiểm tra mẫu chào hàng hoặc kiểm tra lô hàng.

    –         Thông báo miễn kiểm tra chất lượng (hàng hoá xuất khẩu đã được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng và /hoặc an toàn; hàng hoá nhập khẩu mang dấu phù hợp tiêu chuẩn của nước xuất khẩu đã được Tổng cục Ðo lường Chất lượng thừa nhận kiểm tra tại bến đi theo Hiệp định của Nhà nước đã ký với nước ngoài sẽ được miễn kiểm tra nhà nước về nhà nước).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-theo-ti%C3%AAu-chu%E1%BA%A9n-ISO-9001-2008-v%C3%A0-ISO-14001-2004-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-X%C3%ADch-l%C3%ADp-%C4%90%C3%B4ng-Anh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    LỜI NÓI ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra sức ép cạnh tranh to lớn đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam phải luôn chủ động tìm kếm các giải pháp nhằm nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Một trong số các giải pháp đó là việc áp dụng các công cụ quản lý mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nổi bật là việc triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO.

    Qua nhiều năm áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO tại Việt Nam, bên cạnh những thay đổi theo chiều hướng tích cực thì còn tồn tại nhiều bất cập. Đa số các doanh nghiệp nhận thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và triển khai có hiệu quả. Tuy nhiên, trước tâm lý ưa chuộng bằng cấp của người Việt Nam, không ít doanh nghiệp chỉ cố gắng đạt được chứng chỉ ISO nhưng không thực sự triển khai và dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh không đạt yêu cầu.

    Ngành cơ khí chế tạo nước ta thời gian qua có bước phát triển nhanh chóng. Nhưng thực tế cho thấy các doanh nghiệp cơ khí trong nước lại gặp rất nhiều khó khăn trước yêu cầu phải liên tục đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp phải tự vượt qua khó khăn bằng chính năng lực của mình và công ty cổ phần Xích líp Đông Anh là một ví dụ điển hình. Với hướng đi đúng đắn trong công tác quản lý chất lượng, công ty không ngừng phát triển trong những năm qua và nhận được nhiều bằng khen của Đảng và Nhà nước.

    Sau quá trình học tập môn Quản trị chất lượng và tìm hiểu thực tế công tác quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh, nhóm xin chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh”.

    1. Mục đích và phương pháp nghiên cứu

    Bài viết có mục đích làm rõ thực trạng triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện, tăng năng suất và khả năng cạnh tranh, đồng thời hoàn thiện công tác quản lý chất lượng tại doanh nghiệp.

    Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết, quan sát thực tiễn và phân tích số liệu để đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh, từ đó đề xuất một số giải giáp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.

    1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

    – Đối tượng nghiên cứu: hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    – Phạm vi nghiên cứu: hoạt động quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1. Kết cấu bài viết

    Bài viết gồm 3 phần chính:

    – Phần 1: Cơ sở lý luận

    – Phần 2: Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    – Phần 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    •  

    NỘI DUNG

    CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

    1.     Chất lượng

    1.1.                      Khái niệm

    Trong điều kiện hiện nay, thị trường hàng hóa ngày càng mở rộng và mang tính toàn cầu, tính cạnh tranh tăng cao. Chính vì thế, các doanh nghiệp trên toàn thế giới, trong mọi lĩnh vực ngành nghề đều quan tâm đến chất lượng và có những nhìn nhận đúng đắn về chất lượng. Xung quanh vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có một số quan điểm chính:

    – Chất lượng là thuộc tính và bản chất của sự vật, đặc tính khách quan của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì (từ điển bách khoa Việt Nam tập 1)

    – Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu sử dụng và mục đích sử dụng (Joseph Juran)

    – Chất lượng là toàn bộ đặc tính của sản phẩm làm thỏa mãn yêu cầu đã đề ra (cơ quan kiểm tra chất lượng Mỹ)

    – Chất lượng là sự thỏa mãn tối đa yêu cầu của người tiêu dùng (Ishikawa Kaoru)

    – Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính làm thỏa mãn nhu cầu (ISO 9000-2000)

    – …

    1.2. Đặc điểm

    – Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các đặc tính của sản phẩm đó

    + Đặc tính kĩ thuật: các đặc tính đặc trưng bởi chỉ tiêu kĩ thuật như độ tin cậy, độ chính xác, độ an toàn, tuổi thọ,…

    + Đặc tính kinh tế: cơ sở của các đặc tính kinh tế là các đặc tính kĩ thuật và tổ chức. Kĩ  thuật tốt tạo cho sản phẩm có độ chính xác cao, độ tin cậy cao, vận hành tốt nên chi phí sản xuất tăng lên và chi phí sử dụng thấp.

    – Một sản phẩm có chất lượng phải là sản phẩm làm thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không đáp ứng được nhu cầu thì bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình.

    – Chất lượng sản phẩm mang tính tương đối: Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.

    – Chất lượng vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng: Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng. Do đó chất lượng cũng mang đặc điểm tương tự.

    2.  Quản lý chất lượng

    2.1.  Khái niệm

    Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như: Lập kế hoạch chất lượng, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng (ISO 8402:1994)

    Như vậy thực chất quản lý chất lượng là chất lượng của hoạt động quản lý chứ không đơn thuần chỉ làm chất lượng của hoạt động kỹ thuật.

    2.2. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi,nhiệm vụ, chức năng

    Đối tượng quản lý chất lượng là các quá trình, các hoạt động, sản phẩm và dịch vụ.

    Mục tiêu của quản lý chất lượng chính là nâng cao mức thảo mãn trên cơ sở chi phí tối ưu.

    Phạm vi quản lý chất lượng: Mọi khâu từ nghiên cứu thiết kế triển khai sản phẩm đến tổ chức cung ứng nguyên vật liệu đền sản xuất, phân phối và tiêu dùng.

    Nhiệm vụ của quản lý chất lượng: Xác định mức chất lượng cần đạt được. Tạo ra sản phẩm dịch vụ theo đúng tiêu chuẩn đề ra. Cải tiến để nâng cao mức phù hợp với nhu cầu.

    Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng: Lập kế hoạch chất lượng, tổ chức thực hiện, kiểm tra kiểm soát chất lượng, điều chỉnh và cải tiến chất lượng.

    2.3. Các nguyên tắc

    • Định hướng bởi khách hàng
    • Cam kết của lãnh đạo
    • Sự tham gia của mọi người
    • Quan điểm quá trình
    • Tính hệ thống
    • Cải tiên liên tục
    • Quyết định dựa trên sự kiện
    • Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng

    3.Hệ thống quản lý chất lượng

    3.1. Khái niệm

    Hệ thống quản lý chất lượng là tổ chức, công cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu và các chức năng quản lý chất lượng. Đối với doanh nghiệp, hệ thống quản lý chất lượng là tổ hợp những cơ cấu tổ chức, trách nhiệm, thủ tục, phương pháp và nguồn lực để thực hiện hiệu quả quá trình quản lý chất lượng. Hệ thống quản lý chất lượng của một tổ chức có nhiều bộ phận hợp thành, các bộ phận này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau.

    3.2. Vai trò

    Hệ thống quản lý chất lượng là bộ phận hợp thành của hệ thống quản lý tổ chức doanh nghiệp. Hệ thống quản lý chất lượng không chỉ là kết quả của hệ thống khác mà còn là yêu cầu đối với hệ thống khác. Hệ thống quản lý chất lượng đóng vai trò quan trọng trên các lĩnh vực sau:

    – Tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của khách hàng

    – Đảm bảo cho tiêu chuẩn mà tổ chức đặt ra được duy trì.

    – Tạo điều kiện cho các bộ phận, phòng ban hoạt động có hiệu quả, giảm thiểu sự phức tạp trong quản lý.

    – Tập trung vào việc nâng cao chất lượng, giảm chi phí,…

    4. Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO

    4.1.Khái quát về ISO

    ISO là một từ gốc Hi Lạp, có nghĩa là công bằng, là tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá (International Organization for Standardization)

    Tổ chức ISO chịu trách nhiệm ban hành các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) khuyến nghị áp dụng nhằm thuận lợi hóa thương mại tòan cầu và bảo vệ an toàn, sức khỏe và môi trường cho cộng đồng. Hiện nay, ISO với gần 3000 tổ chức kỹ thuật với hệ thống các Ban Kỹ thuật (TC-Technical committee); Tiểu ban kỹ thuật (STC); Nhóm công tác (WG) và Nhóm đặc trách có nhiệm vụ soạn thảo các tiêu chuẩn quốc tế. Tiêu chuẩn quốc tế ISO được ban hành sau khi được thông qua theo nguyên tắc đa số đồng thuận của các thành viên chính thức của ISO.

    Hiện nay ISO đã soạn thảo và ban hành gần 16.000 tiêu chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ, hệ thống quản lý, thuật ngữ, phương pháp…

    Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO – International Organization for Standardization) được thành lập từ năm 1947, có trụ sở đặt tại Geneva – Thụy Sĩ. ISO là một hội đoàn toàn cầu của hơn 180 các các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia (mỗi thành viên của ISO là đại diện cho mỗi quốc gia của mình). Việt Nam là thành viên chính thức năm 1977.

    4.2. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008

    • Khái niệm

    Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 trong đó tiêu chuẩn ISO 9001:2008 được coi là tiêu chuẩn cơ bản nhất, cốt yếu nhất xác định các yêu cầu cơ bản của Hệ thống quản lý chất lượng của một Tổ chức để đảm bảo rằng sản phẩm của một Tổ chức luôn có khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và phù hợp với các chế định, đồng thời tiêu chuẩn ISO 9001:2008 cũng là cơ đồng thời tiêu chuẩn ISO 9001:2008 cũng là cơ sở để đánh giá khả năng của một Tổ chức trong hoạt động nhằm duy trì và không ngừng cải tiến, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động.

    Tiêu chuẩn ISO 9001:2008 là một phương pháp quản lý chất lượng mới, khi được áp dụng vào một tổ chức sẽ giúp lãnh đạo của tổ chức đó kiểm soát được hoạt động trong nội bộ tổ chức đó và thúc đẩy hoạt động đạt hiệu quả ở mức cao nhất.

    Tại Việt Nam, tiêu chuẩn này được chuyển đổi sang tiếng Việt và được ban hành dưới dạng một tiêu chuẩn Việt Nam với tên gọi TCVN ISO 9001:2008.

    • Các yêu cầu

    – Kiểm soát tài liệu và kiểm soát hồ sơ

    – Trách nhiệm của lãnh đạo:

    – Quản lý nguồn lực:

    – Tạo sản phẩm:

    – Đo lường phân tích và cải tiến

    • Lợi ích

    – Về quản lý nội bộ:

    + Giúp lãnh đạo quản lý hoạt động của doanh nghiệp khoa học và hiệu quả.

    + Củng cố uy tín của lãnh đạo.

    + Cải thiện hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng suất, giảm phế phẩm và chi phí không cần thiết nhờ sử dụng hợp lý các nguồn lực

    + Kiểm soát chặt chẽ các công đoạn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

    + Cải tiến các quá trình chủ yếu, nâng cao chất lượng sản phẩm.

    + Tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh đạo và nhân viên.

    + Giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ, triệt tiêu những xung đột về thông tin do mọi việc được qui định rõ ràng. Mọi việc đều được kiểm soát, không bỏ sót, trách nhiệm rõ ràng.

    + Thúc đẩy nề nếp làm việc tốt, nâng cao tinh thần thái độ của nhân viên.

    – Về đối ngoại:

    + Tạo lòng tin cho khách hàng, chiếm lĩnh thị trường.

    + Đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng của khách hàng.

    + Phù hợp quản lý chất lượng toàn diện.

    + Thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

    + Nâng cao lợi thế thương mại bằng uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Củng cố và phát triển thị phần, giành ưu thế trong cạnh tranh.

    + Phá bỏ được rào cản, tạo được một sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong các thị trường yêu cầu bắt buộc việc chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn ISO 9001: 2008.

    + Thuận lợi trong việc thâm nhập thị trường quốc tế và khu vực.

    + Khẳng định uy tín về chất lượng sản phẩm của Doanh nghiệp.

    + Đáp ứng đòi hỏi của Ngành và Nhà nước về quản lý chất lượng.

    4.3.  Hệ thống quản lý chất lượng ISO 14001:2004

    • Khái niệm

    ISO 14001:2004 là một tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO ban hành lần thứ 2 vào năm 2004. Tên gọi đầy đủ của tiêu chuẩn ISO 14001:2004 là Hệ thống quản lý môi trường – các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng.

    Mục đích của tiêu chuẩn ISO 14001:2004 và các tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là giúp các Doanh nghiệp/tổ chức thiết lập, duy trì và cải tiến liên tục hệ thống quản lý môi trường của mình nhằm bảo vệ môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm do các hoạt động của chính doanh nghiệp/tổ chức gây ra.

    • Các yêu cầu

    – Chính sách môi trường

    – Xác định các khía cạnh môi trườn

    – Xác định các yêu cầu pháp luậ

    – Mục tiêu, chỉ tiêu và chương trình môi trường

    – Xác định trách nhiệm, quyền hạn

    – Đào tạo

    – Thông tin nội bộ

    – Kiểm soát tài liệu

    – Kiểm soát hồ sơ

    – Kiểm soát hoạt động

    – Sẵn sàng ứng phó các tình huống khẩn cấp

    – Giám sát và đo lường

    – Hành động khắc phục và phòng ngừa

    – Đánh giá nội bộ

    – Xem xét của lãnh đạo

    • Lợi ích

    Về quản lý:

    + Giúp tổ chức/doanh nghiệp xác định và quản lý các vấn đề môi trường một cách toàn diện;

    + Chủ động kiểm soát để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về môi trường;

    + Phòng ngừa rủi ro, tổn thất từ các sự cố về môi trường.

    – Về tạo dựng thương hiệu:

    + Nâng cao hình ảnh của tổ chức/doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và cộng đồng

    + Giành được ưu thế trong cạnh tranh khi ngày càng có nhiều công ty, tập đoàn yêu cầu hoặc ưu tiên lựa chọn các nhà cung cấp áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000.

    – Về tài chính:Tiết kiệm chi phí sản xuất do quản lý và sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả

    CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN ISO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÍCH LÍP ĐÔNG ANH

    1.     Tổng quan về công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.1.         Giới thiệu chung

    Tên công ty Công ty cổ phần Xích líp Đông Anh
    Trụ sở chính

     

    Địa chỉ

    Điện thoại

    Fax

    Email

    Số 11, tổ 47, thôn Dục Nội, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

     

    043.8832200 hoặc 043.8832204

    84.4.8835395

    [email protected]

    Năm thành lập 1974
    Người đại diện theo pháp luật TGĐ. Phan Tấn BÌnh
    Cơ cấu vốn

     

    Vốn pháp định

    Vốn điều lệ

    50.000.000.000 VNĐ

     

    60.000.000.000 VNĐ

    Bảng 1: Thông tin chung về công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.2.         Lịch sử hình thành và phát triển

    Năm 1975-1985: công ty sản xuất phụ tùng xe đạp phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong nước.

    Năm 1986:  nhà nước xoá bỏ chế độ bao cấp, công ty đã lâm vào hoàn cảnh khó khăn khi phải tự cấp để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được.

    Năm 1996: Ban Giám đốc mới của công ty được bổ nhiệm, công ty   bước sang  một giai đoạn mới , mở rộng ngành nghề kinh doanh, sản phẩm công ty sản xuất ra không chỉ cạnh tranh với sản phẩm trong nước mà còn cả với sản phẩm nhập ngoại của các nước tiên tiến. Trước thực tế đó Ban lãnh đạo cùng cán bộ công nhân viên công ty đã không ngừng tìm tòi học hỏi và sáng tạo để tìm ra hướng đầu tư đúng đắn và hiệu quả, công ty tiến hành đổi mới cơ cấu sản xuất và bộ máy quản lý để phù hợp với quy luật cạnh tranh của cơ chế thị trường. Công ty sắp xếp lại cán bộ công nhân viên có trình độ tay nghề non kém, trình độ nghiệp vụ thấp sang công việc phù hợp, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ công nhân viên có khả năng học hỏi và nâng cao trình độ. Bên cạnh những mặt hàng truyền thống như xích líp đùi, đĩa phụ tùng xe đạp, công ty còn sản xuất các chi tiết trong và ngoài động cơ xe máy, xích công nghiệp và viên bi cầu bằng thép các loại. Đặc biệt các sản phẩm mạ Niken – Crôm, mạ kẽm và công nghệ đúc nhôm chất lượng cao.

    Ngày 23/12/2003: theo quết định số 2040/QĐ-UB và 7862/QĐ-UB của ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Xích líp Đông Anh đã tiếp nhận 2 công ty: Công ty Bi Hà Nộ và công ty Phụ tùng xe đạp Đông Anh sát nhập vào công ty. Với nhiệm vụ ngày càng nặng nề vì phải giải quyết số nợ còn tồn lại của công ty và công ăn việc làm cho hơn 400 lao động mới về, ban lãnh đạo công ty đã và đang tìm cách mở rộng thị trường sản xuất nhiều sản phẩm mới để tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Cũng theo lộ trình cổ phần hoá các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước đến năm 2010, ngày 01/07/2009 Công ty đã chính thức chuyển đổi sang thành công ty cổ phần và hoạt động  dưới tên gọi “ Công ty cổ phần xích líp Đông Anh”. Hiện tại công ty có tất cả 1553 cán bộ công nhân viên, trong đó 1300 công nhân sản xuất trực tiếp và 253 công nhân sản xuất gián tiếp. Những khách hàng chính của công ty: Honda Việt Nam, YAMAHA, Machino auto parts, VAP, VMEP, GOSHI Thang Long, Piaggio Việt Nam…

    1.3. Sản phẩm

    – Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các loại: xích líp, đùi đĩa xe đạp, xích xe máy, xích công nghiệp, phụ tùng xe máy, ô tô, khóa bi và sản phẩm cơ kim khí khác, mạ niken-crom, kẽm các loại sản phẩm khác

    – Giới thiệu sản phẩm của công ty và các sản phẩm liên doanh

    – Liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để mở rộng kinh doanh, nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, phụ tùng phục vụ cho công tác sản xuất

    – Kinh doanh thương mại tổng hợp, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, cho thuê bến bãi, văn phòng, cửa hàng, nhà ở, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản

    Một số sản phẩm chính:

       
       
       
       

    Hình 1.1: Một số sản phẩm chính của công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.3.         Tình hình sản xuất kinh doanh

    Hình 1.2: Biểu đồ doanh thu giai đoạn 2005-2012

    1.4.         Sơ đồ tổ chức

    Hình 1.3: Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.5.         Hệ thống quản lý chất lượng tại doanh nghiệp

    Từ năm 2002 Công ty cổ phần Xích líp Đông Anh đã đưa hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO9001-2000 áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh. Công ty đã quyết định thành lập phòng QC – ISO quản lý mọi vấn đề về chất lượng sản phẩm như : Kiểm tra chất lượng đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cho đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường tiêu thụ.

    Sơ đồ tổ chức phòng QC:

    Hình 1.4: Sơ đồ tổ chức phòng quản lý chất lượng(QC)

    2.     Đánh giá thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008

    2.1.         Các thủ tục hoạt động của công ty

    Theo yêu cầu của tiêu chuẩn khi xây dựng ISO 9001:2008, công ty đã ban hành và áp dụng các tài liệu sau đây:

    – Chính sách chất lượng

    – Mục tiêu chất lượng của công ty và mục tiêu chất lượng của từng cấp phòng ban chức năng. ( Xem phụ lục 1 –Mục tiêu chất lượng công ty)

    – Sổ tay chất lượng ( Xem phụ lục 2 – Sổ tay chất lượng và môi trường)

    – Thủ tục xử lý khiếu nại ( Xem phụ lục 3–Thủ tục xử lí khiếu nại)

    – Thủ tục hành động khắc phục – phòng ngừa ( Xem phụ lục 4 – Thủ tục hành động và khắc phục phòng ngừa)

    – Thủ tục kiểm soát sản phẩm sai hỏng ( Xem phụ lục 5 – Thủ tục kiểm soát sản phẩm sai hỏng)

    Ngoài những thủ tục bắt buộc như trên theo yêu cầu của tiêu chuẩn, công ty cũng đã xây dựng và đang áp dụng thêm các thủ tục, hướng dẫn công việc và  lập các hồ sơ cần thiết nhằm đảm bảo hệ thống quản lý có hiệu lực và hiệu quả, như : thủ tục lưu kho bảo quản, thủ tục triển khai sản xuất, thủ tục bán hàng, thủ tục tuyển dụng, các hướng dẫn công việc,…

    2.2.         Chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng năm 2012

    • Chính sách chất lượng

    Công ty cổ phần Xích líp Đông Anh xây dựng chính sách chất lượng và môi trường theo các tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 và phù hợp với các hoạt động của công ty.

    – Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất đến khách hàng và đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan.

    – Thường xuyên xem xét nguồn lực để đầu tư công nghệ và đào tạo nhân viên về chất lượng sản phẩm, bảo vệ, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và tái sử dụng nguồn tài nguyên.

    – Nắm bắt chính xác, hạn chế tối đa ảnh hưởng và tác động đến môi trường trong các hoạt động của công ty. Nỗ lực hoàn thành mục tiêu chất lượng, chỉ tiêu môi trường đã đề. Đồng thời điều chỉnh phù hợp với các yêu cầu thực tế

    – Duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo chuẩn quốc tế ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004.

    2.2.2. Mục tiêu chất lượng

    Vào cuối mỗi năm, đại diện lãnh đạo đệ trình lên Tổng giám đốc mục tiêu chất lượng của công ty năm tới để làm cơ sở thiết lập mục tiêu chất lượng tại các cấp và từng bộ phận chức năng. Mục tiêu chất lượng công ty năm 2012 đã được thiết lập (Phụ lục 1- Mục tiêu chất lượng công ty năm 2012).

    2.3.         Hệ thống tài liệu

    Sổ tay chất lượng là tài liệu mô tả toàn bộ hệ thống quản lý chất lượng của công ty, công bố các cam kết của giám đốc về việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, là tài liệu giới thiệu các quá trình công việc và quan hệ giữa chúng trong toàn bộ hệ thống. Đối với từng quá trình, sổ tay chất lượng giới thiệu các chính sách được công ty sử dụng, viện dẫn đến các tài liệu liên quan như là một chuẩn mực trong việc kiểm soát hoạt động của các quá trình. Đối tượng sử dụng sổ tay chất lượng là các nhà quản trị cấp cao trong công ty (ban giám đốc) và các nhà quản trị cấp trung gian (Trưởng, phó các đơn vị trực thuộc) và các cán bộ công nhân viên trong công ty.

    Các quy trình dạng văn bản mô tả các cách thức, biện pháp, trình tự thực hiện, kiểm soát các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan đến các yêu cầu của ISO 9001:2008. Đối tượng sử dụng tài liệu là cán bộ, nhân viên – những người trực tiếp thi hành công việc mà tài liệu quy định.

    Các tài liệu hỗ trợ, bao gồm :

    • Các quy định và các hướng dẫn tác nghiệp của Công ty.
    • Các tài liệu bên ngoài, TCVN, tiêu chuẩn ISO, tiêu chuẩn nước ngoài, các quy định pháp lý của nhà nước liên quan đến hoạt động của Công ty.
    • Các hồ sơ theo yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và các hồ sơ hoạt động khác

    Các tài liệu của hệ thống quản lý chất lượng được những người có thẩm quyền xem xét và phê duyệt trước khi ban hành, được cập nhật vào danh mục tài liệu và được phô tô, phân phối đến nơi sử dụng thông qua sổ phân phối tài liệu.

    Tất cả các hồ sơ theo yêu cầu của ISO đều được ghi nhận và lưu trữ. Hồ sơ được Trưởng các bộ phận liên quan xác định thông qua các danh mục hồ sơ, nêu rõ phương pháp lập thư mục, thời gian lưu giữ, nơi lưu giữ của từng loại hồ sơ. Người chịu trách nhiệm lưu giữ hồ sơ được hướng dẫn cách thức quản lý sao cho có thể truy cập dễ dàng, nhanh chóng, tránh mất mát, hư hỏng.

    2.4.         Quản lý nguồn lực

    Công ty luôn xem xét, xác định và cung cấp các nguồn lực cần thiết cho các hoạt động. Những người thực hiện các công việc ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đều có năng lực trên cơ sở được giáo dục, đào tạo, có kỹ năng và kinh nghiệm thích hợp.

    Công ty đã soạn thảo và ban hành các bảng mô tả công việc, các tài liệu liên quan đến trách nhiệm của nhân viên đối với Công ty; triển khai các khóa huấn luyện, đào tạo định hướng; truyền đạt qua các phương tiện thông tin như mạng nội bộ, bản tin; hướng dẫn công nhân viên thực hiện nghiêm túc các sứ mệnh và chính sách của Công ty.

    STT Đơn vị Đại học Cao đẳng Trung cấp Công nhân KT Tổng số
    1 Ban giám đốc 03       03
    2 Phòng kỹ thuật sản xuất 20 15     35
    3 Phòng đảm bảo chất lượng 05 40 15   60
    4 Phòng thiết bị đầu tư 03 04     07
    5 Phòng kinh doanh 10 10 15   35
    6 Phòng kế toán thống kê 05 03 03   11
    7 Phòng TCHC 10 05 13   28
    8 Phân xưởng xích 03 05 04 118 130
    9 Phân xưởng líp 02 05 06 106 119
    10 Phân xưởng nhiệt luyện 02 05 05 64 76
    11 Phân xưởng phụ tùng 1 03 05 08 102 118
    12 Phân xưởng phụ tùng 2 03 05 10 91 109
    13 PX Bi 05 03 09 60 77
    14 PX Cơ điện 03 07 07 73 90
    15 PX rèn đập 05 03 04 48 60
    16 XN phụ tùng 05 03 05 19 32
    17 PX cơ khí 05 03 06 105 119
    18 PX mạ 05 03 03 80 91
    19 Tổng cộng 97 124 113 866 1200
    20 Tỉ lệ (%) 8,08 10,33 9,42 72,17 100

    Bảng 2 : Cơ cấu lao động của DN tính đến 31/12/2009 (Đ/v : người)

    Qua bảng số liệu trên có thể thấy số lượng nhân viên có bằng Đại học và Cao đẳng chiếm 19,41% số lượng lao động trong công ty, họ là những người được đào tạo chuyên sâu về sản xuất và điều hành do đó sẽ đảm bảo tốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Phòng đảm bảo chất lượng có 60 nhân viên trong đó 45 người có trình độ Cao đẳng trở lên. Có thể thấy doanh nghiệp luôn chú trọng việc quản lý chất lượng sản phẩm thông qua tuyển dụng những nhân viên có năng lực vào phòng QC.(Phụ lục 6 – kế hoạch đào tạo nhân viên năm 2012)

    2.5.         Quy trình triển khai sản xuất

    Để đáp ứng yêu cầu của khách hàng cũng như đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra đúng tiến độ, phù hợp với năng lực của các đơn vị được giao, công ty đã lập ra quy trình triển khai sản xuất.

    Hình 2.1 : Quy trình triển khai sản xuất

    Công ty kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch sản xuất thông qua phòng Kỹ thuật sản xuất. Phòng Kỹ thuật sản xuất có nhiệm vụ đôn đốc các đơn vị tăng cường sản xuất, tháo gỡ vướng mắc cho các đơn vị như : điều động nhân lực cho sản xuất, yêu cầu các đơn vị khác hỗ trợ…Bên cạnh đó, luôn theo dõi và đánh giá mức độ hoàn thành công việc về chất lượng và tiến độ thực hiện sản xuất, lập báo cáo thống kê vào cuối tuần, như vậy luôn đảm bảo được việc kiểm soát sản xuất trong công ty. Vào ngày 03 của tháng sau, phòng Kỹ thuật sản xuất có trách nhiệm tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch tháng trước của các đơn vị trước cuộc họp giao ban, điều chỉnh và ban hành kế hoạch sản xuất tháng lần 2 để các đơn vị thực hiện. Cuối mỗi quý, năm, thủ kho các đơn vị thực hiện kiểm kê số lượng theo mẫu báo cáo, thống kê các đơn vị căn cứ vào đó để lập bảng quyết toán vật tư nộp cho phòng Kỹ thuật sản xuất.

    2.6.         Khắc phục, phòng ngừa và cải tiến

    Tất cả những sự không phù hợp từ thông tin khách hàng hay được tìm thấy trong quy trình sản xuất đều được yêu cầu thực hiện hành động khắc phục phòng ngừa nhằm loại bỏ nguyên nhân của sự không phù hợp hay nguyên nhân của sự không phù hợp tiềm ẩn để đảm bảo điều đó không xảy ra lặp lại hoặc ngăn ngừa sự xuất hiện của chúng. Doanh nghiệp đề ra đầy đủ và cụ thể các quy trình khắc phục, phòng ngừa cũng như cải tiến sản phẩm trong quá trình sản xuất.

    Công ty luôn tìm cơ hội nâng cao tính hiệu lực của hệ thống quản lí chất lượng thông qua việc sử dụng chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, kết quả đánh giá, việc phân tích dữ liệu, hành động khắc phục và phòng ngừa đều được xem xét kỹ lưỡng bởi lãnh đạo công ty.

    2.7.         Khiếu nại của khách hàng

    Trong quá trình sản xuất không thể tránh khỏi việc sản phẩm của công ty mắc lỗi cũng như không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Do đó, công ty đã lập ra thủ tục khiếu nại của khách hàng. Mục đích là ghi lại phản hồi và nhanh chóng giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất cho khách hàng. Công ty đã lập ra QT15 về Quy trình Xử lý khiếu nại của khách hàng, cùng với đó là đơn khiếu nại (mẫu), đơn phản hổi của công ty (mẫu) và bảng theo dõi khiếu nại của khách hàng. Với việc lập ra một quy trình rõ ràng như vậy sẽ giúp việc giải quyết các vấn đề của khách hàng được nhanh và chính xác, tạo lòng tin của khách hàng đối với doanh nghiệp.

    Hình 2.2 : Quy trình giải quyết khiếu nại

    2.8. Lợi ích khi áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001 :2008 tại doanh nghiệp

    – Giúp cho công ty nâng cao được hình ảnh và uy tín đối với khách hàng, đối tác và tất cả các bên liên quan, điều này góp phần rất lớn vào việc xây dựng cho công ty một thương hiệu mạnh.

    Hình 2.3 : Biểu đồ số lượng khách hàng từ 2005-2010

    – Thúc đẩy hiệu quả làm việc của từng phòng ban, bộ phận trong công ty. Khi áp dụng ISO 9001:2008 mọi phòng ban thiết lập mục tiêu theo định hướng của Ban Giám đốc công ty, mục tiêu năm sau phải cao hơn mục tiêu năm trước, điều này buộc mỗi phòng ban, bộ phận phải luôn nổ lực làm việc hiệu quả mỗi ngày để có thể đạt được mục tiêu.

    – Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi nhân viên nhờ sự hiểu rõ sự đóng góp của mình đối với mục tiêu chất lượng. Mỗi người nhân viên đều biết được tầm quan trọng của công việc mình đang đảm nhận và cảm thấy có trách nhiệm hơn trong công việc. Trách nhiệm và quyền hạn cho mỗi nhân viên được xác định rõ ràng và công bố rộng rãi trong toàn công ty, vì vậy đã giảm đi rất nhiều tình trạng đùng đẩy công việc và trách nhiệm lẫn nhau.

    – Tất cả các vấn đề phát sinh đều phải được ghi nhận lại, sau đó công ty phải phân tích và tìm kiếm nguyên nhân để đề ra biện pháp khắc phục để vấn đề không lặp lại một lần nữa với cùng nguyên nhân cũ.

    – Năng lực của nhân viên trong công ty ngày càng nâng cao hơn. Mỗi người nhân viên đều được xác định những kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ tối thiểu cần phải có để đảm nhận công việc, những nhân viên chưa đạt yêu cầu sẽ được công ty lên kế hoạch đào tạo, huấn luyện để những nhân viên này có đủ năng lực thực hiện tốt công việc.

    – Giảm thiểu tối đa các sai sót trong công việc vì những công việc phức tạp thì có hướng dẫn công việc, … tất cả các nhân viên tham gia công việc đều phải đọc và làm theo những quy trình/hướng dẫn công việc đó. Nhờ vậy các công việc có tính chuẩn hóa cao.

    – Nhân viên mới dễ dàng tiếp nhận công việc. Công ty dễ dàng đào tạo nhân viên mới hơn và cũng mất ít thời gian để đào tạo hơn nhờ tất cả các công việc đều có quy trình, hướng dẫn công việc.

    – Chất lượng sản phẩm ổn định, tỉ lệ phế phẩm ngày càng giảm. Tất cả các công việc đều được kiểm soát và quản lý chặt chẽ, năng lực của nhân viên đồng đều và ngày càng nâng cao.

    2.9. Hạn chế khi áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001:2008 tại doanh nghiệp

    – Chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng chưa được truyền đạt và thấu hiểu bởi tất cả các cấp.

    – Qui trình xây dựng và thực hiện mục tiêu không tốt. Chủ yếu dựa vào cảm tính.

    – Nhiều tài liệu, biểu mẫu được ban hành rất lâu, nay không còn sử dụng hoặc đã lỗi thời nhưng không được huỷ bỏ hay cập nhật.

    – Chưa áp dụng mạnh các kỹ thuật thống kê để phân tích dữ liệu.

    – Một số nhân viên, đặc biệt là nhân viên mới, chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008

    3. Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 14001:2004

    3.1.    Các thủ tục hoạt động của công ty

    Theo yêu cầu của tiêu chuẩn khi xây dựng ISO 14001:2008, công ty đã ban hành và áp dụng các tài liệu sau đây:

    – Chính sách Môi trường

    – Sổ tay Môi trường ( Phụ lục 2 – Sổ tay chất lượng và môi trường)

    – Mục tiêu môi trường năm 2012 ( Phụ lục 7 – MTMT công ty năm 2012)

    – Đánh giá mục tiêu môi trường 2012 ( Phụ lục 8 – ĐG MTMT 2012)

    Ngoài những tài liệu bắt buộc như trên theo yêu cầu của tiêu chuẩn, công ty cũng đã xây dựng và đang áp dụng thêm các tài liệu, hướng dẫn công việc và  lập các hồ sơ cần thiết nhằm đảm bảo hệ thống quản lý môi trường có hiệu lực và hiệu quả, như : quy trình kiểm tra chỉ tiêu môi trường, quy trình vệ sinh môi trường, quy trình sản xuất nước sinh hoạt và sản xuất,…

    3.2. Sơ đồ quản lý môi trường của công ty

    Hình 3.1 : Sơ đồ quản lý môi trường Hình 3.2 : Sơ đồ vận hành quản lý môi trường trong hệ thống

    Công ty đã lập kế hoạch, mô hình quản lý môi trường dựa trên phương pháp luận là Plan – Do – Check – Act. Trước tiên là thiết lập các mục tiêu và các quá trình cần thiết đề đạt được kết quả phù hợp với chính sách môi trường của công ty, tiếp theo là thực hiện các quá trình đó theo kế hoạch đã đề ra, tiến hành kiểm tra giám sát và đo lường các quá trình dựa trên chính sách môi trường, mục tiêu, chỉ tiêu và các báo cáo kết quả. Cuổi cùng là thực hiện các hành động cải tiến thường xuyên hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý môi trường.

    3.3. Biện pháp thực hiện của công ty trong quá trình đảm bảo mục tiêu môi trường

    • Trong quá trình sử dụng điện sản xuất

    Hiện nay, việc lãng phí điện năng trong các công ty sản xuất luôn là một vấn đề đau đầu đối với các nhà quản lý. Bản thân công ty Xích líp Đông Anh là một doanh nghiệp sản xuất sử dụng điện năng trong hầu hết các quá trình sản xuất do đó việc giám sát việc sử dụng điện sản xuất luôn được quan tâm chú trọng. Công ty luôn đề ra mục tiêu giảm lượng điện tiêu thụ của năm sau thấp hơn so với năm trước, và để thực hiện mục tiêu này thì công ty đã đề ra các biện pháp cơ bản sau :

    – Thay mới các đường dây cũ nát trong tất cả các phân xưởng

    – Thường xuyên bảo dưỡng các thiết bị điện trong sản xuất

    – Tắt máy ngay khi không có nhu cầu sản xuất hoặc lúc nghỉ ngơi khi chờ sản xuất

    – Phổ biến các quy định này tới tất cả các công nhân trong phân xưởng bằng cách dán thông báo quy định lên bảng hoặc trao đổi trực tiếp

    – Sử dụng hợp lý các bóng đèn chiếu sáng trong phân xưởng

    – Tuân thủ thời gian làm việc và nghỉ ngơi đã được quy định.

    – Hạn chế sử dụng các thiết bị không cần thiết vào giờ cao điểm (19h-22h)

    – Thay thế hệ thống bóng đèn tiết kiệm năng lượng nếu có

    • Quá trình xử lý rác thải công nghiệp từ các phân xưởng

    Mục tiêu của công ty là phân loại quản lý rác thải từ đầu nguồn tại các phân xưởng và giảm lượng dầu công nghiệp thải, rác thải và nước thải ra ô nhiễm đất. Công ty có các biện pháp cơ bản sau :

    – Cấp phát thùng đựng rác thải nguy hại và thùng đựng rác thải thông thường cho các phân xưởng sản xuất

    – Tuân thủ đúng quy trình công nghệ sản xuất

    – Đào tạo ý thức cho người lao động trong khi tham gia vào dây chuyền sản xuất

    – Thu gom lượng dầu thải ra từ công nghệ sản xuất và tập trung tái sử dụng hoặc tái chế

    – Định kì vệ sinh tất cả các phân xưởng để tránh dầu thấm lâu ô nhiễm đất

    – Thu gom lượng dầu thải thải ra từ công nghệ sản xuất về bể chứa dầu thải của công ty

    • Kiểm soát chỉ tiêu ô nhiễm nước thải

    – Đào tạo cho người vận hành phương pháp vận hành và quản lý Hệ thống nước thải.

    – Phân tích định kì và đánh giá mức độ ô nhiễm để kiểm soát ô nhiễm nước

    – Duy trì hệ thống thường xuyên

    • Kết quả công ty đạt được khi áp dụng các biện pháp
    STT Mục tiêu Kết quả TL thực hiện Nguyên nhân
    1 – Giảm 5% tiêu hao điện năng/1đồng doanh thu. +0,0000139 (KW/đồng doanh thu) 0,000020KW/đồng doanh thu (tăng 37%) Không đạt –  Kế hoạch sản xuất tăng.

     

    – Nhiều sản xuất chế thử đi vào sản xuất hàng loạt

    2 – Phân loại quản lý rác thải

     

    – Giảm lượng dầu công nghiệp thải và nước thải ô nhiễm

    Vẫn duy trì thực hiện tốt Đạt  
    3 Đưa hàm lượng các chỉ tiêu ô nhiễm như : pH ; SS ; Fe ; Mn ; Cu ; COD ; BOD5 trong nước thải về hợp tiêu chuẩn QCVN24 :2009/BTNMT 10/10 chỉ tiêu ô nhiễm trong nước đề đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường Đạt  

    Bảng 3 : Đánh giá hiệu quả thực hiện mục tiêu môi trường năm 2012

    • Lợi ích khi áp dụng ISO 14001 :2004 tại công ty

    – Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất tại công ty

    – Tiết kiệm chi phí đầu vào bao gồm nước, năng lượng, nguyên vật liệu, hóa chất…đặc biệt là những nguyên vật liệu khan hiếm như điện năng, than, dầu.

    – Tăng cường uy tín của doanh nghiệp với khách hàng, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường

    – Giúp doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiêu chuẩn iso 9001 :2008 mà không áp dụng iso 14001

    – Nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp khi không phải mất chi phí giải quyết các vấn đề gây ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật

    • Hạn chế khi áp dụng ISO 14001 :2004 tại công ty

    Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 :2004 tại công ty vẫn còn một số hạn chế đó là : chưa đạt được mục tiêu cắt giảm điện năng trong quá trình sản xuất, việc đào tạo cán bộ công nhân viên về áp dụng tiêu chuẩn iso 14001 :2004 chưa được tiến hành, các nhân viên mới chưa có kỹ năng và kinh nghiệp trong việc áp dụng các tiêu chuẩn của ISO. Song đến thời điểm hiện tại doanh nghiệp vẫn đáp ứng được các tiêu chuẩn về ô nhiễm môi trường ở Việt Nam.

    CHƯƠNG III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÍCH LÍP ĐÔNG ANH

    1.     Cải tiến quy trình xây dựng và thực hiện mục tiêu

    Quản lí chất lượng là công việc vô cùng quan trọng và cần thiết trong mỗi tổ chức, công ty. Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất để tạo uy tín và thương hiệu lâu dài, mãi mãi. Nhằm đảm bảo các cam kết trong chính sách chất lượng của công ty được thực thi đồng thời tăng tính hiệu lực vầ hiệu quả của các mục tiêu chất lượng, quá trình xây dựng và triển khai thực hiện các mục tiêu được thực hiện theo quy trình.

    Hình 3.1 Quy trình xây dựng và triển khai mục tiêu

    Từ quy trình trên có thể nhận thấy mục tiêu chất lượng công ty được xác định hàng năm dựa vào nhiệm vụ từng giai đoạn và kết quả hoạt động thự tế. Và dựa trên mục tiêu này các bộ phận sẽ xây dựng mục tiêu cho bộ phận mình và đưa ra kế hoạch thực hiện hàng tháng/ quý của mỗi bộ phận.

    Quá trình triển khai mục tiêu thực hiện phải tuân thủ theo chu trình Deming (Hình 3.2)

    Hình 3.2: Chu trình Deming

    2.     Hoàn thiện hệ thống tài liệu

    Cần thường xuyên xem xét lại quy trình làm việc, thủ tục, biểu mẫu nhằm:

    + Loại bỏ những biểu mẫu, thủ tục lỗi thời, rườm rà, phức tạp, không mang lại giá trị cho doanh nghiệp.

    + Thường xuyên, liên tục cập nhật các quy trình đang làm việc để kịp thời phát hiện những bước thừa, không hiệu quả. Đồng thời áp dụng các quy trình sản xuất tinh gọn, đơn giản nhằm phối hợp hiệu quả giữa các phòng ban để cải tiến, đổi mới công việc cho phù hợp với thời kì.

    + Tổ chức huấn luyện đào tạo để đảm bảo mọi người trong công ty tuân thủ các quy trình, thủ tục này.

    + Duy trì việc cập nhật hệ thống tài liệu trên website nội bộ của công ty để phân phối cho tất cả phân xưởng vào đầu mỗi quý. Đồng thời thông báo những thay đổi trong hệ thống tài liệu trong các buổi họp giao ban đầu quý

    + Lập kế hoạch hỗ trợ và giảm sát tình hình áp dụng tài liệu ở từng đơn vị đặc biệt là khối công xưởng.

    3.     Hoàn thiện nguồn nhân lực, công tác huấn luyện đào tạo

    Trong bất cứ một tổ chức, con người luôn luôn đóng vai trò quan trọng tạo nên sự thành công hay thất bại. Chính vì vậy công ty cần đạo tạo ra ban lãnh đạo xuất sắc, đội ngũ công nhân lành nghề, tận tâm trong công việc. Hiểu được tầm quan trọng này, nhóm chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến để hoàn thiện nguồn nhân lực tại công ty Xích líp Đông Anh như sau:

    + Tuyên truyền sâu rộng và mạnh mẽ về văn hoá công ty để truyền lửa và tinh thần cho ban lãnh đạo, đội ngũ công nhân.

    + Thường xuyên nâng cao nhận thức trong toàn công ty về việc thiết lập và áp dụng hệ thống quản lí chất lượng này.

    + Tổ chức các hoạt động đánh giá hiệu quả công việc, làm cơ sở cho các hoạt động đào tạo, tuyển dụng, khen thưởng, kỉ luật.

    + Thường xuyên có các buổi trao đổi, thảo luận về chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, tăng cường thông tin, tuyên truyền bằng các bảng biểu, băng rôn để mọi người trong công ty đều nắm rõ và thực hiện đúng mục tiêu, chính sách đề ra.

    + Thực hiện đào tạo ngay từ đầu sẽ giúp nhân viên mới có ngay nhận thức về vấn đề quản lí chất lượng, giúp hạn chế rủi ro xảy ra và từ đó nâng cao được năng suất chất lượng công việc.

    + Đối với công nhân: cần được đào tạo cơ bản về nguyên lý lắp đặt, vận hành máy móc, an toàn lao động, các sự cố thường gặp, cách phòng ngừa để từ đó giảm thiểu rủi ro trong công việc.

    + Quản lí trực tiếp việc tổ chức huấn luyện, hướng dẫn tại nơi làm việc: mô tả công việc cho nhân viên mới, hướng dẫn cách sử dụng phần mềm, công cụ hỗ trợ cho công việc, phân công người hướng dẫn trực tiếp công việc hàng ngày giúp nâng cao năng suất lao động.

    + Phòng hệ thống quản lí chất lượng cần có cách thức đào tạo mỗi khi có quy định mới, đồng thời luôn giải đáp thắc mắc cho công nhân vì mục tiêu chung.

    + Sau mỗi lần đào tạo cần đánh giá lại để sửa đổi và đào tạo lại.

    4.      Xây dựng các chỉ tiêu theo dõi và đo lường

    Một trong những yếu tố nhằm đảm bảo hệ thống quản lí chất lượng đạt hiệu quả cao chính là việc đưa ra những chỉ tiêu cần có và một hệ thống đánh giá mức độ đạt được các chỉ tiêu đó.

    Kế hoạch theo dõi và đo lường các quá trình có thể được lập thành bảng như sau:

    Quá trình Mục tiêu Chỉ tiêu/ yêu cầu Tần suất đánh giá Trách nhiệm
    Thực hiện Kiểm tra
               

    Bảng 4: Bảng theo dõi quá trình thực hiện mục tiêu

    5.     Hoàn thiện các kĩ thuật thống kê

    Để đưa ra được những quyết định đúng đắn và có hiệu lực cần phải dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin. Đối với các quyết định liên quan đến chất lượng ta cần phải xác định đúng, rõ ràng nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, xem xét những yếu tố nào có thể kiểm soát được, phân tích các quyết định có liên quan đến nhũng yếu tố đầu vào. Sau đây là quy trình phân tích dữ liệu mà nhóm đề xuất (hình 3.3):

    + Thu thập số liệu

    + Xư lí số liệu

    + Nhận xét kết quả: Xác định những biến động làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện của quá trình

    +Đưa ra thông tin điều khiển, xử lí, phân tích.

    Hình 3.3: Quy trình phân tích dữ liệu

    • Các kĩ thuật thống kê thường sử dụng ( Bảng 4 và 5)
    Công cụ và kĩ thuật Ứng dụng
    Tấn công não Xác định các giải pháp có thể cho các vấn đề và các cơ hội tiềm tàng cho việc cải tiến chất lượng
    Biểu đồ xương cá Phân tích và thông báo các mối quan hệ nhân quả
    Biểu đồ tiến trình Mô tả quá trình hiện có
    Biểu đồ cây Biểu thị mối quan hệ giữa chủ đề và các yếu tố hợp thành

    Bảng 4: Các công cụ và kĩ thuật phân tích các dữ liệu không bằng số

    Công cụ và kĩ thuật Ứng dụng
    Biểu đồ kiểm soát Phân tích: đánh giá sự ổn định của quá trình thực hiện

     

    Kiểm soát: xác định khi nào một quá trình cần điều chỉnh và khi nào cần giữ nguyên hiện trạng

    Biểu đồ Pareto Trình bày theo thứ tự quan trọng sự đóng góp của từng cá thể cho hiệu quả chung

     

    Xếp hạng các cơ hội cải tiến

    Biểu đồ tán xạ Phát hiện và xác nhận mối quan hệ giữa hai tập số liệu có liên hệ với nhau

     

    Xác định mối quan hệ dự tính giữa hai bộ số liệu có quan hệ với nhau

    Bảng 5:Các công cụ và kĩ thuật cho các dữ liệu bằng số

    Việc áp dụng các kĩ thuật thống kê nhằm giải quyết các vấn  đề chất lượng. Do vậy, chỉ nên lựa chọn những kỹ thuật đơn giản mà mọi người đều có thể sử dụng. Ngoài ra, tuỳ thuộc vào nội dung cần thống kê, đặc điểm của hoạt động thống kê để lựa chọn những công cụ phân tích đánh giá phù hợp

    6.     Thành lập nhóm chất lượng

    Để tìm ra được nguyên nhân và đưa ra các biện pháp giảm tỉ lệ khuyết tật của sản phẩm, nâng cao chất lượng sản xuất Công ty tổ chức nhóm chất lượng từ 4-7 nhân viên cùng làm việc với nhau để giải quyết những vấn đề chung có liên quan đến công việc. Nhóm chất lượng này cần phải được đào tạo về cách sử dụng các kĩ thuật và công cụ quản lí chất lượng như: biểu đồ Pareto, biểu đồ xương cá, chu trình PDCA, lưu đồ, phương pháp tấn công não… Việc đào tạo ban đầu có thể do người trong công ty am hiểu về lĩnh vực này hoặc mời chuyên gia hướng dẫn.

    Cần đưa ra các mục tiêu hoạt động rõ ràng, cụ thể, liên tục cập nhật những kiến thức về quản trị chất lượng, giao việc đúng người đúng thời điểm, đúng nhiệm vụ và hướng dẫn các nhóm nhằm đảm bảo việc thực thi đúng đắn của nhóm chất lượng. Tuy nhiên, cần tránh những lí do dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của các nhóm chất lượng như:

    – Thành viên nhóm chất lượng nhiệt tình nhưng không hiều rõ, đầy đủ về nhiệm vụ và thiếu kĩ thuật, kĩ năng thực hiện công việc

    – Ban lãnh đạo thiếu quan tâm, thiếu cởi mở

    – Nhóm quá lớn hoặc quá nhỏ

    – Giao công việc không phù hợp, không đúng lúc.

    Sau đây là mô hình tổ chức hoạt động của nhóm chất lượng ( hình 4.4)

    Đưa ra các vấn đề
    Phân tích các vấn đề, dự án
    Ban lãnh đạo xem xét, chấp thuận, theo dõi
    Báo cáo với lãnh đạo
    Triển khai các cách giải quyết

    Hình 4.4 Mô hình hoạt động tổ chức của nhóm chất lượng

    7.     Ứng dụng các hệ thống quản lí/ công cụ cải tiến khác

    Ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin vào công tác quản lí như: ERP ( Enterprise Resource Planning).

    Phát triển chương trình Kaizen, Sản xuất tinh gọn, 6 sigma.

     

    KẾT LUẬN

    Trong một môi trường kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn và phức tạp như hiện nay, để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững đòi hỏi công ty phải chuẩn hóa toàn bộ quá trình sản xuất từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra đến tay khách hàng. Việc xây dựng hệ thống ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 trong công ty cổ phần Xích líp Đông Anh chính là những bước đi cần thiết giúp công ty phát triền và duy trì một hệ thống quản lý chất lượng toàn diên tốt nhất, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.

    Với việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, công ty đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể thể hiện ở việc công ty đã có một quy trình chuẩn hóa chất lượng ở mọi công đoạn và quy trình sản xuất để cho ra những sản phẩm chất lượng. Doanh số và lợi nhuận của công ty liên tục tăng, quy mô không ngừng được mở rộng kể từ khi thành lập cho đến nay. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và lợi ích mà hệ thống tiêu chuẩn ISO mang lại thì vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục, thông qua phân tích giải pháp và thực trạng chúng ta có thể thấy việc áp dụng tiêu chuẩn này vẫn còn nhiều vấn đề như là quy trình thủ tục chưa chuyên nghiệp, hồ sơ và giấy tờ liên quan còn rườm rà nặng nề, đôi lúc quy trình còn chồng chéo lên nhau,… Do đó để việc áp dụng tiêu chuẩn này cho kết quả một cách hoàn hảo hơn công ty nên thường xuyên nâng cao hiệu lực của hệ thống.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    PHỤ LỤC


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    LỜI NÓI ĐẦU

    N

    guồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng của quá trình đầu tư phát triển của xã hội. Tuy nhiên nguồn lực này lại đặc biệt hơn các nguồn lực khác ở chỗ, đây là nguồn lực tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội nhưng cũng lại chính là đối tượng tiêu dùng những sản phẩm đó. Hơn nữa, tài nguyên con người là nhân tố cần có cách quản lý và khai thác khác hẳn so với những tài nguyên khác. Vì vậy, vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng mang nhiều đặc điểm khác biệt so với hoạt động đầu tư phát triển nói chung. Việc nghiên cứu về đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng là một trong những vấn đề cần thiết cấp bách, vì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với xã hội (vĩ mô) nói chung, và sự sống còn của các doanh nghiệp (vi mô) nói riêng.

    Hơn nữa, Việt Nam vừa mới tham gia WTO trong điều kiện vẫn chưa hoàn thiện nền kinh tế thị trường, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cũng đang được đặt ra cấp bách để đáp ứng được những yêu cầu của thế giới, của quốc gia về một đội ngũ lao động chất lượng cao, tay nghề giỏi để có thể xây dựng nền kinh tế nước ta thêm mạnh mẽ vững chắc. Vì vậy, đầu tư phát triển nguồn nhân lực cần có những đổi mới theo chiều hướng đúng đắn. Trong quá trình này, con người luôn chiếm vị trí trung tâm, là đối tượng và mục tiêu phát triển.

    Vậy, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung gì, hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua có những gì nổi bật, và nước ta cần có những cải cách gì đối với hoạt động này để có thêm sức mạnh khi tham gia hội nhập với thế giới. Sau đây chúng tôi xin được đưa ra một số hiểu biết của mình về vấn đề này.

     

    Chương I: Một số hiểu biết chung về đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    I. Nguồn nhân lực

    1.1.1        1. Khái niệm nguồn nhân lực

    Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

    – Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư trong xã hội có khả năng lao động.

    – Với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế- xã hội thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội.

    – Với tư cách là tổng thể cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động thì nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố thể lực và trí lực của những người từ 15 tuổi trở lên.

    Định nghĩa trên mới phản ánh về mặt số lượng chưa nói lên mặt chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trên các khía cạnh: sức khỏe, trình độ học vấn, kiến thức, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm tích lũy được, ý thức tác phong của người lao động.

    Như vậy, mặc dù có các biểu hiện khác nhau về định nghĩa, khái niệm về nguồn nhân lực của một quốc gia nhưng có thể hiểu 1 cách nôm na nguồn nhân lực chính là nguồn lao động. Theo người Việt Nam, khái niệm ít tranh cãi thì nguồn lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động.

    1.1.2                    2. Các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực.

    Nguồn nhân lực ở đây được biểu hiện qua hai khía cạnh là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, vì vậy để đánh giá nguồn nhân lực thì chúng ta có hai nhóm chỉ tiêu sau.

    1.1.2.      2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá số lượng nguồn nhân lực.

    Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá số lượng nguồn nhân lực nhưng tiêu biểu thì người ta hay dùng các chỉ tiêu sau :

    -Tỷ lệ nguồn nhân lực trong dân số.

    -Tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số

    -Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người trong độ tuổi lao động.

    -Tỷ lệ lao động có việc làm  trong lực  lượng lao động.

                            2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.

    Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:

                            2.2.1. Chỉ  tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực.

    Một người có sức khoẻ không đơn thuần là người đó không có bệnh tật. Sức khoẻ theo định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần, là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.

    Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khoẻ qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

    – Tuổi thọ bình quân.

    – Chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động.

    – Chỉ tiêu phân loại sức khoẻ.

    – Chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức khoẻ.

    – Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật: tỉ suất chết, tỉ suất dân số trong độ tuổi bị mắc HIV/AIDS…

                            2.2.2. Chỉ tiêu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.

    Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn. Những chỉ tiêu đó là:

    – Tỉ lệ người lớn biết chữ.

    – Tỉ lệ đi học chung.

    – Tỉ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.

    2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực.

    Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó( nó biểu hiện trình độ đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học), có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đo bằng:

    – Tỉ lệ cán bộ tổ chức.

    – Tỉ lệ cán bộ cao đẳng, đại học

    – Tỉ lệ cán bộ trên đại học.

                            2.2.4. Chỉ số phát triển con nguời HDI

    HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển con người trên ba phương diện sức khoẻ, tri thức và thu nhập. Ba chỉ tiêu thành phần phản ánh các khía cạnh sau:

    – Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình.

    – Kiến thức được đo bằng tỉ lệ nguời lớn biết chữ ( với quyền số 2/3) và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học,trung học và đại học (với quyền số 1/3)

    – Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu người (tính theo sức mua tương đương PPP USD Mỹ)

    Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng xã hội.

                            2.2.5. Một số chỉ tiêu khác.

    Bên cạnh những chỉ tiêu có thể lượng hoá được như trên, người ta còn xem xét đến các chỉ tiêu định tính thể hiện năng lực phẩm chất của người lao động. Chỉ tiêu này được thể hiện qua các mặt:

    -Truyền thống dân tộc bảo vệ Tổ Quốc.

    – Truyền thống về văn hoá văn minh dân tộc.

    – Phong tục tập quán, lối sống

    II. Nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới, năng lực sản xuất mới, vì mục tiêu phát triển.

    Đầu tư phát triển bao gồm:

    – Đầu tư tài sản vật chất (Tài sản thực)

    – Đầu tư phát triển tài sản vô hình.

    Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội dung của đầu tư phát triển những tài sản vô hình. Nó cũng là việc chi dùng vốn hiện tại, tiến hành các hoạt động làm tăng quy mô và chất lượng nguồn nhân lực, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạt động đào tạo lực lượng lao động, đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động.

    1.1.3        1. Vĩ mô.

    Trên quan điểm vĩ mô, nhà nước luôn luôn có những chính sách để đầu tư phát triển nguồn nhân lực hiệu quả nhất. Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng việc phát triển mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia. Gia nhập WTO được gần 2 năm, Việt Nam gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít thách thức trên con đường phát triển. Trong đó có việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực thế nào để đạt hiệu quả? Chúng ta sẽ nghiên cứu nội dung của vấn đề này để từ đó tìm ra những giải pháp và hướng đi đúng đắn cho bài toán nan giải này. Về cơ bản, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung sau:

    – Đầu tư cho hoạt động giáo dục đào tạo ( chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ…)

    – Đầu tư cho công tác chăm sóc sức khoẻ.

    – Đầu tư cho tiền lương.

    – Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động.

    1.1.3.      1.1. Đầu tư cho giáo dục

    Cùng với khoa học – công nghệ, vốn đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế – xã hội. Kinh tế nước ta có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới, thu hút được mạnh mẽ các nguồn đầu tư, đều phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nguồn nhân lực. Và giáo dục – Đào tạo có vai trò quyết định đối với việc hình thành quy mô và chất lượng nguồn nhân lực. Chính vì vậy, đầu tư nguồn nhân lực cũng là đầu tư vào giáo dục-đào tạo của đất nước. Đầu tư cho giáo dục đào tạo bao gồm các nội dung sau đây:

                            1.1.1. Đầu tư cho chương trình giảng dạy

    Chương trình giảng dạy là những nội dung sẽ được đưa vào giảng dạy tại các trường học, là những kiến thức mà người học sẽ trực tiếp thu nhận. Vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực có đảm bảo hay không là phụ thuộc nhiều vào chương trình giảng dạy có phù hợp với người học hay không, và khả năng tiếp thu của người học với những kiến thức đó là như thế nào. Nên đầu tư vào chương trình giảng dạy ở mỗi nước cần được coi trọng, và phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu trong công cuộc đầu tư vào giáo dục đào tạo. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

    – Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo.

    – Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.

    – Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.

    – Giáo dục đại học và sau đại học (trong Luật gọi chung là giáo dục đại học), đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.

    Ngoài ra, bên cạnh hệ thống giáo dục quốc dân của Việt nam thì còn có các cơ sở giáo dục khác đóng góp vào phát triển nguồn nhân lực. Các cơ sở giáo dục khác bao gồm:

    – Nhóm nhà trẻ.

    – Các lớp độc lập: lớp mẫu giáo, lớp xoá mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin học, lớp dành cho trẻ em vì hoàn cảnh khó khăn không được đi học ở nhà trường, lớp dành cho trẻ tàn tật, khuyết tật, lớp dạy nghề và lớp trung cấp chuyên nghiệp được tổ chức tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

    – Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp; trung tâm dạy nghề; trung tâm giáo dục thường xuyên; trung tâm học tập cộng đồng.

    – Viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ.

    Quan điểm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu được khẳng định từ nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục trong quá trình phát triển đất nước, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Ở Việt Nam hiện nay chương trình giảng dạy chủ yếu là từ sách giáo khoa (SGK), và giáo trình. Nên SGK, cũng như giáo trình phải đảm bảo chuyển tải được những kiến thức cho người học một cách logic, đầy đủ, được gia công về mặt sư phạm một cách kĩ lưỡng, phù hợp với trình độ người học và thời gian học tập, có sự tham gia của các học giả, các nhà giáo kinh nghiệm để đảm bảo hệ thống kiến thức trong đó phải chính xác. Và ngoài phần kiến thức, SGK, giáo trình còn có một phần về rèn luyện các kĩ năng và các phương pháp giảng dạy môn học.

    Ở các nước trên Thế giới có nhiều nước, ở các cấp phổ thông có nhiều bộ SGK cho cùng một môn học, nhưng hiện nay ở Việt Nam mỗi môn học cấp phổ thông chỉ có một bộ SGK, hơn nữa hệ thống SGK còn khá hạn chế, dù đã cải cách, cũng như sửa đổi nhiều lần. Chương trình đào tạo của chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo của xã hội nói chung.

                            1.1.2. Đầu tư về đội ngũ cán bộ giảng dạy và phương pháp dạy học

    Để tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, trước hết cần đầu tư cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, là những người hướng dẫn và trực tiếp truyền thụ kiến thức cho học sinh, sinh viên. Họ phải là những người có đầy đủ kiến thức chuyên môn, trình độ sư phạm, và đạo đức nghề nghiệp. Người học muốn giỏi cần có người dạy giỏi, vì vậy cần đảm bảo làm sao đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng, bảo đảm cơ cấu các Thầy, Cô giáo dạy đủ các môn, tăng cường chất lượng toàn đội ngũ, thanh lọc những người không đủ tiêu chuẩn giảng dạy cho đào tạo, bồi dưỡng bổ sung, làm cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng mạnh về chất lượng, tăng cường nề nếp, trật tự, kỷ cương.

    Phương pháp giáo dục cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu quả tiếp thu kiến thức của học sinh, sinh viên…Phương pháp dạy học có phù hợp, và thực sự cuốn hút mới có thể làm người học hứng thú với việc học. Ở nước ta hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau như

    – Phương pháp giáo dục truyền thống: Giáo viên là người truyền đạt một chiều đến học sinh, mà không có tương tác ngược lại giữa học sinh tới giáo viên. Giáo viên đọc, học sinh chép và hầu như chỉ học lượng kiến thức mà giáo viên cho ghi, không có sự sáng tạo.

    – Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức còn bản thân học sinh là người tự tìm hiểu kiến thức. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn còn học viên phải tự học hỏi, tự tìm tòi qua sách báo và các phương tiện khác. Theo phương pháp này thì học sinh chủ động hơn trong cách học, vì vậy tăng khả năng sáng tạo, tìm tòi của học sinh, sinh viên.

    Ở Việt Nam, thì phương pháp giáo dục truyền thống vẫn phổ biến hơn cả. Dù chúng ta đang dần thay đổi phương pháp dạy học, song việc thay đổi cần sự đầu tư cả về thời gian cũng như đầu tư về cơ sở vật chất. Đầu tư về đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy là nhân tố quan trọng cho việc phát triển giáo dục đào tạo, rất cần sự quan tâm của nhà nước.

                            1.1.3. Đầu tư về cơ sở hạ tầng vật chất cho giáo dục

    Giáo dục là sự nghiệp chung, Nhà nước chăm lo xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục và ban hành những chính sách phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Một trong những nội dung đầu tư giáo dục đào tạo là đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục. Nhà nước ta hiện nay đã đầu tư ngân sách cho giáo dục một phần không nhỏ, trong đó có đầu tư xây dựng trường học, trang thiết bị trường học phục vụ cho việc dạy và học, các công cụ cho phương pháp giảng dạy mới như giảng dạy bằng slide, thảo luận, hội thảo…Đặc biệt ngân sách cho đầu tư phát triển hệ thống trường học đào tạo nghề tăng cao…Việc đào tạo nghề đang được nước ta coi là quốc sách đầu tư quan trọng, là nhân tố cho việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Bên cạnh việc đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng giáo dục tại thành thị, nhà nước quan tâm đến việc xây dựng trường học tại vùng sâu vùng xa miền núi, hay hải đảo.

    1.1.3.      1.2. Đầu tư cho y tế

    Sức khoẻ là vốn quý của con người. Để có thể sống, học tập và làm việc một cách hiệu quả và năng suất thì con người cần phải có sức khoẻ tốt. Có thể khẳng định rằng đầu tư chăm sóc sức khoẻ con người hay đầu tư vào lĩnh vực y tế cũng là đầu tư phát triển.

    Đặc biệt, đầu tư phát triển nguồn nhân lực thì không thể không đầu tư phát triển y tế và chăm sóc sức khoẻ người lao động. Dịch vụ y tế được coi là hàng hoá không thể thẩm định được. Vì vậy, đầu tư vào lĩnh vực này cũng có nhiều điểm khác biệt với các ngành khác.

    Trên góc độ vĩ mô, đầu tư phát triển trong lĩnh vực y tế bao gồm một số nội dung sau:

                            1.2.1. Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng khám chữa bệnh.

    Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân thì ở đâu cũng có, vì vậy hệ thống bệnh viện cần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh mọi nơi, mọi lúc.

    Hệ thống bệnh viện có thể chia làm 3 tuyến chính:

    • Tuyến cơ sở: thường là các trạm y tế xã, phường… với trang thiết bị thô sơ, nhân viên y tế thường chỉ là y tá, y sĩ trình độ không cao lắm, chỉ có thể đáp ứng nhu cầu tạm thời, sơ cứu trong những trường hợp khẩn cấp.
    • Tuyến địa phương: là những bệnh tuyến huyện, tuyến tỉnh… có đội ngũ y bác sĩ trình độ cao hơn, đáp ứng hầu hết nhu cầu khám chữa bệnh trong địa phương trực thuộc.
    • Tuyến trung ương: bao gồm những bệnh viện tập trung đội ngũ y bác sĩ lành nghề, máy móc thiết bị hiện đại… chuyên khám chữa những ca bệnh nguy hiểm, phức tạp…

    Đầu tư cơ sở hạ tầng bệnh viện bao gồm xây dựng phòng khám, trang bị giường bệnh và những dụng cụ y tế cơ bản, đảm bảo đầy đủ để có thể khám chữa bệnh cho người dân.

                           

                            1.2.2. Đầu tư sản xuất, lắp đặt trang thiết bị y tế (TTBYT).

    TTBYT bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân.

    Nghề y là một nghề đặc biệt mà ở đó cơ sở vật chất, phương tiện hành nghề chiếm vị trí cực kỳ quan trọng – bác sĩ giỏi nhưng không có máy móc, TTBYT hiện đại, tiên tiến thì hiệu quả khám chữa bệnh cũng khó có hiệu quả cao.

    Đầu tư TTBYT phải dựa trên các tiêu chí sau:

    • Đảm bảo cung cấp đủ TTBYT cho bệnh viện các tuyến (tuyến cơ sở, tuyến địa phương và tuyến trung ương).
    • Từng bước hiện đại hoá TTBYT nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho người dân.
    • Ðào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành để khai thác sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa và kiểm chuẩn trang thiết bị y tế.
    • Phát triển công nghiệp trang thiết bị y tế nhằm nâng cao dần tỷ trọng hàng hoá sản xuất trong nước và tiến tới tham gia xuất khẩu.

    Để thực hiện được những mục tiêu trên, chính phủ cần có những chính sách khuyến khích nghiên cứu và phát triển TTBYT trong nước, tìm tòi, sáng tạo những phương pháp chữa trị bệnh mới có hiệu quả ngày càng cao.

    Bên cạnh đó cũng cần có chính sách ưu đãi đối với hàng hoá TTBYT như giảm thuế nhập khẩu, củng cố và phát triển hợp lý hệ thống mua bán hàng hoá TTBYT…

    Đồng thời hỗ trợ hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, đảm bảo cho việc vận hành và bảo dưỡng TTBYT luôn làm việc hiệu quả, lâu dài.

    Đặc biệt là chính phủ phải có chính sách huy động vốn cho lĩnh vực này, vì TTBYT thường là những máy móc, dụng cụ có kỹ thuật phức tạp, hiện đại, yêu cầu kỹ thuật cao nên giá thành tương đối lớn. Có biện pháp thúc đẩy sản xuất, chế tạo TTBYT trong nước giúp hạ giá thành cũng như chi phí về trang thiết bị.

     

                            1.2.3. Đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên y tế.

    Nếu như khoa học cần có các nhà nghiên cứu, phát minh thì ngành y tế cũng không thể thiếu đội ngũ nhân viên y tế. Máy móc thiết bị có hiện đại bao nhiêu mà không có bác sĩ thì cũng không thể hoạt động được. Vì vậy, một đội ngũ nhân viên y tế lành nghề, có lương tâm trong mỗi cơ sở y tế luôn luôn là mục tiêu phấn đấu của xã hội. Vì vậy, đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên y tế là rất càn thiết.

    Trước hết, cần phải đầu tư đào tạo nhân viên y tế một cách bài bản, không chỉ có tay nghề giỏi mà còn có tấm lòng đối với bệnh nhân. Như Bác Hồ từng nói “Có tài mà không có đức thì cũng là người vô dụng”, đặc biệt là người thầy thuốc, cần nhấn mạnh về giáo dục tư tưởng, lòng nhiệt tình với nghề và lương tâm đối với người bệnh.

    Bên cạnh đó, dạy và học cần đi đôi với hành. Người thầy thuốc là người nắm sự sinh tử của bệnh nhân trong tay, nếu không được thực hành một cách kỹ lưỡng trước khi thực sự làm việc thì khó có thể lường trước được hậu quả.

    Chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ nhân viên y tế là không thể không chú trọng, người thầy thuốc mang trên mình trọng trách lớn lao yêu cầu tinh thần trách nhiệm lớn nhưng lại thường không được đánh giá đúng mực. Vì vậy, chế độ lương thưởng phù hợp giúp đội ngũ y bác sĩ có thể tập trung vào chuyên môn của mình mà không phải lo lắng đến những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.

    1.2.4. Y tế dự phòng và truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng.

    Thông thường người ta chỉ hay đi khám bệnh khi cảm thấy trong người không được khoẻ mà ít chú trọng tới việc phòng bệnh, khi ấy mới chịu bỏ ra rất nhiều chi phí để chạy chữa tốn kém mà thực tế chi phí cho việc phòng bệnh ít hơn rất nhiều. Vì vậy, đầu tư cho y tế dự phòng và truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khoẻ cộng đồng là góp phần giảm chi phí xã hội một cách hiệu quả.

    Đẩy mạnh nghiên cứu các biện pháp phòng chống những bệnh thường gặp, ngăn chặn ngay từ sớm nguy cơ mắc bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho người dân, giảm thiểu chi phí cho xã hội.

    Tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho người dân về những căn bệnh thường gặp và cách phòng chống qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Đưa vào trường học, cơ quan giáo dục chăm sóc sức khoẻ bản thân, đẩy lùi những nạn dịch có nguy cơ phát triển nhanh trong xã hội.

    1.1.3.      1.3. Đầu tư cho tiền lương

    Một số quan điểm cho rằng: Tiền lương là nhân tố có ảnh hưởng quyết định nhất tới quyết định chọn việc làm, thái độ làm việc của người lao động. Vậy nhà nước nói chung, và các doanh nghiệp nói riêng đã làm gì để thu hút, khuyến khích người lao động làm việc với hiệu quả công việc cao nhất.

    Có thể khẳng định tiền lương là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới quyết định làm việc của người lao động.

    Tăng lương cũng chính là tăng đầu tư nguồn nhân lực.

    + Tăng lương chính là một trong các biện pháp tăng đầu tư cho nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

    + Tăng lương chính là việc đầu tư cho con người. Đầu tư cho con người chính là một trong những hình thức đầu tư phát triển mang lại hiệu quả cao nhất, vì đây là việc đầu tư để nâng cao nguồn nhân lực.

    + Định hướng chính sách tiền lương cũng sẽ liên quan đến việc đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng được thu phí dịch vụ tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ về chi phí hoạt động.

    + Theo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, bên cạnh việc kiềm chế lạm phát, tăng cường công tác thanh kiểm tra của Nhà nước, Chính phủ cần sớm nghiên cứu trình Quốc hội ban hành Luật tiền lương tối thiểu, trong đó quy định rõ các nguyên tắc xây dựng thang bảng lương.

    Đầu tư xây dựng và điều chỉnh chính sách tiền lương thường xuyên để đảm bảo tính hợp lý: Quy định mức lương tối thiểu, thang bậc lương, phụ cấp và trợ cấp đối với các đối tượng đặc biệt.

    Đầu tư cho hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách tiền lương của các doanh nghiệp, đảm bảo tính công bằng cho người lao động.

    1.1.3.      1.4. Đầu tư cải thiện môi trường làm việc

    Khá nhiều nhận định cho rằng tiền lương không phải là yếu tố duy nhất quyết định tới nguồn lực. Ngoài tiền lương còn môi trường làm việc, điều kiện thăng tiến … Vậy môi trường làm viêc ảnh hưởng như thế nào tới quyết định làm việc của người lao động và nàh nước cũng như doanh nghiệp phải đầu tư như thế nào để có được môi trường làm việc tốt nhất cho người lao động, nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực.

    Môi trường làm việc tốt là môi trường làm việc mà người lao động cảm thấy hứng thú với công việc của mình trong môi trường đó.

    Nhà nước đã có những chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mang lại cho người lao động môi trường làm việc hiệu quả nhất. Bên cạnh đó nhà nước cũng đầu tư cơ sở hạ tầng khu vui chơi giải trí phục vụ cho người dân, nâng cao đời sống nhân dân, giúp cho người lao động có thể lấy lại cân bằng sau những ngày làm việc mệt mỏi. Vậy chính phủ đầu tư vào những lĩnh vực gì, cần đầu tư vào những lĩnh vực gì tiếp theo. Đó là câu hỏi luôn được cac nhà quản lý tìm câu trả lời thích hợp để mang lại không gian làm việc thoải mái cho người lao động, nhằm nâng cao chất lượng lao động, nâng cao năng suất lao động của nguồn nhân lực nước ta. Với các hoạt động cụ thể như quy định những điều kiện cần thiết về công đoàn, môi trường làm việc tối thiểu cho người lao động nói chung. Nhà nuwocs có một cơ chế đúng với việc cải thiện môi trường làm việc của người lao động. Và luôn luôn có những chế tài định chế phù hợp để tạo công bằng cho người lao động nói chung và cải thiện môi trường làm việc nói riêng.

    Đầu tư cho tăng cường điều kiện lao động

    • Đầu tư tăng cường bảo hộ lao động.
    • Đầu tư giảm tai nạn lao động.

    1.1.4        2. Vi mô

    1.1.4.      2.1. Các doanh nghiệp đầu tư cho nâng cao trình độ người lao động.

    Giáo dục – Đào tạo có vai trò quyết định đối với việc hình thành quy mô và chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp và các nhà tuyển dụng. Nghiên cứu nội dung đầu tư vào giáo dục-đào tạo ở tầm vi mô gồm những nội dung sau:

                            2.1.1. Đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực tại nhà trường đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp:

    Giáo dục đại học và kỹ thuật nghề nghiệp là bộ phận chủ yếu tạo ra nguồn nhân lực trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhưng giáo trình ở bậc đại học còn nhiều hạn chế trong việc cập nhật thông tin tình hình thực tế, việc dạy và học thụ động vẫn còn tồn tại làm giảm khả năng sáng tạo cũng như làm sinh viên có tâm lý ỷ lại, phụ thuộc vào giáo trình…. Chương trình giảng dạy ở các trường kỹ thuật nghề nghiệp còn chưa hiệu quả, các loại hình dạy nghề còn chưa đa dạng. Hiện nay đào tạo tại các nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp, giải quyết việc này cần sự nỗ lực của 3 phía: nhà tuyển dụng, người học, nhà trường.

    Nhiều trường đại học đã có chuyển rất mạnh sang mô hình đào tạo theo nhu cầu, chủ động tìm đến doanh nghiệp tìm kiếm sự hợp tác, tìm kiếm “khách hàng”. Nhiều doanh nghiệp đã tài trợ cho nhà trường với số trang thiết bị lên đến hàng triệu USD.Và nhà trường cũng phối hợp để điều chỉnh, thay đổi chương trình giảng dạy cho phù hợp.

                                        2.1.2. Đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực của chính các doanh nghiệp

    Hiện tượng “khát” nhân lực có tay nghề diễn ra ở hầu hết các khu công nghiệp và khu chế xuất và điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp xác định rằng đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai. Doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp với việc đào tạo nhân lực..Và ngày càng quan tâm đến việc tham gia vào công tác đào tạo, khắc phục tình trạng thừa lao động chưa được đào tạo, thiếu lao động có kỹ năng theo tiêu chuẩn công nghiệp. Nhà tuyển dụng không chỉ nói rõ nhu cầu của họ với nhà trường về các kỹ năng họ yêu cầu, mà còn trực tiếp tham gia vào công tác đào tạo.

    Hiện nay dù việc các doanh nghiệp tham gia đào tạo còn gặp nhiều khó khăn nhưng họ vẫn liên tục xây trường học, mở nhiều lớp đào tạo kỹ năng, tặng học bổng cho sinh viên các trường đại học và kỹ thuật chuyên nghiệp, thực hiện các dự án giáo dục cộng đồng.

    1.1.4.      2.2. Doanh nghiệp đầu tư cho y tế

    Thông thường đầu tư trong lĩnh vực y tế do chính phủ bỏ vốn là chủ yếu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng không được xem nhẹ hoạt động này trong nội bộ doanh nghiệp mình. Doanh nghiệp muốn phát triển thì phải có đội ngũ nhân viên có đủ sức khoẻ để làm việc với hiệu quả tốt nhất.

    Xét trên góc độ doanh nghiệp, đầu tư phát triển y tế bao gồm:

                            2.2.1. Đầu tư phát triển cơ sở vật chất trạm y tế trong công ty.

    Nếu như bệnh viện là nơi người dân tìm đến khi có dấu hiệu sức khoẻ không bình thường thì trạm y tế là nơi nhân viên trong công ty tìm đến khi cảm thấy không khoẻ mạnh.

    Đầu tư cơ sở vật chất trên tầm vóc doanh nghiệp thì mức độ tuỳ thuộc vào quy mô doanh nghiệp. Cơ bản là phải đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của lao động trong cơ quan, có thể xử lý tạm thời những ca nghiêm trọng nhằm làm giảm nguy cơ xấu cho người bệnh.

                            2.2.2. Đầu tư hoạt động tổ chức khám chữa bệnh định kì cho người lao động.

    Mỗi ngành nghề có một đặc thù riêng nhưng hầu như ngành nào cũng sẽ có bệnh nghề nghiệp. Tổ chức khám chữa bệnh định kì cho nhân viên vừa đảm bảo phát hiện kịp thời và chữa đúng bệnh, vừa làm an tâm người lao động, giúp họ yên tâm sản xuất, kinh doanh.

    Doanh nghiệp nên lập kế hoạch khám bệnh cho nhân viên thường xuyên, khám toàn diện và kỹ càng, đảm bảo sức khỏe người lao động.

                            2.2.3. Tuyên truyền phòng chống dịch bệnh.

    Dịch bệnh không chừa một ai, vì vậy các doanh nghiệp cần chú ý tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho nhân viên về những bệnh thường gặp. Tổ chức các buổi giáo dục phòng chống bệnh tật, đảm bảo môi trường làm việc lành mạnh, giảm nguy cơ nhiễm bệnh

    1.1.4.      2.3. Tiền lương trong doanh nghiệp

                            2.3.1. Tiền lương.

    Doanh nghiệp với các chiến lược riêng của mình cũng đã có những tác động nhất định tới tiền lương nhằm khuyến khích người lao động làm việc với hiệu quả và năng suất cao nhất.

    Đối với doanh nghiệp thì tiền lương là 1 khoản chi phí cấu thành chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Tiền lương phải trả cho công nhân là yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.

    Các doanh nghiệp cũng đã sử dụng tiền lương làm đòn bấy để nhằm khuyến khích người lao động làm việc hiệu quả hơn và thu hút nhân tài cho doanh nghiệp mình. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của vấn đề tiền lương tới thái độ và cung cách, hiệu quả làm việc của người lao động. Trong những năm gần đây, hầu hết các doanh nghiệp đều có những chiến lược với việc trả lương.

    Việc trả mức lương như thế nào cho người lao động cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Tùy vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp, điều kiện làm việc của người lao động mà nhà quản lý doanh nghiệp sẽ có những điều chỉnh mức lương phù hợp nhằm đạt hiệu quả của người lao động, và chi phí phù hợp nhất cho sản phẩm hay dịch vụ mà công ty cung cấp.

                            2.3.2. Tiền thưởng

    Gần đây, tiền thưởng cho nhân viên là một nét văn hóa trong kinh doanh của người Việt Nam. Các doanh nghiệp cũng đã tận dụng tốt điều này để khuyến khích người lao động gắn bó với doanh nghiệp. Tiền thưởng cũng là một yếu tố quan trọng khẳng định thương hiệu của doanh nghiệp, những doanh nghiệp ăn nên làm ra thườn có mức thưởng lớn cho nhân viên của mình. Vậy các doanh nghiệp đã áp dụng những chính sách tiền thưởng như thế nào?

    Tiền thưởng: là một khoản tiền tặng không mà người được phục vụ trả cho người phục vụ để khuyến khích và động viên người phục vụ. Tiền thưởng có thể bằng tiền hoặc một giá trị như cổ phiếu.

    Có nhiều loại tiền thưởng:

    • Tiền thưởng người mua là khoản tiền mà người bán thưởng cho người mua khi đã mua tới một kim ngạch nhất định, trong một kì hạn nhất định; có thể biểu thị bằng một khoản giảm giá mà người bán dành cho người mua;
    • Tiền thưởng xuất khẩu là khoản tiền nhà nước thưởng cho các nhà xuất khẩu về việc đã xuất được những mặt hàng cần đẩy mạnh xuất khẩu hoặc đã xuất được vào những thị trường khó cạnh tranh, Tiền thưởng này có thể biểu thị bằng một khoản thuế được miễn giảm, hoặc bằng một tỉ giá hối đoái ưu đãi;
    • Tiền thưởng hoàn thành kế hoạch là khoản Tiền thưởng dành cho đơn vị hoặc cá nhân đã hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh về giá trị, khối lượng và tiến độ…;
    • Tiền thưởng cuối năm là khoản tiền mà một xí nghiệp hay hãng công ti thưởng cho người làm công vào dịp cuối năm…;
    • Tiền thưởng phát minh, sáng kiến;
    • Tiền thưởnghoàn thành nhiệm vụ đột xuất.

    Trong các doanh nghiệp, Tiền thưởng là khoản tiền ngoài lương mà người sử dụng lao động có trách nhiệm trích từ lợi nhuận còn lại hàng năm (sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước) để thưởng cho người lao động đã làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp.

    Mức tiền thưởng phần nào thể hiện được tình hình kinh doanh của công ty trong năm. Vì vậy các doanh nghiệp luôn muốn công khai mức tiền thưởng của mình là một kênh markerting cho công ty, và doanh nghiệp cũng muốn tiền thưởng cho công nhân ở mức cao hơn các doanh nghiệp khác cùng ngành để khuếch trương uy tín công ty.

    Mức tiền thưởngphù hợp, đúng người đúng việc sẽ khuyến khích đngười lao động. Nhưng bên cạnh đó nó cũng chứa đựng mặt trái, gây gánh nặng cho các doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ vẫn phải chi một khoản lớn để thưởng cho nhân viên mặc dú công ty đang làm ăn chưa thuận lợi.

    1.1.4.      2.4. Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của công nhân trong doanh nghiệp

    “Doanh nghiệp tìm đỏ cả mắt” đó là câu mà các chuyên gia kinh tế hay nhắc tới khi nói tới nguồn nhân lực của các doanh nghiệp. Hiện nay, các doanh nghiệp cũng đã có những chế tài phù hợp để thu hút nguồn nhân lực cho riêng doanh nghiệp của mình. Vậy các doanh nghiệp cần phải làm gì để thu hút nguồn nhân lực cho doanh nghiệp mình và phát triển nguồn nhân lực với năng suất hiệu quả cao nhất.

    Người lao động mong muốn gì ở những gì từ những người lãnh đạo các doanh nghiệp: ngoài tiền lương, người lao động còn cần một môi trường làm việc phù hợp.

    Trước tiên, các doanh nghiệp nên có đội ngũ giám sát công sở và phản hồi của nhân viên. Người lãnh đạo cần phải biết nhân viên của họ yêu cầu và mong muốn gì? Một số doanh nghiệp đã dành hàng tháng trời để thăm dò các nhân viên để biết được các cuộc trao đổi, họp bàn diễn ra như thế nào và ở đâu là thích hợp nhất. Thách thức sau đó chính là cân bằng được các phản hồi này với thực tế. Môi trường làm việc chính là yếu tố quyết định tới thái độ hứng thú làm việc của người lao động, việc giám sát và phản hồi của nhân viên mang lại rất nhiều điều cho doanh nghiệp.

    Những thay đổi không gian cho tập thể. Một trong những lời phàn nàn phổ biến nhất là cách bố trí phòng làm việc không hợp lý, không tạo điều kiện thuận cho giao tiếp xã hội trong doanh nghiệp. Hiện nay một số doanh nghiệp cũng đã có những khoản đầu tư thích hợp để cải thiện môi trường làm việc cho người lao động.

    Ngắt quãng cho giải trí và các trò chơi. Việc này giúp cho nhân việc có thể thư giãn đầu óc, tạm dừng suy nghĩ về công việc. Điều này sẽ làm nhân viên cảm thấy bớt căng thăng trong giờ làm việc. Và những không gian làm việc, mang tính cộng tác còn thu hút nhiều nhân viên triển vọng đến làm việc. Doanh nghiệp cần đầu tư

    – Đầu tư tăng cường điều kiện lao động.

    – Đầu tư tăng cường bảo hộ lao động.

    – Đầu tư giảm tai nạn lao động.

    – Đầu tư cho bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội.

    1.1.5        3 Vai trò của đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    1.1.5.      3.1 Vĩ mô:

    Nguồn nhân lực là nguồn lực con người – là một trong những nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Vai trò của nguồn nhân lực thể hiện trong các mặt sau:

                            3.1.1. Nguồn nhân lực là động lực phát triển kinh tế – xã hội:

    Cùng với khoa học – công nghệ, vốn đầu tư, nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế – xã hội ở nước ta. Chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Không thể không khẳng định vai trò của con người trong việc sáng tạo ra công cụ lao động, rồi vận hành và cải tiến chúng trong quá trình lao động, từ đó thúc đẩy quá trình sản xuất. Nguồn lực của con người  chính là tổng hợp năng lực được huy động vào trong quá trình sản xuất. Năng lực đó chính là động lực quan trọng cho sự phát triển.

    Với mỗi quốc gia, nguồn nhân lực là nguồn lực dồi dào cần cho sự phát triển. Đặc biệt, đối với nước ta có nền kinh tế đang phát triển, với dân số đông,và dân số trẻ là tiềm năng cho nguồn nhân lực dồi dào. Nếu biết khai thác hợp lý nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển.

                3.1.2. Nguồn nhân lực là mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội:

    Phát triển kinh tế-xã hội là nhằm  phục vụ nhu cầu của con người, cải thiện đời sống con người, làm xã hội ngày càng hiện đại, văn minh. Con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội, nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng.

    Có thể khẳng định rằng nhu cầu tiêu dùng của con người cũng là nhân tố quyết định tác động tới quá trình sản xuất, định hướng cho sản xuất thông qua quá trình vận động cung-cầu trên thị trường. Trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó và ngược lại. Đời sống con người ngày càng được cải thiện thì nhu cầu của con người cả về vật chất và tinh thần cũng tăng lên, những nhu cầu đa dạng đó làm tác động tới sự phát triển của xã hội, vì con người không chỉ là mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội mà còn tạo điều kiện tự hoàn thiện mình.

    3.1.3. Nguồn nhân lực là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển

    Lịch sử phát triển của loài người, từ thời kỳ đồ đá đến thời kỳ hiện đại đã chứng minh rằng trải qua quá trình lao động hàng triệu năm của con người đã làm tăng động lực phát triển xã hội. Như vậy, động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người. Điều đó lý giải tại sao con người được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển.

    1.1.5.      3.2. Vi mô

    1.1.5.      Nguồn nhân lực có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp

    Một doanh nghiệp muốn có sức mạnh để phát triển cần phải có được đội ngũ lao động có trình độ tay nghề thỏa mãn nhu cầu công việc ,và nguồn chất xám cũng như nhân lực kỹ thuật đủ để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Doanh nghiệp đã kinh doanh là muốn thành công, nên cái gì thực sự có ích cho họ thì họ sẽ làm. Thời gian trước doanh nghiệp tham gia vào đào tạo còn ít là bởi rất nhiều đơn vị chỉ dừng ở phương thức sản xuất gia công, nên nhu cầu nhân lực trình độ cao còn ít. Và gần đây khi lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng, các doanh nghiệp cần phát triển các sản phẩm mới sâu hơn thì lúc đó xuất hiện nhu cầu nhân lực trình độ cao.

    Để đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nói chung, cũng như vì sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, việc tuyển dụng nhân lực của mỗi doanh nghiệp phải có những đòi hỏi cao về chất lượng, về kỹ năng mềm cũng như chuyên môn của người lao động.

     

    1.1.5.      4. Đặc điểm của đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Nhân lực không chỉ đơn thuần là một trong những nguồn lực sản xuất, mà đó còn là nguồn lực có khả năng quyết định việc tổ chức, sử dụng các nguồn lực khác, là chủ thể tích cực của tất cả các hoạt động sản xuất và hoạt động thị trường. Trong khi các nguồn lực tự nhiên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, nếu không được con người khai thác trong quá trình lao động thì sẽ trở thành vô dụng, thì lao động là nguồn lực duy nhất có khả năng phát hiện, khơi dậy và cải biến các nguồn lực tự nhiên và xã hội khác. Chỉ có con người mới có khả năng nhận biết các quy luật. Ta chỉ có thể thuê vốn con người.

    Lợi ích có được từ đầu tư vào nhân lực mang một số đặc trưng khác hẳn với các loại đầu tư khác.

    Đầu tư vào nguồn nhân lực không hề bị giảm giá trị trong quá trình sử dụng mà ngược lại càng được sử dụng nhiều, khả năng tạo thu nhập và do vậy thu hồi vốn càng cao.

    Đầu tư vào nguồn nhân lực có chi phí tương đối không cao trong khi đó khoảng thời gian sử dụng lại lớn, thường là khoảng thời gian làm việc của một đời người.

    Các hiệu ứng gián tiếp, và hiệu ứng lan tỏa của đầu tư và vốn nhân lực là rất lớn. Trình độ nhân lực trung bình ở một nước cao hơn cũng cho phép tăng trưởng kinh tế tốt hơn và điều chỉnh tốt hơn đối với các vấn đề dân số, kế hoạch hóa gia đình, môi trường và nhiều vấn đề khác.

    Đầu tư vào con người không chỉ là phương tiện để đạt thu nhập mà còn là mục tiêu của xã hội, giúp con người thưởng thức cuộc sống đầy đủ hơn.

    Đầu tư vào con người không chỉ do tỷ lệ thu hồi đầu tư trên thị trường quyết định.

    Tuy nhiên, như đã nói ở trên, các lợi ích thu được từ đầu tư vào nguồn vốn nhân lực thu được chỉ trong điều kiện được sử dụng hiệu quả và có môi trường phát triển phù hợp và thuận lợi. Ngược lại sẽ là sự lãng phí đầu tư. Trong mọi sự lãng phí, lãng phí nguồn nhân lực con người là mất mát to lớn và đáng sợ nhất

     

    1.1.5.      5.Các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    5.1. Vốn.

    Đặc điểm đầu tiên của đầu tư phát triển chính là hoạt động này cần lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng không phải là ngoại lệ. Thậm chí đây còn là lĩnh vực cần nhiều vốn như: đầu tư giáo dục với những thiết bị dạy học quy mô và hiện đại, đầu tư y tế thì cần những trang thiết bị y yêu cầu độ chính xác cao, hệ thống xử lý rác thải y tế cực kì tốn kém, còn trong đầu tư cải thiện chế độ làm việc thì cần nhiều vốn mới có thể cung cấp cho người lao động cuộc sống vật chất và tinh thần không quá nghèo nàn. Vì vậy, để đầu tư phát triển nguồn nhân lực một cách có hệ thống cần rất nhiều vốn.

    Việc thu hút nguồn vốn cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, ví dụ như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất và tỷ giá hối đoái, thu nhập của người dân…

                            5.2. Các phương hướng, chiến lược của nhà nước về đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Thông thường, đầu tư bao giờ cũng phải dựa trên phương hướng, chiến lược phát triển của ngành, vùng, đất nước. Đầu tư nguồn nhân lực phù hợp chiến lược phát triển quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi xin tài trợ vốn, vay vốn, xin cấp phép đầu tư…

                           

    5.3. Trình độ phát triển của đất nước.

    Khi đất nước còn nghèo, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp cần nhiều lao động, phát triển nguồn nhân lực ít được chú trọng, chủ yếu chỉ là sự gia tăng dân số nhằm đảm bảo nhu cầu lao động.

    Khi đất nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bắt đầu thể hiện vai trò của mình vì lao động trong các xí nghiệp ít nhất cũng phải có tay nghề và cần được đào tạo.

    Trong xã hội liên tục đổi mới và phát triển, mở cửa và hội nhập hiện nay, đầu tư phát triển nguồn nhân lực trở nên cực kì quan trọng. Phát triển nguồn nhân lực không còn đơn giản là gia tăng số lượng hay đào tạo lao động công nghiệp giản đơn nữa. Mà người lao động thời đại này cần tri thức, sự hiểu biết nhiều hơn. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cần có định hướng, chiến lược quy mô và toàn diện.

     

    Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển nguồn nhân lực Việt Nam từ năm 2000 đến nay

     I. Tình hình đầu tư phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam từ năm 2000 đến nay.

    1.1.6        1. Tình hình đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

    1.1.6.      1.1. Tình hình chi ngân sách cho giáo dục đào tạo:

    Theo các báo cáo của Bộ GD&ĐT, ngân sách nhà nước cho giáo dục năm 2006 tăng so với năm 2005 là 13.940 tỷ đồng, năm 2007 tăng so với năm 2006 là 11.400 tỷ đồng. Riêng phần ngân sách cho chi thường xuyên của năm 2006 là 42.625 tỷ đồng, của năm 2007 là 51.860 tỷ đồng.  Trong giai đoạn 2002 – 2006, Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT đã tăng gấp 2,4 lần, từ hơn 22.600 tỷ đồng năm 2002 lên đến gần 55.000 tỷ đồng năm 2006. Tỷ trọng chi Ngân sách nhà nước cho GDĐT trong GDP tăng từ 4,2% (năm 2002) lên 5,6% (năm 2006). Theo Thứ trưởng Bộ Tài Chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn, đây là mức chi cao so với các nước trong khu vực và thế giới dành cho GDĐT. Trong đó, chi thường xuyên cho GD Đại học đã tăng hơn 2,4 lần trong giai đoạn 2002 – 2006. Từ năm 2000, chi ngân sách cho GDĐT từ 15%, đã tăng đến năm 2008 là 19,7%. Tỷ trọng chi Ngân sách nhà nước cho GD ĐT trong GDP tăng từ 3,0%năm 2000 đến 5,9% năm 2008

    Bảng chi Ngân sách nhà nước cho GDDT qua các năm

    Năm Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT trong GDP (%) Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT (% so với tổng chi Ngân sách nhà nước) Trong đó
    Chi thường xuyên (% so với tổng chi về GDĐT) Chi Chương trình MTQG (% so với tổng chi về GDĐT) Chi đầu tư (% so với tổng chi về GDĐT)
    2000 3.0 15,0 71,6 4,8 23,5
    2001 4,1 15,3 73,0 4,0 22,3
    2002 4,2 15,6 71,0 4,0 24,9
    2003 4,7 16,4 81,7 4,3 14,0
    2004 4.9 17,1 79,0 4,3 16,7
    2005 5,1 18,1 79,8 4,3 15,9
    2006 5,6 18,4 82,5 5,4 17,5
    2007 5,6 18,1 77,6 5,1 17,2
    2008 5,9 18,2* 73,9 8,9 17,2

    Nguồn: Số liệu thống kê giáo dục. Vụ Kế hoạch – Tài chính, Bộ GD&ĐT

    Ghi chú: (*) Tỷ lệ này sẽ là 19,7% nếu tính cả nguồn trái phiếu Chính phủ chi cho chương trình kiên cố hóa trường học.

    Theo những số liệu trên ta có thể thấy đó là những cố gắng của nhà nước trong việc đầu tư cho giáo dục đào tạo nguồn nhân lực. Để nguồn nhân lực đáp ứng được những yêu cầu chung của xã hội và trên thế giời, cần nguồn vốn rất lớn cho đầu tư về mọi mặt của giáo dục.

    Về vấn đề  xã hội hoá giáo dục, tính đến ngày 30-10-2007, đã có 31 bộ, ban, ngành ban hành cơ chế chính sách thuộc thẩm quyền nhằm đẩy mạnh phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo; sắp xếp các trường trực thuộc theo hướng đa dạng hóa. Hầu hết các tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án Xã hội hóa giáo dục.

    Xét năm 2006, đối với tất cả các trường công lập từ mầm non đến đại học, tổng chi từ Ngân sách nhà nước (kể cả công trái giáo dục và xổ số kiến thiết) là 59.239 tỉ đồng, chiếm 87,2%. Đóng góp của người dân (bao gồm học phí, xây dựng trường học, học thêm…) cho hệ thống giáo dục khoảng 8.658 tỉ đồng (chiếm 12,8%). Nếu tính đóng góp của người dân cho hệ thống giáo dục đào tạo là chi học tập của con em ở trường công lập và cả trường ngoài công lập thì tỷ lệ đóng góp của nhà nước cho giáo dục đào tạo cả nước là 75%, tỷ lệ đóng góp của người dân là 25%.

    Từ chủ trương Xã hội hoá, bộ mặt trường lớp đã ngày càng khang trang hơn: Trong 4 năm  (2002-2006), cả nước có 74.011 phòng học mới được xây dựng; góp phần xóa 4.206 phòng học 3 ca; thanh toán 55.848 phòng học tạm tranh tre nứa lá… Tổng số vốn đã huy động cho kiên cố hóa trường lớp là 9.310 tỉ đồng, ngân sách Trung ương hỗ trợ 5.223 tỉ đồng; ngân sách địa phương: 3.174 tỉ đồng. Các nguồn huy động từ nhân dân, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm là 913 tỉ đồng. Tiêu biểu như tại Đồng Nai, trong 3 năm từ 2003-2006 đã huy động 511 tỉ đồng từ ngân sách địa phương thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường lớp học, tạo nên một diện mạo mới về trường lớp trên địa bàn với 2.200 phòng học, 49 ngôi trường mới, nâng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 35 trường.

    Đầu tư Ngân sách nhà nước về giáo dục hiện đã đảm bảo được kinh phí cho giáo dục phổ cập, các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ trọng điểm, ưu tiên vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người. Nhiều dự án tài trợ và vốn vay nhằm hỗ trợ giáo dục các vùng khó khăn, dân tộc ít người đã được triển khai và góp phần tạo cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho trẻ nghèo như: Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em hoàn cảnh khó khăn tại 222 huyện với 5.000 trường tiểu học và 15.000 điểm trường lẻ; Dự án giáo dục tiểu học bạn hữu cho trẻ em…

    Sự đóng góp của người học và xã hội cho giáo dục đào tạo được thể hiện hết sức phong phú, đa dạng trong thực tế. Tính đến ngày 25-5-2007, cả nước đã có 150 tổ chức xã hội, doanh nghiệp, tập thể và hơn 150 cá nhân có đóng góp xuất sắc cho giáo dục đào tạo với tổng số hơn 900 tỉ đồng; hơn 22.356.000 USD; 232.000 bảng Anh và 1.500.000m2 đất. Từ sự hỗ trợ này, hàng nghìn phòng học; hàng trăm nhà công vụ cho giáo viên, nhiều thư viện với các thiết bị dạy học,… đã được đưa vào sử dụng. Hiện nay, ngành giáo dục đã có mối quan hệ và hợp tác với 70 nước, hơn 20 tổ chức quốc tế và hơn 70 tổ chức phi chính phủ. Các nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức quốc tế bình quân hàng năm chiếm 7,5 – 8% tổng kinh phí dành cho giáo dục đào tạo. Đến nay, đã có khoảng 114 chương trình, dự án hợp tác với tổng kinh phí hơn 1.000 triệu USD.

    Vào tháng 8/2007, tại Hà Nội đã diễn ra lễ khởi động dự án Giáo dục Trung học cơ sở (THCS) vùng khó khăn nhất, bao gồm 103 huyện khó khăn của 17 tỉnh trên cả  nước , được biết  tổng đầu tư cho dự án là 64 triệu USD, trong đó có 50 triệu do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho vay và 14 triệu USD là nguồn vốn đối ứng của Việt Nam.

    Đầu tư cho giáo dục mầm non:

    Đầu tư cho giáo dục mầm non là một trong những nội dung quan trọng của đầu tư phát triển nguồn nhân lực, bởi lẽ đầu tư cho giáo dục mầm non là đào tạo con người trong những giai đoạn đầu đời- đây có thể là giai đoạn đầu tư hiệu quả – là nền tảng cho đào tạo các cấp cao hơn. Trong những năm qua nhà nước ta đã quan tâm đến đầu tư cho giáo dục mầm non phù hợp nhu cầu thực tế.

    Theo báo cáo của các tỉnh, thành, năm 2007 số trường mầm non và số trẻ ăn bán trú trong toàn quốc tăng rõ rệt, đứng đầu là TP.HCM (100% trẻ nhà trẻ và 93% trẻ mẫu giáo được ăn tại trường); kế đến là Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình, Bắc Giang… Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm từ 11% (năm 2005-2006) xuống còn 10%… Ở TP.HCM, hiện đã có 35/48 trường mầm non bán công chuyển sang công lập tự chủ về tài chính, hầu hết các trường vẫn được nhận kinh phí của Nhà nước từ 20 – 50% tổng mức chi hằng năm. Còn Hà Nội đang có dự án chuyển đổi 5 trường mầm non trọng điểm sang mô hình tư thục chất lượng cao, nhằm cạnh tranh với các trường mầm non dân lập chất lượng cao và các cơ sở giáo dục quốc tế đang mọc lên như “nấm sau mưa”.

    Dưới đây là bảng về quy mô giáo dục mầm non và phổ thông giai đoạn 2000-2008

    Đội ngũ giáo viên  mầm non cũng được nâng cao chất lượng và đạo đức nghề nghiệp. Về chế độ chính sách đối với giáo viên mầm non, giáo viên hợp đồng được hưởng chế độ tiền lương, các khoản phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, các danh hiệu tôn vinh nhà giáo như giáo viên trong biên chế, tiền lương, phụ cấp, các khoản bảo hiểm phải đóng được chi trả từ nguồn thu học phí và các khoản thu hợp pháp khác.

    Đối với những cơ sở giáo dục mầm non bán công, nếu nguồn thu nêu trên không đủ để chi trả tiền lương và đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho giáo viên hợp đồng thì phần còn thiếu được ngân sách nhà nước chi hỗ trợ để bảo đảm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trả tiền lương của những giáo viên này không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

    Đầu tư cho giáo dục cấp tiểu học, TH cơ sở, THPT :

    Sau giáo dục đào tạo mầm non, thì đầu tư giáo dục đào tạo cấp phổ thông là cơ sở hình thành cho sự phát triển nguồn nhân lực.

    Trong đó, giáo dục tiểu học là điều kiện cơ sở nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính vì vậy, thời gian qua Nhà nước dành ngân sách thích đáng để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học. Nhà nước có chính sách động viên các nguồn tài chính khác trong xã hội, lập Quỹ giáo dục quốc gia, nhằm hỗ trợ kinh phí cho sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học. Các trường tiểu học sẽ là những đơn vị chủ yếu tổ chức và kiểm tra bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên theo nhu cầu nhằm hoàn thiện năng lực sư phạm cho giáo viên theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp. Hiện nay, để phù hợp với điều kiện từng vùng, Vụ Giáo dục Tiểu học đang xây dựng chương trình “Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học – SEQAP” với đề xuất về 2 mô hình dạy học cả ngày: T30, T35 tuỳ theo điều kiện cụ thể của các trường. Theo đó, T30 (học 30 tiết/tuần) chủ yếu áp dụng cho các vùng khó khăn, tập trung tăng cường Tiếng Việt và Toán và dạy tiếng dân tộc; T35 (học 35 tiết/tuần) áp dụng cho vùng thuận lợi, cho trường thuận lợi ở vùng khó khăn. Đến năm 2025, phấn đấu các trường tiểu học trong cả nước sẽ học 35 tiết/tuần

    Về giáo dục cấp trung học cơ sở, tháng 8/2007, tại Hà Nội đã diễn ra lễ khởi động dự án Giáo dục Trung học cơ sở (THCS) vùng khó khăn nhất, bao gồm 103 huyện khó khăn của 17 tỉnh. Dự án được bắt đầu từ năm 2007 và kết thúc vào năm 2014. Mục tiêu dự án hướng tới là nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó khăn, vùng dân tộc, góp phần khắc phục tình trạng không đồng đều giữa các vùng, các dân tộc; hỗ trợ các mục tiêu về phổ cập giáo dục THCS, bình đẳng giới và chính sách đối với nhóm đối tượng đặc biệt; đồng thời tăng cường năng lực quản lý giáo dục.

    Trong những năm gần đây sự hình thành mạng lưới trường lớp  rất đa dạng, nhất là sự lớn mạnh của hệ thống trường ngoài công lập. Hiện nay, cả nước có 6.049 cơ sở mầm non ngoài công lập, chiếm 52,2%; 90 trường tiểu học, chiếm 0,61%; THCS: 49 trường, chiếm 0,47% và THPT có 617 trường, chiếm 26,2%; Hệ thống trường ngoài công lập đã đóng góp đáng kể vào việc chia sẻ trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi học tập của mọi trẻ em, tăng quy mô giáo dục.

    Trong năm học 2006 – 2007, trong khuôn khổ dự án phát triển THPT, Bộ GD-ĐT đã đầu tư 5,2 triệu USD mua sắm thiết bị bổ sung cho 64 trường THPT, 22 trường THPT nội trú, 4 trường THPT kỹ thuật, 4 trường sư phạm thực hành; sửa chữa, xây mới 1.400 phòng học, phòng thí nghiệm. Các tỉnh, thành phố đầu tư 480 tỉ đồng để xây mới 4.000 phòng học.

    Đầu tư phát triển giáo dục đại học, cao đẳng, kỹ thuật chuyên nghiệp

    Để huy động thêm các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học (GD ĐH), Nhà nước đã đầu tư bằng các Dự án ODA và nhiều Dự án nâng cao năng lực GD ĐH bằng các nguồn vốn viện trợ không hoàn lại khác. Ngoài ra, khuyến khích các cơ sở GD ĐH thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn và chuyển giao công nghệ để tăng nguồn thu. Tuy nhiên, so với nhu cầu của ngành GD, hàng năm các cơ sở GD vẫn thiếu kinh phí để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất. Nhà nước huy động các nguồn lực từ xã hội, vay tín dụng nước ngoài để bổ sung nguồn vốn cho phát triển GDĐT, xây dựng cơ sở vật chất cho các trường ĐH, CĐ.

    Ngoài ra, riêng chính sách về đất đai, Bộ TC đề nghị, các địa phương có nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế thì khi quy hoạch đất làm khu công nghiệp, khu kinh tế phải dành một phần diện tích đất cho việc xây dựng trường, cơ sở đào tạo, không thu tiền thuê đất.

    Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tính đến tháng 7/2007, cả nước có 325 Học viện, trường ĐH, trường CĐ, trong đó có 155 ĐH, Học viện, trường ĐH; 170 trường CĐ (gồm cả các trường thuộc khối an ninh quốc phòng). Có 54 trường ĐH, CĐ ngoài công lập.Tổng số sinh viên CĐ, ĐH năm 2006 – 2007 là 1.415.563 (tăng 10,21% so với năm 2005 – 2006). Tỉ lệ sinh viên/giảng viên bình quân trung của cả hệ thống giáo dục ĐH năm học 2006 – 2007 là 27,15 sinh viên/1 giảng viên. Khối các trường ngoài công lập, bình quân 31,1 sinh viên/giảng viên.

    Các dự án đầu tư xây dựng trường đại học đã và đang được triển khai trên nhiều địa bàn. Thời gian gần đây, trước đòi hỏi của các nhà tuyển dụng, cũng như của xã hội, các trường đại học đang đầu tư điều chỉnh chương trình giảng dạy, đầu tư xây dựng mở rộng giảng đường, khu vực nghiên cứu khoa học, thư viện, phòng thí nghiệm, …các điều kiện cơ sở vật chất cho sinh viên, học viên…Các trường đại học đang liên kết với các doanh nghiệp, với ngân hàng, công ty thực hiện nhiều hội thảo hướng nghiệp, tạo mối liên kết , đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, ngoài các doanh nghiệp trong nước mà ta thường thấy ở các trường ĐH như: Vietcombank, Techcombank, Mobifone, ACCA…Nhiều trường còn liên kết đào tạo với các trường ĐH nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tạo ra một môi trường GD quốc tế, tiến tới ngang tầm khu vực và đạt trình độ thế giới.

    Về đầu tư phát triển trường đào tạo nghề, kỹ thuật chuyên nghiệp. Hiện cả nước có khoảng 355 cơ sở dạy nghề (CSDN) thuộc các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế, bao gồm: hơn 100 trường Trung cấp nghề (TCN), Cao đẳng nghề (CĐN) (trong đó có 47,57% trường ngoài công lập); còn lại khoảng 250 CSDN (trong đó có 67% ngoài công lập) và hàng trăm CSDN khác tham gia dạy nghề ngắn hạn.

    Những năm qua, bình quân mỗi năm các trường nghề thuộc doanh nghiệp đào tạo khoảng 90.000 – 100.000 học sinh hệ dài hạn và hàng trăm ngàn học sinh học nghề ngắn hạn Trường CĐN mỏ Hữu Nghị (bình quân 4.000 học sinh/năm); Các trường thuộc Tổng công ty VINASHIN hàng năm đào tạo được 6.000 – 7.000 học sinh…); Trường CĐN LILAMA 2 (bình quân 2.500 học sinh/năm). Qua gần 33 năm hoạt động, Trường Cao đẳng nghề dầu khí (trường đào tạo nhân lực dầu khí trước đây) đã đào tạo, bồi dưỡng cho các DN dầu khí hơn 60.000 lượt người với trên 100 chương trình; đào tạo được hơn 12.500 công nhân kỹ thuật vớí 27 nghề khác nhau…

    Trong thời gian qua bước đầu có sự gắn kết giữa nhà trường và DN trong dạy nghề. Có nhiều hình thức hợp tác giữa nhà trường và DN, như tổ chức cho học sinh thực tập, thực hành tại DN sau khi đã học lý thuyết tại trường (Trường CĐN LILAMA 1 và 2, các trường của VINASHIN…); DN đầu tư trang thiết bị thực hành cho trường (như tập đoàn Compal Đài Loan, Nhà máy đóng tầu VINASHIN, TOYOTA Việt Nam, một số DN của Tập đoàn LILAMA…); đào tạo theo hợp đồng của DN thông qua việc ký kết giữa địa phương với DN và trường hoặc trực tiếp giữa DN và trường (Hà Tây, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm, Hữu Nghị,…).

    1.1.6.      1.2. Tình hình đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp.

    Việt Nam đang trải qua giai đoạn phát triển rất nhanh, trong khi xã hội nói chung chưa được chuẩn bị để đối phó với những đòi hỏi mới về nhân lực chất lượng cao. Đầu tư vào việc đào tạo nhân viên ngay trong công việc là một giải pháp tự đáp ứng nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực. Song mỗi doanh nghiệp, tại mỗi thời điểm có những nhu cầu và điều kiện làm việc đặc thù, do đó khó có thể nói tới một hình thức đào tạo chung chung cho tất cả các công ty. Việc đào tạo nhân viên cũng trở thành một chiến lược kinh doanh đối với mỗi doanh nghiệp. Hiểu về các hình thức đào tạo khác nhau có thể giúp nhà lãnh đạo lựa chọn một hình thức phù hợp nhất với đặc điểm doanh nghiệp mình.

    Về việc đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp thời gian qua, việc đào tạo như thế nào cho hiệu quả với các doanh nghiệp đã trở thành vấn đề bức thiết, doanh nghiệp phải chọn cho mình một địa chỉ đào tạo đáng tin cậy. Các tiêu chí để chọn một dịch vụ đào tạo chất lượng bao gồm: chương trình học, danh sách giảng viên, lĩnh vực chuyên môn, danh sách khách hàng của dịch vụ, ý kiến phản hồi từ các khách hàng. Trong các doanh nghiệp luôn liên tục diễn ra tập huấn và tái tập huấn cho người lao động, đào tạo nhập môn cho người lao động mới làm.

    Với quan  điểm GD&ĐT phải là “bạn đồng hành” của doanh nghiệp, các doanh nghiệp chủ động gặp gỡ, tìm đối tác liên kết đào tạo, tháo gỡ những vướng mắc, điều phối sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường. Đào tạo nhân lực cho những doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 1 tỷ USD, doanh nghiệp cần thông báo sớm về nhu cầu đào tạo, tuyển dụng, mức lương dự kiến trả cho người lao động sau khi tốt nghiệp.

    Các doanh nghiệp hiện nay thường chọn các hình thức đào tạo nguồn nhân lực: 62% doanh nghiệp lựa chọn đào tạo tại chỗ theo nhu cầu công việc, tiếp theo là gửi nhân viên tập huấn lớp ngắn hạn, chiếm 30%, và tự mở lớp đào tạo, 8%. Đào tạo tại chỗ là cách rẻ nhất và nhanh nhất để phục vụ nhu cầu trước mắt của doanh nghiệp, nhưng về mặt chiến lược, hình thức này không trang bị được cho nhân viên những kiến thức bài bản, có hệ thống, do đó hiệu quả về lâu dài không cao

    Một số doanh nghiệp cho rằng mối lo ngại của họ sau khi gia nhập WTO là nạn chảy máu chất xám và đào tạo nguồn nhân lực. Việc các doanh nghiệp nước ngoài với môi trường làm việc chuyên nghiệp và mức lương hấp dẫn, chắc chắn sẽ thu hút được một số lượng lớn các lao động trẻ có tài năng. Để tránh tình trạng này, các doanh nghiệp đã  xây dựng cho minh một chiến lược phát triển nguồn nhân lực rõ ràng.

    Một số doanh nghiệp có cách tiếp cận rất hay. Chẳng hạn như bằng cách tài trợ cho chương trình của một trường đại học nào đó, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận với những sinh viên năng động để có thể phát triển, nuôi dưỡng tài năng cho doanh nghiệp. Cách khác có thể kết hợp với phòng đào tạo của nhà trường trong tuyển dụng, thường xuyên tổ chức các cuộc nói chuyện với sinh viên các trường đại học, vừa là để quảng bá về doanh nghiệp tới các bạn sinh viên, vừa là để lắng nghe tâm tư nguyện vọng của họ để có thể có được những chiến lược phù hợp trong công tác tuyển dụng và “giữ chân lao động”.

    Bên cạnh đó, có thể nhận thấy một điều rằng mặc dù biết đầu tư cho nguồn nhân lực là rất quan trọng, song việc đầu tư nhân lực trong doanh nghiệp vẫn hạn chế, bởi ít có khả năng thu hồi được lợi ích từ việc bỏ vốn cho giáo dục đào tạo. Do đó, các Doanh nghiệp không bao giờ đầu tư ở mức tối ưu. Có Doanh nghiệp thậm chí đã thôi không cử cán bộ đi học nước ngoài nữa. Hơn nữa, các Doanh nghiệp có xu hướng đầu tư vào các kỹ năng nào không chuyển giao được, ít đầu tư vào những kỹ năng và nghiên cứu cơ bản.

     

    1.1.7        2. Đầu tư cho y tế

    1.1.7.      2.1. Chi ngân sách cho đầu tư phát triển y tế.

    Việt Nam được đứng gần chót bảng xếp loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân (xếp thứ 183/190 nước), bởi trong tổng chi phí cho y tế, Nhà nước mới chỉ đóng góp 30%, người dân phải chi đến 60%, số còn lại từ các nguồn khác. Trong khi đó, theo WHO, để bảo đảm sự công bằng, phần của người dân phải dưới 50%.

    Trong thời kỳ vừa qua, Nhà nước ta cũng đã có quan tâm đầu tư trong lĩnh vực y tế.

    Từ biểu đồ thể hiện tỉ lệ chi ngân sách nhà nước cho y tế ta có thể thấy nhà nước ta đã nhận thấy vai trò quan trọng của đầu tư phát triển y tế, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước đã tăng gấp đôi trong vòng 8 năm từ 2000 đến 2008 (3,17% ngân sách nhà nước cho y tế năm 2000 tăng lên đến 6,1% năm 2008). Tuy nhiên, có thể nói tỷ lệ này vẫn còn rất thấp, Bộ y tế hiện đang có đề nghị tăng chi ngân sách cho y tế lên 10%.

    Về giá trị tuyệt đối của nguồn vốn đầu tư, ta có thể thấy dưới biểu đồ sau:

    Như vậy, ngay cả vốn chi ngân sách cho y tế cũng tăng lên đáng kể, từ 6189,5 tỷ đồng năm 2001 lên đến 27 463 tỷ đồng năm 2008. Điều này cũng có thể cho thấy sự gia tăng trong nhu cầu khám chữa bệnh của người dân kéo theo sự cần thiết phải đầu tư cho y tế.

    Bên cạnh đó, nhu cầu đầu tư rất lớn trong lĩnh vực y tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân tăng lên nhưng mức chi tiêu cho y tế còn ở mức thấp so với thế giới (chỉ chiếm 1,48% GDP, trong khi của Mỹ là 15,3% GDP hay của Thái Lan là 6% GDP),

     

    1.1.7.      2.2. Tình trạng cơ sở vật chất khám chữa bệnh và đội ngũ nhân viên y tế.

     

     

     

    Bảng thống kê tình hình cơ sở vật chất khám chữa bệnh 2000 – 2007

    (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

    Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
    Số cán bộ ngành y (nghìn người) 173,5 176,4 181,6 184,6 188,6 194,1 200,2 211,3
    Số cán bộ y tế bình quân trên 1 vạn dân (người) 5 5,2 5,6 5,8 6,1 6,2 6,3 6,4
    Số giường bệnh tính bình quân trên 1 vạn dân (giường) 24,7 24,5 24,2 23,8 23,9 23,7 23,6 24,8
    Số cơ sở khám chữa bệnh (cơ sở) 13 117 13 172 13 095 13 162 13 149 13 243 13 232 13 438

    Qua số liệu dễ dàng nhận thấy, tuy số cán bộ y tế tuyệt đối tăng về số lượng (từ 173,5 nghìn người năm 2000 lên 211,3 nghìn người năm 2007) nhưng chưa theo kịp tốc độ tăng dân số. Tỷ lệ số cán bộ y tế bình quân trên 1 vạn dân là quá nhỏ, với tỷ lệ này thì trung bình 1 nhân viên y tế phải chăm sóc cho 1562,5 người (= 10 000/6,4), con số này là quá lớn, không thể đảm bảo chăm sóc sức khoẻ người dân một cách cẩn thận và chu đáo.

    Về số cơ sở khám chữa bệnh đã có sự gia tăng, từ 13 117 cơ sở năm 2000 lên 13 438 cơ sở năm 2007. Tuy nhiên, số giường bệnh lại quá ít. Bình quân 10 000 người mới có 24,8 giường bệnh. Tình trạng thiếu giường bệnh là hiện tượng không hề hiếm, đặc biệt là những bệnh viện tuyến trên, bệnh viện lớn, 2- 3 bệnh nhân nằm chung 1 chiếc giường nhỏ hẹp, không đảm bảo nhu cầu điều trị bệnh hiệu quả.

    Như vậy, đầu tư thế nào và đầu tư ra sao đang là vấn đề cấp thiết đối với ngành y tế nước ta.

     

    1.1.7.      2. 3. Tình hình cung cấp trang thiết bị y tế.

    Hiện nay, các đề tài nghiên cứu về lĩnh vực trang thiết bị y tế còn quá ít và nghèo nàn, phạm vi hạn hẹp, quy chế thử lâm sàng phức tạp và quá tốn kém. Đáng nói, một số sản phẩm ít ỏi được nghiên cứu, sản xuất thành công, có giấy phép lưu hành nhưng khó tìm nơi bán, mặc dù các sản phẩm này, ở tất cả các cơ sở y tế đều thiếu trầm trọng.

    Phần lớn các trang thiết bị y tế hiện đại như máy X-quang các loại, hệ thống chụp cắt lớp vi tính CT- scanner, máy điện tim và nhiều thiết bị y tế khác như máy thở, máy gây mê, siêu âm…đều phải nhập khẩu. Các sản phẩm trang thiết bị y tế sản xuất trong nước đơn thuần là những trang thiết bị thông dụng, công nghệ thấp như thiết bị nội thất BV, vật tư y tế tiêu hao…

    Hầu hết TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao.

    Theo Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Thắng, đội ngũ giáo sư, bác sĩ Việt Nam rất giỏi chuyên môn, không thua kém bất cứ nước nào trong khu vực nhưng chúng ta lại thiếu một số TTBYT hiện đại để phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh nên nhiều bệnh nhân phải ra nước ngoài điều trị.

    Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu cho biết, bình quân trên toàn quốc chỉ có 0,79 cán bộ/bệnh viện đủ khả năng vận hành, khai thác và sửa chữa các TTBYT có trị giá hàng trăm triệu, thậm chí lên tới cả chục tỷ đồng.

    1.1.7.      2. 4. Về y tế dự phòng.

    Trong khi các bệnh dịch mới nguy hiểm như SARS, cúm H5N1 liên tiếp xuất hiện, các bệnh “cổ điển” như tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết vẫn hoành hành thì y tế dự phòng lại được đầu tư rất thấp, chỉ chiếm 10-12% trong đầu tư y tế, trong khi khuyến cáo của WHO là tối thiểu 30%. Xu thế của thế giới hiện nay là tập trung vào khâu phòng bệnh thay vì chỉ chú trọng chữa bệnh.

    Với mỗi tỷ đồng đầu tư cho y tế dự phòng có thể tiết kiệm cho chúng ta 4 tỷ đồng nếu để dịch bệnh xảy ra rồi mới lo chạy chữa. Vì vậy, Bộ y tế cũng đang có kiến nghị ngân sách nhà nước cấp vốn khoảng 30% đầu tư y tế để đảm bảo công tác phòng chống dịch bệnh, tiết kiệm chi phí.

     

    1.1.8        3. Đầu tư cho tiền lương

    1.1.8.      3.1. Vĩ mô

    Để bảo vệ quyền lợi của người lao động trước chủ lao động, Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới đều quy định định mức lương tối thiểu cho lao động. Khác với các nước trên thế giới áp dụng một mức lương tối thiểu chung cho cả nước thì chúng ta phân biệt mức lương tối thiểu ở doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự chênh lệch về mức lương tối thiểu giữa 2 khu vực này tạo ra lợi thế tương đối về chi phí của doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài. Đây là sự ưu đãi của chính phủ dành cho các doanh nghiệp trong nước khi sức cạnh tranh của chúng còn yếu, tuy nhiên 2 mức lương tối thiểu này sẽ dần được tăng lên theo hướng mức tăng ở doanh nghiệp trong nước tăng nhanh hơn mức tăng ở doanh nghiệp FDI. Dự kiến đến năm 2012, 2 mức lương này sẽ được thống nhất theo cam kết của Việt Nam gia nhập WTO.

    Lương tối thiểu ở Việt Nam có quá nhiều ràng buộc với hệ thống an sinh. Nếu như ở các nước, lương tối thiểu gắn với yếu tố lạm phát, thường được điều chỉnh kịp thời dựa trên những thay đổi về chỉ số giá sinh hoạt, thì ở Việt Nam, lương tối thiểu còn là cơ sở để điều chỉnh lương hưu, trợ cấp, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc. Mục đích của nhà nước là rất rõ ràng, đó là tạo ra sự công bằng hơn cho tất cả mọi đối tượng hưởng lương, nhưng điều đó lại tạo ra sự mất linh hoạt trong cơ chế điều chỉnh lương, đặt lên vai ngân sách nhà nước một gánh nặng quá lớn.

    Bảng 5: Mức lương tối thiểu chung áp dụng từ 1/1/2008

    Đơn vị :đồng/tháng

      Hà Nội, TP HCM Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Vũng Tàu (*) Địa bàn khác
    Doanh nghiệp trong nước 620.000 580.000 540.000
    Doanh nghiệp nước ngoài 1.000.000 900.000 800.000

     

     

     

     

    Bảng 5: Mức lương tối thiểu chung áp dụng từ 1/1/2009

    Đơn vị :đồng/tháng

      Vùng I Vùng II Vùng III
    Doanh nghiệp trong nước 800.000 740.000 690.000
    Doanh nghiệp nước ngoài 1.200.000 1.080.000 950.000

    Vùng 1: Doanh nghiệp hoạt động tại các quận và TP Hà Đông thuộc Hà Nội; các quận thuộc TPHCM

    Vùng 2: Doanh nghiệp hoạt động tại các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Thường Tín, Hoài Đức, Đan Phượng, Thạch Thất, Quốc Oai và TP Sơn Tây thuộc Hà Nội; các huyện thuộc TPHCM; các quận, huyện Thủy Nguyên, An Dương của Hải Phòng; các quận, huyện thuộc Đà Nẵng; các quận Ninh Kiều, Bình Thủy thuộc Cần Thơ; TP Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh; TP Biên Hòa, thị xã Long Khánh và các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu, Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai; thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên của tỉnh Bình Dương; TP Vũng Tàu và huyện Tân Thành của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Vùng 3: Doanh nghiệp hoạt động tại các TP trực thuộc tỉnh (trừ các TP thuộc tỉnh nêu tại vùng 2) và các huyện còn lại của TP Hà Nội; một số TP, thị xã, huyện của các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh; TP Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc thuộc Lâm Đồng; TP Nha Trang, thị xã Cam Ranh thuộc Khánh Hòa; huyện Trảng Bàng thuộc Tây Ninh; các huyện còn lại của Bình Dương, Đồng Nai; thị xã Tân An và các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước thuộc tỉnh Long An; các quận, huyện còn lại thuộc TP Cần Thơ; thị xã Bà Rịa và các huyện Châu Đức, Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu

    Vùng 4: Gồm Doanh nghiệp đóng trên các địa bàn còn lại 650.000, 920.000

    Mức lương tối thiểu năm 2009 đã tăng trung bình 20% so với năm 2008. Cho thấy việc quan tâm tới người dân lao động thông qua chính sách điều chỉnh mức lương cơ bản phù hợp với tình hinh flamj phát cũng như bảo bảo đời sống của người dân. Mức lương tối thiểu tăng lên đồng nghĩa với lao động của người lao động được trả với giá cao hơn. Nguười lao động sẽ có hứng thú hơn với công việc của mình. Tuy nhiên mức điều chỉnh lương cơ bản này vẫn chưa thực sự bảo đảm việc nâng cao đời sống của người lao động khi mức lạm phát chính thức của năm 2008 được công bố là 12.6%, vậy thực ra cược sống của người lao động có được thay đổi nhiều hay không khi lương không đủ để chống lại với lạm phát. Chính phủ đã có những biện pháp gì để nâng cao cuộc sống cho người lao động?

          Hiện nay, thị trường lao động trong khu vực nhà nước có một số vấn đề cần giải quyết: sự bảo hộ về cạnh tranh, sự thiếu ràng buộc về ngân sách, và việc đảm bảo việc làm vĩnh viễn đã dẫn đến tình trạng tuyển quá nhiều lao động so với mức cần thiết,nhiều doanh nghiệp quốc doanh trả lương cho công nhân rất hậu và thường cao hơn nhiều so với hiệu quả công việc của họ. Tiền lương có xu hướng bình quân hơn: trả lương quá cao cho lao động không có trình độ chuyên môn cao, đối với lao động có trình độ chuyên môn cao lại trả lương thấp hơn khu vực ngoài quốc doanh. Điều này dẫn đến hiện tượng ”chảy máu chất xám” đối với các lao động có trình độ cao từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, các hợp đồng lao động quá chặt chẽ không những làm cho chi phí kinh doanh tăng thêm mà còn giới hạn quyền của người chủ sử dụng lao động trong quá trình thuê, sử dụng, sa thải và tổ chức lao động.

    Hiện nay khi nền kinh tế thế giới suy giảm, có ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam. Cụ thể là thất nghiệp tăng lên, đời sống của người lao động rất khó khăn.

    1.1.8.      3.2. Vi mô

                                        3.2.1. Tiền lương.

    Hiện nay, việc trả lương cho công nhân được mọi doanh nghiệp đặt lên hàng đầu với việ cân nhắc làm sao trả lương cho công nhân một cách hợp lý nhất. Nhưng đây là một câu hỏi không dễ trả lời đối với các doanh nghiệp.

    Điều đáng bàn có thể nằm ở một khía cạnh khác của vấn đề, mà niềm vui được tăng thu nhập không nên làm khuất lấp. Ấy là cái cuộc cải cách tiền lương lần này dường như vẫn chưa dứt khoát hẳn với cách làm cũ. Rất thông cảm với những người làm chính sách khi phải co kéo “tấm chăn” ngân sách cho đều khắp cơ thể kềnh càng của bộ máy hành chính cũng như số lượng người về hưu đông đảo. Nhưng nếu cứ dàn hàng ngang mà tiến với quỹ lương dù phình to thêm 20.000 tỉ đồng thì rốt cuộc giá trị của đợt tăng lương này chỉ còn vài trăm ngàn đồng mỗi người mà thôi. Một thực tế mà ai cũng thấy là mức lương nhà nước hiện nay, dù đã tăng, vẫn còn rất xa mới đủ để người cán bộ, công chức, viên chức yên tâm làm việc. Song với một lực lượng ăn lương đông đảo như hiện nay, nếu trả một mức lương để cho họ đủ sống và nuôi được con cái thì ngân sách nhà nước không đủ sức. Trong khi đó, công cuộc cải cách hành chính hướng vào việc tinh giản bộ máy đang được triển khai quá chậm chạp và gặp rất nhiều lướng vướng.

                            3.3.2. Tiền thưởng.

    Trong những năm gần đây tiền thưởngđã trở thành chủ đề “nhạy cảm” đối với các doanh nghiệp. Ngay cả những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả trong những năm vừa qua cũng rất ngại chia sẻ

    Năm 2007, hai doanh nghiệp được ghi nhận có mức thưởng Tết cao nhất là Công ty Motorola (Hà Nội) và Bayer Việt Nam (Đồng Nai) với mức thưởng 124 triệu đồng và 110 triệu đồng. Theo Vụ Tiền công-Tiền lương (Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội) mức thưởng Tết bình quân vào dịp Tết âm lịch năm 2007 khoảng 1,2 triệu đồng/người. Mức thưởng Tết thấp nhất trong năm cũ theo thống kê là 100.000đ/người.

    Tới năm 2008, thưởng tết của các doanh nghiệp cũng có nhiều thay đổi. Ở TPHCM, cá nhân có mức thưởng cao nhất tính đến hiện nay thuộc về một đơn vị tư vấn luật nước ngoài với 98,5 triệu đồng. Doanh nghiệp ở Bình Dương có mức thưởng thấp nhất là 450 nghìn đồng/người và cao nhất là 40 triệu đồng/người. Vụ Tiền lương, tiền công tổng hợp mức thưởng bình quân trong dịp Tết Âm lịch đạt trên 1,2 triệu đồng/người (gần bằng 1 tháng lương bình quân).

    Bình quân các doanh nghiệp Nhà nước thưởng Tết khoảng 1,4 triệu đồng/người. Các doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn Hà Nội là 1 triệu đồng/người; TP.HCM là 1,69 triệu đồng/người; Đồng Nai là 1 triệu đồng/người; Bình Dương là 1,1 triệu đồng/người.

    Còn các doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP.HCM có mức thưởng Tết trung bình 4,134 triệu đồng/người; Hà Nội là 1 triệu đồng/người; Đồng Nai là 1,06 triệu đồng/người; Bình Dương là 1,4 triệu đồng/người .

    Nhưng năm 2009, tết kỷ sửu,  khi kinh tế thế giới cũng như Việt Nam rơi vào khủng hoảng thì tiền thưởngđược nhắc tới như là một gánh nặng cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp nghĩ tới tiền thưởngtết mà … run. Đó là câu được các báo giật tít nhiều trong tet xuân Kỷ Sửu. Khá nhiều doanh nghiệp khi thấy đặt vấn đề tìm hiểu tình hình lương, thưởng Tết cho người lao động đã nhẹ nhàng… từ chối vì không muốn hình ảnh của đơn vị bị ảnh hưởng. Vay ngân hàng để lo thưởng Tết cho công nhân có lẽ là biện pháp chủ yếu mà các doanh nghiệp dùng để giải quyết  “bài toán” thưởng Tết .

    Tại Hà Nội, mức thưởng cao nhất 80 triệu đồng thuộc về doanh nghiệp FDI chuyên sản xuất đồ uống; thấp nhất là 100.000 đồng thuộc về doanh nghiệp nhà nước và dân doanh.

    Ở khối doanh nghiệp nhà nước, thu nhập bình quân năm nay của lao động tăng 1,4 lần so với năm 2007, khoảng 2,5 triệu đồng một tháng, thì tiền thưởngTết lại giảm 6%, trung bình chỉ 1,1 triệu đồng; thấp nhất là 100.000 đồng/ người.

    Thu nhập cao nhất là 20 triệu đồng/tháng, rơi vào công ty kinh doanh dịch vụ. Đây cũng là đơn vị có mức thưởng Tết cao nhất với 30 triệu đồng/người.

    Khối Doanh nghiệp FDI, tiền lương bình quân là 2.066.000 đồng, giảm 11,9% so với năm 2007. Mức thưởng Tết bình quân là 3,1 triệu đồng/người, tăng 1,5 lần so với năm 2007. Thưởng Tết thấp nhất là 300.000 đồng/người. Mức thu nhập thấp nhất của lao động tại khối này là 1 triệu đồng một tháng, đúng bằng mức lương tối thiểu vùng.

    Mức thu nhập bình quân cao nhất ở khối FDI Hà Nội là 32 triệu đồng một người một tháng, thuộc về một Doanh nghiệp chuyên sản xuất thiết bị điện tử. Doanh nghiệp có mức thưởng Tết cao nhất 80 triệu đồng/người thuộc về 1 Doanh nghiệp sản xuất đồ uống rượu bia.

    Khối Doanh nghiệp dân doanh, nơi có số lao động đông đảo nhất, mức thu nhập bình quân trong năm chỉ 1,5 triệu đồng/người/tháng, giảm hơn 9%. Mức thu thập thấp nhất 700.000 đồng.

    1.1.9        4. Đầu tư cải thiện môi trường lao động.

    Những năm gần đây, nhiều khu công nghiệp lớn ở nước ta được hình thành và phát triển với hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp và các dịch vụ kèm theo đã giải quyết được việc làm cho một số lượng lao động lớn. Song đi kèm với sự phát triển nhanh và mạnh của các cơ sở đó thì vấn đề môi trường làm việc của người lao động phải cần được nhà nước cũng như các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển hơn nữa. Vậy thực trạng đầu tư phát triển môi trường làm việc ở Việt Nam hiên nay như thế nào, đạt được những thành tựu gì và còn tồn tại những khó khăn nào? Để trả lời cho câu hỏi đó trước hết ta đi xem xét tình hình đầu tư  phát triển môi trường làm việc ở tầm vĩ mô hay ở phía các cơ quan quản lý.

    1.1.9.      4.1. Về công đoàn.

                            4.1.1. Vĩ  mô.

    Công đoàn là tổ chức đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống  vật chất, tinh thần của người lao động.(Trích Luật Công Đoàn).

    Trong điều khiện kinh tế thị trường như hiện nay thì sự hoạt động của tổ chức công đoàn là không thể thiếu, ý thức được điều đó nhà nước ta đã đầu  tư phát triển một hệ thống tổ chức công đoàn từ trung ương đến địa phương, hoạt động theo luật Công đoàn và luật Lao động. Nhà nước thường xuyên đôn đốc kiểm tra hoạt động của các tổi chức này, cứ 5 năm 1 lần nhà nước tổ chức họp Đại hội Công đoàn trong đó đánh giá hoạt động trong một nhiệm kì chỉ ra các thành tựu cũng như các mặt còn hạn chế để từ đó đề ra các biện pháp, phương hướng hoạt động của tổ chức trong nhiệm kỳ kế tiếp. Trong nhiệm kỳ 2003-2008, tổ chức công đoàn đã đẩy mạnh hơn việc chăm lo đời sống, đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ. 5 năm qua, cơ cấu đội ngũ công nhân viên chức lao động (CNVC-LĐ) nước ta đang diễn ra theo hướng tăng tỷ lệ trong các ngành giáo dục, y tế, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Số lượng công nhân lao động hiện có khoảng 9,5 triệu người, chiếm tỉ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội… Bình quân mỗi năm có khoảng 1,5 triệu lao động được tạo việc làm, tỉ lệ lao động thất nghiệp và thiếu việc làm giảm dần. Đến hết năm 2007, tổ chức công đoàn trên cả nước đã phát triển vượt chỉ tiêu 2 triệu đoàn viên mới, nâng tổng số đoàn viên công đoàn lên hơn 6 triệu người với trên 93.000 công đoàn cơ sở.

    Tuy nhiên trước bối cảnh nước ta đã ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO với những tác động yêu cầu hoạt động công đoàn phải năng động linh hoạt hơn nữa để có thể thích ứng được với sự biến động thường xuyên của nền kinh tế thị trường.Hiện nay nền sản xuất nước ta chưa ổn định vững chắc,lại đã và đang chịu sự tác động tiêu cực kép của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế thế giới nên yêu cầu về các tổ chức công đoàn lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Và việc đầu tư cho các hoạt động cưa công đoàn đòi hỏi dặt ra rất cần thiết với những chính sách tác động phù hợp của nhà nước.

    Ngân sách CĐ gồm 3 nguồn chủ yếu là kinh phí CĐ, đoàn phí CĐ và các nguồn thu khác. Nguồn thu ngân sách công đoàn tương đối ổn định, năm sau cao hơn năm trước, mức tăng bình quân trên 10%/năm, trong đó phần lớn (80%) là từ nguồn kinh phí CĐ khu vực HCSN và Doanh nghiệp NN. Thu kinh phí CĐ khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng nhỏ và còn thất thu nhiều. Thu đoàn phí CĐ được đánh giá là đạt kết quả khá, năm sau cao hơn năm trước, mức tăng trên 20%/năm. Tuy nhiên cũng như thu kinh phí CĐ, khu vực ngoài nhà nước cũng xảy ra tình trạng thất thu. Việc phân phối tài chính CĐ được thực hiện nghiêm túc, theo đúng quy định của nhà nước và TLĐ. Các cấp công đoàn đã chủ động khai thác nguồn thu, tiết kiệm chi, đảm bảo kinh phí cho bộ máy và hoạt động phong trào. Công tác quản lý ngân sách CĐ được các cấp CĐ quan tâm. Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TLĐ (khoá IX) của TLĐ về tăng cường công tác quản lý ngân sách công đoàn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng, các cấp công đoàn đã có bước chuyển biến tích cực. Thực hiện định mức, chế độ chi tiêu theo đúng quy định của Nhà nước và TLĐ. Các cấp CĐ đã chú trọng dành kinh phí cho hoạt động phong trào, chiếm khoảng 60%, chủ yếu là chi cho công tác tuyên truyền giáo dục, tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng, các hoạt động xã hội, phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS. Tuy nhiên trong đó, kinh phí chi cho công tác đào tạo CBCĐ còn hạn chế, mới chỉ chiếm 1,6%; chi hành chính CĐ còn chiếm tỉ trọng lớn (lên đến 22%, bao gồm cả các khoản chi khác). Kiểm toán quyết toán thu chi ngân sách công đoàn năm 2006 tại 27 đơn vị cho thấy các đơn vị đều thực hiện tốt, không có sai phạm lớn.

    Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế phân phối tài chính CĐ theo QĐ 699/QĐ-TLĐ cũng bộc lộ một số nhược điểm. Quy định phân phối chỉ dựa vào chỉ tiêu lao động là không phù hợp, do nguồn thu còn dựa vào tiền lương, thu nhập, điều kiện KT-XH của từng vùng. Số LĐ theo báo cáo dự toán và quyết toán là số liệu thống kê nên chưa chính xác, cấp hỗ trợ kinh phí dựa trên số thu, không khống chế mức cấp hỗ trợ tối đa là không hợp lý, tạo tư tưởng bao cấp, ỷ lại cho một số đơn vị. Quy định thưởng đơn vị thu vượt kế hoạch tại QĐ này cũng dẫn đến tình trạng có những đơn vị xây dựng kế hoạch thấp để giảm nộp, duyệt kế hoạch NGÂN SÁCH hàng năm thấp, không sát thực tế.

                             4.1.2. Vi mô

    Hoạt động của Công đoàn ngày càng trở nên hết sức quan trọng,các doanh nghiệp cũng đang dần ý thức một cách rõ ràng rằng Công đoàn chính là cầu nối giữa lãnh đạo Doanh nghiệp và NLĐ và cầu nối này là con đường ngắn nhất để chủ Doanh nghiệp và NLĐ hiểu biết lẫn nhau và có những trao đổi kịp thời, tránh dẫn tới bức xúc, hiểu lầm làm tổn hại đến quan hệ lao động nên việc thành lập các tổ chức Công đoàn ở các Doanh nghiệp kể cả Doanh nghiệp NN và Doanh nghiệp ngoài nhà nước đang được quan tâm phát triển. Mặc dù vậyj nhưng hiện nay vẫn có 85% doanh nghiệp dân doanh, 65% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa có tổ chức công đoàn cơ sở. Bên cạnh đó vẫn tồn tại hiện tượng Doanh nghiệp đổ xô xin thành lập CĐ để đối phó với quy định mới của Nhà nước về đăng ký thang, bảng lương vào cuối quý I/2008. Khi tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng có nhiều Doanh nghiệp nước ngoài được thành lập và hoạt động ở nước ta thu hút một số lượng lớn lao động tham gia, nhưng ở các Doanh nghiệp này hầu hết thì các tổ chức Công đoàn còn chưa được thành lập mặc dù đại bộ phận người lao động ở đây phải làm việc với cường độ làm việc cao.

    Việc thành lập Công đoàn đã khó, duy trì hoạt động và chăm lo tốt cho người lao động còn khó hơn. Hoạt động của các CĐCS còn kém hiệu quả, theo số liệu thống kê thì số cuộc đình công qua các năm đều tăng , nhưng 100% tất cả các cuộc đình công đó đều không do công đoàn cơ sở lãnh đạo. Năm 2006, cả nước xảy ra

    387 vụ đình công, năm 2007 xảy ra 541 vụ; song chỉ riêng 3 tháng đầu năm 2008 đã có tới gần 300 vụ.

    Còn những khó khăn trên một phần là do đội ngũ cán bộ Công đoàn bán chuyên trách yếu về năng lực và khồng ổn định. Hiện nay ở các Doanh nghiệp việc tìm một người đủ năng lực đảm đương chức vụ Chủ tịch Công đoàn là rất khó và thực tế đội ngũ này thường xuyên biến động. Một phần do các Doanh nghiệp còn chưa đầu tư  nhiều cho phát triển các tổ chức Công đoàn nên hoạt động của các cán bộ công đoàn còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù có quỹ hỗ trợ cán bộ công đoàn nhưng thực tế cho thấy chủ Doanh nghiệp mới là người trả lương chính cho cán bộ công đoàn nên CBCĐ không dám đứng ra lãnh đạo, tổ chức đòi quyền lợi cho công nhân. Đã có nhiều trường hợp, chủ Doanh nghiệp lại chấm dứt HĐLĐ với CBCĐ vào thời điểm hết HĐLĐ, chứ không phải ngay sau thời điểm diễn ra đình công.

    1.1.9.      4.2.  Đầu tư cải thiện điều kiện làm việc.

                            4.2.1. Vĩ mô.

    Trong những năm vừa qua, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, số vụ cháy nổ làm chết và bị thương nhiều người, gây thiệt hại lớn về tài sản có xu hướng tăng lên hàng năm. Năm 2008 đã xảy ra 5.836 vụ tai nạn lao động làm 6.047 người bị nạn, có 508 vụ tai nạn lao động chết người, làm 573 người bị chết và 1262 người bị thương nặng. Các loại TNLĐ phổ biến vẫn là điện giật, ngã cao, máy, thiết bị cuốn, cán. Các lĩnh vực sản xuất xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người là: xây dựng, công nghiệp và công trình giao thông; khai thác khoáng sản; sản xuất vật liệu xây dựng; cơ khí. Nguyên nhân chủ yếu của nhiều vụ TNLĐ và cháy nổ trong thời gian qua là do doanh nghiệp thiếu ý thức cải thiện điều kiện làm việc, do người sử dụng lao động và người lao động vị phạm quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn. Nhiều doanh nghiệp chỉ chú trọng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận, không quan tâm vấn đề cải thiện điều kiện làm việc an toàn cho người lao động.

    Trước tình hình đó các cấp công đoàn đã đẩy mạnh hoạt động bảo hộ lao động chủ yếu như: tham gia với Nhà nước xây dựng các văn bản pháp luật, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp công đoàn về BHLĐ; tổ chức và tham gia tuyên truyền về BHLĐ cho người lao động và người sử dụng lao động; củng cố mạng lưới an toàn vệ sinh viên ở cơ sở, tổ chức hội thi an toàn vệ sinh viên giỏi ở cấp cơ sở và cấp tỉnh, CĐ ngành TW; triển khai các nội dung hoạt động hàng năm về BHLĐ của Công đoàn. Kết quả, năm 2008 các cấp công đoàn đã tổ chức treo 158.497 khẩu hiệu, panô, tranh BHLĐ, phân phát 641.778 tờ gấp, 43.093 bản tài liệu, đĩa CD về ATVSLĐ; tham gia vận động chiến dịch “Trồng 3 tỉ cây xanh vì hoà bình”; đã tổ chức thăm hỏi 2.101 nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân bị TNLĐ, BNN có hoàn cảnh khó khăn.

    Các cấp quản lý ngày càng tăng cường hơn nữa việc giám sát, kiểm tra, đôn đốc các Doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc theo Luật lao động, ngày càng hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về các điều kiện, tiêu chuẩn VSATLĐ nhằm một điều kiện làm việc  tốt nhất cho người lao động. Mặc dù đã có quy định cụ thể về tiêu chuẩn  VSATLĐ song việc thực hiện còn chưa nghiêm túc. Theo số liệu thống kê năm 2008 nguyên nhân chủ yếu xảy ra tai nạn lao động chết người: Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 20,02% và do người lao động chiếm 34,93% tổng số vụ, cụ thể là:

    – Người sử dụng lao động vi phạm Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật, Quy phạm an toàn chiếm 5,60% tổng số vụ

    – Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 2,66% tổng số vụ

    – Chưa huấn luyện an toàn lao động cho người lao động, không có phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 7,77% tổng số vụ

    – Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 2,78% tổng số vụ; không có thiết bị an toàn chiếm 1,21% tổng số vụ

    – Người lao động vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động chiếm 30,38% tổng số vụ

    – Người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 4,55% tổng số vụ

                            4.2.2. Vi mô.

    Theo quy định của Bộ Luật lao động, người chủ sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo chế độ,trang bị đầy đủ các phương tiện BHLĐ bảo đảm an toàn Theo quy định của Bộ Luật lao động, người chủ sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo chế độ,trang bị đầy đủ các phương tiện BHLĐ bảo đảm ATLĐ cho NLĐ. Trong những năm gần đây, mặc dù các doanh nghiệp (Doanh nghiệp) đã nhận thức được tầm quan trọng, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với công tác an toàn và vệ sinh lao động (ATVSLĐ), tuy nhiên vẫn còn nhiều nơi, kể cả Doanh nghiệpNN chưa thật sự chú ý đầu tư cơ sở vật chất cho công tác này, thậm chí có Doanh nghiệp còn trang bị theo kiểu đối phó với các đợt thanh, kiểm tra, nhất là các Doanh nghiệp trong ngành xây dựng, khai thác đá, vận hành thiết bị chịu áp lực. Còn với các cơ sở sản xuất nhỏ thì tuân thủ các quy định về ATVSLĐ vẫn là chuyện xa vời. Qua công tác thanh, kiểm tra, ngành chức năng đã phát hiện nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ hầu như không nắm được các văn bản pháp quy của Nhà nước về BHLĐ. Vì vậy, các nội dung về BHLĐ chưa được thực hiện nghiêm túc, không đảm bảo an toàn trong hoạt động sản xuất.Vì thế chuyện  TNLĐ xảy ra nhiểu,theo số liệu thống kê thì trong số các vụ TNLĐ đã xảy ra , nguyên nhân do vi phạm quá trình kiểm tra ATLĐ chiếm 29,67%, do thiết bị sản xuất không an toàn: 1,1%, Doanh nghiệp không có biện pháp kiểm tra ATLĐ: chiếm 1,1%, do các nguyên nhân khác chiếm 68,13%.

    Chủ các Doanh nghiệp còn chưa coi trọng vấn đề về quần áo bảo hộ,điều kiện làm việc cho người lao động trong khi số lượng lao động hoạt động trong Doanh nghiệp có môi trường độc hại ngày càng gia tăng dẫn đến bệnh nghề nghiệp của người lao động ngày càng có xu hướng tăng cao. Theo báo cáo mới nhất của Bộ Y tế, hàng năm chỉ có khoảng 18 – 20% số cơcó  sở có nguy cơ cao được giám sát về môi trường lao động. Chỉ có 22 – 25% số người lao động được khám sức khoẻ định kỳ và dưới 10% số người lao động tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm độc hại được khám sức khoẻ nghề nghiệp. Còn theo Cục An toàn lao động (Bộ LĐTBXH), có hơn 1,33 triệu công nhân và người lao động đã được tập huấn về ATVSLĐ trong năm 2008, tăng 156% so với năm 2007, song số lượng các vụ tai nạn lao động và tử vong vẫn tiếp tục.Đa phần NLĐ xuất phát từ nông thôn đi làm thuê,không được đào tạo qua trường lớp;các Doanh nghiệp thì chưa thực sự chú trọng đên s công tác huấn luyện ATLĐ nên NLĐ hầu như chỉ được hướng dẫn thao tac công việc ít được hướng dẫn các biện pháp ATLĐ,cảnh báo những nguy hiểm nên TNLĐ thường xảy ra.Công nhân ở các Doanh nghiệp thường phải nộp tiền  mới được cấp quần áo BHLĐ,còn xưởng làm việc chỉ cấp mũ và khẩu trang.Tuy vậy chất lượng của các bộ quần áo này vẫn  còn đang là vấn đề nhức nhối.

    1.1.9.      4.3. Đời sống văn hóa tinh thần của người lao động.

                            4.3.1. Vĩ mô

    Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu châu á nói chung và đến VN nói riêng là không thể phủ nhận. Đời sống của người lao động vì thế mà ngày càng khó khăn cả về vật chất và tinh thần. Trước thực tế khó khăn chung của cả nước khiến một bộ phận người LĐ bị mất việc trong năm 2008, và dự báo LĐ thất nghiệp sẽ tiếp tục tăng lên trong năm 2009, chính sách của nhà nước thì chưa thực sự quan tâm đến vấn đề tinh thần cho người lao động. Việt Nam lại chưa có hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu cho người thất nghiệp. Chưa đầu tư vào các vấn đề về các khu vui chơi giải trí, tổ chức các hoạt động du lịch lành mạnh cho họ. Nhiều người còn sống trong các khu nhà tạm bợ, không đủ các điều khiện tối thiểu để sinh hoạt.

    Hiện nay nhà nước Đảng đã đề ra nhiều biện pháp nhằm cải thiện tình trạng này. Chính sách về tiền lương tối thiểu có hiệu lực năm 2009 này là một trong những biện pháp tích cực để cải thiện tình hình trên.

    Xây dựng đội ngũ CN vững vàng về chính trị tư tưởng, có chuyên môn nghiệp vụ, có kỷ luật LĐ, tác phong công nghiệp và có nếp sống văn hoá, thực sự là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước… là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó có tổ chức CĐ.

                            4.3.2. Vi mô

    Do sức ép về việc làm của các địa phương ngày càng gia tăng, dòng người LĐ di cư từ các nơi đến thành thị cũng ngày càng đông. Phần lớn số LĐ này trình độ văn hoá, tay nghề còn thấp, tác phong công nghiệp và ý thức tổ chức kỷ luật còn hạn chế. Trong khi đó, việc xây dựng các KCN-KCX chưa gắn với quy hoạch đô thị, đặc biệt là xây dựng nhà ở, các công trình phúc lợi công cộng và hình thành các thiết chế văn hoá đi kèm… Điều này khiến cho đa phần người LĐ buộc phải sống, sinh hoạt trong những khu nhà trọ tạm bợ, nhếch nhác mọc lên tự phát xung quanh các KCN-KCX. Đây là môi trường thuận lợi cho các loại tệ nạn xã hội, đặc biệt là nạn ma tuý, mại dâm rình rập lôi kéo người LĐ. Nếu chúng ta không cải thiện được tình hình trên thì nguy cơ tha hoá một bộ phận đội ngũ CN là hiện thực. Đây là một thực tế rất đáng lo ngại. Quả thật có nhiều doanh nghiệp mới chỉ chăm chú báo cáo con số bình quân lương tháng của NLĐ, mà hoàn toàn quên “phần hồn” của họ.tiền lương thâm chí ko đủ ăn chứ không nói gì đến giải trí. ngay trong “hàng rào” doanh nghiệp, quan hệ chủ thợ vẫn  rất phức tạp, điều kiện làm việc của người CN còn xấu, quyền lợi về vật chất và văn hoá, tinh thần của người LĐ còn bị vi phạm.

    Điển hình là một số thành phố lớn trong cả nước:

    Hà Nội:  số liệu điều tra 45 Doanh nghiệp của CĐ thủ đô cho thấy với 60% số CNLĐ không xem tivi, 85% không đọc báo, 80% không tập thể dục và 65% không tham gia các hoạt động văn hoá…

    Nhiều Doanh nghiệp không đảm bảo điều kiện LĐ, ký HĐLĐ, ký TƯLĐTT, đóng BHXH cho NLĐ…

    Qua một điều tra gần đây ở tỉnh Bình Dương cho thấy, CN phụ thuộc hoàn toàn vào các hình thức giải trí được cung cấp sẵn, rẻ tiền hoặc miễn phí như: 89,4% (người được hỏi) giải trí bằng ti vi; 82,4% nghe đài; sử dụng Internet 1,2%.

    Nhưng 71,8% (số người được hỏi) không đến rạp chiếu phim (trong vòng một năm), tương tự 88,2% không đến nhà hát; 77,6% không đến bảo tàng; 74,1% không đến các di tích lịch sử văn hóa; 76,5% không đến danh lam thắng cảnh; 84,7% không đến nhà thi đấu thể thao; 95,3% không đến câu lạc bộ; 91,8% không đến cung văn hóa; 89,4% không đến thư viện; 62,4% không đến các khu vui chơi giải trí…

    Tóm lại, đời sống văn hóa tinh thần rất nghèo.trước tình hình đó LĐLĐVN đã đề ra một số kiến nghị.

    1.1.9.      4.4. Bảo hiểm

    1.1.9.                  4.4.1. Vĩ mô

    Nhà nước hiện nay đã có rất nhiều chế tài quy định về bảo hiểm cho người lao động với những quy định chế tài phù hợp với việc ban hành luật bảo hiểm chính thức có hiệu lực 1/1/2007, quy định bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp… Tất cả những nội dung trong luật nhằm bảo vệ người cuộc sống của người lao động hiện tại và cả trong tương lai. Việc đầu tư cho vấn đề bảo hiểm cũng được nhà nước chú trọng. Và đã đạt được những kết quả thiết thực. Tính đến cuối năm 2008, cả nước có 8,527 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, chiếm gần 70% số lao động thuộc diện tham gia bắt buộc. Bên cạnh đó, có trên 6.200 người tham gia BHXH tự nguyện, trong đó chủ yếu là những người trước đó đã tham gia BHXH bắt buộc. Đồng thời, số tiền nợ đóng BHXH là 2000 tỷ đồng, chiếm 7,0% tổng số phải thu theo chỉ tiêu được giao. Số tiền nợ trong hai năm qua tập trung chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp. Trong đó, riêng năm 2008, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 35%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 33% tổng số tiền chậm đóng, nợ đóng BHXH. Và cuối năm 2008 đã giải quyết trên 117.700 người hưởng BHXH hàng tháng, trong đó hưu trí là 96.500 người, giải quyết chế độ BHXH ngắn hạn cho 2,5 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, gần 600. 000 lượt người hưởng chế độ thai sản, trên 4.500 người hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN và khoảng 500.000 lượt người hưởng trợ cấp dưỡng sức, phụ hồi sức khỏe. Việc thực hiện đầu tư với một cơ chế đồng bộ về bảo hiểm cho người lao động của nhà nước phần nào đã đảm bảo cuộc sống cho người lao động tạo sự an tâm làm việc của họ. Bên cạnh đó nhà nước cũng đã xó những chính sách nhự trợ cấp phụ cấp cho người lao động khi ốm đau bệnh tật từ quỹ của BH.

                            4.4.2.Vi mô.

    Bảo hiểm xã hội là cầu nối trung gian khiến các chủ Doanh nghiệp và NLĐ giữ được mức ổn địng về đời sống vật chất ,tinh thần truớc mắt cũng như lau dài góp phần an sinh xã hội.Và mặc dù đóng BHXH,BHYT là một trong các nội dung mà pháp luật nước ta yêu cầu các Doanh nghiệp phải thực hiện để đảm bảo  quyền và nghĩa vụ đối với người lao động thế nhưng ở nước ta trong thoèi gian qua vẫn còn nhiều Doanh nghiệp chưa chấp hành tốt chế độ BHXH cho NLĐ.Trong cả nước năm 2008, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 35%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 33% tổng số tiền chậm đóng, nợ đóng BHXH.

    Nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp tìm mọi cách né tránh với lý do làm ăn không hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ; chế tài xử lý các trường hợp vi phạm còn bất cập cả về mức xử phạt và cơ chế phối hợp khi kiểm tra, xử lý các vi phạm. Một số đơn vị khi có đoàn thanh tra xuống kiểm tra thì vin vào cớ là làm thủ tục chưa xong, khi đoàn kiểm tra đi rồi thì đâu lại vào đấy, 2 năm sau xuống kiểm tra vẫn… chưa xong! Một số doanh nghiệp còn né tránh việc ký kết hợp đồng lao động cho lao động có thời gian từ 3 tháng trở lên, hoặc ký hợp đồng với mức lương thấp hơn mức tiền lương quy định, gây khó khăn cho công tác thu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế. Việc xây dựng thang bảng lương ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc trích nộp Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.

    Ở khu vực kinh doanh nhỏ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các hộ sản xuất những mặt hàng tiêu dùng như bánh kẹo, ô mai, do chỉ mang tính chất “tự sản, tự tiêu” nên số lao động được đóng bảo hiểm hầu như không có.

    Những cơ sở có quy mô nhỏ, lao động thời vụ khó khăn đã đành, nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn làm ăn có lãi cũng tìm cách trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội, ở một số địa phương tình trạng đã đến mức báo động. Theo tài liệu của Bộ Lao động Thương binh Xã hội, tỉnh Bắc Kạn hiện có 117 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động nhưng mới chỉ có 18 đơn vị tham gia đóng bảo hiểm cho 191 lao động, chiếm 15% tổng số doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp xây dựng lớn có quy mô hoạt động rộng với lực lượng công nhân tới vài trăm người, nhưng vẫn không chịu tham gia đóng bảo hiểm cho người lao động.

    Doanh nghiệp vì lợi nhuận cố tình chây ỳ trách nhiệm, người lao động tuy rất muốn tham gia bảo hiểm xã hội, song lại không dám đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng của mình do sợ bị đuổi việc. Thống kê sơ bộ, tổng số tiền nợ bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp đã lên đến 1.500 tỷ đồng.

    Tuy nhiên, biện pháp xử lý những “con nợ” kiểu này dường như chưa đủ sức răn đe ngăn ngừa. Một chuyên viên Vụ Bảo hiểm xã hội Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho biết, cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ có quyền kiến nghị, yêu cầu thành lập các đoàn thanh tra liên ngành để kiểm tra việc tuân thủ Luật Lao động của các doanh nghiệp. Quyết định xử phạt do các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra nhưng thường số tiền phạt không thấm vào đâu so với số nợ và tiền lãi phát sinh, thậm chí có quyết định xử phạt rồi doanh nghiệp chây ỳ vẫn không làm gì được họ.

    Biện pháp khấu trừ tài khoản của doanh nghiệp chậm nộp bảo hiểm xã hội cũng không có tác dụng vì thiếu sự phối hợp với các ngân hàng thương mại. “Cực chẳng đã, có lần cơ quan chức năng ra quyết định phong tỏa tài khoản, nhưng khi kiểm tra lại không có một đồng nào vì đó chỉ là tài khoản “ma” doanh nghiệp dùng để đối phó với các cơ quan chức năng.

     

    II. Thành tựu và thách thức đặt ra cho vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

    1.1.10    1.Thành tựu

    1.1.10.  1.1. Về sức khỏe

    Chiều cao trung bình: Nam:163,5cm. Nữ :152,7cm

    Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi :16 phần ngàn ( 2007);

    Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng: 21,2% (2007)

    Tuổi thọ trung bình :71,3 tuổi

    Chiều cao trung bình của thanh thiếu niên và người trưởng thành đã được cải thiện rõ rệt, trong đó chiều cao trung bình của thanh niên từ 18-19 tuổi tăng 4,5 cm và nữ tăng 4,5 cm so với lứa tuổi này cách đây 25 năm .Hiện tại, nam thanh niên VN 20 tuổi đã cao hơn 4,7cm so với năm 1975 (163,7cm so với 159cm), nữ thanh niên cao hơn (153m so với 149cm) nhưng vẫn chậm nếu đem so với quốc tế.Tuy nhiên, so với Nhật Bản, chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam thấp hơn 8 cm (Việt Nam 163,5 cm – Nhật Bản: 172 cm); chiều cao trung bình của nữ thanh niên cũng thấp hơn 4 cm (Việt Nam: 152,7 cm – Nhật 157 cm). Nếu so với chỉ số trung bình của thế giới thì càng kém (hiện nay, chiều cao trung bình của thế giới là 176,8 cm với nam và 163,7 cm với nữ).So với thanh niên Singapore kém 6-7cm , so với Thái Lan kém 2cm.Tầm vóc nam thanh niên 18 tuổi của ta kém châu Âu 13,1cm (163,7cm so với 176,8cm), nữ thanh niên thì kém 10,7cm (153cm và 163,7cm). Thể lực cũng thua kém nhiều, đặc biệt là sức bền. Chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam chỉ ngang thanh niên Lào, Myanmar và thấp hơn chiều cao trung bình của thanh niên Campuchia.

    Các chỉ số khác như: dung lượng tim, sức bền… của thanh niên Việt Nam cũng thấp.Chỉ số công năng tim trong vận động (theo dõi nhịp tim khi đứng lên ngồi xuống 30 lần/30 giây), thanh niên VN đạt loại kém… phản ánh thực trạng ít vận động, dẫn đến béo phì, trầm cảm, ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ.

    Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 44,4 phần ngàn năm 1989 xuống còn 16 phần ngàn năm 2007; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm nhanh từ 51,5%năm 1990 xuống còn 21,2% năm 2007. Năm 2007, chiều cao trung bình của trẻ dưới 2 tuổi đã tăng 5 cm so với 22 năm trước, nhưng vẫn thấp hơn 5 cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Đó là kết quả điều tra mới nhất của ngành dinh dưỡng, vừa hoàn thành vào cuối năm 2007. Theo điều tra này, lứa tuổi càng lớn, khoảng cách giữa chiều cao trung bình của trẻ em Việt Nam với chuẩn càng xa. Trẻ 5 tuổi tuy đã cao hơn gần 6 cm so với thời điểm 1985 nhưng vẫn phải cố 7 cm nữa mới đạt mức chuẩn 109,4 cm mà Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra.

    Trong những năm qua tuổi thọ trung bình của Việt Nam không ngừng tăng lên. Năm 2003 tuổi thọ trung bình của Việt Nam là 68,6 tuổi, năm 2004-69 tuổi, năm 2005-70,5 tuổi và năm 2006 tăng lên 71,3 tuổi. Mặc dù tuổi thọ bình quân của nước ta đạt khá cao là 71,3 tuổi so với mức thu nhập của nền kinh tế, nhưng theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới thì tuổi thọ bình quân khỏe mạnh lại rất thấp, chỉ đạt 58,2 tuổi và xếp thứ 116 so với 174 nước trên thế giới.

    1.1.10.  1.2. Về trình độ văn hóa

    Tỷ lệ người biết chữ từ 88% năm 1989 tăng lên 93% năm 2000. Đến hết năm 2000, 100% các tỉnh thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù, các tỉnh thành phố đã thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở.

    1.1.10.  1.3. Về chuyên môn kỹ thuật

    Thống kê cho thấy, cho đến nay, tỉ lệ công nhân đã tốt nghiệp tiểu học là 7,4%, tốt nghiệp THCS là 28,4% và tốt nghiệp PTTH trở lên là 62,3%. Cả nước có khoảng 25% công nhân và 39% lao động phổ thông chưa qua đào tạo tay nghề, đặc biệt là lao động trong một số khu vực ngành nghề như cao su, thuỷ sản…(12/02/2007)

    Hiện nay cả nước có 65% dân số trong độ tuổi lao động (khoảng 53 triệu người), trong đó, chỉ có 27,5% đã qua đào tạo (trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ này là 60 – 70%). Theo Bộ LĐ-TB-XH, lực lượng lao động ở VN chủ yếu là lao động nông thôn (chiếm trên 50%), trong khi có đến khoảng 70% lao động ở khu vực này chưa qua đào tạo,0,8% có trình độ cao đẳng, 0,7% ở trình độ đại học và tương đương, trình độ chuyên môn, tay nghề yếu, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp kém.

    Trong những năm gần đây, trình độ học vấn của lao động cả nước nói chung và nông thôn nói riêng không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên có sự cách biệt khá lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ, giữa các vùng lãnh thổ kinh tế về trình độ giáo dục. Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận ở nông thôn, dân trí thấp hơn 2 lần, nhân tài thấp hơn 8,6 lần và nhân lực, trong đó đào tạo nghề thấp hơn 10 lần so với khu vực thành thị. Cơ cấu lao động theo trình độ kỹ thuật cũng có những điểm mất cân đối so với yêu cầu của sự phát triển. Lao động trí óc ở thành thị chiếm 30%, ở nông thôn chỉ là 4,4%.

    Hiện tại VN đang nhập khẩu khoảng 2% lao động đối với một số nhóm ngành đặc biệt. Hiện tại, các doanh nghiệp ở một số khu công nghiệp đang trong tình trạng thiếu lao động, trong khi một số địa phương chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu về nhân lực. Năng suất lao động của VN chỉ đứng thứ 77/125 quốc gia, thấp hơn nhiều với cả các nước như Philíppin, Thái Lan, Malaixia.

    Theo chấm điểm và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, về sức cạnh tranh của lao động theo thang điểm 100 thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động và 32 điểm về chất lượng lao động. Các nhà kinh tế thế giới cũng cảnh báo rằng các nền kinh tế có chất lượng nguồn nhân lực dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

    1.1.10.  1.4. Về số lượng lao động.

    Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với 52 triệu người trong độ tuổi lao động năm 2005 và đã tăng lên khoảng 63,4 triệu năm 2007.

    Ông Nguyễn Bá Thủy, Thứ trưởng Bộ Y tế, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số – KHHGĐ cho biết, từ năm 2007, cơ cấu dân số (DS) nước ta bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” với tỷ lệ DS trong độ tuổi lao động đạt giá trị cực đại và tỷ lệ DS phụ thuộc dưới 50%.

    Giai đoạn “cơ cấu DS vàng” dự báo kéo dài 15 năm, từ 2007 đến 2012, đây là khoảng thời gian ngắn so với nhiều nước trên thế giới. Đến năm 2015, tỷ lệ DS trong độ tuổi lao động đạt giá trị cực đại, chiếm tới 68,2% DS, theo đó có 63,4 triệu người trong độ tuổi lao động trên tổng số 94,3 triệu dân.

    Đồng thời, số người bước vào tuổi lao động mỗi năm là 1,6 triệu người khiến nhu cầu về giải quyết việc làm tăng. Do vậy, giải quyết việc làm và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động dồi dào sẽ là một thách thức đối với nền kinh tế nước ta trong những năm tới.

    Mỗi năm có khoảng 200.000 sinh viên tốt nghiệp ra trường (chưa kể số lượng công nhân kỹ thuật tốt nghiệp từ các trường đào tạo nghề – PV). GS-TS Hồ Đức Hùng (Viện Nghiên cứu kinh tế TP.HCM) nói: “Đội ngũ này chỉ nặng về lý thuyết mà yếu về kỹ năng thực hành”. Các doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động phải đào tạo lại từ kỹ năng cho đến ý thức hệ và tính kỷ luật công nghiệp”.

    1.1.11    2. Hạn chế

    Ngoài những ưu thế phần nhiều mang đặc tính số lượng, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện vẫn còn phải đối mặt với rất nhiều hạn chế về mặt chất lượng, trong đó, những hạn chế nổi bật nhất là:

    Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị

        2006 2007 Ước tính năm 2008
             
    CẢ NƯỚC 4,82 4,64 4,65
             
      Đồng bằng sông Hồng 6,42 5,74 5,31
      Trung du và miền núi phía Bắc 4,18 3,85 4,13
      Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 5,50 4,95 4,73
      Tây Nguyên 2,38 2,11 2,49
      Đông Nam Bộ 5,47 4,83 4,85
      Đồng bằng sông Cửu Long 4,52 4,03 4,08

    – Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng trong tổng lực lượng lao động còn rất thấp.

    Đến 1/7/2002, tính chung trong cả nước, số người được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng (có trình độ sơ cấp hoặc có chứng chỉ nghề trở lên) chỉ chiếm có 19,62% tổng lực lượng lao động. Riêng đối với nữ, tỷ lệ này còn thấp hơn, chỉ có 15,67%

    Hơn thế nữa, cơ cấu đào tạo lực lượng lao động còn nhiều bất hợp lý: số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật còn quá thiếu so với yêu cầu. Số này chủ yếu chỉ tập trung tại các thành phố và khu đô thị lớn (Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố, trung tâm công nghiệp lớn khác). Trong khi đó, ngành nông nghiệp chiếm 60,5% tổng số lực lượng lao động của cả nước, nhưng chỉ chiếm 3,85 % số người được đào tạo. Điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến việc tăng cơ hội việc làm và thu nhập, mà còn là yếu tố làm hạn chế sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Bảng 5 : Cơ cấu lực lượng lao động hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (đến 1/7/2002)
      Không có TĐ

     

    chuyên môn kỹ thuật

    Có trình độ

     

    CMKT

    Trong đó chia ra theo trình độ
    Sơ cấp/

     

    Chứng chỉ

    CN KT  không bằng CN KT

     

    có bằng

    Trung

     

    học CN

    CĐ, ĐH

     

    trở lên

    Cả nước: số lao động (người) 32.710.127 7.984.233 265.875 307.393 352.903 307.393 332.144
    Chiếm tỷ  lệ (%) 80.38 19.62 3.33 3.85 4.42 3.85 4.16
    Theo giới tính:              
    Nữ (người) 16.917.831 3.143.631 81.106 78.276 79.220 132.661 121.344
    Chiếm tỷ lệ (%) 84.33 15.67 2.58 2.49 2.52 4.22 3.86

    Nguồn: Báo cáo kết quả “Điều  tra lao động, việc làm”, Bộ LĐ-TB-XH, 1/7/2002

    – Đội ngũ “lao động chất xám” còn thiếu về số lượng và yếu kém về chất lượng

    Tình hình học sinh bỏ học là vấn đề đang được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm. Năm học 2007-2008, cả nước có 215,1 nghìn học sinh bỏ học, chiếm gần 1,4% tổng số học sinh, bao gồm 32 nghìn học sinh tiểu học, chiếm 0,5% tổng số học sinh tiểu học; 105,2 nghìn học sinh trung học cơ sở, chiếm 1,8% số học sinh trung học cơ sở; 77,9 nghìn học sinh trung học phổ thông, chiếm 2,6% số học sinh trung học phổ thông. Nguyên nhân của tình trạng bỏ học chủ yếu do học sinh có học lực yếu kém hoặc hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, không có điều kiện theo học tiếp.

    – Thể lực của người lao động Việt Nam còn kém

    Theo số liệu điều tra về tình trạng thể lực của lao động Việt Nam năm 1996, người lao động Việt Nam có thể lực kém, thể hiện qua các chỉ số về cân nặng, chiều cao trung bình, sức bền. Cụ thể là trong khi chiều cao trung bình của người lao động Việt Nam là 1,47 m; cân nặng 34,4 kg thì các con số tương ứng của người Philipin là 1,53 m; 45,5 kg; người Nhật là 1,64 m; 53,3 kg. Số người không đủ tiêu chuẩn về cân nặng ở Việt Nam chiếm tới 48,7%. Số lượng người lớn suy dịnh dưỡng là 28%, phụ nữ thiếu máu là 40 % (số liệu điều tra năm 2000). Các số liệu điều tra năm 2001 đối với người lao động trong một số doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy số người mắc bệnh nghề nghiêp chiếm 54%.

    Người từ 60 đến 69 tuổi chiếm 4,61% (gần bốn triệu người), từ 70 đến 79 tuổi chiếm 3,41% (khoảng 2,9 triệu người).

    Tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp còn chưa cao

     

    Chương 3: Một số giải pháp đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    1 Giải pháp cho việc đầu tư phát triển giáo dục đào tạo

    1.1.12    1.1 Vĩ mô:

    Thứ nhất, đầu tư đổi mới chương trình giảng dạy, chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, thực hiện sự liên thông giữa các bậc học, một số ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt mềm dẻo hơn, đáp ứng dụng cầu học tập thường xuyên; tạo ra nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học.

    Đối với giáo dục đại học, đầu tư thay đổi chương trình giảng dạy phù hợp với yêu cầu nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp, ngoài các kiến thức cần giảng dạy thêm kỹ năng nghề nghiệp, để thực hiện được yêu cầu này có sự đầu tư và quan tâm của nhà nước đối với giáo dục đại học,  từ đó có những giải pháp cân đối ngân sách nhà nước,và bên cạnh đó là duy trì các chính sách khuyến khích đối với sinh viên giỏi, sinh viên nghèo vượt khó như: chế độ học bổng , miễn giảm học phí cho các đối tượng thuộc chính sách xã hội, học bổng cho các sinh viên học giỏi, thực hiện tín dụng sinh viên, miễn học phí cho các sinh viên theo học tại các trường sư phạm

    Thứ hai, chăm lo và đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD.. Tiến hành đổi mới kiểm tra, đánh giá cho tất cả Giáo viên từ cấp tiểu học đến THPT. Triển khai chương trình xây dựng nhà công vụ cho giáo viên bằng ngân sách nhà nước và huy động sự đóng góp của xã hội. Thực hiện việc cử luân phiên giáo viên làm công tác ở các vùng khó khăn theo Nghị định của Chính phủ từ năm học 2007-2008. Đầu tư triển khai cuộc vận động nâng cao đạo đức nhà giáo (xây dựng quy tắc ứng xử, tiêu chí đánh giá đạo đức nhà giáo), chống bạo hành trong nhà trường. Thực hiện thí điểm đánh giá giảng viên ĐH, CĐ thông qua ý kiến của SV, từng bước mở rộng sang TCCN và dạy nghề. Xây dựng chương trình chuẩn bồi dưỡng về quản lý GD cho các hiệu trưởng trường mầm non, phổ thông, TCCN, CĐ, ĐH. Tổ chức các lớp bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông, hiệu trưởng ĐH

    Thứ ba: Đầu tư đổi mới cơ chế tài chính của nền GD, thực hiện xã hội hoá GD-ĐT:

    Tăng ngân sách cho GD-ĐT và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách: Thực hiện kế hoạch ngân sách trung hạn (3-5 năm); triển khai chương trình mục tiêu quốc gia GD-ĐT đến 2010 gắn với tiêu chí hiệu quả (xây dựng trường lớp, trang bị phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu khoa học, tin học hoá quản lý, triển khai đào tạo theo các chương trình tiên tiến…); thực hiện phân bổ kinh phí theo nguyên tắc công khai, hiệu quả, cạnh tranh; gắn kết giữa chi của ngân sách và các dự án ODA, khuyến khích sự tham gia góp vốn của các doanh nghiệp, địa phương. Tập trung đầu tư cho các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ, các huyện, xã khó khăn.

    Triển khai và giám sát việc thực hiện chế độ cho vay ưu đãi để học ĐH, CĐ, TCCN và dạy nghề.  Thực hiện xã hội hoá giáp dục, huy động nguồn vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáp dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp… để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục.

    Hoàn thiện các cơ sở pháp lý và chính sách để phát triển hệ thống các trường ngoài công lập, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào GD-ĐT bằng các chính sách khuyến khích về đất đai, thuế, tín dụng, hỗ trợ đào tạo GV; Xây dựng văn bản hướng dẫn về chuyển đổi loại hình từ trường bán công sang công lập hoặc tư thục, trường dân lập sang tư thục… Tăng cường hợp tác quốc tế về GD – ĐT, tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới.

    Thứ tư: Đầu tư thực hiện phân cấp và quản lý theo tiêu chí chất lượng

    Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đầu tư tiến hành phân cấp mạnh mẽ hơn, ví dụ phân cấp quản lý đối với các trường ĐH trọng điểm; Phân cấp cho HĐND các tỉnh thành quyết định mức học phí các trường phổ thông ở địa phương, phát triển GD phổ thông và phát triển dạy nghề… tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục. Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện miễn giảm việc đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi.

    1.1.13     1.2. Vi mô:

    Như ta đã biết các doanh nghiệp coi việc đào tạo cho người lao động là đầu tư cho tương lai và có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Các nhóm giải pháp đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp bao gồm:

    Thứ nhất: Các doanh nghiệp kết hợp với các trường đại học, cũng như trường đào tạo nghề, các doanh nghiệp sẽ nói cho nhà trường biết các yêu cầu của họ về kỹ năng cũng trình độ của người lao động mà họ cần, nhà trường cam kết sẽ đào tạo được số lượng học viên đáp ứng yêu cầu đó, thì đổi lại doanh nghiệp sẽ đầu tư các trang thiết bị, điều kiện cơ sở vật chất, phục vụ cho việc học tập tại trường.

    Thứ hai, thực hiện dạy nghề, đào tạo lại cho công nhân mới vào làm. Dù cách này chỉ mang tính nhất thời trước mắt, nhưng việc đào tạo lại cho người lao động mới vào làm là cần thiết trong điều kiện hiện nay giáo dục của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của việc làm. Việc đào tạo này đỏi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư về vốn và đội ngũ giảng dạy, để tổ chức các khóa đào tạo lại, ngoài ra các doanh nghiệp có thể kết hợp với các trường đại học và trường đào tạo nghề để thực hiện việc này.

    Thứ ba, Đầu tư thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ khen thưởng cho sinh viên, học viên các trường đại học, đào tạo nghề. Trao học bổng, khen thưởng các sinh viên giỏi cũng như sinh viên nghèo vượt khó, tổ chức các hội thảo hướng nghiệp, các dự án giáo dục nhằm tiếp cận và tìm kiếm những sinh viên xuất sắc, có tiềm năng cho công việc của doanh nghiệp. Còn hình thức nữa mà doanh nghiệp có thể dùng để thực hiện công tác đào tạo người lao động ngoài các quỹ hỗ trợ cho sinh viên ra, doanh nghiệp có thể thực hiện hỗ trợ nghiên cứu sinh trong việc nghiên cứu khoa học, hỗ trợ các dự án giáo dục , các hoạt động phong trào tại trường mà doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng

    Thứ tư, tổ chức cho người lao động đi sang nước ngoài du học nâng cao trình độ và tay nghề. Tận dụng điều kiện thuận lợi về khoa học công nghệ nước ngoài, cũng như trình độ quản lý tiên tiến ở nước ngoài, người lao động có thể nâng cao hiểu biết, áp dụng khoa học của những nước ấy sau khi về nước. Tuy nhiên để tránh tình trạng người lao động ra nước ngoài mà không quay lại nữa, cần doanh nghiệp có những quy định ràng buộc người lao động về hợp đồng tiền lương, hay tạo các điều kiện làm việc hấp dẫn cho người lao động sau khi đi du học trở về nước.

    2.Một số giải pháp đối với ngành y tế

    1.1.14    2.1. Đối với vấn đề thiếu vốn.

    1.1.14.  – Xã hội hoá ngành y tế.

    Để có nền y tế phát triển thật sự bền vững, điều kiện đầu tiên đó là y tế phải thuộc về xã hội. Xã hội hoá y tế dể huy động tối đa các nguốn lực trong xa hội cùng tham gia vào lĩnh vực y tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa cơ sở y tế và tư nhân, khuyến khích tạo cơ hội đầu tư cho các cơ sở y tế có tiềm năng để có những bước phát triển vượt trôi, hỗ trợ các cơ sở y tế chưa có tiềm năng không bị thua thiệt và có cơ hội phát triển, tránh sự phân hoá về trình độ chuyên môn và chất lượng khám chữa bệnh, đảm bảo mọi ngưòi dân đều có cơ hội được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng cao.

    “ Phải đẩy mạnh xã hội hoá y tế, mọi thành phần kinh tế và mọi nguồn lực đầu tư phát triển ngành y tế, coi xã hội hoá là một giải pháp song song với việc tăng cường đầu tư của nhà nước cho phát triển y tê”.

    1.1.14.  – Số hoá ngành y tế.

    Công nghệ thông tin (CNTT) đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội. Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọn cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý mà còn “đỡ đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các kỹ thuật cao trong KCB như chụp cắt lớp, mổ nội soi… thăm khám cho bệnh nhân qua hệ thống điện tử…

    Tại hội nghị về ứng dụng CNTT trong ngành y tế vừa được tổ chức vào cuối tháng 2/2009, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã yêu cầu: “Với nhận thức sâu sắc vai trò của CNTT đối với công tác y tế hiện đại, ngành y tế cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công cụ này vừa để nâng cao chất lượng công tác quản lý điều hành và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…”.

    1.1.14.  – Đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển TTBMM y tế nhằm giảm chi phí mua sắm trang thiết bị.

    Bộ Y tế cần có giải pháp đồng bộ để xây dựng quy chế nhằm tạo môi trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ thuộc các ngành, các địa phương tham gia sản xuất TTBYT. Khuyến khích dùng TTBYT sản xuất trong nước, giảm dần nhập khẩu.

    Đến năm 2010 chỉ nhập khẩu những TTBYT chưa sản xuất được trong nước. Từng bước xây dựng và trình Chính phủ xem xét ban hành các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất TTBYT thay thế hàng nhập khẩu. Có chính sách ưu tiên thích đáng trong việc cử cán bộ đi đào tạo về nghiên cứu sản xuất TTBYT.

    1.1.15    2.2. Đối với vấn đề quản lý vốn trong ngành y tế.

    1.1.15.  – Mô hình viện – trường

    Mô hình này giúp các y bác sỹ có thể vừa hoạt động khám chữa bệnh vừa tham gia nghiên cứu phát triển y tế dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, các học sinh sinh viên học tại trường có cơ hội chứng kiến thực tế nhiều hơn, đúc rút kinh nghiệm cho bản thân mình.

    1.1.15.  – Đẩy mạnh phát triển khu vực tư nhân.

    Để ngành y tư nhân phát triển nhanh, Bộ cần thành lập một ban chuyên trách y tế tư nhân. Ban này sẽ hỗ trợ về nhiều mặt như xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực qua việc cho phép mở các trường đại học y khoa tư nhân.

    Ngoài ra, khi khu vực tư nhân phát triển sẽ khiến sự cạnh tranh hoàn hảo hơn. Các dịch vụ y tế sẽ phải không ngừng nâng cao chât lượng dịch vụ của mình, giá cả cung cấp dịch vụ phù hợp, người dân sẽ cơ hội được sử dụng dịch vụ y tế chất lượng cao với chi phí không quá tốn kém.

    1.1.16    2.3. Cải cách chế độ viện phí và chính sách đãi ngộ đối với y bác sỹ.

    Để thu hút các bác sỹ giỏi làm việc các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng cao… cần liên tục đào tạo và cử tuyển chứ không phải thi tuyển, tăng phụ cấp, luân chuyển cán bộ y bác sỹ.

    Viện phí chính là một nguồn thu đối với các cơ sở y tế. Ngày nay nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng nhiều trong khi đội ngũ nhân viên y tế không tăng đáng kể khiến ngành y tế đã phải tận dụng hết mức nguồn lực trong khi chế độ viện phí đã quá lỗi thời. Vì vậy cần phải cải cách chế độ viện phí phù hợp, cải thiện cuộc sống của đội ngũ nhân viên y tế.

    3. Một số giải pháp cho vấn đề tiền lương

    • Tăng lương cơ bản đi đôi với kiềm chế lạm phát
    • Tiền lương phải phản ánh đúng chất lượng người lao động
    • Thưởng mang đúng nghĩa và phản ánh đúng thực lực người lao động cũng như tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

    4. Giải pháp cho vấn đề môi trường lao động.

    1.1.16.  4.1.Vĩ mô.

    Đứng trước thực trạng hiện nay ở các Doanh nghiệp về vấn đề môi trường lao động như :công đoàn ,vệ sinh an toàn lao động,bảo hộ lao động,tham gia BH cho người lao động,nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động…còn nhiều bất cập,chúng tôi xin đề ra một số biện pháp giải quyết sau:

    Tuyên truyền vận động các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các chính sách về lao động đối với công nhân lao động; chú trọng chăm lo đời sống tinh thần lẫn vật chất; Công đoàn ở các doanh nghiệp KCN phải thường xuyên giáo dục tuyên truyền các chính sách pháp luật của nhà nước cho công nhân lao động ở đơn vị mình, đặc biệt là pháp luật về lao động.

    Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội trong việc thực hiện chính sách pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động như: bảo hộ lao động, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động, vệ sinh an toàn thực phẩm, khám sức khỏe định kỳ, các chế độ chính sách đối với lao động nữ, lao động nữ khi đang mang thai,…

    .    Sớm ban hành thống nhất cơ chế chính sách, hỗ trợ ưu đãi đầu tư đối với việc xây dựng nhà ở cho người lao động làm việc trong các KCN. Quy hoạch KCN phải gắn với quy hoạch khu nhà ở cho công nhân, đáp ứng quy hoạch chung của đô thị. Việc quy hoạch xây dựng nhà ở cho công nhân phải gắn với các dự án nhà ở thương mại hoặc các dự án khu đô thị mới để bảo đảm tính đồng bộ về cơ sở hạ tầng xã hội. Cần có quy định điều kiện và ràng buộc trách nhiệm đối với Công ty đầu tư hạ tầng KCN trong việc quy hoạch và triển khai xây dựng hạ tầng KCN đồng bộ, thống nhất. Công ty đầu tư hạ tầng KCN phải bảo đảm tối thiểu 10% chỗ ở cho người lao động trong KCN với giá cả hợp lý. Đồng thời cho phép các doanh nghiệp sản xuất trong KCN được giao đất theo quy hoạch xây dựng nhà ở cho người lao động theo cơ chế hạch toán vào chi phí sản xuất để tự doanh nghiệp có thể bảo đảm 40-50% chỗ ở cho công nhân của mình với quy mô, giá cả phù hợp. Nhà nước có chính sách đặc biệt khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư nhà ở cho công nhân về giải phóng mặt bằng, miễn tiền thuê đất, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp… Đa dạng hóa các hình thức đầu tư, xã hội hoá xây dựng nhà ở cho công nhân nhưng không thả nổi cho thị trường tự điều tiết và có quy định các điều kiện thiết yếu cũng như quản lý nhân khẩu, an ninh trật tự… Đồng thời nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội, đoàn thể trong doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, góp phần tích cực nâng cao cuộc sống cho người lao động. Đặc biệt cần có tổ chức Đảng trong mỗi doanh nghiệp cũng như KCN vì ở đó tập trung cao những người lao động là giai cấp công nhân. Tuy nhiên KCN lại thuộc địa bàn nhiều ,tỉnh ,huyện hoặc nhiều xã nên phải có cách thức tổ chức phù hợp để sự chỉ đạo đạt tính thống nhất và nâng cao hiệu quả.

    Tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của người lao động, những ý kiến đề xuất của tổ chức Công đoàn, của chủ doanh nghiệp để có hướng giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc.

    Mặt khác, cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao trình độ chính trị, hiểu biết pháp luật, nhất là pháp luật về lao động, về quyền lợi chính đáng và hợp pháp của người lao động để họ có ý thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và tự giác tuân thủ pháp luật lao động

    Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư các cơ sở dạy nghề với các phương tiện kỹ thuật hiện đại; đầu tư nâng cấp các cơ sở dạy nghề hiện có; tăng cường công tác quản lý nhà nước về dạy nghề; thực hiện tốt công tác dự báo nhu cầu lao động, ngành nghề đào tạo; gắn công tác đào tạo nghề sát với nhu cầu của các doanh nghiệp.

    Cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp các nghành có lien quan để đồng bộ thực hiện cac biện pháp này.

    1.1.16.  4.2.Vi mô.

    Nhóm giải pháp ở phía các Doanh nghiệp.

    Mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công việc như:máy điều hòa ,hệ thống máy tính ,cung cấp các tài liệu cần thiết phục vụ công tác nghiên cứu,hệ thongs hút bụi trong các phân xưởng hay ngay cả việc cung cấp các thiết bị văn phòng cần thiết khác như bàn làm việc,phòng làm việc các thức tổ chức…Điều kiện lao động là vấn đề mà người lao động luôn quan tâm hàng đầu khi chấp nhận công việc cho Doanh nghiệp.

    Thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ chỗ ở,cuộc sống cho đội ngũ các nhà khoa học như:chính sách cấp nhà đât,hỗ trợ tài chính cho họ ổn định cuộc sống

    Chú trọng các hoạt động cải thiện điều kiện lao động, thực hiện tốt quy định về thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi, chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo các chế độ phúc lợi xã hội… đối với lao động .

    Quan tâm tổ chức nâng cao đời sống tinh thần cho chị em; tạo điều kiện cho lao động nữ hoàn thành tốt các công việc của gia đình và ở nơi làm việc, trở thành người phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà, đáp ứng được các yêu cầu mới trong giai đoạn phát triển hiện nay

    Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện, nâng cao nhận thức an toàn vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ; tăng cường phổ biến các biện pháp cải thiện điều kiện lao động đến các phân xưởng ,xí nghiệp

    Tổ chức vệ sinh cơ quan, xí nghiệp, trường học, trồng và chăm sóc caay xanh, thực hiện tốt nôi quy an toàn, vệ sinh lao động nơi sản xuất… sẽ hạn chế được nhiều sự cố mất an toàn, gây tai nạn cho người lao động. Bên cạnh đó, nên phát huy sáng kiến, nghiên cứu đề tài khoa học về BHLĐ nhằm đảm bảo an toàn lao động cho công nhân.

    Khi tổ chức thực hiện, người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp cần nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm về AT – VSLĐ mà luật pháp đã qui định tại Điều 13 của Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 như: Khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp AT – VSLĐ và cải thiện điều kiện lao động; trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, thực hiện tốt các chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, chế độ đối với lao động nữ, chế độ bồi thường TNLĐ, BNN, các qui định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, trang bị các phương tiện cấp cứu, kiểm tra đo đạc các yếu tố độc hại, khi phát hiện có bất thường phải kịp thời kiểm tra, xử lý; xây dựng nội qui, qui trình AT – VSLĐ phù hợp với từng loại máy, thiết bị, công nghệ đúng theo tiêu chuẩn của Nhà nước; tổ chức khám sức khoẻ, huấn luyện AT – VSLĐ cho NLĐ; thực hiện  nghiêm chỉnh các qui định về đăng ký, kiểm định khi sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về AT – VSLĐ; thống kê, báo cáo tình hình thực hiện…

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Nguồn nhân lực nước ta hiện nay có thể nói là “thiếu về số lượng và yếu về chất lượng”, chưa đảm bảo để có thể tận dụng hết mọi cơ hội phát triển của đất nước. Nếu không khắc phục được những khó khăn này thì việc Việt Nam đuổi kịp những nước châu Á mới phát triển ở châu Á như Hàn Quốc, Singapo sẽ trở thành những mục tiêu khó đạt được.

    Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong thời gian qua đã có một thành tựu đáng kể đến, tuy nhiên hạn chế cũng không phải là ít, vì vậy, cần phải thực hiện hoạt động này một cách quy củ và hợp lý hơn nữa, đảm bảo cung cấp cho đất nước lực lượng lao động tiên tiến trong quá trình hội nhập quốc tế.

    Con người lúc nào cũng là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội, là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế. Đầu tư cho con người là đầu tư một cách vững chắc cho tương lai. Để tương lai Việt Nam sáng sủa hơn nữa thì chúng ta cần đầu tư lĩnh vực này nhiều hơn và hiệu quả hơn nữa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Kỷ yếu hội thảo văn hoá, con người và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI (Hội đồng lý luận TW và Viện KHXH Việt Nam, Hà Nội 2004)
    2. Kỷ yếu Đại hội lần thứ nhất Hội Khoa học và phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam, Hà Nội 2005
    3. Tạp chí Nghiên cứu con người, các số năm 2006,2007
    4. Website tổng cục thống kê Việt Nam.
    5. Website Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    6. Website Bộ Y tế.
    7. Website Bộ Lao động và thương binh xã hội.
    8. vietbao.com
    9. nhandan.com
    10. bài “Chất lượng nguồn nhân lực quá yếu”, của Nguyễn Xuân Hãn, báo Lao Động ngày 06-10-2007

    Và một số bài báo điện tử khác.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức

    Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức

    Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập tình huống – Quản trị nguồn nhân lực


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Tuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%A5ng-l%C3%A0-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-then-ch%E1%BB%91t-c%E1%BB%A7a-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-trong-m%E1%BB%8Di-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức

    LỜI NÓI ĐẦU

    Thực tiễn cho thấy sự tồn tại, phát triển của một tổ chức phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người hay nguồn nhân lực của tổ chức. Một số tổ chức từ những ngày sơ khai đều có nguồn nhân lực của mình. Để có được nguồn nhân lực đó không cách nào khác tổ chức đó phải tiến hành tuyển dụng lao động và quản lý sử dụng nguồn nhân lực đó. Vậy tuyển dụng có một vị trí vô cùng quan trọng đối với tổ chức cũng như đối công tác quản trị nguồn nhân lực. Tuyển dụng là tiền đề cho các hoạt động khác của quản trị nguồn nhân lực.

    Đề án này nhằm khẳng định: “Tuyển dụng là hoạt động then chốt của

    quản trị nhân lực trong mọi tổ chức”. Quản trị nhân lực cho chúng ta khái niệm về rất nhiều cách thức giải quyết về vấn đề con người, nhằm làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả đạt được mục tiêu tổ chức, và công tác tuyển dụng là một trong những cách thức giải quyết đó. Để tiến hành nghiên cứu các đề tài các phương pháp được sử dụng là: Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu giáo trình, các tài liệu tham khảo khác.

    Nội dung bài viết gồm 3 chương:

    Chương I – Cơ sở lý luận của hoạt động tuyển dụng trong tổ chức.

    Chương II – Phân tích tầm quan trọng của tuyển dụng.

    Chương III – Phương hướng nhằm hoàn thiện công tác tuyển dụng. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Vũ Thị Mai đã giúp đỡ em hoàn

    thành bản đề án này. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng bài viết của em không tránh khỏi một số thiếu sót. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn.

    CHƯƠNG I

    CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG TUYỂN DỤNG

    I. KHÁI NIỆM VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ TUYỂN DỤNG.

    1.                 Khái niệm về tuyển dụng lao động.

     

    1. Tuyển dụng lao động.

     

    Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm, thu hút ứng cử viên từ những nguồn

    khác nhau đến tham gia dự tuyển vào các vị trí còn trống trong tổ chức và lựa chọn trong số họ những người đáp ứng tốt yêu cầu công việc đặt ra.

    1.2. Tuyển mộ lao động.

    Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lao động bên trong tổ chức đến đăng ký, nộp đơn tìm việc hay tham gia dự tuyển.

    1.3. Tuyển chọn lao động.

    Tuyển chọn là quá trình đánh giá các ứng cử viên theo nhiều khía cạnh khác nhau, để tìm cho được những người phù hợp với các yêu cầu của công việc.

    2. Các yêu cầu đối với tuyển dụng.

    Tuyển dụng phải gắn chặt với nhu cầu về nguồn nhân lực phù hợp với chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ tiến hành tuyển dụng trong những trường hợp cần thiết.

    Tuyển dụng được những người thực sự phù hợp với yêu cầu của công việc đảm bảo cho tổ chức có đội ngũ lao động tốt đáp ứng yêu cầu công việc (giảm bớt chi phí đào tạo, giúp người lao động phát huy được năng lực của mình trong quá trình lao động).

    Tuyển được người có kỷ luật, trung thực gắn bó với công việc của tổ

    chức.

    Tuyển được người có sức khoẻ, làm việc lâu dài trong tổ chức với nhiệm vụ được giao.

    3.Phân tích các yếu tố tác động đến tuyển dụng.

     

    1. Nhóm các yếu tố bên trong.

     

    – Uy tín của tổ chức trên thị trường, tổ chức càng có uy tín thì càng dễ

    thu hút lao động. Người lao động khi đi xin việc thì họ luôn mong đợi xin vào làm việc tại các doanh nghiệp có uy tín, có truyền thống lâu năm.

    Ví dụ: Các tổng công ty lớn, hệ thống ngân hàng tài chính, các doanh nghiệp đầu ngành là những nơi dễ thu hút lao động.

    • Khả năng tài chính tài chính của doanh nghiệp: Đây là yếu tố quan trọng tác động đến hoạt động tuyển dụng vì khi tổ chức một chương trình tuyển dụng rất tốn kém về kinh phí.
    • Các chính sách về nguồn nhân lực của doanh nghiệp, chính sách đào tạo, đề bạt, sử dụng lao động. Người lao động ở bất cứ tổ chức nào cũng rất quan tâm đến các chính sách đào tạo, đề bạt, sử dụng lao động vì vậy nếu các chính sách này phù hợp thì sẽ giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động. Còn người lao động cũng tin tưởng và trung thành hơn với doanh nghiệp.
    • Các yếu tố khác như văn hoá doanh nghiệp, phong cách người lãnh đạo, điều kiện làm việc. Người lao động luôn mong muốn được làm việc trong một môi trường có sự gắn kết chặt chẽ các thành viên, có đầy đủ mọi điều kiện để thực hiện công việc, được khuyến khích sáng tạo và được các thành viên trong môi trường đó quý mến, giúp đỡ… Khi các điều kiện trên là hợp lý thì đều thu hút được người lao động đến và làm việc lâu dài với tổ chức.

    3.2. Nhóm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.

    • Cung lao động, cầu lao động trên thị trường, khi doanh nghiệp có nhu cầu về lao động thì cung về lao động là vấn đề được doanh nghiệp quan tâm. Qua đó doanh nghiệp sẽ biết được cung về lao động sẽ đáp ứng đến đâu so với nhu cầu lao động của doanh nghiệp về số lượng và chất lượng.
    • Quan niệm về nghề nghiệp công việc: Ở các thời gian khác nhau thì quan niệm về nghề nghiệp, công việc là khác nhau. Nếu các vị trí công việc cần tuyển dụng, các công việc của tổ chức đang là các công việc của nhiều người yêu thích thì doanh nghiệp sẽ thu hút được nhiều người lao động hơn.

    Ví dụ: Hiện nay có nhiều người muốn xin việc ở công ty Môi trường đô thị vì xã hội ngày càng quan tâm hơn đến môi trường.

    • Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ dẫn tới có sự thay đổi cơ cấu lao động trong toàn bộ nền kinh tế vì vậy nó có tác động đến việc ngành này hay ngành khác có tuyển được lao động hay không?. Ngành nào được người lao động lựa chọn nhiều hơn.
    • Sự cạnh tranh của các tổ chức, các doanh nghiệp trong công tác tuyển dụng. Ở Việt Nam sự cạnh tranh này chưa gay gắt nhưng trong tương lai nhất định nó sẽ là một vấn đề mà các tổ chức luôn phải quan tâm.

    Ví dụ: Một người thợ may giỏi họ luôn có xu hướng muốn làm việc tại công ty may 10 hơn là công ty may Chiến thắng. Vậy đối thủ cạnh tranh của công ty may Chiến thắng là công ty may10.

    • Các văn bản pháp lý của nhà nước. Đây là cơ sở của các tổ chức tiến hành tuyển dụng lao động theo pháp luật nhà nước quy định.

    4.Phân tích công việc là cơ sở để tiến hành tuyển dụng

    Phân tích công việc là quá trình thu thập các tư liệu và đánh giá một cách có hệ thống các thông tin quan trọng có liên quan đến các công việc cụ thể trong tổ chức nhằm làm rõ bản chất của từng công việc.

    Thực chất và mục đích của phân tích công việc là nghiên cứu các công việc để làm rõ ở từng công việc cụ thể, người lao động có những nhiệm vụ gì; họ thực hiện hoạt động nào, tại sao phải thực hiện và thực hiện như thế nào; những máy móc, thiết bị công cụ nào được sử dụng; những mối quan hệ nào được thực hiện và thực hiện như thế nào; các điều kiện làm việc cụ thể cũng như những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và các khả năng mà người lao động cần phải có để thực hiện công việc.

    Phân tích công việc có ý nghĩa rất quan trọng đối với tuyển mộ, tuyển chọn, có thể nói phân tích công việc là cơ sở của tuyển chọn. Vì để tuyển dụng một cán bộ có trình độ, kỹ năng phù hợp thì trước tiên cần xác định rõ cán bộ đó sẽ làm được công việc gì? Hay chính là những tiêu chuẩn được xây dựng nhằm thực hiện tuyển dụng. Việc xây dựng các tiêu chuẩn càng chính xác bao nhiêu thì việc tuyển chọn có hiệu quả bấy nhiêu và qua đó sẽ tuyển chọn được người phù hợp với công việc. Để xây dựng được những tiêu chuẩn trên tất yếu phải thông qua phân tích công việc.

    II. QUÁ TRÌNH TUYỂN DỤNG

     

    1.     Quá trình tuyển dụng

    Sơ đồ về quá trình tuyển mộ.

    Kế hoạch hoá nguồn nhân lực

    Giải pháp thay thế

    Tuyển mộ

    Nguồn nội bộ

    Nguồn bên ngoài

    Phương pháp tuyển mộ   Phương pháp tuyển mộ
         

    Tiến hành tuyển mộ

    1.1. Kế hoạch hoá nguồn nhân lực:

    Kế hoạch hoá nguồn nhân lực (KHHNNL) là quá trình đánh giá, xác định nhu cầu về nguồn nhân lực để đáp ứng mục tiêu công việc của tổ chức và việc xây dựng các kế hoạch lao động để đáp ứng được các nhu cầu đó.

    1.1.2. Cầu lao động: là số lượng và cơ cấu lao động cần thiết để hoàn thành số lượng sản phẩm, dịch vụ và công việc của tổ chức trong một giai đoạn nào đó.

    Các phương pháp xác định cầu nhân lực:

    1. Phương pháp xác định nhu cầu nhân lực theo hao phí lao động. Công thức tính: D = Error!

     

    Trong đó:

     

    D: cầu về lao động.

    SLi: sản lượng của sản phẩm thứ i căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    ti: hao phí thời gian để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.

    Tn: quĩ thời gian làm việc bình quân của một người lao động năm kế hoạch.

    Km: hệ số tăng năng suất lao động dự tính cho năm kế hoạch.

    1. Phương pháp tính theo năng suất lao động. Công thức: D = Error!

     

    Trong đó:

     

    D: cầu về lao động.

     

    Q: giá trị tổng sản lượng năm kế hoạch.

     

    W: năng suất lao động bình quân năm báo cáo.

     

    c.Phương pháp xác định nhu cầu lao động theo tiêu chuẩn định biên. Theo phương pháp này nhu cầu nhân lực sẽ được tính theo cơ sở tiêu

    chuẩn định biên (khối lượng công việc, nhiệm vụ mà một người đảm nhận) d. Phương pháp ước lượng trung bình.

    Theo phương pháp này dự báo nhu cầu nhân lực của tổ chức thời kỳ kế hoạch dựa vào cầu nhân lực bình quân hàng năm.

    đ. Phương pháp dự tính nhu cầu trên cơ sở nhu cầu của từng đơn vị. Theo phương pháp này cán bộ quản lý các bộ phận, phòng ban đơn vị

    căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ và khối lượng công việc để dự báo nhu cầu nhân lực trong bộ phận mà mình phụ trách.

    Nhu cầu lao động; của tổ chức = Σ nhu cầu lao động của các đơn vị.

    1. Phương pháp phân tích hồi qui.

    Theo phương pháp này cầu nhân lực sẽ được dự báo trên cơ sở sử dụng hàm cầu toán học biểu thị mối quan hệ giữa số lượng lao động cần thiết với các yếu tố ảnh hưởng (doanh số, số lượng, sản phẩm, năng suất lao động).

    Hàm cầu: D = f(x1, x2, x3…)

    1. Phương pháp tiêu chuẩn hao phí lao động cho một đơn vị sản phẩm (sản lượng).

     

    Công thức: D = Error!

     

    Trong đó : D: cầu nhân lực năm kế hoạch.

     

    • tổng sản lượng cần phải sản xuất năm kế hoạch.

    t: tiêu chuẩn hao phí lao động cho một đơn vị sản lượng năm kế hoạch.

    • tổng số giờ làm việc bình quân của một lao động năm kế hoạch.
    1. Phương pháp chuyên gia.

    Theo phương pháp này nhu cầu nhân lực sẽ được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm của các chuyên gia có thể là trưởng phòng nguồn nhân lực, người có hiều biết sâu rộng kế hoạch hoá nguồn nhân lực, các chuyên gia phân tích tình hình thực tế của tổ chức, dự báo sự thay đổi có thể xảy ra bằng kinh nghiệm bản thân.

    1. Phương pháp phân tích xu hướng.

    Theo phương pháp này cầu nhân lực sẽ được ước lượng trên cơ sỏ số liệu của các năm trước, từ số liệu đó có thể dự đoán được xu hướng tăng hay giảm lao động trong những năm tiếp theo.

    1.1.3. Cung lao động.

    Dự báo cung nhân lực từ hai nguồn: cung nhân lực từ bên trong tổ chức và cung nhân lực từ bên ngoài tổ chức.

    1. Cung nội bộ: Phân tích tình hình sử dụng lao động với nội dung: Đánh giá cơ cấu lao động hiện đại có phù hợp với yêu cầu của công việc lao động hay không. Phân tích đánh giá trình độ của người lao động. Phân tích đánh giá sự biến động lao động trong tương lai. Từ việc phân tích sẽ đưa ra các kế hoạch thích ứng cho tuyển mộ tuyển chọn lao động.

     

    1. Cung bên ngoài:

    Nguồn lao động: Học sinh, sinh viên tốt nghiệp, lao động tự do, lao động hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp khác, những người hết tuổi lao động có mong muốn và khả năng lao động, lao động trên thị trường vv…

    1.2. Phân tích các giải pháp thay thế.

    Để thưc hiện được chương trình tuyển dụng đòi hỏi chi phí tương đối lớn và tốn nhiều công sức vì vậy một tổ chức chỉ thực hiện tuyển dụng mới trong những điều kiện thực sự cần thiết. Trước khi đi đến quyết định mở một chương trình tuyển dụng thì các tổ chức thường xem xét các giải pháp thay thế.

    1. Hợp đồng thầu lại:

    Trong điều kiện hiện nay một số tổ chức vì khó khăn về lao động không thể tuyển mộ được thì có thể cho một số tổ chức khác thực hiện công viêc dưới dạng hợp đồng thuê lại. Tuy nhiên giải pháp này muốn thực hiện có hiệu quả thì phải phân tích kỹ lưỡng các mặt như chất lượng công việc chi phí và lợi ích các bên.

    Ví dụ: Một xưởng may nhỏ của hộ gia đình nhận được một hợp đồng với số lượng sản phẩm lớn. Thời gian thực hiện hợp đồng là 20 ngày. Xét thấy xưởng may không thể hoàn tất công việc trong thời gian trên thì chủ hộ có thể ký hợp đồng để một xưởng may khác thực hiện một phần công việc của hợp đồng hoặc toàn bộ hợp đồng.

    1. Làm thêm giờ.

    Trong quá trình sản xuất kinh doanh tổ chức sẽ gặp phải các khó khăn khi thực hiện các hợp đồng. Một trong các khó khăn đó là thời gian, lao động đáp ứng cho việc thực hiện hợp đồng. Những lúc như thế tổ chức không thể tuyển mộ lao động được ngay thì có một giải pháp thường xuyên được các tổ chức lựa chọn đó là làm thêm giờ. Phương pháp này cho phép tiết kiệm được chi phí tuyển thêm người và tăng năng suất lao động mà không cần tăng thêm lao động.

    Làm thêm giờ phải tuân theo các điều khoản đã được quy định trong “Bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

    1. Nhờ giúp tạm thời (nhân viên tạm thời)

    Thuê nhân công tạm thời cũng là một biện pháp được nhiều tổ chức lựa chọn trong giai đoạn biến thiên theo mùa vụ.

    Ví dụ: Công ty da giầy, công ty may mặc, công ty bánh kẹo có thể sử dụng hợp đồng thuê lao động ngắn hạn vào các thời điểm cần nhiều lao động để sản xuất phục vụ cho một dịp nào đó.

    1. Thuê lao động từ công ty cho thuê.

    Phương pháp này chưa phổ biến ở Việt Nam tuy nhiên các tổ chức cũng có thể tham khảo.

    1.3. Nguồn tuyển mộ.

    1.3.1. Nguồn nội bộ.

    Bất cứ một tổ chức nào khi có nhu cầu tuyển dụng lao động thì nguồn nội bộ luôn được ưu tiên hàng đầu vì những ưu điểm của nó.

    • Tạo ra được động cơ tốt cho tất cả những người đang làm việc trong tổ chức, kích thích họ làm việc tốt hơn, sáng tạo hơn, tận tâm và với hiệu suất cao hơn.
    • Nhân viên cũ của tổ chức đã quen với điều kiện làm việc nên ta tiết kiệm được thời gian làm quen công việc và tăng cường được sự trung thành đối với tổ chức.
    • Nguồn nội bộ cũng có những hạn chế nhất định. Nhân viên được tuyển vào một chức vụ theo kiểu thăng chức nội bộ có thể sinh ra hiện tượng rập khuôn lại cách làm việc do quá quen với cách làm việc của cấp trên mà thiếu tính sáng tạo.
    • Mặt khác, trong đơn vị dễ hình thành nhóm “Những ứng cử viên không thành công”. Họ là những người ứng cử vào một chức vụ nào đó nhưng không được chọn gây ra tâm lý không phục lãnh đạo, thái độ bất hợp tác chia bè phái, khó làm việc.

    Khi tuyển mộ nguồn này ta có ba phương pháp để lựa chọn:

    Phương pháp tham khảo ý kiến. Theo phương pháp này để tìm người cho một vị trí nào đó người ta có thể tham khảo ý kiến những người quản lý bộ phận và những người có uy tín trong doanh nghiệp, một số lao động và các chuyên gia về nhân sự. Đây là phương pháp thường được sử dụng ở Việt Nam.

    Phương pháp thông báo công khai: Theo phương pháp này tất cả cán bộ công nhân viên trong tổ chức sẽ được cung cấp thông tin đối với người được tuyển dụng. Những người trong tổ chức thấy mình có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện thì có thể nộp đơn tham gia dự tuyển.

    Phương pháp lưu giữ kỹ năng: Theo phương pháp này thì tất cả các đặc điểm nhân sự sẽ được lưu giữ lại trong phần mềm máy tính. Khi cần tìm người cho một vị trí nào đó ta có thể dùng các lệnh khác nhau, khi cần sẽ gọi trong máy ra. Đây là phương pháp thích hợp cho các doanh nghiệp công ty có quy mô lớn.

    1.3.2. Nguồn bên ngoài: Có rất nhiều nguồn tuyển mộ từ bên ngoài, có thể là bạn bè của nhân viên, nhân viên cũ của công ty, người nộp đơn xin việc, nhân viên các hãng doanh nghiệp khác, các trường đại học – cao đẳng, người thất nghiệp…

    • Bạn bè của nhân viên: Các nhân viên thường biết rất rõ bạn bè của mình đang cần một việc làm và họ có thể trở thành một nhân viên tốt. Họ thường giới thiệu cho công ty những người có khả năng và có chất lượng.
    • Nhân viên cũ: Là những nhân viên đã từng làm trong doanh nghiệp nhưng vì một lý do nào đó họ chuyển đến nơi khác, hiện đang mong muốn trở lại làm việc cho doanh nghiệp.
    • Ứng cử viên nộp đơn xin việc: Là những người lao động đến nộp đơn xin việc, được coi như các ứng cử viên tự nguyện bởi vì doanh nghiệp không đăng quảng cáo tìm người.
    • Nhân viên của hãng khác: Tuyển mộ nhân viên từ nguồn này có nhiều ưu điểm. Những nhân viên này có sẵn tay nghề và doanh nghiệp không phải bỏ chi phí đào tạo, nếu có thì kinh phí đào tạo thấp, thời gian đào tạo ngắn.
    • Sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng: Đây là một trong những nguồn ngày càng trở nên quan trọng đối với hầu hết các doanh nghiệp bởi vì những người từ nguồn này là những sinh viên còn trẻ dễ đào tạo và có nhiều sáng kiến.
    • Người thất nghiệp: Là những người lao động trên thị trường và họ không có việc làm trong số này có rất nhiều lao động có năng lực trình độ nhưng vì nhiều lý do nên họ không có việc làm.

    Các phương pháp được dùng khi tuyển mộ nguồn bên ngoài là:

    Phương pháp quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến nhất là quảng cáo trên báo chí vì chi phí quảng cáo cho cách này không quá lớn như quảng cáo trên ti vi hay các phương tiện nghe nhìn khác. Trước khi tiến hành quảng cáo thì doanh nghiệp tạo dư luận để tránh những phản ứng của công nhân viên trong công ty.

    Phương pháp cử chuyên viên tuyển mộ đến các trường: Doanh nghiệp sẽ tuyên truyền việc tìm kiếm nhân viên, tiến hành gặp mặt, phỏng vấn đối với nhân viên mới tốt nghiệp có nhu cầu tìm việc, một số doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ lâu dài với các trường đào tạo, tài trợ học bổng cho các

    trường, tổ chức cho sinh viên, học sinh đến doanh nghiệp mình tham quan, thực tập.

    Phương pháp thông qua các văn phòng, các trung tâm giới thiệu việc làm. Các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển lao động thì có thể thông qua các trung tâm chuyên giới thiệu việc làm. Tuyển dụng theo cách này không mất thời gian và dễ tìm được người theo đúng yêu cầu tuy nhiên chi phí rất cao.

    Phương pháp thông qua hội trợ việc làm: Doanh nghiệp có thể cử người đến các hội trợ việc làm để tuyển lao động.

    Phương pháp thông qua người thân hoặc bạn bè của các nhân viên trong công ty, ứng cử viên tự nộp đơn hay các phương pháp khác.

    2. Quá trình tuyển chọn.

    Quá trình tuyển chọn gồm các bước sau đây:

    Bước 1: Phỏng vấn sơ bộ, đón tiếp ban đầu phải được diễn ra trong bầu không khí lịch sự thoải mái, thông qua phỏng vấn sơ bộ có thể loại những ứng cử viên không có khả năng phù hợp với công việc.

    Bước 2: Nộp đơn xin việc. Đơn xin việc phải được thiết kế có chủ định để có thể thu thập được những thông tin cơ bản về người lao động.

    Bước 3: Trắc nghiệm tuyển chọn là việc sử dụng các kỹ thuật khác nhau để đánh giá, đo lường về sự hiểu biết, khéo léo, cá tính của mỗi người, các bài trắc nghiệm thường được soạn thảo dưới dạng câu hỏi và ứng cử viên sẽ lựa chọn phương án trả lời. Có bốn loại trắc nghiệm: trắc nghiệm tâm lý, trắc nghiệm về kiến thức, trắc nghiệm về khả năng thực hiện công việc, trắc nghiệm về thái độ và sự nghiêm túc.

    Bước 4: Phỏng vấn tuyển chọn: Là sự trao đổi trực tiếp giữa nhà tuyển dụng và ứng cử viên. Đây là một trong những bước tuyển dụng hiệu quả nhất vì thông qua phỏng vấn nhà tuyển dụng sẽ đánh giá được nhiều khía cạnh mà các bước tuyển dụng trước không cho ta thấy rõ. Có các loại phỏng vấn sau: Phỏng vấn theo mẫu, phỏng vấn theo tình huống, phỏng vấn theo mục tiêu,

    phỏng vấn không có hướng dẫn, phỏng vấn căng thẳng, phỏng vấn theo nhóm và phỏng vấn hội đồng.

    Bước 5: Thẩm tra lại về trình độ và tiền sử làm việc, kiểm tra lại những thông tin mà ứng cử viên cung cấp có chính xác hay không, thẩm tra lại quá trình làm việc, trình độ đào tạo.

    Bước 6: Đánh giá y tế, kiểm tra sức khoẻ. Mục đích nhằm giúp cho doanh nghiệp bố trí hợp lý các công nhân viên mới vào các vị trí công việc phù hợp với đặc điểm sức khoẻ của họ.

    Bước 7: Phỏng vấn bởi người lãnh đạo trực tiếp. Người lãnh đạo trực tiếp có thể đánh giá kỹ hơn về các khả năng kỹ thuật của người dự tuyển và trả lời câu hỏi chi tiết có liên quan đến công việc và sẽ cho ý kiến quyết định cuối cùng.

    Bước 8: Tham quan cụ thể về công việc. Người dự tuyển được xem tận mắt công việc mà họ sẽ thực hiện lao động, có liên quan đến cả các yếu tố không thuận lợi về công việc.

    Bước 9: Ra quyết định tuyển chọn.

    Phòng quản trị nhân lực thông báo lại cho những người không trúng tuyển để giữ các mối quan hệ xã hội tốt. Đồng thời lưu giữ các đơn xin việc của những người không trúng tuyển để sử dụng trong đợt tuyển dụng tiếp theo, phòng quản trị nguồn nhân lực cũng lưu giữ hồ sơ của những người trúng tuyển để bắt đầu việc theo dõi và quản trị nhân sự đốivới họ, ngoài ra phòng quản trị nguồn nhân lực còn nghiên cứu tất cả các đơn xin việc của tất cả những người dự tuyển để đánh giá mức độ thành công của công tác tuyển dụng và tham khảo ý kiến của người trúng tuyển để điều chỉnh hoặc thiết kế lại quá trình tuyển chọn nếu cần thiết.

    Trên thực tế không phải tất cả mọi doanh nghiệp đều thực hiện đầy đủ các bước trên mà có thể quá trình tuyển chọn được rút ngắn hơn để tiết kiệm thời gian và kinh phí, việc tuyển chọn tại các doanh nghiệp mặc dù rút ngắn

    nhưng vẫn đảm bảo tính hiệu quả của quá trình tuyển chọn, không loại bỏ một số bước mà các doanh nghiệp thường làm gộp một số bước.

    Qua phân tích trên ta thấy công tác tuyển dụng lao động có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đồng thời nó cũng có

    • nghĩa đối với tập thể và cá nhân người lao động thể hiện qua hiệu quả hoạt động của tập thể người lao động. Từ đây ta thấy được vai trò then chốt, quan trọng của hoạt động tuyển dụng ở chuyên ngành quản trị nhân nhân lực.

    CHƯƠNG II

    PHÂN TÍCH TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG TUYỂN DỤNG.

    Sơ đồ 1: Mối quan hệ qua l ại giữa tuyển dụng và các chức năng khác của quản trị nhân lực.

    Nhiều người tham gia tuyển mộ cho phép người sử dụng  lao động có khả năng lựa chọn nhiều hơn

    Tỷ lệ số người được chấp nhận ảnh hưởng đến

    số người cần thiết phải tuyển mộ.

    Những người xin việc có trình độ tay nghề cao

    thì thực hiện công việc tốt hơn

    Tuyển

    dụng

    Các vấn đề tồn tại về thực hiện công việc có thể cho thấy

    sự cần thiết thu hút những người lao động có trình độ

    cao

    Đánh giá tình hình thực hiện công việc

    Thù lao

    Cung về lao động sẽ ảnh hưởng đến mức lương và người

    có trình độ cao sẽ mong muốn mức lương cao hơn

    Mức lương cao tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc thu

    hút người có trình độ cao hơn.

                  Đào tạo
                  và phát
          Người lao động có tay nghề đòi hỏi ít phải đào tạo hơn
          người không có tay nghề.   triển
                   
                   
          Tuyển mộ được đơn giản hoá hơn nếu nhân viên mới có        
      thể được đào tạo phù hợp với ít thời gian và kinh phí hơn.        
                   
                   
                  Các mối
          Những người lao động được bố trí vào những vị trí thích
            quan hệ
          hợp có tỷ lệ công việc thay đổi thấp hơn và có sự thoả  
            lao động
          mãn cao hơn  
             
    I. TUYỂN   XUẤT KINH
    DHìnhỤNGả nhVcIa côngVIỆCty ảTHnhhưởC ngHIđếnNquyKẾết địHOACHnhnộpđơSnvàoN
    DOANH, M   một vị trí      
    ỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP      
    Khi doanh nghiệp có một kế hoạch sản xuất kinh doanh thì cần xác định

    các nguồn lực để đáp ứng kế hoạch sản xuất kinh doanh đó như: tài chính, nguyên vật liệu, vốn đầu tư, nhà cung ứng, nguồn nhân lực vv…. Trong đó

    nguồn nhân lực là quan trọng hàng đầu. Dù kế hoạch sản xuất có đầy đủ các điều kiện về công nghệ hiện đại, tài chính, nguyên vật liệu… nhưng nếu không có một nguồn lao động vận hành sử dụng các nguồn lực ấy thì nó chỉ là các nguồn lực chết. Nếu tất cả các điều kiện khác của sản xuất đã đáp ứng nhu cầu thì nguồn nhân lực được đáp ứng đúng và đủ về số lượng và chất lượng sẽ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục. Đặc biệt khi gặp khó khăn từ các nguồn khác mà nguồn nhân lực lại có thế mạnh thì vẫn duy trì được hoạt động của doanh nghiệp.

    Ví dụ: Doanh nghiệp đang trong giai đoạn khó khăn về tài chính, người lao động trung thành với doanh nghiệp có thể chấp nhận để lại một phần

    lương của mình giúp đỡ doanh nghiệp. Hay doanh nghiệp muốn đổi mới công nghệ hiện đại nhưng việc vận hành công việc này lại khó khăn, người lao động có tay nghề cao hay lao động tiềm năng của doanh nghiệp có thể giúp được doanh nghiệp vì những người này luôn nắm bắt được công nghệ mới nhanh chóng với vốn kiến thức của mình. Vậy cung ứng nguồn nhân lực đầy đủ (hay tuyển dụng đúng kế hoạch) sẽ đảm bảo cho tổ chức tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao.

    Trong một kế hoạch sản xuất kinh doanh, cần có kế hoạch về lao động với cơ cấu thích hợp (lao động kỹ thuật, lao động trực tiếp sản xuất, lao động quản lý vv …). Doanh nghiệp tuyển dụng được một cơ cấu lao động tương đối phù hợp thì kế hoạch sản xuất kinh doanh sẽ diễn ra thuận lợi. Tuy nhiên trên thực tế việc tuyển dụng được cơ cấu lao động hợp lý là rất khó khăn. Ví dụ: Hầu hết các doanh nghiệp ở một số địa phương phía Nam đều không đảm bảo được kế hoạch tuyển dụng lao động cho sản xuất kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp thường có kế hoạch tuyển dụng lao động.

    Biểu 1: Thực hiện kế hoạch tuyển dụng của các doanh nghiệp phía Nam 6 tháng đầu năm 2002.

      Kế hoạch Thực hiện tuyển Tỷ lệ thực hiện
    Chỉ tiêu tuyển dụng cả dụng 6 tháng so với kế
      năm (người) đầu năm (người) hoạch năm (%)
           
    1. Lao động quản lý, tổng số 4724 3804 80,52
    – Kỹ thuật 2263 1871 82,68
    – Hành chính 1456 1119 76,85
    – Kinh tế 1007 814 80,83
           
    2. Lao động trực tiếp, tổng số 87543 73560 84,03
    a. Lao động phổ thông 57678 54413 94,34
    b. Lao động đào tào. 29865 19147 61,11
    Trong đó      
    – Cao đẳng kỹ thuật 1510 551 36,49
           
    – Trung cấp chuyên nghiệp 1480 766 51,76
    – Công nhân kỹ thuật dài hạn 6908 3826 55,39
    – Công nhân kỹ thuật ngắn hạn 19292 13603 70,51
    – Nhân viên nghiệp vụ dài hạn 517 299 57,83
    – Nhân viên nghiệp vụ ngắn 69 41 59,42
    hạn      
           

    Qua biểu trên ta thấy đa số lao động không tuyển dụng được theo kế hoạch là lao động có chuyên môn kỹ thuật, trong đó tỷ lệ thực hiện tuyển dụng so với kế hoạch rất thấp, loại lao động trình độ cao đẳng kỹ thuật (36,5%), công nhân kỹ thuật đào tạo dài hạn (55,39%), trung cấp chuyên nghiệp (51,76%), nhân viên nghiệp vụ đào tạo dài hạn (57,83%)… Kết quả tuyển dụng này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nên quan tâm hơn nữa đến tuyển dụng lao động, áp dụng các phương pháp tuyển mộ rộng rãi để thu hút được nhiều người lao động từ nhiều nguồn khác nhau đến tham gia nộp đơn xin việc.

    Trong giai đoạn nước ta đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu về lao động có chuyên môn tay nghề, lao động kỹ thuật là rất lớn. Mọi tổ chức muốn đứng vững được trong môi trường kinh tế quốc tế hoá với sự cạnh tranh khốc liệt tổ chức phải đặc biệt quan tâm đến việc tuyển một đội ngũ lao động phù hợp với chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn và định hướng phát triển tổ chức trong tương lai. Vậy tuyển dụng có vai trò rất quan trọng trong mọi tổ chức.

    II. TUYỂN DỤNG VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁC CỦA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC.

     

    1.     Tuyển dụng với vấn đề đào tạo, phát triển.

    Một trong các yêu cầu của tuyển dụng là tuyển được người có chuyên môn cần thiết, có thể làm việc đạt tới năng suất cao, hiệu suất công tác tốt, đáp ứng được các yêu cầu công việc.

    Tuyển dụng không phù hợp với thực tiễn và khoa học thì người lao động được tuyển sẽ không đáp ứng được yêu cầu công việc. Ta phải căn cứ

    vào phân tích công việc để tiến hành tuyển dụng theo đúng yêu cầu của công việc. Trong tuyển chọn phải thông qua bản tiêu chuẩn thực hiện công việc và bản yêu cầu của công việc đối với người thực hiện. Qua đây sàng lọc kỹ hơn các đối tượng không đáp ứng được yêu cầu công việc và tuyển chọn được người lao động có trình độ kỹ năng phù hợp. Nếu khi tuyển dụng cán bộ tuyển dụng không căn cứ vào các yêu cầu của công việc đối với người lao động, không sử dụng các phương pháp tuyển chọn khoa học thì chất lượng của người lao động được tuyển vào sẽ không cao. Như vậy vô hình dung tổ chức đã tuyển dụng những người không đáp ứng được nhu cầu công việc bắt buộc tổ chức phải đào tạo những người này với thời gian và kinh phí nhất định. Bằng các phương pháp tuyển dụng khoa học tổ chức có thể tiết kiệm được các khoản chi phí này.

    Chính sách tuyển dụng của tổ chức:

    Ta biết rằng chính sách tuyển dụng của một tổ chức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tuyển dụng của chính tổ chức đó, thể hiện qua việc người lao động có đáp ứng được yêu cầu công việc hay không.

    Ví dụ: Tại Hưng Yên mặc dù đã có chính sách cứ 100m2 đất bị “mất” sẽ được nhận một lao động. Song hầu như ở mọi địa bàn trong tỉnh, tỷ lệ này không bao giờ đạt được. Ở những khu công nghiệp, khu chế xuất việc sử dụng thiết bị máy móc mới là một điều tất yếu. Vì vậy, dù có thiện chí với địa phương đến đâu thì các doanh nghiệp cũng không thể sử dụng những lao động không biết làm gì với hệ thống thiết bị của họ.

    Trong ví dụ này nếu doanh nghiệp áp dụng chính sách tuyển dụng ban đầu thì doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều kinh phí cho đào tạo đội ngũ lao động mới. Nếu doanh nghiệp chỉ tuyển dụng một số người lao động đáp ứng được yêu cầu công việc thì lại mâu thuẫn với lợi ích của những người khác. Vậy chính sách tuyển dụng mà phù hợp với thực tiễn thì sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động tuyển dụng, đồng thời chính sách đó cũng chỉ cho doanh nghiệp biết đối tượng lao động nào được tuyển nhằm tiết kiệm chi phí đào tạo.

    Ngành nghề gắn với chuyển giao công nghệ ngoại nhập, ngành nghề đang có quy mô phát triển trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và các ngành nghề sản xuất hướng vào xuất khẩu thì công tác tuyển dụng càng thể hiện vai trò quan trọng. Tuyển được người lao động đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu công việc, tạo điều kiện cho tổ chức đào tạo người lao động trở thành thợ đa kỹ năng, có thể tiếp nhận được công nghệ mới, vận hành được nhiều máy móc trong phân xưởng. Đảm bảo ổn định lao động trong tổ chức, nhu cầu lao động xuất hiện tổ chức có thể tuyển từ chính nguồn lao động bên trong tổ chức, giảm thiểu các trường hợp bị động trong tuyển dụng.

    Vậy qua trên phân tích ta thấy là một hoạt động rất quan trọng của tổ chức, đồng thời tuyển dụng cũng ảnh hưởng rất lớn đến nội dung của công tác quản trị nhân lực đó là đào tạo và phát triển.

    Tuyển dụng mà đánh giá chính xác trình độ chuyên môn tay nghề của người lao động sẽ tiết kiệm được chi phí đào tạo. Người lao động có tay nghề ít đòi hỏi về đào tạo. Để đánh giá chính xác trình độ chuyên môn tay nghề thì tổ chức lại tiếp tục dựa vào bản tiêu chuẩn thực hiện công việc và bản yêu cầu của công việc đối với người thực hiện. Đây là cơ sở để ta đối chiếu khả năng thực tế của người lao động đối với các tiêu chuẩn, yêu cầu. Trong quá trình tuyển chọn nhất định phải phỏng vấn chuyên môn và tham quan thử việc từ đây đánh giá được trình độ chuyên môn của người lao động.

    Người lao động được tuyển vào có trình độ kỹ thuật phù hợp họ sẽ thực hiện được công việc ngay tạo ra năng suất lao động. Họ dễ dàng nâng cao hiệu quả thực hiện công việc mà không cần đào tạo thêm.

    Tuy rằng người lao động mới vào doanh nghiệp thì đều phải làm quen với dây truyền sản xuất, công nghệ của doanh nghiệp, nhưng người có trình độ tay nghề cao, đặc biệt là lao động có kinh nghiệm từ các tổ chức khác được tuyển, họ có số năm đảm nhận công việc lớn. Thời gian định hướng cho những lao động này rất ít, họ thường làm quen nhanh chóng với công nghệ sản xuất.

    Người lao động được tuyển vào doanh nghiệp được bố trí làm đúng công việc yêu thích theo đúng khả năng là động lực to lớn khích lệ tinh thần làm việc hăng say, tận tâm với công việc đưa đến kết quả làm việc cao. Song song với những yếu tố tốt đẹp trên người lao động sẽ tự biết rèn luyện nâng cao tay nghề mà không cần phải qua các lớp đào tạo, còn nếu phải đào tạo thì cũng chỉ là đào tạo trong công việc, ít tốn kém.

    Người lao động mới đáp ứng được ngay các yêu cầu công việc mà không phải tiến hành đào tạo thêm là một thành công rất lớn của hoạt động tuyển dụng.

    2. Tuyển dụng với vấn đề đánh giá sự thực hiện công việc

    Tuyển dụng, được những người lao động có trình độ lành nghề thấp, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chưa vững thì kết quả thực hiện của họ ở mức trung bình. Trong quá trình sản xuất vì kinh nghiệm và kỹ năng chưa nhiều nên sản phẩm mà họ làm ra có chất lượng không cao, độ chính xác và thẩm mỹ ở mức vừa phải, đôi khi tỷ lệ sản phẩm sai hỏng cao tù đây gây khó khăn cho việc đánh giá sự thực hiện công việc. Tuyển người lao động có trình độ thấp không những doanh nghiệp phải tiến hành đào tạo như ở mục II.1 rất tốn kém mà việc đánh giá sự thực hiện công việc của những người này cũng không dễ dàng. Đến đây ta càng thấy rõ hơn vai trò của hoạt động tuyển dụng với các chức năng khác của quản trị nhân lực và với tổ chức. Kết quả thực hiện công việc của người lao động ở một thời điểm nào đó là một phần trong kết quả sản xuất chung của toàn doanh nghiệp. Vì vậy, đánh giá đúng chính xác sự thực hiện của người lao động là rất cần thiết. Trên thực tế đánh giá sự thực hiện công việc sẽ thuận lợi với những người lao động có trình độ chuyên môn cao.

    Người lao động được tuyển mới có trình độ chuyên môn cao, thao tác làm việc chính xác, kết quả sản xuất ít sai hỏng nên dễ đo lường để đánh giá kết quả thực hiện công việc. Vấn đề đặt ra với hoạt động tuyển dụng là phải tuyển được đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn tay nghề cao, tạo thuận lợi cho đánh giá sự thực hiện công việc của họ. Ngược lại đánh giá đúng kết

    quả thực hiện công việc của người lao động, sẽ tạo cho họ sự yên tâm với công việc và người lao động sẽ gắn bó hơn với doanh nghiệp. Khi thực hiện thăng thưởng đề bạt, những người có chuyên môn tay nghề cao với kết quả thực hiện công việc tốt sẽ được ưu tiên trước. Đề đạt như vậy tạo ra sự công bằng dân chủ trong doanh nghiệp, gây dựng được tình cảm và sự đồng tình của người lao động.

    Người lao động mới được đảm nhận một vị ttí công việc với nhiệm vụ rõ ràng sẽ tạo thuận lợi cho việc đánh giá sự thực hiện công việc hay nhiệm vụ của họ. Vậy tuyển dụng phải tuyển đúng người cho đúng công việc. Người lao động luôn quan tâm đến công việc và nhiệm vụ mình làm được đánh giá như thế nào, có tương ứng với đóng góp của họ hay không. Người lao động được làm đúng chuyên môn, họ sẽ tự hạn chế được các sai phạm trong quá trình lao động vì thế kết quả thực hiện công việc của họ thường là tốt. Kết quả thực hiện công việc chủ yếu là thành tích của người lao động mà không có các yếu tố không mong muốn xảy ra như tai nạn lao động, sản phẩm hỏng, không hoàn thành nhiệm vụ được giao v.v..

    Kết quả đánh giá sự thực hiện công việc giúp cho bộ phận quản lý nguồn nhân lực và lãnh đạo cấp cao có thể đánh giá được thắng lợi của hoạt động tuyển dụng. Các vấn đề tồn tại về thực hiện công việc có thể cho thấy sự cần thiết thu hút những người lao động có trình độ cao hơn.

    3. Tuyển dụng với các mối quan hệ lao động

    Tuyển dụng với việc thực hiện hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể. Tuyển được người lao động đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của công việc thì việc thực hiện hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể sẽ rất thuận lợi. Do đó trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể không vấp phải các trường hợp bỏ dở hợp đồng hoặc là người lao động không đáp ứng được yêu cầu công việc phải làm các công việc không đúng như hợp đồng đã ký. Việc này có thể dẫn đến những thiệt hại cho tổ chức nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng.

    Người lao động được tuyển vào doanh nghiệp thực hiện hợp đồng với sự nhất trí cao thì kết quả thực hiện hợp đồng tốt hơn, từ đó gây dựng được mối quan hệ lao động tốt đẹp giữa người lao động và tổ chức.

    Những người lao động được bố trí làm việc ở những vị trí thích hợp có tỷ lệ công việc thay đổi thấp và có sự thoả mãn cao hơn. Người lao động sẽ gắn bó với công việc, tâm huyết với nghề, vui vẻ với đồng nghiệp, luôn thưc hiện tốt các nội quy lao động góp phần tạo nên mối quan hệ thoải mái trong bộ phận từ đây hình thành lên văn hoá nhóm lành mạnh. Ở đây mọi thành viên đều đạt được sự thoả mãn về công việc và về các mối quan hệ lao động của mình. Nhân viên mới sẽ được đón tiếp vui vẻ và được công nhận là một thành viên của nhóm (tổ sản xuất). Mối quanhệ lao động tốt đẹp hoà hợp trong tổ chức làm tăng năng suất lao động chung, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện tốt các mục tiêu của tổ chức.

    Tuyển dụng dựa trên cơ sở của phân tích công việc sẽ đảm bảo thành công hơn trong việc bố trí sắp xếp, thuyên chuyển và thăng thưởng một cách kịp thời và hợp lý. Không những thế mà còn tạo kích thích lao động, gắn bó được người lao động đối với công việc, khích lệ phát triển năng lực cá nhân. Người lao động được doanh nghiệp quan tâm đúng mức sẽ trung thành hơn với doanh nghiệp và vun đắp cho mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp. Qua mối quan hệ lao động tốt đẹp sẽ nâng cao danh tiếng, uy tín của tổ chức, tạo dựng hình ảnh về một nơi làm việc tốt cho người lao động, tạo thuận lợi cho những lần tuyển dụng sau.

    Ví dụ: Chương trình tuyển dụng và đào tạo lao động của Unilever Việt

    Nam

    Mọi người lao động được tuyển vào Unilever đều được quan tâm định hướng và đảm bảo đầy đủ các điều kiện làm việc, được phát triển các kỹ năng. Những điều tốt đẹp trên đã xây dựng được quan hệ lao động hoà hợp trong công ty, người lao động được tuyển rất khắt khe và được bố trí làm các công việc ưa thích theo đúng năng lực làm cho người lao động gắn bó hơn với

    công ty. Chính quan hệ lao động tốt đẹp mà chính quyền tuyển dụng, sử dụng lao động của mình mà Unilever đã trở thành một trong các nhà tuyển dụng được ưa thích ở Việt Nam.

    Tuyển dụng được những lao động có kỷ luật, trung thực gắn bó với công việc của tổ chức sẽ đảm bảo cho quan hệ lao động hoàn thiện dần theo hướng đảm bảo quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hẹ lao động. Người lao động vi phạm kỷ luật về số lượng, chất lượng sản phẩm, thời gian lao động, an toàn lao động v.v.. thì cả phía người lao động và người sử dụng lao động đều nhận được các kết quả không cao.

    Người lao động có kỷ luật tốt sẵn sàng hợp tác với đồng nghiệp và người quản lý tạo nên không khí làm việc hoà đồng. Người lao động cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm nghè nghiệp, học tập lẫn nhau các hành vi chuẩn mực, các thao tác lao động tiên tiến. Phong cách làm việc như vậy sẽ gắn kết người lao động với nhau tạo nên sự đoàn kết gắn bó trong tổ chức. Người lao động được làm việc trong các tổ chức có mối quan hệ lao động tốt là một yếu tố tích cực giúp người lao động không bị xa vào các tệ nạn xã hội, đặc biệt là các tổ chức sử dụng lao động ở nhiều vùng khác nhau.

    Vậy tuyển dụng lao động có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành quan hệ lao động và duy trì quan hệ lao động tốt đẹp trong tổ chức.

    4.                 Tuyển dụng tốt tạo thuận lợi để thực hiện thù lao đãi ngộ đối với người lao động

     

    Tình hình cung cầu lao động sẽ ảnh hưởng đến mức lương mà doanh nghiệp quyết định trả cho người lao động. Thông thường người lao động mới được tuyển sẽ nhận được mức lương thấp (mức lương khởi điểm của doanh nghiệp). Kết quả tuyển dụng sẽ chỉ cho doanh nghiệp biết đã tuyển được bao nhiêu lao động, cơ cấu lao động, chất lượng lao động. Từ đây xác định mức lương tương ứng cho từng loại lao động, từng người lao động.

    Với mức lương tối thiểu hiện nay là 290.000 đồng, doanh nghiệp không được phép trả lương cho người lao động dưới 290.000 đồng. Lao động phổ

    thông sẽ được trả mức lương tối thiểu của doanh nghiệp, mức lương này tuỳ thuộc vào khả năng tài chính của doanh nghiệp. Nếu lao động tyển vào là sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng thì có hệ số lương nhất định, tuỳ vào hệ số lương mà tổ chức xác định mức tiền lương cho người lao động của mình. Một sinh viên đại học ra trường nếu được tuyển vào các doanh nghiệp làm việc thì hệ số lương là 1,78, nếu vào cơ quan hành chính thì hệ số lương là 1,86 còn nếu ở lại trường thì hệ số lương là 1,92.

    Người lao động được tuyển có trình độ cao sẽ mong đợi các mức lương thù lao cao hơn. Tổ chức luôn phải trả cho những người này mức thù lao cao tương ứng làm cho người lao động yên tâm về thù lao của mình. Nếu doanh nghiệp có chính sách thu hút các nhân tài thì doanh nghiệp phải có chương trình thù lao cho các nhân tài đó. Làm được như vậy thì những nhân tài – người lao động có trình độ cao mới đến với doanh nghiệp, vì ở đây mong muốn về mức thù lao cao được đảm bảo. Khi trúng tuyển lao động, người lao động luôn mong muốn được trả mức lương cao. Người lao động được trả mức lương phù hợp sẽ có động lực tăng năng suất lao động, gắn bó với tổ chức.

    Tuyển dụng tốt đánh giá được khả năng chuyên môn của từng người lao động tạo thuận lợi cho quản lý lao động và quản lý thù lao trong tổ chức. Doanh nghiệp trả thù lao cho người lao động tương ứng với sức lao động, chất xám mà họ đã bỏ ra trong quá trình lao động. Thù lao phù hợp tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp giữ chân những người lao động giỏi. Tuyển dụng được các ứng cử viên tiềm năng, đánh giá đúng tiềm năng của họ, như những người lao động trẻ tuổi, sinh viên tốt nghiệp có thành tích học tập giỏi có thể được trả lương cao vì họ có tiềm năng trở thành người quản lý giỏi trong tương lai.

    Tỷ lệ tuyển mộ phần lớn do tính đặc thù của công việc, tâm lý xã hội của người xin việc quyết định, trong đó yếu tố thu nhập có ý nghĩa quan trọng nhất. Vì vậy mức lương cao của doanh nghiệp tạo thuận lợi cho việc thu hút người có trình độ cao.

    Vậy chính sách tuyển dụng kết hợp chặt chẽ với các chính sách tiền lương, BHXH, phúc lợi… sẽ thành công hơn. Ta thấy được vai trò then chốt của hoạt động tuyển dụng, vai trò này ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động khác của quản trị nhân lực và các hoạt động của tổ chức.

    5. Kết luận

    Qua phân tích ta thấy tuyển dụng có một vai trò quan trọng đối với các tổ chức. Một tổ chức luôn thực hiện thành công các đợt tuyển dụng sẽ nâng cao được uy tín, nâng cao được vị thế cạnh tranh, đưa tổ chức phát triển đi lên. Tuyển dụng thành công đảm bảo cho doanh nghiệp có một đội ngũ lao động phù hợp, tạo ra một sức mạnh giúp doanh nghiệp có thể vượt qua những khó khăn thử thách trong quá trình hoạt động. Ngược lại tuyển dụng không thành công sẽ làm cho doanh nghiệp không thực hiện được kế hoạch sản xuất kinh doanh vì kế hoạch về lao động không được đảm bảo. Tuyển dụng không thành công làm cho doanh nghiệp tốn kém rất nhiều chi phí và giảm hiệu quả của các hoạt động khác như đánh giá sự thực hiện công việc, thù lao đãi ngộ v.v..

    CHƯƠNG III

    PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG

    1.     Phương pháp xây dựng bản mô tả công việc, bản yêu cầu công việc và bản tiêu chuẩn thực hiện công việc

    Vận dụng các phương pháp quan sát, thu thập thông tin về một công việc cần phân tích như tên công việc, tên chức danh công việc, mối quan hệ trong quá trình thực hiện công việc. Cùng với những thông tin này ta kết hợp với những dữ liệu thu thập được từ việc đọc tài liệu liên quan như: Bản phân công chức năng, qui trình công việc, qui chế thực hiện công việc. Từ đó ta sẽ tổng hợp vào xây dựng được bản mô tả công việc. Sau khi xây dựng được bản mô tả công việc ta sẽ dựa vào bản này và kết hợp với việc tham khảo ý kiến cán bộ thực hiện công việc, cán bộ lãnh đạo. Rồi từ đó xây dựng bản yêu cầu công việc và bản tiêu chuẩn thực hiện công việc.

     

    Thực chất của phân tích công việc để trả lời cho những câu hỏi sau: + Nhân viên thực hiện những công tác gì?

    + Khi nào công việc được hoàn tất + Công việc được thực hiện ở đâu?

    + Công nhân làm việc đó như thế nào?

     

    + Để thực hiện công việc đó cần những tiêu chuẩn, trình độ nào?

     

    Việc trả lời chính xác các câu hỏi trên có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình tuyển dụng lao động và quyết định sự thành côn trong quá trình sử dụng lao động.

     

    2.     Phương pháp tuyển mộ, tuyển chọn

    Trong quá trình tuyển dụng nên sử dụng các phương pháp khoa học tiên tiến đảm bảo tuyển chọn được những người đáp ứng yêu cầu công việc, đánh giá đúng khả năng của người lao động nhằm đạt được thành công trong tuyển dụng.

    KẾT LUẬN

    Qua quá trình phân tích, nghiên cứu ta khẳng định được vấn đề tuyển dụng lao động thực sự quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Như cố chủ tịch Lee – người sáng lập ra công ty Samsung – vào cuối đời đã có một câu nói mang tính chiến lược: “Thành công của tôi là nhờ đã tuyển dụng được những người cộng sự tài giỏi hơn tôi…” Vậy tuyển dụng thực sự là một hoạt động then chốt của quản trị nhân lực trong mọi tổ chức. Việc sử dụng con người đúng lúc, đúng chỗ sẽ giúp cho tổ chức có một cơ cấu hợp lý, đội ngũ nhân vien thích hợp với từng loại công việc. Điều này nếu làm tốt sẽ tiết kiệm được các nguồn lực khác, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp và hiển nhiên tăng lợi nhuận giúp tái sản xuất mở rộng và phát triển. Sự quan tâm đúng mức đến tuyển dụng lao động sẽ khắc phục được những hạn chế cho tổ chức, tạo đà cho phát triển tương lai của mỗi tổ chức.

    Nền kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn đổi mới của sự phát triển. Đặc điểm, đặc trưng của nó là hàm lượng khoa học cao, ưu tiên chất lượng hơn số lượng, cơ cấu sản xuất thay đổi liên tục do áp dụng những thành tựu mới. Quá trình đổi mới không chỉ hạn chế ở lĩnh vực kỹ thuật mà còn phát triển mạnh ở cả lĩnh vực khoa học quản lý. Trong tiến trình đó tuyển dụng nguồn nhân lực phải thay đổi sáng tạo để kịp đáp ứng và sử dụng “nguồn lực con người mới”.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giá trình quản trị nhân lực

    Của trường Đại học KTQD – NXB Lao động – xã hội – 2004

    1. Quản trị nhân sự:

    Của Nguyễn Hữu Thân – NXB Thống kê 1998.

    1. Hành vi tổ chức

    Của trường Đại học KTQD – NXB Thống kê 2003

    1. Tuyển chọn và quản lý công nhân viên Nhật Bản (Nguyễn Việt Trung dịch – NXB Sự thật Hà Nội – 1991)
    2. Tạp chí Thông tin thị trường lao động (Số 4/2003)
    1. Tạp chí Lao động & xã hội (Số 215/2003)
    1. Tạp chí Lao động & xã hội (số 223/2003)

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Quản trị nguồn nhân lực & Thách thức của sự thay đổi


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-tuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%A5ng-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    LỜI NÓI ĐẦU

    Chúng ta đã biết, trong mọi nguồn lực thì nguồn nhân lực là quan trọng nhất trong một tổ chức. Nguồn nhân lực có vai trò rất lớn trong việc thành bại của tổ chức. Trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt hiện nay, khi mà luôn có những thay đổi chóng mặt; những xu hướng mới; những cơ hội và thách thức mới thì mỗi tổ chức phải linh hoạt để thích ứng. Những giá trị ngày xưa đã không còn phù hợp với thời buổi hiện nay. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận hoàn toàn quá khứ. Song một thực tế rõ ràng là các nhân viên ngày nay cần thiết phải trang bị một kiến thức mới, một công nghệ mới và với một tư duy mới. Chúng ta chỉ giữ lại những gì còn phù hợp với thời buổi hiện nay, còn lại phải thay đổi hết. Từ đó chúng ta thấy rõ nhu cầu cấp thiết của Tổ chức trong việc tuyển dụng một đội ngũ nhân viên mới thoả mãn yêu cầu của công việc trong thời buổi hiện nay. Đặc biệt là trong nền kinh tế Việt Nam khi mới chuyển từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường thì nhu cầu đó lại càng bức xúc hơn bao giờ hết. Chỉ khi nào các doanh nghiệp, công ty của Việt Nam có một nguồn nhân lực đủ mạnh thì mới thể tồn tại và phát triển trên thị trường và sau đó là hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.

    Cùng với công tác đào tạo và đào tạo lại thì công tác tuyển dụng nhân lực được xem là hoạt động then chốt của tổ chức trong việc có được một đội ngũ nhân viên thoả mãn yêu cầu công việc mới. Hoạt động tuyển dụng nhân lực sẽ quyết định lớn đến chất lượng và sự phù hợp của nhân viên. nếu công tác này được làm tốt thì tổ chức sẽ có một cơ cấu tổ chức hợp lý, đủ sức tồn tại và phát triển. Điều ngược lại là có thể dẫn tới sự phá sản của Tổ chức.

    Đây là một đề tài còn khá mới mẻ, rất ít tài liệu tham khảo nen bài viết chỉ để cập đến những vấn đề cơ bản và chung nhất, không có ý định đi sâu và phân tích kỹ càng. Nhưng cũng mong qua bài viết này sẽ ít nhiều nêu bật được tầm quan trọng của công tác tuyển nhân lực trong một tổ chức. Đồng thời sẽ cố gắng đưa ra những giải pháp để cho hoạt động này được tốt hơn trong các doanh nghiệp ở Việt Nam.

    Đề tài này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của giáo viên – Thạc sỹ

    …………………….. Xin chân thành cảm ơn cô đã hướng dẫn và sửa chữa giúp cho

    đề tài này được ra đời.

    Tuy rất cố gắng, xong bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, thiển cận. Vậy rất mong các bạn bỏ qua và góp ý kiến để đề tài này càng hoàn thiện thêm

    1

    CHƯƠNG I

    HOẠT ĐỘNG TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC

    A. TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC

    Nghiên cứu kỹ các kế hoạch chiến lược của tổ chức mình là nhiệm vụ trước tiên mà nhà quản trị phải thực hiện. Từ đó xem xét với nguồn nhân lực hiện thời của tổ chức thì có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra hay không. Thông thường việc đáp ứng đầy đủ rất khó xảy ra nếu không mốn nói là không thể. Với một kế hoạch chiến lược thì trong tổ chức luôn xảy ra tình trạng dư thừa hoặc thiếu nhân viên là như thế nào?

    Trong trường hợp khiếm dụng nhân viên, nhà quản trị cần phải thực hiện chương trình thuyên chuyển nhân viên theo đúng khả năng và tiềm năng của họ, hoặc thăng chức và giáng chức theo đúng nhu cầu và khả năng của công ty. Nếu sau khi sắp xếp lại mà vẫn thấy không đủ theo nhu cầu, tổ chức sẽ tiến hành chương trình tuyển mộ và tuyển chọn nhân viên. Còn trong trường hợp thặng dư nhân viên, nhà quản trị có thể áp dụng các biện pháp như: hạn chế việc tuyển dụng lại; giảm bớt giờ lao động; cho về hưu sớm hoặc giãn thợ (cho nghỉ tạm thời) – trường hợp này sẽ không đề cập đến nhiều, bởi mục đích chính của chúng ta là tuyển dụng nhân lực.

    Hoạt động tuyển dụng nhân lực bao gồm tuyển mộ và tuyển chọn nhân lực. Chúng ta có thể hiểu một cách nôm na rằng: Tuyển mộ là tập trung các ứng viên lại, còn tuyển chọn là quyết định xem trong số các ứng cử viên ai là người hội đủ các tiêu chuẩn để làm việc cho tổ chức. Bây giờ ta hay xem xét kỹ từng hoạt động này.

    I. TUYỂN MỘ.

    Khái niệm: Tuyển mộ là một tiến trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng ký, nộp đơn tìm việc làm.

    Tuy nhiên, như trên đã nói, không phải là khi thấy thiếu nhân viên là ta phải lập tức tuyển mộ ngay. Để tránh lãnh phí, trước khi đưa ra quyết định tuyển mộ người ta xem xét còn giải pháp nào có thể giải quyết được tình hình thiếu hụt nhân viên hay không?

    1. Các giải pháp khác trước khi quyết định tuyển mộ. Giờ phụ trội (làm thêm giờ).

    Đối với các công ty, doanh nghiệp mà lượng hàng hoá, dịch vụ sản xuất ra không ổn định trong năm mà có tính chất thời vụ thì họ thường khuyến khích công nhân làm thêm giờ phụ trội. Giờ phụ trội được tính cap gấp rưỡi hoặc gấp đôi giờ công lao động bình thường.

    Giải pháp này có ưu điểm là công ty không phải tuyển thêm lao động mà vẫn hoàn thành các đơn đặt hàng. Vẫn giữ được cơ cấu và không phải nuôi số người dư thừa khi nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của công ty qua mùa cao điểm.

    Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là khi nhân viên làm việc phụ trội trong một thời gian dài sẽ dẫn đến mệt mỏi, quá tải và kéo theo chất lượng sản phẩm giảm. Đồng thời nhân viên sẽ thiếu nhiệt tình khi trở lại làm việc ở mức độ bình thường như trước kia.

    1. Hợp đồng gia công.

    Khi ở vào tình trạng thiếu nhân viên, các công ty có thể chọn giải pháp ký hợp đồng với các hãng khác sản xuất cho mình. Việc này về trước mắt có lợi cho cả đôi bên. Công ty sẽ không phải tuyển mộ thêm nhân viên, song lại có nhược điểm là (về lâu dài) có thể mất khách hàng vào tay các công ty được thuê gia công kia.

    1. Thuê nhân viên của hãng khác.

    Trong trường hợp này, sổ lương của các công nhân được thuê, mướn vẫn nằm tại công ty gốc và tiền thù lao của họ được thanh toán tại công ty gốc. Điều này không phá vỡ cơ cấu của cả hai công ty, tuy nhiên nó có nhược điểm lớn là công nhân cảm thấy mình không phải là công nhân biên chế, nên họ làm việc không hăng hái. Điều quan trọng khác rất dễ xảy ra là sự chênh lệch về chuyên môn của các công nhân.

    1. Nhân viên tạm thời.

    Đây cũng là giải pháp giải quyết vấn đề khiếm dụng nhân công. Để tránh những điều đáng tiếc xảy ra sau này, chúng ta nên nói ra trong hợp đồng là cần tuyển người trong thời gian ngắn. Trường hợp này cũng có những hạn chế giống như ở giải pháp thuê nhân viên hãng khác.

    Khi đã thực hiện tất cả các giải pháp trên mà vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của tổ chức, lúc đó chúng ta mới quyết định tuyển mộ nhân viên.

    3

    1. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến quá trình tuyển mộ nhân viên.

     

    Phẩm chất của nhân viên luông là mục đích quan trọng của quá trình

    tuyển dụng. Việc tìm được các nhân viên có đầy đủ năng lực và phẩm chất để sắp xếp đúng vị trí luôn là điều mơ ước của các nhà quản trị. Tuy nhiên, vì lý do này hay lý do khác mà các nhà quản trị đôi khi phải chấp nhận những phương án không phải là tối ưu. Đó là do sự tác động của môi trường (bên trong và bên ngoài) doanh nghiệp. Chúng ta hãy xem xét kỹ ảnh hưởng của yếu tố này.

    1. Môi trường bên trong doanh nghiệp.

    * Tính chất, đặc điểm công việc của doanh nghiệp.

    Với từng loại công việc mà nhân viên được tuyển dụng sẽ cần các kỹ năng, trình độ không giống nhau. Xác định rõ được điều này sẽ giúp nhà quản trị phân vùng và hướng tới các ứng viên phù hợp. Sẽ tránh được việc phải xem xét quá nhiều những trường hợp, những ứng viên không phù hợp với yêu cầu tuyển dụng.

    * Thời gian.

    Đôi khi, do sự việc đến quá bất ngờ và cấp bách yếu tố thời gian sẽ là quan trọng nhất đối với việc tuyển dụng nhân viên. Lúc này nhà quản trị phải quyết định tuyển dụng những nhân viên có thể không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất đã đề ra. Chỉ cần những nhân viên đó thoả mãn một trong các yêu cầu đó là có thể tuyển dụng được.

    * Khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    Có những trường hợp, do khả năng tài chính của doanh nghiệp quá eo hẹp nên các nhà quản trị không có điều kiện để sàng lọc tất cả các ứng viên để tìm được những người thích hợp nhất. Kết quả là họ phải chấp nhận các phương pháp tuyển dụng tắt (bỏ một số bước) hoặc trong một phạm vi hẹp để phù hợp với khả năng tài chính. Điều này sẽ dẫn đến chất lượng của các nhân viên được chọn có thể không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công việc.

    * Bầu không khí văn hoá của doanh nghiệp.

    Một công ty hay doanh nghiệp có bầu không khí năng động, chắc chắn các nhà quản trị sẽ tuyển chọn những người có đầu óc thông minh, có tham vọng, và nhất là năng động và có sáng kiến.

    Phản ứng của công đoàn.

    4

    Nếu các cấp quản trị thực hiện việc tuyển dụng không bình đẳng, phân biệt đối xử và nhất là đi ngược lại lợi ích của Công đoàn thì chắc chắn Công đoàn sẽ phản ứng. Điều này chưa xảy ra ở Việt Nam, nhưng trong tương lai chắc chắn sẽ xảy ra.

    1. Môi trường bên ngoài doanh nghiệp. * Khung cảnh kinh tế.

    Khi nền kinh tế phát triển hay suy giảm, nó ảnh hưởng đến quá trình tuyển dụng nhân viên của các doanh nghiệp. Khi kinh tế phát triển có chiều hướng ổn định, doanh nghiệp phải tuyển thêm người có trình độ, tăng lương để thu hút nhân tài, tăng phúc lợi và cải thiện điều kiện làm việc và ngược lại.

    * Dân số, lực lượng lao động.

    Dân số và lực lượng lao động đông dẫn đến nhu cầu về việc làm tăng. Chúng ta còn có thể kể đến luật lệ của Nhà nước, văn hoá – xã hội, đối thủ cạnh tranh, khoa học kỹ thuật, khách hàng và chính quyền đoàn thể.

    1. Nguồn tuyển mộ.

    Có hai nguồn tuyển mộ là nguồn nội bộ và nguồn bên ngoài.

    1. Nguồn nội bộ.

    Tuyển mộ nhân viên trong nội bộ công ty là cả một thủ tục phức tạp. Đối với các chức vụ quản trị gia cao cấp, thường công ty áp dụng hồ sơ thuyên chuyển. Với các chức vụ hoặc công việc ở cấp thấp hơn các công ty thường sử dụng phương pháp niêm yết công việc còn trống. Bảng niêm yết này được dán công khai để mọi người đều biết. Trong bảng này, thường người ta ghi rõ chỗ làm còn trống, các thủ tục cần biết… Kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật mời đăng ký chỗ còn trống. Đôi khi một số công ty tổ chức thêm các cuộc trắc nghiệm và phỏng vấn để cho việc tuyển lựa chính xác hơn.

    Khi yếu tố thời gian là yếu tố nổi bật – nghĩa là công ty cần tìm gấp một người nào đó mà không có thời gian thì cách tốt nhất là dán thông báo trong nội bộ công ty. Ngoài ra, đây cũng là vấn đề thuộc về chính sách. Các công ty lớn của các nước Âu – Mỹ, nhất là Nhật Bản, thường ưu tiên tuyển người từ nguồn nội bộ (nó còn được gọi là tuyển nhân viên hiện hành).

    Tuyển người từ nguồn nội bộ có ưu điểm là nhân viên thấy công ty luôn luôn tạo cơ hội để họ được thăng tiến, và do đó họ gắn bó với công ty hơn và làm việc tích cực hơn. Ngoài ra, họ là những người đã quen thuộc, hiểu được

    5

    chính sách và cơ cấu của công ty. Do đó chỉ cần một thời gian ngắn công ty giúp họ hội nhập vào môi trường làm việc mới.

    1. Nguồn bên ngoài.

    Có rất nhiều nguồn tuyển mộ từ bên ngoài. Sau đây là một số nguồn

    chính.

    * Bạn bè của nhân viên.

    Các nhân viên đang làm trong công ty có thể giới thiệu cho công ty những người bạn (mà mình biết và hiểu rõ) có khả năng và có chất lượng. Điều dễ hiểu là nếu nhân viên thích các công việc ở công ty, họ thường rất muốn bạn bè của mình vào làm việc chung với mình.

    Tuyển mộ theo lối này có khả năng dẫn tới sự thiện vị hoặc cảm tưởng không tốt trong nhân viên khi một người bạn hoặc họ hàng của họ không được chấp nhận vào làm việc. Sự bất lợi nãy sẽ được giải quyết khi công ty giải thích rõ ràng tất cả các đơn xin việc đó sẽ được cứu xét khách quan giống như những người nộp đơn qua hệ thống tuyển mộ khác, nhưng sẽ được ưu tiên hơn người khác nếu xảy ra trường hợp bằng điểm số.

    * Nhân viên cũ (cựu nhân viên của công ty).

    Đó là trường hợp các nhân viên vì lý do nào đó rời bỏ công ty để làm việc cho một công ty khác mà nay lại muốn trở về nơi cũ. Việc nhận số nhân viên này làm cho tất cả các nhân viên có ý tưởng rằng họ có thể rời công ty bất cứ lúc nào họ muốn, và một khi trở lại họ không mất mát gì. nếu nhà quản trị thận trọng tránh để nhân viên có tư tưởng như vậy thì việc nhận số người cũ có lợi là họ sẽ trở thành những nhân viên làm việc tốt hơn, vui vẻ hơn và có tinh thần trung thực hơn trước kia.

    * Ứng viên tự nộp đơn xin việc.

    Đó là những người tự ý đến văn phòng công ty để xin việc trong khi công ty không đăng quảng cáo tìm người.

    Trong trường hợp này ta nên thiết lập một hệ thống hồ sơ các ứng viên loại này để khi cần thiết có thể mời họ vào mà không phải tốn thời gian, công sức và tiền bạc.

    * Nhân viên của các hãng khác.

    Tuyển dụng những nhân viên này là con đường ngắn nhất và có hiệu quả nhất vì công ty không phải chi phí cho nghiệp vụ đào tạo và hầu như không phải qua thời kỳ tập sự. Hình thức này hay được áp dụng tại Mỹ.

    6

    * Các trường đại học và cao đẳng

    Đây là nguồn tuyển mộ quan trọng đối với hầu hết các công ty. Bởi vì những người này còn giữ được thói quen học tập, tâm hồn trong trắng, để tào tạo, có sức bật vươn lên và nhiều sáng kiến.

    * Người thất nghiệp.

    Đây cũng là nguồn có giá trị. Có nhiều lý do để họ thất nghiệp mặc dù không phải là họ thiếu khả năng. Nếu khai thác tốt nguồn này công ty có thể nhặt được những “của quý” bất ngờ.

    * Công nhân làm nghề tự do.

    Những công nhân làm nghề tự do cũng là một nguồn tuyển mộ có tiềm năng. Họ có thể sẽ là những ứng viên cho những công việc đòi hỏi kỹ thuật, chuyên môn cao.

    1. Phương pháp tuyển mộ.

    Có rất nhiều phương pháp tuyển mộ nhân viên từ nguồn bên ngoài. Phổ biến nhất vẫn là quảng cáo, đến các trường tuyển mộ và đến các cơ quan lao động – công cũng như tư.

    1. Phương pháp quảng cáo.

    Phổ biến nhất vẫn là quảng cáo trên báo chí, ngoài ra còn ở tivi, đài, tờ rơi… Tiền quảng cáo khá tốn kém nhất là đối với tivi. Hầu hết các công ty đều đồng ý rằng đăng quảng cáo trên báo chí là nguồn cung cấp các công nhân, nhân viên trẻ tuổi, đa số ít có kỹ năng theo nhu cầu của công ty. Cách này được áp dụng khi các phương pháp tuyển mộ khác quá tốn kém hoặc khó khăn. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là công ty sẽ e ngại phản ứng của công nhân khi họ biết công ty đang rất cần người, nhất là các ngành nghề đòi hỏi kỹ năng cao, điều đó dẫn đến năng suất lao động giảm.

    1. Cử chuyên viên tuyển mộ đến các trường.

    Còn được gọi là phương pháp chuyên viên tuyển mộ. Mấu chốt là ở chỗ các chuyên viên tiếp xúc với giám đốc sinh viên vụ của các trường. Hầu hết các sinh viên giỏi đều lọt vào “tầm ngắm” của họ và có thể tài trợ cho sinh viên đó học tập. Khi ra trường, sinh viên đó sẽ được mời về công ty để làm việc (thậm chí là bắt buộc).

    7

    1. Các cơ quan tuyển dụng.

    Cũng có nhiều công ty lại phải nhờ cậy các cơ quan tuyển dụng hoặc tuyển chọn dùm. Thường là họ thiên về tuyển nhân viên văn phòng hơn. Chất lượng tuyển tuỳ theo kha năng chuyên môn của cấp quản trị của các cơ quan này. Các cơ quan tư nhân thường tuyển lựa kỹ và tốt hơn các cơ quan công.

    1. Sinh viên thực tập.

    Sinh viên thường thực tập trong các tháng hè. Qua thời gian làm việc ở công ty và qua mối quan hệ tiếp xúc, sinh viên có thể xác định được có nên xin làm việc tại đây không và ngược lại, công ty có thể chấp nhận sinh viên này hay không.

    Ngoài ra còn có một số phương pháp như: Nhờ nhân viên giới thiệu, ứng viên tự nộp đơn… và các phương pháp áp dụng ở các nước phát triển, chưa xuất hiện ở Việt Nam như: Sử dụng hiệp hội chuyên ngành, Trung tâm dịch vụ dữ kiện lỹ lịch.

    II. TUYỂN CHỌN NHÂN LỰC.

    Tuyển chọn nhân lực là một quá trình phức tạp và tốn nhiều công sức. Phải có nghiệp vụ chuyên môn, tầm hiểu biết rộng rãi đồng thời còn phụ thuộc và chính sách tuyển dụng của công ty.

    Tuyển chọn nhân lực được định nghĩa như sau: Là quyết định xem trong số các ứng viên đã được tuyển mộ ái là người hội đủ các tiêu chuẩn để làm việc cho công ty.

    Tiến trình tuyển chọn gồm các giai đoạn.

    1. Giai đoạn chuẩn bị.

    Nhất thiết phải chuẩn bị kỹ càng về vật chất và cơ sở hạ tầng, các công ty cần chú trọng đến bảng mô tả chi tiết tiêu chuẩn công việc. Có bảng này sẽ giúp các cấp quản trị biết rõ sẽ cần loại ứng viên có tiêu chuẩn như thế nào. Từ đó các chuyên gia sẽ soạn thảo các mẫu trắc nghiệm, các mẫu phỏng vấn thích hơp.

    1. Giai đoạn chính thức. Bao gồm 7 bước:

     

    Bước1: Ứng viên nộp đơn

    8

    Bước này yêu cầu các ứng viên nộp đầy đủ hồ sơ xin việc, bao gồm các giấy tờ cần thiết cho cơ quan tuyển chọn. Các công ty nên soạn thảo mẫu đơn xin việc của riêng mình, như vậy dễ cho việc xem xét về sau này hơn.

    Bước 2: Phỏng vấn hồ sơ.

    Sau khi hồ sơ được tuyển chọn sơ bộ, công ty sẽ báo cho các ứng viên được chọn đến tham dự các giai đoạn tuyển chọn kế tiếp. Vì là lần đầu tiên ứng viên tiếp xúc với công ty nên các tiếp viên nên tế nhị để gây ảnh hưởng tốt cho công ty. Là giai đoạn chọn lọc hồ sơ để loại các ứng viên không đủ yêu cầu. Phỏng cấn viên hỏi thẳng một số câu hỏi về chuyên môn ngay. Cần chú ý khi các ứng viên có kinh nghiệm và trình độ thuộc lĩnh vực khác thì không nên loại ra ngay mà có thể chuyển sang bộ phận sắp cần người hoặc tuyển đợt sau.

    Thực hiện tốt giai đoạn này sẽ xây dựng thiện ý cho công ty, đồng thời tối đa hoá hiệu quả của tuyển dụng.

    Bước 3: Trắc nghiệm.

    Qua trắc nghiệm có thể phát hiện ra những tài năng đặc biệt của ứng viên, tìm ra các sắc thái đặc biệt về cá tính …

    Mục đích của nó là nhằm giảm bớt chi phí về huấn luyện. Khi đã biết năng khiếu của họ chỉ việc phát triển lên, rút ngắn thời gian tập sự…

    Các phương pháp trắc nghiệm:

    • Trắc nghiệm về kiến thức tổng quát: Mục đích là tìm xem trình độ hiểu biết tổng quát của cá nhân đạt đến trình độ nào về các lĩnh vực kinh tế, địa lý, toán… Chỉ áp dụng trắc nghiệm này khi cần phải tuyển chọn những nhân viên thuộc cấp quản trị.
    • Trắc nghiệm tâm lý: Hiện nay đóng vai trò quan trọng. Nó giúp cho nhà quản trị hiểu được động thái và thái độ ứng xử của ứng viên.
    • Trắc nghiệm trí thông minh.

    Với loại này người ta sẽ suy đoán được khả năng của ứng viên về từ ngữ, óc toán học, lý luận logic và những mối liên hệ trong không gian.

    Chỉ số thông minh IQ được tính như sau:

      IQ = Tuổi tinh thần x 100%
       
      Tuổi thực
         
    IQ < 100 → kém thông minh  
    IQ > 100 → thông minh  

    9

    • < IQ < 140 → lỗi lạc IQ > 140 → thần đồng * Trắc nghiệm cá tính:

    Mục đích xem cá tính của ứng viên để sau này giúp các ứng viên thực

    hiện nhiệm vụ dễ dàng hơn nhờ chỉnh bớt sự phức tạp và sai lệch của cá tính.

    * Trắc nghiệm về năng khiếu và khả năng chuyên môn.

    Đây là loại trắc nghiệm để tìm ra người có chuyên môn, nghiệp vụ có đầu óc sáng tạo cho công ty.

    Còn một số trắc nghiệm khác như khả năng nhận thức, độ linh hoạt của phản ứng, sở thích nghề nghiệp…

    Bước 4: Phỏng vấn sâu.

    Là phương pháp thông dụng nhất trong nghiệp vụ truyển chọn. Đây là phương pháp được sử dụng để lựa một ứng viên thích hợp.

    Mục đích là phối kiểm tra lại tất cả những dữ kiện mà ứng viên đã cung cấp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tong suốt giai đoạn lựa chọn. Phỏng vấn giúp ứng viên và chỉ huy hiểu rõ nhau hơn, xem ứng viên có thực sự đủ kiến thức không, đánh giá cả bên ngoài và bên trong ứng viên viên. những người chịu trách nhiệm phỏng vấn có thể gồm: Giám đốc TNNS, chỉ huy trực tiếp của ứng viên… Để công việc đạt được hiệu quả cao thì cả hai bên cùng phải chuẩn bị.

    Có các phương pháp phỏng vấn sau:

    Phỏng vấn theo mẫu; Phỏng vấn không theo mẫu; Phỏng vấn theo hợp đồng; Phỏng vấn căng thẳng; Phỏng vấn cá nhân hay phỏng vấn nhóm. Lưu ý những điều cần tránh sau:

    – Không nên phán xét một ứng viên bằng cách so sánh họ với một người

    khác.

    • Người phỏng vấn không nên tự cho mình là người kỳ cựu của công ty hay là người hiểu rộng biết nhiều khi đánh giá ứng viên.
    • Không nên tạo cho ứng viên cảm tưởng lạc quan quá đáng về quyền lợi ma họ được hưởng.
    • Không nên che đậy thực trạng của công ty.

    Bước 5: Sưu tra lý lịch.

    Sau khi đã trắc nghiệm và phỏng vấn sâu, nhà quản trị nên kiểm tra xem lại tất cả những gì ứng viên trình bày có đúng sự thật hay không. Ngoài ra còn

    10

    cần tìm hiểu một đôi nét về ứng viên qua thông tin người nào đó nói về ứng viên. Đó là sưu tra lý lịch.

    Bước 6: Khám sức khoẻ.

    Xem có phù hợp với tính chất của công việc không.

    Nên khám sức khoẻ trước khi quyết định tuyển dụng để việc tuyển dụng không biến thành “công dã tràng”.

    Bước 7: Thử việc và quyết định tuyển dụng.

    Sau khi ứng viên vượt qua được các bước trên, ứng viên sẽ có một thời gian ngắn để tiếp xúc và làm thử công việc của mình. Nếu họ hoàn thành công việc của mình thì công ty sẽ quyết định tuyển dụng anh ta.

    Từ 7 bước trên ta có kết luận:

    Các yêu cầu với cán bộ tuyển chọn phải là: Có trình độ kỹ năng đặt lợi ích của tổ chức lên trên hết đồng thời nhạy bén và linh hoạt trong việc ứng dụng các phương pháp tuyến chọn.

    B- VAI TRÒ Ý NGHĨA CỦA TUYỂN DỤNG.

    1. Đối với tổ chức.

    Hoạt động tuyển dụng tốt thì tổ chức sẽ có một đội ngũ nhân viên có trình độ, kinh nghiệm để giúp tổ chức tồn tại và phát triển tốt, có tính cạnh tranh cao. Ngược lại có thể dẫn đến suy yếu nguồn nhân lực → hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, lãng phí nguồn lực → phá sản.

    2. Đối với xã hội.

    Hoạt động tuyển dụng tốt thì sẽ giúp xã hội sử dụng hợp lý tốt đa nguồn lực. Là đầu ra của đào tạo nguồn nhân lực. Nó có thể giải quyết vấn đề việc làm xã hội.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRANG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG TẠI CÁC DOANH

    NGHIỆP Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG.

    I.                   THAM KHẢO PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC TUYỂN DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN.

    1. Tại Mỹ.

    Các công ty tại Mỹ có vốn lớn, trình độ quản lý và công nghê cao do đó họ rất coi trọng công tác tuyển dụng nhân lực. Quá trình này luôn đầy đủ các bước. Một đặc trưng rất quan trọng là theo lậut lao động Mỹ, sau ba tháng, các công ty hoặc phải cho người lao động vào biên chế chính thức hoặc cho nghỉ. Nếu vào biên chế chính thức ngoài khoản được tăng lương, công nhân còn được hưởng các loại phúc lợi rất tốn kém. Công nhân thường được tuyển dụng theo hợp đồng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nên việc tuyển chọn nhân viên của hãng khác là khá phổ biến. Đây là triết lý chính trong quan điểm tuyển dụng của họ: Sử dụng triệt để người có tài bất kể trước đây anh là ai, làm việc cho hãng nào. Ngoài ra tuyển chọn quan trọng của các công ty Mỹ. Họ ưa thích nguồn nội bộ.

    2. Tại Nhật Bản.

    Các công ty ở Nhật bản cũng có vốn lớn, trình độ quản lý và công nghệ cao. Quá trình tuyển dụng nhân lực luôn được làm đầy đủ, nghiêm túc và kỹ càng. Giống tại Mỹ, các công ty Nhật ưa thích các nguồn nội bộ, trái với người Mỹ việc thăng chức chủ yếu dựa vào thành tích và khả năng là chủ yêu và thâm niên là thứ yếu. Còn người Nhật, thì yếu tố nhâm niên là chủ yếu giống hệt như tại Việt Nam. Tuy nhiên kể từ thập niên 1980, người Nhật đã cố gắng phá vỡ quan niệm truyền thống lạc hậu này vì cản trở người trẻ tuổi có thực tài. Từ thập niên 1990, hầu hết các hãng lớn của Nhật theo bước chân Mỹ trong việc thăng cấp. Những người trẻ tuổi muốn được thăng cấp ngạch quản trị đều phải qua chu kỳ thi trắc nghiệm và phải qua khoá huận luyện về quản trị. Truyền thống tuyển dụng của người Nhật là tuyển dụng suốt đời do đó họ không muốn tuyển dụng người nhân viên của các khãng khác như các công ty Mỹ. Hầu hết các công ty Nhật tuyển dụng nhân viên từ các trường Đại học và

    12

    Cao đẳng. Nhưng từ thập niên 1980 và nhất là 1990, dần dần càng có nhiều công ty tuyển mộ theo cách trên. họ thường thu nhận nhân viên của các hãng đang sa sút thừa nhân viên, sinh viên trẻ tuổi của các khoa Đại học… Rất hiếm khi nhân viên được tuyển từ các hãng đang cạnh tranh trong cùng ngành công nghiệp. Trong việc bố trí những người này vào một tổ chức, các công ty thường hết sức thận trọng, mục đích để bảo vệ nhân viên “riêng” của mình. Vì vậy những nhân viên này thường bị thua thiệt về chính sách lương bổng với nhân viên “gốc” của công ty. Điều này khác hẳn với Mỹ.

    Ngoài ra tại Mỹ và Nhật còn có các hãng như hãng chuyên cung cấp ứng viên có khả năng quản trị (Executive Search Firms) hoặc Hiệp hội chuyên ngành (Professional Associations) hoặc đến các trung tâm dịch vị dữ kiện lý lịch (Resume Databases) để được cung cấp lý lịch của các ứng viên đang cần việc làm. Những phương pháp này tại Việt Nam chưa có.

    1. ĐỘNG THÁI VÀ KHẢ NĂNG THU HÚT LAO ĐỘNG CỦA CÁCDOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG.

    “Mức cầu lao động” trong các doanh nghiệp là bộ phận quan trọng cấu thành “Mức cầu chung về lao động” của thị trường lao động. Đánh giá động thía lao động doanh nghiệp làm cơ sở cho cơ quan chức năng hoạch định các chính sách, giải pháp về phát triển kinh tế (đầu tư, công nghệ, phát triển ngành nghề, đào tạo nhân lực…) nhằm không ngừng tăng số chỗ làm việc mới, ổn định việc làm cho lực lượng lao động trong từng khu vực và thị trường lao động cả nước. Động thái lao động doanh nghiệp còn phản ánh xu thế thu hút lao động của các doanh nghiệp về mặt số lượng và chất lượng và đặc trưng khác của người lao động,

    Qua khảo sát động thái lao động năm 1999 của các doanh nghiệp tại 5 địa phương: Hà Nội, Vinh, Đà Năng, Đồng Nai, Cần Thơ, (tháng 12/1999) cho thấy tính đa dạng về mức độ giảm, tăng và khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp. Cụ thể:

    1. Lao động giảm trong năm.

    Mức lao động giảm trong năm 1999 của các doanh nghiệp tại các địa phương thể hiện ở biểu sau:

    13

    Biểu mức độ giảm lao động của các doanh nghiệp tại địa phương năm 1999

                  Thị trường lao động  
      Các chỉ tiêu                
        Vinh   Đà Đồng Cần Tổng số
              Nội   Nẵng Nai Thơ
                   
                           
        A     1 2   3 4 5 6
                   
    Tổng số lao động có đầu             172.663
    năm thuộc mẫu quan sát 34.415 21.222   32.851 65.635 18.540 (nữ
    (người)                   92.293)
                   
    Tổng số lao động thực tế             193.165
    đang làm việc thuộc mẫu 37.180 25.568   36.244 73.005 21.168 (nữ
    quan sát (người)               102.014)
                         
    Tổng số lao động giảm 2.046 908   3.824 7.676 1.740 16.191
    (người)        
                       
                       
    % giảm so tổng số lao 5,5 3,5   10,5 10,5 8,2 8,4
    động đang làm việc    
                   
                           
    Tổng số lao động nữ 1.224 348   2.840 4.950 1.009 10.381
    giảm          
                         
                   
    % lao động nữ giảm so              
    tổng số lao động nữ đang 6,4 3,6   15,4 10,7 11,9 10,2
    làm việc                    
                   
    Tỷ lệ số lao động giảm so              
    tổng số lao động có đầu 5,95 4,28   11,64 11,69 9,39 9,38
    năm (%)                    
                   
    Tỷ lệ lao động nữ giảm              
    so tổng số lao động nữ 6,72 4,35   16,42 12,29 12,29 11,2
    đầu năm (%)                  
                           

    Biểu trên cho thấy, trong năm 1999 lao động của các doanh nghiệp giảm khá lớn, bằng 8,4% tổng số lao động thực tế đang làm việc và bằng 9,38% tổng số lao động có đầu năm. Trong đó so với lao động thực tế đang làm việc, mức giảm lao động lớn ở các doanh nghiệp khu vực Đà Nẵng, Đồng Nai (đều 10,5%), Cần Thơ (8,2%) và thấp ở khu vực Vinh (3,5%). Tỷ lệ lao động nữ giảm trong tương quan với lao động nam, không có chênh lệch lớn, ngoại trừ

    14

    tại khu vực Đà Nẵng và Cần Thơ tỷ lệ này cao vọt lên tương ứng là 15,4 và 11,9% so tổng số lao động đang làm việc do một số doanh nghiệp cơ cấu lại sản suất và lao động, phát triển các nghề ít thu hút lao động nữ.

    Phần lớn lao động nữ giảm trong năm thuộc ngành công nghiệp chế biến, chiếm tỷ lệ 72%; sản suất điện – xây dựng: 8%; thương nghiệp: 7,3%; dịc vụ khác: 7,6% tổng số lao động giảm. Ở các ngành khác lao động giảm với tỷ lệ thấp.

    Số lao động giảm trong năm hầu hết tập trung vào các doanh nghiệp vừa và lớn (trên 100 lao động), chiếm tới 97,2% tổng số lao động giảm. Trong đó, doanh nghiệp có hơn 1000 lao động chiếm tỷ lệ 46,6% tổng số lao động giảm. Như vậy, biến động lao động giảm trong các doanh nghiệp lớn rất đáng chú ý.

    Lao động giảm trong năm chủ yếu là lao động phổ thông chiếm 54,1%, sau đó là công nhân kỹ thuật và sơ cấp: 36,5% tổng số lao động giảm. Lao động phổ thông giảm cao hơn mức chung là ở các doanh nghiệp khu vực Đồng Nai, chiếm 64,3% tổng số lao động giảm. Lao động cao đẳng, đại học giảm cao hơn mức chung là ở các doanh nghiệp khu vực Hà Nội, chiếm tỷ lệ 12,4% tổng số lao động giảm.

    Xem xét nguyên nhân giảm lao động của các doanh nghiệp cho thấy số lao động giảm do bỏ việc vì mức tiền lương (tiền công) thấp, chiếm tỷ lệ cao nhất: 36,3%, do kết thúc hợp đồng: 18,8%, về hưu mất sức: 8,1%. Các nguyên nhân khác: sản suất thu hẹp, thay đổi công nghệ, sa thải… chiếm tỷ lệ từ 0,4% – 4,2% tổng số lao động giảm trong năm.

    1. Tuyển dụng lao động trong năm.

    Biểu dưới cho thấy tình hình tuyển dụng lao động trong năm của các địa phương.

    Biểu tình hình tuyển dụng lao động các doanh nghiệp tại đại phương, 1999

    Chỉ tiêu Vinh Đà Đồng Cần Tổng
      Nội   Nẵng Nai Thơ số
                 
    Tổng số lao động tuyển 3.028 1.205 6.595 14.651 2.063 27.542
    dụng (người)            
                 
    % so tổng số lao động 8,14 4,71 18,2 20,07 9,75 14,26
    đang làm việc            
                 
    % so tổng số lao động có 8,8 5,68 20,08 22,32 11,13 15,95
                 

    15

    đầu năm

    Tổng số lao động tuyển dụng trong năm 1999 của các doanh nghiệp được quan sát tại 5 địa bàn là 17.542 người, bằng 14,26% tổng số lao động đang làm việc. Trong đó có 17.821 lao động nữ, bằng 64,7% TSLĐ tuyển dụng. Rõ ràng lao động nữ được các doanh nghiệp quan tâm sử dụng. Mức tuyển dụng lao động rất cao tại khu vực Đồng Nai: 20,07%, Đà Nẵng: 18,2% và thấp ở Vinh: 4,71% tổng số lao động đang làm việc.

    Số lao động tuyển dụng của các ngành có tỷ lệ cao nhất là công nghiệp chế biến: 21.841 người (79,3%), sản suất phân phối điện – xây dựng: 2.275 người (8,26%), thương nghiệp: 1.382 người (5,02%), dịch vụ khác: 1.120 người (4,7). Các lĩnh vực sản suất kinh doanh khác chỉ chiếm con số nhỏ.

    Các doanh nghiệp có quy mô lao động hơn 1000 người tuyển lao động nhiều nhất là 14.111 lao động, bằng 51,23% tổng số lao động tuyển dụng; Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn hoặc bằng 100 người chỉ chiếm tỷ lệ 2&. Ở đây biểu hiện rõ xu thế doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì nhu cầu tuyển dụng lao động có phần lớn hơn.

    Xét theo nghề cho thấy, nhu cầu tuyển dụng lao động lớn nhất thuộc nhóm nghề rệt, may, và thợ liên quan đến dệt may (cơ khí, điện…), chiếm tỷ lệ 33,5% tổng số lao động tuyển dụng của tất cả các nghề. Một số nghề khác chiếm tỷ lệ khá cao như lao động giản đơn trong công nghiệp: 10,7%; thợ giày da và thợ liên quan: 7,2%; thợ sản suất đồ gỗ và thợ liên quan: 6,29%; nhóm nghề khác chiếm tỷ lệ tư 0,9 – 3,6%.

    Nhu cầu tuyển dụng lao động nữ phụ thuộc vào đặc trưng nghề (tính chất công việc). Một số nhóm nghề thích hợp với lao động nữ nên tỷ lệ tuyển dụng nữ cao như: thợ giày da chiếm tỷ lệ 93,92%; thợ may:84,8%; thợ lắp ráp: 89,07%; lao động giản đơn trong công nghiệp: 69,37% … so tổng số lao động tuyển dụng của từng nghề. Ngược lại, nghề có tính chất năng nhọc, độc hại thì tỷ lệ tuyển dụng lao động nữ thấp, như: thợ xây dựng: 6,33%; thợ đúc, hàn: 8,46%; thợ cơ khí sửa chữa máy móc, thiết bị sản suất: 10,51%… so tổng lao động tuyển dụng của từng nghề.

    Phần lớn lao động tuyển dụng trong năm là lao động phổ thông và công nhân kỹ thuật. Trong đó, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ 56,6% (nữ 60,6%), công nhân kỹ thuật: 34,7% (nữ 33,5%). Các tỷ lệ này thấp ở lao động trung cấp chuyên nghiệp: 3,5% (nữ 2,3%); cao đẳng, đại học trở lên: 6,2% (nữ 2,3%).

    16

    Như vậy, trong năm các doanh nghiệp đã giải quyết được một số lượng đáng kể chỗ làm việc cho đội ngũ công nhân.

    Động thái giảm lao động trong năm 1999 của các doanh nghiệp vận động theo chiều hướng tích cực, xuất hiện nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động.

    Trong 5 tỉnh khảo sát cho thấy, mức thu hút lao động đạt cao ở các doanh nghiệp khu vực Đồng Nai (9,5% TS lao động đang làm việc) Đà Nẵng (7,7%); thấp ở Cần Thơ (1,55%); Vinh (1,21%). Một yếu tố quan trọng đảm bảo sự tăng trưởng việc làm cao ở các địa phương có mức thu hút lao động cao là do khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm qua có sự phát triển đáng kể hơn so với địa hương khác.

    1. Nhu cầu tuyển dụng lao động trong năm 2000 của các doanh nghiệp.

    Biểu sau cho thấy nhu cầu tuyển dụng lao động một số ngành trong năm

    • qua điều tra kế hoạch tuyển dụng lao động, đảm bảo kế hoạch sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp.

    Biểu nhu cầu tuyển dụng lao động năm 2000

        Nhu cầu tuyển dụng lao động
      Lĩnh vực hoạt động    
      Bình quân một doanh Tỷ lệ nữ (%)
        nghiệp (người)
         
           
    1. Nông-Lâm-Ngư 4,9 13,6
           
    2. Khai thức mỏ 5,1 27,8
           
    3. CN chế biến 15,6 71,9
           
    4. SX-PP điện-xây dựng 10,1 5,9
           
    5. Thương ngiệp 6,5 55,8
           
    6. Vận tải-Thông tin 4,9 19,9
           
    7. Tài chính, tín dụng và dịc vụ khác 3,9 50,29
           

    Tổng số nhu cầu tuyển dụng lao động trong năm 2000 của 500 doanh nghiệp quan sát là 5226 người, bằng 2,78% tổng số lao động tực tế đang làm. Đây là con số thấp hơn nhiều so với nhu cầu tuyển dụng lao động năm 1999 (2,78% so 14,26%). Từ biểu trên cho thấy, nhu cầu tuyển dụng lao động bình quân trên doanh nghiệp cao nhất là ở ngành công nghiệp chế biến cũng chỉ đạt

    17

    15,6 người; sản suất phân phối điện – xây dựng: 10,1 người, các ngành khác có nhu cầu tuyển dụng lao động rất thấp.

    Xét theo trình độ chuyên môn – kỹ thuật, nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông cao nhất là 41,73%, tiếp đến công nhân kỹ thuật: 39,56%, trung cấp: 7,4%, cao đẳng, đại học trở lên 12,8%. Đáng chú ý là năm 200 mức tuyển dụng lao động phổ thông có giảm xuống so với năm 1999 (41,73% so 55,6%), trong khi lao động các loại khác có tăng lên: công nhân kỹ thuật: 33,5% (1999) và 33,56% (2000); trung cấp chuyên nghiệp: 3,5% (1999) và 7,43% (2000); cao đẳng, đại học trở lên 6,2% (1999) và 12,8% (2000). Đây là xu thế tất yếu về sự tăng lên của cầu lao động kỹ thuật trong điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật.

    II.                MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC.

    Tuyển dụng lao động là khâu quan trọng quyết định đến chất lượng đóng

    góp lao động, khả năng đáp ứng công việc đảm bảo cho hoạt động của dây chuyền sản xuất – kinh doanh nhịp nhàng, có hiệu quả. Công tác tuyển dụng lao động còn là yếu tố đảm bảo ổn định quan hệ lao động, bầu không khí quan hệ lao động, khả năng hợp tác lao động, ứng xử và thái độ tác phong làm việc… Chính vì thế công tác tuyển dụng lao động được các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các tỉnh phía Bắc rất chú trọng.

    Từ thực tế điều tra:

    Qua số liệu điều tra 110 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các tỉnh phía Bắc cho thấy các biểu hiện chủ yếu của công tác tuyển dụng lao động là:

    • Số lao động bình quân của tất cả các doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 1998 tăng 2,62% so với lao động bình quân năm 1997. Xét trong năm 1997 thì số lao động giảm của tất cả các doanh nghiệp là 6.667 người, số lao động tăng 8.789 người. Như vậy, số lao động tăng thực tế của 110 doanh nghiệp trong năm 1997 là 2.122 người. Trong tổng số lao động giảm của năm 1997 nêu trên thì 33,05% là kết thúc hợp đồng lao động, 1.28% bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động và 57,36% lao động tự chấm dứt hợp đồng lao động vì lương thấp, cường độ lao động cao, làm thêm giờ quá mức (10% tổng số doanh nghiệp có số giờ làm thêm bình quân một lao động cao hơn 200 giờ/năm). Số lao động tăng thêm trong năm 1997 bao gồm 30,72% là do ký tiếp hợp đồng lao động và

    18

    69,28% là tuyển mớ. Số lao động tăng thêm chủ yếu là ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và giảm ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hồng Kông, Singapore. Việc ký kết hợp đồng lao động ngắn hạn (dưới 6 tháng) theo mùa, vụ và công việc, sau đó ký kết lại hợp đồng lao động hoặc sa thải lao động là phương pháp tuyển – sử dụng lao động mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng để đổi mới lao động hàng năm. Tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có một bộ phận lao động (chiếm khoảng 9,7% tổng số lao động) có công việc không ổn định luôn có nguy cơ bị sa thải do phụ thuộc vào tình trạng sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp.

    • Trong số lao động được tuyển dụng vào làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được điều tra, lao động ở độ tuổi dưới 29 chiếm tỷ lệ 54,7%, ở độ tuổi từ 30-40 tuổi là 32,26%, và trên 40 tuổi là 13,04%. Số lao động dưới 24 tuổi (12,1% tổng số lao động) phần lớn là lao động phổ thông được tuyển từ nông thôn vào làm các công việc theo mùa, vụ và công việc nhất định. Trong số lao động ở độ tuổi trên 30 được tuyển từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước, khu vực hành chính sự nghiệp có một số người được nắm giữ vị trí quản trị doanh nghiệp điều hành ở một số khâu, công đoạn sản xuất – kinh doanh. Do tỷ trọng các chỗ làm việc có cường độ cao, nhịp độ dây chuyền sản xuất lớn (lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử, may mặc…) nên việc tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tuyển dụng lao động ở độ tuổi dưới 45 tuổi.
    • Hình thức tuyển dụng lao động: Theo quy định của luật lao động, tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện qua hai kênh: Trung tâm dịch vụ việc làm và cơ quan lao động địa phương. Sau 30 ngày, các kênh trên không đáp ứng thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép tự tuyển lấy lao động. Thực tế điều tra ơ các doanh nghiệp cho thấy, 76,1% tổng số lao động được tuyển vào làm việc là do doanh nghiệp tự tuyển, 23,39% là do trung tâm dịch vụ việc làm. Nguyên nhân của tình hình trên là do hệ thống trung tâm dịch vụ việc là, tại các địa phương không đáp ứng được kịp thời về số lượng, chất lượng lao động theo yêu cầu của các doanh nghiệp. Các cơ quan địa phương chưa có mối quan hệ cung ứng lao động với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài một cách chặt chẽ. Theo ý kiến của một số cơ quan lao động địa phương, thực tế còn có hiện tượng các trung tâm dịch vụ việc làm thu lệ phí không hợp lệ từ người lao

    19

    động và doanh nghiệp làm giảm sức hút của các trung tâm dịch vụ việc làm đối với người lao động và doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng thấy rằng, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các tỉnh phía Bắc đòi hỏi chất lượng lao động tuyển dụng cao (trong 1.100 lao động đang có việc làm được phỏng vấn thì 93,27% đã tốt nghiệp phổ thông trung học, 86,1% đã qua đào tạo chuyên môn – kỹ thuật) trong khi thị trường lao động địa phương còn khan hiếm lao động đã qua đào tạo. Chính vì thế các doanh nghiệp phải tự tuyển lấy lao động tốt nghiệp phổ thông trung học để đào tạo theo yêu cầu sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp (riêng năm 1997 số lượt người được đào tạo bằng 14,41% tổng số lao động đang làm việc). Rõ ràng, nguồn lao động đã tốt nghiệp phổ thông trung học dù chưa qua đào tạo cũng được các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chú ý khai thác, tuyển dụng để đào tạo và làm việc.

    • Đánh giá của doanh nghiệp về lao động được tuyển dụng: Theo đánh giá của người sử dụng lao động các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì việc tuyển dụng lao động vào làm việc vào làm việc tại các doanh nghiệp này được thực hiện khá khắt khe, nên 93,53% tổng số lao động đang sử dụng đáp ứng được yêu cầu công việc của doanh nghiệp. Số còn lại (6,47% gồm 1.437 người của 110 doanh nghiệp) chưa đáp được yêu cầu công việc do các nguyên nhân khác nhau. Trong số đó nguyên nhân do trình độ chuyên môn yếu chiếm tỷ lệ 45,46%, do tác phong lao động là 46,63%, các lý do khác (thái độ lao động…) là 7,93%. Rõ ràng là trong tuyển dụng lao động, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những chú trọng đến chuyên môn mà còn đến các phẩm chất khác như tác phong lao động, khả năng hợp tác lao động, ứng xử xã hội trong lao động…
    • Khó khăn trongtuyển dụng lao động: Trong số các doanh nghiệp được điều tra, số doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động chiếm tỷ lệ 35,45% (49/110 doanh nghiệp). Nguyên nhân khó khăn chủ yếu của tuyển dụng lao động là thiếu lao động theo loại hình ngành nghề (lao động nghề đào tạo trên thị trường lao động không phù hợp yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp), chiếm tỷ lệ 63%. Còn các nguyên nhân khác như: mức tiền công thấp, địa bàn khó khăn, hợp đồng ngắn hạn và công việc bấp bênh không thu hút được người lao động là 37%. Ngoài ra, một bộ phận doanh nghiệp (55,32% tổng số lao động trên thị trường lao động các doanh nghiệp) có ý kiến chất lượng lao động trên thị trường lao động các địa phương chưa đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, thủ tục tuyển dụng lao động vào làm việc tại các

    20

    doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn phức tạp (19,15% tổng số doanh nghiệp có ý kiến), thủ tục cấp giấy phép cho người lao động vào làm việc tại Việt Nam chưa nhanh chóng.

    CHƯƠNG III

    CÁC BIỆN PHÁP CHO CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG LAO

    ĐỘNG.

    Tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang có những vấn đề tồn tại, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có các biện pháp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện tốt nhất công tacs tuyển dụng lao động cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, sử dụng hiệu quả nguồn lao động dồi dào của các địa phương. Các biện pháp có thể là:

    • Tạo môi trường pháp luật thông thoáng hơn, phù hợp cơ chế thị trường cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tuyển dụng lao động, cho phép doanh nghiệp tự tuyển chọn trực tiếp lao động để sử dụng hoặc để đào tạo rồi sử dụng có sự quản lý của cơ quan lao động địa phương.
    • Nâng cao năng lực hoạt động của các Trung tâm dịch vụ việc làm bằng việc hướng các hoạt động của các Trung tâm vào tư vấn việc làm, cung ứng lao động, thông tin thị trường lao động để góp phần hỗ trợ có hiệu quả vào cung ứng lao động cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không khuyến khích các trung tâm dịch vụ việc làm làm công tác đào tạo, kinh doanh, dịch vụ…).
    • Tăng cường công tác đào tạo, dạy nghề lao động có trình độ chuyên môn – kỹ thuật cao cho thị trường lao động các tỉnh phía Bắc. việc đào tạo, dạy nghề có tính đến nhu cầu sử dụng lao động theo ngành nghề, loại hình lao động (công nhân kỹ thuật, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trở lên) của doanh nghiệp các khu vực kinh tế, kể cả khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
    • Hoàn thiện quy định thủ tục tuyển dụng lao động và tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; thủ tục cấp phép cho người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đảm bảo thuận lợi, nhanh chóng.
    • Thực hiện việc huấn luyện các phẩm chất cần thiết cho người lao động trong các trường đào tạo, dạy nghề phù hợp với lao động trong điều kiện công

    nghiệp, công nghệ hiện đại và trình độ tổ chức sản suất – kinh doanh, tổ chức lao động cao.

    • Hoàn thiện các quy định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi, tự do di chuyển sức lao động giữa các tỉnh, các khu vực kinh tế trong vùng. Trên cơ sở đó tránh hiện tượng chia cắt thị trường lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động xã hội.

    Ngoài ra, người viết nà xin được đưa ra một số giải pháp có tính chất chung nhằm nâng cao hiệu quả của tuyển dụng nhân lực.

    * Đào tạo một đội ngũ cán bộ, chuyên gia nhân sự giỏi.

    Có được đội ngũ này thì hoạt động tuyển dụng nhân lực sẽ được làm đến nơi đến chốn. Hoạt động sẽ được hướng dẫn và thực hiện một các tỉ mỉ, cụ thể và có khoa học. Do đó sẽ nâng cao được hiệu quả của tuyển dụng nhân lực.

    • Tuỳ vào điều kiện tài chính của doanh nghiệp, tuỳ theo môi trường kinh tế – xã hội mà tiếp thu có chọn lọc các phương pháp tiến bộ, khoa học ở các nước phát triển. Để áp dụng vào thực tế ở Việt Nam.

    Các phương pháp tuyển dụng ở các nước phát triển tiên tiến và khoa học nhưng chưa chắc khi đem áp dụng vào thực tế Việt Nam đã đem lại hiệu quả, bởi vì mỗi nơi đều có văn hoá riêng và bản sắc dân tộc riêng. Việc cải tiến các phương pháp đó sao cho phù hợp với thực tiễn của Việt Nam là nhiệm vụ của các nhà quản trị. Nếu vấn đề này được giải quyết thì có lẽ đó là giải pháp hữu hiệu và phổ biến nhất ở nước ta trong năm tới.

    • Thay đổi cơ cấu đào tạo theo hướng phát triển các ngành kỹ thuật và giảm bớt các khối kinh tế – xã hội.

    Điều này có vẻ xa vời và lệch với nội dung cần đề cập của đề án này, song đó lại là một thực tế ở Việt Nam. Việc thiếu các kỹ sư có tay nghề và thừa rất nhiều các cử nhân là điều đã và đang xả ra trên thị trường lao động. Cần tăng lượng kỹ sư không chỉ về lượng mà còn về chất là một nhu cầu bức xúc để theo kịp yêu cầu của thị trường. Việc đào tạo ồ ạt các cử nhân khối kinh tế mà không có việc làm phù hợp khi ra trường là một sự lãnh phí ghê gớm. Không có việc làm phù hợp tất sẽ sinh ra hiện tượng “trái ngành, trái nghề”. Chính điều này đã dẫn đến khó khăn lớn cho hoạt động tuyển dụng vì có công việc thì rất nhiều ứng viên phù hợp song có những ông việc lại thiếu ứng viên.

    • Cuối cùng, chúng ta cần duy trì và phát triển loại nhật báo như tờ Mua
    • Những tờ nhật báo này sẽ mang đến thông tin về lao động một cách

    22

    nhanh nhất và đại chúng nhất cho những người quan tâm. Nó là tối khi tính vả về giá cả và hiệu quả. Nhờ nó các ứng viên và nhà quản trị sẽ bớt được nhiều công sức mà hoạt động tuyển dụng lại thu hút được nhiều ứng viên phù hợp hơn. Từ đó tuyển dụng sẽ hiệu quả hơn.

    KẾT LUẬN

    Như vậy chúng ta đã có một cái nhìn tổng quan về hoạt động tuyển dụng nhân lực trong một tổ chức. Tuy đơn giản, sơ sài và không tránh khỏi thiếu sót song qua đó chúng ta cũng thấy được tầm quan trọng của hoạt động này đúng thời điểm cần thiết sẽ khiến công việc của doanh nghiệp được thực hiện một cách trôi chảy và hiệu quả. Việc sử dụng người đúng lúc, đúng chỗ sẽ giúp công ty có một cơ cấu hợp lý và đội ngũ nhân viên thích hợp với từng loại công việc. Điều này sẽ dẫn tới một loạt các vấn đề khác được giải quyết như: tiết kiệm các nguồn lực khác, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp… Kết quả cuối cùng là lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp càng lớn sẽ giúp doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và phát triển. Ngược lại việc sử dụng người không hợp lý sẽ dẫn đến những hậu quả xấu khó lường trước được. Việc hoạt động kinh doanh kém hiệu quả là điều có thể thấy rõ nhất. Nặng hơn, doanh nghiệp có thể bị phá sản. vậy có thể nói hoạt động tuyển dụng nhân lực trong một tổ chức là yếu tố sống còn của tổ chức đó.

    Trước khi làm công việc gì thì yếu tố đầu tiên được tính đến sẽ là con người. Có nhân lực rồi thì mới lo đến máy móc, thiết bị, công nghệ, vật liệu,… Chính con người sẽ sử dụng những nguồn lực đó đẻ biến thành kết quả đầu ra.

    Như vậy hoạt động tuyển dụng nhân lực là khởi đầu cho mọi công tác khác.

    Đất nước Việt Nam đang trên đường hoà nhập cùng thế giới và nền kinh tế của chúng ta cũng đang dần hoà nhập với kinh kế khu vực và toàn cầu. Chúng ta hào nhập chứ không hoà tan, vẫn giữ được những nét riêng, đặc sắc và bản sắc dân tộc. Hoạt động tuyển dụng cũng vậy; một mặt tiếp thu, học hỏi những cái hay, những phương pháp tiên tiến, khoa học của nước ngoài những mặt khác chúng ta vẫn giữ truyền thống nhân đạo; giúp đỡ và tạo điều kiện cho những người chưa đạt tiêu chuẩn hoặc cho người lao động cơ hội để họ bù lấp những thiếu sót của mình… nghĩa là vấn đề đặt con người lên trên hết; thậm trí trên cả công việc. Đây là một nét truyền thống rất Á Đông, tuy trước mắt có thể hiệu quả công việc sẽ không như ý muốn nhưng về sau, về dài thì nó có một cái lợi không gì sánh được đó là lòng trung thành, sự tận tâm tuyệt đối của nhân viên với doanh nghiệp. Có lẽ đó sẽ là xu hướng hoạt động tuyển dụng ở nền kinh tế Việt Nam của thiên niên kỷ mới.

    23

    Đến đây chúng ta có thể khẳng định: Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nhân lực trong một tổ chức.

    Trước khi kết thúc, một lần nữa em xin cảm ơn cô giáo: Thạc sĩ

    đã hướng dẫn để em hoàn thành đề án này.

    Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2000


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức ở nước ta hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-c%E1%BB%A7a-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-ph%E1%BB%A5c-v%E1%BB%A5-cho-s%E1%BB%B1-nghi%E1%BB%87p-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-ho%C3%A1-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-ho%C3%A1-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải có nguồn

    nhân lực , vốn và tài nguyên . Đối với Việt Nam , cả hai nguồn lực tài chính và tài nguyên thiên nhiên đều rất hạn chế nên nguồn lực con người đương nhiên đóng vai trò quyết định .So với các nước láng giềng chúng ta có lợi thế đông dân , tuy nhiên nếu không được qua đào tạo thì dân đông sẽ là gánh nặng dân số còn nếu được qua đào tạo chu đáo thì đó sẽ là nguồn nhân lực lành nghề ,có tác động trực tiếp lên tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Một đội ngũ nhân lực lành nghề và đồng bộ cũng tạo nên sức hấp dẫn to lớn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam . Vì thế báo cáo chính trị đại hội Đảng toàn quốc lần 8 đã chỉ rõ : “ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu , phương hướng chung trong nhiều năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ”. Báo cáo chính trị đại hội Đảng toàn quốc lần 9 cũng nêu : “Phải tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta có thể và cần rút ngắn thời gian . Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế – xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố , nhiều điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người .Điều khẳng định trên lại càng đúng với hoàn cảnh nước ta trong giai đoạn cách mạng đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. So sánh các nguồn lực với tư cách là điều kiện , tiền đề để phát triển đất nước và tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nguồn nhân lực có vai trò quyết định . Do vậy

    1

    • hơn bất cứ nguồn lực nào khác ,nguồn nhân lực phải chiếm một vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nước ta . Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực , là nhân tố quan trọng bậc nhất để đưa nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp phát triển . Do vậy , khai thác ,sử dụng và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng góp phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Muốn có được một nguồn nhân lực có chất lượng tốt , chúng ta phải có những hoạt động tích cực để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước nhà ,trước hết phải bắt đầu từ việc giáo dục và đào tạo. Giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng là trang bị kiến thức truyền thụ kinh nghiệm, hình thành kỹ năng kỹ xảo trong hoạt động , hình thành nên phẩm chất chính trị, tư tưởng , đạo đức và tâm lý , tạo nên những mẫu hình con người đặc trưng và tương ứng với mỗi xã hội nhất định , tạo ra năng lực hành động cho mỗi con người Nội dung của giáo dục , đào tạo quy định nội dung của các phẩm chất tâm lý tư tưởng , đạo đức và định hướng sự phát triển của mỗi nhân cách . Chúng ta đang đặt con người vào vị trí trung tâm vì khi con người ở đúng vị trí của nó thì nó mới phát huy hết tiềm lực đang ngủ yên của Việt Nam . Đó là một chiến lược đúng đắn của nước ta hiện nay

    .Muốn làm được điều đó chúng ta cần phải nghiên cứu thực trạng một cách chính xác để đề ra giải pháp hợp lý, để làm sao nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với nước ta hiện nay, do đó em chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp

    để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”

    2

    NỘI DUNG

    I.                   MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN.

     

    1.                 Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là gì.

    Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình chuyển đối căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng xuất xã hội cao.

    Chúng ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa do đó ta cần quan tâm đến nội dung cơ bản của công nghiệp hoá – hiện đại hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là ta phải phát triển lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại; chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá, hợp lý hoá và hiệu quả cao; thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    2.                 Vai trò của công nghiệp hoá – hiện đại hoá đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam.

    Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đường lối công nghiệp hoá và coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội. Phân tích những tác dụng cơ bản của công nghiệp hoá đối với nền kinh tế đất nước hiện nay càng làm rõ ý nghĩa vai trò trung tâm của công nghiệp hoá.

     

    Công nghiệp hoá ở nước ta trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình thực hiện chiến lược

    phát triển kinh tế – xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngàycàng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

    Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm là nền nông nghiệp lạc hậu, bình quân ruộng đất thấp, 80% dân cư nông thôn có mức thu nhập rất thấp sức mua hạn chế. Vì vậy công nghiệp hoá là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết về con người và khoa học – công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng xuất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

    Quá trình công nghiệp hoá tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng sản xuất, nhờ đó mà nâng cao vai trò của con người lao động – nhân tố trung tâm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hoá mang lại, là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là góp phần tăng cường quyền lực, sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lý kinh tế nhà nước.

    Quá trình công nghiệp hoá tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ vững mạnh trên cơ ở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế.

    Sự nghiệp công nghiệp hoá thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vụng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên

    4

    canh tập chung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống nhất cao hơn.

    Công nghiệp hoá không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát triển cao mà còn tạo tiền dề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hoá nền quốc phòng an ninh. Sự nghiệp quốc phòng và an ninh gắn liền với sự nghiệp phát triển văn hoá, kinh tế xã hội.

    Thành tựu công nghiệp hoá tạo ra tiền đề kin tế cho sự phát triển đồng bộ về kinh tế – chính trị, văn hoá xã hội, quốc phòng và an ninh. Thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy mà công nghiệp hoá kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    3. Lý luận nguồn nhân lực.

    Ngày nay khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng được thừa nhận như một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trưởng thì một trong những yêu cầu để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới là phải có được một nguồn nhân lực có đủ sức đáp ứng đựơc những yêu cầu của trình độ phát triển của khu vực, của thế giới, của thời đại.

    Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình lao động và các thế hệ nôid tiếp sẽ phục vụ cho xã hội.

    Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế – xã hội là khả năng lao động cả xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động.

    Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh

    5

    thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên.

    Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên, mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định (vì đến lúc đó con người muốn phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động).

    Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế – xã hội, con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu nhất định. Vì vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc… tất cả các yếu tố đó ngày nay đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá là một chỉ tiêu tổng hợp là văn hoá lao động. Ngoải ra, khi xem xét nguồn nhân lực, cơ cấu của lao động – bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng.

    Cũng giống như các nguồn lực khác, số lượng và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.

    Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những người lao động phải được đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng. Một quốc gia có lực lượng lao động đông đảo, nhưng nếu phân bổ không hợp lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lượng lao động đông đảo đó không

    6

    những không trở thành nguồn lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển.

    3.                 Vai trò của nguồn nhân lực với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và với nền kinh tế tri thức ở nước ta.

    Ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và thông tin, sự giao lưu trí tuệ và tư tưởng liên minh kinh tế giữa các khu vực trên thế giới. Sự ra đời của nhiều công ty xuyên quốc gia đã tạo ra tốc độ yăng trưởng chưa từng thấy. Tình hình đó đã dẫn đến sự quốc tế hoá kinh tế thế giới, gây nên những đảo lộn về chính trị xã hội sâu sắc mang tính toàn cầu và đang đi đến thiết lập một trật tự thế giới mới. Trong bối cảnh đó khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang nổi lên là khu vực kinh tế năng động nhất. Một trong những yếu tố chủ chốt thức đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng là vai trò của nguồn nhân lực.

     

    Nền kinh tế tri thức là kinh tế dựa trên các trụ cột chủ yếu là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới… Để có được nền kinh tế tri thức cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin; đồng thời phải đầu tư cho phát triển giáo dục đào tạo hay nói cách khác phải đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực. Các nước muốn phát triển nền kinh tế tri thức cần phải đầu tư cho phát triển con người mà cốt lõi là phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đàu tư phát triển nhân tài. Nhà kinh tế học người Mỹ, ông Garry Becker- người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1992, đã khẳng định: ” không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư cho giáo dục” (Nguồn: The Economist 17/10/1992). Nhờ có sự đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực mà nhiều nước chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển.

    7

    Việt Nam là nước đang phát triển có lực lượng sản xuất ở trình độ thấp, nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam là khái niệm hoàn toàn mới mẻ. Do vậy, có ý kiến cho rằng nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam hiện nay quá xa và không hiện thực; cho rằng Việt Nam phải xây dựng xong công nghiệp hoá, hiện đại hoá để làm tiền đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, kinh tế tri thức không chỉ bao gồm các ngành mới xuất hiện dựa trên công nghệ cao, mà còn cả các ngành truyền thống đựoc cải tạo bàng khoa học công nghệ cao. Do đó không nên chờ cho đến khi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá kết thúc mới tiến hành xây dựng kinh tế tri thức, mà ngay trong giai đoạn này, để phát triển và theo kịp các nước trên thế giới, chúng ta phải đồng thời phải quan tâm tới những lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp cận.

    Đối với Việt Nam, một đất nước nông nghiệp, rõ ràng chúng ta không thể xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức như các nước công nghiệp phát triển. Thực ra đó là sự tiếp tục quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở một trình độ cao hơn, dựa trên chất xám của con người. Mặt khác do xuất phát điểm của lực lượng sản xuất của ta thấp, mà tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam, tức mang những đặc thù của mình. Do đó việc xác định nội dung các ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuẩn bị các điều kiện vật chất và con người để tiếp cận kinh tế tri thức trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cấp hoạch định chiến lược. Trong việc chuẩn bị ấy việc nghiên cứu thực trạng mạnh, yếu và tìm ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực là quan trọng và cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay.

    Theo kinh nghiệm của nhiều nước thì nếu chỉ có lực lượng lao động đông và rẻ thì không thể tiến hành công nghiệp hoá, mà đòi hỏi phải có một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao. Chính nhờ lực lượng có trình độ chuyên môn cao mà Nhật Bản và các nước Nics (các nước công nghiêpj mới) vận hành

    8

    có hiệu quả công nghệ nhập khẩu hiện đại, sản xuất ra nhiều mặt hàng có sức cạnh tranh cao với các nước công nghiệp phát triển trên thế giới.

    Để đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phải bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Với tư cách là mục tiêu và động lực phát triển, con người có vai trì to lớn không những trong đời sông kinh tế mà con trong lĩnh vực hoạt động khác. Bởi vậy phải quan tâm, nâng cao chất lượng con người, không chỉ với tư cách là người lao động sản xuất, mà với tư cách là công dân trong xã hội, một cá nhân trong tập thể, một thành viên trong cộng đồng nhân loại… Không thể thực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá nếu không có đội ngũ đông đảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, những nhà lãnh đạo, quản lý tận tuỵ, biết nhìn xa trông rộng.

    Vào những năm 80, quan điểm phát triển nguồn nhân lực đã trở thành vấn đề quan tâm đặc biệt ở Châu Á – Thái Bình Dương. Con người đợc coi là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển. Trong thời đại mới, muốn giải quyết hài hoà các yếu tố cung và cầu có liên quan đến chiến lược ohát triển nguồn nhân lực thì cần xem xét khía cạnh nguồn nhân lực theo quan hệ một phía. Phải thấy được vai trò sản xuất của nguồn là vấn đề cốt lõi của học thuyết vốn con người. Và vai trò sản xuất của nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ với vai trò tiêu dùng được thể hiện bằng chất lượng cuộc sống. Cơ chế nối liền hai vai trò là trả công cho người lao động tham gia các hoạt động kinh tế và thu nhập đầu tư trở lại để nâng cao mức sống của con người tạo nên khả năng nâng cao mức sống cho toàn xã hội và làm tăng năng suất lao động… Các nước nghèo ở Châu Á đều nhận thức do tốc độ tăng dân số quá nhanh nhiều quốc gia coi việc giảm đói nghèo còn quan trọng hơn cả giáo dục, đó là một thiệt hại to lớn.

    Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý vĩ mô của nhà nước với mục tiêu bảo đảm cho dân

    9

    giàu, nước mạnh, xã hội công bàng văn minh, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi trường. Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, Hiệu quả kinh tế xã hội cao khi nền kinh tế ấy thực sự dựa trên cơ sở công nghiệp hóa, hiện đại hoá, trong đó phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu cơ bản cho sự phát triển bền vững.

    II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CHO SỤ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM.

     

    1.     Thực trạng nguồn nhân lực nước ta.

    1. Số lượng (quy mô) Nguồn nhân lực Việt Nam. Quy mô nguồn nhân lực Việt Nam.

     

    Việt Nam là một trong những nước đông dân, dân số với quy mô dân số

    đứng thứ hai Đông Nam Á và thứ mười ba trên thế giới. Một đất nước với cơ cấu dân số trẻ với số người trong độ tuổi 16 – 34 chiếm 60% trong tổng số 35,9 triệu người lao động: Nguồn bổ sung hàng năm là 3% – tức khoảng 1,24 triệu người. Theo tổng điều tra dân số ngày 1-4-1999, quy mô dân số nước ta là 76,3 triệu người và dự tính đến năm 2010 quy mô dân số nước ta khoảng 95 triệu và số người trong độ tuổi lao động gần 58 triệu, chiếm 60,7% dân số . Dự báo thời kỳ 2001 đến 2010 cần tạo thêm chỗ làm việc mới cho khoảng 11 – 12 triệu lao động (chưa kể số lao động tồn đọng các năm chuyển sang), bình quân mỗi năm phải tạo thêm 1,1 đến 1,2 triệu chỗ làm việc mới. Tính đến 1/7/2000, tổng lực lượng lao động cả nước có 38.643.089 người, so với kết quả điều tra tại thời điểm 1/7/1996 tăng bình quân hàng năm là 975.645 người, với tốc độ tăng 2,7% một năm, trong khi tốc độ tăng bình quân hàng hàng năm của thời kỳ này là 1,5% một năm.

    Quy mô nguồn nhân lực qua đào tạo của Việt Nam và việc sử dụng nguồn nhân lực này.

    10

    Việt Nam tuy có lực lượng lao động dồi dào nhưng lực lượng lao động đã qua đào tạo thực tế lại thiếu, đó là mâu thuẫn về quy mô của nguồn nhân lực nước ta, chúng ta vừa thừa vừa thiếu nguồn nhân lực.

    Hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước thuộc các bộ, các ngành ở các cơ quan trung ương có 129763 người, trong đó có 74% công chức có trình độ từ đại học trở lên.

    1. Về chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam.

    Theo số liệu điều tra lao động việc làm từ năm 1996 – 1999 thì đối với 35,866 – 37,784 triệu người lao động trong cả nước , số người lao động chưa biết chữ vẫn còn tới 5,75% năm 1996, 5,10% năm 1997, 3,84%năm 1998 và 4,10% năm 1999

    Trong số người chưa biết chữ , có vùng chiếm tỷ lệ cao như đồng bằng sông Cửu Long ( vùng chiếm 21% lao động cả nước ) năm 1999 còn tới 33% , vùng đông Bắc ( vùng chiếm 15% lao động cả nước) còn tới 19%…..

    Trong số người biết chữ , vẫn còn nhiều người chưa tốt nghiệp cấp Ι .Năm 1996 có 20,92 , năm 1997 có 20,26%năm 1998 có 18,50% và năm 1999 còn18,00%. Số người tốt nghiệp phổ thông trung học chỉ có 13– 14% các năm 1996-1997 và 16- 17% năm 1998, 1999

    Nhìn chung trình độ văn hoá của người lao động đã khá hơn sau 10 năm , số người biết chữ nâng lên từ 84% năm 1989 lên 96% năm 1999. Số người biết chữ nhưng chưa tốt nghiệp cấp Ι cũng giảm dần, tuy còn chậm , lớp học bình quân của người lao động đã tăng từ 3,3/12năm 1997 lên lớp 7,4/12năm1999 Bên cạnh đó chỉ số HDI của Việt Nam năm 2000 xếp thứ 100/171 nước . Qua “ điều tra lao động – việc làm ở Việt Nam ” các năm 1996 – 1999 cho thấy

    • lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn – kỹ thuật chiếm trong tổng số lực lượng lao động được điều tra ( 35,8 – 37,7 triệu người ) ngày càng giảm qua các năm . Cụ thể như sau :

    11

    Năm Lực lượng lao động không có trình độ/ tổng số lao động
    1996 87,69%
    1997 87,71%
    1998 86,69%
    1999 86,13%
    2000 80 – 82%

    Tuy nhiên ở nhiều vùng số lao động không có trình độ, chuyên môn kỹ thuật còn chiếm tỷ lệ khá cao : năm1999 số không có chuyên môn nghiệp vụ ở vùng Tây Bắc là 92,36% ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là91,7%

    Số lao động có chuyên môn ngày càng tăng mặc dù không cao. Năm 1996 là 12,31%, năm 1997 : 12,29% năm 1998: 13,31% năm 1999 : 13,87% và đến năm 2000 là 18 – 20%

    Về trí lực và thể lực.

    Người Việt Nam có truyền thống cần cù, thông minh, ham học hỏi, Cầu tiến bộ, có ý chí và tinh thần tự lực tự cường dân tộc phát triển khá về thể lực, trí lực, có tính cơ động cao có thể tiếp thu nhanh kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại, có thể nói đây là một trong số các lợi thế so sánh của ta trong quá trình hội nhập.

    Bảng: một số chỉ tiêu về sức khoẻ, y tế của các nước ASEAN.

    Chỉ tiêu Thời gian Việt Brunây Inđônêxia Malaixia Philippin Thái Xingap
        Nam         Lan o
                     
    Tuổi thọ bình quân 1992 63,4 74 62 70,4 64,4 68,7 74,2
                     
    Cung cấp calo bình quân/người 1988-1990 2220 2860 2610 2670 2340 2280 3210
                     
    Tỷ lệ cung cấp calo/người so 1988-1990 102 _ 112 124 108 100 144
    với nhu cầu tối thiểu(%)                
                     
    Tỷ lệ được dịch vụ y tế(%) 1985-1990 90 96 80 90 75 70 100
                     
    Tỷ lệ được dùng nước sạch(%) 1988-1991 27 95 51 72 82 76 100
                     

    Nguồn: chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người. NXB Thống Kê. Hà Nội

    1995.

    12

    Qua bảng trên ta thấy: các chỉ số của Việt Nam luôn luôn ở mức thấp, có những chỉ số ở mức thấp nhất trong khu vực. Những chỉ tiêu liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất, thể lực của người lao động Việt Nam rất thấp: Cung cấp cao bình quân đầu người chỉ có 2220 calo, thấp nhất trong khu vực. Về tỷ lệ cung cấp calo bình quân đầu người so với nhu cầu bình quân tối thiểu, Việt Nam chỉ cao hơn Thái Lan (100%), Inđônêxa (122%), Xingapo (144%), Philippin (108%), Malaixia (124%). Một loạt các chỉ tiêu khác liên quan đến y tế, chăm sóc sức khoẻ của Việt Nam cũng còn ở mức thấp, điều đó lý giải phần nào sự hạn chế về mặt thể lực của nguồn nhân lực Việt Nam. Cho đến nay thể lực của người lao động Việt Nam còn chưa đáp ứng được những yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp lớn và ỏ đây đã bộc lộ một trong những yếu điểm cơ bản của nguồn nhân lực Việt Nam.

    Những mặt mạnh từ trước đến nay của người lao động Việt Nam vẫn được nhắc đến là: có truyền thống lao động cần cù, có tinh thần vượy khó và đoàn kết cao, thông minh sáng tạo, có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, có khả năng thích ứng với nhiều tình huống phức tạp. Nhưng thực tế cũng cho thấy những điểm yếu không thể không thừa nhận là trình độ kỹ thuật, tay nghề, kỹ năng trình độ và kinh nghiệm quản ký của người Vệt Nam còn rất thấp, chưa kể những tác hại của thói quen và tâm lý của người sản xuất nhỏ.

    Khả năng tư duy của lao động nước ta.

    Nguồn nhân lực Việt Nam với xuất phát điểm thấp, trước yêu cầu lớn của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế tỏ ra bất cập. Từ nền kinh tế nông nghiệp, phong cách tư duy con người Việt Nam còn mang nặng tính chất sản xuất nhỏ, thủ công, lạc hậu. Sản xuất và quản lý bằng kinh nghiệm theo kiểu trực giác, lấy thâm niên công tác, cụ thế nghề nghiệp và lòng trung thành để đánh giá kết quả lao động và phân chia thu nhập. Lao độgn chưa

    13

    được đào tạo và rèn luyện trong môi trường sản xuất công nghiệp nên hiệu xuất lao động chưa được đề cao và đánh giá đúng mức. Khi tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại được thâm nhập và chuyển giao vào Việt Nam thì mâu thuẫn giữa trình độ hiện đại của trang thiết bị kỹ thuật – công nghệ với trình độ lạc hậu của người sử dụng xuất hiện. Người quản lý người sử dụng công nghệ thì không thể tiếp thu, càng không thể khai thác có hiệu quả công nghệ, nên giảm hiệu xuất của vốn đầu tư.

    Hiện nay, công nghệ Việt Nam ở mức trung bình kém. Trong các ngành công nghiệp, hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với thế giới. Các chỉ tiêu chủ yếu cề tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu gáp 1,5 đến 2 lần mức chung của thế giới, giá thành sản phẩm cao, năng suất lao động công nghiệp chỉ đạt 30% mức trung bình của thế giới ( theo số liệu báo cáo cuả GS đặng hữu tại hội cán bộ khoa học công nghệ toàn quốc ngày 12/2/1995). Số nhân công có trình độ bậc 4 trở lên chỉ bằng 1/3 tổng số công nhân kỹ thuật, công nhân có trình độ bạc 7 chỉ có 4000 người nà đa phần tuổi đã cao. Thiếu công nhân kỹ thuật, đặc biệt là công nhân bậc cao là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình chuyển giao công nghệ, làm giảm hiệu xuất sử dụng của thiết bị công nghệ.

    Hiện nay các nhà công nghệ, công trình sư, kỹ sư thực hành nước ta rất thiếu, nhất là cán bộ ở các ngành công nghệ thông tin, vi điện tử sinh học, tự động hoá sản xuất… Số cán bộ khoa học thuộc các ngành kỹ thuật liên quan đến công nghệ chỉ chiếm 11% tổng cán bộ trong cơ chế kinh tế cũ nên kinh nghiệm, năng lực sáng tạo thực tiễn, khả năng sáng tạo công nghệ yếu.

    Sự lạc hậu, non yếu về trình độ của nguồn nhân lực Việt Nam so với nhân lực trong khu vực và thế giới.

    Trình độ lao động kỹ thuật nước ta vừa yếu, vừa thiếu, vừa bất hợp lý về cơ cấu đào tạo, vừa phân bố không đồng đều giữa các ngành, các vùng, các

    14

    thành phần kinh tế. Trình độ non kém, lạc hậu về khoa học công nghệ, tác phong lao dộng, kỷ luật, sự thiếu hiểu biết về kinh tế thị trường, tính từ chịu trách nhiệm cá nhân thấp ảnh hưởng đến cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam khi hoà nhập vào thị trường nhân lực tiên tiến của thế giới.

    Hiện nay, nguồn nhân lực đồi dào, giá nhân công rẻ, về lâu dài không thể là lợi thế phảt triển Việt Nam, Vì lợi thế nhân công rẻ trên thế giới đang dần mất đi và thay vào đó là trình độ trí tuệ cao đồng đều của nhân công.

    Trong quan hệ kinh tế quốc tế, trình độ, năng lực của các bộ đối tác, sự sắc sảo mềm dẻo, nhạy bén, linh hoạt trong ngoại giao của cán bộ ảnh hưởng rất đến lợi ích của những quốc gia. Để giảm được những bất lợi, tạo ra sự tương đồng trong hoà nhập, cạnh tranh với thị trường nhân lực khu vực và thế giới, người lao động Việt Nam phải được trang bị các kiến thức chuyên môn nghề nghiệp, ngoại ngữ, lao động, kỷ luật, tác phong lao động và nhận thức đúng đắn mối quan hệ chủ – thợ trong nền kinh tế thị ỷường, phải hiểu biết được phong tục tập quán, đặc điểm của các nước bạn tong cùng thị trưòng lao động.

    Trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lao động Việt Nam cũng bộc lộ những nhược điểm lạc hậu về trình độ kỹ thuật – công nghệ, kỷ luật và thói quen lao động. Năng lực quản lý kinh tế yếu kém, tính tuỳ tiện của người sản xuất nhỏ, ý thức dân tộc, ý thức cộng đồng chưa cao tạo nên bất lợi và thua thiệt về kinh tế cho phía Việt Nam.

    1. Cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực nước ta.

    Cấu trúc đào tạo nguồn nhân lực nước ta không hợp lý cả về cơ cấu các loại lao động và cơ cấu đầu tư ngân sách giữa các bậc học. Trong thời gian vừa qua, mặc dù nhà nước đã rất nỗ lực điều chỉnh thực trạng trên nhưng hiệu qua mang lại chưa cao. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh hiện có 86% lao động đang làm việc nhưng chỉ có 2% được đào tạo dưới các hình thức. Hơn nữa, ngân sách chi cho giáo dục của chúng ta còn quá thấp. Mặc dù có tăng hơn thời

    15

    kỳ trước nhưng trong các năm từ 1990 đến 1992 ngân sách dành cho giáo dục chỉ chiếm 10-11% trong tổng ngân sách nhà nước. So với các nước trong khu vực thì sự đầu tư này của chúng ta còn kém xa. Chẳng hạn ngân sách dành cho giáo dục của Xinhgapo là 23%, của Malaixia là 20%… số học sinh trung học (kể cả trung học chuyên nghiệp) Chiếm 1/4 tổng số học sinh, sinh viên cả nước nhưng chỉ được đầu tư 8-9% ngân sách giáo dục, trong khi đó số sinh viên đại học chiếm gần 7% tổng số học sinh nhưng lại được đầu tư 15% ngân sách. Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất cập trong hệ thống giáo dục và đào tạo hiẹen nay (số liệu từ “Thông tin tài chính” – số 3 tháng2/1998).

    Cấu trúc đào tạo của lực lượng lao động đã qua đào tạo vốn đã rất bất hợp lý lại càng bất hợp lý hơn. Năm 1996, cấu trúc đào tạo là 1-1, 7-2,4 (tức là ứng 1 lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên thì có 1,7 lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và 2,4 lao động có trình độ sơ cấp/họcnghề/công nhân kỹ thuật); năm 2000 cấu trúc này là 1-1,2-1,7 trong khi mục tiêu của Nghị quyết Trung ương đề ra là 1-4-10 (“Thông tin thị trường lao động”, ).

    16

    1. Phân bố nguồn lực của nước ta.

    Nguồn nhân lực nước ta phân bố không đồng đều giữa các lĩnh vực sản xuất, giữa các vùng trong cả nước và các ngành kinh tế quốc dân. Thực tế này ngày càng được điều chỉnh cho phù hợp với thực trạng kinh tế – xã hội nước ta.

    Theo ngành.

    Về cơ bản, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu. Chính vì vậy lực lượng lao động chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực sản xuất truyền thống là nông – lâm – ngư nghiệp. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, sự phân bố trên sẽ có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần lực lượng lao động trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp và tăng dần trong các ngành công nghiệp dịch vụ. Năm 2000 có sự chuyển dịch rõ rệt so với năm 1996 theo hướng: giảm cỏ về số lượng lao động và tỷ lệ lao động làm việc làm việc trong nhóm ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Năm 1996 có 32.601.918 người làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, chiếm 69,80% so với tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân nói chung, đến năm 2000 giảm xuống còn 22.669.907 người, chiếm 62,56%, trong khi đó, lao động làm việc trong các ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 3.566.513 người (năm 1996) tăng lên 4.743.795 người (năm 2000) và tỷ lệ so tổng số đã tăng từ 10,55% lên 13,15%; lao động làm việc trong các ngành dịch vụ cũng tăng nhanh cả về số lượng và tỷ lệ: từ 6.643.564 người lên 8.791.950 người và từ 19,65% lên 24,29% (TS. Trương Văn Phúc- thực trạng lực lượng lao động ở Việt Nam giai đoạn 1996-2000 và khả năng giải quyết việc làm giai đoạn 2001-2005).

    Theo khu vực.

    Cũng giống như các nước đang phát triển khác trên thế giới, lực lượng lao động nước ta hiện nay chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn và rất ít ở khu vực thành thị và ngày càng có xu hướng tăng dần ở khu vực thành thị, giảm dần

    17

    • khu vực nông thôn. Năm 1996, lực lượng lao động khu vực thành thị chỉ chiếm 19,06% tổng lực lượng lao động cả nước, năm 2000 đã tăng lên 22,56%; trong khi tỷ lệ lực lượng lao động ở khu vực nông thôn giảm được từ 80,94% xuống còn 77,44%. Dự báo trong những năm tới, tỷ lệ lao động ở khu vực thành thị còn tiếp tục tăng nhanh hơn cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hoá.

    Sự phân bố lực lượng đã qua đào tạo từ sơ cấp/học nghề trở lên cũng như từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị, đặc biệt là các khu đô thị trọng điểm. Lực lượng lao động ở nông thôn chiếm 77,44% nhưng lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp/học nghề trở lên chỉ chiếm 46,26% trong tổng số lao động đã qua đào tạo của cả nước; với lao động có trình độ từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên tỷ lệ này chỉ có40,96%. Trong tương lai, với sự tác động của nhiều hoạt động của nhà nước cùng với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đã qua đào tạo ở khu vực nông thôn sẽ ngỳ càng tăng cả về quy mô và tỷ trọng so với khu vực thành thị.

    1. Lợi thế và thách thức nguồn nhân lực nước ta.

     

    Lợi thế nguồn nhân lực nước ta.

     

    Nước ta có quy mô dân số lớn, xếp thứ 12 trên thế giới; có nguồn lao động

    rất dồi dào, đặc biệt là nguồn lao động trẻ ở nhóm tuối từ 16 – 35 (chiếm 65,2% trong dân số), nhóm có ưu thế về sức khoẻ, sức vươn lên, năng động và sáng tạo.

    Tỷ lệ dân số biết chữ chiếm khoảng 90%, riêng lực lượng lao động biết chữ chiếm khoảng 97% tổng lực lượng lao động. Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo năm 1998 gần đạt 15% và bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo là 15% trong giai đoạn 1998 – 2000. Đây là lợi thế rất cơ bản để tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cho tăng

    18

    trưởng kinh tế và phát triển kinh tế – xã hội đất nước; đồng thời tăng sức cạnh tranh của lao động trên thị trường sức lao động trong nước và quốc tế.

    Đường lối đổi mới và mở cửa của Đảng đã mở ra khả năng phát triển nền kinh tế đa phần, đa dạng hoá việc làm, thu hút được nhiều lao động, sử dụng tốt hon năng lực nguồn nhân lực (đặc biệt là sử dụng lao động ở trình độ cao ở các khu công nghiệp, khu chế xuất); đường lối đổi mới đã giải quyết việc làm cho lao động xã hội thông qua phát triển kinh tế hộ gia đình, trang tại, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khôi phục và phát triển làng nghề, phổ nghề, khu vực phi kết cấu…

    Lần đàu tiên trong những năm 1996-1998 bình quân mỗi năm tạo thêm chỗ làm việc mới cho khoảng1,2 đến 1,3 triệu lao động, tương đương với số lao động trẻ mới bước vào tuổi lao động mỗi năm.

    Quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngày càng được quan tâm, chính sách phát triển nguồn nhân lực ngày càng được hoàn thiện, đặc biệt là từ năm 1995 đến nay, Bộ luật lao động đàu tiên ở nước ta được ban hành có hiệu lực và đang phát huy trong cuộc sống. Bộ luật lao động điều chỉnh các quan hệ lao động theo một cơ chế mới, dựa trên cơ sở tự do hoá lao động, giải phóng mọi tiềm năng lao động và nâng cao tính năng động xã hội của lao động. Thị trường sức lao động đã hình thành và ngày càng phát triển trở thành một thị trường thống nhâts, xoá br hàng rào hành chính, người lao động được tự do di chuyển và hành nghề theo pháp luật và sự hướng dẫn của nhà nước. Tiền công lao động ngày càng phản ánh đúng giá trị và giá cả lao động, có tính đến quan hệ cung cầu lao động tên thị trường sức lao động. Lao động được tự do, được giải phóng tạo ra động lực mới để mọi người lao động, sáng tạo có năng suất cao. Nếu ta tiếp tục có chính sách khuyến khích lao động chất xám và tay nghề tốt hơn, sẽ là yếu tố năng lực nội sinh to lớn phát triển nguồn nhân lực đất nước trong hiện tại cũng như trong tương lai.

    Những khó khăn thách thức trong tương lai.

    19

    Nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức và nước ta cũng ssang tiến hành môtj số nặt có thể của nó. Nền kinh tế tri thức có một số đặc trưng nổi bật sẽ đòi hỏi ở nguồn nhân lực tương ứng phải được đào tạo đặc biệt về nội dung và phương pháp mới. Những nét khái quát về nền kinh tế tri thức với các đặc trưng của nó đã đủ nhận thấy sẽ xuất hiện một thị trường lao động hết sức đặc biệt với thách thức mới đối với nguồn nhân lực. Đó là cơ cấu ngành nghề mới do cơ cấu công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, năng lượng và vi điện tử đòi hỏi. Rõ ràng đội ngũ lập trình viên kỹ thuật giỏi; các chuyên gia công nghệ phần mềm ở mọi lĩnh vực và các lao động kỹ thuật sử dụng Internet giỏi là yêu cầu mới của nhân lực trong thị trường lao động mới của nền kinh tế thị trường.

    Nguồn nhân lực trong tương lai sẽ phải được coi trọng giáo dục về tư duy sáng tạo, về năng lực tự chủ, tự học hỏi và cần được đào tạo kỹ năng thành thạo, linh hoạt về công nghệ mới; về quản lý mạng và đặc biệt là năng lực về kinh doanh; về tính nhạy cảm với cái mới và sự bền vững trong phát huy bản sắc dân tộc với nền văn hoá vững chắc.

    Cũng cần nhấn mạnh đến một vài phương tiện quan trọng của nguồn nhân lực mới trong nền kinh tế thị trường, đó là năng lực sử dụng máy vi tính, năng lực sử dụng ngoại ngữ và năng lực giao tiếp, đó là những phương tiện giúp cho lao động kỹ thuật phát huy với hiệu quả cao không chỉ ở thị trường lao động trong nước mà cả ở thị trường lao động quốc tế.

    Dân số trẻ về lâu dài là một thế mạnh, song trước mắt xét về mặt kinh tế, nếu không có một chính sách phù hợp sẽ bất lợi, do bình quân số người phải nuôi dưỡng (trẻ em ăn theo) trên một lao động cao hơn các nước khác, kèm theo đó là những khó khăn về việc làm, giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội khác

    Tốc độ tăng nguồn lao động còn ở mức cao, đến năm 2000 bình quân mỗi năm tăng nguồn lao động khoảng 2,95%. Thời kỳ 2001 đến 2010, số lao động

    20

    cần giải quyết việc làm mới vào khoảng 11-12 triệu người, hầu hết là lao động trẻ, trong khi nguồn lực đầu tư cả trong nước và quốc tế cho phát triển sản xuất rất hạn chế. Theo tính toán, sau năm 2000 trên tổng thể nước ta vẫn dư thừa lao động. Mặt khác tỷ lệ thất nghiệp thành thị hiện nay còn rất lớn và đang có xu hướng tăng lên. Năm 1999 tỷ lệ đó là 6,85%, tăng thêm 0,84% so với năm 1997; đặc biệt là Hà Nội, tỷ lệ đó là 9,09% so tổng lực lượng lao động. Trong nông thôn, tình trạng thiếu việc làm rất nghiêm trọng và cũng đang có xu hướng tăng lên, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động trong nông thôn của lực lượng lao động trong độ tuổi, năm 1998 là 71,13%, so với 1997 giảm 2,01% (1997 là 73,14%). Trong khi đó lại thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật cao. Nhiều lĩnh vực như: láp ráp ô tô, đóng tàu, dầu khí v.v. phải thuê lao động ở nước ngoài, đó là một mâu thuẫn gay gắt hiện nay.

    Chính sách của nhà nước còn thiếu đồng bộ, nhất là chính sách thuế, đất đai, tín dụng v.v. chưa khuyến khích và tạo ra động lực đẩy mạnh đầu yư trong nước để phát triển sản xuất, tạo mở việc làm, trong khi nguồn vốn còn trong dân rất lớn, nhưng dân chưa đầu tư vào các ngành chính sản xuất, mà chủ yếu đầu tư vào dịch vụ, buôn bán phi sản xuất. Trong hoạt động mở rộng thị trường, kể cả thị trường nội địa và ngoài nước thì năng lực tổ chức thị trường còn yếu kém; chưa có chính sách khuyến khích tiêu dùng hàng nội để kích thích sản xuất trong nước phát triển, từ đó tạo thên nhiều chỗ làm việc mới. Tất nhiên hàng trong nước cũng phải nâng chất lượng, mẫu mả và giá cả hợp lý.

    Với chủ trương tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là công nghiệp, hoá hiện đại hoá nông thôn, tập trung phát triển các ngành, các lĩnh vực, các sản phẩm có lợi thế. Nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, nước ta phải đối mặt với một thách thức lớn về chất lượng nguồn nhân lực. Tỷ lệ nguồn lao động qua đào tạo rất thấp (năm 1998 tỷ lệ này là 17,8%). Chưa có chính sách phân luồng trong giáo

    21

    dục và đào tạo, cơ cấu đào tạo bất hợp lý, tỷ lệ giữa đại học, cao đẳng, trung học và công nhân kỹ thuật là 1-1,6-3,6. Trong khi các nước khác là 1-4-10; giáo dục, đào tạo nặng về bằng cấp, thi cử, xu hướng thương mại hoá trong đào tạo khá phổ biến; đào tạo không gắn với sản xuất và thị trường sức lao động (không gắn với sử dụng); lao động trong nông nghiệp nông thôn hầu như không được đào tạo. Có thể nói điểm yếu cơ bản nhất của giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực nước ta thời gian qua là chưa tạo ra được một đội ngũ có năng lực và có tính năng động xã hội cao, đáp ứng yêu cầu của sản xuất, của thị trường sức lao động.

    Với những lợi thế trên, Việt Nam có nhiều cơ hội để tiến tới nền kinh tế tri thức vào những thập kỷ tới của thế kỷ XXI. Tuy nhiên, bước đột phá sẽ phải từ việc đổi mới tư duy và thể chế quốc gia trong điều kiện mới của đất nước và của thế giới, đồng thời tập trung cao vào việc giáo dục đào tạo nguồn nhân lực mới chất lượng cao, phù hợp và đón đầu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam tới những năm 2020.

    Nguồn nhân lực Việt Nam hơn bao giờ hết cần được đào tạo để phát triển nội lực với giá trị mới và vượt qua được những thách thức mới cuae thị trường lao động trong nền kinh tế tri thức tương lai.

    1. Một số giải pháp nhằm giải quyết hợp lý vấn đề về nguồn nhân lực. Nhìn rõ được thực trạng về nguồn nhân lực của nước ta để chúng ta phát

    huy những điểm mạnh, khắc phục và hạn chế những điểm yếu đồng thời đưa ra được những yêu cầu đối với giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Một mặt pphải trực tiếp giải quyết vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực, về trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn kỹ thuật, mặt khác phải giải quyết vấn đề nâng cao thể lực người lao động và phân phối nguồn lao động một cách hợp lý. Trong trình tự giải quyết phải đi tuần tự từ tiếp tục xoá mù chữ, phổ cập tiểu học, trang bị những kiến thức cơ bản, đào tạo nghề từ sơ cấp đến các bậc cao hơn

    22

    nhưng phải tạo ra một bộ phận người lao động có chất lượng cao, đặc biệt phải chú trọng đào tạo lao động kỹ thuật, nhằm đáp ứng nhu cầu của những ngành công nghệ mới, các khu công nghiệp và các khu kinh tế mở.

    Trước tiên , việc mở rộng quy mô giáo dục đào tạo là rất cần thiết. Nhưng cố gắng mở rộng quy mô giáo dục đào tạo của nước ta vẫn không theo kịp được tốc độ gia tăng dân số. Quy mô mọi ngành, bậc học hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu theo học của mọi lứa tuổi. Nhìn chung số học sinh và số trường lớp ở mọi ngành học từ mẫu giáo, các cấp phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao dẳng, đại học đều tăng. Các hệ thống trung tâm xúc tiến việc làm, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và nhiều cơ sở dạy nghề bán công, dân lập tư thục được thành lập. Quy mô đào tạo có chuyển biến là nhờ tăng cường hình thức đào tạo ngắn hạn. Riêng đối với quy mô của hệ thống đào tạo nghề này càng bị thu hẹp. Đảng và nhà nước cần có chính sách khuyến khích mở rộng và hỗ trợ cho các trường dạy nghề nhằm thu hút học sinh, sinh viên, khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu ngành học, bậc học của giáo dục đào tạo. Giáo dục mầm non có tầm quan trọng đặc biệt đứng từ gọc độ chuẩn bị nền tảng về thể lực và trí lực cho nguồn nhân lực. Giáo dục phổ thông , đặc biệt là giáo dục tiểu học theo kinh nghiệm của các nước đang phát triển, là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định các cơ hội và tăng trưởng kinh tế. Giáo dục đào tạo chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật ngoài ý nghĩa với tăng trưởng kinh tế còn đặc biệt quan trọng trong việc phát triển, giảm nguy cơ tụt hậu. Tuy nhiên những bất cập giữa những ngành đào tạo, giữa các bậc học đã gây khó kăn không ít cho sự phát triển của nền kinh tế. Một số ngành được học sinh, sinh viên theo học như một phong trào, một số ngành thì rất ít người theo học. Nế không có sự điều chỉnh kịp thời, Việt Nam sẽ nhanh chóng gặp phải khó khăn về đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật như ở nhiều nước Asean, nhất là ở Thái Lan.

    23

    Giáo dục và đào tạo ở thành phố, đồng bằng có điều kiện phát triển hơn ở nông thôn, vùng núi, vùng sâu vùng xa. Vì vậy, việc giáo dục đào tạo con người ở những vùng này rất khó khăn. Để nâng cao trình độ của nguồn nhân lực ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, Nhà nước đã có chính sách cấp học bổng, giảm học phí, ưu tiên các học sinh nghèo vượt khó. Từ đó giúp họ có điều kiện học tập, tìm kiếm việc làm nâng cao mức sống. Chính nhờ những chủ trương đúng đắn này mà những bất hợp lý trong cơ cấu vùng, miền của giáo dục đào tạo nguồn nhân lực được điều chỉnh phần nào.

    Yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng nguồn nhân lực là việc đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo. Việc hội b\nhập và cạnh tranh kinh tế đòi hỏi hàng hoá phải đạt tiêu chuẩn quốc tế để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, từ đó đòi hỏi phải có trình độ công nghệ cao và khả năng sử dụng tương ứng các công nghệ đó. Ngoài giáo dục đào tạo văn hoá chuyên môn, nghiệp vụ về mặt lý thuyết, cần chú ý điều kiện thực hành, ứng dụng, giáo dục kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp, rèn luyện kỹ năng và khả năng thích ứ của nền kinh tế thị trường. Song song với vấn đề giáo dục, đào tạo con người, chúng ta phải quan tâm đến vấn đề dân số, sức khoẻ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giảm sức ép đối với quy mô và chất lượng giáo dục,

    Trong điều kiện của VIệt Nam hiện nay, yêu cầu đa dạng hoá các loại hình đào tạo rất cần thiết để bổ xung, cải thiện hiện trạng nguồn nhân lực nhằm khắc phục những bất hợp lý về việc phân bổ nguồn lực, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục đào tạo để phục vụ nhu cầu phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục hướng nghiệp, chúng ta cần phải kết hợp một cách khoa học giữa kế hoạch phát triển toàn diện với chính sử dụng sau đào tạo hợp lý để giảm lãng phí về chi phí giáo dục đào tạo của xã hội và của gia đình. Người lao động đào tạo ra được làm việc đúng ngành, đúng nghề đúng khả năng và sở trường của mình.

    24

    Ngoài ra, giáo dục hướng nghiệp cũng đòi hỏi phải có công tác dự báo nghề để xác định được xu hướng phát triển và nhu cầu về lao động trong từng giai đoạn. Giáo dục đào tạo chính quy, dài hạn là cơ sở để hình thành nên bộ phận người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao có kỹ năng tiếp cận với khoa học, công nghệ mới hiện đại. Ngoài ra cần mở rộng các loại hình đào tạo ngắn hạn để cải thiện hiện trạng nguồn nhân lực hiện nay và nhanh chóng nâng cao số lao động đã qua đào tạo của ta lên. Hình thức giáo dục tại chức và từ xa cần chú ý hơn đến chất lượng và hiệu quả của giáo dục.

    KẾT LUẬN

    Trong bất kỳ một xã hội nào, một đất nước nào, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Nguồn nhân lực đó được đào tạo một cách có chất lượng tốt, nâng cao trình độ của nguồn nhân lực thì lực lượng sản xuất mới có thể phát triển mạnh được, trình độ lực lượng sản xuất mới có thể nâng cao hơn, bởi lẽ lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và con người. Con người là nguồn nhân lực, lực lượng sản xuất phản ánh mối quan hệ, sự tác động kích thích của con người vào tư liệu sản xuất, con người có được đào tạo, được trang bị thì mới có thể có trình độ để sử dụng tư liệu sản xuất một cách hiệu quả. Điều này càng quan trọng càng trở nên cấp thiết khi tư liệu sản xuất ở đây lại là máy móc, công nghệ khoa học kỹ thuật, tư liệu sản xuất này đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có đầy đủ trình độ thì mới có thể thực hiện có hiệu quả được. Vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá quả thực

    25

    là vấn đề không dễ thực hiện được vì thực hiện được vấn đề này có nghĩa là chuyển đổi từ lực lượng sản xuất thấp kém sang một lực lượng sản xuất có trình độ cao, hiện đại. Điều này càng trở nên khó khăn đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển thậm chí cả với những nước đang phát triển, những nước có nền kinh tế cơ bản là nông nghiệp, có nguồn vốn ít ỏi và khoa học thấp kém. Nước ta là một nước đang phát triển và cũng đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những khó khăn kể ở trên nước ta đều có cả, song dựa vào đâu mà Đảng và nhà nước ta đã quyết định thực hiện chiến lược này. Điều đó đã được Đảng và nhà nước ta thông qua thực trạng nguồn nhân lực của nước ta thấy được những thuận lợi và lợi thế mà nước ta hoàn toàn có khả năng thực hiện được sự nghiệp này. Nước ta có dân số lớn, có nguồn lao động dồi dào đặc biệt là lực lượng lao động trẻ ở nhóm tuổi từ 14-35 nhóm có ưu thế về sức khoẻ, sức vươn lên, năng động và sáng tạo. Đường lối đổi mới của Đảng đã mở ra khả năng phát triển nền kinh tế, quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngày càng được quan tâm. Chúng ta có rất nhiều lợi thế khác, bên cạnh đó có hạn chế khó khăn và thách thức, song phân tích được thực trạng Đảng và nhà nước ta đã có giải pháp khắc phục giải quyết hợp lý đảm bảo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ đi đến thắng lợi. Điều quan trọng nhất là chúng ta bởi lẽ chúng ta có truyền thống là dân tộc anh hùng, đoàn kết và có lòng yêu nước cao cả, sự thông minh vốn có chắc chắn chúng ta sẽ là một nước phát triển trong tương lai sẽ tạo ra được nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    26

    TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    1. Giáo trình kinh tế chính trị học.
    1. Văn kiện đại hội Đảng.
    1. Nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế xã hội quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
    1. Nghiên cứu nghị quyết của Đảng về vấn đề công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước.
    1. Tạp chí Giáo dục số 11 ( 8/ 2001)
    1. Tạp chí Thông tin kinh tế số 5,7 –1999 ; số 6 – 2000
    1. Tạp chí Lao động & Xã hội số tháng 1/2001
    1. Các sách báo tạp chí.

    27

    28


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)

    Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)

    Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-k%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-marketing-cho-c%C3%B4ng-ty-TNHH-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-m%E1%BB%99t-th%C3%A0nh-vi%C3%AAn-%C4%91i%E1%BB%87n-c%C6%A1-th%E1%BB%91ng-nh%E1%BA%A5t-Vinawin.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    LỜI NÓI ĐẦU

    Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá bao gồm cả việc phát triển ngành điện- điện tử .Công ty trách nhiệm hưũ hạn nhà nước một thành viên Điện cơ thống nhất đã nhận được sự cổ vũ từ Trung ương và Thành phố về mọi mặt. Công ty là một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực sản xuất quạt điện lớn nhất hiện nay với trang thiết bị maý móc hiện đại.Với 40 năm kinh nghiệm hoạt động công ty ĐCTN đã tự hoàn thiện mình để trở thành một doanh nghiệp mạnh . Tuy găp nhiều khó khăn trong cơ chế thị trường nhưng hiện nay công ty ĐCTN với đội ngũ cán bộ đầy tài năng và nhiệt huyết đã trở thành một cánh tay đắc lực của Đảng và Nhà nước trong công cuộc cải tổ, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nuớc. Công ty ĐCTN đã trở thành đơn vị anh hùng lao động và mới đón nhận huân chương lao động. Hệ thống phân phối của công ty phát triển rộng khắp với doanh thu ngày càng cao.

    Xây dựng Kế hoạch marketing là một vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi phải tính đến các vấn đề thuận lợi và khó khăn bên trong và bên ngoài trên cơ sở chiến lược marketing đã đề ra của công ty sao cho hoạt động kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao nhất. Trong nền kinh tế thị trường, để thích ứng với môi trường luôn thay đổi, công ty ĐCTN muốn thành công cần phải có khả năng ứng phó với mọi tình huống. Điều này đòi hỏi nhà quản trị phải nắm được những xu thế đang thay đổi, tìm ra những yếu tố then chốt đảm bảo thành công, biết khai thác những ưu thế tương đối, hiểu được những điểm mạnh, điểm yếu của mình và của các đối thủ cạnh tranh, hiểu đuợc mong muốn của khách hàng và khả năng đáp ứng của công ty, biết cách tiếp cận thị trường nhằm tìm ra các cơ hội kinh doanh, từ đó vạch ra kế hoạch marketing đúng đắn.

    Với mục tiêu nghiên cứu những vấn đề lý luận, phương pháp luận và phư-ơng pháp cụ thể để xây dựng kế hoạch marketing trong doanh nghiệp thương mại, nghiên cứu cơ sở hình thành các chính sách, biện pháp về chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch marketing quạt điện của công ty ĐCTN; Bên cạnh đó, để

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    phân tích thực trạng tình hình xây dựng và thực hiện kế hoạch marketing của công ty ĐCTN trong năm qua 2004, nhận thức được mặt mạnh cũng như mặt yếu cần khắc phục trong vấn đề này, qua đó đề ra những giải pháp giúp công ty xây dựng được kế hoạch marketing đúng đắn, em đi sâu vào nghiên cứu đề tài:

    “Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (VINAWIND)”.

    Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kế hoạch marketing VINAWIND phạm vi nghiên cứu của đề tài là:

    • Về mặt không gian:Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Điện cơ thống nhất (VINAWIND)
    • Về mặt thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2006

    Trong đó em sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau như: phư-

    ơng pháp tư duy kinh tế mới, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích phương pháp tổng hợp, tiếp cận hệ thống, phương pháp thống kê, toán học, dự báo.

    Mặc dù đã có sự cố gắng, song thời gian thực tập không nhiều, kiến thức còn có những hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô hướng dẫn,các cô chú trong phòng của công ty để cuốn luận văn này được hoàn thiện hơn.

    Nội dung đề tài gồm 3 chương:

    Chương I:Những cơ sở lý luận về quá trình xây dựng kế hoạch marketing

    • công ty thương mại

    Chương II:Hiện trạng xây dựng kế hoạch marketing ở công ty TNHHNN một thành viên điện cơ thống nhất (vinawind

    Chương III: Xây dựng kế hoạch hoá marketing của ở công ty TNHHNN một thành viên điện cơ thống nhất (VINAWIND).

    2

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    CHƯƠNG I

    NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH

    MARKETING Ở CÔNG TY THƯƠNG MẠI

    I.KHÁI NIỆM QUY TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING THƯƠNG MẠI

    1.Khái niệm:

    -Xây dựng kế hoạch marketing thương mại là bao gồm các hoạt động có tính hệ thống nhằm giúp cho công ty hình thành nên những chương trình hành động cụ thể để thực thi những chiến lược marketing chung của nó.

    2.Tiến trình phát triển của kế hoạch marketing ở các công ty thương

    mại

    -Hầu như tất cả các công ty khởi đầu với hoạt động kế hoạch marketing không có theo thời gian họ sẽ nâng cao hệ thống kế hoạch của họ. Trên thực tế các hệ thống kế hoạch thường tiến hành theo những giai đoạn sau:

    *Giai đoạn không kế hoạch khi công ty mới được thành lập, các nhà lãnh đạo quá bận rộn với việc thu hút nguồn vốn, hấp dẫn khách hàng và tìm kiếm các công cụ, thiết bị, do đó không có thời gian dành cho kế hoạch marketing.

    *Giai đoạn hệ thống định bổ ngân sách: ban quản trị dần dần nhận thấy sự cần thiết phải có một hệ thống định ngân sách nhằm cải thiện hoạt động quản lý dòng vận động tiền mặt của tổ chức. Ban quản trị ước tính thu nhập dự kiến và chi phí cho các kỳ kế hoạch tới, nhưng như những kế hoạch ngân sách này mang định hướng tài chính chứ không định hướng chiến lược, nó không giống các kế hoạch hoạt động.

    *Giai đoạn kế hoạch dự án: rất nhiều công ty thấy rằng họ cần phải phát triển kế hoạch hành động cho các dự án đặc biệt. Ví dụ một công ty khi phát triển một sản phẩm mới cần phải có một đơn vị kế hoạch thực hiện công việc

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    này. Như vậy, bộ phận kế hoạch của công ty không quan tâm tới kế hoạch chiến lược hay kế hoạch hàng năm.

    *Giai đoạn kế hoạch hàng năm: ban quản trị dần dần nhận thấy rằng cần thiết phải phát triển một hệ thống kế hoạch hàng năm dựa trên quản trị theo các mục tiêu. Họ có ba phương cách:

    +Kế hoạch từ trên xuống: Ban quản trị cấp cao đặt ra các mục đích và kế hoạch cho tất cả các cấp quản trị thấp hơn. Loại hình này thường phổ biến ở những công ty và tổ chức nhà nước, chính phủ.

    +Kế hoạch từ dưới lên: Các thành viên của công ty và tổ chức chuẩn bị các mục đích và kế hoạch tốt nhất của riêng đơn vị mà họ cho rằng có thể thực hiện được, sau đó họ gửi lên ban quản trị cấp trên phê chuẩn.

    +Kế hoạch mục đích từ trên xuống và kế hoạch từ dưới lên: Với phương pháp này ban quản trị cấp cao có một tầm nhìn rộng về các cơ hội và các yêu cầu của công ty đề ra cho năm đó. Trong khi đó các đơn vị trong công ty chịu trách nhiệm chuẩn bị các kế hoạch đối với việc phát triển các kế hoạch được đề ra nhằm mục đích hỗ trợ công ty đạt được những mục tiêu này. Những kế hoạch được ban quản trị phê chuẩn sẽ trở thành kế hoạch hàng năm chính thức của công ty.

    *Giai đoạn kế hoạch dài hạn: Trong mỗi giai đoạn này công ty hoàn chỉnh hệ thống kế hoạch của mình theo chiều hướng nhằm cải thiện tính hữu hiệu của kế hoạch. kế hoạch dài hạn quan tâm đến tương lai của công ty thời gian từ 5 năm đến10 năm tới, với đặc trưng cơ bản là có rất nhiều yếu tố bất định và không thể dự đoán trước và như vậy mức độ rủi ro thường cao hơn so với kế hoạch ngắn và trung hạn. Để lập được kế hoạch dài hạn công ty thường quan tâm tới những thay đổi quan trọng diến ra trong môi trường vĩ mô, trong môi trường cạnh tranh, trong nhu cầu khách hàng…Mục đích của việc theo dõi và dự báo những thay đổi này và giúp việc công ty tiếp tục duy trì và phát triển được những lợi thế của mình so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.

    4

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    3. Những cơ sở chủ yếu trong việc xây dựng kế hoạch marketing ở công ty thương mại:

    Kế hoạch marketing gồm những thông tin cần và đủ về môi trường vĩ mô bên ngoài (yếu tố khách quan) và môi trường vi mô bên trong doanh nghiệp (yếu tố chủ quan). Cụ thể hơn, cơ sở xây dựng kế hoạch bao gồm bốn nội dung chính sau:

    +Thông tin về môi trường: phải phân tích toàn diện và có trọng điểm để rút ra những ảnh hưởng cốt lõi cho việc xây dựng kế hoạch.

    +Kết quả nghiên cứu thị trường: gồm các kết quả phân tích và dự đoán về cung cầu, giá cả của những mặt hàng và thị trường đang quan tâm.

    +Đánh giá đầy đủ các yếu tố nguồn lực cảu bản thân doanh nghiệp như :

    Nhân sự Tài chính Công nghệ Văn hoá

    +Khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước biến động của môi trường và thị trường như:

    Khả năng điều hành quản lý

    Khả năng thích ứng công nghệ mới

    Khả năng thích ứng về “4P” trong Marketing –mix

    4.Lợi ích của kế hoạch Marketing :

    Kế hoạch và các hệ thống kiểm tra là rất có lợi đối với toàn thể công ty , đặc biệt muốn cải thiện kết quả thực hiện của công ty. Một hệ thống kế hoạch hoá sẽ đem lại lợi ích sau:

    +Nó khuyến khích ban quản trị dự tính trước một cách có hệ thống.

    +Nó làm cho sự phân phối các nỗ lực của công ty tốt hơn.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    +Nó dẫn tới việc phát triển các tiêu chuẩn thực hiện nhằm kiểm soát và kiểm tra.

    +Nó làm cho công ty phải xem xét và hoàn thiện các mục tiêu chính sách của mình.

    +Nó dẫn đến sự phối hợp cao hơn của các nhà điều hành về các nhiệm vụ có liên quan đến họ.

    5.Những nội dung chính của kế hoạch marketing :

    Phần                                                                                 Nội dung

    I.Tóm lược                                                                  -Trình bày tóm tắt các nội dung và

    kế hoạch để ban lãnh đạo nắm bắt

    nhanh.

    II.Hiện tình về marketing                             -Trình bày những số liệu cơ bản có

    liên quan về thị trường, sản phẩm,

    cạnh tranh, phân phối và môi

    trường vĩ mô.

    III.Phân tích cơ hội và vấn đề đặt ra -Xác định những cơ hội, mối đe doạ

    cho sản phẩm                                                          chủ yếu

    IV.Mục tiêu                                                               -Xác định các chỉ tiêu và kế hoach

    muốn đạt được về khối lượng tiêu

    thụ, thị phần và lợi nhuận.

    V.Chiến lược Marketing                                -Trình bày phương thức Marketing

    tổng quát sẽ sử dụng để đạt được

    những mục tiêu của kế hoạch

    1. Chương trình hành động -Trả lời các câu hỏi: Phải làm gì?

    Ai sẽ làm?

    Bao giờ  làm? Chi phí hết bao

    nhiêu?

    VII. Dự kiến lời-lỗ                                               -Dự báo kết quả tài chính trông đợi

    kế hoạch đó.

    Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Bá Thắng – CT2
    VIII.Kiểm tra -Nêu rõ cách thức theo dõi thực
      hiện kế hoạch.  

    6.Quy trình xây dựng kế hoạch Marketing trong công ty thương mại: Suốt nhiều thập kỷ qua, những biến động lớn của môi trường và thị trường đã dẫn tới những thay đổi cơ bản trong quá trình kế hoạch . Từ những năm 1950, marketing ngày càng đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch đặc biệt là kế hoạch dài hạn nhằm có những quyết định nhanh chóng và thích ứng kịp với những cơ may và hiểm hoạ. Kế hoạch không chỉ bao gồm việc xây dựng kế hoạch mà cả phần quan trọng hơn là thực hiện kế hoạch, không chỉ là những

    chính sách hay chiến lược mà cả kế hoạch hành động.

    Phân tích tình thế

    Mục tiêu Marketing

    Chiến lược Marketing

    Chương trình thực hiện chiến lược Marketing

    Ngân sách Marketing

    Các hoạt động thực thi kế hoạch Marketing

    H1: Mô hình tóm tắt quy trình xây dựng kế hoạch marketing

    Trên đây mới chỉ là mô hình tóm tắt quy trình xây dựng kế hoạch marketing của công ty thương mại, phần chi tiết của quy trình kế hoạch này sẽ trình bày cụ thể ở những phần sau đây:

    7

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    II.MÔI TRƯỜNG VÀ THỊ TRƯỜNG KINH DOANH

    1.Môi trường

    Để tiến hành xây dựng lập kế hoạch trước tiên phải xuất phát từ môi trường thương mại.

    1.1Môi trường nhân khẩu

    Lực lượng của môi trường cần theo dõi là dân số bởi vì con người tạo nên thị trường. Những người làm marketing quan tâm sâu sắc đến quy mô và tăng tỉ lệ dân số ở các thành phố, khu vực và quốc gia khác nhau, sự phân bố tuổi tác và cơ cấu dân tộc, trình độ học vấn, mẫu hình hộ gia đình, cũng như các đặc điểm và phong trào của khu vực.

    1.2.Môi trường kinh tế

    Thị trường cần có sức mua và công chúng. Sức mua hiện có trong mỗi nền kinh tế phụ thuộc vào thu nhập hiện có, giá cả, tiền tiết kiệm, nợ nần và khả năng có thể vay tiền. Những người làm marketing phải theo dõi chặt chẽ những xu hướng chủ yếu trong thu nhập và chi tiêu của người tiêu dùng.

    -Khi xây dựng kế hoạch marketing các nhà quản trị marketing cần phải nghiên cứu và nắm bắt rõ môi trường văn hoá- xã hội của từng khu vực thị trường để có được những kế hoạch đúng đắn nhất, bởi vì ở những môi trường văn hoá- xã hội khác nhau thì thị hiếu, nhu cầu, luật pháp… của những khu vực cũng khác nhau.

    Để hiểu được một nền văn hoá nhất thiết phải hiểu được nguồn gốc lịch sử, cơ cấu hoạt động của nó. Văn hoá biến đổi dần theo thời gian một cách chậm chạp. Đôi khi có những thay đổi nhanh chóng diễn ra do áp lực từ bên ngoài, từ những thế lực cai trị. Vậy các nhà marketing phải cần thiết nắm bắt được nền văn hóa thay đổi ra sao và những quyết định của họ tác động qua lại như thế nào với sự thay đổi đó và đôi khi phải một tác nhân trong nền văn hoá đó.

    Mỗi nền văn hoá phản ánh trong ngôn ngữ những gì là giá trị của dân tộc. Ngôn ngữ là viết hay nói đều là những hiện thân của nền văn hoá. Chúng ta biết

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    rằng, truyền tin không phải luôn luôn nằm trong khuôn khổ của ngôn ngữ. Sự cư sử, hành vi bản thân là một dạng truyền tin.Mỗi nền văn hoá có tể khác nhau trong cách thức thể hiện và sử dụng những điều đó theo thời gian, không gian những mối quan hệ và hàng loạt những khía cạnh, phạm vi khác của văn hóa. Dạng truyền tin này được biết như một thứ ngôn ngữ không lời.

    1.3.Môi trường chính trị – pháp luật:

    Những quan điểm marketing chịu tác động mạnh mẽ của các diễn biến trong môi trường chính trị – pháp luật. Môi trường này gồm có pháp luật, các cơ quan nhà nước và những nhóm gây sức ép tác động đến hành vi của các hãng kinh doanh.

    * .Vai trò của chính phủ

    Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế quốc gia và qua đó tác động đến nền kinh tế thế giới bằng việc sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô (chính sách tài khoá, thuế…) để điều tiết nền kinh tế, do vậy mà sẽ có những tác động đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc nền kinh tế. Những can thiệp của chính phủ có thể được chia làm ba nhóm:

    +Nhóm xúc tiến: khuyến khích, tạo điều kiện sản xuất kinh doanh trong nước phát triển.

    +Nhóm cạnh tranh thay thế hàng xuất khẩu bằng hàng sản xuất trong

    nước.

    +Nhóm ngăn cản việc thực hiện nhập khẩu hàng ngoại.

    * .Những kiểm soát của chính phủ

    -Những đòi hỏi bắt buộc về giấy phép kinh doanh

    -Thuế nhập khẩu là các khoản tiền mà các hãng, các doanh nghiệp phải nộp cho chính phủ, được tính bằng tỉ lệ % giá trị lô hàng nhập khẩu.

    Mục đích của thuế xuất nhập khẩu là tăng nguồn thu có ngân sách nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước, hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng. Thuế

    9

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    nhập khẩu tạo khả năng xâm nhập và cạnh tranh của các sản phẩm ở thị trường nước ngoài.

    1.4. Môi trường công nghệ

    Những người làm marketing cần hiểu rõ là môi trường công nghệ luôn luôn thay đổi và nắm bắt được những công nghệ mới đó có thể phục vụ nhu cầu con người như thế nào. Họ cần hợp tác chặt chẽ với những người làm, công tác nghiên cứu và phát triển để khuyến khích họ nghiên cứu hướng theo thị trường nhiều hơn. Họ phải cảnh giác với những hậu quả không mong muốn của mọi đối tượng mới có thể gây thiệt hại cho người sử dụng và tạo ra sự mất tín nhiệm cùng thái độ chống đối của người tiêu dùng.

    1.5 .Môi trường cạnh tranh:

    -Một nội dung trọng tâm không thể thiếu trong các kế hoạch marketing là các dự báo và phản ứng của công ty đối với đối thủ cạnh tranh. Trong marketing, cạnh tranh là tất yếu, tính sống còn của một doanh nghiệp việc phối hợp các hoạt động của công ty treen là một yêu cầu bắt buộc. Chính vì vậy kế hoạch hoá marketing cần phải quan tâm đến môi trường cạnh tranh này.

    Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường chúng ta ngày càng nhận rõ cạnh tranh mỗi lúc lại trở nên gay go và quyết liệt hơn. Vì thế các hãng kinh doanh muốn đảm bảo được vai trò của mình trên thị trường, tạo được vị thế trên thị trường đều phải tạo được tính dị biệt hoá, tức là tạo được lợi thế cạnh tranh riêng biệt.

    Các công ty kinh doanh phải nắm bắt được cơ cấu cạnh tranh, số lượng các đối thủ cạnh tranh và những hoạt động của họ. Trong đó, việc đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh là một nội dung rất quan trọng.

    Có bốn nhân tố tác động đến cạnh tranh:

    +Tình hình kinh doanh nói chung, những điều kiện về văn hóa, kinh tế- xã

    hội.

    +Chi phí

    10

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    +Luật pháp và những quy định của chính phủ.

    +Những hoạt động và những chính sách của đối thủ cạnh tranh.

    2.Đặc điểm thị trường kinh doanh của công ty (thị trường các doanh nghiệp)

    2.1.Khái niệm các doanh nghiệp:

    Thị trường các doanh nghiệp gồm tất cả những tổ chức mua hàng hoá và dịch vụ vào việc sản xuất ra các sản phẩm khác hay những dịch vụ để bán, cho thuê hay cung ứng cho những người khác.

    2.2.Đặc điểm thị trường các doanh nghiệp:

    Do khối lượng tiền lưu chuyển và hàng hoá bán cho các doanh nghiệp lớn hơn so với trường hợp bán cho người tiêu dùng trên thị trường các doanh nghiệp có đặc điểm trái ngược hẳn với thị trường ngươì tiêu dùng. Những đặc điểm này đặc biệt cần phải tính đến trong kế hoạch marketing.

    -ít người mua hơn: do hoạt động nên thị trường này thông thường chỉ quan hệ bán buôn số lượng lớn cho các doanh nghiệp, hầu như không tiếp cận với người tiêu dùng.

    -Người mua tầm cỡ hơn; thị trường các doanh nghiệp có đặc điểm là tỷ lệ tập trung người mua cao( một vài người mua tầm cỡ chiếm gàan hết khối lượng mua)

    -Quan hệ chặt chẽ giữa người cung ứng và khách hàng: Do có ít khách hàng và tầm quan trọng cùng quyền lực cảu những khách hàng tầm cỡ ta thấy có những mối quan hệ chặt chẽ giữa khách hàng và người cung ứng trên thị trường.

    -Người cung ứng hầu như phải đáp ứng hoàn toàn những thay đổi nhu cầu của khách hàng.

    -Người mua tập trung theo vùng địa lý: Việc tập trung các nhà sản xuất theo vùng địa lý góp phần giảm bớt chi phí bán hàng. Tuy nhiên, cần theo dõi những sự chuyển vùng trong những nghành nhất định.

    11

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    -Nhu cầu phát sinh: Nhu cầu về hàng tư liệu sản xuất bắt nguồn từ nhu cầu về hàng tiêu dùng. Vì vậy những người hoạt động trên thị trường các doanh nghiệp phải theo dõi chặt chẽ tình hình mua sắm của người tiêu dùng.

    -Nhu cầu không co giãn: Nhu cầu đặc biệt không co giãn trong những khoảng thời gian ngắn vì những người sản xuất không hề thay đổi nhanh các phương pháp sản xuất của mình. Nhu cầu về những mặt hàng chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng chi phí sản phẩm cũng không co giãn.

    -Nhu cầu biến động mạnh: Nhu cầu hàng tư liệu sản xuất và dịch vụ có xu hướng biến động mạnh hơn nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng, điều này đặc biệt đúng với nhu cầu về giá nhà máy và thiết bị mới. Với tình hình này buộc nhiều người hoạt động trên thị trường doanh nghiệp phải đa dạng hoá sản phẩm và thị trường của mình để đảm bảo mức tiêu thụ cân bằng hơn trong chu kỳ kinh doanh.

    -Người đi mua hàng là người chuyên nghiệp: Những người hoạt động trên thị trường các doanh nghiệp phải cung cấp và nắm vững những số liệu kỹ thuật hơn về sản phẩm của mình và sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh để giảm chi phí xuống mức thấp nhất.

    -Nhiều người ảnh hưởng đến việc mua hàng: Số người ảnh hưởng đến quyết định mua tư liệu sản xuất nhiều hơn so với quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Vì thế những người hoạt động trên thị trường các doanh nghiệp phải cử những đại diện bán hàng được đào tạo kỹ.

    2.3Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua:

    +Nền văn hoá: Nền văn hoá là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và hành vi của một con người.

    Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích luỹ được một số giá trị, nhận thức, sở thích và hành vi thông qua gia đình của nó và những định chế then chốt khác.

    +Nhánh văn hoá: Mỗi nền văn hoá đều có những nhánh văn hoá nhỏ hơn tạo nên những đặc điểm đặc thù hơn và mức độ hoà nhập với xã hội cho những

    12

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    thành viên của nó. Các nhánh văn hoá bao gồm các dân tộc, tôn giáo, các nhóm chủng tộc, các vùng địa lý.

    Những người làm marketing thường thiết kế các sản phẩm và chương trình marketing theo các nhu cầu của

    13

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Văn hoá        
             
    – Nền văn hoá Xã hội      
             
      -Nhóm tham Cá nhân    
           
      khảo      
    -Nhánh văn hoá -Tuổi và giai đoạn của Tâm lý  
        chu kỳ sống    
      -Gia đình -Nghề nghiệp -Động cơ Người
      mua
      -Hoàn cảnh sống -Nhận thức
       
        -Lối sống -Hiểu biết  
         
        -Nhân cách và ý thức -Niềm tin và  
          thái độ  
      -Vai trò và địa      
      vị      
    -Tầng lớp xã hội        
           
             
             

    H2:Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi

    3. Dự báo môi trường và thị trường tương lai của công ty :

    Để soạn thảo được các kế hoạch không những phải căn cứ vào tình hình hiện tại mà những nhà quản trị marketing cần ước tính những thay đổi trong tương lai. Một trong những nhân tố quan trọng cần phải dự báo và ước tính là nhu cầu hiện tại và tương lai. Những phép đo định lượng về hai chỉ tiêu này là rất quan trọng đối với việc phân tích cơ hội của thị trường, hoạch định chương trình marketing và kiểm soát nỗ lực marketing.

    Nhu cầu của thị trường đối với một sản phẩm là tổng khối lượng sản phẩm mà nhóm khách hàng sẽ mua tại một thời điểm và địa bàn nhất định với một môi trường marketing nhất định và chương trình marketing nhất định.

    14

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Xác định được nhu cầu của thị trường thì từ đó công ty có thể thi hành một số biện pháp nếu không hài lòng với mức tiêu thụ hiện tại của mình. Vì vậy công ty cần phải ước tính được nhu cầu hiện tại và nhu cầu tương lai của thị trường.

    3.1.Ước tính nhu cầu hiện tại:

    Đây là nhiệm vụ chủ yếu của các nhà quản trị marketing . Tổng nhu cầu có thể ước tính bằng phương pháp chuỗi tỉ số, theo đó phải nhân số cơ bản với một chuỗi tỉ lệ %. Nhu cầu của thị trường của khu vực có thể ước tính bằng phương pháp xây dựng thị trường và phương pháp chỉ số đa yếu tố.

    Việc ước tính mức tiêu thụ của ngành đòi hỏi phải phát hiện các đối tượng cạnh tranh có liên quan và ước tính mức tiêu thụ riêng của công ty và dựa trên các nỗ lực và chi phí marketing .

    Cuối cùng các công ty quan tâm đến việc ước tính thị phần của các đối thủ cạnh tranh của mình để xét đoán thành tích tương đối của họ.

    3.2 Ước tính nhu cầu tương lai:

    Để ước tính nhu cầu tương lai, công ty có thể sử dụng một số phương pháp dự báo: thăm dò ý định của người mua, tổng hợp ýkiến của lực lượng bán hàng, ý kiến chuyên gia, thử nghiệm thị trường, phân tích chuỗi thời gian và phân tích thống kê nhu cầu. Những phương pháp này có mức độ phù hợp khác nhau đối với mục đích dự báo, kiểu sản phẩm, mức độ sẵn có và độ tin cậy của các số liệu.

    III. MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY KINH DOANH:

    Chúng ta biết rằng những công ty đang thành đạt hiện nay đều hoạt động theo động theo định hướng thị trường và có lập kế hoạch chiến lược. Tuy nhiên các kế hoạch chiến lược của công ty chỉ là điểm xuất phát để lập kế hoạch. Những kế hoạch của công ty phải được soạn thảo cho từng chi nhánh, từng đơn vị kinh doanh chiến lược, từng loại sản phẩm và thị trường mục tiêu quan trọng.

    1..Mục tiêu của công ty

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Mục tiêu kinh doanh của công ty là một phần quan trọng trong kế hoạch marketing của công ty . Có hai loại mục tiêu cần xác định là:

    +Mục tiêu tài chính

    +Mục tiêu marketing

    1.1.Mục tiêu tài chính:

    Ban lãnh đạo các công ty kinh doanh đều mong muốn việc kinh doanh của công ty đạt được những kết quả tốt đẹp về tài chính.

    Người quản lý sản phẩm phải đề ra những mục tiêu tài chính cụ thể như:

    -Trong 5 năm tới phải đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư hàng năm sau

    thuế là 15%.

    -Trong một năm tới đem lại lợi nhuận ròng là X.USD -Trong một năm tới tạo ra lượng lưu kim là Y.USD

    1.2.Mục tiêu marketing :

    Các mục tiêu tài chính phải được biến thành các mục tiêu marketing . Nếu công ty muốn kiếm được lợi nhuận là X (USD) và mức lời mục tiêu là 10% trên doanh số bán thì công ty phải đề ra chỉ tiêu doanh thu bán hàng là 10.X(USD)

    Nếu công ty xác định giá bình quân của một sản phẩm là I(USD) thì có nghĩa là công ty phải bán được 10X/I sản phẩm.

    2.Mục đích của công ty kinh doanh:

    Mục đích và mục tiêu của công ty kinh doanh có vai trò:

    -Phục vụ cho việc hoạch định chiến lược và báo cáo lên các cấp quản lý cao hơn.

    -Phục vụ cho việc bảo vệ yêu cầu ngân sách.

    -Phục vụ cho việc bảo vệ yêu cầu ngân sách.

    -Làm công cụ để theo dõi quá trình tiến triển và đề ra những biện pháp uốn nắn trong quá trình thực hiện kế hoạch.

    IV.CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA CÔNG TY KINH DOANH:

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    1.Định nghĩa chiến lược marketing :

    -Chiến lược marketing là tập hợp các quyết định của công ty cần thực hiện trong suốt một thời gian dài nhằm thích ứng với môi trường và thị trường hoạt động.

    2.Các vấn đề chủ yếu cần phải xác lập trong chiến lược:

    Marketing :

    2.1.Phân đoạn thị trường:

    *Khái niệm: Phân đoạn thị trường là một quá trình chi tiết của marketing . Đó là việc phân chia thị trường tổng thể thành những đoạn thị trường nhỏ hơn dựa trên các tiêu thức (tuổi, thu nhập, giới tính….) để từ đó mà công ty có thể lựa

    chọn được những đoạn thị trường phù hợp với khả năng và tiềm lực của mình (không một công ty nào có đủ khả năng và muốn kinh doanh trên toàn bộ thị trường tổng thể.

    Đoạn thị trường là nhóm những người mua có thông số đặc tính và hành

    • Việc phân đoạn thị trường sẽ giúp công ty có thể tập trung toàn bộ nguồn lực vào một vài đoạn thị trường nhờ đó mà có thể đạt được hiệu quả cao nhất.

    -Người làm marketing sẽ thử nghiệm các biến số khác nhau để xác định biến nào làm bộc lộ những cơ hội tốt nhất của đoạn thị trường và phù hợp với công ty .

    -Đối với mỗi loại thị trường phải xác định được những đặc điểm riêng biệt của nhóm khách hàng đó.

    -Hiệu quả của việc phân đoạn thị trường phụ thuộc vào việc các đoạn thị trường thu được có đáp ứng được các yêu cầu: đo lường được, cơ bản có thể tiếp cận, có thể phân biệt à hoạt động ở đó hay không.

    2.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu:

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    -Sau khi phân đoạn thị trường, tiếp đó công ty phải hướng vào những đoạn thị trường tốt nhất. Trước tiên cần phải đánh giá khả năng sinh lời của từng đoạn thị trường.

    -Tiềm năng sinh lời của đoạn thị trường là một hàm quy mô và mức tăng trưởng của đoạn thị trường, mức độ hấp dẫn về cơ cấu của đoạn thị trường, những mục tiêu và nguồn tài nguyên của công ty . Sau đó căn cứ vào tiềm năng của các phân đoạn, công ty sẽ quyết định tập trung vào những đoạn thị trường nào.

    Các công ty có thể bỏ qua những điểm khác biệt của các đoạn thị trường (Marketingkhông phân biệt) hay tính đến sự khác biệt thông qua việc phát triển những sản phẩm khác nhau cho một đoạn thị trường (Marketing phân biệt) hay theo đuổi một đoạn thị trường duy nhất (Marketing tập trung).

    -Khi lựa chọn các đoạn thị trường mục tiêu, người làm marketing cần xem xét những mối quan hệ qua lại giữa các thị trường và các kế hoạch xâm chiếm những đoạn thị trường tiềm ẩn để sao cho không ảnh hưởng đến các phân đoạn thị trường mà công ty đang có dự án kinh doanh.

    2.3.Định vị sản phẩm trên thị trường trọng điểm:

    *Khái niệm định vị: Định vị là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của công ty làm sao để nó chiếm được chỗ đặc biệt và có giá trị trong tâm trí cảu các khách hàng mục tiêu.

    Việc định vị đòi hỏi công ty phải quyết định khuyếch trương bao nhiêu đặc điểm khác biệt và những điểm khác biệt nào dành cho khách hàng mục tiêu.

    -Nhà tiếp thị có thể đi theo một số tiêu thức định vị sau: định vị sản phẩm trên một thuộc tính nào đó của nhãn hiệu, định vị theo công năng của mặt hàng, định vị dựa theo tầng lớp người sử dụng, định vị bằng cách so sánh trực tiếp với đối thủ cạnh tranh và tách biệt hẳn với đối thủ cạnh tranh.

    Để có thể xác lập kế hoạch định vị cho một nhãn hiệu mới hay đang lưu hành, đầu tiên công ty phải tiến hành phân tích để xác định những vị thế hiện có

    18

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    của chính mình và các nhãn hiệu cạnh tranh. Phương pháp định vị nhãn hiệu có thể sử dụng ma trận BCG hoặc sử dụng hệ thống chất lượng –giá bán.

    19

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Quy mô (mức độ) của lợi thế

    Số lượng Rất Phân tán Chuyên môn  
    Phương (vụn vặt) hoá  
    nhiều
    cách (tiếp   (chuyên biệt)  
       
    cận) để đạt        
    đượclợi thế        
    ít Bế tắc Khối lượng  
     
      (Thế bí) (quy mô)  
       
             

    -Tân ma trận BCG-giá

    Chất lượng

    B

    Cao

    A Giá bán

    Thấp                     Cao

    Thấp

    -Định vị theo mối quan hệ chất lượng

    2.4. Chiến lược Marketing hỗn hợp: (Marketing-mix)

    2.4.1.Khái niệm Marketing-mix

    -Marketing-mix được hiểu là một phối định hướng các biến số marketing có thể kiểm soát được mà công ty thương mại sử dụng một cách liên hoàn và đồng bộ nhằm theo đuổi một sức bán và lợi nhuận dự kiến trong một thị trường trọng điểm xác định.

    -Marketing-mix là công cụ marketing mà công ty sử dụng để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thị trường mục tiêu.

    20

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    2.4.2.Chiến lược Marketing-mix ở công ty thương mại và những yếu tố ảnh

    hưởng

    -Chiến lược marketing được hiểu là toàn bộ logic tiếp thị thương mại mà nhờ đó các đơn vị kinh doanh đạt được mục tiêu marketing của nó.

    -Một chiến lược chung marketing của công ty thương mại bao gồm marketing mục tiêu, Marketing- mix, ngân quỹ Marketing kinh doanh và định vị quy hoạch Marketing của công ty phù hợp với những điều kiện môi trường và cạnh tranh kỳ vọng.

    -Marketing –mix đóng một vai trò quan trọng trong việc kinh doanh thành bại của công ty, sau Marketing mục tiêu để tiếp tục công việc phải thông qua những quyết định về Marketing-mix đối với cả kênh phân phối lẫn người tiêu dùng cuối cùng. Biểu hình sau thể hiện quá trình công ty chuẩn bị sang mục chào bán sản phẩm, dịch vụ và giá cả, và sử dụng xúc tiến hỗn hợp bao gồm kích thích tiêu thụ, quảng cáo, lực lượng bán hàng, quan hệ với công chúng, gửi thư trực tiếp và marketing qua điện thoại tiếp cận các kênh phân phối và người tiêu dùng mục tiêu.

    Xúc tiến hỗn hợp

    Danh mục chào hàng

    Công -Sản phẩm  
    ty -Dịch vụ  
      -Giá cả  
         
         

    Kích thích tiêu

    thụ

    Quảng cáo

    Lực lượng bán Kênh phân   Khách hàng
    hàng phối   mục tiêu
           

    Quan hệ với

    công chúng

    Gửi thư trực tiếp

    và Marketing

    qua điện thoại

    -Chiến lược Marketing-mix

    21

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    H3: Chiến lược markeing- mix

    2.4.3.Các công cụ Marketing –mix

    Trong Marketing-mix có đến hàng chục công cụ khác nhau, McCarthy đã đưa ra một cách phân loại các công cụ này theo yếu tố gọi là “4P”. Đó là sản phẩm (product), giá cả (price), tiêu thụ (place-phân phối) và xúc tiến (promotion).

    -Những biến số chi tiết của một yếu tố P được liệt kê dưới biểu hình sau:

    Sản phẩm (Product)     Phân phối (Place)
                 
    -Chủng loại -Bao bì     -Kênh
    -Chất lượng -Kích cỡ     -Phạm vi
    – Mẫu mã -Dịch vụ     -Danh mục hàng hoá
    -Tính năng -Bảo hành     -Địa điểm
       
    -Nhãn hiệu -Trả lại     -Dự trữ
              -Vận chuyển
                 
                 

    Marketing-mix

    Giá cả (price)

    -Giá quy định -Kỳ hạn

    -Chiết khấu                      thanh toán

    – Bớt giá                            -Điều kiện

    trả chậm

    Xúc tiến (promotion)

    -Kích thích -Quan hệ với
    tiêu thụ công chúng
    -Quảng cáo  
    -Lực lượng -Marketing
    bán hàng trực tiếp
       

    H4: Các công cụ marketing- mix

    -Sản phẩm là hàng hoá hữu hình của công ty được tung ra thị trường, bao gồm chất lượng sản phẩm., mẫu mã, tính năng, nhãn hiệu, bao bì.

    22

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    -Giá cả là số tiền mà khách hàng phải trả để có được sản phẩm. Giá cả và các hình thức thanh toán, dịch vụ phải đảm bảo được tính cạnh tranh cao nếu không công ty sẽ mất khách hàng.

    -Phân phối bao gồm các hoạt động khác nhau mà công ty tiến hành nhằm đưa sản phẩm đến những nơi mà khách hàng có thể tiếp cận và mua chúng.

    -Xúc tiến bao gồm các hoạt động hỗ trợ nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc tiêu thụ sản phẩm và tạo nên hình ảnh về công ty đối với khách hàng.

    V.CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG, NGÂN SÁCH VÀ KIỂM TRA MARKETING CỦA CÔNG TY

    Sau khi đã đề ra được chiến lược Marketing của công ty thì phần tiếp theo của kế hoạch marketing là chương trình hành động để triển khai chiến lược Marketing đó. Muốn triển khai được thì phải dựa vào ngân sách dành cho Marketing của công ty, sau đó kiểm tra lại xem kế hoạch đã được triển khai như thế nào? có đạt được mong muốn của công ty khi kế hoạch hoá Marketing hay không? Những vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể sau đây:

    1.Chương trình hành động:

    -Chiến lược marketing phải được chuyển thành một tập hợp các hành động nhằm hoàn thành mục tiêu marketing. Từng thành tố của chiến lược phải chi tiết hoá thành các hành động thích hợp. Những hành động có mức chi phí-hiệu quả cao nhất sau đó sẽ được giao cho các cá nhân với thời gian hoàn thành định trước. Có thể lập thành một lịch trình thời gian theo tuần hoặc theo tháng với các hoạt động Marketing trong từng giai đoạn.

    2.Ngân sách:

    -Mục tiêu, chiến lược và các hành động kế hoạch hoá cho phép các giám đốc xây dựng ngân sách, đó chính là bản ngân sách dự kiến lãi lỗ. Phí bên thu nhập cần đưa ra con số dự báo về doanh số bán và doanh thu với mức giá dự kiến. Bên chi phí thể hiện chi phí sản xuất, marketing và quản lý. Mức chênh

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    lệch giữa hai bên chính là lãi hoặc lỗ. Sau đó ban quản trị xem xét ngân sách rồi phê chuẩn hoặc sửa đổi. Khi được phê duyệt thì mới có thể tiến hành các hoạt động tác nghiệp Marketing, kế hoạch hoá tài chính và tuyển mộ nhân sự.

    3.Kiểm soát

    -Phần này phải mô tả những hoạt động kiểm soát được tiến hành nhằm theo dõi tiến trình của kế hoạch. Thông thường các mục đích và ngân sách cho từng tháng hoặc từng quý, điều này có nghĩa là từng kết quả, từng giai đoạn sẽ được xem xét và phát hiện ra những giám đốc không đạt được mục tiêu, mục đích của họ. Những giám đốc này sẽ phải đệ trình những hành động mà họ sẽ tiến hành cải thiện hiện trạng.

    VI.YÊU CẦU ĐÁNH GIÁ KẾ HOẠCH MARKETING Ở CÔNG TY THƯƠNG MẠI. Khi quyết định thực hiện kế hoạch hoá Marketing ở công ty thương mại

    thì các nhà quản trị Marketing phải có các yêu cầu và chỉ tiêu đánh giá kế hoạch này để sau khi hoàn thành chu trình kế hoạch hoá Marketing thì họ có thể biết được khâu nào trong chu trình kế hoạch hoá của họ chưa đạt yêu cầu và từ đó có những biện pháp sửa đổi, nâng cao hiệu quả Marketing của công ty.

    1.Những yêu cầu về kế hoạch Marketing ở công ty thương mại.

    +Phải khuyến khích ban quản trị dự tính trước một cách có hệ thống, đồng thời phải xem xét và hoàn thiện được các mục tiêu, chính sách của công ty đã đề ra.

    +Phải giúp cho sự phối hợp của các nhà điều hành một cách chặt chẽ hơn về các trách nhiệm có liên quan đến họ, từ đó giúp cho sự phối hợp các nỗ lực của công ty một cách tốt hơn.

    +Phải giúp được công ty phát triển được các tiêu chuẩn thực hiện nhằm kiểm soát và kiểm tra nỗ lực marketing.

    +Kế hoạch hoá marketing cần phải giúp công ty tạo ra được sự chuẩn bị tốt hơn để đối phó với những thay đổi bất ngờ về thị trường cũng mư môi trường kinh doanh.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    CHƯƠNG II

    HIỆN TRẠNG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING Ở CÔNG TY TNHHNN MỘT THÀNH VIÊN ĐIỆN CƠ THỐNG NHẤT (VINAWIND)

    I. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY

    1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất:

    Công ty Điện cơ Thống Nhất là một doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội. Công ty được thành lập từ năm 1965 trên cơ sở sát nhập 2 xí nghiệp công tư hợp doanh là Xí nghiệp Điện Thông và Xí nghiệp Điện cơ Tam Quang, lấy tên là Xí nghiệp Điện Khí Thống Nhất.

    Địa chỉ: Số 164 phố Nguyễn Đức Cảnh – Phường Tương Mai – Quận Hoàng Mai – Hà Nội.

    Điện thoại: 6622400                          Fax: 6622473

    Năm 1970 UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 142QĐ – UB sát nhập bộ phận còn lại của xí nghiệp Điện Cơ Tam Quang vào Xí nghiệp Điện khí Thống Nhất thành lập Xí nghiệp Điện cơ Thống Nhất.

    Giấy phép kinh doanh số 105804 do Trọng tài kinh tế câp ngày 4/2/1993 Với số vốn kinh doanh ban đầu là: 7.657.056.352đồng.

    Ngày đầu thành lập xí nghiệp có mặt bằng trên 8.000m2 với gần 600m2 nhà xưởng, tổng số cán bộ công nhân viên là 464 người và trên 40 máy móc thiết bị các loại, với nhiệm vụ chính trị là sản xuất các loại quạt điện và động cơ điện cỡ nhỏ phụ vụ nhu cầu đời sống của nhân dân Thủ đô và quốc phòng.

    25

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Để thích ứng với xu hướng phát triển chung và phù hợp với qui mô sản xuất kinh doanh. Ngày 02/11/2000 UBND Thành phố Hà Nội có quyết định số 5928/QĐ – UB về việc đổi tên Xí nghiệp điện cơ Thống Nhất thành Công ty điện cơ Thống Nhất.

    Ngày 28/6/2005 UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 94/2005/QĐ – UB đổi tên Công ty Điện cơ Thống Nhất thành Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất.

    Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, với sự cố gắng nỗ lực của nhiều thế hệ cán bộ công nhân viên, Công ty đã vượt qua nhiều thử thách trong từng giai đoạn phát triển. Với tinh thần đoàn kết cao, tập thể ban lãnh đạo Công ty và các phòng ban nghiệp vụ đã luôn cố gắng hết mình để tìm ra những hướng đi đúng đắn như: Tổ chức lại sản xuất, bố trí lại lao động cho phù hợp với phương án sản xuất kinh doanh của Công ty trong từng giai đoạn đồng thời tăng cường các biện pháp quản lý sản xuất như: Đầu tư mở rộng qui mô sản xuất, thay đổi hệ thốn máy móc thiết bị và đổi mới khoa học công nghệ, đồng thời tăng cường đổi mới tư duy để hoàn thiện dần phương thức quản lý mới phù hợp với cơ chế thị trường và phù hợp với xu thế phát triển, hội nhập kinh tế trong nước với kinh tế khu vực và thế giới.

    1.2. Chức năng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty:

    Chức năng nhiệm vụ của công ty được qui định rõ ngay từ khi mới thành lập, đó là: Chuyên sản xuất các loại quạt điện và động cơ điện phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước. Qua quá trình vận động và phát triển, để phù hợp với cơ chế thị trường, chức năng nhiệm vụ của công ty được xác định lại như sau:

    – Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm: quạt điện và các loại đồ điện gia

    dụng.

    • Xuất khẩu các sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh, hợp tác, nhập khẩu thiết bị, vật tư, nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng của ngành điện và điện tử gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất của công ty và thị trường.

    26

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Liên doanh hợp tác với các đơn vị kinh tế trong nước và nước ngoài, làm đại lý, đại diện, mở cửa hàng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh.

    Ngoài nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, là một doanh nghiệp nhà nước công ty còn có nhiệm vụ rất quan trọng là phải bảo toàn và phát triển vốn do nhà nước cấp và thực hiện đầy đủ chính sách về kinh tế và pháp luật theo qui định. Cho đến tại thời điểm hiện nay (năm 2005) công ty vẫn là 1 trong 17 doanh nghiệp thuộc Sở công nghiệp Hà Nội sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 86/QĐ – TTg phê duyệt phương án tống thể sắp xếp doanh nghiệp nhà nước thành phố Hà Nội. Trong đó, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất được phép giữ nguyên pháp nhân doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp khác do sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thu lỗ… thì chuyển sang thực hiện cổ phần hoá, sáp nhập, giải thể hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu khác. Điều đó đã nói lên những đóng góp đáng kể của công ty đối với sự phát triển kinh tế Thủ đô nói chung và ngành công nghiệp nói riêng trong thời kỳ đổi mới.

    1.3. Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động của công ty:

    Đặc điểm bộ máy quản lý (Biểu 1: Mô hình bộ máy tổ chức- quản lý ) Xuất phát từ đặc điểm tình hình và thực tế điều kiện sản xuất kinh doanh

    trongnhững năm qua, công ty đã tiến hành tổ chức lại bộ máy quản lý theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả (theo sơ đồ tại biểu 1).

    Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động cua công ty hiện nay cho thấy:

    Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty được bố trí theo kiểu trực tuyến – chức năng. Giám đốc ra lệnh điều hành trực tiếp trong công ty thông qua các phó giám đốc, các phòng ban nghiệp vụ. Các phó giám đốc, trưởng phòng ban có trách nhiệm tham mưu giúp việc cho giám đốc theo chức năng nhiệm vụ được giao. Các phòng ban nghiệp vụ được bố trí tương đối gọn nhẹ, giúp cho giám đốc nhanh chóng có những quyết định, chỉ đạo kịp thời trong mọi hoạt động của công ty.

    27

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận:

    Ban giám đốc: gồm giám đốc và 2 phó tổng giám đốc:

    -Chủ tịch-Tổng giám đốc: Chịu trách nhiệm chỉ đạo chung. Trực tiếp chỉ đạo và quản lý.

    Phòng tổ chức – hành chính, bảo vệ, kế hoạch – vật tư, tiêu thụ sản phẩm, tài vụ.

    • Phó tổng giám đốc kỹ thuật: Giúp việc cho giám đốc chỉ đạo về mặt kỹ thuật đồng thời trực tiếp chỉ đạo kiểm tra chất lượng sản phẩm. Chỉ đạo, theo dõi, điều chỉnh và ban hành thực hiện các định mức lao động kỹ thuật. Chủ tịch QMR (hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000).

    -Phó tổng giám đốc sản xuất: Giúp việc cho giám đốc , trực tiếp điều hành, chỉ đạo, xây dựng tiến độ sản xuất, giao kế hoạch sản xuất hàng tháng cho các phân xưởng. Tổ chức kiểm kê hạch toán nội bộ, chỉ đạo các phòng chức năng về định mức tiêu hao vật tư.

    Chức năng các phòng ban nghiệp vụ:

     

    • Phòng kế hoạch – vật tư: Tham mưu cho giám đốc trong công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch sản xuất, cân đối vật tư, bán thành phẩm hạch toán vật tư bán thành phẩm với các phân xưởng sản xuất hàng tháng, quí, năm.
    • Phòng tiêu thụ sản phẩm: Giúp giám đốc trong công tác tìm hiểu thị trường, xâydựng và thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, hoạch định chính sách phân phối sản phẩm.

     

    • Phòng tài vụ: Giúp giám đốc trong lĩnh vực hạch toán kế toán và sử dụng vốn. Giám sát việc thực hiện các chính sách kinh tế, chế độ tài chính trong công ty, hoạch định các chính sách về giá cả như: Xác định giá bán, giá gia công theo đơn đặt hàng của khách hàng.
    • Phòng tổ chức hành chính: Giúp giám đốc trong việc sắp xếp chương trình làm việc hàng ngày, tuần, tiếp khách, đối nội, đối ngoại. Tổ chức đội ngũ thống kê phân xưởng để quản lý lao động, xác định kết quả lao động của toàn

     

    28

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    công ty. Xây dựng định mức lao động, đơn giá tiền lương cho toàn bộ qui trình công nghệ chế tạo sản phẩm tại công ty, hàng tháng xác định tiền lương, tiền thưởng cho CBCNV toàn công ty.

    • Phòng KCS: Giúp giám đốc theo dõi việc thực hiện hệ thống quản lý chất lượng tại công ty, bố trí nhân viên tại các phân xưởng sản xuất để kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm.

     

    • Phòng kỹ thuật: Có nhiệm vụ quản lý, xây dựng, tạo mẫu sản phẩm theo nhu cầu thị trường hoặc theo đơn đặt hàng, định mức nguyên vật liệu, xây dựng định mức về thời gian công nghệ cho toàn bộ sản phẩm của công ty, chỉ đạo trực tiếp các phân xưởng sản xuất về mặt kỹ thuật.
    • Phòng bảo vệ: Giúp giám đốc trong việc bảo đảm an ninh trật tự trong công ty, bảo vệ, quản lý tài sản và phòng chống cháy nổ, bão lụt thiên tai, hoả hoạn.

     

    II. TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN KẾ HOẠCH VÀ HIỆN THỰC KẾ HOẠCH MARKETING CỦA VINAWIND

    • các công ty lớn, tập đoàn, tổng công ty nổi tiếng và thành công trên thương trường,chúng ta đều dẽ dàng nhận thấy được bắt buộc họ phải có được một hệ thống kế hoạch hoá marketing đúng đắn rõ ràng nhằm mục tiêu mục đích mà họ đề ra. Bên cạnh đó họ còn có một lực lượng cán bộ có trình độ,năng động và nhiệu tình với công việc để luôn thực hiện tốt kế hoạch mà họ đã lập ra. Điều này giúp chúng ta thấy rõ kế hoạch marketing là công cụ marketing đắclực cho sự thành công của các công ty kinh doan.

    Trên thực tế những công ty vừa và nhỏ vẫn thiết lập kế hoạch marketing mặc dù có thể nó không được hoàn thiện như các Công ty lớn khác. Trong trường hợp cụ thẻ này, chúng ta xem trình độ kế hoạch marketing của VINAWIND đã có lịch sử phát triển như thế nào.

    1.                 Trình độ phát triển kế hoạch Marketing của VINAWIND

    Cũng giống như tình trạng của một số doanh nghiệp trực thuộc quản lý của nhà nước mặc dù công ty có mặt hàng sản xuất kinh doanh và dịch vụ là

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    quạt điện rất đa dạng về chủng loại và kiểu dáng nhưng lại chưa có phòng Marketing và các nhân viên chuyên trách. Công việc marketing của công ty thực hiện chủ yếu bởi phòng Tiêu thụ sản phẩm nhưng đa số các nhân viên phòng này không có trình độ và kiến thức marketing mà họ làm việc hầu như chỉ dựa vào kinh nghiệm.

    Sau những năm đầu tư tích luỹ vốn và kinh nghiệm ban giám đốc đã nhận thức được sự cần thiết của việc phân bổ nguồn lực và tổ chức một hệ thống định ngân sách nhằm cải thiện sự quay vòng vốn của doanh nghiệp. Ban giám đốc cùng phòng Tiêu thụ sản phẩm của công ty đã ước tính thu nhập dự kiến và chi phí cho kỳ kế hoạch sau, sau đó ban giám đốc công ty đã chuẩn bị kế hoạch ngân sách cho Công ty.

    Những kế hoạch ngân sách này giúp công ty định hướng phân bổ nguồn tài chính của công ty nhưng nó hoàn toàn không mang tính chiến lược.

    Qua một số phân tích trên chúng ta dẽ dàng nhận thấy trình độ kế hoạch hoá marketing của VINAWIND mới chỉ ở giai đoạn hệ thống định bổ ngân sách trong quá trình tiến triển của kế hoạch hoá marketing.

    1. Tình hình xây dựng kế hoạch marketing hiện tại của VINAWINDVINAWIND là một doanh nghiệp nhà nước vì thế những nhân viên ở đây

    hàng tháng nhận một khoản tiền lương và công việc tương đối ổn định. Nhưng chính điều này đã khiến cho nhân viên ít hoặc hầu như không có những sáng tạo, đóng góp vào công việc kinh doanh của Công ty, họ chỉ làm đủ công việc mà ban giám đốc giao cho và đúng chức năng của họ. Đây cũng là một đặc điểm chung của các doanh nghiệp nhà nước. Do tinh thần làm việc và sự kém năng động của các nhân viên đồng thời thiếu những ý kiến xây dựng cho công ty nên ban giám đốc công ty luôn phải tự đặt vào các mục đích và kế hoạch cho cấp dưới cụ thể hoá nhiệm vụ cho họ, đây chính là phương pháp xây dựng kế hoạch marketing từ trên xuống.

    30

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    III. QUY TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING Ở VINAWIND

    VINAWIND là doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động trong gai đoạn đất nước đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường giống như những doanh nghiệp khác VINAWIND khi tham gia kinh doanh vào thị trường thì đã có những kế hoạch nhưng do chưa có bộ phận chuyên trách nên kế hoạch của công ty chắc chắn chưa thể hoàn thiện một cách rõ ràng, sau đay chúng ta xem quy trình và các nội dung kế hoạch hoá mà công ty đang áp dụng và thực hiện.

    1. Phân tích tình thế

    Một bước đầu tiên có vai trò chủ yếu nhưng chi tiết của kế hoạch marketing là hoạt động phân tích tình thế. Trong giai đoạn này giám đốc công ty và những người lập kế hoạch thực hiện mô tả các đặc điểm chủ yếu của tình thế mà họ đang phải đương đầu, đó là vấn đề: Bối cảnh, dự báo thông thường, phân tích các cơ hội và đe doạ, các thế mạnh điểm yếu của công ty.

    1.1. Bối cảnh của  VINAWIND

    Trên thị trường quạt điện hiện nay đang có sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh quạt điện. Vì vậy, các doanh nghiệp luôn tích cực cải tiến cả về mẫu mã, chất lượng sản phẩm, bao bì… nhằm mục đích làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được ngày càng nhiều hơn nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng để đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận. Chỉ có doanh nghiệp nào đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì mới tạo được cho mình

    Là một doanh nghiệp nhà nước dưới sự lãnh đạo của một giám đốc năng động nhiều kinh nghiệm nên nguồn vốn nhà nứơc giao cho luôn được bảo đảm và gia tăng hàng năm và không nợ nhà nước. Điều này được chứng minh qua các con số trong bảng sau:

    Do năm bắt được nhu cầu và đổi mới tư duy kinh tế VINAWIND đã trở thành một trong những doanh nghiệp sản xuất quạt điện lớn nhất Việt Nam. Công ty không ngừng đổi mới trang thiết bị hiện đại và áp dung công nghệ tiên

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    tiến vào sản xuất .Sản phẩm của công ty có độ bền cao, lưu lượng gió lớn tiêu thụ điện năng it, hình thức đẹp được người tiêu dùng ưa chuộng.

    1.2 Các dự báo

    Qua nhiều năm kinh nghiệp Công ty đã thống kê các mức doanh thu đạt được và những vùng thị trường của công ty.Báo cáo thực tế năm trước

    Năng lực sản xuất thực tế và khả năng mở rộng quy mô sản xuất của công

    ty.

    Các chỉ tiêu kinh tế xã hội mà nhà nước giao phó.

    Công ty năm được hoạt động kinh doanh và doanh thu của công ty trên mỗi phân đoạn thị trường.Từ những thông tin này mà giám đốc đề ra các kế hoạch phát triển cho mình.

    Nhưng do không có phòng ban và nhân viên chuyên trách về marketing nên VINAWIND không tiến hành điều tra về biến động mar keting, vì vậy chỉ đơn lẻ giám đốc dựa vào báo cáo kế toán và những thay đổi diễn ra trong công ty để chứng kiến doanh số thu chi, lãi lỗ trong kỳ kế hoạch tới.

    1.3 Các cơ hội và nguy cơ của VINAWIND

    Để tồn tại và phát triển được trên thị trường thì bất kỳ công ty nào cũng phải quan tâm nghiên cứu những nhân tố, điều kiện ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của công ty mà công ty không thể tác động thay đổi được. Đây chính là điều mà công ty kinh doanh phải quan tâm để tìm ra và năm bắt các cơ hội cũng như các nguy cơ kinh doanh trên thị trường.

    Các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của công ty này phụ thuộc vào môi trường quản lý kinh doanh vĩ mô, nó bao gồm các nhân tố ảnh hưỏng: Kinh tế, nhân khẩu, tự nhiên, chính trị, văn hoá lỹ thuật công nghệ.

    Đối với môi trường nhân khẩu

    VINAWIND xem đây là yếu tố đầu tiên vì con người là yếu tố kiến tạo nên thị trường. Côngty quan tâm đến quy mô và tỷ lệ tăng đân số trong khu vực thị trường của công ty để từ đó tiên liệu nhu càu phân đoạn thị trường. Nhưng do

    32

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    chi phí thực hiện nghiên cứ yếu tố này lầ quá lớn do vậy công ty chỉ xem xét qua các thông tin đại chúng truyền thanh truyên hình … sau đó công ty thống kê lại xem vùng thị trường có độ tuổi trung bình là bao nhiêu, mức thu nhập bình quân trên đầu người là bao nhiêu….từ đó tiên lượng được cơ hội giữa các vùng thị

    trường để nắm bắt cũng như tránh né các nguy cơ. Đối với môi trường kinh tế- chính trị, văn hoá

    Kinh tế nước ta đang chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Chính phủ. Lúc này nên kinh tế đã bién chuyển sang chiều hướng tốt, ngày càng phát triển giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội vươn tầm hoạt đông xa hơn và chủ động hơn trong kinh doanh.

    Nhà nước có nhiều chính sách bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước như:

    Duy trì, đẩy mạnh việc thực hiện chỉ thị 853/ttg của thủ tướng chính phủ về chống buôn lậu và gian lận thương mại, trong đó có dán tem các loại quạt ngoại.

    Tạo điều kiện cho doanh nghiệp được vay vốn ưu đãi

    ……………

    Môi trường tự nhiên kỹ thuật công nghệ

    Sản phẩm của công ty là mặt hàng quạt điện chịu ảnh hưởng rất lớn đến hai nhân tố này:

    Sản phẩm của công ty đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và được giám sát bởi hệ thống quản lý chất lượng quốc tế ISO 9001: 2000.

    Hiên nay công ty đang đươc trang bị những máy móc thiết bị sản xuất hiện đại nhất Việt Nam, đã xây dựng một trang web riêng www.vinawind.com.vn công ty chưa có hệ thống máy vi tính nối mang internet với khách hàng đặt tại phòng Tiêu thụ sản phẩm.

    1.4 Các thế mạnh và điểm yếu của VINAWIND

     

    33

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Đánh giá được thế mạnh tìm ra các điểm yếu của mình để khắc phục VINAWIND đã tiến hành phân tích môi trường vi mô của công ty bao gồm các nhân tố về: nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất, tài sản vô hình của công ty.Đây là những yếu tố mà công ty có thể tác động thay đổi được để phù hợp với điều kiện của công ty.

    Về nhân sự

    Tổng số CBCNV của công ty gần 700 người . Đa số các cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng số còn lại có trình độ trung cấp.

    Hầu hết các cán bộ công nhân đều có kinh nghiẹm và có khả năng làm tròn nhiệm cụ được giao.Ban giám đốc công ty là những người có trình độ, kinh nghiệm và khả năng quyết đoán nhanh. Các cán bộ kinh doanh đều đáp ứng được khả năng kinh doanh của công ty, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên sự sắp xếp cán bộCNV trong công ty chưa thật sự hợp lý nên chưa tận dụng được hết năng lực.

    Về tài chính

    Việc quản lý và sử dụng vốn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Đặc biệt, với diễn biến của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần như hiện nay thì vấn đề quản lý, sử dụng vốn luôn song song với việc bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh doanh. Trong những năm qua Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất đã hết sức linh hoạt nhằm sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất. Do đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty đã có những bước tiến vượt bậc, các chỉ tiêu sử dụng vốn đều tăng

    Qua bảng tài chính của công ty đã trình bày ở phần bối cảnh của Công ty cho thấy vốn của công ty tăng dần theo từng năm.Nhưng với số vốn là 30 tỷ đồng không phải là cao so với quy mô của công ty và điều kiện kinh doanh trên thị trường hiện nay.Công ty đi vay ngân hàng và hình thức trả trậm thanh toán trả trậm khá phổ biến đẫn đến khó khăn trong việc quay vòng vốn vì thế bảo đảm tính linh hoạt và chủ động trong kinh doanh.

    34

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Về cơ sở vật chất

    Trụ sở làm của công ty khá thuận lợi cho việc giao dịch và quan hệ kinh doanh. Ngoài ra kinh doanh làm trong công ty tương đối tốt.Công ty trang bị khá đầy đủ các thiết bị cần thiết trong các phòng ban, nhà xưởng khá rộng và rất vệ sinh công nghiệp.

    Bảng 1: Tình trạng tài sản cố định của công ty đến 31/12/2004

    Tại thời điểm 31/12/2005, tổng nguyên giá tài sản cố định của công ty là 50.650.817.000 đồng và được đầu tư bằng các nguồn khác nhau như: vay vốn ngân hàng, sử dụng nguồn vốn tự có và vốn do ngân sách nhà nước cấp. Giá trị hao mòn luỹ kế đến thời điểm này bằng 45,74% nguyên giá.

    Qua bảng trên chúng ta thấy phần lớn các tài sản của công ty được sử dụng từ nhiều năm nay. Riêng các tài sản thuộc nhóm nhà cửa, vật kiến trúc hầu như đã khấu hao hết, giá trị còn lại bằng 50,79% nguyên giá nhưng hầu hết chỉ là giá trị sử dụng đất đai. Tuy nhiên, các tài sản này vẫn còn sử dụng được, mặc dù quy mô sản xuất kinh doanh ngày một tăng nhưng công ty hiên nay chỉ có một khu nhà hai tầng dành cho bộ phận quản lý và toàn bộ phân xưởng sản xuất, nhà ăn, kho, bãi… nằm gói gọn trong khuôn viên của công ty. Trong năm vừa qua công ty đã đầu tư hơn 8 tỷ đồng để mua mới và nâng cấp các loại máy móc thiết bị, dụng cụ quản lý, nâng cấp, sửa chữa một số công trình kiến trúc để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Tóm lại, trong thời gian qua tài sản cua công ty không biến động nhiều, hoạt động đầu tư mua sắm không lớn mà tập trung chủ yếu vào cải tạo và nâng cấp dây chuyền công nghệ đã được đầu tư từ lâu. Hiện nay, công ty đang lập dự án khả thi xây dựng thêm một nhà máy mới tại huyện Gia Lâm để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Nếu dự án này được phê duyệt công ty sẽ có một cơ sở mới phù hợp với quy mô và tiềm năng của mình.

    Tài sản vô hình

    Một lợi thế lớn trong viêc cạnh tranh trên thị trường Công TNHHNN một thành viên điện cơ Thống Nhất là uy tín hình ảnh- chất lượng qua sản phẩm

    35

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    thương hiêu VINAWIND.Là một trong những công ty sản xuất quạt điện lớn nhất Việt Nam, sản phẩm của công ty được người tiêu dùng trong nước coi như tiêu chuẩn để đánh giá các loại quạt điện khác.Giá cả của sản phẩm mấy năm gần đây đã phù hợp với người tiêu dùng bình dân và cũng thoả mãn được nhu cầu của người có thu nhập trên mức trung bình đồng thời hình thức quạt cũng được cải tiến đáng kể đa dạng về chủng loại và mẫu mã.

    2. Mục tiêu của VINAWIND năm 2006.

    – Tăng trưởng ổn định, nâng cao doanh số bằng cách

    • Tìm kiếm, tìm cách thâm nhập, đi đến chỗ chiếm lĩnh thị trường mới, nâng cao thị phần của công ty.
    • Phục vụ hiệu quả hơn câc thị trường cũ bằng cách phát huy các lợi thế cạnh tranh của công ty
    • Đầu tư nỗ lực marketing để hoàn thiện khâu tiêu thụ sản phẩm

    Định vị hình ảnh, uy tín của công ty trên thị trường, dành được thiện cảm của khách hàng nhờ uy tín và văn hoá kinh doanh.

    Các chỉ tiêu cụ thể: Bảng 2

    3. Chiến lược của VINAWIND -năm 2006.

    • không ngừng nâng cao chất lượng phẩm sản đáp với ứng trông đợi của khách hàng.Thông điệp truyền thông phải trung thực và có hiệu quả.khách hàng tìm kiếm.
    • Đa dạng hoá sản phẩm song luôn phải thế hiện được “ bản sắc” của công ty mình.Đó là chất lượng sản phẩm, chữ tín trong kinh doanh, mang lại lợi ích mà khách hàng tìm kiếm.
    • Tận dụng tối đa các nguyên vật liệu để đạt mục tiêu tiết kiệm, giảm giá thành sản phẩm.
    • Tiếp tục xây dựng và bảo vệ hình ảnh cuả công ty trong nhận thức của khách hàng mục tiêu.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Hỗ trợ cho các chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối,xúc tiến để đạt được mục tiêu Marketing- mix.

    3.1. Sản phẩm.

    Hiện nay, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất đang sản xuất kinh doanh sản phẩm chính là các loại quạt điện, đây là sản phẩm phục vụ cho nhu cầu làm mát của người tiêu dùng. Trước khi đem tiêu thụ ra thị trường phải được bộ phận KCS khẳng định là đảm bảo về mặt chất lượng, mẫu mã và an toàn sử dụng,các sản phẩm này có đặc tính là tiêu thụ theo mùa

    1. Chủng loại sản phẩm của công ty gồm:

    Quạt trần cánh 1,4m, quạt cây cánh 400, quạt cây mini cánh 400, quạt bàn cánh 400, quạt bàn cánh 300,quạt bàn cánh 225, quạt treo trường cánh 400, quạt treo tường cánh 450, quạt treo đảo cánh 400, quạt hộp cánh 350, quạt hộp cánh 300, quạt hộp cánh 225, quạt thông gió cánh 150-250…….

    1. Cơ cấu số lượng từng loại

    Cơ cấu số lượng: theo bảng kế hoạch sau:

    STT Sản phẩm Ký hiệu Số lượng Ghi chú  
    (chiếc)
             
    1 Quạt trần cánh 1,4m QT- 1.400 196.407    
               
    2 Quạt đứng cánh 400 QĐ- 400 30.769    
               
    3 Quạt đứng MINI cánh 400 QĐM- 400 40.745    
               
    4 Quạt bàn cánh 400 QB- 400 24.780    
               
    5 Quạt bàn cánh 300 QB- 300 14.900    
               
    6 Quạt bàn cánh 225 QB- 225 14.900    
               
    7 Quạt treo trường cánh 400 QTT- 400 43.766    
               
    8 Quạt treo tường cánh 450 QTT- 450 24.776    
               
    9 Quạt treo trần cánh 400 QTQ- 400TT 16.900    
               
    10 Quạt hộp cánh 350 QH 350 GLP 34.700    
               

    37

      Luận văn tốt nghiệp   Nguyễn Bá Thắng – CT2
                   
      11 Quạt hộp cánh 300 QH-300 LP   34.700    
                   
      12 Quạt hộp cánh 225 QTT- 225 HP   10.877    
                   
      13 Quạt thông gió cánh 150-250 QTG   12.900    
                   
      14 Tổng cộng     501.120    
                   
    1. Sản phẩm mới:
    • Công ty đã hoàn thành chế thử quạt đứng công nghiệp cánh 650.
    • Công ty đã chế thử xong quạt trần 1.400 với sự thay đổi toàn bộ kết cấu sản phẩm kể cả động cơ được cuốn, lồng bin vào Stato bằng máy tự dộng và hình dáng bên ngoài với nắp trên nắp dưới bằng nhôm đúc áp lực, nhằm tăng sản lượng năng xuất,chất lượng và hạ giá thành sản phẩm

    3.2.Giá bán sản phẩm.

    1.Mức giá bán cho từng loại sản phẩm: (Bảng giá sản phẩm, phần phụ lục)

    2.Cách chiết khấu cho khách hàng

    Qua bảng giá sản phẩm ta tháy công ty đang áp dụng ba mức giá bán cho khách hàng.

    • Giá bán lẻ: áp dụng cho khách hàng mua từ 01 sản phẩm đến 49 sản phẩm cùng loại hoặc tổng giá trị thanh toán dưới 10.000.000 đồng.
    • Giá bán buôn cấp 2: áp dụng cho khách hàng mua từ 50 sản phẩm đến 99 sản phẩm cùng loại hoặc tổng giá trị thanh toán từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
    • Giá bán buôn cấp 1(mức giá thấp nhất): áp dụng cho khách hàng mua trên 100 sản phẩm cùng loại hoặc tổng giá trị thanh toán trên 50.000.000 đồng.

    3 Phương pháp định giá

    Hiện nay, công ty định giá bán theo phương pháp định giá giá cạnh tranh kết hợp phương pháp định giá khuyến mại và điịnh giá phân biệt.

    3.3.Trung gian

    Hệ thống kênh phân phối

    38

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    VINA

    WIND

    Điện cơ

    thống

    nhất

        Cửa Người  
    Các nhà
      hàng    
    phân phối      
      bán lẻ    
        tiêu  
         
             
             

    Cửa

    hàng                                    dùng

    bán lẻ

    H5: Hệ thống kênh phân phối

    Thị trường tiêu thụ các sản phẩm của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất chủ yếu là thị trường miền Bắc từ Thanh Hoá trở ra. Hiện nay, các sản phẩm của công ty chưa xâm nhập được nhiều vào thị trường miền Trung và Nam Bộ một phần do yếu tố địa lý ảnh hưởng đến vận chuyển dẫn đến chi phí cao ảnh hưởng tới giá bán, một phần do sự cạnh tranh của các doanh nghiệp cùng ngành ở phía Nam và phần nữa cũng do sản phẩm của công ty còn ít được người tiêu dùng phía Nam biết đến.

    1. Bán lẻ

    Là hệ thống cửa hàng bán lẻ quạt điện trên toàn miền Bắc và .bên cạnh đó công ty có 3 cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm phục vụ bán lẻ trên địa bàn

    1. Hà Nội đó là:
    • Cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm: 164 Nguyễn Đức Cảnh -Hoang Mai – Hà Nội.
    • Cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm: 176 Trần Duy Hưng- Cầu Giấy –

    Hà Nội.

    • Cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm: 392 Nguyễn Văn Cừ- Gia Lâm-

    Hà Nội

    1. Bán buôn

     

    39

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Là những doanh nghiệp thương mại, cửa hàng, đại lý lớn kinh doanh điện-điện tử ở miền bắc .

    1. Số lượng bán buôn từng khu vực thị trường cụ thể như sau. (xem phần phụ lục)

     

    • Chương trình xúc tiến quảng cáo

     

    1. Phương tiện quảng cáo

     

    Trong các phương tiên quảng cáo để truyền thông tới công chúng như

    Truyền hình, truyền thanh, báo chí, tạp chí chuyên ngành, ….tờ rơi tờ gấp thì

    công ty chọn tạp chí chuyên ngành, tờ gấp để quảng cáo sản phẩm chi phí thấp nhưng hiệu quả khá cao.

    1. Marketing trực tiếp

    Công ty chưa áp dụng marketing trực tiếp sủ dụng điện thoại, fax, thư gửi qua bưu điện… để gửi các bản cháo giá, chào hàng tới thi trường mục tiêu.

    1. Kích thích tiêu thụ

    Công ty dang áp dụng chương trình kích thích tiêu thụ vào đợt đầu năm và cuối năm bàng hình thú khuyến mại giảm giá tuy nhiên hiệu quả thực sự đem lại là chưa cao so với các đối thủ cạnh tranh cty cần có thêm nhiều phương pháp khác.

    1. Bán hàng trực tiếp

    Công cụ xúc tiến quan trọng mà công ty đang áp dụng đào tạo nhân viên bán hàng những kỹ năng để: Tìm kiếm khách hàng mới, truyền đạt khéo léo sản phẩm và dịch vụ của công ty, thực hiện viêc bán hàng, cung cấp dịch vụ và cố vấn về kỹ thuật, giao hàng của sản phẩm, thu thập thông tin từ thị trường và đánh giá tính chất khách hàng. Tuy nhiên lực lượng nhân viên bán hàng cua công ty hiên nay chưa năng động do tuổi khá cao.

    5.Quan hệ công chúng

    Công ty thường xuyên tham gia những đợt hội chợ, triển lãm cấp quốc tế, khu vực, quốc gia và cả địa phương.

    40

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Nhìn chưng các công ty kinh doanh muốn kinh doanh có hiệu quả thì họ phải có được một chiến lược Marketing cũng như kế hoạch Marketing cụ thể. Họ thường đầu tư vào Marketing từ 15 – 25% doanh thu của Công ty, nhưng ở vinawind vấn đề này chưa được quan tâm chính đáng thể hiện ở chỗ Công ty chưa có phòng ban Marketing và các nhân viên Marketing có trình độ, vì thế VINAWIND mới chỉ đầu tư từ 1 – 2% doanh thu của Công ty vào chi phí

    4. Chương trình thực hiện chiến lược marketing của VINAWIND

    Bước tiếp theo trong quy trình kế hoạch của Công ty sau khi đã xây dựng được chiến lược marketing là chương trình thực hiện chiến lược đó như thế nào.

    VINAWIND là một doanh nghiệp Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, đang trong giai đoạn hệ thống định bổ ngân sách của quá trình xây dựng kế hoạch nên các nhân viên chỉ tận tình làm việc khi có sức ép từ trên xuống. Bên cạnh đó Công ty lại chưa có phòng ban Marketing, người phụ trách Marketing của Công ty cũng như các nhân viên có trình độ năng lực Marketing, vì vậy khi đã xây dựng được chiến lược marketing, phòng tiêu thụ sản phẩm phải trực tiếp thực hiện những vấn đề cốt lõi của chiến lược, phải tự liên hệ với khách hàng, tìm kiếm và ký kết hợp đồng với các đối tác.

    5. Ngân sách marketing của VINAWIND

    Muốn thực hiện được các chiến lược marketing nhằm đáp ứng mục tiêu mà Công ty đã đề ra thì ngân sách phải được ban giám đốc Công ty phê duyệt.

    Trong khi đó ở VINAWIND thì các mục tiêu, chiến lược marketing cũng như chương trình thực hiện hầu hết là do ban giám đốc phác thảo ra và xây dựng lên vì thế khi đã xác định được thực hiện một chiến lược marketing nào đó thì ban giám đốc cũng đã đưa ra các dự báo về doanh số bán, doanh thu với mức giá dự kiến, các chi phí kinh doanh. Từ đó ban giám đốc xây dựng được ngân sách

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    marketing, nó giúp cho ban giám đốc Công ty dự kiến được lãi hoặc lỗ như thế nào khi tiến hành thực hiện chiến lượcmarketing này.

    Nếu dự kiến có lãi thì ngân sách này sẽ được ban giám đốc phê duyệt và nó chính là cơ sở cho các hoạt động kinh doanh của Công ty. Trong quá trình thực hiện chiến lược nếu có khâu nào sai sót thì ban giám đốc sẽ phải đứng ra sửa đổi để hoàn thành được mục tiêu mà Công ty đã đề ra bằng các hoạt động kiểm soát của Công ty.

    6. Các hoạt động kiểm soát tiến trình thực thi kế hoạch marketing của VINAWIND

    Thông thường ở các tập đoàn cũng như các Công ty lớn khi quá trình kế hoạch hoá Marketing của họ đã hoàn thiện thì bao giờ khâu cuối cùng của quá trình kế hoạch hoá đó cũng là kiểm tra, kiểm soát các nỗ lực Marketing mà kế hoạch đã lập ra. Chính phần kiểm soát này sẽ giúp cho các nhà quản trị theo dõi được tiến trình của kê hoạch, xem xét trong từng tháng, từng quý hay từng giai đoạn mục tiêu và mục đích của Công ty đã đề ra có đạt được yêu cầu mà kế hoạch đã nêu ra hay không, từ đó có những biện pháp điều chỉnh cho phù hợp, VINAWIND cũng theo dõi kiểm soát trong từng tháng nhưng vẫn cơ bản dựa vào số liệu thống kê lịch sử.

    7. Quy trình tổng quan hoạt động  xây dựng kế hoạch marketing

    VINAWIND

    Bối cảnh   Mục tiêu kinh doanh
         

    Chiến lược kinh doanh

    42

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Chương trình thực hiện Chiến lược kinh doanh

    Ngân sách của Công ty

    Các hoạt động kiểm soát tiến trình thực thi kế hoạch

    H6: Mô hình xây dựng kế hoạch marketing của VINAWIND

    IV. NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI CỦA VINAWIND

    Qua phần phân tích kế hoạch hoá của VINAWIND chúng ta dễ nhận thấy những thuận lợi và khó khăn còn vướng mắc của Công ty.

    1. Những thuận lợi mà VINAWIND có :

    • Được sự chỉ đạo thường xuyên và tạo điều kiện thuận lợi từ lãnh đạo thành phố Hà Nội.
    • Đã có 40 năm kinh nghiệm là công tác sản xuất kinh doanh quạt điện
    • Ban giám đốc Công ty nhạy bén, quản lý tốt.
    • Phát huy tốt các bạn hàng truyền thống.
    • Áp dụng cơ chế khoán doanh thu đem lại hiệu quả cao trong công việc.
    • Mặt hàng quạt điện của công ty có chỗ đứng trong lòng khách hàng.
    • Tận dụng được uy tín kinh doanh và lợi thế của một doanh nghiệm Nhà nước (vay vốn ngân hàng).

    2.                 Những khó khăn còn tồn tại của VINAWIND

    Thị trường quạt điện ở nước ta hiện nay là khá lớn, vì vậy sản phẩm quạt Điện cơ Thống Nhất có rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Có thể chia ra làm hai loại chính như sau:

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Đối thủ cạnh tranh trong nước: Điện cơ 91, quạt Hoa Sen của công ty cơ khí chính xác số 1, quạt SUNLUX của công ty TNHH điện- điện tử Hồng Hải, quạt Phong lan, quạt hoa Phượng,……. ở miền bắc.quạt ASIA của công ty

    TNHH ASIA, Công ty quạt điện Đồng Nai và một số doanh nghiệp sản xuất quạt khác ở miền Nam. Ngoài ra, còn có công ty quạt điện liên doanh với Đài Loan sản phẩm là quạt Chinghai ở 562 phố Minh Khai- Hà Nội.

    Đối thủ cạnh tranh nước ngoài: Quạt điện của Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc.

    Hạn chế nữa của công ty là phải nhập ngoại hoàn toàn nguyên vật liệu nên khi thị trường vật tư thế giới có sự biến động đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động của công ty.

    Hàng hoá của Công ty đã phần nào thích ứng với thị trường nhưng có thể thấy được việc nghiên cứu, quyết định sản phầm chưa mang tính chiến lược.

    Công việc nghiên cứu thị trường làm chưa đồng bộ. Việc dựa vào kế hoạch của Nhà nước làm cho Công ty không phát huy được nhưng lợi thế và nỗ lực.

    Công việc tái đào tạo và tuyển mộ nhân sự chưa được làm thường xuyên thể hiện ở chỗ Công ty đang cần những cán bộ giỏi vi tính, ngoại ngữ chuyên ngành cao để có thể tham gia hội thảo ở thị trường trong và ngoài nước một cách thuận tiện.

    Công ty chưa đầu tư vào hệ thống kế hoạch hoá : về thời gian, nguồn lực và phân bổ công việc.

    Hoạt động định vị thị trường mục tiêu không rõ ràng, chưa thể hiện được các chiến lược và kế hoạch chung cho sản phẩm.

    CHƯƠNG III

    XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING Ở CÔNG TY TNHHNN MỘT THÀNH VIÊN ĐIỆN CƠ THỐNG NHẤT (VINAWIND)

     

    44

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    I.                   NHỮNG DỰ BÁO BIẾN ĐỘNG VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ THỊ TRƯỜNG CỦA VINAWIND

     

    1.                 Dự báo môi trường

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh việc dự báo về môi trường kinh tế là hết sức cần thiết. Những nhân tố về kinh tế ảnh hưởng tới mức tiêu thụ hàng hoá, tác động của chúng về tiềm năng thị trường ở mọi thời điểm với định hướng hiện đại hoá thị trường.

    1.1     Môi trường kinh tế

    Sự khác nhau về kinh tế , thu nhập của người dân giữa các vùng miền là khá lớn. Một sản phẩm có thể được chấp nhận ở thị trường này nhưng lại không được chấp nhận ở thị trường kia. Vấn đề này hết sức quan trọng đối với việc thiết kê sản xuất và định giá cho một sản phẩm.

    Do vậy dự báo cơ hội thị trường và tìm kiếm thông tin về biến động cung cầu trên thị trường phụ thuộc vào sự biến động của nền kinh tế đất nứơc ở mỗi giai đoạn cụ thể.

    Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn phát triển, quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước diễn ra khẩn trương.Trong khi một số nền kinh tế lớn của thế giới đang có dấu hiệu chậm lại thì Việt Nam vẫn ổn định và tăng trưởng, nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt ở mức cao 8.2%. Tuy nhiên thế không có nghĩa là chúng ta đứng vững trước sóng gió.Trong năm vừa qua một số ngành đã có dấu hiệu giảm sút: Xuất khẩu giảm, thật nghiẹp gia tăng, lãi xuất ngân hàng cao, giá cả tang vọt ảnh hướng lớn đến đời sống của nhân dân và các doanh nghiệp.

    Theo mục tiêu chính sách của Nhà nước đề ra VINAWIND đa đưa ra định hướng phát triển trong năm để hào cùng công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.

    Những định hướng cụ thể là:

    • Đẩy mạnh tăng trưởng hoạt động sản xuất kinh doanh phấn đấu mức cao nhất thực hiện các chỉ tiêu trong chiến lựơc kinh doanh.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Nâng cao một bước chất lượng tăng trưởng.
    • Hoàn thiện việc tuyển nhân sự cũng như tái đào tạo CBCVN.
    • Năm 2006 cần phấn đáu đạt một số chỉ tiêu chủ yếu sau: Tổng thu khoảng 119 tỷ đồng, tức là tăng 20% so với năm trước, lợi nhuận đạt 2.976 tỷ đồng tăng khoảng 11.08 %, nộp ngân sách 4.681 tỷ đồng tăng 14%, thu nhập bình quân người/tháng 2 triệu đồng tăng 20%….. Tạo đà cho những năm tiếp theo phấn đấu đến năm 2010 trở thành một công ty lớn mạnh trên thị trường quốc tế.

    1.2    Môi trường chính trị – pháp luật

    Với bất kể đất nứớc nào, chính phủ luôn có xu hướng khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.

    Chính phủ có nhiều chính sách bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước như:

    Duy trì, đẩy mạnh thực hiện chỉ thị 853/TTG của Thủ tướng chính phủ về chống buôn lậu và gian lận thương mại trong đó có dán tem các loại quạt ngoại. Tuy nhiên sự thay đổi nhanh chóng các chính sách về thuế quan hay những biện pháp quản lý thương mại khác khi gia nhập thị trường chung asean -AFTA đã ảnh hưởng không nhỏ thậm chí còn gây thiệt hại đối với một số doanh nghiệp trong nước trong đó có VINAWIND vì phải cạnh trang hàng nhập ngoại giá rẻ.

    2.Dự báo về thị trường quạt điện

    Dự báo thị trường là tiền đề cơ sở cho việc hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh. Mặt hàng kinh doanh phải thoả mãn được mong muốn của người tiêu dùng. Trên thực tế cho thấy rằng ở những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh làm ăn có hiệu quả là dựa trên các dự báo về thị trường, tức là dự báo về dung lượng thị trường, nhu cầu tiềm năng và các yếu tố tác động đến thị trường một cách chính xác.

    46

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Dự báo thị trường là dự báo triển vọng mua hàng của khách hàng ,khối lượng hàng hoá tiêu thụ của doanh nghiệp trong thời gian tới. Thông qua việc dự báo này, VINAWIND có thể giải đáp một số vấn đề :

    • Đánh giá được lợi ích, thiệt hại khi thâm nhập thị trường là bao nhiêu, tức là quyết định theo đuổi chiến lược thâmnhập thị trường mà VINAWIND đã đề ra thì có nghĩa là VINAWIND đã dự kiến được rằng thị trường hiện nay công ty đang kinh doanh vẫn còn nhiều tiềm năng mà công ty chưa tận dụng và khai thác hết. Chính vì thế mà VINAWIND đã mạnh dạn đưa ra dự kiến tăng tổng doanh thu trong năm 2006 tăng lên đến 20%.

    -Phân tích và điều hoà nguồn cung cầu hợp lý trong giai đoạn hiện nay thị trường quạt điện vẫn còn tiềm năng công ty xác định được nhu cầu của thị trường nên đã tập trung nghiên cứu thâm nhập thị trường hiện tại và xâm nhập vào thị trường mới.

    II.XÂY DỰNG MỤC TIÊU MARKETING CỦA VINAWIND TRONG NHỮNG NĂM TỚI

    1.Xác định mục tiêu marrketing của công ty

    Trong những năm tới, Công ty tiếp tục củng cố hoàn thiện tổ chức mạng lưới kinh doanh và phương hướng kinh doanh hợp lý, tạo ra sự phối hợp thống nhất trong toàn công ty , tạo ra sức mạnh tổng hợp trong toàn công ty , đủ sức đứng vững và chiếm lĩnh thị phần.

    VINAWIND sẽ cố gắng trở thành một công ty kinh doanh lớn, làm chủ được mặt hàng chiến lược.

    2.Phương hướng kinh doanh của VINAWIND

    2.1.Các chỉ tiêu phấn đấu

    -Tăng doanh số

    -Tăng lợi nhuận

    -Tăng thu nhập bình quân /nhân viên

    -Hướng tới xuất khẩu

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    2.2.Các nhiệm vụ cụ thể của VINAWIND

    a.Về kinh doanh:

    -Thực hiện tốt định hướng của công ty về công tác sản xuất kinh doanh quạt điện và thiết bị điện dân dụng ổn định lâu dài, tăng nhanh doanh số.

    -Tiếp tục phát triển và hoàn thiện mạng lưới kinh doanh, phân công kết hợp công việc một cách hợp lý nhất, tạo sức cạnh trạnh chiếm lĩnh thị trường cao nhất, kinh doanh có lãi.

    -Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, không để sản phẩm lỗi, hỏng ra thị trường nhằm nâng cao tín nhiệm của công ty đối với khách hàng.

    -Thực hiện đầy đủ các quy chế về quản lý tài chính của Nhà nước, phấn đấu bảo toàn và tăng trưởng nguồn vốn.

    b.Về tổ chức

    • Hoàn thiện phương án kinh doanh , tổ chức quản lý, điều hành kinh

    doanh.

    • Nâng cao trình độ của CBCNV về nghiệp vụ chuyên môn.

    III.XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING CỦA VINAWIND

    1.Định hướng giai đoạn xây dựng kế hoạch marketing ở VINAWIND

    Trên thực tế, các Công ty kinh doanh đã đứng vững trên thị trường, họ thường thay đổi hay đúng ra là quá trình kế hoạch marketing của họ đã phát triển sang giai đoạn kế hoạch hoá dài hạn- đây chính là công cụ nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ở Công ty của họ. Muốn chuyển sang được giai đoạn này VINAWIND phải hoàn chỉnh hệ thống kế hoạch của mình theo hướng nhằm cải thiện tính hữu hiệu của kế hoạch. Ban giám đốc của VINAWIND phải thực sự nhận thấy rằng các kế hoạch hàng năm chỉ có ý nghĩa khi nó nằm trong kế hoạch dài hạn. Vì trên thực tế, kế hoạch dài hạn phải được thiết lập trướcvà kế hoạch hàng năm chính là kế hoạch chi tiết của năm đầu tiên trong kế hoạch dài hạn.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Tuy nhiên, kế hoạch dài hạn hàng năm vẫn cần phải xem xét lại cho môi trường luôn luôn thay đổi từ đó đòi hỏi VINAWIND phải xem xét lại các giả thiết trong kế hoạch dài hạn của mình.

    Khi một công ty nào đó bắt đầu tiến hành kế hoạch dài hạn, thì nó có hướng giả định rằng tương lai sẽ là sự mở rộng của hiện tại và các chiến lược, hình thái tổ chức, các quy trình trong quá khứ vẫn còn phù hợp. Nhưng do môi trường đầy rẫy những biến động, thay đổi không có gì là chắc chắn do đó VINAWIND cần phải có cách suy nghĩ mang tính chiến lược bao quát hơn.

    -Phương hướng thực hiện: Để xây dựng hệ thống kế hoạch hoàn thiện thì ban giám đốc VINAWIND phải ý thức được kế hoạch không phải như là một điều vặt vãnh đáp ứng yêu cầu của thành phố mà kế hoạch marketing chính là một công cụ hữu hiệu góp phần đắc lực trong phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty.

    Thông thường ở các Công ty nước ngoài có đủ điều kiện họ sẽ thuê một giám đốc kế hoạch marketing – người sẽ chịu trách nhiệm về việc thiết kế hệ thống cuối cùng. Nếu không, họ sẽ thuê một nhà tư vấn bên ngoài có nhiều kinh nghiệm trongthiết kế các hệ thống kế hoạch quản lý cho các Công ty và các tổ chức. Nhà tư vấn bên ngoài này có thể cung cấp các triển vọng có giá trị về kế hoạch cũng như các quy trình và hình thái đặc biệt. Sau đó dựa vào kinh nghiệm và hệ thống kế hoạch mà nhà tư vấn đưa ra ban giám đốc công ty có thể tự thiết kế lấy hệ thống cuối cùng. Khi đã thiết kế được hệ thống cuối cùng này thì ban giám đốc sẽ phân bổ công việc cho cấp dưới một cách hợp lý để hoàn thành một cách tốt nhất kế hoạch đã đề ra.

    Nhưng hiện nay do nước ta mới chỉ là một nước đang phát triển, chưa có đủ điều kiện thuê giám đốc kế hoạch hoá hay nhà tư vấn, vì thế VINAWIND sẽ phải đào tạo và bầu ra một giám đốc kế hoạch hoá cho công ty -đây sẽ là người thiết kế hệ thống kế hoạch cuối cùng cho công ty sau đó giám sát việc thực hiện kế hoạch và chịu trách nhiệm về hệ thống kế hoạch mà họ đưa ra.

    49

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Nhiệm vụ chủ yếu của giám đốc kế hoạch hoá VINAWIND là phát triển một lịch trình cho quá trình kế hoạch marketing của công ty . Các bước thông thường trong lịch trình thường là:

    1.Phát triển một tập hợp các thực tại và xu thế môi trường nhằm cung cấp cho các giám đốc để chuẩn bị cho hoạt động kế hoạch hoá của họ.

    2.Làm việc với ban lãnh đạo của thành phố nhằm phát triển một tập hợp các mục tiêu chung của công ty cho năm tới và chuyển nó cho giám đốc của VINAWIND để chuẩn bị cho hoạt động kế hoạch hoá của họ.

    3.Làm việc với các trưởng phòng trong VINAWIND để hoàn thành các kế hoạch marketing của họ vào một thời điểm được ấn định.

    4.Làm việc với lãnh đạo Thành phố nhằm xem xét, phê chuẩn hoặc biến đổi các kế hoạch khác nhau.

    5.Phát triển một kế hoạch chính thức đối với VINAWIND trong giai đoạn sắp tới.

    2.Phương pháp xây dụng kế hoạch marketing của VINAWIND

    Chúng ta đã biết rằng phương pháp xây dựng kế hoạch ở Công ty ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống kế hoạch hoá của toàn công ty . Nếu phương pháp kế hoạch hoá tốt, sáng tạo của công nhân viên cũng như sự nhạy bén, quản lý tốt của ban giám đốc thì hệ thống kế hoạch hoá của công ty sẽ tiến triển tốt đẹp. Đây là một điều kiện quan trọng đóng góp vào sự thành công trong kinh doanh của công ty và ngược lại.

    Hiện nay, VINAWIND cũng giống như đa số các công ty quốc doanh khác là sử dụng phương pháp xây dựng kế hoạch từ trên xuống. Trong quá trình VINAWIND áp dụng phương pháp kế hoạch từ trên xuống naỳ còn có những nhược điểm như: không tận dụng được sáng tạo, năng động của nhân viên trong công ty, chính vì thế tạo cho nhân viên sự ỷ lại và họ chỉ làm việc một cách miễn cưỡng cho hoàn thành nhiệm vụ của mình khi được ban giám đốc giao cho. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh của VINAWIND.

    50

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Trên thực tế, các công ty kinh doanh đã thành công trên thị trườngchúng ta dễ nhận thấy họ có một đội ngũ nhân viên năng động, nhiệt tình làm việc tận tình vì công ty, bên cạnh đó ban giám đốc công ty có trình độ quản lý tốt, có chí tiến thủ: xem xét và lắng nghe mọi ý kiến đóng góp của nhân viên sau đó họ dự tính và đánh giá các chiến lược thế vị có khả năng dẫn công ty tới trạng thái thịnh vượng càng tốt. Vì vậy để có thể cải thiện được tình hình và nâng cao hiệu quả làm việc VINAWIND nên sử dụng phương pháp “ xây dựng kế hoạch mục đích từ trên xuống và kế hoạch từ dưới lên”.

    Muốn áp dụng một cách hiệu quả nhất phươngpháp này sau khi đã đưa ra những mục đích, mục tiêu và chủ trương của mình ban giám đốc VINAWIND sẽ phải phân phát tài liệu hoặc phổ biến đến từng phòng ban trong công ty để mọi CBCNV trong công ty đều nắm bắt được chủ trương của ban giám đốc. Sau đó tổ chức họp toàn công ty để thu thập ý kiến đóng góp xây dựng, phát huy tính sáng tạo cũng như giải thích những thắc mắc của CBCNV. Cuối cùng ban giám đốc VINAWIND sẽ sàng lọc, thông suốt tư tưởng của mọi người trong công ty và đi đến quyết định cuối cùng một cách hợp lý nhất.

    Đây là phương pháp kết hợp cả hai phương pháp kế hoạch từ trên xuống và kế hoạch từ dưới lên. Phương pháp này sẽ giúp cho VINAWIND tận dụng được hết các ưu điểm của hai phương pháp trên cộng lại từ đó triệt tiêu được những nhược điểm khi thực hiện hai phương pháp trên một cách riêng lẻ.

    Phương pháp này sẽ giúp cho ban giám đốc VINAWIND có một tầm nhìn rộng về các cơ hội, các yêu cầu của công ty và đề ra các mục tiêu cho VINAWIND trong năm tới. Trong khi đó các phòng ban cũng như nhân viên trong VINAWIND đều phải chịu trách nhiệm chuẩn bị các kế hoạch đối với việc phát triển các kế hoạch của công ty đã đề ra nhằm mục đích hỗ trợ công ty đạt được những mục tiêu kinh doanh của mình. Những kế hoạch này khi đã được ban giám đốc VINAWIND xem xét và phê chuẩn thì nó sẽ trở thành kế hoạch hàng năm chính thức của công ty.

    51

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    3.Quy trình xây dựng kế hoạch marketing của VINAWIND

    3.1Quy trình tổng quan hoạt động xây dựng kế hoạch marketing của

    VINAWIND

    Hệ thống xây dựng kế hoạch luôn là một chu trình tổng thể khép kín, có như vậy thì hệ thống kế hoạch mới phát huy được tối đa những lợi ích của nó để đóng góp vào sự phát triển sản xuất kinh doanh của công ty.

    Nhưng trên thực tế ở VINAWIND lại đang sử dụng một hệ thống xây dựng kế hoạch có chu trình không khép kín và tất nhiên khi chu trình kế hoạch mà công ty đang sử dụng lại không khép kín thì hệ thống kế hoạch đó hoàn toàn không phát huy được hết khả năng và ưu thế của kế hoạch marketing.

    VINAWIND xem xét, nghiên cứu chu trình kế hoạch của các công ty đã thành danh tên thị trường để từ đó xác định quy trình xây dựng kế hoạch marketing của công ty một cách hợp lý nhất, đạt hiệu quả cao nhất.

    52

                Xây dựng kế hoạch      
                Marketing I+II+III Nguyễn Bá Thắng – CT2
    Luận văn tốt nghiệp    
       
          Dự báo          
                       
                    Mục tiêu
                 
                Marketing
      Doanh nghiệp    

    Cụ thể VINAWIND thực hiện theo các chu trình sau:

      Môi trường và     Phân tích   Chiến lược            
        thị trường     và đánh giá   và mục tiêu            
              Chiến lược  
                I   II        
             
        H7: Mô hình tóm tắt quy trình xây dựng kế hoạch Marketing   marketing  
        đề xuất cho  
        Đầu vào     VINAWIND                
                           
                               
                             
                Hành IV   III            
                  Khả năng            
                động       Ngân sách  
                             
        Sửa đổi                    
                                   
                                   
                               
                                     
                          Kế hoạch hành  
        Kiểm tra                
                            động  
                             
                                 

    Thực thi

    3.2.Xây dựng quáThtrìnhựchiệnnghiênkếhoạch cIVứ u và phân tích tình thế của VINAWIND

    a.Các dự báo về môi trường và thị trường kinh doanh của VINAWIND Giả sử nếu không có những biến động lớn về môi trường kinh doanh (các

    cuộc khủng hoảng kinh tế, sự thay đổi bổ sung luật pháp…)hay chiến lược kinh doanh dự kiến của công ty thì công ty có thể tiến hành nghiên cứu thị trường theo ba bước: Lập kế hoạch, thu thập thông tin và xử lý thông tin. Nội dung của việc nghiên cứu thị trường là nghiên cứu khả năng xâm nhập thị trường và tiến tới mở rộng thị trường của công ty.

    Mục đích của việc nghiên cưú thị trường là xác định khả năng tiêu thụ hay bán một loại sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm của công ty nếu có những biến động lớn về môi trường hay thị trường so với những dự báo mục tiêu của công ty thì VINAWIND phải xem xét lại, thậm chí có thể phải làm lại. Nếu các kết quả dự báo của VINAWIND không phù hợp tới thành phố thì VINAWIND phải xem xét áp dụng những chiến lược mới nhằm mục đích tìm ra chiến lược có thể đem lại kết quả lao động trong tương lai cao hơn.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                                 Nguyễn Bá Thắng – CT2

    b.Các thế mạnh và điểm yếu của VINAWIND *Về nhân sự:

    Hiện nay ở VINAWIND không có phòng ban Marketing cũng không có các nhân viên có trình độ Marketing. Vì vậy một số nhân viên ở phòng kinh doanh , phòng xuất nhập khẩu phải gánh vác cả công việc này khi cần thiết, nhưng do không có trình độ chuyên môn Marketing mà chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân nên hoạt động Marketing ở VINAWIND hầu như không đem lại mấy hiệu quả. Đồng thời hiện nay công ty lại đang áp dụng phương pháp kế hoạch hóa từ trên xuống nên không tận dụng tối đa sự sáng tạo và tận tuỵ vì công việc của các nhân viên.

    Qua một số phân tích trên chúng ta thấy rõ công ty cần phải tuyển thêm nhân viên Marketing hoặc phải đào tạo cán bộ cũ để nâng cao kiến thức, kỹ năng Marketing cho họ đồng thời kết hợp thay đổi phương pháp kế hoạch hoá để phát huy được sự sáng tạo và sự tận tuỵ của CBCNV trong công ty.

    *Về tài chính:

    Qua bảng báo cáo tài chính hàng năm của công ty , chúng ta thấy số vốn của VINAWIND cũng đã tăng dần lên nhưng còn rất chậm. Một phần là do vốn lưu động của công ty còn thấp nhưng phần lớn đã bị ảnh hưởng sự trả chậm của khách hàng diễn ra khá phổ biến dẫn đến tình trạng không đảm bảo được tính linh hoạt và chủ động trong kinh doanh. Vấn đề này công ty có thể dùng biện pháp sau để khắc phục: – ưu đãi những khác hàng mua với khối lượng lớn và trả tiền ngay, cụ thể là giảm 1% tổng số tiền hàng hoặc không tính chi phí vận chuyển và ngược lại. Điều này sẽ giúp VINAWIND khuyến khích được khách hàng của mình thanh toán ngay khi giaohàng, tạo điều kiện cho Công ty quay vòng vốn nhanh, đảm bảo tính linh hoạt và sự chủ động trong kinh doanh

    3.3. Xây dựng quá trình hình thành và quyết định mặt hàng kinh doanh quạt điện của VINAWIND

     

    54

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có quan hệ chặt chẽ với nhau bởi chúng thực hiện một chức năng tương tự, được bán cho cùng một nhóm người tiêu dùng, qua cùng một kênh như nhau tạo nên một khung giá cụ thể. Còn danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những loại sản phẩm, mặt hàng mà một người bán cụ thể đưa ra để bán cho người mua.

    Để có thể đạt được giá trị sản lượng, sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận cao, VINAWIND luôn có những hoạch định về chiến lược sản phẩm của công ty. Việc hoạch định có thể dựa vào danh mục sản phẩm với chiều dài, chiều rộng, chiều sâu, mật độ của sản phẩm. Các chủng loại khác nhau hợp thành chủng loại sản phẩm của công ty được định kỳ đánh giá lại về khả năng sinh lời và tiềm năng tăng trưởng. Những sản phẩm tốt được công ty tiếp tục sản xuất và hỗ trợ, những sản phẩm kém bị cắt bỏ. Ngoài ra việc hoạch định chiến lược sản phẩm của công ty phụ thuộc vào việc nghiên cứu tình hình tiêu thụ và phần đóng góp lợi nhuận của từng loại quạt điện cũng như vị trí tương quan đối với các loại quạt của mình so với các đối thủ cạnh tranh.

    -VINAWIND nên nâng cao chất lượng sản phẩm phải bổ xung thêm những tính chất mới cho sản phẩm và cải tiến kiểu dáng nhiều hơn nữa.

    -VINAWIND nên bổ xung những mẫu mã mới và những sản phẩm “che sườn”.

    -VINAWIND nên cải tiến chất lương nhằm nâng cao tính năng của sản phẩm như tốc độ quay, lưu lượng gió, thời gian sử dụng cho quạt.

    -Cải tiến tính chất nhằm bổ xung những tính chất mới làm tăng công dụng thời gian sử dụng, độ an toàn…

    -Cải tiến các tính chất có một số ưu điểm vì các tính chất mới có thể sẽ tạo hình ảnh và tinh thần mới cho VINAWIND.

    -Cải tiến kiểu dáng nhằm làm tăng tính hấp dẫn về thẩm mỹ của sản phẩm để có thể cạnh tranh được với quạt nhập ngoại

    55

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    -Cải biến kiểu dáng làm tăng tính hấp dẫn về thẩm mỹ hạ giá thành sản phẩm để có thể cạnh tranh được với quạt nhập khẩu từ Trung Quốc.

    -Cải tiến kiểu dáng nhằm làm tăng tính hấp dẫn về thẩm mỹ của sản phẩm để có thể cạnh tranh được với quạt nhập ngoại

    -Cải biến kiểu dáng làm tăng tính hấp dẫn về thẩm mỹ hạ giá thành sản phẩm để có thể cạnh tranh được với quạt nhập khẩu từ Trung Quốc.

    3.4 Xây dựng và quyết định giá đối với mặt hàng kinh doanh của VINAWIND.

    Trước tiên công ty phải xem xét mình muốn đạt mục tiêu gì. Mục tiêu của công ty càng rõ ràng thì càng dễ định.

    Có thể kiểm tra 06 mục định giá:

    • Đảm bảo sống sót
    • Tối đa hoá lợi nhuận trước mắt
    • Tăng tối đa mức tiêu thụ.
    • Tăng tối đa việc hớt phần ngon trên thị trường
    • Giành vị trí dẫn đầu về chất lượng sản phẩm.

    Trong 6 mục tiêu trên WINNAWIND có thể theo đuổi 1 hoặc 2 mục tiêu định giá là tối đa hoá liợi nhuận trước mắt và tăng tối đa mức tiêu thụ.

    Tiếp đến WINNAWIND cần phải xem xét, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng từ phía thị trường, môi trường vĩ mô và phía Công ty:

    • Từ phía thị trường : mức độ cạnh tranh, nhu cầu, tiềm năng thị trường, dung lượng thị trường… để làm được điều này WINNAWIND phait gấp rút tuyển mộ nhân sự hoặc tái đào tạo, nâng cao trình độ Marketing cùng một số cán bộ, nhân viên. Sau đó lập ra phòng Marketing, cử người chuyên trách về vấn đề này để giải quyết các vấn đề có liên quan với Marketing của WINNAWIND.

     

    56

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Từ phía môi trường vĩ mô : Luật pháp và chính sách chế độ quản lý của Nhà nước. Yếu tố này là rất quan trọng, nó liên quan trực tiếp đến việc hoạt động kinh doanh của WINNAWIND có lợi hay không? Vì thế chính ban Giám đốc của WINNAWIND sẽ phải trực tiếp theo doĩo những biến đỏi này thông qua các cuộc họp từ Tổng Công ty, báo chí, tuyên truyền hình… để giúp cho việc kinh doanh của Công ty luôn được thuận lợi theo đúng Pháp luật cũng như tận dụng được hết sự bảo hộ của Nhà nước.

     

    • Từ phía Công ty : Chi phí sản xuất, chất lượng, uy tín sản phẩm, sự kết hợp giữa chính sách giá cả và các chính sách khác của Công ty.

    Sau khi đã biết được giá thành, của đối thủ cạnh tranh và đánh giá của khác hàng, WINNAWIND có thể lựa chọn mức giá nào đó thông qua cac kỹ thuật định giá :

    • Định giá cộng thêm vào chi phí.
    • Định giá theo lợi nhuận mục tiêu.
    • Định gía theo mức giá hiện hành.

    Hiện nay WINNAWIND áp dụng kỹ thuật định giá cộng thêm vào chi phí, những kỹ thuật định giá này chỉ có lợi khi áp dụng với những loại mặt hàng luôn ổn định, một môi trường và thị trường luôn ổn định cũng như các nguồn cung luôn phải ổn định. Do mũi nhọn của WINNAWIND là kinh doanh xuất nhập khẩu và hàng hoá xuất nhập khẩu lại luôn biến đổi theo công nghệ đòng thời môi trường kinh doanh cũng không ngừng thay đổi liên tục từ trạng thái này sang trạng thái khác. Vì vậy WINNAWIND nên áp dụng kỹ thuật định giá theo mức giá hiện hành tức là : áp dụng giá bán hàng với giá bán của các đối thủ cạnh tranh. Với mức giá này WINNAWIND sẽ tận dụng được lợi thế của mình (có mối quan hệ tốt với nền tảng khách hàng truyền thống) do vậy WINNAWIND giữ vững được thị phần của mình trước những đối thủ cạnh tranh và đy chính là một điều kiện tốt cho việc thực hiện chiến lược của WINNAWIND.

    57

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Xác định mục tiêu định giá

    Xác định nhân tố ảnh hưởng

    Nhâ tố về phía   Nhâm tố thuộc   Nhân tố về phía
      môi trường  
    thị trường     Công ty
      vĩ mô  
           
             

    Lựa chọn chính sách định giá

    Xác định giá

    H8: Các giai đoạn trong qua trình xác định giá sản phẩm

    3.5. Xây dựng quyết định phân phối của WINNAWIND

    Mục tiêu phân phối có thể là mức phục vụ khách hàng trọng điểm và bao phủ thị trường mục tiêu đến đâu và các thành viên kênh phải hoạt động như thế nào. Những mục tiêu của kệnh còn thay đổi theo đặc điểm của từng sản phẩm.

    58

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Sản phẩm của Công ty là quạt điện, mang tính mùa vụ cho nên cho các đại lý bán trực tiếp vớiư khách hàng.

    Lựa chọn các loại kệnh : WINNAWIND có thể sử dụng 2 loại kênh trực tiếp và gián tiếp hoặc kết hợp cả 2 loại kênh này.

    Đối với loại kệnh trực tiếp, ưu thế rõ rệt của nó là đẩy nhanh tốc độ lưu thông, đảm bảo sự giao tiếp chặt chẽ của Công ty với khác hàng. Nhưng đối với từng loại hàng nó cơ ưu nhược điểm khác nhau. Loại kênh này có thể sử dụng với đại diện bán hàng của Công ty để bán trực tiếp cho khác hàng.

    Hiện nay WINNAWIND đang áp dụng kỹ thuật định giá cộng thêm vào chi phí, những kỹ thuật định giá này chỉ có lợi khi áp dụng với những loại mặt hàng luôn ổn định, một môi trường và thị trường luôn ổn định cũng như các nguồn cung luôn phải ổn định. Do mũi nhọn của WINNAWIND là kinh doanh xuất nhạp khẩu và hàng hoá xuất nhập khẩu lại luôn biến đổi theo công nghệ đồng thời môi trường kinh doanh cúng không ngừng thay đỏi liên tục từ trạng thái này sang trạng thái khác. Vì vậyvna nên áp dụng kỹ thuật định giá theo mức giá hiện hành tức là : áp dụng giá bán bằng với giá bán của các đối thủ cạnh tranh. Với mức giá này WINNAWIND sẽ tận dụng được lợi thế của mình (có mối quan hệ tốt với nền tảng khách hàng truyền thống) do vậy WINNAWIND sẽ giữ vững được thị phần của mình trước những đổi thủ cạnh tranh và đây chính là một điều kiện tốt cho việc thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường của WINNAWIND.

    • Đối với loại kệnh gián tiếp, tuỳ theo mục tiêu của Công ty mà lựa chọn loại kênh một mức hay nhiều mức và lựa chọn số thành viên theo chiều rộng của kênh.
    • Tổ nhất WINNAWIND nên sử dụng cả 2 kệnh phân phối trên vì WINNAWIND là một Công ty sản xuấtkinh doanh rất nhiều loại quạt điện, khi sử dụng cả 2 loại kênh này thì sẽ tận dụng triệt để được ưu điểm cuat chúng tạo nên những thuận lợi tốt cho Công ty.

    59

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    * Quản trị kênh :

    Sau khi đã lựa chọn được một phương án kênh, WINNAWIND phải có quyết định vận hành, quản trị kệnh đã chọn. cộng việc bao gồm :

    • Tuyển chọn thành viên kênh: Mỗi Công ty thường có những khả năng khác nhau trong việc thu hút các thành viên kênh có chất lượng cho kênh dự định. Trong việc lựa chọn thành viên kênh, Công ty có thể đưa ra các tiêu thức để lựa chọn một thành viên tốt, chẳng hạn:
    • Khả năng thanh toán nhanh, chậm nhật chỉ trong vòng 30 ngày
    • Uy tín được đảm bảo trong khu vực thị trường đó.
    • Sức tiêu thụ phải đáp ứng được yêu cầu của Công ty.
    • Kích thích các thành viên kênh : Những người trung gian cần được độnh viên để hoàn thành tốt nhất công việc của họ. Những điều kiện đưa họ đến với kênh đã tạo ra một sự động viên nào đó, nhưng những điều kiện đó cần phải được bổ sung thêm. WINNAWIND phải nghĩ rằng mình khong chỉ bán hàng thông qua người trung gian mà còn là bán hàng cho họ. đối với Công ty Thương mại có 3 loại tiếp cận khác nhau : Hợp tác, hùn hạp và lập chương trình phân phối. qua đó Công ty sẽ đạt được quan hệ chặt chẽ và tín nhiệm trong công việc đảm nhận các chức năng tiếp thị tiêu thụ hữu hiệu cho nguồn hàng và ngược lại nhận được các kích thích từ phía nguồn hàng về giá, điều kiện giao hàng và thanh toán.

    Đánh giá các thành viên kênh : Công việc đánh giá này phải được làm thường xuyên định kỳ. WINNAWIND có thể dựa vào các tiêu chuẩn:

    • Doanh số bán cao hay thấp ?
    • Mức dự trữ bình quân là bao nhiêu ?
    • Thời gian giao hàng nhanh hay chậm ?

    60

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    + Dịch vụ cho khách hàng đã hoàn hảo chưa ?

    Việc đánh giá mạng kệnh phân phối WINNAWIND có thể so sánh các tiêu chuẩn của các thành viên khác nhau.

    *Điều chỉnh các quyết định biến thể kênh, mạng : Hành vi mua của người tiêu dùng có thể thay đổi trên thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm mới, cạnh tranh khốc liệt hơn hay có những kênh phân phối mới… Với sự thay đỏi này, việc điều chỉnh hệ thống phân phối sẽ là cần thiết để đạt mục tiêu đề ra. Vì thế WINNAWIND có thể thay đổi kênh phân phối qua 3 mức độ :

    • Lấy thêm hay loại bỏ những thành phần kênh.
    • Lấy thêm hay loại bỏ những cấu tử mạng ở một vài đoạn thị trường cá

    biệt

    • Thể hiện một phương cách mới cho việc bán hàng ở tất cả các thị trường trọng điểm.
    • Thoả mãn dịch vụ khách hàng : khách hàng khong quan tâm đến việc hàng hoá được vận chuyển hay dự trữnhư thế nào hay những thành viên kênh phải làm gì để cung cấp hàng hoá cho họ . Khác hàng chỉ quan tâm đến việc sản phẩm có đáp ứng được yêu cầu về mặt thời gian và có đáng tin cậy không. Có những trường hợp, hệ thống phân phối của WINNAWIND vận hành không hiệu quả, khách hàng đã phải chờ đợi để mua được những hàng hoá mà họ cần. Điều này đã làm khách hàng phiền lòng và sẽ có những tác động xấu đến

    WINNAWIND.

    Những dịch vụ mà WINNAWIND có thể cung cấp tốt cho khách hàng như: Thời gian, địa điểm và mặt hàng mà khác hàng cần, những dịch vụ này hiện nay Công ty có khả năng đáp ứng được vì vậy WINNAWIND nên lưu ý và làm tốt những vấn đề dù chỉ là nhỏ nhất này.

    61

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Những trang thiết bị phân phối cần thiết : Để cung cấp hàng hoá từ nhà sản xuất đến nơi khách hàng yêu cầu, cần thiết phải có những phương tiện như kho, trạm, phương tiện vận tải.

    Sự lựa chọn phương tiện vận tải tốt nhất phải tuỳ thuộc và sản phẩm, những quyết định phân phối khác và những dịch vụ khách hàng mà WINNAWIND đưa ra. Sự lựa chọn tốt nhất sẽ không chỉ đạt được một chi phí ở mức thấp có thể mà còn đưa ra một tiêu chuẩn dịch vụ như tốc độ, độ tin cậy…

    Việc lưu kho là cần thiết khi sản xuất không phù hợp với khác hàng về không gian, thời gian, số lượng… việc dự trữ hàng hoá có thể làm tăng giá trị hàng hoá và đảm bảo sự sẵn sàng khi khách cần. Nhưng WINNAWIND cũng phải lưu ý rằng dự trữ luôn liên quan đến chi phí.

    Mục tiêu phân phối

    Lựa chọn loại kênh   Thoả mãn dịch vụ KH
             
             
    Trực tiếp   Gián tiếp   Những trang thiết bị
        phân phối cần thiết
               
                 
                 

    Quản trị kênh

    62

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    H9: Quyết định chiến lược phân phối

    3.6. Xây dựng trương trình xúc tiến quảng cáo * Phương tiện quảng cáo

    Trong năm nay 2006, Công ty nên quảng bá thương hiệu và sản phẩm nhờ các phương tiên quảng cáo để truyền thông tới công chúng như Truyền hình, truyền thanh, báo chí của các địa phương chi phí thấp nhưng hiệu quả khá cao.

    * Marketing trực tiếp

    Công ty áp dụng marketing trực tiếp sủ dụng điện thoại, fax, thư gửi qua bưu điện… để gưỉ các bản chào giá, chào hàng tới thị trường mục tiêu sẽ tiết kiệm được chi phí mà vẫn đảm bảo được mục tiêu.

    * Kích thích tiêu thụ

    Thường xuyên tham gia những hội chợ triển lãm để thu hút khách và nâng cao vị thế của công ty.

    Công ty dang áp dụng chương trình kích thích tiêu thụ vào đợt đầu năm và cuối năm bàng hình thú khuyến mại giảm giá tuy nhiên hiệu quả thực sự đem lại là chưa cao so với các đối thủ cạnh tranh công ty cần có thêm nhiều phương pháp khác.Ký hợp đồng nguyên tắc với các nhà phân phối và hứa sẽ chiết khấu phần trăm cho họ vào cuối năm khi hợp đồng được thanh lý.

    Hàng năm mời các nhà phân phối đi tham quan du lịch để tăng thêm sự gắn bó giữa nhà phân phối với công ty.

    Đối với người tiêu dùng trực tiếp: nên áp dụng chương trình khuyến mại bằng hiện vật khi mua hàng.

    4. Chương trình hành động và ngân sách.

    Chiến lược mới thể hiện những nét chính của marketing,để đạt được những mục tiêu của kinh doanh. Mỗi yếu tố trong chiến lược marketing phải được cụ thể hoá để giải đáp câu hỏi: Phải làm gì? Bao giờ thì làm ? ai làm ? Tốn

    63

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    kém hết bao nhiêu ? Trong khuôn khổ của một cuốn luận văn em xin được đề xuất chương trình hàng động kích thích tiêu thụ sản phẩm quạt điện VINAWIND thuộc phần quảng cáo xúc tiến- trong chiến lược marketing đã nêu

    • trên.

    Chương trình kích thích tiêu thụ nhằm vào các đại lý còn phần kia nhằm

    của vinawind gồm hai phần, một phần vào người tiêu dùng.

    Chương trình kích thích đại lý gồm:

    Thang hai- vinawind thực hiên chương trình khuyến mại cụ thể như

    sau:

    1.Đối tượng được khuyến mại:

    • Tất cả đơn vị, cá nhân là khách hàng truyền thống của công ty.

    2.Mức khuyến mại:

    a/ Hình thức khuyến mại: Giảm giá bán trước thuế ngay trến hoá đơn bán

    hàng.

    b/ Mức khuyến mại đối với từng loại sản phẩm như sau:

    • Khuyến mại giảm giá 2%: Quạt trần 1.4m cánh tôn.
    • Khuyến mại giảm giá 5% đối với các loại sau:
    • Quạt bàn: QB 300CV, QB 400NSĐG
    • Quạt hộp: QH 300LP, QH 350 GLP
    • Khuyến mại giảm giá 12% đối với các loại quạt:
    • Quạt treo tường: QTT 400R, QTT400E, QTT 400 EHD, QTT 400X.HD
    1. Tổ chức thực hiện.

    Phòng tiêu thụ sản phẩm tổ chức thực hiện.

    64

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Thời gian đăng ký nộp tiền, viết hoá đơn hưởng khuyến mại: Bắt đầu từ ngày 07/02/2005 đến 14/02/2006.
    • Thời gian lấy hàng: Hạn cuối cùng lấy hết hàng ra khỏi công ty vào ngày 25/02/2005
    1. Chỉ tiêu bán hàng của đợt khuyến mại này là: 10 tỷ đồng

    Tháng ba: Tổ chức hội nghị khách hàng.

    • Trao quà cho những nhà phân phối đạt chỉ tiêu doanh số của công ty
    • Tổ chức thăm dò lấy ý kiến khách hàng.

    Phòng tiêu thụ sản phẩm tổ chức thực hiện với kinh phí là: 300.000.000

    đồng.

    Tháng tư:

    • Tham gia hội chợ thường niên Hàng việt nam chất lượng cao tại Giảng Võ do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức
    • Kinh phí: 50.000.000 đồng.
    • Tổ chức thực hiện: Phòng tiêu thụ sản phẩm.

    Tháng sáu:

    • Tổ chức mời một số nhà phân phối lớn đi tham quan du lịch
    • Kinh phí: 120.000.000 đồng
    • Thực hiên: Phòng tiêu thụ sản phẩm kết hợp cùng phòng tổ chức.

    Tháng 10:

    • Tham gia hội chợ hàng tiêu dùng ở Việt trì, Hải phòng
    • Kinh phí: 50.000.000 đồng
    • Tổ chức thực hiện: Phòng tiêu thụ sản phẩm.

    Chương trình khuyến mãi cho người tiêu dùng:

     

    65

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Tháng chín: vinawind quảng cáo trên báo chí rằng trong tháng này tất cả mọi người mua sản phẩm quạt điện đều được tặng một ổ cắm điện trị giá 10.000 đồng do công ty sản xuất.
    • Kinh phí: 80.000.000 đồng
    1. Kiểm tra

    Phần cuối của bản phác hoạ là kế hoạch công tác kiểm tra theo dõi tiến trình triển khai kế hoạch. Thông thường các chỉ tiêu và ngân sách được xác định cho từng tháng hay quý. Banh lãnh đạo cấp trên có thể xem xét kết quả của từng kỳ và phát hiện những xí nghiệp tụt hậu phải giải trình tình hình đang xảy ra và những biện pháp mà họ sẽ thi hành để đảm bảo hoàn thành kế hoạch.

    Một số phần kiểm tra có đề ra những kế hoạch đối phó với những tình huống bất ngờ. Kế hoạch đối phó với những tình huống bất ngờ sẽ vạch ra những bước mà ban lãnh đạo cần thực hiện để đối phó với những diễn biến bất lợi như chiến tranh giá cả và đình công. Mục đích qua việc lập kế hoạch đối phó với những tình huống bất ngờ là khuyến khích các cán bộ quản trị lo liệu trước những khó khăn có thể gặp phải.

    66

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Biểu 1: Mô hình bộ máy tổ chức – quản lý sản xuất

    Chủ tịch –

    Tổng giám đốc

    Phó Tổng giám đốc  Kỹ thuật

    Phó Tổng giám đốc

    sản xuất

    Phòng Tổ chức – Hành chính

    Phòng Bảo vệ

    Phòng Tài vụ

    Phòng Kế hoạch – Vật tư

    Phòng Tiêu thụ sản phẩm

    Phòng KCS

    Phân xưởng cơ khí

    Phân xưởng Lưới, Sơn, Mạ

    Phân xưởng Đột Dập

    Phân xưởng Thiết bị đầu tư

    Phân xưởng Lắp ráp T.Phẩm

    Ghi chú:

    Thông tin chỉ đạo

    Thông tin hướng dẫn

    67


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay

    Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay

    Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Dự toán xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Quan-%C4%91i%E1%BB%83m-to%C3%A0n-di%E1%BB%87n-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-v%C3%A0o-s%E1%BB%B1-nghi%E1%BB%87p-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-CNXH-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, do đó sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đó cũng có những điểm khác so với trước đây.

    Trước những năm 1986, do nhận thức và vận dụng sai lầm lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến những thất bại to lớn như sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN ở Liên xô và các nước Đông Âu, còn ở Việt nam do nhận thức và vận dụng sai lầm đã dẫn đến tụt hậu về kinh tế và khủng hoảng về chính trị.

    Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm.

    Thực tiễn hơn 10 năm đổi mớỉ nước ta mang lại nhiều bằng chứng xác nhận tính đúng đắn của những quan điểm nêu trên. Đại hội đại biểu lần thứ VIII của đảng đã khẳng định”xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chinhs sách đối nội đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác.

    Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về nhiệm vụ xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ lên CNXH, tôi đã lựa chọn đề tài Quan

    điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay“.

     

    1

    Đề tài tập trung nghiên cứu Quá trình xây dựng CNXH ở Việt nam từ trước và sau đổi mới đến nay, và một số kiến nghị vận dụng quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác-Lênin vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam.

    Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, thế giới quan duy vật biện chứng, căn cứ vào một số quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI.

    Kết cấu đề tài, ngoài lời nói đầu và kết luận gồm hai chương Chương 1: Lý luận chung về quan điểm toàn diện

    Chương 2: Vận dụng quan điểm toàn diện vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam.

    Do điều kiện thời gian cũng như trình độ am hiểu về vấn đề này còn hạn chế, nên không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đánh giá của thầy cô giáo và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn.

    CHƯƠNG1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN

     

    2

    1.1- NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

    Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn tại một cách tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ có chăng chỉ là những liên hệ hời hợt, bề ngoài mang tính ngẫu nhiên. Một số người theo quan điểm siêu hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó nhưng laị phủ nhận khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau.

    Ngược lại, quan điểm biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một chỉnh thể thống nhất. Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau.

    Về nhân tố quy định sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới, chủ nghĩa duy tâm cho rằng cơ sở của sự liên hệ, sự tác động qua lại giữa các sự vật và hiện tượng là các lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức,

    • cảm giác của con người. Xuất phát từ quan điểm duy tâm chủ quan, Béccơli coi cơ sở của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là cảm giác. Đứng trên quan điểm duy tâm khách quan, Hêghen lại cho rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng là ở ý niệm tuyệt đối.

    Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới.

    Theo quan điểm này, các sự vật hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc

    3

    con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.

    Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, các quá trình, mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một số khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, có mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vật. Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động, phát triển qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau, tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng.

    Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của chính các sự vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng.

    Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có ý nghĩa quyết định, Hơn nữa, nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với sự vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò của mối liên hệ bên ngoài đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi có thể giữ vai trò quyết định.

    4

    Mối liên hệ bản chất và không bản chất, mối liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên cũng có tính chất tương tự như đã nói ở trên. Ngoài ra chúng còn có những nét đặc thù. Chẳng hạn như, cái là ngẫu nhiên khi xem xét trong quan hệ này lại là cái tất nhiên khi xem xét trong mối liên hệ khác, ngẫu nhiên lại là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của cái tất yếu, hiện tượng là hình thức biểu hiện ít nhiều đầy đủ của bản chất. Đó là những hình thức đặc thù của sự biểu hiện những mối liên hệ tương ứng.

    Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ. Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Sự chuyển hoá như vậy có thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật và hiện tượng.

    Trong tính đa dạng của các hình thức và các loại liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy con người, phép biện chứng duy vật, tập trung nghiên cứu những loại liên hệ chung, mang tính chất phỏ biến. Những hình thức và những kiểu liên hệ riêng biệt trong các bộ phận khác nhau của thế giới là đôí tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác.

    1.2 – QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN

    Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức

    Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật hiện tượng. Một mặt, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp). đề cập đến hai nội dung này, V.I. Lênin viết “muốn thực sự hiểu

    5

    được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó”.

    Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ không trọn vẹn. Có ý thức được điều này chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển. Để nhận thức được sự vật , cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, “cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đè phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc.”

    Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhaunhững thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó.

    Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng. Nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó.

    Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để

    6

    để nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật.

    Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật nguỵ biện. Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật. Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra mặt bản chất, mối liên hệ căn bản nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, do đó hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn. Thuật nguỵ biện cũng chỉ chú ý đến những mặt , những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất. Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng.

    CHƯƠNG 2

    VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO SỰ NGHIỆP

    XÂY DỰNG CNXH Ở NƯỚC TA

     

    7

    2.1-QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, BỎ QUA CHẾ ĐỘ TBCN Ở VIỆT NAM LÀ MỘT TẤT YẾU LỊCH SỬ.

    Nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là một tất yếu lịch sử bởi vì:

    • Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Thực tiễn đã khẳng định CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Cho dù hiện nay, với những cố gắng để thích nghi với tình hình mới, CNTB thế giới vẫn đang có những thành tựu phát triển nhưng vẫn không vượt ra khỏi những mâu thuẫn cơ bản của nó, những mâu thuẫn này không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc. CNTB không phải là tương lai của loài người. Quá trình cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới- xã hội chủ nghĩa không phải là quá trình cải lương, duy ý chí mà là quá trình cách mạng sôi động trải qua nhiều giai đoạn phát triển khách quan phù hợp với quy luật của lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học, tự do, dân chủ và nhân đạo mà nhân dân ta và loài người tiến bộ đang vươn tới luôn đại diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, đại diện lợi ích của những người lao động, là hình thái xã hội cao hơn CNTB. Quá trình cách mạng đó vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người, vì sự nghiệp phát triển tự do và toàn diện của con người, vì tiến bộ chung của loài người. Đi theo dòng chảy của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử.

    -Cách mạng Việt nam phát triển theo con đường độc lập dan tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tính tất yếu lịch sử ấy xuất hiện từ những năm

    • của thế kỷ XX. Nhờ đi con đường ấy, nhân dân ta đã làm cách mạng tháng Tám thành công, đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày nay, chỉ có đi lên CNXH mới giữ vững được độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc, mới thực hiện đựoc

    8

    mục tiêu làm cho mọi người được ấm no, tự do hạnh phúc. Sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta như vậy là sự lựa chọn cuả chính lịch sử dân tộc lại vừa phù hợp với xu thế của thời đại. Điều đó cũng thể hiện sự quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta là một tất yếu lịch sử.

    Chủ nghĩa xã hội ở Việt nam, theo cách nói tóm tắt và mộc mạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là; trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạnbần cùng,làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc. Quán triệt tư tưởng cơ bản đócủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta đã khẳng định: “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

    -Do nhân dân lao động làm chủ

    -Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế đọ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

    -Có nền văn hoá tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc

    -Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hành phúc, có điều kiện phát triển cá nhân.

    -Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.

    -Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới

    Mục tiêu của CNXH ở nước ta là: xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh.

    2.2- VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CNXH Ở VIỆT NAM

     

    9

    Để đảm bảo có được nhận thức đúng đắn về một vấn đề, chúng ta phải xem xét vấn đề đó theo quan điểm toàn diện. Điều này có nghĩa là phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ tác động qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của sự vật, hiện tượng cũng như trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đối với các sự vật khác và trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người.

    Với mục đích có được nhận thức đúng đắn, từ đó đề ra những chủ trương, chính sách đúng nhằm góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cao cả là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam cuả nhân dân ta thì trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta phải có một cái nhìn toàn diện đối với các nhân tố cuẩ lực lượng sản xuất cũng như các nhân tố của quan hệ sản xuất trong mối quan hệ qua lại với nhau một cách biện chứng, không xem nhẹ hay bỏ qua bất cứ một nhân tố nào, có như vậy các chủ trương, chính sách đưa ra mới góp phần vào thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    2.2.1 Đánh giá những thành tựu và những hạn chế của CNXH trong thời gian qua

    Thực tiễn cho thấy, CNXH trong quá trình hình thành và phát triển đã đạt được những thành tựu về nhiều mặt có ý nghĩa lịch sử to lớn như:

    Một là: Đã xây dựng một hệ thống giá trị riêng của mình, đã phát triển lực lượng sản xuất, đã xoá bỏ về cơ bản chế độ người bóc lột người, đã thực hiện một chế độ phúc lợi xã hội và giáo dục văn hoá quốc tế cho toàn dân.

    Hai là: Cứu loài người ra khỏi thảm hoạ phát xít, là chỗ dựa cho phong trào hoà bình và cách mạng thế giới, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    10

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, là những sai lầm và thiếu sót. Đó là sự vận dụng không đúng đắn, thiếu sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cuộc sống, cũng như việc chậm tổng kết những bài học từ thực tiễn xây dựng CNXH để bổ sung phát triển đường lối, chính sách phát triển lý luận; Như vội vã xó bỏ mọi thành phần kinh tế hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá mà không tính đến hiệu quả của các công trình được xây dựng, coi nhẹ hoặc phủ nhận cuọc đấu tranh giai cấp, thiết chế một nền dân chủ nặng về hình thức, chưa đảm bảo nhân dân lao động thực sự làm chủ mọi mặt của đời sống xã hội; thực hiện chính sách bao cấp tràn lan, chậm trễ trong cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại; coi nhẹ công tác xây dựng đảng và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội.v..v..

    Những khuyết tật mang tính giáo điều, chủ quan duy ý chí, quan liêu xa rời quần chúng nói trên đã làm cho tính ưu việt của CNXH lâm vào khủng hoảng toàn diện.

    Nguyên nhân của những khuyết tật trên bao gồm nhiều nguyên nhân mà một trong những nguyên nhân chính là xa rời hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng không đúng đắn sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, quan điểm toàn diện trong chủ nghĩa Mác-Lênin. Không xem xét sự việc trong mối liên hệ với sự việc khác, quá nhấn mạnh coi trong nhiệm vụ này mà xa rời hoặc thậm chí là phủ nhận mục tiêu khác.v.v..

    2.2.2 Vận dụng quan điểm toàn diện vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

    Đi lên CNXH là con đường tất yếu của nước ta. Chúng ta phê phán những khuyết tật, sai lầm trong quá trình xây dựng CNXH nhưng không quan niệm những lệch lạc đó là khuyết tật của bản thân chế độ, coi khuyết điểm là tất cả, phủ định thành tựu, từ đó dao động về mục tiêu và con

    11

    đường đi lên CNXH. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu CNXH, mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.

    Điều cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng CNXH và đi đến thành cônglà trong quá trình đổi mới, Đảng phải kiên trì vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin. đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình.

    Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm thích hợp. Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên từng lĩnh vực, nội dung của đổi mới cũng bao gồm nhiều mặt; từ đổi mới quan niệm đến đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc. Nếu chỉ đổi mới một lĩnh vực hoặc một khâu nào đó thì công cuộc đổi mới không thể đạt kết quả mong muốn. Đồng thời trong mỗi bước đilại phải xác định đúng khâu then chốt để tập trung sức giải quyết làm cơ sở đổi mới các khâu khác và lĩnh vực khác.

    Về quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Kinh tế và chính trị là hai mặ cốt lõi của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thì kinh tế giữ vai trò quyết định chính trị, vì.

    Kinh tế là nội dung vật chất của chính trị, còn chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế.

    Cơ sở kinh tế với tính cách là kết cấu hiện thực sản sinh ra hệ thống chính trị tương ứng với quy định hệ thống đó. Nói cách khác, tính chất xã hội, giai cấp của chính trị bao giờ cũng phản ánh tính chất xã hội và gia cấp của cơ sở hạ tầng. Từ đó dẫn đến ự biến đổi căn bản của kinh tế lẫn chính trị.

    12

    Sự tác động của chính trị đói với kinh tế: Chính trị được biểu hiện tập trung bằng nhà nước, có sức mạnh vật chất tương ứng. Nhà nước có tác dụng quyết định năng lực hiện thực hoá những tất yếu kinh tế. Ănghen nói” Bạo lực ( quyền lực nhà nước) cũng là một lực lượng kinh tế”.

    Trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay, chúng ta chủ chương tiến hành đổi mới đồng bộ phải kết hợp ngay từ đầu, đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội. Trong đó, đổi mới kinh tế là trọng tâm, còn đổi mới chính trị thúc đẩy đổi mới kinh tế. Đổi mới kinh tế chính là đổi mới ở lĩnh vực CSHT, đó là đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, phương thức phân phối, quy trình công nghệ…nhằm làm cho nền kinh tế nước ta phát triển hoà nhập với trình độ phát triển kinh tế thế giới.

    Đổi mới kinh tế là tiền đề cho đổi mới chính trị, nó tạo ra nền tảng vật chất cho ổn định về chính trị xã hội, nó làm nảy sinh nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, làm cho nó năng động và trở thành động lực thực sự của sự phát triển kinh tế.

    Đổi mới chính trị phải xuất phát từ yêu cầu đổi mới kinh tế, phải phù hợp với đổi mới kinh tế.

    Đổi mới chính trị chính là đổi mới ở bộ phận quan trọng của KTTT, đổi mới chính trị thể hiện ở đổi mới tổ chức, đổi mới bộ máy, phân cấp lãnh đạo của Đảng, dân chủ hoá trước hết từ trong Đảng.

    Đổi mới chính trị, tạo điều kiện cho đổi mới kinh tế

    Khi đường lối chính trị, thiết chế chính trị được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thì chính trị trở thành định hướng cho phát triển kinh tế. Đồng thời tạo môi trường phát triển về an ninh trật tự để phát triển kinh tế và chính trị còn đóng vai trò can thiệp điều tiết, khắc phục những mặt trái do đổi mới kinh tế đưa đến.

    13

    Một trong những đặc trưng cơ bản của CNXH đó là nền kinh tế nhiều thành phần, trước đây do nhận thức sai lầm chúng ta đã xó bỏ mọi thành phần kinh tế, chỉ còn 2 lại thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, thì nay chúng ta phải chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phải đi đôi với vai trò tăng cường quản lý của nhà nước về kinh tế-xã hội.

    Trước đại hội VI, chúng ta đã nóng vội và nhất loạt xây dựng QHSX một thành phần dựa trên cơ sở công hữu XHCN về tư liệu sản xuất, làm như vậy là chúng ta đã đẩy QHSX đi quá xa so với trình độ phát triển của LLSX tạo ra mâu thuẫn giữa một bên là LLSX thấp kém với một bên là QHSX được xã hội hoá giả tạo, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của LLSX làm cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội.

    Từ đại hội VI đến nay, khắc phục sai lầm trên, chúng ta thực hiện xây dung nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xuất phát từ tính chất và trình độ của LLSX nước ta là đa dạng, không đồng đều và chưa cao.

    Thực tiễn 15 năm đổi mới đã khẳng định chủ chương xây dung nền kinh tế nhiều thành phần là phù họp với phát triển LLSX ở nước ta. Nó đã thực sự giải phóng, phát triển, khơi dây các tiềm năng của sản xuất, khơi dậy năng lực sáng tạo chủ động của các chủ thể lao động trong sản xuất, đưa nước ta ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội.

    Việc xây dựng kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cũng có nghĩa là chúng ta chấp nhận đa dạng hoá các hình thức sở hữu để phát triển kinh tế nước nhà.

    KẾT LUẬN

    Nước ta quá độ lên CNXH từ xuất phát điểm rất thấp; nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cấzp tự túc, còn ở tình trạng phổ biến của tái sản

    14

    xuất giản đơn, lực lượng sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp, quan hệ sản xuất yếu kém…

    Để xây dựng thành công CNXH, đảm bảo mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, đòi hỏi chúng ta phải có chủ trương đổi mới toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội, phải kết hợp đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo mọi điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển, có như vậy mới tạo ra nhiều của cải vật chất tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của CNXH

    15


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hướng dẫn  Xây dựng Dự án

    Hướng dẫn Xây dựng Dự án

    Hướng dẫn Xây dựng Dự án

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/H%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-D%E1%BB%B1-%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hướng dẫn Xây dựng Dự án

    Xây dựng Dự án

    Hướng dẫn này nằm trong số các hướng dẫn được soạn thảo theo quan điểm của nhà tài trợ

    dành cho các tổ chức xã hội dân sự.

    Tài liệu này mang tính chất tham khảo và không phải là những hướng dẫn cứng nhắc.

    Tăng cường Năng lực tổ chức

    Xây dựng Dự án: Hướng dẫn xây dựng và thực hiện dự án và các câu hỏi chính cần đưa ra trong quá trình xây dựng và thực hiện.

    Hướng dẫn này bao

    gồm các phần về: mục đích của kế hoạch dự án, các mục đích và mục tiêu; và thiết lập một kế hoạch hành động.

    Lập ngân sách

    Hướng dẫn lập ngân

    sách, chú trọng vào

    mục đích, các bước

    tiến hành và các hợp

    phần.

    Hệ thống Tài chính Hướng dẫn thiết lập một hệ thống tài chính minh bạch và rõ ràng để xây dựng tính bền vững tài chính.

    Giám sát & Đánh giá Hướng dẫn rà soát và đánh giá tiến độ trong việc đạt được các mục tiêu, xác định các vấn đề và chiến lược và điều chỉnh kế hoạch.

    Huy động Nguồn lực

    Hướng dẫn huy động

    các nguồn lực, chủ

    yếu là nội lực, để tăng

    cường năng lực tổ

    chức và mang lại lợi

    ích cho cộng đồng.

    Viết Đề xuất xin tài trợ

    Hướng dẫn xây dựng và viết một đề xuất, bao gồm các yếu tố chính để giúp dự án thành công.

    Báo cáo lên các Nhà tài trợ

    Hướng dẫn duy trì và tăng cường quan hệ với các nhà tài trợ sau khi đã được tài trợ.

    MỤC ĐÍCH CỦA MỘT KẾ HOẠCH DỰ ÁN

    Với các nhà tài trợ, trọng tâm của một đề xuất xin tài trợ là một dự án cụ thể hoặc một loạt các hoạt động mà bạn đang tìm kiếm sự tài trợ và các yêu cầu về ngân sách cần có để hoàn thành tốt công việc. Ở đây, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn các yếu tố chính để xây dựng và thực hiện một dự án, và làm thế nào để liên kết các khái niệm này trong đề xuất của bạn. Trong hướng dẫn này, từ “dự án” được sử dụng để nói về một sự can thiệp hoặc một hành động cụ thể.

    Khi lập kế hoạch cho một dự án, bước đầu tiên là phải đảm bảo rằng có mối liên hệ mạnh mẽ giữa sứ mệnh của tổ chức bạn và sáng kiến mà bạn đang xem xét. Dự án mà bạn đang lập kế hoạch và tìm kiếm tài trợ phải là một phần trong chiến lược tổng thể của bạn để giải quyết các vấn đề. Khi xây dựng kế hoạch, bạn cần xem xét những điểm sau đây:

    • Dự án có liên quan như thế nào đến sứ mệnh của tổ chức bạn?
    • Bạn đang làm việc trong bối cảnh nào và bối cảnh này có tính đặc trưng như thế nào?
    • Dự án sẽ giúp thay đổi hoặc cải thiện điều kiện sống và phát triển của các thành viên cộng đồng hoặc những người hưởng lợi như thế nào?

    MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

    Các nhà tài trợ thường đặc biệt quan tâm đến kết quả và lợi ích mà dự án sẽ mang lại cho

    cộng đồng hoặc nhóm người dân các bên có liên quan. Các nhà tài trợ cũng hiểu rằng trong một số trường hợp kết quả sẽ không thấy được rõ ràng trong khoảng thời gian ngắn và có những kết quả mang tính phi vật thể như xây dựng vốn xã hội kết quả hoạt động.

    Các nhà tài trợ thường đánh giá cao quá trình tham vấn với các bên có liên quan trong quá trình thiết kế, thực hiện và đánh giá dự án. Mỗi tổ chức xã hội dân sự sẽ tự quyết định chiến lược nào là phù hợp trong bối cảnh của mình. Khi kết hợp hiểu biết về bối cảnh và đánh giá các kỹ năng có sẵn của mình, mỗi tổ chức có thể đóng góp vào quá trình cải thiện hoặc mang lại các thay đổi cho cộng đồng.

    NHỮNG THUẬT NGỮ THÔNG THƯỜNG

    Dưới đây là một số thuật ngữ thông thường, định nghĩa và các câu hỏi chính để giúp xây dựng dự án. Các nhà tài trợ cũng thường đưa ra những câu hỏi tương tự khi quyết định liệu dự án có phù hợp với các ưu tiên của chương trình tài trợ không, liệu dự án có tính thực tế không hoặc liệu dự án có thể mang lại những thay đổi tích cực cho cộng đồng không.

    Mục đích:

    là các kết quả lâu dài và theo bề rộng mà dự án sẽ mang lại. Khi đưa ra mục đích, hãy tự hỏi: Bạn muốn đạt được kết quả gì với dự án này? Ai sẽ hưởng lợi từ dự án? Họ sẽ được hưởng lợi như thế nào?

    Mục tiêu:

    là các tác động (hoặc là đầu ra trong một số trường hợp) dự kiến sẽ mang lại lợi ích vật chất, tài chính, thể chế, xã hội, môi trường hoặc các lợi ích khác cho xã hội, cộng đồng hoặc một nhóm người thông qua một hoặc nhiều hoạt động phát triển. Khi xác định các mục tiêu, hãy tự hỏi: Các kết quả dự kiến cụ thể và có thể đo lường được của dự án là gì? Các mục đích phải :

    • (specific): cụ thể – dự án phải có các kết quả dự kiến cụ thể
    • (measurable): tính đo lường được – kết quả dự kiến phải đo lường được A (answer): trả lời được các câu hỏi ai, cái gì, khi nào, ở đâu và như thế nào

     

    R (realistic): tính thực tế khi đưa ra những kết quả dự kiến dự án có thể thực sự đạt

     

    được

     

    T (thời gian): có khung thời gian cụ thể cho quá trình thực hiện dự án

    Các hoạt động.

    Các hoạt động hoặc công việc đã được thực hiện. Các hoạt động này có thể được đưa vào một kế hoạch làm việc với khung thời gian cụ thể. Hãy tự đưa ra các câu hỏi như: Hành động hoặc nhiệm vụ nào là cần thiết để thực hiện các mục tiêu này?

    Ví dụ về Mục đích, Mục tiêu và các Hoạt động

    Mục đích của dự án là cải thiện sự tiếp cận của nông dân với các dịch vụ nông nghiệp công trong địa bản của tỉnh/thành phố/huyện

    Mục tiêu của dự án là: tăng 50% số người tiếp cận được với các dịch vụ có sẵn và triển khai hệ thống thẻ đánh giá của cộng đồng tại 5 làng để giúp đánh giá chất lượng các dịch vụ do cơ quan khuyến nông cung cấp.

    Các hoạt động trong hơn 1 năm bao gồm hoạt động quảng bá thông tin về tiếp cận dịch vụ thông qua đài phát thanh và 10 cuộc hội thảo về giám sát và trách nhiệm giải trình sử dụng phương pháp thẻ đánh giá của cộng đồng.

    Điều quan trọng là phải xem xét các quan điểm và nhu cầu của người hưởng lợi của dự án khi xây dựng các mục đích và mục tiêu cũng như khi thực hiện các hoạt động.

    Các nhà tài trợ thường quan tâm đến sự tham gia của người hưởng lợi vào quá trình đưa ra các quyết định chính của dự án. Trong những trường hợp khó khăn khi tổ chức của bạn đang làm việc với những đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương, hãy mô tả tình hình của những nhóm người này, những người có thể không phải là một phần của bất cứ cộng đồng nào.

    Khi xây dựng các mục đích và mục tiêu, bạn cũng cần luôn nghĩ đến phương thức giám sát và đánh giá dự án. Ví dụ như các nhà tài trợ có thể hỏi làm thế nào mà bạn biết là dự án đã mang lại các kết quả đã đề ra. Khi trình bày dự án với các nhà tài trợ, bạn có thể mô tả tình hình trước khi thực hiện dự án để có thể đánh giá được tiến độ của dự án hoặc so sánh tình hình trước và sau khi thực hiện dự án.

    Bạn cũng có thể cần phải xem xét về tính bền vững của dự án và các lợi ích của dự án sau khi được tài trợ hoặc khi dự án kết thúc. Hãy xem thêm hướng dẫn về “Huy động Nguồn lực” để suy nghĩ về tính bền vững.

    CÁC BƯỚC: Thiết lập một Kế hoạch Hành động

    Kế hoạch hành động là các bước của một quá trình mà tổ chức bạn sẽ tiến hành để đạt được các mục đích và mục tiêu của dự án. Quá trình này không nhất thiết phải bao gồm phần huy động nguồn tài trợ. Khi lập kế hoạch hoạt động cần có sự tham gia của các bên có liên quan để đảm bảo sự tham gia và tính sở hữu của họ trong dự án. Một kế hoạch hành động phải trả lời được các câu hỏi sau:

    1. Mục đích và mục tiêu của bạn là gì?
    1. Bạn sẽ tiến hành các bước hành động nào để đạt được các mục tiêu đó?
    1. Ai chịu trách nhiệm cho mỗi bước hoạt động?
    1. Có ai khác tham gia không? Họ tham gia như thế nào vào việc lập kế hoạch? Vai trò và trách nhiệm của họ là gì?
    2. Ai sẽ hưởng lợi từ dự án? Họ đã được tham vấn như thế nào? Họ sẽ được hưởng lợi như thế nào?
    3. Các kết quả dự kiến của bạn là gì? Các kết quả dự án sẽ dẫn đến những thay đổi

    nào?

    1. Có những chỉ số nào để theo dõi tiến độ dự án?
    2. Khung thời gian cho các bước hành động của bạn là gì? Khi nào thì các hoạt động đó sẽ diễn ra? Trong khoảng thời gian nào?
    3. Bạn sẽ cần các nguồn lực tài chính nào để hoàn thành kế hoạch hành động và bạn sẽ gây quỹ như thế nào?
    4. Bạn sẽ cần nguồn nhân lực nào? Nhóm của bạn có những điểm mạnh và điểm yếu gì để hoàn thành các hoạt động?
    5. Bạn có thể xây dựng quan hệ đối tác nào với các tổ chức tương tự hoặc với các cơ quan địa phương để tối đa hóa tác động, bổ sung cho các nỗ lực của bạn và học hỏi từ họ?
    1. Bạn có thể sẽ gặp phải những trở ngại hoặc khó khăn tiềm ẩn nào (ví dụ như điều kiện thời tiết hoặc điều kiện xã hội) và bạn đã có kế hoạch dự phòng nào chưa?

    Các bước trên đây về xây dựng một dự án đã giúp giải quyết một số câu hỏi mà các nhà tài trợ thường nêu ra khi xem xét một đề xuất. Một dự án được xây dựng thông qua quá trình tham vấn với các cơ sở, mục tiêu và kế hoạch hành động rõ ràng cũng sẽ giúp tổ chức của bạn có được nền tảng vững chắc để thành công.

    ThS. Hoàng Trọng Nghĩa

    (theo Yumi Sera và Susan Beaudry, 2007)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]