Category: Thương Mại – Marketing

  • Tiểu luận APL Logistics

    Tiểu luận APL Logistics

    Tiểu luận APL Logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Logistic Kinh doanh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-APL-Logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận APL Logistics

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu hiện nay, tính hiệu quả chính là yếu tố
    quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Làm thế nào để đạt được hiệu quả
    trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp suốt từ khâu đầu tiên của quá trình sản
    xuất đến khâu cuối cùng trong quá trình phân phối. Logistics ra đời đã giúp doanh
    nghiệp giải quyết vấn đề trên và ngày càng đóng vai trò quyết định đến sự thành bại
    của doanh nghiệp.

    Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền. Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%, và ở Việt Nam thì dịch vụ logistics chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Và APL Logistics – Một trong những công ty điển hình cho Logistics, một trong những công ty hàng đầu về thiết kế và hoạt động chuỗi cung ứng dịch vụ Logistics trên toàn thế giới – Là đề tài tiểu luận mà nhóm đã chọn để nghiên cứu . Nội dung của bài tiểu luận gồm các nội dung chính sau:

    Chương 1: Giới thiệu chung về Logistics

    Chương 2: APL Logistics trên thế giới

    Chương 3: APL Logistics tại Việt Nam

    Chương 4: Những thuận lợi và khó khăn của APL Logistics

    Bài tiểu luận của nhóm được làm trong quá trình học nên không thể tránh được những thiếu sót. Mong thầy góp ý tận tình để bài tiểu luận của nhóm được hoàn thiện hơn.

     

    Chương I: Giới thiệu chung về logistics

    1.1. Các  Khái  Niệm  Về  Logistics

    Logistics  là  một  trong  những  số  ít  thuật  ngữ  khó  dịch  nhất,  giống  như  từ “Marketing”  ,  từ  Tiếng  Anh  sang  Tiếng  Việt  và  thậm  chí  cả  những  ngôn ngữ  khác.  Bởi  vì  bao  hàm  nghĩa  của  từ  này  quá  rộng  nên  không  một  từ  đơn ngữ  nào  có  thể  truyền  tải  được  hết  ý  nghĩa  của  nó.  Nhưng  rất  nhiều  công  ty giao  nhận  vận  tải  lại  được  đăng  ký  là  ví  dụ  như  AB  Logistics  như  vậy  vô tình  công  ty  này  có  thể  được  hiểu  là  nhà  cung  cấp  dịch  vụ  logistics,  mà không  biết  logistics  là  gì?

    Một  số  định  nghĩa  Logistics  là  hậu  cần,  số  khác  lại  định  nghĩa  là  nhà  cung ứng  các  dịch  vụ  kho  bãi  và  giao  nhận  hàng  hoá  vv  …và  chúng  ta  thấy  rằng đây  giống  như  là  một  cái  áo  thời  trang  mà  công  ty  giao  nhận  vận  tải  hàng hóa  nào  cũng  muốn  có  để  tăng  thêm  sức  mạnh cho mình.

    Vậy  Logistics  Là  Gì?

    Có  rất  nhiều  khái  niệm  về  thuật  ngữ  này  :

    Logistics  được  hiểu  là  quá  trình  hoạch  định,  thực  hiện  và  kiểm

    soát  sự  lưu  thông  và  tích  trữ  một  cách   hiệu  qủa   tối  ưu  các  loại  hàng  hoá, nguyên  vật  liệu,  thành  phẩm  và  bán  thành  phẩm,  dịch  vụ  và  thông  tin  đi kèm  từ  điểm  khởi  đầu  tới  điểm  kết  thúc  nhằm  mụch  đích  tuân  theo  các  yêu cầu  của  khách  hàng.

    Logistics  có  thể  được  định  nghĩa  là  việc  quản  lý  giòng  chu
    chuyển  và  lưu  kho  nguyên  vật  liệu,  quá  trình  sản  xuất,  thành  phẩm  và  xử
    lý  các  thông  tin  liên  quan…..từ  nơi  xuất  xứ  đến  nơi  tiêu  thụ  cuối  cùng  theo
    yêu  cầu  của  khách  hàng.  Hiểu  một  cách  rộng  hơn  nó  còn  bao  gồm  cả  việc

    thu  hồi  và  xử  lý  rác  thải  (Nguồn  :  UNESCAP……….)

    Logistics  là  quá  trình  xây  dựng  kế  hoạch,  cung  cấp  và  quản  lý
    việc  chu  chuyển  và  lưu  kho  có  hiệu  quả  hàng  hoá,  dịch  vụ  và  các  thông  tin

    tập  đoàn  Logistics  lớn  trên  thế  giới  với  mạng  lưới  logistics  toàn  cầu,  có phương  cách  hoạt  động  phù  hợp  với  từng  địa  phương. liên  quan  từ  nơi  xuất  xứ  đến  nơi  tiêu  thụ  vì  mục  tiêu  đáp  ứng  nhu  cầu  của khách  hàng  (World  Marintime  Unviersity  Đại  học  Hàng  Hải  Thế  Giới,  D. Lambert  1998).

    Thực  ra  Logistics  được  áp  dụng  rất  rộng  rãi  trong  nhiều  ngành không  chỉ  trong  Quân  sự  từ  rất  lâu,  được  hiểu  là  hậu  cần,  mà  nó  còn  áp dụng  trong  sản  xuất  tiêu  thụ,  giao  thông  vận  tải  vv..

    Vì  vậy  trên  cơ  sở  Logistics  tổng  thể  (Global  Logistic)  người  ta  chia  hoạt động  logistics  thành  Supply  Chain  Managment  Logistics  -Logistics  quản lý  chuỗi  cung  ứng.  Transportation  Management  Logistics

    Như  vậy  quản  lý  Logistics  là  sự  điều  chỉnh  cả  một  tập  hợp  các  hopạt  động
    của  nhiều  ngành  cùng  một  lúc  và  chỉ  khi  nào  người  làm  giao  nhận  có  khả
    năng  làm  tất  cả  các  công  việc  liên  quan  đến  cung  ứng,  vận  chuyển,  theo  dõi
    sản  xuất,  kho  bãi,  thủ  tục  hải  quan,  phân  phối….mới  được  công  nhận  là
    nhà  cung  cấp  dịch  vụ  logistics.  Xét  về  điều  kiện  này  thì  hầu  như  chưa  có
    công  ty  Việt  Nam  nào  có  thể  làm  được,  chỉ  một  số  rất  it  các  công  ty  nước
    ngoài  và  cũng  chỉ  đếm  trên  đầu  ngón  tay  như:  DHL  Danzas,  TNT
    Logistics……

    Vì  lĩnh  vực  Logistics  rất  đa  dạng,  bao  gồm  nhiều  quy  trình  và  công  đoạn khác  nhau  nên  hiện  nay  người  ta  chia  thành  4  phương  thức  khai  thác  hoạt động  Logistic  như  sau:

    • Logistics tự cung cấp

    Các  công  ty  tư  thực  hiện  các  hoạt  động  logistics  của  mình.  Công  ty  sở  hữu
    các  phương  tiện  vận  tải,  nhà  xưởng,  thiết  bị  xếp  dỡ  và  các  nguồn  lực  khác
    bao  gồm  cả  con  người  để  thực  hiện  các  hoạt  động  logistics.  Đây  là  những  tập  đoàn  Logistics  lớn  trên  thế  giới  với  mạng  lưới  logistics  toàn  cầu,  có phương  cách  hoạt  động  phù  hợp  với  từng  địa  phương.

    • Second  Party  Logistics  (2PL)

    Là  việc  quản  lý  các  hoạt  động  logistics  truyền  thống  như  vận  tải  hay  kho vận.  Công  ty  không  sở  hữu  hoặc  có  đủ  phương  tiện  và  cơ  sở  hạ  tầng  thì  có thể  thuê  ngoài  các  dịch  vụ  cung  cấp   logistics  nhằm  cung  cấp  phương  tiện thiết  bị  hay  dịch  vụ  cơ  bản.  Lý  do  của  phương  thức  này  là  để  cắt  giảm  chi phí  hoặc  vốn  đầu  tư.

    • Third  Party  Logistics  (TPL)  hay  logistics  theo  hợp  đồng.

    Phương  thức  này  có  nghĩa  là  sử  dụng  các  công  ty  bên  ngoài  để  thực  hiện
    các  hoạt  động  Logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý Logistics hoặc chỉ một
    số hoạt động có chọn lọc. cách giải thích khác của TLP là các hoạt động do một công ty cung cấp dịch vụ Logistics thực hiện trên danh nghĩa khách hàng của họ, tối thiểu bao gồm việc quản lý  và thực hiện hoạt động vận tải và kho vận ít nhất một năm có hoặc không có hợp đồng hợp tác. Đây được coi như một liên minh chặt chẽ giữa một công ty và những nhà cung cấp dịch vụ Logistics mà còn chia sẻ thông tin, rủi ro và các lợi ích theo một hợp đồng dài hạn.

    • Fourth Party Logistics (FPL)

    FPL là một khái niệm phát triển trên nền tảng của TPL nhằm tạo ra đáp ứng dịch vụ, hướng về khách hàng và linh hoạt hơn. FPL quản lý và thực hiện các hoạt động Logistics phức hợp như quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát và các chức kiến trúc và tích hợp các hoạt động Logistics. FPL bao gôm lĩnh vực rộng lớn gồm cả hoạt động TPL, các dịch vụ công nghệ thông tin, và quản lý các tiến trình kinh doanh. FPL được xem là các điểm liên lạc duy nhất, nơi thực hiện việc quản lý, tổng hợp các nguồn lực và giám sát các chức năng TPL trong suốt chuỗi phân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và các mối quan hệ lâu bền.

    Trong một số nghiên cứu người ta lại phân loại các công ty cung cấp dịch vụ Logistics theo các nhóm như sau:

    Các Công Ty cung cấp Dịch vụ Vận tải

    – Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phương thức.

    VD: Công ty cung cấp dịch vụ vận tải đường bộ, đường sắt, hμng không, đường biển.

    –  Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức

    –  Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng

    –  Các công ty môi giới vận tải

    • Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Phân Phối

    -Công ty cung cấp dịch vụ kho bãi

    -Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối

    • Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Hàng Hoá

    – Các công ty môi giới khai thuê hải quan

    – Các công ty giao nhận, gom hàng lẻ

    – Các công ty chuyên ngành hàng nguy hiểm

    – Các công ty dịch vụ đóng gói vận chuyển

    • Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Logistics Chuyên Ngành

    –  Các công ty công nghệ thông tin

    –  Các công ty viễn thông

    –  Các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm

    –  Các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục vμ đμo tạo

    Các công ty này lại có thể được chia thành 2 loại: Các công ty cung cấp dịch vụ Logistics có vụ không có tài sản.

    Các công ty sở hữu tài sản thực sự có riêng đội vận tải , nhà kho vv và sử dụng chúng

    để quản lý tất cả hay một phần các hoạt động Logistics cho khách hμng của mình.

    Các công ty Logistics không sở hữu tμi sản thì hoạt động như một người hợp nhất các

    dịch vụ Logistics và phần lớn các dịch vụ là đi thuê ngoài. Họ có thể phải đi thuê phương tiện vận tải, như kho, bến bãi ..Việc thuê ngoài đã nhanh chóng phát triển trong vài năm gần đây. Ngày nay có rất nhiều loại hình dịch vụ Logistics nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng khác nhau của các ngành hàng khác nhau. Khác với trước đây, không chỉ các dịch vụ Logistics cơ bản như vận tải và kho vận mà các loại dịch vụ phức tạp và đa dạng khác cũng đã xuất hiện. Việc thuê ngoài các dịch vụ Logistics gọi theo thuật ngữ chuyên ngành là Outsourcing.

    1.2. Những bước cơ bản của qui trình Logistics

    Bước thực hiện        khách hàng        chủ hàng     công ty Logistics        hàng thu

    Kiểm tra số PO                                                        kiểm tra số PO

    Và quyết định                                                       trong hệ thống hoặc

    xin ý kiến khách hàng

    nhập chi tiết Bookinh

    Giải Booking cho công                                          vào hệ thống

    Ty Logistics

    Xác định Booking từ                                             xác nhận booking với

    Công ty Logistics và                                              chủ tàu/lịch tàu/ thời gian

    Chẩn bị giao hàng                                                 cut- oof

    Cung cấp

    Chất hàng lên xe tải                                                Booking contaner với              Booking cho

    Hàng thu                                      công ty Logistic

    Giao hàng tại kho cảng

    Với chứng từ cần thiết                                            Dỡ hàng, kiểm tra

    Kiểm hóa/ đóng hàng

    Vào contaner/ hàng                           Hạ bãi

    bãi

    Tàu chạy

    Cập nhật thông tin trong

    Hệ thống

    Gửi bản copy FCR cho                  Làm BL/SWB

    Nhận kiểm tra FCR và                      chủ hàng/ xác nhận chính            Gửu/copy cho

    Kiểm tra nội dung                                xác B/L, SWB                                Cty Logistics

    Nhận SWB, B/L gốc, in FCR gốc

    Nhận Shipping advice                           Gửi Shipping advice

    Cho khách hàng

    Nộp chứng từ theo yêu cầu

    Nhận FCR gốc                                           kiểm tra chứng từ

    Nhận trứng từ và khai báo                  phân loại chứng từ và

    Hải quan                                                 gửi cho khách hàng

    Giữa người mua hàng và công ty Logistics sau khi đạt được thoả thuận về dịch vụ được cung cấp, bên cung cấp dịch vụ sẽ xây sựng lên quy trình Logistics trong đố thể hiện rõ mọi yêu cầu về dịch vụ của người mua hàng mà theo đó công ty Logistics bổn phận phải thực hiện đúng. Quy trỡnh  này  thường  cú  tờn  là  quy  trình Logistics   hiện   hành   hay   quy   trình   khai   thác   tiêu   chuẩn (Standard Operating  Procedure).  Quy  trình  Logistics  bao  gồm  các  bước  sau:

    Booking:  Theo  hợp  đồng  thương  mại  ký  kết  với  khách  hàng  về
    một  đơn  hàng  cụ  thể,  chủ  hàng  sẽ  gửi  chi  tiết  số  đơn  hàng  (Purchasing Oder)  theo  mẫu  booking  quy  định  cho  công  ty  Logistics  bao  gồm  số  PO,  số loại  hàng,  số  chiếc,  số  khối……….Những  chi  tiết  yêu  cầu  này  thay  đổi  tuỳ theo  khách  hàng,  được  quy  định  trong  quy  trình  Logistics.  Ngoài  ra  trong mẫu  booking  cần  có  những  thông  tin  quan  trọng  khác  như  tên  người  gửi hàng,  người  nhận  hàng,  số  L/C…Sau  khi  nhận  được  booking  từ  chủ  hàng, người  phụ  trách  khách  hàng  của  công  ty  Logistics  sẽ  kiểm  tra  những  chi tiết  này  trên  hệ  thống  dữ  liệu  mà  đã  được  khách  hàng  cập  nhật.  Ngoài  ra quy  trình  cũng  quy  định  thời  gian  chủ  hàgn  gửi  booking  cho  công  ty Logistics,  chủ  hàng  không  thể  tuỳ  tiện  gửi  booking  theo  tình  hình  hàng hóa.

    Giao  hàng:  Hàng  sau  khi  được  Booking  sẽ  được  xuất  theo  hai
    dạng  là  hàng  lẻ  hoặc  container.  Đối  với  hàng  lẻ,  chủ  hàng  phải  giao  hàng trước  thời  gian  cut off  time  của  công  ty  Logistics.  Tại  kho,  mã  số  hàng  hoá phải  được  quét  mã  vạch,  việc  quét  mã  vạch  này  được  công  ty  Logistics  thực hiện  khi  nhận  hàng  và  đóng  hàng  vào  container.  Dữ  liệu  trên  sẽ  được  cập nhật  trên  hệ  thống  của  công  ty  Logistics.  Một  số  trường  hợp  hàng  hóa  phải có  thư  cam  kết  (Letter  of  Guarantee)  từ  phía  chủ  hàng.  Vd:  Hàng  nguy hiểm,  hàng  chất  lỏng…Việc  thực  hiện  thủ  tục  hải  quan  hàng  xuất  tại  kho  sẽ do  chủ  hàng  thực  hiện  nhưng  chủ  yếu  vẫn  là  các  công  ty  Logistics  làm  thay cho  chủ  hàng,  như  vậy  sẽ  thuận  tiện  và  nhanh  chóng  hơn.  Khi  nhận  đủ hàng  từ  chủ  hàng,  công  ty  Logistics  sẽ  đóng  hàng  vào  container  theo  kế hoạch  đóng  hàng  và  hạ  bãi.

    Chứng  từ:  Sau  khi  giao  hàng  vào  kho  của  công  ty  Logistics hoặc  hạ  bãi  container  chủ  hàng  sẽ  cung  cấp  chi  tiết  lô  hàng  cho  công  ty Logistics  để    làm  vận  đơn  đường  biển  (Bill  of  Lading B/L,  Seaway  Bill SWB  hay  House  Bill)  chứng  nhận  nhận  hàng  (Forwarder’s  Cargo  ReceiptFCR).  Dựa  trên  chi  tiết  cung  cấp  kết  hợp  với  chi  tiết  thực  nhận  trong  kho, nhân  viên  chứng  từ  công  ty  Logistics  sẽ  cập  nhật  vào  hệ  thống  và  in  ra chứng  từ  đã  nêu  cho  chủ  hàng.  Hầu  hết  các  công  ty  Logistics đảm  nhận  luôn công  việc  phân  loại,  kiểm  tra  và  gửi  toàn  bộ  chứng  từ  của  lô  hàng  cho khách  hàng.  Như  vậy  khi  chủ  hàng  lấy  B/L,  SWB  hay  FCR  gốc,  chủ  hàng cần  phải  nộp  chứng  từ  gốc  cần  thiết  cho  công  ty  Logistics  như  (commercial invoice,  packing  list,  certificate  of  origin…)

    Sau  khi  hoàn  thành  việc  cập  nhật  chi  tiết  lô  hàng  vào  hệ  thống,  công  ty Logistics  sẽ  gửi  thông  báo  hàng  xuất  cho  khách  hàng  (Shipping  Advice) bao  gồm  những  thông  tin  cơ  bản  về  lô  hàng  (PO,  số  container,  ngày  tàu chạy…..) Đa  số    những  công  ty  cung  cấp  dịch  vụ  Logistics  tại  Việt  nam  đều  hoạt động  theo  nội  dung  của  quy   trình  Logistics  đã  nêu  trên.  Quy  trình  này  bao hàm  những  dịch  vụ  được  cung  cấp  như  quản  lý  đơn  hàng,  gom  hàng,  quản lý  chứng  từ,  dịch  vụ  tại  kho…..Nhưng  thực  ra  đây  mới  chỉ  là  những  khâu cơ  bản  nhất  trong  chuỗi  Logistics  mà  các  công  ty  Việt  nam  đã  và  đang  làm được.

    Chương II:Chương II: APL logistics trên thế giới

     

    2.1 Giới thiệu về APL logistics

    Hãng tàu APL tên tiếng Anh là American President Lines Ltd.

    APL có lịch sử bắt nguồn từ công ty Pacific Mail Steamship Company do William Henry Aspinwall thành lập năm 1848 tại Hoa Kỳ. Sau lịch sử phát triển 160 năm, công ty này đã phát triển thành một hãng tàu hàng đầu trong lĩnh vực vận tải container, và là hãng tàu có lịch sử lâu đời nhất Hoa Kỳ. APL là công ty lo về kho bãi đứng thứ 2 tại Mỹ, có vị trí thứ 5 trong số các hãng tàu lớn nhất trên thế giới. Hãng tàu này cung cấp dịch vụ trên 140 quốc gia với một mạng lưới hoạt động rộng khắp, bao gồm cả vận tải đa phương thức, được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin và thương mại điện tử.

    APL hiện là công ty con của NOL (Neptune Orient Lines), tập đoàn vận tải và logistics toàn cầu có trụ sở tại Singapore.

    Năm 1997, công ty vận tải biển NOL của Singapore đã mua lại APL với giá 285 triệu USD. Đây là vụ thôn tính lớn chưa từng có bởi một công ty Singapore. Trên thực tế, APL lớn gấp 2 lần NOL, khi đó thuộc sở hữu Nhà nước của Singapore.

    APL đã sớm thấu hiểu những khó khăn và quan ngại mà khách hàng thực sự đối mặt, để từ đó phát triển những sản phẩm dịch vụ có thể thực sự giải quyết khó khăn ấy cho khách hàng, đồng thời đem lại hiệu quả kinh doanh tuyệt vời cho APL. APL Logistics – một nhánh của chuỗi dịch vụ cung cấp cho khách hàng – đã ra đời từ quan điểm ấy.

    APL Logistics đã thực sự tạo ra cái mà ta gọi là Đại dương xanh thời bấy giờ và thành công đến mức nó trở thành hình mẫu cho nhiều doanh nghiệp logistics khác. Tất nhiên dịch vụ mới mẻ mà APL Logistics tạo ra đã trở thành Đại dương đỏ trong giai đoạn hiện nay, song nó là nền móng cho một APL Logistics mạnh mẽ, với mạng lưới rộng khắp văn phòng và khách hàng.

    Độ bao phủ: APL logicstics có tầm phủ gần 100 quốc gia ở Châu Á, Bắc Mỹ và Châu Âu.

    Sở hữu: 5000 nhân viên, 162 kho hàng, 99 máy kéo, 251 xe kéo.

    Hệ thống thông tin: rất tốt và áp dụng nhiều công nghệ mới, TMS-i2, IT, e-commeree (Thương mại điện tử).

    Lĩnh vực hoạt động chính: tự động, hàng công nghiệp, công nghệ, hàng tiêu dùng lẻ, chăm sóc sức khỏe, bán lẻ.

    Khách hàng chính: 3M, Bird-Eye, Bobcat, Colgate-Palmolive, Dell computer, General Motors, Nike, Procter & Gamble.

    2.2. Lịch Sử hình thành và phát triển của công ty APL Logistic

    1948: Mexico Chiến tranh kết thúc, Mỹ Duyên hải Thái Bình Dương kéo dài từ Puget Sound đến San Diego. William Henry Aspinwall là thành công trong một giá thầu cho một hợp đồng chính phủ 10-năm để phân phối thư giữa Panama và Oregon. Trong tháng Tư, Thượng viện New York kết hợp Thái Bình Dương Công ty Steamship Mail để thực hiện hợp đồng. Aspinwall được bầu làm tổng thống của công ty, sớm nhất của người tiền nhiệm của APL. Xây dựng bắt đầu vào ba bằng gỗ, mái chèo bánh hấp cho Mail Steamship Thái Bình Dương Công ty. Các keel của California được đặt vào tháng Giêng tại nhà máy đóng tàu của William H. Webb, và bàn ủi được tung ra vào tháng Năm.Mail đầu tiên của bàn ủi Thái Bình Dương, California,khởi hành New York vào ngày 06 tháng 10 sẽ diễn ra của nó trong công ty là Panama – dịch vụ Oregon.

    1850: Mail Thái Bình Dương sẽ mở ra một West Coast văn phòng tại San Francisco. Công ty cổ phần trả cổ tức cao là 50%.Mail Thái Bình Dương sẽ mở ra một West Coast văn phòng tại San Francisco. Công ty cổ phần trả cổ tức cao là 50%.

    Đại hội New Granada phê chuẩn một hợp đồng cho các Công ty Đường sắt Panama, kiểm soát một phần bởi Aspinwall, độc quyền cho một tuyến đường sắt qua eo đất Panama.Mail Thái Bình Dương mua hai tàu hơi từ Empire City Line để duy trì sự độc quyền trong thương mại Panama-Oregon.

    Mail Thái Bình Dương bắt đầu một chương trình đóng tàu mở rộng. Bốn tàu kết được thiết kế cho các nhu cầu của thương mại mở rộng California.

    1855: Panama cung cấp dịch vụ đường sắt giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương bên của eo đất này. Các chuyến đi từ đại dương đến biển là giảm từ bốn ngày đến bốn giờ. Phối hợp của đường sắt và tàu hơi nước kết quả lịch trình trong thời gian đi du lịch trong khoảng 21 ngày giữa New York và San Francisco.

    1867: Ngày 01 Tháng 1, Colorado rời San Francisco trên một chuyến đi đánh dấu các dịch vụ đầu tiên thường xuyên giữa Hoa Kỳ và Yokohama và Hồng Kông; dịch vụ feeder được thành lập từ Yokohama để Hakodate, Kobe, Nagasaki, và Thượng Hải.

    1875: William Henry Aspinwall chết ngày 18 tháng 1 năm 1875, ở tuổi 68.Mail Thái Bình Dương bắt đầu dịch vụ cho Australia và New Zealand.

    1896: Mail Thái Bình Dương cung cấp dịch vụ trực tiếp đến Honolulu, Kobe, Nagasaki, và Thượng Hải.

    1961: APL bắt đầu chuyển sang Container. Đối với các container để thành công, tàu phải được sửa đổi. Tương tự như vậy, cảng và hệ thống giao thông nội địa trên thế giới đã được nâng cấp để đáp ứng một tiêu chuẩn mới.lãnh đạo Công nghiệp, cũng như khách hàng, hoài nghi. Một trong những container đầu tiên được sử dụng cho thương mại quốc tế.

    1967: Năm chiếc tàu Seamaster lớp được đưa vào dịch vụ. Giống như hàng hải Thạc sĩ, họ cũng sẽ được chuyển đổi thành container trong năm 1973.

    1969: 23% toàn bộ hàng hóa vận chuyển bằng APL tại Thái Bình Dương di chuyển trong các thùng chứa.

    1971: 58% hàng hóa của APL vận chuyển tại Thái Bình Dương di chuyển trong các thùng chứa.  APL ra mắt ba tàu lớp C-8, sẽ được chuyển đổi sang container trong năm 1978.

    1979 APL là công ty vận chuyển đầu tiên để thiết lập dịch vụ tàu chuyên dụng nối liền thành phố cảng với các nội thất của các tàu Mỹ và tàu được điều phối lịch trình, mà kết quả trong một thời gian quá cảnh cải thiện đáng kể và độ tin cậy cho khách hàng của APL.

    1980: Phát triển mạng lưới intermodal theo dõi bởi một kết quả hệ thống điện tử tinh vi theo dõi lợi nhuận kỷ lục cho APL chuyên gia giao thông của công ty tiếp tục tinh chỉnh các khái niệm intermodal.APL giả định kiểm soát của một công ty nhỏ hợp nhất châu Á hàng hóa và đặt tên là Công ty TNHH Dịch vụ Hợp nhất Mỹ Hai hoạt động đầu tiên tại Hồng Kông và Đài Loan.

    Từ năm 1980 đến năm 1982, APL có giao về tổng cộng năm C-9 tàu lớp học, tất cả đều được container. Ba trong số các mạch sử dụng nhiên liệu diesel, cho phép công ty để thực hiện tiết kiệm chi phí đáng kể.

    1983: APL Logistics công khai cổ phiếu giao dịch trên chứng khoán New York.

    1984: APL logistics tiên phong container-tracing công nghệ cho phép khách hàng truy cập trực tiếp đến thông tin giao hàng, do đó loại trừ lao động và giấy chuyên sâu quy trình.

    1994: APL Logistics bắt đầu dịch vụ đến Việt Nam và mở một văn phòng tại TP Hồ Chí Minh.

    1996: APL logistics tiên phong về giao dịch hàng trực tuyến thông qua Internet.

    1998: APL nhập vào các thỏa thuận New World Alliance, cho phép công ty cung cấp phạm vi bảo hiểm toàn diện hơn nữa của các thị trường trên thế giới cho khách hàng.APL Logistics được thành lập. Một tỷ đô-la cộng với đơn vị của NOL, APL Logistics bây giờ là một nhà cung cấp hàng đầu các dịch vụ quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu, cung cấp hợp nhất kho bãi, giao nhận, quản lý giao thông vận tải, và một loạt các dịch vụ chuỗi cung ứng khác.

    1999: APL Logistics giới thiệu homeport ® , các ngành công nghiệp vận chuyển container của cổng Web tùy biến đầu tiên. Với homeport, khách hàng có thể thực hiện một loạt các giao dịch điện tử với một công ty vận chuyển. Homeport đại diện cho một bước chuyển quan trọng cho ngành công nghiệp trong sự thuận tiện và dễ dàng trong kinh doanh.

    2001: BL in mới nhất của APL sẽ trở thành ứng trước điện tử. Lần đầu tiên trong lịch sử ngành công nghiệp, khách hàng có thể sử dụng Internet để in vận đơn tại các địa điểm từ xa như ngân hàng của họ và giao nhận vận tải hàng hóa. Dịch vụ mới cho phép các chủ hàng phải nộp đối với hàng hoá của họ nhanh hơn và loại bỏ các thủ tục giấy tờ nặng nề và chi phí định kỳ để cung cấp các tài liệu giấy bằng đường hàng không thể hiện.

    2005: Tại đầu cuối của mình tại cảng Los Angeles,  APL logistics sẽ trở thành công ty vận chuyển bằng container cài đặt hệ thống định vị bằng cách sử dụng nhận dạng tần số vô tuyến (RFID). Hệ thống dịch vụ tốc độ giao hàng cho các lái xe tải gọi điện thoại để nhận container cho khách hàng.

    2006: APL và APL Logistics với đội ngũ tài xế Mỹ Côn-longhaul cách để giới thiệu OceanGuaranteed SM, vận chuyển của ngành công nghiệp đầu tiên ngày-định cung cấp dịch vụ cho containerload ít hơn (LCL) hàng. Các dịch vụ mới cung cấp một thay thế chi phí thấp để vận tải hàng không cho hàng hóa nhạy cảm với thời gian vận chuyển hàng lẻ.

    2007: APL sẽ trở thành công ty vận chuyển đầu tiên sử dụng container 53-foot trên tàu container trên một cơ sở thường xuyên hàng tuần,. đổi mới này đẩy các lợi thế kinh tế của container lớn ngoài xa hơn trở lại trong chuỗi cung ứng, cho phép các chủ hàng đặt hàng nhiều hơn nữa vào một hộp duy nhất cho một chuyến đi biển.

    2.3.  Hệ thống dịch vụ của APL Logistics thế giới

    – VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN

    Nhờ có nhiều ưu thế vượt trội, vận tải đường biển là phương thức vận tải được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới.APL có thể cung cấp cho khách hàng những dịch vụ vận tải đường biển tốt nhất với mức giá cạnh tranh nhất.Dịch vụ vận chuyển thích hợp đối với tất cả các chủng loại hàng hoá, vận tải hàng nguyên container và vận tải hàng lẻ container tới tât cả các vùng miền trên thế giới.Ngoài ra, khách hàng có rất nhiều lựa chọn về các tuyến đi thắng, các tuyến chuyển cảng và các điều kiện khác mà khách hàng cảm thấy phù hợp nhất. Bộ phận chăm sóc khách hàng sẽ theo dõi lô hàng trong suốt quá trình vận chuyển cho tới khi hàng tới được đích đến cuối cùng.Giá thành vận tải luôn là ưu thế hàng đầu của vận tải đường biển. Do đó, đội ngũ nhân viên kinh doanh luôn cố gắng cung cấp cho khách hàng những mức giá linh động, phù hợp với nhiều mục tiêu khác nhau của khách hàng. Do đó, quý khách có thể yên tâm rằng quý khách đang tận dụng được hết mọi lợi thế của phương thức vận tải đường biển.

    Tập đoàn Vận tải biển APL của Mỹ vừa công bố kế hoạch mở thêm tuyến dịch vụ chuyển hàng từ Việt Nam và Thái Lan tới các nước trong khu vực châu Á.Ngày 21/10/2010, tập đoàn vận tải biển APL của Mỹ công bố kế hoạch mở thêm tuyến dịch vụ chuyển hàng từ Việt Nam và Thái Lan tới Nhật Bản và Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông.

    Tuyến dịch vụ mới với tên gọi tuyến Nhật Bản – Thái Lan – Việt Nam (JTV) sẽ giúp tăng cường mạng lưới vận tải biển đường ngắn và phục vụ tốt hơn các thị trường sản xuất và tiêu dùng chủ chốt trong nội vùng châu Á.  APL sẽ triển khai 3 tàu vận tải, mỗi tàu có sức chứa 1.200 container. Dịch vụ JTV sẽ vận chuyển hàng theo lộ trình từ Tokyo, Yokohama, Kobe, Chiwan, Hồng Công, Laem Chabang, TPHCM, Kaohsiung và trở lại Tokyo.

    Tuyến dịch vụ trên sẽ giúp các nhà nhập khẩu và xuất khẩu tiếp cận mạng lưới toàn cầu của APL thông qua Hong Kong và Cao Hùng. Tuyến dịch vụ này sẽ bắt đầu từ cảng Tokyo tới Yokohama, Kobe (Nhật Bản) và Chiwan (Trung Quốc), Hong Kong, Laem Chabang (Thái Lan), thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam), Cao Hùng (Đài Loan) rồi quay trở lại cảng Tokyo.

    Tháng 6/2010, APL đã khai trương tuyến dịch vụ vận chuyển trực tiếp từ Việt Nam tới Mỹ.

    Theo Tổng giám đốc  APL Việt Nam Barry Akbar, việc mở rộng dịch vụ ở Việt Nam nằm trong kế hoạch đầu tư lâu dài của tập đoàn tại Việt Nam, quốc gia đang nổi lên là một trung tâm sản xuất và xuất khẩu.

    APL hy vọng khối lượng hàng vận chuyển từ Việt Nam sẽ tăng trong thời gian tới, khi các nhà sản xuất hàng dệt may, giày dép, đồ dùng gia đình và đồ gỗ sẽ chuyển cơ sở sản xuất tới đây nhằm khai thác nguồn nhân công giá rẻ và đa dạng hoá nguồn cung.

    –         VẬN TẢI ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG

    Nếu khách hàng cần đảm bảo những yêu cầu chăt chẽ về mặt thời gian và an toàn, vận tải đường hàng không là lựa chọn tốt nhất dành cho bạn. Với APL, khách hàng có thể chắc chắn rằng chuyến hàng của bạn sẽ nhận được sự chăm sóc đặc biệt kể từ điểm xuất phát cho tới điểm đến cuối cùng. Hệ thống đại lý rộng khắp và đáng tin cậy của chúng tôi sẽ giúp vận chuyển hàng hoá của bạn trơn tru, tới nơi đúng hẹn và an toàn để phục vụ các mục đích khác nhau của bạn.

    Vào mùa cao điểm, công ty có thể đảm bảo với khách hàng về thời gian chuyển tải qua các điểm trung chuyển như Bangkok, Singapore, Kuala Lumpur hoặc Hong Kong.

     

    –         VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN VÀ ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG KẾT HỢP

    Vận tải biển và vận tải hàng không là một sự kết hợp tuyệt vời trong vận tải đa phương thức.Dịch vụ kết hợp giữa vận tải biển và vận tải hàng không của công ty sẽ giúp bạn tiết kiệm chi phí và đảm bảo các yêu cầu về mặt thời gian. Hơn nữa, đội ngũ nhân viên được đào tạo kỹ của chúng tôi luôn làm việc hết sức nhằm tránh và giải quyết tốt nhất các vấn đề phát sinh để khách hàng  không phải lo về những vấn đề đó nữa.

     

    –         VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ

    Vận tải đường bộ là phần không thể tách rời khỏi dây chuyền cung ứng dịch vụ giao nhận kho vận khác. Union cung ứng các dịch vụ vận tải theo lịch trình, hàng gom và thuê nguyên chuyến.

    Dịch vụ vận tải đường bộ bao gồm:

    * Bốc xếp và sắp đặt hàng.

    * Giao nhận vận tải hàng trọn gói.

    * Vận tải hàng siêu trường, siêu trọng, hàng rời và hàng đặc biệt.

    * Vận chuyển hàng đồ dùng gia đình và tài sản cá nhân.

    * Vận chuyển hàng quá cảnh.

    * Vận chuyển hàng tạm nhập-tái xuất và tạm xuất-tái nhập.

    * Lưu kho và phân phối hàng hoá

    –         KHO BÃI

     

    Với hệ  thống kho bãi rộng gần 1,000 m2  ở cảng Hải Phòng, UNION LOGISTICS sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng về lưu kho, vận chuyển và  phân phối hàng hóa thông qua hệ thống vận tải toànquốc. Cung cấp dịch vụ kho bãi và đóng hàng xuất nhập theo yêu cầu của tất cả các khách hàng trong và ngoài nước. Dịch vụ của chúng tôi gồm sắp xếp và đóng rút hàng vào ra cho các loại Container, kể cả Container khung và Container phằng. Đảm bảo an toàn cho hàng hoá với nhiều chủng loại khác nhau.

    –         LƯU KHO VÀ PHÂN PHỐI

     

    Công ty cung cấp dịch vụ lưu kho tại những điểm đến quan trọng ở Việt Nam.Hàng hoá sẽ được bảo quản cần thận cho tới khi hàng được giao hoặc phân phối.
    Các dịch vụ lưu kho và phân phối bao gồm:
    + Nhận và lưu kho hàng hoá

    + Xe nâng và cần cẩu

    + Lựa chọn, đóng gói, đóng thùng, dán nhãn mác, phân loại và cách ly hàng hoá

    + Giao hàng và phân phối từng phần nhanh

    + Đảm bảo an toàn cho hàng hoá 24/24 giờ

    + Quản lý dự án nhằm đảm bảo quá trình thực hiện dự án trôi chảy

    –         VẬN TẢI NỘI ĐỊA

    Vận tải nội địa là một phần quan trọng của chuỗi logistics. Do vậy, Công tyluôn cố gắng nâng cao chất lượng của các dịch vụ vận tải nội địa.

    Cung cấp các dịch vụ vận tải đường bộ như sau:

    + Xếp hàng hoá tự động

    + Vận chuyển hàng nặng, hàng quá khổ, hàng rời và các hàng hoá nhanh hỏng
    + Vận chuyển đặc biệt các hàng gia dụng và tài sản cá nhân
    +Vận tải chuyển tải hàng hoá đi qua Việt Nam.Ngoài dịch vụ vận tải đường bộ, Cty cũng cung cấp danh mục các dịch vụ vận tải đường sắt như gom hàng theo lịch, vận tải hàng nguyên và vận tải hàng lẻ.

    –         MÔI GIỚI HẢI QUAN

    Sự rắc rối và phức tạp liên quan đến luật lệ và tập quán ở các nước khác nhau khiến cho việc thông quan hàng hoá nhanh chóng trở nên khó khăn, từ đó giảm hiệu quả của cả quá trình vận chuyển và ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình kinh doanh của bạn.Đến với chúng tôi, bạn sẽ không còn phải lo lắng về các thủ tục hải quan nữa. Đội ngũ nhân viên môi giới hải quan và hệ thống đại lý rộng khắp trên toàn thế giới sẽ giúp bạn về các vấn đề liên quan đến thủ tục hải quan. Mục tiêu của chúng tôi là giảm thiểu tối đa các rắc rối và chậm trễ có thể xả đến với bạn.

    –         XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI

    Trong kinh doanh, thông tin không hoàn hảo là khó khăn chung của tất cả các doanh nghiệp. Nhằm hỗ trợ sự phát triển của khách hàng, Công ty cung cấp rất nhiều thông tin về thương mại, kinh doanh trên toàn thế giới như tình hình nền kinh tế các quốc gia, hội chợ thương mại, đối tác kinh doanh, danh bạ công ty, môi giới, thống kê kinh tế, tin tức thị trường và tin tức đầu tư. Hay nói một cách khác, bất cứ khi nào khách hàng cần bất cứ thông tin gì để phục vụ cho công việc kinh doanh của mình, hãy liên lạc với Cty và thông tin khách hàng cần sẽ nằm ngay trong tay.

    • MÔI GIỚI TÀU BIỂN

    Khách hàng đang cần gi ?( đang tìm thuê nột chiếc tàu, hay đang muốn vận chuyển một chuyển một chuyến hàng hóa, hoặc là đang muốn cho thuê một chiếc tàu,…)Nếu vậy, hãy liên lạc với Cty và những nhân viên môi giới ở đây sẽ giúp khách hàng tìm được đối tác thích hợp.Cty nhận tất cả các loại hàng hoá và tàu biển.Khi đã hợp tác với Cty, khách hàng sẽ nhận được thông tin thường xuyên về tàu cho thuê, nguồn hàng và nhu cầu thuê tàu

    • OVERVIEW

    Ngày nay, dịch vụ logistics toàn diện trở nên quan trọng đối với kinh doanh hơn bao giờ hết.Tại Công ty đã thiết kế các dịch vụ sao cho phù hợp nhất với những yêu cầu của từng khách hàng riêng biệt.Vì thế, Cty có thể khai khác tối đa tất cả những tiềm năng đang có nhằm phục vụ cho sự thành  của kháchhàng

    Trong những năm vừa qua, Cty đã và đang nỗ lực tìm kiếm nhiều hơn nữa các tuyến đi thẳng, các tuyến tiết kiệm chi phí; mở rộng mạng lưới đại lý trên toàn thế giới; hợp tác với những đối tác có uy tín. Tất cả đều nhằm đạt được một mục đích duy nhất là cung cấp được những dịch vụ logistics toàn diện và sáng tạo, thoả mãn tối đa những yêu cầu đa dạng của khách hàng.

    Ngoài ra, dịch vụ tư vấn luôn sẵn sàng phục vụ bất cứ khi nàokhách hàng với cần bất cứ thông tin hoặc giải thích nào.

    BẢNG: So sánh dịch vụ được cung cấp bởi các nhà cung cấp logistics nước ngoài.

    Công ty Logistics đầu vào Kho bãi Quản lý tồn kho Lấy hàng/

     

    đong gói và lắp ráp

    Quản lý trung tâm phân phối Marketing/

     

    dịch vụ khách hàng

    Dịch vụ tại nguồn Giao hang thẳng tới kho
    APL logistics ü ü ü ü ü ü ü ü
    Maersk Logistics ü ü ü ü ü ü ü ü
    MOL logistics ü ü ü     ü    
    NYK logistics ü ü ü ü ü     ü
    Schenker ü ü ü ü ü ü ü ü
    DHL / Exel ü ü ü ü ü ü ü ü
    UPS ü ü ü ü ü ü ü  
    Expeditors ü ü ü ü ü ü   ü
    Kuehne & Nagel ü ü ü ü ü ü ü ü
    Panalpina   ü ü ü ü ü ü  
    TNT Logistics ü ü ü ü ü      

     

    Nguồn : Tổng hợp của APL Logistics và phân tích của Frost & Sullivan

    Chương III: APL logistics tại Việt Nam

    3.1. Giới thiệu chung về công ty APL logistics Việt Nam

        3.1.1.  Lịch sử hình thành và phát triển APL logistics tại việt nam

         APL có lịch sử bắt nguồn từ công ty Pacific Mail Steamship Company do William Henry Aspinwall thành lập năm 1848 tại Hoa Kỳ. Sau lịch sử phát triển 160 năm, công ty này đã phát triển thành một hãng tàu hàng đầu trong lĩnh vực vận tải container, và là hãng tàu có lịch sử lâu đời nhất Hoa Kỳ.

    Năm 1997, công ty vận tải biển NOL của Singapore đã mua lại APL với giá 285 triệu USD. Đây là vụ thôn tính lớn chưa từng có bởi một công ty Singapore. Trên thực tế, APL lơn gấp 2 lần NOL, khi đó thuộc sở hữu Nhà nước của Singapore.

    Ngày 7/9, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cho ý kiến về chủ trương thực hiện Dự án thành lập Công ty APL- NOL Việt Nam chuyên cung cấp dịch vụ hàng hải theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

    Theo đó, căn cứ thỏa thuận của hiệp định khung về kết nối hai liền kinh tế Việt nam – Singapore ký ngày 6/12/2005, Thủ tướng đồng ý về nguyên tắc chủ trương cấp phép dự án thành lập Công ty APL- NOL Việt Nam (doanh nghiệp 100% vốn của Singapore) với mục tiêu hoạt động cung cấp các dịch vụ hàng hải (bao gồm cả dịch vụ đại lý vận tải hàng hoá đường biển) tại Việt Nam.

    Tại Việt Nam, APL là một trong 3 hãng tàu đầu tiên (cùng Maersk Line và MOL) thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, mang tên Công ty APL- NOL Việt Nam. Công ty này có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh tại Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng. Cụ thể như sau:

    Tên đại diện : Cty APL-NOL Việt Nam TNHH

    Người đại diện: Ông Barry Akbar

    Chức vụ: Tổng Giám Đốc

    Loại công ty: 100% Vốn Nước Ngoài

    Ngành nghề hoạt động: Giao Nhận & Dịch Vụ Vận Chuyển , Vận Tải Biển , Công Ten Nơ-Vận Tải Bằng Công Ten Nơ

    Địa chỉ doanh nghiệp (trụ sở chính): 22 Phạm Ngọc Thạch, P. 6, Q. 3, Tp. Hồ Chí Minh

    Điện thoại: (84-8) 38221199, 38221166, 38239675, 38990788

    Fax: (84-8) 38227880, 38227875

    Website: www.apl.com

    Ngoài ra còn có văn phòng đại diện tại

     Đà Nẵng

    • Địa chỉ: 113 Hoàng Văn Thụ, P. Phước Ninh, Q. Hải Châu, Đà Nẵng
    • Điện thoại: 0511-3562966
    • Fax: 0511-3562965
    • Email: [email protected]

     Hà Nội

    • Địa chỉ: Phòng 501-502, 43 Trần Xuân Soạn, Hà Nội
    • Điện thoại: 04-39780859
    • Fax: 04-39780858
    • Email: [email protected]

    Hải Phòng

    • Địa chỉ: 05 Lý Tự Trọng, P. Minh Khai, Q. Hồng Bàng, Hải Phòng
    • Điện thoại: 031-3747918
    • Fax: 031-3821516
    • Email: [email protected]

    3.1.2. Cơ sở vật chất và kỹ thuật của công ty

    Hãng tàu APL, tên tiếng Anh là American President Lines Ltd, đứng ở vị trí thứ 5 trong số các hãng tàu lớn nhất trên thế giới. Hãng tàu này cung cấp dịch vụ trên 140 quốc gia với một mạng lưới hoạt động rộng khắp, bao gồm cả vận tải đa phương thức, được hỗ trợ bởi công nghệ thông thin và thương mại điện tử.

    Tại APL Logistics, chúng tôi làm việc chăm chỉ để xây dựng mối quan hệ lâu dài.  Những mối quan hệ đến từ làm những cách làm việc chuyên nghiệp, tập trung vào nhu cầu kinh doanh  , mục tiêu, và ưu tiên đối với khách hàng .  Đã làm việc trong các ngành công nghiệp tương ứng của nó trong nhiều năm, nhân viên của các chuyên gia là không ai sánh kịp. Apl tự hào với đội ngũ nhân viên làm việc chuyên nghiêp, thường xuyên được đào tạo năng cao nghiệp vụ ở những nơi có ngành logistics phát triển mạnh.  Chúng tôi đã hợp tác với một số các tên tuổi lớn nhất trong kinh doanh và công nghiệp hàng đầu hoạt động thành lập tốt nhất cho phép chúng tôi cung cấp các giải pháp logistics thực sự.  Và chúng tôi tiếp tục đầu tư mạnh vào công nghệ để giúp bạn luôn đi đầu trong thị trường toàn cầu ngày nay.

    Là một nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu về dịch vụ hậu cần-kho vận với hơn 24 triệu feet met vuông thuộc quyền quản lí, apl logistics có cơ sở hạ tầng và chuyên môn để hõ trợ sự phân bố các bộ phận hậu mãi cho các ngành công nghiệp ô tô và các ngành công nghiệp nặng khác…

    APL Logistics sử dụng một số hệ thống đã được chứng minh CNTT để quản lý vận chuyển trên tất cả các chế độ. Hệ thống chuyên ngành của APL để tổng hợp, giao nhận và chuyển tải trên toàn cầu  cho phép chúng ta  có thể kiểm soát chặt chẽ phong  trào vận chuyển hàng hóa và quản lý tài liệu và thông tin tài chính từ một nguồn duy nhất. Khách hàng được hưởng lợi từ cải thiện hiệu quả trong hoạt động và tiết kiệm chi phí đóng góp vào dòng dưới cùng.

    Vận tải biển: ACS 123 là hệ thống sở hữu độc quyền của APL logistics để tổng hợp và quản lí vận tải biển. Nó cung cấp sự linh hoạt trong việc sao chép, lưu kho, giao hàng và hoạt động vận chuyển hàng hóa. ACS 123 cũng đảm bảo sự hài lòng của khách hàng về thủ tục giao nhận, và các yêu cầu của nhà cung cấp. Với việc đặt văn phòng trực tuyến để thuận tiện cho nhà cung cấp và tính chính xác, ACS 123 tạo ra tài liệu và dữ liệu cần thiết cho vận chuyển, giao dịch thủ tục hải quan và tài chính.

    Hỗ trợ biển APL Logistics và giao nhận vận tải hàng hóa là một hệ thống web cho phép hoạt động thiết kế dành cho quản lý vận chuyển thời gian thực và dịch vụ khách hàng. Tính năng bao gồm đặt phòng trực tuyến, theo dõi và truy tìm, và tích hợp với bộ APL Logistics ‘của các công cụ quản lý khả năng hiển thị và dữ liệu.

    APL logistics sử dụng hệ thống  quản lí đáng tin cậy để quản lí xe tải và hệ thống đường sắt trong giao thông vận tải, hỗ trợ quản lí các lô hàng, người vận chuyển và các giao dịch tài chính có liên quan. Khách hàng tự động được chấp nhận đơn đặt hàng và chi phí tự động được phân bổ dựa trên các dịch vụ, đánh giá vận chuyển và các thông số hoạt đông khác. Đơn đặt hàng được hợp nhất với các tuyến đường nhằm tối ưu hóa và giảm thiểu chi phí  vận chuyển. Một  hệ thống mạng nội bộ được quản lí chặt chẽ và xuyên suốt , thực hiện quản lí  các thiết bị và tải trọng theo dõi, và tự động thanh toán hóa đơn vận chuyển. Khách hàng được hưởng lợi từ trao đổi dữ liệu giảm và chi phí vận chuyển, dự báo cải thiện, trong khi đáp ứng yêu cầu giao hàng của khách hàng.

    Tự động hoá dây chuyền cung ứng hiệu quả của bạn phụ thuộc vào thông tin chính xác Mã hàng cấp, từ các nhà cung cấp của bạn. Bộ công cụ cho phép các nhà cung cấp số hiệu mạng để tạo ra nhãn mã vạch, và quét và cung cấp danh sách đóng gói dữ liệu điện tử thông qua các chi tiết trước tàu Thông báo (ASN).

    Để tích hợp đầy đủ trình tự, vận chuyển và quy hoạch hệ thống, APL Logistics cung cấp một kinh nghiệm trong việc lập bản đồ số hiệu mạng để hoạt động của khách hàng và hệ thống ERP. Dù bị bắt gặp ở vị trí nhà cung cấp của bạn thông qua các bộ công cụ hiệu mạng, hoặc khi nhận tại một cơ sở APL Logistics, chúng tôi cung cấp những dữ liệu bạn cần để hoàn thành chu trình lệnh giao hàng.

    Các sản phẩm hoặc thùng hàng có thể đã được sẵn sàng, nhưng nó không thể lưu thông  mà không có nhãn.Công nghệ quét và chặn nhãn của APL logistics trong trường họp máy ghi nhãn không đọc được, không chính xác hoặc muộn dẫn  đến  trì hoãn các lô hàng của bạn. Các nhà cung cấp của bạn có thể liên hệ với  APL Logistics ở địa phương  từ mạng lưới toàn cầu của chúng tôi.

    3.2. Các dịch vụ của APL logistics tại Việt Nam

    APL Việt Nam cung cấp dịch vụ logistics tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.

    Hiện APL Việt Nam cung cấp dịch vụ logistics trên 3 mảng chính:

    • Dịch vụ gom hàng – (Consolidation) là việc biến các lô hàng lẻ thành hàng nguyên gửi đi nhằm tiết kiệm chi phí vận tải, là một dịch vụ không thể thiếu được trong vận tải container. Dịch vụ này cũng có thể do người chuyên chở (hãng tàu) hoặc người giao nhận hoặc một người khác đảm nhiệm, gọi là người gom hàng (Consolidator)
    • Dịch vụ vận tải quốc tế – International Freight Service: dịch vụ vận chuyển hàng không, đường biển, thủ tục hải quan, vận chuyển đường bộ
    • Dịch vụ kho bãi – Warehouse Management Service: đáp ứng nhu cầu của khách hàng về lưu kho để vận chuyển và  phân phối hàng hóa

    Với các dịch vụ cụ thể:

    • Cung cấp 14 ngày lưu kho bãi miễn phí
    • Dịch vụ logistics cho hàng vận chuyển bằng đường hàng không: dành cho các loại hàng hóa cao cấp, cần vận chuyển gấp ngoài ra còn có thể theo dõi, giám sát các hàng hóa đang vận chuyển từ các nước khác đến Việt Nam hoặc ngược lại theo yêu cầu của khách hàng
    • Dịch vụ gom hàng:

    Quy trình giao hàng lẻ diễn ra như sau

    – Người gom hàng nhận hàng lẻ từ các chủ hàng và họ sẽ cấp cho người gửi một chứng từ gọi là vận đơn gom hàng (House B/L)

    – Người gom hàng đóng các hàng lẻ vào container và gửi nguyên container cho           người chuyên chở thực (hãng tàu)

    – Hãng tàu nhận container và sẽ cấp cho người gom hàng một vận đơn gọi   là vận đơn chủ (Master B/L) . Hãng tàu vận chuyển container đến cảng đến, dỡ khỏi tàu và giao nguyên container cho đại lý của người gom hàng tại cảng đến trên cơ sở các người nhận đó xuất trình Master B/L

    – Đại lý của người gom hàng, bằng chi phí của mình, dỡ hàng ra  khỏi container và giao hàng cho người nhận trên cơ sở các người nhận đó xuất trình House B/L

    • Dịch vụ chứng từ và Dịch vụ làm thủ tục hải quan: làm bộ chứng từ, khai báo hải quan ( hàng tàu, hàng nguyên container, hàng lẻ, hàng rời với tất cả các loại hình: kinh doanh, đầu tư, đầu tư nộp thuế, tạm nhập – tái xuất…)
    • Truyền dữ liệu qua hệ thống EDI: hệ thống EDI là phương tiện phục vụ cho việc xử lý, lưu trữ dữ liệu và liên lạc. Trong vận tải đa phương thức, việc truyền thông tin dữ liệu là rất cần thiết. Do đó, mỗi nước cần phải thiết lập một hệ thống EDI để khai thác và cập nhật tới tất cả các đại lý trong nước có liên quan, mà còn có thể nối mạng với các nước trong khu vực, cũng như với mạng của hệ thống thông tin toàn cầu GII (Global International Infrastructure)
    • Dịch vụ NVOCC: người thầu vận chuyển hàng lẻ (NVOCC) thường do công ty giao nhận đảm trách với tư cách người gom hàng, là người chuyên chở theo hợp đồng vận chuyển (Contracting Carrier) chứ không phải là đại lý (agent). Người thầu vận chuyển hàng lẻ chịu trách nhiệm suốt quá trình vận chuyển hàng từ khi nhận hàng tại cảng gửi đến khi giao trả hàng xong tại cảng đích. Vận đơn họ ký phát cho người gửi hàng có thể là vận đơn tập thể (House Bill of Lading) hoặc vận đơn do Hiệp hội những người giao nhận quốc tế soạn thảo (FIATA Bill of Lading) nếu họ là thành viên của hội này
    • Logistics ngược: thu hồi lại hàng hóa, tái chế, thay thế và tái sử dụng lại các nguyên vật liệu, làm mới, sửa chữa, thay thế thiết bị hoặc phục hồi sản phẩm bởi các lý do không kiểm soát được như hỏng hóc, tồn kho mùa vụ, thay thế hàng, do lỗi bảo hành hoặc tỷ lệ tồn kho quá cao
    • Book chỗ với các hãng tàu: nhận booking từ các doanh nghiệp, nhà xuất khẩu (vendor) để liên hệ book chỗ với các hãng tàu uy tín để giảm thiểu chi phí và rủi ro trong quá trình vận chuyển cho đơn hàng
    • Kiểm đếm và đóng hàng vào container: APL Logistics cung cấp giải pháp logistics theo chiều sâu cảu sản phẩm. Thông thường hàng hóa chỉ được quản lý đến cấp độ PO ( đơn hàng), bằng hệ thống thông tin của mình, APL Logistics có thể quản lý đơn hàng chặt chẽ đến cấp độ từng đơn vị hàng hóa (SKU) và liên kết với các vendors – nhà xuất khẩu để kiểm tra độ chính xác của đơn hàng. Và tùy theo lượng hàng được book, APL Logistics sẽ lên kế hoạch đóng hàng phù hợp, kế hoạch đóng hàng sẽ được gửi trực tiếp cho người mua – nhà nhập khẩu
    • Dịch vụ kho bãi gia tăng giá trị: Kiểm kiện, phân loại, tuyển chọn, tái chế, lắp ráp, tu chỉnh, sửa chữa, thử mẫu, đóng bao, dán nhãn sản phẩm, trao đổi hàng hoá, vệ sinh công nghiệp, quản trị đơn hàng bán buôn và bán lẻ, thu hồi bao bì/ dụng cụ…
    • Dịch vụ điều phối hàng lưu kho: nhận hàng từ các vendors, kiểm tra về số lượng, nhãn hàng, tình trạng bao bì…Hàng được giao sẽ được xếp đúng quy cách như quy định của khách hàng

    Ngoài ra APL Việt Nam còn cung cấp những dịch vụ đặc biệt sau:

    • Dịch vụ See Change: cho phép các huyên gia logistics và người mua hàng có thể truy suất được dữ liệu về dây chuyền cung ứng chính xác dù hàng hóa đang ở bất cứ đâu, vận chuyển bằng phương tiện gì.
    • Dịch vụ giám sát đơn đặt hàng: hỗ trợ khách hàng hoàn tất các yêu cầu của đơn đặt hàng chính xác và hiệu quả hơn thông qua hệ thống thông tin của APL
    • Quản trị dữ liệu của nhà máy thông qua công cụ ASN ( Advanced Ship Notice): với độ chính xác cao đến từng đơn vị hàng hóa, công cụ ASN giúp nhận dạng hàng hóa qua mã vạch, scan và truyền dữ liệu đến hệ thống của khách hàng.
    • In nhãn và scan hàng hóa: công nghệ in nhãn và scan mã vạch trên thùng hàng carton của APL giúp khách hàng có thể tránh được các nhãn in ấn sai lệch.

     

    Chương IV: Những thuận lợi và khó khăn của công ty APL Logistics

    Thuận lợi

    • APL logistics là công ty có kinh nghiệm trên 100 năm hoạt động.
    • Tầm phủ của APL Logisitics là gần 100 quốc gia.
    • Trong chuỗi logisitics hiện đại thì APL Logisitics bao gồm rất nhiều dịch vụ đa dạng với giá trị gia tăng cao mà chúng ta có thể liệt kê ở đây như: Giao nhận hàng không ( từ cửa tới cửa), giao nhận hàng hải (từ cửa tới cửa), gom hàng nhanh tại kho, quản lý đơn hàng, quản lý và theo dõi cam kết của nhà cung cấp, dịch vụ kho bãi giá trị gia tăng, gom hàng từ nhiều quốc gia đến một cảng trung chuyển thường là Singapore, Kaoshiung, Hong Kong, dịch vụ kiểm soát chất lượng hàng hoá, dịch vụ kiểm soát quá trình sản xuất kịp thời hạn, quản lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu đầu cuối cho khách hàng, dịch vụ quét và in mã vạch….
    • APL Logisitics là nhà cung cấp dịch vụ logisitics cho Nike.
    • Đã xây dựng hệ thống cảng biển, công ty vận tải biển, hãng hàng không, công ty logisitics thành một chuỗi dịch vụ theo đúng mô hình One-Stop Shop.
    • Xây dựng thương hiệu mạnh trong ngành logisitics .
    • Sử dụng sáng tạo công nghệ thông tin cho khả năng hiển thị tối đa và kiểm soát chuỗi cung ứng.
    • APL Logistics là một nhà lãnh đạo ngành công nghiệp trong việc áp dụng công nghệ đã được chứng minh để tăng hiệu suất chuỗi cung cấp.

     Khó khăn

    • Ở các nước đang phát triển cần nhiều vốn đầu tư, chuyên môn và cơ sở hạ tầng hơn. Cơ sở hạ tầng đường bộ, kho bãi chưa đạt chuẩn quốc tế là cản trở lớn đối với việc phát triển hệ thống giao thông – vận tải cũng như hoạt động logistics một cách có hiệu quả và tiết kiệm chi phí.
    • Khủng hoảng kinh tế có ảnh hưởng đến quá trình đầu tư của APL ở các nước.

    Giải pháp

    • Về vận chuyển hoặc vận tải quản lý: cần tăng chuyên ngành công nghệ để giảm thiểu chi phí vận chuyển tốc độ và bảo đảm giao hàng đúng hạn →giảm giá cước.
    • Về quản lý kho hàng: phải tạo lợi thế cạnh tranh hiệu quả kho, thời gian chu kỳ và thực hiện đơn hàng.
    • Về con người: cần tăng nguồn lực chuyên gia và các công cụ thực hành tốt nhất để đảm bảo thành công.
    • Tăng các thử nghiệm APL Logistics đã thành lập sẽ giúp khám phá các cơ hội trong tương lai được cung cấp bởi RFID bao gồm cả sản phẩm theo dõi vào và từ các cửa hàng.
    • Cần chú trọng hơn nữa các vấn đề về Marketing.
    • Sản phẩm dữ liệu: Sản phẩm kết nối dữ liệu thông qua chuỗi cung cấp – từ bất kỳ nhà cung cấp hoặc vị trí.

     

     

    KẾT LUẬN

    Logistics là một ngành mới mẻ đối với Việt Nam tuy nhiên nó lại là ngành mang lại nguồn lợi lớn cho các nước phát triển. Dịch vụ của APL Logistics bao gồm quản lý chuỗi cung ứng, củng cố hàng và nhà cung cấp dịch vụ, quản lý giao thông vận tải,  quản lý giao nhận vận tải hàng hóa toàn cầu và quản lý hải quan, quản lý tài sản, kho bãi trong khu vực và mạng lưới phân phối, thực hiện giải pháp toàn cầu.

    APL Logistics trên thế giới đã rất phát triển, có kinh nghiệm trên 100 năm hoạt động, mở rộng ra nhiều nước, và khi đầu tư vào Việt Nam  cũng đã góp phần rất lớn trong chuỗi hệ thống cung ứng dịch vụ Logistics Việt Nam. Tuy nhiên, APL Logistics ở Việt Nam cũng đã gặp rất nhiểu khó khăn bởi vốn đầu tư lớn về chuyên môn và cơ sở hạ tầng. Vì vậy, nhóm cũng đã nêu ra một số giải pháp nhằm giúp công ty phát triển hơn ở Việt Nam để góp nâng cao hiệu quả quản lý, làm tăng hiệu năng chuỗi cung ứng và giảm chi phí.

     

    Tài Liệu Tham Khảo

     

    1. http://www.apl.com/
    2. http://www.apllogistics.com/wps/portal/apll
    3. http://www.importgenius.com/suppliers/apl-logistics-vietnam
    4. http://www.apl.hrvietnam.com/vi/jobseekers/35A56BDC/logistics-coordinator.html
    5. http://www.360vietnam.com/scm/tag/apl-logistics/
    6. http://www.apl.com/tracking/
    7. http://www.tailieu.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Logistic Kinh doanh

    Tiểu luận Logistic Kinh doanh

    Tiểu luận Logistic Kinh doanh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Logistic-Kinh-doanh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Logistic Kinh doanh

     

    CHƯƠNG 1.                                                                                                                               I, Lý thuyết:

     

    1.1    1.1.Khái niệm tối ưu  hóa dịch vụ logistics

        Tối ưu hoá dịch vụ logistics là quá trình xác định trình độ dịch vụ khách hàng để đạt được khả năng lợi nhuận tối đa..

    1.2    1.2.Bản chất kinh tế của tối ưu hóa dịch vụ logistics

    Xác định mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí K Biết doanh thu và chi phí logistics đối với từng trình độ dịch vụ, chúng ta có thể xác định được trình độ dịch vụ sẽ tối đa hoá đóng góp lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu

    Kết quả bán hàng chịu ảnh hưởng bởi trình độ cung cấp dịch vụ logistics cho khách hàng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, dịch vụ logistics có ảnh hưởng đến doanh số và sau đó là doanh thu, thị phần

    Mối quan hệ giữa chi phí và dịch vụ

    Dịch vụ logistics khách hàng là kết quả của các mức hoạt động logistics. Mỗi mức dịch vụ có một mức chi phí tương ứng. Thực ra có nhiều phương án chi phí hệ thống logistics đối với từng mức dịch vụ, tuỳ thuộc vào sự phối hợp các hoạt động logistics. Khi biết được các mối quan hệ doanh thu – dịch vụ, có thể xác định được chi phí tương ứng với dịch vụ (Hình 1.1).

    Chi phí
    Trình độ dịch vụ
    • Hình 1.1. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí

     

    1.3    1.3.Các phương pháp tối ưu hóa dịch vụ khách hàng

    1.3.1    1.3.1.Quan điểm về dịch vụ khách hàng:

    Dịch vụ khách hàng đề cập đến một chuỗi các hoạt động đặc biệt thỏa mãn  khách hàng thường bắt đầu bằng hoạt động  đặt hàng và kết thúc bằng bằng việc giao hàng cho khách. Trong một số trường hợp có thế tiếp tục với các dịch vụ vận tải, bảo dưỡng và kĩ thuật hỗ trợ khác.

    Nhà kinh doanh cần có sự phân biệt rõ ràng giữa khách hàng và những người tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ của công ty. Người tiêu dùng là người tham gia cuỗi cùng trong chuỗi hoạt động của ngành hậu cần, họ sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích tiêu dùng lần cuối của dịch vụ.

    Từ khái niêm trên có thể hiểu dịch vụ khách hàng là tất cả những gì mà doanh nghiệp cung cấp cho người mua hàng hóa và dịch vụ của công ty. Tuy nhiên trên thực thế có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ khách hàng.

    Theo các nhà quản trị marketing, sản phẩm có 3 mức độ (1) lợi ích cốt lõi, (2) sản phẩm hữu hình, (3) lợi ích gia tăng thì dịch vụ khách hàng là lớp thứ (3), bao gồm những lợi ích cộng thêm.

    Theo khái niêm nêu trên thì Dịch vụ khách hàng là quá trình sáng tạo và cung cấp những lợi ích gia tăng trong chuỗi cung ứng nhằm tối đa hóa tổng giá trị tới khách hàng. Dịch vụ khách hàng  là một quy trình diễn ra giữa người bán và người mua và bên thứ 3 là nhà thầu phụ. Kết thúc quá trình này thì quá trình này thì sản phẩm hàng hóa và dịch vụ được thêm một giá trị nào đó.

    Trong phạm vi của một doanh nghiệp, dịch vụ khách hàng được coi là những phương tiện nhờ đó công ty có được khả năng phân biệt sản phẩm,duy trì sự trung thành của khách hàng, tăng doanh thu lợi nhuận. Dịch vụ khách hàng thường xuyên ảnh hưởng tới mọi hoạt động của công ty.

    1.3.2    1.3.2.Vai trò và tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng.

    -Dịch vụ khách hàng như một hoạt động: ở mức độ này công ty coi dịch vụ khách hàng như một nhiệm vụ đặc biệt mà doanh nghiệp phải hoàn thành để thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Giải quyết đơn hàng, lập hóa đơn, gửi trả hàng yêu cầu bốc dỡ là những ví dụ điển hình của mức dịch vụ này. Khi đó hoạt động logistics dừng lại ở mức độ hoàn thiện giao dịch. Phòng dịch vụ khách hàng là cơ cấu chức năng chính đại diện cho mức dịch vụ này.

    – Dịch vụ khách hàng như thước đo kết quả thực hiện: nhấn mạnh việc đo lường kết quả thực hiện cho phép lượng hóa được sự thành công của doanh nghiệp trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với công ty đang cố gắng thực hiện  chương trình cải tiến liên tục.

    – Dịch vụ khách hàng như một triết lý: coi phần giá trị tăng thêm như mục tiêu triết lý của dịch vụ khách hàng. Dịch vụ khách hàng được nâng lên thành thỏa thuận cam kết của công ty nhằm cung cấp sự thỏa mãn cho khách hàng thông qua các dịch vụ cao hơn.

    Và dịch vụ khách hàng có tác động tới doanh nghiệp ở nhiều mặt như:

    – Ảnh Hưởng Đến Doanh Số Bán:

    Các nhà quản trị hậu cần tin tưởng rằng có sự ảnh hưởng rất to lớn của dịch vụ khách hàng tới doanh số bán,thực tế cho thấy rằng, dịch vụ hậu cần chỉ đại diện cho một tổng thể trong tổng dịch vụ khách hàng, do đó doanh nghiệp không đo lường chính xác chất lượng và kết quả  của dịch vụ hậu cần.

    – Ảnh Hưởng Đến Thói Quen Của Khách Hàng

    Dịch vụ khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các khách hàng quan trọng quen thuộc và duy trì long trung thành của họ. nếu xét theo quan điểm tài chính, thì đầu tư vào cung cấp các dịch vụ khách hàng sẽ hiệu quả hơn đầu tư cho hoạt động xúc tiến hoặc hoạt động phát triển khách hàng khác.

    1.3.3.Các phương pháp  tối ưu hóa dịch vụ khách hàng

     

    1.3.3.1.Tăng cường dịch vụ khách hàng.

    Để tối ưu hóa dịch vụ khách hàng cần đảm bảo các đầy đủ các tiêu chuẩn sau:

    *Tiêu chuẩn đầy đủ về hàng hoá.

    Các cơ sở logistics phải đảm bảo dự trữ thoả mãn nhu cầu về hàng hoá cho khách hàng cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào hệ thống quản trị dự trữ và tổ chức mạng lưới logistics (kho, cửa hàng ). Những chỉ tiêu đánh giá tiêu chuẩn này bao gồm:

    – Tần số thiếu dự trữ: Là khả năng xẩy ra thiếu dự trữ, hay là hàng hoá có đủ để bán cho khách hàng không. Chỉ tiêu này ra: bao nhiêu lần nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp hàng hoá.

    – Tỷ lệ đầy đủ: Đo lường tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của thiếu dự trữ trong cả một thời gian. Tỷ lệ đẩy đủ phụ thuộc vào tần số thiếu dự trữ, thể hiện mưc độ đáp ứng nhu cầu mua hàng của khách.

    Tần số thiếu dự trữ và tỷ lệ đầy đủ liên quan đến chính sách và chiến lược dự trữ.

    – Thời gian bổ sung dự trữ: Là thông số thời gian để có dự trữ đáp ứng yêu cầu bán hàng.

    Ba chỉ tiêu này phối hợp với nhau để xác định phạm vi mà chiến lược dự trữ của doanh nghiệp đap sứng những mong đợi của khách hàng

    * Tiêu chuẩn vận hành nghiệp vụ

    Tiêu chuẩn này được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

    – Tốc độ: là chi phí thời gian mua hàng của khách hàng. Trong bán buôn: là thời gian kể từ khi đặt hàng đến khi giao hàng. Chỉ tiêu này rất khác nhau tuỳ thuộc vào tổ chức hệ thống logistics (mạng lưới, thông tin, vận chuyển, …). Tốc độ cung ứng hàng hoá ảnh hưởng đến thời cơ kinh doanh và chi phí của khách hàng. Trong bán lẻ: chi phí thời gian mua hàng theo các phương pháp bán hàng kể từ khi quyết định cho khách hàng có được hàng hoá. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào việc hoàn thiện các phương pháp bán hàng, phân bố mạng lưới, hình thức tổ chức kinh doanh (loại hình cửa hàng ). Tuỳ thuộc vào đặc trưng nhu cầu mua hàng mà xác định thời gian mua hàng phù hợp. Chẳng hạn, hàng đơn giản không cần lựa chọn có nhu cầu hàng ngày thì phải rút ngắn thời gian mua hàng.

    – Độ ổn định: là sự giao động về chi phí thời gian mua hàng của khách so với trung bình. Trong bán buôn: độ ổn định kém làm cho khách hàng phải tăng dự trữ bảo hiểm để chống lại việc cung ứng chậm trễ. Độ ổn định liên quan đến tiêu chuẩn đầy đủ và dự trữ, năng lực quản trị quá trình cung cấp hàng hoá. Trong bán lẻ: sự giao động thời gian mua hàng ảnh hưởng đến thời điểm và thời gian tiêu dùng hàng hoá, và do đó, không thoả mãn nhu cầu về thời gian cho khách hàng.

    – Độ linh hoạt: là khả năng đáp ứng những yêu cầu dịch vụ bất thường của khách hàng (về hàng hoá, về thời gian, về địa điểm cung ứng và các dịch vụ khác ).

    – Độ sai sót nghiệp vụ: Mức độ vi phạm những yêu cầu của khách hàng về: mặt hàng, thời gian, ….Cần phải thiết kế các chương trình không lỗi và có các phương án khắc phục những sai sót.

    * Độ tin cậy.

    Độ tin cậy thể hiện tổng hợp chất lượng logistics. Độ tin cậy bao gồm khả năng thực hiện 2 tiêu chuẩn , khả năng cung cấp thông tin cho khách hàng chính xác, khả năng cải tiến liên tục các nghiệp vụ.

    Cần phải xác định 3 vấn đề khi đo lường chất lượng dịch vụ: biến số đo, đơn vị đo, cơ sở đo.

    1.3.3.2.Giảm tổng chi phí của cả hệ thống logistics.

    Tổng chi phí của hệ thống logistics bao gồm: chi phí mua hàng, chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí dự trữ hàng hóa, chi phí thiếu bán hàng hóa, chi phí đặt hàng và chi phí khác.

    Chi phí của cả hệ thống logistics chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và vận động theo những chiều hướng ngược nhau dưới ảnh hưởng của qui mô lô hàng nhập.

    -Chi phí mua hàng chịu ảnh hưởng của:

    +Quy mô lô hàng

    +Tổng lượng hàng hóa mua trong kỳ

    -Chi phí vận chuyển hàng hóa chịu ảnh hưởng

    +Cước phí vận chuyển hàng hóa

    +Tổng lượng hàng hóa mua trong kỳ kế hoạch

    -Chi phí dự trữ hàng hóa gồm: chi phí dự trữ trên đường, dự trữ lô hàng trong kho, dự trữ bảo hiểm ở trong kho. Các chi phí nay chịu ảnh hưởng của:

    + Thời gian trung bình vận chuyển hàng hoá

    +Mức tiêu thụ hàng hoá bình quân một ngày

    +Giá hàng hoá nhập kho

    +Qui mô lô hàng nhập kho

    +Thời gian chu kỳ kiểm tra dự trữ hàng hoá (trường hợp kiểm tra định kỳ dự trữ )

    +Thời gian bình quân thực hiện đơn đặt hàngcủa nguồn hàng

    …..

    -Chi phí đặt hàng chịu ảnh hưởng của:

    +Quy mô lô hàng nhập

    +Chi phí một lần đặt hàng.

    +Tổng lượng hàng hóa mua trong kỳ kế hoạch.

    Để tối ưu hóa dịch vụ khách hàng, trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi phí cần phải xác định qui mô lô hàng hợp lý, đảm bảo cho tổng chi phí thấp nhất.

    1.3.3.3, Một số phương pháp Tối ưu hóa dịch vụ khách hàng dựu trên mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí:

    Tối ưu hóa dịch vụ logistics là quá trình xác đinh trình độ dịch vụ khách hàng  để đạt được khả năng lợi nhuận tối đa.

    Xác định trình độ khách hàng tối ưu có liên quan đến mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí

    a, Ph­¬ng ph¸p 2 ®iÓm:

    Ph­¬ng ph¸p nµy bao gåm viÖc t¹o nªn 2 ®iÓm trªn ®­êng cong quan hÖ doanh thu – dÞch vô mµ qua ®ã, ®­êng th¼ng bÞ c¾t. §­êng nµy ®­îc coi nh­ xÊp xØ víi quan hÖ ®­êng cong

     
       

    Doanh

    thu

    Tr×nh ®é dÞch vô

    H.8- Ph­¬ng ph¸p 2 ®iÓm x¸c ®Þnh quan hÖ doanh thu – dÞch vô

    Ph­¬ng ph¸p nµy dùa trªn ý kiÕn cho r»ng, c¸c ®iÓm x¸c ®Þnh ®­êng cong kh¸ tèn kÐm hoÆc kh«ng thùc tÕ, vµ khã cã kh¶ n¨ng m« t¶ mèi quan hÖ víi ®é chÝnh x¸c cao.

    Ph­¬ng ph¸p nµy bao gåm tr­íc hÕt chän dÞch vô logistics kh¸ch hµng ë tr×nh ®é cao cho s¶n phÈm x¸c ®Þnh vµ xem xÐt doanh thu cã thÓ ®¹t ®­îc. Sau ®ã gi¶m dÞch vô ®Õn møc thÊp vµ ghi l¹i doanh thu. Tuy kü thuËt cã vÎ ®¬n gi¶n, nh­ng mét sè vÊn ®Ò cã thÓ h¹n chÕ Ých lîi cña ph­¬ng ph¸p. Thø nhÊt, kh«ng thÓ thay ®æi tr×nh ®é dÞch vô ®èi víi s¶n phÈm ®ang b¸n ®Ó thu thËp th«ng tin ®¸p øng doanh thu. Thø hai, Thêi l­îng mµ dÞch vô thay ®æi lµ ®ang hiÖu qu¶, kh¸ch hµng nµo sÏ cho th«ng tin thay ®æi, vµ c¸c ho¹t ®éng nµo kh¸c ¶nh h­ëng ®Õn doanh thu (xóc tiÕn, gi¸, chÊt l­îng s¶n phÈm, …) cã thÓ lµ c¸c biÕn ¶nh h­ëng ®Õn kÕt qu¶ doanh thu.

    b, Ph­¬ng ph¸p tr­íc vµ sau thö nghiÖm:

    ViÖc x©y dùng ®­êng cong doanh thu – dÞch vô ë ph¹m vi réng cã thÓ lµ kh«ng thùc tÕ. Do ®ã, ®¸p øng doanh thu cã thÓ ®¬n gi¶n ®­îc x¸c ®Þnh b»ng c¸ch t¹o ra sù thay ®æi tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng vµ theo dâi sù thay ®æi doanh thu, hoÆc b»ng c¸ch quan s¸t ¶nh h­ëng t­¬ng tù tõ c¸c b¸o c¸o lÞch sö khi dÞch vô thay ®æi trong qu¸ khø. Sù thay ®æi dÞch vô cÇn ®ñ lín sao cho nh÷ng kh¸c biÖt doanh thu kh«ng bÞ che lÊp bëi dao ®éng doanh thu b×nh th­êng hoÆc do sai sè ®o l­êng.

    Ph­¬ng ph¸p nµy t­¬ng tù ph­¬ng ph¸p 2 ®iÓm, tuy nhiªn nã dÔ thùc hiÖn do tr×nh ®é dÞch vô hiÖn t¹i ®­îc coi lµ “tr­íc” ®iÓm d÷ liÖu, vµ chØ cÇn biÕt “sau”®iÓm d÷ liÖu.

    c, Ph­¬ng ph¸p trß ch¬i:

    • óng ®¾n h¬n trong viÖc ®o l­êng sù ®¸p øng doanh thu víi sù thay ®æi dÞch vô lµ kiÓm so¸t m«i tr­êng sao cho chØ x¸c ®Þnh ¶nh h­ëng cña tr×nh ®é dÞch vô logistics kh¸ch hµng. Ph­¬ng ph¸p nµy gièng nh­ t¹o ra phßng thÝ nghiÖm hoÆc t×nh thÕ trß ch¬i, ë ®ã c¸c quyÕt ®Þnh ®­îc diÔn ra trong m«i tr­êng ®­îc kiÓm so¸t. M«i tr­êng nµy cè g¾ng sao chôp c¸c yÕu tè biÕn ®æi nhu cÇu, c¹nh tranh, chiÕn l­îc logistics vµ nh÷ng c¸i kh¸c t­¬ng tù hoµn c¶nh thùc tÕ. Trß ch¬i gåm c¸c quyÕt ®Þnh vÒ c¸c møc ho¹t ®éng logistics (do ®ã lµ c¸c møc dÞch vô ) víi môc tiªu t¹o nªn doanh thu t­¬ng øng víi chi phÝ t¹o ra chóng. B»ng viÖc theo dâi trß ch¬i theo thêi gian, cã thÓ cã ®­îc d÷ liÖu kh¸i qu¸t ®Ó x©y dùng ®­êng cong doanh thu – dÞch vô.

    d, §iÒu tra ng­êi mua:

    • ©y lµ ph­¬ng ph¸p phæ biÕn nhÊt ®Ó thu thËp th«ng tin dÞch vô kh¸ch hµng.

     

    1.4    1.4. Vận dụng quan điểm tối ưu hóa Dịch vụ khách hàng trong Quản trị dự trữ hàng hóa:

    1.4.1    1.4.1 Khái Niệm Quản Trị Dự Trữ:

    Tõ khi cã s¶n xuÊt vµ l­u th«ng hµng ho¸, dù tr÷ hµng ho¸ xuÊt hiÖn nh­ lµ mét hiÖn t­îng tÊt yÕu. Theo C.Mark th× “Dù tr÷ hµng ho¸ lµ sù cè ®Þnh vµ ®éc lËp ho¸ h×nh th¸i cña s¶n phÈm “. Nh­ vËy, s¶n phÈm ®ang trong qu¸ tr×nh mua, b¸n vµ cÇn thiÕt cho qu¸ tr×nh mua b¸n lµ n»m trong h×nh th¸i dù tr÷.

    Sù vËn ®éng cña hµng ho¸ trong hÖ thèng hËu cÇn ®Òu d­íi h×nh th¸i dù tr÷. Nh­ vËy, dù tr÷ hµng ho¸ trong hÖ thèng hËu cÇn lµ c¸c h×nh th¸i kinh tÕ cña vËn ®éng hµng ho¸ trong kªnh hËu cÇn nh»m tháa m·n nhu cÇu mua hµng cña kh¸ch hµng trªn thÞ tr­êng môc tiªu víi chi phÝ thÊp nhÊt.

    Trong toµn bé nÒn kinh tÕ quèc d©n, dù tr÷ hµng ho¸ lµ tÊt yÕu do sù c¸ch biÖt vÒ kh«ng gian vµ thêi gian gi÷a s¶n xuÊt vµ tiªu dïng hµng ho¸, do ®Æc ®iÓm kh¸c biÖt gi÷a hµng ho¸ s¶n xuÊt vµ hµng ho¸ tiªu dïng, do ®iÒu kiÖn ®Þa lý, tù nhiªn vµ khÝ hËu, hoÆc do ph¶i ®Ò phßng nh÷ng mÊt c©n ®èi lín cã thÓ xÈy ra (chiÕn tranh, thiªn tai, …).

    • èi víi doanh nghiÖp, dù tr÷ cÇn thiÕt lµ do yªu cÇu c¶i thiÖn dÞch vô kh¸ch hµng, nh­: dù tr÷ cung cÊp s¶n phÈm vµ dÞch vô cho kh¸ch hµng ®Çy ®ñ vµ nhanh, ®¸p øng yªu cÇu dÞch vô cao cho kh¸ch hµng, vµ do ®ã duy tr× vµ ph¸t triÓn doanh sè. MÆt kh¸c, dù tr÷ trong c¸c doanh nghiÖp gióp gi¶m chi phÝ do: duy tr× s¶n xuÊt æn ®Þnh vµ n¨ng suÊt cao, tiÕt kiÖm trong mua vµ vËn chuyÓn (trong mua: gi¶m gi¸ v× l­îng hoÆc mua tr­íc thêi vô; cßn trong vËn chuyÓn viÖc t¨ng dù tr÷ do t¨ng qui m« l« hµng sÏ ®¶m b¶o vËn chuyÓn tËp trung víi chi phÝ thÊp ), vµ nhê dù tr÷ mµ c¸c doanh nghiÖp gi¶m nh÷ng chi phÝ do nh÷ng biÕn ®éng kh«ng thÓ l­êng tr­íc.

    1.4.2    1.4.2 Vận Dụng Quan Điểm Tối Ưu Hóa Dịch Vụ Khách Hàng Trong Quản Trị Dự Trữ Hàng Hóa:

    Tr×nh ®é dÞch vô lµ viÖc x¸c ®Þnh c¸c môc tiªu ho¹t ®éng mµ dù tr÷ ph¶i cã kh¶ n¨ng thùc hiÖn. Tr×nh ®é dÞch vô ®­îc x¸c ®Þnh b»ng thêi gian thùc hiÖn ®¬n ®Æt hµng; hÖ sè tho¶ m·n mÆt hµng, nhãm hµng vµ ®¬n ®Æt hµng (b¸n bu«n ); hÖ sè æn ®Þnh mÆt hµng kinh doanh hÖ sè tho¶ m·n nhu cÇu mua hµng cña kh¸ch (b¸n lÎ ). Nh÷ng chØ tiªu tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng trªn ®©y phô thuéc kh¸ lín vµo viÖc qu¶n trÞ dù tr÷ hµng ho¸. Tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng do dù tr÷ thùc hiÖn ®­îc tÝnh to¸n theo c«ng thøc sau:

    d- Tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng (mét mÆt hµng)

     

    mt– L­îng hµng ho¸ thiÕu b¸n cho kh¸ch hµng

    Mc– Nhu cÇu cña kh¸ch hµng c¶ kú

    Tr­êng hîp kh¸ch hµng mua nhiÒu mÆt hµng, th× tr×nh ®é dÞch vô chung ®èi víi kh¸ch hµng ®­îc tÝnh nh­ sau:

    dc– Tr×nh ®é dÞch vô chung cho mét kh¸ch hµng

     

    di– Tr×nh ®é dÞch vô cña mÆt hµng i

    n- Sè l­îng mÆt hµng cung cÊp cho kh¸ch hµng

    ChØ tiªu tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng kÕ ho¹ch ®­îc x¸c ®Þnh theo c«ng thøc sau:

     
       
    • Ó n©ng cao tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng cña dù tr÷, cã thÓ sö dông nh÷ng gi¶i ph¸p sau:

    – Thø nhÊt lµ gi¶i ph¸p truyÒn thèng: t¨ng c­êng dù tr÷. Gi¶i ph¸p nµy cã thÓ ®¹t ®Õn tr×nh ®é dÞch vô kh¸ch hµng nhÊt ®Þnh, nh­ng cã thÓ lµm t¨ng chi phÝ dù tr÷ vµ c¶ hÖ thèng hËu cÇn.

    – Thø hai lµ gi¶i ph¸p c¶i tiÕn: vËn chuyÓn hµng ho¸ nhanh, chän nguån hµng tèt h¬n vµ qu¶n trÞ th«ng tin hiÖu qu¶ h¬n. Gi¶i ph¸p nµy nh»m chän ph­¬ng ¸n tèi ­u trong qu¶n trÞ dù tr÷ hµng ho¸.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1.5    2, Liên hệ thực tế về tối ưu hóa dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thương mại hiện nay:

    1.5.1    2.1. Giới thiệu về Ngân hàng Techcombank:

    Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam ( Techcombank) được thành lập ngày 27/09/1993 với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng, trải qua hơn 16 năm hoạt động, đến nay đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt trên 107.910 tỷ đồng (tính đến hết tháng 6/2010).
    Techcombank có cổ đông chiến lược là ngân hàng HSBC với 20% cổ phần Với mạng lưới gần 230 chi nhánh, phòng giao dịch trên hơn 40 tỉnh và thành phố trong cả nước, dự kiến đến cuối năm 2010, Techcombank sẽ tiếp tục mở rộng, nâng tổng số Chi nhánh và Phòng giao dịch lên 300 điểm trên toàn quốc. Hiện tại, với đội ngũ nhân viên lên tới trên 5000 người, Techcombank luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu về dịch vụ dành cho khách hàng. Techcombank hiện phục vụ trên 1 triệu khách hàng cá nhân, gần 42.000 khách hàng doanh nghiệp.
    Tầm nhìn: Trở thành Ngân hàng tốt nhất và doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam.
    – Sứ mệnh:
     • Trở thành đối tác tài chính được lựa chọn và đáng tin cậy nhất của khách hàng nhờ khả năng cung cấp đầy đủ các sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng và dựa trên cơ sở luôn coi khách hàng làm trọng tâm.
    • Tạo dựng cho cán bộ nhân viên một môi trường làm việc tốt nhất với nhiều cơ hội để phát triển năng lực, đóng góp giá trị và tạo dựng sự nghiệp thành đạt.
    • Mang lại cho cổ đông những lợi ích hấp dẫn, lâu dài thông qua việc triển khai một chiến lược phát triển kinh doanh nhanh mạnh song song với việc áp dụng các thông lệ quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro chặt chẽ theo tiêu chuẩn quốc tế.
    5 Giá trị cốt lõi:

    1. Khách hàng là trên hết : trân trọng từng khách hàng và luôn nỗ lực mang đến những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
      2. Liên tục cải tiến : đã tốt nhưng luôn có thể tốt hơn, không ngừng học hỏi và cải thiện.
      3. Tinh thần phối hợp: tin tưởng vào đồng nghiệp của mình và hợp tác để cùng mang lại điều tốt nhất cho ngân hàng.
      4. Phát triển nhân lực: tạo điều kiện cán bộ nhân viên có thể phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân và khen thưởng xứng đáng cho những người đạt thành tích.
      5. Cam kết hành động: luôn đảm bảo rằng công việc đã được cam kết sẽ phải được hoàn thành .

    1.5.2    2.2 Tình Hình Chung Về Hoạt Động Tối Ưu Hóa Dịch Vụ Khách Hàng Tại Ngân Hàng Techcombank:

    Năm 2009, Techcombank vẫn khẳng định là một ngân hàng vững mạnh, an toàn và hiệu quả.

    * Với khách hàng cá nhân:

    Mở rộng mạng lưới phân phối và tối ưu hóa dịch vụ khách hàng hơn nữa. Năm 2009, công tác mở rộng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch của Techcombank có những bước tiến đáng kể. Với tổng số hơn 40 điểm giao dịch mở mới trong năm 2009, Techcombank đã tăng số lượng chi nhánh và phòng giao dịch lên gần 170 điểm trải rộng trên 35 tỉnh thành trong cả nước. Dự kiến, trong năm 2010 Techcombank sẽ mở thêm một số chi nhánh, phòng giao dịch mới tại các địa bàn kinh tế lớn nhằm tăng khả năng huy động dân cư, phát triển tín dụng cá nhân và phát triển dịch vụ phi tín dụng.

    Các sản phẩm mới lần lượt được giới thiệu và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều khách hàng như các sản phẩm tiết kiệm trúng thưởng, Tiết kiệm bội thu, linh, Tiết kiệm linh hoạt, sản phẩm internetbanking – F@st i bank, F@st E-Bank, thẻ đồng thương hiệu TECHCOMBANK – VISA – VIETNAM AIRLINES…. được nâng cấp hoàn thiện và phục vụ rộng rãi các đối tượng khách hàng. Các sản phẩm mới ra mắt được đánh giá là đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường và được khách hàng đón nhận. Đặc biệt sản phẩm internet banking F@st I-bank/F@st E-Bank tạo rất nhiều thuận tiện cho khách hàng trong việc quản lý tài khoản, thanh toán, kiểm soát các giao dịch với ngân hàng đem lại nhiều tiện lợi hơn cho khách hàng. Techcombank trở thành ngân hàng đầu tiên và là ngân hàng có nhiều nhất số lượng các khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam.
    Năm 2009, Techcombank phát hành gần 300 000 thẻ các loại trong đó có gần 100000 thẻ VISA debit và credit, trở thành ngân hàng có số lượng phát hành thẻ VISA debit lớn nhất Việt Nam, và là 1 trong số 3 ngân hàng phát hành thẻ quốc tế lớn nhất Việt Nam với thị phần 14% thẻ quốc tế phát hành ở Việt Nam.
    Công tác quản lý chất lượng dịch vụ cũng được tăng cường mạnh mẽ với phương châm đem lại sự hài lòng cho khách hàng, Techcombank đã liên tục tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ đặc biệt của đội ngũ cán bộ giao dịch khách hàng. Với việc thành lập bộ phận dịch vụ khách hàng Call Center. Thông qua số điện thoại nóng 04 9427444 giải đáp 24/7, Khách hàng được nhanh chóng giải đáp các vấn đề thắc mắc, truy vấn thông tin tài khoản. Bên cạnh việc trả lời thắc mắc của khách hàng qua điện thoại, dịch vụ Call Center còn tiếp nhận và trả lời 100 email được khách hàng gửi qua trang chủ Techcombank mỗi tháng.

    Đề án nghiên cứu việc xây dựng hệ thống Quản trị quan hệ khách hàng CRM tại Techcombank đã được hoàn thành. Nhiều kết quả nghiên cứu của đề án đã được sử dụng để đề xuất các cải tiến cho quy trình cấp tín dụng, xây dựng các cơ sở tri thức của ngân hàng.

    * Bên cạnh nhóm khách hàng cá nhân, Techcombank đặc biệt chú trọng mảng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống phục vụ đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp. Với sự hiểu biết sâu sắc về đặc thù hoạt động, nhu cầu của từng lớp đối tượng, Ngân hàng đưa ra các sản phẩm, dịch vụ chuyên biệt, nhằm vào Doanh nghiệp lớn (Big Corporate), doanh nghiệp vừa (MME), doanh nghiệp nhỏ (SME), doanh nghiệp rất nhỏ và các hộ kinh doanh (MSME). Dựa trên sự phân khúc này, năm 2008, Techcombank tiếp tục thay đổi sâu sắc để hoàn thiện cơ cấu tổ chức của các bộ phận từ hội sở tới đơn vị trực thuộc, chi nhánh trực tiếp giao dịch với khách hàng để chuyên môn hóa hoạt động kinh doanh, phục vụ khách hàng doanh nghiệp ngày càng chuyên nghiệp hơn. Đối với mỗi phân khúc, Techcombank tập trung nghiên cứu nhu cầu thị trường để đưa ra các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp, đồng bộ, đa dạng và có tính cạnh tranh cao. Đối với phân khúc MSME và SME, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng sẽ được chuẩn hóa, quy định rõ các điều kiện áp dụng và chính sách định giá cao với mức độ chấp nhận rủi ro cao. Với phân khúc MME, các sản phẩm dịch vụ chủ yếu là sản phẩm chuẩn, bên cạnh việc thiết kế một số giải pháp riêng biệt để đáp ứng các nhu cầu dịch vụ tài chính cao hơn của khách hàng. Với phân khúc Corporate, Techcombank sẽ thiết kế các giải pháp cụ thể cho từng khách hàng, trên cơ sở kết hợp các sản phẩm cơ bản về tín dụng, thanh toán, ngoại hối và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng  cao cấp.

    Không những vậy, Techcombank cũng đã chú trọng phát triển mối quan hệ tốt với các hiệp hội, ngành nghề như Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hiệp hội Sản xuất và kinh doanh điều, cà phê, hồ tiêu, Hiệp hội Thép…, để vừa hợp tác, trao đổi kinh nghiệm kinh doanh, cập nhật các thông tin thị trường phục vụ công tác phát triển kinh doanh và quản trị rủi ro, đồng thời thông qua đó làm cầu nối tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng tới các doanh nghiệp, mở rộng thị trường khách hàng.

    Theo ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng Giám đốc Techcombank, với mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, việc liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng là một yêu cầu trọng tâm của Techcombank.

    Techcombank có rất nhiều đối tác lớn là các doanh nghiệp hàng đầu trong và ngoài nước, đây chính là cơ hội để Techcombank xây dựng các chương trình nhằm tận dụng thế mạnh của các đối tác để cung cấp thêm các dịch vụ tiện ích cho khách hàng

    Techcombank đã triển khai những chương trình liên kết từ rất sớm để có những sản phẩm với tính năng ưu việt cho khách hàng. Chẳng hạn như “Cho vay mua ô tô” do Techcombank liên kết với các nhà phân phối xe hơi để cung cấp dịch vụ cho vay, thanh toán… cho khách hàng mua xe; chương trình “Cho vay du học tại chỗ” mà Techcombank kết hợp với các trường, trung tâm đào tạo cao học của nước ngoài tại tại Hà Nội, TPHCM; chương trình liên kết dài hạn với Bảo Việt nhân thọ đưa ra những sản phẩm liên kết ngân hàng – bảo hiểm (bankcasurance) rất thành công thời gian qua.

    Đặc biệt, với chương trình “Cho vay mua nhà”, Techcombank không chỉ kết hợp với chủ đầu tư các khu đô thị mà còn kết hợp với các định chế tài chính lớn như ADB, IFC… để có nguồn vốn dài hạn cho vay khách hàng trả góp với thời hạn lên tới 20 năm.

    Việc hợp tác với các đối tác để đưa ra các sản phẩm, chương trình trong nhiều năm qua là một bước đi đúng đắn của Techcombank. “Sự thành công của các chương trình này chứng tỏ khách hàng đây là hướng đi đúng đắn và lâu dài mà Techcombank lựa chọn

     

    1.5.3    2.3. Những thành tựu đạt được:

    Các giải thưởng trong 3 năm gần đây của Techcombank

     

    Thấu hiểu khách hàng, với phương châm “Khách hàng  là trên hết”, định hướng phát triển của Techcombank luôn hướng tới sự phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường, tập trung đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu về dịch vụ cũng như sự mong đợi của khách hàng.

    “Thương hiệu Việt yêu thích nhất 2010” do báo Sài Gòn Giải Phóng trao tặng. Là minh chứng cho sự tin yêu, tín nhiệm của người tiêu dùng dành cho các thương hiệu Việt, suốt 5 năm qua, giải thưởng đã trở thành một phần thưởng quý giá, là nguồn khích lệ lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đối với Techcombank, giải thưởng một lần nữa góp phần khẳng định sự tin yêu, ghi nhận của khách hàng cho nỗ lực của toàn bộ tập thể cán bộ nhân viên Techcombank trong việc mang đến cho khách hàng nhiều sản phẩm đa dạng, tiện ích nhất và phục vụ tận tâm nhất.

    “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2010 (Best Bank in Vietnam 2010) do Tạp chí tài chính quốc tế Euromoney (Anh Quốc) bình chọn. Giải thưởng được trao cho Techcombank dựa trên những tiêu chí: doanh số giao dịch, tính đổi mới và năng lực lãnh đạo, định mức tín nhiệm, chất lượng tài sản có và lợi nhuận, các hệ số về hiệu quả hoạt động. Techcombank đã thêm một lần nữa khẳng định uy tín quốc tế của mình đồng thời giải thưởng cũng là minh chứng cho những nỗ lực không ngừng của Techcombank.

    ” Giải thành tựu ứng dụng công nghệ” do Financial Insights, chi nhánh của IDC thuộc IDG, công nhận những thành tựu về ứng dụng công nghệ, đi đầu trong giải pháp phát triển thị trường. Techcombank đã vượt gần 70 ứng viên là các tổ chức tài chính, ngân hàng lớn trong khu vực châu Á. Các tiêu chí, điều kiện xem xét hết sức khắt khe:
    • Ngân hàng phải xây dựng được một chiến lược phát triển tổng thể rõ ràng
    • Đạt được sự đồng thuận và cam kết hỗ trợ từ đội ngũ lãnh đạo đến tận từng cán bộ, nhân viên đối với việc triển khai chiến lược
    • Hiệu quả hoạt động phải lớn hơn các đối thủ cạnh tranh
    • Hoàn thiện quy trình và hiệu quả hoạt động, cắt giảm chi phí, không ngừng cải tiến sản phẩm và đưa ra các sản phẩm mới; qua đó, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng…
    • Chứng minh được vai trò tiên phong về công nghệ và đóng góp của công nghệ vào việc triển khai các chương trình chiến lược….

    Đây là lần đầu tiên, một ngân hàng Việt Nam được Financial Insights, một tổ chức tư vấn uy tín thế giới trao giải .

    Những con số đáng tự hào:

    Cùng với sự tăng trưởng về quy mô của Ngân hàng và đội ngũ bán hàng, quy mô khách hàng của Techcombank đã tăng trưởng nhanh chóng qua các năm. Điều này cũng khẳng định những lựa chọn đúng đắn của Techcombank trong việc xác định thị trường mục tiêu và xây dựng đội ngũ bán hàng, cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ ngân hàng đa dạng của các doanh nghiệp tại Việt Nam.Đến cuối năm 2009, Techcombank đạt số lượng 38.500 khách hàng mở tài khoản giao dịch, tăng 15.000 tài khoản so với cùng kỳ năm trước và chiếm gần 10% tổng số doanh nghiệp trên toàn lãnh thổ Việt Nam (Nguồn: số liệu của phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI năm 2009 về số lượng doanh nghiệp), trong đó phần lớn là khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ theo phân nhóm của Techcombank. Số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ là 14.500 khách hàng, chiếm gần 38% khách hàng doanh nghiệp của Techcombank. Doanh nghiệp nhỏ đạt 21.000 khách hàng và doanh nghiệp vừa là 2.700 khách hàng, chiếm 55% và 7% quy mô khách hàng. Điều này chứng tỏ, Techcombank đã và đang thực hiện đúng theo định hướng chiến lược đã lựa chọn, là ngân hàngphục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ hàng đầu Việt Nam.

    Để đạt được kết quả đáng tự hào nêu trên, Techcombank đã xây dựng một mô hình kinh doanh về dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp hiện đại, từ xác định thị trường mục tiêu, phát triển đội ngũ bán hàng, xây dựng kịch bản bán hàng chuẩn cũng như tiến hành đào tạo thường xuyên cho các đơn vị kinh doanh trên toàn hệ thống. Đồng thời, hệ thống hỗ trợ kinh doanh của Techcombank đã chủ động tìm hiểu, nghiên cứu thị trường tại các địa bàn nhằm cung cấp những chỉ dẫn kinh doanh và danh sách khách hàng cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai hoạt động bán hàng. Kết quả mang lại là số lượng khách hàng mới tăng lên một cách rất nhanh chóng và tỷ lệ khách hàng có giao dịch thường xuyên tăng lên đáng kể so với năm trước

    • Tăng trưởng cho vay doanh nghiệp có những tăng trưởng đáng ghi nhận

    Tổng dư nợ của khối khách hàng doanh nghiệp tính đến thời điểm 31/12/2009 đạt mức 30.750 tỷ đồng, tăng 70% so với con số dư nợ 18.028 tỷ đồng năm 2008. Kết quả là phân khúc khách hàng doanh nghiệp đã đóng góp tới 73% tổng dư nợ toàn hệ thống Techcombank trong năm 2009.

    • Cơ cấu cho vay theo loại hình doanh nghiệp

    Mảng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục chứng tỏ là phân khúc mũi nhọn trong hoạt động tín dụng của Techcombank. Cụ thể, cho vay doanh nghiệp cỡ vừa năm 2009 đạt 10.601 tỷ đồng, xấp xỉ con số này là mảng cho vay doanh nghiệp nhỏ với 10.400 tỷ đồng tổng dư nợ. Trong khi đó, với chiến lược hướng tới khách hàng doanh nghiệp lớn để khẳng định uy tín và thương hiệu Techcombank, năm qua cho vay khối khách hàng này đã phát triển mạnh với dư nợ đạt 6.172 tỷ đồng. Cuối cùng là phân khúc khách hàng doanh nghiệp siêu nhỏ với dư nợ 3.576 tỷ đồng.

    1.5.4    2.4. Những Hạn Chế của Techcombank cũng như của các Ngân hàng TM Việt Nam trong dịch vụ khách hàng:

    Tuy đạt được nhiều thành công trong những năm qua song Techcombank vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, mà có thể nói đó là những hạn chế chung của các ngân hàng Việt Nam. Có thể kể đến như:

    Thứ nhất, chất lượng và số lượng các dịch vụ tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Có thể nói, một điểm yếu phổ biến và nổi bật của các NHTM Việt Nam là sự đơn điệu trong hoạt động kinh doanh. Doanh thu  vẫn dựa chủ yếu từ cho vay trong khi hoạt động cho vay là một lĩnh vực nhiều rủi ro. Ðối với thị trường thẻ – một lĩnh vực được đánh giá là có bước phát triển vượt bậc thời gian qua nhưng vẫn mang tính rời rạc do có sự khác biệt trong quan điểm giữa các NHTM, các liên minh. Phạm vi phát hành và sử dụng thẻ mới chủ yếu tập trung ở một số tỉnh, thành phố lớn; đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu tập trung vào những đối tượng đang làm việc trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và mới đây là đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Nhiều trường hợp cây ATM không có tiền để khách hàng rút, dẫn đến gây khó khăn cho khách hàng trong công việc.

    Thứ hai, hiệu quả tối đa mang lại cho từng ngân hàng từ việc ứng dụng công nghệ hiện đại còn chưa cao. Trên thực tế, việc ứng dụng các công nghệ hiện nay còn nhiều bất cập, mặt bằng trình độ công nghệ của các ngân hàng còn ở mức thấp, khoảng chênh lệch trình độ công nghệ giữa các ngân hàng khá xa dẫn đến hai tình trạng trái ngược nhau: hoặc là chỉ có thể ứng dụng công nghệ ở mức độ thấp do hạn chế về vốn hoặc lại chưa khai thác sử dụng hết tính năng công nghệ hiện đại do một số quy trình, chuẩn mực nghiệp vụ chưa được ban hành đầy đủ. Chính điều này cũng là nguyên nhân khiến các ngân hàng khó kết nối với nhau. Từ đó gây khó khăn cho khách hàng trong các giao dịch liên ngân hàng.

    Thứ ba, vấn đề quản lý rủi ro còn nhiều bất cập. Các DVNH hiện đại được sử dụng ngày càng nhiều là một dấu hiệu khả quan, là thành công của ngân hàng, song cũng là thách thức không nhỏ đối với các ngân hàng khi chưa có khả năng quản lý rủi ro có hiệu quả, chưa có đủ các biện pháp phòng chống gian lận, bảo mật, an toàn tốt nên dễ có khả năng rủi ro xảy ra cho ngân hàng. Vấn đề an toàn trên internet banking và cả tại các cây ATM, như trường hợp các vụ lừa đảo, ăn trộm thông tin tài khoản, hay ăn trộm tiền trong cây ATM đặt ra những vấn đề cần được khắc phục kịp thời.

    Những nguyên nhân đằng sau những bất cập này thì rất nhiều, cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, như nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh DVNH hiện đại còn thiếu, chưa có tính chuyên nghiệp; kỹ năng xử lý của các nhân viên ngân hàng cũng còn thấp; hành lang pháp lý chưa hoàn thiện và đồng bộ; hạ tầng cơ sở thông tin viễn thông còn kém phát triển, thiếu sự đồng bộ, kết nối giữa các ngân hàng,… Song có thể thấy, vấn đề năng lực tài chính của các NHTM còn hạn chế, thiếu vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng, CNTT phục vụ cho việc triển khai các DVNH hiện đại và thói quen ưa thích sử dụng tiền mặt của người dân cộng với những lo sợ vì DVNH hiện đại thường chứa đựng nhiều rủi ro là những nguyên nhân cơ bản nhất cản trở sự phát triển của DVNH hiện đại.

    Với một thị trường rộng lớn với hơn 85 triệu dân, đây là một tiềm năng to lớn để phát triển các DVNH bán lẻ nói chung và DVNH hiện đại nói riêng. Tuy vậy, thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch thanh toán hàng ngày không dễ gì thay đổi trong một sớm một chiều và chính tâm lý ngại thay đổi thói quen chi tiêu khiến nhiều người dân chưa muốn tiếp cận với những dịch vụ mới. Mặt khác, nhu cầu đối với các DVNH hiện đại của nhiều bộ phận dân cư không thật sự cấp bách. Ngay như đối với dịch vụ thẻ, nhiều người còn cảm thấy rắc rối khi phải dùng thẻ bởi cho tới thời điểm hiện nay, khả năng thanh toán bằng thẻ chưa cao, các tiện ích của thẻ chưa được khai thác hết, nhiều người vẫn quan niệm rằng thẻ ATM là để rút tiền mặt.

    Một hạn chế nữa là do tâm lý người Việt rất ngại để người khác biết thu nhập của mình, kể cả trong trường hợp các nguồn thu nhập là hoàn toàn hợp pháp chứ chưa nói tới những nguồn thu nhập “không tên”. Vì thế, dù có rất nhiều phương thức thanh toán không dùng tiền mặt như thẻ, ủy nhiệm chi, séc, nhưng khách hàng vẫn rút tiền để thanh toán và người bán lại mang tiền đến nộp vào ngân hàng.

    2.5 Giải pháp:
    – Đổi mới công nghệ, Tăng cường hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán, cần tăng mức vốn đầu tư để trang bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, các dự án đầu tư công nghệ cần tính toán kỹ lưỡng để sử dụng công suất phù hợp với chiến lược mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Chú ý trang bị một hệ thống logistic hiện đại, tiến bộ, và phù hợp.

    – Đa dạng hóa và cá biệt hóa các sản phẩm dịch vụ, ngày càng tạo ra sự thuận lợi cho khách hàng nhất khi tham gia các giao dịch với ngân hàng, mọi lúc mọi nơi, nhanh chóng thuận tiện và an toàn nhất. Và luôn luôn mang lại lợi ích cho khách hàng.

    – Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, gia tăng các chương trình khuyến mại, thu hút tiền gửi tiết kiệm, tích cực tham gia các hoạt động xã hội nhằm góp phần mang lại cho xã hội sự phát triển thịnh vượng.

    – Phát triển nguồn nhân lực, Nhân lực chất lượng cao là động lực để bức phá. Nâng cao năng lực cán bộ thông qua nâng cao trình độ quản trị điều hành. Có kế hoạch đào tạo và phát triển một đội ngũ nhân viên logistic chuyên nghiệp, năng động. Sử dụng tối đa, triệt để tiềm năng logistic của doanh nghiệp để không để bị hao phí nguồn lực logistic. Đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên tại các điểm giao dịch, tạo không khí thoải mái, thân thiện với khách hàng khi đến với ngân hàng giao dịch.
    – Nâng cao năng lực quản trị và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh, thực hiện quản trị ngân hàng thương mại từ chiều rộng sang chiều sâu theo hướng nâng cao năng lực quản trị rủi ro thông qua việc hoàn thiện bộ máy tổ chức quản trị nội bộ, thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra và chế độ báo cáo thường xuyên.
    – Cần phải tạo ra sự hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức đơn vị có liên quan; phải thực hiện quản lý thống nhất, bảo đảm tính đồng bộ và tiện ích trong việc cung cấp dịch vụ tối ưu cho khách hàng.

    Có như vậy, các DVNH hiện đại mới có thể phát triển và nhanh chóng trở thành những dịch vụ được khách hàng và ngân hàng chấp nhận như một loại giao dịch không thể thiếu trong cuộc sống.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Lu%E1%BA%ADt-kinh-t%E1%BA%BF-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    ĐỀ TÀI: LOGISTICS- CÓ HAY KHÔNG NHỮNG THÁCH THỨC VÀ RÀO CẢN

    Ông Trần Văn Thanh hiện đang có trong tay một số vốn là 20 tỷ đồng và muốn thành lập một công ty kinh doanh về việc vận chuyển kho bãi…còn gọi là dịch vụ logistics. Tuy nhiên, ông còn có nhiều thắc mắc xung quanh những qui định của pháp luật dành cho loại hình kinh doanh này. Thắc mắc trên đã được ông mang đến văn phòng luật sư Hoàng Minh Duy. Và sau đây, chúng ta cùng theo dõi cuộc trao đổi giữa luật sư Duy và ông Thanh.

     

    Ông Thanh:” Trước tiên, tôi muốn hiểu rõ logistics là gì và những điều kiện cần có để kinh doanh dịch vụ này.”

    Luật sư:

    • Theo điều 233 luật Thương mai: dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển,lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.

    Điều kiện cần có để kinh doanh dịch vụ này:

                            1.Đối với thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics  chủ yếu: 

    Thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics chủ yếu phải đáp ứng các điều kiện: phải là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam; có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu. Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc đáp ứng các điều kiện trên, chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn chế này chấm dứt vào năm 2014.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 2014.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014.
    1. Đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ logistic liên quan đến vận tải.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic liên quan đến vận tải phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam; tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định trên chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải thì chỉ được thành lập công ty liên doanh vận hành đội tàu từ năm 2009, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; được thành lập liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này chấm dứt vào năm 2012.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ nội địa thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010.

    Không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    1. Đối với thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics liên quan khác.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác phải là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam . Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật: đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ thì chỉ được thực hiện dưới hình thức liên doanh sau ba năm hoặc dưới các hình thức khác sau năm năm, kể từ khi doanh nghiệp tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó. Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải. Việc thực hiện dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ thương mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.

    Không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    Ông Thanh:” Vậy khi tham gia vào logistics thì thương nhân sẽ có những quyền và nghĩa vụ gì?”

    Luật sư:

    Luật Thương mại quy định: trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

    • Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác.
    • Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
    • Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn.
    • Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.

    Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.

    Ông Thanh: “Thế tôi có phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những tổn thất trong quá trình tổ chức vận tải hay không?”

    Luật sư:” Không hẳn là thế. Luật thương mại Việt Nam và Nghị định cũng có những qui định giới hạn trách nhiệm cùng một số trường hợp miễn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

    • Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan về giới hạn trách nhiệm trong lĩnh vực vận tải.
    • Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không thuộc phạm vi quy định trên đây do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không có thoả thuận thì thực hiện như sau:

    + Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về gía trị của hàng hoá thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường.

    + Trường hợp khách hàng đã thông báo trước về giá trị của hàng hoá và được thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xác nhận thì giới hạn trách nhiệm là toàn bộ giá trị của hàng hoá đó.

    • Giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.

    Theo quy định tại Luật Thương mại 2005 (Điều 294), thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm trong các trường hợp sau:

    • Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:
    • Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận.
    • Xảy ra sự kiện bất khả kháng.
    • Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia.
    • Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
    • Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.

    Để được miễn trách nhiệm trong các trường hợp trên, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải thực hiện việc thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm như sau:

    • Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra.
    • Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.
    • Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình.

    Ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật Thương mại năm 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp sau đây:

    • Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.
    • Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.
    • Tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá.
    • Tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận.

    • Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ logistics sai địa điểm không do lỗi của mình.

    • Tuy nhiên, hiện nay dịch vụ logistics vẫn còn những khó khăn và hạn chế trong cả lĩnh vực kinh tế lẫn pháp luật Việt Nam:

    Trong lĩnh vực kinh tế, với doanh số hàng tỷ USD, dịch vụ này rất hấp dẫn các nhà đầu tư và họ đang đầu tư và kinh doanh sôi động tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng nói là các DN trong nước hiện đang thua hoàn toàn trên thị trường này, nguồn lợi lớn từ dịch vụ logistics đang chảy vào túi các đại gia nước ngoài, DN Việt Nam đang làm thuê trên sân nhà.

    Sở dĩ logistics là một dịch vụ quan trọng, thị trường lớn bởi sự phát triển của nó có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Thực tế cho thấy với một nền sản xuất phát triển mạnh mẽ, nhu cầu xuất nhập khẩu tăng cao. Nếu chỉ tính theo tỷ lệ trên đây thì phí dịch vụ logistics trên thị trường Việt Nam có một doanh số khổng lồ và hứa hẹn tốc độ tăng trưởng rất mạnh mẽ. Dịch vụ logistics ở Việt Nam chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Ước tính GDP nước ta năm 2006 khoảng 57,5 tỷ USD. Như vậy, chi phí logistics chiếm khoảng 8,6-11,1 tỷ USD. Đây là một khoản tiền rất lớn. Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ 40-60% chi phí thì cũng đã là một thị trường dịch vụ khổng lồ.

    Nhưng nhìn về khía cạnh kinh tế, logistics ở Việt Nam đang phải đối đầu với những khó khăn và thách thức sau:

    • Tầm quan trọng và cơ hội phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam đã được khẳng định. Tuy nhiên, điều đáng nói là nguồn lợi lớn từ dịch vụ này hiện không nằm trong tay các DN Việt Nam mà đang chảy về túi các đại gia nước ngoài. Một nguồn lợi lớn trên sân nhà chưa được các DN Việt Nam tận dụng mà họ đang là những người làm thuê cho các tập đoàn nước ngoài.
    • Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì DN trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài. Điều này thực sự là một thua thiệt lớn cho DN Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển. Năm 2006 lượng hàng qua các cảng biển Việt Nam là 153 triệu tấn và tốc độ tăng trưởng lên đến 19,4%. Đây thực sự một thị trường mơ ước mà các tập đoàn nước ngoài đang thèm muốn và tập trung khai phá.
    • Thực trạng trên bắt nguồn từ việc dịch vụ logistics của các doanh nghiệp Việt Nam mới đang ở giai đoạn phôi thai, phần lớn hệ thống logistics chưa được thực hiện một cách thống nhất. Thị trường dịch vụ logistics Việt Nam có 800 DN nhưng đa phần đều nhỏ bé, hạn chế về vốn, công nghệ và nhân lực. Bên cạnh đó, cũng phải nói đến cơ sở hạ tầng về vận tải còn nghèo nàn quy mô nhỏ bố trí bất hợp lí, kho hàng còn yếu kém.
    • Điều đáng nói, trong khi DN trong nước còn non yếu, chưa có sự liên minh, liên kết thì lại xuất hiện kiểu kinh doanh chụp giựt, manh mún, cạnh tranh theo kiểu hạ giá thành để làm đại lý cho nước ngoài một cách không lành mạnh. Trong khi đó, các hãng cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài đã đổ xô vào thị trường chúng ta, hầu hết các tên tuổi lớn đã có mặt và ăn nên làm ra rên thị trường Việt Nam, gây sức ép lớn cho chính các DN trong nước.

    Những khó khăn và hạn chế trong luật pháp Việt Nam:

    1. Về vấn đề giấy phép kinhdoanh (ĐKKD) logistics:

    – Tổng quan: Rắc rối, rườm rà, nhiều khâu=> làm khó doanh nghiệp

    – Chi tiết: Logistics là 1 ngành nghề kinh doanh có điều kiện nghĩa là ngoài GPKD, doanh nghiệp cần có thêm một số chứng chỉ hành nghề. Tuy nhiên các cơ quan chính phủ đã không hiểu hết được thực trạng,nguồn lợi to lớn mà logistics mang lại nên đã đặt ra những điều kiện mà doanh nghiệp khó lòng đáp ứng và đôi khi lại không cần thiết.

    • Chủ doanh nghiệp sau khi đăng kí kinh doanh tại sở kế hoạch đầu tư phải xin được giấy phép kinh doanh đa phương thức của Bộ GTVT cấp, giấy phép đại lý làm thủ tục hải quan do cục Hải quan cấp, GPKD kho hải quan, điểm thông quan ngoài khu vực cửa khẩu và cảng cạn….
    • Một số chứng từ trong hồ sơ xin phép DN phải xuất trình được “bản kê khai tài sản doanh nghiệp do cơ quan tài chính quản lý doanh nghiệp xác nhận”….. trong khi đó thực tế ở Việt Nam ;đặc biệt khu vực tư nhân không có cơ quan này
    • Để đủ điều kiện làm đại lý hải quan DN phải có một nhân viên làm trong lĩnh vực hải quan (được cấp chứng chỉ nghiệp vụ hải quan sau khi tham gia 1 khóa học do cơ quan hải quan tổ chức)

    => DN phải mất rất nhiều thời gian để ĐKKD (thực tế các DN này vẫn hoạt động không giấy phép)

    1. Về vấn đề làm ăn với đối tác nước ngoài :trong khi làm ăn với nước ngoài DN thường không nẳm rõ các điều ước quốc tế,tập tục hải quan.Các văn bản luật lại quá sơ sài thiếu chi tiết làm doanh nghiệp không có môt cơ sở pháp lý.Thực tế trong các vụ làm ăn DN chịu rất nhiều rủi ro khi không nắm luật quốc tế.Rõ ràng là luật định về vấn đề này của Việt Nam vô tình đem nguồn lợi dâng cho đối tác nước ngoài.
    2. Rất nhiều qui định thiếu hợp lý dẫn đến những tình huống “dở khóc dở cười”:
    • Quy định về tải trọng :sự chồng chéo và thiếu nhất quán của các quy định về pháp luật.
    • Nhiều DN phải hủy hợp đồng hoặc không dám nhận hợp đồng vận chuyển hàng về các tỉnh ĐB Sông Cửu Long vì những qui định của nhà nước về tải trọng vận chuyển hàng hóa qua cầu đường
    • Đường cắm biển báo tải trọng đường,cầu cắm biển báo tải trọng cầu làm cho các xe đang vận chuyển không đáp ứng được “những biển báo”!!! Và họ buộc lòng phải vi phạm pháp luật mà không thể hạ tải hay tháo dỡ hàng.
    1. Về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp:
    • Vì không nằm trong các danh mục hàng hóa do nhà nước qui định nên giá dịch vụ cảng biển Việt Nam hoàn toàn do các doanh nghiệp tự quyết định. Điều này một mặt tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh nhưng một mặt cũng đem lại những bất cập:doanh nghiệp lao vào cuộc chiến giảm giá cước vô tội vạ làm giảm đi phần giá trị gia tăng mà logistics mang lại. Như vậy từ mục đích tạo lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thì đã bị biến thành sự cạnh tranh thiếu lành mạnh.
    • Tình trạng trên còn dẫn đến những nguy cơ bị các tập đoàn đa quốc gia lợi dụng để chiếm lĩnh thị phần, ngư ông đắc lợi.
    1. Luật Hàng hải Việt Nam còn đứng ngoài quá nhiều công ước quốc tế:
    • Những công ước quốc tế thường quy định những tiêu chuẩn về môi trường như chất lượng sơn tàu,
    • Lực lượng an ninh cảng biển của nước ngoài thường rất “chú ý” đến tàu Việt Nam, những qui định lỏng lẻo của pháp luật Việt Nam đã giảm đi năng lực cạnh tranh quốc tế.Tệ hơn khi tàu bị giữ lại thì rất nhiều khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chịu.Từ đó làm cho doanh nghiệp rất ngại làm ăn ở nước ngoài.Doanh nghiệp chỉ dám làm ăn trong nội địa,vốn dĩ đã thiếu lành mạnh,hoạt động thiếu hiệu quả.
    1. Những quy định về thuế rất bất hợp lý: giá mua và giá bán được coi là bí mật kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.Thế nhưng Bộ Tài chính lại yêu cầu các doanh nghiệp giao nhận vận tải quốc tế phải  khai báo những thông tin này ngay trong hợp đồng và… hóa đơn tài chính. Đó là nội dung Công văn 15448/BTC – TCT ngày 2/11/2009 về việc thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) 10% trên chênh lệch giữa giá bán và giá mua cước vận tải quốc tế (VTQT). Điều này trái với thông lệ quốc tế, hơn nữa Luật thuế GTGT quy định thuế suất 0% đối với vận tải quốc tế. Rõ ràng luật đã chồng chéo lên nhau làm cho doanh nghiệp tiến thoái lưỡng nan.
    2. Về hành lang pháp lý: thực ra Logistics mới chỉ được công nhận là một hành vi thương mại trong Luật Thương mại sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1-1-2006. Tháng 9-2007 vừa qua, Chính phủ mới ban hành Nghị định 140 “Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics”,như vậy trong lĩnh vực mang lại lợi nhuận rất lớn này qui định còn rất sơ sài. Doanh nghiệp thực sự gặp khó khăn lớn trong việc sử dụng luật để bảo vệ quyền lợi cho mình.

    Ông Thanh:”Xin cảm ơn luật sư đã làm sáng tỏ những khúc mắc của tôi. Nếu có những thắc mắc khác tôi sẽ liên lạc với luật sư.

    Luật sư:” Hy vọng những tư vấn của tôi sẽ có thể giúp ích cho ông trong hoạt động kinh doanh. Chúc ông thành công”.

     

     

    NHẬN XÉT

     

    Qua mẩu đối thoại tư vấn luật ở trên, chúng ta thấy rằng: logistic là một ngành đầy tiềm năng phát triển nhưng vẫn chưa nhận được sự hỗ trợ đầy đủ của một hành lang pháp lý cụ thể, sâu sát. Chúng ta đang tự đánh mất dần lợi thế to lớn của mình, vô tình dâng nguồn lợi to lớn cho các công ty quốc tế, tập đoàn xuyên quốc gia. Chính vì thế, chúng ta cần phải học hỏi những kinh nghiệm thực tế từ các tập đoàn logistic lớn ở các nước trên thế giới. Có thể nói, hiện nay khu vực Bắc Mỹ và châu Âu có ngành dịch vụ logistic phát triển trên thế giới. Ở châu Á thì Singapore cũng là một nước có nền công nghiệp- dịch vụ logistic phát triển vượt bậc. Điểm nổi bật trong kinh nghiệm phát triển logistics của Singapore là chính sách cảng mở và đầu tư xây dựng các trung tâm phân phối vùng. Nhà nước cho phép xây dựng các trung tâm cung cấp dịch vụ và phân phối hàng hóa,các trung tâm này cung cấp cho khách hàng của mình những thông tin liên quan cần thiết. Ngoài ra, hoạt động hiệu quả của hiệp hội logistics  Singapore đóng vai trò quan trọng trong quản lý, điều hòa hoạt động của các thành viên, đồng thời hiệp hội cũng thống nhất quy định các chi phí liên quan đến giao nhận, chuyển tải. Nhờ thế nên Singapore đã trở thành trung tâm logistics lớn nhất Đông Nam Á với hơn 12 triệu TEOs container thông qua cảng biển quốc tế và hơn 1,2 triệu tấn hàng vận tải qua sân bay Changi mỗi năm.

    Mặc dù còn nhiều hạn chế về mặt kinh tế lẫn hành lang pháp lý, hiện nay ngành công nghiệp- dịch vụ logistics ở Việt Nam đang có những bước chuyển đổi mới .Đánh dấu cho  bước chuyền đổi đó là vào ngày 14/05/2007, 4 doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực phân phối của Việt Nam là Satra, Hapro, Saigon Co.op và Phú Thái Group đã liên kết lại và chính thức ra mắt Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam với tổng số vốn đầu tư lên đến 6000 tỷ đồng. Đây được xem là mở đầu cho một kỷ nguyên mới của ngành phân phối ở nước ta với hy vọng Việt Nam sẽ trở thành: ”Wall Mart của Việt Nam”.

    Hết

    Tài liệu tham khảo:

    1.Văn bản pháp luật dành cho học phần Luật kinh tế-NXB Phương Đông.

    2.Nghị định của Chính phủ ban hành về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics.

    3.Những kinh nghiệm phát triển Logistics trên thế giới- trang vietmarine.org.

    4.Thực trạng Logistics- trang vietbao.net

    5.Trang vietship.vn


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-CUNG-%E1%BB%A8NG-H%C3%80NG-H%C3%93A-CHO-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-TRONG-KINH-DOANH-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-TRONG-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    Chương 4:          QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    4.1-  Mục tiêu, nguyên tắc của quản trị quá trình cung ứng hàng hoá cho khách hàng trong thương mại bán buôn

    4.1.1- Vị trí của cung ứng hàng hóa cho khách hàng trong kinh doanh thương mại

    Hệ thống logistics kinh doanh thương mại bao gồm nhiều công đoạn, trong đó có công đoạn trực tiếp cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng (Hình 4.1). Như vậy, cung ứng hàng hóa cho khách hàng là quá trình trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ logistics cho khách hàng thông qua hành vi bán hàng, đảm bảo kịp thời, nhanh chóng chính xác, với số lượng, chất lượng và cơ cấu hàng hoá phù hợp với nhu cầu khách hàng và chi phí thấp nhất.

     
       

     

    • Vị trí của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng                       trong hệ thống logistics doanh nghiệp thương mại

    Kết quả của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng chịu ảnh hưởng và thể hiện chất lượng của toàn bộ hệ thống logistics. Số lượng, cơ cấu, và chất lượng hàng hoá, thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng phụ thuộc vào tổ chức và phân bố mạng lưới logistics. phụ thuộc vào hệ thống cung ứng hàng hoá cho mạng lưới logistics, thể hiện ở công tác quản trị dự trữ, mua hàng, quá trình kho vận,. ..Mặt khác, chất lượng dịch vụ khách hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Do đó, cần phải tổ chức và quản trị tốt quá trình này.

    Bán hàng là kết quả của 2 hoạt động có mối quan hệ khăng khít với nhau: hoạt động marketing và logistics. Các hoạt động marketing sẽ tạo nên thương vụ, còn hoạt động cung ứng hàng hóa cho khách hàng là thực hiện các thương vụ.  Quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng có tính chu kỳ, và như vậy vấn đề đặt ra đối với cung ứng hàng hóa cho khách hàng là phải rút ngắn chu kỳ, tăng tần số các thương vụ.

    4.1.2- Mục tiêu và nguyên tắc quản trị cung ứng hàng hóa cho khách hàng

    Mục tiêu chung của quản trị cung ứng hàng hóa cho khách hàng là: Phát triển doanh số trên cơ sở cung cấp trình độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lược với tổng chi phí thấp nhất.

    Mục tiêu này đòi hỏi phải tối ưu hoá dịch vụ khách hàng, có nghĩa, phải đảm bảo trình độ dịch vụ khách hàng của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng đem lại khả năng lợi nhuận cao nhất.

    Mục tiêu tác nghiệp của cung ứng hàng hóa cho khách hàng bao gồm:

    – Đáp ứng nhanh: Có nghĩa thời gian thực hiện đơn đặt hàng trong kinh doanh thương mại bán buôn và chi phí thời gian mua hàng của khách hàng trong kinh doanh thương mại bán lẻ là ít nhất. Việc cải tiến phương pháp và quá trình cung ứng hàng hóa sẽ rút ngắn được thời gian cung ứng hàng hóa cho khách hàng đến mức thấp nhất.

    – Tối thiểu hoá các sai lệch: Quá trình giao hàng cho khách hàng trong kinh doanh bán buôn phải đúng với mong đợi của khách hàng được thể hiện trong hợp đồng mua bán, đặc biệt phải giảm đến mức thấp nhất những sai lệch thời gian. Trong kinh doanh bán lẻ phải thoả mãn đến mức cao nhất những nhu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, yêu cầu lựa chọn hàng hoá. ..như đã truyền tin và định vị đối với khách hàng trên thị trường mục tiêu.

    – Mục tiêu chi phí: Sử dụng công nghệ xử lý và thực hiện đơn đặt hàng và bán hàng tiên tiến, hiện đại để nâng cao năng suất và độ chính xác. Phải dần từng bước cơ giới hoá và tự động hoá các thao tác của quá trình, vừa đảm bảo được mục tiêu dịch vụ và chi phí.

    Để thực hiện được những mục tiêu trên đây, quản trị cung ứng hàng hóa cho khách hàng phải thực hiện các nguyên tắc sau:

    – Phải thực hiện nguyên tắc cam kết: Thực hiện đầy đủ những cam kết đối với khách hàng được thể hiện trong hợp đồng mua bán đã ký kết; phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng qui định trong các cửa hàng bán lẻ.

    – Phải thực hiện nguyên tắc linh hoạt và ưu tiên: Khi có những yêu cầu bất thường của khách hàng, phải huy động mọi nỗ lực logistics để đáp ứng cho dù có thể không thu được lợi nhuận như mong muốn. Đồng thời phải thực hiện chính sách ưu tiên theo qui tắc phân loại 80/20 (qui tắc ABC).

    – Phải đảm bảo nguyên tắc hệ thống công nghệ: Việc triển khai quá trình theo một qui trình hợp lý, thống nhất.

    4.2-  Quản trị cung ứng hàng hoá cho khách hàng trong thương mại bán buôn

    4.2.1- Các quyết định căn bản của quản trị cung ứng hàng hoá cho khách hàng

    Các quyết định này bao gồm: Xác định mục tiêu dịch vụ và chi phí; Xác định các phương pháp bán hàng; Xác định tổng lượng và cơ cấu lưu chuyển hàng hoá theo mặt hàng và khách hàng; Thiết kế các qui trình nghiệp vụ bán hàng.

    a-   Xác định mục tiêu dịch vụ cung ứng hàng hóa cho khách hàng.

    Chất lượng dịch vụ khách hàng là kết quả của toàn bộ hệ thống logistics, đòi hỏi phải có sự phối hợp của toàn bộ hệ thống. Đồng thời, mỗi công đoạn nghiệp vụ phải đề ra mục tiêu riêng. Mục tiêu của cung ứng hàng hóa cho khách hàng chủ yếu tập trung vào tốc độ và tính ổn định trong cung ứng hàng hoá cho khách hàng.

    Phải xác định thời gian tối đa kể từ khi nhận được đơn đặt hàng hoặc ký hợp đồng mua bán hàng hoá. Phải dự đoán nhu cầu dịch vụ của từng khách hàng mục tiêu để đáp ứng, đảm bảo lợi thế cạnh tranh. Trong từng thời kỳ, phải thiết kế được cửa sổ dịch vụ nhằm xác định trình độ dịch vụ cần đạt để từ đó, xác định thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng tương ứng. Cách thức thiết kế cửa sổ dịch vụ được thể hiện trên hình 4.2

    • Cửa sổ dịch vụ khách hàng

    Theo cửa sổ dịch vụ thì muốn đạt được chỉ tiêu trình độ dịch vụ 95%, thời gian thực hiện đơn đặt hàng của khách hàng không được vượt quá 6 ngày. Nếu vượt quá, có nghĩa đã giảm trình độ dịch vụ khách hàng xuống.

    Tuy nhiên, do có mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và chi phí, khả năng lợi nhuận, cho nên xác định mục tiêu cung ứng hàng hóa cho khách hàng có thể theo một số cách như sau:

    – Xác định mục tiêu dịch vụ khách hàng, sau đó bằng mọi nỗ lực để giảm chi phí đến mức thấp nhất;

    – Xác định mức chi phí tối đa, sau đó cải thiện các hoạt động logistics để đạt được trình độ dịch vụ cao nhất có thể ;

    – Xác định trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu, có nghĩa xác định trình độ dịch vụ khách hàng mà tại đó, cho khả năng thu lợi nhuận cao nhất.

    b-   Xác định tổng mức và cơ cấu lưu chuyển hàng hoá bán buôn.

    Trên cơ sở kế hoạch marketing thương mại đã định, phải tiến hành đo lường và dự báo nhu cầu làm cơ sở cho việc xác định định mức bán và ngân sách bán. Phải sử dụng các phương pháp đo lường và dự báo đảm bảo độ chính xác và kịp thời. Kế hoạch lưu chuyển hàng hoá phải cụ thể, chi tiết theo từng nhóm, mặt hàng, theo từng đối tượng khách hàng để dự tính các giải pháp logistics hợp lý, đảm bảo những mục tiêu dịch vụ logistics đã đề ra.

    c-   Xác định các phương pháp bán hàng.

    Tuỳ thuộc yêu cầu dịch vụ của khách hàng mà phải có các phương pháp bán hàng thích hợp. Các phương pháp bán phụ thuộc vào các quyết định về giá. Quyết định về giá trực tiếp xác định bộ phận nào trong thương vụ có trách nhiệm thực hiện các hoạt động logistics, chuyển giao sở hữu, và trách nhiệm pháp lý. Có 2 phương pháp định giá bán: Giá F.O.B nơi giao và giá F.O.B nơi nhận (hình 4.3).

           
           

    vv

           
           
     
           
    • Giá bán và trách nhiệm tương ứng

    Như vậy, tuỳ thuộc vào phương pháp bán hàng theo các kiểu giá khác nhau mà các cơ sở logistics bán buôn phải thực hiện nhiều hay ít dịch vụ logistics. Và do đó, qui trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng cũng đơn giản hay phức tạp.

    d-   Thiết kế các qui trình thực hiện đơn đặt hàng cho khách hàng

    Để chủ động và tiết kiệm chi phí, tăng tốc độ quá trình logistics, cần phải thiết kế các qui trình thực hiện đơn đặt hàng phù hợp với các phương pháp bán hàng. Nếu chỉ tính trách nhiệm dịch vụ giữa các bên trong quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng, thì có 2 phương pháp bán hàng chủ yếu: bán hàng tại kho người giao (bán), và bán hàng vận chuyển giao hàng tại kho người nhận. Qui trình bán đầu đơn giản hơn qui trình sau. Trong thiết kế qui trình, cần phải chú ý một số nguyên tắc sau:

    – Nguyên tắc ưu tiên thực hiện đơn hàng: Trong quá trình thực hiện đơn hàng, cần phải ưu tiên cung cấp hàng hoá cho một số khách hàng có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, nên áp dụng qui tắc 80/20 hay phân loại A,B,C khách hàng để có chính sách thích đáng.

    – Nguyên tắc đồng bộ thực hiện đơn hàng: Để tiết kiệm thời gian, tăng nhanh tốc độ cung ứng, không nên chỉ nhấn mạnh vào tính tuần tự của qui trình. Nếu một số thao tác của qui trình có thể thực hiện đồng thời thì triển khai song song.

    – Nguyên tắc tập trung: Để tăng năng suất lao động và giảm chi phí trong việc chuẩn bị lô hàng và vận chuyển, phải đảm bảo nguyên tắc tập trung. Nguyên tắc này đòi hỏi tập trung chuẩn bị và xử lý nhiều lô hàng cùng một lúc, hoặc tập trung vận chuyển nhiều lô hàng trong cùng một đợt nhằm lợi dụng tính kinh tế nhờ qui mô, giảm chi phí.

    4.2.2- Quá trình thực hiện đơn đặt hàng của khách hàng trong thương mại bán buôn

    Cung ứng hàng hoá cho khách hàng trong thương mại bán buôn được thực hiện thông qua việc thực hiện đơn đặt hàng.

    Quá trình thực hiện đơn đặt hàng là tập hợp các hoạt động có đặc trưng chu kỳ nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng, đảm bảo thỏa mãn đơn đặt hàng của khách hàng với chi phí thấp nhất.

    Quá trình này được thể hiện trên hình 4.4

     
       
    • Quá trình thực hiện đơn đặt hàng bán buôn

    a-   Tập hợp, xử lý đơn đặt hàng và hợp đồng

    Đây là quá trình thu thập, xử lý và truyền tin giữa các bên mua bán nhằm thiết lập quan hệ mua bán theo hình thức pháp lý nhất định. Nội dung của công đoạn này bao gồm 3 công tác:

    a.1-   Chuẩn bị đơn hàng và hợp đồng của khách hàng:

    Đây là hoạt động truyền tin những yêu cầu của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ cho người bán. Nội dung có thể là: hoàn thiện hình thức đặt hàng, yêu cầu người bán cung cấp những thông tin cần thiết để chuẩn bị đơn hàng.

    a.2-       Chuyển đơn hàng hoặc yêu cầu về hợp đồng của khách hàng:

    Bao gồm việc chuyển yêu cầu đặt hàng từ điểm tiếp nhận đến nơi xử lý đơn hàng. Có 2 phương pháp chuyển đơn đặt hàng: bằng sức người, và bằng điện tử. Sử dụng sức người thì tốc độ chậm, nhưng đỡ tốn chi phí. Sử dụng điện tử thông qua hệ thống điện thoại, Fax, mạng vi tính. ..;đơn đặt hàng được chuyển nhanh, độ tin cậy cao, chính xác, nhưng tất nhiên là tốn chi phí.

    a.3-       Xử lý đơn đặt hàng:

    Bao gồm các hoạt động như, kiểm tra độ chính xác của thông tin đơn hàng về số lượng, cơ cấu, giá cả; kiểm tra khả năng dự trữ; chuẩn bị những tài liệu, văn kiện từ chối (nếu cần); kiểm tra tình trạng tín dụng của khách hàng; sao chép thông tin về đơn đặt hàng nếu thấy cần thiết.

    b-   Xây dựng chương trình giao hàng

    Chương trình giao hàng là bản thuyết minh các hoạt động hoặc các bước cần thiết để thực hiện kế hoạch logistics, hợp đồng mua bán, đơn đặt hàng của khách hàng với chi phí thấp nhất.

    Căn cứ để xây dựng chương trình giao hàng:

    – Kết quả xử lý đơn hàng và hợp đồng, phân tích tình hình bán buôn hàng hoá

    – Phân tích tình hình dự trữ hàng hoá và nguồn hàng.

    – Khả năng vận chuyển hàng hoá của doanh nghiệp

    c-   Chuẩn bị giao hàng

    Trên cơ sở chương trình giao hàng, phải tiến hành công tác chuẩn bị giao hàng. Nội dung chuẩn bị giao hàng bao gồm:

    – Chuẩn bị nguồn cung cấp hàng hoá cho khách hàng: Xác định vị trí kho phát hàng. Trong trường hợp cung cấp hàng hoá từ nguồn hàng, phải tiến hành đặt hàng hoặc ký hợp đồng mua hàng với nguồn hàng. Phải khẩn trương xúc tiến việc mua hàng để tránh chậm trễ trong việcc giao hàng cho khách hàng.

    – Chuẩn bị lô hàng: Việc chuẩn bị các lô hàng để giao được thực hiện trong các kho hàng hoá. Chuẩn bị lô hàng chiếm tỷ lệ thời gian khá lớn, do đó, phải nâng cao năng suất và cơ giới hoá các công tác chuẩn bị hàng hoá ở kho.

    – Chuẩn bị phương tiện giao hàng: bao gồm chuẩn bị phương tiện vận tải, chất xếp, tiến hành ký hợp đồng hoặc đặt hàng vận chuyển hàng hoá với các đơn vị vận tải

    – Chuẩn bị giấy tờ: Phải chuẩn bị đầy đủ các chứng từ hợp lệ, thuận tiện cho quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hoá, bao gồm: hoá đơn, giấy phép vận chuyển, giấy đảm bảo chất lượng,. …

    – Chuẩn bị lao động: chuẩn bị lao động chất xếp, lao động bảo vệ hàng hoá và giao hàng nếu cần thiết.

    d-   Tiến hành giao hàng

    Tuỳ thuộc vào phương pháp bán hàng, việc giao hàng được tiến hành ở kho người bán hoặc cơ sở logistics của người mua. Nếu giao hàng tại cơ sở logistics của người mua, người bán phải đảm nhiệm công tác tổ chức vận chuyển hàng hoá và phải thực hiện quá trình nghiệp vụ vận chuyển. Cạnh tranh trong kinh doanh thương mại đòi hỏi người bán phải đảm nhiệm công tác vận chuyển với chi phí hạ, tốc độ nhanh và ổn định.

    Quá trình giao hàng phải thực hiện đúng những cam kết với khách hàng, đặc biệt là cam kết về địa điểm và thời gian giao hàng.

    e-   Thông báo và kiểm tra tình hình giao hàng

    Đây là hoạt động cuối cùng trong quá trình thực hiện đơn đặt hàng, nó cam kết rằng một dịch vụ khách hàng tốt đã được cung ứng thông qua việc duy trì thông tin cho khách hàng về bất cứ sự chậm trễ nào trong quá trình đặt hàng hoặc giao đơn đặt hàng.  Cụ thể nó bao gồm: (1) theo dõi đơn hàng trong toàn bộ chu kỳ thực hiện đơn đặt hàng; (2) thông tin tới khách hàng tiến trình thực hiện đơn đặt hàng. Đây là hoạt động kiểm tra và nó không ảnh hưởng đến tổng thời gian để thực hiện đơn đặt hàng.

    4.3-  QUẢN TRỊ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ TRONG CỬA HÀNG BÁN LẺ

    4.3.1- Nguyên tắc, căn cứ quản trị quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ chính là quá trình cung ứng hàng hóa  cho khách hàng trong kinh doanh thương mại bán lẻ. Quá trình này là tập hợp các thao tác có mối liên hệ chặt chẽ kế tiếp nhau trong cửa hàng nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng thông qua hành vi bán lẻ với trình độ thoả mãn cao nhất và chi phí ít nhất.

    Quá trình công nghệ qui định và liên kết nội dung, vị trí, thời gian và trật tự thực hiện xử lý dòng hàng từ khi hàng hoá đến cửa hàng cho đến khi bán cho khách. Sơ đồ công nghệ tổng quát quá trình công nghệ trong cửa hàng được thể hiện trên hình 4.5.

     
       
    • Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Tuỳ thuộc vào đặc điểm của quá trình nhập hàng vào cửa hàng và các phương pháp bán hàng mà có thể có 3 kiểu dòng công nghệ: (1)-Dòng hoàn chỉnh bao gồm đầy đủ 4 công đoạn; (2) – dòng ngắn hơn bao gồm 3 công đoạn; (3)- dòng ngắn nhất chỉ 2 công đoạn.

    Dòng (1) áp dụng đối với những hàng hoá có thể dự trữ một số ngày tại cửa hàng trong điều kiện kho phân phối cách khá xa cửa hàng, hoặc hàng hoá phải trải qua giai đoạn biến đổi mặt hàng trong cửa hàng.

    Dòng (2) áp dụng đối với những hàng hoá không thể hoặc không cần dự trữ tại cửa hàng như thực phẩm tươi sống,. ..

    Dòng (3) áp dụng đối với những hàng hoá đã được chuẩn bị sẵn sàng để bán tại cửa hàng, chẳng hạn như các siêu thị – hàng hoá đã được chuẩn bị sẵn tại các kho.

    Quá trình công nghệ bao gồm các nghiệp vụ có tính độc lập tương đối. Nghiệp vụ là phần đồng nhất của quá trình do một số nhân viên hoàn thành và thực hiện những tác động nhất định đến đối tượng ở một vị trí công tác với một thiết bị nào đó

    Quản trị quá trình công nghệ phải thực hiện các nguyên tắc sau:

    – Nguyên tắc phương án bán hàng tối ưu – Thiết kế các phương án bán hàng là những quyết định marketing, và do đó, triển khai quá trình công nghệ phải trên cơ sở các phương pháp bán hàng đã định.

    – Nguyên tắc tiến bộ kỹ thuật

    – Nguyên tắc hệ thống

    Những căn cứ để tiến hành quản trị quá trình công nghệ:

    – Căn cứ vào công nghệ bán lẻ hàng hoá tại các cửa hàng

    Mỗi công nghệ bán hàng có trình độ thoả mãn nhu cầu mua hàng của khách khác nhau, và do đó ảnh hưởng đến nội dung của quá trình công nghệ trong cửa hàng.

    – Căn cứ vào hệ thống nhập hàng vào cửa hàng

    Hệ thống nhập hàng vào cửa hàng quyết định cơ cấu và qui mô các nghiệp vụ và các dòng công nghệ trong cửa hàng.

    – Căn cứ vào cơ sở vật chất – kỹ thuật của doanh nghiệp thương mại và cửa hàng.

    – Căn cứ vào thành tựu tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong thương mại.

    4.3.2- Nội dung cơ bản của quản trị quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Những nội dung cơ bản quản trị quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ bao gồm: Xác định các mục tiêu của quá trình công nghệ bán lẻ; Thiết kế các quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ; Qui hoạch mặt bằng công nghệ trong cửa hàng; Xây dựng phương án cung cấp thiết bị công nghệ; Tổ chức lao động công nghệ bán lẻ.

    a-   Xác định các mục tiêu của quá trình công nghệ bán lẻ

    Bao gồm các mục tiêu: Doanh thu (lưu chuyển bán lẻ), các mục tiêu về dịch vụ khách hàng

    – Mục tiêu doanh thu:

    Trên cơ sở một kế hoạch marketing đã định, phải dự báo nhu cầu thị trường của doanh nghiệp về mặt tổng lượng và cơ cấu. Và cũng trên cơ sở dự báo nhu cầu, doanh nghiệp xác định kế hoạch ngân sách bán lẻ để triển khai kế hoạch logistics và các kế hoạch khác. Cần phải dự tính mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ theo các phương pháp bán hàng và theo các kiểu dòng công nghệ.

    – Mục tiêu dịch vụ khách hàng:

    Có nhiều chỉ tiêu dịch vụ khách hàng khác nhau, cần phải xác định để đảm bảo cho quá trình công nghệ trong cửa hàng đạt được mục tiêu dịch vụ.

    – Thời gian khách mua hàng

    – Hệ số thoả mãn nhu cầu mua hàng cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng

    – Hệ số ổn định mặt hàng kinh doanh

    b-   Thiết kế quá trình công nghệ và qui hoạch mặt bằng công nghệ trong cửa hàng

    Trên cơ sở các phương pháp bán hàng và đặc điểm cung ứng hàng hoá, phải thiết kế các quá trình công nghệ thích ứng và chi tiết. Có thiết kế chi tiết quá trình công nghệ thì mới nắm vững những đặc điểm của từng công đoạn, từng thao tác công nghệ để xỷ lý dòng hàng thoả mãn nhu cầu dịch vụ khách hàng với chi phí thấp nhất.

    Để thực hiện tốt quá trình công nghệ đã được thiết kế, cần phải qui hoạch hợp lý mặt bằng cửa hàng. Cơ cấu các loại diện tích trong cửa hàng phải phù hợp với sơ đồ công nghệ, trong đó cần phải chú ý qui hoạch tốt diện tích phòng bán hàng.

    Để đánh giá trình độ sử dụng hợp lý diện tích doanh nghiệp trong cửa hàng tự phục vụ (siêu thị), có thể dùng hệ số sử dụng diện tích lắp đặt thiết bị và hệ số diện tích trưng bày.

    Hệ số sử dụng diện tích lắp đặt thiết bị được xác định bằng tỷ số diên tích dùng để đặt thiết bị trên diện tích gian hàng:

    K- Hệ số sử dụng diện tích lắp đặt thiết bị

     

    c- Diện tích lắp đặt thiét bị (m2)

    c1– Diện tích gian hàng (m2)

     

    K tối ưu trong cửa hàng tự phục vụ: 0,30 – 0,32

    Hệ số diện tích trưng bày được xác định bằng tỷ số diện tích dùng để bày hàng trên diện tích gian hàng:

    K- Hệ số sử dụng diện tích bày hàng

     

    c2– Diện tích bày hàng (m2)

    c1– Diện tích gian hàng (m2)

    Trong cửa hàng bán hàng theo phương pháp cổ truyền, hệ số này bằng 0,33 – 0,40, trong cửa hàng tự phục vụ (siêu thị), hệ số này bằng 0,65 – 0,75

    c-   Xây dựng phương án cung cấp thiết bị công nghệ bán hàng

    Mỗi một công nghệ bán hàng đòi hỏi cung cấp thiết bị tương ứng. Phải tính toán số lượng, cơ cấu thiết bị hợp lý, đảm bảo đầy đủ và phát huy hết công suất. Có như vậy, quá trình công nghệ mới diễn ra liên tục thống nhất, phục vụ khách hàng tốt nhất và với chi phí thấp nhất.

    Phải xây dựng phương án cơ giới hoá quá trình công nghệ trong cửa hàng. Cơ giới hoá đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho cửa hàng bởi nó tiết kiệm thời gian mua hàng của khách, nâng cao trình độ văn minh thương mại, đồng thời cải thiện điều kịn lao động của nhân viên cửa hàng. Áp dụng cơ giới hoá sẽ nâng cao khả năng thu lợi nhuận, giảm bớt chi phí lưu thông. Do vậy, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ giới hoá là chỉ tiêu đo lường hiệu quả vốn đầu tư.

    4.3.3- Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Quá trình công nghệ bao gồm nhiều công đoạn và thao tác khác nhau, nhưng về cơ bản có 4 công đoạn chính: Tiếp nhận hàng, bảo quản hàng, chuẩn bị hàng để bán, và bán hàng.

    a-   Tiếp nhận hàng hoá

    Là nghiệp vụ cần thiết trong cửa hàng. Nó được thực hiện kế tiếp và đồng thời với việc bốc dỡ hàng hoá. Tổ chức tiếp nhận hàng hoá phải đảm bảo kịp thời, nhanh chóng, và giữ gìn tốt chất lượng. Tiếp nhận hàng hoá phụ thuộc vào quá trình cung ứng hàng hoá của nguồn hàng.

    Nôi dung tiếp nhận hàng hoá bao gồm: tiếp nhận về số lượng và chất lượng. Các phương pháp tiếp nhận hàng hoá ở cửa hàng thường là đơn giản để có thể đưa hàng hoá vào bán hoặc bảo quản được ngay. Trong quá trình tiếp nhận, nếu phát hiện hàng hoá thừa, thiếu hoặc không đảm bảo chất lượng thì phải lập biên bản để qui trách nhiệm vật chất giữa các bên. Sau khi giao nhận hàng hoá, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng để cung cấp thông tin cho kiểm soát quá trình cung ứng.

    Hàng hoá sau khi tiếp nhận có thể được chuyển thẳng ra gian hàng để bán, hoặc chuyển sang bộ phận chuẩn bị hàng, và phần lớn chuyển sang phòng bảo quản để dự trữ thường xuyên cho bán ra.

    b-   Bảo quản hàng hoá trong cửa hàng

    Tổ chức bảo quản hàng hoá trong cửa hàng bao gồm: phân bố và chất xếp hàng hoá, chăm sóc và giữ gìn hàng hoá.

    Đối với mỗi loại hàng hoá bảo quản trong cửa hàng, cần cố định vị trí của chúng có tính đến kích thước, tần số bán, khối lượng công tác chuẩn bị hàng và điều kiện di chuyển hàng hoá ra gian hàng. Trong các cửa hàng thực phẩm, cần phải bố trí các thiết bị lạnh để duy trì chế độ bảo quản bình thường cho hàng hoá.

    Việc áp dụng bao bì – thiết bị cho phép giảm bớt đáng kể thời hạn bảo quản hàng hoá trong cửa hàng, và do bđó giảm được diện tích các phòng dùng để dự trữ và bảo quản trong cửa hàng. Sử dụng bao bì – thiết bị trong các cửa hàng tổng hợp có thể giảm được từ 40- 60% diện tích phòng bảo quản, và tương ứng tăng diện tích doanh nghiệp.

    Việc áp dụng giao và bán hàng hoá băng thùng tải đem lại hiệu quả kinh tế to lớn: giảm chi phí lao động và thời gian của nhân viên cửa hàng (hơn 7 lần), tăng tốc độ chu chuyển hàng hoá, giảm dự trữ hàng hoá trong cửa hàng.

    Để duy trì mặt hàng ổn định trong cửa hàng, số lượng thùng tải dùng cho mỗi nhóm hàng được xác định như sau:

     
       

    c-   Chuẩn bị hàng để bán và bày hàng nơi bán hàng

    Bao gồm các nghiệp vụ: mở bao bì, phân loại, làm sạch, pha lọc, lắp ráp, chỉnh lý, định lượng, bao gói, ghi ký mã hiệu lên bao bì,…Đây là những nhiệm vụ logistics của sản xuất hoặc kho trong điều kiện hiện đại. Cần phải tập trung các nghiệp vụ chuẩn bị hàng để bán cho phép sử dụng các thiết bị, diện tích, lao động và vật liệu hiệu quả.

    Tổ chức pha lọc, bao gói hàng hoá có ý nghĩa quan trọng trong kinh doanh hàng thực phẩm. Phần lớn hàng thực phẩm được bao gói bởi các ngành sản xuất công nghiệp và các kho trong hệ thống logistics thương mại. Điều này đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, có một bộ phận đáng kể hàng hoá đưa đến mạng lưới bán lẻ chưa được chuẩn bị sẵn sàng để bán, do đó, cần phải tổ chức chỉnh lý, bao gói trong cửa hàng.

    Tổ chức bao gói trong cửa hàng cần dự tính: Tổ chức hợp lý nơi công tác; phân công lao động hợp lý; Sử dụng thiết bị và công cụ chuyên dùng. Đồng thời, phân bố thiết bị và vị trí công tác phải đảm bảo cho quá trình bao gói liên tục, giảm bớt con đường vận động của hàng hoá, bao bì và vật liệu bao gói.

    Hàng hoá sau khi đã chuẩn bị được di chuyển và trưng bày tại gian hàng. Việc trưng bày hàng hoá tại gian hàng vừa đảm bảo dự trữ hàng hoá tại nơi công tác, vừa là hoạt động xúc tiến (trưng bày, giới thiệu hàng hoá), vừa là nội dung của tổ chức nơi công tác bán hàng – đảm bảo thuận tiện cho việc lấy hàng của nhân viên bán hàng hoặc của khách hàng.

    Giao hàng và di chuyển hàng hoá trong cửa hàng thuộc loại lao động nặng, chi phí nhiều lao động, do đó cần phải cơ giới hoá.

    d-   Bán hàng

    Là sự phối hợp giữa 2 hoạt động: logistics và marketing, sử dụng 3 công cụ marketing: con người, bằng chứng vật chất, và quá trình. Tuỳ thuộc vào các phương pháp bán hàng mà có các qui trình kỹ thuật bán hàng khác nhau.

    Bán lẻ hàng hoá là hoạt động chủ yếu của quá trình công nghệ trong cửa hàng, kết thúc quá trình logistics, quá trình phân phối và vận động hàng hoá.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bản chất kinh tế của Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-NGHI%E1%BB%86P-V%E1%BB%A4-KHO-H%C3%80NG-V%C3%80-BAO-B%C3%8C-TRONG-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    Chương 6:              QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO VÀ BÌ

    6.1-  Quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    6.1.1- Mục tiêu và nguyên tắc cuả quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    a-   Vị trí và nội dung của quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    Trong hệ thống các nghiệp vụ logistics, nghiệp vụ kho là những hoạt động logistics tiếp nối và hỗ trợ cho quá trình cung ứng và đặc biệt là quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Do đó, nghiệp vụ kho chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bán hàng, quản trị dự trữ và quản trị mua hàng.

    Nghiệp vụ kho hàng hoá là hệ thống các mặt công tác được thực hiện đối với hàng hoá trong quá trình vận động qua kho nhằm đáp ứng cho quá trình vận động và mua, bán hàng hoá qua kho với chi phí thấp nhất.

    Quản trị nghiệp vụ kho có vai trò to lớn trong hệ thống logistics kinh doanh thương mại:

    – Nghiệp vụ kho đảm bảo hàng hoá sẵn sàng cho quá trình bán hàng, quá trình logistics trực tiếp. Cơ cấu, số lượng và chất lượng lô hàng cung ứng cho khách hàng là kết quả của quá trình nghiệp vụ kho; thời gian cung ứng hàng hoá chịu ảnh hưởng lớn của quá trình nghiệp vụ kho, đặc biệt chịu ảnh hưởng của công tác chuẩn bị hàng trong công đoạn phát hàng ở kho. Và như vậy, trình độ dịch vụ khách hàng cũng chịu ảnh hưởng khá lớn của nghiệp vụ kho.

    – Nghiệp vụ kho tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các quyết định của quản trị mua và dự trữ hàng hoá; nghiệp vụ kho đáp ứng những điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật để bảo quản qui mô và cơ cấu dự trữ hàng hoá tối ưu, kiểm tra và cung cấp thông tin tình hình biến động dự trữ hàng hoá để quản trị có hiệu quả dự trữ hàng hoá trong kho; nghiệp vụ kho trực tiếp kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá trong quá trình mua hàng, ngăn chặn hàng hoá không đảm bảo chất lượng lọt vào kênh logistics, đồng thời nâng cao hiệu lực của quá trình mua hàng.

    – Quá trình nghiệp vụ kho sử dụng các phương pháp công nghệ tiên tiến hợp lý, một mặt, nâng cao chất lượng dịch vụ của quá trình, mặt khác, giảm chi phí nghiệp vụ kho và do đó giảm chi phí của toàn bộ quá trình logistics

    Quản trị nghiệp vụ kho bao gồm những nội dung sau: 1- Thiết kế quá trình nghiệp vụ kho; 2- Qui hoạch mặt bằng nghiệp vụ kho; 3- Quản trị thiết bị nghiệp vụ kho; 4- Tổ chức lao động nghiệp vụ kho; Trong đó nội dung đầu là quan trọng nhất vì nó quyết định nội dung của những nội dung sau.

    b-   Mục tiêu và nguyên tắc quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    Xuất phát từ vị trí và vai trò của quản trị nghiệp vụ kho đã nêu ở trên, quản trị nghiệp vụ kho tập trung vào những mục tiêu sau:

    – Thứ nhất, là mục tiêu đáp ứng nhanh những yêu cầu của quá trình mua bán hàng hoá qua kho. Mục tiêu này gắn liền với chức năng hỗ trợ của nghiệp vụ kho hàng hoá.

    – Thứ hai, là mục tiêu hợp lý hoá việc phân bố dự trữ hàng hoá trong kho. Mục tiêu này liên quan đến quản trị dự trữ hàng hoá và sử dụng hợp lý diện tích và dung tích kho.

    – Thứ ba, là mục tiêu chất lượng hàng hoá bảo quản. Mục tiêu này liên quan đến việc quản trị chất lượng hàng hoá trong kinh doanh thương mại được tập trung chủ yếu trong kho hàng hoá.

    Các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện các mục tiêu này bao gồm: Số lần vi phạm hợp đồng cung cấp hàng hoá cho khách hàng; tỷ lệ các lô hàng bị trả lại; thời gian trung bình chuẩn bị một lô hàng để phát cho khách hàng; tốc độ chu chuyển hàng hoá ở kho; hệ số sử dụng diện tích và dung tích kho; tỷ lệ hao hụt hàng hoá ở kho; giá thành nghiệp vụ kho,…

    Các nguyên tắc quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá:

    • Nguyên tắc hiệu quả: đạt mục tiêu với chi phí thấp
    • Nguyên tắc tiến bộ kỹ thuật
    • Nguyên tắc hệ thống
    • Nguyên tắc giảm hao hụt

    6.1.2- Quá trình nghiệp vụ kho hàng hoá

    Tuỳ thuộc vào loại hàng hoá dự trữ và bảo quản, loại hình kho và các điêù kiện khác mà quá trình nghiệp vụ kho khác nhau. Tuy nhiên quá trình bao gồm 3 giai đoạn: tiếp nhận hàng, bảo quản hàng, phát hàng. Sơ đồ tổng quát quá trình nghiệp vụ kho được thể hiện ở hình 6.1

    a-   Nghiệp vụ tiếp nhận hàng

    a.1- Các yêu cầu tiếp nhận hàng ở kho

    Tiếp nhận hàng là hệ thống các mặt công tác kiểm tra tình trạng số lượng và chất lượng hàng hoá thực nhập vào kho, xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên giao nhận, vận chuyển hàng hoá trong việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền quản lý hàng hoá theo các văn bản pháp lý qui định.

    Tiếp nhận hàng hoá là công đoạn nghiệp vụ trung gian giữa quá trình nghiệp vụ mua hàng, nghiệp vụ vận chuyển, và nghiệp vụ kho. Do đó, tiếp nhận hàng hoá thể hiện mối quan hệ kinh tế – pháp lý giữa các đơn vị kinh tế: nguồn hàng, đơn vị vận chuyển, và doanh nghiệp thương mại. Chính vì vậy, tiếp nhận hàng phải đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Phải xác định trách nhiệm vật chất cụ thể giữa đơn vị cung ứng và người nhận hàng.

    Đây là xác định rõ trách nhiệm vật chất trong việc thực hiên các cam kết kinh tế – pháp lý giữa người bán (nguồn hàng) và người mua (doanh nghiệp thương mại ), và đơn vị vận chuyển hàng hoá đã được ký kết trong hợp đồng mua-bán và hợp đồng vận chuyển hàng hoá.

    – Phải kiểm tra việc thực hiện kế hoạch nhập hàng của doanh nghiệp, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng mua bán và vận chuyển giữa các bên.

    Thông qua tiếp nhận hàng hoá, có thể tập hợp được thông tin về mua hàng và vận chuyển hàng hoá, do đó, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng ở kho một cách chi tiết và cụ thể.

    2
    1
    1.1
    1.2
    1.1a
    1.1b
    • Sơ đồ tổng quát quá trình nghiệp vụ kho

    – Phải đảm bảo tiếp nhận kịp thời, nhanh chóng và chính xác.

    Yêu cầu này nhằm tiết kiệm thời gian hàng hoá dừng lại ở công đoạn tiếp nhận, do đó giải phóng nhanh phương tiện vận tải, nhanh chóng đưa hàng hoá vào nơi bảo quản. Tính kịp thời và nhanh chóng không được làm ảnh hưởng đến tính chính xác trong việc kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá.

    a.2-           Nội dung tiếp nhận hàng

    Công đoạn tiếp nhận hàng ở kho bao gồm: tiếp nhận số lượng, tiếp nhận chất lượng, và làm chứng từ nhập hàng.

    • Tiếp nhận số lượng

     là tiến hành kiểm tra số lượng hàng hoá thực nhập và xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên trong việc giao nhận hàng hoá về mặt lượng.

    Chế độ, kỹ thuật tiếp nhận, phương pháp, thời hạn, các thủ tục tiếp nhận…sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí tiếp nhận, phương tiện vận tải, đặc điểm của bao bì, tính chất của hàng hoá… đã được qui định trong trong các văn bản pháp lý.

    Tiếp nhận hàng hoá có thể bao gồm 2 bước:

    – Tiếp nhận sơ bộ: Tiếp nhận theo đơn vị bao bì hàng hoá bằng phương pháp đếm số lượng các đơn vị bao bì chứa lượng hàng hoá tiêu chuẩn để xác định tổng lượng hàng hoá. Tiếp nhận sơ bộ nhằm giải phóng nhanh phương tiện vận tải chờ bốc dỡ. Tiếp nhận sơ bộ chỉ trong trường hợp hàng hoá đựng trong bao bì tiêu chuẩn nguyên vẹn, không bị dập vỡ, không có dấu hiệu mất an toàn. Kết thúc tiếp nhận sơ bộ, trách nhiệm vật chất về hàng hoá vẫn chưa chuyển giao cho bên nhận.

    – Tiếp nhận chi tiết: áp dụng trong trường hợp hàng hoá đã qua tiếp nhận sơ bộ, hoặc hàng hoá không có bao bì, bao bì không an toàn. Tiếp nhận chi tiết theo đơn vị hàng hoá bằng các phương pháp và đơn vị đo lường hợp pháp của nhà nước. Tiếp nhận chi tiết có thể được tiến hành trên mẫu đại diện, thường là từ 15 -20% qyi mô lô hàng. Sau khi tiếp nhận chi tiết, trách nhiệm vật chất về mặt lượng của hàng hoá được chuyển giao cho bên nhận hàng.

    Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào cam kết giữa các bên mà hàng hoá chỉ cần qua bước tiếp nhận sơ bộ nguyên đai kiện rồi chuyển vào kho mà không cần qua bước tiếp nhận chi tiết.

    Trong quá trình tiếp nhận, nếu phát hiện hàng hoá thừa hoặc thiếu, phải lập biên bản để qui trách nhiệm vật chất.

    • Tiếp nhận chất lượng hàng hoá

     Bao gồm các mặt công tác nhằm kiểm tra tình trạng chất lượng hàng hoá thực nhập và xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên giao nhận về tình trạng không đảm bảo chất lượng của hàng hoá nhập kho.

    “Chất lượng hàng hoá là khả năng hàng hoá thực hiện những chức năng của mình; chất lượng hàng hoá bao gồm độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, dễ vận hành và sửa chữa, và các đặc tính giá trị khác”. Các đặc tính chất lượng hàng hoá được đo lường bằng các chỉ tiêu khác nhau, nhưng chủ yếu là các chỉ tiêu lý, hoá, sinh, và các chỉ tiêu cảm quan.

    Tiếp nhận chất lượng hàng hoá phải căn cứ vào các văn bản có tính pháp lý, như: hợp đồng, các văn bản tiêu chuẩn về chất lượng hàng hoá, chế độ qui định tiếp nhận hàng hoá; đồng thời phải căn cứ vào các chứng từ đi kèm như hoá đơn, giấy đảm bảo chất lượng,…

    Tiếp nhận chất lượng hàng hoá phải tiến hành theo các bước sau:

    – Thứ nhất, phải lấy mẫu kiểm tra chất lượng: Việc kiểm tra chất lượng không thể tiến hành đối với toàn bộ lô hàng được, do đó phải lấy mẫu để kiểm tra. Mẫu kiểm tra phải được lấy theo phương pháp khoa học theo qui định hoặc đã thoả thuận giữa các bên. Mẫu kiểm tra phải được đánh dấu hoặc niêm phong có gắn nhãn hiệu kèm chữ ký của những người tham gia tiếp nhận, đồng thời phải lập biên bản lấy mẫu. Mẫu lựa chọn để kiểm tra phải được bảo quản cẩn thận cho tới khi tiếp nhận xong và không có sự tranh chấp giữa các bên nữa.

    – Thứ hai, phải xác định phương pháp kiểm tra và đánh giá chất lượng. Tuỳ thuộc vào đặc điểm hàng hoá, những qui định và sự thoả thuận giữa các bên mà có thể sử dụng phương pháp kiểm tra thích hợp. Có 2 phương pháp kiểm tra chủ yếu: phương pháp cảm quan và phương pháp phân tích thí nghiệm.

    Phương pháp cảm quan là phương pháp sử dụng các giác quan của con người để kiểm tra chất lượng. Các chỉ tiêu cảm quan thường là: màu sắc, mùi vị, âm thanh độ cứng,… Phương pháp này có ưu điểm là: đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền, thiết bị dụng cụ không phức tạp, và trong một số trường hợp, phải dùng chỉ tiêu cảm quan mới đánh giá chất lượng tổng hợp một cách chính xác như các loại hàng kích thích,… Nhược điểm của phương pháp này là thiếu chính xác, thiếu khách quan, phụ thuộc vào trình độ cảm quan và các yếu tố tâm sinh lý của người kiểm tra.

    Phương pháp phân tích thí nghiệm là phương pháp sử dụng các thiết bị phân tích trong phòng thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu chất lượng về lý, hoá, sinh,… Yêu cầu quan trọng của phương pháp này là phải có những thiết bị có độ chính xác cao. Ưu điểm của phân phối này là kiểm tra chính xác và khách quan chất lượng hàng hoá. Nhược điểm của phương pháp này là đòi hỏi phải có thiết bị phức tạp, thời gian để phân tích lâu. Ngày nay, do phát triển của khoa học kỹ thuật, các thiết bị phân tích trở nên tinh vi, đảm bảo kiểm tra nhanh mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao

    Đối với phương pháp kiểm tra cảm quan, phải sử dụng phương pháp cho điểm để đánh giá chất lượng; còn đối với phương pháp phân tích thí nghiệm, việc đánh giá dựa trên cơ sở kết quả phân tích định lượng.

    Thời gian tiếp nhận chất lượng hàng hoá không được vượt quá giới hạn qui định. Thời gian tiếp nhận tuỳ thuộc vào tính chất hàng hoá, khoảng cách giữa nơi giao và nơi nhận, điều kiện giao thông vận tải, phương thức giao nhận,…

    – Trong quá trình kiểm tra và đánh giá, nếu phát hiện thấy chất lượng hàng hoá không đảm bảo tiêu chuẩn và các cam kết, bao bì và hàng hoá không đúng qui cách, phải lập biên bản về tình trạng chất lượng có mặt bên giao hàng hoặc cơ quan giám định chất lượng hàng hoá.

    Hàng hoá không đảm bảo chất lượng phải xử lý theo những qui định của pháp luật và sự thoả thuận giữa các bên. Nguyên tắc xử lý là: pháp lý, thoả thuận, và giảm chi phí cho cả các bên.

    • Làm chứng từ nhận hàng

    Làm chứng từ nhận hàng bao gồm những công tác nhằm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá và tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng.

    Sau khi kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá, nếu lô hàng đảm bảo thì người nhận hàng (thủ kho) ký vào hoá đơn giao hàng và kết thúc việc nhận hàng. Trường hợp hàng hoá không đảm bảo số lượng và chất lượng hoặc không có chứng từ đi kèm thì phải tiến hành lập biên bản và tuỳ theo tình hình cụ thể để xử lý.

    Sau khi tiếp nhận, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng vào kho. Mỗi một lô hàng nhập kho phải ghi sổ theo dõi tình hình nhập hàng, đồng thời phải ghi chép số liệu hàng nhập vào trong thẻ kho để nắm được tình hình nhập xuất và tồn kho.

    b-   Nghiệp vụ bảo quản hàng hoá ở kho

    b.1-          Yêu cầu đối với nghiệp vụ bảo quản

    Bảo quản hàng hoá là hệ thống các mặt công tác nhằm đảm bảo giữ gìn nguyên vẹn số lượng và chất lượng hàng hoá trong quá trình dự trữ, tận dụng đến mức cao nhất diện tích và dung tích kho, nâng cao năng suất thiết bị và lao động kho.

    Trong toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho, bảo quản hàng hoá là công đoạn nghiệp vụ cơ bản và phức tạp nhất, quyết định chất lượng công tác kho, thực hiện tốt chức năng cơ bản của kho hàng hoá; công đọan nghiệp vụ này có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng của công đoạn nghiệp vụ tiếp nhận và phát hàng, thực hiện mục tiêu của quá trình nghiệp vụ kho.

    Công đoạn nghiệp vụ bảo quản hàng hoá ở kho phải thực hiện những yêu cầu sau:

    – Phải giữ gìn tốt số lượng và chất lượng hàng hoá bảo quản ở kho, phấn đấu giảm đến mức thấp nhất hao hụt hàng hoá ở kho;

    – Tận dụng diện tích và dung tích kho, nâng cao năng suất các loại thiết bị và lao động kho;

    – Tạo điều kiện để thực hiện tốt nhất quá trình nghiệp vụ kho.

    Quá trình bảo quản hàng hoá ở kho bao gồm 3 mạt công tác cơ bản: Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho; Chăm sóc và giữ gìn hàng hoá bảo quản ở kho; Quản trị định mức hao hụt hàng hoá ở kho.

    b.2-          Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho

    Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho là sự qui hoạch vị trí của hàng hoá bảo quản, là phương pháp để hàng hoá tại những nơi qui định thích hợp với đặc điểm, tính chất hàng hoá, kho, bao bì và thiết bị kho.

    Phân bố và chất xếp hàng hoá hợp lý ở kho sẽ đảm bảo thuận tiện cho việc bảo quản hàng hoá, tiếp nhận và phát hàng, đồng thời tận dụng tốt nhất diện tích và dung tích kho hàng hoá.

    Nguyên tắc của phân bố và chất xếp hàng hoá: Phải theo khu vực và theo loại hàng, tránh ảnh hưởng có hại lẫn nhau giữa các loại hàng hoá và môi trường bảo quản và bố trí lân cận những hàng hoá có liên quan với nhau trong tiêu dùng; đảm bảo trật tự và vệ sinh- dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm kê hàng hoá; đảm bảo mỹ quan cho kho hàng hoá.

    Có nghĩa những hàng hoá giống nhau về điều kiện và kỹ thuật bảo quản thì có thể bảo quản trong cùng một khu vực kho; tuy nhiên, đối với nhiều loại hàng hoá do đặc tính thương phẩm mà ảnh hưởng có hại lẫn nhau tuy rằng có cùng điều kiện bảo quản, thì cần phải để cách ly nhau như chè, thuốc lá,. ..

    Do những hàng hoá có liên quan trong tiêu dùng thường được phát trong cùng một lô hàng, cho nên để thuận tiện cho phát hàng, cần được bố trí gần nhau.

    Yêu cầu chung trong phân bố và chất xếp: Đảm bảo thuận tiện cho việc tiến hành các nghiệp vụ kho; đảm bảo an toàn cho con người, hàng hoá và phương tiện; bảo đảm tiết kiệm sức lao động, giảm chi phí, không ngừng nâng cao năng suất lao động, tận dụng sức chứa của kho, công suất thiết bị

    Những căn cứ để tiến hành phân bố và chất xếp: Tính chất, đặc điểm của hàng hoá, kho và thiết bị; các phương pháp và điều kiện kỹ thuật bảo quản hàng hoá; điều kiện khí hậu khu vực kho; các tiêu chuẩn và định mức kinh tế – kỹ thuật đối với con người, hàng hoá và thiết bị.

    Nội dung của phân bố và chất xếp hàng hoá trong kho:

    1/ Phân loại hàng hoá bảo quản theo các đặc trưng kinh tế và kỹ thuật:

    Những đặc trưng kinh tế đối với hàng hoá bảo quản bao gồm: qui mô lưu chuyển và dự trữ hàng hoá, tốc độ chu chuyển hàng hoá, tính liên quan trong tiêu dùng hàng hoá. Những hàng hoá có tốc độ chu chuyển nhanh, cường độ xuất nhập cao sẽ được phân bố ở những vị trí thuận tiện cho di chuyển và xếp dỡ; những hàng hoá có liên quan trong tiêu dùng được bố trí lân cận nhau,. ..

    Những đặc trưng kỹ thuật đối với hàng hoá: tính chất và đặc điểm thương phẩm của hàng hoá.

    2/ Xác định các phương pháp chất xếp hàng hoá trong kho:

    Phương pháp chất xếp là cách thức để hàng tại những vị trí bảo quản hàng hoá. Mỗi loại hàng hoá khác nhau với những tính chất và bao bì khác nhau có thể áp dụng các phương pháp chất xếp khác nhau. Mỗi loại phương pháp chất xếp có những ưu và nhược điểm nhất định, và có tải trọng chất xếp trên một đơn vị diện tích khác nhau. Có 3 phương pháp chất xếp phổ biến:

    – Phương pháp đổ đống: Thường áp dụng đối với những hàng hoá ở dạng hạt rời và không có bao bì.

    Ưu điểm của phương pháp này là: Sử dụng triệt để diện tích và dung tích nhà kho, đỡ tốn chi phí bao bì trong quá trình bảo quản hàng hoá tại kho.

    Nhược điểm: Cần phải có thiết bị ngăn ô phức tạp, khó khăn cho quá trình di chuyển hàng hoá trong kho, đặc biệt là những kho chưa được cơ giới hoá; khó kiểm tra, phát hiện hàng hoá bị hư hỏng, kém chất lượng.

    – Phương pháp xếp trên giàn, giá, bục, tủ: Thường áp dụng để chất xếp những hàng hoá đã mở bao, hàng lẻ, hàng xuất còn thừa,hoặc hàng cần bảo quản trên giá tủ chuyên dùng.

    Ưu điểm của phương pháp này: Có chiều cao chất xếp lớn, đảm bảo tính chính xác của quá trình công nghệ kho, thuận tiện cho cơ giới hoá kho.

    Nhược điểm: Giá trị của các thiết bị chứa đựng khá cao, hệ số sử dụng diện tích và dung tích không lớn, phải có các thiết bị xếp dỡ phức tạp, nhất là khi chiều cao chất xếp lớn.

    – Phương pháp xếp hàng thành chồng: Thường sử dụng đối với hàng hoá bảo quản nguyên bao, nguyên kiện.

    Ưu điểm: Đảm bảo tính trật tự của các chồng hàng, có thể sử dụng tốt diện tích, dung tích nhà kho khi bao bì đảm bảo; thuận tiện cho công tác xuất nhập, kiểm kê, kiểm tra và bảo quản hàng hoá.

    Nhược điểm: Không thật sử dụng triệt để dung tích nhà kho, kém an toàn cho con người và hàng hoá.

    Phương pháp xếp thành chồng hiện nay được áp dụng phổ biến ở nước ta. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của hàng hoá, mà có các loại hình chất xếp thành chồng: chồng hình vuông, hình chữ nhật và hình chóp. Xếp chồng hình chóp áp dụng cho các loại hàng đóng bao như muối, đường, gạo đỗ,. ..;xếp theo hình chữ nhật và hình vuông áp dụng khi bao bì chắc chắn. Xếp chồng hình chữ nhật có 6 kiểu: 1- Xếp thẳng thành chồng; 2- Xếp cách ván thành chồng; 3- Xếp đứng thành chồng; 4- Xếp chéo thành chồng (kiểu chữ thập); 5- Xếp ngược thành chồng; và 6- Xếp miệng giếng thành chồng.

    Dựa vào các phương pháp chất xếp và đặc điểm của hàng hoá, xác định tiêu chuẩn chất xếp trên một đơn vị diện tích bảo quản.

    3/ Tính toán diện tích bảo quản:

    Trên cơ sở qui mô hàng hoá nhập kho và tiêu chuẩn chứa hàng trên một đơn vị diện tích, có thể xác định được diện tích cần thiết để bảo quản hàng hoá.

    4/ Xác định vị trí phân bố hàng hoá:

    Vị trí phân bố hàng hoá bảo quản thường được xác định tuỳ thuộc vào hệ thống qui hoạch diện tích bảo quản. Trong kho, có 2 hệ thống qui hoạch: qui hoạch động và qui hoạch cố định.

    – Hệ thống qui hoạch động (định vị động): cho phép định vị hàng hoá bảo quản trong kho thay đổi theo thời gian nhập lô hàng mới với mục đích sử dụng hiệu quả dung tích kho.

    – Hệ thống qui hoạch cố định: Mỗi loại hàng hoá được định vị lâu ở khu vực lựa chọn. Lợi thế của hệ thống này là xác định ngay được vị trí bảo quản hàng hoá để đưa hàng vào và lấy hàng ra. Tuy nhiên, hệ thống này sử dụng không hiệu quả diện tích và dung tích bảo quản hàng hoá ở kho.

    5/ Tiến hành chất xếp hàng hoá vào vị trí bảo quản – đánh dấu hoặc ghi ký, mã hiệu hàng hoá lên sơ đồ qui hoạch diện tích bảo quản hàng hoá.

    Tiến hành chất xếp hàng hoá vào vị trí bảo quản theo các phương pháp dự tính. Di chuyển và chất xếp hàng hoá là loại lao động nặng nhọc, cần phải được cơ giới hoá. Đồng thời để xác định nhanh chóng vị trí bảo quản hàng hoá, đáp ứng yêu cầu của nghiệp vụ phát hàng, cần phải đánh dấu vị trí phân bố hàng hoá trên sơ đồ qui hoạch. Trong trường hợp tự động hoá quá trình công nghệ kho, cần phải mã hoá khu vực bảo quản.

    b.3-          Chăm sóc, giữ gìn hàng hoá bảo quản ở kho

    Hàng hoá trong thời gian bảo quản tại kho, dưới ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài có thể bị suy giảm số lượng và chất lượng. Để tạo nên điều kiện thích hợp bảo quản hàng hoá, phát hiện hàng hoá bị giảm sút chất lượng, đề phòng hàng hoá mất mát, phải sử dụng một hệ thống các mặt công tác: Quản lý nhiệt độ, độ ẩm; vệ sinh, sát trùng ở kho; phòng cháy, chữa cháy, phòng gian bảo mật; kiểm tra và giám sát chất lượng hàng hoá.

    • Quản lý nhiệt độ, độ ẩm hàng hoá và kho

    Nhiệt độ và độ ẩm là 2 yếu tố cơ bản của điều kiện bảo quản hàng hoá. Do tính chất thương phẩm mà mỗi loại hàng hoá có những khác nhau trong việc chống lại những tác động của môi trường, và do đó, đòi hỏi phải được bảo quản ở nhiệt độ và độ ẩm nhất định.

    Quản lý nhiệt độ, độ ẩm ở kho là một hệ thống các biện pháp khác nhau nhằm tạo ra cũng như duy trì nhiệt độ và độ ẩm thích hợp với yêu cầu bảo quản hàng hoá.

    Nội dung của quản lý nhiệt độ, độ ẩm ở kho bao gồm 2 công tác cơ bản: Xây dựng chế độ về nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho từng loại hàng hoá khác nhau; và kiểm tra và tạo lập, duy trì nhiệt độ độ ẩm theo yêu cầu.

    Các biện pháp tạo ra và duy trì nhiệt độ, độ ẩm ở kho bao gồm: Thông gió; dùng chất hút ẩm; sấy, và bịt kín.

    a/ Thông gió

    Thông gió là quá trình làm thay đổi không khí trong kho để cải thiện điều kiện bảo quản: điều hoà nhiệt độ, độ ẩm thích hợp với yêu cầu bảo quản hàng hoá, loại trừ các khí có hại trong kho ra ngoài (CO2, NO2, NH3,. ..)

    Có 2 phương pháp thông gió: thông gió tự nhiên và nhân tạo.

    Thông gió tự nhiên là quá trình làm thay đổi không khí trong kho dựa vào các điều kiện tự nhiên. Để thông gió tự nhiên, phải nắm vững thời cơ thông gió và phương pháp mở cửa kho.

    Thời cơ thông gió phải đảm bảo 4 điều kiện sau:

    • Điều kiện 1: Ngoài trời không mưa, không có sương mù, sấm sét, và không có gió mạnh từ cấp 4 trở lên.
    • Điều kiện 2: Nhiệt độ ngoài kho không được thấp hơn 10oC và cao quá 32oC.
    • Điều kiện 3: Độ ẩm tuyệt đối ngaòi kho phải thấp hơn độ ẩm tuyệt đối trong kho.
    • Điều kiện 4: Nhiệt độ thấp nhất của một trong 2 môi trường (trong hoặc ngoài kho) không được thấp hơn quá 10C so với nhiệt độ điểm sương của môi trường có nhiệt độ cao hơn.

    Như vậy, nếu điều kiện thời tiết không đảm bảo 4 điều kiện trên thì không phải là thời cơ thông gió. Bảng 6.1 cho ta ví dụ về thời cơ thông gió.

    Ở nước ta, thời cơ thông gió thường là các tháng nóng và khô ráo, còn các tháng nhiều mưa và độ ẩm cao (tháng 3,4,8,9) ít có thời cơ thông gió. Trong ngày, theo kinh nghiệm thì có thể mở cửa kho thông gió vào lúc 8- 9 h và 17- 18 h hàng ngày, nhất là về mùa hè.

    Để thông gió tốt, phải biết cách mở cửa thông gió và tính toán diện tích cửa thông gió. Diện tích cửa thông gió được tính theo công thức sau:

     
       
    • Bảng xác định thời cơ thông gió

    a/ Trường hợp nhiệt độ không đổi, độ ẩm tương đối khác nhau

    Điều kiện Nhiệt độ (0C) Độ ẩm tương đối (%) Độ ẩm tuyệt đối (g/cm3) Điểm sương (0C)
    Trong kho 30 65 20 22,5
    Ngoài

    kho

    Tốt nhất 22 65 12,83 15
    22 70 16,64 16
    22 75 14,49 17
    Có thể

    được

    22 80 15,54 18,2
    22 85 16,32 19
    Không

    lợi

    22 95 18,33 21
    22 100 19,43 22

    a/ Trường hợp nhiệt độ thay đổi, độ ẩm tương đối khác nhau

    Điều kiện Nhiệt độ (0C) Độ ẩm tương đối (%) Độ ẩm tuyệt đối (g/cm3) Điểm sương (0C)
    Trong kho 30 65 20 22,5
    Ngoài

    kho

    Không lợi 22      
    22      
    22      
    Tốt nhất 22 65 12,83 15
    22 75 14.49 17
    22 80 15,54 18,2
    Tổ

    chức

    thông

    gió

    được

    23 65 13,64 16
    23 75 15,43 18
    23 80 16,46 19,2
    24 65 14,16 16,7
    24 75 18,34 19
    24 80 17,43 20,2
    25 65 14,98 17,6
    25 75 17,29 20
    25 80 18,44 21

    Trình tự thông gió:

    – Mở cửa thông gió theo hướng gió thổi tới để tạo nên luồng gió mạnh vào kho.

    – Mở dần những cửa hai bên để cho luồng không khí mới đó thổi đều vào kho có thể lùa vào các đống hàng.

    – Mở những cửa còn lại để luồng gió mới đưa không khí không thích hợp ra ngoài.

    Tác dụng của thông gió tự nhiên: Điều chỉnh được nhiệt độ và độ ẩm trong kho, tốn ít chi phí, nhanh chóng và đơn giản, cải thiện môi trường công tác của cán bộ và nhân viên kho.

    Tuy nhiên thông gió tự nhiên phụ thuộc vào điều kện thiên nhiên, chỉ áp dụng đối với một số loại kho nhất định. Đối với một số kho hàng và trong điều kiện thời tiết, khí hậu không cho phép thông gió tự nhiên, phải tiến hành thông gió nhân tạo: kết hợp quạt thông gió với máy lạnh, máy điều hoà nhiệt độ. Dùng phương pháp này có ưu điểm là chủ động điểu hoà nhiệt độ độ ẩm, nhưng chi phí cao, thiết kế, thiết bị phức tạp.

    b/ Dùng chất hút ẩm

    Là sử dụng một số chất có khả năng hấp thụ hơi nước trong không khí nhằm giảm độ ẩm trong kho.

    Dùng chất hút ẩm chỉ có khả năng làm giảm độ ẩm chứ không giảm được nhiệt độ và thay đổi thành phàan không khí trong kho.

    Những yêu cầu khi sử dụng chất hút ẩm: Kho phải kín, chất hút ẩm phải có năng suất hút ẩm cao, không làm nhiễm bẩn môi trường, gây mùi lạ đối với hàng hoá, độc với người, giá thành hạ, sử dụng nhiều lần, tốn ít thể tích.

    Những chất hút ẩm thường dùng:

    CaCl2: là chất hút ẩm mạnh nhất, có thể hút ẩm đến 200% trọng lượng của nó, nhưng giá đắt.

    CaO (vôi sống): có khả năng hút ẩm 30%. Khi hút ẩm, vôi sống toả nhiệt và tăng thể tích 2- 3 lần, và sau đó bở ra thành vôi bột có thể bay trong không khí làm ảnh hưởng đến hàng hoá. Tuy nhiên, vôi sống rẻ và dễ tìm.

    Ngoài ra, tuỳ loại kho và hàng hoá, có thể dùng các chất chống ẩm khác, như tro, than, trấu,. ..

    c/ Phương pháp sấy hàng hoá

    Dùng nhiệt độ cao để chống ẩm cho hàng hoá. Sấy làm giảm hàm lượng nước ở hàng hoá đến độ ẩm an toàn.

    Có thể dùng ánh nắng mặt trời để sấy, hoặc trong những trường hợp nhất định, có thể sấy bằng lò, bằng hơi nóng, bằng ánh điện, bằng tia hồng ngoại, và đặc biệt có thể sấy chân không nhiệt độ thấp.

    d/ Phương pháp bịt kín

    Nhằm ngăn cách môi trường bảo quản với môi trường bên ngoài, tạo nên điều kiện bảo quản phù hợp vơí yêu cầu và tính chất của hàng hoá.

    Phương pháp này giữ được độ ẩm không khí an toàn đối với một số hàng dễ hút ẩm như chè, thuốc lá, hàng khô,. ..,giữ được chất lượng đối với một số hàng vị giác và hương phẩm, tránh ảnh hưởng có hại của một số hàng có mùi vị lạ.

    Có nhiều cách bịt kín: trong chum, vại, thùng,. ..Với một số lượng lớn có thể áp dụng một số phương pháp sau:

    – Bịt kín toàn kho: lô hàng lớn và ít nhập xuất.

    – Bịt kín từng ô gian, đống hàng: lượng hàng hoá nhỏ, hàng đống gói lẻ.

    Yêu cầu đối với hàng hoá đưa vào bảo quản bịt kín là phải có thuỷ phần an toàn

    • Vệ sinh, sát trùng ở kho

    Là một hệ thống các biên pháp để tiêu diệt sinh vật, vi sinh vật và loại trừ các tạp chất ảnh hưởng có hại đối với hàng hoá và kho.

    Những căn cứ để làm vệ sinh, sát trung ở kho:

    – Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá và bao bì

    – Căn cứ vào tập tính sinh hoạt của từng loại sinh vật và vi sinh vật.

    – Căn cứ vào vị trí và tình trạng kiến trú nhà kho, điều kiện thiết bị bảo quản và làm vệ sinh sát trùng.

    Nội dung của công tác vệ sinh sát trùng ở kho:

    1/ Đảm bảo những điều kiện vệ sinh, phòng ngừa trùng bọ phát sinh

    – Điều kiện vệ sinh kho tàng: Phải thường xuyên làm tốt công tác vệ sinh trong và ngoài kho. Trong kho không được tạo nên những điều kiện cho sinh vật làm tổ. Trước khi nhập hàng, phải sát trung kho. Phải đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm trong kho thích hợp với hàng hoá.

    – Điều kiện hàng hoá: Hàng hoá phải sạch sẽ, đảm bảo các tiêu chuẩn bảo quản, đặc biệt đảm bảo thuỷ phần an toàn, không bị nhiễm trùng; cách ly hàng hoá nhiễm và không nhiễm trùng, hàng tốt và hàng bị giảm chất lượng.

    – Điều kiện bao bì và thiết bị: Bao bì và thiết bị cũng phải luôn luôn sạch sẽ, không bị nhiễm trùng.

    – Điều kiện con người: Người làm công tác kho cũng phải đảm bảo luôn luôn sạch sẽ.

    2/ Xây dựng và tổ chức thực hiện các chế độ kiểm tra vệ sinh, chế độ vệ sinh sát trùng kho, hàng hoá và thiết bị.

    3/ Sử dụng hiệu quả các phương pháp diệt trùng:

    – Phương pháp lý học, cơ học: Dùng nhiệt độ cao như ánh sáng mặt trời, sấy, dùng ánh sáng hấp dẫn côn trùng để tập trung tiêu diệt, dùng tia cực tím, sóng điện từ,. ..;Dùng bẫy đánh bắt,. ..

    – Phương pháp sinh thái học: Thay đổi môi trường sống của trùng bọ bằng cách thay đổi hàng hoá bảo quản trong kho nhằm hạn chế tốc độ sinh trưởng hoặc tiêu diệt chúng.

    – Phương pháp hoá học: Đây là phương pháp phổ biến tiêu diệt triệt để các loại sinh vật và vi sinh vật trên phạm vi rộng.

    • Phòng cháy, chữa cháy, phòng gian bảo mật

    Cháy là hiện tượng thường dễ xảy ra do sơ suất trong sản xuất, sinh hoạt như: hút thuốc lá không đúng nơi qui định, mang xách những vật có lửa không thận trọng, hệ thống dây điện, thiết bị điện, lò sấy, ống khói không đảm bảo an toàn, so các thiết điện, thiết bị sản xuất, động cơ đốt trong không có vật bảo hiểm, do sấm sét, và thậm chí còn do sản phẩm tự bốc cháy.

    Cháy làm tổn thất nghiêm trọng tài sản của doanh nghiệp và xã hội, do đó phòng chống cháy là công tác cần phải được quan tâm đặc biệt. Ở kho có thể sử dụng các biện pháp phòng chống chaý sau:

    – Biện pháp về tổ chức

    – Biện pháp về sử dụng thiết bị

    – Biện pháp kỹ thuật

    – Biện pháp có tính chế độ

    – Các biện pháp chạy hoả

    – Những biện pháp phòng ngừa, chữa cháy

    – Những biện pháp phòng hoả tĩnh điện

    – Những biện pháp trong thiết kế xây dựng

    Những biện pháp bảo mật phòng gian:

    – Phải xây dựng nội qui phòng gian bảo mật và kiểm tra, đôn đốc nhân viên kho thực hiện tốt chế độ và nội qui đó.

    – Tổ chức lực lượng bảo vệ kho tàng, hàng hoá. Thường xuyên tuần tra, canh gác, xây dựng các phương án bảo vệ kho và hàng hoá.

    – Xây dựng và trang bị các công trình, thiết bị bảo vệ: nhà kho phải có khoá chắc chắn, có điện bảo vệ ban đêm, có hàng rào xung quanh kho,. ..

    – Giáo dục và nêu cao tinh thần cảnh giác phòng chống trộm cắp cho cán bộ và nhân kho.

    • Giám sát và kiểm tra hàng hoá, kho tàng

    Giám sát và kiểm tra là 2 mặt công tác có mối quan hệ mật thiết với nhau. Giám sát là là hoạt động có tính chất thường xuyên nhằm theo dõi quá trình nghiệp vụ kho, tình trạng kho, hàng hoá, thiết bị, phát hiện kịp thời những hiện tượng bất thường để có biện pháp xử lý. Kiểm tra là tập hợp những thao tác cụ thể nhằm xác định cụ thể tình trạng kho, hàng hoá, thiết bị, tình hình thực hiện các chế độ, nội qui, qui trình, qui phạm kỹ thuật,. ..tại một thời điểm nhất định để có biện pháp xử lý kịp thời.

    Phải qui định chế độ kiểm tra thường kỳ, lúc cần thiết có thể kiểm tra đột xuất; nếu theo dõi thấy hiện tượng khác thường cũng phải tổ chức kiểm tra ngay để phát hiện ra nguyên nhân, từ đó có biện pháp xử lý.

    b.4-          Quản trị định mức hao hụt hàng hoá

    Quản trị định mức hao hụt hàng hoá là việc sử dụng những biện pháp tổ chức và kỹ thuật nhằm giảm đến mức thấp nhất hao hụt tự nhiên và loại trừ hao hụt do chủ quan gây ra.

    Như vậy, nội dung của quản trị định mức hao hụt bao gồm:

    – Xây dựng định mức

    – Xét duyệt, ban hành và tổ chức thực hiện định mức

    – Kiểm tra giám sát việc thực hiện định mức, điều chỉnh định mức.

    • Xây dựng định mức hao hụt hàng hoá

    Định mức hao hụt hàng hoá là việc xác định lượng tiêu hao vật chất cần thiết và hợp lý, phù hợp với những điều kiện kinh tế, kỹ thuật và xã hội trong bảo quản hàng hoá tại kho.

    Hao hụt ở kho là do những nguyên nhân sau:

    – Do ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên của chính bản thân hàng hoá

    Tức là do tính chất thương phẩm của hàng hoá trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố môi trường bên ngoài: Do các quá trình sinh hoá, sinh lý của hàng hoá; Do tính chất hoá lý sinh của hàng hoá,. ..Với môi trường bên ngoài khác nhau, cường độ của các quá trình này cũng khác nhau. Nhiệm vụ công tác kho là tạo ra điều kiện môi trường nhằm hạn chế đến mức tối đa các quá trình tự nhiên này. Loại hao hụt do nguyên nhân này còn gọi là hao hụt tự nhiên.

    – Hao hụt tất yếu do thực hiện các thao tác nghiệp vụ kỹ thuật kho

    Trong quá trình thực hiện các thao tác nghiệp vụ kho như di chuyển, xếp dỡ, biến đổi hàng hoá,. ..có thể xẩy ra hao hụt không thể tránh khỏi. Tuy nhiên có thể hạn chế những hao hụt này bằng cách cải tiến phương pháp nghiệp vụ, hoàn thiện các thiết bị kỹ thuật kho. Loại hao hụt này được gọi là hao hụt tất yếu nghiệp vụ.

    Hao hụt tự nhiên và tất yếu thuộc hao hụt định mức, và chỉ định mức cho 2 loại hao hụt này.

    – Hao hụt do lỗi của nhân viên kho không thực hiện đúng các chế độ, qui trình, qui phạm bảo quản hàng hoá ở kho mà để xẩy ra hao hụt. Đây là hao hụt do chủ quan gây nên, và cán bộ kho phải chịu trách nhiệm vật chất.

    – Hao hụt do tai hoạ thiên nhiên không khắc phục được.

    Những hao hụt do 2 nguyên nhân sau không có tính khách quan, hoặc không lường trước được, nên không phải thuộc phạm vi định mức, mà là hao hụt vượt định mức.

    Những căn cứ để xây dựng định mức hao hụt:

    – Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá: Mỗi loại hàng hoá có những đặc điểm và tính chất tự nhiên khác nhau, trong những điều kiện và kỹ thuật bảo quản nhất định, sẽ có hao hụt khác nhau. Vì thế, khi xây dựng định mức hao hụt phải phân biệt theo loại hàng.

    – Căn cứ vào điều kiện và kỹ thuật bảo quản, vận chuyển hàng hoá.

    – Căn cứ vào trình độ kỹ thuật của cán bộ và nhân viên kho.

    Các phương pháp tính định mức hao hụt:

    Có 2 phương pháp tính định mức hao hụt: phương pháp thống kê – kinh nghiệm, và phương pháp tính toán kinh tế – kỹ thuật.

    – Phương pháp thống kê – kinh nghiệm: là phương pháp tính định mức dựa trên tập hợp thống kê tỷ lệ hao hụt hàng hoá trong những thời gian đã qua, kết hợp với kinh nghiệm của người làm công tác định mức.

    Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, nhanh chóng, tốn ít chi phí và trong những điều kiện công tác kho thường xuyên biến động, phương pháp này tương đối hợp lý. Nhược điểm của phương pháp này là: không loại trừ được những nguyên nhân chủ quan gây nên hao hụt.

    – Phương pháp tính toán kinh tế – kỹ thuật: là phương pháp tính định mức dựa trên cơ sở thiết lập các điều kiện kinh tế – kỹ thuật hợp lý trong bảo quản hàng hoá, loại trừ các nguyên nhân chủ quan gây nên hao hụt.

    Phương pháp này có ưu điểm là đảm bảo độ chính xác cao, loại trừ được các nguyên nhân chủ quan, đồng thời khuyến khích người làm công tác bảo quản tìm mọi cách để giảm hao hụt. Nhược điểm chủ yếu của phương pháp này là thời gian khảo sát lâu, chi phí tốn kém, và trong trường hợp điều kiện bảo quản không ổn định, con số định mức có độ tin cậy không cao.

    Định mức hao hụt phải là con số trung bình tiên tiến mới có tác dụng quản trị hao hụt.

    • Xét duyệt, ban hành và tổ chức thực hiện định mức

    Sau khi xây dựng định mức, các cấp có thẩm quyền phải tiến hành xét duyệt và ban hành định mức kịp thời, nếu không định mức có thể sau một thời gian sẽ trở nên lạc hậu.

    Tổ chức thực hiện định mức bao gồm những nội dung sau:

    – Phải tổ chức nghiên cứu và hướng dẫn việc thực hiện định mức một cách tỉ mỉ và cẩn thận cho mọi người.

    – Phải tạo mọi điều kiện bảo quản hàng hoá hợp lý, động viên mọi người bảo quản hàng hoá theo đúng các qui trình, qui phạm đã ban hành, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để giảm hao hụt hàng hoá đến mức thấp nhất.

    – Phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong việc thực hiện định mức. Để đánh giá việc thực hiện định mức, phải so sánh giữa mức hao hụt thực tế và mức hao hụt được phép tính theo định mức:

           
       
       
    Ht– Hao hụt thực tế trong một thời kỳ nhất định

    Dc– Tồn kho cuối kỳ theo sổ sách

    Dk– Tồn kho cuối kỳ thực tế

     

    Ht = Dc – Dk ;

           
       
    Hđ– Hao hụt tính theo định mức

    M- Mức lưu chuyển hàng hoá trong kỳ báo cáo

    Dc– Tồn kho cuối kỳ theo sổ sách

    k- Tỷ lệ hao hụt định mức có tính đến thời gian bảo quản trung bình

       
     

    Hđ = (M + Dc).k

           
       
    ki– Tỷ kệ hao hụt định mức trong thời gian bảo quản i

    kn– tỷ lệ hao hụt định mức thời gian bảo quản cuối

    tn– Thời lượng bảo quản hàng hoá nằm trong thời gian bảo

    quản cuối

    Tn– Thời gian bảo quản cuối có tỷ lệ hao hụt kn

       
     

    Nếu Ht £ Hđ thì thực hiện tốt định mức và được khen thưởng;

    Nếu Ht > Hđ thì không thực hiện định mức và phải xác định nguyên nhân và xử lý kịp thời, xác định trách nhiệm vật chất về hàng hoá hao hụt vượt định mức.

    • Kiểm tra, theodõi việc thựchiện định mức, điều chỉnh định mức

    Để tăng cường tính khoa học, tính thực tiễn và tính hành chính của định mức ban hành, các cấp xây dựng xét duyệt, ban hành định mức và tổ chức thực hiện định mức phải kiểm tra, theo dõi việc thực hiện định mức.

    Nội dung của công tác này bao gồm:

    – Kiểm tra việc chấp hành các qui định về điều kiện và kỹ thuật bảo quản hàng hoá, qui trình, qui phạm công tác kho.

    -Kiểm tra việc thực hiện các chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong công tác tổ chức thực hiện định mức.

    – Trong quá trình kiểm tra, theo dõi, có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý của định mức trong thực tế và cần phải điều chỉnh. Định mức quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng xấu đến kết quả công tác kho.

    c-   Nghiệp vụ phát hàng ở kho

    c.1-           Vị trí và yêu cầu

    Phát hàng là công đoạn nghiệp vụ cuối cùng thể hiện chất lượng của toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho hàng hoá. Những mục tiêu cơ bản của nghiệp vụ kho đều được thực hiện ở công đoạn nghiệp vụ này. Nghiệp vụ phát hàng cấu thành nên quá trình nghiệp vụ vận chuyển, và đặc biệt là bộ phận cấu thành của quá trình logistics trực tiếp (logistics bán hàng ) trong doanh nghiệp thương mại bán buôn. Chính vì vậy, nghiệp vụ phát hàng phải thực hiện được những yêu cầu sau:

    – Xác định rõ trách nhiệm vật chất cụ thể giữa các bộ phận công tác kế hoạch, chuẩn bị và giao hàng;

    – Phải đảm bảo phát hàng kịp thời, nhanh chóng và chính xác cho khách hàng theo hợp đồng và lệnh xuất kho.

    – Phải đảm bảo giảm những chi phí cho toàn bộ quá trình phát hàng.

    Công đoạn nghiệp vụ phát hàng bao gồm 3 công tác chủ yếu: xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng; chuẩn bị phát hàng; và tiến hành giao hàng.

    c.2-           Nội dung nghiệp vụ phát hàng
    • Xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng

    Xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng là quá trình dự tính các chỉ tiêu và các giải pháp nghiệp vụ kỹ thuật nhằm thực hiện tốt việc phát hàng đồng thời sử dụng tốt nhất lực lượng lao động và thiết bị kỹ thuật kho.

    Như vậy kế hoạch nghiệp vụ phát hàng dự tính nội dung, thời hạn hạn chuẩn bị và tổng hợp các lô hàng theo đơn đặt hàng, thời gian cung cấp phương tiện vận tải và tiến hành vận chuyển hàng hoá; trong kế hoạch nghiệp vụ cũng dự tính lực lượng lao động cần thiết để thực hiện các thao tác nghiệp vụ. Kế hoạch nghiệp vụ đảm bảo phát hàng cho khách hàng một cách nhanh chóng, cân đối, chính xác, đồng thời sử dụng triệt để lao động kho và thiết bị.

    Yêu cầu đối với kế hoạch nghiệp vụ là: một mặt phải đảm bảo cung cấp hàng hoá cho khách hàng một cách cân đối, mặt khác, phải theo đúng hợp đồng, lệnh xuất kho.

    Căn cứ để lập kế hoạch nghiệp vụ phát hàng là: hợp đồng, đơn đặt hàng mua bán và vận chuyển hàng hoá, tình hình bán buôn hàng hoá từ kho.

    Nội dung của kế hoạch nghiệp vụ bao gồm:

    – Các chỉ tiêu nghiệp vụ: Số lượng, cơ cấu các lô hàng giao, thời hạn giao hàng cho các đối tượng khách hàng khác nhau; đặc trưng các lô hàng giao.

    – Các giải pháp nghiệp vụ: thời hạn và nội dung chuẩn bị và tổng hợp các lô hàng; phương án vận chuyển và bố trí lực lượng lao động thiết bị xếp dỡ và giao hàng

    • Chuẩn bị phát hàng

    Bao gồm chuẩn bị hàng hoá, chuẩn bị lao động và phương tiện, đặc biệt là chuẩn bị hàng hoá.

    Chuẩn bị hàng hoá là quá trình biến đổi hình thức hàng hoá và tổng hợp lô hàng theo địa chỉ khách hàng. Việc biến đổi hàng hoá là cần thiết, vì hàng hoá nhập kho là theo yêu cầu của kho và doanh nghiệp thương mại đã được ghi trong hợp đồng mua bán, còn hàng hoá giao từ kho là theo yêu cầu của khách hàng.

    Quá trình chuẩn bị hàng để phát bao gồm:

     
       

    Có 2 phương pháp tổng hợp các lô hàng: phương pháp phân tán và tập trung.

    – Phương pháp phân tán: Thực hiện toàn bộ quá trình chuẩn bị hàng phân tán theo từng đơn hàng. Phương pháp này thường áp dụng ở những kho hàng có qui mô nhỏ, lô hàng nhỏ, và tần số xuất nhập hàng hoá không cao.

    – Phương pháp tập trung: thực hiện toàn bộ quá trình chuẩn bị hàng một cách tập trung, chuyên môn hoá theo từng giai đoạn của quá trình, cho nhiều đơn đặt hàng cùng một lúc. Phương pháp này thường áp dụng trong những kho qui mô lớn, cường độ xuất nhập lớn, phải chuẩn bị hàng hoá để phát một cách tập trung để tăng năng suất, giảm chi phí.

    • Giao hàng

    Bao gồm các thao tác nghiệp vụ để chuyển giao hàng hoá cho các đối tượng nhận hàng. Có 2 hình thức giao hàng: giao hàng từ kho của doanh nghiệp thương mại, và giao hàng ở cơ sở logistics của khách hàng.

    Trường hợp giao hàng ở kho của doanh nghiệp gồm những thao tác sau: Kiểm tra chứng từ, hoá đơn thanh toán và lệnh xuất kho; kiểm tra người nhận hàng; kiểm tra hàng hoá và phương tiện vận tải; chất xếp hàng hoá lên phương tiện vận tải; làm chứng từ giao hàng; làm giấy phép vận chuyển.

    Để kiểm tra, theo dõi tình hình giao hàng và bán buôn hàng hoá từ kho, cũng như biến động của dự trữ, phải mở sổ theo dõi hàng xuất, đồng thời khi xuất các lô hàng, phải ghi chép cẩn thận vào thẻ kho để kiểm tra biến động của dự trữ hàng hoá nhằm bổ sung kịp thời.

    6.2-  Quản trị nghiệp vụ bao bì hàng hoá

    6.2.1-    Chức năng và yêu cầu đối với bao bì hàng hoá

    a-   Khái niệm và chức năng của bao bì

    Bao bì là phương tiện đi theo hàng để bảo quản, bảo vệ, vận chuyển và giới thiệu hàng hoá từ khi sản xuất đến khi tiêu thụ hàng hoá.

    Như vậy, bao bì hàng hoá cần thiết là do những yếu tố khách quan sau:

    – Do tính chất của hàng hoá.

    Hàng hoá trong quá trình vận động trong hệ thống phân phối, do những tính chất tự nhiên, dươí ảnh hưởng của môi trường bên ngoài có thể làm suy giảm chất lượng và hao hụt số lượng. Để thường xuyên ngăn cản những tác động này, cần phải có phương tiện thường xuyên gắn liền với hàng hoá, đó là bao bì.

    – Do phải đảm bảo thuận tiện cho quá trình vận động của hàng hoá.

    Bao bì có vai trò là những đơn vị hàng hoá lớn đảm bảo thuận tiện cho viẹc giao nhận về mặt số lượng, thuận tiện cho xếp dỡ hàng hoá trong vận chuyển và trong dự trữ, bảo quản hàng hoá.

    – Do yêu cầu đảm bảo thuận tiện cho bán hàng.

    Bán hàng cũng có nghĩa chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa các bên, đòi hỏi phải xác định nhanh số lượng, do đó, bao bì có vai trò là đơn vị lớn định lượng hàng hoá. Ngoài ra trong bán lẻ, bao bì chứa đựng lượng hàng hoá phù hợp với yêu cầu mua và tiêu dùng hàng hoá của khách hàng; đồng thời, bao bì còn giúp áp dụng các phương pháp bán hàng, như phương pháp bán hàng tự phục vụ.

    Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng, bao bì hàng hoá có những chức năng sau:

    – Chức năng hậu cần: Bao bì gắn liền với toàn bộ quá trình hậu cần trong hệ thống kênh phân phối và trong hệ thống hậu cần doanh nghiệp. Bao bì hỗ trợ cho quá trình mua, bán, vận chuyển và dự trữ, bảo quản hàng hoá.

    – Chức năng marketing: Bao bì thúc đẩy quá trình bán hàng, đảm bảo truyền tin marketing cho khách hàng về hàng hoá và về doanh nghiệp.

    b-   Yêu cầu đối với bao bì hàng hoá

    Để thực hiện những chức năng của mình, bao bì hàng hoá phải đảm bảo những yêu cầu sau:

    • Phải đảm bảo giữ gìn hàng hoá

    Đây là yêu cầu cơ bản đối với bao bì, đặc biệt đối với bao bì ngoài (bao bì công nghiệp). Chính vì vậy, bao bì phải phù hợp với đặc điểm và tính chất của hàng hoá, của những điều kiện trong quá trình vận động hàng hoá (vận chuyển và dự trữ, bảo quản).

    • Phải đúng qui cách và hạ giá cước vận chuyển

    Bao bì phải đúng với những qui định của các văn bản pháp lý: tiêu chuẩn, hợp đồng. Khối lượng bao bì phải nhỏ, kích thước phải phù hợp với kích thước phương tiện vận tải, và phải đảm bảo thuận tiện cho việc xếp dỡ hàng hoá.

    • thuận tiện cho mua bán, đẹp, và đảm bảo truyền tin marketing

    Bao bì, đặc biệt là bao bì trong (bao bì tiêu dùng) phải thực hiện đầy đủ chức năng marketing. Do đó, khi thiết kế và chọn bao bì, cần phải nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng về bao bì, bao gói: nhu cầu cung cấp thông tin, nhu cầu sử dụng hàng hoá và bao bì, nhu cầu thẩm mỹ.

    • Giá thành sản xuất bao bì phải giảm

    Giá thành sản xuất giảm, tạo điều kiện để giảm giá hàng hoá bán ra. Muốn vậy, cần cải tiến công nghệ sản xuất và sử dụng bao bì: vật liệu chế tạo, phương pháp công nghệ, thiết bị sản xuất, vv .

    6.2.2-    Những căn cứ thiết kế và lựa chọn bao bì

    Khi thiết kế để sản xuất và lựa chọn bao bì để đưa vào sử dụng trong hệ thống kênh hậu cần, phải căn cứ vào những yếu tố sau:

    a-   Căn cứ vào đặc điểm và tính chất của hàng hoá

    Căn cứ vào yếu tố này để thiết kế hoặc lựa chọn bao bì với vật liệu, hình dáng, kích thước thích hợp, đáp ứng những yêu cầu đối với bao bì.

    b-   Căn cứ vào những điều kiện của vận chuyển hàng hoá

    Những điều kiện của vận chuyển hàng hoá bao gồm: Khoảng cách, con đường, phương tiện vận chuyển, điều kiện thiết bị xếp dỡ hàng hoá. Những điều kiện này nhằm thiết kế và chọn bao bì về vật liệu, kích thước, trọng tải,… nhằm đảm bảo an toàn cho hàng hoá trong vận chuyển, mặt khác tiết kiệm chi phí và hao hụt.

    c-   Căn cứ vào những điều kiện của dự trữ và bảo quản hàng hoá

    Những điều kiện đó là: tình trạng kiến trúc xây dựng kho, thiết bị và phương pháp công nghệ kho.

    d-   Căn cứ vào phương pháp bán hàng

    Các phương pháp bán hàng khác nhau đòi hỏi bao bì, bao gói thích hợp (bao bì trong), thuận tiện cho quá trình bán hàng và mua hàng của khách hàng. Bao bì dùng trong phương pháp bán hàng tự phục vụ cần phải thiết kế thích hợp với quá trình mua hàng của khách hàng.

    e-   Căn cứ vào nhu cầu sử dụng bao bì của khách hàng

    Những yêu cầu về truyền tin marketing của khách hàng, thói quen và tập quán tiêu dùng bao bì.

    f-     Căn cứ vào những điều kiện có tính pháp lý

    Các văn bản tiêu chuẩn hóa về bao bì, hợp đồng mua bán hàng hoá.

    g-   Căn cứ vào khả năng tài chính của doanh nghiệp

    Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định việc sử dụng bao bì với vật liệu chế tạo đắt hay rẻ.

    6.2.3-    Phân loại và tiêu chuẩn hoá bao bì

    a-   Phân loại bao bì

    Bao gồm các tiêu thức phân loại sau:

    • Theo tác dụng của bao bì

    Thực ra là theo chức năng của bao bì, bao gồm 2 loại: Bao bì ngoài (bao bì công nghiệp, bao bì vận tải, bao bì bán buôn). Chức năng của loại bao bì này hậu cần, bao gồm mâm tải, thùng tải và các loại bao kiện; và bao bì trong (bao bì tiêu dùng, bao bì bán lẻ) với chức năng chủ yếu là marketing, bao gồm các loại bao gói trực tiếp với hàng hoá.

    • Theo số lần sử dụng

    Bao gồm các loại:

    – Bao bì dùng một lần: chỉ sử dụng cho một lần để bao gói hàng hoá, chủ yếu là bao bì tiêu dùng.

    – Bao bì dùng lại: có thể sử dụng lại. Tùy thuộc vào điều kiện của quá trình phân phối mà số lần sử dụng từ 2 trở lên, bao gồm chủ yếu là các loại bao kiện và một số bao bì trong (chai lọ,…)

    – Bao bì dùng nhiều lần: số lần và thời gian sử dụng đã định trước; là tài sản của bên giao hàng, thường là các loại mâm tải (pallet) và thùng tải (container).

    • Theo độ cứng

    Bao gồm bao bì cứng, mềm, và nửa mềm.

    • Bao bì cứng: chịu được các tác động cơ học cao trong quá trình vận động, bao gồm các loại thùng kiện hàng (bao bì vận tải).
    • Bao bì nửa cứng: chịu được tác động hạn chế của lực bên ngoài trong quá trình vận động, thường là các loại bao bì bằng bìa, các tông.
    • Bao bì mềm: dễ biến đổi hình dạng khi sử dụng như các loại bao tải, túi chất dẻo,…
    • Theo kết cấu

    Bao gồm bao bì nguyên dạng, bao bì tháo lắp, bao bì gấp xếp, và bao bì thiết bị. Bao bì tháo lắp và gấp xếp có tác dụng trong việc vận chuyển không có hàng, tận dụng công suất của phương tiện vận tải.

    • Theo nguyên liệu chế tạo

    Bao gồm bao bì: gỗ, kim loại, gốm và thủy tinh, các tông và giấy, nhựa và chất dẻo, cao su, bao bì bằng vải,… Mỗi loại có yêu cầu riêng về tiêu chuẩn vật liệu.

    b-   Tiêu chuẩn hóa bao bì

    Tiêu chuẩn hóa bao bì là quá trình xây dựng và thống nhất áp dụng các tiêu chuẩn về bao bì trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hoá.

    Tiêu chuẩn hóa bao bì cũng như các lĩnh vực tiêu chuẩn hóa khác, có ý nghĩa rất to lớn trong nền kinh tế quốc dân. Tiêu chuẩn hóa đảm bảo sản xuất và sử dụng bao bì tiết kiệm và hiệu quả.

    Các cấp tiêu chuẩn bao bì: tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn Nhà nước, và tiêu chuẩn quốc tế. Cấp tiêu chuẩn càng thấp thì càng có nhiều tiêu chuẩn, và tiêu chuẩn càng chi tiết. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn cấp thấp hơn phải đảm bảo thống nhất với cấp tiêu chuẩn cấp cao hơn.

    Các loại tiêu chuẩn bao bì gồm: vật liệu chế tạo, độ bền, kích thước, hình dạng, kết cấu, cách ghi nhãn hiệu hàng hoá và các dấu hiệu, màu sắc,…

    Trong các loại tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn kích thước được đặc biệt chú ý vì nó liên quan đến việc sử dụng phương tiện vận tải, xếp dỡ hàng hoá, phương pháp bảo quản hàng hoá trong các kho,…. Tiêu chuẩn hóa về kích thước bao bì phù hợp với kích thước của phương tiện vận tải được gọi là thống nhất hóa kích thước bao bì.

    Thống nhất hóa kích thước bao bì là quá trình xây dựng và thống nhất áp dụng tiêu chuẩn hệ thống kích thước bao bì phù hợp với nhau và phù hợp với kích thước của phương tiện vận tải và các phương tiện bảo quản và xếp dỡ hàng hoá dựa trên Môdun (Module) đơn vị.

    Module đơn vị là kích thước của thùng tải (Container) tiêu chuẩn và mâm tải (Pallet) tiêu chuẩn (1200 m.m ´ 800 m.m). Kích thước Module này là tiêu chuẩn để xác định kích thước của các loại bao bì bên trong, thùng chứa hàng của phương tiện vận tải, cơ cấu phương tiện xếp dỡ, diện tích nhà kho, …

    Bao bì trong thống nhất kích thước về chiều dài và chiều rộng, chiều sâu được xác định theo công thức sau:

    A: Kích thước bên trong bao bì thống nhất

    M: Kích thước Module đơn vị [thùng tải hoặc mâm tải đơn vị (800 ´ 1200)]

    N: Số nguyên (ước số của chiều dài, chiều rộng, hoặc chiều sâu)

    K: Hệ số, tính khe hở giữa các bao kiện chứa trong Module đơn vị, thường là 0,95.

    c-   Mâm tải hóa và hòm tải hóa trong tổ chức vận động hàng hóa

    Để cơ giới hóa toàn bộ quá trình vận động hàng hóa, bao gồm vận chuyển, xếp dỡ, bảo quản hàng hóa trong các cơ sở hậu cần, ngoài việc phải có các phương tiện cơ giới hóa, như phương tiện vận tải, nhà kho, phương tiện xếp dỡ, còn cần phải có các phương tiện bao bì, bao gói cơ giới hóa. Những phương tiện bao bì, bao gói thuận tiện cho cơ giới hóa thống nhất toàn bộ quá trình vận động hàng hóa là hệ thống thùng tải và mâm tải.

    Như vậy, mâm tải và thùng tải có ý nghĩa to lớn trong hệ thống hậu cần. Nhờ áp dụng mâm tải và thùng tải mà đảm bảo thống nhất áp dụng cơ giới hóa trong kênh hậu cần, nâng cao trình độ dịch vụ và giảm chi phí trong phân phối và vận động hàng hóa và kinh doanh thương mại.

    Tất nhiên, để áp dụng có hiệu quả mâm tải và thùng tải, các yếu tố của quá trình vận động phải được cơ giới hóa đồng bộ: phương tiện vận tải, phương tiện xếp dỡ, thiết bị và các công trình cơ sở hậu cần.

    c.1-           Mâm tải hóa

    Mâm tải hóa là quá trình sử dụng bao bì bao gói kiêm thiết bị vận chuyển được thống nhất kích cỡ theo các tiêu chuẩn qui định trong phân phối và vận động hàng hóa.

    Mâm tải có cấu tạo thường bằng các thanh gỗ độ bền cao ghép định hình với nhau thành các bản gỗ theo kết cấu qui định. Kích thước của mâm tải thường là 1200 ´ 1600 (m.m), 1200 ´ 800 (m.m). Kích thước này tùy thuộc vào các loại phương tiện vận tải:

    • Vận tải đường biển: Mâm tải có kích thước 1600 ´ 1200 ´ 180 (m.m); trọng lượng cả bì là 1,5 T, tạong lượng của riêng mâm tải là 70 – 80 kg.
    • Vận tải đường sắt: Kích thước mâm tải là 1200 ´ 800 ´ 150 (m.m). trọng lượng của riêng mâm tải 23-25 kg được coi là hợp lý nhất.

    Theo tiêu chuẩn ISO thì kích thước mâm tải quốc tế 1200 ´ 1600, 1200 ´ 1800; tải trọng tối đa là 2T.

    Hàng hóa được ghép thành kiện chặt chẽ trên mâm tải, sau đó được cần cẩu xếp vào các khoang tàu hoặc toa xe lửa để vận chuyển. Do đặc điểm chỉ có một mặt để xếp hàng hóa nên việc ghép kiện hàng trên mâm tải và gia cố để kiện hàng ổn định, chắc chắn là đặc biệt quan trọng.

    Khi xếp hàng lên mâm tải, cần sử dụng hết trọng tải của mâm tải, giảm đến mức thấp nhất khoảng trống giữa các bao hàng. Cự ly nhô ra của kiện hàng hóa ngoài mâm tải không quá 150 m.m. chiều cao tối đa của kiện hàng đã ghép là 1,6 m.

    Phương pháp ghép kiện trên mâm tải khác nhau tùy thuộc vào kích thước và hình dạng của bao hàng, tính chất hàng hóa, và loại phương tiện vận tải cungf các nghiệp vụ xếp dỡ.

    Khi ghép mâm tải, vấn đề đặt ra là phải tính toán số bao hàng và lớp hàng tối ưu, có nghĩa có hệ số sử dụng trọng tải tối đa nhưng kích thước không vượt quá dung sai qui định (50 m.m). Ta có:

    ;                   Suy ra:

    Qn = N.qm + qn             hay:

    ;                     ;

    đây:

    Np: Số bao xếp trên một lớp của mâm tải

    L: Số lớp bao xếp trên mâm tải

    N: Tổng số bao xếp trên mâm tải

    qm: Khối lượng cả bao của một bao hàng (kg)

    qn: Khối lượng bản thân mâm tải (kg)

    Qn: Khối lượng của kiện hàng trên mâm tải (kg)

    Qn £ Qmax (Qmax: Tải trọng tối đa của mâm tải)

    Np là số bao xếp trên một lớp mâm tải. Ở đây kết hơp với phương pháp xếp, ta có thể xác định được diện tích bề mặt của một lớp. Nếu diện tích chất xếp vượt quá diện tích cho phép, ta phải điều chỉnh phương pháp xếp hoặc giảm Qn để đạt được mục đích.

    Trong những năm gần đây, trong ngành vận tải biển đã xuất hiện loại mâm tải lớn có kích thước 6,1 ´ 2,44 (m) và 12,2 ´ 2,4 (m).

    Các mâm tải sau khi dỡ hàng được chuyển trả về cới cung ứng theo hành trình ngược.

    c.2-           Thùng tải hóa

    Cùng với quá trình mâm tải hóa là quá trình thùng tải hóa (Conteiner). Thùng tải là loại bao gói quay vòng nhiều lần, thuộc loại bao bì vận chuyển có kích thước lớn nhất hiện nay.

    Đây là loại bao bì kiêm thiết bị vận chuyển có những đặc trưng xác định, bền chắc, sử dụng nhiều lần, có kết cấu chuyên dụng bảo đảm vận chuyển bằng hoặc nhiều loại phương tiện vận tải mà không phải đóng gói lại, chuyển tải nhanh từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác có dung tích từ 1m3 trở lên.

    Vận chuyển bằng thùng tải đem lại hiệu quả cao:

    – Hàng vận chuyển trong thùng tải có thể giảm chi phí lao động từ 8-10 lần. Thời gian xếp dỡ khi sử dụng thùng tải giảm từ 5-7 lần, trên mâm tải gảim từ 3-4 lần so với xếp dỡ từng bao kiện riêng lẻ;

    – Vận chuyển trong thùng tải cho phép bảo quản tốt chất lượng, số lượng hàng hóa. Hàng hóa vận chuyển trong thùng tải hoặc một số hàng vận chuyển trên mâm tải có thể bảo quản ngoài kho. Giao nhận bằng thùng tải hoặc mâm tải theo đơn vị thùng tải và mâm tải, do đó gảim thời gian giao nhận. Cùng khối lượng hàng hóa như nhau, nhưng nếu sử dụng thùng tải sẽ tiết kiệm vật liệu sản xuất hơn rất nhiều nếu chỉ chứa đựng trong bao bì thông thường.

    Thùng tải có nhiều loại: loại cố định, loại không cố định, loại cứng, loại mềm, loại bằng gỗ khung kim loại, loại bằng kim loại, chất dẻo,…Có thể phân loại thùng tải  chuyên dùng và thùng tải dùng chung. Loại dùng chung được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Theo tiêu chuẩn ISO, thùng tải có kích thước như sau:

    R: 2,44m ´ C: 2,59m ´ D: 3,05m

    R: 6,10m ´ C: 9,15m ´ D: 12,2m

    Dung tích thùng tải khoảng 9 – 60 m3, trọng tải 5 – 30T, hệ số bao bì khoảng 0,25 – 0,35.

    Hệ số chất xếp hàng hóa vào thùng tải ít nhất là 80% mới được coi là xếp đầy hàng. Kết cấu thùng tải có thêm những phụ kiện cần thiết để tiện cho xếp dỡ hàng hóa.

    Vận chuyển trong thùng tải tuy có nhiều ưu điểm, nhưng cũng có những hạn chế nhất định do vốn đầu tư lớn, tải trọng của thùng tải lớn làm tăng hệ số bao bì, và trong nhiều trường hợp, phải tốn kém nhiều chi phí vận chuyển thùng tải hoàn trả.

    Thùng tải được áp dụng nhiều nhất trong vận chuyển quốc tế.

    6.2.4-    Quá trình trình luân chuyển bao bì

    a-   Tiếp nhận bao bì

    Là hệ thống các mặt công tác nhằm kiểm tra và đánh giá tình trạng số lượng và chất lượng bao bì thực nhập cùng với hàng hoá.

    Yêu cầu của tiếp nhận bao bì: xác định trách nhiệm vật chất của các bên trong việc chuyển giao bao bì căn cứ vào các văn bản pháp lý.

    Trong trường hợp sử dụng bao bì để đóng gói hàng hoá, thì việc tiếp nhận bao bì được tiến hành riêng như tiếp nhận một loại hàng hoá, còn trong trường hợp bao bì gắn liền với hàng hoá thì việc tiếp nhận bao bì nằm trong nội dung tiếp nhận hàng hoá ở kho hay cửa hàng.

    Tiếp nhận bao bì cũng bao gồm: tiếp nhận số lượng và tiếp nhận chất lượng. Căn cứ để tiếp nhận là các văn bản pháp qui về bao bì (tiêu chuẩn hóa về bao bì, qui định về tiếp nhận hàng hoá, bao bì,…), vào các cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng.

    Trong trường hợp bao bì không đảm bảo số lượng và chất lượng, phải lập biên bản nhằm qui trách nhiệm vật chất rõ ràng.

    b-   Mở và bảo quản bao bì

    Bao gồm các mặt công tác để tháo dỡ hàng hoá ra khỏi bao bì và giữ gìn số lượng và chất lượng bao bì trong quá trình mở và bảo quản bao bì.

    Yêu cầu: đảm bảo giữ gìn tốt bao bì trong quá trình tháo dỡ hàng hoá và bảo quản, tận dụng diện tích và thể tích khu vực bảo quản.

    Nguyên tắc của mở bao bì: theo đúng qui trình, đúng kỹ thuật và dụng cụ. Do đó đối với mỗi loại bao bì cần xây dựng qui trình, qui phạm mở bao bì thích hợp.

    Nội dung của bảo quản bao bì:

    • Vệ sinh và phân loại bao bì theo quyền sở hữu và mức độ chất lượng để thuận tiện cho việc xử lý bao bì và bảo quản bao bì;
    • Phân bố và chất xếp bao bì đảm bảo tận dụng diện tích và dung tích nơi bảo quản, thuận tiện cho việc chăm sóc, giữ gìn bao bì;
    • Đảm bảo các điều kiện giữ gìn tốt bao bì: tránh mưa nắng, chống các hiện tượng sử dụng bao bì không đúng mục đích.

    c-   Hoàn trả và tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng

    Bao gồm những mặt công tác nhằm hoàn trả bao bì sử dụng nhiều lần cho chủ sở hữu và tiêu thụ bao bì theo các hình thức xác định.

    Sử dụng lại bao bì và tận dụng vật liệu bao bì đã qua sử dụng có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế và đối với bản thân các doanh nghiệp:

    + Với nền kinh tế: Tiết kiệm nguồn tài nguyên, lao động và các chi phí để chế tạo bao bì.

    + Với các doanh nghiệp: Đối với doanh nghiệp sản xuất, giảm chi phí vật liệu và lao động sản xuất bao bì, tiết kiệm chi phí sản xuất bao bì và hàng hoá.

    + Với doanh nghiệp thương mại: Tăng thu nhập cho doanh nghiệp,

    Yêu cầu: Hoàn trả bao bì cho chủ sở hữu theo đúng chế độ và cam kết giữa các bên, tận thu và tiêu thụ những bao bì đã qua sử dụng với chi phí thấp nhất.

    + Hoàn trả: Những bao bì dùng nhiều lần, là tài sản của bên chủ hàng hoặc bên cho thuê mướn bao bì (container) phải tiến hành hoàn trả lại theo các cam kết pháp lý.

    + Tiêu thụ: Bán các loại bao bì hoặc vật liệu bao bì đã qua sử dụng cho các đơn vị sản xuất hàng hoá hoặc sản xuất bao bì để sử dụng lại hoặc dùng làm vật liệu chế tạo bao bì.

    Nội dung:

    • Xây dựng kế hoạch hoàn trả và tiêu thụ bao bì: xác định số lượng, thời gian và thời hạn hoàn trả cho chủ sở hữu; xác định khách hàng và nhu cầu tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng, nhận đơn đặt hàng hoặc ký hợp đồng tiêu thụ bao bì.
    • Chuẩn bị bao bì hoàn trả và cung ứng: thu thập bao bì từ các cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp và từ trong dân chúng; phân loại, vệ sinh, đóng gói bao bì gọn gàng nhằm tận dụng dung tích phương tiện vận tải.
    • Giao bao bì cho các đối tượng nhận: vận chuyển, giao nhận bao bì. Cần chú ý chất xếp để tận dụng trọng tải và dung tích của phương tiện vận tải, xây dựng hành trình giao bao bì hợp lý nhằm giảm cự ly vận chuyển bình quân, tăng tốc độ giao bao bì, giảm chi phí.

    6.2.5-    Những biện pháp giảm chi phí bao bì

    a-   Những nguyên nhân tạo nên chi phí bao bì

    Đối với các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại bán buôn, phải sử dụng bao bì cho nhiều hoạt động hậu cần: bao gói và bao gói lại hàng hoá, đóng kiện hàng hoá trong các bao bì vận tải thuận tiện cho vận chuyển,…Còn đối với các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, phải sử dụng bao bì để bao gói lẻ hàng hoá, đặc biệt đối với các siêu thị bán hàng theo phương pháp tự phục vụ. Vì vậy, quản trị nghiệp vụ bao bì một mặt nhằm thỏa mãn yêu cầu sử dụng bao bì của doanh nghiệp, mặt khác, tiết kiệm chi phí bao bì thực hiện tốt những nhiệm vụ của hậu cần ke thương mại. Cần phải nắm vững những nguyên nhân gây nên chi phí về bao bì để từ đó có những giải pháp hợp lý.

    Những nguyên nhân chi phí bao bì bao gồm:

    a.1-           Nguyên nhân khách quan
    • Do tính chất tự nhiên của bao bì: những tính chất lý, hóa, sinh hóa,… của bao bì trong mối quan hệ với các nhân tố của môi trường làm cho bao bì giảm độ bền, hư hỏng, như dưới tác động của môi trường, bao bì có thể bị mục nát (bao bì gỗ), lão hóa (bao bì chất dẻo), han rỉ (bao bì kim loại).
    • Do quá trình sử dụng bao bì: do chứa đựng hàng hoá, vận chuyển, xếp dỡ,…(sử dụng) nên tiêu hao giá trị sử dụng, và tất nhiên làm suy giảm số lượng và chất lượng bao bì.
    a.2-           Nguyên nhân chủ quan
    • Do nhận thức chưa đúng đắn về bao bì của cán bộ và nhân viên trong các doanh nghiệp thương mại: coi bao bì không phải là tài sản của doanh nghiệp, không phải là nguồn thu nhập của doanh nghiệp; chưa nhận thức rằng, tiết kiệm bao bì có lợi ích rất lớn cho nền kinh tế quốc dân;
    • Do cán bộ và nhân viên không chấp hành đúng những qui định về công tác bao bì, chủ yếu là thực hiện quá trình nghiệp vụ bao bì: tiếp nhận, mở và bảo quản bao bì, hoàn trả bao bì.

    b-   Những biện pháp giảm chi phí bao bì

    b.1-          Biện pháp giảm chi phí do chủ quan
    • Giáo dục cho cán bộ và nhân viên trong các doanh nghiệp thương mại nhận thức ý nghĩa kinh tế quốc dân của bao bì, tầm quan trọng của bao bì trong việc tăng thu nhập của doanh nghiệp: coi bao bì đã qua sử dụng là mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Xây dựng các qui định, chế độ công tác về bao bì; chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong việc không làm tốt những qui định về công tác bao bì.
    • Tổ chức bộ phận chuyên trách quản trị nghiệp vụ bao bì trong các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt trong các doanh nghiệp thương mại bán buôn.
    b.2-          Biện pháp giảm chi phí do khách quan

    – Hoàn thiện các điều kiện thực hiện nghiệp vụ bao bì, đặc biệt nghiệp vụ bảo quản và hoàn trả, tiêu thụ bao bì.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:QUI HOẠCH CÁC CƠ SỞ LOGISTICS KINH DOANH THƯƠNG MẠI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-LOGISTICS-VI%E1%BB%86T-NAM-KH%C3%94NG-NHANH-C%E1%BA%A2I-TI%E1%BA%BEN-S%E1%BA%BC-CH%E1%BA%ACM-%C4%90%C3%80-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

     

    LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    1.Thực trang và những yêu cầu bức thiết đối với ngành logistics Việt Nam

    Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ, logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Những kiến thức về logistics và các hoạt động logistics mới thâm nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, trước hết và chủ yếu thông qua hoạt động của các công ty vận tải giao nhận nước ngoài và một số người được đào tạo tại nước ngoài.
    Thực tế thì logistics được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, xã hội, quân sự và trong từng lĩnh vực đó mục tiêu, phạm vi hoạt động cũng như tiêu chí đánh giá là hết sức khác nhau. Nhìn từ góc độ vĩ mô, có thể hiểu logistics theo hai cấp độ cơ bản: cấp độ vi mô (trong lĩnh vực quản trị sản xuất của doanh nghiệp) và cấp độ vĩ mô như một ngành kinh tế.
    Trên tầm vĩ mô thì điều quan tâm là xây dựng một mạng lưới logistics đa dạng, uyển chuyển cho phép chuyển tối ưu bộ phận sang tối ưu toàn bộ nhằm mục đích tối ưu hiệu quả của vòng quay tăng trưởng, vòng quay thu mua hàng hoá, sản xuất, phân phối bán hàng, vận tải, tái chế và sử dụng lại các nguồn nguyên vật liệu từ các công ty đơn lẻ đến toàn bộ ngành công nghiệp thông qua sự hợp tác.Như vậy, hoạt động logistics đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, lưu thông, phân phối của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt trong kinh doanh xuất nhập khẩu.Mục tiêu cần đạt được của logistics trên bình diện quốc gia là khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực quốc gia trong các hoạt động vận tải, giao nhận, lưu trữ hàng hoá và những hoạt động khác có liên quan. Để làm được điều này chúng ta cần xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng logistics và một hệ thống các văn bản luật – kinh tế phù hợp điều chỉnh các hoạt động có liên quan đến logistics và dịch vụ logistics, tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự hoạt động và phát triển logistics cũng như dịch vụ logistics.

    Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và mang tên dịch vụ logistics, nhưng doanh nghiệp dịch vụ logistics thực sự thì không nhiều. Nói một cách giản đơn theo nghĩa đen thì những nhà cung cấp dịch vụ logistics trọn gói Door to Door cho hàng hóa xuất nhập khẩu là những người tích hợp hàng loạt các dịch vụ vận tải giao nhận thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu thành một chuỗi liên tục để đảm bảo hàng hóa được vận chuyển Door to Door.

    Ở Việt Nam dịch vụ logistics (giao nhận – kho vận) là chuỗi các hoạt động thương mại từ vận tải, kho bãi, thủ tục xuất nhập cảng, phân phối, lưu thông hàng hóa, chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Theo thống kê năm 2007 thì cả nước có khoảng 900 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng của hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, dịch vụ logistics tại Việt Nam đang có những bước phát triển. Tuy nhiên, các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics, và mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ cho một số công đoạn của chuỗi dịch vụ khổng lồ này. Ngành công nghiệp logistics của Việt Nam hiện vẫn đang ở thời kỳ phôi thai, phần lớn của hệ thống logistics chưa được thực hiện ở một cách thức thống nhất và  quy mô của phần lớn các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn nhỏ, tiềm lực tài chính yếu, nguồn nhân lực còn hạn chế nhiều mặt, thiếu kinh nghiệm thương trường…

                Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại Việt Nam nói chung còn nghèo nàn, qui mô nhỏ, bố trí bất hợp lý. Về tổ chức bộ máy, do vốn và nhân lực ít nên việc tổ chức bộ máy của các doanh nghiệp này rất đơn giản, tính chuyên sâu của các doanh nghiệp trong logistics không có. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có văn phòng đại diện của chính công ty mình đặt tại nước ngoài. Các thông tin từ nước ngoài, công việc phải giải quyết ở nước ngoài của một số công ty lớn hơn đều do hệ thống đại lý thực hiện, cung cấp.Bên cạnh đó hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam bao gồm trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa dược trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container.
    Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm. Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được các máy bay chở hàng quốc tế. Các sân bay quốc tế như TSN, Nội Bài, Đà nẳng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lý logistics thực hiện gom hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang làm. Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, dường không dược thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lực vận tải đường sắt không đựơc vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng lượng hàng hoá lưu thông. Tuy nhiên, đường sắt Việt Nam vẫn đang đồng thời sử dụng 2 loại khổ ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với tải trọng thấp. Chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh (1.630 km) hiện vẫn cần đến 32 tiếng đồng hồ. Và khá nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuống cấp nghiêm trọng.

    Hạn định 2009 mở cửa lĩnh vực logistic không còn xa. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ hàng hải, logistics 100% vốn nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam. Điều này đặt doanh nghiệp Việt Nam trước thách thức cạnh tranh gay gắt trên sân nhà. Áp lực cạnh tranh rất lớn từ việc hội nhập quốc tế, sự lớn mạnh không ngừng của thị trường cũng như những đòi hỏi ngày càng tăng từ phía khách hàng cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp logistic. Một điều đáng buồn nữa là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước tuy quy mô nhỏ, manh mún nhưng lại chưa biết liên kết lại, mà kinh doanh theo kiểu chụp giật, cạnh tranh thiếu lành mạnh, thi nhau hạ giá dịch vụ để giành được hợp đồng. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các doanh nghiệp là dịch vụ vận tải (đường bộ, đường sắt, hàng không); dịch vụ môi giới thuê tàu biển; dịch vụ giao nhận; kho bãi… nhưng do hệ thống giao thông vận tải trên EWEC chưa được cải  thiện và đồng bộ đã làm tăng chi phí, giảm khả năng cạnh tranh. Chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt  động logistics tại các đơn vị còn rất thấp. Đáng ngại hơn, hiện tại các doanh nghiệp logistics tại Đà Nẵng phần lớn là những doanh nghiệp “mua bán phí”, các doanh nghiệp thực sự có tiềm lực về năng lực vận chuyển, thiết bị bốc xếp, kho bãi… chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp Nhà nước. Và chủ yếu là hạ giá thành thuê container, điều này chỉ có các doanh nghiệp trong nước bị thiệt, còn doanh nghiệp nước ngoài là những người chủ tàu sẽ đóng vai trò ngư ông đắc lợi. Một thực tế khác là trong khi các doanh nghiệp của ta còn đang mải “đá nhau” thì các tập đoàn hàng hải lớn trên thế giới như APL, Mitsui OSK, Maerk Logistics, NYK Logistics…, những tập đoàn hùng mạnh với khả năng cạnh tranh lớn, bề dày kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ với hệ thống mạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao, đã và đang từng bước xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước. Ví dụ khi nhà máy Canon ở Quế Võ, Bắc Ninh chào dịch vụ logistics trọn gói vận chuyển phân phối sản phẩm thì NYK Logistics, LOGITEM, MOL Vietnam, Dragon Logistics đều tham gia đấu thầu. Cuối cùng doanh nghiệp thắng là doanh nghiệp chào giá dưới giá thành ở công đoạn chuyên chở bằng xe tải nặng và lấy giá vận tải biển bù lại. Như vậy, các doanh nghiệp không có tàu biển chắc chắn phải chịu thua độc chiêu này.

    Từ những yêu câu bức thiết trên nếu Logistics Việt Nam không nhanh cải tiến thì nền kinh tế sẽ chậm đà phát triển ,trở nên lạc hậu so với các nước đang phát triển.

    2.Cơ hội khi gia nhập WTO:

    Gia nhập WTO, áp lực với cạnh tranh trong ngành logistics của Việt Nam ngày một cao hơn. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ hàng hải, logistics 100% vốn nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam.

    Mặc dù còn thực hiện theo lộ trình nhưng ngành logistics của Việt Nam đã thực sự gia nhập WTO, một tổ chức thiết lập các nguyên tắc và quy tắc nhằm tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển trong thương mại dịch vụ cũng như mở rộng xuất khẩu dịch vụ của các nước này thông qua việc tăng cường khả năng cạnh tranh trong nước. Đó là mục tiêu gia nhập WTO của ngành thương mại dịch vụ và như vậy logistics VN đã có cơ hội lớn hơn để xã hội hóa dịch vụ của mình.

    Thực tế trong thời gian qua, một số doanh nghiệp logistics Việt Nam đã cung cấp dịch vụ logistics ở các nước láng giềng như Lào, Campuchia và phối hợp với bạn hàng nước ngoài để thắng thầu cung cấp dịch vụ logistics từ nước thứ ba quá cảnh Việt Nam đi Trung Quốc, Lào hay Campuchia. Đây thực sự là những sản phẩm dịch vụ đã xuất khẩu và thu ngoại tệ về cho đất nước, cho doanh nghiệp Việt Nam.

    Tiếp cận, hợp tác, liên kết với các bạn hàng nước ngoài một cách bình đẳng, đặc biệt là những bạn hàng thuộc các nước đã có nghề logistics phát triển cao để học hỏi kinh nghiệm về tổ chức, quản lý nghề nghiệp, chính là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp khách hàng nước ngoài ngay trên đất nước mình.

    Và theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận (logistics) sẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp trên 25% GDP cả nước. Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn. Dự báo, đến năm 2010, hàng container qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt từ 3,6-4,2 triệu TEU. Con số này đến năm 2020 chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu TEU.
    Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu, do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển. Theo dự báo của Bộ Thương Mại, trong 10 năm tới kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước sẽ đạt tới 200 tỷ USD. Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam còn khá lớn.

    3.Biện pháp cải tiến:

    Để Logictisc Việt Nam có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì tất cả các cơ quan bộ liên quan nhanh chóng cải tiến và khắc phục những khó khăn mà hiện nay logictisc Việt Nam đang gặp phải.

    – Nhà nước cần phải có chính sách qui định, cụ thể rõ ràng:

    + Nhanh chóng có biện pháp đầu tư, hổ trợ hợp lý để cải tiến đường xá cầu cống, cảng, sân bay, đường bộ, đường sắt, đường sông, kho bãi trang thiết bị, ngân hàng, bảo hiểm…theo một kế hoạch tổng thể, có khả năng tương tác và hỗ trợ qua lại lẫn nhau một cách có hiệu quả nhằm tạo thuận tiện cho việc lưu thông vận chuyển hàng hoá, phát triển Logistics.

    + Đầu tư và nâng cấp hạ tầng giao thông vận tải, khuyến khích vận tải contarner đường sắt, chú trọng đầu tư xây dựng cảng nước sâu trung chuyển khu vực.

    + Khuyến khích Công ty đa quốc gia, các Công ty logistics quốc tế và các nhà cung cấp dịch vụ logistics khác bằng các chính sách ưu đãi để họ vào hoạt động trong khu vực các khuyến khích các hình thức liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp logistics trong và ngoài nước nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng chuỗi cung ứng dịch vụ logistics, đẩy mạnh việc phát triển các khu công nghiệp, khu thương mại tự do như là một phần của chính sách mở rộng cảng nhằm mục tiêu tăng lưu lượng hàng hóa cho cảng và tạo ra dịch vụ giá trị gia tăng để thu hút các trung tâm logistics của các công ty đa quốc gia tham gia  cung ứng.Từ đó tạo ra thêm việc làm và thu nhập cho địa phương, tăng sắc màu cho hoạt động logistics. Để khai thác lợi thế của cảng đầu mối, có kế hoạch đẩy mạnh phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ cho việc khai thác logistics trong tương lai như: đảm bảo kỹ thuật, sửa chữa bảo dưỡng phương tiện vận tải, cung ứng xăng dầu, cứu hộ, ăn nghỉ… trên EWEC.

    + Xây dựng hành lang khung pháp lý mở và chọn lọc đảm bảo tính nhất quán thông thoáng và hợp lý trong các văn bản, quy định liên quan đến lĩnh vực Logistics.

    + Các trường đại học,cao đẳng mở khóa đào tạo dài hạn, ngắn hạn nhằm giải quyết vấn đề thiếu nguồn nhân lực cho ngành logistics.Tuy nhiên để đầu ra nguồn nhân lực này có chất lượng, các công ty cần “bắt tay” với những trường ở địa phương đào tạo ngành này.Ví dụ như có chương trình hỗ trợ sinh viên kiến tập, thực tập về thực tiễn hoạt động theo đặc thù của công ty hoặc có thể đóng góp vật chất và chia sẻ kinh nghiệm nhằm giúp việc  đào tạo có hiệu quả và phù hợp với nền kinh tế thị trường

    – Tìm kiếm nguồn tài trợ trong nước và quốc tế cho các chương trình đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nước. Phối hợp và tranh thủ hợp tác với các tổ chức FIATA, IATA và các tổ chức phi chính phủ khác để có nguồn kinh phí đào tạo thường xuyên hơn. Mặt khác các doanh nghiệp cũng cần phải kết hợp chặt chẻ với hiệp hội, thông báo với hiệp hội nhu cầu đào tạo nhân lực của mình để hiệp hội có hướng giải quyết.

    – Thị trường logistics Việt Nam đang ở trong giai đoạn cực kỳ phân tán và manh mún. Các nhà cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam chỉ thuần tuỳ hoạt động trong một số phạm vi hẹp và truyền thống như vận tải, giao nhận hoặc kho bãi mà thiếu một tư duy chiều sâu. Đã đến lúc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cần ngồi lại với nhau cùng hợp tác và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói. Điều này giúp họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con người và hệ thống thông tin- đây là hai thế mạnh rất nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài. Cùng với xu hướng cổ phần hoá mạnh mẽ các doanh nghiệp nhà nước đã tạo đà cho khả năng hợp tác liên kết chiến lược trở lên rất khả thi. Gần đây đã có nhiều công ty đi theo mô hình này mà cụ thể là giữa các công ty dịch vụ cảng, kho bãi và vận chuyển. Song việc liên kết hợp tác không chỉ là việc 1+1 mà là một quá trình tích hợp điểm mạnh và loại bỏ điểm yếu, quá trình ấy đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện việc tái lập đến tận gốc dễ quy trình kinh doanh cố hữu của mình và hơn hết, họ cần một đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp đảm bảo việc tích hợp thành công .
    Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm của nhiều nước đã đi trước để xây dựng một hệ tiêu chuẩn hướng dẫn cho doanh nghiệp mà ở đây vai trò của nhà nước và hiệp hội, mà cụ thể là hiệp hội logistics là cực kỳ cần thiết.
    Đầu tư và xây dựng lại hệ thống thông tin mới để hỗ trợ cho chuỗi cung ứng.

    –  Xác định chuỗi cung ứng là một trong những lợi thế cạnh tranh.

    –  Nâng cao sự cộng tác (collaboration) với các đối tác trong chuỗi cung ứng.

    – Phải nâng cao uy tín và niềm tin với các vị trí khác trong chuỗi cung ứng, trong đó quan trọng nhất là giữ uy tín với người tiêu dùng, và giá phải rẻ.

    – Phát huy thế mạnh và giảm dần các thế yếu, từ từ sẽ nâng cao giá trị, tích lũy nhiều kinh nghiệm để ngày càng trở thành một vị trí khó có thể thay thế.

    – Phải khắc phục các điểm yếu như: không bám sát thị trường nên chậm giảm giá dù giá thị trường nơi tiêu thụ đã giảm. Yếu về tầm nhìn xa nên sản phẩm còn thiếu độ tin cậy, bị lỗi, bị vướng về các quy định tiêu chuẩn hàng hóa quốc tế như về quan hệ lao động, về bảo vệ môi trường, về vệ sinh an toàn thực phẩm…

     

     

    4. Kết Luận:

    Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và bao gồm cả vận chuyển các tài nguyên – yếu tố đầu vào và đầu ra từ nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
    Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối. Phân phối giống như mạch máu của nền kinh tế. Nắm được hệ thống phân phối chính là nắm được phần thắng trong tay. Và logistics là một mắt xích quan trọng trong hệ thống phân phối ấy. Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả họat động logistics sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước.
    Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài tóan đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả. Logistics có thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…logistics còn giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
    Hiện đối với các doanh ngiệp Việt Nam, chi phí cho giao nhận kho vận còn chiếm tới 20% giá thành sản phẩm; trong khi tỷ lệ này ở các nước phát triển chỉ vào khoảng 8 – 12%. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp nước ngoài vốn đã rất mạnh.

    Logistics là hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia.Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết tới sự cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp.logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết tới sự cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • QUI HOẠCH CÁC CƠ SỞ LOGISTICS KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    QUI HOẠCH CÁC CƠ SỞ LOGISTICS KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    QUI HOẠCH CÁC CƠ SỞ LOGISTICS KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án tốt nghiệp Thực trạng phát triển ngành Logistics tại Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/QUI-HO%E1%BA%A0CH-C%C3%81C-C%C6%A0-S%E1%BB%9E-LOGISTICS-KINH-DOANH-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: QUI HOẠCH CÁC CƠ SỞ LOGISTICS KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    CHƯƠNG 2.     QUI HOẠCH CÁC CƠ SỞ LOGISTICS KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    2.1    Các qui luạt phát triển mạng lưới logistics kinh doanh thương mại

    2.1.1    Khái niệm, vai trò của mạng lưới LOGISTICS KD

    a.              Khái niệm

    Mạng lưới logistics kinh doanh thương mại là tổng thể các cơ sở logistics trực tiếp cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng, liên kết với nhau và phát triển theo những qui luật của nền kinh tế và của quá trình phân phối, vận động hàng hoá.

    Như vậy trong kinh doanh thương mại, mạng lưới logistics kinh doanh bao gồm:

    – Mạng lưới bán lẻ: Trực tiếp cung cấp dịch vụ logistics cho người tiêu dùng trực tiếp thông qua hành vi thương mại bán lẻ.

    – Mạng lưới kho: Trực tiếp cung cấp dịch vụ logistics cho khách hàng mua buôn thông qua hành vi thương mại bán buôn.

    Sự phát triển mạng lưới logistics kinh doanh tuân theo những qui luật của nền kinh tế, và nó những tính qui luật phát triển đặc thù: chuyên doanh hoá, tập trung hoá, và hiện đại hoá.

    Như vậy, mạng lưới logistics kinh doanh bán buôn là mạng lưới kho, mạng lưới logistics kinh doanh bán lẻ là mạng lưới các cửa hàng bán lẻ.

    b.              Vai trò

    Mạng lưới logistics kinh doanh thương mại là thành phần cơ bản của kênh logistics và hệ thống logistics tổng thể và của doanh nghiệp thương mại, tạo nên dòng chảy phân phối vật chất.

    – Vai trò dịch vụ khách hàng: Cung cấp dịch vụ khách hàng, thoả mãn nhu cầu mua hàng của khách hàng, đặc biệt thoả mãn dịch vụ thời gian. Khi tăng số lượng và qui mô các cơ sở logistics, trình độ dịch vụ khách hàng tăng lên.

    – Vai trò chi phí: Số lượng và qui mô mạng lưới logistics kinh doanh ảnh hưởng đến chi phí. Khi tăng số lượng và qui mô các cơ sở logistics, chi phí dự trữ có xu hướng tăng, còn chi phí vận chuyển có xu hướng giảm (mạng lưới kho) và tăng (mạng lưới bán lẻ).

    Như vậy, vai trò của mạng lưới logistics bán lẻ chủ yếu là dịch vụ, còn của mạng lưới kho là chi phí và dịch vụ.

    2.1.2    Các qui luật phát triển mạng lưới logistics

    a.       Qui luật chuyên doanh hoá

    a.1.          Khái niệm và tính tất yếu của qui luật

    Chuyên doanh hoá mạng lưới logistics là quá trình hình thành và phát triển các cơ sở logistics kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ logistics theo nhóm, phân nhóm, loại hoặc tên hàng kinh doanh nhất định.

    Thực chất của chuyên doanh hoá là sự phân công xã hội trong hệ thống logistics theo thị trường và mặt hàng kinh doanh nhằm thoả mãn toót hơn nhu cầu mua hàng của khách hàng và giảm chi phí.

    Tính tất yếu của qui luật:

    – Do quá trình chuyên môn hoá tất yếu trong toàn bộ nền kinh tế, trong hệ thống kênh phân phối, trong đó có kênh logistics.

    – Do yêu cầu nâng cao trình độ dịch vụ khách hàng:

    Đối với bán lẻ: Dịch vụ mặt hàng – đảm bảo cơ cấu phong phú, đầy đủ về số lượng, và đảm bảo chất lượng.

    Đối với bán buôn: đảm bảo số lượng, cơ cấu, và chất lượng; hoàn chỉnh mặt hàng (biến đổi mặt hàng ); tăng tốc độ cung ứng cho khách hàng.

    – Do đặc tính thương phẩm của hàng hoá: Yêu cầu hệ thống logistics riêng biệt đảm bảo chất lượng hàng hoá.

    a.2.          Hình thức và mức độ chuyên doanh hoá

    – Hình thức: Phụ thuộc vào cách phân loại hàng hoá – cách xác định chuỗi, nhóm hàng theo công dụng, khách hàng, tần số nhu cầu, giá, ….

    – Mức độ chuyên doanh: Kích thước của phối thức mặt hàng kinh doanh – chuyên doanh theo chiều rộng: liên doanh, chuyên doanh nhóm; chiều dài: phân nhóm,…

    – Yêu cầu: Phát triển được chièu sâu (biến thể), đảm bảo nhu cầu đồng bộ khi mua hàng của khách hàng, đảm bảo chất lượng hàng hoá.

    a.3.          Đặc điểm của chuyên doanh hoá

    – Ưu điểm: Nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng; chuyên môn hoá hệ thống logistics, do đó nâng cao năng suất lao động và thiết bị, giảm chi phí.

    – Nhược điểm:

    + Chuyên doanh hoá chỉ thoả mãn nhu cầu hàng hoá ở giới hạn hẹp, do đó để đảm bảo doanh thu kinh tế, phạm vi phục vụ phải rộng, và do đó bán kính hoạt động xa ảnh hưởng đến trình độ dịch vụ khách hàng về thời gian.

    + Chuyên doanh hoá hạn chế nhu cầu đồng bộ khi mua hàng của khách hàng, do đó giảm trìh độ dịch vụ cơ cấu hàng mua (đặc biệt trong kinh doanh bán lẻ).

    a.4.          Căn cứ để chuyên doanh hoá

    – Đặc điểm của nhu cầu mua hàng: Nhu cầu định kỳ, hàng ngày; nhu cầu đồng bộ đơn chiếc; nhu cầu mua theo đơn hàng cung cấp tại nhà hay tại cửa hàng.

    – Đặc điểm của hàng hoá: Hàng hoá (nhóm) có nhiều biến thể hay ít; hàng có đặc tính thương phẩm riêng biệt hay phức tạp hay không.

    – Thị trường: Mật độ dân số, sức mua; sự hình thành các khu vực chuyên doanh; mạng lưới đối thủ cạnh tranh.

    – Mạng lưới và điều kiện giao thông vận tải.

    b.              Qui luật tập trung hoá mạng lưới

    b.1.          Khái niệm và tính qui luật

    Là quá trình tăng tỷ trọng các cơ sở logistics có qui mô lớn, tăng trưởng qui mô bình quân mạng lưới logistics.

    Các chỉ tiêu đánh giá qui mô của một cơ sở logistics: doanh số – doanh thu; diện tích; số lượng loa động; công suất (kho); số nơi công tác (cửa hàng bán lẻ).

    Tính tất yếu của qui luật:

    – Do tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kênh logistics, phát triển qui mô mạng lưới

    – Do quá trình tập trung hoá: tích tụ, tập trung dưới các nỗ lực kinh doanh và cạnh tranh.

    – Do sự phát triển của khoa học và kỹ thuật tạo mọi điều kiện để tăng tốc độ cung cấp dịch vụ khách hàng.

    b.2.          Đặc điểm của những cơ sở qui mô lớn

    – Ưu điểm:

    + Nâng cao trình độ dịch vụ khách hàng, đặc biệt là dịch vụ mặt hàng: cơ cấu hàng hoá phong phú, thoả mãn yêu cầu lựa chọn, mua hàng đồng bộ; có nhiều điều kiện dịch vụ bổ sung cho khách hàng.

    + Qui mô lớn có nhiều điều kiện để chuyên môn hoá và hiện đại hoá nâng cao trình độ dịch vụ khách hàng, nâng cao săng suất lao động.

    + Do doanh số lớn mà chi phí logistics bình quân trên một đơn vị doanh số giảm (tính kinh tế nhờ qui mô); giảm dự trữ và do đó giảm chi phí dự trữ. Điều này được thể hiện theo qui tắc căn bậc 2:

    Ở đây:

    Do: Giá trị dự trữ tối ưu nếu tập trung dự trữ vào một vị trí

    : Giá trị dự trữ trung bình mỗi điểm dự trữ trong trường hợp dự trữ ở n điểm

    n: Số vị trí kho (hoặc cửa hàng ) trước khi tập trung

    – Hạn chế:

    Tăng qui mô có thể tăng bán kính phục vụ, giảm trình độ dịch vụ khách hàng, giảm hiệu lực logistics.

    Tăng qui mô kho đồng nghĩa với tập trung hoá dự trữ, gảim số lượng kho, tăng chi phí vận chuyển hàng hoá.

    Mở rộng qui mô không tương xứng với phát triển doanh số sẽ làm tăng chi phí, giảm hiệu lực kinh doanh.

    b.3.          Căn cứ để tập trung hoá

    – Căn cứ vào trình độ tập trung thị trường: mật độ, dân số, sức mua

    – Khả năng phát triển doanh số, phát triển mặt hàng kinh doanh.

    – Điều kiện giao thông vận tải

    – Khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    c.              Qui luật hiện đại hoá

    c.1.           Khái niệm, tính qui luật

    Là quá trình tạo nên cơ sở vật chất – kỹ thuật logistics hiện đại và triển khai các hoạt động logistics theo các phân phối tiên tiến.

    – Tính tất yếu:

    + Do sự phát triển của khoa học – công nghệ trong nước và trên thế giới.

    + Do yêu cầu nâng cao trình độ dịch vụ khách hàng, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí logistics, tăng khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

    c.2.           Ưu điểm

    + Tạo phương pháp công nghệ mới, đổi mới quá trình cung cấp dịch vụ khách hàng: hoàn thiện, tăng tốc độ quá trình logistics bán buôn; tạo điều kiện áp dụng các phương pháp bán hàng tiến bộ trong việc cung cấp dịch vụ logistics bán lẻ (các phương pháp bán hàng tiến bộ). Do vậy nâng cao văn minh thương mại.

    + Nâng cao năng suất lao động logistics, giảm chi phí

    + Tăng khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh

    c.3.           Những căn cứ để hiện đại hoá

    – Thành tưu và điều kiện áp dụng khoa học – kỹ thuật trong nước và trên thế giới.

    – Khả năng phát triển doanh số, lợi nhuận do đầu tư khoa học – công nghệ

    – Khả năng tài chính doanh nghiệp

    2.1.3    Vấn đề qui hoạch mạng lưới logistics

    a.              Khái niệm, vị trí của qui hoạch mạng lưới logistics

    Qui hoạch mạng lưới logistics kinh doanh thương mại là quá trình kế hoạch hoá cấu trúc cơ sở logistics nhằm triển khai hệ thống logistics một cách hiệu quả.

    Đối với doanh nghiệp thương mại bán buôn thì qui hoạch mạng lưới logistics chủ yếu là qui hoạch mạng lưới kho hàng hoá; còn đối với hệ thống logistics bán lẻ là qui hoạch mạng lưới bán lẻ.

    Như vậy, qui hoạch mạng lưới logistics cũng có nghĩa xác định cấu trúc thông qua đó, hàng hoá sẽ chảy từ các điểm nguồn đến các điểm của nhu cầu.

    Vị trí:

    – Qui hoạch mạng lưới logistics là quyết định logistics ở tầm chiến lược: kế hoạch hoá dài hạn. Vị trí của quyết định mạng lưới logistics được thể hiện trên hình 2.1

    + Qui hoạch mạng: Nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược doanh nghiệp. Bao gồm xác định số lượng, vị trí, qui mô, mặt hàng kinh doanh. Mục đích: tập trung dự trữ và cung cấp dịch vụ cho khách hàng thông qua mạng; xác định trình độ dịch vụ khách hàng. Sử dụng các dữ liệu tổng hợp và dự báo dài hạn. Thời hạn kế hoạch hoá ³1 năm.

    + Kế hoạch hoá cung ứng và phân phối: Xác định khối lượng, cơ cấu hàng hoá cho các cơ sở logistics, cho các nguồn hàng; xác định rõ khối lượng hàng mua, bán, dự trữ và vận chuyển. Kế hoạch được xây dựng theo tháng và quí.

    + Kế hoạch hoá dòng hàng và thời biểu cung ứng: Giống như trên, nhưng cụ thể cho từng cơ sở logistics. Mục tiêu: đáp ứng nhu cầu dự báo và mục tiêu dự trữ.

    + Thực hiện thương vụ bán buôn và bán lẻ: Kế hoạch hoá theo ngày để thực hiện đơn hàng của khách mua buôn và triển khai bán lẻ hàng hoá ở các cửa hàng bán lẻ.

    + Chương trình ngắn hạn: Kế hoạch hoá ngắn hạn tìm cách tối ưu hoá sử dụng các nguồn lực – kế hoạch hoá hàng ngày.

    b.              Bản chất và các quyết định qui hoạch mạng lưới

    Vấn đề thiết kế mạng lưới bao gồm cả khía cạnh không gian và thời gian

    Khía cạnh không gian gắn liền với việc bố trí mặt bằng các cơ sở vật chất như nhà kho, cửa hàng bán lẻ. Số lượng, qui mô, và vị trí cơ sở logistics được xác định bằng cách cân đối giữa yêu cầu dịch vụ khách hàng và những vấn đề tiếp theo về mặt địa lý: chi phí mua hàng; chi phí đảm bảo dự trữ; chi phí bảo quản; chi phí vận chuyển.

     
       
    • Hệ thống các quyết định logistics

    Vấn đề thời gian trong hoạch định mạng lưới là khả năng mạng lưới đảm bảo hàng hoá để đáp ứng các mục tiêu dịch vụ khách hàng: khả năng hàng hoá có thể được bán thông qua thời gian đáp ứng đơn đặt hàng hoặc thông qua việc duy trì dự trữ tiếp cận không gian với khách hàng. Việc cân đối chi phí vốn, chi phí phân phối (thực hiện đơn đặt hàng), chi phí vận tải trong khi phải đáp ứng các mục tiêu dịch vụ khách hàng đòi hỏi là: hàng hoá chảy qua mạng lưới như thế nào. Các quyết định theo thời gian cũng ảnh hưởng đến việc bố trí cơ sở logistics.

    c.              Các quyết định trong qui hoạch

    Bao gồm: Cơ sở logistics nào sẽ được sử dụng; bao nhiêu; chúng sẽ được bố trí ở đâu; hàng hoá và khách hàng nào sẽ được cố định với chúng; Dịch vụ vận tải nào sẽ được sử dụng giữa chúng; và các cơ sở logistics này sẽ được cung ứng như thế nào.

    2.2    Qui hoạch mạng lưới kho hàng hoá

    2.2.1    Chức năng và các loại kho hàng hoá

    a.              Chức năng kho hàng hoá

    Kho hàng hoá là loại hình cơ sở logistics, thực hiện việc dự trữ và bảo quản hàng hoá nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng với trình độ dịch vụ cao nhất và chi phí thấp nhất.

    Như vậy, kho hàng hoá thực hiện 2 chức năng cơ bản: chức năng lợi ích kinh tế và chức năng dịch vụ.

    a.1.          Chức năng lợi ích kinh tế

    Lợi ích kinh tế của kho khi mà toàn bộ chi phí logistics trực tiếp giảm xuống nhờ sử dụng hệ thống kho. Các lợi ích kinh tế cơ bản của kho bao gồm: giảm chi phí nhờ tập trung, tiếp tục quá trình sản xuất, và đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục.

    • Lợi ích nhờ tập trung vận chuyển

    Giữa sản xuất và tiêu dùng còn có sự cách biệt về không gian, do đó muốn giảm chi phí trong vận chuyển hàng hoá thì phải tạo lập những lô hàng lớn để vận chuyển, tức là phải tập trung vận chuyển. Nhờ có kho mà có thể tập trung vận chuyển trong những điều kiện sau:

    – Tập trung thu nhận hàng hoá sản xuất phân tán vào kho, tạo lập lô hàng lớn để vận chuyển. Kiểu tập trung này được thể hiện trên hình 2.2

     
       
    • Kho tập trung thu nhận và vận chuyển

    – Tập trung vận chuyển lô hàng lớn ở khoảng cách lớn từ nguồn hàng đến kho đặt ở vị trí phân phối, sau đó cung ứng lô hàng nhỏ với khoảng cách nhỏ cho khách hàng phân tán. Kiểu này được thể hiện trên hình 2.3

     
       
    • Kho tập trung vận chuyển và phân phối

    – Tập trung thu nhận, vận chuyển, và phân phối (Hình 2.4)

    • Lợi ích nhờ dự trữ thời vụ

    Kho dự trữ thời vụ do đó đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục tiết kiệm được vốn đầu tư và lao động.

    • Lợi ích nhờ tiếp tục quá trình sản xuất

    Một số công đoạn của quá trình sản xuất có thể được tiến hành trong kho (như đóng gói, gắn nhãn hiệu,…) do đó có thể nâng cao năng suất của toàn bộ quá trình sản xuất, tăng cường hiệu lực của bao gói và nhãn hiệu hàng hoá.

     
       
    • Kho tập trung thu nhận, vận chuyển và phân phối

    b.              Chức năng lợi ích dịch vụ

    Bao gồm các lợi ích dịch vụ cơ bản sau:

    b.1.          Dự trữ tại chỗ

    Việc sử dụng các loại hình kho tiếp cận thị trường mục tiêu sẽ đảm bảo cung ứng hàng hoá cho khách hàng với thời gian ít nhất, đồng thời cung cấp lô hàng trọn bộ cho khách hàng.

    b.2.          Tổng hợp lô hàng

    Các kho đặt ở vị trí thị trường mục tiêu sẽ tổng hợp các lô hàng từ nhiều nguồn và cung cấp lô hàng tổng hợp cho khách hàng, thoả mãn nhu cầu dịch vụ khách hàng về mặt hàng.

    b.3.          Phối hợp vận tải

    Phối hợp vận chuyển hàng hoá đến kho để tập trung dự trữ hàng hoá theo đặc điểm cụ thể của khách hàng.

    b.4.          Lợi ích tiếp thị

    2.2.2    Các loại kho hàng hoá

    Có thể phân loại kho theo một số tiêu thức sau:

    a.              Phân loại theo đối tượng phục vụ

    a.1.          Kho định hướng thị trường

    Kho đáp ứng yêu cầu của khách hàng trên thị trường mục tiêu. Loại hình kho này còn được gọi là kho phân phối hay kho cung ứng. Kho này có chức năng chủ yếu là dịch vụ khách hàng: tổng hợp các lô hàng và cung ứng thoả mãn các nhu cầu của khách hàng. Về mặt địa lý, kho gần khách hàng để tập trung vận chuyển lô hàng lớn, cự ly dài từ nhà máy kết hợp cung ứng lô hàng nhỏ từ kho cho khách hàng. Phạm vị hoạt động của kho định vị thị trường căn cứ vào yêu cầu tốc độ cung ứng, qui mô đơn hàng trung bình, chi phí/đơn vị cung ứng. Cả trong kinh doanh bán buôn và bán lẻ đều sử dụng kho định vị thị trường.

    a.2.          Kho định hướng nguồn hàng

    Kho có vị trí ở các khu vực sản xuất, đáp ứng các yêu cầu của các nhà sản xuất và do đó chức năng chủ yếu là chức năng lợi ích kinh tế: thu nhận và tập trung vận chuyển, tiếp tục quá trình sản xuất và dự trữ thời vụ.

    a.3.          Kho định hướng trung gian

    Kho đáp ứng yêu cầu của quá trình vận động hàng hoá, thực hiện các chức năng lợi ích kinh tế là chủ yếu: dự trữ hàng hoá, chuyển tải hàng hoá giữa các loại phương tiện vận tải. Kho định hướng trung gian gồm 2 loại: kho dự trữ và kho trung chuyển.

    b.              Phân loại theo quyền sở hữu và sử dụng

    b.1.          Kho dùng riêng

    Kho dùng riêng thuộc quyền sở hữu và sử dụng của riêng từng doanh nghiệp (thương mại ) có quyền sở hữu hàng hoá dự trữ và bảo quản tại kho. Loại hình kho này thích hợp với những doanh nghiệp có khả năng về nguồn lực tài chính, đồng thời các loại hình kho khác không đáp ứng yêu cầu dự trữ, bảo quản hàng và cung ứng hoá của doanh nghiệp (vị trí quá xa, điều kiện thiết kế và thiết bị không phù hợp).

    Lợi ích chủ yếu của kho dùng riêng khả năng kiểm soát, tính linh hoạt nghiệp vụ, và các lợi ích vô hình khác.

    Tuy nhiên nếu dùng kho dùng riêng thì chi phí hệ thống logistics sẽ tăng, và tính linh hoạt vị trí không đảm bảo khi doanh nghiệp mở rộng thị trường mục tiêu.

    b.2.          Kho dùng chung

    Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, kho dùng chung được sử dụng phổ biến. Khác với kho dùng riêng, kho dùng chung hoạt động như một đơn vị kinh doanh độc lập cung cấp một loạt các dịch vụ như dự trữ, bảo quản, và vận chuyển trên cơ sở tiền thù lao cố định hoặc biến đổi. Kho dùng chung cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn cho mọi khách hàng.

    Kho dùng chung đem lại lợi ích linh hoạt về tài chính và lợi ích kinh tế. Chúng có qui mô nghiệp vụ và trình độ quản trị chuyên môn rộng lớn hơn, bởi lẽ kho là đơn vị kinh doanh cơ bản. Điều này có nghĩa, các nhà quản trị kho dùng chung nắm được những rủi ro về hoạt động kho và hoạt động để chiếm lợi thế các cơ hội thị trường.

    Theo quan điểm tài chính, kho dùng chung có thể có chi phí biến đổi thấp hơn kho dùng riêng. Chi phí này thấp hơn có thể là do tính kinh tế nhờ qui mô, năng suất cao hơn. Kho dùng chung cũng có chi phí vốn thấp hơn. Nếu như hiệu lực quản trị được điều chỉnh phù hợp với lợi nhuận trên đầu tư (ROI) thì việc sử dụng kho dùng chung có thể tăng đáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp.

    Kho dùng chung có thể cung cấp tính linh hoạt ở chỗ, nó dễ thay đổi vị trí, qui mô, và số lượng kho, cho phép doanh nghiệp đáp ứng nhanh với nguồn hàng, khách hàng, và nhu cầu thời vụ.

    Do kho dùng chung dự trữ và bảo quản hàng hoá cho mọi khách hàng nên có qui mô luôn luôn lớn và do đó đem lại lợi thế chi phí thấp nhờ qui mô.

    Nhiều doanh nghiệp lớn sử dụng kho dùng chung cho hoạt động logistics do chúng cung cấp nhiều dịch vụ và có tính linh hoạt cao.

    b.3.          Kho hợp tác (liên hợp sử dụng)

    Do các doanh nghiệp cùng góp vốn đầu tư xây dựng. Phân phối diện tích sử dụng theo tỷ lệ vốn đầu tư. Đặc điểm: tiết kiệm vốn xây dựng do tập trung xây dựng; có thể tập trung quản lý; có điều kiện sử dụng hợp lý diện tích kho và hiện đại hoá công nghệ kho.

    c.              Phân theo điều kiện thiết kế, thiết bị

    c.1.           Kho thông thường

    Có đặc điểm thiết kế, kiến trúc xây dựng và thiết bị thực hiện quá trình công nghệ trong điều kiện bình thường.

    c.2.           Kho đặc biệt

    Có đặc điểm thiết kế – kiến trúc xây dựng và thiết bị riêng biệt để bảo quản những hàng hoá đăch biệt do tính chất thương phẩm và yêu cầu của quá trình vận động hàng hoá (kho lạnh, kho động vật sống)

    d.              Phân theo đặc điểm kiến trúc

    d.1.          Kho kín

    Có khả năng ngăn cách môi trường bảo quản với môi trường ngoài kho; chủ động duy trì chế độ bảo quản, ít chịu ảnh hưởng của các thông số môi trường bên ngoài.

    d.2.          Kho nửa kín

    Chỉ có thể che mưa, nắng cho hàng hoá, không có các kết cấu  (tường) ngăn cách với môi trường ngoài kho.

    d.3.          Kho lộ thiên (bãi chứa hàng)

    Chỉ là các bãi tập trung dự trữ những hàng hoá ít hoặc không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của khí hậu, thời tiết.

    e.              Phân theo mặt hàng bảo quản

    e.1.           Kho tổng hợp

    Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá cao. Kho bảo quản nhiều loại hàng hoá theo các khu kho và nhà kho chuyên môn hoá.

    e.2.           Kho chuyên nghiệp

    Chuyên bảo quản một nhóm hàng, phân nhóm hàng và loại hàng nhất định.

    e.3.           Kho hỗn hợp

    Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá thấp nhất. Kho bảo quản nhiều loại hàng hoá trong một khu kho hoặc nhà kho.

    2.2.3    Nội dung qui hoạch mạng lưới kho hàng hoá

    a.              Các nhân tố ảnh hưởng đến qui hoạch mạng lưới kho

    Có nhiều nhân tố ảnh hưởng, nhưng những nhân tố sau là cơ bản: thị trường mục tiêu; điều kiện giao thông vận tải;  sự phân bố của nguồn hàng; qui hoạch phát triển mạng lưới kho dùng chung.

    a.1.          Nhân tố thị trường mục tiêu

    – Quá trình phát triển thị trường của doanh nghiệp: tăng số điểm nhu cầu, tăng qui mô và cơ cấu nhu cầu

    – Tăng trưởng qui mô và cơ cấu nhu cầu trên thị trường mục tiêu

    – Nhu cầu về dịch vụ logistics của khách hàng: dịch vụ mặt hàng, thời gian, địa điểm,….

    Nhân tố thị trường mục tiêu ảnh hưởng đến việc xác định cơ cấu, số lượng và vị trí phân bố kho hàng hoá.

    a.2.          Nhân tố điều kiện giao thông vận tải

    – Mạng lưới các con đường giao thông:

    – Sự phát triển các loại phương tiện vận tải

    – Cước phí vận chuyển:  Phải xem xét xu hướng chuyển dịch chi phí vận tải khi xác định địa điểm phân bố giữa nguồn và thị trường. Nếu xu hướng giảm thì nên đặt vị trí phân bố ở ngay khu vực nhu cầu thị trường. Nhân tố này có thể được thể hiện trên hình 2.5.

     
       
    Tổng chi phí
    Chi phí bảo quản
    Chi phí bảo quản
    Y
    X
    M
    S
    Thị trường
    Nguồn hàng
    • Chuyển dịch chi phí vận chuyển đẩy vị trí phân bố đến nguồn hàng hoặc thị trường

    Điều kiện giao thông vận tải ảnh hưởng đến vị trí phân bố mạng lưới kho, đến việc xác định số lượng kho do tốc độ vận chuyển tăng có thể giảm yêu cầu số lượng kho mà vẫn đảm bảo dịch vụ thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng.

    a.3.          Nhân tố nguồn hàng

    – Số lượng và qui mô và cơ cấu nguồn hàng cung ứng cho thị trường mục tiêu

    – Vị trí phân bố nguồn hàng cả về địa điểm và khoảng cách

    Nhân tố nguồn hàng ảnh hưởng đến số lượng, qui mô và địa điểm phân bố kho, đặc biệt là kho định hướng nguồn hàng (kho thu nhận)

    a.4.          Nhân tố mạng lưới kho

    – Sự phát triển mạng lưới kho cả về số lượng, cơ cấu và vị trí phân bố, đặc biệt là các loại hình kho dùng chung và hợp đồng (kho liên hợp )

    Nhân tố này ảnh hưởng đến việc xác định cơ cấu kho theo đặc trưng quyền sở hữu.

    b.              Xác định cơ cấu kho

    b.1.          Xác định loại hình kho theo kênh logistics

    Trên cơ sở vị trí phân bố của thị trường mục tiêu (các điểm khách hàng ) và nguồn hàng, kết hợp với các yếu tố khác như điều kiện giao thông vận tải, …mà doanh nghiệp quyết định kênh logistics hợp lý. Kênh logistics của doanh nghiệp là tập hợp các loại hình kho mà hàng hoá sẽ vận động qua để cung ứng cho khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp.

    Như vậy, kênh logistics của doanh nghiệp có thể là kênh trực tiếp, kênh một cấp, kênh hai hoặc ba cấp được thể hiện trên hình 2.6

    A: Kênh logistics trực tiếp;   B: Kênh logistics nhiều cấp (1, 2, 3 cấp)

     

    : Kho nguồn hàng;        : Cơ sở logistics khách hàng (kho hoặc cửa hàng )

    : Hệ thống kho doanh nghiệp

    • Các loại kênh logistics của doanh nghiệp

    Việc xác định kênh logistics, có nghĩa xác định số lượng các loại hình kho tuỳ thuộc vào kết quả phân tích chi phí logistics và đảm bảo dịch vụ khách hàng. Trong trường hợp kênh logistics trực tiếp, hàng hoá được cung ứng cho khách hàng không qua bất kỳ loại hình kho trung gian nào của doanh nghiệp. Điều kiện sử dụng kênh trực tiếp:

    -Không làm giảm trình độ dịch vụ khách hàng: Số lượng, cơ cấu, đặc điểm hàng hoá; thời gian cung ứng hàng hoá phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Điều này cũng có nghĩa: lô hàng mua phải phù hợp với lô hàng bán-qui mô lô hàng không quá lớn, cơ cấu đơn giản, hàng hoá không phải qua khâu tổ chức mặt hàng thương mại; cự ly vận chuyển ngắn, điều kiện vận chuyển không phức tạp-không phải chuyển tải qua nhiều phương tiện; thời gian thực hiện đơn đặt hàng mua của nguồn hàng nhanh, đáp ứng yêu cầu thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng;

    -Tổng chi phí logistics phải giảm: chi phí dự trữ(dự trữ trên đường) và cước phí vận tải chuyển thẳng nhỏ hơn chi phí dự trữ (dự trữ trên đường và kho) và cước phí vận tải (vận chuyển đến kho và từ kho cung ứng cho khách hàng ). Điều này cũng có nghĩa: qui mô lô hàng vận chuyển thẳng phải đủ lớn, điều kiện giao thông vận tải phải thuận tiện.

    Như vậy, kênh logistics trực tiếp thích ứng với mục tiêu định hướng chi phí chứ không phải dịch vụ, và trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển với sự cạnh tranh dịch vụ gay gắt, nó ít được sử dụng.

    Khi không đảm bảo điều kiện sử dụng kênh trực tiếp, doanh nghiệp phải sử dụng kênh trung gian. Kênh trung gian có thể 1, 2, 3 cấp tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố, nhưng phải đảm bảo yêu cầu dịch vụ và chi phí logistics. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường tập trung và chuyên môn hoá, kênh logistics gián tiếp có nhiều ưu thế vì nó đảm bảo thoả mãn tốt nhất nhu cầu dịch vụ của khách hàng với chi phí thấp.

    Theo quan điểm chi phí thấp nhất, việc bổ sung thêm một loại hình kho vào trong kênh logistics là hợp lý nếu thoả mãn điều kiện sau:

    Ở đây:

    : chi phí xử lý lô hàng lớn (kho thu nhận- định hướng nguồn hàng)

    : chi phí vận chuyển lô hàng lớn (từ kho thu nhận đến kho phân phối)

    : chi phí kho lô hàng nhỏ (kho phân phối)

    : chi phí cung ứng lô hàng nhỏ (từ kho phân phối đến khách hàng)

    : Tỷ số lô hàng nhỏ / lô hàng lớn

    : chi phí xử lý lô hàng nhỏ

    : chi phí vận chuyển trực tiếp lô hàng nhỏ

    Do hàng hoá dự trữ trong mạng lưới kho được phân bố hợp lý nên đảm bảo thoả mãn nhu cầu của khách hàng cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu…đồng thời cung ứng nhanh và ổn định hàng hoá cho khách hàng.

    Trong kênh logistics gián tiếp, mạng lưới kho được phân bố hợp lý sẽ phát huy tính kinh tế nhờ qui mô trong vận chuyển và do đó giảm được chi phí vận chuyển. Chính vì vậy, xác định một kênh logistics hợp lý phải gắn liền với việc qui hoạch mạng lưới kho hợp lý.

    b.2.          Cơ cấu kho theo đặc trưng sở hữu

    Có nghĩa xác định tỷ lệ dự trữ hàng hoá theo các loại hình kho dùng riêng, kho dùng chung, và kho hợp đồng.

    Để quyết định sử dụng kho dùng riêng hoặc kho thuê (kho dùng chung, kho hợp đồng) cần phải xác định ngưỡng dự trữ kho dùng riêng. Khi dự trữ của doanh nghiệp vượt quá ngưỡng thì sử dụng kho thuê. Mô hình phối hợp sử dụng kho dùng riêng và thuê được thể hiện trên hình

           
     
    Dự trữ
         
     
    Sử dụng kho thuê
    Ngưỡng dự trữ D0
    Sử dụng kho riêng
    Các tháng trong năm
    • Phối hợp sử dụng kho dùng riêng và thuê

    Việc lựa chọn loại hình kho cũng phụ thuộc vào các nhân tố thể hiện trên bảng 2.1:

    b.3.          Cơ cấu kho theo mặt hàng

    Căn cứ vào yêu cầu dịch vụ mặt hàng kinh doanh của khách hàng, phối thức mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ chuyên doanh hoá mạng lưới kho thuê, doanh nghiệp xác định cơ cấu kho chuyên doanh, hỗn hợp, hoặc chuyên doanh rộng (theo nhóm hàng)

    • Các nhân tố định hướng lựa chọn loại hình kho
    Yêu cầu sử dụng Lựa chọn loại hình kho
    Riêng Hợp đồng Dùng chung
    Yêu cầu marketing      
    Yêu cầu tổ chức lô hàng      
    Yêu cầu linh hoạt nghiệp vụ      
    Yêu cầu linh hoạt vị trí      
    Tính kinh tế nhờ qui mô      

    c.              Xác định số lượng kho

    Số lượng kho, đặc biệt số lượng kho định hướng khách hàng (kho phân phối) có ảnh hưởng lớn đến trình độ dịch vụ khách hàng và chi phí của hệ thống logistics. Thông thường khi tăng số lượng kho, trình độ dịch vụ khách hàng tăng do giảm được khoảng cách vận chuyển, và do đó giảm thời gian thực hiện đơn đặt hàng của khách hàng. Tuy nhiên, khi tăng số lượng kho vượt quá giới hạn nhất định thì chi phí logistics sẽ tăng (chi phí dự trữ và vận chuyển ).

    Do vậy, việc xác định số lượng kho cũng có nghĩa là xác định các trung tâm cung ứng hàng hoá cho khách hàng đảm bảo mục tiêu trình độ dịch vụ khách hàng và chi phí. Việc xác định các trung tâm này phụ thuộc vào số lượng và qui mô khách hàng, mức độ tập trung hay phân tán của khách hàng, khoảng cách giữa các khách hàng, tuỳ thuộc vào điều kiện giao thông vận tải (số lượng các trung tâm phân phối sẽ giảm khi cải thiện tốc độ vận chuyển hàng hoá).

    d.              Xác định vị trí phân bố kho

    d.1.          Các nhân tố ảnh hưởng

    Việc xác định vị trí phân bố kho phải trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng, bao gồm:

    – Lực lượng định hướng: Xác định vị trí phân bố thường được quyết định bởi một nhân tố quan trọng hơn các nhân tố khác. Trong trường hợp xác định vị trí kho, nhân tố kinh tế (tiết kiệm chi phí) thường là nổi trội.

    – Số lượng kho cần phân bố: Phân bố một kho khác với phân bố nhiều kho. Nếu chỉ phân bố một kho, có thể giảm được việc nghiên cứu cạnh tranh, phân chia nhu cầu đối với các kho, nghiên cứu ảnh hưởng của tập trung dự trữ và chi phí kho, trong đó chi phí vận chuyển là vấn đề nghiên cứu chủ yếu. Số lượng kho quyết định việc áp dụng các phương pháp định vị và sự phức tạp của quá trình tính toán.

    – Lựa chọn phương pháp phân bố:

    Có hai loại phương pháp phân bố: phương pháp liên tục – thăm dò mọi vị trí có thể một cách liên tụctheo không gian và chọn ra một vị trí tốt nhất; loại phương pháp phân biệt – phương pháp được lựa chọn từ một danh mục các phương pháp và tiến hành chọn trước một cách hợp lý. Loại sau thường sử dụng phổ biến, đặc biệt khi phân bố nhiều cơ sở.

    – Mức độ tập hợp dữ liệu:

    Mức độ tập hợp dữ liệu ẩnh hưởng đến việc lựa chọn các phương pháp phân tích, trái lại, các phương pháp phân tích lại yêu cầu mức độ tập hợp dữ liệu thích hợp.

    – Tầm thời gian:

    Nhân tố này liên quan đến lựa chọn phương pháp: phương pháp thống kê hay động thái.

    – Xu hướng giá thuê địa điểm

    – Cước phí vận tải

    Phải xem xét xu hướng chuyển dịch chi phí vận tải khi xác định địa điểm phân bố giữa nguồn và thị trường. Nếu xu hướng giảm thì nên đặt vị trí phân bố ở ngay khu vực nhu cầu thị trường.

    d.2.          Các phương pháp xác định vị trí kho

    Có nhiều phương pháp tuỳ thuộc số lượng kho. Có phương pháp định vị một kho và định vị nhiều kho. Ở đây chúng ta sẽ nghiên cứu phương pháp định vị một kho trên cơ sở áp dụng các mô hình toán. Mô hình phổ biến một kho là mô hình trung tâm sức hút chuẩn xác-mô hình thống kê liên tục.

    Mô hình này được thể hiện dưới dạng biểu thức toán học như sau:

    MinFv = åiviridi           (1)

    Ở đây: Fv:  Tổng chi phí vận chuyển

    vi:  Qui mô ở điểm i

    ri:  Cước phí vận chuyển đối với điểm i

    di: Khoảng cách từ vị trí phân bố kho đến điểm i

    Vị trí kho được tìm thấy bằng cách giải 2 phương trình toạ độ vị trí – toạ độ trung tâm sức hút chuẩn xác:

    (2)

    (3)

    , : Toạ độ kho được phân bố

    xi, yi: Toạ độ của nguồn và điểm nhu cầu (khách hàng)

    di: Khoảng cách, được tính như sau:

    (4)

    K: Hệ số qui đổi đơn vị khoản cách theo toạ độ sang đơn vị thực tế

    Các bước tiến hành theo mô hình này như sau:

    1- Xác định các điểm toạ độ X, Y cùng với qui mô và cước phí vận chuyển cho mỗi điểm nguồn và điểm nhu cầu.

    2- Xác định gần đúng vị trí ban đầu theo công thức (2) và (3) bằng cách bỏ thông số khoảng cách di,  tức là:

    (5)

    3- Sử dụng  và  từ bước 2, tính di – nhân tố k chưa cần sử dụng

    4- Đưa di vào phương trình (2) và (3), giải phương trình để sửa đổi toạ độ

    5- Tính lại di trên cơ sở toạ độ ,  đã chỉnh lý

    6- Làm lại bước 4 và 5 cho đến khi  và  không biến đổi

    7- Tính tổng chi phí đối với vị trí tối ưu theo phương trình (1)

    Ví dụ:

    Có 2 nguồn hàng cung cấp hàng hoá cho 1 kho cung ứng cho 3 trung tâm nhu cầu. Phân bố không gian của nguồn hàng và thị trường như sau:

         N1           M3  
                       
        M1     K        
     
              M2      
                       
                    N2  
    1
                     
    8
    7
    6
    5
    4
    3
    2
    6
    10
    9
    8
    5
    7
    4
    3
    2
    1
    0
                     
     
           
           
    Thang: 1=10Km
    Toạ độ ngang

    Sản phẩm A được cung cấp từ N1 và sản phẩm B từ N2; các sản phẩm này được tiếp tục cung cấp cho thị trường. Điểm toạ độ, qui mô và cước phí vận chuyển được tóm tắt ở bảng sau:

    Điểm (i) Sản phẩm (S) Tổng khối lượng di chuyển vi  (T) Cước phí vận chuyển ($/km) Toạ độ
    xi yi
    1 N1 A 2.000 0,05 3 8
    2 N2 B 3.000 0,05 8 2
    3 M1 A & B 2.500 0,075 2 5
    4 M2 A & B 1.000 0,075 6 4
    5 M3 A & B 1.500 0,075 8 8

    Sử dụng phương trình (4) và (5), tìm vị trí ban đầu (gần đúng) của kho. Việc tính toán được thực hiện theo bảng sau:

    I xi yi vi ri viri virixi viriyi
    1 3 8 2.000 0,05 100,00 300,00 800,00
    2 8 2 3.000 0,05 150,00 1.200,00 300,00
    3 2 5 2.500 0,075 187,50 375,00 937,00
    4 6 4 1.000 0,075 75,00 450,00 300,00
    5 8 8 1.500 0,075 112,50 960,00 900,00
              625,00 3.225,00 3.237,50

    Ta có: = 3.225,00/625,00 = 5,16

    = 3.237,50/625,00 = 5,18

    Các toạ độ này xác định vị trí của kho. Tổng chi phí vận chuyển tương ứng với vị trí này được xác định ở bảng sau:

    i xi yi vi ri di (km) Fvi

    (4)´(5)´(6)

    1 3 8 2.000 0,05 35,52 3.552
    2 8 2 3.000 0,05 42,63 6.395
    3 2 5 2.500 0,075 31,65 5.935
    4 6 4 1.000 0,075 14,48 1.086
    5 8 8 1.500 0,075 40,02 4.503
                21.471

    Tiếp tục sử dụng giải pháp trung tâm sức hút như ban đầu ở phương trình (1) và (2). Toạ độ vị trí đối với lần lặp đầu có thể tìm thấy bằng cách giải phương trình ở dạng bảng sau:

    i viri

    (2)

    virixi

    (3)

    viriyi

    (4)

    di

    (5)

    viri/di

    (6)=(2)/(5)

    virixi/di

    (7)=(3)/(5)

    viriyi/di

    (8)=(4)/(5)

    1 100,00 300,00 800,00 35,52 2,815 8,446 22,523
    2 150,00 1.200,00 300,00 42,63 3,519 28,149 7,037
    3 187,50 375,00 937,50 31,65 5,924 11,848 29,621
    4 75,00 450,00 300,00 14,48 5,180 31,077 20,718
    5 112,50 900,00 900,00 40,02 2,811 22,489 22,489
              20,249 102,009 102,388

    Toạ độ vị trí kho lần 2 tính được là:

    = 102,009/20,249 = 5,038

    = 102,388/20,249 = 5,056

    Và tổng chi phí: 21.431 $

    Sử dụng chương trình phần mềm trong máy tính, có thể tính đến 100 lần nhắc lại và cho kết quả sau:

    Lần lặp Toạ độ Toạ độ Tổng chi phí
    0 5,160 5,180 21.471,00
    1 5,038 5,056 21.431,22
    2 4,990 5,031 21.427,11
    3 4,966 5,032 21.426,14
    4 4,951 5,037 21.425,49
    5 4,940 5,042 21.425,44
    6 4,932 5,046 21.425,30
    7 4,927 5,049 21.425,23
    8 4,922 5,051 21.425,19
    9 4,919 5,053 21.425,17
    10 4,917 5,054 21.425,15
    11 4,015 5,055 21.425,14
    .

    .

         
    100 4,910 5,058 21.425,14

    Mô hình này có một số thừa nhận đơn giản như sau:

    1- Qui mô nhu cầu luôn được coi là tập trung ở một điểm. Nhưng trong thực tế, chúng được hình thành từ nhiều điểm khách hàng phân tán trên phạm vi rộng. Trung tâm sức hút thị trường thường dùng là cụm nhu cầu. Do đó có thể gây nên một số sai số khi tính chi phí vận chuyển.

    2- Mô hình định vị về cơ bản xác định vị trí trên cơ sở chi phí biến đổi. Chúng không phân biệt sự khác nhau trong chi phí vốn xây dựng kho ở các vị trí khác nhau và những chi phí khác như lao động, chi phí đảm bảo dự trữ, và những lợi ích tương ứng với quá trình hoạt động của các kho ở những vị trí khác nhau.

    3- Tổng chi phí vận chuyển thường được coi là tăng theo khoảng cách. Tuy nhiên, trong thực tế giá cước vận chuyển lại biến đổi theo khoảng cách.

    4- Hành trình theo đường thẳng thường được xác định giữa các cơ sở logistics. Điều này kém chính xác trong thực tế

    5- Mô hình này không năng động, có nghĩa chúng không xác định giải pháp ảnh hưởng đến những biến đổi về doanh thu và chi phí trong tương lai.

    2.3    QUI HOẠCH MẠNG LƯỚI BÁN LẺ

    2.3.1    Chức năng và các loại hình bán lẻ

    a.              Chức năng

    Loại hình kinh doanh bán lẻ là tập hợp những cơ sở bán lẻ cung ứng cho khách hàng phối thức hàng hoá và trình độ dịch vụ khách hàng như nhau.

    Như vậy, chức năng cơ bản của các loại hình bán lẻ là dịch vụ khách hàng – người tiêu dùng.

    b.              Các loại hình kinh doanh thương mại bán lẻ

    Các loại hình kinh doanh thương mại bán lẻ khá phong phú. Có thể tập hợp các loại hình này theo một số tiêu thức như sau.

    b.1.          Căn cứ vào đặc trưng giao tiếp và vị trí bán hàng

    Bao gồm hai loại hình cơ bản: bán hàng qua cửa hàng và bán hàng không qua cửa hàng.

    • Loại hình bán hàng qua cửa hàng

    Đây là loại hình bán lẻ phổ biến nhất ở nước ta hiện nay cũng như ở một số nước khác. Loại hình này có rất nhiều loại phong phú cả về phối thức hàng hoá và dịch vụ khách hàng. Đặc trưng cơ bản của các loại hình này là khi mua hàng, khách hàng phải đến tận cửa hàng để tiến hành các giao tiếp mua bán, do đó khách hàng phải mất nhiều thời gian và sức lực để mua hàng.

    • Loại hình bán hàng không qua cửa hàng

    Loại hình này ngày càng phát triển ở trên thế giới cũng như ở nước ta. Sở dĩ như vậy là vì, bán lẻ không cửa hàng đem lại cho khách hàng sự thuận tiện trong việc lựa chọn và mua hàng ở những nơi họ thích. Bán lẻ không cửa hàng có thể bao gồm dịch vụ cá nhân cao được cung cấp bởi người bán trong giao tiếp đối mặt với khách hàng. Trong đa số các trường hợp, hàng hoá được cung cấp đến vị trí do khách hàng xác định. Thường thì hàng hoá được cung ứng đến tận nhà khách hàng. Tuy nhiên, các thương vụ bán lẻ không cửa hàng thường diễn ra nơi làm việc hoặc ở nhà. Lợi ích này của bán lẻ không cửa hàng thu hút những người tiết kiệm thời gian và những khách hàng không thể dễ dàng đi đến cửa hàng.

    Tuy bán lẻ không cửa hàng cung cấp một số lợi ích độc đáo hơn bán lẻ trong cửa hàng truyền thống, nhưng về cơ bản, một số dịch vụ không được nhà bán lẻ không cửa hàng cung cấp, như mặt hàng không phong phú, không cảm nhận được hàng hoá, thử hàng, không có giai đoạn lựa chọn để mua, không được nhìn hàng hoá, không được hướng dẫn cách sử dụng, hoặc không yêu cầu người bán trả lời những câu hỏi cần thiết. Tuy nhiên, ngày nay cùng với sự phát triển của mạng máy vi tính, thương mại điện tử ngày càng được áp dụng rộng rãi, tạo điều kiện cho việc bán hàng qua mạng (online marketing channel), khắc phục được những nhược điểm kể trên. Chính vì vậy, bán hàng qua mạng đang là cơ hội cho các nhà bán lẻ của cả Việt-nam và các nước khác.

    Các loại hình bán lẻ không qua cửa hàng bao gồm:

    Bán hàng theo đơn đặt hàng (Marketing trực tiếp-Direct Marketing) là hình thức bán lẻ không cửa hàng trong đó, thoạt tiên khách hàng biết hàng hoá thông qua trung gian phi cá nhân và sau đó mua hàng bằng điện thoại, thư hoặc qua mạng máy vi tính cá nhân. Các loại hình khác nhau của marketing trực tiếp căn cứ vào loại trung gian sử dụng. Ở nước ta, marketing trực tiếp chủ yếu sử dụng điện thoại, thư (đơn đặt hàng), và đang bắt đầu triển khai marketing trực tiếp trên mạng máy vi tính.

    – Bán hàng lưu động (Direct Selling) là hình thức bán hàng không cửa hàng trong đó người bán mang hàng và giao tiếp trực tiếp với người tiêu dùng ở nơi ở hoặc nơi làm việc. Trong thương mại bán lẻ ở nước ta, bán hàng lưu động là loại hình bán hàng trực tiếp đã có từ lâu, bởi nó tiết kiệm thời gian đi mua hàng cho khách hàng, đặc biệt là những mặt hàng có nhu cầu hàng ngày, đồng thời loại hình này dễ áp dụng vì không cần đầu tư nhiều.

    – Bán bằng máy (Vending machine retailing) là hình thức bán lẻ không cửa hàng trong đó khách hàng mua và nhận hàng từ máy.

    b.2.          Theo đặc trưng phổ mặt hàng kinh doanh

    Các loại hình bán lẻ theo đặc trưng phổ mặt hàng kinh doanh khá phong phú do có thể biến đổi kích thước phổ mặt hàng theo chiều rộng, chiều dài, chiều sâu tuỳ thuộc vào nhu cầu mua hàng của khách hàng và khả năng nguồn lực của doanh nghiệp. Theo tiêu thức này, có các loại hình sau:

    • Các cửa hàng hỗn hợp (tiện dụng-convenience Store)

    Loại hình này có qui mô nhỏ, bán những loại hàng có nhu cầu hàng ngày có tốc độ chu chuyển cao, như thực phẩm tươi sống, tạp phẩm. Loại hình này được phân bố gần khu vực dân cư, mở cửa hàng liên tục.

    Chiều rộng của phổ hàng chỉ hạn chế đối với những nhóm hàng có nhu cầu hàng ngày, chiều dài và chiều sâu không lớn do cấu trúc phân nhóm và biến thể không phức tạp.

    • Các cửa hàng chuyên doanh rộng

    Các loại hình cửa hàng này có qui mô lớn hơn: từ 3 ¸ 10 nơi công tác, diện tích từ 200 ¸ 250m2, kinh doanh một số nhóm hàng có liên quan với nhau trong tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu đồng bộ của khách hàng.

    Phổ hàng của loại hình này bao gồm các nhóm hàng chuyên doanh theo nơi công tác, do vậy chiều rộng của phổ hàng không lớn lắm; chiều dài phổ khã lớn đáp ứng cho các sắc thái nhu cầu khác nhau; chiều sâu gồm các biến thể theo kiểu, mốt mẫu mã không nhiều.

    • Các cửa hàng chuyên doanh hẹp

    Các loại hình chuyên doanh có phổ hàng đơn vị, trong phạm vi một nhóm hàng. Tuỳ thuộc vào số lượng các phân nhóm (chiều dài phổ) mà có các mức độ chuyên doanh khác nhau. Tuy nhiên, các cơ sở chuyên doanh phải có chiều sâu lớn, tức là số lượng các biến thể phải nhiều.

    – Số lượng biến thể nhiều/nhóm: chuyên doanh theo nhóm

    – Số lượng biến thể nhiều/phân nhóm: chuyên doanh theo phân nhóm

    – Số lượng biến thể nhiều/vi nhóm: chuyên doanh hẹp

    Xu hướng phát triển loại hình chuyên doanh cũng ngày càng cao, đặc biệt ở nước ta đi đôi với trình độ phân công lao động ngày càng sâu sắc. Các loại hình chuyên doanh thoả mãn trình độ dịch vụ khách hàng cao: dịch vụ lựa chọn hàng hoá, và các loại dịch vụ khác….

    • Các cửa hàng tổng hợp

    Đây là loại hình cửa hàng bán lẻ có qui mô lớn, phổ hàng rộng “bán từ cái kim đến con voi !”; định vị chuyên doanh theo nhóm, phân nhóm ở các gian hàng. Như vậy, cửa hàng Bách hoá có các kích thước của phổ hàng đều lớn: chiều rộng, dài và sâu. Loại hình hoạt động theo 4 nguyên tắc: lãi thấp, quay vốn nhanh, niêm yết giá và tự do ngắm nghía, tiếp nhận khiếu nại thoải mái. Ở Việt-nam, loại hình cửa hàng Bách hoá khá phát triển.

    • Siêu thị

    Là những cửa hàng lớn. Đặc điểm của siêu thị là: tự phục vụ và tự chọn; nhấn mạnh giá bán; tập trung dịch vụ khách hàng; trang bị qui mô; hàng hoá đa dạng phong phú. Phổ hàng của siêu thị khá lớn, chủ yếu tập trung cho những hàng hoá thực phẩm, đồ dùng gia đình,…

    Ở Việt-nam, loại hình siêu thị đang ngày càng phát triển do có nhiều ưu thế: mặt hàng phong phú, tự do lựa chọn, độ tin cậy cao. Tuy nhiên, hiện nay các siêu thị ở Việt-nam đang kém hấp dẫn đối với người tiêu dùng do giá cả còn cao, độ tin cậy về mặt hàng còn thấp.

    Ngoài những loại hình cửa hàng trên, ở các nước phát triển, còn có các loại hình: siêu cửa hàng (super store), cửa hàng liên hợp (combination store), siêu thị đại qui mô (chợ lớn-hypermarches).

    b.3.          Phân theo trình độ phục vụ
    • Cửa hàng tự phục vụ

    Tự phục vụ là phương pháp bán hàng trong đó khách hàng có thể tự do tiếp cận hàng hoá, lựa chọn hàng hoá theo ý mình. Siêu thị là các cửa hàng tự phục vụ, thường áp dụng đối với các loại hàng khi mua khách hàng không cần phải có sự tư vấn hay giúp đỡ của nhân vien bán hàng.

    • Cửa hàng bán lẻ phục vụ có giới hạn

    Loại hình này dùng nhiều nhân viên hơn vì bán những hàng hoá mà khách hàng cần hướng dẫn tỷ mỉ hơn. Cung cấp một số dịch vụ cơ bản, giá bán hơi cao. Các cửa hàng bán lẻ ở Việt-nam chủ yếu thuộc loại hình này.

    • Cửa hàng bán lẻ dịch vụ toàn phần

    BAo gồm các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng Bách hoá lớn, các cửa hàng bán hàng chuyên dụng và tiêu thụ hơi chậm (máy ảnh, kim hoàn, thời trang,…)mà khách hàng muốn được phục vụ kỹ lưỡng. Loại hình này cung cấp nhiều dịch vụ phong phú, kể cả dịch vụ bổ sung. Giá bán trong các cửa hàng này cao.

    b.4.          Căn cứ vào các loại sở hữu bán lẻ

    Một cách khác để phân loại các loại hình bán lẻ là theo sở hữu. Có 3 loại hình bán lẻ được phân loại theo sở hữu là: loại hình bán lẻ độc lập; cửa hàng chuỗi; và các chi nhánh.

    • Loại hình bán lẻ độc lập (Independent, Single-Store Establishments)

    Loại hình bán lẻ độc lập có thể rất hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Nhiều cửa hàng bán lẻ độc lập do người chủ quản trị. Do vậy, việc quản trị có sự giao tiếp trực tiếp với khách hàng và có thể đáp ứng nhanh nhu cầu của họ. Những nhà bán lẻ nhỏ thường rất linh hoạt. Họ không bị hạn chế bởi những nguyên tắc văn phòng giới hạn vị trí cửa hàng hoặc loại hàng hoá có thể được bán.

    Từ khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, ở Việt-nam loại hình bán lẻ độc lập phát triển rất mạnh, vì đầu tư cho loại hình kinh doanh này không đòi hỏi phải đầu tư vốn nhiều. Kinh doanh loại hình này có sự cạnh tranh rất mạnh, và do đó thời cơ kinh doanh cũng bị hạn chế.

    • Chuỗi bán lẻ (Retail Chains)

    Chuỗi bán lẻ bao gồm nhiều đơn vị bán lẻ cùng chung sở hữu, thường có một số trung tâm ra quyết định khi xác định và thực thi chiến lược. Chuỗi bán lẻ có thể có qui mô từ 2 cho đến 1.000 cửa hàng.

    Ở Việt-nam, chuỗi bán lẻ vẫn còn chiếm tỷ trọng khá lớn, đặc biệt ở các đô thị. Sở dĩ như vậy là do các công ty thương nghiệp bán lẻ trước đây trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung thuộc vào loại hình chuỗi bán lẻ. Loại hình chuỗi phần lớn thuộc sở hữu Nhà nước (quốc doanh).

    Chuỗi lớn thường hình thành các chức năng bán buôn và phân phối trong kênh cũng như chức năng bán lẻ. Nhờ kết hợp các chức năng bán buôn và bán lẻ mà những nhà bán lẻ này cải thiện được hiệu lực phân phối. Thêm vào đó, các nhà bán lẻ có nhiều cửa hàng có thể chia mỏng chi phí cố định – hệ thống computer, chi phí mua, và tiền lương của cán bộ quản trị – cho tổng doanh số lớn hơn.

    Trong khi các cửa hàng chuỗi có lợi thế chi phí hơn cửa hàng đơn lẻ, thì các chuỗi bán lẻ lớn lại rất quan liêu, làm lu mờ tính sáng tạo của các nhà quản trị cùng với những qui tắc và qui trình không hợp lý. Thường thì tất cả các cửa hàng đều có cùng hàng hoá và dịch vụ như nhau, và do đó, những cống hiến của từng cửa hàng có thể không phù hợp với nhu cầu thị trường địa phương.

    • Nhượng quyền (Franchising)

    Là hợp đồng giữa người thuê đại lý và tổng đại lý, cho phép tổng đại lý mở các cửa hàng bán lẻ sử dụng tên và hình thức do người thuê đại lý phát triển và hỗ trợ. Ở Việt-nam, loại hình này cũng đang phát triển, nhưng chủ yếu là các đại lý nhỏ cho các nhà sản xuất.

    • Các hình thức sở hữu khác

    Một số cửa hàng bán lẻ do khách hàng sở hữu. Trong các hợp tác xã người tiêu dùng (H.T.X mua bán), khách hàng sở hữu và tiến hành kinh doanh bán lẻ. Loại hình này đã hình thành và phát triển từ thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, nhưng hiện nay đang suy thoái do hiệu lực quản trị thấp.

    b.5.          Phân theo giá bán
    • Cửa hàng giá cao

    Đây là loại hình cửa hàng hiện nay cũng đang phát triển. Loại hình này thường có mặt hàng phong phú, trình độ dịch vụ khách hàng cao. Các cửa hàng Bách hoá, chuyên doanh, bán lẻ không cửa hàng thuộc loại này.

    • Cửa hàng giá thấp

    Loại hình này thường bán với giá thấp hơn giá trung bình thị trường do chi phí có thể thấp hơn. Chi phí thấp là nhờ cung ứng dịch vụ cho khách hàng với trình độ thấp hơn. Các cửa hàng hỗn hợp (tiện dụng), cửa hàng dịch vụ hạn chế thuộc loại hình cửa hàng này.

    • Cửa hàng hạ giá

    Là loại hình cửa hàng kinh doanh những hàng hoá đã cũ, hoặc không hợp mốt, đáp ứng nhu cầu của phân đoạn khách hàng có thu nhập thấp. Loại hình này cũng đang phát triển ở Việt-nam, chuyên kinh doanh hàng đồ cũ hay không hợp mốt (hàng Second Hand).

    b.6.          Phân theo phương pháp bán hàng
    • Cửa hàng bán theo phương pháp truyền thống

    Là loại hình cửa hàng chủ yếu bán theo phương pháp truyền thống (tỷ trọng doanh số cao). Loại hình này hiện tại đang chiếm tỷ trọng khá lớn và phổ biến. Trong tương lai, loại hình này sẽ ngày càng giảm.

    • Các cửa hàng với phương pháp bán hàng tiến bộ

    Có rất nhiều phương pháp bán hàng tiến bộ: tự phục vụ, tự chọn, bán lẻ không cửa hàng, bán theo mẫu,…Ở nước ta hiện đang phát triển các loại hình cửa hàng bán theo phương pháp tiến bộ: siêu thị, bán theo đơn đặt hàng.

    Giống như sản phẩm, mỗi loại hình cửa hàng đều có chu kỳ phát triển phụ thuộc vào tình thế môi trường. Thuyết “luân xa bán lẻ” đã phát hiện ra tính chu kỳ trong phát triển của các loại hình bán lẻ. Thống kê vòng đời của các loại hình bán lẻ được thể hiện trên bảng 2.2

    • Vòng đời của các loại hình bán lẻ
    Loại hình bán lẻ Phát triển Thành thục Thời gian để thành thục
    1- Cửa hàng Bách hóa Giữa 1860 Giữa 1960 100 năm
    2- Cửa hàng tạp phẩm Đầu 1900 Đầu 1960 60
    3- Siêu thị Giữa 1930 Giữa 1960 30
    4- Cửa hàng B.H giảm giá Giữa 1950 Giữa 1970 20
    5- Điểm phục vụ thức ăn nhanh Đầu  1960 Giữa 1970 15
    6- Trung tâm sửa chữa nhà Giữa 1960 Cuối 1970 15
    7- Kho trưng bày đồ nội thất Cuối 1960 Cuối 1970 10
    8- Phòng trưng bày (Catalog) Cuối 1960 Cuối 1970 10

    2.3.2    Mục tiêu qui hoạch mạng lưới bán lẻ

    Là cơ sở trực tiếp cung ứng dịch vụ logistics cho khách hàng – người tiêu dùng, mục tiêu chung nhất của qui hoạch bán lẻ là đảm bảo giá trị cung ứng khách hàng nhiều nhất. Như vậy có 3 mục tiêu trong qui hoạch mạng lưới bán lẻ:

    a.              Đảm bảo thoả mãn nhu cầu dịch vụ khách hàng cao nhất

    Doanh nghiệp thương mại bán lẻ sẽ lựa chọn loại hình cửa hàng bán lẻ nào cung cấp cho khách hàng nhiều dịch vụ nhất: dịch vụ mặt hàng, dịch vụ thời gian, dịch vụ lựa chọn, và dịch vụ bổ sung; đồng thời doanh nghiệp phải tìm vị trí phân bố cửa hàng thuận tiện nhất. Tuy nhiên, loại hình cung cấp nhiều dịch vụ sẽ có chi phí cao, và tất nhiên doanh nghiệp sẽ phải bán hàng với giá cao.

    b.              Giảm chi phí kinh doanh bán lẻ

    Doanh nghiệp có thể định hướng mục tiêu giảm chi phí bán lẻ để có thể đặt giá bán lẻ thấp, đáp ứng cho đoạn thị trường đòi hỏi mua hàng với giá thấp.Để giảm chi phí bán lẻ, doanh nghiệp phải giảm bớt trình độ dịch vụ khách hàng, đồng thời chọn vị trí phân bố có giá thuê rẻ, không thật thuận tiện cho khách hàng trong việc mua hàng.

    c.              Mục tiêu lợi nhuận tối đa

    Với mục tiêu này, doanh nghiệp bán lẻ sẽ chọn loại hình cửa hàng và vị trí phân bố cung ứng trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu, có nghĩa trình độ dịch vụ tạo ra doanh thu và chi phí đảm bảo cho lợi nhuận cao nhất. Những loại hình cửa hàng nào có độ co dãn của cầu theo chi phí dịch vụ cao, chẳng hạn như siêu thị, sẽ đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa.

    2.3.3    Nội dung qui hoạch mạng lưới bán lẻ

    Qui hoạch mạng lưới bán lẻ thực chất là quá trình kế hoạch hoá chiến lược thị trường. Quá trình kế hoạch hóa chiến lược thị trường bao gồm phân đoạn thị trường và, chọn thị trường mục tiêu và loại hình kinh doanh bán lẻ.

    a.              Phân đoạn thị trường kinh doanh bán lẻ

    Thị trường mục tiêu kinh doanh được xác định trên cơ sở phân đoạn thị trường, đánh giá và lựa chọn đoạn thị trường phù hợp. Các biến số để phân đoạn thị trường bán lẻ bao gồm:

    – Nhóm các biến số địa dư: vùng, miền; thành phố; vùng qui hoạch; vùng khí hậu.

    – Nhóm các biến số nhân khẩu học: lứa tuổi; qui mô gia đình; giới tính; chu kỳ cuộc sống gia đình; thu nhập; nghề nghiệp; giáo dục; tôn giáo; dân tộc.

    – Nhóm các biến số phác đồ tâm lý: tầng lớp xã hội; cách sống; nhân cách.

    – Nhóm các biến số thái độ ứng xử: cơ hội ứng xử; lợi ích đem lại; tình trạng người sử dụng; tỷ lệ sử dụng; ý niệm về sản phẩm.

    b.              Chọn thị trường mục tiêu – loại hình kinh doanh bán lẻ

    Việc chọn thị trường mục tiêu gắn liền với loại hình kinh doanh bán lẻ, hay còn gọi là xác định cặp loại hình kinh doanh / thị trường.

    Quá trình chọn thị trường mục tiêu được thực hiện theo sơ đồ ở hình 2.8

     
     
    3- Xác định cơ hội chiến lược
     
       
    5- Thiết lập mục tiêu và

    bố trí các nguồn lực

    • Các bước trong quá trình chọn thị trường mục tiêu
    b.1.          Bước 1: Xác định các cơ hội chiến lược

    Có 4 loại cơ hội tăng trưởng mà nhà bán lẻ có thể theo đuổi được trình bày ở hình 2.9. Trục dọc chỉ ra mức độ mà các cơ hội tăng trưởng định hướng theo các đoạn thị trường mà nhà bán lẻ hiện đang theo đuổi. Trục ngang chỉ mức độ mà cơ hội tăng trưởng nằm trong việc sử dụng hình thức hiện tại của nhà bán lẻ.

    • Cơ hội thâm nhập thị trường

    Cơ hội thâm nhập thị trường bao gồm đầu tư trực tiếp theo hướng khách hàng hiện tại sử dụng hình thức bán lẻ hiện tại.

    • Cơ hội mở rộng thị trường

    Cơ hội mở rộng thị trường sử dụng hình thức bán lẻ như nhau trên những đoạn thị trường mới.

    • Ma trận cơ hội tăng trưởng
    • Cơ hội phát triển hình thức bán lẻ

    Cơ hội phát triển hình thức bán lẻ bao gồm cung cấp hình thức bán lẻ mới cho khách hàng hiện tại.

    • Cơ hội đa dạng hoá

    Cơ hội đa dạng hoá bao gồm hình thức bán lẻ hoàn toàn mới định hướng đoạn thị trường hiện tại chưa được phục vụ. Đa dạng hoá có thể bao gồm: thống nhất chiều dọc; đa dạng hoá có quan hệ và không có quan hệ.

    Thống nhất chiều dọc khi nhà bán lẻ tiến hành đầu tư vào sản xuất hàng hoá.

    Cơ hội đa dạng hoá có quan hệ khi mà chiến lược thị trường bán lẻ hiện tại chia sẻ một số thứ chung với cơ hội mà nhà bán lẻ đang xâm nhập.

    Đa dạng hoá không có quan hệ khi không có bất kỳ một tý nào chung giữa kinh doanh hiện tại và kinh doanh mới.

    b.2.          Bước 2: Đánh giá các phương án chiến lược

    Có 2 cách để đánh giá phương án chiến lược là phân tích tài chính và ma trận sự hấp dẫn thị trường / cạnh tranh.

    • Phân tích tài chính

    Phương pháp phổ biến đánh giá và so sánh các cơ hội đầu tư chiến lược là tính toán sự thu hồi trên vốn đầu tư (ROI) hoặc sự thu hồi trên cổ phiếu (return on owner/s equity) cho từng cơ hội.

    • Ma trận hấp dẫn thị trường /vị thế cạnh tranh

    Ma trận này đem lại phương pháp phân tích cơ hội cân nhắc một cách rõ ràng cả khả năng của nhà bán lẻ và sự hấp dẫn của thị trường bán lẻ. Ma trận được thể hiện trên hình 2.10, chỉ ra rằng, phải đầu tư nhiều nhất cho cơ hội thị trường bán lẻ hấp dẫn trong đó, nhà bán lẻ có vị thế cạnh tranh mạnh.

     
       
    Bảo vệ

    vị thế

    Quản trị để tạo tiền mặt

    Thu hoạch hoặc

    cắt giảm

    Thu hoạch

    hoặc

    cắt giảm

    Thu hoạch

    hoặc

    cắt giảm

    Đầu tư

    thận trọng

    Đầu tư

    chọn lọc

    Xây dựng

    sức mạnh

    Cao

     
       

    Trung

    bình

    Thấp

    Cao            Trung bình         Thấp

                                                         Vị thế cạnh tranh

    • Ma trận hấp dẫn thị trường /vị thế cạnh tranh

    Các bước sử dụng ma trận này như sau:

    1/ Xác định các cơ hội chiến lược để đánh giá.

    2/ Xác định các nhân tố then chốt quyết định sự hấp dẫn thị trường và vị thế cạnh tranh của nhà bán lẻ.

    3/ Đánh giá trọng số cho mỗi nhân tố được sử dụng để xác định sự hấp dẫn thị trường và vị thế cạnh tranh.

    4/ Cho điểm cơ hội đầu tư theo mức độ hấp dẫn của thị trường và vị thế cạnh tranh của nhà bán lẻ trên thị trường này. Cơ hội cho điểm từ 1- 10, với 10 điểm là thị trường rất hấp dẫn hoặc vị thế cạnh tranh rất mạnh, và 1 điểm là ngược lại.

    5/ Tính điểm của mỗi cơ hội theo mức độ hấp dẫn thị trường và vị thế cạnh tranh. Số điểm được tính bằng cách nhân trọng số với điểm của mỗi nhân tố và cộng dồn các nhân tố.

    6/ Đánh dấu mỗi cơ hội trên ma trận.

    c/ Lợi thế cơ hội chiến lược và cạnh tranh

    Ma trận cơ hội chiến lược trình bày ở hình 5 cũng có thể được sử dụng để đánh giá lợi thế cạnh tranh tiềm năng cuả nhà bán lẻ. Hai trục của ma trận trình bày tính tương tự có thể tồn tại giữa cơ hội mới và thị trường và hình thức của nhà bán lẻ. Về cơ bản, các nhà bán lẻ có lợi thế cạnh tranh lớn nhất nằm trong những cơ hội rất giống với chiến lược bán lẻ hiện tại của họ. Do vậy, các nhà bán lẻ sẽ đảm bảo thành công trong các cơ hội thâm nhập thị trường, không phải xâm nhập vào thị trường mới và lạ lẫm, hoặc không phải triển khai hình thức bán lẻ mới và không quen.

    b.3.          Bước 3: Thiết lập mục tiêu và bố trí các nguồn lực

    Sau khi đánh giá các cơ hội đầu tư chiến lược, bước tiếp theo trong quá trình kế hoạch hoá chiến lược là thiết lập mục tiêu cho từng cơ hội. Các mục tiêu phải bao gồm các thành tố sau: (1) kết quả thực hiện, bao gồm chỉ số số lượng có thể đo lường sự phát triển; (2) Phạm vi thời gian đạt được mục tiêu; và (3) Mức đầu tư cần thiết để đạt được mục tiêu. Về cơ bản, trình độ thực hiện là các tiêu chuẩn tài chính như mức thu hồi trên đầu tư, doanh số, hoặc lợi nhuận. Tuy nhiên, thị phần là mục tiêu hay sử dụng nhất do nó dễ đo lường và thường có tính khách quan hơn các số đo tài chính – dựa vào thông tin hạch toán và có thể chịu ảnh hưởng bởi những nguyên tắc hạch toán. Nghiên cứu chỉ ra rằng, thị phần là chỉ tiêu khả năng lợi nhuận dài hạn trong nhiều hoạt động kinh doanh.

    c.              Phân bố mạng lưới bán lẻ

    Là quá trình xác định vị trí các cửa hàng bán lẻ trên các khu vực thị trường. Để phân bố hợp lý, phải tuân thủ các nguyên tắc và phân tích các nhân tố ảnh hưởng.

    c.1.           Các nguyên tắc và nhân tố ảnh hưởng đến phân bố
    • Các nguyên tắc

    Phân bố mạng lưới bán lẻ phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

    – Phải đảm bảo thuận tiện cho khách mua hàng:

    Có nghĩa phải giảm chi phí thời gian và tiền của để khách hàng tiếp cận cửa hàng bán lẻ. Muốn vậy, vị trí phân bố phải thuận tiện giao thông, là trung tâm khu vực dân cư.

    Phải đảm bảo thoả mãn nhu cầu mua hàng trọn bộ của khách hàng. Muốn vậy phải áp dụng các phương pháp phân bố thích hợp: cụm, trung tâm.

    Phải thuận tiện cho việc kết hợp các hoạt động của người dân: phân bố theo hướng vận động của dòng khách hàng trên thị trường.

    – Phải đảm bảo thuận tiện cho cung ứng hàng hoá:

    Trên cớ sở đảm bảo thuận tiện cho khách hàng, phải tìm vị trí phân bố tiếp cận kho và nguồn hàng; thuận tiện cho vận chuyển và bốc dỡ hàng hoá.

    – Phân bố phải tạo vị thế cạnh tranh trên thị trường.

    • Các nhân tố ảnh hưởng

    Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến vị trí phân bố cơ sở bán lẻ. Sau đây là một số nhân tố chủ yếu:

    1- Đặc điểm dân cư địa phương

    – Dân số địa phương

    – Tiềm năng thu nhập của địa phương

    2- Điều kiện giao thông

    – Số lượng và loại phương tiện giao thông

    – Số người đi bộ và các loại phương tiện thô sơ

    – Khả năng vận tải công cộng

    – Mức độ tiếp cận thuận tiện với các đại lộ

    – Mức độ ùn tắc giao thông trên các con đường

    – Chất lượng lưu thông ở các con đường

    3- Cấu trúc bán lẻ

    – Số lượng các đối thủ cạnh tranh trong khu vực

    – Số lượng và loại hình cửa hàng trong khu vực

    – Các loại hình cửa hàng kế cận bổ sung

    – Sự tiếp cận không gian thuận lợi đối với các khu vợc thương mại

    – Sự liên kết xúc tiến của các thương nhân địa phương

    4- Đặc điểm vị trí

    – Số điểm giữ phương tiện giao thông có thể

    – Khoảng cách của bãi đỗ xe

    – Khả năng nhìn thấy địa điểm từ đường phố

    – Kích thước và hình dạng khu đất xây dựng

    – Điều kiện xây dựng (nếu cần thiết)

    – Chất lượng của lối vào ra cửa hàng

    5- Các nhân tố luật và chi phí

    – Loại qui hoạch vùng

    – Thời gian hợp đồng thuê địa điểm

    – Thuế khu vực

    – Các hoạt động đảm bảo an ninh

    – Các điều khoản hạn chế trong hợp đồng

    – Các qui định riêng của các thương nhân địa phương

    c.2.           Các phương pháp phân bố
    • Phương pháp định tính

    Mỗi loại hình cửa hàng có mặt hàng kinh doanh và trình độ dịch vụ khách hàng xác định. Do vậy định hướng phân bố cửa hàng bán lẻ trên thị trường như sau:

    * Phân bố theo tụ điểm dân cư: Các cửa hàng tiếp cận trung tâm các tụ điểm dân cư và có bán kính hoạt động nhỏ. Phương pháp này thích hợp với loại hình cửa hàng nhỏ (tiện dụng-hỗn hợp) kinh doanh hàng nhật dụng

    * Phân bố theo tụ điểm trao đổi: Tụ điểm trao đổi là nơi tập trung nhiều người mua-bán như chợ, dãy phố thương mại. Phương pháp này thích hợp với loại hình cửa hàng hỗn hợp hoặc chuyên doanh.

    * Phân bố theo tuyến giao thông: Thích hợp với loại hình kinh doanh hỗn hợp.

    * Phân bố theo cụm và trung tâm: Các loại hình liên doanh, chuyên doanh, siêu thị.

    • Phương pháp phân tích định lượng

    *Phương pháp lượng giá các nhân tố chọn địa điểm

    Việc đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố này dựa trên phương pháp cho điểm. Theo phương pháp này, trước hết xác định các nhân tố cơ bản để đánh giá, tiếp theo xác định độ quan trong của mỗi nhân tố xếp loại từ 1 ¸ 10; sau đó đánh giá mức độ đạt được yêu cầu của từng nhân tố theo thang điểm 10; sau cùng tính tổng điểm đánh giá của các nhân tố. Địa điểm nào có tổng điểm cao hơn thì có ưu thế hơn để lựa chọn

     
       

    Ví dụ:

     

    Bảng sau xác định các nhân tố cơ bản và phương pháp tính điểm đánh giá các nhân tố.

    Các nhân tố Độ quan trọng Điểm nhân tố Điểm quan trọng nhân tố
    Tiếp cận cửa hàng đối thủ cạnh tranh 8 5 40
    Các điều kiện thuê địa điểm 5 3 15
    Bãi đỗ xe 8 10 80
    Tiếp cận cửa hàng bổ sung 7 8 56
    Mức độ đổi mới không gian cửa hàng 6 9 54
    Thuế đất 3 2 6
    Khả năng tiếp cận của khách hàng 9 8 72
    Dịch vụ công cộng 3 4 12
    Tiếp cận đường giao thông chính 8 7 56
    Cộng     391

    * Phương pháp lượng giá tiềm năng nhu cầu thị trường

    Có nhiều phương pháp như: phương pháp mô hình không gian tương hỗ, phân tích hồi qui, mô hình che phủ, lý thuyết trò chơi, các mô hình vị trí phân phối, ….Ở đây chúng ta nghiên cứu mô hình không gian tương hỗ nhằm đánh giá sức hút thị trường của các vị trí, từ đó có quyết định chọn vị trí thích hợp.

    Mô hình này dựa trên định luật sức hút tương hỗ thị trường của Reilly (giống định luật sức hút tương hỗ của Newton). Theo mô hình này thì khách hàng bị hút bởi địa điểm bán lẻ thuận lợi. Mô hình có dạng sau:

    Ở đây:

    Eij: Nhu cầu từ trung tâm i bị hút bởi địa điểm bán lẻ j

    Pij: Xác suất khách hàng từ trung tâm dân cư i đi đến địa điểm bán lẻ j

    Ci: Nhu cầu khách hàng ở trung tâm i

    Sj: Hiệu lực bán của địa điểm bán lẻ j (tổng hợp mọi biến số thu hút khách hàng đến địa điểm bán lẻ: sự hấp dẫn cửa hàng, khả năng dự trữ, giá, bãi đỗ xe, ….)

    Tij: Thời gian đi lại giữa trung tâm dân cư i và địa điểm bán lẻ j

    n: Số địa điểm bán lẻ j

    a: Thông số kinh nghiệm (thường là bằng 2)

    Chú ý là, địa điểm bán lẻ có thể là cửa hàng độc lập hoặc trung tâm dịch vụ của các nhóm cửa hàng, như trung tâm mua bán. Thời gian đi lại T có thể bao gồm bất kỳ và toàn bộ các biến cản trở khách hàng (khoảng cách, tắc nghẽn giao thông, rào chắn, đường quanh co,…). Mục đích của mô hình là ước tính thị phần sẽ chiếm được của các điểm bán lẻ và trung tâm dịch vụ khác nhau.

    Ví dụ:

    Giả sử có 2 trung tâm bán lẻ (Ra và Rb) quan hệ với những yếu tố khác được thể hiện trên sơ đồ sau (Sơ đồ mạng thời gian đối với vị trí trung tâm bán hàng)

    80
    70
                 
    60
      C2     Rb    
    50
                 
    40
                C3
    30
                 
    20
    C1     Ra      
    10
     
                 
    0
    Y
    80
    70
    60
    50
    40
    30
    20
    10
                 
     
     
    Thời gian (ph)
    Thời gian (ph)
    X

    Trên sơ đồ, Ra là địa điểm hiện tại, và Rb là địa điểm tiềm năng. Khách hàng (C1, C2, C3) bị hút đến các trung tâm bán tập trung lân cận. Tiềm năng bán (nhu cầu) đối với 3 cụm khách hàng tương ứng là 10, 5, và 7 tỷ đ. Trung tâm A có diện tích bán là 500.000 m2 và B là 1.000.000 m2. Thông số kinh nghiệm ước tính là a=2.

    Thị phần đối với mỗi trung tâm tính xấp xỉ theo bảng sau:

    Khách hàng Thời gian từ Ci đến Ri     Pij Eij
    Ra Rb Ra Rb Ra Rb Ra Rb Ra Rb
    C1 30,0 56,0 900 3.200 555 313 0,64 0,36 6,4 3,6
    C2 44,7 30,0 2.000 900 250 1.111 0,18 0,82 0,9 4,1
    C3 36,0 28,3 1.300 800 385 1.250 0,24 0,76 1,7 5,3
    Tổng doanh số (triệu đ) 9,0 13,0

    Trước hết thời gian đi lại được tính bằng cách tính toạ độ. Trong ví dụ, thời gian giữa C1 và Rb là D1b:

    Thời gian cản trở ; xác suất Pij dòng doanh thu đến trung tâm – xác suất khách hàng C1 chọn trung tâm Rb là:

    Tiếp theo lấy xác suất nhân với tổng tiềm năng doanh số đối với từng cụm khách hàng là doanh số tiềm năng của từng cụm khách hàng đối với từng trung tâm. Tiềm năng doanh số của C1 đối với trung tâm Rb là 0,36 ´ 10 tỷ = 3,6 tỷ.đ. Cuối cùng, doanh thu tiềm năng đối với Rb là 13 tỷ.đ. Lúc này có thể so sánh doanh thu có thể với chi phí hoạt động, tiền thuê, thuế, chi phí xây dựng để quyết định đầu tư.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Đồ án tốt nghiệp Thực trạng phát triển ngành Logistics tại Việt Nam hiện nay

    Đồ án tốt nghiệp Thực trạng phát triển ngành Logistics tại Việt Nam hiện nay

    Đồ án tốt nghiệp Thực trạng phát triển ngành Logistics tại Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CỦA CỦA VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ng%C3%A0nh-Logistics-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Thực trạng phát triển ngành Logistics tại Việt Nam hiện nay

    I. Cơ sở lý luận

              Trước khi đi vào phân tích chi tiết, về tình hình thực trạng hoạt động của ngành Logistics, và sự tác động của nó tới Thương mại điện tử (TMĐT), cũng như mức độ đáp ứng của các doanh nghiệp Việt Nam cho Logistics TMĐT, thì chúng ta cần phải hiểu rõ về mặt cơ sở lý luận của nó. Vậy Logistics là gì, vị trí và vai trò của nó trong quá trình kinh doanh cũng như nền kinh tế, và chúng được phân loại ra sao?

                1. Khái niệm

    Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc từ Hy Lạp, phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật; do vậy, một số từ điển định nghĩa là hậu cần, để cho quá trình chủ đạo được tiến hành đúng mục tiêu. Tuy nhiên trên thế giới, còn có rất nhiều khái niệm khác liên quan tới Logistics, chẳng hạn như:

    • Logistics được hiểu là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát sự lưu thông và tích trữ một cách hiệu qủa tối ưu các loại hàng hoá, nguyên vật liệu, thành phẩm và bán thành phẩm, dịch vụ và thông tin đi kèm từ điểm khởi đầu tới điểm kết thúc nhằm mụch đích tuân theo các yêu cầu của khách hàng.
    • Logistics là môn khoa học nhằm hoạch định và tiến hành vận chuyển và bảo quản các lực lượng,… liên quan tới các mặt của hoạt động quân sự thông qua các hoạt động thiết kế và phát triển, thu nhận, lưu trữ, vận chuyển, phân phối, bảo quản, sơ tán, bố trí các nguồn lực; vận chuyển, sơ tán, đưa nhập viện nguồn nhân lực, thâu tóm các công trình, bảo quản, vận hành, và bố trí các phương tiện; và cung cấp các dịch vụ dò tìm. (JCS Pub 1-02 excerpt)

                2. Vị trí, vai trò của Logistics

              Ngành Logistics càng ngày càng đóng một vị trị quan trong trong toàn bộ quá trình hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi mà giờ đây các hoạt động kinh doanh diễn ra vô cùng sôi nổi, hàng hóa, vật liệu,… được vận chuyển đi khắp mọi nơi trên thế giới một cách liên tục. Phần giá trị gia tăng do ngành logistics tạo ra ngày càng lớn và tác động của nó thể hiện rõ dưới nhữngkhía cạnh dưới đây:

    Đồi với nền Kinh tế quốc doanh:

    • Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia vàtoàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường.

    Trong các nền kinh tế hiện đại, sự tăng trưởng về số lượng của khách hàng đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế. Hàngnghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã được giới thiệu, đang được bán ra và phân phối hàngngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỷ vừa qua. Để giải quyết các thách thứcdo thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà máy liên hợp thay thế chonhững nhà máy đơn. Hệ thống logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ được toàn bộnăng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưuthông, phân phối kịp thời chính xác. Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanhtrong phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy, sự phân phối sản phẩm từ các nguồn ban đầu đếncác nơi tiêu thụ trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng trong GDP ở mỗi quốc gia. TạiMỹ logistics đóng góp xấp xỉ 9,9% trong GDP. Năm 1999 Mỹ chi khoảng 554 tỷ USDcho vận tải hàng hóa đường thủy, hơn 332 tỷ USD cho chi phí kho dự trữ và, hơn 40 tỷUSD cho quản lý truyền thông và quản lý các quá trình logistics, tổng cộng là 921 tỷUSD. Đầu tư vào các cơ sở vận tải và phân phối, không tính các nguồn công cộng, ươclượng hàng trăm tỷ USD, cho thấy logistics là một ngành kinh doanh tiềm năng và vôcùng quan trọng.

    • Tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng.

    Logistics hỗ trợ sự di chuyển và dòng chảy của nhiều hoạt động quản lý hiệu quả, nó tạo thuân lợi trong việc bán hầu hếtcác loại hàng hóa và dịch vụ. Để hiểu hơn về hình ảnh hệ thống này, có thể thấy rằng nếu hàng hóa không đến đúng thời điểm, không đến đúng các vị trí và với các điều kiện mà khách hàng cần thì khách hàng không thể mua chúng, và việc không bán được hàng hóa sẽ làm mọi hoạt động kinh tế trong chuỗi cung cấp bị vô hiệu.

    • Tiết kiệm và giảm chi phi phí trong lưu thông phân phối.

    Những tổ chức, với tư cách là các đơn vị thực hiện Logistics, sẽ đưa ra những phương án vận chuyển, bảo quản tối ưu, với những phương thức chuyển hàng thuận tiện, tuyến đường hợp lý, bố trí nhà kho bến bãi thích hợp,… từ đó sẽ tối thiểu hóa thời gian cũng như chi phí vận chuyển trong lưu thông phân phối.

    • Mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế, góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế.

    Trong thời đại toàn cầu hóa, thương mại quốc tế là sự lựa chọn tất yếu cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển đất nước. Các giao dịch quốc tế chỉ thực hiệnđược và mang lại hiệu quả cho quốc gia khi dựa trên một hệ thống logistics rẻ tiền vàchất lượng cao. Hệ thống này giúp cho mọi dòng hàng hóa được lưu chuyển thuận lợi, suôn sẻ từ quốc gia này đến quốc gia khác nhờ việc cung ứng kịp thời, phân phối chính xác, chứng từ tiêu chuẩn, thông tin rõ ràng…

                Đối với hoạt động của DN:

    • Logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí sản trong quá trìnhsản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

    Quan điểm marketing cho rằng, kinh doanh tồn tại dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng và cho thấy 3 thành phần chủ yếu của khái niệm này là sự phối hợp các nỗ lực marketing, thỏa mãn kháchhàng và lợi nhuận công ty. Logistics đóng vai trò quan trọng với các thành phần này theo cách thức khác nhau. Nó giúp phối hợp các biến số marketing – mix, gia tăng sự hài lòngcủa khách hàng, trực tiếp làm giảm chi phí, gián tiếp làm tăng lợi nhuận trong dài hạn.

    • Logistics tạo ra giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm:

    Mỗi sản phẩm đượcsản xuất ra luôn mang một hình thái hữu dụng và giá trị (form utility and value) nhất định với con người. Tuy nhiên để được khách hàng tiêu thụ, hầu hết các sản phẩm này cần có nhiều hơn thế. Nó cần được đưa đến đúng vị trí, đúng thời gian và có khả năng trao đổi với khách hàng. Các giá trị này cộng thêm vào sản phẩm và vượt xa phần giá trị tạo ra trong sản xuất được gọi là lợi ích địa điểm, lợi ích thời gian và lợi ích sở hữu (place, time and possession utility).

    Lợi ích địa điểm: là giá trị cộng thêm vào sản phẩmqua việc tạo cho nó khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ đúng vị trí.

              Lợi ích thời gian: là gía trị được sáng tạo ra bằng việc tạo ra khả năng để sản phẩm tới đúng thời điểm mà khách hàng có nhu cầu, những lợi ích này là kết quả của hoạt động logistics. Như vậy Logistics góp phần tạo ra tính hữu ích về thời gian và địa điểm cho sản phẩm, nhờ đó mà sản phẩm có thể đến đúng vị trí cần thiết vào thời điểm thích hợp. Trong xu hướng toàn cầu hóa, khi mà thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng ngày càng trở nên xa cách về mặt địa lý thìcác lợi ích về thời gian và địa điểm do logistics mang trở nên đặc biệt cần thiết cho việc tiêu dùng sản phẩm.

    • Logistics cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu quả đến khách hàng.

    Logistics không chỉ góp phần tối ưu hóa về vị trí mà còn tối ưu hóa các dòng hàng hóa và dịch vụ tại doanh nghiệp nhờ vào việc phân bố mạng lưới các cơ sở kinh doanh và điều kiện phục vụ phù hợp với yêu cầu vận động hàng hóa. Hơn thế nữa,các mô hình quản trị và phương án tối ưu trong dự trữ, vận chuyển, mua hàng…và hệthống thông tin hiện đại sẽ tạo điều kiện để đưa hàng hóa đến nơi khách hàng yêu cầu nhanh nhất với chi phí thấp, cho phép doanh nghiệp thực hiện hiệu quả các hoạt động củamình

    • Logistics có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho doanh nghiệp.

    Một hệ thống logistics hiệu quả và kinh tế cũng tương tự như một tài sản vô hình cho công ty. Nếu một công ty có thể cung cấp sản phẩm cho khách hàng của mình một cách nhanh chóng với chi phí thấp thì có thể thu được lợi thế về thị phần so với đối thủ cạnh tranh.Điều này có thể giúp cho việc bán hàng ở mức chi phí thấp hơn nhờ vào hệ thống logistics hiệu quả hoặc cung cấp dịch vụ khách hàng với trình độ cao hơn do dó tạo ra uytín. Mặc dù không tổ chức nào chỉ ra phần vốn quý này trong bảng cân đối tài sản nhưng cần phải thừa nhận rằng đây là phần tài sán vô hình giống như bản quyển, phát minh, sáng chế, thương hiệu.

               

     

     

     

    3. Phân loại

     

    II.Thực trạng phát triển ngành Logistics tại Việt Nam hiện nay

    Logistics đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuât, lưu thông và phân phối các sản phẩm và dịch vụ. Tại Việt Nam, những ngiên cứu gần đây cho thấy dịch vụ logistics chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Do vậy, nếu đánh giá đúng và nâng cao hoạt động ngành logistic mang lại giá trị to lớn cho nền kinh tế của quốc gia. Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết đầu vào và đầu ra một cách hiệu quả., thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào và đầu ra hoặc tối ưu hóa quá trình vận chuyển nguyên nhiên vât liệu, hàng hóa, dịch vụ giúp giảm chi phí và làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Việt Nam hiện có khoảng 600 doanh nghiệp logistics, một con số không nhỏ so với các quốc gia trong khu vực nhưng chỉ đáp ứng được khoảng một phần tư nhu cầu thị trường nội địa. Chênh lệch trình độ giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài khá lớn. Giá cả dịch vụ tại Việt Nam tương đối rẻ, nhưng không chắc chắn và thiếu độ tin cậy, thêm vào đó sự kém phát triển của các doanh nghiệp địa phương làm cho ngành khó chiếm lĩnh được thị trường.

    Hầu hết doanh nghiệp logistics chỉ có quy mô nhỏ và rất nhỏ. Đã vậy, giữa các doanh nghiệp lại không hợp tác được với nhau dẫn đến tình trạng manh mún, mạnh ai nấy làmCác doanh nghiệp chẳng những không liên kết, mà thậm chí còn cạnh tranh không lành mạnh với nhau. Hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ khá manh mún, chụp giựt và hạ giá để lôi kéo khách hàng, trong khi chất lượng dịch vụ thì không rõ ràng, tạo nên những tiền lệ xấu trong hoạt động logistics.

    Trong thực tế, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam mới đóng vai trò như những nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các công ty logistics nước ngoài, như đảm nhận việc khai báo hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi… Chưa có doanh nghiệp nào đủ sức tổ chức, điều hành toàn bộ quy trình hoạt động logistics.

    Để đạt được trình độ cao, doanh nghiệp logistics phải tổ chức và điều hành được mạng lưới đủ rộng, cộng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin để có thể quản lý chặt chẽ toàn bộ quy trình của sản phẩm dịch vụ. Ở Việt Nam, một trong những nguyên nhân làm cho dịch vụ logistics của nhiều doanh nghiệp cung cấp thiếu tin cậy là do trình độ ứng dụng công nghệ thông tin kém.

                1. Về nhân lực

    Đánh giá về nguồn nhân lực phục vụ trong ngành logistics hiện nay, trước hết là đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành. Trong các doanh nghiệp quốc doanh và cổ phần hóa thì cán bộ chủ chốt được Bộ, ngành chủ quản điều động về điều hành các công ty, đơn vị trực thuộc ở miền Nam là thời gian sau ngày giải phóng. Đội ngũ này hiện nay đang điều hành chủ yếu các doanh nghiệp tương đối lớn về quy mô và có thâm niên trong ngành, chẳng hạn trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải, kho vận, đa số đạt trình độ đại học. Hiện thành phần này đang được đào tạo và tái đào tạo để đáp ứng nhu cầu quản lý. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại phong cách quản lý cũ, chưa chuyển biến kịp để thích ứng với môi trường mới, thích sử dụng kinh nghiệm hơn là áp dụng khoa học quản trị hiện đại. Trong các công ty giao nhận mới thành lập vừa qua, chúng ta thấy đã hình thành một đội ngũ cán bộ quản lý trẻ, có trình độ đại học, nhiều tham vọng nhưng kinh nghiệm kinh doanh quốc tế và tay nghề còn thấp. Lực lượng này trong tương lai gần sẽ là nguồn bổ sung và tiếp nối các thế hệ đàn anh đi trước, năng động hơn, xông xáo và ham học hỏi.

    Về đội ngũ nhân viên phục vụ: là đội ngũ nhân viên chăm lo các tác nghiệp hàng ngày, phần lớn tốt nghiệp đại học nhưng không chuyên, phải tự nâng cao trình độ nghiệp vụ, tay nghề trong quá trình làm việc. Lực lượng trẻ chưa tham gia nhiều vào hoạch định đường lối, chính sách, ít tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng và phát triển ngành nghề.

    Về đội ngũ nhân công lao động trực tiếp: đa số trình độ học vấn thấp, công việc chủ yếu là bốc xếp, kiểm đếm ở các kho bãi, lái xe vận tải, chưa được đào tại tác phong công nghiệp, sử dụng sức lực nhiều hơn là bằng phương tiện máy móc. Sự yếu kém này là do phương tiện lao động còn lạc hậu, chưa đòi hỏi lao động chuyên môn.

    Về chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề trong ngành logistics hiện nay được thực hiện ở 3 cấp độ:

    1) Tại các cơ sở đào tạo chính thức

    2) Đào tạo theo chương trình hiệp hội;

    3) Đào tạo nội bộ trong doanh nghiệp.

    Cần phải nói rằng, giao nhận kho vận và điều hành logistics là một công nghệ mang tính chuyên nghiệp cao nên nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này cần được đào tạo một cách có hệ thống và được trang bị đầy đủ kiến thức như những nhà giao nhận quốc tế. Song, trên thực tế, các cán bộ, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực giao nhận, logistics hiện tại chủ yếu được đào tạo từ trường đại học Kinh tế và đại học Ngoại thương. Một số ít được bổ sung từ các trường giao thông, hàng hải và thậm chí là trường đại học ngoại ngữ. Vấn đề đáng quan tâm là nghiệp vụ logistics chưa được xây dựng thành môn học, chưa có trường đại học nào đào tạo hay mở những lớp bồi dưỡng ngắn hạn. Các bài giảng trong nhà trường mới chỉ tập trung giới thiệu những công việc trong giao nhận, quy trình và các thao tác thực hiện qua các công đoạn. Chương trình tương đối lạc hậu, giảng dạy theo nghiệp vụ giao nhận truyền thống là chủ yếu. Các kỹ thuật giao nhận hiện đại ít được cập nhật hóa như vận tải đa phương thức, kỹ năng quản trị dây chuyền chuỗi cung ứng… Tính thực tiễn của chương trình giảng dạy không cao, làm cho người học chưa thấy hết vai trò và sự đóng góp của logistics, giao nhận vận tải trong nền kinh tế. Có thể khẳng định rằng các chuyên gia được đào tạo chuyên nghiệp về lĩnh vực này quá ít so với yêu cầu phát triển dịch vụ. Phần lớn kiến thức mà cán bộ công nhân viên trong ngành có được là từ thực tiễn khi làm đại lý hoặc đối tác cho các công ty nước ngoài chuyên làm dịch vụ này.

    Với một nguồn nhân lực chắp vá, vừa thiếu lại vừa yếu, chúng ta sẽ không có nổi một cơ hội để cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ đến từ những hãng vận tải lớn và danh tiếng của nước ngoài đang xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta. Có thể khẳng định tính cấp thiết của việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cung cấp cho dịch vụ logistics hàng hải quốc tế. Theo nhiều chuyên gia, nhiệm vụ trọng tâm trước mắt của chúng ta là phải cập nhật những kiến thức luật pháp trong nước và quốc tế về vận tải đa phương thức, các hoạt động chính của logistics và kỹ năng vận hành dịch vụ logistics cho nguồn nhân lực hiện có. Song song với việc đào tạo nghiệp vụ chuyên môn là đào tạo nâng cao trình độ tiếng Anh, đảm bảo được việc giao dịch, thủ tục và lập chứng từ nghiệp vụ. Việc đào tạo cần được tiến hành ở cả ba cấp độ cán bộ hoạch định chính sách, quản lý và nghiệp vụ cụ thể. Một nguồn nhân lực được đào tạo bài bản sẽ là chìa khoá thành công cho các doanh nghiệp kinh doanh logistics của chúng ta vốn còn đang rất nhỏ lẻ và thiếu kinh nghiệm “chiến trường”.

                2. Về Cơ sở hạ tầng

    Trong nghiên cứu Logistics, Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) nhận định, 30% giá trị phụ thuộc vào vận tải thông quan; mức độ trì hoãn về thủ tục trong triển khai ảnh hưởng từ 30% đến 40%; còn sự khác biệt về tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ sở hạ tầng lại là những thách thức to lớn cho sự phát triển.

    2.1. Giao thông vận tải hạn chế

    Trong chuỗi giá trị Logistics, giao thông vận tải chiếm trên 1/3. Tại Việt Nam, hệ thống đường giao thông cả nước hiện có 17.000 km đường nhựa, trên 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thủy, 226 cảng biển và hơn 20 sân bay. So với các nước trong khu vực, đường bộ của ta được trải nhựa lại đạt tỉ lệ thấp nhất (25,1%); do chất lượng thấp nên lượng vận chuyển đường sắt chỉ bằng 15% tổng lượng hàng hóa lưu thông (Tổng cục Thống kê 2010). Mặc dù có nhiều cảng biển; song chỉ 10% có thể tham gia vào vận tải quốc tế với năng suất xếp dỡ chỉ bằng 1/3 năng suất bình quân của các nước trong khu vực. Yếu kém về hạ tầng giao thông là nguyên nhân khiến năng lực cạnh tranh dịch vụ thấp, giá thành vận tải cao và ngành dịch vụ logistics trong nước đang chịu nhiều thách thức.

                2.2. Công nghệ thông tin bất cập về trình độ

    Điểm yếu của doanh nghiệp logistics trong nước là về công nghệ thông tin. Kết quả điều tra của Đại học kinh tế Quốc dân cho thấy, việc sử dụng phần mềm quản lý kho bãi và cơ sở bán hàng ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều rất thấp (23,3% ở tỉnh Hải Dương; 30,3% tại Đà Nẵng; Hà Nội 32,7% và cao nhất là thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ đạt 39,3%). Nghiên cứu khảo sát của tổ chức tư vấn SMC cũng chỉ ra kết quả tương tự với 45% công nghệ thông tin của nhà cung cấp không đạt yêu cầu. Mặc dù ý thức được lợi ích của CNTT, song hạn chế công nghệ doanh nghiệp đang là điểm yếu trong nước trước sức cạnh tranh và xu thế mở rộng của các doanh nghiệp nước ngoài.

    Trong những năm vừa qua cơ sở hạ tầng đã có nhiều thay đổi đáng kể, nhiều công trình và hệ thống giao thông đường bộ, cảng nội địa và cảng biển được nâng cấp.Tuy nhiên nhìn từ góc độ Logistics, cơ sở hạ tầng chúng ta còn quá yếu kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ, hệ thống kho bãi quy mộ nhỏ và rời rạc, trang thiết bị, phương tiện như xe vận chuyển hàng, dây chuyền, băng tải, đường ống, thiết bị chiếu sáng , xe nâng hạ hàng hóa, máy đóng gói và các thiết bị mã vạch… với công nghệ thấp và cũ kỷ. Hệ thống vận tải đường biển, đường sông, hàng không, đường bộ, đường sắt còn nhiều bất cập, dẩn đến tốc độ lưu chuyển trong logistic còn khá chậm nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động hiệu quả của ngành logistics.

    Chẳng hạn các quốc lộ chỉ được thiết kế cho xe tải trọng không quá 30 tấn lưu thông, trong khi theo tiêu chuẩn quốc tế, trọng lượng một container 40 feet đầy hàng đã lên đến 34,5 tấn. Như vậy, để có thể lưu thông trên đường, doanh nghiệp buộc phải san hàng sang container khác, làm tăng chí phí và mất thời gian.

    Hoạt động kho bãi của các công ty giao nhận vận tải Việt Nam còn khá yếu, quy mô kho nhỏ, công nghệ kho lạc hậu và phần lớn chưa có khả năng cung cấp các giá trị gia tăng cho khách hàng. Chỉ có một số công ty như M&P International, Vinatrans, ANC… có thể cung cấp thêm các dịch vụ như dịch vụ gom hàng lẻ, dịch vụ đóng gói, đóng kiện, đóng pallet…

    Không những thế, các công ty giao nhận vận tải Việt Nam cũng chưa có khả năng đầu tư hệ thống phương tiện vận tải hiện đại. Chẳng hạn như, so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, đội tàu Việt Nam bị xem là đội “tàu già” (tuổi trung bình là 14,5, cá biệt có những tàu lên tới 65), trọng tải nhỏ, trang thiết bị máy móc trên tàu lạc hậu. Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, đường bộ, đường sắt cũng đang những gặp khó khăn tương tự.

    Ngoài ra, logistics là loại hình dịch vụ tổng hợp, quá trình hoạt động có liên quan đến sự quản lý của nhiều bộ, ngành như: giao thông vận tải, thương mại, hải quan, đo lường và kiểm định… Việc mỗi bộ ban hành một quy định riêng nhưng không đồng bộ, thậm chí còn mâu thuẫn với nhau, cộng với việc cấm xe tải ở các thành phố lớn đã gây ra những trở ngại không nhỏ cho ngành logistics.

                3. Vốn

    Hiện nay tại việt nam, doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 80% trong tổng số các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistic tại Việt Nam và hầu hết các doanh nghiệp này có vốn và quy mô nhỏ nên chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các hãng nước ngoài trong cả chuỗi hoạt động như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi hoặc chỉ đáp ứng được những công việc đơn giản cho vài khách hàng.…

    Thậm chí có đơn vị chỉ đăng ký từ 300 đến 500 triệu đồng với năm ba nhân viên kể cả người phụ trách, do vậy Với quy mô vốn này thì không thể chen chân được vào thị trường logistics thế giới.

    Nếu với Việt Nam, logistics còn là ngành mới mẻ thì đối với nước ngoài, đây đã là ngành dịch vụ có lịch sử lâu đời với nhiều tập đoàn quy mô có bề dày hơn 100 năm.

    Dịch vụ logistics đang hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài và thực tế họ đang kinh doanh rất sôi động tại Việt Nam. Hầu hết các tập đoàn logistics lớn trên thế giới đã có mặt tại nước ta và theo cam kết gia nhập WTO, các công ty logistics 100% vốn nước ngoài sẽ được phép hoạt động tại Việt Nam trong thời gian tới.

    Bắt đầu bằng văn phòng đại diện, các công ty này chuyển sang góp vốn liên doanh rồi là 100% vốn nước ngoài. Một vài công ty logistics lớn trên danh nghĩa vẫn nhờ một công ty Việt Nam làm đại lý. Tuy nhiên mọi hoạt động đều do phía nước ngoài quản lý, các doanh nghiệp Việt Nam thường không can thiệp được nhiều ngoài việc ăn phí đại lý trên mỗi hợp đồng dịch vụ.

                4. Quy mô và tính chuyên nghiệp

     

    Hầu hết doanh nghiệp logistics chỉ có quy mô nhỏ và rất nhỏ. Đã vậy, giữa các doanh nghiệp lại không hợp tác được với nhau dẫn đến tình trạng manh mún, mạnh ai nấy làm. Ông Nguyễn Hùng, Phó tổng giám đốc Công ty Kho vận miền Nam (Sotrans), cho biết: “Các doanh nghiệp chẳng những không liên kết, mà thậm chí còn cạnh tranh không lành mạnh với nhau”. Bà Phạm Tú Anh (Công ty Vinatrans) nói thêm: “Hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ khá manh mún, chụp giựt và hạ giá để lôi kéo khách hàng, trong khi chất lượng dịch vụ thì không rõ ràng, tạo nên những tiền lệ xấu trong hoạt động logistics”.

    Do hạ tầng giao thông vận tải yếu kém, công nghệ thông tin chưa hỗ trợ hiệu quả nên chi phí logistics tại Việt Nam khá cao, chiếm 25% GDP (so với các nước phát triển chỉ từ 9 đến 15%), trong đó chi phí vận tải chiếm 30 đến 40% giá thành sản phẩm (tỉ lệ này là 15% ở các quốc gia khác), điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của dịch vụ, hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam.

    Hiện nay tại việt nam, doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 80% trong tổng số các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistic tại Việt Nam và hầu hết các doanh nghiệp này có vốn và quy mô nhỏ nên chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các hãng nước ngoài trong cả chuỗi hoạt động như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi hoặc chỉ đáp ứng được những công việc đơn giản cho vài khách hàng.… Thậm chí có đơn vị chỉ đăng ký từ 300 đến 500 triệu đồng với năm ba nhân viên kể cả người phụ trách, do vậy Với quy mô vốn này thì không thể chen chân được vào thị trường logistics thế giới.

    Nếu với Việt Nam, logistics còn là ngành mới mẻ thì đối với nước ngoài, đây đã là ngành dịch vụ có lịch sử lâu đời với nhiều tập đoàn quy mô có bề dày hơn 100 năm. Dịch vụ logistics đang hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài và thực tế họ đang kinh doanh rất sôi động tại Việt Nam. Hầu hết các tập đoàn logistics lớn trên thế giới đã có mặt tại nước ta và theo cam kết gia nhập WTO, các công ty logistics 100% vốn nước ngoài sẽ được phép hoạt động tại Việt Nam trong thời gian tới.

    Bắt đầu bằng văn phòng đại diện, các công ty này chuyển sang góp vốn liên doanh rồi là 100% vốn nước ngoài. Một vài công ty logistics lớn trên danh nghĩa vẫn nhờ một công ty Việt Nam làm đại lý. Tuy nhiên mọi hoạt động đều do phía nước ngoài quản lý, các doanh nghiệp Việt Nam thường không can thiệp được nhiều ngoài việc ăn phí đại lý trên mỗi hợp đồng dịch vụ.

    Các hợp đồng vận chuyển hoặc cung cấp dịch vụ chuỗi cung ứng tại Việt Nam của các công ty lớn như Nike, Adidas, Nortel, Carrefour… thường về tay các công ty logistics toàn cầu như Kuehne Nagel, Schenker, Panalpina, DHL… Các công ty Việt Nam khó chen chân phần vì chưa có tên tuổi trên thị trường logistics quốc tế, phần vì các cuộc đấu thầu (tender) hàng năm của các tập đoàn lớn thường diễn ra ở nước ngoài.

    Tại Việt Nam, hầu như chưa có doanh nghiệp nào đủ sức tổ chức, điều hành toàn bộ quy trình hoạt động logistics. Các doanh nghiệp này thường hay riêng lẻ, thiếu sự hỗ trợ và hợp tác lẫn nhau, cạnh tranh không lành mạnh. Chính những nguyên nhân này đã làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam đối với doanh nghiệp nước ngoài ngay tại sân nhà. Nếu có sự hợp lực, liên kết giữa các doanh nghiệp ViệtNam lại với nhau, thì sẽ tiết kiệm được chi phí quản lý, hàng chánh… Qua đó củng cố được nguồn vốn vốn và nhân lực để có thể thắng tại sân nhà.

                5. Về pháp luật và cơ chế, chính sách

              Ở Việt Nam, công bằng mà nói, thời gian gần đây ngành logistics đã có được các quan tâm về mặt quy hoạch, chiến lược phát triển, các chính sách tạo thuận lợi về kinh doanh, thương mại XNK, hải quan, thuế… Nhưng có vẻ như các chính sách, thể chế ấy chưa đồng bộ, thiếu cập nhật đầy đủ, phù hợp với các tiến bộ, cũng như các thách thức thời đại của ngành.

    Trong những năm qua, các nhà đầu tư trong và ngoài nước chưa thực sự an tâm, chưa thực sự cảm nhận thực sự thông thoáng trong giao thương hàng hóa mà trái lại vẫn còn đó ngày càng nghiêm trọng hơn về tắc nghẽn giao thông, hạn chế tải trọng cầu đường… Mặt khác không kém phần quan trọng là chưa tạo dựng được các điều kiện hỗ trợ để các doanh nghiệp ngành logistics VN trưởng thành so vai với các doanh nhiệp nước ngoài trong khi lộ trình hội nhập WTO đến gần (2014).

    III. Tác động của Thương mại điện tử tới Logistics

    Mạng thông tin toàn cầu làm thay đổi căn bản nên kinh tế thế giới và cùng với nó là các hoạt động logistic kinh doanh. Có 3 đặc điểm của nền kinh tế mạng tác động rất mạnh mẽ và tạo nên cuộc cách mạng tác động rất mạnh mẽ và tạo nên cuộc cách mạng trong logistic. Công nghệ thông tin cho phép doanh nghiệp kết nối dễ dàng và nhanh chóng với các nhà nhà cung ứng cũng như khách hàng của mình. Khai thác hiệu quả CNTT sẽ làm tăng khả năng tối ưu hóa các quá trình nghiệp vụ logistic, đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách linh hoạt, chủ động với số lượng khách hàng lớn hơn và đa dạng hơn. Từ đó, đạt được mục tiêu của hậu cần: cân đối giữa dịch vụ khách hàng và chi phí để có được lợi nhuận cao nhất, trong khi vẫn duy trì được lòng trung thành của khách hàng.

                1. Tính thông tin

    • Tiếp cận: Thông tin trong môi trường tmdt được cập nhập tự động, thường xuyên, liên tục chính xác do đó hoạt động logistics găn liền với tmdt cũng phải đảm bảo tính thường xuyên, liên tục, chính xác, số xóa, dễ dàng truy cập sử lý để đảm bảo chúng có thể ăn khớp với nhau.
    • Chất lượng: Chất lượng thông tin giúp nhà quản trị kiểm soát hàng hóa, dịch vụ của mình trong quá trình vận chuyển, giao nhận và có kế hoạch cho sản xuất, cung ứng, đặt hàng. Hoạt động tmdt có tính biến động thông tin liên tục và cần độ chính xác,đầy đủ, đúng lúc do đó chất lượng thông tin trong logistics tmdt cũng cần đáp ứng các yêu cầu này để hoạt động tmdt được diễn ra thông suốt và đảm bảo sự vận hành ổn định.
    • Linh hoạt: Thông tin cần được cập nhập và truy xuất, sử lý mọi lúc mọi nơi và có sự liên kết , tương tác với các bộ phận liên quan đến quá trình của hoạt động logistics để chúng co thể vận hành bởi đó là một tổng thể trong quá trình hoạt động của hoạt động logistics như thông tin hành trình của xe hàng cần được cập nhập chính xác để có kế hoạch kho bãi và bốc dỡ hay đảm bảo sự an toàn của hàng hóa.

    Từ những đặc tính nổi trội đó của hệ thống thông tin mà các quyết định trong quản trị logistic có thể nhanh chóng đáp ứng tốt hơn nhu cầu luôn biến động của thị trường.

                2. Tính tương tác

    • Giao tiếp đa chiều:

    Một hệ thống logistics hiện đại trong môi trường thương mại điện tử là cần thiết và là đòi hỏi tất yếu của thời đại hiện nay. Hệ thống logistic hiện đại bao gồm khả năng giao tiếp đa chiều và liên kết với các tác nhân bên trong và bên ngoài doanh nghiệp thực hiện các chức của mình. Hoạt động logistic gắn liền với hoạt động kho vận, sản xuất, phân phối, tiếp nhận hàng hóa, bốc dỡ do đó các bộ phận liên quan đến các trình trên đều có sự tương tác với nhau sao cho quá trình được diễn ra liên tục và thông suốt.

    Xét ở tầm vi mô, trước đây các công ty thường coi logistics như một bộ phận hợp thành các chức năng marketing và sản xuất. Marketing coi logistics là việc phân phối vật lý hàng hóa. Cơ sở cho quan niệm này là hoạt động dự trữ thành phẩm hoặc cung cấp các yếu tố đầu vào do logistics đảm nhiệm cũng là nhiệm vụ của biến số phân phối (Place) trong marketing – mix và được gọi là phân phối vận động vật lý còn với sản xuất coi logistics là việc lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy, chọn nguồn cung ứng tốt và phân phối hàng hóa thuận tiện…Bởi lẽ các hoạt động này ảnh hưởng và liên quan chặt chẽ đến thời gian điều hành sản xuất, kế họach sản xuất, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, tính thời vụ của sản xuất, chi phí sản xuất, thậm chí ngay cả vấn đề bao bì đóng gói sản phẩm trong sản xuất công nghiệp hiện đại.

    • Khả năng hợp tác:

    Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường và các dịch vụ gia tăng khác. Hệ thống logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết hợp tác giữa các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời chính xác. Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu. Do đó hợp tác giữa nhà sản xuất, cung ứng, doanh nghiệp thương mại và công ty logistics là yêu tố quyết định dẫn đến thành công của doanh nghiệp.

    Lợi ích mà tính tương tác mang lại là môi trường giao tiếp hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn và chính xác hơn. Từ đó có thể góp phần rút ngắn thời gian đáp ứng đơn hàng, nâng cao khả năng tối ưu hóa dự trữ, thiết kế tuyến đường vận chuyển hợp lý hơn, giảm chi phí giao tiếp… trong khi vẫn đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.

                3. Tính cá nhân hóa

    Nhu cầu khách hàng: Yếu tố đầu tiên tác động đến hậu cần kinh doanh là khách hàng. Trong môi trường kinh doanh rộng lớn và khắc nghiệt hơn, với những đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng về dịch vụ, tốc độ và mức cá nhân hóa, thì khả năng đáp ứng đơn hàng trở thành một trong những yếu tố tạo sự khác biệt trên thị trường. Hiêu ứng mạng khiến cho các doanh nghiệp phải chú ý nhiều hơn tói nhu cầu khách hàng, đảm bảo về sự thuận tiện, thời gian và chất lượng dịch vụ khách hàng.

    Cần có một sự phân biệt rõ ràng giữa khách hàng và những người tiêu dùng các dịch vụ và sản phẩm của công ty. Người tiêu dùng (consummer) là người tham gia cuối cùng trong chuỗi hoạt động của ngành logistics, họ sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích tiêu dùng lần cuối sản phẩm. Khách hàng (customer) là người trực tiếp mua sản phẩm từ các công ty, do đó có thể không phải là người tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi hoạt động của ngành. Doanh nghiệp logistics có thể không cần biết ai là người tiêu dùng cuối cùng, nhưng cần phải luôn giữ mối quan hệ tốt với khách hàng mua sản phẩm của mình bởi họ chính là người trực tiếp sử dụng dịch vụ logistics mà doanh nghiệp cung cấp.

    Như vậy, đối với một nhà sản xuất thì khách hàng có thể là nhà sản xuất khác; là một đại lý bán buôn, một nhà phân phối, một đại lý bán lẻ hoặc một công ty bán hàng qua mạng, thậm chí là người tiêu dùng cuối cùng. Một nhà bán buôn hoặc một nhà phân phối có khách hàng là nhà sản xuất, người tập hợp hàng hóa từ nhà bán buôn, nhà phân phối khác, đại lý bán lẻ, hoặc công ty đặt hàng qua mạng. Đối với đại lý bán lẻ hoặc công ty bán hàng qua mạng, khách hàng hầu hết luôn là người tiêu dùng cuối cùng. Trông môi trường tmdt khách hàng đối tượng của các công ty logistics có thể là cá nhân hoặc các tổ chức  mua hàng qua mạng do đó nhu cầu của khách hàng cũng rất đa dạng và phong phú, phức tạp.

    Chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ khách hàng được đánh giá qua các chỉ tiêu chủ yếu sau:

    • A1 – Tần số thiếu hàng (Stockout Frequency). Cho biết số làn thiếu bán hàng hóa trong một đơn vị thời gian
    • A2 – Tỷ lệ đầy đủ hàng hóa ( Fill Rate): Thể hiện qua tỷ lệ phần trăm hàng hóa thiếu bán trong một đơn vị thời gian hoặc một đơn hàng
    • A3 – Tỷ lệ hoàn thành các đơn hàng (Orders shipped complete): Cho biết số đơn hàng hòa thành trên tổng số đơn hàng ký kết trong một đơn vị thời gian, thường là một năm hoặc một quý.
    • A4 – Tốc độ cung ứng (Speed): Khỏang thời gian thực hiện một đơn đặt hàng tính từ khi khách hàng trao đơn đặt hàng đến khi khách hàng nhận đơn hàng.(Lead time)
    • A5 – Độ ổn định thời gian đặt hàng( Consistency): Dao động thời gian của khoảng thời gian đặt hàng bình quân.
    • A6 – Tính linh hoạt ( Flexibility): Cho biết khả năng thích nghi với các nhu cầu dịch vụ khách hàng đặc biệt và sự thay đổi của khách hàng
    • A7 – Khả năng sửa chữa các sai lệch ( Malfuntion Recovery): Mức độ tiếp thu và sửa chỉnh những sai sót tác nghiệp với khách hàng một cách nhanh chóng và hiêu quả.
    • A8 – Độ tin cậy dịch vụ ( Reliability): Sự tin tưởng, uy tín của dịch vụ khách hàng và doanh nghiệp đối với khách hàng

    Trong môi trường thương mại điện tử thì các yêu tố xác định chất lượng dịch vụ trên luôn có yêu cầu cao hơn so với hoạt động logistics trong các môi trường khác do tính chất của hoạt động thương mại điện tử luôn diễn ra liên tục, thông tin luôn cập nhập, uy tín cần được đảm bảo, các đối tượng khách hàng phức tạp và đa dạng với nhiều yêu cầu khác nhau, nhiều mặt hàng khác nhau, phạm vi kinh doanh rộng lớn trên toàn quốc hay quốc tế.

    IV. Mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp VN cho logistics Thương mại điện tử

                1. Thực tế mức độ sẵn sàng của DN Việt Nam

    Hiện nay ở Việt Nam số người sử dụng Internet là rất lớn, chiếm khoảng hơn  70% dân số nước ta, cộng với mức độ GDP ngày càng tăng, làm tăng nhu cầu mua bán của người dân, đã khiến cho TMĐT trở thành một trong những xu hướng tất yếu của xã hội. Tuy nhiên, để thành công trên thị trường TMĐT, ngoài những yêu cầu tất yếu về chất lượng sản phẩm, giá cả, thì yếu tố chuyển phát, giao vận được coi là một trong những yếu tố tối quan trọng quyết định sự thành công của DN, khi mà khách hàng muốn sản phẩm phải đến tận nơi của họ. Do vậy yếu tố Logistics là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, các DN TMĐT ở Việt Nam do tầm vóc kinh doanh nhỏ, cũng như chưa dám bỏ ra một khoản lớn để thuê ngoài hoàn toàn các doanh nghiệp Logistics, hoặc xây dựng hệ thống Logistics chuyên nghiệp cho riêng mình. Làm cho các đơn vị Logistics Việt Nam, cũng như DN TMĐT chưa có nhiều cơ hội thực hiện các hoạt động Logistics lớn, có quy mô. Do đó, vấn đề E-logistics (hậu cần) vẫn đang là bài toán khó cho các DN có ứng dụng TMĐT tại Việt Nam đồng thời nó cũng đang là thách thức lớn nhất của các công ty TMĐT vốn còn non trẻ và chủ yếu phát triển từ các mô hình nhỏ.

    Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài toán đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả. Logistics có thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…logistics còn giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Thói quen tiêu dùng trực tuyến và thanh toán qua mạng đã có những chuyển biến tích cực, nhưng hiện nay “chướng ngại vật” lớn nhất là hệ thống hậu cần (logistics). Cũng như những ngành kinh doanh khác của Việt Nam đó là thách thức của hệ thống logistics là khá lớn. Đối với mô hình kinh doanh thương mại điện tử (e-commerce) lại càng khó khăn vì càng phát triển thì độ phổ rộng của người mua, độ phân tán hàng hoá càng cao và nhỏ lẻ, trong khi mô hình TMĐT đòi hỏi việc giao hàng nhanh chóng, miễn phí và thu tiền tận nơi.

    Ba áp lực lớn từ hệ thống logistics mang lại:

    1. Hệ thống giao hàng: về hệ thống vận chuyển – giao nhận, đa số giao dịch e-commerce là hàng hoá vật lý cần giao nhận trực tiếp. Các doanh nghiệp phải mở rộng địa bàn hoạt động để tiếp cận khách hàng toàn quốc hay quốc tế thì mới phát huy được lợi thế quan trọng của e-commerce: không giới hạn về địa lý và thời gian hoạt động. Nhưng đa số các công ty e-commerce Việt Nam vốn bắt nguồn từ các công ty công nghệ thông tin, không có nhiều kinh nghiệm về mảng logistics. Cho dù có, các công ty e-commerce non trẻ của Việt Nam vẫn chưa tích luỹ đủ tiềm lực tài chính để phát triển hệ thống vận chuyển, kho hàng riêng thực sự chuyên nghiệp, dẫn đến đa số phải dựa vào các công ty vận chuyển thứ ba. Nhưng đa số các công ty này tại Việt Nam chỉ tập trung ở một số tỉnh thành lớn, việc vận chuyển đến các tỉnh xa, dân số ít còn bỏ ngỏ hoặc giao lại cho hệ thống bưu điện quốc gia.
    2. Miễn phí vận chuyển: số ít các hệ thống vận chuyển lớn có khả năng phục vụ nhu cầu này có mức phí rất cao, vượt ngoài tầm của các công ty e-commerce. Trong khi đó, thói quen của khách hàng Việt Nam cũng như yếu tố cạnh tranh trong ngành e-commerce buộc các công ty áp dụng hình thức miễn phí vận chuyển. Xu thế cạnh tranh càng tăng, áp lực này sẽ trở thành tiêu chí đương nhiên khi khách hàng mua hàng từ các sàn e-commerce. Chi phí này sẽ ăn trực tiếp vào lợi nhuận của doanh nghiệp, khách hàng hưởng lợi, tuy nhiên về tổng thể thị trường sẽ làm yếu tính cạnh tranh của ngành e-commerce.
    3. Thu tiền tận nơi: dịch vụ logistics chỉ hiệu quả khi có nhiều đơn hàng để có chi phí thấp, lúc đó nhà cung cấp tự đầu tư hay thương lượng với đối tác đều dễ dàng. Các công ty logistics lớn thậm chí không làm việc với các công ty có lượng giao dịch nhỏ. Đặc trưng của lĩnh vực e-commerce còn là giao hàng và thu tiền tận nơi, vốn không phải là dịch vụ được các công ty vận chuyển “mặn mà” vì độ phức tạp và rủi ro của nó, càng khiến việc chọn lựa đối tác khó khăn.

    Bên cạnh áp lực chi phí cao, các công ty e-commerce còn gặp khó khăn tìm được đối tác đáp ứng yêu cầu về chất lượng và độ phủ, giảm rủi ro về trễ đơn hàng hay thất lạc, thái độ phục vụ, vòng xoay tiền mặt chậm… làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh.

    4.Chờ giải pháp dài hạn: Các công ty e-commerce đang phát triển theo cách “rất Việt Nam”: giao hàng và thu tiền tận nơi (COD) bởi việc thanh toán khó có thể theo cách “trời Tây” với 100% có thể giao dịch trực tuyến. Điều này cũng không mới mẻ, tại thị trường lớn như Trung Quốc thì 50 – 80% giao dịch vẫn là COD. Một công ty có quy mô trung bình hiện đã phải xây dựng đội ngũ giao hàng riêng tại các thành phố lớn và kết hợp với ít nhất ba đơn vị vận chuyển để hàng hoá đến được toàn quốc, hầu hết đều phải mở hệ thống kho để đảm bảo lượng hàng hoá cung ứng. Tuy nhiên, về lâu dài việc có được hệ thống giao nhận, kho vận riêng trên cả nước sẽ ngoài tầm với của đa số công ty e-commerce. Có thể giải pháp là các công ty cùng đầu tư hệ thống kho và giao nhận để tiết giảm chi phí và đáp ứng nhu cầu chuyên biệt. Tuy nhiên điều này sẽ dễ quành lại bài toán “tôi cũng là amateur, tôi không chuyên nghiệp”.

    Ở thị trường lớn, các công ty dẫn đầu như Taobao, Alibaba, 360buy.com… đều đầu tư thiết lập hệ thống riêng. Ví dụ 360buy.com xây trung tâm phân phối khổng lồ ở Thượng Hải có năng lực xử lý đến 100.000 đơn hàng mỗi ngày. Cho đến nay tại Việt Nam, các công ty lớn về internet như FPT, VNG chưa thấy có năng lực thật sự trong mảng e-commerce. Việt Nam đang cần một đầu tàu đủ mạnh về e-commerce để liên kết được thị trường, ở đó các công ty lớn có thể tạo nền tảng và các công ty nhỏ là vệ tinh. Các công ty có thể cạnh tranh nhau nhưng mục tiêu cuối cùng là giảm chi phí để cả thị trường hưởng lợi.

    Thương mại điện tử ở Việt Nam đang phát triển mạnh qua đó ta thấy được Logistics TMĐT là một ngành dịch vụ đầy tiềm năng ở Việt Nam, với tốc độ phát triển trung bình 20%/năm. Đây vừa là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt nam nhưng cũng đồng thời là tạo nên sự hấp dẫn đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO.

    Ở các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều dịch vụ logistics TMĐT nhưng đa phần là DN nhỏ, chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các hãng nước ngoài trong chuỗi hoạt động, như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi. Chính quy mô vốn nhỏ nên logistics TMĐT bị hạn chế khả năng mở rộng và khó có thể chen chân được vào thị trường logistics TMĐT của thế giới. Hơn nữa tầm hoạt động của các DN Việt Nam chỉ trong phạm vi nội địa hoặc sang một vài nước trong khu vực, trong khi các công ty nước ngoài hoạt động cấp độ toàn cầu.

    Đó là chưa nói đến chuỗi logistics hiện đại mà các công ty lớn đang cung cấp cho khách hàng của mình lại có rất nhiều dịch vụ đa dạng như: giao tận nhà, kiểm soát chất lượng hàng hóa, container treo dành cho hàng may mặc, quản lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu đầu cuối cho khách hàng, quét và in mã vạch, theo dõi kiểm hàng thông qua mạng… Trong khi logistics TMĐT ở Việt Nam chỉ có một vài dịch vụ đơn giản.

    Cuối cùng, chi phí logistics đắt đỏ đang là vấn đề lớn của cả nền kinh tế và E-logistics vẫn đang là bài toán khó đối với Thương mại điện tử Việt Nam. Vì thế suy cho cùng giải pháp logistics cho thị trường TMĐT không chỉ đến từ TMĐT, nếu khâu hậu cần của toàn thị trường yếu thì sự phát triển thiếu bền vững. Chỉ có hậu cần thị trường + hậu cần e-commerce (TMĐT) đồng bộ mới tạo nên thành công cho các doanh nghiệp hiện nay

    Qua đó ta thấy được mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp VN cho logistics TMĐT chưa thực sự phát triển trong các doanh nghiệp hiện nay. Đồng thời để đạt được hiệu quả cao và tạo dựng uy tín của mình. Các DN cần đầu tư nhiều hơn nữa cho lĩnh vực TMĐT của mình. Đặc biệt là phải cung cấp thông tin về giá cả, tình trạng sản phẩm một cách trung thực nhất. E-logistics ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý mua hàng của người tiêu dùng. Muốn thay đổi thói quen mua sắm của người dân, tạo điều kiện cho TMĐT Việt Nam thực sự cất cánh, thì ngoài việc hoàn thiện môi trường chính sách từ phía nhà nước, còn phụ thuộc vào ý thức của mỗi DN khi tham gia vào TMĐT.

    2, Một số ý kiến nhằm tăng tính chuyên nghiệp, mức độ sẵn sàng cho Logistics Việt Nam

    • Giải pháp về mặt thể chế Nhà nước:

    Thể chế, chính sách Nhà nước với ngành logistics chưa rõ ràng, không đồng bộ, bất cập, chưa tạo điều kiện hỗ trợ ngành logistics non trẻ phát triển. Chi phí kinh doanh không chính thức cao.

    Cần có “bàn tay hữu hình” của Nhà nước, thành lập Ủy ban quốc gia Logistics trong giai đoạn hiện nay để gắn kết, thống nhất quản lý, tổ chức thực hiện những chương trình trọng điểm và phối hợp các ngành hiệu quả hơn.

    Tái cấu trúc logistics, khuyến khích áp dụng rộng rãi quản trị chuỗi cung ứng, quản trị logisticstrong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần, khuyến khích việc thuê ngoài (outsourcing)logistics, điều chỉnh và bổ sung luật, chính sách nhằm tạo điều kiện phát triển hoạt động dịch vụlogistics cũng như các doanh nghiệp 3PL trong nước; gỡ bỏ các hạn chế, cản trở để các công ty 3PL, 4PL nước ngoài hoạt động thuận lợi hơn; có chính sách hỗ trợ đào tạo các chuyên viênlogistics; triển khai các hệ thống EDI và hệ thống giao dịch không giấy tờ tại các điểm hải quan, cửa khẩu, cải cách hành chánh và minh bạch trong các dịch vụ công…

    Ngoài ra, việc phát triển hệ thống đường xá,tạo điều kiện cho các xe tải nặng của các đơn vị Logistics hoạt động trong nội địa hoạt động một cách dễ dàng hơn. Chẳng hạn như cho xe tải lớn hoạt động ở một số tuyến đường quan trọng, để xe không phải đi vòng vèo, mất thời gian và chi phí.

    • Giải pháp về phía các hiệp hội ngành:

    Tạo mối gắn kết giữa hiệp hội và thành viên, hỗ trợ tư vấn thiết thực và giúp đỡ doanh nghiệp nâng cao tính chuyên nghiệp, đạo đức trong cạnh tranh.

    Khuyến khích sự cộng tác giữa các thành viên trên cơ sở sử dụng lợi thế từng doanh nghiệp (cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống thông tin…) để thực hiện dịch vụ trọn gói (one stop shop), mở rộng tầm hoạt động trong nước và quốc tế.

    Có chương trình đẩy mạnh quá trình liên kết, xúc tiến phát triển thị trường mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) trong các doanh nghiệp dịch vụ logistics.

    Hiệp hội cần làm tốt vai trò cầu nối với Nhà nước, quan hệ đối ngoại để hội nhập khu vực và quốc tế; đồng thời phải là nơi nghiên cứu phát triển (R&D), quản lý các chuẩn mực, tài liệu, mẫu biểu, thống kê, tiêu chí đánh giá… của ngành.

    • Giải pháp về đào tạo, nguồn nhân lực:

    Quá trình nhận thức, xây dựng kỹ năng quản trị, kỹ năng thực hành logistics cần thời gian và công tác vận động, hướng nghiệp. Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, các trường, để đẩy mạnh công tác đào tạo với nhiều hình thức linh hoạt, cung cấp nhân lực đáp ứng cho ngành. Các hiệp hội ngành cần tranh thủ tài trợ, hợp tác đào tạo từ nước ngoài.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CỦA CỦA VIỆT NAM

    VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CỦA CỦA VIỆT NAM

    VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CỦA CỦA VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/V%C3%80I-N%C3%89T-V%E1%BB%80-TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-HO%E1%BA%A0T-%C4%90%E1%BB%98NG-LOGISTICS-TRONG-C%C3%81C-DOANH-NGHI%E1%BB%86P-S%E1%BA%A2N-XU%E1%BA%A4T-C%E1%BB%A6A-C%E1%BB%A6A-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CỦA CỦA VIỆT NAM

    VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CỦA VIỆT NAM

    ThS. NGUYỄN THỊ BÌNH

    Viện Quy hoạch & Quản lý GTVT

    Trường Đại học Giao thông Vận tải

    Tóm tắt: Bài báo trình bày một số kết quả khảo sát chủ yếu về hiện trạng hoạt động logistics trong doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam thông qua một số chỉ tiêu chính như tổng chi phi logistics, thời gian dự trữ hàng hóa trong doanh nghiệp. Thông qua việc phân tích kết quả khảo sát này sẽ chỉ ra một số bất cập chính về hoạt động logistics trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

    Summary: This paper briefly reports about some survey results on logistics sector in manùacturers of Vietnam in term of total logisitcs cost, inventory term. By means of anlysis survey result, this paper will point out some inadequate issues on logistics in present Vietnamese manufacturers.

    I. GIỚI THIỆU

    Khái niệm Logistics bắt nguồn từ nhu cầu quân sự trong việc cung cấp cho chính họ trong quá trình di chuyển của các đoàn quân từ căn cứ ra tiền tuyến. Ngày nay, sự phát triển của Logisitcs không chỉ giới hạn ở lĩnh vực quân sự mà còn mở rộng ra nhiều ngành và lĩnh vực khác trong xã hội. Về bản chất Logistics được hiểu quá trình tối ưu hóa về dự trữ, chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (Logistics and Supply Chain Management, 2001). Logistics thể hiện sự hợp nhất của thông tin liên lạc, vận tải, tồn kho, lưu kho, giao nhận nguyên vật liệu, bao bì đóng gói. Trách nhiệm vận hành của hoạt động logistics là việc tái định vị (theo mục tiêu địa lý) của nguyên vật liệu thô, của công việc trong toàn quá trình và tồn kho theo yêu cầu chi phí tối thiểu có thể. Đối với doanh nghiệp sản xuất, hoạt động Logsitics giúp doanh nghiệp giải quyết cả đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp một cách có hiệu quả. Nhờ có thể tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ …. Logistics giúp giảm chi phi, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh

    nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động Logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại do có những quyết định sai lầm trong hoạt động Logistics.

    • Việt Nam, hoạt động Logistics bắt đầu được quan tâm và phát triển trong một vài năm gần đây. Tuy nhiên thực tế đã chỉ ra rằng hoạt động Logistics của Việt Nam còn rất manh mún, phân tán và kém hiệu quả. Năm 2008, ngân hàng thế giới đã xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động

    Logistics, trong đó Việt Nam xếp thứ 53 trên thế giới và thứ 5 của khu vực ASEAN. Sự kém phát triển trong hoạt động Logistics hiện nay của Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Để làm rõ các nguyên nhân này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra thực trạng hoạt động Logistics của Việt Nam hiện nay với mục tiêu cụ thể như sau:

    • Điều tra và mô tả lại thực trạng hoạt động logistics trong các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam theo các tiêu chí: Chi phi trung bình của hoạt động Logistics của doanh nghiệp, thời gian dự trữ trung bình đối với nguyên vật liệu đầu vào và sản phẩm chính của doanh nghiệp.
    • Phân tích một số nguyên nhân chính của thực trạng phát triển hoạt động Logistics trong các doanh nghiệp sản xuất hiện này.

    II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    2.1. Các chỉ tiêu nghiên cứu

    • Tổng chi phí hoạt động Logistics: Được hình thành từ chí phi từ 3 hoạt động chính của doanh nghiệp chi phí Logistics đầu vào (inbound logistics), chi phí Logistics đầu ra (outboud logistics), chi phi kho bãi (warehousing).

    Trong đó, chi phi Logistics đầu vào là chi phí phát sinh trong quá trình dịch chuyển dòng nguyên vật liệu, bán thành phẩm, … từ nhà cung cấp đến doanh nghiệp.

    Chi phi Logistics đầu ra là chi phi phát sinh trong quá dịch chuyển hàng hóa, thành phẩm

    • từ doanh nghiệp đến khách hàng, người tiêu dùng.
    • Thời gian dự trữ trung bình đối với nguyên vật liệu đầu vào và sản phẩm chính của doanh nghiệp: Thời gian này được hiểu là khoảng thời gian tính từ lúc doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu hàng hóa, nguyên vật liệu vào kho cho đến khi đem vào sử dụng trong quá trình sản xuất hoặc vận chuyển đến tay người tiêu dùng.

    2.2. Phương pháp thu thập số liệu

    • Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập số liệu bằng phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn gián tiếp (gửi bảng hỏi đến cho doanh nghiệp trả lời).
    • Nội dung chính của bảng hỏi tập trung chính vào các vấn đề liên quan đến tổng chi phí Logistics, thời gian dự trữ nguyên vật liệu đầu vào, sản phẩm chính của doanh nghiệp. Một số nội dung chính của bảng hỏi được thể hiện cụ thể như sau (xem trang sau).

    2.3. Phương pháp chọn mẫu

    Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp sản xuất trong tất cả các lĩnh vực ngành nghề ở khu vực miền Bắc và miền Nam. Tiêu chí nhóm nghiên cứu tiến hành chọn mẫu là doanh nghiệp phải có hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào, tiến hành sản xuất và sau đó phân phối sản phẩm ra thị trường. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ không thuộc đối tượng nghiên cứu.

    Số lượng điều tra cụ thể được thể hiện trong bảng 1.

    Bảng 1. Số lượng các doanh nghiệp tiến hành điều tra

    STT Vị trị Điều tra trực tiếp Điều tra gián tiếp
           
    1 Miền Bắc 10 4
    2 Miền Nam 10 4
           
      Tổng 20 8
           

    Phiếu khảo sát tình hình Logistics của các doanh nghiệp sản xuất

    Ngày……….tháng…….năm 2008

    Tên doanh nghiệp:……………………………………………………………………………………

    Địa chỉ :…………………………………………………………………………………………………..

    Người đại diện trả lời:………………………………………Chức vụ :….……………………………

    Điện thoại :……………………Fax :………………………..email :……………………………….

    Thông tin về tổ chức và doanh nghiệp

    Loại hình: † Công ty nhà nước (cổ phần hóa)  † Công ty nhà nước (không cổ phần hóa) † Tư nhân

    Năm thành lập: ________

    Quý công ty sản xuất loại mặt hàng nào (chỉ rõ, ví dụ: Hàng điện tử, may mặc, đồ hộp…)?

    • ________________________________ (2) ________________________________
    • ________________________________ (4) ________________________________
    Tổng doanh số sản phẩm bán ra hàng năm của Quý Công ty là : ____________ (VND)  
    Trong số đó, tỷ trọng giá trị đầu vào và nhân công là (tổng 2 phần là 100%):    
    Nguyên vật liệu & đầu vào khác: † 0~20% † 20~40% † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
    Lao động, thiết bị và công nghệ: † 0~20% † 20~40% † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
    Tổng quan về chi phí Logistics              
    Dựa vào ước tính của Quý vị, tỷ trọng chi phí logistics trong doanh số sản phẩm bán ra?  
    † 0~5% † 10~15% † 20~25% † 30~35% † 40~50%  
    † 5~10% † 15~20% † 25~30% † 35~40% † > 50%  
    Trong tổng số chi phí Logistic(tổng số là 100%) – tỉ trọng chi phí logistics đầu vào (inbound log.), logistics đầu ra (outbound
    log) và kho bãi là bao nhiêu?              
    Chi phí Inbound Logistics: † 0~20% † 20~40%   † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
    Chi phí Outbound Logistics: † 0~20% † 20~40% † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
    Chi phí về kho bãi: † 0~20% † 20~40% † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
    Với inbound logistics, đề nghị chỉ xem xét quá trình và chi phí CIF và outbound logistics đề nghị chỉ xem xét quá trình và chi
    phí FOB (tức là không xem xét chi phí vận tải và phân phối bên ngoài lãnh thổ Việt Nam)  
    Tổng giá trị dự trữ (cả tồn kho) vào cuối năm 2007 của Công ty là khoảng bao nhiêu : ____________ VND  (theo giá hiện tại)
    Thời gian dự trữ đối với những mặt hàng chính của công ty là:          
    Nguyên vật liệu: † ≤ 3 ngày † 4-7 ngày † 1-2 tuần † 2-4 tuần † 1~3 tháng † 3~6 tháng † >6 tháng
    Sản phẩm: † ≤ 3 ngày † 4-7 ngày † 1-2 tuần † 2-4 tuần † 1~3 tháng † 3~6 tháng † >6 tháng

    Lưu lượng hàng hóa trong inbound logistics của Quý Công ty __________ (tấn) † hàng tháng , hay † hàng năm

    Xin hãy cho biết thông tin theo các chỉ báo dưới đây, đối với các dịch vụ vận tải:

    Điểm   xuất Tỷ Tần suất giao Cách thức giao nhận Thời gian đặt hàng (từ lúc Tỉ lệ giữa – logistics tự
    phát/ địa chỉ   trọng nhận (số lần giao tại kho/nhà máy     đặt hàng đến khi thực hiện và logistics
    nhà cung   (%) hàng mỗi  tháng) (20’ container, 40’ giao/nhận) – đối với hàng thuê  ngoài  (tổng  số=
    cấp       cho hàng hóa container,  xe tải  10 hóa chính (bao nhiêu 100%) – chỉ tính phần
            chính     tấn, xe tải 2 tấn) cho ngày hoặc giờ)   nội địa
                  những mặt hàng chính            
    Nước ngoài                             Thuê: ____—- (%)
    (Nhập khẩu)                             Tự làm: ____ (%)
    Miền Bắc                             Thuê: ____—- (%)
                                    Tự làm: ____ (%)
    Miền Trung                             Thuê: ____—- (%)
                                    Tự làm: ____ (%)
    Miền Nam                             Thuê: ____—- (%)
                                    Tự làm ____ -(%)
    Đối với những vật liệu nh ập khẩu, xin hãy chỉ rõ tỉ lệ của các nhà cung cấp theo khu vực (tổng số = 100%)
      Châu Á       † không † 0~20% † 20~40% † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
      Bắc Mỹ và Nam Mỹ   † không † 0~20% † 20~40% † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
      Châu Âu     † không † 0~20% † 20~40% † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
      Trung Đông và Châu Phi † không † 0~20% † 20~40% † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
      Australia     † không † 0~20%   † 20~40%   † 40~60% † 60~80% † 80%~100%
      Khác, xin chỉ rõ ____________ † không † 0~20%   † 20~40%   † 40~60% † 60~80% † 80%~100%

    III. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

    Về tổng quan chi phí logistics:

    Kết quả thu được từ các doanh nghiệp sản xuất ở các khu công nghiệp của khu vực miền

    Bắc và miền Nam là:

    • Số lượng doanh nghiệp có mức chi phí logistics chiếm 0-5% tổng doanh số bán ra là 42%.
    • Số luợng doanh nghiệp có tổng chi phí logistics chiếm trên 25% tổng doanh số bán ra là

    50%

    • Nếu tính trung bình tỷ lệ chi phí logistics trong tổng doanh số bán ra của các doanh nghiệp được điều tra thì kết quả là khoảng trên 20%.

    Với kết quả này chúng ta thấy, chi phí logistics của các doanh nghiệp Việt Nam còn khá cao so với nhiều nước khác trong khu vực và thế giới, cụ thể như ở Nhật chi phí trung bình là 5% (2006), Mỹ 8-9% (2006), Indonesia 14% (2006). Chi phí logistics cao đã làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới.

    Hình 1. Tỷ trọng chi phí logistics trong tổng doanh thu của doanh nghiệp

    Trong tổng chi phí logistics, tỷ trong chi phí logstics đầu vào (inbound logistics cost), chi phí logistics đầu ra (outbound logistics cost), chi phí kho bãi cũng tương đối khác nhau (warehousing cost). Cụ thể:

    Hình 2. Tỷ trọng chi phí logstics đầu vào

    trong tổng chi phí logistics

    Hình 3. Tỷ trọng chi phí logstics đầu ra

    trong tổng chi phí logistics

     

    Hình 4. Tỷ trọng chi phí kho bãi trong tổng chi phí logistics

    Theo kết quả điều tra, chi phí logistics đầu ra chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí logistics (chiếm 20 – 40%). Chi phí này cao hơn rất nhiều so với chi phí logistics đầu vào (0 – 20%). Chi phí kho bãi chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí logistics.

    Hoạt động logistics đầu vào

    Kết quả điều tra cũng đã chỉ ra rằng hoạt động logistics đầu vào giữa hai nhóm doanh nghiệp miền Bắc và miền Nam có sự khác nhau nhất định. Cụ thể:

    Tỷ trọng thu mua

    Hình 5. Tỷ trọng thu mua các yếu tố đầu vào

    cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp miền Bắc

    Hình 6. Tỷ trọng thu mua các yếu tố đầu vào

    cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp miền Nam

     

    Theo kết quả điều tra, chúng ta có thể nhận thấy:

    • Thu mua nội vùng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động logistics đầu vào đối với các doanh nghiệp phía Nam và phía Bắc. Tuy nhiên, hoạt động thu mua nội vùng ở các doanh nghiệp Nam phát triển hơn ở phía Bắc.
    • Các doanh nghiệp phía Bắc phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung cấp đầu vào từ nước ngoài (nhập khẩu). Trong khi sự phụ này đối với các doanh nghiệp phía Nam là ở mức độ trung bình.

    Thời gian dữ trữ hàng hóa

    Kết quả điều tra thời gian dự trữ đối với các mặt hàng chính của các doanh nghiệp được thể hiện ở biểu đồ dưới đây:

    Hình 7. Thời gian dự trữ trung bình

    đối với nguyên vật liệu đầu vào chính của doanh nghiệp

    Hình 8. Thời gian dự trữ trung bình

    đối với sản phẩm đầu ra chính của doanh nghiệp

     

    Theo kết quả khảo sát thì 25% số doanh nghiệp được phỏng vấn có thời gian dự trữ đối với cả nguyên vật liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra là hơn 1 tháng. Trong đó, số lượng doanh nghiệp có thời gian dự trữ 1-3 tháng là chiếm chủ yếu.

    Rõ ràng, thời gian dự trữ đối với các mặt hàng chính trong các doanh nghiệp hiện nay còn khá cao. Thời gian dự trữ dài đã làm tăng thêm chi phí logistics, giảm vòng quay của vốn, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay của Việt Nam.

    IV. KẾT LUẬN

    Như vậy, qua khảo sát và nghiên cứu 28 doanh nghiệp sản xuất, có thể rút ra một vài nét về thực trạng hoạt động logistics trong các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam hiện nay:

    • Tỷ trọng chi phí logistics trong tổng doanh thu của doanh nghiệp (khoảng 20-25%) còn khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới.
    • Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số nét khác biệt về hoạt động logistics giữa các doanh nghiệp miền Bắc và miền Nam. Các doanh nghiệp phía Bắc phụ thuộc khá lớn vào nguồn cung cấp đầu vào từ nước ngoài (nhập khẩu). Trong khi đó, thu mua nội vùng lại rất phát triển ở khu vực phía Nam.
    • Thời gian dự trữ đối với các sản phẩm chính của doanh nghiệp là vào khoảng 1-3 tháng. Thời gian dự trữ dài cũng là nhân tố quan trọng góp phần làm gia tăng tổng chi phí logistics của doanh nghiệp.

    Qua nghiên cứu này, có thể khẳng định rằng sự phát triển của hoạt động logistics hiện nay trong các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Điều này đã lý giải phần nào tính cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp. Với số mẫu khảo sát là 28 doanh nghiệp ở khu vực miền Bắc và khu vực miền Nam, kết quả khảo sát này chưa thể phản ánh đầy đủ và chính xác nhất về thực trạng phát triển hoạt động logistics của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên các kết quả thu thập được sẽ là tiền đề cho các bước nghiên cứu tiếp theo nhóm nghiên cứu nhằm tìm kiếm các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này cũng là một tài liệu tham khảo đáng tin cậy và hữu ích cho các nhà quản lý và các doanh nghiệp.

    Tài liệu tham khảo

    • Nguyễn Thị Bình (2008), Khảo sát hiện trạng hoạt động logistics ở Việt Nam,Trung tâm tư vấn phát triển GTVT, Trường Đại học GTVT.
    • Douga M. Lambert, Jame R.Stock, Lisa M.Ellram (2000) Fundamental of Logistics Management, Mc Graw – Hill, Singapore.
    • Đoàn Thị Hồng Vân (2002), Quản trị Logistics, Nhà xuất bản thống kê, Việt Nam♦

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/L%C3%9D-LU%E1%BA%ACN-HI%E1%BB%86N-%C4%90%E1%BA%A0I-V%E1%BB%80-LOGISTIC-V%C3%80-CHU%E1%BB%96I-CUNG-%E1%BB%A8NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    LÝ LUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LOGISTIC VÀ CHUỖI CUNG ỨNG

    Kể từ khi được phát hiện vào những năm 1980 đến nay, việc phát triển rộng rãi các hoạt động kinh doanh logistics và việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về logistics đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm.

    Cho đến nay, người ta đã có những cách nhìn nhận toàn diện hơn, sâu sắc hơn và nhất là logic hơn về lý luận, cơ sở khoa học của logistics, đã xuất hiện những nghiên cứu nhằm xây dựng những cơ sở lý thuyết của logistics như một môn khoa học (xem Introduction to Logistics Engineering – nhiều tác giả, London, New York 2008).

    Ngày nay, người ta nhận thấy vai trò của logistics rất lớn, không chỉ trong kinh tế mà còn đối với các tổ chức, trong đó có các công ty, do vậy đòi hỏi phải có cách nhìn nhận tổng quát hơn về logistics.

    Trong thế kỉ XXI, trên thế giới, logistics được nhìn nhận như là một phần của công tác quản trị, và có bốn (4) phân ngành sau:

    Logistics trong kinh doanh (business logistics– thường gọi chung là logistics)

    Logistics trong quân sự (military logistics): hoạch định, hợp nhất mọi phương diện của sự hỗ trợ cho khả năng tác chiến của quân đội (trong việc triển khai quân hoặc đóng quân) và các thiết bị quân sự đảm bảo sẵn sàng, tin cậy và hiệu quả. Nhiều tài liệu nêu hoạt động của đường mòn Hồ Chí Minh như là một điển hình của công tác logistics trong cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước của Việt Nam , mà các tài liệu đó gọi là chiến tranh Việt nam ( xem Introduction to Logistics Engineering -sđd).

    Logistics sự kiện (event logistics): một mạng gồm các hoạt động, phương tiện và con người cần thiết để tổ chức, lập kế hoạch và triển khai các nguồn lực trên cho một sự kiện diễn ra và kết thúc một cách hiệu quả.

    Logistics dịch vụ (service logistics) : cung cấp, lên kế hoạch và quản trị các phương tiện/vốn liếng, nhân lực và vật tư để hỗ trợ hoặc đảm bảo cho một tác nghiệp dịch vụ hoặc kinh doanh.

    (xem Langley/Coyle/Gibson/Novack/Bardi – Managing Supply Chains – A Logistics Approach xuất bản lần thứ 8, năm 2008, SOUTH-WESTERN, CENGAGE Learning, giáo trình dùng cho sinh viên tại Úc, Braxin, Nhật, Hàn quốc, Mexico, Singapore, Tây ban nha, Liên hiệp Anh, và Mị)

    Trong bài này chúng tôi chỉ xem xét logistics kinh doanh, thường gọi là logistics.

    Logistics và các hoạt động logistics trong kinh doanh

    Nghiên cứu về logistics là nghiên cứu về việc quản trị các dòng hàng hóa, vật tư, thiết bị, sản phẩm, tài chính… trong điều kiện cụ thể. Để có thể nắm bắt được nhu cầu, cũng như cách thức giành được thị phần trong thị trường cung ứng dịch vụ logistics, xác định khả năng sinh lời, chúng ta cần xem xét những quan niệm về logistics hiện đại ra sao.

    Logistics là gì? Nếu như trước đó, người ta chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu tổ chức vận chuyển và phân phối sản phẩm (outbound) thì nay người ta phải kết hợp đồng thời nghiên cứu luôn cả dòng vật tư, nguyên vật liệu trang biết bị… cho đầu vào (inbound). Chính sự kết hợp này trong một chương trình quản trị đã tạo ra logistics. Chúng ta xem hình vẽ sau:

    Hình vẽ trên mô tả logistics trong một công ty.

    Nếu như trước 1980 người ta chưa kết hợp giữa hai phần inbound và out bound thì khi hợp nhất vào một chương trình quản trị chúng ta có một hệ thống logistics.

    Như vậy, bản chất của logistics là quản lý các dòng vật tư (đầu vào) và sản phẩm (đầu ra) của một đơn vị sản xuất kinh doanh. Ngoài hai dòng logistics trên, có thể còn tồn tại một dòng thứ ba là dòng tái sử dụng. Dòng tái sử dụng này thường là vật chứa hàng dùng lại (vỏ chai bia..), hoặc các công cụ mang hàng (palet, container..).

    Một điều hết sức lưu ý là trong một chuỗi logistics (như trong hình vẽ trên) chúng ta thấy vận tải tham gia vào mọi dòng, nhưng vận tải là đối tác của logistics, chứ không phải là một thành phần của logistics, vì khái niệm vận tải trong một chuỗi hoạt động logistics là

    cụ thể, chứ không phải là vận tải chung chung. Trong chiến lược phát triển logistics người ta hết sức quan tâm tới việc chọn lựa đối tác vận chuyển.

    Hiện nay, vẫn tồn tại nhiều định nghĩa về logistics, chúng tôi chỉ giới thiệu một định nghĩa tổng quát về logistics:

    Logistics là một quá trình tiên lượng nhu cầu và yêu cầu cuả khách hàng; lo liệu vốn, vật tư, nhân lực, công nghệ và thông tin cần thiết để có thể làm theo nhu cầu và yêu cầu của khách hàng; tối ưu hóa mạng lưới hàng hóa , dịch vụ làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng; và tận dụng mạng lưới này làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng đúng hẹn.

    Định nghĩa tổng quát này có thể dùng chung cho cả 4 nhóm logistics nói trên, chỉ khác đối tượng phục vụ.

    Tóm tại, nếu như trước kia người ta chỉ quan tâm đến việc lưu thông phân phối sản phẩm hàng hóa, thì logistics đề cập cả việc sản xuất hình thành hàng hóa qua việc cung ứng vật tư kĩ thuật, lao động, thông tin,… để làm ra sản phẩm hàng hóa đó, và nhất là điểm bắt đầu và kết thúc của quá trình logistics là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.

    Ngày nay người ta công nhận logistics là ngành dịch vụ tạo ra giá trị gia tăng, nhiều nghiên cứu xem xét cơ sở tạo ra giá trị gia tăng của nó.

    Chúng ta biết rằng, giá trị của sản phẩm do các yếu tố sau tạo nên: việc hình thành (làm ra) sản phẩm, số lượng tiền vốn bỏ vào sản phẩm và tiện ích địa điểm, tiện ích thời gian. Như vậy hiện nay phần giá trị của hàng hóa (thông qua giá cả) có 2 yếu tố là thời gian và địa điểm trao đổi (thực hiện hàng hóa) được xem xét.

    Logistics đóng góp phần giá trị gia tăng của mình vào sản phẩm thông qua các yếu tố hình thành nên sản phẩm, tiện ích địa điểm và thời gian.

    Việc tạo ra tiện ích địa điểm và thời gian của sản phẩm là khá rõ ràng, cần xem xét thêm logistics đã tham gia vào việc hình thành sản phẩm (làm ra sản phẩm) của logistics như sau:

    Hiện nay, không phải mọi sản phẩm đều được làm ra toàn bộ tại một nhà máy, mà sản phẩm được hình thành từ nhiều nhà máy và nó được hoàn thành tại một nơi cuối cùng mà thôi. Thí dụ, một máy tính của hãng Dell có thể được lắp ráp tại Malaysia trên cơ sở nhập rất nhiều bộ phận, thí dụ màn hình (monitor), bàn phím từ Hongkong, phần cứng từ Đài Loan.., sau đó mới được chuyển về Mĩ để hoàn thiện và cài đặt phần mềm, hoàn thành sản phẩm giao cho khách hàng. Quá trình sản xuất như vậy đòi hỏi có sự tham gia của logistics.

    Việc quản lý logistics là hết sức cần thiết đối với các nhà sản xuất, cung ứng, thậm chí trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, thế giới đã trở nên phẳng hơn, nó trở thành vấn đề tồn tại hay không không tồn tại đối với các công ty. Các hoạt động logistics đưa lại nhiều dịch vụ cho các nhà cung ứng dịch vụ logistics. Đây là điều mà những người làm vận tải và các dịch vụ liên quan hết sức quan tâm.

    Yêu cầu căn bản của logistics là tính toàn hệ thống, hay còn thể hiện qua quan niệm về giá thành toàn bộ. Nghĩa là toàn bộ các hoạt động logistics phải được gắn kết chặt chẽ thành một tổng thể, với giá thành tổng cho toàn tổng thể đó, chứ không xét riêng rẽ, độc lập. Điều này hết sức quan trọng vì thông thường có nhiều đơn vị khác nhau tham gia vào từng hoạt động của chuỗi logistics. Do vậy, khi xem xét riêng từng hoạt động, chúng ta cần lưu ý tính hệ thống này. Trong thực tế, chúng ta cung ứng một dịch vụ nào đó, thí dụ cho thuê kho bảo quản hàng hóa cụ thể của một chuỗi cung ứng (logistics) nào đó, chúng ta sẽ phải chấp nhận những điều kiện của chuỗi (hệ thống) đó.

    Các hoạt động chính mà logistics phải quản trị bao gồm: Dịch vụ khách hàng/Dự báo nhu cầu/Quản lý dự trữ /Liên lạc logistics/Mua sắm vật tư/Xử lý đơn hàng/Đóng gói/Dịch vụ hậu mãi (bảo hành, cung cấp phụ tùng..)/Lựa chọn kho/Lưu kho bãi, bảo quản hàng

    hóa/Quản lý vận tải và theo dõi hành trình hàng hóa vật tư…

    Ngoài ra, một số tài liệu còn giới thiệu thêm một số công việc như: Tìm kiếm các nhà cung ứng và vật tư quan trọng cho dài hạn (procurement), logistics hàng trả lại và phế liệu.. (reverse logistics).. (xem Jame R. Stock & Douglas M. Lambert – Strategic Logistics Management, Nxb McGraw Hill International Edition, tái bản lần thứ 4, 2001)

    Chuỗi cung ứng

    Khái niệm về chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX, nghĩa là có trước khi bắt đầu xuất hiện khái niệm logistics (business logistics). Khi đó, chuỗi cung ứng là đơn lẻ, nhưng khi người ta kết hợp cả việc cung ứng vật tư, kĩ thuật, nguyên vật liệu.. với việc phân phối sản phẩm, việc xây dựng các chuỗi cung ứng mang một bộ mặt khác, nó là một phần không thể thiếu được khi nghiên cứu, áp dụng logistics.

    Chuỗi cung ứng có thể hình dung như một đường ống hoặc một cái máng dùng cho dòng chảy của sản phẩm/vật tư, dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung ứng qua nhiều tổ chức, công ty trung gian cho đến tận người tiêu dùng.

    Như vậy một chuỗi cung ứng sẽ bao gồm các đơn vị tham gia với những dịch vụ logistics cụ thể.

    Khi logistics ra đời và phát triển ở nhiều công ty – mà dạng đơn giản nhất của logistics là sự sát nhập cung ứng vật tư (inbound logistics) vào phân phối sản phẩm (outbound logistics), cùng với quan điểm giá thành tổng thể, quan điểm chuỗi giá trị cũng được đưa vào xem xét. Quan niệm này đặc biệt quan trọng trong quản trị logistics.

    Những năm 90 của thế kỉ XX, với sự phát triển của logistics, các chuỗi cung ứng hiện đại hình thành và phát triển mạnh ở nhiều công ty.

    Một chuỗi cung ứng hợp nhất hiện nay có thể mô tả theo như hình vẽ dưới đây.

    Hình vẽ – chuỗi cung ứng hợp nhất.

    Theo hình vẽ trên, một chuỗi cung ứng hợp nhất nối liền từ người cung cấp đến người bán lẻ-người tiêu dùng thông qua một loạt các đơn vị liên quan như nhà phân phối, người sản xuất (nhà máy), người bán buôn, nhằm quản trị ba dòng là: sản phẩm dịch vụ (hàng hóa lưu thông), thông tin liên quan và cả về mặt tài chính.

    Hiện nay, việc thiết kế và áp dụng các chuỗi cung ứng cụ thể là những đối tượng của nghiên cứu và ứng dụng. Trong việc thiết kế chuỗi cung ứng, ngoài việc thiết lập lộ trình cụ thể của hàng hóa dịch vụ cần cung ứng, người ta phải thiết lập những mối liên hệ chi tiết giữa các đơn vị tham gia vào chuỗi để việc cung ứng phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, trong đó việc giao đúng hẹn (in time) là hết sức quan trọng.

    Việc tính toán, xác định chi phí toàn bộ cho sản phẩm qua chuỗi cũng là những vấn đề mấu chốt của quản trị chuỗi, vì lợi ích mà logistics đem lại là nhờ một phần vào việc này. Để làm được những việc trên cần phải theo dõi và quản lý thông tin trên toàn chuỗi một cách hệ thống.

    Đo lường kết quả thực hiện và phân tích tài chính của chuỗi cung ứng là những việc làm hết sức quan trọng trong quản trị chuỗi, và lập chiến lược, kế hoạch của chuỗi.

    Người ta có thể tiến hành đo lường công việc của chuỗi cung ứng thông qua những chỉ tiêu thuộc 4 nhóm sau: thời gian, chất lượng, giá thành và bổ trợ khác. Có thể chi tiết như sau:

    Thời gian: Giao- nhận hàng đúng hẹn (có thể tính bằng %)/Thời gian xử lý một đơn hàng (quay vòng)/Sự biến động thời gian xử lý một đơn hang/Thời gian đáp ứng/Thời gian quay vòng theo dự kiến- kế hoạch.

    Chất lượng: Sự thỏa mãn hoàn toàn của khách hang/Tác nghiệp chính xác/Hoàn thành đơn hang/Làm đúng với lịch trình.

    Giá thành: Quay vòng dự trữ thành phẩm/Thanh toán chậm/Chi phí phục vụ/Thời gian chu kì xuất tiền-thu tiền (liên quan đến dòng tiền – cash flow- của chuỗi)/Tổng chi phí giao hàng /Chi phí khác.

    Chỉ tiêu khác-bổ trợ:Tiêu chuẩn loại bỏ đơn hàng/Khả năng thông tin.

    Trên đây là một số tiêu chí được Hiệp hội quản trị chuỗi cung ứng Mỹ chấp nhận

    Hiện nay người ta đang đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề thuộc các lĩnh vực lớn là:

    Về tài chính, người ta cũng dựa vào nguyên lý toàn hệ thống – giá thành toàn bộ của logistics để tính toán và phân tích. Tiêu chí để có thể ra quyết định cho chuỗi cung ứng về mặt tài chính là dựa trên chỉ tiêu hoàn vốn. Lượng hoàn vốn được tính bằng số vốn bỏ ra cộng với lãi phát sinh. Tỉ suất lợi nhuận tính được sẽ cho thấy quyết định làm được hay không. Mặt khác, khi đánh giá hoạt động của chuỗi, người ta cũng căn cứ theo những tiêu chí này. Đồng thời, người ta cũng phân tích ảnh hưởng của chuỗi cung ứng đối với doanh số bán hàng, sự cân đối tài chính (qua bảng cân đối – balance sheet),.. và xây dựng các mô hình lợi nhuận chiến lược của chuỗi cung ứng của các công ty.

    Xác định hệ thống tốt nhất, hạn chế tối đa số lỗi có thể xảy ra trong quá trình vận hành hệ thống logistics và chuỗi cung ứng, tức là xây dựng hệ thống tối ưu, đồng thời nghiên cứu thiết kế mạng lưới (địa điểm cung ứng, kho hàng, đối tác vận tải..) tốt nhất.

    Các vấn đề liên quan đến công nghệ logistics, chuỗi cung ứng. Đó là các vấn đề quản trị yêu cầu và dịch vụ khách hàng, quản trị vận tải với tư cách là đối tác, các quyết định về dự trữ hàng hóa, vật tư, lưu kho- bảo quản hàng hóa,…

    Việc áp dụng các phương pháp toán vào nghiên cứu và áp dụng đã nâng cao tính khoa học của ngành logistics, đã có những kết quả như việc xác định lộ trình (đường đi) tối ưu, xác định dự trữ tối ưu, phương pháp six-sigma áp dụng trong logistics…

    Trên đây là một số vấn đề cơ bản được giới thiệu một cách khái quát hy vọng có thể giúp bạn đọc có thêm những thông tin tổng quát, và xu hướng nghiên cứu và giảng dạy logistics.

    Theo Giaonhanvantai.vn


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]