Category: Thương Mại – Marketing

  • Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-Vi%E1%BB%87t-Nam-d%C6%B0%E1%BB%9Bi-g%C3%B3c-%C4%91%E1%BB%99-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Lời mở đầu

    Đầu tư trực tiếp có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tất cả các nước trên thế giới nói chung và sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Nhận thức được tầm quan trong của nguồn vốn này hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giớ đều mở cửa thu hút nguồn vốn FDI, nguồn vốn ODA. Tuy nhiên đây lại phụ thuộc vào chính sách phát triển và khả năng phát triển của mỗi nước. Đối với Việt Nam chúng ta cũng vậy, để hoàn thành sự nghiệp Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa của Đảng và nhà nước, nước ta đã chủ trương thực hiện chính sách mở cửa thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài với nhiều hình thức. Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng đã khẳng định vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. thu hút đầu tư nước ngoài là một trong những chủ trương hàng đầu, góp phần khai thác nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế. tạo nên sức mạnh phục vụ cho Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa, phất triển đất nước.

    Để bắt kịp với quá trình hội nhập, phát triển kinh tế nhằm cải thiện môi trường đầu tư cho Việt Nam, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Nhóm đã nghiên cứu chọn đề tài: “Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài giai đoạn 2013- 2014”

    Nội dung

     

    I.                   Tổng quan về môi trường đầu tư

    1.     Khái niệm môi trường đầu tư

    Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, lợi thế của một quốc gia có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đầu tư vào quốc gia đó.

    2.     Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư

    • Các yếu tố kinh tế
      • Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình
      • Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: Lãi suất, lạm phát, cán cân thanh toán, thu chi ngân sách quốc gia
      • Các chính sách kinh tế của chính phủ: Luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành, giảm thuế, trợ cấp…
      • Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư
    • Các yếu tố Thể Chế – Luật Pháp
      • Sự bình ổn: Xem xét sự bình ổn của các yếu tố chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp. Sự bình ổn cao sẽ tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh và ngược lại.
      • Chính sách thuế: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ, thuế thu nhập…
      • Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật lao động, luật chống độc quyền, chống bán phá giá…
      • Chính sách: Các chính sách thương mại, chinh sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chinh sách điều tiết cạnh tranh,bảo vệ người tiêu dùng.
    • Các yếu tố văn hóa xã hội

    Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển.Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dung tại các khu vực đó.

    Các yếu tố xã hội thì mang tính quyết định khi các doanh nghiệp nghiên cứu thị trường, bởi đây là yếu tố sẽ chia cộng đồng thành những nhóm khách hàng có đặc điểm, tâm lý,thu nhập khác nhau.

    • Yếu tố công nghệ
    • Đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp vào công tác R&D: kết hợp giữa các doanh nghiệp và chính phủ nhằm nghiên cứu đưa ra các công nghệ mới,vật liệu mới
    • Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu
    • Khả năng nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh

    2.5      Yếu tố hội nhập

    • Chính sách kinh tế đối ngoại của chính phủ
    • Các rào cản thương mại mà các nhà đầu tư phải vượt qua khi muốn gia nhập thị trường
    • Mức độ tham gia vào các tổ chức quốc tế cũng như ký kết các hiệp ước quốc tế
    • Độ mở cửa của nền kinh tế, mức độ thu hút đầu tư và đầu tư ra nước ngoài, cán cân thanh toán quốc tế…

    II.               Đánh giá tình hình môi trường quốc tế của Việt Nam hiện nay dưới góc độ của nhà đầu tư nước ngoài

    1.     Thực trạng môi trường đầu tư của Việt Nam năm 2013-2014

    Cục đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch đầu tư) cho biết đến hết năm 2013, Việt Nam thu hút được gần 22 tỷ đôla vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gồm cả vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm. Dòng vốn FDI được đánh giá là thay đổi tích cực cả về chất và lượng, đặc biệt là giải tỏa bớt khó khăn cho nền kinh tế về mặt vốn đầu tư trong bối cảnh 2013 không phải là một năm khả quan.Theo số liệu thống kế, vốn FDI thực hiện trong năm 2013 đạt mức cao nhất kể từ năm 2008 và chất lượng vốn đầu tư cũng được xem là từng bước cải thiện, chẳng hạn, tỷ lệ đầu tư vào các dự án có quy mô lớn với hàm lượng công nghệ cao, công nghệ chế biến và chế tạo đều tăng.

    Theo báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tháng 2/2014 mà Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và đầu tư) vừa công bố, tính đến ngày 20/2/2014 cả nước có tổng cộng 122 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 830,87 triệu USD. Con số này chỉ bằng 80,7% so với cùng kỳ năm 2013.

    Với 41 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư, tổng vốn đăng ký tăng thêm ở mức 708,79 triệu USD, vỏn vẹn bằng 3% so với cùng kỳ năm 2013. Như vậy, tính chung trong 2 tháng đầu năm 2014, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm vào Việt Nam đạt mức 1,54 tỷ USD, giảm 62,5% so với cùng kỳ năm 2013. Tuy vậy, vốn giải ngân ước đạt 1,12 tỷ USD, vẫn tăng 6,7% với cùng kỳ năm 2013.

    Báo cáo cũng cho biết, trong 2 tháng đầu năm 2014, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 14 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm nhất với 62 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm đạt 1,18 tỷ USD, chiếm 76,5% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 2 tháng.

    Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm ở mức 278,33 triệu USD, chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư. Và kế đến là vận tải kho bãi với 9 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 21,75 triệu USD.

    Trong tổng số 29 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam thì Hàn Quốc đang chiếm vị trí dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 468,98 triệu USD, chiếm 30,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 264,55 triệu USD, chiếm 17,2% tổng vốn đầu tư. Trong tháng 2/2014, Nhật Bản chỉ đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 263,36 triệu USD, chiếm 17,1% tổng vốn đầu tư.

    Hiện tại, trong cán cân thương mại của Việt Nam, khu vực doanh nghiệp FDI vẫn chiếm vị trí “áp đảo” với con số 65,8% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước 2 tháng đầu năm. Xuất khẩu của khu vực này (kể cả dầu thô) dự kiến đạt 13,86 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2013. Nhập khẩu đạt 11,86 tỷ USD, tăng 17,1% so cùng kỳ và chiếm 56,48% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tính chung 2 tháng, khối doanh nghiệp này đã xuất siêu trên 2 tỷ USD.

    2.     Vị trí của Việt Nam trong các bảng xếp hạng môi trường đầu tư năm 2013

    • Bảng xếp hạng khu vực

    Dựa theo bản báo cáo “Asia Pacific Investment Climate Index 2013” của Vriens & Partners, chúng ta có các số liệu chính phân tích chỉ số môi trường đầu tư Châu Á Thái Bình Dương năm 2013.

     

     

     

     

     

     

    Chỉ số môi trường đầu tư Châu Á Thái Bình Dương năm 2013

    Thứ hạng

     

    tổng kết

    Quốc Gia Xếp hạng quy định pháp luật Xếp hạng mức độ mở cửa  KTQT Xếp hạng ổn định chính trị Xếp hạng mức  áp thuế Xếp hạng mức độ tham nhũng Xếp hạng quản trị tài chính tiền tệ Tổng điểm
    1 Singapore 2 2 2 2 2 1 89.8
    2 Hong Kong 4 1 5 1 4 3 87.0
    3 New Zeland 1 3 1 3 1 6 86.9
    4 Australia 3 4 4 10 3 4 81.1
    5 Brunei 8 10 3 4 7 2 73.8
    6 Đài Loan 6 5 7 7 6 7 73.0
    7 Nhật Bản 5 8 6 11 5 11 72.2
    8 Hàn Quốc 9 7 8 6 8 5 69.9
    9 Malaysia 7 6 9 5 9 9 66.8
    10 Thái Lan 10 9 12 9 10 10 57.9
    11 Trung Quốc 11 15 10 15 11 8 54.1
    12 Philippines 13 11 14 14 13 13 50.0
    13 Indonesia 16 12 18 12 16 12 47.7
    14 Campuchia 17 14 15 8 17 15 46.3
    15 Việt Nam 15 17 11 16 15 16 45.8
    16 Sri Lanka 14 13 16 19 12 19 45.1
    17 Ấn Độ 12 17 17 18 13 17 44.8
    18 Lào 18 20 13 17 19 14 40.8
    19 Myanmar 19 16 19 20 18 18 37.9
    20 Bangladesh 20 19 20 13 20 20 35.9

     

    So sánh chỉ số này giữa các năm:

    Nguồn:  Vriens & Partners

    Năm 2013, Việt Nam chỉ xếp hạng thứ 15 (tụt 3 hạng so với năm 2012) về tổng điểm đánh giá môi trường đầu tư trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Bảng phân tích này đưa ra xếp hạng về các chỉ số: quy định pháp luật, mức độ mở cửa kinh tế quốc tế, mức độ ổn định chính trị, mức áp thuế, mức độ tham nhũng và mức độ quản lý tài chính tiền tệ.

    Về tổng điểm,Việt Nam chỉ xếp trên các nước Sri Lanka, Ấn Độ, Lào, Myanmar và Bangladesh. Còn trong các chỉ số đầu tư, chỉ số được đánh giá cao nhất của Việt Nam là mức độ ổn định chính trị (hạng 11/20) và chỉ số bị đánh giá thấp nhất lại chính là mức độ mở cửa kinh tế quốc tế (hạng 17/20).

    • Bảng xếp hạng thế giới

    Bảng: Chí số tin tưởng FDI năm 2012

    Nguồn:  A.T.Kearney Foreign Direct Investment Confidence Index 2012

    Theo nghiên cứu về chí số tin tưởng FDI năm 2012 của A.T.Kearney, Việt Nam đứng thứ 14/25 và mặc dù tuột 2 hạng so với năm 2010 thì Việt Nam vẫn được đánh giá là một thị trường đầu tư quốc tế có mức tin tưởng cao, vượt trên cả các nước Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản ….

     

     

    Bảng: Chí số tin tưởng FDI năm 2013

    Tuy nhiên tới năm 2013, chỉ có duy nhất Việt Nam đã tuột khỏi bảng xếp hạng này trong khi các quốc gia Châu Á khác vẫn trụ lại. Điều này chứng tỏ môi trường đầu tư của Việt Nam đang dần mất đi tính cạnh tranh và giảm mạnh sự thu hút đối với các doanh nghiệp nước ngoài.

    Còn trong báo cáo về môi trường kinh doanh toàn cầu Best countries for business 2013 của Global Finance,Việt Nam xếp hạng thứ 99 về mức độ thuận lợi trong kinh doanh trên tổng số 185 nước nghiên cứu (tụt 1 hạng so với năm 2012) và chỉ xếp hạng thứ 108/ 185 (tụt 5 hạng so với năm 2012) về mức độ thuận lợi khi bắt đầu kinh doanh – bao gồm các yếu tố thủ tục, thời gian, chi phí để đăng ký kinh doanh.

    Nguồn: Global Finance

    Theo báo cáo thường niên về Môi trường Kinh doanh thế giới 2013 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 29/10/2013, đây là năm thứ 8 liên tiếp, Singapore giữ vị trí đầu bảng xếp hạng của WB. Góp mặt trong top 10 nền kinh tế có môi trường kinh doanh tốt nhất còn có sự hiện diện của Malaysia với vị trí thứ 6,Thái Lan vị trí thứ 18. Trái ngược với đà bứt phá mạnh mẽ của các nước láng giềng, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn bị đánh giá là chưa có biến chuyển tích cực nào.

    Điều đáng nói là trong số 10 chỉ tiêu đánh giá của WB, có tới 7 chỉ tiêu bị rớt điểm. Trong đó, riêng lĩnh vực nộp thuế tụt 11 bậc, từ xếp hạng 138 trên 183 quốc gia, xuống vị trí 149 trên 189 quốc gia. Ngoài ra, nhiều chỉ tiêu khác lại bị đánh giá ở mức cực kỳ thấp, thậm chí là gần như đội sổ toàn cầu. Ví dụ: tiêu chí xếp thành lập doanh nghiệp xếp hạng thứ 109/189, tiêu chí về cấp điện xếp hạng 156/189, tiêu chí về bảo vệ đầu tư đứng thứ 157/189, và tiêu chí xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đứng thứ 149/189… Chi tiết xếp hạng các chỉ số:

    Các tiêu chí đánh giá Năm 2013

     

    (trên 189 nước)

    Năm 2012

     

    (trên 183 nước)

    Mức độ thuận lợi kinh doanh 99 99
    1. Thành lập doanh nghiệp 109 108
    2. Cấp phép xây dựng 29 28
    3. Tiếp cận điện năng 156 155
    4. Đăng kí tài sản 51 48
    5. Vay vốn tín dụng 42 40
    6. Bảo vệ nhà đầu tư 157 169
    7. Nộp thuế 149 138
    8. Thương mại quốc tế 65 74
    9. Thực thi hợp đồng 46 44
    10. Xử lí doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 149 149

    Nguồn: World Bank

    2.     Thế mạnh của môi trường đầu tư Việt Nam

    • Về chính trị: Môi trường chính trị Việt Nam được đánh giá là tương đối ổn định. Theo báo cáo Chỉ số Hòa Bình toàn cầu năm 2013 của Viện Kinh tế và Hòa Bình, Việt Nam xếp hạng thứ 41/158 nước và vùng lãnh thổ và được đánh giá cao về ổn định chính trị.
    • Về pháp luật:
    • Bên cạnh việc ban hành những văn bản Luật doanh nghiệp chung, Luật đầu tư chung, luật kế toán, kiểm toán, Luật cạnh tranh ở cấp độ Nhà nước thì ở cấp Bộ và thành phố đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn và đặc biệt xây dựng nhiều chương trình, đề án có mục tiêu và nội dung trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng môi trường. Mới đây, vào ngày 19/2/2014, Bộ Kế Hoạch và Đầu tư đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến về Luật Đầu tư sửa đổi nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, minh bạch để thu hút đầu tư; tạo bước chuyển biến mới về cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư; giải quyết những khó khăn trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp.
    • Các cổng thông tin và cổng đăng ký trực tuyến về đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp được phát triển giúp các doanh nghiệp tiết kiệm thời gian làm thủ tục hành chính và được cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch hơn.Ngày 14/3/2014, Bộ Ngoại giao, Bộ thông tin truyền thông phối hợp với Văn phòng đại diện Ngân hàng thế giới tại Việt Nam chính thức đưa vào sử dụng hệ thống quản lý cấp thị thực trực tuyến từ nguồn vốn ODA của World Bank.
    • Lộ trình điều chỉnh thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 32% (1997) cho đến 25% (2009) và gần đây nhất là 22%(hiệu lực 01.01.2014), 20% (hiệu lực 01.01.2016) đã tạo một bước tiến lớn.
    • Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế giảm thuế đối với các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; sản xuất sản phẩm phần mềm, hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá…nhằm thu hút và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quan tâm đến các lĩnh vực này.
    • Luật thuế XNK cho phép miễn thuế trong các trường hợp: hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của các dự án thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư… cùng với đó là sự ra đời những hiệp định về ưu đãi thuế xuất nhập khẩu trong phạm vi các nước ASEAN, WTO đã giúp các nhà đầu tư giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất sản xuất, xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như quốc tế.
    • Về văn hóa – xã hội: Theo nhìn nhận của một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Việt Nam là nước có lực lượng lao động dồi dào và ngày càng được nâng cao chuyên môn tay nghề. Hơn nữa, các nhà đầu tư Nhật Bản còn đánh giá, nhân lực Việt Nam không những dồi dào (63% dân số dưới tuổi 35), lương thuê công nhân rẻ (thu nhập bình quân 100 USD/tháng đối với lao động phổ thông, khoảng 210 USD/tháng với lao động có bằng cấp), giá nhân công Việt Nam đang thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực.và áp lực tăng lương không cao, bước đầu tạo thuận lợi cho những nhà đầu tư mới.
    • Về môi trường kinh tế:
    • Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ [1] , ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế[2]
    • Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Số lượng các cơ quan đại diện ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 1 văn phòng kinh tế văn hóa.
    • Lần đầu tiên, Việt Nam được bầu vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao nhất trong số các nước ứng cử; được đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) niên khóa 2013-2014, tiếp đó là được bầu vào Uỷ ban Di sản thế giới của tổ chức UNESCO nhiệm kỳ 2014-2017. Việt Nam sẽ tổ chức hội nghị Liên Nghị viện IPU vào năm 2015. Lần thứ hai trong APEC, Việt Nam đươc tín nhiệm giao đăng cai tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC 2017, và hiện nay đang tích cực triển khai cho việc tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, ứng cử lần thứ hai vào Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021, ứng cử vào Ủy ban Kinh tế – Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018).
    • Về khoa học – công nghệ
    • Hiên nay, Việt Nam đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ Đại học và cao đẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học. thêm vào đó là khoảng hơn 2 triệu công nhân kĩ thuật, trong ssos có hơn 34 nghìn người trực tiếp làm việc trong lĩnh vực Khoa học – công nhệ thuộc khu vực nhà nước.
    • Hệ thống pháp luật về khoa học và công nghệ được tạo lập và ngày càng hoàn thiện với 8 đạo luật chuyên ngành và các văn bản dưới luật, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, Nhà nước cũng ban hành 6 bộ luật về khoa học – công nghệ, trong đó có Luật Năng lượng nguyên tử và công nghệ cao được xem là đầu tiên trên thế giới.
    • Việt Nam xây dựng được một mạng lưới các tổ chức Khoa học – công nghệ với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có gần 500 tổ chức nước ngoài, 197 trường đại học và cao đẳng, hạ tầng của các Viện, trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin Khoa học – công nghệ, thư viện cũng được tăng cường và nâng cấp.

    3.     Các hạn chế của môi trường đầu tư Việt Nam

    • Về yếu tố kinh tế: Trong bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng 2013, Việt Nam được 31 điểm, và nằm trong số 69% các quốc gia có điểm số dưới 50. Điều này phản ánh tình trạng “tham nhũng nghiêm trọng” trong giới công chức.

    Bảng: Xếp hạng mức độ tự do kinh tế 2014

    • Về xếp hạng mức độ tự do kinh tế tính tới đầu năm 2014 của Quỹ Di Sản và nhật báo phố Wall, Việt Nam xếp thứ 147 trên tổng số 186 nước trên thế giới. Nhìn vào bảng xếp hạng dưới đây, với số điểm là 50,8 chứng tỏ mức độ tự do kinh tế ở Việt Nam còn thấp.
    • Các hoạt động dịch vụ tư vấn đầu tư, xúc tiến đầu tư tại Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu.Hệ thống các công ty tư vấn dịch vụ đầu tư chưa được kiện toàn tăng cường về tổ chức, cán bộ. Phần lớn các công ty này mới tập trung làm các dịch vụ đầu tư thông thường như tổ chức, hướng dẫn đoàn khảo sát, làm thị thực … chứ chưa đi sâu tư vấn dịch vụ các vấn đề kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật xây dựng dự án và thực hiện dự án sau giấy phép.
    • Về Thể Chế – Luật Pháp:
    • Về việc chấp hành thủ tục hải quan ở Việt Nam vẫn còn chưa được rõ ràng, minh bạch. Nhiều thương vụ đã không tuân thủ làm đúng theo thủ tục của hải quan như trốn tránh làm thủ tục để lách thuế, xuất nhập khẩu các mặt hàng trái với quy định của pháp luật. các hàng hóa bị quốc cấm vẫn được xuất khẩu hay nhập khẩu vào Việt Nam. Về phía ngoài nước, làm giảm uy tín của Việt Nam trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài. Bên trong không chỉ làm rối loạn sự kiểm soát nền kinh tế trong nước, làm mất cân bằng xuất nhập khẩu mà còn gây ra bao nhiêu tệ nạn xã hội.
    • Việc kiểm soát biên giới Việt Nam với các nước lân cận cũng chưa có hiệu quả. Nhất là phía bên biên giới giáp Trung Quốc còn nhiều sơ hở để các hàng hóa “lậu” phía bên trung quốc đẩy sang tràn ngập. Hàng hóa Trung Quốc đánh bật các hàng hóa trong nước. Khi các sản phẩm ấy vào trong nước nhiều quá thì nhu cầu về loại hàng hóa đó được đáp ứng tại Việt Nam, nhưng đồng thời nó lại làm mất đi tính năng thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài về các sản phẩm đó. Làm giảm thu chỉ số đầu tư nước ngoài ở trong nước.
    • Một số luật và quy định khác về kinh doanh liên quan nhiều đến đầu tư nước ngoài chưa được ban hành như luật lao động, kinh doanh bất động sản, khai mỏ… Một số chính sách chưa được xác định rõ nên chưa thể chế hoá hoặc đã có chính sách làm cơ sở nhưng văn bản pháp quy ban hành chậm; có tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn giữa một số văn bản.
    • Về văn hóa – xã hội: Đối với lực lượng lao động của Việt Nam hiện nay, tác phong làm việc vẫn là một vấn đề nan trải và cần được thay đôi trong nhận thức của từng cá nhân. Có nhiều ý kiến bên các công ty nước ngoài cho thấy, công nhân Việt Nam còn chưa có ý thức làm việc tốt, mặc dù có năng lực làm việc nhưng tinh thần kỷ luật lại chưa cao. Nhiều công ty nước ngoài tuyển lực lượng lao động Việt Nam nhưng không hài lòng về phong cách làm việc với hầu hết là các nguyên do:
    • Đi làm không đúng giờ
    • Không có ý thức bảo vệ tài sản hàng hóa của công ty
    • Thường xuyên làm những việc cản trở sự hoạt động của công ty như: bãi công, biểu tình.
    • Về khoa học – công nghệ:
      • Số lượng cán bộ nghiên cứu và phát triển của Việt Nam dù đã gia tăng nhưng còn rất khiêm tốn so với các nước như Hoa Kỳ (hơn 1,4 triệu người), Trung Quốc (1,2 triệu người), Nhật Bản (656 nghìn người), Nga (442 nghìn người), Đức (327 nghìn người), Hàn Quốc (264 nghìn người ), Pháp (234 nghìn người).
      • Về chỉ số cạnh tranh toàn cầu, năm 2013, Việt Nam xếp thứ 70/148 quốc gia; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu xếp thứ 76/141 quốc gia. Trong khi Singapore ở tốp 3 thế giới và các nước Malaysia, Thái Lan đều đứng trên Việt Nam.
      • Tỷ lệ kết quả nghiên cứu trong nước được thương mại hóa và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh rất thấp.

    III.            Các giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư Việt Nam

    • Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng nhất quán, công khai, minh bạch, có tính dự báo, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư và có tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực.

    Theo đó, nghiên cứu sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp cho phù hợp bối cảnh mới; rà soát tổng thể hệ thống luật pháp hiện hành liên quan đến đầu tư, kinh doanh theo hướng đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với các quy định của Luật Đầu tư; quy định rõ hơn những đặc thù về thủ tục và điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài…

    • Điều chỉnh việc quản lý và phân cấp đầu tư theo hướng phát huy tính năng động, sáng tạo, chịu trách nhiệm của địa phương, đồng thời đảm bảo quản lý thống nhất của trung ương.

    Theo đó, cơ quan cấp GCNĐT chủ trì thẩm tra theo quy định hiện hành, trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo thẩm tra đồng thời gửi Bộ Kế hoạch – Đầu tư để thẩm định độc lập. Trên cơ sở hồ sơ và báo cáo thẩm tra, bộ Kế hoạch – Đầu tư sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan, các chuyên gia và nhà khoa học… thẩm định dự án: ảnh hưởng, tác động của dự án đối với phát triển kinh tế – xã hội của vùng, quốc gia và các ngành; tính khả thi của các nguồn lực cho dự án (lao động, kết cấu hạ tầng, điện, nguyên liệu…); khả năng huy động vốn…

    • Khắc phục tình trạng chồng chéo, kém hiệu quả trong hoạt động xúc tiến đầu tư: Bộ Kế hoạch – Đầu tư cần hàng năm và từng thời kỳ dựa trên nhu cầu thực tế ban hành bộ tiêu chí hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư.

    Đặc biệt, coi trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ, tăng cường hỗ trợ các dự án đã được cấp GCNĐT để các dự án này triển khai hoạt động một cách thuận lợi, có hiệu quả, tăng cường đối thoại với các nhà đầu tư để giải quyết kịp thời những kiến nghị hợp lý của doanh nghiệp FDI nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

    • Về chính sách ưu đãi đầu tư, cần được sửa đổi bảo đảm tính hệ thống từ ưu đãi thuế, ưu đãi tài chính đến ưu đãi phi tài chính; thống nhất giữa chính sách thuế và chính sách đầu tư; thực hiện ưu đãi đầu tư có chọn lọc phù hợp với định hướng mới đối với thu hút FDI.

    Bổ sung ưu đãi đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp. Bỏ bớt các hạn chế không cần thiết và cho phép tham gia nhiều hơn vào các thị trường vốn, thị trường tài chính trên nguyên tắc hiệu quả nhưng chặt chẽ. Bổ sung tiêu chí để xét ưu đãi đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, dự án có giá trị gia tăng cao, dự án sử dụng nhiều nguyên liệu, vật tư trong nước và dự án cam kết chuyển giao công nghệ tiên tiến…

    • Về chính sách khuyến khích, Luật Công nghệ cao sửa đổi sẽ bổ sung quy định về tiêu chí doanh nghiệp công nghệ cao theo hướng phù hợp với điều kiện thực tế nước ta, có tính đến nhóm dự án có quy mô lớn, doanh thu hàng năm lớn, sử dụng nhiều lao động chất lượng cao…
    • Về đất đai, thu hẹp sự phân biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước trong việc tiếp cận đất đai; sửa đổi Nghị định 69/2009/NĐ-CP nhằm điều chỉnh giãn lộ trình tăng giá đất, quy định cụ thể hệ số hỗ trợ thu hồi đất; sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản theo hướng tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, mở rộng phạm vi kinh doanh bất động sản đối với nhà đầu tư nước ngoài và bổ sung quy định về hình thức góp vốn bằng quyền phát triển dự án.
    • Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp FDI đào tạo nghề cho người lao động; tạo thuận lợi hơn đối với việc cấp phép cho lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn, trình độ, công nghệ cao mà lao động trong nước chưa đáp ứng được; đồng thời có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đào tạo lao động trong nước thay thế đối với các vị trí nghề nghiệp này.
    • Đẩy mạnh đầu tư phát triển và nghiên cứu công nghệ bằng cách hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao và có cơ chế đầu tư đặc biệt để triển khai một số dự án khoa học và công nghệ quy mô lớn. Đổi mới hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ theo hướng quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ và các trường đại học; xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc; nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong các trường đại học.

     

    Kết luận

    Có thể thấy rằng chúng ta thu hút đầu tư vào tất cả các lĩnh vực từ cơ sở hạ tầng đến lĩnh vực giáo dục, công ngiệp, nông nghiệp, dịch vụ…và chúng ta gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể qua những con số về trình độ dân trí, về lượng FDI và ODA vào Việt Nam, về những công trình xây dựng đã và đang được đầu tư và phát triển., về những dự án đang được đầu tư tại Việt Nam…đó là kết quả của quá trình mở cửa, hội nhập, là kết quả của Việt Nam đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu để cải thiện cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư nước ngoài.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt động đầu tư nước ngoài còn bộc lộ những hạn chế nhất định, trong đó có cả từ phía quản lý nhà nước. Theo đó, mặc dù có sự hoàn thiện dần về hành lang pháp lý đối với hoạt động đầu tư  nước ngoài, song thể chế chính sách chưa thực sự hoàn chỉnh, thường đi chậm so với thực tế, do đó chưa phát huy tác động một cách mạnh mẽ đến sự phát triển của hoạt động này. Việc quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn nhiều bất cập, từ khâu quản lý tiền đầu tư đến khâu hậu kiểm. Việc thực hiện chế độ báo cáo của các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn chưa đầy đủ, trong khi đó, lại chưa có các chế tài xử lý việc nhà đầu tư không thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo.

    Hy vọng rằng với, những thay đổi đáng kể trong môi trường kinh doanh, Việt Nam sẽ sớm được công nhận là một đất nước có nền kinh tế thị trường hoàn toàn với môi trường đầy cạnh tranh và hấp dẫn.

    [1]  Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế

    [2]   Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/M%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-nh%E1%BA%B1m-gia-t%C4%83ng-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bài bản PDF tại đây: Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

           I.            Những hiểu biết về môi trường đầu tư :

    1.      Khái niệm :

    Môi trường đầu tư là tổng thể các yếu tố về pháp luật, kinh tế, xã hội, văn hóa và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cả các lợi thế của một quốc gia có liên quan. Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước.

    2.      Kết cấu :

    • Môi trường chính trị và pháp luật.
    • Môi trường văn hóa
    • Môi trường kinh tế và tài nguyên
    • Môi trường tài chính
    • Môi trường cơ sở hạ tầng
    • Môi trường lao động.

       II.            Vai trò của nghiên cứu môi trường đầu tư :

    1.      Đối với những người quản lý nhà nước :

    Theo nhóm em, những người quản lý nhà nước khi nghiên cứu môi trường đầu tư sẽ hoàn thiện về những văn bản luật (Luật Đầu Tư,Luật Doanh nghiệp …) tạo nhiều điều kiện, chính sách ưu đãi hơn để thu hút vốn đầu tư.Cải thiện tình trạng cơ sở hạ tầng,giao thông.Ngoài ra còn tạo khả năng cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước khác.Tăng khả năng phát triển kinh tế và hội nhập với nền kinh tế Thế giới.Tăng khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế của các nước khác, phát huy lợi thế.

    2.      Đối với các nhà đầu tư :

    Khi họ nghiên cứu môi trường đầu tư thì sẽ biết những ngành(nghề),lĩnh vực hoặc sản phẩm mà họ muốn đầu tư hoặc kinh doanh.

    Họ sẽ biết được những thuận lợi và khó khăn ở môi trường đầu tư đó để có những kế hoạch hoạt động hoặc có những quyết định có nên đầu tư (tiếp tục đầu tư) hay ko?

    III.            Thứ hạng về môi trường đầu tư của Việt Nam :

     

    Việt nam và các nước trong khu vực.

     

    Nền kinh tế Xếp hạng “Dễ dàng thực hiện kinh doanh” Bắt đầu kinh doanh Đăng ký giấy phép Tuyển nhân viên Đăng ký tài sản
    Viet nam 104 97 25 104 34
    Thailand 18 28 3 46 18
    Malaysia 25 71 137 38 66
    Philippines 126 108 113 118 98
    Indonesia 135 161 131 140 120
    Campuchia 143 159 159 124 100
     Lao PDR 159 73 130 71 148
    Timor 174 160 173 115 172

    (Nguồn của Bộ Tài Chính)

    Để biết rõ chi tiết về thứ hạng môi trường kinh doanh ở Việt Nam, ta hãy xem bảng sau :

    Vietnam
    Region: East Asia & Pacific
    Income category: Low income
    Population: 82,966,000
    GNI per capita (US$): 620.00
    Country laws: see our Law Library
     
    Ease of… 2006 rank 2005 rank Change in rank
    Doing Business 104 98 -6
    Starting a Business 97 89 -8
    Dealing with Licenses 25 28 +3
    Employing Workers 104 137 +33
    Registering Property 34 30 -4
    Getting Credit 83 76 -7
    Protecting Investors(bảo vệ cho nhà  đầu tư) 170 170 0
    Paying Taxes 120 116 -4
    Trading Across Borders(buôn bán qua biên giới) 75 68 -7
    Enforcing Contracts(hiệu lực của những hợp đồng) 94 90 -4
    Closing a Business(đóng cửa doanh nghiệp) 116 105 -11

    Starting a Business (2006)

    The challenges of launching a business are shown below. Included are: the number of steps entrepreneurs can expect to go through to launch, the time it takes on average, and the cost and minimum capital required as a percentage of gross national income (GNI) per capita.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 11 8.2 6.2
    Time (days) 50 46.3 16.6
    Cost (% of income per capita) 44.5 42.8 5.3
    Min. capital (% of income per capita) 0.0 60.3 36.1
    • Để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước thủ tục, mất 50 ngày và một khoản chi phí tương đương với 44,5% thu nhập bình quân đầu người. Các con số tương ứng trong khu vực là 8,2 bước thủ tục, 46,3 ngày và 42,8% thu nhập bình quân. Ưu điểm của Việt Nam trong tiêu chí này là không đòi hỏi mức vốn tối thiểu cần có khi thành lập doanh nghiệp

    Dealing with Licenses (2006)

    Shown below are the procedures, time, and costs to build a warehouse, including obtaining necessary licenses and permits, completing required notifications and inspections, and obtaining utility connections.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 14 17.6 14.0
    Time (days) 133 147.4 149.5
    Cost (% of income per capita) 56.4 207.2 72.0
    • Giải quyết giấy phép :Các bước thủ tục, thời gian và chi phí bỏ ra để giải quyết các giấy phép hoạt động kinh doanh ở Việt Nam tương đối gọn nhẹ so với khu vực nhờ những nỗ lực cải cách hành chính liên tục trong lĩnh vực kinh doanh. Nhà đầu tư mất 14 bước thủ tục, 133 ngày và 56% thu nhập bình quân đầu người; trong khi mức bình quân toàn khu vực là 17,6 bước thủ tục, 147,4 ngày và 207,2% mức thu nhập bình quân. Việc thực hiện tiêu chí này ở Việt Nam thậm chí còn tốt hơn các nước phát triển trong khối OECD và đã tăng ba bậc, từ hạng 28 lên hạng 25

    Employing Workers (2006)

    The difficulties that employers face in hiring and firing workers are shown below. Each index assigns values between 0 and 100, with higher values representing more rigid regulations. The Rigidity of Employment Index is an average of the three indices.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Difficulty of Hiring Index 0 23.7 27.0
    Rigidity of Hours Index 40 25.2 45.2
    Difficulty of Firing Index 70 19.6 27.4
    Rigidity of Employment Index 37 23.0 33.3
    Nonwage labor cost (% of salary) 17.0 9.4 21.4
    Firing costs (weeks of wages) 86.7 41.7 31.3
    • Thuê mướn nhân công :Những khó khăn khi thuê mướn và sa thải công nhân, tập trung ở sáu yếu tố:độ khó khi thuê người, tính cứng nhắc của giờ giấc làm việc, độ khó khi sa thải, độ linh hoạt của việc sử dụng lao động, chi phí tuyển dụng (tỷ lệ so với tiền lương) và chi phí sa thải (số tuần lương phải bồi hoàn). So sánh với các nước trong khu vực, Việt Nam là nơi dễ tuyển lao động nhất, nhưng năm yếu tố còn lại đều khó khăn hơn. Ví dụ độ khó trong việc sa thải lao động ở các nước trong khu vực là 19,6% trong khi ở Việt Nam là 70%, chi phí sa thải lao động tương đương 41,7 tuần lương trong khi ở Việt Nam là 86,7 tuần lương. Tuy nhiên, so với năm ngoái tiêu chí này đã tăng 33 bậc, từ hạng 137 lên 104.

    Registering Property (2006)

    The ease with which businesses can secure rights to property is shown below. Included are the number of steps, time, and cost involved in registering property.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 4 4.2 4.7
    Time (days) 67 85.8 31.8
    Cost (% of property value) 1.2 4.0 4.3
    • Đăng ký tài sản :Doanh nghiệp có dễ dàng bảo đảm quyền sở hữu tài sản hay không? Ở Việt Nam doanh nghiệp cần trải qua bốn bước thủ tục, mất 67 ngày và tốn 1,2% giá trị tài sản để có được sự bảo đảm này. Các chỉ số này tốt hơn so với mức bình quân khu vực (4,2 bước thủ tục, 85,5 ngày và 4% giá trị tài sản) nhưng tiêu tốn nhiều thời gian hơn các nước phát triển.

    Getting Credit (2006)

    Measures on credit information sharing and the legal rights of borrowers and lenders are shown below. The Legal Rights Index ranges from 0-10, with higher scores indicating that those laws are better designed to expand access to credit. The Credit Information Index measures the scope, access and quality of credit information available through public registries or private bureaus. It ranges from 0-6, with higher values indicating that more credit information is available from a public registry or private bureau.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Legal Rights Index 4 5.0 6.3
    Credit Information Index 3 1.9 5.0
    Public registry coverage (% adults) 2.7 3.2 8.4
    Private bureau coverage (% adults) 0.0 10.1 60.8
    • Đi vay :Tiêu chí này xem xét các biện pháp chia sẻ thông tin tín dụng, quyền lợi hợp pháp của người vay và người cho vay. Ở Việt Nam, quyền lợi hợp pháp này chỉ được đánh giá ở mức điểm 4/10, nghĩa là sự tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp còn bị hạn chế trong khi mức bình quân của khu vực là 5/10 và ở các nước OECD là 6,3/10. Doanh nghiệp khó thu nhận được thông tin về quy mô, cách tiếp cận và chất lượng của tín dụng thông qua các văn phòng đăng ký công cộng. Chỉ số thông tin tín dụng ở Việt Nam là 3/6; cao so với khu vực (1,9/6) nhưng rất thấp so với khối OECD (5/6). Văn phòng tư nhân trong lĩnh vực thông tin tín dụng gần như không tồn tại.

    Protecting Investors (2006)

    The indicators below describe three dimensions of investor protection: transparency of transactions (Extent of Disclosure Index), liability for self-dealing (Extent of Director Liability Index), shareholders’ ability to sue officers and directors for misconduct (Ease of Shareholder Suits Index) and Strength of Investor Protection Index. The indexes vary between 0 and 10, with higher values indicating greater disclosure, greater liability of directors, greater powers of shareholders to challenge the transaction, and better investor protection.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Disclosure Index 4 5.2 6.3
    Director Liability Index 0 4.4 5.0
    Shareholder Suits Index 2 6.1 6.6
    Investor Protection Index 2.0 5.2 6.0
    • Bảo vệ nhà đầu tư :Tâm lý ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam thể hiện trong các chỉ số này. Tiêu chí 6 xem xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư gồm có tính minh bạch trong giao dịch, trách nhiệm pháp lý của giám đốc và khả năng của cổ đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai trái. Tính tổng thể Việt Nam chỉ đạt 2/10 trong khi khu vực là 5,2/10 và khối OECD là 6/10. Yếu kém nhất là chỉ số về trách nhiệm của giám đốc (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp (2/10 và 4/10). So với năm ngoái, thứ hạng của tiêu chí này không thay đổi.

    Paying Taxes (2006)

    The data below shows the tax that a medium-size company must pay or withhold in a given year, as well as measures of the administrative burden in paying taxes. These measures include the number of payments an entrepreneur must make; the number of hours spent preparing, filing, and paying; and the percentage of their profits they must pay in taxes.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Payments (number) 32 29.8 15.3
    Time (hours) 1,050 290.4 202.9
    Profit tax (%) 21.6 19.7 20.7
    Labor tax and contributions (%) 19.7 10.9 23.7
    Other taxes (%) 0.2 11.6 3.5
    Total tax rate (% profit) 41.6 42.2 47.8
    • Thuế khóa :Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam không nặng, mức chính thức là 28% nhưng tính ra doanh nghiệp phải chi đến 41,6% lợi nhuận cho thuế thu nhập doanh nghiệp, có thể vì ngành thuế không chấp nhận nhiều khoản chi phí khấu trừ. Mức này chưa bằng mức 42,2% của khu vực và 47,8% ở các nước OECD. Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê, làm mất nhiều thời gian của doanh nghiệp là vấn đề đáng lưu ý. Bình quân doanh nghiệp phải nộp 32 lần và mất 1.050 giờ làm việc trong khi ở các nước trong khu vực là 29,7 lần nộp và 290,4 giờ làm việc. So với năm ngoái giảm bốn bậc, từ 116 xuống 120.

    Trading Across Borders (2006)

    The costs and procedures involved in importing and exporting a standardized shipment of goods are detailed under this topic. Every official procedure involved is recorded – starting from the final contractual agreement between the two parties, and ending with the delivery of the goods.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Documents for export (number) 6 6.9 4.8
    Time for export (days) 35 23.9 10.5
    Cost to export (US$ per container) 701 885 811
    Documents for import (number) 9 9.3 5.9
    Time for import (days) 36 25.9 12.2
    Cost to import (US$ per container) 887 1,037 883
    • Buôn bán xuyên biên giới :Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi phí và thủ tục đã giảm nhưng vẫn còn mất thời gian. Để xuất một container hàng, doanh nghiệp phải có sáu loại hồ sơ, mất 35 ngày và tốn 701 đô la. Con số này ở các nước trong khu vực là 6,9 loại hồ sơ, 23,9 ngày và 885 đô la. Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có chín loại hồ sơ, mất 36 ngày và 887 đô la. Con số tương tự ở khu vực là 9,3 loại hồ sơ, 25,9 ngày và 1.037 đô la.

    Enforcing Contracts (2006)

    The ease or difficulty of enforcing commercial contracts in is measured below. This is determined by following the evolution of a payment dispute and tracking the time, cost, and number of procedures involved from the moment a plaintiff files the lawsuit until actual payment.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 37 31.5 22.2
    Time (days) 295 477.3 351.2
    Cost (% of debt) 31.0 52.7 11.2
    • Thực hiện hợp đồng :Ở Việt Nam, việc cưỡng chế thực hiện hợp đồng thương mại tương đối thuận lợi. Doanh nghiệp chỉ phải trải qua 37 bước thủ tục tốn 295 ngày và 31% giá trị món nợ là hợp đồng được thi hành, trong khi ở khu vực bình quân phải qua 31,5 bước thủ tục, tốn 477,3 ngày và 52% giá trị khoản nợ.

    Closing a Business (2006)

    The time and cost required to resolve bankruptcies (phá sản) is shown below. The data identifies weaknesses in existing bankruptcy law and the main procedural (thủ tục) and administrative bottlenecks (tắc nghẽn) in the bankruptcy process. The recovery rate, expressed in terms of how many cents on the dollar claimants recover from the insolvent firm, is also shown.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Time (years) 5.0 2.4 1.4
    Cost (% of estate) 14.5 23.2 7.1
    Recovery rate (cents on the dollar) 18.0 27.5 74.0

    (Theo nguồn của World Bank)

    • Đóng cửa doanh nghiệp :Việc phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam còn nhiêu khê. Thủ tục phá sản phải mất ít nhất năm năm, tốn kém đến 14,5% giá trị tài sản của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp vỡ nợ thì cứ 1 đồng tiền đầu tư chỉ thu hồi được 18 xu. Ở các nước, thủ tục phá sản chỉ cần 2,4 năm, chi tiêu 23,2% giá trị tài sản doanh nghiệp và thu hồi được 27,5 xu cho mỗi đồng đầu tư.

     IV.            Những thành công và những hạn chế trong môi trường đầu tư ở Việt Nam :

    1.      Thành công :

    • Việt Nam đã tổ chức thành công APEC, gia nhập WTO và được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận trao Quy chế quan hệ mậu dịch bình thường vĩnh viễn (PNTR). Những thành quả này đã thúc đẩy những tiến bộ của môi trường thương mại và đầu tư Việt Nam, được minh chứng do những kết quả xuất sắc về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), số lượng dự án ODA và tăng trưởng thương mại quốc tế.
    • GDP (danh nghĩa) : ước khoảng 60 tỷ USD,tức là khỏang 974 ngàn tỷ đồng tăng trưởng GDP ở mức 7,5-8%.
    • Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2006: đạt : 8.17%.
    • VN cải thiện 3 bậc trong bảng xếp hạng về tham nhũng.
    • VN đã đạt điểm tiến bộ hơn khi từ hạng 13 năm ngoái (7,91 điểm) nhảy lên hạng 10 (7,54 điểm, với điểm 0 là tốt nhất và điểm 10 là tham nhũng nhất), theo kết quả xếp hạng mức độ tham nhũng của Trung tâm Tư vấn rủi ro về chính trị và kinh tế (PERC, trụ sở tại Hong Kong) công bố ngày 13-3.

    Dưới đây là xếp hạng về tham nhũng của 13 nền kinh tế châu Á:

    (Theo nguồn www.tuoitre.com.vn ngày 14/03/2007)

    Nước Xếp hạng
    Singapore 1
    Hong Kong 2
    Nhật Bản 3
    Ma Cau 4
    Đài Loan 5
    Malaysia 6
    Trung Quốc 7
    Hàn Quốc 8
    Ấn Độ 9
    Việt Nam 10
    Indonesia 11
    Thái Lan 12
    Philippines 13
    • Hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là cảng biển, đường hàng không, đường bộ tại Việt Nam đang được cải thiện và mở rộng tới nhiều trung tâm kinh tế trong khu vực.
    • Tăng trưởng kinh tế mạnh, quá trình công nghiêp hóa nhanh, chính trị ổn định.
    • Xếp hạng rủi ro kinh tế, chính trị: VN xếp thứ 7/12 nền kinh tế châu Á : Theo báo cáo so sánh độ rủi ro các quốc gia năm 2007 (CCRR) vừa được Tổ chức Tư vấn rủi ro kinh tế và chính trị (PERC) công bố, VN là một trong những nước châu Á có độ rủi ro về kinh tế, chính trị và xã hội ở mức thấp. Đây là kết quả khảo sát do PERC thực hiện trên gần 1.500 doanh nghiệp tại 12 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á, cùng với Mỹ và Úc.
    • dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2007 đã tăng thêm 3 tỷ USD, đạt mức 15 tỷ USD”.

    2.      Hạn chế :

    • Việc thực hiện các chính sách đều hành vĩ mô đối với môi trường kinh doanh còn yếu kém, làm mất nhiều thời gian của các nhà kinh doanh .
    • Nạn tham nhũng, quyền sở hữu trí tuệ, tính minh bạch và có thể dự báo của hệ thống pháp luật, chất lượng hệ thống giáo dục và cơ sở hạ tầng.
    • Vẫn còn nạn thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải, nợ tồn đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
    • Tình hình giáo dục, y tế, an toàn giao thông đang là vấn đề cấp bách nhưng chưa được giải quyết triệt để
    • Chưa giải quyết vấn đề nhà ở cho người nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam .

        V.            Những giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư :

    • Chính phủ tăng cường hỗ trợ thông tin về thương mại, tài chính, công nghệ cho doanh nghiệp thông qua cho phép hình thành Trung tâm Thông tin độc lập ứng dụng công nghệ truyền thông đa phương tiện để doanh nghiệp có thể nắm bắt thông tin thị trường một cách nhanh nhất, nhằm đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
    • Việt Nam cần phải cải thiện hệ thống giáo dục vì giáo dục trực tiếp ảnh hưởng đến các chọn lựa và tiềm năng của thế hệ tương lai.
    • Nâng cao bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
    • Sớm có các qui định hướng dẫn thực hiện luật.
    • Nâng cao điều kiện cơ sở hạ tầng,và hiệu quả làm việc của hệ thống hành chính.
    • Cải thiện tình hình giáo dục, y tế, an toàn giao thông và giải quyết vấn đề nhà ở cho người nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam, để nhằm biến Việt Nam thành một điểm đến đầu tư thân thiện và hấp dẫn hơn.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0-b%E1%BA%A3o-h%E1%BB%99-c%C3%A1c-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-trong-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    PHÁP LUẬT KINH TẾ

     

             —-***—-

     

    Đề tài:        Tại sao phải thu hút vốn đầu tư nước ngoài? Theo em Nhà nước Việt Nam nên có những quy định như thế nào để vừa thui hút được vốn nước ngoài, vừa bảo hộ được các nhà đầu tư trong nước và đảm bảo vốn cạnh tranh?

    Bài làm:

    Hiện nay, việc thu hút đầu tư nước ngoài đang trở thành bộ phận chủ yếu của quan hệ kinh tế thế giới. Nó là nhân tố quan trọng hàng đầu của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia phát triển và là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nước. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng kinh tế, là một trong những chỉ số căn bản đánh giá khả năng phát triển. Mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển ngoại thương, thực hiện tốt chương trình hàng xuất khẩu thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là những nhiệm vụ có tầm chiến lược quan trọng trước mắt, là lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.

    Trong điều kiện hiện nay, khi mà nguồn vốn đầu tư ngày càng khan hiếm, cuộc cạnh tranh để thu hút vốn ngày càng trở nên gay gắt, các nước đều nhận thức được vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và luôn có những quyết sách thích hợp để cải thiện môi trường đầu tư. Các biện pháp khuyến khích đầu tư ngày càng mở rộng phong phú hơn, cùng với nền tảng bảo hộ pháp chế chắc chắn tạo nên môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

    Việt Nam, sau hơn 10 năm ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987), đã có những đổi mới căn bản trong nhận thức và đường lối, chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài đã đạt được thành tựu đáng khích lệ, nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý đã bước đầu được thu hút, tốc độ tăng

    trưởng kinh tế được thúc đẩy theo hướng tích cực. Tuy nhiên, trong một số năm gần đây đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng chững lại, gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để đẩy mạnh hơn nữa việc thu hút đầu tư  nước ngoài vào Việt Nam cần có những biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sao cho thoáng hơn nữa nhằm tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn để có thể cạnh tranh với các nhà đầu tư trên thế giới. Đặc biệt, đó là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

    1. Lợi ích của việc thu hút vốn đầu tưu nước ngoài:

    Trước hết chúng ta phải khẳng định là: Đầu tư nước ngoài đem lại nhiều lợi ích cho thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam:
    1. Đem lại nguồn vốn để phát triển kinh tế:

    Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.Việt Nam là một trong những nước đang phát triển. Vì vậy mà chúng ta rất cần nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế,xây dựng đất nước. Nhưng  hiện tại đất nước rất thiếu vốn, đầu tư trong nước không đủ nên ta phải đi huy động nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Việc huy động, thu hút vốn từ nước ngoài sẽ giúp nước ta có nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, tận dụng và khai thác hiệu quả các nguồn lực của đất nước như: tài nguyên thiên nhiên, khí hậu,…
    2 Khi thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài chúng ta còn có thể thu hút được khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới.

    Điều đó góp phần nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế trong nước.. Thu hút được các chuyên gia nước ngoài vào làm việc, từ đó tạo điều kiện cho đội ngũ kỹ sư trong nước Có điều kiện học hỏi, trau dồi kiến thức, kinh nghiệm tiến tới làm chủ công nghệ.

    Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
    3. Tạo  công ăn việc làm cho người lao động, nhất là ở các vùng kinh tế còn kém phát triển.

              Từ đó góp phần nâng cao mức sống của người dân, tránh lãng phí nguồn lực lao động(nước ta lại là nước có cơ cấu dân số trẻ có nguồn lực lao động dồi dào). Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

           Ở Việt Nam,  bình quân trong thời kỳ 2001 – 2006 khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm thêm cho khoảng 11 vạn việc làm mỗi năm đưa tổng số lao động trực tiếp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tính đến cuối năm 2006 lên 1, 13 triệu người. Ngoài ra khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra khoảng vài triệu lao động gián tiếp trong 6 năm qua.
    4. Giúp tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước:

               Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006

    FDI cũng đã giúp Việt Nam có một bước tiến lớn hơn vào các thị trường quốc tế, cải thiện tiềm năng xuất khẩu của Việt nam. FDI chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các ngành công nghiệp chủ đạo của Việt Nam, cụ thể là 42% công nghiệp giầy da, 25% trong may mặc và 84% trong điện tử, máy tính và các linh kiện. Đóng góp của FDI cho Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001 – 2005 là khoảng 3,67 tỷ đô-la Mỹ, với mức tăng nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước, năm 2006 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 36,3% so với năm 2005.
    5. Học tập được kinh nghiệm quản lý, lãnh đạo điều hành doanh nghiệp công ty chuyên nghiệp của các nước tiên tiến hơn. Từ đó góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các nhà lãnh đạo trong nước.
    6. Tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

    Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

    1. Tạo đà phát triển cho kinh tế trong nước.

    Việt Nam đã công nhận một cách chính thức và rộng rãi rằng FDI đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam trên nhiều phương diện: vốn, công nghệ, nâng cao khả năng thanh toán quốc tế, phát triển xuất khẩu, tham gia vào các thị trường quốc tế, ….FDI đã hỗ trợ Việt Nam một cách tích cực trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để Việt nam gia nhập ASEAN, ký kết thoả thuận khung với EU, bình thường hoá quan hệ và thoả thuận thương mại song phương với Mỹ.

    Trong những năm gần đây, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã tăng lên đáng kể. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến 20/8, tổng số dự án đăng ký cấp mới đã đạt con số 658 với trị giá 10,79 tỷ USD, giảm khoảng 10% về số dự án nhưng tăng 41% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2009.
    Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường vốn cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực, nhất là khi khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Việt Nam là chưa cao. FDI có nhiều tác động tích cực, nhưng tác động đó không tự nhiên xảy ra.

    Vì vậy, bên cạnh việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhà nước ta cũng phải xem xét những chính sách bảo hộ cho nhà đầu tư trong nước, và điều chỉnh theo bối cảnh nền kinh tế.

    1. Những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tốt nhất:

    Về ngắn hạn, các chính phủ cần khuyến khích các nhà đầu tư bằng những chính sách trợ cấp hoặc miễn thuế. Tuy nhiên về lâu dài, những chính sách như vậy lại có thể làm giảm năng suất của các khoản đầu tư.  

    Các mức thuế thấp hơn dẫn đến việc cắt giảm các dịch vụ công cộng (gồm giáo dục khoa học và kỹ thuật, cơ sở hạ tầng), khiến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và những mối lợi từ FDI sẽ giảm sút.

    Trong một báo cáo mới đây, tổ chức Conference Board của Canada chuyên nghiên cứu và phân tích xu hướng kinh tế thế giới đã đưa ra 10 kết luận về những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tốt nhất.

    Báo cáo nêu rõ muốn thu hút các nhà đầu tư ở khắp nơi trên thế giới, quốc gia sở tại cần hội tụ các yếu tố cần như cơ sở hạ tầng vững mạnh, sự bảo vệ pháp lý đáng tin cậy, lực lượng lao động được đào tạo tốt, những chính sách hỗ trợ tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế thực.

    Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những lợi ích kinh tế ròng cho nước đầu tư lẫn nước nhận đầu tư.

    Qua nghiên cứu, tổ chức Conference Board đã tổng kết những thông lệ chính sách tốt nhất để thúc đẩy đầu tư nước ngoài. Theo đó, các chính phủ trước hết cần khuyến khích sự tăng trưởng kinh tế, bảo đảm một chế độ pháp lý minh bạch và đáng tin cậy, có lực lượng lao động chuyên môn lành nghề, cơ sở hạ tầng giao thông và viễn thông tốt và một môi trường khuyến khích sáng tạo nhằm cải thiện sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Việc tập trung hoạt động kinh tế ở địa phương cũng có thể khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cần có chính sách hợp lý và cơ quan công quyền hiệu quả, đáng tin cậy. Đầu tư trực tiếp hướng ngoại cũng có thể làm lợi cho nước đi đầu tư vì nó giúp mang lại những kỹ năng và tri thức chuyên ngành từ các dự án đầu tư.

    Các cơ quan xúc tiến đầu tư nên tư vấn cho các nhà đầu tư nước ngoài về những lợi thế của một địa phương và giảm bớt tệ quan liêu đang làm tăng chi phí cũng như rủi ro đối với các nhà đầu tư.

    Việc buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải mua nguyên vật liệu của các nhà cung cấp địa phương hoặc phải liên doanh với các đối tác địa phương không giúp tăng cường lợi ích từ các khoản đầu tư nước ngoài, thậm chí còn cản trở FDI.

    Như vậy, các thông lệ FDI tốt nhất bao gồm những chính sách khung, giúp tăng cường khả năng sản xuất của nền kinh tế quốc gia hay địa phương, cải thiện hiệu quả làm việc của chính quyền, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, cũng như tăng cường khả năng sáng tạo.

    III. Chính sách bảo hộ các nhà đầu tư  của Việt Nam:

    Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Nhà đầu tư được nhà nước Việt Nam đảm bảo các nội dung sau:

    1. Bảo đảm về vốn và tài sản

    – Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

    – Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư thì nhà đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng.

    Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.

    – Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và được quyền chuyển ra nước ngoài.

    – Thể thức, điều kiện trưng mua, trưng dụng theo quy định của pháp luật.

    1. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

    Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    1. Mở cửa thị trường, đầu tư liên quan đến thương mại

    Để phù hợp với các quy định trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Nhà nước bảo đảm thực hiện đối với nhà đầu tư nước ngoài các quy định sau đây:

    – Mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình đã cam kết;

    – Không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

    + Ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước;

    + Xuất khẩu hàng hóa hoặc xuất khẩu dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng, giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước;

    + Nhập khẩu hàng hóa với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu;

    + Đạt được tỷ lệ nội địa hóa nhất định trong hàng hóa sản xuất;

    + Đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và phát triển ở trong nước;

    + Cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài;

    + Đặt trụ sở chính tại một địa điểm cụ thể.

    1. Chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài

    – Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây:

    + Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;

    + Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trí tuệ;

    + Tiền gốc và lãi các khoản vay nước ngoài;

    + Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;

    + Các khoản tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.

    – Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho các dự án đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp pháp của mình sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam.

    – Việc chuyển ra nước ngoài các khoản trên được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi theo tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thương mại do nhà đầu tư lựa chọn.

    –  Thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản tiền liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.

    1. Áp dụng giá, phí, lệ phí thống nhất

    Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát.

    1. Bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách

    – Trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới kể từ ngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực.

    – Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của pháp luật, chính sách đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây:

    + Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;

    + Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế;

    + Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;

    + Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.

    – Căn cứ vào quy định của pháp luật và cam kết trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể về việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính sách ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của nhà đầu tư.

    1. Giải quyết tranh chấp

    – Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật.

    – Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau hoặc với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam.

    – Tranh chấp mà một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây:

    + Toà án Việt Nam;

    + Trọng tài Việt Nam;

    + Trọng tài nước ngoài;

    + Trọng tài quốc tế;

    + Trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập.

    – Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài hoặc trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    So với pháp Luật về bảo đảm đầu tư trước đây, Luật đầu tư quy định cụ thể hơn các nguyên tắc và nội dung bảo đảm đầu tư của Nhà nước. Đó là: Việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư được quyền chuyển ra nước ngoài; Khẳng định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư, bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của Pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của Pháp luật có liên quan; Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do nhà nước kiểm soát.

    Đặc biệt, trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách, Luật quy định nhà đầu tư được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây: Tiếp tục được hưởng các quyền lợi, ưu đãi; Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế; được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án; được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.

    Ngoài ra Việt Nam cần có những quy định nhằm bảo đảm an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. An ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài có thể được xem xét ở một số khía cạnh nhất định. Các khía cạnh này bao gồm:

    – Quy định các lĩnh vực cấm đầu tư, hạn chế đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư hoặc quy định mức góp vốn trong các dự án quan trọng chỉ ở một tỷ lệ nhất định.

    – Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội và thông thường phương châm được quán triệt là “Vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng”.

    – Quy định cơ cấu nhân sự và nguyên tắc nhất trí của hội đồng quản trị. Nếu tổng giám đốc là người nước ngoài thì phó tổng giám đốc thứ nhất là người trong nước. Đây là việc quy định một cơ cấu điều hành và quyền lực lãnh đạo doanh nghiệp có sự chế ước song hoặc đa phương.

    – Quy định không quốc hữu hoá, trưng dụng, tịch thu hoặc sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệp vào hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài để tránh tình trạng rút vốn ồ ạt của nhà đầu tư nước ngoài gây đổ bể dự án. Đồng thời, áp dụng nguyên tắc “không hồi tố” đối với trường hợp chính sách có sự thay đổi bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài.

    – Quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp để bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài như tranh chấp được giải quyết công khai nếu các bên không tự giải quyết bằng thương lượng và hoà giải.

    – Các hiệp định song phương và đa phương được soạn thảo và ký kết về đầu tư nước ngoài để tạo ra sự bảo đảm quốc tế đối với hoạt động đầu tư nước ngoài cho nhà đầu tư nước ngoài. Nếu những mâu thuẫn và xung đột về lợi ích của các bên đối tác trong các dự án phát sinh không giải quyết được, đòi hỏi sự tham gia của chính phủ các bên có liên quan.

    – Các cam kết về góp vốn bằng tài sản hữu hình và vô hình hoặc dịch vụ, quy định về thời hạn, quy định về việc tham gia các giao dịch trên thị trường chứng khoán… nhằm bảo đảm lợi ích thoả đáng cho các bên.

    – Các khu công nghiệp, khu chế xuất, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở… là những địa điểm chịu sự chi phối rất lớn của nhà đầu tư nước ngoài.

    – Thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài, có thể các thông tin kinh tế – xã hội cơ bản bị tiết lộ, nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng về thói quen, tập quán, nhận thức… Thậm chí có thể xuất hiện những vụ bạo động do các phần tử quá khích hoặc các thế lực phản động quốc tế lợi dụng việc nghiên cứu cơ hội đầu tư nước ngoài để thực hiện “diễn biến hoà bình”, các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia tham gia sâu hơn vào công việc nội bộ về kinh tế như chi phối thị trường, chi phối quá trình hoạch định chính sách, lũng đoạn thị trường…

    1. Các giải pháp bảo đảm an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

    Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng toàn cầu hoá kinh tế và tự do hoá đầu tư đang gia tăng, chính sách đầu tư trong nước được coi trọng sửa đổi, hoàn thiện theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, nhiều cơ hội mở ra và đồng thời rất nhiều thách thức vừa ngấm ngầm, vừa lộ rõ đang ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh việc bảo đảm an ninh cho nhà đầu tư nước ngoài, việc coi trọng bảo vệ an ninh quốc gia, ngành, địa phương, doanh nghiệp, người lao động… cần được quan tâm hữu hiệu. Việt Nam là một nước chủ yếu coi trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc chú trọng bảo vệ an ninh quốc gia, ngành, doanh nghiệp và người dân là hoàn toàn cần thiết.

    F Để bảo đảm anh ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài từ góc độ của nước tiếp nhận, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau:

    Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức về an ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Khác với quan niệm truyền thống, an ninh được hiểu là sự độc lập hoàn toàn trong quá trình hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài. An ninh quốc tế ngày nay cần được hiểu là sự chế ước lẫn nhau giữa các lực lượng trong nền kinh tế toàn cầu. An ninh kinh tế đang ngày càng giữ vị trí trung tâm trong hệ thống an ninh quốc tế khi xu hướng hợp tác, sự phụ thuộc lẫn nhau và toàn cầu hoá kinh tế ngày càng nổi trội. An ninh là một khái niệm đa nghĩa, một quan niệm có tính chất “động” và đang ngày càng phản ánh khả năng tăng ảnh hưởng lẫn nhau, tăng tính chất đối trọng trong việc ra quyết định giữa Chính phủ và các nhà đầu tư nước ngoài trong các giao dịch đầu tư nước ngoài. Do đó, việc thực hiện theo chiều rộng và chiều sâu chính sách đối ngoại hợp tác, rộng mở, đa dạng hoá và đa phương hoá sẽ tạo cơ hội cho việc khai thác tác động nhiều chiều của các lực lượng khác nhau trong nền kinh tế toàn cầu, hình thành thế trận an ninh theo cách tiếp cận mới đặc biệt là cách tiếp cận chi phí- lợi ích và cần quán triệt nguyên tắc đôi bên cũng có lợi, đôi bên cùng an toàn trong đầu tư .

    Thứ hai, cần có cơ chế theo dõi, giám sát hợp lý hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài để giảm thiểu những tác động bất lợi của hoạt động thu hút đầu tư đến an ninh quốc gia. Cơ chế giám sát này, cần bảo đảm nguyên tắc tôn trọng lợi ích và những quyền kinh doanh hợp pháp của nhà đầu tư, thiện chí hợp tác và làm ăn lâu dài và cần có chế độ cảnh báo sớm những thua thiệt về lợi ích quốc gia, lợi ích doanh nghiệp, lợi ích người lao động trong thu hút đầu tư nước ngoài để có đối sách thích hợp. Việc tiếp tục hoàn thiện chính sách đầu tư theo các cam kết của Việt Nam trong WTO cần cân nhắc các loại lợi ích của các đối tượng có liên quan, trong đó có khía cạnh về an ninh.

    Thứ ba, các chính sách, quy định ban hành trong thu hút đầu tư nước ngoài cần tính đến lợi ích về an ninh lâu dài của bên Việt Nam, tránh làm tổn hại về an ninh của quốc gia, ngành, doanh nghiệp, người lao động. Cách hiểu an ninh cần toàn diện và các biện pháp áp dụng càng mềm dẻo và sâu sắc hơn. Đặc biệt, cần có giải pháp thích hợp để bảo đảm an ninh cho doanh nghiệp và người lao động khi xuất hiện làn sóng sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam có khả năng bùng phát trong thời gian tới. Chính sách an sinh xã hội, cơ chế bảo hiểm đầu tư, chính sách trợ cấp việc làm, trợ cấp thất nghiệp… cần được hoàn thiện để phù hợp với những biến động mới của thị trường đầu tư nước ngoài.

    Thứ tư, cần đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm việc trực tiếp trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài để đội ngũ này trở thành những nơi quan sát hữu hiệu hoạt động nhà đầu tư nước ngoài, một mặt, học tập cách thức lãnh đạo, điều hành hoạt động doanh nghiệp; mặt khác, có những đối sách phù hợp để đấu tranh bảo vệ an ninh việc làm cho người lao động, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và phát triển quan hệ hợp tác lâu dài, bền vững trong thu hút đầu tư nước ngoài. Nghĩa là cả các khía cạnh hợp tác và đấu tranh cần được hiểu biết sâu sắc và được “thẩm thấu” trong đội ngũ cán bộ và được khai thác một cách hợp lý nhất.

    Thứ năm, cần phát triển học thuyết về xây dựng thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế làm sao cho mỗi người dân trở thành một chiến sỹ an ninh đáng tin cậy, mỗi doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế là một trụ cột về an ninh kinh tế… và gắn với các tác động quốc tế. Học thuyết này, cần lấy nền tảng là lực lượng quần chúng nhân dân gắn với việc xây dựng lực lượng an ninh tinh nhuệ và chuyên nghiệp, khai thác triệt để cơ hội và sự tương tác lẫn nhau giữa các lực lượng an ninh quốc tế và giảm thiểu tối đa những thách thức về an ninh trong đầu tư nước ngoài. Điều đó, đòi hỏi phải tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về chiến lược an ninh nhân dân cho mỗi người dân, từng người lao động làm việc trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, các cán bộ quản lý nhà nước, các doanh nhân… Tạo được sự đồng thuận cao trong mọi tầng lớn nhân dân về ý thức bảo vệ an ninh, lợi ích đất nước, dân tộc, doanh nghiệp, tập đoàn, con người… trong điều kiện hội nhập và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.

    1. Kết luận

    Như vậy, để vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài vừa bảo hộ được các nhà đầu tư trong nước và đảm bảo có cạnh tranh thì Nhà nước ta cần: Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, trong đó có các giải pháp: Rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với nền kinh tế thị trường và các điều ước quốc tế; Hoàn thiện các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều chỉnh việc xây dựng quy hoạch, mở rộng lĩnh vực ưu đãi đầu tư; Hoàn thiện các ưu đãi về thuế; Hoàn thiện các quy định pháp luật về đất đai; Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại; Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Hi vọng rằng, bằng những quy định sáng suốt và hợp lý nền kinh tế của Việt Nam sẽ từng bước phát triển hội nhập với nền kinh tế thế giới.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiều luận môn Đầu tư nước ngoài

    Tiều luận môn Đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%81u-lu%E1%BA%ADn-m%C3%B4n-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài

     

    Câu hỏi:

    Nguyên nhân của việc luân chuyển vốn đầu tư từ nước này sang nước khác và những chỉ tiêu đánh giá về hiểu quả đầu tư quốc tế trên quan điểm vĩ mô, dưới góc độ của nước nhận đầu tư.

     

    1. Các khái niệm:

    1.1. Đầu tư quốc tế:

    Đầu tư quốc tế là hình thức di chuyển vốn từ nước này sang nước khác để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội, tạo ra sự di chuyển vốn qua khỏi biên giới các quốc gia.

    Các loại hình đầu tư quốc tế: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    1.2. Luân chuyển vốn quốc tế:

    – Luân chuyển vốn quốc tế là sự vận động của vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm tìm nơi đầu tư có lợi.

    Đặc điểm:

    – Tiền tệ và các tài sản khác giữa các quốc gia sẽ vận động để điều chỉnh tỷ lệ kết hợp giữa các yếu tố sản xuất nhằm đạt được lợi ích tối đa.

    – Quá trình di chuyển vốn quốc tế làm hình thành 2 dòng chảy của vốn đối với từng quốc gia: dòng vốn chảy vào và dòng vốn chảy ra. Những dòng chảy này sẽ đưa vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác, làm cho vốn sinh sôi nhanh hơn.

    2. Nguyên nhân của luân chuyển vốn:

    2.1. Nguyên nhân chung:

    2.1.1. Tác động của sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu tạo ra việc luân chuyển vốn:

      Đây là nguyên nhân hết sức quan trọng gây nên tình trạng luân chuyển vốn một cách thường xuyên và liên tục giữa các quốc gia trên thế giới. Khi nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái toàn cầu thì làm cho nguồn vồn thay đổi dòng chảy một cách mạnh mẽ, nguồn vốn sẽ di chuyển ra khỏi những nước có nền tài chính đang bị khủng hoảng và sẽ tập trung đến những nước vẫn có nền tài chính ổn định. Bên cạnh đó khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn làm cho nguồn vốn quốc tế ở các quốc gia nhận đầu tư giảm sút tầm trọng và xu hướng là nguồn vốn đó sẽ quay trở lại nước đầu tư, làm cho nguồn vốn ở các nước đầu tư đột ngột tăng mạnh. Bởi vì lúc đó các nhà đầu tư sẽ đẩy mạnh việc chuyển lợi nhuận về nước, cùng với đó là vốn tài trợ của công ty mẹ ở bản quốc cho các công ty con ở nước nhận đầu tư giảm sút nghiêm trọng. lúc này, các nước phát triển thay vì đầu tư ra nước ngoài, đã quay lại ngăn chặn suy giảm kinh tế trong nước. Chính vì sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà đã tạo nên làn sóng bảo hộ trong nước, điều đó tạo nên sự bất lợi cho việc thu hút nguồn vốn quốc tế.

    Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài co lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), FDI vào các nước đang phát triển đạt khoảng 500 tỉ USD (năm 2008), giảm xuống chỉ còn khoảng 400 tỉ USD (năm 2009). Theo Tổ chức Bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA), FDI cho các nước đang phát triển giảm 30% trong 2009, chỉ đạt khoảng 385.000 triệu đôla. Các nước đang phát triển sẽ rơi vào tình trạng thiếu vốn vào năm 2010. Do vậy, tăng trưởng của các nền kinh tế dựa vào FDI sẽ bị ảnh hưởng. Các nước có nợ nước ngoài lớn sẽ phải đối mặt với khả năng trả nợ giảm. Lãi suất cao tại Mỹ sẽ hút nguồn vốn USD trên toàn thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước từng thu hút lượng lớn FDI như Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng.

    Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho tình hình kinh doanh quốc tế xấu nghiêm trọng, mức độ rủi ro cao, thiếu vốn nên nhiều tập đoàn phải điều chỉnh chiến lược đầu tư kinh doanh, điều chỉnh địa bàn và các dịnh hướng đầu tư dẫn đến thu hẹp phạm vi đầu tư, đồng thời cắt giảm vốn nhằm giảm thiểu rủi ro kinh doanh.

    Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ngày càng tác động mạnh đến kế hoạch đầu tư của các công ty xuyên quốc gia TNCs (Transnational Corporations). Lợi nhuận suy giảm do khối lượng buôn bán giảm sút đã làm hạn chế xu hướng đầu tư. Đây chính là tác động của “khủng hoảng kinh tế” (economic crisis). Mặt khác, chi phí kinh tế tăng và khả năng tiếp cận tín dụng giảm làm cho các công ty khó có khả năng tiếp cận được với nguồn tài chính bên ngoài để đầu tư cho các dự án mới (bao gồm cả các dự án sáp nhập và mua lại M&A và các dự án môi trường xanh (greenfield). Đây được coi là tác động của “đổ vỡ tín dụng và khủng hoảng tài chính” (financial crisis and credit crunch). Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, nhiều công ty do dự trong việc chọn lựa xu hướng đầu tư và thường thiên về chọn lựa các chiến lược đầu tư ít rủi ro, có số lượng vốn đầu tư không nhiều.

    2.1.2. Sự thay đổi bối cảnh kinh tế của một quốc gia:

    Dòng vốn quốc tế luôn có sự di chuyển đến những nơi mà phần thưởng đối với nó là cao nhất. Những nước có tiềm lực phát triển kinh tế, hệ thống luật pháp chính sách về ĐTQT hoàn chỉnh, tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, minh bạch, bình đẳng và thông thoáng cho hoạt động đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư Quốc tế sẽ là nơi nguồn vốn tập trung nhiều nhất. đồng thời các nhà đầu tư cũng tranh xa những nước có sự bảo hộ của nhà nước và môi trường đầu tư xấu. Theo Báo cáo tổng quan triển vọng đầu tư thế giới WIPS (World Investment Prospects Survey) các nền kinh tế mới nổi nhờ có tiềm lực tài chính tốt, tỷ lệ giới trẻ cao sẽ hỗ trợ tăng trưởng lâu dài nên càng thu hút giới đầu tư quốc tế và các công ty xuyên quốc gia TNCs. Từ đó sẽ làm cho lượng vốn chuyển từ các nước đã phát triển lâu dài và đang có xu hướng chững lại sang các nước có nền kinh tế mới nổi.

    Điển hình như FDI của Hàn Quốc trong 7 tháng đầu năm 2009 tăng 32% so với cùng kỳ năm trước. Hàn Quốc đang tiếp tục tạo dựng môi trường “ngoại thương thân thiện” thông qua nhiều biện pháp khuyên khích đầu tư nước ngoài. Cụ thể, chính phủ miễn hoàn toàn thuế thuê đất cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài để sản xuất vật liệu và phụ tùng máy móc. Trong số 5 địa điểm thu hút FDI lớn nhất thế giới, thì các nền kinh tế mới nổi chiếm tới 4, đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga. Từ năm 2007 đến nay, FDI vào Trung Quốc mỗi năm đạt khoảng 87 tỷ USD và chiếm khoảng 6% tổng FDI toàn cầu. Trong cuộc khảo sát về triển vọng đầu tư do Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) công bố ngày 7/2009, có 240 công ty đa quốc gia TNCs khẳng định Trung Quốc vẫn là điểm đến hàng đầu cho FDI đứng trên cả Mỹ, Brazil và Nga.

    Dưới đây là Top 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới của vốn FDI trong năm 2010 theo báo cáo của A.T. Kearney:

     

    1. 1. Trung Quốc

    Xếp hạng: 1 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Không thay đổi)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 89

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 108,3 tỷ USD

    GDP 2009: 4.900 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 3.680 USD

    Trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, các nhà đầu tư nước ngoài từ mọi ngành công nghiệp lớn khắp nơi trên thế giới bị hấp dẫn bởi thị trường khổng lồ của nước này. Nhu cầu nội địa tại Trung Quốc tăng và sự dịch chuyển hướng tới một lực lượng lao động chất lượng cao hơn là những yếu tố mà các doanh nghiệp FDI đánh giá cao hơn thị trường này. Tuy nhiên, lạm phát tiền lương lại đang là một mối lo ngại gia tăng tại các công ty nước ngoài làm ăn tại Trung Quốc.

    1. Mỹ

    Xếp hạng: 2 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 1 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 4

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 316,1 tỷ USD

    GDP 2009: 14.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 46.460 USD

    Bất chấp khủng hoảng và suy thoái, nước Mỹ vẫn tăng một bậc về Chỉ số niềm tin FDI trong báo cáo năm nay của A.T. Kearney. Điều này cho thấy giới đầu tư toàn cầu muốn tìm nhiều hơn đến với những điểm đến có độ an toàn cao. Với môi trường kinh doanh tương đối thông thoáng và mức giá gần đây đã xuống thấp cho các thương vụ mua bán và sáp nhập, đặc biệt là trong ngành tài chính, nước Mỹ đã tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các lĩnh vực khác có sức hút cao ở Mỹ là dược phẩm và năng lượng xanh.

    1. Ấn Độ

    Xếp hạng: 3 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Giảm 1 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 133

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 41,6 tỷ USD

    GDP 2009: 1.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 1.100 USD

    Mặc dù lần này Ấn Độ tụt một bậc so với báo cáo trước, nước này vẫn là một điểm đến được giới đầu tư đánh giá cao. Thế mạnh của quốc gia châu Á này trong mắt giới đầu tư nước ngoài là các ngành dịch vụ phi tài chính, tài chính, công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ. Tuy nhiên, điểm yếu của Ấn Độ là môi trường kinh doanh có độ cởi mở còn thấp so với nhiều nước khác.

    1. Brazil

    Xếp hạng: 4 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 2 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 129

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 45,1 tỷ USD

    GDP 2009: 1.500 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 7.940 USD

    Sự phục hồi mạnh của kinh tế Brazil trong năm 2009 và tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển là những yếu tố hút vốn FDI hàng đầu ở Brazil hiện nay. Ngoài ra, Brazil đã nổi lên là một lựa chọn hàng đầu cho các công ty châu Âu và Mỹ muốn đầu tư ở các thị trường gần “sân nhà”.

    1. Đức

    Xếp hạng: 5 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 5 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 25

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 24,9 tỷ USD

    GDP 2009: 3.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 39.800 USD

    Là điểm đến FDI hàng đầu tại châu Âu năm nay, Đức được giới đầu tư xem trọng trong các lĩnh vực dịch vụ phi tài chính và tài chính. Những dự án vốn FDI lớn vào Đức thường đến từ các nền kinh tế phát triển khác như Mỹ, Anh và Nhật Bản.

    1. Ba Lan

    Xếp hạng: 6 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 16 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 72

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 16,5 tỷ USD

    GDP 2009: 441,9 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 11.580 USD

    Sự vươn lên mạnh mẽ của Ba Lan trong Chỉ số niềm tin FDI chủ yếu là do thành công của nước này trong việc vượt khủng hoảng kinh tế, đặc biệt nếu so sánh với các nước láng giềng ở Đông Âu. Các nhà đầu tư nước ngoài bị hút tới Ba Lan bởi mức lương thấp, cơ hội đầu tư ở nhiều lĩnh vực và chương trình tư nhân hóa mạnh mẽ của Chính phủ nước này.

    1. Australia

    Xếp hạng: 7 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 4 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 9

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 46,8 tỷ USD

    GDP 2009: 996,1 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 46.860 USD

    Sự tiếp cận dễ dàng với các nguồn tài nguyên và môi trường kinh doanh hấp dẫn là những lý do đưa Australia vào vị trí thứ 7 trong xếp hạng. Các nhà đầu tư nước ngoài xem Australia là điểm đến hấp dẫn thứ ba đối với các khoản đầu tư vào tài nguyên. Điều này càng nhấn mạnh thêm sức hút của Australia ở sự dồi dào tài nguyên thiên nhiên và vị trí cửa ngõ vào các thị trường lớn khác trong khu vực châu Á của nước này.

    1. Mexico

    Xếp hạng: 8 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 11 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 51

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 22,9 tỷ USD

    GDP 2009: 868,3 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 7.810 USD

    Mexico là một điểm đến được giới đầu tư công nghiệp nhẹ đánh giá cao. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng bất lợi của khủng hoảng kinh tế, Mexico vẫn được lợi từ chiến lược đầu tư gần của các công ty Mỹ và Canada.

    1. Canada

    Xếp hạng: 9 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 5 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 8

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 44,7 tỷ USD

    GDP 2009: 1.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 39.890 USD

    Các nhà đầu tư FDI tiếp tục dành cho Canada sự tin tưởng lớn. Việc Canada sở hữu trữ lượng dầu khí thứ hai thế giới sau Saudi Arabia lý giải vì sao quốc gia này được giới đầu tư khai thác tài nguyên đánh giá cao. Các ưu điểm khác của Canada bao gồm mức độ ổn định cao và một nền kinh tế khá vững vàng sau khủng hoảng.

    1. Anh

    Xếp hạng: 10 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Giảm 6 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 5

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 96,9 tỷ USD

    GDP 2009: 2.200 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 35.630 USD

    Nguyên nhân tụt hạng của Anh chủ yếu là do nước này chịu tác động nặng nề từ khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, sự đi xuống của giá địa ốc ở xứ sở sương mù đang thu hút sự trở lại của giới đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các quỹ lợi ích quốc gia. Mặc dù ngành tài chính của Anh vừa trải qua cuộc khủng hoảng tồi tệ, sự đa dạng của nền kinh tế này vẫn đem đến cho các nhà đầu tư nước ngoại vô số cơ hội, đặc biệt là với chi phí khá phải chăng hiện nay.

    Đứng ở vị trí thứ 12 trong xếp hạng chung Chỉ số niềm tin FDI, Việt Nam được báo cáo của A.T. Kearney xếp ở vị trí thứ 93 về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh (Ease of Doing Business Ranking). Trong số các nước Đông Nam Á lọt vào Top 25 của xếp hạng Chỉ số niềm tin FDI 2010, Việt Nam đứng trên Indonesia (vị trí 21), Malaysia (vị trí 20), và Singapore (vị trí 24).

    2.1.3. Tác động của tình hình chính trị – xã hội và an ninh của một quốc gia làm luân chuyển vốn quốc tế:

    Dòng vốn quốc tế có xu hướng di chuyển từ các nước có tình hình chính trị bất ổn, nơi thường xảy ra các cuộc biểu tình của nhân dân và thường xuyên xảy ra những cuộc đảo chính bất ngờ. Những quốc gia có nguy cơ khủng bố cao cũng bị các nhà đầu tư dần dần rút vốn ra để tập trung đầu tư vào những nước có tình hình chính trị –  xã hội và an ninh quốc gia được đảm bảo.

    Tình hình chính trị – xã hội và an ninh của Thái Lan bất bình ổn từ cuối năm 2008 khiến cho dòng vốn quốc tế có xu hướng di chuyển ra khỏi Thái Lan. Điển hình là ngành công nghiệp du lịch, chiếm tới gần 7% GDP và cũng là ngành sử dụng nhiều nhân công ở Thái Lan, bị thiệt hại mạnh. Thái Lan đang phải trải qua đợt suy giảm mạnh nhất của ngành du lịch trong gần 5 thập kỷ qua. Năm 2009, ngành du lịch Thái Lan thất thu hơn 200 tỷ Baht do bất ổn chính trị và con số này được dự báo sẽ không khả quan trong năm 2010. Để khắc phục tình trạng này, ngành du lịch Thái Lan đang nỗ lực thúc đẩy du lịch nội địa để bù đắp sự sụt giảm du khách quốc tế. Các doanh nhân nước ngoài đang làm ăn tại Thái Lan lo ngại bất ổn chính trị tại Thái Lan sẽ bùng phát trở lại và có khả năng kéo dài, làm ảnh hưởng đến kế hoạch làm ăn. Và nếu các cuộc biểu tình dẫn tới đối đầu với quân đội và cảnh sát và xung đột leo thang thì sẽ dẫn tới những hậu quả khó lường. Đây cũng chính là nhân tố khiến các nhà đầu tư chuyển hướng đầu tư từ Thái Lan sang các nước có tình hình chính trị – xã hội ổn định hơn, như Việt Nam.

    Với nền chính trị ổn định, Singapore đã thu hút được các nhà đầu tư nước ngòai và cũng lập kỷ lục mới khi lượng FDI đổ vào khoảng 37 tỷ USD

    2.2. Nguyên nhân nguồn vốn vào và ra đối với Việt Nam:

    2.2.1. Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN):

    Thứ nhất là việc thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Trong năm qua, hàng loạt sự kiện quan trọng đã diễn ra, đó là: thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X với việc khẳng định chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế, tăng cường thu hút ĐTNN. Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tổ chức thành công Tuần lễ cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội, tiếp theo là việc Hoa Kỳ thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam.

    Thứ hai nền kinh tế nước ta duy trì tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập và mức sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện đã góp phần mở rộng dung lượng thị trường trong nước. Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường tiêu thụ được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp có vốn ĐTNN.

    Thứ ba là sự ổn định về chính trị – xã hội cùng với sự đảm bảo về an ninh đã làm cho nước ta được cộng đồng các nhà đầu tư quốc tế đánh giá là địa bàn đầu tư an toàn.

    Thứ tư là hệ thống luật pháp chính sách về ĐTNN đã tiếp tục được hoàn chỉnh hơn tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, minh bạch, bình đẳng và thông thoáng hơn cho hoạt động đầu tư kinh doanh. Trong năm qua Chính phủ đã ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu thầu, đồng thời tiếp tục chỉnh sửa nhiều chính sách liên quan đến đầu tư. Nhiều luật mới cũng đã được Quốc hội thông qua, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ hơn, như Luật Chứng khoán, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ Luật Lao động liên quan đến đình công.

    Thứ năm là hoạt động xúc tiến đầu tư đã được triển khai tích cực ở cả trong nước và nước ngoài dưới nhiều hình thức đa dạng, nhằm vào các địa bàn trọng điểm, dự án quan trọng. Đặc biệt việc tổ chức các Hội thảo, Diễn đàn đầu tư trong khuôn khổ các chuyến thăm các nước của Lãnh đạo Chính phủ ta đã thu hút mối quan tâm của hàng trăm tập đoàn, công ty lớn của nước ngoài.

    Thứ sáu là cơ chế đối thoại giữa Chính phủ với các nhà đầu tư được tăng cường thông qua nhiều diễn đàn, nhất là Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam giữa kỳ đã tạo thêm lòng tin của các nhà đầu tư đối với Chính phủ, các Bộ ngành và chính quyền địa phương.

    2.2.2. Nguồn vốn ra khỏi Việt Nam:

    2.2.2.1. Các nhà ĐTNN rút vốn:

    Môi trường đầu tư tại Việt Nam chưa thật sự hấp dẫn.

    – Tư duy kinh tế chậm đổi mới. Chưa tạo lập đồng bộ các loại thị trường theo nguyên tắc thị trường. Nhận thức về chung về ĐTNN đều thống nhất như các chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước là coi ĐTNN là một bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên, thực tế xử lý các vấn đề cụ thể ở nhiều Bộ, ngành và địa phương vẫn còn phân biệt rất khác nhau giữa đầu tư trong nước và ĐTNN, chưa thực sự coi ĐTNN là thành phần kinh tế của Việt Nam. Điều đó thể hiện ngay từ khâu quy hoạch sản phẩm, phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế (lao động, đất đai, vốn…) cũng chưa thực sự cho phép ĐTNN tham gia. Việc xử lý tranh chấp kinh tế giữa các bên cũng thiên về bảo vệ quyền lợi cho phía Việt Nam. Trong những thời điểm khó khăn, ta tranh thủ vốn ĐTNN nhưng khi điều kiện thuận lợi lại có xu hướng không khuyến khích ĐTNN mà để trong nước tự làm; những biểu hiện này có tác động làm  nản lòng nhà ĐTNN.

    – Hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán. Một số Bộ, ngành chậm ban hành các thông tư hướng dẫn các nghị định của Chính phủ.

    – Môi trường đầu tư – kinh doanh nước ta tuy được cải thiện nhưng tiến bộ đạt được còn chậm hơn so với các nước trong khu vực, trong khi cạnh tranh thu hút vốn ĐTNN tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt.

    – Định hướng chiến lược thu hút vốn ĐTNN hướng chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nhưng sự liên kết, phối hợp giữa các doanh nghiệp ĐTNN với doanh nghiệp trong nước còn yếu nên giá trị gia tăng trong một số sản phẩm xuất khẩu (hàng điện tử dân dụng, dệt may) còn thấp. Nhiều tập đoàn công nghiệp định hướng xuất khẩu đầu tư tại Việt Nam buộc phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu đầu vào vì thiếu nguồn cung cấp ngay tại Việt Nam.

    – Công tác quy hoạch còn có những bất hợp lý, nhất là quy hoạch ngành còn nặng về xu hướng bảo hộ sả n xuất trong nước, chưa kịp thời điều chỉnh để phù hợp với các cam kết quốc tế.

    – Nước ta có xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, quy mô nền kinh tế nhỏ bé; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội yếu kém; các ngành công nghiệp bổ trợ chưa phát triển; trình độ công nghệ và năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất cao. Chính sách, biện pháp để khuyến khích huy động tốt nguồn lực trong nước và ngoài nước vào phát triển kinh tế, xã hội còn nhiều hạn chế.

    – Sự phối hợp trong quản lý hoạt động ĐTNN giữa các Bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ. Đánh giá tình hình ĐTNN vẫn nặng về số lượng, chưa coi trọng về chất lượng, còn bệnh thành tích trong cơ quan quản lý các cấp.

    – Tổ chức bộ máy, công tác cán bộ và cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác kinh tế đối ngoại còn hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, không loại trừ một số yếu kém về phẩm chất, đạo đức, gây phiền hà cho doanh nghiệp, làm  ảnh hưởng xấu đến môI trường đầu tư-kinh doanh.

    Khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

    Khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã làm cho nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong năm 2009 giảm đáng kể.

    Theo báo cáo mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng vốn đầu tư đăng ký gồm cả cấp mới và tăng thêm trong năm 2009 chỉ bằng 30% của 2008.

    Yếu tố chủ quan từ phía nhà đầu tư.

    Có nhiều dự án chậm triển khai, hết thời hạn giấy phép, công ty mẹ ở nước ngoài bị phá sản. Không những thế, hàng loạt dự án tỷ USD được cấp phép rầm rộ vào vài năm trước với khá nhiều kỳ vọng về sự “đổi đời” cho nhiều vùng đất, vẫn tiếp tục im hơi lặng tiếng…

    2.2.2.2. Đầu tư vốn ra nước ngoài của Việt Nam:

    Đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng hơn, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sở tại để mở rộng thị trường, đồng thời, tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng cao nâng lực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới

    Tính đến hết năm 2007, qua 16 năm thực hiện ĐTRNN, Việt Nam có 265 dự án ĐTRNN còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 2,006 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 800 triệu USD, chiếm 40% tổng vốn ĐTRNN. Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án. Qua từng giai đoạn, quy mô vốn đầu tư đã tăng dần, điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam; cũng như sự trưởng thành về mọi mặt của doanh nghiệp nhà nước tham gia vào hoạt động ĐTRNN.

     

    Bảng số liệu Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 1989 – 2007.

     

    ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI THEO NĂM

    (Tính tới ngày 31/12/2007 – Chỉ tính những dự án còn hiệu lực)

    STT Năm Số dự án TVĐT ĐT thực hiện
    1 1991 3 4,000,000 2,000,000
    2 1992 3 5,282,051 1,300,000
    3 1993 5 690,831
    4 1994 3 1,306,811
    5 1998 2 1,850,000 1,500,000
    6 1999 10 12,337,793 138,752
    7 2000 15 7,165,370 1,231,142
    8 2001 13 7,696,452 2,622,000
    9 2002 15 191,459,576 37,618,572
    10 2003 24 62,390,970 8,743,252
    11 2004 17 12,463,114 4,761,752
    12 2005 37 437,905,179 4,853,946
    13 2006 36 349,106,156
    14 2007 80 911,819,885 110,000
    Tổng số 265 2,006,037,568 64,879,416

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch Đầu tư

     

    ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI PHÂN THEO NƯỚC

    (Tính tới ngày 31/12/2007 – Chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

    STT Nước tiếp nhận Số dự án TVĐT ĐT thực hiện
    1 Lào 98 1,040,310,380 7,511,733
    2 Angieri 1 243,000,000 35,000,000
    3 Nadagasca 1 117,360,000
    4 Malaysia 4 112,736,615 6,576,840
    5 Irắc 1 100,000,000
    6 Campuchia 28 89,399,869 1,394,014
    7 Liên Bang Nga 12 78,067,407 2,010,000
    8 Hoa Kỳ 30 68,182,754 1,100,000
    9 Cuba 1 44,520,000
    10 Singapore 17 27,565,473 2,460,000
    11 CH liên bang Đức 5 11,542,372 100,000
    12 Thái Lan 4 10,405,200
    13 Indonesia 2 9,400,000 3,240,000
    14 Trung Quốc 5 3,704,150
    15 Tajkistan 2 3,465,272 2,222,000
    16 Angola 4 3,432,387
    17 Ukraina 4 3,357,286 957,286
    18 Myanmar 1 2,314,760
    19 Nhật Bản 6 2,306,050 422,885
    20 Hàn Quốc 6 1,961,000
    21 Cộng Hoà Séc 2 1,935,900 912,000
    22 Hồng Công 6 1,881,513 394,558
    23 Ba Lan 2 1,810,000
    24 Ustrailia 5 1,237,200 378,100
    25 Bỉ 2 1,052,000
    26 Cô oét 1 999,700
    27 Nam Phi 1 950,000
    28 Bristish Virgin Islands 1 900,000
    29 Braxin 1 800,000
    30 Vương quốc Anh 3 500,000
    31 Đài Loan 2 468,000
    32 Italia 1 350,000
    33 CH Uzbekistan 2 850,000 200,000
    34 Bungari 1 152,280
    35 Ấn Độ 1 150,000
    36 Pháp 1
    Tổng số 265 2,006,037,568 64,879,416

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch Đầu tư

    3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư quốc tế:

    3.1. Khái niệm:

    Đối với các nước nhận đầu tư, có 3 hình thức đầu tư chính là ODA, FDI và FPI.

    ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA – viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài. Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.

    FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI, viết tắt của cụm từ Foreign Direct Investment) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty” (theo tổ chức Thương mại thế giới).

    FPI: Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI – viết tắt của cụm từ Foreign Portfolio Investment) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới. Nó chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời. Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp giống như trong hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.

    3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư quốc tế:

    Mục đích đánh giá hiệu quả đầu tư quốc tế:

    Để xác định khả năng đem lại lợi ích của vốn đầu tư từ nước ngoài, từ đó đưa ra những giải pháp nếu hiệu quả đầu tư còn thấp, hay giữ vững và phát huy khi hiệu quả đầu tư cao.

    3.2.1. Hệ số ICOR:

    3.2.1.1. Khái niệm:

    ICOR là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó. Đây là tập hợp các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh Incremental Capital Output Rate. Trong tiếng Việt, ICOR còn được gọi là hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm.

    3.2.1.2. Phương pháp tính:

     

    ICOR = I/∆ GDP

    (∆ GDP = GDPt – GDPt-1)

    Ý nghĩa:  Để GDP tăng tr­ưởng một đơn vị cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư.

    Hệ số ICOR càng lớn sẽ càng cho thấy sự kém hiệu quả của việc dùng vốn đầu tư, vì lúc này để tăng 1 đồng GDP phải bỏ ra nhiều đồng vốn đầu tư hơn.

    Công thức trên có thể được phát triển thành:

    ICOR = k/g

    với k=I/GDP, g= ∆GDP/GDP

    Trong đó:       ICOR: tỷ lệ giữa vốn đầu t­ư và tăng tr­ưởng kinh tế;

    I: vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế­; I = ID+IF

    DGDP: mức tăng tổng sản phẩm quốc nội

    k: tỉ lệ giữa vốn đầu tư và tổng sản phẩm quốc nội

    g: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

    Ý nghĩa:  Để GDP tăng tr­ưởng 1% đòi hỏi tỷ lệ vốn đầu tư phát triển so với GDP phải đạt bao nhiêu %.

    Hệ số ICOR càng cao sẽ càng cho thấy sự kém hiệu quả của việc dùng vốn đầu tư. Vì ICOR nghịch biến với g, nếu ICOR tăng thì g giảm tương đối, mang‎ ý nghĩa mức độ tăng trưởng kinh tế không theo kịp lượng vốn đầu tư.

    Ở các nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở các nước đang phát triển và ở mỗi nước thì hệ số ICOR luôn có xu hướng tăng lên tức là khi kinh tế càng phát triển thì để tăng thêm một đơn vị kết quả sản xuất cần nhiều hơn về nguồn cốn đầu tư. Điều này ví như một học sinh trung bình phấn đấu trở thành học sinh khá thì dễ hơn một học sinh khá phấn đấu trở thành học sinh giỏi.

    3.2.1.3. Tình hình về hệ số ICOR ở Việt Nam trong những năm gần đây:

    Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Tính trung bình từ năm 2007 đến 2008 tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam là 39.7%. Năm 2008, tỷ lệ đầu tư/GDP lên đến 43.1%, còn đến hết tháng 8 năm 2009 tỷ lệ này là 43,9%. Dù đầu tư cao như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ từ 6 – 8.5%, và đến năm 2009, mức tăng trưởng cao của Việt Nam cũng chỉ dừng ở 5,2%, do đó, hệ số ICOR luôn ở mức cao.

    ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế.

    Ngay từ năm 2007, khi hệ số ICOR của Việt Nam dừng ở mức 5-6, đã có những cảnh báo về sự lãng phí trong đầu tư và hiệu quả thấp trong sử dụng nguồn lực của Việt Nam.

    Ông Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, đã phân tích trên Tuần Việt Nam: chỗ yếu của nền kinh tế nước ta là tăng trưởng kém chất lượng. Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001-2007 là 5,2 nghĩa là cần 5,2 đồng vốn đầu tư để tăng được một đồng GDP, cao gấp rưỡi đến gấp hai nhiều nước xung quanh trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá. Các nước làm giỏi, ICOR của họ thời kỳ đầu CNH là trên dưới 3.

     

    Tăng trưởng GDP và ICOR một số quốc gia Đông Á

     

    Quốc gia Giai đoạn GDP (%) Đầu tư/GDP ICOR
    Hàn Quốc 1961-1980 7.9 23.3 3.0
    Đài Loan 1961-1980 9.7 26.2 2.7
    Indonesia 1981-1995 6.9 25.7 3.7
    Thái Lan 1981-1995 8.1 33.3 4.1
    Trung Quốc 2001-2006 9.7 38.8 4.0
    Việt Nam 2001-2006 7.6 39.9 5.3

    Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Ông Nguyên chỉ rõ, năm 2007, vốn đầu tư thực hiện so với GDP là 45,6%, nếu hạ được hệ số ICOR xuống, bước đầu ở mức 4,5 thì tốc độ tăng GDP của Việt Nam đã là 10%.

    Dù các chuyên gia quan ngại và lên tiếng cảnh báo từ lâu nhưng, đến 2008, chỉ số ICOR Việt Nam lại vượt ngưỡng, lên mức 6,66. Và năm 2009, một lần nữa, chỉ số ICOR ở mốc mới. Theo tính toán của Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội, hệ số ICOR năm 2009 của Việt Nam đã lên tới 8, mức cao nhất từ trước tới nay.

    Cho rằng chỉ số ICOR tuyệt đối chỉ mang tính tham khảo, vì có thể có sự khác nhau trong cách tính, tuy nhiên, ông Trần Sĩ Chương, chuyên gia kinh tế độc lập, quan ngại, chỉ so với năm 2008, hệ số ICOR năm 2009 đã tăng 17,5%. “Những nỗ lực của chúng ta trong việc nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế đã không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí còn khiến tình hình kém hơn”.

    Điều này đồng nghĩa với việc trong cuộc “so găng” với các đối thủ trong khu vực, với thể trạng kinh tế yếu như hiện nay, nếu các nước chỉ cần một lần có thể nhấc được mục tiêu, thì Việt Nam phải tốn sức gấp đôi, thậm chí gấp ba.

    Đặt trong tương quan với việc Việt Nam tụt hạng về năng lực cạnh tranh theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, cũng như của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, việc hệ số ICOR tăng thể hiện rõ xu hướng đi xuống của nền kinh tế.

    Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, có hai yếu tố cân nhắc: đầu tư đúng đối tượng, và môi trường kinh doanh liên tục được cải thiện (tính cạnh tranh) để tiền rót vào được sử dụng hiệu quả. Đáng tiếc, soi vào thực tế Việt Nam, cả hai yếu tố đó đều có vấn đề.

    Ông Chương nêu cụ thể: “Danh chính, ngôn thuận thì mọi việc làm mới thuận. Việt Nam nói là kích cầu, nhưng thực chất lại dùng kích cung để thông qua đó hy vọng đẩy cầu lên. Cầu có thật thì cung mới có thật. Trong bối cảnh khủng hoảng, các doanh nghiệp co cụm, kích cung chỉ có thể mang lại hiệu quả giới hạn. Rút cuộc, bỏ ra lượng vốn lớn, nhưng chúng ta không tăng được sự linh hoạt của thị trường, kéo theo đó là hiệu quả đầu tư giảm đi”.

    Đặc biệt, đối tượng thụ hưởng chính của các chính sách kích cầu của Chính phủ là khối các doanh nghiệp nước ngoài, khu vực vốn được nhiều ưu đãi và gây nhiều quan ngại cho các kinh tế gia Việt Nam.

    Chỉ riêng tám tháng đầu năm 2009, tổng số vốn rót ra cho đầu tư công đã tương đương với cả năm ngoái 2008. Theo báo cáo của Chính phủ gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội mới đây, tổng vốn đầu tư phát triển cho cả năm chiếm gần 43% GDP. Trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt khoảng 161 ngàn tỉ đồng, tăng tới 63% so với thực hiện năm 2008 và tăng 42,7% so với kế hoạch năm.

    Trong khi đó, Báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia cho hay, doanh thu sản xuất thuần được tạo ra bởi 1 đồng vốn tại doanh nghiệp nước ngoài thấp. Trong năm 2006 cứ 1 đồng vốn tại doanh nghiệp nước ngoài tạo ra được 0,61 VNĐ doanh thu, chưa bằng một nửa của doanh nghiệp tư nhân trong nước, chỉ bằng 2/3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Lực lượng lao động do doanh nghiệp nước ngoài sử dụng chỉ bằng khoảng 28,4% tổng số lao động của các doanh nghiệp trong khi đó doanh nghiệp tư nhân thu hút 50%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 21,4%.

    Đầu tư công cũng chính là khu vực mà cách đây một năm, Nhà nước quyết tâm siết chặt, rà soát lại, để tăng cường hiệu quả. Nhưng chỉ trong vòng vài tháng, khu vực này lại được tái đầu tư với một số lượng tiền khổng lồ.

    Hơn nữa, hệ thống ngân hàng của Việt Nam được xếp hạng sức khỏe thấp nhất châu Á, chỉ trên Pakistan, thế nhưng, trong điều kiện suy thoái, các ngân hàng đều báo cáo đạt mức lợi nhuận kỷ lục. Liệu trong phần lợi nhuận đó, có bao nhiêu phần thu lợi từ việc kích cầu của chính phủ, và bao nhiêu phần đóng góp cho việc tăng hệ số ICOR của Việt Nam?

    Hướng rót vốn như vậy, nên việc hệ số ICOR tăng không có gì khó hiểu, ông Chương bình luận. Và gắn với hệ số cao ấy, là nguy cơ lạm phát trở lại. Năm 2009, khi nền kinh tế Việt Nam chậm lại, nguy cơ đó chưa rõ ràng, nhưng năm tới, khi kinh tế phục hồi, nếu không có giải pháp sớm, cơ thể kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với đợt sốt mới.

    Ông Chương cảnh báo, với những gì Việt Nam đang làm, nếu kinh tế thế giới không cải thiện sớm và mạnh mẽ trong năm 2010, Việt Nam khó có thể vượt qua được những yếu kém của mình. Vẫn còn một xác suất khá cao là Mỹ và các nước Tây Âu phải cần nhiều năm để vượt qua giai đoạn suy thoái, đi vào phục hồi ổn định. Trong tình huống này, tình hình kinh tế Việt Nam sẽ còn nguy kịch hơn cả đầu năm 2009, bởi khi bệnh, nền kinh tế Việt Nam đã không được uống thuốc đúng khiến cho thể trạng đi xuống, trong đó có cả tác dụng những phản ứng phụ của liều thuốc “kích cầu” vừa qua.

    Lúc này, việc thay đổi nếp sống kinh tế thường nhật, để rèn và nâng cao thể lực của nền kinh tế là cần thiết. Nói cách khác, việc tái cấu trúc cần được đẩy mạnh một cách quyết liệt hơn nữa. Đáng tiếc, yêu cầu này còn bị kìm giữ bởi việc thiếu ý chí đủ mạnh và tập quán “nước tới cổ mới bơi, chứ không chỉ nước tới chân mới nhảy”, ông Chương quan ngại. Việt Nam vẫn còn lờ đờ bước, trong khi những nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao hơn, hiệu quả đầu tư lớn hơn đã tăng tốc tái cấu trúc.

    3.2.2. Hệ số TFP:

    3.2.2.1. Khái niệm:

    TFP (Total Factor Productivity –  Hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp) là một chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất và được đo lường bằng tỷ số giữa đầu ra (được tính theo giá so sánh) với mức kết hợp có quyền số giữa các đầu vào. TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng vào sản xuất. Ngoài ra TFP còn phản ánh hiệu quả do thay đổi công nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ quản lý, thời tiết…

    3.2.2.2. Phương pháp tính:

    GA = GGDP ßKGK  ßLGL

    Trong đó:

    GA: Tốc độ tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp.

    GGDP: Tốc độ tăng trưởng GDP.

    ßK: Tỷ trong của thặng dư sản xuất trong GDP.

                         ßL: Tỷ trọng của thù lao lao động trong GDP.

                         GK: Tốc độ tăng trưởng của vốn.

    GL: Tốc độ tăng trưởng của lao động.

    Khi biết GGDP, ßKGK  ßLGL có thể tính được đóng góp của công nghệ và quản l‎ý GA hoặc ngược lại có thể ước lượng tốc độ tăng trưởng GDP.

    3.2.2.3. Tình hình về hệ số FTP của Việt Nam qua các thời kỳ:

    HỆ SỐ FTP CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

      GDP NN Tư nhân FDI K NN Tư nhân FDI L NN Tư nhân FDI TFP NN Tư nhân FDI
    2000-2009 88,5 71,9 88,9 149,8 54,3 46,2 61,1 65,7 14,0 11,6 11,8 242,3 20,2 14,1 16,0 -158,2
    %         61% 69% 64% 44% 16% 16% 13% 162% 23% 20% 18% -106%
    2004-2009 42,3 28,7 45,8 76,4 30,5 20,7 38,0 48,7 5,2 -0,5 4,8 45,3 6,7 8,6 3,1 -17,6
    %         72% 72% 83% 64% 12% -2% 10% 59% 16% 30% 7% -23%

    Nguồn: chuyên gia kinh tế Bùi Trinh

    Tăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên sự đóng góp ngày càng nhiều của vốn và sự giảm dần mức độ đóng góp của lao động. Trong đó, cơ cấu tăng trưởng của khu vực kinh tế nhà nước – khu vực tập trung nhiều vốn nhất của nền kinh tế – đã cho thấy sự chuyển dịch, đặc biệt về mật công nghệ trong 5 năm trở lại đây, lao động àm việc trong khu vực này giảm, trong khi nguồn vốn hút về vẫn tăng.

    Tuy nhiên, xét theo quy mô vốn sử dụng thì rõ ràng hiệu quả kinh tế cao nhất vẫn thuộc doanh nghiệp các khối tư nhân. Đây là khu vực sử dụng nhiều lao động nhất nhưng dường như vốn đầu tư vẫn chưa đạt mức tương xứng. FDI là khu vực đóng góp ít nhất cho tăng trưởng kinh tế.

    3.2.3. Tỷ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn FDI:

    3.2.3.1. Khái niệm:

    Đây là tỷ lệ giữa số lượng hàng hóa xuất khẩu nhờ vào vốn đầu tư FDI/tổng số lượng hàng xuất khẩu của một quốc gia. Tỷ lệ này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng vốn càng cao.

    3.2.3.2. Tình hình về vốn FDI của Việt Nam qua các năm gần đây:

    FDI hàng năm đều tăng, từ 346 triệu USD năm 1988 lên tới hơn 8.199 tỷ USD năm 1996. Do ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997, luồng FDI có xu hướng suy giảm. Tổng đầu tư trong hai năm 1997 và 1998 (khoảng 8,8 tỷ) mới bằng năm 1996. Tuy nhiên, từ cuối năm 2000, Chính phủ đã có những cải cách và cố gắng nhằm thúc đẩy đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư vào công nghiệp chế tạo. Đến nay, có thể đánh giá là khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng lên đáng kể cả về số lượng và chất lượng, thực sự trở thành một bộ phận cấu thành của nền kinh tế nước ta. Vốn FDI chiếm từ 20 đến 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tính đến tháng 12.2003 có 5.393 dự án của 74 nước được cấp phép với tổng số vốn đăng ký lên đến 44,7 tỷ USD. Trên thực tế, lẽ ra chúng ta đã có thể thu hút được nhiều FDI hơn nữa trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, nếu không có sự cấm vận của Mỹ kéo dài đến năm 1994.

    Trong giai đoạn đầu FDI vào Việt Nam, xây dựng và dịch vụ là những lĩnh vực chính thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, đến năm 2001 các dự án công nghiệp chế tạo đã chiếm 80,7% tổng số dự án được phê duyệt so với 26,3% trong khoảng thời gian 1988-1991; về mặt tỷ trọng vốn, các dự án công nghiệp chế tạo cũng đã tăng từ 22% lên 76,4%. Trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến 2001, các dự án công nghiệp chế tạo chiếm 53,5% tổng số dự án (3.575 dự án), các ngành sơ chế nông lâm sản chiếm 13,7%, xây dựng cơ bản chiếm 12,3%, khối ngành dịch vụ chiếm 19,2%.

    Một đặc điểm nổi bật trong vấn đề đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là sự phát triển của các liên doanh.  Trong giai đoạn 1988-1994, các liên doanh chiếm trên 70% tổng số dự án được phê duyệt và 75% tổng số vốn đăng ký. Trong đó, đa số các liên doanh có đối tác là các doanh nghiệp nhà nước. Điều này đã mang lạicho các doanh nghiệp nhà nước một sức sống mới. Tuy nhiên từ cuối năm 1996, tỷ lệ đầu tư của các dự án liên doanh giảm sút một cách rõ rệt, thay vào đó là xu hướng gia tăng của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đến năm 2001, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 66,8% tổng số vốn đăng ký, trong khi đó liên doanh chỉ còn chiếm 15,6% tổng số vốn đầu tư. Cùng với sự gia tăng trong đầu tư là xu hướng thôn tính của các tập đoàn nước ngoài đối với các liên doanh.

    Có thể nói, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp đáng kể vào việc mở rộng xuất khẩu ở Việt Nam. Tỷ trọng (%) của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trừ dầu thô) trong tổng kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng qua các năm: Từ 4% năm 1991 lên 33,8% năm 2000.

    Bảng dưới đây thể hiện sự đóng góp của FDI đối với nền kinh tế nước ta:

    Năm 1991-1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 11/2004
    Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 1.230 920 1.790 1.982 2.590 3.320 3.673 4.602 6.225 7.788
    Nộp ngân sách

     

    (triệu USD)

      263 315 317 271 324 373 459 500 728
    Tỷ trọng trong GDP

     

    (%)

      7,4 9,1 10,0 11,8 12,7 13,1 13,9 14,3  
    Tạo việc làm

     

    (1.000 người)

      220 250 270 296 379 450 590 665 734

    Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Đến năm 2000, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 56,8%. Trong giai đoạn 1988-1990, hầu hết FDI trong công nghiệp chế tạo là định hướng sản xuất cho thị trường nội địa, số dự án được phê duyệt có tỷ lệ xuất khẩu trên 50% sản lượng chỉ chiếm dưới 20%. Giai đoạn 1999-2001 đánh dấu một bước tiến mới trong xuất khẩu của các dự án đầu tư có vốn nước ngoài, trên 70% số doanh nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu từ 50% sản lượng trở lên (đa số có tỷ lệ xuất khẩu từ 80 đến 100%).

    Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế nước ta. Tỷ trọng của các doanh nghiệp này trong GDP tăng từ 1,4% năm 1991 lên 14,3% năm 2003, và chiếm khoảng 20% trong tổng số gia  tăng GDP thực tế của giai đoạn này. Tổng sản lượng công nghiệp của khu vực này cũng liên tục tăng qua các năm: Từ 25% năm 1995 lên tới 35,5% vào năm 2000.

    Tuy nhiên, sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài vào vấn đề giải quyết việc làm không lớn như đóng góp của nó vào tăng trưởng GDP và sản lượng công nghiệp. Đến năm 2004, tổng số việc làm trong các doanh nghiệp khu vực này khoảng 700.000 người, tức là chỉ đạt khoảng 1% tổng số việc làm của toàn bộ nền kinh tế. Con số này phản ánh xu hướng sử dụng nhiều vốn và hàm lượng công nghệ trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, FDI đã góp phần tạo được một đội ngũ quản lý, lao động có chất lượng cao, phong cách làm việc công nghiệp. Nếu có kế hoạch sử dụng tốt lực lượng này thì đây sẽ là cơ sở để cải thiện chất lượng đội ngũ lao động của chúng ta.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-th%C3%BAc-%C4%91%E1%BA%A9y-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0o-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-b%E1%BB%91i-c%E1%BA%A3nh-to%C3%A0n-c%E1%BA%A7u-ho%C3%A1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới. Đầu tư quốc tế diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và trong nhiều lĩnh vực vì nó mang lại nguồn lợi rất lớn cho cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư. Do đó các nước đầu tư tích cực tìm kiếm thị trường mới, hấp dẫn để đầu tư thu lợi nhuận, còn nước nhận đầu tư cũng tạo mọi điều kiện để thu hút đầu tư

    3

    nước ngoài. Trong bối cảnh đó Việt Nam cũng đang tích cực tham gia vào nền kinh tế thế giới với những nỗ lực trong tất cả các mặt. Trong đó thu hút đầu tư nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp Việt Nam có những bước “chuyển mình” nhanh hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Tình hình thực tiễn nước ta cho thấy nước ta rất cần công nghệ tiên tiến và nguồn vốn đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt Nam giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ

    Nhận thấy vai trò to lớn của đầu tư nước ngoài đối với việc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá tôi chọn đề tài : “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” làm khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế ngoại thương trường Đại học Ngoại thương. Đây là một đề tài tương đối rộng và hấp dẫn. Do giới hạn của khoá luận tôi xin chỉ tập trung chủ yếu phần “Đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Phần “Hỗ trợ phát triển chính thức” tôi xin được giới thiệu sơ lược.

    Xin chân thành cảm ơn ThS. Nguyễn Thị Việt Hoa đã giúp tôi hoàn thành đề tài này

    Hà nội ngày 11-03-2003

    Người thực hiện

    Nguyễn Đình Cẩn

    4

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ TOÀN CẦU HOÁ

    I.Khái niệm và đặc điểm đầu tư, đầu tư nước ngoài

    1.Khái niệm và đặc điểm đầu tư

    Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội.

    Nguồn vốn đầu tư này có thể là những tài sản hữu hình như đất đai, nhà cửa, nhà máy, thiết bị, hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết

    5

    thương mại… Các doanh nghiệp còn có thể đầu tư bằng cổ phần, trái phiếu, các quyền về sở hữu tài sản khác như quyền thế chấp, cầm cố hoặc các quyền có giá trị về mặt kinh tế như các quyền thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

    Đối với nền kinh tế nói chung, toàn bộ việc đầu tư được tiến hành ở một thời kỳ nhất định là nhân tố cơ bản duy trì và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế trong thời kỳ tiếp theo. Xét về lâu dài, khối lượng đầu tư của ngày hôm nay sẽ quyết định dung lượng sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiện đời sống trong tương lai.

    Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản vào một việc mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất-xã hội phát triển.

    2.Khái niệm và đặc điểm đầu tư quốc tế

    Đầu tư quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.

    Đầu tư quốc tế mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung. Tuy nhiên, nó có thêm một số đặc điểm quan trọng khác so với đầu tư nội địa:

    • Chủ đầu tư là người nước ngoài. Đặc điểm này có liên quan đến các khía cạnh về quốc tịch, luật pháp, ngôn ngữ, phong tục tập quán,…Nói chung, đây là các yếu tố làm tăng thêm tính rủi ro và chi phí đầu tư của các chủ đầu tư ở nước ngoài.

    6

    • Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới. Đặc điểm này có liên quan chủ yếu đến các khía cạnh về chính sách, pháp luật, hải quan và cước phí

    vận chuyển.

    Về bản chất, đầu tư quốc tế là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ xung và hỗ trợ nhau trong chiến lược thâm nhập chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nước ngoài hiện nay. Nhiều trường hợp, việc buôn bán hàng hoá ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư. Đến lượt mình, việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư ở nước sở tại lại là điều kiện để xuất khẩu máy móc, vật tư nguyên liệu và khai thác tài nguyên của nước chủ nhà.

    Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ hợp thành những dòng chính trong trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu. Sự phát triển của đầu tư quốc tế gắn liền với quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các quốc gia và sự phát triển của xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá. Nhu cầu về vốn của các nước đang phát triển và sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn làm cho đầu tư quốc tế diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và rộng khắp.

    II.Phân loại đầu tư nước ngoài

    1.Đầu tư tư nhân

    1.1.Đầu tư trực tiếp :

    Đây là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thương mại.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm sau :

    7

    Đây là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế

    Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỉ lệ góp vốn của mình. Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ. Trong khi đó, Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức 100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án.

    Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…Đây là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được

    Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.

    1.2.Đầu tư chứng khoán :

    Đây là hình thức đầu tư quốc tế quan trọng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng hình thức mua chứng khoán của các công ty ở nước sở tại để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp công ty.

    Hình thức đầu tư này có những đặc điểm sau :

    8

    Phạm vi đầu tư có giới hạn vì các chủ đầu tư nước ngoài chỉ quyết định mua cổ phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát triển trong tương lai.

    Số lượng cổ phần mà các công ty nước ngoài được mua bị khống chế ở mức độ nhất định tuỳ theo từng nước để không có cổ đông nào chi phối doanh nghiệp. Thông thường số cổ phần này dưới 10 đến 20% vốn pháp định.

    Chủ đầu tư nước ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh nghiệp, do đó bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh. Thu nhập của chủ đầu tư nước ngoài có thể cố định hoặc không cố định tuỳ thuộc vào loại chứng khoán mà họ đầu tư.

    Doanh nghiệp có khả năng phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp nhưng ngược lại doanh nghiệp được đầu tư không có cơ hội tiếp thu kinh nghiệm quản lí hiện đại và công nghệ kỹ thuật tiên tiến.

    1.3.Tín dụng thương mại :

    Đây là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền vay.

    Tín dụng thương mại có những đặc điểm sau :

    Vốn đầu tư dưới dạng tiền tệ để chuyển thành các phương tiện đầu tư khác, doanh nghiệp vay vốn toàn quyền sử dụng các khoản vốn vay

    Ngân hàng cung cấp vốn tuy không tham gia vào hoạt động doanh nghiệp, nhưng trước khi cho vay đều nghiên cứu tính khả thi của dự án đầu tư, có yêu cầu về thế chấp các khoản vay hoặc bảo lãnh để giảm rủi ro

    Chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận qua lãi suất ngân hàng theo khế ước vay độc lập với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vay, có quyền sử dụng những tài sản đã thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan bảo lãnh thanh toán khoản vay trong trường hợp bên vay không có khả năng thanh toán.

    9

    2. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

    Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ có hoàn lại của chính phủ, các tổ chức liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ.

    Hỗ trợ phát triển chính thức có các đặc điểm sau :

    Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lí sử dụng vốn ODA, nhưng thông thường danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ

    Hỗ trợ phát triển chính thức chủ yếu dành cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội.

    Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới được

    nhận tài trợ. Điều kiện này tuỳ thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ

    Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi.

    Tuy vậy nếu quản lí, sử dụng vốn ODA kém hiệu quả vẫn có thể để lại gánh

    nặng nợ nần cho tương lai

    Các hình thức cơ bản của ODA :

    2.1.Hỗ trợ dự án : Đây là hình thức đầu tư chủ yếu của vốn ODA. Nó có thể bao gồm những hỗ trợ cơ bản cho các dự án cải thiện, nâng cấp hoặc xây dựng mới cơ sở hạ tầng và những hỗ trợ về mặt kĩ thuật cho dự án như chuyển giao tri thức, tăng cường lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu lập luận chứng kinh tế – kĩ thuật của dự án, trợ giúp hoạch định chính sách

    2.2. Hỗ trợ phi dự án : Chủ yếu là viện trợ chương trình đạt được sau khi kí các hiệp định với đối tác tài trợ dành cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, không cần xác định chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào

    10

    2.3.Hỗ trợ cán cân thanh toán : Bao gồm các khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp bằng tiền hoặc hỗ trợ bằng hiện vật, hoặc hỗ trợ cho nhập khẩu

    2.4. Tín dụng thương mại : Đây là những khoản tín dụng dành cho chính phủ các nước sở tại với các điều khoản ‘mềm” về lãi suất, thời gian ấn hạn, thời hạn trả dài nhưng có những ràng buộc nhất định. Nguồn vay tín dụng thương mại này có thể từ các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu A (ADB). Chẳng hạn, Quỹ tiền tệ quốc tế có thể cho vay dưới nhiều hình thức như tín dụng thông thường, tín dụng dài hạn hoặc bổ sung, tín dụng bù đắp thất thu xuất khẩu, tín dụng điều chỉnh cơ cấu.

    III.Đầu tư nước ngoài trong xu thế toàn cầu hoá

    1.Khái niệm và đặc trưng của toàn cầu hoá:

    Toàn cầu hoá là quá trình hình thành một chỉnh thể thống nhất toàn thế giới, là sự ảnh hưởng, tác động, xâm nhập xuyên biên giới trong các lĩnh vực đời sống, kinh tế xã-hội và phát triển trong một trật tự hệ thống toàn cầu.

    Toàn cầu hoá được thể hiện qua một mạng lưới rất dày đặc các hoạt động kinh tế trên phạm vi quốc tế và các cơ cấu biểu hiện tính tuỳ thuộc lẫn nhau gia tăng.

    Trào lưu này dựa trên quá trình tự do hoá các chính sách kinh tế, dựa trên tiến bộ công nghệ, khoa học kĩ thuật tăng nhanh trong các lĩnh vực giao thông vận tải, viễn thông, truyền thông.., đồng thời dựa trên xu hướng quốc tế hoá ngày càng mạnh mẽ trong các hoạt động doanh nghiệp

    Toàn cầu hoá tạo ra sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia, các dân tộc, giữa các lĩnh vực sản xuất khác nhau, giữa các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội khác nhau trong sự phát triển. Toàn cầu hoá là tất yếu, nó thể hiện nhiều mặt, nhiều tầng nấc và nhiều yếu tố cấu trúc

    11

    khác nhau, như mặt nền tảng vật chất kỹ thuật, công nghệ (quá trình sản xuất và sản phẩm làm ra) ngày càng có hàm lượng tri thức cao và có thể do nhiều công ty của nhiều nước hợp tác chế tạo. Mức độ liên kết thị trường thế giới về hàng hoá, về tài chính thành một hệ thống quan hệ tương tác ngày càng tăng; hệ thống thông tin toàn cầu càng kết nối thành mạng lưới chặt chẽ tác động mạnh mẽ đến mọi người, mọi tổ chức, mọi quốc gia. Ngoài ra toàn cầu hoá còn thể hiện ở các mặt khác như : toàn cầu hoá về kinh tế kỹ thuật (tự do hoá thương mại toàn cầu, hệ thống phân công lao động quốc tế, hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế) và toàn cầu hoá về mặt thể chế các tổ chức quốc tế (Liên hợp quốc-UN, Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF, Ngân hàng thế giới-WB, Ngân hàng phát triển châu á-ADB) và cả thể chế, đặc thù các lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường).

    Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá là những nước khác nhau về tiềm lực, khả năng, hoàn cảnh, điều kiện lợi ích và mục tiêu. Hệ quả là tiến trình phát triển của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá nhất định bị tác động theo những hướng khác nhau như tính không thống nhất về lợi ích, kéo theo đó là sự phức tạp của các mối quan hệ tác động khác làm cho sự lựa chọn giải pháp hội nhập vào toàn cầu hoá của mỗi quốc gia trở nên khó khăn hơn, mặt khác nó cũng tạo ra những yếu tố cạnh tranh thuận lợi hơn cho mỗi quốc gia.

    2.Xu thế toàn cầu hoá trong những năm gần đây:

    Trong những năm gần đây quá trình toàn cầu hoá diễn ra với quy mô ngày càng lớn, với một tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới như buôn bán, tổ chức sản xuất, nghiên cứu khoa học công nghệ cũng như cả lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hoá và lối sống. Điều đó làm cho nền kinh tế thế giới trở thành một chỉnh thể thống nhất trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, giữa chúng có sự tuỳ thuộc lẫn nhau. Quá trình

    12

    toàn cầu hoá này diễn ra ở những cấp độ khác nhau và ngày càng trở nên gay gắt : không những vấn đề lương thực, vấn đề môi trường sinh thái, vấn đề dân số và cả vấn đề nợ nước ngoài. Nhất thể hoá kinh tế được tăng cường với sự nương tựa vào nhau ngày càng nhiều giữa các quốc gia. Xu hướng khu vực hoá thể hiện ở việc hình thành các liên kết khu vực với các hình thức đa dạng: Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn kinh tế châu á – Thái Bình Dương (APEC).

    Xu hướng toàn cầu hoá đặt ra một yêu cầu tất yếu: Mỗi quốc gia phải mở cửa ra thị trường thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế và khu vực để có được khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển của mình. Nếu quốc gia kém phát triển, đơn thương độc mã, không có bạn hàng lâu dài, không có đối tác thực sự với nền kinh tế yếu kém rất dễ bị tổn thương và dễ trở thành vật hi sinh cho lợi ích của các nước khác. Chỉ lấy việc gia nhập WTO cũng đủ thấy được tầm quan trọng của vấn đề toàn cầu hoá đối với mỗi quốc gia. Một nước chỉ khi gia nhập tổ chức này mới tránh được sự phân biệt đối xử của các nước – cộng đồng quốc tế trong quan hệ thương mại, được hưởng các ưu đãi và miễn trừ theo quy định quốc tế của WTO, trong đó có điều kiện ưu đãi tối huệ quốc và ưu đãi thuế quan phổ cập, hàng hoá của nước đó mới có điều kiện đi vào thị trường rộng lớn và ít gặp trở ngại. Mặt khác, đối với những quốc gia mà trình độ khoa học kỹ thuật còn non yếu, khi gia nhập WTO sẽ tranh thủ được sự trợ giúp kỹ thuật, công nghệ, đào tạo nhân lực, đồng thời cũng là điều kiện cần để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm hơn khi đầu tư vào nước đó. Như vậy lợi ích mà toàn cầu hoá mang lại chính là một trong những nguyên nhân đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá và làm cho nó diễn ra ngày càng gay gắt.

    3.Tác động của toàn cầu hoá đến đầu tư nước ngoài:

     

    13

    Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đang trở thành động lực đưa nền kinh tế các nước liên kết, ảnh hưởng lẫn nhau trên hầu hết các lĩnh vực. Kết quả của quá trình hoà nhập là từng bước làm lu mờ dần những đường biên giới quốc gia trên sa bàn hoạt động của một số công ty xuyên quốc gia lớn trên thế giới. Nhiều công ty loại này đã bỏ vốn đầu tư, tận dụng những lợi thế của nước nhận đầu tư để sản xuất hàng hoá tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu của các thị trường mới, thay vì trước đây họ phải thông qua con đường xuất khẩu hàng hoá chịu nhiều lực cản. Toàn cầu hoá và đầu tư nước ngoài đã tác động, chi phối lẫn nhau một cách đáng kể. Đầu tư nước ngoài thúc đẩy toàn cầu hoá nhanh chóng, ngược lại, toàn cầu hoá là điều kiện quan trọng làm tăng lượng vốn đầu tư của toàn thế giới.

    Trong bối cảnh hiện nay, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh chóng, với quy mô và tốc độ ngày càng lớn tạo nên một nền kinh tế thị trường toàn cầu, trong đó tính phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế dân tộc ngày càng ra tăng. Nền kinh tế dân tộc đều theo xu hướng mở cửa và theo quỹ đạo của kinh tế thị trường. Trong điều kiện trình độ phát triển sản xuất , khả năng về vốn và công nghệ, nguồn tài nguyên, mức độ chi phí ở các nước khác nhau, nguồn vốn đầu tư quốc tế với tư cách của loại hàng hoá đặc biệt tất yếu sẽ tuân theo những quy luật của thị trường vốn là chảy từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn theo tiếng gọi của lợi nhuận cao

    Hiện nay, trình độ chênh lệch phát triển giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển ngày càng dãn cách ra, nhưng sự phát triển của một nền kinh tế toàn cầu đang đòi hỏi phải kết hợp chúng lại. Các nước tư bản phát triển không chỉ coi các nước đang phát triển là địa chỉ đầu tư hấp dẫn do chi phí thấp-lợi nhuận cao, thuận lợi cho việc dịch chuyển thiết bị công nghệ lạc hậu mà còn thấy rằng sự thịnh vượng của các nước này sẽ nâng cao sức mua và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Về phần mình

    14

    các nước đang phát triển cũng trông chờ và mong muốn thu hút được vốn đầu tư công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hoá , khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. Như vậy, quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy đầu tư quốc tế phát triển đáp ứng nhu cầu mạnh mẽ của cả các nước nước đầu tư và nước nhận đầu tư trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu.

    4.Tình hình đầu tư nước ngoài của các quốc gia trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá:

    Từ cuối những năm 1980 trở lại đây, sự vận động và các điều kiện của thế giới có những chuyển biến căn bản, sâu sắc với sự tan rã về mặt thể chế của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Sự cách biệt giữa hai hệ thống đã giảm dần; nền kinh tế của hầu hết các quốc gia đều theo thể chế thị trường; xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế đang trở thành phổ biến và diễn ra với tốc độ nhanh. Lĩnh vực đầu tư nước ngoài chịu sự tác động mạnh của xu hướng thị trường hoá toàn cầu, trong đó thị trường vốn quốc tế dưới hình thức đầu tư nước ngoài là một trong những địa hạt được giải phóng mạnh mẽ. Tham gia thị trường vốn đầu tư giờ đây không chỉ có những nước theo cơ chế kinh tế thị trường truyền thống, mà các thành viên đã mở rộng hầu như không có ngoại lệ ở phía “cầu” và thêm không ít những thành viên, nhất là các nước công nghiệp mới ở phía “cung”. Điều quan trọng hơn cả của sự gia tăng về số lượng này có lẽ phải nói đến một môi trường cơ chế kinh tế nói chung cũng như không khí kinh doanh tạo dòng di chuyển vốn đầu tư nước ngoài có được những thuận lợi hơn bao giờ hết. Đầu tư nước ngoài đang ngày càng trở thành loại hình hoạt động kinh tế sôi động trên thế giới, và được biểu hiện như sau:

    -Lượng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng qua các năm, trong đó các nước phát triển luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu kể cả lượng vốn đầu tư ra lẫn lượng vốn tiếp nhận vào. Tỷ trọng của các nước phát

    15

    triển trong tổng vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới năm thấp nhất cũng chiếm tới 84,9% lượng vốn đầu ra, và 57,9% lượng vốn tiếp nhận vào. (nguồn: Vietnam Economic time, 2002).

    -Trong các nước đang phát triển thì các nước châu A là khu vực thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài ở mức cao nhất so với các khu vực khác. Các nước Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản là nhóm nước chủ yếu cung cấp lượng vốn đầu tư nước ngoài cũng như là địa bàn tiếp nhận phần lớn vốn đầu tư nước ngoài của thế giới.

    -Các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia ngày càng thể hiện vai trò chi phối mạnh mẽ đối với vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới. Hiện nay, chiến lược chính của các công ty xuyên quốc gia là bành trướng mạnh ra nước ngoài bằng cách đầu tư trực tiếp dưới các hình thức: lập liên doanh với một hoặc nhiều đối tác ở nước nhận đầu tư, lập chi nhánh với 100% vốn công ty, hợp nhất hoặc mua lại quyền sở hữu của một hãng ở nước nhận đầu tư, liên minh với một hoặc nhiều công ty xuyên quốc gia khác để đầu tư đến địa bàn thích hợp. Nhìn chung lượng vốn FDI trên thế giới hiện nay chủ yếu được xuất phát từ các công ty xuyên quốc gia.

    • Trong thời gian qua đã có sự chuyển hướng căn bản của các nhà đầu tư. Vào những năm 1980, các nhà đầu tư thường tìm kiếm để đầu tư vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động, khai thác tài nguyên, và các ngành sản xuất vật chất là chủ yếu. Thời gian gần đây các nhà đầu tư lại quan tâm nhiều hơn đến việc đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất có công nghệ cao, các ngành dịch vụ và cơ sở hạ tầng, nhất là ngành viễn thông, điện, nước, giao thông vận tải.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ

     

    16

    I.Tính tất yếu khách quan của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    1.Bối cảnh thế giới tác động đến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam :

    Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thế giới đang tiến dần đến một chỉnh thể thống nhất. Nó tạo điều kiện cho các nước tham gia vào “sân chơi” chung rộng lớn trên trường quốc tế, giúp cho các nước có điều kiện tốt hơn để tạo ra môi trường kinh tế, chính trị-xã hội thuận lợi cho sự phát triển của mình. Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ kéo theo sự gia tăng của các hoạt động đầu tư nước ngoài. Các quốc gia ngày càng ưu tiên cho sự phát triển kinh tế với sự gia tăng các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế như trao đổi thương mại, chuyển giao khoa học- công nghệ và đặc biệt là hợp tác đầu tư. Các nước công nghiệp phát triển đang ra sức tìm kiếm thị trường đầu tư thuận lợi để đem lại lợi nhuận cao. Trong khi đó, các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) là một thị trường đáng chú ý đối với các nhà đầu tư vì đầu tư vào các nước đang phát triển, các nhà đầu tư có thể giảm được chi phí do sử dụng lao động và nguồn tài nguyên rẻ, ngoài ra các nhà đầu tư có thể giải quyết được tình trạng thừa vốn và kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm của doanh nghiệp ở thị trường này. Trong khu vực Đông A- Tây Thái Bình Dương Việt Nam có vị trí địa lý chính trị quan trọng với nhiều ưu thế hấp dẫn các nhà đầu tư. Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của họat động đầu tư quốc tế, nhu cầu đầu tư của các nước công nghiệp phát triển và sự hấp dẫn của thị trường Việt Nam đã thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    2. Nhu cầu thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam:

     

    Từ năm 1986 Việt Nam khủng hoảng , thực hiện

    đã nhận thấy một trong các giải pháp để thoát khỏi thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá

    17

    đất nước, từng bước tham gia quá trình toàn cầu hoá đó là phát triển kinh tế đối ngoại. Trong đó , thu hút đầu tư là vấn đề quan trọng vì nó đáp ứng được những đòi hỏi của tình hình thực tiễn ở Việt Nam, đó là :

    -Tình hình cụ thể của Việt Nam đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao thu nhập quốc dân. Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn, nguồn vốn này không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích luỹ nội bộ trong một thời gian ngắn của một đất nước còn nghèo. Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam gặp phải vấn đề nan giải là thiếu vốn do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không có tích luỹ. Điều đó đã hạn chế đến qui mô đầu tư và đổi mới kỹ thuật gây ra tình trạng mất cân đối trong xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán thường xuyên bị thiếu hụt, đất nước thiếu ngoại tệ. Việc thu hút nguồn vốn nước ngoài giúp Việt Nam giải quyết các khó khăn về khả năng tích luỹ vốn thấp và bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán.

    -Công nghệ của Việt Nam còn lạc hậu, năng suất thấp do trình độ phát triển kinh tế xã hội, giáo dục, khoa học ở trong nước còn hạn chế. Việt Nam có rất ít khả năng phát triển công nghệ mới, hiện đại và tiên tiến. Mặt khác khả năng tự nhập khẩu công nghệ của Việt Nam cũng rất hạn chế . Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt Nam thu được công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài.

    -Việt Nam là một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, nền công nghiệp còn nhỏ bé, lực lượng lao động dư thừa còn rất nhiều. Đầu tư quốc tế sẽ giải quyết một phần tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam. Thông qua việc tạo ra các xí nghiệp mới hoặc làm tăng quy mô của các đơn vị kinh tế đầu tư quốc tế tạo ra công ăn việc làm cho một số lượng khá lớn người lao động, bên cạnh đó, đầu tư quốc tế góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp

    18

    hoá và đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ.

    Như vậy, yêu cầu phát triển nội tại và thực tiễn khách quan trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã và đang đòi hỏi Việt Nam cần tới nguồn đầu tư nước ngoài để hội nhập cùng dòng chảy kinh tế-xã hội trên thế giới. Do đó đầu tư quốc tế là xu thế tất yếu, là con đường hiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, và buộc phải thực hiện bởi các sức ép bên trong, bên ngoài nước và nước ta cũng không phải là ngoại lệ.

    II.Thực trạng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua

    1.Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua.

    1.1.Vốn và số dự án đăng ký:

    Việt Nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực từ một đến hai thập kỷ.Tính đến tháng 12 năm 2002 có 4301 dự án FDI hoạt động ở Việt Nam, sử dụng 60 vạn lao động trực tiếp với tổng số vốn đăng ký là 42870 triệu USD. Tính bình quân mỗi năm Việt Nam cấp phép cho 286 dự án với mức 2858 triệu USD vốn đăng ký (theo Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2002-2003).

    Bảng 1 “Vốn và số dự án FDI vào Việt Nam” (trang 19) dưới đây cho thấy nhịp độ thu hút FDI của Việt Nam có xu hướng tăng nhanh từ năm 1988 đến năm 1995 cả về số dự án cũng như vốn đăng ký. Sở dĩ năm 1996 có lượng vốn tăng vọt là do có hai dự án đầu tư vào lĩnh vực phát triển đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được phê duyệt với qui mô dự án lớn (hơn 3 tỷ USD/2 dự án). Như vậy, nếu xét trong suốt cả thời kỳ 1988-2002 thì năm 1995 có thể được xem là năm đỉnh cao về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam cả về vốn đăng ký cũng như quy mô dự án

    19

    Luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam giảm mạnh xuống còn 2189 triệu USD (tính theo vốn thực hiện) vào năm 1998 và khoảng 1933 triệu USD năm 1999 khi Việt Nam bắt đầu phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở châu A. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký năm 1999 là 1,5 tỷ USD, tức là khoảng 40,2% so với mức 3,8 tỷ USD của năm 1998. Khủng hoảng kinh tế – tài chính khu vực đã ảnh hưởng rất lớn đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Phần lớn vốn đầu tư nước ngoài (trên 70%) vào Việt Nam là xuất phát từ các nhà đầu tư châu A (trong đó các nước ASEAN chiếm gần 25 %, các nước và lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc A như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan chiếm trên 31%). Khi các nền kinh tế này lâm vào khủng hoảng, các nhà đầu tư ở đây rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính, khả năng đầu tư ra nước ngoài bị giảm sút. Sự đột biến về kinh tế theo chiều hướng xấu như vậy đã buộc họ xin hoãn việc thực hiện dự án, hay một số công ty đang trong thời kỳ lập kế hoạch đầu tư ra nước ngoài bị mất đi khả năng thực hiện kế hoạch đã định. Ngoài ra, việc cắt giảm một số ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và điều kiện nội tại của nền kinh tế Việt Nam cũng là những nguyên nhân làm cho tình hình đầu tư vào Việt Nam trong giai đoạn này bị giảm sút đáng kể. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký năm 2000 là hơn 2 tỷ USD tăng 30 % so với cùng kỳ năm trước. Năm 2001 tổng số vốn đầu tư trực tiếp theo đăng ký là 2,5 tỷ USD nhưng sau đó giảm xuống còn 1,3 tỷ USD vào năm 2002.

    Nếu theo số lượng vốn đăng ký thì quy mô dự án bình quân của thời kỳ 1988-2002 là 13,44 triệu USD/dự án. So với một số nước ở thời kỳ đầu thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì quy mô dự án đầu tư vào nước ta bình quân ở thời kỳ này là không thấp. Nhưng, có vấn đề rất đáng quan tâm là quy mô dự án theo vốn đăng ký bình quân của năm 1999

    20

    lại nhỏ đi một cách đột ngột (5,04 triệu USD/dự án). Quy mô dự án theo vốn đăng ký bình quân của năm 1999 chỉ bằng 37,5% quy mô bình quân của thời kỳ 1988-2002 và chỉ bằng 28,5% quy mô dự án bình quân của năm cao nhất (năm 1995). Quy mô vốn bình quân của các dự án mới được cấp phép trong năm 2000 tuy đã tăng lên (bằng 107,5% mức bình quân của năm 1999), nhưng sang năm 2001 mặc dù có thêm một số dự án với quy mô đầu tư lớn (dự án nhà máy điện Phú Mỹ III có số vốn đăng ký 412,9 triệu USD; dự án xây dựng mạng điện thoại di động có số vốn đăng ký 230 triệu USD; dự án chế biến nông sản tại TP Hồ Chí Minh có số vốn đăng ký 120 triệu USD; dự án máy in phun của công ty trách nhiệm hữu hạn CANON Việt Nam có vốn đăng ký 76,7 triệu USD;..) nhưng quy mô vốn bình quân của các dự án cũng chỉ đạt ở mức bằng 97,4% mức bình quân của năm 2000. Khối lượng đầu tư nước ngoài được cấp phép trong năm 2001 vốn đã không phải là lớn, vậy mà năm 2002 còn đạt thấp hơn năm 2001 là 46% (đó là chưa kể đã có thêm 93 dự án cũ bị giải thể trước thời hạn với tổng vốn đăng ký gần 700 triệu USD). Hơn nữa, với 670 dự án mới cấp phép này mà tổng vốn đăng ký chỉ hơn 1,33 tỷ USD thì quy mô đầu tư mỗi dự án chưa đầy 2 triệu USD và tập trung vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ, dịch vụ. Điều đó chứng tỏ, năm 2001, 2002 có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là thuộc các dự án quy mô nhỏ.

    Như vậy, từ năm 1988-2002 vốn FDI theo đăng ký tăng lên đến đỉnh điểm là năm 1996 sau đó có xu hướng giảm dần. Trong giai đoạn hiện nay, tuy luồng FDI vào Việt Nam bị suy giảm, nhưng Việt Nam vẫn có nhiều điều kiện thuận lợi để phấn đấu nâng cao khả năng cạnh tranh với các nước khác trong khu vực trong thu hút FDI.

    21

    Bảng 1: Số dự án và vốn FDI được cấp giấy phép tại Việt Nam. (chưa kể

    các dự án của VIETSOVPETRO) :              
                       
    Năm Số Vố n đăng Qui Số dự án Vố n đăng Qui
      dự án (triệuUSD so với so  với so với
        (triệuUSD /dự án)   năm   năm trước năm  
            trước. (%) (%)   trước(%)
    1988 37 371,8 10,05              
                       
    1989 68 582,5 8,57   183,78   156,67 85,27  
                       
    1990 108 839,0 7,77   158,82   144,03 90,67  
                       
    1991 151 1322,3 8,76   139,81   157,60 112,74  
                       
    1992 197 2165,0 11,0   130,46   163,73 125,57  
                       
    1993 269 2900,0 10,78   136,55   133,95 98,00  
                       
    1994 343 3765,6 10,98   127,51   129,85 101,85  
                       
    1995 370 6530,8 17,65   107,87   173,43 160,75  
                       
    1996 325 8497,3 26,15   87,84   130,11 148,16  
                       
    1997 345 4649,1 13,48   106,15   54,71 58,23  
                       
    1998 275 3897,0 14,17   79,71   83,83 105,12  
                       
    1999 311 1568,0 5,04   113,09   40,24 35,57  
                       
    2000 371 2012,4 5,42   119,3   128,3 107,5  
                       
    2001 461 2436,0 5,28   124,3   121,0 121,0  
                         
    2002 670 1333,2 1,98   145,3   54,7   37,8  
                         
    Tổng 4301 42870 13,42              
                         

    Nguồn : Niên giám thống kê 2000, NXB Thống kê, Hà nội-2001 Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2001-2002

    Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2002-2003 1.2.Cơ cấu vốn đầu tư :

    22

    1.21.Cơ cấu vốn đầu tư theo chủ đầu tư :

    Tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2002 đã có 62 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam : Tính theo vốn đăng ký (cấp mới) thì trong tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời kỳ 1988-2002 có khoảng 66% từ các nước châu A, khoảng 20% từ các nước châu Âu, hơn 13% từ các nước châu Mỹ. Tuy nhiên, số liệu thống kê địa chỉ của các nhà đầu tư như trên cũng chưa thể phản ánh đúng các chủ đích thực sở hữu các nguồn vốn. Trong xu thế phát triển chung hiện nay, nhiều doanh nghiệp, công ty, tập đoàn đã mở rộng mạng lưới đại diện, các công ty con ra nhiều quốc gia khác (có điều kiện thành lập thuận lợi và được hưởng nhiều ưu đãi..). Thông qua hệ thống này họ thực hiện các dự án đầu tư vào Việt Nam, ví dụ : các tập đoàn HSBC Holdings (Anh), ABB (Thụy Điển), Keppel (Singapo), đã thông qua các chi nhánh của họ tại Hồng Kông để đầu tư vào Việt Nam; Công ty Unilever (Anh) thông qua công ty con có trụ sở ở Singapo để đầu tư vào Việt Nam;…

    Trong tổng số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam có 42 nước và vùng lãnh thổ có tổng số vốn đầu tư (đăng ký) từ 10 triệu USD trở lên, theo thứ tự như sau : (Bảng 2 trang 21)

    23

    Bảng 2 : Chủ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam có tổng số vốn đăng ký hơn 10 triệu USD (tính đến hết tháng 12 năm 2002)

    Th Nước Số Vốn đăng Thứ Nước   Số Vốn  đăng
    ứ tự   dự ký(triệu tự     dự án ký   (triệu
        án USD)         USD)
    1 Singapo 263 7242,42 22 Quần  đảo 12 193,55
              Măng sơ    
    2 Đài Loan 923 5131,34 23 Philipin 19 184,30
    3 Nhật Bản 368 4283,96 24 Đan Mạch 8 113,34
    4 Hàn Quốc 474 3625,66 25 In-đô-nê- 7 107,70
              sia      
    5 Hồng 262 2899,53 26 Bỉ   19 52,03
      kông              
    6 Pháp 126 2098,88 27 Thổ nhĩ 5 51,00
              kỳ      
    7 Quần  đảo 156 1801,11 28 Canađa 30 46,97
      Vigin              
      (Anh)              
    8 Hà Lan 44 1658,27 29 Niu di lân 9 40,53
    9 Nga 40 1507,17 30 Ân Độ   9 36,16
    10 Anh 49 1217,39 31 Cộng hoà 6 36,08
              Séc      
    11 Thái Lan 110 1167,95 32 Luých   11 35,89
              XămBua    
    12 Ma-lai-xia 117 1114,26 33 Na Uy   9 33,73
    13 Mỹ 153 1111,38 34 Y   8 28,37
    14 Thụy Sĩ 23 504,59 35 I Rắc   2 27,10
    15 Uc 76 508,96 36 Ba Lan 3 26,30
    16 Thụy 9 454,35 37 Liechtens- 2 23,90
      Điển       tein      
    17 Quần Đảo 10 451,54 38 Ucraina 6 21,13
      Cai-man              
    18 Trung 196 362,79 39 Ao   7 20,35
      Quốc              
                    24
    19 B.West 3 261,54 40 Mauritius 6 19,85
      Indies            
    20 Bermuda 5 260,32 41 Panama 3 14,73
    21 Đức 42 242,14 42 Lào 4 11,05

    Nguồn: Báo “Vietnam Investment Review” ngày 23/03/2003

    Đài Loan, Singapo, Hàn Quốc và Hồng Công là những đối tác đầu tư chính ở Việt Nam. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ khu vực châu A, kể cả Malaixia và Thái Lan chiếm khoảng 2/3 luồng FDI vào Việt Nam. Điều này giải thích vì sao tổng số vốn FDI đăng ký ở Việt Nam giảm mạnh từ 8,4 tỷ USD năm 1996 xuống còn 4,6 tỷ USD năm 1997, và xuống còn 3,8 tỷ USD năm 1998 khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lan rộng ở các nước khu vực. Cuộc khủng hoảng đó đã tác động lên FDI , khiến cho tỷ lệ FDI thấp. Những năm gần đây, do sự phục hồi của kinh tế các nước trong khu vực châu A, đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước này đã có xu hướng tăng lên. Đặc biệt tháng 7 năm 2000 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi đã cải thiện đáng kể môi trường đầu tư ở Việt Nam. Điều này làm tăng thêm sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Nhật Bản là nước đang đầu tư trực tiếp với số vốn đầu tư thực tế nhiều nhất vào Việt Nam. Vốn đầu tư thực tế từ năm 1989 là năm Nhật Bản bắt đầu đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đến năm 2001 là 3,2 tỷ USD, ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp Nhật Bản trong khu vực Đông Nam A cũng đang đầu tư vào Việt Nam. Trong 5 năm từ năm 1989 đến năm 1993 số lượng đầu tư là

    • dự án. Các nhà sản xuất lớn trên các lĩnh vực như xi măng, đồ điện dân dụng, ô tô , xe máy, máy tính đã tập trung nhiều sang thị trường Việt Nam và tạo nên hiện tượng bùng nổ đầu tư vào Việt Nam trong những năm này. Tuy nhiên, từ năm 1996, do ảnh hưởng của đồng Yên bị mất giá và nền kinh

    25

    tế Nhật Bản bị ngưng trệ, các dự án đầu tư lớn vào Việt Nam bị giảm xuống. Đặc biệt sau năm 1998, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu A đã dẫn đến sự suy giảm kinh tế của Nhật Bản, mặt khác do môi trường đầu tư của Việt Nam chưa được hoàn thiện nên đầu tư vào Việt Nam bị giảm nhanh chóng. Kinh tế các nước châu A đang phục hồi đã nâng số lượng dự án đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tăng hơn so với năm 2000. Bước vào năm 2001, để giảm rủi ro của việc tập trung đầu tư nhiều vào Trung Quốc, các doanh nghiệp Nhật Bản đă bắt đầu chú ý đến việc quay trở lại đầu tư vào Việt Nam, những dự án lớn sản xuất lớn đã được quyết định tiếp tục tiến hành, vì vậy so với năm trước đầu tư trực tiếp đã tăng đáng kể. Vào năm 2002 các dự án đầu tư trực tiếp của Nhật Bản đang tăng lên chủ yếu là các doanh nghiệp gia công xuất khẩu quy mô nhỏ.

    Nguồn FDI đầy tiềm năng vào Việt Nam là các nhà đầu tư từ Mỹ. sự tham gia hạn chế của các nhà đầu tư Mỹ vì nhiều lý do như : lệnh cấm vận thương mại của Mỹ áp đặt đối với Việt Nam cho đến năm 1994; Hiệp định thương mại song phương Mỹ-Việt ngày 13-07-2000 được hai chính phủ Việt Nam và Mỹ ký, nhưng đến ngày 06-09-2001 mới được Hạ nghị viện Mỹ thông qua và ngày 03-10-2001 được Thượng viện Mỹ thông qua, cùng nhiều vấn đề khác cần được tiếp tục giải quyết

    Sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận vào tháng 2-1994, các doanh nghiệp Mỹ bắt đầu đầu tư vào Việt Nam. Vào thời điểm tháng 12-2002, Mỹ đứng thứ 13 trong số các nước đầu tư vào Việt Nam, với 153 dự án, trị giá 1,1 tỷ USD. Đầu tư của Mỹ tăng từ 120 triệu USD năm 1994 lên 392 triệu USD năm 1995. Từ năm 1996, đã giảm dần và xuống tới mức thấp nhất là vào năm 1999 với vốn đăng ký là 96 triệu USD. Năm 2000, 2001, mới có một vài dự án trong ngành dầu khí được duyệt. Các dự án đầu tư của Mỹ với 100% sở hữu của Mỹ chiếm 5,5 % số dự án và 49,5 % tổng số vốn đầu tư. Mặc dù mới có mặt

    26

    • Việt Nam nhưng hoạt động đầu tư của Mỹ tương đối nổi bật nhờ sự góp mặt của một số hãng có tên tuổi trên thế giới.

    1.2.2.Vốn đầu tư theo ngành, lĩnh vực đầu tư :

    Trong những năm từ 1988 đến 1994 hầu hết FDI được đầu tư vào các dự án dầu khí ngoài khơi đó là các dự án ít phải chịu những rủi ro về chính trị và kinh tế, tiếp đến là ngành khách sạn và du lịch, là ngành dễ thực hiện và quản lý. Trong giai đoạn thứ hai (thời gian từ 1995 đến nay), FDI mở rộng sang lĩnh vực sản xuất nhiều hơn. Tính cả thời kỳ 1988-2002, các dự án đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số lượng dự án lẫn vốn đầu tư, tiếp đến là lĩnh vực khách sạn, du lịch, ngành nông, lâm nghiệp có số dự án lớn nhưng tổng vốn đầu tư thấp hơn (chứng tỏ quy mô dự án ở lĩnh vực này tương đối nhỏ). Đáng chú ý là, lĩnh vực công nghiệp, bao gồm các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp dầu khí (không kể liên doanh dầu khí Việt-Xô, Vietsovpetro, hình thành trước Luật Đầu tư nước ngoài), công nghiệp thực phẩm, xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp-khu chế xuất, chiếm hơn 61% về vốn đăng ký, gần 67% vốn thực hiện, 71% số lao động, khoảng 94% doanh thu và 91% giá trị xuất khẩu của toàn khu vực đầu tư nước ngoài ( không kể dầu thô)

    Bảng 3 : FDI vào Việt Nam theo ngành kinh tế từ 1988 đến hết 2002 (thứ tự theo vốn):

           
    Thứ Ngành kinh tế Vốnđăngký Tỉ lệ (%)
    tự   (triệuUSD)  
    1 Công nghiệp 19229,3 44,8
           
    2 Các ngành dịch vụ khác(*) 7699,9 17,9
           
    3 Khách sạn du lịch 4983,4 11,6
           
    4 Xây dựng (**) 4696,5 10,9
           
    5 Công nghiệp dầu khí 4229,3 9,8
           

    27

    6 Giao thông vận tải, Bưu điện 3673,9 8,5
    7 Nông, lâm nghiệp 1427,8 3,3
    8 Văn hoá, y tế, giáo dục 603,4 1,4
    9 Thủy sản 379,9 0,8
    10 Tài chính, ngân hàng 243,1 0,5

    Nguồn :Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2002-2003

    • Bao gồm cả xây dựng văn phòng và căn hộ (**) Bao gồm cả xây dựng khu chế xuất

    Nhìn chung, trong giai đoạn 1988-2002, FDI (tính theo tổng số vốn thực hiện) tập trung vào những lĩnh vực sau đây: dầu khí (20%); bất động sản (18%); công nghiệp nặng (15%); công nghiệp nhẹ (12%)

    Xét trên bình diện tổng thể, cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời gian qua đã có sự chuyển biến tích cực, phù hợp hơn với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta. Nếu chỉ xem xét đơn thuần trên số liệu thống kê về vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành như trên, có thể dễ dàng nhận thấy sự phù hợp tương đối của các chỉ số này với yêu cầu về cơ cấu của một nền kinh tế hiện đại, công nghiệp hoá: công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp. Nhưng, trong điều kiện ở giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và tham gia phân công lao động quốc tế và với đặc trưng của nền kinh tế trong đó nông nghiệp nhiệt đới đang là một trong những thế mạnh của Việt Nam thì tình hình thu hút đầu tư vào lĩnh vực này như hiện nay đang là vấn đề cần suy nghĩ và điều chỉnh. Sở dĩ như vậy là vì đối với Việt Nam, nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đang có nhiều tiềm năng mà chúng ta chưa có điều kiện để khai thác. Và từ đặc điểm phân bố dân cư, lao động, việc làm như hiện nay thì thành công trong phát triển nông thôn, nông nghiệp là một trong những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá,

    28

    hiện đại hoá trong quá trình hội nhập. Thực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông thôn, nông nghiệp cũng tức là tạo ra việc làm và thu nhập cho số đông lao động cũng như tác động làm chuyển biến đáng kể đến sản xuất và đời sống của đa số dân cư Việt Nam.

    1.2.3.Vốn đầu tư theo hình thức đầu tư:

    Đa số các dự án FDI ở Việt Nam trong cả giai đoạn 1991-2002 là liên doanh với các doanh nghiệp nhà nước, chiếm 57% trong vốn đăng ký và khoảng 40% số dự án. Các liên doanh với doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 2% do công ty tư nhân chưa phát triển mạnh ở Việt Nam và được phép trở thành đối tác của các nhà đầu tư nước ngoài sau khi Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi vào năm 1992. Sở dĩ liên doanh là hình thức phổ biến nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam là vì trong thời kỳ đầu các thủ tục để triển khai thực hiện dự án đòi hỏi nhiều giấy tờ, lại phải thông qua nhiều khâu, nhiều nấc, và rất phức tạp, trong khi đó người nước ngoài còn ít hiểu biết về các điều kiện kinh tế – xã hội và pháp luật của Việt Nam, họ thường gặp khó khăn trong giao dịch, quan hệ cùng một lúc với khá nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam để có được đầy đủ các điều kiện triển khai xây dựng cơ bản cũng như tổ chức thực hiện dự án đầu tư. Trong hoàn cảnh như vậy, đa số các nhà đầu tư thích lựa chọn hình thức liên doanh để bên đối tác Việt Nam đứng ra lo các thủ tục pháp lý cho sự hoạt động của doanh nghiệp. Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đang ngày càng có xu hướng tăng lên. Nếu thời kỳ đầu chỉ có gần 10% số dự án và vốn đăng ký hoạt động theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì đến nay con số đó đã lên tới 55,5% số dự án và 29,4% vốn đăng ký (đến hết năm 2002, có 2615 dự án 100% vốn nước ngoài còn hiệu lực với 15,45 tỷ USD vốn đăng ký). Hình thức đầu tư này gia tăng vì sau một thời gian hoạt động trong môi trường

    29

    đầu tư ở Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu A có điều kiện để hiểu biết hơn về pháp luật, chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Sự am hiểu của các nhà đầu tư được nâng lên trong điều kiện các thủ tục cấp phép của Việt Nam đang từng bước được cải tiến theo hướng ngày càng đơn giản hơn trước, và cùng với sự xuất hiện các tổ chức tư vấn giúp các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các thủ tục triển khai, tổ chức sản xuất kinh doanh của các dự án tương đối có hiệu quả. Vì vậy, nhu cầu có đối tác Việt Nam để tiến hành các thủ tục, đối với nhà đầu tư nước ngoài đã giảm đi một cách đáng kể. Không những thế, khi tham gia liên doanh do khả năng của phía Việt Nam thường yếu cả về vốn góp lẫn cán bộ quản lý, mặt khác nhiều nhà đầu tư nước ngoài không muốn chia sẻ quyền điều hành doanh nghiệp với bên Việt Nam nên họ thấy không cần thiết phải có đối tác Việt Nam trong hoạt động đầu tư.

    Hình thức nữa của FDI là hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Đến nay hình thức này chỉ chiếm 5% số dự án và 10,5% số vốn đầu tư (đến hết năm 2002 có 265 dự án còn hiệu lực với 5,72 tỷ USD vốn đăng ký), chủ yếu trong các lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí và dịch vụ viễn thông, in ấn và phát hành báo chí.

    Việt Nam bắt đầu áp dụng hình thức “hợp đồng xây dựng –kinh doanh-chuyển giao” (BOT) từ năm 1993. Hình thức này có đặc điểm là : phần lớn các dự án có phạm vi áp dụng không rộng, điều kiện thực hiện phức tạp nên mất nhiều thời gian để giải quyết những thủ tục ban đầu như hoàn chỉnh việc đàm phán, ký kết hợp đồng, hợp đồng mua bán sản phẩm, phương án tài chính, thực hiện giải phóng mặt bằng…Không những thế, đây lại là hình thức mới, phía Việt Nam còn ít kinh nghiệm nên tiến độ triển khai dự án thuộc hình thức này thường chậm hơn các hình thức khác.

    30

    Bảng 4 : FDI tại Việt Nam phân theo hình thức đầu tư (chỉ tính các dự án còn hiệu lực đến 20 tháng 12 năm 2002)

    Hình thức đầu tư Số dự án Vốn đăng ký Vốn thực hiện
        (tỷ USD) (tỷ  USD)
    100% vốn nước ngoài 2615 15,45 7,11
           
    Liên doanh 1694 27,13 10,91
           
    Hợp đồng hợp tác 265 5,72 5,6
    kinh doanh      
    BOT, BT, BTO 7 1,97 0,22
    Tổng số 3663 39,09 20,74
           

    Nguồn : Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003 1.2.4.Vốn đầu tư theo địa bàn đầu tư :

    Tính đến hết năm 2002 đã có 60 tỉnh, thành phố thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng do trình độ phát triển hạ tầng kinh tế – kỹ thuật và vị trí kinh tế rất khác nhau nên kết quả thu hút đầu tư nước ngoài giữa các địa bàn chênh lệch nhau rất lớn. Các chỉ số thống kê cho thấy, khoảng 95% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực tập trung vào 3 nhóm sau đây:

    -Nhóm 1 gồm 6 địa bàn có số vốn đăng ký còn hiệu lực từ 1 tỷ USD trở lên là TP Hồ chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-vũng tàu và Hải Phòng.

    -Nhóm 2 gồm 8 địa bàn có số vốn đăng ký còn hiệu lực từ 300 triệu USD đến gần 900 triệu USD là Lâm Đồng, Hải Dương, Thanh Hoá, Long An, Hà Tây, Kiên Giang, Khánh Hoà và Vĩnh Phúc

    -Nhóm 3 gồm 13 địa bàn có số vốn đăng ký từ còn hiệu lực từ gần 100 triệu USD đến gần 300 triệu USD là Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nghệ An, Tây Ninh, Bắc Ninh, Thừa Thiên-Huế, Phú Thọ, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Thuận, Cần Thơ, Tiền Giang và Hưng Yên.

    31

    Bảng 5 :Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam phân theo địa bàn

    đầu tư đến 20 tháng 12 năm 2002 (Đơn vị : triệu USD) :

    Thứ Địa bàn Vốn Thứ Địa bàn Vốn Thứ Địa bàn Vốn
    tự đầu tư đăng ký tự đầu tư đăng tự đầu tư đăng ký
                   
    1 TP 10374,79 21 Phú Thọ 136,43 41 Bình. 20,57
      HCM           Phước  
    2 Hà Nội 7524,93 22 Quảng 133,90 42 Nam 18,70
            Nam     Định  
    3 Đồng 5482,5 23 Phú Yên 107,31 43 Vĩnh 15,71
      Nai           Long  
    4 Bình 2952,22 24 Bình 99,06 44 Bắc Cạn 15,24
      Dương     Thuận        
    5 Bà Rịa- 1864,62 25 Cần Thơ 98,21 45 An 15,03
      V.Tàu           Giang  
    6 Hải 1321,28 26 Tiền 95,99 46 Bắc 13,38
      Phòng     Giang     Giang  
    7 Lâm 859,06 27 Hưng 95,27 47 Yên Bái 10,22
      Đồng     Yên        
    8 Hải 486,15 28 Ninh 67,73 48 Đồng 10,18
      Dương     Bình     Tháp  
                    32
    9 Thanh 443,61 29 Thái 54,63 49 Quảng 9,63
      Hoá     Nguyên     Trị  
    10 Long An 429,80 30 Q.Bình 32,33 50 H.Bình 6,11
    11 Hà Tây 414,69 31 L.Sơn 32,00 51 Bến Tre 5,86
    12 K.Giang 393,17 32 B.Định 31,41 52 Cà Mau 5,18
    13 K.Hoà 384,20 33 H.Tĩnh 30,44 53 L.Châu 4,50
    14 V.Phúc 373,97 34 Lào Cai 29,23 54 KonTum 4,40
    15 Q.Ninh 266,28 35 Gia Lai 27,85 55 T.Bình 2,68
    16 Đ.Nẵng 235,52 36 Q.ngãi 26,32 56 TràVinh 1,61
    17 Nghệ An 231,32 37 N.Thuận 25,77 57 S.Trăng 1,14
    18 Tây 217,44 38 Đắc Lắc 24,18 58 Hà Nam 1,00
      Ninh              
    19 Bắc 153,71 39 Bạc Liêu 22,58 59 Tuyên 1,00
      Ninh           Quang  
    20 T.T-Huế 138,50 40 Sơn La 22,57 60 C. Bằng 0,50

    Nguồn : Báo “Vietnam Investment Review” ngày 23/03/2003

    Với mong muốn thu hút hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng nên Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào “những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn; miền núi, vùng sâu, vùng xa”. Tuy vậy, cho đến nay vốn nước ngoài vẫn được đầu tư tập chung chủ yếu vào một số địa bàn có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và môi trường kinh tế-xã hội. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (tính theo tổng số vốn đăng ký) vào các vùng lãnh thổ Việt Nam được xếp theo thứ tự như sau:

    Bảng 6: FDI vào các vùng lãnh thổ Việt Nam

    Thứ tự Vùng lãnh thổ So với tổng vốn đăng ký (%)
         
    1 Đông Nam Bộ 53,13%
         
    2 Đồng bằng sông Hồng 29,6%
         
    3 Duyên hải Nam Trung Bộ 7,64%
         
    4 Đông Bắc 4,46%
         

    33

    5 Đồng bằng sông Cửu Long 2,46%
         
    6 Bắc Trung Bộ 2,38%
         
    7 Tây Nguyên: 0,16%
         
    8 Tây Bắc: 0,15%
         

    Nguồn : tổng hợp Thời báo kinh tế Việt Nam 2002, 2003

    Mức độ trênh lệch giữa các vùng về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là tương đối lớn. Số liệu trên cũng phần nào nói lên rằng vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài theo vùng lãnh thổ để kết hợp hoạt động này với việc khai thác các tiềm năng trong nước, đạt kết quả chưa cao. Như vậy, đây cũng là một trong những vấn đề cần được chú ý để điều chỉnh hoạt động của Việt Nam đối với lĩnh vực này trong thời gian tới.

    1.3.Tình hình triển khai hoạt động của các dự án FDI :

    1.3.1.Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án FDI tại Việt Nam:

    Kể từ năm Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực (1988) đến nay đã có 4301 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng hơn 42 tỷ USD và vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 24 tỷ USD. Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam kể từ năm 1991 đến năm 2002 được thể hiện như sau:

    Bảng 7 : Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án FDI tại Việt Nam

    Năm Vốn   thực So với vốn đăng ký Vốn nước ngoài Vốn trong
      hiện mới trong năm (%) góp (triệuUSD) nước góp
      (triệu USD)     (triệuUSD)
    1991 478 37,49 432 46  
               
    1992 542 26,74 478 64  
             
    1993 1097 42,37 871 226  
             
    1994 2213 59,08 1936 277  
             

    34

    1995 2761 41,79 2363 398
           
    1996 28337 32,84 2447 390
           
    1997 3032 62,53 2768 264
           
    1998 2189 56,17 2062 127
           
    1999 1933 123,36 1758 175
           
    2000 2100 105,69 1900 200
           
    2001 2300 94,42 2100 200
           
    2002 2350 176,29 2148 202
           
    Tổng 23832 58,01 21263 2569
             

    Nguồn Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2001-2002 Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003

    Đến hết năm 2002, trong tổng số 3663 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đang còn hiệu lực hoạt động tại Việt Nam đã có khoảng 1800 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh có tổng vốn đăng ký khoảng 25 tỷ USD. Đây chính là nền móng cho việc hình thành và phát triển của khu vực doanh nghiệp mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bởi từ đó tạo ra 2014 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang hoạt động (trong đó có 1137 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài), cùng 1584 cơ sở sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào những doanh nghiệp này (nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003)

    Tính đến hết năm 2002 tổng số vốn đã thực hiện bằng 58,01% của tổng số vốn đã đăng ký. Trong điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc hậu, các nguồn lực cũng như chính sách đối với đầu tư nước

    35

    ngoài còn nhiều biến động, thị trường phát triển chưa đầy đủ…thì tỉ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được ở mức như vậy là không thấp. Cá biệt có những năm (1999, 2000, 2002) số vốn thực hiện của các dự án lại còn lớn hơn cả số vốn đăng ký được phê duyệt trong năm đó. Tuy vậy, xuất phát từ đặc điểm, các dự án sau khi được phê duyệt thường chưa đủ các điều kiện để triển khai ngay (từ năm 1988 đến năm 1990 chưa có vốn thực hiện); do đó, số vốn thực hiện trong năm chủ yếu là của các dự án đã được phê duyệt từ các năm trước đó. Cho nên nếu so sánh số vốn thực hiện của từng năm với số vốn đăng ký còn lại ( tổng vốn đăng ký từ trước trừ đi số vốn đã thực hiện) thì tỷ lệ vốn thực hiện diễn biến theo xu hướng thiếu ổn định. Tỷ lệ này tăng nhanh từ đầu đến năm 1997 và sau đó giảm dần từ năm 1998 đến 1999, năm 2000, 2001, 2002 đã có biểu hiện của xu hướng tăng lên. Tình trạng này có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân rất đáng được chú ý là một số nhà đầu tư khi lập dự án đã tính toán chưa thật sát với thực tế nên khi triển khai dự án họ gặp phải một số vấn đề phát sinh vượt cả khả năng tài chính cũng như các yếu tố, điều kiện cho doanh nghiệp vận hành. Thậm chí có một số nhà đầu tư nước ngoài, thực chất là yếu về năng lực tài chính nên mặc dù đã được cấp phép đầu tư, nhưng do không huy động được vốn đúng như dự kiến, buộc phải triển khai dự án chậm, có khi mất khả năng thực hiện.

    Nhìn tổng quát ta thấy, các dự án trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm và dịch vụ viễn thông theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là những dự án hoạt động đạt kết quả tốt nhất. Sở dĩ như vậy là nhờ các dự án loại này, các nhà đầu tư không phải mất nhiều thời gian giải quyết các thủ tục đất đai, xây dựng…còn về năng lực thì hầu hết các dự án loại này đều do các nhà đầu tư là các công ty xuyên quốc gia có thế mạnh về tài chính và công nghệ. Về loại hình doanh nghiệp,

    36

    các dự án 100% vốn nước ngoài có tiến độ thực hiện nhanh hơn hẳn các doanh nghiệp liên doanh, vì các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài không mất thời gian để đàm phán, thoả thuận với bên đối tác Việt Nam (thông thường những công việc này mất khá nhiều thời gian).

    1.3.2.Tình hình góp vốn của các bên đối tác trong các dự án đầu tư:

    Theo quy định của “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thì bên Việt Nam có thể góp vốn tham gia liên doanh bằng tiền, giá trị quyền sử dụng đất, các nguồn tài nguyên, giá trị sử dụng mặt nước, mặt biển, thiết bị máy móc, nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, các dịch vụ,…Thực tế lâu nay, Việt Nam góp vốn tham gia liên doanh chủ yếu bằng quyền sử dụng đất và giá trị thiết bị, nhà xưởng hiện có. Tất cả những tài sản này thường được góp một lần ngay vào thời điểm bắt đầu triển khai thực hiện dự án đầu tư. Cũng theo quy định của “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thì đối tác nước ngoài có thể góp vốn vào liên doanh bằng tiền nước ngoài, tiền Việt Nam có nguồn gốc từ hoạt động đầu tư tại Việt Nam, thiết bị máy móc nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật. Số vốn thực hiện được thống kê ở bảng 7 (trang 30) là bao gồm cả vốn thực hiện của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và cả số tiền “khai vống giá trị tài sản” của đối tác nước ngoài khi đưa thiết bị vào thực hiện dự án đầu tư. Bên nước ngoài góp vốn chủ yếu bằng tiền mặt và trang thiết bị, do đó trong giai đoạn đầu triển khai dự án, thực hiện các công việc xây dựng cơ bản bị phụ thuộc rất nhiều vào tiến độ góp vốn của bên nước ngoài. Trong giai đoạn xây dựng cơ bản, đối tác nước ngoài gần như nắm quyền điều hành toàn bộ các hoạt động của liên doanh. Do trình độ cán bộ, nên rất ít liên doanh mà trong đó cán bộ của đối tác Việt Nam giành được tiếng nói chi phối các hoạt động này. Đến hết năm 2002, các đối tác nước ngoài đã đưa vốn vào thực hiện các dự án

    37

    đầu tư tại Việt Nam (kể cả vốn của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) là 21263 triệu USD (gấp 8,2 lần số vốn của Việt Nam đã góp).

    Nếu xét trên tổng thể hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam (không phân chia theo hình thức đầu tư) thì tỷ trọng vốn nước ngoài đang chiếm phần lớn (89%) trong tổng sô vốn hoạt động. Không những thế, tỷ trọng vốn nước ngoài đang có xu hướng tăng lên, còn tỷ trọng vốn của Việt Nam đã thấp lại đang có xu hướng giảm xuống đáng kể. Với tỷ trọng và xu hướng như vậy cũng là điều đặt ra cần nghiên cứu về khả năng chi phối và lợi ích mà Việt Nam có thể thu được qua hoạt động kinh tế đặc biệt này. Qua thực tế hoạt động có 76 dự án liên doanh đã thực hiện chuyển quyền sở hữu vốn giữa các bên tham gia liên doanh, hay giữa bên đang tham gia liên doanh cho chủ mới. Trong số đó có 59 dự án đã chuyển từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (riêng năm 1999 đã có 25 dự án) và 13 dự án chuyển từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam. Sự thay đổi sở hữu như vậy là chuyện bình thường, nhưng với số lượng liên doanh chuyển cho chủ nước ngoài đã gấp hơn 4,5 lần số lượng chuyển cho chủ Việt Nam thì quả là điều đáng suy nghĩ. Điều này phần nào chứng tỏ vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào liên doanh đang giảm đi một cách đáng kể.

    “Hợp đồng xây dựng-kinh doanh – chuyển giao” là hình thức nước ta đưa vào áp dụng với mong muốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Mặc dù nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi cho hình thức này như : Không thu tiền thuê đất, được hưởng các mức thuế thấp nhất, được chuyển đổi ngoại tệ…nhưng số dự án thuộc hình thức này vẫn còn rất ít. Sở dĩ như vậy là vì giữa hai bên chưa thật sự “gặp nhau” trong các ý tưởng khi thương lượng. Vấn đề rõ nét nhất là nhiều lúc hai bên không thống

    38

    nhất được về cách tính giá cả đầu vào, đầu ra đối với các đối tác cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu và mua sản phẩm.

    1.3.3.Tình hình triển khai hoạt động của các dự án FDI theo lĩnh vực kinh tế:

    -Lĩnh vực dầu khí: So với các ngành kinh tế việt Nam thì dầu khí là một trong rất ít ngành thu hút được các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới đến tham gia đầu tư. Tổng vốn FDI theo đăng ký trong ngành công nghiệp dầu khí từ 1988 đến hết năm 2002 là 4,2 tỷ USD. Đến nay, chúng ta đã cấp 45 giấy phép hoạt động cho các nhà đầu tư tương đối có tiềm lực về mọi mặt thuộc Bắc Mỹ, châu Âu, châu Uc, châu A. Hình thức hoạt động chủ yếu của các nhà đầu tư này là hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC), hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), liên doanh (JV). Hiện nay, một số mỏ đã tiến hành khai thác như : Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Bunga, Kekwa, và chuẩn bị khai thác các mỏ khí Lan Đỏ, Lan Tây, Rồng Đôi, Hải Thạch, Emeral….(ngoài các mỏ Bạch Hổ, Rồng do Vietso Petro thực hiện).

    Bảng 8: Tình hình khai thác của một số công ty có vốn FDI trong lĩnh vực dầu khí tại Việt Nam tính đến hết tháng 12 năm 2002:

    Số thứ Công  ty  điều Mỏ Sản lượng dầu Sản lượng khí (tỷ
    tự hành   (triệu tấn/năm) mét khối/năm)
             
    1 Vietsovptro Bạch Hổ 12,77 1,674
      (Nga-Việt Nam)      
             
    2 JVPC (Nhật) Rạng Đông 2,14 0,03
             

    39

    3 Petronas CV Hồng Ngọc 1,03  
      (Malaysia)      
             
    4 Lundin Bunga 0,37  
             

    Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003.

    -Lĩnh vực công nghiệp ô tô và xe máy: Đây cũng là một trong những lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư thuộc các hãng lớn mà sản phẩm của họ đã trở thành nổi tiếng và có lợi thế cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thế giới như Toyota, Ford, Honda, Suzuki. Đến nay, chúng ta đã cấp giấy phép hoạt động cho 14 dự án đầu tư sản xuất ô tô và 4 dự án đầu tư sản xuất xe máy. Số vốn thực hiện của các dự án đầu tư sản xuất ô tô đến nay là

    • triệu USD (bằng 43,12% vốn đăng ký), với số sản phẩm sản xuất bình quân 140.000 xe ôtô/năm. Trong số 14 dự án đầu tư sản xuất ô tô có 3 dự án không triển khai (Chrysler, Nissan và Vietsin), 1 dự án tuy đã triển khai (đã đầu tư 16 triệu USD) nhưng tạm thời không đầu tư tiếp (dự án Mercedes-Ben) và liên doanh Mê Kông đã ngừng sản xuất. Một đặc điểm tương đối nổi bật nữa của các dự án đầu tư sản xuất ô tô, xe máy là bên cạnh các hoạt động của chính bản thân thì các dự án này có tác động đến việc hình thành các dự án sản xuất linh kiện, phụ tùng tương ứng. Tức là, thường đi cùng với các dự án đầu tư loại này là một loạt các dự án đầu tư sản xuất linh kiện, phụ tùng, sản phẩm bổ trợ, cùng triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu đồng bộ về sản xuất ô tô và xe máy. Các dự án đầu tư dạng vệ tinh này thường là các đối tác truyền thống của các nhà đầu tư hoặc là các doanh nghiệp cơ khí sẵn có của Việt Nam, trong đó có cả những doanh nghiệp đang gặp khó khăn rất lớn trong sản xuất kinh doanh, thậm chí có nguy cơ phá sản.

    Lĩnh vực công nghiệp điện tử : Đây là lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài có mặt tương đối sớm, vốn thực hiện chiếm tỷ lệ cao so với vốn đăng ký, có tiến độ thực hiện đúng với cam kết được ghi trong giấy phép đầu tư

    40

    và đây là lĩnh vực rất sớm phát huy hiệu quả. Đến nay, đã có 22 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 615 triệu USD, trong đó có hơn 60% số vốn đã được thực hiện (379 triệu USD). Số vốn thực hiện trên được tập trung chủ yếu vào thời kỳ 1991-1995. Một trong những yếu tố hơn hẳn so với nhiều lĩnh vực khác là các nhà đầu tư vào lĩnh vực này phần lớn thuộc các công ty xuyên quốc gia và các hãng điện tử lớn trên thế giới như : Sony, JVC, Toshiba, Philip, Matsushita, Fujitsu, LG, Samsung, Daewoo…

    -Lĩnh vực viễn thông: Đến nay đã có 20 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn đăng ký là trên 2 tỷ USD. Trong số các dự án đầu tư ở lĩnh vực này, có đến 94% số dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh dịch vụ viễn thông, 6% số dự án đầu tư theo hình thức liên doanh để sản xuất các thiết bị vật tư bưu điện.

    Hoạt động kinh doanh khách sạn và du lịch : Đây là lĩnh vực mà ngay từ đầu có biểu hiện còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác nên kể từ khi bước vào thực hiện chính sách đổi mới nhiều doanh nghiệp tư nhân trong nước đã đầu tư vào lĩnh vực này. Và, đây cũng là ngành ngay từ đầu đã thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài. Cho đến nay đã có tới 237 dự án với 7585 triệu USD vốn đăng ký đầu tư xây dựng khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, phát triển đô thị, trong số đó đã có 33,66% (2553 triệu USD) vốn đã được thực hiện-Đây cũng là lĩnh vực đã xuất hiện tình trạng cung vượt quá cầu ở một số thành phố như TP.Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hải Phòng.

    -Lĩnh vực công nghiệp hoá chất: Đến hết năm 2000, lĩnh vực này thu hút

    • dự án với tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 682 triệu USD; trong đó thời kỳ 1996-2000 cấp phép 163 dự án với 1,7 tỷ USD vốn đăng ký. Năm 1999 tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm tới 26,5% trong tổng giá trị sản xuất của toàn

    41

    ngành Hoá chất Việt Nam. Điều đáng chú ý ở đây là, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong ngành này đã sản xuất ra nhiều loại sản phẩm có chất lượng cao như : một số hoá chất cơ bản, sơn thuốc sát trùng, dầu nhờn, thuốc trừ sâu…

    Lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp: Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực này được tập trung chủ yếu vào trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc, trồng rừng và chế biến gỗ. Phần lớn các dự án loại này thường thực hiện ở những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội, cơ sở hạ tầng phát triển kém hơn nhiều vùng khác: Mía đường ở các huyện miền núi Nghệ An, Thanh Hoá, Tây Nguyên, Nam Bộ; trồng chè ở các tỉnh miền núi Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Lâm Đồng; trồng rau, hoa ở Hoà Bình, Hải Dương, Tây Ninh, Lâm Đồng. Đến nay, ta đã cấp phép đầu tư cho

    • dự án với 1,86 tỷ USD vốn đăng ký vào lĩnh vực này. Trong đó, hiện có
    • dự án còn hiệu lực và số vốn đã thực hiện 852 triệu USD.

    -Lĩnh vực dệt, may, giày dép: Đây là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, suất đầu tư cho mỗi lao động thấp, triển khai sản xuất-kinh doanh nhanh; đặc điểm này rất thích hợp với điều kiện kinh tế và trình độ phát triển ở thời kỳ đầu bước vào hội nhập nền kinh tế quốc tế của nước ta. Đến nay, chúng ta đã cấp phép 250 dự án với tổng số 2396 triệu USD vốn đăng ký đầu tư vào lĩnh vực này (dệt: 87 dự án với 1649 triệu USD vốn đăng ký; may:118 dự án với 281 triệu USD vốn đăng ký; giày dép:45 dự án với 466 triệu USD vốn đăng ký). Trong số đó, số vốn đã thực hiện là 1079 triệu USD (bằng 45% tổng vốn đăng ký). Đây là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ vốn thực hiện đạt vào loại cao.

    • Đánh giá tác động của FDI đối với Việt Nam

     

    1.Tác động tích cực :

     

    42

    Sau khi đường lối “đổi mới” được Đại hội Đảng lần thứ VI thông qua, và nhất là sau khi Việt Nam công bố Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam (1987), hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bước đầu đã thu được nhiều thành tựu to lớn, đó là :

    1.1.Hoạt động FDI đã tạo ra được nguồn vốn đáng kể. Đây là nguồn vốn

    quan trọng và là một trong những điều kiện để nước ta phát triển kinh tế.

    -Từ khi thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài cho đến nay, vốn đầu tư

    nước ngoài thực hiện tại Việt Nam bình quân 1737,7 triệu USD/năm. Đối

    với một nền kinh tế có quy mô như của nước ta thì đây là một lượng vốn đầu

    tư không nhỏ, nó   thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển biến

    không chỉ về quy mô đầu tư mà điều quan trọng hơn là nguồn vốn này có vai

    trò như “chất xúc tác” để việc đầu tư của ta đạt hiệu quả nhất. Nếu so với

    tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản xã hội thời kỳ 1991-2000 thì vốn đầu tư

    xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 24,8%.

    Và, lượng vốn đầu tư này có xu hướng tăng lên qua các năm.

    Bảng 9:Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng vốn đầu tư xây dựng thực hiện toàn xã hội thời kỳ 1991-2002 tại Việt Nam

    Năm Tổng vốn Vốn Vốn đầu tư trực tiếp của
      đầu tư trong nước nước ngoài
      (tỷ đồng) (tỷ đồng)
         
          Số lượng (tỷ đồng) So với tổng số%

    43

    1991 13471 11545 1926 14,3
             
    1992 24737 19552 5185 21,0
             
    1993 42177 31556 10621 25,2
             
    1994 54296 37796 16500 30,4
             
    1995 68048 46048 22000 32,3
             
    1996 79367 56667 22700 28,6
             
    1997 96870 66570 30300 31,03
             
    1998 97336 73036 24300 31,3
             
    1999 105,200 86300 18900 18.0
             
    2000 120600 98200 21800 18,2
             
    2001 163500 133500 30000 18,3
             
    2002 180400 146400 34000 18,8
             
    Tổng 1045402 807170 238232 22,8
             

    Nguồn :Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2000-2001 Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003

    -Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn là một trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (không kể dầu khí) đã thực hiện nộp ngân sách nhà nước (thời kỳ 1994-2002) với số tiền 2472 triệu USD. Có thể nói đây cũng là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng góp phần tích cực trong việc làm cân đối cán cân thanh toán quốc tế. Số tiền nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài qua các năm như sau:

    Bảng 10 : Tình hình nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp có vốn FDI (triệu USD)

    Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
                       
    Nộp ngân 128 195 263 315 317 271 260 373 350
                       

    44

    sách

    Nguồn : Trang web của Thời báo kinh tế.

    Vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng giúp Việt Nam phát triển một nền kinh tế cân đối và bền vững : Khi các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn những ngành sản xuất, những địa bàn thuận lợi để đầu tư thì Chính phủ ta có thể dành số vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào những ngành trọng điểm và những lĩnh vực thấy không nên có yếu tố nước ngoài, cũng như đầu tư vào những địa bàn khó khăn nhằm tạo nên một sự phát triển cân đối, giữa các ngành, các vùng của đất nước.

    Hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu tư nước ngoài là một trong những động lực gây phản ứng dây chuyền thúc đẩy sự hoạt động của đồng vốn trong nước. Theo các chuyên gia kinh tế : cứ một đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động sẽ làm cho bốn đồng vốn trong nước hoạt động theo. Như vậy, có thể nói đây là một trong những tác nhân có khả năng làm cho việc hình thành tại Việt Nam một thị trường vốn thực sự có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

    1.2.Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tạo ra phương thức sản xuất kinh doanh mới và sản phẩm mới :

    Trước đây, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết sản xuất kinh doanh thụ động theo sự chỉ thị kế hoạch của cấp trên, không cần đầu tư, cải tiến, không cần tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị ; sản phẩm sản xuất ra không bị cạnh tranh…trong khi đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giành sự chú ý đáng kể cho công tác nghiên cứu thị trường, tiếp thị, quảng cáo, khuyến mãi. Ngoài ra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho ra đời những sản phẩm có chất lượng cao, giá rẻ hơn, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng hơn các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp trong nước. Để có

    45

    thể tồn tại được các doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn con đường duy nhất là phải thay đổi một cách căn bản từ công nghệ, phương thức sản xuất kinh doanh, trình độ của người lao động. Như vậy, Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thực sự trở thành nhân tố tác động mạnh làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất -kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng tích cực và ngày càng thích nghi với nền kinh tế thị trường.

    Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài một mặt, đã tạo ra một loạt các doanh nghiệp có nhiều tiềm lực trên đất Việt Nam, đây là môi trường bắt buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu trong cuộc cạnh tranh để tồn tại và trưởng thành. Mặt khác, chúng còn là lực lượng có khả năng cung ứng cho thị trường nội địa nước ta nhiều hàng hoá, dịch vụ góp phần làm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất và đời sống nhân dân cũng như đáp ứng cho thị trường nước ta những hàng hoá trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Đây vừa là nguồn bổ xung hàng hoá quan trọng cho thị trường vừa là điều kiện tốt để tiết kiệm được lượng ngoại tệ mà trước đây phải dùng cho việc nhập khẩu hàng hoá.

    1.3. Đầu tư nước ngoài đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá :

    Trong ngành công nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những có tỷ trọng cao mà còn có xu hướng tăng lên đáng kể trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài luôn tạo ra hơn 25% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp ; tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực này đạt từ 25,1% (1995) ; 26,73% (1996) ; 28,9% (1997) ; 31,98% (1998) ; 34,73% (1999) ; 35,5% (2000); 34,3% (2001); 35,2% (2002)

    46

    Trong ngành công nghiệp khai thác, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang có vị trí chủ đạo, với tỷ trọng 79% giá trị sản xuất của toàn ngành. Tiêu biểu mức tỷ trọng ở một số năm như sau : 77,8%(1995) ; 78%(1996) ; 77,7%(1997) ; lên 81,4%(1998). Đặc biệt, giá trị sản xuất của ngành khai thác dầu thô và khí tự nhiên chủ yếu do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra, với các mức cụ thể như sau : 99,7%(1995) ; 99,7%(1996) ; 99,8%(1997) ; 99,8%(1998). Điều mà chúng ta rất dễ nhận biết là nếu như không có đầu tư nước ngoài thì tin chắc chúng ta chưa thể tiến hành được công tác khai thác dầu thô và khí đốt.

    Trong công nghiệp chế biến, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 22% và có xu hướng ngày càng tăng, từ 18,1% (1995) ; 20,1% (1996) ; 22,9% (1997) lên 25,3% (1998). Trong đó, ở một số ngành quan trọng, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như sau : 71% trong ngành sản xuất và sửa chữa xe có động cơ ; 44,3% trong ngành sản xuất sản phẩm bằng da và giả da ; 100% trong ngành sản xuất tụ điện, máy in, máy giặt, tủ lạnh, điều hoà không khí, đầu video… ; 67% trong ngành sản xuất radio, tivi, thiết bị truyền thông ; 31% trong ngành sản xuất kim loại ; 22% trong ngành sản xuất thiết bị điện, điện tử, 20,1% trong ngành sản xuất hoá chất ; 19,1% trong ngành may mặc…

    Nhìn tổng thể tỷ trọng GDP của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong GDP của ngành công nghiệp có sự chuyển biến gần như đồng biến với tỷ trọng của công nghiệp trong GDP. Điều này chứng tỏ rằng, trong số các nhân tố ảnh hưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài không những có vai trò rất quan trọng trong phát triển công nghiệp, mà nó còn có tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng hình thành một cơ cấu kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá

    47

    Bên cạnh những kết quả trên đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể nâng cao năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp, chuyển giao cho lĩnh vực này nhiều giống cây, giống con, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, góp phần thúc đẩy quá trình đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông, lâm sản hàng hoá. Nếu như trước đây đầu tư nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến gỗ, lâm sản,thì những năm gần đây nhiều dự án đã đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất giống, trồng trọt, sản xuất thức ăn chăn nuôi, mía đường, trồng rừng, sản xuất nguyên liệu giấy, chăn nuôi. Các dự án đầu tư nước ngoài trong nông-lâm-ngư nghiệp đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống của đông đảo nhân dân Việt Nam cư trú ở nông thôn ; góp phần đầu tư, cải thiện điều kiện hạ tầng cơ sở lạc hậu, yếu kém ở nhiều địa phương, tạo nhiều việc làm cho lao động ở nông thôn, tạo ra khả năng tiếp nhận những công nghệ tiên tiến cho sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp.

    1.4. Đầu tư nước ngoài đã giúp Việt Nam tiếp cận nhanh chóng kịp thời công nghệ kỹ thuật mới, tiên tiến, hiện đại :

    Thông qua đầu tư của nước ngoài, Việt Nam đã tiếp nhận một số kỹ thuật, công nghệ mới. Phần lớn thiết bị, công nghệ đưa vào nước ta thuộc loại tiên tiến hơn cái ta hiện có. Cụ thể, các công nghệ đang sử dụng trong lĩnh vực dầu khí, viễn thông, hoá chất đều thuộc loại công nghệ hiện đại và các công nghệ này thực sự đã góp phần tạo nên bước ngoặt tích cực trong quá trình phát triển kinh tế của nước ta. Đa số công nghệ sử dụng trong các ngành công nghiệp điện tử, hoá chất, ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng đều là những dây chuyền tự động hoá tương đối hiện đại. Một số sản phẩm điện tử, vi mạch, người máy công nghiệp được sản xuất bằng công nghệ tiên tiến. Các khách sạn, văn phòng cho thuê đều được trang bị các thiết bị hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế.

    48

    1.5.Hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài đã tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc trực tiếp và gián tiếp có thu nhập cao, đồng thời góp phần hình thành cơ chế thúc đẩy việc nâng cao năng lực cho người lao động Việt Nam. Tính đến năm 2002 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra cho người lao động Việt Nam khoảng 600.000 chỗ làm việc trực tiếp và khoảng hơn 2 triệu lao động gián tiếp (bao gồm công nhân xây dựng và các ngành sản xuất, dịch vụ phụ trợ có liên quan). Số lao động làm việc trong các bộ phận có liên quan đến hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài bằng khoảng 39%-40% tổng số lao động bình quân hàng năm trong khu vực nhà nước.

    Thu nhập bình quân của lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bằng khoảng 150% mức thu nhập bình quân của lao động trong khu vực nhà nước. Đây là yếu tố hấp dẫn đối với lao động Việt Nam, do đó đã tạo ra sự cạnh tranh nhất định trên thị trường lao động. Tuy nhiên, lao động trong các doanh nghiệp này đòi hỏi cường độ cao, kỷ luật lao động nghiêm khắc. Trong một số lĩnh vực còn có yêu cầu đối với lực lượng lao động phải có trình độ cao về tay nghề, học vấn, ngoại ngữ. Sự hấp dẫn về thu nhập cùng với đòi hỏi cao về trình độ là những yếu tố buộc người lao động Việt Nam có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ và tay nghề để có đủ điều kiện được tuyển chọn vào làm việc tại các doanh nghiệp loại này.

    Khi các dự án đầu tư nước ngoài bắt đầu hoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam những chuyên gia giỏi, đồng thời áp dụng những chế độ quản lý, tổ chức kinh doanh hiện đại nhằm thực hiện dự án có hiệu quả. Đây chính là điều kiện tốt một mặt để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, học tập và nâng cao trình độ kinh nghiệm quản lý ; Mặt khác, để liên doanh có thể hoạt động được tốt, nhà đầu tư nước ngoài cũng buộc phải đào

    49

    tạo cán bộ quản lý cũng như lao động Việt Nam đến một trình độ đủ để đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, công nghệ đang sử dụng trong các dự án. Như vậy, dù không muốn thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam. Đến nay chúng ta có khoảng 6000 cán bộ quản lý, 25000 cán bộ kỹ thuật đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Họ chủ yếu là những kỹ sư trẻ, có trình độ, có thể cùng các chuyên gia nước ngoài quản lý doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả .

    1.6.Đầu tư nước ngoài thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới :

    Trong xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá các hoạt động kinh tế hiện nay, mức độ thành công của mở cửa và hội nhập với thế giới sẽ có tác động chi phối mạnh mẽ đến sự thành công của công cuộc đổi mới, đến kết quả của sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá cũng như đến tốc độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hướng mở cửa và hội nhập tương đối có hiệu quả. Chúng ta biết rằng, Việt Nam triển khai thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp trong bối cảnh quan hệ kinh tế đối ngoại chỉ ở phạm vi rất hẹp. Các quốc gia có quan hệ hợp tác với Việt Nam chủ yếu thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa. Một hệ thống bao gồm các nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Đây là thời kỳ mà Việt Nam ở vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế-xã hội và cũng là thời kỳ cả hệ thống xã hội chủ nghĩa đang lâm vào thoái trào. Việt Nam lúc này đang rất khó khăn lại mất đi nguồn viện trợ, mất đi những bạn hàng truyền thống và dễ tính, những đối tác hợp tác quốc tế có nhiều ưu ái với mình. Bên cạnh đó, cùng với chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ đã làm cho Việt Nam rất khó xác lập được những mối quan hệ kinh tế với các nước khác. Tuy vậy, với chính sách đầu tư nước ngoài được đánh giá là có

    50

    sức hấp dẫn lúc bấy giờ, nhiều nhà đầu tư thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đã tìm đến và chấp nhận làm ăn với Việt nam. Những kết quả mà các nhà đầu tư đạt được trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam cùng với chính sách đối ngoại rộng mở của chính phủ Việt Nam không những xóa đi những mặc cảm, định kiến của một số nước mà còn chính các nhà đầu tư đã tạo ra sức ép đối với một số chính phủ (trong đó có chính phủ Mỹ) trong việc cải thiện quan hệ với Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài cùng với các hoạt động thực hiện dự án đầu tư đã trở thành “cầu nối”, là điều kiện tốt để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận và tiến hành hợp tác được với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế, cũng như những trung tâm kinh tế, kỹ thuật, công nghệ mạnh của thế giới.

    1.7.Đầu tư nước ngoài là một trong những phương thức đưa hàng hoá sản xuất tại Việt Nam xâm nhập thị trường nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.

    Hoạt động xuất khẩu những hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thành bạn hàng của Việt Nam. Đối với nước ta, mặc dù yêu cầu mở rộng thị phần ở nước ngoài là rất lớn và cấp bách, nhưng do hạn chế về năng lực tiếp thị quốc tế, trình độ công nghệ và quản lý nên rất khó khăn khi trực tiếp giải quyết yêu cầu này. Công việc này đối với các nhà đầu tư nước ngoài lại rất có ưu thế vì họ là những người tương đối am hiểu thị trường thế giới, có các cơ sở tiếp thị ở những thị trường quan trọng, có tiềm lực về vốn và công nghệ, có sẵn những mối quan hệ làm ăn cũng như kinh nghiệm buôn bán, có nhiều thủ thuật để chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Nếu có các công ty xuyên quốc gia nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để sản xuất hàng xuất khẩu thì họ sẽ trở thành pháp nhân Việt Nam xuất hiện trên thương trường

    51

    thế giới. Đây là cơ hội tốt cho Việt Nam tiếp cận được với thị trường nước ngoài một cách thuận lợi .

    2.Tác động tiêu cực, những tồn tại và hạn chế của đầu tư nước ngoài :

    2.1. Tác động tiêu cực của đầu tư nước ngoài :

    -Bên nước ngoài hầu hết là những công ty, hãng tư nhân, họ là người sở hữu thực sự tài sản mà họ đem góp vào liên doanh. Cho nên từ quan niệm, cách nhìn nhận cho đến cách hành động, hoạt động sản xuất kinh doanh, họ đều thể hiện tính chất tư bản tư nhân. Mục đích tối thượng của họ là lợi nhuận, nên họ bằng mọi cách để đạt được lợi nhuận tối đa. Trong một số trường hợp một số nhà đầu tư đã bất chấp những đòi hỏi tôn trọng truyền thống văn hoá, xã hội của dân tộc. Ngoài ra, chủ đầu tư lợi dụng những “khe hở” của luật pháp nước ta và khai thác những mặt yếu kém của các nhà doanh nghiệp trong nước để trục lợi.

    -Đầu tư nước ngoài còn làm cho số lượng các doanh nghiệp trong nước giảm, làm cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng cao, cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt và làm gia tăng hiện tượng chảy máu chất xám. Bên cạnh đó, một số hãng hoặc xí nghiệp nước ngoài tuy đem lại việc làm cho người lao động nhưng lại khai thác sức lao động của công nhân hay nhân viên sở tại một cách quá đáng. Mối quan hệ chủ thợ không bình đẳng, một số người lao động còn bị đối xử ngược đãi.

    -Các chất thải của các công ty nước ngoài, nhất là trong ngành khai thác và chế tạo, là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, việc khai thác và chế biến quá mức các loại khoáng sản và tài nguyên của các công ty này đã nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ta.

    2.2. Hạn chế của đầu tư nước ngoài :

     

    52

    -Trong thời gian qua đầu tư nước ngoài được thực hiện chưa được đồng bộ và đầy đủ. Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo ngành kinh tế và vùng lãnh thổ chưa đạt được như mong muốn, nhất là còn tương đối bất cập với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Nước ta đã có các chính sách ưu đãi để hướng dẫn thu hút đầu tư nước ngoài theo chiến lược phát triển kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ. Thế nhưng, các cấp độ ưu đãi chưa tương xứng với mức độ trênh lệch về điều kiện giữa các ngành, các vùng nên đầu tư trực tiếp vẫn tập trung chủ yếu vào những vùng có khả năng đạt hiệu quả cao, những địa bàn có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và môi trường kinh tế-xã hội. Đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông-lâm nghiệp tuy đã có những đóng góp tích cực, làm thay đổi đáng kể bộ mặt kinh tế-xã hội nông thôn, nhưng sự biến động của đầu tư nước ngoài trong khu vực này đang có xu hướng chững lại và giảm dần, vì đây là lĩnh vực chịu nhiều rủi ro, thời gian thu hồi vốn dài…Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào nông-lâm-ngư nghiệp liên tục giảm từ 21,6% (thời kỳ 1988-1990), xuống 14,3% ( thời kỳ 1991-1995), và xuống mức chỉ còn gần 3% (thời kỳ 1996-2000). Đối với các lĩnh vực khác, ta thấy số dự án đầu tư nước ngoài vẫn tập trung chủ yếu vào các địa phương có điều kiện thuận lợi-chỉ riêng 10/61 tỉnh, thành phố có điều kiện thuận lợi đã thu hút tới 87,8% tổng số đầu tư nước ngoài vào cả nước.

    -Phần vốn góp của Việt Nam trong liên doanh với nước ngoài còn thấp (thường từ 20-30 % tổng vốn). Vốn góp của Việt Nam chủ yếu là quyền sử dụng đất và một số nhà xưởng đã cũ. Điều này làm quyền hạn của phía Việt Nam trong công ty bị hạn chế và phần lợi nhuận được phân chia không cao. Bên cạnh đó, một số đối tác nước ngoài tham gia liên doanh không phải bằng vốn thực có của mình (hoặc nếu có thì cũng chỉ có ở một tỷ lệ thấp) mà

    53

    chủ yếu góp vào liên doanh bằng vốn vay. Các trường hợp này, khi việc tiến hành vay vốn gặp khó khăn dễ dẫn đến tình trạng trì trệ trong việc triển khai dự án. Hoặc sau khi vốn vay đã đưa vào thực hiện, nếu trường hợp sản xuất của liên doanh gặp khó khăn (thậm chí đang trong giai đoạn hoạt động bình thường) nhưng vẫn có những đối tác nước ngoài đã thiếu trách nhiệm trong việc cùng đối tác Việt Nam tính toán, thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Cá biệt, có những đối tác nước ngoài cố tình dây dưa, lẩn tránh việc thanh toán nợ và sau đó đề nghị ngân hàng “phát mại”…tạo điều kiện để họ có thể thôn tính liên doanh (điển hình cho dạng này là liên doanh Saigon Lodge Hotel)

    -Việc chuyển giao công nghệ của các nhà đầu tư nước ngoài chưa được thực hiện triệt để và chưa được thực hiện với sự tự nguyện hoàn toàn, do đó người tiếp nhận công nghệ gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng công nghệ vào thực tiễn. Các công nghệ được chuyển giao đôi khi không thích hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam. Trong mối tương quan giữa vốn thu hút và vốn công nghệ của đầu tư trực tiếp nước ngoài thì tạm thời chúng ta phải chấp nhận thực tế là chưa có thể có điều kiện tự do lựa chọn công nghệ tiên tiến như ý muốn, do đó kỹ thuật, công nghệ và thiết bị đưa vào nước ta phần lớn thuộc loại trung bình trên thế giới. Ngoài ra, do các dự án sử dụng phần lớn công nghệ nước ngoài nên việc nhập khẩu nguyên liệu và tư liệu sản xuất trong nhiều trường hợp trở nên bắt buộc. Vì vậy mức độ phụ thuộc này đôi khi quá lớn và không khỏi gây những trở ngại cho tiến trình xây dựng và khai thác dự án.

    2.Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA ) :

    2.1.Tình hình thu hút và triển khai ODA tại Việt Nam :

    2.1.1Vốn và giải ngân ODA trong thời gian qua :

    Hiện nay Việt Nam có quan hệ ODA rất đa dạng, phong phú với nhiều đối tác đó là :

    54

    • Các tổ chức của liên hợp quốc
    • Các tổ chức phi chính phủ
    • 1 tổ chức liên chính phủ (EU)
    • Hơn 20 nước công nghiệp phát triển
    • Một số nước công nghiệp mới phát triển ở châu A
    • Các ngân hàng quốc tế (WB, ADB )
    • Các quỹ (IMF, OPEC)

    Giai đoạn 1995-1999, bình quân mỗi năm Việt Nam đã huy động được hơn

    • tỷ USD từ các nguồn tài trợ phát triển chính thức của quốc tế. Đến năm 2000, các hiệp định ODA ký kết vốn đầu tư tăng lên 2,4 tỷ USD, vượt xa so với giai đoạn trước. Năm 2001 tổng vốn ODA cam kết là 2,4 tỷ USD và đến năm 2002 số vốn này đạt 2,5 tỷ USD. Cũng trong năm 2002 số vốn này được giải ngân khoảng 1,5 tỷ USD, bao gồm 1,2 tỷ USD vốn vay và 320 triệu USD viện trợ không hoàn lại. Như vậy kể từ năm 1993 đến nay, tổng số vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam lên đến 22,43 tỷ USD, chưa kể phần tài trợ riêng để thực hiện cải cách kinh tế. Trong đó, tính đến hết năm 2002, tổng số vốn được hợp thức hoá bằng các hiệp định đạt khoảng 16,5 tỷ USD và tổng số vốn đã được giải ngân đạt khoảng 11,04 tỷ USD. Rõ ràng, vốn giải ngân đạt tỷ lệ chưa cao so với vốn hiệp định và nếu so với vốn cam kết thì còn thấp hơn nữa, mới chỉ đạt 49,2%. Theo “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và công bố tại Văn bản số 2685/VPCP-QHQT ngày 21 tháng 5 năm 2002, thì trong thời kỳ 2001-2005 Việt Nam cần thực hiện số vốn ODA trị giá khoảng 9 tỷ USD ( theo giá năm 2000), bao gồm khoảng 7,5 tỷ USD vốn vay và khoảng 1,5 tỷ USD vốn viện trợ không hoàn lại. Nghĩa là mỗi năm cần thực hiện khoảng 1,8 tỷ USD. Bảng dưới đây

    55

    cũng cho thấy kết quả đạt được trong 2 năm qua còn khá thấp so với yêu cầu đề ra.

    Bảng 11: Cam kết và giải ngân vốn ODA 1993-2002 tại Việt Nam (tỷ USD quy tròn)

    Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
                         
    Cam 1,81 1,94 2,26 2,43 2,40 2,20* 2,1** 2,4 2,4 2,5
    kết                    
    Giải 0,41 0,72 0,74 0,90 1,00 1,24 1,35 1,65 1,50 1,53
    ngân                    

    Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư.

    • Chưa kể 0,5 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế
    • Chưa kể 0,7 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế

    Trong thời gian qua ODA được dùng vào việc xây dựng nhiều công trình hạ tầng cơ sở quan trọng ở Việt Nam, việc xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế-xã hội là yêu cầu cấp bách, nhưng nguồn vốn trong nước chỉ có thể đáp ứng 40%, vì vậy ODA chủ yếu để đầu tư cho hạ tầng kinh tế- xã hội, điều này cũng phù hợp với định hướng của các nước và tổ chức tài trợ

    2.1.2.Cơ cấu vốn và dự án ODA theo nhà tài trợ :

    Hiện nay có hơn 20 nước và tổ chức quốc tế cung cấp ODA cho Việt Nam, nhưng trên 80% tổng giá trị hiệp định tập trung vào 3 nhà tài trợ lớn là Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu A (ADB) và Nhật Bản. Chẳng hạn, trong tổng giá trị hiệp định ký kết năm 2002 là 1.574 triệu USD thì Ngân hàng thế giới chiếm hơn 499,5 triệu USD, Ngân hàng phát triển châu A chiếm hơn 264 triệu USD và Nhật Bản chiếm trên 536 triệu USD. Trong những năm qua rất nhiều công trình quan trọng đã được xây dựng nhờ vốn của ODA, gây dấu ấn đậm nét như :

    -Cầu Mỹ Thuận ( ODA của Australia )

    56

    -Cầu Sông gianh (ODA của Pháp )

    -Nâng cấp quốc lộ 1A (ODA của WB và ADB )

    Trong hơn 10 năm qua Nhật Bản luôn là nhà tài trợ lớn nhất. Điều đặc biệt là khối lượng ODA cam kết hàng năm của Nhật Bản cho Việt Nam tăng đều đặn, kể cả trong những năm nền kinh tế Nhật bản gặp khó khăn, buộc phải cắt giảm tài trợ cho các nước khác. Theo thoả thuận giữa hai nước, ODA Nhật Bản tập trung vào 5 lĩnh vực chủ yếu sau đây : phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế, trong đó chú trọng hỗ trợ Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường; hỗ trợ xây dựng và cải tạo các công trình điện và giao thông vận tải; hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nhất là phát triển cơ sở hạ tầng

    • nông thôn và chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển giáo dục, đào tạo và y tế; hỗ trợ bảo vệ môi trường.

    Số vốn ODA lớn nhất và có ý nghĩa quan trọng hơn cả vẫn là các khoản tín dụng ưu đãi. Tính đến nay, Chính phủ Việt nam đã ký với Chính phủ Nhật Bản trên 60 hiệp định vay tín dụng với tổng trị giá trên 600 tỷ Yên, tương đương trên 5 tỷ USD để triển khai thực hiện trên 30 công trình và chương trình phát triển kinh tế lớn của Việt Nam.

    2.1.3.Dự án ODA theo ngành, lĩnh vực :

    -Về năng lượng, có những dự án xây dựng nhiệt điện Phú Mỹ 1, nhiệt điện Phả lại 2 nhiệt điện Ô Môn, thuỷ điện Đại Ninh, cụm thuỷ điện Hàm Thuận-Đa Mi, phục hồi thuỷ điện Đa Nhim và nhiệt điện Cần Thơ, cải tạo và mở rộng nhà máy nhiệt điện Uông Bí…

    -Về giao thông vận tải, có những dự án phục hồi và xây mới các cầu lớn trên quốc lộ 1, nâng cấp cảng Hải Phòng, xây dựng cảng nước sâu Cái Lân, mở rộng cảng Đà Nẵng, nâng cấp quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 18, xây dựng cầu Bính, cầu Thanh Trì, cầu Cần Thơ, thay thế những cầu yếu đường sắt Thống Nhất, xây dựng hầm đường bộ đèo Hải Vân, nâng cấp hệ thống giao

    57

    thông đô thị Hà Nội, xây dựng hạ tầng đô thị Hà Nội, xây dựng đường Đông-Tây Tp. Hồ Chí Minh, xây dựng hệ thống thông tin cứu hộ ven biển, xây dựng hệ thống viễn thông nông thôn 10 tỉnh miền trung, Đài truyền hình trung ương, xây dựng nhà ga sân bay Tân Sơn Nhất…

    -Về cấp thoát nước, có những dự án xây dựng hệ thống thoát nước Hà Nội, xây dựng hệ thống cấp nước tại tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu, thực hiện chương trình phục hồi và nâng cấp đường, cơ sở cấp nước và cơ sở phân phối điện tại các vùng nông thôn…

    -Về nông nghiệp, có 33 dự án với tổng vốn ODA khoảng 700 triệu USD, trong đó có những dự án lớn, như “trương trình di dân và kinh tế mới” (300 triệu USD), phát triển dâu tằm tơ (120 triệu USD). Thuỷ lợi có 41 dự án với khoảng1,5 tỷ USD, trong đó dự án quy mô lớn nhất là Cửa Đạt ở Thanh Hoá (200 triệu USD), Thuỷ lợi Tả Trạch ở Thừa Thiên-Huế (170 triệu USD), hệ thống kênh mương cấp 2 ở Đồng bằng sông Cửu long(120 triệu USD)…Lâm nghiệp có 15 dự án với tổng vốn trên 400 triệu USD. Thuỷ sản có 15 dự án với khoảng 600 triệu USD. Giáo dục – đào tạo có 24 dự án với 400 triệu USD, lớn nhất là trang bị Đại học quốc gia Hà Nội (75 triệu USD).

    -Lĩnh vực y tế – xã hội có 42 dự án với khoảng 1 tỷ USD. Văn hoá thông tin có 11 dự án với khoảng 300 triệu USD, lớn nhất là tháp truyền hình Hà Nội (133 triệu USD). Lĩnh vực khoa học- công nghệ – môi trường có 35 dự án với trên 1,5 tỷ USD, lớn nhất là khu công nghệ cao Hoà lạc (480 triệu USD), xây dựng các bãi chôn lấp chất thải rắn, các cơ sở sử lý chất thải (200 triệu USD). Trong bưu chính viễn thông có 5 dự án với khoảng 450 triệu USD, lớn nhất là cáp quang biển trục Bắc-Nam (200 triệu USD), mạng cáp nội hạt các tỉnh(100 triệu USD)…Ngoài ra còn có hàng chục dự án hỗ trợ kỹ thuật cho các ngành, lĩnh vực, mỗi dự án có vốn đầu tư từ 10 triệu USD trở xuống..

    58

    2.2. Đánh giá kết quả ODA đem lại cho Việt Nam :

    Cùng với nguồn vốn FDI, nguồn vốn ODA là một kênh vốn đầu tư phát triển quan trọng đối với Việt Nam. Tính đến hết năm 2002 tổng vốn ODA cam kết giành cho Việt Nam là 22,43 tỷ USD. Tổng số vốn cam kết được giải ngân là 49% tương đương 11,04 tỷ USD. Kể từ năm 1993 đến nay đã diễn ra

    • lần Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ quốc tế. Qua các lần hội nghị, số vốn cam kết giành cho Việt Nam mỗi năm một tăng. Song, điều có ý nghĩa hơn là số vốn được hợp thức hoá bằng các hiệp định ký kết giữa đại diện Chính phủ Việt Nam với các đại diện các nhà tài trợ. Đặc biệt Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ quốc tế diễn ra hồi tháng 12 năm 2002 tại Hà Nội đã cam kết tiếp tục dành cho Việt Nam khoản ODA trị giá 2,5 tỷ USD (bao gồm vốn vay và viện trợ không hoàn lại), được Bộ kế hoạch và đầu tư đánh giá là đạt kết quả cao nhất từ trước đến nay.

    Trong thời gian qua nguồn vốn ODA không những góp phần phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Nhiều dự án đã được thực hiện bằng nguồn vốn ODA như các dự án phát triển ngành năng lượng, giao thông vận tải, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn. Các dự án này đã làm thay đổi đáng kể “bộ mặt“ của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân và tạo ra hàng vạn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó công tác đào tạo cán bộ bằng nguồn vốn ODA cũng đạt được những kết quả tốt đẹp. Hàng ngàn cán bộ, chuyên gia của Việt Nam đã được đào tạo, hướng dẫn tiếp thu công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.

    59

    CHƯƠNG 3

    CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ.

    I.Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá

    1.Cơ hội đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá:

    Trong bối cảnh của thế giới hiện nay, các hoạt động xuất khẩu, liên doanh, đầu tư ra nước ngoài đã trở thành những yếu tố chi phối, quyết định khả năng tồn tại và phát triển của các công ty xuyên quốc gia. Đầu tư ra nước ngoài là một trong những điều kiện chủ yếu để các công ty xuyên quốc gia thực hiện việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ để kéo dài chu kỳ kỹ thuật, chu kỳ sản phẩm nhằm tiếp tục thu được lợi nhuận

    60

    cao nhưng đồng thời vẫn có điều kiện để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả. Do đó hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nước công nghiệp phát triển có xu hướng tăng lên. Đây là một cơ hội tốt cho nước ta trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    Việt Nam bắt đầu thu hút đầu tư nước ngoài muộn hơn các nước trong khu vực từ một đến hai thập kỷ. Như vậy, qua những hoạt động thu hút đầu tư của các nước này nước ta có thể có được những bài học kinh nghiệm cho mình vì nước ta có những nét tương đồng với các nước trong khu vực về văn hoá, địa lý….Và, đây cũng là điều kiện thuận lợi trong việc thu hút các nhà đầu tư từ các nước trong khu vực đến đầu tư tại Việt Nam.

    Việt Nam đã tạo ra được một sự ổn định về chính trị, xã hội, giữ vững được nền an ninh quốc phòng, giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài có được tâm lý tin tưởng, yên tâm về sự an toàn trong hoạt động đầu tư. Bên cạnh đó, tài nguyên thiên nhiên Việt Nam rất phong phú và đa dạng, bao gồm đất đai, khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển. Theo đánh giá của các nhà đầu tư, Việt Nam có một vị trí địa-kinh tế khá thuận lợi. Vị trí của Việt Nam nằm trên các đường hàng không và hàng hải quốc tế quan trọng. Hệ thống cảng biển là cửa ngõ không những cho nền kinh tế Việt Nam mà cả các quốc gia lân cận, đặc biệt là vùng Tây Nam lục địa Trung Hoa. Vị trí địa lý của Việt Nam tạo khả năng phát triển các hoạt động trung chuyển, tái xuất khẩu và chuyển khẩu hàng hoá qua các khu vực lân cận. Do đó nếu đầu tư vào Việt Nam các nhà đầu tư không những tiếp cận được nhu cầu của một thị trường hơn 80 triệu dân ở nước sở tại mà còn là địa bàn để cung cấp hàng hoá cho một số thị trường của các nước lân cận. Sự thuận lợi về vị trí địa lý là một tài nguyên vô hình và nó cũng là vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm trong việc tìm kiếm thị trường để đầu tư.

    61

    Lực lượng lao động của Việt Nam rất dồi dào, có trình độ học vấn trung bình tương đối cao, có nhiều khả năng tiếp thu kiến thức tiên tiến và có nhiều sáng tạo. Trong điều kiện trình độ của nền sản xuất như hiện nay thì về cơ bản người lao động Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư và giá nhân công tương đối rẻ. Mặt bằng tiền lương của Việt Nam nhìn chung thấp hơn so với các nước trong khu vực. Đây cũng là một trong những lợi thế cạnh tranh của nước ta trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    Với đường lối đúng đắn, Việt Nam đã giành được sự thành công nhất định trong việc thực hiện bước chuyển từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập. Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước phát triển khả quan. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao. Việt Nam cũng đã tạo ra một hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế rộng rãi và tương đối có hiệu quả. Vị thế của Việt Nam trên thế giới, ngày càng được củng cố, cải thiện và tăng cường về nhiều mặt. Bên cạnh đó nước ta cũng đã xác định đầu tư trực tiếp nước ngoài là một thành phần bình đẳng trong tổng thể các thành phần của nền kinh tế Việt Nam. Sự đánh giá cao và nhất quán này là yếu tố tạo thêm sức hấp dẫn về môi trường đầu tư của Việt Nam đối với các nhà đầu tư trên thế giới.

    2.Thách thức đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá:

    Tiềm lực của Việt Nam được coi là có nguồn nhân lực lớn nhưng chất lượng không cao , không đồng đều. Ngoài ra, thói quen làm ăn manh mún của người Việt Nam vẫn còn, tính kỷ luật chưa cao do đó khó phát huy được lợi thế của nước đi sau trong việc tiếp nhận khoa học- công nghệ và các nguồn lực khác có sẵn từ bên ngoài để đổi mới cơ cấu kinh tế và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Nước ta chưa có quy hoạch đào tạo một cách có hệ thống cho hoạt

    62

    động kinh tế đối ngoại-nhất là cho lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó phần đông số cán bộ Việt Nam tham gia quản lý trong các liên doanh còn bất cập về trình độ cũng như năng lực so với yêu cầu của cương vị mà họ đang đảm nhận. Hay nói cách khác, hiện chúng ta đang rất thiếu những nhà doanh nghiệp giỏi (có trình độ, khả năng và kinh nghiệm trong tổ chức quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài) và những công nhân kỹ thuật lành nghề.

    Sức cạnh tranh quốc tế của Việt Nam nhìn chung còn thấp, trong khi đó, Việt Nam phải cạnh tranh ngay từ đầu với các đối thủ mạnh hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn. Trong tình hình cấp thiết về nhu cầu vốn đầu tư hiện nay trên thế giới, nhất là các công trình lớn, kỹ thuật cao, các nước xung quanh đã nhận thức được ngay nguy cơ “đói vốn ”, họ kiên quyết và nhạy bén trong việc thay đổi chính sách, làm thông thoáng môi trường đầu tư, để cạnh tranh gay gắt với các nước đang phát triển khác trong đó có Việt Nam. Các nước cạnh tranh đáng chú ý nhất hiện nay trong khu vực là Trung Quốc, Ân Độ, Thái Lan, Philipin.

    Các điều kiện vật chất đảm bảo cho hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài còn rất thiếu, yếu và lạc hậu. Chẳng hạn, chúng ta đang rất thiếu vốn trong nước để tham gia, đối ứng với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi đó thị trường vốn vừa yếu, vừa thiếu đồng bộ, các cơ sở hạ tầng và các dịch vụ còn rất lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu của một nền sản xuất hiện đại. Việt Nam là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người thuộc vào loại thấp trong khu vực. Nhưng giá đất và các dịch vụ sinh hoạt khác thuộc vào loại cao. (ví dụ : Một cú điện thoại gọi từ Hà Nội đi Washington D.C mất khoảng 3 USD/phút, trong khi đó gọi từ Washington D.C về chỉ mất 0,75 USD/phút) Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam thu của các Công ty cung ứng dịch vụ Internet mức phí vào loại cao

    63

    nhất thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam đã và đang tiếp tục có những điều chỉnh giá cả các dịch vụ trên để có thể cạnh tranh với các nước khác trong khu vực.

    Theo thống kê, Việt Nam hiện có hệ thống đường bộ cũ kỹ, với khoảng 105000 km, chỉ một phần tư trong số đó được trải nhựa, nhưng lại không được bảo trì tốt. Hệ thống đường sắt dài khoảng 2600 km cũng cần phải được nâng cấp. Khoảng 87% tổng chiều dài đường sắt có chiều ngang hẹp (1m). Nhiều đầu tầu đã vượt tuổi thọ tối đa. Hệ thống đường thuỷ mà tàu bè có thể chạy được là 17700km. Trong số đó, chỉ có 5149km có thể chạy vào mọi thời điểm bởi tầu bè cần một độ sâu tối thiểu của nước là 1,8 m. Như vậy, điều kiện cơ sở hạ tầng của Việt Nam so với các nước trong khu vực còn thấp, đây là một trong những bất lợi của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    Các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến hệ thống ngân hàng ở nước sở tại. Hệ thống ngân hàng ở Việt Nam còn trong giai đoạn non trẻ và phải đối mặt với nhiều vấn đề : vốn còn ít, nợ khó đòi, nợ nần nhiều và quản lý kém hiệu lực. Ngoài ra, đồng nội tệ không chuyển đổi được, trong khi số lượng ngoại tệ còn rất hạn chế. Hầu hết mọi giao dịch kinh doanh đều thực hiên bằng tiền mặt, vì thẻ tín dụng chưa được chấp nhận rộng rãi. Chính phủ Việt Nam đã cho phép ấn hành chi phiếu từ năm 1997, nhưng do còn nhiều thủ tục nên nhiều khi chi phiếu không sử dụng được. Một hạn chế nữa là chi phiếu chỉ có giá trị trong vòng 15 ngày. Việc kiểm soát quá mức và tình trạng còn sơ khai của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã làm khách hàng gặp khó khăn trong việc sử dụng chi phiếu và các dịch vụ ngân hàng để cất gửi số tiền của mình

    -Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam là cao so với mức thuế trong khu vực và thế giới. Đối với người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam mà có thu nhập

    64

    hàng năm khoảng 25700USD-43000USD, thì thuế suất thu nhập cá nhân là 40%. Đối với những khoản thu nhập hàng năm vượt quá 43000USD, thuế suất áp dụng là 50%. Trong khi đó ở Thái Lan thuế suất 30% được áp dụng cho mức thu nhập cá nhận từ 25000 USD-102000USD và 37% cho thu nhập trên 102000USD. Hơn nữa, hệ thống thuế ở Thái Lan cho phép khấu trừ thuế theo trợ cấp cá nhân. Thuế suất thu nhập cá nhân của Trung Quốc còn thấp hơn cả Thái Lan

    Nhiều nhà đầu tư lớn cho rằng môi trường đầu tư ở Việt Nam mới bắt đầu khai phá, khả năng làm ăn lớn, nhưng trước mắt, độ rủi ro cao hơn các nước xung quanh do dung lượng thị trường còn hạn chế, thủ tục hành chính còn rườm rà, tệ quan liêu tham nhũng vẫn còn nhiều, luật pháp và chính sách chưa ổn định, các chính sách đôi khi chưa được nhất quán. Bên cạnh đó,chế độ thuế ở Việt Nam còn rắc rối, sân chơi giữa các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp nước ngoài chưa được bình đẳng.

    II.Các giải pháp tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

     1.Nhóm giải pháp chung :

    1.1/Đổi mới về quản lý của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài:

    Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải luôn giữ vững kỷ cương pháp luật, thực hiện nhất quán các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trước mắt, chính phủ cần phải rà soát và sửa đổi các quy định và trình tự hình thành, thẩm định, phê duyệt dự án (kể cả nội dung, quy trình, thành phần hội đồng thẩm định), trong đó đặc biệt lưu ý và xem xét lại thủ tục cấp đất, xây dựng, thuế theo hướng đơn giản hoá về hành chính, chặt chẽ về luật pháp, rút ngắn thủ tục, thời gian gắn với việc tăng hiệu quả kinh tế-xã hội. Chỉ có quyết tâm cải cách theo hướng này chúng ta mới có thể giành lại các ưu thế và cạnh tranh được với các nước trong khu vực để thu

    65

    hút vốn nước ngoài phục vụ cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

    -Tinh giản bộ máy quản lý, đơn giản hoá các thủ tục hành chính. Điều này không chỉ là những thủ tục liên quan đến việc cấp phép đầu tư như các loại giấy tờ và thời gian xét duyệt mà bên cạnh đó là cả một hệ thống liên quan đến thuê đất, thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục về thuế và hải quan. Đây là những vấn đề mà đầu tư nước ngoài sẽ gặp phải khi triển khai thực hiện dự án đã được cấp phép. Việc thanh tra, kiểm tra của các cơ quan Nhà nước đối với doanh nghiệp phải theo đúng chức năng, đúng thẩm quyền và đúng luật pháp.

    • Quán triệt cơ chế “một cửa, một dấu”, thực hiện nghiêm túc tinh thần quản lý văn minh hiện đại đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng một quy chế thống nhất để phát huy vai trò quản lý Nhà nước của các cơ quan chức năng, khắc phục một số biểu hiện của tệ chồng chéo, phân tán và kém hiệu lực vẫn còn tồn tại hiện nay. Cần phải kiên quyết loại bỏ những ràng buộc bởi quan niệm cũ, sự quan liêu của bộ máy điều hành. Sự nửa vời, chắp vá sẽ làm mất cơ hội phát triển, và sau nữa là khiến Chính phủ thụ động chạy theo giải quyết những đòi hỏi cục bộ từ phía các doanh nghiệp -Cần có những chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực và địa bàn có điều kiện ưu tiên phát triển, phù hợp với quy hoạch và nhu cầu của nước ta. Mặt khác, cần dứt khoát thống nhất về các chủ trương đầu tư nước ngoài, để phù hợp với các mục tiêu chung của đất nước, xây dựng chiến lược quy hoạch cơ cấu phải do Chính phủ trung ương lãnh đạo điều hành, dù thực hiện phân cấp, phân quyền nhưng vẫn phải đảm bảo mục đích đại cục của chiến lược phát triển quốc gia, chấm dứt hẳn tình trạng cát cứ, phân tán, địa phương, có lúc tuỳ tiện chấp nhận hay không chấp nhận việc xây dựng các xí nghiệp được đầu tư trên địa bàn mình. Điều này là cần

    66

    thiết cho vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài thực hiên mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng mạnh về xuất khẩu

    1.2/ Phát triển cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh và trong cuộc sống:

    So với các nước trong khu vực, cơ sở hạ tầng của Việt nam chưa phát triển. Như vậy, nâng cấp cơ sở hạ tầng là vấn đề quan trọng đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư và tạo khả năng cạnh tranh với các nước khác trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Do đó Việt Nam cần có chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng. Cụ thể đó là: tiến hành nâng cấp hệ thống đường bộ, đường thuỷ và đường sắt, mở rộng thêm các đường bay trực tiếp quốc tế, đảm bảo ổn định nguồn điện, nước cho các đơn vị kinh tế, xây dựng hệ thống kho bãi với số lượng, quy mô và tiêu chuẩn kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu sản xuất và phân phối của các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, thông tin, bưu điện là nhu cầu không thể thiếu được trong các hoạt động điều hành kinh doanh và trong cuộc sống của các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi thế, việc xây dựng một hệ thống thông tin bưu điện đạt chất lượng cao là một trong những biện pháp ưu tiên phát triển hàng đầu để tăng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng đòi lượng kinh phí rất lớn và thời gian thu hồi vốn đầu tư dài. Vì vậy Nhà nước Việt Nam cần huy động các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nhận viện trợ, vay nợ chính phủ (ODA) hoặc khuyến khích đầu tư tư nhân (chủ yếu là đầu tư nước ngoài) tham gia dưới hình thức BOT, BT.

    -Tích cực chủ động tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc liên quan đến đất đai sử dụng trong kinh doanh thuộc khu vực đầu tư nước ngoài. Hiện nay, nhìn chung giá thuê đất của nước ta đã cao hơn các nước xung quanh, đất cho thuê lại chưa được chuẩn bị các điều kiện hạ tầng (đường sá, điện nước, mặt bằng) việc đền bù, giải phóng mặt bằng luôn là vấn đề nan giải, tốn kém

    67

    thời gian và tiền bạc cho các nhà đầu tư, thậm chí làm cho một số dự án không thể triển khai, thực hiện được hoặc làm các dự án đi lệch khá xa khỏi dự tính ban đầu về kế hoạch sản xuất kinh doanh. Hậu quả của nó là khó quy trách nhiệm của sự thua lỗ hay đình đốn trong điều hành, thực thi các kế hoạch sản xuất kinh doanh về một nguyên nhân, hay đối tượng cụ thể nào. Trong thời gian tới, các vấn đề về đất đai cần phải sớm được khắc phục từ khâu văn bản chỉ đạo, biện pháp quản lý, phối hợp các ngành, phương án di dời dân một cách hiệu quả để các nhà đầu tư có thể nhanh chóng hoàn thành xây dựng cơ bản, đưa doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước cần đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các dự án đầu tư nước ngoài. Uỷ ban nhân dân địa phương cần kiên quyết hơn nữa trong việc tổ chức cưỡng chế thực hiện việc giải phóng mặt bằng các trường hợp đã được đối xử theo đúng chính sách và quy định của Nhà nước nhưng vẫn không chấp hành.

    1.3/ Điều chỉnh lại chế độ thuế cho phù hợp và dễ thực hiện

    Trong thời gian qua Việt Nam đã có những ưu đãi về thuế để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài như miễn thuế nhập khẩu máy móc, nguyên liệu. Tuy nhiên, do chế độ thuế hiện nay của Việt Nam còn rắc rối và việc áp dụng chưa đồng nhất Nhà nước Việt Nam cần cải cách hệ thống thuế cho phù hợp tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và các cam kết quốc tế, cần áp dụng hệ thống thuế chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sản xuất phụ tùng, linh kiện, cần có một chính sách thuế phù hợp : cho phép các dự án sản xuất nguyên liệu phụ trợ phục vụ hàng xuất khẩu được hưởng ưu đẵi tương tự như các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, ngoài ra cần bảo hộ hợp lý đối với một số sản phẩm quan trọng.

    68

    Hiện nay thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam còn cao so với các nước trong khu vực do đó Việt Nam nên giảm thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài để tạo khả năng cạnh tranh với các nước khác trong thu hút đầu tư. Theo các nhà đầu tư thì cần giảm thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và thuế giá trị gia tăng cho nguyên liệu nhập khẩu không sản xuất được trong nước và cho phép khấu trừ thuế đối với lãi phải trả cho những khoản mà doanh nghiệp vay.

    1.4/ Đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ và phẩm chất đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài :

    Công tác đào tạo cán bộ kinh tế đối ngoại nói chung và trong lĩnh vực đầu tư phát triển nói riêng trong thời đại kinh tế tri thức phát triển là một nhiệm vụ chủ chốt. Các cơ quan chức năng cần tích cực khuyến khích các hình thức truyền bá kiến thức, công nghệ của nước ngoài ở Việt Nam. Ví dụ bằng cách sử dụng tài trợ khoa học kỹ thuật của các chương trình ODA, có thể tiếp nhận chuyên gia, tổ chức đào tạo ngắn hạn trong, ngoài nước, tổ chức hội thảo để nâng cao trình độ nghiệp vụ của người lao động Việt Nam. Để tăng cường khả năng thu hút đầu tư nước ngoài đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư Nhà nước Việt Nam cần chú trọng tăng cường công tác cán bộ và đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật làm việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: tổ chức đào tạo theo nhiều hình thức đối với cán bộ làm công tác đầu tư nước ngoài, cán bộ quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thường xuyên tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, luật pháp cho cán bộ Việt Nam hiện nay đang làm việc tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, tổ chức đào tạo công nhân lành nghề làm việc cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, trước hết là phục vụ cho các khu công nghiệp lớn đáp ứng nhu cầu về nhân lực của các nhà đầu tư. Ngoài ra Nhà nước cần có những quy định về những điều kiện phải có đối với cán bộ Việt Nam tham

    69

    gia Hội đồng quản trị và quản lý các doanh nghiệp liên doanh, quy định cụ thể tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, trách nhiệm nghĩa vụ và quyền lợi của những người làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam cần thực hiện “chiến lược con người”: tranh thủ đào tạo nguồn nhân lực khoa học-công nghệ trong nước, nhất là nhân lực có trình độ cao, đa dạng hoá, đa kênh hoá các hình thức đào tạo, huy động các nguồn vốn bên ngoài cũng như trong nước, kể cả ngân sách hoặc tín dụng của Nhà nước. Xây dựng văn hoá tổ chức, văn hoá trong hoạt động khoa học, công nghệ để góp phần cho sự thành công của nền kinh tế tri thức trong thời đại mới. Đó là những yếu tố như đầu óc rộng mở cho sự đổi mới và sáng tạo; sự sẵn sàng và kỹ năng hợp tác để đổi mới, sáng tạo và phát triển, đồng thời khắc phục được những đặc điểm bất lợi có tính tiểu nông, cản trở việc hợp tác đầu tư có hiệu quả trong tâm lý của người Việt Nam mà lâu nay nhiều học giả vẫn nói đến.

    1.5/ Đổi mới về nội dung và phương thức vận động xúc tiến đầu tư :

    Đa dạng hoá các hoạt động xúc tiến đầu tư thông qua các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các diễn đàn quốc tế, các hoạt động hợp tác xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ hợp tác AIA, ASEAN, APEC, ASEM, các cuộc hội thảo về đầu tư ở trong và ngoài nước; sử dụng tổng hợp các phương tiện xúc tiến đầu tư qua truyền thông đại chúng, tiếp xúc trực tiếp, mạng Internet.

    Hoàn thiện hệ thống thông tin về đầu tư nước ngoài. Mở rộng tuyên truyền đối ngoại trên cơ sở sử dụng thông tin hiện đại. Đẩy mạnh hoạt động của trang web về đầu tư trực tiếp nước ngoài để phục vụ việc cung cấp thông tin cập nhật về chủ trương, chính sách pháp luật về đầu tư, giới thiệu các dự án kêu gọi đầu tư, biểu dương những dự án thành công….

    70

    Triển khai các chương trình xúc tiến đầu tư theo ngành, lĩnh vực, địa bàn với các dự án và đối tượng cụ thể, hướng vào các đối tác nước ngoài có tiềm lực về tài chính và công nghệ nguồn. Căn cứ vào Danh mục dự án quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài, chuẩn bị kỹ một số dự án đầu tư quan trọng, lựa chọn, mời trực tiếp một vài tập đoàn lớn trong ngành, lĩnh vực đó vào để đàm phán, tham gia đầu tư vào các dự án.

    Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác nghiên cứu tình hình kinh tế, thị trường đầu tư, chính sách đầu tư ra nước ngoài của các nước các tập đoàn và công ty lớn từ đó có chính sách thu hút đầu tư cho phù hợp. Ngoài ra các cơ quan chức năng cần nghiên cứu luật pháp, chính sách, biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực để có đối sách thích hợp tạo khả năng cạnh tranh với các nước này.

    2.Giải pháp riêng đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

    Việt Nam :

    2.1/ Nghiên cứu xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển theo đúng định hướng của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội phù hợp với yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể đó là :

    2.1.1.Mở rộng thêm điều kiện chuyển nhượng vốn cho các bên tham gia liên doanh vì theo các nhà đầu tư nước ngoài việc chuyển nhượng vốn góp trong các công ty liên doanh còn bị hạn chế và điều này gây trở ngại đối với việc đầu tư.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, hình thức pháp luật của công ty liên doanh là một công ty trách nhiệm hữu hạn chứ không phải là công ty cổ phần do đó thiếu tự do trong việc chuyển nhượng vốn góp trong các công ty liên doanh. Để bán toàn bộ hay một phần vốn góp của mình cần phải có ssự

    71

    cho phép trước của Cơ quan cấp giấy phép đầu tư. Điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý của các nhà đầu tư và kìm hãm đầu tư. Để khắc phục tình trạng này Nhà nước Việt Nam có thể cho phép việc chuyển nhượng vốn giữa các đối tác nước ngoài không cần phải có giấy phép của Cơ quan cấp giấy phép đầu tư mà chỉ cần khai báo với cơ quan này và nếu sau một số ngày mà không có ý kiến phản đối thì mặc nhiên được coi như việc chuyển nhượng được chấp nhận.

    2.1.2. Xem xét lại nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị của doanh nghiệp liên doanh.

    Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: Hội đồng quản trị cần phải có sự nhất trí của toàn thể thành viên mới có thể thông qua những vấn đề liên quan đến ngân sách, vay nợ, thay đổi điều lệ, duyệt quyết toán tài chính hàng năm và bổ nhiệm lãnh đạo. Điều này làm cho các nhà đầu tư lo ngại vì quyền phủ quyết của mỗi thành viên hội đồng quản trị có thể làm cho công ty liên doanh lâm vào bế tắc. Do đó Việt Nam cần cho phép thông qua những vấn đề liên quan đến ngân sách, vay nợ, thay đổi điều lệ, duyệt quyết toán tài chính hàng năm và bổ nhiệm lãnh đạo mà không cần sự nhất trí của toàn thể thành viên hội đồng quản trị.

    2.1.3. Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực thay vì chỉ hoạt động trong một lĩnh vực nhất định.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam thì các nhà đầu tư không được thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Như vậy các nhà đầu tư phải thành lập một thực thể pháp luật đối với mỗi dự án do đó việc xin phép đầu tư và chi phí thành lập sẽ phải tăng lên rất nhiều. Bên cạnh đó các dự án đầu tư sẽ bị chậm trễ vì các dự án này chỉ có thể triển khai sau khi có Giấy phép đầu tư. Để giải quyết vấn đề này Chính phủ Việt Nam cần cho phép các nhà đầu tư thành lập liên doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực

    72

    vì điều này sẽ làm giảm chi phí và thời gian cho các nhà đầu tư trong việc thành lập và triển khai các dự án, ngoài ra nó cho phép củng cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể bằng cách lấy phần lợi nhuận ở một số hoạt động để bù đắp về mặt thuế khoá cho phần lỗ ở các hoạt động khác.

    2.2/ Đa dạng hoá các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài để khai thác thêm các kênh thu hút đầu tư mới.

    Thực hiện các hình thức đầu tư như công ty hợp danh, công ty quản lý vốn. Mở rộng lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cho phép doanh nghiệp có vốn đầu trực tiếp nước ngoài được chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này được đăng ký tại thị trường chứng khoán. Cho phép nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài được đầu tư vào dịch vụ nhập khẩu, dịch vụ phân phối trong nước. Thu hẹp danh mục hàng hoá không thuộc đối tượng doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài mua để xuất khẩu.

    2.3/ Hoàn thiện chính sách tiền tệ liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Tiến hành cải cách chính sách tiền tệ liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Ban hành các quy định hướng dẫn các nghị quyết của Chính phủ về đảm bảo vay vốn, cầm cố thế chấp, bảo lãnh đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

    Cải tổ lại hệ thống ngân hàng tạo môi trường thông thoáng cho hoạt động đầu tư . Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép bán sản phẩm dịch vụ tại thị trường Việt Nam bằng ngoại tệ và được mua ngoại tệ nếu số ngoại tệ này dùng để nhập khẩu nguyên liệu hoặc để chuyển lợi nhuận về nước.

    73

    2.4/ Giải quan trọng để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là cần phải đảm bảo sự ổn định về chính trị-xã hội.

    Giữ vững sự ổn định về chính trị có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, vì nếu chính trị không ổn định thì sẽ dẫn đến sự thay đổi của các mục tiêu, sự thay đổi phương thức để đạt được mục tiêu đó. Các nhà đầu tư nước ngoài thường lấy mức độ ổn định chính trị-xã hội, tính nhất quán và bền vững trong các chính sách của nước nhận đầu tư để xác định hệ số an toàn, cũng như khả năng sinh lời của đồng vốn mà họ bỏ ra đầu tư. Các nhà đầu tư sẽ không bao giờ đầu tư hoặc nếu đã có các dự án đầu tư, thì họ sẵn sàng rút vốn khỏi các quốc gia có tình hình chính trị không ổn định, các chính sách hay biến động và thiếu nhất quán. Các nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư ở những quốc gia có điều kiện để thực hiện các cam kết với độ tin cậy cao.

    2.5. Tiếp tục thực hiện lộ trình giảm chi phí một giá áp dụng thống nhất cho đầu tư trong nước ngoài.

    đầu tư và tiến tới chế độ nước và đầu tư trực tiếp

     

    Nhà nước Việt Nam cần giảm giá đất và các dịch vụ tiện ích để có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực do hiện nay giá đất và các dịch vụ tiện ích

    • Việt Nam cao hơn các nước này. Bên cạnh đó Nhà nước Việt Nam cần tạo cơ hội bình đẳng như nhau cho mọi khu vực Nhà nước, tư nhân và nước ngoài như xoá bỏ độc quyền đối với điều kiện xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp nhà nước, tiến hành cơ chế cạnh tranh. Các doanh nghiệp đều có cơ hội ngang nhau trong hoạt động kinh doanh.

    3.Những bài học kinh nghiệm và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ODA tại Việt Nam:

    Nhà tài trợ nước ngoài đòi hỏi vốn ODA của họ phải được sử dụng đúng mục đích, đúng chỗ, đúng người thụ hưởng. Vì vậy muốn dùng được vốn

    74

    của họ thì bản thân nước nhận tài trợ, hoặc ngành, địa phương được thụ hưởng không những cần phải chuẩn bị tốt dự án, các dự án phải đủ tính thuyết phục, có tính khả thi, nhất là có đủ vốn đối ứng cần thiết, mà còn phải tiếp cận và vận dụng được các cơ chế đó, nghĩa là phải hội nhập “luật chơi” của từng nhà tài trợ.

    Trong việc sử dụng ODA, kinh nghiệm của thế giới cho thấy thường xảy ra các trường hợp cần phải lường trước, để quản lý có hiệu quả – đó là các vấn đề: chính phủ không kiểm soát được các mục tiêu ưu tiên, lãng phí trong sử dụng và bố trí nguồn vốn phân tán, tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài, giảm tính tự lực và tăng tham nhũng. Do đó để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA, trong năm 2001 Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nghị định 17/2001NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn ODA và Quyết định 64/2001/QĐ-TTg về quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Nhờ đó, việc phân cấp thẩm định và phê duyệt các chương trình, dự án ODA đã được mở rộng.

    Đối với Việt Nam trong đầu tư bằng ODA, phải đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, dùng nhiều vốn ưu tiên cao cho việc tạo ra các tài sản cố định, góp phần làm tăng trưởng nhanh GDP. Dùng vốn vay ưu đãi cho công trình cơ sở hạ tầng kinh tế, dùng vốn không hoàn lại cho các công trình hạ tầng phúc lợi công cộng xã hội

    Các quốc gia nhận ODA chủ yếu nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng trong trường hợp cụ thể như ở nước ta, có thể sử dụng ODA cho các công trình cá biệt như điện, phân bón… ODA nên tập trung cho ba vùng kinh tế trọng điểm, trong đó đầu tư các dự án quy mô vừa phải cho các tỉnh nghèo.

    Như vậy, để sử dụng ODA có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu chiến lược, cần chuẩn bị và thông qua định hướng, qui hoạch cũng như chương trình, dự án ưu tiên có sẵn của nhà nước trên cơ sở cân nhắc nhiều mặt. Sau khi được

    75

    các cấp thẩm quyền Nhà nước cao nhất phê duyệt, các văn kiện này là cơ sở chung để các ngành và các địa phương thực hiện.

    KẾT LUẬN

    Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Qua hình thức đầu tư nước ngoài nước ta đã huy động được nguồn vốn đáng kể đáp ứng được nhu cầu về vốn để phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, vấn đề chuyển giao công nghệ cũng như giải quyết việc làm cũng được khai thác một cách có hiệu quả. Đầu tư nước ngoài đã tạo ra hàng chục vạn chỗ làm cho người lao động Việt Nam, góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động của nước ta. Nhờ có đầu tư nước ngoài chúng ta có cơ hội nắm bắt được những công nghệ khoa học tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, khả năng tổ chức sản xuất-kinh doanh của nền kinh tế thị trường hiện đại. Đặc biệt, đầu tư nước ngoài là một trong nhữnh kênh đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới tương đối có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài, nước ta không tránh khỏi những hạn chế, những tiêu cực mà đầu tư nước ngoài mang lại. Để hạn chế những tiêu cực và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, bên cạnh việc cải cách hành chính và thể chế cần thiết để cải thiện môi trường hoạt động cho các công ty đầu tư nước ngoài, Nhà nước cần có những giải pháp khuyến khích đầu tư như chính sách thuế, điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi, môi trường kinh doanh bình đẳng…Đây cũng là những giải pháp góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động quốc tế phù hợp với xu thế toàn cầu hoá hiện nay.

    76

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    I.Tài liệu bằng tiếng Việt

    1.Lê Thanh Bình: Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hoá. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 2002

    2.Phùng Xuân Nhạ: Đầu tư quốc tế. Nhà xuất bản Đại học quốc gia. Hà Nội,

    2001

    3.Vũ Chí Lộc: Giáo trình đầu tư nước ngoài. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội,

    1997

    4.Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 2001

    5.Các tạp chí như : Ngân hàng, Tài chính từ 2000 đến 2003

    6.Các báo Nhân Dân, Đầu tư, Thời báo kinh tế Việt Nam, Thời báo kinh tế Sài Gòn từ 1990 đến 2003

    II.Tài liệu bằng tiếng Anh

    7.Vietnam Economic Time 1999

    8.Vietnam Economic Time 2000

    9.Vietnam Investment Review 2002

    10.Vietnam Investment Review 2003

    77

    KẾT LUẬN

    Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Qua hình thức đầu tư nước ngoài nước ta đã huy động được nguồn vốn đáng kể đáp ứng được nhu cầu về vốn để phát triển kinh tế-

    78

    xã hội. Bên cạnh đó, vấn đề chuyển giao công nghệ cũng như giải quyết việc làm cũng được khai thác một cách có hiệu quả. Đầu tư nước ngoài đã tạo ra hàng chục vạn chỗ làm cho người lao động Việt Nam, góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động của nước ta. Nhờ có đầu tư nước ngoài chúng ta có cơ hội nắm bắt được những công nghệ khoa học tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, khả năng tổ chức sản xuất-kinh doanh của nền kinh tế thị trường hiện đại. Đặc biệt, đầu tư nước ngoài là một trong nhữnh kênh đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới tương đối có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài, nước ta không tránh khỏi những hạn chế, những tiêu cực mà đầu tư nước ngoài mang lại. Để hạn chế những tiêu cực và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, bên cạnh việc cải cách hành chính và thể chế cần thiết để cải thiện môi trường hoạt động cho các công ty đầu tư nước ngoài, Nhà nước cần có những giải pháp khuyến khích đầu tư như chính sách thuế, điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi, môi trường kinh doanh bình đẳng…Đây cũng là những giải pháp góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động quốc tế phù hợp với xu thế toàn cầu hoá hiện nay.

    79

    80


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-huy-%C4%91%E1%BB%99ng-v%E1%BB%91n-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-c%C3%B3-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ngu%E1%BB%93n-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động trên thị trường quốc tế, tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mạI diễn ra nhanh chóng, nhiều quốc gia và nhiều công ty đang nắm trong tay lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư nước ngoài. Đây là đIều kiện thuận lợi đối với các nước thiếu vốn có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy đầu tư nước ngoàI chiếm một vị trí rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay đối với không chỉ những nước phát triển mà còn quan trọng đối với những nước đang phát triển. Đặc biệt là Việt Nam đầu tư nước ngoàI nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đầu tư xây đầu tư nước ngoàI dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và sức mạnh cạnh tranh cảu hàng hoá.

    Trong bối cảnh hiện nay, các nứơc đang phát triển có thể tận dụng mọi nguồn lực của thế giới, tiếp thu được những tinh tuý của nhân loạI, những cống hiến và những phát minh vĩ đạI của các bậc thế hệ đI trước, nhằm đI tắt đón đầu trên con đuờng phát triển và thu hẹp đầu tư nước ngoàI dần khoảng cách với các nước đI trước. Khi đó đầu tư nước ngoàI có vai trò như một phương tiện đắc lực đẻ thựcn hiện chủ trương trên, là một quốc gia đang trưởng thành và phát triển đồng thời đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đạI hoá , Việt Nam cần huy động tối đa mọi nguồn lực. ĐạI hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “ Kinh tế vốn đầu tư nước ngoàI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu đầu tư nước ngoàI, bình đẳng với các thành phần khác. Thu hút đầu tư nước ngoàI là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước” .

    Với mong muốn vận dụng kiến thức để tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam nên

    tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả

    nguồn vốn đầu tư của nước ngoài” . Tôi rất mong đước sự góp ý của thầy cô và bạn bè.

    Lời cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn thầy PHẠM THÀNH đã tận tình hướng dẫn tôi cùng thư viện trường ĐHKQD và cảm ơn đồng nghiệp trong việc giúp tôi hoàn thành đề án này.

    PHẦN A.      PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

    Hiện nay, trên thế giới, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tàI chính quốc tế và nhiều công ty đang năm lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư ra nước ngoàI. Đây là đIều kiện thuận lợi đối với các nước đang thiếu vốn, có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy nhu cầu thu hút vốn đầu tư và sử dụng nguồn vốn dó là một vần đề cấp thiết, quan trọng đối vơínhiều nước trên thế giới dặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có việt nam.

    Đối với nước ta thực hiên mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế –xã hội, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàI (FDI) là một vấn đề tấtyếu không thể thiếu được đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, giai đoạn mà chúng ta thực hiện chiến lược công nghiệp hoá – hiện đạI hoá đất nước.

    Trong đIều kiện hiện nay của đất nước, nhìn nhận một cách tổng thể thì nước ta đang còn là một nước nghèo so với bạn bè trong khu vực, đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á, mặc dù chúng ta đã có những tiến bộ vượt bậc so với trước đây, đã có những đường lối, chính sách đổi mới những mà cáI mà chúng ta mong muốn thì chưa đạt được. Vì vậy để đất nước ngày một hưng thịnh phồn vinh thì chúng ta phảI có những bước đI thật đúng đắn, có sự thống nhất từ trung ương đến cơ sở nhằm tạo nên sức mạnh chung phát huy tối đa nguồn lựctong nước cũng như nước ngoàI. Chính vì vậy nghiên cứu những lĩnh vực có liên quanđến vấn đề đất nước đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Những vấn đề đó không thể không nhắc đến cáI tác động trực tiếp lên toàn xã hội đó là vấn đề huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoàI là một nội dung quan trọng. Nó liên quan đến sự phát triển kinh tế xã hội, chính trị của đất nước, tác động trực tiếp lên các mặt đời sống của xã hội. Do vậy nghiên cứu, mở rộng tầm hiểu biết về nó là vấn đề cần thiết.

    Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá – hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trên mọi lĩnh vực, nhờ sự đổi mới đó mà chúng ta thu được những kết quả quan trọng, không những vượt qua khủng hoảng triền miên trong thập kỉ 80 mà còn đạt được những thành tựuto lớn trong phát triển kkinh tế xã hội.

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong l5 năm liền (1993-1997) đạt mức 8-9,5 % lạm phát bị đẩy lùi, đời sống đạI bộ phận nhân dân được cảI thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Có được thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này là nhờ đóng góp lớn của trực tiếp đầu tư nước ngoàI FDI.

    -1-

    Nó đã góp phần mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá các hoạt động kinh tế đối ngoạI tạo đIều kiện tăng cường củng cố và tạo ra những thế lực mới cho nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực.

    II. PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ĐỀ TÀI .

    Bài viết dựa trên những quy luật hiện tượng khách quan. Dựa vào các quy luật của triết học như:

    • phương pháp duy vật biện chứng.
    • phương pháp lịch sử.
    • phương pháp so sánh.
    • phương pháp phân tích tàI liệu.
    • phương pháp tổng hợp đánh giá. Và một số phương pháp khác.

    III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

    Do phạm vi của đề tàI có giới hạn cho nên trong quá trình nghiên cứu, xem xét đánh giá nó phảI có cáI nhìn sâu sắc, nhìn từ nhiều hướng, nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau trên cơ sở đánh giá sâu vấn đề. BàI viết được trình bày dưới dạng một đề án của một môn học và chỉ dừng lạI ở mức độ đề án môn học.

    PHẦN B.  NỘI DUNG

    I.                   MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN.

     

    1. Đầu tư quốc tế

     

    • Khái niệm: Đầu tư quốc tế (Lê Nin còn gọi là xuất khẩu tư bản) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoạI. Nó là quá trình trong đó hai hay nhiều bên cùng góp vốn dể xây dựng và triển khai một dự án đâù tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.
    • 2-

    Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt vớI các nước nhận đầu tư. Nó làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tàI nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đạI, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đạI trên thế giới.Mặt khác đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tàI nguyên, ô nhiễm môI trường sinh tháI tăng tính lệ thuộc với bên ngoàI.

    • Hình thức: Có 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    2. Đầu tư trực tiếp:

    Là hình thức trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp cá nhân nước ngoàI chủ đầu tư) trực tiếp tham gia quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận.

    Đầu tư trực trực tiếp được thể hiện dươí những hình thức sau đây:

    • hợp đồng hợp tác daonh nghiệp
    • doanh nghiệp liên doanh
    • doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI

    +) Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai hay nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh đoanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập một pháp nhân.

    +) Doanh nghiệp liên doanh

    Doanh nghiệp liên doanh là loạI hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng vời góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia xẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư.

    +) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI.

    Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàI do nhà đầu tư nước ngoàI thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàI được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân Việt Nam.

    +) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyên giao (BOT). Hình thức này đòi hỏi cần có nguồn vốn từ bên ngoàI và thường đầu tư cho các công trình kết cấu ha tầng.

    -3-

    Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu cộng nghiệp mới, khu công nghệ cao vv… được hình thành và phát triển.

    3. Đầu tư gián tiếp: (Lênin còn gọi là xuất khẩu tư bản cho vay)

    Là hình thức đâù tư mà quyền sở hữu tách rồi quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là nguồn có vốn không trực tiếp tham gia vào tổ chức, đIều hành dự án mà thu lợi với hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần) hoậc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu là cho vay ưu đãI).

    Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp là ngườI đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người đầu tư gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức tráI phiếu cổ phiếu và tiền lãi.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Trong đầu tư gián tiếp chủ đầu tư về thực chất là tìm đường thoát cho đầu tư dư thừa, phân tán đầu tư nhằm loạI bớt rủi ro. Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển bộ phận này có tỷ trọng lớn và thường đI kèm với bộ phận ưu đãI. Nguồn vốn này nhằm vào các mục đích y tế và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và đào tạo, các vấn đề xã hội nghiên cứu chương trình dự án bảo vệ môI trường sinh tháI, hỗ trợ ngân sánh và hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ.

    Đầu tư thường thúc đẩy tạo đIều kiện cho việc thu hút mở rộng đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp luôn kèm với các đIều kiện ưu đãI cho nước nhận đầu tư nên có thể dùng vốn này thực hiện các dự án có mức đầu tư lớn, thu hút vốn đầu tư dài.

    Đầu tư nước ngoàI có lợi cho cả nước đầu tư và cho cả nước nhận đầu tư, thường dùng các công cụ đầu tư tráI phiếu, cổ phiếu.

    Nhìn chung nguồn vốn đầu tư chính để phục vụ, phát triển kinh tế xã hội nhằm thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH là nguồn vốn từ bên ngoàI tức là nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoàI (FDI).

    II.               CƠ SỞ LÝ LUẬN.

     

    • Lý thuyết lợi thế so sánh của P.Vernon(Hoa kỳ)

    Trước khi lý thuyết này ra đời có nhận định cho rằng: “hầu như các nước đều phát triển toàn diện”, vì vậy ngườI ta từng ví việc áp dụng lý thuyết này như áp dụng định luật Anhxtanh trong kinh tế.

    Theo lý thuyết nàyVernon đã chứng minh rằng không có nước nào mạnh toàn diện và cũng không có nước nào yếu toàn diện .Nếu chúng ta biết hợp tác thì sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp có như thế mới có lợi cho tất cả các nước.

    Hàm sản xuất: y=f (K, L)

    -4-

    P.Vernon cho rằng nên tận dụng lợi thế sso sánh sao cho tỷ lệ K/L ngày càng cao.

    Như vậy đối với việc đầu tư ra nước ngoàI để khai thác các lợi thế so sánh của nược nhận đầu tư, các chủ đầu tư sẽ đầu tư vào tất cả những nước đang phát triển: công nghệ vốn, mặt hành mang hàm lượng chất xám cao và hàm lương công nghệ lớn. Còn các nước đang phát triển, để phát huy lợi thế so sánh của mình sẽ tiếp nhận công nghệ, vốn các loạI.

    • Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Smith.

    Cơ sở kinh tế của nền kinh tế mở gắn liền với thương mạI quốc tế, tức là mỗi nước khi tiến hành thương mạI quốc tế đều phảI tìm được lợi thế của mình trong quan hệ quốc tế. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Smit trong thuơng mạI quốc tế phản ánh hao phí lao động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hàng hoá dịch vụ xuất khẩu thấp nhất so với các nước khác, còn đối với các nước nhập khảu thì hao phí lao, động cao nhất so với các nước khác. Chính vì đIều đó mà tạo lợi cho các nước, kể cả các nước xuất khẩu, nhập khẩu. Các nước xuất khẩu có lợi là thu nhập nến kinh tế lạI tăng lên, việc làm, nhiều hơn nên tỷ lệ thất nghiệp giảm đI, nguồn lực lao động được sử dụng tốt hơn, còn đối với cấc nước nhập khẩu: thì khả năng tiếp cận với hàng hào nhiều hơn, chất lượng hàng háo nhiều hơn, chủng loạI hàng hoá – dịch vụ phong phú hơn, hàng hoá dịch vụ rẻ hơn, đồng thời vì sản xuất trong nước các nước nhập khẩu này có những đIều kiện tốt để phát triển mau chóng nền kinh tế, vì thay vào đó khoảng thời gian sảnxuất trong nước được giảm đI đáng kể , đủ thời gian để tiếp cận mau chóng nền kinh mở.

    III. CƠ SỞ THỰC TẾ.

    1.     Hiểu về vốn đầu tư nước ngoàI.

    Như ta đã biết mọi quá trình sản xuất đều gồm hai yêú tố cơ bản là tư liệu sản xuất và sức lao động. Thiếu hai yếu tố đó thì sẽ không có bất kì một quá trình sản xuất nào, dù là sản xuất tự cung tự cấp hay sản xuất hàng hoá. Để có được hai yếu tố đó, vấn đề đặt ra là cần có vốn đầu tư và thực hiện hoạt động đầu tư. Vồn đầu tư dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm hoặc bổt sung thiết bị, tạo cơ sở vật chuất kỉ thuật, mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động. Vốn đó cho dù khác nhau về quy mô hay cơ cấu song là quá trình cần thiết đối với quá trình sản xuất. Một bộ phận vốn đầu tư quan trọng cho đầu tư phát triển đó là vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoàI (viết tắt là FDI)

    FDI là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động đầu tư của quốc gia, mà nguồn nước trong nước xét tổng thể có ý nghĩa quyết định. FDI không thay thế

    -5-

    các nguồn vốn đầu tư khác, nhưng có thế mạnh riêng. Trước mắt, khi nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn hạn hẹp, nguồn vốn ODA chưa đáng kể thì FDI chiếm một vị trí quan trọng, góp phần cải tiến dần cơ cấu kinh tế quốc dân, tăng cường cơ sở vật chất kỉ thuật của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế, mở rộng thu hút ngân sách nhà nước, góp phần giả quyết thất nghiệp, kiềm chế lạm phát, đẩy mạnh xuất khẩu. FDI là việc tổ chức cá nhân nước ngoàI trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoàI hoặc bất kì tàI sản nào được chính phủ Việt Nam công nhận để hợp tác kinh doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài… Rõ ràng khác với ODA, FDI không gây ra tình trạng nợ nần chồng chất cho các thế hệ mai sau và không phương hạI đến chủ quyền của đất nước. FDI còn có lợi thế hơn ODA, vì vậy đây là vốn của các công ty và tư nhân của nước ngoàI đầu tư vào Việt Nam trên cơ sở hai bên cùng có lợi, chủ đầu tư buộc phảI quan tâm làm cho đồng tiền sinh lợi. NgoàI ra,về lâu dài các công trình FDI sẽ thuộc về Việt Nam. Hơn nữa thực tế đã khẳng định, vay nợ nước ngoàI tỏ ra là một nhân tố huỷ hoạI quá trình phát triển của nhiều nước trên thế giới trong thời gian 40 năm qua .Vì thế Việt Nam nên chủ yếu dựa vào thu hút FDI.

    Tuy nhiên trong quá trình thu hút vốn đầ tư cần tránh các quan đIểm:

    • Quan đIểm coi nhẹ, thậm chí lên án FDI như một nhân tố có hạI cho nến kinh tế độc lập tự chủ.
    • Quan đIểm quá đề cao FDI gắn cho nó một vai trò tích cực, bất chấp đIều kiện bên trong của đất nước, tách rời những cố gắng cảI thiện môI trường đầu tư. Quan đIểm này dẫn tới tình trạng ỷ lạI vào FDI mà không khai thác tốI đa các lợi thế bên trong. FDI tự nó chưa thể quyết định sự thành công của mục tiêu phát triển kinh tế mà nó phảI được kết hợp đồng bộ với các nguồn khác, và quan trọng là tạo ra môI trường khuyến khích mạnh mẽ tiết kiệm trong nước để tàI trợ cho qúa trình phát triển, giảm bớt lệ thuộc vào nguồn vốn của nước ngoàI.

    Ngày nay FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong đIều kiện quốc tế hoá sản xuất, lưu thông và được tăng cường mạnh mẽ. Có thể nói trong thời đạI ngày nay không một quốc gia nào dù lớn hay bé, dù phát triển theo con đường TBCN hay định hướng xã hội chủ lạI không cần đến nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoàI, và coi đó là một nguồn lực quốc tế cần khai thác để từng bước hội nhập,vào cộng đồng quốc tế.

    Mặt khác dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ như hiện nay ngay cả những nước có tiềm lực kinh tế khoa học kỉ thuật như Mỹ, Nhật, cũng như các nước EU cũng không thể tự mình giảI quyết có hiệu quả những vấn đề đã

    -6-

    và đang và tiếp tục đặt ra trên lĩnh vực khoa học công nghệ và vốn . Do vậy chỉ có con đường hợp tác, trong đó FDI là loạ hình đầu tư hợ tác có hiệu quả. Do dó không có một nước nào bỏ qua hình thức này Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài.

    2) Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài

    Trong hơn 10 năm qua, nhờ những chính sách luật đầu tư nước ngoài tạI Việt Nam mà chúng ta đã đạt được những thành tựa đáng kể và quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội vào thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt nam trên con đường hội nhập quốc tế. Vì thế mà đầu tư nước ngoàI đang trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoạI và chủ động hội nhập quốc tế thế giơí.

    • Đầu tư nước ngoàI đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác triển khai và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nước như dầu khí, đIện năng và nuôI trồng và chế biến cây công nghiệp, cây lương thực. Mặt khác đầu tư nước ngoàI cũng góp phần quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng laiv à cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.
    • Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm. Nguồn thu vốn ngân sách cũng tăng liên tục qua các năm.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần hình thành một số nghành công nghiệp mới như khai thác và chế biến dầu khí, sản xuất lắp ráp ôtô, điện tử , xe máy ..
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động tham gia phát triển nguồn nhân lực.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần chuỷển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá – hiện đạI hoá để phát triển lực lượng sản xuất . Hiện nay đầu tư nước ngoàI tập trung vào các nghành công nghiệp và chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp , tốc độ tăng trưởng trên 20% góp phần đưa tốc độ phát triển công nghiệp của cả nước lên trên 10%/ năm.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ thông cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tảI, bưu chính viễn thông, năng lượng. Đồng thời đã hình thành được 67 khu công nghiệp – khu chế xuất và khu cộng nghệ cao trên phạm vi cả nước góp phần vào việc đô thị hóa ,hình thành khu đân cư mới tạo việc làm ổn định cho hiơn 200 nghìn lao động địa phượng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ
    • 7-

    khác, ở các thành phố lớn việc hình thành các khu chế xuất , khu công nghiệp đã tạo đIều kiện cho địa phương này tách sản xuất ra khỏi khu dân cư giảm thiểu ô nhiễm bảo về môi trường đô thị.

    2.     Vai trò của FDI đối với sự phát triến kinh tế xã hội của đất nước.

     

    Trong đời sống kinh tế , FDI có vai trò quan trọng lớn :

    Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho chủ nhà để bù đắp sự thiếu hụt của nguồn vốn trong nước, hầu như các nước nhất là các nước đang phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, mà nổi bật là nước ASEAN và đông Nam á, nhờ có FDI mà giảI quyết một số khó khăn về vốn nên đã giảI quyết một phần công nghiệp hoá, đã và đang trở thành những nước công nghiêp mới (NICs).

    Thứ hai: Cùng với việc cung cấp vốn kỷ thuật qua thực hiện FDI, cấc công ty mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỉ thuật công nghệ từ các nước đầu tư sang nước chủ nhà.

    Thứ ba: Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI sẽ tác động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỉ thuật, cơ cấu sản phẩm mà lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.

    Thứ tư: FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế thông qua hìn thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm đIều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

    Vốn đầu tư nước ngoàI các năm 1991-1995 chiếm 25,7% và từ năm 1996 đến nay gần chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    Tỷ lệ đóng góp cho đầu tư nươc ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm: 1993 3,6% đến năm 1998 lên tới 9% và năm 1999 ước đạt 10,5%. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ khu vục đầu tư nước ngoàI: năm 1994 đạt 128 triệu USD đến năm 1998 đạt 370 triệu.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoàI tăng nhanh: năm 1996 đạt 786 triệu USD năm 1999 đạt 2200 triệu USD bằng 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khu vực đầu tư nước ngoàI đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, thúc đẩy các dịch vụ phát triển. Đầu tư nướcc ngoàI góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, phát triển lực lượng sản xuất .Thông qua đầu tư nước ngoàI bước đầu đã hình thành hệ thống các khu vực công nghiệp, khu chế xuất, đầu tư nước ngoàI cũng đã

    -8-

    đem đến nhữnh mô hình thức quản lí tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đạI trong các ngành các đơn vị kinh tế.

    Thứ năm: Đầu tư nước ngoàI đã góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

    Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoàI đã thu hút khoảng 30 vạn lao động trực tiệp và hàng chục vạn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ …

    Mặc dù cũng có những mặt tráI của đầu tư nước ngoàI như: thu nhập công nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyển giá , trốn lậu thuế , ô nhiễm môI trường …nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực của đầu tư nước ngoàI

    • Việt Nam.

    Thứ sáu: Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoaì.

    Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang có sự cạnh trạnh gay gắt giữa các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như giữa các nước tiếp nhận đầu tư của nhau qua nhiều công trình nghiên cứu các học giả kinh tế đã đưa ra 12 yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nước nào đó để đầu tư đó là:

    • Đặc đIểm của thị trường bản địa ( quy mô , dung lượng của thị truờng, sức mua của dân bản địa và khả năng mở rộng quy mô đầu tư )

    Việt Nam là một thị trường khá rộng lớn với quy mô dân số gần 80 triệu người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, đây là một lợi thế song trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn thu nhập thấp, sức mau chưa cao đây là mnhân tố cản trở khả năng thu hút FDI.

    • Luật đầu tư.

    Yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động của cá công ty nước ngoàI trên thị trường bản địa, luật này thương bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất bản xứ. Nhiêù nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoàI theo các đIều kiện giống như các nhà đầu tư bản xứ.

    Sau nhiều lần sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoàI ở Việt Namđã khá thông thoáng và cởi mở, song còn tồn tạI nhiều yếu tố cần xem xét, hoàn thiện hơn nhằm thu hút FDI tạI Việt Nam.

    Thứ bảy: đặc đIểm của thị ttrường nhân lực.

    Nhân công rẻ là mối quan tâm hàng đầu ở đây đặc biệt là đối với những nhà đầu tư nước ngoàI muốn bỏ vốn vào lĩnh vực cần nhiều lao động có khối lượng sản xuất lớn như: dệt may, lắp ráp đIện tử, xe máy, … Trình độ học vấn và nghề nghiệp của công nhân đầu đàn ( có tiềm năng và triển vọng ) có ý nghĩa quan trọng .

    -9-

    Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ so với các nước trong khu vực song còn tồn tạI nhiều bất cập:

    Năng suất lao động thấp do lực lượng qua đào tạo ít tình tự tay nghề thấp, thiếu đội nhũ kỹ sư công nhân lành nghề và cán bộ quản lí có năng lực thực sự. Cơ cấu lao động chưa hợp lí, xuất hiện và tồn tạI tình trạng “ Thừa thầy thỉếu thợ” cơ chế thi tuyển chưa rõ ràng, công khai và phổ biến…

    Thứ tám: chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư.

    Yếu tố ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản tệ bị nâng cao hay hạ thấp đều ảnh hưởng đến xuất khẩu.

    Thứ chín : Khả năng hồi hương vốn đầu tư .

    Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới là tiền quan trọng để thu hút vốn FDI. ở một số nước thủ tục mang ngoạI tệ ra nước ngoàI khá rầy rà , cản trở hoạt động vốn đầu tư nước ngoài.

    • Việt Nam bên cạnh việc quản lí hồi hương vốn, lợi nhuận bằng ngoạI tệ chuyển ra nước ngoàI, ở một chừng mực nhất định chúng ta đã có những chính sách hạn chế những rầy rà, tạo đIều kiện cho các nhà đầu tư.

    Thứ mười: Bảo vệ quyền sở hữu .

    Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào những nghành có hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động ở một sốnước, lĩnh vực này đựoc kiểm tra giám sát khá lỏng lẻo, chính vì vậy mà một số nước bị các nhà đầu tư loạI khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư .

    Thứ mười một: Chính sách thưong mại.

    Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vấn đề đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Hạn nghạch xuất khẩu thấp và các hàng rào khác trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng có thể không kích thích hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, chính những yếu tố này làm phức tạp cho thủ tục xuất nhập khẩu.

    Thứ mười hai: chính sách thuế và những ưu đãi.

    Nó thường được áp dụng để thu hút sách nhà đầu tư nước ngoàI. GIả thuế nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu, thuế xuất, ttăng thuế nhập thành phẩm; Miễn giảm thuế thu nhập đối với các vùng có đIều kiện khố khăn .

    Thứ mười ba: ổn định chịnh trị xã hội ở nước nhận đầu tư và trong khu vực.

    Đây là yếu tố không thể xem thường mỗI khi bỏ vốn đầu tư và rủi ro chịnh trị có thể gây thiệt haị lớn cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Chẳng hạn các nước phát triển như Mỹ la tinh cho thấy, mặc dù nguồn lực tự nhiên của các nước này

    -10-

    khá dồi dào nhưng do luôn luôn có những bất ổn về chính trong đời sống chịnh trị – xã hội nên dòng FDI đổ vào các nước này không ổn định.

    Tuy nhiên FDI không phảI khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước chủ nhà. Nó chỉ thể phát huy tác dụng tốt trong môI trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định và dặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI ở nước ta.

    4. Quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoàI nước.

    Nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH. Vốn là tiền đề quan trọng cho CNH-HĐH thành công.

    Vốn để CNH-HĐH có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoàI. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở sản xuất là lao động thặng dư của người lao động thực chất cho các thành phần kinh tế. Con đường để giảI quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học kỉ thuật, công nghệ hợp lí hoá sản xuất. Ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ trước hết và chủ yếu là khai thác sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung chung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu… Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm…

    Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu làm cho việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền linh tế hết sức khó khăn, đặc biệt trong thời kì đầu. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, thì tăng trưởng kinh tế chậmvà khó thoát khỏi đói nghèo… Cần phải tận dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoàI. Đây là nguồn vốn có vai trò cực kì quan trọng, không những giúp các nước nghèo khắc phục khó khăn về vốn trong thời kì đầu mà còn góp phần nâng cao tình độ quản lí công nghiệp tạo việc làm cho người lao động … Vì thế tranh thủ nhuồn vốn bên ngoàI là một là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

    Tuy nhiên mặt tráI của nguồn vốn đầu tư nước ngoàI cũng không nhỏ. Sử dụng nhuồn vốn đầu tư nước ngoàI phảI chấp nhận chịu bóc lột, tàI nguyên bị khai thác, nợ nước ngoàI tăng lên… Do vậy không kì vọng quá lớn nguồn vốn bên ngoàI. Sử dụng nguồn vốn nước ngoàI lầ rất quan trong nhưng phảI cân nhắc trước khi lựa chọn.

    -11-

    -12-

    IV.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    1/ THỰC TRẠNG:

    1.1 Vấn đề chung:

    1. Xu hướng thế giới: Tình hình vấn đề về nguồn vốn đầu tư trrên thế giới đang diễn ra hết sức sôI động và mạnh mẽ. Trong vòng những năm tiếp theo nguồn vốn đầu tư nước ngoàI vào Châu Á sẽ tiếp tục tăng, năm 2001 có thể thu hút khoảng 123,1 tỉ USD, năm 2005 ước tính lên tới 4400 tỉ USD, cao hơn mức 5 năm qua đạt 3600 tỉ USD

     

    Mỹ vẫn là một quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới và chiếm hơn hẳn tổng nguồn toàn cầu giai đoạn này. Tuy nhiên số vốn FDI đổ vào EU vẫn vượt Mỹ trong vai đầu tư trực tiếp nước ngoàI.

    Dự báo vốn FDI sẽ đổ vào các nước hát triển là chủ yếu mặc dù các nước đang phát triển sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ giá trị vốn FDI toàn cầu tiếp nhận so với những năm gần đây. Trong số các nước đang phát triển chỉ có Trung Quốc và Brazin là một trong 10 quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giơí. Còn Nga là nước có sự cải thiện vị trí đáng kể, từ vị trí thư 31 lên vị trí thứ 23.

     

    Theo các chuyên gia nước mngoàI dự đoán trong những năm tới đIều kiện kinh doanh trên toàn thế giới sẽ tiếp tục cảI thiện nhờ nền kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định và mức độ tự do hoá ngày càng lớn. Mỹ tiếp tục là nước có nền kinh tế thế giới mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên EU đang thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Các nước Mỹ là tinh sẽ tiếp tục đẩy mạnh cảI cách, khu vực có tiến bộ nhất về kinh tế sẽ là Đông Âu.

    Còn đối với Việt nam thì như thế nào? Trước những xu hướng và bối cảnh quốc tế phức tạp và mang tính cạnh tranh cao đòi hỏi chung ta phảI có một chiến lược tàI tình thu hút vốn đầu tư nước ngoàI cho thời kì 2003-2010 để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cho thời gian tới. Chính vì vậy việc xem xét đánh giá kết quả ĐTNN trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ những khó khăn , ách tắc và đưa ra những gỉ pháp khuyến khích thu hút ĐTNN vào nước ta đang đựoc chiính phủ quan tâm và chỉ đạo.

     

    Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam tơí nay đã có hơn 3260 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàI được cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng kí 44 tỷ USSD trong đó có trên 2600 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí trên 36tỷ USD .S ố vốn thực hiện đến nay đạt gần 20tỷ USD bằng 44,5% số vốn đăng kí trong đó vốn nươc ngoàI là 18tỷ USD. Khu vực có vốn

    -13-

    FDI tạo ra trên 12% GDP, hơn 34% giá trị sản xuất công nghiệp. Hơn thế nữa, thông qua ĐTNN chúng ta đã tiếp thu dược công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí và một số nghành sản xuất mới cho nền kinh tế.

    Nến tính riêng 5năm 1996- 2000 so với 5 năm trước thì tổng vốn đầu tư mới đạt 20,73 tỷ USD, tăng 27,5%.

    Sau một vàI năm chững lại và suy giảm do cuộc khủng hoảng tàI chính khu vực, do cạnh tranh thu hút DTNN và nhưng hạn chế của môI trường đầu tư , từ năm 2000 ĐTNN ở VIệt Nam đã có dấu hiệu phục hồi , đặc biệt trong hai tháng đầu năm 2001 đã có 35 dự án đầu tư nước ngoàI được cấp giấy phép với tôngr ssố vốn 71,3 triệu USD, tăng 16,7% về dự án , tăng 16,1% về số vốn cùng kì 2000. Nhu vậy cũng có thấy đước dấu hiệu của sự tăng trưởng ĐTNN tại Việt Nam.

    1. b) Mục tiêu.

    Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triến kinh tế –xxa hội 2001-2005, khu vực đầu tư trức tiếp nước ngoàI phảI phát triển ổn định hơn, đặc biệt là chuất lượng so với thời kì trước, để nhanh chóng công nghiệp hoá ,hiện hoá đất nước. Cụ thể hơn hoạt động đầu tư nước ngoàI trong thời kì 2001-2005 phảI đạt được các mục tiêu sau:

    • Vốn đăng kí của các dự án cấp giấy phép mới khoảng 12tỷ USD .
    • Vốn thực hiện khoảng 11tỷ USD.
    • Đến năm 2005 đóng góp khoảng 15% GDP, 25%tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng 10% tổng thu ngân sách cả nước.
    1. c) Định hướng.
    • Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoàI vào các nghành công nghiệp sản xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án xựng dựng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử , vật liệu mới viễn thông sản xuất phát triến kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạngh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
    • Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và những địa bàn có lợi thế để phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãI tối đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoàI vào những vùng và địa bàn có đIều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo đIều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu

    -14-

    tư nước ngoàI. Tập trung thu hút đầu tư nước ngoàI và các khu công ngiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt.

    Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiép nước ngoàI từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ dầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoàI có tiềm năng lớn về tàI chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàI ổ khu vực .Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chý ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đạI, khuyến khích tạo Việt Nam định cư ở nước ngoàI đầu tư về Việt Nam.

    1.2. Vấn dề cụ thể.

    • Về số dự án và số vốn đầu tư.

    Trong hơn 10 năm qua, từ năm 1989-1999 đã có 3087 dự án với tổng số vốn thực hiện là: 15700triệu USD, đạt tỷ lệ 39.2% so với tổng số vốn đăng kí. Đây là một tỷ lệ khá cao (đồng thời cũng khá cao so với các nước trong khu vực: Trung Quốc 31%, Idonesia 44%, ấn độ 18%/ theo số liệu thống kê của bộ kế hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các năm trong giai đoạn 1989-1999 được thể hiện qua biểu đồ sau:

    Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư Tổng vốn thực hiện
        TriệuUSD Triệu USD
    1989 70 539 130
    1990 111 569 220
    1991 155 1388 221
    1992 193 2271 398
    1993 272 2987 1106
    1994 362 4071 1952
    1995 404 6616 2652
    1996 501 9212 2371
    1997 479 5548 3250
    1998 260 4827 1900
    1999 280 2000 1500

    Theo nguồn thông tin tài chính :số 1/1/2000

    Qua số liệu ta dễ dàng nhận thấy tổng số dự án cũng như tổng số vốn FDI trong giai đoạI 1989- 1996 tăng lên với tốc độ rất nhanh1080 số lượng vốn đầu tư thu hút được mới chỉ đạt 539 TriiêụUSD, năm 1999 đã tăng lên 6616 triệu USD và năm 19996 đạt mức 9212 triệu USD.

    Mức bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 50%. Quy mô trung bình của cũng tâưng dần qua các năm. từ 3,5 triệu USD thời kỳ 1988 đến năm 1990 tăng lên 7,5 triệu USD năm 1991 7,6 triệu USD năm 1992 10 triệu USD năm 1993 đến năm 1994 16,38 triệu USD năm 1995 và 2,3 triệu USD năm 1996. Ngày càng

    -15-

    có nhiều dự án có tổng số vốn đầu tư lớn như dự án xây khu vực đô thị Nam thăng long 2,1 tỉ USD khu đô thị nam SàI Gòn 991 triệu USD, dự án xây dựng cảng chung chuyển quốc tế Sao Mai –Bến Đình 637 triệuSSD… đIều đó cho thấy tời kỳ này việc thu hút FĐI của Việt Nam tỏ ra rất hiệu quả. Một phần đó là do Việt Nam là một thị trường mới hấp dẫn của các nhà đầu tư một phần khác là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoàI đúng đắn của nhà nước ngoàI Việt Nam. Các khoảI đầu tư này góp phần đáng kể trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu, đóng góp vào ngân sách và kinm ngạch xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm: Doanh thu của các doanh nghiệp có số vốn dầu tư nước ngoàI tăng dần qua các năm: Năm 1990là 40triệu USD, năm 1991 là 149triệu USD, năm 1992 là 206triệu USD… mức tăng trưởng giai đoạn này làg 30% .Tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu khoảng gơn 60% năm1997và bằng 44% năm 1996, 31% cho năm 1995. GiảI quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người.

    Đa số các dự án theo hình thức kiểu liên doanh có 1337 dự án chiếm 61% tổng số dự án với số vốn trên 23,7 tỷ USD chiếm 69% tổng số vốn đăng kí. Đây là một đIểm mạnh của các dự án đầu tư nước ngoàI vì các đối tác nước ngoàI cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam . Số dự án hoạt động theo hình thức 100% số vốn nướcc ngoàI là 669 dự án chiếm 30% tổng số dự án , với số vốn 6,48tỷ USD. Số dự án hoạt động theo hình theo hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng rất thấp: có 145 nước chiếm 7% với số vốn là 3,23 tỷ USD chiếm 9,4% .Sở dĩ như vậy là do một số ngành đặc biệt như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông nhà nước quy định phảI làm theo hình thức hợp doanh. Chỉ có 3 dự án hoạt động theo hình thức BOT- chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhiều công trình, dự án quan trọng đã đI vào hoạt động, nhiều công nghệ được chuyển giao đã tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế. Tác động rõ nét. nhất là lĩnh vực công nghiệp , khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI chiếm 100% về khai thác dầu thô , lắp ráp ô tô, sản xuất bóng đèn hình; 45% về sản xuất thép, 21% về sản xuất vảI ;205 về sản suất bia…Theo thông kế trong giai đoạn 1991-1996 vốn FDI đã thực hện chiếm 40% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm. Tỷ trọng sản phẩm trong tổng GDP của khu vực đầu tư nước ngoàI cũng một ngày càng tăng . Năm 1993là 5,6%, năm 1994là 7,5%, năm 1995là 10%, đến năm 1996 là 13%. Tuy nhiên đến sau năm 1996 tình hình thu hút FDI có xu hướng chững lạI. Nến nhìn vào con sộ tống kê, số vốn đăng kí của cả năm 1996 là 9212 triệu USD tăng 39% so bvơí 1995 thì có lẽ tình hình khả quan hơn .Tuy vậy những ai quan tâm dến tình hình đầu tư đều nhận thấy rằng, nến không có hai dự án xây dựng khu đô

    -16-

    thị mới với tổng số vốn FDI năm1996 sẻ chỉ còn gần 6 tỷ USD, thầp hơn tổng số vốn FDI năm 1995.

    Bước sang năm 1998 do tiếp tục bị ảnh hưởng chủ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực kéo daì nên đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam bị giảm sút mạnh. Tuy vậy phảI nhờ đến chính sách phù hợp, tập trung xử lí những vướng mắc kịp thời nên năm 1998 vẫn có thêm 260 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn là 4827triệu USD. Năm 1999 số dự án là 280 song tổng số vốn chỉ đạt 2000 triệu USD.

    Như vậy trong gia đoạn 1996-1999 số dự án được cấp giấy phép liên tục giảm, tổng số vốn đầu tư cũng có chiều hướng giảm.

    • Về cơ cầu vốn đầu tư

    Đây là nột vần đề có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, nó có tác dụng to lớn đến quá trính chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung Theo số liệu thống kê, cơ cấu vốn đầu tư vào Việt Nam trong những năm qua có những bước tiến rõ rệt. Tính đến tháng 8-1993 nghành công nghiệp khai thác và khách sạn, du lịch thu hút tới 40,9% tổng số vốn đầu tư, thì năm 1998 số vốn đầu tư vào các nghành này chỉ còn 18,2% .Số vốn đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất và xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng tăng. Tính đến năm 1998 đã có đến 21,236tỉ USD đầu tư vào khu vực này, chiếm 2/3 tổng số vốn FDI đầu tư vào Viết Nam. Nếu tính đến suốt cả thời kì 1989-1997 ngành công nghiệp có 1977 dự án với số vốn đăng kí là 11545,3triệu USD, thứ hai là nghành khách sạn, du lịch có 189 dự án với số vốn là 2785,9 triệu USD; 1527,3triệu USD. Cơ cấu này được thể hiện như sau:

    ST Ngành Số dự   Tổng Tỷ lệ Số dự Tổng số Tỷ lệ
    T   án   số %vốn án vốn %vốn
            vốn        
                     
    1 Công nghiệp chế biến 285   2328 39,6 1291 13008 40,5
                     
    2 Công nghiệp khai thác 25   1124 19,1 79 2184 6,8
                     
    3 Xây dựng 14   16 0,3 259 8228 25,6
                     
    4 Khách sạn và du lịch 86   1276 21,8 161 3650 11,4
                     
    5 Giao thông và bưu đIện 34   456 7,8 102 1465 4,6
                     
    6 Nông –lâm nghiệp 81   239 4,1 54 316 1,0
                     
    7 Ngư nghiệp 32   90 1,5 47 206 0,6
                     
    8 Các nghành khác 68   336 5,8 327 3045 9,5
                     
      Tông cộng 625   5865 100 2320 32102  
                     
          -17-        

    Nếu như thời kì đầu của ngành sản xuất chỉ chiếm từ 50-60% tổng số vốn đầu tư so với năm 1995, nghành giao thông vận tảI và bưu điện từng 89%, xây dựng và sản xuất vật liệu công nghiệp tăng 63% trong cùng kì. Điều đáng chú ý trong thời gian qua đã có một số dự án dầu tư vào cở sở hạ tầng. Ngược lại so vơí năm 1995, năm 1996 FDI trong khu vực khách sạn giảm đI 53%, văn phòng cho thuê 70% và tàI chính nhân hàng giảm 44%. Mức giảm còn mạnh hơn năm 1997-1998.

    Sự phân phối lạI nguồn vốn đầu tư trong công nghiệp chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoàI ngày càng tin tưởng vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, không chỉ đầu tư vào những nghành thu hồi vốn đầu tư nhanh mà họ còn yên tâm đầu tư vào các dự án phát triển dài hạn. Có được kết quả này một phần là nhờ vào việc phát triẻn các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Tuy nhiên cũng dễ nhận thấy số vốn FDI đầu tư vào các nghành công – nông –ngư nghiệp còn quá ít. Đến năm 1998 mới có 1629 triệu USD chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số vốn FDI mặc dù khu vực này có nhiều tiềm năng để khia thác như chế biến nông lâm thuỷ sản. ĐIều này cho thấy những năm tới khu vực này cần tập trung thu hút nguồn vốn đầu tư nhiều hơn nữa để có thể tận dụng tốt hơn các nguồn lực cho phát triển.

    Cơ cấu vốn đầu tư cho vùng lãnh thổ cũng đã từng bước phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế. Những năm đầu các nguồn vốn đầu tư tập trung nhiều vào các tỉnh phía nam: như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa vũng tàu …thì hiện nay nguồn FDI có sự phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng tập trung chủ yếu vào các khu vực kinh tế trọng đIểm như Hà Nội – HảI Phòng – Quảng Ninh…

    • Về đối tác đầu tư.

    Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều công ty, nhiều tập đoàn lớn như là: các công ty xuyên quốc gia có tiềm lớn về tàI chính như Sony, Tôyota, Hon da, Sanyo, sam sung, Motỏola, Ford của Mỹ …

    Bên cạnh đó cũng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ngoài tham gia đầu tư tạI Việt Nam. ĐIều này cũng thực sự cần thiết vì các doanh nghiệp này thường rất năng động, thích ứng nhanh với nhứng biến động của thị trường, hoạt động có hiệu quả, từ đó sẽ là cơ sở cho các tập đoàn, các công ty lớn nhìn nhận đúng hơn môI trưòng đầu tư, kích thích họ an tâm dầu tư nhiều hơn nữa vaoViệt Nam.Theo số liệu thốg kê của bộ kế hoạch và đầu tư, các nước và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư lớn vào Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

    Nước và vùng Số dự án Tỷ trọng Tổg số vốn Tỷ trọng
    lãnh thổ     đầu tư (%) (%)
             
        -18-    
    Singapore 181 9,4 6447 20
             
    đàI loan 309 16 4268 13,3
             
    Hồng công 184 9,5 3734 11,6
             
    Nhật bản 213 11 3500 11,4
             
    Hàn quốc 191 9,9 3154 9,8
             
    Pháp 96 5,0 1465 4,6
             
    Malaysia 59 3,1 1370 4,3
             
    Hoakì 70 3,6 1230 3,8
             
    TháI lan 78 4,0 1109 3,4
             
    BV. Iland 55 2,9 1089 3,2
             
    Tổng 1436 74,4 27366 85,4
             

    Các nước và vùng lãnh thổ đứng đầu về FDI ở ViệtNam

    • Hình thức đầu tư

    Tính đến năm 1994, các hình thức đầu tu đã thục hiện tạI Việt Nam là: – Xí nghiệp liên doanh có 788 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 7 tỷ USD, chiếm 70,21% vốn đầu tư.

    • Xí nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoàI có 209 dự án với tổng số vốn 1,525 tỷ USD, chiếm 15,88% vốn đầu tư.
    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 84 dự án với 1,319tỷ USD, chiếm 13,75% vốn đầu tư.

    NgoàI ra có 13 dự án liên doanh của Việt Nam đầu tư ra nước ngoàI nhưng còn rất bé, chỉ chiếm 0,16% vốn đầu tư.

    • Kết quả thực hiện dự án đầu tư.

    Nếu tính từ năm 1988 đến hết năm 1994, vốn đầu tư đãc thực hiện 3,482 triệu USD, trong đó dầu khí chiếm 1,29 triệu USD, vốn bên VIệt Nam chiếm 462 triệu USD. Như vậy nếu không tính đầu khí và phần vốn của Việt Nam (mà chủ yếu là đất) thì vốn thực hiện bên ngoàI là 1,63 triệu USD. Riêng năm 1994 đạt 140 triệu USD, từng 30% so với năm 1993.

    Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI đã tạo ra giá trị sản lượng hàng hoá khoảng 1,5 triệu USD (năm 183-1994) kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ ước tính đạt 500 triệu USD.

    Bước sang 1995 tình hình thu hút đầu tư có chiều hướng gia tăng .Vốn thực hiện vào quý I/ 1995 là 420triêụ USD trong đó dầu khí là 120 triệu USD. NĂng lực chủ yếu tăng thêm là do: dầu thô 100 triệu tấn (của hai mở Đại Hùng và Thanh

    -19-

    long), bóng đèn hình 1,5 triệu chiếc, thép và sản phẩm thép 35 vạn tấn, xi măng 50 vạn tấn.

    1.3       Khó khăn và thách thức

    • Sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI giữa các nước và các khu vựa.

    Kể từ năm 1995 kinh tế Mỹ, Tây Âu và Nhật bản bắt đầu phục hồi sau một thời gian suy thoáI, tình hình đó thúc đẩy các nhà đầu tư trên thế giới dùng 70% tổng số vốn FDI đầu tư cho những nước công nghiệp phát triển. Phần vốn còn lạI là các nước đang phát triển phân chia và cạnh tranh vơí nhau. Do đó mức độ cạnh trạnh thu hút FDI càng trở nên gay gắt, nhất là khu vực Châu Á, ở đây có những thị trường mơí nổi lên như Trung quốc, Ấn Độ và Indonesia. Hàng năm trong tổng số vốn đầu tư nước ngoàI đổ vào các nước đang phát triển thì Trung Quốc tiếp nhận, Ấn Độ sau những năm gần đây sau những tích cực cảI cách nền kinh tế, môI trường đầu tư được cảI thiện nên FDI vào nước này càng tăng nhanh .So với Việt Nam thì đó là các đối thủ rất mạnh, xét về phương diện, quy mô thị trường để trình độ công nghiệp hoá và các cơ chế chính sách nhằm thu hút FDI.

    • Vấn đề công nghệ.

    Các công ty đa quốc gia luôn nắm các công nghệ hiện đạI của thế giới. Nến FDI của họ vào nước ta càng nhiều thì qúa trình chuyển giao công nghệ cũng càng nhiều. Tất cả quốc gia tiếp nhận FDI đều muộn nhận công nghệ hiện đạI, nhưng hiện đạI đến đâu còn tuy thuộc vào đIều kiện của các gia sở tạI . Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển khác cảm giác bao trùm là các nhà đầu tư chỉ đưa đến những công nghệ cũ và lạc hậu.

    • Vấn đề thị trưòng.

    Thị trường trong nước nói là gần 80 triệu dân nhưng sức mua không lớn. Những năm gần đây nhiều mặt hàng sản xuất ra tiêu thụ rất khó hoặc bị ứ đọng đIển hình là xi măng, sắt thép hàng may mặc, đường… Một số mặt hàng như ôtô, xe máy mới đầu tư gần đây nhưng tiêu thụ chậm đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

    Năm 1996 Việt Nam đã nhập khẩu hơn 11tỷ USD, phần lớn số hàng nhập khẩu này hàng trong nước chưa sản xuất được. Vì thế các công ty nước ngoàI đầu tư tạI Việt Nam đang nhằm vào sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam phải nhập khẩu. Tuy nhiên do nhiều công ty của cả nước ngoàI cầ trong nước đều tập trung vào sản xuất ra các mặt hàng này nên cạnh tranh rất gay gắt và mức tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp cũng giảm, làm cho FDI giảm theo.

    -20-

    Bắt đầu cuộc khủng hoảng tàI chính tiền tệ Châu Á xảy ra vào cuối năm 1997 nhiều nhà kinh doanh cho rằng đó là đIều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút FDI. Theo họ khi các nước trong khu vực mất ổn định về tàI chính thì Việt Nam sẻ ít rủi ro hơn và có hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng tàI chính không những gây thiệt haị nặng nề cho các nước đó mà còn làm cho dòng FDI vào Việt Nam và xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh.

    Trước xu thế và những khó khăn và thách thức mà Việt nam đã va đang đối mặt đòi hỏi chúng ta phảI có những biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoàI tạI VIệt Nam.

    3.     GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ.

    2.1) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

    • Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư xây dựng

    Để phù hợp với nền kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để đIều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Tuy nhiên quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng và sâu rộng làm cho hệ thống pháp luật và chính sách không theo kịp, khi áp dụng vào thực tế quản lí đầu tư xây dựng, chúng bộc lộ các nhược đIểm vừa chồng chéo lạI vừa sơ hở nên dễ bị lợi dụng làm thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ nhất, nên giao chức năng quản lí nhà nước về công tác đấu thầu cho bộ xây dựng quản lí. Vì mục tiêu đấu thầu là lựa chọn các nhà tư vấn, nhà thầu có đủ năng lực về tài chính, công nghệ và nhân lực để thực hiện dự án đầu tư một cách có hiệu quả nhất.Chỉ có bộ xây dựng mới đủ khả năng xem xét toàn diện các năng lực này,trước hết là về công nghệ và nhân lực, sau đó là kĩ thuật xây dựng cũng như chất lượng công trình trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.

    Thứ hai, nên giao cho bộ xây dựng chức năng quản lí nhà nước một cách toàn diện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và giảm bớt chức năng quản lí các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc như hiện nay. Làm như vậy sẽ khắc phục được những bất hợp lí trong việc ban hành và quản lí các tiêu chuẩn quy phạm và định mức kinh tế kĩ thuật trong xây dựng, góp phần hạn chế lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ ba, giao bộ xây dựng và sở xây dựng quản lí thống nhất các công trình xây dựng trong đô thị, đặc biệt là hệ thống hạ tầng kĩ thuật,để tránh tình trạng đầu tư không đồng bộ nhằm hạn chế những lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ tư, trên cơ sở phân định rõ chức năng của các bộ , ngành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng,từng bước thể chế hoá các văn bản pháp luật,trước hết ban hành:

    -21-

    luật quy hoạch,luật xây dựng,luật nhà ở…đồng thời tổ chức lạI bộ máy của ngành xây dựng tạo đIều kiện cho ngành quản lí tốt các lĩnh vực theo luật định.

    2.2) Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư.

    Xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư nhằm các mục tiêu: xoá bỏ “tình trạng ngẫu hứng”trong đầu tư. Các quyết định đầu tư vội vàng thiếu kế hoạch, vi phạm các quy trình đầu tư, khắc phục hiện tượng vừa thiết kế vừa thi công, để nâng cao chất lượng dự án, chất lượng thiết kế đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Xoá bỏ tình trạng đầu tư dàn trảI, dẫn đến dự án thiếu vốn phảI thi công kéo dàI, lãng phí thất thoát vốn đầu tư và làm mất thời cơ kinh doanh. Xoá bỏ bỏ cơ chế xin – cho, nguyên nhân phát sinh tiêu cực, làm thất thoát vốn đầu tư, làm hư hỏng cán bộ tham nhũng tháI hoá, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng ,Nhà Nước.

    Bản chất của kế hoạch hoá đầu tư là dựa trên phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trên quy hoạch dàI hạn và ngắn hạn của các nghành dự báo thị trưòng tiêu thụ trong và ngoàI nước để định ra một bức tranh tổng thể cho đầu tư cả nước, của từng vùng, từng đạI bàn, dàI hạn và ngắn hạn .

    Trên cơ sở đó, định ra kế hoạch đầu tư 5 năm và đầu tư tháng năm. Các kế hoạch này xác định thời gian cho việc nghiên cứu dự án, tạo đIều kiện cho. Nhà nước kiểm soát hướng dẫn đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoàI. ở lĩnh vực nào đó nếu thấy đầu tư sẽ dẫn dến mất cân đối trong tiêu thụ sản phẩm hoặc cạnh tranh không lành mạnh thì Nhà Nước can thiệp, không cho phép đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư nào, mà còn có lợi cho xã hội.

    Việc nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạh hoá đàu tư đòi hỏi Nhà nước phảI qủan lí chặt chẽ các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoàI. Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp liên doanh rơI vào tình trạnh thua lỗ sau một thời gian phảỉ bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Vấn đề này đến một giới hạn nào đó, không đơn thuần là kinh tế, mà còn liên quan đến chính trị, an ninh quốc gia .Mặt khác cũng cần xem lạI vốn vay nước ngoàI để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

    – Để nâng cao trách nhiệm của cá nhân ra quyết định đầu tư.

    Từ trước đến nay, luật pháp nước ta chưa đặt ra các chế tàI cụ thể đối với các tổ chức và cá nhân khi ra thực hiện cho đất nước, trong lĩnh vực được giao phụ trách .Do đó trong đầu tư xây dựng , mặc dù có nhiều dự án không đạt hiệu quả, bởi các chữ kí làm nghèo đất nước , nhưng vẫn không bị truy trách nhiệm . Để tránh tình trạng này cần tăng trách nhiệm cho các cơ quan và các tổ chức quản lí .

    -22-

    Viếc đề ra trách nhiệm của người phê duyệt , quyết định dự án đầu tư sẽ hạn chế được rất nhiều hiện tượng chạy dự án như hiện nay và sự ra đời một dự án sẽ được thực nghiêm túc , chính xác , góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư .

    –Bổ sung , hoàn thiện và quản lí chặt chẽ hệ thống quy phạm , định mức kinh tế – kỉ thuật và đơn giá trong đầu tư xây dựng

    Thứ nhất , giao cho bộ xây dựng là cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất và chịu trách nhiệm ban hành các quy phạm , tiêu chuẩn kỉ thuật và các định mức kihn tế kỉ thuật . Chấm dứt tình trạng thiếu thống nhất và khó kiểm soát do nhiều bộ , ngành tự ban hành các văn bản nói trên .

    Thứ hai , khẩn trương sửa đổi ban hành hệ thống quy phạm , tiêu chuẩn kĩ thuật mới phù hợp với trình độ khoa học kĩ thuật hiện nay , để tránh những bất cập do lãnh phí trong đầu tư xây dựng .

    Thứ ba, nhanh chóng sửa đổi và bổ sung hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng . thực tế hiện nay , lĩnh vực công nghiệp nước ta đã đuổi kịp nhiều nước tiên tiến trên thế giới . Đã xuất hiện nhiều chủng loạI vật liệu xây dựng mới , nhiều loại xe máy thi công hiện đạI …ở các nước có trình độ kĩ thuật công nghệ như nước ta , họ đã ban hành và sử dụng hàng ngàn định mức kinh tế kỹ thuật .

    2.3) Chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư xây dựng.

    Công tác kiểm tra thanh tra trong đIều tra xây dựng từ trước đến nay vẫn được thực hiện, nhưng thường với những việc riêng lẻ và thường xử lí nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Lực lượng thanh tra, kiểm tra vừa thiếu về chất lượng vừa yều về chất lượng nên hiệu lực công tác chưa cao. Để phát huy vai trò quản lí vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tês thị trường, cônmg tác này cần được coi trọng, cần được tiến hành hường xuyên sâu rộng.

    Thứ nhất thanh tra kiểm tra trong đầu tư xây dựng cần kết hợp phổ biến giảI thích pháp luật, để ngăn ngừa các hành vi phạm luật. Đồng thời phát hiện những sơ hở trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng để kiến nghị các cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi thay thế bằng văn bản mới cho phù hợp phục vụ cho việc quản kí đầu tư.

    Muốn làm được như vậy phảI hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra từ trung ương đến địa phương. PhảI nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của tổ chức kinh tế tiến hành đầu tư xây dựng. PhảI tăng cường đào tạo trình độ chuyên môn và coi trọng phẩm chất đạo đức thông qua quá trình thử thách rèn luyện đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra.

    -23-

    2.4)  Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ.

    Phân bổ vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ hợp lí sẻ tạo điêù kiện khai thác triệt để lợi thế của vùng, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Đầu tư phát triển hợp lí vùng lãnh thổ, sẻ phát huy tốt những ưu việt của từng vùng. Đảm bảo tiệt kiệm chi phi vận tảI , sản xuất đào tạo ..Và phát triển kinh tế hàng háo. Nâng cao khả năng, trình độ chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động xã hội, góp phần tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong nước và quốc tế. Mặt khác, phân bổ vốn đầu tư hợp lí giữa các vùng còn là động lực mãnh mẽ góp phần giải quyết các mục tiêu xã hội như: xoá đói giảm nghèo, hạn chế chênh lệch giữa các vùng về mức sống, hưởng thụ văn hoá , môI trường …

    Thời gian qua, việc đầu tư pghát triển vùng lãnh thổ tuy đã đạt được những thành tựu ban đầu nhưng do còn nhiều hạn chế về cơ chế chính sách phối kết hợp, về tư duy và hành động…nên việc phân bổ vốn đầu tư còn mang nhiều yếu tố chủ quan, bình quân chủ nghĩa.

    Việc chuyển dịch hơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2001 –2010 cần theo các hướng cụ thể sau đây:

    Một là, tập trung ưu tiên vốn đàu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinhtế kĩ thuật của các vùng kinh tế trọng đIểm, tạo đà cho sự phát triển kinhtế xã hội và khai thác tiềm năng sẵn có. Theo đó, cần chú trọng đầu tư phát triển những vùng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như vùng: Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông hồng, các vùng tam giác tăng trưởng

    Hai là, chú trọngđầu tư nhằm hình thành và phát triển một số vùng kinh tế đặc biệt có cơ sơ hạ tầng kinh tế xã hội và thị trường phát triển làm nhân tố khuyến khích phát triển các vùng lân cận. Những vùng này thường là những vùng có lợi thế đặc biệt so với các vùng khác về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng…như Đà lạt các vùng cửa khẩu, cảng biển, vùng đất đỏ bazan…

    Ba là, Để thực hiện CNH-HĐH trên phạm vi cả nước cần đầu tư phát triển giao thông, thuỷ lợi, đIện lực ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên và miền trung.

    Bốn là Để kết hợp mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu công bằng xã hội không chỉ tập trung đầu tư vào các vùng có đIều kiện thuận lợi về hạ tầng kỉ thuật, các khu vức thành thị và các vùng kinh tế trọng đIểm mà cần chú ý đầug tư phát triển vùng núi, vùng sâu vùng xa (ở Tây nguyên và Miền núi phía Bắc). Do đó, cần thực hiện chính sách đầu tư ưu đãI đối với cácc vùng này và kết hợp với việc phân phối lạI tích luỹ từ các vùng kinh tế trọng đIểm.

    -24-

    Năm là, chú trọng hơn nữa đầu tư nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tàI nguyên thiên nhiên sẵn có bằng cách đầu tư kết hợp, lồng ghép các chương trình. Như kết hợp chương trình xoá đói giảm nghèo với trồng rừng…

    • Đổi mới cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư

    Theo cơ cấu kỉ thuật thì tổng mức vốn đầu tư được phân thành đầu tư xây dựng lắp ráp, đầu tư thiết bị cơ bản khác. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư cần được đổi mới theo các hướng sau :

    Một là, chính sách đầu tư phảI thực hiện theo hướng ưu đãI, đối với các dự án có vốn đầu tư thiết bị chiếm trên 50%t ổng mức vốn đầu tư của dự án. Đồng thời thực hiện ciệc chuyển dịch từ ư đãI đầu tư sang ưu đãI sau đầu tư.

    Hai là, không phê duyệt các dự án sản xuất mà mức đầu tư xây lắp chiếm tỉ trọng trên 50% tổng mức vốn đầu tư .

    Ba là, giảm tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản khác trong tổng mức vốn đầu tư xuống còn 10%.

    • Đổi mới cơ cấu táI sản xuất của vốn đầu tư .

    Theo cơ cầu vốn đầu tư nó được phân thành :đầu tư xây dựng mới , đầu tư mở rộng hoặc mở rộng hoặc đổi mới máy móc thiết bị và đầu tư xây dựng lạI khôI phục năng suất sản xuất.

    Do đó trong giai đoạn tới cơ cấu tái sản xuất của vốn đầu tư cần phảI đổi mới, điều chỉnh theo hướng :

    Một là, đối với những nhóm hiện nay đang chịu sự cạnh cạnh gay gắt trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế thì kiên quyết không đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất công nghệ, thiết bị lạc hậu.

    Hai là, đối với những dự án xây dựng mới hoặc mở rộng khi cần thiết phảI đảm bảo đầu tư vào những thiết bị công nghệ tiên tiến, kết hợp hàI hoà giữa đầu tư chiều rộng và chiều sâu. Việc xét dự án ,cần chú ý lựa chọn các phương án sử dụng những thiết bị công nghệ tiên tiến một cách hợp lí với phương châm đI tắt .

    Thứ ba, thực hiện các chính sách ưu tiên về thuế, cùng với ưu đãI đặc biệt cho các dự án thiên về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Chú trọng việc đào tạo cán bộ đội như công nhân lành nghề, có khả năng nắm bắt nhanh, vận dụng kiến thức tiên tiến và công nghệ mới vào thực tiễn.

    Bốn là, chính sách đầu tư phảI hướng vào hạn chế xây dựng mới và không được tiến hànhđầu tư đối với các cơ sở sản xuất của máy móc thiết bị đã có. Các nguồn vốn của doanh nghiệp phảI ưu tiên cho việc đầu tư chiều sâu. Muốn vậy phảI đánh giá chính xác tài sản doanh nghiệp. Thực hiện khấu hao nhanh những

    -25-

    TSCĐ cần thiết và khuyến khích doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới máy móc thiết bị kỉ thuật.

    2.5)  Hoàn thiện chiến lược thu hút đầu tư

    Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp là nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí để phát triển kinh tế.

    Kinh nghệm của nhiều nước cho thấy sau một thời gian thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, cơ cấu kinh tế đã trở thành vấn đề cần giảI quyết, nền kinh tế đã phát triển thiếu cân đối lạI càng mất cân đối thêm. Do vậy cần có sự điêù chỉnh kinh tế. Đây là việc làm có hiệu quả, song có nhiều khó khăn, bởi vì làm như vậy cần có kinh tế đủ mạnh mà nhiều nước chủ nhà trước mắt không có lợi gì, thậm chí còn bị thiệt thòi.

    Do đó cần gấp rút đIều chỉnh đảm bảo đầu tư có trọng đIểm, không dàn trảI song vẫn đảm bảo cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    2.6)  Xây dựng và lựa chọn đối tác đầu tư

    Đây là vấn đề rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt , với chủ trương đa phương hoá. Do vậy việc lựa chọn đối tác phảI quán triệt hai vấn đề:

    Một là, phảI hướng trọng tâm lâu dàI vào công ty xuyên quốc gia, song cần chuẩn bị đIều kiện trong nước, nhất là cần có đối tác mạnh. ĐIều này đòi hỏi phảI xây dựng các tập đoàn kinh tế, đồng thời làm tốt công tác xúc tiến đầu tư thông qua việc tổ chức Form, qua các hội chợ triển lãm và các công ty tư vấn đầu tư trong nước cũng như quốc tế .

    Hai là, lựa chọn đối tác cho từng nghành, từng lĩnh vực.

    2.8)Tiếp tục hoàn thiện đầu tư nước ngoàI.

    Thủ tục đầu tư cũng là một vấn đề nổi cộm đang được từng bước cảI tiến. Để đảm bảo tính hấp dẫn cần kiên quyết thực hiện “một cửa” và quy định chặt chẽ thời gian tối đa giảI quyết thủ tục, hướng sắp tới cần nhanh chóng thực hiện tối ưu hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn tối đa thời gian mà các nhà đầu tư phảI chi phí cho các công việc thủ tục.

    2.7)     Tăng cường kết cấu hạ tầng, hoàn thiện các chính sách khuyến khích.

    Kết cấu hạ tầng là đIều kiện tiên quyết đối với thu hút đầu tư FDI.

    Vì vậy trong thời gian trước mắt phảI tập trung thích đáng cho công việc này, nhất là hệ thống giao thông, cấp thoát nước khu đô thị, hệ thống công nghệ phụ trợ.

    -26-

    Cần đIều chỉnh sách để độ khuyến khích cao nhất và chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu tư vào kết cấu hạ tầng, nông, lâm, trung du, miền núi.

    2.9) Vấn đề bảo vệ môI trường.

    Đây là vấn đề rất lớn cần được quan tâm từ đầu, nếu không sẽ khó khắc phục hậu quả không chỉ trứoc mắt mà còn về lâu dàI .Theo quy định hiện hành, Nhà nước đầu tư phảI báo cáo đánh giá tác động môI trường với nhiều nội dung nhiều mục tiêu kinh tế xã hội, ý nghĩa chính trị của dự án, phảI mô tả đIều kiện địa lí tự nhiên. ĐIều đó gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư, cho nên cần được quan tâm đúng mức.

    2.10) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI và đội ngũ cán bộ làm công tác

    đầu tư.

    +) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI

    Cần nhanh chóng đổi mới bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI theo hướng tinh giản, gọn nhẹ có hiệu lực.

    Bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI dù được tổ chức như thế nào cũng cần trực thuộc Thủ Tướng Chính Phủ và về nguyên tắc Thủ tướng có quyền quyết định cuối cùng tất cả mọi dự án.

    +) Về đội ngũ cán bộ.

    Cần phải có chiến lược đào tạo cán bộ. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phảI là những chuyên gia trong từng lĩnh vực, có phong cách giao tiếp và trình độ nhận giao thành thạo. Trứơc mắt cần phải đI đào tạo những trường, viện về chuyên ngành ngoạI ngữ. Đội ngũ này phảI qua thi cử, lựa chọn, để bổ sung cho những khuyếm khuyết hiện nay, cần tăng cường những chọn lọc các cơ quan tư vấn trong và ngoàI nước, đồng thời cần tăng cường thêm đội ngũ có trình độ tầm vĩ mô.

    2.11) Duy trì và ổn định chính trị xã hội.

    Đây là môI quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư và ruỉ ro chính trị là rất lớn. Chúng ta phải duy trì ổn định chính trị xã hội, ngăn ngừa và loại bỏ nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Tạo ra tâm lí yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoàI khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

    2.12) Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư.

    MôI trường đầu tư của nước ngoàI là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lợi của vốn đầu tư nước ngoàI. Chúng ta đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môI truờng đầu tư nước ngoàI từ đó đưa ra những phương pháp hoàn, thiện môI trường

    -27-

    đầu tư nhằm đảm bảo khả năng sinh llợi của các nhà đầutư cũng như lợi ích của toàn bộ nền kinh tế:

    +) Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong giờ lĩnh lực thay vì chỉ hoạt động trong một số lĩnh vưc nhất định. Cho đến nay, theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam thì hânù như không cho các nhà đầu tư thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Chính đIều đó làm cho các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn.

    Thứ nhất: bó buộc các chủ đầu tư phảI thánh lập một thực thể pháp luật đối với mọi dự án và như vậy xin pheps đầu tư và chi phí thành lậ sẻ buộc phảI tăng lên rất nhiều.

    Thứ hai: Nó làm chậm trễ các dự án đầu tư dẫn đến làm mất cơ hội và làm nản lòng các nhà đầu tư .

    Thứ ba: Nó không cho phép củn cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể tức là không cho phép đa dạng hoá kinh doanh và tận dụng lợi thế của nó .

    +) Mở rộng thêm đIều kiện chuyển nhượng cho các bên.

    Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế có ảnh hưởng quyết định đến việc chi tiêu ngân sách. Ngân sách càng có nguồn thu lớn thì càng tạo ra được môI truờng tốt để khuyến khích đầu tư thuế thu đủ cho chi tiêu của ngân sách góp phần hạn chế lạm phát. ĐIều đó sẽ tạo ra môI trường tàI chính thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

    Nguồn vốn ngày càng tăng tạo đIều kiện vật chất cho nhà nước đầu tư vào lĩnh vực tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hồi vốn lâu như: cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục…và do đó tạo môI trưòng cần thiết để hấp dẫn FDI.

    Thuế là biện pháp quan trọng trong chính sách ưu đãi đầu tư, hướng đầu tư vào các dự án thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Các ưu đãI sản xuất về thuế là sự khuyến khích quan trọng về mặt tàI chính để thu hút các nhà đâù tư vào một quốc gia hay khu vực nhất định.

    Việc cảI thiện hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI theo hướng: đơn giản hoá, dễ tính, đảm bảo lợi ích quốc gia, có tác dụng khuyến khích đầu tư và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    2.13) Thực hiện chiến lược khoa học công nghệ.

    Một trong nhữn vai trò quan trọng của FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ mang một hàm ý rộng, bao gồm không chỉ từ nhập khẩu cộng nghệ đơn thuần mà còn vận hành công nghệ đó, sửa chữa bảo hành, nắm vững các nguyên lí, mô phỏng và phát triển nó .Thông qua các hình thức FDI, giữa

    -28-

    các nước đã có sự chuyển giao công nghệ và bổ sung công nghệ cho nhau. Đối với các nước đang phát triển, trình độ công nghệ lạc hậu thấp kém thì FDI được coi là một phương tiện hữu hiệu để nhập khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoàI. Thông qua FDI, các nước phát triển có đIều kiện xuất khẩu công nghệ trung gian và chuển giao công nghệ đã có phần lạc hậu so với trong nước . Các hình thức chuyển giao công nghệ thường có lợi cho cả hai bên phần lớn các nước đang phát triển như ở Việt Nam, có nhu cầu đổi mới về công nghệ và do đó có những biện pháp và chính sách cởi mở nhằm đẩy mạnh FDI và muốn nhập những ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến. Một vần đề quan trọng khác là FDI dẫn đến thay đổi về cơ cấu ngành trong nội bộ đất nước tại Việt Nam. Kể từ khi luật đầu tư nước ngoàI được ban hành đến nay đã làm xuất hiện một số nghành hoàn toàn mới như sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy, đIện tử…

    2.14) Xử lí linh hoạt hình thức đầu tư.

    Trong hoàn cảnh nước ta, đặc biệt là các vùng kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, nhiều nguồn lực chưa được khai thác, các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực tàI chính, công nghệ, trình độ quản lí và năng lực kinh doanh quốc tế cần xử lí linh hoạt vấn đề hình thứcđầu tư theo hướng:

    • Khuyến khích hình thức doanh nghiệp 100% vốn nứơc ngoàI đối với những dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới; các dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dàI, độ rủi ro cao, tỷ lệ lợi nhuận thấp
    • Cho phép linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tư từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI. Tất nhiên việc chuyển đổi phảI đảm bảo đIều kiện ổn định đuợc việc làm cho người lao động; bảo toàn được vốn góp của bên Viêt Nam.

    -29-

    -30-

    PHẦN C: KẾT LUẬN

    Hiện nay việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI(Viện trợ ODA, tín dụng thương mạI, vốn đầu tư trực tiếp, FDI, tín phiếu tráI phiếu, cổ phần, cổ phiếu, trong đó FDI là nguồn quan trọng nhất trong bốn nguồn đó)

    Đang trở thành bộ phận chủ yếu trong quan hệ kinh tế thế giới và là nhân tố quan trọng hàng đầu, của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu tư đang trở nên đang vô cùng cần thiết trong đIều kiện của xu hướng quốc tế hoá đơì sống kinh tế, của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng gia tăng. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoàI đang la một nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng quan trọng và một trông những chỉ số cơ bản đánh gíá khả năng phát triển.

    Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hôị từ đIểm xuất phát rất thấp về kinh tế, kỉ thuật xã hôị…

    Đảng và nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là phảI thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế chịnh trị – xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển , cảI thiện đời sống nhân dân , củng cố quốc phòng an ninh, tạo đIều kiện cho cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

    Để đạt được mục tiêu nói trên phảI thực hiện tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó việc đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoàI có tầm quan trọng hàng đầu.

    Cuộc vận động thu hút đầu tư nước ngoàI vừa là hoạt động mới của Việt Nam, vừa được triển khai trong bối cảnh cạnh tranh công khai quyết liệt trên trị trường đầu tư giữa cac nước trên thế giới và khu vực.

    Đây là đIều kiện không thể tránh khỏi bởi vì dòng vốn đầu tư của thế giới không lớn lắm nhưng nhu cầu về vốn đầu tư của các quốc gia lại đều rất lớn và vượt xa nguồn cung cấp.

    Đầu tư nước ngoàI tự nó chưa phảI là giảI pháp duy nhất quyết định sự phát triển kinh tế, nó cần đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoàI, giữa việc phát triển các nguồn lực trong nước là chính và chính sách mở rộng quan hệ kinh té đối ngoạI là quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoàI, tính đặc thù của sự vận động nguồn đầu tư nước ngoàI (chủ yếu dòng đầu tư trực tiếp FDI) đã cho thấy: chỉ riêng luật đầu tư nước ngoàI cởi mở, thông thoáng, luật xuất nhập cảnh tạo đIều kiện dễ dàng cho các nhà đầ tư đI lạI , cư trú hành nghề… và bản thân các biện pháp, chính sách ưu đãI… tự nó chưa đủ sức tạo ra sức thu hút mạnh

    -31-

    mẽ và tác dụng thuận lợi đối với nguồn đầu tư nước ngoàI. Khả năng tranh thủ vầ sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI đòi hỏi sự nổ lực toàn diện và triển khai theo nhiều hướng trên nhiều lĩnh vực khác như: tự nhiên, xã hội, khoa học kỉ thuật, chính trị – ngoạI giao, kinh tế – kỉ thuật, đIều kiện pháp luật, cơ chế vận hành…

    Quốc gia nào có tính hâp dẫn hơn, có môI trường đầu tư thông thoáng ổn định thuận lợi hơn, có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI thì quốc gia đó sẽ dành đực lợi thế trong cạnh tranh về nguồn đầu tư.

    MôI trường đầu tư, đó là tổng thể các yếu tố liên quan đến đIều kiện địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, pháp luật… tạo nên những đIều kiện thuận lợi và ưu thế cho các quốc gia thu hút một cách tốt nhất nguồn vốn bên ngoàI.

    Những yếu tố đó được thể hiện ra bằng cả hệ thống các giảI pháp mà phần lớn là do con người tạo nên. Những pháp đó có vai trò và vị trí không giống nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lạI lẫn nhau và cùng tác động đến việc thu hút đầu tư nước ngoàI thông qua môI trường đầu tư. Vì vậy khi vận dụng, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ biện chứng và và có quan đIểm hệ thống, đồng thời phảI tập trung giảI quyết các giảI pháp cấp bách trước mắt, coi đó là những giảI pháp mang tính tình thế kết hợp với các giảI pháp mang tính chiến lựơc lâu dàI. Cùng với việc thực hiện các giảI pháp trên cần chú trọng và sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả.

    Chỉ khi nào sử dụng có hiệu quả thì việc thu hút đầu tư mới có ý nghĩa thiết thực. Do đó phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ngoàI vào Việt Nam trong thời gian qua từ đó đề xuất những biện pháp cụ thể để huy động tối đa nguồn vốn này cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tới là vấn đề cần được quan tâm.

    Do thời gian và trình độ còn hạn chế, nên bàI viết không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót, em rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    -32-


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-NH%E1%BB%AENG-B%E1%BA%A4T-C%E1%BA%ACP-TRONG-THU-H%C3%9AT-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF-N%C6%AF%E1%BB%9AC-NGO%C3%80I-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-GIA-NH%E1%BA%ACP-WTO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, những mối quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng, việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi quốc gia. Việt nam đã va đang tích cực, chủ động chuẩn bị các điều kiện để tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó có Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

    Do Việt nam là một quốc gia có tới hơn 80 triệu dân, có tiềm năng của một thị trường lớn nên nhiều nước quan tâm đến gói đàm phán gia nhập của nước này. Đầu năm 1995, Việt nam nộp đơn xin gia nhập WTO và trở thành quan sát viên của tổ chức này. Việc gia nhập WTO là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy cao đoọ nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển, góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Hiện nay, Việt nam đang tích cực tiến hành đàm phán song phương và đa phương với các nước để sớm gia nhập WTO trong một tương lai cận kề. Vì vậy, việc chuẩn bị các điều kiện tiếp theo để xúc tiến quá trình đàm phán và thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại khi gia nhập WTO là những vấn đề cấp bách và hết sức cần thiết.

    Tư cách thành viên WTO là bằng chứng của một môi trường kinh doanh thuận lợi, và nhờ dó sẽ thu hút đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI) vào khu vực xuất khẩu và khu vực sản xuất cho thị trường nội địa. Nếu được điều tiết đúng đắn, FDI có thể góp phần to lớn vào việc phát triển bền vững của một quốc gia. Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có vốn. Thực tế cho thấy hầu như tất cả các nước đều thiêus vốn đầu tư. Khắc phục tình trạng thiếu vốn, các nước sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.

    Trong phạm vi yêu cầu của bài tập, bài viết xin trình bày một số bất cập trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt nam trong quá trình gia nhập WTO.

    4

     

    CHƯƠNG 1

    SƠ LƯỢC VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

    1. Đầu tư nước ngoài và một số đặc điểm.

    1.1. Lợi ích và mục tiêu của đầu tư nước ngoài.

    Hoạt động cơ bản của hợp tác đầu tư nước ngoài là nhận các nguồn vốn, ngày nay thường được quy về các loại tư bản tài chính, tư bản tri thức, tư bản mạo hiểm, tư bản xã hội (hai yếu tố quan trọng nhất là hợp tác và lòng tin) cùng các loại tư bản khác trong các dạng tài sản hữu hình và tài sản vô hình từ nước ngoài hoặc đưa vốn ra nước ngoài để sản xuất kinh doanh, dịch vụ…

    Đầu tư có 2 hình thức là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Xét về mọi mặt thì đầu tư trực tiếp có vai trò quan trọng đặc biệt, trước hết đó là những đóng góp to lớn và việc phát triển kinh tế, cung cấp cho nước chủ nhà vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại.

    Mục đích chính của các doanh nghiệp – nhà đầu tư thương là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Để hoàn thành mục đích này, họ luôn luôn tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường cho hàng hóa của mình và làm giảm giá thành.

    1.2. Vốn và chuyển giao công nghệ trong đầu tư nước ngoài.

    Nước chủ nhà cũng có nhiều lợi ích từ dòng vốn của nước ngoài vào. Một lợi ích quan trọng là đầu tư nước ngoài làm tăng việc làm và mức lương tại nước chủ nhà.

    Một nguồn lợi đáng kể khác là chuyển giao kỹ thuật, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với một doanh nghiệp Việt nam sản xuất các mặt hàng phát triển từ nước tiên tiến. Doanh nghiệp nước ngoài thông thường đào tạo các nhà quản lý và kỹ thuật cho địa phương. Ngoài ra cũng có sự chuyển giao kỹ thuật gián tiếp thông quan học hỏi bằng quan sát, qua giao tiếp, qua công việc cùng làm. Bằng cách theo dõi kỹ thuật quản lý của doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp trong nước có thể cải tiến tổ chức sản xuất và kiểm

    5

     

    soát từ bên trong. Chuyển giao công nghệ kỹ thuật thành công ở các nước áp dụng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu, chủ động hội nhập trong hoạt động hợp tác quan hệ quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết, khuyến khích phát triển các sản phẩm hàng hóa dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    Vốn từ nước ngoài sẽ tiếp tục chảy vào với điều kiện tỷ suất sinh lợi nước chủ nhà cao hơn tỷ suất sinh lợi của nước xuất phát đầu tư. Một phần của chi tiêu Chính phủ có thể khuyến khích dòng vào của vốn nước ngoài là dùng nhân lực để phát triển một hệ thống pháp luật công bằng và hiệu quả.

    2. Lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những khoản đầu tư do các tổ chức kinh doanh và cá nhân từ nước ngoài đưa vốn vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại nước sở tại.

    FDI thường cung cấp vốn, công nghệ, năng lực quản lý (qua đào tạo, chuyển giao kinh nghiệm) và các nước đầu tư thường hội đủ những điều kiện sau:

    • Về khuôn khổ thể chế:
    • Có nền kinh tế mở hướng về xuất khẩu
    • Đồng tiền có thể chuyển đổi được
    • Chu trình tư nhân hóa quy mô lớn
    • Tham gia các khối thương mại trong khu vực họ định đầu tư
    • Cơ sở hạ tầng vật chất tốt, dồi dào
    • Nước nhận đầu tư thường được hưởng các mối lợi sau:
    • Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý
    • Các nhà đầu tư nước ngoài gánh chịu rủi ro sản xuất kinh doanh
    • Tăng năng suất và thu nhập quốc dân
    • Cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế hơn
    • Tiếp cận với thị trường nước ngoài
    • Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước

    6

     

    • Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế.

    FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư. Cụ thể là:

    • Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lơi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp

    ngyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.

    • Đối với các nước nhận đầu tư, hiện nay có 2 dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dòng chảy vào các nước đang phát triển.
    • Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp, lạm phát… FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và

    thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác.

    + Đối với các nước đang phát triển, FDI thúc đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. FDI giúp các nước này khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài. Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học – kỹ thuật mới. FDI cũng giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không ngừng. FDI giúp tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài.

    • Đối với Việt nam, FDI có vai trò rất quan trọng, thể hiện:

    7

     

    • Giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nước.
    • Đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt

    nam tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của người lao động.

    • Tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học – kỹ thuật tiên tiến của thế giới,

    nhờ đó rút ngắn khoảng cách của nước ta so với thế giới.

    • Nhờ có FDI, Việt nam sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ,

    khoáng sản,…

    3. Vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam

    3.1. Yêu cầu khách quan về nguồn vốn đầu tư.

    Yêu cầu phát triển nội tại và thực tiến khách quan trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang đòi hỏi Việt nam cần tới một nguồn vốn đầu tư to lớn để hội nhập cùng dòng chảy kinh tế – xã hội trên thế giới. Cụ thể là:

    • Hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu, là con đường hiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, và buộc phải thực hiện bởi sức ép bên trong, bên ngoài nước và nước ta cũng không phải ngoại lệ.
    • Tình hình cụ thể của Việt nam đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao thu nhập quốc dân. Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn,

    nguồn vốn này không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích lũy nội bộ trong một thời gian ngắn của một đất nước nghèo.

    • Chúng ta có thể tranh thủ nguồn vốn từ các nước tư bản phát triển, mà chủ yếu là vốn của các nhà tư bản của các tập đoàn một quốc gia hay đa quốc gia, xuyên quốc gia.

    8

     

    • Vốn tư nhân vào Việt nam không thể bằng con đường viện trợ có hoàn lại

    hay bằng con đường cho vay. Hơn nữa, Chính phủ Việt nam hay bất kỳ một nước mới phát triển nào cũng không có đủ khả năng để đi vay hay sử dụng các nguồn vốn vay được trên mọi lĩnh vực. Do đó con đường chủ yếu để các nguồn tư bản nước ngoài chảy vào Việt nam là nhập khẩu vốn thông qua phương thức thu hút và nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

    3.2. Một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức thu hút vốn đầu tư trực tiếp của

    nước ngoài.

    Đứng trên giác độ một quốc gia, việc tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài liên quan đến các vấn đề sau:

    • Xây dựng hệ quan điểm vè vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đối với

    phát triển kinh tế.

    • Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn: Đây là vấn đề có tính then chốt. Môi trường đàu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư; buộc các nhà đầu tư phải tự điều

    chỉnh các mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong kinh doanh.

    3.3. Một số nét về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam.

    Việt nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực từ một đến 2 thập kỷ. Sau khi đường lối đổi mới được Đại hội Đảng lần thứ VI thông qua, và nhất là sau khi Việt nam công bố Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt nam (1987), hoạt động đầu tư nước ngoài bước đầu đã thu được nhiều thành tựu. Qua hợp tác và đầu tư nước ngoài, chúng ta đã khai thác và nâng cao năng lực sản xuất của nhiều cơ sở cũ, đồng thời toạ ra năng lực sản xuất mới trong một số ngành công nghiệp dịch vụ. Vấn đề hiện đại hóa ở một số ngành (như viễn thông, bưu điện, công nghệ thông tin) được cải thiện rõ rệt.

    Thông qua đầu tư nước ngoài, đã tiếp nhận một số kỹ thuật, công nghệ mới, phần lớn thiết bị đưa vào nước ta thuộc loại trung bình của thế giới, tiên tiến

    9

     

    hơn cái ta hiện có. Các đối tác Việt nam cũng tiếp nhận một số phương pháp quản lý tiến bộ về tổ chức sản xuất kinh doanh và tiếp cận vơi tâm lý và phong cách của nhiều đối tượng khác nhau.

    Có thể nói, mặc dù kinh nghiệm của chúng ta còn hạn chế nhưng hoạt động trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã mang lại hiệu quả nhiều mặt.

    4. Đầu tư gián tiếp của nước ngoài

    4.1. Khái quát về đầu tư gián tiếp.

    Đây là những khoản đầu tư được thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ nguồn vốn thương là của các Chính phủ các nước và của các tổ chức quốc tế. Đó là các khoản tài trợ phát triển chính thức (ODA) do các tổ chức thuộc Liên hợp quốc (UNDP, UNFPA, UNICEF, FAO, PAM,…) hoặc các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ đóng góp vào các khoản cho vay của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB,… và các Chính phủ các nước.

    Đầu tư gián tiếp thường thúc đẩy tạo điều kiện cho việc thu hút mở rộng đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp luôn kèm với các điều kiện ưu đãi cho nước nhận đầu tư nên có thể dùng nguồn vốn này thực hiện các dự án có mức vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài.

    Đầu tư gián tiếp có lợi cho cả nước đầu tư (khả năng lợi nhuận cao hơn) và cho cả nước nhận đầu tư (có thêm vốn cổ phần). Đầu tư gián tiếp thường dùng các công cụ như đầu tư trái phiếu và đầu tư cổ phiếu (quỹ quốc gia thu từ tiền gửi đầu tư cổ phiếu trực tiếp). Kinh nghiệm hoạt động kinh tế thị trường ở tất cả các nước hiện nay cho thấy để phát huy tác dụng của công cụ quản lý kinh tế vĩ mô trong lĩnh vực điều hành tiền tệ, hay trong lĩnh vực thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoai, Chính phủ phải gia tăng các hoạt động nghiệp vụ trên thị trường mở trong việc điều hành tiền tệ. Giảm bớt các biện pháp quản lý bằng công cụ hành chính trên đối với loại thị trường này. Khuyến khích các nhà đầu tư tích cực tham gia vào thị trường tài chính – tiền tệ trong nước.

    10

     

    Trong việc sử dụng ODA, kinh nghiệm của thế giới cho thấy thường xảy ra các trường hợp cần phải lường trước để quản lý có hiệu quả, đó là các vấn đề:

    • Chính phủ không kiểm soát được các mục tiêu ưu tiên
    • Lãng phí trong sử dụng và bố trí nguồn vốn phân tán
    • Tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài
    • Giảm tính tự lực và tăng tham nhũng.

    4.4. Triển khai ODA tại Việt nam.

    Hiện nay Việt nam có quan hệ ODA rất đa dạng, phong phú với nhiều đối tác, bao gồm:

    • Hơn 20 nước công nghiệp phát triển
    • Các ngân hàng quốc tế (WB, ADB,…)
    • Các quỹ (IMF, OEPC,…)
    • Tổ chức liên Chính phủ (EU)
    • Các tổ chức của Liên hợp quốc
    • Các tổ chức phi Chính phủ
    • Một số nước công nghiệp mới phát triển ở châu Á (NICs).

    Theo kinh nghiệm của các nước đã sử dụng ODA của Mỹ, Nhật bản, WB, ADB, là dùng vào việc xây dựng nhiều công trình hạ tầng cơ sở quan trọng ở Việt nam, việc xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế – xã hội là yếu tố cấp bách, nhưng nguồn vốn trong nước chỉ có thể đáp ứng được 40%. Vì vậy ODA chủ yếu để đầu tư cho hạ tầng kinh tế – xã hội, điều này cũng phù hợp với định hướng của các nước và tổ chức tài trợ.

    5. Kinh nghiệm một số nước trong khu vực trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    5.1. Trung quốc.

    Về chính sách, Trung quốc huy động FDI thông qua các hình thức như hợp đồng sản xuất liên doanh 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực đặc biệt.

    11

     

    Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung quốc là chính sách thuế. Trung quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư: hợp tác, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển. Liên doanh đóng thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho địa phương. Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì thuế lợi tức từ 20 đến 40% và 10% cho địa phương.

    Về thuế nhập khẩu, Trung quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng như: máy móc, thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa vào góp vốn liên doanh hoặc các máy móc, thiết bị, vật liệu cho bên nước ngoài đưa vào khai thác dầu khí, đưa vào xây dựng phát triển năng lượng, đường sắt, đường bộ, đưa vào khu chế xuất 14 thành phố ven biển; các vật liệu bộ phận rời nhập để sản xuất hàng xuất khẩu. Trung quốc cũng miến thuế xuất khẩu cho các mặt hàng xuất khẩu được sản xuất ở các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển.

    Về thủ tục hành chính, Trung quốc phân cấp mạnh cho các địa phương về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư. Sau khi có giấy phép đầu tư, các thủ tục liên quan đến triển khai dự án được giải quyết mau lẹ. Các vấn đề giải phóng mặt bằng, cấp điện, nước, giao thông, môi trường được giải quyết dứt điẻm. Thực hiện chính sách “một cửa” để tạo điều kiện thu hút FDI thuận lợi.

    Ngoài các chính sách trên, để thông thoáng hơn, Trung quốc cho thời hạn hợp đồng kéo dài hơn,m có thể tới 50 năm.

    5.2. Indonexia

    Indonexia khuyến khích đầu tư vào các dự án xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, chế biến thành phẩm và bán thành phầm, chuyển giao công nghệ, sử dụng chuyên gia và lao động Indonexia. Ủy ban đầu tư quốc gia công bố từng thời gian khu vực nào cho phép nước ngoài kinh doanh, khu vực nào cấm kinh doanh.

    Về chính sách thuế, đối với thuế lợi tức, nếu công ty có mức lãi ròng 10 triệu rupi trở xuống đánh thuế 15%, trên 10 triệu đến 50 triệu rupi đánh thuế 25% và treen 50 triệu rupi đánh thuế 35%. Các khoản thu từ lãi suát cho vay, cho thuê, phí tài nguyên, phí kỹ thuật, phí quản lý bị đánh thuế 15% trên doanh thu. Ở Indonexia không có chế độ miễn giảm thuế doanh thu và thuế lợi tức.

    12

     

    Về thuế nhập khẩu, Indonexia có chính sách miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, phụ tùng được ủy ban đầu tư phê duyệt trong danh mục quy định. Tuy nhiên những thứ nhập theo vốn đầu tư vào Indonexia đã sản xuất được thì không được miễn thuế nhập khẩu. Ngược lại, nước ngoài mua những hàng này của Indonexia thì được thoái lại thuế nhập khẩu đã đánh vào vật liệu, nguyên liệu sản xuất ra chúng.

    Đối với hàng xuất khẩu: lãi suất tín dụng phục vụ xuất khẩu thấp hơn nhiều so với lãi suất khác. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được nhập các mặt hàng sử dụng nếu hàng trong nước không đắt hơn. Được hoàn trả hoặc miễn thuế nhập khẩu các mặt hàng. Công ty sản xuất hàng xuất khẩu không chỉ được phép xuất khẩu hàng của mình mà cả hàng của Công ty khác.

    Về chính sách thị trường, để tạo lập môi trường cạnh tranh thuận lợi, Indonexia cho phép mọi ngành công nghiệp, trừ các ngành trong danh mục loại trừ và trong kho ngoại quan được tiếp cận tự do thị trường nội địa.

    Về quản lý ngoại hối, doanh nghiệp nước ngoài được phép chuyển ra nước

    ngoài các khoản thu nhập sau thuế, vốn, chi tiền cho cá nhân, khấu hao TSCĐ …

    Ngoài ra Chính phủ Indonexia từng bước hạ thấp lãi suất tiền gửi ngân hàn trung

    ương làm cho tiền gửi ngân hàng và lãi suất cho vay giảm xuống. Điều đó khuyến

    khích các doanh nghiệp hăng hái dầu tư hơn….

    13

     

    CHƯƠNG 2

    NHŨNG BẤT CẬP TRONG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG

    VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

    1.     Khái quát về chính sách đầu tư nước ngoài

    Chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia được chia thành chính sách đối nội và chính sách đối ngoại. Chính sách đầu tư nước ngoài bao gồm một hệ thống các chính sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia (bao gồm đầu tư ra nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia đó.

    Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được phân chia thành:

    • Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính.
    • Chính sách ngành và lĩnh vực đầu tư (chính sách cơ cấu)
    • Chính sách thị trường
    • Chính sách lao động
    • Chính sách đất đai
    • Chính sách công nghệ…

    2.                 Những bất cập trong việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam

    2.1. Môi trường pháp lý

    2.1.1. Hạn chế về hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài.

    Xuất phát từ đường lối đổi mới kinh tế, mở cửa và hội nhập với bên ngoài, ngày 29/12/1987, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam. kể từ đó đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài luôn được bổ sung, sửa đổi. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư nước ngoài tại Việt nam đang trong quá trình hoàn thiện nên vẫn còn tồn tại ít nhiều hạn chế.

    14

     

    Hiện nay, hai bộ luật khác biệt áp dụng cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng song song tồn tại và đang tạo ra những khác biệt về môi trường đầu tư trong cùng một không gian kinh tế nhất là thủ tục, điều kiện đầu tư và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp… Điều này là không phù hợp với thông lệ quốc tế, gây cho các nhà đầu tư nước ngoài tậm lý thiếu an tâm.

    Hệ thống pháp luật chính sách chưa đồng bộ và ổn định, chưa đảm bảo tính rõ ràng và dự đoán trước. Tính ổn định của luật pháp, chính sách chưa cao, một số luật, chính sách liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài thay đổi nhiều, một số trường hợp chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của chủ đầu tư nên đã làm đảo lộn phương án kinh doanh và gây thiệt hại cho họ. Nhiều văn bản dưới luật ban hành chậm so với quy định. Một số văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành, địa phương có xu hướng xiết lại, đẻ thêm quy trình, dẫn đến tình trạng “trên thoáng, dưới chặt”. Một số chính sách mới của Chính phủ chậm đưa vào cuộc sống. Trong quá trình đầu tư tại Viẹt nam, các nhà đầu tư nước ngoài đều mong muốn được đảm bảo về sự ổn định và tính dự đoán trước được của pháp luật, chính sách để có thể lường trước và giảm thiểu được lợi ích và rủi ro đầu tư. Quy định của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Nghị định 12/CP về những biện pháp thỏa đáng của Chính phủ khi có sự thay đổi của pháp luật gây thiệt hịa cho nhà đầu tư vẫn chưa thực sự làm họ yên tâm.

    Hệ thống văn bản hướng dẫn về đầu tư nước ngoài chủ yếu vẫn tập trung vào giai đoạn thẩm định và cấp giấy phép đầu tư, chưa chú ý tới việc quản lý và theo dõi các dự án từ khi triển khai thực hiện. Trong một số trường hợp, khi thẩm định cấp giấy phép đầu tư các dự án đều đưa các điều khoản có lợi thế để được hưởng tiêu chuẩn miễn giảm và thuế suất ưu đãi. Khi thực hiện lại khong đạt được các điều kiện đã cam kết nhưng vẫn được hưởng ưu đãi (vì thuế suất ưu đãi và thời gian miễn giảm thuế được ghi trong giấy phép đầu tư) nên đã gây thiết hại tới nguồn thu ngân sách quốc gia và tạo môi trường đầu tư, môi trường hoạt động không bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

    Về hình thức đầu tư, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam vẫn chưa cho phép áp dụng một số hình thức đầu tư như Công ty đa mục tiêu, Công ty quản lý vốn,… Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức dưới nhiều loại hình, có thể chuyển đổi hình thưc đầu tư dễ dàng hơn, có điều kiện huy động vốn kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau, không phải chịu sự can thiệp quá sâu của Chính phủ nước sở tại.

    15

     

    2.1.2. Hạn chế về hệ thống pháp lý liên quan trực tiếp đến FDI.

    Hệ thống pháp lý liên quan trực tiếp đến FDI còn có những quy định chưa thực sự khuyến khích thu hút FDI và tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    • Chính sách đất đai: Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, bảo đảm cho các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng đầu tư lâu dài ở Việt nam. Điểm đặc thù ở Việt nam là đất đai là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân nên các nhà đầu tư nước ngoài không có

     

    quyền sở hữu về đất đai. Cho đến nay đã có nhiều văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn liền với Luật Đầu tư nước ngoài như: Nghị định 18/CP ngày 13/02/1995, Quyết định số 1477/TC/TCĐN ngày 31/12/1994 của Bộ Tài chính ban hành bản quy định về quyền cho thuê mặt đất, mặt biển áp dụng đối với các

    hình thức đầu tư nước ngoài… Tuy nhiên nhìn chung chính sách đất đai áp dụng đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài vẫn còn những hạn chế nhất định.

    Giá thuê đất của Việt nam hiện nay đã được điều chỉnh thấp hơn nhiều nước trong khu vực (giá thuê đất của Việt nam là 2,62 USD/năm/m2 – khu công nghiệp Sài Đồng, thấp hơn nhiều so với Philippin: 85 USD/năm/m2 trong khu công nghiệp., hay như Singapore: 6,9 USD/năm/m2 trong khu công nghiệp). Tuy nhiên, thủ tục thuê đất, cấp đất, giá đền bù, giải phóng mặt bằng còn phức tạp gây mất cơ hội và thời gian của các nhà đầu tư. Việc giao đất nhất là các dự án có đền bù và giải tỏa kéo dài, nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp phải mất hàng năm để thực hiện việc đền bù. Thậm chí một số khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, thu hút được nhiều nhà đầu tư nhưng vẫn chưa thực hiện xong việc đền bù, giải phóng mặt bằng. Đây chính là yếu tố làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt nam cũng như làm giảm tiến độ triển khai các dự án đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, do thiếu quy hoạch chi tiết cho việc thu hút FDI, một số địa phương tùy tiện xử lý vấn đề đất đai áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    • Chính sách thuế và các khuyến khích tài chính đã đạt được mục tiêu đặt ra trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách thuế này đã hấp dẫn đối với

     

    đầu tư nước ngoài nhưng ở một khía cạnh nào đó lại ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Các văn bản về thuế được ban hành rất nhiều nhưng không có hệ thống và

    16

     

    luôn thay đổi. Vì lợi nhuận của nhà đầu tư có liên quan đến việc nộp thuế nên khi mức thuế thay đổi gây khó khăn cho họ trong việc lập kế hoạch kinh doanh. Mức thuế suất lợi tức tỏ ra ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài gồm 4 mức: 25%, 20%, 15%, 10% nhưng đối với các nhà đầu tư trong nước có 3 mức: 25%, 35%, 45%. Việc quy định mức thuế như vậy cũng gây nên bất bình đẳng trong việc đóng thuế của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, các loại thuế áp dụng đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn chồng chéo, nhà đầu tư nước ngoài phải đóng 10 loại thuế như các doanh nghiệp Việt nam và nhiều loại lệ phí khác.

    * Chính sách tỷ giá và chính sách ngoại hối của Việt nam đang bộc lộ một số tác động tiêu cực đối với thu hút FDI. Điều 75 Luật Đầu tư nước ngoài 1996 quy định “tỷ giá chuyển đổi tiền nước ngoài sang tiền Việt nam và ngược lại áp dụng trong quá trình tiến hành đầu tư và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài hợp doanh được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt nam tại thời điểm chuyển đổi”, nhưng Luật năm 2000 không sửa đổi bổ sung điều này. Như vậy, do tỷ giá hối đoái đồng Việt nam được ấn định hàng ngày bởi Ngân hàng Nhà nước mà không phải là được ấn định bởi tỷ giá trên thị trường nên hầu hết tỷ giá của Ngân hàng thường cao hơn và việc này gây thiệt hại cho các doanh nghiệp do sự chênh lệch lớn này gây ra. Việc định giá đồng Việt nam quá cao đi đôi với việc kiểm soát quá nghiêm ngặt các khoản vay nước ngoài trên một năm của các doanh nghiệp mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra có thể dẫn đến việc thiếu hoặc không có khả năng cung ứng ngoại tệ cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Hiện nay, tỷ lệ kết hối quy định cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn cao (hiện nay là 50%)., ảnh hưởng tới việc chủ động sử dụng vốn của doanh nghiệp.

    • Công tác quản lý về tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn do chưa ban hành được các chuẩn mực kế toán,

    kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế.

    • Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm: Việc thúc đẩy xuất khẩu mới chỉ dừng lại ở tình trạng bên nước ngoài, giá cả, tình hình lợi nhuận thu được

    từ xuất khẩu. Đây là yếu tố gây thua thiệt cho Việt nam. Thêm vào đó tỷ lệ hàng xuất khẩu còn rất hạn chế trong các dự án FDI đang triển khai.

    17

     

    • Chính sách công nghệ: Qua thẩm định các dự án cho thấy, nhiều dự án

    phát huy tác dụng tốt trong việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, đạc biệt là lĩnh vực dầu khí, viễn thông, tin học, điện tử. Tuy nhiên công nghệ tiến tiến tiếp nhận chưa nhiều, mức độ hiện đại và tinh vi của chính bản thân công nghệ còn thấp. Dây truyền công nghệ hiện đại nhập vào còn ít, phần lớn ở trình độ thấp so với các nước trong khu vực, thậm chí có cả công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, gây ô nhiễm môi trường sau đó phải xử lý. Mặt khác, giá cả công nghệ được chuyển giao vào Việt nam chưa thật hợp lý. Nhiều công nghệ lạc hậu, công nghệ đã qua sử dụng nhưng giá tình vào góp vốn được các nhà đầu tư cố ý nâng cao hơn từ 10

    • 15% so với mặt bằng giá thế giới. Việc tăng giá công nghệ góp vốn vào dự án còn thông qua việc khai tăng chi phí đào tạo nhân công làm cho cơ quan quản lý

    Nhà nước khó thẩm định được chính xác giá công nghệ. Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết công nghệ còn kém.

    • Chính sách lao động: Về chế độ tuyển dụng lao động, Luật Đầu tư nước

    ngoài sửa đổi bổ sung năm 2000 đã có một vài thay đổi theo hướng nới lỏng hơn, chẳng ạn như các doanh nghiệp có quyền được trực tiếp tuyển lao động Việt nam sau 15 ngày kể từ ngày nộp đơn yêu cầu cung ứng lao động cho các tổ chức cung ứng lao động Việt nam (trước đây là 30 ngày); hay các doanh nghiệp có thể điều chỉnh mức lương tối thiểu và lương của lao động Việt nam nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng từ 10% trở lên so với lần điều chỉnh gần nhất. Tuy nhiên quy định thì như vậy nhưng thực tế các công ty nước ngoài rất khó tuyển dụng được lao động có chất lượng như mong muốn, ở địa phương hầu như chỉ có một tổ chức cung ứng lao động và do đó chiếm vị trí độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ này. Ngoài ra, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuy đã được đặt ra nhưng chưa giải quyết được nhiều hoặc có tính chất tạm thời.

    Nhìn chung, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam còn đơn giản, chung chung nhưng lại dẫn chiếu đến nhiều văn bản dưới luật quá phức tạp làm giảm giá trị pháp lý của Luật Đầu tư nước ngoài, làm cho pháp luật Việt nam về đầu tư nước ngoài thiếu tính đồng bộ, trong sáng và tính dự đoán được. Hơn nữa, trìnhđộ hiểu biết pháp luật của người dân nói chung còn kém, việc tuyên truyền pháp luật còn chưa đầy đủ dẫn đến việc thực hiện pháp luật còn tùy tiện. Chính những hạn chế kể trên đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài lúng túng, gây cho họ tâm lý không an tâm khi tiến hành đầu tư và kinh doanh tại Việt nam.

    18

     

    2.2. Cơ cấu FDI

    Cơ cấu FDI đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực qua các năm, tuy nhiên vẫn còn có một số bất hợp lý.

    Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế bộc lộ sự mất cấn đối. Đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, trong khi đó, trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định nhưng đầu tư nước ngoài còn quá thấp. Số dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này thành công không nhiều do gặp rủi ro, thiên tai, nguồn nguyên liệu không ổnđịnh, chưa xay dựng được quan hệ hợp đồng dài hạn chùng có lợi với nông dân… Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp liên tục giảm chiếm 4,13% tổng vốn đăng ký giai đoạn 1991 – 1995 và chỉ chiếm 2,2% trong lĩnh vực công nghiệp là tốt, tuy nhiên tỷ trọng đối với các dự án thay thế nhập khẩu hướng vào thị trường nội địa còn cao, nhất là các dự án của EU, Nhật, Mỹ. Trong lĩnh vực dịch vụ, tỷ trọng các dự án kinh doanh bất động sản còn lớn, thị trường về dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý còn chưa thực sự mở đối với đầu tư nước ngoài, tư vấn về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ còn hạn chế.

    Đầu tư nước ngoài tập trungchủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi, trong khi có tác động rất hạn chế đến khu vực miền núi phía Bắc, một số tỉnh Trung Tây Nguyên và đồngbằng sông Cửu Long. Tỷ lệ đổ vỡ của các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn cũng cao hơn các địa bàn khác. Các khu công nghiệp cũng chủ yếu tập rung vào các vùng kinh tế trọng điểm, trong đó vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 34 khu, với tổng diện tích trên 8.000 ha, chiếm gần 68% tổng diện tích các khu công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 10 khu với tổng diện tích 1.300 ha, chiếm 11% tổng diện tích các khu công nghiệp và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chỉ có 7 khu với tổng diện tích 890 ha, chiếm 7,5% tổng diện tích. Như vậy, cơ cấu FDI theo vùng, địa phương còn mất cân đối, chênh lệch trìnhđọ phát triển giữa các vùng trong cả nước còn khá lớn.

    Vốn đầu tư nước ngoài từ các nước châu Á chiếm tới hơn 66%, trong khi từ Tây, Bắc Âu, Bắc Mỹ cònthấp. Do vậy, đầu tư nước ngoài ở nước ta dễ bị ảnh hưởng khi các nước xung quanh lâm vào khủng hoảng hay gặp khó khăn về kinh tế… Chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế hợp tác đầu tư với nước

    19

     

    ngoài chưa được cụ thể hóa và thiếu các chính sách cần thiết (đất đai, vay vốn…) nên các thành phần kinh tế dân doanh còn rất ít dự án đầu tư nước ngoài. Thực tế và khả năng đâu tư nước ngoài của Việt kiều còn hạn chế.

    2.3. Cơ sở hạ tầng và vai trò của phía Việt nam

    Cơ sở hạ tầng còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hệ thống giao thông vận tải, điện, nước… của nước ta hiện nay còn yếu kém, mật đọ đường bộ 1,48 km/1000 dân, đường sắt là 0,04km/1000 dân, chất lượng đường xá kém…

    Hệ thống dịch vụ đầu tư nước ngoài còn yếu, giá chi phí dịch vụ ở Việt nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực: giá lắp đặt điện thoại tại Hà nội là 110,33 USD, thành phố Hồ Chí Minh là 124,12 USD; trong khi đó giá lắp đặt điện thoại tại Singapore là 28,79 USD, ở Thái lan là 48,26 USD. Giá điện sản xuất tại Việt nam là 0,07 USD/Kwh đối với các nhà máy nước ngoài; 0,11 USD/Kwh áp dụng cho các văn phòng nước ngoài, giá nước là 0,21 USD/m3 đối với các nhà máy sản xuất; 0,45 USD/m3 đối với các dịch vụ công nghiệp, cao hơn gấp 2 lần giá cả tương ứng của Thái lan. Hệ thống thị trường, nhất là thị trường vốn cho hoạt động đầu tư nước ngoài còn chưa phát triển; thị trườngchứng khoán mới bước đầu còn sơ khai.

    Chính những yếu kém của cơ sở hạ tầng đã làm giảm hiệu quả kinh doanh của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn như các khu công nghiệp đã thành lập do thiếu kết cấu hạ tầng, kinh tế – xã hội chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư nên mới lấp kín được gần 30% đất công nghiệp có thể cho thuê. Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp còn chậm. Ngoài một số khu công nghiệp đã xây dựng xong hoặc cơ bản xong cơ sở hạ tầng như khu công nghiệp Nomura – Hải phòng, khu chế xuất Tân Thuận và khu chế xuất Linh Trung ở thành phố Hồ Chí Minh…, các khu công nghiệp còn lại phần lớn đang trong quá trình đền bù, giải phóng mặt bằng hoặc đang san lấp mặt bằng, chuẩn bị xây dựng các công trình hạ tầng.. Nhiều khu công nghiệp ở miền Bắc và miền Trung , chi phí san lấp mặt bằng cao, tỷ lệ cho thuê đất rất thấp. Giá phí sử dụng cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp cao đã triệt tiêu lợi thế về giá thuê đất rẻ trong các khu công nghiệp. Hơn nữa, đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp như hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, cấp điện…

    và việc đấu nối với các công trình ngoài hàng rào đòi hỏi vốn đầu tư lớn, còn phải

    20

     

    giải quyết nhiều thủ tục có liên quan khá phức tạp và mất thời gian nên dẫn tới tình trạng ít có khu công nghiệp được xây dựng hoàn chỉnh. Điều đó dẫn đến hạn chế tính hấp dẫn của khu công nghiệp và nhiều khi bỏ lỡ cơ hội thu hút đầu tư.

    • Vai trò của đối tác Việt nam trong liên doanh còn rất mờ nhạt: theo

    thống kê tỷ lệ góp vốn của bên Việt nam trong các liên doanh nước ngoài thường chỉ chiếm 25 – 30% và chủ yếu là bằng giá cả và quyền sử dụng đất, nhà xưởng cũ. Với tỷ lệ như thế chẳng những không thể đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong hoạt động kinh doanh mà còn tăng sự phụ thuộc phía nước ngoài từ sản xuất kinh doanh, chia lợi nhuận, cũng như khó tránh khỏi việc “chia ngầm” với nhau làm thua thiệt quyền lợi của phía Việt nam cũng như của Nhà nước Việt nam.

    Cũng do vai trò quản lý của phía Việt nam mờ nhạt nên việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, nhất là ở những người lao động trực tiếp trong liên doanh chưa được quan tâm đúng mức. Khâu tuyển dụng, bố trí công việc, trả lương đều do phía nước ngoài đảm nhiệm hoặc chi phối, dễ tạo nên một số cán bộ người Việt nam vì lợi ích cá nhân đã không dám đấu tranh, thậm chí không làm hết trách nhiệm hoặc lại bảo vệ quyền lợi của đối tác nước ngoài. Trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, cường độ làm việc của người lao động thường cao hơn các khu vực kinh tế khác từ 1,2 đến 2 lần. Thời gian làm việc có thể kéi dài 12 giờ/ngày trong nhiều ngày liền mà không được trả thêm lương; công nhân bị xúc phạm nặng nề, sa thải vô lý đã là những nguyên nhân gây đình công, bãi công làm thiệt hại đến lợi ích cho cả liên doanh và người lao động.

    2.4. Hiệu quả kinh tế – xã hội của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

    Do những hạn chế nêu trên nên hiệu quả kinh tế – xã hội của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa cao.

    Thiết bị, máy móc nhập khẩu vào Việt nam đã có sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại ở một số ngành công nghiệp mũi nhọn và công nghệ sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, do việc kiểm tra giám sát nhập khẩu chưa nghiêm nên vẫn còn không ít thiết bị cũ, lạc hậu đã nhập khẩu vào Việt nam.Theo thống kế của Vụ Kỹ thuật – Bộ Công nghiệp, qua khảo sát 727 cơ sở có nhập máy móc thiết bị trong cả nước, thì có tới 76% thiêt bị mới nhầp về đã được sản xuất từ thời kỳ

    21

     

    1950 – 1960, trong đó có 2/3 số thiết bị đã được khấu hao hết, 50% thiết bị đã được tân trang lại, 20% thiết bị đã sử dụng trên 5 năm nhưng giá lại cao hơn giá trị thực 15 – 20%. Nhìn chung, vấn đề chuyển giao công nghệ chưa đạt được mục tiêu đề ra.

    Tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm điện tử, ô tô, xe máy, phát triển sản xuất linh kiện phụ tùng tại Việt nam còn thấp, chưa đạt như mong muốn. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI gia tăng nhanh nhưng mới đạt được trên 10% (thấp hơn một số nước trong khu vực). Hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt may, giày dép, điện tử nên giá trị gia tăng thấp, sức cạnh tranh trên thị trường thế giới còn hạn chế. Việc cung cấp các nguyên liệu, phụ tùng của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài rất thấp, hạn chế khả năng tham gia vào chương trình nội địa hóa sản phẩm và xuất khẩu qua các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sách khuyến khích xuất khẩu chưa đủ hấp dẫn và mạnh để định hướng lại động cơ chính của nhà đầu tư nước ngoài là nhằm vào thị trường Việt nam.

    Hiệu quả kinh doanh của các hình thức đầu tư còn thấp, đặc biệt là đối với hình thức doanh nghiệp liên doanh. Xuất phát từ cách nhìn nhận khác nhau về các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt nam nên trong những năm đầu hợp tác đầu tư với nước ngoài, do quan niệm hình thức doanh nghiệp liên doanh có nhiều lợi thế hơn cho phía Việt nam, chúng ta chủ trương hướng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức này. Tỷ lệ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo hình thức này khá cao, chiếm 40% số dự án và 59% vốn đầu tư nhưng chính doanh nghiệp liên doanh có tỷ lệ lỗ vốn, giải thể nhiều nhất, mẫu thuẫn giữa các bên liên doanh khá phổ biến. Tỷ lệ đổ vỡ của các dự án liên doanh khá cao, khoảng 28% về số dự án và 17% về vốn đầu tư. Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm ăn hiệu quả còn ít, bên Việt nam trong các liên doanh hầu hết là doanh nghiệp Nhà nước (chiếm 98% tổng vốn đầu tư và 92% tổng số dự án liên doanh); số doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ không đáng kể. Việc góp vốn liên doanh của bên Việt nam chủ yếu bằng chuyển quyền sử dụng đất, Nhà nước cho doanh nghiệp Việt nam nhận nợ (trước đây) và ghi vốn (về sau), nhưng khi doanh nghiệp Việt nam được chia lãi hoặc liên doanh thua lỗ thì không có nguồn để hoàn trả cho ngân sách Nhà nước.

    Ngoài ra, với cơ chế hiện nay, doanh nghiệp nào có quyền sử dụng đất thì doanh nghiệp đó có thể liên doanh với nước ngoài, thậm chí trong những ngành

    22

     

    nghề, chuyên môn không phù hợp với chức năng, sở trường kinh doanh của bên Việt nam. Trong những năm gần đây, đầu tư nước ngoài theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên (chiếm hơn 55% số dự án, khoảng 30% vốn đầu tư, chiếm hơn 85% số dự án được cấp phép trong các khu công nghiệp). Nhìn chung tốc độ triển khai thực hiện dự án 100% vốn nước ngoài nhanh hơn các doanh nghiệp liên doanh, tuy nhiên tỷ lệ các dự án bị thất bại còn tương đối cao. Tỷ lệ dự án giải thể trước thời hạn chếm 7,1% về số dự án và 17% về vốn đầu tư. Đối với các dự án theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, tỷ lệ bị giải thể trước thời hạn cũng khá cao, chiếm 26,6% số dự án và 16,3% vốn đăng ký đã cấp phép.

    23

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG

    ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

    1.     Các biện pháp vĩ mô.

    1.1. Tập trung vào những dự án sản xuất chế tạo, định hướng xuất khẩu và sử dụng nhiều nhân công (như điện tử, máy tính, thông tin liên lạc). Đây là những ngành mà Việt nam có thể phát huy được lợi thế tương đối.

    1.2. Tăng cường xã hội hóa một số ngành sản xuất, dịch vụ, chú ý hơn nữa phát triển khu vực tư nhân, cho phép các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước đóng vai trò lớn hơn theo khả năng của họ trong nền kinh tế cộng đồng.

    1.3. Cải thiện hệ thống ngân hàng và hệ thống pháp lý về ngân hàng.

    1.4. Xóa bỏ độc quyền đối với điều kiện xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp nhà nước mà dần tiến hànhcơ chế cạnh tranh, doanh nghiệp chứng minh được bằng khả năng thực tế – cụ thể trong thị trường, tuân thủ pháp luật, đều có cơ hội ngang nhau. (Dĩ nhiên Nhà nước vẫnl uon chú ý những doanh nghiệp có thương hiệu và thương phẩm nổi tiếng, đã chiếm lĩnh thị trường thế giới, có thể đại diện được cho thương hiệu “made in Vietnam”, và thực tế là nếu Nhà nước có ưu tiên bằng chính sách cho họ thì các doanh nghiệp khác đều công nhận, đồng thời vì quyền lợi quốc gia có thể tập trung sức lực, vốn, thông tin… để hỗ trợ thêm).

    1.5. Tiến hành cổ phần hóa mạnh mẽ các doanh nghiệp Nhà nước, nhất là những doanh nghiệp thua lỗ.

    2 – Các biện pháp cụ thể, đồng bộ.

    2.1. Đơn giản hóa thủ tục phê duyệt các dự án FDI, làm giảm số ngày tối đa để cấp giấy phép đầu tư nước ngoài.

    24

     

    2.2. Nỗ lực để ngăn chặn buôn lậu.

    2.3. Bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong các thủ tục hải quan và luật thuế.

    2.4. Có biện pháp thật hiệu quả để ngăn chặn nạn tham nhũng.

    2.5. Giảm thuế thu nhập cá nhân cho cả người Việt nam và người nước ngoài, đồng thời xóa bỏ cơ chế hai giá.

    2.6. Giảm thuế chuyển lợi nhuận ra về nước.

    2.7. Giảm thuế giá trị gia tăng cho nguyên liệu nhập khẩu không sản xuất được trong nước hoặc có thể áp dụng mức thuế suất bằng 0.

    2.8. Giảm giá các dịch vụ tiện ích.

    2.9. Thực hiện nghiêm túc các nghị định và thông tư đã được ban hành nhằm tạo thông thoáng cho môi trường đầu tư.

    2.10. Xóa bỏ hạn chế đối với những đối tượng được phép làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (Chống chảy máu chất xám bằng những biện pháp kinh tế – xã hội đồng bộ khác).

    2.11. Xóa bỏ:

    • Mức đầu tư tối thiểu.
    • Mức vốn pháp định tối thiểu trong tổng vốn đầu tư.
    • Lệ phí sử dụng đất quá cao.

    2.12. Cho phép thuê bất động sản với thời hạn dài hơn và cho phép được nhận thế chấp trong nước.

    2.13. Cho phép khấu trừ thuế đối với lãi phải trả cho những khoản mà doanh nghiệp vay.

    2.14. Cho phép định giá hợp lý đối với những đóng góp bằng kỹ năng công nghệ, máy móc, thiết bị và đất đai.

    25

     

    2.15. Cho phép định giá hợp lý đối với những đóng góp bằng tên hiệu, nhãn mác, uy tín, hệ thống phân phố và những tài sản vô hình khác.

    2.16. Tạo cơ hội bình đẳng như nhau cho mọi khu vực: Nhà nước, tư nhân và nước ngoài.

    2.17. Chính thức cho phép các liên doanh được chuyển thành hoàn toàn sở hữu của nước ngoài hoặc sở hữu của Việt nam nếu họ đủ điều kiện và tuân thủ đúng pháp luật.

    26

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài

     

    • Việt nam.

    Chủ biên: PGS, PTS Mai Ngọc Cường

    NXB Chính trị quốc gia.

    1. Gia nhập WTO – Việt nam kiên định con đường đã chọn

     

    NXB Chính trị quốc gia.

     

     

    1. Giáo trình Kinh tế quốc tế – Trường ĐH Kinh tế quốc dân

     

     

    1. Kiến thức cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế

    Tài liệu bồi dưỡng của Bộ Thương mại

    Một số tài liệu và thông tin khác trên mạng Internet.

     

    27


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Lời mở đầu

    Có thể nói trong 10 năm trở lại đây nền kinh tế của đất nước ta đã thay đổi rất nhiều. Từ một nước nông nghiệp lac hậu chúng ta đã và đang đi lên xây dựng một nước Việt Nam  ấm no, giàu đẹp, và văn minh. Chúng ta đang trên con đường xây dung đất nước công nghiệp hóa hiện đaị  hóa . Trong đó phải nói đến một sự đóng góp rất tích cực từ những nhà đầu tư nước ngoài. Họ đã mang đến cho chúng ta công nghệ mới, con người mới,  việc làm cho người lao động. Thu hút được một lượng ngân sách rất lớn cho nhà nước. ..FDI là một trong những nguồn vốn tư nước ngoài đầu tư vào nước ta. Những năm gần đây chúng ta đang  thu hút được rất nhiều nguồn vốn này. Điều này đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt kinh tế nước ta. Nó đang đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giúp tăng trưởng kinh tế nước ta

    Nhận thấy việc tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài FDI là một vấn đề rất hay và được nhiều sự quan tâm tìm hiểu nên em đã chọn vốn FDI làm đề tài cho bài tiểu luận của em.

    I Khái niệm

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

    Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

    II Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI

    1.     Thực trạng

    Trong những năm qua đầu tư trưc tiếp nước ngoài FDI là một động lực quan trọng góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế của Việt Vam.

    Bảng 1

    Năm 2008 mặc dù nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức nhưng FDI vào Việt Nam vẫn có bước tăng trưởng rất khả quan. FDI năm 2008 là hơn 64 tỷ USD vốn đăng ký và vốn giải ngân là 11 tỷ USD. Đây là một thành  tích  ấn tượng của Việt Nam trong năm 2008. FDI đăng ký tập trung chủ yếu vào  các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 572 dự án với tổng số vốn đăng ký là 32,6 tỷ USD. Khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982 tỷ USD, tăg 25,8% so với năm 2007, tạo ra trên 200.000 việc làm mới, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI  lên tới 1,4 67 triệu người.( bảng 2)

    Bảng số 2: vốn FDI đầu tư vào các nghành

    Trong các lĩnh vực đầu tư, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án, tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp.

    Năm 2008, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư vốn trên 1 tỷ USD. Malaysia đứng đầu, với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, Đài Loan đứng thứ hai, với 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba, với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD.

    Tỉnh Ninh Thuận đã vươn lên đứng đầu về số vốn đăng ký do có dự án liên doanh sản xuất thép giữa tập đoàn Lion Malaysia và Vinashin tổng vốn đăng ký 9,79 tỷ USD, Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ hai trong số 43 địa phương của cả nước có vốn FDI, với 4 dự án, tổng vốn đăng ký 9,35 tỷ USD.

    Năm 2008 là một năm kỷ lục về thu hút FDI dưới bất kỳ góc độ nào. Vốn đăng ký cũng như vốn giải ngân cao nhất từ trước tới nay, cao nhất trong 20 năm qua kể từ khi Việt Nam thu hút vốn đầu tư FDI đầu tiên điều này  thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay, mặc dù nền kinh tế đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như: lạm phát tăng cao, giá cả biến động, giá vật liệu xây dựng tăng cao đột biến. Trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay mà vốn FDI vẫn tăng mạnh chứng tỏ nhà đầu tư có  niềm tin rất lớn vào môi trường kinh doanh.

    2.     Vấn đề giải ngân vốn FDI

    Thực tế năm 2008 con số 64,11 tỷ  USD vốn FDI đăng ký,  mà số vốn điều lệ của các dự án chỉ là 15,429 tỷ USD, bằng khoảng 25,6%. Như vậy phần vốn mà các nhà đầu tư nước ngoài dự định phải đi vay để tài trợ cho các dự án của mình là rất lớn. Điều này làm nảy sinh một số vấn đề lo ngại là sẽ có những dự án mà nhà đầu tư chỉ dăng ký xin giấy phép cũng như cấp đất sau đó sẽ vay vốn của các tổ chức tài chính của Việt Nam để thực hiện dự án. Nếu nhà đầu tư đó lẩn tránh hoặc không đử lực để thực hiện dự án thì hậu quả để lại cho các ngân hàng là rất nặng nề.

    Nhìn vào bảng số 1 ta thấy ngay được tình trạng này. Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay chính là tỷ lệ giải ngân nguồn vốn trong những năm gần đây đã giảm rất mạnh Thấp nhất phải nói đến năm 2008 chỉ với 17% .Măc dù đây là năm thu hút nhiều vôn FDI nhất nhưng lại là năm có tỷ lệ thực hiện thấp nhất cho thấy đằng sau vấn đề đó còn nhiều điều cần phải quan tâm hơn nữa . Đặc biệt có biện pháp khắc phục vấn đề này sao cho hạn chế tối đa rủi ro cho các ngân hàng của ta.

    Bảng 3: tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với cam kết

    Nguyên nhân là do: Hiện đang có rất nhiều yếu kém tác động đến việc thực hiện cam kết cũng như tốc độ giải ngân các nguồn tiền đang đổ vào Việt Nam. Cụ thể, kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu trầm trọng đường cao tốc, bến cảng container, kẹt xe… Nếu như ở Singapore chỉ mất 2 tiếng đồng hồ để chu chuyển một container thì ở VN phải mất tới 7 ngày. Lợi thế giá nhân công thấp bị giảm hấp dẫn vì thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong 1 năm qua, mức lương các nhân sự quản lý của Việt Nam đã tăng 34% bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng này.

    Một điều nữa cần nói về vấn đề giải ngân vốn là có một số lượng lớn nguồn vốn FDI được tập trung vào các lĩnh vực bất động sản và đi vào các dự án lớn ( với quy mô  trên 1 tỷ ). Citybank ước tính vốn FDI liên quan đến các dự án bất động sản hiện nay chiếm đến 1/4 tổng vốn giải ngân. Mà thị trường bất động sản là thị trường nhạy cảm và hay biến động theo chu kỳ cho nên bất động sản hay đi vào các chu kỳ nóng rồi giảm mạnh. Cùng với sự đóng băng được dự đoán vào năm 2009 trên thị trường bất động sản thì chắc chắn nguồn vốn FDI đổ và lĩnh vực này sẽ giảm ảnh hưởng đến nguồn vốn FDI vào Việt Nam năm 2009.

    Quy mô dự án đầu tư lớn và tỷ trọng đầu tư vào bất động sản cao đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm ngay từ bây giờ để có những biện pháp, bước đi phù hợp, vừa phát huy điểm mạnh, vừa hạn chế những tiêu cực của nó

    Đầu tư nhiều vào bất động sản sẽ làm cho việc cân bằng xuất nhập khẩu thêm khó khăn vì khi giải ngân các dự án này chỉ có nhập khẩu, không có xuất khẩu. Cân đối ngoại tệ sẽ phức tạp khi các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn, thu nhập hợp pháp ra nước ngoài.

    Những dự án bất động sản cần nhiều diện tích đất hơn các dự án thuộc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác. Thêm nữa, dự án bất động sản thường tập trung ở các khu đô thị, khu công nghiệp, thành ra phần lớn đất bị lấy làm dự án là đất nông nghiệp “bờ xôi, ruộng mật”. Đời sống của người nông dân bị thu hồi đất đến nay vẫn nóng bỏng và chưa được giải quyết rốt ráo.

    Bảng vốn FDI và bất động sản

    Quy mô dự án càng lớn thì thu hút lao động càng ít tính trên một đơn vị đồng vốn. Đến nay, FDI mới tạo việc làm cho 1,2 triệu lao động. Khu vực kinh tế nhà nước cũng đang trong giai đoạn cơ cấu, sắp xếp lại, nên việc làm ở khu vực này tăng không đáng kể. Khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình mới là khu vực giải quyết lao động cho hơn một triệu lao động hàng năm.

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế  Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.

    3. Đánh giá tác động của FDI tới phát triển kinh tế đất nước

    3.1 tích cực

    Bổ sung cho nguồn vốn trong nước : Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.

    -Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên,  công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.

    Tham gia mạng lưới toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

    -Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    -Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.

    Đạt được những kết quả trên là nhờ những nguyên nhân:

    + Cơ chế chính sách thu hút vốn thong thoáng, minh bạch

    + Kịp thời điều chỉnh, bổ sung và ban hành danh mục dự án gọi vốn FDI

    + Tích cực tuyên truyền, tiếp thị và quảng bá hình ảnh, môi trường và cơ hội đầu tư

    +Tổ chức tham gia hội ngị, hội thảo xúc tiến, vạn động đầu tư

    + Tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư

    Bên cạnh đó còn có những khó, khăn hạn chế

    -Việc thẩm định dự án đầu tư khá nhiều thì số dự án được cấp phép vẫn còn thấp do thẩm định dự án của bộ thường bị kéo dài, công tác xúc tiến đầu tư thiếu một chiến lược cụ thể về đối tác, thị trường và phương pháp tiếp cận thị trường

    -Công tác đào tạo cán bộ còn yếu

    -Viếc phối hợp giữa các ban nghành, địa phương trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư còn yếu chưa chặt chẽ, chưa có quy định rõ ràng

    III.  Giải pháp trong thu hút vốn đầu tư

    -Vấn đề quy hoạch đầu tưxác đingj dự án gọi vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên về ngành ngề, thời gian, địa điểm cụ thể

    -tăng cường công tác xúc tiến, khai thác và lựa chọn đối tác đầu tư

    -cải thiện môi trường đầu tư bao gồm hoàn tiện cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính

    -Đẩy mạnh công tác đào tạo đội ngũ cán bộ cho hoạt động FDI

    -Thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư

    giải pháp gia tăng hấp thụ FDI

     

    trong bối cảnh đặc biệt hiện nay, giải pháp quan trọng hàng đầu là thúc đẩy giải ngân vốn FDI trong năm nay và trong giai đoạn còn lại của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010. Về luật pháp và chính sách, cần sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh, thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân…

    Về quy hoạch, cần hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư. Về cải thiện cơ sở hạ tầng, sẽ tiến hành tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

    UBND các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành ngay các thủ tục thu hồi đất và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án FDI không có khả năng triển khai, hoặc chưa có kế hoạch sử dụng hết diện tích đất đã được giao để chuyển cho dự án

    Từ thực tế kinh nghiệm những năm qua => Bài học trong thu hút vốn đầu tư

    Bài học thứ nhất trong việc thu hút FDI, đó chính là nắm bắt và tận dụng cơ hội.Cần phải biết tận dụng những cơ hội để biến đó thành thế mạnh thu hút vốn đầu tư. VD: Tháng 2/1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã đã lan rộng ra nhiều nước, gây thiệt hại nặng nề đối với các nền kinh tế vốn được coi là “sự thần kỳ Đông Á”. Việt Nam khi đó vẫn nằm ngoài “rìa” vòng xoáy của cuộc khủng hoảng. Lẽ ra chúng ta có thể nhân đó biến thành lợi thế so sánh để thu hút FDI hơn nữa. Nhìn thấy cơ hội và biết nắm bắt nó để có thể làm lợi cho đất nước giữ một vai trò quyết định trong vấn đề thu hút vốn FDI.
    Nhưng điều đó cũng đã không xảy ra, do nước ta bị động đối phó nên không những không biến được cơ hội thành hiện thực mà còn chịu tác dộng tiêu cực, khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, vốn FDI cũng do đó mà ít dần.
    -Bài học thứ hai, đó chính là ba mối quan hệ lợi ích liên quan đến FDI.
    Trước hết, đó là lợi ích của nước ta và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. cần hài hòa lợi ích của cả hai bên trên cơ sở bảo đảm lợi ích chính đáng của đất nước, phải bảo đảm nhà đầu tư thu được lợi nhuận đến mức đủ hấp dẫn họ, đi cùng với sự hướng dẫn và hỗ trợ của cơ quan nhà nước trong việc cấp phép và triển khai dự án.
    Tiếp theo, đó là mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng và người lao động.
    Do đó, trong các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc này. các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc đình công bãi công của người lao động. Các cơ quan chức năng cần phải hướng dẫn người sử dụng lao động, nhà đầu tư nước ngoài tuân thủ, tôn trọng văn hóa ứng xử, tập quán của người Việt Nam để từ đó giáo dục, tổ chức người lao động làm việc có kỷ luật, năng suất và đảm bảo công bằng. –          – Bài học thứ ba, đó là lợi thế so sánh. Chúng ta cần phải biết phát huy lợi thế về lực lượng lao động của mình, cần phải có hệ giải pháp đồng bộ từ chủ trương, chính sách của Chính phủ đến vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo…
    – Bài học thứ tư về FDI, đó là chính sách. Việc theo đuổi chính sách khuyến khích FDI và coi trọng chất lượng FDI luôn là hai mặt có quan hệ hữu cơ của thể chế và chính sách của chúng ta. Trong điều kiện hoạt động đầu tư trong nước đang gia tăng nhanh chóng thì việc lựa chọn dự án FDI cần phải bảo đảm hiệu quả kinh tế – xã hội trong mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực.

    KẾT LUẬN

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-NHTM-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-thanh-to%C3%A1n-h%C3%A0ng-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Lời Mở Đầu

    Thanh toán quốc tế là chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại, nó hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển ngoại thương của một nước và ngân hàng thương mại được nhà nước cho phép làm công tác thanh toán này. Do vậy các giao dịch thanh toán trong ngoại thương đều phải qua ngân hàng. Đây là các nghiệp vụ đòi hỏi chuyên môn cao ứng dụng công nghệ ngân hàng, tạo sự hoà hợp giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam và hệ thống ngân hàng thương mại thế giới, tạo hiệu quả an toàn với ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu khách hàng được tiến hành an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí thay vì thanh toán tiền mặt. Ngân hàng bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong giao dịch thanh toán, đồng thời tư vấn cho khách hàng, hướng dẫn về kỹ thuật thanh toán quốc tế nhằm giảm rủi ro, tạo sự an tâm tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nước ngoài. Mặt khác, trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu, bảo lãnh thanh toán mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu……đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp  nhập khẩu.

    Trong giao dịch thương mại quốc tế có rất nhiều phương thức thanh tóan quốc tế khác nhau như : thanh tóan chuyển tiền trực tiếp cho nhau hoặc trước khi nhận hàng hoặc sau khi nhận hàng, thanh tóan theo phương thức nhờ thu gồm nhờ thu trơn, nhờ thu kèm chứng từ,  nhờ thu trả ngay, nhờ thu trả chậm, thanh tóan theo phương thức tín dụng chứng từ . . . và mỗi phương thức khác nhau đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau.  Phương thức thanh tóan bằng tín dụng chứng từ là phương thức đáp ứng được đòi hỏi của hai bên người nhập khẩu và người xuất khẩu.  Người bán và người mua không thanh toán trực tiếp với nhau mà thông qua các công cụ và sự bảo lãnh của ngân hàng để thực hiện việc thanh toán này. Do đó, các hình thức thanh toán quốc tế không thể thiếu trong vấn đề nhập khẩu hiện nay..

    Cũng chính vì điều đó mà đề tài :” Vận dụng các phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu”, được đem ra thảo luận hôm nay .

    Chương I : Giới thiệu hoạt động Ngân hàng Thương mai.

    1.1 Tổng Quan Về Ngân Hàng Thương Mại

    1.1.1 Giới thiệu về NHTM và hoạt động kinh doanh của NHTM:

    1.1.1.1 Khái niệm về NHTM

    Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động  kinh tế lâu đời của loài người. Cùng với sự phát triển của xã hội và nền kinh tế, hệ thống ngân hàng và hoạt động của nó không ngừng được phát triển, cải thiện như ngày nay. Ngân hàng thương mại (NHTM) trở thành một tổ chức tài chính trung gian chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Khi xã hội càng đi lên, hoạt động ngân hàng càng đa dạng hơn về loại hình, các chức năng và nội dung hoạt động của nó ngày càng hoàn thiện thêm. Và do vậy những nhận thức, quan điểm khác nhau về ngân hàng cũng có những bước biến đổi theo thời gian. Ngân hàng ngày nay đã cơ bản khác với ngân hàng trước đây. Đó là kết quả của tình hình kinh tế và tiền tệ của mỗi thời kỳ. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về ngân hàng thương mại.

    Ở Hoa Kỳ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.

    Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.

    Ở Việt Nam: NHTM là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Trong đó TCTD là doanh nghiệp được thành lập để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gởi và sử dụng tiền gởi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.

    1.1.1.2 Chức năng của NHTM:

    • Chức năng trung gian tài chính:

    Đây là chức năng đầu tiên, cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. NHTM một mặt huy động và tập trung nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế, mặt khác trên cơ sở số vốn đã huy động được sẽ sử dụng để cho vay. Như vậy NHTM vừa là người cho vay vừa là người đi vay. Ngoài ra ngân hàng còn đóng vai trò làm môi giới cho người đầu tư.

    Thông qua chức năng trung gian tài chính, NHTM đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, thiết lập các dịch vụ tiện ích cho xã hội. Đối với bản than người gởi tiền họ kiếm được lợi nhuận từ số vốn tạm thời nhàn rỗi của mình bởi lãi suất tiền gởi mà ngân hàng sẽ trả cho họ, cơ hội đầu tư cho nguồn vốn cũng  nhiều hơn. Đối với người đi vay sẽ thoả mãn nhu cầu về vốn và khả năng lựa chọn nguồn vốn nhiều hơn. Đối với NHTM sẽ kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi tiền gởi hay là hoa hồng môi giới. Lợi nhuận nyà chính là cơ sở tồn tại và phát triển của NHTM.

    • Chức năng trung gian thanh toán.

    Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều công cụ thanh toán mang tính tiện ích cao như séc, thẻ tín dụng, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi…Ngân hàng sẽ thừa lệnh khách hàng để thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân quỹ cho khách hàng, từ đó đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Với chức năng này cũng cho phép NHTM tạo ra bút tệ để mở rộng quy mô tín dụng đối với nền kinh tế, tạo điều kiện cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt phát triển và tiết giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông. Ngày nay có thể nói rằng hoạt động thanh toán chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của NHTM. Khi chức năng trung gian thanh toán càng được hoàn thiện thì vai trò của NHTM cũng sẽ được nâng cao hơn với tư cách “thủ quỹ của khách hàng”.

    • Chức năng tạo tiền.

    Ngoài việc thực hiện chức năng trung gian tài chính từ việc thu hút tiền gởi và cho vay trên số tiền gởi đó, NHTM còn tạo ra tiền gọi là bút tệ. Số tiền cho vay sẽ không trên cơ sở số tiền gởi mà khoản tín dụng đó do ngân hàng tạo ra tiền để cho vay. Đến hạn người vay trả nợ, tiền vay rút khỏi lưu thông quay về ngân hàng và bị huỷ bỏ. Như vậy bút tệ chỉ tạo ra khi ngân hàng cho vay thông qua tài khoản tại ngân hàng. Do đó nó không có hình thái vật chất và chỉ là những con số trên tài khoản. Việc tạo ra bút tệ là một bước quan trọng trong công nghệ ngân hàng, là công cụ thanh toán linh động và hữu ích. Tuy nhiên việc tạo ra bút tệ phải phù hợp với nhu cầu tiền tệ cho sự phát triển của nền kinh tế để tránh bị suy thoái và cần có những quy định cụ thể.

    • Chức năng trung gian trong việc thực hiện chính sách kinh tế quốc gia.

    Để ổn định tiền tệ, tạo điều kiện ổn định giá cả, các ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ điều tiết nhạy bén linh hoạt đối với NHTM để đưa thêm tiền vào lưu thông hay rút bớt tiền vào lưu thông quay về ngân hàng. Qua đó tạo ra sự phù hợp giữa khối lượng tiền tệ với yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ nhất định.

    Nền kinh tế phát triển, vai trò của tín dụng NHTM càng tăng lên trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế xã hội. Phạm vi tín dụng mở rộng, hình thức cho vay vốn tín dụng đa dạng không chỉ đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp mà còn phục vụ các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm thực hiện các chương trình, mục tiêu chính sách xã hội của Nhà nước. Ngoài ra, NHTM còn góp phần thúc đẩy việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, thu vốn nước ngoài….làm gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế.

    1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM:

    1.1.2.1 Huy động vốn

    Là nghiệp vụ cơ bản tạo tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này NHTM được sử dụng những biện pháp và công cụ cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Có thể nói đây là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Thành phần nguồn vốn của NHTM bao gồm:

    • Vốn điều lệ và các quỹ: là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong suốt quá trình hoạt động. Vốn điều lệ là số vốn ban đầu khi thành lập ngân hàng được ghi vào điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ ít nhất phải bằng vốn pháp định do chính phủ quy định.

    Các quỹ ngân hàng: đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng.

    • Vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là dưới hình thức nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, các TCTD, cá nhân dân cư…bao gồm:

    Tiền gởi không kỳ hạn :đây là khoản tiền mà người gởi có thể rút ra sử dụng bất cứ khi nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng, bao gồm tiền gởi thanh toán và tiền gởi không kỳ hạn.

    Tiền gởi có kỳ hạn: là khoản tiền có sự thoả thuận thời gian rút tiền giữa ngân hàng và khách hàng.

    Tiền gởi tiết kiệm: là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân, được gởi vào ngân hàng nhằm được hưởng lãi suất theo định kỳ. Có 2 loại tiền gởi tiết kiệm là tiền gởi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gởi tiết kiệm không  kỳ hạn.

    • Vốn đi vay

    Bên cạnh các hình thức huy động dưới dạng nhận tiền gởi, các ngân hàng còn huy động dưới hình thức phát trái phiếu của ngân hàng. Đây là dạng đi vay dài hạn của công chúng.

    Trong quá trình hoạt động của mình nhiều khi phát sinh các nghiệp vụ cùng một lúclàm cho nguồn vốn của ngân hàng không đảm bảo đáp ứng các nhu cầu hoạt động của mình, vì thế ngân hàng phải tiến hành vay vốn của NHTW thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu, vay của các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng , vay của các ngân hàng nước ngoài hoặc tiếp nhận vốn từ các TCTD ngân hàng, từ ngân sách nhà nước…

    • Vốn tiếp nhận: đây là các nguồn vốn tiếp nhận từ các TCTD, từ ngân sách nhà nước để tài trợ theo các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh. Nghiệp vụ này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng, mục tiêu đã được xác định trước.
    • Vốn khác: là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng.

    1.1.2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn:

    Đây là nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng bao gồm:

    • Dự trữ: mặc dù hoạt động của ngân hàng là nhằm mục đích kiếm lời, song cũng cần đảm bảo an toàn để giữ vững lòng tin cho khách hàng do vậy ngân hàng cần để dành một phần nguồn vốn gọi là dự trữ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán khi khách hàng có nhu cầu rút tiền.
    • Cấp tín dụng: số nguồn vốn còn lại sau khi để danh một phần dự trữ, các NHTM có thể dùng để cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế.
      • Cho vay: là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Khi huy động tiền gởi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gởi còn lại. Hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn của tích sản NHTM do vậy tiền lãi thu được từ hoạt động này là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng, đồng thời cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Việc cho vay được phân chia trong phạm vi các khoản mục cho vay bao gồm:
        • Cho vay trực tiếp: là một loại hình tín dụng nghiệp vụ của NHTM trong đó ngân hàng sẽ cấp vốn cho người đi vay để sản xuất kinh doanh, đầu tư hay tiêu dùng đồng thời kiểm soát toàn bộ quá trình sử dụng vốn. Đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi cho ngân hàng.
        • Chiết khấu: đây là nghiệp vụ cho vay gián tiếp mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
      • Cho thuê tài chính: ngân hàng phải thành lập công tythuê mua tài chính độc lập có tư cách pháp nhân. Công ty thuê tài chính sẽ dùng nguồn vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và cho thuê trong một thời gian nhất định kèm theo lời hứa là sẽ bán lại về sau.
      • Bảo lãnh ngân hàng: trong nghiệp vụ này khách hàng được ngân hàng cấp bảo lãnh, nhờ đó khách hàng được vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã được ký kết.
      • Đầu tư: đây là khoản mục có vị trí quan trọng thứ hai sau cho vay mang lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Ngân hàng có thể đầu tư dưới các hình thức như: hùn vốn, mua cổ phần cổ phiếu của công ty, trái phiếu của Chính phủ, chính quyền địa phương.
      • Tài sản Có khác: là những khoản mục còn lại của tài sản Có, trong đó chủ yếu là tài sản lưu động – cơ sở vật chất để tiến hành hoạt động của ngân hàng.

    1..1.2.3 Hoạt động kinh doanh dịch vụ

    Ngày nay với xu hướng kinh doanh đa năng, các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ cho các nghiệp vụ chủ yếu, vừa tạo ra các khoản tiền hoa hồng, lệ phí,…đem lại khoản thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Hoạt động này đang dần có một vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của NHTM. Các hoạt động này bao gồm:

    • Các dịch vụ thanh toán, thu hộ và chi hộ cho khách hàng.
    • Bảo quản tài sản quý giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng cho dân chúng.
    • Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng.
    • Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý..
    • Tư vấn tài chính, giúp các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu

    Chương II : Vận dụng các phương thức thanh toán trong NHTM trong thanh toán hàng nhập khẩu.

    I. Phương thức mở sổ

     

    1.Khái niệm

    Người bán mở một tài khoản hoặc một quyển sổ để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ có thể là tháng, quý hoặc năm người mua trả tiền cho người bán.

    Đặc điểm của phương thức này thể hiện đây là phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản, bên người bán chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên. Nếu người mua mở tài khoản để ghi, tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh toán giữa hai bên.  

    2.Quy trình thực hiện 

    Trình tự thực hiện nghiệp vụ

    Những điều cần chú ý khi áp dụng phương thức ghi sổ

    Thứ  nhất, phải quy định thống nhất đồng tiền ghi trên tài khoản.

    Thứ hai, căn cứ ghi nợ của người bán thường là hóa đơn giao hàng.

    Thứ ba, căn cứ nhận nợ của người mua hoặc là dựa vào trị giá hóa đơn giao hàng hoặc là dựa vào kết quả nhận hàng ở nơi nhận hàng.

    Thứ tư, phương thức chuyển tiền hoặc là bằng thư hoặc là bằng điện cần phải thỏa thuận thống nhất giữa hai bên.

    Thứ năm, giá hàng trong phương thức ghi sổ này thường cao hơn giá hàng bán tiền ngay, chênh lệch này là tiền lãi phát sinh ra của số tiền ghi sổ trong khoảng thời gian bằng định kỳ thanh toán theo mức lãi suất được người mua chấp nhận.

    Thứ sáu, định kỳ thanh toán có hai cách quy định hoặc là quy định X ngày kể từ ngày giao hàng đối với từng chuyến hàng, hoặc là quy định theo mốc thời gian của niên lịch. Ví dụ: 60 ngày kể từ ngày ký phát hóa đơn thương mại hoặc là từ ngày ghi trên vận đơn giao hàng, hoặc là cuối mỗi quý thanh toán một lần.

    Thứ bảy, việc chuyển tiền thanh toán chậm của người mua được giải quyết thế nào, có phạt chậm trả không, mức phạt bao nhiêu, tính từ lúc nào?

    Thứ tám, nếu phát sinh sự khác nhau giữa số tiền ghi nợ của người bán và số tiền nhận nợ của người mua thì giải quyết thế nào?

    Nhận xét

    Trong phương thức ghi sổ, thực chất là người bán cho người mua vay số tiền trả chậm, tuy nhiên ở đây người bán có tính lãi trên số tiền trả chậm này. Như vậy, hàng hoá sau khi đã giao cho người mua thì người bán mới chỉ nhận được một phần số tiền hàng, do vậy mặc dù có tính lãi trên số tiền trả chậm thì rủi ro đối với người bán là vẫn cao. Đối với người mua thì có thể giải quyết được vấn đề thiếu vốn tức thời, nhưng họ lại phải chịu giá cao hơn do phải trả lãi trên số tiền sẽ trả định kỳ.

    Trường hợp áp dụng

    Với đặc điểm của phương thức ghi sổ, nó sẽ phù hợp trong trường hợp nhà nhập khẩu khan hiếm ngoại tệ, khi đó họ chấp nhận trả giá cao hơn, đổi lại họ sẽ mua được hàng hoá. Nó cũng phù hợp trong các mối quan hệ mua bán hàng đổi hàng hoặc hàng bán giao làm nhiều lần. Phương thức này chỉ áp dụng giữa các bên có quan hệ mua bán thường xuyên và tin cậy lẫn nhau, giữa nội bộ các công ty với nhau, giữa công ty mẹ và công ty con. Nó cũng có thể được áp dụng trong các thanh toán phi mậu dịch.

    II.Phương thức chuyển tiền

    1.Khái niệm

    Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng – người trả tiền – yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác – người hưởng lợi, ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách yêu cầu.

    1. Các bên tham gia trong phương thức chuyển tiền

    Người trả tiền – người mua, người mắc nợ – hoặc người chuyển tiền – người đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí ra nước ngoài – là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài.

    Người hưởng lợi – người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư – hoặc là người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.

    Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.

    Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.

    1. Trình tự thực hiện nghiệp vụ

     

    Các nghiệp vụ ngân hàng chuyển tiền  

    Đối với ngân hàng có hai nghiệp vụ chuyển tiền đi và chuyển tiền đến.

    Khi chuyển tiền đi, nghiệp vụ ngân hàng diễn ra theo 4 bước: (1) tiếp nhận hồ sơ xin chuyển tiền; (2) Kiểm tra hồ sơ chuyển tiền đi; (3) Lập điện chuyển tiền và (4) Hạch toán – Lưu hồ sơ. (Hình 4.2.)

    Khi chuyển tiền đến, ngân hàng thực hiện thanh toán theo ba bước: (1) Tiếp nhận lệnh chuyển tiền; (2) Thanh toán cho người hưởng lợi và (3) Lưu hồ sơ. (Hình 4.3.) 

    1. Hình thức chuyển tiền

    Chuyển tiền có thể thực hiện dưới hai hình thức: chuyển bằng thư (Mail transfer – M/T) và chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer – T/T). Theo hình thức thứ nhất, ngân hàng thực hiện chuyển tiền bằng cách gửi thư cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi. Theo hình thức này, chi phí chuyển tiền thấp, nhưng tốc độ chậm, do vậy dễ bị ảnh hưởng nếu có biến động nhiều về tỷ giá.

    Chuyển tiền bằng điện tức là ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách ra lệnh bằng điện cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi. Theo cách này, chi phí chuyển tiền cao hơn nhưng nhanh chóng hơn, do vậy ít bị ảnh hưởng của biến động tỷ giá.

    Thông thường, phương thức chuyển tiền được thực hiện sau khi giao hàng, trên thực tế người ta có thể thực hiện chuyển tiền trước khi giao hàng trong trường hợp người mua ứng trước một phần tiền hàng cho người bán. Khoản tiền này thực chất là một khoản tín dụng do người mua cấp cho người bán, hay cũng có thể coi là một khoản tiền đặt cọc để tạo sự yên tâm cho bên bán giao hàng đồng thời ràng buộc người mua phải nhận hàng. Trong tình huống này, hai bên cần ghi rõ trong hợp đồng mua bán. Người ta cũng có thể vận dụng hình thứuc chuyển tiền trả chậm một khoảng thời gian sau khi giao hàng mà thực chất đây là một hình thức mua bán chịu. Ngược lại với tình huống trên, trong tình huống này chính là người bán cấp tín dụng cho người mua

    Nhận xét

    Phương thức chuyển tiền thủ tục đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, việc trả tiền nhanh hay chậm hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí người chuyển tiền hay người trả tiền, nếu trong quan hệ thương mại thì đó chính là người mua, người nhập khẩu. Do vậy phương thức này không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu, tức là người hưởng lợi, tốc độ thanh toán thường chậm.

    Trường hợp áp dụng

    Do phương thức chuyển tiền mức độ an toàn trong thanh toán thấp, nó chỉ nên sử dụng cho các mối quan hệ giữa các đối tác tin cậy lẫn nhau hoặc quy mô thanh toán nhỏ. Nó thường được áp dụng cho các trường hợp chuyển vốn đầu tư, chuyển tiền tư nhân, chuyển tiền chính phủ, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài hoặc cho các nghiệp vụ thanh toán phi mậu dịch khác. Tronhg quan hệ thanh toán mậu dịch, không nên sử dụng trong thanh toán hàng xuất khẩu mà chỉ nên sử dụng trng thanh toán hàng nhập khẩu.

    Thông thường, phương thức chuyển tiền được thực hiện sau khi giao hàng, trên thực tế người ta có thể thực hiện chuyển tiền trước khi giao hàng trong trường hợp người mua ứng trước một phần tiền hàng cho người bán. Khoản tiền này thực chất là một khoản tín dụng do người mua cấp cho người bán, hay cũng có thể coi là một khoản tiền đặt cọc để tạo sự yên tâm cho bên bán giao hàng đồng thời ràng buộc người mua phải nhận hàng. Trong tình huống này, hai bên cần ghi rõ trong hợp đồng mua bán. Người ta cũng có thể vận dụng hình thứuc chuyển tiền trả chậm một khoảng thời gian sau khi giao hàng mà thực chất đây là một hình thức mua bán chịu. Ngược lại với tình huống trên, trong tình huống này chính là người bán cấp tín dụng cho người mua, nó có lợi cho người mua.

    III.Phương thức nhờ thu

    1. Khái niệm

    Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra.

            2.Các bên tham gia phương thức nhờ thu

    Người bán tức là người hưởng lợi (Principal)

    Ngân hàng bên bán là ngân hàng nhận sự ủy thác của người bán (Remitting Bank)

    Ngân hàng đại lý của ngân hàng bên bán là ngân hàng ở nước người mua (Collecting Bank and/or Presenting Bank)

    Người mua tức là người trả tiền (Drawee) 

    3.Các loại nhờ thu

    Thanh toán bằng phương thức nhờ thu sẽ giảm thiểu một phần rủi ro cho nhà xuất khẩu vì chứng từ chỉ được giao cho người nhập khẩu khi người nhập khẩu thanh toán tiền hàng hoặc đã ký chấp nhận hối phiếu (đối với nhờ thu chứng từ). Tuy nhiên thanh toán theo phương thức này người bán/xuất khẩu vẫn phải chịu rủi ro trong trường hợp người mua/nhập khẩu không chấp nhận chứng từ hoặc từ chối thanh toán hối phiếu khi đáo hạn

    • Căn cứ theo thời hạn, có 2 loại Nhờ thu:

    – Nhờ thu trả ngay (D/P): Phương thức này qui định người mua/người nhập khẩu phải thanh toán tiền ngay khi nhận bộ chứng từ.

    – Nhờ thu trả chậm (D/A): Phương thức này cho phép người mua không phải thanh toán ngay nhưng phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu có kỳ hạn, được ký phát bởi người bán/người xuất khẩu. Thông thường hối phiếu đã chấp nhận sẽ được giữ tại nơi an toàn của ngân hàng nhờ thu (ngân hàng người nhập khẩu) cho đến ngày đáo hạn. Tới ngày này, người mua phải thực hiện thanh toán như đã chấp nhận.

    • Căn cứ theo chứng từ, có 2 loại Nhờ thu:

    Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection) là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng .

    Trình tự tiến hành nghiệp vụ của nhờ thu phiếu trơn phải trải qua các bước sau đây (Hình 4.5.):

     

    (1) Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mua, lập một hối phiếu đòi tiền người mua và ủy thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu

    (2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi chỉ thị nhờ thu kèm hối phiếu cho ngân hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu itền, còn gọi là Ngân hàng phục vụ bên mua

    (3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu nếu trả tiền ngay hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu nếu mua chịu

    (4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán 

      Nhận xét và trường hợp áp dụng

    Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng nhiều trong thanh toán về mậu dịch, vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán do việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, người mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc chậm trả tiền. Đối với người mua áp dụng phương thức này cũng có điều bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không.

    Nhờ thu kèm chứng từ (Documnetary Collection)

    Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng.

    Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ cũng giống như nhờ thu phiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ tiền. Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo, ở khâu (3) là ngân hàng đại lý chỉ trao cho người mua nếu như người mua trả itền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu. Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người mua, nhờ đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. (Hình 4.6)  

    Nhận xét và trường hợp áp dụng

    Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người mua, nhờ đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. Tuy vậy, nhờ thu kèm chứng từ có một số mặt yếu. Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định đoạt hàng hóa của người mua chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể không trả tiền cũng được khi tình hình thị trường bất lợi với họ. Việc trả tiền thường quá chậm chạp từ lúc giao hàng đến lúc nhận được tiền có thể kéo dài vài tháng hoặc nửa năm. Trong phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền hộ còn không có trách nhiệm về việc trả tiền của người mua.

    Qui trình nghiệp vụ ngân hàng trong phương thức nhờ thu 

    Trên thực tế thanh toán quốc tế, trong hai phương thức nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ thì các nhà xuất nhập khẩu sử dụng phương thức nhờ thu kèm chứng từ nhiều hơn. Trong phương thức này ngân hàng đóng vai trò là người chuyển chứng từ thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người nhập khẩu thu hộ tiền cho nhà xuất khẩu. Qui trình nghiệp vụ của ngân hàng trong trường hợp này thể hiện trong hình 4.7 dưới đây.

    Cụ thể nhờ thu chứng từ nhập khẩu như sau :
    Khi nhận bộ chứng từ nhờ thu từ Ngân hàng nước ngoài gởi đến hoặc do người Bán gởi trực tiếp, Ngân hàng sẽ thông báo cho Nhà NK ngay trong ngày.

     

    Đối với nhờ thu trả ngay (D/P):

    Trên cơ sở Nhà NK đã ký quỹ đủ trị giá của bộ chứng từ hoặc có bảo lãnh của và Phòng Tín Dụng Doanh Nghiệp, Nhà NK nhận bộ chứng từ ngay khi Nhà NK có công văn chấp nhận thanh toán.

    Đối với nhờ thu trả chậm (D/A):

    Nhà NK nhận chứng từ ngay sau khi ký chấp nhận thanh toán hối phiếu vào ngày đáo hạn. Đến hạn thanh toán Ngân hàng sẽ thông báo cho Nhà NK trước khi thực hiện thanh toán và Ngân hàng sẽ thực hiện thanh toán khi đến hạn.

    Lưu ý :

    Khi giao dịch nghiệp vụ nhờ thu tại Ngân hàng, Nhà NK cần có các chứng từ cần thiết sau:
    1. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký mã số thuế (Nếu Quý khách đến giao dịch lần đầu)

    1. Bản sao hợp đồng ngọai thương có xác nhận sao y bản chính của thủ trưởng Doanh nghiệp (Đối với chứng từ nhờ thu trả chậm D/A)

    Ký hậu vận đơn trước khi chứng từ nhờ thu gởi đến Ngân hàng:

    Trường hợp hàng về Việt Nam trước khi chứng từ nhờ thu được gởi đến Ngân hàng, nếu Nhà NK muốn nhận hàng ngay (Khi Nhà NK đã ký quỹ đủ trị giá của hóa đơn hoặc có bảo lãnh của và Phòng Tín Dụng Doanh Nghiệp – Đối với chứng từ nhờ thu trả ngay D/P) Ngân hàng sẽ ký hậu vận tải đơn do người bán gởi trực tiếp đến Quý khách trên cơ sở công văn đề nghị ký hậu vận tải đơn và chấp nhận thanh toán bộ chứng từ nhờ thu.

    Khi bộ chứng từ nhờ thu về đến Ngân hàng, Ngân hàng sẽ thông báo ngày thanh toán cho Nhà NK và sẽ thực hiện thanh toán theo điều kiện của bộ chứng từ nhờ thu.

    Thủ tục, hồ sơ :

    Nhờ thu hàng nhập khẩu:

    – Hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp (đối với khách hàng lần đầu giao dịch): Quyết định thành lập doanh nghiệp (đối với DN thành lập trước năm 1999), Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành lập tổ chức do cơ quản chủ quản cấp (đối với những DN thành lập trước năm 1999), Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh, Quyết định bổ nhiệm Giám đốc kinh doanh của Hội đồng sáng lập viên Công ty hoặc quyết định bổ nhiệm người đứng đầu tổ chức do cơ quan cấp trên trực tiếp ban hành, Điều lệ công ty (nếu có)

    – Hợp đồng ngoại thương và các phụ lục (nếu có)

    – Giấy phép nhập khẩu hoặc hạn ngạch (nếu cần)

    – Hợp đồng ngoại hối (theo mẫu của ngân hàng/ trong trường hợp khách hàng có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán);

     

    IV.Phương thức CAD (Cash against Documents) – Phương thức giao chứng từ nhận tiền.

    1.Khái niệm.

    CAD là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu Ngân hàng mở tài khoản ký thác ( Trust Account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu xuất trình đầy đủ những chứng từ yêu cầu. Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho Ngân hàng để nhận tiền thanh toán.

    Phương thức thanh toán này rất có lợi cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho họ có thể thanh toán được nhanh và chắc chắn.

     

    2.Quy trình.

     

     

    (1) Sau khi ký hợp đồng ngoại thương với nhà xuất khẩu ( trong đó phương thức thanh toán được quy định là CAD), người nhập khẩu cần đến Ngân hàng phục vụ mình yêu cầu thực hiện dịch vụ CAD.

    Để làm được điều đó, người nhập khẩu và Ngân hàng sẽ thỏa thuận và ký một bản ghi nhớ gồm những nội dung sau:

    • Phương thức thanh toán: CAD
    • Số tiền ký quỹ trị giá 100% thương vụ.
    • Những chứng từ yêu cầu.

    Thông thường phí dịch vụ này do nhà xuất khẩu chịu( 0.25% trị giá thương vụ)

    (2) Sau khi nhà nhập khẩu chuyển đầy đủ số tiền ký quỹ, một tài khoản ký thác sẽ được mở để ghi số tiền ký quỹ, đồng thời Ngân hàng cũng thông báo cho người xuất khẩu về tài khoản ký thác đã hoạt động.

    (3) Nhà xuất khẩu giao hàng cho vận tải để chuyển đến nơi nhà nhập khẩu yêu cầu.

    (4) Người xuất khẩu sau khi tiến hành giao hàng thì xuất trình những chứng từ mà Bản ghi nhớ yêu cầu tại Ngân hàng.

    (5) Ngân hàng tiến hành kiểm tra chứng từ theo yêu cầu của Bản ghi nhớ, nếu thấy phù hợp thì tiến hành ghi có cho người xuất khẩu và ghi nợ vào tài khoản ký quỹ của người nhập khẩu, sau khi đã thu phí dịch vụ Ngân hàng theo chỉ thị trong Bản ghi nhớ.

    (6) Ngân hàng giao chứng từ cho nhà nhập khẩu.

     

    3.Trường hợp áp dụng:

    Quan hệ bạn hàng tốt và thân tín giữa hai bên xuất và nhập khẩu. Đặc biệt người nhập khẩu phải rất tin tưởng người xuất khẩu.

    Khi bán những mặt hàng khan hiếm trên thị trường và người xuất khẩu muốn có đảm bảo chắc chắn trong thanh toán .

    Nhà nhập khẩu phải có đại diện bên nước nhà xuất khẩu vì trong bộ chứng từ mà nhà nhập khẩu yêu cầu nhà xuất khẩu xuất trình có giấy chứng nhận của đại diện người mua về việc giao hàng hóa

     Ưu điểm 

    –           Thủ tục thanh toán đơn giản.

    –           Người Bán thanh toàn bằng phương thức này rất có lợi :giao hàng xong là được tiền ngay, Bộ chứng từ xuất trình giản.

    Nhược điểm

    –           Người Mua phải có đại diện hay chi nhánh ở nước Người Bán vì phải xác nhận hàng hoá trước khi gửi.

    –           Việc kí quỹ để thực hiện CAD, sẽ dẫn đến ứ đọng vốn tại Ngân hàng, Nếu người Bán ko giao hàng thì tiền kí quỹ sẽ ko được hưởng lãi xuất

    V. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ :

    1. Quy trình thanh toán

    Trong nghiệp vụ này Ngân hàng thực hiện chức năng là Ngân hàng mở L/C, đứng ra cam kết trả tiền cho nhà nhập khẩu nước ngoài. Đây là nghiệp vụ có nhiều khả năng rủi ro nhất cả về thiệt hại tài chính và thường tổn đến uy tín của Ngân hàng. Quy trình nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu được chia làm hai mảng:

    • Mở, điều chỉnh L/C và ký quỹ
    • Tiếp nhận, kiểm tra chứng từ, giao chứng từ và trả tiền.

    Quy trình này được khái quát hoá theo sơ đồ dưới đây:

    (3)                          (4)

    (5)

    * Mở, điều chỉnh L/C và ký quỹ.

    (1). Doanh nghiệp nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng Thương mại đã ký kết với nhà xuất khẩu nước ngoài, lập thư xin mở L/C và xuât trình cho VietcomBank với đầy đủ các tài liệu:

    • Giấy xin mở L/C
    • Bản sao hợp đồng Thương mại hoặc điện, Telex giao dịch mua bán.
    • Uỷ nhiệm chi thanh toán và thủ tục phí.
    • Hợp đồng vay ngoại tế.

    Các thủ tục bảo lãnh theo quy định hiện hành nếu mở L/C mua chịu.

    (2). Mở L/C. Khi nhận được yêu cầu mở hoặc điều chỉnh L/C của hkách hàng thanh toán viên kiểm tra được nội dung theo mẫu quy định Ngân hàng: Kiểm tra nguồn vố (vốn vay, vốn tự có) và khả năng thanh toán của khách hàng đối với L/C yêu cầu mở để yêu cầu ký quỹ hoặc xem xét điền kiện miễn giảm ký quỹ theo quy định của Giám đốc chi nhánh. Sau khi kiểm tra nếu hợp lệ thanh toán viên lập hồ sơ L/C, đưa số liệu vào máy vi tính theo quy định. Việc mở L/C được thực hiện bằng một trong những phương thức sau:

    – Bằng điện:

    + Bằng Swift

    + Bằng telex: Có mã khoá.

    – Bằng thư: Theo mẫu quy định của VietcomBank và phải có đầy đủ chữ ký được uỷ quyền.

    Sau đó hạch toán tiền ký quỹ và thu thủ tục phí theo biểu phí dịch vụ hiện hành của Ngân hàng.

    Mức ký quỹ của khách hàng từ 0% đến 100% giá trị thanh toán, các mức ký quỹ phổ biến ở Ngân hàng được quy định như sau:

    + Các khách hàng không phải ký quỹ mở L/C là các khách hàng có thị trường tiền gửi lớn tại Ngân hàng, hoạt động kinh doanh ổn định, cso tín nhiệm vao trong thanh toán.

    + Các khách hàng ký quỹ từ 10%-30% trị giá L/C là trường hợp phổ biến nhất.

    + Các khách hàng ký quỹ 100% trị giá L/C là những khách hàng mới lần đầu đến giao dịch hoặc tình hình tài chính gần đây không tốt.

    Nếu khách hàng yêu cầu điều chỉnh L/C mà phí điều chỉnh do người hưởng lợi chịu trong điện thư của Ngân hàng thông báo phải nêu rõ: Phí điều chỉnh sẽ được trừ vào tiền hàng khi thanh toán L/C hoặc lập thư đòi phí sau. Thanh toán viên phải có hồ sơ theo dõi các khoản phí đã đòi Ngân hàng nước ngoài, trong vòng 30 ngày không nhận được tiền phí thì phải nhắc Ngân hàng thông báo.

    Đối với các yêu cầu huỷ L/C trong thời hạn hiệu lực L/C: Nếu Ngân hàng thông báo yêu cầu huỷ L/C thì thanh toán viên phải thông báo ngay cho người mua và đề nghị họ trả lời bằng văn bản, khi nhận được trả lời của khách hàng bằng văn bản thì báo ngay cho Ngân hàng thông báo biết. Nếu người mua yêu cầu huỷ L/C, căn cứ  vào thư yêu cầu của khách hàng, Ngân hàng điện báo cho Ngân hàng thông báo biết, trong nội dung điện thông báo phải ghi rõ: trong vòng 07 ngày làm việc nếu không nhận được trả lời thì L/C tự động huỷ.

    Trường hợp khách hàng yêu cầu mở L/C xác nhận trước khi mở L/C ngoài việc kiểm tra nguồn vốn L/C, thanh toán viên phải kiểm tra điều khoản quy định phí xác nhận. Trong L/C xác nhận phải chi ra tên và địa chỉ đầy đủ của Ngân hàng xác nhận, nếu Ngân hàng xác nhận không phải là Ngân hàng thông báo thì phải liên hệ trước với một Ngân hàng đại lý có quan hệ tốt với Ngân hàng đề nghị họ xác nhận Ngân hàng sẽ không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ sự chậm trễ nào gây ra do chậm xác nhận của Ngân hàng nước ngoài. Nếu Ngân hàng nước ngoài yêu cầu ký quỹ thì phải yêu cầu họ phải trả lãi trên số tiền ký qũy đó. Thanh toán viên phải theo dõi chặt chẽ và hạch toàn tiền kỹ quỹ không được thấp hơn số tiền Ngân hàng phải ký quỹ tại Ngân hàng nước ngoài.

    * Tiếp nhận, kiểm ta chứng từ, giao chứng từ, trả tiền.

    (3). Kiểm tra chứng từ trước khi giao hàng khách hàng.

    Khi nhận được chứng từ trước khi giao cho khách hàng. Việc kiểm tra này đảm bảo rằng Ngân hàng mở phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện, điều khoản của L/C đồng thời làm tốt vai trò cố vấn cho khách hàng của mình. Cũng giống Ngân hàng thông báo Ngân hàng mở chỉ kiểm tra tính chính xác trên bề mặt chứng từ mà không cần biết đến tính chất thật giả của chứng từ. Đó chỉ là kiểm tra xem chứng từ xuất trình cóđúng thời hạn hiệu lực của L/C hay không, việc giao hàng có đúng thời hạn hay không, các chứng từ có đầy đủ về mặt số lượng, số loại, có khớp đúng với các quy định của L/C hay không…

    (4) Giao chứng từ cho khách hàng.

    Đây là bước thực hiện sau khi Ngân hàng đã kiểm tra chứng từ với sự cẩn thận thích đáng.

    (5). Trả tiền cho nước ngoài

    Có hai trường hợp xảy ra:

    + Trường hợp cho phép đòi tiền bằng điệu:

    Khi nhận được điện đòi tiền của Ngân hàng xác nhận chứng từ phù hợp, thanh toán viên thực hiện việc trả tiền theo chỉ dẫn trên lệnh chuyển tiền đồng thời thông báo cho Ngân hàng đòi tiền biết nếu họ yêu cầu mẫu điện , trừ phí trên số tiền phải trả và hạch toán theo chế độ Kế toán hiện hành:

    Mặc dù đã trả tiền theo điện đòi tiền nhưng khi nhận được chứng từ thanh toán viên phải kiểm tra nếu phát hiện thấy chứng từ không phù hợp với điền kiện L/C phải thông báo ngay cho khách hàng biết đồng thời thông báo ngay cho Ngân hàng nước ngoài, trong thông báo phải chỉ ra những điểm không phù hợp và ghi rõ: Chúng tôi đang giữ chứng từ và chờ sự định đoạt của các ông.

    Khi nhận được điện của Ngân hàng nước ngoài thông báo chứng từ không phù hợp, thanh toán viên phải thông báo ngày cho khách hàng những điểm không phù hợp và yêu cầu người mua trả lời bằng văn bản trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Ngân hàng. Nếu chấp nhận thanh toán thì thực hiện việc thanh toán theo quy định, nếu không chấp nhận thanh toán hoặc chỉ chấp nhận thanh toán một phần thì phải thông báo ngay cho Ngân hàng đòi tiền biết.

    Trường hợp L/C cho phép đòi tiền bằng chứng từ.

    Khi nhận được chứng từ nước ngoài xác nhận chứng từ phù hợp, thanh toán viên kiểm tra chữ ký được uỷ tiền, kiểm tra nội dung chứng từ. Nếu phù hợp thì trả tiền và giao chứng từ cho khách hàng. Nếu chứng từ không phù hợp với các điền kiện, điều khoản của L/C thanh toán viên phải báo ngay cho người mua những điểm không phù hợp, yêu cầu họ trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo Ngân hàng phải có ý kiến bằng văn bản về bộ chứng từ đó đồng thời phải điện báo cho Ngân hàng chuyển chứng từ  những điểm không phù hợp, trên điện báo phải nêu rõ: Chúng tôi đang giữ chứng từ và chờ sự định đoạt của các ông.

    Đối với các L/C thanh toán có kỳ hạn (L/C trả chậm) sau khi kiểm tra chứng từ nếu phù hợp phải lập biện, thư chấp nhận hối phiếu hoặc ký hậu hối phiếu gửi Ngân hàng chuyển chứng từ 30 ngày trước ngày đến hạn của hối phiếu, phải nhắc khách hàng thanh toán đúng hạn. Nếu đến hạn người mua không có khả năng  thanh toán phải kịp thời báo cáo lãnh đạo phòng để có hướng xử lý.

    Trường hợp chứng từ đến sau hàng hoá, nếu người mua yêu cầu Ngân hàng phát hành bảo lãnh nhận hàng để nhập hàng theo L/C, người mua phải cam kết bằng văn bản trả tiền kể cả khi chứng từ không phù hợp  và thủ tục phí phải theo thủ tục phí hiện hành của Ngân hàng .

    Nếu khách hàng yêu cầu chỉ định Ngân hàng hoàn trả ngay từ khi mở L/C , Ngân hàng sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể để quyết định có chấp nhận chỉ định Ngân hàng hoàn trả hay không. Trường hợp Ngân hàng hạn chế L/C thanh toán tại một Ngân hàng thương lượng, số tiền tối đa của một L/C là 5 triệu USD hoặc tương đương, Ngân hàng được chỉ định hoàn trả phải là Ngân hàng giữ tài khoản và Ngân hàng đại lý chính của Ngân hàng. Sau khi mở L/C hoàn trả, thanh toán viên tiến hành lập uỷ quyền gửi Ngân hàng hoàn trả bằng SWIFT, bằng telex hoặc bằng thư. Trong trường hợp cần sử đổi hoặc huỷ việc uỷ quyền thanh toán viên phải thông báo ngay cho Ngân hàng được uỷ quyền biết.

    2. Đánh giá hiệu quả

    Để đánh giá hiệu quả của quy trình thanh toán L/C nhập cũng tương tự như quy trình thanh toán L/C xuất phải xem xét dựa trên một số điểm sau:

    – Tính chặt chẽ của quy trình

    + Trong mọi trường hợp khi nhận được thư yêu cầu mở và điều chỉnh L/C của khách hàng, sau khi kiểm tra nội dung theo mẫu quy định của ngân hàng sẽ kiểm tra nguồn vốn và khả năng thanh toán của khách hàng đối với L/C để yêu cầu ký quỹ hoặc xem xét điều kiện miễn giảm ký quỹ theo yêu cầu của giám đốc chi nhánh.

    + Mặc dù bộ chứng từ gửi hàng đã được ngân hàng gửi chứng từ kiểm tra tính phù hợp so với L/C trước khi chuyển tới song tại các kiểm soát viên vẫn phải kiểm tra lại trước khi thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, nếu kiểm tra thấy sai sót sẽ thông báo kịp thời cho các bên liên quan và hoãn việc thanh toán.

    – Sơ hở còn tồn tại trong quy trình thanh toán

    Trường hợp nhà nhập khẩu không chịu nhận chứng từ gửi hàng để lãnh hàng mặc dù bộ chứng từ trên hoàn toàn phù hợp với L/C sẽ gặp phải một số khó khăn nhất định.

    – Sự phù hợp của quy trình thanh toán đối với hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tham gia

    + Thuận tiện

    Mức ký quỹ của khách hàng từ  0% – 100% giá trị thanh toán các mức ký quỹ phổ biến ở được quy định như sau:

    • Các khách hàng không phải ký quỹ mở L/C là những khách hàng tài khoản tiền gửi lớn tại Ngân hàng, Hoạt động kinh doanh ổn định, coa tín nhiệm cao trong thanh toán
    • Các khách hàng ký quỹ 10% – 30% giá trị L/C là trường hợp phổ biến nhất
    • Các khách hàng ký quỹ 100% giá trị L/C là những khách hàng lần đầu đến giao dịch tại Ngân hàng hay tình hình tài chính gần đây không tốt.

    + Bất tiện

    Bộ chứng từ trước khi tới tay nhà nhập khẩu phải được giao cho ngân hàng gửi chứng từ, ngân hàng mở L/C. Tuy nhiên trên thực tế hàng hóa thường tới trước bộ chứng từ gửi hàng và do vậy với quy định trên sẽ dẫn đến khó khăn, thiệt hại cho nhà nhập khẩu do có thể phải chịu chi phí lưu kho nhưng hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. Đây là môi quan hệ mà Ngân hàng cần quan tâm xem xét để hoàn thiện quy trình thanh toán hàng nhập và nâng cao hiệu quả của công tác trên.

    Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    1. Kiến nghị đối với doanh nghiệp nhập khẩu

    * Thận trọng trong việc lựa chọn đối tác

    Thu thập thông tin về đối tác qua các nguồn khác nhau như ngân hàng, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, báo chí, qua phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.

    * Nâng cao nghiệp vụ ngoại thương và nghiệp vụ thanh toán quốc tế để có thể đảm bảo hiệu quả khi ký kết các hợp đồng ngoại thương.

    * Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tế

    + Đối với nhà nhập khẩu để giảm bớt rủi ro khi mở L/C cần bám sát hợp đồng, ghi rõ ràng cụ thể trách nhiệm giao hàng cung cấp hàng của người bán, đặc biệt điều khoản về hàng hoá, chủng loại, phảm chất, đơn giá phải ngắn gọn, rõ ràng tránh để người bán cố tình hiểu sai.

    1. Kiến nghị với NHTM

    * Ngân hàng có thể giới thiệu cho khách hàng một bộ mẫu chuẩn, đẹp để họ căn cứ vào vào đó lập theo tránh chứng từ sai sót, trình bày lộn xộn, tránh gây phiền hà cho ngân hàng (chỉ càn giới thiệu một làn, sau đó họ có thể tự lập).

    * Khi Ngân hàng  mở L/C thường trước khi bên bán rút tiền theo chứng từ ngân hàng nên liên hệ với người mua để năm vững thông tin bên bán đã giao hàng như thế nà, bên mua có chấp nhận trả tiền không để đè phòng rủi ro. Muốn làm được như vậy Ngân hàng trong vòng 7 ngày phải chỉ ra lỗi chứng từ và thông báo ngay. Đó chính là thời gian Ngân hàng nhận chỉ thị từ người mua.

    * Vận đơn được coi là chứng từ quan trọng của bộ chứng từ. Do đó cần chú trọng với việc kiểm tra và từ chối trong các trường hợp sau: Bảo lãnh xuất trình muộn, không sạch nội dung không đúng quy định, người ký không chỉ rõ năng lực, do công ty vận tải không có tư cách phát hành…

    Trên đây là những giải pháp chung và những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thanh toán xuất nhập khẩu bằng thư tín dụng tại Ngân hàng.

    Kết luận :

    Việc hoàn thiện để phát triển hoạt động TTQT có một ý nghĩa hết sức thiết thực, hoạt động TTQT là một dịch vụ thuần tuý làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác của ngân hàng.

    Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng, trên cơ sở đó ngân hàng tăng được quy mô hoạt động của mình, giúp cho ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó tạo được niền tin cho khách hàng và nâng cao uy tín của mình. Từ đó mà có thể khai thác được nguồn vốn tài trợ của ngân hàng nước ngoài về nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.

    Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng phát triển được nghiệp vụ bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ và các dịch vụ khác. Nếu hoạt động TTQT được đẩy mạnh thì sẽ đẩy mạnh được hoạt động tín dụng tài trợ XNK cũng như tăng cường được nguồn vốn huy động do tạm thời quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ TTQT qua ngân hàng.

    Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng tăng thu nhập và tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường, đồng thời nó giúp cho hoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với hệ thống ngân hàng thế giới.

    Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của các NHTM giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không có đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu bộ chứng từ. Qua việc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lược khách hàng. Làm cho việc nhập khẩu của các doanh nghiệp thanh toán thong qua trung gian ngân hàng sẽ trở nên đơn giản và thuận tiện hơn bao giờ hết .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-%C4%91i%E1%BB%81u-ch%E1%BB%89nh-c%C3%A1n-c%C3%A2n-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-Vi%E1%BB%87t-Nam..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    +

    Chương 3: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam.

    3.1 Phương hướng điều chỉnh cán cân thanh toán

    Các chuyên gia kinh tế cho rằng thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam chưa tới mức nghiêm trọng mà vẫn có thể kiểm soát được. Vì các lý do khác nhau mà cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam vẫn chưa bị coi là tình trạng báo động. Lý do thứ nhất, là do các món nợ ngắn hạn của Việt Nam vẫn có thể được trả đúng hạn. Mức độ dự trữ hiện nay là cao hơn so với các năm trước và vì có ít yêu cầu trả các khoản nợ nhỏ ngắn hạn, nên không có thúc bách lớn cần phải dự trữ quốc tế trong ngắn hạn và trung hạn. Các dự trữ đủ lớn với kim ngạch nhập khẩu và sự mất cân đối thương mại của Việt Nam đã có dấu hiệu chứng tỏ được phục hồi. Hơn nữa, các dòng vốn quốc tế được dự báo sẽ trở lại xu thế như trước đây, khi nền kinh tế thế giới khởi sắc trở lại vào năm 2010. Điều quan trọng là Việt Nam vẫn giữ được niềm tin đối với nền kinh tế, đảm bảo làm giảm thiểu sự di chuyển vốn.

    Thứ nhất, Việt Nam có thể xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu cao về nhập khẩu của một số nước, việc áp các biện pháp hạn chế nhập khẩu sẽ làm mất tính cạnh tranh trong xuất khẩu của Việt Nam. Thứ hai, việc áp dụng chính sách thương mại thay đổi như vậy có thể dẫn đến tình trạng một số dự án đầu tư có vốn trực tiếp nước ngoài sẽ rút về hoặc đóng băng, vì những dự án này cần nhập khẩu cho đầu vào hoặc công nghệ của họ. Thứ ba, những biện pháp như vậy có thể gây mất lòng tin của nhà đầu tư đối với viễn cảnh kinh tế của Việt Nam. Điều này có thể sẽ dẫn đến tình trạng di chuyển vốn và tạo ra áp lực làm mất giá đồng tiền Việt Nam.

    Tiến sĩ Võ Trí Thành – chuyên gia kinh tế khi nhìn nhận về viễn cảnh kinh tế và tầm nhìn chính sách Việt Nam 2010 cho rằng: Cần phải tính đến việc can thiệp của chính sách vĩ mô trong giai đoạn của khủng hoảng và rút lui ra khỏi khủng hoảng như thế nào ? Vấn đề mất cân đối có mang tính chất bền vững không ? Không có nền kinh tế nào có thể cân đối cả bên trong và bên ngoài, trong nền kinh tế có mức độ đôla hóa như của Việt Nam các chính sách tài khóa và tiền tệ rất khó thống nhất điều này tạo điều kiện cho các nhà đầu cơ tài chính. Cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam có vấn đề, nợ nước ngoài tăng nhanh… trong 2 năm qua Việt Nam đã sử dụng quá nhiều biện pháp hành chính nên đặt nền kinh tế hiện tại trong một trạng thái rất khó. Ví dụ: trần lãi suất, trần về thâm hụt ngân sách… các mất cân đối đang diễn ra nghiêm trọng và có xu hướng tăng. Các giải pháp: thắt chặt chính sách tiền tệ, đồng Việt Nam phải được bảo vệ bằng cách tăng lãi suất, nhưng vấn đề đặt ra là tiến độ chính sách là ngay lập tức hay từ từ ?

    Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực song vẫn còn nhiều mặt hạn chế như áp lực lạm phát tăng cao, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam về hàng hóa xuất khẩu còn kém, mức tiết kiệm trong nước còn rất thấp, thiếu vốn đầu tư, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, nhập siêu vẫn kéo dài… Tuy cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam đã thặng dư và sẽ tiếp tục thặng dư song cán cân thương mại ngày càng thâm hụt do nhập siêu. Sự thặng dư ở đây là do nguồn đầu tư vào trong nước ngày càng tăng và lượng kiều hối chuyển về nước cũng tăng mạnh. Mà đối với một nước luôn nhập siêu như Việt Nam hiện nay thì việc cán cân thanh toán thặng dư do thặng dư cán cân vốn bù đắp cho thiếu hụt cán cân vãng lai thì chưa chắc đã là một dấu hiệu tốt. Nếu Việt Nam sử dụng vốn đầu tư ( vốn vay) kém hiệu quả thì nợ quốc gia sẽ nhanh chóng trở thành gánh nặng, gây áp lực phải trả nợ rất lớn đối với Ngân sách Nhà nước. Như vậy, mức thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam có thể tài trợ đư,ợc nhưng chính phủ cũng nên có các biện pháp tích cực để cải thiện cán cân vãng lai nhàm đảm bảo cân đối bên ngoài một cách vững chắc. Nhiệm vụ chính của các chính sách kinh tế Việt Nam hiện nay là phải đảm bảo thiết lập được cả cân đối bên trong và cân đối bên ngoài. Định hướng điều chỉnh cán cân thanh toán của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

    –    Tăng cường hơn nữa thu hút vồn đầu tư nước ngoài bằng cách nâng cao hiệu quả sư dụng vốn nhằm cải thiện cán cân thanh toán, tăng cường dự trữ ngoại tệ và phục vụ cho phát triển kinh tế.

    –    Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam không thể đảm bảo cân bằng cán cân vãng lai và phải chấp nhận sự thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng vấn đề là phải duy trì được khả năng chịu đựng thâm hụt của cán cân vãng lai. Tức là phải duy trì khả năng thanh toán của quốc gia. Một yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam là phải tạo ra thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai (không bao gồm các khoản trả lãi) đủ để hoàn trả các khoản nợ hiện tại. Nhưng sự đảo ngược trong các chính sách kinh tế (như một sự thắt chặt đột ngột) kèm theo một sự khó khăn vĩ mô như giảm mạnh các hoạt động kinh tế và tiêu dùng thì sự thiếu hụt cán cân vãng lai của Việt Nam trong hiện tại mới được coi là có khả năng chịu đựng.

    Như vậy trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần phải hạn chế mức độ thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng không để ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và việc làm. Đồng thời cố gắng duy trì và nâng cao khả năng chịu đặng thiếu hụt cán cân vãng lai để không xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán bằng cách cải thiện các chỉ số kinh tế vĩ mô trên.

    3.2 Những biện pháp nhằm điều chỉnh cán cân thanh toán Quốc tế của Việt Nam

    3.2.1 Những biện pháp khuyến khích xuất khẩu

    Chính sách khuyến khích xuất khẩu nhằm mục đích chuyển dịch chi tiêu nước ngoài vào các sản phẩm nội địa. Các biện pháp khuyến khích xuất khẩu bao gồm: mở rộng thị trường xuất khẩu, giảm và bỏ thuế xuất khẩu, xóa bỏ hạn ngạch xuất khẩu, cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuất khẩu… Tác dụng của các biện  pháp này là làm tăng khối lượng xuất khẩu, làm giảm thâm hụt cán cân thương mại và đồng thời còn làm tăng khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai. Nó cho pháp cán cân vãng lai thiếu hụt lớn mà không dẫn đến một cuộc khủng hoảng bên ngoài nào. Đặc biệt trong điều kiện khủng hoảng kinh tế hiện nay, khuyến khích xuất khẩu lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

    Đẩy mạnh xuất khẩu là cách tốt nhất để Việt Nam có thể cải thiện được cán cân thương mại, đẩy lùi được tình trạng nhập siêu và có nguồn vốn để trả nợ nước ngoài. Hơn nữa vẫn đảm bảo được mục tiêu cân đối bên trong như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và giải quyết việc làm.Trong những năm tiếp theo, Việt Nam cần phải đảm bảo tốc độ tăng xuất khẩu lớn hơn tốc độ tăng nhập khẩu để có thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.Chính vì vậy, Chính phủ cần quan tâm đến các biện pháp nhằm khuyến khích xuất khẩu.

    Trong thực tế,hoạt động nhập khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với một số trở ngại.Trở ngại lớn nhất đối với xuất khẩu là các chính sách thuế nhập khẩu,hạn ngạch nhập khẩu..làm mất đi các lợi thế xuất khẩu của Việt Nam. Do hệ thống thuế và hệ thống quản lý thương mại là nhằm sản xuất thay thế hang nhập khẩu và sản xuất các loại hàng hóa,dịch vụ thương mại dẫn đến việc bảo hộ cho những ngành không có hiệu quả. Còn những ngành có lợi thế và khả năng xuất khẩu thì không được đầu tư các nguồn lực thích đáng.Hơn nữa,khi vực kinh tế tư nhân có nhiều tiềm năng xuất khẩu thì không được đầu tư các nguồn lực thích đáng. Hơn nữa,khu vực kinh tế có nhiều tiềm năng xuất khẩu thì chưa được chú ý phát triển. Thêm vào đó, thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới đang bị cạnh tranh gay gắt mà sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam thì yếu, thì trường thương mại dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của xuất khẩu,tình trạng gian lận trong buôn bán vẫn còn xảy ra. Trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của của Việt Nam thì tỷ trọng hàng thô và sơ chế còn cao, hàng gia công chiếm tỷ trọng lớn.. khiến cho giá trị xuất khẩu chưa cao và không có sức cạnh tranh.Mặt khác,các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam còn nhiều hạn chế về kỹ thuật kinh doanh, chưa am hiểu đầy đủ về luật pháp và thông lệ quốc tế,chưa có độ nhanh nhạy nắm bắt thông tin thị trường nên dẫn đến việc bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh có lợi,phải chịu những thiệt hại không đáng có trong hoạt động sản xuất..Vậy nên,Chính phủ cần có những biện pháp vừa giải quyết được những khó khăn trở ngại trong hoạt động xuất khẩu lại vừa đẩy nhanh tốc độ tăng xuất khẩu nhằm cải thiện được tình trạng thâm hụt thương mại hiện nay.

    Một số biện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới:

    – Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển,cải tiến chế độ phân phối,chế độ xuất nhập khẩu,tạo ra một sự phân phối nhịp nhàng,chặt chẽ giữa các doanh nghiệp cùng làm nhiệm vụ kinh doanh xuất nhập khẩu với cùng một ngành hàng,không phân biệt đó là doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Bên cạnh đó,trong tiến trình hội nhập,Việt Nam cần phấn đấu thực hiện những mục tiêu như: đẩy mạnh hợp tác kinh tế và kỹ thuật trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi với tất cả quốc gia trên mọi lĩnh vực,thúc đẩy tự do hóa thương mại bằng các biện pháp giảm bớt thuế,dần tiến tới phi thuế;hủy bỏ việc cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; tăng năng suất lao động,giảm bớt chi phí sản xuất hàng hóa để tăng sức mạnh về giá;đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu,thủ tục đầu tư,thủ tục hải quan,ngoại hối,ngân hàng..

    – Tăng cường đầu tư nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.Tập trung các luồng vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất các mặt hàng phục vụ cho xuất khẩu.Đặc biệt chú trọng những ngành hàng có khả năng tăng trưởng ổn định ,sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu trong nước,đặt yêu cầu năng cao tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa lên hàng đầu,gắn sản xuất với yêu cầu của thị trường về chất lượng và mẫu mã sản phẩm…Đồng thời chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư theo hướng tăng đầu tư Nhà nước để phát triển các ngành dịch vụ và một số ngành sản xuất với công nghệ cao nhằm đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ cho phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế dịch vụ và kinh tế tri thức.

    – Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu,phát triển và đa dạng hóa với những mặt hàng chủ lực,gắn yêu cầu của thị trường đối với tường loại sản phẩm chính.Về đổi mới cơ cấu hàng xuất, Việt Nam cần phải chuyển nhanh và mạnh sang phần lớn hàng chế biến,giảm mức tối đa xuất hàng nguyên liệu và hàng sơ chế.

    – Chính phủ cần quan tâm đến việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân có tiềm năng,nhất là các doanh nghiệp trong các ngành chế tạo có định hướng xuất khẩu cao.Hỗ trợ nhiều hơn cho các tổ chức ,doanh nghiệp và cá nhân để phát triển các mặt hàng mới và thị trường mới.

    – Việt Nam cần mở rộng thị trường xuất khẩu.Thực hiện phương châm đa dạng hóa,đa phương hóa thị trường và đối tác,hạn chế việc xuất khẩu một mặt hàng bị phụ thuộc vào một số thị trường,chú trọng các thị trường có sức mua lớn như : Mỹ,EU,Nhật Bản,Trung Quốc,Đông Nam Á..đồng thời tìm cách thâm nhập và gia tăng sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam ở các thị trường châu Phi,Mỹ La tinh;tăng cường các hình thức buôn bán hàng đổi hàng…

    – Chính phủ cũng nên tăng cường rà soát và xác định cụ thể những nguyên nhân làm chậm trễ hoặc cản trở việc thực hiện các chính sách hỗ trợ và khuyến khích xuất khẩu để xử lý kịp thời.Đồng thời thực hiện bổ sung,sửa đổi các cơ chế,chính sách,quy định chưa hợp lý;tiếp tục cải cách hành chính tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu.

    3.2.2 Những biện pháp nhằm điều tiết nhập khẩu

    Chính sách hạn chế nhập khẩu nhằm mục đích cố gắng dịch chuyển chi tiêu nội địa từ nước ngoài và hàng hóa trong nước. Các biện pháp hạn chế nhập khẩu bao gồm: thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, yêu cầu bắt buộc kết hối ngoại tệ, cấm nhập khẩu, yêu cầu cấp giấy phép nhập khẩu… Tác dụng của biện pháp này là làm giảm số lượng hay giá trị nhập khẩu trong một khoảng thoài gian nhất định. Do đó, ban đầu nó có tác động trược tiếp cải thiện cán cân thương mại nói riêng và cán cân vãng lai nói chung. Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ có tác dụng làm giảm thiếu hụt cán cân vãng lai lúc ban đầu. Nhưng sau đó, do giảm suất khẩu, người tiêu dùng trong nước sẽ quay sang mua hàng hóa sản xuất trong nước làm tăng tổng cầu đối với nền kinh tế dẫn đến sản lượng và thu nhập quốc dân tăng lên. Thư nhập quốc dân sẽ làm cho nhập khẩu tăng và cuối cùng làm cho sự cải thiện cán cân vãng lai ban đầu giảm đi.

    Song trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, do luồng vốn đầu tư vào trong nước ngày càng tăng mạnh kèm thao nhu cầu nhập khẩu lớn để tăng trưởng kinh tế nên Chính phủ đã phải thực hiện một số nới lỏng trong chính sách hạn chế nhập khẩu. Thêm nữa, Việt Nam đang tăng cường chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nên việc sử dụng các hạn chế thương mại sẽ dần dần được loại bỏ. Như vậy, trong tương lai, việc sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu sẽ rất khó thực hiện và có thể không thể thực hiện nữa.

    Để vừa đảm bảo các mục tiêu kinh tế, vừa giảm bớt được tình trạng nhập siêu trong giai đoạn hiện nay,Việt Nam cần thực hiện các việc sau:

    • Ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    • Khuyến khích gia tăng sử dụng vật tư, thiết bị trong nước đã sản xuất được để tiết kiệm ngoại tệ và pháy triển hàng hóa sản xuất trong nước.
    • Thúc đẩy phát triển sản xuất nguyên liệu thay thế nhập khẩu như bông, nguyên liệu thuốc lá, ngô, đậu tương, đa nguyên liêu…và áp dụng các công cụ thuế mới nhằm giảm kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng này
    • Hạn chế tối đa việc nhập khẩu hàng tiêu dùng và kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu ô tô và linh kiện xe hai bánh gắn máy.
    • Thực hiện chính sách giảm chi ngoại tệ nhập khẩu đối với một số ngành dịch vụ có nhập khẩu các loại trang thiết bị chuyên dụng, thiết bị và vật liệu rẻ tiền nhanh hỏng mà tập trung tạo điều kiện sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu…

    Nói chung, những biện pháp hạn chế nhập khẩu chỉ là tạm thời, hiệu quả không cao và có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. trong tình thế hiện nay, để giảm được thâm hụt thương mại, Việt Nam có thể tập trung vào các biện pháp nhằm đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu thay vì việc tập trung để giảm nhập khẩu thay vì việc tập trung để giảm nhập khẩu như trước đây.

    3.2.3 Biện pháp thu hút chuyển tiền nước ngoài

    Do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,thị trường trong nước và thị trường ngoài nước được mở rộng và gắn kết với nhau nên lượng người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài và lao động xuất khẩu ngày càng tăng lên. Và thực tế cho thấy,số tiền do những người Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước luôn là nguồn tài trợ quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra, nguồn kiều hối gửi về Việt Nam đã bị giảm sút do phần còn lại của thế giới cũng lâm vào tình trạng khó khăn. Để có thể khai thác triệt để nguồn ngoại tệ này, Chính phủ cần có những biện pháp nhằm khắc phục một số vướng mắc hiện tại. Các biện pháp có thể áp dụng như thiết lập thêm mấy kênh chuyển tiền mới  giúp cho kiều bào an tâm chuyển tiền,nâng cao chất lượng dịch vụ chuyển tiền,đơn giản hóa các thủ tục có liên quan tới hệ thống ngân hàng,cải thiện môi trường đầu tư,khuyến khích kiều bào tăng cường đầu tư vào thị trường trong nước,tiếp tục thực hiện chính sách thu hút kiều hối thông thoáng…

    Các biện pháp kiểm soát trực tiếp nêu trên đếu có tác dụng làm giảm thiếu hụt cán cân thương mại ,tăng khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai nên Việt Nam cần phải chú trọng tới những biện pháp này. Nhất là trong tình hình hiện nay thì việc đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút tối đa luồng kiều hối là hết sức quan trọng. Nó không những cải thiện cán cân vãng lai trong hiện tại mà còn đảm bảo thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai giúp thanh toán những khoản nợ nước ngoài,đảm bảo ổn định nền kinh tế.

    3.2.4 Những biện pháp thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nước ngoài

    Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đứng trước hai vấn đề quan trọng có liên quan đến vốn đầu tư để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững:

    • Tỷ lệ huy động vốn trong nước thông qua kênh tiết kiệm và các khoản thu của Nhà nước không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư.
    • Tình trạng nhập siêu không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa đất nước dẫn đến thâm hụt cán cân vãng lai và sự thiếu hụt ngoại tệ trong một thời gian dài.

    Cả 2 vấn đề này có thể giải quyết bằng cách thu hút vốn ngoài nước, trong đó có FDI và ODA. Cho nên để tài trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai, cải thiện cán cân thanh toán, Chính phủ nên thu hút các luồng vốn này. Tuy việc thu hút các luồng vốn đầu tư nước ngoài vào sẽ có tác dụng làm tăng sản lượng, tạo việc làm và tài trợ cho thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng cũng sẽ làm tăng thiếu hụt cán cân vãng lai do tăng nhập khẩu và tăng các khoản trả lợi nhuận, lãi vay cho nước ngoài.Do vậy, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng xuất khẩu giải quyết việc làm, Việt Nam phải chấp nhận thâm hụt cán cân vãng lai trong giới hạn khả năng chịu đựng để không dẫn đến cuộc khủng hoảng bên ngoài.

    3.2.4.1   Thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI)

    Trong các luồng vốn nước ngoài vào,đầu tư nước ngoài vào,đầu tư trực tiếp được coi là luồng vốn không tạo ra dư nợ nên Chính phủ cần tập trung khai thác luồng vốn này.Để thu hút được nhiều vốn FDI, Chính phủ có thể thực hiện có biện pháp sau:

    • Tìm kiếm thị trường và đối tác mới: trong khi vẫn coi trọng các thị trường và đối tác hiện nay, mà chủ yếu là Châu Á và các doanh nghiệp vừa,cần mở rộng việc thu hút FDI từ thị trường mới nhất là Mỹ – một nước có tiềm năng lớn và có quan hệ thương mại gia tăng mạnh mẽ với nước ta trong những năm qua.
    • Nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường thế giới: trên cơ sở thường xuyên quan tâm đến việc xếp hạng của các tổ chức quốc tế về năng lực cạnh tranh trong đầu tư của từng nước, cũng như sự đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài đối với nước ta để sửa đổi,bổ sung những nhân tố có liên quan làm cho vị thế nước ta ngày càng cao hơn trong bảng xếp hạng của thế giới.
    • Tạo lập môi trường đầu tư tốt nhất: đảm bảo tính minh bạch và ổn định của luật pháp để các nhà đầu tư có thế tính được xu thế phát triển của dự án đầu tư.Cải cách cơ bản thủ tục hành chính theo nguyên tắc hoạt động đầu tư thuộc quyền của các doanh nghiệp.
    • Nâng cao chất lượng quy hoạch tổng thể thu hút vốn FDI phù hợp và gắn liền với quy hoạch ngành, lãnh thổ, lĩnh vực ưu tiên, mặt hàng chủ lực, khả năng thu hút lao động cao… từ đó lựa chọn dự án khả thi, dự án ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài.
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đã được cấp phép triển khai nhanh hoạt động xử lý linh hoạt chuyển đôi các hình thức đầu tư. Ngoài các dự án không cấp phép đầu tư do yêu cầu an ninh quốc gia, cần mở rộng danh mục các dự án cho phép nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn các hình thức đầu tư xuất phát từ hiệu quả kinh doanh.
    • Đáp ứng đủ nguồn vốn đối ứng: Khả năng tiếp cận FDI của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng là nhân tố quyết định đến hiệu quả đầu tư. FDI chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi Việt Nam có khả năng tiếp năng tiếp nhận vốn và ngược lại sẽ bị phụ thuộc vào nước ngoài. Để tiếp nhận hiệu quả vốn FDI đòi hỏi phải có một tỉ lệ vốn đối ứng hợp lý.

    3.2.4.2  Quản lý, sử dụng vốn viện trợ phát triển chính thức(ODA)

    So với FDI, Việt Nam sẽ tiếp nhận nguồn vốn ODA sớm hơn. Nhưng thực chất nguồn vốn ODA là nguồn vốn ưu đãi.vì chỉ có khoảng 10-15%  là viện trợ không hoàn lại. Vì vậy, việc quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn này là hết sức cần thiết.

    Các biện pháp cụ thể là:

    • Sức hấp dẫn của ODA nằm ở chỗ khâu lập hồ sơ nhanh chóng, sát với nhu cầu thực tế, các chủ dự án có năng lực cao. Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần giải quyết các vấn đề này để thu hút thêm nhiều ODA phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Công tác vận động vốn ODA cần được đổi mới cơ bản về nội dung và phương pháp thực hiện, chú trọng khâu lập dự án nghiên cứu khả thi bảo đảm chất lượng trước khi đàm phán. Trong quá trình vận động tổ chức vốn cần xuất phát từ lợi ích tổng thể quốc gia, hiệu quả công việc trên cơ sở nâng cao tính chủ động của phía Việt Nam với bên nước ngoài, cần mạnh dạn chối bỏ các nguồn vốn không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
    • Thực hiện nghiêm chỉnh các nghi quyết của Đảng và Chính phủ đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bao gồm cả những côngty lớn trong hầu hết các ngành kinh tế chủ chốt. Một khi chính những công ty nhà nước đã thực hiện đa sở hữu hóa thì đây chính là một động lực để thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn ODA.
    • Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn quan trọng này, bao gồm cả yêu cầu về giải ngân, Chính phủ cần đổi mới công tác tổ chức điều hành các dự án công trình quan trọng quốc gia có sử dụng nguồn vốn ODA. Đối với những công trình, hạng mục công trình quan trọng nên tổ chức đấu thầu chọn chủ dự án, công trình, mà tốt nhất là doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa hay công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước. Vốn đối ứng để thực hiện dự án công trình, ngoài ngân sách nhà nước, cần huy động thêm từ xã hội thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu công trình.
    • Nâng cao nhận thức và thống nhất quan điểm về vốn ODA. Nếu coi là nguồn viện trợ thuần túy thì dẫn đến sử dụng kém hiệu quả, lãng phí, không tră được nợ và cuối cùng bị lệ thuộc vào bên ngoài. Viện trợ không hoàn lại cần đựoc quản lý như đối với nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) dành cho đầu tư phát triển, phần vay ưu đãi được hạch toán bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, kiên quyết không vay cho chi thường xuyên.
    • Để cải thiện tình hình giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA, chính phủ cũng cần tiếp tục cải thiện cơ sở pháp lý nhằm tạo môi trường rõ ràng hơn và thuận lợi hơn cho quản lý và sử dụng ODA.

    3.2.5 Tăng tiết kiệm

    Như phần trên đã phân tích, chúng ta biết rằng thiếu hụt cán cân vãng lai bằng lỗ hổng tiết kiệm và đầu tư của 1 quốc gia. Đối với Việt Nam thì lỗ hổng này chủ yếu xuất phát từ khu vực tư nhân. Chính vì vậy, để giảm thâm hụt cán cân vãng lai đòi hỏi chính phủ phải có các biện pháp nhằm tăng cường tiết kiệm quốc gia, đặc biệt là tiết kiệm tư nhân. Mặt khác, nếu chính phủ thu hút được nguồn vốn này để phục vụ cho đầu tư trong nước thì sẽ giảm đựoc vay vốn nước ngoài. Giảm vay vốn đầu tư nước ngoài sẽ giảm được nhập khẩu, do đó giảm được thâm hụt thương mại và giảm bớt các khoản nợ nước ngoài.

    Hiện tại, Việt Nam chủ yếu thu hút các nguồn tiết kiệm tư nhân thông qua hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi tiết kiệm. Song lượng tiền gửi vào chưa nhiều và phần lớn các luồn tiền gửi vào ngân hàng là tiền gửi ngắn hạn. Kết quả là trong thực tế, Việt Nam là thiếu vốn trung và dài hạn đầu tư cho phát triển kinh tế. Chính vì vậy, ngân hàng cần tích cực thu hút các luồng vốn trung và dài hạn bằng cách khuyến khích phát triển thị trường trái phiếu.

    Để đạt được ti lệ tích lũy cao hơn, Chính phủ cần phải cải thiện môi trường tổng thể sao cho thuận lợi hơn, cải thiện khuôn khổ các biện pháp khuyến khích và cần có 1 chiến lược phát triển dựa trên xuất khẩu để tăng mức thu nhập. Ngoài ra, nâng cao vai trò quan trọng ccủa nhà nước trong việc duy trì môi trường với lãi suất thực dương; đảm bảo về mặt pháp lý cho tính chất toàn vẹn lâu dài của các quyền về tài sản và sở hữu của caỉ vật chất; điều chỉnh tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý để cho người gửi tiền tiết kiệm có thể yên tâm về giá trị lâu dài của đồng tiền; xây dựng 1 hệ thống ngân hàng an toàn và lành mạnh để người dân yêu tâm gửi tiền; và một hệ thống thuế công bằng, hợp lý không de dọa tịch thu tiết kiệm và của cải trong tương lai.

    3.2.6 Giảm chi tiêu

    3.2.6.1 Sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.

    Ngoài những biện pháp kiểm soát trực tiếp, để điều chỉnh cán cân thanh toán,các chính phủ còn có thể sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô như các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Chính sách tiền tệ liên quan đến cung tiền của NHTƯ của một nước và chính sách tài khóa liên quan đến những thay đổi trong chi tiêu Chính phủ và thuế quan. Việc sử dụng hai chính sách này vẫn đảm bảo được cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tế. Tuy nhiên, để có thể phát huy một cách có hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô cho việc thiết lập cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tế,yêu cầu phải có thị trường tài chính và đặc biệt phải tự do hóa về tài chính.

    Theo quan điểm của Mundell ,trong điều kiện tự do hóa thương mại và tài chính với chế độ tỷ giá cố định,cân đối bên trong và bên ngoài có thể đạt được thông qua chính sách tiền tệ và tài khóa hợp lý. Như vậy là chính sách tài khóa được phân cho mục tiêu cân đối bên trong và chính sách tiền tệ được phân cho mục tiêu cân đối bên ngoài (vì chính sách tiền tệ có lợi thế tương đối trong thực hiện cân đối bên ngoài và chính sách tài khóa có lợi thế tương đối trong thực hiện cân đối bên trong). Trên cơ sở đó, Mundell đã đưa ra một số gợi ý chính sách điều chỉnh như sau:

    Chính sách tiền tệ và tài khóa nhằm thiết lập cân đối bên trong và bên ngoài.

    Trạng thái nền kinh tế Chính sách tiền tệ Chính sách tài khóa
    Thất ngiệp và thặng dư

     

    Lạm phát và thặng dư

    Lạm phát và thâm hụt

    Thất nghiệp và thâm hụt

    Mở rộng

     

    Mở rộng

    Thắt chặt

    Thắt chặt

    Mở rộng

     

    Thắt chặt

    Thắt chặt

    Mở rộng

    NHTW điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ điều chỉnh như: nghiệp vụ thị trường mở,tỷ lệ dự trữ bắt buộc ,lãi suất triết khấu… Chính phủ điều hành chính sách tài khóa thông qua biện pháp tăng hoặc giảm chi tiêu của chính phủ và thuế.

    Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng tức là tăng cung tiền bằng cách mua vào các trái phiếu trên thị trường mở,dẫn đến giá trái phiếu tăng và mức lãi suất giảm; lãi suất giảm kích thích đầu tư tăng;đầu tư tăng làm tăng thu nhập quốc dân; thu nhập quốc dân tăng làm tăng nhập khẩu. Như vậy ,chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm cho cán cân thanh toán xấu đi.

    Ngược lại, khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt tức là giảm cung tiền bằng cách bán ra các trái phiếu trên thị trường mở, dẫn đến giá trái phiếu giảm và mức lãi suất tăng : lãi suất tăng kìm hãm đầu tư; đầu tư giảm làm giảm thu nhập quốc dân ; thu nhập quốc dân giảm làm giảm nhập khẩu. Như vậy ,chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm cho cán cân thanh toán được cải thiện.

    Còn khi Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng tức là tăng chi tiêu của chính phủ bằng cách bán ra trái phiếu trên thị trường mở, dẫn đến tăng thu nhập thông qua thừa số chi tiêu của chính phủ. Tuy nhiên ,chính sách tài khóa mở rộng cũng không hẳn làm cho cán cân thanh toán xấu đi. Do chính phủ bán trái phiếu ra nên giá trị trái phiếu giảm và lãi suất tăng;lãi suất tăng dẫn đén giảm đầu tư;điều này phần nào làm giảm đi hiệu ứng tăng thu nhập thông qua thừa số chi tiêu của Chính phủ ;đồng thời lãi suất tăng sẽ kích thích luồng vốn chảy vào làm cho cán cân thanh toán được cải thiện. Tương tự ,khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt cũng vậy,nó không hẳn làm cho cán cân thanh toán được cải thiện. Do việc khó xác định được chính xác ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên cán cân thanh toán cho nên tùy thuộc vào từng thời kỳ cụ thể mà các nước cần có sự kết hợp hài hòa giữa các chính sách tài khóa và tiền tệ .

    Đối với tình hình Việt Nam hiện nay,các chính sách tiền tệ và tài khóa cần phải đảm bảo cả mục tiêu cân đối bên trong và mục tiêu cân đối bên ngoài. Do đó,Chính phủ có thể áp dụng các chính sách cụ thể như sau:

    Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là mở rộng tiền tệ. Việc tăng cung tiền sẽ được thực hiện chủ yếu thông qua tăng dự trữ quốc tế (do cán cân thanh toán thặng dư) và tăng số nhân tiền bằng cách thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc .Kết hợp vói giảm lãi suất để duy trì cung tiền bằng cầu tiền. Cụ thể:

    • Tăng dự trữ quốc tế phù hợp với yêu cầu tăng nhập khẩu phục vụ phát triển kinh tế ,đồng thời có tác dụng hạn chế việc tăng giá đồng Việt Nam khi thu hút vốn nước ngoài và hạn chế được tốc độ tăng lạm phát.
    • Giảm lãi suất để hạn chế thu hút vốn ngắn hạn và tăng vốn đầu tư trong nước.
    • Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc có ý nghĩa là giảm thuế đánh vào hệ thống ngân hàng, có tác dụng giảm lãi suất nội địa và giảm chênh lệch lãi suất cho vay. Do đó ,nó đảm bảo vừa tăng được đầu tư vừa khuyến khích được tiết kiệm trong nước.

    Chính sách tài khóa mở rộng hiện nay là: Giảm thuế suất và mở rộng diện nộp thuế;tăng chi tiêu đầu tư và xã hội để xây dựng cơ sở hạ tầng,xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục đồng thời hạn chế chi tiêu thường xuyên .Thiếu hụt NSNN được bù đắp bằng cách Chính phủ bán công trái và trái phiếu kho bạc .Cụ thể:

    –      Mở rộng diện thu thuế là cần thiết để tăng thu ngân sách vì Việt Nam còn nhiều nguồn thu bị bỏ qua như thu thuế,phí từ thị trường đất đai,bất động sản,thu nhập cá nhân…

    –      Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,việc để thuế giá trị gia tăng,thuế suất nhập khẩu cao là không hợp lý làm triệt tiêu động lực của sản xuất ,giảm sức cạnh tranh.Việc giảm thuế này về dài hạn sẽ thu lại nguồn thu lớn nhờ sản xuất được mở rộng.

    –       Để phát triển kinh tế bền vững lâu dài,cần tăng chi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ,giáo dục,xóa đói,y tế,môi trường… Đồng thời trong ngắn hạn đây cũng là một biện pháp làm tăng tổng cầu và giải quyết việc làm.

    –     Bán công trái và trái phiếu kho bạc sẽ có tác dụng thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân làm tăng tiết kiệm tư nhân.

    Mặc dù tác động cải thiện cán cân vãng lai không rõ ràng nhưng chính sách tiền tệ và tài khóa lại có tác dụng cải thiện các chỉ số kinh tế vĩ mô đảm bảo cho khả năng chịu đựng thâm hụt của cán cân vãng lai để tránh không gây ra một cuộc khủng hoảng bên ngoài như chỉ số: tỷ lệ xuất khẩu/GDP tăng ;tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa/GDP tăng ,tỷ giá đồng nội tệ giảm phù hợp với tỷ giá thực…

    3.2.6.2 Biện pháp điều chỉnh tỷ giá

    Thực tế cho thấy, các hệ số co giãn nhu cầu hàng xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia phụ thuộc vào cơ cấu hàng xuất khẩu của quốc gia đó. Qua phân tích, chúng ta thấy rằng cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là những mặt hàng thô, sơ chế, những mặt hàng chế biến chiếm tỷ trọng nhỏ. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đều phụ thuộc vào nhu cầu trên thị trường thế giới và giá cả do thị trường thế giới quyết định. Do đó, Việt Nam có giảm giá các mặt hàng này cũng không thể tăng được số lượng xuất khẩu và tăng giá thì không xuất khẩu được. Còn những mặt hàng  công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam thì chủ yếu là hàng gia công, nguyên liệu đầu vào phàn lớn phải nhập khẩu và có giá trị gia tăng thấp. Do đó nếu Việt Nam phá giá đồng nội tệ thì cũng không giảm được giá xuất khẩu đối với những mặt hàng này. Có thể nói, hệ số co giãn nhu cầu hàng xuất khẩu của Việt Nam là rất thấp và gần như không co giãn nên việc phá giá sẽ không làm tăng được doanh thu xuất khẩu của Việt Nam. Đối với hàng nhập khẩu của  Việt Nam cũng vậy, hệ số co giãn nhu cầu nhập khẩu là rất thấp, thậm chí là không co giãn ở Việt Nam. Vì hiện nay Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nên rất cần nhập khẩu các máy móc thiết bị, phụ tùng và nguyên nhiên liệu ( trong nước không sản xuất được). Đây cũng chính là những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam. Do đó, việc phá giá đồng nội tệ cũng không thể giẩm bớt những chi phí nhập khẩu của Việt Nam.

    Như vậy là việc phá giá đồng nội tệ ở Việt Nam hoàn toàn không có tác dụng cải thiện can cân thương mại cả trong ngắn hạn và dài hạn, không đẩy nhanh được tốc độ tăng trưởng kinh tế, không giải quyết được thất nghiệp. Không những thế,  phá giá đồng nội tệ còn làm cho lạm phát ở Việt Nam tăng cao. Vì vậy, khi xem xét vấn đề phá giá đồng Việt Nam cho việc thanh toán các khoản nợ nước ngoài, ảnh hưởng không tốt đến quá trình công nghiệp hóa đất nước( do hạn chế nhập khẩu)… Trong bói cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, chính phủ không nên phá giá đồng nội tệ.

    Một số biện pháp về chính sách tỷ giá trong thời gian tới mà Việt Nam cần thực hiện là:

    • Chính sách tỷ giá phải giữ vững thế cân bằng nội và cân bằng ngoại.
    • Ổn định tỷ giá trên mối tương quan cung cầu trên thị trường xuất khẩu,kích thích xuất khẩu,hạn chế nhập khẩu,cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trự ngoại tế.
    • Từng bước nâng cao uy tín VNĐ,tạo điều kiện cho VNĐ có thể trở thành đồng tiền chuyển đổi.
    • Phối hợp với chính sách ngoại hối để chống hiện tượng đô la hóa.

    Ngoài ra ,Chính phủ cần hoàn thiện hơn chính sách ngoại hối để vừa tranh thủ được các nguồn vốn quốc tế vừa thúc đẩy các hoạt động thương mại,dịch vụ,du lịch,kiều hối,đầu tư,…nhưng lại phải đảm bảo được chủ quyền của đồng Việt Nam, thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]