Category: Thương Mại – Marketing

  • Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-N%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-t%E1%BA%A1i-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    • Tính cấp thiết của đề tài

    Hiện nay, Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế một cách sâu sắc về các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng… Trong quá trình hội nhập, Việt Nam thu được những lợi ích to lớn, đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức gay gắt từ các đối tác nước ngoài.

    Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) đến nay đã được 4 năm, thị trường tài chính được mở cửa, theo đó ngân hàng nước ngoài được hoạt động bình đẳng với các ngân hàng trong nước… Các ngân hàng nước ngoài có những lợi thế vượt trội của so với các ngân hàng trong nước về vốn, kinh nghiệm, công nghệ, đặc biệt là chất lượng và chủng loại về các dịch vụ. Nhằm rút ngắn khoảng cách, tiến tới hội nhập với thế giới, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã từng bước đổi mới, mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là phát triển các nghiệp vụ hiện đại như thẻ tín dụng, kinh doanh ngoại hối, hoán đổi lãi suất, internet banking…

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong những Ngân hàng đầu tiên được Ngân hàng nhà nước cấp phép kinh doanh ngoại hối. Đến nay, hoạt động kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quan trọng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu từ dịch vụ ròng của BIDV. Tuy nhiên, mặc dù đã chính thức triển khai cung cấp nhiều sản phẩm kinh doanh ngoại hối đa dạng cho khách hàng nhưng trên thực tế hoạt động, phần lớn doanh số mua bán ngoại tệ vẫn chủ yếu là các nghiệp vụ giản đơn, hiệu quả kinh doanh chưa thực sự cao. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các NHTM trong nước và đặc biệt là các Ngân hàng nước ngoài buộc Ngân hàng phải tìm các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng.

    Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” là nội dung nghiên cứu của luận văn.

    • Tình hình nghiên cứu

    Cho đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại. Một số đề tài tìm giải pháp chung để phát triển

    2

    hoạt động KDNT của các NHTM tại Việt Nam, một số tác giả tìm giải pháp phát triển hoạt động KDNT tại ngân hàng của mình.

    Tuy nhiên, mỗi ngân hàng có đặc thù riêng, có chiến lược phát triển riêng cho hoạt động KDNT của mình. Tại BIDV, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Cụ thể, luận văn thạc sỹ kinh tế: “Rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Thắng (2003) đã đề cập đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV nhưng lại nghiên cứu sâu về rủi ro và đưa ra các giải pháp để hạn chế rủi ro trong hoạt động KDNT của Ngân hàng.

    • Mục đích nghiên cứu của đề tài

    Với mong muốn tìm hiểu thực tế các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, góp phần cung cấp một số thông tin hữu ích cho các nhà quản lý của BIDV và những ai quan tâm đến vấn đề này, đề tài tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    • Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

     

    • Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động kinh doanh ngoại tệ
    • Phạm vi nghiên cứu:
    • Tại Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam.
    • Thời gian từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2010. Các giải pháp đề xuất đến năm 2015.
    • Nhiệm vụ nghiên cứu

    Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

    • Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
    • Tìm hiểu thực trạng về hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010.
    • Hệ thống hóa và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    3

    • Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài

    Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:

    • Nhóm phương pháp thực tiễn gồm: Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm.
    • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết; phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết.
    • Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các phương pháp phụ trợ như phương pháp toán thống kê, phương pháp so sánh…
    • Kết cấu đề tài

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, và các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương sau đây:

    Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Chƣơng II: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

    Chƣơng III: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

    Do thời gian nghiên cứu và trình độ hiểu biết các vấn đề của đề tài còn hạn chế vì vậy luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy (Cô) và những ai quan tâm tới đề tài luận văn. Tác giả xin cảm ơn PGS,TS Đặng Thị Nhàn, các Thầy (Cô) Trường Đại học ngoại thương và đồng nghiệp đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức để tác giả hoàn thành khoá học Cao học tại Trường Đại học Ngoại thương và hoàn thành luận văn này.

    Tác giả

    Nguyễn Thị Tuyết Mai

     

    4

    CHƢƠNG I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    I.                   HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NHTM

    1.     Một số khái niệm liên quan đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    1.1    Ngoại hối và ngoại tệ

    Khái niệm ngoại hối được hiểu theo luật định và tương đối thống nhất giữa các quốc gia. Tại Việt Nam, khái niệm ngoại hối được đề cập trong khoản 1, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban thường vụ quốc hội:

    Ngoại hối bao gồm:

    • Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ).
    • Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ như séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác.
    • Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.
    • Vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia, vàng trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú, vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
    • Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.

    Như vậy, ngoại hối bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Trong đó, phương tiện thanh toán là những thứ có sẵn để chi trả. Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm ngoại tệ, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ. Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trong thực tế, người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ.

    5

    • Khái niệm ngoại tệ được đề cập tại điểm a khoản 1, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban thường vụ quốc hội, theo đó ngoại tệ là “đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đông tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực”.

    Như vậy, ngoại tệ là một loại ngoại hối và có thể hiểu ngoại tệ là đồng tiền nước ngoài (bao gồm cả đồng tiền chung của các nước khác và quyền rút vốn đặc biệt SDR). Ngoại tệ có thể là tiền kim loại, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền.

    1.2    Thị trường ngoại hối

    1.2.1    Khái niệm thị trường ngoại hối

    Trong hoạt động ngoại thương quốc tế, thanh toán là khâu cuối cùng của giao dịch. Việc thanh toán thường liên quan đến 2 loại tiền, một của bên bán và một của bên mua với tên gọi và trị giá khác nhau. Các thương gia phải tính toán để chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền mà bên đối tác yêu cầu thanh toán. Thị trường ngoại hối chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi các đồng tiền khác nhau phục vụ cho nhu cầu này của các thương gia.

    Như vậy, một cách tổng quát “thị trường ngoại hối là nơi diễn ra việc mua, bán các đồng tiền khác nhau“. (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

    Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng (chiếm khoảng 85% tổng doanh số giao dịch), nên theo nghĩa hẹp thì thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng, tức là thị trường Interbank.

    Như vậy, thị trường ngoại hối là nơi thực hiện các giao dịch mua, bán, chuyển đổi các loại ngoại tệ và phương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ trong đó giá cả mỗi đồng được quyết định bởi nhiều yếu tố. Có sự tồn tại của thị trường ngoại hối là do các quốc gia độc lập đều muốn giữ chủ quyền trong việc sử dụng và kiểm soát đồng tiền của mình. Một khi các quốc gia còn muốn duy trì độc lập về kinh tế của mình thì thị trường hối đoái còn tồn tại và phát triển. Nếu trên toàn thế giới chỉ sử dụng một đồng tiền chung thì hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau sẽ bị triệt tiêu và theo đó, thị trường ngoại hối sẽ không tồn tại.

    6

    1.2.2    Chức năng của thị trường ngoại hối

    • Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là cung cấp dịch vụ cho các khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế.
    • Thị trường ngoại hối giúp luân chuyển các khoản đầu tư, tín dụng quốc tế, các giao dịch tài chính quốc tế khác cũng như giao lưu giữa các quốc gia.
    • Thông qua hoạt động của thị trường ngoại hối, sức mua đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu thị trường.
    • Thị trường ngoại hối là nơi kinh doanh và cũng cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng các hợp đồng như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, tương lai.

    Thị trường ngoại hối là nơi NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

    1.3    Tỷ giá

    1.3.1    Khái niệm

    Các doanh nghiệp tham gia thương mại, đầu tư quốc tế… phải thanh toán với nhau bằng việc phải mua bán các đồng tiền khác nhau, đổi đồng tiền này để lấy đồng tiền khác. Hai đồng tiền được mua bán với nhau theo một tỷ lệ nhất định được gọi là tỷ giá. Như vậy, có thể định nghĩa tỷ giá như sau:

    Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác. Ví dụ 1 USD = 19.500 VND.

    Trong tỷ giá có 2 đồng tiền, một đồng tiền có số đơn vị cố định bằng 1 gọi là đồng tiền yết giá, đồng tiền còn lại có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu thị trường là đồng tiền định giá. (Nguyễn Văn Tiến 2010)

    1.3.2    Phân loại tỷ giá

    • Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá bao gồm các loại:
    • Tỷ giá mua vào (Bid Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá.
    • Tỷ giá bán ra (Ask Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá.

    7

    • Tỷ giá giao ngay (Spot Rate): Là tỷ giá được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu thị trường, luôn có sẵn, được thỏa thuận ngày hôm nay, việc thanh toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo.
    • Tỷ giá phái sinh: Gồm các tỷ giá áp dụng trong các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn.
    • Tỷ giá chéo: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba.

    Ngoài ra còn có các tỷ giá mở cửa, tỷ giá đóng cửa, tỷ giá tiền mặt, tỷ giá chuyển khoản…

    • Căc cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá, bao gồm:
    • Tỷ giá chính thức: Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Ở Việt Nam là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
    • Tỷ giá chợ đen: Là tỷ giá hình hành ngoài hệ thống ngân hàng.
    • Tỷ giá cố định: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ

    dao động hẹp

    • Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan

    hệ cung cầu thị trường, NHTW không can thiệp vào thị trường.

    • Tỷ giá thả nổi có điều tiết: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

    1.3.3    Các phương pháp yết tỷ giá

    Trên thị trường có hai cách để yết tỷ giá đó là:

    • Yết tỷ giá trực tiếp
    • Yết tỷ giá gián tiếp

    Yết tỷ giá trực tiếp

    Yết tỷ giá trực tiếp là phương pháp thể hiện tỷ giá cuả một đơn vị ngoại tệ bằng một số lượng tiền tệ trong nước.

    VD:  ngày  19/09/2008  tỷ  giá      của  Vietcombank  được  niêm  yết  như  sau:

    E(VND/USD) = 16,665 ó 1 USD = 16,665 VND

    8

    Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và thường bằng 1. Nội tệ là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.

    Tại Việt Nam, tất cả các NHTM đều áp dụng phương pháp yết tỷ giá này đối với việc niêm yết tỷ giá hàng ngày tại ngân hàng.

    Yết tỷ giá gián tiếp

    Yết tỷ giá gián tiếp là phương pháp thể hiện tỷ giá của một đơn vị trong nước bằng một số ngoại tệ. Cách niêm yết này thường dùng ở một số ít nước có đồng nội tệ manh như Mỹ, Anh, Canada…

    VD: E(USD/VND) = 0.00006.

    Nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và thường bằng 1 (hoặc có thể bằng 100, 1000).

    Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.

    1.4    Các thành viên tham gia trên thị trường ngoại hối

    1.4.1    Các Ngân hàng thương mại

    NHTM tham gia vào thị trường ngoại hối với 2 tư cách:

    • Thứ nhất: thực hiện các nghiệp vụ KDNT theo yêu cầu của khách hàng.
    • Thứ hai: thực hiện các nghiệp vụ KDNT cho chính ngân hàng nhằm đảm bảo ổn định số dư ngoại tệ trên tài khoản, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong kinh doanh.

    Để thực hiện các nghiệp vụ này đòi hỏi các ngân hàng phải có Phòng Kinh doanh Ngoại tệ được trang bị các phương tiện và thiết bị chuyên dùng hiện đại cùng với đội ngũ chuyên viên am hiểu thị trường và có khả năng nắm bắt, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá và dự đoán tỷ giá trong tương lai.

    1.4.2    Các nhà môi giới

    Nhà môi giới (Broker) là những người được pháp luật quy định kinh doanh hợp pháp thực hiện vai trò trung gian trong giao dịch ngoại tệ giữa các đối tượng tham gia trên thị trường ngoại hối mà chủ yếu là ngân hàng, doanh nghiệp, công chúng với

    9

    nhau, bản thân ngân hàng cũng là nhà môi giới.

    Các nhà môi giới tạo điều kiện cho cung cầu tiếp cận nhau, đóng góp tích cực cho hoạt động thị trường ngoại hối như cung cấp thông tin thị trường, khả năng tìm bạn hàng nhanh chóng, đảm bảo sự vận hành tốt của thị trường thông qua liên lạc giữa người mua, người bán cho đến khi thỏa thuận được giao dịch. Các nhà môi giới được trả công cho từng giao dịch được gọi là phí hoa hồng môi giới.

    1.4.3    Ngân hàng Trung ương

    Ngân hàng Trung ương (Centre Bank) tham gia vào thị trường hối đoái với tư cách là cơ quan quản lý của Nhà nước nhằm giám sát và điều tiết thị trường trong khuôn khổ pháp luật quy định.Theo dõi sự biến động tỷ giá, khi cần thiết Ngân hàng Trung ương sẽ can thiệp vào thị trường để điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo hướng ổn định nền kinh tế.

    NHTW mua bán, chuyển đổi tiền tệ nhằm đảm bảo an toàn và gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối quốc gia.

    Ngoài ra, NHTW còn là đại lý trong việc mua hộ, bán hộ ngoại tệ cho chính

    phủ.

    1.4.4    Nhóm khách hàng mua bán lẻ

    Các khách hàng mua bán lẻ gồm các công ty nội địa và đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm hai mục đích:

    • Thứ nhất, chuyển đổi tiền tệ
    • Thứ hai, phòng ngừa rủi ro tỷ giá

    Theo đó, nhóm khách hàng mua bán lẻ có nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ cho mục đích hoạt động của chính mình chứ không nhằm mục đích kinh doanh ngoại hối. Thông thường, nhóm khách hàng mua bán lẻ không giao dịch trực tiếp với nhau mà thường mua bán thông qua các Ngân hàng Thương mại.

    (GS. TS Lê Văn Tư 2003)

    1.5    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM ra đời từ sự phát triển quan hệ thương mại giữa các vùng, lãnh thổ và giữa các quốc gia. Trong từng lãnh thổ, từng quốc gia lưu hành một loại đồng tiền riêng đã gây trở ngại khó khăn cho việc mua bán,

    10

    thanh toán, đồng thời rất phức tạp trong việc chuyển đổi tiền tệ. Quá trình đó thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức chuyên đảm nhiệm các chức năng riêng biệt thực hiện nhận đổi tiền, giữ hộ tiền và thanh toán.

    Chính từ đó mới phát sinh những vụ mua bán ngoại tệ kiếm lời, còn gọi là KDNT hay đầu cơ ngoại tệ. Trước những năm 1980, thị trường hối đoái chủ yếu phục vụ các nhà xuất nhập khẩu. Từ những năm 1980 trở về sau, các giao dịch trên thị trường hối đoái ngoài việc phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu còn phục vụ cho mục đích đầu cơ và mục đích khác.

    Nói tóm lại, hầu hết các hoạt động buôn bán quốc tế đều kéo theo các giao dịch ngoại tệ và ngược lại, rất nhiều sự kiện liên quan đến ngoại tệ đều có tác động đến ngoại thương. Các giao dịch ngoại tệ quốc tế được thực hiện thông qua ngân hàng vì thế nghiệp vụ KDNT của ngân hàng chính là chất xúc tác, là điều kiện đảm bảo an toàn cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu cũng như tài trợ cho họ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Hoạt động KDNT theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động mua bán ngoại tệ, đầu tư, đi vay, cho vay, bảo lãnh và các giao dịch khác liên quan đến ngoại tệ.

    Theo nghĩa hẹp, người ta hiểu khái niệm hoạt động KDNT đơn thuần là việc mua bán số dư ngoại tệ trên tài khoản. (PGS. TS Nguyễn Văn Tiến, 2010)

    Cùng với sự phát triển của ngoại thương và nhu cầu phòng tránh rủi ro tỷ giá trong thanh toán quốc tế, nghiệp vụ KDNT cũng không ngừng được hoàn thiện. Từ nghiệp vụ ban đầu là mua bán giao ngay (Spot), đến nay các nghiệp vụ KDNT đã phát triển đa dạng, đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng như thanh toán, bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đầu cơ.

    2.     Chức năng và vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    2.1        Chức năng của hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động KDNT có các chức năng sau:

    • Đảm bảo việc thực hiện thanh toán cho các khách hàng của ngân hàng giữa các quốc gia với nhau.
    • Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng hay tài trợ của Ngân hàng nước ngoài.
    • Thực hiện nghiệp vụ tiền gửi bằng ngoại tệ của khách hàng tại ngân hàng

    trong nước.

    • Tạo cho các ngân hàng khả năng tận dụng sự chênh lêch tỷ giá giữa các

    11

    thị trường ngoại hối khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận.

    • Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tính toán hiệu quả kinh tế trong hoạt động ngoại thương thông qua đồng nội tệ.

    2.2    Vai trò của hoạt động kinh doanh tiền tệ

    Hoạt động KDNT có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với ngân hàng mà còn đối với cả khách hàng bởi các mục đích sau:

    • Thanh toán các hợp đồng ngoại thương.
    • Điều chỉnh trạng thái ngoại hối.
    • Hạn chế rủi ro trong thanh toán bằng ngoại tệ.
    • Kinh doanh kiếm lời.

    Ngoài ra, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ KDNT nhằm mục đích đa dạng các sản phẩm phục vụ khách hàng, thu hút khách hàng thông qua các tiện ích ngân hàng từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

    3.     Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thƣơng mại

    Các nghiệp vụ KDNT trên thị trường hối đoái ngày càng đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng tham gia trên thị trường. Hiện nay, trên thị trường hối đoái có 5 nghiệp vụ KDNT phổ biến là nghiệp vụ giao ngay, nghiệp vụ kỳ hạn, nghiệp vụ tương lai, nghiệp vụ hoán đổi và nghiệp vụ quyền chọn. Trong đó, nghiệp vụ giao ngay là nghiệp vụ cơ sở bởi tỷ giá áp dụng cho các hợp đồng giao ngay được hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường, 4 nghiệp vụ còn lại được gọi là các nghiệp vụ KDNT phái sinh bởi tỷ giá áp dụng cho các hợp đồng này không hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường mà hình thành từ tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu chi tiết về từng nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

    3.1    Nghiệp vụ giao ngay (Spot)

    3.1.1     Khái niệm

    Nghiệp vụ KDNT giao ngay là nghiệp vụ trong đó việc thực hiện mua, bán một số lượng ngoại tệ giữa hai bên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 2 (hai) ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua, bán. Đây chính là điểm đặc trưng để phân biệt giữa thị trường giao ngay và các

    12

    thị trường khác.

    Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do NHTM niêm yết tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thoả thuận nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định của NHNN công bố trong từng thời kỳ (nếu có).

    3.1.2    Đặc điểm

    Theo nghĩa rộng, thị trường giao ngay bao gồm thị trường bán buôn (Interbank) và thị trường bán lẻ (mua bán giữa ngân hàng và khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp…). Tuy nhiên, doanh số giao dịch trên interbank là chủ yếu nên theo nghĩa hẹp có thể coi thị trường giao ngay chính là thị trường liên ngân hàng.

    Thị trường giao ngay là thị trường tài chính lớn nhất toàn cầu. Thuật ngữ “Spot” phát xuất từ các giao dịch được thực hiện ngay. nhưng thực tế việc chuyển giao ngoại tệ cho phép diễn ra sau đó hai ngày làm việc theo thông lệ quốc tế (đây là thời gian cần thiết để các ngân hàng thực hiện bút toán chuyển tiền). Ví dụ: Việc mua bán ngoại tệ được cam kết tại thời điểm giao dịch (trade date) nhưng việc chuyển giao ngoại tệ được phép tiến hành sau đó 2 ngày làm việc tiếp theo (Banking day). Ngày mà hai đồng tiền được trao đổi gọi là ngày thanh toán hay ngày giá trị (Value date). Cho đến nay, mặc dù hệ thống thanh toán rất tiến bộ nhưng phần lớn việc chuyển giao ngoại tệ giao ngay vẫn được thực hiện sau 2 ngày kể từ ngày giao dịch.

    Thị trường ngoại hối giao ngay là thị trường phi tập trung (không giao dịch trên sở giao dịch), các thành viên bao gồm các NHTM, các công ty tài chính lớn, những nhà môi giới ngoại hối và cả NHTW, trong đó cá NHTM đóng vai trò chủ chốt. Các thành viên tham gia trên thị trường liên hệ với nhau bằng điện thoại, telex, mạng vi tính và hệ thống SWIFT.

    Thị trường giao ngay có tính thanh khoản rất cao. Nghiệp vụ giao ngay có tác dụng đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng khi cần mua hoặc cần bán ngoại tệ đồng thời tạo điều kiện thuận tiện cho việc di chuyển vốn giữa các quốc gia với nhau.

    Nghiệp vụ giao ngay không chỉ tạo điều kiện cho ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán (chênh lệch này được gọi là spread) mà còn đáp ứng kịp thời giao dịch trên thị trường để cân đối ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu

    13

    ngoại tệ trong thanh toán, đảm bảo kiểm soát được trạng thái ngoại hối theo quy định của NHNN.

    3.1.3    Ý nghĩa của nghiệp vụ giao ngay đối với các NHTM

    Thứ nhất, chênh lệch tỷ giá mua, bán rất hẹp thông thường nhỏ hơn 0,1% nên thị trường giao ngay có tính thanh khoản rất cao, khối lượng mua bán lớn. Do đó, các NHTM có thể thu được lợi nhuận lớn từ việc tăng doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường giao ngay.

    Thứ hai, do tốc độ truyền tin nhanh chóng cho nên những thay đổi của thị trường ảnh hưởng tức thời lên tỷ giá tức là tỷ giá hối đoái trên thị trường luôn biến động để phản ánh những thay đổi của thị trường.

    Thứ ba, đây là thị trường có tính thanh khoản rất cao vì:

    • Luôn sẵn có số tiền cần thiết.
    • Tại địa điểm cần có.
    • Tại thời điểm có nhu cầu.
    • Bằng đồng tiền cần có.
    • Với giá cả hợp lý.

    Những nhà kinh doanh không thể bỏ qua những thay đổi có tính đột biến trên một thị trường rất sôi động và có tính toàn cầu như thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối giao ngay có hai cấp, đó là: thị trường liên ngân hàng trực tiếp và thị trường kiên ngân hàng gián tiếp thông qua môi giới.

    Trên thị trường liên ngân hàng trực tiếp, các ngân hàng giao dịch trực tiếp với nhau không thông qua nhà môi giới. Tất cả các ngân hàng tham gia thị trường đều là nhà tạo lập thị trường. Ngân hàng này yết giá mua vào và bán ra cho ngân hàng kia và ngược lại. Vì giao dịch giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng không diễn ra trên sở giao dịch và các giao dịch được thực hiện một cách liên tục nên thị trường này được biết đến như là thị trường: Phi tập trung, liên tục, đấu giá mở cửa và giao dịch hai chiều.

    Trên thị trường liên ngân hàng gián tiếp, các ngân hàng đặt các lệnh giới hạn một chiều cho các nhà môi giới. Nhà môi giới ghi lệnh này vào sổ và tìm cách đối chiếu lệnh mua với các lệnh bán đồng tiền đó từ các ngân hàng khác. Trong khi các

    14

    ngân hàng tiến hành các giao dịch, một mặt cho chính mình, mặt khác cho khách hàng, thì những nhà môi giới chỉ giao dịch duy nhất cho khách hàng. Trong giao dịch nhà môi giới sẽ đưa ra tỷ giá tốt nhất cho khách hàng. Tỷ giá này gọi là tỷ giá tay trong. Thông qua hoạt động môi giới, nhà môi giới sẽ thu hoa hồng từ ngân hàng mua và ngân hàng bán. Do tính chất hoạt động thị trường ngoại hối thông qua nhà môi giới được biết đến như là thị trường: Bán tập trung, liên tục, đặt lệnh có giới hạn và thông qua phương thức đấu giá một chiều.

    Nghiệp vụ Spot có tác dụng đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng khi cần mua hoặc cần bán ngoại tệ đồng thời tạo điều kiện thuận tiện cho việc di chuyển vốn giữa các quốc gia với nhau.

    Nghiệp vụ Spot không chỉ tạo điều kiện cho ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá mà còn đáp ứng kịp thời giao dịch trên thị trường để cân đối ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong thanh toán, đảm bảo kiểm soát được trạng thái ngoại hối theo quy định của NHNN.

    3.2    Nghiệp vụ kỳ hạn

    Khi thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, kim nghạch XNK các nước đều tăng lên đáng kể, nhu cầu mua bán ngoại tệ đáp ứng các hợp đồng thanh toán xuất nhập khẩu do đó cũng phát triển mạnh mẽ. Trong khi đó, thị trường tài chính ngày càng biến động, làm phát sinh rủi ro tỷ giá đối với các nhà kinh doanh XNK bởi thông thường, trong ngoại thương, giữa thời điểm ký kết hợp đồng và thời điểm thanh toán có độ lệch về thời gian. Đối với nhà nhập khẩu, chi phí nhập khẩu tính bằng nội tệ sẽ tăng nếu giá ngoại tệ tăng.

    Đáp ứng nhu cầu của các nhà kinh doanh XNK, các NHTM đã cung cấp các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh bao gồm kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn. Trước hết, chúng ta sẽ nghiên cứu về nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ kỳ hạn.

    3.2.1    Khái niệm

    • Giao dịch kỳ hạn là một giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ trao đổi một số lượng ngoại tệ nhất định theo một tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời điểm được thỏa thuận trong tương lai (sau ngày giá trị giao ngay).

    Như vậy, có thể định nghĩa “những giao dịch có ngày giá trị xa hơn ngày giá

     

    15

    trị giao ngay gọi là giao dịch ngoại hối kỳ hạn”.1

    • Tỷ giá kỳ hạn: Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay.
    • Điểm kỳ hạn: là chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay

    (Forward points).

    Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn được tiến hành tại một thời điểm theo tỷ giá xác định do hai bên thỏa thuận, nhưng việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện trong tương lai. Điều này có nghĩa hợp đồng có kỳ hạn được ký vào ngày J là ngày giao dịch (trade date) và ngày đến hạn là ngày J + n (maturity date) theo tỷ giá thỏa thuận lúc ký hợp đồng (tỷ giá kỳ hạn) nhưng thực tế việc giao ngoại tệ có thể là ngày J + n + 2 (ngày giá trị của giao dịch kỳ hạn – Value date).

    3.2.2    Đặc điểm

    • Giá trị một hợp đồng không được tiêu chuẩn hóa và là một giá trị tùy ý phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người mua và người bán.
    • Mua bán tất cả các đồng tiền.
    • Hàng ngày giá cả biến động theo cung cầu thị trường, không có giới hạn, trừ khi có can thiệp của Ngân hàng Trung ương.
    • Ngày đến hạn phụ thuộc vào thỏa thuận của người mua và người bán.
    • Không hạn chế về thời hạn tối đa của hợp đồng.
    • Rủi ro tín dụng phụ thuộc vào bên đối tác. Rủi ro được phòng ngừa bằng các hạn mức tín dụng và ký quỹ.
    • Luồng tiền không phát sinh cho đến khi hợp đồng hết hạn.
    • Giao dịch 24h/ngày.
    • Không hạn chế tư cách thành viên.

    3.2.3    Tỷ giá kỳ hạn

    Xác định tỷ giá kỳ hạn thực chất là xác định giá trị của ngoại tệ trong tương lai, hai đồng tiền trong quan hệ tỷ giá có thể đầu tư (với lãi suất của mỗi đồng tiền) trong

    • TS Nguyễn Văn Tiến, Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh, trang 130-131, nhà xuất bản Thống kê

    16

    cùng một thời gian như nhau.

    Ta ký hiệu:

    FVT: Giá trị tương lai của đồng tiền định giá

    FVC : Giá trị tương lai của đồng tiền yết giá

    S: Tỷ giá giao ngay, F: Tỷ giá kỳ hạn

    RT: Lãi suất/năm của đồng tiền định giá

    RC: Lãi suất/năm của đồng tiền yết giá

    t: Thời hạn hợp đồng, tính theo năm

    Trong quan hệ đầu tư, 2 đồng tiền phải có tỷ suất đầu tư ngang nhau. Giả sử đầu tư 1 C, tương đương với đầu tư S đồng T, ta có:

    F * FVC  = FVT

    F * (1 + RC * t )= S * (1+RT * t)

    F = S * (1.1)
    F = S *

    Thông thường, thời hạn của các hợp đồng ngoại hối là tương đối ngắn so với 1 năm và các mức lãi suất %/năm của các đồng tiền là các số nhỏ so với 1 đơn vị. Do đó mẫu số của công thức (1.1) xấp xỉ 1, do đó chúng ta có thể viết lại công thức trên như sau:

          (1.2)
      F = S + S* (RT – R C) * t  
           

    Công thức (1.1) và (1.2) là các công thức tổng quát để tính tỷ giá kỳ hạn. Tuy nhiên, trên thực tế khi ký kết hợp đồng kỳ hạn, các NHTM cần phải xác định tỷ giá kỳ hạn mua vào và bán ra.

    Trên thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, lãi suất của mỗi đồng tiền và mỗi tỷ giá đều được niêm yết theo hai chiều như sau:

    • Đối với lãi suất bao gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
    • Đối với tỷ giá có tỷ giá mua và tỷ giá bán.

    Theo đó, tỷ giá mua kỳ hạn và tỷ giá bán kỳ hạn được tính theo công thức sau:

    Tỷ giá mua kỳ hạn:

    F = S + S* (RT Tg – RC Cv) (1.3)
       

    Trong đó:

    17

    RT Tg là lãi suất tiền gửi của đồng tiền định giá, RC Cv là lãi suất cho vay của đồng tiền yết giá.

    Tỷ giá bán kỳ hạn:

    F = S + S* (RT Cv – RC Tg) (1.4)
     
       

    Trong đó:

    RT Cv là lãi suất cho vay của đồng tiền định giá, RC Tg là lãi suất tiền gửi của đồng tiền yết giá.

    3.2.4    Ý nghĩa của nghiệp vụ kỳ hạn đối với các NHTM

    Mặt tích cực:

    • Giao dịch hối đoái kỳ hạn là một trong những công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá cho những đối tượng tham gia trên thị trường hối đoái.
    • Cho phép các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư dự đoán tỷ giá ngoại tệ tăng hay giảm trong tương lai thì quyết định nên mua kỳ hạn hoặc bán kỳ hạn để ngăn chặn sự thiệt hại về thu nhập và tài sản khi tỷ giá biến động.
    • Cho phép những người tham gia mua bán ngoại tệ có thể xác định được thu nhập, chi phí cũng như lợi nhuận trước khi lựa chọn quyết định kinh doanh của

    mình.

    Mặt hạn chế:

    • Khách hàng phải ký quỹ khi ký hợp đồng kỳ hạn.
    • Hợp đồng kỳ hạn không thể bị huỷ bỏ đơn phương mà không có sự thoả thuận của hai đối tác.
    • Nghĩa vụ của hai bên không thể chuyển giao cho bên thứ ba nên hợp đồng kỳ hạn có tính thanh khoản không cao.

    3.3    Nghiệp vụ tương lai (Future)

    3.3.1    Khái niệm giao dịch ngoại tệ tương lai

    Giao dịch ngoại tệ tương lai (giao dịch giao sau) là một thoả thuận mua bán số lượng ngoại tệ theo tỷ giá được xác định do hai bên thỏa thuận tại thời điểm hiệu lực và việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày xác định trong tương lai thông qua Sở giao dịch hối đoái.

    18

    Giao dịch ngoại tệ tương lai được sử dụng để phòng tránh rủi ro tỷ giá tương tự như giao dịch kỳ hạn. Giao dịch tương lai lần đầu tiên được giới thiệu trên thị trường tiền tệ quốc tế (IMM – International Monetary Market) vào năm 1972 tại Chicago (Chicago Mercantile Exchange), cho đến nay nghiệp vụ Future đều có mặt trên các thị trường tài chính nổi tiếng trên thế giới.

    3.3.2    Đặc điểm

    • Các hợp đồng giao dịch tiền tệ tương lai là những hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và được thực hiện trên sàn giao dịch của Sở giao dịch tiền tệ tương lai.
    • Các công ty, cá nhân và các ngân hàng gửi các lệnh đặt mua hay đặt bán một số lượng cố định ngoại hối cho các nhà môi giới hay các thành viên của Sở giao dịch. Trên cơ sở đó, các lệnh đặt mua được đối chiếu với các lệnh bán và một công ty thanh toán bù trừ của Sở giao dịch đảm bảo cho cả hai bên mua và bán sau khi đã được đối chiếu và khớp với nhau chắc chắn sẽ được thực hiện.
    • Cung cầu về các hợp đồng tương lai được thể hiện thông qua việc các đối tác sẵn sàng mua hay bán các hợp đồng, làm cho giá cả các hợp đồng biến động theo giá của các lệnh đặt mua hay đặt bán.
    • Trên thị trường tương lai chỉ tồn tại một số ít ngày giá trị nhất định. VD tại Sở giao dịch Chicago, chỉ có 4 ngày giá trị là thứ 4 của tuần thứ 3 trong các tháng ba, sáu, chín và mười hai.
    • Các hợp đồng tương lai chỉ thực hiện với 6 loại ngoại tệ theo quy định số lượng từng loại ngoại tệ cho mỗi giao dịch trên thị trường như sau:

    19

    Bảng 1.1 Đơn vị giao dịch của các đồng tiền trên

    sở giao dịch tiền tệ tƣơng lai

    Giao dịch tƣơng lai đối với USD Mỗi đơn vị giao dịch
       
    Pound Sterling GBP 62.500
       
    Canada Dollar CAD 100.000
       
    Japanese Yen JPY 12.500.000
       
    Swiss Franc CHF 125.000
       
    Euro EUR 125.000
       
    Autralian Dollar AUD 100.000
       
    • Khi bắt đầu tham gia nghiệp vụ này, khách hàng phải thực hiện ký quỹ ban đầu (Initial Margin) được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hợp đồng tại Phòng thanh toán bù trừ (Clearing House). Số tiền ký quỹ này sẽ được tính toán và điều

    chỉnh hàng ngày để thực hiện thanh toán giữa một bên lời và lỗ nếu có chênh lệch tỷ giá thị trường với tỷ giá thỏa thuận khi ký hợp đồng tương lai.

    • Hợp đồng tương lai có tính thanh khoản khá cao, bởi khi tham gia vào hợp đồng kỳ hạn khách hàng bắt buộc phải thực hiện hợp đồng còn đối với hợp đồng tương lai các bên có quyền đảo hợp đồng khi một bên yêu cầu (thường khi tỷ giá diễn biến bất lợi) bằng cách Phòng giao dịch sẽ thực hiện một giao dịch ngược trên cùng với một số lượng ngoại tệ như nhau. Khi đảo hợp đồng thì hợp đồng cũ bị xoá bỏ và hai bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch giá trị tại thời điểm đảo hợp đồng. Chính vì có khả năng đảo hợp đồng mà chỉ không quá 2% số lượng hợp đồng tương lai được thực hiện khi đáo hạn, còn lại đa số hợp đồng được tất toán với hình thức đảo hợp đồng. Các hợp đồng được duy trì đến ngày đáo hạn sẽ được thanh toán giống như các hợp đồng kỳ hạn.

    Nghiệp vụ KDNT tương lai chưa được áp dụng tại Việt Nam do một số nguyên nhân về nhận thức giao dịch, mức độ hiệu quả của thị trường và cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ giao dịch chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.

    20

    3.3.3    Ý nghĩa của nghiệp vụ tương lai đối với các NHTM

    Hợp đồng tương lai cho phép giao dịch ngoại tệ có giá trị nhỏ nên dễ dàng và thuận lợi trong giao dịch.

    Hợp đồng tương lai cung cấp cho những nhà đầu cơ một phương tiện kinh doanh và cho những người ngại rủi ro một công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá tốt.

    Tuy nhiên hợp đồng tương lai có những hạn chế là chỉ giao dịch giới hạn trong một số ngoại tệ nhất định, việc chuyển giao ngoại tệ chỉ thực hiện ở một số ngày trong năm và đây là loại hợp đồng không cho khách hàng quyền chọn như trong hợp đồng quyền chọn.

    3.4    Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (Swap)

    Để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hợp đồng kỳ hạn được sử dụng rất phổ biến trong hoạt động kinh doanh XNK. Tuy nhiên, trên thực tế, thời điểm mà nhà XNK phát sinh nhu cầu thu chi ngoại tệ lại có thể xảy ra trước hoặc sau thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn. Để khắc phục nhược điểm này của hợp đồng kỳ hạn, các NHTM đã cung cấp các hợp đồng hoán đổi cho phép các nhà kinh doanh XNK kéo dài hay rút ngắn thời hạn hợp đồng kỳ hạn cho phù hợp với nhu cầu thu chi ngoại tệ thực tế.

    3.4.1     Khái niệm

    Giao dịch hoán đổi tiền tệ là việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    3.4.2    Đặc điểm

    • Một hợp đồng hoán đổi hối đoái gồm hai vế là mua vào và bán ra, cùng được ký kết vào ngày hôm nay, nhưng có ngày giá trị khác nhau.
    • Nếu không có thỏa thuận khác thì khi nói mua đồng tiền có nghĩa là ngân hàng yết giá mua vào đồng tiền yết giá, và bán ra một đồng tiền nghĩa là ngân hàng yết giá bán ra đồng tiền yết giá.
    • Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền yết giá là bằng nhau trong cả hai vế của hợp đồng hoán đổi.
    • Căn cứ đặc điểm ngày giá trị, giao dịch hoán đổi gồm hai loại:
    • Spot – Forward Swap: Bao gồm 1 vế giao ngay và một vế kỳ hạn

    21

    • Forward – Forward Swap: Bao gồm cả 2 vế đều là kỳ hạn với ngày giá trị

    khác nhau.

    Trên thực tế, giao dịch hoán đổi dạng Forward – Forward ít được sử dụng và các hợp đồng hoán đổi chủ yếu là Spot – Forward Swap.

    3.4.3    Xác định tỷ giá trong giao dịch hoán đổi

    Trong nghiệp vụ hoán đổi thường công bố điểm hoán đổi (swap point).

    Điểm swap được tính toán như sau:

    Swap point  =  Forward rate   –      Spot rate

    (1.5)

    Swap point = S *

    Trong đó: S là tỷ giá giao ngay, RT là lãi suất đồng tiền định, RC là lãi suất đồng tiền yết giá, t là thời gian (tính theo ngày).

    Ví dụ giao dịch hoán đổi tiền tệ tại BIDV:

    Khách hàng là Công ty A muốn bán giao ngay USD và mua kỳ hạn 3 tháng

    USD.

    Ngày 15/11/2010, tỷ giá giao ngay và lãi suất kỳ hạn 3 tháng tại BIDV như

    sau:

    • Tỷ giá USD/VND: 19.495 – 19.500
    • Lãi suất USD (%/năm) : 3 – 6
    • Lãi suất VND (%/năm): 12 – 14

    Ta có điểm Swap 3 tháng của USD/VND áp dụng đối với công ty A là:

    SWP3 = 19.500 x (14 – 6) x 92/(100 x 360) = 399 điểm

    Như vậy, giao dịch Swap USD/VND 3 tháng sẽ được thực hiện như sau:

    Vào ngày 15/11/2010, BIDV sẽ mua USD/VND với tỷ giá giao ngay USD/VND là 19.495 đồng thời cam kết bán lại số USD đó để lấy VND sau 3 tháng

    22

    với tỷ giá USD/VND là 19.500 + 399 =19.899 (đây chính là tỷ giá bán Forward 3 tháng).

    3.4.4    Ý nghĩa của nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ đối với các NHTM

    Giao dịch hoán đổi ngoại tệ được phổ biến trên thị trường hối đoái với mục đích là phòng tránh rủi ro tỷ giá hoặc đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn. Khối lượng giao dịch này vượt hẳn khối lượng giao dịch giao ngay hoặc kỳ hạn một chiều. Giao dịch hoán đổi ngoại tệ được tiến hành với cùng một khách hàng.

    Giao dịch Swap giúp các ngân hàng cân bằng trạng thái vốn giữa hai thời điểm khác nhau, giải quyết nhu cầu ngoại tệ, vốn trong kinh doanh và nâng cao thu nhập cho ngân hàng.

    Các NHTM có thể kết hợp nghiệp vụ Swap ngoại tệ với Swap lãi suất như sau:

    • Swap lãi suất:

    Là nghiệp vụ tìm những vốn nguồn vốn với lãi suất cố định, phí tổn thấp hơn. Người đi vay có thể so sánh lãi suất trên các thị trường khác nhau để có những quyết định phù hợp với mục đích giao dịch.

    • Swap lãi suất hai ngoại tệ: cam kết của hai bên giao dịch vào một ngày nhất định đổi một lượng cố định ngoại tệ này để nhận một lượng biến đổi ngoại tệ khác với thời hạn xác định khi đến hạn. Phí tổn của giao dịch phụ thuộc vào chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền tính theo số ngày trên cơ sở tỷ giá giao ngay (điểm Swap). Trên cơ sở điểm Swap được các ngân hàng thông báo khách hàng sẽ lựa chọn giữa đi vay ngoại tệ hay giao dịch Swap thông qua vay ngoại tệ đối ứng.
    • Swap lãi suất đối với một đồng tiền: ứng dụng hoán đổi lãi suất để tìm lãi suất rẻ khi đổi lãi cố định với lãi thả nổi. Đó là các giao dịch chuyển đổi nghĩa vụ trả lãi suất theo các hình thức khác nhau như lãi suất cố định với lãi suất biến đổi dựa trên cùng một loại tiền tệ. Trong một hợp đồng hoán đổi lãi suất một bên trả lãi suất cố định từ thời điểm giao dịch, trong khi bên kia trả lãi suất thả nổi theo thỏa thuận trong suốt thời gian của hợp đồng Swap lãi suất cho hai bên.ngân hàng sẽ đứng trung gian thực hiện hợp đồng Swap cho hai bên.
    • Ứng dụng Swap xác định lãi suất đồng tiền chào trên thị trường

    Thông qua các điểm kỳ hạn của các đồng tiền được báo trên thị trường, các nhà

    23

    kinh doanh ngoại hối luôn tìm cách phát hiện những chênh lệch về lãi suất giữa lời chào của ngân hàng thể hiện bằng điểm kỳ hạn với lãi suất trên thị trường để tìm kiếm những đồng tiền cần thiết có lợi nhất, khi biết trước lãi suất của đồng tiền này từ đó tính ra lãi suất được chào của đồng tiền kia. Người ta áp dụng hình thức tính toán theo điểm kỳ hạn hay còn gọi là thị trường Swap.Trong chừng mực nào đó, chênh lệch lãi suất nẩy sinh giữa các điều kiện của Swap với lãi suất thị trường có thể được coi như là giá phải trả khi người giao dịch muốn có được đồng tiền cần thiết mà không phải đi vay.

    3.5    Nghiệp vụ quyền chọn (Option)

    Quyền chọn là một công cụ của các thị trường giao dịch trên thế giới. Quyền chọn được áp dụng trong các giao dịch ngoại hối, lãi suất, chứng khoán, hàng hoá… Mặc dù vào thế kỷ 19 khái niệm về quyền chọn đã được hình thành tại London, tuy nhiên do đặc tính của quyền chọn nên chưa được hình thành trong giai đoạn này. Mãi đến năm 1973 nghiệp vụ quyền chọn mới được giao dịch mạnh mẽ tại thị trường hàng hoá Chicago (Chicago Board Options Exchange – CBOE) và chỉ một thời gian ngắn quyền chọn được phép giao dịch trên tất cả các thị trường lớn như American Stock Exchange, Philadelphia Stock Exchange, Monep…

    3.5.1    Khái niệm quyền chọn

    Các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và tương lai luôn phải được thanh lý có thể trước hoặc sau hay tại thời điểm hợp đồng đến hạn. Không giống như các hợp đồng này, hợp đồng quyền chọn tiền tệ cho phép người mua trong tương lai có quyền mua hoặc bán (không phải nghĩa vụ) một đồng tiền nhất định tại một mức tỷ giá cố định được thỏa thuận trước.

    Như vậy, có thể định nghĩa về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ như sau:

    Quyền chọn ngoại tệ (quyền chọn mua hoặc bán ngoại tệ) là một hợp đồng giữa người mua và người bán, theo đó người bán trao cho người mua quyền chứ không phải nghĩa vụ mua (call) hoặc bán (put) một số lượng nhất định ngoại tệ trong một khoảng thời gian được xác định với tỷ giá nhất định (tỷ giá thực hiện). Đổi lại người mua phải trả cho người bán một khoản phí (gọi là phí Option). Người bán quyền chọn được hưởng khoản phí đó cho dù người mua có thực hiện hay không thực hiện quyền chọn của mình.

    24

    3.5.2    Đặc điểm quyền chọn tiền tệ

    • Quyền chọn mua và quyền chọn bán tiền tệ:

    Hợp đồng quyền chọn cho phép người mua hợp đồng quyền: hoặc là thực hiện quyền chọn (mua hoặc bán) theo tỷ giá đã thỏa thuận cố định từ trước, hoặc là mặc nhiên để hợp đồng tự động hết hạn mà không tiến hành bất cứ một giao dịch nào. Đối với người bán quyền chọn không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch khi người mua thực hiện quyền chọn.

    Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ là hợp đồng trong đó người mua hợp đồng có quyền mua một đồng tiền nhất định. Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ là hợp đồng trong đó người mua hợp đồng có quyền bán một đồng tiền nhất định. Trong mỗi giao dịch quyền chọn bao gồm cả quyền chọn mua và quyền chọn bán.

    Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ bao hàm nội dung: mua đồng tiền yết giá tức bán đồng tiền định giá. Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ bao hàm nội dung bán đồng tiền yết giá tức mua đồng tiền định giá.

    • Các bên tham gia giao dịch quyền chọn tiền tệ:

    Các bên tham gia giao dịch quyền chọn tiền tệ: gồm người bán hợp đồng và người mua hợp đồng. Mua một hợp đồng quyền chọn có thể là mua quyền chọn bán hoặc mua quyền chọn mua. Người mua hợp đồng sau khi đã trả phí có quyền tiến hành quyền chọn nếu thấy có lợi hoặc là không tiến hành quyền chọn nếu thấy bất lợi. Người bán hợp đồng quyền chọn có thể là bán quyền chọn bán hoặc bán quyền chọn mua. Người bán hợp đồng sau khi đã thu phí có nghĩa vụ sẵn sàng giao dịch tại mức tỷ giá đã thỏa thuận nếu người mua thực hiện quyền chọn của mình.

    • Thực hiện quyền chọn:

    Người mua hợp đồng quyền chọn có quyền quyết định thực hiện hay không thực hiện quyền chọn tiền tệ. Một hợp đồng quyền chọn được tiến hành giao dịch có nghĩa là có sự thanh toán thực sự giữa người mua và người bán và các luồng tiền trao đổi xảy ra thực sự.

    Thời điểm các bên đối tác ký kết hợp đồng gọi là thời điểm ký kết hợp đồng.

    Thời điểm tiến hành thanh toán gọi là thời điểm thực hiện quyền chọn.

    25

    • Tỷ giá quyền chọn:

    Tỷ giá áp dụng trong giao dịch quyền chọn gọi là tỷ giá quyền chọn. Tỷ giá quyền chọn ngoài yếu tố cung cầu còn phụ thuộc vào mức phí quyền chọn là cao hay thấp do đó tỷ giá quyền chọn có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với tỷ giá giao ngay, giao kỳ hạn hay giao tương lai. Nghĩa là tỷ giá quyền chọn có thể bất cứ như thế nào miễn sao người mua chấp nhận, bởi vì giữa tỷ giá quyền chọn và phí mua quyền chọn luôn có mối quan hệ với nhau, do đó người bán thường sẵn sàng chấp nhận mọi tỷ giá quyền chọn mà người mua đề nghị nhưng áp dụng mức phí quyền chọn hợp lý để có lãi.

    • Giá hợp đồng quyền chọn

    Giá hợp đồng quyền chọn hay phí quyền chọn là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán hợp đồng quyền chọn. Giá hợp đồng quyền chọn phải là lượng tiền hợp lý sao cho đủ để bù đắp rủi ro xét từ góc độ của người bán và không bị quá đắt xét từ góc độ người mua. Phí quyền chọn là khoản tiền không truy đòi và thông thường được thanh toán một lần tại thời điểm ký kết hợp đồng. Tuy nhiên trong một số trường hợp thì việc thanh toán có thể xảy ra tại thời điểm hợp đồng đến hạn nếu như người bán có thiện chí cấp tín dụng cho người mua.

    • Các nhân tố ảnh hưởng đến phí quyền chọn
    • Tỷ giá giao ngay: tại mỗi mức tỷ giá giao dịch nếu tỷ giá giao ngay càng cao thì xác suất xảy ra thực hiện quyền chọn mua càng lớn do đó phí quyền chọn càng cao.
    • Tỷ giá quyền chọn: Tại mỗi mức tỷ giá giao ngay, nếu tỷ giá quyền chọn của hợp đồng quyền chọn mua càng cao thì xác suất xảy ra thực hiện quyền chọn càng thấp do đó phí quyền chọn mua càng thấp.
    • Thời gian đến hạn: thời gian đến hạn của hợp đồng quyền chọn càng dài thì càng có nhiều khả năng tỷ giá thị trường biến động trên mức tỷ giá quyền chọn mua; do đó phí quyền chọn mua càng cao.
    • Sự biến động của tỷ giá: Tỷ giá trên thị trường biến động càng mạnh thì xác suất tỷ giá giao ngay vượt tỷ giá quyền chọn tại thời điểm hợp đồng đến hạn càng lớn do đó phí quyền chọn càng cao.

    26

    • Lãi suất của đồng tiền yết giá: nếu lãi suất của đồng tiền yết giá tăng làm cho giá trị hiện tại của đồng tiền này giảm, dẫn đến các hợp đồng quyền chọn mua trở nên kém hấp dẫn do đó làm cho phí quyền chọn mua giảm xuống.
    • Lãi suất của đồng tiền định giá: lãi suất đồng tiền định giá tăng làm cho giá trị hiện tại của đông tiền này giảm, dẫn đến các hợp đồng quyền chọn mua trở nên hấp dẫn, làm cho phí quyền chọn mua tăng lên.
    • Giá trị hiện tại và giá trị thời gian:

    Phí quyền chọn bao gồm hai phần thành phần: giá trị nội tại và giá trị thời gian. Giá trị nội tại là khoản lãi có thể thu được nếu thực hiện quyền chọn ngay lập tức tại một thời điểm nhất định.

    • Đối với hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ:

    Giá trị nội tại = Tỷ giá giao ngay – Tỷ giá quyền chọn

    • Đối với hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ:

    Giá trị nội tại = Tỷ giá quyền chọn – Tỷ giá giao ngay

    Nếu giá trị nội tại > 0 thì hợp đồng quyền chọn được gọi là được giá quyền chọn.

    Nếu giá trị nội tại < 0 thì hợp đồng quyền chọn được gọi là giảm giá quyền chọn.

    Nếu giá trị nội tại = 0 thì hợp đồng quyền chọn được gọi là ngang giá quyền chọn.

    Giá trị thời gian của hợp đồng quyền chọn là hiệu số giữa phí quyền chọn và giá trị nội tại. Nó phản ánh một hợp đồng quyền chọn có thể có giá trị lớn hơn giá trị nội tại. Nghĩa là, do sự biến động của tỷ giá giao ngay trong tương lai làm cho giá trị của hợp đồng quyền chọn thay đổi tức có giá trị thời gian.

    3.5.3    Ý nghĩa của nghiệp vụ quyền chọn đối với các NHTM

    Quyền chọn được sử dụng như là công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá hiệu quả đồng thời là công cụ được sử dụng để đầu cơ mạnh mẽ trên thị trường hối đoái quốc tế.

    Đối với các NHTM, quyền chọn không chỉ được sử dụng để đầu cơ, kiếm lợi nhuận trên thị trường liên ngân hàng mà còn giúp các NHTM thu được khoản phí đáng kể khi cung cấp quyền chọn cho khách hàng của mình.

    27

    3.6    Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage)

    3.6.1    Khái niệm

    Arbitrage là nghiệp vụ kết hợp việc mua (bán) ngoại tệ và thực hiện bán (mua) ngoại tệ lại nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường.

    Nguyên tắc

    • Arbitrage áp dụng nguyên tắc mua ngoại tệ ở nơi tỷ giá thấp và bán ngoại tệ ở nơi tỷ giá cao.
    • Giao dịch mua và bán ngoại tệ đều được thanh toán qua hệ thống ngânhàng nên phát sinh chi phí môi giới, chuyển tiền, điện phí… Các nhà đầu tư so sánh lợi nhuận thu được do chênh lệch tỷ giá phải bù đắp được chi phí phát sinh và đảm bảo có lời thì nghiệp vụ Arbitrage mới được thực hiện.

    3.6.2    Đặc điểm và ý nghĩa của nghiệp vụ Arbitrage đối với các NHTM

    • Lợi nhuận từ kinh doanh chênh lệch giá tuy không lớn nhưng kiếm được trong thời gian ngắn và hầu như không có rủi ro nên rất hấp dẫn. Cơ hội kinh doanh chênh lệch giá là rất ngắn vì khi có nhiều người tham gia sẽ nhường cho sự bình quân tỷ giá giữa các khu vực.
    • Với nghiệp vụ Arbitrage, ngân hàng hoàn toàn chủ động mua/bán ngoại tệ nhằm kiếm chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường. Chính đặc điểm của Arbitrage là cơ hội kinh doanh ngắn đòi hỏi ngân hàng phải có chương trình hỗ trợ tính thu nhập khi thực hiện giao dịch thì mới có thể đáp ứng nhu cầu ra quyết định trong thời gian rất ngắn. Hiện tại, BIDV không giao dịch Arbitrage.

    II.               CÁC TIÊU CHÍ ĐO LƢỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

     

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của mỗi ngân hàng là khác nhau, phụ

    thuộc vào quy mô ngân hàng lớn hay nhỏ, lĩnh vực hoạt động chính, khả năng tài chính của ngân hàng …Qua nghiên cứu, tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của BIDV và một số NHTM, để đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của NHTM, tác giả xin trình bày một số tiêu chí như sau:

    28

    1.     Doanh số mua bán ngoại tệ

    Doanh số mua bán ngoại tệ của một Ngân hàng thương mại trong một thời kỳ được tính bằng tổng doanh số ngoại tệ mua vào và bán ra với khách hàng trong thời kỳ đó.

    Doanh số MBNT = Doanh số mua + doanh số bán (ngoại tệ)

    Hiện nay, khi thị trường ngoại hối phát triển, đồng nghĩa với việc cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, nếu ngân hàng mở rộng chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán (spread) thì sẽ không hấp dẫn khách hàng, dẫn đến doanh số mua bán ngoại tệ thấp. Do đó, một ngân hàng muốn tăng lợi nhuận thì trong cạnh tranh các ngân hàng thường có xu hướng thu hẹp spread nhằm tăng doanh số mua bán ngoại tệ của mình.

    Như vậy, spread là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số mua bán ngoại tệ của một ngân hàng. Một ngân hàng muốn tăng doanh số giao dịch thì cần thu hẹp spread và ngược lại muốn giảm doanh số giao dịch thì mở rộng spread.

    Để đánh giá hoạt động kinh doanh ngoại tệ của một ngân hàng có chuyên nghiệp và hiệu quả hay không, cần xem xét một số yếu tố sau:

    • Tương quan giữa doanh số mua bán ngoại tệ của ngân hàng và tổng

    doanh số XNK của các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đó. T = doanh số mua bán ngoại tệ/tổng doanh số xuất nhập khẩu

    • Tương quan giữa doanh số mua vào của ngân hàng và các khoản thu từ

    hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp XNK.

    Tm = doanh số mua ngoại tệ/doanh số xuất khẩu của Doanh nghiệp

    – Tương quan giữa doanh số bán ra của ngân hàng và các khoản chi cho Tb = doanh số bán ngoại tệ/doanh số nhập khẩu của Doanh nghiệp

    hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp.

    2.     Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ bao gồm:

    29

    • Lãi thu được do chênh lệch giữa giá bán và giá mua ngoại tệ.Trên thị trường ngoại hối có ba phương pháp cơ bản để thu lãi. Ví dụ, trên thị trường giao

    ngay, đó là:

    Lãi phát sinh khi nhà kinh doanh tạo trạng thái ngoại hối: Nhà kinh doanh có thể tạo trạng thái ngoại hối bằng cách mua bán một đồng tiền nào đó, chờ cho tỷ giá biến động sau đó cân bằng trạng thái ngoại hối và thu lãi.

    Lãi thu được từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá: là việc tại cùng một thời điểm mua một đồng tiền ở nơi có giá thấp và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá trị cao hơn để ăn chênh lệch tỷ giá.

    Lãi thu được từ chênh lệch tỷ giá mua vào bán ra: Do tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra nên chênh lệch tỷ giá mua bán chính là thu nhập của ngân hàng. Ta có công thức tính như sau:

    Lãi KDNT = Doanh số MBNT * spread

    Trong đó: Spread = Tỷ giá bán – tỷ giá mua

    • Phí thu được từ các giao dịch ngoại tệ (Phí từ cung cấp các sản phẩm ngoại hối phái sinh).

    Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ của một ngân hàng thương mại.

    3.     Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên tổng thu nhập

    Thu nhập hay lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một yếu tố rất quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ của một NHTM. Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ cần dựa vào chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại trên tổng thu nhập của NHTM đó. Một ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ thấp hơn nhưng sẽ được đánh giá hiệu quả cao hơn nếu thu thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại trên tổng thu nhập cao.

    Đối với các ngân hàng lớn (đặc biệt là các ngân hàng nước ngoài) đều có xu hướng giảm dần các nghiệp vụ truyền thống như tín dụng và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, trong dó trong cơ cấu lợi nhuận của các ngân hàng này, thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ chiếm tỷ trọng rất lớn, thường trên 40%.

    30

    4.     Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Ngày nay hoạt động KDNT của NHTM ngày càng đa dạng, phong phú đi kèm với nó là các rủi ro, trong hoạt động KDNT có các loại rủi ro sau:

    • Các rủi ro cơ bản: Rủi do tỉ giá, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán.
    • Rủi ro trong hồ sơ mua bán ngoại tệ: Hồ sơ mua bán ngoại tệ chưa rõ ràng, hợp pháp, hợp lệ, đầy đủ. Thông tin khách hàng không chính xác, rõ ràng, Không cập nhật thông tin khách hàng kịp thời khi có thay đổi…,
    • Rủi ro trong hợp đồng mua bán ngoại tệ: Hợp đồng không đầy đủ, ko chặt chẽ hoặc không đúng với các quy định về quản lý ngoại hối, thanh toán và pháp luật, không thực hiện đúng các điều khoản cam kết, không thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro biến động tỉ giá với các hợp đồng kỳ hạn mua bán ngoại tệ, thu phí qua hợp đồng dịch vụ (hoa hồng, chi phí tiền mặt) làm tăng tỉ giá thực tế vượ trần quy định;
    • Rủi ro khi hạch toán: Hạch toán sai số tiền, loại tiền, tỷ giá, nhầm đối tác

    giao dịch…

    Sau đây chúng ta đi sâu vào xem xét 1 số rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    4.1    Rủi ro tỷ giá

    4.1.1    Khái niệm rủi ro tỷ giá

    Về bản chất kinh doanh ngoại hối tự bản thân nó chứa đựng rủi ro rất cao. Ngoài các rủi ro thông thường mà các hoạt động khác phải đối mặt như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro kỹ thuật…thì kinh doanh ngoại hối còn chịu thêm một rủi ro đặc biệt đó là rủi ro tỷ giá. Do tỷ giá biến động thường nên rủi ro tỷ giá được xem là rủi ro thường trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng thương mại.

    Rủi ro tỷ giá là rủi ro xuất hiện khi ngân hàng mua vào một lượng ngoại tệ mà đồng tiền đó đang bị mất giá (giá hiện nay thấp hơn giá mua vào) hoặc bán ra ngoại tệ mà đồng tiền đã bán đang tăng giá.

    Đối với khách hàng, rủi ro tỷ giá xuất hiện khi các doanh nghiệp đã ký hợp đồng ngoại thương theo đó họ sẽ phải thanh toán một số lượng ngoại tệ nhất định trong tương lai khi đối tác giao hàng. Từ khi ký kết hợp đồng đến khi thanh toán là một

    31

    khoảng thời gian khá dài cho sự biến động của tỷ giá, nếu chúng ta biết rằng tỷ giá luôn biến động hàng ngày, hàng giờ và phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố chính trị, kinh tế của đất nước.

    Mỗi ngân hàng tham gia hoạt động KDNT đều quan tâm đến rủi ro tỷ giá và một trong những cách quản lý rủi ro tỷ giá có hiệu quả là quản lý trạng thái ngoại hối.

    4.1.2    Nguồn phát sinh rủi ro tỷ giá

    Như phân tích tại mục 2, có ba phương pháp cơ bản để thu lãi. Ví dụ, trên thị trường giao ngay, đó là:

    Lãi phát sinh khi nhà kinh doanh tạo trạng thái ngoại hối: Nhà kinh doanh có thể tạo trạng thái ngoại hối bằng cách mua bán một đồng tiền nào đó, chờ cho tỷ giá biến động sau đó cân bằng trạng thái ngoại hối và thu lãi.

    Lãi thu được từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá: là việc tại cùng một thời điểm mua một đồng tiền ở nơi có giá thấp và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá trị cao hơn để ăn chênh lệch tỷ giá. Vì hành vi mua bán diễn ra tại cùng một thời điểm với số lượng bằng nhau, nên kinh doanh chênh lệch tỷ giá không chịu rủi ro tỷ giá (vì không tạo ra trạng thái) và không phải bỏ vốn

    Lãi thu được từ chênh lệch tỷ giá mua vào bán ra: Do tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra nên chênh lệch tỷ giá mua bán chính là thu nhập của ngân hàng. Về thực chất, trong giao dịch này, ngân hàng đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ mua hộ, bán hộ cho khách hàng nên không chịu rủi ro tỷ giá và không cần bỏ vốn.

    Từ trên chúng ta có thể thấy, nhà kinh doanh ngoại hối chỉ chịu rủi ro tỷ giá khi duy trì trạng thái ngoại hối mở. Trạng thái ngoại hối mở của ngoại hối mở của một ngoại tệ là chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ của một ngoại tệ tại một thời điểm. Tất cả các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ (hiện tại và tương lai) đều tạo ra trạng thái ngoại tệ trong đó thông qua giao dịch mua bán là chủ yếu. Chính vì vậy, trong thực tế chỉ cần quản lý tốt trạng thái mua bán ngoại tệ cũng đủ ngăn ngừa rủi ro tỷ giá phát sinh.

    Đối với mỗi ngoại tệ, tại một thời điểm nếu tổng tài sản có lớn hơn tổng tài sản nợ thì ngoại tệ đó trạng thái trường. Khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lãi ngoại hối và ngược lại khi đồng tiền này giảm giá sẽ làm phát sinh lỗ ngoại hối. nếu tổng tài

    32

    sản có nhỏ hơn tổng tài sản nợ thì ngoại tệ đó ở trạng thái đoản. khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lỗ ngoại hối và ngược lại khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lãi ngoại hối.

    Nếu không duy trì trạng thái ngoại hối mở thì nhà kinh doanh không chịu rủi ro tỷ giá hoặc duy trì trạng thái ngoại hối mở nhưng không biến động thì rủi ro tỷ giá cũng không phát sinh. Tuy nhiên là nhà kinh doanh ngoại hối thì động cơ chủ yếu là thông qua việc tạo trạng thái và tỷ giá biến động càng nhanh, càng mạnh, càng khó dự đoán thì cơ hội kiếm lãi dành cho họ càng nhiều. (Nguyễn Văn Tiến, 2005)

    4.1.3    Đo lường  rủi ro tỷ giá

    Như trên đã trình bày, rủi ro tỷ giá của một loại ngoại tệ phụ thuộc vào việc duy trì trạng thái ròng ngoại tệ và mức độ biến động của tỷ giá:

    Lãi/lỗ đối với ngoại tệ I = trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ I x mức độ biến động tỷ giá ngoại tệ I

    Đối với một danh mục ngoại tệ kinh doanh:

    Nếu việc phân tích rủi ro ngoại hối chỉ được tiến hành đối với từng ngoại tệ riêng biệt, tức là tiến hành xem trạng thái ngoại hối mở của từng loại ngoại tệ độc lập thì tổng rủi ro ngoại hối đối với ngân hàng sẽ bị cường điệu lên rất nhiều. Nhìn chung, rủi ro ngoại hối của một danh mục ngoại tệ nhỏ hơn tổng các rủi ro của từng loại ngoại tệ riêng biệt vì sự thay đổi tỷ giá giữa các đồng tiền này với nhau có mối tương quan nghịch nên lợi nhuận thu được từ duy trì trạng thái ngoại hối đối với đồng tiền này có thể bù đắp cho sự thua lỗ do duy trì trạng thái ngoại hối đối với ngoại tệ khác.

    Trên thế giới có rất nhiều chỉ tiêu đo lường rủi ro trong hoạt động KDNT đối với một danh mục ngoại tệ kinh doanh. Trong phần này, tác giả xin trình bày hai chỉ số đo lường rủi ro của một danh mục ngoại tệ , đó là độ lệch chuẩn và chỉ số VaR (Value at Risk).

    • Phương pháp tính độ lệch chuẩn của danh mục ngoại tệ σ2 =

    33

    Trong đó: i ≠ j

    σ: Độ lệch chuẩn của danh mục ngoại tệ kinh doanh. σ càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn.

    Xi : Trạng thái ngoại hối ròng của ngoại tệ i

    Độ lệch chuẩn của tỷ giá giữa ngoại tệ i và VND

    Ρij: Hệ số tương quan giữa tỷ giá của ngoại tệ i và j với VND (PGS.TS Nguyễn Văn Tiến 2005)

    • VaR và phương pháp tính VaR ( Value at Risk)

    Khi đầu tư, các nhà đầu tư phải tính toán suất sinh lợi kỳ vọng (expectation), mức rủi ro cao nhất của mỗi tài sản/danh mục đầu tư của mình. Có một cách cơ bản và được sử dụng phổ biến để ước tính trường hợp xấu nhất đối với danh mục tài sản của mình – thua lỗ lớn nhất trong một thời gian nhất định, đó là Value at Risk, hay còn gọi là VaR.

    Value at Risk là số tiền tối đa mà một tài sản hay một danh mục đầu tư có thể mất với một xác suất nào đó trong một đơn vị thời gian. Mục đích của phân tích VaR là để trả lời câu hỏi: Với độ tin cậy là 95% (hoặc 99%) thì trong tháng tới (quý tới/năm tới), khả năng thua lỗ lớn nhất của danh mục là bao nhiêu % (tương ứng với bao nhiêu VND trên khoản đầu tư ban đầu vào danh mục ).

    Phương pháp tính VaR:

    Sau đây, tác giả xin trình bày 2 phương pháp thông dụng nhất để tính VaR:

    • Phân tích quá khứ (historical method)

    Theo phương pháp này, VaR được xác định như sau:

    1. Tính giá trị hiện tại của danh mục đầu tư
    1. Tổng hợp tất cả các tỷ suất sinh lợi quá khứ của danh mục đầu tư này theo từng hệ số rủi ro (giá trị cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất, vv).
    1. Xếp các tỷ suất sinh lợi theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất.
    1. tính VaR theo độ tin cậy và số liệu tỷ suất sinh lợi quá khứ.

    34

    • Phương sai – hiệp phương sai (variance-covariance method)

    Theo phương pháp này, VaR được tính cụ thể như sau:

    1. Tính giá trị hiện tại V0 của danh mục đầutư
    1. Từ những dữ liệu quá khứ, tính tỷ suất sinh lợi kỳ vọng m và độ lệch chuẩn suất sinh lợi σ của danh mục đầu tư
    1. VaR được xác định theo biểu thức sau đây:

    VaR = V0×(−m + zqσ)

    4.2    Rủi ro thanh toán

    Rủi ro này phát sinh khi việc thanh toán không đúng hạn như đã thỏa thuận. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro về thanh toán, thường do cân đối nguồn tiền vào và ra không khớp trong khi dự trữ ngoại tệ của NHTM không đủ nên không thể chuyển tiền như cam kết.

    Rủi ro về thanh toán còn xuất hiện khi ngân hàng đã thanh toán nhưng khách hàng không chuyển tiền đối ứng.

    Việc thanh toán chậm sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Ngân hàng và lợi nhuận sẽ giảm do phải chịu lãi phạt. Về lâu dài, việc thanh toán chậm sẽ đặt ngân hàng vào thế yếu trong những giao dịch sau này.

    4.3    Rủi ro  tín dụng

    Rủi ro này liên quan tới tình hình tài chính của đối tác như mất khả năng chi trả do thua lỗ, phá sản, bị kiện cáo khiến đối tác không thể thanh toán như đã thỏa thuận. Hậu quả của nó rất nghiêm trọng trên thị trường hối đoái nơi mà các giao dịch mang tính dây chuyền vì một khi giao dịch ngoại tệ được thực hiện sẽ phát sinh một loạt các giao dịch với các đối tác.

    Ngoài ra, hoạt động KDNT còn có các rủi ro khác như rủi ro hệ thống (Telex, điện thoại, hệ thống thanh toán, hệ thống bù trừ), rủi ro lãi suất (đối với các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi…), rủi ro thanh khoản, rủi ro pháp lý…

    35

    Chính vì hoạt động KDNT mang tính rủi ro cao nên các nước thường đưa ra các quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo an toàn, ổn định của hệ thống tài chính, ngân hàng. Công cụ để quản lý rủi ro ngoại tệ là việc giới hạn trạng thái ngoại tệ. Với công cụ này, các ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro ngoại tệ, đồng thời kiểm soát hiệu quả các hoạt động đầu cơ ngoại tệ, đảm bảo cung cầu ngoại tệ được phản ánh chính xác, bình ổn tỷ giá và góp phần làm lành mạnh thị trường hối đoái.

    Một ngân hàng được đánh giá là hoạt động hiệu quả trong kinh doanh ngoại tệ là ngân hàng phát triển tốt các nghiệp vụ phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá, đồng thời có biện pháp kiểm soát tốt trạng thái ngoại tệ.

    4.                 Khả năng hỗ trợ của nghiệp vụ KDNT tới các nghiệp vụ khác của ngân hàng

    Ta có thể thấy chức năng đầu tiên của hoạt động KDNT là mua bán ngoại tệ phục vụ nhu cầu XNK. Thương mại quốc tế phát triển là tiền đề và động lực thúc đẩy sự phát triển của hoạt động KDNT. Vì vậy, hiệu quả kinh doanh ngoại tệ không chỉ thể hiện từ nội tại hoạt động đó mà còn thể hiện ở việc hoạt động này hỗ trợ ra sao đối với các hoạt động thanh toán, tài trợ thương mại…

    36

    CHƢƠNG II

    THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ

    HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI

    NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

     

    I. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 1 Quá trình hình thành và phát triển

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong những ngân hàng đầu tiên được thành lập tại Việt Nam, có thể tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng qua các thời kỳ như sau:

    Thời kỳ từ 1957- 1980

    Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam – tiền thân của Ngân hàng ĐT&PTVN – được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ trực thuộc Bộ Tài Chính với qui mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi nhánh, 200 cán bộ. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thiết là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất các các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

    Thời kỳ 1981- 1989

    Ngày 24/6/1981, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước.

    Thời kỳ 1990 – nay

    Từ năm 1990 đến 1994: Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    Đây là thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Do vậy, nhiệm vụ của BIDV được thay đổi cơ bản: Tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước; Huy động các nguồn vốn trung dài hạn để

    37

    cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển

    Từ năm 1995 đến 1996: Đây là mốc đánh dấu sự chuyển đổi cơ bản của BIDV: Được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất nước.

    Từ năm 1996 đến nay: Đây là thời kỳ được ghi nhận là thời kỳ “chuyển mình, đổi mới, lớn lên cùng đất nước”; chuẩn bị nền móng vững chắc và tạo đà cho sự “cất cánh” của BIDV.

    Ghi nhận những đóng góp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam qua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tặng BIDV nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng I, Huân chương Lao động hạng I, Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Hồ Chí Minh,…

    38

    • Cơ cấu tổ chức

    Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức hệ thống BIDV

    NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

     

    KHỐI

    CÔNG TY

    CÔNG TY

    CHO THUÊ

    TÀI CHÍNH

    CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II

    CÔNG TY

    CHỨNG

    KHOÁN

    CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN

    CÔNG TY BẢO

    HIỂM BIDV

    KHỐI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN

    TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

    TRUNG TÂM

    ĐÀO TẠO

    VĂN PHÕNG ĐẠI

    DIỆN MIỀN TRUNG

    VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN MIỀN NAM

    VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN TẠI CAMBODIA

    VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN TẠI MYANMAR

    KHỐI

    NGÂN HÀNG

    SỞ GIAO DỊCH,

    CHI NHÁNH

    SỞ GIAO DỊCH

    III

    107 CHI NHÁNH

    KHỐI LIÊN DOANH GÓP VỐN CỔ PHẦN

    NGÂN HÀNG

    LIÊN DOANH

    VID-PUBLIC

    NGÂN HÀNG LIÊN DOANH LÀO-VIỆT

    NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT – NGA

    CTY LIÊN DOANH QUẢN LÝ ĐẦU TƢ

    CTY LIÊN DOANH THÁP BIDV

    CÁC ĐƠN VỊ CÓ VỐN GÓP CỔ PHẦN CỦA BIDV(*)

     

    39

    (*): Các công ty do BIDV là cổ đông sáng lập hoặc nắm cổ phần chi phối như:

    • Công ty CP cho thuê máy bay (VALC)
    • Công ty Đầu tư Phát triển Campuchia (DCC)
    • Ngân hàng Đầu tư Phát triển (BIDC)
    • Công ty bảo hiểm (CVI)
    • Công ty CP phát triển đường cao tốc BIDV (BEDC)
    • Công ty Đầu tư tài chính (BFI)

    Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của Hội Sở Chính

    BAN KIỂM SOÁT

    HỘI ĐỒNG

    QUẢN TRỊ

    HỘI ĐỒNG

    QUẢN TRỊ

    BAN TỔNG

    GIÁM ĐỐC

    CÁC ỦY BAN

    HỘI ĐỒNG

    TRỰC THUỘC

    HỘI ĐỒNG

    TÍN DỤNG

     

    HỘI ĐỒNG ALCO

    CÁC ỦY BAN,

    CÁC ỦY BAN,

    HỘI ĐỒNG

    THEO YÊU CẦU

    QUẢN TRỊ

    QUẢN TRỊ

                                           
                                           
                                        KHỐI HỖ
    KHỐI NGÂN     KHỐI VỐN     KHỐI TÁC      
    HÀNG BÁN     VÀ KINH       NGHIỆP       TRỢ
      BUÔN     DOANH VỐN                      
                               
                                           
                                           
                                           
    KHỐI BÁN KHỐI QUẢN LÝ KHỐI TÀI
    LẺ VÀ RỦI RO CHÍNH KẾ
    Ghi chú: MẠNG LƢỚI   TOÁN
    • Khối bán buôn gồm các ban:

    40

    • Ban Quan hệ khách hàng doanh nghiệp

     

    • Ban Đầu tư

     

    • Ban Định chế tài chính

     

    • Ban Phát triển sản phẩm và Tài trợ thương mại

     

    • Khối bán lẻ và mạng lưới bao gồm:
      • Ban phát triển sản phẩm bán lẻ và Marketing

     

    • Ban Quản lý chi nhánh

     

    • Trung tâm thẻ

     

    • Khối vốn và kinh doanh vốn gồm Ban Vốn và kinh doanh vốn
    • Khối quản lý rủi ro gồm:
      • Ban Quản lý rủi ro tín dụng

     

    • Ban Quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp

     

    • Ban Quản lý tín dụng

     

    • Khối tác nghiệp gồm:
      • Trung tâm thanh toán

     

    • Trung tâm dịch vụ khách hàng

     

    • Trung tâm tác nghiệp và tài trợ thương mại

     

    • Khối tài chính kế toán gồm:
      • Ban Kế toán

     

    • Ban Tài chính

     

    • Ban thông tin quản lý và hỗ trợ Alco

     

    • Khối hỗ trợ gồm:
      • Văn phòng

     

    • Ban tổ chức cán bộ

     

    • Ban kế hoạch phát triển

     

    • Ban pháp chế

     

    • Ban kiểm tra nội bộ

     

    • Ban quản lý tài sản nội ngành

     

    • Ban Quản lý công trình

     

    • Ban công nghệ

     

    • Ban thương hiệu và quan hệ công chúng

     

    • Văn phòng công đoàn

     

    • Văn phòng đảng ủy

     

    • Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh

     

    • Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng

     

    41

    • Ban quản lý Dự án cổ phần hóa

    3.                 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của BIDV

    Hoạt động của BIDV có đầy đủ chức năng của một ngân hàng thương mại được phép kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng, làm ngân hàng đại lý, phục vụ các dự án từ các nguồn vốn, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. BIDV đặc biệt cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực đầu tư các dự án trọng yếu của Nhà nước. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của BIDV cụ thể bao gồm:

    • Sản phẩm tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân, tổ chức
    • Sản phẩm tín dụng bao gồm cho vay cá nhân (cho vay lương đối với cán bộ công nhân viên, vay thấu chi, cho vay tiêu dùng…); cho vay các tổ chức kinh tế (cho vay theo món, cho vay vốn lưu động theo hạn mức tín dụng, cho vay tài trợ xuất khẩu, cho vay tài trợ dự án, cho vay thi công xây lắp…)
    • Sản phẩm và dịch vụ kinh doanh tiền tệ gồm:

    Nghiệp vụ giao ngay

    • Mô tả:

    Giao dịch hối đoái giao ngay là giao dịch hai bên thực hiện mua, bán một lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 02 (hai) ngày làm việc tiếp theo. Tuy nhiên, tại BIDV khi khách hàng có nhu cầu thanh toán ngay trong ngày thì BIDV sẽ đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng vì đây cũng là tập quán ở thị trường Việt Nam. Khi thực hiện giao dịch giao ngay, khách hàng sẽ không phải trả phí giao dịch

    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, cá nhân và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng:
    • Lợi nhuận kỳ vọng lớn
    • Giao dịch đơn giản

    Nghiệp vụ kỳ hạn

    • Mô tả:

    42

    Giao dịch hối đoái kỳ hạn là giao dịch hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định tại ngày giao dịch và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào thời điểm xác định trong tương lai. Khách hàng có nhu cầu giao dịch ngoại tệ kỳ hạn thì có thể liên hệ với các chi nhánh của BIDV để được tư vấn và có thể thỏa thuận tỷ giá, kỳ hạn, số lượng, ngày thanh toán, phương thức thanh toán, ký quỹ đảm bảo thực hiện hợp đồng và ký hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn. Mức ký quỹ hiện nay phụ thuộc vào từng đối tượng khách hàng. Khách hàng không phải trả phí đối với giao dịch kỳ hạn

    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, các cá nhân và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng
    • Cố định giá ngay từ thời điểm giao dịch để bảo hiểm rủi ro tỷ giá
    • Thấy trước lợi nhuận của phương án kinh doanh.

    Nghiệp vụ quyền chọn

    • Mô tả

    Giao dịch quyền lựa chọn tiền tệ là một giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thỏa thuận trước. Nếu bên mua quyền lựa chọn thực hiện quyền của mình, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thỏa thuận trước.

    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, các cá nhân và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng
    • Chọn giá theo nhu cầu
    • Rủi ro hạn chế, chi phí biết trước
    • Không hạn chế tiềm năng thu lợi
    • Đặc biệt phù hợp cho các luồng tiền chưa rõ ràng

    43

    • Quyền chọn tiền tệ cho phép khách hàng chủ động lựa chọn phương án mua bán có lợi nhất cho mình: hoặc lựa chọn thực hiện quyền nếu tỷ giá trên thị trường biến động bất lợi, hoặc không thực hiện quyền và thực hiện mua bán theo tỷ giá thị trường nếu tỷ giá thị trường tốt hơn tỷ giá thực hiện trong hợp đồng Quyền chọn.

    Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ

    • Mô tả

    Giao dịch hoán đổi tiền tệ là giao dịch đồng thời mua và bán cùng một lượng ngoại tệ (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    Giao dịch hoán đổi có thể là:

    • 1 giao dịch giao ngay + 1 giao dịch kỳ hạn
    • 1 giao dịch kỳ hạn + 1 giao dịch kỳ hạn
    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, các tổ chức được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng:
    • Công cụ phòng chống rủi ro hiệu quả
    • Linh hoạt hóa nguồn vốn, giúp cho khách hàng chuyển đổi nguồn vốn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác
    • Tận dụng cơ hội kinh doanh chênh lệch lãi suất, sử dụng dòng tiền của khách hàng một cách hiệu quả nhất.
    • Sản phẩm tài trợ thương mại: gồm dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu, dịch vụ bảo lãnh…

    44

    • Dịch vụ chuyển tiền: Gồm các dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước cho cá nhân và doanh nghiệp
    • Dịch vụ ngân hàng điện tử gồm: Dịch vụ BIDV Directbanking, dịch vụ gửi tin nhắn ngân hàng qua điện thoại di động (BSMS), dịch vụ nạp tiền qua điện thoại di động…
    • Dịch vụ ngân quỹ
    • Các dịch vụ khác: Dịch vụ trả lương tự động dành cho doanh nghiệp, dịch vụ thu tiền đại lý, dịch vụ quản lý vốn, dịch vụ thanh toán hóa đơn, dịch vụ tư vấn bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, dịch vụ đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm…

    III.            THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

    1.     Cơ sở pháp lý cho hoạt động KDNT tại BIDV

    1.1    Cơ sở pháp lý chung (của NHNN)

    Thị trường ngoại hối Việt Nam có thể nói được ra đời vào năm 1991, đánh dấu bằng việc Thống đốc NHNN ra quyết định số 107-NH/QĐ ngày 16/8/1991 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ (TTGDNT). Trên cơ cở Quy chế này, hai Trung tâm giao dịch Ngoại tệ tại TP.HCM và Hà Nội lần lượt ra đời vào tháng 8 và 11 năm 1991. Theo đó các NHTM, các tổ chức XNK kinh doanh trực tiếp với nước ngoài, NHTW có thể mua bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của mình. Các giao dịch được đấu giá vào 14h thứ ba và thứ sáu hàng tuần. Việc các NHTM và các tổ chức kinh tế có hoạt động ngoại tệ lớn giao dịch tại hai Trung tâm là bước tập dượt đầu tiên trong giao dịch mua bán ngoại tệ theo cơ chế thị trường.

    1.1.1    Quy định chung về hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam

    Văn bản pháp lý đầu tiên quy định về quản lý ngoại hối tại Việt Nam là điều lệ quản lý ngoại hối ban hành theo Nghị định số 102-CP ngày 6/7/1963 của Hội đồng Chính phủ.

    Cho đến nay, để phù hợp với tình hình thực tế, chính phủ đã liên tục có những quy định thay thế quy định cũ nhằm mở rộng quan hệ về kinh tế, chính trị và văn hoá với nước ngoài, đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện Cán cân

    45

    thanh toán quốc tế, từng bước thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam trong các Hoạt động ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt Nam. Ngày 18/10/1988, nghị định 161/1988/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định số 102-CP ngày 6/7/1963. Ngày 02/09/1998, Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ra đời thay thế nghị định 161/1988/NĐ-CP ngày 18/10/1988.

    Trước nhu cầu cấp thiết của việc thực hiện các cam kết của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 13/12/2005, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11, gồm 10 chương, 46 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2006.

    Ngày 28 tháng 12 năm 2006 Chính phủ ban hành nghị định số 160/2006/NĐ CP qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối. Theo đó, việc quản lý ngoại hối theo hướng từng bước hạn chế đô la hóa, tiến tới thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam, nghiêm cấm triệt để các giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo bằng ngoại tệ giữa các tổ chức, cá nhân. Hạn chế đến chấm dứt việc các tổ chức được bán hàng, cung cấp dịch vụ thu ngoại tệ…Tất cả các giao dịch thanh toán và chuyển tiền đối với giao dịch vãng lai giữa người cư trú và không cư trú được tự do thực hiện…

    Ngoài quy định được mang ngoại tệ trị giá 7.000 USD khi xuất cảnh không phải khai báo còn được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để chi phí cho việc học hành, chữa bệnh, du lịch…theo yêu cầu…

    Người cư trú được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài phục vụ cho các nhu cầu hợp pháp. Pháp lệnh còn quy định rõ ngoại tệ của người cư trú là cá nhân ở VN thu được từ các khoản chuyển tiền một chiều được sử dụng cho mục đích cất giữ, mang theo người, gửi vào tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng hoặc bán cho tổ chức tín dụng được phép. Trường hợp là công dân VN thì được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép…

    1.1.2    Quy định về hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

    Tháng 10 năm 1994, trước nhu cầu bức thiết trong quan hệ giao dịch, thanh toán ngoại tệ của nền kinh tế như một tổng thể, nhu cầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, hệ thống NHTM đã phát triển cao về số lượng cũng như chất lượng, các điều kiện về kỹ thuật, trang thiết bị cho phép trình độ giao dịch của các ngân hàng được

    46

    nâng cao, đặc biệt nguồn ngoại tệ của nền kinh tế dồi dào, thúc đẩy sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam. Trước tình hình đó, Thống đốc NHNN ban hành quy định số 203/QĐ-NH ngày 20/10/1994 thành lập Thị Trường ngoại tệ liên ngân hàng và ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế.

    Kể từ khi TTNTLNH được thành lập, NHNN là người mua bán cuối cùng khi cung cầu ngoại tệ mất cân đối lớn, NHNN chỉ mua bán với các NHTM và các NHTM mua bán trực tiếp với khách hàng. Nếu để TTGD tồn tại song song với TTNTLNH thì việc thực hiện chính sách tỷ giá sẽ không đồng bộ giữa Trung tâm và TTNTLNH. Do đó, ngày 01/12/1994, Thống đốc NHNN đã quyết định chấm dứt hoạt động của hai trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và TP.HCM.

    Sau một thời gian hoạt động của TTNTLNH, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường này ở trình độ cao hơn, chặt chẽ hơn, ngày 26/03/1999, Thống đốc NHNN đã ra Quyết định số 101/1999/QĐ-NHNN13 về Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH thay thế cho Quyết định số 203/QĐ-NH13 ngày 20/09/1994.

    Ngày, 11/7/2000 NHNN ra Quyết định số 206/2000/QĐ-NHNN13 sửa đổi khoản 2 điều 9 “Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng” ban hành kèm theo QĐ số 101/1999/QĐ-NHNN ngày 26/3/1999.

    1.1.3    Quy định về quy chế  hoạt động KDNT của NHTM

    Sau khi Nghị định 161 ngày 18/10/1988 ban hành, NHNN đã cấp giấy phép hoạt động ngoại hối cho hầu hết các NHTM. Đối với các NHTM, nghiệp vụ KDNT được xem là sản phẩm mới, do đó bước đầu còn hạn chế, các NHTM chỉ đơn thuần cung cấp các dịch vụ mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng để hưởng phí, chưa triển khai các nghiệp vụ kinh doanh để thu lợi nhuận từ chênh lệch tỷ giá.

    Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, thống đốc NHNN đã ra quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/01/1998 ban hành quy chế hoạt động giao dịch hối đoái. Đây là một quyết định quan trọng, tạo nền tảng pháp lý để các NHTM thực hiện kinh doanh ngoại tệ, đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của NHNN về lĩnh vực ngoại hối.

    Ngày 8/12/2004, Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN

    47

    điều chỉnh giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối đã chính thức có hiệu lực thi hành và thay thế Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 về Quy chế giao dịch hối đoái năm 1998.

    So với quy định cũ, đây là một quyết định hết sức táo bạo của NHNN nhằm mở rộng đối tượng khách hàng của các tổ chức tính dụng, tăng cường năng lực và phạm vi hoạt động cho các thành viên trên thị trường ngoại hối, cung cấp thêm cho các đối tượng này công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, thông qua đó khuyến khích khách hàng bán ngoại tệ cho ngân hàng với mức tỷ giá kỳ hạn linh hoạt hơn. Theo quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN, mọi tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối theo giấy phép của NHNN đều được phép thực hiện mọi loại hình giao dịch hối đoái hiện có trên thị trường, bao gồm giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền lựa chọn, chứ không cần phải xin các giấy phép cho từng loại hình giao dịch cụ thể như trước đây.

    Quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN không chỉ nới lỏng những quy định về kiểm soát trên thị trường mà còn cung cấp cho thị trường thêm một công cụ phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, lãi suất mới, hứa hẹn có hiệu quả thiết thực cao, đó là Quyền lựa chọn tiền tệ (Option).

    Để tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại triển khai áp dụng nghiệp vụ mới nhằm đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách hàng và phù hợp với nhu cầu hội nhập của nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chấp thuận cho một số Ngân hàng thương mại được thực hiện thí điểm nghiệp vụ Option tiền đồng. Thông qua việc thực hiện thí điểm nghiệp vụ này của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước tiến hành tổng hợp tình hình và có những đánh giá cả mặt được, mặt chưa được, những thuận lợi và vướng mắc, khó khăn, từ đó nghiên cứu, xây dựng và ban hành quy chế áp dụng đối với nghiệp vụ này để các ngân hàng thương mại triển khai, thực hiện.

    Theo văn bản vừa ban hành, hiện Ngân hàng Nhà nước đã dự thảo Thông tư về giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối hướng dẫn Nghị định 160/2006/NĐ-CP và thay thế Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái.

    Do đó, Ngày 18/03/2009, NHNN ra công văn số 1820/NHNN-QLNH về dừng

    thí điểm nghiệp vụ option tiền đồng yêu cầu các Ngân hàng thương mại đã được

    Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa đồng

    48

    Việt Nam và ngoại tệ chấm dứt việc thực hiện nghiệp vụ này kể từ ngày 23/3/2009.

    Các hợp đồng quyền chọn giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ đã ký trước ngày 23/3/2009 vẫn được thực hiện như đã ký kết.

    1.1.4    Quy định về cơ chế tỷ giá

    NHNN cũng không ngừng đổi mới điều hành tỷ giá theo hướng tăng tính thị trường của tỷ giá, phản ánh sát cung cầu ngoại tệ. Ngày 26/02/1999 được coi là ngày quan trọng trong điều hành chính sách tỷ giá, thời điểm NHNN thay đổi cách xác định tỷ giá hối đoái chính thức USD/VND.

    Nếu trước ngày 26/02/1999 cơ chế điều hành tỷ giá là hàng ngày NHNN công bố tỷ giá chính thức USD/VND, trên cơ sở đó các NHTM được chủ động quy định tỷ giá mua bán ngoại tệ của mình trong biên độ nhất định thì ngày 26/02/1999 với Quyết định 65/1999/QĐ-NHNN7, NHNN đã bãi bỏ việc công bố tỷ giá chính thức nói trên và thay vào đó là công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, các NHTM căn cứ vào đó được phép xác định tỷ giá mua vào và bán ra đối với USD không được vượt quá biên độ do NHNN công bố từng thời kỳ. Có thể nói đây là một bước đổi mới rất quan trọng, không những trong quan niệm, trong tư duy mà cả trong thực tiễn quản lý, với cơ chế này làm cho tỷ giá trên thị trường vận động một cách khách quan, phản ánh đúng hơn các quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường đồng thời cũng phù hợp với cơ chế điều hành tỷ giá của nhiều nước trên thế giới.

    Biên độ tỷ giá các NHTM được phép cộng/trừ khi thương lượng với khách hàng cũng không ngừng đổi mới. Nếu như trong giai đoạn đầu thực hiện cơ chế này, NHNN còn quy định quá chi tiết các mức biên độ và biên độ quá hẹp, được coi là vẫn can thiệp quá sâu vào công việc kinh doanh của NHTM thì nó cũng dần được chỉnh sửa theo hướng nới rộng hơn (hiện nay biên độ tỷ giá USD/VND được phép thoả thuận là +-3% theo Quyết định 2666/QĐ-NHNN ngày 25/11/2009, riêng các loại ngoại tệ khác USD do Tổng Giám Đốc ngân hàng quyết định).

    1.2    Các văn bản quy định của BIDV

    Trên cơ sở các quy định của NHNN, BIDV cụ thể hóa bằng văn bản cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng mình.

    49

    Một số văn bản quy định về hoạt động KDNT bao gồm:

    • Công văn số 7565/CV-KDV2 ngày 31/12/2009 quy định về mua bán ngoại tệ tại chi nhánh.
    • Quyết định số 780/QĐ-NVKD3 ngày 21/03/2003 Quyết định giao trạng thái ngoại tệ trong ngày cho các chi nhánh.
    • Quyết định số 4414/QĐ-NVKD3 ngày 18/8/2005 Quy định về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ.
    • Công văn số 0515/QĐ-NVKD3 ngày 10/02/2006 Quy định về giao dịch mua bán ngoại tệ trực tuyến.

    2.     Giới thiệu về bộ phận kinh doanh ngoại tệ tại BIDV

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập từ rất sớm, tuy nhiên, đến năm 1996 BIDV mới được NHNN cấp phép hoạt động kinh doanh đa năng với tư cách là một NHTM, trong đó có hoạt động kinh doanh ngoại hối.

    Bộ phận KDNT tại BIDV thuộc ban Vốn và Kinh doanh vốn (gồm 4 phòng). Trong đó, có 3 nhóm thuộc 3 phòng khác nhau thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ, bao gồm:

    • Nhóm kinh doanh ngoại tệ (thuộc phòng phục vụ khách hàng): gồm 7 cán bộ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ phục vụ khách hàng của toàn hệ thống thông qua việc mua bán ngoại tệ với các chi nhánh và qua thị trường liên ngân hàng. Nhóm kinh doanh ngoại tệ chủ yếu chỉ thực hiện kinh doanh ngoại tệ giao ngay.
    • Nhóm phái sinh tài chính: gồm 4 cán bộ thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển các sản phẩm phái sinh để hướng dẫn, đào tạo các chi nhánh. Đồng thời giới thiệu và marketing khách hàng tiềm năng sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại tệ nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

    Đối với các khách hàng có nhu cầu mua bán ngoại tệ phái sinh, nhóm phái sinh tài chính sẽ hỗ trợ một chi nhánh đầu mối thực hiện hợp đồng với khách hàng, đồng thời giữa chi nhánh đó và hội sở chính sẽ ký một hợp đồng phái sinh đối ứng.

    • Nhóm kinh doanh ngoại tệ tự doanh: gồm 3 cán bộ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận của BIDV.

    3.     Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV

    Về lợi thế, BIDV có được nguồn ngoại tệ dồi dào từ các nguồn ODA thực hiện giải ngân từ ngân hàng, chính vì vậy, trong giai đoạn 2006-2010, doanh số mua bán ngoại tệ của BIDV tăng rất nhanh, cụ thể như sau:

    50

    Bảng 2.1 Doanh số mua bán ngoại tệ tại BIDV

    Đơn vị: Triệu USD

      Chỉ tiêu     Năm     Năm     Năm     Năm     9 tháng đầu  
            2006     2007     2008     2009     năm 2010  
                             
                                       
      Tổng doanh số mua bán   19.586   22.969   85.746   74.223   65.139  
                             
      Doanh số mua   9.799   11.493   42.882   37.117   32.575  
                             
      Doanh số bán   9.787   11.476   42.864   37.106   32.564  
                                       
      Doanh số mua bán với khách   15.864   17.686   54.877   51.213   42.340  
      hàng            
                                     
                                       
      Doanh  số  mua  bán  trên   3.722   5.283   30.869   23.010   22.799  
      TTLNH            
                                     
                             
      Doanhsố MBNT phái sinh   979   2.985   23.151   15.587   14.331  
                             
      Doanh số MBNT giao ngay   18.607   19.984   62.595   58.636   50.808  
                                       

    (Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV các năm 2006, 2007, 2008, 2009 và báo cáo tài chính BIDV quý III năm 2010)

    Qua bảng trên có thể thấy doanh số mua bán ngoại tệ trong giai đoạn 2006-2009 tăng lên rất nhanh (cụ thể, sau 3 năm, doanh số mua bán ngoại tệ đã tăng 3,8 lần). Năm 2007, doanh số mua bán ngoại tệ chỉ tăng 17% so với nhăm 2006. Tuy nhiên, đến năm 2008, doanh số mua bán ngoại tệ đã tăng 3,7 lần so với năm 2007, và đến năm 2009, doanh số mua bán ngoại tệ tuy có giảm so với năm 2008 nhưng so với năm 2007, con số này đã tăng 3,2 lần. Năm 2009 và 2010, tốc độ tăng trưởng của doanh số mua bán ngoại tệ thấp hơn các năm trước do tình hình cung cầu trên thị trường biến động, hoạt động KDNT của các NHTM nói chung và của BIDV nói riêng đều gặp khó khăn. Cụ thể, năm 2009, doanh số mua bán ngoại tệ của BIDV giảm 13% so với năm 2008, và 9 tháng đầu năm 2010, doanh số MBNT của BIDV chỉ tăng 17% so với cùng kỳ năm 2009.

    KDNT vừa là thế mạnh, vừa là nghiệp vụ truyền thống của BIDV.Thông qua nghiệp vụ này, BIDV đã phát triển mạnh các nghiệp vụ khác như thanh toán xuất nhập khẩu, thanh toán phi mậu dịch, kiều hối nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến

    51

    giao dịch với BIDV. Doanh số mua bán ngoại tệ tăng phần lớn là nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế và một phần là nhờ vào vai trò là ngân hàng đại lý và ủy thác cho các nguồn vốn ODA. Nhờ vào hoạt động này mà BIDV có được nguồn cung ngoại tệ dồi dào từ việc chuyển đổi ngoại tệ để phục vụ các nhu cầu chi tiêu của các Ban quản lý dự án ODA.

    Biểu 2.2 Doanh số mua bán ngoại tệ chia theo thị trường

    60000

    50000

    40000

    30000

                                                              Doanh số mua
                                                             
    20000                                                         bán với KH
                                                           
    10000                                                         Doanh số mua
                                                           
                                                           
                                                           
                                                             
                                                             
    0                                                         bán trên TT
                                                           
        Năm 2006   Năm 2007   Năm 2008   Năm 2009   9 tháng đầu liên NH
           
                                                năm 2010  

    Tương ứng với tổng doanh số mua bán ngoại tệ, doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng, với các ngân hàng khác cũng tăng lên đáng kể, cụ thể giai đoạn 2006-2009, doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng tăng 3,2 lần, doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng tăng tới 6,2 lần.

    Nếu chia theo các nghiệp vụ KDNT thì doanh số mua bán ngoại tệ giao ngay và doanh số mua bán ngoại tệ phái sinh cũng đều có bước tăng trưởng vượt bậc. Cụ thể:

    Biểu 2.3 Doanh số mua bán ngoại tệ chia theo nghiệp vụ

     

    52

    70000

    60000

    50000

    40000

    30000

    20000

    10000

    0

    Năm            Năm             Năm            Năm          9 T đầu

    2006            2007            2008            2009             năm

    2010

    Doanh số mua bán giao ngay

    Doanh số mua bán ngoại tệ phái sinh

    Bên cạnh sự tăng trưởng vượt bậc của doanh số mua bán ngoại tệ thì thu nhập từ hoạt động KDNT cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ, cụ thể chúng ta xem xét bảng thu nhập sau:

    Bảng 2.4 Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ 2

            Đơn vị: Tỷ VND
               
    Chỉ tiêu Năm Năm Năm Năm 9 tháng đầu
      2006 2007 2008 2009 năm 2010
               
    Thu nhập KDNT 91,8 112,3 790,8 752,6 620,9
               
    Tổng thu nhập 650 2.103 2.142 3.196 2822
               

    Biểu đồ 2.5 Thu nhập KDNT trên tổng thu nhập

    2 Báo cáo tài chính BIDV các năm 2006, 2007, 2008, 2009

    53

    Thu nhập KDNT/Tổng thu nhập

    0.4

    0.35

    0.3

    0.25

    0.2

    0.15

    0.1

    0.05

    0

    Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

    Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ giai đoạn 2006-2009 tăng 6,7 lần và đạt mức cao nhất vào năm 2008 (790,8 tỷ VND). Cũng trong năm 2008, tỷ trọng thu nhập KDNT trong tổng thu nhập là khoảng 36% (gần bằng với mức tỷ trọng của các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam). Năm 2009, chỉ tiêu thu nhập KDNT/ tổng thu nhập giảm xuống còn 23% và 9 tháng đầu năm 2010 còn 22% do tình hình thị trường biến động, hoạt động KDNT gặp khó khăn nên thu nhập tự hoạt động KDNT cũng giảm sút.

    Biểu đồ 2.6 Thu nhập KDNT theo nghiệp vụ

     

            54      
    700            
                   
    600            
    500            
    400            
    300           Thu nhập
              KDNT giao
             
             
                  ngay
    200           Thu nhập
                  KDNT phái
    100           sinh
    0            
      Năm Năm Năm Năm 9 T đầu
    2006 2007 2008 2009 năm 2010

    Trên đây là tình hình kinh doanh ngoại tệ tại BIDV giai đoạn 2006-2010. Sau đây chúng ta sẽ phân tích hiệu quả về hoạt động KDNT tại BIDV để tìm ra các kết quả đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động này.

    4.     Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV

    4.1    Về hiệu quả kinh doanh ngoại tệ

    Qua các số liệu tại mục 2, chúng ta có thể thấy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của BIDV đã đạt được kết quả rất tốt về cả doanh số và lợi nhuận.

    Năm 2006 là một năm BIDV có bước đột phá trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ cả về doanh số giao dịch và thu ròng, là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay. Hoạt động mua bán ngoại tệ luôn đáp ứng kịp thời, đầy đủ với giá cạnh tranh và phương thức giao dịrch linh hoạt như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn cho toàn bộ nhu cầu giao dịch của khách hàng trên toàn hệ thống BIDV, hỗ trợ tích cực cho các hoạt động nghiệp vụ khác như tín dụng, thanh toán quốc tế, hoạt động tiền gửi USD. Nhờ đó, doanh số mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng của BIDV đứng thứ hai trên thị trường Việt Nam.

    55

    Đến năm 2007, BIDV là Ngân hàng Việt Nam đầu tiên thực hiện giao dịch Hoán đổi tiền tệ chéo – một loại hình của Hoán đổi lãi suất – với ngân hàng đối tác Standard Chartered Bank tại London cho cặp tiền EUR/USD.

    Cũng trong năm 2007, lần đầu tiên BIDV được bình chọn là Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ FX tốt nhất năm 2007 – do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí AsiaMoney.

    Năm 2008 là năm BIDV có bước đột phá về tăng trưởng doanh số cũng như lợi nhuận từ KDNT, cả 2 con số này đều đạt mức cao nhất từ trước tới nay(doanh số MBNT tăng 3,7 lần và lợi nhuận thu được từ KDNT tăng tới hơn 7 lần). Về sản phẩm phái sinh, lãi thuần từ hoạt động phái sinh năm 2008 cũng đạt mức cao nhất từ trước tới nay với kết quả là 237,03 tỷ đồng, cao gấp 26 lần so với năn 2007.

    Năm 2008, BIDV được tạp chí AsiaMoney trao tặng giải ngân hàng cung ứng dịch vụ FX tốt nhất.

    Năm 2009, tuy doanh thu và lợi nhuận về KDNT của BIDV có giảm đôi chút so với năm 2008 do thị trường ngoại tệ biến động khó khăn. Nhưng với nỗ lực của mình trong việc hướng tới khách hàng, BIDV lần thứ 3 liên tiếp được nhận giải thưởng “Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ kinh doanh ngoại tệ (FX) tốt nhất năm 2009” do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí AsiaMoney. Kết quả này thể hiện sự đánh giá cao của các định chế tài chính trong và ngoài nước đối với quá trình thay đổi của BIDV để tiếp cận với chuẩn mực quốc tế và mô hình tổ chức, trình đội quản lý và đặc biệt là hiệu quả trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ của BIDV.

    Để có được những thành quả như vậy, BIDV có được một số lợi thế sau:

    Ban lãnh đạo BIDV luôn nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động KDNT đối với hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Do đó, Hoạt động KDNT của BIDV luôn nhận được sự quan tâm của Ban Lãnh đạo BIDV và NHNN. BIDV bổ nhiệm một Phó Tổng Giám Đốc chuyên quản lý hoạt động KDNT tại ngân hàng. BIDV luôn chú trọng áp dụng các sản phẩm KDNT mới kết hợp với các dịch vụ kèm theo như dịch vụ tư vấn tiền tệ.

    Hiện tại, ngoại trừ giao dịch Arbitrage và Future (chưa được phép thực hiện),

    56

    BIDV đã thực hiện tất cả các nghiệp vụ KDNT bao gồm Spot, Forward, Swap, Option. Với các nghiệp vụ này, khách hàng của BIDV có nhiều công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay.

    BIDV cũng luôn nhận được sự quan tâm và tin tưởng của NHNN, thể hiện ở việc BIDV là ngân hàng được NHNN cho phép thí điểm một số nghiệp vụ như Option, mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thoả thuận.

    Nghiệp vụ quyền chọn tại BIDV được NHNN cho phép triển khai thí điểm lần đầu trong khối các ngân hàng TMCP Việt Nam vào năm 2006. Nghiệp vụ quyền chọn giúp các nhà đầu tư giải quyết mâu thuẫn giữa lợi nhuận và rủi ro và khách hàng có thể biết trước được mức rủi ro tối đa (lỗ) có thể phải gánh chịu, đó chỉ là phần phí quyền chọn mà khách hàng trả cho BIDV khi mua hợp đồng quyền chọn.

    Nghiệp vụ quyền chọn đã mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp nhờ việc hạn chế rủi ro tỷ giá, nhất là đối với một số ngoại tệ có diễn biến phức tạp và có mức độ biến động lớn. Với các nghiệp vụ đang thực hiện, BIDV là ngân hàng có các hoạt động KDNT mạnh và đầy đủ các nghiệp vụ phục vụ khách hàng.

    Ngoài ra, công tác tư vấn tài chính luôn được chú trọng. Từ cuối năm 2005 khi hoạt động KDNT tại BIDV nói riêng cũng như tại Việt Nam nói chung diễn ra ngày một sôi động, bản tin tư vấn đầu tiên của BIDV đã ra đời cùng với dịch vụ «Tư vấn đầu tư Tài chính – tiền tệ ». Dịch vụ tư vấn tài chính của BIDV chủ yếu hướng tới phục vụ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, những cá nhân có nhu cầu mua bán ngoại tệ giúp họ nắm bắt thông tin và phòng tránh rủi ro tỷ giá, đảm bảo lợi nhuận thông qua các công cụ phòng tránh rủi ro mà BIDV có thể cung cấp như Forward, Swap, Option. Ngoài ra thông tin tư vấn của BIDV giờ đây cũng trở thành nguồn tin tham khảo đáng tin cậy của một số đơn vị thông tin đại chúng khi nghiên cứu về biến động tỷ giá ngoại tệ. Ban Lãnh đạo BIDV vẫn coi trọng duy trì bản tin cũng như không ngừng mở rộng dịch vụ tư vấn tài chính nhờ đó bản tin tư vấn cũng không ngừng được cải tiến cả về nội dung và hình thức với mục đích không gì khác là hướng tới phục vụ tốt nhất cho khách hàng của BIDV. Dịch vụ tư vấn đã góp phần đưa số khách hàng giao dịch với BIDV tăng lên, đồng thời giúp duy trì thế mạnh của BIDV trong hoạt động KDNT và

    57

    thanh toán quốc tế.

    BIDV đã có mối quan hệ quốc tế rộng lớn với các ngân hàng, đại lý ngân hàng trên thế giới, BIDV nhận được hạn mức KDNT khá thuận lợi từ nhiều ngân hàng lớn. Bên cạnh đó, BIDV đã thiết lập quy trình KDNT và xây dựng hệ thống quản lý hoạt động KDNT bằng công nghệ vào giao dịch và các dịch vụ kèm theo của Reuters, quản lý rủi ro thông qua việc kiểm soát chặt chẽ các trạng thái ngoại tệ và thực hiện báo cáo kinh doanh hàng ngày.

    Cuối năm 2009 BIDV đã tiến hành các bước chuẩn bị để triển khai thành công hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT của mình.

    Ngày 7/1/2010, Thomson Reuters đã ra thông báo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam đã lựa chọn và triển khai thành công hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử của Thomson Reuters trên nền Internet để tự động hoá các giao dịch Ngoại tệ tức thời giữa Hội sở với hơn 100 chi nhánh của Ngân hàng BIDV trên lãnh thổ Việt nam.

    Hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử – RET được xây dựng trên công nghệ hiện đại tiêu chuẩn quốc tế đã được kiểm chứng, được triển khai và áp dụng cho nghiệp vụ giao dịch ngoại tệ tại hơn 120 ngân hàng, thể chế tài chính tại 48 quốc gia trên thế giới, sử dụng 15 loại ngôn ngữ khác nhau.

    Với số lượng giao dịch ngoại tệ ngày càng tăng cùng áp lực lợi nhuận, giao dịch điện tử là một lựa chọn ít tốn kém đối với các ngân hàng. BIDV là ngân hàng tiên phong trong việc cải tiến hiệu quả hoạt động của bộ phận kinh doanh vốn và tiền tệ.

    Việc tự động hoá số lượng lớn giao dịch ngoại hối hàng ngày, hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Tự động RET sẽ giúp giải phóng thời gian cho các giao dịch viên ngoại hối tại BIDV, giúp họ tập trung ưu tiên chăm sóc và phục vụ khách hàng, phát triển các sản phẩm mới cũng như giảm thiểu các sai sót và thời gian xử lý giao dịch.

    Hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Tự động – RET cũng hỗ trợ Qui trình xử lý và hạnh toán tự động kết nối với hệ thống thanh toán của ngân hàng để quản lý rủi ro và kiểm soát trạng thái ngoại hối tức thì.

    58

    4.2    Đánh giá về hiệu quả phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    tại BIDV

    Như phân tích tại chương I, NHTM kinh doanh trên thị trường ngoại hối sẽ gặp phải một số rủi ro như Rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng….Trong đó rủi

    ro tỷ giá là rủi ro cơ bản nhất và ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng.

    Rủi ro tỷ giá là rủi ro mà giá trị của các công cụ tài chính bị thay đổi xuất phát từ những thay đổi về tỷ giá. Trong năm vừa qua, tỷ giá giữa VND và USD có dao động trong biên độ hẹp. Các khoản cho vay và ứng trước khách hàng của ngân hàng chủ yếu bằng VND, một phần bằng USD.

    Một số tài sản khác của ngân hàng lại bằng các đồng tiền khác ngoài VND và USD (như EUR, JPY…) nhưng số lượng không lớn. Như vậy, sự biến động tỷ giá không gây ra ảnh hưởng bất lợi nhiều cho hoạt động ngân hàng.

    Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn và hiệu quả hoạt động cho hệ thống, BIDV đã chính thức hoàn thành nghiệm thu và đi vào vận hành Chương trình Quản lý giá trị chịu rủi ro ngoại hối (VAR) từ tháng 1/2007.

    Chương trình quản lý giá trị chịu rủi ro ngoại hối tại BIDV tính toán VaR dựa trên các dữ liệu đầu vào lịch sử của từng loại ngoại tệ (chủ yếu là USD, EUR và JPY) theo phương pháp phân tích quá khứ.

    Ban Quản lý rủi ro trong ngân hàng đã đề xuất hạn mức VaR ngoại hối cho 3 đồng tiền chủ yếu trong báo cáo đánh giá rủi ro thị trường ngày 08/1/2007, cụ thể: VaR USD là 2.245 triệu VND, VaR EUR là 1.453 triệu VND và VaR JPY là 148 triệu VND. Tuy nhiên, do chưa được ALCO phê duyệt nên đây là những hạn mức tạm thời để quản lý VaR ngoại hối trong 9 tháng đầu năm.

    Ngày 02/10/2007 hội đồng ALCO đã ra nghị quyết phê duyệt hạn mức VaR áp dụng cho 3tháng cuối năm là: VaR USD 2.800 triệu VND, VaR EUR 1.000 triệu VND và VaR JPY 148 triệu VND. Trạng thái đồng tiền được quản lý trên cơ sở hàng ngày và chiếnlược phòng ngừa rủi ro được ngân hàng sử dụng để đảm bảo rằng trạng thái của các đồng tiền được duy trì trong hạn mức đã thiết lập.

    59

    Giá trị chịu rủi ro ngoại hối của từng đồng tiền trong năm 2007:

    Theo số liệu thống kê giá trị chịu rủi ro hàng ngày đối với từng loại ngoại tệ năm 2007, với trạng thái nắm giữ tại thời điểm nghiên cứu trong điều kiện biến động tỷ giá của 250 ngày trước đó và độ tin cậy 99% thì dự đoán khả năng tổn thất cụ thể như sau:

    Giá trị chịu rủi ro đối với USD

    Cùng với sự biến động của USD trong năm 2007 thì VaR USD cũng có sự biến động tương đối lớn. Mức tổn thất dự tính trong kinh doanh USD năm 2007 cao nhất là 3.342 triệu VND (ngày 1/10/2007), thấp nhất là 18 triệu VND (ngày 28/12/2007), trung bình là 2.153 triệu VND.

    Giá trị chịu rủi ro đối với EUR

    Mức độ tổn thất dự tính từ việc kinh doanh EUR của BIDV là tương đối thấp, VaR EUR luôn nhỏ hơn hạn mức VaR đã được phê duyệt. Tổn thất thực tế có thể xảy ra trong kinh doanh EUR tại BIDV trong năm 2007 cao nhất là 762 triệu VND (ngày 21/06/2007), thấp nhất là 8,9 triệu VND (ngày 3/1/2007) bình quân là 161,2 triệu VND.

    Giá trị chịu rủi ro đối với JPY

    Trong tháng 3 và tháng 5 có một số thời điểm VaR JPY vượt hạn mức đã đề ra.

    Tuy nhiên, giá trị VaR thực tế của JPY chưa lớn (cao nhất là ngày 14/5: 795 triệu

    VND, trung bình là 60,6 triệu VND).

    Trong năm 2007, thông qua việc tính toán, theo dõi giá trị chịu rủi ro ngoại hối thực tế cho cả giỏ ngoại tệ (EUR, USD, JPY), mức tổn thất cao nhất dự tính cho cả giỏ ngoại tệ là 3.346 triệu VND vào ngày 1/10/2007, thấp nhất là 98,2 triệu VND vào ngày 29/12/2007. Mức tổn thất dự tính bình quân cho cả giỏ ngoại tệ là 2.187 triệu VND.

    Giá trị chịu rủi ro ngoại hối của giỏ tiền tệ trong năm 2008,2009:

    Năm 2008 và 2009 tỷ giá trên thị trường có những biến động tương đối mạnh, BIDV đã chủ động xây dựng và giám sát hạn mức VAR ngoại hối nhằm hạn chế tối đa tổn thất trong kinh doanh.

    Hội đồng ALCO phê duyệt giá trị chịu rủi ro ngoại hối (VAR) đối với 3 đồng tiền chủ yếu là USD, EUR và JPY, đồng thời cũng theo dõi VAR cho cả giỏ ngoại tệ gồm 3 loại đồng tiền này.

    Trong năm 2008, thông qua việc tính toán, giá trị chịu rủi ro ngoại hối thực tế cho cả giỏ ngoại tệ (gồm 3 ngoại tệ BIDV nắm giữ nhiều nhất là USD, EUR; JPY) cho

    60

    thấy: Mức tổn thất dự tính (có khả năng xảy ra) trong 1 ngày cho cả giỏ ngoại tệ cao nhất là 18.199 triệu đồng vào ngày 24/10/2008, thấp nhất là 56,8 triệu đồng vào ngày04/04/2008. Mức tổn thất dự tính bình quân trong 1 ngày cho cả giỏ ngoại tệ là 2.912 triệu đồng.

    Về cơ bản, hạn mức VAR đã được BIDV tuân thủ, một số ngày vượt hạn mức do sự biến động lớn về tỷ giá ngoại hối trên thị trường tiền tệ và biến động về trạng thái (âm ở mức cao) đều được ALCO phê duyệt.

    Như vậy, đối với rủi ro tỷ giá, BIDV đã có một công cụ chuyên nghiệp và hiệu quả để kiểm soát, hạn chế tối đa được những tổn thất phát sinh do thị trường ngoại hối biến động mạnh

    4.3    Đánh giá về khả năng hỗ trợ của hoạt động KDNT tới một số hoạt động kinh doanh khác tại BIDV

    Hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại.

    Với thế mạnh về công nghệ, BIDV luôn đẩy mạnh hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại, coi đây là một trong những dịch vụ then chốt của ngân hàng.

    Bên cạnh đó, nhờ có nguồn cung ngoại tệ khá lớn từ việc chuyển đổi ngoại tệ phục vụ nhu cầu của các Ban quản lý dự án ODA nên trước tình hình thị trường ngoại tệ căng thẳng trong năm 2008-2009, BIDV có lợi thế hơn so với các ngân hàng khác trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Chính vì vậy, thông qua sự hỗ trợ từ hoạt động mua bán ngoại tệ, BIDV không ngừng tăng trưởng về doanh số cũng như thu phí trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương mại.

    Năm 2007, doanh số chuyển tiền thanh toán trong nước và doanh số chuyển tiền quốc tế đều tăng so với năm 2006; hoạt động tài trợ thương mại cũng có những bước phát triển tích cực với việc ký kết các thoả thuận hợp tác, triển khai nhiều giao dịch tài trợ thương mại với các ngân hàng đại lý, cùng với việc chú trọng cung cấp các dịch vụ cho các định chế tài chính. Tổng doanh số xuất nhập khẩu trong năm đạt 5,15 tỷ USD, tăng trưởng 61% so với năm 2006.

    Thu dịch vụ ròng từ hoạt động thanh toán đến 31/12/2007 đạt 301 tỷ VND, tăng trưởng 40,6% so với năm 2006, chiếm tỷ trọng 48,2% trong tổng thu dịch vụ ròng của khối ngân hàng.

    Năm 2008, Hoạt động chuyển tiền quốc tế: tăng trưởng tương đối tốt cả về doanh số chuyển tiền đi và chuyển tiền đến. Hiện tại BIDV đang thực hiện giao dịch

    61

    chuyển tiền quốc tế thông qua hệ thống Swift, dịch vụ Western Union, thanh toán séc quốc tế, phát hành Bank draft. Các hợp đồng kiều hối được triển khai từ năm 2007 cũng có sự tăng trưởng tốt. Cụ thể:

    –   Chuyển tiền quốc tế đi: đạt 199.143 tỷ đồng, tăng trưởng 200% so với

    năm 2007.

    • Chuyển tiền quốc tế đến: đạt 186.975 tỷ đồng, tăng trưởng 156% so với

    năm 2007.

    • Dịch vụ chuyển tiền ngan tỷ đồng (quy đổi), tăng trưởng 87% so với năm 2008.Trong đo, riêng dịch vụ Western Union: Giao dịch nhận tiền tăng trưởng 59% về doanh số và 48% về thu phí dịch vụ. Giao dịch gửi tiền tăng 110% về doanh số, 116% về phí thu dịch vụ.
    • Dịch vụ kiều hối khác: Bên cạnh các giao dịch kiều hối vãng lai, BIDV đã triển khai dịch vụ kiếu hối thông qua các hợp đồng với các đối tác như Metrobank (Đài Loan), Korean Exchange Bank, VID Public Bank, Hanabank.
    • Dịch vụ séc quốc tế và Bankdraft: Doanh số thanh toán séc năm 2008 đạt 17.892 tỷ đồng. Hoạt động mua séc du lịch có dấu hiệu giảm sút (-10,8) do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế dẫn tới sự giảm lượng khách du lịch đến Việt Nam.

    Năm 2009, doanh số chuyển tiền quốc tế tiếp tục tăng trưởng mạnh đạt gần 450 ngan tỷ đồng (quy đổi), tăng trưởng 87% so với năm 2008.Trong đo, riêng dịch vụ Western Union co doanh số chuyển tiền đạt 70 triệu USD, tăng trưởng 13% so với năm 2008.

    Đối với hoạt động tài trợ thương mại: doanh số tài trợ xuất khẩu đạt khoảng 1.200 triệu USD, doanh số tai trợ nhập khẩu đạt khoảng 5.100 triệu USD. Thu ròng từ hoạt động nay đạt hơn 230 tỷ đồng, tăng trưởng 51% so với năm 2008.

    Hoạt động tín dụng

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ không chỉ hỗ trợ hoạt động thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại mà còn hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động tín dụng tại BIDV. Đối với các khách hàng vay vốn tại BIDV, BIDV nghiên cứu, triển khai các sản phẩm hoán đổi tiền tệ chéo, hoán đổi lãi suất phù hợp với nhu cầu riêng của từng khách hàng giúp khách hàng phòng ngừa rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất vay vốn.

    Ví dụ về một trường hợp cụ thể:

    62

    Khách hàng là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có khoản vay bằng đồng tiền VND nhưng lại có nguồn thu ngoại tệ (USD) trong tương lai (giả sử sau 3 tháng). Lãi suất vay vốn VND hiện tại là 17%/năm, lãi suất vay vốn USD là 6%/năm.

    Phương án dành cho khách hàng như sau:

    Tiền gốc USD                                                       Tiền gốc USD

    CN trả lãi suất

      USD     KH trả lãi suất    
             
    BIDV H.O Chi nhánh   USD   Khách hàng
         
               
      CN nhận lãi suất   KH nhận lãi suất VND
      VND          
      Tiền gốc VND     Tiền gốc VND  

    Như vậy trong trường hợp này, khách hàng sẽ ký với một chi nhánh của BIDV một hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo theo sơ đồ trên, đồng thời ký một hợp đồng mua bán ngoại tệ để bán lại USD cho chi nhánh BID (tỷ giá bằng tỷ giá thực hiện hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo) sau khi thực hiện trao đổi số tiền gốc của hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo. Theo đó, khách hàng sẽ được nhận lại số tiền VND để thực hiện các mục đích vay vốn như trong hợp đồng tín dụng. Đồng thời, sau 3 tháng khi có nguồn thu bằng USD, khách hàng và chi nhánh BIDV thực hiện tất toán hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo.

    Khi khách hàng thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền USD và VND với chi nhánh BIDV khách hàng sẽ được nhận lãi suất VND cố định là 17%/năm và trả lãi suất USD cố định là 6%/năm. Luồng tiền gốc, tiền lãi của giao dịch hoán đổi sẽ được thiết kế phù hợp với luồng tiền của Hợp đồng tín dụng tương ứng.

    Như vậy, lợi ích của khách hàng thu được là nhờ ký hợp đồng hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền nên khách hàng vẫn có vốn VND thực hiện mục đích chi tiêu trong nước nhưng chỉ phải trả lãi suất USD thấp hơn nhiều so với lãi suất vay VND, nhờ đó khách hàng có thể giảm được chi phí vốn.

    63

    Qua phân tích, chúng ta có thể thấy, giai đoạn 2006-2009, hoạt động KDNT của BIDV đã đạt được một số thành tựu đáng kể, tuy nhiên hiệu quả KDNT vẫn chưa đạt được những mục tiêu đề ra. Sau đây, chúng ta phân tích các hạn chế để tìm ra nguyên nhân dẫn đến hoạt động KDNT chưa đạt được hiệu quả cao.

    4.4    Một số chỉ tiêu chưa hiệu quả trong hoạt động KDNT tại BIDV và nguyên

    nhân

    4.4.1    Về cơ cấu doanh thu trong hoạt động KDNT tại BIDV

    Trước hết chúng ta sẽ xem xét cơ cấu doanh số MBNT chia theo thị trường qua các năm:

    Bảng 2.7 Cơ cấu doanh thu KDNT tại BIDV

      Chỉ tiêu   Năm   Năm   Năm   Năm   9 T năm  
                             
          2006   2007   2008   2009   2010  
                             
                             
      Tỷ lệ doanh số MBNT   81%   77%   64%   69%   65%  
      với khách hàng            
                           
                             
      Tỷ lệ doanh số MBNT   19%   23%   36%   31%   35%  
      trên TTLNH            
                           
                   
          (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính BIDV)

    Qua bảng trên, chúng ta thấy, doanh số giao dịch trên TTLNH của BIDV thấp hơn nhiều so với doanh số giao dịch với khách hàng (trong khi trên thế giới, mức doanh số bình quân các NHTM giao dịch trên TTLNH là trên 85%). Điều đó có nghĩa là hoạt động MBNT của BIDV chủ yếu là “ tự cung tự cấp”, số ngoại tệ mua được của khách hàng trước hết để bán lại cho khách hàng của BIDV.

    Nguyên nhân xảy ra tình trạng trên là do trong những thời điểm thị trường ngoại tệ căng thẳng, rất khó có thể mua được ngoại tệ trên TTLNH để phục vụ nhu cầu thanh toán XNK của khách hàng. Chính vì thế, không chỉ BIDV mà hầu hết các Ngân hàng thương mại đều có xu hướng tích trữ ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng của mình.

    Thứ hai, chúng ta xem xét cơ cấu doanh số MBNT của BIDV chia theo nghiệp

    vụ:

    Bảng 2.8 Tỷ trọng doanh thu MBNT chia theo nghiệp vụ

     

    64

      Chỉ tiêu   Năm   Năm   Năm   Năm   9Tnăm  
          2006   2007   2008   2009   2010  
      Tỷ  lệ  doanh  số MBNT 95%   87%   73%   79%   78%  
      giao ngay            
                           
                             
      Tỷ  lệ  doanh  số MBNT 5%   13%   27%   21%   22%  
      phái sinh            
                           
                   
          (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính BIDV)

    Qua bảng trên ta có thể thấy giai đoạn 2006-2010, BIDV đã có bước thay đổi mạnh mẽ trong hoạt động KDNT, trọng doanh số MBNT phái sinh đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên vẫn còn rất thấp so với doanh số mua bán ngoại tệ giao ngay.

    Một số nguyên nhân có thể kể đến đó là:

    • Thứ nhất từ phía khách hàng:

    Nhằm tránh rủi ro tỷ giá, việc cần làm của các doanh nghiệp là tự bảo vệ mình bằng công cụ bảo hiểm tỷ giá (trong đó Option vốn được coi là chìa khóa vàng của các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia) nhưng tại Việt Nam các doanh nghiệp lại ít sử dụng các nghiệp vụ phái sinh này mặc dù các nghiệp vụ này ra đời đã lâu.

    Sự tăng hay giảm tỷ giá ngoại tệ đều ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Trong thời gian qua, giá trị USD trên thị trường thế giới liên tục giảm, làm cho các ngoại tệ mạnh khác như Euro, Bảng Anh, Yên Nhật… tăng giá. Điều này làm cho những doanh nghiệp mua vật tư, thiết bị trả chậm bằng các ngoại tệ mạnh khác ngoài USD bị thiệt hại. Muốn giảm thiểu rủi ro tỷ giá, chỉ có thực hiện các nghiệp vụ phái sinh. Thế nhưng hầu hết Khách hàng tìm hiểu chứ không mua.

    Đối với nghiệp vụ Swap:

    Các khách hàng vẫn thích vay USD hơn sau đó bán lại cho ngân hàng USD

    đó khi thu được ngoại tệ từ xuất khẩu để trả nợ ngân hàng. Với đặc điểm này thì

    nghiệp vụ Swap với khách hàng tại BIDV đạt được chưa cao.

    Đối với nghiệp vụ option:

    Để có quyền chọn ngoại tệ, doanh nghiệp phải trả một mức phí nhất định. Mức phí này phụ thuộc vào từng thời kỳ, xu hướng biến động tỷ giá ngoại tệ, thời gian thực hiện hợp đồng. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam thường không muốn bị mất

    65

    phí trong các giao dịch ngay khi ký hợp đồng nên khách hàng thường đắn đo trước khi thực hiện giao dịch.

    Mặt khác, kỳ hạn của hợp đồng option theo quy định còn hạn chế, ngắn hơn nhiều so với thời hạn doanh nghiệp có nhu cầu.

    Bên cạnh đó, chế độ tài chính chưa quy định hạch toán phí option, do đó doanh nghiệp không biết hạch toán phí option vào đâu.

    Vì những lý do đó nên số lượng khách hàng đến mua quyền chọn ngoại tệ tại BIDV còn rất khiêm tốn so với tiềm năng của nghiệp vụ này.

    • Thứ hai, về phía BIDV:

    Trong hoạt động KDNT, BIDV chưa mạnh trong phân tích biến động tỷ giá. Không chỉ các khách hàng của BIDV (các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu) mà cả chính BIDV thường chú ý nhiều đến việc mua bán ngoại tệ vì mục đích thanh toán mà quên đi yếu tố bảo hiểm tỷ giá nên hầu như các nghiệp vụ KDNT chủ yếu đóng vai trò trung gian giao dịch hơn là những nhà tạo lập thị trường. Đó cũng là lý do tại sao BIDV không mạnh về hoạt động đầu cơ mà chủ yếu là kinh doanh cho khách hàng.

    Về mạng lưới chi nhánh của BIDV, hiện tại, mạng lưới giao dịch của BIDV gồm Hội sở, hơn 120 chi nhánh/phòng giao dịch. Các chi nhánh thực hiện mua bán ngoại tệ chủ yếu là nghiệp vụ Spot để phục vụ khách hàng khi có yêu cầu hoặc mua bán với Hội sở. Bên cạnh đó, các chi nhánh chưa được trang bị thiết bị và cán bộ đủ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của nghiệp vụ KDNT (một số chi nhánh nhân viên giao dịch ngoại tệ kiêm kế toán viên, một số chi nhánh mới thành lập chưa có bộ phận KDNT).

    • Thứ ba, về các quy định của NHNN:

    Mặc dù NHNN cho phép các NHTM được phép cộng/trừ biên độ tỷ giá USD/VND khi giao dịch với khách hàng là 3% so với tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng nhưng tỷ giá này vẫn chưa tỏ ra hoàn toàn hợp lý đối với các NHTM. Lý do là hiện nay, NHNN công bố tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng trong suốt một thời gian dài không thay đổi. Khi thị trường ngoại tệ căng thẳng, các NHTM cũng liên tục niêm yết tỷ giá ở mức kịch trần và trong suốt thời gian đó, giá mua niêm yết bằng hoặc chỉ thấp hơn 2 điểm so với giá bán niêm yết. Trong trường

    66

    hợp này, tỷ giá không phản ánh đúng cung cầu thị trường và làm hạn chế hoạt động KDNT của các NHTM. Thị trường hối đoái là thị trường có tính chất động, luôn thay đổi, giới hạn như vậy tuy có được nới rộng hơn trước nhưng vẫn là tương đối chặt đối với hoạt động KDNT.

    Chính vì hoạt động KDNT của các ngân hàng TMCP bị hạn chế do những hạn chế từ phía tỷ giá nên tình trạng mua bán ngầm diễn ra ở mức độ lớn, nhiều doanh nghiệp XNK không thể mua được ngoại tệ ở ngân hàng nên đã phải mua ngoại tệ trên thị trường tự do để đáp ứng nhu cầu thanh toán của mình. Như vậy, một lượng đáng kể ngoại tệ vẫn lưu thông và sử dụng trong thanh thanh toán ngoài tầm kiểm soát của hệ thống ngân hàng nên có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động KDNT của các NHTM.

    Các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động KDNT của NHNN có thay đổi thường xuyên nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường. Vì vậy, đôi khi trở thành rào cản đối với sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung và hoạt động KDNT của BIDV nói riêng.

    Các quy định của NHNN về một số nghiệp vụ còn quá chặt chẽ nên ảnh hưởng đến hoạt động KDNT của BIDV và giao dịch của khách hàng với BIDV. Ví dụ hiện nay để thực hiện nghiệp vụ Swap với NHNN, NHTM phải giải trình nhu cầu vốn cho NHNN, tuy nhiên thực hiện Swap với NHNNg thì không cần phải giải trình nhu cầu vốn, điều đó lý giải tại sao nghiệp vụ Swap tại BIDV chủ yếu thực hiện với NHNNg.

    Đối với nghiệp vụ Option, năm 2006, BIDV là một trong số các ngân hàng được NHNN cho phép thí điểm nghiệp vụ option giữa VND và ngoại tệ, theo đó khách hàng của BIDV có thêm một công cụ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Đây là sản phẩm có tính hiệu quả và khả năng áp dụng cao đối với các doanh nghiệp XNK, tuy nhiên, đến năm 2009 NHNN đã ra quyết định số 1820/NHNN-QLNH quy định về việc dừng thí điểm nghiệp vụ Option tiền đồng của các Ngân hàng Thương mại.

    Như vậy, đối với nghiệp vụ Option, các NHTM hiện tại chỉ được thực hiện mua bán option giữa các ngoại tệ, sản phẩm này rất khó áp dụng đối với các doanh nghiệp XNK tại Việt Nam.

    67

    4.4.2     Lợi nhuận trong hoạt động KDNT tại BIDV

    • Cơ cấu lợi nhuận:

    Cũng giống như cơ cấu trong doanh thu mua bán ngoại tệ, lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của BIDV chủ yếu từ hoạt động KDNT giao ngay (lãi từ chênh lệch tỷ giá mua vào và bán ra), phí thu được từ các giao dịch MBNT phái sinh còn rất hạn chế, cụ thể như sau:

    Bảng 2.9 Cơ cấu thu nhập KDNT chia theo nghiệp vụ

      Chỉ tiêu     Năm     Năm     Năm     Năm     9 tháng  
                           
            2006     2007     2008     2009     năm 2010  
                                       
      Tỷ lệ lợi nhuận MBNT   93%   92.1%   69.9%   89.2%   87%  
      giao ngay                                
                             
      Tỷ lệ lợi nhuận MBNT   7%   7.9%   30.1%   10.8%   13%  
      phái sinh                                
                       
            (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính BIDV)  

    Nguyên nhân có sự chênh lệch trên cũng xuất phát từ những hạn chế từ phía khách hàng, ngân hàng và những quy định của NHNN như đã trình bày tại mục 3.2.1.

    • Về thu nhập từ hoạt động KDNT trên tổng thu nhập của BIDV

    Trong năm 2009, cùng với việc mở rộng mạng lưới , các ngân hàng 100% vốn nước ngoài dần lấn lướt các đồng nghiệp nội địa , đặc biệt trong tăng trưởng lợi nhuận , họ đang để sau lưng một khoảng cách khá xa vớ i các ngân hàng cổ phần.

    Năm 2009, theo thống kê của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (NHNN) TPHCM, các ngân hàng nước ngoài có mức tăng trưởng lợi nhuận tới 168,3% so với

    năm 2008, với con số tuyệt đối 3.517 tỉ đồng (1.311 tỉ đồng năm 2008). Trong khi đó tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng cổ phần chỉcó 20,3%, từ 4.988 tỉ đồng năm 2008 lên 5.999 tỉ đồng năm 2009.

    Các ngân hàng cổ phần liên tục nâng lãi suất huy động để cạnh tranh lẫn nhau và phát triển tín dụng. So với cuối năm 2008, năm 2009 tăng trưởng tín dụng của khối cổ phần tăng lên 59,9%, mức tăng mạnh nhất trong số các ngân hàng . Còn các ngân hàng nước ngoài dường như không quan tâm lắm đến nâng dư nợ cho vay . Kết quả là

    68

    tăng trưởng tín dụng của họ năm ngoái âm – 0,66%. Vậy điều gìđã tạo nên sự bứt phá lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài ? Ở một ngân hàng nước ngoài lớn , trong cơ cấu lợi nhuận 40% là kinh doanh ngoại hối và trái p hiếu; thu phíthanh toán xuất nhập khẩu và các phíkhác của khách hàng doanh nghiệp chiếm 20%; cho vay tiêu dùng cá nhân cộng dịch vụ 20%, dịch vụ khác chiếm tỷ trọng còn lại . Ở một số ngân hàng nước ngoài khác , lợi nhuận từ kinh doanh ngoại tệ và ngân quỹ cũng chiếm 40% lợi nhuận.

    Đối với BIDV, tỷ lệ thu nhập từ hoạt động KDNT trên tổng thu nhập giai đoạn 2006-2010 đạt mức trung bình là 20,4%/năm, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các ngân hàng nước ngoài và mục tiêu đặt ra của BIDV (30%).

    Như vậy, trong giai đoạn 2006-2010, BIDV đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ trong hoạt động KDNT về cả doanh thu và lợi nhuận nhờ áp dụng công nghệ hiện đại và có các biện pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan nên hoạt động KDNT của BIDV vẫn còn hạn chế và gặp khó khăn. Đây chính là cơ sở để tác giả đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV trong chương III.

    69

    CHƢƠNG III

    GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ

    PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

    Chương II chúng ta đã phân tích thực trạng hoạt động KDNT tại BIDV, phân tích đánh giá hiệu quả KDNT của BIDV qua một số chỉ tiêu để thấy được những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động này. Sau đây, để tài sẽ xem xét các mục tiêu, phương hướng cho hoạt động KDNT của BIDV trong thời gian tới và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV như sau:

    I.                   MỤC TIÊU VÀ PHƢƠNG HƢỚNG CHO HOẠT ĐỘNG KDNT TẠI

    BIDV TRONG THỜI GIAN TỚI

    Căn cứ vào yêu cầu của thị trường, sự phát triển của nghiệp vụ KDNT và điều kiện cụ thể của BIDV mà đề ra mục tiêu và phương hướng phát triển nghiệp vụ KDNT trong thời gian tới như sau:

    • Nâng cao năng lực hoạt động KDNT và khả năng cạnh tranh trên thị trường hối đoái quốc tế.
    • Đảm bảo đủ nguồn ngoại tệ phục vụ nhu cầu của khách hàng đến giao dịch với BIDV.
    • Nâng cao hơn nữa doanh số mua bán ngoại tệ, lợi nhuận hoạt động KDNT, tăng tỷ trọng thu về hoạt động KDNT trên tổng thu nhập của BIDV, sao cho tỷ trọng này đạt từ 35-40%.
    • Thúc đẩy mạnh các nghiệp vụ KDNT phái sinh, khi có điều kiện thì triển khai, áp dụng các nghiệp vụ mới như Future, option bên cạnh việc duy trì và phát triển nghiệp vụ KDNT truyền thống.
    • Tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế à tranh thủ sự giúp đỡ của NHNNg qua đó mở rộng phạm vi giao dịch trên thị trường ngoại hối quốc tế.
    • Phát triển hơn nữa công tác quản trị rủi ro trong hoạt động KDNT

    II.               ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KDNT TẠI BIDV

    Trên cơ sở phân tích thực trạng hoa động KDNT tại BIDV, trong đó xác định các nguyên nhân tác động đến hiệu quả hoạt động KDNT và dựa vào các mục tiêu, phương hướng phát triển nghiệp vụ KDNT, để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT, xin đề xuất một số giải pháp sau:

    70

    1.     Hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ

    Đa dạng hoá các nghiệp vụ KDNT sẽ giúp BIDV mở rộng quy mô kinh doanh, tạo sự tăng trưởng cả về lượng và chất trong hoạt động KDNT, đồng thời hỗ trợ các nghiệp vụ khác, góp phần vào sự phát triển chung của BIDV.

    Không chỉ riêng các NHTM mà các doanh nghiệp cũng còn rất bỡ ngỡ bởi chưa được sử dụng rộng rãi, tập quán trong giao dịch của các doanh nghiệp với các NHTM vẫn còn nằm trong phạm vi hạn hẹp.

    Vì vậy, các BIDV cần kết hợp triển khai các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ và từng bước tư vấn cho các doanh nghiệp nếu cần thiết để giúp họ bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong giao dịch và cũng tạo niềm tin cũng như phát triển các công cụ phái sinh tiền tệ trong hệ thống NHTM tại Việt Nam.

    Qua phân tích thực trạng hoạt động KDNT tại BIDV, ta thấy nhìn chung tại BIDV các nghiệp vụ Spot, Forward, Swap và nghiệp vụ Option thường được thực hiện

    • Hội sở. Đối với các chi nhánh trong hệ thống BIDV chưa thực hiện nhiều nghiệp vụ KDNT phái sinh, chủ yếu vẫn là mua bán giao ngay phục vụ nhu cầu của khách hàng, ngoại trừ một số chi nhánh lớn như Sở giao dịch I, II, III.

    Để thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT thông qua giải pháp đa dạng hóa và hoàn thiện các nghiệp vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, BIDV cần thực hiện tốt các công việc sau:

    1.1    Tiếp tục hoàn thiện cơ chế và tăng cường marketing khách hàng sử dụng các

    nghiệp vụ KDNT phái sinh

    Như chúng ta đã thấy, mặc dù BIDV đã triển khai các nghiệp vụ KDNT phái sinh từ nhiều năm nay, tuy nhiên doanh số cũng như thu nhập từ các sản phẩm này còn rất khiêm tốn so với tiềm năng thị trường ngoại tệ của Việt Nam. Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ chế và tăng cường marketing khách hàng sử dụng các nghiệp vụ KDNT phái sinh là việc làm cần thiết và cần được tiến hành ngay, đồng bộ.

    Tại BIDV, rất ít DN xuất nhập khẩu chủ động tìm hiểu, nghiên cứu những dịch vụ, sản phẩm mới để xem xét nên sử dụng dịch vụ nào và vận dụng như thế nào cho nhu cầu mới phát sinh của mình. Vì vậy, khi triển khai đưa ra thị trường sản phẩm KDNT mới, ngoài việc chuẩn bị đầy đủ về vật chất, kỹ thuật và nhân lực, BIDV cần

    71

    tuyên truyền, quảng cáo và tổ chức các hội thảo với khách hàng để giới thiệu nghiệp vụ mới và các tiện ích kèm theo. Những buổi hội thảo sẽ đóng vai trò xúc tiến bước đầu để khách hàng biết được BIDV và khách hàng cần làm gì để phối hợp với nhau trong việc thực hiện nghiệp vụ đó cũng như giảm thiểu những rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải. Cũng qua buổi hội thảo khách hàng có dịp trình bày những vướng mắc haynhu cầu mới của mình phát sinh trong quá trình giao dịch với BIDV, qua đó BIDV nắm bắt được những nhu cầu của khách hàng và có giải pháp hỗ trợ cụ thể.

    Tuy nhiên, các buổi hội thảo bị hạn chế nhiều ở khâu tổ chức và thời gian tiến hành. Để đảm bảo kế hoạch được thực hiện tốt và có hiệu quả, bộ phận KDNT cần phối hợp với bộ phận Marketing. Tiếp thị và chăm sóc khách hàng được xem là khâu trọng yếu nhất trong công tác Marketing. Một, hai ngày hội thảo nghiệp vụ KDNT mới chỉ tạo cho khách hàng khái niệm ban đầu về sản phẩm mới, còn việc thực hiện các nghiệp vụ như thế nào, chi tiết ra sao phải thông qua khâu tư vấn và tiếp thị. Tiếp thị giúp khách hàng cập nhật thông tin mới nhất về sản phẩm, xu hướng thị trường và cách thực hiện nghiệp vụ mới … cũng như nắm bắt kịp thời nhu cầu, nguyện vọng hay vướng mắc của khách hàng.

    Trong tình hình tỷ giá hối đoái ngoại tệ biến động như hiện nay, rủi ro trong giao dịch bằng đồng ngoại tệ có chiều hướng tăng đặc biệt trong những hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.

    Vì vậy vai trò của các NHTM nói chung và BIDV nói riêng là rất quan trọng trong việc kết hợp triển khai các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ và từng bước tư vấn, hướng dẫn cụ thể cho các doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn trong việc đầu tư của mình.

    Xét về mặt khách quan thì về phía ngân hàng có lợi, mặt khác lại bảo vệ được rủi ro cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Tuy nhiên, trong thị trường giao dịch hiện nay, việc ứng dụng các công cụ phái sinh vẫn còn rất mới, chưa được sử dụng rộng rãi bởi tập quán trong giao dịch của các doanh nghiệp với các NHTM vẫn còn nằm trong phạm vi hạn hẹp.

    Hiểu được, ứng dụng được các công cụ phái sinh tiền tệ trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá của các NHTM thì việc mang những dịch vụ này đến các doanh nghiệp cần một chặng đường khá dài trong việc tiếp cận các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến

    72

    giao dịch ngoại hối, các NHTM cần tổ chức những buổi hội thảo để giới thiệu và tư vấn loại hình dịch vụ mới này nhằm mục đích vừa nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về rủi ro tỷ giá vừa giúp cho các doanh nghiệp hiểu biết và quen dần về các công cụ phái sinh ngoại hối.

    Cũng như đối với các doanh nghiệp, những quyền lợi và tính ưu việt trong việc lựa chọn các loại hình giao dịch hối đoái trong giao dịch kinh doanh và sử dụng các công cụ phái sinh doanh nghiệp có được sự lựa chọn về tỷ giá mong muốn sẽ thu hút được sự quan tâm từ các doanh nghiệp hơn.

    Mặt khác, BIDV cũng cần có chính sách đào tạo và bồi dưỡng cho các cán bộ trực tiếp kinh doanh trên thị trường hối đoái quốc tế về các công cụ phái sinh nói chung và phái sinh ngoại hối nói riêng, vì đây là những sản phẩm mới, phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụng.

    Ngoài ra cần trang bị thêm những kiến thức và kinh nghiệm về thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ quốc tế, kỹ năng phân tích kỹ thuật nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, phân tích cơ bản trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp và phân tích thông tin để dự đoán xu hướng diễn biến của thị trường nhằm sử dụng các công cụ phái sinh một cách hiệu quả nhất.

    Thông qua đó để có thể tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ cho các doanh nghiệp hiểu biết hơn về thị trường ngoại hối, cán bộ giao dịch phải có khả năng vận dụng linh hoạt các công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá đối với danh mục đầu tư bằng ngoại tệ của bản thân ngân hàng. Ngoài ra họ còn phải có khả năng phát triển (hay bán) các sản phẩm phái sinh tới các doanh nghiệp có hoạt động thương mại quốc tế.

    Bên cạnh điều kiện về trình độ cán bộ thì vấn đề công nghệ ngân hàng cũng là điều kiện cần thiết để ứng dụng nghiệp vụ phái sinh ngoại hối. Vì các công cụ phái sinh nói chung và công cụ phái sinh ngoại hối nói riêng được xây dựng trên cơ sở sử dụng các thuật toán phức tạp để dự đoán về các khả năng biến động của tỷ giá hối đoái trong tương lai.

    1.2    Nghiên cứu và đưa vào ứng dụng các nghiệp vụ KDNT mới

    Hiện nay, đối với hoạt động KDNT, BIDV mới thực hiện 4 nghiệp vụ là Spot, Forward, Swap, Option. Nghiệp vụ Future đã triển khai nhưng mới thực hiện đối với

    73

    mặt hàng café. Do đó, BIDV phải luôn nghiên cứu và tìm hiểu các nghiệp vụ mới, đưa ra quy trình triển khai cụ thể để khi có nhu cầu thì triển khai thực hiện hiệu quả.

    Riêng nghiệp vụ Future, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế phát triển như hiện nay thì nghiệp vụ Future có thể được áp dụng trong thời gian tới. Do đó, BIDV phải chuẩn bị nhân lực đủ trình độ, kỹ năng và điều kiện cần thiết để triển khai các nghiệp vụ này khi NHNN cho phép.

    Ngoài ra, nghiên cứu và phát triển dịch vụ ngân hàng để nhanh chóng tiếp cận công nghệ mới, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế., mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài trên thị trường ngoại hối quốc tế để tranh thủ sự hỗ trợ về kiến thức, về tài chính và kỹ thuật để hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và về hệ thống phân tích quản lý rủi ro đối với các công cụ phái sinh nói chung và công cụ quyền chọn ngoại hối, công cụ tương lai ngoại hối nói riêng.

    BIDV cũng cần nhận thức được rằng thách thức trong quá trình hội nhập là rất lớn và ngày càng phức tạp nhưng nếu đẩy nhanh việc ứng dụng các công cụ phái sinh tiền tệ sẽ giúp ngành ngân hàng phòng ngừa rủi ro về tỷ giá và tận dụng được cơ hội để phát triển, qua đó nâng cao vị thế, sức cạnh tranh của ngân hàng và của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Như vậy, lợi ích nổi bật của các công cụ phái sinh là phòng ngừa hiệu quả các rủi ro về tỷ giá cũng như lãi suất cho các NHTM, ngoài ra những công cụ tài chính hiện đại này còn giúp doanh nghiệp cân đối luồng tiền, cơ cấu lại tài sản nợ và giảm bớt các chi phí trên cơ sở nhận định đúng diễn biến thị trường.

    Bên cạnh đó, với tính đa dạng vốn có, chúng cũng có thể được ứng dụng phù hợp với nhu cầu và mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, việc sử dụng và phát triển các sản phẩm mới này trên thị trường vẫn còn nhiều hạn chế cả về phía các doanh nghiệp và NHTM, thể hiện ở doanh số giao dịch rất thấp.

    Vì vậy, Lãnh đạo ngành Ngân hàng cần tìm hiểu những điều kiện cần và đủ để xây dựng phát triển một thị trường công cụ phái sinh, áp dụng và phương hướng phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối ở Việt Nam trong thời gian tới và phát huy những ưu điểm để ứng dụng các công cụ phái sinh tiền tệ trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá một cách an toàn, hiệu quả.

    74

    • Cung cấp miễn phí các dịch vụ kèm theo trong hoạt động KDNT

    Ngân hàng có thể cung cấp một số các dịch vụ kèm theo như tư vấn tài chính – tiền tệ, tỷ giá, phương thức thanh toán, áp dụng chính sách tỷ giá, phí mang tính cạnh tranh cao.

    Đối với nghiệp vụ Swap: Hiện nay, BIDV chủ yếu thực hiện nghiệp vụ Swap với NHNNg để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, riêng các doanh nghiệp vẫn có xu hướng thích vay USD sau đó doanh nghiệp bán lại USD cho chính ngân hàng khi có nguồn thu USD từ xuất khẩu. Đây là đặc điểm BIDV cần có giải pháp để khuyến khích khách hàng thực hiện Swap với BIDV thông qua công tác tư vấn cho khách hàng, chính sách ưu đãi về tỷ giá.

    Trong quá trình thực hiện giao dịch, có thể phát sinh những nhu cầu mà do hạn chế, một nghiệp vụ KDNT không thể đáp ứng được, khi đó cần phải kết hợp các nghiệp vụ khác nhằm đưa đến cho khách hàng những lựa chọn tốt nhất.

    Ví dụ để hạn chế rủi ro tỷ giá, ngay khi ký hợp đồng xuất khẩu các doanh nghiệp có thể tiến hành ký hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn với BIDV. Thực tế có nhiều tình huống xảy ra, trường hợp ký hợp đồng bán USD lấy VND kỳ hạn 3 tháng nhưng sau 2 tháng DN đã thu được ngoại tệ do giao hàng sớm và doanh nghiệp cần tiền đồng để trả lương cho người lao động. Khi đó DN có thể thực hiện nghiệp vụ Swap 1 tháng với BIDV với hình thức bán USD giao ngay cho BIDV và mua lại USD này kỳ hạn 1 tháng. Như vậy, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, BIDV cần thực hiện 2 nghiệp vụ là Forward và Swap.

    Bên cạnh đó, vấn đề lựa chọn tỷ giá để thanh toán cần sự tư vấn của BIDV do Doanh nghiệp không thể tự nắm được xu hướng biến động của mỗi loại tỷ giá vì doanh nghiệp không chuyên về KDNT và không đủ phương tiện, thông tin cần thiết. BIDV cần xác định vai trò then chốt và không thể thiếu công tác tư vấn cho khách hàng nhằm giúp khách hàng nắm vững phương thức thực hiện, xu hướng biến động tỷ giá … sao cho tất cả những thông tin này trở thành yếu tố hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thực hiện hợp đồng ngoại thương. Mục đích cuối cùng của giải pháp này là làm cho khách hàng cảm thấy không thể thiếu những thông tin tư vấn hữu ích từ BIDV trong hoạt động kinh doanh của mình, qua đó khách hàng sẽ ngày càng gắn bó hơn với ngân hàng.

    75

    2.     Mở rộng hoạt động KDNT trên thị trƣờng liên ngân hàng và thị trƣờng quốc tế

    Trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường ngoại tệ quốc tế, BIDV mới chỉ thực hiện các giao dịch ngoại tệ khi có nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỷ giá hoặc khi có nhu cầu thực hiện đối ứng khi mua hoặc bán ngoại tệ cho khách hàng mà ít có nghiệp vụ kinh doanh thực sự.

    Trong hoạt động KDNT, BIDV cần triển khai mở rộng hoạt động này trên thị trường liên ngân hàng và thị trường quốc tế. Đây là thị trường có tiềm năng rất lớn không chỉ về khối lượng giao dịch và còn về sự đa dạng trong sản phẩm.

    Tuy nhiên, việc tham gia vào thị trường này còn phụ thuộc vào cơ chế, quy định của NHNN và năng lực của BIDV.

    Tham gia trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường quốc tế có một số đặc điểm:

    • Sự biến động tỷ giá nhanh.
    • Doanh số giao dịch lớn.
    • Đối tác trên thị trường là các ngân hàng đủ điều kiện, có uy tín.
    • Các loại hình nghiệp vụ phong phú, đa dạng.

    Với các đặc điểm đó, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường quốc tế là nơi mà BIDV đầu tư kiếm lời trên sự biến động tỷ giá. BIDV cần hiện đại hoá công nghệ, đầu tư máy móc thiết bị chuyên dùng, bên cạnh đó cần tiến hành thu thập, phân tích và đưa ra dự báo để có những quyết định chính xác thì mới biến những cơ hội biến động tỷ giá thành lời.

    Đối với hoạt động KDNT với ngân hàng nước ngoài: Cần tăng cường nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, nắm bắt thông tin về tình hình tài chính tiền tệ thế giới, xu thế mới về thị trường hối đoái quốc tế để đưa ra các quyết định phù hợp.

    Để thực hiện giải pháp này cần tiến hành làm các công việc như sau:

    • Thông qua quan hệ với các Ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế để tranh thủ được kinh nghiệm quản lý, kỹ năng giao dịch

    NHNNg là nơi BIDV có thể thực hiện các giao dịch phòng tránh rủi ro tỷ giá, VD nghiệp vụ Option, khi BIDV ký hợp đồng với khách hàng thì đồng thời sẽ ký hợp

    76

    đồng với NHNNg nhưng với chiều ngược lại để tránh rủi ro tỷ giá (thay vì tự chịu rủi ro tỷ giá nếu không giao dịch với NHNNg).

    Đây là cầu nối để BIDV vươn hoạt động KDNT ra thị trường hối đoái quốc tế, vừa là người ủy thác, đại lý, vừa là người nhận ủy thác của các NHNNg.

    Do BIDV có mạng lưới các ngân hàng đại lý rộng khắp thế giới nên BIDV sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về dịch vụ ngân hàng trên phạm vi toàn cầu. BIDV phải có chiến lược mở rộng hoạt động KDNT trên thị trường quốc tế với nhiều hình thức.

    • Triển khai các nghiệp vụ KDNT cho các chi nhánh BIDV

    Phòng Kinh doanh Ngoại tệ tại các chi nhánh cần được bổ sung nhân sự bộ phận KDNT cho chi nhánh. Phòng Kinh doanh Ngoại tệ phải được trang bị cơ sở vật chất thỏa mãn một số yêu cầu về cung cấp thông tin lãi suất, tỷ giá …,có các máy tính giao dịch nối mạng, lắp đặt phần mềm tính toán thống kê, dự báo tỷ giá các giao dịch, hệ thống thiết bị thông tin cần thiết khác như điện thoại, fax, telex, … để có thể liên lạc trực tiếp với các ngân hàng trong cùng hệ thống.

    Mở rộng mạng lưới chi nhánh là yếu tố rất quan trọng đối với mọi hoạt động KDNT. Nhờ có mạng lưới rộng khắp, các chi nhánh sẽ cung cấp sản phẩm, dịch vụ của BIDV cho khách hàng một cách thuận lợi nhất để thu hút nguồn ngoại tệ vào BIDV.

    3.     Tăng cƣờng công tác quản trị trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Quản trị hoạt động KDNT có vai trò quan trọng nhằm sắp xếp một cách khoa học giữa các bộ phận, công việc trong ngân hàng, đồng thời là sự phối hợp, giúp đỡ và kiểm tra giữa các bộ phận nhằm tăng hiệu quả công việc và hạn chế rủi ro nghiệp vụ. Việc tăng cường công tác quản trị hoạt động KDNT được thực hiện qua các giải pháp:

    • Xây dựng quy chế phối hợp giữa các Phòng/Ban liên quan đến hoạt động KDNT nhằm phục vụ nhanh chóng, hiệu quả các giao dịch với khách hàng đồngthời nắm bắt kịp thời nhu cầu cũng như phản ánh từ phía khách hàng.

    Thực tế hoạt động KDNT có liên quan đến nhiều Phòng/Ban như Trung tâm thanh toán, Ban tác nghiệp và tài trợ thương mại, Ban Tín dụng, Ban Kế toán, Phòng Ngân quỹ…

    77

    • Xây dựng hệ thống thu nhập, xử lý thông tin có hiệu quả, kịp thời để phục vụ cho việc ra quyết định có độ chính xác cao.
    • Xây dựng chế độ khen thưởng hợp lý và kịp thời đối với giao dịch viên nhằm khuyến khích tinh thần làm việc và gắn bó trách nhiệm của họ với công việc.

    KDNT trên thị trường quốc tế diễn ra 24/24h hàng ngày, giá cả biến động liên tục và rất phức tạp cho nên cần khuyến khích giao dịch viên sao cho họ quan tâm tới hiệu quả công việc, bám sát thị trường.

    • Quy định cụ thể, rõ ràng về quy trình giao dịch, về phương tiện và cách thức sử dụng các phương tiện trong giao dịch ngoại tệ.
    • Thiết lập chế độ kiểm tra chéo giữa bộ phận Back-office và Front-office. Đảm bảo việc hạch toán chính xác các giao dịch đã thực hiện, giúp Ban Lãnh đạo nắm bắt và có hướng xử lý các giao dịch bất thường

    4.     Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực cho hoạt động KDNT

    Nguồn nhân lực được xác định là khâu then chốt, quyết định sự thành công của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu con người có những quyết định đúng đắn, phù hợp với từng hoàn cảnh thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

    KDNT là một lĩnh vực đòi hỏi phải có nguồn nhân lực trình độ cao. Giao dịch viên phải có khả năng phân tích tổng hợp, phản xạ nhạy bén với mọi tình huống và sự kiện xảy ra trên thị trường, đặc biệt là thị trường ngoại hối quốc tế. Với đòi hỏi như trên, BIDV phải đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này, các biện pháp cụ thể cần thực hiện như sau:

    Chú trọng công tác tuyển chọn nhân sự đầu vào có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc được giao và phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản là:

    • Có khả năng nhận biết, phân tích và đánh giá tình hình kinh tế, chính trị xã hội có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động KDNT như thế nào, từ đó có thể đề xuất các giải pháp cho tình huống cụ thể.
    • Có kiến thức về lĩnh vực tài chính, ngân hàng đặc biệt là vững vàng về hoạt động KDNT.
    • Có trình độ ngoại ngữ tốt đủ khả năng giao dịch với nước ngoài.
    • Chú trọng công tác đào tạo, tự đào tạo và huấn luyện thường xuyên

    78

    nghiệp vụ nhất là đối với nhân viên giao dịch trên thị trường ngoại hối quốc tế. Cách thức làm là mời các chuyên gia hoặc đối tác nước ngoài sang huấn luyện tại chỗ hay cửcán bộ có liên quan trực tiếp tham dự hội thảo do NHNN, NHNNg tổ chức để nắm bắt kịp thời các nghiệp vụ KDNT trên thị trường quốc tế và tích luỹ thêm kinh nghiệm thực tế.

    • Có chính sách thu hút và giữ nhân sự có chuyên môn cao thông qua các chế độ như lương, thưởng, điều kiện làm việc và cơ hội thăng tiến trong công việc.

    Hiện tại, công tác tuyển chọn và đào tạo nhân lực cho bộ phận KDNT của Hội sở chính đã được quan tâm tốt, tuy nhiên tại các chi nhánh của BIDV, cán bộ KDNT thường kiêm một số công tác khác và chưa được trang bị đầy đủ kiến thức nghiệp vụ chuyên môn để có thể đảm nhiệm công tác KDNT. Vì vậy, để hoạt động KDNT đạt được hiệu quả cao, không chỉ Hội sở chính, mà các chi nhánh cần phải chú trọng công tác tuyển chọn nhân sự đầu vào có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc được giao và phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản, có chính sách đào tạo, chính sách thu hút và giữ nhân sự như được nêu trên đây.

    5.     Phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động KDNT tại BIDV

    Như đã trình bày tại chương II, hoạt động KDNT tiềm ẩn rủi ro cao, nhất là kinh doanh trên thị trường ngoại hối quốc tế. Chính vì vậy việc giảm thiểu rủi ro đối với hoạt động KDNT có ý nghĩa quan trọng. Để giảm thiểu rủi ro đối với hoạt động KDNT, BIDV cần thực hiện các giải pháp sau:

    Đối với rủi ro tỷ giá:

    Đây là loại rủi ro đặc trưng của hoạt động KDNT. Các rủi ro ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do biến động kinh tế, chính trị của một đất nước. Việc ngân hàng nắm giữ một loại ngoại tệ nào đó quá nhiều sẽ là mạo hiểm khi tỷ giá biến động bất lợi. Do đó, BIDV cần phải tuân thủ nghiêm ngặt công cụ phòng tránh rủi ro tỷ giá là hệ thống hạn mức (Position limits), bao gồm:

    • Hạn mức trạng thái tiền tệ (hạn mức qua đêm và hạn mức giao dịch trong ngày): là giới hạn trạng thái ngoại tệ tối đa mà BIDV được để qua đêm (đối với hạn mức qua đêm) hoặc giao dịch trong ngày nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng khi thị trường biến động quá nhanh khiến nhân viên KDNT không phản ứng kịp. Tùy theo khối lượng giao dịch, tính thanh khoản cao hay thấp, biến động tỷ giá nhiều hay ít, các

    79

    quy định của NHNN và kinh nghiệm, trình độ, mục tiêu kinh doanh, năng lực tài chính của BIDV mà Ban Lãnh đạo thiết lập hạn mức trên.

    • Hạn mức dừng lỗ: Là mức lỗ tối đa cho một giao dịch và mức lỗ tối đa trong ngày, mục đích của hạn mức này là nhằm khống chế mức lỗ của BIDV trong một giới hạn có thể chấp nhận được.

    Trong hoạt động KDNT, rủi ro về tỷ giá có nguyên nhân từ trạng thái ngoại hối. Khi ngoại tệ lên giá thì trạng thái ngoại tệ dương sẽ có lợi, còn trạng thái âm sẽ bị lỗ.

    Trong quá trình mua bán hàng ngày, trạng thái ngoại tệ luôn thay đổi nên BIDV luôn có khả năng gặp rủi ro tỷ giá. Nhưng BIDV cũng cần linh hoạt điều chỉnh trạng thái ngoại tệ vì ở thời điểm cân bằng trạng thái, có thể bỏ lỡ cơ hội kinh doanh khi không có ngoại tệ cho nhu cầu đột xuất của khách hàng.

    Việc giảm thiểu rủi ro tỷ giá được thực hiện thông qua quản lý trạng thái ngoại hối và BIDV phải xây dựng một hệ thống kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ đối với trạng thái ngoại hối.

    Đối với rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng:

    BIDV, đặc biệt là các chi nhánh của BIDV giao dịch trực tiếp với các khách hàng cần tiến hành phân loại, đánh giá khách hàng theo các mức cụ thể để đưa ra hạn mức giao dịch cho từng khách hàng cho phù hợp.

    BIDV nên áp dụng hạn mức khách hàng như sau:

    Quy định hạn mức cho từng khách hàng tuỳ theo tình hình tài chính của khách hàng đó, bao gồm:

    • Hạn mức thanh toán (quy định số tiền tối đa mà ngân hàng thanh toán cho một khách hàng trong một ngày)
    • Hạn mức kỳ hạn (tổng giá trị các hợp đồng kỳ hạn đang còn hiệu lực không được vượt quá).

    III.            Một số kiến nghị

    Có môi trường kinh doanh thuận lợi cùng với sự nỗ lực của BIDV thì hoạt động

    80

    KDNT sẽ ngày càng mở rộng và hiệu quả. Để có được một môi trường kinh doanh thuận lợi thì phải có những giải pháp và sự phối hợp thực hiện của cơ quan quản lý nhà nước – mà ở đây là NHNN.

    Để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại các ngân hàng nói chung và BIDV nói riêng thì kiến nghị NHNN cần có những thay đổi sau:

    1.     Đối với Ngân hàng nhà nƣớc

    1.1       NHNN cần có cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt

    Cơ chế điều hành tỷ giá cần kết hợp với các giải pháp nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân, nhằm hình thành một thị trường ngoại hối phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ phù hợp với thị trường giao dịch.

    Những quy định về biên độ được phép cộng/trừ thêm vào tỷ giá USD/VND do NHNN công bố (hiện nay là +-3%) đã làm cho các NHTM gặp khó khăn trong việc thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ vì tỷ giá giao dịch thực tế thường vượt quá trần tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng do NHNN quy định. Vì vậy, để hoạt động KDNT của các NHTM được chủ động, NHNN nên nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng. Có như vậy, các NHTM mới có cơ hội cạnh tranh, cũng như đưa ra mức tỷ giá phù hợp phản ánh cung cầu thị trường trong từng thời điểm, đảm bảo hoạt động KDNT có lãi. Khi thị trường ngoại hối Việt Nam phát triển mạnh, dự trữ quốc gia đủ mạnh, NHNN nên xoá bỏ quy định giới hạn tỷ giá giao ngay giữa USD/VND NHNN do NHNN công bố.

    Khi đó, NHNN nên cho các NHTM áp dụng cơ chế thoả thuận tỷ giá bởi việc thực hiện cơ chế thoả thuận tỷ giá giúp BIDV linh hoạt hơn khi chào giá cho khách và điều chỉnh kịp thời khi nhu cầu của thị trường thay đổi. Vì vậy, NHNN cần chính thức cho phép áp dụng cơ chế tỷ giá thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng trong mua bán ngoại tệ mặt, đồng thời tiến tới cho thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ chuyển khoản theo tỷ giá thoả thuận.

    Việc xoá bỏ biên độ và áp dụng cơ chế tỷ giá thoả thuận sẽ giúp các ngân hàng thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ theo sát tỷ giá thị trường hơn.

    Như vậy, NHNN cần có cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, kết hợp với các giải pháp nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân, nhằm hình thành một thị

    81

    trường ngoại hối phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ phù hợp với thị trường giao dịch.

    NHNN cũng cần tăng cường vai trò trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do NHNN tổ chức, giám sát và điều hành nhằm hình thành một thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các tổ chức tín dụng là thành viên thị trường.

    Quan trọng hơn, NHNN cần nghiên cứu ban hành những quy tắc cơ bản nhất trong giao dịch phái sinh, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với điều kiện thị trường của Việt Nam hiện nay, để có hành lang pháp lý chung cho hoạt động của các NHTM. Tránh để các NHTM thực hiện nghiệp vụ mới một cách riêng lẻ, dẫn đến tình trạng không thống nhất, dễ gây ra tranh chấp khi có sự cố xảy ra, cũng như hạn chế những rủi ro có thể cho các NHTM và cho cả doanh nghiệp.

    Hoàn thiện quy định về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ

    Theo đánh giá của các chuyên gia tiền tệ trong nước cũng như trên thế giới, trong các nghiệp vụ phái sinh, đứng cả về phía khách hàng cũng như ngân hàng, nghiệp vụ quyền chọn là có nhiều hấp dẫn hơn cả. Về nghiệp vụ quyền chọn, BIDV cũng gặp một số khó khăn xuất phát từ những quy định của NHNN.

    Trong thời gian qua, BIDV với tư cách là người phát hành các hợp đồng quyền chọn, nguồn thu từ nghiệp vụ này rất ít vì phí quyền chọn phải đóng cho đối

    tác nước ngoài nhận “tái bảo hiểm” các hợp đồng quyền chọn này. BIDV phải ký lại các hợp đồng quyền chọn với đối tác nước ngoài dưới dạng tái bảo hiểm vì hiện nay số lượng ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn chưa nhiều nên BIDV không thể làm trung gian cân đối hay điều hòa rủi ro giữa những người ký hợp đồng quyền chọn với ngân hàng cũng như không có nhiều cơ hội giao dịch, ký kết hoán đổi các hợp đồng quyền chọn với các ngân hàng khác trong nước.

    Tuy nhiên, trên thị trường ngoại hối quốc tế nhất là ở các nước phát triển, nghiệp vụ quyền chọn không những được sử dụng để bảo hiểm rủi ro tỷ giá mà còn là cơ sở để các ngân hàng hình thành nên các chiến lược quyền chọn nhằm mục đích kiếm lời theo những dự đoán riêng của mình về sự biến động của tỷ giá trong tương lai.

    Để có thể sử dụng được chiến lược này, ngoài khả năng của BIDV, cần phải có một thị trường quyền chọn phát triển với đầy đủ các yếu tố của thị trường như tỷ giá

    82

    phải được xác định bởi cung cầu của thị trường, chính sách quản lý ngoại hối phải tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động KDNT và khung pháp luật đảm bảo quyền lợi của nhà kinh doanh.

    Đối với các NHTM tại Việt Nam, việc triển khai và áp dụng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và VND sẽ thu hút khách hàng hơn một số sản phẩm phái sinh khác. Vì vậy, NHNN nên cho các NHTM tiếp tục triển khai sản phẩm này.

    1.2    Hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

    Hiện nay, hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn hạn chế như tính linh hoạt chưa cao, các ngân hàng còn hoạt động kinh doanh chủ yếu theo phương thức “tự cấp, tự túc”, thị trường hoạt động theo xu hướng một chiều (mua vào không đủ đáp ứng nhu cầu bán ra), các công cụ đơn điệu, chủ yếu là các giao dịch giao ngay Spot.

    Để đảm bảo cho thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động có hiệu quả và ngày càng giữ vai trò trung tâm quan trọng của thị trường ngoại hối Việt Nam, trong thời gian tới NHNN cần phải hoàn thiện hơn nữa các vấn đề như sau:

    • NHNN phải thực hiện đúng chức năng là người mua bán cuối cùng trên thị trường. Chính do đặc điểm của thị trường ngoại hối Việt Nam trong thời gian qua có giai đoạn các ngân hàng đều đặt lệnh mua ngoại tệ nhưng không được thỏa mãn do đó mất niềm tin vào thị trường. Để có thể khắc phục tình trạng này, NHNN cần phải thỏa mãn các nhu cầu mua/bán ngoại tệ hợp lý của thị trường và kịp thời can thiệp một cách hữu hiệu vào tỷ giá.
    • NHNN phải có dự trữ ngoại tệ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu dầu thô, các mặt hàng xuất khẩu chiến lược của quốc gia.
    • Thiết lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng theo mô hình tổ chức kép bao gồm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trực tiếp các ngân hàng và thị trường gián tiếp qua môi giới, đồng thời hoàn thiện quy chế giao dịch, hiện đại hoá khâu thanh toán, trang bị công nghệ tiên tiến cho hoạt động thanh toán bù trừ của NHNN.
    • Mặt khác, NHNN cần kiểm soát và tiến tới loại bỏ thị trường ngoại tệ tự do vì hoạt động của thị trường này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Về lâu dài cần phải có biện pháp, chính sách quản lý vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường ngoại tệ

    83

    liên ngân hàng, tiến tới xoá bỏ thị trường ngoại tệ tự do.

    1.3    Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối

    Nhìn chung cơ chế quản lý ngoại hối của Việt Nam đã thông thoáng hơn. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần phải hoàn thiện như cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái trong dài hạn, lộ trình và phương thức điều chỉnh tỷ giá… Cơ chế quản lý tỷ giá phải thực hiện được 2 mục tiêu chính: tiến tới lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam;

    Nới lỏng kiểm soát đối với các giao dịch vãng lai để đồng Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi nhằm chống lại hiện tượng Đôla hoá. Trên cơ sở đó, NHNN có thể kiểm soát hiệu quả các luồng chu chuyển ngoại tệ, thu hút ngoại tệ để tăng nguồn dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá và tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia.

    Để phát triển thị trường ngoại hối, tăng khả năng tự bảo hiểm của doanh nghiệp thông qua các công cụ của thị trường, các quy định về quản lý ngoại hối cần phải thỏa mãn các nhu cầu mua/bán ngoại tệ hợp lý của thị trường và kịp thời can

    thiệp một cách hữu hiệu vào tỷ giá.

    NHNN phải có dự trữ ngoại tệ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả

    nguồn ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu dầu thô, các mặt hàng xuất khẩu chiến lược của quốc gia.

    Thiết lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng theo mô hình tổ chức kép bao gồm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trực tiếp các ngân hàng và thị trường gián tiếp qua môi giới, đồng thời hoàn thiện quy chế giao dịch, hiện đại hoá khâu thanh toán, trang bị công nghệ tiên tiến cho hoạt động thanh toán bù trừ của NHNN.

    Mặt khác, NHNN cần kiểm soát và tiến tới loại bỏ thị trường ngoại tệ tự do vì hoạt động của thị trường này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Về lâu dài cần phải có biện pháp, chính sách quản lý vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tiến tới xoá bỏ thị trường ngoại tệ tự do.

    Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc triển khai áp dụng vào thực tế một số công cụ ngoại hối bảo hiểm rủi ro như hoán đổi giá cả hàng hoá (Commodity Price

    84

    Swap), mua bán tương lai hàng hoá (Commodity Future), hoán đổi lãi suất (Interest Swap)… tất nhiên điều kiện đảm bảo và phát triển thị trường vẫn là chính sách tỷ giá thích hợp, gắn thị trường và các điều kiện giao dịch thuận lợi.

    1.4      Kiến nghị khác

    NHNN cũng cần ban hành những quy chế hợp lý hơn như việc xác lập tỷ giá hoán đổi, phí hoán đổi tiền tệ hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường.

    Hiện nay NHNN đã cho phép cá nhân, NHTM thực hiện Option ngoại tệ với ngoại tệ mà không cần phải chứng minh mục đích sử dụng vốn, điều này cho thấy NHNN cho phép cá nhân, NHTM được đầu cơ ngoại tệ. Qua thực tế tại Phòng kinh

    doanh Tiền tệ thì nghiệp vụ trên tuy phù hợp với khẩu vị thích rủi ro của nhà đầu tư nhưng chưa được thực hiện nhiều do quy định về số lượng ngoại tệ tối thiểu trong mỗi giao dịch. NHNN cần xem xét điều chỉnh giảm chỉ tiêu này để khách hàng có thể thực hiện giao dịch theo nhu cầu.

    2.     Một số kiến nghị với khách hàng

    Việc phân tích và dự đoán biến động tỷ giá ngoại tệ không phải là chuyên môn của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng.

    Do đó, để tránh rủi ro tỷ giá, các doanh nghiệp nên tham khảo ý kiến tư vấn của ngân hàng trước và sau khi ký hợp đồng để chọn những biện pháp phòng tránh rủi ro tỷ giá thích hợp đồng thời tạo thói quen sử dụng các công cụ phái sinh ngoại tệ tron g môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay.

    Trong quá trình lựa chọn đối tác, ký hợp đồng, các doanh nghiệp phải lựa chọn đối tác có tiềm năng và có uy tín đồng thời phải tìm hiểu kỹ các phương thức thanh toán, đồng tiền giao dịch để có kế hoạch nguồn vốn cho phù hợp.

    Phải tìm hiểu kỹ các tiện ích ngân hàng dành cho doanh nghiệp, trường hợp không thu xếp kịp các nguồn tiền vào, ra thì có thể sử dụng các nguồn vốn như vay, ký hợp đồng hoán đổi, kỳ hạn … để thanh toán đúng thời gian đã ký kết với đối tác. Việc lựa chọn loại ngoại tệ nào trong thanh toán ngoại thương cũng là vấn đề mà DN cần quan tâm. Các DN xuất nhập khẩu vẫn có thói quen sử dụng đồng USD trong thanh

    85

    toán cho dù đối tác ở bất kỳ đâu trên thế giới, điều này có 2 lý do: một là DN Việt Nam không có quyền quyết định đồng tiền thanh toán; hai là, đối với nhiều nước, đồng USD vẫn có vị thế riêng. Thực tế nhiều DN bỏ qua cơ hội làm tăng lợi nhuận cho mình khi chỉ sử dụng đồng USD trong thanh toán trong khi sử dụng các đồng tiền khác thì DN có thể làm tăng lợi nhuận khi tỷ giá biến động có lợi. Thậm chí có DN phải dừng dự án cũng như gánh thêm các khoản nợ khổng lồ do việc biến động liên tục của đồng USD. Đối với loại ngoại tệ khác (EUR chẳng hạn), việc sử dụng để thanh toán được cho là phương thức thuận lợi, giúp giảm thời gian giao dịch, chi phí giao dịch, chi phí chuyển đổi tiền tệ và không lo xảy ra khan hiếm ngoại tệ như đồng USD và dịp cuối năm, mặc dù nguy cơ biến động tỷ giá này không loại trừ nhưng với tính ổn định của mình, nếu DN cân đối việc sử dụng ngoại tệ chắc chắn sẽ có lợi nhưng dường như điều này chưa được nhiều DN quan tâm.

    Việc lựa chọn bất kỳ loại ngoại tệ mạnh nào để thanh toán có thể thực hiện được do các đồng tiền này có khả năng chuyển đổi cao, giúp DN và đối tác yên tâm chấp nhận thanh toán bằng đồng tiền của chính nước đó.

    Thị trường xuất khẩu Việt Nam ngày càng đa dạng, việc giao dịch bằng ngoại tệ là tất yếu và đòi hỏi DN Việt Nam phải rèn cho mình kỹ năng trong việc vận dụng ngoại tệ một cách cân bằng, kỹ năng phòng tránh rủi ro tỷ giá nhằm giảm thiểu rủi ro tiền tệ và nếu có thể sẽ đưa lại những lợi ích nhất định.

    86

    KẾT LUẬN

    Sau khi nghiên cứu đề tài, có thể rút ra một số kết luận sau đây:

    1. Về mặt lý luận hoạt động kinh doanh ngoại tệ liên quan đến các vấn đề về ngoại hối, ngoại tệ, thị trường ngoại hối, tỷ giá, các thành viên tham gia trên thị trường ngoại hối. Trong đó các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ chính của ngân hàng thương mại bao gồm: Nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn.
    1. Để đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của các ngân hàng thương mại có thể dựa trên nhiều tiêu chí. Trong đó có một số tiêu chí cơ bản như doanh thu MBNT, thu

    nhập từ hoạt động KDNT, thu nhập từ hoạt động KDNT trên tổng thu nhập, rủi ro trong hoạt động KDNT và khả năng hỗ trợ của hoạt động KDNT tới sự phát triển của các hoạt động khác.

    1. Hoạt động KDNT tại BIDV được đánh giá dựa trên số liệu từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2010. Đây là giai đoạn thị trường ngoại hối Việt Nam phát triển mạnh mẽ và thường xuyên biến động. BIDV đã không ngừng hoàn thiện và phát triển các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu khách hàng, đồng thời liên tục đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động KDNT để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Nhờ đó, trong giai đoạn 2006-2010, hoạt động KDNT đã có những bước tăng trưởng vượt bậc về cả doanh số và thu nhập. BIDV đã được khách hàng ghi nhận những nỗ lực không ngừng của mình với giải thưởng “Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ kinh doanh ngoại tệ (FX) tốt nhất năm” do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí AsiaMoney trong 3 năm liên tiếp từ năm 2007 đến năm 2009.

    Tuy nhiên, do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan nên hoạt động KDNT của BIDV vẫn còn một số hạn chế và chưa đạt được kết quả như mục tiêu mà BIDV đặt ra: doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng chiếm tỷ trọng cao thể hiện hoạt động KDNT của BIDV vẫn chủ yếu là “tự cung, tự cấp”, hoạt động KDNT trên thị trường liên ngân hàng chưa được chú trọng; KDNT chủ yếu thực hiện nghiệp vụ giao ngay, các nghiệp vụ KDNT phái sinh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có; tại các chi nhánh của BIDV, hoạt động KDNT vẫn chưa được chú trọng, chưa có các cán bộ có đầy đủ nghiệp vụ chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh này…

    87

    1. Từ những nguyên nhân được đề cập, các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV có thể kể đến là: Hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, trong đó cần tập trung marketing, giới thiệu khách hàng sử dụng các sản phẩm ngoại hối phái sinh tại ngân hàng; mở rộng hoạt động KDNT trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng và thị trường quốc tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực….Ngoài ra luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị đối với NHNN và các

    doanh nghiệp XNK nhằm mở rộng môi trường kinh doanh và tiềm năng hoạt động KDNT cho các NHTM nói chung và BIDV nói riêng.

    Hoạt động KDNT rất đa dạng và phong phú nên còn nhiều vấn đề cần phải đề cập và nghiên cứu nhưng do khuôn khổ của đề tài có giới hạn vì vậy chắc chắn đề tài không thể trình bày trọn vẹn về lĩnh vực này. Một lần nữa Tác giả mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp của các thầy cô và những ai quan tâm đến vấn đề được đề cập trong luận văn để luận văn được hoàn chỉnh hơn.

    88

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • TS Lê Văn Tư, Thị trường hối đoái, NXB Thống kê, 2003.
    • TS Nguyễn Văn Tiến, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB

    Thống kê, 2005.

    • TS Nguyễn Văn Tiến, Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối, NXB Thống kê, 2006
    • TS Nguyễn Văn Tiến, Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh,

    NXB Thống kê, 2010

    • TS Nguyễn Văn Tiến, Tài chính quốc tế, NXB Thống kê, 2009
    • Simon Benninga and Zvi Wiener, value at risk, Mathematica in Education and Research, 1998.
    • Pháp lệnh ngoại hối 2005  do ủy ban thường vụ quốc  hội ban  hành ngày

    13/12/2005

    • Nghị định 160/2006/NĐ-CP do chính phủ ban hành ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh ngoại hối
    • Thông tư 03/2008/77-NHNN do ngân hàng nhà nước ban hành ngày 11/04/2008 về hướng dẫn hoạt động cung ứng dịch vụ của TCTD
    • Quyết định 101/1999/QĐ-NHNN do ngân hàng nhà nước ban hành ngày 26/03/1999 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
    • Quyết định số 206/2000/QĐ-NHNN13 của NHNN ngày 11/07/2000 sửa đổi khoản 2 điều 9 “Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng” ban hành kèm theo QĐ số 101/1999/QĐ-NHNN ngày 26/3/1999
    • Quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN của NHNN ngày 10/11/2004 về các giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối
    • Công văn 1820/NHNN-QLNH của NHNN ngày 18/03/2009 về dừng thí điểm nghiệp vụ option tiền đồng

    89

    • Quyết định 2666/QĐ-NHNN của NHNN ngày 25/11/2009 về biên độ tỷ giá
    • Quyết định số 1081/2002/QĐ-NHNN của NHNN ngày 07/10/2002 về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng đuợc phép hoạt động ngoại hối
    • Báo cáo thường niên BIDV các năm 2006, 2007, 2008, 2009
    • Peter S.Rose (2004), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính
    • bidv.com.vn, lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức BIDV, BIDV triển khai thành công hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử.
    • vneconomy.vn, Lợi nhuận ngân hàng không nhìn từ tín dụng; Các ngân

    hàng Hà Nội đẩy mạnh kinh doanh ngoại hối.

    • sbv.gov.vn, Khánh Hưng, Ngân hàng thương mại dừng thực hiện thí điểm nghiệp vụ Option tiền đồng

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

    TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

    TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán (Bài 8)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-KINH-DOANH-NGO%E1%BA%A0I-T%E1%BB%86-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

    Chương I

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH NGOẠI HỐI

    I / KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    1/ Giải thích các thuật ngữ

    1.1 / NGOẠI HỐI:

    Ngoại hối là những công cụ được sử dụng trong các quan hệ thanh toán quốc tế được các quốc gia quản lý và quy định cụ thể trong luật  quản lý ngoại hối.

    Ngoại hối bao gồm:

    1. a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ);
    2. b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
    3. c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
    4. d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;

    đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.

    1.2 /  THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI:

    Thị trường ngoại hối là thị trường thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi các loại ngoại tệ và các hoạt động kinh doanh có liên quan đến ngoại tệ.

    1.3 / TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI:

    Tỷ giá hối đoái là hệ số quy đổi của một đồng tiền nước này sang một đồng tiền khác theo một tỷ lệ nhất định.

    Hay cách khác: Tỷ giá hối đoái là giá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng khối lượng các đơn vị tiền tệ nước ngoài.

    Ví dụ: USD / VND = X hay 1 USD = X VND

    1.4 / TRẠNG THÁI NGOẠI TỆ:

    Các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ làm phát sinh trạng thái ngoại tệ. Trạng thái ngoại tệ trường và trạng thái ngoại tệ đoản.

    Các giao dịch làm phát sinh trạng thái ngoại tệ trường:

    • Mua một ngoại tệ ( giao ngay, kỳ hạn)
    • Thu lãi cho vay bằng ngoại tệ
    • Thu phí dịch vụ bằng ngoại tệ
    • Nhận quà biếu, viện trợ bằng ngoại tệ
    • Tiền lương thưởng bằng ngoại tệ

    Các giao dịch làm phát sinh trạng thái ngoại tệ đoản

    • Bán một ngoại tệ ( giao ngay, kỳ hạn)
    • Trả lãi huy động bằng ngoại tệ
    • Trả phí dịch vụ bằng ngoại tệ
    • Cho tặng, biếu, viện trợ bằng ngoại tệ
    • Ngoại tệ bị mất, rách nát, hư hỏng

    µ Trạng thái ngoại tệ trường ròng:

    • Lãi khi tỷ giá tăng
    • Lỗ khi tỷ giá giảm

    µ Trạng thái ngoại tệ đoản ròng:

    • Lãi khi tỷ giá giảm
    • Lỗ khi tỷ giá tăng

    µ Trạng thái ngoại tệ cân bằng: không chịu rủi ro tỷ giá.

    2/  ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI:

    • Hoạt động liên tục 24/24 bởi vì do sự chênh lệch múi giờ ( trừ những ngày nghỉ cuối tuần).
    • Thị trường mang tính quốc tế.
    • Tỷ giá thị trường được xác định trên cơ sở cọ xát của cung và cầu ngoại tệ trên thị trường quyết định.
    • Những đồng tiền mạnh như USD, EUR, JPY, CHF, GBP, AUD,..giữ vị trí quan trọng của thị trường, đặc biệt là đồng đôla Mỹ (USD).
    • Thị trường hối đoái phần lớn được mua bán qua thị trường OTC, thị trường vô hình, mua bán qua điện thoại, telex, mạng vi tính…

    3/. PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    3.1 Căn cứ vào tính chất hoạt động :

    Thị trường giao ngay: là nơi thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ theo tỷ giá tại thời điểm giao dịch.

    Thị trường tiền gửi: là nơi tiến hành giao dịch vay và cho vay ngoại tệ với những thời gian và lãi suất đã được xác định.

    3.2 Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh

    – Thị trường giao ngay:( Spots Market) còn gọi là thị trường thực hiện việc mua bán giao ngay tại một thời điểm nhất định, theo giá cả trên thị trường.

    – Thị trường kỳ hạn: (Forwards Market) ra đời từ thị trường giao ngay, do những biến động trong nền kinh tế mà giá cả thay đổi lên xuống khó có thể lường trước được nên bất kỳ một nhà giao dịch nào muốn thành đạt trong kinh doanh cần phải tính toán và đưa ra những biện pháp tự bảo vệ chống lại sự biến động của giá cả trên thị trường. Như vậy để đảm bảo chống lại sự biến động giá cả ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình mà người bán và người mua đi đến thỏa thuận mua bán ngoại tệ có kỳ hạn thực hiện trên các hợp đồng kỳ hạn.

    – Thị trường hoán đổi tiền tệ: ( Swaps Market) là thị trường thực hiện việc trao đổi một khoản nợ bằng một đồng tiền khác.

    – Thị trường quyền  chọn: ( Options Market) là thị trường thực hiện các hợp đồng ký kết dưới dạng các quyền chọn. Tuy nhiên, khác với thị trường giao ngay và kỳ hạn, thị trường lựa chọn không phải mua bán ngoại tệ, các công cụ tài chính mà  mua hay bán quyền chọn mua, quyền chọn bán của các hàng hóa nêu trên với giá cả xác định tại một thời điểm và được quyền lựa chọn thực hiện hợp đồng hoặc từ bỏ hợp đồng.

    – Thị trường tương lai: (Futures Market) (hay thị trường giao sau) là thị trường thực hiện các giao dịch của các hợp đồng tương lai về mua sắm ngoại tệ theo kích thước quy định từng loại ngoại tệ trên thị trường và theo tỷ giá đã được thỏa thuận tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực trong tương lai. Các giao dịch ngoại tệ được thực hiện thông qua các sở giao dịch hối đoái.

    3.3 Căn cứ theo phạm vi hoạt động:

    –  Thị trường nội địa

    –  Thị trường quốc tế

    4/. CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    • Phục vụ thương mại quốc tế.
    • Phục vụ luân chuyển quốc tế
    • Nơi hình thành tỷ giá
    • Nơi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ
    • Nơi kinh doanh và phòng ngừa rủi ro

    5/.  CÁC THÀNH PHẦN THAM GIA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    6/. HÀNG HÓA CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    Hàng hóa của thị trường  ngoại hối là Tiền. Giao dịch ngoại hối là hoạt động giao dịch mua một số lượng tiền này và bán một số lượng tiền khác diễn ra cùng thời điểm. Tiền được giao dịch thông qua người môi giới hoặc trực tiếp theo từng cặp, ví dụ cặp EUR/USD hay GBP/JPY. Không như các thị trường tài chính khác, thị trường ngoại hối cũng không có một trung tâm tài chính hay giao dịch nào cả. Thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng và dựa trên giao dịch điện tử giữa hệ thống nối kết các ngân hàng với nhau, và hoạt động suốt 24 giờ trong ngày.

    II /  CÁC NGHIỆP VỤ TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    1/ Sơ lược về thị trường ngoại hối Việt Nam:

    1.1. thành lập:

    1.1 / – 16/8/1991: Thành lập Trung tâm giao dịch ngoại tệ.

    – Năm 1994: Trung tâm chấm dứt hoạt động.

    • Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng năm 1994

    Được thiết lập theo quyết định số 203/NH-QĐ ngày 20/09/1994 của thống đốc ngân hàng Nhà nước nhằm xây dựng một thị trường có tổ chức cho giao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại và tạo cơ sở hình thành thị trường ngoại hối hoàn chỉnh trong tương lai. Ngoài ra, thông qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, ngân hàng Nhà nước có thể can thiệp một cách hữu hiệu vào thị trường nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.

    Trước năm 1998 các giao dịch ngoại hối trên thị trường ngoại hối Việt Nam chủ yếu là giao dịch giao ngay. Năm 1998 giao dịch ngoại tệ kỳ hạn và hoán đổi mới chính thức được đưa vào giao dịch.

    • Sự ra đời của giao dịch kỳ hạn và hoán đổi năm 1998

    Giao dịch ngoại tệ kỳ hạnvà hoán đổi chính thức ra đời từ khi ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/01/1998.

    1.4 Sự ra đời của giao dịch quyền chọn ( Options) năm 2002

    Năm 2002 được sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước , ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu (EXIMBANK) đã thí điểm đưa ra giao dịch quyền chọn các loại ngoại tệ mạnh như EUR, AUD, SGD, so với USD. Sau sự thí điểm thành công này các ngân hàng thương mại khác như ACB, VAB và Techcombank cũng xin phép ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện giao dịch quyền chọn. Đến nay giao dịch quyền chọn không chỉ mở rộng ra nhiều ngân hàng tham gia giao dịch mà còn mở rộng ra giao dịch quyền chọn dựa trên tỷ giá EUR/USD hay AUD/USD như lúc mới thí điểm.

    2. Tổ chức hoạt động của thị trường ngoại hối

    Thị trường ngoại hối Việt Nam chính thức hình thành vào năm 1991 khi chúng ta bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường. Trải qua 18 năm đến nay thị trường ngoại hối Việt Nam đã có một bước phát triển đáng kể về quy mô cũng như loại nghiệp vụ giao dịch, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại trong và ngoài nước.

    Về tổ chức và hoạt động thị trường ngoại hối Việt Nam có thể mô tả như hình vẽ dưới đây:

    Khách hàng A,…
    Khách hàng C,…
    Ngân hàng ACB,…
    Ngân  hàng VCB,…
    Khách hàng D,…
    Khách hàng B,…
    Thị trường quốc tế
    Thị trường quốc tế

    Hình 1.1: Tổ chức thị trường ngoại hối ở Việt Nam

    Hình 1.1 cho thấy ngân hàng thương mại đóng vai trò nòng cốt trên thị trường ngoại hối và đóng vai trò trung gian trong các giao dịch kinh doanh ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng là các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty xuất nhập khẩu. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại còn mua bán ngoại tệ với nhau trên thị trường quốc tế nhằm mục tiêu lợi nhuận và đảm bảo cân bằng trạng thái ngoại tệ khi cần để giảm thiểu rủi ro.

    3. Các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối

    3.1 NGHIỆP VỤ HỐI ĐOÁI GIAO NGAY: ( Sport Transaction )

    3.1.1 Khái niệm:

    Nghiệp vụ hối đoái giao ngay là nghiệp vụ mua hoặc bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong hai ngày làm việc kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua bán.

    Ví dụ minh họa:

    Nội dung giao dịch Ngày thỏa thuận Ngày chuyển giao Tỷ giá áp dụng
    Công ty Gidomex bán 100.000 USD cho ngân hàng VCB 24/01 26/01 Tỷ giá mua USD / VND
    Công ty Import Co. mua 200.000 EUR từ ngân hàng ACB 02/02 04/02 Tỷ giá bán EUR / VND
    Tổng quát T T + 2 Tỷ giá giao ngay
    • Tỷ giá giao ngay:

    Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do tổ chức tín dụng yêt giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định hiện hành của ngân hàng Nhà nước.

    • Phương pháp yết giá:
    • Dành cho khách hàng là ngân hàng khác trên thị trường liên ngân hàng:
    • Yết giá theo kiểu Mỹ ( American term): là cách niêm yết tỷ giá bằng số USD trên đơn vị ngoại tệ.
    • Yết giá theo kiểu Châu Âu ( European term): là cách niêm yết tỷ giá bằng số ngoại tệ trên 1 đơn vị USD.
    • Dành cho khách hàng thông thường:
    • Yết giá trực tiếp ( direct quotation): là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị ngoại tệ thông qua một số lượng ngoại tệ nhất định.
    • Yết giá gián tiếp ( indirect quotation): là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị nội tệ thông qua một số lượng ngoại tệ nhất định.
      • Ví dụ minh họa giao dịch hối đoái giao ngay:
    Khách hàng Giao dịch Khách hàng Giao dịch
    A Mua 20.000 GBP bằng CHF C Bán 20.000 GBP lấy CHF
    B Mua 28.000 EUR bằng VND D Bán 28.000 EUR lấy VND

    USD / CHF: 1,2541 – 11; GBP/USD : 1,7561 – 91

    USD / EUR : 0,8131 – 65; USD / VND : 15.888 – 90

    Khách hàng A và C giao dịch 20.000 CHF

    – Khách hàng dùng CHF mua USD theo tỷ giá bán USD / CHF = 1,2552

    – Khách hàng dùng USD vừa có được mua GBP theo tỷ giá bán GBP / USD = 1,7591

    =>TG bán GBP / CHF = ( TG bán GBP / USD) x (TG bán USD / CHF) = 1,7591 x 1,2552 = 2,2080

    Đối khoản CHF khi khách hàng mua 20.000 GBP sẽ là :

    20.000 GBP = 20.000 x 2, 2080 = 44.160 CHF

    – Lý luận tương tự, việc bán 20.000 GBP của khách hàng C cũng gồm 2 giao dịch:

    Bán GBP lấy USD theo tỷ giá  mua GBP / USD = 1,7561

    Bán USD vừa có được lấy CHF theo tỷ giá mua USD / CHF = 1,2541

    => TG mua GBP / CHF = (TG mua GBP / USD) x (TG mua USD / CHF) = 1, 7651 x 1,2541 = 2,2136

    Đối khoản EUR khi khách hàng bán 20.000 GBP sẽ là:

    20.000 GBP = 20.000 x 2, 2136 = 44.272 CHF

    – Khách hàng B và D: giao dịch 28.000 EUR :  giao dịch giữa 2 đồng tiền yết giá trực tiếp

    Khách hàng mua USD bằng VND

    TG bán EUR / VND = (TG bán USD / VND) / TG mua USD / EUR) = 15.890 / 0,8131 = 19.542

    Đối khoản khách hàng cần mua:

    28.000 EUR=28.000x 19.542 = 547.176.000 VND

    Khách hàng bán EUR lấy VND

    *) TG mua EUR / VND = (TG mua USD / VND ) / ( TG bán USD / EUR ) = 15.888 / 0,8165 = 15.459

    Đối khoản VND khi khách hàng D bán 28.000 EUR là

    28.000EUR = 28.000 x 19.459 = 544.852.000 VND

    • KINH DOANH CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ : Arbitrages

    Mua ngoại tệ ở một thị trường và bán lại ở một thị trường khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận.

    • Arbitrages giản đơn: mua bán diễn ra trên hai thị trường
    • Arbitrages phức tạp: việc mua bán diễn ra ở nhiều hơn 2 thị trường

    3.1.4 Ưu nhược điểm :

    • Ưu điểm:
    • Đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngoại tệ của các đối tượng tham gia trên thị trường khi cần mua bán ngoại tệ.
    • Tạo điều kiện cho các ngân hàng thu được lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá
    • Nhược điểm:

    Không đáp ứng được nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ của những khách hàng nào cần mua hoặc cần bán ngoại tệ nhưng việc chuyển giao ngoại tệ chưa thực hiện ngay ở hiện tại mà sẽ được thực hiện trong tương lai.

    • NGHIỆP VỤ HỐI ĐOÁI KỲ HẠN: (Forward Transaction)

    3.2.1 Khái niệm

    Giao dịch hối đoái có kỳ hạn là giao dịch trong đó 2 bên cam kết sẽ mua bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai.

    Ngày giá trị giao dịch kỳ hạn = ngày thỏa thuận + kỳ hạn + 2 ngày

    3.2.2 Tỷ giá kỳ hạn

    Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưng được xác định ở hiện tại. Tỷ giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn và được xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao  ngay và lãi suất trên thị trường tiền tệ.

    Tỷ giá kỳ hạn được xác định bởi công thức:

    F

    Trong đó:

    F: tỷ giá có kỳ hạn

    S: tỷ giá giao ngay

    rd: lãi suất của đồng định giá

    ry: lãi suất của đồng yết giá

    Dựa vào công thức trên ta có nhận xét như sau:

    Nếu lãi suất đồng tiền định giá lớn hơn lãi suất đồng tiền yết giá:

    rd>ry à 1+rd > 1+ry à (1+rd)/(1+ry)>1 à F>S khi đó người ta nói có điểm gia tăng tỷ giá kỳ hạn, còn ngược lại có điểm khấu trừ tỷ giá có kỳ hạn.

    Kết hợp hai trường hợp này chúng ta có thể tóm tắt tỷ giá có kỳ hạn như sau: F=S+ điểm kỳ hạn, trong đó điểm kỳ hạn có thể dương hoặc âm được xác định trên cơ sở tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền định giá và yết giá.

    Tỷ giá mua có kỳ hạn:

    Tỷ giá bán có kỳ hạn:

    Fm, Sm lần lượt là tỷ giá mua có kỳ hạn và tỷ giá mua giao ngay.

    Fb, Sb lần lượt là tỷ giá bán có kỳ hạn và tỷ giá bán giao ngay.

    Ltg (VND), Lcv (VND) lần lượt là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay đồng Việt Nam.

    Ltg (NT), Lcv (NT) lần lượt là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay ngoại tệ.

    n là số ngày hợp đồng kỳ hạn.

    • Ví dụ minh họa

    Ngày 04/08 tại ngân hàng  ACB có 2 khách hàng liên hệ giao dịch ngoại tệ kỳ hạn:

    Công ty Saigonimex bán 90.000 EUR kỳ hạn 6 tháng

    Công ty Cholimex mua 100.000 EUR kỳ hạn 3 tháng

    Thông tin:

    Tỷ giá giao ngay USD/VND: 15.888 – 15.890

    Tỷ giá giao ngay EUR/USD: 1, 2248 – 1, 2298

    Lãi suất kỳ hạn 3 tháng và kỳ hạn 6 tháng của VND và EUR như sau:

    Kỳ hạn EUR (%/ năm) VND (%/ tháng)
    Tiền gửi Cho vay Tiền gửi Cho vay
    3 tháng 4,5 6,2 0,65 0,96
    6 tháng 4,8 6,5 0,68 0,98

    Vào ngày thỏa thuận, dựa vào thông tin tỷ giá và lãi suất trên đây ACB sẽ xác định và chào tỷ giá kỳ hạn cho khách hàng như sau:

    Đối với Saigonimex, ACB chào tỷ giá mua EUR / VND kỳ hạn 6 tháng.

    Tỷ giá mua giao ngay:

    EUR / VND = EUR / USD x USD / VND = 1,2248 x 15.888 =  19.459

    Tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức :

    Đối với Cholimex, ACB chào tỷ giá bán EUR / VND kỳ hạn 3 tháng.

    Tỷ giá bán giao ngay:

    EUR / VND = EUR / USD x USD / VND = 1,2298 x 15.890 = 19.542

    Tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức:

    Nếu ngân hàng và khách hàng đồng ý giao dịch thì vào ngày đáo hạn  sẽ thực hiện chuyển giao ngoại tệ như sau:

    Saigonimex giao cho ngân hàng 90.000 EUR, ngân hàng thanh toán cho Saigonimex số tiền VND bằng: 90.000 x 19.6221 = 1.765.890.000 VND

    Cholimex nhận 100.000 EUR và thanh toán cho ngân hàng số tiền bằng:

    • 00 x 19.885 = 1.988.500.000 VND

    3.2.4 Ưu, nhược điểm

    • Ưu điểm:
    • Giao dịch hối đoái có kỳ hạn được coi như là một công cụ phòng chống rủi ro do biến động của tỷ giá hối đoái cho các đối tượng tham gia trên thị trường hối đoái
    • Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư khảo sát biến động tỷ giá trên thị trường, nế dự đoán ngoại tệ tăng giá trong tương lai thì quyết định nên mua kỳ hạn và ngược lại dự đoán ngoại tệ có xu hướng giảm thì tốt nhất nên bán kỳ hạn nhằm hạn chế sự thiệt hại vể thu nhập khi tỷ giá biến động.
    • Nhược điểm:
    • Giao dịch kỳ hạn là giao dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù bất lợi hai bên vẫn phải thực hiện hợp đồng.
    • Hợp đồng kỳ hạn chỉ đáp ứng được nhu cầu khi nào khách hàng cần mua hoặc bán ngoại tệ trong tương lai còn ở hiện tại thì không có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ.
    • Giao dịch kỳ hạn cũng trở thành công cụ đầu cơ trên thị trường hối đoái nhằm để kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá.
      • NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI (Swaps Transaction)

    3.3.1 Khái niệm:

    Giao dịch hoán đổi ngoại hối là thỏa thuận giữa ngân hàng với một chủ thể khác về việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và bán ra là khác nhau.

    • Trong giao dịch hoán đổi hai bên ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau một số nội dung sau:
    • Thời hạn giao dịch: thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6 tháng, nếu ngày đáo hạn rơi vào ngày lễ và chủ nhật thì hai bên sẽ thỏa thuận chọn một ngày đáo hạn thích hợp và thời hạn hợp đồng sẽ tính trên số ngày thực tế.
    • Điều kiện thực hiện: giao dịch hoán đổi áp dụng với những khách hàng có đủ các điều kiện sau: có giấy phép kinh doanh, xuất trình chứng từ liên quan chứng minh nhu cầu mua ngoại tệ, mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản VND ở ngân hàng, trả phí giao dịch theo quy định, duy trì một tỷ lệ đặt cọc tối đa không quá 5% trị giá hợp đồng để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng, ký hợp đồng giao dịch hoán đổi với ngân hàng.
    • Ngày thanh toán: bao gồm 2 loại ngày khác nhau, ngày hiệu lực và ngày đáo hạn. ngày hiệu lực là ngày thực hiện thanh toán giao dịch giao ngay , ngày đáo hạn là ngày thực hiện thanh toán giao dịch có kỳ hạn.
    • Xác định tỷ giá hoán đổi: một hợp đồng hoán đổi liên quan đến 2 tỷ giá: tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn.
    • Quy trình thực hiện:
    • Khách hàng có nhu cầu thực hiện giao dịch hoán đổi đến liên hệ với phòng kinh doanh tiền tệ của ngân hàng.
    • Căn cứ vào cung cầu mua bán ngoại tệ, phòng kinh doanh tiền tệ sẽ chào giá và kỳ hạn cụ thể cho khách hàng.
    • Nếu khách hàng đồng ý thì hai bên sẽ ký hợp đồng hoán đổi tiền tệ.
      • Ví dụ minh họa

    Saigonimex có nhu cầu giao dịch:

    • Bán 90.000 USD giao ngay để lấy VND chi tiêu ở thời điểm hiện tại.
    • Mua 80.000 USD kỳ hạn để có USD thanh toán hợp đồng nhập khẩu sẽ đến hạn sau 3 tháng nữa.

    Giả sử Saigonimex chọn VCB để thực hiện giao dịch hoán đổi. Vào ngày hiệu lực VCB có thông tin tỷ giá USD / VND : 15.805 – 15.810 và lãi suất USD : 4,6 – 5,2; VND: 7,8 – 10,6. Hai bên thỏa thuận giao dịch hoán đổi với thời hạn 3 tháng và trị giá 80.000 USD ( hoặc 90.000 USD) như sau:

    Vào ngày hiệu lực:

    • Ngân hàng mua giao ngay 80.000 USD của Saigonimex theo tỷ giá mua

    USD/VND = 15.805 và  nhận 80.000 USD.

    • Saigonimex nhận được:

    80.000 x 15.805 = 1.264.400.000 VND và chi ra 80.000 USD.

    Ngân hàng xác định và chào tỷ giá bán kỳ hạn ( Fb) cho Saigonimex.

    Tỷ giá này bằng:

    15.810(10,6 – 5,2)x90

    = 15.810 +                                                   = 16.023

    100 x 360

    Vào ngày đáo hạn ( 3 tháng sau):

    • Ngân hàng giao lại 80.000 USD cho Saigonimex và nhận số VND bằng:

    80.000 x 16.023 = 1.281.840.000 VND.

    • Saigonimex nhận lại 80.000 USD và chi ra số VND bằng:

    80.000 x 16.023 = 1.281.840.000 VND.

    3.3.3 Ưu, nhược điểm

    • Ưu điểm:
    • Đối với khách hàng:
    • Thỏa mãn được nhu cầu ngoại tệ hoặc nội tệ của mình ở thời điểm hiện tại
    • Tránh được rủi ro biến động tỷ giá
    • Đối với ngân hàng:
    • Đáp ứng được nhu cầu của khách hàng góp phần nâng cao uy tín và gia tăng giá trị thương hiệu của mình
    • Kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giá mua và bán ngoại tệ.
    • Nhược điểm:
    • Đánh mất đi cơ hội kinh doanh nếu như tỷ giá biến động trái với dự đoán của khách hàng.
    • Nó chỉ quan tâm đến tỷ giá ở hai thời điểm: thời điểm hiệu lực và thời điểm đáo hạn, mà không quan tâm đến sự biến động tỷ giá trong suốt quảng thời gian giữa 2 thời điểm đó.
    • NGHIỆP VỤ GIAO DỊCH TƯƠNG LAI ( Futures Transaction)

    3.4.1 Khái niệm:

    Giao dịch ngoại tệ tương lai là giao dịch mua hoặc bán số lượng ngoại tệ theo tỷ giá xác định do 2 bên thỏa thuận, việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện trong tương lai thông qua Sở giao dịch hối đoái

    • Đặc điểm:
    • Có tính thanh khoản cao hơn hợp đồng kỳ hạn bởi vì phòng giao hoán sẵn sàng đứng ra “ đảo hợp đồng” bất cứ khi nào có một bên yêu cầu.
    • Là công cụ thích hợp cho các nhà đầu cơ.
      • Ví dụ minh họa:

    Nhà đầu cơ thị trường giao sau dự báo vài ngày tới CHF sẽ lên giá so với USD. Nhằm kiếm tiền từ cơ hội này, vào sáng ngày thứ 3, một nhà đầu tư trên thị trường giao sau Chicago mua một hợp đồng giao sau trị giá 125.000 CHF với tỷ giá 0,75 USD cho 1 CHF. Hợp đồng này sẽ đến hạn vào chiều ngày thứ năm. Để bắt đầu, trước tiên nhà đầu tư phải bỏ 2.565 USD ( bảng 2) vào tài khoản ký quỹ ban đầu. Biết rằng mức ký quỹ tối thiểu nhà đầu cơ phải duy trì đối với hợp đồng giao sau CHF là 1.900 USD, nhà đầu cơ phải sẵn sàng thêm tiền vào nếu mức ký quỹ của mình xuống đến dưới mức 1.900 USD. Sau khi mua hợp đồng giao sau, nhà đầu cơ sốt ruột theo dõi diễn biến tình hình thị trường. Bởi vì việc thanh toán diễn ra hàng ngày, có 3 điều sẽ xảy ra:

    Thứ nhất, hàng ngày nhà đầu cơ sẽ nhận được tiền hoặc sẽ chi tiền ra tùy theo hợp đồng lời hay lỗ.

    Thứ hai, hợp đồng giao sau với giá 0,75 USD / CHF sẽ bị hủy bỏ vào cuối ngày giao dịch.

    Thứ ba, nhà đầu cơ sẽ nhận được hợp đồng giao sau theo giá mới được thiết lập vào cuối ngày giao dịch.

    Thời gian Hoạt động Thanh toán
    Sáng ngày thứ ba ·        Nhà đầu tư mua hợp đồng giao sau, đến hạn vào chiều ngày thứ năm với tỷ giá 0,75 USD / CHF

     

    ·        Nhà đầu tư ký quỹ 2.565 USD

    Chưa xảy ra
    Cuối ngày thứ ba Giá CHF tăng đến 0,755 USD, vị trí của nhà đầu tư được ghi nhận trên thị trường Nhà đầu tư nhận:

     

    125.000 x ( 0,755 – 0,75) = 625 USD

    Cuối ngày thứ tư Giá CHF giảm còn 0,752 USD, vị trí mới của nhà đầu tư được ghi nhận Nhà đầu tư phải trả:

     

    125.000 x (0,755 – 0,722)

    = 375 USD

    Cuối ngày thứ năm Giá CHF giảm còn 0,74 USD

     

    ·        Hợp đồng đến hạn thanh toán

    ·        Nhà đầu tư nhận ngoại tệ chuyển giao

    Nhà đầu tư phải trả:

     

    1)     125.000 x (0,752 – 0,74)

    = 1.500 USD

    2)     125.000 x 0,74

    = 92.500 USD

    • Ưu nhược điểm:
    • Ưu điểm:
    • Sẵn sàng cung cấp những hợp đồng có giá trị giá nhỏ.
    • Cho phép các bên tham gia có thể sang nhượng lại hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn.
    • Nhược điểm:
    • Chỉ cung cấp giới hạn cho một vài ngoại tệ mạnh và môt vài ngày chuyển giao ngoại tệ trong năm.
    • Hợp đồng giao sau là hợp đồng bắt buộc phải thực hiện khi đến hạn chứ không cho người ta quyền được chọn như trong hợp đồng quyền chọn. ( Khi thị trường biến động bất lợi nhà đầu cơ không có quyền tự ý rút khỏi thị trường).
      • NGHIỆP VỤ QUYỀN CHỌN (Options Transaction)

    3.5.1 Khái niệm:

    Quyền chọn là một công cụ tài chính mà cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hay bán một công cụ tài chính khác ở một mức giá và thời hạn được xác định trước.

    Để có thể hiểu rõ khái niệm quyền chọn, giải thích một số thuật ngữ liên quan:

    • Người mua quyền( holder): Người bỏ ra chi phí để được nắm giữ quyền chọn và có quyền yêu cầu người bán có nghĩa vụ thực hiện quyền chọn theo ý mình.
    • Người bán quyền ( writer): Người nhận chi phí mua quyền của người mua quyền, do đó, có nghĩa vụ phải thực hiện quyền chọn theo yêu cầu của người mua quyền.
    • Tỷ giá thực hiện: tỷ giá sẽ được áp dụng nếu người mua quyền yêu cầu thực hiện quyền chọn.
    • Thời hạn của quyền chọn: thời hạn hiệu lực của quyền chọn. Quá thời hạn này quyền chọn không còn giá trị.
      • Đặc điểm:

    Trong nghiệp vụ này người mua đóng vai trò chủ động, có thể không  thực hiện quyền chọn khi biến động giá cả trên thị trường bất lợi cho mình.

    Tương tự như giao dịch kỳ hạn thì giao dịch option cũng có hai tạp quán:

    • Option theo kiểu Châu Âu: thì ngày thực hiện hợp đồng chính là ngày đến hạn, ngày hiệu lực của hợp đồng.
    • Option theo kiểu Mỹ: thì ngày thực hiện hợp đồng là ngày đến hạn hiệu lực của hợp đồng hoặc trước đó.
    • Các loại quyền chọn:
      • Quyền chọn mua:

    Người mua quyền chọn mua ngoại tệ vào một kỳ hạn trong tương lai, phải trả một khoản chi phí cho mỗi quyền chọn mua để được quyền chọn mua một số ngoại tệ nhất định theo tỷ giá quy định, nhưng không bắt buộc vào ngày đến hạn thanh toán.

    Ví dụ : Một nhà đầu tư cần USD trong 3 tháng tới, để thanh toán nợ đúng hạn. Trong điều kiện dự đoán USD có khả năng tăng giá, thì ngay từ bây giờ nhà nhập khẩu có thể mua quyền chọn mua USD trên thị trường với chi phí quyền chọn là 0.0050 SGD cho mỗi USD, tỷ giá thực hiện là 1.5850.

    • Đối với người mua quyền chọn mua:

    Có thể biểu thị qua biểu đồ sau:                                        tỷ giá th hiện =1.5850

    lãi, lỗ

     

     

                                                                                                                                                                                              tỷ giá giao ngay

    1.5800                1.5850        1.5900         1.5950

    lỗ

    lỗ tối đa = phí

    Ở thời điểm thực hiện hợp đồng có các trường hợp xảy ra:

    Tỷ giá giao ngay Kết quả
    Rs > 1.5900 Lợi nhuận gia tăng và không có giới hạn khi tỷ giá giao ngay tăng lên.
    Rs = 1.5900 Điểm hòa vốn
    1.5850 – 1.5900 Lỗ giảm dần khi tỷ giá giao ngay gia tăng.
    Rs < 1.5850 Lỗ có giới hạn tối đa và bằng phí.
    • Đối với người bán quyền chọn mua:

    profit

    tỷ giá giao ngay

    1.5800         1.5850         1.5900          1.5950

    loss

    Điểm hòa vốn = 1.5850 + 0.0050 = 1.5900

    Ở thời điểm thực hiện hợp đồng có các trường hợp xảy ra:

    Tỷ giá giao ngay Kết quả
    Rs > 1.5900 Lỗ gia tăng khi tỷ giá giao ngay tăng và không có giới hạn.
    Rs = 1.5900 Điểm hòa vốn
    1.5850 – 1.5900 Lợi nhuận gia tăng khi tỷ giá giao ngay giảm.
    Rs < 1.5900 Lợi nhuận gia tăng và tối đa và bằng phí
    • Quyền chọn bán:

    Người mua quyền chọn bán ngoại tệ được quyền bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo giá cả quy định ( tại thời điểm ký kết hợp đồng) vào ngày đến hạn thanh toán nhưng không bắt buộc.

    Ví dụ : Một nhà xuất khẩu sẽ thu được USD trong 3 tháng tới. Để tránh sự biến động USD giảm giá, ngay từ bây giờ anh ta quyết định mua quyền bán ngoại tệ với tỷ giá USD/SGD 1.5850, đồng thời phải trả phí là  0.0050 SGD cho quyền chọn bán mỗi USD trên thị trường.

    • Đối với người mua quyền chọn bán:

    Có thể biểu thị qua sơ đồ sau

    profit                                                                                      Tỷ giá thực hiện

    tỷ giá giao ngay

    1.5750          1.5800        1.5850       1.5900          1.5950

    Điểm hòa vốn = 1.5850 – 0.0050

    Ở thời điểm thực hiện hợp đồng có các trường hợp xảy ra:

    Tỷ giá giao ngay Kết quả
    Rs > 1.5850 Lỗ tối đa cho đến khi bằng phí
    1.5800 – 1.5850 Lỗ gia tăng dần khi tỷ giá giao ngay gia tăng
    Rs = 1.5800 Điểm hòa vốn
    Rs < 1.5800 Lợi nhuận gia tăng và không có giới hạn khi tỷ giá giao ngay giảm dần.
    • Đối với người bán quyền chọn bán:

    Lọi nhuận tối đa = phí

    profit                      tỷ giá thực hiện

    tỷ giá giao ngay

    1.5750        1.5800        1.5850         1.5900         1.5950

    loss                                            điểm hòa vốn

    Ở thời điểm thực hiện hợp đồng có các trường hợp xảy ra:

    Tỷ giá giao ngay Kết quả
    Rs > 1.5850 Lợi nhuận tối đa bằng phí
    1.5800 – 1.5850 Lợi nhuận gia tăng khi tỷ giá giao ngay gia tăng
    Rs = 1.5800 Điểm hòa vốn
    Rs < 1.5800 Lỗ gia tăng khi tỷ giá giao ngay giảm và không có giới hạn
    • Ưu, nhược điểm:
    • Ưu điểm:
    • Kiểm soát được rủi ro ngoại hối.
    • Tận dụng được cơ hội đầu cơ nếu như tỷ giá biến động thuận lợi.
    • Nhược điểm:

    Tốn chi phí mua quyền chọn cho dù có thực hiện hay không thực hiện quyền chọn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

     

    1.     Những con số và sự kiện đã xảy ra ở Việt Nam những năm gần đây:

    Năm 2008, thị trường ngoại hối từng có những đợt biến động mạnh và căng thẳng, tỷ giá USD / VND trên thị trường tự do có lúc lên sát 19.000 VND. Những diễn biến này được đặt trong những áp lực cơ bản: nhập siêu tăng kỷ lục và lạm phát tăng rất mạnh.

    Theo phản ánh của các ngân hàng, có một thực trạng chung là nhiều doanh nghiệp xuất khẩu khi thu ngoại tệ về không chịu bán lại. Đây là một lựa chọn  có mục đích chính là để dự phòng rủi ro tỷ giá trong tương lai, bởi chính các doanh nghiệp cũng cần ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho sản xuất để xuất khẩu, một mục đích khác là gắm giữ có kỳ vọng tỷ giá sẽ tiếp tục tăng, hay nói cách khác mức giá các ngân hàng trả theo quy định hiện nay tỏ ra chưa hấp dẫn doanh nghiệp.

    Một nguyên nhân khác của việc doanh nghiệp không chịu bán ngoại tệ là do “ tác dụng phụ” của chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn VND. Lãi suất vay VND sau hỗ trợ chỉ khoảng 5% – 6%/ năm, trong khi vay USD cũng có lãi suất gần tương ứng  và còn phải chịu rủi ro tỷ giá khi mua ngoại tệ trả nợ trong tương lai. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp lựa chọn giải pháp tìm mua USD thay vì vay USD.

    .

    Trước tình hình ngoại tệ của những thành viên trong hệ thống, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện vai trò bán ra hỗ trợ. Nhưng dường như đây vẫn chưa phải là một cách giải quyết có tính căn bản, khi sự ách tắc nguồn ngoại tệ găm giữ tại các doanh nghệp xuất khẩu vẫn chưa thực sự được tháo gỡ.

    Đáp ứng được yêu cầu hợp lý của thị trường là linh hồn của chính sách. Điều này còn thiếu ở chính sách tỷ giá trong thời gian qua, khi doanh nghiệp có ngoại tệ không chịu bán, doanh nghiệp mua ngoại tệ tìm kiếm khó khăn. Cơ chế trần tỷ giá hiện nay vân chưa tạo được điều kiện để họ hài lòng đến với nhau.

    Tỷ giá bình quân liên ngân hàng liên tục tăng cao, giá USD niêm yết của các ngân hàng thương mại đã lên mức cao nhất trong lịch sử. Từ cuối tháng 8, tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố liên tục tăng. Ngày 9/9, sau hơn 8 tháng, tỷ giá này chính thức vượt mốc 16.980 VND và ở mức 16.981 VND. Ngày 10/9, tỷ giá bình quân liên ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 16.983 VND.

    Giá USD mua vào – bán ra của các ngân hàng thương mại niêm yết cũng đồng loạt lên mức cao nhất từ trước tới nay, kịch trần 5% biên độ cho phép theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, cùng áp ở mức 17.832 VND.

    Trong lịch sử, tỷ giá bình quân liên ngân hàng cao nhất ghi nhận ở mức 16.989 VND của ngày 25/12/2008 – ngày mà lần đầu tiên ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng một bước 3%, từ mức 16.494 VND. Từ thời điểm đó đến trung tuần tháng 2/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được áp dụng quanh mốc 16.980 VND. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, biên độ tỷ giá quy định ở mức +/-3% nên giá USD của các ngân hàng thương mại phổ biến chỉ ở duới 17.500 VND.

    Từ cuối tháng 3/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu giảm mạnh, có ngày giảm gần 10 VND. Đây được xem là một sự điều chỉnh cân đối với chính sách biên độ mới, khi từ ngày 24/3/2009 Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới niên độ từ +/- 3% lên +/-5%. Từ cuối tháng 7 trở lại đây, tỷ giá bình quân liên ngân hàng  bắt đầu tăng trở lại, hiện vẫn thấp hơn so với những ngày cuối năm 2008, nhưng do có biên độ lớn hơn nên giá USD của các ngân hàng đã lên mức cao nhất từ trước tới nay.

    Những tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối cũng căng thẳng nhưng những áp lực trên đã không còn quá lớn.

    7 tháng đầu năm, nhập siêu chỉ mới ở mức 3,38 tỷ USD, và theo mục tiêu Bộ Công Thương đặt ra , năm nay nhập siêu sẽ dưới 20% kim ngạch xuất khẩu, cả năm sẽ khoảng 8 – 10 tỷ USD, rất thấp so với sự đột biến 18 tỷ USD năm 2008.

    Cũng trong 7 tháng đầu năm, theo số liệu của Cục Thống Kê, chỉ số giá tiêu dùng ( CPI) chỉ tăng 3,22% so với cuối năm 2008, trong khi đó tỷ giá USD / VND tăng 6,22%. Mức tăng của hai chỉ số này vẫn đang đảm bảo yếu tố có lợi và hỗ trợ cho xuất khẩu. Áp lực lạm phát đối với tỷ giá cũng không quá lớn khi nhiều dự báo tin tưởng khả năng chỉ tăng dưới 10%, thậm chí chỉ khoảng 7% – 8% trong năm này.

    Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định có đủ khả năng để can thiệp thị trường khi cần thiết với nguồn ngoại tệ đủ mạnh. Hiện dự trữ ngoại tệ ở khoảng trên dưới 22 tỷ USD. Tuy nhiên, nhà điều hành không thể dùng phương pháp tưởng như đơn giản là tung một nguồn ngoại tệ lớn cho thị trường để xoa dịu sự căng thẳng của cầu, bởi theo giải thích của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu, điều hành chính sách tỷ giá con phải đảm bảo hài hòa các lợi ích, yêu cầu khác của nề kinh tế, về việc tung một nguồn ngoại tệ lớn ra thị trường còn có những hệ lụy…

    Vừa qua, với gợi ý của ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm mạnh lãi suất cho vay USD xuống phổ biến dưới 3%/năm để có thể tạo hấp dẫn đối với doanh nghiệp vay vốn.

    Ở một giải pháp khác, theo thông tin tại cuộc đối thoại với doanh nghiệp hồi trung tuần tháng 5/2009, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tổ chức đàm phán với một số doanh nghiệp lớn với mục đích thúc đẩy việc bán lại USD, vay USD cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây chỉ là một giải pháp tình thế và cục bộ

    Ngày 5/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 16.944 VND/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua.

    Theo đó, tỷ giá giao dịch của khối ngân hàng thương mại cũng tăng 2 đồng, lên mức 17.789 VND / USD (mua vào) – 17.791 VND/USD (bán ra). Đây vẫn là mức rất cao và cho thấy tình hình thị trường USD chưa thực sự hết căng thẳng.

    Trong tình hình đó, những con số mới nhất từ Tổng cục Thống kê cho thấy, chỉ sau 2 tháng, từ xuất siêu hơn 1,6 tỷ USD, Việt Nam đã chuyển sang nhập siêu ở mức tương đương, đạt 1,5 tỷ USD.

    Trong suốt những biến động từ đầu năm, hầu hết ở các thời điểm tỷ giá USD / VND của các ngân hàng thương mại đều ở sát trần biên độ cho phép, việc đẩy giá mua vào bằng đúng giá bán ra cũng đã kéo dài kể từ ngày 11/6/2009 trở lại đây.

    Trong tháng 7 và tháng 8, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ ( chủ yếu bằng USD) đã tăng khá nhanh, lần lượt tăng 1,2% và 1,52%. Lãi suất huy động USD từ cuối tháng 8 đến nay cũng tăng khá mạnh, một số ngân hàng đã đẩy mức cao nhất lên đến 4% – 4,15%/ năm.

    Theo số liệu của Tổng cục thống kê, chỉ số giá USD tháng 8/2009 đã tăng 6,36% so với tháng 12/2008, tăng 8,95% so với cùng kỳ năm 2008.

    Trong 6 tháng đầu năm 2010: Dư nợ cho vay ngoại tệ của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam 6 tháng đầu năm nay tăng khá lớn so với cuối năm ngoái. Các khoản vay 3-6 tháng bắt đầu đến hạn trả nợ dần từ nay đến cuối năm. Do vậy, giá USD nhích lên, phổ biến ở mức 19.100 USD tại các ngân hàng

    6 tháng đầu năm cán cân thanh toán quốc tế tổng thể được cải thiện qua từng tháng (thặng dư trong tháng 4), đồng thời Ngân hàng Nhà nước đã mua được một lượng ngoại tệ đáng kể trong quý II để tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối. Trong 6 tháng đầu năm 2010, cán cân vãng lai thâm hụt 3,6 tỷ USD nhưng cán cân vốn thặng dư khoảng 7 tỷ USD.

    Từ ngày 23/6 đến ngày 2/7/2010, tỷ giá bán USD / VND trên thị trường tự do tăng từ 18.890 VND / USD lên 19.140 VND/USD, tỷ giá bán USD / VND của ngân hàng thương mại niêm yết tăng từ 18.990 VND / USD lên mức kịch trần 19.100 VND / USD.

    2.     Hạn chế trong kinh doanh ngoại tệ:

    Mất cân đối giữa khách hàng nhập khẩu và khách hàng xuất khẩu nên cân đối ngoại tệ chưa ổn định và vững chắc.

    Lượng ngoại tệ mua từ khách hàng xuất khẩu (XK) có nguồn thu ngoại tệ bình quân mới chỉ đạt 7-8% kim ngạch XK nên chưa đảm bảo khả năng đáp ứng đủ 100% nhu cầu về ngoại tệ trong mọi thời điểm.

    Điều kiện kỹ thuật của hệ thống INCAS chưa hoàn thiện nên chưa triển khai được đầy đủ các loại hình sản phẩm giao dịch hối đoái mà NHNN cho phép.

    Các sản phẩm giao dịch hối đoái là những sản phẩm có điều kiện, gắn chặt với các quy định cụ thể về quản lý ngoại hối, đối tượng và mục đích sử dụng sản phẩm bị hạn chế trong một phạm vi nhất định.

    Trên thực tế, một bộ phận cán bộ KDNT còn chưa nắm vững các quy định nghiệp vụ nên khi tác nghiệp còn lúng túng. Cá biệt, có cán bộ đã cố ý làm trái quy định, quy trình nghiệp vụ gây thua lỗ lớn.

    Ngoài ra, các quy định, cơ chế quản lý, kiểm soát rủi ro trong lĩnh vực KDNT còn chưa đồng bộ nên khả năng phát hiện kịp thời sai phạm và ngăn chặn rủi ro chưa tốt.

    3.Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong KDNT 

    a. Đẩy mạnh mua bán ngoại tệ có kỳ hạn:

    Nghiệp vụ này giúp tránh được rủi ro kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá thay đổi theo chiều hướng bất lợi. Giao dịch hối đoái kỳ hạn là giao dịch hai bên cam kết sẽ mua bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    b. Thực hiện hoán đổi trong mua bán ngoại tệ:

    Nghiệp vụ bao gồm hai hoạt động giao ngay và kỳ hạn theo hướng ngược lại với giao ngay. Mua ngoại tệ theo giao ngay và bán ngoại tệ đó theo kỳ hạn hoặc ngược lại. Mục đích của nghiệp vụ này là cân đối trạng thái tại một thời điểm, tránh được sự mất cân đối ngoại tệ tại một thời điểm nhất định, đáp ứng nhu cầu khách hàng và thu lợi nhuận. Swap không làm thay đổi trạng thái thực của một ngân hàng nhưng Swap có thể kéo dài vị thế của đồng tiền muốn đầu cơ. Tất nhiên sẽ tiềm ẩn rủi ro rất lớn nếu không đặt lệnh giới hạn lỗ. Thời hạn để Swap một giao dịch trong đầu cơ không nên quá 6 tháng.

    c. Tăng quyền lựa chọn hối đoái phù hợp cho các NHTMCP:

    Người mua có thể mua (quyền mua) hay bán (quyền bán) một khối lượng ngoại tệ nhất định tại một thời điểm theo giá đã ấn định. Điểm khác biệt với nghiệp vụ kỳ hạn là người mua quyền này phải trả một khoản phí mua quyền và có thể không thực hiện hợp đồng khi đến ngày giá trị. Mua quyền chọn sẽ tránh được rủi ro tỷ giá khi giá biến động theo hướng bất lợi, biết trước khoản lỗ tối đa (là phí mua quyền) và có thể duy trì được khả năng tạo ra lợi nhuận khi tỷ giá biến động theo đúng hướng đã dự đoán.

    d. Cần đa dạng hóa các loại tiền tệ: 

    Đa dạng hóa tiền tệ cũng là cách phòng tránh rủi ro trong hoạt động KDNT Đầu cơ chỉ một loại ngoại tệ với một số lượng quá lớn có thể sẽ đem lại lợi nhuận rất lớn nếu đi đúng với xu hướng biến động của tỷ giá. Bên cạnh đó, tiềm ẩn một rủi ro rất lớn và cũng sẽ không lường hết hậu quả. Người ta nói “không nên để tất cả quả trứng trong cùng một rổ” quả thật không sai.

    đ. Xây dựng chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể:

    Ngày nay bất cứ ngân hàng nào cũng có chiến lược kinh doanh cụ thể trong một giai đoạn nhất định. Do dó nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ cũng cần có hoạch định chiến lược rõ ràng kể cả thị trường ngoài nước và trong nước. Sự biến động của tỷ giá thường không theo một chu kỳ nào nhất định đôi khi dao động chỉ vì một tin đồn hay là lòng tin của dân chúng bị giảm sút về nền kinh tế, về chính phủ. Tuy vậy, sự biến động này cũng có những chu kỳ theo sự phát triển của nền kinh tế khu vực, giai đoạn phát triển, khả năng phục hồi, kỳ vọng hay là thời điểm kết sổ của quốc gia như ngày 31.3 là ngày kết thúc năm tài chính của Nhật, các công ty sẽ chuyển lợi nhuận về nước. Chính vì thế, NH cần có kế hoạch kinh doanh trong từng giai đoạn. Tùy theo thời điểm có thể thay đổi phù hợp.

    e. Xây dựng các hạn mức kinh doanh ngoại tệ, khối lượng giao dịch, giới hạn loại tiền kinh doanh một cách hợp lý và linh hoạt.

    Một biện pháp hạn chế rủi ro hữu hiệu là sử dụng hạn mức trong hoạt động KDNT. Hạn mức là công cụ để quản lý rủi ro. Hạn mức do mỗi ngân hàng đặt ra tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Ngân hàng phải xây dựng và duy trì một hạn mức chi tiết và rõ ràng.

    g. Tăng vốn tự có để tăng hạn mức kinh doanh cũng như khả năng trong thanh toán quốc tế và các nghiệp vụ khác.

    h. Nâng mức vốn điều lệ tối thiểu của các NHTMCP.

    Để tăng vốn điều lệ tối thiểu, các NHTMCP có thể tự chọn các phương pháp như tự phát hành cổ phiếu trong thời hạn quy định; hoặc sáp nhập với một hoặc một số NHTMCP khác; hoặc nếu không thể thực hiện được các cách trên thì sẽ phải tự giải thể. Nhìn chung, việc tăng vốn điều lệ tối thiểu có một số ưu điểm khác như xóa sổ bớt một số NH hoạt động yếu kém vốn là mối đe dọa chung của cả hệ thống ngân hàng. Đồng thời nâng cao sức mạnh tài chính của từng NH, tạo sự vững chắc chung cho toàn hệ thống.

    i. Nâng cao hiệu quả, cạnh tranh lành mạnh, nâng cao uy tín của hệ thống ngân hàng.

    Một ngân hàng có uy tín không chỉ thể hiện qua cơ cấu tổ chức, trình độ kinh nghiệm làm việc, lợi nhuận, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn tự có, thanh toán đúng hạn mà còn được đánh giá qua vốn hoạt động. Mức vốn thấp sẽ hạn chế NH trong việc mở rộng nghiệp vụ như option hay thành lập các công ty trực thuộc như công ty kiều hối, công ty chứng khoán.

    Tăng vốn tự có sẽ giúp tăng hạn mức trong các giao dịch của NH từ hạn mức trong KDNT đến mức bảo lãnh trong L/C (tín dụng thư).

    1. Nâng cao trình độ và kỹ năng của đội ngũ cán bộ nhân viên hoạt động trong các ngân hàng TMCP.

    Để NH ngày càng vững mạnh đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường nội địa và quốc tế đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên giỏi nghiệp vụ, năng động, tìm tòi học hỏi, tuân thủ đúng qui định của NH và có đạo đức kinh doanh. Để đạt được mục tiêu trên các ngân hàng phải quan tâm đến công tác quản trị và đào tạo nhân viên về nghiệp vụ, ngoại ngữ, thực hiện tốt công tác tuyển dụng, chế độ khen thưởng, thường xuyên tổ chức hội thảo, tập huấn cho nhân viên KDNT đồng thời hỗ trợ của các phòng nghiên cứu và quan hệ khách hàng trong hoạch định chiến lược.

    l. Xây dựng mô hình kiểm soát và quản lý hoạt động KDNT hiệu quả.

    Hoạt động kiểm soát thật sự chưa được quan tâm đúng mức trong các ngân hàng. Bổ nhiệm người đúng tiêu chuẩn, đào tạo cán bộ kiểm soát tương xứng với nhiệm vụ chính là việc cần phải làm ngay nhằm đảm bảo kiểm soát đúng và dự báo kịp thời rủi ro phát sinh.

    1. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ và chuyên môn hóa công tác xử lý rủi ro.

    Về cơ cấu quản lý rủi ro, các NH thường không có phòng chuyên trách để quản lý rủi ro. Nhiệm vụ này đang được phòng kiểm soát nội bộ quản lý. Trách nhiệm của phòng kiểm soát nội bộ là giám sát việc thực hiện các qui định kinh doanh của ngân hàng chứ không phải là thực hiện công tác quản lý rủi ro. Hiện nay các NH còn thiếu cơ chế giám sát, vì thế các NH cần xây dựng bộ máy quản lý rủi ro. Ngoài yếu tố về nhân sự, các NH cần phải xây dựng các qui trình, qui chế hoạt động, chỉ tiêu định lượng giá trị rủi ro và kiểm soát chặt chẽ hơn các hoạt động nhất là trạng thái mở trong KDNT.

    1. Tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra kiểm soát. Thực hiện sáp nhập hoặc mạnh dạn xóa sổ những ngân hàng hoạt động yếu kém.

    Công tác thanh tra kiểm tra được tiến hành từ phía NHNN có ý nghĩa rất quan trọng, qua đó vì những NH hoạt động kém luôn là mối lo không những của các khách hàng gửi tiền mà còn là nguy cơ chung cho cả hệ thống NH do tác động dây chuyền của những biến động có thể xảy ra. Vì vậy, xác định các NH hoạt động kém, có nguy cơ thất bại cao để chuẩn bị các biện pháp xử lý thích hợp là việc rất cần thiết. để chấn chỉnh hoạt động của các NH TMCP nhưng cần phải thực hiện nghiêm túc và tích cực hơn nữa trong thời gian tới.

    1. Xác định hạn mức hợp lý cho từng khách hàng và thực hiện hoạt động tư vấn cho khách hàng trong họat động KDNT.

    v. Trích lập Quỹ rủi ro.

    Ngoài một số phương pháp nhằm hạn chế rủi ro, NH cần trích một phần lợi nhuận để dành làm quỹ rủi ro về KDNT. Cũng giống như, hoạt động tín dụng, hàng năm đều phải trích một phần lợi nhuận để bù đắp và phòng ngừa cho những khoản nợ khó đòi hay tiểm ẩn nguy cơ khó thu hồi nợ. Trong KDNT, rủi ro luôn luôn xuất hiện đồng thời với giao dịch mở nghĩa là trạng thái ngoại tệ không cần bằng. Trích lập quĩ rủi ro có thể là 10% -20% lợi nhuận của năm đó về KDNT.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

    Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

    Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-N%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-t%E1%BA%A1i-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-N%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-n%C3%B4ng-th%C3%B4n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

    LỜI CẢM ƠN

    Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến GS.TS Nguyễn Thị Mơ trường ĐH Ngoại thương – người đã hướng dẫn tôi hết sức tận tâm, nhiệt tình, khoa học để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này

    Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo của trường Đại học Ngoại thương, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Sau đại học đã giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn.

    Tôi cũng xin gủi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã sát cánh bên cạnh và ủng hộ tôi, là động lực cho tôi hoàn thành luận văn này một cách thuận lợi.

    Hà Nội, tháng 9 năm 2011

    Trần  Huyền Trâm

    LỜI NÓI ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

    Thị trường tài chính và tiền tệ ngày càng phát triển tại Việt Nam. Sau khi gia nhập WTO, những quy định hạn chế đối với các doanh nghiệp nước ngoài nói chung và các ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng đã dần bị loại bỏ, một sân chơi bình đẳng chung đã và đang hình thành ngày càng rõ nét. Để đáp ứng, bắt nhịp được xu thế chung này, đồng thời tận dụng những thuận lợi mà việc hội nhập mang lại, hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua đã có những thay đổi trong cơ cấu để kịp thời thích nghi. Đa dạng hóa, hiện đại hóa loại hình hoạt động kinh doanh đang là xu thế chung của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Điều này hết sức cần thiết bởi để cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài với các gói dịch vụ đa dạng, chuyên nghiệp, có nhiều kinh nghiệm, các NHTM Việt Nam cũng cần tập trung nghiên cứu để đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhằm từng bước hội nhập vào cộng đồng tài chính khu vực và thế giới.

    Hiện nay, những hoạt động chính của một ngân hàng thương mại thường bao gồm các hoạt động huy động vốn, cho vay và đầu tư, làm trung gian thanh toán. Bên cạnh đó, một trong những loại hình hoạt động có vai trò quan trọng và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hoạt động cũng như cơ cấu lợi nhuận của các NHTM Việt Nam là hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ (KDNT) tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT VN) cũng như tại các NHTM khác hiện đang chiếm một vị trí quan trọng, hỗ trợ khá nhiều cho các hoạt động khác như thanh toán quốc tế, tín dụng…. Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ ngày một

    tăng do xu thế hội nhập, giao lưu và buôn bán với các quốc gia khác ngày càng có xu thế tăng. Tuy nhiên hoạt động KDNT cũng gặp nhiều khó khăn do sự biến động của hệ thống tài chính toàn cầu và sự thay đổi thường xuyên trong việc ban hành chính sách quản lý hoạt động này ở Việt Nam. Vì vậy NHNo&PTNT VN cũng gặp nhiều khó khăn trong hoạt động KDNT trong thời gian vừa qua. Giải pháp nào cho việc nâng cao hiệu quả của hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN? Với những kinh nghiệm thực tiễn làm việc tại Sở giao dịch NHNo&PTNT VN kết hợp với

    những kiến thức đã tích lũy được sau hai năm theo học chương trình cao học, tôi đã chọn vấn đề “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHNo&PTNT VN” làm đề tài luận văn cao học của mình.

    1. Tình hình nghiên cứu

    2.1. Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài

    • nước ngoài hoạt động KDNT là một hoạt động mang lại khá nhiều lợi nhuận và đã được thực hiện từ rất lâu. Do vậy, cũng đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Ngoài những giáo trình và đề tài nghiên cứu chung về hoạt động này (bao gồm những khái niệm, các nghiệp vụ của hoạt động KDNT) thì ta có thể nhận thấy, đối với các ngân hàng tại nước ngoài, do tính phức tạp trong các nghiệp vụ thực hiện hoạt động KDNT, việc kiểm soát rủi ro được các nhà quản trị quan tâm

    nhiều hơn. Do vậy cũng đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu đi khá sâu về việc quản trị rủi ro trong hoạt động KDNT, có thể kể đến một số đề tài như: “Foreign exchange risk management in commercial bank in Pakistan” của tác giả Maroof Hussain, đề tài “ Management of Foreign exchange risk in selected commercial bank, in Nigeria” của nhóm tác giả J.O. Adetayo, E.A. Dionco Adetayo và B. Oladejo. Hiện nay, theo tìm hiểu của bản thân tác giả, tác giả nhận thấy chưa có đề tại nào tại nước ngoài nghiên cứu riêng và cụ thể về việc nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại một NHTM ở Việt Nam, cụ thể là tại NHNo&PTNT VN.

    2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

    Từ trước đến nay cũng đã có khá nhiều đề tài trong nước nghiên cứu về hoạt động kinh doanh ngoại tệ hoặc kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại tuy nhiên các đề tài này tập trung chủ yếu vào việc phát triển hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ chứ chưa đề cập hoặc phân tích sâu đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại một ngân hàng. Có thể kể đến công trình của một số tác giả như: “Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”, luận văn thạc sỹ của tác giả Trang Quốc Hưng năm 2008; đề tài “ Giải pháp mở rộng kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương chi nhánh Đà Nẵng” đăng trong “Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010” của tác giả Trần Thị Thảo Nhi; đề

    tài “Giải pháp mở rộng kinh doanh ngoại tệ tại Sở giao dịch NHNo&PTNT VN” luận văn thạc sỹ của tác giả Quản Trần Tùng, năm 2010…

    Như vậy có thể thấy các tác giả nói trên mới chỉ tập trung vào nghiên cứu việc phát triển và mở rộng hoạt động KDNT tại các NHTM mà chưa đi sâu vào phân tích các tiêu chí về hiệu quả hoạt động KDNT, đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu hiệu quả hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN.

    1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

    3.1. Mục đích nghiên cứu

    Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM nói chung và đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN, đề tài đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

    3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

    • Làm rõ khái niệm đặc điểm và nội dung của hoạt động KDNT và các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của NHTM
    • Đánh giá hiệu quả KDNT của NHNo&PTNT VN trong thời gian qua, trong đó đặc biệt nhấn mạnh những bất cập và nguyên nhân của những bất cập.
    • Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN nhằm đáp ứng yêu cầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
    1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

    4.1. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHNo&PTNT VN.

    4.2. Phạm vi nghiên cứu

    Về thời gian, phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHNo&PTNT VN giai đoạn từ năm 2007 đến nay. Khi đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN đề tài đề xuất giải pháp từ nay đến năm 2015 và xa hơn, đến năm 2020.

    Về không gian, đề tài phân tích hoạt động KDNT trong phạm vi theo nghĩa hẹp, tức là sẽ đi sâu nghiên cứu về hoạt động mua bán ngoại tệ của NHTM nói chung và của NHNo&PTNT VN nói riêng, các nghiệp vụ của nó và ảnh hưởng của hoạt động này tới các hoạt động cho vay ngoại tệ, thanh toán quốc tế…để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT.

    1. Phƣơng pháp nghiên cứu

    Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và phương pháp luận giải.

    1. Kết cấu của đề tài

    Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các ký hiệu viết tắt, nội dung của luận văn được kết cấu làm ba chương:

    Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hoạt động kinh doanh ngoại tệ và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Chương 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHNo&PTNT VN

    Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHNo&PTNT VN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

     

    CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ VÀ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

    1.1.     Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng thƣơng mại

    1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM

    1.1.1.1.    Khái niệm về NHTM

    Ngân hàng thương mại trước hết là một ngân hàng. Khái niệm về ngân hàng đã được luật hóa trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 20101: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” (điều 4.2 Luật các TCTD 2010).

    Điều 4.3 của Luật các TCTD năm 2010 nêu định nghĩa về NHTM, theo đó, “Ngân hàng thương mại” là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.

    Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể phạm vi, loại hình, nội dung hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác của tổ chức tín dụng trong Giấy phép cấp cho từng tổ chức tín dụng.

    Theo luật các TCTD năm 2010: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:

    • Nhận tiền gửi: Là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
    • Luật các tổ chức tín dụng được quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. Luật này thay thế cho Luật các tổ chức tín dụng năm 2004.

     

    • Cấp tín dụng: Là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
    • Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: Là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán cho khách hàng

    thông qua tài khoản của khách hàng.

    Ngoài ra, theo quy định tại điều 104 và 105 Luật các TCTD năm 2010, các NHTM còn được phép kinh doanh ngoại tệ.2

    1.1.1.2. Hoạt động KDNT của NHTM

    Lịch sử hình thành của hoạt động KDNT: Khi mới hình thành, các ngân hàng còn ở dưới dạng sơ khai, chủ yếu làm nhiệm vụ cầm giữ tài sản của các thương nhân và thực hiện động kinh doanh của nó đã được hình thành rất lâu đời và phát triển từ những bước thô sơ nhất. Chính hoạt động thương mại và nhu cầu của xã hội đã thúc đẩy việc hình thành và thanh toán hộ với tiền lãi chính là mức phí cầm giữ và thanh toán hộ. Sau đó, khi giao thương ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng vốn ngày càng phát sinh nhiều, các ngân hàng nhận thấy rằng hình thức cho vay vốn đem lại cho họ rất nhiều lợi nhuận. Lúc này thay vì thu phí khoản tiền gửi, họ quay sang trả phí cho những người gửi tiền đồng thời đem nguồn vốn đó đi cho vay. Tiếp đến, khi thương mại giữa các vùng lãnh địa và giữa các quốc gia ngày một phát triển lại này sinh thêm một nhu cầu khác của xã hội. Như chúng ta cũng đã biết, mỗi lãnh thổ và quốc gia lưu hành và sử dụng một loại đồng tiền tệ riêng. Do đó, khi phát sinh nhu cầu mua bán, thanh toán giữa các quốc gia với nhau này sinh nhiều khó khăn từ vấn đề chuyển đổi và bảo quan các loại ngoại tệ. Chính điều này đã thúc đẩy sự ra đời của những tổ chức chuyên nghiệp thực hiện chức năng riêng

    • Điều 104 quy định: “Ngân hàng thương mại được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ.

     

    biệt do việc lưu thông tiền tệ đòi hỏi như nhận đổi tiền và giữ tiền.. Lúc đầu, các nghiệp vụ này không nhằm mục đích tạo lợi nhuận mà chỉ có mục đích đơn thuần là vì nhu cầu có một loại tiền này hay một loại tiền khác để giao dịch cho tiện lợi. Nhưng dần dần về sau, người ta ý thức được nhiều vấn đề phức tạp hơn có liên quan đến mục tiêu bảo vệ giá trị tài sản hoặc mục tiêu kiếm lời. Chính từ đó mới phát sinh những nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để kiếm lời, còn gọi là kinh doanh ngoại tệ (KDNT).

    Hiện nay, với sự phát triển của hoạt động ngoại thương cùng với hệ thống ngân hàng, hoạt động KDNT ngày một phát triển đa dạng và phong phú hơn. Hoạt động ngoại thương phát triển đã thúc đẩy hình thành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế cũng như thúc đẩy sự phát triển của hoạt động KDNT. Hoạt động ngoại thương bao gồm rất nhiều những hoạt động như hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động đầu tư quốc tế, hoạt động thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại… Việc thanh toán giao dịch giữa hai đối tác của hai nước khác nhau gần như bắt buộc dẫn đến một nghiệp vụ hối đoái thông qua hệ thống ngân hàng, một trong hai bên phải đổi đồng tiền nước mình thành ngoại tệ hoặc ngược lại. Hoặc việc chuyển tiền từ nước này sang nước kia gần như hoàn toàn phải thông qua hệ thống ngân hàng… Các hoạt động này sẽ góp phần làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, thúc đẩy hoạt động của thị trường ngoại hối nói chung và hoạt động KDNT của các ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng.

    Nói tóm lại, hầu hết buôn bán quốc tế đều kéo theo các giao dịch tiền tệ và ngược lại, rất nhiều sự kiện liên quan đến tiền tệ đều có tác động đến thương mại. Các giao dịch tiền tệ quốc tế được thực hiện thông qua ngân hàng và vì thế, hoạt động KDNT của ngân hàng chính là chất xúc tác, là điều kiện đảm bảo an toàn cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu cũng như tài trợ cho họ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Khái niệm về Kinh doanh ngoại tệ:

    Theo điều 105 Luật các TCTD năm 2010: “1. Sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản, ngân hàng thương mại được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài các sản phẩm sau đây:

    1. Ngoại hối;
    1. Phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác.
    1. Ngân hàng Nhà nước quy định về phạm vi kinh doanh ngoại hối; điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận việc kinh doanh ngoại hối; kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh của ngân hàng thương mại.
    1. Việc cung ứng dịch vụ ngoại hối của ngân hàng thương mại cho khách hàng thực hiện theo quy định của pháp luật về ngoại hối.”

    Theo điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối3, ngoại hối bao gồm:

    1. Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ);
    1. Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
    1. Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
    1. Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;

    đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.

    Như vậy có thể thấy ngoại tệ là một phần của ngoại hối và hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một phần của hoạt động kinh doanh ngoại hối. Các ngân hàng thương mại muốn thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ cần được sự cho phép của NHNN và phạm vi kinh doanh ngoại tệ của mỗi ngân hàng sẽ tùy thuộc vào giấy phép mà NHNN cấp cho. Kinh doanh ngoại tệ, theo nghĩa rộng, bao gồm việc mua bán ngoại tệ, đảm bảo ổn định số dư tài khoản KDNT tại nước ngoài và tìm cách thu lời thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau.

    • Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 do Ủy ban thường vụ ban hành ngày 13/12/2005.

     

    Theo nghĩa hẹp, người ta hiểu khái niệm KDNT chỉ đơn thuần là việc mua và bán số dư có trên tài khoản bằng ngoại tệ.

    KDNT bao gồm KDNT tiền mặt và KDNT chuyển khoản. KDNT tiền mặt (đồng tiền của một quốc gia khác hoặc đồng tiền chung của nhiều quốc gia dưới dạng ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch và các công cụ thanh toán tương tự khác) chủ yếu liên quan đến các hoạt động du lịch và có doanh số giao dịch rất nhỏ so với KDNT chuyển khoản. KDNT chuyển khoản được thực hiện nhờ vào các lệnh được chuyển qua mạng thông tin thanh toán bằng đồng ghi sổ qua các tài khoản có tại ngân hàng. Tiền gửi được chuyển từ tài khoản người bán sang tài khoản người mua thông qua các lệnh chuyển tiền bằng điện tín, hối phiếu…

    1.1.1.3. Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ đối với các NHTM trong nền kinh tế thị trường

    Ngày nay, hoạt động KDNT đóng vai trò khá quan trọng đối với các NHTM bởi trước hết các NHTM thực hiện hoạt động này nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cho khách hàng ( mục tiêu cốt lõi của tất cả các hoạt động ngân hàng là cung cấp dịch vụ cho khách hàng, đồng thời vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và phòng ngừa rủi ro cho chính các ngân hàng).

    Bên cạnh đó, khi thực hiện hoạt động này, các NHTM có thể tăng doanh thu từ các khoản chi phí dịch vụ và mở rộng hệ thống Ngân hàng đại lý và mạng lưới thanh toán quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín trong giới tài chính quốc tế. Việc mở rộng quan hệ đại lý sẽ tạo điều kiện cho các NHTM có thể chia sẻ thông tin, trao đổi nghiệp vụ, tiếp cận thị trường mới cũng như tranh thủ được công nghệ ngân hàng, trình độ quản lý tiên tiến từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển, dành cho nhau những ưu đãi trong tín dụng, trong mức phí dịch vụ ngân hàng, trong đào tạo nguồn nhân lực…

    Tiếp đến, việc thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ sẽ giúp các NHTM tránh được rủi ro về tỷ giá.. Để phòng chống rủi ro, ngân hàng có thể sử dụng các phương pháp sau:

    • Sử dụng hợp đồng kỳ hạn: Nguyên tắc chung khi sử dụng hợp đồng kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro tỷ giá là thông qua các hợp đồng này, các đơn vị cố định tỷ giá

    mua hay tỷ giá bán ngoại tệ với ngân hàng, từ đó cố định trước các khoản thu nhập hay chi trả bằng nội tệ bất luận sự biến động của tỷ giá trên thị trường. Tuy nhiên, hợp đồng có kỳ hạn chưa phải là cách phòng chống rủi ro hối đoái tốt nhất, đồng thời đánh mất cơ hội kinh doanh kiếm lời nếu tỷ giá biến động ngược lại với dự kiến.

    • Sử dụng hợp đồng quyền chọn: Thông qua hợp đồng này, một mặt khách hàng thỏa mãn nhu cầu về ngoại tệ của mình, mặt khác khách hàng sẽ có quyền không thực hiện hợp đồng nếu thấy hợp đồng hoặc thị trường có những biến động bất lợi cho hoạt động kinh doanh của mình.
    • Sử dụng hợp đồng hoán đổi ngoại tệ: Khi sử dụng hợp đồng này, khách hàng được thỏa mãn nhu cầu về ngoại tệ của mình, đồng thời có được sự cam kết của ngân hàng về số ngoại tệ sẽ nhận lại trong tương lai theo một tỷ giá biết trước.

    Như vậy, ngân hàng luôn tìm mọi cách để hạn chế các rủi ro về tỷ giá hối đoái đến mức thấp nhất thông qua nghiệp vụ KDNT. Các phương pháp phòng ngừa rủi ro hối đoái chỉ thực hiện được khi nào có một thị trường tiền tệ phát triển và NHTM sẵn sàng cung cấp các hợp đồng này, hay các hợp đồng vay và cho vay trên thị trường tiền tệ.

    Cuối cùng, hoạt động KDNT giúp các NHTM dự trữ nhiều loại ngoại tệ. Từ đó, phân tán đều rủi ro, tránh gây tổn thất nặng nề cho ngân hàng khi tỷ giá một loại ngoại tệ nào đó đột nhiên biến động mạnh. Với việc đa dạng hóa các loại ngoại tệ mạnh một cách chủ động trong kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện đa dạng và phát triển thêm các nghiệp vụ KDNT khác nhau như quy đổi, điều chuyển vốn giữa các ngoại tệ với nhau trên các tài khoản tiền gửi ngân hàng tại các ngân hàng nước ngoài nhằm đảm bảo thanh toán xuất nhập khẩu, hưởng chênh lệch tỷ giá và lãi suất.

    1.1.2. Các nghiệp vụ cụ thể trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM

    Thực tế cho thấy, bất kỳ loại hình kinh doanh nào mang lại lợi nhuận lớn thì rủi ro mà nó đem lại cũng không phải là nhỏ và KDNT cũng không nằm ngoài quy

    luật đó. Để hạn chế các rủi ro người ta áp dụng các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái.

    Tuy nhiên, các nghiệp vụ này không chỉ đơn thuần là hạn chế phòng ngừa rủi ro mà trong quá trình thực hiện, nó còn mang lại một phần lợi nhuận đáng kể trong tổng lợi nhuận. Do đó, nó cũng là các nghiệp vụ KDNT trong chính sách đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh của ngân hàng. Mục đích kinh doanh của ngân hàng là: tìm kiếm lợi nhuận, phục vụ khách hàng và phát triển các nghiệp vụ ngân hàng, trong đó có nghiệp vụ KDNT. Trong thực tế, thường có 5 hoạt động KDNT chủ yếu dưới đây:

    1.1.2.1. Nghiệp vụ KDNT giao ngay

    Nghiệp vụ KDNT giao ngay là một nghiệp vụ kinh doanh doanh sơ cấp trong đó việc giao dịch mua bán một số lượng ngoại tệ giữa hai bên được theo tỷ giá thời điểm giao dịch và kết thúc việc thanh toán trong vòng hai ngày làm việc kế tiếp, kể từ thời điểm giao dịch đã được thỏa thuận giữa hai bên.

    Giao dịch giao ngay là nghiệp vụ KDNT đơn giản, dễ thực hiện nhất và khá phổ biến trên thị trường hối đoái, chiếm khoảng 58% trong tổng số các giao dịch mua bán ngoại tệ trên thế giới và làm cơ sở cho các giao dịch khác. Còn ở Việt Nam hiện nay, giao dịch này chiếm trên 90% khối lượng giao dịch hối đoái.

    Tỷ giá mua bán trong giao dịch này được lấy trực tiếp từ tỷ giá giao ngay đã được niêm yết trên thị trường tại thời điểm giao dịch. Tuy nhiên, trong những trường hợp muốn giao dịch giữa hai loại ngoại tệ mà tỷ giá giữa chúng chưa được niêm yết sẵn thì các nhà kinh doanh sẽ phải tự xác định bằng kỹ thuật tính chéo tỷ giá.

    Trong giao dịch giao ngay, ngân hàng không thu phí giao dịch hay hoa hồng mà sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua để trang trải các chi phí giao dịch, kể cả bù đắp rủi ro và thu lợi nhuận thỏa đáng. Chênh lệch giữa giá mua và giá bán của một ngoại tệ cao hay thấp tùy thuộc vào phạm vi các giao dịch hẹp hay rộng và mức độ biến động giá trị của ngoại tệ đó trên thị trường.

    Nghiệp vụ hối đoái giao ngay được thực hiện khi:

    • Trước hết là, phải có nhu cầu của khách hàng. Thông thường nghiệp vụ giao ngay phát sinh khi có nhu cầu của khách hàng và ngân hàng sẽ thực hiện nghiệp vụ này để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
    • Ngân hàng thực hiện hoạt động đầu cơ. Giả sử ngân hàng dự đoán tỷ giá của một đồng tiền sẽ tăng trong thời gian tới, ngân hàng sẽ mua đồng tiền đó theo hợp đồng giao ngay với ngân hàng khác. Khi tỷ giá thay đổi theo đúng dự đoán, ngân hàng có thể bán trao ngay số tiền đầu cơ đó và thu chênh lệch. Ngoài ra, nghiệp vụ giao ngay được sử dụng kết hợp với các nghiệp vụ khác trong các hoạt động đầu cơ chênh lệch lãi suất.

    1.1.2.2. Nghiệp vụ KDNT theo hợp đồng kỳ hạn

    KDNT theo hợp đồng kỳ hạn là nghiệp vụ kinh doanh, trong đó các yếu tố của giao dịch (tỷ giá, số tiền, ngày giao…) được xác định ở thời điểm hiện tại, còn việc thực hiện chúng thì ở một thời điểm trong tương lai. Hai bên mua bán sẽ thỏa thuận về việc chuyển giao một số ngoại tệ nhất định, sau một thời gian nhất định kể từ ngày ký kết hợp đồng, theo tỷ giá được xác định ở thời điểm ký kết.

    Khi thực hiện nghiệp vụ này, người ta áp dụng tỷ giá kỳ hạn được xác định căn cứ trên cung và cầu ngoại tệ, tình hình lãi suất của các đồng tiền đó, tình trạng tăng giảm cán cân thương mại… Tỷ giá này được ấn định vào ngày ký hợp đồng (J), còn ngày giá trị là một ngày xác định trong tương lai (J+N).

    Khác với nghiệp vụ mua bán giao ngay là kinh doanh chênh lệch giá kiếm lời, nghiệp vụ mua bán kỳ hạn chủ yếu là phòng ngừa rủi ro do biến động của tỷ giá.

    Đối với các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, họ luôn có nguồn thu chi bằng ngoại tệ và họ không thể tránh khỏi rủi ro do sự biến động bất thường về tỷ giá của các đồng ngoại tệ đem lại. Chính vì vậy, để bù đắp rủi ro tỷ giá có thể xảy ra trong thời hạn thực hiện giao dịch, các nhà xuất nhập khẩu thực hiện hợp đồng mua bán ngoại tệ có kỳ hạn với ngân hàng. Với tư cách là một công cụ phòng chống rủi ro, hợp đồng có kỳ hạn được sử dụng để cố định khoản thu nhập hay chi trả theo một tỷ giá cố định đã biết trước, bất kể sự biến động của tỷ giá trên thị trường. Có nghĩa là, khi mua ngoại tệ có kỳ hạn, nhà nhập khẩu có một công cụ chống lại sự tăng tỷ giá bằng việc dùng đồng bản tệ mua trước một khoản ngoại tệ mà chưa cần giao ngay.

    Ngược lại, bán ngoại tệ có kỳ hạn cho phép các nhà xuất khẩu bán trước một khoản ngoại tệ mà họ sẽ nhận được nhằm loại trừ rủi ro xảy ra khi tỷ giá ngoại tệ có thể giảm giữa thời điểm ký hợp đồng và thời điểm nhận tiền thực sự.

    Bên cạnh việc sử dụng công cụ giao dịch hối đoái có kỳ hạn để bù đắp rủi ro, việc mua và bán ngoại tệ có kỳ hạn có thể nhằm mục đích sinh lời dựa vào sự biến động của tỷ giá. Trong trường hợp đó, người mua và người bán cùng sẵn sàng chấp nhận rủi ro hối đoái: người mua ngoại tệ hy vọng rằng họ có thể bán lại bằng nghiệp vụ trao ngay để kiếm lời tại thời điểm họ nhận được ngoại tệ; người bán cũng hy vọng mua lại số ngoại tệ đó bằng nghiệp vụ trao ngay với giá rẻ hơn tại thời điểm kết thúc giao dịch có kỳ hạn mà họ vừa bán ngoại tệ.

    Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ kỳ hạn là:

    • Có các quy định của pháp luật về xác định tỷ giá kỳ hạn, phí hợp đồng…
    • Khách hàng biết đến nghiệp vụ này của ngân hàng và có yêu cầu thực hiện nó nhằm tránh rủi ro do những biến động bất thường của tỷ giá ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động kinh doanh của khách hàng.
    • Khả năng của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Nếu ngân hàng chỉ thực hiện một nghiệp vụ kỳ hạn đơn lẻ, ngân hàng có thể phải gánh chịu một rủi ro hối đoái thay cho khách hàng của mình. Vậy mối quan hệ của ngân hàng với các khách hàng khác, với các ngân hàng bạn trong nước và thế giới là yếu tố quan trọng để ngân hàng thực hiện được các nghiệp vụ đối ứng, loại trừ rủi ro trên.

    1.1.2.3.    Nghiệp vụ kinh doanh hoán đổi ngoại tệ

    Nghiệp vụ hoán đổi (Swap) là một nghiệp vụ trong đó cùng một lúc, ngân hàng đồng thời thực hiện hai nghiệp vụ: một giao dịch giao ngay theo tỷ giá giao ngay và một giao dịch kỳ hạn theo hướng ngược lại theo tỷ giá kỳ hạn, được thực hiện cùng với một khoản đối ứng với cùng một bạn hàng.

    Khác với trong nghiệp vụ giao ngay hay nghiệp vụ kinh doanh có kỳ hạn, ngân hàng mới chỉ hoạt động một chiều để phục vụ khách hàng của mình, nghĩa là ngân hàng mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay hay tỷ giá kỳ hạn mà không đồng thời thỏa thuận với khách hàng một nghiệp vụ đối ứng bán hoặc mua lại. Do đó, ngân hàng không chắc chắn rằng có thể cân bằng được trạng thái

    ngoại hối của mình ngay sau thời điểm giao dịch đó; nghiệp vụ hoán đổi có thể khắc phục được rủi ro trên.

    Trong trạng thái ngoại hối Swap, số lượng tiền mua và bán luôn bằng nhau; vì vậy mà giao dịch này không bao giờ làm thay đổi trạng thái ngoại tệ thực của ngân hàng. Đồng thời, nghiệp vụ này cũng là một công cụ phòng ngừa rủi ro khi tỷ giá ngược với dự đoán, tránh rủi ro tỷ giá khi thực hiện khoản vay hoặc cho vay nếu không thực hiện nghiệp vụ giao dịch hoán đổi. Nếu có thay đổi trong tỷ giá giao ngay của các đồng tiền thì cũng không làm phát sinh khoản lỗ hay lãi hối đoái nào do có giao dịch Swap. Trong trường hợp hợp đồng ngoại tệ bị lên giá, số bản tệ bị mất trong khi bán sẽ được bù đắp trong khi mua ở lần giao dịch tiếp theo.

    Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ Swap cũng tương tự như với nghiệp vụ kỳ hạn, tuy nhiên nghiệp vụ Swap có những ưu điểm hơn so với nghiệp vụ có kỳ hạn đối với một số đối tượng sau:

    • Một doanh nghiệp lớn vừa hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Doanh nghiệp này vừa nhận được khoản thu ngoại tệ từ xuất khẩu, anh ta muốn đổi nội tệ để sử dụng chi trả trong nước. Tuy nhiên, anh ta lại có nhu cầu ngoại tệ trong tháng tới để trả tiền hàng nhập khẩu. Thay vì ký kết hợp đồng bán ngoại tệ giao ngay và hợp đồng mua ngoại tệ kỳ hạn, doanh nhiệp này sẽ sử dụng Swap. Như vậy, doanh nghiệp vừa đảm bảo tránh được rủi ro hối đoái vừa giảm được chi phí giao dịch phải trả cho ngân hàng khi chỉ ký kết Swap, chứ không phải hai hợp đồng riêng biệt.
    • Đối với NHTM, Swap là công cụ hữu hiệu tạo ra trạng thái vốn của hai đồng

    tiền mà không làm ảnh hưởng tới trạng thái ngoại hối. Vì vậy, giao dịch này trong thực tế thường được các ngân hàng thực hiện với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng một đồng tiền nhất định mà không phải đi vay trên thị trường. Nghiệp vụ Swap còn giúp các ngân hàng cân bằng được sự mất cân đối về hối đoái trong các nghiệp vụ tiền gửi và tiền vay.

    1.1.2.4.    Nghiệp vụ KDNT theo hợp đồng tương lai

    Về nội dung cơ bản thì nghiệp vụ KDNT theo hợp đồng tương lai cũng tương tự như giao dịch kỳ hạn, nghĩa là hoạt động mua bán một số lượng ngoại tệ

    nhất định theo tỷ giá xác định tại ngày giao dịch và việc thực hiện chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai. Tuy vậy, giữa hai hình thức KDNT này có những điểm khác nhau đó là: hợp đồng kỳ hạn mang tính chất bắt buộc giữa các cá nhân, còn hợp đồng tương lai không phải là một thỏa thuận mang tính cá nhân, người mua hay bán ở đây không có ý định thật sự giao trả tiền đã ghi trong hợp đồng. Các giao dịch hối đoái tương lai rất ít được duy trì cho tới thời điểm tất toán, các bên tham gia có thể sang nhượng lại hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn. Người mua hợp đồng hối đoái tương lai thường bán lại hợp đồng khi gần đáo hạn hợp đồng để kiếm lợi bù trừ cho phần lỗ mà họ có thể gánh chịu vì sự biến đổi của tỷ giá. Người bán hợp đồng hối đoái tương lai thường mua lại hợp đồng đó khi gần đáo hạn cũng trong mục đích nói trên. Bên cạnh đó, việc thanh toán tiền diễn ra hàng ngày không như hợp đồng kỳ hạn chỉ thanh toán khi đến hạn.

    Hợp đồng tương lai có các đặc điểm sau:

    • Tiêu chuẩn hóa đối với bẩy đồng tiền có lưu lượng giao dịch lớn là: CAD, FRF, DEM, CHF, JPY, GBP, AUD và được mua bán trực tiếp với đồng USD.
    • Quy mô của từng giao dịch được quy định là bội chuẩn theo từng loại đồng tiền giao dịch.
    • Một năm chỉ có 4 ngày giá trị, đó là các ngày thứ tư của tuần thứ ba các

    tháng 3, 6, 9, 12.

    • Ký quỹ: Đây là yêu cầu người đặt lênh phải ký quỹ một số tiền ban đầu theo tỷ lệ ký quỹ nhất định vào tài khoản ký quỹ trước khi tiến hành giao dịch và phải

    duy trì một số dư tối thiểu trong kỳ hạn hợp đồng. Trong điều kiện tỷ giá biến động bất lợi mà tài khoản kỹ quỹ bị thâm hụt số tiền thì người giao dịch phải bổ sung vào tài khoản để đảm bào duy trì số dư tối thiểu. Giao dịch tương lai thường chỉ được các nhà kinh doanh tiền tệ dùng để tự bảo hiểm hay đầu cơ. Các công ty xuất nhập khẩu không ưa chuộng hình thức giao dịch này vì số tiền và kỳ hạn rất khó khớp với tiêu chuẩn của hợp đồng tương lai cũng như việc thanh toán hàng ngày làm khó khăn cho việc tính toán dòng tiền trong tương lai.

    1.1.2.5.    Nghiệp vụ KDNT theo hợp đồng quyền chọn

    Đây là giao dịch trong đó người mua có quyền chứ không có nghĩa vụ mua hay bán một số lượng đồng tiền này lấy đồng tiền khác tại một tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian xác định. Người bán có trách nhiệm thực hiện giao dịch nếu người mua muốn thực hiện hợp đồng vào ngày đến hạn.

    Có hai loại hợp đồng quyền chọn đó là hợp đồng quyền chọn mua (call option) và hợp đồng quyền chọn bán (put option).

    • Quyền chọn mua (call option): là hợp đồng quyền chọn cho phép người mua nó có quyền nhưng không bắt buộc, được mua một số lượng ngoại tệ ở một mức giá và trong một thời hạn xác định trước. Tại thời điểm đến hạn, nếu tỷ giá trên thị trường thấp hơn tỷ giá trong hợp đồng thì người mua quyền sẽ từ chối việc thực hiện hợp đồng và mua ngoại tệ trên thị trường, còn người bán quyền được hưởng khoản chi phí mua quyền. Còn nếu tỷ giá trên thị trường cao hơn tỷ giá trong hợp đồng thì người mua quyền sẽ thực hiện quyền mua ngoại tệ của mình và người bán

    quyền có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ số lượng ngoại tệ đã ghi trong hợp đồng.

    • Quyền chọn bán (put option): là hợp đồng quyền chọn cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được bán một số lượng ngoại tệ ở một mức giá và trong thời hạn xác định trước. Hợp đồng này cũng có nguyên lý như hợp đồng quyền chọn mua. Người mua quyền sẽ thực hiện hợp đồng khi tỷ giá trên thị trường thấp hơn tỷ giá trong hợp đồng và không thực hiện hợp đồng khi tỷ giá biến động theo chiều ngược lại.

    Như vậy, hợp đồng quyền chọn là một công cụ đảm bảo tỷ giá thực sự cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư. Tham gia vào thị trường quyền chọn, ngoài các ngân hàng, các nhà xuất nhập khẩu còn có các tổ chức kinh tế có ngoại tệ trên tài khoản, muốn tăng thu nhập bằng việc thu các lệ phí quyền và chấp nhận làm đối tác thụ động, hay các hãng đầu cơ tham gia với mục đích thu lợi nhuận chênh lệch.

    Nghiệp vụ kinh doanh theo hợp đồng quyền chọn là một hoạt động nghiệp vụ phổ biến và hữu dụng trên thị trường ngoại hối thế giới. Đây không những là công cụ để phòng chống rủi ro do sự biến động bất lợi của tỷ giá mà còn đầu cơ tạo khả

    năng kiếm lời rất được ưa chuộng, là sự tổng hợp của nhiều nghiệp vụ nên khắc phục được những nhược điểm của các công cụ khác như nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ, kinh doanh theo kỳ hạn.

    Tuy nhiên, để có thể sử dụng có hiệu quả loại công cụ này đòi hỏi thị trường phải phát triển hoàn chỉnh, các chủ thể tham gia thị trường phải có khả năng và điều kiện để phân tích, dự đoán sự biến động của thị trường. Hiện nay, do thị trường hối đoái trong nước còn nhiều hạn chế, phát triển chưa đồng bộ, thiếu thông tin cập nhật nên chưa áp dụng nghiệp vụ kinh doanh này.

    1.2.     Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM

    1.2.1.  Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM

    Để đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của các NHTM người ta thường căn cứ vào năm tiêu chí là: doanh số thực hiện, lợi nhuận, sự hài lòng của khách hàng, quy mô hoạt động kinh doanh và việc mở rộng mạng lưới khách hàng và đối tác.

    1.2.1.1.    Doanh số thực hiện

    Một trong những tiêu chí đầu tiên khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của bất cứ một doanh nghiệp hay một NHTM phải kể đến doanh số thực hiện của hoạt động kinh doanh đó. Hoạt động KDNT cũng không phải là một hoạt động kinh doanh ngoại lệ. Để đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh doanh ngoại tệ của một NHTM, điều đầu tiên chúng ta có thể xem xét đó là doanh số mua và bán ngoại tệ của NHTM. Thông thường khi doanh số mua và bán ngoại tệ tăng trưởng so với những năm trước đồng nghĩa với việc hoạt động KDNT đã ngày một phát triển, đem lại hiệu quả cao cho ngân hàng. Đương nhiên không phải lúc nào doanh số mua, bán ngoại tệ cũng thể hiện hiệu quả của hoạt động KDNT bởi đôi khi những yếu tố này phụ thuộc vào tình hình chung của thị trường tiền tệ, đồng thời cũng gián tiếp chịu tác động từ nhu cầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tuy vậy nếu hiểu theo một cách đơn giản, khi doanh số mua và bán tăng, nghĩa là doanh thu từ hoạt động này cũng tăng do ngân hàng có thể thu được phí từ khách hàng khi thực hiện hoạt động KDNT. Điều này đồng nghĩa với việc hoạt động KDNT đã đạt hiệu quả nhất định,

    1.2.1.2.    Lợi nhuận

    Tiêu chí thứ hai có thể dùng để đánh giá hiệu quả KDNT đó là lợi nhuận. Tất cả các doanh nghiệp khi kinh doanh đều coi lợi nhuận là một trong rất nhiều tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mình. Trong hoạt động KDNT cũng không ngoại trừ điều này bởi một trong những mục tiêu của các ngân hàng khi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh đó là thu lại được lợi nhuận. Lợi nhuận mà các ngân hàng thu được từ hoạt động KDNT có thể đến từ việc: chênh lệch tỷ giá, thu phí dịch vụ từ khách hàng…

    1.2.1.3. Sự hài lòng của khách hàng

    KDNT thực chất cũng là một hoạt động dịch vụ để đảm bảo chắc chắn việc thực hiện thanh toán các hợp đồng ngoại thương cho các khách hàng của ngân hàng một cách trôi chảy, thỏa mãn tối đa các nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Bất kỳ khách hàng nào khi đến ngân hàng để thực hiện giao dịch cũng đều kỳ vọng sẽ được ngân hàng đáp ứng được yêu cầu của mình. Các yêu cầu của khách hàng là rất đa dạng và khác nhau. Nhu cầu đó bao gồm việc gửi vốn, vay trả nợ thuận tiện, việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng, các thông tin mà ngân hàng đó mang lại… Như vậy, một khách hàng đến giao dịch mua bán ngoại tệ với ngân hàng không phải chỉ vì giá ngoại tệ ở đó rẻ hơn ngân hàng khác, mà còn xem ngân hàng đó có thỏa mãn được mọi nhu cầu hợp lý của mình hay không. Như vậy, ở điểm này, hiệu quả của hoạt động KDNT được xem xét khi ngân hàng có khả năng cung cấp đầy đủ lượng ngoại tệ khi khách hàng có nhu cầu mua hợp lý và khả năng mua hết số ngoại tệ khi khách hàng có nhu cầu bán.

    1.2.1.4. Quy mô thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Quy mô thực hiện hoạt động KDNT mà tác giả để cập ở đây đó là trên phương diện nguồn nhân lực được huy động để thực hiện việc KDNT, số lượng đối tác thực hiện giao dịch trên thị trường tiền tệ, số lượng ngoại tệ thực hiện trong hoạt động KDNT.

    Khi đề cập đến số lượng nguồn nhân lực sử dụng trong hoạt động KDNT, không hẳn có nghĩa là một NHTM cứ có nhiều người tham gia vào hoạt động này thì hiệu quả hoạt động này cao. Trong vấn đề này, chúng ta có thể hiểu được rằng,

    khi việc thực hiện hoạt động KDNT đem lại kết quả tốt, khả quan cho ngân hàng, đồng thời ngân hàng nhận thức được hiệu quả do hoạt động này mang lại thì quy mô nguồn nhân lực sử dụng vào hoạt động này cũng sẽ được chú trọng tập trung tăng cường nhiều hơn để đáp ứng được với sự phát triển của hoạt động này.

    Bên cạnh đó việc mở rộng thêm các đối tác thực hiện hoạt động KDNT cũng phần nào đó thể hiện hiệu quả của hoạt động này bởi lẽ khi có thêm nhiều đối tác nghĩa là chúng ta sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tham khảo giá đê xác định mức giá tốt nhất để thực hiện. Không những thế, việc mở rộng các đối tác cũng sẽ đồng nghĩa với tăng nguồn cung và cầu ngoại tệ, giúp cho hoạt động này hiệu quả hơn.

    Cuối cùng quy mô thực hiện hoạt động KDNT còn bao gồm số lượng ngoại tệ mà ngân hàng đó thực hiện. Càng nhiều loại ngoại tệ được thực hiện càng giảm tỳ lệ rủi ro trong việc thay đổi tỷ giá của các loại tiền tệ. Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố quá quan trọng vì trên thực tế, trong hoạt động thanh toán quốc tế, phần lớn các giao dịch được diễn ra thông qua các loại ngoại tệ mạnh, do vậy phần lớn nhu cầu ngoại tệ đều tập trung chủ yếu vào các loại ngoại tệ mạnh như USD, EUR, JPY…

    1.2.1.5. Mở rộng mạng lưới khách hàng và đối tác

    Khi các nhu cầu của khách hàng được ngân hàng đáp ứng thì lượng khách hàng đến ngân hàng sẽ ngày càng tăng lên, mạng lưới khách hàng càng được mở rộng. Thực hiện tốt các nghiệp vụ KDNT là một trong những chính sách của bất kỳ một ngân hàng nào nhằm tăng cường và mở rộng quan hệ với khách hàng. Thêm vào đó, khi một ngân hàng thực hiện hoạt động KDNT với các đối tác khác, điều này đồng nghĩa với việc nếu thực sự các giao dịch này có hiệu quả thì đây sẽ là tiền đề cho việc hợp tác sau này giữa hai ngân hàng ở trên các lĩnh vực khác nhau. Như vậy có thể thấy rằng một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của các ngân hàng đó chính là việc nhờ có hoạt động này mà ngân hàng đó có điều kiện mở mang quan hệ với các ngân hàng đại lý, tăng cường mối quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực với các ngân hàng trên toàn thế giới để có điều kiện chia sẻ thông tin, trao đổi nghiệp vụ, tiếp cận thị trường mới cũng như tranh thủ được công nghệ ngân hàng, trình độ quản lý tiên tiến từ các quốc gia có nền kinh tế phát

    triển, dành cho nhau những ưu đãi trong tín dụng, trong mức phí dịch vụ ngân hàng, trong đào tạo nguồn nhân…

    1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM

    1.2.2.1. Những nhân tố nội tại trong bản thân mỗi ngân hàng thương mại

    a/ Nguồn nhân lực

    Trong bất kỳ một hoạt động nào, có thể thấy rằng con người luôn đóng vai trò quan trọng nhất bởi chính con người là người tổ chức và thực hiện, quản lý và duy trì các hoạt động đó. Các nhân tố khác chỉ là những phương tiện, công cụ giúp cho con người thực hiện tốt vai trò của mình. Đặc biệt trong lĩnh vực hoạt động KDNT càng đòi hỏi một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, am hiểu sâu về nghiệp vụ để theo dõi và phân tích chính xác xu hướng biến đổi của tỷ giá để thực hiện việc kinh doanh một cách hiệu quả, đem lại lợi nhuận cho khách hàng. Trong xu thế hiện nay, các cán bộ KDNT vừa phải giỏi chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng phân tích thị trường, bên cạnh đó cũng cần phải có khả năng sử dụng các trang thiết bị máy móc, khoa học công nghệ để hỗ trợ hoạt động KDNT một cách tốt nhất. Hiện nay, trước xu thế hiện đại hóa, các ngân hàng đều giao dịch với nhau thông qua mạng máy tính và vì đây là giao dịch không chỉ giới hạn ở biên giới quốc gia mà nó còn là giao dịch trên toàn cầu, do đó những ngôn từ được sử dụng trong giao dịch dều được chuẩn hóa bằng ngôn ngữ thông dụng là tiếng anh để tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các đối tác cho thể tham gia. Từ đó có thể thấy, nếu nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động KDNT không đáp ứng được những nhu cầu nói trên, hoạt động KDNT sẽ không thể có kết quả tốt được.

    b/ Cơ sở vật chất kỹ thuật

    Bên cạnh nguồn lực chủ chốt là con người thì yếu tố cơ sở vật chất cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng vì nó chính là những thiết bị cần thiết để hỗ trợ việc thực hiện hoạt động này. Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng nó trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống và đặc biệt lĩnh vực công nghệ thông tin đã được ứng dụng một cách rộng rãi trong kinh doanh ngân hàng cũng như trong lĩnh vực KDNT. Các ngân hàng hiện nay khi thực hiện giao dịch KDNT

    với nhau đều thông qua một hệ thống REUTER hoặc các phần mềm tích hợp riêng phục vụ cho mục đích cua hoạt động này. Các ngân hàng nếu muốn thực hiện giao dịch đều phải có những phương tiện, cơ sở máy móc, hạ tầng phù hợp để kết nối được với nhau. Do vậy, có thể thấy để thực hiện được hoạt động KDNT yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật là một nhân tố không thể thiếu.

    c/ Quy trình và thủ tục thực hiện hoạt động KDNT

    Quy trình và thủ tục thực hiện hoạt động KDNT chính là những quy định riêng của ngân hàng về cách thức để thực hiện hoạt động này bên cạnh những quy định pháp luật của nhà nước. Những quy trình và thủ tục này cũng giúp các ngân hàng thực hiện các giao dịch theo một chuẩn mực quy định sẵn, tạo điều kiện cho các giao dịch viên có thể biết cách để thực hiện đúng một giao dịch. Quy trình và thủ tục cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện giao dịch, đồng thời cũng khiến khách hàng thấy đơn giản, không phức tạp, tuy vậy bên cạnh đó cũng cần phải có tính chặt chẽ, có khả năng kiếm soát tốt, hạn chế rủi ro trong hoạt động KDNT. Bên cạnh đó những quy định trong đó cũng phải phù hợp với điều kiện của từng ngân hàng và từng giai đoạn phát triển của thị trường ngoại hối.

    d/ Các nghiệp vụ khác của NHTM có ảnh hưởng tới hoạt động KDNT

    Các NHTM ngoài những nghiệp vụ có liên quan đến VNĐ còn có các hoạt động liên quan đến ngoại tệ như: huy động vốn bằng ngoại tệ, mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế… Có thể thấy rằng các nghiệp vụ này có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau; phát triển nghiệp vụ này sẽ có điều kiện mở rộng và phát triển các nghiệp vụ khác. Trong đó hoạt động thanh toán quốc tế và cho vay thanh toán hàng xuất nhập khẩu có ảnh hưởng nhiều và trực tiếp đến hoạt động KDNT.

    Thanh toán quốc tế là việc thực hiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều bằng ngoại tệ. Vì vậy đều phải liên quan đến nghiệp vụ KDNT.

    Cho vay ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ hay sản xuất ra hàng xuất khẩu thì cuối cùng cũng phát sinh nghiệp vụ mua ngoại tệ để trả nợ tiền vay, hoặc bán ngoại tệ lấy VNĐ. Vì vậy, việc mở rộng cho vay thanh toán hàng xuất khẩu sẽ

    tạo điều kiện để phát triển nghiệp vụ KDNT và qua đó thúc đẩy hiệu quả nghiệp vụ này.

    Bên cạnh đó, hoạt động kiều hối cũng có thể sẽ là một nghiệp vụ ảnh hưởng đến hoạt động KDNT khi mà các ngân hàng có thể tập trung khai thác, thu hút những khách hàng đến nhận lượng kiều hối này bán lại cho ngân hàng. Điều này sẽ tăng thêm nguồn cung ngoại tệ cho các ngân hàng. Bên cạnh đó, đây là những khách hàng thường xuyên có người thân từ nước ngoài gửi tiền về, do đó đây cũng là mảng hoạt động ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động KDNT.

    Tóm lại, các nghiệp vụ nói trên ít nhiều đều có ảnh hưởng đến hiệu quả nghiệp vụ KDNT của các NHTM. Các hoạt động này thường có tốc độ phát triển gần ngang nhau, theo chiều hướng tỷ lệ thuận.

    e/ Hệ thống quản trị rủi ro

    Tất cả các hoạt động kinh doanh luôn tiềm ẩn những rủi ro. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ cũng vậy, nó chứa đựng những rủi ro mãnh liệt tới mức nếu không quản lý được những rủi ro đó, nó có thể làm tiêu tan, làm sụp đổ cả một hệ thống ngân hàng. Đã có những bài học xương máu trên thế giới và ở Việt Nam mà qua đó chúng ta càng ý thức được tầm quan trọng của việc ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các Ngân hàng thương mại. Ngoài các rủi ro thông thường mà các hoạt động khác cũng phải đối mặt như: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro kỹ thuật, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý, rủi ro quốc gia… thì kinh doanh ngoại tệ còn phải chịu một rủi ro rất đặc biệt, đó là rủi ro tỷ giá. Do tỷ giá biến động thường xuyên và vô lối, nên rủi ro tỷ giá được xem là rủi ro thường trực và đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng. Như vậy có thể thấy, một trong những nhân tố ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả KDNT của một ngân hàng đó là việc ngân hàng đó có khả năng quản trị, hạn chế và phòng ngừa các rủi ro xảy ra trong việc thực hiện hoạt động KDNT của mình hay không. Điều này không phải dễ thực hiện vì việc quản trị rủi ro sẽ phải được thực hiện, phối hợp giữa các phòng ban, đồng thời việc đưa ra những biện pháp để phòng ngừa rủi ro cũng cần linh hoạt và đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển cùa hoạt động KDNT trong từng thời kỳ

    1.2.2.2. Những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động KDNT của NHTM

    a/ Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế

    Thực tế cho thấy, các nước có nền kinh tế phát triển thì hoạt động KDNT cũng phát triển. Sự phát triển này ban đầu nhằm đáp ứng các nhu cầu thương mại quốc tế đến một trình độ nào đó các ngân hàng kinh doanh cho chính mình để kiếm lời và bảo hiểm rủi ro. Còn ở các nước đang phát triển, hoạt động KDNT cũng đơn giản, nhu cầu giao dịch ngoại tệ không lớn, trình độ các thành viên tham gia thị trường cũng hạn chế.

    Một quốc gia có tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định, vững mạnh sẽ là một môi trường tốt cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, là một yếu tố thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế cùng với các hoạt động tài chính tiền tệ. Trên cơ sở đó, đồng bản tệ của quốc gia này sẽ có giá trị và ổn định trên thị trường, giành được một tỷ giá hối đoái thuận lợi trong trao đổi KDNT với nước ngoài. Hoạt động ngoại thương phát triển dẫn đến hoạt động thanh toán quốc tế phát triển, góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động KDNT vì buôn bán với nước ngoài là bộ phận lớn tuyệt đối trong việc cung và cầu ngoại tệ. Ngược lại, một quốc gia có nền kinh tế không ổn định, tình hình chính trị, xã hội rối ren, có nhiều mâu thuẫn xung đột, nội chiến về đảng phái, sắc tộc… chẳng những sẽ kìm hãm tốc độ phát triển mà còn làm giảm sút hiệu quả của việc buôn bán và hợp tác quốc tế. Trong điều kiện như vậy, mọi yếu tố như cung cầu ngoại tệ, sự biến động của tỷ giá và sự tồn tại của thị trường hối đoái sẽ không còn ý nghĩa sâu sắc.

    Như trường hợp của Việt Nam, trước Đại hội Đảng VI (1986), nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tự cung tự cấp, khép kín với thị trường quốc tế và chia cắt giữa các địa phương trong nước, buôn bán chủ yếu diễn ra với các nước XHCN, kim ngạch xuất khẩu thấp, đầu tư nước ngoài bị hạn chế, tỷ giá bị Nhà nước cố định… Tất cả những nhân tố trên có tác động tiêu cực đến kinh tế đối ngoại của Việt Nam, chẳng những kìm hãm tốc độ phát triển mà còn làm giảm sút hiệu quả của việc buôn bán và hợp tác quốc tế. Trong điều kiện như vậy, mọi yếu tố như cung cầu ngoại tệ, các yếu tố tác động đến tỷ giá, sự biến động của tỷ giá và sự tồn tại của thị trường hối đoái là không cần thiết đối với các doanh nghiệp trong nước cũng

    như trong quan hệ kinh tế với nước ngoài. Vì vậy, hoạt động KDNT của các NHTM không có môi trường, điều kiện để phát triển mở rộng cũng như nâng cao hiệu quả.

    Trong quá trình đổi mới hiện nay, việc phát triển nền kinh tế thị trường, đổi mới các chính sách kinh tế ngoại thương, ngoại hối, từ bỏ chế độ tỷ giá cố định là xu thế tất yếu khi nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động KDNT; từ đó nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ này trong các NHTM.

    Những yếu tố cơ bản trên đây có mối quan hệ chặt chẽ, đan xen nhau và cùng tác động tổng thể nhiều chiều tới hoạt động KDNT của các NHTM. Môi trường kinh tế – xã hội phát triển ổn định là cơ sở đẩy mạnh hoạt động đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp; đồng thời tạo tiền đề thúc đẩy thị trường ngoại hối hình thành và phát triển, giúp các NHTM mở rộng và đa dạng hóa các nghiệp vụ KDNT. Hệ thống các cơ chế điều hành tỷ giá và lãi suất của NHNN chính là các công cụ có tính chất pháp lý điều tiết các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Do đó, cần tiến hành phân tích tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng trên cũng như phải biết vận dụng cơ chế của nhà nước, chủ động nắm bắt sự biến động của cung cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái, nghiên cứu thực trạng hoạt động của thị trường tài chính, ngoại hối trước khi quyết định thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh để vừa phục vụ được khách hàng, vừa đảm bảo có lãi trong KDNT.

    b/ Chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước

    Nội dung của chính sách này là thực hiện tự do hóa ngoại thương và ngoại hối với cơ chế thị trường. Vai trò của Chính phủ là điều tiết, quản lý ở tầm vĩ mô, không hạn chế hay quản lý gắt gao ngoại hối cũng như ngoại thương, hoàn toàn xóa bỏ hàng rào thương mại. Các luồng vận động của hàng hóa, dịch vụ cũng như luồng vận động của ngoại hối nói chung phụ thuộc vào cơ chế điều tiết của thị trường và quy luật cung cầu. Với cơ chế quản lý ngoại hối này, hoạt động KDNT của các NHTM có cơ hội để phát triển với tốc độ cao, mở rộng cả về quy mô, số lượng và loại hình. Tuy nhiên, sự đa dạng và bình đẳng của các NHTM tham gia vào thị trường hối đoái đã gây sức ép, tăng sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường.

    Như vậy, chính sách quản lý ngoại hối có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của thị trường ngoại hối và hoạt động KDNT của ngân hàng. Việc áp dụng chế độ quản lý ngoại hối chặt chẽ đến mức nào phụ thuộc vào điều kiện của từng nước. Một chính sách quản lý ngoại hối đúng đắn và phù hợp trong từng thời kỳ sẽ đóng vai trò là đòn bẩy khuyến khích phát triển ngoại thương, hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, qua đó thúc đẩy hoạt động KDNT của các NHTM. Ngược lại, chính sách quản lý ngoại hối cứng nhắc, không hợp lý sẽ gây nhiều trở ngại, kìm hãm hoạt động KDNT, cản trở sự phát triển của thị trường hối đoái.

    c/ Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Nhà nước

    Tỷ giá hối đoái, mặc dù đã có lịch sử lâu dài trong các giai đoạn phát triển của nhân loại, nhưng cho đến nay vẫn còn là vấn đề hết sức phức tạp. Sự phức tạp được thể hiện trên hai phương diện: Một là ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (tình hình kinh tế, thị trường tài chính quốc tế và chính sách can thiệp của các nước…) và các yếu tố này không nằm trong tầm khống chế của một quốc gia. Hai là sự tương tác nhiều chiều của các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ ở mỗi nước. Hình thức biểu hiện tổng hợp về sự tương tác từ hai phương diện trên chính là quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Nói chung có rất nhiều yếu tố tác động lên tỷ giá hối đoái, một số yếu tố cơ bản là:

    • Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nước hữu quan.
    • Trạng thái cán cân thanh toán quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu ngoại tệ thông qua đó tác động lên tỷ giá.
    • Chênh lệch lãi suất giữa các nước, giữa thị trường tín dụng nội địa và quốc

    tế.

    • Một số các nhân tố tác động lên cung cầu ngoại tệ qua đó ảnh hưởng đến tỷ giá như các cú sốc chính trị, thói quen tâm lý, các nhân tố xã hội…

    Đến lượt mình, bất kỳ một biến động nhỏ của tỷ giá hối đoái cũng tác động tới rất nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, tình hình lạm phát… Tất cả các nhân tố này lại ảnh hưởng, chi phối trực tiếp đến hoạt động KDNT của các NHTM nói riêng và thị trường ngoại hối nói

    chung. Do đó có thể nói biến động của tỷ giá có tác động sâu, nhiều chiều tới hoạt động KDNT của các NHTM.

    d/ Trạng thái ngoại tệ

    Đối với Ngân hàng thương mại, trạng thái ngoại hối (Foreign Exchange Position) của mỗi ngoại tệ là chênh lệch giữa tổng tài sản có và tổng tài sản nợ (gồm cả nội bảng và ngoại bảng) của ngoại tệ đó tại một thời điểm nhất định.

    Các giao dịch liên quan đến ngoại tệ được chia làm hai nhóm: Nhóm làm phát sinh sự chuyển giao quyền sử dụng và nhóm làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ. Trong đó, chỉ những giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu thì mới làm phát sinh trạng thái ngoại tệ. Theo đó, bao gồm các giao dịch sau:

    Mua, bán ngoại tệ (giao ngay và kỳ hạn).

    Thu, chi lãi suất bằng ngoại tệ.

    Các khoản thu, chi phí dịch vụ bằng ngoại tệ.

    Các khoản cho, tặng, biếu, viện trợ bằng ngoại tệ.

    Các khoản ngoại tệ bị mất, rách, nát, hư hỏng không còn giá trị.

    Những giao dịch làm phát sinh tăng quyền sở hữu về ngoại tệ đều làm phát sinh trạng thái trường hay còn gọi là trạng thái dương của ngoại tệ đó (Long The Foreign Currency – LFC) và những giao dịch làm phát sinh giảm quyền sở hữu về ngoại tệ đều làm phát sinh trạng thái đoản hay còn gọi là trạng thái âm của ngoại tệ đó (Short The Foreign Currency – SFC).

    Trạng thái ngoại tệ của mỗi ngân hàng thường được xác định vào cuối mỗi ngày. Nó được tính trên cơ sở trạng thái ngoại tệ ngày hôm trước và chênh lệch giữa doanh số mua vào, doanh số bán phát sinh trong ngày của ngoại tệ đó, bao gồm cả giao dịch giao ngay và kỳ hạn. Trạng thái ngoại tệ cũng ảnh hưởng tới hoạt động KDNT do việc thực hiện hoạt động này sẽ phải phụ thuộc vào hạn mức trạng thái ngoại tệ mà mỗi đơn vị được phép thực hiện.

    CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NHNO&PTNT VN

    2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHNo&PTNT VN

    2.1.1. Sự hình thành và phát triển của NHNo&PTNT VN

    2.1.1.1. Sự hình thành

    NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập vào năm 19884 với tên gọi ban đầu là “Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam” theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật. Tiếp theo đó, đến những năm 1991, 1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã lần lượt cho phép Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam mở thêm các văn phòng đại diện và các chi nhánh ở trên khắp các tỉnh thành trong cả nước. Ngày 30/7/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHNN, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóa bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/08/1994 xác định: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh. Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam sau này. Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam.

    • Nguồn: Lịch sử hình thành của NHNo&PTNT VN trên website:www.agribank.com.vn

     

    2.1.1.2. Sự phát triển

    Khi mới thành lập, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt nam đối mặt với nhiều khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi. Trong tổng số trên 36.000 cán bộ lúc đó chỉ có 10% trình độ đại học, cao đẳng còn lại là trung cấp, sơ cấp hoặc chưa được đào tạo. Tổng tài sản chưa tới 1.500 tỷ đồng. Tổng nguồn vốn 1.056 tỷ đồng, trong đó vốn huy động chỉ chiếm 42% còn lại 58% phải vay từ Ngân hàng nhà nước. Tổng dư nợ 1.126 tỷ đồng, trong đó 93% là ngắn hạn; tỷ lệ nợ xấu trên 10%5. Khách hàng hoàn toàn là các doanh nghiệp quốc doanh và các hợp tác xã phần lớn là làm ăn thua lỗ, lao động thiếu việc làm, nguy cơ phá sản luôn rình rập.

    Đối mặt với thách thức, ngay từ ngày đầu Ngân hàng phát triển nông nghiệp triển khai một số giải pháp mạnh nhằm chuyển hướng thành một ngân hàng thương mại tự chủ. Đó là: tập trung đầu tư cho kinh doanh lương thực; mạnh dạn thí điểm cho vay trực tiếp đến hộ nông dân; … Với những cố gắng này, Ngân hàng Phát triển nông nghiệp đã từng bước xác lập được vị thế trong hệ thống ngân hàng.

    Năm 1990, Pháp lệnh ngân hàng ra đời đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình đổi mới ngành ngân hàng. Hệ thống ngân hàng phân thành hai cấp: Ngân hàng nhà nước với chức năng ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại kinh doanh theo cơ chế thị trường. Chuyển sang hoạt động theo cơ chế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, Ngân hàng Nông nghiệp Việt nam thực sự đối mặt với nguy cơ phá sản. Đứng trước lựa chọn tồn tại hay phá sản, toàn hệ thống Ngân hàng nông nghiệp đã đoàn kết một lòng, kiên quyết thực thi các biện pháp quyết liệt đó là: tinh giảm gần 10.000 cán bộ chỉ trong vòng 1 năm; mạnh dạn triển khai cơ chế khoán tài chính đến chi nhánh và người lao động; thể chế hoá hoạt động cho vay hộ nông dân được thí điểm thành công trước đó; tăng cường liên kết với các tổ chức đoàn thể đặc biệt là Hội nông dân, Hội phụ nữ trong việc chuyển tải vốn đến các hộ nông dân; mở rộng kinh doanh đa năng và kinh doanh đối ngoại; phát triển quan hệ quốc tế. Ngân hàng Nông nghiệp Việt nam cũng chính là người sáng lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo và Ngân hàng phục vụ người nghèo – tiền thân của Ngân hàng chính sách xã hội sau này. Với các quyết sách đột phá này, từ năm 1993, Ngân hàng

    • Nguồn: Các số liệu đuợc lấy từ “Diễn văn kỷ niệm 20 năm thành lập NHNo&PTNT VN” của nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNT VN Nguyễn Thế Bình

     

    Nông nghiệp Việt nam đã bắt đầu hoạt động có lãi và thực sự chuyển mình thành một ngân hàng thương mại kinh doanh đa năng, có uy tín trong nước.

    Bước sang giai đoạn lịch sử mới với việc đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty, từ năm 1996 hoạt động của Agribank có sự thay đổi về chất, vừa kế thừa và phát huy truyền thống, vừa tạo được những yếu tố đột phá trên nhiều phương diện về năng lực tài chính, công nghệ, tổ chức, cán bộ và quản trị điều hành hướng đến chuẩn mực, thông lệ hiện đại.

    Bằng những giải pháp mang tính đột phá và cách làm mới, NHNo&PTNT VN đã thực sự khởi sắc. Đến cuối năm 2007, tổng tài sản đạt đạt 325.802 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần 220 lần so với ngày đầu thành lập. Tổng dư nợ và đầu tư nền kinh tế đạt 281.000 tỷ đồng, trong đó: cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 70% với trên 10 triệu hộ gia đình; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần 3 vạn doanh nghiệp dư nợ. Tổng nguồn vốn 295.048 tỷ đồng và gần như hoàn toàn là vốn huy động6.

    Về công nghệ: tạo bước đột phá trong triển khai các dự án tin học để đến hôm nay hình thành nền móng công nghệ cơ bản cho một ngân hàng hiện đại, kết nối trực tuyến toàn hệ thống; cho phép triển khai và ứng dụng tất cả các dịch vụ ngân hàng hiện đại như Thẻ quốc tế; Internet Banking; ..

    Về con người: ưu tiên cho đào tạo và đào tạo lại, đặc biệt là đào tạo kỹ năng, nâng tầm quản lý của đội ngũ lãnh đạo chủ chốt theo các chuẩn mực ngân hàng tiên tiến. Đến nay, trong tổng số trên 3 vạn cán bộ, gần 70% có trình độ đại học, trên đại học và cao đẳng; 80% có trình độ vi tính cơ bản

    Về tài chính: xây dựng một nền tài chính mạnh. Lợi nhuận hàng năm tăng đều và vững chắc; hoàn thành tốt nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; đảm bảo thu nhập và đời sống cán bộ không ngừng cải thiện nhưng vẫn đủ sức trích hình thành quỹ dự phòng rủi ro hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm.

    • Nguồn: Các số liệu đuợc lấy từ “Diễn văn kỷ niệm 20 năm thành lập NHNo&PTNT VN” của nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNT VN Nguyễn Thế Bình

     

    Về mô hình hoạt động: ngoài 2.000 chi nhánh và phòng giao dịch, NHNo&PTNT VN hiện có 8 công ty trực thuộc kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau như chứng khoán, vàng bạc, cho thuê tài chính, bảo hiểm, in thương mại, du lịch,.. và đầu tư vào hàng chục các doanh nghiệp khác. NHNo&PTNT VN kinh doanh đa năng đang dần tiến tới một tập đoàn tài chính đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở 3 trụ cột Ngân hàng – Chứng khoán – Bảo hiểm.

    Về đối ngoại: cùng với việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, các tổng công ty hình thành các đối tác chiến lược trong nước, NHNo&PTNT VN chủ động mở rộng và khai thác có hiệu quả các mối quan hệ quốc tế: thu hút và triển khai hàng trăm dự án đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp, nông thôn với tổng số vốn gần 4 tỷ USD được các tổ chức tài chính quốc tế như WB(Ngân hàng thế giới), ADB (Ngân hàng phát triển châu Á), .. đánh giá cao; xúc tiến quan hệ đối tác chiến lược với các tập đoàn, ngân hàng lớn trên thế giới; trú trọng duy trì và phát triển quan hệ với các hiệp hội ngân hàng khu vực và quốc tế nhằm chia sẻ, học hỏi, chuyển giao kiến thức, công nghệ ngân hàng tiên tiến. Qua đó vị thế và uy tín của NHNo&PTNT VN trong khu vực và trên trường quốc tế được khẳng định.

    Như vậy có thể thấy NHNo&PTNT VN từ khi thành lập đến nay luôn cố gắng thay đổi, phát triển cho phù hợp với xu thế của thị trường nhằm khẳng định vai trò là ngân hàng thương mại lớn nhất, giữ vai trò chủ đạo, trụ cột đối với nền kinh tế đất nước, đặc biệt đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn; thực hiện sứ mệnh quan trọng dẫn dắt thị trường; đi đầu trong việc nghiêm túc chấp hành và thực thi các chính sách của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về chính sách tiền tệ, đầu tư vốn cho nền kinh tế. Trong những năm gần đây, NHNo&PTNT VN còn được biết đến với hình ảnh của một ngân hàng hàng đầu cung cấp các sản phẩm dịch vụ tiện ích, hiện đại. Bước vào giai đoạn mới hội nhập sâu hơn, toàn diện hơn, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt nhiều hơn với cạnh tranh, thách thức sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 07/11/2006 và cam kết mở cửa thị trường trong nước trong đó có thị trường cung cấp dịch vụ, ngân hàng. NHNo& PTNT VN xác định kiên trì mục tiêu và định hướng phát triển theo hướng Tập đoàn tài chính – ngân hàng mạnh, hiện

    đại có uy tín trong nước, vươn tầm ảnh hưởng ra thị trường tài chính khu vực và thế giới. Do vậy, NHNo&PTNT VN đã nỗ lực không ngừng, đặc biệt là nỗ lực đẩy mạnh hoạt động KDNT. Hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN được phân tích dưới đây theo quy trình hoạt động và theo tình hình KDNT.

    2.1.2. Quy trình kinh doanh ngoại tệ của NHNo&PTNT VN

    2.1.2.1. Hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN được phân cấp theo hai cấp quản lý:

    Tại NHNo&PTNT VN hoạt động kinh doanh ngoại hối nói riêng và các hoạt động kinh doanh thuộc nghiệp vụ ngân hàng quốc tế được thống nhất quản lý và điều hành thông qua Ban Quan hệ quốc tế dưới sự chỉ đạo chung của Phó Tổng Giám đốc phụ trách kinh doanh đối ngoại được Tổng giám đốc ủy quyền. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHNo&PTNT VN được thực hiện và phân cấp theo hai khối có nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau. Một là Sở giao dịch, hai là hệ thống các chi nhánh cấp một (CN cấp I). Sở giao dịch là đơn vị đầu mối và duy nhất được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối đầy đủ như luật định. Các CN cấp I hoạt động theo sự phân cấp ủy quyền của Tổng Giám đốc và hiện nay chỉ đơn thuần là mua bán ngoại tệ của các khách hàng cá nhân và các tổ chức kinh tế để mua bán lại với giao dịch hoặc cho khách hàng phục vụ nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu và chuyển tiền cá nhân. Đối với giao dịch liên ngân hàng, các CN cấp I chỉ được phép mua chứ không được phép bán. Như vậy có thể thấy, Sở giao dịch là đại diện cho NHNo&PTNT VN mua, bán ngoại tệ với Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng khác trên thị trường hối đoái liên ngân hàng trong và ngoài nước, sau đó sẽ thực hiện vai trò đầu mối của mình trong điều hoà và kinh doanh ngoại tệ trong toàn hệ thống NHNo &PTNT VN.

    NHNo&PTNT VN cũng như các NHTM khác, muốn thực hiện hoạt động KDNT phải được sự cho phép của NHNN. NHNN cũng quy định cụ thể những hoạt động KDNT mà NHNo&PTNT VN được phép thực hiện (xem Bảng 2.1 ở trang tiếp theo).

    Bảng 2.1: Quy định về những hoạt động KDNT mà NHNo&PTNT VN đƣợc phép thực hiện với các đối tƣợng đƣợc phép tham gia thị trƣờng ngoại

    hối

        Tổ chức tín dụng Tổ chức kinh tế Tổ chức khác, cá
            nhân
             
    Giao ngay   Được phép Được phép Được phép
             
    Kỳ hạn   Được phép Được phép Được phép
             
    Hoán đổi   Được phép Được phép Không được phép
             
    Quyền chọn*   Được phép Được phép Được phép
             
    Giao dịch ngoại   Xin phép Xin phép Xin phép
    hối khác        
             
      (Nguồn: Quy trình thực hiện hoạt động KDNT của Sở giao dịch)

    Chú thích: Mục Quyền chon*: nếu giao dịch quyền chọn giữa các đồng ngoại tệ (không liên quan VND) thì được phép. Nếu giao dịch quyền chọn giữa một ngoại tệ với VND thì phải xin phép NHNN.

    Bảng 2.2: Quy định về các giao dịch mà các chi nhánh của NHNo&PTNT

    VN đƣợc phép thực hiện

      Đầu cơ Giao dịch Giao dịch Giao dịch Giao dịch
        với khách với tổ chức với liên với liên
        hàng kinh tế ngân hàng ngân hàng
            trong nƣớc ngoài nƣớc
               
    Sở giao Được phép Được phép Được phép Được phép Được phép
    dịch          
               
    Chi nhánh Không Được phép Được phép Được Không
            mua/Không  
            được bán  
               
      (Nguồn: Quy trình thực hiện hoạt động KDNT của Sở giao dịch)

     

    Bảng 2.3: Quy định về các hoạt động KDNT mà các chi nhánh

    NHNo&PTNT VN đƣợc phép thực hiện

        Tổ chức tín dụng Tổ chức kinh tế Tổ chức khác, cá
            nhân
             
    Giao ngay   Được mua Được phép Được phép
             
    Kỳ hạn   Được mua Được phép Được phép
             
    Hoán đổi   Không Được phép Không được phép
             
    Quyền chọn   Không Phải xin phép Chỉ được bán
            quyền chọn và phải
            xin phép
             
    Giao dịch ngoại   Không Không Không
    hối khác        
             
      (Nguồn: Quy trình thực hiện hoạt động KDNT của Sở giao dịch)

    Nhìn trên Bảng 2.2 và Bảng 2.3 ta có thể thấy Sở giao dịch là đơn vị duy nhất được phép thực hiện tất cả các giao dịch với các cá nhân, tổ chức kinh tế và với thị trường liên ngân hàng trong và ngoài nước, đồng thời cũng là đơn vị duy nhất được phép thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ KDNT. Các chi nhánh còn lại của NHNo&PTNT VN chủ yếu thực chỉ được phép thực hiện giao dịch với khách hàng (cá nhân hoặc tổ chức kinh tế), còn đối với thị trường liên ngân hàng các chi nhánh chỉ được phép thực hiện giao dịch mua ngoại tệ (trong trường hợp có giá cạnh tranh hơn so với việc thông qua đầu mối là Sở giao dịch hoặc tại những thời điểm khan hiếm ngoại tệ). Bên cạnh đó, nghiệp vụ KDNT mà các chi nhánh chủ yếu được phép thực hiện là hoạt động KDNT giao ngay và kỳ hạn. Tóm lại, việc thực hiện KDNT tại các chi nhánh mới chủ yếu dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, còn việc KDNT tại Sở giao dịch bên cạnh việc tự doanh như một chi nhánh thì nhiệm vụ quan trọng nhất là điều hòa và cung ứng đủ ngoại tệ cho nhu cầu của toàn hệ thống.

    Cụ thể, Sở giao dịch được NHNo&PTNT VN giao cho những chức năng và nhiệm vụ liên quan đến hoạt động KDNT như sau:

    • Chức năng:
    • Đầu mối trong việc thực hiện các nghiệp vụ quản lý và kinh doanh vốn, các lệnh điều hòa vốn (bao gồm cả ngoại tệ), dự trữ bắt buộc, tỷ giá, mua bán ngoại tệ trạng thái ngoại hối trong toàn hệ thống NHNo&PTNT VN.
    • Trực tiếp kinh doanh vốn, KDNT trên thị trường trong nước và quốc tế.
    • Nhiệm vụ:
    • Thực hiện các quy định của NHNN Việt Nam về tỷ giá, dự trữ bắt buộc, quản lý trạng thái ngoại hối; Mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng trong, ngoài nước, đầu mối điều hòa và KDNT mặt trong hệ thống NHNo&PTNT VN.
    • Đại diện cho NHNo&PTNT VN tham gia giao dịch trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn liên ngân hàng trong nước và quốc tế, thị trường mở, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc và các giấy tờ có giá khác.
    • Đầu mối thực hiện mua bán ngoại tệ với các chi nhánh trong hệ thống

    NHNo&PTNT VN. Đại diện cho NHNo&PTNT VN mua bán ngoại tệ với NHNN, các ngân hàng khác trên thị trường hối đoái liên ngân hàng trong nước và quốc tế.

    • Theo dõi đánh giá kết quả KDNT, kiểm tra và tổng hợp báo cáo định kỳ về hoạt động KDNT của toàn hệ thống..

    2.1.2.2. Các bước thực hiện nghiệp vụ KDNT tại Sở giao dịch

    Hiện tại NHNo&PTNT VN. chưa có quy trình chung quy định cụ thể về việc thực hiện nghiệp vụ KDNT, vì đầu mối được tập trung tại Sở giao dịch nên việc KDNT được diễn ra chủ yếu tại đầu mối này và tuân theo quy trình nội bộ của Sở giao dịch.

    a/ Xây dựng tỷ giá mua bán ngoại tệ và tỷ giá hạch toán

    Hàng ngày, vào đầu giờ làm việc, cán bộ giao dịch của phòng KDNT Sở giao dịch lấy tỷ giá USDVND bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố qua điện thoại, căn cứ theo tỷ giá thực tế trên Reuters, căn cứ theo cung cầu ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng của ngày làm việc trước đó, căn cứ theo trạng thái ngoại tệ thực tế của NHNo&PTNT VN và sau khi tham khảo tỷ giá của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và một số ngân hàng khác sẽ tiến hành lập bảng tỷ giá giao ngay. Bảng tỷ giá bao gồm cả tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra, tỷ giá tiền mặt và tỷ giá

    chuyển khoản của từng loại ngoại tệ so với đồng Việt Nam theo phương pháp yết giá trực tiếp. Sau khi được lãnh đạo phòng và Giám đốc phê duyệt, bảng tỷ giá này sẽ được truyền lên trang Web của NHNo&PTNT VN cũng như trang Web nội bộ làm căn cứ để các chi nhánh NHNo&PTNT VN tham khảo, dựa vào đó yết giá giao dịch với khách hàng. Trong trường hợp tỷ giá USDVND thực tế trên thị trường liên ngân hàng hoặc tỷ giá các loại ngoại tệ khác trên Reuters biến động vượt ra khỏi biên độ giá mà Sở giao dịch đã yết vào đầu ngày thì cán bộ giao dịch sẽ trình lãnh đạo phòng KDNT quyết định yết và thông báo lại bảng tỷ giá mới. Đối với những giao dịch đã phát sinh từ những ngày làm việc trước đó mà có cùng ngày hiệu lực là ngày hiện tại, cán bộ giao dịch phòng KDNT sẽ lập bảng tỷ giá hạch toán. Nguyên tắc lập bảng tỷ giá này chính là tính giá mua (và giá bán) bình quân gia quyền của tất cả những hợp đồng mua (và hợp đồng bán) một đồng tiền đã tiến hành từ trước và có cùng ngày hiệu lực sau đó tính trung bình của hai mức giá này để làm cơ sở hạch toán.

    b/ Xác định nhu cầu mua bán ngoại tệ của các chi nhánh trong hệ thống

    Các chi nhánh khi phát sinh nhu cầu mua bán ngoại tệ sẽ chủ động liên hệ với các cán bộ phòng KDNT tại Sở giao dịch để đưa ra nhu cầu của mình.

    Các cán bộ phòng KDNT sẽ tiếp nhận nhu cầu của chi nhánh qua điện thoại. Bước tiếp theo, các cán bộ phải kiểm tra hạn mức trạng thái bao gồm hạn mức trạng thái của phòng và hạn mức trạng thái của giao dịch viên. Từ đó, căn cứ vào các hạn mức trạng thái nói trên, cán bộ sẽ xác nhận giao dịch với chi nhánh. Nếu giao dịch đó vượt quá hạn mức của giao dịch viên thì cán bộ đó phải lập tờ trình trưởng phòng phê duyệt, nếu giao dịch vượt quá hạn mức của phòng KDNT thì phải lập tờ trình trưởng phòng ký xác nhận, trình Phó giám đốc phụ trách hoặc giám đốc trong trường hợp vượt quyền phán quyết của Phó giám đốc. Sau khi có ý kiến của lãnh đạo, cán bộ giao dịch điện thoại thông báo với chi nhánh để xác nhận giao dịch thống nhất với chi nhánh những thông tin sau: tỷ giá, ngày hiệu lực, ngày giao dịch và số lượng ngoại tệ.

    Tiếp theo, cán bộ giao dịch sẽ lập xác nhận mua bán ngoại tệ (hoặc nhận xác nhận mua bán qua Fax do chi nhánh gửi lên), cán bộ phải có trách nhiệm kiểm tra

    nội dung đã khớp đúng với nội dung đã xác nhận qua điện thoại với chi nhánh. Nếu có sai sót, cần thông báo cho chi nhánh chỉnh sửa.

    Cán bộ sẽ thực hiện xử lý giao dịch trên màn hình quy định. Sau đó in chứng từ giao dich theo mẫu đã được tạo sẵn, rồi chuyển chứng từ giao dịch trình lãnh đạo phòng ký xác nhận, trình phó giám đốc phụ trách ký phê duyệt.

    Sau khi được sự phê duyệt của Phó giám đốc phụ trách, cán bộ sẽ chuyển chứng từ cho lãnh đạo phòng phê duyệt trên hệ thống và chuyển chứng từ sang phòng kế toán thực hiện phê duyệt hạch toán cho chi nhánh.

    c/ Quy trình thực hiện giao dịch KDNT với các tổ chức tín dụng

    Những giao dịch này hầu hết được thực hiện tại Sở giao dịch do đây là đầu mối được phép thực hiện các giao dịch này. Các chi nhánh chỉ được phép thực hiện giao dịch mua với các TCTD trong nước còn đối với các ngân hàng nước ngoài các chi nhánh không được phép giao dịch. Giao dịch với các TCTD được thực hiện qua hệ thống REUTERS Dealing, đối với các đối tác không sử dụng mạng REUTERS thì lập Hợp đồng mua bán ngoại tệ qua Fax.

    Cán bộ giao dịch thực hiện giao dịch mua bán ngoại tệ với các Ngân hàng để đáp ứng nhu cầu của chi nhánh, cân bằng trạng thái ngoại tệ và kinh doanh trong phạm vi hạn mức được giao. Trường hợp phát sinh nhu cầu giao dịch vượt hạn mức được giao phải báo cáo phụ trách phòng để xin ý kiến trước khi xác nhận giao dịch, nếu vượt quá hạn mức của phòng thì phụ trách phòng có trách nhiệm báo cáo xin ý kiến của lãnh đạo. Các giao dịch mua bán ngoại tệ khác phục vụ nhu cầu của các chi nhánh không tính vào hạn mức ngày của cán bộ giao dịch, nhưng phải cân bằng trong thái trong ngày. Nếu cuối ngày vẫn còn trạng thái mở thì sẽ tính vào hạn mức của cán bộ giao dịch.

    Sau khi xác nhận giao dịch, cán bộ giao dịch phải in ra và ký vào bản xác nhận đó đồng thời lập phiếu giao dịch (deal slip) phản ánh đầy đủ các thông tin về giao dịch như đối tác, số lượng, tỷ giá, ngày hiệu lực, chỉ dẫn thanh toán.

    Cán bộ giao dịch vào sổ, đánh số giao dịch và chuyển phụ trách phòng kiểm soát và ký trên phiếu giao dịch rồi trình Lãnh đạo phê duyệt. Trường hợp Phó trưởng phòng trực tiếp giao dịch thì Trưởng phòng ký kiểm soát, trường hợp Trưởng phòng trực tiếp giao dịch thì Trưởng phòng ký giao dịch viên và chuyển

    cho lãnh đạo ký phê duyệt. Lãnh đạo Sở giao dịch không trực tiếp tham gia giao dịch.

    Cán bộ giao dịch chuyển 1 bản phiếu giao dịch đã có chữ ký của lãnh đạo cho phòng kế toán thanh toán. Cán bộ kế toán kiểm tra đủ thủ tục thì tiến hành nhập đầy đủ dữ liệu vào chương trình IPCAS theo quy trình quy định. Cán bộ kế toán phải nắm bắt được hạn mức giao dịch của các cán bộ giao dịch, nếu phát hiện giao dịch vượt hạn mức thì không được thực hiện và báo cáo ngay Ban Lãnh đạo để xử lý.

    Sau khi lãnh đạo phê duyệt giao dịch cán bộ kế toán tạo và gửi điện xác nhận qua SWIFT (đối với các đối tác không tham gia mạng SWIFT thì không lập điện xác nhận qua SWIFT).

    Cán bộ kế toán nhận điện xác nhận của Ngân hàng đối tác do phòng SWIFT chuyển tới, kiểm soát đủ, đúng và đối chiếu khớp đúng với điện SWIFT gửi đi. Trường hợp không nhận được điện SWIFT đúng hạn hoặc có sai sót thì lập điện tra soát qua SWIFT.

    Cán bộ kế toán lập và gửi điện thanh toán cho đối tác, theo dõi và xử lý các vướng mắc phát sinh và lưu trữ chứng từ theo quy định. Đối với các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn phải mở sổ theo dõi hạn thanh toán để đảm bảo thanh toán đúng thời hạn đã cam kết.

    d/ Kiểm tra trạng thái ngoại tệ, số dư tài khoản và hạn mức giao dịch

    Khi thực hiện mua hoặc bán ngoại tệ, giao dịch viên phòng KDNT phải căn cứ vào số dư trạng thái ngoại tệ để cân bằng mua hoặc bán. Bên cạnh đó, giao dịch viên còn phải nắm rõ số dư ngoại tệ trên tài khoản để quyết định giao dịch.

    Trên màn hình kiểm soát trạng thái, giao dịch viên có thể dễ dàng kiểm soát được trạng thái đối với từng đồng tiền. Những thông tin hiển thị bao gồm, hạn mức đối với từng đồng tiền giao dịch, trạng thái đã giao dịch, số lượng còn được phép tiếp tục giao dịch, doanh số đã cam kết mua giao ngay, doanh số đã cam kết bán giao ngay, doanh số đã cam kết mua kỳ hạn, doanh số đã cam kết bán kỳ hạn). Hiện tại, những giao dịch giao ngay mà không cùng ngày hiệu lực với ngày thực hiện giao dịch (2 ngày làm việc sau đó-spot hoặc 1 ngày làm việc sau đó-tom) và những giao dịch mua bán ngoại tệ kỳ hạn đều được quản lý ngoại bảng vào những tài khoản thích hợp. Giao dịch kỳ hạn phải được theo dõi trên những tài khoản ngoại

    bảng. Từ những tài khoản này sẽ tính toán được trạng thái ngoại tệ của một loại ngoại tệ nào đó. Những tài khoản nói trên cho phép Ban giám đốc Sở giao dịch, những cán bộ có trách nhiệm quản trị rủi ro và những giao dịch viên có thể dễ dàng nắm bắt được tình hình hoạt động KDNT.

    Việc kiểm tra số dư tài khoản nhằm đảm bảo có đủ nguồn thanh toán khi thực hiện mua bán ngoại tệ. Đối với những giao dịch với các TCTD, các NHTM trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, giao dịch viên phải theo dõi và đảm bảo giao dịch trong hạn mức doanh số còn lại với đối tác đó.

    Hạn mức trạng thái ngoại tệ được cấp dựa trên cơ sở hạn mức được NHNN quy định cho NHNo&PTNT VN. Sở giao dịch có trách nhiệm quản lý, duy trì hạn mức trạng thái ngoại tệ của hệ thống NHNo&PTNT VN tuân thủ theo đúng hạn mức trạng thái ngoại tệ do NHNN Việt nam quy định tại từng thời kỳ. e/ Đánh giá kết quả KDNT

    Kết quả hoạt động KDNT của phòng KDNT, Sở giao dịch được phòng Kế hoạch và Quản lý rủi ro tại Sở giao dịch đánh giá hằng ngày. Cuối ngày làm việc, phòng Kế hoạch và Quản lý rủi ro sẽ kiểm soát trạng thái còn lại của phòng KDNT đảm bảo không vi phạm theo quy định của NHNN và của NHNo&PTNT VN.

    Sau đó, phòng Kế hoạch và Quản lý rủi ro tiến hành đánh giá lại kết quả kinh doanh và đánh giá chênh lệch tỷ giá trạng thái nội bảng theo tỷ giá VND/USD bình quân liên ngân hàng và theo tỷ giá VND/USD thực tế trên thị trường liên ngân hàng. Đánh giá chênh lệch tỷ giá với số dư ngoại bảng, đảm bảo không vượt hạn mức lỗ được phép.

    Sau khi đánh giá kết quả kinh doanh nội và ngoại bảng, phòng Kế hoạch và rủi ro dự báo kết quả KDNT theo tỷ giá thực tế và tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Với kết quả dự báo đó, Ban Giám đốc Sở giao dịch có thể quản lý được hoạt động kinh doanh của phòng và đảm bảo không vượt hạn mức và lỗ nghiêm trọng.

    Chỉ những giao dịch viên được cấp hạn mức mới được phép thực hiện mua bán ngoại tệ với chi nhánh và sau đó phải cân bằng trạng thái ngoại tệ lại trên thị trường liên ngân hàng. Giám đốc Sở giao dịch quy định trạng thái ngoại tệ và hạn mức ngắt lỗ cho giao dịch viên cho dù giao dịch viên đó chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ phục vụ chi nhánh. Căn cứ theo hạn mức của mình, giao dịch viên được

    phép giữ trạng thái chưa cân bằng khi mua (hoặc bán) ngoại tệ với chi nhánh. Tuy nhiên, nếu phần chênh giữa lượng mua (hoặc bán) ngoại tệ với chi nhánh và lượng bán (hoặc mua) lại để cân bằng trạng thái trên thị trường liên ngân hàng của giao dịch viên đó lớn hơn 1 triệu USD, phòng KDNT phải xin ý kiến của Ban giám đốc Sở quản lý và chỉ được phép thực hiện nếu có văn bản chấp thuận. f/ Phân tích thông tin thị trường

    Đầu giờ sáng hằng ngày, phòng KDNT, Sở giao dịch thực hiện bản phân tích thị trường, cập nhật những thông tin về kinh tế thế giới và những chỉ số quan trọng, đáng giá sự biến động của tỷ giá các đồng ngoại tệ mạnh trong ngày. Việc phân tích các thông tin thị trường hỗ trợ cho việc KDNT đạt kết quả cao nhất.

    Với những thông tin cập nhật được, phòng KDNT có thể dự đoán được xu hướng biến động tỷ giá trong ngày và xây dựng kế hoạch kinh doanh có hiệu quả

    2.1.3. Thực trạng thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHNo&PTNT VN

    2.1.3.1. Về doanh số kinh doanh ngoại tệ

    Hiện tại, NHNo&PTNT VN chủ yếu thực hiện hoạt động KDNT đối với ba loại tiền tệ chính là USD, EUR, JPY. Các loại ngoại tệ khác hiếm khi được thực hiện giao dịch. Lý do bởi vì lượng giao dịch mua bán các đồng ngoại tệ khác rất ít phát sinh trong thanh toán quốc tế mà chủ yếu từ những khách hàng cá nhân nhỏ lẻ mua ngoại tệ phục vụ cho những mục đích như đi du học nước ngoài, đi du lịch, công tác, chi trả tiền viên phí, nộp chi phí học tập v.v. Như vậy có thể thấy số lượng này chiếm một tỷ lệ không đáng kể, do vậy hiện tại NHNo&PTNT VN chưa thực hiện việc tổng hợp lượng giao dịch của các loại ngoại tệ này trong báo cáo của toàn hệ thống. Bên cạnh đó trong hoạt động kinh doanh, có những cặp đồng tiền rất hay được sử dụng như: EURUSD, USDJPY, GBPUSD. Ba cặp đồng tiền này được giao dịch rất nhiều trên thị trường quốc tế có tính lỏng cao nên giá chào ra rất chuyên nghiệp. Với những giao dịch chuẩn mực được quy định là 1 triệu USD quy đổi trở lên, chênh lệch giữa giá mua và giá bán mà các ngân hàng trên thị trường quốc tế chào ra chỉ lệch nhau từ 2 đến 3 điểm cơ bản. Trong khi đó, nếu giao dịch những cặp đồng tiền khác (VD: USDTHB, USDNOK, USDSEK…) thì chênh lệch giá lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm điểm cơ bản. Đó cũng là một lý do khác

    quan trọng giải thích tại sao doanh số hoạt động tại NHNo&PTNT VN lại chủ yếu là USD, EUR và JPY (xem các bảng số liệu ở các trang tiếp theo).

    Các số liệu từ Bảng 2.4 đến Bảng 2.7 (xem các bảng số liệu ở các trang tiếp theo) cho thấy, doanh số USD chiếm tỷ trọng vượt trội so với các loại ngoại tệ khác (trên dưới 85%). Điều này phản ánh một thực tế là hiện nay các doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp xuất khẩu hay nhập khẩu đều chủ yếu sử dụng USD trong thanh toán quốc tế. Đồng USD vốn được coi là một loại tiền tệ mạnh và được sử dụng nhiều trên thị trường quốc tế. Tuy vậy, việc quá lạm dụng vào việc thanh toán bằng đồng USD sẽ tiềm ẩn bất lợi khi giá trị đồng USD không ổn định sẽ khiến các doanh nghiệp đối mặt với thua lỗ, tâm lý e ngại lan truyền sẽ khiến cho tình trạng mất cân đối USD càng trầm trọng và càng làm tỷ giá biến động mạnh hơn. Do đó, riêng với USD, để có thể chủ động trong việc cân đối nguồn tránh trường hợp mua bán chênh lệch nhau quá lớn, các chi nhánh NHNo&PTNT VN đã phải kế hoạch hoá trước ít nhất là 2 ngày đối với những giao dịch có số lượng từ 1 triệu USD trở lên, báo cho Sở giao dịch tổng hợp để lập phương án cân đối. Đối với các đồng ngoại tệ khác, chi nhánh không phải báo trước bởi vì giao dịch viên phòng KDNT có thể giao dịch trên thị trường liên ngân hàng với số lượng giao dịch rất lớn.

    Bảng 2.4: Doanh số mua ngoại tệ của NHNo&PTNT VN qua các năm

                          (Đơn vị: nguyên tệ)
          2007   2008   2009   2010   6 tháng đầu năm  
                  2011    
                             
                               
      USD 1.767.338.236,73   5.088.104.804.44   5.353.950.491,06   4.804.421.031,12   2.432.190.969,65  
                               
      EUR 113.104.067,97   291.941.225,19   386.517.885,96   459.326.348,36   324.337.255,88  
                               
      JPY 24.299.115.171,00   10.166.501.061,00   9.455.777.042,00   7.129.226.964,00   3.058.571.009,00  
                               
                  (Nguồn: Báo cáo của Ban Quan hệ quốc tế)
                          41
          Bảng 2.5: Doanh số bán ngoại tệ của NHNo&PTNT VN qua các năm      
                          (Đơn vị: USD)
                             
          2007   2008   2009   2010   6 tháng đầu năm  
                  2011    
                             
                               
      USD   1.771.037.251,37   5.129.910.254,14   5.325.170.167,67   4.780.529.029,83   2.411.055.690,19    
                               
      EUR   113.903.688,29   288.940.786,53   382.365.754,19   452.168.082,08   325.448.014,51    
                               
      JPY   24.305.257.102,00   10,155.160.564,00   9.464.347.316,00   7.074.188.995,00   3.074.766.100,00    
                           
                      (Nguồn: Báo cáo của Ban Quan hệ quốc tế)

     

    Bảng 2.6 Tổng doanh số mua ngoại tệ quy về USD và tỷ trọng mua từng loại ngoại tệ/Tổng doanh số mua

    Loại 2007   2008   2009   2010   6 tháng đầu năm 2011  
                           
      Tổng số Tỷ Tổng số Tỷ Tổng số Tỷ Tổng số Tỷ Tổng số Tỷ  
      (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng  
                 
        (%)   (%)   (%)   (%)   (%) 42
                     
                       
                           
    USD 2.147.294.781.44 84,97 5.608.034.698,37 91,52 6.009.356.565,74 90,17 5.502.202.693,09 88,75 2.938.112.980.00 85,31  
                           
    EUR 165.463.419,53 6,55 408.650.909,49 6,67 553.495.118,69 8,30 610.308.170,98 9,84 468.053.676,95 13,59  
                           
    JPY 214.493.125,18 8,48 111.278.984,44 1,81 101.910.955,99 1,53 87.473.490,99 1,41 37.867.951,38 1.1  
                           
    Tổng 2.527.251.326,15 100 6.127.964.592,30 100 6.664.762.640,42 100 6.199.984.355,06 100 3,444,034,608.33 100  
                           

    (Nguồn: Tổng hợp từ hệ thống hạch toán toàn hệ thống)

     

    Bảng 2.7 Tổng doanh số bán ngoại tệ quy về USD và tỷ trọng bán từng loại ngoại tệ/Tổng doanh số bán

    Loại 2007   2008   2009   2010   6 tháng đầu năm 2011    
                             
      Tổng số Tỷ Tổng số Tỷ Tổng số Tỷ Tổng số Tỷ Tổng số Tỷ    
      (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng    
                   
        (%)   (%)   (%)   (%)   (%)    
                         
                          43  
    USD 2.158.170.106,34 84,79 5.655.527.662,84 91,5 5.988.119.178,63 90,03 5.468.124.184,40 88,83 2.918.780.773,42 85,18
       
                             
    EUR 168.855.574,10 6,63 412.005.097,50 6,67 558.772.879,74 8,40 600.796.963,06 9,76 469.656.621,58 13,71    
                             
    JPY 218.277.280,87 8,58 113.612.311,21 1,83 104.226.131,22 1,57 86.798.191,51 1,41 38.068.461,65 1,11    
                             
    Tổng 2.545.302.961,31 100 6.181.145.071,55 100 6.651.118.189,59 100 6.155.719.338,97 100 3.426.505.856,65 100    
                             

    (Nguồn: Tổng hợp từ hệ thống hạch toán toàn hệ thống)

     

    2.1.3.2. Nguồn mua và bán ngoại tệ

    1. Nguồn mua ngoại tệ

    NHNo thực hiện việc mua ngoại tệ từ các nguồn sau:

    • Mua từ khách hàng: Các chi nhánh NHNo&PTNT VN có thể khai thác được từ nhiều nguồn khác nhau như:

    . Nguồn thu xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ

    . Tiền mặt của cư dân là người cư trú và người không cư trú, kiều hối…

    . Ngoại tệ thu được từ các ngân hàng ngoài hệ thống

    Sau đó, các chi nhánh sẽ thực hiện tự cân đối việc kinh doanh ngoại tệ của mình trong hạn mức được đề ra.

    • Mua từ chi nhánh trong hệ thống: NHNo&PTNT VN thông qua đầu mối là Sở giao dịch sẽ mua ngoại tệ từ các chi nhánh có nguồn cung ngoại tệ dồi dào hoặc

    các chi nhánh bán có mục đích điều hoà vốn trong nội bộ hệ thống.

    • Mua trên thị trường liên ngân hàng: NHNo&PTNT VN chủ yếu thực hiện mua ngoại tệ từ các TCTD trên thị trường liên ngân hàng thông qua Sở giao dịch nhằm giải quyết thanh khoản của toàn hệ thống khi trạng thái ngoại tệ của cả hệ thống âm hoặc để đáp ứng kịp thời nhu cầu ngoại tệ cho các khách hàng của chi

    nhánh.

    1. Nguồn bán ngoại tệ

    NHNo&PTNT VN  thực hiện việc bán ngoại tệ cho các nguồn sau:

    • Bán cho khách hàng: Thông thường các chi nhánh sẽ thực hiện việc bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán các hợp đồng ngoại thương hoặc bán cho những khách hàng có nhu cầu mua ngoại tệ đáp ứng đủ các tiêu chí mà ngân hàng đề ra.
    • Bán cho chi nhánh trong hệ thống: Thường thì giao dịch bán ngoại tệ từ nguồn này nhằm mục đích đáp ứng cho các nhu cầu của các khách hàng của chi

    nhánh. Giao dịch này sẽ được thực hiện thông qua Sở giao dịch. Lượng ngoại tệ Sở giao dịch bán cho chi nhánh được thực hiện theo tỷ giá nội bộ.

    • Bán trên thị trường liên ngân hàng: NHNo&PTNT VN chủ yếu thực hiện việc bán ngoại tệ cho các TCTD trên thị trường liên ngân hàng thông qua Sở giao dịch nhằm mục đích cân bằng trạng thái hoặc hưởng chênh lệch kiếm lời.

    Hiện nay, tại các chi nhánh chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ giao ngay đối với khách hàng, nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn hoặc hoán đổi chủ yếu được thực hiện với Sở giao dịch. Tại Sở giao dịch, trung tâm đầu mối đại diện cho NHNo&PTNT VN thực hiện KDNT, hiện chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ giao ngay, mua bán ngoại tệ kỳ hạn, giao dịch hoán đổi với các chi nhánh NHNo&PTNT VN cũng như với các TCTD, các NHTM khác trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Bên cạnh đó, Sở giao dịch còn từng bước nghiên cứu một số nghiệp vụ phức tạp hơn như: Hợp đồng quyền chọn, Hợp đồng tương lai cũng như nghiên cứu triển khai và thực hiện thí điểm những giao dịch sản phẩm cơ cấu đầu tiên của hệ thống NHNo&PTNT VN .

    2.1.3.3. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ

    1. Nghiệp vụ KDNT giao ngay

    Hiện nay, NHNo&PTNT VN chưa có hệ thống để tổng hợp hoạt động KDNT của toàn hệ thống theo từng nghiệp vụ. Tuy vậy, tại Sở giao dịch- trung tâm đầu mối thực hiện hoạt động KDNT của toàn hệ thống đã có thể tổng hợp được lượng giao dịch theo những nghiệp vụ này. Do Sở giao dịch là đầu mối, cũng như là nơi thực hiện hầu hết các giao dịch với tỷ trọng doanh số giao dịch KDNT so với toàn hệ thống ở mức cao nên có thể coi một cách tương đối rằng số liệu KDNT theo từng nghiệp vụ tại Sở giao dịch chính là số liệu của toàn hệ thống. Một lý do nữa để giải thích cho số liệu này đó là đối với các chi nhánh, hoạt động tự doanh của chi nhánh với khách hàng hầu như chỉ tập trung vào nghiệp vụ KDNT giao ngay nhằm phục vụ nhu cầu của khách hàng. Theo báo cáo tại Sở giao dịch thì nghiệp vụ KDNT giao ngay chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong doanh số giao dịch. Lý do xuất phát từ thói quen giao dịch của khách hàng. Khách hàng vẫn chưa thấy được sự cần thiết phải giao dịch kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Chủ yếu khách hàng thực hiện giao dịch giao ngay với mục đích thanh toán các hợp đồng xuất nhập khẩu.

    1. Nghiệp vụ KDNT theo hợp đồng kỳ hạn

    Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy các giao dịch kỳ hạn hầu như mới phát triển vào giữa năm 1998 trở lại đây, tức là sau khi có Quyết định số 16 và 17/1998-NHNN7 ngày 10/01/1998 của Thống đốc NHNN quy định về việc ấn định tỷ giá

    mua bán ngoại tệ kỳ hạn, hoán đổi của các TCTD được phép hoạt động giao dịch ngoại hối kỳ hạn, hoán đổi.

    Mục đích chính của giao dịch kỳ hạn là nhằm bảo hiểm rủi ro ngoại hối khi tỷ giá thay đổi vì trong hoạt động xuất nhập khẩu, rủi ro về tỷ giá là không thể tránh khỏi nếu như một trong hai bên mua bán thanh toán bằng ngoại tệ.

    Về phương diện lý thuyết cũng như thực tế, tỷ giá giao dịch được xác định trên cơ sở tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền. Ở Việt Nam, tỷ giá kỳ hạn USDVND được xác định dựa theo tỷ giá chính thức do NHNN công bố và chênh lệch lãi suất giữa USD do Cục dữ trữ liên bang Mỹ công bố và lãi suất cơ bản VND do NHNN công bố. Quy định về cách tính giá kỳ hạn USDVND theo lãi suất cơ bản thật ra chỉ có tác dụng tạo ra khung trần và sàn cho tỷ giá kỳ hạn, còn về tỷ giá thực tế được giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng hoặc giữa các ngân hàng với nhau thì căn cứ vào lãi suất thực tế mà 2 bên sẵn sàng đi vay và cho vay. Tuy nhiên, NHNN lại không có quy định gì ràng buộc đối với việc giao dịch các đồng ngoại tệ khác USD.

    c/ Nghiệp vụ kinh doanh hoán đổi ngoại tệ

    Tại Việt Nam, từ khi có Quyết định số 203/QĐ/NHNN13 ngày 20/09/1994 của Thống đốc NHNN ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng; Quyết định số 430/1997/ QĐ/NHNN13 ngày 24/12/1997 của Thống đốc NHNN về việc thực hiện giao dịch hoán đổi giữa NHNN với các NHTM; Quyết định số 17/1998/QĐ/NHNN7 của Thống đốc NHNN ngày 10/01/1998 kèm theo quy chế giao dịch ngoại hối thì nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ đã thực sự có ý nghĩa trên thị trường ngoại hối.

    • Trình tự thực hiện nghiệp vụ hoán đổi giữa Sở giao dịch và các chi nhánh trong hệ thống diễn ra như sau:
    • Khi các chi nhánh NHNo&PTNT VN có nhu cầu cho vay khách hàng một loại ngoại tệ mà chi nhánh không thể huy động đủ hoặc không có nguồn huy động (ví dụ như JPY, AUD v.v), trong khi đó chi nhánh lại có nguồn huy động một loại ngoại tệ khác thì chi nhánh có thể yêu cầu được thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (SWAP). Tuy nhiên, trước khi thực hiện SWAP với Sở giao dịch, chi nhánh phải có tờ trình Tổng Giám Đốc xin phép được thực hiện. Căn cứ theo phê duyệt của

    Tổng Giám đốc, phòng KDNT Sở giao dịch sẽ chào điểm SWAP và thoả thuận những điều khoản trong hợp đồng với chi nhánh rồi thực hiện cân bằng trên thị trường liên ngân hàng. Trong trường hợp cần thiết phải giao dịch với NHNN (khi thiếu VND chẳng hạn), NHNo&PTNT VN gửi đề nghị bằng văn bản đến NHNN (Vụ chính sách tiền tệ) trong đó ghi rõ số liệu chứng minh tình hình thiếu vốn khả dụng bằng đồng VN để NHNN xem xét, quyết định.

    • Khi được NHNN chấp thuận, NHNo&PTNT VN thực hiện hoán đổi ngoại tệ với NHNN theo mẫu hợp đồng hoặc thực hiện qua hệ thống giao dịch trên mạng
    • Việc chuyển USD để bán cho NHNN phải được thực hiện và kết thúc chậm nhất trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo sau ngày ký hợp đồng hoán đổi ngoại tệ (hoặc ngày xác nhận giao dịch hoán đổi ngoại tệ qua mạng Reuters). Ngay sau khi nhận được báo có ngoại tệ, NHNN chuyển tiền VND cho NHNo&PTNT VN thực hiện hoán đổi ngoại tệ.
    • Việc chuyển VND để mua lại USD từ NHNN phải được thực hiện và kết thúc chậm nhất trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo sau ngày kết thúc hợp đồng giao dịch hoán đổi ngoại tệ (hoặc ngày kết thúc kỳ hạn giao dịch hoán đổi ngoại tệ đã xác định trên mạng Reuters). Ngay sau khi nhận được báo có VND, NHNN chuyển USD cho ngân hàng thực hiện hoán đổi ngoại tệ.

    Việc ban hành quy chế về giao dịch hoán đổi ngoại tệ thực sự là cần thiết và có ý nghĩa. Xuất phát từ nhu cầu giao dịch hoán đổi của ngân hàng nhằm đáp ứng kịp thời cho khách hàng cũng như cân đối ngoại tệ cho chính bản thân ngân hàng. Tuy nhiên, giao dịch hoán đổi trong thời gian qua tuy có tăng nhưng còn rất hạn chế và chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh số hoạt động tại NHNo

    d/ Nghiệp vụ KDNT theo hợp đồng tương lai

    Đến nay, nghiệp vụ này vẫn chưa được thực hiện ở Việt Nam. Các NHTM và TCTD chưa nhận được những văn bản pháp luật hướng dẫn về nghiệp vụ này. Do đó, trong tương lai gần, nghiệp vụ này sẽ chưa được thực hiện tại Sở quản lý.

    e/ Nghiệp vụ KDNT theo quyền chọn

     

    Theo quy định 1452/2004/QĐ-NHNN, nếu một TCTD muốn thực hiện giao dịch quyền chọn của một đồng ngoại tệ với VND thì phải xin phép NHNN. Trường hợp giao dịch quyền chọn các loại ngoại tệ khác thì TCTD được chủ động giao dịch. Thủ tục xin phép thực hiện giao dịch quyền chọn yêu cầu TCTD phải có quy trình giao dịch cụ thể, chặt chẽ, phải có biện pháp kiểm soát rủi ro phát sinh. Điều này đòi hỏi TCTD trước hết phải có một hệ thống chương trình quản trị rủi ro hỗ trợ vì những công thức toán học liên quan đến tính giá quyền chọn rất phức tạp, phương pháp cân bằng trạng thái quyền chọn cũng không phải dễ thực hiện nếu chỉ tính toán bằng những biện pháp thủ công. Hiện tại, NHNo&PTNT VN mà đại diện là Sở giao dịch đang phối hợp với những chuyên gia nước ngoài để hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro và tính giá quyền chọn nhằm sớm đưa vào triển khai thí điểm những giao dịch quyền chọn đầu tiên. Sở giao dịch cũng đang tìm kiếm những khóa học quốc tế nhằm đưa các cán bộ của phòng KDNT đi tập huấn và học hỏi kinh nghiệm.

    2.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHNo&PTNTVN

    2.2.1. Doanh số thực hiện

    Bảng 2.8: Doanh số thực hiện hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN qua các năm

              (Đơn vị: Triệu USD)
                   
      2007 2008 2009 2010   6 tháng đầu  
                năm 2011  
                   
    Doanh 2.527,25 6.127,97 6.664,76 6.199,98   3,444,04  
    số mua              
                   
    Doanh 2.545,30 6.181,15 6.651,12 6.155,72   3.426,51  
    số bán              
                   

    (Nguồn: Tổng hợp số liệu KDNT của toàn hệ thống từ hệ thống hạch toán)

     

    Biểu đồ 2.1: Doanh số mua và bán ngoại tệ tại NHNo&PTNT VN qua các năm

    Nhìn trên Bảng 2.8 và Biểu đồ 2.1 ta có thể thấy doanh số thực hiện giao dịch KDNT tại NHNo&PTNT VN đã có sự tăng trưởng qua các năm (đặc biệt năm 2008 đã có sự tăng trưởng hơn nhiều so với năm 2007). Sau đó từ năm 2008, doanh số giao dịch ổn định và đều có xu hướng tăng qua các năm (trong năm 2010 có xu hướng giảm tuy nhiên không đáng kể). Điều này một phần được lý giải do trong năm 2010 thị trường ngoại tệ trở nên căng thẳng vào cuối năm, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do tăng vọt, nguồn cung USD trở nên khan hiếm. Bên cạnh đó lượng USD được NHNN bán hỗ trợ giảm hơn rất nhiều (giảm 74% so với năm 2009). Tuy vậy có thể thấy NHNo&PTNT VN đã tích cực tìm các biện pháp thu hút USD để phục vụ cho nhu cầu của khách hàng và của toàn hệ thống và cũng đã đáp ứng khá tốt nhu cầu của khách hàng cũng như của toàn hệ thống. Thêm vào đó, Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị của NHNo&PTNT VN cũng đã đồng ý cho Sở giao dịch áp dụng cơ chế chi hỗ trợ nội bộ cũng như tính phí nội bộ hai chiều giúp cho việc điều hoà tốt hơn nguồn ngoại tệ phục vụ hệ thống.

    Tiếp theo khi nhìn Bảng số liệu 2.9 đến Bảng số liệu 2.12(xem các bảng số liệu ở các trang tiếp theo) ta có thể thấy doanh số thực hiện hoạt động KDNT của Sở giao dịch chiếm tỷ trọng đáng kể so với doanh số giao dịch của toàn hệ thống (tỷ lệ trung bình chiếm trên dưới 80%). Đặc biệt đối với với các giao dịch kinh doanh EUR và JPY doanh số giao dịch của Sở giao dịch gần như chiếm tỷ lệ tuyệt đối (trong những năm 2008-2009). Điều này được lý giải bởi Sở giao dịch là trung tâm đầu mối được giao thực hiện toàn bộ các chức năng KDNT của toàn hệ thống và có

    nhiệm vụ điều tiết ngoại tệ của toàn hệ thống. Do vậy có thể thấy, hoạt động tự doanh của các chi nhánh NHNo&PTNT VN hiện nay vẫn chưa nhiều và chủ yếu thực hiện mua bán thông qua Sở giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    Tuy vậy qua biểu đồ 2.2 và biểu đồ 2.3 (các trang tiếp theo), ta thấy rằng tỷ trọng doanh số mua và bán đồng EUR và JPY của Sở giao dịch trong tổng doanh số mua và bán của toàn hệ thống chủ yếu vẫn giữ ở mức ổn định, không có quá nhiều thay đổi (trung bình vẫn chiếm trên 80%). Riêng trong năm 2010, tỷ trọng doanh số mua và bán ngoại tệ của tất cả các loại tiền có xu hướng giảm. Vì như đã phân tích ở trên, năm 2010 do gặp nhiều khó khăn và nguồn bán ngoại tệ từ NHNN cho NHNo&PTNT VN giảm mạnh, do đó nên các chi nhánh trong thời gian đó sẽ phải tự chủ động nhiều hơn trong hoạt động tự doanh của mình. Bên cạnh đó đối với giao dịch kinh doanh USD tỷ trọng của Sở giao dịch so với toàn hệ thống có xu hướng giảm nhẹ trong các năm qua. Điều này cũng không phải là một tín hiệu xấu, điều này cho thấy hoạt động tự doanh của các chi nhánh đã có hiệu quả hơn, các chi nhánh NHNo&PTNT VN đã chủ động hơn trong việc thu hút nguồn USD từ khách hàng và từ đó tự cân đối nguồn cho hoạt động KDNT của chính mình.

      Bảng 2.9: Doanh số mua ngoại tệ của Sở giao dịch so với doanh số mua ngoại tệ của toàn hệ thống  
                          (Đơn vị: Triệu nguyên tệ)  
                                 
        2008     2009   2010 6 tháng đầu năm 2011    
                                 
      Sở giao   Toàn hệ   Sở giao   Toàn hệ Sở giao   Toàn hệ Sở giao Toàn hệ    
      dịch   thống   dịch   thống dịch   thống dịch thống    
                                 
    USD 4.258,44   5.088,11   4.090,20   5.353,95 3.076,53   4.804,42 1.468,48 2.432,19    
                                51
    EUR 249,39   291,94   356,55   386,52 425,42   459.33 299,57 324,34  
               
                                 
    JPY 9.746,35   10.166,50   8.465,71   9.455,78 6.665,25   7.129,23 1.930,51 3.058.57    
                             
            (Nguồn: Tổng hợp số liệu KDNT của Sở giao dịch và toàn hệ thống lấy từ hệ thống hạch toán)  
          Bảng 2.10: Tỷ trọng doanh số mua của Sở giao dịch so với toàn hệ thống      
                            (Đơn vị: %)  
                               
        2008     2009   2010 6 tháng đầu năm 2011    
                                 
      Sở giao   Toàn hệ   Sở giao   Toàn hệ Sở giao   Toàn hệ Sở giao Toàn hệ    
      dịch   thống   dịch   thống dịch   thống dịch thống    
                                 
    USD 83,69 100 76,40 100 64,04 100 60,38 100
                     
    EUR 85,43 100 92,25 100 90,86 100 92,36 100
                     
    JPY 95,87 100 89,53 100 93,49 100 63,12 100
                     

    (Nguồn: Tổng hợp số liệu KDNT của Sở giao dịch và toàn hệ thống lấy từ hệ thống hạch toán)

    Bảng 2.11: Doanh số bán ngoại tệ của Sở giao dịch so với doanh số bán ngoại tệ của toàn hệ thống

    (Đơn vị: Triệu nguyên tệ)

      2008     2009   2010 6 tháng đầu năm 2011 52
                           
      Sở giao   Toàn hệ Sở giao   Toàn hệ Sở giao   Toàn hệ Sở giao Toàn hệ thống  
      dịch   thống dịch   thống dịch   thống dịch    
                             
    USD 4.298,32   5.129,91 4.405,98   5.325,17 2.748,69   4.780,53 1.460,58 2.411,06  
                             
    EUR 248,26   288,94 354,55   382,37 275,11   452,17 299,25 325,45  
                             
    JPY 9.742,61   10.155,16 8.492,42   9.464,35 6.185,08   7.074,19 1.928,85 3.074,77  
                             

    (Nguồn: Tổng hợp số liệu KDNT của Sở giao dịch và toàn hệ thống lấy từ hệ thống hạch toán)

     

    Bảng 2.12: Tỷ trọng doanh số bán ngoại tệ của Sở giao dịch so với doanh số bán ngoại tệ của toàn hệ thống

                            (Đơn vị: %)  
                                 
        2008     2009   2010 6 tháng đầu năm 2011    
                                 
      Sở giao   Toàn hệ   Sở giao   Toàn hệ Sở giao   Toàn hệ Sở giao Toàn hệ    
      dịch   thống   dịch   thống dịch   thống dịch thống    
                                53
    USD 83,79   100   82,74   100 57,50   100 60,58 100  
               
                                 
    EUR 85,92   100   92,72   100 60,84   100 91,95 100    
                                 
    JPY 95,94   100   89,73   100 87,43   100 62,73 100    
                             
            (Nguồn: Tổng hợp số liệu KDNT của Sở giao dịch và toàn hệ thống lấy từ hệ thống hạch toán)  

    Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng doanh số mua từng loại ngoại tệ của Sở giao dịch so với tổng doanh số mua từng loại ngoại tệ của NHNo&PTNT VN qua các năm

    Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng doanh số bán từng loại ngoại tệ của Sở giao dịch so với tổng doanh số bán từng loại ngoại tệ của NHNo&PTNT VN qua các năm

    2.2.2. Lợi nhuận

    Thu nhập từ hoạt động KDNT là chênh lệch giữa tỷ giá bán ra và tỷ giá mua vào. Chênh lệch này càng lớn thì càng có lợi cho ngân hàng và ngược lại. Phương châm tìm kiếm lợi nhuận của NHNo&PTNT VN là thông qua phân tích, theo dõi tình hình biến động kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước để đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn.

    Tuy có nhiều thời gian gặp khó khăn trong cung ứng ngoại tệ đáp ứng nhu cầu của các chi nhánh trên toàn hệ thống nhằm kịp thời phục vụ theo yêu cầu của khách

    hàng hoặc có thời điểm tỷ giá biến động bất thường, song nhìn chung hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN hiện nay vẫn được đảm bảo an toàn và kinh doanh có lãi. Tại các chi nhánh ngoài một phần tự doanh chiếm không đáng kể, việc mua bán ngoại tệ với khách hàng thường được thực hiện theo tỷ giá căn cứ trên tỷ giá mua bán ngoại tệ với Sở giao dịch, do vậy rủi ro về lỗ không cao. Còn tại Sở giao dịch, hiện tại việc KDNT vẫn được đảm bảo an toàn và kinh doanh có do Sở giao dịch đã thực hiện nghiêm túc nguyên tắc hàng đầu là mua bán ngoại tệ phải tiến hành đồng thời để cân đối được trạng thái ngoại hối đề phòng các biến động của tỷ giá.

    Bên cạnh đó, trong năm 2010, khi NHNN hai lần đã tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng, Sở giao dịch đã tận dụng rất tốt những thời điểm biến động tỷ giá có lợi để cân bằng trạng thái ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng mang lại lợi nhuận cao cho NHNo&PTNT VN. Kết quả kinh doanh năm 2010 lãi: 244,47 tỷ đồng7. Trong 6 tháng đầu năm 2011, Sở giao dịch cũng đã lựa chọn tời cơ phù hợp biến động thị trường, thu đựoc lợi nhuận từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá. Trong 6 tháng đầu năm 2011, Sở giao dịch đã đem về lợi nhuận là lãi 248,53 tỷ đồng cho NHNo&PTNT VN 8.

    2.2.3. Sự hài lòng của khách hàng

    Có thể thấy rằng nhu cầu về ngoại tệ từ các khách hàng của chi nhánh luôn được đáp ứng một cách kịp thời thể hiện qua việc doanh số mua bán ngoại tệ của toàn hệ thống luôn được duy trì tốt và có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.

    Ngay cả tại một số thời điểm xảy ra tình trạng căng thẳng về ngoại tệ, NHNo

    đều đã có các phương án đối phó, giải quyết một cách linh hoạt và hiệu quả, góp phần nâng cao thêm uy tín của toàn hệ thống với mục tiêu đáp ứng “đủ, an toàn, chính xác, kịp thời”. Ban lãnh đạo NHNo&PTNT VN đã có những theo dõi sát sao tình hình diễn biến của thị trường và sau đó, thông qua trung tâm đầu mối là Sở giao dịch đã đưa ra những chính sách áp dụng một cách linh hoạt và khéo léo nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng. NHNo&PTNT VN đã áp dụng linh hoạt một số

    • Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2010 của Sở giao dịch.

     

    • Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh 6 tháng đầu năm 2011 của Sở giao dịch.

     

    biện pháp như: áp dụng tỷ giá cạnh tranh theo sát diễn biến của thị trường, hay như tại những thời điểm thị trường khan hiếm ngoại tệ, tỷ giá biến động tăng, NHNo&PTNT VN đã cho phép Sở giao dịch mua USD từ NHNN, khai thác từ thị trường liên ngân hàng nhằm cân đối nguồn cung cầu ngoại tệ trong hệ thống và bắt buộc phải thực hiện áp dụng phí mua bán ngoại tệ trong thời điểm này để thu hút nguồn ngoại tệ từ khách hàng xuất khẩu nhằm cân đối ngoại tệ cho khách hàng nhập khẩu.

    2.2.4. Quy mô thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Từ những năm đầu thực hiện hoạt động KDNT với việc thực hiện với hơn 20 đối tác trên thị trường liên ngân hàng thì đến những năm gần đây, số lượng đối tác trên thị trường liên ngân hàng trong và ngoài nước mà NHNo&PTNT VN đã thực hiện giao dịch đã lên đến con số hơn 40 ngân hàng. Điều này cho thấy hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN đã được thực hiện một cách khá hiệu quả, bên cạnh đó việc thực hiện với nhiều đối tác cũng tạo cơ hội cho NHNo&PTNT VN có được một tỷ giá có lợi nhất cho mình. Số lượng chi nhánh trong toàn hệ thống được phép thực hiện giao dịch KDNT cũng đã tăng dần trong những năm qua. Bên cạnh đó, có thể thấy tại phòng KDNT tại Sở giao dịch, nếu như trước đây số nhân viên thực hiện hoạt động này chỉ là dưới 10 người thì quy mô phòng hiện đã được mở rộng với gần 20 nhân viên, đội ngũ nhân viên này đều là những người đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế, tài chính với độ tuổi trẻ, với những ước mơ hoài bão lớn, đồng thời khả năng tiếp xúc với công nghệ cũng như những thông tin mới khá nhanh nhạy và sắc bén.

    Hiện nay, nhận thức được vai trò đầu tàu của mình trong hoạt động KDNT của toàn hệ thống, các cán bộ thực hiện hoạt động KDNT tại Sở giao dịch đặc biệt là ban lãnh đạo cũng đã chủ động tích cực trong việc triển khai những công nghệ mới, đồng thời học hỏi và đề xuất tham gia những khoá học về các giao dịch quyền chọn để sẵn sàng tham gia sau khi được sự cho phép của NHNN. Bên cạnh đó, ban lãnh đạo của NHNo&PTNT VN cũng đã thể hiện sự ủng hộ, nhất trí và khuyến khích các cán bộ học hỏi thêm kinh nghiệm từ các ngân hàng nước ngoài. Như vậy, trong tương lai quy mô hoạt động KDNT của hệ thống NHNo&PTNT VN sẽ không chỉ tăng trưởng về số lượng mà chất lượng chắc chắn cũng sẽ tăng trưởng mạnh.

    2.2.5. Mở rộng mạng lưới khách hàng và đối tác

    • Việt Nam hiện nay, ngoài các ngân hàng, còn có các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm tham gia hoạt động trong lĩnh vực tài chính

    – ngân hàng. Các tổ chức tài chính – tín dụng này đang cạnh tranh gay gắt với nhau.

    Tuy nhiên, NHNo&PTNT VN luôn khẳng định là một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn, chủ đạo ở Việt Nam với vị thế và uy tín ngày càng lớn trong lòng các khách hàng và các ngân hàng trong và ngoài nước. Tính đến thời điểm hiện tại, năm 2011, NHNo&PTNT VN đang duy trì quan hệ đại lý với hơn 1000 ngân hàng tại 97 quốc gia và vùng lãnh thổ9. Với việc phát triển một mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp như vậy, NHNo&PTNT VN có thể khai thác tốt nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, góp phần tăng thêm thu nhập cho NHNo&PTNT VN.

    Bên cạnh đó, với mạng lưới đối tác rộng lớn như hiện nay, NHNo&PTNT VN đã dần dần tận dụng được những cơ hội hợp tác với các ngân hàng nước ngoài như việc tiếp cận các đối tác đề nghị họ cung ứng dịch vụ ngoại hối hoặc tận dụng những kinh nghiệm của họ trong lĩnh vực đào tạo nghiệp vụ. Có thể nói, NHNo&PTNT VN cũng đã nhận được rất nhiều trợ giúp có hiệu quả từ các ngân hàng đối tác. Một trong những trợ giúp đó là việc hàng năm, các ngân hàng đối tác đều có mời các cán bộ trong hệ thống NHNo&PTNT VN tham dự các khóa học, khóa đào tạo trong và ngoài nước nhằm nâng cao trình độ và kỹ năng xử lý nghiệp vụ của mỗi cán bộ nói chung và cán bộ KDNT nói riêng. Không những thế các đối tác còn rất sẵn lòng chia sẻ những kinh nghiệm quý báu của họ trong việc thực hiện hoạt động KDNT cũng như các hoạt động khác, bên cạnh đó cũng chào mời sử dụng các phần mềm hiện đại tiên tiến phục vụ cho các giao dịch KDNT. Cũng nhờ mạng lưới đối tác này mà NHNo&PTNT VN cũng đã được phép sử dụng các hạn mức tài trợ thương mại, hạn mức thấu trên tài khoản Nostro, hạn mức xác nhận L/C… tạo thêm các dịch vụ mới nhằm đáp ứng thêm các nhu cầu của khách hàng.

    9 Nguồn: Theo danh sách các ngân hàng đại lý năm 2011 do phòng Ngân hàng đại lý Sở giao dịch cung cấp.

    CHƢƠNG 3 : GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NHNO&PTNT VN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

    3.1. Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế và những khó khăn, thách thức đối với NHNo&PTNT VN trong hoạt động KDNT

    Năm 2006, Việt Nam đã gia nhập nhập WTO. Từ ngày 1111/01/2007, Việt Nam phải thực hiện cam kết trong WTO về mở cửa thị trường ngân hàng. Điều này có nghĩa là NHNo&PTNT VN sẽ phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thách thức trong hoạt động ngân hàng nói chung và trong hoạt động KDNT nói riêng. Để có giải pháp tháo gỡ khó khăn và vượt qua thách thức, phần dưới đây phân tích các khó khăn và thách thức của NHNo&PTNT VN phải đối mặt.

    3.1.1. Những khó khăn

    3.1.1.1. Chính sách thắt chặt quản lý ngoại tệ của Nhà nước

    Trong tháng 04/2011 vừa qua, thủ tướng Chính phủ vừa chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chuẩn bị một loạt văn bản mới để điều chỉnh, bổ sung việc quản lý ngoại hối thời gian tới. Trong thời gian qua khi NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, thận trọng đã đem lại một số tác dụng như việc quản lý tiền tệ, tín dụng, lãi suất, thị trường ngoại tệ, vàng đang đi vào hướng ổn định; hoạt động kinh doanh thu đổi ngoại tệ bước đầu đã lập lại trật tự theo qui định của pháp luật. Vì thế trong tương lai, để tiếp tục triển khai có kết quả cao hơn nữa các giải pháp chính sách tiền tệ, quản lý ngoại tệ, Thủ tướng đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước và các bộ liên quan cần tập trung triển khai các nhiệm vụ mới. Trong đó có việc trong tháng 4/2011, Ngân hàng Nhà nước phải trình Chính phủ việc ban hành nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính phủ về xử phạt

    • phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo hướng tập trung xử lý các vi phạm về quản lý ngoại hối, kinh doanh vàng trong đó có các chế tài để xử lý nghiêm các vi phạm liên quan đến việc niêm yết, giao dịch, thanh toán, quảng cáo, mua bán, vận chuyển, thu đổi ngoại tệ, vàng không đúng các quy định pháp luật, kể cả việc đình chỉ, rút giấy phép hoạt động, tịch thu tài sản vi phạm. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước phải ban hành ngay thông tư hướng dẫn nhằm

    kiểm soát chặt hoạt động thanh toán, niêm yết, quảng cáo bằng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam. Đáng chú ý là Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước ban hành qui định về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối thay thế qui định hiện hành theo hướng giảm giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ dương và tổng trạng thái ngoại tệ âm của tổ chức tín dụng. Cũng theo chỉ đạo của Thủ tướng, Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành qui định mức ngoại tệ tiền mặt tối đa người cư trú được phép mang ra nước ngoài không phải khai báo hải quan tối đa là 5.000 đô la Mỹ. Trong quý 2/2011, Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu, ban hành các quy định về việc ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu ngoại tệ chính đáng và hợp pháp của doanh nghiệp và người dân ở mức hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam.

    Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu thực hiện ngay việc quy định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ đối với cá nhân ở mức 3%; đồng thời, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ thêm 2%. Những quy định này đã được Ngân hàng Nhà nước ban hành và đã thực hiện từ hôm 13/04/2011. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan thành lập tổ công tác liên ngành để kiểm tra, giám sát chặt chẽ luồng ngoại tệ cho vay và thanh toán theo danh mục do Bộ Công Thương đề xuất.

    Như vậy, với việc thắt chặt quản lý ngoại tệ bằng khá nhiều các biện pháp nêu trên là một khó khăn không nhỏ không chỉ đối với NHNo&PTNT VN nói riêng mà cho toàn bộ hệ thống NHTM nói chung. Việc quy định nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đồng thời để mức lãi suất tiền gửi ngoại tệ ở mức thấp sẽ khó thu hút được nguồn ngoại tệ gửi vào các ngân hàng, điều này càng tạo mức độ khan hiếm ngoại tệ của các ngân hàng. Bên cạnh đó, việc giảm hạn mức trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng cũng sẽ khiến các ngân hàng phải cẩn trọng và suy tính kỹ càng trong việc mua bán ngoại tệ để không bị vượt quá giới hạn cho phép.

    3.1.1.2. Nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp ngày càng gia tăng

    Nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp nói chung và của của thị trường tiền tệ nói riêng vẫn luôn phát sinh và đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, theo tình hình như hiện nay khi mà các ngân hàng bắt buộc phải tăng tỷ lệ dự trữ bắt

    buộc, rõ ràng nguồn vốn dành cho hoạt động cho vay ngoại tệ không được dồi dào, các ngân hàng sẽ chuyển sang việc hạn chế các đối tượng cho vay. Bên cạnh đó, khi tỷ giá đã có xu hướng ổn định, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ chuyển sang hình thức mua ngoại tệ để thanh toán, thay vì tranh thủ sử dụng nguồn vốn vay USD như ngày xưa.

    Không những thế, các cá nhân vẫn luôn có nhu cầu mua ngoại tệ để đi thăm người nhà hoặc gửi tiền cho con đi du học, đi du lịch, tuy nhiên hiện nay do những yêu cầu bắt buộc về những thủ tục giấy tờ cần thiết để xác minh nguồn gốc việc sử dụng USD nên ít nhiều gây trở ngại đến việc cung ứng cho người dân. Trên thực tế, cá nhân cũng có nhu cầu mua USD rất nhiều, tuy vậy do thủ tục khó khăn, phức tạp và các ngân hàng vẫn chưa đủ ngoại tệ để cung ứng cho người dân, đây thực sự là thách thức lớn đối với NHNo&PTNT VN nếu muốn đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ cho bộ phận này.

    Như vậy có thể thấy nhu cầu ngoại tệ trên thị trường vẫn luôn có và áp lực của các ngân hàng là làm cách nào để có thể đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ cho các khách hàng, khiến họ hài lòng và trở thành khách hàng thường xuyên của ngân hàng.

    3.1.1.3. Hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn

    Trong thời gian vừa qua cũng như trong thời gian tới các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam đã, đang và sẽ gặp nhiều khó khăn hơn do các yếu tố như lạm phát, lãi suất, nhất là việc tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp sẽ ngày càng khó khăn hơn. Với mức lãi suất cao như hiện nay, hoạt động kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hệ lụy của lãi suất cao sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam thông qua giá bán. Khi vay với giá cao đã buộc nhà sản xuất phải tính chi phí đó vào giá thành. Sức cạnh tranh của hàng hoá kém đi, đồng nghĩa với việc các hợp đồng xuất khẩu sẽ giảm và nguồn thu ngoại tệ từ các doanh nghiệp này cũng không còn dồi dào như trước. Điều này đặt NHNo&PTNT VN nói riêng cũng như các NHTM khác vào một thực trạng là nguồn cung ứng ngoại tệ từ các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ giảm.

    Bên cạnh khó khăn chung về việc tiếp cận vốn vay một cách không dễ dàng cùng mức lãi suất cao, một số ngành xuất khẩu vốn đang là thế mạnh của Việt Nam cũng đang gặp một số khó khăn riêng của ngành. Đầu tiên có thể kể đến những khó khăn của ngành dệt may. Do kinh tế Mỹ và EU vẫn còn đang gặp nhiều khó khăn, nên dự báo khối luợng hàng dệt may xuất khẩu trong năm nay sẽ ít hơn so với cùng kỳ năm trước. Ông Phạm Xuân Hồng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam dự báo, nhiều thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam sẽ gặp khó khăn hơn trong quý 3, 4 năm 2011, nên sức tiêu thụ tại những thị trường này đang giảm10. Chính vì vậy, năng lực sản xuất của nhiều doanh nghiệp sẽ dôi ra, dẫn đến việc lo thiếu đơn hàng. Thêm một lý do khiến thị trường xuất khẩu dệt may đột ngột có thay đổi là việc dịch chuyển đơn hàng trở lại sản xuất ở Trung Quốc. Trong 2 năm gần đây, Trung Quốc điều chỉnh cơ cấu và chính sách phát triển kinh tế, dẫn đến chi phí sản xuất hàng dệt may tại Trung Quốc tăng cao. Vì vậy, đã có làn sóng dịch chuyển đơn hàng sản xuất từ Trung Quốc sang các nước khác và Việt Nam là một trong những điểm đến của các nhà nhập khẩu hàng dệt may thế giới. Nhưng hiện tại, kinh tế Trung Quốc đang lạm phát ở mức cao. Trong tình hình này, ngành dệt may được quan tâm trở lại, Trung Quốc đã hạ giá để cạnh tranh, thu hút đơn hàng từ nhà nhập khẩu. Vì Trung Quốc có lợi thế về nguồn nguyên liệu tại chỗ, năng lực sản xuất nên dễ đưa ra giá bán cạnh tranh so với các nước khác trong khu vực.

    • nhóm hàng nông sản, ông Đỗ Hà Nam, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Intimex, cho biết các doanh nghiệp nước ngoài đã đẩy mạnh mua các mặt hàng nông sản của Việt Nam và đưa toàn bộ vào kho ngoại quan11. Với lợi thế được vay vốn với lãi suất thấp, các doanh nghiệp này đã thao túng thị trường nông sản Việt Nam trong thời gian qua. Ở khía cạnh tích cực, nông dân đã bán được hàng hóa thuận lợi hơn trước. Tuy nhiên, nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra, doanh nghiệp Việt Nam sẽ từng bước lụn bại. Tình trạng này kéo dài đã khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông sản trong nước chuyển sang gia công cho doanh nghiệp nước ngoài. Cụ thể, trong ngành điều, sau khi mua nguyên liệu ở Việt Nam, các
    • Nguồn: Bài viết “Sản xuất dệt may- Nhiều khó khăn mới” của tác giả Mỹ Hạnh đăng trên website: sggp.org.vn

     

    • Nguồn: Bài viết “Doanh nghiệp xuất khẩu lo 6 tháng cuối năm” của tác giả Sơn Nghĩa đăng trên Thời báo Kinh tế Sài gòn Online, website: thesaigontime.vn.

    thương nhân từ Indonesia, Ấn Độ… đến từng doanh nghiệp để thuê gia công lại. Đây sẽ là xu hướng tất yếu, nếu mỗi doanh nghiệp không đủ nội lực và không nhận được hỗ trợ cần thiết để tồn tại trong bối cảnh nền kinh tế còn khó khăn kéo dài.

    Một ngành xuất khẩu chủ lực khác của Việt Nam trong nhiều năm qua là mặt hàng gỗ cũng đang có dấu hiệu chững lại, với mức tăng trưởng thấp trong sáu tháng đầu năm 2011. Theo ông Trần Quốc Mạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa), hiện nay tốc độ tăng trưởng trung bình năm của ngành gỗ xuất khẩu đã giảm từ mức 35% xuống 15,4%12. Nguyên nhân chính vẫn là do nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh, nhưng giá xuất khẩu vẫn chững lại. “Đáng lo ngại nhất là một số mặt hàng gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ đang đối mặt với nguy cơ bị áp thuế chống bán phá giá”, ông Mạnh nói. Những thông tin này cần sớm được cảnh báo cho toàn bộ doanh nghiệp xuất khẩu gỗ trong nước. Việc Mỹ có

    • định tiếp tục áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng gỗ của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam. Hiện nay một số doanh nghiệp gỗ Trung Quốc đầu tư sang Việt Nam làm hàng xuất khẩu nhằm tránh thuế từ Mỹ càng gây khó khăn hơn cho ngành xuất khẩu gỗ Việt Nam.

    Từ những khó khăn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam kể trên, có thể thấy thực tế rằng các doanh nghiệp này đã, đang và sẽ đối mặt với khoảng thời gian khá khó khăn, lượng hàng xuất khẩu có xu hướng giảm đi. Như chúng ta cũng biết, nguồn thu ngoại tệ từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là nguồn thu ngoại tệ chủ chốt của một quốc gia. Do vậy, khi các các doanh nghiệp xuất nhập khẩu gặp khó khăn và giảm doanh số nghĩa là nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam cũng sẽ giảm đi. Điều này thực tế sẽ gây khó khăn cho thị trường liên ngân hàng nói chung và NHNo&PTNT VN nói riêng. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là khách hàng của NHNo&PTNT VN cũng không nằm ngoài xu hướng chung kể trên. Do vậy, thực tế rõ ràng là nguồn mua ngoại tệ từ các khách hàng này sẽ có xu hướng giảm. Để có thể cân bằng cung- cầu, NHNo&PTNT VN sẽ phải tìm đến thị trường liên ngân hàng. Tuy vậy, có thể thấy rằng, do là xu

    • Nguồn: Bài viết “Doanh nghiệp xuất khẩu lo 6 tháng cuối năm” của tác giả Sơn Nghĩa đăng trên Thời báo Kinh tế Sài gòn Online, website:thesaigontime.vn

     

    hướng chung của toàn thị trường nên nhu cầu về ngoại tệ tăng cao sẽ không phải là nhu cầu riêng của NHNo&PTNT VN mà cũng là nhu cầu chung của các NHTM khác. Điều này khiến cho khó khăn của NHNo&PTNT VN càng tăng do lượng cầu về ngoại tệ tăng trong khi lượng cung có xu hướng giảm.

    Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, như đã phân tích ở trên, do chính sách thắt chặt quản lý ngoại tệ từ NHNN, dẫn đến việc nguồn tín dụng cho vay ngoại tệ sẽ suy giảm, lãi suất không còn thấp như trước, điều này sẽ khiến các doanh nghiệp nhập khẩu đối mặt với khó khăn trong việc tìm nguồn ngoại tệ để thanh toán cho các hợp đồng của mình. Ngày 24/3/2011 Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 07/2011/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của TCTD đối với khách hàng vay là người cư trú. Thông tư quy định khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ để thanh toán tiền nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ phải có đủ nguồn thu ngoại tệ hoặc được TCTD cam kết bán ngoại tệ để trả nợ. Mục đích ban hành Thông tư nhằm phù hợp với khả năng huy động vốn ngoại tệ ở trong nước của TCTD; kiểm soát tín dụng, hạn chế được các nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa thuộc Danh mục các mặt hàng nhập khẩu không thiết yếu, hàng tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu do Bộ Công thương ban hành theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011; chuyển dần quan hệ huy động – cho vay bằng ngoại tệ trong nước của TCTD sang quan hệ mua – bán ngoại tệ hạn chế tình trạng đô la hoá. Điều này đặt ra một thực tế là NHNo&PTNT VN sẽ phải sẵn sàng cung ứng được lượng ngoại tệ, đáp ứng được nhu cầu cho khách hàng để khách hàng có thể thực hiện việc thanh toán các hợp đồng ngoại của mình. Nếu như trước kia, trong trường hợp thiếu vốn ngoại tệ, NHNo&PTNT VN với uy tín của mình có thể dùng hình thức đi vay tài trợ từ các ngân hàng nước ngoài rồi sau đó tái tài trợ lại cho các doanh nghiệp thông qua các hợp đồng tín dụng ngoại tệ, thì với việc thắt chặt cho vay tín dụng bằng ngoại tệ, các khách hàng sẽ buộc lòng phải chuyển sang việc mua trực tiếp bằng ngoại tệ để thanh toán. Điều này khiến nhu cầu về ngoại tệ tăng, trong khi như đã phân tích ở trên, lượng cung ngoại tệ đang có xu hướng giảm. Đây sẽ là khó khăn khá lớn mà NHNo cần đối mặt và tìm ra các giải pháp phù hợp.

    3.1.1.4. Nền kinh tế thế giới chưa thoát khỏi tình trạng suy thoái

    Có một thực tế đáng buồn là kinh tế nhiều nước vẫn chưa thoát khỏi “mê cung suy thoái”, trong khi bóng ma “suy thoái kép” vẫn đang ám ảnh các nền kinh tế phát triển. Hai năm sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng yếu, trong khi kinh tế châu Âu vẫn vật vã với gánh nặng khủng hoảng nợ và thâm hụt ngân sách cao. Kinh tế Nhật Bản cũng trở nên khó khăn hơn sau trận động đất, sóng thần và vụ nổ nhà máy hạt nhân Fukushima thời gian vừa qua. Nhiều nhà phân tích cho rằng triển vọng kinh tế thế giới, đặc biệt của ba nền kinh tế hàng đầu nói trên, là rất u ám và vẫn đối mặt nguy cơ suy thoái kép.

    Thị trường nhà đất Mỹ -lĩnh vực được coi là châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu- vẫn chưa hồi phục, khi doanh số bán nhà không tăng và các công cụ tài chính có liên quan tới thị trường cho vay thế chấp vẫn tỏ ra kém hiệu quả. Từng khiến các học giả khác “ngỡ ngàng” với dự báo năm 2007 về khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 giữa lúc thế giới còn đang hân hoan với thời kỳ bùng nổ kinh tế, nhà kinh tế Nouriel Roubini của Đại học New York cho rằng tình trạng thất nghiệp cao gần 10% hiện nay ở Mỹ rất khó được cải thiện, và thậm chí có thể tỷ lệ này có thể tăng lên 17% nếu tính cả những lao động tạm thời. Ông nói: “Kinh tế Mỹ phải tạo ra trung bình 150.000 việc làm hàng tháng trong lĩnh vực tư nhân để giữ cho tỷ lệ thất nghiệp không tăng và phải tạo thêm 300.000 việc làm/tháng trong vòng 3 năm tới để đưa thị trường lao động trở lại mức tiền khủng hoảng. Rất ít người tin rằng Mỹ có khả năng tạo đủ số việc làm trên lý thuyết đó, nhất là trong bối cảnh khó khăn hiện nay”13. Theo ông, khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái kép là 40% hoặc cao hơn nữa. Nhà sử học Niall Ferguson (Đại học Harvard) nhìn nhận kinh tế Mỹ theo một khía cạnh khác. Ông lưu ý rằng kể từ năm 2001, tỷ lệ nợ/GDP của nền kinh tế lớn nhất thế giới này đã tăng gấp đôi và đang tiến dần tới “ngưỡng nguy hiểm” 100%. Điều này cho thấy chính sách tài khóa của Mỹ là không ổn định. Trong khi đó, Giáo sư kinh tế Hans-Werner Sinn (Đại học Munich) cho rằng mức sống của người dân Mỹ sẽ xuống cấp sau nhiều năm tăng cao một phần

    • Nguồn: Bài viết “Thế giới vẫn chưa thoát khỏi mê cung suy thoái” của tác giả Khoa Việt đăng trên website baomoi.com.

    nhờ nguồn “vay nợ dồi dào”. Tại châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) mới đây cho rằng các điều kiện của thị trường tiền tệ Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã cải thiện, song tương lai vẫn còn bất trắc.

    Như vậy, có thể thấy các nền kinh tế lớn trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi tình trạng suy thoái. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến các nền kinh tế khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt trong tình trạng suy thoái như hiện nay, người dân sẽ vẫn phải sống trong tình cảnh thắt lưng buộc bụng, ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu của các nước nói chung trong đó có Việt Nam. Như đã phân tích ở trên, khi các doanh nghiệp xuất nhập khẩu gặp khó khăn đồng nghĩa với việc hoạt động KDNT tại các NHTM nói chung và tại NHNo&PTNT VN nói riêng sẽ gặp không ít khó khăn. Bên cạnh đó, việc chưa thoát khỏi tình trạng suy thoái cũng khiến cho các ngân hàng trên thế giới nói chung kể cả những ngân hàng lớn, có uy tín cũng gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh. Điều này khiến cho lãi suất cho các khoản tiền gửi ngoại tệ của NHNo&PTNT VN cũng suy giảm đáng kể. Bên cạnh đó, trước tình hình khó khăn chung như hiện nay, để tránh rủi ro, NHNo&PTNT VN cũng có những quy định chặt chẽ về việc đầu tư các khoản vốn ngoại tệ trên các tài khoản đặt tại nước ngoài, theo đó quy định không được để quá nhiều ngoại tệ tại các tài khoản này. Điều này sẽ làm giảm bớt lãi do hoạt động đầu tư kinh doanh qua đêm từ các tài khoản này mang lại. Việc này sẽ khíến cho nguồn thu nhập từ ngoại tệ tại NHNo&PTNT VN ít đi và từ đó tạo áp lực lên hoạt động KDNT phải thực hiện tốt hơn để có thể đáp ứng được nhu cầu của hệ thống.

    3.1.1.5. Thị trường hối đoái  vẫn chưa hoàn thiện

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ muốn mở rộng, phát triển hơn nữa phải có một nền tảng vững chắc là thị trường hối đoái. Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một thị trường hối đoái hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó mà chỉ ở giai đoạn sơ khai là thị trường giao dịch ngoại tệ và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Mặc dù đã đạt được những thành tích đáng khích lệ song thị trường ngoại tệ liên ngân hàng vẫn bộc lộ một số hạn chế ảnh hưởng tới hoạt động KDNT của NHNo nói riêng và của các NHTM nói chung. Hiện nay, trên thị trường chưa có các nhà môi giới ngoại hối chuyên nghiệp để tạo điều kiện cho cung cầu gặp nhau, hiện nay chức năng này chỉ có Sở giao dịch NHNN đảm nhiệm. Bên cạnh đó việc đối tượng tham gia thị trường

    còn hạn chế cũng là khó khăn chung của các NHTM trong đó bao gồm cả NHNo&PTNT VN. Chúng ta biết rằng trong các tầng lớp dân cư hiện nay còn tồn đọng một lượng ngoại tệ mặt rất lớn. Nếu đối tượng tham gia thị trường được mở rộng không giới hạn sẽ thu hút được một bộ phận lớn dân cư tham gia thị trường, hạn chế được các hoạt động mua bán trên thị trường “chợ đen”. Điều này cũng sẽ tạo cho NHNo&PTNT VN cũng như các NHTM khác có một không gian rộng hơn để giao dịch, có thêm nhiều lựa chọn hơn.

    Thứ hai, thiếu một thị trường tiền tệ hoàn hảo. Thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư các khoản đầu tư ngắn hạn bằng cách mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu kho bạc… Nhưng điều quan tâm hàng đầu của họ là tính lỏng của tài sản đang nắm giữ. Hiện nay tính lỏng của các tài sản này chưa cao, việc thực hiện chuyển đổi tự do trên thị trường chưa phát triển nhiều. Điều này sẽ khiến cho không chỉ NHNo&PTNT VN mà các NHTM khác khó có thế sử dụng các nghiệp vụ như mua, bán, cho vay ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, để từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT.

    Bên cạnh đó, chính sách tỷ giá hiện nay của NHNN là lấy tỷ giá chính thức trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng vào ngày giao dịch trước đó và khống chế biên độ giao động ở mức là +/-5% đang là điểm bất lợi cho không chỉ NHNo&PTNT VN mà cũng khiến các NHTM khác gặp nhiều khó khăn trong KDNT. Trong thời điểm cung cầu thị trường đã vượt xa mức tỷ giá chính thức nhưng biên độ quá hẹp khiến cho NHNo&PTNT VN gặp nhiều khó khăn trong việc niêm yết tỷ giá mua bán, không tạo được sự thu hút với khách hàng.

    Cuối cùng, trình độ hiểu biết của dân chúng về thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường này còn rất hạn chế. Ngay cả các doanh nghiệp Việt Nam cũng chỉ quen với nghiệp vụ mua bán ngoại tệ giao ngay mà chưa có thói quen mua bán kỳ hạn, họ để mặc rủi ro về tỷ giá. Do vậy, các NHTM nói chung và NHNo&PTNT VN nói riêng khó có thể mở rộng các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ vốn có của thị trường ngoại hối như mua bán có kỳ hạn, SWAP, mua bán quyền chọn…

    3.1.2. Những thách thức

    3.1.2.1. Sự cạnh tranh giữa các NHTM trong hoạt động KDNT sẽ ngày càng khốc liệt

    Hiện nay khi mà Việt Nam đã gia nhập WTO, sân chơi chung cho các ngân hàng đã trở nên bình đẳng, đồng thởi cũng trở nên khắc nghiệt hơn nhiều với sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài từ hình thức đơn giản như mở văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam tới việc thành lập cả những ngân hàng 100% vốn nước ngoài (có thể kể đến như HSBC, ANZ, Standard Chartered Bank…). Với sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài thì thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam đã thực sự trở nên ngày một khốc liệt. Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường là điều có thể dễ dàng nhìn thấy và nhận ra. Hiện tại thì sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại trong nước đã và đang diễn ra hết sức khốc liệt. Chưa kể đến việc gia nhập của các ngân hàng thương mại nước ngoài với nguồn vốn và kinh nghiệm cao hơn chúng ta khá nhiều.

    Đây là một thách thức lớn mà các ngân hàng thương mại trong nước cần phải lưu tâm và tìm cách để vượt qua. Nếu như từ trước đến nay, những ngân hàng được coi là ông lớn trên thị trường liên ngân hàng với thế mạnh là nguồn vốn lớn như ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng Ngoại thương, ngân hàng Đầu tư và Phát triển, ngân hàng Công thương có thể tự tin ở vị thế lớn mạnh của mình, thì với tình hình như hiện nay, nếu không tập trung, tìm cách phát triển hợp với xu thế chung, trau dồi kinh nghiệm kinh doanh, học hỏi tích luỹ và thay đổi thì những ngân hàng này cũng có thể bị đánh bật khỏi vị trí của mình. Riêng đối với NHNo&PTNT VN, sau một số những ảnh hưởng từ việc phá sản của Công ty cho thuê tài chính 2, điều này khiến uy tín của ngân hàng cũng bị giảm sút phần nào. Không những thế, từ trước tới nay hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN chưa thực sự tương xứng với tầm vóc của một NHTM hàng đầu Việt Nam do chính sách trong thời gian qua của NHNo&PTNT VN mới chỉ tập trung đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ cho toàn hệ thống chứ chưa thực sự đặt mục tiêu lợi nhuận từ hoạt động KDNT lên hàng đầu. Do đó, trên thực tế, kinh nghiệm trong việc thực hiện hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN so với một số ngân

    hàng lớn khác trong nước như Vietcombank, BIDV hay đặc biệt so với các ngân hàng nước ngoài chắc chắn còn nhiều hạn chế. Do vậy, để đối mặt với sự cạnh tranh đang ngày một khốc liệt như hiện nay NHNo&PTNT VN buộc phải thay đổi và đưa ra được chiến lược phù hợp thì mới có thể vượt qua được khó khăn này.

    3.1.2.2. Nguồn ngoại tệ của NHNo&PTNT VN

    Nguồn ngoại tệ của NHNo&PTNT VN chủ yếu lấy từ việc bán của các chi nhánh trong hệ thống khi mà các chi nhánh này vượt quá hạn mức cho phép và mua trên thị trường liên ngân hàng. Bên cạnh đó nguồn ngoại tệ của NHNo&PTNT VN còn được thu hút thông qua việc huy động vốn ngoại tệ. Tuy nhiên, hiện nay việc duy trì khá nhiều tài khoản ngoại tệ tại các ngân hàng nước ngoài cũng đã khiến nguồn ngoại tệ trong hệ thống bị chia nhỏ, khó tập trung và mất nhiều công sức trong việc quản lý. Bên cạnh đó việc huy động vốn ngoại tệ từ các nguồn truyền thống như khách hàng cá nhân hoặc vay từ các đối tác cũng đang gặp nhiều khó khăn do lãi suất huy động hiện nay đang để ở mức thấp, bên cạnh đó do thời gian vừa qua Việt Nam vừa bị đánh tụt hạng về các chỉ số an toàn nên các đối tác đã giảm hạn mức cho vay thương mại đối với các ngân hàng trên thị trường Việt Nam. Điều này đang thực sự khiến cho nguồn cung ngoại tệ của NHNo&PTNT VN gặp nhiều khó khăn trong khi nhu cầu ngoại tệ để thanh toán các hợp đồng ngoại thương vào cuối năm thường tăng mạnh.

    3.1.2.3. Chiến lược KDNT của NHNo&PTNT VN chưa mang tính chủ động và bền vững

    Mục tiêu thực hiện hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN hiện nay mới chủ yếu tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của toàn hệ thống, đảm bảo thanh khoản và kinh doanh sinh lời trong đó việc đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ của toàn hệ thống được đặt lên làm mối quan tâm hàng đầu. Chính vì vậy nên nhiều khi NHNo&PTNT VN phải chấp nhận việc thua lỗ để đảm bảo mục tiêu hàng đầu nói trên. Cả quá trình mua bán chủ yếu mới chỉ xuất phát từ nhu cầu của khách hàng còn ngân hàng chưa có nhữg động thái để tạo ra nhu cầu.

    Trong chiến lược KDNT của NHNo&PTNT VN hiện nay cũng chưa đề cập tới việc có phát triển các nghiệp vụ kinh doanh mới hay không, trong khi đó trong

    tương lai gần (có thể là cuối năm) NHNN sẽ cho phép các NHTM thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ quyền chọn . Do vậy, nếu không có chiến lược đúng đắn để chuẩn bị sẵn tinh thần cũng như kinh nghiệm thì đến khi NHNN cho phép thực hiện các giao dịch này, NHNo&PTNT VN sẽ không thể chủ động và kịp thời thực hiện được những giao dịch này, sẽ làm mất lợi thế của mình so với các NHTM khác.

    Bên cạnh đó những hoạt động đầu cơ chưa được thực hiện do độ rủi ro cao và chưa có những quy trình, thủ tục hướng dẫn và kiểm soát việc thực hiện những hành

    • này. Đồng thời NHNo&PTNT VN cũng chưa đưa ra được một chiến lược chi tiết là các bước đi trong dài hạn, quá trình thực hiện như thế nào, đưa ra những nhận định tương lai, điều kiện cần bổ sung để hoàn thành…

    Cuối cùng, một yếu tố khác thể hiện việc chiến lược của NHNo&PTNT VN chưa thực sự chủ động đó là việc thiếu các chiến lược quảng bá cho dịch vụ KDNT của mình. Việc đưa quảng cáo lên các phương tiện thông tin đại chúng thì gần như không có, còn thông tin về các nghiệp vụ KDNT trên trang web của ngân hàng thì

    quá sơ sài, chỉ mang tính hướng dẫn và kém kích thích với khách hàng.

    3.2. Các giải pháp cụ thể đối với NHNo&PTNT VN

    3.2.1. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng của các hoạt động nghiệp vụ cụ thể trong hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN

    3.2.1.1. NHNo&PTNT VN cần tận dung khai thác các nguồn cung ngoại tệ

    Để có thể tận dụng được nguồn cung ngoại tệ một cách tốt nhất, Ban Tổng thu hút những khách hàng có nguồn cung ngoại tệ dồi dào, với số lượng lớn để họ bán lại cho ngân hàng trong những thời điểm thiếu hụt ngoại tệ. Ban Tổng giám đốc có thể có những chính sách ưu đãi hơn cho các chi nhánh có khi họ bán được nhiều ngoại tệ cho Sở giao dịch (sau khi bản thân các chi nhánh đã tự cân đối hạn mức mình được cho) như việc: các chi nhánh này sẽ được mua ngoại tệ khi có nhu cầu với mức giá ưu đãi hoặc số lượng ưu đãi hơn, hoặc các chi nhánh có thể được phép nâng hạn mức tự doanh của mình khi hoạt động KDNT đạt kết quả tốt. Bên cạnh đó bản thân các chi nhánh cần chủ động thực hiện các chiến dịch Marketing để khách hàng có thể tiếp cận và hiểu rõ hơn những dịch vụ mà chi nhánh có thể cung cấp cho khách hàng.

    Như chúng ta cũng biết, một trong những yếu tố để thu hút khách hàng bán bán ngoại tệ cho ngân hàng đó là chính sách giá cả. Do vậy, các chi nhánh cần áp dụng một chính sách giá cả hấp dẫn phù hợp với từng đối tượng khách hàng phù hợp trên cơ sở cân đối chi phí, lợi nhuận, thị phần và các mục tiêu khác mà NHNo&PTNT Việt Nam đặt ra. Giá cả mà chúng ta đang nhắc đến ở đây đó chính là tỷ giá, như vậy tức là tỷ giá mua bán ngoại tệ ở các chi nhánh không nên quá cứng nhắc, gò bó mà cần linh hoạt và phù hợp với cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời vẫn đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng. Mức tỷ giá này có thể cân nhắc thay đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào từng đối tượng khách hang, từng thời điểm và từng loại hình dịch vụ cụ thể. Đồng thời có những chính sách ưu đãi đối với những khách hàng cung có thể bán cho ngân hàng một loại ngoại tệ lớn. Có như vậy mới giảm được tình trạng găm giữ ngoại tệ trong dân chúng và các tổ chức kinh tế hoạt động trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, đồng thời góp phần giảm bớt sự căng thẳng cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Mua bán ngoại tệ sôi động sẽ làm cho sự vận động của thị trường ngoại hối càng trở nên trơn tru hơn, tiếp sức cho nền kinh tế phát triển tự tin hơn.

    3.2.1.2. NHNo&PTNT VN cần linh hoạt trong chính sách đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Như đã phân tích ở trên, hiện nay NHNo&PTNT VN đang thực hiện 3 loại hình giao dịch KDNT đó là: giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi, trong đó nghiệp vụ KDNT giao ngay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giao dịch còn các nghiệp vụ còn lại chiếm một phần nhỏ. Riêng hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai vẫn chưa được thực hiện. Như vậy có thể thấy hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN chủ yếu còn mang tính sơ khai, chưa có sự kết hợp chặt chẽ với thị trường tiền tệ và chưa có hoạt động dự trữ đầu cơ.

    Trên thị trường thế giới, nghiệp vụ quyền chọn và nghiệp vụ kinh doanh tương lai có tính phòng ngừa rủi ro hết sức hiệu quả và đã được thực hiện từ rất lâu. Hiện tại, NHNo&PTNT VN vẫn chưa thực hiện được giao dịch này do chưa có chưa có một hệ thống quản trị rủi ro hoàn thiện và chưa thể tính giá quyền chọn. Trong tương lai NHNo&PTNT VN cần tích cực hơn nữa trong việc làm việc với các ngân hàng nước ngoài có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, để họ tư vấn và dần dần

    từng bước thực hiện những giao dịch quyền chọn đầu tiên. Còn với loại hình giao dịch tương lai, do hiện tại những giao dịch này trên tại thị trường Việt Nam vẫn chưa phát triển và do nguồn lực của NHNo&PTNT VN còn nhiều hạn chế, nên trong thời gian trước mắt, có thể chưa cần tập trung phát triển loại hình giao dịch này.

    Riêng đối với loại hình giao dịch kỳ hạn và hoán đổi, do chưa quen với những loại hình giao dịch này nên khách hàng của NHNo&PTNT VN chắc chắn còn nhiều bỡ ngỡ. Do vậy các chi nhánh trên toàn hệ thống cần có có những cán bộ thật giỏi nghiệp vụ để tư vấn, giới thiệu cho khách hàng hiểu rõ hơn những lợi ích mà nghiệp vụ này có thể mang lại. Từ đó, khách hàng sẽ biết đến và sử dụng các loại hình giao dịch này nhiều hơn.

    3.2.2. Nhóm giải pháp tăng cường và thường xuyên đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT

    3.2.2.1. NHNo&PTNT VN cần chủ động tổ chức các cuộc khảo sát thăm dò ý kiến của khách hàng và chi nhánh về nhu cầu ngoại tệ cũng như các quy trình và thủ tục có liên quan

    NHNo &PTNT VN cần có những cuộc khảo sát thăm dò các chi nhánh về việc thực hiện hoạt động KDNT, để các chi nhánh nêu lên các khó khăn, vướng mắc, đồng thời có những kiến nghị riêng về quy trình thủ tục đang được áp dụng và thực hiện. Các chi nhánh chính là những người làm trực tiếp với khách hàng, họ là người sẽ phải tìm hiểu nhu cầu của khách hàng để từ đó đưa ra được nhu cầu về ngoại tệ của chi nhánh. Đồng thời, NHNo&PTNT VN cũng có thể đưa ra một mẫu phiếu thăm dò khách hàng xem ý kiến phản hối của khách hàng về dịch vụ mà ngân hàng đang cung cấp, những nhu cầu về ngoại tệ của khách hàng đã được đáp ứng đầy đủ hay chưa, có vấn đề gì khúc mắc trong quy trình thủ tục thực hiện hay không. Bên cạnh đó, NHNo&PTNT VN có thể cứ các đoàn công tác xuống trực tiếp làm việc với các chi nhánh, tiếp xúc trực tiếp với các khách hàng để nghe những ý kiến đóng góp của họ, từ đó có những thay đổi và vạch ra chiến lược phát triển một cách hợp lý.

    3.2.2.2. NHNo&PTNT VN cần xây dựng những tiêu chí cụ thể, rõ ràng và phù hợp nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT, từ đó định kỳ hàng năm căn cứ vào những tiêu chí này để đánh giá đồng thời có chính sách khen thường đối với những chi nhánh đạt hiệu quả tốt

    Hiện nay, NHNo&PTNT VN vẫn chưa có một bảng tiêu chí cụ thể nào đánh giá về việc chi nhánh nào hoạt động có hiệu quả hơn trong lĩnh vực KDNT, do vậy cũng chưa có những cơ chế ban thưởng hợp lý, kích thích khả năng làm việc của các cán bộ. Trong tương lai, NHNo&PTNT VN cần xây dựng những tiêu chí cụ thể phù hợp với mục đích tiến hành hoạt động KDNT của ngân hàng mình nhằm khuyến khích động viên các chi nhánh hoạt động tốt và nhắc nhở các chi nhánh còn hoạt động chưa hiệu quả. Điều này sẽ kích thích khiến các chi nhánh chủ động hơn trong việc tìm kiếm khách hàng, tư vấn cho khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng mình.

    Bên cạnh đó hàng năm, NHNo&PTNT VN nên tổ chức hội nghị tổng kết về hoạt động kinh doanh đối ngoại nhằm tạo điều kiện cho các chi nhánh trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Ngân hàng cũng nên thường xuyên có các buổi hội thảo chuyên đề KDNT, các buổi nói chuyện về tình hình kinh tế, chính trị của các nước trên thế giới, trong đó cung cấp những thông tin cần thiết và giải đáp thắc mắc. Đồng thời tăng cường tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về thanh toán quốc tế và KDNT cho các cán bộ lãnh đạo và các nhân viên nghiệp vụ của các chi nhánh.

    3.2.3. Nhóm giải pháp tích cực khai thác các nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động KDNT

    3.2.3.1. NHNo&PTNT VN cần có chính sách đủ mạnh để thu hút và phát triển nguồn nhân lực

    Như đã phân tích ở trên, con người luôn là yếu tố chủ đạo, quan trọng nhất trong các hoạt động vì con người chính là chủ thể để thực hiện những hoạt động đó. Do vậy, đối với NHNo&PTNT VN, muốn đạt hiệu quả cao trong công việc thì yếu tố cần quan tâm đầu tiên là làm sao có được một đội ngũ cán bộ năng động, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời am hiểu pháp luật và có đạo đức trong kinh

    doanh. Để có được một đội ngũ như vậy thì trước tiên, ngân hàng cần có chế độ tuyển dụng một cách hợp lý nhằm sử dụng được các nhân viên có bằng cấp chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ đáp ứng được nhu cầu hiện tại đang thay đổi của ngân hàng, đồng thời có phẩm chất đạo đức tốt, tác phong làm việc nhanh nhẹn, phong cách giao tiếp cởi mở, lịch sự. Tăng cường thu hút các sinh viên xuất sắc từ các trường đại học về làm việc.

    Bên cạnh đó, KDNT là một lĩnh vực mới, nhạy cảm và sẽ là một hoạt động ngày càng phát triển trong mô hình ngân hàng hiện đại. Vì vậy, NHNo&PTNT VN cần có chính sách đầu tư thích đáng, tài trợ cho các cán bộ chuyên môn đi học tập, nâng cao trình độ ở cả trong và ngoài nước, tạo điều kiện khuyến khích các cán bộ được học trong khả năng. Hoạt động KDNT đòi hỏi khá nhiều điều kiện khắt khe đối với những cán bộ thực hiện giao dịch. Một cán bộ thực sự giỏi là một cán bộ không những am hiểu về nghiệp vụ mình làm mà còn phải đáp ứng năng lực về ngoại ngữ, am hiểu pháp luật và các thông lệ quốc tế, sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại phục vụ công việc, có sức khỏe tốt, có khả năng thu thập thông tin, phân tích tình hình kinh tế vĩ mô, chính trị…, có sự nhạy cảm trong nghề nghiệp, có tính quyết đoán, có kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp để xử lý tình huống, giao dịch một cách có hiệu quả nhất.

    Tuy nhiên, NHNo&PTNT VN cũng cần chú ý đến việc phân loại và có những chương trình đào tạo riêng đối với cấp quản lý và cấp cán bộ do những yêu cầu về một quản lý giỏi chắc chắn sẽ có những yếu tố khác hơn so với yêu cầu về một cán bộ giỏi. Chẳng hạn như, đối với các nhà quản lý, bên cạnh việc đào tạo cho họ có một kiến thức chuyên môn sâu rộng thì cũng cần phải bồi dưỡng cho họ những kiến thức về quản trị nhân sự, quản trị doanh nghiệp, cơ sở lý luận chính trị…. Không

    những thế, cần chú trọng quy hoạch và có định hướng bồi dưỡng những cán bộ trẻ, có năng lực, cho họ tiếp xúc với những chương trình đào tạo mang chuẩn mức quốc tế để chuẩn bị cho thế hệ lãnh đạo tương lai đáp ứng được xu thế hội nhập quốc tế.

    Cuối cùng, để thu hút và phát triển được những nguồn nhân lực trẻ trong một môi trường cạnh tranh và nhiều áp lực như hiện nay thì NHNo&PTNT VN cần có một chế độ phúc lợi tốt nhằm động viên tinh thần, nuôi dưỡng các nhân tài phục vụ cho sự phát triển trong tương lai của toàn hệ thống. Cần có những chính sách khen

    thưởng rõ ràng, lấy hiệu quả công việc làm thước đo khen thưởng, có những món quà kịp thời để động viên tinh thần của cán bộ.

    3.2.3.2. NHNo&PTNT VN cần tăng cường đầu tư để hiện đại hoá cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng

    Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay thì đối với mọi hoạt động kinh doanh, việc nắm bắt thông tin là nhu cầu tất yếu và người ta đã chứng kiến được sức mạnh kinh khủng của những người nắm bắt được nhiều thông tin nhất. Hoạt động KDNT không phải là một ngoại lệ. Không những thế, hoạt động này còn chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội… do vậy yêu cầu nắm bắt thông tin một cách chính xác, nhanh nhậy trong hoạt động KDNT là một nhu cầu khác nhau. Muốn thực hiện được việc này thì một yếu tố không thể thiếu đó là các trang thiết bị, phương tiện hiện đại sử dụng những công nghệ kỹ thuật cao để việc cung cấp được các thông tin thường xuyên được cập nhật, xử lý tình huống được nhanh nhạy.

    Như vậy để hoạt động KDNT đạt hiệu quả cao, phòng Kinh doanh ngoại hối của các chi nhánh cần được trang bị hệ thống máy tính nối mạng với tốc độ cao, đầu tư các trang thiết bị cơ sở vật chất hạ tầng để tạo bộ mặt của một phòng giao dịch hiện đại, năng động, lịch sự và văn minh. Riêng đối với Sở giao dịch, do đây là trung tâm đầu mối của toàn hệ thống, đuợc phép đại diện cho cả hệ thống thực hiện giao dịch với thị trường liên ngân hàng trong và ngoài nước cũng như thực hiện cho toàn bộ hệ thống thì cần có một hệ thống đường mạng riêng kể kết nối với NHNN và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nhằm có những thông tin nhanh nhất về tình hình diễn biến trên thị trường.

    Bên cạnh đó, để thực hiện được hoạt động kinh doanh quyền chọn, NHNo&PTNT VN có thể tiến hành mua phần mềm quản trị rủi ro từ Reuter hoặc Bloomberg với độ tín nhiệm cao để từ đó có cơ sở tính được giá quyền chọn và đảm bảo an toàn trong việc thực hiện giao dịch.

    3.2.3.3. NHNo&PTNT VN cần tích cực hơn trong việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động KDNT tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, do vậy để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động này cần phải sử dụng các công cụ phỏng ngừa rủi ro một cách hữu hiệu, hạn chế những thiệt hại do những rủi ro mang lại. Một trong những công cụ có thể phòng ngừa rủi ro trong hoạt động KDNT đó là sử dụng công cụ phái sinh. Công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận và tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỷ giá, lãi suất, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán…công cụ phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử dụng nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi. Hiện nay, NHNo&PTNT VN có thể tận dụng việc sử dụng các hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổi nhằm phòng ngừa rủi ro về tỷ giá. Hợp đồng kỳ hạn là công cụ lâu đời nhất, rất hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Hợp đồng kỳ hạn được sử dụng để bảo hiểm tỷ giá khi có dự đoán tỷ giá sẽ tăng trong tương lai. Hợp đồng hoán đổi có thể được sử dụng tại thời điểm đang tạm dư thừa một đồng tiền này nhưng lại thiếu hụt đồng tiền khác. Giao dịch hoán đổi sẽ giúp cân đối nguồn vốn và tiết kiệm chi phí cho tổ chức.

    Trạng thái ngoại tệ của các chi nhánh trong hệ thống đang được kiểm soát rất chặt chẽ bởi NHNo&PTNT VN thông qua đầu mối là Sở giao dịch. Mỗi chi nhánh chỉ được cấp một hạn mức nhất định tùy thuộc vào hoạt động thanh toán ngoại thương của từng chi nhánh và hạn mức này thường là rất nhỏ. Khi phát sinh mua và bán ngoại tệ với khách hàng các chi nhánh thường cân bằng ngay với Sở giao dịch nên rủi ro khi biến động tỷ giá là không đáng kể. Như vậy rủi ro chủ yếu xảy ra tại Sở giao dịch, do vậy riêng đối với Sở giao dịch cần tập trung nhiều hơn nữa các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro vì nơi đây chính là nơi thực hiện phần lớn hoạt động KDNT. Tại Sở giao dịch cần phải có một hệ thống quản trị hoạt động kinh doanh ngoại hối hoạt động song song với hệ thống hạch toán kế toán đang được thực hiện tại phòng kế toán. Các ngân hàng nước ngoài luôn có hai hệ thống độc lập, một hệ thống được sử dụng tại phòng giao dịch và hệ thống còn lại vận hành tại phòng kế

    toán. Tác dụng của việc vận hành hai hệ thống là rất to lớn. Thứ nhất, dữ liệu trong hệ thống này có thể là nguồn để đối chiếu với dữ liệu của hệ thống kia và do vậy sẽ đảm bảo không để xảy ra rủi ro hoạt động. Sẽ không còn tồn tại những trường hợp nhập nhầm số lượng, nhập nhầm tỷ giá hoặc hạch toán thiếu, hạch toán thừa v.v tránh gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Thứ hai, hoạt động kinh doanh ngoại hối đòi hỏi phải được quản trị một cách tức thời. Ban Giám đốc và những cán bộ quản trị rủi ro cần phải biết tình trạng kinh doanh vào bất cứ thời điểm nào chứ không thể chờ đợi đến cuối ngày giao dịch hoặc cuối tháng giao dịch mới biết. Hiện tại, hệ thống hạch toán kế toán của Sở quản lý chỉ cho phép hiển thị kết quả kinh doanh lãi lỗ hàng tháng. Theo chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế, việc đánh giá kết quả kinh doanh hàng tháng là quá trễ và không đảm bảo an toàn. Hơn nữa, việc không được hỗ trợ bởi hệ thống phần mềm hữu hiệu khiến cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Sở giao dịch rất lạc hậu, lãng phí nguồn nhân lực cũng như lãng phí về tài chính. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ thường gắn liền với những báo cáo phát sinh (báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo doanh số với đối tác, báo cáo trạng thái ngoại tệ, báo cáo biến động tỷ giá v.v). Hiện tại, việc thực hiện báo cáo thường được cán bộ phòng Kinh doanh ngoại tệ thực hiện thủ công bằng cách sử dụng những phần mềm văn phòng của Microsoft như Word, Excel.

    Bên cạnh đó, các cán bộ thực hiện hoạt động KDNT tại Sở giao dịch cần biết và quan tâm đến một công cụ hiệu quả nữa để phòng chống rủi ro đó là phương pháp đặt lệnh giao dịch trên thị trường liên ngân hàng. Phương pháp này giúp phòng tránh hữu hiệu nguy cơ vượt những hạn mức được phép trong kinh doanh ngoại tệ. Để có thể đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ, giao dịch viên nên chú trọng vào những loại lệnh sau:

    • Lệnh ngừng lỗ hoặc lệnh hiện thực hoá lợi nhuận: (stop-loss order or take

    profit order) lệnh này cho phép thực hiện mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ ở một tỷ giá nhất định với mục đích là cắt lỗ hoặc để hiện thực hoá phần lãi có được trong kinh doanh ngoại tệ.

    • Lệnh có hiệu lực đến khi huỷ (good till cancel order): lệnh này sẽ có hiệu lực cho đến khi bên đặt lệnh yêu cầu được huỷ
    • Lệnh có hiệu lực đến một thời điểm nhất định (good till specified time order): lệnh này có hiệu lực đến một thời điểm nhất định đã được quy định trước ở trong lệnh.
    • Lệnh thực hiện một trong hai giao dịch (one cancel another order): Lệnh này thường sử dụng khi giao dịch viên vừa muốn chặn lỗ vừa muốn hiện thực hoá lợi nhuận. Có nghĩa là nếu tỷ giá biến động có lợi thì thực hiện cân bằng trạng thái để thu lợi nhuận ở một mức giá và ngược lại nếu tỷ giá biến động bất lợi thì sẽ thực hiện cắt lỗ để tránh bị lỗ vượt hạn mức. Khi đã xảy ra giao dịch thì lệnh sẽ tự động huỷ vế kia của lệnh.

    Cuối cùng, việc cung cấp và quản lý hạn mức cũng là một công cụ hiệu quả trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Để có thể xác định được hạn mức trạng thái cũng như hạn mức ngừng lỗ hiệu quả cần phải căn cứ vào năng lực và kinh nghiệm của từng giao dịch viên.. Hạn mức cần được điều chỉnh theo kết quả kinh doanh thực tế của giao dịch viên này bởi vì năng lực của một giao dịch viên là một yếu tố không thể định lượng. Có thể hiểu và tạo ra một sân chơi xứng đáng với từng giao dịch viên chính là cái tài của người lãnh đạo.

    3.2.3.4. NHNo&PTNT VN cần mở rộng và liên kết các nghiệp vụ có liên quan tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Trong một NHTM, các hoạt động kinh doanh thường có liên quan, tác động tới nhau theo nhiều cách thức và phương diện. Hoạt động này phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động khác phát triển theo. Hoạt động KDNT có liên quan trực tiếp và mật thiết hoạt động Thanh toán quốc tế và hoạt động huy động và cho vay ngoại tệ. Bên cạnh đó cũng có một số hoạt động khác có thể tận dụng để tạo điều kiện cho hoạt động KDNT phát triển như hoạt động kiều hối.

    a/ Đối với hoạt động Thanh toán quốc tế:

    • Có chính sách thu hút khách hàng một cách hợp lý: Tiếp tục tìm cách duy trì với những khách hàng lớn, đang có quan hệ thường xuyên, tạo cho họ những ưu đãi như: cho mức ký quỹ thấp, tư vấn miễn phí cho khách hàng về các phương thức giao dịch và thanh toán có lợi cho họ, thực hiện những mức phí ưu đãi cho các khách hàng có cam kết sử dụng dịch vụ lâu dài của ngân hàng.
    • Đối với những khách hàng có nguồn thu ngoại tệ lớn, cần tạo nhiều ưu đãi, hoặc tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của khách hàng để đáp ứng, từ đó thúc đẩy việc những khách hàng này bán lại ngoại tệ cho ngân hàng, tạo nguồn cung ngoại tệ dồi dào hơn.
    • Đơn giản hóa các quy trình thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi và nhanh chóng nhất cho các khách hàng trong việc thực hiện nghiệp vụ này, đồng thời thu hút được những khách hàng mới.

    b/ Hoạt động huy động và cho vay ngoại tệ:

    • Nghiệp vụ huy động vốn ngoại tệ tạo ra nguồn cung cấp vốn ngoại tệ cho

    hoạt động KDNT, do vậy các chi nhánh cần phải tiếp tục thu hút các nguồn ngoại tệ còn chưa được sử dụng trong dân cư và các doanh nghiệp bằng việc thực hiện lãi suất cạnh tranh (có các chương trình gửi tiết kiệm quy từ ngoại tệ ra VND với tỷ giá ưu đãi …), tích cực đẩy mạnh quảng cáo, tiếp thị…

    • Đối với nghiệp vụ cho vay ngoại tệ: tiếp tục phát triển vững chắc thị phần tín dụng bằng cách nâng cao công tác thẩm định khách hàng, thu hút thêm khách hàng bằng cách mở rộng tiện ích như tư vấn miễn phí về các hoạt động kinh doanh có liên quan tới khoản vốn được vay, đề xuất các kế hoạch trả nợ phù hợp nhất với khách hàng…

    c/ Hoạt động kiều hối:

    • Thực hiện mức phí chuyển tiền và tỷ giá cạnh tranh, có thoả thuận đối với những đối tượng thường xuyên chuyển tiền và có nhu cầu bán ngoại tệ cho các chi nhánh;
    • Tăng cường công tác thông tin, hướng dẫn chi tiết cho khách hàng khi mở tài khoản, chuyển tiền, nhận tiền; phải có hướng dẫn cụ thể, chi tiết từng loại hình dịch vụ kiều hối (thủ tục chuyển, lĩnh ngoại tệ);
    • Các chi nhánh nên có biện pháp khuyến khích người nhận bán lại hoặc gửi vào tài khoản của ngân hàng.

    3.2.3.5. NHNo&PTNT VN cần chú ý công tác hoàn thiện quy trình thủ tục KDNT và ban hành các băn bản hướng dẫn thực hiện quy trình

    Một số văn bản quy định về ngoại hối của NHNo&PTNT Việt Nam được ban hành từ cách đây nhiều năm và không còn phát huy tác dụng trong điều kiện thị trường ngoại hối biến động như hiện nay.

    Thứ nhất, văn bản 2008/NHNo-QHQT quy định về chênh lệch giữa giá mua với giá bán giữa Sở giao dịch với các chi nhánh ở mức nhất định. Điều này là không đúng theo những nguyên tắc yết giá cơ bản. Phần chênh lệch giá giữa giá mua và giá bán thường phụ thuộc vào tính thông dụng của một đồng tiền và độ biến động của đồng tiền đó. Những đồng tiền thông dụng và phổ biến, được giao dịch rộng rãi như USD hay EUR thường có độ chênh lệch giữa giá mua và giá bán rất thấp. Ngược lại, những đồng tiền ít được giao dịch như THB (đồng bạt Thái Lan) hoặc đồng NOK (Krone Na Uy) thường có độ chênh giá lớn hơn nhiều. Ngay đối với USD và EUR vào những thời điểm biến động mạnh, chênh lệch giữa hai mức giá này cũng được các NHTM kéo rộng hơn. Vì thế việc quy định bắt buộc Sở giao dịch phải yết phần chênh lệch giá này cố định sẽ gây ra ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống.

    Văn bản tiếp theo có thể thấy cũng có nhiều bất cập đó là văn bản 4496/NHNo-KHTH có quy định những biện pháp khen thưởng đối với những chi nhánh thu hút được nguồn ngoại tệ về cho NHNo&PTNT VN nhưng lại không quy định về việc khen thưởng những chi nhánh bán ngoại tệ. Với văn bản này có thể thấy rằng NHNo&PTNT VN mới chỉ tập trung vào việc thu hút ngoại tệ để đáp ứng cho nhu cầu của toàn hệ thống tại những thời điểm thiếu hụt ngoại tệ. Tuy vậy hiện nay thị trường ngoại hối biến đổi ngày càng phức tạpcân bằng giữa cung ngoại tệ và cầu ngoại tệ thường không cân đối, có lúc nghiêng về phía cung có lúc lại nghiêng về phía cầu dẫn đến việc các NHTM cũng bị dư thừa hoặc thiếu hụt ngoại tệ theo thời điểm. Như vậy có thể thấy tại thời điểm dư thừa ngoại tệ, việc khen thưởng động viên cần tập trung khuyến khích vào các chi nhánh bán được ngoại tệ. Như vậy có thể thấy văn bàn nói trên chưa thực sự được linh hoạt và hợp lý tại tất cả các thời điểm. Do vậy đối với văn bản liên quan đến cơ chế khen thưởng cần được xem

    xét và điều tiết một cách linh hoạt, phù hợp với xu thế của thị trường ngoại hối lúc đó.

    Bên cạnh đó NHNo&PTNT VN cần ban hành ngay một quy trình chung cho việc thực hiện hoạt động KDNT trên toàn hệ thống nhằm giảm rủi ro trong kinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi cho các chi nhánh khi thực hiện giao dịch.

    NHNo&PTNT VN cũng cần nhanh chóng nghiên cứu phương án ký kết hợp đồng khung các sản phẩm phái sinh ISDA để tạo tiền để triển khai các sản phẩm mới trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của hệ thống.

    Cuối cùng, việc quy định về tập trung hóa hoạt động KDNT tại Sở giao dịch chưa được thực hiện triệt để. Một số chi nhánh NHNo&PTNT VN đang mở tài khoản ngoại tệ tại một số TCTD khác, do đó việc điều hòa vốn cũng như điều hòa ngoại tệ của Trụ sở chính sẽ khó có thể đạt độ chính xác. Cần thiết phải có quy định thống nhất không cho phép các chi nhánh được phân tán tài khoản như vậy và toàn bộ phải tập trung tại Sở quản lý.

    3.2.4. Nhóm giải pháp khác

    3.2.4.1. NHNo&PTNT VN cần thực hiện hoạt động Marketing ngân hàng một cách có chủ động và hiệu quả

    Để thực hiện tốt bất kỳ hoạt động kinh doanh nào thì việc marketing và quảng bá là điều hết sức cần thiết. Với mục tiêu thực hiện được các hoạt động KDNT mới (trong tương lai NHNo&PTNT VN đang cố gắng hết sức để đưa sản phẩm KDNT quyền chọn vào sử dụng) thì việc quảng bá lại càng cần thiết hơn nữa. Trước hết, NHNo&PTNT VN nên lựa chọn một vài chi nhánh lớn, đã thực hiện tốt hoạt động KDNT từ trước tới nay để áp dụng sản phẩm mới này. Sau đó, các chi nhánh cần chủ động tổ chức các cuộc hội nghị với những khách hàng lớn, tiềm năng để giới thiệu sản phẩm này một cách chi tiết và cụ thể hoặc giới thiệu sản phẩm thông qua những tờ rơi được thiết kế gọn nhẹ, dễ hiểu, bắt mắt để bất cứ khách hàng nào đến giao dịch tại chi nhánh cũng có thể đọc và có các thông tin cần thiết.

    Bên cạnh đó, đối với những hoạt động KDNT mà hiện nay NHNo&PTNT VN đang áp dụng và thực hiện, NHNo&PTNT VN cần có chiến lược quảng bá và tư vấn cho khách hàng nhiều hơn nữa để khách hàng được biết và sử dụng.

    3.2.4.2. NHNo&PTNT VN cần xây dựng một chính sách khách hàng linh hoạt, đúng đắn

    Khách hàng luôn là đối tượng hàng đầu cần được quan tâm vì mục đích cuối cùng của các ngân hàng đều là thu hút được các khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của mình, từ đó tăng thêm nguồn thu nhập cho ngân hàng. Do đó chính sách khách hàng luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh doanh nói chung và kể cả hoạt dộng KDNT nói riêng của một ngân hàng.

    Trong cuộc cạnh tranh ngày một gay gắt giữa các NHTM đang diễn ra hiện nay, việc có một chính sách khách hàng thật linh hoạt và đúng đắn chính là chìa khóa thành công cho các ngân hàng để giữ được thị phần trên thị trường hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    Điều đầu tiên trong chính sách này đó là cần giữ vững và duy trì với những khách hàng quen thuộc. Hiện nay, các ngân hàng đều ra sức cạnh tranh và thu hút khách hàng về phía mình, do vậy trước tiên bản thân NHNo cần phải giữ vững mối quan hệ với các khách hàng truyền thống bằng những chế độ chăm sóc và đãi ngộ đặc biệt, bằng cách hiểu được nhu cầu của khách hàng và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó.

    Tiếp theo đó là việc các chi nhánh của NHNo &PTNT VN cần chủ động đi tìm kiếm khách hàng. Điều này là hết sức cần thiết vì hoạt động này sẽ giúp mở rộng hoạt động và nâng cao số lượng khách hàng đến với mình. Từ trước đến nay, NHNo&PTNT VN vẫn luôn tự hào giữ vị trí số 1 về tổng tài sản trong số 4 ngân hàng thương mại lớn trên cả nước. Tuy vậy, trước xu thế như hiện nay, các cán bộ NHNo&PTNT VN không thể chủ động ngồi chờ khách hàng đến với mình mà cần tìm kiếm và kéo họ về phía mình. Đặc biệt, đối với hoạt động KDNT, các chi nhánh cần chú ý đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu , thu hút họ với những chính sách ưu đãi và những sản phẩm tiện ích vì đây chính là nguồn thu và đồng thời cũng là nguồn bán ngoại tệ rất tốt mà ngân hàng có thể tận dụng. Đặc biệt cũng có thể lưu ý đến những công ty XNK mới thành lập, đối tượng này có thể mang lại nguồn lợi nhuận chưa cao vì những giao dịch của họ thường nhỏ nhưng đây lại là những đối tượng mới chưa được chú ý đến nhiều. Để tận dụng được tiềm năng của những đối

    tượng này cần có một đội ngũ phân tích khách hàng giỏi để nhận biết đâu là công ty tiềm năng để có chính sách thu hút hợp lý với những đãi ngộ đặc biệt thu hút được những đối tượng này.

    Cuối cùng cần có chính sách giá cả hấp dẫn đối với từng nhóm khách hàng. Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, cần có một chính sách giá cả linh hoạt tùy thuộc từng đối tượng khách hàng để thu hút họ nhiều hơn. Chính sách này cần được thực hiện phù hợp trên cơ sở cân đối chi phí, lợi nhuận, thị phần và các mục tiêu khác tùy thuộc vào từng chi nhánh. Do đó, tỷ giá trong hoạt động KDNT cũng không nên gò bó mà cũng cần linh hoạt và phù hợp với cung cầu ngoại tệ trên thị trường từng thời kỳ và vẫn đảm bảo kinh doanh có lãi cho ngân hàng. Tỷ giá có thể được đưa ra phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng loại hình dịch vụ, từng thời điểm để vừa có thể duy trì với đối tượng khách hàng cũ vừa thu hút được đối tượng khách hàng mới. Để thực hiện được việc này các chi nhánh cần phải có tiêu chí để phân loại các nhóm khách hàng, đối với những nhóm khách hàng lớn có thể được hưởng nhiều ưu đãi như tỷ giá thấp, ưu tiên cũng cấp ngoại tệ khi thị trường khan hiếm, giảm tỷ lệ ký quỹ…

    3.3. Một số kiến nghị với NHNN về việc tạo môi trường pháp lý hoàn thiện cũng như điều chỉnh một số cơ chế chính sách có liên quan đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    3.3.1. Nhà nước cần thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi có điều tiết phù hợp

    Trong hoạt động KDNT , một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là chế độ tỷ giá của NHNo, vì chế độ tỷ giá này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tỷ giá giao dịch trên thị trường (Trong luận văn này, tác giả chủ yếu chỉ để cập phân tích đến chế độ tỷ giá USD/VND vì đây là tỷ giá được quan tâm nhiều nhất và hoạt động KDNT thực hiện với USD chiếm một tỷ lệ cao nhất). Trên lý thuyết có ba loại chế độ tỷ giá đó là: chế độ tỷ giá thả nổi, chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết. Hiện nay, tại Việt Nam đang sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của NHNN. Mặc dù để tỷ giá tự điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của thị trường tuy vậy NHNN sẽ trực tiếp can thiệp để điều chỉnh tỷ giá khi thấy những biến động lớn trong tỷ giá sẽ gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Tuy vậy, có những giai đoạn,

    NHNN đã quản lý và can thiệp quá sâu vào tỷ giá khiến chế độ tỷ giá này mất đi sự linh hoạt cần có của nó. Điều này được thể hiện qua việc từ thời điểm trước tháng 12/2007, NHNN hầu như điều chỉnh tỷ giá theo hướng tăng liên tục, điều này có nghĩa là NHNN đã gián tiếp hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Như vậy có thể thấy rằng, trong thời gian đó sự can thiệp của NHNN là quá nhiều, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động KDNT. Tuy vậy, vấn đề gì cũng có hai mặt. Nếu bây giờ NHNN để thả nổi tỷ giá mà không tham gia điều tiết thì sẽ gây ra những cú sốc với một nền kinh tế còn đang phát triển và còn có nhiều yếu tố chưa bền vững như Việt Nam hiện nay.

    Do đó, cách hợp lý nhất là NHNN có thể từ từ thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt phù hợp với các điều kiện phát triển của thị trường theo từng thời kỳ. NHNN có thể thực hiện bằng cách nới rộng biên độ giao động của tỷ giá. Trên thực tế nếu như trước kia biên độ này để ở mức rất thấp là ,25% thì đến tháng 03/2008 biên độ này đã được nới rộng lên mức 1%, đến 26/11/2009 mức biên độ này đã được nới rộng lên mức 3%, và thời gian vừa qua vào ngày 11/2/2011, biên độ tỷ giá bị thu hẹp xuống còn 1% sau khi tỷ giá liên ngân hàng được chính thức nâng lên mức 20-693 đồng/USD (tăng lên 9,3%). Có thể thấy rằng thời gian vừa qua tỷ giá đã được NHNN điều chỉnh một cách linh hoạt và phù hợp với thị trường hơn. Việc biên độ tỷ giá được nới rộng hơn so với biên độ tỷ giá cũng cho biết tỷ giá có khả năng biến động lớn nên buộc các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải quan tâm tới việc bảo hiểm rủi ro tỷ giá và như vậy thì các sản phẩm như hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn ngoại tệ hay hợp đồng hoán đổi ngoại tệ của các ngân hàng cũng sẽ có cơ hội phát triển mạnh hơn. Đồng thời việc nới rộng biên độ giao dịch cũng sẽ khiến cho các ngân hàng chủ động hơn trong việc niêm yết tỷ giá một cách hợp lý, tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các ngân hàng. Tuy vậy việc để mức biên độ như hiện nay cũng chưa thật kích thích hoạt động KDNT. NHNN cần có biện pháp điều chỉnh và công bố tỷ giá linh hoạt hơn, cần theo sát hơn với tỷ giá trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng để thu hẹp đáng kể chênh lệch tỷ giá giao dịch của các ngân hàng với tỷ giá trên thị trường tự do. Cần xem xét tiếp tục nới rộng biên độ này ở mức cho phép để vừa có thể quản lý thị trường với tư cách là người mua bán cuối cùng, vừa tạo điều kiện cho các ngân hàng yết giá cạnh tranh, làm cho

    thị trường sôi động hơn. Trong dài hạn, tỷ giá nên từng bước được thả nổi theo cung cầu ngoại tệ, hướng tới tự do hóa tỷ giá có sự quản lý vĩ mô của NHNN thông qua các công cụ đòn bẩy kinh tế.

    3.3.2. NHNN cần hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại hối

    NHNN cần tăng cường vai trò kiểm soát của mình đối với các NHTM và các TCTD trong việc thực hiện các quy chế mà NHNN ban hành. Đồng thời NHNN cũng cần nắm bắt các vướng mắc của các ngân hàng để từ đó có những phản ứng kịp thời. Bên cạnh đó, NHNN cũng nên giao quyền chủ động hơn nữa cho các NHTM trong nước trong lĩnh vực KDNT, nhất là trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ với các tập đoàn tài chính quốc tế.

    Để hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại hối, một trong những nhân tố không thể thiếu đó là NHNN cần phải có những biện pháp để tăng dự trữ ngoại hối. Bởi lẽ, để thực hiện một chính sách tỷ giá thả nổi có điều tiết hợp lý từ NHNN thì điều cần thiết là NHNN cần phải nắm giữ một lượng ngoại hốicđủ để thực hiện việc can thiệp khi cần thiết. Quản lý dự trữ ngoại hối tốt cũng sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường ngoại hối. Trong thời gian qua, dữ trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng một cách đáng kể cho thấy nền kinh tế của Việt Nam đang phát triển khá khả quan. Tuy vậy, thực trạng quản lý dư trữ ngoại hối của Việt Nam cũng đang có một số bất cập như: hành lang pháp lý cho hoạt động dự trữ ngoại hối còn bộc lộ nhiều bất cập về tổ chức và thực hiện quản lý dự trữ ngoại hối, về nghiệp vụ kiểm soát, quản lý nội bộ hoạt động dự trữ ngoại hối, chiến lược quản lý dự trữ ngoại hối vẫn thụ động, hoạt động đầu tư dự trũ đơn điệu, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế, thiếu cán bộ có trình độ và kinh nghiệm. Để khắc phục và hoàn thiện tình hình dự trữ ngoại hối có thể thực hiện một số điều như: sửa đổi, bổ sung quy định quản lý dự trữ ngoại hối, hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của các cấp quản lý dự trữ ngoại hối, tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và hạn tầng , hình thành các quỹ dự trữ ngoại hối theo chức năng và xây dựng cơ cấu ngoại tệ và cơ cấu đầu tưu dự trữ ngoai hối cho từng quỹ, tăng cưởng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, tăng cườg công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ…

    3.3.3. NHNN cần xây dựng các văn bản pháp qui để hướng dẫn các NHTM thực hiện nghiệp vụ KDNT

    NHNN cần có các văn bản pháp quy, hướng dẫn nhằm giúp cho thị trường công cụ phái sinh có cơ sở để nhanh chóng đi vào hoạt động và phát triển. Cần nhanh chóng nghiên cứu và ban hành đồng bộ kịp thời các văn bản pháp quy về nghiệp vụ phái sinh và tạo môi trường pháp lý, khung pháp lý là cơ sở quan trọng nhất để tạo nên những rào chắn bảo vệ sự lành mạnh của thị trường tài chính. Có như vậy NHTM mới có điều kiện tham gia vào thị trường để phòng ngừa rủi ro cho mình và góp phần thúc đẩy công cụ này phát triển thông qua việc cung cấp dịch vụ về các công cụ này cho khách hàng.

    Bên cạnh đó, hiện nay có một số điều luật điều chỉnh hoạt động KDNT và thị trường ngoại hối nói chung còn mang tính bắt buộc, thiếu tính sáng tạo và nhiều kẽ hở và đôi khi có những quy định còn không phù hợp với thời điểm thị trường lúc đó. Do vậy, NHNN cần nghiên cứu thị trường vào từng thời điểm phù hợp và việc áp dụng nguồn luật hiện thời còn phù hợp hay không để có thể kịp thời sửa đổi vì sự phát triển chung của thị trường ngoại hối. NHNN cũng nên sửa đổi các văn bản luật về kinh doanh ngoại hối hiện hành theo hướng dần dần tự do hóa thị trường ngoại hối, giảm những can thiệp mang tính áp dặt của nhà nước hay NHNN vào tỷ giá hay vào các ngân hàng.

    KẾT LUẬN

    Mặc dù hoạt động KDNT hiện nay vẫn còn khá mới mẻ đồng thời các nghiệp vụ thực hiện còn khá đơn giản, tuy vậy trong tương lai gần hoạt đồng này đang trở nên ngày càng thu hút sự quan tâm và chú ý từ các NHTM bởi hiệu quả mà hoạt động này mang lai có thể tác động khá lớn đến các ngân hàng. Nếu hoạt động KDNT không hiệu quả có thể dẫn tới việc các ngân hàng mất khả năng thanh khoản, suy giảm khả năng tài chính và dẫn đến việc mất uy tín hoặc phá sản của ngân hàng. Hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN trong thời gian qua từ những bước khởi đầu bỡ ngỡ, dần dần đã có những dấu hiệu tích cực và đem lại kết quả kinh, Tuy nhiên, các nghiệp vụ KDNT vẫn còn chưa phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của ngân hàng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt về lĩnh vực ngân hàng hiện đại. Vì vậy, nghiên cứu các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT có ý nghĩa không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài. Trên cơ sở đó, luận văn với đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt

    động kinh doanh ngoại tệ tại NHNo&PTNT Việt Nam” sử dụng phương pháp nghiên cứu thích hợp đã hoàn thành những nội dung chủ yếu sau:

    Thứ nhất: Làm rõ đặc điểm của hoạt động KDNT và các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của NHTM, đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động KDNT.

    Thứ hai: Phân tích, đánh giá tình hình hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN một cách khách quan, trung thực, đưa ra những bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó. Qua đó, tác giả đi vào phân tích hiệu quả hoạt động KDNT của NHNo&PTNT VN thông qua những tiêu chí đánh giá đã được đề ra tại chương 1.

    Thứ ba: Trên cơ sở phân tích một số thách thức cũng như khó khăn mà NHNo&PTNT VN đã, đang và sẽ phải đối mặt, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại NHNo&PTNT VN.

    Nâng cao hiệu quả hoạt động Kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là mối quan tâm của rất nhiều các phòng ban trong hệ thống NHNo&PTNT VN. Bản thân người viết khi thực hiện đề tài này cũng đã thu thập thêm được khá nhiều kiến thức mới trong hoạt động này, đồng thời

    cũng góp một phần tiếng nói kiến nghị với NHNo&PTNT VN trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động KDNT.

    Tuy nhiên, hoạt động KDNT của ngân hàng là một lĩnh vực rộng và phức tạp, với sự hiểu biết và thời gian hạn chế nên tác giả không thể tránh khỏi được những sai sót. Kính mong Hội đồng khoa học, nhà quản trị ngân hàng và bạn đọc quan tâm đến vấn đề này đóng góp ý kiến để tác giả có điều kiện hoàn thành luận văn tốt hơn.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    I/ Tài liệu tiếng Việt:

    1/GS.TS Vũ Văn Hóa và PGS.TS.Lê Văn Hưng, Giáo trình Tài chính quốc tế, NXB Thống Kê, 2009.

    2/PGS.TS.Nguyễn Văn Tiến, Cẩm nang Thị trường Ngoại hối, NXB Thống kê, 2006.

    3/PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng,, Học viện ngân hàng, 2006.

    4/TS. Lê Văn Tề, Kinh doanh ngoại hối và xác định tỷ giá, NXB Thống kê, Hà Nội,2002.

    5/ PGS.TS Phan Thị Thu Hà, Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê, 2006.

    6/ PGS.TS Nguyễn Thị Mùi, Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, 2006.

    7/ Dương Hữu Hạnh, Thanh toán quốc tế và hối đoái, NXB Thống kê, 2005.

    8/TS. Đỗ Linh Hiệp, Thanh toán quốc tế- Tài trợ ngoại thương và Kinh doanh ngoại hối, NXB Thống kê, 1999.

    9/Luật các Tổ chức Tín dụng 2010.

    10/Pháp lệnh ngoại hối.

    11/Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT VN.

    12/Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch NHNo&PTNT VN.

    II/ Tài liệu tiếng Anh:

    1 Boris Schlossberg, Technical Analysis of the currency Market, John Wiley & Sons, Inc, 2006.

    2 Mishkin, The Economics of Money, Banking, and Financial Market, Columbia University, 2005.

    3/Shanni Shamah, Foreign Exchange Prime, Wiley Finance,2003.

    III/ Tài liệu từ Internet:

    1/Nguyên Tổng giám đốc NHNo Nguyễn Thế Bình, Diễn văn kỷ niệm 20 năm thành lập của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, website: http://www.vbard.com, ngày 25/04/2010.

    2/    Mỹ     Hạnh,       Sản     xuất    dệt     may-     Nhiều     khó     khăn    mới,       website:

    http://www.sggp.org.vn/, ngày 18/07/2011.

    3/Khoa   Việt,    Thế   giới   vẫn   chưa   thoát   khỏi   mê   cung   suy   thoái,    website:

    http://www.baomoi.com, ngày 05/10/2010.

    4/Sơn Nghĩa, Doanh nghiệp xuất khẩu lo 6 tháng cuối năm, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, website:thesaigontimes.vn, ngày 16/07/2011.

    5/Website: www.thuongmai.vn

    6/Website: www.agribank.com

    7/Website: www.sbv.gov.vn


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu PHÂN TÍCH CHINH PHỤ NGÂM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-B%C3%A0i-7.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại

    tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Bên cạnh các giải pháp vĩ mô của nhà nước, các tổ chức tài chính, đặc biệt là các NHTM, công ty chứng khoán…, dưới góc độ là người trực tiếp tham gia cung ứng, môi giới sản phẩm quyền chọn cho thị trường, cần tuân thủ theo các qui định của nhà nước và thực hiện một số giải pháp vi mô sau để góp phần vào sự hình thành và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu trên thị trường phi tập trung ở Việt Nam.

    1. Chủ động giới thiệu, quảng bá thông tin về các sản phẩm, dịch vụ quyền

    chọn đến khách hàng

    Ngày nay, thị trường tài chính cạnh tranh ngày một gay gắt. Các định chế tài chính chuyên nghiệp như NHTM, công ty chứng khoán xuất hiện ngày càng nhiều. Việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ cơ bản của mỗi tổ chức tài chính là cần thiết để có thể thu hút các đối tượng khách hàng. Đối với công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu, một trong những loại hình dịch vụ mới, khá phức tạp đối với khách hàng, việc làm này càng trở nên cần thiết, thiết thực hơn, nhằm tạo ra sự nhận thức và hiểu biết cho khách hàng, nhà phát hành và nhà hoạch định chính sách về công dụng, lợi ích và cách thức sử dụng các công cụ options, từ đó phát triển nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ options này.

    Để thực hiện điều đó, các ngân hàng, công ty chứng khoán cần rút kinh nghiệm và thay đổi cách tiếp thị chào bán các sản phẩm phái sinh nói chung và quyền chọn

    nói riêng, theo hướng là lựa chọn và huấn luyện kiến thức tiếp thị, bán hàng cho những nhân viên thật sự am hiểu về sản phẩm để trực tiếp giới thiệu và chào bán cho khách hàng. Ngoài ra, về lâu dài, các NHTM, công ty chứng khoán…cần lập ra bộ phận chuyên phân tích, tư vấn và hỗ trợ cho khách hàng tìm kiếm thông tin, cách thức sử dụng các công cụ options cho cả hai mục tiêu kinh doanh và hạn chế rủi ro.

    Phối hợp với các bộ, ngành như Bộ Tài Chính, Giáo Dục, Truyền Thông, NHNN, UBCK…để tăng cường hơn nữa công tác quảng bá và giới thiệu sản phẩm quyền chọn đến các khách hàng doanh nghiệp và nhà đầu tư, trong đó chú trọng đầu tư cho hình thức quảng bá trên các website của các NHTM, công ty chứng khoán…

    Tổ chức các buổi tư vấn hướng dẫn thực hành tham gia vào giao dịch quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Trong đó đưa ra cho các tình huống mẫu để khách hàng thử ứng dụng. Từ đó, phân tích cho các khách hàng thấy lợi ích của việc sử dụng công cụ quyền chọn trong bảo hiểm rủi ro tỷ giá, giá cả chứng khoán và tìm kiếm lợi nhuận trong các hoạt động đầu tư của mình.

    2.Không ngừng cải tiến chất lượng, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ

    quyền chọn tới khách hàng

    Theo thực trạng hiện nay tại các NHTM như Eximbank, Techcombank, BIDV…, các NHTM này chỉ mới đóng vai trò là nhà môi giới trung gian giữa các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng hợp đồng quyền chọn ngoại tệ với các ngân hàng cung cấp dịch vụ ở nước ngoài. Do đó, cần phải xem xét đến việc nghiên cứu ứng dụng các chiến lược kinh doanh như đứng tự đứng ra phát hành các quyền chọn thích hợp tới khách hàng nhằm thể hiện tính chuyên nghiệp chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động môi giới.

    Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu, các NHTM, công ty chứng khoán…cần nhanh chóng chuẩn hóa tổ chức các phòng, ban kinh doanh liên quan đến quyền chọn của mình. Tăng thẩm quyền trực tiếp kinh doanh và thẩm quyền quyết định cho các cán bộ kinh doanh quyền chọn.

    Ngoài ra, các NHTM, công ty chứng khoán nên tìm hiểu, nghiên cứu sâu các mô hình chiến lược liên quan đến giao dịch quyền chọn, cùng sự hỗ trợ từ những công cụ kỹ thuật như các phần mềm tiên tiến, cũng như bám sát diễn biến của thị trường để dự báo xu hướng biến động tỷ giá, giá cả chứng khoán, lãi suất trong tương lai. Từ đó, vận dụng các chiến lược một cách chính xác trong từng trường hợp, để tư vấn, hỗ trợ khách hàng, giúp các khách hàng hiện tại ngày càng tin tưởng vào việc thực hiện hợp đồng options, đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới tham gia giao dịch.

    Bên cạnh đó, song song với việc triển khai các sản phẩm quyền chọn thuần nhất, các TCTC nên có những tiếp cận đối với các sản phẩm lai tạp, đặc biệt là lai tạp với quyền chọn như: quyền chọn hợp đồng hoán đổi ngoại tệ, cổ phiếu (currency, stock swaptions), quyền chọn hợp đồng kỳ hạn, tương lai ngoại tệ, cổ phiếu (currency, stock forwards options, futures options)… Từ đó, sẽ là cơ sở để có thể định giá các sản phẩm quyền chọn hiệu quả nhất.

    3. Thay đổi cách tính phí quyền chọn

    Như đã đề cập ở trên, đối với quyền chọn ngoại tệ, hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay chỉ cung cấp dịch vụ quyền chọn với tư cách là nhà môi giới, làm đại lý cho các ngân hàng nước ngoài, thực hiện tái bảo hiểm trên thị trường quốc tế, chỉ sử dụng phí quyền chọn của ngân hàng nước ngoài, cộng với phí dịch vụ để tính phí cho khách hàng. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam và cả

    các ngân hàng vì việc này đẩy phí quyền chọn lên cao ảnh hưởng đến lựa chọn của khách hàng và ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng. Do đó, việc thay đổi cách tính phí quyền chọn là cần thiết.

    Dựa vào các điều kiện, khả năng của mình, các ngân hàng, công ty chứng khoán nên tự đứng ra cung cấp và phát hành quyền chọn trực tiếp cho khách hàng, tìm hiểu và vận dụng mô hình Black-Scholes để tính phí quyền chọn cho khách hàng một cách hợp lý. Nhanh chóng triển khai ứng dụng các mô hình chiến lược kinh doanh quyền chọn, từ đó tạo nền tảng đề ra một mức phí mang tính cạnh tranh hơn.

    Trong tình hình hiện tại, rất cần một số ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ đi tiên phong thử nghiệp các mô hình tính phí mới, từ đó giúp các ngân hàng, công ty chứng khoán khác đi sau học hỏi kinh nghiệm và tiến tới triển khai nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu có hiệu quả hơn.

    4.Nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ

    kinh doanh quyền chọn

    Trong mọi hoạt động dịch vụ, nhân tố con người đóng vai trò rất quan trọng. Do

    bản chất của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn vốn là một công việc phức tạp,

    căng thẳng, chứa đựng nhiều rủi ro…Do đó, đòi hỏi cán bộ kinh doanh quyền

    chọn ngoại tệ, quyền chọn cổ phiếu tại các tổ chức không chỉ có chuyên môn về

    các nghiệp vụ mà còn phải năng động, nhạy bén, am hiểu thị trường tài chính, có

    khả năng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá, giá cả chứng khoán, lãi

    suất…; đồng thời phải là những người có đạo đức nghề nghiệp, trung thực trong

    kinh doanh.

    Vì vậy, các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn (NHTM, công ty chứng khoán…)

    nên thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ và ngoại ngữ

    chuyên ngành cho nhân viên của mình, thông qua các khóa học đào tạo ngắn hạn ở

    trong nước và nước ngoài để vừa nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vừa

    tạo cơ hội làm quen với môi trường kinh doanh sôi động và hiện đại của thị trường

    quyền chọn quốc tế. Ngoài ra, cần có những chính sách đãi ngộ thích đáng để thu

    hút và giữ chân nhân tài, tránh để xảy ra tình trạng chảy máu chất xám trong tổ

    chức của mình.

    5. Tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức tài chính khu vực và thế giới

    Các nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan… có các điều kiện kinh tế xã hội khá tương đồng với Việt Nam hay các nước như Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông…. thì có điều kiện phát triển vượt bậc so với chúng ta. Do đó, các NHTM,

    công ty chứng khoán và các TCTC khác cần mở rộng hợp tác, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm về trang bị hạ tầng kỹ thuật, công tác điều hành, quản lý thị trường quyền chọn, cũng như kiến thức chuyên môn cho đội ngũ nhân lực về lĩnh vực này với các ngân hàng, công ty chứng khoán lớn trong khu vực và thế giới trong quá trình tạo lập và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu ở Việt Nam.

    Nói tóm lại , trên đây có thể xem như là một số giải pháp cơ bản và thiết yếu mà các nhà cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu có thể thực hiện để góp phần vào sự phát triển thị trường quyền chọn phi tập trung ở Việt Nam. Tùy thuộc khả năng, chiến lược kinh doanh riêng của mỗi NHTM, công ty chứng khoán… mà họ có thể ưu tiên thực hiện những giải pháp nào, chú trọng vào giải pháp nào hơn các giải pháp còn lại.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng công trình

    Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng công trình

    Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng công trình

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nguyên tắc chung quản lý công trình xây dựng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/N%E1%BB%99i-dung-l%E1%BA%ADp-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-c%C3%B4ng-tr%C3%ACnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng công trình

    NỘI DUNG LẬP DỰ ÁN ĐTXD CÔNG TRÌNH

    I  –  Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư

    II –  Lựa chọn hình thức đầu tư.

    III            –  Địa điểm xây dựng.

    IV           –  Phương án giải phóng mặt bằng

    V            –  Phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng

    VI           –  Nguồn vốn và tổng mức đầu tư

    VII          –  Hiệu quả đầu tư

    VIII         –  Kế hoạch thực hiện

    IX           –  Hình thức quản lý thực hiện dự án

    X            –  Xác định chủ đầu tư

    XI           –  Mối quan hệ và trách nhiệm các cơ quan có liên quan

    XII          –  Kết luận và kiến nghị

    DỰ ÁN ĐẦU TƯ

    XÂY DỰNG MỚI VÀ CẢI TẠO

    KHU LÀM VIỆC TỈNH ỦY TỈNH VĨNH PHÚC

    I- Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư

    1. Những căn cứ pháp lý:

    – Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ.

    – Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của “Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP.

    – Căn cứ Quyết định số 147/1999/ QĐ-TTg ngày 5 tháng 7 năm 1999 của thủ tướng Chính phủ quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp.

    – Căn cứ công văn số 1598/BHK – CSHT ngày 16 tháng 3 năm 1999 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư  hướng dẫn thêm về việc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc.

    – Căn cứ vào thông báo số 288-KL/ Tu ngày 26/08/2002 của thường vụ Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc về việc chuẩn bị đầu tư xây dựng khu làm việc Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc.

    – Căn cứ vào  yêu cầu  nhiệm vụ   thiết kế   khu làm việc  Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc do Văn phòng Tỉnh uỷ lập ngày ….. tháng….. năm 2002.

    – Căn cứ vào  bản tổng hợp  về  biên chế , số lượng  và  dự kiến biên chế  thời gian tới của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ lập ngày 3 tháng 9 năm 2002.

    – Căn cứ vào báo cáo chi tiết tài sản cố định của đv hành chính sự nghiệp do các Ban Đảng và Văn phòng Tỉnh uỷ lập năm 2000.

    – Căn cứ vào bản đồ đo đạc hiện trạng tỷ lệ 1/500 khu làm việc Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc do Công ty tư vấn thiết kế đầu tư và thiết kế xây dựng lập.

    – Căn cứ vào  Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu làm việc Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc được UBND tỉnh Vĩnh Phúc duyệt ngày…..  tháng ….. năm 2002

    – Căn cứ vào báo cáo địa chất khu làm việc Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc do Công ty tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng – Tổng Công ty xây dựng Hà Nội lập tháng 10 năm 2002.

    – Căn cứ tiêu chuẩn thiết kế TCVN 4601-1988 và các quy chuẩn, quy phạm về xây dựng cơ bản của Nhà nước hiện hành.

    2. Sự cần thiết phải đầu tư:

    Thực hiện  Nghị quyết  kỳ họp thứ IX Quốc hội khoá IX  Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai Tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ.

    Tỉnh Vĩnh Phúc  là  tỉnh nằm trong  vùng  Châu thổ  sông Hồng  thuộc  miền Bắc Việt Nam. Tỉnh lỵ là thị xã Vĩnh Yên, cách trung tâm Hà Nội 50km và sân bay quốc tế Nội Bài 30 km về phía Tây Bắc. Vĩnh Phúc là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, là khu vực chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng sông Hồng với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Tỉnh có 3 vùng sinh thái: Đồng bằng, trung du và miền núi, diện tích tự nhiên là 1.370 km2. Dân số 1,12 triệu người, trong đó 22,5% dân số cư trú ở miền núi, mật độ dân số trung bình trên 800 người/ km2, một số huyện bình quân 1.250 người/km2, bình quân đất canh tác 400m2 /người, vùng đồng bằng chiếm 34,4% còn lại trung du và miền núi. Vĩnh Phúc có 7 huyện thị, 150 xã, phường, thị trấn, trong đó có một huyện và 39 xã miền núi, gần 90% dân số sống bằng nghề nông, là một tỉnh mới tái lập cho nên hạ tầng kinh tế xã hội nhiều mặt thấp kém.

    Tỉnh Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông thuận lợi cả đường bộ, đường sắt và đường sông. Hệ thỗng đường bộ đến tất cả các vùng kinh tế trọng điểm và các xã trong tỉnh, quốc lộ 2 từ 5 tỉnh miền núi phía Bắc chạy dọc qua sân bay quốc tế Nội Bài về Hà Nội nối với quốc lộ 5 đi Hải Phòng, quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân (Quảng Ninh). Đường sắt Hà Nội – Lào Cai đi Vân Nam (Trung Quốc) chạy dọc tỉnh, nối đường sắt Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống  đường sông từ các cảng Chu Phan, Vĩnh Thịnh bên sông Hồng,  đảm bảo cho các tàu có trọng tải từ 500 đến 1000 tấn  đi Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh.

    Đảng bộ Vĩnh Phúc có 510 tổ chức cơ sở Đảng với tổng số trên 41 ngàn Đảng viên, Nhân dân có truyền thống cách mạng, với nguồn lao động dồi dào, cần cù, sáng tạo, thích ứng với cơ chế thị trường. Trong những năm qua từ ngày tái lập tỉnh đến nay, dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, các cấp uỷ Đảng, kinh tế của tỉnh đạt được nhịp độ tăng trưởng cao, nhất là công nghiệp xây dựng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp tăng mạnh, đã chuyển nền kinh tế từ thuần nông sang cơ cấu kinh tế công nghiệp, dịch vụ và công nghiệp. Năm 2001 là năm đầu tiên thực hiện nghị quiyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, trong điều kiện kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nhưng các chỉ tiêu của Tỉnh vẫn đạt được và vượt các mục tiêu đề ra. Tổng sản phẩm nội Tỉnh (GDP) tăng 11,36%, tổng giá trị sản xuất ( GO ) tính theo giá cố định năm 1994 đạt 9.364 tỷ đồng gấp 4 lần so với trước khi tái lập tỉnh, đặc biệt là công nghiệp xây dựng đạt 6.536 tỷ đồng, xếp thứ 7 trong cả nước và gấp 11,4 lần năm 1996, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch nhanh và đúng hướng, đã hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp . Năm 1996 công nghiệp xây dựng chiếm 12,9%, dịch vụ chiếm 34% và nông nghiệp chiếm 52,5%, năm 2001 công nghiệp xây dựng chiếm chiếm 40,7%, dịch vụ chiếm 32,4% và nông nghiệp chiếm 26,9%. Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng khá năm 2001 đạt 26,8 triệu USD tăng 23,2% so với năm 2000 và gấp 6 lần năm 1996. Thu ngân sách trên địa bàn năm 2001 đạt 856,2 tỷ đồng, vượt dự toán, tăng gần 24% so với năm 2000 và gấp 8 lần so với năm tái lập tỉnh. Tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn, đa dạng (hồ Đại Lải, núi Tam Đảo, các di túch danh lam thắng cảnh), thu hút được nhiều khách du lịch trong và0 ngoài nước tạo nên thị trường hấp dẫn và có điều kiện xuất khẩu tại chỗ, với tiềm năng và lợi thế của tỉnh, nếu được khai thác tốt sẽ có khả năng thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế của tỉnh nhà.  Tạo ra  vành đai  cung cấp lương thực, thực phẩm và các dịch vụ khác cho thành phố Hà Nội, xã hội văn minh tiến bộ, quốc phòng an ninh vững chắc sẽ là môi trường thuận lợi để bảo vệ an ninh quốc phòng của Thủ đô.

    Sau ngày tái lập tỉnh Vĩnh Phúc, Trụ sở chính quyền các cơ quan ban ngành của tỉnh cơ bản được xây dựng mới, hoàn thiện và đi vào sử dụng, trong khi đó, Tỉnh uỷ tiếp nhận lại khu điều dưỡng cán bộ cách mạng lão thành Trung ương làm trụ sở của tỉnh uỷ, các nhà làm việc chủ yếu là nhà cấp 4 được xây dựng từ năm 1960 đã hết niên hạn sử dụng. Trải qua hơn 40 năm sử dụng, qua các tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phú nay là tỉnh Vĩnh Phúc, do ảnh hưởng của chiến tranh, thời tiết và khí hậu nên côgn trình đã xuống cấp nghiêm trọng như nhà bị lún, tường nứt, lớp trát bị bong bật, mái bị dột. Hệ thống kỹ thuật như điện nước đã bị hư hỏng, xuống cấp không phù hợp với điều kiện sử dụng hiện tại. Mặt khác, các công trình làm việc trong khu tỉnh uỷ không tập trung, nhà làm việc của các ban Đảng như: Ban tổ chức, Ban tuyên giáo, Ban dân vận. Khối văn phòng nằm xa nhau, do đó vấn đề liên hệ giữa các ban Đảng gặp nhiều khó khăn. Phòng làm việc cho các cán bộ công nhân viên trong các cơ quan Đảng, Văn phòng Tỉnh uỷ, phòng họp tỉnh uỷ bị thiếu diện tích không phù hợp với tiêu chuẩn hiện tại, trong khi đó nhu cầu trang thiết bị phục vụ nhu cầu làm việc ngày càng hiện đại đòi hỏi diện tích để thiết bị. Mặc dù đã qua nhiều lần cải tạo nhưng vẫn mang tính chắp vá, không đồng bộ, hiệu suất sử dụng thấp, nhìn tổng thể các công trình trên không tương xứng và đáp ứng được yêu cầu sử dụng của một trụ sở Tỉnh uỷ.

    Hiện tại, nhu cầu xây dựng trụ sở của các cơ quan ban ngành của các tỉnh đặc biệt các tỉnh mới tái, thành lập là rất cần thiết. Chính phủ đã  có chủ trương kết hợp cả nguồn vốn ngân sách và nếu thiếu sử dụng thêm vốn vay ngân hàng, đầu tư hoàn thành việc xây dựng trụ sở vào năm 2003. Trong thời gian từ năm 1996 đến nay nhiều tỉnh mới tái như: Bắc Ninh, Nam Hà, Ninh Bình, Nam Định…đã được Nhà nước đầu tư xây dựng trụ sở HĐND – UBND, trụ sở Tỉnh uỷ mới khang trang đáp ứng yêu cầu làm việc của cơ quan lãnh đạo trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá và hội  nhập quốc tế, đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ của tỉnh nhà.

    Do đó việc đầu tư xây dựng trụ sở Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là cần thiết, phù hợp với  định hướng  cải cách  hành chính.  Đảm bảo  điều kiện  làm việc  an toàn   ổn định, lâu dài của cơ quan lãnh đạo Tỉnh.

     

    II- Lựa chọn hình thức đầu tư:

    Căn cứ vào yêu cầu nhiệm  vụ thiết kế, quy mô đầu tư, tính chất công năng sử dụng và quy hoạch chi tiết được duyệt, căn cứ vào báo cáo chi tiết tài sản cố định của Ban tổ chức Tỉnh uỷ, hiện trạng các công trình trong khu làm việc của Tỉnh uỷ, quy hoạch khu làm việc tỉnh uỷ bao gồm 3 khu chức năng chính: khu vực nhà khách, nhà ăn, sân thẻ thao. Trong đó trụ sở chính phải đáp ứng được quy mô và yêu cầu là một trụ sở cơ quan lãnh đạo Tỉnh Vĩnh Phúc, các hạng mục: Nhà công vụ, nhà ăn, nhà khách, sân thể thao được đầu tư xây dựng sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng cần thiết của tỉnh uỷ. Các công trình trên phải thể hiện được sự trang nghiêm, đạt được tính thẩm mỹ cao, có kiến trúc phù hợp với cảnh quan xung quanh. Khu vực nhà lưu niệm là nơi trưng bày truyền thống cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, hiện tại là nhà làm việc và phòng họp của thường vụ, nơi đây đã vinh dự đón Bác Hồ về thăm, công trình nằm trên đồi cao có nhiều cây cổ thụ với kiến trúc cổ phù hợp với công trình lưu niệm, do đó nên giữ lại và cải tạo làm nhà lưu niệm của khu tỉnh uỷ. Như vậy hình thức đầu tư được lựa chọn là đầu tư xây dựng mới Trụ sở làm viẹc. Nhà khách, nhà công vụ kết hợp với cải tạo một số công trình cũ thành khu làm việc của Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là hình thức đầu tư hợp lý nhất, đáp ứng các vấn đề đặt ra.

     

    III- Địa điểm xây dựng:

    1. Vị trí địa lý của công trình:

    Việc lựa chọn địa điểm xây dựng khu làm việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là rất quan trọng, địa điểm được chọn phải đáp ứng với yêu cầu về giao thông, môi trường, cảnh quan và phù hợp với quy hoạch chung của khu vực. Sau khi có chủ trương đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của tỉnh uỷ, thường vụ tỉnh uỷ đã lập Ba chỉ đạo xây dựng và tổ tư vấn để phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành khảo sát quỹ đất có khả năng xây dựng công trình thuộc thị xã Vĩnh Yên. Các vị trí đã được xem xét cụ thể nhưng có nhiều yếu tố bất lợi như: giải quyết công tác đền bù, giải phóng mặt bằng khó khăn chi phí lớn và mất nhiều thời gian, căn cứ vào quy mô xây dựng công trình và cân nhắc các yếu tố nêu trên. Ngày 22/8/2002 Ban thường vụ tỉnh uỷ là khu đang làm việc hiện nay (Toàn bộ diện tích khoảng trên 5ha). Trong quy hoạch thiết kế bảo đảm tính bền vững, đẹp nhưng tiện lợi, xây dựng cơ bản giữ được địa hình, hiện trạng, mặt bằng hạn chế đến mức thấp nhất san lấp, cải tạo mặt bằng, đường, giao thông, bảo vệ cây xanh, giữ được cảnh quan môi trường.

    Vị trí khu đất được chọn tại phường Ngô Quyền – thị xã Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.

    + Phía Đông Bắc giáp: Quốc lộ 2

    + Phía Đông Nam giáp: Đường nhánh khu vực

    + Cá phía còn lại giáp: Đầm Vạc.

    2. Đặc điểm tự nhiên:

    Vị trí khu đất thuộc phường Ngô Quyền, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, đặc điểm địa hình tự nhiên là khu vực trung du có độ dốc trung bình xen kẽ gò đồi thấp có cao độ trung bình + 15m so với mực nước biển, trong đó chỗ thấo nhất + 5.3 (dải biên giáp đầm Vạc) và chỗ cao nhất + 25.2 (khu vực đỉnh đồi). Toàn bộ khu đất được bao phủ bởi hệ thống xây xanh lâu năm tương đối dày đặc, các công trình hiện có trên đó hầu hết là các nhà cấp 4 được xây dựng từ những năm 1960 và một số công trình 2 đến 3 tầng đã quá niên hạn sử dụng, phân bố rải rác trong toàn bộ khu vực. Hệ thống sân đường cơ bản đã được láng xi măng, rải nhựa và có độ dốc thay đổi theo địa hình, một số khu vực không có sự liên kết trực tiếp bằng giao thông cơ giới mà phải sử dụng hệ thống bậc tam cấp xây gạch.

    3. Đặc điểm khí  hậu:

    Nằm trong vùng khí hậu chung của vùng trung du Bắc Bộ với khí  hậu nhiệt đới, nóng ẩm gió mùa.

    Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20C, số giờ nắng 1340 – 1800 giờ/năm.

    Độ ẩm không khí trung bình năm là 54 – 85%.

    4. Đặc điểm địa chất, thuỷ văn:

    Là khu vực có nền đất được cấu tạo chủ yêuí bằng các lớp nghèo nước ngầm, trữ lượng không lớn với thành phần không đồng nhất bao gồm các lớp đất đá lấp, cát sét pha và các lớp đá phong hoá có độ lèn chạt đến rất chặt, khả năng chịu tải từ 1,65 đến 2,2kg/cm2. Mực nước ngầm nằm khá nông và ổn định có độ sâu từ 1,9 đến 2,1m.

    Cấu tạo các lớp địa chất như sau:

    Lớp 1: Là lớp đất đắp, thành phần không đồng nhất gồm: đát đá lấp, cát pha, sét pha, dăm sạn, gạch vỡ vụn màu nâu, nâu xám, vàng sẫm, rời.

    Lớp 2: Là lớp sét pha lẫn dăm sạn, màu hồng, nâu hồng, vàng sẫm, xám vàng, xám xanh, nâu đỏ, đỏ, loang lổ. Trạng thái nửa cứng đến cứng, áp lực tính toán quy ước RO = 1.65kg/cm2. Mô đun tổng biến dạng E0 = 83.5 kg/cm2.

    Lớp 3: Là lớp sét pha lẫn ít sạn, màu hồng, nâu hồng, vàng sẫm, xám vàng, xám xanh, nâu đỏ, loang lổ, xen kẹp các lớp  màu hồng. Trạng thái nửa cứng đến cứng, áp lực tính toán quy ước K0 = 2.26kg/cm2. Mô đun tổng biến dạng E0 = 83.5kg/cm2.

    Lớp 4: Là lớp sét cứng pha lẫn ít dăm sạn, màu vàng, nâu vàng, nâu gụ, xám trắng, xám chì, xám xanh, loang lổ. Trạng thái cứng, áp lực tính toán quyước R­­0 = 2.02kg/cm2. Mô đun tổng biến dạng E0 = 204.0kg/cm2.

    Lớp 5: Là lớp đá phong hoá thành sỏi sạn lẫn cát màu xám xanh, xám đen, xám trắng, xen kẹp các lớp đá phong hoá màu vàng sẫm. Trạng thái chặt đến rất chặt.

    5. Đặc điểm hiện trạng các công trình:

    Hiện trạng khu Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc có 21 công trình nhà làm việc, chủ yếu là nhà cấp 4 được xây dựng từ năm1960, đã hết niên hạn sử dụng cụ thể như sau:

    – 01 nhà làm việc của Ban tổ chức có diện tích 1430m2, 3 tầng khung, sàn  BTCT.

    – 01 nhà để xe ô tô có diện tích 400m2, nhà cấp 4, mái lợp Pro xi măng.

    – 02 nhà ở tập thể có diện tích 275m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lớp pro xi măng.

    – 01 nhà ở tập thể có diện tích 380m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp ngói.

    – 01 nhà bếp ăn, có diện tích 200m2, nhà cấp 3, khung, sàn BTCT 2 tầng.

    – 01 ga ra xe đạp, xe máy có diện tích 100m2, với kết cấu thép chịu lực, mái lập tôn.

    – 01 nhà làm việc của Chánh văn phòng, có diện tích 170m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập tôn.

    – 01 nhà làm việc của Văn phòng, có diện tích 170m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp tôn.

    – 01 nhà làm việc của Kế toán, tài chính có diện tích 170m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập tôn.

    – 01 nhà ngân sách, có diện tích 195m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp tôn.

    – 01 Nhà làm việc của Ban thường vụ có diện tích 390m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp ngói.

    – 01 nhà họp của ban ban tổ chức có diện tích 180m2 nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập ngói.

    – 01 Nhà làm việc của Ban dân vận có diện tích 120m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập tôn.

    – 01 Nhà làm việc của Bí thư có diện tích 105m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập ngói.

    – 01 nhà canh vệ có diện tích 190m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp tôn.

    – 01 nhà nội chính có diện tích 230m2, nhà 2 tầng, khung, sàn BTCT, mái lợp tôn.

    – 01 nhà làm việc Ban tuyên giáo, Ban kiểm tra có diện tích 1150m2, nhà 2 tầng, khung, sàn BTCT, mái đổ BTCT.

    – 01 ga ra – 01 ga ra có diện tích 70m2, nhà cấp 4, tường gạch dày 220, mái đổ BTCT.

    – 01 nhà chơi bóng bàn có diện tích 52m2, nhà cấp 4, kết cấu thép chịu lực, mái lợp tôn.

    Các công trình trên hiện tại đã bị xuống cấp nghiêm trọng, tường nhà bị nứt, gây ra hiện tượng thấm, các lớp trát bị bong rộp, các nhà mái lợp bằng ngói hoặc tôn bị dột, hệ thống trần không sử dụng được. Hệ thống cung cấp điện và thiết bị điện trong các công trình lạc hậu, không đảm bảo an toàn khi sử dụng. Hệ thống cấp, thoát nước được thiết kế đơn giản không đáp ứng yêu cầu sử dụng, các đường ống thoát nước thải đổ trực tiếp ra Đầm vạc mà không qua sử lý. Thiết bị vệ sinh lạc hậu, hư hỏng nhiều.

    1. Hiện trạng phần cấp,thoát nước:

    Phần cấp nước:

    Khu làm việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đang dùng nguồn nước của thị xã Vĩnh Yên. Trong khu vực hiện đã có một số tuyến ống D400 cấp nước cho khu vực này. Hình thức nước bằng hệ thống bể ngầm, trạm bơm, đài nước tăng áp nước cho toàn khu, với hệ thống này, giải pháp vận hàng cung cấp nước tương đối phức tạp.

    Phần thoát nước:

    Hệ thống thoát nước bẩn của khu vực nghiên cứu mang tính chất bột phát, chưa có quy hoạch cụ thể cho phù hợp với quy hoạch mới của khu làm việc Tỉnh uỷ cũng như quy hoạch về thoát nước cho toàn thị xã.

    1. Hiện trạng phần cấp điện:

    Toàn bộ hệ thống điệncủa các hạng mục trong khu làm việc Tỉnh uỷ được cung cấp bằng trạm biến áp với công suất máy biến thế 1000KVA, điện áp 22 – 10/0,4KV, nguồn cao thế cấp điện cho trạm biến thế được lấy từ lưới điện quốc gia 35KV. Hệ thống cáp điện dùng cho khu làm việc tỉnh uỷ được thiết kế đi nổi, đường dây đã bị xuống cấp, độ an toàn không cao.

     

    IV- Phương án giải phóng mặt bằng:

    Địa điểm đã chọn để xây dựng mới trụ sở Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc là tại khu đất do Tỉnh uỷ đang quản lý và các cơ quan Đảng vẫn đang làm việc. Căn cứ vào quy hoạch chi tiết khu làm việc của tỉnh uỷ và việc phân chia giai đoạn thực hiện, kế hoạch giải phóng mặt bằng xây dựng được thực hiện làm 2 đợt.

    Đợt 1: Thực hiện giải phóng  mặt  bằng trong khu vực xây dựng trụ sở chính của tỉnh uỷ.

    Đợt 2: Thực hiện giải phóng mặt bằng trong khu vực xây dựng nhà khách. ăn, nhà công vụ, khu vực thể thao.

    Theo bản đồ hiện trạng khu đất do Sở Xây dựng Vĩnh Phúc lập và bản đồ quy hoạch chi tiết khu làm việc tỉnh uỷ,trong đợt 1 cần phải phá dỡ các công trình sau: Nhà làm việc của Ban tổ chức, nhà tập thể, nhà để xe ô tô. Để đảm bảo cho ban tổ chức vẫn làm việc bình thường, văn phòng tỉnh uỷ đã có kế hoạch mượn tạm khu nhà 19/5 của Sở Văn hoá Vĩnh Phúc, cải tạo lại để giao cho Ban tổ chức làm trụ sở. Sau khi hoàn thiện trụ sở chính của tỉnh uỷ, các cơ quan ban đảng sẽ chuyển về làm việc tại trụ sở chính. Công việc giải phóng mặt bằng trong khu vực xây dựng nhà khách, ăn nhà công vụ, khu vực thể thao sẽ được tioến hành với việc phá dỡ các công trình sau: nhà làm việc của ban tuyên giáo và Ban kiểm tra, nhà làm việc của khối văn phòng.

    V- Các phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng:

    1. Nguyên tắc thiết kế:

    – Đảm bảo tính bền vững, tính thẩm mỹ và thích dụng, tận dụng được địa hình hiện trạng khu vực và hệ thống giao thông, cây xanh hiện có.

    – Đảm bảo tính hoà nhập cho không gian kiến trúc, đóng góp vào cảnh quan đô thị chung trong khu vực.

    – Hình khối kiến trúc công trình hoành tráng và đảm bảo sự trang nghiêm yên tĩnh cần thiết cho thể loại công trình của Đảng.

    2. Các phương án kiến trúc:

    – Căn cứ kết luận của Ban thường vụ tỉnh uỷ Vĩnh Phúc ngày 22/8/2002 về phương án quy hoạch chi tiéet khu làm việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, trụ sở làm việc và các hạng mục công trình khác.

    – Căn cứ thuyết minh tóm tắt quy hoạch chi tiết khu làm việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã được phê duyệt do Công ty Tư vấn và thiết kế xây dựng Tổng côgn ty xây dựng Hà Nội lập tháng 10/2002.

    – Dựa trên quy hoạch phân khu chức năng và các hạng mục công trình theo phương án đã được phê duyệt trên khu đất hiện đang là địa điểm làm việc của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, các giải pháp thiết kế cho các hạng mục công trình như sau:

    Hạng mục công trình:

    µ Khu vực trụ sở:

    1. Trụ sở làm việc chính:

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Công trình trụ sở tỉnh uỷ cao 5 tầng có hìng khối kiến trúc hoành tráng mang phong cách cổ điển kết hợp hiện đại với các đường nét kiến trúc nhẹ nhàng mà chắc chắn, các chi tiết kiến trúc cách tân cổ điển rạo ra cho công trình vẻ bề thế trang nghiêm nhưng vẫn gần gũi và thân thiện.

    Bố cục bằng công trình như sau:

    Toàn bộ mặt bằng công trình được bố cục hình chữ H cao 5 tầng và nối dài khối giữa về phía sau bằng khối 2 tầng với chiều cao tầng lớn (hình chuôi vồ). Khối giữa được dành cho hệ giao thông đứng và các chức năng công cộng và lễ ghi.

    Các diện tích công trình được áp dụng bởi Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCVN 4601 – 1988 và quyết định 147/QĐ – TTg về tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích trong trụ sở làm việc kết hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của chủ đầu tư, các chức năng sử dụng đặc biệt của công trình và hình khối kiến trúc đảm bảo được tính bền vững về công năng và thẩm mỹ đáp ứng cho thể loại công trình có tuổi thọ cao (cấp I: trên 75 năm) hệ số sử dụng diện tích K>0,6.

    Bố cục hình khối công trình bao gồm ba phần:

    Phần chân đế công trình cao tầng được bố cụ bởi hệ vòm cuốn lớn chắc chắn và được ốp bằng vật liệu sẫm màu tạo sự vững chãi cho công trình.

    Phần thân công trình cao 4 tầng được phânvị bằng các hệ cột đứng ốp mặt tường ngoài và các ô cửa với hệ gờ phào và màu sắc nhẹ nhàng tạo sự hoành tráng cho công trình.

    Phần mái công trình được thể hiện bằng mái Ac – đoa dùng vật liệu sẫm màu cùng với các cửa mái mang phong cách tân cổ điển tạo phần kếtmái rõ ràng, mạch lạc.

    Với hình thức kiến trúc này, công trình đảm bảo được tính thẩm mỹ bền vững theo thời gian.

    Chiều cao tầng bao gồm:

    – Tầng 1 cao 4,5m

    – Tầng 2 cao 3,6m

    – Tầng 3 cao 3,6m

    – Tầng 4 cao 3,6m

    – Tầng 5 cap 4,5m

    Cốt ± 0.000 xác định cho cao độ Đại sảng chính của công trình cao hơn cốt khu vực trước sảnh 1,35m (+ 11.800 trong quy hoạch tổng thể)

    * Quy mô thiết kế phân khu chức năng:

    Tầng hầm:

    – Ga ra chỗ để xe                       :         324,7 m2

    – Phòng máy phát dự phòng      :           27.8 m2

    – Ga ra, chỗ để xe                      :           19,4 m2

    – Ga ra, chỗ để xe                      :           10.7 m2

    Cộng diện tích sử dụng            :        382.6 m2

    Diện tích sàn                                      :        409,5 m2

    Tầng 1:

    Khu chức năng chung:

    – Tiền cảnh                                                             :           85.7 m2

    – Đại sảnh (bao gồm thang máy, thang bộ)   :         220.7 m2

    – Phòng khánh tiết                                                  :         211.1 m2

    – Hành lang                                                            :           85.3 m2

    – Phòng phục vụ                                                     :           10.2 m2

    – Phòng phụ trợ                                                      :           10.2 m2

    Khối văn phòng (phòng quản trị + Nghiên cứu tổng hợp).

    – Phòng tiếp dân                                                     :           34.5 m2

    – Trưởng phòng quản trị                                         :           19.4 m2

    – Phòng chuyên viên (phòng Quản trị)                   :         128.6 m2

    – Hành lang                                                            :           71.6 m2

    – Kho                                                                      :           13.5 m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5 m2

    – Sảnh bên                                                              :           42.4 m2

    – Trưởng phòng nghiên cứu tổng hợp           :           19.4 m2

    – Phòng chuyên viên (phòng N/c tổng hợp)  :           71.9 m2

    – Phòng nghỉ đội xe                                                          :           33.0 m2

    – Hành lang + cầu thang                                         :     1073.6 m2

    Ban kiểm tra (bao gồm tầng 1-2)

    – Tiền sảnh (chung cho các Ban Đảng)                   :           28.6 m2

    – Sảnh bên                                                              :           42.4 m2

    – Phòng họp                                                           :           54.6 m2

    – Phòng tiếp dân                                                     :           16.5 m2

    – Trưởng ban                                                          :           34.5 m2

    – Phó trưởng ban                                                    :           41.0 m2

    – Trưởng phòng: 21,6+19,4+ (16,5×2) =                :           74.0 m2

    – Phó trưởng phòng                                                          :           49.5 m2

    – Các phòng chuyên viên : 21,6+19,4           :           41.0 m2

    – Hành lang + cầu thang                                         :         179.2 m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5 m2

    – Kho                                                                      :           13.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng                                         :    1.766.9 m2

    Diện tích sàn                                                                   :    1.971.4 m2

    Tầng 2:

    Khu chức năng chung:

    – Sảnh chính (thang máy, thang bộ, hành.lang hội trường)        :         247.4 m2

    – Hội trường                                                                                        :         207.9 m2

    – Phòng phục vụ                                                                                  :           12.7 m2

    – Phòng phụ trợ                                                                                   :           12.7 m2

    Khối văn phòng (phòng hành chính).

    – Phòng hội thảo nhỏ                                                                          :           67.5 m2

    – Phó văn phòng                                                                                 :           34.5 m2

    – Hành lang                                                                                         :           63.1 m2

    – Kho                                                                                                   :           13.5 m2

    – Khu vệ sinh                                                                                                :         13.55 m2

    – Sảnh bên + cầu thang                                                                       :           66.3 m2

    – Phó Bí thư                                                                                        :           54.6 m2

    – Phòng khách + chờ                                                                           :           16.5 m2

    – Trưởng phòng hành chính                                                                :           19.4 m2

    – Phó trưởng phòng hành chính                                                 :           19.4 m2

    – Các phòng chuyên viên                                                                     :           99.0 m2

    – Hành lang                                                                                         :           42.8 m2

     Ban kiểm tra (tiếp tầng 1)

    – Trưởng phòng                                                                                   :           16.5 m2

    – Phó trưởng phòng                                                                                      :           16.5 m2

    – Các phòng chuyên viên                                                                     :           71.8 m2

    Ban tổ chức (tầng 2-3)

    – Sảnh bên                                                                                           :           66.3 m2

    – Phòng họp                                                                                        :           54.6 m2

    – Trưởng ban                                                                                       :           34.5 m2

    – Phó trưởng ban                                                                                 :           41.0 m2

    – Các trưởng phòng : 21,6+16,5                                                          :           38.1 m2

    – Phó trưởng phòng: 16,5+19,5                                                 :           36.0 m2

    – Phòng chuyên viên                                                                            :           21.6 m2

    – Hành lang                                                                                         :         105.9 m2

    – Khu vệ sinh                                                                                                :           13.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng                                                                     :    1.507.1m2

    Diện tích sàn                                                                                                :   1.679.2 m2

    Tầng 3:
    Khu chức năng chung

    – Sảnh chính tầng (thang máy, thang bộ)               :         159.4 m2

    – Phòng khách                                                                  :         190.1 m2

    Khối văn phòng (nội chính)

    – Phòng họp thường vụ                                          :           67.5 m2

    – Phó văn phòng                                                     :           34.5 m2

    – Hành lang                                                            :           63.1 m2

    – Kho + lễ tân                                                                   :           19.5 m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :         135.0 m2

    – Sảnh bên + cầu thang                                           :         106.7 m2

    – Phòng Bí thư                                                                 :           54.6 m2

    – Phòng khách (Bí thư)                                           :           34.3 m2

    – Phòng Thư ký                                                      :           19.4 m2

    – Chánh văn phòng                                                :           54.6 m2

    – Các phòng chuyên viên                                        :           52.4 m2

    – Hành lang                                                            :           42.8 m2

    Ban tổ chức (tiếp tầng 2)

    – Sảnh bên                                                              :           69.9 m2

    – Các trưởng phòng                                                          :           57.5 m2

    – Các phó trưởng phòng                                         :           54.6 m2

    – Các phòng chuyên viên                                        :         234.8 m2

    – Hành lang                                                            :         105.9 m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng                                         :    1.448.6 m2

    Diện tích sàn                                                                   :    1.511.7 m2

    Tầng 4:

    Khu chức năng chung:

    – Sảnh chính tầng (thang máy, thang bộ)               :         159.4 m2

    – Phòng họp                                                           :         190.1 m2

    Khối văn phòng (Lưu trữ)

    – Phòng Hội thảo nhỏ                                             :           67.5 m2

    – Trung tâm điều hành CB                                     :           44.5 m2

    – Hành lang                                                            :           63.1 m2

    – Kho + phục vụ                                                     :           13.5m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5m2

    – Sảnh bên + cầu thang                                           :           69.9m2

    – Trưởng phòng lưu trữ                                          :           16.5m2

    – Phòng chuyên viên                                               :           19.5m2

    – Phòng chỉnh lý                                                     :           34.1m2

    – Phòng khai thác                                                   :           19.4m2

    – Phòng đọc                                                            :           35.0m2

    – Các kho lưu trữ                                                    :         163.7m2

    – Hành lang                                                            :           42.8m2

    Ban tuyên giáo

    – Sảnh bên                                                              :           69.9m2

    – Phòng họp                                                           :           54.6m2

    – Trưởng ban                                                          :           34.5m2

    – Các phó trưởng ban                                             :           41.0m2

    – Các trưởng phòng                                                          :           54.6m2

    – Các phó trưởng phòng                                         :           52.5m2

    –  Các phòng chuyên viên                             :         128.4m2

    – Hành lang                                                            :         105.9m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5m2

    Cộng diện tích sử dụng                                         :     1507.4m2

    Diện tích sàn                                                                   :     1511.7m2

    – Sảnh chính tầng (thang máy, thang bộ)               :         159.4m2

    Khối văn phòng (lưu trữ)       

    – Phòng Hội thảo nhỏ                                             :           57.4m2

    – Đào tạo                                                                          :           45.5m2

    – Hành lang                                                            :           63.1m2

    – Kho + phục vụ                                                     :           13.5m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5m2

    – Sảnh bên + cầu thang                                           :         106.7m2

    – Phòng chuyên viên (lưu trữ)                                 :         121.3m2

    – Trưởng phòng  máy tính                                      :           19.4m2

    – Phòng máy tính + cơ yếu                                     :           52.4m2

    – Phòng máy chủ                                                    :           34.1m2

    – Hành lang                                                            :           42.8m2

    Ban dân vận

    – Sảnh bên                                                              :           69.9m2

    – Phòng tiếp dân                                                     :           35.0m2

    – Phòng họp                                                           :           54.6m2

    – Trưởng ban                                                          :           34.5m2

    – Các phó trưởng ban                                             :           41.0m2

    – Các trưởng phòng                                                          :           54.6m2

    – Các phó trưởng phòng                                         :           52.5m2

    – Các phòng chuyên viên                                        :           80.5m2

    – Hành lang                                                            :         105.9m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5m2

    Cộng diện tích sử dụng                                         :     1270.1m2

    Diện tích sàn                                                                   :     1419.0m2

     
       

     

    Cộng diện tích sử dụng                                         :     7882.7m2

    Diện tích sàn                                                                   :     8502.5m2

    • Cấp công trình:

    – Cấp công trình     :         cấp 1

    – Bậc chịu lửa                   :         cấp 1

    • Giải pháp hoàn thiện:

    Công trình trụ sở Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là công trình cấp I. Tính chất sử dụng đặc biệt của cơ quan lãnh đạo cao nhất của tỉnh vì vậy việc lựa chọn các vật liệu hoàn thiện được đặc biệt quan tâm. Đảm bảo cho nhu cầu sử dụng hợp lý và thuận tiện. Vì vậy các loại vật liệu hoàn thiện được sử dụng bằng các loại cao cấp trong và ngoài nước.

    Các loại vật liệu ốp lát bao gồm:

    Mặt ngoài công trình:

    – Chân tường và tầng 1 bằng đá Granit tự nhiên sẫm màu

    –  Tầng 25 lăn sơn loại tốt (liên doanh)

    – Mái kiểu Ac – đoa dán giả ngói bằng gạch Granit TBC (hoặc ngói gốm Quảng ninh – lựa chọn sự phù hợp về chất lượng và thẩm mỹ đảm bảo cho hình thức chung toàn công trình) màu đỏ sẫm.

    Cửa đi, cửa sổ khung và khuôn gỗ lim, kính 5mm đáp cầu.

    Bên trong công trình:

    – Các sàn đại sảnh và sảnh tầnh chính, phòng Khánh tiết và các phòng họp chính (Hội trường, phòng họp thường vụ) bằng đá Granit tự nhiên.

    – Các sàn phòng họp và các phòng công cộng khác (phòng khách…) bằng gạch Granit TBC.

    – Các phần sàn còn lại bằng gạch Ceramic TBC.

    – Toàn bộ tường, trần (trừ các phòng và khu vực được thiết kế nội thất riêng) lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – ốp chân tường bằng vật liệu cùng loại với vật liệu sàn.

    1. Ga ra ô tô để xe (số lượng 2):

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Bao gồm hai khối nhà 1 tầng khung sàn mái BTCT lợp tôn chống nóng, tường xây gạch chỉ trát vữa XM 50# lăn sơn loại tốt (liên doanh) nền nhà BT đá dăm

    Lát gạch chống trơn TBC, cửa đi nhôm cuốn, cửa sổ khung nhôm kính 5mm, hoa sắt sơn tĩnh điện.

    Quy mô diện tích:

    Nhà ga ra để xe số 1

    – Diện tích sử dụng           :         102.8 m2

    – Diện tích sàn                           :         113.3 m2

     

    Nhà ga ra để xe số 1

    – Diện tích sử dụng           :           61.2 m2

    – Diện tích sàn                           :           68.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng    :         164.0 m2

    Diện tích sàn                    :         181.8 m2

     

    µ Khu vực lưu niệm.

    1. Nhà lưu niệm:

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Công trình nhà 1 tầng sẵn có (được xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XX), tường gạch chịu lực, có chức năng là nhà làm việc của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (nơi đây Bác Hồ đã từng về thăm và nói chuyện với lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong cơ quan Tỉnh uỷ). Vì vậy công trình sẽ được cải tạo lại làm nhà lưu niệm, truyền thống của cơ quan Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc. Các phương án và chi tiết cải tạo được thể hiện trong thuyết minh chi tiết cải tạo công trình này.

    1. Các nhà công cụ (số lượng: 2).

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Là công trình 2 tầng khung cột BTCT theo thể loại biệt thự được phân bố men triền đồi về phía Tây – bắc khu đất với hệ thống sân đường riêng biệt phục vụ chức năng làm việc, đón tiếp và nghỉ ngơi cho lãnh đạo Tỉnh uỷ. Hình thức công trình trang nhã theo phong cách cách tân cổ điển ẩn hiện sau những tán cây rậm rạp phía sau khu đồi tạo sự yên tĩnh, phù hợp cho chức năng sử dụng của công trình.

    Quy mô diện tích:

    Tầng 1:

    – Sảnh chính + cầu thang :         50.4 m2

    – Phòng làm việc + họp    :         76.7 m2

    – Phòng văn + bếp nấu     :         32.7 m2

    – Phòng phục vụ + kho    :         12.6 m2

    – Khu vệ sinh                             :         13.0 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        185.4 m2

    Diện tích sàn                             :        196.7 m2

    Tầng 2:

    – Phòng ngủ chính            :         23.7 m2

    – Phòng ngủ (nghỉ) phụ    :         30.2 m2

    – Phục vụ + kho               :         6.8 m2

    – Hành lang+ ban công     :         43.5 m2

    – Khu vệ sinh                             :         11.0 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        115.2 m2

    Diện tích sàn                             :        123.3 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        300.6 m2

    Diện tích sàn                             :        320.0 m2

    • Cấp công trình:

    – Cấp công trình     :         Cấp II

    – Bậc chịu lửa                   :         Bậc II

    • Giải pháp hoàn thiện:

    Công trình là nơi làm việc và nghỉ ngơi cho lãnh đạo Tỉnh uỷ, vì vậy nhu cầu sử dụng cần được hoàn thiện bằng các loại vật liệu phù hợp.

    Các loại vật liệu ốp lát bao gồm:

    • Mặt ngoài công trình:

    – Các mặt tường lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – Mái BTCT dán giả ngói bằng gạch Granite Thạch Bàn (hoặc ngói gốm Quảng Ninh).

    – Lựa chọn sự phù hợp về chất lượng và thẩm mỹ đảm bảo cho hình thức chung toàn công trình) màu đỏ sẫm.

    – Cửa đi, cửa sổ khung và khuôn gỗ lim, kính 5mm Đáp Cầu.

    • Bên trong công trình:

    – Các khu vực sảnh và phòng khách bằng gạch granit TBC.

    – Các phần sàn còn lại bằng gạch Ceramic TBC.

    – Toàn bộ tường, trần (trừ các phòng được thiết kế nội thất riêng) lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – ốp chân tường bằng vật liệu cùng loại với vật liệu sàn.

    1. Các nhà biệt thự (số lượng 2).

    Bố cục và hình khối kiến trúc.

    Là công trình 2 tầng khung cột BTCT được phân bố men triền triền đồi về phía Tây – Bắc khu đất đối xứng với các nhà công vụ qua hệ trục chính của khu lưu niệm cùng với hệ thống sân đường riêng biệt phục vụ chức năng làm việc và nghỉ cho các cán bộ cao cấp của Trung ương và các tỉnh khác đến công tác tại Tỉnh uỷ với hình thức công trình tương xứng và đồng nhất với các nhà Công vụ, vị trí công trình tạo sự yên tĩnh, phù hợp với tính chất sử dụng của công trình.

    Quy mô diện tích

    Tầng 1

    – Sảnh chính + cầu thang :         50.4 m2

    – Phòng làm việc + họp    :         78.7 m2

    – Phòng văn + bếp nấu     :         32.7 m2

    – Phòng phục vụ + kho    :           9.4 m2

    – Khu vệ sinh                             :         13.0 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        184.2 m2

    Diện tích sàn                             :        196.7 m2

    Tầng 2:

    – Phòng ngủ chính            :         23.7 m2

    – Phòng ngủ (nghỉ) phụ    :         15.1 m2

    – Phòng khách                           :         61.2 m2

    – Hành lang+ ban công     :         18 m2

    – Khu vệ sinh                             :         12.8 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        130.8 m2

    Diện tích sàn                             :        143.3 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        315.0 m2

    Diện tích sàn                             :        340.0 m2

    • Cấp công trình:

    – Cấp công trình     :         Cấp II

    – Bậc chịu lửa                   :         Bậc II

    • Giải pháp hoàn thiện:

    Công trình là nơi làm việc và nghỉ ngơi cho các cán bộ cáo cấp của Trung ương và các tỉnh khác đến công tác và làm việc tại Tỉnh uỷ, vì vậy nhu cầu sử dụng cần được hoàn thiện bằng các loại vật liệu phù hợp.

    Các loại vật liệu ốp lát bao gồm:

    • Mặt ngoài công trình:

    – Các mặt tường lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – Mái BTCT dán giả ngói bằng gạch Granit TBC (hoặc ngói gốm Quảng Ninh).

    – Lựa chọn sự phù hợp về chất lượng và thẩm mỹ đảm bảo cho hình thức chung toàn công trình màu đỏ sẫm.

    Cửa đi, cửa sổ khung và khuôn gỗ lim, kính 5mm Đáp Cầu.

    • Bên trong công trình:

    – Các khu vực sảnh và phòng khách bằng gạch Granit TBC.

    – Các phần sàn còn lại bằng gạch Ceramic TBC.

    – Toàn bộ tường, trần (trừ các phòng được thiết kế nội thất riêng) lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – ốp chân tường bằng vật liệu cùng loại với vật liệu sàn.

    1. Nhà bóng bàn:

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Nhà 1 tầng khung sàn mái BTCT lợp tôn chống nóng, tường xây gạch chỉ trát vữa XM 50# lăn sơn loại tốt (liên doanh), nền nhà BT đá dăm lát gạch chống trơn TBC, cửa đi nhôm cuốn, cửa sổ khung nhôm kính 5mm, hoa sắt sơn tĩnh điện.

    Quy mô diện tích:

    – Diện tích sử dụng :         262.5 m2

    – Diện tích sàn                  :         277.6 m2

     

    µ Khu vực nhà khách, nhà ăn:

    a- Nhà khách – nhà ăn.

    Bố cục và hình khối kiến trúc.

    – Công trình được thiết kế với hình thức mềm mại, là sự kết hợp giữa 2 chức năng khu nhà khách đón tiếp các cán bộ tới làm việc qua ngày tại Tỉnh uỷ.

    – Khu nhà ăn phục vụ chung cho cả CBCNV trong cơ quan và khách tới làm việc.

    Khối nhà ăn có chiều cao 2 tầng với mặt bằng hình cánh cung tạo cho không gian đón tiếp thoáng đãng mà vẫn giữ được sự yên tĩnh cần thiết.

    Khối nhà khách cao 3 tầng trải dài theo địa thế khu đất bằng hình khối cách tân nhẹ nhàng tạo cảm giác thoải mái cho khách nghỉ.

    Quy mô thiết kế:

    Tầng 1.

    Khối nhà ăn

    – Sảnh chính + cầu thang           :         105.3 m2

    – Phòng ăn lớn                                     :         225.0 m2

    – Khu bếp nấu + gia công :         105.0 m2

    – Phòng nghỉ nhân viên              :           25.6 m2

    – Phòng phục vụ + kho              :           25.0 m2

    – Khu vệ sinh                                      :           17.5 m2

    Khối nhà khách:

    – Sảnh chính + cầu thang           :           83.5 m2

    – Phòng lê tân + dịch vụ VP + lưu niệm        :         180 m2

    – Các phòng ngủ                        :         148.4 m2

    – Phục vụ + Kho                        :           13.5 m2

    – Khu vệ sinh                                      :           17.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng            :        946.3 m2

    Diện tích sàn                                      :     1971.4 m2

    Tầng 2:

    Khối nhà ăn

    – Các phòng ăn nhỏ                             :         220.0 m2

    – Khu bếp phụ + chia soạn        :           70.2 m2

    – Sảnh tầng + hành lang            :         156.5 m2

    – Phòng phục vụ + kho              :           10.3 m2

    – Khu vệ sinh                                      :           17.5 m2

    Khối nhà khách.

    – Sảnh chính + cầu thang           :         101.5 m2

    – Các phòng ngủ                        :         148.4 m2

    – Nhân viên phục vụ + kho        :           25.6 m2

    Cộng diện tích sử dụng            :        750.0 m2

    Diện tích sàn                                      :     1971.4 m2

    Tầng 3:

    Khối nhà khách

    – Sảnh tầng + cầu thang   :         101.5 m2

    – Các phòng ngủ              :         148.4 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        249.9 m2

    Diện tích sàn                             :     1971.4 m2

     

    Cộng diện tích sử dụng  :     1946.2 m2

    Diện tích sàn                             :     2474.0 m2

    • Cấp công trình:

    – Cấp công trình     :         Cấp II

    – Bậc chịu lửa                   :         Bậc II

    • Giải pháp hoàn thiện:

    Công trình có tính chất sử dụng cho chức năng đón tiếp và phục vụ cho toàn khu làm việc Tỉnh uỷ, cần đảm bảo cho nhu cầu sử dụng hợp lý và thuận tiện. Vì vậy các loại vật liệu hoàn thiện được sử dụng bằng các loại tốt trong và ngoài nước.

    Các loại vật liệu ốp lát bao gồm:

    • Mặt ngoài công trình:

    –  Chân tường và tầng 1 bằng đá Granitô tự nhiên sẫm màu.

    – Các tầng còn lại lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – Mái kiểu Ac-đoa dán giả ngói bằng gạch Granit TBC (hoặc ngói gốm Quảng Ninh – lựa chọn sự phù hợp về chất lượng và thẩm mỹ đảm bảo cho hình thức chung toàn công trình) màu dỏ sẫm.

    – Cửa đi, cửa sổ khung và khuôn gỗ lim, kính 5mm Đáp Cầu

    • Bên trong công trình:

    – Các sảnh chính và các khu vực đón tiếp, công cộng bằng gạch Granit TBC.

    – Các phần sàn còn lại bằng gạch Ceramic TBC.

    – Toàn bộ tường, trần (trừ các phòng và khu vực được thiết kế nội thất riêng) lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – ốp chân tường bằng vật liệu cùng loại với vật liệu sàn.

    1. Các sân thể thao.

    Bao gồm 2 sân tenis và 2 sân cầu lông được phân bố cuối khu đất theo bố cục vừa vặn với địa thế hiện trạng khu đất tạo thành khuôn viên gọn gàng phù hợp cho chức năng nghỉ ngơi thư giãn và các hoạt động thể dục thể thao trong khu làm việc.

    Các kỹ thuật hoàn thiện các sân thể thao theo các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Hệ thống diện tích các sân thể thao bao gồm:

    Sân tenis                          :         24 x 11 x 2 =         528 m2

    Tính cả phần biên  :         36 x 18 x 2 =       1296 m2

    Sân cầu lông           :         13.4 x 6.1 x 2       =         163 m2

    Tính cả phần biên  :         15.4 x 8.1 x 2       =         249 m2

    1. Căng tin phục vụ:

    Bao gồm các ki ốt nhỏ (diện tích 9 ¸ 12m2) xây gạch lợp mái tôn, tường trát vữa XM và lăn sơn loại tốt, cửa kính khung nhôm Singapore phân bố xen kẽ trong khu thể thao.

    * Các hạng mục kỹ thuật hạ tầng.

    Bao gồm các hệ thống sân đường, cổng, thường trực bảo vệ và các hệ thống kỹ thuật khác (trạm biến thế điện, khuôn viên, bồn hoa cây cảnh, đèn cao áp, đèn vườn, tượng đài, tiểu cảnh…) được thiết kế đồng bộ, có phong cách thống nhất phù hợp với tính chất của công trình và cảnh quan kiến trúc toàn khu.

    1. Cổng chính (số lượng 2).

    Hình thức kiến trúc mang phong cách tương xứng với công trình bao gồm hai phần chính.

    Phần chính giữa rộng 6,00m với 4 cánh mở và các phụ hai bên rộng 3,00m bằng hàng rào hoa sắt.

    Trụ chính xây gạch chỉ lõi thép đắp gờ phào, các trụ phụ hai bên bằng sắt với hoa văn cổ sơn xanh sẫm, cánh cổng khung sắt hộp hoa sắt sơn xanh sẫm.

    1. Cổng phụ (số lượng 4).

    Chia 2 phần.

    Phần chính dành cho ô tô rộng 4,50m bao gồm 4 cánh mở

    Phần phụ dành cho xe đạp, xe máy với 1 cánh mở.

    Các phần được ngăn cách bởi các trụ sắt hoa văn.

    1. Hàng rào (tổng chiều dài: 920m).

    Sử dụng loại hàng rào hoa sắt với hình thức cách tân cổ điển, chân rào xây gạch chỉ dày 220 cao 450.

    1. Hệ thống sân:

    Bao gồm các sân cho các khu vực tập trung của các khu chức năng, kết cấu sân BT đá dăm lát gạch chống trơn hoặc kết cấu sân gạch Block tuỳ theo mỗi sân.

    Tổng diện tích đường.

    1. Hệ thống đường.

    Bao gồm các tuyến đường nội bộ sẵn có được cải tạo, mở rộng và các tuyến đường mới theo quy hoạch chi tiết đã được duyệt. Hệ thống đường có các kết cấu:

    – Đường chính BT atphan.

    – Đường phụ, đường nhánh BT đá dăm.

    – Đường dạo lát gạch và đá xếp.

    Tổng diện tích đường.

    3. Các giải pháp xây dựng:

    1. Mô tả, đánh giá điều kiện địa chất thuỷ văn công trình:

    Địa điểm địa chất công trình: Căn cứ kết quả khảo sát địa chất công trình do Công ty tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng lập tháng 10/2002.

    • Địa điểm địa chất thuỷ văn.

    Nước dưới đất chủ yếu chứa trong lớp số 2 trữ lượng không lớn do nguồn cung cấp là nước mặn. Mặt khác, độ sâu gặp mực nước xiên dao động theo mùa, hiện trung bình khoảng 4.5m so với mặt đất tự nhiên nên không ảnh hưởng lớn đến thi công nếu đào móng nông.

    • Đánh giá đặc điểm địa chất công trình.

    Địa chất công trình mang đặc trưng rõ nét của đại chất vùng đồi trung du, có cấu tạo địa tầng tương đối phức tạp gồm nhiều lớp, ranh giới giữa các lớp đất biến thiên mạnh.

    Qua trạng thái và chỉ tiêu cơ lý của các lớp đất nằm trong cấu tạo địa tầng cho thấy ngoại trừ lớp đất (lớp số 1), các lớp đất còn lại có chỉ tiêu cơ lý tương đối tốt, khả năng chịu tải của nền đất tăng theo độ sâu. Tuy nhiên ranh giới giữa các lớp đất biến thiên mạnh tạo thành các mái dốc. Đặc biệt là khu vực sát hồ nước. Do đó cần lưu ý hiện tượng mất ổn định do trượt theo mái dốc.

    1. Giải pháp thiết kế sơ bộ kết cấu – nền móng công trình.
    • Căn cứ lập thiết kế sơ bộ.

    – Phương án thiết kế kiến trúc trình bày trong báo cáo nghiên cứu khả thi đã được cấp thoả thuận về kiến trúc quy hoạch.

    – Các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng áp dụng.

    + Quy chuẩn xây dựng Việt Nam.

    + Tải trọng và tác động – tiêu chuẩn thiết kế: TCVN 2737: 1995.

    + Kết cấu BTCT – Tiêu chuẩn thiết kế TCVN 5575: 1991.

    + Móng cọc – Tiêu chuẩn thiết kế: TCXD 205: 1998.

    – Báo cáo khảo sát địa chất công trình do Công ty tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng thực hiện tháng 10/2002.

    1. Giải pháp thiết kế:

    * Trụ sở chính:

    • Giải pháp kết cấu chịu lực chính:

    – Kết cấu chịu lực chính của khối công trình này được lựa chọn là hệ khung chịu lực BTCT.

    – Kết cấu sàn được lựa chọn là hệ bản sàn BTCT thi công toàn khối cùng với hệ khung chịu lực. Chiều dày bản sàn sơ bộ xác định dày 12cm.

    • Giải pháp xử lý nền và kết cấu móng:

    – Đối với các đơn nguyên nhà từ trục 1-20 sử dụng giải phóng móng băng giao nhau BTCT đặc trực tiếp trên nền đất tự nhiên tại cốt cao độ +9.750.

    – Đối với đơn nguyên nhà từ trục 21 ¸ 25 do công trình nằm khá gần hồ (K/C gần nhất = 8m) để đề phòng trượt đất theo mái dốc áp dụng giải pháp xử lý nền bằng cọc BTCT tiết diện 250x250mm. Hạ bằng phương pháp đóng. Chiều dài cọc dự kiến 18m độ sâu mũi cọc dự kiến ở cao độ – 7.70.

    • Khối hội trường lớn:
    • Giải pháp kết cấu chịu lực chín.

    – Đây là khối công trình 1 tầng nhưng có chiều cao tầng và không gian lớn do vậy kết cấu được lựa chọn như sau: Cột BTCT chịu lực kết hợp hệ dầm giằng BTCT tạo hệ khung không gian.

    – Kết cấu mái: Nhịp lớn sử dụng hệ vì kèo với bước gian 3.6m. Mái lợp tôn có lớp cách nhiệt, cách âm.

    • Giải pháp xử lý nền và kết cấu móng.

    – Do khối công trình này có kết cấu nhịp lớn, mặt khác tải trọng chân cột khá nhỏ nên sử dụng giải pháp móng cột độc lập, để móng đặt trên nền tự nhiên nằm cùng cao độ với móng bằng khối làm việc 6 tầng.

    – Bố trí hệ giằng móng BTCT nối giữa các móng cột tạo nên độ cứng không gian cho toàn khối Công ty.

    * Khối nhà ăn – nhà khách.

    • Giải pháp kết cấu chịu lực chính:

    Hạng mục này gồm 2 khối nhà: Nhà ăn 2 tầng và nhà khách 3 tầng. Về tổng thể do tổng chiều dài công trình lớn (> 8m) nên đề xuất tách rời hệ kết cấu – nền móng giữa 2 khối nhà này thông qua khe lún từ móng đến mái. Giải pháp này cho phép hạn chế lún lệch và phù hợp với quy định và khe co dãn theo quy phạm.

    – Giải pháp kết cấu chịu lực chung cho cả 2 khối nhà này được lựa chọn là hệ khung chịu lực BTCT. Kết cấu sàn sử dụng giải pháp sàn BTCT toàn khối cùng hệ khung chịu lực.

    • Giải pháp xử lý nền và kết cấu móng.

    – Giải pháp móng cho 2 khối công trình này được lựa chọn là móng băng BTCT theo một phương, phương còn lại bố trí hệ giằng BTCT để tăng cường độ cứng không gian và ổn định của kết cấu móng.

    – Đáy móng được đặt trên nền đất tự nhiên trong lớp số (2) theo báo cáo khảo sát địa chất.

    * Các nhà nghỉ, công cụ:

    – Các công trình này mang tính chất biệt thự ở kết cấu khung sàn BTCT toàn khối.

    – Giải pháp móng các công trình này là móng bằng BTCT đặt trên nền đất tự nhiên.

    4. Giải pháp thiết kế cấp điện cho các hạng mục.

    Cơ sở thiết kế:

    Quy phạm trang bị điện 11 TCN-18-84, 11 TCN-19-84, 11 TCN-20-84,  11 TCN-2-91.

    Tiêu chuẩn ngành đặt đường dây điện trong nhà ở và công trình công cộng 250TCN-25-84.

    Tiêu chuẩn ngành – chiếu sáng nhân tạo trong công trình dân dụng 20TCN-16-86.

    Chiếu sáng nhân tạo bên ngoài công trình xây dựng dân dụng 20TCN95-83.

    Phần nguồn điện.

    Công trình được cấp điện từ 1 nguồn điện riêng đặt bên trong phạm vi khu tỉnh uỷ lấy điện từ lưới điện quốc gia 35KV. Nguồn điện có trạm biến áp hạ áp và nguồn máy phát điện dự phòng Điesel.

    Nguồn cung cấp điện:

    Nguồn điện sử dụng của công trình là nguồn điện xoay chiều 3 pha 4 dây 380/220V, 50Hz, trung tính phía thứ cấp máy biến áp trực tiếp nối đất.

    Phụ tải điện:

    Xác định công suất phụ tải tính toán cho từng hạng mục công trình và lựa chọn công suất máy biến áp.

    Trụ sở làm việc Tỉnh uỷ.

    Trụ sở làm việc gồm 5 tầng, trong đó chủ yếu là văn phòng làm việc, chọn suất phụ tải tính toán P0 = 0,12 KW/m2/sử dụng.

    Công suất phụ tải tính toán toàn toà nhà: P1 = 570 KW.

    Khu nhà ở bí thư, phó bí thư, khu nhà khách cao cấp và nhà đón tiếp:

    Chọn suất phụ tải, phụ tải tính toán P0 = 0,15 KW/m2/sử dụng.

    Tính toán sơ bộ công suất phụ tải tính toán là: P1 = 132 KW.

    Khu nhà bóng bàn và nhà lưu niệm.

    Khu nhà chủ yếu dùng điện chiếu sáng, chọn suất phụ tải tính toán là:

    P0 = 16 W/m2/ sử dụng.

    Công suất phụ tải tính toán toàn khu nhà: P3 = 12KW

    Khu nhà ăn:

    Chọn suất phụ tải tính toán: P0 = 30W/m2/sử dụng.

    Công suất phụ tải tính toán toàn khu nhà: P4 = 24KW

    Khu nhà khách:

    Chọn suất phụ tải tính toán: P0 = 0,12 KW/m2/ sử dụng

    Công suất phụ tải tính toán toàn khu nhà: P5 = 44 KW

    Chiếu sáng công cộng và nhà bảo vệ.

    Chọn suất phụ tải tính toán: P0 = 8KW/m2/ sử dụng.

    Chọn sơ bộ công suất phụ tải tính toán: P6 = 50 KW.

    Tổng công suất phụ tải cấp cho các hạng mục là:

    Ptt = P1 + P2 + P3 + P4 + P5 + P6 = 832 KW

    Chọn cos j = 0,85; Stt =  = 978.8 KVA; chọn máy biến áp 1000KVA

    Phương thức cấp điện:

    Trên cơ sở mặt bằng và số liệu công suất cần cấp cho các hạng mục công trình, đề ra phương án cấp điện như sau:

    Đặt riêng cho khu Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc một máy biến áp 1000KVA – 35/0,4KV.

    Để đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện liên tục, đặt 1 máy phát điện dự phòng công suất 400KVA cung cấp 50% công suất của công trình khi có sự cố nguồn máy biến áp (lúc đó cắt toàn bộ công suất máy điều hoà), máy phát điện dự phòng cần được khởi động kiểm tra thường xuyên.

    Tủ điện tổng được đặt tại trạm biến áp, đầu ra của tủ điện tổng hạ áp chia làm 9 lộ, cấp điện cho các hộ tiêu thụ bằng cáp được đặt trong hố kỹ thuật dễ dàng cho việc sửa chữa, thay thế.

    Lộ 1, 2 cấp cho trụ sở làm việc bằng cáp XLPE/DSTA/PVC 3×240+1×150 mm2.

    Lộ 3, 4, 5, 6, 7 cấp cho nhà ở Bí thư, Phó bí thư, nhà đón tiếp và 2 khu nhà khách cao cấp bằng cáp XLPE/DSTA/PVC 3×25+1x16mm2.

    Lộ 8 cấp cho nhà lưu niệm bằng cáp XLPE/DSTA/PVC 3×10+1x6mm2.

    Lộ 9 cấp cho khu nhà ăn và nhà khách bằng cáp XLPE/DSTA/PVC 3×70+1x35mm2.

    Tất cả các lộ ra đều có áp tô mát bảo vệ.

    Tại mỗi khu nhà đặt một tủ điện cung cấp điện cho toàn bộ khu nhà, mỗi tủ điện chia làm 2 lộ cấp điện chiếu sáng và động lực.

    Điện động lực.

    – Điều hoà cục bộ: Được đặt tỏng một số phòng nhất định, còn lại chỉ tính công suất và đặt dây chờ khi có điều kiện kinh tế sẽ lắp đặt sau.

    – Điều kiện thông gió và làm mát bằng quạt trần hoặc quạt cây.

    Các loại quạt thông gió lấy điện từ các tủ điện tầng.

    Điện chiếu sáng.

    – Sử dụng các loại đèn hiện có trên thị trường, gồm các loại:

    + Đèn ống dài 1,2m, loại đèn 1 bóng, 2 bóng, 3 bóng có chụp tán quang.

    + Đèn gắn tường bóng nung sáng.

    + Đèn chiếu dùng đèn thuỷ ngân cao áp, các loại đèn sân vườn.

    – Hình thức chiếu sáng chủ yếu là chung đều. Đèn lắp nổi treo trần, độ rọi tối thiểu phòng làm việc Emin = 250lux, hành lang Emin = 50lux.

    – Đèn chiếu sáng sự cố và thoát hiểm sử dụng loại đèn có ác quy tự nạp, có bộ lưu điện trong thời gian 3 giờ kể từ khi mất điện.

    – Điện chiếu sáng bên ngoài dùng đèn thuỷ ngân cao áp công suất bóng 250W, độ chói Ltb = 0,7 cd/m2 lắp trên cột thép tròn cao 10m. Cáp cấp điện tới các cửa cột đèn dùng loại XLPE/DSTA/PVC 4×6. Cáp từ cửa cột lên đèn dùng loại XLPE/DSTA/PVC 2×2,5.

    Thiết bị điều khiển và bảo vệ:

    Thiết bị đóng, cắt mạch điện và bảo vệ cho mạch điện sử dụng aptômát loại 4 cực, 2 cực, 1 cực. Các áp tô mát đều đặt trong tủ điện.

    Các phụ tải đặt trong hành lang, các khu vực riêng biệt được đóng cắt bằng các loại công tắc (công tắc sử dụng loại 1, 2, 3 phím bật, riêng ở hành lang dùng loại công tác đảo chiều), ổ cắm loại 3 tiếp điểm, có tiếp điểm nối với hệ thống an toàn.

    Lưới điện:

    Trong nhà:

    Mạng điện hạ thế cung cấp cho công trình được thiết kế ở cấp điện áp 380/220V, 3 pha, 4 pha và 1 dây tiếp đất, f = 50Hz, điện xoay chiều.

    Hệ thống dây dẫn, dây cáp là loại lõi đồng có cách điện XLPE. Cáp nguồn đi trong ống thép đặt trong rãnh cáp. Từ tủ điện phân phối, cáp và dây dẫn đi trong ống nhựa đặt ngầm trong tường, trong trần, hoặc dưới sàn các ống này được cố định bằng colie hoặc vít nở.

    Ngoài nhà:

    Tự nguồn điện, dây cáp cấp điện cho công trình là loại lõi đồng, vỏ bọc XLPE/DSTA/PVC đi trong ống thép ngầm trong rãnh cáp không đặc trực tiếp trong đất.

    Tiết diện dây:

    Dây dẫn từ tủ điện ra đèn dùng loại lõi đồng bọc PVC tiết diện từ 1,5 đến 2,5mm2 luồn trong ống PVC F20 đặt ngầm trong trần cố định chắc chắn. Dây điện cho các ổ cắm có tiết diện từ 2,5mm2 (cho phòng riêng) và 4mm2 cho dây ổ cắm công cộng, dây đi trong ống PVC đặt ngầm trong tường hoặc cột.

    Dây cấp điện cho ổ cắm và phụ tải 1 pha và 1 pha 3 dây.

    Dây cấp điện cho động lực 3 pha là 3 pha 5 dây, tiết diện dây tối thiểu là 2,5mm2.

    Dây dẫn có tiết diện là 6mm2 và lớn hơn dùng dây lõi đồng nhiều sợi bệt.

    ống luồn dây:

    Dùng loại cứng ở những nơi đất hở, ẩm ướt hoặc những nơi có yêu cầu đặc biệt theo quy phạm, ống luồn dây bằng thép được cùng ở những nơi cần đi ngầm trong bê tông. Các ống luồn dây kim loại dùng ở những nơi kín đáo hoặc trên trần giả. Các ống mềm dùng ở các điểm cuối để nối vào các đèn lắp ngầm trần, thiết bị điều khiển động cơ hoặc các thiết bị có dao động rung.

    Chống sét công trình:

    Để bảo vệ công trình sử dụng biện pháp chống sét đánh thẳng, chống cảm ứng tĩnh điện và cảm ứng điện từ, hệ thống thu sét đặt ngay trên bề mặt mái công trình kết hợp kim thu sét và hệ thống tiếp điện. Để đảm bảo độ an toàn kim thu sét sử dụng loại kim thu sét chủ động phóng tia tiên đạo với sung điện áp cao hiện có trên thị trường. Ưu điểm của phương pháp này là công trình được bảo vệ sét đánh với bán kính lớn có thể lên đến 60m. Hệ thống dây thu sét và hệ thống tiếp đất chống sét hoàn toàn bằng đồng để đảm bảo độ thoát sét nhanh nhất. Thanh đồng nối liên hệ giữa phần kim thu sét với hệ thống tiếp đất được đặt ngầm trong tường, cột bên ngoài lớp bê tông thô của tường hoặc cột.

    Hệ thống nối dất là các cọc đồng 20mm x 1.8mm tạo thành một mạch vòng chạy vòng quanh công trình.

    Công trình đặt một hệ thống tiếp đất an toàn độc lập với hệ thống tiếp đất chống sét, thanh tiếp đất sử dụng thanh thép tròn F16 đặt sâu 1m so với cốt sân vườn. Cọc tiếp đất dùng thép L63x63x63m. Từ hệ thống tiếp đất an toàn dùng một thanh thép F16 đưa đến các tủ điện tầng, các phụ tải, vỏ tủ điện, máy điều hoà, bình đun nước nóng, máy bơm nước, máng đèn… đều phải nối đất an toàn.

    5. Các giải pháp thiết kế cấp nước cho các hạng mục:

    Cơ sở thiết kế:

    Hồ sơ thiết kế trên cơ sở:

    Bản vẽ quy hoạch cấp nước tỷ lệ 1:500 khu tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc – thị xã Vĩnh Yên.

    – Cấp nước bên trong tiêu chuẩn thiết kế TCVN4513 -1988 nhóm H.

    – Hồ sơ thiết kế kiến trúc khu nhà ở tỉnh Vĩnh Phúc.

    Các số liệu và chỉ tiêu tính toán:

    Các số liệu tính toán:

    – Số người sử dụng:

    + Khối cơ quan                          :         180 người

    + Khối khách và phục vụ          :           60 người

    + Khối biệt thự và công vụ        :           30 người

    Xác định thành phần sử dụng:         

    + Nước cấp cho trụ sở chính.

    + Nước cấp cho khối khách và nhà ăn.

    + Nước cấp cho khối biệt tự và công vụ.

    + Nước cấp cho tưới cây, rửa đường.

    + Nước cấp cho cứu hoả.

    + Nước cấp cho dự phòng.

    Các chỉ tiêu tính toán:

    Các chỉ tiêu sử dụng theo tiêu chuẩn cấp nước TCXD 33-1985

    + Mạng lưới bên ngoài và công trình  :

    + Nước cấp cho trụ sở chính                                  :         30 lít/người/ngày.

    + Nước cấp sinh hoạt cho nhà khách            :         150 lít/người/ngày.

    + Nước cấp sinh hoạt cho biệt thự và công vụ       :         200 lít/người/ngày.

    + Nước cấp cho tưới cây, rửa đường             :           15m3/ha/ngày.

    + Nước cấp cho cứu hoả                                         :           15 lít/giây.

    + Nước cấp cho dự phòng                                      :         28%tổnglượngnước/ngày

    Giải pháp thiết kế nước:

    Xác định nguồn nước

    Nguồn nước cho khu tỉnh uỷ sẽ lấy nguồn nước sẵn có của thị xã chạy qua khu vực này.

    Do nguồn hiện có sử dụng lại sẽ kém hiệu quả, vì vậy nguồn nước cấp cho quy hoạch mới  sẽ lấy từ các trục chính dẫn vào khu vực hiện có tại 3 vị trí phù hợp với từng khu quy hoạch chức năng.

    Giải pháp cấp nước:

    Mạng cấp truyền dẫn: hiện đã có 3 tuyến ống D100 cấp từ mạng cấp nước chung của thị xã vào khu vực công trình nghiên cứu.

    Mạng ống phân phối: trong đồ án thiết kế mạng ống phân phối có đường kính D50 – D100 vật liệu bằng thép tráng kẽm loại ống này áp dụng phổ biến trong các công trình hiện nay.

    Vấn đề tạo áp lực nước: để tạo được áp lực nước bố trí bể chứa ngầm và trạm bơm tăng áp cục bộ cho từng hạng mục của công trình, dùng hệ thống bơm tự động điện khu vận hành đơn giản cho việc sử dụng.

    Mạng cấp nước chữa cháy cho khu vực được kết hợp với mạng cấp nước sinh hoạt chung, đó là mạng cấp nước chữa cháy có áp lực thấp, có họng cứu hoả có áp lực tối thiểu là 10m và được áp dụng xây dựng cho thành phố trong những năm qua. Ngoài ra cần xây dựng bể chứa nước chữa cháy cho mạng cấp nước chữa cháy trong nhà chính. Vị trí các họng cứu hoả cũng như hệ thống cấp nước chữa cháy trong các toà nhà chính cụthể cần được sự thoả thuận của cơ quan phòng cháy và chữa cháy thị xã.

    Các số liệu tính toán nhu cầu sử dụng:

    – Khối lượng nước sử dụng/ngày (bình quân):

    + Cấp nước cho trụ sở chính:

    Qcq = 30 lít/người/ngày x 180 = 5.4m3

    + Cấp nước cho nhà khác:

    Qcq = 150 lít/người/ngày x 100 = 15m3

    + Cấp nước cho nhà biệt thự và nhà công vụ:

    Qcq = 200 lít/người/ngày x 25 = 5.0m3

    + Cấp nước cho tưới cây, rửa đường:

    Qđg = 15m3/ha/ngày x 1.71 = 25,7m3

    + Cấp nước dự phòng:

    Qdp = 28% x (5.4 + 15 + 5 + 25,7) = 14.5m3

    + Tổng lượng nước trung bình cần dùng trong 1 ngày:

    Qtb = 50.1 + 14.5 = 64.6m3

    + Lượng nước yêu cầu cao nhất trong 1 ngày:

    Các hệ số dùng nước không điều hoà:

    Kngày = Kgiờ = 1.3 riêng nước dự phòng K = 1.

    Qmax = 50.1 x 1.3 + 14.5       = 79.5m3

    + Cấp nước cho cứu hoả (tính cho 3 giờ cháy):

    Qcc = 15 x 3 x 3600      = 162m3

    Tính toán các công trình phụ trợ:

    1. Bể nước ngầm cho cấp nước sinh hoạt:

    V = 4 x Q (m3)

    Trong đó:      V: thể tích bể chứa nước (m3)

    Q: lưu lượng nước sử dụng trong ngày

    + Bể nước ngầm sinh hoạt cấp nước cho trụ sở chính:

    V = 4 x 5.4 = 21.6 (m3)

    + Bể nước ngầm sinh hoạt cấp cho nhà khách:

    V = 4 x 15 = 60 (m3)

    + Bể nước ngầm sinh hoạt cấp cho nhà biệt thự và nhà công vụ:

    V = 4 x 5 = 20 (m3)

    1. Bể nước ngầm cho cấp nước chữa cháy:

    V = n x Qcc x 3 x 3600 (m3)

    Trong đó       V: thể tích bể chứa nước (m3)

    Qcc: lưu lượng nước cho một cột chữa cháy

    n: số cột chữa cháy

    + Bể nước ngầm chữa cháy cấp cho trụ sở chính

    V = 4 x 2.5 x 3 x 3600 = 108 (m3)

    + Bể nước ngầm chữa cháy cấp cho nhà khách:

    V = 1 x 2.5 x 3 x 3600 = 27 (m3)

    + Bể nước ngầm chữa cháy cấp cho nhà biệt thự và nhà công vụ:

    V = 1 x 2.5 x 3 x 3600 = 27 (m3)

    1. Bể nước trên mái:

    V = 2 x Q (m3)

    Trong đó:      V: thể tích bể chứa nước (m3)

    Q: lưu lượng nước sử dụng trong ngày

    + Bể nước trên mái sinh hoạt cấp cho trụ sở chính:

    V = 2 x 5.4 = 10.8 (m3)

    + Bể nước trên mái sinh hoạt cấp cho nhà khách:

    V = 2 x 15 = 30 (m3)

    + Bể nước trên máu sinh hoạt cấp cho nhà biệt thự và nhà công vụ:

    V = 2 x 5 = 10 (m3)

    6. Giải pháp thiết kế thoát nước cho các hạng mục:

    1. Các chỉ tiêu tính toán:

    Các chỉ tiêu thoát nướcthải lấy phù hợp với tiêu chuẩn cấp nước

    1. Giải pháp thiết kế:
    2. Mô tổ phương án thoát nước:

    Hệ thống thoát nước bẩn là hệ thống cống riêng giữa nước mưa và nước bẩn. Nước bẩn thải từ các công trình được xử lý bằng trạm sử lý nước thải cho toàn khu vực trước khi thoát vào hệ thống cống thoát nước bẩn bên ngoài. Toàn bộ hệ thống cống thoát nước bẩn của công trình tập trung theo tuyến cống chính dọc theo sườn đồi phía Đầm Vạc và đổ vào hệ thống thoát nước bẩn chung của k hu vực trong thị xã.

    1. Hệ thống cống thoát nước bẩn:

    Hệ thống cống thoát nước bẩn trong khu vực là cống bê tông cốt thép chịu lực trên mạng lưới sẽ bố trí các ga chuyển hướng và ga thăm.

    Tiể diện cống được dựa trên cơ sở:

    * Xác định lưu lượng nước thải:

    Qtb = nxq/1000m3/ngày

    Trong đó:      n: số người dùng nước

    q: tiêu chuẩn dùng nước cho 1 ngày đêm

    Ta có:

    Lưu lượng nước thải của trụ sở chính:

    QTb­ = 180 x 30/1000 = 5.4m3/ngày

    Lưu lượng nước thải của nhà khách:

    QTb = 100 x 150/1000 = 15m3/ngày

    Lưu lượng nước thải của nhà biệt thự, nhà công vụ:

    QTb = 25 x 200/1000 = 5m3/ngày

    Lưu lượng nước thải cho các công trình:

    Qt = 5.4 + 15 + 5 = 25.4m3/ngày.

    1. Tính toán các công trình phụ trợ:

    Thể tích bể tự hoại được xác định theo công thức:

    V = 0.3 x n (m3)

    Trong đó n: Số người sử dụng nước trong công trình.

    Thể tích bể tự  hoại của trụ sở chính:

    V = 0.3 x 180 = 5.4m3/ngày.

    Thể tích bể tự hoại của nhà khách:

    V = 0.3 x 100 = 30m3/ngày.

    Thể tích bể tựk hoại của nhà biệt thự và nhà công vụ:

    V = 0.3 x 25 = 7.5m3/ngày.

    1. Các yêu cầu kỹ thuật về hệ thống cống và đường ống:

    Tiết diện cống được đặt theo lưu lượng tính toán, nếu lưu lượng nhỏ đặt theo cấu tạo với đường kính D = 300 độ dốc dọc nhỏ hơn bằng 1/D. Độ sâu chôn cống ban đầu từ đỉnh cống đến mặt nền thiết kế > 0.5m.

    Công trình sử dụng các loại ống có sẵn trên thị trường như ống nhựa dùng ống của Công ty nhựa Tiền Phong cho hệ thống thoát trong nhà, ống BTCT đúc sẵn cho hệ thống thoát nước ngoài nhà.

    7. Giải pháp thiết kế hệ thống thông tin liên lạc:

    – Các ban Đảng và văn phòng làm việc trong trụ sở chính đều được lắp đặt máy điện thoại, các máy điện thoại được kết nối thông qua một tổng đài nội bộ,, với số máy là 30 máy. Các phòng bí thư, phòng phó bí thư, chánh, phó văn phòng, các phòng trưởng, phó Ban Đảng, phòng trưởng phòng được lắp máy điện thoại thuê bao riêng, tổng số 20 máy.

    – Khu nhà khách được lắp đặt một tổng đài nội bộ phục vụ cho các phòng nghỉ, có 32 máy. Ngoài ra, có 2 máy điện thoại phục vụ cho khối nhà ăn.

    – Khu nhà công vụ và nhà biệt thự được lắp đặt mỗi nhà một máy điện thoại.

    8. Giải pháp thiết kế mạng thông tin:

    – Theo yêu cầu của Văn phòng và các Ban Đảng, tại trụ sở làm việc của Tỉnh uỷ các phòng máy tính được thiết kế bao gồm: 1 phòng máy chủ, 1 phòng lớn dùng để máy vi tính, ngoài ra tại các nơi làm việc của các Ban Đảng có bố trí thêm một phòng máy vi tính.

    – Dự án về cung cấp lắp đặt mạng công nghệ thông tin trong khu làm việc của Tỉnh uỷ là một dự án riêng cho văn phòng Tỉnh uỷ lập, trong dự án này không đề cập đến.

    9. Giải pháp thiết kế hệ thống PCCC:

    Do tính chất quan trọng của trình, cho nên khu làm việc của Tỉnh uỷ được thiết kế một hệ thống PCCC hiện đại đảm bảo đáp ứng được yêu cầu PCCC khi có sự cố xảy ra. Các công trình phải đảm bảo các yếu tố sau:

    Tuân thủ theo đúng quy định về PCCC của Bộ Công an.

    Giao thông nội bộ đảm bảo thoát nạn khi có sự cố xảy ra.

    Nguồn nước, bể chứa nước cứu hoả luôn đảm bảo dung lượng nước.

    Trang bị đầy đủ các phương tiện chữa cháy cầm tay, các họng nước cứu hoả được bố trí đầy đủ, hợp lý.

    Có hệ thống báo cháy tự động, đầu báo khói, báo nhiệt, đèn tín hiệu với trung tâm điều khiển.

    Có nội quy phòng cháy chữa cháy.

    10. Giải pháp thiết kế nội thất:

    Trụ sở chính:

    Công trình trụ sở chính là nơi làm việc của cơ quan lãnh đạo cao nhất của tỉnh, nơi đây thường xuyên giao dịch, tiếp khách và làm việc với các đoàn khách trong và ngoài nước, cho nên việc thiết kế và thi công nội thất một số phòng c hính của trụ sở là cần thiết.

    Nguyên tắc thiết kế phải đạt được những yếu tố sau:

    – Hình thức nội dung mang đầy đủ tính chất là công trình làm việc của cơ quan lãnh đạo cao nhất tỉnh.

    – Kết hợp được tính hiện đại và tính dân tộc.

    – Có khả năng sử dụng lâu dài, không bị lạc hậu trong nhiều thập kỷ.

    – Sử dụng vật liệu hợp lý, đảm bảo tính kỹ mỹ thuật, trang trọng.

    – Chi phí đầu tư  hợp lý.

    Công suất thiết kế và quy mô trang trí nội thất như sau:

    • Sảnh chính: Lắp phào hoa văn thạch cao, trần sợi tổng hợp, phù điêu hoa văn, nên lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Sảnh và hành lang các tầng: Lắp đặt tấm trần sợi tổng hợp, phào hoa văn thạch cao, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng khánh tiết: Trần thạch cao kết hợp với gỗ Pơmu, phào ốp trần góc tường bằng gỗ, tranh sơn mài treo tường, chân tường ốp gỗ ván tếch cáo 1,2m, tường ốp gỗ Pơmu, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, sàn trải thảm màu đỏ sẩm, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng họp: Trần thạch cao kết hợp với gỗ Pơmu, phào ốp trần góc tường bằng gỗ, chân tường ốp gỗ ván tếch cao 1,2m, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng bí thư Tỉnh uỷ: Trần gỗ Pơmu, phào ốp trần góc tường bằng gỗ, chân tường ốp gỗ ván tếch cao 0,8m, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng phó bí thư Tỉnh uỷ: Trần Thạch Cao, phào ốp trần góc tường bằng thạch cao, chân tường ốp gỗ ván tếch cao 0,8m, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng chánh, phó văn phòng, trưởng, phó ban Đảng: Trần thạch cao, phào ốp trần góc tường bằng thạch cao, chân tường ốp gỗ ván tếch cáo 0,2m, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    1. Giải pháp chống mối, mọt và bảo quản công trình:

    Công trình được thực hiện theo đúng quy định ban hành.

     

    VI- Nguồn vốn và tổng mức đầu tư:

    1. Nguồn vốn:

    Nguồn vốn xây dựng khu làm việc Tỉnh uỷ là vốn ngân sách, bố trí vốn trong 3 năm (từ năm 2002 đến năm 2005).

    2. Tổng mức đầu tư:

    + Cơ sở lập khái toán và vốn đầu tư:

    – Căn cứ vào đơn giá XDCB ban hành theo quyết định số 997/1999/QĐ-UB của UBND tỉnh Vĩnh Phúc.

    – Căn cứ mẫu lập tổng dự toán theo thông tư 09/2000/TT-BXD của Bộ xây dựng ra ngày 17/7/2000 về việc hướng dẫn lập dự toán xây lắp các hạng mục công trình.

    – Căn cứ quyết định 15/2001/QĐ-BXD ra ngày 20/7/2001 của Bộ xây dựng ban hành định mức chi phí tư vấn đầu tư và xây dựng.

    – Căn cứ quyết định 12/2001/QĐ-BXD ra ngày 20/7/2001 của Bộ xây dựng ban hành định mức chi phí thiết kế công trình xây dựng.

    – Căn cứ thông tư 04/2002/QĐ-UB ra ngày  27/6/2002 về việc điều chỉnh hệ số nhân công và máy thi công.

    + Giá trị xây lắp:

    TT Tên hạng mục Đơn vị Khối lượng Đơn giá Thành tiền
    A Khu nhà chính        
    1 Khu nhà làm việc tỉnh uỷ 5 tầng M2 8.503 2.000.000 17.006.000.000
    2 Nhà ở biệt thự (2 nhà) M2 680 1.700.000 1.156.000.000
    3 Nhà khách cao cấp (2 nhà) M2 640 1.700.000 1.088.000.000
    4 Nhà khách 2 tầng M2 2.500 1.500.000 3.750.000.000
    5 Trang trí nội thất nhà làm việc       2.500.000.000
    6 Trang trí nội thất nhà biệt thự Nhà 2 150.000.000 300.000.000
    7 Trang trí nội thất nhà khách 1 tầng Nhà 2 150.000.000 300.000.000
    8 Trang trí nội thất nhà khách 2 tầng Nhà 1 500.000.000 500.000.000
     

    Cộng XL 1

          26.600.000
    B Khu phụ trợ        
    1 Nhà thường trực (2 nhà) M2 20 1.200.000 24.000.000
    2 Nhà bóng bàn 1 tầng M2 278 1.200.000 333.600.000
    3 Ga ra ô tô M2 250 1.000.000 250.000.000
    4 San nền       300.000.000
    5 Kè đá M 620 500.000 310.000.000
    6 Hàng rào M 920 400.000 368.000.000
    7 Cổng chính Cái 2 20.000.000 40.000.000
    8 Cổng phụ Cái 4 10.000.000 40.000.000
    9 Sân nội bộ lát gạch M2 12.500 120.000 1.500.000.000
    10 Đường giao thông BT át phan        
     

    Phần cải tạo

    M2 1.500 150.000 225.000.000
      Phần làm mới M2   250.000 1.000.000.000
    11 Đường dạo BT cấp phối M2   120.000 258.000.000
    12 Vườn hoa cây cảnh M2   20.000 282.000.000
    13 Cấp thoát nước ngoài nhà       200.000.000
    14 Điện chiếu sáng sân vườn ngoài nhà       500.000.000
    * Hệ thống cáp ngầm ngoài nhà       400.000.000
    15 Trạm xử lý nước thải Trạm   1.000.000.000 1.000.000.000
    16 Cụm nhà nổi mặt hồ M2   1.000.000 400.000.000
    17 Bể cứu hoả M3   1.000.000 160.000.000
    18 Bể chứa nước ngầm M3   1.000.000 100.000.000
     

    Cộng XL2

          7.690.600.000
      Phần cải tạo        
    1 Nhà lưu niệm 1 tầng       656.604.000
    2 Nhà đón tiếp 1 tầng M2 200 1.000.000 200.000.000
     

    Cộng XL3

          856.604.000
      Cộng GTXL       35.147.204.000
      Thuế VAT: 5%       1.757.360.200
      Giá trị xây lắp sau thuế       36.904.564.200
     

    Làm tròn

          36.904.564.000

     

    + Chi phí thiết bị:

    TT Tên thiết bị Đ.vị Khối lượng Đơn giá Thành tiền
    1 Điều hoà gắn tường 2 cục 1 chiều 18000 BTU cái 210 12.000.000 2.520.000.000
    2 Hệ điều hoà trung tâm 140000 BTU (8 miệng thổi trần) Hệ 1 1.000.000.000 1.000.000.000
    3 Trạm biến áp 1.000 KVA-35/0,4KV + máy phát điện Trạm 1 700.000.000 700.000.000
    4 Thang máy 5 điểm dừng Cái 2 700.000.000 1.400.000.000
    5 Hệ thống thông tin liên lạc       300.000.000
    6 Hệ thống PCCC       500.000.000
      Cộng thiết bị       6.420.000.000
      Thuế VAT: 10%       642.000.000
     
    Giá trị sau thuế
          7.062.000.000

    + Chi phí khác:

    TT Nội dung
    Cơ sở tính
    Tỷ  lệ Thành tiền
    I Giai đoạn chuẩn bị đầu tư      
    1 Đo đạc mặt bằng

     

    5,2ha x 5.000.000đ

        26.000.000
    2 Khảo sát địa chất lập dự án và TKKT     150.000.000
    3 Thiết kế quy hoạch tổng mặt bằng: 5,2ha x 11.000.000đ     57.200.000
    4 Làm mô hình     30.000.000
    5 Lập báo cáo nghiên cứu khả thi 41.567.204.000 0,30% 124.701.612
    6 Thẩm định dự án 41.567.204.000 0,0260% 10.807.473
     

    Cộng

        398.709.085
    II Giai đoạn thực hiện đầu tư      
    1 Thiết kế phí      

    Nhà làm việc 5 tầng

    17.006.000.000 2,3000% 391.138.000
    Nhà ở biệt thự (2 nhà) 1.156.000.000 2,8500% 32.946.000
    Nhà khách cao cấp (2 nhà) 1.088.000.000 2,8500% 31.008.000
    Nhà khách 2 tầng 3.750.000.000 2,7000% 101.250.000

    Trang trí nội thất

    3.600.000.000 2,9800% 107.280.000
    Cải tạo: nhà lưu niệm + đón tiếp 856.604.000 3,2% x 1,2 32.893.594
    Công trình phụ trợ 7.690.600.000 2,1000% 161.502.600
    Thiết kế hệ thống PCCC 500.000.000 3,2900% 16.450.000
    Thiết kế hệ thống điện thoại 300.000.000 3,3700% 10.110.000
    Thiết kế hệ thống lắp đặt điều hoà 500.000.000 3,2900% 16.450.000
    2 Thẩm định thiết kế 35.147.204.000 0,0826% 29.031.591
    3 Thẩm định dự toán 35.147.204.000 0,0744% 26.149.520
    4 Lập hồ sơ mời thầu xây lắp 35.147.204.000 0,1380% 48.503.142
    5 Lập hồ sơ mời thầu thiết bị 6.420.000.000 0,1680% 10.785.600
    6 Giám sát thi công xây dựng 35.147.204.000 0,9770% 343.388.183
    7 Giám sát mua sắm thiết bị 6.420.000.000 0,3180% 20.415.600
    8 Chi phí Ban quản lý xây lắp 35.147.204.000 1,0500% 369.045.642
    9 Chi phí Ban quản lý thiết bị 6.420.000.000 0,4800% 30.816.000
    10 Chi phí bảo hiểm 410567.204.000 0,2000% 83.134.408
    11 Chi phí chống mối     200.000.000
    12 Chi phí thí nghiệm sức chịu tải của cọc:

     

    4 cọc x 5.00.000đ

        20.000.000
    13 Di chuyển mặt bằng     350.000.000
    14 Rà phá bom mìn     100.000.000
    15 Phá dỡ công trình cũ 6.127 30.000 183.810.000
      Cộng     2.716.107.878
    III Giai đoạn kết thúc đầu tư      
    1 Hoàn công, quyết toán, kiểm toán 901.028.194 TKP x10% 90.102.819
     

    Cộng I+ II + III

        3.204.919.783
      Thuế VAT: 10%     320.491.978
      Giá trị sau thuế     3.525.411.761
      Làm tròn     3.525.412.000

    Tổng mức đầu tư    :         52.241.174.000đ

    Gồm có

    Giá trị xây lắp                 :         36.904.564.000đ

    Chi phí thiết bị                 :           7.062.000.000đ

    Chi phí khác           :           3.525.412.000đ

    Chi phí dự phòng   :         1% (XL + TB + CPK)    :         4.749.198.000đ

    Bằng chữ: Năm mươi hai tỷ hai trăm bốn mươi  mốt triệu một trăm bảy mươi tư ngàn đồng.

    VII- Hiệu quả đầu tư

    Khu làm việc Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc được quy hoạch, xây dựng, cải tạo sẽ mang lại diện mạo mới cho Tỉnh uỷ, phù hợp với định hướng cải cách hành chính, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, ổn định lâu dài của cơ quan lãnh đạo của Tỉnh, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Tỉnh nhà trong sự phát triển chung của đất nước mà Đảng và Nhà nước đề ra.

    Mặt khác Công trình tạo ra một tổng thể kiến trúc hài hoà, phù hợp vpú cảnh quan kiến trúc chung của khu vực đồng thời cũng sẽ là điểm nhấn cho cụm kiến trúc Đô thị trong khu vực.

    VIII- Các mốc thời gian thực hiện đầu tư

    1. Giai đoạn chuẩn bị thực hiện đầu tư:

    – Khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu khả thi: Tháng 10 năm 2002

    – Thẩm định dự án: Tháng 11 năm 2002

    2. Giai đoạn thực hiện đầu tư:

    1. Giai đoạn 1:

    – Thiết kế kỹ thuật trụ sở chính, cải tạo nhà lưu niệm Bác Hồ với Nhân dân Vĩnh Phúc: Tháng 1 năm 2003

    – Thẩm định thiết kế kỹ thuật trụ sở chính, nhà Lưu niệm Bác Hồ với nhân dân Vĩnh Phúc: Tháng 2 năm 2003.

    – Giải phóng mặt bằng, thi công san nền giai đoạn I: Tháng 2 năm 2003.

    – Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp, khởi công xây dựng trụ sở chính: tháng 2 năm 2003.

    – Bàn giao và đưa vào sử dụng: Quý I năm 2005.

    1. Giai đoạn II:

    – Thiết kế kỹ thuật nhà ăn, khách, nhà công vụ, nhà biệt thự: tháng 4 năm 2003.

    – Thẩm định Hồ sơ thiết kế kỹ thuật: tháng 5 năm 2003.

    – Giải phóng mặt bằng, thi công san nền giai đoạn II: tháng 12 năm 2004.

    – Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp, khởi công xây dựng trụ sở chính: tháng 01 năm 2005.

    – Bàn giao và đưa vào sử dụng : Quý IV năm 2005.

    IX- Hình thức quản lý thực hiện dự án

    Căn cứ nghị định số 52/1999/NĐ – CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ ban hành quy chế quản lý đầu tư xây dựng, căn cứ quy mô tính chất của dự án: Chon hình thức quản lý thực hiện dự án là chủ đầu tư Văn phòng Tỉnh uỷ trực tiếp quản lý thực hiện dự án. Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án ký hợp đồng với một cơ quan tư vấn làm nhiệm vụ giám sát quản lý kỹ thuật, chất lượng xây dựng.

    Sau khi trình duyệt hồ sơ thiết kế và tổng dự toán và đã được phê duyệt, Ban quản lý lập kế hoạch đấu thầu trình chủ dự án duyệt để có kế hoạch tổ chức mời thầu, đấu thầu và tiến hành thi công, nghiệm thu bàn giao theo trình tự xây dựng cơ bản của quy chế quản lý và xây dựng ban hành theo nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ.

    X- xác định chủ đầu tư:

    Để dự án xây dựng trụ sở Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc triển khai thực hiện đúng tiến độ và đạt hiệu quả cao, Văn phòng Tỉnh uỷ là Chủ đầu tư được giao trách nhiệm quả lý và sử dụng vốn thông qua ban quản lý dự án để thực hiện dự án theo đúng quy định.

    XI- Mối quan hệ, trách nhiệm các cơ quan có liên quan:

    1. Trách nhiệm của chủ đầu tư:

    Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng. Trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư được quy định như sau:

    – Thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành của Nhà nước về lập, thẩm định và trình duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật.

    – Tuyển chọn tổ chức tư vấn, cung cấp vật liệu thiết bị xây lắp có tư cách pháp nhân và đủ năng lực phù hợp để đảm nhận các công việc chuẩn bị đầu tư, thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, cung ứng vật tư thiết bị, xây lắp và giám sát chất lượng công trình.

    – Kiểm tra chất lượng các loại vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị lắp đặt đúng theo yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật được duyệt.

    – Được quyền yêu cầu các tổ chức tư vấn, cung ứng, tổ chức nhận thầu xây lắp giải trình về chất lượng vật liệu, thiết bị và các công việc do các tổ chức này thực hiện. Đối nới những công việc chất lượng theo quy định của thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật thì chủ đầu tư có quyền yêu cầu thực hiện sửa chữa, thay đổi đối với những công việc này hoặc từ chối nghiệm thu.

    2. Trách nhiệm của tổ chức tư vấn xây dựng:

    Tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư, trước pháp luật và thực hiện đúng thủ tục đầu tư và xây dựng, về chất lượng sản phẩm tư vấn của mình chịu sự kiển tra thường xuyên của chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng.

    3. Trách nhiệm của nhà thầu:

    Chỉ được phép nhận thầu thi công những công trình thực hiện đúng thủ tục đầu tư và xây dựng. Phù hợp với năng lực của mình, thi công đúng thiết kế được duyệt áp dụng đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng đã quy định và chịu sự giám sát, kiểm tra thường xuyên về chất lượng công trình của chủ đầu tư, tổ chức thiết kế của cơ quan giám định nhà nước theo phân cấp quản lý công trình xây dựng.

    Chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và trước pháp luật về chất lượng thi công xây lắp công trình kể cả những việc do nhà thầu phụ thực hiện theo quy định của hợp đồng giao nhận thầu xây lắp.

    Vật liệu cấu kiện xây dựng vào công trình phải có chứng nhận về chất lượng gởi cho chủ đầu tư để kiểm soát trước khi sử dụng theo quy định.

    Tổ chức hệ thống bảo đảm chất lượng công trình để quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng trong quá trình thi công.

    4. Trách  nhiệm của các cơ quan nhà nước:

    – Bộ xây dựng thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trong cả nước có trách nhiệm:

    – Các cơ quan chức năng: Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, có trách nhiệm thực hiện các công việc theo phân cấp quản lý để thúc đẩy dự án  thực hiện đúng tiến độ.

     

    XII- Kết luận và kiến nghị:

    Kết luận:

    Các hạng mục công trình khu làm việc Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là một dự án có quy mô lớn với nhiều hạng mục công trình mang tính đặc thù của chức năng riêng và cần có sự đầu tư lớn, vì vậy dự án cần được sự quan tâm tích cực của các Ban, Ngành chức năng liên quan để dự án được tiến hành một cách thuận lợi và sớm được triển khai xây dựng.

    Kiến nghị:

    Công ty tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng kính đề nghị văn phòng Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc và các cấp có thẩm quyền xem xét quyết định phê duyệt dự án và tạo mọi điều kiện để dự án trở thành hiện thực.

    Hà Nội, tháng 10 năm 2002


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC THỦY VĂN CÔNG TRÌNH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    I.                   ĐẶT VẤN ĐỀ

    Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nhất là đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam thì ngành Nông nghiệp lại càng có vị trí quan trọng hơn nữa. Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp, bảo vệ môi trường… và quan trọng hơn là tạo việc làm cho hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và làm nông nghiệp ở nước ta.

    Trong ngành nông nghiệp thì trồng trọt nói chung và trồng lúa nói riêng chiếm vị trí rất quan trọng. Để trồng lúa đạt năng suất cao thì một trong các yếu tố quan trọng là có nguồn phân bón tốt, nhất là phân NPK, là loại phân được sử dụng phổ biến hiện nay. Tuy nhiên nhu cầu sử dụng phân NPK của các hộ lại không giống nhau, phụ thuộc vào thu nhập của hộ, giá phân, diện tích trồng lúa.

    Vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài: nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố thu nhập của hộ nông dân, giá phân NPK, diện tích trồng lúa đến cầu của phân NPK.

    II.               PHƯƠNG PHÁP

    1.1. Phương pháp thu thập số liệu

    – Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn

    – Thông tin điều tra:

    Cầu và giá phân NPK cho lúa, thu nhập hộ nông dân, diện tích trồng lúa của hộ điều tra.

    • Chọn hộ điều tra:

    Trong xã có tỷ lệ hộ nghèo, hộ trung bình, hộ khá- giàu như sau: hộ nghèo: 16.2 %, hộ trung bình: 52.1 %, hộ khá – giàu: 31.7 % nên tôi chọn số hộ điều tra là 25 hộ, gồm 4 hộ nghèo, 13 hộ trung bình, 8 hộ khá- giàu.

    1.2. Phương pháp phân tích:

    Tôi sử dụng mô hình hồi quy để phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố trên đến cầu phân NPK.

    Gọi:      Yi là cầu về phân NPK của các hộ điều tra ( kg)

    X1 là thu nhập của hộ điều tra ( triệu đồng / năm)

    X2 là giá phân NPK ( nghìn đồng / kg)

    X3 là diện tích trồng lúa của hộ điều tra ( sào)

    Ta có mô hình tổng quát:

    Yi = β0 + β1 X1 + β X2 + β3 X3 + Ui

    III.            KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    1.1.          Tình hình chung

    Sau khi trực tiếp điều tra, nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy:

    Cầu về phân NPK trung bình là 14.32 kg, thu nhập trung bình của các hộ nghiên cứu là 8.132 triệu đồng/ năm, giá phân NPK trung bình là 3.5 nghìn đồng/ kg.

    1.2.          Kết quả và giải thích mô hình

    Bảng 3.1 Các thông tin điều tra được

    STT Yi X1 X2 X3
    1 9.4 4.3 4.7 4.2
    2 9.7 5.2 4.5 4.6
    3 10.3 5.6 4.6 5.2
    4 10.5 4.9 4.4 5.5
    5 10.9 6.4 4.3 5.8
    6 11.7 6.8 4 6
    7 12.1 6.5 4.1 6.2
    8 12.4 7 4.2 6.3
    9 12.2 7.2 3.9 6.1
    10 12.9 7.5 3.6 6.4
    11 13.4 7.8 3.8 6.9
    12 13.7 7.6 3.7 7
    13 13.9 8.1 3.5 7.2
    14 14.9 8.3 3.4 7.6
    15 14.2 8.6 3.3 7.4
    16 15.3 8.9 3.1 7.9
    17 15.8 9.3 3.2 8.2
    18 16.3 9.7 2.9 8.6
    19 17.5 9.5 3 9.1
    20 16.9 9.8 2.8 8.9
    21 18.7 10.2 2.3 9.5
    22 18.1 10.5 2.6 9.1
    23 18.6 10.8 2.5 9.4
    24 18.9 11.2 2.7 9.8
    25 19.7 11.6 2.4 10.2

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

    Regression Statistics
    Multiple R 0.9957504
    R Square 0.9915188
    Adjusted R Square 0.9903072
    Standard Error 0.3095768
    Observations 25

    ANOVA

      df SS MS F Significance F
    Regression 3 235.2874062 78.4291354 818.35283 6.68667E-22
    Residual 21 2.012593808 0.0958378    
    Total 24 237.3      
      Coefficients Standard Error t Stat P-value Lower 95% Upper 95% Lower 95.0% Upper 95.0%
    Intercept 6.9449215 2.711499803 2.561284161 0.0181912 1.306048988 12.58379401 1.306048988 12.58379401
    X1 0.0532633 0.187956968 0.283380083 0.7796603 -0.33761465 0.444141173 -0.33761465 0.444141173
    X2 -0.9242324 0.413411223 -2.23562481 0.0363651 -1.783968087 -0.064496687 -1.78396809 -0.06449669
    X3 1.3895078 0.229648716 6.050579381 5.272E-06 0.911927138 1.867088432 0.911927138 1.867088432

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

    Regression Statistics
    Multiple R 0.9957504
    R Square 0.9915188
    Adjusted R Square 0.9903072
    Standard Error 0.3095768
    Observations 25

    ANOVA

      df SS MS F Significance F
    Regression 3 235.2874062 78.4291354 818.35283 6.68667E-22
    Residual 21 2.012593808 0.0958378    
    Total 24 237.3      

    Nhìn vào kết quả chạy mô hình trên excel ta có mô hình:

    Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    * Thống kê hồi quy

    – Hệ số tương quan của mô hình: R2 = 0.9915188 dần tiến tới + 1 ta có thể nói mô hình có độ chặt chẽ cao.

    – Sai số chuẩn của mô hình: Se = 0.3095768 là nhỏ, chứng tỏ sự tác động của các yếu tố khác ngoài các biến của mô hình tới cầu phân NPK là nhỏ.

    * Bảng phân tích phương sai

    –           Giả thuyết H0 : mô hình không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Giả thuyết H1 : mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Ta có Fqs = 818.35283

    F= 3.072

    Ta có Fqs > Fc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Kiểm định các hệ số của mô hình

    – Kiểm định β0

    Giả thuyết H0 : hệ số β0  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β0 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 2.561

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β0 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β1

    Giả thuyết H0 : hệ số β1  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β1 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 0.283

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd < Tc chấp nhận giả thuyết H0, bác bỏ giả thuyết H1

    Vậy, β1 không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β2

    Giả thuyết H0 : hệ số β2  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β2 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = | – 2.236| = 2.236

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β2 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β3

    Giả thuyết H0 : hệ số β3  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β3 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 6.051

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β3 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Giải thích ý nghĩa các tham số của mô hình

    Mô hình hồi quy: Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    Ta có   β0 = 6.945 nghĩa là các yếu tố bên ngoài không được đưa vào mô hình có ảnh hưởng tới mức cầu phân NPK.

    β 2 = – 0.924 nghĩa là khi giá phân NPK tăng lên 1 nghìn đồng/ kg thì cầu về phân NPK của hộ giảm đi 0.924 kg.

    β 3 = 1.389 nghĩa là khi diện tích trồng lúa của hộ điều tra tăng lên 1 sào thì cầu về phân NPK của hộ tăng lên 1.389 kg.

    IV.             KẾT LUẬN

    Qua kết quả nghiên cứu đề tài ta thấy diện tích trồng lúa của hộ nông dân là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất, thu nhập của hộ là yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến cầu về phân NPK. Hộ nào có diện tích trồng lúa càng nhiều thì cầu về phân NPK sẽ càng cao, tuy nhiên, hộ có thu nhập cao thì cầu về phân NPK cũng không tăng hơn nhiều so với hộ có thu nhập thấp hơn.

    Tuy nhiên, khi sử dụng phân NPK cần chú ý sử dụng hợp lý, tránh sử dụng lãng phí phân bón, vừa làm tăng chi phí sản xuất vừa làm ô nhiễm môi trường.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý cửa hàng hoa

    Bài tập lớn môn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý cửa hàng hoa

    Bài tập lớn môn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý cửa hàng hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài Tập Lớn Môn Nhập môn Cơ sở dữ liệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-c%E1%BB%ADa-h%C3%A0ng-hoa.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý cửa hàng hóa

    CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ CỬA HÀNG HOA

    114 Quang Trung _ Hồng Bàng _Hải Phòng

    ĐT: 013.838053 – Fax: 031.838845 – Mobile: 0913.245390

     

     

    I.GIỚI  THIỆU

       Cửa hàng hoa Anh Phong đặt tại :144 Quang Trung _ Q. Hồng Bàng _TP. Hải Phòng chuyên kinh doanh các loại mặt hàng hoa lụa , cây cảnh nội thất cao cấp . Cửa hàng nhận bán buôn , bán lẻ với chế độ ưu đãi cho những khách hành mua hàng với số lượng lớn và dịch vụ hàng theo yêu cầu khách  hàng .

    II.KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ THU THẬP THÔNG TIN

    1.     Khảo sát hiện trạng

    Cửa hàng hoa Anh Phong là một doanh nghiệp mới thành lập . Các mặt hàng kinh doanh chủ yếu của cửa hàng bao gồm : hoa lụa , cây cảnh và các vật dụng phục vụ trang trí nội thất và nhu cầu giải trí . Là một doanh nghiệp mới thành lập nên hoạt động chủ yếu vẫn mang tính thủ công, dựa vào kinh nghiệm của hệ thống nhân viên . Do đặc điểm lượng hàng hoá nhập xuất ngày càng lớn nên công tác quản lí , mua bán rất mất nhiều thời gian , công sức mà độ chính xác không cao , điều này nhiều khi gây thiệt hại cho công ty. Ngày nay cửa hàng đang từng bước hiện đại hoá hệ thống các máy tính và đưa hệ thống phần mềm vào sử dụng để dần thay thế công tác quản lí thủ công trong công ty.

    Hoạt động quản lí hàng hoá và mua bán hàng của cửa hàng hoàn toàn thủ công nên bộc lộ những hạn chế sau :

    • Tra cứu thông tin về hàng hoá , khách hàng , lượng hàng tồn … nhiều khi rất mất nhiều thời gian , thiếu chính xác .
    • Việc lưu trữ các thông tin về hàng hoá , khách hàng , nhà cung cấp, tài chính … phải sử dụng nhiều loại giấy tờ , sổ sách nên rất cồng kềnh cho lưu trữ .
    • Tốn nhiều thời gian tổng hợp, báo cáo , thống kê.
    • Không đáp ứng được nhu cầu thông tin phục vụ hàng ngày và mở rộng cửa hàng trong tương lai.                                                                                                                            Trước tình hình đó , vấn đề đặt ra cần phải có một hệ thống mới đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau :
    • Giảm khối lượng ghi chép , đảm bảo truy vấn nhanh , lưu trữ và cập nhật kịp thời , thuận tiên.
    • Lập báo cáo định kì , đột xuất nhanh chóng , chính xác .
    • Có thể thống kê được từng loại hàng , mặt hàng hoặc lượng hàng dự chữ trong kho một cách nhanh chóng và chính xác .
    • Tự động in các hóa đơn , phiếu nhập xuất kho và khách hàng.
    • Có khả năng lưu trữ thông tin lâu dài .

     

    II.MÔ TẢ HỆ THỐNG

    Hoạt động kinh doanh của cửa hàng hoa chủ yếu diễn ra 2 quá trình :

              1) Quá trình nhập hàng

    Cửa hàng được cung cấp hàng từ nhiều nhà cung cấp (NCC)  với các mặt hàng , chủng loại hàng  khác nhau: hoa lụa, cây cảnh ,….Khi cửa hàng có nhu cầu cung cấp hàng thì cửa hàng sẽ liên hệ với NCC và yêu cầu NCC gửi thông tin chi tiết về các mặt hàng : Báo giá ……Sau khi thoả thuận cửa hàng sẽ  tiến hành ký hợp đồng mua hàng với NCC . Quá trình giao hàng sẽ được thực hiện theo thời gian đã thoả thuận giữa cửa hàng và NCC .

    Khi nhận hàng, bộ phận quản lý kho kiểm tra hàng,nếu khớp với hợp đồng mua hàng thì lập hoá đơn mua hàng đồng thời chuyển cho kế toán viết phiếu chi  để thanh toán tiền với NCC, ngược lại thì sẽ có thông tin phản hồi với NCC.

    Sau khi nhận hàng bộ phận quản lý kho sẽ kiểm hàng và nhận hàng đồng thời  lập chứng từ nhập khocập nhật danh mục hàng  vào sổ nhập kho.

              2) Quá trình bán hàng

              Khi cửa hàng nhận được yêu cầu cung cấp hàng của khách hàng, nhân viên sẽ gửi báo giá các mặt hàng cho khách hàng .Sau khi thống nhất , nếu đồng ý khách hàng sẽ gửi yêu cầu mua hàng thông qua đơn đặt hàng ,Fax, telephole…. Bộ phận bán hàng sẽ tiếp nhận đơn đặt hàng, xác nhận và cập nhật vào sổ khách hàng sau đó chuyển cho bộ phận quản lí kho , đồng thời cập nhật danh sách khách hàng vào sổ khách hàng . Dựa trên các thông tin trong đơn đặt hàng, thủ kho sẽ kiểm tra số lượng hàng trong kho, nếu đáp ứng đủ yêu cầu của khách hàng thi lập chứng từ xuất kho và cập nhật danh mục hàng xuất vào sổ xuất kho , sau đó chuyển hàng cho bộ phận bán hàng để tiến hành giao hàng cho khách . Ngược lại thì trình lãnh đạo để có kế hoạch nhập hàng về .

    Bộ phận bán hàng, khi nhận được hàng từ kho sẽ kiểm tra hàng và lập hoá đơn bán hàng  đồng thời thực hiện giao hàng đến tận nơi cho khách hàng nếu khách hàng có yêu cầu .

    Bộ phận kế toán khi nhận được yêu cầu thanh toán sẽ lập phiếu thu  để thực hiện thanh toán với khách hàng .

              3) Giải quyết sự cố

     

     

    III. MÔ HÌNH NGHIỆP VỤ

    1. Biểu đồ ngữ cảnh

     

     

           
       
     
       

    H1. Biểu đồ ngữ cảnh

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     
     
     
     
     

     

     

    2. Biểu đồ phân rã chức năng

    2.1).Biểu đồ phân rã chức năng

     

           
       
     
       

    H2. Biểu đồ phân rã chức năng

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.2).Miêu tả chi tiết chức năng lá

    2.2.1)_Yêu cầu thông tin hàng hoá  : Khi cửa hàng có nhu cầu cung cấp hàng từ NCC thì nhân viên cửa hàng sẽ  yêu cầu nhà cung cấp gửi danh sách  các  thông tin chi tiết về các loại mặt hàng, chủng loại hàng , giá cả của từng mặt hàng ……  để cửa hàng lên kế hoạch nhập hàng về .

    2.2.2)_Lập hợp đồng mua hàng : Sau khi thoả thuận, chủ cửa hàng sẽ tiến hành kí hợp đồng mua hàng với nhà cung cấp, trong hợp đồng thống nhất về số lượng, giá cả , chủng loại hàng, phương thức thanh toán , thời gian giao hàng ……và các yêu cầu chất lượng của hàng hoá .

    2.2.3)_Kiểm tra hàng : Khi nhà cung cấp giao hàng , bộ phân quản lí kho có trách nhiệm kiểm tra hàng , đối chiếu hàng nhận về với hợp đồng mua hàng , xác nhận hàng về mặt chất lượng , số lượng , chủng loại hàng……

    2.2.4)_Lập hoá đơn mua hàng :Sau khi bộ phận quản lí kho kiểm tra hàng , so sánh với hợp đồng mua hàng , nếu khớp thì xác nhận và lập hoá đơn mua hàng và chuyển cho bộ phận kế toán để làm thủ tục thanh toán với nhà cung cấp .

    2.2.5)_Lập phiếu chi : Khi nhận được yêu cầu thanh toán , thủ quỹ sẽ xác nhận sau đó lập phiếu chi để thực hiện thanh toán với NCC .

    2.2.6)_Lập chứng từ nhập kho :Sau khi kiểm tra hàng ,bộ phận quản lí kho sẽ  lập chứng từ nhập kho để làm thủ tục nhập hàng vào kho.

    2.2.7)_Cập nhật vào sổ nhập kho : Khi nhập hàng vào kho thì đồng thơi bộ phận quản lí kho sẽ  cập nhật danh mục hàng hoá vào sổ nhập kho .

    2.2.8)_Tiếp nhận đơn đặt : Khách hàng có yêu cầu mua hàng, khách hàng sẽ tham khoả đơn giá, đơn mua  hàng từ  cửa hàng .Sau đó sẽ gửi yêu cầu mua hàng cho cửa hàng thông qua đơn đặt hàng . Nhân viên cửa hàng sẽ  có trách nhiệm tiếp nhận  yêu cầu đặt hàng của khách hàng , giải thích các thắc mắc hoặc phản hồi từ khách hàng .

    2.2.9)_ Vào sổ khách hàng : Sau khi tiếp nhận đơn đặt hàng , nhân viên cửa  hàng sẽ cập nhật đơn đặt hàng , thông tin khách  hàng vào sổ khách hàng . Để cửa hàng có phương án cung cấp hàng cho khách hàng .

    2.2.10)_Kiểm tra kho : Thông qua sổ khách hàng , bộ phận quản lí kho phải thường xuyên kiểm tra , theo dõi và lắm các thông tin về các mặt hàng trong kho để có kế hoạch cung cấp đủ hàng cho khách hàng hoặc lên  kế hoạch gửi lãnh đạo để nhập hàng về .

    2.2.11)_ Lập chứng từ xuất kho : Sau khi kiểm tra hàng , nếu thấy đủ hàng , bộ phận quản lí kho sẽ kiểm hàng và lập chứng từ xuất kho để bàn giao hàng cho bộ phận bán hàng.

    2.2.12)_Vào sổ xuất kho :  Sau khi xuất hàng , bộ phận quản lí kho phải cập nhật danh mục hàng xuất vào sổ  xuất kho .

    2.2.13)_Lập hoá đơn bán hàng : Bộ phận phận  bán hàng , khi nhân được hàng từ kho sẽ đối chiếu hàng với đơn đặt hàng của khách hàng, nếu thấy khớp thì viết hoá đơn bán hàng và giao hàng cho khách hàng .

    2.2.14)_Lập phiếu thu : Bộ phận kế toán sau khi nhận được hoá đơn bán hàng từ khách hàng sẽ có nhiệm vụ thanh toán tiền với khách hàng sau đó viết phiếu thu và gửi lại cho khách hàng .

    2.2.15)_Kiểm tra sự cố : Quá trình mua bán hàng diễn ra hàng loạt các công việc , các sự cố xảy ra là điều không thể tránh khỏi .Khi xảy ra sự cố , nhân viên cửa hàng sẽ kiểm tra sự cố , xem xét mức độ sự cố để đưa ra các giải pháp xử lí thích hợp.

    2.2.16)_Lập biên bản sự cố : Sau khi kiểm sự cố , nhân viên cửa sẽ lập biên bản sự cố . Tuỳ thuộc vào tình hình thực tế mà có các mức độ bồi thường hoặc bắt bồi thường cụ thể .

    2.2.17)_Thanh toán : Để giải quyết sự cố , bộ phận kế toán sẽ tuỳ thuộc vào biên bản sự cố mà tiến hành thanh toán tiền với khách hàng . Bồi thường tiền hoặc yêu cầu khách hàng phải bồi thường tiền cho cửa hàng.

    2.2.18 )_Lập báo cáo : Lập báo cáo là công việc diễn  ra định kì theo tuần hoặc theo thàng , khi có nhu cầu của lãnh đạo công ty , nhân viên cửa hàng phải đưa ra được các báo cáo theo yêu cầu của lãnh đạo một cách nhanh nhất , đảm bảo chính xác .

    3.Bảng phân tích xác định các chức năng , tác nhân và hồ sơ

     

    Động từ  + bổ ngữ Danh từ Nhận xét
    Yêu cầu  thông tin hàng hoá

     

    Lập hợp đồng mua hàng

    Kiểm tra hàng

    Lập hoá đơn mua hàng

    Viết phiếu chi

    Lập chứng từ nhập kho

    Vào sổ nhập kho

    Gửi báo giá

    Tiếp nhận đơn đặt hàng

    Vào sổ khách hàng

    Kiểm tra kho hàng

    Lập chứng từ xuất kho

    Vào sổ xuất kho

    Lập hoá đơn bán hàng

    Viết phiếu thu

    Kiểm tra sự cố

    Lập biên bản sự cố

    Thanh toán

    Lập báo cáo

    Nhà cung cấp

     

    Báo giá của

    Nhà cung cấp

    Hợp đồng mua hàng

    Bộ phận quản lý kho

    Nhà cung cấp

    Hợp đồng mua hàng

    Bộ phận quản lý kho

    Hoá đơn mua hàng

    Bộ phận kế toán

    Phiếu chi

    Sổ thu chi

    Chứng từ nhập kho

    Bộ phận quản lí kho

    Bộ phận quản lý kho

    Sổ nhập kho

    Khách hàng

    Bộ phận bán hàng

    Đơn giá

    Bộ phận bán hàng

    Khách hàng

    Bộ phận bán hàng

    Sổ khách hàng

    Đơn đặt hàng

    Bộ phận quản lý kho

    Bộ phận quản lý kho

    Chứng từ xuất kho

    Bộ phận bán hàng

    Sổ xuất kho

    Bộ phận quản lý kho

    Bộ phận bán hàng

    Hoá đơn bán hàng

    Khách hàng

    Bộ phận kế toán

    Phiếu thu

    Sổ thu chi

    Nhân viên

    Khách hàng

    Nhân viên

    Khách hàng

    Khách hàng

    Bộ phận kế toán

    Quản lý cửa hàng

    Tác nhân

     

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Hồ sơ dữ liệu

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    H3 : Bảng phân tích , xác định các tác nhân , hồ sơ

     

     

    4.Các hồ sơ dữ liệu

    A) Các hồ sơ dữ  liệu

    D.1) Bảng báo giá

    D.2) Hợp đồng mua hàng

    D.3) Hoá  đơn mua hàng

    D.4) Phiếu chi

    D.5) Chứng từ nhập kho

    D.6) Sổ nhập kho

    D.7) Đơn giá

    D.8) Đơn đặt hàng

    D.9) Sổ khách hàng

    D.10) Chứng từ xuất kho

    D.11) Sổ xuất kho

    D.12) Hoá đơn bán hàng

    D.13) Phiếu thu

    D.14) Sổ thu chi

    D.15) Biên bản sự cố

    1. B) Các tác nhân

      B1) Tác nhân ngoài

    1) Khách hàng

    2) Nhà cung cấp

    3) Quản lí nhà hàng

      B2)  Tác nhân trong

    • Bộ phận quản lí kho
    • Bộ phận kế toán
    • Bộ phận bán hàng

    5.Ma trận thực thể chức năng

     

     

     

     

     

     

    Các thực thể
     
    D1.Bảng báo giá
       
    D2.Hợp đồng mua hàng      
    D3.Hoá đơn mua  hàng        
    D4.Phiếu chi
             
    D5.Chứng từ nhập kho            
    D6.Sổ nhập kho              
    D7. Đơn giá                
    D8.Đơn đặt hàng                  
    D9. Sổ khách hàng                  
    D10.Chứng từ xuất kho.                    
    D11.Sổ xuất kho                      
    D12.Hoá đơn bán hàng                        
    D13.Phiếu thu                          
    D14.Sổ thu chi                            
    D15.Biên bản sự cố                            
    Các chức năng D1 D2 D3 D4 D5 D6 D7 D8 D9 D10 D11 D12 D13 D14   D15
    1.1 Y/c thông tin hàng hoá C                          
    1.2 Lập hợp đồng mua hàng R C                        
    1.3 Kiểm tra hàng   R                        
    1.4 Lập hoá đơn mua hàng   R C                      
    1.5 Lập phiếu chi     R C                   U
    1.6 Lập chứng từ nhập kho         C                  
    1.7 Vào sổ nhập kho           U                
    1 .Cung cấp hàng U U U C C U               U
    2.1 Tiếp nhận đơn đặt hàng               C            
    2.2 Vào sổ khách hàng                 U          
    2.3 Kiểm tra kho           R   R     R      
    2.4 Lập chứng từ xuất kho               R   C        
    2.5 Vào sổ xuất kho                     U      
    2.6 Lập hoá đơn bán hàng               R       C    
    2.7 Lập phiếu thu             R         R C U
    2 .Bán hàng           R R U U C U U C U
    3.1 Kiểm tra sự cố   R R R       R R     R R  
    3.2 Lập biên bản                                    C
    3.3 Thanh toán       C                 C U
    3 .Giải  quyết sự cố       C         R       C U       C       
    4.1 Lập báo cáo           R         R     R

     

    H4 . Ma trận thực thể chức năng

     

     

     

    V. BIỂU ĐỒ LUỒNG DỮ LIỆU

    1)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 0

           
       
     
       

    H5 . Biểu đồ luồng dữ liệu mức 0

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 1.0 _ Nhập hàng

     

     

     

               
       
         
     
     
       

    H5 . Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 1.0

     

    3)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 2.0 _ Bán hàng

           
       
     
       

    H6 . Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 2.0

     

     

     

     

    4)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 3.0 _ Giải quyết sự cố với nhà cung cấp

    5)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 3.0 _ Giải quyết sự cố với khách hàng

     

    H8 . Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 4.0

    5) Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 4.0 _ Lập báo cáo .

    VI .THIẾT KẾ CÁC GIAO DIỆN

    1.Giao diện cập nhật hợp đồng mua hàng:

     

     

     

    2.Giao diện cập nhật  đơn đặt hàng:

        

    3.Giao diện cập nhật  hoá đơn nhập kho :

     

    4.Giao diện cập nhật hoá đơn xuất kho :

     

    5.Giao diện cập nhật hoá đơn mua hàng :

     

     

    6.Giao diện cập nhật hoá đơn bán hàng :

     

    7.Giao diện cập nhật  phiếu thu :

     

    8.Giao diện cập nhật phiếu chi :

     

    9.Giao diện cập nhật  kho hàng :

     

    10.Giao diệncập nhật danh sách  mặt hàng :

     

    11.Giao diện cập nhật danh sách  nhóm hàng :

     

     

     

    12.Giao diện cập nhật danh sách nhân viên :

     

     

    13.Giao diện cập nhật danh sách khách hàng :

     

    14.Giao diện cập nhật danh sách nhà cung cấp :

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Kinh tế vi mô cần cho sinh viên kinh tế

    Bài tập lớn Kinh tế vi mô cần cho sinh viên kinh tế

    Bài tập lớn Kinh tế vi mô cần cho sinh viên kinh tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Văn mẫu Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện kiều


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Kinh-t%E1%BA%BF-vi-m%C3%B4-c%E1%BA%A7n-cho-sinh-vi%C3%AAn-kinh-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Kinh tế vi mô cần cho sinh viên kinh tế

     

     

    LỜI MỞ ĐẦU

     

     

    Kinh tế học vi mô là một phân ngành chủ của kinh tế học chuyên nghiên cứu về hành vi kinh tế của các cá nhân (gồm người tiêu dùng, nhà sản xuất hay một ngành kinh tế nào đó), là một môn khoa học kinh tế về sự lựa chọn tối ưu các vần đề kinh tế cơ bản của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

    Kinh tế học vi mô là nền tảng cho nhiều chuyên ngành của kinh tế học như kinh tế công cộng, kinh tế phúc lợi, thương mại Quốc tế, lý thuyết tổ chức ngành, địa lý kinh tế, …

    Một trong những mục tiêu nghiên cứu của Kinh tế học vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối cho các mặt hàng, dịch vụ và sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau. Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thị trường khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả cần có trong lý thuyết cho việc cạnh tranh hoàn hảo. Ngoài ra còn trang bị các công cụ nâng cao trong phân tích tổng quát.

    Chính vì thế Kinh tế học vi mô là một môn học vô cùng quan trọng với sinh viên nhóm ngành kinh tế. Việc học và nghiên cứu môn học này sẽ giúp bạn yêu thích môn học cũng như hiểu rõ hơn vể ngành nghề mà mình đã lựa chọn.

    Bài tập lớn là một loại bài tập tổng hợp bao gồm nhiều ý nhỏ nhằm giải quyết nhiều mặt của một vấn đề. Bài tập lớn Kinh tế vi mô gồm có 2 phần là:

    • Phần lý thuyết, sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về môn học kinh tế vi mô, củng cố, nâng cao những nhận thức về lý luận, phương pháp luận, nắm bắt được các quy luật như: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sự lựa chọn tối ưu… để vận dụng và giải quyết những vấn đề cụ thể trong hoạt động Kinh tế vi mô nói chung và hoạt động của một doanh nghiệp nói riêng.
    • Phần bài tập, sẽ giúp sinh viên giải thích, phân tính và chứng minh các tình huống xảy ra trong hoạt động vi mô của doanh nghiệp cũng như việc xử lý các tình huống đó một cách tối ưu trong những điều kiện cho phép.

    Hy vọng rằng sau khi làm xong bài tập lớn kinh tế vi mô này các bạn sẽ rút ra được những điều bổ ích để có thể áp dụng cho thực tế sau này.

     

     

     

    PHẦN I: LÝ THUYẾT

     

     

    1. Giới thiệu chung về môn học vi mô

    a. Đối tượng và nội dung cơ bản của Kinh tế học vi mô

    Kinh tế học vi mô là một nhánh của kinh tế học đi sâu nghiên cứu hành vi của các chủ thể, các bộ phận kinh tế riêng biệt các thị trường, các hộ gia đình và các hãng kinh doanh. Kinh tế vi mô cũng quan tâm đến tác động qua lại giữa hành vi của người tiêu dùng và các hãng để hình thành thị trường và các ngành để quá trình phân tích được đơn giản.

    Kinh tế vĩ mô là một nhánh của kinh tế học tập trung nghiên cứu các hoạt động của nền kinh tế dưới góc độ tổng thể. Nó đề cập tới các tiêu chí tổng thể như: tốc độ tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, thu nhập quốc dân…

    Þ Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô tuy khác nhau nhưng đều là những nội dung quan trọng của kinh tế học, không thể chia cắt nhau, mà bổ sung cho nhau, tạo thành hệ thống kiến thức kinh tế thị trường có sự điêù tiết của nhà nước. Vì vậy kinh tế vĩ mô tạo hành lang, tạo môi trường, tạo đIều kiện cho kinh tế vi mô phát triển. Trong thực tiễn kinh tế và quản lý kinh tế nếu chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế vi mô, quản lý kinh tế vi mô hay quản lý sản xuất kinh doanh, mà không có sự đIều chỉnh cần thiết của kinh tế vĩ mô, quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước về kinh tế thì rất khó có thể nắm bắt và điều chỉnh được nền kinh tế.

     b. Đối tượng và nội dung cơ bản của kinh tế học vi mô

    Kinh tế vi mô là một môn khoa học kinh tế, một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lý doanh nghiệp trong ngành kinh tế quốc dân. Nó là khoa học về sự lựa chọn hoạt động kinh tế vi mô trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

    Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của sự điều tiết. Do đó kinh tế vi mô là sự lựa chọn để giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp, một tế bào kinh tế: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Để giải quyết được những yêu cầu trên kinh tế vi mô sẽ nghiên cứu tập trung vào một số nội dung quan trọng nhất như vấn đề kinh tế cơ bản: cung và cầu, cạnh tranh và độc quyền, cầu về hành hoá: cung và cầu về lao động, sản xuất và chi phí, lợi nhuận và quyết định cung cấp; hạn chế của kinh tế thị trường và sự can thiệp của chính phủ; doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hoá.

    Kinh tế vi mô bao gồm những phần dưới đây:

    • Những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp; việc lựa chọn kinh tế tối ưu, ảnh hưởng của quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dần; quy luật chi phí tương đối ngày càng tăng; hiệu quả kinh tế.
    • Cung và cầu: Nghiên cứu nội dung của cung và cầu, sự thay đổi cung cầu, quan hệ cung cầu ảnh hưởng quyết định đến giá cả thị trường và sự thay đổi giá cả trên thị trường làm thay đổi quan hệ cung cầu và lợi nhuận.
    • Lý thuyết người tiêu dùng: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung của nhu cầu và tiêu dùng, các yếu tố ảnh hưởng đến đường cầu, hàm cầu và hàm tiêu dùng, tối đa hoá lợi ích và tiêu dùng tối ưu, lợi ích cận biên và sự co dãn của cầu.
    • Thị trường các yếu tố sản xuất: Nghiên cứu cung và cầu về lao động, vốn, đất đai.
    • Sản xuất chi phí và lợi nhuận: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung sản xuất và chi phí, các yếu tố sản xuất, hàm sản xuất và năng suất, chi phí cận biên, chi phí bình quân và tổng chi phí: lợi nhuận doanh nghiệp, quy luật lãi suất giảm dần, tối đa hoá lợi nhuận, quyết định sản xuất và đầu tư, quyết định đóng cửa doanh nghiệp.
    • Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền: Nghiên cứu về thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền: quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền, quan hệ giữa sản lượng, giá cả và lợi nhuận.
    • Vai trò của chính phủ: Nghiên cứu khuyết tật của kinh tế thị trường, vai trò và sự can thiệp của chính phủ đối với hoạt động kinh tế vi mô và vai trò của doanh nghiệp nhà nước.
    • Một trong những mục tiêu nghiên cứu của kinh tế học vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối cho các mặt hàng và dịch vụ và sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau. Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thị trường khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả cần có trong lý thuyết cho việc cạnh tranh hoàn hảo. Ngoài ra còn trang bị các công cụ nâng cao trong phân tích cân bằng tổng quát.

    c. Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô

    • Nghiên cứu những vấn đề kinh tế lý luận, phương pháp luận và phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế vi mô. Vì vậy cần nắm vững khái niệm, định nghĩa, nội dung, công thức tính toán, cơ sở hình thành các hoạt động hình thành kinh tế vi mô, quan trọng nhất là phải rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của nó.
    • Cần gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận và thực hành trong quá trình học tập.
    • Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực tiễn sinh động phong phú, phức tạp của các hoạt động kinh tế vi mô của doanh nghiệp ở Việt Nam và ở các nước.
    • Cần hết sức coi trọng việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn về các hoạt động kinh tế vi mô trong các doanh nghiệp tiên tiến của Việt Nam và của các nước trên thế giới. Nhờ đó chúng ta mới có thể làm phong phú thêm, sâu sắc thêm những nhận thức lý luận về môn khoa học kinh tế vi mô.
    • Ngoài ra còn có những phương riêng được áp dụng các phương pháp riêng như:
      • Áp dụng phương pháp cân bằng nội bộ, bộ phận, xem xét từng đơn vị vi mô, không xét sự tác động đến các vấn đề khác; xem xét một yếu tố thay đổi, tác động trong các điều kiện các yếu tố khác không đổi.

    Trong kinh tế vi mô cần sử dụng mô hình hoá như công cụ toán học và phương trình vi phân để lượng hoá các quan hệ kinh tế.

     

    2. Giới thiệu chung về lý thuyết cung – cầu

    a. Cầu

    • Khái niệm:
    • Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhật định.
    • Lượng cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua sẵn sáng hoặc có khả năng mua ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định.
    • Biểu cầu là bảng chỉ số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng sẵng sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
    • Đường cầu là đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu và giá. Một điểm chung của các đường cầu là chúng nghiêng xuống dưới về phía phải.
    • Luật cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa hoặc dịch vụ giảm xuống.

     

    • Các yếu tố xác định cầu và hàm số của cầu:
    • Thu nhập người tiêu dùng (I):

    Thu nhập là một yếu tố quan trọng trong xác định cầu. Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng.

    • Những hàng hóa có cầu tăng lên khi thu nhập tăng lên được gọi là các hàng hóa thông thường.
    • Các hàng hóa mà cầu giảm đi khi thu nhập tăng lên được gọi là hàng thứ cấp.
    • Giá cả của các loại hàng hóa liên quan (Py):

    Cầu đối với hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá của bản thân hàng hoá. Nó còn phụ thuộc vào giá của hàng hoá liên quan. Các hàng hoá liên quan này chia làm hai loại:

    • Hàng hoá thay thế.
    • Hàng hoá bổ sung.
    • Số lượng người tiêu dùng (dân số) (N):

    Khi số lượng người tiêu dùng càng tăng thì cầu về hàng hoá cũng tăng.

    • Thị hiếu người tiêu dùng (T):

    Thị hiếu có ảnh hưởng lớn đến cầu của người tiêu dùng, thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hoá hoặc dịch vụ.

    • Các kì vọng (E):

    Cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào các kỳ vọng (sự mong đợi) của người tiêu dùng. Nếu người tiêu dùng hy vọng rằng giá cả của hàng hoá nào đó sẽ giảm xuống trong tương lai, thì cầu hiện tại đối với hàng hoá của họ sẽ giảm xuống và ngược lại.

    è Tóm lại:

    Khi có sự thay đổi của các yếu tố trên thì sẽ làm cho lượng cầu thay đổi ở mọi mức giá. Chúng tạo lên hàm cầu được thể hiện dưới dạng phương trình sau:

    Q­XDt = f(Px , I , Py , N , T , E)

    Trong đó :

    Q­XDt  : Lượng cầu đối với hàng hoá trong thời gian t.
    Px : Giá hàng hoá x trong thời gian t.
    Py : Giá hàng hoá có liên quan trong thời gian t.
    I : Thu nhập người tiêu dùng.
    N : Dân số (người tiêu dùng).
    T : Thị hiếu (sở thích) của người tiêu dùng.
    E : Các kỳ vọng.
    • Sự dịch chuyển đường cầu:

    Lượng cầu tại một mức giá đã cho được biểu thị bằng một điểm trên đường cầu. Còn toàn bộ đường cầu phản ánh cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể nào đó. Do vậy sự thay đổi của cầu là sự dịch chuyển của toàn bộ đường cầu sang bên trái hoặc bên phải, còn sự thay đổi của lượng cầu là sự vận động dọc theo đường cầu.

    Hình vẽ sau đây minh hoạ sự phân biệt đó.

    Sự thay đổi của cầu và lượng cầu

    Tăng

     

     cầu

    Giảm

     

     cầu

    Q
    Tăng lượng cầu
    Giảm lượng cầu
    P
    D2
    D0
    D1

     

    b. Cung

    • Khái niệm:
      • Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khac nhau trong một thời gian nhất định.
      • Lượng cung là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵng sàng và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định.
      • Biểu cung là một bảng miêu tả số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.
      • Đường cung là đường biểu diễn mối quan hệt giữa đường cung và giá trên đồ thị. Một nét chung của đường cung là có độ nghiêng lên trên về phía phải phản ánh quy luật cung.
      • Luật cung là số lượng hàng hóa được cung trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của nó tăng lên. Vì vậy theo luật cung, giá và số lượng tỉ lệ thuận với nhau.

     

    • Các yếu tố xác định cung và hàm cung:
      • Công nghệ (Te):

    Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao sản xuất, giảm chi phí lao động trong quá trình chế tạo sản phẩm. Sự cải tiến công nghệ làm cho đường cung dịch chuyển về phía phải, nghĩa là làm tăng khả năng cung lên.

    • Giá của các yếu tố sản xuất đầu vào (Pi):

    Giá của các yếu tố sản xuất có ảnh hưởng đến khả năng cung sản phẩm. Nếu giá của các yếu tố sản xuất giảm sẽ dẫn đến giá thành sản xuất giảm và cơ hội kiếm lợi nhuận sẽ cao lên, do đó các nhà sản xuất có xu hướng sản xuất nhiều lên.

    • Chính sách thuế (t):
      • Khi thuế tăng thì cung giảm.
      • Khi thuế giảm thì cung tăng.
        • Số lượng người sản xuất (N):

    Số lượng người càng nhiều thì lượng cung càng lớn.

    • Các kỳ vọng (E):

    Mọi mong đợi về sự thay đổi giá của hàng hóa, giá của các yếu tố sản xuất, chính sách thuế… đều có ảnh hưởng đến cung hàng hóa và dịch vụ. Nếu sự mong đợi dự đoán có thuận lợi cho sản xuất thì cung sẽ được mở rộng  và ngược lại.

    è Tóm lại:

    Từ các yếu tố trên ta xác định được hàm cung theo phương trình sau:

    Q­Sx,t = f(Px , Pi , Te , t , N , E)

    Trong đó :

    Q­Sx.t  : Lượng cung đối với hàng hoá x trong thời gian t.
    Px : Giá hàng hoá x trong thời gian t.
    Pi : Giá của các yếu tố đầu vào.
    Te : Công nghệ.
    N : Số người sản xuất.
    E : Các kỳ vọng.

     

    • Sự dịch chuyển đường cung:

    Sự thay đổi của cung là sự dịch chuyển toàn bộ đường cung. Sự thay đổi lượng cung là sự vận động dọc theo đường cung.

    Hình sau đây mô tả sự khác biệt đó:

    Sự thay đổI của cung và lượng cung

     

    c. Cân bằng cung cầu

    • Dựa trên việc phân tích cả cung và cầu ta thấy rằng cùng một thời điểm nhất định ta xác định được giao điểm của đường cung và đường cầu. Tại đó lượng cung bằng lượng cầu (QD = QS) nghĩa là người bán muốn bán một lượng sản phẩm là QS và người mua muốn mua một lượng sản phẩm là QD thì ta gọi đó là điểm cân bằng của thị trường.
      • Khi P* < P1 Þ QS > QD Þ Dư thừa sản lượng.
      • Khi P* > P1 Þ QS < QD Þ Thiếu hụt sản lượng.
        • Kiểm soát giá:
          • Giá trần:
            • Là một mức giá tối đa mang tính pháp lý bắt buộc người bán ra không được đòi hỏi giá cao hơn.
            • Giá trần thường được áp dụng khi có sự thiếu hụt thất thường về các hàng hóa quan trọng nhằm tránh sự tăng giá quá mức. Mức giá này thường thấp hơn mức giá cân bằng.

    è Bảo vệ lợi ích nười tiêu dùng.

    • Giá sàn:
    • Chính phủ thường đặt ra mức giá tối thiểu đối với hàng hóa. Mức giá này thường áp dụng cho hiện tượng dư thừa sản lượng.
    • Mục tiêu đặt giá sàn nhằm đảm bảo lợi ích cho người sản xuất và cung ứng phục vụ.

    è Bảo vệ lợi ích người sản xuất.

    Sự thừa và thiếu trên thị trường

     

    d. Các phương pháp ước lượng cầu

    • Điều tra và nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng bằng cách quan sát:

    Quan sát hành vi của người tiêu dùng là cách thu thập thông tin về sở thích của người tiêu dùng, thông qua việc quan sát hành vi mua sắm và sử dụng sản phảm của họ.

    • Phương pháp thử nghiệm:

    Phương pháp thử nghiệm là phương pháp điều tra cầu của người tiêu dùng trong phòng thí nghiệm, nghĩa là người tiêu dùng được cho một số tiền và được yêu cầu chỉ tiêu trong một cửa hàng.

    Phương pháp này phản ánh tính hiện thực hơn là phương pháp điều tra người tiêu dùng. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có các hạn chế nhất định như không đảm bảo độ chính xác cho việc suy đoán của toàn bộ thị trường.

    • Phương pháp thí nghiệm trên thị trường.
    • Phương pháp phân tích hồi quy.

    3. Giới thiệu chung hành vi của doanh nghiệp

    a. Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất. Một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh có hiệu qủa là doanh nghiệp thoả mãn được nhu cầu tối đa của thị trường và xã hội về hàng hoá, dịch vụ trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất.

    Qúa trình kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, xã hội của từng loại doanh nghiệp. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:

    • Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ để quyết định xem sản xuất cái gì
    • Chuẩn bị đồng bộ các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định sản xuất như: lao động, đất đai, thiết bị, vật tư, kỹ thuật, công nghệ….
    • Tổ chức tốt quá trình kết hợp chặt chẽ, khéo léo giữa các yếu tố cơ bản của đầu vào để tạo ra hàng hoá và dịch vụ, trong đó lao động là yếu tố quyết định.
    • Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, bán hàng hóa thu tiền về.

    Một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả của kinh doanh là rút ngắn chu kỳ kinh doanh. Chu kỳ kinh doanh chính là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu khảo sát nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá, dịch vụ, đến lúc bán xong hàng hóa và thu tiền về.

    b. Lý thuyết về sản xuất

    • Công nghệ
      • Sản xuất là các loại hoạt động của doanh nghiệp bao gồm cả lĩnh vực lưu thông và dịch vụ.
      • Các doanh nghiệp chuyển hoá các đầu vào (còn gọi là các yếu tố sản xuất) thành đầu ra (còn gọi là sản phẩm).
      • Các yếu tố sản xuất được chia thành 2 loại:

    + Lao động (L)

    + Vốn (K) bao gồm: các nguyên nhiên vật liệu, tài sản cố định, máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng…

    • Các yếu tố được kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất kinh đoanh để tạo ra sản phẩm đầu ra (Q). Sản phẩm đầu ra có thể là sản phẩm hữu hình hoặc sản phẩm vô hình.
    • Hàm sản xuất
      • Quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện bằng hàm sản xuất

    + Hàm sản xuất chỉ rõ mối quan hệ giữa sản lượng tối đa có thể thu được từ các tập hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào với một trình độ công nghệ nhất định.

    + Hàm sản xuất biểu diễn phương pháp sản xuất có hiệu quả về mặt kỹ thuật khi kết hợp giữa các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra.

    • Một doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao khi doanh nghiệp đó có chi phí cơ hội đầu vào là nhỏ nhất.
    • Một hàm sản xuất thường dùng là hàm Cobb Douglas:

    Y = A. Ka.La                      ( b=1-a )

    Trong đó:

    Y : là sản lượng đầu ra

    L : là vốn

    K : là lao động

    a, b : là những hằng số cho biết tầm quan trọng tương đối của vốn và lao động trong quá trình sản xuất.

    • Sản xuất với một đầu vào biến đổi
      • Năng suất lao động bình quân ( APL )
    APL = Số đầu ra = Q
    Số lượng lao động L
    • Năng suất lao động cận biên ( MPL )
    MPL = Sự thay đổi đầu ra = Q
    Sự thay đổi lượng lao động L

    MPL  = Qn – Qn-1

    Hình vẽ:

    Nếu MPL > APL Þ APL  tăng dần

    MP< APL Þ APL giảm dần

    MPL  = APL Þ APL max

    • Quy luật MPL giảm dần

    Dựa vào hình vẽ ta thấy năng suất cận biên của bất kỳ yếu tố sản xuất nào cũng sẽ bắt đầu giảm dần tại một thời điểm nào đó khi càng có nhiều yếu tố đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất. Điều này cho thấy khi tăng thêm lao động thì mỗi lao động chỉ có ít vốn và diện tích để làm việc. Thời gian nhàn rỗi nhiều hơn nên năng suất lao động giảm dần. Vì vậy quy luật năng suất cận biên giảm dần có ý nghĩa với cả lao động và vốn. Nó liên quan đến hành vi và quyết định sản xuất kinh doanh trong việc lựa chọn các yếu tố đầu vào như thế nào để tăng năng suất, giảm chi phí và tối đa hoá lợi nhuận.

    • Sản xuất với hai đầu vào biến đổi

    Đường động lượng :

    • Là đường biểu thị tất cả sự kết hợp của các yếu tố đầu vào khác nhau để sản xuất ra một lượng đầu ra nhất định.
    • Các đường động lượng cho thấy sự linh hoạt mà các doanh nghiệp có được khi ra quyết định sản xuất trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp có thể đạt được một đầu ra lựa chọn bằng cách sử dụng các cách kết hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào để được một lượng đầu ra mong muốn với mục đích tối thiểu hoá chi phí tối đa hoá lợi nhuận.

    Hình vẽ:

    Sự thay thế các đầu vào, tỷ suất thay thế, kỹ thuật cận biên (MRTS)

    • Độ nghiêng của đường cong lượng cho thấy có thể dùng 1 số lượng đầu vào này thay thế cho 1 số lượng đầu vào khác nhưng phải đảm bảo đầu ra không đổi. Độ nghiêng đó được gọi là tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên (MRTS) nghĩa là muốn giảm đi một đơn vị lao động thì cần có bao nhiêu đơn vị vốn với điều kiện Q không đổi và ngược lại.
    • Tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên (MRTS) có liên quan chặt chẽ với năng suất cận biên của lao động và vốn và luôn được đo lường như 1 đại lượng dương cho nên số đầu ra tăng thêm lao động sẽ là:

    DQL = DL . MPL > 0

    Và số đầu ra giảm đi do giảm sử dụng vốn sẽ là:

    D QK = D K . MPK < 0

    Trong đó:  DK    : chênh lệch về vốn

    MPK  : năng suất lao động cận biên theo vốn

    DQ + DL = 0

    • DL . MPL + DK . MPK = 0

    Tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên

    MRTS = -DK = MPL
    DL MPK
    • Hai trường hợp đặc biệt

    TH1: Các yếu tố đầu vào có thể thay thế hoàn toàn cho nhau và MRTS không đổi trên một đường đồng lượng có dạng một đường thẳng có nghĩa là cùng một đầu ra có thể chỉ được sản xuất bằng lao động và vốn hoặc bằng sự kết hợp giữa lao độngvà vốn

    TH2: Các yếu tố đầu vào không thể thay thế cho nhau, mỗi mức đầu vào đòi hỏi có sự kết hợp riêng. Mỗi mức đầu ra đòi hỏi một sự kết hợp giữa lao động và vốn. Khi đó đường động lượng có dạng L.

    • Lý thuyết về chi phí sản xuất
    • Ý nghĩa và khái niệm
      • Trong kinh tế vi mô chi phí sản xuất giữ mộtvị trí quan trọng và có quan hệ tới nhiều vấn đề khác của doanh nghiệp như: quan hệ với người tiêu dùng, xã hội….Trong đó:

    + Chi phí tính toán (chi phí kế toán) là tất cả những khoản chi nhưng không tính đến chi phí cơ hội.

    + Chi phí kinh tế (chi phí tài chính) là tất cả các khoản chi bao gồm cả chi phí cơ hội.

    Þ Chi phí kinh tế thường lớn hơn chi phí tính toán 1 lượng bằng chi phí cơ hội.

    • Chi phí ngắn hạn là những chi phí của thời kỳ mà trong đó số lượng và chất lượng của đầu vào là không đổi.
    • Tổng chi phí (TC) là toàn bộ chi phí biến đổi và chi phí cố định sản xuất ra sản phẩm.
    • Chi phí cố định (FC) là khoản chi phí không biến đổi khi sản lượng tăng hoặc giảm hoặc bằng 0.
    • Chi phí biến đổi (VC) là khoản chi phí biến đổi theo từng mức đầu ra

    TC = FC + VC

    • Chi phí bình quân (ATC) là tổng chi phí cho 1 đơn vị sản phẩm:
    • Chi phí cố định bình quân là chi phí cố định cho 1 đơn vị sản phẩm
    • Chi phí biến đổi bình quân là chi phí biến đổi cho 1 đơn vị sản phẩm

    Þ ATC = AVC + AFC

    • Chi phí cận biên (MC)

    MC = TCn – TCn-1

    Mối quan hệ giữa MC và ATC

    Hình vẽ:

    MC > ATC Þ ATC tăng dần

    MC < ATC Þ ATC giảm dần

    MC = ATC Þ ATC min

    • Chi phí dài hạn

    Trong dài hạn doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các đầu vào của nó. Vấn đề đặt ra là lựa chọn các đầu vào như thế nào để sản xuất 1 đầu ra nhất định với chi phí tối thiểu

    Gọi LTC là tổng chi phí sản xuất trong dài hạn.

    LAC là chi phí bình quân dài hạn (chi phí trung bình dài hạn).

    LMC là chi phí cận biên dài hạn.

    Þ

    LMC = LTCn – LTCn-1

    Chú ý:

    • Trong trường hợp ngắn hạn nếu doanh nghiệp đạt mức giá
      • P = ATCmin Þ doanh nghiệp sẽ đạt hòa vốn.
      • P £ AVCmin Þ doanh nghiệp có thể phải đóng cửa sản xuất.
      • AVCmin < P < ATCmin Þ doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.
      • P > ATCmin Þ doanh nghiệp có lãi.
    • Trong trường hợp dài hạn nếu:
      • P = LACmin Þ doanh nghiệp đạt hòa vốn dài hạn.
      • P < LACmin Þ doanh ngiệp rời bỏ thị trường.
    • Đường đồng phí

    Là đường bao gồm tất cả các tập hợp có thể có của lao động và vốn mà người ta có thể mua với một tổng chi phí nhất định.

    Gọi TC là tổng chi phí.

    W là chi phí cho 1 đợn vị lao động (lương).

    R là chi phí cho 1 đơn vị vốn.

    TC = w.L + rK

    C2
    C1
    L
    K
    1. d. Lý thuyết về lợi nhuận và quyết định cung cấp
    • Lợi nhuận và tối đa lợi nhuận
      • Khái niệm lợi nhuận
    • Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
    • Do vậy lợi nhuận thường được xác định như sau:

    ∏ = TR – TC

    Trong đó:

    TR = P.Q (giá .  số lượng)

    MR = TRn – TRn-1

     

    Chú ý:

    Đối với doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo lợi nhuận đạt tối đa tại mức sản lượng Q* khi P = MC

    max tại Q* khi P = MC

    Đối với doanh nghiệp kinh doanh trong thị trường độc quyền và bán cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa tại mức sản lượng Q* khi MR = MC

    Để đạt TRmax khi MR = 0

    • Các loại lợi nhuận
      • Lợi nhuận tính toán: được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí tính toán. Đó là khoản chi phí không tính đến những chi phí tiềm ẩn hay chi phí cơ hội.
      • Lợi nhuận bình quân: được hình thành do tác động của quy luật cung cầu vốn trong nền kinh tế thị trường. Nó được biểu hiện cụ thể bằng tỷ suất lãi trên vốn.
      • Lợi nhuận bình thường: là mức lợi nhuận chỉ vừa đủ để giữ cho các nhà kinh doanh tiếp tục công việc của mình và tồn tại với tư cách là một bộ phận của tổng chi phí.
      • Lợi nhuận siêu ngạch.
      • Lợi nhuận dị thường.
      • Lợi nhuận độc quyền.
    • Tối đa hóa lợi nhuận
      • Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp đó kiếm được nhờ bán hàng hóa, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định.
      • Doanh thu cận biên (MR)là mức thay đổi tổng doanh thu do tiêu thụ thêm một đơn vị sản lượng:
     

     

    Quy tắc : tối đa lợi nhuận

    Tăng sản lượng chừng nào doanh thu cận biên còn vượt quá chi phí cận biên (MR > MC) cho đến khi có MR = MC thì dừng lại. Đây chính là mức sản lượng tối ưu (Q*) để tối đa hóa lợi nhuận.

    • Tối đa hóa lợi nhuận trong sản xuất ngắn hạn.

    Doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa ở mức sản lượng mà ở đó doanh thu cận biên bằng với chi phí cận biên (MR=MC).

    • Tối đa hó lợi nhuận tron sản xuất dài hạn.

    Như ta đã biết trong sản xuất dài hạn không còn chi phí cố định, doanh nghiệp có quyền quyết định nên xây dựng một năng lực sản xuất đến mức nào là tối ưu, tức là xác định lượng chi phí cố định tối ưu.

    Để tối đa hóa lợi nhuận, chúng ta có thể sử dụng phương pháp trình bày ở trên nhưng loại trừ chi phí cố định, có nghĩa là mọi chi phí đều biến đổi như phương pháp ngắn hạn, doanh nghiệp coi giá cả thị trường là cho trước và là doanh thu cận biên của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ tăng sản lương khi nào doanh thu cận biên còn lớn hơn chi phí cận biên.

    Doanh nghiệp sẽ giảm sản lượng khi chi phí cận biên vượt doanh thu cận biên (MC > MR).

    Doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối đa bằng việc cân bằng doanh thu cận biên và chi phí cận biên.

    4. Giới thiệu chung về hành vi của doanh nghiệp độc quyền

    a. Độc quyền bán

    • Khái niệm :

    Độc quyền bán là một thị trường, trong đó chỉ có một người bán, nhưng có nhiều người mua.

    • Nguyên nhân :

    Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ một số nguyên nhân cơ bản sau :

    • Đạt được tính kinh tế quy mô, yếu tố quan trọng quyết định cấu trúc thị trường là sản lượng ở mức quy mô tối thiểu có hiệu quả so với cầu của thị trường. Quy mô tối thiểu có hiệu quả là sản lượng mà tại đó, đường chi phí bình quân dài hạn của một doanh nghiệp ngừng đi xuống. Như vậy, nếu một doanh nghiệp đạt được tính kinh tế của quy mô, thì việc mởi rộng sản lượng của nó sẽ loại bỏ được các đối thủ và cuối cùng sẽ là người bán duy nhất trên thị trường, nếu mức sản lượng có chi phí bình quân dài hạn tối thiểu của nó là đủ lớn để đáp ứng cầu thị trường.
    • Bằng phát minh sáng chế (bản quyền). Luật về bằng phá minh sáng chế (bản quyền) cho phép các nhà sản xuất có được vị trí độc quyền về bán một sản phẩm hoặc một quy trình công nghệ mới trong một khoảng thời gian nhất định.

    Kiểm soát  các yếu tố (đầu vào) sản xuất. Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ quyền sở hữu một loại đầu vào (nguyên liệu) để sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó.

    Quy định của chính phủ. Một doanh nghiệp có thể trở thành độc quyền hợp pháp nếu nó là người duy nhất được cấp giấy phép sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, dịch vũ nào đó. Chẳng hạn đường sắt Việt Nam, bưu điện Việt Nam…

    • Đặc điểm :
      • Một người bán, nhiều người mua.
      • Sản phẩm đọc nhất không có hàng hóa thay thế gần gũi.
      • Có sức mạnh thị trường (có quyền định giá sản phẩm và sản lượng bán, việc gia nhập thị trường là rất khó khăn, nhiều trở ngại).
      • Cùng tiến hành quảng cáo để thu hút thêm khách hàng.
    • Đường cầu và đường doanh thu cận biên :

    Là người sản xuất duy nhất đối với một loại sản phẩm, nhà độc quyền bán có vị trí độc nhất trên thị trường. Nhà độc quyền bán có sự kiểm soát toàn diện đối với số lượng sản phẩm đưa ra bán. Nhưng điều này không có nghĩa là nó đặt giá cao bao nhiêu cũng được, vì mục đích của nó là tối đa hóa lợi nhuận. Đặt giá cao sẽ có ít người mua và lợi nhuận thu được sẽ ít hơn.

    Vì là người duy nhất bán một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể trên thị trường, nhà độc quyền bán đứng trước cầu thị trường – một đương cầu dốc xuống dưới về phí phải. Đường cầu thị trường chính là đường doanh thu bình quân (AR) của doanh nghiệp. Khi đường cầu dốc xuống thì giá và doanh thu bình quân luôn lớn hơn doanh thu cận biên, vì tất cả các đơn vụ đều được bán ở cùng một giá. Tăng lượng bán thêm một đơn vị thì giá bán phải giảm xuống, như vậy tất cả các đơn vị bán ra đều phải giảm giá chứ không phải chỉ một đơn vị bán thêm. Đường doanh thu cận biên vì thế luôn nằm dưới đường cầu, trừ điểm đầu tiên.

    • Quyết định cung cấp của doanh nghiệp độc quyền :

    Một doanh nghiệp để tối đa hóa lợi nhuận phải sản xuất ở mức sản lượng sao cho doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên tại mức Q* (MR = MC).

    CM : Q* là sản lượng tối đa hóa lợi nhuận.

    Giả sử  Q* à Q1  thì tương ứng  P* à P1  khi đó  MR > MC

    Q* à Q2  thì tương ứng  P* à P2  khi đó  MR < MC

    • Q1, Q2 không phải là sản lượng tối đa hóa lợi nhuận.
    • Sức mạnh độc quyền.

    Sự khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo và doanh nghiệp độc quyền bán là : doanh ngiệp nghiệp độc quyền bán có sức mạnh thị trường. Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo phải đặt giá bằng chi phí cận biên, còn doanh nghiệp độc quyền bán đặt giá cao hơn chi phí cận biên. Vì thế sức mạnh độc quyền bán được đó bằng chỉ số Lerner, gọi là mức độ sức mạnh độc quyền của Lerner.

    • Mất không từ sức mạnh độc quyền.

    Do sức mạnh độc quyền tạo ra giá cao hơn và sản lượng sản xuất ra thấp hơn so với cạnh tranh hoàn hảo, nên ta dễ thấy người tiêu dùng bị thiệt hại, còn người sản xuất thì được lợi.

    Theo hình vẽ ta thấy nếu thị trường là cạnh tranh hoàn hảo thì giá và sản lượng sẽ là Pc và Qc. Nếu thị trường là độc quyền bán thì giá và sản lượng là Pm và Qm. Như vậy so với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thì thị trường độc quyền bán tạo ra phúc lợi ít hơn, một phần thặng dư tiêu dùng (diện tích A) và thặng dư sản xuất (diện tích B) bị mất do chỉ sản xuất ở mức sản lượng Qm. Phần phúc lợi bị mất gọi là mất không và được tính bằng S∆ABC.

    PHẦN II: TÍNH TOÁN

     

     

    I. Các thông tin

    Một doanh nghiệp độc quyền kinh doanh một loại sản phẩm đặc biệt gặp đường cầu :

    • P = 11 – Q
    • P = 100 – 3Q .

    Trong đó :

    P là giá tính bằng USD (đô-la) trên một đơn vị sản phẩm.

    Q là sản phẩm lượng tính bằng ngàn đơn vị sản phẩm.

    Nhà độc quyền có chi phí bình quân để sản xuất ra một sản phẩm là:

     

     

     

    II. Bài làm

     

    Câu 1:

    Khi tính bằng ngàn đô-la trên một ngàn đơn vị sản phẩm thì :

    P = 11000 – 1000Q1          (D1)

    P = 100000 – 3000Q2        (D2)

    Ta có :

    Q1 = 11 –

    Q2 =

    Đường cầu của doanh nghiệp được xác định như sau :

    Q = Q1 + Q2 = 11 –

    Vậy phương trình đường cầu có thể viết :

    P = 33250 – 750Q            (D)

    Þ  Ta có phương trình doanh thu là :

    TR1 = P.Q = 11000Q – 1000Q2
    TR   = P.Q = 33250Q – 750Q2

    Phương trình doanh thu cận biên là :

    MR1 =  = (TR1)’ = 11000 – 2000Q

    MR  =  = (TR2)’ = 33250 – 1500Q

    Phương trình chi phí cận biên :

    MC  =  = (TC)’ = 4Q + 3000

     

     

    Câu 2:

    Mức sản lượng tối ưu của nhà độc quyền xuất hiện khi doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên.

    • MR1 = MC
      • 11000 – 2000Q = 4Q + 3000
      • Q       =       4   (loại)
    • MR = MC
      • 33250 – 1500Q = 4Q + 3000
      • Q = 20,11          (ngàn sản phẩm)

     

    KL: Vậy mức sản lượng tối ưu của nhà độc quyền là :

    Q = 20,11 (ngàn sản phẩm)

    P = 33250 – 750.20,11 = 18167,5 (USD / ngàn sản phẩm)

    Nhà độc quyền sẽ đặt giá P = 18,1675 (USD / sản phẩm)

    • Tổng doanh thu là :

    TR = P.Q = 18167,5 . 20,11 = 365348.425 (USD)

    • Tổng chi phí là :

    TC = 500 + 2Q2 + 3000Q

    = 500 + 2(20,11)2 + 3000(20,11)

    = 61638,82 (USD)

    • Lợi nhuận cực đại nhà độc quyền có thể thu được là :

    max = TR – TC = 365348,425 – 61638,82

    = 303709,61 (USD)

     

    Câu 3:

    Sức mạnh của nhà độc quyền được thể hiện bằng việc doanh nghiệp này có quyền định giá và sản lượng bán của sản phẩm.

    Ở đây :

    P = 18167,5 (USD / ngàn sản phẩm)

    Q = 20,11 (ngàn sản phẩm)

    Þ  MC = 4Q + 3000

    = 4 . 20,11 + 3000

    = 3080,44

    Sức mạnh của nhà độc quyền là :

    Vì  0 ≤ L ≤ 1

    Þ  Nên có thể thấy sức mạnh độc quyền của doanh nghiệp này rất lớn.

     

     

    Câu 4:

    Mức giá và sản lượng tối ưu cho xã hội của hãng này xảy ra khi đường chi phí cận biên gặp đường cầu (tại điểm B trên hình vẽ)

    P = MC

    Û  33250 – 750Q = 4Q + 3000

    Û           Q = 40,12        (ngàn sản phẩm)

    Þ Giá   P = 33250 – 750Q

    = 33250 – 750 . 40,12

    = 3160 (USD / ngàn sản phẩm)

    Giá 1 sản phẩm là:  P = 3,16 (USD / sản phẩm)

    Để tối đa hóa lợi nhuận nhà độc quyền đã hạn chế sản lượng thấy hơn sản lượng tối ưu cho xã hội và gây ra mất không.

    Lượng mất không chính là: diện tích tam giác ABC.

    DWL = S∆ABC =

    = 150946 (USD)

     

    Câu 5:

    Khi chính phủ đặt giá bản của nhà độc quyền là P = 180 (USD / đơn vị sản phẩm) thì giá của 1000 sản phẩm là:

    P   = 180000 (USD / ngàn sản phẩm)

    TR = 180000 Q

    MR = 180000

    Để đạt được lợi nhuận cao nhất phải thỏa mãn:

    MR = MC

    Û  180000 = 4Q + 3000

    Û         Q = 44250        (ngàn sản phẩm)

    TR = 5 . 310 . 106 (USD)

    Ta có: TC = 600 + 2Q2 + 3000Q

    = 4048875500 (USD)

    Lợi nhuận cực đại là :

    max = TR – TC = 1261124500 (USD)

    Câu 6:

    Nếu doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa doanh thu thì phải thỏa mãn: MR = 0

    • MR1 = 0
      • 11000 – 2000Q = 0
      • Q  = 5,5  (loại – vì TR1 = 30250)
        • MR = 0
      • 33250 – 1500Q = 0
      • Q  = 22,167 (ngàn sản phẩm)

    P  = 16624,75 (USD / ngàn sản phẩm)

    hay                P  = 16,62475 (USD / sản phẩm)

    Vậy để tối đa hóa doanh thu thì doanh nghiệp sẽ bán ra

    Q = 22,167 (ngàn sản phẩm)

    Với giá

    P = 16,62475 (USD / sản phẩm)

    Câu 7:

    Để không bị lỗ, doanh nghiệp phải thỏa mãn: d = ATCmin

    Hay               MC = ATC

    • 4Q + 3000 = + 2Q + 3000
    • 2Q2  = 500

    Þ  Q =  = 15,81

    Để không bị lỗ doanh nghiệp phải sản xuất

    Q = 15,81 ( ngàn sản phẩm)

    Với giá

    P = 21392,5 (USD / ngàn sản phẩm)

    Hay

    P = 21,3925 (USD / sản phẩm)

    Câu 8:

    Thặng dư sản xuất của doanh nghiệp khi đạt mức lợi nhuận tối đa chính là phần diện tích đa giác ACDE trên đồ thị

    PS = 0,5 [(18167,5 – 3000) + (18167,5 – 3080,44)] . 20,11

    = 304209 (USD)

    Câu 9:

    Thặng dư tiêu dùng chính là diện tích tam giá AEF

    PS = 0,5 (33250 – 18167,5) . 20,11

    = 151654 (USD)

    Lợi ích ròng của xã hội khi đó

    NSB = PS + CS = 304209 + 151654

    = 455863 (USD)

    Câu 10:

     

     

    PHẦN III: KẾT LUẬN

    Qua bài tập lớn ở trên chúng ta có thể rút ra một số điều như sau:

    1. Sức mạnh của nhà độc quyền được thể hiện bằng việc doanh nghiệp đó có quyền quyết định giá và sản lượng bán. Từ đó có thể tính được mức độ sức mạnh của nhà độc quyền đó bằng việc dùng hàm Lerner.
    2. Để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp sẽ phải phải là gì? ở đây muốn tối đa hóa lợi nhuận thì chi phí cận biên phải bằng với doanh thu cận biên. Từ đó ta có thể tính được lợi nhuận cực đại mà doanh nghiệp có thể thu được và sản lượng tối đa mà doanh nghiệp sẽ sản xuất ra để đem lại lợi nhuận cực đại đó.
    3. Mức giá và sản lượng tối ưu cho xã hội đối với hãng độc quyền này xảy ra khi đường chi phí cận biên gặp đường cầu.
    4. Nếu doanh nghiệp muốn tối đa hóa doanh thu thì hành vi thì phải thỏa mãn doanh thu cận biên bằng 0.
    5. Để không bị lỗ hay phá sản thì doanh nghiệp sẽ phải làm gì? Ở đây để không phá sản thì P = ATCmin khi và chỉ khi MC = ATC.
    6. Qua đó ta có thể tính được thặng dư sản xuất mà doanh nghiệp có được khi đạt mức lợi nhuận tối đa và tính được thặng dư tiêu dùng và lợi ích ròng của xã hội mà khi nhà độc quyền này đạt lợi nhuận cực đại.

    Þ Vì vậy chúng ta cần:

    • Cần nắm vững khái niệm, định nghĩa, nội dung, công thức tính toán, cơ sở hình thành các hoạt động kinh tế vi mô, quan trọng hơn là rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của nó. Chẳng hạn, phải hiểu tại sao lại đề ra các mức giá mua và giá bán, các sự lựa chọn phương pháp tăng lợi nhuận…
    • Cần phải sử dụng những lý luận, phương pháp luận có tính quy luật chung đó để làm cơ sở phân tích các hoạt động kinh tế vi mô, phát hiện những mâu thuẫn đang diễn ra trong thực tiễn và trên cơ sở đó xây dựng các dự đoán, đề ra các phương hướng, biện pháp phù hợp, nhằm phát triển có hiệu quả hơn các hoạt động kinh tế vi mô.

    Þ Bài tập lớn giúp ta hiểu hơn về môn học, đặc biệt là về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó sẽ phải có những biện pháp để khắc phục những sai lầm, của doanh nghiệp để đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn và có những hướng đi riêng để doanh nghiệp phát triển mạnh.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thẩm định dự án – Bài tập 3

    Thẩm định dự án – Bài tập 3

    Thẩm định dự án – Bài tập 3

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Thẩm định dự án – Bài tập 5


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Thẩm định dự án – Bài tập 3

    Thẩm định dự án                                                                                                                                                  Bài tập trên lớp

    BÀI TẬP 3

    Thời gian làm bài 75 phút

    Anh/chị đựơc yêu cầu thẩm định tính khả thi của một dự án với những thông tin dưới đây:

    Vòng đời dự án:

    Việc xây dựng nhà xưởng và lắp đặt máy móc thiết bị dự kiến hoàn thành nội trong năm

    1. Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm tiếp theo và sẽ hoàn tất việc giải quyết công nợ và thanh lý tài sản ở năm sau đó.

    Đầu tư:

    Dự án được thực hiện trên một tòa nhà với tiền thuê là 216.5 triệu đồng (miễn tiền thuê năm xây dựng và năm thanh lý). Biết rằng, chủ đầu tư phải đặt cọc 100 triệu vào năm 0 (số tiền này sẽ được hoàn lại sau khi hợp đồng thuê nhà kết thúc). Để thực hiện dự án này, chủ đầu tư phải chi ra khoảng 600 triệu đồng cho việc xây dựng sửa chữa lại tòa nhà theo đúng mục đích sử dụng của dự án.

    Chủ dự án dự kiến chi khoảng 800 triệu đồng cho việc mua sắm và lắp đặt máy

    móc thiết bị. Thời gian hữu dụng của nhà xưởng và máy móc thiết bị là 5 năm.

    Sản lượng:

    Sản lượng của dự án ở năm hoạt động đầu tiên là 12 ngàn sản phẩm. Dự kiến, sản lượng năm sau cao hơn năm trước 10% trong suốt tuổi thọ của dự án.

    Giá bán:

    Mức giá sản phẩm ở năm hoạt động đầu tiên là 120 ngàn đồng/sản phẩm và dự kiến mức giá năm sau cao hơn năm trước 10%.

    Chi phí trực tiếp:

    Chi phí trực tiếp (chưa bao gồm khấu hao và chi phí phân bổ tài sản cố định khác) bao gồm nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, điện, tiền lương công nhân, bao bì,… ước khoảng 40 ngàn đồng/sản phẩm và chi phí này cũng tăng hàng năm với tỷ lệ như tăng giá bán.

    Chi phí quản lý và bán hàng:

    Vì chỉ bán buôn, không bán lẻ, nên chi phí quản lý và bán hàng thấp, dự kiến khoảng 150 triệu đồng/năm và không thay đổi qua các năm. Riêng năm thanh lý chỉ tốn khoảng 75 triệu đồng.

    Vay nợ:

    Để đủ tiền thanh toán cho đầu tư ban đầu, chủ đầu tư sẽ phải vay ngân hàng số tiền bằng 50% giá trị nhà xưởng và máy móc thiết bị với lãi suất 12%/năm. Khoản vay này sẽ được hoàn trả vào 3 năm tiếp theo với phương thức trả vốn gốc và lãi đều nhau hàng năm và tiền lãi sẽ trả theo lãi phát sinh hàng năm.

    Khoản phải thu, khoản phải trả:

    Khoản phải thu ước khoảng 5% doanh thu và khoản phải trả ước khoảng 10% chi phí trực tiếp chưa bao gồm khấu hao.

    Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp: 25%

    Những thông tin khác:

     

    Phùng Thanh Bình

    Thẩm định dự án                                                                                                                                                  Bài tập trên lớp

    Để đơn giản, giả sử rằng không có tồn kho nguyên liệu và thành phẩm, không có tồn quỹ tiền mặt, không tính đến thuế VAT, khấu hao theo phương pháp đường thẳng, và phân bổ hết các chi phí khác trong thời gian hoạt động của dự án.

    Yêu cầu:

    1. Anh/Chị hãy lập các bảng tính dưới đây:
    1. Tổng doanh thu và tổng chi phí trực tiếp chưa kể khấu hao và chi phí phân bổ khác
    1. Lịch vay và trả nợ
    1. Báo cáo thu nhập dự trù
    1. Bảng vốn lưu động
    1. Anh/Chị hãy lập Báo cáo ngân lưu theo quan điểm Tổng đầu tư (TIPV), sau đó tính NPV của dự án với suất chiết khấu WACC = 17%.
    1. Nếu suất sinh lợi yêu cầu tăng lên 22% thì dự án có đáng giá hay không? Anh/Chị hãy ước tính IRR của dự án.
    1. Anh/Chị cho biết dự án có đủ khả năng trả nợ hay không? Tại sao?
    1. Thật ngắn gọn, Anh/chị hãy lập Báo cáo ngân lưu theo quan điểm chủ đầu tư (EPV).
    1. Anh/Chị cho biết với suất chiết khấu là 14.3%, thay vì trả tiền thuê nhà hằng năm là 216.5 triệu đồng, thì chủ đầu tư chỉ đồng ý trả tiền thuê một lần vào năm 0 là bao nhiêu?

    Phùng Thanh Bình


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thẩm định dự án – Bài tập 5

    Thẩm định dự án – Bài tập 5

    Thẩm định dự án – Bài tập 5

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Môi trường và con người Độc canh bạch đàn, cọ dầu và đậu nành lợi ích và tác hại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-5.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thẩm định dự án – Bài tập 5

    Thẩm định dự án                                                                                                                                                  Bài tập trên lớp

    BÀI TẬP 5

    Thời gian làm bài 75 phút

    Anh/chị đựơc yêu cầu thẩm định tính khả thi của một dự án “Nâng cấp chương trình đào tạo chuyên viên kinh doanh bất động sản” cho công ty ABC với những thông tin dưới đây:

    Vòng đời dự án:

    Việc xây dựng sửa chữa tòa nhà và lắp đặt máy móc thiết bị dự kiến hoàn thành trong năm 2009 (năm 0). Tổ chức hoạt động kinh doanh trong 3 năm tiếp theo và sẽ hoàn tất việc giải quyết công nợ và thanh lý tài sản ở năm 2013 (năm 4).

    Đầu tư:

    Dự án được thực hiện trên một tòa nhà với tiền thuê là 800 triệu đồng/năm (miễn tiền thuê năm xây dựng và năm thanh lý). Biết rằng, chủ đầu tư phải đặt cọc 200 triệu đồng tại thời điểm ký hợp đồng thê nhà (năm 0) và số tiền này sẽ được hoàn lại sau khi hợp đồng thuê nhà kết thúc vào năm 2013. Để thực hiện dự án này, chủ đầu tư phải chi ra khoảng 800 triệu đồng cho việc xây dựng sửa chữa lại tòa nhà theo đúng mục đích sử dụng của một dự án đào tạo.

    Chủ dự án dự kiến chi khoảng 1.200 triệu đồng cho việc mua sắm và lắp đặt máy móc thiết bị tại năm 2009 (năm 0). Thời gian hữu dụng của các máy móc thiết bị này là 5 năm.

    Số khóa đào tạo:

    Trong năm hoạt động đầu tiên (năm 2010), dự án sẽ đào tạo được 120 khóa (30 học viên/khóa). Dự kiến, số khóa đào tạo năm sau cao hơn năm trước khoảng 10 khóa trong suốt tuổi thọ của dự án.

    Học phí:

    Trong năm hoạt động đầu tiên (năm 2010), dự án sẽ thu học phí với mức 2 triệu đồng/học viên/khóa, tương đương 60 triệu đồng/khóa và dự kiến mức học phí năm sau cao hơn năm trước 7%.

    Chi phí trực tiếp:

    Chi phí trực tiếp (chưa kể khấu hao và phân bổ chi phí đầu tư xây dựng sửa chữa) bao gồm tiền thù lao giảng viên, photo tài liệu, cặp táp, cấp chứng chỉ, điện & internet, tiền thù lao nhân viên trực lớp, và tiền thức ăn nhẹ cho học viên,… ước khoảng 30 triệu đồng/khóa.

    Chi phí quản lý và quảng cáo:

    Chi phí quản lý ước tính khoảng 600 triệu đồng/năm. Riêng năm thanh lý chỉ tốn khoảng 20% so với năm trước đó. Hoạt động đào tạo đòi hỏi chi phí quảng cáo và tiếp thị rất cao, ước tính khoảng 15% trên mỗi khóa học.

    Vay nợ:

    Để đủ tiền thanh toán cho đầu tư ban đầu, chủ đầu tư sẽ phải vay ngân hàng EXIMBANK số tiền bằng 60% giá trị xây dựng và mua sắm máy móc thiết bị với lãi suất 12%/năm. Khoản vay này sẽ được hoàn trả vào 3 năm tiếp theo với phương thức trả vốn gốc và lãi đều nhau hàng năm và tiền lãi sẽ trả theo lãi phát sinh hàng năm.

    Vốn lưu động:

     

    Thẩm định dự án                                                                                                                                                  Bài tập trên lớp

    Giả sử dự án không có khoản đầu tư vốn lưu động ban đầu. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động dự án có khoản phải trả ước khoảng 10% chi phí quảng cáo và tiếp thị, khoản tồn quỹ tiền mặt khoảng 5% doanh thu hàng năm.

    Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp: 25%

    Những thông tin khác:

    Để đơn giản, giả sử không có tính thuế VAT, khấu hao theo phương pháp đường thẳng, phân bổ hết các chi phí đầu tư xây dựng sửa chữa tòa nhà trong thời gian hoạt động của dự án, và không có chi phí đầu tư nâng cấp máy móc thiết bị. Và tất cả các chi phí hoạt động ước tính năm sau cao hơn năm trước là 5%.

    Yêu cầu:

    1. Anh/Chị hãy lập các bảng tính dưới đây:
    1. Lịch khấu hao máy móc thiết bị
    1. Tổng doanh thu và tổng chi phí hoạt động (chia theo chi phí trực tiếp (chưa kể khấu hao và phân bổ chi phí xây dựng sửa chữa), chi phí quản lý, chi phí quảng cáo và tiếp thị)
    1. Lịch vay và trả nợ
    1. Báo cáo thu nhập dự trù
    1. Bảng vốn lưu động
    1. Anh/Chị hãy lập Báo cáo ngân lưu theo quan điểm Tổng đầu tư (TIPV), sau đó tính NPV của dự án với suất chiết khấu WACC = 20%. Anh/Chị cho biết dự án có khả thi hay không?
    2. Anh/Chị cho biết dự án có đủ khả năng trả nợ hay không? Tại sao?
    1. Thật ngắn gọn, Anh/chị hãy lập Báo cáo ngân lưu theo quan điểm chủ đầu tư (EPV). Anh/Chị cho biết báo cáo ngân lưu theo quan điểm chủ đầu tư dùng để làm gì?

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]