Category: Thương Mại – Marketing

  • Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Nguyên tắc định giá bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Nh%E1%BB%AFng-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-gi%C3%A1-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BA%A5t.-Li%C3%AAn-h%E1%BB%87-v%E1%BB%9Bi-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    LỜI NÓI ĐẦU

    Thị trường bất động sản ở Việt Nam đã được hình thành và đang trong quá trình phát triển bước đầu được mở rộng. Đến nay các tác nhân tham gia thị trường này bắt đầu hoạt động có hiệu quả tạo cơ sở cho tính ưu việt của thị trường này hoạt động. Quyền sử dụng đất là một loại hàng hoá quan trọng của thị trường đó. Vì thế giá quyền sử dụng đất hay nói ngắn gọn là giá đất có một vị trí đặc biệt trong thị trường bất động sản, thu hút được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng. Đất đai là một nhu cầu thiết yếu của mỗi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình bởi vì đất đai là điểm tựa để sinh hoạt, lao động, sản xuất… Tất cả mọi người đều có nhu cầu có chỗ ở, tất cả mọi xã hội đều cần đất đai để phát triển…Có thể nói không có đất không có sự tồn tại của xã hội loài người. Đặc biệt, đối với cá nhân, hộ gia đình đất đai đóng vai trò hết sức quan trọng vì nhu cầu có chỗ ở là nhu cầu thiết yếu của con người, hay như các cụ ta thường nói “ an cư mới lạc nghiệp”. Tuy nhiên, đất đai lại không thể được sản xuất đại trà như các loại hàng hoá khác bởi những đặc trưng của nó vì thế đất đai ngày càng trở nên khan hiếm. Mà đất càng khan hiếm thì giá của nó ngày càng cao. Sự thực hiển nhiên đó giải thích vì sao khi đi mua đất quan tâm hàng đầu của tất cả mọi người không phân biệt giàu, nghèo chính là giá đất. Thực tế hiện nay giá đất cũng gây rất nhiều bức xúc cho cả cơ quan có thẩm quyền và người dân bởi vì giá đất quá cao, có thông tin cho rằng giá đất ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn cao hơn giá đất ở thủ đô Tokyo của Nhật Bản. Ngoài ra giá đất trong bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi cũng còn nhiều bất cập gây tình trạng lôn xộn như trong thời gian qua. Chính vì những bất hợp lý về giá đất hiện nay mà tôi quan tâm đến giá đất. Để tìm hiểu kỹ hơn những vấn đề liên quan đến giá đất, thực trạng những gì đang diễn ra liên quan đến giá đất đặc biệt tôi quan tâm đến các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất nên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam”. Đồng thời tìm hiểu vấn đề này tôi cũng bổ sung được kiến thức các môn học trong nhà trường và chắc chắn sẽ có ích cho công việc trong tương lai.

    Để nghiên cứu được đề tài này tôi đã sử dụng kiến thức của các môn: kinh tế tài nguyên đất, Nguyên lý thị trường bất động sản, Định giá bất động sản. Để có cái nhìn đúng đắn về những vấn đề liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp so sánh, điều tra, phân tích.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    2

    Đề án môn học

    Kết cấu của đề tài này như sau:

    Chương I: Cơ sở lý luận về giá đất

    1. Khái niệm, quan điểm về đất đai. 1.Khái niệm

    2.Các quan điểm về giá đất.

    1. Sự cần thiết phải xác định giá đất.

    III. Cơ sở hình thành giá đất.

    1. Bản chất của giá đất
    1. Các quyền và quyền lợi đối với đất đai.
    1. Các phương pháp định giá đất hiện nay.
    1. Phương pháp so sánh trực tiếp.
    1. Phương pháp thu nhập
    1. Phương pháp đầu tư

    Chương II: Những nhân tố ảnh hưởng đến giá đất.

    1. Đặc điểm vật lý của đất đai.
    1. Nhân tố về khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng.

    3.Nhân tố về khả năng phân loại đô thị theo quy mô và vị trí địa lý.

    1. Quá trình đô thị hoá.
    1. Yếu tố cạnh tranh.
    1. Chính sách tiền tệ
    1. Chính sách pháp luật

    Do thời gian và trình độ có hạn, đề tài nghiên cứu này chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý vị để đề tài này hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trung tâm đào tạo Địa chính và Kinh doanh bất động sản đặc biệt là Ths. Vũ Thị Thảo đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    3

    Đề án môn học

    Chươ ng I.

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ ĐẤT

    I.                   KHÁI NIỆM VÀ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐẤT ĐAI.

    1.Khái niệm về đất đai

    Luật Đất đai 1993 nước CHXHCN Việt Nam khẳng định:” Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”. Như vậy đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cũng như trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong tiến trình lịch sử của loài người, con người và đất đai có mối quan hệ không thể tách rời. Đất đai là nguồn của cải vô tận của con người, dựa vào đất đai con người tạo nên được những sản phẩm để duy trì sự tồn tại của mình. Khi dân số ngày càng đông thì đất đai vẫn có khả năng tạo ra một lượng sản phẩm lớn hơn lượng sản phẩm đủ để duy trì sự sống của người lao động. Ngược lại, con người cùng với những tác động tích cực hay tiêu cực đến đất đai nhằm phục vụ đời sống của mình. Đất đai là thành phần quan trọng của môi trường sống, là một trong những tài nguyên vô cùng quan trọng của con người. Có thể nói không có đất đai không thể có sự tồn tại của xã hội loài người.

    Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông, vận tải, thuỷ lợi… Đất đai còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành xây dựng như: gạch ngói, gốm sứ…cho các ngành công nghiệp chế biến, cao su, cà phê…ngoài ra đất đai con tham gia vào các ngành sản xuất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân đất đai cũng giữ vai trò khác nhau. Đặc biệt trong nông nghiệp đất đai là yếu tố hàng đầu của đó là yếu tố đầu vào cần thiết và không thể thiếu được. Đối với nước ta- một nước chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thì đất đai càng quan trọng. Đất đai cũng là cơ sở để sản xuất ra tất cả các vật phẩm phục vụ cuộc sống của con người. Bởi vậy Wiliam Petis đã khẳng định: “Lao động là cha, đất là mẹ của của cải”.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    4

    Đề án môn học

    Khi xã hội càng phát triển vai trò của đất đai ngày càng trở nên quan trọng. Do những yêu cầu của thực tiễn đất đai trở thành một loại hàng hoá đặc biệt. Dân số nước ta ngày càng tăng lên, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, mà tổng cung về đất đai coi như không đổi nên đất đai trở nên khan hiếm. Nhu cầu về đất đai tăng nhanh bởi vậy giá trị của nó được quan tâm nhiều hơn.

    Đất đai là nguồn của cải, là thước đo sự giàu có của mỗi quốc gia. Nó cũng là một trong những bộ phận lãnh thổ của đất nước. Tôn trọng chủ quyền của một quốc gia trước hết phải tôn trọng lãnh thổ của quốc gia đó. Như vậy, đất đai không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống, sản xuất mà còn có một ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với an ninh quốc gia. Với những gì đất đai mang lại cho con người, chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của nó. Trong bất cứ một giai đoạn nào của lịch sử, trong bất cứ hoàn cảnh nào đất đai cũng là nơi cư trú của con người, là nguyên liệu, là cơ sở cho mọi lĩnh vực sản xuất vật chất.

    Đất đai theo khía cạnh địa lý được hiểu một cách cụ thể như sau: Đất đai là sản phẩm của tự nhiên qua quá trình phong hoá đá mẹ hình thành nên nhiều loại đất khác nhau. Mặt khác, đất đai là lớp bề mặt của trái đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng để nuôi sống loài người, là môi trường để con người hoạt động gắn bó chặt chẽ với lớp bề mặt đó theo thời gian và không gian nhất định. Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất đai có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ. Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận của con người, con người dựa vào đó để nuôi sống mình. Đất đai luôn luôn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, không có đất đai thì không có bất kỳ một hoạt động nào của con người và cũng không thể tồn tại xã hội loài người.

    Về môi trường, đất đai thường gắn liền với khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và yếu tố không gian và được phân bố rộng rãi trên phạm vi toàn cầu cũng như trên từng vùng, từng miền lãnh thổ. Đất đai là yếu tố hình thành nên môi trường và chịu tác động của môi trường. Do đó đất đai và môi trường có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua các tác động tích cực của con người vào đất đai, môi trường sẽ được bảo vệ như là trên đất dốc, đất đồi núi trọc khi trồng cây gây rừng làm giảm độ xói mòn, bảo vệ được mạch nước ngầm, điều hoà không khí…Ngược lại, đất đai nằm ở cạnh các khu công nghiệp không xử lý triệt để nước thải thì môi trường đất cũng sẽ bị ô nhiễm.

    2.                 Các quan điểm về giá đất.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    5

    Đề án môn học

    Giá đất là một phạm trù kinh tế khách quan, nó gắn liền với quá trình trao đổi, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, thừa kế…Trong quá trình sử dụng đất luôn luôn có lao động kết tinh trong đất nên đất đai có giá trị và giá trị sử dụng. Khi hai giá trị này đươck thể hiện qua quan hệ trao đổi tức là có người mua và người bán thì đất đai trở thành hàng hoá. Giá đất được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ, hiệu quả của quá trình sử dụng đất. Đây là một vấn đề rất phức tạp mà hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau thậm chí trái ngược nhau. Trong đó có các quan điểm nổi bật sau:

    Có quan điểm cho rằng với mục đích xác định giá đất như hiện nay cần phải giả quyết, điều hoà hai lợi ích luôn đối lập nhau: Xác định giá đất để tính nguồn thu ngân sách Nhà nước như: tính thuế, tính tiền giao đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ…Xác định giá đất để bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, khi thế chấp, khi đấu giá quyền sử dụng đất, để trả nợ và thi hành án…Đó là hai mặt đối lập nhau về lợi ích. Thực chất quan điểm này là đi giải quyết hài hoà lợi ích của Nhà nước và các bên liên quan trong quan hệ giao dịch dân sự. Để giả quyết lợi ích của người bị Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước phải bồi thường cho người sử dụng đất. Khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích công cộng, quốc phòng an ninh sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người bị thu hồi đất. Đất đai, tài sản bị thu hồi mặc dù được bồi thường nhưng các hộ trong diện phải di dời sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nếu không có khu tái định cư họ phải tự đi tìm nơi ở mới. Đặc biệt đối với những hộ có vị trí đất tốt đang tiến hành kinh doanh có hiệu quả mà phải di dời đến vị trí khác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu của họ. Trong trường hợp đó việc thu hồi đất của Nhà nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích trước mắt của các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức. Mặt khác, người Việt Nam còn có tâm lý gắn bó với nơi mình sinh sống, không muốn chuyển đi nơi khác với những mối quan hệ khác. Vì thế để giải quyết lợi ích của người bị thu hồi đất đồng thời thuyết phục được tâm lý ấy, Nhà nước phải đặt ra giá bồi thường hợp lý để không làm tổn hại đến lợi ích của họ.

    Bên cạnh đó còn có quan điểm cho rằng cần phải giải quyết đầu tiên vấn đề hai giá đối với cùng một thửa đất, với hai nội dung là: Một là, giá đất do Nhà nước xác định khi thu hồi đất cần lấy theo giá đất khi chưa chuyển mục đích sử dụng, chưa có đầu tư, do đó giá thấp ( ví dụ là giá đất nông nghiệp); nhưng sau khi chuyển mục đích sử dụng để giao, để cho người khác thuê, thì giá đất cao ( ví dụ là giá đất ở tại đô thị). Hai là, xem xét giá đất do Nhà nước xác định và giá chuyển nhượng thực tế

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    6

    Đề án môn học

    trên thị trường. Thực tế có hai loại giá đất được áp dụng đó là giá thị trường và giá chuẩn. Giá thị trường của đất là giá hiện thực áp dụng trong mua bán quyền sử dụng đất, giá này tự điều chỉnh lên xuống tuỳ theo nhu cầu sử dụng đất và chính sách của Nhà nước về đất đai. Giá chuẩn là giá do Nhà nước xây dựng dựa trên các yếu tố: giá cả thị trường, mức thu nhập của người tiêu dùng, sức mua của đồng tiền. Thông thường giá chuẩn được xây dựng thành khung giá, là giá tối đa, tối thiểu do Nhà nước quy định để quản lý giá đất và kiểm soát sự biến động của thị trường đất phục vụ cho mục tiêu quản lý Nhà nước về đất đai. Với 4 lần thay đổi khung giá đất của Chính phủ, với khoảng vài năm một lần thay đổi khung giá của các UBND tỉnh, với sự biến động kinh tế, xã hội rất khác nhau của 64 tỉnh, thành phố làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất đã làm cho khoảng cách giữa giá đất của Nhà nước và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế quá cách biệt, vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước tạo ra nhiều mâu thuẫn trong xã hội.

    Quan điểm của Nhà nước về giá đất theo văn bản mới nhất là Luật đất đai 2003 là: “ Giá đất được hình thành trong các trường hợp:

    Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định.

    Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất.

    Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quỳên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất” ( Điều 55).

    Giá đất do Nhà nước quy định cần phải đảm bảo các nguyên tắc theo Điều 56 Luật đất đai 2003.

    II.               SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÁC ĐỊNH GIÁ ĐẤT.

     

    Giá đất là phạm trù kinh tế khách quan, nó gắn liền với các quá trình trao đổi,

    chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, góp vốn… và có liên quan đến lợi ích của các đối tượng liên quan. Thông thường, trước khi tài sản nhà đất tham gia các giao dịch cho các mục đích khác nhau đều cần phải xác định giá đất.

    Chúng ta biết rằng giá đất được xác định thông qua luồng thu nhập do mảnh đất đó mang lại nên giá đất để đánh giá tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất. Nếu người sử dụng đất biết khai thác những lợi thế của mảnh đất thì sẽ đánh giá mảnh đất đó có giá cao hơn những người không thấy được lợi thế đó. Vì thế đất đai càng được sử dụng có hiệu quả thì giá của nó sẽ càng cao. Đặc biệt, đối với bất kỳ một sự trao đổi, mua bán của một loại hàng hoá nào đều cần phải có yếu tố giá cả.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    7

    Đề án môn học

    Quyền sử dụng đất cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất là một hàng hoá đặc biệt. Nó không được bày bán trên thị trường như các hàng hoá khác. Người mua và người bán không có cơ hội và đủ lượng thông tin cần thiết để lựa chọn. Mặt khác, đất đai thường có giá trị lớn, số lần mua bán ít do đó thiếu kinh nghiệm. Vì những lý do đó nên xác định giá đất cần phải có các nhà chuyên môn có kinh nghiệm. Như vậy, các loại giao dịch trên thị trường bất động sản liên quan đến quyền sử dụng đất đều cần phải xác định giá đất. Ngoài ra, giá đất theo khung giá của Nhà nước ban hành là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện để sở hữu toàn dân về đất đai được hoà nhập vào cơ chế thị trường. Khung giá đất ban hành theo loại đường phố, theo vị trí. Hệ thống khung giá này còn bao gồm bảng giá của các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành theo từng năm. Các giao dịch trên thị trường quyền sử dụng đất đều dựa trên cơ sở của khung giá này để định giá cho thửa đất. Hiện nay, giá trong khung giá mới theo Nghị định 188 đã cao hơn rất nhiều so với khung giá cũ, chẳng hạn ở Hà Nội, giá cao nhất là 67.2triệu đồng/ m2, thấp nhất là 500 nghìn đồng/ m2.. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người sử dụng đất tham gia công khai vào thị trường quyền sử dụng đất nói riêng và thị trường bất động sản nói chung. Mặc dù khung giá đất đã nâng lên đáng kể nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với giá thị trường, vì vậy nảy sinh các hoạt động giao dịch “ngầm” vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước.

    Đặc biệt, đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đó là một chính sách để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng. Từ trước đến nay có lẽ những vướng mắc nhiều nhất liên quan đến đất đai là giá bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất cho các mục đích công cộng, quốc phòng an ninh…Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên là điều tất yếu trong đó chủ yếu là đất xây dựng khu công nghiệp, khu chung cư, đường giao thông…Để làm được điều đó Nhà nước ta buộc phải thu hồi đất nhưng để đảm bảo lợi ích của người đang sử dụng đất Nhà nước phải bồi thường. Tuy nhiên, giá bồi thường thường thấp hơn giá thị trường từ 3 đến 5 lần thậm chí có nơi lên tới 10 lần dù các địa phương đã áp dụng giá bồi thường được phép tăng lên 20% so với khung giá đất của Nhà nước. Đó là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng khiếu kiện liên miên đồng thời không có mặt bằng xây dựng. Đứng trước thực tế trên Nhà nước phải có biện pháp nghiên cứu xác định giá đất hợp lý hơn, gần với giá thị trường hơn.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    8

    Đề án môn học

    Qua nội dung trình bày ở trên ta thấy giá đất thực sự cần thiết trong rất nhiều lĩnh vực. Vì thế phải xác định giá đất chính xác, hợp lý để đảm bảo tính công bằng, giải quyết hài hoà lợi ích của các bên tham gia: người mua- người bán, người thế chấp – Ngân hàng, người bị thu hồi đất – Nhà nước.

    III. CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIÁ ĐẤT.

    Đất đai được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài. Ban đầu đất đai chỉ đơn thuần là sản phẩm của tự nhiên, nhưng do sự phát triển của xã hội đất đai trở thành sản phẩm của xã hội. Vì vậy, giá đất được hình thành trên cơ sở yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội.

    1.     Bản chất của giá đất.

    Mua đất là mua quyền thu địa tô, nên giá đất căn cứ vào khả năng sinh lời của đất, mà địa tô là hình thái theo đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế tức là đem lại thu nhập cho người sở hữu ruộng đất đó. Địa tô xuất hiện khi có sự tách rời giữa người sử dụng và người sở hữu ruộng đất. Người sở hữu ruộng đất đó có quyền sử dụng ruộng đất theo ý muốn của họ: Trực tiếp kinh doanh hoặc cho thuê. Trong trường hợp cho thuê quyền sở hữu ruộng đất và quyền dụng đó tách rời, người thuê đất phải trả cho người chủ đất một khoản tiền nhất định theo hợp đồng. Quan hệ địa tô trong sử dụng đất thực chất là phân chia lợi ích giữa người sử dụng và người sở hữu ruộng đất. Bởi vậy nó gắn liền với chế độ tư hữu đất đai. Theo tiến trình lịch sử, địa tô được biểu hiện dưới các hình thức: địa tô lao dịch, địa tô hiện vật và địa tô bằng tiền. Trong đó địa tô bằng tiền là hình thức biểu hiện cao nhất và phát triển của địa tô tư bản chủ nghĩa. Các hình thái cơ bản của địa tô là: địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối. Địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch do việc sử dụng các thửa đất có điều kiện khác nhau về vị trí và độ phì. Phần này nhà tư bản sử dụng ruộng đất phải trả cho chủ đất.

    Địa tô chênh lệch I có được do việc sử dụng đất đai có điều kiện thuận lợi hơn về vị trí và độ phì. Mặt khác, trong quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất, người sử dụng ruộng đất ( có khi là người sở hữu đất) đã có những đầu tư vào đất làm cho độ phì nhiêu của đất tăng lên, đó là những đầu tư lâu dài hoặc ngắn hạn để làm tăng sản lượng ruộng đất. Những khoản chi phí ấy đều làm tăng sản lượng ruộng đất, và biến ruộng đất từ chỗ vật chất đơn thuần thành ruộng đất tư bản. “Tuy có những thuộc tính tự nhiên như nhau, nhưng một đám đất được canh tác có giá trị lớn hơn

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    9

    Đề án môn học

    một đám đất bỏ hoang” ( Mác – Enghen toàn tập). Địa tô có được nhờ vào việc đầu tư khác nhau vào những đám đất như nhau do đó có được những năng suất khác nhau. Đó là địa tô chênh lệch II. Như vậy, địa tô chênh lệch II có được do đầu tư tư bản liên tiếp trên cùng một loại đất, tức là do trình độ thâm canh quyết định.

    Khi nghiên cứu địa tô chênh lệch, chúng ta đã xuất phát từ giả thuyết giá cả sản xuất chung ngang bằng với giá cả sản xuất cá biệt trên loại đất xấu xã hội cần thiết. Nói cách khác, giá cả sản xuất có tác dụng điều tiết thị trường ngang với giá cả cá biệt trên đất xấu nhất xã hội cần thiết. Khi đó chỉ có những mảnh đất nào có giá cả sản xuất cá biệt thấp hơn giá cả sản xuất cá biệt xã hội cần thiết thì mới có lợi nhuận siêu ngạch- cái sẽ chuyển hoá thành địa tô chênh lệch. Địa tô đó có cơ sở là sự chênh lệch về độ phì tự nhiên hoặc là kết quả chênh lệch giữa các lần đầu tư liên tiếp trên cùng một thửa đất hoặc là kết quả chênh lệch giữa các mức đầu tư khác nhau trong một lần đầu tư trên cùng một thửa đất. Tuy nhiên, theo giả thiết đó thì các chủ tư bản kinh doanh trên đất xấu nhất xã hội cần thiết sẽ không phải nộp địa tô cho chủ đất vì giá cả sản phẩm trên thị trường do giá cả sản xuất trên loại đất xấu đó quyết định và chủ đất loại đất xấu nhất cũng không thu được một địa tô nào cả. Trên thực tế không phải như vậy. Ngay cả loại đất đó cũng đem lại địa tô. Đó chính là địa tô tuyệt đối. Địa tô tuyệt đối là những giá trị thặng dư khác nhau trong việc sử dụng đất đai ứng với tỷ suất giá trị thặng dư như nhau trong những ngành sản xuất khác nhau do có cấu tạo hữu cơ tư bản khác nhau.

    Vì vậy, địa tô là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến giá đất. Trên cơ sở địa tô cách tính giá đất cần dựa vào các tiêu thức: Mức địa tô thu được hàng năm trên một diện tích đất đai, tỷ suất lợi tức tiền gửi ngân hàng trong năm, ưu thế đất đai về vị trí, chất đất, quan hệ cung cầu về đất đai ở từng thời điểm.

    2. Các quyền và quyền lợi đối với đất đai.

    Đất đai gắn liền với lãnh thổ của một quốc gia vì thế nó liên quan đến tình hình an ninh chính trị của một quốc gia. Đó chính là lý do để hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định đất đai thuộc quyền sở hữu tối cao của Nhà nước. Ở Việt Nam, đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý ( Luật Đất đai 1993) còn theo văn bản pháp luật mới nhất về đất đai thì “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Quy định này nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất đồng thời cũng bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước không trực tiếp sử dụng

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    10

    Đề án môn học

    đất đai mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng (sau đây gọi chung là người sử dụng đất) dưới các hình thức: giao đất, cho thuê đất. Nhà nước quản lý việc sử dụng đất ở tầm vĩ mô như: quy hoạch sử dụng các loại đất nông nghiệp, phi nông nghiệp; cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng…Khi người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì họ sẽ có các quyền lợi sau đối với thửa đất của mình:

    Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất mang lại.

    Được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Hưởng các lợi ích do công trình công cộng về bảo vệ, cải tạo đất mang lại.

    Được Nhà nước hướng dẫn và hỗ trợ trong việc cải tạo và bồi bổ đất.

    Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi.

    Được quyền góp đất để hợp tác sản xuất và kinh doanh theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích khi giao đất.

    Được quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

    Song song với những quyền lợi đó người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ đối với đất đai:

    Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới và các yêu cầu khác đã được quy định khi giao đất.

    Thực hiện các biện pháp để bảo vệ và là tăng khả năng sinh lợi của đất.

    Tuân theo những quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.

    Nộp thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ…

    Giao lại đất cho Nhà nước có quyết định thu hồi.

    Người sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sẽ có những quyền lợi nhất định, đặc biệt họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bởi vì khi đó họ được pháp luật bảo hộ về quyền sử dụng đất hợp pháp. Ngoài ra họ còn được hưởng lợi từ những công trình công cộng bảo vệ, cải tạo đất mang lại. Chẳng hạn một thửa đất trồng lúa nước, nếu Nhà nước đầu tư cho khu vực đó một hệ thống thuỷ lợi thì người sử dụng thửa đất đo nghiễm nhiên sẽ có được nguồn nước tốt cho

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    11

    Đề án môn học

    ruộng lúa của mình mà không phải mất gì. Còn đối với quy định về quyền được chuyển đổi mục đích sử dụng thì Luật đất đai 2003 đã co quy định cụ thể, có những trường hợp được phép chuyển mục đích sử dụng không phải xin phép cơ quan có thẩm quyền nhưng vẫn phải đăng ký để quản lý, cũng có những trường hợp bắt buộc khi chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép cơ quan có thẩm quỳên…Ngược lại, trong quá trình sử dụng đất người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Nhà nước nghiêm cấm việc sử dụng lãng phí đất, huỷ hoại đất. Người sử dụng đất phải tôn trọng các quy định về nghĩa vụ vì chỉ có như vậy chúng ta mới đảm bảo sử dụng đất một cách bền vững.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    12

    Đề án môn học

    IV. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ ĐẤT HIỆN NAY.

    1. Phương pháp so sánh trực tiếp

    Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Trong quá trình sử dụng có thể được kết hợp với các phương pháp khác. Việc định giá theo phương pháp này là xác định mức giá thông qua việc tiến hành phân tích các mức giá thực tế đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường của loại đất tương tự (về loại đất, diện tích đất, thửa đất, hạng đất, loại đô thị, loại đường phố và vị trí) để so sánh, xác định giá đất của thửa đất, loại đất cần định giá. Có thể nói phương pháp này quan tâm đến sự nhận biết và đo lường tác động của sự hiện hữu hay thiếu vắng một số đặc tính có trong giá cả, tiền thuê của các tài sản có thể so sánh được. Tuy nhiên phương pháp chỉ áp dụng cho các tài sản có tính đồng nhất, các loại đất trồng, các loại đất có khu vực gần nhau và gần giống nhau. Nếu sử dụng phương pháp này để tính giá đất đòi hỏi phải có thông tin rõ ràng về mảnh đất cần được định giá. Nhưng thực tế những thông tin này luôn bị lạc hậu (chỉ cần trong thời gian ngắn). Do đó không thể đảm bảo phương pháp này sẽ tính được giá đất phản ánh đúng giá trị thực tế. Đây là phương pháp có vẻ đơn giản và trực tiếp nhưng lại dễ mắc sai lầm. Khi sử dụng phương pháp này, người định giá muốn so sánh những bất động sản có giá trị ngang nhau trong một vùng hoặc dựa vào các giao dịch được thực hiện trong thời gian trước đó. Để sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp cần thực hiện qua bốn bước sau:

    Thứ nhất là thu thập thông tin về bất động sản đã thực hiện giao dịch trước đó. Trong quá trình thu thập chú ý phải thu thập các bất động sản có điểm tương đồng như: căn hộ cùng loại, cùng khu vực, cùng mục đích sử dụng…

    Thứ hai kiểm tra lại các yếu tố của bất động sản để thấy được khả năng so sánh giữa các bất động sản thu thập được với bất động sản mục tiêu.

    Thứ ba là quyết định lựa chon những bất động sản thích hợp nhất để đưa vào làm các bất động sản tham chiếu cho quá trình so sánh. Căn cứ vào các đặc tính, điều kiện mà bất động sản đó có thể so sánh được.

    Thứ tư là so sánh trực tiếp từng yếu tố của bất động sản mục tiêu với các bất động sản tham chiếu để tìm ra các sai lệch giữa bất động sản mục tiêu và bất động sản tham chiếu.

    Thứ năm là xác định các cơ sở để đánh giá sự thay đổi giữa các tiêu thức so sánh để tìm ra các yếu tố tiến hành điều chỉnh bao gồm:

    +Tính chất ảnh hưởng: ảnh hưởng ít hay nhiều.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    13

    Đề án môn học

    +Đánh giá cảm quan về mức độ xấu- tốt.

    Thứ sáu là tổng hợp tất cả các yếu tố ảnh hưởng sẽ có được giá xác định cho bất động sản mục tiêu, từ đó có được khoảng giá bất động sản mục tiêu.

    2. Phương pháp thu nhập.

    Phương pháp thu nhập là phương pháp xác định mức giá tính bằng thương số giữa mức lợi nhuận thuần tuý thu được hàng năm trên một diện tích đất so với lãi suất của tiền gửi ngân hàng quốc doanh có mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ cao nhất kỳ hạn 1 năm trên địa bàn. Những khoản lợi nhuận đó nói chung ở dạng tiền cho thuê hoặc giá trị của vốn cho thu hồi trong tương lai. Đây là phương pháp xây dựng trên cơ sở tài chính, là phương pháp mang tính khoa học hơn cả nhưng tài sản nhà đất không hoàn toàn giống các dạng đầu tư tài chính khác. Do đó cần có hiểu biết kỹ lưỡng và có tài liệu chính xác. Phương pháp này được thực hiện theo các bước như sau:

    Bước 1: Tính tổng thu nhập hàng năm do bất động sản cần định giá mang lại.

    Bước 2: Tính tổng chi phí phải chi ra hình thành tổng thu nhập và các khoản phải nộp theo luật định.

    Bước 3: Xác định thu nhập thuần tuý hàng năm theo công thức sau:

    Thu nhập                            Tổng thu nhập                       Tổng chi phí

    thuần tuý      =               hàng năm tính     –            đã tính ở

    hàng năm                             được ở bước 1                          bước 2

    Bước 4: Ước tính mức giá đất cần định giá theo công thức sau:

        Thu nhập thuần tuý hàng năm thu được  
    Giá đất   từ đất  
    ước tính =    
    Lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng  
       

    3. Phương pháp đầu tư.

    Phương pháp đầu tư dựa trên nguyên lý là giá trị hàng năm và giá trị của vốn có mối quan hệ với nhau. Và khi biết trước thu nhập hay giá trị hàng năm do bất động sản tạo ra ta có thể đễ dàng tính ra giá trị vốn ban đầu của bất động sản. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi khi bất động sản tạo ra thu nhập được bán cho người mua với mục đích đầu tư. Nó được xác định dựa trên quan niệm nhà đầu tư

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    14

    Đề án môn học

    có thể đo lường được thu nhập bằng lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế. Giá trị bất động sản được xác định bằng công thức:

    Giá trị bất động sản = Thu nhập x Hệ số vốn hoá.

    Trình tự được thực hiện như sau:

    Bước 1: Ước tính tổng luồng thu thập bất động sản mang lại

    Bước 2: Phải tính đến các khoản chi phí, đầu tư để duy trì, vận hành bất động sản đó.

    Bước 3: Xác định hệ số vốn hoá: xác định tỷ suất sinh lợi của tiền vốn đầu tư được xác định bằng mức sinh lợi của các nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động tương tự, có khả năng thay thế.

    Ngoài các phương pháp cơ bản trên các nhà định giá bất động sản còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp thặng dư, phương pháp lợi nhuận.

    Nhờ các phương pháp này chúng ta có thể xác định được tương đối chính xác giá bất động sản nói chung và giá đất nói riêng.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    15

    Đề án môn học

    Chương II

    NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ ĐẤT.

    Trong quá trình phát triển của xã hội, loài người dựa vào đất đai và khai thác, sử dụng đất đai để phục vụ cho cuộc sống của chính mình. Xã hội ngày càng phát triển, của cải làm ra ngày càng nhiều nảy sinh quan hệ mua bán, trao đổi. Nền kinh tế hàng hoá ra đời và ngày càng phát triển đỉnh cao là xuất hiện cơ chế thị trường. Ngày nay, hoạt động kinh tế chịu tác động của cơ chế thị trường. Đất đai cũng không nằm ngoài sự tác động đó, nó trở thành đối tượng trao đổi mua bán, chuyển nhượng và thực sự hình thành thị trường đất đai. Vì vậy chúng ta không thể phủ nhận vài trò quan trọng của giá đất. Nhưng giá đất được xác định như thế nào, độ chính xác ra sao thì có thể dựa vào những phương pháp định giá vừa trình bày ở trên nhưng trước hết chúng ta cần nghiên cứu đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành nên giá đất.

    1. Đặc điểm vật lý của đất.

    Thứ nhất, tôi muốn đề cập đến là tính hai mặt của đất đai đó là đặc tính không thể sản sinh và không thể tái tạo. Đất đai bị giới hạn về diện tích và không gian nhưng có tính vô hạn về thời gian sử dụng. Đất đai được tạo ra do quá trình lịch sử lâu dài của tự nhiên nên được coi là không thể sản sinh được tạo nên đặc tính cơ bản nhất của đất đai. Cũng vì thế mà đất đai có tính khan hiếm và trở thành một loại hàng hoá đặc biệt. Đất đai là sản phẩm tự nhiên, có tính cố định không di dời được và có hạn trên phạm vi toàn cầu và trong phạm vi mỗi quốc gia. Chính vị trí đã quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian của đất đai. Đó cũng là một trong những cơ sở để xác định địa tô- tức là lợi ích mảnh đất đó mang lại. Vị trí đất đai cũng có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác, sử dụng đất. Vị trí của đất đai là cơ sở cho việc tính toán mức phải trả cho người sử dụng đất. Chẳng hạn như các đô thị gần các trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị, gần các đầu mối giao thông thì được khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả hơn so với vùng nông thôn hay những vùng xa xôi, điều kiện giao lưu kinh tế, đi lại khó khăn và do đó giá trị và giá trị sử dụng lớn hơn. Đất đai không thể sản sinh tuy nhiên nó có khả năng tái tạo. Khả năng phục hồi và tái tạo của đất chính là khả năng phục hồi và tái

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    16

    Đề án môn học

    tạo độ phì thông qua tự nhiên hay do hoạt động của con người. Độ phì là một thuộc tính tự nhiên của đất, thể hiện khả năng cung cấp thức ăn, nước…cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Lợi dụng khả năng tái tạo của đất mà trong lịch sử con người đã có những hình thức canh tác như: chế độ bỏ hoang, chế độ bỏ hoá, chế độ luân phiên cây trồng. Ngày nay con người cải tạo, bồi dưỡng đất bằng các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ và tái sử dụng đất đai. Tính hai mặt của đất đai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình sử dụng đất. Một mặt phải hết sức tiết kiệm đất đai, bố trí hợp lý các hoạt động sản xuất. Mặt khác phải chú ý ứng dụng khoa học công nghệ để tăng khả năng phục hồi và tái tạo của đất.

    Các đặc tính vật lý khác nhau làm phân biệt đất đai với các tư liệu sản xuất khác như: đất không di chuyển, đất không thuần nhất ( chỉ tính riêng về mặt địa điểm), đất không bị phá huỷ ( không tính đến đầu tư và tài sản trên đất đó). Vì vậy nó có đặc thù riêng về mặt giá trị như sau:

    -Đất đai cố định về mặt số lượng cung cấp…Một yếu tố quan trọng cần biết là trong khi đất đai coi như không đổi về tổng cung thì đất đai cho một chức năng sử dụng xác định lại biến thiên… có nghĩa là sự cung cấp không hoàn toàn bất biến. Ví dụ, Nhà nước khuyến khích xây dựng nhà ở chung cư, nhà cao tầng sẽ giảm bớt sức ép về đất ở cũng sẽ làm thay đổi giá đất ở.

    • Giá trị của đất phụ thuộc vào cung và cầu của thị trường. Cung đất có thể coi là ổn định, việc sử dụng đất được định hướng bởi nhu cầu của thị trường. Nhu cầu sử dụng loại đất nào tăng lên thì thị trường đáp ứng loại đất tại đó. Ví dụ đất ở tại đô thị khác đất ở tại nông thôn và phụ thuộc vào mức độ phát triển của khu dân cư theo quy hoạch. Điều này thể hiện rất rõ trong khung giá của Nhà nước.

    Bảng: Khung giá đất ở tại nông thôn (Đơn vị tính: nghỡn đồng/m2)

    Loại đô   Xó đồng bằng Xó trung du Xó miền nỳi
    thị  
                 
    Mức giỏ   Giá tối thiểu 3,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 2,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 0,5; Giá tối đa
      90,0   850,0     24,0
               
          Bảng: Khung giá đất ở tại đô thị (Đơn vị tính: nghỡn đồng/m2)
                     
    Loại đô   Đặc biệt   I     II
    thị        
                 
    Mức giỏ Giá tối thiểu 1.500,0; Giá tối đa   Giá tối thiểu 400,0; Giá tối đa     Giá tối thiểu 150,0; Giá tối đa
        67.500,0   42.500,0     30.000,0
                     
                     
    Loại đô     III   IV   V
    thị        
                   
                     
    Nguyễn Tiến Dũng       Lớp Địa chính K44

     

    17

            Đề án môn học  
               
      Mức giỏ Giỏ tối thiểu 120,0; Giỏ tối đa Giá tối thiểu 50,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 30,0; Giá tối đa  
      19.500,0 13.350,0 6.700,0  
         

    Nhìn vào bảng trên ta thấy ở xã đồng bằng giá cao nhất là 90000đồng/m2 còn đất ở tại đô thị mức cao nhất là 67.5 triệu đồng/ m2. Đó là sự so sánh rất khập khiễng nhưng để thấy rằng sự phát triển ảnh hưởng như thế nào đến giá đất đai.

    Ngoài ra, các tính chất vật lý khác của đất đai như: vị trí, độ phì nhiêu, độ ẩm, tính bền vững… của đất cũng góp phần hình thành giá đất. Chẳng hạn những loại đất có độ phì cao, độ ẩm, độ xốp lớn thì sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp là rất tốt nên trong loại đất nông nghiệp giá đất đó phải cao hơn những loại đất có điều kiện kém hơn. Đối với đất nông nghiệp giá sẽ chủ yếu phụ thuộc vào chất đất (độ phì của đất) vì đó là yếu tố quan trọng nhất đối với cây trồng.

    Những yếu tố vật lý có tác động không nhỏ đến giá đất: Nếu một mảnh đất ở ở trên nền một đất ao do mới vượt lên chắc chắn sẽ không bền vững bằng một mảnh đất trên nền đất đồi và giá cua hai mảnh đất đó sẽ khác nhau dù các yếu tố khác tương tự. Đối với đất ở đô thị, giá đất phụ thuộc chủ yếu vào vị trí mảnh đất, độ bền vững của đất.

    2. Nhân tố về khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng.

    Cơ sở hạ tầng gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật ( đường giao thông. hệ thống dịch vụ cấp thoát nước, hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng, hệ thống thông tin liên lạc…) và cơ sở hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí…). Mật độ phát triển của kết cấu hạ tầng có tác động rất lớn đến giá đất. Kết cấu hạ tầng có tính đặc trưng khác nhau giữa thành thị và nông thôn. Có thể thấy cơ sở hạ tầng ở đô thị có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá đất hơn so với cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng có thể làm thay đổi công dụng và giá trị của đất đai hiện có. Việc phát triển kết cấu hạ tầng được thể hiện thông qua sự phát triển của hệ thống đường giao thông đồng bộ, hệ thống dịch vụ cấp thoát nước, hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng, hệ thống dịch vụ thông tin liên lạc, hệ thống xử lý các chất thải, hệ thống phòng cháy chữa cháy, hệ thống an toàn lao động…Việc giá đất tăng ở những khu vực có đầu tư kết cấu hạ tầng tốt chủ yếu là do tâm lý của người sử dụng đất. Khi đi mua nhà, đất bất kỳ ai cũng chú ý đến hệ thống cơ sở hạ tầng: đường giao thông ở đó được hoàn chỉnh đến mức nào? hệ thống dịch vụ cấp thoát nước được xây dựng ra sao? hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng được lắp đặt với quy mô gì? hệ thống thông tin liên lạc đang

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    18

    Đề án môn học

    được trang bị hiện đại đến khả năng nào?… Đó sẽ là các nhân tố tác động trực tiếp đến nhiều giá trị sử dụng của vị trí đất đai của khu vực đó.

    Nhờ có sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng mà điều kiện tiếp cận của đất đai trở nên dễ dàng hơn, nó có thể đáp ứng và thoả mãn được những yêu cầu khác nhau của người sử dụng đất.

    Nhờ đó mà đất đai có thể tham gia vào thị trường bất động sản một cách dễ dàng hơn. Một khu đất không có kết cấu hạ tầng thì nhu cầu sử dụng đất đó không cao nên giá đất ở khu vực đó thấp là điều dễ hiểu. Ngược lại, cũng khu vực đó nếu được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, khả năng tiếp cận dễ dàng thuận tiện thì đó là nguồn cung rất có ý nghĩa đối với thị trường bất động sản, nhu cầu sử dụng đất khu vực đó chắc chắn tăng lên lập tức kéo giá đất khu vực đó tăng cao. Một ví dụ về sự thay đổi giá đất sau khi có đầu tư cơ sở hạ tầng là: Tại Khu 19 phường Bình Hàn, Thành phố Hải Dương khi chưa có con đường Chợ Mát thì giá đất ở đó là 1.5 triệu đồng/m2, nhưng từ khi UBND tỉnh đầu tư mở rộng đường Chợ Mát và đường vành đai thành phố thì giá tăng lên 5 triệu đồng/m2. Hay như dự án quốc lộ 10 qua các tỉnh Hải phòng, Hải Dương, Thái Bình làm cho giá đất hai bên đường tăng lên từ 7 đến 9 lần. Qua những ví dụ trên ta thấy rằng việc đầu tư cơ sở hạ tầng có tác động to lớn đến giá đất.

    3.Nhân tố về khả năng phân loại đô thị theo quy mô và vị trí địa lý.

    Trong mỗi loại đô thị, được chia làm 04 loại đường phố, bao gồm:

    • Đường phố loại 1
    • Đường phố loại 2
    • Đường phố loại 3
    • Đường phố loại 4

    Mỗi loại đường phố được thể hiện tính đặc trưng và khả năng đáp ứng cao nhất đối với các yêu cầu về hoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán, sinh hoạt, cơ sở hạ tầng đồng bộ. Như vậy, khả năng phân loại đô thị theo quy mô trước hết là dựa vào quy mô của đô thị đó. Quy mô của đô thị không chỉ là quy mô về diện tích mà còn phải xem xét đô thị đó phát triển đến mức nào. Tại mỗi loại đô thị giá trị thực tế của đất ở sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào mỗi loại đường phố trong mỗi loại đô thị đó. Cơ sở khoa học này sẽ giúp chúng ta xác định được một cách cụ thể về giá đất cho từng khu vực trong đô thị. Giá trị thực tế của đất ở tại đường phố loại 1 đương nhiên phải cao hơn tại đường phố loại 2 ít nhất là một bậc, và cách xác định giá trị

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    19

    Đề án môn học

    thực tế của đất ở tại các loại đường phố còn lại cũng tương tự như vậy. Đó cũng là sự phân chia hợp lý và công bằng.

    Trong mỗi loại đường phố đã được phân loại chính xác, vị trí đất cũng góp phần quyết định giá trị thực tế của đất ở. Chẳng hạn cùng đường phố loại 1 như nhau, nếu diện tích đất ở nằm tại vị trí mặt đường phố sẽ có giá trị thực tế cao hơn khi nó

    • vị trí xa mặt đường phố hoặc ở trong ngõ, trong hẻm ví dụ tại Quận Thanh Xuân

    đường Trường Chinh, đoạn đường từ Ngã Tư Sở đến ngã ba Tôn Thất Tùng: Vị trí 1: 23 triệu đồng/m2

    Vị trí 2: 13.3 triệu đồng/m2

    Vị trí 3: 11.2 triệu đồng/m2

    Vị trí 4: 10 triệu đồng/m2

    Mặt khác, diện tích đất ở đặt tại đầu phố gần trung tâm buôn bán, khu vui chơi giải trí…sẽ có giá trị thực tế cao hơn hẳn so với ở vị trí cuối phố xa các trung tâm trên (cùng đặt tại mặt đường phố). Ngược lại, nếu tại vị trí đặt diện tích đất ở tại các khu sản xuất và thải các chất độc hại thì giá trị thực tế của diện tích đất đó sẽ giảm mạnh so với diện tích đất đặt ở xa khu vực đó (cùng đặt tại mặt đường phố). Các diện tích đất ở tại các vị trí khác trên cùng một đường phố của cùng một loại đô thị và khác nhau về các điều kiện như trên thì sẽ có sự thay đổi giá trị thực tế của đất ở cũng tương tự. Cơ sở khoa học này sẽ giúp chúng ta khắc phục được tình trạng thiếu căn cứ trong quá trình xác định giá trị thực tế của đất một cách cụ thể cho từng diện tích đất trong từng loại đường phố của cùng một loại đô thị.

    Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền tại các địa phương là xác định một cách cụ thể và chính xác thứ tự các loại đường phố. Có như vậy khi xác định giá đất cho cùng loại đường phố trong từng đô thị mới phản ánh đúng giá trị thực tế của đất ở tại đó.

    Sự phân loại đô thị theo quy mô sẽ tạo nên khả năng thuận lợi hay khó khăn cho sự phát triển về mọi mặt của đô thị. Giá trị sử dụng của đất cũng biến đổi theo quy mô phát triển của đô thị đặc biệt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với đô thị nếu đô thị nào phát triển, giao thông thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng lớn thì chắc chắn giá đất ở đô thị đó cũng cao lên. Ngày nay xu thế đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ nên việc mở rộng các đô thị và sự “ bành trướng” của đô thị ra vùng lân cận cũng làm thay đổi giá đất đai đặc biệt giá đất các vùng lân cận sẽ tăng lên.

    4. Quá trình đô thị hoá.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    20

    Đề án môn học

    Đô thị hoá là quá trình tất yếu trên con đường phát triển của các quốc gia đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ và đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn cần phải giải quyết: dân số đô thị tăng nhanh, vấn đề an ninh xã hội, vấn đề môi trường, việc làm…Hiện nay, vấn đề đất đô thị và sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến giá cả đất đai đang là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu lý luận.

    Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành và phát triển đô thị, đó cũng là quá trình tập trung dân số vào các đô thị tạo ra sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Quá trình đô thị hoá gắn liền với quá trình công nghiệp hoá đất nước, làm biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ hình thức nông thôn sang thành thị. Đó là một quá trình diễn ra một cách khách quan gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội, nó còn gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển của ngành nghề mới. Trình độ đô thị hoá phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, truyền thống văn hoá và phương pháp tổ chức đời sống xã hội. Như vậy đô thị hoá về hình thức là quá trình mở rộng diện tích và ưuy mô của đô thị trên cơ sở sát nhập các điểm dân cư nông thôn hoặc sử dụng một phần diện tích đất nông nghiệp cho xây dựng mới hoặc mở rộng đô thị. Đất đô thị là phần diện tích đất giới hạn được sử dụng để xây dựng các công trình đô thị như nhà ở, trụ sở các cơ quan hành chính, kinh tế, tổ chức chính trị, xã hội, các cơ sở sản xuất xã hội, kinh doanh, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị như: đường giao thông, mạng lưới chiếu sáng, lưới điện sinh hoạt, điện sản xuất, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp cấp thoat nước…phục vụ các nhu cầu lợi ích, công cộng, quốc phòng, an ninh và các mục đích khác. Phần diện tích đất có giới hạn đó theo các quy mô khác nhau kết hợp với một số yếu tố cơ cấu dân số và cơ cấu kinh tế được Nhà nước quy định phân loại thành đô thị loại I đến loại V. Quá trình đô thị hoá đặt ra nhu cầu sử dụng đất đô thị ngày càng tăng lên trong khi khả năng cung về diện tích đất đô thị là hữu hạn. Chính vì vậy việc khai thác sử dụng đất đô thị cho hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao là yêu cầu rất quan trọng. Để giải quyết vấn đề này thực chất là đi giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích của Nhà nước( lợi ích của cộng đồng) và lợi ích của cá nhân; giữa mục tiêu quản lý và mục đích sử dụng. Xét về khía cạnh kinh tế chính trị, đất đô thị là loại đất dùng để xây dựng và phát triể đô thị, đó là loại đất có giá trị lớn và có sức sản xuất cao, có giá trị sử

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    21

    Đề án môn học

    dụng lớn. Xu hướng phát triển và quy mô của đất đô thị có liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mà cốt lõi là chế độ sở hữu nói chung, trong đó có sở hữu đất đai được quy định bởi chế độ kinh tế chính trị xã hội. Nếu tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai nằm trong tay của một bộ phận giai cấp thống trị xã hội nắm quyền phân phối sản phẩm xã hội, thì đất đô thị là hàng hoá đặc biệt mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho chủ sở hữu là giai cấp thống trị. Còn nếu đất đai thuộc sở hữu toàn dân, thì lợi ích do đất đai mang lại sẽ phục vụ cho lợi ích cộng đồng mà đại diện là Nhà nước, đối tượng được hưởng là nhân dân. Từ năm 1975 đến nay, đất nước thống nhất, việc đầu tư cải tạo và xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội đều sử dụng vốn ngân sách. Chính nhờ có sự đầu tư này mà đất đô thị ngày càng có giá trị hơn. Giá đất đô thị cao hơn giá đất nông thôn, miền núi là vì đất đai có những đặc trưng cơ bản khiến nó không giống bất kỳ một loại tư liệu sản xuất nào. Chẳng hạn: đất đai là nguồn tài nguyên có những hạn chế về số lượng và không có khả năng tái sinh; đất đai có vị trí cố định trong không gian và không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Ông cha ta từng nói: “ Tấc đất tấc vàng”- câu nói này đặc biệt đúng với đất đô thị, càng đúng hơn khi tốc độ đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay.

    Khi nói về đất đô thị, Mác cho rằng: “Thật ra, người ta có thể tập trung một nền sản xuất lớn trên một khoảng không gian nhỏ với sự phân tán của thủ công nghiệp và chính đại công nghiệp đã làm như vậy”, và khi nền sản xuất đại công nghiệp đã đạt đến giới hạn của việc sử dụng chiều cao không gian thì “ việc mở rộng sản xuất cũng đòi hỏi mở rộng diện tích đất đai”. Cũng giống như diện tích đất được sử dụng vào đất nông nghiệp, đất được sử dụng vào mục đích xây dựng đô thị có những ưu thế mà những công cụ sản xuất khác (như máy móc chẳng hạn) không có

    • “ưu thế của đất là những khoản đầu tư liên tiếp có thể đem lại lợi nhuận mà không làm thiệt hại đến những khoản đầu tư trước, ưu thế đó cũng đồng thời bao hàm cả khả năng có những sự chênh lệch trong sản phẩm của những khoản đầu tư liên tiếp ấy”. Đó cũng chính là khoản địa tô mà đất đô thị đem lại cho chủ đất. Vì thế, quá trình đô thị hoá diễn ra càng mạnh mẽ thì giá đất ở khu vực đô thị hoá tăng cao là điều tất yếu. Từ thực tế ta thấy rõ điều này, đô thị hoá đến đâu đất ở đó tăng giá đến đó.
      • nước ta, Hiến pháp và Luật đất đai đã khẳng định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Với việc quy định cụ thể trong những đạo luật cơ bản nhất về quyền sở hữu tối cao đối với đất đai thuộc về nhân dân, việc khai

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    22

    Đề án môn học

    thác, sử dụng nguồn lực đất đai phục vụ cho yêu cầu phát triển đất nước sẽ thuận lợi hơn rất nhiều, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai cũng tham gia vào thị trường với tính chất là một hàng hoá đặc biệt ( Tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được).

    Hiện nay, một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong xây dựng và phát triển đô thị ở nước ta là vấn đề quỹ đất cho xây dựng các công trình đô thị, đó là công việc liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Chính phủ đã có Nghị định số 87/NĐ/CP ngày 17/8/1994 mới nhất là Nghị định 188/NĐ/CP quy định khung giá các loại đất; các tỉnh, thành phố đã có quyết định về giá các loại đất trên từng địa bàn cụ thể. Tuy nhiên khung giá đó không hoàn toàn hợp lý khiến người dân không đồng tình dẫn đến tình trạng khiếu kiện liên miên. Đó là một trong những khó khăn về giá mà Nhà nước ta cần phải giải quyết.

    Qua những phân tích trên ta có thể thấy rằng quá trình đô thị hoá có ảnh hưởng rất lớn tới giá đất mà xu hướng là giá đất sẽ tăng lên. Đó là xu thế tất yếu của các nước đang trên đà phát triển như Việt Nam.

    5. Yếu tố cạnh tranh.

    Để tìm hiểu sự ảnh hưởng của yếu tố cạnh tranh đến giá đất trước tiên cần nghiên cứu về mối quan hệ cung cầu để thấy được mức giá cần xác định. Khi phân tích quan hệ cung và cầu ta thường coi cung và cầu là hàm số của giá. Cung, cầu có thể cân bằng ở bất cứ điểm nào, khi đó chúng ta sẽ có giá cân bằng. Nếu các yếu tố khác không đổi, một sự tăng lên của cầu hay giảm xuống của cung sẽ làm giá tăng lên và ngược lại sự giảm xuống của cầu hoặc tăng thêm của cung sẽ làm giá giảm xuống. Do đó trong thị trường cạnh tranh giá cả điều tiết lượng cung và cầu. Đó là quy luật chung của các loại hàng hoá thông thường nhưng đất đai lại có những điểm khác biệt. Cầu về đất đai ngày càng tăng nhưng cung về đất đai lại gần như không đổi do tính giới hạn về không gian của đất đai nên giá khó dịch chuyển về điểm cân bằng. Đối với đất đai, khi cầu giảm thì giá đất cũng sẽ không giảm mà thường “chững lại”.

    Ảnh hưởng đến giá đất gồm có các yếu tố cạnh tranh về cầu, cung và trong nội bộ cung, cầu. Cầu về đất đai nói chung luôn luôn tăng vì vậy giá đất nói chung cũng tăng lên. Chẳng hạn cầu về đất xây dựng biệt thự, đất phân lô tăng như thời gian vừa qua do thu nhập của người dân tăng lên và tâm lý người tiêu dùng muốn có một căn nhà riêng sẽ làm cho giá của loại đất này tăng lên ( chủ yếu là qua đấu

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    23

    Đề án môn học

    giá) trong khi cung về loại đất này có tăng nhưng chậm, không đáp ứng nổi cầu. Hiện nay giá của loại đất này rất cao, mới đây ở Huyện Đông Anh ( Hà Nội) đấu giá lô đất mà giá cao nhất lên tới 86 triệu đồng/ m2.

    Đối với cung đất đai: về tổng cung có thể coi là không đổi nhưng trong nội bộ cung đất đai vẫn có sự chuyển đổi như: chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp sẽ làm cung đất phi nông nghiệp tăng, thu hồi đất cho phục vụ cho xây dựng khu công nghiệp thì cung đất khu công nghiệp tăng…Nguồn cung đất cũng có thể tăng lên do khai hoang, phục hoá. Chúng ta có thể thấy rằng hiện nay cung đất xây nhà chung cư có xu hướng tăng lên. theo quy luật cung cầu, khi cung tăng lên thì giá giảm đi nhưng điều đó không hoàn toàn đúng với hàng hoá đặc biệt là đất đai. Mặc dù cung về đất xây nhà chung cư tăng nhưng thực tế giá không hề giảm mà giá đất sẽ chững lại hoặc có giảm nhưng không đáng kể. Việc giá đất chững lại chính là biểu hiện thị trường “đóng băng” như thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay. Một biểu hiện nữa của sự cạnh tranh về cung là: hai nguồn cung khác nhau về đất ở, khu vực nào có cơ sở hạ tầng tốt hơn, môi trường trong sạch hơn chắc chắn giá đất ở đó sẽ cao hơn. Vì thế diễn ra sự cạnh tranh trong nội bộ cung một loại đất, ai đầu tư tốt hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Yếu tố cạnh tranh thực chất chính là quan hệ cung cầu. Đối với các loại hàng hoá thông thường sẽ tuân theo đúng quy luật đó nhưng đất đai thì không, giá cả của nó có phản ứng với sự thay đổi cung, cầu, tính cạnh tranh theo một cách khá đặc biệt. Trong điều kiện thị trường phát triển bình thường, sự thay đổi về cung hay cầu không làm giá đất biến động mạnh, nó sẽ giữ nguyên.Cung cầu về đất sẽ có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến giá khi thị trường có sự tăng đột biến về cung hay cầu nhưng chủ yếu là cầu tạo nên những cơn “sốt giá’ như ở nước ta những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX.

    6. Chính sách tiền tệ.

    Giá cả đất đai là biểu hiện bằng tiền của giá trị của đất đai, là số tiền thoả thuận giữa người mua và người bán tại một thời điểm xác định. Ở các thời điểm khác nhau giá cả đất đai cũng thay đổi theo chiều hướng khác nhau tăng hay giảm. Mặt khác, đất đai có giá trị rất lớn, đối với một quốc gia nó chiếm khoảng 3/4 tổng tài sản của quốc gia còn đối với một cá nhân, gia đình đất đai là tài sản quan trọng nhất. Vì thế, những biến động về tiền tệ, chính sách tiền tệ có ảnh hưởng rất lớn đến giá đất. Giá đất phụ thuộc vào sự ổn định của đồng tiền, nếu sức mua của đồng

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    24

    Đề án môn học

    tiền tăng giá đất giảm, ngược lại nếu sức mua của đồng tiền giảm giá đất tăng. Khi sức mua của đồng tiền tăng tức là cùng một lượng tiền mua được một lượng hàng hoá lớn hơn, trong xu hướng giá đồng tiền đang tăng các giao dịch liên quan đến đất đai sẽ “chững” lại vì người có ý định bán sẽ có tâm lý “ chờ” giá vì người ta cho rằng giá còn tiếp tục tăng

    Giá vàng lên xuống thất thường đang khiến các giao dịch nhà đất chững lại

    giữa tháng 5 /2004 giá vàng tăng thêm 70.000 đồng/lượng để ở mức 7,43 triệu đồng/lượng (mua vào) và 7,49 triệu đồng/lượng (bán ra). Nếu so với mức thấp nhất từ đầu năm (7,39 triệu đồng/lượng ngày 10-5-2004) thì gía vàng tăng 100.000 đồng/lượng; cũng với mức cao nhất (8,01 triệu đồng/lượng ngày 1-1-2004) giảm đến 520.000 đồng/lượng. Giá vàng tăng giảm thất thường, diễn biến chậm với khoảng cách chênh lệch lớn càng khiến tình hình khó dự báo. Do vậy, trên thị trường nhà đất, các giao dịch về đất đai vào thế “co cụm” . Cả người mua, người bán đều không muốn mạo hiểm với tài sản của mình.

    Thật ra thị trường nhà đất không chỉ bị tác động bởi giá vàng mà còn nhiều yếu tố khác liên quan như quy hoạch, khung giá đất, thuế, vật tư xây dựng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ….Tuy nhiên việc định gía nhà đất bằng vàng đã trở thành

    “truyền thống” từ bao đời nay nên giá vàng vẫn là yếu tố ảnh hưởng đến thị trường nhà đất. Giá tăng, cả bên mua, bên bán đều dừng lại để chờ giá tiếp tục tăng. Giám đốc một trung tâm giao dịch nhà đất cho biết, giá vàng ổn định, trong một tuần có thể mua bán 4 – 5 căn nhà (khoảng hơn 300 cây/căn) là chuyện bình thường. Còn hiện tại, thử đến các trung tâm sẽ thấy rõ sự thưa thớt. Đơn giản là với mức chênh lệch tăng giảm 100.000 đồng/ lượng người ta có thể mất đi hàng trăm triệu đến cả tỷ đồng với những căn nhà có gía trị lớn, vài trăm đến vài nghìn cây vàng

    7. Yếu tố pháp lý.

    Đất đai là tài sản quý giá của quốc gia, thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Vì vậy Nhà nước nắm quyền quản lý tuyệt đối với đất đai trong phạm vi toàn lãnh thổ. Nhà nước phải đảm bảo sử dụng đất theo nguyên tắc: đầy đủ, tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả cao nhất. Để làm được điều đó Nhà nước cần quản lý chặt chẽ quỹ đất của mình thông qua các chính sách pháp luật. Bởi thế nên đất đai rất “nhạy cảm” với sự thay đổi của các yếu tố pháp lý. Đất đai là đối tượng trực tiếp điều chỉnh của các văn bản pháp quy liên quan đến đất đai: Hiến

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    25

    Đề án môn học

    pháp, Luật đất đai, các Nghị định, quyết định, Thông tư… Nhà nước ta có các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với đất đai nhưng Nhà nước không trưc tiếp sử dụng đất đai mà giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng dưới các hình thức: giao đất, cho thuê đất… Họ được Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đó bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua đó ta thấy đất đai có mối quan hệ không thể tách rời. Đó cũng chính là lý do để nói rằng yếu tố pháp lý có ảnh hưởng đến giá đất. Ta sẽ thấy rõ điều đó qua các ví dụ sau:

    Mỗi thửa đất được sử dụng hợp pháp đều được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất- đó là giấy tờ pháp lý chứng minh quyền sử dụng hợp pháp thửa đất đó. Vì vậy nó vô cùng quan trọng đối với người sử dụng đất. Nếu hai thửa đất tương tự nhau nhưng một thửa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn một thửa chưa có thì điều chắc chắn thửa đất chưa có giấy chứng nhận sẽ có giá thấp hơn rất nhiều vì nếu mua mảnh đất đó quyền sử dụng của họ không được đảm bảo.

    Một chính sách nữa của Nhà nước là khuyến khích phát triển mô hình trang trại. Trước đây, khi chưa có chính sách này giá đất trang trại rất rẻ nhưng từ khi Nhà nước khuyến khích mô hình này người ta đã đổ xô đi mua đất trang trại khiến cho giá loại đất này tăng lên rất nhanh. Vì thế ta có thể khẳng định chính sách của Nhà nước đã có tác động tới giá cả đất đai.

    Một ví dụ tiếp theo sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của chính sách pháp luật liên quan tới giá đất. Xuất phát từ quá trình đô thị hoá, từ phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội mà các loại đô thị cũng tăng lên: ở nông thôn xuất hiện nhiều thị trấn, thị xã; ở thành thị sẽ chuyển xã thành phường, quận thành huyện. Việc Nhà nước quyết định thành lập mộ thị trấn, một thị xã, một phường, một quận hay một thành phố đều có ảnh hưởng rất mạnh tới giá đất các khu vực đó. Chẳng hạn khi Nhà nước quyết định thành lập quận Hoàng Mai, quận Long Biên (Hà Nội) đã làm chuyển biến đáng kể đời sống xã hội những khu vực đó, nhiều làng lên phố và nhiều nông dân đã trở thành tỷ phú. Đó không còn là điều lạ lẫm ở Việt Nam vì khi nông thôn đã trở thành đô thị giá đất ở đó sẽ tăng lên “chóng mặt”, có thể nói là tăng từng ngày. Vì thế không có lý do gì để nói rằng việc quyết định của Nhà nước không ảnh hưởng tới giá đát.

    Trên đây là một vài minh chứng để chúng ta thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của yếu tố pháp lý hay nói rõ hơn là chủ trương, chính sách của Nhà nước có tác động không nhỏ tới giá đất. Vì vậy khi xác định giá đất cần đặc biệt chú ý đến tính pháp lý của thửa đất đó và các chính sách của Nhà nước tại thời điểm đó.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    26

    Đề án môn học

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    27

    Đề án môn học

    KẾT LUẬN

    Qua việc nghiên cứu trên, chúng ta càng có thể khẳng định được vai trò to lớn của đất đai trong sự phát triển kinh tế- xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mọi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng.. Đất đai tham gia vào mọi hoạt động đời sống kinh tế, xã hội, không có đất đai thì không có bất kỳ một hoạt động sản xuất nào có thể diễn ra được. Đất đai không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng và khai thác mà còn đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Tuy nhiên do diện tích đất đai bị giới hạn trong khi đó nhu cầu sử dụng đất đai lại tăng lên. Chính vì vậy giá đất lại có xu hướng ngày càng tăng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đi đôi với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước thì quá trình đô thị hoá ngày càng được mở rộng và tác động mạnh mẽ đến giá đất. Xã hội ngày càng phát triển làm nảy sinh nhiều mối quan hệ về đất đai do đó nhu cầu xác định giá đất cũng ngày càng tăng. Để xác định giá đất một cách chính xác cần phải sử dụng các phương pháp xác định giá đất như phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp đầu tư, phương pháp thu nhập… Tuy nhiên khi xác định giá đất còn phải dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất. Các nhân tố đó có tác động rất lớn đến giá đất, có nhân tố đã làm thay đổi hẳn giá trị của mảnh đất như nhân tố chính sách pháp luật hay quá trình đô thị hoá. Tôi hy vọng rằng với việc nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất sẽ là cơ sở quan trọng để các nhà định giá xác định giá đất chính xác, hợp lý hơn.

    Hiện nay có nhiều quan điểm về giá đất nhưng tóm lại giá đất về bản chất phản ánh nguồn lợi ích mang lại từ mảnh đất đó, nó được đo lường bằng giá trị mảnh đất đó tại một thời điểm nhất định. Nhà nước đã ban hành nhiều khung giá đất: Nghị định 80/NĐ-CP ban hành ngày 06/11/1993; Nghị định 87/NĐ-CP ban hành ngày 17/8/1994; Nghị định 17/1998/NĐ-CP và Nghị định 188/2004/NĐ-CP ban hành ngày 16/11/2004. Lấy khung giá các loại đất của Chính phủ làm cơ sở, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có quy định bảng giá về các loại đất cho phù hợp với địa phương mình. Song nhìn chung sự điều chỉnh giá đất của Nhà nước chưa theo kịp với giá đất thực tế, nó thường thấp hơn giá đất thực tế có nơi từ 8-10 lần. Sự chênh lệch đó đã tạo ra nhiều mâu thuẫn, tình trạng khiếu kiện vượt cấp kéo dài. Để khắc phục tình trạng này cần phải hoàn thiện pháp luật về giá đất, trước mắt

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    28

    Đề án môn học

    cần tập trung vào hoàn chỉnh các nội dung cơ bản sau: Về cơ chế quản lý giá (phải thừa nhận tính dịch vụ của hoạt động giá); về hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về giá ( chuyên trách, độc lập, đa mục đích, vừa quản lý hành chính vừa hoạt động dịch vụ); về phương pháp, nguyên tắc xác định giá; về đào tạo nhân sự cho hoạt động định giá và thẩm định giá; về hoàn thiện cơ sở pháp lý cho từng đơn vị bất động sản như tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tập trung đất đai, gắn liền bất động sản thành một khối ( như nhà- đất- tài sản gắn liền trên đất); thực hiện trước một bước công tác đăng ký quyền sử dụng đất ( đăng ký ban đầu và đăng ký biến động), thống nhất đăng ký quyền sở hữu nhà ở, đất ở, thống nhất một hệ thống cơ quan đăng ký tài sản theo tính kinh tế, dịch vụ là chủ yếu, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế chung đặc biệt là để phát triển thị trường bất động sản.

    Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Vũ Thị Thảo đẫ tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    29

    Đề án môn học

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Nguyên lý thị trường bất động sản. Giáo trình Kinh tế tài nguyên đất.
    1. Tạp chí địa chính
    1. Tạp chí Bất động sản
    1. Đặc san tạp chí Luật học 2003
    1. Nghị định 87, 188 Thông tư 114
    2. Các trang Web: na.gov.vn www.mof.gov.vn www.vnexpress.com www.hn.gov.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Những lời khuyên đầu tư bất động sản thành công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-T%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-v%C3%A0-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-s%C3%A0n-giao-d%E1%BB%8Bch-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    CHUYÊN ĐỀ 1

    TỔ CHỨC QUẢN LÝ SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN

    1.     Giới thiệu sàn giao dịch bất động sản

    Thực ra khái niệm về sàn giao d ịch bất động sản mới được thừa nhận qua Luật kinh doanh bất động sản nă m 2006. Để hiểu được ý nghĩa, mục đích và vai trò của sàn giao dịch bất động, nhà nước đang xây dựng mô hình sàn giao dị ch chuẩn để từ đó đưa các ho ạt động giao dịch vào sàn nhằm mục đích phát triển và lành mạnh hoá thị trường bất động sản.

    Vậy có thể hiểu “Sàn giao dịch bất động s ản là nơi diễn ra các giao dịch bất động sản và cung cấp dịch vụ về bất động sản” Còn các tiêu chí hoạt động của sàn, qui chế của sàn, trách nhiệm và quyền hạn của sàn như thế nào thì theo qui định của nhà nước.

    Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản khi bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản phải thông qua sàn giao dịch bất động sản.

    Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản thực hiện giao dịch bất động sản thông qua sàn giao dịch bất động sản để bảo đảm công khai, minh bạch và quyền lợi của các bên. (Điều 59 Luật KDBĐS).

    1.1 Tại sao cần sàn giao dịch BĐS.

    • Đáp ứng những nhu cầu ngày càng phức tạp trong các hoạt động giao dịch BĐS của thị trường.
    • Thoả mãn nhu cầu ngày càng cao, khó tính của khách hàng, nhà đầu tư.
    • Khẳng định đẳng cấp, thương hiệu của chủ đẩu tư, đơn vị phân phối, tiếp thị dự án BĐS.
    • Minh bạch hoá thị trường BĐS.
    • Thống kê, báo cáo, tham mưu cho ban lãnh đạo doanh nghiệp các diễn biến của thị trường nhằm đưa ra các chiến lược và chính sách đầu tư phù hợp.
    • Sân chơi chung cho các lĩnh vực tài chính pháp lý, bảo hiểm tham gia thị trường BĐS.
      1  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nơi cung cấp Thông tin, tiếp thị, quảng bá các dự án, sản phẩm BĐS tập trung, hiệu quả.
    • Nơi cung cấp các dịch vụ để thuê chỗ giao dịch.

    1.2 Công cụ của sàn giao dịch BĐS.

    • Sàn giao dịch truyền thống
    • Hệ thống các giao diện bán hàng tại trụ sở, các văn phòng chi nhánh, văn phòng đại diện và văn phòng bán hàng tại dự án.
    • Các đối tượng tham gia giao dịch trực tiếp.
    • Sàn giao dịch điện tử.
    • Cung cấp thông tin sản phẩm, thị trường BĐS qua các phương tiện điện tử, internet, các thiết bị số tích hợp internet.
    • Sàn giao dịch này chỉ mang ý nghĩa trao đổi thông tin, mọi giao dịch cuối đều phải thông qua sàn giao dịch truyền thống.

    1.3 Cơ hội gì từ hoạt động sàn giao dịch BĐS.

    • Đối với đầu tư.
    • Cơ hội tiếp cận nguồn sản phẩm đầu tư đa dạng, phong phú
    • Cơ hội tiếp cận các chuyên viên tư vấn đông đảo, lành nghề, am hiểu thị trường, phục vụ chu đáo, tận tình chuyên nghiệp.
    • Cơ hội các dịch vụ đầu tư thuận lợi: Dịch vụ tài chính, dịch vụ pháp lý, thiết kế xây dựng.
    • Cơ hội mở rộng quan hệ đầu tư thông qua các hoạt động của sàn giao dịch.
    • Tạo ra bộ mặt chuyên nghiệp trước khách hàng, các nhà đầu tư.
    • Giới thiệu tư vấn sản phẩm tập trung phong phú cho khách hàng.
    • Sức mạnh tổng hợp từ các bộ phận hỗ trợ kinh doanh phục vụ cho các hoạt động giao dịch tại sàn giao dịch.
    • Đối với quảng cáo
    • Cơ hội tiếp cận nguồn thông tin khách hàng, nhà đầu tư đa dạng, phong phú, cập nhật.
      2  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xây dựng các chương trình bán hàng tập trung, hiệu quả.
    • Cộng hưởng các dự án tại sàn cho việc quảng cáo, tiếp thị các dự án mới.
    • Cơ hội triển khai các công cụ quảng cáo, tiếp thị hiện đại tại sàn: Film, video, internet…

    2.                 Vai trò của sàn giao dịch bất động sản trong thị trường bất động sản

    • Tất cả các giao dịch bất động sản qua sàn sẽ giúp cho nhà nước quản lý được các giao dịch bất động sản từ đó nhà nước có những chính sách kịp thời và chính xác để điều tiết thị trường.
    • Nhà nước hạn chế tối đa thất thu thuế do việc chuyển nhượng, mua bán ngầm bên ngoài.
    • Giảm đáng kể số lượng bất động sản và tần suất bất động sản tham gia giao dịch từ đó giá cả sẽ bình ổn hơn. Vì khi một bất động sản được giao dịch nhiều lần sẽ đẩy giá lên rất cao, người có tiền đầu tư nhiều sản phẩm nay sẽ hạn chế rất nhiều do giá cả bình ổn, họ thấy không có lời và sẽ không đầu tư trục lợi.
    • Giảm đáng kể số lượng người tham gia đầu tư với mục đích kiếm lợi làm khan hiếm thị trường tạo cơn sốt. Cơn sốt bất động sản làm cho mọi người dân phải tìm mọi cách để đầu tư kiếm lợi và làm cho thị trường càng sốt hơn, giá cả ngất ngưỡng. Một khi giao dịch được qua sàn người đầu tư chịu một khoản thuế chênh lệch giữa giá bán và giá mua lên tới 25%, phải chi phí khoản hoa hồng, chi phí chuyển nhượng, lãi xuất vay vv… và từ đó họ cảm thấy không có hiệu quả so với số vốn bỏ ra chưa kể rủi ro nên sẽ hạn chế tham gia và giá cả sẽ bình ổn với giá trị thực của thị trường.
    • Một khi giao dịch được qua sàn giá cả được công khai, nhiều loại sản phẩm được giới thiệu, thông tin đầy đủ sẽ tránh được rủi ro và thiệt hại cho các bên giao dịch từ đó làm lành mạnh hoá thị trường bất động sản.
    • Về vĩ mô sàn giao dịch bất động sản cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển hoạt động bất động sản nói riêng. Vì nếu giá cả thị trường cao hơn giá trị thật của thị trường dẫn tới mọi người, mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh bất động sản kiếm lời và sao lãng hoạt động kinh doanh của mình làm ảnh hưởng tới phát triển sản xuất tạo ra sản phẩm cho xã hội. Giá bất động sản cao dẫn tới chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ cao và giá thành tăng cao dẫn đến lạm phát tăng.
      3  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    Giá b ất động sản cao làm mất lợi thế cạnh tranh, thu hút đầu tư nước ngoài giảm do giá bất động sản cao.

    • Vai trò của sàn giao dịch bất động sản cũng góp phần phát triển hoạt động của thị trường bất động sản thông qua việc các hoạt động dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp hơn tạo được giá trị gia tăng cho chủ đầu tư như nghiên cứu thị trường, tư vấn lập dự án, thiết kế sản phẩm, dịch vụ tiếp thị, chăm sóc khách hàng và quản lý bất động sản. Tạo ra nhiều loại hình dịch vụ bất động sản đang bỏ ngỏ chưa đưa vào hoạt động như đấu giá, quảng cáo, dịch vụ pháp lý, ngân hàng, bảo hiểm vv…Tất cả dịch vụ này sẽ đẩy mạnh hoạt động bất động sản tạo giá trị thặng dư cho xã hội và lợi ích cho chủ đầu tư và người đầu tư.

    Như vậy sàn giao dịch bất động sản có những vai trò cơ bản sau:

    • Cầu nối giữa người mua và người bán.
    • Minh bạch thông tin, tạo cơ hội tiếp cận hàng hoá bất động sản như nhau cho mọi người, góp phần lành mạnh thị trường bất động sản.
    • Chuyên nghiệp hoá giao dịch, Tránh được rủi ro và thiệt hại cho các bên tham gia giao dịch.
    • Hoàn thiện cơ cấu của thị trưòng và hỗ trợ thị trường phát triển.
    • Đầu mối nghiên cứu thị trường.
    • Hỗ trợ quản lý và thu ngân sách.

    3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Sàn giao dịch bất động sản

    1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh BĐS, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản (BĐS) được thành lập Sàn giao dịch (SGD) BĐS hoặc thuê SGD BĐS của tổ chức, cá nhân khác để thực hiện cho hoạt động kinh doanh BĐS.
    1. Sàn giao dịch BĐS phải là pháp nhân. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh BĐS thành lập SGD BĐS thì sàn giao dịch đó phải có tư cách
      4  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    pháp nhân hoặc sử dụng tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh BĐS để hoạt động.

    1. Hoạt động của SGD BĐS phải công khai, minh bạch, và tuân thủ pháp luật.
    1. Sàn giao dịch BĐS, doanh nghịêp, hợp tác xã kinh doanh BĐS thành lập sàn giao dịch BĐS phải chịu trách nhiệm về hoạt động của sàn giao dịch BĐS.
    1. Sàn giao dịch BĐS phải có tên, địa chỉ, biển hiệu và phải thông báo về việc thành lập trên phương tiện thông tin đại chúng; trước khi hoạt động phải thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương.

    4.Điều kiện thành lập sàn giao dịch BĐS

    Theo quy định tại Điều 57 của Luật Kinh doanh bất động sản thì để thành lập sàn giao dịch bất động sản, các tổ chức, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện:

    4.1. Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Kinh doanh bất động sản;

    • Sàn giao dịch bất động sản phải là pháp nhân có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản.
    • Có quy chế hoạt động của sàn giao dịch bất động sản;

    4.2. Phải cơ sở vật chất, kỹ thuật phù hợp với nội dung hoạt động của sàn giao dịch BĐS và có mặt bằng theo qui định tối thiểu của nhà nước về diện tích mặt bằng của sàn giao dịch bất động sản.

    4.3. Người quản lý, điều hành sàn giao dịch BĐS phải đáp ứng các điều kiện của người lãnh đạo doanh nghiệp, phải có giấy chứng nhận đã hoàn thành khoá đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản.

      5  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    4.4. Cơ cấu tổ chức của sàn giao dịch bất động sản gồm giám đốc, các phó giám đốc và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với nội dung hoạt động của sàn giao dịch. Giám đốc sàn giao dịch bất động sản phải có giấy chứng nhận đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản của đơn vị đào tạo được nhà nước công nhận. Sàn giao dịch bất động sản phải có tối thiểu

    • (hai) nhân viên làm công việc môi giới bất động sản có chứng chỉ môi giới bất động sản. Nếu có dịch vụ định giá bất động sản phải có tối thiểu 02 (hai) nhân viên làm công việc định giá bất động sản có chứng chỉ định giá bất động sản do cơ quan có thẩm quyền cấp.

    4.5. Như vậy sàn giao dịch bất động sản đáp ứng các yêu cầu:

    1. Phải là pháp nhân (khác văn phòng môi giới), phải có tên, biển hiệu và phải có địa chỉ giao dịch ổn định tối thiểu trong thời hạn 01 năm.
    1. Có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản.
    1. Phải có diện tích sử dụng để giao dịch tối thiểu 50m2 phục vụ cho hoạt động môi giới, giao dịch và thêm 20 m2 cho mỗi hoạt động dịch vụ bổ sung, đồng thời đảm bảo có trang thiết bị phù hợp với nội dung hoạt động.
    1. Có Quy chế hoạt động với nội dung theo quy định (nêu tại phần
    1. Có nhân sự phù hợp ( 2 chuyên gia môi giới có chứng chỉ, Giám đốc sàn qua đào tạo quản lý sàn)
    1. Báo cáo Sở Xây dựng trước khi hoạt động. Sở XD báo cáo Bộ XD, đưa lên Website Mạng các sàn giao dịch BĐS Việt Nam.

    (không đòi hỏi vốn pháp định, không cấp phép).

    4.6. Hồ sơ báo cáo sở Xây dựng gồm:

    1. Công văn
    1. Đăng ký kinh doanh (có chức năng kinh doanh dịch vụ BĐS)
    1. Quy chế hoạt động.
      6  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Hồ sơ chúng minh cơ sở vật chất phù hợp (50m2 + 20 m2…)
    1. Giấy chứng nhận đã qua đào tạo của Giám đốc sàn và chứng chỉ của 2 chuyên gia môi giới.

    5.Qui chÕ hoạt động của sàn giao dịch bất động sản

    Sàn giao dịch bất động sản phải có Quy chế hoạt động, gồm những nội dung cơ bản sau:

    Theo quy định của Thông tư 13/2008/TT-BXD, Sàn giao dịch bất động sản phải có Quy chế hoạt động, gồm những nội dung cơ bản sau:

    1. Những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của sàn giao dịch bất động sản;
    1. Quy định về tổ chức bộ máy và hoạt động của các bộ phận của sàn giao dịch bất động sản;
    1. Quy định về chế độ quản lý tài chính của sàn giao dịch bất động sản;
    1. Quy định về quan hệ với khách hàng trong khi giao dịch;
    1. Quy định về thông tin bất động sản đưa vào giao dịch; chế độ quản lý, cung cấp thông tin về bất động sản, giao dịch tại sàn giao dịch bất động sản.

    6.Mô hình tổ chức và hoạt động của sàn giao dịch bất động sản

    6.1. Sàn giao dịch bất động sản phải là pháp nhân có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thành lập sàn giao dịch bất động sản thỡ sàn giao dịch đó phải có tư cách pháp nhân riêng hoặc sử dụng tư cách phỏp nhõn của doanh nghiệp đó để hoạt động.

    6.2. Sàn giao dịch bất động sản ngoài việc thực hiện các dịch vụ về giao dịch mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua và môi giới bất động sản còn được phép thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các dịch vụ sau:

    6.2.1. Định giá bất động sản;

    6.2.2. Tư vấn bất động sản;

    6.2.3. Quảng cáo bất động sản;

    6.2.4. Đấu giá bất động sản;

      7  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    6.2.5. Quản lý bất động sản.

    6.3. Cơ cấu tổ chức của sàn giao dịch bất động sản gồm giám đốc, các phó giám đốc và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với nội dung hoạt động của sàn giao dịch.

    6.4. Người quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản phải đảm bảo các điều kiện theo quy định tại Điều 21 Nghị định 153/2007/NĐ-CP.

    6.5. Sàn giao dịch bất động sản phải có tối thiểu 02 (hai) nhân viên làm công việc môi giới bất động sản có chứng chỉ môi giới bất động sản. Nếu có dịch vụ định giá bất động sản phải có tối thiểu 02 (hai) nhân viên làm công việc định giá bất động sản có chứng chỉ định giá bất động sản do cơ quan có thẩm quyền cấp.

    6.6. Sàn giao dịch bất động sản phải có diện tích sử dụng để giao dịch tối thiểu 50m2 phục vụ cho hoạt động môi giới, giao dịch và thêm 20 m2 cho mỗi hoạt động dịch vụ bổ sung, đồng thời đảm bảo có trang thiết bị phù hợp với nội dung hoạt động.

    6.7. Sàn giao dịch bất động sản phải có tên, biển hiệu và phải có địa chỉ giao dịch ổn định tối thiểu trong thời hạn 01 năm (12 tháng). Nếu có sự thay đổi về địa điểm giao dịch phải thông báo tới cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương và khách hàng đang giao dịch biết. Trước khi tiến hành hoạt động, sàn giao dịch bất động sản phải gửi hồ sơ bao gồm đăng ký kinh doanh và quy chế hoạt động về Sở Xây dựng địa phương. Sở Xây dựng địa phương có trách nhiệm báo cáo Bộ Xây dựng để thống nhất quản lý và đưa lên website của Mạng các sàn giao dịch bất động sản Việt Nam.

    6.8. Sàn giao dịch bất động sản phải có Quy chế hoạt động, gồm những nội dung cơ bản sau:

    6.8.1. Những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của sàn giao dịch bất động sản;

    6.8.2. Quy định về tổ chức bộ máy và hoạt động của các bộ phận của sàn giao dịch bất động sản;

    6.8.3. Quy định về chế độ quản lý tài chính của sàn giao dịch bất động sản;

    6.8.4. Quy định về quan hệ với khách hàng trong khi giao dịch;

    6.8.5. Quy định về thông tin bất động sản đưa vào giao dịch; chế độ quản lý, cung cấp thông tin về bất động sản, giao dịch tại sàn giao dịch bất động sản.

    6.9. Bất động sản khi đưa ra giới thiệu, giao dịch tại sàn giao dịch bất động sản phải đảm bảo các điều kiện quy định tại Điều 6, Điều 7 Luật Kinh doanh bất động sản và phải kê khai đầy đủ nội dung thông tin về bất động sản theo quy định tại Thông tư 13/2008/TT-BXD.

      8  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    6.10. Các hoạt động dịch vụ của sàn giao dịch bất động sản phải được thực hiện thông qua hợp đồng.

    6.11. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch bất động sản thực hiện theo quy định tại Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản.

    6.12. Cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập phải có chứng chỉ môi giới bất động sản và phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh.

    7. Thông tin về bất động sản

    Nội dung thông tin về hàng hoá bất động sản phải đầy đủ theo các nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 11 Luật kinh doanh bất động sản gồm:

    7.1. Loại Bất động sản

    Phải ghi rõ loại hàng hoá bất động sản cụ thể:

    7.1.1. Đối với nhà ở phải nêu rõ là nhà ở riêng lẻ hay căn hộ chung cư. Nếu là nhà ở riêng lẻ thì nêu rõ là biệt thự, nhà liền kề hay nhà vườn..;

    7.1.2. Đối với bất động sản dịch vụ phải nêu rõ là văn phòng, cửa hàng, siêu thị, chợ, khách sạn, nhà nghỉ hay nhà trọ..;

    7.1.3. Đối với bất động sản công nghiệp phải nêu rõ là hạ tầng khu công nghiệp hay nhà xưởng, nhà máy, kho, bãi..;

    7.1.4. Đối với quyền sử dụng đất phải nêu rõ là loại đất phi nông nghiệp (đất ở, đất KCN, đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh…), loại đất nông nghiệp hay các loại đất khác (nếu có).

    7.2. Vị trí bất động sản

    7.2.1. Đối với bất động sản tại khu vực đô thị đã xác định được địa chỉ cụ thể, phải nêu rõ số nhà, ngách, ngõ (hẻm), đường phố, quận (huyện), thành phố (tỉnh). Đối với nhà chung cư thì nêu cụ thể số phòng, tầng, dãy (lô) chung cư. Đối với khu vực nông thôn nêu rõ địa chỉ của bất động sản theo tên xóm, thôn, xã, huyện, tỉnh;

    7.2.2. Đối với bất động sản chưa xác định được địa chỉ cụ thể (chưa thành lập được đơn vị hành chính) thì nêu tên dự án, ký hiệu lô đất (đối với các lô đất xây dựng nhà ở riêng lẻ hoặc công trình xây dựng khác), ký hiệu từng căn hộ (đối với nhà chung cư).

      9  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    7.2.3. Sơ đồ vị trí: vẽ vị trí bất động sản, khoảng cánh đến các công trình lân cận và lối đi tới đờng chính. Nếu sử dụng ảnh vệ tinh thì đánh dấu vị trí bất động sản và chỉ dẫn lối đi ra đường chính.

    7.3. Thông tin về quy hoạch có liên quan đến bất động sản

    Tại vị trí bất động sản hay lân cận đã có quy hoạch đựơc duyệt ảnh hưởng đến bất động sản như mở đường, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội, dự án sản xuất kinh doanh…

    7.4. Quy mô, diện tích bất động sản

    7.4.1. Đối với nhà ở: ghi diện tích đất, diện tích xây dựng, số tầng, tổng diện tích sàn, diện tích sàn từng tầng, số phòng, diện tích sử dụng từng phòng, diện tích ban công, lô gia. Riêng nhà chung c ghi số phòng, diện tích sử dụng từng phòng, diện tích sử dụng chung.

    7.4.2. Đối với bất động sản khác: ghi diện tích đất, số tầng, số phòng, tổng diện tích sàn, diện tích sàn từng tầng, diện tích sử dụng chung, công suất (nếu có).

    7.4.3. Đối với hạ tầng khu công nghiệp: ghi diện tích đất, mật độ xây dựng, diện tích sử dụng chung.

    7.4.4. Bản vẽ tổng mặt bằng, mặt bằng các tầng, mặt cắt công trình. Đối với bất động sản có nhiều hạng mục thì mỗi hạng mục phải có đủ mặt bằng, mặt cắt.

    7.4.5. Ảnh chụp toàn cảnh công trình tại thời điểm giới thiệu.

    7.5. Thông tin về đặc điểm, tính chất, công năng sử dụng, chất lượng của bất động sản

    7.5.1. Về đặc điểm, tính chất nêu rõ kết cấu công trình, móng, khung, tường, sàn, mái;

    7.5.2. Công năng sử dụng bất động sản thông tin theo thiết kế ban đầu;

    7.5.3. Chất lượng bất động sản nêu cụ thể năm xây dựng, cấp, hạng công

    trình;

    7.5.4. Ảnh chụp toàn cảnh công trình tại thời điểm giới thiệu (nếu có).

    7.5.5. Thời điểm xây dựng, các sửa chữa lớn đã thực hiện và tình trạng kỹ thuật hiện tại.

      10  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    7.6. Thực trạng các công trình hạ tầng, các dịch vụ về kỹ thuật và xã hội có liên quan đến bất động sản

    7.6.1. Hạ tầng kỹ thuật về điện, cấp nước, thoát nước, nơi xả rác, nơi để xe, đường giao thông…

    7.6.2. Hạ tầng xã hội ghi các hạ tầng xã hội thiết yếu gần nhất như nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, siêu thị, bến xe, công viên, rạp chiếu phim, nhà hát…

    7.7. Tình trạng pháp lý của bất động sản

    Bao gồm hồ sơ, giấy tờ về quyền sở hữu, quiyền sử dụng và các giấy tờ có liên quan khác đến việc tạo lập bất động sản, lịch sử sở hữu bất động sản..

    7.8. Các hạn chế về quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản

     

    Phần sở hữu chung, phần sở hữu riêng. Phần sử dụng chung, phần sử dụng riêng..

    7.9. Giá bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản Giá có thể ghi theo đơn giá hoặc tổng giá.

    Gía ghi theo loại tiền đồng hoặc vàng hoặc loại tiền khác. Nếu ghi bằng loại tiền khác thì phải mở ngoặc ghi thêm quy đổi ra tiền đồng.

    Có thể ghi thời gian có hiệu lực của giá.

    7.10. Quyền và lợi ích của người thứ ba có liên quan

    Về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền hưởng lợi ích, tình trạng đang cho thuê, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ…(nếu có).

    7.11. Các thông tin khác

    Thông tin khác về bất động sản do các bên thoả thuận hoặc do chuyên gia khảo sát thu thập thông tin thực tế ghi để thấy rõ lợi ích hoặc các hạn chế khác của bất động sản.

    8.Điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản

    8. 1. Điều kiện của người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản

    Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh BĐS thì người quản lý,

      11  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    điều hành sàn giao dịch bất động sản phải đáp ứng các điều kiện sau đây :

    • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không đang trong tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành án phạt tù;
    • Có giấy chứng nhận đã hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản;
    • Không bị cấm hành nghề theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    8.2 Quyền của người quản lý, điều hành sàn giao dịch BĐS

    1. Quản lý, điều hành hoạt động của sàn giao dịch BĐS.
    1. Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin có liên quan đến BĐS theo quy định của pháp luật.
    1. Yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu về BĐS được đưa lên sàn giao dịch BĐS.
    1. Bảo đảm BĐS được đưa lên sàn giao dịch phải có đủ điều kiện để đưa vào kinh doanh.
    1. Cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin, tài liệu liên quan đến BĐS và chịu trách nhiệm về thông tin, tài liệu do mình cung cấp.
    1. Cung cấp các dịch vụ về BĐS tai sàn giao dịch BĐS.
    1. Bảo đảm cơ sỏ vật chất, kỹ thuật và điều kiện hoạt động của sàn giao dịch

    BĐS

    8.3 Nghĩa vụ của người quản lý điều hành sàn giao dịch BĐS

    1. Bảo đảm để sàn giao dịch BĐS hoạt động đúng nội dung đã đăng ký, thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thực hiện các nghĩa vụ về thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
    1. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. . Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    9.Quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS.

     

    9.1. Quyền của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS

     

    1. Tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS có quyền sau đây.
      12  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến BĐS.
    1. Yêu cầu cung cấp các dịch vụ về BĐS.
    1. Yêu cầu sàn giao dịch BĐS bồi thường thiệt hại do lỗi của sàn giao dịch BĐS gây ra.
    1. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    9.2. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS

    1. Tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS có các nghĩa vụ sau đây:
    1. Thực hiện quy chế hoạt động của sàn giao dịch BĐS
    1. Trả tiền dịch vụ cho sàn giao dịch BĐS.
    1. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    10. Hướng dẫn về giao dịch bất động sản qua sàn

    Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải thực hiện việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, thuê mua bất động sản thông qua sàn giao dịch bất động sản (trừ các dự án nhà ở xã hội theo Luật Nhà ở) theo quy định sau:

    1. Bất động sản phải đủ điều kiện theo quy định của pháp luật mới được đem bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua;
    1. Chủ đầu tư có thể tự thành lập sàn giao dịch hoặc lựa chọn sàn giao dịch bất động sản do đơn vị khác thành lập để giới thiệu bất động sản và thực hiện các giao dịch bất động sản;
    1. Sàn giao dịch bất động sản phải công khai các thông tin (theo quy định tại Điểm 2 phần IV của Thông tư này) về bất động sản cần bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua tại sàn giao dịch để khách hàng biết và đăng ký giao dịch. Thời gian thực hiện công khai tối thiểu 07 (bảy) ngày tại Sàn giao dịch. Trong thời hạn nêu trên, thông tin về tên dự án, loại, số lượng bất động sản, địa điểm và thời gian tổ chức việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản phải được đăng tải tối thiểu 03 (ba) số liờn tiếp trên một tờ báo phát hành tại địa phương, tối thiểu 01 (một) lần trên đài truyền hình địa phương nơi có dự án và trên trang web (nếu có) của Sàn giao dịch bất động sản. Chi phí đăng tải thông tin do chủ đầu tư (hoặc chủ sở hữu) chi trả;
    1. Khi hết thời hạn công khai theo quy định tại Điểm 3 Phần này, chủ đầu tư (hoặc sàn giao dịch bất động sản được uỷ quyền) được tổ chức việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, thuê mua bất động sản đã công khai. Trường hợp cùng một loại bất động sản có từ 2 (hai) khách hàng đăng ký trở lên hoặc số khách hàng đăng ký
      13  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    nhiều hơn số lượng bất động sản thì chủ đầu tư (hoặc sàn giao dịch bất động sản được uỷ quyền) phải thực hiện việc lựa chọn khách hàng theo phương thức bốc thăm hoặc đấu giá. Việc đặt cọc trước khi triển khai bốc thăm hoặc đấu giá bất động sản do các bên thoả thuận theo quy định của pháp luật;

    1. Việc đấu giá bất động sản tại sàn giao dịch thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản;
    1. Sàn giao dịch bất động sản có trách nhiệm xác nhận bất động sản của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản được giao dịch qua sàn (theo mẫu tại phụ lục 4) để xác nhận bất động sản đã được giao dịch theo đúng quy định của pháp luật;
    1. Đối với bất động sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản mà giao dịch qua Sàn giao dịch bất động sản thì không bắt buộc phải công khai thông tin theo quy định tại Điểm 3 của Phần này.

    11.Quy định về công khai, minh bạch thông tin trên thị trường bất động

    sản

     

    • Các thông tin về thị trường bất động sản phải đợc công khai tại trụ sở và

    trên Website của sở Xây dựng. Riêng thông tin về quy hoạch tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải được công khai tại trụ sở và trên Website của Sở Quy hoạch – Kiến trúc; thông tin về các dự án kêu gọi đầu tư và tình hình triển khai các dự án về phát triển nhà ở, khu đô thị mới, các dự án phát triển hạ tầng đô thị, cụm công nghiệp, khu công nghiệp phải được công khai tại trụ sở và trên Website của sở Kế hoạch và Đầu tư.

    11.2. Các chủ đầu tư có dự án đựơc duyệt phải công khai quy hoạch chi tiết 1/500 của dự án và phương án tiêu thụ sản phẩm tại trụ sở cấp xã nơi có dự án.

    11.3. Nội dung thông tin trên thị trường bất động sản phải đảm bảo đầy đủ, rõ ràng theo quy định sau:

    1. Thông tin về quy hoạch phát triển đô thị phải bao gồm các nội dung: bản vẽ quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết 1/2000, 1/500 (nếu có) và các chỉ số quy hoạch cơ bản;
    2. Thông tin kêu gọi đầu tư các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải bao gồm các nội dung: quy mô dự án, bản vẽ quy hoạch (nếu có), các điều kiện, các yêu cầu, thời gian, nội dung đăng ký, nơi nhận hồ sơ;
    3. Thông tin tình hình triển khai các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải bao
      14  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    gồm các nội dung: quy mô dự án, bản vẽ quy hoạch, chủ đầu tư, tiến độ thực hiện, kết quả thực hiện thực tế cập nhật theo quý, thời điểm dự kiến tiêu thụ sản phẩm.

    1. Thông tin về chuyển nhượng, bán, cho thuê hàng hoá bất động sản của các tổ chức cá nhân kinh doanh bất động sản phải gồm các nội dung theo quy định tại Mục 4 Phần 5;
    1. Thông tin về các cơ sở đào tạo chuyên gia môi giới, định giá và quản lý sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn tỉnh gồm: tên công ty hoặc trung tâm, địa chỉ, lĩnh vực đào tạo, địa chỉ đào tạo, ngày đăng ký hoạt động, danh sách giảng viên. Đồng thời phải có thông tin về các trung tâm bị đình chỉ hoạt động xem chi tiết tại (phụ lục 18)
    2. Thông tin về chuyên gia môi giới, định giá đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh gồm họ và tên, năm sinh, nơi đào tạo, số chứng chỉ, ngày cấp, nơi cấp, ngày đăng ký hoạt động. Đồng thời phải có thông tin về việc thu hồi chứng chỉ hoặc thôi hoạt động của các chuyên gia môi giới, định giá xem chi tiết tại (phụ lục 19 ).
    3. Thông tin về các trung tâm, các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn bao gồm tên trung tâm, địa chỉ, các hoạt động dịch vụ, tên giám đốc, số điện tại liên lạc, website (nếu có) xem chi tiết tại (phụ lục 20 )
    4. . Thông tin về tình hình giao dịch tại các trung tâm, các sàn giao dịch trên địa bàn gồm các nội dung: Số lượng giao dịch, tổng giá trị giao dịch, giá cả giao dịch.

    11.4. Thời gian đưa thông tin trên thị trường bất động sản phải từ bắt đầu cho đến khi sự việc kết thúc theo quy định sau:

    1. Thông tin về quy hoạch phát triển đô thị phải được công bố từ khi quy hoạch được phê duyệt đến khi quy hoạch đó đã được thực thi hoàn chỉnh trên thực tế;
    2. Thông tin kêu gọi đầu tư các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải từ khi các dự án đó được phê duyệt đến khi dự án đã lựa chọn được chủ đầu tư thực hiện dự án;
    1. Thông tin tình hình triển khai các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải từ khi các dự án đó được phê duyệt đến khi dự án được hoàn thành đưa vào sử dụng hoàn toàn;
    2. Thông tin về chuyển nhượng, bán, cho thuê hàng hoá bất động sản phải duy trì từ lúc giới thiệu đến khi tổ chức giao dịch xong;
      15  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Thông tin về các cơ sở đào tạo chuyên gia môi giới, định giá và quản lý sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn tỉnh; về chuyên gia môi giới, định giá đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh; về các trung tâm, các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn tỉnh phải liên tục và cập nhật;
    1. Thông tin về tình hình giao dịch tại các trung tâm, các sàn giao dịch trên địa bàn phải cập nhật hàng tháng, hàng quý và hàng năm.

    12.Tổ chức các dịch vụ tại sàn giao dịch bất động sản

    Sàn giao dịch bất động sản được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh và dịch vụ bất động sản như :

    • Giao dịch mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản.
    • Môi giới bất động sản.
    • Định giá bất động sản.
    • Tư vấn bất động sản.
    • Quảng cáo bất động sản.
    • Đấu giá bất động sản.
    • Quản lý bất động sản.
    1. Tư vấn bất động sản
    • Theo quy định tại Điều 63 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này.
    • Nội dung kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản bao gồm :
    • Tư vấn pháp lý về bất động sản;
    • Tư vấn về đầu tư tạo lập, kinh doanh bất động sản;
    • Tư vấn về tài chính bất động sản;
    • Tư vấn về giá bất động sản;
      16  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Tư vấn về hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua BĐS;
    • Tư vấn về các nội dung khác liên quan đến bất động sản.
    • Nội dung, phạm vi tư vấn, quyền và nghĩa vụ của các bên, giá dịch vụ tư vấn bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản phải chịu trách nhiệm về nội dung tư vấn do mình cung cấp và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. Đấu giá bất động sản
    • Theo quy định tại Điều 64 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ đấu giá bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này;
    • Đấu giá BĐS phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai, trung thực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên;
    • Hình thức đấu giá bất động sản bao gồm :
    • Trực tiếp bằng lời nói
    • Bỏ phiếu
    • Hình thức khác do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ đấu giá bất động sản phải công bố công khai, đầy đủ, chính xác thông tin về bất động sản trong bản niêm yết đấu giá do tổ chức, cá nhân bán, chuyển nhượng bất động sản cung cấp.
    • Hình thức, nội dung đấu giá bất động sản, quyền và nghĩa vụ của các bên, giá dịch vụ đấu giá bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ đấu giá bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. Quảng cáo bất động sản
      17  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Theo quy định tại Điều 65 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ quảng cáo bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này;
    • Quảng cáo BĐS được thực hiện thông qua sàn giao dịch BĐS, trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc các phương tiện khác;
    • Hình thức, nội dung quảng cáo, quyền và nghĩa vụ của các bên và giá dịch vụ quảng cáo bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng;
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    • Việc quảng cáo bất động sản phải theo quy định của Luật này và pháp luật về quảng cáo.
    1. Quản lý bất động sản
    • Theo quy định tại Điều 66 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này;
    • Nội dung kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản bao gồm :
    • Bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản;
    • Cung cấp các dịch vụ bảo đảm duy trì hoạt động bình thường của bất động

    sản;

    • Thực hiện bảo trì, sửa chữa bất động sản;
    • Quản lý, giám sát việc khai thác, sử dụng bất động sản của khách hàng theo đúng công năng, thiết kế và hợp đồng;
    • Thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với khách hàng, với Nhà nước theo uỷ quyền của chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản.
      18  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nội dung, phạm vi quản lý bất động sản, quyền và nghĩa vụ của các bên và giá dịch vụ quản lý bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Tổ chức, nhiệm quản lý bất gây ra.

    cá nhân kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản chịu trách động sản theo hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình

      19  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    CHUYÊN ĐỀ 2

    QUY TRÌNH VÀ KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

    1. Thu thập thông tin về cung cầu bất động sản

    1/Nguồn cung bất động sản

    • Các dạng cung:

    +Bán.

    • Cho thuê, cho thuê lại.
    • Đầu tư liên doanh liên kết.
    • Khai hoang, khai phá: bán đất chưa sử dụng thành sử dụng được
    • Thông tin nguồn cung
    • Văn phòng môi giới
    • Từ khách hàng.
    • Từ các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Các công ty đầu tư kinh doanh xây dựng, các dự án.
    • Các cơ quan đấu giá đất và bất động sản, nguồn hàng pháy mãi.
    • Các cơ quan quản lý: địa chính, tnmt. sở kiến trúc, sở quy hoạch.
    • Từ thực tế : những nhà bỏ trống, khu đất trống, những bất động sản mới phát triển, từ dân cư địa phương.

    +MLS: hệ thống niêm yết đa chiều.

    2Thông tin về bất động sản

    • Kinh tế kỹ thuật:
    • Vị trí: môi trường xung quanh.
    • Loại, kích thước, hình thể, không gian, hướng.
    • Trang thiết bị: cơ sở vật chất kỹ thuật
    • Tình trạng kỹ thuật: xem tổng thể nhue thế nào, chi tiết, chất liệu, thời gian sử dụng, kiến trúc, bảo dưỡng…
    • Hạ tầng kỹ thuật : đường, điện, nước,
      20  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giá cả toàn bộ và từng phần của bất động sản.
    • Pháp lý:
    • Giấy tờ xác nhận quyền năng đối với bất động sản: sổ đỏ, sổ hồng. quyết định giao đất, giấy phép xây dựng, phân chia tài sản,,,
    • Quy hoạch: sử dụng đất, không gian, các công trình liên quan khác.
    • Các giấy tờ liên quan đến tranh chấp: uỷ ban nhân dân.
    • Quyền năng và sự hạn chế về quyền năng: ví dụ: hạn chế độ cao…
    • Xã hội, lịch sử:
    • Thời gian sử dụng, người sử dụng, xây dựng và quá trình phát triển cảu bất động sản.
    • Môi trường xã hội, dân cư: có bị ô nhiễm không…
    • Phong thuỷ và các yếu tố đặc biệt khác: ví dụ trước đây có tai biến gì không….
    • Nguồn thông tin và phương pháp thu thập:
    • Tìm hiểu từ chủ sở hữu: giấy tờ pháp lý liên quan đến bất động sản, các loại hoá đơn.
    • Cơ quan quản lý nhà nước: phòng quản lý nhà đất, sở quy hoạch, nhà đất. Ví dụ : Sở quy hoạch: xem quy hoạch hiện tại và xu hướng trong tương lai.
    • Tổ dân phố và hàng xóm.
    • Tự điều tra và thăm dò.
    • Cơ sở dữ liệu cá nhân và kinh nghiệm kiến thức.
    • Bản đồ: ví dụ bản đồ quy hoạch đất đai, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, bản đồ điện tử.
    • Các đề tài nghiên cứu, hội thảo…. ví dụ: ảnh hưởng của chất thải đối với môi trường đời sống dân cư.
    • Trao đổi kinh nghiệm: giữa các nhà môi giới -> rất quan trọng.

    3 Thông tin về cầu bất động sản

    3.1 Phân loại đối tượng cầu bất động sản

    – Người mua:

      21  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Để tiêu dùng: nhà ở, sản xuất nhà xưởng, kinh doanh dịch vụ.
    • Để đầu tư: những người kinh doanh bất động sản, đầu cơ tiền nhàn rỗi/
    • Để bảo toàn vốn.
    • Phân loại cầu bất động sản để biết mục tiêu của khách hàng -> đáp ứng nhu cầu tốt hơn của khách hàng.
    • Người thuê:
    • Văn phòng, chi nhánh, phòng giao dịch.
    • Để kinh doanh dịch vụ.
    • Để sản xuất kinh doanh thuê mặt bằng.
    • Nhà ở: đối với sinh viên, người ngoại tỉnh, người nước ngoài, nhà công

    vụ.

    • Tín dụng, thế chấp và bảo hiểm: cầu gián tiếp

    3.2 Phương pháp thu thập thông tin về cầu bất động sản

    • Chủ động:
    • Tìm kiếm qua các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Gửi thư trực tiếp tới khách hàng: chủ yếu là khách hàng tiền năng (người thuê), khách hàng của các văn phòng môi giới khác, khách sạn, văn phòng, công sở, thương mại điện tử, sân bay, du lịch, cá nhân hoặc nhóm khách hàng mục tiêu.
    • Tiếp cận tận nơi: đón hoặc gọi điện
    • Khách hàng cũ: hồ sơ cũ, giới thiệu khách hàng, đón trước nhu cầu.
    • Thụ động:
    • Đón tại văn phòng.
    • Phụ thuộc quảng cáo
    • Thời gian đầu: chủ động, sau – thụ động.
    • Xác định đối tượng và các bên tham gia trong thương vụ môi giới

    a.Người cung:

    + Lí do nguyện vọng của họ ; nhanh hay chậm

      22  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nắm được thông tin về bất động sản như thế nào.
    • Các điều kiện kèm theo.
    • Khung gi¸ có phù hợp, các điều kiện về kinh tế ( thuế hoặc phí).
    • Năng lực bán của khách hàng: có đủ điều kiện pháp lý.
    • Người cho thuê:
    • Đầu tư.
    • Sinh lợi: để thu nhập hàng tháng không quan tâm giá bất động sản.
    • Trông coi: để bảo vệ.
    • Lí do: ví dụ: cho thuê để người đi thuê đàu tư trang thiết bị cho bất động

    sản.

    • Người bán:
    • Tự nguyện.
    • Bị ép buộc.

    b. Người cầu:

    • Người mua:
    • Quan tâm đến đặc tính của bất động sản.
    • Gía cả bất động sản: xác định khả năng tài chính.
    • Mục tiêu của người mua.
    • Các ràng buộc khác: ví dụ đối với người nước ngoài: vấn đề mua nhà…
    • Người thuê:
    • Cụ thể chính xác ngay ban đầu.
    • Rất nhanh gọn.
    • Chú ý tính ổn định bất động sản.
    • Chủ sở hữu quan tâm đến người thuê: quan tâm thu nhập người thuê, hoàn cảnh người thuê, độ ổn định…

    Xác định các bên tham gia thương vụ:

    • Phân loại khách hàng
    • Hiểu mục tiêu của việc mua bán phải rõ ràng.
    • Tìm hiểu độ tuổi của khách hàng: vì ảnh hưởng đến tâm sinh lý
      23  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    Ví dụ: già – đắn đo; trung tuổi – táo bạo;

    • Nghề nghiệp.
    • Thu nhập: sở thích của họ, tiềm năng.
    • Xác định các bên tham gia:
    • Thông tin cá nhân, tổ chức đó.
    • Mục tiêu tham gia thương vụ.
    • Các kỳ vọng: mua để ở, để chờ tăng giá, gần trường…
    • Mức độ sãn sàng.
    • Điều kiện pháp lý.

    III. Lập hồ sơ thương vụ môi giới

    • Thông tin cá nhân.
    • Giấy tờ liên quan đến bất động sản.
    • Giấy tờ khác liên quan đến thương vụ như thoả thuận cọc, đăng ký bán, thuê, cho thuê, thuê mua vv…
    • Hợp đồng dịch vụ môi giới.
    • Những ghi chép về khách hàng: đưa ra nhận xét về khách hàng -> phục vụ tôt hơn.

    Chú ý: Không nhận bản gốc giấy tờ của khách hàng, chỉ dùng để photo. Trong suốt quá trình diễn ra thương vụ phải tiếp tục thu thập giấy tờ liên quan.

    • Dạng hồ sơ: văn bản, file văn bản
    1. Thời hạn và những bước thực hiện thương vụ môi giới

    Bước 1: Tìm thông tin chung

    • Thông tin mua, bán, cho thuê -> thông tinnguồn cung, cầu.
    • Phải xem xét bất động sản bán một cách tỉ mỷ, cẩn thận và đầy đủ.
    • Điếu tra phân tích môi trường, hạ tầng xung quanh, tình trạng kỹ thuật của bất động sản.
    • Tình trạng pháp lý của bất động sản.
      24  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Chia sẻ cung cấp cho chủ sở hữu những thông tin về giấy tờ cần thiết cho việc bán.
    • Tìm khách hàng mua.

    Bước 2: Xử lý thông tin

    • Xác định được giá của chủ sở hữu muốn bán: phải tư vấn cho khách hàng xem giá có hợp lý không. Phải biết khu vực đó giá bất động sản bao nhiêu, loại bất động sản đó giá bao nhiêu.
    • Phải tập trung ghi chép miêu tả bất động sản, chú ý đến đặc tính của bất động sản đó: bất động sản nằm trong khu vực đó, có bất động sản nổi trội hơn làm giảm giá bất động sản đó.
    • Soạn thảo thông tin để quảng cáo.
    • Phải thiết lập cơ sở dữ liệu riêng cho bất động sản đó.
    • Phải thiết lập cơ sở dữ liệu riêng về khách hàng mua, bán
    • Tìm hiểu phân tích cụ thể, chính xác nhu cầu của khách hàng mua cũng như điều kiện liên quan đến thương vụ.
    • Tận dụng những thông tin phản hồi của người mua: động cơ họ mua hàng…
    • Chia sẻ và cung cấp cho các bên tham gia những thông tin cần thiết về khía cạnh pháp lý: thuế , phí…

    Bước 3: Giao dịch với khách hàng

    • Thoả thuận với chủ sở hữu những điều khoản về dịch vụ môi giới -> ký kết hợp đồng.
    • Lên kế hoạch hành động.
    • Giới thiệu cho khách hàng mua nbất động sản phù hợp với họ.
    • Giúp đỡ tạo điều kiện cho các bên trong quá trình đàm phán.
    • Dẫn dắt các bên ký kết hợp đồng khởi điểm.
    • Hỗ trợ các bên trong việc hoàn chỉnh hồ sơ và chuẩn bị ký kết hợp đồng chính thức.
    • Tham gia thực hiện các hoạt động thoả thuận trong hợp đồng khởi điểm.
    • Thực hiện các công việc liên quan đến thương vụ.
      25  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Tham gia vào quá trình thanh toán tổ chức các lần chi trả giao tiền.
    • Phải hỗ trợ cho các vấn đề liên quan: ví dụ

    Bước 4: Kết thúc thương vụ:

    • Giao nhận bất động sản: vì có thể có sự sai lệch lúc giao nhận
    • Kết thúc thương vụ và nhận tiền hoa hồng: ví dụ: ở nước ngoài khi đến một bước nào đấy của thương vụ, nhận 80 % hoa hồng. Kết thúc thì nhận phần còn lại.
    • Giải quyết các vấn đề sau thương vụ: Chuyển tiền sổ đỏ, ….. gửi thư cảm ơn đến khách hàng và đưa hồ sơ của họ vào hồ sơ khách hàng.
    • Họ tên, thường trú, hộ khẩu, cmt, ngày cấp, nơi cấp, tỉnh, tình trạng hôn nhân.
    • Địa điểm nơi thực hiện hợp đồng.
    • Gía bất động sản, lượng tiền đặt cọc, thông thường 10 % giá trị hợp đồng.
    • Miêu tả bất động sản.
    • Các quyền bất động sản: ví dụ: đất giãn dân, thổ cư, thừa kế.
    • Các trang thiết bị trong bất động sản mà chủ nhà để lại.
    • Những thoả thuận điều khoản chuẩn bị trong hopự đồng chính thức.
    • Xác định thời gian ký hợp đồng chính thức.
    • Ghi rõ giấy tờ nào còn đang thiếu cần bổ sung.
    • Ghi rõ bên nào trả loại tiền gì.
    • Phải cân nhắc về các mốc thời gian: giao nhận tiền (thường 3 đợt: thời gian giao nhận bất động sản, thời gian cắt hộ khẩu, thời gian di chuyển đồ đạc.).
    • Hình thức giao nhận tiền: tiềm mặt, chuyển khoản.
    • Hợp đồng chính thức
    • Gồm các giấy tờ cần thiết để ký kết hợp đồng công chứng.
    • Báo phí trả cho công chứng: ai trả, hình thức trả.
      26  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Kỹ năng môi giới bất động sản

    a. Môi giới mua.

     

    • Tạo sự hứng thú cho người mua.

    +    Kỹ năng gợi mở dịch vụ: Khi chưa biết có dịch vụ -> phải gợi mở

    .    Chìa khóa để tạo hứng thú cho người mua là giành được niềm tin của họ.

    Khi đó mọi sự tranh cãi và phản kháng sẽ biến mất.

    . Cố thuyết phục họ đến xem bất động sản: nhiều người có tiền nhưng chưa biết đầu tư vào đâu, vì thế khi họ xem họ sẽ xuất hiện nhu cầu mua.

    . Hiểu động lực của người mua: khi đó ta sẽ làm cho họ hào hứng với việc mua của họ.

    . Phảo trả lời được câu hỏi mà người mua cho là quan trọng. Điều này đòi hỏi phải hiểu biết rộng.

    . Đưa ra những lời khuyên hướng dẫn thích hợp với từng người mua để họ nhanh chóng quyết định mua.

    . Cung cấp bất động sản có chọn lọc: đỡ mất thời gian của hai bên và tránh làm rối trí khách hàng.

    • Giúp họ mặc cả giá ( trả giá bất động sản) với người bán.
    • Thích hợp nhất là tại văn phòng bất động sản: ngày nay thường họ uỷ quyền cho người Môi giới Có thể trả gía qua văn bản, qua thư…
    • Trả giá bằng văn bản cho người bán: người bán có thời gian suy nghĩ kỹ càng, khuyên người mua lên mang văn bản trả gía đó cho luật sư đề luật sư xem xét. Vì Môi giới không thể sâu rộng bằng luật sư. Luật sư có lời khuyên hữu ích.
    • Gía cả giao dịch vào khoảng 90 đến 93 % giá cả ban đầu (qua thống kê).
    • Trong tâm lý của người mua, người bán thường lấy mức trung bình của hai bên.
    • Dịch vụ hậu mãi,
    • Giúp khách hàng các thủ tục như điện thoại, nước, hộ khẩu…
      27  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giúp đỡ kỹ thuật: người mua thường thích thay đổi theo ý mình như thay

    đổi đồ đạc, nội thất

    • Giúp phát triển ý tưởng, tư vấn sử dụng; ví dụ nhà chật nên xin cấp phép mở rộng hay nên có thêm gác xép….
    • Quan tâm và tham hỏi đến khách hàng. Môi giới bán bất động sản.

    Bất động sản Nhà ở

    • Trước khi bán
    • Làm cho bất động sản tươi mới, ấm áp, gọi mời.
    • Tạo hình ảnh dễ nhận thấy, dễ nhớ.
    • Gửi trẻ nhỏ đi nơi khác.
    • Chuẩn bị giấy tờ pháp lý.
    • Cân nhắc những vấn đề sau:
    • Gía cả:
    • Thời gian: dự tính bán cho khách hàng.
    • Tình trạng kỹ thuật;
    • Sửa chữa: nhỏ hay lớn. khuyến cáo chủ sở hữu nên sửa chữa lớn hay nhỏ.
    • Đầu tư: nên đầu tư thêm cài gỉ?
    • Xem xét khu vực: khu vực tác động đến thay đổi bất động sản

    Dù đầu tư; thì giá bán tăng cao nhất từ 10 đêns 12 % giá ban đầu.

    • Chủ nhà tự sửa sang hay thuê thợ.
    • Những tính toán về kinh tế cho chủ sở hữu.
    • Giới thiệu căn nhà:
    • Nguyên tắc giới thiệu:

    . Nhấn mạnh mọi ưu điểm cña bÊt ®éng s¶n

    . Sắp xếp một chuyến du lịch nhỏ đi thăm că nhà như thế nào cho tiết kiệm thời gian.

    . Hãy để thời gian cho họ xem xét căn nhà.

      28  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    . Hãy hỏi họ về cảm giác nếu chưa vừa lòng thì taị sao? Không nên đưa quá nhiều câu hỏi.

    .    Không mặc cả ngôi nhà.

    .  Tỏ ra ngoan đạo thân thiện, đừng cố chấp hiếu thắng.

    .  Trả lời câu hỏi một cách chắc chắn để thấy am hiểu.

    .  Tỏ ra tôn trọng khách hàng.

    . Gợi mở ưu điểm của khuyết điêm khi khách hàng phát hiện ra nó.

    . Kiến thức: của khách hàng và kiễn thức của môi giới khác nhau -> giúp có hình ảnh đẹp trong mắt người mua.

    • Chỉ xem nhà sau khi đã hẹn rõ ràng. Để không bị động hi căn nhà chưa được chuẩn bị chu đáo.
    • Cất vật đắt tiền, vật nhọn vì nảy sinh phạm tội hay đề phòng tai nạn những

    vật sắt,      điện …

    • Phải có sự kiểm tra theo dõi họ một cách tế nhị nhưng đừng nôn nóng dục khách hàng mua.
    • Chỉ để một cửa ra vào để kiểm soát hành vi của khách hàng.
    • Phải cảnh gi¸c víi dụ: hỏi vấn đề bảo mật, lịch làm việc của chủ sở hữu -> không nên cho kh¸ch hàng biết nhiều hệ thống bảo mật, camera, b¸o động của

    căn nhà.

    • Mời kh¸ch hàng đến xem một lần nữ
    • Những đặc điểm cần chó ý khi tư vấn cho người bán.
    • Quan trọng nhất là sự gän ghÏ bỏ đi những thứ kh«ng cần thiết
    • Ấn tượng đầu tiªn rất quan trọng nhất là đối với nhà ở: nhiều người xem bên ngoài rồi mới vào bªn trong.
    • Sạch sẽ chỉnh trang
    • Nới rộng căn nhà: 2 yếu tố làm thước đo: thay đổi và diện tích sử dụng cho một căn nhà tăng diện tích bằng cách bỏ bớt đồ đạc, và dùng ánh sáng..
    • Sắp xếp đồ đạc lại
    • Bếp: gọn gàng, sach sẽ ,không có mùi…
      29  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nhà tắm, toa lét…..

    Bán nhà chung cư

    • Động cơ:

     

    • Cần tiền mặt, lợi nhuận, tình hình sức khoẻ, quan hệ đối tác, nhà quản lý, người chủ sở hữu di cư, chuyển đổi sang bất động sản khác, tuổi gìa, ly dị, do chết,
    • Quy trình phân tích
    • Phân tích đặc điểm của bất động sản: Vùng, tầng, …
    • Đánh giá mức giá có thể của căn hộ chung cư đó, chất lượng môi trường xung quanh, chất lượng của bất động sản có thể qua người thuê, người ở chung cư đó, -> khảo sát 3 đến 5 toà nhà xung quanh.
    • Xác định số lượng bất động sản trong tà nhà trong khu vực .
    • Xác định tuổi của bất động sản.
    • Xem xét bãi đỗ xe.
    • Kết cấu xây dựng: Nhà khung xây bằng vữa gạch hay bê tông.
    • Đặc điểm tiện nghi của căn hộ chung cư.
    • Chi phí để duy trì hoạt động của toà nhà.
    • Xác định thu nhập có thể của căn hộ

    Có thể đánh giá bằng hai cách:

    + Chấm điểm: Từ 1 đến 10

    +Theo 3 mức: Tốt, Trung bình, kém

    Bán bất động sản thương mại và công nghiệp

    • Đánh giá người mua: Xem xét tài chính, xem xét mục đích mua, tâm lý, xem xét yếu tố pháp lý:

    .Bất động sản đầu tư lớn

    • Sẽ tốn nhiều thời gian với các luật sư, kế toán, người quản lý bất động sản,…để giải quyết các sự kiện và con số

     

    • Người mua thường làm việc với các tư vấn chuyên nghiệp….
      30  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Phải xác định có những bất động sản, xảy ra tình trạng chuyên gia làm việc với chuyên gia.

     

    • Người mua thường là các tổ chức lớn, cá nhân giàu có -> tiếp cận người mua

     

    • các kênh khác.
    • Phải chuẩn bị một lượng tiền đáng kể vì chi phí bán cao.

     

    • Khi bán Bất động sản đầu tư lớn phải chú ý đến điều kiện kinh tế tổng hợp của địa phương, xác định thời điểm tối ưu để bán bất động sản. Vì có những Bất động sản chỉ nên bán theo mùa.

     

    Bất động sản chỉ dùng cho mục đích công nghiệp và thương mại

     

    • Phải tiến hành thanh tra Bất động sản.
    • Phải hoàn thành các mảng thông tin về Bất động sản, phải tiến hành chụp ảnh ở nhiều góc độ khác nhau.
    • Phải quảng cáo trên các tạp chí, vùng địa phương.
    • Thời gian, may mắn và lỗ lực makerting đúng hướng trong một giai đoạn dài sẽ mang nhiều thành công.

    Khu đất sử dụng cho mục đích thương mại và công nghiệp mà chưa có công trình

    • Cần khẳng định ngay những Bất động sản này chắc chắn sẽ bán.
    • Phải chú ý đến hạ tầng xung quanh.
    • Có thể yêu cầu chủ sở hữu cùng chịu chi phí trong việc bán với nhà mua

    giới.

    • Phải chú ý vẽ sơ đồ mảnh đất chụp ảnh không gian, địa hình, chi phí và thời gian lắp đặt tiện nghi.
    • Phải xem xét sử dụng trong quá khứ -> Để xác địng xem khả năng chất thải ra môi trường như thế nào?
    • Đặt ngay trên quảng cáo ở từng khu đất ngoài những cách quảng cáo khác.
    • Phải hướng đến nhóm đối tượng khách hàng có kinh phí quảng cáo trong thời gian dài.
      31  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xác định khách hàng là ai -> Quảng cáo trên tạp chí, truyền hình quốc gia chứ không chỉ trong tầm địa phương -> Chi phí cao, khả năng thu hút khách hàng lớn.

    Môi giới cho nhà đầu tư.

    • Hấp dẫn hơn Môi giới cho người sử dụng vì họ thoáng hơn và vòng quay nhanh: ngoài hoa hồng người Môi giới còn được % của lợi nhuận của nhà đầu tư vì Môi giới là người tư vấn cho họ sử dụng tiền mang lại lợi nhuận cho họ.
    • Nhưng đề Môi giới cho nhà đầu tư phải có mạng lưới khách hàng rộng, có độ tin cậy.

    Yêu cầu: Phải là người có kinh nghiệm lâu năm, có kiến thức sâu rộng và có uy tín.

    Có nhiều lợi ích khác nhau không thể hiện bằng tiền; giới thiệu khách hàng

    • Các dạng nhà đầu tư:
    • Để sử dụng: tránh lạm phát
    • Đầu tư ngắn hạn: thu nhập từ việc bán.
    • Đầu tư dài hạn: Tính mục tiêu đầu tư là có thu nhập thường xuyên làm vốn sống
    • Người cho vay để đầu tư bất động sản:
    • Môi giới cần :

     

    • Nhìn nhận khả năng tài chính của nhà đầu tư.
    • Dung hoà được mục đích của khách hàng với lợi thế của bất động sản.
    • Phải chuẩn bị rất kỹ để chuẩn bị giới thiệu cho khách hàng.
    • Phải chú trọng đến việc phân tích tài chính hơn là phân tích vật lý (khác người sử dụng).
    • Thu nhập ở các góc độ:
    • Thu nhập ròng trước khấu hao.
    • Thu nhập ròng sau khấu hao.
    • Thu nhập ròng trước thuế thu nhập.
    • Thu nhập ròng sau thuế thu nhập.
      32  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Thu nhật ròng trước, sau lãi vay.
    • Thu nhập vốn tăng thêm.
    • Tiền: VĐT tự có, vốn đầu tư ban đầu, khoản vay thế chấp, vốn tăng thêm, giá cả thị trường của bất động sản.

    Vậy với tỷ suất lợi nhuận = TN/Vốn có thể nói lên nhiều vấn đề khác nhau

    trong góc độ thu nhập và vốn khác nhau.

    *) Tính quay vòng

    • Nhà Môi giới giup nhà tăng lên (kinh nghiệm kiến

    đầu tư trong tất cả các khâu này => Hiệu quả đầu tư thức và thông tin).

    1. Kỹ năng soạn thảo hợp đồng.
    2. Mục đích dịch vụ môi giới

     

    • Là hợp đồng giữa nhà môi giới với khách hàng nhằm cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong hợp đồng nêu rõ: quyền lợi của nhà môi giới với khách hàng.

    1.1 Kỹ năng và yêu cầu

    • Hợp đồng dịch vụ môi giới là bản quy định phạm vi, trách nhiệm của nhà môi giới và khách hàng. Là minh chứng cho vị trí thống nhất cảu hai hay nhiều bên trong đó có các quy định thống nhất giữa các bên.
    • Các dạng hợp đồng.
    • Tự soạn thảo.
    • Tình huống: mua- bán; thuê –cho thuê.
    • Độc quyền: việt nam không có: chỉ nhà môi giới ký hợp đồng khách hàng mới được bán bất động sản
    • Người bán ký hợp đồng độc quyền.
    • Ký với người có uy tín, năng lực,
    • Phải tin tưởng vào nhà môi giới.
    • Chỉ trả tiền môi giới cho nhà môi
    • Yêu cầu:
    • Xem bất động sản.

    quan hệ rộng.

    giới mà mình ký hợp đồng dịch vụ.

      33  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Ai là người ký trực tiếp hợp đồng môi giới đó.
    • Tuân thủ những điều khoản của hợp đồng.
    • Thiết lập dưới dạng văn bản.
    • Ghi số thẻ.
    • Tiêu chuẩn đạo đức: không được cài những khoản hợp đồng không được phép.
    • Bảo hiểm nghề nghiệp cho người môi giới.
    • Bảo đảm lợi ích của bản thân.
    • Thống nhất với khách hàng nguyên tắc làm việc.
    • Giúp khách hàng hiểu được các đièu khoản của bản hợp đồng.
    • Phạm vi hoạt động: không có giới hạn
    • Nhà môi giới có quyền lựa chọn ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân.
    • Điều khoản:
    • Xác định rõ các bên tham gia.
    • Xác định các điều khoản làm hợp đồng trên vô hiệu.
    • Bảo đảm lợi ích cho xã hội.
    • Xác định quan hệ của khách hàng voíư quyền bất động sản.
    • Ghi giá bất động sản vào hợp đồng, nếu có sự thay đổi giá phải sửa toàn

    bộ,

    • Soạn thảo nguyên tắc thu phí hoa hồng.
    • Thông báo cho khách hàng là có thể người môi giới cho bên thứ 2 (người mua).
    • Cam kết sử dụng thông tin cá nhân cảu khách hàng ở mực độ nào.

    Cân nhắc cẩn thận giai đọan mà nhà môi giới cho là quan trọng nhất . Soạn thảo hợp đồng sao cho tất cả các bên công nhận.

    Lưu ý: Cân nhắc cẩn thận các quy định mà môi giới cho là quan trọng.

    1.2 Hợp đồng giao dịch

    Hợp đồng giữa người mua – bán.

      34  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nguyên tắc cơ bản: Điều gì không có trong hợp đồng thì nó không tồn tại (để tránh tranh cãi).
    • Nhà môi giới phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản sau khi làm hợp đồng.
    • Xác định thời gian và giá cả.
    • Xác định người bán và người mua: đảm bảo 100% người bán là chủ sở hữu ( khẳng định quyền sở hữu của người bán từ khi nào).
    • Xác định bất động sản bán: xác định rõ người mua, họ mua cái gì?
    • Xác nhận của người bán: người bán phải xác nhận rõ bất động sản hoàn toàn sạch, không bị vướng vấn đề pháp lý, không có lỗi về vật lý, không bị vướng vào nợ nần…
    • Xác nhận của người mua: người mua có đủ khả năng tài chính.
    • Giấy tờ: phải tận mắt nhìn thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở….
    • Xác định các thời hạn: thời hạn ký hợp đồng chính thức, giao nhà, hộ khẩu..
    • Chi trả
    • Xác định tiền đặt cọc và tiền trả trước:
    • Đối với nhà hoặc căn hộ mới: phải có các điều khoản sau:
    • Xác nhận quyền sử dụng đất của chủ đất: chủ đất có được quyết định giao đất hay không (quyết định gíao đất của cơ quan nhà nước).
    • Bảo đảm không có khoản nợ nào: bản thân căn hộ không chịu khoản nợ

    nào : ví dụ: góp vốn, các khoản thuế, vay thế chấp.

    • Xác định vị trí toà nhà có căn hộ bán: địa chỉ hoặc trên bản đồ.
    • Vị trí căn hộ: gần cầu thàng, đầu hồi…

    +Gía bất động sản ghi chính xác: ( Hiện nay có 2 cách chi trả áp dụng: theo tiến độ xây dựng, theo trái phiếu bất động sản).

    • Xác định thời hạn kết thúc xây dựng: cần chính xác (Vì hiện nay hầu hết các công ty không đúng thời hạn cam kết.)
      35  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xác định điều khoản phạt tiền khi chậm tiến độ (%), do huỷ hợp đồng (thường 5% giá trị hợp đồng).
    • Xác định ngày chính thức sang tên hợp đồng cho người mua – hợp đồng kinh tế.

    Hợp đồng góp vốn đến hợp đồng kinh tế: tính chất pháp lý cao, ngân hàng chấp nhận thế chấp để cho vay dù nhà chưa xây xong. Vì khi có hợp đồng kinh tế thì chắc chắn vay được tiền.

    • Ví dụ: Công ty sẽ chuyển quyền sở hữu căn hộ sau 3 tháng ngay sau khi công ty nhận được giấy giao đất -> rất mập mờ -> phải xác định rõ cụ thể:

    d. Kỹ năng thu thập thông tin.

    1. Thu thập thông tin về bất động sản

     

    • Thông tin
    • Ngay từ khi có ý định.
    • Xếp theo danh mục: về đất, về dự án, chủng loại (biệt thự, nhà liền kề, thổ cư…).
    • Cuối mỗi ngày ghi lại thông tin thu thập được.
    • Điều tra thực địa hoặc các cuộc nghiên cứu: đến tận nơi -> mang lại khách hàng tiềm năng.
    • Phải mua thông tin, số liệu của các tổ chức khác (sự đầu tư): phải cân nhắc có nên mua hay không? Có mang lại hiệu quả không?
    • Tham gia hội thảo về bất động sản hoặc thị trường bất động sản.
    • Trực tiếp xem xét:
    • Ghi chép cảu bản thân bức tranh toàn cảnh cua thị trường bất động sản, đánh giá giá trị của bất động sản.
    • Xác định tính cách của chủ sở hữu.
    • Đưa ra những câu hỏi cụ thể về bất động sản, đồng thời xem giấy tờ liên

    quan.

    • Để không rơi vào thế bị động khi người mua hỏi đã xem bất động sản

    chưa?.

      36  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Yêu cầu:
    • Xây dựng phong cách tiếp cận và xử lý vấn đề riêng.
    • Nền tảng kiến thức về tâm lý, năng lực ứng xử và giao tiếp.
    • Nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin.
    • Khéo léo đối thoại hướng chủ đề cần tìm hiểu.
    • Chú ý trong khi nói chuyện với nhà môi giới.
    • Cách nhìn thẳng và sâu vào mắt người đối thoại. Vì đây là cánh nhìn nhận thông tin thật hay giả.
    • Chú ý:
    • Đôi khi phải nhờ sự giúp đỡ của luật sư, hoặc các nhà địa chất
    • Nhất thân nhì quen – quan trọng trong thu thập thông tin – Xây dựng mối quan hệ.
    • Tìm hiểu các thông tin mang tính tâm linh.: phong thuỷ -> tìm hiểu qua hàng xóm.
    1. Thu thập thông tin từ khách hàng. – Khách hàng cần.

     

    • Những thông tin cơ bản: họ và tên .., ngày… tháng…
    • Khả năng tài chính: khă năng thanh toán đến đâu? thanh toán như thế nào?,,…..
    • Thương vụ liên quan.
    • Gíơi hạn về thời gian.
    • Liên lạc, cách thức liên lạc.
    • Xem xét bất động sản.
    • Trong khi nói chuyện với khách hàng, có sổ khi ghi chép thông tin chú ý về khách hàng.
    • Phải cập nhật thông tin bất động sản bán chưa.
    • Thông tin phản hồi cần nhiều thời gian và chú ý thông tin phản hồi này để đáp ứng nhu cầu tốt hơn của khách hàng.
    • Kỹ năng lựa chọn khách hàng cầu.
      37  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Hỏi khách hàng nếu hôm nay tìm được khách hàng thích hợp : Ông đã sẵn sàng ký ngay hợp đồng chưa -> biết ý định của khách hàng, xác định mức giá max, giới hạn địa điểm.
    • Không bao giờ đưa ra cùng một lúc trên 6 bất động sản để khách hàng lựa chọn. Không bao giờ đưa ra cái tiếp theo khi chưa hiểu vì sao không chọn cái đó.
    • Đưa ra nhiều câu hỏi, dựa trên những câu hỏi trước đó để tiếp tục đưa ra các câu hỏi tiếp theo, phải xem xét thái độ của khách hàng -> ghi chép ý kiến của khách hàng.
    • Mọi người thường không biết mình muốn gì? hay không hiểu những cái họ muốn -> cho họ nắm tốt vùng địa phương và mức độ giá cả.
    • Người mua không hiểu rõ quá trình mua và các tình huống có thể xảy ra và quá trình khả năng của thương vụ -> người môi giới giúp họ hiểu được.
    • Người mua thường dựa và hình thức chứ không đánh giá tiềm năng -> môi giới tư vấn cho họ tiềm năng phát triển của bất động sản.
    • Người mua thường phản ứng khác nhau, đối lập nhau -> phải số hoá người

    mua.

    • Người mua có xu hướng đến thăm bất động sản không báo trước cho môi giới -> giải pháp
    • Người mua rất hay gặp khó khăn trong việc đọc các điều khoản của hợp đồng. Môi giới giúp khách hàng.

    +Chỉ giành cho khách hàng thời gian hợp lý.

    • Biết cách lọc khách hàng tránh mất thời gian.
    • Chuẩn bị tinh thần cho khách hàng.
    • Phải thuyết phục khách hàng lý do tại sao họ cần sự giúp đỡ nhà môi giới chuyên nghiệp.
    • Giúp đỡ khách hàng chuẩn bị về mặt tài chính, xác định mốc thời gian.
      38  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giúp đỡ khách hàng đưa ra các quyết định : nên mua bất động sản như thế nào ? sống ở vùng nào?
    • Giúp đỡ khách hàng phát triển ý tưởng về bất động sản: ví dụ gần chợ: mở cửa hàng.. dựa trên sự thích thú của khách hàng phát triển ý tưởng được uy tín.
    • Thời gian đầu rất dài nhưng sau sẽ ngắn.
    1. Kỹ năng quản lý và xử lý thông tin.

     

    • Dữ liệu thô -> phân tích -> dữ liệu được xử lý -> sự suy luận diến giải.-> thông tin.
    • Sử dụng triệt để lợi thế tuyệt đối về thông tin.
    • Thông tin là nền tảng của suy luận loại trừ.
    • Là kiến thức được nhận thức.
    • Phân loại thông tin:
    • Thông tin về bất động sản: dự án, theo vùng, dạng bất động sản, công năng, theo mức giá trị.
    • Thông tin về khách hàng: khách hàng quá khứ, hiện taị, tiềm năng.
    • MLS: hệ thống thông tin đa chiều.
    • Theo thị trường: trong nước và quốc tế.
    • Quản lý thông tin:
    • Nguyên tắc bảo mật: Không tiết lộ thông tin của khách hàng, không sư dụng thông tin đó để thu lợi cho bản thân hoặc cho bên thứ ba. Trừ trường hợp khách hàng đồng ý công khai thông tin.
    • Nhà môi giới phải sử dụng triệt để thông tin: đặt pass, lưu trữ thông tin, yêu cầu nhân viên cam kết không đẻ lộ thông tin ra ngoài…

    e. Kỹ năng giao dịch với khách hàng.

    1. Giao dịch trực tiếp: gặp mặt

     

    • Tầm quan trọng của việc giao dich trực tiếp: cảm nhận về con người sau 30 phút gặp mặt
    • Trong vòng 30 phút phải thể hiện ưu điểm lớn của bản thân: lời nói, thân thể, hành động…
      39  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Ngôn ngữ thân thể: tự tin, nhận biết các dạng người khác nhau. Môi giới phải giữ 70 % thời gian đối thoại, nhìn thẳng mặt bằng ngôn ngữ Gây thiện cảm…
    • Lời nói: ánh mắt, nội dung nói cần phải cân nhắc
    • Quy tắc nắm bắt thông tin tốt từ khách hàng.
    • Khảo tra: thông tin của môi giới và thông tin của khách hàng
    1. Kỹ năng thư thoại:

    Thường xuyên gửi email.

    • Muốn truyền đạt điều gì với xã hội.
    • Nhấn mạnh vấn đề cơ bản để tập trung sự chú ý của người nhận.
    • Sử dụng những câu ngắn gọn và đơn giản.
    • Viết những câu khả quan và lạc quan. “viết những câu tránh…”
    • Tránh dùng những từ ngữ đặc trưng mà chỉ ai chuyên môn mới hiểu.
    • Thể hiện thế chủ động chứ không bị động.
    • Ví dụ: Tôi sẽ cố gắng hết sức….. thay vì “Nếu tôi…”
    1. Nghệ thuật thu hút khách hàng.

     

    • Nguồn cung khách hàng:
    • Quan hệ:
    • Sự quen biết cá nhân mang đế 33% khách hàng.
    • Sự khác biệt của công ty mang đến 20% khách hàng.
    • Sự chợt nhớ đến: 12%
    • Vị trí của văn phòng: 5%
    • Phương tiện:
    • Biển quảng cáo: 15%
    • Sự tiện lợi, thuận lợi: 6%
    • quảng cáo trên internet & báo chí: 9%
    • Thuyết phục khách hàng cã nhu cÇu muèn b¸n
    • Việc bán rất mất thời gian ,nên sử dụng dịch vụ của v¨n phßng m«i giíi

    B§S

      40  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nếu tự bán thì sẽ gặp những khó khăn về tài chính. Vì họ không biết mặc cả, lập hợp đồng & lập các mốc thời gian thanh toán đúng thời hạn đầy đủ.
    • Gặp khó khăn về mặt pháp lý.
    • Không biết quy trình thực hiện của những kỹ năng như kỹ năng để thực hiện các bước đó như thế nào?
    • Thu hút khách hàng mua.
    • Làm chủ được quá trình và thấu hiểu khách hàng.
    • Phải tìm hiểu rõ ràng nhu cầu của họ là gì.

    . Nhu cầu về vật chất: cảm giác về sự thuận tiện, thoải mái an toàn, riêng tư, bảo vệ sức khoẻ.

    . Nhu cầu về xã hội: ngoài thuận tiện cho bản thân phải đảm bảo điều kiện sống cho gia đình, con cái…

    . Thoả mãn bản thân: nhu cầu được xã hội thừa nhận, khả năng năng lực.

    . Nhu cầu về tâm linh: được thể hiện rõ khi 3 nhu cầu trên được đáp ứng sẽ đến nhu cầu tâm linh và nhu cầu này khó xác định nhất. Cách tiếp cận khác:

    . Nhu cầu thực tế: không khí trong lành rộng rãi.

    . Nhu cầu đầy đủ và đa dạng: không cần biết như thế nào chỉ cần đầy đủ và đa dạng.

    . Nhu cầu phi thực tế:

    . Những thú vui nho nhỏ: thích được ở gần hồ…

    • Bất động sản đó đáp ứng được yêu cầu của họ ( Tạo khách hàng cảm giác họ mua đúng nguồn, đúng người ) Để họ đắn đo suy nghĩ.
    • Thuyết phục và giá cả phải chăng:
    • Tạo cảm giác thoải mái cho khách hàng.
    • Chuẩn bị cho khách hàng về mặt tinh thần: vì mua hay bán đều liên quan đến khoản tiền lớn đều gây cảm xúc khác nhau.
    • Giúp khách hàng chuẩn bị về mặt tài chính.
      41  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giúp xác định mốc thời gian.
    • Giúp đưa ra quyết định.
    • Giúp phát triển ý tưởng về nơi họ sống.
    • Giải quyết tốt vấn đề này sẽ mang lại uy tín cao..
    • Kết luận:
    • Ổn định mối quan hệ cá nhân là quan trọng nhất đối với nhà Môi giới, mang lại lợi ích rất lớn về sau.
    • Chìa khóa trong vấn đề thu hút khách hàng là sự đầu tư chuyên sâu phù hợp. Nhà Môi giới phải thuyết phục được khách hàng? Nên sử dụng dịch vụ của họ và họ mới là người phù hợp.
    • Khả năng gợi mở nhu cầu dịch vụ cho khách hàng -> giúp thu hút khách hàng.

    f.                   Xây dựng nhà Môi giới chuyên nghiệp

    1. Quản lý bản thân. a). Đặc tính công việc.

     

    • Không bị quản lý chặt về thời gian
    • Linh hoạt cao: xử lý nhanh.
    • Không có cấp trên.
    • Thời gian của nhà Môi giới giành cho việc trao đổi, nói chuyện với khách hàng tiềm năng.
    • Để chuẩn bị thời gian trao đổi với khách hàng, soạn thảo quảng cáo và hợp đồng.
    • Cho các hoạt động nghề nghiệp khác: ví dụ: thời gian đi đên điểm hẹn, thời gian để viết thư, tham gia các cuộc họp nghề nghiệp, chuẩn bị sắp xếp tào liệu.
    • Giành thời gian cho công việc những thể loại mà không liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp; đi thăm thú khu đất mới…
    • Thời gian để xem xét các khách hàng trong ngày.
    • Công việc văn phòng.
      42  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Đọc qua báo chí và những thông tin liên quan đến thị trường bất động sản.
    • Đọc internet và mail.
    • Liên lạc với Môi giới khác để trao đổi các mối khác.
    • Sắp xếp tài liệu quảng cáo khách hàng thuê, mua.
    • Kiểm tra danh sách các cuộc điện thoại cần gọi.
    • Xem xét hồ sơ tài liệu, công việc đang thực hiện.
    • Kiểm tra các công việc đang thực hiện.
    • Gọi điện đến khách hàng tiềm năng.
    • Kiểm tra tính thời sự của thông tin quảng cáo.

    b). Quản lý thời gian

    • Thực địa:
    • Kiểm tra tại hiện trường về nguồn quảng cáo.
    • Nhà Môi giới phải đi đến các cuộc hẹn.
    • Làm việc với cơ quan nhà nước, công chứng, lấy giấy chứng nhận.
    • Tham khảo thăm các văn phòng khác.
    • Thời gian rỗi:
    • Kiểm tra các dự án mới trong khu vực hoạt động của mình.
    • Tham quan các địa điểm mới của thị trường bất động sản.
    • Xem xét các văn bản pháp luật mới có liên quan đến thị trường bất động

    sản.

    • Gọi điện cho khách hàng để thông báo tiến trình thương vụ.
    • Chuẩn bị các công việc cho ngày hôm sau.
    • Tham quan những địa điểm tiềm năng chưa được khai thác của thị trường và cơ sở dữ liệu kinh doanh, tràn trí nội thất, côngty.
    • Thêm vào danh sách các công ty kinh doanh bất động sản mới.
    • Gửi lời chúc sức khoẻ và cảm ơn tới khách hàng và thương vụ đã hoàn thành.
    • Phương pháp thực hiện:
      43  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xác định mục tiêu: là bước đầu tiên để quản lý thời gian một cách hiệu

    quả.

    • Nhà Môi giới phải có ý thức: kiểm soát từng phút trong ngày.
    • Lập thời gian biểu: là sức mạnh của nhà Môi giới phải có cách điều chỉnh thời gian biểu để hoạt động ngày hôm đó là nhanh nhất.
    • Phải liệt kê ra giấy: cần bao nhiêu thời gian cho việc cho việc tìm khách hàng mới?đi xem nhà?giải quyết hợp đồng ? đi công chứng?
    • Phải biết cách phân chia thời gian thích hợp: không phân chia theo kiểu phải tìm bằng được khách hàng mà instead “ ta có 4 tuần để tìm khách hàng”
    • Trả lời câu hỏi “người ta muốn gì?tại sao mua? Mua như thế nào? Đã có phương pháp làm việc tốt?.
    1. Chuyên nghiệp hoá công việc

     

    • Yêu cầu:
    • Để trở thành nhà Môi giới chuyên nghiệp đầu tiên phải có khả năng chịu đựng: sự ức chế, bức xúc… những việc này luôn luôn xảy ra khi tiếp xúc khách hàng phải biết chịu đựng, nhẫn nại. phải tìm được lối thoát khi xảy ra các tình trạng trên.
    • Phải biết cách đối xử, ứng xử với nhiều loại người khác nhau.
    • Phải rèn luyện tính kiên nhẫn, phải hoà đồng, đọc chính xác những tín hiệu của khách hàng, phải học cách chai lỳ trước những cái dễ làm tổn thương, phải học cách nhanh chóng đứng lên sau thất bại.

    +Phải có kỹ năng tạo bầu không khí thân thiện.

    • Liên tục rèn luyện thực hành tinh thần, khả năng nắm bắt tâm lý và rèn luyện thân thể.
    • Nguyên tắc: để cho các bên dễ đi đến thoả thuận.
    • Xác định thiện cảm ngay lần gặp đầu tiên.
    • Cố gắng thực hiện những lời đã hứa với khách hàng, thậm chí thực hiện nhiều hơn những lời đã hứa một cách tỉ mỉ và cẩn thận. Đồng thời thông báo thường xuyên tiến trình sự việc với khách hàng.
      44  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giải quyết các người Môi giới của fairplay”.

    công việc giữa các bên mua và bán theo hướng bạn là hai bên, cần xử công bằng với hai bên theo nguyên tắc “

    • Hình ảnh lý tưởng của nhà Môi giới chyên nghiệp.
    • Đi sâu vào nghiệp vụ chuyên môn: bắt buộc sự dấn thân của mình vào vòng quay của bất động sản là sự nghiệp chứ không phải là công việc để kiếm sống. Tính chuyên môn sâu và động lực nghề nghiệp sẽ liên hiệp các nhà Môi giới lại….
    • Sự kiên nhẫn: chân thành với khách hàng, biết lắng nghe kể cả không liên quan trực tiếp.
    • Trong quá trình giao tiếp quan hệ với khách hàng cần gây niềm hứng khởi cho khách hàng.
    • Tinh thần trách nhiệm:

    Nhận trách nhiệm về mình và có ý thức tỉnh táo thực hiện trách nhiệm đó. Nghề Môi giới không thích hợp với người thiếu năng lực, láu cá, không tôn

    trọng luật chơi

    • Tính chuyên nghiệp:
    • Chuyên môn nghề nghiệp cao; cần hiểu biết những ngõ ngách, vùng tối trong nghề nghiệp,biết cách xử lý những tình huống nhạy cảm.
    • Có khả năng soạn thảo hợp đồng khác nhau trên thị trường quốc gia và quốc tế
    • Đạo đức nghề nghiệp:
    • Người Môi giới làm việc dưới sức ép của dư luận xã hội, báo chí ->cần xác định.

    Không nên nghĩ rằng khách hàng biết tự bảo vệ mìh và pháp luật bảo vệ họ. Không nên nghĩ khách hàng phụ thuộc hoàn toàn vào Môi giới.

    • Phải tuyệt đối tuân theo đạo đức chung:
    • Độ tin cậy:
      45  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Thông tin: việc trao đổi thông tin giữa các nhà Môi giới là vấn đề cơ bản nhất. Ở Việt Nam vẫn là vùng trắng, cần hỗ trợ các cơ quan điều tra cỏ bản cung cấp thông tin cơ bản về thị trường bất động sản.
    • Năng lực: Có thông tin đầy đủ lĩnh vực liên quan, khả năng vận dụng vào thực tế, biết cách tư vấn…
    • Phong cách: nhanh nhẹn, phong cách riêng.
    • Sự nhanh nhẹn: công việc luôn yêu cầu sự nhanh nhẹn. di chuyển tranh thủ thời gian. Nhanh nhẹn cả về vật lý và tâm lý.
    • Luôn sẵn sàng phục vụ: hoạt động trong mọi hoàn cảnh, thời gian không phải của chính họ mà phụ thuộc và khách hàng.bản thân và gia đình phải chấp nhận.
    • Óc quan sát: Kết nối sự việc, có trí nhớ tốt, cần nhớ mặt họ tên sở thích của khách hàng.
    • Văn hoá cá nhân: Cần chứng tỏ là người có văn hoá cá nhân cao, thể hiện trong quan hệ với khách hàng, văn hoá ứng xử trong công việc
    • Diện mạo bên ngoài:
    • Ấn tượng đầu tiên: Khách hàng ngay đầu tiên đã để ý đến nhà Môi giới , khoảng 30 đến 60 giây đầu tiên có thể nhận diện mức độ trung thực , trình độ văn hoá, tính cách, công việc của họ có thuận lợi hay không.
    • Hình thức quan trọng hơn nội dung: ấn tượng đầu tiên tạo nên bởi hình thức 50 %, 38 % ngôn ngữ cơ thể, nội dung câu chuyện 7 %. đầu tư cho hình thức bên ngoài có thể làm tăng thu nhập cho nhà Môi giới
    • Con người của thành đạt: hình thức cũng thể hiện con người thành đạt – phải chứng tỏ thành công đối với khách hàng ngay cả khi thực tế ngựơc lại.
    • Vệ sinh cá nhân: thường xuyên phải tiếp xúc khách hàng phải giữ gìn vệ sinh tốt và vệ sinh văn phòng Môi giới.
    • Tôn trọng thời gian của khách hàng.
    • Ý nghĩa của kỹ thuật mới: người già không thích hợp, người trẻ năng động

    tiếp cận kỹ thuật mới: vi tính…

      46  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Điện thoại di động:
    • Tránh ra ý nghĩa tiêu cực: tránh gây tâm lý thất bại trong môi trường..
    • Quyết đoán và trung thực: cần quyết đoán và hành động theo nhóm.
    • Sự hài lòng về tiền bạc: cảm giác tự hào tiền thù lao xứng đáng
    • Tính hiểu biết về chu kỳ: Kinh doanh bất động sản có tính chu kỳ, có những lúc đóng băng, lúc “nóng”, nhà Môi giới cần nghỉ ngơi làm việc đúng lúc, không nên làm việc liên tục dẫn đến căng thẳng kiệt sức.

    VI. MARKETING BẤT ĐỘNG SẢN

    1. Chiến lược sản phẩm và dịch vụ

    – Đa dạng hoá hàng hoá

    –  Khác biệt hoá

     

    –  Đổi mới thiết kế

     

    – Xây dựng thương hiệu – Dịch vụ sau bán hàng – Doanh số.

     

    3.                 Chiến lược giá cả Bất động sản.

    • Gía cả là số tiền khách hàng phải trả cho khi mua hoặc sử dụng dịch vụ bất động sản.
    • Nội dung:
    • Lựa chọn chính sách giá và định giá.
    • Nghiên cứu chi phí sản xuất kinh doanh để định giá.
    • Nghiên cứu giá cả sản phẩm, dịch vụ Bất động sản cùng loại trên thị trưòng.
    • Nghiên cứu cung cầu, sức mua, thị hiếu của khách hàng để có những quyết định về giá cả.
    • Chính sách bù lỗ hợp lý
      47  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Điều chỉnh giá theo sự biến động của thị trường.

    3. Chiến lược phân phối

    – Là quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ bằng hai dạng: phân phối trực tiếp và qua các kênh phân phối.

    –  Nội dung:

    • Thiết kế và lựa chọn kênh phân phối.
    • Thiết kế mạng lưới phân phối.
    • Xác định lượng dự trữ Bất động sản.
    • Tổ chức hoạt động bán hàng.
    • Các dịch vụ sau bán hàng: pháp lý, bảo dưỡng, bảo hành…
    • Trả lương cho nhân viên bán hàng.
    • Trưng bày giới thiệu hàng hoá.

    4. Yểm trợ bán hàng.

    • Là tập hợp những hoạt động mang tính thị trường nhằm gây ấn tượng đối với người mua.
    • Được thực hiện thông qua các hình thức: quảng cáo, chào hàng, triển lãm, tuyên truyền, cổ động, quan hệ quần chúng, khuyến mãi…

    4.                 Các nhân tố ảnh hưởng đến Marketing Bất động sản.

     

    1. Uy tín và thương hiệu
    1. Tình huống thị trường.
    1. Vòng đời sản phẩm
    1. Tính chất Bất động sản và dịch vụ.

    VII. Kü n¨ng giao tiÕp vμ ®μm ph¸n trong giao dÞch bÊt

    ®éng s¶n

    1. GIAO TIẾP TRONG KINH DOANH.
    1. Khái niệm về giao tiếp trong kinh doanh

    –    Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa người với người nhằm mục đích nào đó.

      48  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giao tiếp trong kinh doanh là sự tiếp xúc giữa những người kinh doanh (lãnh đạo, cán bộ nhân viên…), đối tác với khách hàng, với những người liên quan

    nhằm phục vụ mục đích kinh doanh.

    1. Đặc điểm của giao tiếp trong kinh doanh.
    • Giao tiếp phản ánh mối quan hệ xã hội: quan hệ giữa người với người trong xã hội.
    • Giao tiếp nhằm thu thập, chuyển tải, trao đổi thông tin.
    • Giao tiếp là một quá trình bày tỏ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc và ý chí giữa các cá thể giao tiếp.
    • Mục đích của giao tiếp trong kinh doanh là nhằm phục vụ kinh doanh, nêu lý do quan trọng trong các thông tin giao tiếp.
    1. Các phương tịên giao tiếp Phương tiện phi ngôn ngữ

    –  Những tín hiệu phi ngôn ngữ

     

    • Giọng nói.
    • Nụ cười, khuôn mặt, ánh mắt.
    • Qua sự vận động của cơ thể.
    • Vận động của đầu.
    • Vận động của tay.
    • Tư thế.
    • Trang phục.
    • Không gian giao tiếp.

    Phương tiện ngôn ngữ

    • Lời nói.
    • Ngôn ngữ

    Trong giao tiếp cần chú ý kết hợp cả chức năng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.

      49  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    B.TỔNG QUAN VỀ ĐÀM PHÁN

    1. Bản chất
    • Là một hình thức giao tiếp để tạo ra thoả thuận giữa các bên về một vấn đề nào đó mà các bên quan tâm.
    • Đàm phán là một hành vi và qúa trình trong đó các bên trao đổi, thảo luận, 0có một mối quan tâm chung và có những điểm bất đồng. Qua trao đổi thoả thuận để đi đến thoả thuận thống nhất.
    • Đàm phán kinh doanh Bất động sản là sự thoả thuận giữa các bên nhằm tạo sự thống nhất về quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch kinh doanh.
    1. Các kiểu đàm phán.
    1. Dựa trên kết quả của đàm phán.
    • Nếu chỉ có hai bên các kết quả có thể đạt được (thành công). + Có người thắng, người thua.

    + Cả hai bên cùng thua. + Cả hai bên cùng thắng.

    Không phải mọi cuộc đàm phán là một cuộc chiến, do vậy mục tiêu các bên không phải là tiêu diệt đối tác.

    Dựa trên kết quả trên

    • Thắng – thua: nên đàm phán như một trận chiến, chỉ một bên thắng (đạt đựơc mục đích.
    • Thua – thua: Không đạt được kết quả cho cả hai bên, mà còn mất thời gian chi phí.
    • Thắng – thắng: Các bên cùng quan tâm lợi ích của nhau với tinh thấn hợp tác và đều thu được lợi ích. Đây là kiểu đaà phán thành công nhất.
    1. Theo phong cách và mô hình. Kiểu “ mặc cả lập trường”.

     

    – Đàm phán kiểu mềm: Tránh xung đột, dễ dàng nhượng bộ, coi trọng quan hệ, coi đối tác như là bạn bè.

      50  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Đàm phán kiểu cứng: Đối tác đưa ra lập trường cứng rắn, ép đối phương phải nhượng bộ.
      • Tuỳ theo đối tác và hoàn cảnh đàm phán mà áp dụng kiểu đàm phán.
    • Với những đối tác mạnh ta nên áp dụng kiểu đàm phán cứng.
    • Đàm phán kiểu nguyên tắc:
    • Nguyên tắc 1: Đừng bám vào lập trường mà hãy tìm hiểu lợi ích thực sự của nhau.
    • Nguyên tắc 2: Hãy đưa ra nhiều phương án thay thế khác nhau.
    • Nguyên tắc 3: Hãy cứng về lợi ích, mèm về quan hệ.
    • Nguyên tắc 4: Có TCKQ để chứng minh các yêu cầu.
    1. QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN

     

    1. Chuẩn bị đàm phán

     

    1. Chuẩn bị ngôn ngữ đàm phán b. Chuẩn bị thông tin đàm phán

     

    –  Thông tin về hàng hoá dịch vụ giao dịch.

     

    – Thông tin thị trường: thông tin cung, cầu, giá cả của thị trường có liên quan đến loại hàng hoá đó để so sánh, nắm bắt xu hướng.

    – Thông tin về đối tác: tư cách pháp nhân, tiềm lực kinh tế, tài chính, uy tín, hệ thống bộ máy quản lý, người lãnh đạo…

     

    – Thông tin về đàm phán: sơ lược về tiểu sử: giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, quá khứ, hiện taị, gia đình, thu nhập, năng lực phẩm chất…

    1. Chuẩn bị năng lực đàm phán
    • Tổ chức đoàn đàm phán: thành phần, cơ cấu.
    • Lựa chọn chuyên gia, người trong đoàn đàm phán về tri thức, kinh nghiệm, phẩm chất, kỹ năng đàm phán và các phương tịên kỹ thuật hỗ trợ.
    1. Chuẩn bị thời gian và địa điểm đàm phán.
    • Cần chú ý đến “điểm chết” – là thời hạn cuối cùng của để cuộc đàm phán đi đến kết quả.
      51  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Địa điểm tốt nhất là “sân nhà” – là nơi chuẩn bị được tài liệu và số liệu nhanh nhất. Nếu không chọn được sân nhà thì cuộc đàm phán nên chọn “sân trung gian”.
    • Vị trí đàm phán:
    1. Thiết lập mục tiêu đàm phán
    • Chỉ rõ mục tiêu cần đạt được: mục tiêu tối đa, mục tiêu tối thiểu cần hướng

    tới.

    • Xác định giới hạn của sự thoả thuận: giới hạn cuối cùng giải pháp tốt nhất của các bên khi không đạt được sự thoả thuận.
    1. Đánh giá lại đối tác và điểm mạnh điểm yếu của mình.
    1. Lập phương án kinh doanh.
    1. Xác định chiến lược đàm phán và đàm phán thử.
    1. Qúa trình đàm phán: Mở đầu đàm phán.

    –  Chào hỏi, giới thiệu các thành phần trong đoàn

    – Bên yêu cầu, đưa ra đề nghị đàm phánthì bên đó sẽ mở đầu cuộc đàm phán. – Có rất nhiều kỹ năng mở đầu

    +  Tạo tiếng cười vui vẻ.

    + Bằng một câu chuyện liên quan đến vấn đề dàm phán: Bằng một thí dụ, một đoạn sách báo có sẵn.

    + Bằng lời khen ngợi có thiện cảm -> cách này dễ bị người khác “nắn mình”, tuy nhiên nên chuẩn bị bằng lời không khen không chê.

    1. Lắng nghe

    –  Để lĩnh hội toàn bộ thông tin mà đối tác truyền đạt.

    – Là sự thể hiện tôn trọng đối phương, thoả mãn nhu cầu tự trọng của đối phương, để biết đối phương đã thực sự hiểu lời nói chủ đích của ta hay chưa, đồng thời biết được bối cảnh thời gian, quyền lợi và nhu cầu của đối phương để đưa ra những quyết định có lợi nhất.

      52  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Lắng nghe phải có chủ đích, tập trung vào những vấn đề trọng yếu nhất. Vừa nghe vừa tìm hiểu, thăm dò, quan sát… đối phương. -. Tích hội những thông điệp cần thiết nhất.
    1. Nghệ thuật đặt câu hỏi.
    • Câu hỏi đóng: Không cho người khác sang tạo thêm mà chỉ để cho họ lựa chọn phương án.
    • Câu hỏi mở: Cho phép người trả lời tự do theo suy nghĩ của họ.
    • Câu hỏi gián tiếp
    • Câu hỏi nhằm chuyển chủ đề.
    • Câu hỏi thăm dò ý kiến người khác.
    • Câu hỏi có định hướng: Đưa ra hướng trả lời câu hỏi cho đối tác.
    • Câu hỏi không định hướng: Để tìm ra những suy nghĩ mới của đối tác.
    • Câu hỏi trình bày thông tin.
    • Câu hỏi kết thúc suy nghĩ.
    • Câu hỏi khuyến khích được ra quyết định..
    • Câu hỏi mập mờ:
    • Câu hỏi dẫn dắt: mang tính định hướng.
    • Câu hỏi tu từ: Kỹ thuật vận dụng ngôn từ.
    • Câu hỏi thật: đi thẳng vào vấn đề.
    • Câu hỏi kết luận: Rút ngắn cuộc đàm phán.
    1. Trả lời câu hỏi:
    • Trong trường hợp bình thường: phải tuân thủ nguyên tắc: chính xác, đầy đủ kịp thời.
    • Cần chú ý: Không nên hấp tấp, vội vàng, để có thời gian suy nghĩ.
    • Khi chưa rõ câu hỏi phải yêu cầu đối tác nói rõ lại câu hỏi.
    • Hiểu câu hỏi nhưng chưa rõ câu trả lời, cần bình tĩnh kéo dài thời gian trả

    lời.

    • Chỉ trả lời những gì mà đối phương hỏi.
      53  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Âm lượng vừa nghe rõ rang, lưu loát, dứt khoát.
    • Những câu trả lời có kèm theo chứng cứ, số liệu thực tế thường có sức thuyết phục.
    • Trả lời câu hỏi khi bế tắc.

    . Kéo dài thời gian bằng việc không trả lời ngay, lái câu chuyện sang hướng khác hoặc trả lời vòng vo.

    .     Trả lời mập mờ, chung chung.

    .       Đặt lại câu hỏi đó với chính người trả lời.

    .     Có thể đánh trống lảng hoặc trả lời phần không quan trọng của câu hỏi.

    1. Đặt giá và trả giá. – Chú ý khi đặt giá

    + Nếu uy tín hàng hóa cao, khan hiếm trên thị trường lên đặt giá cao hơn giá thị trường 15 đến 20 %.

    + Nếu uy tín hàng hoá, khan hiếm không cao, nên đặt giá cao hơn khoảng từ 10 đến 15 %.

     

    +  Uy tín thấp, khan hiếm thấp, đặt giá cao 5 đến 10 %.

     

    + Không có uy tín, cung lớn hơn cầu -> Đặt đúng giá bán. – Phương pháp trả giá

    + Nếu người bán đặt giá cao, ta tìm cách trả thấp: tìm những điểm bắt bí buộc họ phải hạ giá.

     

    +  Nếu đối tác đặt sát giá -> Ta nên đặt sát giá.

     

    1. Khắc phục bế tắc trong đàm phán.
    • Khi đàm phán bị bế tắc cần tỉnh táo phân tích sự việc, nhìn lại mình và đối tác. Xem mục tiêu của các bên và tính hợp lý của chúng, xem quan điểm, lập trường, tình cảm, tình huống, ngoại cảnh… nó ảnh hưởng đến việc đàm phán bí tắc, từ đó tìm hướng giải quyết. Nếu vẫn bí tắc có thể sử dụng một trong các cách sau.

    + Thống nhất lại những vấn đề đã đạt được, gác lại hoặc gạt bỏ những vấn đề bất đồng.

      54  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Chọn giải pháp đường vòng: giải quyết những vấn đề có thể thống nhất được trước, sau đó còn lại mới vào vấn đề bế tắc
    • Tạm thời đình chỉ đàm phán để có thời gian cùng suy nghĩ, và dự kiến tái đàm phán vào dịp sau đó.
    1. Kết thúc đàm phán.

    – Thống nhất khẳng định những vấn đề đã thoả thuận. – Chuẩn bị sãn sang hợp đồng ký kết.

    D.MỘT SỐ LƯU Ý KHI ĐÀM PHÁN

    1. Kiểm soát tiến độ đàm phán.
    • Sử dụng thời gian, thời hạn đàm phán hợp lý, biết cách trì hoãn , gây trở ngại nếu nó có lợi cho mình.
    • Không để đối phương đưa cuộc đàm phán diễn ra quá nhanh hay điều khiển hoặc cuốn hút mình.
    • Nếu đối phương muốn chậm tiến độ, cần hiểu rõ nguyên nhân và gây sức ép.
    • Cách kiểm soát tốc độ:
    • Không nên chấp nhận một lời đề nghị nào đó ngay
    • Chưa nên quyết định ngay
    • Không đàm phán nhanh.
    1. Khai thác yếu tố con người.
    • Tranh thủ tối đa quan hệ tình cảm, tâm lý.
    • Luôn tỏ ra mình có ưu thế và đánh vào long tham, tính ích kỷ của đối phương.
    • Nên đưa ra nhiều tình huống quyết định. Do đó phải biết chia nhỏ mục tiêu.
    • Tạo vẻ chính thắng vớí chứng cứ (chứng cứ đôi khi có thể là giả).
    • Phải có mục đích cao và nhẫn nại.
    • Im lặng là vàng.
    • Ai cũng thích được tặng quà -> chú ý đến khuyến mại.
    • Nhớ một nguyên lý: “ông rút chân bà thò nậm rượu” -> Hai bên cùng có lợi.
      55  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nên đưa ra phương án đơn giản để đối phương lựa chọn.
    1. Xây dựng các giải pháp linh hoạt và chủ động.
    • Xác định mục tiêu chính của đàm phán từ nhiều góc độ.
    • Biết cân nhắc lợi ích lâu dài với hạn chế trước mắt.
    • Phải linh hoạt với nhiều mức độ khác nhau.
    • Đôi lúc phải biết giả thua.
    • Phải phân biệt những vấn đề nhỏ với vấn đề lớn, sẵn sàng linh hoạt nhân nhượng vấn đề nhỏ, nhưng đòi hỏi đối phương nhân nhượng vấn đề lớn
    • Phải biết giả thua: đưa ra yêu cầu cao, đối phương đòi nhân nhượng. Ta giảm yêu cầu tuy nhiên vẫn là người đạt được mục tiêu.
    1. Chú ý tính kỹ thuật tính kế hoạch.
    • Lường trước những câu trả lời, vấn đề cơ bản cần phải phản ứng, và những phương án mang tính nhượng bộ cho đối phương.
    • Lường trước cách trình bày: đảm bảo tính thuyết phục và côn bằng, tài liệu và tư liệu là bí quyết để hỗ trợ cho đàm phán mang tính chính thống.
    • Quan tâm tới sổ đàm phán: sổ ghi chép những thông tin tình tiết, nhượng bộ trong đàm phán.
    • Chú ý chiến lược trong đàm phán.
    • Phải thể hiện mình là người có quyết tâm nhất, trả giá cao nhất.
    • Vừa đấm, vừa xoa.
    • Người nói nhiều, người nói ít phải phân định rõ ràng.
    1. Một số tình huống đặc biệt.
    1. Chiến thuật và biện pháp đàm phán.
    • Có thể doạ nạt, kích động để lọc ra những cơ hội mới.
    • Phải kiên nhẫn, không nên sớm nhượng bộ, cũng không nên căng thẳng quá.
    • Cố gắng chèo kéo thêm (tiểu xảo xin thêm).
    • Ngôn ngữ đàm phán cần để hướng mở cho lần sau.
    • Phải cộng lại chiến thuật: “ Chỉ có một sự lựa chọn”.
      56  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Đàm phán với người khó làm việc.
    • Với người thích doạ nạt: không cần căng thẳng, cần giữ vững lập trường không bị áp đảo trước lời doạ nạt của đối phương.

    +  Không nhất thiết phải đối đầu hãy mềm dẻo.

    +  Thận trọng để không bị sai lầm, tranh thủ sự mất cảnh giác của đối phương.

    1. Với những người huyênh hoang: Cần đến sự giúp đỡ của đối phương: để họ tự đánh giá.
    1. Những người thiếu quyết đoán: – Phải từ từ và nhẫn nại.

     

    – Hãy tâng bốc họ trước đồng nghiệp của họ -> làm họ mất cảnh giác. – Phải hạn chế nhượng bộ, phải quyết liệt.

     

    – Ví dụ: Nên hỏi: Trong bao phương án, tôi chọn phương án này ông có đồng ý không ? Không nên hỏi để họ lựa chọn.

    –   Cương quyết khi cần thiết: Khi cứng rắn cần chú ý:

     

    + Thể hiện rõ quan điểm, không giải thích, nhượng bộ phải chăng, đặt mục tiêu cao.

     

    + Những điều nên làm: Phải tin vào sự mach bảo của trực giác: khi tiếp xúc quan sát nảy sinh về độ tin cậy.

    +  Hãy thương lượng theo kiểu của mình.

     

    + Không để lộ điểm yếu, không để cố vấn nói nhiều, tỉnh táo trước những tình huống giả.

    MỘT SỐ TIỂU XẢO TRONG ĐÀM PHÁN

    1. Tiểu xảo chê bai: Bám vào cái hạn chế để chê bai.
    1. Tiểu xảo vờ bỏ đi: Vờ bỏ đi để khách hàng quay lại
    1. Tiểu xảo ăn vạ: Dựac vào một cớ nào đó để ăn vạ.
    1. Tiểu xảo cạnh tranh công kênh:Dùng giá của đối tác thứ 3, 4 nào đó để làm hạ giá đối phương, tạo cú huých
    2. Tiểu xảo “hỏi ý kiến cấp trên”
      57  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Tiểu xảo xin thêm.
    1. Tiểu xảo cưa đôi chênh lệch
    1. Tiểu xảo siết ốc.
    1. Tiểu xảo liên tưởng
    1. Tiểu xảo đưa ra bằng chứng về số liệu thống kê.
    1. Tiểu xảo đưa ra các thông lệ.
    1. Tiểu xảo bắt chẹt
    1. Chiến lược chia cắt đối phương để chinh phục.
    1. Tiểu xảo “gây nóng giận”
    1. Tiểu xảo đẩy vấn đề vào việc đã rồi.
    1. Tiểu xảo “mời đối tác tham quan công ty cảu mình”.
    1. Tiểu xảo vừa đàm phán vừa đánh.
    1. Tiểu xảo đánh trống lảng khi bị chất vấn.
    1. Tiểu xảo bong bàn.
    1. Tiểu xảo câu giờ.

    VIII.  Tổ chức và quản lý văn phòng môi giới bất động sản

    1. Xác định chiến lược hoạt động. – Tìm hiểu khách hàng tiềm năng. – Đối thủ cạnh tranh.

    –  Gía cả

     

    – Xác định các hoạt động marketing: xác định phương pháp quảng cáo, xúc tiến bán hàng.

     

    –  Loại hình doanh nghiệp; kinh doanh cá thể, doanh nghiệp thương mại….

     

    • dựa trên khả năng tài chính.
    • Trình độ quản lý của người sáng lập.
    • Xác định được năng lực kiểm soát.
    • Trách nhiệm đối với tài sản.
      58  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    2/ ChuÈn bÞ cho v¨n phßng m«i giíi ra ®ời

    1. Hình thành văn phòng Môi giới.
    1. Chọn vị trí văn phòng Môi giới.
    1. Trang bị cho văn phòng; không cần đòi hỏi nhiều về trang bị.
    1. Thông tin quảng cáo cho văn phòng
    • Tên văn phòng.
    • Chương trình quảng cáo phù hợp. Vấn đề nhân sự: số lượng, cơ cấu.
    • Chọn nhân viên có năng lực để: tăng cao chất lượng cho khách hàng, tăng chất lượng sống cho người Môi giới.
    • Các dạng nhân viên

    . Điều phối viên và niêm yết (MLS)

    . Nhân viên về thế chấp.

    . Điều phối viên thực địa.

    . Nhân viên tìm kiếm khách hàng.

    • Cơ sở bố trí nhân viên và tìm kiếm nhân viên
    • Lên danh sách trách nhiệm của từng bộ phận. Liệt kê công việc của từng bộ phận phải làm.
    • Xác định cần bao nhiêu người trong từng bộ phận?có trình độ chuyên môn? Tính cách như thế nào?.
    • Xem xét trách nhiệm công việc của từng người để tìm ra mức hợp lý.
    • Khi chọn nhân sự cần chú ý:
    • Chọn đúng người và đặt đúng chỗ.
    • Gây dựng lòng tin.
    • Tạo được hình ảnh, sự kính trọng của nhân viên bằng sự chân thành dựa vào tài năng và đạp đức nghề nghiệp.
    • Phải công bằng khích lệ nhân viên -> tạo sức mạnh đoàn kết.
    • Dựa vào tài đức của nhân viên hơn là sự thân quen.
      59  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    3/ Quản lý văn phòng Môi giới.

    • Ba công việc mà nhà Môi giới phải đảm nhiệm:
    • Vạch mục tiêu và khách hàng kinh doanh.
    • Tổ chức và lãnh đạo thực hiện công việc.
    • Đánh giá và động viên nhân viên văn phòng.

    Lập kế hoạch hoạt động :

    • Xem xét một số vấn đề cơ bản sau:
    • Số lượng thương vụ bao nhiêu để đạt mức lợi nhuận mong muốn.
    • Xem chương trình quảng cáo như thế nào?
    • Cần làm gì để đạt mức bán theo yêu cầu đó.
    • Kế hoạch ngân sách hoạt động cho văn phòng gồm:
    • Quảng cáo.
    • Chi phí liên quan.
    • Chi phí bưu phẩm, điện thoại.
    • Tiền lương nhân viên.
    • Chi phí điện nước.
    • Chi phí bảo hiểm.
    • Khấu hao trang thiết bị văn phòng.
    • Tiền thuê văn phòng.
    • Thuế thu nhập.
    • Chi phí khác.

    -Quản trị tài chính.

    -Quản trị nhân sự.

    • Lập khách hàng nhân sự.
    • Tuyển nhân viên:
    • Xác định năng lực chuyên môn của nhân viên.
    • Động cơ của nhân viên: cách kiểm tra, trắc nghiệm, viết, phỏng vấn.
    • Hình thức đào tạo của nhân viên trước kia.
      60  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Thời gian thử việc của nhân viên.
    • Lựa chọn người quản lý văn phòng: có năng lực tổ chức…
    • Đào tạo nhân viên
    • Đánh giá mức độ hoàn thành công việc của nhân viên.
    • Đưa ra mức lương thưởng hợp lý.
    • Trả lương dựa trên đóng góp cho doanh nghiệp.
    • Gĩư được tính cạnh tranh trên thị trường.
    • Đảm bảo sự công bằng trong đóng góp và hưởng thụ.
    • Mức lương đó phải động viên được nhân viên.
    • Phảo phù hợp với đièu kiện tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của văn phòng.
    • Chính sách trả lương theo phần cứng và phần mềm.
    • Lợi nhuận/tổng doanh thu : Mức độ lợi nhuận so với khách hàng từng giai đoạn để từ đó có biện pháp phù hợp.
    • Lợi nhuận/ lao động: cho phép ngừô quản lý đánh giá năng suất lao động của các nhân viên giữa các thời kỳ trong năm hoặc so sánh với cùng kỳ trước.
    • Lợi nhuận/ mỗi giao dịch: -> Tìm quy mô giao dịch -> Tìm kiếm các giao dịch lớn và bố trí giao nhiệm vụ cho từng nhân viên phù hợp với năng lực của từng nhân viên.
      61  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-chuy%E1%BB%83n-gi%C3%A1-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Lời mở đầu

    Thực hiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thời gian qua các công ty đa quốc gia đã góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế và góp phần thu ngắn khoảng cách giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực thì mục tiêu của các tập đoàn kinh tế này vẫn là tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc hình thành mối quan hệ giữa các công ty mẹ và công ty con, giữa các công ty con với nhau và định giá chuyển giao là chính sách được hầu hết các công ty đa quốc gia sử dụng. Các công ty đa quốc gia sẽ thực hiện mọi biện pháp để làm sao cho giá trị thu về công ty mẹ có lợi nhất. Và việc dựa vào những yếu điểm của các nước tiếp nhận đầu tư, các tập đòan đa quốc gia đã thực hiện các phương pháp chuyển giá nhằm tối đa hóa lợi nhuận đạt được và tối thiểu hóa số thuế phải nộp của mình.

    Hiện nay, thực trạng này đang diễn ra tại Việt Nam, và chính phủ Việt Nam đang phải đối đầu với việc trốn thuế của các tập đoàn đa quốc gia, ngoài ra việc chuyển giá cũng trực tiếp làm thiệt hại cho phía Việt Nam trong liên doanh. Chính vì tính chất quan trọng của vấn đề này, nhóm 11 đã cố gắng thu thập số liệu về thực trạng chuyển giá trong các Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến việc chuyển giá để từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong việc tìm hiểu và phân tích trong đề tài, nhưng do thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế nhóm chỉ đề cập một số vấn đề mang tính chất tổng thể.

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn cô PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa đã truyền đạt những kiến thức quý báu giúp chúng tôi hoàn thành tiểu luận này. Với lượng kiến thức hạn chế sẽ còn gặp nhiều thiếu sót, nhóm tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô để bài viết sau hoàn chỉnh hơn.

    Trân trọng.

     

    1. Hồ Chí Minh, tháng 03/2008

     

    Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO VÀ CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

    1. 1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài & hoạt động của công ty đa quốc gia

    1. 1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc tế mà người chủ vốn sỡ hữu sẽ đứng ra trực tiếp quản lý điều hành sử dụng nguồn vốn đầu tư này. Trong các chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thì các công ty đa quốc gia chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó mới tới đầu tư trực tiếp nước ngoài thuộc về các chính phủ và tổ chức quốc tế khác. Hiện nay FDI được xem là một giải pháp hỗ trợ vốn cho các nước nghèo, và là thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế kinh tế hiện đại. FDI không những được sử dụng như một hình thức hợp tác kinh tế mà còn được xem như là phương tiện quyết định cho sự phát triển của kinh tế thế giới.

    Khác với các loại hình đầu tư khác, FDI có các đặc trưng:

    FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà bên cạnh đó còn có cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyết công nghệ, năng lực Marketing, kinh nghiệm quản lý… thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ.

    Việc tiếp nhận FDI tạo điều kiện để phát huy tiềm năng kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. Các công ty đa quốc gia thường đạt tới một giai đoạn mà sự phát triển hạn chế tại nước của họ, sản phẩm bán ra giảm một cách đáng kể. Nguyên nhân của vấn đề này có thể là do sự cạnh mạnh mẽ từ các nhà sản xuất khác hay do sự thay đổi thị hiếu của con người. Như vậy việc đầu tư sản xuất ra nước ngoài là giải pháp khả thi.

    Sử dụng nguyên liệu nước ngoài rẻ tiền thay vì nhập khẩu nguồn nguyên liệu với chi phí cao hơn rất nhiều lần, những nước chủ nhà có lực lượng lao động dồi dào, nguồn la động rẻ, lao động có tay nghề.

    FDI góp phần giải quyết công ăn việc làm, đẩy lùi nạn thất nghiệp và nâng cao đời sống của người dân.

    FDI góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế mà nguồn vốn trong nước của các quốc gia đang pháp triển không đủ khả năng cung ứng.

    FDI biểu hiện qua các hình thức:

    100% vốn thành lập doanh nghiệp mới: đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp toàn

    hoàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

    Tham gia các hợp đồng kinh doanh: đây là hợp đồng ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước tiếp nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nghiệm và phân phối kết quả hoạt động kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân nào mới.

    Mua lại một phần hay toàn bộ doanh nghiệp của nước chủ nhà đang hoạt động.

    Góp vốn liên doanh liên kết với nước chủ nhà: các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.

    Xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT) và các hinh thức tương tự khác BTO, BT…

    là một loại hình đầu tư được nhà nước sử dụng để khuyến khích xây dựng các công trình hạ tầng như: cầu, đường, bến cảng, công trình cung cấp năng lượng… trong khi nhà nước có khó khăn về nguồn tài chính. Trong hình thức BOT nhà đầu tư tự bỏ vốn, kỹ thuật để xây

    dựng công trình, tự khai thác kinh doanh công trình trong một thời gian nhất định để thu hồi và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển cho nhà nước.

    1. 2 Công ty đa quốc gia và nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong các MNC

    Khái niệm, vai trò của các MNC trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Chủ thể của FDI là các công ty đa quốc gia

    Liên hợp quốc định nghĩa: “MNC là một công ty tổ chức và kiểm soát sản xuất và các hoạt động liên quan tại hai quốc gia trở lên”. . Hay nói cụ thể hơn, MNC là hãng rất lớn có trụ sở chính (Công ty mẹ) ở môt quốc gia và một số chi nhánh (Công ty con) ở các quốc gia khác. Hoạt động sản xuất quốc tế của các MNC ám chỉ khả năng lập kế hoạch và kiểm soát sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau theo các mục tiêu và chiến lược của các trụ sở chính.

    Công ty đa quốc gia (Multinational Corporation – MNC) là công ty có sở hữu hay có quyền kiểm soát khả năng sản xuất hoặc dịch vụ ở bên ngoài biên giới của một quốc gia mà công ty đó có trụ sở chính.

    Chính sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của các MNC là nguyên nhân trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

    Các MNC phát triển rất nhanh và có vai trò vô cùng to lớn trong nền kinh tế thế giới, sản xuất ra khoảng từ 20% đến 25% tổng sản lượng của toàn thế giới và chiếm 90% tổng khối lượng đầu tư nước ngoài trên toàn cầu.

    Một MNC thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản là công ty mẹ và một hay nhiều công ty con (subsidiary) hoặc chi nhánh (afficiate) ở nước ngoài.

    Aûnh hưởng của MNC thông qua FDI tại các nước tiếp nhận đầu tư:

    • Số liệu thống kê cho thấy hơn 90% vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới là do các công ty đa quốc gia – MNC’s (multinational Copration) cung cấp, với Việt Nam cũng không phải là

    ngoại lệ khi chúng ta thấy có sự hiển diện của các MNC như Coca Cola, Pespi, Nestle, Unilever, Ford, Mercedes Benz,… Cùng với sự bành trướng ra khỏi phạm vi của chính quốc (home Country) bằng nguồn vốn FDI, các MNC’s sẽ tạo ra một mạng lưới các công ty con (Subsidaries) trên phạm vi toàn thế giới mà lẽ đương nhiên là giữa các công ty còn này với

    nhau và với chính bản thân công ty mẹ ở chính quốc sẽ có các mối ràng buộc về nhiều mặt mà trong đó sự ràng buộc về mặt kinh tế là quan trong và rõ ràng nhất nhằm phục vụ cho mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của toàn bộ các MNC.

    • Các lý thuyết quan trọng về các MNC đều chỉ ra rằng sự phát triển của các MNC đều dựa trên lợi thế riêng biệt, độc quyền mà có. Rõ ràng khi các MNC đã bành trướng hoạt động ra

    ngoài biên giới địa lý của các quốc gia thì các giao dịch trong nội bộ của một MNC sẽ tốn kém ít chi phí hơn là khi giao dịch trên thị trường tự do. Điều này đạt được là do các giao dịch nội bộ có tính chuyên môn cao, ít rủi ro trong khi tại thị trường tự do tồn tại sự khác biệt giữa các

    quốc gia về các lĩnh vực như thuế, kiểm soát ngoại tệ, thuế TNDN, hàng rào thuế quan và rất nhiều các quy định ràng buộc khác, tất yếu dẫn đến sự thiếu hoàn hảo của thị trường làm cho các giao dịch trở nên tốn kém và rủi ro cao.

    Chính bản thân công ty mẹ (parent company) ở chính quốc và các công ty con được thành lập ở nhiều quốc gia khác nhau trên toàn thế giới sẽ tạo nên vô vàn những giao dịch phức tạp qua lại, mối quan hệ ràng buộc, cùng với tồn tại các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ nhằm thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong bản thân nội bộ của từng MNCù.

    Những đặc trưng cơ bản của các công ty đa quốc gia

    • Các MNC là sản phẩm của sự liên minh giữa những nhà tư bản có thế lực nhất thế giới.
    • Các MNC là những công ty có tầm cỡ quốc tế, thiết lập hệ thống chi nhánh hoặc công ty con ở nước ngoài với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành trướng thế lực quốc tế.
    • Các MNC hình thành từ công ty quốc gia, mang quốc tịch của một nước và vốn sở hữu của công ty mẹ thuộc về các nhà tư bản của nước đó. Vốn được xuất khẩu ra nước ngoài để đầu tư thiết lập và mở rộng các cơ sở sản xuất gọi là chi nhánh hoặc công ty con.
    • Một MNC thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản là công ty mẹ và một hoặc nhiều công ty con hoặc chi nhánh ở nước ngoài. Với cơ cấu tổ chức này, cho dù những công ty con có tồn tại dưới hình thức này hoặc hình thức khác thì quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, tình hình sản xuất kinh doanh vẫn thuộc về những công ty mẹ.

    1.1.3 Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC

    Do quy mô hoạt động rộng lớn và dàn trải trên một phạm vi địa lý bao gồm nhiều quốc gia với nhiều chính sách, phong tục tập quán kinh doanh khác nhau mà các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC là rất đa dạng và khó kiểm soát. Tuy nhiên, ta cũng có thể nhận dạng một số nghiệp vụ chuyển giao nội bộ qua các dịch chuyển về tài sản hữu hình và vô hình, dịch chuyển nguồn vốn

    bằng cách thức đi vay hay cho vay, sự cung cấp các dịch vụ tư vấn quản lý hay các nghiệp vụ, dịch vụ tài chính khác. … Vì tính chất quan trọng liên quan đến chiến lược hoạt động của cả MNC, các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ này có tính bảo mật và tập trung cao mà các cơ quan thuế rất khó có thể đưa ra được bằng chứng về hành vi chuyển giá của MNC.

    Nghiệp vụ chuyển giao nội bộ thực chất là các nghiệp vụ mua bán, trao đổi, giao dịch được thực hiện giữa công ty mẹ với các công ty con và ngược lại, hoặc giữa các công ty con với nhau.

    1. 2 Định giá chuyển giao trong các công ty đa quốc gia

    1.2.1. Khái niệm

    Các MNC theo đuổi chiến lược toàn cầu hóa đã ngày càng mở rộng hoạt động đầu tư và kinh doanh ra nhiều nước khác nhau trên khắp thế giới. Do đó, một sản phẩm có thể được thiết kế tại một số nước, một số bộ phận cấu thành của nó được sản xuất ở nước thứ hai, các bộ phận cấu thành khác được sản xuất ở nước thứ ba, tất cả sẽ được lắp rắp ở nước thứ tư và các sản phẩm hoàn thành sẽ được bán rộng rãi trên toàn cầu. Vấn đề này làm phát sinh các nghiệp vụ nội bộ công ty rất phong phú và đa dạng. Giá mà tại đó hàng hóa và dịch vụ được chuyển giao gọi là giá chuyển giao

    • price transfering. Như vậy, khi thực hiện một nghiệp vụ chuyển giao qua lại giữa các MNC, phải tính toán giá chuyển giao giữa các bộ phận. Theo thuật ngữ tài chính thì công việc này được gọi là định giá chuyển giao (price transfering ).

    Định giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong một MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và được chấp nhận tại các quốc gia mà các công ty con của MNC đang hoạt động. Với mức giá xác định cao hay thấp trong từng giao dịch lại tác động trực tiếp đến nghĩa vụ nộp thuế cho các quốc gia và sự di chuyển ngoại tệ giữa các nước.

    Ví dụ sản phẩm điện tử tivi Sony (Nhật Bản), sản xuất bóng đèn hình do công ty con của Sony tại Thái Lan sản xuất theo đơn đặt hàng từ Nhật Bản, các linh kiện khác được thực hiện theo đơn đặt hàng tại Singapore và công đoạn sản xuất hoàn chỉnh tại Công ty điện tử Sony Việt Nam. Tivi Sony này có thể tiêu thụ tại Việt Nam hay xuất khẩu sang thị trường EU phụ thuộc hoàn toàn vào hợp đồng đã ký kết của Sony Nhật Bản hoặc do nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này. Chính vì các công đoạn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tách rời mà giữa các công ty con và công ty mẹ của một MNC bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ. Đây chính là nguyên nhân hình thành các hoạt động định giá chuyển giao.

    Để đảm bảo nguyên tắc thương mại công bằng – cơ sở quan trọng nhất cho việc trao đổi mua bán và lưu thông hàng hóa, dịch vụ giữa tất cả quốc gia, tránh các thiệt hại phát sinh do các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ gây ra, một nguyên tắc chung đã được tất cả các quốc gia thống nhất áp dụng. Đó là nguyên tắc xác định giá trị của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong các MNC dựa trên căn bản giá thị trường (The Arm’s Length Principle – ALP).

    1.2.2. Nguyên tắc dựa trên giá thị trường của nghiệp vụ chuyển giao nội bộ (Arm’s

    Length Principle – ALP)

    Nguyên tắc căn bản giá thị trường là một chuẩn mực quốc tế do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organisation for Economic Co-operation and Development – OECD) đưa ra nhằm đề cập tới giá cả của hàng hóa, dịch vụ trong hoạt động thương mại diễn ra giữa các bên hoàn toàn độc lập – không có sự liên kết. Khi các công ty hoàn toàn độc lập có quan hệ trao đổi buôn bán với nhau thì các điều kiện thương mại và tài chính trong hợp đồng kinh tế (giá cả hàng hóa, dịch vụ, điều khoản về tín dụng, …) đều được định hướng và chi phối bởi các tác động khách quan của thị trường. Ngược lại, khi các công ty có liên kết thực hiện quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, các tác động thị trường không nhất thiết có ảnh hưởng đáng kể đến các điều khoản thương mại và tài chính của hợp đồng và do đó chắc chắn sẽ có sự sai lệch, thiếu khách quan trong quan hệ chuyển giao này.

    Do tính khách quan của căn bản thị trường phản ánh đúng bản chất của thị trường và các quy luật giá trị, quy luật cung cầu hàng hóa dịch vụ, quy luật cạnh tranh, do đó tất cả các thành viên của OECD đều nhất trí sử dụng căn bản giá thị trường làm cơ sở để tính toán trong khi xác định giá chuyển giao và các vấn đề liên quan đến các loại thuế.

    Tuy nhiên, trong thực tế các hoạt động mua bán diễn ra rất phức tạp và có rất nhiều các yếu tố kinh tế và phi kinh tế khác cùng tham gia vào các quá trình này làm cho rất khó xác định được các nghiệp vụ chuyển giao tương đương có thể so sánh được trong các điều kiện nhất định tương ứng. Chẳng hạn như ALP thực sự khó có thể áp dụng cho sự chuyển giao diễn ra trong một MNC gồm nhiều công ty liên kết thực hiện một dây chuyền công nghệ sản xuất khép kín và sản phẩm của nó lại có tính đặc thù rất cao, liên quan tới giá trị tài sản vô hình đặc biệt nào đó.

    Chính vì thế trong một số trường hợp nhất định, ALP có thể trở thành gánh nặng về quản lý cho cả phía các MNC và cho cả cơ quan thuế khi phải đối diện với các giao dịch trao đổi, mua bán xuyên quốc gia. Mặc dù công nghệ thông tin và mạng internet đã đưa các quốc gia xích lại gần nhau, nhưng còn lâu thì các MNC và các cơ quan thuế mới tìm được đầy đủ thông tin phục vụ cho việc áp dụng nguyên tắc căn bản giá thị trường.

    Tuy có những hạn chế trên nhưng cho đến nay OECD và các thành viên vẫn tiếp tục công nhận sự đúng đắn của nguyên tắc ALP trong việc xác định giá chuyển giao giữa các công ty liên kết và các cơ quan thuế vẫn tiếp tục thừa nhận sự cần thiết phải áp dụng nguyên tắc ALP trong các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ đặc biệt là khi các giao dịch vượt qua ranh giới địa lý của một quốc gia. Một sự chệch hướng nguyên tắc ALP trong định giá chuyển giao các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ có thể tạo nên rủi ro cho MNC là phải chịu đánh thuế trùng nhiều lần cho cùng một khoản thu nhập.

    Cách trực tiếp tốt nhất để kiểm tra xem các quan hệ liên kết có tác động thực sự lên các chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC hay không là so sánh giá chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC với giá cả trong các chuyển giao có thể so sánh được giữa các công ty độc lập trong cùng những điều kiện tương ứng. Tuy vậy trong thực tế hầu hết như chúng ta không tìm ra

    được các chuyển giao tương ứng có thể so sánh được để trực tiếp áp dụng nguyên tắc ALP, do đó chúng ta phải tìm ra những cách tiếp cận khác mang tính gián tiếp để vẫn có thể sử dụng nguyên tắc ALP vào việc kiểm tra sự chuyển giá trong nội bộ MNC. Bằng cách phân tích một cách hợp lý lãi gộp (hay lãi ròng) trong nhiều trường hợp chúng ta có thể xác định các chuyển giao đang đề cập có thể tuân thủ nguyên tắc ALP hay không ?

    1. 3 Vấn đề chuyển giá ở các công ty đa quốc gia

    1.3.1. Khái niệm về chuyển giá

    Định giá chuyển giao là cần thiết cho công tác quản trị doanh nghiệp nhưng khi giá chuyển giao nội bộ cao hơn hay thấp hơn thị trường thì xảy ra hiện tượng chuyển giá.

    Chuyển giá (transfer pricing) là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company) trên toàn cầu.

    Chuyển giá là một kỹ thuật mà các MNC tận dụng từ những ưu đãi khác nhau của các quốc gia trên toàn thế giới về các chính sách thuế, lãi suất để nâng giá đầu vào với các tài sản góp vốn, chi phí nguyên vật liệu, chi phí gián tiếp, … và các yếu tố đầu ra thì kê khai thấp hơn giá bán thực tế trên thị trường sao cho có lợi nhất. Đây là một kỹ thuật mà hầu như bất kỳ MNC nào cũng phải tận dụng để giảm tối đa số thuế phải nộp hoặc chiếm được thị phần lớn hơn cho các sản phẩm, dịch vụ của bản thân MNC và nhằm tối đa các rủi ro có thể gặp phải, bất chấp các quan hệ cung cầu của thị trường và tính cạnh tranh hợp pháp mà luật pháp của các quốc gia đều quy định. Như vậy, giữa hai khái niệm định giá chuyển giao và chuyển giá là hai mặt của một vấn đề. Chúng có cùng nội dung nếu xét về một khía cạnh nào đó, nhưng khái niệm định giá chuyển giao mang hàm ý tích cực về một chính sách của MNC thực hiện đối với các quốc gia tiếp nhận đầu tư và với quốc gia đi đầu tư và khái niệm chuyển giá là việc công ty mẹ áp đặt giá cả lên công ty con hay các công ty có mối liên kết (related parties) với mục đích chủ yếu trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Chuyển giá – một trong những vấn đề phức tạp và khó tiếp cận hiện nay trong các giao dịch quốc tế. Trong các hoạt động chuyển giá, các MNC đã không cần phải có bất kỳ nỗ lực nào trong việc cải tiến chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí sản xuất, phấn đấu giảm giá thành, tạo thêm giá trị gia tăng trong sự cạnh tranh cân bằng mà chỉ đơn giản phù phép trên sổ sách kế toán mà thu được những khoản lãi kếch xù.

    1.3.2.  Các yếu tố thúc đẩy các MNC sử dụng hành vi chuyển giá

     

    1. 3.2.1 Các động cơ bên ngoài MNC

    Khi thực hiện các giao dịch xuyên biên giới quốc gia, những điểm khác nhau trong chính sách của các nước sẽ trở thành động cơ cho các MNC cố gắng tối thiểu hóa chi phí bằng thủ thuật chuyển giá cho công ty mẹ chỉ định.

    Tối thiểu hóa thuế thu nhập

    Khi có sự chêch lệch về thuế suất thuế TNDN, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và chính sách thuế quan giữa hai quốc gia. Với mục tiêu tối thiểu hóa thuế TNDN hay các loại thuế phải nộp, các MNC sẽ tiến hành tối đa hóa chi phí ở nước có thuế suất cao và tối đa hóa thu nhập tại nước có thuế suất thấp. Mục tiêu này sẽ được thực hiện bằng hành vi chuyển giá với thủ thuật phổ biến là định giá cao ở các đầu vào nhập khẩu và định giá thấp ở đầu ra xuất khẩu đối với những công ty con đóng ở các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập cao. Bằng cách này các MNC đã dịch chuyển thu nhập từ quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao sang quốc gia có thuế suất thuế thu nhập thấp mà trong ví dụ của chúng ta là từ chính quốc sang nước chủ nhà khi thuế suất thuế TNDN tương ứng là 5% và 20% và cơ quan thuế của chính quốc bị mất đi nguồn thu từ thuế mà họ lẽ ra đã thu được nếu không có hành vi chuyển giá.

    Nếu thuế suất ở trong nước và nước ngoài bằng nhau thì công ty mẹ ở nước ngoài tăng thu nhập chịu thuế lên 100.000 USD sẽ phải nộp thuế là 28.000 USD, phần còn lại được coi như thu nhập là 72.000 USD. Công ty con giảm thu nhập chịu thuế 100.000 USD sẽ giảm thuế thu nhập 28.000 USD, đây chính là khoản mà nhà nước ta bị thất thu. Trường hợp thuế suất nước ngoài nhỏ hơn ở Việt Nam thì sao ? Chẳng hạn thuế thu nhập doanh nghiệp ở Đài Loan là 20% và Việt Nam là 28% thì chi nhánh ở Đài Loan sẽ có thể tăng giá chuyển giao hàng hóa và dịch vụ cho chi nhánh ở Việt Nam. Nếu khoảng nâng giá là 100.000 USD thì lợi nhuận báo cáo ở Đài Loan sẽ tăng 100.000 USD và thuế nộp cho nước này tăng thêm 20.000 USD. Đồng thời lợi nhuận ở Việt Nam giảm đi 100.000 USD, tức số thuế phải đóng ở đây giảm đi 28.000 USD. Như vậy thông qua chuyển giá công ty này đã tiết kiệm được 8.000 USD.

    Kiểm soát ngoại hối và các rủi ro

    Sự không chuyển đổi được của đồng tiền, sự không ổn định của tỷ giá, các yêu cầu về cân đối ngoại tệ, các hạn chế trong việc tiếp cận nguồn ngoại tệ, … đã làm gia tăng các rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại nước chủ nhà. Rủi ro về ngoại hối cũng được xem là một trong những yếu tố quan trọng kích thích các MNC sử dụng cơ chế định giá chuyển giao để chuyển lợi nhuận từ đồng tiền yếu sang đồng tiền mạnh.

    Các MNC sẽ đầu tư vào một quốc gia nếu họ dự đoán là trong tương lai đồng tiền của quốc gia đó sẽ mạnh lên và ngay lập tức họ sẽ rút vốn khi dự đoán trong tương lai đồng tiền của nước chủ nhà sẽ yếu đi.

    Ta lấy ví dụ như sau : giả sử một MNC đầu tư vào Việt Nam vào tháng 12 năm 2006 số tiền là 100 triệu USD. Tỷ giá VND/USD là VND 16.000/USD, như vậy tại thời điểm tháng 12/2006 số tiền mà MNC bỏ ra là 1.600 tỷ VND. Giả sử sau 5 năm MNC rút vốn về nước với tình trạng hòa vốn trong kinh doanh. Có 3 khả năng có thể xảy ra đối với lợi nhuận mà MNC thu được từ Việt Nam từ chêch lệch tỷ giá.

    Tỷ giá VND/USD vẫn giữ nguyên là VND 16.000/1USD như vậy MNC vẫn rút được về đúng số vốn mà họ đã đầu tư vào Việt Nam là 100 triệu USD. Do đó tỷ suất lợi nhuận là 0%.

    Nếu đồng Việt Nam lên giá 10%, lúc này số tiền Việt Nam quy đổi ra USD sẽ gần bằng 110 triệu USD. Tỷ suất lợi nhuận lúc này bằng đúng tỷ lệ lên giá của VND và là 10%.

    Ngược lại, nếu đồng Việt Nam xuống giá 10% thì MNC sẽ chỉ thu về gần được 90 triệu USD và bị thua lỗ 10 triệu USD. Tỷ suất lỗ trong trường hợp này đúng bằng tỷ lệ mất giá của đồng tiền nước chủ nhà là 10%.

    Lạm phát

    Lạm phát tại nước chủ nhà làm giảm khoản lợi nhuận thu được từ đầu tư, vì thế các MNC chuyển dịch lợi nhuận đến các quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp.

    Các bất ổn về chính trị và xã hội

    Sự bất ổn về chính trị và xã hội ở nước chủ nhà hàm chứa một rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư. Rủi ro cao có thể dẫn đến các MNC cố gắng thu lợi nhuận đầu tư càng sớm càng an toàn thông qua cơ chế định giá chuyển giao

    Các chính sách kinh doanh của MNC

    Khi mới thâm nhập thị trường hoặc mong muốn gia tăng thị phần tại một thị trường nào đó nhằm tiến tới độc quyền một số sản phẩm, các MNC có thể quyết định tạm thời định giá các sản phẩm của họ thấp hơn giá các sản phẩm cùng loại trên thị trường.

    1. 3.2.2 Các động cơ bên trong MNC

    Bên cạnh các động cơ bên ngoài MNC mà chúng ta vừa đề cập còn có các động cơ bên trong nội bộ của các MNC làm cho các hành vi chuyển giá càng trở nên đa dạng hơn và tinh vi hơn. Động cơ đó là :

    Các MNC bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh vì nhiều lý do khác nhau như : sai lầm trong thay đổi, lựa chọn sản phẩm, chi phí quảng cáo cao mà thiếu hiệu quả, … để giành thị phần tại các quốc gia khác nhau thì hành vi chuyển giá chính là cách cứu cho MNC qua việc lấy thu nhập nơi này san sẻ cho thua lỗ nơi khác mà kết quả là tạo nên các kết quả sản xuất kinh doanh giả tạo, không mang tính thị trường và vi phạm pháp luật của các quốc gia.

    Hoặc các sản phẩm được chuyển giao có độc quyền cao đặc biệt trong các ngành như dược phẩm, công nghệ tin học, sinh học, dầu khí, … thì chuyển giá cũng là phương thức chống rủi ro mà các MNC sử dụng.

    Các MNC ý thức được tầm quan trọng của việc chiếm thị phần là quan trọng hơn so với lợi nhuận trong ngắn hạn và vì vậy các MNC không ngần ngại bằng mọi cách tranh đoạt thị phần, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Khi cần thiết phải thâm nhập vào một thị trường tiêu thụ mới thì chuyển giá cũng là một chiêu thức quen thuộc mà các MNC sử dụng nhằm chiếm thị phần một cách bất hợp pháp. Bằng cách định giá thấp các sản phẩm đầu ra được bán ra trong thị trường của nước tiếp nhận đầu tư (nước chủ nhà) mà các MNC với tiềm lực tài chính mạnh, sẵn sàng chấp nhận thua lỗ trong một thời gian phù hợp để đánh bật các đối thủ cạnh tranh trong nước có tiềm lực nhỏ bé hơn và khi đã chiếm được thị phần thì các MNC sẽ độc quyền nâng giá sản phẩm để bù lại phần thua lỗ trong thời kỳ đầu mới gia nhập thị trường.

    1.3.3.  Những ảnh hưởng của hoạt động chuyển giá

    1. 3.3.1 Đối với các nước tiếp nhận đầu tư.

    Hành vi chuyển giá của các MNC qua việc định giá thật cao các nguồn lực đầu vào đã tạo ra sự sai lệch đáng kể trong cơ cấu về vốn của cả nền kinh tế quốc dân và phản ánh sai lệch kết quả hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, cao hơn nửa là ảnh hưởng đến GDP của quốc gia tiếp nhận đầu tư.

    Từ việc giá thành sản phẩm đầu ra dưới mức giá thị trường tại một công ty con hay công ty liên kết có mức thuế suất thuế thu nhập cao hơn, một MNC có thể tối thiểu số thuế phải nộp ghi trên nước đó. Điều này dẫn đến một hệ quả chắc chắn rằng là các nước tiếp nhận đầu tư sẽ bị thất thu thuế nghiêm trọng.

    Chính việc nới lỏng chính sách thuế của các quốc gia tiếp nhận đầu tư đã khuyến khích các MNC thực hiện chuyển giá. Nếu về lâu dài thì chính sự nới lỏng này sẽ buộc các quốc gia này gánh chịu những hậu quả, rõ nét nhất là nền kinh tế của nước chủ nhà sẽ không đủ sức mạnh để có thể đương đầu với những thay đổi của của thị trường, do việc thất thu thuế.

    Các MNC tạo được thế độc quyền về nhãn hiệu sản phẩm của mình bằng chính sách hạ giá bán sản phẩm đầu ra, thông qua các hình thức quảng cáo, khuyến mãi, hậu mãi dẫn đến hậu quả là các doanh nghiệp ở nước tiếp nhận đầu tư cùng ngành đi đến bờ phá sản hoặc chuyển sang kinh doanh

    • lĩnh vực khác, từ đó các MNC sẽ dễ dàng thao túng thị trường nước chủ nhà. Như vậy trong trường hợp này chính phủ của nước chủ nhà, nước tiếp nhận đầu tư không thể thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển theo định hướng như ban đầu.

    Mặt khác, một biến tướng của sự độc quyền nữa xảy ra khi các MNC cùng liên doanh với công ty nội địa của nước chủ nhà, chính sách chuyển giá sẽ dẫn đến thua lỗ kéo dài ở các liên doanh công ty con, dẫn đến phía đối tác ở nước chủ nhà giảm bị giảm vốn dần, có thể dẫn đến tình trạng mất vốn, và mất quyền kiểm soát từ đó bị các MNC mẹ thôn tính hoàn toàn, chuyển sang

    công ty 100% vốn nước ngoài với quyền sở hữu hoàn toàn thuộc về MN. Đây là quá trình thôn tính đối tác trong nước của các MNC thông qua chính sách chuyển giá.

    1. 3.3.2 Đối với các nước xuất khẩu đầu tư.

    Không chỉ có nước tiếp nhận đầu tư bị thiệt hại do hành vi chuyển giá của MNC mà cả nước xuất khẩu đầu tư cũng gặp khó khăn. Giả sử việc chuyển giá thực hiện khi có sự khác biệt của thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa hai quốc gia, không xét đến các yếu tố khác, thì dường như ta cảm giác quốc gia nào có thuế suất thấp hơn sẽ được lợi từ việc chuyển giá, và quốc gia nào có thuế suất cao sẽ thất thu nghiêm trọng nhưng thật ra phần thất thu này sẽ chảy vào ngân sách của các MNC, một phần ít chảy là ngân sách của quốc gia có thuế suất thấp. Như vậy, quốc gia xuất khẩu đầu tư sẽ bị thất thu nghiêm trọng trong trường hợp quốc này có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn.

    • Tóm lại: Định giá chuyển giao là công cụ để các MNC dịch chuyển vốn trên quy mô toàn cầu nhằm phục vụ các mục tiêu của bản thân MNC. Còn chuyển giá là hoạt động mang tính chủ quan của MNC nhằm tìm cách tối thiểu hóa số thuế phải nộp thông qua việc xác định các giá trị chuyển giao trong các giao dịch nội bộ của MNC không theo đúng giá thị trường, qua đó chủ động lựa chọn quốc gia để khai báo thuế với các thuế suất có lợi nhất cho MNC mà không quan tâm đến quyền lợi của quốc gia có liên quan.

    Động cơ cũng như các thủ thuật chuyển giá của các MNC ngày càng phức tạp và tinh vi – đây là vấn đề làm đau đầu cơ quan thuế và làm cho chính phủ mất khả năng quản lý nền kinh tế theo định hướng đã đề ra. Lý do là chưa tìm ra được phương pháp tiếp cận chính xác và cụ thể cũng như sự phối hợp toàn diện trên quy mô toàn cầu.

    CHƯƠNG 2  THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CÁC DOANH

    NGHIỆP ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

    2.1.     Đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

    2.1.1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Theo số liệu Phòng Quản lý đầu tư nước ngoài (Cục thuế TPHCM) công bố FDI vào Việt Nam đã đóng góp cho nền kinh tế rất lớn. Hiện có trên 8.590 dự án của 81 nước và vùng lãnh thổ đang hoạt động có tổng vốn đầu tư trên 83,1 tỉ USD, trong đó vốn thực hiện đạt 29,2 tỷ USD. Vốn FDI chiếm tỷ trọng 18% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 16,2% GDP, chiếm 19,78% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô) và 37% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Trong số các nước

    và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 1.837 dự án với tổng vốn đầu tư 13,5 tỉ USD.

    Trong khi đó FDI vào Trung Quốc mỗi năm sẽ đạt khoảng 87 tỉ USD , tỷ lệ vốn FDI của Nhật Bản chỉ chiếm 2,5% GDP của Nhật Bản, thuộc hàng thấp nhất thế giới, FDI vào Ấn Độ đang tăng mạnh, từ mức 6,7 tỉ USD năm 2005 lến đến 17,5 tỉ năm 2006

    Năm 2007 đang dần khép lại với con số thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả năm đầy ấn tượng: 20,3 tỷ USD.

    Doanh thu của DN FDI trong năm 2007 đạt 39,6 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu đạt 19,7 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2006. Quy mô vốn đầu tư trung bình của mỗi dự án thời gian qua đạt gần 11 triệu USD. Có các dự án như: dự án nhà máy lọc dầu Vũng Rô tại Phú Yên, tổng vốn đầu tư 1,7 tỷ USD, Kiên Giang c bị mặt bằng cho dự án Hòn ngọc châu Á tại Phú Quốc với quy mô 2 tỷ Euro của Tập đoàn uỷ thác Trustee Suisse, Tp.HCM đã ký biên bản ghi nhớ với nhà đầu tư Berjaya Land Berhad, Malaysia xây dựng dự án Khu đô thị đại học quốc tế có quy mô vốn 3,5 tỷ USD

    Theo WB: Trong năm 2007 cả nước đã thu hút 350 lượt dự án, 52 địa phương thu hút vốn FDI, tăng vốn với số vốn trên 3,2 tỉ USD vốn đầu tư tăng thêm của các dự án cũ. Tỷ lệ giải ngân FDI tăng 20% đến tháng 9/2007, chiếm khoảng 6,8% GDP. Điểm nhấn trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2007 là việc phân cấp

    mạnh mẽ về cho các địa phương, thành phố Hồ Chí Minh đã cấp 410 giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư ước 2,5 tỷ USD

    Tuy nước ta còn ở trình độ phát triển thấp, độ mở của nền kinh tế cao và đang trên đà phát triển nhanh, nên rất “đói” vốn đầu tư, tạo ra những cơ hội vàng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới mới công bố cho thấy, với xấp xỉ 85 triệu dân, xếp hạng thứ 13 thế giới nhưng chỉ trong tháng 5.2007, các DN có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã góp vốn đầu tư thực hiện ước đạt 390 triệu USD, đưa tổng vốn thực hiện trong 5 tháng qua đạt 1,8 tỉ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ. Doanh thu của các DN có vốn đầu tư nước ngoài trong 5 tháng đầu năm là 11 tỉ USD, tăng 13,1, trong đó giá trị xuất khẩu đạt khoảng 7,3 tỉ USD, tăng 35%, giải quyết việc làm mới cho 46 nghìn lao động.

    Tất cả những điều nói trên có nghĩa là nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế còn ở trình độ phát triển rất thấp, nhưng đang phát triển nhanh theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu và xuất khẩu dựa trên cơ sở đẩy mạnh nhập khẩu. Nói cách khác, tiềm năng mở rộng thị trường của nước ta hiện nay còn rất lớn và tự chúng ta không đủ vốn để khai thác, do đó tạo ra cơ hội vàng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đó không chỉ là những cơ hội trong đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, mà còn là những cơ hội trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất những nguyên phụ liệu phải nhập khẩu với quy mô ngày càng lớn, cũng như những cơ hội đầu tư sản xuất có quy mô dân số đứng thứ hai trong khu vực.

    Bên cạnh đó, theo đánh giá mới đây nhất của Hội nghị thương mại và phát triển liên hợp quốc (UNCTAD), Việt Nam được xếp vào nhóm nước có tiềm năng FDI thấp nhưng hiệu quả hoạt động của khu vực FDI cao. Đây chắc chắn là một liều thuốc kích thích các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam kinh doanh trong bối cảnh nước ta trở thành thành viên WTO. Việc có trên 1.200 đại biểu dự Hội nghị thượng đỉnh các tổng giám đốc APEC vừa qua đủ cho thấy điều đó.

    Tháng 7 năm 1997 xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, các nước chịu tác động lớn nhất là Thái Lan, Philippines, Indonesia và Malaysia,…, nước ta nằm ngoài “tâm bão”, đây chính là thời cơ cho việc thu hút nguồn vốn quốc tế khi mà các nước khác trong khu vực đang phải đối phó với “trận cuồng phong kinh tế”. Đáng tiếc là do môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn từ khi sửa Luật năm 1996, lại không có được một đối sách thích hợp để chủ động đối phó nên nước ta đã gánh chịu hậu quả nặng nề, giảm sút rõ rệt tăng trưởng kinh tế và thu hút FDI quốc tế trong nhiều năm liên tiếp.

    2.1.2. Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

    • Đầu tư nước ngoài góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam như làm thay đổi từng bước đời sống xã hội của địa phương, có tác dụng kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác phát triển. Cục đầu tư nước ngoài (Bộ kế hoạch và đầu tư) đánh giá là “… Có sự chuyển biến mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng cao hơn các thành phần kinh doanh khác”. Cụ thể, đóng góp của khu vực này vào GDP từ 7.4% năm 1996 lên 12.2% năm 1999, 13.3% năm 2001, 13% năm 2002 và năm 2004 đã tăng lên 14.3%. Riêng năm 2005, doanh thu của khu vực này đạt 16 tỷ USD, tăng hơn 30% so với năm trước, trong đó riêng doanh thu xuất khẩu đạt 6.3 tỷ USD, chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nhờ những kết quả trên nên khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 14.3% GDP cả nước.
    • Lãi của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm 2002 đạt 29.342 tỷ đồng năm 2005 lên 37.040 tỷ đồng, bằng 50.6% tổng lãi toàn bộ doanh nghiệp. Sở dĩ khu vực này có mức lãi cao chủ yếu là đóng góp của ngành khai thác dầu khí (66%).
    • Làm thay đổi từng bước đời sống xã hội của địa phương
    • Kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác phát triển
    • Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH & ĐT): 20,3 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký bao gồm cả cấp mới và tăng vốn, tăng 69,1% so với cùng kỳ năm trước
    • Tổng vốn thực hiện là 4,6 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2006, vượt 2,2% so với kế hoạch 4,5 tỷ USD). Vốn thực hiện của các doanh nghiệp FDI vượt kế hoạch 2,2%, doanh thu của các DN FDI trong năm 2007 đạt 39,6 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu cũng đạt 19,7 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2006. Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu khí) của đầu tư nước ngoài tăng nhanh, trong đó thời kỳ 1991 – 1995 đạt trên 1.12 tỷ USD, thời kỳ 1996 – 2000 đạt trên 10.6 tỷ USD, tăng

    hơn 8 lần so với 5 năm trước và chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Trong các năm 2004 và 2005, kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài đạt giá trị tương ứng 3.67 tỷ USD và 4.5 tỷ USD, chiếm trung bình hơn 25% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Điều đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (42% mặt hàng giày dép, 25% hàng may mặc, 48% hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện).

    • Đặc biệt, chính sách khuyến khích ĐTNN vào các KCN, KCX đã góp phần quan trọng vào việc phân bố hợp lý các vùng kinh tế, tạo điều kiện thu hẹp sự phát triển vùng, đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa. Đến nay, đã có 76 KCN, KCX được thành lập chiếm khoảng 23% của toàn khu vực ĐTNN.
    • Thông qua nguồn vốn này, nhiều nguồn lực trong nước được khai thác và sử dụng có hiệu quả, đồng thời nhà nước cũng chủ động hơn trong bố trí vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và đặc biệt đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Với tỷ trọng vốn thực hiện nhanh qua các năm, đầu tư nước ngoài đã bổ sung một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Cụ thể, thời kỳ 1991 – 1995, vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 25%, thời kỳ 1996 – 2000 chiếm 24%, gấp trên 1.8 lần thời kỳ 1991 – 1995, riêng từ năm 2001 – 2004 chiếm 21.4% tổng vốn đầu tư xã hội (308 nghìn tỷ đồng
    • Tạo công ăn việc làm cho người lao động đã được đào tạo nâng cao tay nghề, năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài và thích ứng dần với tác phong công nghiệp đến năm 2005, trên 4.000 doanh nghiệp FDI đã tạo việc làm ổn định cho khoảng 691 ngàn lao động trong nước
    • ĐTNN đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo điều kiện để Việt Nam chủ động hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Năm 2001 thu hút 69 ngàn lao động tăng 19%, năm 2002 có thêm 175 ngàn tăng 39%. Những năm gần đây số lao động trong khu vực ĐTNN ngành công nghiệp chế biến tăng nhanh. Bên cạnh tạo công ăn việc làm cho người dân, người lao động đã được đào tạo nâng cao tay nghề, năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài và thích ứng dần với tác phong công nghiệp. ĐTNN cũng đem lại thu nhập cho bộ phận đáng kể người lao động, thu nhập thấp nhấp là 790.000 – 810.000 đồng/tháng, cao hơn thu nhập các thành phần kinh tế khác.

    2.1.3.  Thực trạng chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI

    Theo số liệu của Phòng Quản lý Đầu tư nước ngoài (Cục Thuế TP.HCM) tháng 7/2005 công bố, trong 1.450 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại TP.HCM, chỉ có hơn 190 doanh nghiệp (tương đương 13%) báo cáo làm ăn có lãi. 1.260 doanh nghiệp còn lại (tương đương 87%) hạch toán thua lỗ hoặc đang trong giai đoạn triển khai dự án, chưa sinh lợi. Tính đến tháng 12 năm 2005 có tới 116 liên doanh với tổng số vốn 1.3 tỷ USD chuyển sang loại hình công ty 100% vốn nước ngoài do bị mua lại, hầu hết số liên doanh này đều bị lỗ. Đánh giá của

    cơ quan chức năng cho thấy, tình trạng doanh nghiệp kê khai hạch toán thua lỗ liên tục nhiều năm khá phổ biến. Đó là chưa kể nhiều doanh nghiệp FDI kê khai chưa đầy đủ các khoản thu nhập của các cá nhân chịu thuế, không thực hiện đảm bảo chế độ kế toán hoặc thường xuyên thay đổi chế độ kế toán, …

    Cục thuế TPHCM đã tiến hành kiểm tra hơn 50 doanh nghiệp có vốn FDI và phát hiện nhiều doanh nghiệp khai man lợi nhuận trước thuế, xác định được số thuế truy thu là gần 60 tỷ đồng.

    So sánh tỷ lệ khai báo lỗ ở các loại

    hình DN tại TP HCM

    60.00%

    50.00%

    40.00%

    30.00%

    Series1

    20.00%

    10.00%

    0.00%

    DNNN          DN dân         DN FDI

    doanh

    Kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2005 của Cục thống kê TPHCM cho thấy doanh nghiệp tư nhân có tỷ lệ doanh nhiệp lỗ cao hơn doanh nghiệp nhà nước nhưng thấp hơn tỷ lệ lỗ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Doanh nghiệp nhà nước lỗ chỉ chiếm 8.3% của khu vực doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân là 36.1% và doanh nghiệp có vốn ĐTNN chiếm tới 54.6%.

    Đáng chú ý là hiện nay có tới trên 50% DN khai lỗ để xin miễn giảm thuế. Những năm vừa qua, trong khu vực DN vốn ĐTNN đã xảy ra tình trạng một số doanh nghiệp FDI báo cáo với ngành thuế hoạt động thua lỗ nhưng hầu hết các doanh nghiệp lỗ này đều có doanh thu tăng đều đặn và tiếp tục mở rộng sản xuất

    Khi tình trạng thua lỗ ảo của liên doanh kéo dài, những doanh nghiệp VN trong liên doanh sẽ không thể trụ nổi, đành ôm nợ, xin rút! Lúc đó, công ty liên doanh sẽ bị thôn tính thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tại VN, cty con cứ báo lỗ. Tại bản xứ, cty mẹ cứ ung dung hưởng

    lợi. Tình trạng trên đang là thách thức đối với các cơ quan chức năng VN. Tại Mỹ và Nhật Bản, trong quá khứ hai quốc gia này đã từng xử phạt rất nặng một số tập đoàn đa quốc gia của nước khác gian lận qua chuyển giá.

    Vấn đề mà các nhà nghiên cứu đặt ra là sự nghi ngờ tại sao các doanh nghiệp FDI với sức mạnh về tài chính, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng lại kinh doanh kém hiệu quả đến như vậy và Bộ tài chính cũng ghi nhận. “Nhưng đâu là lỗ giả do hành vi gian lận thương mại, đâu là lỗ thật thì chưa được làm rõ, dẫn đến phía vốn của Việt Nam bị mất, ta sẽ bị phía đối tác nước ngoài thôn tính”. Mặc dù vậy, cho đến nay cơ quan thuế ta vẫn chưa tiến hành một nghiệp vụ điều chỉnh giá chuyển giao nào. Như vậy, các doanh nghiệp này có sử dụng định giá chuyển giao nội bộ để tránh thuế hay không vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của ngành thuế.

    Một số hình thức chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong thời gian qua

    Cho đến thời điểm này, chưa có sự xác nhận chính thức nào từ phía cơ quan nhà nước về bất kỳ một trường hợp chuyển giá nhưng trong một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về lĩnh vực này cũng đã dẫn ra nhiều trường hợp có dấu hiệu chuyển giá. Dựa vào các dấu hiệu này,phân chia thành nhóm biểu hiện như sau :

    Nâng giá tài sản góp vốn

    Các công ty liên doanh thường cố tình khai báo tăng giá trị máy móc thiết bị dùng làm vốn góp đầu tư ban đầu.

    • Công ty liên doanh gia cầm Việt Thái, phía Thái Lan góp vốn bằng dây chuyền giết mổ trị giá 400.000 USD nhưng đã kê khống thành 600.000 USD.
    • Một khách sạn liên doanh giữa Tổng công ty du lịch Sài Gòn và Vina Group đã quyết định trị giá thiết bị vật tư của công ty Vina đưa vào liên doanh là 4.340.000 USD nhưng theo công ty giám định quốc tế thì chỉ có 2.990.000 USD, ta thiệt 1.350.000 USD.

    Đối với các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng tài sản góp vốn sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm (nghĩa là lợi nhuận giảm), tác động làm tăng chi phí đầu vào.

    Lấy ví dụ, khi doanh nghiệp nâng giá trị lên 1.000 USD với thời gian khấu hao 10 năm thì mỗi năm sẽ đưa vào chi phí 100 USD và như thế có nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm 100 USD và với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28% như hiện nay, nhà nước sẽ thất thu 28 USD.

    Vừa mới đây, được sự ủy nhiệm của chính phủ, công ty kiểm định quốc tế SGS đã tiến hành giám định thí điểm ở 12 đơn vị FDI thì có tới 6 đơn vị có chêch lệch giá mua vật tư thiết bị nhập khẩu, con số chêch lệch là 14 triệu USD.

    Những giao dịch có dấu hiệu chuyển giá thường được thực hiện ở những công ty liên doanh giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài. Điều đó cũng chứng tỏ rằng bên Việt Nam trong các liên doanh đã thua ngay trên sân nhà. Vì sao ta trở nên bất lợi như vậy ?

    Trong giai đoạn đầu mở cửa kêu gọi đầu tư nước ngoài, các MNC mới chân ướt chân ráo bước vào nước ta, họ ưa chuộng hình thức liên doanh để tận dụng thị trường có sẵn, kinh nghiệm của đối tác nội địa và ngay cả bản thân ta có chính sách khuyến khích thực hiện theo hình thức liên doanh thường là giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Bởi vì trong thời gian đầu hội nhập, chính phủ Việt Nam còn e dè trước sức mạnh của tư bản, liên doanh là hình thức được lựa chọn nhiều để Việt Nam có thể kiểm soát tốt hơn. Hơn nữa đây là cơ hội tốt cho Việt Nam học hỏi cách quản lý của nước ngoài và đồng thời hy vọng sẽ được chia lợi nhuận từ việc liên doanh. Trong giai đoạn 1991 – 1998 các liên doanh chiếm đến 60.85% nguồn vốn FDI, hình thức 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 21.52% còn lại là các hình thức khác. Thực tế sau một thời gian chúng ta lại thấy rằng hoạt động của các liên doanh không như chính phủ dự tính, tỷ lệ khai báo lỗ của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN là trên 70%.

    Trong hầu hết các liên doanh, phía đối tác góp vốn bằng tài sản còn Việt Nam thường góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Điều này đã có lợi cho phía liên doanh do không tốn tiền đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp, tiền thuê đất. Nhưng phía đối tác chơi không đẹp, họ tìm mọi cách để nâng giá trị máy móc, thiết bị, công nghệ, … để làm tăng phần vốn góp. Bởi vì phía Việt Nam không có năng lực kiểm soát vấn đề này và hơn nữa Luật pháp Việt Nam chưa chuẩn bị đầy đủ ngăn chặn hay có biện pháp chế tài nào. Chúng ta có thể gọi đây là một hành vi không đẹp nhưng nó lại hoàn toàn đúng với thuật ngữ kinh doanh “thương trường là chiến trường”.

    Rất nhiều liên doanh vì thua lỗ nặng nề, phía Việt Nam không chịu nổi nên đành chấp nhận bán phần vốn góp luôn cho phía nước ngoài. Một làn sóng mới trong khu vực công ty liên doanh, hàng loạt công ty đã chuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài như Công ty liên doanh Coca Cola, Chương Dương, Công ty Unilever Việt Nam, Công ty Colgate – Palmolive, … Rất nhiều công ty liên doanh chuyển hình thức đầu tư thành 100% vốn nước ngoài và gần đây là chuyển đổi hình thức đầu tư của Công ty TNHH Sản Phẩm Tiêu Dùng Toshiba Việt Nam từ doanh nghiệp liên doanh thành tổ chức kinh tế theo hình thức 100% vốn nước ngoài.

    Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường

    Thủ thuật định giá chuyển giao của các MNC chia làm nhiều cách khác nhau, trước tiên là định giá cao nguyên vật liệu nhập khẩu. Thứ hai là ấn định giá bán sản phẩm thấp trong khi vẫn định giá cao yếu tố đầu vào do công ty mẹ cung cấp làm liên doanh lỗ, dẫn đến việc phải tăng vốn để loại bỏ đối tác trong nước và chiếm lĩnh thị trường. Cuối cùng là định giá bán sản phẩm cao để đạt được lợi nhuận độc quyền.

    Các MNC đã thực hiện chiến lược bán phá giá và sử dụng các hình thức quảng cáo, khuyến mãi rầm rộ để giành thị trường nhằm thôn tính các doanh nghiệp nội địa theo kiểu cá lớn nuốt cá bé. Họ làm được điều này là do khả năng tài chính dồi dào từ công ty mẹ mà các công ty nhỏ tại nước chủ nhà sẽ không đủ lực về tài chính để lao vào các cuộc cạnh tranh mà biết rằng cuộc cạnh

    tranh đó hoàn toàn bất lợi cho mình. Chẳng hạn như cuộc đấu tranh giành thị trường giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp nội địa là các công ty giải khát tại TPHCM như Công ty Coca Cola và Công ty Pepsi Cola với các công ty nội địa như Tribeco, Hòa Bình, Chương Dương, … không đủ sức trong cuộc cạnh tranh và đành phải bỏ cuộc. Riêng công ty nước giải khát Tribeco nhờ có sự thay đổi chiến lược kinh doanh (sản xuất thức uống xanh và sữa đậu nành) nên vẫn còn tồn tại.

    Phần vốn góp của phía Việt Nam là 40% nhưng ta không có quyền quyết định về giá cả, chiến lược sản xuất kinh doanh, tiếp thị, … mà tất cả là chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ Coca Cola tại Mỹ. Mặc dù doanh số bán ra của liên doanh tại Việt Nam là luôn tăng và tăng cao nhất tới 53% trong năm 1998 nhưng ngược lại giá bán trên một đơn vị sản phẩm thì lại giảm dần và giảm cao nhất là 23% trong cùng năm 1998.

    Cụ thể như sau: một lon Coca Cola ở thị trường Mỹ là 75 cents (tương đương khoảng 10.500 đồng) trong khi một lon Coca Cola bán tại thị trường Việt Nam bình quân một lon giá 5.000 – 7.000 đồng (tương đương khoảng 40 – 50 cents) thấp hơn giá bình quân trên thị trường Mỹ là 25 cents (tỷ giá tạm tính 14.000 VND/USD). Đây phải chăng là hiện tượng bán phá giá của Công ty Coca Cola Chương Dương được điều phối từ công ty mẹ thông qua chiến lược bán hàng và chính sách mua nguyên liệu từ công ty con ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra Công ty Coca Cola Chương Dương đã xâm chiếm thị phần của các đối thủ bằng con đường bán phá giá (đặc biệt trong hai tháng 3 và tháng 4 năm 1998) Coca Cola đã bán phá giá kỷ lục là 30%) trong khi liên doanh này không hề có sự chuyển biến rõ rệt về công nghệ, về năng suất lao động và hiệu quả trong các khâu khác.

    Thậm chí trong đợt khuyến mãi Cúp bóng đá thế giới 98, bất chấp sự không đồng ý của phía đối tác Việt Nam, công ty đã chi 1.8 tỷ đồng để tăng dung tích chai nước ngọt Coca Cola lên tới 50% mà giá bán vẫn không đổi (đây là hình thức bán phá giá), đã làm cho công ty càng lỗ nặng, tính đến tháng 3 – 4 năm 1998 công ty đã lỗ tới 20 tỷ đồng.

    Theo số liệu của Cục thuế TPHCM thì Công ty Coca Cola Chương Dương bị lỗ trong 3 năm liên tiếp từ năm 1996 và đến 1999 đã chuyển thành 100% vốn nước ngoài.

    Bằng những chiêu thức như vậy, các MNC lộ rõ tham vọng thao túng toàn bộ thị trường nội địa, loại khỏi sân chơi các công ty cùng ngành nội địa để chiếm thị phần lớn hơn.

    Và cuối cùng là định giá bán sản phẩm cao để đạt được lợi nhuận độc quyền. Một số liên doanh sau khi trở thành công ty 100% vốn nước ngoài, đã có sự tăng trưởng cao mà có thể Coca Cola là điển hình.

    Các liên doanh sau khi trở thành các công ty 100% vốn nước ngoài hầu hết đều làm ăn có lãi và riêng Coca Cola năm 1999 đã nộp ngân sách 3 tỷ đồng tiền thuế và đạt mức tăng trưởng ngay trong năm 1999 là 30%.

    Chuyển giá dựa trên sự chêch lệch về thuế suất

     

    Thuế thu nhập doanh nghiệp về mặt nguyên tắc là có thể không đổi mặc dù trong thực tế sẽ thay đổi theo chiều hướng có lợi cho chủ đầu tư vì họ có thể đưa thêm các loại chi phí khác như chi phí quản lý, chi phí quảng cáo vào tổng chi phí của công ty tiêu thụ Foster’s Việt Nam. Như vậy rõ ràng chỉ bằng cách thành lập thêm một công ty con chuyên về tiêu thụ sản phẩm và thực hiện việc chuyển giá một cách hợp pháp trong nội bộ MNC mà chủ đầu tư của Foster’s đã tiết kiệm được tới 16% thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp nhờ vào sự chêch lệch giữa giá bán cho công ty con và giá bán cho đại lý. Chủ đầu tư có thể tăng giá bán bia ở khâu tiêu thụ mà chỉ phải chịu thuế suất VAT 5% nhằm thực hiện việc kiểm soát giá cả trên thị trường, hưởng thêm lợi nhuận nhờ thủ thuật chuyển giá còn cơ quan thuế thì bó tay. Theo các chuyên gia tài chính và các chuyên gia thuế thì mặc dù nhận ra đây là hành vi lách luật để thực hiện chuyển giá nội bộ nhưng do luật pháp Việt Nam không đủ chặt chẽ và không đề cập tới sự chế tài đối với hành vi trên do đó các cơ quan chức năng không thể bắt bẻ về thủ thuật tách rời khâu sản xuất và thương mại. Việc làm của Foster’s Việt Nam đã tạo ra sự thiếu công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất mặt hàng bia. Bộ tài chính cần nghiên cứu ban hành một thông tư quy định cụ thể việc ấn định giá tính thuế theo giá bán tối thiểu đối với các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt mà đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh rượu bia nhằm ngăn chặn khả năng chuyển giá nội bộ tương tự như trường hợp của Foster’s Việt Nam. Tuy nhiên thông tư này nếu có cũng chỉ là giải pháp tình thế trước mắt chứ không phải là biện pháp khả thi lâu dài.

    Nói chung, các hành động trên của doanh nghiệp có vốn ĐTNN nhằm đạt được bốn mục tiêu : chủ động hạch toán thua lỗ nhiều năm liên tục để bên Việt Nam trong liên doanh phải rút lui, giảm xuống mức thấp nhất thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, công ty mẹ ở nước ngoài được hưởng lợi nhờ gian lận qua chuyển giá và cuối cùng là đè bẹp các thương hiệu hàng đầu Việt Nam nhờ chi phí tiếp thị quảng cáo khổng lồ và liên tục hạ thấp giá đầu ra.

    Chúng ta hãy xem cách thức mà Foster’s Việt Nam sử dụng để né tránh thuế tiêu thụ đặc biệt và chiếu theo các điều luật hiện hành vào giai đoạn đó thì Foster’s Việt Nam có vi phạm quy định về chuyển giá hay không ?

    Giá bia Foster’s mà Foster’s Việt Nam bán cho các đại lý là 164.000 VND/két (chưa gồm thuế

    Vat) và với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho mặt hàng bia chai là 75% thì với mỗi két bia

    Foster’s Việt Nam phải đóng thuế tiêu thụ đặc biệt là :

    Giá tính thuế TTĐB = Giá bán đã có thuế TTĐB/(1 + thuế suất) = 164.000/(1 + 75%) = 93.714

    VND

    Thuế tiêu thụ đặc biệt = 93.714 * 75% = 70.286 VND

    Chủ đầu tư của Foster’s Việt Nam thành lập thêm Công ty TNHH Foster’s Việt Nam chỉ chuyên thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm của hai nhà máy sản xuất bia Foster’s đã có. Giá mỗi két bia mà các nhà máy bia Foster’s bán cho Công ty tiêu thụ Foster’s Việt Nam chỉ là 137.500 VND (chưa VAT 5%) và chỉ chịu khoản thuế tiêu thụ đặc biệt là :

    Như vậy, thuế TTĐB mà chủ đầu tư phải nộp cho mỗi két bia là 93.714 VND

    Mức tiết kiệm được thuế đầu ra so với trước khi thành lập công ty TNHH Foster’s Việt Nam chuyên về tiêu thụ là :70286-58929= 11.357 tương ứng 16%

    Mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp của các quốc gia khác

    Về mức thuế suất 28% hiện hành, Bộ Tài chính tại thời điểm ban hành (2003), mức thuế này đã được cân nhắc, tính toán kỹ nhằm bảo đảm được tính cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài khi các nước trong khu vực đều đang duy trì mức thuế tương đối cao như: Malaysia (32%), Thái Lan (30%), Philippines (35%) Indonesia (30%, riêng thuế suất đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác mỏ, dầu khí, thuỷ điện từ 30% đến 45%) và Trung Quốc (33%). Hiện nay: Singapore: từ 20% xuống còn 19%; Philippines giảm từ 35% xuống 30%. mới đây nhất, Quốc vụ viện Trung quốc cũng đã giảm từ 33% xuống còn 25%, Hồng Kơng 15%… các nước ASEAN là 20 -25%

    Biểu thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước có đầu tư vào Việt Nam

      Country Rate (% )   Country Rate (% )  
                 
      ÂẤn Độ(1) 42.2        
      Nhật bản (2) 40.7   Indonesia (9) 30  
         
      Mỹ (3) 40   Thailand (10) 30  
         
         
      Đức (4) 38.4   Úc 30  
         
         
      Philippines (5) 35   Malaysia 27  
         
         
      Pháp (6) 33.3   Hàn Quốc (11) 27.5  
         
         
      New Zealand 33   Đài Loan (12) 25  
         
         
      Trung Quốc (7) 33   Singapore (13) 20  
         
         
      Anh (8) 30     17.5  
           
        Hong Kong SAR  
                 

    Nguồn: PricewaterhouseCoopers, 2007 Worldwide Tax Summaries,

    Như vậy xét các quốc gia như Đài Loan, Hồng Kông, Singapore trong đó Singapore là nước đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất đã có mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn Việt Nam nhiều nên rất dễ dàng tạo điều kiện cho các nước này thực hiện hành vi chuyển giá về đất nước họ.

    Về mức thuế suất 28% hiện hành, Bộ Tài chính cho biết, tại thời điểm ban hành (2003), mức thuế này đã được cân nhắc, tính toán kỹ nhằm bảo đảm được tính cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hầu hết các nước trong khu vực đều đang duy trì mức thuế tương đối

    cao như: Malaysia (32%), Thái Lan (30%), Philippines (35%) Indonesia (30%, riêng thuế suất đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác mỏ, dầu khí, thuỷ điện từ 30% đến 45%) và Trung Quốc (33%).

    Tuy nhiên, do tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt hơn, cải cách thuế thu nhập doanh nghiệp được các nước trên thế giới và các nước trong khu vực quan tâm nhiều hơn. Xu hướng gần đây cho thấy nhiều nước đã giảm mức thuế suất nói trên nhằm thực hiện ưu đãi diện rộng cho cả nền kinh tế, tăng tính cạnh tranh quốc gia trong thu hút đầu tư.

    Nghiên cứu thông tin quốc tế cho thấy mức thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành (28%) là cao hơn các nước trong khu vực có điều kiện cơ sở hạ tầng, môi trường đầu tư thuận lợi hơn. Ngay cả Singapore – nơi có môi trường đầu tư thuận lợi, đã quyết định hạ thuế này từ 20% xuống còn 19%; Philippines giảm từ 35% xuống 30%. Và mới đây nhất, Quốc vụ viện Trung quốc cũng đã quyết định giảm từ 33% xuống còn 25% để cạnh tranh với các nước trong thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Trong tờ trình Chính phủ, Bộ Tài chính đưa ra đề xuất xem xét giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành từ 28% xuống 25%. Theo Bộ Tài chính, việc điều chỉnh này xuất phát từ mục đích tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giúp doanh nghiệp có điều kiện tăng tích luỹ, tích tụ, tăng thêm nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng bảo đảm tăng tính cạnh tranh với thế giới và khu vực.

    Và để khuyến khích doanh nghiệp có nguồn lực để chủ động đầu tư phát triển, ứng dụng công nghệ mới, đổi mới thiết bị…, hàng năm doanh nghiệp được dành tối đa 10% thu nhập trước khi tính thuế để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ.

    2.2.     Nhận dạng các hình thức chuyển giá khác

    2.2.1. Nâng chi phí cho các dịch vụ hành chính và quản lý

    Công ty thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê chuyên gia, các chuyên gia tư vấn là những công ty thành viên hay có mối quan hệ về sở hữu. Nếu công ty tư vấn là trong một những tập đoàn thì đây chỉ là hình thức chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, trong trường hợp này chúng ta phải xem xét đến hệ thống luật nhà thầu để có thể khắc phục. Nếu tư vấn thật sự thì có thể công việc của nhà tư vấn là giúp cho công ty mẹ nhưng chi phí sẽ được trả tại Việt Nam.

    Hiện tượng này hiện nay xảy ra khá phổ biến, thể hiện ở đặc điểm chi phí quản lý của các doanh nghiệp FDI thường rất cao. Một số công ty liên doanh còn ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng không có hiệu quả, do các chuyên gia này là những nhân viên lâu năm của tập đoàn và đã bị dôi ra tại công ty mẹ, mà vì những lý do nào đó được chuyển sang Việt Nam làm chuyên gia và liên doanh tại Việt Nam phải gánh chịu chi phí. Đây cũng là hình thức chuyển giá.

    2.2.2.  Nâng chi phí bản quyền và các chi phí khác cho các tài sản vô hình

    Tài sản vô hình như chi phí bản quyền, goodwill, thương hiệu, … các công ty nước ngoài thường hay chuyển cho doanh nghiệp FDI Việt Nam một phần chi phí vô hình trên, có thể dưới dạng vốn góp, hay là hợp đồng chuyển giao. Các loại chi phí này vì có tính chất vô hình nên phía nước ngoài thường nâng lên rất cao và do không có một chuẩn mực nào để kiểm định nên thường chúng ta phải chấp nhận và các loại chi phí này thường do các nhân viên nước ngoài phụ trách. Vậy chúng ta phải nhanh chóng ban hành những chuẩn mực để định giá các loại tài sản và chi phí này.

    2.2.3.  Nâng giá hoặc giảm giá hàng mua đi bán lại

    Với các mặt hàng nhập khẩu có thuế suất cao, hợp đồng nhập khẩu sẽ được ký với giá hạ để tránh thuế nhập khẩu, sau đó sẽ tránh thuế thu nhập doanh nghiệp bằng những hợp đồng tư vấn và các loại chi phi khác. Nếu thuế xuất thuế nhập khẩu không cao, thường họ sẽ nâng giá bán lên cao nhằm tránh thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây có thể nói là hình thức chuyển giá được áp dụng thông dụng nhất và rất khó phát hiện.

    2.2.4.  Các giao dịch tài trợ

    Đối với các giao dịch tài trợ dưới dạng vật chất hữu hình như các sản phẩm của công ty, biện pháp thông thường là nâng giá để chuyển giá. Nếu là sản phẩm nhập khẩu tình trạng này vẫn giống như việc nâng giá bán. Đối với việc tài trợ bằng kỹ thuật, dịch vụ tư vấn chuyên gia thì là môi trường lý tưởng cho việc chuyển giá. Đặc biệt chúng ta cần lưu ý đến các hợp đồng viện trợ có hoàn lại và ngay cả những hợp đồng viện trợ không hoàn lại.

    Cần thấy rằng vốn ODA (hỗ trợ và phát triển chính thức) và viện trợ không hoàn lại là thiện chí của các nước phát triển nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển có nguồn vốn giải quyết những vấn đề khó khăn kinh tế xã hội. Tuy nhiên, phía cho vay không phải là không có lợi. Trước tiên là sử dụng vốn thặng dư trong nước đầu tư ra nước ngoài, vừa tăng cường hợp tác đầu tư vừa sinh lợi từ lãi suất cho vay (tuy thấp nhưng rất an toàn). Hơn thế nữa, họ còn thu được lợi nhuận cao nhất thông qua việc bán vật liệu, máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ để thực hiện dự án hoặc là xử lý được những công nghệ lạc hậu, tạo thị trường tiêu thụ cho hàng hóa sản xuất trong nước. Phần vốn “viện trợ không hoàn lại” cũng không phải là phần cho không. Chi phí cho mỗi dự án nghiên cứu kỹ thuật được tính như sau : 30% tổng vốn dành để trả lương cho các chuyên viên viện trợ sang nghiên cứu dự án, 20% vốn dành mua máy móc, thiết bị văn phòng phục vụ cho công tác nghiên cứu, mua phương tiện đi lại, thuê chỗ ở và sinh hoạt phí cho chuyên gia trong quá trình làm việc, 40% vốn là phần dành cho các cuộc hội thảo, nghiệm thu dự án được tổ chức tại hai quốc gia như trả nhuận bút viết báo cáo cho chuyên gia nước ngoài, tổ chức cho cán bộ của hai nước qua lại dự hội thảo, …

    Còn với các dự án ODA, phía đối tác nước ngoài chỉ cung cấp 85% tổng giá trị dự án, còn lại 15% vốn Việt Nam. Cuối cùng chúng ta chỉ được một phần nhỏ trong tổng số rất lớn vốn của dự án.

    Nhưng vẫn phải nhìn nhận rằng với lãi suất từ 0.75 – 2%/năm và số năm ân hạn rất dài (có thể lên đến 10 năm).

    2.2.5.  Tài trợ bằng nguồn vốn vay từ công ty mẹ

    Bằng thủ thuật tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lý như dùng nguồn vay ngắn hạn từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và đầu tư dài hạn nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chính lên cao như chi phí chêch lệch tỷ giá, chi phí lãi vay, … và chuyển một phần lợi nhuận dưới dạng lãi vay về nước tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, tránh lỗ do chêch lệch tỷ giá về sau.

    Với hình thức này, cần lưu ý rằng ngay cả khi doanh nghiệp vay của một ngân hàng nước ngoài do công ty mẹ bảo lãnh thì vẫn có thể xảy ra tình trạng chuyển giá. Do một số giao dịch giữa công ty mẹ và ngân hàng hải ngoại diễn ra tại hải ngoại sẽ được tính với giá (lãi suất, tỷ giá hối đoái, …) rất thấp, phần bù đắp sẽ được gởi vào phần lãi vay (bằng cách nâng lãi suất cho vay cao hơn bình thường) thu từ hoạt động cho vay của công ty trong nước với ngân hàng này.

    2.3.     Nguyên nhân tạo nên những đặc trưng của hoạt động chuyển giá ở Việt Nam

    2.3.1. Môi trường pháp lý của Việt Nam liên quan đến vấn đề chống chuyển giá hiện nay

    Từ năm 1987, nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Mặc dù Luật ĐTNN đã qua hai lần sửa đổi vào tháng 11/1996 và tháng 06/2000 nhưng vẫn chưa đề cập đến vấn đề chống chuyển giá một cách cụ thể và đầy đủ.

    Vấn đề chống chuyển giá đã được nêu ra trong các thông tư do Bộ tài chính ban hành để hướng dẫn thực hiện về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật ĐTNN, đó là thông tư số 74/TC/TCT ngày 20/10/1997 sau đó được thay thế bằng thông tư số 89/1999/TT-BTC ngày 16/07/1999. Tuy nhiên điều đáng chú ý nhất là các văn bản hướng dẫn sau vẫn giữ nguyên và hầu như không thay đổi bổ sung nội dun g các biện pháp chống chuyển giá trong văn bản ban hành trước đây. Tính đến thời điểm này thì thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 là cơ sở pháp lý về hướng dẫn các biện pháp chống chuyển giá và là cơ sở hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.

    Bên cạnh đó, để thực hiện kế hoạch cải cách thuế theo hướng bình đẳng cho các thành phần kinh tế và các hình thức đầu tư giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 17/06/2003 để thống nhất nghĩa vụ nộp thuế cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Chính sách này đã được cụ thể hóa thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003.

    2.3.2. Trình độ quản lý của các cơ quan hữu quan

    Do các cơ quan ban ngành ở nước ta không có khả năng kiểm soát do thiếu thông tin, trình độ quản lý, kiểm soát, kinh nghiệm, chuyên môn cần thiết và cũng có một phần do thiếu trách nhiệm để tính toán mức giá thích hợp giữa các công ty con của các MNC trong cuộc chơi chuyển giá nội bộ của họ.

    Chính vì thế mà các MNC tại Việt Nam lợi dụng các yếu kém này của nước chủ nhà thực hiện việc nâng giá tài sản góp vốn khi tham gia liên doanh, thực hiện việc nâng giá đầu vào của các nguyên vật liệu mua từ công ty mẹ ở chính quốc và việc nâng cao chi phí quảng cáo khuyến mãi và các chi phí khác nhằm phục vụ cho việc quảng cáo thương hiệu mình cộng với việc hạ giá sản phẩm bán ra gây lỗ nghiêm trọng cho liên doanh (mặc dù công ty mẹ vẫn có lãi do bán nguyên vật liệu độc quyền với giá cao và thu được chi phí khấu hao tài sản cố định khi tăng giá), như vậy các MNC đã làm cho nước tiếp nhận không nhận được một khoản thu thuế thu nhập nào, đây cũng là mục tiêu chuyển giá của các MNC nhằm trốn thuế ở quốc gia nào có thuế suất cao.

    Các thông tin do cơ quan thuế yêu cầu để xác định việc định giá chuyển giao của các MNC thường có tính bảo mật thương mại hoặc có ở các nước khác, làm cho các thông tin đó khó hoặc không lấy được và đây là một nguyên nhân để các MNC thực hiện hành vi chuyển giá của mình.

    Các cơ quan thuế tại các địa phương chưa có sự phối hợp đồng bộ với nhau, hoạt động cục bộ trong phạm vi của mình trong khi các MNC hoạt động toàn cầu và tại các địa phương khác nhau. Có trường hợp đã phát hiện bất hợp lý về giá nhưng không có điều kiện áp dụng biện pháp xác định giá thị trường, cơ quan thuế áp dụng biện pháp yêu cầu doanh nghiệp cam đoan bằng văn bản tính hợp pháp của chứng từ đã cung cấp. Việc này không mang tính cưỡng chế mà còn lệ thuộc chủ yếu vào doanh nghiệp, vì doanh nghiệp sẵn sàng làm văn bản cam đoan, do công ty con không có quyền trong việc xác định giá hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp mẹ cung ứng.

    2.4.  Thực tế áp dụng các biện pháp chống chuyển giá tại Việt Nam và những vấn đề tồn tại

    Như đã phân tích, các biện pháp chống chuyển giá tại Việt Nam là chưa có gì cụ thể ngoài một số văn bản, nghị định do Bộ tài chính ban hành và thường là mang tính chất đối phó, chạy theo

    các sự kiện đã xảy ra mà không có tính răn đe, chế tài đối với các công ty đa quốc gia. Bắt đầu là nghị định số 12/CP ngày 18/02/1997 của chính phủ về quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài làm nền móng pháp lý cho công tác quản lý tài chính tại các doanh nghiệp có vốn FDI. Tiếp theo là thông tư 74/TCT và thông tư 89/1999/TT-BTC đã đề cập đến vấn đề chống chuyển giá. Gần đây nhất là thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 trong đó có cụm từ chống chuyển giá.

    Các biện pháp chống chuyển giá ở đây nói cách khác là các phương pháp xác định giá thị trường ở Việt Nam. Việc xác định giá thị trường với mục tiêu đảm bảo xác định đúng nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp, trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra báo cáo thuế của doanh nghiệp, nếu phát hiện có vấn đề bất hợp lý về giá hoặc tỷ suất lợi nhuận trong giao dịch giữa các công ty liên kết, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp chống chuyển giá để xác định lợi nhuận chịu thuế.

    Quá trình phân tích, đánh giá sẽ chỉ ra phương thức xác định giá thị trường nào là phù hợp nhất. Khác với các quy định trước đây, chỉ có 3 phương pháp được áp dụng, không đủ để bao quát hết các khả năng phải xác định giá, trong lần quy định này, thông tư 117/2005/TT-BTC đó đưa ra 5 phương pháp định giá chuyển giao. Đó là:

    • Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập: dựa vào đơn giá sản phẩm được vận dụng trong

    trường hợp giao dịch độc lập có điều kiện tương đương với giao dịch liên kết.

    • Phương pháp giá bán lại: áp dụng trong trường hợp không có giao dịch mua tương đương, thuộc khâu cung ứng hoặc có thêm giai đoạn gia công, chế biến, lắp ráp… làm gia tăng giá trị

     

    hàng hóa, nên phải sử dụng giá bán lại của sản phẩm do cơ sở kinh doanh bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của giao dịch liên kết.

    • Phương pháp giá vốn cộng lãùi: được lựa chọn khi giao dịch liên kết thuộc khâu sản xuất khép kín để bán cho bên liên kết hoặc cung ứng đầu vào và bao tiêu đầu ra cho bên liên kết. Phương pháp này xác định giá dựa vào giá vốn hay giá thành của sản phẩm để xác định giá bán ra của sản phẩm đú cho bờn liờn kết.
    • Phương pháp so sánh lợi nhuận: để thực hiện phương pháp này phải dựa trên tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch độc lập được chọn. Phương pháp này không cho ra kết quả về giá mà tính ra được thu nhập thuần trước thuế là cơ sở tính thuế TNDN. Đây được xem là phương pháp mở rộng của phương pháp giá bán lại và giá vốn cộng lói, nờn cú thể ỏp dụng đối chiếu trong trường hợp có những điều kiện tương tự.

     

    • Phương pháp tách lợi nhuận: được áp dụng trong trường hợp nhiều bên liên kết cựng thực hiện một giao dịch liờn kết tổng hợp chẳng hạn như cùïng tham gia nghiêøn cứu phát triển sản phẩm mới, hoặc sản phẩm là tài sản vụ hàng độc quyền, kinh doanh chuyển tiếp từ khâu đầu đến khâu cuối gắn với quyền sở hữu trí tuệ. Việc tách lợi nhuận của từng bên liên kết trong giao dịch dựa trên cách mà các bên độc lập thực hiện phân chia lợi nhuận trong các giao dịch độc lập tương đương. Trường hợp do tính đặc thù hoặc duy nhất của giao dịch liên kết mà không có có giao dịch độc lập tương đương để chọn một trong các phương pháp trên so sánh thỡ cú thể sử dụng biện pháp tổng hợp (như mở rộng phạm vi lựa chọn sang phân ngành khác, xác định biên độ giá thị trường thích hợp bằng các phương pháp tổng hợp…) hoặc vận dụng các số liệu giữa kỳ (để tính mức giá sản phẩm, tỷ suất lợi nhuận…).

    Kết luận chương 2

    Thực trạng vấn đề chuyển giá tại Việt Nam chỉ mới được nhìn thấy qua các biểu hiện tương đối rời rạc, không điển hình nhưng chuyển giá không còn là vấn đề mới mẻ nữa và đang gặp không ít khó khăn.

    Thiết nghĩ sự chêch lệch về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu chưa phải là động cơ thực sự của hành vi chuyển giá tại Việt Nam, động cơ chính của chuyển giá tại Việt Nam nằm trong chiến lược thôn tính các liên doanh, đẩy phía đối tác ra ngoài cuộc chơi sau khi đã sử dụng phía đối tác Việt Nam làm bàn đạp thâm nhập thị trường, nhằm mục tiêu thống nhất sự quản lý điều hành theo hướng chuyên nghiệp hơn. Một động cơ nữa của hành vi chuyển giá tại Việt Nam theo các nhà đầu tư nước ngoài là rủi ro về chêch lệch tỷ giá khi cho rằng đồng tiền VND được định giá quá cao và sớm muộn gì cũng phải định giá thấp xuống. Rủi ro này thúc đẩy các nhà đầu tư dùng hoạt động chuyển giá nhằm thu hồi sớm vốn đầu tư. Có thể nói chính phủ Việt Nam đã rất chậm trễ trong việc đưa ra các quy định chống chuyển giá. Điều này có nguyên nhân từ việc còn thiếu kinh nghiệm quản lý nền kinh tế khi Việt Nam bước từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường với những tư duy hoàn toàn mới về sản xuất kinh doanh. Chính phủ Việt nam đã quá chậm đưa ra các biện pháp xử lý. Bộ tài chính có hướng dẫn thực hiện các quy định về chống chuyển giá như khái niệm doanh nghiệp liên kết và đưa ra các biện pháp xác định giá thị trường nhưng lại không thể đưa ra được hướng dẫn áp dụng cho các nhân viên thuế vụ cũng như các yêu

    cầu của cơ quan thuế Việt Nam về hồ sơ, chứng từ đối với các MNC làm cho các quy định chống chuyển giá không thể áp dụng vào thực tế.

    CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG CHUYỂN GIÁ CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

    3.1. Sơ lược kinh nghiệm một số nước:

    3.4.1. Kinh nghiệm của OECD:

    • Ngày 8/7/1994, OECD đưa ra dự thảo “Hướng dẫn giá chuyển giao đối với các cơng ty

    đa quốc gia và các cơ quan quản lý thuế ” dựa trên nguyên tắc “định giá cơng bằng”. hai nước khác nhau, hai cơ quan thuế cĩ thể thống nhất cách áp giá giao dịch để tránh bị đánh thuế hai lần. Khi đĩ, mỗi bên sẽ được chia một phần lợi nhuận, chứ khơng cĩ chuyện một nước gánh tồn bộ chi phí, cịn nước kia được hưởng tồn bộ lợi nhuận.

    • Hướng dẫn cũng đề ra các phương pháp tính giá chuyển giao, trong đĩ phương pháp phân chia lợi nhuận được coi là tốt nhất trong phần lớn các trường hợp, xác định lãi gộp

    để phân chia giữa các cơng ty liên kết dựa trên cơ sở giá trị kinh tế để phân chia phần lợi nhuận dự kiến và được phản ánh trong hợp đồng ký kết giữa các bên.

    3.4.2. Kinh nghiệm của Mỹ:

    • Quy định về giá chuyển giao đã trở thành một phần trong luật thuế của Mỹ từ thời điểm

    chiến tranh thế giới lần thứ nhất giá chuyển giao tài sản hữu hình và vơ hình giữa các chi nhánh của một doanh nghiệp ở các nước khác nhau phải được xác định tương đương với giá cung cấp cho bên thứ ba.

    • Cơ quan Thuế nội địa Mỹ (IRS) đề nghị nhiều phương pháp: hai phương pháp nhằm

    thiết lập tiêu chuẩn cân xứng với thu nhập, yêu cầu giá chuyển giao tài sản vơ hình phải được xác định theo một trong bốn phương pháp: CUT, CPM, chiết tách lợi nhuận, các phương pháp khác khơng định rõ.

    • Về hình thức xử phạt, số tiền phạt vi phạm về giá chuyển giao dao dộng từ 20-40% số

    thuế khai thiếu.

    3.4.3. Kinh nghiệm của Thái Lan:

    • Để đối phĩ với hiện tượng chuyển giá, năm 2004, Thái Lan thiết lập cơ sở dữ liệu thơng

    tin về các cơng ty đang là mục tiêu để tiến hành kiểm tra sổ sách và điều tra – cụ thể là các cơng ty cĩ các chỉ số “rủi ro cao”, như là thua lỗ liên tục hơn 2 năm; tổng số lợi nhuận âm; khơng nộp thuế trong một giai đoạn; cĩ các giao dịch đáng kể của cùng nhĩm liên quan; và khả năng sinh lãi thấp so với các đối thủ cạnh tranh.

    • Cơ quan thuế của Thái Lan tập trung vào các chứng cứ giá cả chính xác, tất cả cần hợp lý để chứng tỏ sự minh bạch, tài liệu cập nhật để chỉ ra cơ cấu và mối liên hệ của nhĩm

    các cơng ty, bao gồm tính chất của mỗi một kinh doanh, ngân sách của nĩ, kế hoạch kinh doanh và các chiến lược tài chính. Cùng với đĩ là tài liệu giải thích doanh số của cơng ty, kết quả hoạt động, các giao dịch quốc tế của cơng ty với các tổ chức kinh doanh liên kết.

    • Các chính sách giá, khả năng sinh lãi của mỗi một sản phẩm và thơng tin thị trường, sự

    đĩng gĩp lợi nhuận của mỗi bên nhận các chức năng thực hiện, các tài sản đã sử dụng, và sự rủi ro tất cả phải được đưa vào tính tốn và cĩ khả năng sử dụng cho việc khảo sát

    tường tận.

    3.2. Kiến nghị một số giải pháp ở Việt Nam:

    3.4.1. Nhóm giải pháp ở tầm vĩ mô

    3.2.1.1  Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật:

    Các luật thuế là công cụ chủ yếu để kiểm tra và giám sát tài chính các doanh nghiệp FDI và do đó nó cũng phản ánh được nội dung chống chuyển giá. Các cơ quan thuế cần phải sử dụng thuế như một công cụ hữu hiệu để chống lại hoạt động chuyển giá, thông qua việc so sánh đối chiếu về giá, chi phí và lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI để ngăn chặn hiện tượng “lỗ ảo” nhằm mục đích trốn tránh thuế. Bên cạnh đó, cần tiến hành song song việc kiểm soát và giám sát các khoản về chi phí lãi tiền vay, tiền quảng cáo, tiền lương cho người nước ngoài, bởi vì đây là những khoản chi phí rất dễ bị lợi dụng cho việc thực hiện hoạt động chuyển giá. Cần tiến hành rà soát lại các quy định về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác như thuế nhà thầu nước ngoài sao cho hợp lý để vừa thực hiện được mục tiêu thu hút vốn đầu tư nước ngoài lại vừa đảm bảo nguồn thu ngân sách. Gần đây chính phủ đã loại bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài làm giảm bớt động cơ của hoạt động chuyển giá, nhưng loại hình thuế nhà thầu khác như thuế chuyển tiền lãi vay, chuyển giao công nghệ, thương hiệu, … gọi chung là thuế nhà thầu với mức thuế suất từ 1% – 10% như hiện nay có thể là hơi thấp.

    Sớm ban hành các quy chế, quy định dưới dạng văn bản có tính pháp lý cao, cụ thể, xác thực và chặt chẽ về việc sử dụng vốn ODA và các dự án dưới hình thức BOT, … để ngăn chặn tình trạng chuyển giá gây hậu quả nghiêm trọng đến các công trình trọng điểm như xây dựng cơ sở hạ tầng, cầu đường, y tế, văn hóa, giáo dục, dầu khí, … Do mỗi ngành có những đặc tính kỹ thuật đặc thù nên chúng ta rất dễ bị qua mặt trong vấn đề chuyển giá. Cần hoàn chỉnh các quy trình để có thể kiểm soát thật chặt chẽ các dự án ODA.

    Việt Nam đã ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các quốc gia khác nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển thương mại với các nước và làm giảm gánh nặng về thuế cho các nhà đầu tư, qua đó cũng giảm bớt động cơ chuyển giá của các MNC.

    Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhắm vào các loại thu nhập : cổ tức, tiền trả lãi vay, thu nhập bản quyền. Đồng thời, còn làm tăng cường sự hợp tác lẫn nhau giữa các cơ quan thuế của các quốc gia, một điều hết sức cần thiết nhưng cũng cực kỳ khó đạt được trong sự phối hợp chống chuyển giá trên toàn cầu. Chỉ sau khi ký hiệp định thì các cơ quan thuế mới có quyền cung cấp cho nhau các thông tin liên quan đến các vấn đề về thuế như giá cả, lợi nhuận, chính sách của các MNC

    tại các quốc gia khác nhau. Theo xu hướng chung của các nước phát triển, Việt Nam ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần trên nguồn gốc thu nhập để tạo nên sự chắc chắn cần thiết về mặt tài chính và để thuận lợi trong thu hút vốn FDI.

    Hoàn thiện hệ thống luật pháp, nhất là xây dựng Luật chống chuyển giá là một trong những nội dung trọng tâm hàng đầu để hạn chế hành vi chuyển giá của các MNC. Muốn thế chúng ta phải xây dựng một quy trình có tính hệ thống, mang tính nhất quán và có định hướng rõ ràng, bình đẳng, phù hợp với mục tiêu đặt ra từng thời kỳ.

    Ban hành các văn bản dưới luật đúng lúc, kịp thời, tránh tình trạng Nghị định đã có nhưng thông tư hướng dẫn của Bộ, Ngành chưa được ban hành triển khai gây khó khăn đối với các Doanh nghiệp trong vấn đề thực thi, giải quyết các vấn đề phát sinh, đồng thời những phát sinh vướng mắc phải được giải quyết nhanh chóng thông qua hệ thống văn bản nhà nước.

    Hoàn thiện các chính sách tài chính thông qua việc xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh các văn bản pháp quy, các phương pháp kiểm tra và giám sát tài chính, quản lý ngoại hối đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI. Đồng thời, cần sớm xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán và kiểm toán phù hợp với quy định pháp luật trong nước và quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, trong đó có các doanh nghiệp FDI.

    Ban hành các quy chế để quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu các thiết bị, xây dựng cơ chế giám sát kỹ thuật và công nghệ, thẩm định giá các máy móc thiết bị nhập khẩu đặc biệt là những máy móc thiết bị mà đối tác nước ngoài góp vốn trong liên doanh.

    Nhà nước ta cần nghiên cứu một cách nghiêm túc thực tế của hoạt động chuyển giá tại các nước phát triển để rút ra được kinh nghiệm phù hợp cho Việt Nam, tránh tư tưởng vừa làm vừa sửa, sai đến đâu sửa đến đó.

    Việc thu hút đầu tư nước ngoài là mối quan tâm lớn của chính phủ, do đó các biện pháp chống chuyển giá cần phải cân nhắc, đảm bảo cho được tính cụ thể, chi tiết và khả năng thực thi, tránh tình trạng nửa vời gây ảnh hưởng không tốt cho môi trường sản xuất kinh doanh và tạo ức chế cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    Việc hoàn thiện hệ thống luật pháp về hạn chế hành vi chuyển giá còn bao gồm nội dung sau tuân thủ thông tư 117/2005/TT-BTC, khuyến khích các doanh nghiệp FDI tham gia vào cơ chế thỏa thuận định giá trước (Advance Pricing Agreement – APA). Cơ chế thỏa thuận định giá trước sẽ tạo ra một môi trường làm việc mang tính hợp tác giữa cơ quan thuế và các doanh nghiệp vì các lợi ích sau đây :

    1. Đảm bảo quyền lợi trước mắt cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền chủ động lựa chọn phương pháp xác định giá thị trường phù hợp, lâu dài và ổn định đối với hoạt động của chính hoạt động của doanh nghiệp mà không bị áp đặt từ phía cơ quan thuế.
    1. Doanh nghiệp sẽ tự thực hiện việc kê khai các giá trị giao dịch với các doanh nghiệp có liên kết khác và có điều kiện để chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ chứng từ để cơ quan thuế xác minh khi cần thiết, do đó sẽ làm giảm đáng kể chi phí lưu giữ, tìm kiếm thông tin.
    1. Doanh nghiệp có thể lên kế hoạch về nghĩa vụ đối với cơ quan thuế và kế hoạch sản xuất kinh doanh chính xác hơn vì xác định được chi phí bỏ ra. Về phía cơ quan thuế có thể tối thiểu hóa công việc kiểm tra hồ sơ chứng từ cho các nghiệp vụ chuyển giao, hạn chế kiện tụng giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp.
    2. Trong trường hợp các doanh nghiệp được áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì việc áp dụng cơ chế thỏa thuận định giá trước – APA sẽ giúp cho doanh nghiệp tối thiểu

    hóa được số thuế phải nộp và tránh rủi ro bị đánh thuế trùng.

    3.2.1.2  Ổn định đồng tiền Việt Nam

    Theo phân tích phần trên về ảnh hưởng của sự mất giá tiền đồng Việt Nam so với các đồng tiền mạnh khác là điều lo ngại của các nhà đầu tư nước ngoài và là động cơ thúc đẩy các MNC thực hiện thủ thuật chuyển giá khi đầu tư vào Việt Nam. Do đó, giải pháp ổn định tiền tệ cũng sẽ góp phần hạn chế động lực chuyển giá đồng thời sẽ có tác dụng thu hút thêm nhiều nguồn đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp từ nước ngoài.

    3.4.2. Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ quản lý trong lĩnh vực

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài:

    Có thể nói rằng hoạt động chuyển giá có đạt được kết quả hay không, ngoài các giải pháp đã đề cập thì yếu tố chủ chốt vẫn là con người mà cụ thể là cán bộ thuế, hải quan và các cán bộ Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp FDI.

    Các cán bộ chủ chốt cần phải thấy rằng : muốn hạch toán sai lệch để biến lãi thành lỗ, các công ty này phải sử dụng chứng từ không đúng với nghiệp vụ phát sinh như có sự sai lệch về giá, vì vậy các cán bộ này cần phải nâng cao nghiệp vụ chuyên môn thông qua các khóa huấn luyện nghiệp vụ trong và ngoài nước nhằm thích ứng kịp thời với những yêu cầu ngày càng phức tạp của công việc. Ngoài ra, cần thông thạo ngoại ngữ, sử dụng tốt các phương tiện làm việc như máy tính và các phần mềm chuyên dụng khác để phối hợp cùng các nhân viên thuế vụ của nước bạn tăng cường quản lý chặt chẽ hành vi chống chuyển giá.

    Khi làm luật liên quan đến vấn đề này, cần phải có những quy định rõ ràng về chế độ khen thưởng, đãi ngộ cho các cán bộ nếu họ phát hiện những hành vi chuyển giá. Đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm minh nếu có hành vi tiếp tay để chuyển giá.

    Nhà nước cần đào tạo một bộ phận chuyên trách thuộc ngành thuế chuyên theo dõi thu nhập của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước nhằm phát hiện hành vi chuyển giá của các MNC, có thể thành lập mới Cục thu nhập như của Thái Lan hoặc giao nhiệm vụ cụ thể chuyên trách theo dõi vấn đề này cho một bộ phận hiện hành nào đó trong Bộ.

    3.4.3. Nhóm giải pháp liên quan đến các cơ quan, ban, ngành khác:

    Tăng cường sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan thuế, hải quan và các cơ quan chức năng khác như cơ quan tài chính vật giá, công ty kiểm toán, cơ quan thống kê, cơ quan kiểm định chất lượng để phân công chức năng, trách nhiệm cụ thể trong việc trao đổi thông tin và hỗ trợ lẫn nhau trong công tác quản lý. Đặc biệt là giám sát chi phí trong hợp đồng ký kết với các đối tác nước ngoài một

    cách hợp lý, logic, tránh hiện tượng chồng chéo, dẫm chân lên nhau vừa tốn kém mà số liệu lại không chính xác không thể sử dụng vào mục đích quản lý chung của quốc gia.

    3.3. Nhóm giải pháp mang tính chất kỹ thuật:

    Khi xem xét về giá giao dịch giữa các bên liên kết đặc biệt là trong nội bộ tập đoàn, việc phân loại các giao dịch là rất quan trọng đối với việc nhận diện các phương thức và yếu tố thường sử dụng vào mục đích gian lận về giá giao dịch. Thông thường các loại giao dịch trong nội bộ tập đoàn thường được phân thành bốn loại chính : mua bán hàng hóa, chuyển giao kỹ thuật và nhãn hiệu, cung cấp dịch vụ và các hoạt động tài chính (cho vay).

    Chúng ta sẽ xây dựng giá giao dịch dựa trên cơ sở nào ? Theo quan điểm của OECD (lấy giá bán theo căn bản giá thị trường – ALP làm cơ sở cho việc tính toán giá chuyển giao trong nội bộ MNC) hay quan điểm của Mỹ (lấy lợi nhuận làm căn bản để đánh giá các hoạt động chuyển giao) ? Thật ra, hai quan điểm đó chỉ là hai phương pháp để đi đến một mục đích là hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình chuyển giá, do đó các phương pháp chống chuyển giá của Việt Nam có thể cùng lúc dung hòa hai quan điểm trên với mục đích cuối cùng là đạt hiệu quả cao nhất.

    Các phương pháp định giá chuyển giao được đề xuất dưới đây là các phương pháp cơ bản mà OECD đề xuất sử dụng và thực tế đã được nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng mang lại tính hợp lý và hiệu quả. Vì vậy, trước mắt chỉ nên tìm xem những phương pháp định giá chuyển giao nào do OECD đề xuất là phù hợp với thực tế Việt Nam để áp dụng và bổ sung vào các giải pháp hỗ trợ cho công tác chống chuyển giá của chính phủ Việt Nam.

    3.4.1. Phương pháp so sánh giá thị trường tự do

    Nội dung của phương pháp này là so sánh giá đã được ghi nhận trong các giao dịch nội bộ với giá thị trường tự do. Để thực hiện so sánh, chúng ta cần có nguồn cơ sở dữ liệu về giá thị trường quốc tế tương đối đầy đủ. Trước mắt, chúng ta cần có giá cả của các nguyên liệu thường xuyên nhập khẩu vào Việt Nam và từng bước bổ sung, mở rộng ra các mặt hàng khác. Điểm đáng chú ý là hoạt động kiểm tra, định giá lại được thực hiện sau khi giao dịch đã xảy ra, do đó nguồn cơ sở dữ liệu cũng xây dựng và lưu trữ theo giá từng thời điểm để tránh sai sót do biến động của thị trường khi áp dụng. Khi sử dụng phương pháp này, chúng ta có thể phát hiện được những chi phí phát sinh bất hợp lý thông qua việc so sánh với các doanh nghiệp tương tự trong những nghiệp vụ chuyển giao có thể so sánh được. Cụ thể, khi xem xét giá vốn hàng bán và chi phí về nguyên vật liệu một công ty liên doanh tại TPHCM, chúng ta thấy giá vốn hàng hóa bán ra chiếm một tỷ lệ hơn 61% trên doanh thu và chi phí về nguyên vật liệu chiếm tỷ lệ khoảng 51% trên doanh thu. Nếu so sánh với một công ty khác cùng ngành nghề và quy mô hoạt động thì tỷ lệ giá vốn hàng hóa trên doanh thu là 53% và tỷ lệ về chi phí nguyên vật liệu là 45% trên doanh thu, như vậy rõ ràng các khoản chi phí của công ty liên doanh đã có vấn đề cần phải xem xét lại. Tương tự, chi phí về quảng cáo của công ty A là 8% trên giá bán thì tại công ty B khác, chi phí này là 5%. Điều này cho thấy, công ty liên doanh đã sử dụng chiến thuật giành thị trường tiêu thụ nên sẵn sàng nâng khoản chi phí quảng cáo tiếp thị lên và làm lỗ thêm

    cho liên doanh. Nếu cơ quan thuế sử dụng phương pháp so sánh với công ty B thì có thể ngăn chặn những khoản chi này.

    3.4.2. Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua vào

    Phương pháp này được áp dụng thay cho phương pháp giá thị trường tự do và đặc biệt thích hợp cho ngành thương mại.

    Điểm chính của phương pháp này là phải xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu để tính khoản khấu trừ hợp lý. Do hoạt động kinh doanh bao gồm rất nhiều loại hình phong phú và đa dạng, ngay cả đối với một loại sản phẩm cùng loại có thể có những quy cách và phẩm chất khác nhau, do đó, khi xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, chúng ta cần lưu ý :

    • Xây dựng một tỷ suất lợi nhuận bình quân cho từng mặt hàng hoặc từng ngành kinh doanh.
    • Điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

    Ví dụ : Một công ty Nhật chuyên sản xuất dụng cụ y tế. Công ty này tiến hành bán sản phẩm của mình cho một số đại lý tại Việt Nam. Để xác định giá mua vào đối với những sản phẩm mà các đại lý Việt Nam đã nhận của công ty mẹ, cơ quan thuế Việt Nam sẽ xác định : Giá bán các dụng cụ y tế cho những cửa hàng độc lập với công ty (đặt tại Việt Nam). Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân của các cửa hàng độc lập đó : tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân của ngành kinh doanh dụng cụ y tế là 16%. Tuy nhiên, do những dụng cụ y tế mà công ty trên cung cấp là loại đặc biệt, tác dụng điều trị đặc thù nên tỷ suất lợi nhuận dự kiến sẽ tăng thêm 3% so với các dụng cụ y tế thông thường. Do đó có thể xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của các cửa hàng độc lập là 19% để làm cơ sở xác định giá mua vào.

    3.4.3. Phương pháp giá phí cộng thêm

    Phương pháp giá phí cộng thêm rất phù hợp với những loại hình doanh nghiệp sản xuất, gia công hoặc các cơ sở làm dịch vụ khi đó giá chuyển giao được xác định bằng cách cộng thêm một khoản nâng giá thích ứng vào chi phí sản xuất của sản phẩm, dịch vụ. Khoản chi phí cộng thêm về nguyên tắc sẽ bao gồm các chi phí bán hàng, chi phí quản lý tương ứng và phần lợi nhuận theo tỷ lệ lợi nhuận bình quân cho ngành kinh doanh. Do trong phương pháp này các chi phí giao dịch và quản lý được tách riêng để tính toán do đó cần lưu ý kỹ đến việc phân bổ các chi phí này sao cho chính xác phù hợp với doanh số chuyển giao.

    Ví dụ : Một công ty chuyên sản xuất mặt hàng trang trí nội thất điều hành toàn bộ hoạt động nghiên cứu và triển khai sản xuất tại Hàn Quốc. Sau khi sản xuất và qua khâu chế biến thành gỗ ocan, sẽ được chuyển giao đến một chi nhánh tại Việt Nam. Tại đây, gỗ ocan sẽ được gia công thành các sản phẩm trang trí nội thất như bàn, ghế, giường, tủ, … và được chuyển ngược về Hàn Quốc để bán trên thị trường Hàn Quốc. Trong trường hợp này, công ty ở Việt Nam là một công ty chuyên sản xuất theo hợp đồng, thực hiện các hoạt động sản xuất có tính chất giới hạn, không làm công việc điều độ sản xuất, không mua nguyên vật liệu và cũng không chịu rủi ro về vật liệu cung ứng và thị trường tiêu thụ. Sản phẩm trang trí nội thất sẽ mang nhãn

    hiệu của công ty Hàn Quốc, hoàn toàn không có tên của công ty Việt Nam. Do công ty Hàn Quốc chỉ thực hiện hợp đồng sản xuất với công ty Việt Nam nên không thể sử dụng phương pháp CUP để xác định giá chuyển giao trong nội bộ công ty này. Tuy nhiên, do công ty con ở Việt Nam không chỉ thực hiện nhiệm vụ gia công cho công ty mẹ ở Hàn Quốc mà còn có thể gia công sản xuất cho các công ty không liên kết khác, những mặt hàng trang trí nội thất tương tự, do đó, khoản nâng giá mà công ty Việt Nam khi làm dịch vụ cho các công ty không liên kết khác sẽ là những thông tin có thể so sánh được dùng để áp dụng phương pháp giá phí cộng thêm khi định giá cho các nghiệp vụ chuyển giao của công ty Hàn Quốc có liên kết.

    Trên đây là một số các phương pháp cụ thể để thực hiện chống chuyển giá ở Việt Nam. Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy ba phương pháp đã nêu có thể sẽ không áp dụng được trong một số tình huống cụ thể.

    3.4. Nhóm giải pháp hỗ trợ

    3.4.1. Đẩy mạnh việc thực hiện các giao dịch thông qua ngân hàng

    Đẩy mạnh việc thanh toán qua ngân hàng nhằm kiểm soát các giao dịch đang phát sinh trong toàn bộ nền kinh tế. Các chứng từ ngân hàng giúp cho cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát được các giao dịch cũng như các chủ thể tham gia vào các giao dịch đó.

    Tăng cường kiểm soát hoạt động doanh nghiệp thông qua tín dụng, cần tổ chức chặt chẽ việc thẩm định cho vay và sau khi cho vay về hiệu quả của dự án, cách thức sử dụng vốn vay, khả năng trả nợ và nguồn để trả nợ.

    Thực hiện tốt điều này không những làm lành mạnh môi trường tín dụng, kinh doanh mà còn có thông tin chuẩn xác về các tỷ lệ chi phí, tỷ lệ lãi hay các chỉ tiêu tài chính kinh tế khác trong nhiều ngành để làm chuẩn so sánh khi xác định giá chuyển giao tiêu chuẩn, hoặc xác nhận mức thu nhập chịu thuế để nhận biết có hiện tượng chuyển giá hay không. Nếu hệ thống ngân hàng hoạt động tốt, nó sẽ là nơi cung cấp thông tin, số liệu về mức chi phí hiệu quả, về giá mua bán, về tỷ lệ lợi nhuận từng doanh nghiệp, từng ngành rất chính xác. Từ đó, có thể tập hợp để tính chỉ số bình quân ngành, phát hành tài liệu phục vụ cho cơ quan chống chuyển giá khi xác định giá tiêu chuẩn chuyển giao như các phương pháp giá tự do có thể so sánh được, lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao, … để xác định lợi nhuận chịu thuế.

    3.4.2. Cần có các quy định thống nhất về thủ tục và điều chỉnh các mức giá kê khai

    cho phù hợp với giá thị trường:

    Khi có nghi ngờ về hiện tượng chuyển giá ở một doanh nghiệp FDI, cơ quan thuế có thể thực hiện các bước kiểm tra như sau :

    1. Thông báo cho các doanh nghiệp để được cung cấp các chứng từ về những thông tin có liên quan đến đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp.
    2. Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm cung cấp những thông tin đã được cơ quan thuế yêu cầu trong thời gian hạn định. Những tài liệu và thông tin cung cấp có thể bao gồm :
    • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để cung cấp tình hình lãi lỗ của doanh nghiệp, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
    • Tình hình thực hiện doanh thu bán hàng và các hóa đơn xuất giao hàng, đặc biệt là các hóa đơn xuất giao hàng cho các liên kết.
    • Các hóa đơn chứng minh cho các khoản chi phí đã thực chi.
    • Báo cáo về tài sản, nguồn tài trợ và các khoản chi cho việc sử dụng vốn, đặc biệt là các khoản chi cho nguồn tài trợ tín dụng.
    • Hợp đồng chuyển giao công nghệ và bí quyết công nghệ, các thông tin chứng minh tính hợp lý về tiền bản quyền, chi phí nhãn hiệu thương mại, …
    • Thời điểm lập tờ khai thuế.
    • Chứng minh được phương pháp định giá và khả năng xác định hàng hóa, dịch vụ là hợp lý.
    1. Cơ quan thuế căn cứ vào các tài liệu và thông tin do các doanh nghiệp cung cấp và các quy định chính sách của cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài xác minh lại tính chính xác của các mức giá kê khai. Trường hợp các mức giá kê khai của doanh nghiệp cách biệt quá lớn so với

    giá thị trường, các cơ quan quản lý thuế sẽ tiến hành điều chỉnh và sẽ thông báo bằng văn bản xác định bản chất và số tiền được điều chỉnh cho doanh nghiệp

    1. Nếu doanh nghiệp không thống nhất với những kết luận của cơ quan thuế, doanh nghiệp có

    thể yêu cầu được giải thích và nếu cần có thể khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền.

    3.4.3. Các biện pháp phạt:

    Để tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra và giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp FDI, cơ quan tài chính và thuế cần ban hành những chế độ phạt cụ thể trong những

    trường hợp phát hiện có hiện tượng chuyển giá.

    Theo kinh nghiệm của các nước OECD và đặc biệt là Mỹ, các hình phạt có thể đóng một vài trò chính đáng trong việc cải thiện chế độ chấp hành chính sách thuế trong lĩnh vực định giá

    chuyển giao. Việc thi hành hệ thống các hình phạt này nhằm đảm bảo sự công bằng và không tạo ra sự phiền nhiễu cho người nộp thuế.

    Đối với Việt Nam, việc thực hiện các quy tắc phạt có thể áp dụng phân biệt theo hai trường hợp sau :

    • Khi những nghiệp vụ chuyển giao của các doanh nghiệp được cơ quan thuế xem xét trên cơ sở áp dụng các phương pháp định giá chuyển giao truyền thống, nếu phát hiện có sự sai biệt

    giữa giá doanh nghiệp kê khai với giá thị trường thì áp dụng một tỷ lệ phạt trên khoản chêch lệch (cao hơn hoặc thấp hơn giá thị trường). Tỷ lệ này ở Mỹ có hai mức là 20% và 40% tùy theo mức độ sai biệt nhỏ hay lớn.

    • Khi những nghiệp vụ chuyển giao của các doanh nghiệp được cơ quan thuế xem xét trên cơ sở áp dụng các phương pháp định giá chuyển giao dựa trên căn bản lợi nhuận, nếu phát sinh mức độ sai biệt giữa lợi nhuận báo cáo với lợi nhuận so sánh ở các doanh nghiệp tương tự thì áp dụng một tỷ lệ phạt trên khoản lợi nhuận chêch lệch đó.

    Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể tránh được những hình phạt nói trên nếu như xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh cho các khoản chêch lệch hợp lý.

    Sau đây là một số đề xuất về khung hình phạt tại Việt Nam:

    • Xây dựng, ban hành biểu thuế suất cụ thể ứng với từng mức độ vi pham khác nhau (nhẹ, trung bình, nặng).
    • Doanh nghiệp đầàu tư nước ngoài cố ý kê khai giảm thu nhập so với thu nhập thực tế nếu bị phát hiện sẽ chịu phạt 3 đến 5 lần thuế áp dụng tại thời điểm phát hiện kê khai thấp hơn, tùy theo số lần bị phát hiện và mức độ nghiêm trọng mà áp dụng mức độ nặng nhẹ khác nhau.
    • Xét theo mức độ nặng nhẹ căn cứ vào nhiều yếu tố. Trong đó, đặc biệt quan tâm đối tượng nộp thuế cố ý không tuân thủ các quy định về chuyển giá gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia.
    • Phát hiện mức thuế trốn càng cao áp dụng hình thức phạt càng cao.
    • Thực hiện việc truy thu thuế từ 5 đến 10 năm trở về trước. Aùp dụng mức lãi suất phạt

    truy thu thuế. Mức lãi suất đó tính theo lãi suất cho vay hiện hành hiện hành của Ngân hàng tại thời điểm áp dụng quyết định truy thu.

    Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay Việt Nam cần thu hút vốn đầu tư nước ngoài để thúc

    đẩy phát triển đất nước là mục tiêu của chính phủ. Vì vậy, các nhà làm luật khi xây dựng khung

    hình phạt đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện việc chuyển giá cần

    phải cân nhắc giữa lợi ích đạt được và thiệt hại mất đi để linh hoạt có hướng xử lý một cách

    hiệu quả nhất, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước.

    Tóm lại thực hiện tốt các giải pháp trên đây sẽ làm tăng tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, hạn chế và khắc phục tình trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI, tăng thu cho tài chính quốc gia. Chính phủ cần phải ban hành các hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực nhằm thực hiện một cách đồng bộ hoạt động chuyển giá. Tuy nhiên, đây là vấn đề rất phức tạp. Vì vậy, để thực hiện được các giải pháp trên, đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ của nhiều cơ quan và phải có sự chỉ đạo chặt chẽ và kịp thời của chính phủ, trong đó nhiệm vụ chủ yếu thuộc về cơ quan chịu trách nhiệm thu ngân sách nhà nước là Bộ tài chính.

    KẾT LUẬN

    Nhìn chung, vấn đề định giá chuyển giao của Việt Nam cũng đã được đặt ra thông qua một số văn bản pháp quy của Nhà nước hướng dẫn các quy định về thuế đối với DN có vốn ĐTNN. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà quản lý thì những quy định trong văn bản này chưa đủ sức để có thể kiểm soát được các hoạt động định giá chuyển giao. Hệ quả là đã có một số trường hợp DN cố tình khai tăng giá trị máy móc thiết bị dùng làm vốn góp đầu tư ban đầu, tăng cao các chi phí nhập khẩu nguyên liệu…

    Trên thực tế, số liệu ngành thuế TP.HCM cho thấy, đã có trường hợp một DN FDI hoạt động theo hình thức liên doanh với tỷ lệ góp vốn Việt Nam 40%- nước ngoài 60%, DN khai lỗ kể từ khi bắt đầu hoạt động và 3 năm thì chuyển sang DN 100% vốn nước ngoài. Trong khoảng thời gian 3 năm liên doanh, giá bán sản phẩm giảm liên tục khoảng 3%/năm, làm cho mức lỗ năm sau cao hơn năm trước. Mức lỗ được phân tích là do chi phí nguyên vật liệu và tiền lương quá cao. Trong khi đó, thông tin so sánh của các công ty con khác trong cùng một tập đoàn cho thấy các chỉ số tài chính phản ánh chi phí đầu vào ở Việt Nam nguyên vật liệu trên doanh thu thuần cao gấp 2-3 lần, giá vốn bán hàng trên doanh thu thuần cao gấp 0,2-0,3 lần. Các bằng chứng trên đã cho thấy, vấn đề định giá chuyển giao tại Việt Nam có sự phức tạp và đa số nằm ngoài tầm kiểm soát của một số ngành chức năng, đặc biệt là ngành thuế.

    Như vậy, khi các hành lang pháp lý phục vụ cho việc định giá chuyển giao tại Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện thì việc tạo ra các kẽ hở là điều khó tránh khỏi. Chính vì thế, các nhà quản lý, làm luật cần tính toán kỹ hơn trong việc nhanh chóng hoàn thiện bổ sung thêm các khung pháp lý liên quan để việc định giá chuyển giao có thể được kiểm soát một cách chặt chẽ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phần Tiếng Việt
    • Cục thuế TP.Hồ Chí Minh (2005), Báo cáo tình hình 10 năm thực hiện chính sách thuế trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
    • Phan Hiển Minh (2002), Hoàn thiện phương pháp định giá chuyển giao trong chính sách thuế của Việt Nam, Luận văn tiến sỹ kinh tế, Học viện tài chính.

     

    • Ngô Trần Kim Ngân (2005), Một số giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

     

    • Nguyễn Ngọc Thanh (2000), Định giá chuyển giao và chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở TP.Hồ Chí Minh, NXB tài chính.

     

    • Nguyễn Ngọc Thanh (1999), Hiện tượng chuyển giá của các công ty đa quốc gia: tác động tiêu cực và giải pháp khắc phục, Tạp chí tài chính số 421, trang 18- 21, 11/1999.

     

    • Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Hoàng Dũng (2001), Định giá chuyển giao và thủ thuật chuyển giá của các công ty đa quốc gia ở Việt Nam, NXB tài chính, Hà Nội.
    • Nguyễn Trí Thành (2004), Các giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh.
    • Tài liệu tham khảo từ các website:
    1. dpi.hochiminhcity.gov.vn

     

    1. mof.gov.vn

     

    1. mpi.gov.vn

     

    1. gso.gov.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/LU%E1%BA%ACN-V%C4%82N-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0o-Cao-B%E1%BA%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    Lời mở đầu

    Bên cạnh vốn trong nước thì vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn quan trọng với phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nhận thức được điều này, trong những năm gần đây thu hút đầu tư nước ngoài đã được các cấp lãnh đạo Cao Bằng quan tâm đặc biệt. Đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng chủ yếu gồm hai loại: ODA, FDI. Vốn ODA đã được tỉnh sử dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng, các chương trình xoá đói giảm nghèo, cung cấp điện nước… Do vị trí địa lý, điều kiện địa hình tự nhiên và giao thông rất bất lợi, nên khả năng thu hút FDI của Cao Bằng còn hạn chế. Tỉnh đã dành nhiều ưu đãi đầu tư trên địa bàn song vẫn chưa đủ sức thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Cao Bằng.

    Sau một thời gian thực tập tại sở Kế hoạch và Đầu tư Cao Bằng, qua tìm hiểu tình hìnhthực tế em nhận thấy trong điều kiện Cao Bằng hiên nay tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài là cần thiết, làm tốt công tác này sẽ góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng” cho chuyên đề thực tập của mình.

    Kết cấu của chuyên đề:

    Chương I. Những vấn đề lý luận chung

    Chương II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    Chương III. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nứớc ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2005 – 2010.

     

    Chương I. Những vấn đề lý luận chung.

    I. Khái niệm và vai trò của đầu tư phát triển.

    1. Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển.

    Đầu tư : Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động có mục đích nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên; là thời gian, sức lao động trí tuệ.

    Kết quả đem lại có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền), tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Những kết quả đó có vai trò quan trọng trong mọi trường hợp, không chỉ với nhà đầu tư mà còn với cả nền kinh tế quốc dân.

    Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác.

    Đầu tư phát triển: Là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn vật chất, nguồn lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.

    Qua định nghĩa về đầu tư và đầu tư phát triển cho thấy với bất cứ sự phát triển nào cũng gắn với hoạt động đầu tư, bởi vậy đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nhà ở cũng chung mục đích đem lại cho tương lai một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại.

    2. Vai trò của đầu tư phát triển.

    2.1. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước.

    – Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu.

    • Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu toàn bộ nền kinh tế, chiếm khoảng 24 – 28% trong cơ cấu tổng cầu. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo theo sản lượng cân bằng tăng theo và giá cả của các cầu vào tăng theo.

     

     

    • Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên. Sản lợng tăng giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.

    – Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.

    Khi tăng đầu tư cầu của các yếu tố đầu vào tăng vừa làm cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng, đến một mức nào đó dẫn đến lạm phát. Lạm phát làm kinh tế phát triển chậm lại, mặt khác khi tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tệ nạn xã hội, tạo điều kiện cho

    sự phát triển nền kinh tế. Khi giảm đầu tư cũng tác động đến hai mặt, nhng theo chiều h-ướng ngược lại.

    – Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.

    Muốn giữ tốc độ tăng trởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15 – 25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước.

    Vốn đầu tư

    ICOR =

    Mức tăng GDP

    Vốn đầu tư

    Mức tăng GDP =

    ICOR

    Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP phụ thuộc vào vốn đầu tư.

    – Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

    Chính sách đầu tư quyết định qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.

    Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị,… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.

    – Đầu tư với việc tăng cường khả năng KH & CN của đất nước.

    Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay.

    Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài. Dù tự nghiên cứu hay nhập khẩu từ nước ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư. Mọi phơng án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án không khả thi.

    2.2. Đối với phát triển vùng lãnh thổ.

    Vùng lãnh thổ trên một bình diện nào đó là một nền kinh tế thu nhỏ nên hoạt động đầu tư trên phạm vi vùng lãnh thổ cũng có vai trò như là hoạt động đầu tư trên phạm vi quốc gia: tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá; đến sự ổn định của nền kinh tế, tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ. Nét khác biệt giữa vùng lãnh thổ và quốc gia là vùng lãnh thổ có điều kiện về tự nhiên và xã hội tư-ơng đối đồng nhất trong khi trên phạm vi quốc gia có sự khác biệt giữa các vùng do vậy trong chính sách đầu tư của vùng lãnh thổ vừa chịu sự ảnh hưởng từ chính sách vĩ mô của Nhà nước, vừa thể hiện sự sáng tạo trong việc vận dụng vào điều kiện cụ thể trong khi chính sách đầu tư của quốc gia thực hiện sự linh hoạt giữa các vùng khác nhau.

    2.3. Trên giác độ các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.

    Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển nhanh của mỗi cơ sở. Khi tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời bất kỳ cơ sở sản xuất kinh doanh nào đều phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, lắp đặt máy móc… Các hoạt động này là các hoạt động đầu tư. Sau một thời gian các máy móc này bị hỏng hoặc hao mòn. Để hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục cần phải đầu tư kinh phí để sửa chữa và bảo hành. Chứng tỏ đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ ở tầm vĩ mô mà còn cả ở tầm vi mô.

    3. Các nguồn vốn đầu tư.

    Theo nguồn hình thành, vốn đầu tư bao gồm:

    3.1. Nguồn vốn trong nước.

    Đây là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển bền vững, lâu dài của nền kinh tế. Nó không những có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất kinh doanh trong nội bộ nền kinh tế mà còn có ảnh hưởng to lớn đối với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vốn tích luỹ trong nước tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra cơ sở hạ tầng, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút và tiếp nhận đầu tư nước ngoài, đồng thời giữ thế chủ động không phụ thuộc vào nước ngoài.

    Nguồn vốn trong nước được hình thành từ hai nguồn chính: Đó là nguồn vốn Nhà nước và nguồn vốn tư nhân.

    Vốn của Nhà nước bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách, vốn tín dụng đầu tư và vốn của doanh nghiệp Nhà nước. ở nước ta, các nguồn vốn này thờng đợc Nhà nước đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Nguồn vốn từ ngân sách chiếm khoảng 21% tổng vốn đầu tư xã hội đợc sử dụng đầu tư cho xây dựng cơ bản, hạ tầng kinh tế xã hội và các công trình công cộng không có khả năng thu hồi vốn; nguồn vốn tín dụng đầu tư chiếm khoảng 6% tổng số vốn đầu tư và đợc sử dụng tập trung cho các dự án sản xuất kinh doanh theo hướng ưu tiên của kế hoạch Nhà nước và dự án công trình công cộng có khả năng thu hồi vốn như bưu điện, bưu chính viễn thông… Vốn của doanh nghiệp Nhà nước đầu tư chiếm trên 13% tổng số vốn đầu tư. Từng bước điều chình mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước một cách hợp lý hơn, nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp Nhà nư-ớc trong sản xuất kinh doanh.

    Nguồn vốn của tư nhân bao gồm tích luỹ của các doanh nghiệp tư nhân và tiết kiệm của dân cư. Nguồn vốn này chủ yếu để đầu tư sản xuất kinh doanh với mục đích lợi nhuận. Thời gian qua nguồn vốn này chiếm khoảng trên 30% tổng vốn và góp phần rất quan trọng vào việc tăng trởng kinh tế và ổn định đời sống dân cư, nhất là tạo công ăn việc làm cho cả nông thôn và thành thị.

    3.2. Nguồn vốn huy động từ nước ngoài.

    Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng, đặc biệt đối với những nước đang phát triển, còn đang ở trong tình trạng thiếu vốn gay gắt. Nhờ có nguồn vốn này tạo nên một động lực lớn giúp các nƯớc này giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội to lớn, nâng cao năng lực công nghệ và khả năng lao động… nhanh chóng công nghiệp hoá hiện đại hoá đa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Vốn đầu tư nước ngoài đƯợc chia thành: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign direct Investment) và nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (ODA: Offical Development Assitance).

    Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

    Đầu tư nước ngoài là sự chuyển dịch tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu .

    Đầu tư trực tiếp : nhà đầu tư bỏ vốn và trực tiếp quản lý vốn

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều nguồn khác nhau: vốn của chính phủ, các tổ chức quốc tế, vốn của tư nhân bao gồm vốn của người nước ngoài hay của người Việt Nam ở nước ngoài.

    Mục đích của đầu tư nước ngoài là thu về lợi nhuận do vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đầu tư vào những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao, thời gian hoàn vốn nhanh, những lĩnh vực ít rủi ro. Bởi vậy nước tiếp nhận đầu tư nếu không biết điều chỉnh sẽ làm ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (vốn ODA).

     

    Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA (Official Development Assistance, viết tắt là ODA) được ngân hàng thế giới định nghĩa: “ODA là khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại, hoặc tín dụng u đãi của các tổ chức Chính phủ, dành cho các nước đang và chậm phát triển”.

    ODA bao gồm: ODA không hoàn lại và ODA cho vay u đãi có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25% giá trị khoản vay.

    Thời gian vay nợ khá dài thờng từ 30 – 40 năm (kể cả thời gian ân hạn). Ngoài khoản viện trợ không hoàn lại thì nguồn vốn cho vay với lãi suất thấp (0-5% /năm).

    Mục tiêu tổng quát là hỗ trợ các nước nghèo thực hiện chơng trình phát triển và tăng phúc lợi của mình. Tuy nhiên tính ưu đãi thường kèm theo các điều kiện ràng buộc t-ơng đối khắt khe như tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vố và thanh toán… Đôi khi ODA được cung cấp từ Chính phủ còn gắn với những ràng buộc về mặt chính trị, xã hội thậm chí cả về quân sự.

    Ngoài ra cũng cần nhấn mạnh rằng ODA là nguồn vốn vay nợ nước ngoài mà nư-ớc đi vay phải thanh toán trong một thời gian nhất định. Chính vì vậy cần phải xem xét dự án viện trợ trong điều kiện tài chính tổng thể nếu không việc tiếp nhận viện trợ sẽ trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài đối với mỗi quốc gia.

    II. Vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    1. Vai trò.

    Chuyển giao công nghệ :

    Đa số các nhà đầu tư nước ngoài có công nghệ tiên tiến. Họ có thể sẵn sàng chuyển giao công nghệ đó cho chủ nhà nếu chuyên gia địa phương có thể tiếp cận công nghệ sau khi huấn luyện.

    Tạo công ăn việc làm :

    Hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động địa phương, đặc biệt là các nghành sử dụng nhiều lao động giản đơn như dệt may, da giày…

    Kích thích các doanh nghiệp địa phương:

    Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ kích thích các doanh nghiệp địa phương tham gia manh mẽ vào việc cung cấp nguyên vật liệu, các linh kiện rời và các dịch vụ cho họ…

    Kinh nghiệm quản lý :

    Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang theo kinh nghiệm quản lý và cách thức điều hành hoạt động của một doanh nghiệp. Việc cử người đi làm việc ở nước ngoài sẽ rất tốn kém, do đó các công ty này thường huấn luyện người địa phương thành các nhà quản trị tại chỗ nhằm bổ xung vào đội ngũ quản trị của họ.

    2.  Các

    nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài.

    Môi trường đầu tư nước ngoài là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài ở nước nhận đầu tư. Nó bao gồm các yếu tố: tình hình chính trị, chính sách-pháp luật, vị trí địa lí-điều kiện tự nhiên, trình độ kinh tế,

    đặc điểm văn hóa-xã hội. Các nhóm yếu tố này có thể làm tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư.

    Tình hình chính trị:

    Tình hình ổn định chính trị của nước tiếp nhận đầu tư là cơ sở quan trọng hàng đầu để thực hiện các cam kết bảo đảm an toàn sở hữu tài sản và các khuyến khích đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác, sự ổn định chính trị còn là tiền đề cần thiết để ổn định tình hình kinh tế xã hội, nhờ đó giảm được rủi ro cho các nhà đầu tư. Một nước không thể thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài nếu tình hình chính trị luôn luôn mất ổn định.

    Chính sách pháp luật:

    Các nhà đầu tư nước ngoài rất cần một môi trường pháp lý hợp lý và ổn định của nước chủ nhà. Môi trường này gồm những chính sách, qui định đối với đầu tư nước ngoài và tính hiệu lực của chúng trong thực hiện. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng không chỉ để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn cho chính các nhà đầu tư trong nước khi tính toán đến làm ăn lâu dài.

    Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:

    Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận chuyển, đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, cung cấp được nguồn nguyên liệu đầu vào phong phú với giá rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn. Những yếu tố này không những làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà đầu tư tìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ.

    Trình độ phát triển kinh tế:

     

    Trình độ phát triển kinh tế là các mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp dịch vụ cho các hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trường nước chủ nhà. Những nước có trình độ quản lý vĩ mô kém thường dẫn đến tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, các thủ tục hành chính rườm rà, nạn tham nhũng … Cơ sở hạ tầng cứng bao gồm các yếu tố như sân bay, cảng biển, giao thông, điện lực, viễn thông, còn cơ sở hạ tầng mềm bao gồm chất lượng lao động, dịch vụ công nghệ, hệ thống tài chính. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và giảm chi phí phát sinh cho các hoạt động đầu tư.

    Đặc điểm văn hóa xã hội:

    Đặc điểm phát triển văn hóa-xã hội của nước chủ nhà được coi là hấp dẫn đầu tư nước ngoài nếu có trình độ giáo dục cao và nhiều sự tương đồng về ngôn ngữ, tôn giáo, các phong tục tập quán đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các đặc điểm này không chỉ giảm được chi phí đào tạo nguồn nhân lực cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn tạo điều kiện cho họ hòa nhập vào cộng đồng nước sở tại.

    III. Các hình thức đầu tư nước ngoài ( ODA và FDI).

     

     

     

    1.     ODA.

    1.1. Khái niệm.

    ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống liên hợp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nứoc đang và chậm phát triển.

    1.2. Đặc điểm.

    Vốn ODA mang tính ưu đãi : Vốn ODA có thời gian cho vay dài, có thời gian án hạn dài. Đây cũng chính là một sự ưu đãi dành cho các nứoc vay vốn. Vốn ODA của WB.ADB. Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản- Japan Bank for intenational Cooperation JBIC , co’ thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian án hạn là 10 năm.

    Vốn ODA mang tính rằng buộc :

    ODA có thể rằng buộc nước nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra, mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những rằng buộc khác và nhiều khi các rằng buộc này rất chặt chẽ với nước nhận.

    ODA là vốn có khả năng gây nợ :

    Khi tiếp nhận sử dụng vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nợ nần thường chưa xuất hiện. Một số nước do sử dụng không hiệu quả ODA, có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đàu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó trong khi hoạch định chính sách sư dụng ODA phải phối hợp với các loại nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.

    1.1.1.3. Phân loại ODA

    * Theo tính chất:

    Viện trợ không hoàn lại: Các khoản cho không, không phải trả lại.

    Viện trợ có hoàn lại: Các khoản vay ưu đãi (tín dụng với điều kiện mềm)

    • Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức tín dụng (có thể là ưu đãi hoặc thương mại).

    * Theo mục đích

    • Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường. Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi.
    • Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực doanh nghiệp dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư. Phát triển thể chế và nguồn nhân lực… loại hỗ trợ chủ yếu là viện trợ không hoàn lại.

    * Theo điều kiện:

    • ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
    • ODA có ràng buộc nước nhận
    • Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hoá. Trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song phương) hoặc các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).

    Bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể:

    • ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chi
    • bất cứ nơi nào.

    * Theo đối tượng sử dụng:

    Hỗ trợ dự án; Là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi.

    • Hỗ trợ phi dự án: Bao gồm các loại hình như sau:
    • Hỗ trợ cán cân thanh toán thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá hỗ trợ qua nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá được chuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách.

    Hỗ trợ trả nợ

    Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.

    2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ).

     

    2.1. khái niệm : Là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Sự ra đời và phát triển của đầu tư trự tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế.

    2.2 Đặc điểm.

    Một là: các chủ đầu tư phải góp một số vốntối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam , khi liên doanh, số vốn góp của bên nứoc ngoài phải lớn hơn hoạc bằng 30% vốn pháp định.

    Hai là: quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Đối với doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý doanh nghiệp và quản lý đối tượng hợp tác tùy thuộc vào mức góp vốn của các bên tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì người nước ngoài toàn quyền quản lý doanh nghiệp.

    Ba là: lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn.

    Bốn là: đầu tư trự tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đanh hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.

    Năm là: đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn với di chuyển vốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư.

    Sáu là: đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.

    1.3. Phân loại.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Nếu căn cứ vào tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chia FDIv thành các loại: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh doanh nghiệp

    100% vốn nước ngoài. Ngoài ra còn có thêm các hình thức đầu tư khác đó là hợp đồng xây dựng kinh doanh – chuyển giao (BOT), xây dựng – chuyển giao kinh doanh (BTO) xây dựng chuyển giao (BT). Trong các hình thức trên thì doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức pháp nhân mới và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam gọi chung là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành hai loại: đầu tư tập trung trong khu công nghiệp khu chế xuất và đầu tư phân tán. Mỗi loại đầu tư có ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế cơ cấu công nghiệp của từng quốc gia.

    Nếu căn cứ vào quá trình tái sản xuất có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, đầu tư vào cung ứng nguyên liệu, đầu tư vào sản xuất, đầu tư vào tiêu thụ sản phẩm…

    Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các hình thức đầu tư nước ngoài vào

    Việt Nam gồm bốn hình thức sau:

    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh
    • Doanh nghiệp liên doanh
    • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
    • BOT

    Chương II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    I. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Cao Bằng có ảnh hưởng đến việc

    thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

    Cao Bằng là một tỉnh vùng cao biên giới phía đông bắc nước Việt Nam. Nhân dân các dân tộc giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, Cao Bằng là miền đất địa đầu Tổ quốc, có từ thời kỳ Thục Phán An Dương Vương thế kỷ II trước công nguyên. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, Tỉnh Cao Bằng đã có một bề dày truyền thống lịch sử và văn hoá rất đáng tự hào và trân trọng. Lịch sử truyền thống của Cao Bằng gắn liền lịch sử truyền thống dân tộc Việt Nam từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước. Cuộc chiến đấu đầu tiên của nhân dân Âu Lạc bảo vệ Tổ Quốc, trong đó có nhân dân Cao Bằng chống quân xâm lược nhà Tần do Thục Phán đứng đầu dành thắng lợi.

    Ngày nay nhân dân các dân tộc Cao Bằng đang cùng nhau thực hiện Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bác mong tỉnh Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh g-ơng mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nh trớc đây Cao Bằng là một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”.

    Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển và tăng trởng khá,GDP tăng bình quân 9-10%/ năm; nhng nhìn chung kinh tế của tỉnh so với mặt bằng chung của cả nước còn thấp. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, để thực hiện sự nghiệp CNH-HDH, Cao Bằng cần tận dụng mọi khả năng và nguồn lực sẵn có để hoà nhập vào tiến trình phát triển của cả nước; do đó Cao Bằng rất cần sự hơp tác, giúp đỡ của Chính phủ, các bộ ngành, các tổ chức trong và ngoài nước.

    1. Điều kiện tự nhiên.

     

    Cao Bằng có tiềm năng về đất đai, khí hậu để phát triển các trang trại, vùng cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu. Cao Bằng có thế mạnh và những đặc sản độc đáo nh: Hạt dẻ, lê, cam quýt, hồng, thuốc lá sợi vàng, đậu tơng, chè đắng trúc sào, hồi…

    Thiên nhiên cũng u đãi cho Cao Bằng một nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng như: Quặng sắt; quặng mangan, quặng thiếc, quặng bô xít, ngoài ra còn có kẽm, niken, vàng, ăngtimon, quặng uranium…, có điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp khoáng sản. đặc biệt sản phẩm gang đúc của Cao Bằng đã đợc trao Huy chương vàng tại Hội chợ triển lãm ” Hàng Công nghiệp Việt Nam” năm 2000.

    Cao Bằng có cửa khẩu quốc gia Tà Lùng, Hùng Quốc và Sóc Hà rất thuận lợi cho giao lưu, buôn bán với nước bạnTrung Quốc. Tiềm năng du lịch Cao Bằng rất phong phú và đa dạng; Cao Bằng nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử nh Pác Bó, Khu rừng Trần Hưng đạo, di tích Chiến thắng đông Khê, Thành Nà lữ…, cùng với những danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp nh Thác Bản Giốc, động Ngờn Ngao, Hồ Thang Hen và nhiều lễ hội văn hoá truyền thống đặc sắc của các dân tộc, tất cả đã tạo nên một tiềm năng lớn để phát triển ngành du lịch Cao Bằng.

    Cơ sở hạ tầng ngày càng được quan tâm phát triển; thông tin liên lạc thuận tiện nhanh chóng; điện lưới quốc gia đã đến các huyện thị trong tỉnh; các tuyến đường trong tỉnh được đầu tư nâng cấp. Một số cơ sở công nghiệp hoạt động đạt kết quả như: Xí nghiệp Luyện gang; Nhà máy đường, Nhà máy gạch Tuy Nen; Nhà máy Xi Măng…, đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung như vùng nguyên liệu mía, vùng thuốc lá, vùng trồng trúc…

    Cao Bằng tuy có tiềm năng và lợi thế để phát triển KT-XH nhng do là tỉnh miền núi, xa các trung tâm kinh tế lớn của đất nước, nền kinh tế đợc xây dựng từ xuất phát điểm rất thấp so với các tỉnh; do đó để tạo thêm nguồn lực cho sự phát triển Cao Bằng cần mở rộng, chào đón các nhà đầu tư, các nhà tài trợ trong và ngoài nước đến với Cao Bằng và tạo mọi điều kiện ưu đãi trên cơ sở bình đẳng, hợp tác hữu nghị, cùng phát triển.

    2. Vị trí địa lí.

     

    Cao Bằng là một tỉnh miền núi nằm ở phía Đông bắc nước ta. Hai mặt bắc và đông bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), có đường biên giới dài 311 km. Phía Tây giáp với hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều bắc – nam 80 km, từ 23007’12” – 22021’21” vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông – tây 170 km, từ 105016’15” – 106050’25” kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang).

    Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km2, là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên dới 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600 – 1.300 m so với mặt nớc biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Hình thành 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.

    Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp vì vậy giao thông giữa các huyện trong tỉnh bị hạn chế. Cao Bằng có khí hậu ôn đới. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ trung bình mùa hè là 25 -28 độ C, mùa đông là 16 – 17độ C. Một số vùng núi cao như Trùng Khánh, Trà Lĩnh về mùa đông có tuyết rơi.

    Nhìn chung khí hậu Cao Bằng mát mẻ quanh năm lại cú nhiều núi cao, phong cảnh thiên nhiên hữu tình rất thích hợp cho việc nghỉ ngơi, du lịch. Từ Hà Nội theo quốc lộ 3 đến thị xã Cao Bằng khoảng 272 km .

    3. Dân số và lao động.

    Toàn tỉnh Cao Bằng có 12 huyện thị và có 189 xã, phường thị trấn. : Bảo Lạc, Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng khánh, Nguyên Bình, Hòa An, Quảng Hòa, Hạ Lang, Thạch An.

    Bao gồm các Dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Mông, Việt (Kinh), Hoa, Sán Chay…

    Dân số: (01/04/1999): 491.055 người.

    II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999 – 2003.

    1.Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên điạ bàn tỉnh thời kỳ 1999-

    2003.

    Bảng 1: tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh ( 1999-2003).

    đơn vị: tỷ đồng.

      1999 2000 2001 2002 2003
               
    TVĐT của tỉnh 209.2 185.5 238.5 428.9 441
               
    TVĐT nước ngoài 52 38 106.1 54 193.5
               
    trong đó          
               
    ODA 52 38 98.6 54 85
               
    FDI     7.5   108.5
               
    Tỷ trọng VĐTNN/TVĐT 24.85 20.49 44.49 12.59 43.88
               
    Tỷ trọng vốn ODA/VĐTNN 100 100 92.93 100 43.93
               
    Tỷ trọng vốn FDI/VĐTNN 0 0 7.07 0 56.07
               

    Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Cao Bằng.

    Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư nước ngoài vào tỉnh Cao Bằng thời kỳ 1999-2003.

      1999 2000 2001 2002 2003
               
    Tổng VĐTNN 100 73.1 279.2 50.9 358.3
               
    ODA 100 73.1 259.5 54.8 157.4
               

    Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Cao Bằng.

    2.Tình hình thu hút vốn đầu tư FDI của tỉnh.

    Năm 2001 , tỉnh đã cấp giấy phép đầu tư cho dự án “ Công ty KOHKL Việt Nam “, 100% vốn Nước ngoài, sản xuất nấm xuất khẩu, với số vốn 500.000 USD.

    Đến ngày 1/9/2003 Bộ kế hoạch và Đầu tư đã cấp giấy phép đầu tư cho công ty liên doanh Minh Châu Cao Bằng, kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, vui chơi, giải trí có thưởng tại của khẩu Tà Lùng, huyện Phục Hòa với số vốn đầu tư trên 7 triệu USD, hiện nay đang thực hiện dự án.

    3.Tình hình thu hút vốn đầu tư ODA của tỉnh.

    Tình hình thực hiện oda giai đoạn 1993- 2003 và định hướng sử dụng oda tới năm

    2010

    3.1.Khái quát tình hình vận động và thu hút ODA của Cao Bằng.

    Việc thu hút nguồn vốn ODA tại Cao Bằng chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1995 bằng nguồn vốn OECF Nhật Bản (nay là vốn JBIC) đầu tư cho khôi phục đường giao thông. Nguồn vốn này tiếp tục được khai thác đầu tư cho các lĩnh vực giao thông và phát triển lưới điện. Bên cạnh đó các nguồn ODA khá cũng dần được khai thông cả về số lượng dự án và qui mô. Đó là dự án phát triển nông thôn Cao Bằng- Bắc Cạn, sử dụng viện trợ không hoàn lại của EU; Các tiểu dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn vốn ADB và

    AFD; Dự án phát triển các trường tiểu học miền núi phía Bắc, sử dụng viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nhật bản.

    Những nguồn vốn ODA này là rất quan trọng đối với Cao bằng trong việc bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế- xã hội tại địa phương, điều này còn đặc biệt có ý nghĩa đối với Cao bằng một tỉnh còn rất nghèo trong cả nước.

    3.2. Tình hình thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh Cao bằng.

    Dự án cơ sở hạ tầng nông thôn (vốn ADB và AFI): Thời gian thực hiện 1998-2003, tổng vốn 85 tỷ đồng. Đến nay đã thực hiện được khoảng 65 tỷ đồng. Dự án đầu tư cho các lĩnh vực thủy lợi, cấp nước sinh hoạt và giao thông nông thôn.

    Dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn Cao Bằng được chia làm 3 giai đoạn

    • Giai đoạn I: Tổng vốn đầu tư là 38,5 tỷ đồng
    • Giai đoạn II: Tổng vốn đầu tư là 38,1 tỷ đồng
    • Giai đoạn III: Sau khi triển khai thực hiện giai đoạn I và II. Vốn kết dư còn lại

    Dự án phát triển Nông thông Cao Bằng- Bắc Cạn (EU): Dự án do liên minh Châu Âu viện trợ không hoàn lại cho 2 tỉnh Cao Bằng và Bắc Cạn với số vốn 19,5 triệu EURO, trong đó Cao Bằng được hưởng 2/3 tổng số vốn. Dự án bắt đầu thực hiện từ năm 1999 và sẽ kết thúc năm 2004. Dự án gồm 5 hợp phần: Khuyến nông; phát triển nông nghiệp; giao thông nông thôn; thủy lợi và cấp nước sinh hoạt nông thôn.

    Phát triển lưới điện nông thôn đầu tư bằng nguồn vốn OECF Nhật Bản (nay là vốn JBIC), với số vốn là 7,95 tỷ đồng, thực hiện các dự án từ năm 1998- 2002

    Nguồn vốn JBIC tài khóa 2000 (15 tỷ đồng): đầu tư cho các dự án giao thông và điện. Tỉnh đã tiếp tục xây dựng các dự án đăng ký sử dụng vốn JBIC và được JBIC chấp nhận 54, 502 tỷ đồng cho các dự án điện và giao thông (theo hiệp định ký kết giữa 2 Chính phủ ngày 31/3/2003).

    Nguồn vốn phi dự án Nhật Bản: Năm 2002 được ghi chỉ tiêu 8 tỷ đồng cho dự án Giao thông

    Dự án cải tạo, mở rộng hệ thống cấp nước Thị xã Cao Bằng: Từ năm 1997 đến 1999 đã thực hiện xong, công suất 12.000m3/ngày đêm, sử dụng ODA Pháp, với số vốn 17 triệu Fran Pháp.

    Dự án hỗ trợ y tế quốc gia (WB): Do Bộ Y Tế làm chủ quản đầu tư, hô trợ đầu tư cho lĩnh vực y tế, thực hiện từ 1999 đến 2003, với tổng mức đầu tư trên 36 tỷ đồng.

    Cao Bằng cũng được hưởng thụ dự án vốn WB từ năm 2001 do Công ty Điện lực 1 làm chủ đầu tư.

    Ngoài ra còn có các dự án đang thực hiện nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh như

    sau :

    Năm 2003: Bộ tài chính thông báo tỉnh Cao Bằng được sử dụng ODA ITALYA 380.000 EURO cho thiết bị cấp nước.

    Tỉnh Cao Bằng đã được chính phủ phê duyệt vào danh mục sử dụng vốn ODA Phần Lan, dự kiến vốn ODA là 3,5 triệu USD đầu tư cho trang thiết bị y tế.

    Tỉnh Cao Bằng đẫ đăng ký sử dụng ODA Đức cho chương trình phòng chống HIV-AIDS ngày 7/5/2003.

    Năm 2000-2001 tỉnh Cao Bằng được thụ hưởng dự án hỗ trợ các trường tiêu học miền núi phía Bắc, sử dụng viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nhật Bản cho 17 điểm trường, với tổng sơ vốn hơn 54,75 tỷ đồng.

    Tổng cộng từ các doanh nghiệp: Hiện nay trên địa bàn tỉnh các doanh nghiệp đã tham gia tích cực vào phát triển sản xuất và cải thiện cở sở hạ tầng. Do đó trong những năm tới cần vận động các doanh nghiệp đóng góp vốn để phát triến sản xuất kinh doanh cải thiện cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên việc huy động phải linh hoạt phù hợ với đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp băng cách tổ chức liên doanh kết nghĩa doanh nghiệp với huuyện tỉnh để đầu tư phát triển một số lĩnh vực tỉnh, huyện đang cần đầu tư.

    4. Đánh giá tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    4.1. Kết quả đạt được.

    Đầu tư đầu tư nước ngoài thời gian qua đã đóng góp ngày càng lớn vào tăng tr-ưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá và mở rộng thị trường của tỉnh. Thu hút được nhiều lao động và không ngừng tăng thu cho ngân sách, nâng cao trình độ công nghệ, tạo điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý, sử dụng công nghệ hiện đại, nâng cao mức sống dân cư.

    Nhiều công trình, chương trình trọng điểm của tỉnh được thực hiện tốt, đặc biệt tạo ra một không khí sôi động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, số dự án tăng nhanh qua các năm, các doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn ra để kinh doanh, đầu tư công nghệ vào sản xuất.

    Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài đã làm sống động môi trường đầu tư của tỉnh. Nhiều dự án đã và đang đi vào hoạt động mang lại những hiệu quả thiết thực, góp phần phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, cải thiến và nâng cao đời sống của nhân dân, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động.

    Những thành quả trên là kết quả của sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân tỉnh Cao Bằng trong việc cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh nhằm thu hút ngày một nhiều hơn đầu tư nước ngoài vào tỉnh. Những nỗ lực đáng được ghi nhận có thể kể ra đó là:

    Tỉnh đã ban hành Quy định về quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn.

    Tỉnh đã chủ động đẩy mạnh việc vận động ODA.

    Đã phê duyệt Quy trình cấp, điều chỉnh, bổ sung giấy phép đầu tư cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

    4.2. Tồn tại.

    Muốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một tỉnh nào đó, nơi nhận đầu tư phải có các điều kiện tối thiểu như : cơ sở hạ tầng đủ đảm bảo các điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất và hình thành một số ngành dịch vụ phụ vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Chính vì vậy, các nước phát triển, các doanh nghiệp ngoài nước thường chọn nước nào, khu vực nào, tỉnh nào có điều kiện kinh tế tương đối phát triển hơn để đầu tư trước. Còn khi đầu tư vào các nước, tỉnh lạc hậu, chưa có điều kiện tối thiểu cho việc tiếp nhận đầu tư cũng phải dành một phần vốn cho việc xây dựng hệ thống cơ sơ

    Do vị trí địa lý, điều kiện địa hình tự nhiên và giao thông bất lợi so với các tỉnh bạn nên đã ảnh hưởng tới thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút vốn FDI còn gặp nhiều khó khăn, mặc dù luật đầu tư nước ngoài dành nhiều ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh nhưng vẫn chưa đủ sức thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Cao Bằng, các ưu đãi chưa đủ hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    Đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng trong thời gian qua vẫn chủ yếu là các dự án hỗ trợ phát triển ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh vẫn rất khiêm tốn, tới năm 2001 mới có một dự án được cấp giấy phép và tới năm 2003 mới được thêm một dự án.

    Chương III. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nứớc ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2005 – 2010.

    I. Định hướng thu hút và sử dụng nguồn đầu tư nước ngoài cho giai đoạn 2006-2010 tại Cao Bằng.

    1. Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo.

    Tiếp tục duy trì phương hướng phát triển KT-XH theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo mọi điều kiện chuyển dịch nhanh nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần .Chủ động vươn lên phát huy đầy đủ và khai thác triệt để những nguồn nội lực như tiềm năng đất đai nông lâm nghiệp, tài nguyên rừng, khoáng sản, cửa khẩu, lao động , truyền thống và cơ sở kĩ thuật, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế có hiệu quả để nhanh chóng hòa nhập vào quá trình phát triển chung của vùng đông bắc và cả nước, tránh tụt hậu xa về kinh tế . Có chương trình hội nhập kinh tế khu vực, nhất là khu vực mậu dịch tự do ASEAN Trung Quốc.

    Đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới toàn diện mà trước hết là nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch . . .

    Phát triển kinh tế phải gần với giải quyết tốt vấn đề xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường.

    Từ 2000 đến 2010 cần tập trung đầu tư để tạo bước chuyển biến tích cực. Tạo ra những tiền đề cho các năm tiếp theo phát triển nhanh hơn. Trước hết tập trung nâng cấp các trục giao thông chính và phát triển giao thông nông thôn, cấp nước, điện, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục. . .

    • Nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe nhân dân để thực hiện phát triển nhanh kinh tế xã hội.

    2. Kế hoạch huy động và thực hiện vốn đầu tư nước ngoài cho giai đoạn 2006-

    2010.

    Tổng mức đầu tư cần thiết để đạt mục tiêu:

    Qua tính toán, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế mỗi năm tăng trên 10% giai đoạn 2006-2010, nhu cầu cần khoảng 3.500 tỷ đồng.

    Trong đó:

    Nhu cầu cho lĩnh vực công nghiệp- XD-GTVT khoảng: 1.383 tỷ đồng.

    Nhu cầu cho lĩnh vực nông nghiêp. khoảng : 752 tỷ

    Nhu cầu cho lĩnh vực dịch vụ khoảng 1365 tỷ

    Nguồn huy động đầu tư : Để đáp ứng nhu cầu vốn đàu tư phát triển, nhoài việc tăng cường tích lũy từ nội bộ kinh tế xong còn phải chủ trương biện pháp huy động hữu hiệu từ các nguồn đầu tư nước ngoài ODA và FDI.

    II. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Cao Bằng (2005-2010).

    Ngày nay, việc huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ đã và đang trở thành một phương thức hữu hiệu nhất, một yếu tố quan trọng nhất trong cơ cấu ngân sách phát triển, một hình thức quan trọng và phổ biến trong mối quan hệ kinh tế quốc tế…

    Hoạt động đầu tư nước ngoài ở Cao Bằng đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong thời gian qua song có thể nói, cho đến nay hoạt động này vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Các giải pháp đề ra là nhằm tháo gỡ những khó khăn tồn tại cho cơ chế đầu tư , tiếp tục khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước mạnh dạn hơn nữa bỏ vốn ra đầu tư. Các giải pháp một mặt phải dựa trên cơ sở pháp luật, chính sách, quy định của Nhà nước, mặt khác phải vận dụng vào điều kiện, tình hình cụ thể của Cao Bằng. Do vậy, để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần thực hiện một số giải pháp theo hướng sau đây:

    Thứ nhất, xây dựng chiến lược đầu tư và cụ thể hoá cơ chế chính sách trên cơ sở chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm đa ra những cơ chế chính sách sát thực phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh và có tính khả thi cao để tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thông thoáng thúc đẩy phát huy đợc nội lực từ bên trong và tăng cường hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài.

    Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cải cách thủ tục hành chính để dự án nhanh đi vào thực tiễn bằng việc xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các quy trình thủ tục, thiết lập cơ chế phối hợp và cơ chế “một cửa ” liên quan đến công tác quản lý dự án đầu tư trong đó đặc biệt chú trọng đến khâu thụ lý hồ sơ dự án cấp giấy phép cho các dự án đầu tư nước ngoài.

    Thứ ba, từng bước thực hiện việc đầu tư nâng cấp hoàn thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ, trong đó đặc biệt chú trọng đến hệ thống giao thông trong địa bàn tỉnh , giữa tỉnh với các tỉnh khác và hệ thống giao thông tới các cửa khẩu.

    Thứ tư, điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh nền kinh tế của tỉnh, khắc phục triệt để những tồn tại, yếu kém trong bố trí cơ cấu đầu tư và điều hành thực hiện.

    Thứ năm, nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư

    Thứ sáu, một số giải pháp khác.

    Các giải pháp cụ thể là:

    1. Xây dựng chiến lược đầu tư và cụ thể hoá cơ chế chính sách.

    Tỉnh Cao Bằng đã có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quy hoạch tổng thể phát triển của các ngành, các cấp nhưng còn thiếu nhiều quy hoạch chi tiết. Cần xác định rõ chiến lược đầu tư và tiến hành lập các dự án quy hoạch chi tiết để đầu tư phát triển. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến quy hoạch vùng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, quy hoạch các cụm công nghiệp nhỏ và danh mục các dự án đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ quan trọng mang tính đột phá trong việc cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh Cao Bằng nhằm thu hút các dự án đầu tư nước ngoài.

    Việc cụ thể hoá cơ chế chính sách trên cơ sở pháp luật của Nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài cần tiến hành với những nội dung chính sau đây:

    Thứ nhất, là ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Cao Bằng.

    Mục tiêu: Khuyến khích và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh.

    Nội dung: Soát xét lại giá cho thuê đất, miễn giảm tiền cho thuê đất trong một vài năm đầu cho một số khu vực ưu tiên đầu tư. Cần áp dụng một số chính sách ưu đãi để tận dụng tối đa diện tích đất cho thuê như giảm giá thuê đất, giá kinh doanh hạ tầng (điện, nước, dịch vụ viễn thông), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp đợc thuận lợi, nhanh chóng… Giải quyết dứt điểm vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng gây ách tắc đối với việc triển khai dự án. Cần sớm chấm dứt cơ chế các doanh nghiệp góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển sang chế độ Nhà nước cho thuê đất.

    Bổ sung các chính sách ưu đãi có sức hấp dẫn cao đối với những lĩnh vực, địa bàn và dự án cần thu hút đầu tư nước ngoài như: công nghệ cao, xuất khẩu lớn, đầu tư vào nông thôn miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; nông lâm trồng rừng bảo vệ môi trờng; các dự án phát triển hạ tầng xã hội.

    Thứ hai, tổ chức thẩm định, phê duyệt dự án nhanh chóng, đảm bảo tính thời gian, chất lượng và thủ tục đơn giản trong qúa trình thẩm định dự án đầu tư nước ngoài.

    Thứ ba là cơ chế chính sách vận động viện trợ và gọi vốn đầu tư trực tiếp nước

    ngoài.

    Mục tiêu: Khuyến khích các ngành, các cấp chủ động và năng động tổ chức vận động viện trợ và khuyến khích các doanh nghiệp năng động tìm kiếm đối tác nước ngoài để hợp tác đầu tư.

    Nội dung: Tạo nguồn kinh phí để lập dự án, tổ chức kêu gọi vốn viện trợ tìm kiếm đối tác đầu tư; quy định chế độ ưu đãi khi nhà đầu tư đang thực hiện dự án đầu tư tại tỉnh mà vận động về cho tỉnh thêm dự án đầu tư khác; quy định chế độ đãi ngộ cho người có công vận động được dự án ODA hoặc giới thiệu được đối tác nớc ngoài có dự án đầu tư vào tỉnh Cao Bằng.

    2. Hoàn thiện cơ chế quản lý hành chính Nhà nước.

    Nhằm tạo môi trường thông thoáng trong việc thụ lý hồ sơ dự án trong lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư, thẩm định dự án để cấp đăng ký kinh doanh, thẩm định để cấp giấy phép đầu tư, triển khai các thủ tục hành chính để thực hiện dự án. Tỉnh Cao Bằng cần tiếp tục đẩy mạnh chương trình cải cách hành chính với những mục tiêu sau:

    • Thiết lập chế độ “một cửa” trong công tác quản lý các dự án và các nguồn vốn đầu tư trong việc giải quyết các thủ tục hành chính từ khâu hình thành dự án đến khâu thực hiện dự án.
    • Xây dựng đầy đủ các quy trình quản lý và quy trình thụ lý hồ sơ dự án.
    • Tăng cường công tác quản lý đầu tư để nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt động đầu

    tư.

    Thứ nhất, là ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Cao Bằng.

    Để quy trình quản lý và xử lý công việc đi vào hiện thực và đảm bảo tính thời gian theo quy định và hoàn thành trách nhiệm trong công việc ở từng công đoạn, cần thiết lập chế độ “một cửa” xử lý từng công việc ở từng cơ quan đơn vị. Tránh những thủ tục hành chính rờm rà, phải qua nhiều cửa, nhiều cơ quan để xin làm thủ tục thuê đất, thành lập doanh nghiệp… cũng cần tránh hiện tượng “một cửa” mà lại nhiều “khoá”. Yêu cầu chế độ

    “một cửa” ở đây là từng cơ quan chức năng liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể theo chức năng quản lý của cơ quan mình cần bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn đảm đơng nhiệm vụ đầu mối trong cơ quan mình. Đích danh cán bộ là đầu mối chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ công việc, giúp lãnh đạo của mình tổ chức triển khai giải quyết công việc và bàn giao công việc cho các cơ quan liên quan đúng thời hạn quy định.

    Thứ hai, là việc xây dựng đầy đủ các quy trình quản lý, thụ lý hồ sơ dự án:

    Trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước và các văn bản cụ thể hoá công tác quản lý và phân giao trách nhiệm của tỉnh về đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, từng ngành chức năng và các cấp liên quan tiến hành việc rà soát lại chức năng nhiệm vụ được giao; tiến hành việc xây dựng đầy đủ các quy trình thủ tục hành chính cho việc thực hiện các loại công việc như lập dự án, thẩm định dự án, thẩm định thiết bị công nghệ, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trờng, thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán, cấp đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép đầu tư, cấp chứng chỉ quy hoạch, cấp giấy phép xây dựng, cấp quyền sử dụng đất, đền bù giải phóng mặt bằng và bàn giao đất cho chủ dự án, triển khai các thủ tục hành chính thực hiện dự án đầu tư, giải ngân cấp phát vốn, quyết toán vốn đầu tư, thanh tra kiểm tra cấp giấy phép lao động, giới thiệu nhân sự tham gia quản lý liên doanh. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc xử lý từng công việc cụ thể.

    Thứ ba, là tăng cường công tác quản lý đầu tư để nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt động đầu tư:

    Để tăng cờng công tác quản lý đầu tư cần phải có những điều kiện sau đây:

    Phải có cơ chế quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài thích ứng và linh hoạt. Cơ chế quản lý thể hiện ở những hình thức tổ chức quản lý và phương thức quản lý. Cơ chế quản lý phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá đúng thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài nhằm xác định đầu mối rõ ràng, thống nhất về quản lý đầu tư và có những phương pháp

    quản lý hữu hiệu. Một mặt cơ chế quản lý đầu tư nước ngoài phải phù hợp và thông thoáng, cởi mở nhưng phải đảm bảo thực hiện đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Tăng cường công tác bồi dưỡng và đào tạo lại trình độ chuyên môn và trình độ quản lý dự án nhằm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ hiện thời. Từng bước cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý của đội ngũ cán bộ hiện thời. Từng bước cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý đáp ứng yêu cầu đặt ra.

    Đặc biệt đối với lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, cần chú trọng nâng cao năng lực và hiệu lực công tác của cơ quan đầu mối trực tiếp tham mưu về kinh tế đối ngoại của tỉnh như bố trí đủ cán bộ có năng lực cả chuyên môn và ngoại ngữ trang bị đầy đủ phơng tiện hoạt động, cài đặt phần mềm vi tính quản lý dự án kể cả nối mạng với các Bộ TW nếu thấy cần thiết.

    Các công cụ quản lý hoạt động đầu tư phải đủ mạnh và hiệu quả. Các công cụ quản lý đầu tư bao gồm: hệ thống luật có liên quan đến hoạt động đầu tư, các chính sách và đòn bẩy kinh tế, các quy hoạch tổng thể và chi tiết của ngành và địa phương về đầu tư, các tài liệu phân tích đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư, các thông tin về tình hình cung cầu, giá cả; kinh nghiệm quản lý, các phơng tiện quản lý, các phương tiện quản lý hoạt động đầu tư như hệ thống lưu trữ và xử lý thông tin, hệ thống bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc. Các công cụ này được nhà quản lý sử dụng để tác động trực tiếp đến đối tượng bị quản lý là hoạt động đầu tư vì thế nó có ý nghĩa quan trọng để làm tăng hiệu quả quản lý.

    3. Cải thiện điều kiện hấp thụ dự án đầu tư.

     

    Để cải thiện môi trờng hấp thụ dự án đầu tư, cần tập trung giải quyết một số vấn đề chính sau đây:

    • Tập trung một nguồn lực tài chính cần thiết để đầu tư và nâng cấp một số công trình cơ sở hạ tầng, dịch vụ trọng điểm và quan trọng mang tính then chốt ở Cao Bằng nhằm cải thiện môt bước về cơ sở hạ tầng và dịch vụ ở tỉnh.
    • Cân đối đủ nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA và cho các dự án đầu tư trong nước cần vốn đối ứng, dành một lượng vốn để hỗ trợ đầu tư theo phơng châm “Nhà nước hỗ trợ dân làm là chính” nhằm huy động mạnh vốn đầu tư từ dân.
    • Thực hiện tốt các biện pháp cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư ngoài nước.

    Thứ nhất, tập trung đầu tư nâng cấp một số cơ sở hạ tầng, dịch vụ quan trọng nhằm tạo ra sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    • Đầu tư nâng cấp tỉnh : đầu tư một số công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm của tỉnh như nâng cấp đường và lát vỉa hè; đầu tư điện chiếu sáng, cải tạo hệ thống biển báo thông tin, đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải…
    • Nâng cấp khách sạn Cao Bằng đạt tiêu chuẩn khách sạn có sao đủ điều kiện đón nhận các nhà đầu tư nước ngoài.
    • Xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ cho sự phát triển , hệ thống trường học, bệnh xá, dịch vụ thương mại, khu chung cư…

    Thứ hai, tăng cường nguồn lực tài chính để kích thích đầu tư và hấp thụ dự án đầu tư nước ngoài: Ngân sách tỉnh hàng năm đảm bảo cân đối đủ nguồn vốn đối ứng để

    thực hiện các dự án ODA đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng, đầu tư phát triển hoặc các dự án vay vốn thương mại nước ngoài cần thiết; cân đối nguốn vốn hỗ trợ dân đầu tư.

    Thứ ba , chuẩn bị tốt điều kiện đất đai để thực hiện dự án đầu tư:

    – Quy hoạch sẵn và công khai quỹ đất dành cho các dự án đầu tư xây dựng nhà x-ưởng mới để các nhà đầu tư lựa chọn; áp dụng giá thuê ưu đãi nhất và chế độ miễn giảm tối đa (áp dụng mức giá thấp nhất trong khung quy định của Chính phủ hoặc có thể miễn hoàn toàn). Tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng và giao đất cho chủ đầu tư một cách nhanh chóng, đúng tiến độ.

    • Phát triển thêm một số cụm công nghiệp xung quanh thi xã, hoặc ở những nơi có vùng nguyên liệu tập trung để có đất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập.

    Thứ tư, thiết lập hệ thống cung cấp thông tin và thực hiện tốt các biện pháp cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư.

    • Cần hình thành tổ chức làm dịch vụ tư vấn cung cấp thông tin để giúp các nhà đầu tư có được những thông tin và các kỹ năng cần thiết từ khâu lập dự án đến khâu thực hiện dự án đầu tư, các thông tin về thị trường, thông tin về thiết bị công nghệ.
    • Lập danh mục các dự án ưu tiên đầu tư để kêu gọi đầu tư nước ngoài. Giới thiệu tiềm năng và các cơ hội đầu tư của tỉnh.

    4. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh nền kinh tế của tỉnh, khắc phục triệt để những tồn tại yếu kém trong bố trí cơ cấu đầu tư và điều hành thực hiện.

     

    Việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư để sử dụng các nguồn vốn đầu tư đúng mục tiêu là giải pháp tích cực và hiệu quả nhất trong tình hình mà nguồn vốn còn nhiều hạn chế. H-ớng điều chỉnh tập trung vào các lĩnh vực sau:

    Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến gắn với phát triển vùng nguyên liệu nông lâm sản, sản xuất hàng xuất khẩu và các mặt hàng tiêu dùng; chú ý phát triển những ngành công nghệ ít vốn thu hút nhiều lao động. Phát triển những ngành truyền thống, có điều kiện về tài nguyên, nguồn vốn và đảm bảo được hiệu quả, tiện khai thác và chế biến theo hướng chiều sâu là chính để cải tạo các cơ sở có hiệu quả và phát triển một số cơ sở mới.

    Phát triển mạnh một số loại hình dịch vụ như bưu chính, viễn thông dịch vụ du lịch, vận tải thương mại, dịch vụ khoa học công nghệ theo hớng vừa phát triển thị trường nội địa vừa nhanh chóng vươn ra thị trường bên ngoài.

    Đối với những nhóm mặt hàng đang chịu sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng nội địa, trong nước và quốc tế, kiên quyết không đầu tư mới các cơ sở sản xuất với công nghệ, thiết bị lạc hậu, tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh kém. Tập trung cải tạo công nghệ, thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã đáp ứng kịp thời thị hiếu của người tiêu dùng, hạ giá thành sản phẩm.

    5. Nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư.

    Cùng với thực hiện các giải pháp mang tính trực tiếp để thu hút vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển thì nâng cao hiệu quả đầu tư là một giải pháp mang tính gián tiếp có tác động kích thích qúa trình tái đầu tư. Hiệu quả đầu tư cao là tín hiệu để thu hút, huy động các nguồn vốn trực tiếp ngược lại việc đẩy mạnh đầu tư luôn luôn phải đi đôi với nâng cao hiệu quả đầu tư thì hoạt động đẩy mạnh đầu tư đó mới có ý nghĩa, vừa tiết kiệm đươc nguồn vốn đầu tư vừa không tạo ra gánh nặng cho tương lai.

    6. Một số giải pháp khác.

    Đầu tư phát triển khoa học công nghệ và đầu tư phát triển nguồn nhân lực là 2 nội dung của hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất hỗ trợ cho qúa trình thu hút vốn đầu tư. Trong thời điểm hiện nay và trong tương lai, 2 nhân tố này được xác định là 2 nhân tố quan trọng nhất của nền kinh tế, quyết định đến tốc độ tăng trởng và qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá.

    6.1. Đầu tư phát triển công nghệ.

    Tăng cường năng lực công nghệ sẽ có tác động tốt đến qúa trình sản xuất kinh doanh: giảm chi phí nhân công, nguyên vật liệu; tăng doanh thu, lợi nhuận; tăng khả năng cạnh tranh, vị thế của sản phẩm từ đó dẫn đến tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế, doanh nghiệp. Nguồn tích luỹ này sẽ bổ sung cho hoạt động đầu tư phát triển.

    Cao Bằng là tỉnh miền núi phía Bắc, để đảm bảo phát triển bền vững và ổn định nguồn công nghệ ngoài việc tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài thì thời gian tới tỉnh cần tích cực đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ theo hướng sau:

    Về lĩnh vực nông nghiệp: Tăng cường đầu tư cho những mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nhân rộng kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Đa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất tiến tới làm chủ công nghệ sản xuất giống, từng bước cơ khí hoá trong sản xuất, ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo quản, chế biến, sản xuất thực phẩm sạch.

    Đối với lĩnh vực công nghiệp: Cần có cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp quan tâm đến đầu tư đổi mới công nghệ thông qua hỗ trợ từ khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng có được thêm do đổi mới công nghệ. Có chế độ thưởng cho các doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hỗ

    trợ trong việc tiêu thụ sản phẩm mới; bảo vệ nhãn mác, thương hiệu của những sản phẩm có uy tín chống hiện tượng làm hàng giả, hàng nhái.

    6.2. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Nâng cao dân trí và phát triển nhanh nguồn nhân lực.

    Thu hút đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp từ ngoài tỉnh vào các lĩnh vực sản xuất có hàm lượng “chất xám” cao Tiếp nhận và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, những sinh viên có thành tích nghiên cứu, học tập xuất sắc từ các trường đại học trong và ngoài tỉnh.

    Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên, công nhân

    Trong điều kiện nguồn đầu tư có hạn, muốn phát triển Kinh tế xã hội nhanh, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, giảm bớt khoảng cách, tránh tụt hậu xa về kinh tế so với mức trung bình của cả nước thì phải lựa chọn trọng điểm đầu tư tạo ra khâu đột phá đưa kinh tế bứt lên.

    Sau khi nghiên cứu các trọng điểm đầu tư đã lựa chọn của quy hoạch trước và qua thự hiện quy hoạch một số năm, với những phân tích qua khảo sát tình hình thực tế tranh thủ ý kiến các chuyên gia,.. nên tâp. trung đầu tư vào các lĩnh vực sau đây :

    Nâng cao dân trí và phát triển nhanh nguồn nhân lực.

    Nâng cấp và phát triển giao thông trực chính, giao thông nông thôn, giao thông vùng tập trung tài nguyên, giải quyết điện nước.

    Kết luận

    Đầu tư phát triển đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay và trong những thập niên tới là con đường hữu hiệu nhất, là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội địa phương. Cao

    Bằng đã có một số tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế có tiềm năng về tự nhiên đa dạng phong phú, có lích sử phát triển lâu đời. Nhưng làm thế nào để phát huy tối đa những tiềm năng đó, Cao Bằng cần huy động mọi nguồn vốn của các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư cho phát triển kinh tế. Cần có những biện pháp xúc tiến đầu tư nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Cần có sự phối hợp giải quyết đồng bộ của các ngành, các cấp và sự hỗ trợ tích cực của nhà nước, địa phương về các vấn đề như: xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giao thông vận tải, xây dựng hệ thống thị trường trong và ngoài nước, xoá bỏ sự phân cách giữa thành thị và nông thôn, miền núi, phát triển khoa học kỹ thuật và văn hoá giáo dục…Có như vậy thì việc mở rộng đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là đầu tư nước ngoài để phát triển cao bằng trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá mới mang lại những hiệu quả thiết thực.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Liệu có nên cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần bằng ngoại tệ hay không?


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

     

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Quá trình toàn cầu hoá đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động chiếm vị trí ngày càng quan trọng đối với cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam. Đây được coi là đòn bẩy nhằm giúp đất nước thoát khỏi “cái vòng luẩn quẩn” về kinh tế. Thực tế cho thấy, thời gian vừa qua vốn FDI đã và đang là một kênh bổ sung vốn rất quan trọng cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế. Những thành tựu đạt được trong việc thu hút nguồn vốn FDI thời gian qua đã tạo cho đất nước nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực cho các ngành công nghiệp như dầu khí, hóa chất, lắp ráp ô tô, công nghệ thông tin…Bên cạnh đó nguồn vốn FDI cũng góp phần hình thành và phát triển hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất và đặc biệt là khu công nghệ cao.

    Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực đó, đầu tư nước ngoài có những mặt hạn chế gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế, nổi cộm là vấn đề chuyển giá. Hiện có nhiều doanh nghiệp FDI đang tận dụng việc chuyển giá để làm cho kết quả kinh doanh của họ tại Việt Nam bị lỗ. Mục đích của việc chuyển giá này nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận từ nước có thuế suất cao sang nước có thuế suất thấp để đóng thuế ít hơn. Cách làm này của các doanh nghiệp đã gây thất thoát nguồn thu thuế trong nước.

    Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm 3 đã chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn từ 2008 đến quý 3/2012” với mong muốn nhìn nhận lại một cách rõ nét và chi tiết tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong những năm gần đây, từ đó đánh giá những mặt được và chưa được nhằm đưa ra định hướng, giải pháp để tăng cường thu hút vốn FDI trong thời gian tới, nâng cao hiệu quả và lợi ích của việc thu hút vốn FDI để phát triển nền kinh tế Việt Nam bền vững.

    Nội dung đề tài bao gồm 3 phần:

    Phần mở đầu

    Phần nội dung chính: Bao gồm 3 chương

    • Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài
    • Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
    • Chương 3: Giải pháp nâng cao đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

    Kết luận

    1. Mục tiêu nghiên cứu
    2.  
    3.  

    2.1 Mục tiêu chung

    Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ 2008 đến quý 3/2012, từ đó đưa ra giải pháp giải pháp khắc phục những yếu kém hiện tại song song đó đưa ra các giải pháp tăng cường việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    2.2Mục tiêu cụ thể

    – Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp tại Việt Nam.

    – Đánh giá thực trạng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

    – Đưa ra giải pháp khắc phục yếu kém và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.

    1. Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp thu thập số liệu: dữ liệu thứ cấp được thu thập website tổng cục thống kê, Ngân hàng Nhà nước, niên giám thống kê…

    Phương pháp phân tích số liệu:

    • Phương pháp so sánh số tương đối. So sánh số liệu giữa các năm bằng cách tính phần trăm, năm sau bằng bao nhiêu năm trước từ đó so sánh đưa ra nhận định tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm.

    So sánh hai số liệu cùng khác năm: % thay đổi = x 100%

    Xác định năm sau so với năm trước tăng hay giảm nhiêu phần trăm từ đó đưa ra nhận xét.

    • Phương pháp so sánh số tuyệt đối để phân tích số liệu cần nghiên cứu.

    DY = Y1 – Y2

    Tính tăng hay giảm cụ thể là con số bao nhiêu rồi đưa ra nhận xét.

    1. Phạm vi nghiên cứu

    4.1. Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại Việt Nam.

    4.2. Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng cho đề tài này được thực hiện từ 2008 đến tháng 11/2012.

    1. 3. Đối tượng nghiên cứu: Lĩnh vực đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

    1.1.         KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

    Đầu tư là sự hi sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để được kết quả đó.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

    Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

    Về bản chất đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau, trong chiến lược chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn hiện nay, đặc biệt là các công ty đa quốc gia. Đối với họ việc buôn bán hàng hóa ở nước khác là một bước đi thăm dò thị trường, luật lệ và cơ hội để đưa ra một quyết định đầu tư. Nó như một chiếc chìa khóa vàng mở cửa cho lợi nhuận chảy vào túi của nhà tư bản, khi họ được khai thác nguồn tài nguyên phong phú, và xuất khẩu một khối lượng lớn máy móc và trang thiết bị cho các nước đó. Còn đối với nước sở tại, việc chấp nhận đầu tư nước ngoài cũng là tạo cơ hội mới cho mình trong việc phát triển nền kinh tế. Đó là điều kiện tốt để các nước này tận dụng tốt nguồn vốn nước ngoài, tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao trình độ lao động – phát triển được một số ngành cơ sở. Bên cạnh đó cũng thu được một khoản lợi nhuận từ các nhà đầu tư nước ngoài.

    Theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài thì “đầu tư trực tiếp nước ngoài” là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài.

    1.2 . CÁC HÌNH THỨC FDI

                1.2.1 Các hình thức phân theo bản chất đầu tư

                1.2.1.1.  Đầu tư phương tiện hoạt động

    Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.

                1.2.1.2  Mua lại và sát nhập

    Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.

                1.2.2 Các hình thức đầu tư phân theo tính chất dòng vốn

                1.2.2.1 Vốn chứng khoán

    Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty.

                1.2.2.2  Vốn tái đầu tư

    Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.

                1.2.2.3  Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ

    Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.

    1.2.3 Các hình thức đầu tư phân theo cách thức tổ chức quản lý:

                1.2.3.1  Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho mỗi bên. Đây là hình thức đầu tư dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm. Các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau. Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần, xu hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế.

                1.2.3.2 Doanh nghiệp liên doanh

    Là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiều bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập  theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua chiếm 65% trong tổng ba hình thức đầu tư (trong đó hình thức hợp  tác kinh doanh chiếm 17%, Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18%).

                1.2.3.3  Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

    Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước muốn đầu tư. Tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất  kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân.

    Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được thành lập theo hình thức 100% vốn nước ngoài.

    Ngoài ra còn có một số hình thức đặc biệt : BTO (Build Transfer Operate), BOT (Build Operate Transfer), BT (Build Transfer).

    1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

                1.3.1 Nhân tố từ môi trường kinh tế vĩ mô

    1.3.1.1 Chiến lược thu hút vốn để phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, chính sách thuế, ưu đãi.

    Chiến lược thu hút vốn là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút vốn FDI, chiến lược này thể hiện tập trung ở một số điểm như: Mở cửa thu hút vốn bên ngoài hay không? Giai đoạn nào thì nên tập trung nguồn vốn trong nước hay ngoài nước, đối với nguồn vốn ngoài nước thì nên lựa chọn tập trung vào nguồn nào nhưu đi vay thương mại, ODA hay vốn FDI… định hướng các lĩnh vực thu hút, tiêu chuẩn để xác định phương hướng lựa chọn dự án đầu tư của nước ngoài.

    1.3.1.2 Độ mở cửa kinh tế quốc tế của quốc gia tiếp nhận, luật đầu tư:

    Hợp tác cùng tồn tại và phát triển là xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới ngày nay. Hợp tác trong kinh tế quốc tế là đem lại lợi ích trước hết cho quốc gia, dân tộc mình nhằm phát triển đất nước mình đồng thời cũng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia mình với quốc gia khác. Tham gia quan hệ kinh tế quốc tế, các nước có cơ hội trao đổi thương mại quốc tế, hợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học công nghệ… Nhiều quốc gia khi thực hiện mở cửa tham gia các tổ chức kinh tế của khu vực và quốc tế, hoạt động ngoại thương phát triển nhanh chóng, thu hút đầu tư nước ngoài gia tăng, chất lượng đầu tư nước ngoài được cải thiện đáng kể.

    1.3.1.3 Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa – tiền tệ:

    Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô như ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội là điều kiện hết sức quan trọng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ rất hạn chế khi tham gia đầu tư vào những nước có môi trường kinh tế vĩ mô kém ổn định vì khi đầu tư vào những nơi này sẽ tạo ra những rủi ro kinh doanh mà các nhà đầu tư không thể lường trước được. Khi có bất ổn về môi trường kinh tế vĩ mô, rủi ro gia tăng thì các dòng vốn FDI trên thế giới sẽ chững lại và vốn đầu tư sẽ di chuyển đến những nơi an toàn và có mức sinh lời cao hơn, ngay cả khi đã đầu tư rồi mà có sự bất ổn, nhất là bất ổn về chính trị thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm mọi cách để rút lui vốn. Vì vậy muốn thu hút được vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài thì các nước phải ổn định được môi trường kinh tế vĩ mô trước.

    1.3.1.4. Hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận vốn FDI:

    Luật pháp đóng vai trò hết sức quan trọng, là hành lang pháp lý đảm bảo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài. Hệ thống pháp luật được xây dựng theo hướng thông thoáng, đầy đủ chặt chẽ là cơ sở tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Hoạt động FDI liên quan đến nhiều chủ thể tham gia và có yếu tố nước ngoài vì vậy các văn bản ngoài yếu tố đồng bộ, chặt chẽ, tránh chồng chéo gây khó hiểu, còn phải phù hợp với thông lệ quốc tế. Hệ thống pháp luật không những tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn có chức năng ngăn cản những tác động tiêu cực mà các nhà đầu tư cố tình vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng, an ninh quốc gia và tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư.

    1.3.1.5 Cở sở hạ tầng

    Để có thể thực hiện được các dự án thì đòi hỏi rất nhiều điều kiên. Các nước sở tại phải tiến hành đầu tư xây dựng các khu chế xuất và các khu công nghiệp đặc biệt, và hệ thống đường xá (hệ thống sân bay, bến cảng, cầu cống… ) đây là những yếu tố hết sức quan trọng đến quyết định đầu tư hay không của các nhà đầu tư nước ngoài

    1.3.2 Nhân tố liên quan đến các nhà đầu tư nước ngoài

    1.3.2.1 Môi trường kinh tế thế giới:

    Đây là nhân tố khách quan tác động đến các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước. Khi nền kinh tế thế giới có sự ổn định sẽ tác động tích cực đến sự di chuyển các dòng vốn đầu tư nước ngoài, làm cho quá trình thu hút đầu tư của các nước thuận lợi hơn rất nhiều, ngược lại khi môi trường thế giới không ổn định, suy thoái kinh tế siễn ra nhiều nơi thì sẽ khó khăn cho các nước tiếp nhận đầu tư.

    1.3.2.2 Hướng dịch chuyển của dòng vốn FDI quốc tế:

    Đây là nhân tố bên ngoài có ý nghĩa quyết định đến khả năng thu hút vốn FDI của quốc gia, mức độ tăng, giảm của việc thu hút vốn FDI chịu sự chi phối vủa xu hướng vận động của các dòng vốn FDI trên thế giới.

    1.3.2.3 Chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài:

    Ngoài các nhân tố trên, các nước còn phải quan tâm đến chiến lược của các nhà đầu tư nước ngoài. Những nhà đầu tư như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ.. có tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều kinh nghiệm trong đầu tư quốc tế, có uy tín trong kinh doanh, chiến lược kinh doanh của họ có xu hướng đầu tư vào các ngành công nghệ cao, ngành chế tác, sử dụng lao động có tay nghề và vào các khu vực có triển vọng trong kinh doanh.Đối với các nhà đầu tư như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan.. thì chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực chế biến, lắp ráp, khai thác tài nguyên… Tùy vào chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài mà các nước có các ưu thế tương ứng có cơ hội để thu hút các nhà đầu tư này.

    1.3.2.4 Tiềm lực tài chính, năng lực kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài:

    Các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính, năng lực kinh doanh tốt sẽ đóng góp nhiều cho sự phát triển kinh tế, tạo ra nhiều tác động lan tỏa tích cực thúc đẩy, lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài khác đầu tư vào nước tiếp nhận.

     

     

    KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

    Trong chương 1, nhóm tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Khái niệm, các hình thức đầu tư nước ngoài, và những nhân tố tác động đến đầu tư nước ngoài. Như vậy qua chương 1, nhóm tác giả giúp người đọc có cái nhìn khái quát hơn về lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Trong chương 2, nhóm tác giả sẽ đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2008 đến những tháng cuối năm 2012.

     

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

     

    2.1 PHÂN TÍCH TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

                2.1.1. Số lượng và quy mô dự án

    Biểu đồ 1: Tổng vốn đầu tư FDI đăng ký qua các năm ở Việt Nam.

                                        Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

            2.1.1.1Năm 2008:

    Việt Nam đồng thời chịu hai cú sốc liên tiếp có chuyên gia gọi là hai cuộc khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng thứ nhất là đó là cuộc khủng hoảng giá nhiên liệu, giá lương thực, sắt thép… trên thế giới. Điều đó tác động lớn đến Việt Nam, cùng một lúc với lạm phát, Việt Nam còn bị nhập siêu cao. Trong tình huống đó chính phủ đã chuyển đổi mục tiêu ưu tiên từ ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên cho mục tiêu kiềm chế lạm phát. Thực hiện tám nhóm giải pháp, trong đó biện pháp quan trọng hàng đầu là thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ… Nhờ vậy hai vấn đề nóng nhất là lạm phát và nhập siêu được hạ nhiệt. Nhưng hai vấn đề vừa được giải quyết cuộc khủng hoảng địa ốc, cho vay dưới chuẩn ở Mỹ đã có vấn đề từ hơn một năm trước, bùng phát vào giữa tháng 9, đã lan nhanh sang các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, kinh tế, lao động việc làm và lan nhanh sang các khu vực, các nước.

    Một nền kinh tế mà tăng trưởng dựa tới gần 60% vào vốn đầu tư, có định hướng xuất khẩu (xuất khẩu so với GDP lên tới 70%), vừa mới gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được 2 năm, lại vừa trải qua lạm phát, nhập siêu cao…, nên cuộc khủng hoảng trên thế giới đã tác động lớn đến Việt Nam, tuy có chậm hơn một số nước (do độ mở cửa về tài chính chưa rộng, đồng tiền chưa chuyển đổi, do có sự chủ động ứng phó…), nhưng cũng rất lớn và khá rộng. Tưởng chừng điều đó sẽ tác động đến FDI rất lớn vậy mà trong năm 2008 những siêu dự án, những kỷ lục về quy mô vốn liên tục được phá. Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã tạo nên một góc sáng trong bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2008, nếu nhìn trên các con số. Với nhiều dự án quy mô vốn đặc biệt lớn, FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm tại Việt Nam năm 2008, tính đến 19/12, đã đạt 64,011 tỷ USD, trong đó vốn thu hút mới là 1.171 dự án với giá trị hơn 60,2 tỷ USD. Số vốn tăng thêm từ các dự án đang hoạt động tại Việt Nam trong năm nay là 3,74 tỷ USD.  Với một con số quan trọng hơn – vốn giải ngân, thì năm 2008 cũng xác lập kỷ lục. Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đã giải ngân số vốn lên tới 11,5 tỷ USD. Quy mô dự án đầu tư bình quân là 51,47 triệu USD/dự án, cao hơn rất nhiều so với thời gian trước.

            2.1.1.2 Năm 2009:

    Ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ USD, bằng 87% so với năm 2008. Tính đến 15/12/2009, trong năm 2009 cả nước có 839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD. Tuy chỉ bằng 24,6% so với năm 2008 nhưng đây là cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế. Trong năm 2009, có 215 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008. Tính chung cả cấp mới và tăng vốntrong năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008.

            2.1.1.3 Năm 2010:

    Uớc tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 11 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, giải ngân của các nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 8 tỷ USD. Các dự án đầu tư nước ngoài triển khai trong năm 2010 đạt được mục tiêu giải ngân đề ra .Tính đến ngày 21 tháng 12 năm 2010 cả nước có 969 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 17,23 tỷ USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2009. Cũng trong năm nay có 269 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 1,37 tỷ USD, bằng 23,5% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 12 tháng đầu năm 2010, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 18,59 tỷ USD, bằng 82,2% so với cùng kỳ 2009.

    2.1.1.4 Trong năm 2011:

    Tổng vốn đăng ký là 14 tỷ USD và vốn giải ngân đạt gần 11 tỷ USD. Như vậy, vốn đăng ký năm nay giảm tương đối nhiều so với với năm 2010 (khoảng 24%), vốn giải ngân có sụt giảm nhưng không đáng kể. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp đáng kể về thu hút đầu tư với gần 400 dự án có tổng số vốn ước tính 6,5 tỷ USD, chiếm khoảng 47% tổng vốn đầu tư năm 2011.

            1.1.1.5 Tính đến ngày 20/11/2012:

    Cả nước có 980 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 7,25 tỷ USD, bằng 60,4% so với cùng kỳ năm 2011. Trong khi đó, đã có 406 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,92 tỷ USD, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 11 tháng đầu năm 2012, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,18 tỷ USD, bằng 78,6% so với cùng kỳ 2011.

    Kết quả này khá lạc quan hơn hẳn so với 10 tháng đầu năm 2011, khi thống kê của 10 tháng đầu năm 2012 ghi nhận lượng vốn đầu tư đăng ký là 10,49 tỷ USD, bằng 75,3% so với cùng kỳ 2011. Đóng góp lớn vào sự tăng trưởng này phải kể đến việc cấp phép tăng vốn cho dự án Samsung tại Bắc Ninh với số vốn tăng thêm đạt 830 triệu USD và dự án xây dựng nhà máy sản xuất điện thoại di động Nokia vào tháng 04/2012 với quy mô gần 300 triệu USD (200 triệu Euro). Trong 11 tháng đầu năm 2012, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ USD,  bằng 99,5 % so với cùng kỳ năm 2011.

    Trong khi đó, xuất khẩu của khu vực FDI trong 11 tháng đầu năm 2012 dự kiến đạt 65,61 tỷ USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm 2011 và chiếm 63,09% tổng kim ngạch xuất khẩu. Con số này cũng có sự đóng góp đáng kể từ gần 10 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của Samsung Electronics.

                2.1.2. Lĩnh vực đầu tư

    • Năm 2008:

    Vốn FDI đăng ký mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp.

    2.1.2.2 Năm 2009:

                Dịch vụ lưu trú và ăn uống là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm. Trong đó, có 32 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 4,9 tỷ USD và 8 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ USD. Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm.

    BẢNG 1 TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO NGÀNH NĂM 2009

                                                                                                                 Đơn vị tính: Triệu USD

    TT Ngành Số dự án cấp mới Vốn đăng ký cấp mới Số lượt dự án tăng vốn Vốn đăng ký tăng thêm Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm
    1 DV lưu trú và ăn uống 32 4,982.6 8 3,811.7 8,794.2
    2 KD bất động sản 39 7,372.4 4 236.1 7,608.5
    3 CN chế biến,chế tạo 245 2,220.0 131 749.3 2,969.2
    4 Xây dựng 74 388.3 11 99.2 487.4
    5 Khai khoáng 6 397.0 0 0.0 397.0
    6 Nghệ thuật & giải trí 12 291.8 0 0.0 291.8
    7 Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa 115 191.7 14 46.5 238.2
    8 Vận tải kho bãi 26 109.8 5 74.8 184.6
    9 SX,PP điện, khí, nước, điều hòa 16 129.0 1 27.9 156.9
    10 HĐ chuyên môn, KHCN 148 89.0 7 10.9 99.9
    11 Thông tin & TT 63 67.6 17 25.5 93.1
    12 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 16 62.4 8 22.5 84.9
    13 Giáo dục và đào tạo 8 5.2 3 23.7 28.9
    14 Dịch vụ khác 22 14.9 5 7.9 22.7
    15 Cấp nước; xử lý chất thải 5 8.4 0 0.0 8.4
    16 Y tế và trợ giúp XH 6 7.4 1 0.9 8.3
    17 Hành chính và dvụ hỗ trợ 5 7.9 0 0.0 7.9
    18 Tài chính 1 0.0 0 0.0 0.0
    Tổng số 839 16,345.4 215 5,136.7 12,482.1

    Nguồn: Tổng cục thống kê

    Trong đó có một số dự án có quy mô lớn được cấp phép trong năm như khu du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD. Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba trong năm 2009 với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng ký mới và 749 triệu USD vốn tăng thêm.

    2.1.2.3 Năm 2010:

                Với dự án Khu du lịch tổng hợp cao cấp Mũi Dinh tỉnh Ninh Thuận có quy mô vốn 4,5 tỷ USD, khu nghỉ dưỡng cao cấp phức hợp Nam Hội An do Công ty liên doanh đầu tư Genting VinaCapital tại thành phố Hội An- Quảng Nam vốn đầu tư lên tới 4 tỷ USD, lĩnh vực kinh doanh bất động sản vươn lên đứng thứ nhất. Trong đó có 27 lượt dự án cấp mới và 6 dự án tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 6,84 tỷ USD, chiếm 36,8% tổng vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam.

                Trong năm 2010, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực thế mạnh và là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài luôn duy trì ở vị trí cao. Lĩnh vực này dẫn đầu về số lượt dự án đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn đầu tư trong năm 2010. Có 385 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư trên 4 tỷ USD và 199 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 1 tỷ USD, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 5,1 tỷ, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư đăng ký.

    Đứng thứ 3 là lĩnh vực sản xuất phân phối điện, khí nước, điều hòa với 6 dự án đầu tư có tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 2,95 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư đăng ký trong năm 2010.

    2.1.2.4 Đến 20/5/2011

                Thì lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ nhất với 151 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 2,737  tỷ USD, chiếm 58,4% tổng vốn đầu tư đăng ký từ đầu năm đến nay. Trong khi đó, đứng thứ 2 là lĩnh vực Xây dựng với 36 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 352,66 triệu USD, chiếm 7,5%. Tiếp theo là lĩnh vực Dịch vụ lưu trú và ăn uống với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 350,98 triệu USD.

    2.1.2.5 Tính đến 20 tháng 11 năm 2012

    Về lĩnh vực đầu tư, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 431 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 8,5 tỷ USD, chiếm 69,8% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 11 tháng.

    Bảng 2 Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành  từ 01/01/2011 đến 20/05/2011

       Đơn vị tính: Triệu USD

    TT Ngành Số dự án cấp mới Vốn đăng ký cấp mới Số lượt dự án tăng vốn Vốn đăng ký tăng thêm Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm
    1 CN chế biến, chế tạo 151 2,107.15 86 630.0 2,737.17
    2 Xây dựng 36 211.32 4 141.3 352.66
    3 Dvụ lưu trú và ăn uống 4 142.97 1 208.0 350.98
    4 Cấp nước;xử lý chất thải 1 322.21 0 0.0 322.21
    5 KD bất động sản 6 266.27 1 30.0 296.27
    6 Pp điện, khí, nước,đ.hòa 1 266.00 0 0.0 266.00
    7 Nghệ thuật và giải trí 2 0.16 1 138.2 138.34
    8 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 43 90.75 2 3.5 94.25
    9 HĐ chuyên môn, KHCN 38 49.15 1 3.5 52.65
    10 Y tế và trợ giúp XH 2 40.00 0 0.0 40.00
    11 Thông tin và truyền thông 14 12.40 2 1.8 14.20
    12 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 4 6.77 2 5.0 11.77
    13 Vận tải kho bãi 3 8.00 0 0.0 8.00
    14 Giáo dục và đào tạo 4 2.79 0  0.0 2.79
    15 Hành chính và dvụ hỗ trợ 3 0.53 0 0.0 0.53
    16 Dịch vụ khác 1 0.05 1 0.3 0.32
    Tổng số 313 3,526.51 101 1,161.6 4,688.13

    Nguồn: Tổng cục thống kê

          Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 9 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 1,84 tỷ USD, chiếm 15,1%.

          Đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn bán lẻ, sửa chữa, với 169 dự án đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 465,6 triệu USD, chiếm 3,8% và tiếp theo là lĩnh vực thông tin và truyền thông với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 403,4 triệu USD.

     

     

     

    Biểu đồ 2: 6 lĩnh vực thu hút nhiều vốn FDI nhất

    Đơn vị tính: Triệu USD

     
       

                             Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài.

    2.1.3. Vùng đầu tư

    2.1.3.1  Năm 2009:

    Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất trong năm 2009 với có 3 dự án với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm, nổi bật với dự án nhà máy thép do Công ty cổ phần China Steel Sumikin Việt Nam, liên doanh  của Tập đoàn China Steel (Đài Loan), Sumitomo Metal Industries và Sumitomo Corporation (Nhật Bản), làm chủ đầu tư. Nhà máy thép có diện tích 109 ha tại khu công nghiệp Mỹ Xuân A2 (Bà Rịa – Vũng Tàu), có công suất 1,6 triệu tấn/năm, sản xuất sản phẩm thép cao cấp phục vụ công nghiệp đóng tàu, chế tạo máy, sản xuất ôtô xe máy, điện, điện tử… Vốn điều lệ của dự án là 574 triệu USD, gần bằng 1/2 tổng vốn đăng ký (1,148 tỷ  USD).

    Tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

    2.1.3.2 Năm 2010:

    Quảng Nam vươn lên vị trí dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI với dự án lớn: dự án Công ty TNHH phát triển Nam Hội An (Khu nghỉ dưỡng Nam Hội An) do nhà đầu tư Singapore đầu tư tại Quảng Nam với tổng vốn đầu tư 4 tỷ USD. Dragon Beach do nhà đầu tư Dragon Beach Group (liên doanh giữa hai công ty của Hoa Kỳ là Tano Capital LLC và Global D&C INC) làm chủ đầu tư có tổng vốn đăng ký đầu tư 4,15 tỉ USD, triển khai trên diện tích 400ha tại xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tiếp theo là Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 2,56 tỷ USD, 2,2 tỷ USD USD, 2 tỷ USD và 1,3 tỷ USD. Trong số các dự án cấp mới trong 12 tháng năm 2010, đáng chú ý có các dự án lớn được cấp phép là: Công ty TNHH điện lực AES-TKV Mông Dương (BOT nhiệt điện Mông Dương 2) xây dựng nhà máy nhiệt điện tại Quảng Ninh với tổng vốn đầu tư là 2,1 tỷ USD; Dự án Công ty Sắt xốp Kobelco Việt Nam sản xuất phôi thép tại Nghệ An với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD; Công ty TNHH Skybridge Dragon Sea của Hoa Kỳ, mục tiêu xây dựng, kinh doanh Khu trung tâm hội nghị triển lãm, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư 902,5 triệu USD.

    2.1.3.3 Năm 2011:

    TP Hồ Chí Minh là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với 1,274 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Trong tháng này, Hà Nội đã vươn lên đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 446,86 triệu USD. Đà Nẵng đứng thứ 3 với 423,57 triệu USD vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm. Tiếp theo là Đồng Nai, Ninh Thuận, Bắc Giang với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 296,29 triệu USD, 266 triệu USD và 254,5 triệu USD.

    Một số dự án lớn được cấp phép trong 5 tháng đầu năm 2011 là: dự án Công ty TNHH sản xuất First Solar Việt nam, thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo do Singapore đầu tư tại TP Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD; dự án Công ty TNHH Gamuda Land Việt Nam do Malaysia đầu tư, tổng vốn đầu tư 322,2 triệu USD với mục tiêu thiết kế, xây dựng và lắp đặt các hạng mục công trình xử lý nước thải tại Hà Nội; dự án Công ty TNHH một thành viên Enfinity Ninh thuận với tổng vốn đầu tư 266 triệu USD do Hồng Kông đầu tư với mục tiêu sản xuất điện tại Ninh Thuận; dự án Công ty TNHH Wintek Việt Nam, tổng vốn đầu tư 250 triệu USD do Samoa đầu tư tại Bắc Giang với mục tiêu sản xuất và gia công tấm cảm ứng, thiết bị thể hiện tinh thể lỏng LCD modum; dự án Công ty Bến du thuyền Đà Nẵng của nhà đầu tư BritishVirginIslands với tổng vốn đầu tư 174 triệu USD, dự án Công ty TNHH Whitestone Investmnet Hội An do Síp đầu tư tại Quảng Nam với tổng vốn đầu tư là 137 triệu USD, đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ du lịch.

     2.1.3.4 Tính đến 8 tháng đầu năm 2012:

    Hai địa phương thu hút được trên 1 tỷ USD vốn ĐTNN là Bình Dương (xếp thứ nhất; 1,85 tỷ USD, chiếm 21,8% tổng vốn ĐTNN) và Hải Phòng (xếp thứ hai; 1,05 tỷ USD; 12,4%). Tổng hợp 20 địa phương thu hút được nhiều vốn đầu tư nhất trong cả nước 8 tháng đầu năm 2012 như sau:

    Bảng 3: 20 địa phương thu hút FDI nhiều nhất 8 tháng năm 2012

     

    Đơn vị tính: Triệu USD

    STT Tên địa phương Số cấp mới Số tăng thêm Tổng
    Dự án Vống đăng ký Dự án Vống đăng ký
    1 Bình Dương 61 1.462,24 22 387,37 1.849,61
    2 Hải Phòng 20 1.037,51 17 16,85 1.054,36
    3 Đồng Nai 34 591,91 38 380,98 972,89
    4 TP Hồ Chí Minh 211 396,72 49 526,24 922,96
    5 Bắc Giang 10 33,10 3 869,60 902,70
    6 Hà Nội 130 148,82 41 264,30 413,11
    7 Quảng Ninh 4 390,44 1 0,00 390,44
    8 Hưng Yên 14 95,25 10 150,65 245,90
    9 Khánh Hòa 2 180,30 4 18,88 199,18
    10 Ninh Bình 2 186,57 1 4,00 190,57
    11 Tiền Giang 6 158,25 1 20,00 178,25
    12 Bắc Ninh 20 82,49 11 88,50 170,99
    13 Bà Rịa-Vũng Tàu 11 147,27 2 18,00 165,27
    14 Bình Phước 10 60,08 3 22,48 82,56
    15 Đà Nẵng 15 57,16 6 23,92 81,08
    16 Bến Tre 8 74,88 1 1,55 76,43
    17 Long An 30 43,60 10 27,44 71,05
    18 Yên Bái 2 63,94 0 0,00 63,94
    19 Hải Dương 12 27,29 3 25,02 52,31
    20 Đắc Lắc 1 14,70 1 30,00 44,70

    Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

        

     

    2.1.4. Các đối tác chủ yếu

    Trong năm 2008, có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam trong năm 2008. Malaysia đứng đầu với 55 dự án, vốn đăng ký  hơn 14 tỷ USD. Đài Loan đứng thứ hai, có 12 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba, có 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD.

    Trong năm 2009: Có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ với tổng vốn đăng ký là 9,8 tỷ USD chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, Cayman Islands đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD chiếm 9,4%, đứng thứ 3 là Samoa với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD chiếm 7,9%; Hàn Quốc đứng thứ 4 với 1,66 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 7,7% tổng vốn đầu tư đăng ký.

    Trong năm  2010: Có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Singapore vươn lên dẫu đầu các nhà đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,43 tỷ USD chiếm 23,8 % tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hà Lan đứng  thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm  trên 2,37 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,36 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.

    Trong năm 2011: Đã có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,132 tỷ USD, chiếm 24,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hồng Kông đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 627,03 triệu USD, chiếm 13,4% tổng vốn đầu tư;Trong tháng 5/2011, Hàn Quốc đã vươn lên đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 522,89 triệu USD, chiếm 11,2% tổng vốn đầu tư; Tiếp theo là Malaysia đứng ở vị trí thứ 4 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 416,08 triệu USD, chiếm 8,9% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhật Bản đứng thứ 5 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 375,73 triệu USD, chiếm 8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.

    Trong năm 8 tháng đầu năm 2012: Với số vốn đầu tư hơn 4,332 tỷ USD, Nhật Bản đã tạo một khoảng cách khá xa so với các nhà đầu tư khác và trở thành nhà đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam (chiếm hơn 51,1% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam).

    Dưới đây là 10 nhà đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Việt Nam 8 tháng đầu năm 2012:

    Đơn vị tính: Triệu USD

    Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

    Bảng 4: 8 nhà đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Việt Nam 8 tháng năm 2012

    STT Nhà đầu tư Số dự án cấp mới Vốn đăng ký Số dự án tăng thêm Vốn đăng ký Tổng
    1 Nhật Bản 174 3.598,49 65 733,65 4.332,14
    2 Samoa 4 19,5 2 870,3 889,8
    3 Hàn Quốc 136 391,81 45 262,91 654,72
    4 Singapore 60 420,67 25 102,62 523,29
    5 BritishVirginIslands 13 30,47 10 484,12 514,59
    6 Hồng Kông 23 418,55 9 88,93 507,48
    7 Trung Quốc 38 197,25 9 29,99 227,24
    8 Đài Loan 31 87,03 29 118,86 205,88

    2.2 ĐÁNH GIÁ ĐÓNG GÓP CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ

    2.2.1 Mặt tích cực

    Khu vực kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển năng động.

    2.2.1.1 Về kinh tế

    • ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế.
    • Đóng góp của ĐTNN trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn. Năm 2008 tuy 3/4 thời gian thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và 1/4 thời gian bị tác động của khủng hoảng kinh tế thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 189,9 nghìn tỷ đồng tăng 46,9% và chiếm 29,8% tổng vốn đầu tư của xã hội. Trong năm 2010, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 11 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, giải ngân của các nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 8 tỷ USD. Trong 11 tháng đầu năm 2012, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,18 tỷ USD, bằng 78,6% so với cùng kỳ 2011.
    • Vốn ĐTNN đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Năm 2008, tốc độ tăng bình quân của GDP đạt 6,23% (nông lâm ngư nghiệp tăng 3,79%; công nghiệp xây dựng tăng 6,33%, dịch vụ tăng 7,2%). Tính chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng (GDP) 5,32% so với năm 2008 (Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%). Năm 2010, tốc độ tăng bình quân của GDP đạt 6,78% và năm 2011 đạt 5,89%. Năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn nghiêng hướng khoảng 6%.
    • ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp
    • Từ năm 1986 đến nay, ĐTNN đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng bước trở thành nguồn đầu tư quan trọng của Quốc gia, góp phần phát triển các ngành công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Nhiều công trình lớn đã hoàn thành đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tư, nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng trưởng giai đoạn sau đó được khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ xuất khẩu…
    • Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp qua các năm.
    • ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may… Hiện ĐTNN đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60% cán thép, 33% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giày, 55% sản lượng sợi, 25% hàng may mặc.
    • Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, trong tổng số lao động tăng thêm từ 1990 – 2009 (15.634.9 nghìn người): Nhóm nghành Nông – Lâm – Ngư nghiệp – Thủy sản đã thu hút thêm 2.148,7 nghìn người, chiếm 13,8% tổng số tăng. Nhóm ngành công nghiệp xây dựng đã thu hút thêm 6.079,8 người chiếm 38,9% tổng số tăng. Nhóm ngành dịch vụ thu hút thêm 7.396,4 nghìn người, chiếm 47,3 tổng số tăng
    • Do năng suất lao động của nhóm ngành Công nghiệp – Xây dựng (62.924 nghìn đồng/người) và nhóm ngành dịch vụ (46.849 nghìn đồng/người) nên con đường chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, rút bớt lao động nhóm ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp – Thủy sản sang làm Công nghiệp – Xây dựng và dịch vụ là con đường nâng cao năng suất lao động chung và cũng là con đường cải thiện mức sống dân cư, giảm tỷ lệ nghèo…
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển giao công nghệ:
    • ĐTNN góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy… Nhất là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam trong dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech.v.v)
    • Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực ĐTNN cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực. Hầu hết các doanh nghiệp có vốn ĐTTNN áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ.
    • Trong Nông – Lâm – Ngư nghiệp, ĐTNN đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới.
    • Tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế:
    • Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN được nâng cao qua số lượng các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, có tác động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành. Mặt khác, các doanh nghiệp ĐTNN cũng tạo động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô:
    • Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng. Thời kỳ 1996-2000, không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp ĐTNN đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp ĐTNN đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng 2 năm 2006 và 2007 khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD (năm 2007 hơn 1,5 tỷ USD), gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005.
    • ĐTNN tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu…
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế:
    • Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc… Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế giới.
    • Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, ĐTNN đã tạo ra nhiều khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ.
    • Bên cạnh đó, ĐTNN còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

    2.2.1.2 Về xã hội

    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực:
    • Đến nay, khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra việc làm cho trên 1,7 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác theo kết quả điều tra của World Bank cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 lao động gián tiếp phục vụ trong khu vực dịch vụ và xây dựng, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, đưa mức GDP đầu người tăng lên hàng năm. Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, Việt Nam đã từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiên đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
    • Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài trong đảm nhiệm các vị trí quản lý doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại.
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới:
    • ĐTNN đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện.

    2.2.1.3 Về môi trường

    • Theo kết quả điều tra năm 2002 (của Viện Quản lý kinh tế trung ương), đa số (chứ không phải toàn bộ) các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và có kết quả môi trường tốt hơn so với số đông các doanh nghiệp trong nước (có 77% doanh nghiệp có kết quả về các thông số gây ô nhiễm môi trường thấp hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam). Đáng chú ý là 60% doanh nghiệp ĐTNN trong lĩnh vực chế biến thực phẩm đã lắp đặt thiết bị xử lý nước thải đúng tiêu chuẩn (so sánh với tỷ lệ 10% của các doanh nghiệp trong nước).

    2.2.2 Mặt tiêu cực:

                2.2.2.1 Hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI

    Năm 2009 toàn quốc có 1.358 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI đang hoạt động thì có 56% doanh nghiệp báo cáo làm ăn thua lỗ. Các doanh nghiệp này hầu hết có các công ty mẹ tại nước ngoài, 99% hàng sản xuất ra xuất khẩu sang nước thứ ba. Do lỗ nên các doanh nghiệp này không nộp thuế. Ví dụ có doanh nghiệp thuộc quận Bình Tân, TP.HCM năm 2008 lỗ 2.668 tỷ đồng; năm 2009 lỗ 2.654 tỷ đồng. Có điều lạ là lỗ như vậy nhưng doanh nghiệp này vẫn mở rộng sản xuất, năm sau cao hơn năm trước. Có thể khá dễ dàng nhận thấy đây là hình thức chuyển giá để trốn thuế. Cụ thể nguyên liệu đầu vào nhập từ các công ty mẹ với giá cao ngất ngưởng; hàng đầu ra xuất sang các nước có thuế suất thấp nên báo cáo lỗ ở công ty con nhưng lãi cực lớn ở công ty mẹ

    Năm 2010. Một trong những doanh ngiệp FDI lợi dụng chuyển giá đã bị ngành thuế Lâm Đồng phát hiện, và chính từ sự kiện này đã đánh lên hồi chuông cảnh báo về thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI trong những năm gần đây. Tại Lâm Đồng, tổ khảo sát đã khảo sát tất cả các hồ sơ khai thuế, đồng thời sử dụng mọi biện pháp nghiệp vụ để thu thập thông tin liên quan… Sau đó sàng lọc, nghiên cứu từng hồ sơ, hợp đồng xuất khẩu, báo cáo kế toán của từng doanh nghiệp FDI để so sánh với các doanh nghiệp trong nước có cùng lĩnh vực kinh doanh. Việc kiểm tra đã phát hiện ra rằng, giá xuất khẩu của doanh nghiệp FDI luôn thấp hơn rất nhiều so với giá thành sản xuất. Một cán bộ thanh tra của ngành thuế tỉnh Lâm Đồng cho biết, sau khi chế biến ra trà thành phẩm, các doanh nghiệp đóng gói xuất sang Đài Loan với giá chỉ từ 2,8 đến 4 USD/kg, trong khi chi phí sản xuất 1 kg trà thành phẩm là 8 – 9 USD/kg. Sau khi chuyển về công ty mẹ, sản phẩm trà được phân nhỏ rồi mới gắn nhãn mác và bán với giá bao nhiêu thì không rõ. Qua điều tra, chính các doanh nghiệp cũng thừa nhận, giá xuất khẩu thực tế là từ 5,5 đến 11,6 USD/kg (gấp 2 – 3 lần so với báo cáo). Với kết quả như vậy, ngành thuế tỉnh đã xác định, từ năm 2005 đến nay, các doanh nghiệp FDI kể trên đã kinh doanh có lãi và năm 2010 là thời điểm hết hạn miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, nên các doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (được khấu trừ 50% thuế thu nhập doanh nghiệp theo chính sách ưu đãi cho 4 năm tiếp theo). Các doanh nghiệp này đã chấp nhận và đồng tình thực hiện. Theo Cục Thuế Lâm Đồng, thông qua kiểm tra, hướng dẫn 17 doanh nghiệp FDI trong ngành chè, đã xử lý hết số lỗ lũy kế trong hạn chuyển lỗ đến hết ngày 31/12/2009 là trên 316,5 tỷ đồng, trong đó, Công ty TNHH HaiYih xử lý lỗ lũy kế với số tiền là 63,6 tỷ đồng, Công ty TNHH Trà Kinh Lộ 56,8 tỷ đồng, Công ty TFP Việt Nam 47,9 tỷ đồng… đồng thời các doanh nghiệp này cũng đã kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với số tiền gần 8 tỷ đồng

    Số liệu từ Bộ Tài chính cho biết, hiện đến năm 2011 có đến 20- 30% trong tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên kê khai có kết quả kinh doanh lỗ liên tiếp trong 2- 3 năm, thậm chí 5 năm. Rõ ràng, theo các quy định hiện hành, với tình trạng kinh doanh thua lỗ, doanh nghiệp đó sẽ tránh được việc nộp thuế. Dễ dàng để nhận ra đó là chuyển giá nhưng kiểm soát thì lại là một vấn đề khó khăn. Ông Thomas McClelland, chuyên gia thuế của Công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam cho biết, khó khăn của cơ quan thuế tại Việt Nam trong việc thực hiện kiểm soát về chuyển giá bắt nguồn từ sự kém hiểu biết về hoạt động chuyển giá và sự thiếu dữ liệu trong những giao dịch chuyển giá của các doanh nghiệp FDI. Mặc dù Thông tư 117/2005/TT- BTC của Bộ Tài chính ban hành vào tháng 12/2005 đã có những quy định cơ bản về thủ thuật chuyển giá và những yêu cầu về mặt cung cấp tài liệu, nhưng ông McClelland cho rằng, nhiều người nộp thuế vẫn lờ đi những yêu cầu này và thậm chí, chỉ nộp những tài liệu bắt buộc đối với việc báo cáo về những giao dịch với các bên liên quan

    2.2.2.2 Chuyển giao công nghệ lạc hậu

    • Do thiếu kinh nghiệm một số tỉnh đã để nhiều nhà đầu tư nước ngoài (chủ yếu là Đài Loan) tranh thủ đưa vào các dự án công nghệ đơn giản, lạc hậu, tận dụng lực lượng lao động giá rẻ tại chỗ (Công ty Wei Xern Sin Industrial Đà Nẵng).
    • Lợi dụng sự chạy đua thu hút vốn  FDI của các địa phương, nhiều DN FDI cố tình nhập khẩu công nghệ lỗi thời về sản xuất ở Việt Nam. Điều này không chỉ khiến chúng ta lạc hậu về khoa học kỹ thuật mà còn gây tác hại lâu dài cho môi trường, điều kiện sống sau này. Chính sự “nhắm mắt làm ngơ”, dễ dãi của các địa phương đối với các DN FDI, đã  khiến Việt Nam trở thành điểm đến cho những dự án “xuất  khẩu” ô nhiễm của các nước phát triển. Do đó, không ít dự án gây ô nhiễm môi trường kéo dài, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, môi trường sinh thái và cuộc sống của người dân.
    • FDI ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái. Bên cạnh những đóng góp quan trọng cho ngành Du lịch Việt Nam thì sự đầu tư quá lớn và liên tục gia tăng trong những năm gần đây đã đặt môi trường tự nhiên Việt Nam trước những thách thức lớn. Nguy cơ ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu vực sông. Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống, nơi cư trú của các động vật hoang dã, thực vật đã bị xáo trộn, phá hủy. Trong khi đó, vấn đề bảo vệ tốt môi trường vẫn đang là thách thức lớn đối với Việt Nam hiện nay.

                2.2.2.3 Phân cấp quản lý cho các địa phương:

    • Trước hết, phải khẳng định rằng, chủ trương phân cấp quản lý FDI đã có tác động tích cực đến tính chủ động của chính quyền các tỉnh, thành phố trong hoạt động xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu phiền hà và tiết kiệm thời gian và chi phí đầu tư cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, quá trình thực hiện cơ chế phân cấp thời gian qua cũng đã nảy sinh nhiều bất cập. Tư duy nhiệm kỳ khiến nhiều địa phương chạy đua thu hút đầu tư bằng mọi giá, gây phá vỡ quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, làm mất cân đối nguồn lực. Chưa kể, việc cấp chứng nhận đầu tư mà không chú ý tới chất lượng, hiệu quả, trong khi lại chưa coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, dẫn đến tình trạng nhiều dự án đã được cấp phép, nhưng không triển khai theo đúng tiến độ, gây lãng phí nguồn lực.
    • Bên cạnh đó, cũng có tình trạng việc tiếp xúc, lựa chọn nhà đầu tư chưa thận trọng, nên một số nhà đầu tư dù không đủ năng lực tài chính, nhưng vẫn được cấp chứng nhận đầu tư dự án hàng trăm triệu USD để bán lại, làm méo mó thị trường, sai lệch thông tin và cản trở cơ hội của các nhà đầu tư chân chính…
    • Lãnh đạo địa phương chưa khai thác tốt lợi thế của từng tỉnh, thành phố gắn với lợi thế từng vùng lãnh thổ, chưa tạo ra sự khác biệt trong cơ cấu vốn FDI. KCN trên địa bàn cả nước hầu như cùng một dạng, cũng may mặc, giày da, chế biến thức ăn gia súc, điện tử, đồ dùng gia đình. Một số địa phương đã ban hành và thực hiện các quy định về ưu đãi đầu tư trái pháp luật làm tổn hại lợi ích chung của đất nước.
    • Năng lực thẩm định của cán bộ một số địa phương đối với dự án FDI lớn rất hạn chế, nên đã xảy ra tình trạng cấp phép mà không đảm bảo các điều kiện cần thiết, thậm chí cùng thời gian đã có các dự án xi măng, sắt thép quy mô lớn được nhiều địa phương cấp phép, không phù hợp với quy hoạch ngành và vùng lãnh thổ.

    2.2.2.4  Mất cân đối giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế:

    • FDI thường tập trung vào những ngành có khả năng sinh lợi cao như khai thác tài nguyên khoáng sản, dầu khí, công nghiệp nặng,…. Trong khi những ngành như nông nghiệp lại thu hút được rất ít nguồn FDI. Điều này, dẫn tới sự mất cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, 11 tháng đầu năm 2012 lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 258 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 5,50 tỷ USD, chiếm 68,5% tổng vốn đầu tư đăng ký.
    • Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 1,61 tỷ USD, chiếm 20,1% vốn đầu tư. Đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn bán lẻ, sửa chữa, với 102 dự án đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 314,2 triệu USD, chiếm 3,9%. Tiếp theo là lĩnh vực vận tải, kho bãi; y tế và trợ giúp xã hội với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 198,1 triệu và 83,8 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu khiến cho FDI đổ vào lĩnh vực nông nghiệp hết sức èo uột là do chúng ta chưa có cơ chế hỗ trợ hợp lý, rõ ràng đối với các ngành nông nghiệp để tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thêm vào đó là thời gian thu hồi vốn khi đầu tư vào các ngành này là khá lâu và khả năng thu hồi vốn là khá khó khăn dân đến việc e ngại của các nhà đầu tư.

    2.2.2.5 Tạo áp lực cạnh tranh:

    • Sự xuất hiện của dòng vốn FDI tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với doanh nghiệp trong nước. Sức ép cạnh tranh có tác động hai mặt, thứ nhất làm đối thủ cạnh tranh yếu hơn có nguy cơ bị thu hẹp thị phần, giảm sản xuất, thậm chí phải rút lui khỏi thị trường. Đây là mặt tiêu cực của cạnh tranh.
    • Tuy nhiên, cạnh tranh lại kích thích các đối thủ tự đầu tư đổi mới để vươn lên đứng vững trên thị trường, từ đó năng lực sản xuất được cải thiện. Nhưng chúng ta cũng cần có cái nhìn khách quan là hạn chế này có nguồn gốc xâu xa là do năng lực quản lý, điều hành kinh doanh của các doanh nghiệp nội địa quá yếu kém, các nhà quản lý chưa vươn được đến tầm quốc tế để có cái nhìn xa hơn mà chỉ thấy được lợi ích trước mắt nên việc bị các doanh nghiệp FDI lợi dụng rồi ”hất cẳng” là chuyện tất yếu. Điển hình như trường hợp Cocacola liên kết với Chương Dương rồi dìm chết Chương Dương cách đây nhiều năm là một ví dụ rõ nét.

    2.2.2.6 Rửa tiền

    • Xuất hiện nguy cơ rửa tiền. Theo cảnh báo của WB thì Việt Nam sẽ bị các tổ chức rửa tiền quốc tế chọn làm mục tiêu vì hệ thống thanh tra, giám sát, hệ thống kế toán và tìm hiểu khách hàng ở nước ta còn kém phát triển, mức độ sử dụng tiền mặt và các luồng chuyển tiền không chính thức còn cao. Bên cạnh đó, Việt Nam đang trên con đường mở cửa kinh tế và được đánh giá là nền kinh tế có tính chất mở hàng đầu thế giới. Việc kiểm soát lỏng lẻo các dòng tiền vào ra đã tạo điều kiện thuận lợi để tội phạm thực hiện hoạt động rửa tiền. Nguồn vốn FDI có thể là một kênh thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động rửa tiền. Các tổ chức phi pháp có thể tiến hành đầu tư vào nước ta với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng thực chất không phải để hoạt động mà nhằm hợp pháp hóa các khoản tiền bất hợp pháp. Điển hình như vụ Nguyễn Đức Chi đầu tư vào các dự án tại Khánh Hòa thông qua Công ty Russaka – Invest để rửa tiền từ hoạt động phạm tội tại Nga, lợi dụng danh nghĩa công ty để lừa đảo, đưa hối lộ; vụ Lê Thị Mai đầu tư tiền từ hoạt động ma túy vào các dự án của Công ty Viet Can Resorts & Plannation; Vụ Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam đã nhận được email từ một số doanh nhân Nigeria yêu cầu mở tài khoản 28 triệu USD, hứa hẹn sẽ chi lại 15% tổng số tiền…
    • Tuy nhiên, cho đến nay tại Việt Nam chưa có vụ án rửa tiền nào bị khởi tố điều tra mà hành vi rửa tiền chỉ bị phanh phui, xử lý như một trong tổng thể các hành vi phạm tội của một vụ án. Bởi hoạt động rửa tiền diễn ra hết sức tinh vi, đa dạng, bọn tội phạm sử dụng các hoạt động nghiệp vụ kinh tế như tài chính, kế toán, ngân hàng nên rất khó bị phát hiện. Thêm vào đó là những doanh nghiệp Việt Nam quá ham mê chạy theo mức lợi nhuận “khủng” hứa hẹn sẽ có được mà không biết tỉnh táo suy xét cẩn thận trong quá trình hợp tác, đầu tư.

    2.2.2.7 Mâu thuẫn giữa chủ doanh nghiệp với người lao động:

    • Có tới 70% số vụ đình công, bãi công xảy ra ở doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp da giày, may mặc.
    • Khảo sát 2011của Viện Công nhân và Công đoàn cho thấy, chỉ có khoảng 60% số hợp đồng làm việc với công ty có vốn FDI trực tiếp là tuân theo đúng luật Việt Nam. Nguyên nhân của các vụ tranh chấp lao động và đình công này đều bắt nguồn từ chế độ lương thưởng của người lao động. Theo Phó Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Mai Đức Chính, số vụ đình công bắt nguồn từ những bất cập trong vấn đề lương thưởng chiếm khoảng 80% số vụ đình công diễn ra trong nửa năm qua. Nhà nước đã đặt ra mức lương tối thiểu nhưng nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng quy định đó để trả lương cho người lao động ở mức thấp.
    • Qua khảo sát của Viện Công nhân và Công đoàn, khu vực doanh nghiệp FDI cũng là khu vực vi phạm pháp luật lao động nhiều nhất. Điển hình làm thêm giờ quá nhiều. Trong khi đó, vai trò của tổ chức công đoàn ở nhiều địa phương và doanh nghiệp còn rất mờ nhạt. Cũng theo kết quả thống kê của Viện công nhân và Công đoàn cách đây 1 năm thì bình quân tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp FDI là 1,82 triệu đồng/tháng, trong khi doanh nghiệp tư nhân là 1,98 triệu đồng/tháng và doanh nghiệp nhà nước có mức lương cao nhất là 2,25 triệu đồng/tháng. Khảo sát này cũng cho thấy, mức lương của người lao động ở từng vị trí công việc có sự chênh lệch rất lớn, đặc biệt là trong khu vực doanh nghiệp FDI. Trong khi mức lương bình quân phân theo chức danh công việc, cấp quản lý hơn 3,1 triệu đồng/tháng thì người lao động trực tiếp chỉ hơn 1,6 triệu đồng/tháng. Khảo sát chỉ ra rằng, mức độ hài lòng của người lao động về tiền lương hiện tại chỉ chiếm có 3,9%, trong khi mức không hài lòng chiếm tới 50,9%. Về thu nhập, mức độ hài lòng cũng chỉ chiếm 6,3% với việc làm hiện tại và có tới 30,9% người lao động không hài lòng.

    2.2.2.8 Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư

    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư. Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác. Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn. Và nếu nền kinh tế dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo. Sự phồn vinh có được bằng cái của người khác.

    2.2.2.9 Chi phí cho thu hút FDI và sản xuất hàng hóa không thích hợp

    • Chi phí của việc thu hút FDI
    • Để thu hút FDI, các nước nhận đầu tư phải áp dụng một số chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư như giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự án đầu tư nước ngoài. Hoặc việc giảm tiền cho việc thuê đất, nhà xưởng và một số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong nước. Hay trong một số lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan…. Và như vậy đôi khi lợi ích của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được. Thế mà, các nhà đầu tư còn tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào (như các nguyên vật liệu, bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư). Việc làm này mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư chẳng hạn như trốn được thuế, hoặc giấu được một số lợi nhuận thực tế mà họ kiếm được. Từ đó hạn chế cạnh tranh của các nhà đầu tư khác xâm nhập vào thị trường. Ngược lại, điều này lại gây chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn.
    • Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ xảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin, trình độ kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc các chính sách của nước đó còn nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi dụng được.
    • Sản xuất hàng hóa không thích hợp:
    • Các nhà đầu tư còn bị lên án là sản xuất và bán hàng hóa không thích hợp cho các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi còn lại là những hàng hóa có hại cho khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường. Ví dụ như khuyến khích dùng thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng vv…
    • Những mặt trái khác
    • Trong một số các nhà đầu tư không phải không có trường hợp hoạt động tình báo, gây rối an ninh chính trị. Thông qua nhiều thủ đoạn khác nhau theo kiểu “diễn biến hòa bình”. Có thể nói rằng sự tấn công của các thế lực thù địch nhằm phá hoại ổn định về chính trị của nước nhận đầu tư luôn diễn ra dưới mọi hình thức tinh vi và xảo quyệt. Trường hợp chính phủ Xanvado Agiende ở Chile bị giật dây lật đổ năm 1973 là một ví dụ về sự can thiệp của các công ty xuyên quốc gia ITT (công ty viễn thông và điện tín quốc tế) và chính phủ Mỹ can thiệp công việc nội bộ của Chile.
    • Mặt khác, mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vào những nơi có lợi nhất. Vì vậy khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này có thể gây ra mất ổn định về chính trị.
    • Những mặt trái của FDI không có nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơ bản của nó mà chúng ta chỉ lưu ý rằng không nên quá hy vọng vào FDI và cần phải có những chính sách, những biện pháp kiểm soát hữu hiệu để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI. Bởi vì mức độ thiệt hại của FDI gây ra cho nước chủ nhà nhiều hay ít lại phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư.
      KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

    Trong chương 2, nhóm tác giả đã phân tích thực trạng đầu tư nước ngoài FDI tại việt nam từ năm 2008 đến cuối năm 2012 qua các chỉ tiêu như: số lượng và quy mô dự án, lĩnh vực đầu tư, vùng nhận đầu tư cũng như các nhà đầu tư chủ yếu. Dựa vào đó, nhóm tác giả tiếp tục đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến sự phát triển kinh tế Việt Nam.

    Việt Nam, môi trường đầu tư hứa hẹn nhiều tiềm năng cho các doanh nghiệp FDI, tuy nhiên hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về thể chế pháp luật, chính sách, kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng…nên các doanh nghiệp FDI chưa phát huy hết tiềm năng của mình, nhà nước chưa quản lý hết được những điểm hạn chế từ các doanh nghiệp FDI. Đó là những tiền đề để nhóm tác giả đưa ra những giải pháp góp phần đẩy lùi những hạn chế đồng thời nâng cao chất lượng đầu tư, tăng cường thu hút vốn đầu tư có chọn lọc, và một số kiến nghị đối với cơ quan có thẩm quyền trong chương tiếp theo.

     

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẦU TƯ

    TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

     

    3.1 Dự báo lượng vốn FDI được đầu tư vào Việt Nam trong năm 2013

    Dòng vốn FDI trên thế giới đã có sự phục hồi từ năm 2010 sau khi chững lại vào năm 2008- 2009. Năm 2011, thế giới đã thu hút được khoảng 1.500 tỷ USD. Trong đó, các nước phát triển thu hút 748 tỷ USD, tăng 21% vào năm 2010 và các nước đang phát triển thu hút 684 tỷ USD, chiếm 45% tổng FDI toàn thế giới; các nền kinh tế đang chuyển đổi thu hút 92 tỷ USD, tăng 25% và chiếm 6% FDI toàn cầu. Năm 2012, dự kiến FDI toàn thế giới sẽ đạt khoảng đạt xấp xỉ 1.600 tỷ USD; năm 2013, FDI toàn thế giới sẽ lên tới 1.800 tỷ USD và năm 2014 là 1.900 tỷ USD. Trong đó, các nước Đông Á và Asean vẫn là điểm đến hấp dẫn để thu hút đầu tư.

    Theo đó, xu hướng FDI thế giới trong thời gian tới là đầu tư vào kinh tế xanh, và những ngành công nghiệp sạch sẽ tăng mạnh. Mặt khác, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đóng vai trò quan trọng và là nguồn cung cấp FDI lớn nhất. Tại sao có sự chuyển dịch này, bởi các TNCs có nhu cầu tìm kiếm, mở rộng thị trường và các nguồn lực, sự ổn định về chính trị và những chính sách ưu đãi FDI, ngoài ra khả năng sinh lợi từ nguồn vốn là động lực để TNCs đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài.

    Những quốc gia muốn tiếp nhận được nhiều FDI phải tạo ra những điều kiện đáp ứng mục đích kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư. Và quan trọng là, phải có những chính sách thu hút FDI hoàn chỉnh, bao gồm những chính sách đất đai, chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái, chính sách lao động, chính sách ưu đãi tài chính,…

    Mặc dù dòng vốn FDI trên thế giới đã có sự phục hồi từ năm 2010 và dự báo sẽ tiếp tục tăng vào năm 2012, tuy nhiên ở Việt Nam dòng vốn FDI trong 2 năm qua chưa thấy tăng lên mà lại có chiều hướng giảm dần. Cụ thể, năm 2010, Việt Nam thu hút được 18,59 tỷ USD thấp hơn con số 21,48 tỷ của năm 2009; năm 2011 dù đã đặt ra mục tiêu thu hút khoảng 20-21 tỷ USD vốn FDI, nhưng kết quả cũng chỉ thu hút được 14,7 tỷ. Năm 2012, đặt mục tiêu thu hút 15-17 tỷ USD, nhưng 10 tháng đầu năm Việt Nam mới chỉ thu hút được 10,49 tỷ USD, bằng 75,3% cùng kỳ 2011.

    Chưa thể khẳng định kết quả này là do chúng ta chậm đổi mới các chính sách thu hút FDI thời gian qua, nhưng nếu nhìn sang các nước lân cận thì thấy rằng, chính sách thu hút FDI của họ đã có nhiều đổi mới, để phù hợp với từng giai đoạn nhất định.

    Với tình hình kinh tế Việt Nam được dự báo trong năm 2013 dần dần phục hồi, tốc độ tăng trưởng GDP khoản 5.9% nên dòng vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2013 theo nhóm dự báo Việt Nam sẽ thu hút 16-17 tỷ USD. Tập trung vào một số ngành như công nghiệp chế biến chế tạo, thông tin truyền thông, vận tải kho bãi, xây dụng… Và vẫn tập trung vốn vào một số khu vực có cở sở hạ tầng phát triển như: Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, Bắc Giang…

    3.2.  Giải pháp hạn chế chuyển giá của các doanh nghiệp FDI

    Như phần trước đã trình bày, nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không phải là lúc nào cũng có lợi. Bên cạnh đem lại nguồn vốn, việc làm… thì sự xuất hiện của dòng vốn FDI tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với doanh nghiệp trong nước. Thu hút FDI với mục chuyển giao công nghệ thì về kênh chuyển giao và phổ biến công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cũng không hoặc ít diễn ra. Và gần đây nhất là thủ thuật chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chuyển giá làm thất thu ngân sách, môi trường cạnh tranh không lành mạnh, thay vì lợi ích giảm nhập siêu thì chuyển giá lại làm nên những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu. Tìm được nguyên nhân và cách thức mà các doanh nghiệp sử dụng trước hết em xin đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết tình trạng chuyển giá.

    3.2.1. Về phía nhà nước

    • Để khắc phục tồn tại phát sinh trong lĩnh vực nhạy cảm, có liên quan đến hoạt động đối ngoại quốc tế cũng như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cần có sự chỉ đạo tích cực từ cấp Trung ương đến từng địa phương. Trước mắt, Nhà nước cần có văn bản quy định nhiệm vụ cụ thể cho các ngành có liên quan như: cơ quan thuế, hải quan, quản lý đầu tư, công an, viện kiểm sát, toà án, ngân hàng thực hiện tốt việc phối hợp theo thẩm quyền về trao đổi, cung cấp thông tin, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động giao dịch liên kết và chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Theo đó, cơ quan quản lý thuế được quyền áp dụng những biện pháp tạm dừng hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp khai báo kết quả kinh doanh lỗ quá vốn chủ sở hữu cho đến khi doanh nghiệp khắc phục được tình trạng liên tục kê khai lỗ, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa đồng bộ với Bộ Luật Dân sự của Việt Nam quy định về các điều kiện tồn tại pháp nhân kinh tế.

    3.2.2. Về phía doanh nghiệp

    • Buộc doanh nghiệp FDI sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước. Thực tế, doanh nghiệp thực hiện được hoạt động chuyển giá là nhờ mua nguyên liệu với giá cao, bán sản phẩm cho công ty mẹ ở nước ngoài với giá thấp. Do vậy, buộc doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước (chỉ những nguyên liệu trong nước không có mới được nhập), ít nhất cũng giải quyết được vấn đề tiêu dùng nguyên liệu trong nước, đồng thời giảm nhập siêu. Vấn đề còn lại là cơ quan chức năng kiểm tra chặt chẽ giá đầu ra, nếu doanh nghiệp bán sản phẩm cho duy nhất công ty mẹ với giá thấp thì có biện pháp đối chiếu, xử lý.

    3.2.3. Về phía cục thuế

    • Cần xem xét lại việc ưu đãi thuế GTGT cho doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay. Việc ưu đãi thuế GTGT 0% cho doanh nghiệp xuất khẩu đã là ưu thuế quá lớn đối với những doanh nghiệp trong khu chế xuất. Bởi thực tế, số thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp trong khâu chế xuất nộp rất ít, họ lại được hưởng ưu đãi về đất đai, vị trí, lao động nhân công rẻ, đường xá… Cùng với kiểu chuyển giá, báo cáo lỗ như hiện nay là vấn đề cần xem xét lại để tạo công bằng giữa các doanh nghiệp

    3.3 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN

    • Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài mang lại rất nhiều lợi ích, nhưng trên thực tế gần đây có nhiều bất cập như thủ thuật chuyển giá. Để tăng cường hiệu quả từ nguốn vốn này trước hết phải có giải pháp hạn chế như chuyển giá đã nêu ở trên. Bên cạnh đó phải có các chính sách tăng cường thu hút vốn nhằm thúc đẩy tăng trưởng phát triển của Việt Nam hiện nay nhất là khi Việt Nam đang mở cửa hội nhập quốc tế. Và quan trọng hơn hết là phát huy các lợi ích mà nguồn vốn này mang lại. Dưới đây là một số biện pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài

    3.3.1. Các chính sách kinh tế xã hội

    • Xây dựng các phương thức và chính sách phù hợp để có thể kêu gọi các tập đoàn kinh tế lớn đầu tư vào Việt Nam. Áp dụng các giải pháp khuyến khích đầu tư bằng các chính sách về vốn, thuế, tuy nhiên cần có sự hợp lý đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp trong nước. Một trong những yêu cầu rất quan trọng là chúng ta phải chủ động kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng các dự án công nghệ cao, đặc biệt trong các ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, tin học, phần mềm, vật liệu mới… Đối với các nhà đầu tư này, chúng ta càng chuẩn bị tốt các điều kiện cho họ bao nhiêu thì tác động, lôi cuốn tới các nhà đầu tư khác sẽ càng tăng bấy nhiêu
    • Cần tích cực đẩy mạnh chương trình đổi mới d, đặc biệt đẩy nhanh doanh nghiệp nhà nước việc cổ phần hoá để thu hút nguồn vốn đầu tư mới từ xã hội thông qua thị trường chứng khoán.

    3.3.2 Chính sách pháp luật

    • Thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu nhằm thực hiện đúng tiến độ và bảo đảm được hiệu quả của dự án, đặc biệt rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng. Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra giám sát của chủ đầu tư, của các cơ quan quản lý nhà nước để chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, tạo niềm tin cho nhân dân khi tham gia vốn và đầu tư

    3.3.3 Cải cách thủ tục hành chính

    • Cần có sự thống nhất hơn trong các thủ tục hành chính chống gần phiền nhiễu hay những thủ tục rườm rà không đáng có. Đổi mới quan điểm về thủ tục hành chính. Các cơ quan nhà nước cần có tư duy sát thực hơn về hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng trước hết đây vừa là lợi ích, vừa là trách nhiệm của họ. Cơ quan quản lý nhà nước phải nhận thức, quán triệt quan điểm phục vụ trong chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trung tâm theo hướng nhận khó khăn về phía mình để tìm cách đơn giản hoá thủ tục hành chính tới mức cao nhất, đem lại thuận lợi nhất cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, mọi thủ tục hành chính cần hướng vào việc tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần được thiết kế theo hướng để khi doanh nghiệp thực hiện với thời gian ngắn nhất và chi phí thấp nhất. Từ điều này sẽ tìm ra nhiều cách sáng tạo thực hiện.

    3.3.4 Xây dựng cơ cấu hạ tầng

    • Cần có hệ thống đường xá cầu cống ổn định hơn, các tuyến và các trục đường chính tùy theo khu vực trục đường mà mở rộng, sửa chữa đảm bảo thông suốt, hạn chế ùn tắc như hiện nay. Tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

    3.4 KIẾN NGHỊ

                3.4.1 Đối với cục thuế

    • Cần có thái độ nghiêm minh với các doanh nghiệp đã vi phạm, nhằm buộc các doanh nghiệp phải kê khai chính xác về giá đối với các hoạt động giao dịch liên kết (phạt về hành vi gian lận thuế, trốn thuế; truy cứu trách nhiệm hình sự; cấm hoạt động kinh doanh tại Việt Nam…)
    • Cơ quan thuế cần phải có biện pháp thu thập được giá thị trường khách quan, cụ thể thu thập thông tin; phân tích theo từng ngành nghề, lĩnh vực, trao đổi thông tin với phía nước ngoài từ đó dễ dàng nhận diện các trường hợp dùng thủ thuật chuyển giá

    3.4.2 Đối với nhà nước

    • Đưa ra ban hành các văn bản pháp quy quy định cụ thể hơn nữa về chuyển giá, làm cơ sở cho các địa phương, cơ quan thu thuế thực hiện. Cần xây dựng Luật Chống chuyển giá, đồng thời sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Dân sự. Hình thành cơ quan chuyên trách chống chuyển giá ở cấp Trung ương và các tỉnh, thành phố nhằm chỉ đạo thực hiện thông suốt. Có như vậy mới chống được hành vi chuyển giá, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm thu đúng, thu đủ vào ngân sách Nhà nước.

       

     

     KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

    Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ở chương 2, nhóm tác giả đã đưa ra dự báo về lượng vốn FDI được đầu tư vào Việt Nam trong năm 2013 và một số giải pháp chủ yếu như: hạn chế việc chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Về phía nhà nước cần hoàn thiện hệ thống hành lanh pháp lý để phù hợp với thông lệ quốc tê, về phía doanh nghiệp FDI buộc oanh nghiệp FDI phải sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước, về phía cục thuế cần xem xét lại việc ưu đãi thếu suất thuế giá trị gia tăng 0% hiện nay. Ngoài việc hạn chế việc chuyển giá thì nhóm tác giả còn đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nhưng có chọn lọc. Cuối cùng là một số kiến nghị đối với cục thuế và đối với nhà nước.

    KẾT LUẬN

    Sau hơn 20 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nước ta đã có những khởi sắc nhiều so với thời kỳ đầu đổi mới. Sản phẩm của FDI với nhiều mẫu mã và chất lượng cao, phần đưa về chính quốc để hoàn chỉnh, phần xuất khẩu, phần bổ sung vào quỹ hàng hoá xã hội của ta để bớt phần nhập khẩu trực tiếp. Với sự đóng góp khoảng 16-18% GDP trong những năm gần đây, FDI đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo đường hướng mới, được kỳ vọng là động lực quan trọng cho công cuộc đổi mới. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích mang lại thì gần đây, lợi dụng các chính sách ưu đãi của nhà nước các doanh nghiệp FDI sử dụng thủ thuật chuyển giá gây thất thoát một nguồn thuế lớn .Nói như vậy không phải là phủ nhận vai trò của FDI, nhận thấy cái xấu cái tốt từ đó đưa ra nâng cao chất lượng của nguồn vốn này phải là một mục tiêu hàng đầu.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%C4%83ng-k%C3%BD-thay-%C4%91%E1%BB%95i-c%C3%B4ng-ty-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-n%C6%A1i-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-m%E1%BB%9F-t%C3%A0i-kho%E1%BA%A3n-giao-d%E1%BB%8Bch.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    BỘ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
    Thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính
    ______________________________
     
     

    Thủ tục: Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

     

    – Trình tự thực hiện:

    1. Nộp hồ sơ

    – Nhà đầu tư nước ngoài gửi hồ sơ đề nghị chấp thuận thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch đến Trung tâm Lưu ký Chứng khoán trực tiếp tại trụ sở Trung tâm Lưu ký Chứng khoán hoặc theo đường bưu điện

    – Trung tâm Lưu ký Chứng khoán tiếp nhận hồ sơ

    2. Thẩm định hồ sơ

    Trung tâm Lưu ký Chứng khoán thẩm định hồ sơ.

    – Trung tâm Lưu ký Chứng khoán yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ (nếu có)

    – Nhà đầu tư nước ngoài sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (nếu có).

    3. Ra quyết định chấp thuận

    Trong thời hạn hai (02) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán chấp thuận việc thay đổi công ty chứng khoán. Trường hợp từ chối, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

    – Cách thức thực hiện:

    + Gửi Hồ sơ trực tiếp tại trụ sở Trung tâm LK Chứng khoán

    + Hoặc theo đường bưu điện

    – Thành phần, số lượng hồ sơ:

     

    Thành phần hồ sơ, bao gồm:

     

    +      Giấy đề nghị chấp thuận thay đổi do đại diện có thẩm quyền của nhà đầu tư nước ngoài ký

    +      Thông báo xác nhận về mặt nguyên tắc việc đóng tài khoản giao dịch tại Công ty chứng khoán cũ

    Lưu ý: Hồ sơ được lập thành hai (02) bộ, một (01) bộ gốc và một (01) bộ sao. Mỗi bộ hồ sơ gồm hai (02) bản, một (01) bản bằng tiếng Việt và một (01) bản bằng tiếng Anh, trong đó các tài liệu tiếng Anh phải được hợp pháp hóa lãnh sự, các bản sao tiếng Việt và các bản dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt phải được tổ chức hành nghề công chứng của Việt Nam xác nhận theo quy định của pháp luật về công chứng của Việt Nam. Các văn bản tiếng Việt là bản gốc (hoặc sao từ bản gốc tiếng Việt) và được lập tại Việt Nam không cần phải dịch ra tiếng Anh.

     

    Số lượng hồ sơ: 02 bộ (01 bộ gốc, 01 bộ sao); mỗi bộ hồ sơ gồm 02 bản (01 bản tiếng Việt, 01 bản tiếng Anh).

    – Thời hạn giải quyết: 02 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ

    – Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức/Cá nhân

    – Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

    + Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Trung tâm LKCK Việt Nam

    + Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Trung tâm LKCK Việt Nam

    – Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định chấp thuận

    – Lệ phí (nếu có):

    – Tên mẫu đơn, mẫu t khai (nếu có):

    + Phụ lục V: Giấy đề nghị chấp thuận thay đổi

    – Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có):

    – Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

     

    +    Luật Chứng khoán số 70/QH11 ngày 29/6/2006; có hiệu lực ngày 01/01/2007

    +    Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ngày 24/12/2008 về việc ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam; hiệu lực ngày 18/02/2008

    Phụ lục V/ Appendix 5

     MẪU THÔNG BÁO/ĐỀ NGHỊ CHẤP THUẬN VỀ MỘT SỐ THAY ĐỔI CỦA TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI  (NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI LẬP)

    (Ban hành kèm theo Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam)

    Tên nhà đầu tư nước ngoài/ Foreign investor’s name:

     

    Mã số giao dịch/ Securities Trading Code Number:

    REGISTRATION APPLICATION FORM FOR …..

    Kính gửi: Trung tâm lưu ký chứng khoán

    To: Vietnam Securities Depository

    1.       Tên / Applicant

     

    (Applicants name shall be same as indicated on supporting identification documents)

    2.       Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Certificate For Business Registration
    3.       Ngày thành lập/Establishment Date:
    4.       Quốc gia nơi thành lập/Country of domicile
    5.       Loại hình tổ chức /Type of Applicant

     

    (Please check applicable box and fill in relevant information, as appropriate)

    □      Quỹ đầu tư / If Applicant is a fund investment manager □     Không phải là quỹ đầu tư/If Applicant

     

    is not a fund investment manager

    Loại hình/Type:

     

    Quỹ dạng pháp nhân/a fund established as a corporation.

    Quỹ dạng hợp đồng/ a trust fund

    Quỹ thành viên/ a fund established as a partnership

    Quỹ hưu trí/ a pension fund

    Quỹ mở (quỹ tương hỗ)/a mutual fund/ open-ended fund

    Quỹ đóng/ a closed-ended fund

    Hợp đồng ủy thác/ an unit trust

    Loại hình khác/ Others__________

     Loại hình/Type:

     

    Ngân hàng thương mại/ a commercial/merchant bank

    Ngân hàng đầu tư /Investment bank

    Công ty bảo hiểm/an insurance company

    Công ty chứng khoán/ a broker firm or a futures commission merchant

    Công ty quản lý quỹ/ a fund (asset) management company

    Loại hình khác/Others ____________[1]

    6.       Mã số Giao dịch/Securities Trading Code
    7.       Nội dung thay đổi (Ghi N/A, nếu không có sự thay đổi phù hợp)

     

    Content to change (Please mark N/A, if such item is not applicable)

    Nội dung cũ

     

    Original Information

    Nội dung mới

     

    New Information

    Tên

     

    Original Name

    Địa chỉ

    Original Address

    Tel/Fax/Email

    Thành viên lưu ký

    Original Custodian

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Công ty chứng khoán

    Securities Company

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Ngân hàng lưu ký nơi mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Số tài khoản vốn đầu tư gián tiếp cũ

    Foreign Indirect Investment Account

    Đại diện

    Representative/Agent

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Tên mới (nếu có)

     

    New Name (if any)

    Địa chỉ mới (nếu có)

    New Address (if any)

    Tel/Fax/Email (if any / nếu có)

    Thành viên lưu ký mới (nếu có)

    New Custodian (if any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Công ty chứng khoán mới (nếu có)

    New Securities Company (if any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Ngân hàng lưu ký nơi mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp mới (nếu có)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Số tài khoản vốn đầu tư gián tiếp mới

    New Foreign Indirect Investment Account (if any)

    Đại diện mới (nếu có)

    New Representative/Agent (If any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Đại diện giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nếu có)

     

    Representative/Agent in Vietnam (if any)

     
    Người liên lạc:

     

    Contact person

     
    Ngày nộp hồ sơ

     

    Application Date:

     
    Những thay đổi khác như địa vị pháp lý, mô hình tổ chức hoạt động, đại diện có thẩm quyền … (liệt kê chi tiết)

     

    Other changes to type of applicant, Authorized Representative as Chairman of the Board of Director, President or CEO (Please fill in relevant detailed information, as appropriate)

    8.  Cam kết:  (có hiệu lực kể từ ngày ký)

     

    Declaration: (effective from the date this registration from is signed)

    8.1   Tôi xin cam đoan những thông tin nêu trên và nội dung của toàn bộ hồ sơ và các tài    liệu kèm       theo là hoàn toàn chính xác, trung thực

    I hereby certify that all the imformation above is correct, the attached documents and the contents therein are true and accurate.

    8.2   Tôi xin cam kết sẽ tuân thủ pháp luật Việt Nam, không có các hành  vi giao dịch trái luật làm ảnh hưởng tới sự công bằng và trật tự thị trường tài chính, thị trường chứng khoán của Việt Nam

    I  hereby undertake to comply to the Vietnamese law and  not knowingly to take such measures to threatening to the stability or order of the Vietnam’s financial/securities market.

    8.3   Tôi xin cam đoan những thông tin nêu trên hoàn toàn đúng và hiện nay không bị kết án về bất kì hoạt động tội phạm nào ở nước sở tại cũng như ở nước ngoài (cam kết của nhà đầu tư là cá nhân).

    I hereby certify that I am not and have not been convicted of any criminal offence either inside the country of birth or of permanent resident or of any other country. (applicable for individual investor).

    Hồ sơ kèm theo

     

    Attachments

    1.           Giấy ủy quyền cho đại diện tại Việt Nam

    Power of attorney to agent or letter of appointment to representative.

    2.           Các hồ sơ khác theo quy định

    Documents evidencing that the applicant meets these Guidelines.

    Nhà đầu tư:

     

    Applicant: ____________________________________________

    Tên và chữ ký của đại diện có thẩm quyền

    Name and Signature

    of Authorized Signatory: ___________________________________

    Chức danh

    Title: ________________________________________________

    Ngày thực hiện

    Execution Date: ________________________________________

         

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Kh%C3%B3a-lu%E1%BA%ADn-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Nh%E1%BB%AFng-r%C3%A0o-c%E1%BA%A3n-v%C4%83n-h%C3%B3a-Vi%E1%BB%87t-Nam-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    LỜI NÓI ĐẦU

    Có thể nói rằng, mười năm trở lại đây là một khoảng thời gian đáng nhớ đối với Việt Nam. Chúng ta đã thực sự để lại những dấu ấn trên trường quốc tế qua một loạt các sự kiện kinh tế-xã hội có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển mọi mặt của quốc gia. Tiêu biểu phải nói đến là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, tổ chức thành công tuần lễ cấp cao APEC và Hội nghị APEC CEO Summit năm 2006, là ứng cử viên duy nhất đại diện cho châu Á, hoàn thành tốt trọng trách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009 và cương vị Chủ tịch Hội đồng bảo an LHQ tháng 7 và tháng 10 năm 2009. Những sự kiện lớn này là minh chứng xác đáng cho nỗ lực hội nhập quốc tế của Việt Nam hòa vào xu thế chung tất yếu của sự phát triển kinh tế toàn cầu.

    Hội nhập kinh tế thực sự đã mở ra cơ hội cho nước ta tiếp cận với công nghệ mới, kỹ thuật mới và đáng kể nhất là thiết lập các mối quan hệ hợp tác đầu tư nước ngoài. Để thu hút được đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, việc xem xét và tạo dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn trong đó, hạn chế thấp nhất những rào cản gây e ngại cho các nhà đầu tư trở thành một yêu cầu bức thiết. Bên cạnh những rào cản lớn như sự yếu kém của cơ sở hạ tầng, hệ thống luật pháp còn nhiều hạn chế, v.v., vấn đề về khác biệt văn hóa cũng được xem là một trong những thách thức đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi đến Việt Nam. Thực tế cho thấy, đã có không ít dự án đầu tư thất bại với nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những rào cản về văn hóa. Hệ quả của nó không chỉ dừng lại ở những tổn thất cho bên nhận đầu tư là nước ta mà còn ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư nước ngoài, cản trở họ quay lại Việt Nam và khiến họ tìm đến những thị trường khác, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra mạnh mẽ ở các đang phát triển như hiện nay.

    Nhận thấy tính cấp bách của vấn đề, người viết chọn đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp “Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài” với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn cái nhìn về những rào cản văn hóa nhằm hạn chế tác động của nó đến việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    Mục đích nghiên cứu

    1

    Mục đích nghiên cứu mà đề tài hướng đến là xây dựng một cách nhìn đầy đủ hơn về những rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị giải pháp hạn chế rào cản này, góp phần hoàn thiện hình ảnh một Việt Nam thân thiện và tiến bộ, trở thành điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu là những khó khăn mà các nhà đầu tư nước ngoài gặp phải do sự khác biệt về văn hóa. Phạm vi nghiên cứu là hoạt động đầu tư nước ngoài vì mục tiêu lợi nhuận, đang được tiến hành trên cả ba miền đất nước, trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây ở Việt Nam.

    Phương pháp nghiên cứu

    Để giải quyết các vấn đề đặt ra, người viết vận dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp với kiến thức nền tảng rút ra từ những đường lối chính sách của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành trong những năm qua. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu còn được hỗ trợ bởi việc tiến hành phỏng vấn gián tiếp qua e-mail đối với một số nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhận đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trên một số địa phương tiêu biểu đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam. Kết quả thu được từ phương pháp này là cơ sở cho những đánh giá được rút ra trong luận văn này.

    Bố cục đề tài

    Phù hợp với mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu trên, khóa luận ngoài Lời mở đầu gồm Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu còn có những chương sau:

    Chương I: Lí luận cơ bản về rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Chương II: Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Chương III: Một số giải pháp hạn chế rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    2

    Những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu là điều không thể tránh khỏi đối với một đề tài còn khá mới này. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của Thầy Cô giáo và các bạn.

    3

    CHƢƠNG I

    LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN VĂN HÓA ĐỐI VỚI

    CÁC NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I.                   Lý luận về văn hóa

     

    1. Khái niệm văn hóa

    Nghị trưởng Pháp Edouard Herriot đã phát biểu rằng: Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên hết cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học đủ cả. Lời phát biểu trên đã phản ánh tính trừu tượng của khái niệm này. Nói cách khác, việc xác định nội hàm và ngoại diên của khái niệm văn hóa có thể thay đổi theo thời gian và theo các tiêu chí lựa chọn khác nhau.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [ 5,431]. Như vậy, văn hóa là tất cả những yếu tố do con người tạo nên, văn hóa sinh ra từ con người và cho con người.

    Chính vì văn hóa phản ánh mọi phương diện làm nên “phần hồn của một quốc gia” nên nó được dùng làm thước đo giá trị của một dân tộc. Nói đến văn hóa của một cộng đồng cũng tức là đề cập đến tư tưởng, tình cảm, cách tư duy, ứng xử trong phạm vi cộng đồng ấy. Các đặc trưng và biểu hiện của văn hóa vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù. Tức là, chúng ta có thể chỉ ra điểm tương đồng của hai nền văn hóa nhưng cũng đồng thời xác định được những khác biệt, những nét riêng có của mỗi dân tộc. Cho nên, bất kì một sự tiếp xúc văn hóa nào cũng nảy sinh đồng thời hai khả năng: thông hiểu và bất đồng. Sự thông hiểu xuất phát từ cái phổ quát, sự bất đồng xuất phát từ những đặc thù.

    Xét trong lĩnh vực kinh tế, bất đồng văn hóa chính là cội nguồn của những rào cản lớn mà các nhà đầu tư nước ngoài phải đối mặt khi đặt chân đến một thị trường hoàn toàn mới mẻ.

    4

    2. Các yếu tố văn hóa trong hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài

    Văn hóa là một phạm trù rộng lớn được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau. Sự tác động của từng yếu tố lên từng lĩnh vực trong đời sống xã hội thể hiện ở những mức độ đậm nhạt khác nhau. Xét riêng trong hoạt động đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ, nghệ thuật, phong tục – tập quán, giáo dục, tôn giáo, thái độ và các giá trị được đề cao là những yếu tố văn hóa có sự tác động đậm nét hơn cả.

    2.1. Ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Bằng ngôn ngữ, con người có thể biểu đạt tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình với người khác. Đồng thời, ngôn ngữ là một phương tiện của tư duy. Những hình thức cơ bản của tư duy như khái niệm, phán đoán hay suy lí đều tồn tại dưới hình thức biểu đạt là ngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp con người cố kết cộng đồng, liên kết cá nhân với cá nhân, thiết lập các mối quan hệ xã hội và là phương tiện để con người truyền đi những thông điệp đến các thế hệ tương lai.

    Ngôn ngữ, do đó, mang dấu ấn văn hóa của cộng đồng người bản ngữ. Đặc điểm này dẫn đến một hệ quả là, muốn giao tiếp thành công, người giao tiếp phải có những hiểu biết nhất định về những dấu ấn văn hóa được thể hiện trong các phương tiện giao tiếp, bao gồm cả các yếu tố ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ (ngôn ngữ cử chỉ và các yếu tố kèm lời như tốc độ lời nói, các yếu tố xen âm v.v.).

    Sự hiểu lầm có thể xảy ra trong giao tiếp giữa những người đến từ các quốc gia khác nhau do giữa họ có sự khác biệt về phương pháp tư duy; quan niệm giá trị; óc thẩm mỹ; đặc trưng tâm lý; phong tục, tập quán. Cung cách chào hỏi, cách gợi mở vấn đề v.v. có thể chỉ là những thao tác, kĩ năng đơn giản nhưng trong kinh doanh, chúng có khả năng quyết định sự thành công hay thất bại của một dự án. Riêng ở lĩnh vực này, có thể khẳng định rằng, hiểu một ngôn ngữ và các dấu ấn văn hóa được bảo lưu trong nó là tiền đề tạo nên thành công bước đầu cho cuộc thương lượng, đàm phán ở giai đoạn đầu của quá trình hợp tác.

    5

    2.2. Nghệ thuật

    Nghệ thuật là nơi hội tụ của cái đẹp từ tất cả các lĩnh vực: thơ văn, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, ẩm thực, điện ảnh v.v. và là nơi con người thể hiện tư tưởng thẩm mỹ của mình. Tư tưởng thẩm mỹ chính là sự cảm nhận về Cái đẹp. Nhưng sự cảm nhận ấy hoàn toàn không giống nhau ở những nền văn hóa khác nhau; do đó, nghệ thuật có khả năng bộc lộ phong cách riêng của từng nghệ sĩ, nhưng đồng thời, thông qua những đặc trưng cá thể ấy, đặc trưng của một dân tộc được khẳng định.

    Ví dụ như khi nói đến ẩm thực của đất nước được coi là xứ sở của hoa anh đào, người ta nói đến “Bản hợp xướng của cả năm giác quan”, bởi ở đó mỗi món ăn được chế biến một cách tinh tế, với những hình dáng, màu sắc phong phú mà vẫn giữ được hương vị tự nhiên vốn có của nguyên liệu làm nên món ăn. Những chi tiết dù nhỏ cũng được trau chuốt cẩn thận và mang những ý nghĩa riêng của nó. Phải nói rằng, hiếm có một dân tộc nào coi trọng sự hoàn mỹ và chất lượng như Nhật Bản. Họ không chỉ làm việc với trách nhiệm mà còn bằng cả niềm đam mê. Do đó, khi cộng tác với người Nhật, nếu chúng ta thiếu một trong hai yếu tố ấy thì cũng đồng thời chúng ta đánh mất sự thừa nhận cũng như sự tin cẩn từ phía họ.

    Xét về không gian kiến trúc, có thể thấy sự cần thiết khi vận dụng các kiến thức về nghệ thuật bài trí để xây dựng một môi trường làm việc phù hợp với hoạt động kinh doanh, đặc biệt là ở cấp độ đa quốc gia. Môi trường được nói đến ở đây là không gian vật lí, nơi các đối tác đến từ các quốc gia khác nhau gặp gỡ, trao đổi và thậm chí là „không gian sống‟ của những người làm việc cả ngày trong đó. „Không gian sống‟ ấy có khả năng tạo nên sự hứng khởi, khơi gợi ý tưởng, giảm căng thẳng trong công việc nếu nó được bài trí phù hợp với óc thẩm mỹ của những thành viên làm việc bên trong nó. Chẳng hạn, người Châu Á yêu thích không gian có chiều sâu tạo cảm giác ấm áp, với nhiều đường nét uốn lượn, nhiều màu sắc; trong khi đó, người Châu Âu thích sự thanh nhã, đường nét đơn giản, rõ ràng, hướng đến sự khoáng đạt, thoải mái như chính tính cách của họ. Ý thức được điều

    6

    này để chủ động tạo một không gian làm việc phù hợp văn hóa sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

    2.3. Phong tục tập quán

    1. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã đưa ra khái niệm về phong tục như sau: Phong tục là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió; tục: thói quen; phong tục: thói quen lan rộng) [ 9,256]. Như vậy, phong tục tập quán là những hoạt động sống được hình thành từ lâu đời và trở thành nề nếp, thói quen được cộng đồng thừa nhận và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục tập quán thể hiện ngay trong những thể thức giao tiếp đời thường như cách chào hỏi, cách xưng hô v.v. đến cả những thể thức gói trọn cả vòng đời con người từ khi sinh ra, trưởng thành, cưới xin, cho đến mừng thọ, lên lão v.v. hay những thể thức mang tính cộng đồng như lễ, tết, hội.

    Có sự khác biệt lớn của những quy ước, những thể thức giữa các cộng đồng buộc những người tham gia giao tiếp phải đặc biệt chú trọng. Chỉ đơn giản, khi nói đến nghi thức chào hỏi, mỗi dân tộc có một quy ước riêng. Chẳng hạn, người Pháp và người Nga chấp nhận hành động bắt tay bất cứ lúc nào trong quá trình giao tiếp. Thế nhưng ở Anh và Mỹ, người ta chỉ bắt tay ở lần đầu gặp gỡ mà thôi. Hay, người Ba Lan và người Ý coi việc hôn tay phụ nữ là một cử chỉ chào hỏi rất lịch sự. Trong khi đó, ở một số nước Châu Á như Nhật Bản và Hàn Quốc, hành động bắt tay hay hôn tay đều không được sử dụng nhằm mục đích này. Thay vào đó, họ sẽ nghiêng mình cúi đầu chào nhau. Còn người Ấn Độ chào nhau bằng cách chắp hai tay vào nhau như cầu nguyện trong khi người Ả Rập và một số nước Hồi giáo thì dùng lòng bàn tay phải đặt lên tim rồi đưa ra ngoài để thể hiện hành vi chào hỏi.

    Quan niệm “nhập gia tùy tục” của người Việt Nam đã phản ánh „hiệu lực‟ của những phong tục tập quán trong mỗi cộng đồng người bản ngữ. Nó như những ràng buộc vô hình buộc con người, dù là người bản xứ hay người ngoại quốc, phải tôn trọng và hành xử theo đúng những giá trị được truyền từ đời này sang đời khác ấy. Chính vì thế, để có cách cư xử đúng đắn, được lòng người thì nhất thiết phải có những hiểu biết nhất định về phong tục tập quán của nơi ta đến.

    7

    2.4. Giáo dục

    Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng tầm tri thức và hoàn thiện nhân cách của các thành viên trong xã hội. Thông qua giáo dục, con người được tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng cần thiết, góp phần vào quá trình định hình thái độ, quan điểm sống cũng như nhân cách sống.

    Cách thức giáo dục của mỗi quốc gia quy định đặc trưng của nguồn lao động, nguồn nhân lực của chính quốc gia ấy. Chính vì vậy, có thể lấy sự khác biệt giữa các hệ thống giáo dục Châu Á và Châu Âu để lí giải cho sự khác biệt giữa lực lượng lao động từ các nước phương Tây với lực lượng lao động từ các nước phương Đông. Giáo dục phương Tây thường hướng đến mục tiêu thúc đẩy ở mỗi cá nhân khả năng bàn luận, phê phán và sáng tạo, từ đó phát hiện và khuyến khích người học nâng cao năng lực vốn có của mình. Chính vì vậy, trong quá trình làm việc, người phương Tây luôn thể hiện sự chủ động, sáng tạo trong việc xử lý các tình huống thực tế với ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm cao. Trong khi đó, do giáo dục phương Đông chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên những con người được đào tạo trong hệ thống giáo dục ấy nổi bật về đức tính cần cù, chịu khó và đối với họ, những kiến thức được truyền đạt từ người thầy luôn được đề cao, trân trọng (“nhất tự vi sư, bán tự vi sư”). Điều này giải thích tại sao lao động ở các nước phương Đông luôn được đánh giá cao ở khả năng đương đầu với những khó khăn trong công việc; khả năng thích nghi khi tiếp cận với những phương pháp làm việc mới; đặc biệt, họ rất phù hợp với những công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và tính công phu, tỉ mỉ.

    Có thể thấy, giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động. Hơn nữa, trình độ học vấn mà nền giáo dục mang lại cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

    2.5. Tôn giáo

    8

    Tôn giáo là nơi con người tìm đến để cứu rỗi linh hồn và xoa dịu những bất lực và bế tắc trong cuộc sống. Tìm đến tôn giáo đồng nghĩa với việc tìm đến một đức tin. Đức tin ấy có sức mạnh đặc biệt đến mức nó có khả năng chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của con người.

    Schaefer Richard T, trong cuốn Xã hội học đã nhận định: Tôn giáo, dẫu đó Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo hay Do Thái giáo, cũng đều cung cấp cho con người ta ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống của họ. Nó mang đến cho họ những giá trị tối hậu và những cùng đích nào đó để giữ họ chung lại với nhau [8]. Phát biểu trên cho thấy, mỗi tôn giáo có những đặc trưng riêng, do đó, tín đồ của các giáo phái khác nhau có những quan điểm sống và tuân theo những nghi lễ thờ cúng không giống nhau. Cho nên, đức tin là thứ tôn chỉ tối thượng, có giá trị như động lực của những hành động, suy nghĩ của các tín đồ.

    Tôn giáo ở Châu Âu như Đạo tin lành xem nhiệm vụ của giáo dân là làm rạng danh Chúa bằng cách làm việc chăm chỉ và cần kiệm. Vì thế họ không cho phép mình được lười biếng, coi thái độ làm việc như một phẩm chất đạo đức của con người. Tôn giáo Châu Á như Ấn Độ giáo chú trọng đến tinh thần “làm việc thiện” bởi sự chi phối của niềm tin về một cõi “vĩnh hằng” hay sự tồn tại của “quả báo”. Phật giáo luôn nhắc nhở chúng sinh không được “tham lam” mới có thể thoát khỏi “bể khổ cuộc đời”.

    Xét về hệ thống lễ nghi, nếu đạo Shinto ở Nhật Bản giản đơn về hệ thống giáo lí cũng như nghi lễ bao nhiêu thì Hồi giáo có những quy định phức tạp bấy nhiêu. Chẳng hạn, các tín đồ Hồi giáo phải cầu kinh ngày năm lần, hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng, theo đó các tín đồ không được ăn uống khi còn ánh sáng Mặt trời. Ngoài ra còn rất nhiều điều cấm kị. Nhiều nước ở Châu Phi và Mỹ Latin coi Đạo Tâm Linh là Tôn giáo chính. Người theo đạo này luôn tin vào sự tồn tại của người chết trên dương gian và họ cho rằng, những linh hồn này sẽ rất hài lòng nếu người sống làm theo tổ tiên mình. Vì vậy sự đổi mới là khó được chấp nhận đối với những công dân theo đạo này. Có thể nói, đối với sản xuất kinh doanh,

    9

    sự phức tạp về hệ thống lễ nghi, quan niệm có ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ cũng như kế hoạch sản xuất. Nếu không cùng chia sẻ, tôn trọng các giá trị tinh thần ấy hay không có sự linh hoạt trong điều phối kinh doanh giữa các đối tác có tôn giáo khác nhau, những trở ngại trong hợp tác là điều khó tránh khỏi.

    2.6. Thái độ và giá trị

    Theo quan điểm của nhà Xã hội học Macionis và J. John, giá trị là thước đo, là thang đánh giá được các thành viên của một nền văn hóa sử dụng để phân biệt tốt/ xấu, đẹp/ xấu, đáng mong muốn/ không mong muốn v.v. nhằm xây dựng cho mình hệ thống nhân sinh quan và thế giới quan phù hợp. Còn thái độ là sự phản ánh của những suy nghĩ, tình cảm biểu hiện qua sắc thái hay hành động trước một sự vật hay hiện tượng nào đó.

    Từ quan niệm trên, có thể thấy rõ mối quan hệ giữa giá trị và thái độ. Một khi một giá trị được hình thành, tức là hệ thống quan điểm của các thành viên trong một cộng đồng xã hội được xác lập thì cùng lúc đó, phản ứng tương ứng xuất phát từ quan điểm ấy được định hình. Nói cách khác, thái độ là hệ quả của giá trị. Chẳng hạn, có một thời gian, người Nhật Bản quan niệm việc tiêu dùng hàng ngoại là không yêu nước. Trong trường hợp này, tiêu chí để xác định giá trị của lòng yêu nước là không dùng hàng ngoại; cho nên, giá trị này đã gây ra một thái độ tương ứng ở những người ủng hộ cho quan điểm ấy là bài trừ toàn bộ hàng hóa có xuất xứ ngoại quốc trên thị trường Nhật Bản.

    Từ đây, có thể suy ra rằng, việc xây dựng hệ thống giá trị theo hướng có lợi cho hoạt động hợp tác – đầu tư để tạo ra những phản ứng tích cực giữa các đối tác có ý nghĩa như hộp cộng hưởng, góp phần thúc đẩy kinh doanh phát triển.

    1. Mô hình của Geert Hofstede

    Bất kì một sự so sánh nào cũng cần căn cứ vào một hệ thống các tiêu chí có giá trị xác lập ranh giói giữa các đối tượng được so sánh. Đối với một khái niệm trừu tượng như văn hóa, việc chỉ ra sự khác biệt của đối tượng này giữa các dân tộc càng đòi hỏi phải có những căn cứ xác đáng. Mô hình năm chiều văn hóa do giáo sư

    10

    Geert Hofstede nghiên cứu là công trình nổi tiếng đầu tiên trên thế giới tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh quốc tế. Đây được xem là những chiều văn hóa cơ bản, góp phần làm giảm sự cảm tính trong việc đánh giá những khác biệt giữa các nền văn hóa và ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Năm chiều văn hóa ấy được xác định như sau:

    Khoảng cách quyền lực: Thước đo văn hóa này đánh giá mức độ bình đẳng giữa những người có địa vị khác nhau trong xã hội. Ở những quốc gia có điểm khoảng cách quyền lực cao thì sự bất bình đẳng này được chấp nhận và duy trì, biểu hiện cụ thể là dù đúng hay sai, cấp dưới phải luôn tuân lệnh cấp trên, con cái luôn vâng lời bố mẹ bởi họ coi đó là bổn phận, là điều đương nhiên. Ngược lại, trong xã hội có khoảng cách quyền lực thấp, nhân viên có thể trao đổi ý kiến một cách bình thường với lãnh đạo, con cái được phép bày tỏ quan điểm của mình với bố mẹ; ở đây, bình đẳng được xem như mục đích chung của xã hội. Ví dụ: Úc, Bắc Âu, Mỹ, Anh, v.v. là các quốc gia có khoảng cách quyền lực thấp; còn Malaysia, Slovakia, Việt Nam, v.v. là những quốc gia có điểm khoảng cách quyền lực cao.

    Chủ nghĩa cá nhân: Đây là tiêu chí có ý nghĩa xác định tính tập thể hay tính cá nhân mà xã hội hướng tới. Một quốc gia có điểm chủ nghĩa cá nhân cao có nghĩa là mỗi cá nhân và các quyền của họ được tôn trọng; họ có thể tham gia vào bất cứ cộng đồng nào và từ bỏ nếu cảm thấy không cần thiết và phù hợp nữa, họ cũng đồng thời không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ cộng đồng. Ngoài gia đình và người thân, mối quan hệ giữa các cá nhân khá lỏng lẻo, họ sống độc lập và luôn chủ động trong cuộc sống riêng của mình. Các nước có nền văn hóa chủ nghĩa cá nhân cao nhất là Anh, Mỹ, Úc. Trái lại với những nền văn hóa này là những nền văn hóa mang tính tập thể với điểm chủ nghĩa cá nhân thấp. Ở đó, con người từ khi sinh ra đã phải hòa nhập vào một cộng đồng rộng lớn. Họ luôn đặt lợi ích của cộng đồng lên trên hết, trung thành với ý chí của cộng đồng và luôn gánh trên vai trách nhiệm đối với cộng đồng. Đổi lại, mỗi cá nhân sẽ nhận được sự hỗ trợ của tập thể khi họ gặp khó khăn. Châu Mỹ Latin là khu vực có tính tập thể mạnh nhất.

    11

    Tránh rủi ro: Thước đo này nói lên mức chấp nhận những thay đổi của một cộng đồng. Một quốc gia có điểm tránh rủi ro thấp sẽ sẵn sàng chấp nhận thay đổi mà họ chưa từng trải nghiệm. Họ thường không quan tâm nhiều đến những nguy cơ có thể xảy ra, tư tưởng đổi mới và sự tự tin vào cuộc sống khiến họ không ngại ngần tiếp nhận những điều mới lạ. Trong những xã hội như thế, các giá trị truyền thống có khuynh hướng thay đổi thường xuyên, con người không bị gò bó bởi những giá trị đã có trước đó. Còn ở những quốc gia có chỉ số này cao, các thành viên trong xã hội không sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi. Họ sống bằng truyền thống, kế thừa những tư tưởng của người xưa. Vì vậy các tư tưởng mới khó có thể xâm nhập vào xã hội này. Châu Mỹ Latin, đứng đầu là Hy Lạp, có điểm số tránh rủi ro cao nhất, tiếp theo là các nước Châu Á tiêu biểu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.

    Nam tính: Chiều văn hóa này phản ánh mức độ bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội. Một nước có điểm nam tính cao thì vai trò của người đàn ông là rất lớn, thể hiện ở chỗ, họ có xu hướng thống trị trong cấu trúc quyền lực gia đình cũng như xã hội. Còn trong môi trường nữ tính, tức là điểm nam tính thấp, người phụ nữ được đối xử bình đẳng trên mọi phương diện so với người đàn ông. Nước có điểm nam tính thấp nhất là Thụy Điển và Na Uy, các nước Châu Á có điểm số này rất khác nhau, cao nhất là Nhật Bản, đến Philippines, Hồng Kông.

    Định hướng dài hạn: Đây là thước đo được giáo sư Hofstede bổ sung thêm vào công trình của mình sau khi nghiên cứu công trình của Michael Harris Bond với nội dung tương tự được tiến hành sau đó. Thước đo này là thành quả của quá trình nghiên cứu về khác biệt văn hóa trên lập trường văn các nước Châu Á, thay vì dưới góc nhìn của văn hóa Châu Âu như công trình của Giáo sư. Ông nhận thấy đây là điểm giúp phân biệt sự khác nhau giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, cần được bổ sung để khắc phục những thiếu sót vốn tồn tại trong mô hình trước đó.

    Trong xã hội có điểm định hướng dài hạn cao, con người có xu hướng quý trọng sự bền bỉ, đánh giá cao sự tiết kiệm và luôn cố gắng sắp xếp các mối quan hệ theo thân phận hay đẳng cấp xã hội; đặc biệt, họ rất coi trọng danh dự. Nói cách khác, xã hội định hướng dài hạn luôn lo lắng về tương lai của mình về sau, trông

    12

    đợi vào thành quả tương lai từ sự kiên nhẫn, tiết kiệm của ngày hôm nay. Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Châu Á đạt điểm rất cao ở thước đo này. Ngược lại, xã hội định hướng dài hạn thấp thường thích hưởng thụ hơn là dành dụm. Họ nghĩ đến kết quả tức thời thay vì trông đợi vào sự dài lâu. Quan hệ xã hội vì thế mà mang tính sòng phẳng, ngang hàng, không phụ thuộc vào thân phận hay đẳng cấp. Mỹ và các nước Châu Âu là những nền văn hóa có điểm Định hướng dài hạn thấp nhất.

    Năm chiều văn hóa đưa ra trong mô hình của giáo sư Hofstede đóng vai trò quan trọng trong việc định hình cho các nhà kinh doanh những khác biệt căn bản về văn hóa khi tiến hành xâm nhập vào một thị trường mới. Những hiểu biết này giúp họ đưa ra quyết định phù hợp để tránh những cản trở trong quá trình kinh doanh. Ví dụ: ở một nền văn hóa có khoảng cách quyền lực cao, thái độ trên dưới rõ ràng là điều hết sức quan trọng, hay trong nền văn hóa đề cao nam tính, việc đề bạt nữ giới lên quản lý là một điều không nên. Tương tự đối với quốc gia có tính rủi ro cao, cần cân nhắc kĩ lưỡng và có những lý do thuyết phục nếu muốn đưa những quy định hay cách thức kinh doanh mới mẻ. Tuy còn một số hạn chế, mô hình này vẫn được xem là bước khởi đầu cho các nhà kinh doanh quốc tế trong việc tìm hiểu văn hóa của thị trường mới mà họ quyết định đầu tư.

    II. Tổng quan về đầu tƣ nƣớc ngoài

     1. Khái niệm

     

    1.1. Đầu tƣ

    Hiện nay, đầu tư đã trở thành một thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế của mọi quốc gia. PTS Vũ Chí Lộc đã định nghĩa khái niệm đầu tư như sau: Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội [4,5]. Như vậy, thông qua việc cung cấp các nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư đã góp phần mang đến những lợi ích thiết thực cho bản thân và xã hội.

    13

    Tương tự với quan điểm này Giáo trình Đầu tư nước ngoài Trường Đại học Ngoại Thương có định nghĩa về đầu tư như sau: Đầu tư là việc sử dụng vốn vào một hoạt động nhất định nhằm thu lại lợi nhuận và/hoặc lợi ích kinh tế xã hội [11]. Như vậy, không chỉ dừng lại ở mục tiêu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, khái niệm này đã phát biểu một cách toàn diện hơn mục đích của hoạt động đầu tư đó là thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.

    Nếu phân loại theo nguồn vốn thì đầu tư bao gồm hai bộ phận chính, đó là đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Tỉ trọng hai bộ phận này trong tổng giá trị đầu tư tùy thuộc vào mục tiêu, chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.

    1.2. Đầu tƣ nƣớc ngoài

    Nếu nói thương mại quốc tế là một tất yếu khách quan của sự phát triển thì đầu tư nước ngoài là một yếu tố chính trong dòng chảy ấy. Sự khác biệt giữa các quốc gia về nhu cầu và khả năng tích lũy vốn; mức độ phù hợp và tiềm năng thị trường; các lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng như chính trị, xã hội là những điều kiện cần thiết, thúc đẩy việc tạo dựng cho đầu tư nước ngoài một vị trí trọng yếu trong định hướng phát triển của mỗi một nền kinh tế.

    Vậy đầu tư nước ngoài là gì?

    Giáo trình Đầu tư nước ngoài – Trường Đại học Ngoại Thương đã chỉ rõ: Đầu tư nước ngoài là việc các nhà đầu tư của một nước (pháp nhân hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác sang một nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội [11].

    Nói cách khác, đầu tư nước ngoài chính là quá trình trong đó nhà đầu tư tiến hành sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận trên đất nước khác bằng chính tài sản vốn có của mình. Từ đây, có thể suy ra rằng, về mặt bản chất, đầu tư nước ngoài là một hình thức xuất khẩu tư bản. Hình thức này, trong tương quan với hình thức xuất khẩu hàng hóa, đang không ngừng phát triển, chiếm ưu thế và ngày càng hỗ trợ mạnh mẽ hình thức xuất khẩu hàng hóa.

    14

    Thực tế cho thấy, việc tiến hành đầu tư sang một quốc gia khác diễn ra trong sự hợp tác chặt chẽ giữa hai bên – bên đầu tư và bên nhận đầu tư. Trong bối cảnh quốc tế hóa đời sống kinh tế như hiện nay, có thể ví sự hợp tác này như „những đợt sóng ngầm‟ bởi bên trong nó luôn tiềm ẩn một sự cạnh tranh gay gắt. Thách thức này đòi hỏi hai bên phải biết cách dung hòa lợi ích để vừa đảm bảo lợi nhuận cho chủ đầu tư, vừa góp phần cải thiện điều kiện sống cho người dân nước nhận đầu tư.

    2.                 Đặc điểm đầu tƣ nƣớc ngoài

     

    1. Vốn đầu tƣ

    Vốn đầu tư bao gồm tiền, đất đai, máy móc, nhà xưởng, bằng phát minh sáng chế v.v. có thể được dùng để huy động và sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự di chuyển nguồn vốn (hoặc vận hành trong nước, hoặc ra khỏi biên giới quốc gia) làm nên điểm khác biệt giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Vận động này đồng thời mang đến cho nước nhận đầu tư cơ hội tiếp thu công nghệ, trình độ quản lý cũng như cải thiện cơ sở vật chất của mình.

    2.2. Tính sinh lợi

    Đầu tư nước ngoài mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội cho nước nhận đầu tư. Đây chính là nguyên nhân sâu xa và là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư giữa các quốc gia.

    2.3. Tính mạo hiểm

    Cũng như các hoạt động đầu tư nói chung, đầu tư nước ngoài chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư có thể khác so với dự tính ban đầu, lợi nhuận thu được có thể ít hơn chỉ tiêu đặt ra hoặc thậm chí là thua lỗ. Thậm chí, đầu tư nước ngoài còn chịu nhiều áp lực hơn so với đầu tư trong nước. Điều này có nghĩa là, các nhà đầu tư khi kinh doanh ngoài biên giới quốc gia phải đối mặt với những bất lợi không chỉ do khoảng cách địa lý, khác biệt về pháp luật v.v. mang lại mà thường trực hơn cả là do những bất đồng về văn hóa như ngôn ngữ, cách thức làm việc, thị hiếu tiêu dùng v.v. gây ra. Dám chấp nhận rủi ro, chấp nhận thất

    15

    bại, do đó, trở thành một trong những “phẩm chất” của những nhà đầu tư ra nước ngoài.

    3. Phân loại đầu tƣ nƣớc ngoài

    Dựa trên tiêu chí phương thức sử dụng vốn, đầu tư nước ngoài được phân thành hai loại là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.

    3.1. Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FII)

    Theo điều 3 Luật đầu tư Việt Nam thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7 năm 2006, hoạt động Đầu tư gián tiếp được định nghĩa như sau: Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Theo cách hiểu này, hoạt động đầu tư gián tiếp do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện được tiến hành thông qua các hình thức sau:

    • Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của Chính phủ và của các tổ chức tự trị được phép phát hành trên thị trường tài chính.
    • Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính.

    Về cơ bản, có thể thấy, quan điểm trên rất gần với định nghĩa sau của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF): Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hoạt động mua chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được phát hành bởi một Công ty hoặc cơ quan Chính phủ của một nước khác trên thị trường tài chính trong nước hoặc nước ngoài.

    Từ đây, có thể khái quát về hai đặc trưng chính của FII như sau:

    • Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán.

    16

    • Nhà đầu tư không kèm cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong Đầu tư trực tiếp nước ngoài, FII là hoạt động tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.

    Những đặc trưng trên tạo nên các ưu điểm cho hình thức đầu tư gián tiếp như sau: tăng khả năng tự chủ về vốn kinh doanh cho bên tiếp nhận đầu tư và giảm bớt rủi ro cho nhà đầu tư khi kinh doanh gặp sự cố (vì vốn đầu tư được phân tán trong số đông những người tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu). Tuy nhiên, nhược điểm lớn của hình thức này là việc khống chế mức độ đóng góp vốn tối đa của bên chủ đầu tư làm giảm khả năng thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ từ nước ngoài. Hơn nữa, hiệu quả sử dụng vốn theo hình thức này thường thấp do phía nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ đã bỏ vốn đầu tư.

    3.2. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI)

    FDI phân biệt với FII ở quyền kiểm soát đối với đối tượng mà nhà đầu tư bỏ vốn. Theo IMF, FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp . Giáo trình Đầu tư nước ngoài – Trường đại học Ngoại Thương cũng thống nhất cách với hiểu này khi cho rằng: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn số vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Như vậy, với số vốn nhất định được bỏ ra, nhà đầu tư được quyền tự mình điều hành việc sản xuất kinh doanh và chấp nhận mọi rủi ro xảy ra trong quá trình điều hành ấy; nói cách khác, trong trường hợp này, quyền sở hữu vốn thống nhất với quyền sử dụng vốn. Từ đây, có thể khái quát một số đặc điểm của FDI như sau:

    Mục đích hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận. Các nhà đầu tư tiến hành đưa vốn sang một thị trường khác với mong muốn tận dụng được những lợi thế của nơi tiếp nhận vốn để nâng cao hiệu quả và tỉ suất lợi nhuận của khoản đầu tư. Nước tiếp nhận vốn FDI này cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh

    17

    để dung hòa lợi ích của cả hai bên, hướng FDI vào việc phát triển kinh tế, xã hội của nước mình.

    Để dành được quyền kiểm soát, chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định pháp luật từng nước. Theo luật Mỹ, tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam là 30% và trong những trường hợp đặc biệt có thể giảm nhưng không dưới 20%. Tỷ lệ vốn góp của chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ cũng như sự phân chia lợi nhuận của mỗi bên.

    Thu nhập của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh nên họ sẽ lựa chọn phương án có lợi nhất cho việc đầu tư, tạo cơ hội cho nước nhận đầu tư tiếp thu công nghệ, máy móc thiết bị, bí quyết kĩ thuật, trình độ quản lý v.v. do vậy mức độ khả thi của dự án là khá cao. Việc nắm quyền kiểm soát và tự chịu trách nhiệm lỗ lãi khiến dự án ít bị ràng buộc về chính trị và không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.

    4. Vai trò của đầu tƣ nƣớc ngoài đối với nền kinh tế quốc gia

    Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra trên cơ sở hợp tác giữa hai bên vì mục tiêu cùng có lợi, vì thế nó ảnh hưởng trực tiếp đến cả nước nhận đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Trên thực tế, hoạt động này không chỉ tác động đến kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chính trị, xã hội của các bên.

    4.1. Từ góc độ nƣớc tiếp nhận đầu tƣ

    Có thể nói rằng, dòng vốn đầu tư nước ngoài mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế cho quốc gia tiếp nhận.

    Đầu tiên phải nói đến là việc giải quyết vấn đề thiếu vốn đặc biệt ở các nước chậm phát triển. Với mức tích lũy nội bộ thấp, tình trạng thiếu vốn thường xuyên ở các nước này gây hạn chế quy mô đầu tư, giảm năng lực đổi mới kĩ thuật, mất cân bằng cán cân xuất nhập khẩu v.v. Do đó, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một trong những giải pháp cần thiết giúp các quốc gia này giải quyết những khó khăn trên.

    18

    Đầu tư nước ngoài mang đến cho nước nhận đầu tư cơ hội tiếp thu công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của phía chủ đầu tư. ở các nước kém phát triển, phần lớn công nghệ mới, hiện đại có được là kết quả của các kênh viện trợ, trao đổi công nghệ và đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Ngay cả một quốc gia giàu mạnh như Mỹ, việc thu hút đầu tư từ Nhật Bản và các nước tiên tiến khác nhằm mục đích chuyển giao công nghệ cũng rất được chú trọng.

    Đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tăng dần mức đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào tổng giá trị nền kinh tế. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo của quốc gia như công nghiệp điện, công nghiệp phục vụ xuất khẩu, công nghiệp chế tạo v.v. Đây là những ngành có quy mô lớn, đòi hỏi vốn và trình độ kĩ thuật cao, vì thế, nguồn lực huy động được từ nước ngoài là vô cùng cần thiết.

    Hơn nữa, sự có mặt của các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa còn được coi là nguồn động lực thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương cải tiến mọi mặt để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.

    Bên cạnh những tác động đến kinh tế, đầu tư nước ngoài cũng mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực về mặt xã hội.

    Như một điều tất yếu, khi nguồn vốn nước ngoài đổ vào nền kinh tế, các ngành sản xuất mà nó hướng tới sẽ có sự mở rộng quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, kéo theo đó là sự gia tăng nhu cầu nhân lực, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp. Hơn nữa, nhờ sự tiếp xúc với trình độ kỹ thuật tiên tiến mà chủ đầu tư mang lại, lao động nước nhận đầu tư sẽ có cơ hội được đào tạo và nâng cao tay nghề, góp phần cải thiện đáng kể chất lượng lao động.

    Thực tế cho thấy, người lao động làm việc cho các công ty, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường nhận được mức lương cao hơn, môi trường làm việc tốt hơn, các chế độ đãi ngộ cũng như phúc lợi xã hội cũng được quan tâm hơn so với các doanh nghiệp địa phương. Nhờ đó, chất lượng cuộc sống của người lao động

    19

    nhìn chung được nâng cao. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu lớn mà các quốc gia hướng tới khi tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.

    Không những thế, sự thừa hưởng các giá trị từ nền công nghệ tiên tiến và cách thức quản lý hiệu quả của các chủ đầu tư nước ngoài giúp cải thiện phần nào các vấn đề về môi trường ở nước tiếp nhận đầu tư. Cụ thể là, ở những nước chậm phát triển, tình trạng khai thác bất hợp lý và việc sử dụng kĩ thuật lạc hậu đã gây nên những tác động tiêu cực đến môi trường. Chính sự tiếp thu công nghệ mới và việc vận dụng có hiệu quả cách thức quản lý đã tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững ở các quốc gia này.

    Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng và củng cố mối quan hệ ngoại giao, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế.

    Nhận thức được những lợi ích kinh tế, xã hội mà các dự án đầu tư mang lại, các quốc gia không ngừng tạo điều kiện để thu hút đầu tư. Đến lượt mình, các dự án đầu tư cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng cường mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các nước; thúc đẩy hội nhập, tự do hóa toàn cầu. Thực tế cho thấy, ngày càng có nhiều khối nước, các tổ chức thế giới ra đời vì lợi ích chung và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Có thể coi đó là minh chứng của quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các quốc gia.

    4.2. Từ góc độ nƣớc chủ đầu tƣ

    Kinh doanh ở nước ngoài tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, thế nhưng trên thực tế, trên thế giới, hình thức kinh doanh này đang có xu hướng phát triển ngày càng mạnh. Nguyên nhân chính là ở chỗ các nhà đầu tư tìm thấy ở những các thị trường nước ngoài tiềm năng lớn để kinh doanh, đó là những yếu tố về độ lớn thị trường, giá cả lao động, sự phong phú về tài nguyên, các chính sách ưu đãi của Nhà nước v.v. Những thuận lợi này khiến họ bất chấp khó khăn và thực hiện chiến lược kinh doanh của mình.

    Phần lớn những nước đi đầu tư là những nước công nghiệp phát triển. Thông qua việc đầu tư, họ có thể giải quyết được tình trạng dư thừa tương đối của tư bản

    20

    trong nước, kéo dài vòng đời sản phẩm, từ đó tận dụng triệt để hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Họ có thể tìm thấy những thị trường ổn định để cung cấp nguyên vật liệu với giá cả có lợi; chẳng hạn, các nước chậm phát triển – nơi công nghệ còn lạc hậu, tích lũy thấp gây cản trở việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên vốn có có thể trở thành thị trường tiềm năng của các nhà đầu tư.

    Đầu tư nước ngoài giúp chủ đầu tư tăng cường sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín trên thị trường. Việc các doanh nghiệp xây dựng các nhà máy sản xuất ở nước ngoài trong hoạt động đầu tư có thể giúp họ vừa mở rộng được thị trường tiêu thụ, vừa tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các nước. Đối với những dự án cho vay vốn ở quy mô lớn với lãi suất ưu đãi, các chủ đầu tư có thể có những lợi ích nhất định về chính trị cũng như khả năng chi phối các nước nhận đầu tư.

    III. Lý luận về rào cản văn hóa

    1. Khái niệm rào cản và rào cản văn hóa

    Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: với tư cách là những động từ, rào có nghĩa là ngăn hẳn lối đi, thường là để bảo vệ một khu vực, không cho ra vào tự do [7,792]; còn cản ngăn giữ lại, không cho tiếp tục vận động hoặc hoạt động theo một hướng nào đó [7,105]. Hai thành tố trên kết hợp với nhau tạo ra từ ghép rào cản. Tuy từ ghép này không có mặt trong từ điển nhưng có thể hiểu nghĩa của đơn vị từ vựng này từ nghĩa hợp thành của hai thành tố trên, hoặc có thể thấy sự tương đương về mặt ý nghĩa của nó với từ cản trở, nghĩa là gây trở ngại, làm cho không tiến hành được dễ dàng [7,105], có thể dùng như một động từ hoặc một danh từ.

    Với tư cách là một thuật ngữ dùng trong hoạt động đầu tư nước ngoài, rào cản được dùng để chỉ những trở ngại làm cho một hoạt động kinh doanh nào đó không được tiến hành một cách suôn sẻ, thuận lợi. Trở ngại này có thể xuất phát từ những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. Nếu đặt hoạt động kinh doanh trong điều kiện giao lưu kinh tế sôi động như hiện nay, những trở ngại do sự khác biệt về văn hóa luôn đặt các nhà đầu tư trước những thách thức lớn. Vậy rào cản văn hóa là gì?

    21

    Trước hết, cần khẳng định rằng, rào cản văn hóa là những khó khăn, cản trở gây ra bởi sự khác biệt về văn hóa, nhất là khi có sự tiếp xúc, va chạm giữa những nền văn hóa khác nhau. Những khó khăn này nảy sinh từ sự bất đồng về cách tư duy, phong tục, tập quán, tín ngưỡng – tôn giáo, quan điểm thẩm mĩ, v.v. dẫn đến việc hiểu lầm hay không hiểu, làm đôi bên thấy bối rối, khó chịu, thậm chí còn thấy bị xúc phạm. Đây rõ ràng là những điều nằm ngoài ý muốn của các bên, có tác động tiêu cực đến việc xây dựng các mối quan hệ, đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Tuy vậy, sự phong phú và phức tạp của phạm trù văn hóa giữa các quốc gia khiến cho những bất đồng này trở nên ngày càng phổ biến. Do đó, việc tìm hiểu văn hóa nước sở tại là điều nhà đầu tư không thể coi nhẹ khi thâm nhập vào một thị trường mới.

    2. Rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài thường gặp phải những rào cản văn hóa do khác biệt về các yếu tố chủ yếu là ngôn ngữ, cách tư duy, thị hiếu thị trường, văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động. Các rào cản này ảnh hưởng đến các nhà đầu tư nước ngoài trên hai khía cạnh:

    Về công tác quản lý: Bao gồm tất cả quá trình quản lý như cách thức tổ chức phân công trách nhiệm và giải quyết công việc, quá trình lên kế hoạch và chiến lược phát triển, quản lý nhân sự ở các khâu: tuyển dụng, chế độ lương thưởng và phúc lợi xã hội…

    Về hoạt động kinh doanh: Bao gồm tất cả quá trình từ lựa chọn thị trường, lựa chọn hình thức đầu tư, đàm phán kí kết hợp đồng, đưa dự án vào hoạt động, các chiến lược marketing…

    2.1. Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa những con người đến từ các nền văn hóa khác nhau. Là một phương tiện giao tiếp trọng yếu, ngôn ngữ luôn là vấn đề được quan tâm đầu tiên bởi các đối tác sử dụng các thứ tiếng mẹ đẻ khác nhau. Thực tế đã ghi nhận không ít bất đồng xảy ra trong quá trình trao đổi, tiếp xúc khi

    22

    với cùng một lời nói hay cử chỉ nhưng ở các nước khác nhau người ta có những cách lý giải khác nhau.

    Hiện nay trên thế giới có đến hàng nghìn ngôn ngữ chính thức được sử dụng. Không chỉ ở các quốc gia khác nhau mà ngay cả trong cùng một quốc gia cũng tồn tại nhiều thứ tiếng khác nhau. Bất đồng ngôn ngữ này khiến cho việc truyền tải thông tin giữa các chủ thể bị cản trở đáng kể. Các quốc gia nói tiếng Anh có lợi thế lớn bởi gần 2 tỉ người trên Thế giới hiểu ngôn ngữ của họ. Tuy nhiên, ngay cả người Anh và người Mỹ cũng không tránh khỏi những bất đồng dù cùng sử dụng một ngôn ngữ chung. Bên cạnh sự khác biệt về hệ thống từ ngữ do tiếng nói quy định, cách thức giao tiếp cũng là một vấn đề trong các cuộc giao tiếp xuyên văn hóa. Người Latin coi việc cắt ngang lời đối phương là một cách thể hiện sự thích thú của mình đối với những gì người kia đang nói, nhưng điều này lại bị coi là bất lịch sự đối với một số dân tộc. Tương tự, kiểu giao tiếp im lặng của người phương Đông thường khiến người phương Tây khó chịu, vì họ coi khoảnh khắc im lặng là một thất bại trong giao tiếp. Với ngữ điệu lên xuống, người Latin cảm thấy mình đang tỏ ra tâm huyết với vấn đề. Trong khi đó, xã hội phương Đông lại có xu hướng giữ nguyên âm điệu để kìm chế cảm xúc và thể hiện sự tôn trọng với người nghe.

    Chẳng hạn, cử chỉ giao tiếp bằng mắt khi nói chuyện hay hành động trao, nhận danh thiếp được các cộng đồng ngôn ngữ quy ước theo những cách khác nhau. Nếu người Phần Lan và người Pháp coi việc nhìn thẳng vào mắt đối tác là biểu hiện của sự chân thật thì người Nhật và người Hàn Quốc lại cho đó là một cử chỉ suồng sã, bất lịch sự. Ở Châu Phi cũng như các nước Mỹ Latin, người có địa vị thấp hơn nhìn thẳng vào mắt của người có địa vị cao hơn sẽ bị cho là bất kính. Còn trong trường hợp trao và nhận danh thiếp, người Mỹ cho rằng, người tặng danh thiếp quan trọng hơn tấm danh thiếp, nên khi nhận, họ sẽ chỉ nhìn lướt qua danh thiếp được tặng hoặc thậm chí không nhìn trước khi cất đi hay bỏ vào túi. Tuy nhiên hành động này sẽ khiến người Nhật cho là thiếu tôn trọng bởi họ xem danh thiếp cũng giống như là sự hiện diện của bản thân, trao và nhận danh thiếp phải bằng hai tay, nhận rồi

    23

    thì phải đọc qua chứ không được cất ngay và hành động gấp lại hay làm nhàu tấm danh thiếp sẽ không khác gì một sự sỉ nhục.

    Tặng quà cũng là một thông điệp đặc biệt của ngôn ngữ. Tuy nhiên không phải món quà nào, thời điểm tặng nào cũng nhận được sự hoan nghênh. Ví dụ: ở Anh, người ta hiếm khi tặng quần áo vì họ cho rằng quần áo là một điều gì đó rất riêng tư; người Trung Quốc và Đài Loan lại ít tặng nhau đồng hồ báo thức vì đồng hồ phát ra âm giống như từ “chấm dứt” với ý nghĩa “kết thúc tất cả” hay “đi đến chỗ chết”. Còn ở Ý, Thái Lan hay Brazil, người ta không bao giờ tặng khăn mùi xoa vì theo họ, đó là vật lau nước mắt, việc tặng khăn là một điềm báo báo hiệu một thảm kịch nào đó sắp xảy ra với người nhận. Các nước Châu Âu thường tặng quà chỉ sau một vài lần hợp tác với nhau và chỉ khi mối quan hệ đã được phát triển. Trong khi đó, Nhật Bản lại chú trọng đến việc tặng quà ngay lần gặp đầu tiên. Ở những nước có nạn tham nhũng lớn như Malaysia và Paraguay, những món quà có thể bị hiểu nhầm là hối lộ.

    Ảnh hưởng của rào cản ngôn ngữ đối với công tác quản lý: Rào cản do khác biệt ngôn ngữ làm giảm hiệu quả công tác quản lý. Cụ thể như sau:

    Ngôn ngữ là chiếc cầu nối để tiếp cận các nền văn hóa khác nhau. Một khi có sự bất đồng về ngôn ngữ thì khoảng cách do khác biệt văn hóa trở nên khó rút ngắn hơn. Điều này cản trở các nhà quản lý trong việc tạo lập mối quan hệ tốt đẹp với các đồng nghiệp ngoại quốc của mình.

    Khi có sự bất đồng về ngôn ngữ, khả năng trao đổi thông tin giữa các bên trở nên hạn chế. Nhân viên không hiểu hết hoặc có thể hiểu nhầm mệnh lệnh của ông chủ, ngược lại, ông chủ không thể nắm bắt được vấn đề của nhân viên. Tình trạng này gây ra sự phối hợp thiếu ăn ý trong nội bộ doanh nghiệp, trầm trọng hơn có thể gây trì trệ hoạt động của doanh nghiệp đó.

    Ảnh hưởng của rào cản ngôn ngữ đến hoạt động kinh doanh

    24

    Kinh doanh ở một môi trường khác biệt về ngôn ngữ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Sự khác biệt này có thể là rào cản đối với hầu hết các hoạt động kinh doanh, từ giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng, đến tiến hành hoạt động marketing cho sản phẩm.

    Quá trình đàm phán diễn ra thuận lợi hay không không chỉ phụ thuộc vào khả năng thuyết phục, thương lượng của người đàm phán mà còn tùy thuộc vào mức độ am hiểu ngôn ngữ đối phương. Trong đàm phán, dùng từ ngữ chính xác là điều rất quan trọng. Bất đồng ngôn ngữ dễ dẫn đến tình trạng dùng sai từ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả đàm phán. Việc hiểu sai hoặc không hiểu ngôn ngữ không lời của đối tác cũng dẫn đến những kết quả không mong đợi.

    Trong trường hợp bản hợp đồng được diễn giải bằng một ngôn ngữ chung cho hai bên thì cũng không thể chắc chắn đôi bên sẽ cùng chung một cách hiểu. Khác biệt ngôn ngữ có thể dẫn đến những cách lý giải khác nhau, là nguyên nhân của những tranh chấp sau này.

    Bất đồng ngôn ngữ gây khó khăn cho việc hoạch định chiến lược marketing ngay từ khâu điều tra thị trường. Nhà quản lý không chỉ khó khăn trong việc soạn thảo một bảng câu hỏi và dịch sang các thứ tiếng sao cho chuẩn xác, mà còn mất nhiều công sức để luận ý các câu trả lời. Tương tự, khâu quảng cáo giới thiệu về sản phẩm cũng gặp nhiều trở ngại vì những bất đồng ngôn ngữ. Cùng một cụm từ, nhưng mỗi nền văn hóa khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau.

    2.2. Rào cản do khác biệt về tƣ duy

    Về mặt lí thuyết, tư duy mang tính phổ quát cho toàn nhân loại. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay đã bắt đầu xuất hiện xu hướng nhìn nhận tư duy ở sự khác biệt được thể hiện trong các nền văn hóa khác nhau. Sự khác biệt này thường tạo ra những bất đồng trong cách suy nghĩ và cách giải quyết vấn đề đặc trưng cho từng dân tộc ở hai nền văn hóa Đông, Tây.

    Tư duy phương Tây tuân thủ các nguyên tắc logic. Ví dụ: nếu ta có 2 nhóm A và B, thì chắc chắn, một vật sẽ không thể vừa thuộc nhóm A, vừa thuộc nhóm B vì như vậy là phản logic, không có ích lợi cho tư duy khoa học. Có thể nói, tư duy

    25

    phương Tây là tư duy kiểu “trắng đen phân biệt rõ rệt, không có vùng đất xám” (Theo cuốn “The Geography of Thought” của giáo sư Richard Nisbet) [17]. Kiểu tư duy này khá cứng nhắc và dễ dẫn đến những hành động cực đoan bởi nó không tìm cách dung hòa sự bất đồng, không tìm con đường trung dung giữa hai phía để đi. Điều này giải thích tại sao người phương Tây có xu hướng đi thẳng vào vấn đề khi đàm phán, sẵn sàng trả lời “không”, rất coi trọng giá trị của hợp đồng và không ngại kiện ra tòa nếu đối tác vi phạm. Trong khi đó, truyền thống tư duy của phương Đông lại cho rằng bản chất của thực tại là luôn thay đổi và mọi vật không tồn tại bất biến mà luôn trong quá trình chuyển hóa thành một trạng thái khác tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Do đó, người phương Đông có xu hướng tìm cách dung hòa xung đột, trong cách nói năng thường ít bộc lộ rõ ràng ý kiến. Với họ, bản hợp đồng không phải là duy nhất và hiển nhiên có thể thay đổi khi cần và sự can thiệp của pháp luật chỉ được tính đến khi mọi nỗ lực thương lượng không phát huy tác dụng.

    Cách tư duy về thời gian cũng rất khác biệt giữa các nền văn hóa. Một số nước như Mỹ, Thụy Điển, Hà Lan, thời gian được nhận thức là trôi qua theo một đường thẳng, một tiếp nối của những sự kiện riêng rẽ. Còn ở một số nền văn hóa khác thì thời gian giống như một vòng quay, quá khứ, hiện tại và tương lai có mối quan hệ chặt chẽ. Điều này tạo nên sự khác biệt đáng kể trong việc lên kế hoạch hay chiến lược đầu tư của từng nền văn hóa.

    Ảnh hưởng của rào cản tư duy đến công tác quản lý

    Bất đồng về cách tư duy dẫn đến những khác biệt về cách nói cũng như hành động, cản trở quá trình giao tiếp từ đó ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các cá nhân. Tư duy kiểu phương Tây quy định cách suy nghĩ đơn giản, rõ ràng, thẳng thắn, vì thế, cách nói của họ cũng mang nét đặc trưng này. Người Châu Á lại có lối tư duy mềm dẻo hơn nên họ tin rằng luôn có cách ổn thỏa để giải quyết vấn đề, trong giao tiếp họ giữ gìn hòa khí và đề cao sự ý tứ. Vì thế, lối nói của người phương Tây khiến họ thấy thiếu tế nhị, đôi khi quá thẳng thắn thành ra thô lỗ.

    26

    Cách tư duy khác nhau về thời gian tạo nên sự khác biệt trong việc lên kế hoạch dài hạn. Người Mỹ tư duy thời gian như một chuỗi các sự kiện liên tục, dài hạn đối với họ chỉ là mấy tháng, nhiều nhất là 2 năm. Trong khi đó, các quốc gia coi thời gian là một vòng luân hồi giữa quá khứ, hiện tại, tương lai thì lập kế hoạch cho 10,20, thậm chí hàng trăm năm.

    Ảnh hưởng của rào cản tư duy đến hoạt động kinh doanh

    Quá trình đàm phán, thương lượng diễn ra giữa đối tác người phương Tây và phương Đông chịu ảnh hưởng đáng kể do khác biệt tư duy. Người phương Tây sẽ gây khó chịu cho đối tác Châu Á nếu họ giữ thái độ tranh thủ thời gian mọi lúc mọi nơi để tiếp cận vấn đề, sẵn sàng nói “không” khi cảm thấy chưa thỏa mãn và không ngần ngại kiện ra tòa nếu bị xâm phạm quyền lợi. Người Châu Á thường bỏ qua vấn đề thời gian chỉ để tìm hiểu đối tác của mình. Nếu không đồng ý, họ thường diễn đạt vòng vo, rườm rà thay vì nói thẳng là “không”. Nếu có tranh chấp xảy ra, họ tìm cách để hòa giải, tòa án chỉ được lưu ý đến khi nỗ lực thương lượng không phát huy hiệu quả.

    2.3. Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Một sản phẩm muốn được thị trường tiếp nhận thì nhất thiết phải thỏa mãn sở thích, phong cách hay mong muốn của người tiêu dùng ở thị trường đó. Nắm được các tiêu chí này cũng là một thách thức lớn đối với nhà sản xuất bởi thị hiếu tiêu dùng luôn biến đổi dưới sự chi phối của các nền văn hóa khác nhau. Nhà đầu tư không còn cách nào khác phải đa dạng hóa sản phẩm của mình sao cho phù hợp với mỗi thị trường đầu tư. Ví dụ như sản phẩm ô tô Nhật Bản. Theo đặc điểm văn hóa mỗi nước, các chức năng ban đầu của sản phẩm phải có những thay đổi cần thiết về màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng, bao bì.

    • Về màu sắc, màu đen là màu sang trọng ở nhiều nước Tây Âu, Bắc Mỹ nhưng lại là màu tang tóc ở Nhật Bản; màu xanh lá cây lại bị coi là màu ốm yếu ở Malaysia.

    27

    • Về kích cỡ, hãng Toyota năm 1991 đã phải tăng kích cỡ ô tô Camry của mình thêm 3 inch khi thâm nhập vào thị trường Mỹ để cạnh tranh với hãng Ford và General Motors hiện có ở đất nước này.
    • Về kiểu dáng, nhiều hãng ô tô Nhật Bản, Bắc Mỹ và Tây Âu đã phải chuyển đổi hệ thống tay lái từ bên phải sang bên trái khi thâm nhập vào Việt Nam và nhiều nước thuộc hệ thống chủ nghĩa xã hội (cũ).

    Sự thay đổi trên là một nỗ lực của hãng Toyota trong chiến lược toàn cầu hóa sản phẩm của mình. Nhà sản xuất phải bỏ ra không ít công sức, tiền của để tìm hiểu thị trường, thiết kế lại mẫu mã, thậm chí đầu tư thêm dây chuyền sản xuất để có được sự điều chỉnh đúng đắn đó.

    Ảnh hưởng của rào cản do khác biệt thị hiếu tiêu dùng đối với hoạt động kinh

    doanh

    Rào cản này ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Những khác biệt về thị hiếu của người tiêu dùng ở các nền văn hóa khác nhau gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc nghiên cứu thị trường, xác định điều chỉnh sản phẩm sao cho phù hợp. Bởi công việc này đòi hỏi chi phí lớn về cả công sức, thời gian và tiền của.

    2.4. Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động kinh doanh, là cái mà các chủ thể kinh doanh áp dụng hoặc tạo ra trong quá trình hình thành nên những nền tảng có tính ổn định và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của mình.

    Những khác biệt về văn hóa kinh doanh được xem là một trong những rào cản lớn nhất đối với các nhà đầu tư đến từ các nền văn hóa khác nhau. Hoạt động kinh doanh quốc tế buộc các thành viên tham gia phải làm việc trong những môi trường mới với vô số những khác biệt về cách thức kinh doanh, thái độ đối với việc phát triển quan hệ kinh doanh, quan niệm về giá trị nghề nghiệp, thái độ đối với sự đúng giờ giấc hay cách đàm phán, kể cả phong tục tặng quà, cách thức ăn mặc, ý

    28

    nghĩa về màu sắc và con số, quan niệm về tước hiệu, v.v. Tất cả những yếu tố này góp phần tạo nên một môi trường kinh doanh đặc thù mà bản thân nhà quản lý cũng như nhân viên của họ vừa là những chủ thể quyết định cũng vừa là chủ thể bị chi phối.

    Ảnh hưởng của rào cản do khác biệt văn hóa kinh doanh đến công tác quản lý

    Khác biệt văn hóa kinh doanh gây khó khăn trong việc xây dựng một mô hình quản lý doanh nghiệp. Một nhà đầu tư đến từ Mỹ sẽ gặp rất nhiều cản trở khi làm việc ở một công ty Nhật. Bởi mô hình văn hóa kinh doanh của họ rất khác nhau. Người Mỹ có cách quản lý phân quyền rõ ràng, các cấp bậc cao thể hiện chức năng điều hành cấp bậc thấp hơn, nhân viên tuân lệnh ông chủ và mối quan hệ giữa họ chỉ dừng lại ở mức độ công việc. Người Nhật lại có cách quản lý công ty theo kiểu “gia đình”. Người lãnh đạo được xem như là người cha, nắm giữ quyền lực theo hướng ôn hòa, không có tính đe dọa. Các thành viên gắn bó thân thiết với nhau, sự hài lòng trong các mối quan hệ gia đình tạo ra động cơ làm việc, năng suất lao động cao và giải quyết các mâu thuẫn.

    Khác biệt văn hóa kinh doanh còn gây khó khăn cho nhà quản lý trong việc quản lý nhân sự. Đầu tiên là khâu tuyển dụng. Mô hình văn hóa theo hướng gia đình đặc biệt coi trọng mối quan hệ. Những cá nhân có quan hệ họ hàng hoặc gắn bó thân thiết với thành viên nào đó trong công ty sẽ được ưu tiên. Vấn đề năng lực không phải là quan trọng nhất như ở mô hình văn hóa kinh doanh phân bậc rõ ràng. Tiếp đến là việc khen thưởng, tăng lương cho nhân viên. Ở các nền văn hóa đề cao chủ nghĩa cá nhân, việc áp dụng phương pháp trả lương theo hiệu quả công việc có thể phát huy hiệu quả. Thế nhưng, phương pháp này lại không mang đến kết quả tương tự, thậm chí còn thất bại thảm hại ở các nền văn hóa giàu tính cộng đồng hơn.

    2.5. Rào cản do khác biệt văn hóa ngƣời lao động

    Văn hóa người lao động là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến cách thức làm việc, chất lượng công việc, mối quan hệ giữa người lao động với nhau và người lao động với người quản lý nói chung. Tổng thể ấy bao gồm trình độ, kỹ năng của

    29

    người lao động, hay là thói quen, quan niệm của họ đối với công việc cũng như thái độ đối với cấp trên và những người xung quanh.

    Mỗi nền văn hóa khác nhau tất yếu có những nét khác nhau về văn hóa người lao động và sự hòa hợp giữa những khác biệt này là điều rất cần thiết để duy trì một mối quan hệ tốt đẹp giữa những đồng nghiệp với nhau. Điều này sẽ quyết định sự thống nhất trong hoạt động của một tập thể bao gồm những cá nhân đến từ các nền văn hóa khác nhau với cùng mục đích là làm việc vì một sự thịnh vượng chung.

    Ảnh hưởng của rào cản đối với công tác quản lý

    Chênh lệch trình độ lao động là một cản trở đối với nhà đầu tư trong việc tuyển dụng nhân sự. Để tìm được một cá nhân đáp ứng được nhu cầu công việc, nhà quản lý phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ cho công tác tuyển dụng này. Ở các quốc gia nghèo, giáo dục chưa được đầu tư thích đáng, vấn đề về kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng của lao động là một thách thức đối với các nhà đầu tư.

    30

    CHƢƠNG II

    NHỮNG RÀO CẢN VĂN HÓA VIỆT NAM ĐỐI VỚI

    CÁC NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I. Tổng quan về hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam

    Trong vòng hơn hai mươi năm trở lại đây, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có những chuyển biến không ngừng. Trong khi FDI đã trải qua những mốc thăng trầm lịch sử thì FII vẫn còn khá mới mẻ đối với nước ta. Tuy nhiên, cả hai hoạt động đầu tư này đã và đang đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước, hứa hẹn những bước tiến mới trong những năm tới khi mà vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đang ngày càng được khẳng định.

    1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

    1.1. Tình hình vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài từ năm 1988 đến nay

    (Theo số liệu của Tổng Cục thống kê – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

    Trong 3 năm 1988-1990: Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam mới được ban hành không lâu nên hiệu quả thu hút FDI chưa có gì đáng kể, con số dự án FDI vẫn còn rất khiêm tốn (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD).

    Thời kỳ 1991-1996: Đây được coi là thời kỳ bùng nổ FDI tại Việt Nam với 1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký 28.3 tỷ USD. Con số này chứng tỏ môi trường đầu tư kinh doanh tại nước ta đã bắt đầu lôi cuốn nhà đầu tư bởi những điểm hấp dẫn như nhân lực dồi dào, giá rẻ, thị trường mới… Nguồn vốn FDI mang lại đã ảnh hưởng lan rộng đến các thành phần kinh tế, đóng góp đáng kể cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đất nước.

    Thời kỳ 1997-1999: Có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD. Như vậy FDI cũng trên đà tăng trưởng tuy các dự án này chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, vốn đăng ký năm sau ít hơn năm trước và cũng có nhiều dự án được cấp phép phải tạm dừng triển khai do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc và Hồng Kông).

    Thời kỳ 2000-2005: Nguồn vốn FDI thu được trong giai đoạn này là 20,8 tỷ USD, vượt 73% kế hoạch đưa ra tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001

    31

    của Chính phủ. Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng gấp 2 lần năm 1990, GDP giai đoạn này đạt 7,5% (nông lâm ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 10,2%; dịch vụ tăng 7%).

    Thời kỳ 2006-2007: Dòng vốn FDI tiếp tục gia tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án có quy mô lớn, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao…) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch dịch vụ cao cấp…). Sự gia tăng này cũng góp phần làm tăng GDP các năm. Năm 2006, GDP đạt 8,17% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%; dịch vụ tăng 8,29%). Năm 2007, GDP đạt 8,48% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%; dịch vụ tăng 8,6%).

    Năm 2008: Nếu đến năm 2007, tổng vốn FDI đạt 21,3 tỷ USD đã được coi là đạt kỷ lục cho đến thời điểm đó thì năm 2008 có thể xem là điểm nhấn đánh dấu thành công lớn nhất của dòng FDI. Tính đến 19/12, tổng vốn đăng ký đã đạt hơn 64 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2007 và gấp 2 lần con số của hai năm 2006, 2007 cộng lại. Những siêu dự án, những kỷ lục về quy mô vốn liên tục được phá, điển hình là dự án Khu liên hợp Thép Cà Ná tại Ninh Thuận với tổng vốn đăng kí đạt tới 20,3 tỷ USD. Theo quan điểm của ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì chỉ tiêu này chứng tỏ “sự nhìn nhận lạc quan của quốc tế đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam trong dài hạn”.

    Năm 2009 đến nay: Đặt trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế Thế giới và khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế do các điểm yếu cố hữu của nền kinh tế Việt Nam, vốn đăng ký FDI năm 2009 chỉ đạt 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008. Tuy vậy, dòng vốn này có dấu hiệu phục hồi trong những tháng đầu năm

    1. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giải ngân vốn FDI đạt khoảng 900 triệu USD trong tháng 4, nâng tổng số vốn FDI giải ngân 4 tháng đầu năm lên 3,4 tỷ USD, tăng tới 36% so với cùng kỳ 2009.

    1.2. Hình thức đầu tƣ

    32

    Tính đến hết năm 2007, chủ yếu các doanh nghiệp FDI thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài với 6.685 dự án, tổng vốn đăng ký 21,2 tỷ USD. Tiếp theo là hình thức liên doanh với 1.619 dự án, tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD. Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 221 dự án với tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USD, số còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO. Tỷ trọng FDI theo hình thức đầu tư được thống kê như sau:

    FDI theo hình thức đầu tư 1988-2007 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

    Hình thức đầu tƣ Số dự án Vốn đầu tƣ Vốn điều lệ   ĐT thực
      hiện
             
    100% vốn nước ngoài 77.65% 61.65% 59.84%   38.74%
               
    Liên doanh 18.89% 28.89% 25.89%   38.12%
               
    Hợp đồng hợp tác KD 2.60% 5.38% 11.50%   19.36%
               
    Hợp đồng BOT,BT,BTO 0.09% 2.01% 1.27%   2.49%
               
    Công ty cổ phần 0.76% 1.95% 1.26%   1.24%
               
    Công ty Mẹ – Con 0.01% 0.12% 0.23%   0.05%
               
    Tổng số 100.00% 100.00% 100.00%   100.00%
               
    Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư  

    1.3. Lĩnh vực đầu tƣ

    Đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất trên tổng các lĩnh vực đầu tư với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm tỉ lệ về số dự án, tổng vốn đăng ký và vốn thực hiện lần lượt là 67,1%; 60,44%; 68,57%. Sang năm 2008, vốn FDI vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực này. Các dự án như thăm dò khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện tử và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may… đang giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ. Thông qua các dự án này, FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, đặc biệt

    33

    là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ USD cho dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech…)

    Không chỉ dừng lại ở đó, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1.982 tỷ USD năm 2008 và giá trị xuất khẩu đạt 24,465 tỷ USD, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, được xem là một kỷ lục của FDI. Sang năm 2009, lĩnh vực đầu tư có phần đổi mới. Dịch vụ lưu trú và ăn uống thu hút sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài, tiếp đến là lĩnh vực bất động sản và sau đó là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.

    1.4. Địa bàn đầu tƣ

    Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nhất trong cả nước. Với môi trường kinh doanh năng động, hệ thống giao thông khá thuận lợi, trình độ lao động nhìn chung cao, thị trường rộng lớn, nhiều khu công nghiệp tập trung đã và đang được xây dựng… khiến cho FDI của Thành phố lớn mạnh không ngừng và đang thực sự trở thành nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển của cả nước. Tính đến hết năm 2007, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 27,63% về số dự án, 21,71% về vốn thực hiện, tiếp đến là Hà Nội với 11,64% về số dự án và 12,28% về vốn thực hiện. Bình Dương cũng là một địa phương có mức FDI cao, chiếm 18,21% về số dự án và 7,11% về vốn thực hiện, sau đó là các địa bàn khác như Đồng Nai, Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hải Dương…

    FDI theo địa phương năm 1988-2007 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

            Đơnvị: tỷ USD
             
    Địa phương Số dự án Vốn đầu tư Vốn điều lệ Vốn thực hiện
             
    TP Hồ Chí Minh 2399 17,013 7,100 6,347
             
    Hà Nội 1011 12,664 5.661 3,589
             
    Đồng Nai 917 11,665 4,655 4,152
             
    Bình Dương 1581 8,516 3,452 2,078
             
    Hải Phòng 270 2,729 1,148 1,273
             

    34

    Bà Rịa-Vũng Tàu 159 6,111 2,397 1,267
             
    Hải Dương 278 1,830 0,703 0,439
             
    Vĩnh Phúc 151 2,034 0,647 0,438
             

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Năm 2009, Bà Rịa-Vũng Tàu lại là địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm, tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô đăng ký vốn lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

    1.5. Đối tác đầu tƣ

    Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong vòng 20 năm kể từ năm 1988 đến 2007, đã có 81 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, các nước Châu Á chiếm 69%, Châu Âu chiếm 24%, Châu Mỹ chiếm 5%. Các chủ đầu tư Châu Á vẫn giữ vị trí chủ đạo cho đến hết năm 2008. Trong số 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, Malaysia đứng đầu bảng với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, chiếm 4,7% về số dự án và 24% về vốn đăng ký. Đài Loan đứng thứ 2, có 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD, Nhật Bản xếp thứ 3 với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD. Tuy nhiên, đến năm 2009 bộ mặt các nhà đầu tư có phần thay đổi so với trước. Có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ (tổng vốn đăng ký 9,8 tỷ USD chiếm 45,6%), Cayman Islands đứng thứ 2 (tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD chiếm 9,4%), thứ 3 là Samoa (vốn đăng ký là 1,7 tỷ USD chiếm 7,9%), Hàn Quốc đứng thứ 4 (vốn đăng ký là 1,66 tỷ USD, chiếm 7,7%).

    Nguồn vốn FDI không những đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn tạo nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Riêng trong năm 2008, khối doanh nghiệp FDI đã tạo ra trên 200 nghìn việc làm mới trong tổng số 1.615 triệu việc làm được tạo ra của cả nước, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1.467 triệu người. Tuy vậy, vẫn rất cần những chính sách hợp lý từ phía Nhà nước để hạn chế những bất cập của dòng vốn này như sự mất cân đối về ngành nghề và

    35

    địa bàn đầu tư, bất cập trong chuyển giao công nghệ không đạt tiêu chuẩn hay tranh chấp lao động phát sinh trong khu vực có vốn FDI…

    2. Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FII)

    Đầu tư gián tiếp nước ngoài là một kênh dẫn vốn cần thiết cho sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Các nhân tố chính tác động mạnh mẽ đến hoạt động này là: chất lượng các loại chứng khoán, sự vận hành của các định chế tài chính trung gian (Quỹ đầu tư, công ty đầu tư tài chính các loại), hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, việc gia tăng cổ phần hóa các doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả trong nước…Hơn 20 năm kể từ khi xuất hiện, dòng vốn FII Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Tuy những gì dòng vốn này mang lại còn khá khiêm tốn nhưng đã có những ảnh hưởng tích cực đến thị trường tài chính còn khá non trẻ của Việt Nam. Có thể nhìn nhận sự đổi thay của dòng vốn FII vào nước ta qua các giai đoạn như sau:

    Giai đoạn 1988-1997: Dòng vốn FII bắt đầu có những bước phát triển kể từ những chính sách đổi mới để thu hút đầu tư vào Việt Nam, kết quả sau mười năm là sự thành lập của 7 Quỹ đầu tư nước ngoài. Đây được xem là làn sóng FII thứ nhất vào Việt Nam.

    Giai đoạn 1998-2002: Thời kỳ này dòng vốn FII vào nước ta có sự suy giảm đáng kể, 5 quỹ đầu tư thành lập ở giai đoạn đầu rút lui,1 quỹ thu hẹp trên 90% quy mô, chỉ còn duy nhất quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund thành lập tháng 7-1995 với quy mô vốn 35 triệu USD (nhỏ nhất trong 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay. Có nhiều nguyên nhân gây ra sự giảm sút này, trong đó nổi trội nhất vẫn là do sự thiếu đồng bộ cũng như bất cập trong chính sách kinh tế đối ngoại nước ta, thêm vào đó là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á diễn ra năm 1997 làm cho dòng vốn đầu tư đổ vào Châu Á nói chung bị chững lại.

    Giai đoạn 2003-2005: Làn sóng thứ hai khởi động với sự xuất hiện của Mekong Enterprise Fund, ngay sau đó là VinaCapital và một số công ty quản lý khác với việc công bố thành lập các quỹ mới và hướng mục tiêu đầu tư vào nhiều

    36

    lĩnh vực đa dạng. Tuy vậy, hoạt động đầu tư của các quỹ này khá thầm lặng do tâm lý còn e ngại của các nhà đầu tư. Họ chỉ đưa vào thị trường những khoản đầu tư nhỏ với mục đích thăm dò là chính. Theo bài nghiên cứu tổng hợp về tình hình Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam đăng trên website Bộ Ngoại Giao ngày 06-03-2010 thì sau khủng hoảng 1997, nguồn vốn FII vào Việt Nam tăng lên nhưng quy mô còn nhỏ và chiếm tỷ lệ hạn chế. Một số quỹ hoạt động ở Việt Nam từ năm 2001 (quy mô vốn bình quân từ 5 triệu USD đến 20 triệu USD mỗi quỹ) chiếm 1,2% vốn FDI năm 2001, tăng lên 3,7% vốn FDI vào năm 2004, so với các nước trong khu vực thì tỷ lệ này còn quá thấp (FDI/FII trong khoảng 30-40%). Cho đến năm 2005, nguồn vốn này mới chỉ đạt khoảng 1% so với FDI.

    Giai đoạn 2006-2007: Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán năm 2006, làn sóng FII vào Việt Nam giai đoạn này được hình thành và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bộ Tài Chính cho biết, vốn FII được công bố qua các quỹ đầu tư chính thức vào khoảng 2 tỷ USD, cao điểm là vào giữa năm 2006 khi công ty quản lý quỹ VinaCapital khai trương quỹ bất động sản Vinaland với số tiền đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài lên tới 65 triệu USD, vượt qua mức dự kiến ban đầu là 15 triệu USD. Theo nhận định của nhiều quỹ đầu tư nước ngoài tại Hội nghị “Funds World Vietnam 2007” diễn ra ở Thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 4-5 tỷ USD vốn FII đang chờ để vào thị trường Việt Nam, phần lớn là đổ vào các đợt IPO của những doanh nghiệp lớn như: Vietcombank, BIDV, MHB, Incombank, MobiFone…Ngoài ra, các quỹ đầu tư vào địa ốc và thị trường chứng khoán cũng ngày càng gia tăng đưa số vốn FII lên tới 6,3 tỷ USD năm 2007 (Thông tin từ Thống đốc Ngân hàng nhà nước).

    Năm 2008 đến nay: Ngược lại với những thuận lợi trong năm 2007, năm 2008 chứng kiến sự sụt giảm đáng kể của dòng FII vào Việt Nam. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội đã nhận định con số giảm sút là 587 triệu USD. Tình hình cũng không mấy khả quan vào năm 2009 khi lượng vốn đầu tư gián tiếp này đã rút khoảng 500 triệu USD.

    37

    Có thể nói rằng, việc phát triển thị trường vốn FII vào Việt Nam sẽ mang lại cơ hội mới cho các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện thể chế và cơ chế thị trường nói chung. Tuy nhiên, mặt trái của hoạt động này là nguy cơ làm tăng mức nhạy cảm và bất ổn về kinh tế do nguồn vốn đầu tư được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần túy nên chủ đầu tư có thể dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn của mình về nước hay chuyển sang đầu tư ở lĩnh vực khác. Bên cạnh đó, nguy cơ các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán bị mua lại, sát nhập, khống chế hay tình trạng tội phạm kinh tế quốc tế cũng là một mối đe dọa thị trường Việt Nam. Như vậy, việc chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý kinh tế theo nguyên tắc thị trường của Chính phủ và các cơ quan Trung ương là hết sức cần thiết để vừa hạn chế những nguy cơ này, vừa đảm bảo thu hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực của dòng vốn FII.

    II. Vài nét về văn hóa Việt Nam

    1. Lịch sử hình thành văn hóa Việt Nam

    Sự hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam gắn liền với lịch sử dân tộc trong suốt quá trình đấu tranh với thiên nhiên, chống xâm lược ngoại bang và xây dựng một đất nước hòa bình, độc lập. Cùng với chiều dài lịch sử, nền văn hóa Việt đã chứng kiến không ít đổi thay và đang ngày càng trở nên đặc sắc, phong phú, mang đậm dấu ấn riêng của mình.

    Văn hóa thời Tiền sử: Là nền văn hóa đặc trưng cho thời đại đá cũ và hậu đá cũ thô sơ, thời kì nguyên đá mới và đá mới, thời kì hậu đá mới. Khởi đầu của thời kì này là những di vật tìm thấy cách đây hàng chục vạn năm của người nguyên thủy ở núi Đọ (Thanh Hóa), tiếp đến là nền văn hóa Sơn Vi (Vĩnh Phú) với những nhóm cư dân sinh sống bằng nghề săn bắt, hái lượm. Thời kỳ nguyên đá mới và đá mới cách đây trên dưới một vạn năm của nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn bắt đầu đánh dấu bước tiến quan trọng của con người với việc trồng trọt. Từ nền tảng này, nền văn minh lúa nước kết hợp với chăn nuôi và các nghề thủ công phát triển ở thời kỳ hậu đá mới (cách đây 4-5 nghìn năm) đã dần đưa cuộc sống con người vào giai đoạn ổn định hơn với những xóm làng định cư dựa trên quan hệ thị tộc mẫu hệ.

    38

    Văn hóa thời Sơ sử: Ba trung tâm lớn trên ba miền Bắc, Trung, Nam tương ứng với các nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai.

    Nền văn hóa Đông Sơn khu vực sông Hồng, sông Cả, sông Mã gắn với việc tìm thấy vật liệu đồng thau đã tác động lớn lao đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người. Những dấu ấn sâu đậm thời kì này để lại là các sản phẩm tinh xảo đã trở thành biểu tượng văn hóa dân tộc như chiếc trống đồng Đông Sơn, ngoài ra còn nhiều loại nhạc cụ độc đáo, những huyền thoại, thần thoại mang tính sử thi…Người dân bấy giờ còn biết thờ thần Mặt trời nhằm cầu may cho mùa màng tốt tươi để đời sống được no ấm.

    Văn hóa Sa Huỳnh kéo dài từ Bình Trị Thiên đến lưu vực sông Đồng Nai lại không lấy đồng làm nguyên liệu chính như văn hóa Đông Sơn mà thay vào đó, họ lấy sắt làm nguyên liệu chủ yếu để phục vụ hiệu quả việc sản xuất nông nghiệp. Cư dân Sa Huỳnh còn biết dệt vải, đúc đồ gốm, làm trang sức bằng các vật liệu thiên nhiên, tạo ra một nền văn hóa tiến bộ.

    Văn hóa Đồng Nai đặc trưng cho cư dân vùng Nam Bộ vốn gắn với sông nước và những miệt vườn. Nền văn hóa này coi đá là nguyên liệu chính để chế tác ra những công cụ sản xuất và cả đồ trang sức. Đời sống tín ngưỡng tuy chỉ dừng lại ở cấp độ “Bái vật giáo”, nhưng người dân vẫn tin vào thế giới khác ngoài thế giới hiện thực của con người. Họ sống vô tư, phóng khoáng, thẳng thắn và ít suy tư như các vùng miền khác.

    Văn hóa Bắc thuộc: Sau 10 thế kỷ mất nước (179 trước CN-938), nhân dân ta dành lại độc lập mà vẫn không bị đồng hóa dân tộc. Thành công này có được là bởi sự cố kết cộng đồng bền chặt thành một thực thể quốc gia đạt đến trình độ văn minh, biết gìn giữ và phát huy vốn văn hóa cổ truyền đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hóa bên ngoài. Trong suốt thời kỳ này, Nho giáo, Đạo giáo, chữ Hán, nghề làm giấy, một số kỹ thuật nông nghiệp từ Trung Quốc cũng như Phật giáo và các kỹ thuật chế biến thủy tinh, hương liệu từ Ấn Độ đã truyền vào Việt Nam, góp phần đa dạng và phong phú hơn nền văn hóa dân tộc.

    39

    Văn hóa Thăng Long: Đất nước bắt đầu thời kỳ độc lập, phát triển, nền văn hóa dân tộc cũng bước vào thời kỳ phục hưng với những thành tựu rực rỡ. Trong giai đoạn này, các di sản văn hóa cổ truyền được kế thừa và nâng cao một cách sáng tạo, điển hình là những hoạt động văn hóa dân gian như múa rối, đua thuyền, chọi vật, hát tuồng, hát chèo… đều phát triển mạnh mẽ. Giáo dục được chú trọng hơn, đặc biệt là sự ra đời của chữ Nôm đã để lại nhiều tác phẩm gắn liền với tên tuổi nhiều danh nhân văn hóa lớn của dân tộc.

    Thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX : Thời kỳ này Nho giáo vẫn được các vương triều coi là hệ tư tưởng chính thống nhưng Phật giáo cũng có phần phục hưng và Kito giáo bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Nét đặc sắc văn hóa giai đoạn này là sự trỗi dậy của văn hóa dân gian trong văn học, nghệ thuật và sinh hoạt làng xã. Tranh dân gian được coi là một sáng tạo độc đáo và nghệ thuật kiến trúc tạo hình cũng đóng góp cho di sản văn hóa dân tộc nhiều công trình giá trị. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự ra đời của chữ quốc ngữ.

    Thời kỳ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân: Nửa sau thế kỷ XIX, thực dân Pháp chính thức thống trị nước ta. Ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa phương Tây đã khiến bản sắc văn hóa Việt Nam có phần phai nhạt, đặc biệt là ở khu vực thành thị.

    Năm 1945, cách mạng Tháng 8 thành công: Sự kiện này đã đánh dấu một mốc son vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước vào kỷ nguyên xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng đến năm 1955, đất nước bị chia cắt hai miền Nam- Bắc, miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục đấu tranh chống lại Đế quốc Mỹ, văn hóa miền Nam chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi lối sống của văn hóa phương Tây.

    Năm 1975 đến nay: Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và cùng phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước vẫn kiên định mục tiêu “Xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Xu hướng hội nhập toàn cầu ngày càng rõ nét

    40

    cùng với sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia đang đặt đất nước trước thách thức giữ gìn và tiếp thu có chọn lọc nền văn minh của các nước bạn [6].

    2.                 Đặc trƣng văn hóa Việt Nam

     

    1. Tín ngƣỡng – Tôn giáo

    Nói đến tín ngưỡng của người Việt Nam, đầu tiên phải kể đến đạo thờ cúng tổ tiên được hình thành từ rất lâu đời và càng thêm sâu sắc sau 1000 năm Bắc thuộc. Tuy vậy, việc thờ cúng tổ tiên của người Việt không mang tính huyết thống như người Hán mà thể hiện việc ghi nhớ ơn nghĩa của người xưa, đúng như tinh thần của câu tục ngữ: “uống nước nhớ nguồn” từ bao đời nay ông cha vẫn thường nhắc nhở. Nét đặc biệt của tín ngưỡng này được thể hiện ở chỗ, mỗi làng Việt đều có đình Thờ Thành Hoàng để thờ các Thiên thần (các hiện tượng tự nhiên liên quan đến nông nghiệp như mây, mưa, đất nước…) và Nhân thần (những người anh hùng dân tộc, có công khai cơ lập ấp).

    Tôn giáo ở Việt Nam khá phong phú. Ngoài ba Tôn giáo chính là Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, ở Việt Nam còn có một số giáo phái khác như Công giáo Rôma, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành, Hồi giáo. Đặc điểm của Tôn giáo ở Việt Nam có khác so với ở các nước khác. Những vị Thần hay Phật mà người Việt thờ cúng không ở cao xa như một “lý trí tuyệt đối” siêu nhiên sinh ra loài người, cứu vớt loài người mà “sống” bên cạnh con người, làm nhiệm vụ “hộ quốc”, “bảo dân”. Người ta thờ Thần, thờ Phật trước hết vì cuộc sống trước mắt chứ không phải để cứu vớt linh hồn lên với chúa trời hay chính là vì hiện thế chứ không phải vì lai thế.

    Người Việt không cuồng tín Tôn giáo như ở các nước khác. Các lớp tôn giáo và tín ngưỡng của gia đình, dòng họ cũng như làng xã, quốc gia hòa hợp nhau. Trường hợp một người hay một gia đình thờ tổ tiên, Thành Hoàng, cả Phật, Khổng Tử là không hiếm. Đây là điểm thể hiện sự hòa nhập Tôn giáo và tính hiện thực của tín ngưỡng tôn giáo người Việt xưa và nay, là sắc thái riêng chứng tỏ sự tiếp thu có chọn lọc của văn hóa dân tộc dưới tác động của các nền văn hóa nước ngoài.

    2.2. Ngôn ngữ

    41

    Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp trọng yếu của người Việt kể từ thời kì dựng nước. Có thể nói, sự phát triển của tiếng Việt đã phản ánh một cách trung thực các thời kì lịch sử Việt Nam với những biến đổi về cả ba phương diện ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. Tiếng Việt ngày nay vẫn không ngừng biến đổi nhằm thích ứng với sự phát triển của thời đại mới. Có thể thấy rõ điều này qua ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay. Những thuật ngữ về khoa học – công nghệ ngày càng được sử dụng một cách phổ biến, phản ánh sự hòa nhịp của thế hệ trẻ với những đổi thay trong thời hiện đại.

    Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy. Trong mối quan hệ này, ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt, còn tư duy là cái được biểu đạt. Cho nên, trong giao tiếp với người Việt, nếu người ngoại quốc không hiểu văn hóa giao tiếp của người Việt (phản ánh tư duy của người Việt) thì chắc chắn sẽ gặp những khó khăn rất lớn để hiểu đúng và đầy đủ vấn đề nêu ra thông qua cái biểu đạt là tiếng Việt ấy. Văn hóa giao tiếp của người Việt có những đặc điểm sau:

    Người Việt thích giao tiếp và coi trọng việc giao tiếp: Đặc điểm này hình thành từ chính văn hóa nông nghiệp của nước ta. Cuộc sống phụ thuộc vào tự nhiên đã gắn bó các thành viên trong cộng đồng, khiến họ luôn có ý thức quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Họ hỏi han nhau khi gặp gỡ và lúc rảnh rỗi thì đến thăm nhau với sự đón tiếp nồng hậu, ấm áp nghĩa tình. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với người lạ, nhất là người nước ngoài, người Việt thường dè dặt, giữ kẽ hơn. Điều này có thể quy cho nếp sống khép kín trong cộng đồng, quen gắn bó với làng xã và những người thân quen từ xưa đến nay của người Việt.

    Người Việt lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử. Trong các mối quan hệ xã hội, người Việt Nam thường rất coi trọng hai chữ “tình nghĩa”, sống có trước có sau. Đối với người Việt, “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”, cho nên, trong công việc, yếu tố tình cảm thường có khả năng chi phối mạnh mẽ. Đây là một điểm khó thích nghi đối với những đồng nghiệp người nước ngoài, đặc biệt là người phương Tây vì họ vốn quen sống tách bạch tình cảm và công việc.

    42

    Người Việt vốn trọng danh dự. Đối với người Việt, danh dự là kim chỉ nam của mọi hành động: “đói cho sạch, rách cho thơm”. Tuy nhiên, việc quá coi trọng danh dự có thể khiến người Việt trở nên “sĩ diện”, không dám thừa nhận sự thiếu sót của mình và đặc biệt, rất sợ dư luận xã hội. Vì thế, sự thẳng thắn của người phương Tây nhiều khi khiến người Việt cảm thấy không thoải mái, thậm chí còn bị coi như một sự xúc phạm nếu những góp ý thẳng thừng đe dọa thể diện của họ trước những người khác. Hơn nữa, người Việt vốn ý tứ và tế nhị trong giao tiếp, cộng thêm tâm lý ưa hòa thuận nên thường nhường nhịn, đôi khi vì thế mà thiếu tính quyết đoán.

    2.3. Nghệ thuật

    Người Việt Nam từ xưa đã quen với lối sống cộng đồng, gắn bó với thiên nhiên và luôn xem mình như một phần không thể tách rời của tự nhiên. Cách suy nghĩ này đã ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật Việt Nam, từ ẩm thực đến kiến trúc hay âm nhạc.

    Ẩm thực Việt Nam rất phong phú, không chỉ thay đổi theo mùa mà mỗi vùng cũng có những hương vị đặc trưng riêng. Nguyên liệu chế biến là các sản phẩm từ nông nghiệp trong đó rau quả chiếm vị trí ưu tiên nhất. Hương vị món ăn Việt khá hài hòa, không quá cay nóng như món ăn Thái, cũng không cầu kỳ như món ăn Trung Hoa. Việc phối hợp các loại gia vị và bố trí bữa ăn gia đình ấm cúng theo nguyên lý âm dương không chỉ tạo cảm giác ngon miệng mà còn ảnh hưởng tốt đến sức khỏe của mỗi người. Đây cũng là nét thú vị đối với người nước ngoài khi sang Việt Nam, tìm hiểu và thưởng thức những món ăn Việt với hương vị hòa quyện trong sự ấm áp của tình người.

    Các công trình kiến trúc Việt Nam từ vật liệu đến phong cách, đều thể hiện sự thống nhất về triết lý hòa hợp với thiên nhiên. Những vật liệu sẵn có của tự nhiên như mây, tre, nứa, gỗ, đá… đã làm nên những nếp nhà dân gian mộc mạc, những cung đình đẹp đẽ hay các công trình tín ngưỡng tâm linh. Kiến trúc Việt không đồ sộ, nguy nga như các công trình kiến trúc Trung Hoa, cũng không phải là kiểu kiến trúc đóng như ở các nước phương Tây mà khiêm tốn, chừng mực – lối kiến trúc mở,

    43

    ưa sự thông thoáng, hòa lẫn với cây xanh, mặt nước, hướng đến sự cân bằng sinh thái khoa học. Trong kiến trúc Việt Nam, phong thủy được đặc biệt coi trọng. Đó là sự hài hòa giữa thế đất, thế núi, nguồn nước, long mạch… Vì thế mà khi xây nhà ở, người Việt luôn chú ý về mặt địa lý, địa thế, thường chọn hướng nam thoáng mát, tránh hướng tây nóng, bắc lạnh. Các ngôi nhà thôn quê thường có vườn cây, ao nước hay hàng cau trước nhà. Các công trình lớn như đền, chùa, lăng tẩm…thì thường được đặt ở những nơi có đồi, núi, sông, hồ, cao trên thấp dưới, nhiều tầng sinh thái, là nơi hội tụ khí thiêng đất trời. Còn biểu trưng của làng quê Việt là những Đình làng thì bao giờ cũng được đặt ở những vị trí thoáng rộng, với cây đa, bến nước, sân đình, tiêu biểu cho lối sống cộng đồng hòa hợp thiên nhiên vốn đã đi vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam.

    2.4. Phong tục tập quán

    • dân tộc anh em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam cấu thành nên một nền văn hóa đa dạng với những phong tục tập quán đặc sắc. Những phong tục tập quán này hiện diện ngay trong chính cuộc sống hàng ngày của mỗi người, từ giao thiệp

    đến lễ tết, cưới hỏi, tang lễ, cúng giỗ…

    Người Việt rất coi trọng những phong tục tập quán của mình. Thái độ “kính trên nhường dưới” là một phép tắc lớn được chú trọng trong giao tiếp của người Việt. Các sự kiện lớn của đời người như cưới hỏi, ma chay luôn được tổ chức trang trọng theo những thể thức có từ ngàn xưa. Một thời điểm nữa rất quan trọng trong năm đó là Tết Nguyên Đán. Đây là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, là dịp để mọi người Việt Nam đoàn tụ gia đình, tri âm tổ tiên, thăm hỏi bạn bè khắp nơi để thắt chặt thêm tình cảm… Ngoài ra còn rất nhiều ngày lễ, hội khác làm nên sự phong phú trong đời sống tinh thần người Việt Nam.

    Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần hiểu nét phong tục này để có sự thông cảm và sắp xếp hợp lý, sao cho không ảnh hưởng đến công việc kinh doanh đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với văn hóa Việt.

    2.5. Giáo dục

    44

    Một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và thịnh vượng của một quốc gia chính là ở tiềm lực con người mà yếu tố quyết định tiềm lực ấy chính là giáo dục – giáo dục của gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Việt Nam được nhiều người biết đến với một nguồn nhân lực dồi dào, có tinh thần ham học và tư chất thông minh. Điều đáng mừng là đa phần các bậc phụ huynh đều nhận thức được sự quan trọng của việc nâng cao kiến thức cho con em mình, họ luôn nỗ lực để đem đến cho con em mình những điều kiện học tập tốt nhất. Không ít học sinh, sinh viên Việt Nam đạt được những thành tích xuất sắc ở các trường trong nước cũng như ở nước ngoài. Đó là một thực tế đáng tự hào.

    Tuy vậy, những vấn đề bất cập trong giáo dục Việt Nam đang trở thành tâm điểm của xã hội những năm gần đây. Các nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đã gặp không ít thách thức trong việc tìm kiếm những lao động có kiến thức và kĩ năng

    • đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công việc. Thực tế này khiến người ta không khỏi nghĩ đến phương pháp đào tạo của Giáo dục Việt Nam. Hiện nay, rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đang không tìm được việc làm. Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Giám đốc Công ty Tư vấn và Đào tạo Nhân lực L&A cho biết: “Chúng ta không thiếu việc làm mà đang thiếu sinh viên làm được việc”, theo ý kiến của bà Lệ, chương trình đào tạo không theo kịp sự phát triển của xã hội, không đào tạo ra người có thể làm được việc ngay. Do vậy sinh viên mới ra trường thiếu quá nhiều kỹ năng để làm việc, đặc biệt là các kỹ năng mềm như tư duy phân tích, tổng hợp, thuyết trình, giao tiếp hay làm việc nhóm…[19]. Điều này giải thích tại sao các nhà tuyển dụng ở Việt Nam phải bỏ ra không ít thời gian và công sức để tìm lao động thích hợp và đào tạo họ mọi mặt về chuyên môn.

    III. Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    1. Nhìn nhận chung về ảnh hƣởng của văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Để có những kết luận chính xác về những ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cần nhìn nhận vấn đề này từ cả hai góc độ: các nhà đầu từ nước ngoài và những người Việt có kinh nghiệm làm việc với các nhà

    45

    đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Qua quá trình khảo sát, người viết đề xuất một số đánh giá chung về rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài như sau:

    1.1. Từ góc độ nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đều nhìn nhận rằng Việt Nam là một thị trường tiềm năng, hứa hẹn mang lại những cơ hội đầu tư lớn. Tuy vậy, họ cũng thừa nhận sự tồn tại của nhiều nhân tố gây cản trở quá trình đầu tư, trong đó những bất đồng về văn hóa là một rào cản đáng kể bên cạnh những khó khăn về cơ sở hạ tầng hay hệ thống pháp luật.

    Trong số những trở ngại về văn hóa thì ngôn ngữ được xem là yếu tố gây nhiều khó khăn nhất, đặc biệt là với những nhà đầu tư Châu Á như Hàn Quốc hay Nhật Bản. Do người lao động Việt Nam chưa có trang bị tốt về tiếng Hàn cũng như tiếng Nhật, trong khi đó các nhà đầu tư đến từ các quốc gia này lại không thành thạo tiếng Anh và hầu như không biết tiếng Việt nên việc giao tiếp gặp rất nhiều khó khăn. Tiếng Anh được sử dụng như một ngôn ngữ trung gian giữa người Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng do cả hai bên đều chưa “hoàn toàn làm chủ” ngôn ngữ thứ hai này nên những bất đồng, gây nên sự hiểu lầm hay không hiểu là điều khó tránh.

    Sau rào cản về ngôn ngữ là những cản trở đáng kể về khác biệt văn hóa doanh nghiệp, văn hóa người lao động, thị hiếu tiêu dùng và lối tư duy. Một số nhà đầu tư Hàn Quốc phàn nàn về thái độ làm việc thiếu nhiệt tình, thiếu nhất quán của lao động Việt, cũng có nhà đầu tư phương Tây gặp khó khăn vì lao động thiếu sự sáng tạo và khả năng làm việc độc lập, tính trọng mối quan hệ trong công việc cũng là một thách thức đối với họ.

    1.2. Từ góc độ ngƣời Việt Nam có kinh nghiệm làm việc với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam

    Người viết đã tiến hành điều tra ý kiến của 40 cá nhân có kinh nghiệm làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài trên cả ba miền đất nước và nhận được 73% câu

    46

    trả lời xác nhận sự có mặt của rào cản này văn hóa trong số các rào cản thường gặp khác đối với nhà đầu tư nước ngoài hiện đang làm việc tại Việt Nam. Tuy số lượng điều tra không nhiều, nhưng những thông tin thu thập được cũng phần nào khẳng định được tác động của những khác biệt văn hóa đối với hoạt động kinh doanh quốc tế ở Việt Nam.[Phụ lục]

    Cũng từ khảo sát này, người viết thu được ý kiến đánh giá về các yếu tố rào cản văn hóa, trong đó yếu tố rào cản do khác biệt về tư duy được đề cập đến nhiều nhất, tiếp đến là rào cản do khác biệt về văn hóa doanh nghi

    ệp, văn hóa người lao động, thị hiếu tiêu dùng và ngôn ngữ.

    Møc ¶nh h-ëng cña mét sè rµo c¶n

    v¨n hãa ViÖt Nam

    90.00%

    80.00%

    70.00%

    60.00%

    50.00%

    40.00%

    30.00%

    20.00%

    10.00%

    0.00%

    Rµo c¶n vÒ ng«n

    ng÷

    Rµo c¶n vÒ t- duy

    Rµo c¶n vÒ thÞ hiÕu Rµo c¶n vÒ v¨n hãa Rµo c¶n vÒ v¨n hãa

    tiªu dïng              doanh nghiÖp      ng-êi lao ®éng

    Trong những năm gần đây, các công ty Việt Nam thường đưa ra tiêu chí tuyển dụng khắt khe, yêu cầu ứng viên phải sử dụng tiếng Anh để viết đơn xin việc, thông tin bản thân và trả lời các cuộc phỏng vấn. Vì thế, người lao động ý thức cao hơn về vai trò của việc học ngoại ngữ, trình độ ngoại ngữ nhìn chung cũng được cải thiện. Điều này lý giải tại sao trên quan điểm người Việt Nam, rào cản ngôn ngữ không phải là cản trở lớn nhất. Theo điều tra này, cách tư duy mới là trở ngại đáng kể. Cách tư duy là yếu tố khó thay đổi và khác nhau sẽ dẫn đến những hành động khác nhau.

    Các đối tượng điều tra có kinh nghiệm làm việc với nhà đầu tư đến từ Châu Á (chiếm đa số – 83.8%), Châu Âu (40.5%), Châu Mỹ (37.8%) và một số Châu lục

    47

    khác (2.7%). Một điều ngạc nhiên là đến 72.2% trong số đối tượng điều tra cho biết họ thực sự thích làm việc với các đối tác đến từ Châu Âu, tiếp theo là Châu Mỹ chiếm 58.3% trong khi Châu Á chỉ chiếm 27.8%%. Phần lớn người được hỏi đều đưa ra lý do là những đối tác Châu Âu và Châu Mỹ thường cởi mở, lịch sự, môi trường làm việc thông thoáng, chuyên nghiệp và chế độ đãi ngộ tốt. Một số thích làm việc với người Châu Á vì sự cách biệt văn hóa có phần ít hơn, do đó, họ biết thông cảm hơn cho các đồng nghiệp của mình, nhất là những đồng nghiệp nữ.

    2.Một số rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

     

    1. Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Bất đồng ngôn ngữ lời nói

    Khó khăn trong sử dụng từ ngữ: Tiếng Anh là phương tiện chủ yếu được sử dụng trong giao tiếp giữa người Việt Nam và các đối tác nước ngoài hiện nay.Bên cạnh đó, tiếng Nhật, Trung, Hàn cũng đang ngày càng phổ biến. Phần lớn nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đều gặp những khó khăn trong việc trao đổi thông tin với người Việt do không hiểu tiếng nói của nhau. Trong một cuộc hội đàm về chính sách giữa Bộ Thông Tin và Truyền thông với các doanh nghiệp Công nghệ thông tin hai nước Việt Nam – Nhật Bản diễn ra cuối năm 2007, đông đảo đại diện các doanh nghiệp nhận định tiềm năng hợp tác Công nghệ thông tin Việt – Nhật là rất lớn nhưng các doanh nghiệp lại đang trong tình trạng khan hiếm về nhân lực biết ngoại ngữ. Tổng Giám đốc công ty FCG Việt Nam cho rằng, có tới 80% nhân lực gia công phần mềm Nhật Bản là người Trung Quốc, ngay cả khi đang hoạt động tại Việt Nam [20].

    Nguyên nhân:

    Nguyên nhân đầu tiên là do trình độ tiếng Anh của lao động Việt Nam còn khá thấp. Trong khi đó, các quốc gia sử dụng tiếng Anh lại có xu hướng không học thêm một ngoại ngữ nào khác.

    Bên cạnh tiếng Anh, trình độ tiếng Nhật, Trung, Hàn và các thứ tiếng khác của lao động Việt Nam cũng chưa đáp ứng được nhu cầu công việc. Giao dịch bằng

    48

    tiếng Anh với nhà đầu tư Nhật Bản và Trung Quốc cũng gặp nhiều khó khăn vì họ ít sử dụng tiếng Anh, thường đòi hỏi nhân viên phải biết sử dụng ngôn ngữ quốc gia mình.

    Khác biệt về phong cách giao tiếp: Không chỉ ngôn ngữ bất đồng vản trở giao tiếp mà những khác biệt về phong cách giao tiếp cũng gây ra những hiểu lầm. Người Việt thường cho rằng người phương Tây nói nhiều trong khi đó người phương Tây lại thấy người Việt quá kín đáo, như thể đang che dấu điều gì. Nhiều trường hợp người Việt làm họ ngạc nhiên và khó hiểu với kiểu nói một đường nhưng lại nghĩ hay làm một nẻo. Người phương Tây đưa ra một số lý giải từ kinh nghiệm tiếp xúc với người Việt như sau: Khi người Việt Nam nói “Thật là một ý tưởng thú vị”, thì nên nghĩ câu này có nghĩa “Tôi không đồng tình lắm”/ “Chúng ta cần thảo luận thêm”/ “Bạn nhầm rồi”/ “Tôi không thích ý tưởng này lắm”. Hoặc khi nghe câu “Lời đề nghị này xứng đáng được xem xét kĩ hơn” thì phải hiểu là “Xin hãy đưa ra một đề nghị khác”/ “Tôi là một chuyên gia về lĩnh vực này nhưng vì lịch sự mà tôi không nói ra thôi” [16].

    Nguyên nhân:

    Việt Nam được xếp vào nhóm những nền văn hóa “Ngữ cảnh cao” [15], là nền văn hóa mà ở đó, con người thường chú ý đến ngữ cảnh giao tiếp (bao gồm người đối diện hay hoàn cảnh diễn ra giao tiếp) hơn là những từ ngữ trực tiếp và rõ ràng để truyền đạt thông tin. Vì vậy phần lớn nội dung muốn diễn đạt thường ẩn sau lời nói và thái độ chứ không phải thuần túy ở từ ngữ như ở các nước phương Tây vốn thuộc nền văn hóa “Ngữ cảnh thấp”.

    Bất đồng trong cách thể hiện tình cảm và phép lịch sự: Người Việt thường tỏ ra nghi ngại sự thật lòng của người Châu Âu, Châu Mỹ hay Châu Úc bởi họ luôn sẵn sàng lời khen ngợi cũng như câu nói “xin lỗi” và “cảm ơn”, Trong khi đó, nhiều trường hợp người phương Tây đánh giá người Việt bất lịch sự vì hiếm khi họ khen ngợi điều gì hay nói lời “Cảm ơn” hay “Xin lỗi”.

    Nguyên nhân:

    49

    Lý do đầu tiên là người phương Tây được giáo dục từ nhỏ về cách thể hiện tình cảm và thái độ lịch sự qua lời “cảm ơn” hay “xin lỗi”. Đối với họ, khen ngợi là một cách bày tỏ sự quan tâm của mình đến người được khen.

    Thứ hai, người Việt Nam coi trọng sự tế nhị trong giao tiếp và ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng. Thay vì nói lời “cảm ơn” hay “xin lỗi”, họ biểu hiện bằng ngôn ngữ không lời như ánh mắt, nụ cười. Họ e dè khi khen ngợi để tránh trường hợp đối phương hiểu lầm ý tốt của mình.

    Khác biệt trong chào hỏi và đưa ra lời khuyên: Văn hóa mỗi vùng miền thể hiện trong từng cử chỉ giao tiếp hàng ngày, từ lời chào đến câu khuyên nhủ. Người Việt hay chào nhau bằng những câu như “Anh đi đâu đấy”, “Chị ăn cơm chưa”. Nếu mối quan hệ thân thiết họ thường dặn dò nhau “Nhớ ăn uống cẩn thận, đi chơi về sớm”, “Đừng…” hay “Nên…”. Trong khi đó, người phương Tây thường chào hỏi bằng những câu rất chung như “chào buổi sáng” “chúc ngủ ngon” và đưa ra lời khuyên trong sự giả định “Nếu là tôi thì tôi sẽ…”, “Tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu…”. Cách chào của người Việt khiến người phương Tây cảm thấy như đang bị xâm phạm đời tư và những lời khuyên có thể được hiểu thành sự ép buộc, tệ hơn có thể mang nghĩa “giáo huấn” hay “lên lớp”.

    Nguyên nhân:

    Người Việt Nam có nếp sống tập thể, gắn bó cộng đồng, vì vậy họ thường thể hiện sự quan tâm đến nhau bằng những câu hỏi hay dặn dò thân mật. Nhiều trường hợp câu hỏi chỉ đơn giản là một lời chào, không cần câu trả lời của đối phương.

    Trái lại, người phương Tây coi trọng chủ nghĩa cá nhân. Vấn đề riêng tư của họ là bất khả xâm phạm. Những câu chào của người Việt chỉ thuần túy xã giao thế nhưng người phương Tây coi đó là những câu hỏi, vì thế họ rất không thoải mái khi phải trả lời.

    Bất đồng ngôn ngữ không lời

    Hệ thống các phương tiện phi ngôn ngữ của người Việt rất phong phú và ý nghĩa của nó thay đổi theo ngữ cảnh người thể hiện. Nhiều người nước ngoài đến

    50

    Việt Nam đã không thể lý giải nổi sự đa nghĩa của hệ thống ngôn ngữ đặc biệt này. Neil Jamieson trong cuốn “Understanding Vietnam” đã kể một câu chuyện như sau: Một nhà quản lý người Mỹ đang quát mắng một lao động Việt Nam vì anh ta đã gây ra một lỗi lầm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Người lao động này im lặng và lắng nghe một cách kiên nhẫn. Khi người quản lý kết thúc, anh ấy đã mỉm cười thật tươi. Hành động này khiến người quản lý hết sức sửng sốt. Ông ta mong đợi một lời thừa nhận lỗi lầm hoặc một sự phản kháng, bào chữa nào đó chứ không phải là sự im lặng tuyệt đối và nụ cười này. Ông không kìm được cơn giận và quay đi với suy nghĩ rằng người lao động kia đang chế giễu ông, coi thường ông [17,90].

    Nguyên nhân:

    • Việt Nam, một nụ cười có thể mang rất nhiều ý nghĩa. Nụ cười thể hiện sự đồng ý, đôi khi thay cho lời chào, câu xin lỗi hay lời cảm ơn, cũng có khi để che đậy sự

    bối rối, mất tự tin và cũng có trường hợp thể hiện sự không đồng tình hoặc nhằm dấu đi sự giận dữ… Trong khi đó, với đa số các nước phương Tây thì nó chỉ là cách thể hiện niềm vui, sự hài lòng, đôi khi là sự giễu cợt. Chính sự khác biệt này đã dẫn đến hiểu lầm trong câu truyện trên. Nụ cười của người lao động là nụ cười che dấu sự bối rối, biết lỗi, và chấp nhận sửa lỗi, hoàn toàn không có ý giễu cợt hay coi thường người quản lý.

    2.2. Rào cản do khác biệt về tƣ duy

    Khác biệt trong cách giải quyết vấn đề: Cách suy nghĩ và hành động của mỗi người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi lối tư duy. Nhiều người nước ngoài cho rằng, cách giải quyết vấn đề của người Việt nhiều khi rất phiến diện, chỉ dựa vào cảm giác hay đánh giá chủ quan cũng có thể đưa ra quyết định, dẫn đến không tránh khỏi sai lầm. Người Việt lại cho rằng cách ứng xử của người phương Tây quá cứng nhắc, nhiều khi không cân nhắc đến hoàn cảnh riêng của các đồng nghiệp Việt Nam.

    Nguyên nhân:

    Nguyên nhân lý giải sự khác biệt trong cách suy nghĩ, hành động này chính là lối tư duy. Tư duy phương Tây là lối tư duy logic, các đánh giá đều dựa trên số liệu

    51

    khách quan hoặc những nghiên cứu khoa học thực tiễn, ít khi cân nhắc đến tình cảm cá nhân.

    Ngược lại, tư duy truyền thống Việt Nam lại coi trọng tình cảm. Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động kinh doanh, chữ “tình” bao giờ cũng được đặt lên trên hết. Nếu như ở phương Tây, “tình” phải phục tùng “lý” hoặc ít nhất cũng không thể trái ngược với “lý”, thì đối với người Việt, đặc biệt trong mối quan hệ đối tác làm ăn với nhau, “lý” sẽ không đủ tin hay chẳng còn bao nhiêu ý nghĩa nữa nếu tiêu chuẩn “tình” không được đảm bảo.

    Bất đồng do lối tư duy nông nghiệp: Người Việt có tầm nhìn ngắn hạn, đôi khi chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt mà không có những hoạch định lâu dài, thích ổn định và rất e ngại rủi ro. Điều này cũng được phản ánh qua chỉ số về tính cẩn trọng cao trong mô hình nghiên cứu của Hofstede. Đây là một trở ngại đáng kể trong việc lên những kế hoạch hoặc sách lược lâu dài cho một dự án kinh doanh.

    Nguyên nhân:

    Lối tư duy nông nghiệp này bắt nguồn từ truyền thống nông nghiệp từ lâu đời cùng với lối sống định canh định cư của người Việt Nam. Cuộc sống của họ phụ thuộc các mùa vụ, được sắp xếp theo trình tự thời gian. Nếu trời cho “mưa nắng thuận hòa” thì cuộc sống sẽ được no ấm. Chính bởi cuộc sống phụ thuộc vào thời tiết, mùa màng, nên người Việt có tâm lý “được đến đâu hay đến đấy”, ít khi có kế hoạch cho tương lai lâu dài. Lối sống định cư khiến người Việt quen với sự ổn định, rất e ngại thay đổi và sợ rủi ro.

    2.3. Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Khó khăn do thị hiếu thị trương đa dạng: Sự phong phú về thị hiếu tiêu dùng giữa các bộ phận dân cư ở Việt Nam khiến cho các nhà đầu tư phải không ngừng cập nhật thị trường và điều chỉnh các chính sách sản phẩm sao cho phù hợp từng địa phương và từng thời kì để chinh phục thị trường đa dạng và dễ thay đổi về thị hiếu tiêu dùng này.

    52

    Công ty nghiên cứu thị trường Neilsen Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu sự khác biệt vùng miền của người tiêu dùng miền Bắc (tiêu điểm là Hà Nội) và người tiêu dùng miền Nam (tiêu điểm là Tp Hồ Chí Minh). Kết quả được đưa ra trong cuộc hội thảo diễn ra ngày 19-06-2009 tại Thành phố Hồ Chí Minh với sự có mặt của gần 350 đại diện các doanh nghiệp đã cho thấy rằng, văn hóa khác nhau cùng với một số yếu tố riêng về lịch sử và kinh tế đã gây ra sự khác biệt trong thái độ đối với thương hiệu, thói quen, phong cách và sự tự tin trong tiêu dùng của người dân ở hai miền, từ đó quyết định hành vi tiêu dùng của họ [23].

    Nghiên cứu của Nielsen thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 2009 ở hai thành phố lớn nhất Việt Nam đã chỉ ra đặc tính chi phối thị hiếu tiêu dùng chủ yếu ở hai miền đó là Tính cá nhân – cái Tôi và Tính tập thể – chúng ta. Thiên hướng „Tôi” chiếm đa số ở Tp Hồ Chí Minh, thể hiện ở việc quyết định tiêu dùng dựa trên nhu cầu và mong muốn của bản thân và ít bị tác động bởi ý kiến của người khác, không chạy theo số đông. Ngược lại, xu hướng “chúng ta” lại chiếm đa số ở Hà Nội. Người tiêu dùng ở thị trường này thường lắng nghe ý kiến của bạn bè và những người xung quanh, định kiến xã hội cũng chi phối họ trong việc đưa ra quyết định tiêu dùng. Tuy vậy, họ lại là đối tượng khá phức tạp, vừa muốn gây sự chú ý và nổi bật giữa đám đông, vừa không muốn phá vỡ những quy tắc chuẩn mực xã hội. Một nét khác biệt đáng kể nữa là quan điểm đối với nguồn chi tiêu của người dân hai miền. Người tiêu dùng Tp Hồ Chí Minh có thể tiêu nhiều hơn những gì họ kiếm được, và để đắp bù cho khoản vượt trội này, họ sẵn sàng vay mượn từ ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Họ là những người sống cho hiện tại và ít lo cho tương lai. Trong khi đó, 57% người Hà Nội cho biết họ sẽ không đi vay ở tổ chức tài chính nào cho mục đích chi tiêu của mình, đa số họ coi việc vay mượn tiền hay bị phụ thuộc tài chính là một sự “mất mặt”. Tuy nhiên, một điều gần như là trái ngược với tư tưởng tiết kiệm này là sở thích sắm hàng hiệu, hàng cao cấp chủ yếu là các mặt hàng như điện thoại di động hay mỹ phẩm. Phần đông người Hà Nội cho rằng những sản phẩm này sẽ có tính bền cao hơn chứ không chỉ để khẳng định đẳng cấp của người dùng. Điểm này lại khác với xu hướng “tiêu dùng nhanh” của người dân Tp Hồ Chí Minh, họ sẽ mua cái họ thấy cần lúc đó và dù họ vẫn thích hàng cao cấp

    53

    nhưng đến 48% cho rằng những thứ đó chỉ dành cho người thích khoe khoang và gây sự chú ý. Với họ, việc mua những thứ cần mới là điều quan trọng.

    Nguyên nhân:

    Với điều kiện kinh tế nghèo nàn trước đây, người dân Việt Nam rất đề cao lối sống tiết kiệm và tư tưởng “ăn chắc, mặc bền”, dẫn đến yêu cầu về mẫu mã hàng hóa đơn giản, chi tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu lớn nhất là ăn, tiếp đến mới là mặc và ở, việc đi lại và các nhu cầu khác hầu như không được chú ý tới. Thị trường Việt Nam thời gian này không phải là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Nhưng trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, điều kiện vật chất được cải thiện khiến cho nhu cầu cũng như thị hiếu tiêu dùng của người dân thay đổi đáng kể. Thêm vào đó là sự tiếp xúc ngày càng rộng rãi với xã hội bên ngoài đã hình thành những nét mới trong phong cách cũng như sở thích tiêu dùng của người dân.

    Người Việt lại có tâm lý cộng đồng, đa phần quyết định của họ bị chi phối bởi ý kiến của người xung quanh. Trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa hai thành phố lớn lại có nhiều điểm khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, địa lý…từ đó quy định những nét đặc trưng về con người mỗi địa phương.

    2.4. Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Bất đồng về phong cách kinh doanh: Một trong những nét đặc trưng về văn hóa kinh doanh Việt Nam là sự coi trọng các mối quan hệ, đặc điểm này khá tương đồng với các nước Châu Á khác nhưng lại là một bất đồng đối với các nước phương Tây. Một cuộc điều tra về văn hóa doanh nghiệp Việt Nam do Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Ánh tiến hành trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ mã số B99-21 đã đưa ra số liệu thống kê như sau: có đến 53% doanh nghiệp chọn cách làm quen đối tác qua sự giới thiệu của bên thứ ba, 51,22% qua phòng Thương mại, sau đó là các hình thức khác như qua Hội chợ triển lãm, quảng cáo, thương vụ, internet. Nhưng thứ tự này ngược lại ở Mỹ, hình thức qua phòng Thương mại chiếm 76,19% còn qua người thứ ba chỉ chiếm 57,14% [1,122].

    Nguyên nhân:

    54

    Người Việt có lối sống cộng đồng, rất coi trọng mối quan hệ. Tâm lý này đã ảnh hưởng sâu sắc đến cách cư xử hàng ngày cũng như trong công việc của người Việt Nam. Nếu không có được sự tin tưởng lẫn nhau thì họ khó đi đến việc hợp tác làm ăn. Vì vậy,sự giới thiệu của một bên thứ ba nào đó sẽ giúp họ loại bỏ những lo ngại về đối tác.

    Rào cản văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công: Nhà đầu tư nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm thủ tục, xin giấy phép cho dự án do hệ thống thủ tục giấy tờ rườm rà, phức tạp, thêm vào đó là thái độ thiếu hợp tác của nhân viên.

    Báo Đại Đoàn kết số ra ngày 25-12-2009 đã trích lời ông Ichikawa Kazuya, Giám đốc công ty Chubu-Rika bức xúc: “Việc khai thuế hải quan mất nhiều thời gian, nhanh nhất là 2 ngày, nếu có sự cố gì thì hàng hóa của chúng tôi phải chôn chân hơn 1 tuần. So với chính sách thủ tục hải quan của Singapore thì Việt Nam cần phải đơn giản hóa thủ tục rất nhiều, vì Singapore làm thủ tục hải quan chỉ mất 10 phút”. Chỉ đơn cử là việc xin giấy phép, mỗi lĩnh vực có quy định những loại giấy phép riêng, có lĩnh vực phải xin 4 – 5 giấy phép khác nhau từ các cơ quan khác nhau, nhà đầu tư phải mất rất nhiều thời gian chờ đợi. Nhiều dự án kinh doanh bị hủy bỏ vì vướng mắc trong khâu thủ tục này.

    Nguyên nhân:

    Có thể nói rằng, hệ thống thủ tục hành chính của Việt Nam còn quá rườm rà so với các nước trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung, nhiều địa phương tự đặt ra những loại giấy phép không thực sự cần thiết khiến cho quy trình hành chính trở nên phức tạp hơn.

    Bên cạnh đó, chất lượng nhân sự khu vực hành chính còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra thủ tục, cấp phép cũng chưa được quan tâm nhiều. Vì vậy, khâu xử lý còn chậm.

    Khác biệt về văn hóa đàm phán: Nhiều đối tác phương Tây cho rằng, trong đàm phán, người Việt Nam hay rườm rà, vòng vo, khó hiểu, ít đi thẳng vào vấn đề, chậm đưa ra quyết định và thường che dấu cảm xúc. Người Việt Nam thì nhận xét, các đối tác phương Tây đôi khi thiếu tế nhị, luôn muốn đi thẳng vào vấn đề và thường tỏ ra thiếu kiên nhẫn.

    55

    Người Việt Nam rất cẩn trọng khi nói “có” hoặc “không”. Một số người nước ngoài có kinh nghiệm tiếp xúc với người Việt đã nhận định rằng: khi người Việt nói “vâng” thì chỉ nên hiểu là “vâng, tôi đang nghe”, đừng nhầm tưởng đó là sự đồng ý. Và họ hiếm khi nói “không” mà thay vào đó là các câu kiểu như “vấn đề này khá phức tạp” hay “việc này hơi khó”, “chúng tôi sẽ cân nhắc vấn đề này”. Một điểm khác biệt nữa là người Âu – Mỹ thường không ngại bộc lộ cảm xúc ra bên ngoài trong khi người Việt có xu hướng kiềm chế cảm xúc, che dấu sự bối rối hay không hài lòng của mình bằng các cử chỉ im lặng hay cười. Một thương nhân Việt Nam có kinh nghiệm lâu năm trong đàm phán thương mại quốc tế đã đưa ra những đặc điểm khác biệt cơ bản trong đàm phán giữa người Việt Nam và người phương Tây như sau [17,118]:

    Người Việt Nam Người phương Tây
       
    Chú trọng mối quan hệ Chú trọng các quy tắc, điều luật
    Hợp đồng có thể thay đổi Hợp đồng có tính luật pháp bắt buộc
    Tin tưởng vào đối tác và mong đợi vào Tin tưởng vào hợp đồng hoặc lời nói
    sự thay đổi thỏa thuận khi cần của đối phương
    Có nhiều quan điểm trên một vấn đề Chỉ có một sự thật duy nhất
    Quyết định mang tính tập thể Quyết định mang tính cá nhân
    Đưa ra quyết định được đưa ra bởi tổ Quyết định được đưa ra ngay lập tức
    chức hay một người khác  
    Thành tích là của tập thể Thành tích là của cá nhân
    Các cá nhân không thể hiện suy nghĩ Các cá nhân bày tỏ suy nghĩ và cảm
    hay cảm xúc của mình xúc bằng ngôn ngữ lời hoặc không lời
    Chỉ thể hiện sự căng thẳng qua thái độ Dễ dàng tỏ ra căng thẳng
    một cách vô tình Những cuộc thảo luận sôi nổi hoặc
    Cảm xúc được kiềm chế nóng nảy là bình thường
    Xã hội ngữ cảnh cao Xã hội ngữ cảnh thấp
    Tính cẩn trọng cao Tính cẩn trọng thấp
    Hệ thống pháp luật thiếu ổn định, không Hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng
    rõ ràng  
       

    56

    Nguyên nhân:

    Người Việt coi trọng mối quan hệ, họ sẽ chỉ đi đến thỏa thuận khi có niềm tin vào đối tác. Trong khi đó đối tác phương Tây coi hiệu quả công việc mới là điều quan trọng. Tình cảm riêng tư không có chỗ trong công việc.

    Một lý do nữa đó là sự ưa chuộng hòa khí trong lối sống của người Việt. Họ luôn tránh nói những từ mang nghĩa phủ định hay từ chối thẳng thừng vì sợ làm đối phương mất mặt, cuộc tiếp xúc có thể trở nên căng thẳng. Do vậy, họ lựa chọn lối nói vòng vo và biểu hiện nhiều qua ngôn ngữ không lời. Trái lại, người phương Tây tư duy thẳng, nghĩ sao nói vậy, ít che đậy cảm xúc. Nhiều khi họ ít quan tâm đến thái độ người đối diện và gặp khó khăn trong việc tìm hiểu ý nghĩa ngôn ngữ không lời đó.

    Đặc điểm về cách quản lý của người Việt cũng có nhiều khác biệt. Đại diện được cử đi đàm phán bên phía Việt Nam thường không nắm toàn quyền quyết định, vì thế, họ phải thông báo cho người quản lý để xin ý kiến cuối cùng. Ngược lại, phía đối tác nước ngoài một khi đã cử đại diện đàm phán thì họ cũng giao cho người đó toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan.

    Bất đồng trong quan niệm về giờ giấc: Người Việt Nam thường đến chậm trong các cuộc hẹn, giờ làm, và cả trong việc giao hàng. Trong khi đó, người nước ngoài thường đến đúng giờ.

    Nguyên nhân:

    Đầu tiên là do cách tư duy khác nhau: Người Việt coi giờ hẹn là giờ xuất phát còn người nước ngoài coi giờ hẹn là giờ đến nơi.

    Bên cạnh sự khác nhau về tư duy, tác phong làm việc của có nhiều điểm khác biệt: Người Việt có tác phong nông nghiệp còn người nước ngoài có tác phong công nghiệp.

    2.5. Rào cản do khác biệt về văn hóa ngƣời lao động

    57

    Khó khăn do trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn của người lao động Việt Nam hiện nay còn thấp so với các nước trong khu vực, khả năng sáng tạo và độc lập trong công việc cũng có nhiều hạn chế. Đặc biệt, các kỹ năng mềm như thuyết trình, làm việc nhóm của người lao động Việt Nam rất kém. Nhiều ý kiến cho rằng, người Việt làm việc một mình thì hiệu quả, hai người thì bắt đầu kém hiệu quả và ba người thì hỏng việc. Trong khi đó, nhiều công việc hiện nay yêu cầu sự hợp tác rất cao. Các cá nhân hoạt động riêng rẽ tốt nhưng hợp tác kém hiệu quả thì rất khó để hoàn thành tốt công việc.

    Nguyên nhân:

    Chương trình giáo dục Việt Nam hiện nay chưa thực sự chú trọng phát triển kỹ năng nghiệp vụ cho học viên. Số lượng các trường đại học được trang bị tốt về điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác giảng dạy còn rất ít ỏi.

    Thêm vào đó, mức sống của người dân trên cả nước đã được cải thiện nhưng chưa thật đồng đều. Một bộ phận lớn người dân còn nghèo, đã hạn chế cơ hội được học tập tốt của thế hệ trẻ trong những gia đình đó.

    Thái độ làm việc chưa đúng đắn: Tâm lý “nhảy việc” phổ biến trong lao động trẻ hiện nay đang là một thách thức đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài. Kết quả khảo sát của Báo Người Lao động triển khai từ tháng 4 năm 2008 với sự tham gia của 655 người đang đi tìm việc, trong đó có 445 ứng viên đã từng đi làm cho thấy, 35 % trong 445 ứng viên nghỉ việc chuyển đổi nơi làm chỉ sau dưới một năm, 39% nghỉ việc sau từ một đến hai năm và 26% sau ba năm.

    Nguyên nhân:

    Do môi trường làm việc của doanh nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu người lao động (lương, thưởng, các chế độ phúc lợi xã hội) khiến cho họ có xu hướng đi tìm một việc làm mới sau một thời gian ngắn.

    Hơn nữa, khá nhiều người lao động trẻ hiện nay chưa có định hướng nghề nghiệp đúng đắn ngay từ đầu, chưa tìm thấy điểm mạnh của mình để phát huy, họ

    58

    muốn đi làm nhanh chóng để có thu nhập nên nhiều khi lựa chọn công việc không phù hợp.

    Một nguyên nhân sâu xa nữa là vấn đề nhận thức của người lao động. Họ vẫn chưa nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với công việc cũng như cộng đồng mà họ đang gắn bó. Tâm lý sẵn sàng đổi việc vì thế cũng rất phổ biến.

    Tình cảm chi phối công việc: Người lao động Việt Nam nhiều khi vì tình cảm mà họ che dấu sai phạm của nhau,“chín bỏ làm mười” và rất ít người có ý thức phê bình và tự phê bình. Ngay cả khi người quản lý khuyến khích phát biểu ý kiến thì cũng phần đông họ vẫn dấu những khúc mắc hay không đồng tình trong lòng, vì lo sợ sẽ ảnh hưởng đến tình cảm nội bộ cũng như quyền lợi riêng tư. Vẫn còn nhiều trường hợp phân chia, phe cánh trong nội bộ nhân viên khiến cho sự phối hợp công việc gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn bị trì trệ.

    Nguyên nhân:

    Lối sống quá coi trọng tình cảm khiến cho họ e ngại nói ra những khiếm khuyết của đồng nghiệp. Và lòng tự trọng cao cũng hạn chế sự tự phê của mỗi người. Điều này giải thích vì sao người Việt ít hỏi, ngay cả khi không hiểu hoặc mơ hồ về một vấn đề nào đó.

    Phong cách làm việc chưa chuyên nghiệp cũng là một yếu tố chi phối hiệu quả công việc của lao động Việt Nam.

    IV. Một số trƣờng hợp khó khăn và thất bại của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam do rào cản văn hóa gây ra

    1. Bất đồng ngôn ngữ giữa quản lý ngƣời Hàn Quốc và công nhân Việt Nam

    Như đã phân tích ở trên, bất đồng ngôn ngữ là một rào cản lớn trong quá trình giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau. Người ta có thể khắc phục rào cản này bằng việc học ngoại ngữ hoặc sử dụng người phiên dịch. Ở các nhà máy xí nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, trình độ ngoại ngữ của công nhân còn rất hạn chế, các đốc công hay quản lý dây chuyền là người nước ngoài hầu như không thạo tiếng Việt và người phiên dịch thì lại không túc trực ở đó. Vì vậy, khi có vấn đề nảy sinh

    59

    giữa quản lý và công nhân thì rất khó để hai bên có thể trao đổi, bày tỏ ý kiến với nhau, dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc.

    Về vấn đề này, người viết đưa ra một sự việc có thật diễn ra ở nhà máy sửa chữa tàu biển Hyundai Vinashin (Khánh Hòa). Ông Choi Gyu Ha, người Hàn Quốc, giữ chức Phó phòng Tổng vụ, đã quyết định sa thải 2 công nhân vì lý do thiếu nghiêm túc trong quá trình làm việc. Thực tế sự việc này diễn ra như sau. Trong quá trình làm việc, nhận thấy máy bị hỏng, 4 công nhân phải ngưng làm và chờ sửa chữa. Trong thời gian này, họ đã trao đổi qua lại và cười với nhau. Người quản lý Hàn Quốc coi đó là hành động không nghiêm chỉnh trong giờ làm việc, kết hợp với việc 2 công nhân trong số đó đã từng bị khiển trách năm trước vì ngủ trưa dậy muộn

    • phút (dù sau đó họ đã rút kinh nghiệm và phấn đấu được loại A về kỉ luật làm việc) và đi đến quyết định sa thải 2 người này. Xét trong nền văn hóa Việt Nam thì việc nói, cười trong trường hợp này là hoàn toàn bình thường thế nhưng sẽ bị coi là không nghiêm túc đối với một nền văn hóa khá nghiêm khắc trong công việc như

    Hàn Quốc. Thêm vào đó, hai bên lại không hiểu tiếng nói nhau nên lại càng khoét sâu hơn sự bất đồng. Người công nhân không thể giải thích cho quản lý Hàn Quốc hiểu sự tình và người quản lý cũng không thể thông cảm được khi họ đứng trên quan điểm văn hóa nước họ. Quyết định này của người quản lý đã dẫn đến sự khiếu nại của công nhân.

    Từ ví dụ này có thể thấy, nguyên nhân dẫn đến xung đột văn hóa có thể rất nhỏ nhưng hậu quả thì nhiều khi không thể lường được. Nếu người quản lý Hàn Quốc hiểu được văn hóa giao tiếp đơn giản này của người Việt thì ông sẽ không đưa ra hình thức phạt nặng như thế. Ngược lại, nếu người công nhân Việt Nam có chút hiểu biết về văn hóa làm việc cũng như ngôn ngữcủa người Hàn Quốc thì nhiều khả năng họ có thể giải thích cho người quản lý hiểu vấn đề và tránh được sự hiểu nhầm không đáng có này.

    2. Thất bại của sản phẩm dầu gội Feather thuộc Tập đoàn Kao

    Như một quy luật từ xưa đến nay, khi một sản phẩm mới ra mắt thị trường muốn chiếm được sự hưởng ứng của khách hàng thì phải có được những đặc tính

    60

    phù hợp với tâm lý thị trường đó. Đó có thể là thói quen tiêu dùng, thị hiếu tiêu dùng cũng như nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Thế giới đã ghi nhận không ít thất bại của nhà đầu tư do không nghiên cứu kĩ thị trường trước khi tung ra sản phẩm. Dầu gội Feather của tập đoàn Kao là một ví dụ.

    Nói đến tập đoàn Kao là nói đến một tập đoàn hóa mỹ phẩm Nhật Bản có danh tiếng ở Châu Á, bao phủ đến cả các nước Châu Âu và Bắc Mỹ. Năm 2007, doanh thu của Kao trên toàn cầu lên đến 1,3 tỷ Yên cho dù phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của không ít hãng mỹ phẩm lớn khác trên thế giới như P&G và Unilever. Sản phẩm của Kao ở Việt Nam gắn liền với những nhãn hiệu nổi tiếng như mỹ phẩm Biore, Laurier… nhưng thành công đã không mỉm cười với dầu gội Feather. Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của sản phẩm này ở Việt Nam, trong đó, việc không am hiểu thị trường đóng vai trò chủ yếu nhất. Điều này lý giải tại sao sản phẩm vẫn dành được thành công ở những thị trường khác.

    Năm 2004, nhãn hiệu dầu gội Feather được tung vào thị trường Việt Nam, với niềm tin gần như tuyệt đối của ban quản trị Tập đoàn về sự thành công của nó. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng sản phẩm đã không đánh trúng tâm lý người tiêu dùng để khẳng định vị trí của mình trên thị trường Việt Nam so với các dòng sản phẩm cùng loại của những “đại gia” khác như Sunsilk, Pantene hay Clear… Theo ý kiến của các chuyên gia marketing, nếu một thương hiệu muốn xâm nhập vào một thị trường thì phải tạo ra được những lý do thuyết phục người tiêu dùng chấp nhận nó – bao gồm cả lý do cảm tính và lý do lý tính. Nếu cả hai lý do này không cùng mạnh thì một trong hai phải đủ sức vượt lên nhằm thu hút sự chú ý và quan tâm của khách hàng. Feather đã không đáp ứng được cả hai lý do này. Feather được định vị là dầu gội chức năng với công dụng giúp tóc bóng mượt, trong khi đó trên thị trường đã có quá nhiều loại dầu gội cùng được định vị như thế. Vì vậy ấn tượng cảm tính mà sản phẩm mang lại hoàn toàn không có gì đặc biệt. Trong khi đó, đã có rất nhiều nhãn hiệu mang dấu ấn đậm nét trong lòng người tiêu dùng như Enchanteur được nhắc đến với mùi hương quyến rũ, Dove giúp dưỡng ẩm cho tóc hư tổn hay Sunsilk đặc tính trị gàu… Vậy lý do lý tính mà Feather mang lại có đủ

    61

    sức cứu vãn hình ảnh của nó ? Thông điệp mà Feather gửi đến khách hàng là: Nguyên liệu được chiết xuất từ nha đam và hoa đậu biếc. Có thể nói rằng với người tiêu dùng Việt Nam, khái niệm về hoa đậu biếc là hoàn toàn rất lạ lẫm, không mấy ai biết về loài cây này, còn Nha đam giúp tóc bóng mượt và khỏe cũng không đáng tin cậy. Từ xa xưa, người Việt đã biết về một loại cây có chức năng làm tóc khỏe và mượt đó là bồ kết. Đối thủ cạnh tranh của Feather là Sunsilk đã sử dụng hình ảnh loại cây này và hoàn toàn chiếm được sự tin tưởng của khách hàng. Còn Pantene thì đánh vào tâm lý dễ bị ảnh hưởng bởi ý kiến những người xung quanh của người Việt nên đã trưng ra bằng chứng có bao nhiêu người phụ nữ tin dùng sản phẩm của họ. Đây thực sự là những chiêu thức có tác dụng đối với tâm lý thị trường Việt Nam. Tuy vậy, vẫn chưa phải là hết phương cách để lấy lại sự quan tâm của người tiêu dùng đối với Feather. Ông Nguyễn Nam Trung – Chủ tịch công ty Stormeye nhận định rằng: “Khi lý do cảm tính và lý tính không đủ mạnh so với đối thủ, điều cuối cùng thương hiệu có thể cạnh tranh chính là giá”. Vậy nhưng đáng tiếc là Feather đã không chú ý đến phương cách này. Sản phẩm được định giá ngang ngửa so với hai thương hiệu Sunsilk và Pantene đã được thị trường chấp nhận trước đó, điều này không những khiến khách hàng khó lựa chọn và có xu hướng chọn sản phẩm quen thuộc do đặc điểm Tính cẩn trọng cao, mà còn bỏ qua tâm lý “tiền nào của nấy” của đại đa số người tiêu dùng Việt Nam.

    Ví dụ trên đã cho thấy, khi nhà đầu tư không có những hiểu biết nhất định về thị trường hướng đến thì những khác biệt về thị hiếu tiêu dùng hay tập quán, thói quen của thị trường đó sẽ trở thành rào cản đối với nhà đầu tư. Họ sẽ gặp khó khăn và thậm chí là thất bại trong chiến lược mở rộng kinh doanh của mình.

    3. Khó khăn do bất đồng văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công

    Một rào cản đáng kể trong văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công của Việt Nam đó là sự rườm rà, chậm trễ, cứng nhắc về thủ tục và thái độ chưa đúng mực của nhân viên. Những câu chuyện liên quan đến vấn đề này có vô vàn, người viết xin đưa ra một số trường hợp gần đây nhất để phần nào hình dung được một trong những khó khăn lớn mà các nhà đầu tư vào Việt Nam đang gặp phải.

    62

    Đó là câu chuyện về công ty may mặc Two J Vina (Hàn Quốc), trụ sở tại Đồng Nai, được đăng trên báo TuoitreOnline số ra ngày 26-3-2009. Trong một cuộc gặp mặt giữa lãnh đạo Tỉnh Đồng Nai với cộng đồng doanh nghiệp diễn ra vào giữa tháng 3 năm 2009, phó Chủ tịch công ty là ông Dean Park đã phát biểu như kêu cứu rằng: “Xin cấp giấy phép kịp thời để chúng tôi không sa thải thêm công nhân”. Theo chia sẻ của ông Dean Park, công ty được cấp giấy phép thành lập năm 2006 tại xã Suối Tre, Long Khánh, Đồng Nai, chuyên may túi xách, balô để xuất khẩu. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu những năm gần đây đã đặt công ty trước muôn vàn thách thức, có nguy cơ phải thu hẹp sản xuất và sa thải hàng trăm nhân công. Nhà máy có sức chứa trên 600 công nhân của công ty giờ trở nên trống vắng, hai dây chuyền may không có bóng một công nhân nào. Nhưng thật may mắn là công ty đã tìm được đối tác nhập khẩu mới ở Nhật Bản, đặt mua các loại mũ nón. Tuy nhiên, theo giấy phép cũ thì Two J Vina không có chức năng làm mũ nón xuất khẩu nên tháng 9-2008, công ty đã làm đơn xin tăng vốn đầu tư mở rộng thêm chức năng này với hy vọng sẽ cải thiện đáng kể tình hình khó khăn của công ty. Nhưng thật trớ trêu, Sở KH-ĐT Đồng Nai đã không chấp nhận đơn và đề nghị chờ hướng dẫn của Bộ KH-ĐT. Cho đến tận tháng 3 năm 2009, công ty vẫn không nhận được thông tin nào từ Sở, ông Dean Park không khỏi lo âu “Do thị trường túi xách suy giảm, hàng hóa không bán được, chúng tôi đã dự định sa thải công nhân nhưng nhờ hợp đồng mới, hơn 100 công nhân sẽ được chuyển sang dây chuyền sản xuất mũ nón nên chúng tôi phải nấn ná duy trì. Tuy nhiên, đợi giấy phép lâu quá đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của công ty, chưa kể phía đối tác dọa bỏ hợp đồng”.

    Trao đổi với phóng viên báo Tuổi trẻ ngày 24-3 [24], bà Bồ Ngọc Thu – Giám đốc Sở KH-ĐT xác nhận lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã đồng ý chủ trương cho Two J Vina được bổ sung chức năng may mũ nón xuất khẩu: “Tỉnh vừa ký quyết định và công văn đang trên đường gửi tới doanh nghiệp” nhưng đại diện Công ty cho biết vẫn chưa nhận được quyết định bổ sung giấy phép. Bà Ngọc Thu không cho rằng Sở KH-ĐT Đồng Nai làm khó doanh nghiệp và giải thích: “Theo nghị định

    • năm 2006, tất cả những nhà đầu tư được cấp giấy phép theo Luật đầu tư nước ngoài cũ đều phải đăng ký lại hoạt động. Nếu không đăng ký lại sẽ không được bổ

    63

    sung chức năng mới. Two J Vina đã không đăng ký lại trước cuối tháng 6-2008 – thời điểm hết hạn đăng ký – nên việc xin bổ sung chức năng luật không cho phép”. Bà Thu còn cho rằng, việc Tỉnh giải quyết cho Two J Vina được bổ sung chức năng là cách làm linh động để giúp doanh nghiệp, giúp người lao động trong lúc khó khăn chung. Tuy nhiên, trường hợp công ty Two J Vina không phải là duy nhất, trên thực tế nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương đều từng vướng quy định này, một số nhà đầu tư đã mất cơ hội kinh doanh vì thời hạn đăng ký lại để mở rộng chức năng đã hết. Rõ ràng quy định này là quá cứng nhắc, bởi vì không phải doanh nghiệp nào cũng có thể lường trước được sự thay đổi tình hình kinh doanh trong khoảng thời hạn đăng ký để kịp thời đăng ký. Ông Dean Park chia sẻ rằng, doanh nghiệp đã mải lo chuyện làm ăn nên không để ý đến thời điểm hết hạn. Mặt khác, thời điểm đó doanh nghiệp không có nhu cầu mở rộng thêm chức năng vì hoạt động xuất khẩu rất tốt. Đến 50% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn không đăng kí lại, và tính riêng Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp trên tổng hơn 6000 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cấp phép thành lập trước năm 2007 tiến hành đăng ký lại (Thống kê của Cục đầu Tư nước ngoài Thành phố năm 2008). Ông Phạm Mạnh Dũng, vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ KH-ĐT đã thừa nhận sự bất cập này và cho biết “Chúng tôi đã kiến nghị Chính phủ trình Quốc hội xem xét sửa đổi cho phù hợp với thực tế, tức là bỏ quy định này không áp dụng nữa”. Nhưng thực sự từ đây cho đến lúc có quyết định, không biết còn bao nhiêu doanh nghiệp phải bỏ lỡ cơ hội đầu tư và đứng trước bờ vực phá sản vì điều kiện kinh tế khó khăn này.

    Cũng trong cuộc gặp gỡ cùng ngày giữa gần 100 doanh nghiệp trên địa bàn Cần Thơ, bà Nguyễn Mỹ Thuận – tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Cần Thơ phản ánh về thái độ làm việc của nhân viên Nhà nước với nhiều bức xúc như sau. Hiện hầu hết các sở ngành ở Thành phố Cần Thơ đều có những website trên cổng thông tin điện tử Thành phố để hướng dẫn các thủ tục cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp khi làm đúng theo hướng dẫn thủ tục trên website nhưng khi nộp lên các sở thì các nhân viên thừa hành lại từ chối vì cho rằng doanh nghiệp

    64

    chưa thực hiện đủ bộ hồ sơ và chứng từ. Đến khi doanh nghiệp trưng ra các nội dung phổ biến có trên website và phản hồi lại thì họ lại nói là do website chưa được cập nhật. “Hệ quả của vấn đề trên làm cho doanh nghiệp tốn rất nhiều thời gian, chi phí và làm giảm sự hài lòng về cách đối xử của nhân viên nhà nước”. Đóng góp thêm vào vấn đề này là rất nhiều kiến nghị của các kiều bào Việt Nam ở nước ngoài

    • Rất nhiều người muốn về quê hương đầu tư nhưng gặp nhiều khó khăn, nhất là công tác tìm hiểu về những thủ tục, chính sách, đến công sở hỏi thì không được hướng dẫn tận tình “Thay vì các viên chức hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp thì ngược lại, họ lại làm cho doanh nghiệp mất nhiều thời gian, công sức hơn” – ý kiến của ông Nguyễn Đức Ấn, Giám đốc công ty Kim cương Kita tại Tp Hồ Chí Minh. Còn theo ông Hiroshi Hồ, ở nước ngoài, cơ quan hành chính là nơi cung cấp dịch vụ, chứ không phải là nơi để xin – cho. Tuy nhiên, tại Việt Nam nhiều công chức cho mình là “bề trên” và có quyền “ban phát” cho những người đến liên hệ. Họ làm rất mệnh lệnh, hành chính. Chính sách của Chính phủ thì rất tốt nhưng một số người thực hiện lại lệch lạc.

    Có thể thấy rằng, văn hóa kinh doanh ở bộ phận hành chính công của nước ta thực sự cần phải có những thay đổi. Tình trạng như trên đang diễn ra ngày càng phổ biến và gây nhiều bức xúc cho các doanh nghiệp trong cũng như ngoài nước ở Việt Nam. Thủ tục rườm rà, thái độ nhân viên thiếu hợp tác đã làm trì hoãn biết bao dự án đầu tư, không những tiêu tốn thời gian, tiền của, công sức của nhà đầu tư mà còn hạn chế cơ hội tiếp nhận dự án đầu tư của đất nước.

    V. Đánh giá về những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Qua quá trình phân tích những ảnh hưởng cũng như nguyên nhân của các rào cản văn hóa Việt Nam đối với công tác quản lý và hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài, người viết xin đưa ra một số ý kiến đánh giá như sau:

    Có thể nói rằng, ngôn ngữ chính là phương tiện, là chiếc cầu nối để rút ngắn khoảng cách giữa các nền văn hóa khác nhau. Bằng ngôn ngữ, con người tiến hành trao đổi thông tin, truyền đạt những ý tưởng hay tình cảm của mình, từ đó mối quan

    65

    hệ giữa người với người trở nên gần gũi hơn. Trong môi trường kinh doanh quốc tế, sự am hiểu ngôn ngữ địa phương sẽ là chất dầu bôi trơn những mắt xích của quá trình kinh doanh, khiến cho hoạt động kinh doanh trở nên thuận lợi, từ khâu quản lý đến khâu tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Nhận thức được vai trò quan trọng của ngôn ngữ, người viết cho rằng, bất đồng ngôn ngữ là rào cản lớn nhất trong các rào cản về văn hóa, cản trở sự thâm nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài. Khi không có những hiểu biết về ngôn ngữ địa phương, các nhà đầu tư sẽ gặp một trở ngại đáng trong việc tìm hiểu đặc điểm thị trường. Hiếm có một tài nào về văn hóa địa phương toàn diện hơn tài liệu viết nên từ những con người thật, những câu chuyện thật được thu thập và lưu giữ bằng chính ngôn ngữ của địa phương đó. Nhà đầu tư hiểu được ngôn ngữ của thị trường mình hướng đến nghĩa là đã bước được một bước đến thành công.

    Ngôn ngữ là một yếu tố rất phức tạp nên những rào cản của nó đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng vô cùng phong phú. Trong giới hạn của khóa luận này, người viết chỉ đưa ra một số rào cản tiêu biểu thuộc rào cản ngôn ngữ, có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý cũng như hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trong xu thế phát triển hiện nay, những rào cản về ngôn ngữ đang có xu hướng giảm dần thông qua việc toàn cầu hóa một số ngôn ngữ như tiếng Anh. Với chiếc cầu nối ngôn ngữ này, những người đến từ các nền văn hóa khác nhau sẽ có cơ hội hiểu biết nhau hơn, từ đó, việc tìm hiểu ngôn ngữ bản địa cũng dễ dàng hơn. Các nhà đầu tư nước ngoài cần trau dồi vốn ngoại ngữ của mình để có nhiều cơ hội hơn khi thâm nhập một thị trường mới.

    Nếu như ngôn ngữ là sự biểu hiện bên ngoài của những suy nghĩ, hành động, thì tư duy chính là động cơ bên trong dẫn đến những suy nghĩ, hành động này. Tư duy là yếu tố tương đối tĩnh, khó thay đổi, nên một khi đã có sự khác biệt giữa cách tư duy của các nền văn hóa thì con người chỉ còn cách tìm hiểu và chấp nhận sự khác biệt đó mà thôi. Vì vậy, rào cản do khác biệt tư duy cũng ảnh hưởng khá nhiều đến hoạt động đầu tư quốc tế về phương diện quản lý cũng như kinh doanh.

    66

    Môi trường văn hóa kinh doanh là nơi nhà đầu tư có nhiều va chạm văn hóa, ảnh hưởng đến cách quản lý công việc kinh doanh của họ. Làm sao để có cách quản lý phù hợp là băn khoăn lớn của các nhà lãnh đạo trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay. Hiện nay, những bất cập trong khu vực hành chính công đang được Nhà nước phối hợp các ban ngành, đoàn thể, tiến hành rà soát và cắt giảm những thủ tục không cần thiết. Những kế hoạch cắt giảm này đang cho thấy những hiệu quả đáng khích lệ.

    Dù là công việc kinh doanh gì và trong hoàn cảnh nào thì nguồn nhân lực cũng luôn đóng một vai trò quan trọng. Chất lượng nhân lực sẽ quyết định đáng kể sự thành bại của một tổ chức kinh doanh. Do đó, khác biệt về văn hóa người lao động cũng là một thách thức không nhỏ đối với các nhà đầu tư.

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu thị trường sẽ hạn chế khả năng thích nghi của sản phẩm ở thị trường đó. Rào cản này bao gồm toàn bộ những yếu tố thuộc nhu cầu thị trường. Do đó, có một chiến lược sâu sát, kĩ lưỡng từ những nghiên cứu thị trường đáng tin cậy sẽ giúp nhà đầu tư vượt qua cản trở này.

    Tổng hợp những ảnh hưởng của các rào cản đã phân tích, người viết đưa ra bảng tổng kết tác động của các rào cản văn hóa đối với công tác quản lý và hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài như sau:

      Rào cản văn hóa Công tác quản lý Hoạt động kinh doanh
         
             
    Khác   Ngôn ngữ lời nói Phối hợp công việc thiếu Cản trở tìm hiểu thị
    biệt   (từ ngữ,cách nói,lịch ăn ý trường
    ngôn   sự, tình cảm) Hạn chế xây dựng mối Chi phối các chiến lược
    ngữ     quan hệ tốt đẹp với nhau sản phẩm
             
        Ngôn ngữ không lời Cản trở việc xây dựng Ít nhiÒu ¶nh h-ëng ®Õn
        (một cử chỉ có nhiều mối quan hệ tốt đẹp với chiÕn l-îc s¶n phÈm
        ý nghĩa) nhau  
             

    67

    Khác Cách giải quyết vấn Khó khăn để đưa ra cách Quảng cáo sản phẩm
    biệt tư đề (lí tính-cảm tính) quản lý mềm dẻo dựa vào tư duy cảm tính
    duy      
           
      Tư duy nông nghiệp Khó khăn trong việc
        hoạch định chiến lược dài
         
        hạn  
           
    Khác Thị hiếu thị trường Khó khăn trong việc
    biệt thị đa dạng   nắm bắt thị trường
    hiếu tiêu     Chi phí điều chỉnh sản
    dùng     phẩm cao
           
    Khác Bất đồng về phong Khó khăn để quản lý mềm
    biệt văn cách kinh doanh dẻo  
    hóa kinh (mối quan hệ-năng Quản lý nhân lực (tuyển  
    doanh lực) dụng, lương thưởng)  
           
      Rào cản văn hóa Khó khăn trong quá
      khu vực hành chính   trình làm thủ tục, giấy
      công   phép
           
      Khác biệt về văn hóa Hạn chế hiệu quả đảm
      đàm phán (mối quan   phán
      hệ-hiệu quả)    
           
      Bất đồng trong quan Ảnh h-ëng tiÕn tr×nh c«ng C¶n trë c«ng viÖc kinh
      niệm giờ giấc(giờ viÖc chung doanh do giao hµng
      xuất phát-giờ đến   muén
      nơi)    
           
    Khác Khó khăn do trình Khó khăn trong tuyển
    biệt văn độ chuyên môn dụng  
    hóa   Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶  
    người   c«ng viÖc  
           

    68

    lao động Thái độ làm việc Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶
      chưa đúng đắn (tâm c«ng viÖc  
      lý nhảy việc)    
           
      Tình cảm chi phối Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶
      công việc c«ng viÖc (thiÕu ý thøc  
        x©y dùng tËp thÓ, néi bé  
        bÊt hßa)  
           

    69

    CHƢƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RÀO CẢN VĂN HÓA VIỆT NAM

    ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I. Triển vọng đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam trong những năm tới

    1. Đánh giá triển vọng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam năm 2010

    Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn đầu tư nước ngoài nói riêng và sự phát triển kinh tế toàn cầu nói chung. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia quốc tế thì kinh tế Thế giới đang dần hồi phục, kéo theo đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ có chuyển biến tích cực hơn. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cho rằng, đầu tư quốc tế giai đoạn 2009-2011 sẽ được phục hồi với tốc độ chậm vào năm 2010 và sẽ tăng mạnh vào năm 2011. Cụ thể là ở mức 1200 tỷ USD năm 2009 lên 1400 tỷ USD năm 2010 và đạt mức 1800 tỷ USD năm 2011 ( theo “Triển vọng đầu tư toàn cầu 2009-2012” của WIPS). Tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào việc khôi phục sự tín nhiệm và ổn định hệ thống tài chính thông qua các giải pháp ứng phó với cuộc khủng hoảng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Các chuyên gia cũng nhìn nhận 4 nhân tố được xem là nền tảng cho cuộc khôi phục này đó là: Suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ chấm dứt vào năm 2010; Môi trường đầu tư toàn cầu sẽ được cải thiện dần qua các năm, biểu hiện qua sự tăng lên của mức tin tưởng vào đầu tư nước ngoài từ 22% (2009) lên 33% (2010) và 50% (2011); Hoạt động mua bán và sáp nhập sẽ bị hạn chế do giá cổ phiếu giữ ở mức thấp; Xu hướng quốc tế hóa các công ty chỉ diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn trung hạn về các mặt như số lượng sản xuất, số lượng việc làm, đầu tư và bán hàng ra nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia… Các nhân tố này được xem là chất xúc tác cho sự phục hồi hoàn toàn dòng vốn đầu tư nước ngoài vào năm 2011 [27].

    Trong xu hướng đi lên của Thế giới, Việt Nam cũng có những chuyển biến tích cực về môi trường đầu tư 2010, hứa hẹn nhiều bước tiến mới về mọi mặt của nền kinh tế. Một số tổ chức Quốc tế dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010 ở mức khá cao. Dự báo của IMF và ADB lần lượt là 6% và 6,5%. HSBC

    70

    cũng đưa ra dự báo khả quan với mức tăng trưởng 6,8%. Thậm chí, Goldmen Sachs còn cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng đến 8,2% năm 2010. Viện nghiên cứu kinh tế LG (LGERI) Hàn Quốc đã công bố bản báo cáo về triển vọng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam với nhận xét: “Việt Nam chắc chắn là mảnh đất nhiều cơ hội với tài nguyên thiên nhiên giàu có và tiềm năng phát triển lớn”. Những dấu hiệu tốt về kinh tế Việt Nam còn thể hiện khá rõ qua tâm lý người tiêu dùng. Theo khảo sát của Tập đoàn quốc tế MasterCard tiến hành tháng 10-11 năm 2009, trên 24 nền kinh tế toàn cầu (14 nước châu Á-Thái Bình Dương, 6 nước Trung Đông, 4 nước châu Phi) thì chỉ số niềm tin tiêu dùng (ICC) của Việt Nam dẫn đầu trong 24 quốc gia với mức 90%, bằng mức trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế. Cụ thể, ICC ở Hà Nội là 94,6% và Tp Hồ Chí Minh là 85,4%.Những đánh giá đầy lạc quan này đã chứng tỏ hình ảnh Việt Nam đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Khủng hoảng là một thách thức nhưng cũng là cơ hội cho Việt Nam tiến lên gặt hái những thành công.

    Các chuyên gia kinh tế Việt Nam cũng có những nhìn nhận tốt về môi trường đầu tư Việt Nam thời gian sau khủng hoảng và dự báo phát triển những năm tới. Họ tin tưởng rằng, với những kinh nghiệm giải quyết hậu quả hai cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trong vòng hơn 10 năm trở lại đây, đất nước đang kỳ vọng vào sự điều hành của Chính phủ năm 2010 sẽ có nhiều bước phát triển đầy khởi sắc. Những dự báo này dựa trên một số cơ sở là: Sự ổn định về chính trị – xã hội và triển vọng kinh tế tăng trưởng 6,5%; Chênh lệch giữa vốn cam kết và vốn thực hiện sẽ được rút ngắn, các nhà đầu tư sẽ đẩy mạnh thực hiện các dự án đã cam kết, đồng thời các doanh nghiệp FDI sẽ mở rộng hoạt động với nhiều dự án mới; Việc thực hiện cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, AFTA và hướng tới cộng đồng ASEAN vào năm 2015 cùng với quan hệ song phương với một số nước đã nâng tầm chiến lược, tạo ra thế và lực mới của đất nước trong khu vực và trên Thế giới [12]. Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có những thuận lợi đang chờ đón Việt Nam mà cũng phải nhìn vào thực tế là quốc gia vẫn còn rất nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết, đòi hỏi sự phối hợp một cách chủ động và hiệu quả giữa các đoàn thể, tổ chức và cả cá nhân doanh nghiệp để không bỏ lỡ thời cơ đang đến này.

    71

    2. Mục tiêu và định hƣớng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài trong thời gian tới

    Căn cứ vào những số liệu về nền kinh tế năm 2008 và 2009 cũng như tình hình trong nước và Thế giới gần đây, Hội nghị ngành diễn ra vào tháng 11 năm 2009 đã đề ra những mục tiêu và định hướng kinh tế nói chung và lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài nói riên vào những năm tới như sau.

    Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài năm 2010:

    Với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, Chính phủ tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5-7% năm 2010, huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 39,6% GDP. Chủ trương đối với khu vực Đầu tư nước ngoài là tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết, có định hướng thu hút vào các vùng một cách hợp lý, vào các lĩnh vực ưu tiên. Dự kiến các chỉ tiêu chủ yếu về Đầu tư nước ngoài như sau:

    Về thu hút vốn đầu tư vào (bao gồm cả tăng vốn mở rộng sản xuất) đạt từ 22-

    • tỷ USD, tăng 10% sơ với thực hiện năm 2009 với trọng tâm là thu hút các dự án sử dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh. Trong đó, vốn đăng ký mới dự kiến khoảng 19 tỷ USD và vốn tăng thêm dự kiến khoảng 3 tỷ USD.

    Về vốn thực hiện năm 2010 dự kiến sẽ tăng hơn năm 2009 do dòng vốn đăng ký của các năm trước đều ở mức cao và trong điều kiện nền kinh tế Thế giới có xu hướng phục hồi. Dự kiến vốn thực hiện sẽ đạt ở mức 10-11 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009, trong đó, vốn của phía nước ngoài dự kiến là 8-9 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009.

    Định hướng thu hút đầu tư nước ngoài trong thời gian tới

    Định hướng ngành:

    Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước đến năm 2010 và định hướng trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành có tác động lớn trên các phương diện như: Thúc đẩy

    72

    chuyển giao công nghệ nhất là công nghệ cao, công nghệ nguồn; gia tăng xuất khẩu, tạo việc lam, phát triển công nghiệp phụ trợ, các dự án sản xuất các sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh, các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng. Cụ thể như sau:

    Ngành công nghiệp-xây dựng: Khuyến khích đầu tư về công nghệ thông tin, điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…Chú trọng công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, hết sức coi trọng thu hút FDI gắn với nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ. Công nghiệp phụ trợ cũng là lĩnh vực cần quan tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước.

    Ngành dịch vụ: Từng bước mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo các cam kết quốc tế, tạo động lực phát triển các ngành kinh tế khác như dịch vụ ngân hàng, tài chính, vận tải, bưu chính-viễn thông, y tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo…

    Ngành Nông-lâm-ngư nghiệp: Khuyến khích các dự án đầu tư về công nghệ sinh học tạo giống cây trồng, công nghệ chế biến thực phẩm, bảo quản sau thu hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật như các công trình thủy lợi, sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống giao thông nội đồng…

    Định hướng vùng:

    Trong những năm tới, dự báo vốn FDI vẫn sẽ tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi về địa lý tự nhiên, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm. Cần tăng cường đầu tư xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, điện, nước. Tập trung thu hút đầu tư vào các khu kinh tế, khu công nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt, góp phần đẩy nhanh thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

    Định hướng đối tác:

    Chú trọng thu hút FDI từ các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) theo hai hướng: Thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu, tạo điều kiện để một số TNCs xây dựng các Trung tâm nghiên cứu, phát triển, vườn ươm công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực.

    73

    Ba đối tác chính đó là Nhật Bản, Hoa Kỳ, các nước EU. Một số đối tác truyền thống là Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore…

    II.               Giải pháp hạn chế rào cản văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    1. Về phía Nhà nƣớc

    Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn dành một sự quan tâm thích đáng đến văn hóa dân tộc. Việc xây dựng một nền kinh tế tiên tiến, đậm đà bản sắc trở thành mục tiêu lớn mà đất nước theo đuổi bấy lâu. Tuy vậy, trong một nền văn hóa, không chỉ có những điều tốt đẹp có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế mà song song với những điều tốt đẹp ấy là cả những yếu tố tiêu cực, có thể trở thành rào cản đối với sự đi lên của quốc gia. Nhận thức được những yếu tố này và hạn chế nó là một điều không dễ dàng nhưng cũng không phải là không làm được nếu có sự chỉ đạo sáng suốt từ phía Nhà nước và sự đồng lòng của toàn dân. Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô, đưa ra các chiến lược và chính sách phát triển cho cả đất nước theo từng thời kỳ cụ thể. Vì vậy, vai trò của Nhà nước phải được nhắc đến đầu tiên trong việc hạn chế các rào cản văn hóa đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.

    Thứ nhất, chú trọng công tác giới thiệu văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Qua quá trình phân tích một số rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài, người viết nhận thấy rằng, những khó khăn mà nhà đầu tư gặp phải chủ yếu do họ chưa hiểu về Việt Nam, chưa có những kiến thức về văn hóa và con người Việt Nam. Chính vì vậy, điều quan trọng nhất là giới thiệu văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tư, để họ có thể ý thức được sự khác biệt và có cách để hòa hợp sự khác biệt ấy. Công tác giới thiệu này có thể tiến hành bằng cách:

    Xây dựng một số trung tâm trên các vùng miền, địa phương, chuyên nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ với hoạt động kinh doanh quốc tế. Đây sẽ là nơi thu thập, cập nhật và lưu giữ những tài liệu liên quan đến văn hóa, con

    74

    người, pháp luật, các chủ trương chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam được dịch sang nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc… Nhà đầu tư đến đây sẽ có cơ hội được tư vấn và hỗ trợ các thông tin liên quan đến môi trường cũng như cơ hội đầu tư ở Việt Nam. Các trung tâm này có thể tồn tại độc lập hoặc trực thuộc các ban ngành liên quan.

    Khuyến khích ra đời các ấn phẩm giới thiệu về văn hóa Việt Nam trên mọi miền đất nước, được dịch sang các thứ tiếng thông dụng và quảng bá trên các trang website liên quan đến hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư không chỉ tìm hiểu thông tin trên các website này mà còn được đưa ý kiến đóng góp, thắc mắc về những điều chưa hiểu về văn hóa Việt Nam.

    Phối hợp với các địa phương tổ chức những buổi giao lưu, học hỏi giữa các nhà đầu tư và doanh nghiệp trên địa bàn, mở rộng cơ hội để họ tiếp xúc và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhau. Những thông tin chi tiết về các cuôc giao lưu này sẽ được quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Thứ hai, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài

    Hiện nay, Nhà nước đã có nhiều chương trình cải cách thủ tục hành chính trên khắp các địa phương và kết quả đạt được cũng rất khả quan. Những chương trình, kế hoạch tương tự cần được đẩy mạnh hơn nữa, triệt để hơn nữa để sớm cải thiện tình hình bất cập về thủ tục hành chính như hiện nay. Nhà nước cũng cần khuyến khích các địa phương độc lập trong quá trình cải cách thủ tục này bằng cách cho phép họ tự cắt bỏ những thủ tục họ cho là không cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh từng nơi.

    Công tác giám sát kết quả cuộc cải cách này cần được tiến hành minh bạch, thường xuyên, cho phép sự tham gia của giới truyền thông để hạn chế tối đa những bất cập có thể phát sinh như bệnh thành tích, hoặc việc gây khó dễ của cơ quan, cá nhân liên quan.

    75

    Thứ ba, đào tạo những cán bộ, lãnh đạo có khả năng tham gia vào các hoạt động liên quan đến đầu tư nước ngoài

    Tăng cường tuyển chọn một cách lành mạnh những cá nhân có năng lực trong kinh doanh quốc tế nói riêng và kinh doanh nói chung để tham gia vào các cơ quan ban ngành liên quan.

    Đẩy mạnh đào tạo các khả năng mềm cho lãnh đạo cũng như nhân viên trong các cơ quan, ban ngành liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Các kỹ năng quan trọng về ngoại ngữ, tin học, đặc biệt là đàm phán, thương lượng.

    Thứ tư, quan tâm hơn đến công tác đào tạo kiến thức và kỹ năng mềm cho lớp trẻ để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện nay

    Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phát hiện và định hướng điểm mạnh của những học viên. Từ đó đào tạo họ để những thế mạnh đó ngày càng phát huy. Muốn thực hiện được điều này, cần có sự cải cách về nội dung cũng như phương pháp dạy học. Mô hình học tín chỉ như hiện nay là một trong những cách làm thiết thực, nhưng cần nhân rộng mô hình này hơn nữa, để sinh viên có cơ hội phát hiện và bồi dưỡng năng lực bản thân mình

    Nhà nước cần đầu tư thích đáng hơn cho việc giảng dạy ngoại ngữ ở các cấp học. Điều quan trọng là giúp học sinh ý thức được tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ, sau đó là tạo điều kiện để các em có thể học tập tốt bằng việc đầu tư chất lượng giáo trình, giáo viên và phương tiện học tập.

    Các cấp học hiện nay cũng cần bắt đầu đưa vào nội dung giảng dạy các kỹ năng mềm, đặc biệt là cấp đại học. Sinh viên cần có những kiến thức về thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết tình huống thực tế… Đó là những kỹ năng đang thiếu hụt trầm trọng ở những người lao động Việt Nam hiện nay.

    Thứ năm, chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

    Hiện nay công tác tuyên truyền pháp luật vẫn chưa thực sự gặt hái được hiệu quả. Bằng chứng là các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự chú trọng giá trị hợp đồng được ký kết, tình trạng soạn thảo hợp đồng còn nhiều bất cập, nhiều vụ

    76

    kiện tụng xảy ra và người thua cuộc đa phần là phía Việt Nam. Việc tuyên truyền pháp luật có thể thực hiện bằng cách:

    Thông qua các kênh thông tin đại chúng như sách, tạp chí, báo chí, các kênh truyền hình để đưa dẫn chứng về những thiệt hại trong kinh doanh do không có kiến thức về pháp luật. Trích dẫn trực tiếp những điều luật thông dụng liên quan đến kinh doanh để người dân, đặc biệt là giới kinh doanh ý thức được tầm quan trọng của luật pháp và hiểu hơn về luật pháp.

    Đưa vào chương trình giảng dạy một cách bài bản hơn cho sinh viên chuyên ngành kinh tế, có biện pháp để thúc đẩy ý thức tự tìm hiểu của sinh viên bằng cách đưa ra các tình huống bắt buộc học sinh phải tự tìm hiểu qua các tạp chí pháp luật và các địa chỉ cung cấp thông tin về pháp luật Việt Nam cũng như nước ngoài.

    Khuyến khích tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về luật pháp cho giới trẻ, nhằm tuyên truyền cũng như bổ sung kiến thức về luật pháp cho người tham gia.

    2. Về phía doanh nghiệp

    Giải pháp chung cho các doanh nghiệp trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài là phải ý thức về sự khác biệt văn hóa, tôn trọng sự khác biệt văn hóahòa hợp với sự khác biệt văn hóa đó.

    Bất đồng văn hóa là một thực tế khó tránh khỏi khi có sự tiếp xúc liên văn hóa. Vì vậy, ý thức tìm hiểu về những nét văn hóa đặc trưng của đối tác nước ngoài trước khi gặp gỡ là điều vô cùng quan trọng. Cũng cần nhận thức được rằng, những thông tin tìm được không phải là tất cả nên cần phải đặt mình trong tình trạng cảnh báo về những hành động khó hiểu có thể có ở đối phương, điều này cũng đồng nghĩa với việc chuẩn bị tâm lý trước cho đôi bên trong những tình huống không thể lường trước được. Sau khi ý thức được điều này, cần có thái độ tôn trọng thay vì cảm thấy khó chịu hay lảng tránh. Bởi nếu ở vị trí của đối tác thì những hành động của bản thân mình cũng có thể là điều kì lạ, cần chấp nhận thực tế rằng những nền văn hóa khác nhau sẽ có những cách suy nghĩ và hành động không giống nhau. Tinh thần học hỏi và tôn trọng là những bước cần thiết cho sự phát triển khả năng trau

    77

    dồi vốn văn hóa, vậy nhưng hai yếu tố này vẫn là chưa đủ, cần có sự hòa hợp những khác biệt văn hóa để giải quyết các tình huống khó xử của đôi bên. Điều này đòi hỏi chúng ta phải phân tích xem trong tình huống đó, ở góc nhìn của nền văn hóa nước bạn thì hành động ấy có nghĩa là gì thay vì vội vàng đánh giá điều đó một cách tiêu cực theo quan điểm của cá nhân mình.

    2.1. Doanh nghiệp Việt Nam

    Thứ nhất, chú trọng việc đào tạo cho người lao động kiến thức về văn hóa kinh doanh các nước đối tác

    Tổ chức các buổi tìm hiểu về văn hóa kinh doanh các nước bạn hàng để có những điều chỉnh nhất định về cách thức kinh doanh với từng đối tượng sao cho thích hợp.Những hiểu về văn hóa con người và thị trường đối tác càng nhiều thì khả năng thành công càng nhân lên.

    Đặc biệt, trước những cuộc gặp gỡ đối tác nước ngoài, phải nghiên cứu kĩ về văn hóa của họ để có sự chuẩn bị về tinh thần cũng như vật chất cho cuộc gặp gỡ. Đó là những đặc điểm đặc trưng nhất về con người, cách suy nghĩ, cách ứng xử, những điều cấm kị, sở thích, thị hiếu, những mối quan tâm… Nếu không sử dụng tốt ngôn ngữ đối tác thì phải tìm một phiên dịch thích hợp, có sự am hiểu về văn hóa đôi bên, nên trao đổi trước với người này nội dung sắp tới để họ chuẩn bị vốn từ cũng như cách ứng xử phù hợp.

    Khuyến khích người lao động mở rộng kiến thức chuyên môn cũng như những hiểu biết văn hóa thông qua các chuyến công tác hay học tập ngắn ngày ở nước ngoài.

    Tích cực tham gia các cuộc gặp gỡ, giao lưu văn hóa do các cơ quan, đoàn thể tổ chức. Bản thân doanh nghiệp cũng có thể đứng ra tổ chức và kêu gọi sự tham gia của các doanh nghiệp khác trên địa bàn.

    Thứ hai, nâng cao kiến thức pháp luật, đặc biệt là pháp luật ở các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp

    78

    Tổ chức những khóa học ngắn hạn trong nội bộ doanh nghiệp để người lao động ý thức được tầm quan trọng của việc nắm vững luật pháp, từ đó, chủ động củng cố kiến thức cho bản thân mình.

    Phổ biến những kiến thức pháp luật có được vào môi trường làm việc, để các cá nhân quen với phong cách làm việc theo pháp luật. Nhất là ở khâu soạn thảo hợp đồng, thực hiện hợp đồng, giải quyết những tranh chấp có thể phát sinh.

    Thứ ba, xây dựng văn hóa kinh doanh cho doanh nghiệp

    Không nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có được những quan điểm đúng đắn về văn hóa kinh doanh. Đa phần doanh nhân không ý thức được rằng, xây dựng cho mình một nét văn hóa riêng bền vững cũng đồng nghĩa với việc khẳng định vị trí của mình trên thương trường. Một nền văn hóa kinh doanh đặc thù, tiên tiến sẽ củng cố niềm tin cho đối tác và góp phần làm giảm những rào cản văn hóa khi có sự hợp tác với nước ngoài. Có thể xây dựng văn hóa kinh doanh bằng cách:

    Cá nhân người lãnh đạo phải xây dựng cho mình nét văn hóa riêng. Nét văn hóa này hội tụ tất cả các yếu tố thuộc năng lực, đạo đức kinh doanh, tư tưởng kinh doanh, phong cách quản lý, thái độ đối với đồng nghiệp, cách xây dựng mối quan hệ… Nét văn hóa này quyết định văn hóa chung của cả doanh nghiệp.

    Mỗi thành viên trong doanh nghiệp cần đoàn kết, tích cực hợp lực để xây dựng văn hóa riêng cho doanh nghiệp mình. Đầu tiên là phải trau dồi kiến thức cần thiết cho chuyên môn. Sau đó phải định hướng tư tưởng đúng đắn về công việc, xác định phong cách làm việc, cách trao đổi và xây dựng mối quan hệ với nhau. Doanh nghiệp cần chủ động đưa ra những chương trình, kế hoạch hoạt động chung trong đó ghi rõ vai trò, nhiệm vụ của các thành viên. Đặc biệt, định hướng quan điểm kinh doanh rõ ràng để cả tập thể cùng hướng tới.

    2.2. Doanh nghiệp nƣớc ngoài

    Thứ nhất, tìm hiểu về văn hóa Việt:

    Điều đầu tiên nhà đầu tư nước ngoài phải làm sau khi quyết định đầu tư sang Việt Nam là dành thời gian tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Đây là một việc rất cần

    79

    thiết, quyết định phần lớn công việc kinh doanh của họ ở nước ngoài. Họ có thể nghiên cứu về con người, những phong tục tập quán, văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động hay những sở thích và cả những điều kiêng kị qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, tạp chí, phim ảnh, website.

    Tham khảo ý kiến của những người có hiều biết về văn hóa Việt Nam. Đặc biệt, nếu có những người bạn có kinh nghiệm sống và làm việc ở đây thì lời khuyên của họ là những điều thực sự quý giá. Bởi đó là những người đã trải qua thành công hay thất bại ở đất nước này, họ hiểu hơn ai hết nền văn hóa của họ và sự khác biệt giữa nền văn hóa đó với nền văn hóa của đất nước họ đang sống.

    Thứ hai, những lưu ý khi đàm phán với người Việt Nam

    Cũng như phía Việt Nam, nhà đầu tư cần chuẩn bị kĩ các kiến thức về văn hóa kinh doanh trong đàm phán của người Việt. Đó là cách họ đàm phán, ý nghĩa của những ngôn ngữ không lời, quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng. Những hiểu biết này sẽ giúp nhà đầu tư tránh được những bất đồng văn hóa có thể nảy sinh.

    Dù có kiến thức về ngôn ngữ Việt, nhà đầu tư vẫn nên tìm một người phiên dịch am hiểu cả ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam để đảm bảo sự chính xác trong quá trình phiên dịch.

    Thứ ba, học tiếng Việt hiểu biết hơn về văn hóa Việt Nam

    Dành thời gian tiếp xúc với người Việt và học cách họ nói với nhau từ những từ ngữ đơn giản nhất. Đôi khi, chỉ một chào bằng tiếng Việt cũng có thể khiến cho khoảng cách khác biệt văn hóa được rút ngắn.

    Kết bạn với những người Việt Nam là cơ hội nâng cao trình độ tiếng Việt cũng như những hiểu biết quý giá về văn hóa địa phương.

    3. Về phía ngƣời lao động

    Thứ nhất, sớm phát hiện năng lực của bản thân để có định hướng bồi dưỡng và phát huy năng lực đó ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Định hướng này giúp người lao động đưa ra quyết định đúng đắn cho công việc tương lai của mình,

    80

    mở rộng cơ hội thành công và hạn chế được phần nào tình trạng nhảy việc đang diễn ra phổ biến hiện nay.

    Thứ hai, nâng cao trình độ ngoại ngữ và những kỹ năng mềm

    Cần ý thức được vai trò của ngoại ngữ trong thời đại hiện nay để có những động cơ học tập đúng đắn, nghiêm túc, mang lại hiệu quả trong học tập.

    Chủ động tìm hiểu về văn hóa của quốc gia sử dụng ngoại ngữ đó để hiểu sâu hơn và sử dụng chính xác hơn ngôn ngữ đang học. Cần ý thức được rằng, ngôn ngữ là sự biểu hiện của văn hóa, văn hóa chi phối ngôn ngữ, học một ngôn ngữ đòi hỏi phải học cả văn hóa quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó.

    Rèn luyện những kỹ năng mềm cho bản thân như thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết tình huống thực tế, trên tinh thần tự giác, chủ động.

    Thứ ba, có thái độ đúng đắn đối với công việc

    Người lao động cần ý thức được vai trò của mình trong tập thể. Nếu cả công ty là một dây chuyền thì mỗi cá nhân là một mắt xích trong dây chuyền đó. Mỗi người đảm nhận một chức năng, nhiệm vụ riêng, có những đóng góp nhất định cho tập thể. Với vai trò này, họ phải có thái độ làm việc nghiêm túc, tôn trọng công việc mình đang làm cũng như đóng góp của những người xung quanh.

    Người lao động cần phát huy cao tinh thần xây dựng đối với bản thân cũng như tập thể. Thẳng thắn nhận khuyết điểm và sửa chữa khuyết điểm là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, bền vững, từ đó bảo đảm được lợi ích cho từng cá nhân.

    81

    KẾT LUẬN

    Rào cản văn hóa là những cản trở khó tránh khỏi khi có sự tiếp xúc giữa những nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là trong thời kì hội nhập đang ngày càng mở rộng như hiện nay. Khắc phục những cản trở này không phải là chuyện một sớm một chiều, mà là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi sự chủ động hợp tác giữa cả hai phía – phía Việt Nam cũng như các đối tác đến từ quốc gia khác. Một khi cả hai bên đều xây dựng ý thức về những khác biệt này và có sự tôn trọng, hòa hợp sự khác biệt thì những bất đồng văn hóa sẽ giảm đi và việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác đôi bên không còn là vấn đề quá khó khăn nữa. Cũng phải thừa nhận rằng, đồng hành với việc hạn chế những rào cản về văn hóa này, Việt Nam đang tiếp thu những nét đẹp văn hóa của các nước bên ngoài và khắc phục dần những vấn đề chưa tốt của bản thân, các nước cũng nhìn nhận được những điểm đáng trân trọng của văn hóa, con người Việt Nam – những truyền thống tích cực đáng được gìn giữ và phát huy trong thời đại toàn cầu hóa này.

    82

    PHỤ LỤC

    PHIẾU ĐIỀU TRA

    Về rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài Dành cho người Việt Nam có kinh nghiệm làm việc với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Phiếu điều tra này được sử dụng nhằm mục đích tìm hiểu về những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong một công trình nghiên cứu của trường Đại học Ngoại Thương, ngoài ra không dùng cho bất cứ mục đích nào khác. Chúng tôi rất mong các bạn bớt chút thời gian để trả lời một số câu hỏi sau đây. Sự hợp tác của các bạn sẽ giúp chúng rồi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn.

    Họ và tên ngƣời trả lời:

    Nơi công tác hiện nay tại Việt Nam:

    Xin vui lòng chọn phương án mà bạn cho là thích hợp.

    Câu hỏi 1. Bạn có kinh nghiệm làm việc với các đối tác nƣớc ngoài trong thời gian:

    <= 1 năm                                        > 1 năm,< 2 năm                                      > 2 năm

    Câu hỏi 2. Đối tác của bạn phần lớn là ngƣời thuộc Châu lục:

     

    Châu Á

    Châu Âu

    Châu Mỹ

    Khác ( vui lòng ghi

    rõ)

    Câu hỏi 3. Bạn thực sự muốn làm việc với đối tác nƣớc ngoài đến từ Châu lục nào sau đây:

    Châu Á Châu Âu Châu Mỹ Khác ( vui lòng ghi rõ )

    83

    Câu hỏi 4.Xin vui lòng cho biết lý do khiến bạn muốn làm việc với họ:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Câu hỏi 5. Theo bạn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sang Việt Nam thƣờng gặp những khó khăn do:

    Khác biệt về văn hóa

    Khác biệt về pháp luật

    Cơ sở hạ tầng còn hạn chế

    Thủ tục hành chính còn phức tạp

    Thiếu nhân lực

    Khác (xin vui lòng nêu rõ)

    Câu hỏi 6. Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn về mức độ ảnh hƣởng của các rào cản thƣờng gặp sau bằng cách đánh số thứ tự: (1 – không ảnh hƣởng; 2 – ít ảnh hƣởng; 3 – ảnh hƣởng khá nhiều; 4 – ảnh hƣởng rất nhiều)

    Khác (xin vui lòng nêu rõ).

    Khác biệt về văn hóa

    Khác biệt về pháp luật

    Cơ sở hạ tầng còn hạn chế

    Thủ tục hành chính còn phức tạp

    Thiếu nhân lực

    Câu hỏi 7. Nếu xét riêng về rào cản văn hóa, theo bạn có thể có những yếu tố nào thuộc văn hóa có thể là rào cản khi đầu tƣ sang Việt Nam

    Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Rào cản do khác biệt về tư duy

    84

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Rào cản do khác biệt về văn hóa người lao động

    Khác (vui lòng ghi rõ)

    Câu hỏi 8. Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn về mức độ ảnh hƣởng của các rào cản thƣờng gặp sau bằng cách đánh số thứ tự: (1 – không ảnh hƣởng; 2 – ít ảnh hƣởng; 3 – ảnh hƣởng khá nhiều; 4 – ảnh hƣởng rất nhiều)

    Khác (vui lòng ghi rõ)

    Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Rào cản do khác biệt về tư duy

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Rào cản do khác biệt về văn hóa người lao động

    Câu hỏi 9. Bạn có biết trƣờng hợp thất bại nào của nhà đầu tƣ khi đầu tƣ sang Việt Nam do rào cản văn hóa gây nên? Xin hãy chia sẻ với chúng tôi

    Không

    Có (xin vui lòng cho biết thông tin ngắn gọn về dự án đó)

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    Câu hỏi 10.Từ kinh nghiệm thực tiễn và bản thân, bạn có cách khắc phục nào để hạn chế tối đa sự ảnh hƣởng do rào cản văn hóa Việt Nam gây ra? Xin vui lòng ghi rõ

    ……………………………………………………………………………………….

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    ……………………………………………………………………………………….

    85

    Xin chân thành cảm ơn bạn đã hợp tác với chúng tôi hoàn thành phiếu điều tra này

    Questionnaire on Vietnamese cultural barriers that impact on foreign investors (For Foreign investors in Vietnam)

    This questionnaire is part of research project monitored by the Hanoi Foreign Trade University. It is designed to investigate how aspects of Vietnamese culture impact on foreign investments in this country. I would be very grateful if you could spend some time to complete this questionnaire. Your cooperation is very much appreciated. All responses will remain confidential.

    Company’s Country of origin:

    Location in Vietnam:

    Kind of business:

    Please answer these questions and feel free to add any comments if appropriate.

    Q1. How long have you been doing business in Vietnam?

    <= 1 year                              > 1 year                             < 2 years                          > 2 years

    Q2. Apart from Vietnam, is your company represented in any other foreign country?

    Yes                                            No

    If yes, please specify:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q3. What do you believe were the main factors that attracted your company to Vietnam?

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    86

    87

    Q4. Please comment on the degree to which the following make doing business in Vietnam difficult: (1- not at all difficult; 2- occasionally a little difficult; 3-sometimes quite difficult; 4- usually very difficult)

    Local administration

    Cultural differences

    Availability of suitable human resources

    Local infrastructure

    Local legal system

    Others (please give details)

    Q5. For those elements above which you marked 3 (sometimes quite difficult)

    or 4 (usually very difficult) please explain further:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q6. In terms of specific cultural differences, please comment on the degree to which the following make doing business in Vietnam difficult:

    (1- not at all difficult; 2- occasionally a little difficult; 3- sometimes quite difficult; 4- usually very difficult)

    Language

    Dealing with problems

    Local consumer tastes

    Business culture

    Employees working culture

    Others (please give details)

    Q7. For those elements above which you marked 3 (sometimes quite difficult)

    or 4 (usually very difficult) please explain further:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    88

    Q8. Are you aware of any unsuccessful investments in Vietnam which could be directly attributed to problems of cross-cultural barriers?

    No

    Yes (Please share briefly some details about that project – no names necessary)

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q9. What would you suggest are the three most important things that foreign investors should be aware of before setting up business in Vietnam?

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Thank you

    89

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tài liệu tiếng Việt

    • Nguyễn Hoàng Ánh – Luận án tiến sĩ, 2004, Vai trò của văn hóa trong kinh doanh quốc tế và vẫn đề xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, Tr.120
    • PTS Ngô Xuân Dân, PTS Vũ Chí Lộc, 1997, Giáo trình Quan hệ kinh tế Quốc tế, NXB Hà Nội.
    • Fons Trompenaars with Charles Hampden-Tuner, 2009, Chinh phục các đợt sóng văn hóa, Công ty sách Anpha.
    • Vũ Chí Lộc, 1997, Giáo trình Đầu tư nước ngoài, NXB Giáo dục.
    • Hồ Chí Minh, 1995, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
    • Trần Nhâm (chủ biên), 1995, Có một Việt Nam như thế – Such is Vietnam, NXB Chính trị Quốc gia (Việt Nam) – Công ty Truyền thông và xuất bản Ishou (Singapore).
    • Hoàng Phê (chủ biên), 1997, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
    • Schaefer Richard T, 2005, Xã hội học, NXB Thống kê.
    • Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, 1995, sở văn hóa Việt Nam, Trường ĐH TH TP Hồ Chí Minh.
    • Nguyễn Thị Ngọc Thủy, 2007, Những tác động của môi trường văn hóa đến Thương mại Quốc tế, Trường ĐH Ngoại Thương.
    • Giáo trình Đầu tư nước ngoài, 2006, Trường Đại học Ngoại Thương.
    • Vũ Quang Tuấn, Bộ KH-ĐT, 2010, Kỳ vọng đổi mới và những vấn đề cần lưu ý, Tạp chí Tài chính.
    • Trần Quốc Vượng,2008, sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục.

    Văn bản pháp luật

    • Luật Đầu tư nước ngoài năm 2005.
    • Nghị quyết 09/2001/NQ-CP, Nghị quyết của Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001-2005.

    Tài liệu tiếng Anh

    90

    • Hall And Hall, 1996, Understanding Cultural Difference.
    • Ashwill with Thai Ngoc Diep, 2005, Vietnam Today – A Guide to a Nation at a Crossroads, A Nicholas Btraley Publishing Company.
    • The Peace Corps – Cross-Culture workbook, Culture Matters, US Government printing office, Tr. 242

    Websites

    [19]http://vietbao.vn/Giao-duc/37-sinh-vien-tot-nghiep-khong-tim-duoc-viec/10972914/202/

    [20]http://www.amnet.com.vn/tin-tuc/gia-cong/Gia-cong-phan-mem-tai-thi-truong-Nhat-Ban-Rao-can-lon-nhat-la-nhan-luc-ngon-ngu.aspx,

    [21]http://www.marketingchienluoc.com/index.php?option=com_content&task=vie w&id=1760

     

    [25]http://www.tinmoi.vn/DN-kieu-bao-lsquochun-tayrsquo-vi-thu-tuc-hanh-chinh-

    1177879.html

    [26]http://danluan.org/node/267

    [27]http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30066 &cn_id=393467#m3twggaZcDNM

    [29]http://fia.mpi.gov.vn/Default.aspx?ctl=Article2&TabID=4&mID=274&aID=84

    7

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-th%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-kinh-t%E1%BA%BF-c%C3%B3-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-trong-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-nhi%E1%BB%81u-th%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Lời nói đầu

    Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động trên thị trường quốc tế, tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại diễn ra nhanh chóng, nhiều quốc gia và nhiều công ty đang nắm trong tay lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư nước ngoài. Đây là điều kiện thuận lợi đối với các nước thiếu vốn có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy đầu tư nước ngoàI chiếm một vị trí rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay đối với không chỉ những nước phát triển mà còn quan trọng đối với những nước đang phát triển. Đặc biệt là Việt Nam đầu tư nước ngoài nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đầu tư xây đầu tư nước ngoàI dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và sức mạnh cạnh tranh cảu hàng hoá.

    Trong bối cảnh hiện nay, các nứơc đang phát triển có thể tận dụng mọi nguồn lực của thế giới, tiếp thu được những tinh tuý của nhân loại, những cống hiến và những phát minh vĩ đại của các bậc thế hệ đi trước, nhằm đI tắt đón đầu trên con đuờng phát triển và thu hẹp đầu tư nước ngoàI dần khoảng cách với các nước đi trước. Khi đó đầu tư nước ngoài có vai trò như một phương tiện đắc lực đẻ thựcn hiện chủ trương trên, là một quốc gia đang trưởng thành và phát triển đồng thời đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đạI hoá , Việt Nam cần huy động tối đa mọi nguồn lực. ĐạI hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu đầu tư nước ngoài, bình đẳng với các thành phần khác. Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước .

    Với mong muốn vận dụng kiến thức để tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam nên

    em chọn đề tài: Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

    trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    – – 1

    NôI dung

    I Một số vấn đề về cơ sở lí luận.

    1.                 Đầu tư quốc tế

     

    • Khái niệm: Đầu tư quốc tế (Lê Nin còn gọi là xuất khẩu tư bản) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại. Nó là quá trình trong đó hai

    hay nhiều bên cùng góp vốn dể xây dựng và triển khai một dự án đâù tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.

    Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt vớI các nước nhận đầu tư. Nó làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tàI nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đạI trên thế giới.Mặt khác đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái tăng tính lệ thuộc với bên ngoài.

    • Hình thức: Có 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    2. Đầu tư trực tiếp:

    Là hình thức trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp cá nhân nước ngoài chủ đầu tư) trực tiếp tham gia quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận.

    Đầu tư trực trực tiếp được thể hiện dươí những hình thức sau đây:

    • hợp đồng hợp tác daonh nghiệp
    • doanh nghiệp liên doanh
    • doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

    +) Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai hay nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh đoanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập một pháp nhân.

    +) Doanh nghiệp liên doanh

    Doanh nghiệp liên doanh là loạI hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng vời góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia xẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên

    – – 2

    doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư.

    +) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI.

    Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàI do nhà đầu tư nước ngoàI thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàI được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân Việt Nam.

    +) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyên giao (BOT). Hình thức này đòi hỏi cần có nguồn vốn từ bên ngoàI và thường đầu tư cho các công trình kết cấu ha tầng.

    Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu cộng nghiệp mới, khu công nghệ cao vv… được hình thành và phát triển.

    3.Đầu tư gián tiếp: (Lênin còn gọi là xuất khẩu tư bản cho vay)

    Là hình thức đâù tư mà quyền sở hữu tách rồi quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là nguồn có vốn không trực tiếp tham gia vào tổ chức, đIều hành dự án mà thu lợi với hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần) hoậc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu là cho vay ưu đãI).

    Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp là ngườI đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người đầu tư gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức tráI phiếu cổ phiếu và tiền lãi.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Trong đầu tư gián tiếp chủ đầu tư về thực chất là tìm đường thoát cho đầu tư dư thừa, phân tán đầu tư nhằm loạI bớt rủi ro. Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển bộ phận này có tỷ trọng lớn và thường đI kèm với bộ phận ưu đãI. Nguồn vốn này nhằm vào các mục đích y tế và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và đào tạo, các vấn đề xã hội nghiên cứu chương trình dự án bảo vệ môI trường sinh tháI, hỗ trợ ngân sánh và hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ.

    4.Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài

     

     

     

    • – 3

    Trong hơn 10 năm qua, nhờ những chính sách luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà chúng ta đã đạt được những thành tựa đáng kể và quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội vào thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt nam trên con đường hội nhập quốc tế. Vì thế mà đầu tư nước ngoài đang trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế thế giơí.

    • Đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư

    phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác triển khai và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nước như dầu khí, đIện năng và nuôI trồng và chế biến cây công nghiệp, cây lương thực. Mặt khác đầu tư nước ngoàI cũng góp phần quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng laiv à cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    • Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm. Nguồn thu vốn ngân sách cũng tăng liên tục qua các năm.
    • Đầu tư nước ngoài góp phần hình thành một số nghành công nghiệp mới như khai thác và chế biến dầu khí, sản xuất lắp ráp ôtô, điện tử , xe máy ..
    • Đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tham gia phát triển nguồn nhân lực.
    • Đầu tư nước ngoài góp phần chuỷển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp

    hoá – hiện đại hoá để phát triển lực lượng sản xuất . Hiện nay đầu tư nước ngoài tập trung vào các nghành công nghiệp và chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp , tốc độ tăng trưởng trên 20% góp phần đưa tốc độ phát triển công nghiệp của cả nước lên trên 10%/ năm.

    • Đầu tư nước ngoàI góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng

    đầy đủ và tốt hơn hệ thông cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tảI, bưu chính viễn thông, năng lượng. Đồng thời đã hình thành được 67 khu công nghiệp – khu chế xuất và khu cộng nghệ cao trên phạm vi cả nước góp phần vào việc đô thị hóa ,hình thành khu đân cư mới tạo việc làm ổn định cho hiơn 200 nghìn lao động địa phượng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ khác, ở các thành phố lớn việc hình thành các khu chế xuất , khu công nghiệp đã tạo đIều

    – – 4

    kiện cho địa phương này tách sản xuất ra khỏi khu dân cư giảm thiểu ô nhiễm bảo về môi trường đô thị.

    5.Vai trò của FDI đối với sự phát triến kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong đời sống kinh tế , FDI có vai trò quan trọng lớn :

    Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho chủ nhà để bù đắp sự thiếu hụt của nguồn vốn trong nước, hầu như các nước nhất là các nước đang phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, mà nổi bật là nước ASEAN và đông Nam á, nhờ có FDI mà giảI quyết một số khó khăn về vốn nên đã giảI quyết một phần công nghiệp hoá, đã và đang trở thành những nước công nghiêp mới (NICs).

    Thứ hai: Cùng với việc cung cấp vốn kỷ thuật qua thực hiện FDI, cấc công ty mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỉ thuật công nghệ từ các nước đầu tư sang nước chủ nhà.

    Thứ ba: Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI sẽ tác động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỉ thuật, cơ cấu sản phẩm mà lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.

    Thứ tư: FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế thông qua hìn thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm đIều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

    Vốn đầu tư nước ngoàI các năm 1991-1995 chiếm 25,7% và từ năm 1996 đến nay gần chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    Tỷ lệ đóng góp cho đầu tư nươc ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm: 1993 3,6% đến năm 1998 lên tới 9% và năm 1999 ước đạt 10,5%. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ khu vục đầu tư nước ngoàI: năm 1994 đạt 128 triệu USD đến năm 1998 đạt 370 triệu.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoàI tăng nhanh: năm 1996 đạt 786 triệu USD năm 1999 đạt 2200 triệu USD bằng 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khu vực đầu tư nước ngoàI đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, thúc đẩy các dịch vụ phát triển. Đầu tư nướcc ngoàI góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, phát triển lực lượng sản xuất .Thông qua đầu tư nước

    – – 5

    ngoàI bước đầu đã hình thành hệ thống các khu vực công nghiệp, khu chế xuất, đầu tư nước ngoàI cũng đã đem đến nhữnh mô hình thức quản lí tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đạI trong các ngành các đơn vị kinh tế.

    Thứ năm: Đầu tư nước ngoàI đã góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

    Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoàI đã thu hút khoảng 30 vạn lao động trực tiệp và hàng chục vạn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ …

    Mặc dù cũng có những mặt tráI của đầu tư nước ngoàI như: thu nhập công nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyển giá , trốn lậu thuế , ô nhiễm môI trường …nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực của đầu tư nước ngoàI ở Việt Nam.

    Thứ sáu: Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoaì.

    Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang có sự cạnh trạnh gay gắt giữa các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như giữa các nước tiếp nhận đầu tư của nhau qua nhiều công trình nghiên cứu các học giả kinh tế đã đưa ra 12 yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nước nào đó để đầu tư đó là:

    • Đặc đIểm của thị trường bản địa ( quy mô , dung lượng của thị truờng, sức mua của dân bản địa và khả năng mở rộng quy mô đầu tư )

    Việt Nam là một thị trường khá rộng lớn với quy mô dân số gần 80 triệu người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, đây là một lợi thế song trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn thu nhập thấp, sức mau chưa cao đây là mnhân tố cản trở khả năng thu hút FDI.

    • Luật đầu tư.

    Yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động của cá công ty nước ngoàI trên thị trường bản địa, luật này thương bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất bản xứ. Nhiêù nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoàI theo các đIều kiện giống như các nhà đầu tư bản xứ.

    Sau nhiều lần sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoàI ở Việt Namđã khá thông thoáng và cởi mở, song còn tồn tạI nhiều yếu tố cần xem xét, hoàn thiện hơn nhằm thu hút FDI tạI Việt Nam.

    – – 6

    Thứ bảy: đặc đIểm của thị ttrường nhân lực.

    Nhân công rẻ là mối quan tâm hàng đầu ở đây đặc biệt là đối với những nhà đầu tư nước ngoàI muốn bỏ vốn vào lĩnh vực cần nhiều lao động có khối lượng sản xuất lớn như: dệt may, lắp ráp đIện tử, xe máy, … Trình độ học vấn và nghề nghiệp của công nhân đầu đàn ( có tiềm năng và triển vọng ) có ý nghĩa quan trọng .

    Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ so với các nước trong khu vực song còn tồn tạI nhiều bất cập:

    Năng suất lao động thấp do lực lượng qua đào tạo ít tình tự tay nghề thấp, thiếu đội nhũ kỹ sư công nhân lành nghề và cán bộ quản lí có năng lực thực sự. Cơ cấu lao động chưa hợp lí, xuất hiện và tồn tạI tình trạng “ Thừa thầy thỉếu thợ” cơ chế thi tuyển chưa rõ ràng, công khai và phổ biến…

    Thứ tám: chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư.

    Yếu tố ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản tệ bị nâng cao hay hạ thấp đều ảnh hưởng đến xuất khẩu.

    Thứ chín : Khả năng hồi hương vốn đầu tư .

    Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới là tiền quan trọng để thu hút vốn FDI. ở một số nước thủ tục mang ngoạI tệ ra nước ngoàI khá rầy rà , cản trở hoạt động vốn đầu tư nước ngoài.

    ở Việt Nam bên cạnh việc quản lí hồi hương vốn, lợi nhuận bằng ngoạI tệ chuyển ra nước ngoàI, ở một chừng mực nhất định chúng ta đã có những chính sách hạn chế những rầy rà, tạo đIều kiện cho các nhà đầu tư.

    Thứ mười: Bảo vệ quyền sở hữu .

    Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào những nghành có hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động ở một sốnước, lĩnh vực này đựoc kiểm tra giám sát khá lỏng lẻo, chính vì vậy mà một số nước bị các nhà đầu tư loạI khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư .

    Thứ mười một: Chính sách thưong mại.

    Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vấn đề đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Hạn nghạch xuất khẩu thấp và các hàng rào khác

    – – 7

    trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng có thể không kích thích hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, chính những yếu tố này làm phức tạp cho thủ tục xuất nhập khẩu.

    Thứ mười hai: chính sách thuế và những ưu đãi.

    Nó thường được áp dụng để thu hút sách nhà đầu tư nước ngoàI. GIả thuế nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu, thuế xuất, ttăng thuế nhập thành phẩm; Miễn giảm thuế thu nhập đối với các vùng có đIều kiện khố khăn .

    Thứ mười ba: ổn định chịnh trị xã hội ở nước nhận đầu tư và trong khu vực. Đây là yếu tố không thể xem thường mỗI khi bỏ vốn đầu tư và rủi ro chịnh

    trị có thể gây thiệt haị lớn cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Chẳng hạn các nước phát triển như Mỹ la tinh cho thấy, mặc dù nguồn lực tự nhiên của các nước này khá dồi dào nhưng do luôn luôn có những bất ổn về chính trong đời sống chịnh trị – xã hội nên dòng FDI đổ vào các nước này không ổn định.

    Tuy nhiên FDI không phảI khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước chủ nhà. Nó chỉ thể phát huy tác dụng tốt trong môI trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định và dặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI ở nước ta.

    1. Quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoài nước. Nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH. Vốn là tiền đề quan trọng cho

    CNH-HĐH thành công.

    Vốn để CNH-HĐH có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoàI. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở sản xuất là lao động thặng dư của người lao động thực chất cho các thành phần kinh tế. Con đường để giảI quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học kỉ thuật, công nghệ hợp lí hoá sản xuất. ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ trước hết và chủ yếu là khai thác sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung chung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu… Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm…

    Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu làm cho việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền linh tế hết sức khó khăn, đặc biệt trong thời kì đầu. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, thì tăng trưởng

    – – 8

    kinh tế chậmvà khó thoát khỏi đói nghèo… Cần phải tận dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoàI. Đây là nguồn vốn có vai trò cực kì quan trọng, không những giúp các nước nghèo khắc phục khó khăn về vốn trong thời kì đầu mà còn góp phần nâng cao tình độ quản lí công nghiệp tạo việc làm cho người lao động … Vì thế tranh thủ nhuồn vốn bên ngoàI là một là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

    II. Thực trạng và GiảI pháp

    1/ Thực trạng:

    1.1 Vấn đề chung:

    1. Xu hướng thế giới: Tình hình vấn đề về nguồn vốn đầu tư trrên thế giới đang diễn ra hết sức sôI động và mạnh mẽ. Trong vòng những năm tiếp theo

    nguồn vốn đầu tư nước ngoàI vào Châu á sẽ tiếp tục tăng, năm 2001 có thể thu hút khoảng 123,1 tỉ USD, năm 2005 ước tính lên tới 4400 tỉ USD, cao hơn mức 5 năm qua đạt 3600 tỉ USD

    Mỹ vẫn là một quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới và chiếm hơn hẳn tổng nguồn toàn cầu giai đoạn này. Tuy nhiên số vốn FDI đổ vào EU vẫn vượt Mỹ trong vai đầu tư trực tiếp nước ngoàI.

    Dự báo vốn FDI sẽ đổ vào các nước hát triển là chủ yếu mặc dù các nước đang phát triển sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ giá trị vốn FDI toàn cầu tiếp nhận so với những năm gần đây. Trong số các nước đang phát triển chỉ có Trung Quốc và Brazin là một trong 10 quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giơí. Còn Nga là nước có sự cải thiện vị trí đáng kể, từ vị trí thư 31 lên vị trí thứ 23.

    Theo các chuyên gia nước mngoàI dự đoán trong những năm tới đIều kiện kinh doanh trên toàn thế giới sẽ tiếp tục cảI thiện nhờ nền kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định và mức độ tự do hoá ngày càng lớn. Mỹ tiếp tục là nước có nền kinh tế thế giới mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên EU đang thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Các nước Mỹ là tinh sẽ tiếp tục đẩy mạnh cảI cách, khu vực có tiến bộ nhất về kinh tế sẽ là Đông Âu.

    Còn đối với Việt nam thì như thế nào? Trước những xu hướng và bối cảnh quốc tế phức tạp và mang tính cạnh tranh cao đòi hỏi chung ta phảI có một chiến lược tàI tình thu hút vốn đầu tư nước ngoàI cho thời kì 2003-2010 để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cho thời gian tới. Chính vì vậy việc xem xét đánh giá kết quả ĐTNN trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ

    – – 9

    những khó khăn , ách tắc và đưa ra những gỉ pháp khuyến khích thu hút ĐTNN vào nước ta đang đựoc chính phủ quan tâm và chỉ đạo.

    Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam tơí nay đã có hơn 3260 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàI được cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng kí 44 tỷ USD trong đó có trên 2600 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí trên 36tỷ USD .S ố vốn thực hiện đến nay đạt gần 20tỷ USD bằng 44,5% số vốn đăng kí trong đó vốn nươc ngoàI là 18tỷ USD. Khu vực có vốn FDI tạo ra trên 12% GDP, hơn 34% giá trị sản xuất công nghiệp. Hơn thế nữa, thông qua ĐTNN chúng ta đã tiếp thu dược công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí và một số nghành sản xuất mới cho nền kinh tế.

    Nến tính riêng 5năm 1996- 2000 so với 5 năm trước thì tổng vốn đầu tư mới đạt 20,73 tỷ USD, tăng 27,5%.

    Sau một vàI năm chững lại và suy giảm do cuộc khủng hoảng tàI chính khu vực, do cạnh tranh thu hút DTNN và nhưng hạn chế của môI trường đầu tư , từ năm 2000 ĐTNN ở VIệt Nam đã có dấu hiệu phục hồi , đặc biệt trong hai tháng đầu năm 2001 đã có 35 dự án đầu tư nước ngoàI được cấp giấy phép với tôngr ssố vốn 71,3 triệu USD, tăng 16,7% về dự án , tăng 16,1% về số vốn cùng kì 2000. Nhu vậy cũng có thấy đước dấu hiệu của sự tăng trưởng ĐTNN tại Việt Nam.

    1. b) Mục tiêu.

    Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triến kinh tế –xxa hội 2001-2005, khu vực đầu tư trức tiếp nước ngoàI phảI phát triển ổn định hơn, đặc biệt là chuất lượng so với thời kì trước, để nhanh chóng công nghiệp hoá ,hiện hoá đất nước. Cụ thể hơn hoạt động đầu tư nước ngoàI trong thời kì 2001-2005 phảI đạt được các mục tiêu sau:

    • Vốn đăng kí của các dự án cấp giấy phép mới khoảng 12tỷ USD .
    • Vốn thực hiện khoảng 11tỷ USD.
    • Đến năm 2005 đóng góp khoảng 15% GDP, 25%tổng kim ngạch xuất khẩu

    và khoảng 10% tổng thu ngân sách cả nước.

    1. Định hướng.
    • Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoàI vào các nghành công
    • -10

    nghiệp sản xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án xựng dựng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử , vật liệu mới viễn thông sản xuất phát triến kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạngh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế .

    • Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và những địa bàn có lợi thế để

    phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãI tối đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoàI vào những vùng và địa bàn có đIều kiện kinh tế

    – xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo đIều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoàI. Tập trung thu hút đầu tư nước ngoàI và các khu công ngiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt.

    Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiép nước ngoàI từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ dầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoàI có tiềm năng lớn về tàI chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát

    triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàI ổ khu vực .Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chý ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đạI, khuyến khích tạo Việt Nam định cư ở nước ngoàI đầu tư về Việt Nam.

    1.2. Vấn dề cụ thể.

    Về số dự án và số vốn đầu tư.

    Trong hơn 10 năm qua, từ năm 1989-1999 đã có 3087 dự án với tổng số vốn thực hiện là: 15700triệu USD, đạt tỷ lệ 39.2% so với tổng số vốn đăng kí. Đây là một tỷ lệ khá cao (đồng thời cũng khá cao so với các nước trong khu vực: Trung Quốc 31%, Idonesia 44%, ấn độ 18%/ theo số liệu thống kê của bộ kế hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các năm trong giai đoạn 1989-1999 được thể hiện qua biểu đồ sau:

    Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư Tổng vốn thực
        TriệuUSD hiện
          Triệu USD
    1989 70 539 130
    1990 111 569 220
    1991 155 1388 221
        – -11  
    1992 193 2271 398
    1993 272 2987 1106
    1994 362 4071 1952
    1995 404 6616 2652
    1996 501 9212 2371
    1997 479 5548 3250
    1998 260 4827 1900
    1999 280 2000 1500

    Theo nguồn thông tin tài chính :số 1/1/2000

    Qua số liệu ta dễ dàng nhận thấy tổng số dự án cũng như tổng số vốn FDI trong giai đoạI 1989- 1996 tăng lên với tốc độ rất nhanh1080 số lượng vốn đầu tư thu hút được mới chỉ đạt 539 TriiêụUSD, năm 1999 đã tăng lên 6616 triệu USD và năm 19996 đạt mức 9212 triệu USD.

    Mức bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 50%. Quy mô trung bình của cũng tâưng dần qua các năm. từ 3,5 triệu USD thời kỳ 1988 đến năm 1990 tăng lên 7,5 triệu USD năm 1991 7,6 triệu USD năm 1992 10 triệu USD năm 1993 đến năm 1994 16,38 triệu USD năm 1995 và 2,3 triệu USD năm 1996. Ngày càng có nhiều dự án có tổng số vốn đầu tư lớn như dự án xây khu vực đô thị Nam thăng long 2,1 tỉ USD khu đô thị nam SàI Gòn 991 triệu USD, dự án xây dựng cảng chung chuyển quốc tế Sao Mai –Bến Đình 637 triệuSSD… đIều đó cho thấy tời kỳ này việc thu hút FĐI của Việt Nam tỏ ra rất hiệu quả. Một phần đó là do Việt Nam là một thị trường mới hấp dẫn của các nhà đầu tư một phần khác là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoàI đúng đắn của nhà nước ngoàI Việt Nam. Các khoảI đầu tư này góp phần đáng kể trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu, đóng góp vào ngân sách và kinm ngạch xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm: Doanh thu của các doanh nghiệp có số vốn dầu tư nước ngoàI tăng dần qua các năm: Năm 1990là 40triệu USD, năm 1991 là 149triệu USD, năm 1992 là 206triệu USD… mức tăng trưởng giai đoạn này làg 30% .Tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu khoảng gơn 60% năm1997và bằng 44% năm 1996, 31% cho năm 1995. GiảI quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người.

    Đa số các dự án theo hình thức kiểu liên doanh có 1337 dự án chiếm 61% tổng số dự án với số vốn trên 23,7 tỷ USD chiếm 69% tổng số vốn đăng kí. Đây là một đIểm mạnh của các dự án đầu tư nước ngoàI vì các đối tác nước ngoàI cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam . Số dự án hoạt động theo hình thức

    – -12

    100% số vốn nướcc ngoàI là 669 dự án chiếm 30% tổng số dự án , với số vốn 6,48tỷ USD. Số dự án hoạt động theo hình theo hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng rất thấp: có 145 nước chiếm 7% với số vốn là 3,23 tỷ USD chiếm 9,4% .Sở dĩ như vậy là do một số ngành đặc biệt như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông nhà nước quy định phảI làm theo hình thức hợp doanh. Chỉ có 3 dự án hoạt động theo hình thức BOT- chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhiều công trình, dự án quan trọng đã đI vào hoạt động, nhiều công nghệ được chuyển giao đã tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế. Tác động rõ nét. nhất là lĩnh vực công nghiệp , khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI chiếm 100% về khai thác dầu thô , lắp ráp ô tô, sản xuất bóng đèn hình; 45% về sản xuất thép, 21% về sản xuất vảI ;205 về sản suất bia…Theo thông kế trong giai đoạn 1991-1996 vốn FDI đã thực hện chiếm 40% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm. Tỷ trọng sản phẩm trong tổng GDP của khu vực đầu tư nước ngoàI cũng một ngày càng tăng . Năm 1993là 5,6%, năm 1994là 7,5%, năm 1995là 10%, đến năm 1996 là 13%. Tuy nhiên đến sau năm 1996 tình hình thu hút FDI có xu hướng chững lạI. Nến nhìn vào con sộ tống kê, số vốn đăng kí của cả năm 1996 là 9212 triệu USD tăng 39% so bvơí 1995 thì có lẽ tình hình khả quan hơn .Tuy vậy những ai quan tâm dến tình hình đầu tư đều nhận thấy rằng, nến không có hai dự án xây dựng khu đô thị mới với tổng số vốn FDI năm1996 sẻ chỉ còn gần 6 tỷ USD, thầp hơn tổng số vốn FDI năm 1995.

    Bước sang năm 1998 do tiếp tục bị ảnh hưởng chủ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực kéo daì nên đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam bị giảm sút mạnh. Tuy vậy phảI nhờ đến chính sách phù hợp, tập trung xử lí những vướng mắc kịp thời nên năm 1998 vẫn có thêm 260 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn là 4827triệu USD. Năm 1999 số dự án là 280 song tổng số vốn chỉ đạt 2000 triệu USD.

    Như vậy trong gia đoạn 1996-1999 số dự án được cấp giấy phép liên tục giảm, tổng số vốn đầu tư cũng có chiều hướng giảm.

    Về cơ cầu vốn đầu tư

    Đây là nột vần đề có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, nó có tác dụng to lớn đến quá trính chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung Theo số liệu thống kê, cơ cấu vốn đầu tư vào Việt Nam trong những năm qua có những bước tiến rõ rệt. Tính đến tháng 8-1993 nghành công nghiệp khai

    – -13

    thác và khách sạn, du lịch thu hút tới 40,9% tổng số vốn đầu tư, thì năm 1998 số vốn đầu tư vào các nghành này chỉ còn 18,2% .Số vốn đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất và xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng tăng. Tính đến năm 1998 đã có đến 21,236tỉ USD đầu tư vào khu vực này, chiếm 2/3 tổng số vốn FDI đầu tư vào Viết Nam. Nếu tính đến suốt cả thời kì 1989-1997 ngành công nghiệp có 1977 dự án với số vốn đăng kí là 11545,3triệu USD, thứ hai là nghành khách sạn, du lịch có 189 dự án với số vốn là 2785,9 triệu USD; 1527,3triệu USD. Cơ cấu này được thể hiện như sau:

    ST Ngành Số dự Tổng Tỷ lệ Số dự Tổng Tỷ lệ
    T   án số %vốn án số vốn %vốn
          vốn        
                   
    1 Công nghiệp chế biến 285 2328 39,6 1291 13008 40,5
                   
    2 Công nghiệp khai thác 25 1124 19,1 79 2184 6,8
                   
    3 Xây dựng 14 16 0,3 259 8228 25,6
                   
    4 Khách sạn và du lịch 86 1276 21,8 161 3650 11,4
                   
    5 Giao  thông  và  bưu 34 456 7,8 102 1465 4,6
      đIện            
                   
    6 Nông –lâm nghiệp 81 239 4,1 54 316 1,0
                   
    7 Ngư nghiệp 32 90 1,5 47 206 0,6
                   
    8 Các nghành khác 68 336 5,8 327 3045 9,5
                   
      Tông cộng 625 5865 100 2320 32102  
                   

    Nếu như thời kì đầu của ngành sản xuất chỉ chiếm từ 50-60% tổng số vốn đầu tư so với năm 1995, nghành giao thông vận tảI và bưu điện từng 89%, xây dựng và sản xuất vật liệu công nghiệp tăng 63% trong cùng kì. Điều đáng chú ý trong thời gian qua đã có một số dự án dầu tư vào cở sở hạ tầng. Ngược lại so vơí năm 1995, năm 1996 FDI trong khu vực khách sạn giảm đI 53%, văn phòng cho thuê 70% và tàI chính nhân hàng giảm 44%. Mức giảm còn mạnh hơn năm 1997-1998.

    Sự phân phối lạI nguồn vốn đầu tư trong công nghiệp chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoàI ngày càng tin tưởng vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, không chỉ đầu tư vào những nghành thu hồi vốn đầu tư nhanh mà họ còn yên tâm đầu tư vào các dự án phát triển dài hạn. Có được kết quả này một phần là

    – -14

    nhờ vào việc phát triẻn các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Tuy nhiên cũng dễ nhận thấy số vốn FDI đầu tư vào các nghành công – nông –ngư nghiệp còn quá ít. Đến năm 1998 mới có 1629 triệu USD chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số vốn FDI mặc dù khu vực này có nhiều tiềm năng để khia thác như chế biến nông lâm thuỷ sản. ĐIều này cho thấy những năm tới khu vực này cần tập trung thu hút nguồn vốn đầu tư nhiều hơn nữa để có thể tận dụng tốt hơn các nguồn lực cho phát triển.

    Cơ cấu vốn đầu tư cho vùng lãnh thổ cũng đã từng bước phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế. Những năm đầu các nguồn vốn đầu tư tập trung nhiều vào các tỉnh phía nam: như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa vũng tàu …thì hiện nay nguồn FDI có sự phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng tập trung chủ yếu vào các khu vực kinh tế trọng đIểm như Hà Nội – HảI Phòng – Quảng Ninh…

    Về đối tác đầu tư.

    Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều công ty, nhiều tập đoàn lớn như là: các công ty xuyên quốc gia có tiềm lớn về tàI chính như Sony, Tôyota, Hon da, Sanyo, sam sung, Motỏola, Ford của Mỹ …

    Bên cạnh đó cũng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ngoài tham gia đầu tư tạI Việt Nam. ĐIều này cũng thực sự cần thiết vì các doanh nghiệp này thường rất năng động, thích ứng nhanh với nhứng biến động của thị trường, hoạt động có hiệu quả, từ đó sẽ là cơ sở cho các tập đoàn, các công ty lớn nhìn nhận đúng hơn môI trưòng đầu tư, kích thích họ an tâm dầu tư nhiều hơn nữa vaoViệt Nam.Theo số liệu thốg kê của bộ kế hoạch và đầu tư, các nước và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư lớn vào Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

    Nước và vùng Số dự án   Tỷ trọng Tổg số vốn Tỷ trọng
    lãnh thổ       đầu tư (%) (%)
               
    Singapore 181   9,4 6447 20
               
    đàI loan 309   16 4268 13,3
               
    Hồng công 184   9,5 3734 11,6
               
    Nhật bản 213   11 3500 11,4
               
    Hàn quốc 191   9,9 3154 9,8
               
      -15    
    Pháp 96 5,0 1465 4,6
             
    Malaysia 59 3,1 1370 4,3
             
    Hoakì 70 3,6 1230 3,8
             
    TháI lan 78 4,0 1109 3,4
             
    BV. Iland 55 2,9 1089 3,2
             
    Tổng 1436 74,4 27366 85,4
             

    Các nước và vùng lãnh thổ đứng đầu về FDI ở ViệtNam

    Hình thức đầu tư

    Tính đến năm 1994, các hình thức đầu tu đã thục hiện tạI Việt Nam là: – Xí nghiệp liên doanh có 788 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 7 tỷ USD, chiếm 70,21% vốn đầu tư.

    • Xí nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoàI có 209 dự án với tổng số vốn

    1,525 tỷ USD, chiếm 15,88% vốn đầu tư.

    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 84 dự án với 1,319tỷ USD, chiếm 13,75% vốn đầu tư.

    NgoàI ra có 13 dự án liên doanh của Việt Nam đầu tư ra nước ngoàI nhưng còn rất bé, chỉ chiếm 0,16% vốn đầu tư.

    Kết quả thực hiện dự án đầu tư.

    Nếu tính từ năm 1988 đến hết năm 1994, vốn đầu tư đãc thực hiện 3,482 triệu USD, trong đó dầu khí chiếm 1,29 triệu USD, vốn bên VIệt Nam chiếm 462 triệu USD. Như vậy nếu không tính đầu khí và phần vốn của Việt Nam (mà chủ yếu là đất) thì vốn thực hiện bên ngoàI là 1,63 triệu USD. Riêng năm 1994 đạt 140 triệu USD, từng 30% so với năm 1993.

    Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI đã tạo ra giá trị sản lượng hàng hoá khoảng 1,5 triệu USD (năm 183-1994) kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ ước tính đạt 500 triệu USD.

    Bước sang 1995 tình hình thu hút đầu tư có chiều hướng gia tăng .Vốn thực hiện vào quý I/ 1995 là 420triêụ USD trong đó dầu khí là 120 triệu USD. NĂng lực chủ yếu tăng thêm là do: dầu thô 100 triệu tấn (của hai mở Đại Hùng và Thanh long), bóng đèn hình 1,5 triệu chiếc, thép và sản phẩm thép 35 vạn tấn, xi măng 50 vạn tấn.

    1.3      Khó khăn và thách thức

    – -16

    • Sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI giữa các nước và các khu

    vựa.

    Kể từ năm 1995 kinh tế Mỹ, Tây Âu và Nhật bản bắt đầu phục hồi sau một thời gian suy thoáI, tình hình đó thúc đẩy các nhà đầu tư trên thế giới dùng 70% tổng số vốn FDI đầu tư cho những nước công nghiệp phát triển. Phần vốn còn lạI là các nước đang phát triển phân chia và cạnh tranh vơí nhau. Do đó mức độ cạnh trạnh thu hút FDI càng trở nên gay gắt, nhất là khu vực Châu á, ở đây có những thị trường mơí nổi lên như Trung quốc, ấn Độ và Indonesia. Hàng năm trong tổng số vốn đầu tư nước ngoàI đổ vào các nước đang phát triển thì Trung Quốc tiếp nhận, ấn Độ sau những năm gần đây sau những tích cực cảI cách nền kinh tế, môI trường đầu tư được cảI thiện nên FDI vào nước này càng tăng nhanh .So với Việt Nam thì đó là các đối thủ rất mạnh, xét về phương diện, quy mô thị trường để trình độ công nghiệp hoá và các cơ chế chính sách nhằm thu hút FDI.

    • Vấn đề công nghệ.

    Các công ty đa quốc gia luôn nắm các công nghệ hiện đạI của thế giới. Nến FDI của họ vào nước ta càng nhiều thì qúa trình chuyển giao công nghệ cũng càng nhiều. Tất cả quốc gia tiếp nhận FDI đều muộn nhận công nghệ hiện đạI, nhưng hiện đại đến đâu còn tuy thuộc vào đIều kiện của các gia sở tạI . Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển khác cảm giác bao trùm là các nhà đầu tư chỉ đưa đến những công nghệ cũ và lạc hậu.

    • Vấn đề thị trưòng.

    Thị trường trong nước nói là gần 80 triệu dân nhưng sức mua không lớn. Những năm gần đây nhiều mặt hàng sản xuất ra tiêu thụ rất khó hoặc bị ứ đọng đIển hình là xi măng, sắt thép hàng may mặc, đường… Một số mặt hàng như ôtô, xe máy mới đầu tư gần đây nhưng tiêu thụ chậm đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

    Năm 1996 Việt Nam đã nhập khẩu hơn 11tỷ USD, phần lớn số hàng nhập khẩu này hàng trong nước chưa sản xuất được. Vì thế các công ty nước ngoàI đầu tư tạI Việt Nam đang nhằm vào sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam phải nhập khẩu. Tuy nhiên do nhiều công ty của cả nước ngoàI cầ trong nước đều tập trung vào sản xuất ra các mặt hàng này nên cạnh tranh rất gay gắt và mức tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp cũng giảm, làm cho FDI giảm theo.

    – -17

    Bắt đầu cuộc khủng hoảng tàI chính tiền tệ Châu á xảy ra vào cuối năm 1997 nhiều nhà kinh doanh cho rằng đó là đIều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút FDI. Theo họ khi các nước trong khu vực mất ổn định về tàI chính thì Việt Nam sẻ ít rủi ro hơn và có hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng tàI chính không những gây thiệt haị nặng nề cho các nước đó mà còn làm cho dòng FDI vào Việt Nam và xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh.

    Trước xu thế và những khó khăn và thách thức mà Việt nam đã va đang đối mặt đòi hỏi chúng ta phảI có những biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoàI tạI VIệt Nam.

    2.                 giảI pháp cụ thể nhằm thu hút vốn đầu tư.

    2.1) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

    Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư xây dựng

    Để phù hợp với nền kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để đIều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Tuy nhiên quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng và sâu rộng làm cho hệ thống pháp luật và chính sách không theo kịp, khi áp dụng vào thực tế quản lí đầu tư xây dựng, chúng bộc lộ các nhược đIểm vừa chồng chéo lạI vừa sơ hở nên dễ bị lợi dụng làm thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ nhất, nên giao chức năng quản lí nhà nước về công tác đấu thầu cho bộ xây dựng quản lí. Vì mục tiêu đấu thầu là lựa chọn các nhà tư vấn, nhà thầu có đủ năng lực về tài chính, công nghệ và nhân lực để thực hiện dự án đầu tư một cách có hiệu quả nhất.Chỉ có bộ xây dựng mới đủ khả năng xem xét toàn diện các năng lực này,trước hết là về công nghệ và nhân lực, sau đó là kĩ thuật xây dựng cũng như chất lượng công trình trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.

    Thứ hai, nên giao cho bộ xây dựng chức năng quản lí nhà nước một cách toàn diện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và giảm bớt chức năng quản lí các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc như hiện nay. Làm như vậy sẽ khắc phục được những bất hợp lí trong việc ban hành và quản lí các tiêu chuẩn quy phạm và định mức kinh tế kĩ thuật trong xây dựng, góp phần hạn chế lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ ba, giao bộ xây dựng và sở xây dựng quản lí thống nhất các công trình xây dựng trong đô thị, đặc biệt là hệ thống hạ tầng kĩ thuật,để tránh tình

    – -18

    trạng đầu tư không đồng bộ nhằm hạn chế những lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ tư, trên cơ sở phân định rõ chức năng của các bộ , ngành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng,từng bước thể chế hoá các văn bản pháp luật,trước hết ban hành: luật quy hoạch,luật xây dựng,luật nhà ở…đồng thời tổ chức lạI bộ máy của ngành xây dựng tạo đIều kiện cho ngành quản lí tốt các lĩnh vực theo luật định.

    2.2) Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư.

    Xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư nhằm các mục tiêu: xoá bỏ “tình trạng ngẫu hứng”trong đầu tư. Các quyết định đầu tư vội vàng thiếu kế hoạch, vi phạm các quy trình đầu tư, khắc phục hiện tượng vừa thiết kế vừa thi công, để nâng cao chất lượng dự án, chất lượng thiết kế đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Xoá bỏ tình trạng đầu tư dàn trảI, dẫn đến dự án thiếu vốn phảI thi công kéo dàI, lãng phí thất thoát vốn đầu tư và làm mất thời cơ kinh doanh. Xoá bỏ bỏ cơ chế xin – cho, nguyên nhân phát sinh tiêu cực, làm thất thoát vốn đầu tư, làm hư hỏng cán bộ tham nhũng tháI hoá, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng ,Nhà Nước.

    Bản chất của kế hoạch hoá đầu tư là dựa trên phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trên quy hoạch dài hạn và ngắn hạn của các nghành dự báo thị trưòng tiêu thụ trong và ngoài nước để định ra một bức tranh tổng thể cho đầu tư cả nước, của từng vùng, từng đại bàn, dài hạn và ngắn hạn .

    Trên cơ sở đó, định ra kế hoạch đầu tư 5 năm và đầu tư tháng năm. Các kế hoạch này xác định thời gian cho việc nghiên cứu dự án, tạo điều kiện cho. Nhà nước kiểm soát hướng dẫn đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài. ở lĩnh vực nào đó nếu thấy đầu tư sẽ dẫn dến mất cân đối trong tiêu thụ sản phẩm hoặc cạnh tranh không lành mạnh thì Nhà nước can thiệp, không cho phép đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư nào, mà còn có lợi cho xã hội.

    Việc nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạh hoá đàu tư đòi hỏi Nhà nước phải quản lí chặt chẽ các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp liên doanh rơi vào tình trạnh thua lỗ sau một thời gian phảỉ bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vấn đề này đến một giới hạn nào đó, không đơn thuần là kinh tế, mà còn liên quan đến

    – -19

    chính trị, an ninh quốc gia .Mặt khác cũng cần xem lại vốn vay nước ngoài để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

    • Để nâng cao trách nhiệm của cá nhân ra quyết định đầu tư.

    Từ trước đến nay, luật pháp nước ta chưa đặt ra các chế tàI cụ thể đối với các tổ chức và cá nhân khi ra thực hiện cho đất nước, trong lĩnh vực được giao phụ trách .Do đó trong đầu tư xây dựng , mặc dù có nhiều dự án không đạt hiệu quả, bởi các chữ kí làm nghèo đất nước , nhưng vẫn không bị truy trách nhiệm . Để tránh tình trạng này cần tăng trách nhiệm cho các cơ quan và các tổ chức quản lí .

    Viếc đề ra trách nhiệm của người phê duyệt , quyết định dự án đầu tư sẽ hạn chế được rất nhiều hiện tượng chạy dự án như hiện nay và sự ra đời một dự án sẽ được thực nghiêm túc , chính xác , góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư .

    –Bổ sung , hoàn thiện và quản lí chặt chẽ hệ thống quy phạm , định mức kinh tế – kỉ thuật và đơn giá trong đầu tư xây dựng

    Thứ nhất , giao cho bộ xây dựng là cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất và chịu trách nhiệm ban hành các quy phạm , tiêu chuẩn kỉ thuật và các định mức kihn tế kỉ thuật . Chấm dứt tình trạng thiếu thống nhất và khó kiểm soát do nhiều bộ , ngành tự ban hành các văn bản nói trên .

    Thứ hai , khẩn trương sửa đổi ban hành hệ thống quy phạm , tiêu chuẩn kĩ thuật mới phù hợp với trình độ khoa học kĩ thuật hiện nay , để tránh những bất cập do lãnh phí trong đầu tư xây dựng .

    Thứ ba, nhanh chóng sửa đổi và bổ sung hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng . thực tế hiện nay , lĩnh vực công nghiệp nước ta đã đuổi kịp nhiều nước tiên tiến trên thế giới . Đã xuất hiện nhiều chủng loạI vật liệu xây dựng mới , nhiều loại xe máy thi công hiện đạI …ở các nước có trình độ kĩ thuật công nghệ như nước ta , họ đã ban hành và sử dụng hàng ngàn định mức kinh tế kỹ thuật .

    2.3) Chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư xây dựng.

    Công tác kiểm tra thanh tra trong đIều tra xây dựng từ trước đến nay vẫn được thực hiện, nhưng thường với những việc riêng lẻ và thường xử lí nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Lực lượng thanh tra, kiểm tra vừa thiếu về chất

    – -20

    lượng vừa yều về chất lượng nên hiệu lực công tác chưa cao. Để phát huy vai trò quản lí vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tês thị trường, cônmg tác này cần được coi trọng, cần được tiến hành hường xuyên sâu rộng.

    Thứ nhất thanh tra kiểm tra trong đầu tư xây dựng cần kết hợp phổ biến giảI thích pháp luật, để ngăn ngừa các hành vi phạm luật. Đồng thời phát hiện những sơ hở trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng để kiến nghị các cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi thay thế bằng văn bản mới cho phù hợp phục vụ cho việc quản kí đầu tư.

    Muốn làm được như vậy phảI hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra từ trung ương đến địa phương. PhảI nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của tổ chức kinh tế tiến hành đầu tư xây dựng. PhảI tăng cường đào tạo trình độ chuyên môn và coi trọng phẩm chất đạo đức thông qua quá trình thử thách rèn luyện đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra.

    2.4)  Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ.

    Phân bổ vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ hợp lí sẻ tạo điêù kiện khai thác triệt để lợi thế của vùng, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Đầu tư phát triển hợp lí vùng lãnh thổ, sẻ phát huy tốt những ưu việt của từng vùng. Đảm bảo tiệt kiệm chi phi vận tảI , sản xuất đào tạo ..Và phát triển kinh tế hàng háo. Nâng cao khả năng, trình độ chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động xã hội, góp phần tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong nước và quốc tế. Mặt khác, phân bổ vốn đầu tư hợp lí giữa các vùng còn là động lực mãnh mẽ góp phần giải quyết các mục tiêu xã hội như: xoá đói giảm nghèo, hạn chế chênh lệch giữa các vùng về mức sống, hưởng thụ văn hoá , môI trường …

    Thời gian qua, việc đầu tư pghát triển vùng lãnh thổ tuy đã đạt được những thành tựu ban đầu nhưng do còn nhiều hạn chế về cơ chế chính sách phối kết hợp, về tư duy và hành động…nên việc phân bổ vốn đầu tư còn mang nhiều yếu tố chủ quan, bình quân chủ nghĩa.

    Việc chuyển dịch hơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2001 –2010 cần theo các hướng cụ thể sau đây:

    Một là, tập trung ưu tiên vốn đàu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinhtế kĩ thuật của các vùng kinh tế trọng đIểm, tạo đà cho sự phát triển kinhtế xã hội và khai thác tiềm năng sẵn có. Theo đó, cần chú trọng đầu tư phát triển

    – -21

    những vùng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như vùng: Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông hồng, các vùng tam giác tăng trưởng

    Hai là, chú trọngđầu tư nhằm hình thành và phát triển một số vùng kinh tế đặc biệt có cơ sơ hạ tầng kinh tế xã hội và thị trường phát triển làm nhân tố khuyến khích phát triển các vùng lân cận. Những vùng này thường là những vùng có lợi thế đặc biệt so với các vùng khác về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng…như Đà lạt các vùng cửa khẩu, cảng biển, vùng đất đỏ bazan…

    Ba là, Để thực hiện CNH-HĐH trên phạm vi cả nước cần đầu tư phát triển giao thông, thuỷ lợi, đIện lực ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên và miền trung.

    Bốn là Để kết hợp mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu công bằng xã hội không chỉ tập trung đầu tư vào các vùng có đIều kiện thuận lợi về hạ tầng kỉ thuật, các khu vức thành thị và các vùng kinh tế trọng đIểm mà cần chú ý đầug tư phát triển vùng núi, vùng sâu vùng xa (ở Tây nguyên và Miền núi phía Bắc). Do đó, cần thực hiện chính sách đầu tư ưu đãI đối với cácc vùng này và kết hợp với việc phân phối lạI tích luỹ từ các vùng kinh tế trọng đIểm.

    Năm là, chú trọng hơn nữa đầu tư nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tàI nguyên thiên nhiên sẵn có bằng cách đầu tư kết hợp, lồng ghép các chương trình. Như kết hợp chương trình xoá đói giảm nghèo với trồng rừng…

    Đổi mới cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư

    Theo cơ cấu kỉ thuật thì tổng mức vốn đầu tư được phân thành đầu tư xây dựng lắp ráp, đầu tư thiết bị cơ bản khác. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư cần được đổi mới theo các hướng sau :

    Một là, chính sách đầu tư phảI thực hiện theo hướng ưu đãI, đối với các dự án có vốn đầu tư thiết bị chiếm trên 50%t ổng mức vốn đầu tư của dự án. Đồng thời thực hiện ciệc chuyển dịch từ ư đãI đầu tư sang ưu đãI sau đầu tư.

    Hai là, không phê duyệt các dự án sản xuất mà mức đầu tư xây lắp chiếm tỉ trọng trên 50% tổng mức vốn đầu tư .

    Ba là, giảm tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản khác trong tổng mức vốn đầu tư xuống còn 10%.

    Đổi mới cơ cấu táI sản xuất của vốn đầu tư .

    • -22

    Theo cơ cầu vốn đầu tư nó được phân thành :đầu tư xây dựng mới , đầu tư mở rộng hoặc mở rộng hoặc đổi mới máy móc thiết bị và đầu tư xây dựng lạI khôI phục năng suất sản xuất.

    Do đó trong giai đoạn tới cơ cấu tái sản xuất của vốn đầu tư cần phảI đổi mới, điều chỉnh theo hướng :

    Một là, đối với những nhóm hiện nay đang chịu sự cạnh cạnh gay gắt trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế thì kiên quyết không đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất công nghệ, thiết bị lạc hậu.

    Hai là, đối với những dự án xây dựng mới hoặc mở rộng khi cần thiết phảI đảm bảo đầu tư vào những thiết bị công nghệ tiên tiến, kết hợp hàI hoà giữa đầu tư chiều rộng và chiều sâu. Việc xét dự án ,cần chú ý lựa chọn các phương án sử dụng những thiết bị công nghệ tiên tiến một cách hợp lí với phương châm đI tắt .

    Thứ ba, thực hiện các chính sách ưu tiên về thuế, cùng với ưu đãI đặc biệt cho các dự án thiên về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Chú trọng việc đào tạo cán bộ đội như công nhân lành nghề, có khả năng nắm bắt nhanh, vận dụng kiến thức tiên tiến và công nghệ mới vào thực tiễn.

    Bốn là, chính sách đầu tư phảI hướng vào hạn chế xây dựng mới và không được tiến hànhđầu tư đối với các cơ sở sản xuất của máy móc thiết bị đã có. Các nguồn vốn của doanh nghiệp phảI ưu tiên cho việc đầu tư chiều sâu. Muốn vậy phảI đánh giá chính xác tài sản doanh nghiệp. Thực hiện khấu hao nhanh những TSCĐ cần thiết và khuyến khích doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới máy móc thiết bị kỉ thuật.

    – -23

    2.5)  Hoàn thiện chiến lược thu hút đầu tư

    Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp là nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí để phát triển kinh tế.

    Kinh nghệm của nhiều nước cho thấy sau một thời gian thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, cơ cấu kinh tế đã trở thành vấn đề cần giảI quyết, nền kinh tế đã phát triển thiếu cân đối lạI càng mất cân đối thêm. Do vậy cần có sự điêù chỉnh kinh tế. Đây là việc làm có hiệu quả, song có nhiều khó khăn, bởi vì làm như vậy cần có kinh tế đủ mạnh mà nhiều nước chủ nhà trước mắt không có lợi gì, thậm chí còn bị thiệt thòi.

    Do đó cần gấp rút đIều chỉnh đảm bảo đầu tư có trọng đIểm, không dàn trảI song vẫn đảm bảo cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    2.6)  Xây dựng và lựa chọn đối tác đầu tư

    Đây là vấn đề rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt , với chủ trương đa phương hoá. Do vậy việc lựa chọn đối tác phảI quán triệt hai vấn đề:

    Một là, phảI hướng trọng tâm lâu dàI vào công ty xuyên quốc gia, song cần chuẩn bị đIều kiện trong nước, nhất là cần có đối tác mạnh. ĐIều này đòi hỏi phảI xây dựng các tập đoàn kinh tế, đồng thời làm tốt công tác xúc tiến đầu tư thông qua việc tổ chức Form, qua các hội chợ triển lãm và các công ty tư vấn đầu tư trong nước cũng như quốc tế .

    Hai là, lựa chọn đối tác cho từng nghành, từng lĩnh vực.

    2.8)Tiếp tục hoàn thiện đầu tư nước ngoàI.

    Thủ tục đầu tư cũng là một vấn đề nổi cộm đang được từng bước cảI tiến. Để đảm bảo tính hấp dẫn cần kiên quyết thực hiện “một cửa” và quy định chặt chẽ thời gian tối đa giảI quyết thủ tục, hướng sắp tới cần nhanh chóng thực hiện tối ưu hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn tối đa thời gian mà các nhà đầu tư phảI chi phí cho các công việc thủ tục.

    2.7)    Tăng cường kết cấu hạ tầng, hoàn thiện các chính sách khuyến khích.

    Kết cấu hạ tầng là đIều kiện tiên quyết đối với thu hút đầu tư FDI.

    Vì vậy trong thời gian trước mắt phảI tập trung thích đáng cho công việc này, nhất là hệ thống giao thông, cấp thoát nước khu đô thị, hệ thống công nghệ phụ trợ.

    – -24

    Cần đIều chỉnh sách để độ khuyến khích cao nhất và chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu tư vào kết cấu hạ tầng, nông, lâm, trung du, miền núi.

    2.9) Vấn đề bảo vệ môI trường.

    Đây là vấn đề rất lớn cần được quan tâm từ đầu, nếu không sẽ khó khắc phục hậu quả không chỉ trứoc mắt mà còn về lâu dàI .Theo quy định hiện hành, Nhà nước đầu tư phảI báo cáo đánh giá tác động môI trường với nhiều nội dung nhiều mục tiêu kinh tế xã hội, ý nghĩa chính trị của dự án, phảI mô tả đIều kiện địa lí tự nhiên. ĐIều đó gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư, cho nên cần được quan tâm đúng mức.

    2.10) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI và đội ngũ cán bộ làm công tác

    đầu tư.

    +) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoài

    Cần nhanh chóng đổi mới bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI theo hướng tinh giản, gọn nhẹ có hiệu lực.

    Bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI dù được tổ chức như thế nào cũng cần trực thuộc Thủ Tướng Chính Phủ và về nguyên tắc Thủ tướng có quyền quyết định cuối cùng tất cả mọi dự án.

    +) Về đội ngũ cán bộ.

    Cần phải có chiến lược đào tạo cán bộ. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phảI là những chuyên gia trong từng lĩnh vực, có phong cách giao tiếp và trình độ nhận giao thành thạo. Trứơc mắt cần phải đI đào tạo những trường, viện về chuyên ngành ngoạI ngữ. Đội ngũ này phảI qua thi cử, lựa chọn, để bổ sung cho những khuyếm khuyết hiện nay, cần tăng cường những chọn lọc các cơ quan tư vấn trong và ngoàI nước, đồng thời cần tăng cường thêm đội ngũ có trình độ tầm vĩ mô.

    2.11) Duy trì và ổn định chính trị xã hội.

    Đây là môI quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư và ruỉ ro chính trị là rất lớn. Chúng ta phải duy trì ổn định chính trị xã hội, ngăn ngừa và loại bỏ nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Tạo ra tâm lí yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoàI khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

    2.12) Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư.

    MôI trường đầu tư của nước ngoàI là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lợi

    – -25

    của vốn đầu tư nước ngoàI. Chúng ta đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môI truờng đầu tư nước ngoàI từ đó đưa ra những phương pháp hoàn, thiện môI trường đầu tư nhằm đảm bảo khả năng sinh llợi của các nhà đầutư cũng như lợi ích của toàn bộ nền kinh tế:

    +) Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong giờ lĩnh lực thay vì chỉ hoạt động trong một số lĩnh vưc nhất định. Cho đến nay, theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam thì hânù như không cho các nhà đầu tư thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Chính đIều đó làm cho các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn.

    Thứ nhất: bó buộc các chủ đầu tư phảI thánh lập một thực thể pháp luật đối với mọi dự án và như vậy xin pheps đầu tư và chi phí thành lậ sẻ buộc phảI tăng lên rất nhiều.

    Thứ hai: Nó làm chậm trễ các dự án đầu tư dẫn đến làm mất cơ hội và làm nản lòng các nhà đầu tư .

    Thứ ba: Nó không cho phép củn cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể tức là không cho phép đa dạng hoá kinh doanh và tận dụng lợi thế của nó .

    +) Mở rộng thêm đIều kiện chuyển nhượng cho các bên.

    Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế có ảnh hưởng quyết định đến việc chi tiêu ngân sách. Ngân sách càng có nguồn thu lớn thì càng tạo ra được môI truờng tốt để khuyến khích đầu tư thuế thu đủ cho chi tiêu của ngân sách góp phần hạn chế lạm phát. ĐIều đó sẽ tạo ra môI trường tàI chính thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

    Nguồn vốn ngày càng tăng tạo đIều kiện vật chất cho nhà nước đầu tư vào lĩnh vực tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hồi vốn lâu như: cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục…và do đó tạo môI trưòng cần thiết để hấp dẫn FDI.

    Thuế là biện pháp quan trọng trong chính sách ưu đãi đầu tư, hướng đầu tư vào các dự án thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Các ưu đãI sản xuất về thuế là sự khuyến khích quan trọng về mặt tàI chính để thu hút các nhà đâù tư vào một quốc gia hay khu vực nhất định.

    Việc cảI thiện hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI theo hướng: đơn giản hoá, dễ tính, đảm bảo lợi ích quốc gia, có tác dụng khuyến khích đầu tư và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    2.13) Thực hiện chiến lược khoa học công nghệ.

    – -26

    Một trong nhữn vai trò quan trọng của FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ mang một hàm ý rộng, bao gồm không chỉ từ nhập khẩu cộng nghệ đơn thuần mà còn vận hành công nghệ đó, sửa chữa bảo hành, nắm vững các nguyên lí, mô phỏng và phát triển nó .Thông qua các hình thức FDI, giữa các nước đã có sự chuyển giao công nghệ và bổ sung công nghệ cho nhau. Đối với các nước đang phát triển, trình độ công nghệ lạc hậu thấp kém thì FDI được coi là một phương tiện hữu hiệu để nhập khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoàI. Thông qua FDI, các nước phát triển có đIều kiện xuất khẩu công nghệ trung gian và chuển giao công nghệ đã có phần lạc hậu so với trong nước . Các hình thức chuyển giao công nghệ thường có lợi cho cả hai bên phần lớn các nước đang phát triển như ở Việt Nam, có nhu cầu đổi mới về công nghệ và do đó có những biện pháp và chính sách cởi mở nhằm đẩy mạnh FDI và muốn nhập những ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến. Một vần đề quan trọng khác là FDI dẫn đến thay đổi về cơ cấu ngành trong nội bộ đất nước tại Việt Nam. Kể từ khi luật đầu tư nước ngoàI được ban hành đến nay đã làm xuất hiện một số nghành hoàn toàn mới như sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy, đIện tử…

    2.14) Xử lí linh hoạt hình thức đầu tư.

    Trong hoàn cảnh nước ta, đặc biệt là các vùng kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, nhiều nguồn lực chưa được khai thác, các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực tàI chính, công nghệ, trình độ quản lí và năng lực kinh doanh quốc tế cần xử lí linh hoạt vấn đề hình thứcđầu tư theo hướng:

    • Khuyến khích hình thức doanh nghiệp 100% vốn nứơc ngoàI đối với

    những dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới; các dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dàI, độ rủi ro cao, tỷ lệ lợi nhuận thấp

    • Cho phép linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tư từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tất nhiên việc chuyển đổi phảI đảm bảo đIều kiện ổn định đuợc việc làm cho người lao động; bảo toàn được vốn góp của

    bên Viêt Nam.

    – -27

    phần C: kết luận

    Hiện nay việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI(Viện trợ ODA, tín dụng thương mạI, vốn đầu tư trực tiếp, FDI, tín phiếu tráI phiếu, cổ phần, cổ phiếu, trong đó FDI là nguồn quan trọng nhất trong bốn nguồn đó)

    Đang trở thành bộ phận chủ yếu trong quan hệ kinh tế thế giới và là nhân tố quan trọng hàng đầu, của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu tư đang trở nên đang vô cùng cần thiết trong đIều kiện của xu hướng quốc tế hoá đơì sống kinh tế, của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng gia tăng. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài đang la một nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng quan trọng và một trông những chỉ số cơ bản đánh gíá khả năng phát triển.

    Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hôị từ điểm xuất phát rất thấp về kinh tế, kỉ thuật xã hôị…

    Đảng và nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là phải thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế chịnh trị – xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển , cải thiện đời sống nhân dân , củng cố quốc phòng an ninh, tạo đIều kiện cho cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

    Để đạt được mục tiêu nói trên phải thực hiện tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó việc đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài có tầm quan trọng hàng đầu.

    Cuộc vận động thu hút đầu tư nước ngoài vừa là hoạt động mới của Việt Nam, vừa được triển khai trong bối cảnh cạnh tranh công khai quyết liệt trên trị trường đầu tư giữa cac nước trên thế giới và khu vực.

    Đây là đIều kiện không thể tránh khỏi bởi vì dòng vốn đầu tư của thế giới không lớn lắm nhưng nhu cầu về vốn đầu tư của các quốc gia lại đều rất lớn và vượt xa nguồn cung cấp.

    – -28

    Đầu tư nước ngoài tự nó chưa phải là giải pháp duy nhất quyết định sự phát triển kinh tế, nó cần đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoài, giữa việc phát triển các nguồn lực trong nước là chính và chính sách mở rộng quan hệ kinh té đối ngoại là quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoài, tính đặc thù của sự vận động nguồn đầu tư nước ngoài (chủ yếu dòng đầu tư trực tiếp FDI) đã cho thấy: chỉ riêng luật đầu tư nước ngoài cởi mở, thông thoáng, luật xuất nhập cảnh tạo đIều kiện dễ dàng cho các nhà đầ tư đi lại , cư trú hành nghề… và bản thân các biện pháp, chính sách ưu đãi… tự nó chưa đủ sức tạo ra sức thu hút mạnh mẽ và tác dụng thuận lợi đối với nguồn đầu tư nước ngoài. Khả năng tranh thủ vầ sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoài đòi hỏi sự nổ lực toàn diện và triển khai theo nhiều hướng trên nhiều lĩnh vực khác như: tự nhiên, xã hội, khoa học kỉ thuật, chính trị – ngoại giao, kinh tế – kỉ thuật, điều kiện pháp luật, cơ chế vận hành…

    Quốc gia nào có tính hâp dẫn hơn, có môi trường đầu tư thông thoáng ổn định thuận lợi hơn, có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI thì quốc gia đó sẽ dành đực lợi thế trong cạnh tranh về nguồn đầu tư.

    MôI trường đầu tư, đó là tổng thể các yếu tố liên quan đến đIều kiện địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, pháp luật… tạo nên những đIều kiện thuận lợi và ưu thế cho các quốc gia thu hút một cách tốt nhất nguồn vốn bên ngoàI.

    Những yếu tố đó được thể hiện ra bằng cả hệ thống các giải pháp mà phần lớn là do con người tạo nên. Những pháp đó có vai trò và vị trí không giống nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng tác động đến việc thu hút đầu tư nước ngoài thông qua môi trường đầu tư. Vì vậy khi vận dụng, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ biện chứng và và có quan đIểm hệ thống, đồng thời phải tập trung giải quyết các giải pháp cấp bách trước mắt, coi đó là những giải pháp mang tính tình thế kết hợp với các giảI pháp mang tính chiến lựơc lâu dài. Cùng với việc thực hiện các giảI pháp trên cần chú trọng và sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả.

    Chỉ khi nào sử dụng có hiệu quả thì việc thu hút đầu tư mới có ý nghĩa thiết thực. Do đó phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua từ đó đề xuất những biện pháp cụ thể để huy động tối đa nguồn vốn này cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tới là vấn đề cần được quan tâm.

    – -29

    – -30

    TàI liệu tham khảo.

    • Những giải pháp chính trị- kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.(1996)
    1. Lê nin toàn tập : Tập 29- chượng II
    1. Những vấn đề về hội nhập kinh tế.
    1. Kinh tế châu á – Thái bình dương (số 1. 2-2002)
    1. Kinh tế và dự báo số (2/2003) số 3/2001,số 9/2003
    1. TàI chính số 8/2001
    1. Thương mạI số 40/2000
    1. Tạp chí xây dựng số 7/ 2001
    1. Kinh nghiệm huy động cho phát triển cao của Nhật Bản.
    1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài: kết quả và giải pháp thúc đẩy( số 10-2000)

     

    1. Văn kiện Đại hội Đảng VII.VIII
    1. Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam.
    1. Phát triển kinh tế.
    1. Nghiên cứu – lý luận số 4/ 1999.

    – -31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

    Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

    Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Quy định về thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới. Đầu tư quốc tế không chỉ đem lại nguồn lợi rất lớn cho các nước đầu tư mà còn đem lại nguồn lợi không nhỏ cho các nước nhận đầu tư. Do đó các nước đầu tư tích cực tìm kiếm thị trường mới, hấp dẫn để đầu tư thu lợi nhuận, còn nước nhận đầu tư cũng tạo mọi điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh đó Việt nam cũng đang tích cực tham gia vào nền kinh tế thế giới với những nỗ lực trong tất cả các mặt. Trong đó đầu tư nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp Việt nam có những bước “chuyển mình” nhanh hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Đặc biệt với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì Việt Nam không thể không nhờ đến sự đầu tư về vốn cũng như công nghệ kỹ thuật, tổ chức quản lý tiên tiến của các nước trên thế giới. Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt nam giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ. Như vậy, đầu tư nước ngoài có vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế xã hội của Việt nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Để làm rõ ta đi phân tích tác động của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt nam.

     

    NỘI DUNG

    Kinh tế xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tiêu cực của kinh tế thế giới cộng với những hạn chế của nội tại nền kinh tế dẫn đến những bất ổn của kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của các bộ, ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, nền kinh tế nước ta đã có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì mức tăng trưởng khá. Khu vực đầu tư nước ngoài với tỷ trọng chủ yếu là phần vốn FDI vẫn đạt được những kết quả tương đối khả quan, thể hiện trên các mặt sau:

    • Thứ nhất, vốn thực hiện đạt 11 tỷ USD đã đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011. Trong bối cảnh thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ chặt chẽ, đầu tư của khu vực nhà nước tiếp tục suy giảm, thì đây là một trong những nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển.
    • Thứ hai, mặc dù vốn đăng ký mới và tăng thêm chỉ đạt 14,7 tỷ USD, nhưng vốn đăng ký tăng thêm của các dự án đã cấp phép đạt 3,1 tỷ USD, tăng 1,65 lần mức vốn đăng ký tăng thêm của năm 2010 (1,89 tỷ USD). Điều này cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư tại Việt Nam vẫn có sự đánh giá tích cực về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
    • Thứ ba, cơ cấu vốn đăng ký đã có những chuyển biến tích cực, phù hợp với định hướng thu hút FDI, đó là tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng – chiếm 76,4% (cao hơn so với năm 2010 là 54,1%); kinh doanh bất động sản chỉ chiếm 5,8% vốn đăng ký (so với năm 2010 là 34,3%).
    • Thứ tư, xuất khẩu đạt tăng trưởng khá, ước đạt 54,46 tỷ USD (kể cả dầu thô), chiếm 59% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (tăng 39,3% so với năm 2010) – cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước (26,1%). Chính sự tăng trưởng cao của xuất khẩu khu vực FDI đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm 2011 của cả nước lên mức 33,3% và góp phần làm giảm gánh nặng cho cán cân thương mại. Nhập khẩu của khu vực FDI là 47,8 tỷ USD, tăng 29,3% so với năm 2010.
    • Thứ năm, thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) cũng có sự tăng trưởng, ước đạt 3,5 tỷ USD, chiếm trên 19% tổng thu nội địa (tăng 15% so với năm 2010). Riêng thu từ dầu thô ước đạt 4,8 tỷ USD, vượt dự toán năm gần 44%.

    1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam giai đoạn 2001 – 2011

    1.1 Vốn và số dự án đăng ký, thực hiện

    Từ khi nước ta thực hiện chủ trương đổi mới (từ năm 1986 đến nay) đã trên 20 năm, với chính sách mở cửa hội nhập, đẩy mạnh giao lưu kinh tế, hợp tác giữa với các quốc gia, khu vực trên thế giới, nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển và thu hút vốn đầu tư nhiều hơn. Việc gia nhập WTO thành công là một cơ hội lớn để nước ta có thể thu hút lượng vốn đầu tư lớn, hội nhập kinh tế thế giới dễ dàng hơn.

    Nhịp độ thu hút FDI nhìn chung có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng kinh tế vào cuối năm 2008 trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của các quốc gia lớn, nhỏ trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Kết quả tổng vốn đăng ký năm 2009 đã giảm đi nhiều so với năm 2008 và có xu hướng giảm đến năm 2011.

    Tình hình vốn FDI thực hiện có xu hướng tăng lên về số lượng. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần đánh giá tỷ lệ số vốn thực hiện so với số vốn đăng ký để có thể biết được mức độ đóng góp thực tế của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế. Tức là qua tỷ lệ này cho biết các dự án đầu tư được thực hiện trong thực tế là bao nhiêu, sự đóng góp của chúng vào nền kinh tế của Việt Nam. Hay nói khác đi điều này sẽ phản ánh chất lượng, mức độ triển khai dự án.

     

    Biểu 01: Tỷ lệ % số vốn thực hiện so với vốn đăng ký (2001-2011)

    Năm Số dự án Tổng vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ) Tổng số vốn
    thực hiện
    (Triệu đô la Mỹ)
    Tỷ lệ % số vốn thực hiện so với vốn đăng ký
    2001 555 3142.8 2450.5 77.97
    2002 808 2998.8 2591.0 86.40
    2003 791 3191.2 2650.0 83.04
    2004 811 4547.6 2852.5 62.73
    2005 970 6839.8 3308.8 48.38
    2006 987 12004.0 4100.1 34.16
    2007 1544 21347.8 8030.0 37.62
    2008 1557 71726.0 11500.0 16.03
    2009 1208 23107.3 10000.0 43.28
    2010 1237 19886.1 11000.0 55.32
    2011 1186 15598.1 11000.0 70.52

    Qua các năm tỷ lệ số vốn đầu tư trực tiếp thực hiện so với số vốn đầu tư trực tiếp đăng ký có xu hướng tăng. Trong các năm 2001 đến 2004, tỷ lệ vốn thực hiện là khá cao, cho thấy hiệu quả triển khai các dự án khá tốt. Đến năm 2005 – 2008 tỷ lệ vốn thực hiện giảm dần, năm 2008 tỷ lệ vốn thực hiện thấp nhất, chỉ đạt 16,03%. Điều này hoàn toàn có thể giải thích được tương tự như đối với tình hình tăng giảm số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Năm 2008, không chỉ có tổng số vốn đầu tư đăng ký giảm mà tỷ lệ thực hiện các dự án cũng giảm mạnh do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

    Từ năm 2009 đến 2011, tổng vốn đăng ký có xu hướng giảm nhưng tỷ lệ số vốn thực hiện so với số vốn đăng ký lại tăng lên đáng kể. Nguyên nhân có thể do các dự án đầu tư khả thi hơn, có thể thực hiện trong điều kiện nền kinh tế trong nước và thế giới đang dần phục hồi sau khủng hoảng, hiệu quả của các chính sách kinh tế mà Việt Nam sử dụng (2 gói kích cầu năm 2009).

     

    1.2 Cơ cấu vốn đầu tư

    1.2.1 Các chủ đầu tư chủ yếu vào Việt Nam

    Biểu 02: Tình hình vốn đầu tư của các chủ đầu tư chủ yếu vào Việt Nam

    (tính đến 31/12/2011)

    TT Quốc gia hoặc vùng lãnh thổ Số dự án Tổng vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ) (*)
    1 Nhật Bản 1555 24381,7
    2 Hàn Quốc 2960 23695,9
    3 Đài Loan 2223 23638,5
    4 Xin-ga-po 1008 22960,2
    5 Quần đảo Vigin thuộc Anh 503 15456,0
    6 Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 658 11311,1
    7 Ma-lai-xi-a 398 11074,7
    8 Hoa Kỳ 609 10431,6
    9 Quần đảo Cay men 53 7501,8
    10 Thái Lan 274 5853,3

     

    (*) Gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước.

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Theo số liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 9 tháng đầu năm 2012, tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp Nhật Bản đạt 4,68 tỷ USD, tương đương hơn 49% tổng FDI của cả nước. Kết quả này đã đưa Nhật trở thành nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Việt Nam hiện nay.

    Theo số liệu của Cơ quan Xúc tiến ngoại thương Nhật (Jetro), kể từ sau cú đột phá năm 2008, lượng dự án của doanh nghiệp nước này  được cấp phép tại Việt Nam tăng liên tục từ 77 (2009) lên 208 (2011). Kể từ 2010, giá trị FDI hằng năm được đưa từ Nhật vào Việt Nam hầu như đều đạt trên 1,85 tỷ USD, trong khi suốt giai đoạn 1992 – 2009 (ngoại trừ 2008), con số này thường xuyên ở dưới mốc 500 triệu USD. Các doanh nghiệp Nhật cũng được xem là “người đi đầu” trong việc đưa vốn vào lĩnh vực chế biến – chế tạo, vốn đang được Chính phủ Việt Nam khuyến khích. Theo đó, trong tổng số hơn 1.700 dự án FDI của Nhật tại Việt Nam hiện nay, có tới hơn 990 trường hợp thuộc lĩnh vực này, với tổng vốn ước khoảng 23,3 tỷ USD (tương đương hơn 81%). Sau Nhật Bản là Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan là 3 nhà đầu tư lớn vào Việt Nam với số vốn xấp xỉ so với Nhật (trên 20 triệu Đôla Mỹ).

    1.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế

    Một nội dung khác phản ánh cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp trong nền kinh tế đó là cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế. Dựa trên số liệu về số dự án và vốn đăng ký của các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2011 ta có thể dễ dàng tính toán số vốn bình quân 1 dự án trong biểu 03. Số liệu trong bảng được sắp xếp theo số dự án của các ngành theo thứ tự từ cao đến thấp.

    Biểu 03: Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế

    (lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2011)

    TT Ngành Số dự án Vốn đăng ký                   (Triệu USD) (*) Vốn bình quân 1 dự án (Triệu USD)
      Tổng số 13440 199078.9  
    1 Công nghiệp chế biến, chế tạo 7661 94675.8 12.358
    2 Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 1162 976.1 0.840
    3 Xây dựng 852 10324.1 12.117
    4 Thông tin và truyền thông 736 5709.5 7.757
    5 Bán buôn và bán lẻ; sử chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 690 2119.1 3.071
    6 Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 495 3264.5 6.595
    7 Hoạt động kinh doanh bất động sản 377 48155.9 127.734
    8 Vận tải, kho bãi 321 3256.8 10.146
    9 Dịch vụ lưu trú và ăn uống 319 10523.3 32.988
    10 Giáo dục và đào tạo 154 359.2 2.332
    11 Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 131 3602.6 27.501
    12 Hoạt động khác 114 711.5 6.241
    13 Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 107 188.0 1.757
    14 Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 76 1081.9 14.236
    15 Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 75 1321.6 17.621
    16 Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí 72 7391.6 102.661
    17 Khai khoáng 71 3015.5 42.472
    18 Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 27 2401.9 88.959

     (*) bao gồm cả vốn tăng thêm của dự án đã được cấp phép từ các năm trước

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Qua biểu ta thấy ngành công nghiệp chế tạo thu hút được số vốn đăng ký cao nhất trong các ngành kinh tế với 7661 dự án, tổng số vốn lên tới 94675,8 triệu USD, tiếp đến là hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ với 1162 dự án nhưng vốn kinh doanh chỉ chiếm 976,1 triệu USD. Trong khi đó xây dựng có số dự án là 852 nhưng vốn đầu tư gấp gần 10 lần so với hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ.

    Có thể thấy số vốn bình quân của các dự án thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ rất thấp và thấp nhất trong số tất cả các ngành. Điều này có vẻ như là một dấu hiệu không tốt đối với sự phát triển bền vững lâu dài của nền kinh tế. Bởi chỉ khi nắm trong tay những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, những phương thức sản xuất hiện đại, có nghiên cứu đào sâu chuyên môn thì việc phát triển kinh tế bền vững mới thực hiện được. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản nổi bật với số dự án hạn chế (chỉ xếp thứ 7 trong các ngành kinh tế) nhưng số vốn đầu tư thì rất lớn và cũng do vậy số vốn bình quân 1 dự án cũng rất lớn chỉ đứng sau ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

    1.2.3 Cơ cấu vốn đầu tư theo địa phương

    Từ số liệu của Tổng cục thống kê về cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương năm 2011 ta có thể đưa ra tỷ trọng vốn đầu tư của 6 vùng kinh tế của nước ta minh họa trong đồ thị dưới đây:

    Đồ thị 03

     (*) bao gồm cả vốn tăng thêm của dự án đã được cấp phép từ các năm trước

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Nhìn vào đồ thị có thể thấy vốn đầu tư cho vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ chiếm tỷ trọng chủ yếu. Các vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên có ít vốn đầu tư. Đặc biệt khu vực Tây Nguyên tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp chiếm tỷ lệ rất nhỏ với 0,08% so với tổng số vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Nguyên nhân chính do các vùng núi, vùng sâu, vùng xa thường có điều kiện cơ sở hạ tầng kém phát triển, khó có thể phát triển kinh tế, không hấp dẫn các nhà đầu tư. Mặc dù vậy chính những vùng kinh tế này rất cần vốn đầu tư để có thể phát triển. Đất nước ta đã và đang cố gắng phát triển các chính sách nhằm giúp phát triển kinh tế ở các vùng này.

    2. Tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt nam

              Đầu tư gián tiếp nước ngoài FII (Foreign Indirect Investment) là các khoản vốn đầu tư nước ngoài thực hiện qua các định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư, đầu tư trực tiếp vào cổ phần, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Khi thực hiện đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài không quan tâm đến quá trình sản xuất kinh doanh thực tế mà chỉ quan tâm đến lợi tức (với một mức rủi ro nhất định) hoặc sự an toàn của các chứng khoán họ đầu tư (với một mức lợi tức nhất định). Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất thì FII lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới, nâng cao vai trò quản ký của nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế.

    Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt nam với sàn giao dịch đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh vào tháng 7 năm 2000 và sàn giao dịch Hà Nội vào tháng 3 năm 2005 cùng với sự phát triển nhanh và ổn định của nền kinh tế đã giúp Việt nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy trong 3 năm (2002-2005) và 10 tháng đầu năm 2006 đã có khoảng 23 quỹ có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập mới ở Việt nam với tổng số vốn trên 1,6 tỷ USD, nâng tổng số vốn FII trên 2,4 tỷ USD. Mặc dù tăng trưởng một cách đáng kể nhưng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn 4,5% trên GDP Việt nam và chỉ bằng 42,1% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2005.

    • Năm 2006 đầu tư gián tiếp nước ngoài ròng đổ vào Việt nam đạt 1,3 tỷ USD, tăng mạnh so với mức 861 triệu USD của năm 2005 do quản lý hoạt động đầu tư gián tiếp đã thông thoáng theo hướng nâng cao tỷ lệ tham gia đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư nước ngoài lên 49% và sự kiện Việt nam tham gia vào WTO đã mở ra một cơ hội lớn cho Việt nam trong phát triển kinh tế.
    • Năm 2007, các nhà tài trợ quốc tế đã đưa ra mức tài trợ lớn chưa từng có cho Việt nam, tới trên 4,5 tỷ USD. Qua đó đã làm thị trường chứng khoán nóng lên. Tuy nhiên chưa có dấu hiệu nào cho thấy vốn đầu tư gián tiếp ngăn hạn của nước ngoài vào nhiều, tỷ lệ đó chỉ khoảng 1% là không đáng kể.
    • Năm 2008, do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ra tác động đến thị trường chứng khoán do tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư, dòng vốn nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán giảm khiến FII ròng giảm mạnh so với năm 2007.
    • Năm 2009, những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến FII vào Việt nam. Vốn FII rút ra khỏi Việt nam trong 10 tháng đầu năm 2009 lên tới 500 triệu USD và đạt khoảng 600 triệu USD (tương đương dòng vốn rút ra năm 2008).
    • Trong năm 2010, mặc dù có nhiều biến động trong năm nhưng khác với những năm trước lượng vốn thường được rút ra khỏi Việt nam thì cả năm 2010 tổng mức vốn thuần vào Việt nam khoảng 1,1 tỷ USD.

    3. Tác động của đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với nền kinh tế Việt nam

    3.1 Tác động tích cực

    – Đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế

    Công thức tính GNP theo phương pháp luồng sản phẩm như sau:

    GNP = GDP ± NIA

    = C + I + G + NX ± NIA

    Trong đó

    C: Tiêu dùng cá nhân về hàng hóa, dịch vụ

    I: Tổng đầu tư trong nước

    G: Chi tiêu của chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ

    NX: Xuất khẩu ròng

    NIA: Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài

    Từ công thức tính GNP có thể thấy ngày được đóng góp của bộ phận I (đầu tư) vào sự tăng trưởng của thu nhập quốc dân của một quốc gia. Trong đó có sự đóng góp của đầu tư nước ngoài. Như vậy tốc độ tăng trưởng của GNP cũng có thể được sử dụng như một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế. Cụ thể, tại Việt Nam,theo số liệu thống kê từ năm 1991-2000, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc động tăng bình quân mỗi năm 7,56%, trong đó: 5 năm 1991-1995: tăng 8,18% (nông lâm ngư tăng 2,4%; công nghiệp xây dựng tăng 11,3%, dịch vụ tăng 7,2%); 5 năm 1996-2000: tăng 6,94% (nông lâm ngư tăng 4,3%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 5,75%). Cùng với sự tăng lên của GNP này là sự tăng lên của vốn đầu tư nước ngoài qua các năm như đã phân tích ở trên.

    – Đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp: Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp qua các năm

    Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong 5 năm qua chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Cụ thể tỷ trọng trên tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7% vào 2 năm 2004 và 2005. Đặc biệt,  một số địa phương (Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc..) tỷ lệ này đạt đến 65-70% giá trị sản xuất công nghiệp của địa bàn.

    Giá trị sản xuất xây dựng năm 2011 theo giá thực tế cả nước ước tính đạt 676,4 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 119,6 nghìn tỷ đồng; khu vực ngoài nhà nước đạt 529,4 nghìn tỷ đồng; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 27,4 nghìn tỷ đồng. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2011 theo giá thực tế ước tính đạt 877,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm 2010 và bằng 34,6% GDP (Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế thực hiện năm 2011 bằng 90,6% năm 2010), bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 341,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 309,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,2% và tăng 3,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 226,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,9% và tăng 5,8%.

    ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may…

    – Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào Ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô: Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực ĐTNN đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước, chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%; tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2005 – 2010. ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc.

    3.2 Tác động tiêu cực

    Tuy đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, nhưng hoạt động ĐTNN tại Việt Nam còn những mặt hạn chế như sau:

    – Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ:

    Mục đích cao nhất của các nhà đầu tư là lợi nhuận. Do đó những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu hút được đầu tư nước ngoài. VD: Đầu tư cho lĩnh vực chuyên môn, khoa học công nghệ, dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản…

    Các nhà ĐTNN trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thuận lợi, do đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án ĐTNN nhất. Trong khi đó, các tỉnh miềm núi, vùng sâu, vùng xa như khu vực Tây Nguyên và khu vực vùng núi phía Bắc – những địa phương cần được đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, mặc dù chính phủ và chính quyền địa phương có những ưu đãi cao hơn nhưng không được các nhà đầu tư quan tâm.

    Tình trạng đó đã dẫn đến một nghịch lý, những địa phương có trình độ phát triển cao thì thu hút được ĐTNN nhiều, do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt quá tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước. Trong khi đó, những vùng có trình độ kém phát triển thì có ít dự án ĐTNN, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp.

    Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà ĐTNN chỉ đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành, lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các nhà ĐTNN.

    – Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết kịp thời.

    Các tranh chấp lao động là khó tránh, đặc biệt trong những thời điểm doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động, hoặc khi doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh. Nhìn chung người chủ thường trả công cho người lao động thấp hơn cái mà họ đáng được hưởng, không thỏa đánh với nhu cầu của người lao động. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công bãi công làm thiệt hại cho doanh nghiệp.

    – Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ

    Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp ĐTNN thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta.

    Tuy vậy, một số trường hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khẩu nên đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu thậm chí là những phế thải của các nước khác. Tính phổ biến của việc nhập máy móc thiết bị là giá cả đươc ghi trong hóa đơn thường cao hơn giá trung bình của thị trường thế giới. Nhờ vậy một số nhà ĐTNN có thể lợi dụng để khai tăng tỷ lệ góp vốn trong các liên doanh với Việt Nam.

     

    KẾT LUẬN

    Thực tiễn hơn mười năm qua đã chỉ rõ việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đã góp phần quan trọng vào giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội, vào thắng lợi của đường lối đổi mới, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, củng cố và tăng cường sức mạnh kinh tế và vị thế của Việt nam trong khu vực và trên thế giới. Hơn mười năm qua, đầu tư nước ngoài là một trong các yếu tố tạo nên sự phát triển kinh tế cao của Việt nam, nó là một trong các bộ phận quan trọng và có tốc độ phát triển nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cải thiện cán cân thanh toán và cán cân thương mại của nước ta, bổ sung nguồn vốn đầu tư quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội.

    Sau hàng loạt bất ổn mang tính cơ cấu được phát hiện, nền kinh tế Việt Nam đang đi những bước đầu tiên, nhưng căn bản để thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng để nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, trong lúc này, nguồn lực đầu tư trong nước lại bị giới hạn do tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới kéo dài, đòi hỏi sự tham gia tích cực và hiệu quả của các dòng vốn từ bên ngoài, đặc biệt là vốn FDI.

    Như vậy, việc thay đổi định hướng thu hút FDI thế nào, đặt lại vị trí của FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam giai đoạn tới ra sao… cần phải có những nghiên cứu thấu đáo, những quy hoạch cụ thể giữa các ngành kinh tế, các vùng kinh tế; cần quan tâm nhiều hơn đến các chủ đầu tư lớn vào Việt nam. Đặc biệt, cần phải có chiến lược rõ ràng để dẫn hướng cho từng bộ phận của nền kinh tế, từ các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương trong xây dựng chính sách để lựa chọn và tiếp nhận dòng vốn quan trọng này, đảm bảo đúng tín hiệu thị trường và mục tiêu của nền kinh tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-V%E1%BA%ACN-D%E1%BB%A4NG-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-TH%E1%BB%90NG-K%C3%8A-PH%C3%82N-T%C3%8DCH-TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF-N%C6%AF%E1%BB%9AC-NGO%C3%80I-V%C3%80O-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Mở đầu

    Cùng với các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, đầu tư nước ngoài ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, là một trong các nhân tố giúp nước ta nhanh chóng ttực hiện thành công sự nghiệp công nghiệo hoá – hiện đại hoá đất nước, đồng thời nó cũng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới của nước ta diễn ra một cách khẩn trương hơn.

    Trong hơn mười năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, kết quả đem lại là rất lớn và đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này, tuy nhiên để có thể đánh giá được toàn diện kết quả của đầu tư nước ngoài cần phải có một thời gian dài, hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác và phải có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan ban ngành. Trong nội dung chuyên đề này, em còng xin góp một phần rất nhỏ vào những đánh giá đó qua việc vận dụng các phương pháp thống kê đã lĩnh hội được trong thời gian học tại trường.

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề này gồm phần chính :

    Phần I : một số vấn đề lý luận chung về các phương pháp thống kê.

              Phần II :thực trạng đầu tư nước ngoài vào  Việt nam thời gian qua.

    Phần III : vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích thực trạng đầu tư nước ngoài vào Việt nam.

    Đề tài này hoàn thành với sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của TS. Trần Kim Thu cùng các thầy cô giáo khoa Thống kê và các bác, các cô công tác tại vụ Xây dùng – Giao thông – Bưu điện Tổng cục Thống Kê. Cho phép em lời cảm ơn vì tất cả những gíup đỡ và chỉ bảo đó.

    CHƯƠNG I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ.

     

    Thống kê học chính là môn khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện, địa điểm, thời gian cụ thể. Các hiện tượng kinh tế – xã hội luôn có hai mặt chất và lượng không tách rời nhau. Mặt chất Èn sâu bên trong, còn mặt lượng là những biểu hiện bên ngoài, bề mặt của hiện tượng, nhưng mặt chất là cốt lõi, bản chất của hiện tượng. Nhiệm vụ của phân tích thống kê là phải thông qua con số (mặt lượng của sự vật) để tìm ra cốt lõi bên trong (mặt chất của hiện tượng) bằng các phương pháp khoa học. Trong chương một của chuyên đề này xin giới thiệu một số phương pháp thống kê thông dụng hay được sử dụng trong phân tích thống kê.

    I.      PHÂN TỔ THỐNG KÊ.

    Phân tổ thống kê có rất nhiều ý nghĩa trong nghiên cứu thống kê, nó là phương pháp cơ bản, tiền đề để tiến hành phân tích và vận dụng các phương pháp thống kê khác.

    1.Phân tổ thống kê.

    a.Khái niện, vai trò của phân tổ thống kê.

    Khái niệm phân tổ thống kê :là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của tổng thể nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính chất khác nhau.

    Khi phân tổ thống kê, các đơn vị được tập hợp lại thành một số tổ, trong phạm vi mỗi tổ các đơn vị chỉ giống nhau theo tiêu thức ngiên cứu (tiêu thức phân tổ) giữa các tổ có sự khác nhau theo tiêu thức phân tổ. Chẳng hạn khi phân tổ dân cư theo tiêu thức trình độ văn hoá thì những nhóm dân cư trong cùng mét  tổ sẽ có trình độ văn hoá bằng nhau nhưng sẽ khác nhau theo các tiêu thức khác như giới tính, ngề ngiệp…

    Từ khái niệm trên ta có thể rót ra một số vai trò cơ bản của phân tổ thống kê sau :

    -Phân chia các loại hình kinh tế – xã hội của hiện tượng nghiên cứu. Dùa vào lý luận kinh tế xã hội, phân tổ thống kê phân biệt các bộ phận khác nhau về tính chất và tồn tại khách quan trong nội bộ hiện tượng.

    -Biểu hiện kết cấu của hiện tượng ngiên cứu. Muốn biểu hiện được kết cấu của hiện tượg ngiên cứu phân tổ thống kê phải xác định chính xác các bộ phận khác nhau trong tổng thể, sau đó tính toán tỷ trọng.

    Trong quá trình phân tổ thống kê, một nhiệm vụ quan trọng là phải xác định số tổ và khoảng cách giữa các tổ.

    b.Số tổ và khoảng cách giữa các tổ.

    *Số tổ : việc phân chia tổng thể ngiên cứu thành bao nhiêu tổ và xác định số tổ cần thiết là một việc khó, đòi hỏi người thực hiện phải có trình độ và kinh nghiệm. Thông thường việc xác định số tổ cần thiết tuỳ thuộc vào tiêu thức ngiên cứu.

    -Nếu là tiêu thức thuộc tính : các tổ được hình thành do các loại hình khác nhau. Một số trường hợp phân tổ dễ dàng vì các loại hình Ýt thì tương ứng với mỗi loại hình là một tổ, chẳng hạn như phân tổ nhân khẩu theo giới tính… Trong trường hợp phức tạp thì tương ứng với mỗi loại hình là một tổ chẳng hạn như phân tổ hàng hoá theo giá trị sử dụng.

    -Nếu là tiêu thức số lượng : tuỳ thuộc lượng biến của tiêu thức nhiều hay Ýt mà phân nhiều tổ hay Ýt tổ. Trường hợp lượng biến của tiêu thức biến thiên Ýt như bậc thợ, số người trong một hộ gia đình thì tương ứng với lượng biến là một tổ. Trong trường hợp lượng biến của tiêu thức biến thiên nhiều thì phải chú ý đến quan hệ lượng chất để phân tổ cho hợp lý.

    *Khoảng cách tổ : mỗi tổ sẽ bao gồm một phạm vi lượng biến có hai giới hạn : giới hạn dưới là lượng biến nhỏ nhất để hình thành tổ đó, giới hạn trên là lượng biến mà nếu quá nó thì chất đổi và hình thành một tổ mới.

    Nếu có khoảng cách tổ đều nhau, thì trị số khoảng cách tổ h sẽ là :           h= Xmax – Xmin

    Xmax : lượng biến lớn nhất.

    Xmin : lượng biến nhỏ nhất.

    n     : số tổ định chia.

    Trong phân tổ thống kê, có ba loại hình phân tổ chính sau :

    c.Phân tổ thống kê – các loại hình phân tổ.

    * Phân tổ theo một tiêu thức : là xây dựng tần số phân bố của tổng thể ngiên cứu theo một tiêu thức. Đây là cách phân tổ đơn giảm nhất và cũng thương được áp dụng nhất.

    Tuy nhiên khi ngiên cứu mối liên hệ của nhiều tiêu thức thì không thể sử dụng hình thức phân tổ trên, mà phải sử dụng một trong hai loại sau:

    * Phân tổ kết hợp : đầu tiên ta phân tổ theo tiêu thức nguyên nhân, sau đó mỗi tổ lại được phân tổ theo tiêu thức nguyên nhân thứ hai. đây là hình thức phân tổ phổ biến khi ngiên cức mối liên hệ giữa nhiều tiêu thức.

    *Phân tổ nhiều chiều : trong phân tổ nhiều chiều, các tiêu thức nguyên nhân đồng thời là tiêu thức hân tổ, vì vậy người ta phải đưa các tiêu thức phân tổ về dạng một têu thức tổng hợp rồi căn cứ vào tiêu thức tổng hợp này để tiến hành phân tổ theo một tiêu thức.

    Các bước tiến hành :

    – Các lượng biến của tiêu thức được ký hiệu Xij (i=1,n ;j =1.k) trong đó i là thứ tự của lượng biến, j là thứ tự của tiêu thức.

    – Tiêu thức tổng hợp : nhằm đưa các lượng biến vốn khác nhau về dạng tỷ lệ bằng cách lấy các lượng biến chia cho sè trung bình của các  lượng biến đó   Pij =

    cộng các Pij có cùng thứ tự của tiêu thức ta được åPij hoặc lấy                      ta có thể coi hoặc là tiêu thức phân tổ.

    Đây là một hình thức phân tổ phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành nhiều bước và tương đối khó so với phân tổ kết hợp, song trong nhiều trường hợp ta buộc phải dùng chúng vì chúng có vai trò to lớn sau :

    Nghiên cứu kết cấu của tổng thể theo một tiêu thức cơ bản có mối liên hệ với nhau.

    • Dùng phân tổ nhiều chiều để nghiên cức mối liên hệ giữa nhiều tiêu thứckhi dùmg phân tổ kết hợp không giải quyết được.

    -Dùng để xác định lại tài liệu đồng nhất của tài liêu ban đầu nhằm vận dụng các phương pháp thống kê toán.

    Kết quả của quá trình phân tổ thống kê thương được đưa ra dưới dạng một bảng thống kê. Vậy bảng thống kê là gì, có vai trò như thế nào?

    2.Bảng thống kê.

    Bảng thống kê là một hình thức biểu hiện các tài liệu thống kê một cách có hệ thống, hợp lý và rõ ràng nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng ngiên cứu.

    Bảng thống kê có nhiều tác dụng trong mọi công tác nghiên cứu kinh tế – xã hội. Các tài liệu trong bảng thống kê đã được xắp sếp một cách khoa học, giúp cho chóng ta dễ ràng so sánh đối chiếu, phân tích đối tượng theo các hướng khác nhau, nhằm nêu lên một cách sâu sắc bản chất của hiện tượng ngiên cứu.

    a.Cấu thành của bảng thống kê.

    Bất kỳ một bảng thống kê nào cũng phải có đủ hai thành phần : là hình thức bảng và nội dung bảng.

    -Về mặt hình thức: bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và số liệu. Hàng và cột phản ánh quy mô của mỗi bảng, còn tiêu đề phản ánh nội dung của bảng và từng chi tiết trong bảng, số liệu được ghi vào trong  các ô của bảng, mỗi con số phản ánh đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu.

    -Về mặt nôi dung: bảng thống kê gồm phần chủ từ và phần giải thích. Phần chủ từ nêu lên tổng thể hiện tượng được trình bày trong bảng, phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu.

    Trong nghiên cứu thống kê, bảng thống kê được sử dụng rất rộng rãi với nhiều loại bảng khác nhau. Tuy nhiên căn cứ vào một số tiêu thức quan trọng ta có thể phân chia các loại bảng này thành một số dạng sau:

    a.Các loại bảng thống kê.

    Căn cứ vào chủ đề của bảng có thể phân thành 3 loại bảng: bảng giản đơn, bảng phân tổ, bảng kết hợp.

    -Bảng giản đơn: là loại bảng mà phần chủ đề không phân tổ, chỉ xắp xếp các đơn vị tổng thể theo tên gọi.

    -Bảng phân tổ: là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ đề được phân chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó.

    -Bảng kết hợp: là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi ở phần chủ đề được phân tổ theo 2 hoặc 3 tiêu thức kết hợp với nhau. Thường được dùng để biểu hiện kết qủa của việc phân tổ theo nhiều tiêu thức.

    Để dùng bảng thống kê đạt kết quả cao, giúp cho người theo dõi dễ nắm bắt, dễ hiểu nội dung của bảng. Quá trình xây dựng bảng phải tuân theo một số nguyên tắc sau:

    b.Các nguyê tắc phải tuân theo khi xây dựng bảng thống kê.

    -Quy mô bảng không nên quá lớn( không  quá nhiều tổ và chỉ

    tiêu ).

    -Các tiêu đề và đề mục cần ghi chính xác, rõ ràng, đầy đủ.

    • Các hàng ngang và cột dọc nên ký hiệu bằng chữ hoặc số.
    • Cách ghi chép chỉ tiêu cần được xắp xếp theo thứ tự hợp lý, các ký hiệu phải tuân theo nguyên tắc chung. Phải chỉ rõ đơn vị tính cụ thể cho từng chỉ tiêu.

    Trong nghiên cứu thống kê, để biểu hiện bằng hình ảnh mối liên hệ giữa các tiêu thức ta sử dụng phương pháp đồ thi thống kê. Phần tiếp theo xin trình bày sơ lược về phương pháp đồ thi trong thống kê.

    3.Đồ thị thống kê.

    Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc các đường nét hình học dùng để miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê. Đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày các đặc điểm số liệu của hiện tượng.

    Với những đặc điểm đặc biệt này đồ thị thống kê có những vai trò quan trọng sau:

    • Biểu hiện kết hợp kết cấu của hiện tượng theo tiêu thức nào đó và sự biến đổi của kết cấu.
    • Biểu hiện sự phát triển của hiện tượng theo thời gian.
    • Biểu hiện mối liên hệ giữa các hiện tượng và quan hệ so sánh giữa các mức độ của hiện tượng.

    Đồ thị thống kê là phương pháp có sức hấp dẫn và sinh động, tính quần chúng cao làm cho người hiểu biết Ýt về thống kê  vẫn lĩnh hội được vấn đề chủ yếu một cách dễ dàng.

    a.Phân loại đồ thị thống kê.

    Đồ thị thống kê gồm rất nhiều loại, thông thường người ta căn cứ vào các tiêu thức sau để phân loại:

    • Căn cứ vào nội dung phản ánh, người ta chia đồ thị thống kê thành các loại sau: đồ thị kết cấu, đồ thị phát triển, đồ thị liên hệ so sánh.
    • Căn cứ vào hình thức biểu hiện có thể phân chia thành các loại sau: biểu đồ hình cột, biểu đồ tượng hình, biểu đồ diện tích…

    Khi xây dựng một đồ thị thống kê phải chú ý sao cho người đọc dễ xem, dễ hiểu và đảm bảo tính chính xác. Muốn vậy khi xây dựng đồ thị thống kê phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:

    b.Nguyên tắc xây dựng đồ thị thống kê .

    • Xác định quy mô đồ thị cho vừa phải đảm bảo quan hệ giữa đồ thị và các phần khác.
    • Lùa chọn các ký hiệu hình học hoặc hình vẽ cho phù hợp vì mỗi hình có khả năng diễn tả một ý riêng.
    • Các thang đo tỷ lệ và độ rộng của đồ thị phải được xác định chính xác.

    II.HỒI QUY TƯƠNG QUAN.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thế giới vật chất là một thể thống nhất, trong đó các hiện tượng có liên quan hữu cơ với nhau, tác động và ràng buộc lẫn nhau,các hiện tượng kinh tế –-xã hội cũng phát sinh và phát triển theo nguyên lý đó.

    Do tính chất phức tạp của các hiện tượng kinh tế – xã hội, các mối liên hệ giữa các hiện tượng tồn tại rất phong phú và nhiều vẻ, tính chất và hình thức khác nhau. Ta có thể nghiên cứu mối liên hệ giữa hai hiện tượng hoặc giữa nhiều hiện tượng. Để nghiên cứu các hiện tượng kinh tế – xã hội, thống kê thường sử dụng các phương pháp như: Phân tổ thống kê, dẫy số thời gian, chỉ số và hồi quy tương quan cũng là một công cụ sắc bén hay được sử dụng.

    1. Thế nào là hồi quy tương quan.

    a.Khái niệm hồi quy tương quan.

    Hồi quy và tương quan là các phương pháp toán học, được vận dụng trong thống kê học để biểu hiện và phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng kinh tế – xã hội. Đây là hai phương pháp khác nhau nhưng quan hệ rất chặt chẽ với nhau.

    Phân tích tương quan là đo lường mức độ kết hợp giữa hai biến, chẳng hạn như quan hệ giữa nghiện thuốc là và ung thư phổi. Phân tích hồi quy là ước lượng và dự báo một biến trên cơ sở biến đã cho. Hai phương pháp này có quan hệ rất chặt chẽ và bổ chợ cho nhau lên người ta thường sử dụng kèm chúng với nhau.

    Vận dụng phương pháp hồi quy tương quan vào phân tích các hiện tượng kinh tế – xã hội, ta phải giải quyết được hai vấn đề sau:

    b.Nhiệm vụ của phân tích hồi quy tương quan.

    Một là: Xác định tính chất và hình thức của mối liên hệ, có nghĩa là xem xét mối liên hệ giữa các tiêu thức nghiên cứu có thể biểu hiện dưới dạng mô hình nào (liên hệ tuyến tính, phi tuyến tính). Nhiệm vụ cụ thể là:

    • Dùa trên cơ sở phân tích lý luận giải thích sự tồn tại thực tế và bản chất của mối liện hệ bằng phân tích lý luận. Bước này được thực hiện nhằm tránh hiện tượng hồi quy tương quan giả (tức là hiện tượng không tồn tại liên hệ nhưng vẫn xây dựng mô hình hồi quy) và xác định tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả.
    • Lập phương trình hồi quy để biểu hiện mối liên hệ đó. Muốn lập đúng phương trình, căn cứ vào số tiêu thức được chọn, hình thức và chiều hướng của mối liên hệ.
    • Tính và giải thích ý nghĩa của các hàm số trong phương trình.

    Hai là: Đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ nghiên cứu qua các chỉ tiêu: Hệ số tương quan, tỷ số tương quan. Đây là nhiệm vụ quan trọng của việc phân tích tương quan vì căn cứ vào chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ và vai trò của tiêu thức.

    Phân tích các hiện tượng kinh tế – xã hội bằng phương pháp hồi quy tương quan được thể hiện qua việc phân tích phương trình hồi quy. Vì vậy việc quan trọng trước tiên là phải xây dựng được một phương trình chính xác phù hợp với lý thuyết kinh tế.

    2. Phương trình hồi quy.

    Phương trình hồi quy gồm có nhiều loại, nhưng có thể kể ra các dạng chính sau đây: Phương trình hồi quy tuyến tính đơn, phương trình hồi quy tuyến tính bội, phương trình hồi quy phi tuyến tính đơn và bội.

    Thông thường người ta sử dụng phương trình hồi quy tuyến tính đơn để phân tích các hiệ tượng kinh tế – xã hội, bởi vì quá trình tính toán sẽ đơn giản hơn mà kết quả cũng khá chính xác.

    a.Phương trình hồi quy tuyến tính đơn.

    • Phương trình hồi quy tuyến tính đơn mô tả quan hệ tương quan giữa hai tiêu thức số lượng, với dạng phương trình sau :

    x  = a +bx

    trong đó : x là tiêu thức nguyên nhân.

    x : trị số điều chỉnh của tiêu thức kết quả y theo mối quan hệ với x.

    a,b là các tham số của phương trình.

    Các tham số này được xác định sao  cho đường hồi quy lý thuyết mô tả gần đúng nhất mối liên hệ với thực tế. Giá trị của tham sè a,b được xác định bằng phươg pháp bình phương nhỏ nhất,sao cho :

    å(y-x)2 = min­­­­

    để thoả mãn yêu cầu này a, b phải thoả mãn hệ phương trình sau :

    åy =na + bå x

    å xy =aå x  + bå

    hoặc được xác định trực tiếp qua công thức :

    b =

    a =

    a : là mức độ xuất phát đầu tiên của đường hồi quy lý thuyết, đây là tham số tự do, nó nói lên ảnh hưởng của các nhân tố ngoài x tới y.

    b : là mức độ quy định độ dốc của đường hồi quy lý thuyết, được gọi là hệ số hồi quy, nó nói lên ảnh hưởng của tiêu thức nguyên nhân tới tiêu thức kết quả. Dấu của b thể hiện chiều của mối liên hệ giữa x và y.

    Phân tích hồi quy tương quan phải tính được hệ số tương quan r để đánh giá trình dé chặt chẽ của mối liên hệ giữa x và y.

    Hệ số hồi quy r là hệ số tương đối ( biểu hiện bằng đơn vị lần) dùng để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan tuyến tính giữa hai thức số lượng.

    Hệ số tương quan r được tính từ các công thức :

    r =   ;  =…

    Giá trị của r thuộc đoạn –1 đến 1 (-1£ r £ 1) và dấu của nó trùng với dấu của b.

    • Khi r mang dấu dương (+) thì mối liên hệ tương quan giữa x và y là tương quan thuận, và ngược lại khi r mang dấu âm thì liên hệ giữa x và y là tương quan ngịch.
    • Khi r = 0 thì giữa x và y không có liên hệ tương quan.

    Để đánh giá tốc độ biến thiên của các tiêu thức ta có thể tính độ co giãn.

    Hệ sè co giãn E­(x)

    công thức:

    Ex = b.

    E(x) có một số ý nghĩa sau :

    – Nếu ½E(x)½ > 1 : biến thiên của y nhanh hơn biến thiên của x, và ngược lại.

    – Nếu  ½E(x)½ = 1 : biến thiên của y trùng với biến thiên của x.

    Như đã trình bày ở trên, khi nghiên cứu mối liên hệ giữa hai tiêu thức số lượng phát sinh trong các hiện tượng của quá trình kinh tế -xã

    hội, người ta thường sử dụng tương quan tuyến tính, nhưng trong thực tế có mối liên hệ không phải tương quan tuyến tính. Chẳng hạn mối liên hệ giữa tổng chi phí sản xuất và khỗi lượng sản phẩm ( có dạng y= ao +a1x +a2+ a3) vì vậy người ta phải sử dụng các mô hình liên hệ phi tuyến tính để biểu diễn những mối liên hệ này.

    • Phương trình hồi quy phi tuyến tính.

    Phương trình hồi quy phi tuyến tính giữa hai tiêu thức số lượng có rất nhiều dạng, ở đây xin giới thiệu một số dạng cơ bản.

    Phương trình Parabol bậc hai :

    y = a          y = a0 + a1.x + a2. x2

    • Phương trình Hyperbol :
    • Phương trình hàm mò :

    Trong các phương trình hồi quy trên, các tham sè a,b cũng được xáa định bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất.

    Với phương trình Parabol bậc hai : y = a0 + a1.x + a2. x2

    Xác định a0 , a1, a2 bằng hệ phương trình

    Phương trình Parapol thường được sử dụng khi các trị số của tiêu thức kết quả tăng (hoặc giảm) và việc tăng (hoặc giảm) đạt đến trị số cực trị rồi sau đó tăng hoặc giảm.

    Với phương trình Heperpol :

    Các tham sè a, b thoả mãn hệ

    Mô hình này thường được sử dụng biểu diễn những mối liên hệ có dạng khi trị số của tiêu thức nguyên nhân tăng lên thì trị số của tiêu thức kết quả giảm và đến giới hạn nào đó ( x =a) thì hầu như không  giảm.

    Phương trình mò :

    Các  tham sè a,b phải thoả mãn hệ phương trình :

    Phương trình mũ được vận dụng khi cùng với sự tăng lên của tiêu thức nguyên nhân thì các trị số của tiêu thức kết quả thay đổi theo cấp số nhân, nghiã là tốc độ phát triển sấp xỉ bằng nhau.

    Trên đây là ba dạng phương trình hồi quy phi tuyến tính tiêu biểu, để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan phi tuyến tính, người ta sử dụng tỷ số tương quan h.

    Tỷ số tương quan h

    Tỷ số tương quan h là một số tương đối (biểu hiện bằng lần) được dùng để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan, h được tính theo công thức:

    h có giá trị trong đoạn  [ 0;1 ]

    Tính chất của h : khi n= 0 thì không tồn tại quan hệ tương quan giữa x và y, khi h = 1 x và y có liên hệ hàm sè, h càng gần tới 1 thì hệ số tương quan càng chặt chẽ.

    Trên đây là các mô hình tuyến tính và phi tuyến tính biểu diễn mối liên hệ giữa hai tiêu thức, được gọi là mô hình tuyến tính đơn. Để biểu diễn mối liên hệ giữa nhiều tiêu thức, trong đó có một tiêu thức kết quả và Ýt nhất là hai tiêu thức nguyên nhân người ta sử dụng các phương trình hồi quy bội.

    b.Phương trình hồi quy bội

    Mô hình hồi quy bội cũng có nhiều dạng, trong phạm vi chuyên đề này chỉ giới thiệu về mô hình hồi quy bội tuyến tính

    Dạng tổng quát : x1,x2,…xn  = a0 + a1x1 + a2x2 +  …  +  anxn

    Trong đó : x1, x… xn là các tiêu thức nguyên nhân

                                x1,x2,…xn  là trị số điều chỉnh của tiêu thức kết quả y.

            Các tham sè ai được xác định bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất, sao cho các ai  thoả mãn hệ:

    Trong liên hệ hồi quy tương quan bội, người ta sử dụng hệ số hồi quy bội R để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ.

    Công thức xác định R:

    Tính chất của hệ số tương quan bội R cũng giống hệ số tương quan r. nhưng khoảng phân bố hẹp hơn ( 0;1).

    III.PHƯƠNG PHÁP DÃY SỐ THỜI GIAN .

    1.Khái niện về dãy số thời gian.

    Mặt lượng của hiện tượng kinh tế – xã hội không ngừng biến đổi qua thời gian. Để thông qua sự biến đổi của mặt lượng ta có thể vạch ra xu hướng và quy luật của sự phát triển, đồng thời có thể dự đoán được các mức độ của hiện tượng trong tương lai người ta sử dụng phương pháp dãy số thời gian, vậy phương pháp dãy số thời gian là gì?

    a.Khái niện, thành phần của dãy số thời gian.

    Dãy số thời gian là dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê xắp xếp theo thứ tự thời gian.

    Một dãy số thời gian gồm hai thành phần : thời gian và chỉ tiêu về hiện tượng nghiên cứu. Thời gian có thể là ngày, tháng, quý, năm …Độ dài giữa hai thời gian liền nhau được gọi là khoảng cách thời gian. Trị số của chỉ tiêu nghiên cứu được gọi là mức độ của dãy số thời gian. Cả hai thành phần này cùng biến đổi tạo ra sự biến động của hiện tượng qua thời gian.

    Dãy số thời gian có hai loại :  dãy số thời điểm và dãy số thời kỳ.

    -Dãy số thời kỳ biểu hiện quy mô của hiện tượng trong từng khoảng thời gian nhất định.

    -Dãy số thời điểm : biểu hiện quy mô của hiện tượng tại những thời điểm nhất định.

    2.Các chỉ tiêu của dãy số thời gian.

    Để phản ánh đặc điểm biến động qua thời gian của hiện tượng, người thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

    a.Mức độ trung bình qua thời gian.

    Chỉ tiêu này phản ánh  mức độ đại biểu của mức độ tuyệt đối trong một dãy số thời gian. Tuỳ theo dãy thời kỳ hay dãy số thời điểm ta có công thức tính sau:

    – Đối với dãy số thời kỳ, công thức tính là :

    =

    – Đối với dãy số thời điểm, công thức tính tương ứng với hai trường hợp :  + trường hợp mét : có khoảng cách thời gian bằng nhau :

    + Trường hợp hai : có khoảng cách thời gian không bằng nhau :

    b.Lượng tăng giảm tuyệt đối.

    Chỉ tiêu này phản ánh sù  thay đổi về mức độ tuyệt đối giữa hai thời gian ngiên cứu. Tuỳ theo mục đích ngiên cứu, ta có các chỉ tiêu về lượng tăng giảm tuyệt đối sau :

    -Lượng tăng giảm tuyệt đối liên hoàn : là hiệu số giữa mức độ kỳ ngiên cứu (yi) và mức độ của kỳ đứng liền trước (yi-1).

    di = yi – yi-1

    -Lượng tăng ( giảm) tuyệt đối định gốc : là hiệu số giữa mức độ kỳ ngiên cứu (yi) và mức độ của một kỳ nào đó được chọn làm gốc thường là mức độ đầu tiên (y1)

    Di = y– y1

    Mối liên giữa Di và di là : Di  = å

    -Lượng tăng giảm tuyệt đối trung bình là trung bình cộng của các lượng tăng ( giảm) tuyệt đối liên hoàn.

    id

    d.Tốc độ phát triển.

    Tốc độ phát triển là một số tương đối biểu hiện bằng lần hoặc % phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của hiện tượng qua thời gian. Tốc độ phát triển  có ba chỉ tiêu :

    -Tốc độ phát triển liên hoàn phản ánh sự biến động của hiện tượng giữa hai thời gian liền nhau :

    Trong đó ti là tốc độ phát triển liên hoàn của cả thời gian (i) so với thời gian (i-1).

    -Tốc độ phát triển định gốc phản ánh sự biến động  của hiện tượng trong những khoảng thời gian dài:

    (i= 2,3,…n)

    Mối liên hệ giữa Ti  và ti  : Ti =  Pti

    -Tốc độ phát triển trung bình là mức độ đại biểu cho các tốc độ phát triển liên hoàn

    e.T ốc độ tăng hoặc giảm

    Chỉ tiêu này phản ánh mức độ của hiện tượng ngiên cứu giữa hai thời kỳ đã tăng hoặc giảm bao nhiêu lần hoặc bao nhiêu %. Ta có ba chỉ tiêu sau :

    -Tốc độ tăng hoặc giảm liên hoàn là tỷ số so sánh giữa lượng tăng hoặc giảm liên hoàn với mức độ kỳ gốc liên hoàn .

    -Tốc độ tăng hoặc giảm định gốc ; là tỷ số so sánh giữa lượng tăng hoặc giảm định gốc với mức độ kỳ gốc cố định:

    -Tốc độ tăng hoặc giảm tuyệt đối bình quân : là chỉ tiêu tương đối nói lên nhịp điệu tăng hoặc giảm đại diện trong một thời kỳ nhất định .

    e.Giá trị tuyệt đối của 1% tăng hoặc giảm.

    Chỉ tiêu này nói lên rằng cứ 1% tăng  hoặc giảm của tốc độ tăng liên hoàn thì tương ứng với một số tương đối là bao nhiêu?

    Chỉ tiêu chỉ tính với tốc độ biến động  liên hoàn chứ không tính với định gốc vì kết quả luôn bằng y1\ 100.

    Sự biến động của hiện tượng qua thời gian chịu sự tác sự tấc động của nhiều nhân tố, ngoài các nhân tố chủ yếu, cơ bản quyết định xu hướng biến động  của hiện tượng, còn những yếu tố ngẫu nhiên gây ra hiện tượng biến động sai lệch khỏi xu hướng. Vì vậy  cần sử dụng các phương pháp thích hợp để trong một trừng mực nhất định nào đó loại bỏ tác động của những nhân tố ngẫu nhiên nêu lên xu hướng và tính quy luật của sự biến động  của hiện tượng.

    3.Phương pháp biểu diễn xu hướng biến động cơ bản của hiện tượng.

    a.Phương pháp mở rộng khoảng cách thời gian.

    Phương pháp này được sử dụng khi một dãy số thời kỳ có khoảng cách thời gian tương đối ngắn và có nhiều mức độ mà qua đó chưa phản ánh được xu hướng biến động của hiện tượng.

    Cách làm : ghép một số thời gian liền nhau vào thành một khoảng hời gian dài hơn. ví dụ ghép 3 tháng thành một quý.

    b.Phương pháp số trung bình trượt.

    Sè trung bình trượt là số trung bình cộng của một nhóm nhất định các mức độ của dãy số được tính bằng cách loại dần các mức độ đầu, đồng thời thêm vào các mức độ tiếp theo, sao cho tổng giá trị các mức độ tham gia tính số trung bình trượt không thay đổi.

    Khi sử dụng phương pháp này, việc lùa chọn nhóm bao nhiêu mức độ để tính trung bình trượt đòi hỏi phải dùa vào đặc điểm biến động của hiện tượng và số lượng các  mức độ của dãy thời gian.

    c.Phương pháp hồi quy.

    Trên cơ sở dãy số thời gian, người ta tìm một hàm số gọi là hàm hồi quy phản ánh sự biến động của hiện tượng qua thời gian, có dạng tổng quát :

    Trong đó :

    : mức độ lý thuyết

    a1, a0, ,….an : các tham sè.

    t : thứ tự thời gian.

    Để xây dựng được một phương trình hồi quy phản ánh xu hướng biến động của hiện tượng phải dùa trên cơ sở phân tích đặc điểm của hiện tượng qua thời gian đồng thời kết hựop với các phương pháp khác.

    d.Phương pháp biến động thời vụ.

    Sự biến động của một số hiện tượng kinh tế – xã hội thường có tính thời vụ, nghĩa là hàng năm, trong từng thời gian nhất định sẽ biến động lặp đi lặp lại. Ví dụ các sản phẩm của ngành công nghiệp thực phẩm như bánh kẹo thường tăng số lượng vào các dịp lễ tết,..biến động thời vụ làm cho hoạt động của một số ngành khi thì căng thẳng, khi thì nhàn rỗi,.. vì vật nhiệm vụ của nghiên cứu thống kê biến động thời vụ nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động thời vụ với sản xuất và sản xuất và sinh hoạt xã hội.

    Nghiên cứu biến động thời vụ ta phải tìm ra chỉ số thời vụ thông qua số liệu của nhiều năm (tối thiểu là 3 năm).

    Trường hợp sự biến động không có gì đặc biệt, ta xác định hệ số biến động thời vụ theo công thức :

    Trong đó :

    : sè trung bình của tất cả các mức độ của thời gian cùng tên i

    : sè trung bình của tất cả các mức độ trong dãy số.

    Ii : chỉ số biến động thời vụ của thời gian i

    Trường hợp có sự không ổn định trong biến động, thì chỉ số thời vụ được tính theo công thức :

    yij : mức độ thực tế ở thời gian i của năm j

    : mức độ tính toán (có thể là số trung bình trượt hoặc dùa vào phương trình hồi quy ở thời gian i của năm thứ j)

    IV.PHƯƠNG PHÁP CHỈ SỐ.

    Muốn so sánh được hai đại lượng, trước hết phải đo lường được chung, và muốn có được kết quả đo lường chính xác ta phải hết sức chú ý đến đợn vị đo lường, thông thường người ta sử dụng đơn vị đo lường chung để đo lường trong sè so sánh các đại lượng với nhau. Chương này sẽ giới thiệu đến việc so sánh các hiện tượng bằng phương pháp chỉ số.

    1.Khái niệm chỉ số.

    Chỉ sè trong thống kê là phương pháp biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ nào đó của hiện tượng kinh tế. Chỉ số trong thống kê là một khái niệm khá rộng rãi. Trong công tác thực tế, đối tượng chuy yếu của phương pháp chỉ số thường là các hiện tượng kinh tế phức tạp, bao gồm nhiều đơn vị, nhiều phần tử có tính chất khác nhau.

    Khi vận dụng phương pháp chỉ số, phải chú ý đến một số đặc điểm sau của phương pháp này :

    -Trước hết ta phải chuyển các đơn vị hoặc phần tử có tính chất khác nhau thành dạng giống nhau để có thể so sánh được.

    -Khi có nhiều nhân tố cùng tham gia vào tính chỉ số, phải giả định có một nhân tố thay đổi, còn các nhân tố khác không thay đổi. Việc giả định này để loại trừ khả năng ảnh hưởng của nhân tố không nghiên cứu đối với kết quả so sánh.

    Trong phân tích thống kê, phương pháp chỉ số có những vai trò đặc

    Biệt quan trọng sau :

    – Biểu hiện biến động của hiện tưong qua thời gian- chỉ số phát triển, qua những điều kiện không gian- chỉ số không gian.

    – Biểu hiện các nhiệm vụ kế hoạch hoặc tình hình hoàn thành kế hoạch- chỉ số kế hoạch.

    – Phân tích vai trò ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đối với biến động của toàn bộ hiện tượng kinh tế phức tạp.

    Trong nghiên cứu chỉ số, người ta căn cứ vào phạm vi tính toán và tính chất của chỉ tiêu để phân chia thành các loại chỉ số cơ bản.

    – Căn cứ vào tính chất của chỉ tiêu nghiên cứu, người ta chia chỉ số thành hai loại :

    +Chỉ số chỉ tiêu chất lượng : nói lên biến động của các chỉ tiêu như : giá cả, giá thành, năng suất lao động,…

    +Chỉ số chỉ tiêu khối lượng : nói lên biến động của các chỉ tiêu như : sản lượng, lượng hàng hoá tiêu thụ,…

    – Căn cứ vào phạm vị tính, người ta chia thành hai loại :

    +Chỉ số cá thể : nói lên biến động của từng đơn vị, từng phần tử cá biệt trong hiện tượng phức tạp.

    +Chỉ sè chung : nói lên biến động của tất cả các đơn vị, các phần tử của hiện tượng nghiên cứu. Nó được sử dụng nhiều trong phân tích thống kê.

    Sau đây xin giới thiệu một số loại chỉ số chủ yếu :

    2.Chỉ số đơn.

    Chỉ số đơn được dùng để so sánh các trị số của hiện tượng nào đó ở một thời kỳ nào đó được lấy làm gốc. Chẳng hạn so sánh giá mặt hàng A ở thời điểm 1995 so với 1990.

    Công thức là : i95/90  =  P95/P90

    Chỉ số đơn có một số có một số đặc điểm chủ yếu sau :

    Tính nghịch đảo : nếu ta hoán vị kỳ gốc và kỳ ngiên cứu ta sẽ thu được giá trị ngịch đảo của trị số cũ.

    Tức là :

    Tính liên hoàn : tích của các chỉ số liên hoàn hoặc tích của các chỉ số định gốc liên tiếp, bằng chỉ số định gốc tương đối.

    Tính thay đổi gốc : ta có thể suy ra chỉ số gốc năm x0 từ các chỉ số gốc năm x1 và x2, bằng cách nhân hai chỉ số gốc x0  cho chỉ số x1/x0 của chỉ số gốc x0 .

    3.Chỉ số tổng hợp giá cả

    Theo các cách chọn quyền số khác nhau, ta có hai chỉ số tổng hợp giá cả.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ q0, ta có chỉ số tổng hợp Laspeyres.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ ngiên cứu q1, ta có chỉ số tổng hợp Paaches.

    Trong hai chỉ số trên, thì chỉ số Paaches tính hiện thực cao hơn, tuy nhiên việc tính toán nó phức tạp hơn.

    Nhà thống kê học Fishes đã đề nghị dùng một loại chỉ số tổng hợp giá cả có công thức sau :

    Vì nó có thể khắc phục được nhược điểm không có tính chất ngịch đảo và liên hoàn của hai chỉ số trên.

    4.Chỉ số tổng hợp khối lượng.

    Cũng giống như  chỉ số tổng hợp giá cả, tương ứng với cách chọn quyền số ta có các chỉ số sau.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ gốc P0 , ta có chỉ số chỉ số tổng hợp Laspeyres.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ ngiên cứu P1, ta có chỉ số tổng hợp Paaches.

    Và ta cũng có chỉ số tổng hợp khối lượng Fisher là trung bình nhân của hai chỉ số tổng hợp khối lương trên.

    5.Hệ thống chỉ số.

    Các chỉ số đơn, chỉ số tổng hợp chỉ có thể đánh giá ảnh hưởng riêng lẻ của từng yếu tố tới hiện tượng kinh tế mà ta nghiên cứu, vì vậy cần phải có một phương pháp nào đó mà có thể nêu lên ảnh hưởng của từng nhân tố cũng như ảnh hưởng của tổng hợp của các nhân tố tới hiện tượng nghiên cứu.

    a.Hệ thống chỉ số tổng hợp.

    Ta có giá trị của hàng hoá = giá cả * sè lượng

    Từ đó ta có : chỉ số giá trị = chỉ số giá * chỉ số lượng.

    Hệ thống chỉ số được hình thành trên cơ sở một tập hợp các chỉ số có liên hệ với nhau.

    Trong thống kê, người ta xây dựng được hệ thống chỉ số thích hợp và đơn giản sau :

    Ipq   =   Ip         *     Iq

    Trong công thức trên, chỉ số tổng hợp giá cả là của Paaches, còn chỉ số tổng hợp khối lượng là của Laspeyres.

    Trong phân tích kinh tế, người ta thường sử dụng hệ thống chỉ số vì nó có những tác dụng sau đây :

    -Phân tích mối liên hệ giữa các hiên tượngtrong quá trình biến động, xác định vai trò ảnh hưởng biến động của mỗi nhân tố đối với biến động của hiện tượng gồm nhiều nhân tố, tìm ra nguyên nhân chủ yếu.

    -Trong nhiều trường hợp, có thể tính một chỉ số khi đã biết các chỉ số khác trong thống kê.

    b.Hệ thống chỉ số trung bình.

    Trong sự biến của động tổng thể nghiên cứu, sự biến động của từng bộ phận cấu thành tổng thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến biến động chung. Để đánh giá được biến động chung và ảnh hưởng của từng bộ phận, người ta thường sử dụng hệ thống chỉ số tổng hợp.

    Chẳng hạn khi tỷ trọng công nhân có năng suất lao động cao trong doanh ngiệp tăng lên, thì năng suất lao động bình quân trong doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng lên.

    Hệ thống chỉ số

    (a)                 (b)                  (c)

    a: chỉ số năng suất lao động trung bình.

    b: chỉ số năng suất lao động đã loại trừ thay đổi kết cấu.

    c: chỉ số nêu lên ảnh hưởng thay đổi kết cấu đến năng suất lao động trung bình

    V. PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN THỐNG KÊ NGẮN HẠN.

    Ngày nay, dự đoán được sử dụng nhiều trong mọi lĩnh vực, khoa học -kỹ thuật, kinh tế – chính trị – xã hội với nhiều loại và phương pháp khác nhau.

    1.Khái niệm về dự đoán thống kê ngắn hạn.

    Dự đoán thống kê ngắn hạn là việc dự đoán quá trình tiếp theo của hiện tượng trong những khoảng thời gian tương đối ngắn nối tiếp với hiện tại bằng việc sử dụng các thông tin thống kê và các phương pháp thích hợp.

    Sau đây xin giới thiệu một số phương pháp dự đoán thống kê ngắn

    hạn thường gặp.

    2.Mét số phương pháp dự đoán thống kê ngắn hạn.

    a.Dự đoán dùa vào dãy số thời gian.

    Trong một dãy số thời gian, ta có thể tính được một số chỉ tiêu biểu hiện của dãy số như : tốc độ phát triển bình quân, lượng tăng giảm tuyệt đối bình quân… và dùa vàođó để dự đoán cho một số mức độ trong thời gian gần.

    b.Dựa vào lượng tăng giảm tuyệt đối.

    Người ta xây dựng được mô hình :

    Trong đó :

    là lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối bình quân.

    yn là mức độ cuối cùng của dãy số thời gian.

    h : là tầm xa dự báo.

    : là mức  độ dự báo.

    Phương pháp này chỉ nên áp dụng khi các lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối xấp xỉ băng nhau.

    c.Dựa vào tốc độ phát triển bình quân.

    Ta có mô hình :

    Với :

    : là tốc độ phát triển bình quân

    d.Dự báo dùa vào phân tích  hồi quy.

    Bản chất của phương ttrình này là dùa vào mối quan hệ tương quan để ngoại suy cho tương lai.

    Mô hình hồi quy tổng quát của hồi quy bội

    Y= f (x1,x2,....xn/ a0,a1,…an)

    y-biến phụ thuộc hay tiêu thức kết quả

    xi-các  tiêu thức nguyên nhân

    ai – các tham số hồi quy

    Dự đoán bằng phương pháp hồi quy bội ta phải chọn quan sát sao cho đủ lớn để quy luật số lớn phát huy tác dụng. Người ta thương áp dụng tiêu chuẩn “ khi xây dựng mô hình hồi quy thì số quan sát phải lớn hơn số các nhân tố khoảng 8 lần”.

     

     

    d.Dự đoán bằng phương pháp san bằng mũ.

    Giả sử thời gian t, ta có mức độ thực tế là yt và mức độ dự đoán là ,    Dù đoán mức độ ở thời gian kế tiếp theo là , tức là t+1, ta có thể viết :

    ®Æt

    Từ mô hình trên cho ta thấy một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả dự đoán là việc lùa chọn giá trị tham sè san a. Nếu a được chọn càng lớn thì nhân tố cũ yt càng Ýt được chú ý, và ngược lại nếu a càng nhỏ thì các yếu  cò càng được đánh giá cao. Dùa vào kinh ngiệm thực tế người ta cho rằng nên lấy a trong khoảng (0.1; 0.4).

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM THỜI GIAN QUA.

     

    I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP  NƯỚC NGOÀI (FDI).

    1.Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Đầu tư theo nghĩa chung nhất là một quá trình bỏ vốn ra hay hy sinh một nguồn lực hiện tại nhằm thu về một kết quả cao hơn trong tương lai.

    Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiệ từ khá lâu, tuy rằng không có nhiều tranh luạn xung quanh khái niện đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) song đến nay cũng chưa có một khái niện nào được coi là hoàn chỉnh. Khía niện được chấp nhận rộng rãi hơn cả là khái niệm do quỹ tiền tệ thế giới IMF đưa ra, nó được định nghĩa như sau : “ đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi Ých lâu dài trong mét doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế nước khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là việc dành được tiến nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó”.

    Ta có thể hiểu một cách khái quát khái niện trực tiếp trên như sau  Đầu tư trực tiếp nước là hoạt động đầu tư với những đặc điểm  :

    -Có sự thiết lập quyền sử dụng vốn và tài sản của người nước này ở một nước khác.

    -Chủ đầu tư chịu hoàn toàn trách nhiệm về quản lý dự án và hiệu quả của vốn đầu tư.

    -Thường do các cá nhân hoặc do các công  ty đặc biệt là các công ty đa quốc gia tiến hành thông qua việc thành lập mới hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất hiện có.

    Một hình thức đàu tư  nước ngoài khác tồn tại song song với đầu tư trực tiếp là đầu tư gián tiếp. Khác với đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp (ODA) thườn do các chính phủ hay các tổ chức tài chính quốc tế cho một nước khác (thường là các nước đang phát triển) vay vốn, theo hình thức đầu tư này bên nhận vốn trở  thành con nợ nhưng có toàn quyền quyết định sử dụng vốn như thế nào cho có hiệu quả cao nhất, còn bên cho vay không tham gia vào quá trình dụng và quản lý vốn cũng như hoàn toàn không chịu trách nhiệm về rủi ro và hiệu quả của vốn cho vay. Loại hình đầu tư này thường đi kèm theo các điều kiên ràng buộc về kinh tế hay chính trị bất lợi cho nước nhận vốn vay.

    So với ODA, FDI có một số lợi thế hơn hẳn. Đối với các nước đang phát triển, nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất lớn, trong lóc kinh mgiệm quản lý còn yếu kém nên hiệu quả vốn đầu tư thấp, do vậy các nước này vay vốn sẽ có nhiều rủi ro, khả năng thu hồi vốn thấp. Trong hòan cảnh đó đầu tư trực tiếp là tốt nhất bởi vì kèm theo vốn là công nghệ tiên tiến, kinh ngiệm sản xuất nên hiệu quả vốn sẽ cao hơn, mặt khác nữa là FDI không đưa đến gánh nặng nợ nần, không bị ràng buộc về kinh tế, chính trị bất lợi cho đất nước. Tuy thế nó cũng có một số hạn chế là nếu nước tiếp nhận đầu tư không có định hướng rõ ràng, không quản lý tốt sẽ dẫn đến hiện tượng mất cân đối trong phát triển, tạo ra một cơ cấu đầu tư và kinh tế không hợp lý.

    2. Lịch sử phát triển  quan hệ đầu tư nước trên thế giới.

    Trong lịch sử kinh tế thế giới, FDI xuất hiện ngay từ thời tiền tư bản .

    Thế kỷ XVII các công ty của Anh, Hà lan, Tây ba nha là các công ty đi đầu trong trong lĩnh vực này dưới hình thức đầu tư vốn vào các nước Châu á để khai thác đồn điền và vcùng với nó là những ngành khoáng sản nhằm cung cấp nguyên liêu các ngành công nghiệp ở chính quốc. Khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn mới thì hoạt độn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có quy mô to lớn hơn.

    Ngay từ những năm 1871, đầu tư ra nước ngoài của Anh đã đạt giá trị 800 triệu Bảng . Năm 1875 lên tới 2.1 tỷ Bảng. Đến năm 1913 quy mô đầu tư FDI của Anh đã đạt 3.5 tỷ Bảng, trong đó khoảng một nửa đầu tư vào các nước thuộc địa và khối liên hiệp Anh. Sau Anh thời kỳ này Mỹ là nước có quy mô FDI lớn thứ hai : năm 1889, Mỹ đầu tư ra nước ngoài khoảng 500 triệu USD/ năm, năm 1909 là 2 tỷ USD. Mỹ đầu tư chủ yếu vào các nước Mỹ latinh. Việc xuất khẩu tư bản của Đức cũng có quy mô ngày càng lớn. Nó mở đầu ngay từ những năm 70-80 của thế kỷ XIX nhưng quy mô chưa đáng kể do tình trạng lạc hậu chung của nền kinh tế Đức. Vào cuối thế kỷ XIX việc xuất khẩu tư bản của Đức bắt đàu mở rộng, Pháp cũng là nước có số tư bản đầu tư ra nước ngoài tương đối lớn, 10 tỷ Phrăng năm 1869, 20 tỷ Phrăng 1890…

    3.Tính tất yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    1. Tiền đề của việc xuất khẩu tư bản là việc xuất “hiện tư bản thừa” trong các nước phát triển, ở các nước tư bản phát triển khi quá trình tích tụ và tập trung đã đạt đến một trình độ nhất định thì xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài do sự xuất hiện của một lượng vốn nhàn rỗi. Mặt khác taị các nước kém phát triển đang rất cần lượng vốn này để phát triển nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu của mình. Theo Lênin thì “ xuất khẩu tư bản” là một trong các đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc, thông qua xuất khẩu tư bản các nước tư bản thực hiện việc bóc lột các nước lạc hậu mà thườn là thuộc địa của nó. Nhưng chính Lênin đã nói người cộng sản phải biết lợi dụng khoa học kỹ thuật và những thành tựu kinh tế của chủ nghĩa tư bản, theo quan điểm này nhiều nước chấp nhận phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để phát triển kinh tế, như vậy còn có thể nhanh hơn là tự vận động hay đi vay vốn để mau các kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển.
    2. Theo học thuyết kinh tế học của D.Ricardo, mỗi nước có một lợi thế riêng về các yếu tố sản xuất mà ông vẫn gọi là lợi thế so sánh, ở các nước phát triển đó là lợi thế về vốn, công nghệ, kinh ngiệm sản xuất, còn ở các nước đang phát triển đó là nguồn lao động mạt dẻ mạt, tài nguyên phong phú, thị trương sơ khai. Chi phí sản xuất ở các nước phát triển thường cao nên họ thường tìm cách đưa vốn sang các nước đang phát triển để tận dụng lợi thế so sánh của mội nước, bằng cách đó họ nâng cao được lợi nhận trên chi phí biên.

    c.Các nước đi đầu tư thường có trình độ công nghệ cao hoặc tương đối cao so với nước nhận đầu tư. sau một thời gian hoạt động tại nước mình các công nghệ đó sẽ tương đối cũ và hỏi phảicó sự thay thế. Do đó các nước đi đầu tư sẽ chuyển giao công ngệ này một mặt sẽ bù đắp được phần nào chi phí cho sù thay thế công nghệ, mặt khác nó giúp cho việc kéo dài vòng đời công nghệ và nâng cao hiẹu quả sử dụng công nghệ ra nó thì vẫn còn mới và phát huy tác dụng đối với các nước phát triển vốn rất lạc hậu về công nghệ.

    d.Xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội, kết quả của quá trình phân công lao động xã hội mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các nước và các vùng lãnh thổ từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong xu thế đó, chính sách biệt lập đóng cửa là không thể tồn tại vì chính sách đó kìm hãm sự phát triển của xã hội. Mét  quốc gia, vùng lãnh thổ khó tách biệt được thế giới vì những thành tựu khoa học kỹ thuật đã lôi kéo con người ở khắp nơi trên thế giới xích lại gần nhau hơn, và dưới những tác động quốc tế khác buộc các nước phải mở cửa với bên ngoài.

    Trong những thập kỷ gần đây, hoạt động đầu tư nước ngoài có những su hướng khác nhau. Chẳng hạn việc các nước NIC đầu tư sang khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu, việc các nước đang phát triển không chỉ là nhà tiếp nhận đầu tư mà cũng đi đầu tư sang các nước khác…nên việc giải thích cho câu hỏi tại sao lại có hoạt động đầu tư nước ngoài là rất khó trả lời và chưa có một học thuyết nào giải thích được đầy đủ các lý do cho hiện tượng kinh tế này. Trong nội dung chuyên đề này, do thời gian có hạn và trình độ hàn chế nên chỉ xin nêu ra một số nguyên nhân chính như trên.

    4.Tính tất yếu của hoạt động đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt nam và sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam.

    Hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt nam gắn liền với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước Đại hội Đảng lần thứ VI, mọi hoạt động kinh tế của đất nước đều do nước trực tiếp quản lý, nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước cấp phát, khu vực tư nhân bị cấm hoạt động. Do vậy trong một thời kỳ dài nền kinh tế bị kìm hãm, không có tích luỹ nội bộ. Sau đại hội Đảng lần thư VI, nền kinh tế được cởi trãi, thoát khỏi cơ chế quản lý cũ, mọi nguồn lực đều được huy động để phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên do xuất phát điểm thấp nên nguồn vốn đầu tư tư nội bộ nền kinh tế rất hạn chế, các nguồn viện trợ từ Liên Xô và Đông Âu cũng bị cắt giảm nhiều, vì ậy chúng ta phải tìm ra những nguồn lực mới để tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Mặt khác, nước ta lại nằm trong khu vực Đông Nam á, khu vực phát triển kinh tế sôi động nhất trên thế giới. Các nước trong khu vực rất thành công trongviệc huy động các nguồn vốn nước ngoài phục vụ phát triển kinh tế. Tiếp thu kinh nghiệm đó, chúng ta mạnh rạn mở cửa hợp tác kinh tế với nước ngoài, chủ động kêu gọi các cá nhân, tổ chức kinh tế nước ngoài đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt nam.

    Nhằm làm cho các nhà đầu tư thực sự tin tưởng vào đường lối của Đảng và Nhà nước và mạnh dạn bỏ vốn vào làm ăn tại Việt nam, chóng ta đã cụ thể hoá chủ trương này bằng việc cho ra đời Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam vào năm 1987.

    5.Vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) với sự phát triển kinh tế nước ta.

    Vai trò của FDI với sù  phát triển kinh tế nước ta được thể hiệ trên một số mặt sau :

    a.Đối với nước ta, FDI không  những đóng vai trò như một cú huých mà còn là chất xúc tác thu hót các nguồn tài chính khác. Việc các nhà đầu tư tư nhân đến Việt nam ngày càng nhiều, việc có mặt một số công ty đa quốc gia của Nhật Bản, Mỹ, Hàn quốc,Pháp,Đức…đã giúp cho các chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế tin tưởng hơn vào chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, và do đó họ dành cho ta những khoản vốn ODA lớn.         b.Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần rót  ngắn khoảng cách giữa các sản phẩm Việt nam và thị ường quốc tế, giúp các doanh nghiệp Việt nam tiếp cận với thị trường quốc tế nhanh hơn, thuận lơi hơn.
    b.§Çu t­ trùc tiÕp n­íc ngoµi gãp phÇn rót  ng¾n kho¶ng c¸ch gi÷a c¸c s¶n phÈm ViÖt nam vµ thÞ ­êng quèc tÕ, gióp c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam tiÕp cËn víi thÞ tr­êng quèc tÕ nhanh h¬n, thuËn l¬i h¬n.

    c.Đầu tư nước ngoài với công nghệ và kỹ năng quả lý hiện đại đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nước ta trong nhiều ngành ngề, nhiều lĩnh vực : công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi, du lịch, dịch vụ tài chính ngân hàng, hàng không, khai thác dầu khí …các liên doanh với nước đã làm tăng tính cạnh tranh của thị trường Việt nam, giúp các doanh nghiệp Việt nam đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần đào tạo một đội ngò các bộ doanh nghiệp và công nhân có trình kỹ thuật cao,có sự say mê công việc, kỷ luật cao…

    II.THỰC TRẠNG THU HÓT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM.

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam được quốc hội thông qua ngày 29/12/1987, cho đến nay đã hơn 10 năm thực hiện, dòng FDI vào Việt nam ngày càng sôi động, tuy giai đoạn hiện nay có dấu hiệu giảm sút. Đầu những năm 90, tốc độ FDI vào Việt nam tăng rất nhanh với cả số vốn đăng ký và số dự án cấp giấy phép.

    Năm 1988, năm bắt đầu thực hiện luật đầu tư nước ngoài, nước ta mới chỉ thu hót được 37 dự án với 366 triệu USD thì đến năm 1992 đã có 192 dự án với 2.2 tỷ USD và năm 1996 con số đó là 368 với số vốn đăng ký trên 6 tỷ USD. Từ năm 1997 lại đây có trững lại và giảm sút đáng kể. Tính tới nay Bộ kế hoạch và đầu tư đã cấp phép cho 2806 dự với số vốn đăng ký  là 36609 triệu USD.

    Trong hơn mười năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, ta có thể chia ra làm ba giai đoạn sau :

    1.Giai đoạn khởi động :1988-1990.

    Giai đoạn này, chúng ta mới bước đầu tiếp cận với lĩnh vực này, vừa chưa có kinh nghiệm là vừa thiếu mạnh rạn trong quyết định, người nước ngoài thì đến với nước ta như đến với một miền đất mới, vừa hấp dẫn, vừa xa lạ, họ thận trọng không dám mạo hiểm, chỉ làm thử để thăm dò cơ hội nên số lượng dự án nhiều, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư chậm.

    Trong giai đoạn này vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào hia lĩnh vực là thăm dò dầu khí và viễn thông, còn các lĩnh vực khác hầu như mới chỉ có một Ýt dự án và phần đa là chưqa triển khai. Các đối tác đầu tư nước ngoài chủ yếu là các công ty nhỏ thậm chí có cả công ty môi giới, quy mô bình quân một dự án còn nhỏ, các khoản nép ngân sách Ýt, sè lao động trong các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chưa nhiều. Do vậy chưa thực sự thu hót được sự quan tâm và chú ý của các cơ quan trung ương cũng như địa phương. Thái độ  của chúng ta là “trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư nước ngoài” kể cả những nhà đầu tư thực và rởm nên hoạt động đầu tư gặp không Ýt khó khăn cả khi xin cấp giấy phép đầu tư cho đến khi triển khai thực hiện dự án.

    Năm Số dự án

    Số vốn đăng ký

    (triệu USD)

    88 37 367
    89 69 581
    90 108 635
    Tổng 214 1583

     

     

     

    2.Giai đoạn tăng trưởng nhanh : 1991-1995.

    Đây là giai đoạn tăng trưởng nhanh và thay đổi về chất lượng trong hoạt động đầu tư nước ngoài. Tháng 3 năm 1991 một diễn đàn quốc tế về hoạt động đầu tư nước ngoài có quy mô lớn với sự tham gia của hơn 650 khách nước ngoài và đại diện của nhiều tổ chức quốc tế như UNIDO, IMF, WB, ADB, UNDP đã được tổ chức thành công tại TP Hồ Chí  Minh. Đó là một sự kiện quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta, mở đầu thời kỳ mới trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới.       §©y lµ giai ®o¹n t¨ng tr­ëng nhanh vµ thay ®æi vÒ chÊt l­îng trong ho¹t ®éng ®Çu t­ n­íc ngoµi. Th¸ng 3 n¨m 1991 mét diÔn ®µn quèc tÕ vÒ ho¹t ®éng ®Çu t­ n­íc ngoµi cã quy m« lín víi sù tham gia cña h¬n 650 kh¸ch n­íc ngoµi vµ ®¹i diÖn cña nhiÒu tæ chøc quèc tÕ nh­ UNIDO, IMF, WB, ADB, UNDP ®· ®­îc tæ chøc thµnh c«ng t¹i TP Hå ChÝ  Minh. §ã lµ mét sù kiÖn quan träng trong ho¹t ®éng kinh tÕ ®èi ngo¹i cña n­íc ta, më ®Çu thêi kú míi trong qu¸ tr×nh héi nhËp víi kinh tÕ thÕ giíi.

    Số vốn đăng ký trong giai đoạn này là 16.245 triệu USD với 1397 dự án, năm 1991 là 1.294 triệu USD gần bằng cả nước trong ba năm trước cộng lại, tốc độ tăng trưởng bình quân cao và khá ổn định trong cả giai đoạn. Các dự án trong giai đoạn này được phân bố tương đối đều, ổn định và hợp lý. Nhiều ngành công nghiệp mới như công nghiệp điện tử, chế tạo lắp ráp ôtô, xe máy… đã ra đời. Nhiều dự án có quy mô hàng trăm triệu USD được triển khai, một số khu công nghiệp, khu chế xuất bắt đầu được xây dựng. Kết quả của một số dự án thăm dò dầu khí đã tạo cơ sở để phát triển ngành công nghiệp lọc dầu, hoá dầu của nước ta. Nét nổi bật trong giai đoạn này là hiệu quả hoạt động đầu tư nước ngoài đã được thể hiện ngày càng rõ.

    Số vốn thực hiện trong 5 đạt trên 6 tỷ USD, nếu đem so với tổng số vốn đầu tư của cả nước trong giai đoạn này là trên 16 tỷ USD thì nó chiếm trên dươí 40% điều này đã phần nào nói lên tính quan trọng  của đầu tư nước ngoài.

    Doanh số và kim ngạch xuất khẩu của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài ngoài tăng dần và tăng với tốc độ ngày càng nhanh vào cuối giai đoạn này. Doanh thu 149 triệu USD năm 1991 tăng lên 1387 triệu USD năm 1995, còn kim ngạch xuất khẩu từ 52 triệu USD năm 1991 lên 440 triệu USD 1995.

    Các khoản đóng góp vào ngân sách Nhà nước ở cuối giai đoạn này tăng lên đáng kể mặc dù phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang trong thời gian miễn thếu và giảm thuế nhập khẩu đối với vật tư máy móc, nhập khẩu để tạo tài sản cố định, vật tư nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và chưa kể đến những đóng góp của lĩnh vực dầu khí. Các khoản nép ngân sách năm 1994 là 128 triệu USD, năm 1995 là 195 triệu USD.

    Hàng chục vạn người có việc làm ổn định và nhiều vạn người cũng có việc làm gián tiếp nhờ có hoạt động đầu tư nước ngoài. Thu nhập bình quân tương đối cao so với thu nhập trung bình của xã hội.

    Tuy nhiên vào cuối của giai đoạn này đã xuất hiện nhiều vấn đề về quan điểm, nhận thức, về quản lý vĩ mô cũng như vi mô và nhiều vấn đề cụ thể khác, do vậy môi trường đã giảm bớt tính hấp dẫn. Đã xuất hiện đòi hỏi phải thay đổi thuế nhập khẩu, đặc biệt là không miện thuế nhập khẩu ôtô đối với xí ngiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Một số cơ quan quản lý Nhà nước ở cả trung ương và địa phương ban hành thêm nhiều quy định về thủ tục hành chính tạo thêm những phức tạp đối với các nhà đầu tư, đã xuất hiện đòi hỏi của một số địa phương về việc phân cấp quyền hạn cấp giấy phép đầu tư. Ở cấp trung ương đx xuất hiện nhiều vấn đề liên ngành, trong đó một số vấn đề tồn tại khá lâu nhưng vẫn không giải quyết được như thủ tục miễn thuế có quan hệ đến Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Hải quan…vì vậy đòi hỏi phải có sự thay đổi trong cơ chế, chính sách nhằm làm giảm bớt phiền phức cho nhà đầu tư.

    Năm Số dự án Số vốn đăng ký

     

    (triệu USD)

    91 151 1275
    92 197 2027
    93 274 2589
    94 364 3746
    95 408 6608
    Tổng 1397 16245

    3.Giai đọan1996 đến nay.

    Bèn  năm gần đây, cũng như tình trạng suy giảm chung của nền kinh tế, hoạt động đầu tư nước ngoài cũng xuất hiện những dấu hiệu suy giảm. Theo con số thống kê số vốn đăng ký của năm 1996 là 8.667 triệu USD, tăng 31% so với năm 1995 (6.616 triệu USD) thì có lẽ tình hình vẫn khả quan. Tuy vậy cần lưu ý rằng những ngày cuối năm 1996 đã có hai dự án xây dựng đô thị với số vốn lên tới hơn 3 tỷ $, có lẽ rất khó thực hiện mà cũng chẳng ai bá ra chõng Êy vốn một lúc, mà chỉ cần bỏ khoảng 10-15% vốn ban đầu sau đó quay vòng. Do vậy nếu hai dự án này được thực hiện thì cũng chỉ nên tính khoảng 400-500 triệu $ vào tổng vốn đầu tư mà thôi. Cách tiếp cận như vậy nhằm làm rõ và đánh giá đúng tình hình đầu tư nước ngoài trong năm 1996. Năm 1997, vốn đăng ký là 4.649 triệu $, năm 1998 là 3.897 triệu $ thấp hơn rất nhiều so với hai năm trước đó, năm 1999 là 1.562 triệu $ thì ta thấy tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt nam giảm sút rất mạnh. Trong những năm gần đây không chỉ vốn đăng ký giảm sút, mà cả số khách nước ngoài vào tìm kiếm cơ hội đầu tư cũng Ýt đi, tỷ lệ thuê phòng trong các khách sạn khá thấp, một số công ty lớn đã cắt giảm số nhân viên, và cả những tuyên bố công khai của một số nhà đầu tư lớn và môi trường đầu tư đã trở lên không thuận lợi ở nước ta.

    Tuy nhiên, nếu xét vốn đầu tư thực hiện trong các năm gần đây, năm 1996, 1997, 1998 trên 8 tỷ $ doanh thu khoảng gần 10 tỷ $, xuất khẩu 4 tỷ $,… thì sẽ thấy được vai trò ngày càng to lớn của đầu tư nước ngoài. Nhưng đó là kết quả của những năm trước, bây giê mới khai triển. Do vậy điều đáng lo ngại là sự giảm sút trong vốn đăng ký hiện nay chính là đối với sự tăng trưởng của những năm tới.

    Cần lưu ý hai sự kiện quan trọng có tác động đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Đó là việc bộ Luật đầu tư nước ngoài mới được sửa đổi và ban hành vào năm 1996 được coi là khá thông thoáng, kèm theo thay đổi một số chính sách như thuế nhập khẩu vật tư, phương tiện vận tải. Việc ngân hàng Nhà nước ban hành chủ chương mới vệ ngoại tệ đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc phân cấp quyền cấp giấy phép đầu tư. Đó là việc thay đổi tổ chức quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư : sát nhập Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước về hợp tác và đầu tư với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước thành Bộ Kế hoạch đầu tư, tiếp đó là thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước các dự án đầu tư, ban quản ý khu chế xuất, khu công nghiệp. Những cải cách này đã giảm bớt phiền hà cho các nhà đầu tư, tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn.

    III.NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    Thực tiễn hơn mười năm qua đã chỉ rõ việc thu hót vả dụng vốn FDI là chủ trương đúng đắn cảu Đảng và Nhà nước ta, đã góp phần quan trọng vào giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội, vào thắng lợi của đường lối đổi mới, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, củng cố và tăng cường sức mạnh kinh tế và vị thế của Việt nam trong khu vực và trên thế giới. Mười năm qua FDI là một trong các yếu tố tạo nên sự phát triển kinh tế cao của Việt nam, nó là một trong các các bộ phận quan trọng và có tốc độ phát triển nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cải thiện cán cân thanh toán và cán cân thương mại của nước ta, FDI bổ xung nguồn vốn đầu tư quan trọng cho việc phát triển kinh tế xã hội. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế Việt nam.

    Những đóng góp cụ thể của FDI vào nền kinh tế Việt nam thời gian qua là rất lớn, mặt được là chủ yếu, những thiếu sót, nhược điểm, sơ hở và thua thiệt diễn ra chủ yếu trong khâu thực hiện và nằm trong phạm vi doanh nghiệp, không phải trên những vấn đề có tính chất nguyên tắc, chủ trương và có thể khắc phục được.

     

     

    1.Những đóng góp của FDI vào phát triển kinh tế xã hội.

    a.Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế.

    Trong những năm đầu tiên bắt đầu công cuộc đổi mới, nguồn viện trợ nước ngoài (chủ yếu là từ Liên Xô và Đông Âu) bị cắt giảm đột ngột và nguồn vốn nội lực từ nền kinh tế còn rất hạn chế, thì chủ trương thu hót vốn FDI với việc ra đời Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài là đúng đắn và kịp thời, đã bổ xung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.

    Với số vốn đầu tư đã thực hiện trên 17 tỷ USD, các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể vào vốn đầu tư toàn xã hội. Trong thời kỳ 1991-1995, phần vốn đầu tư nước ngoài đưa vào nước là trên 6 tỷ USD, trong khi vốn đầu tư toàn xã hội là trên 18 tỷ USD thì vốn đầu tư FDI chiếm trên dưới 30%. Năm 1996 tổng vốn đầu tư toàn xã hội là 6.3tỷ USD thì FDI thực hiện đạt 2.2 tỷ USD chiếm trên 30%, năm 1997 vốn đầu tư thực hiện đạt trên 2.95 tỷ USD (trong đó vốn góp của bên nước ngoài là 2.5 tỷ USD) cũmg chiếm trên 30% vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 1.7 lần vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước và bằng 1.6 lần vốn đầu tư phát triển của ngân sách Nhà nước. Trong sự phát triển kinh tế thời kỳ 1991-1995 FDI đã góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng 8.5%, và điều quan trọng là nhờ nguồn vốn FDI nhiều nguồn lợc trong nước đã được khai thác và phát huy tác dụng.

    Tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP tăng dần qua các năm, 1992 là 2%, 1993 là 3.6%, 1996là 8.2% đến năm 1997 kể cả xây dựng cơ bản và dịch vụ khác là trên 10%.

    Khu vực FDI đã cung cấp cho thị trường một khối lượng hàng hoá lớn. Đến hết năm 1995 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã sản xuất được: trên một triệu tấn dầu thô, 60 vạn tấn thép, 50.000 tấn dầu nhờn, sản xuất và lắp ráp được 70.000 xe ôtô các loại, 30.000 cọc sợi, 35 triệu mét vải các loại, một triệu bóng đèn hình mầu, trông 13.500 ha  rừng, xây dựng 2500 phòng khách sạn đủ tiêu chuẩn quốc tế … các doanh nghiệp có vốn FDI đã góp phần tạo cho thị trường nước ta một khối lượng hàng hoá lớn, đa dạng phong phú, chất lượng tốt, đã góp phần bình ổn giá cả thị trường.

    Khu vực FDI đã góp một lượng vốn lớn vào tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, đóng góp vào ngân sách Nhà nước ngày một tăng, tạo khả năng giảm thu bội chi, chủ động hơn trong cân đối ngân sách. Nguồn vốn FDI đưa vào Việt nam là của tư nhân do phía Nhà nước ngoài tự cân đối ngoại tệ và bảo lãnh là chính nên không ảnh hưởng đến nợ chính phủ. Mặt khác thế mạnh của FDI trong xuất khẩu cộng đóng góp tiềm năng vào lĩnh vực thu ngoại tệ khác đã góp phần cải thiện cán cân vãng lai. Trong thời kỳ đầu tuy  nhập khẩu của khu vực FDI lớn hơn xuất khẩu, nhưng việc nhập khẩu này là tích cực vì tạo tài sản cố định và tiềm lực phát triển công nghệ, khi hoạt động của FDI đã đi vào ổn định thì khoảng cách giữa xuất khẩu và nhập khẩu sẽ được thu hẹp lại và về lâu dài FDI sẽ có tác động tốt với cán cân thương mại.

    b.Nguồn vốn FDI góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    FDI chủ yếu đầu tư vào khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, góp phần nâng cao tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế. Đặc biệt là, nhờ hoạt động FDI nhiều ngành sản xuất quan trọng của nền kinh tế đã xuất hiện như thăm dò, khai thác dầu khí, lắp dáp sản xuất ôtô xe máy,  viễn thông quốc tế và nội hạt…

    Hiện nay, khu vực FDI chiếm 100% về khai thác dầu khí; 53,8% cán thép; 24% xi măng, trong công nghiệp điện tử, vốn FDI chiếm trên 50%, trong đó 100% về các sản phẩm phẩm như tụ điện, mạch trong, máy thu băng, đầu  video, 70% về đèn hình các loại. Trong công nghiệp dệt may, vốn FDI chiếm 100% về năng lực sản xuất sợi PE,PES , 55% năng lực kéo sợi, 39,3 năng lực may, 32% sản xuất giầy dép. Ngoài ra khu vực FDI còn chiếm 18% chế biến thực phẩm, 14% sản phẩm hoá chất. Với năng suất lao động cao và khả năng tạo ra 25% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, với tốc độ tăng trưởng 21-24%/năm, khu vực FDI có tác động ngày càng lớn đến nền kinh tế.

    Khu vực FDI đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của nền sản xuất nước ta. Nhiều công nghệ mới đã được nhập vào nước ta như thiết kế, chế tạo máy biến thế, dây truyền tự động lắp dáp hàng điện tử, lắp ráp tổng đài điện thoại tự động kỹ thuật số, công nghệ sản xuất cáp điện, cáp thông tin…nhìn chung các thiết bị là đồng bộ, có trình độ cao bằng hoặc cao hơn các thiết bị tiên tiến trong nước và thuộc loại phổ biến ở các nước trong khu vực. Các doanh nghiệp có vốn FDI đã tạo ra nhiều sản phẩm mới, kiểu dáng đẹp, chất lượng tiêu chuẩn Việt nam, một số đạt tiêu chuẩn quốc tế.

    c.Khu vực có vốnFDI đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực

    Cho đến nay khu vực FDI đã thu hót được vạn 30 vạn lao động trực tiếp, nếu tính cả gián tiếp (xây dựng, dịch vô …) ước tính lên tới gần 40 vạn người, với mức lương trung bình 70USD/ tháng, ước tính thu nhập hàng năm lên tới trên 300 triệu USD.  Qua hợp tác đầu tư người lao động Việt nam có điệu kiên nâng cao tay ngề, tiếp thu kỹ năng, công nghệ và kinh ngiệm quản lý tiên tiến, tác phong lao đông công nghiệp ..

    d.Đầu tư nước ngoài giúp sản phẩm Việt nam gia nhập thị trường quốc tế nhanh hơn, giúp các nhà sản xuất Việt nam nhanh chóng tiếp thu trình độ và phương pháp quản lý tiên tiến. đầu tư nước ngoài tạo ra một sức cạnh tranh mới cho thị trường Việt nam, buộc các nhà sản xuất Việt nam phải năng động, tiếp thu công nghệ tiên tiến…

    e.Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng hợp tác với nước ngoài theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập của Việt nam vào nền kinh tế thế giới. Hiện nay có trên 60 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt nam, trong đó có nhiều tập đoàn, công ty lớn có nhiều tiềm năng về công nghệ và tài chính như P&G, tập đoàn ôtô FORD, TOYOTA,…điều đó đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo thuận lợi cho Việt nam tham gia ASEAN, ký hiệp định kkhung với Châu Âu bình thương hoá quan hệ với Mỹ, phá thế bao vây cấm vận và nâng vị thế của Việt nam tại khu vực và trên thế giới.

    Bên cạnh những mặt tích cực trên, trong hoạt động đầu tư nước ngoài cũng còn một số hạn chế, yếu kém gây cản trở tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội.

    2.Mét số mặt chưa được trong quan hệ đầu tư nước ngoài.

    a.Mức nép ngân sách Nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng thực sự của nó. Nguyên nhân chính là do nhiều doanh nghiệp còn bị thua lỗ hay đang trong thời kỳ miên giảm thuế.

    b.Tốc độ triển khai dãy sè  còn chậm so với dự kiến ban đầu, do các thủ tục sau khi cấp giấy phép phức tạp, kéo dài, đặc biệt là các vấn đề đất đai, nhập  khẩu thiết bị đã qua sử dụng.

    c.Vấn đề lao động và tiền lương : các địa phương chưa chú trọng đến công tác đào tạo lao đọgn cung cấp cho các doanh nghiệp mà việc này là  phần  lớn các doanh nghiệp phải tự tổ chức nên hiệu quả không như mong muốn, có nhiều trường hợp làm trái với quy định của Nhà nước. Các cơ quan làm nhiệm vụ cung cấp lao động thường không chịu trách nhiệm về chất lượng của người lao động, dẫn đến việc đưa cả người không lương thiện vào làm việc, gây mất an ninh trong doanh nghiệp.

    Về tiền lương, hiện nay vẫn còn tình trạng cố tình vận dụng sai chính sách quy định để giảm tiền lương của người lao động. Theo quy định, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải trả lương công nhân bằng ngoại tệ do vậy ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngoại tệ của doanh nghiệp, gầm đây Bộ Lao động thương binh và xã hội đã đề nghị Chính phủ cho phép các doanh nghiệp trả lương công nhân bằng nội tệ nhưng không được chấp nhận.

    d.Vấn đề môi trường : đây là vấn đề quan trọng nhưng chưa được chú ý đúng mức. Nhiều dừ án đã đi vào sản xuất nhưng chưa có công trình sử lý nước thải, đặc biệt là chất rắn, gây ô nhiễm môi trường, nhiều dự án xây dựng xong mới báo cáo đánh giá tác động môi trường.

    e.Cơ sở hạ tầng : hiện nay các dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ là những ngành có rủi ro thấp mà thu hồi vốn nhanh mà Ýt dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng do vậy cơ sở hạ tầng nước ta vẫn còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

    Trên đây là một số hạn chế của hoạt động đầu tư nước ngoài, chúng ta đã nhìn nhận thấy từ lâu và cố gắng khắc phục, tuy nhiên có nhiềi vấn đề động đến lợi Ých của nhà đầu tư nên không thể giải quyết trong một chốc lát mà phải làm từ từ và có sự cộng tác chặt chẽ với nhà đầu tư mới hy vọng giải quyết triệt để được.

    IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÓT VỐN ĐÂU  TƯ  NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM.

    Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có được thực hiện hay không, điều đó tuỳ thuộc vào cả hai phía, bên đi đầu tư và bên tiếp nhận đầu tư vì vậy để thu hót và sử dụng có hiệu quả FDI cần thiết phải kết hợp được hài hoà lợi Ých giữa hai bên. Trong điều kiện hiện nay hoạt động đầu tư nước ngoài  gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng  của cuộc khung hoảng tài chính trong khu vực, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp không Ýt khó khăn. Để gây được lòng tin của nhà đầu tư chúng ta cần có những biện pháp giúp đỡ các doanh nghiệp đang hoạt động tháo gỡ khó khăn và giảm bớt các thủ tục hành chính phiền hà đối với các nhà đầu tư tạo điều kiện cho họ giảm bít  được chi phí đầu tư và nhanh chóng đưa dự án đi vào hoạt động.

    Hơn nữa, hiện nay có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước thu hót vốn đầu tư  nước ngoài. các quốc gia như Trung Quốc, Ên Độ …luôn cải cách các thủ tục hành chính nhằm cải thiện môi trương đầu tư để tăng cường thu hót vốn FDI. Việt Nam muốn thu hót  được nhiều hơn nữa vốn FDI cũng buộc phải có những cải cách thực sự.

    Để tăng cường thu hót vốn đàu tư  nước ngoài hơn nữa, trong thời gian tơí, chúng cần tập chung giải quyết một số việc sau :

    1.Tập trung cao độ công tác quản lý, điều hành tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các dự án đang hoạt động

    Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, các cơ quan quản lý Nhà  nước các cấp phải có thái độ thực sự chia sẻ, coi các khó khăn của họ là khó khăn của mình, từ đó tập trung chỉ đạo và điều hành xử lý các vấn đề phát sinh, tạo điều kiện cho họ vượt qua tác động của cuộc khủng hoảng, an tâm tiếp tục đầu tư, hết sức để tránh xẩy ra đổ vỡ và họ rót  lui. Đó cũng là cách làm có tính thuyết phục cao để gây dựng lòng tin với các nhà đầu tư đang hoạt động và để thu hót các nhà đầu tư mới, các dự án mới. Tại cuộc gặp và làm việc với các công ty dầu khí  nước ngoài tại Hà nội ngày 7/7/1998, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh “ chính phủ sẽ chia sẻ rủi ro, thiệt hại với các nhà đầu tư. Việt Nam làm ăn với  nước ngoài luôn có trước có sau, chúng tôi không muốn ai vào Việt Nam mà về tay không. chính phủ sẽ có gắngd tháo gỡ, ngiên cớu chính sách, để sửa đổi một cách nhanh chóng theo định hướng tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, vì điều này có lợi cho các nhà đầu tư  nước ngoài và có lợi cho Việt Nam, nghĩa là hai bên chúng ta cùng có thắng”.

    Trên tinh thần đó đề nghị các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các địa phương nhanh chóng rà soát tất cả các dự án trên địa bàn để có biện pháp sử lý, hỗ trợ thích hợp.

    a.Đối với các dự án đang làm thủ tục hành chính hoặc đang xây dựng cơ bản, chưa đi  vào hoạt động cần tiến hành các biện pháp sau :

    – Kiểm tra tình hình triển khai các dự án để tìm hiểu kỹ các nguyên nhân, tập chung tháo gỡ các thủ tục hành chính gây phiền hà cản trở tiến độ triển khai dự án, xử lý các hiện tượng gây phiền hà sách nhiễu đói với nhà đầu tư, bãi bỏ các thủ tục giấy tờ không cần thiết, công bố rõ quy trình, trách nhiệm và thời  gian sử lý các thủ tục quy định. Cố gắng tập trung các đầu mối về sở kế hoạch và Đầu tư, tránh phân quyền cho quá nhiều cơ quan làm phức tạp quá trình xử lý gây phiền hà.

    – Kiến nghị  Nhà  nước cho phép một số doanh ngiệp có vốn FDI có nhu cầu thực sự và khả năng trả nợ vay vốn  tại các ngân hàng Việt Nam. Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước phối hợp ban hành các quy chế về cầm cố, thế chấp để doanh nghiệp đầu tư  nước ngoài có thể vay vốn của các ngân hàng trong và ngoài  nước, của các tổ chức tài  chính quốc tế.

    -Chỉ đạo thực hiện nhanh chóng việc đền bù giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đã cấp giấy phép. Kiến ngị Bộ Tài chính khả năng đưa chi phí đền bù vào giá tiền thuê đất, đảm bảo tính cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong  nước về giá tiền thuê đất. Hoãn hoặc miễn tiền thuê đất đối với các dự án xin dừng hoặc giãn tiến độ triển khai vì gặp khó khăn do khủng hoảng kinh tế khu vực.

    b.Đối với các dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Cho các dự án  đã  cấp giấy phép đầu tư hưởng ngay những ưu đãi của quy định về thuế lợi tức, giá thuê đất mới, xem xét miễn giảm thuế đất đối với các doanh nghiệp thực sự lỗ vốn …hỗ trợ bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp đang thực sự khó khăn do khủng hoảng kinh tế khu vực, xuất khẩu  bị thu hẹp.

    -Cho phép các dự án sản xuất hàng xuất khẩu  đang gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu được điều chỉnh tỷ lệ tiêu thụ nội địa đối với những sản phẩm mà trong  nước vẫn nhập khẩu, thị trường trong  nước có nhu cầu hoặc chuyển đổi mặt hàng kinh doanh. Khuyến khích đối đa các doanh nghiệp xuất khẩu , các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm trung gian phục vô  xuất khẩu, tạo mọi thủ tục nhanh chóng dễ  dàng thuận tiện cho xuất khẩu  sản phẩm.

    – Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong một số trường hợp áp dụng chế độ kế toán thống kê thông dụng quốc tế, xem xét lai thời hạn bắt buộc tất cả các doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán Việt Nam, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính doanh nghiệp FDI nhằm khắc phục sơ  hở gây thiệt hại đến lợi Ých Nhà nước Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam. Cần sớm có luật về kiểm soát bán phá giá và chống độc quyền, luật kinh doanh bất động sản…

    Cho phép chuyển một số liên doanh làm ăn thua lỗ nặng mà  phía Việt Nam không có  khả năng cùng gánh chịu thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

    Ngừng việc cấp giấy phép xây dựng mới và giãn tiến độ xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất để tập trung vào các khu công ngiệp hiện có. Đối với các khu công nghiệp đã cấp giấy phép nhưng chưa triển khai xây dựng thì tạm ngừng triển khai xây dựng, đối với các khu công nghiệp đang bắt đầu đầu tư thì giãn tiến độ đầu tư. Các khu công nghiệp phải chuyển trọng tâm và hoạt động vận động đầu tư để lấp đầy đủ diện  tích cho thuê.

    2.Tăng cường quán triệt đầy đủ, nhất quán Nghị quyết Đại hội trung ương Đảng lần thứ IV về phát huy nội lực, thực hiện nhất quán chính sách thu hót các nguồn lực bên ngoài.

    Để tăng cường thu hót vốn đầu tư nước ngoài, trong thời gian tới, chúng ta phải đổi mới công tác vân động đầu tư theo hướng gắn liền với các dự án, chương trình cụ thể, các cơ  quan hữu quan phải có trách nhiệm trực tiếp hướng dẫn các chủ đầu tư trong quá trình tìm hiểu, chuẩn bị dự án. soạn thảo phổ biến chính sách tài liệu bằng các thứ tiếng thông dụng, sử dụng Iternet trong công tác tuyên truyền vận động đầu tư.

    3. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách tạo thuận lợi hơn cho nhà đầu tư khi đầu tư vào Việt Nam.

    Để cải thiên mạnh mẽ môi trường đầu tư, thời gian qua Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến FDI : nghị định 12/CP ; nghị định 08/1/98 NĐ-CP. Các bộ, ban , ngành đã ban hành hàng loạt văn bản hướng dẫn thực hiện các nghị định, chỉ thị nêu  trên.

    4.Bè trí cán bộ có năng lực, phẩm chất vào vị trí chủ chốt trong các doanh nghiệp liên doanh.Bồi dưỡng đào tạo lại cán bộ đang làm việc tại gần một ngìn liên danh, xây dựng và phát huy vai trò của tổ chức Đảng, công đoàn.

    Trên đây là một số giải pháp tình thế trước mắt nhằm giảm bớt các khó khăn cho các doanh nghiệp có vốn FDI và xây dựng lòng tin với các nhà đầu tư. Về lâu về dài chúng ta phải đưa ra những biện pháp có tính chiến lược như sau :

    5.Thiết lập hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất.

    Nước ta vẫn được các nhà đầu tư đánh giá là  nước có thể chế chính trị ổn định. Tuy nhiên, họ cũng rất băn khoăn về tình trạng thiếu tính hệ thống của pháp luật, tạo nhiều lỗ hổng về mặt pháp lý, đặc biệt các nhà đầu tư kêu ca về tình trạng thay đổi quá nhanh và đôi khi tuỳ tiện một số quy định về mức thuế, thời hạn áp dụng. Do vậy việc hoàn chỉnh hệ thốngpháp luật được coi là nhiệm vụ quan trọng và cần phải được quan tâm giải quyết.

    6.Cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư .

    Đối với các nhà đầu tư “ thời gian là vàng” chỉ cần chậm chân có khi chỉ một vài ngày là đã mất cơ hội làm ăn. Trong khi đó thủ tục hành chính của  nước ta vẫn còn rất nhiều điều gây phiền hà, mất thời gian cho các nhà đầu tư. Một số không  Ýt công chức Nhà nước quá lạm dụng quyền hạn của mình mà quên mất trách nhiệm hướng dẫn taọ điều kiện cho nhà đầu tư. Vì vậy một trong các nhiệm không thể chậm chễ là phải cải cách hành chính ở tất cả các khâu một cách tối ưu.

    7.Lập quy hoạch chi tiết vùng lãnh thổ, chuẩn bị những điều kiện cần thết cho quá trình chuẩn bị đầu tư.

    Trong công tác quy hoạch vùng chúng ta còn nhiều bất cập, vì vậy dẫn đến hiện tượng vốn FDI tập trung quá nhiều vào các vùng có điều kiện thuận lợi, để tạo thuận lợi cho việc phát triển đồng đều giữa các vùng, chúng ta phải lập được quy hoạch chi tiết về vùng lãnh thổ.

    Chương III

    Vận dông một số phương pháp thống kê vào phân tích thực trạng đầu tư  nước ngoài vào Việt nam thời gian qua.

     Thu hót  đầu tư nước ngoài là một trong các chính sách kinh tế quan trọng nó góp phần không nhỏ vào phát triển nền kinh tế nước ta trong giai đọan hiện nay.

    Trong thời gian qua, được sự giúp đỡ của các cô chú trên vụ Xây dựng – Giao thông – Bưu điện, em đã có được một số tài liệu phản ánh thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ  1988 – 1999 bao gồm các số liệu cụ thể sau:

    Số liệu về số dự án được cấp giấy phép đầu tư, số vốn đầu tư, số vốn đầu tư thực hiện. Các số liệu trên được phân theo năm, theo nghành kinh tế và theo đối tác đầu tư. Với nguồn số liệu này cho phép phân tích tình hình thu hót và thực hiện vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian qua, phân tích cơ cấu vốn đầu tư theo nghành kinh tế, cơ cấu theo vùng kinh tế, theo đối tác đầu tư và biến động cơ cấu theo tiêu trên.

    Số liệu về một số kết quả mà hoạt động đầu tư nước ngoài mang lại như : sè liệu về doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, về tình hình xuất nhập khẩu của bộ phận có vốn đầu tư nước ngoài, về nép ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm  cho người lao động.  Với các số liệu này cho phép em phân tích một số chỉ tiêu kết quả do hoạt động đầu tư nước ngoài mang lại và mối liên hệ giữa các chỉ tieeu trên với chỉ tiêu vốn đầu tư thực hiện.

    Dưới đây xin trình bày cụ thể kết quả  phân tích các chỉ tiêu trên qua các phương pháp thống kê thông dụng.

    I . VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÃY SỐ THỜI GIAN PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.TỪ 1988 –1999.

    Để nghiên cứu thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt nam, ta có thể ngiên cứu qua một số chỉ tiêu chủ yếu như : sè vốn đăng ký ,sè  dự án được cấp giấy phép, số vốn thực hiện, một số chỉ tiêu kết quả chủ yếu… Đây là các chỉ tiêu chình, thường được sử dụng trong việc đánh giá hoạt động đầu tư nước ngoài.

    1.Ngiên cứu biến động của : sè dự án được cấp giấy phép đầu tư, số vốn đăng ký, số vốn thực hiện  và quy mô bình quân một dự án.

    a.Số vốn đăng ký

    Trong hơn 10 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, chúng ta đã thu được một kết quả rất lớn được thể hiện trong bảng sau đây.

    Biểu số 1:vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam thơig kỳ 1988-1999

    Năm Số dự án Vốn đăng ký (triệu USD) Quy mô bình quân của dự án
    88 37 367 9,9
    89 69 581 8,4
    90 108 635 5,9
    91 151 1275 8,4
    92 197 2027 10,3
    93 274 2589 9,4
    94 367 3746 10,2
    95 408 6608 16,2
    96 265 8640 32,6
    97 346 4654 13,4
    98 275 3925 14,2
    99 309 1562 5,0
    Tổng 2,806 36609 13,1

    Như vậy, kể từ khi đưa luật đầu tư nước ngoài vào thực hiện đến nay cả nước ta đã thu hót được 2806 dự án với số vốn đăng ký là 36609 triệu USD, nhìn vào biểu trên ta thấy trong cả thời kỳ trên có thể chia ra làm ba giai đoạn sau căn cứ vào xu hướng biến động riêng của từng giai đoạn

    Giai đoạn mét :1988-1990 giai đoạn “khởi đầu”, sau một thời kỳ dài nền kinh tế bị trãi buộc dưới cơ chế quản lý tập trung, đất nước ta rơi vào một cuộc khủng hoảng kéo dài. Tại Đại Hội Đảng lần thứ VI năm 1987 Đảng và Nhà nước ta quyết định chuyển hướng nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước  đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế kêu gọi các nhầ đầu tư quốc tế đầu tư vào Việt nam, Luật Đầu Tư Nước Ngoài được ban hành cuối năm 19887 là sự cụ thể hoá chủ trương này

    Giai đoạn này, cả nước thu hót được 214 dự án, với số vốn đăng ký là 1583 triệu USD, tốc độ phát triển của số dự án và vốn đăng ký là khá cao  bình quân 170% với dự án và 162% với vốn đăng ký, nhưng lượng tăng tuyệt đối thì khá nhỏ Nguyên nhân chủ yếu do cả phía ta và nhà đầu tư. Về phía ta, do đây là buổi ban đầu nên chúng ta cũng chưa thật sự tin tưởng, điều này được thể hiện qua bộ luật đầu tư bn hành năm 1987 còn khá chặt chẽ với các nhà đầu tư. Về phía các nhà đầu tư họ chưa quen với thị trương Việt nam nên cũng rất thận trọng trong các bước đi.
    Nguyªn nh©n chñ yÕu do c¶ phÝa ta vµ nhµ ®Çu t­. VÒ phÝa ta, do ®©y lµ buæi ban ®Çu nªn chóng ta còng ch­a thËt sù tin t­ëng, ®iÒu nµy ®­îc thÓ hiÖn qua bé luËt ®Çu t­ bn hµnh n¨m 1987 cßn kh¸ chÆt chÏ víi c¸c nhµ ®Çu t­. VÒ phÝa c¸c nhµ ®Çu t­ hä ch­a quen víi thÞ tr­¬ng ViÖt nam nªn còng rÊt thËn träng trong c¸c b­íc ®i.

    Giai đoạn hai :1990-1995 “giai đoạn tăng trưởng nhanh”

    Giai đoạn này cả nước thu  hót được 1397 dự án, với số vốn đăng ký là 16245 triệu USD, sự tăng trưởng trong giai đoạn này là khá nhanh, tốc độ phát triển bình quân của dự án là : 130% của sè  vốn đăng ký là : 150%, lượng tăng tuyệt đối bình quân : dù án là 75 dự án/năm, số vốn đăng ký là 2882 là triệu USD/ năm, so với thời kỳ trước số dự án gấp 6,5 lần số vốn đăng ký gấp 10,26 lần.

    Đạt được kết quả này là do chóng ta đã mạnh dạn tin tưởng vào vào đường lối đề ra, Luật đầu tư  nước ngoài hai lần được sửa đổi bổ xung vào các năm 1990 và1992 nhằm làm cho môi trường đầu tư thông thoáng hơn và phù hợp với tình hình, về phía các nhà đầu tư họ đã mạnh dạn đầu tư vào Việt nam vì nước ta là một nước với thị trường rộng mở, lao động rẻ, tài nguyên phong phú và nằm trong khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới.

    Giai đoạn 1996-1999

    Trong cả giai đoạn này cả nước thu hót được 1195 dự án với số vốn đăng ký là 19389 triệu USD, so với giai đoạn trước số vốn mới cấp tăng 120%. Điều đáng nhắc đến trong giai đoạn này là với nỗ lực rất lớn của Chính phủ Việt nam thể hiện bằng việc năm 1996 bộ luật đầu tư mới được ban hành được coi là rất thông thoáng thì lượng vốn đăng ký ngày càng giảm dần : trung bình 30% năm. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực đã ảnh hưởng mạnh tới các nhà đầu tư lớn vào Việt nam như ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc. Một lý do khác nữa là môi trường đầu tư nước ta còn nhiều khó khăn trở ngại cho nhà đầu tư,

    Về quy mô dự án : nhìn chung quy mô dự án tăng dần theo thời gian  giai đoạn 1988-1990 quy mô trung bình một dự án là 7,4 triệu USD, giai đoạn 1991-1995 là 11,6 triệu USD một dự án, giai đoạn 1996-1999 là 16,25 triệu USD một dự án. Qua quy mô dự án ta thấy phần nào sự chuyển hướng trong đầu tư.

    So với kế hoạch đề ra phải thu hót được từ 35-40 tỷ USD vốn đầu tư giai đoạn 1991-2000 thì kết quả như trên đã là đạt mục tiêu đề, tuy nhiên kết quả yếu kém trong thời gian gần đây sẽ là một khó khăn lớn trong việc thực hiện kế hoạch của giai đoạn tới.

     

     

     
    Vốn đầu tư đăng ký theo thơi gian

    b.Vốn đầu tư thực hiện.

    Trong hoạt động đầu tư nước ngoài, việc thu hót được nhiều dự án và vốn đăng ký là việc rất quan trọng tạo ra cơ sở nền tảng cần thiết, nhưng một việc không kém phần quan trọng là đưa số dự án được cấp giấy phép và vốn đăng ký vào hoạt động. Đây là một việc phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan nhà đầu tư, vai trò của chúng ta là phải làm sao cho họ thật sự tin tưởng, mạnh dạn bỏ vốn cũng như hỗ trợ họ trong quá trình thực hiện đầu tư.

    Luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực kể từ năm 1988, nhưng vốn đầu tư thực sự đưa vào Việt nam nhiều kể từ 1991 sau khi  các dự án hoàn tất các thủ tục đầu tư vào các nhà đầu tư thật sự tin tưởng vào chính sách thu hót vốn FDI của Việt nam, số liệu thực hiện vốn đầu tư từ 1988 đến 1999.

     
    Biểu sè 2: Vốn đầu tư thực hiện từ 1991 đến 31/12/1999
    Năm Vốn ĐT thực hiện(triệuUSD) Lượng tăng tuyệt đối Tốc độ phát triển%
    Liên hoàn Định gốc Liên hoàn Định gốc
    91 477      
    92 536 59 59 120 120
    93 1090 554 643 203 243
    94 2204 1114 1757 202 493
    95 2720 516 2273 123 608
    96 2836 116 3173 104 643
    97 3620 784 1687 127 809
    98 2134 -1486 1079 58 477
    99 1526 -608 1049 71 341
    Tổng 15015        

    Nhìn vào biểu trên ta thấy, lượng vốn tăng mạnh từ năn 1991 đến 1997, tốc độ tăng trong giai đoạn này là khá cao bình quân là 141% năn, lượng tăng tuyệt đối bình  quân là 628,6 triệu USD năn, tổng vốn đầu tư thực hiện trong cả thời kỳ này là 15015 riệu USD, Tuy nhiên cùng với sự suy giảm chung của nền kinh tế đất nước, vốn đầu tư thực hiện trong hai năm gần đây liên tục giảm : năm 1998 giảm so với 1997 là 42% tức 1486 triệu USD, năm 1999 giảm so với 1998 là 29% tức 608 triệu USD.

    So với vốn đăng ký, tỷ lệ vốn đưa vào thực hiện đạt trung bình là 41%, tỷ lệ này so với các nước trong khu vực là tương đối thấp. Ta thấy có một hiện tượng là nếu những năm liền trước có nhiều vốn đăng ký thì năm

    sau vốn thực hiện cũng cao. Tức là có hiện tượng “trễ” so với vốn đăng ký, vốn thực hiện năm nay thường là kết quả của vốn đăng ký những năm liền trước, vì vậy năm 1997 trong khi vốn đăng ký giảm so với vốn thực hiện là

    46% thì vốn thực hiện lại tăng 127%, do vậy kết quả yếu kém trong thu hót vốn đầu tư những năm gần đây sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch trong những năm đầu của thập kỷ này.

    Vốn đầu tư thực hiện theo thời gian

    c.Vốn đầu tư thực hiện và tương quan với vốn đầu tư toàn xã hội.

    Trong cả thời kỳ vừa qua, Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều nguồn lực cho phát triển kinh tế, mục tiêu phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng hàng đầu, hàng năm vốn đầu tư luôn ở mức rất cao, lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau.

    Vốn đầu tư FDI và vôn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1990- 1999

    Năm Vốn đầu tư toàn xã hội (A) Tốc độ phát triển của A (%) Vốn FDI (B) Tốc độ phát triển của B
    90 7581 990
    91 13470 177 1926 194
    92 24736 183 5185 269
    93 42176 170 10621 204
    94 54296 128 16500 155
    95 68047 125 22000 133
    96 79367 116 22700 103
    97 96870 122 30300 133
    98 96400 99 24300 80
    99 103900 106 18900 77
    Tổng 586840   158820  

    Trong cả thời kỳ vừa qua, vốn đầu tư toàn xã hội là 586840 tỷ đồng, trong đó vốn FDI là 158820 tỷ, chiếm 27%, để huy động được lượng vốn khổng lồ này. Nhà nước ta phải huy động từ rất nhiều nguồn : từ NSNN, vốn vay trong dân( qua các loại công trái ), vay nước ngoài (vay các chính phủ và các tổ chức tài chính thế giới). Trong các nguồn trên ta thấy có hai nguồn là : từ vay trong dân và vốn FDI là hai nguồn có tiềm năng nhất, do đó việc khai thác tốt hai nguồn này sẽ tạo ra động lực rất lớn cho việc phát triển. Nguồn vốn từ trong dân có thể coi là nội lực, còn nguồn FDI được coi là “cú huých”, tất cả các nước đang phát triển trong đó có Việt nam nguồn vốn này vai trò của nó rất quan trọng.

    Qua biểu trên ta thấy : so với tốc độ biến động của vốn đầu tư toàn xã hội tốc độ biến động của vốn FDI biến động nhanh hơn : giai đoạn đầu vốn FDI tăng rất nhanh : 194% năm 1991; 269% năm 1992; 204% năm 1994 và 155% năm 1995. Sau đó tốc độ tăng chững lại và giảm dần từ năm 1997 trong khi vốn đầu tư toàn xã hội vẫn tiếp tục tăng , điều này phần nào thể hiện sự giảm dần tính hấp dẫn trong môi trườn đầu tư nước ta.

    2.Phân tích FDI theo biến động  cơ cấu .

    a.Biến động cơ cấu kinh tế

    Cơ cấu vốn đầu tư trong cả thời kỳ 88-99

    Trong một thời kỳ dài trước đây trước đây chúng ta chủ trương xây dựng đất nước theo hướng “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và nông ngiệp” có thể thấy đây là một nhận thức giáo điều, dập khuôn theo mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Từ khi mở cửa nền kinh tế đất nước quan điểm của chúng ta còng thay đổi với chủ trương “phát triển nông lâm ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, tăng cường phát triển công ngihệp nhẹ và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển có chọn lọc một số ngành công ngiệp nặng mòi nhọn”

    Xuất phát từ quan điểm này chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế với cơ cấu ngành theo hướng của một nc công nghiệp phát triển với các chỉ tiêu cụ thể sau đây : ngành nông ngiệp chiếm từ 19-20% GDP, ngành công nghiệp chiếm từ 35-40% GDP, ngành dịch vụ chiếm khoảng 40% GDP.

    Trong quan hệ hợp tác đầu tư với nước ngoài, chúng ta cũng định hướng thu hót vốn và các dự án theo hướng chú trọng vào phát triển công nghiệp trọng điểm, công nghiệp chế biến để làm ngòi nổ cho các ngành khác phát triển.

    Biểu sè 4: Cơ cấu vốn đầu tư  phân theo ngành kinh tế từ 1988-1999

    Ngành Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn thực hiện Vốn TH/Vốn ĐK (%) Vốn TH/Dự án (triệu USD)
    Số lượng Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    N.N 363 12,3 1361 3,7 1123 6,2 82,5 3,09
    C.N 187 62,9 18978 52,0 9795 57,2 51,6 4,95
    D.V 742 24,8 16269 44,3 6420 37,6 39,4 8,65
    Tổng 2806 100,0 36609 100,0 17184 100,0 0,47 6,12

    Số dự án được cấp giấy phép đầu tư phân theo nghành kinh tế

    Ta thấy ngành công ngiệp là ngành có nhiều dự án đầu tư nhất với 1823 dự án chiếm 62,9% tổng số, tiếp đến là ngành dich vụ với 720 dự án và sau đó là ngành nông ngiệp chỉ với 352 dự án,

     

    Trong nội bộ ngành công nghiệp nghành công nghiệp chế tạo máy móc thu hót được 535 dự án chiếm gần 30%, ngành công nghiệp nhẹ và công ngiệp chế biến thu hót được 958 dự án chiếm trên 50%.

     
    Số dự án phân theo ngành  kinh tế
     

    So với ngành nông nghiệp và dịch vụ, công nghiệp thu hót được nhiều vốn nhất với 18.956 triệu USD chiếm 52%, ngành dịch vụ có 16250 triệu USD chiếm 44,3%, ngành nông ngiệp chỉ có 1.360 triêu USD chiếm 3,7% tổng số vốn đầu tư. Về quy mô bình quân một dự án thì ngành công nghiệp là 10,4 triệu USD /một dự án, ngành dịch vụ là 22,5 triệu USD lớn hơn công ngiệp rất nhiều, có hiện tượng này là các dự án đầu tư vào xây dựng khu đô thị được tính vào ngành dịch vụ.

    Nhìn vào biểu tên ta thấy, ngành công nghiệp là ngàng có vốn đầu tư thực hiện cao nhất với 9498 triệu USD chiếm 55,2%, tiếp đến là ngành dịch vụ có 6420 triệu USD triệu USD chiếm 37,6% tổng số, ngành nông ngiệp chỉ với 1420 triệu USD bằng 8,2% có tỷ trọng nhỏ nhất.

    Ngành công ngiệp có vốn đầu tư  lớn vì : so với ngành dịch vụ và ngành nông ngiệp thì vốn đầu tư cho một dự án thuộc lĩnh vực công ngiệp cần phải có lượng vốn đầu tư lớn hơn, có dù  án vốn đầu tư lên tới hàng tỷ USD như VIETSOVPETRO, dự án trương trình dầu khí Nam Côn Sơn  và các dự khác trong lĩnh vực chế tạo ôtô, xe máy…hơn nữa là đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp nhẹ, công ngiệp thực phẩm vòng quay của vốn rất nhanh lại rễ đạt được lợi nhuận cao nên có nhiều dù  án được thực hiện, lĩnh vực dầu khí là lĩnh vực mà các nhà đầu tư tham gia đầu tư là những nhà đầu tư có tiềm lực tài chính mạnh nên khả năng thực hiện cũng rất cao.

     
     
    Vèn ®Çu t­ thùc hiÖn ph©n theo ngµnh kinh tÕ

     

    Biểu sè 5: Tỷ trọng trong GDP của một sè  nước Châu á năm 1990         đơn vị %

    Nước Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vô
    Hàn Quốc 6 43 51
    Đài Loan 4,2 42,3 53,5
    Malaixia 13,5 42,2 44,3

    So sánh với các nước trên, là các quốc gia tương đối phát triển trong khu vực, ta thấy vốn FDI đầu tư vào nước ta cũng đi theo hướng của một nước công nghiệp phát triển như chủ trương mà chúng ta đã đề ra từ đầu.Biến động cơ cấu theo thời gian

    Biến động  cơ cấu vốn đầu tư theo theo thời gian.

     

    Biểu sè 6: Biến động vốn đầu tư đăng ký

    Ngành Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vô
    Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    88-90 314,5 20 752 47,5 518 32,5
    91-95 670,4 4,1 8852,8 54,5 6721 41,2
    96-99 376 2 9081,6 48,5 9296 49,5

    Nhìn vào biểu trên cho ta thấy : ngành công nghiệp có lượng vốn đầu tư tương đối ổn định, nhành dịch vụ có lượng vốn đầu tư vào liên tục tăng, nguyên nhân chính là hai ngành mới được đầu tư với số vốn đăng ký đến là ngành xây dựng khu công nghiệp- khu chế xuất, và ngành xây dựng khu đô thị thuộc lĩnh vực dịch vụ. Ngành nông nghiệp có tỷ trọng vốn đầu tư liên tục giảm, nhưng điều đáng mừng là những dự án đầu tư vào ngành nông nghiệp phần nhiều thuộc lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng và chế biến nông sản.

     
     
     

    Biến động vốn đầu tư đăng ký theo thời gian

    Biểu sè 7: biến động vốn đầu tư thực hiện theo thời gian 88-99

    Ngành Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vô
    Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    88-90 25 5,8 752,0 47,5 245 46,7
    91-95 430 5,9 8852,8 54,5 2979 39,6
    96-99 695 7,1 9081,6 69,5 3196 23,4
    Chung 1150 4,4 18686,4 71,2 6420 24,4

    Qua biểu trên ta thấy, vốn đầu tư thực hiện có xu hướng tăng rõ rệt trong ngành công nghiệp, nếu giai đoạn trước (1991-1995) nó chiếm tỷ trọng là 45,5% thì trong giai đoạn này tăng lên là 61,4%, Ngành nông nghiệp cũng tăng nhẹ (do tốc độ chậm nên tỷ trọng giảm từ 9,7 xuống còn 7,1%), riêng ngành dịch vụ giảm xuống từ 47,8% còn 31,5%.

    Như vậy ta thấy có xu hướng chuyển dịch vốn đầu tư từ các lĩnh vực dịch vụ sang lĩnh vực sản xuất, đây là một sự chuyển dịch hợp lý trong cơ cấu vốn đầu tư.

     
     
     

    Biến động vốn đầu tư thực hiện theo thời gian

    1. Cơ cấu lãnh thổ.

    Nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa, mục tiêu phát triển của chúng ta là mang đến sự phồn vinh cho tất cả mọi cá nhân trong xã hội, xây dựng một nền kinh tế phát triển cân đối giữa các vùng các địa phương trong cả nước. Tuy nhiên do xuất phát điểm thấp, vốn đầu tư cho phát triển có hạn do đó không thể đầu tư dàn trải mà phải có trọng điểm nên phần nào đã làm mất cân đối giữa các vùng trong cả nước. Hơn nữa các nhà đầu tư luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu nên họ luôn tìm nơi có điều kiện thuận lợi, chi phí đầu tư thấp để bỏ vốn, do đó để thực hiện mục tiêu phát triển cân đối ngày càng trở nên khó thực hiện.

    Nghiên cứu vốn đầu tư theo lãnh thổ ta chia cả nước thành ba miền : miên Bắc – miền Nam – miền Trung, và hai vùng : đồng bằng và miền núi.

    Biểu sè 8 vốn đầu tư phân theo lãnh thổ giai đoạn 88-99
    Miền Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn thực hiện Vốn TH/Vốn ĐK Vốn TH/Dự án
    Số lượng Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    Bắc 792 28,2 12659 34,6 5057,7 30 39,9 6,4
    Trung 210 7,5 3832 10,5 772,5 4,5 20,2 3,6
    Nam 1803 64,3 20122 55,1 11353,8 65,5 56,42 6,3
    Tổng 2806 100 36609 100 17184 100    

    Về vốn đầu tư đăng ký

    Nhìn vào hai biểu trên cho ta nhận định vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào các tỉnh phía Nam với 1577 dự án chiếm 64,3% và 18662triệu USD chiếm 55,1% số vốn đăng ký. Tiếp theo là các tỉnh phía Bắc với 692 dự án chiếm 28,2% và 11743 triệu USD chiếm 34,6% vốn đăng ký, miền Trung chỉ có 184 dự án với số vốn đăng ký là 3554 triệu USD. Trong hai miền trên vốn đầu tư cũng chỉ tập chung ở hai trng tâm kinh tế lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận.

    Vốn đầu tư cũng tập trung rất Ýt ở các tỉnh miền núi, trong hơn 10 năm các tỉnh miền núi chỉ thu hót được 125 dự án (5% số dự án ) và 1632triệu USD vốn đăng ký.

    Vốn đầu tư tập trung ở hai khu vực tên tuy đã góp phần xây dựng nên hai trung tâm kinh tế lớn là :TP Hồ Chí Minh- Vũng Tàu và Hà Nội- Hải Phòng –Quảng Ninh, nâng cao đáng kể thu nhập của dân cư ở các trung tâm này nhưng nó cũng đồng thời tạo ra sự mất cân đối lớn giữa các vùng lãnh thổ, không tạo ra nguồn lực để phát huy thế mạnh ở các tỉnh không thuộc hai trung tâm này đồng thời cũng không cải thiện được thu nhập của phần đông dân cư tập trung ở nông thôn và miền núi.

     

    Nhận biết được điều này ,Chính phủ đã có nhiều biện pháp kích thích đầu tư vào các tỉnh miền núi và có điều kiện khó khăn như tăng thời hạn miễn thuế, giảm thuế, tăng tỷ lệ tiêu thụ nội địa cho các doanh ngiệp đầu tư vào các tỉnh trên nhưng kết quả cũng không được như mong muốn.

    Vốn đầu tư đăng ký theo lãnh thổ

                        Về vốn đầu tư thực hiện

    Cũng như vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện tập trung chủ yếu ở miền Bắc với 3432,2 triệu USD chiếm 30% và niềm Nam với 7805 triệu USD chiếm 65,5. Hai trung tâm lớn là Hà nội  và TP Hồ Chí Minh có 5168 triệu USD chiếm 44%, Ngoài các yếu tố về lợi thế thương mại, cơ sở hạ tầng tương đối hiện đại thì yếu tố quản lý cũng là một yếu tố khiến vốn tập trung ở hai vùng này cao. Niềm Nam vốn tập trung cao còn do các  khu công ngiệp, khu chế xuất tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, đây có thể dường như là một mất cân bằng trong quy hoạch vùng của chúng ta

     

    Vốn đầu tư thực hiện phân theo vùng lãnh thổ

    1. Cơ cấu đầu tư theo đối tác

    Cho đến nay đã có 66 quốc gia và vũng lãnh thổ tham gia đầu tư vào Việt nam, trong số các nước này ta có thể phân ra thành 4 nhóm sau :

    Nhóm mét : các nước vùng Đông Bắc Á bao gồm : Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông.

    Nhóm hai : các nước công nghiệp hàng đầu châu Âu và Bắc Mỹ bao gồm : Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Canada.

    Nhóm ba gồm các nước ASEAN.

    Nhóm bốn :các nước còn lại.

    Biểu sè9 : vốn đầu tư phân theo đối tác đầu tư 1988-1999
    Khu vực Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn thực hiện Vốn TH/Vốn ĐK Vốn TH/Dự án
    Số lương Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    ASEAN 516 20 8493 23,3 3082 18 36,3 5,9
    Đông Bắc Á 4131 51 14790 40,4 7963 46,3 53,8 5,56
    Châu Âu+Bắc Mỹ 420 15 8237 22,5 3713 21 45,8 8,98
    Các nước khác 392 14 5418 13,8 2426 14,7 44,77 6,2
    Tổng 2806 100 36609 100 17184 100    

    Dẫn đầu trong các nhà đầu tư vào Việt nam là các nước và vũng lãnh thổ Châu Á, nếu gộp cả hai nhóm nước ASAEN và Đông Bắc Á thì hai nhóm này chiếm 70% số dự án (1774 dự án ) và 63,7% số vốn đăng ký (22639 triệu USD). Đây là nhóm các nước bị ảnh hưởng nặng nhất của cuộc khủng hoảng vừa qua nên qua đây ta cũng phần nào thấy được nguyên nhân dẫn đến tình hình đầu tư vào nước ta thời gian gần đây suy giảm.

    Hiện nay tham gia đầu tư vào Việt nam đã có các công ty hàng đầu của Châu á như : Toyota, Sony, Huyndai, Samum…và một số công ty hàng đầu của Mỹ và Châu Âu. Tuy vậy số đến từ Châu Âu và Mỹ là các công ty xuyên quốc gia và các tập đoàn lớn chưa nhiều, theo  một số thì Việt nam không phải là lùa chọn số một của họ, trong thời gian gần đây chúng ta chủ trương sang thu hót vốn đầu tư từ Châu Âu và Mỹ vì đây là những nước luôn đi đầu trong cung cấp vốn FDI nên chúng ta phải tăng cường hơn nữa việc vận động đầu tư đối vơí các nhà đầu tư của hai khu vực này.

    Cơ cấu vốn đầu tư  đăng ký theo đối tác đầu tư
     
     
     

    Về cơ cấu vốn đầu tư thực hiện phân theo đối tác, ta thấy dẫn đầu cũng là các nước vùng Đông bắc Á chiếm 46,3%, tiếp đến là các nước hàng đầu Châu Âu và Bắc Mỹ chiếm 21%, các nước ASEAN đứng ở vị trí tiếp theo với 18%. Ta thấycó sự chuyển dịch vị trí so với vốn đăng ký, các nước Châu Âu và Bắc Mỹ đã nhẩy lên vị trí thứ hai về vốn đầu tư thực hiện vị trí mà các nước ASEAN chiếm giữ trong vốn đầu tư đăng ký. Qua đó ta  thấy được khả năng đưa dự án vào thực hiện của các nước Châu Âu và Bắc Mỹ là 45,8% cao hơn so với các nước ASEAN 36,3%, phải chăng ngoài tiềm lực tài chính mạch hơn các nhà đầu tư ASEAN các nhà đầu tư Châu Âu và Bắc Mỹ luôn ngiên cứu kỹ cơ hội hơn khi quyết định đăng ký đầu tư nên các dự án đầu tư của họ tính khả thi cao hơn.

     

     

     

     

     

     

    Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện phân theo đối tác

     

     

     

     

     

     

     

     

    3.Vận dụng phương pháp dãy số thời gian phân tích một số chỉ tiêu kết quả.

    a.Chỉ tiêu doanh thu.

    Doanh thu là một trong các chỉ tiêu kết quả quan trọng nhất với hoạt động của một doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài cũng phần nào căn cứ vào chỉ tiêu này để đánh giá tính hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ta.

    Biểu sè10 doanh thu của bộ phận FDI trong thơig kỳ 91-99

    Năm Doanh thu (triệu USD) Lượng tăng tuyệt đối Tốc độ phát triển (%)
    Liên hoàn định gốc Liên hoàn Định gốc
    91 149  
    92 208 59 59 139 139
    93 449 241 300 215 301
    94 952 503 803 212 639
    95 1872 920 1723 196 1256
    96 2583 711 2434 138 1733
    97 3605 1133 3456 139 2419
    98 3823 218 3674 106 2565
    99 4600 777 4451 120 3087
    Tổng 18241        
     

    Ta thấy tổng doanh thu trong hơn mười năm hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI đạt 18241 triệu USD, Năm 1991 mới đạt khoảng 149 triệu USD thì đến năm 1999 đã tăng lên là 4600 triệu USD gấp khoảng 30 lần, tốc độ tăng bình quân của tổng doanh thu là 153% ( khoảng 556 triệu USD\năm ) đặc biệt các năm 1992 và 1993 doanh thu tăng  bình quân là  trên  200%  năm.

    Doanh thu của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài

    Về lợi nhuận : theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống Kê, có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn có lãi, năm 1994 tổng lợi nhuận của các doanh ngiệp có vốn FDI là 452,2 triệu USD, năm 1995 là 494,2 triệu USD, 6 tháng đầu năm 1996 là 289,5 triệu USD. Đây là lợi nhuận sau khi đã bù trừ đi phần thua lỗ của các doanh ngiệp làm ăn chưa gặp thuận lợi và chịu thua lỗ. Các con số này tuy chưa phải là nhiều nhưng cũng phần nào khẳng định tính hiệu quả trong làm ăn ở Việt nam.

    Về thua lỗ : năm 1994 có 197 dự án làm ăn thua lỗ với quy mô lỗ là 54,3 triệu USD, 6 tháng đầu năm 1997 có 342 dự án làm ăn thua lỗ với quy mô lỗ là 96 triệu USD. Nguyên nhân thua lỗ chủ yếu là do các doanh ngiệp đưa toàn bộ chi phí hình thành doanh nghiệp vào giá thành những năm đầu và một yếu tố nữa là khấu hao tài sản quá lớn. Phải chăng ở đây có vấn đề giá thành máy móc thiết bị đưa vào liên doanh quá cao so với thực tế và phía nước ngoài muốn nhanh chóng thu hồi vốn về quá nhanh mà Nhà nước chưa kiểm soát được.

    b.Kim ngạch xuất khẩu

     Các doanh nghiệp có vốn FDI tham gia hoạt động trong nên kinh tế Việt nam đã xuất khẩu được một khối lượng hàng hoá đáng kể, thể hiện qua bảng sau:

    Biểu sè 11: kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong thời kỳ 91-98

    Năm Tổng KNXK triệu USD (A) Xuất khẩu FDI triệu USD (B) B/A (%) Tốc độ phát triển của A (%) Tốc độ phát triển của  (B)
    91 2087 52 2,5
    92 2580 112 4,3 124 215
    93 2985 257 8,6 116 229
    94 4054 352 8,7 136 113
    95 5448 440 8,08 134 125
    96 7255 786 10,83 133 179
    97 9185 1786 19,48 127 228
    98 9361 1982 21,17 102 110
    Tổng 42957 5771 13,4    

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn FDI trong giai đoạn từ 1991-1995 đạt 5771 triệu USD, tốc độ phát triển bình quân của chỉ tiêu này là 168% năm, đây là một tốc độ phát triển khá cao, vì vậy sau 8 năm quy mô xuất khẩu tăng lên 38 lần. Năm 1997 được coi là một mốc son trong tiến trình này đánh dấu con số trên 1 tỷ USD trong kim ngạch xuất khẩu (1786 triệu USD) và tốc độ phát triển so với 1996 là 228%.

    Với giá trị 5771 triệu USD trong cả giai đoạn này, so với cả nước là 42957 triệu USD chỉ bằng 13%, tuy vậy kết quả đạt được là ở chỗ tỷ trọng của bộ phận này liên tục tăng, năm 1991chỉ chiếm 2,5% thì đến năm 1998 đã đạt trên 20%. Một kết quả nữa là xuất khẩu của khu vực này đã khắc phục được khá nhiều nhược điểm  xuất khẩu của Việt nam như mặt hàng chưa qua chế biến hoặc giá trị gia công thấp chiếm tỷ trọng cao, xuất khẩu của khu vực FDI hầu hết các sản phẩm đã qua chế biến (trừ dầu thô) và Ýt trường hợp xuất khẩu qua nước trung gian.

     
     
     

    Kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 91-98

    c.Đóng góp vào nền kinh tế đất nước.

    Đóng góp vào nền kinh tế đất nước của khu vực FDI được thể hiện qua hai chỉ tiêu là : Nép NSNN và đóng góp vào GDP.

     

    Biểu sè 12 : Đóng góp vào nền kinh tế quốc dân

    Năm Nép NSNN triệu USD (A) Tốc độ phát triển của (A) Tỷ trọng trong GDP (%)
    91    
    92 91(*) 2
    93 120 3,6
    94 128 107 6,1
    95 195 152 6,3
    96 263 135 9,1
    97 315 120 10,1
    98 317 101  
    99      
    Tổng      
     

    Nép NSNN của khu vực FDI trong thời kỳ vừa qua đạt 1492 triệu USD, mặc dù còn nhiều doanh nghiệp đang trong giai đoạn miễn và giảm thuế, tuy nhiên tỷ lệ đóng góp vào NSNN đạt 6 -7% tổng thu, nếu tính cả các khoản thu từ dầu khí thì tỷ lệ này khoảng trên 20%. So với các khu vực khác nép NSNN từ khu vực FDI bằng 63% từ khu vực kinh tế Nhà nước và băng 200% các khoản thu từ các khu vực tư nhân và cá thể.

    Nép  ngân sách Nhà nước từ 92-98

     

     d.Giải quyết việc làm cho người lao động

    Tình hình giải quyết việc làm cho người lao động trong thời gian qua của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện qua biểu dưới đây

    Biểu số13:giải quyết việc làm cho người lao động 94-99
    Năm 94 95 96 97 98 99
    Tính đến 31/12 hàng năm 88000 139000 173000 250000 270000 296000
    Tăng hàng năm 51000 34000 77000 20000 26000

    Tính đến nay, các doanh nghiệp có vốn FDI đã giải quyết việc làm cho gần 300 nghìn lao động (đây là theo cách tính của Việt nam , còn theo cách tính của ngân hàng thế giới WB thì con số này là gần một triệu người). So với trên 40 triệu lao động con số này chưa phải là lớn, tuy nhiên nhưng cái được mà nhờ hoạt động đầu tư nước ngoài là lao động Việt nam đã học hỏi được, điều đó lại không nằm trên những con số cụ thể như : những lao động Việt nam làm việc trong các doang nghiệp này có điều kiện tiếp xúc với công nghệ mới, cách thức quản lý tiên tiến, được đào tạo qua thực tế thành những người lao động có trình độ cao và kỷ luật tốt, điều này càng có tác dụng lớn hơn khi nó tạo được hiệu ứng lan toả sang các bộ phận khác trong toàn nền kinh tế.

    Một điều nữa là thu nhập trong các doanh nghiệp có vốn FDI thường cao hơn các khối khác, theo kết quả điều tra năm 1996 thì thu nhập bình quân của lao động Việt nam trong các doanh nghiệp có vốn FDI là 94USD\ tháng, đây cũng là một yếu tố kích thích sự cạnh tranh giữa những người lao động, buộc họ phải chăm chỉ học hỏi nhằm đáp ứng yêu cầu công việc.

     
     
     

     

    II. PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU KẾT QUẢ.

    Vốn đầu tư thực hiện là số vốn thực tế đã đi vào sản xuất kinh doanh hoặc đang trong quá trình xây dựng lắp  đặt để chuẩn bị cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn đầu tư thực hiện có thể coi là đầu vào của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, muốn thực hiện bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào điều cần thiết và tất yếu là phải có một lượng vốn nhất định.

    Một số chỉ tiêu kết quả ở đây như là : doanh thu, kim ngạch xuất khẩu, nép ngân sách Nhà nước …đây có thể coi là đầu ra của hoạt động đầu tư.

    Như vậy thực chất của mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và một số chỉ tiêu kết quả trên là mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình đầu tư. Trong mối liên hệ này, các chỉ tiêu kết quả là tiêu thức phụ thuộc, còn vốn đầu tư thực hiện là tiêu thưcá nguyên nhân.       .

     

     

    1.Mối liên hệ tương quan giữa vốn đầu tư thực hiện – doanh thu.

    Từ kết quả thực tiễn của hoạt động đầu tư thời gian vừa qua, cho ta một nhận định là : khi vốn đầu tư thực hiện tăng lên thì tổng doanh thu của bộ phận FDI cũng tăng lên, nhưng tốc độ tăng của hai tiêu thức này không cùng một tỷ lệ, mà với tốc độ khác nhau. Do đó tồn tại mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và doanh thu, nhưng đây không phải là mối liên hệ hoàn toàn chặt chẽ mà là liên hệ tương quan vì nói chung là khi vốn thực hiện tăng lên thì tổng doanh thu cũng tăng lên, nhưng doanh thu không chỉ phụ thuộc vào vốn đầu tư thực hiện mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như giá cả, sức mua của thị trường.

    Để phản ánh mối liên hệ này ta sử dụng phương trình hồi quy thị tuyến tính đơn. Mô hình có tổng quát dạng sau :  xn.a +b.x

    đơn vị: tỷ  USD

    Năm Vốn đầu tư thực hiện (x) Doanh thu (y) x.y x2
    91 0,213 0,149 0,031 0,045
    92 0,394 0,208 0,081 0,155
    93 1,099 0,449 0,493 1,207
    94 1,946 0,952 1,852 3,786
    95 2,671 1,872 5,000 7,134
    96 2,646 2,583 6,834 7,001
    97 3,250 3,605 11,716 10,562
    98 1,956 3,505 6,855 3,825
    Tổng 13,800 13,323 32,866 33,825

    Các tham sè a, b được tìm từ hệ sau :

    x = n.a + b.x

    xy = a. x + b. x2

    thay các trị tính được từ bảng vào ta có hệ

    13,323 = 8.a+ 13,8.b

    32,866 = 13,8 +33,825.b

    Giải hệ phương trình trên cho ta kết quả a= 0.036 ; b =0.986

    đây là phương trình hồi quy phản ánh mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện (x) và doanh thu (y) trong hoạt động đầu tư trực tiếp  nước ngoài thời gian vừa qua.

    Trong phương trình này, giá trị của tham sè a= 0.036 có thể xem là ảnh hưởng của các nguyên nhân khác đến doanh thu như sự biến động của giá cả thị trường…b= 0.986 nói lên ảnh hưởng cảu vốn đầu tư thực hiện đến doanh thu, cụ thể là khi vốn đầu tư thực hiên tăng thêm một đơn vị thì doanh thu tăng bình quân là 0.986 đơn vị.

    Hệ số tương quan :

    = =0,886

    r= 0.886 cho ta kết luận là mối liên hệ giữa daonh thu và vốn đầu tư thực hiên là mối liên hệ thuận và khá chặt chẽ.

    Độ co giãn E(x) =  b.0,986  =  =1,021

    êE(x)ê  = 1.021 >  1   nên biến thiên của doanh thu nhanh hơn vốn đầu tư thực hiện.

     
       

    2.Mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu.

    Vốn đầu tư thực hiện là yếu tố tiền đề của mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Khi vốn đầu tư được vận hành nó sẽ tạo ra các sản phẩm hàng hoá, quy mô của nền sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư và quy mô của nền sản xuất quyết định khối lượng hàn hoá nó tạ ra. Khi vốn đầu tư tăng lên thì quy mô của nền sản xuất sẽ tăng và khối lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất cũng tăng. Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt nam đều phải cam kết một tỷ lệ nhất định sản phẩm do họ sản xuất ra sẽ được xuất khẩu và vì vậy khi khối lượng sản phẩm họ sản xuất ra tăng lên thì khối lượng sản phẩm xuất khẩu cũng tăng lên. Như vậy là có mối liên hệ giữa tiêu thức vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu (của các doanh nghiệp có vôn đầu tư nước ngoài). Đây là mối liên hệ tương quan, bởi vì ta thấy vốn đầu tư thực hiện có quan hệ với kim ngạch xuất khẩu nhưng không có tính chất quyết định hoàn toàn, kim ngạch xuất khẩu còn phụ thuộc vào thị trường, vào giá cả quốc tế…

    Để biểu diễn mối liên hệ tương quan giữa vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu ta sử dụng phương trình hồi quy tuyến tính đơn.

    Mô hình tổng quát :  xn.a +  b.x

    Năm Vốn đầu tư thực hiện (x) Kim ngạch xuất khẩu (y) x.y .x2
    91 0,213 0,052 0,011 0,045
    92 0,394 0,112 0,044 0,155
    93 1,099 0,257 0,282 1,207
    94 1,946 0,352 0,684 3,786
    95 2,671 0,440 1,175 7,134
    96 2,646 0,786 2,079 7,001
    97 3,250 1,790 5,817 10,562
    98 1,956 1,982 3,876 3,825
    Chung 13,800 5,177 13,968 33,825

    Các tham sè a, b được xác định từ hệ phương trình sau :

    y = n.a + b.x

    xy = a. x + b. x2

    thay số vào ta được          5,177=8.a +13.8.b

    13,968 = 13,8.a +33,825.b                                  13,968 = 13,8.a +33,825.b

    giải hệ phương trình cho ta kết quả : a=-0,231;  b = 0,508

    Trị số của tham sè a= – 0.231 nói lên ảnh hưởng của các yếu tố khác ngoài vốn đầu tư thực hiện như giá cả trên thị trường quốc tế …tới kim ngạch xuất khẩu. Có thể giải thích dấu âm (-) ở đây là khi bắt đầu quá trình  đầu tư, lúc này chưa thể có sản phẩm để xuất khẩu mà còn phải nhập  khẩu nên kim ngạch xuất khẩu sẽ âm.

    Trị số của tham sè b= 0.508 nói lên ảnh hưởng của vốn đầu tư thực hiện tới kim ngạch xuất khẩu, cụ thể là khi vốn đầu tư thực hiện tăng thêm một đơn vị thì kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng bình quân là 0.508 đơn vị.

    Hệ số tương quan

    = = 0.861

    =1,725 ; 1,665 ; =4,108

    dX = 1,307 ;    dY =1,343

    r= 0.861 cho ta kết luận là mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu là mối liên hệ thuận và khá chặt chẽ.

    Hệ số co giãn E(x) : EX = b.=0,508. =1,35

     

    çE(x)ê =1.354 >  1  nên cho ta nhận định là tốc độ tăng của kim ngách xuất khẩu nhanh hơn vốn đầu tư thực hiện.

    3.Mối liên hệ giữa doanh thu và nép ngân sách Nhà nước.

    Doanh thu là một trong các chỉ tiêu kết quả quan trọng nhất trong hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng. Khi quy mô sản xuất của các doanh nghiệp tăng lên thì doanh thu cũng có su hướng tăng lên, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp họ đều phải đóng góp cho Nhà nước thông qua các khoản thúc và các khoản đóng góp cũng tăng lên khi quy mô sản xuất tăng lên.

    Dùa vào kết quả hoạt động của hoạt động đầu tư nước ngoài ta thấy rằng, khi mà doanh thu tăng lên thì đóng góp vào ngân sách Nhà nước cũng tăng lên. Như vậy là có mối liên hệ tương quan giữa doanh thu và nép ngân sách Nhà nước đây chỉ là mối liên hệ tương quan bởi vì doanh thu quyết định nhưng không quyết định hoàn toàn mức nép ngân sách Nhà nước vì mức đóng góp vào ngân sách còn do mức thuế suất, lợi nhuận của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài …

    Để biểu biểu diễn mối quan hệ này ta dùng mô hình hồi quy tuyến tính dơn có dạng tổng quát sau đây :

    Mô hình tổng quát : x =n.a +b.x

    Năm Doanh thu Nép ngân sách Nhà nước x.y X2
    93 499 120 53880 14400
    94 952 128 121856 16384
    95 1872 195 365040 38025
    96 2583 263 679329 69169
    97 3605 315 1135575 99225
    98 3823 317 1211891 100489
    Tổng 13284 1338 3567282 337692

    Tìm tham sè a,b từ hệ phương trình sau :

    y = n.a + b.x

    xy = a. x + b. x2

    Thay các giá trị từ bảng trên vào hệ phương trình :

    1338= 6a +13284b

    3567282= 138284 + 337692.b

    = 2,69 +0.2 x

    Từ hệ trên ta có giá trị của a,b là: a= 2,69 ; b= 0,2.

    Từ kết  quả trên cho ta mô hình cụ thể sau

    a= 2,69 cho ta biết các nhân tố khác bên ngoài doanh thu ảnh hưởng tới nép ngân sách Nhà nước của khu vực FDI.   a= 2,69 cho ta biÕt c¸c nh©n tè kh¸c bªn ngoµi doanh thu ¶nh h­ëng tíi nép ng©n s¸ch Nhµ n­íc cña khu vùc FDI.

    b= 0.2 cho ta nhận định rằng khi mà doanh thu tăng lên 1 đơn vị thì nép ngân sách Nhà nước tăng bình quân là 0.2 đơn vị.

    Hệ số hồi quy    HÖ sè håi quy

    x=2214; =223; =594547

    dX = 1257,3 ;    dY = 80,97

    =

    r = 0,88 cho ta rót ra nhận xét là: mối quan hệ giữadoanh thu và nép ngân sách Nhà nước là mối quan hệ thuận và rất chặt chẽ, cụ thể là mức tăng lên của nép ngân sách Nhà nước do doanh thu quyết định 98%

    E      EX = b. =

    êE(x)ç =1,985 > 1 cho ta nhận định là tốc độ tăng của doanh thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chậm hơn tốc độ nép ngân sách Nhà nước.

     
       

    I.      MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.

    Đầu tư nước ngoài là một vấn đề rất rộng, có liên quan hầu hết các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội. phạm vi hoạt động của đầu tư nước ngoài cũng rất rộng, hầu hết các tỉnh, thành phố đều có sự tham gia hoạt động của đầu tư nước ngoài, ngoài ra đầu tư nước ngoài còn hoạt động ở ngoài  thềm lục địa.

    Hơn nữa, đầu tư nước ngoài còn là một lĩnh vực mới, do đó thống kê hoạt động đầu tư nước ngoài là một việc làm phức tạp, có liên quan đến nhiều cấp, ngành, địa phương trong cả nước. Trong hơn 10 năm hoạt động của đầu tư nước ngoài công tác thống kê đầu tư nước ngoài cũng trưởng thành dần và ngày càng khăngr định vai trò của mình trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động này, tuy nhiên do tính chất phức tạp của công việc, nên cũng tồn tại khá nhiều vấn đề trong thực tế hoạt động mà công tác thống kê chưa giải quyết được.

    Dưới đây xin nên nêu một số kiến nghị nhá :

    Sự thiếu thốn nhất trong số liệu về đầu tư nước ngoài.Trong thực tế hiện nay, tồn tại khá nhiều nguồn số liệu về đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là : nhiều cơ quan Nhà nước vì yêu cầu công việc nên tổ chức thu thập và xử lý thông tin về đầu tư nước ngoài theo yêu câù và mục đích sử dụng thông tin của mình. các nguồn số liệu này lại không thống nhất với nhau.

    Chẳng hạn, số liệu về đầu tư nước ngoài do Bộ Kế hoạch và đầu tư cung cấp và do Tổng cục Thống kê cung cấp thường có sự chênh lệch nhau. Một nguyên nhân nữa dẫn đến hiện tượng này là quan điểm của các cơ quan thu thập số liệu cũng có sự khác nhau. Theo quan điểm của Bộ Tài chính vốn đầu tư thực hiện có tính đến cả diện tích mặt đất, mặt biển,….được đưa vào sử dụng trong quá trình đầu tư, theo quan điểm của Bộ Kế hoạch và đầu tư thì vốn đầu tư thực hiện là số vốn mà hai bên hoặc các bên đưa vào hoạt động, còn theo quan điểm của WB thì vốn đầu tư thực hiện là số vốn mà các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào hoạt động.

    Chính vì những nguyên nhân trên nên số liệu đầu tư nước ngoài thường không thống nhất với nhau đẫn đến khó khăn cho người sử dông . do đó, để hoàn thiện công tác thống kê chúng ta phải thống nhất tổ chức thu thập và xử lý thông tin trong toàn quốc.

    KẾT LUẬN

    “Non sông Việt nam có trở nên vẻ vang hay không,dân téc Việt nam có sánh vai được với các cường quốc nam châu hay không, đó chính nhõ phần lớn vào công học tập của các cháu”

    Noi theo lời dạy của Bác, bao thế hệ cha anh chóng ta đãkhông quản hy sinh vất vả để xây dựng một nước Việt nam tươi đẹp như ngày.

    Tuy nhiên so với bạn bề trên thế giới chúng ta còn phải làm rất nhiều việc, tiếp nối thế hệ cha anh, tôi và các bạn phải chung laòng gánh vác sự nghiệp đó, để Việt nam có thể trử thành một nước công nghiệp phát triển trong tương lai, để khi nhắc tới Việt nam bên cạnh những chiến tích lịch sử hoà hùng, bạn bè quốc tế còn phải nghĩ tới một nước “giầu về kinh tế, coa về trí tuệ, đẹp về văn hoá” và đi đầu trong nhiều lĩnh vực khoa học quan trọng.

    Để những mong muốn trên sớm trở thành hiên thực, phát triển kinh tế là một trong các nhiệm vụ quan trọng hàng đầu tạo ra tiền đề về vật chất kỹ thuật cho sự phát triển lâu dài và ổn đĩnh xuất phát từ yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế và tiếp thu kinh nghiệp của các nước trong khu vực trong, chóng ta đã mạnh dạn mở cửa làm ăn với nước ngoài.

    Trong quá trình mở cửa và hội nhập có những mặt được và cũng tông tại những mặt chưa được , nhiện vụ của các nhà thống kê là phải phản ánh chính xác kịp thời hiện tượng, giúp các nhà cơ quan quản lý Nhà nước có những thông tin đúng về tình hình kinh tế xã hội nhằm giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn kịp thời. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc chúng ta ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường phải hết sức chăm chỉ học hành nâng cao kiến thứcvà rèn luyện đạo đức tốt.

    Cuối cùng xin cảm ơn TS . Trần Kim Thu và các thầy cô giáo cùng các cô các chú công tác tại Vụ Xây dựng – Giao thông – Bưu điện đã giíup êm hoàn thành giai đoạn thực tập tốt nghịêp và chuyên đề này.

    Hà nội  6- 2000.

    (*) Tæng nép ng©n s¸ch cho ®Õn n¨m 1991


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]