Category: Thương Mại – Marketing

  • Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Xu-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%E1%BB%A7a-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-ph%C3%A2n-ph%E1%BB%91i-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU.

    Việt Nam được biết đến là một quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế cao, chính trị ổn định, thu hút sự chú ý của không ít các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là một trong những thị trường đông dân, với kết cấu dân số trẻ và nhu cầu mua sắm ngày càng tăng thì lĩnh vực phân phối bán lẻ dường như trở thành một miếng bánh béo bở cho các nhà kinh doanh trong và ngoài nước.

    Sau khi trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã tiến hành gỡ bỏ dần rào cản về thuế quan, đưa ra các chính sách đãi ngộ với các doanh nghiệp nước ngoài nhằm tiến hành xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi theo đúng với những nguyên tắc đã cam kết khi gia nhập vào tổ chức này. Cụ thể là vào 01/01/2009, Việt Nam đã tiến hành mở cửa hoàn toàn với thị trường bán lẻ, cho phép sự tham gia của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Điều này đem lại lợi ích hay thách thức như thế nào? Ảnh hướng đến xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam ra sao chính là vấn đề mà nhóm chúng em đã tiến hành tìm hiểu và đưa ra nhận định trong bài tiểu luận này. Vì hạn chế về thời gian và kiến thức nên trong bài nghiên cứu này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong cô góp ý để chúng em có thể hoàn thiện.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!

    I. Khái quát chung về thị trường bán lẻ tại Việt Nam.

    1.  Độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ ở Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO.

    Ngay từ khi tiến hành đẩy mạnh các chính sách mở cửa thị trường trong quá trình xin gia nhập WTO, Việt Nam đã trở thành một trong những “điểm nóng” cho các nhà đầu tư nước ngoài mong đợi, đặc biệt là trong lĩnh vực phân phối bán lẻ. Thông thường, cơ hội tham gia vào mỗi thị trường của các doanh nghiệp sẽ diễn ra trong vòng từ 5 đến 10 năm, đây là khoảng thời gian mà các nhà đầu tư coi là “cơ hội vàng” của họ. Như trước đây thì Trung Quốc đã từng là nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn, sôi động, là nơi thu hút nhiều nhất các nhà đầu tư lớn, thế nhưng giai đoạn gần đây, thị trường bán lẻ Trung Quốc đã bão hòa, tiến dần đến thoái trào. Và các đại gia đã nhanh chóng bị thu hút bởi Việt Nam  nổi lên là một thị trường mới đầy tiềm năng cho ngành phân phối bán lẻ, là được xem như một “ Little Indian” mới.

    Sau khi đã trở thành thành viên chính thức của WTO, liên tục trong 3 năm 2007, 2008, 2009 Việt Nam đều nằm trong tốp 7 nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn hàng đầu thế giới. Điều này đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến của các nhà phân phối hàng đầu trên thế giới như  Parkson (Malaysia), Big C ( Hà Lan) hay Diamond Plaza (Hàn Quốc)… Họ đã nhanh chóng tân dụng cơ hội để thâm nhập vào thị trường nội địa, thiết lập hệ thống phân phối của mình tại các thành phố lớn ( chủ yếu là Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng…), và chỉ trong 2 năm (từ 2007 đến 2009) hàng loạt các đại gia lớn đã có mặt trên thị trường bán lẻ Việt Nam, đe dọa đến sự tồn tại của các nhà phân phối bán lẻ Việt (Hapro, Saigon Coopmark, Thái  Phú…). Đặc biệt, vào 01/01/2009 vừa qua, chính phủ đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ tại Việt Nam, cho phép sự tham gia của các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài. Điều này có tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện hơn nữa hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam, nhưng nó lại trở thành một bài toán khó cho các nhà phân phối bán lẻ trong nước.

    2. Đánh giá về các yếu tố tạo điều kiện để phát triển hệ thống phân phối bán lẻ tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

    2.1. Các yếu tố thuận lợi:

    2.1.1. Kinh tế.

    Thứ nhất, kinh tế Việt Nam được đánh giá là phát triển bền vững với tốc độ tăng trưởng cao qua các năm, GDP năm 2006 là 8,17% và tăng lên 8,.. % vào năm 2007. Cuối năm 2008, thế giới đã phải chứng kiến cơn bão suy thoái kéo theo sự sụt giảm về mức tăng trưởng kinh tế của toàn thế giới, tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tuy vậy, kinh tế Việt Nam đã nhanh chóng vượt qua khủng hoảng với con số khá ấn tượng  doanh số bán lẻ dịch vụ đạt 1.200 nghìn tỷ VNĐ (2009) tương ứng với mức 11%. Nhờ đó các chuyên gia kinh tế đã đưa ra đánh giá lạc quan cho sự phát triển cho ngành phân phối bán lẻ vào năm 2010 với mức lưu chuyển hàng hóa dịch vụ dự kiến sẽ tăng lên 20% ứng với 1.440 nghìn tỷ đồng và hứa hẹn là thị trường tiềm năng mà các doanh nghiệp nước ngoài hướng đến.

    Thứ hai, việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại WTO đồng nghĩa với việc các rào cản kinh tế bị gỡ bỏ, các doanh nghiệp đã có thể tự do tiếp cận và tiến hành khai thác thị trường. Các chính sách của nhà nước cũng đã thông thoáng hơn rất nhiều, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam, điều này không chỉ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp thuộc ngành mà quan trọng hơn là sẽ tạo cơ hội phân phối hàng Việt đến tận tay người tiêu dùng Việt tốt nhất.

    Thứ ba, ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa của nước ta đã có rất nhiều tiến bộ như sự ra đời của các khu công nghiệp, các nhà máy có quy mô sản xuất lớn, hay tập đoàn lớn trong ngành Hòa phát, gạch Đồng Tâm, Duy Lợi, Việt Tiến hay các hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm sạch, nước giải khát… Việc xuất hiện các sản phẩm mang thương hiệu nội đang dần lấy được niềm tin của người dân đã tạo ra nhu cầu đòi hỏi một kênh phân phối hàng hóa bán lẻ tiện dụng là rất lớn. Mà các nhà đầu tư vào lĩnh vực này cũng sẽ không phải lo lắng về việc cung cấp hàng hóa đầu vào.

    2.1.2. Xã hội:

    Hiện nay Việt Nam có khoảng 84 triệu người, với 75% dân số Việt Nam sống ở nông thôn dẫn đến sự chuyển dịch dân cư vào các trung tâm đô thị lớn diễn ra khá mạnh mẽ. Đáng nói hơn, Việt Nam lại là nước có kết cấu dân số trẻ 65% người dân đang ở độ tuổi lao động với hơn ½ ở độ tuổi 30 – là độ tuổi có mức chi tiêu cho mua sắm nhiều nhất. Chính những điều này đã tác động không nhỏ đến thói quen tiêu dùng tại thị trường nước ta hiện nay, mức tiêu thụ hàng hóa đã tăng cao.

    Bên cạnh đó, thu nhập của người dân đã cao hơn trước. Hiện có khoảng 1% dân số thuộc tầng lớp thu nhập rất cao gọi là “ vinavalet” sẽ là lực lượng kích thích sự gia tăng sử dụng hàng hóa xa xỉ (như xe hơi BMW, đồng hồ Swatch, Titan, hàng nội thất sang trọng…) Đây cũng chính là lượng người có mức tiêu thụ lớn nhất và qua đó cũng giúp đẩy mạnh mức tiêu thụ. Các chuyên gia cho rằng chỉ 5 đến 6 năm nữa thôi thì sự tồn tại của các “vinavalet” sẽ chiếm đến 10% dân số, chính điều này đã hứa hẹn một thị trường tiêu dùng Việt Nam đầy tiềm năng.

    Lượng người tiến hành mua sắm qua kênh bán lẻ hiện đại ngày càng tăng, đặt biệt giới trẻ đang nghiêng về xu hướng thích mua sắm qua mạng internet, đặt hàng qua truyền hình  hoặc shopping tại các trung tâm thương mại lớn. Từ  năm 2007 có 66% người tiêu dùng thỉnh thoảng mua sắm tại siêu thị, thì cuối 2008 con số này đã lên tới 96% . %. Tần suất mua sắm tại cửa hàng tiện ích, siêu thị cũng ngày càng tăng, từ 2, 3 lần/tháng trong năm 2008, và nâng lên 4 – 5/tháng trong năm 2009

    2.1.3. Cơ sở hạ tầng.

    Trong những năm gần đây thì cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đã có sự đầu tư rất lớn. Sự ra đời của các tòa nhà thương mại, các trung tâm mua sắm hay các chung cư cao cấp tạo thuận lợi cho hệ thống các siêu thị lớn nhanh chóng ra đời (ví dụ như Zen laza, Sai gon Coorpmark, fivi mark…) với các trang bị nội thất hiện đại, thái độ phục vụ chuyên nghiệp và nhiệt tình của nhân viên, không những thế, các trung tâm này còn kết hợp cả việc mua sắm và vui chơi giải trí của người dân thành thị. Bên cạnh đó, hệ thống đường xá được cải tạo và xây mới đã tạo sự tiện lợi trong di chuyển và lưu thông hàng hóa bớt đi một vấn đề cho các nhà bán lẻ khi muốn vào thị trường Việt Nam.

    2.2. Hạn chế.

    2.2.1. Thói quen tiêu dùng của người Việt.

    Bên cạnh thế mạnh về dân số, thì thị trường Việt Nam khiến các nhà phân phối lớn phải đau đầu. Với thói quen “ Ăn một bát cháo chạy ba quãng đường”, người tiêu dùng Việt Nam chấp nhận “ đi xa để mua được hàng hóa rẻ” hơn rất ít so với các trung tâm thương mại. Hơn thế nữa, phần đông người dân của chúng ta lại có mức thu nhập thấp đến trung bình nên họ quen thuộc với hình thức mua hàng tại các cửa hàng bách hóa nhỏ lẻ, hay các chợ trời, chỉ tính đến cuối năm 2008 đã có đến 9000 chợ tồn tại, chi có 13% lượng người chấp nhận mua sắm ở các kênh phân phối hiện đại.

    Hơn thế nữa, thời gian vừa qua thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ của hàng loạt thể chế kinh tế lớn. Chính điều này đã tạo nên tâm lý lo ngại, hành động thắt chặt chi tiêu của không chỉ người dân Việt Nam mà đó là xu hướng chung của người tiêu dùng trên toàn thế giới khiến cho thị trường bán lẻ đã và đang đối mặt với nhiều khó khăn để kích thích người dân tăng tiêu dùng.

    2.2.2. Mặt bằng kinh doanh

    Một vấn đề nữa cũng khiến cho các nhà phân phối bán lẻ rất lo ngại đó là mặt bằng để tiến hành kinh doanh. Tuy cơ sở hạ tầng đã được đầu tư để thay đổi rất nhiều nhưng để xây dựng được một trung tâm mua sắm có quy mô phù hợp với mô hình mà các đại gia lớn như Big C, Zen Plaza hay Walt – mark yêu cầu còn rất hạn chế. Như tính đến thời điểm hiện nay, chỉ có ít nhất 7 trung tâm thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh có mặt bằng hơn 8.000 m2  tổng diện tích cho thuê, không những thế, mức giá mặt bằng là khá đắt, cụ thể là từ 15 – 100 USD/m2/tháng.

    2.2.3. Thủ tục để tiến hành tham gia kinh doanh vào lĩnh vực này.

    Theo như cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành mở cửa hoàn toàn cho ngành phân phối bán lẻ, 01/01/2009, chính phủ đã cho phép sự tham gia của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vào thị trường bán lẻ Việt Nam. Thế nhưng trong thủ tục cấp phép đầu tư và thành lập cơ sở bán lẻ lại có một số vấn đề chưa được rõ ràng. Theo quy định tại Nghị định số 23, để được cấp phép đầu tư thì cần có sự chấp thuận của Bộ Công Thương trong từng trường hợp cụ thể. Quy định này nằm ngoài thủ tục cấp phép thông thường đã xây dựng nên rào cản mới về pháp lý trong đầu tư. Theo nội dung các công văn của Bộ Công Thương thì “kinh nghiệm quản lý”,“năng lực kinh doanh” và “khả năng tài chính” của nhà đầu tư nước ngoài là điều kiện cấp phép mới, trong khi các tiêu chí này lại chưa được ghi nhận và định lượng cụ thể trong bất kỳ tài liệu pháp lý nào. Trong thủ tục tiến hành cấp phép cơ sở bán lẻ thì quyết định 10 quy định: “Quyền phân phối của nhà đầu tư nước ngoài gắn với quyền được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất, việc lập thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT)”. Tuy nhiên, trên thực tế lại không có ngoại lệ nào đối với “quyền được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất”, nghĩa là việc thành lập cơ sở bán lẻ nói chung và cơ sở bán lẻ thứ nhất nói riêng trong mọi trường hợp đều là đối tượng kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) và phải được sự chấp thuận của Bộ Công Thương. Ngoài ra, trong một công văn của Bộ Công Thương, ngay cả trong trường hợp cơ sở bán lẻ đang hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp cũng sẽ bị kiểm tra nhu cầu kinh tế khi doanh nghiệp đăng ký chuyển nhượng phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài. Việc sử dụng công cụ “Kiểm tra nhu cầu kinh tế” trong trường hợp này là đã đi quá xa so với mục tiêu và ý nghĩa tồn tại của các tiêu chí “Kiểm tra nhu cầu kinh tế” mà WTO cho phép.

    II Xu hướng phát triển hệ thống phân phối bán lẻ tại thị trường Việt Nam.

    Thị trường bán lẻ tại Việt Nam xuất hiện những xu hướng mới đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO và mở cửa hoàn toàn thị trường này từ ngày 1/ 1/ 2009.

    1.         Tiến hành hoạt động sát nhập giữa các doanh nghiệp.

    Không phải chờ tới khi Việt Nam gia nhập WTO thì các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cũng đã cảm thấy được sức ép lớn từ phía các doanh nghiệp nước ngoài. Theo lộ trình hội nhập WTO, năm 2009 sẽ là năm bắt đầu cho cuộc thay đổi lớn đối với thị trường bán lẻ tại Việt Nam với việc các tập đoàn, nhà đầu tư quốc tế sẽ có thể thành lập công ty bán lẻ 100% vốn nước ngoài thay vì phải xin phép hoặc liên doanh như trong giai đoạn 2006 – 2009. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt trực tiếp với các tập đoàn đa quốc gia mạnh về tài chính, nguồn lực, cách quản lý hiện đại và tiềm lực vượt trội về thị trường. Do đó việc sát nhập và liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước là xu hướng tất yếu của nghành công nghiệp bán lẻ trong môi trường kinh doanh mới như hiện nay. Tiêu biểu là cuộc sát nhập giữa bốn doanh nghiệp lớn trong nước là tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro), tổng công ty thương mại Sài Gòn (Satra), liên hiệp Hợp tác xã thương mại Sài Gòn (Saigon Co.op), công ty cổ phần tập đoàn Phú Thái (Phu Thai Group) hợp tác thành công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA). VDA ra đời nhằm liên kết các nhà phân phối lớn của Việt Nam, làm nòng cốt cho phân phối nội địa và bổ trợ lẫn nhau trong các giải pháp tổng thể về kho vận, giữ vai trò chủ đạo trong lưu thông hàng hoá và đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn phân phối nước ngoài. VDA sẽ tập trung vào việc xây dựng và phát triển chuỗi các Trung tâm Thương mại, các Đại siêu thị với các thương hiệu và đẳng cấp khác nhau, hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại để tạo điều kiện cho việc tổ chức lại hệ thống bán buôn, phân phối và bán lẻ.

    2.         Bùng nổ thương mại điện tử.

    Thương mại điện tử hay e-commerce bao gồm một loạt các hoạt động kinh doanh trực tuyến đối với các sản phẩm và dịch vụ, giữa bản thân các doanh nghiệp cũng như giữa doanh nghiệp với khách hàng thông qua Internet. Lợi ích của thương mại điện tử đối với dịch vụ bán lẻ thể hiện rất rõ trên các mặt như: tăng được năng suất do việc quản lý mua sắm và kho dự trữ đạt hiệu quả cao hơn (kiểm kê hàng hoá không cần giấy tờ) hoặc do cải thiện được hệ thống kênh phân phối trong và ngoài nước, tiết kiệm được chi phí giao dịch, đem lại cảm giác thoải mái, tiện lợi khi mua hàng, tăng cường hiệu quả quảng cáo, marketing bán hàng và thanh toán tiền hàng, tăng nhanh khả năng phổ biến và tiếp thu công nghệ mới… Thương mại điện tử bán lẻ với tính cách mạng tiên tiến và những ưu thế ngày càng vượt trội là mục tiêu lớn vươn tới của hệ thống bán lẻ của Việt Nam. Dự báo trong vòng 5 – 10 năm tới, tuy các cửa hàng bán lẻ truyền thống vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra doanh số của bán lẻ nhưng tỷ trọng của hình thức bán lẻ ảo sẽ tăng lên nhanh chóng và đạt được thị phần đáng kể. Hơn thế nữa Ebay vừa hợp tác với Công ty Peacesoft (chủ website chodientu.com ) tạo nên  khu chợ “ảo” với hàng chục nghìn lượt giao dịch mỗi ngày càng cho thấy những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam. Bên cạnh đó,  theo trung tâm Internet Việt Nam, hiện tại có 15 triệu người Việt Nam sử dụng Internet và trong 3 năm tới, con số này có thể lên tới 30 triệu. Thị trường rộng lớn đó, kết hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trong xu thế phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ.

    3.         Kết hợp chức năng vừa là bán lẻ vừa là bán buôn.

    Đó là xu hướng kết hợp giữa bán buôn và bán lẻ. Trên thế giới đặc biệt là Mỹ và EU thường kết hợp hai chức năng này tại một điểm bán hàng với các phương thức đơn giản nhằm giảm chi phí về dịch vụ và mang tính công nghiệp cao. Ở Việt Nam hình thức này mới bắt đầu hình thành nhưng được dự đoán là xu hướng phát triển mới của nghành phân phối Việt Nam nói chung và hệ thống bán lẻ Việt Nam nói riêng. Hình thức này ở nước ta tồn tại dưới dạng các trung tâm thương mại hay các đại siêu thị ngày càng tích cực tham gia dịch vụ bán buôn. Sự kết hợp này giúp doanh nghiệp vừa nâng cao lợi nhuận, vừa nắm bắt nhanh chóng nhu cầu xã hội để kịp thời đề ra chiến lược kinh doanh tốt nhất. Siêu thị bán buôn Metro là một trong những doanh nghiệp nước ngoài đi tiên phong về xu hướng này và có những thành công đáng kể.

    4.         Tăng thêm các dịch vụ nhằm thỏa mãn khách hàng.

    Có một số nhận định cho rằng bán lẻ là một nghành rất đặc thù vì nó là hỗn hợp giữa sản phẩm và dịch vụ. Do vậy, để làm hài lòng khách hàng, ngoài yếu tố sản phẩm, chất lượng phục vụ cũng có tầm ảnh hưởng rất lớn. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, bên cạnh việc đảm bảo hàng hoá phong phú về chủng loại, mẫu mã, chất lượng, giá cả hợp lý, doanh nghiệp nào có dịch vụ khách hàng tốt hơn thì khả năng thành công sẽ cao hơn. Với nhận thức như trên thì hiện nay các doanh nghiệp tìm mọi cách để gia tăng các dịch vụ trong và sau khi bán hàng. Có dịch vụ trực tiếp diễn ra trong quá trình bán hàng như: dịch vụ bao bì, đóng gói; vận chuyển hàng tận nhà; bảo hành sửa chữa … Có dịch vụ phục vụ cho sự tiện lợi của khách hàng như kết hợp giữa nơi bán hàng và nơi giải trí, có chỗ cho con trẻ vui chơi trong khi người lớn mua hàng (có thể là phòng chiếu phim, chơi games, phòng vẽ tranh…).

    5.         Hướng về thị trường nông thôn.

    Ở Việt Nam, khu vực nông thôn chiếm 62,5% GDP,với trên 74% dân số (khoảng 64 triệu người) . Với số lượng khách hàng sẵn sàng tiêu dùng nhiều gấp ba lần khu vực thành thị và nhu cầu mua sắm ngày càng cao, rõ ràng thị trường nông thôn nước ta có tiềm năng rất lớn. Tuy vậy thì thị trường vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả. Người dân nông thôn khi tiếp cận một sản phẩm, hàng hóa thường ít quan tâm tới thương hiệu hơn người dân thành thị. Vì vậy, doanh nghiệp chưa có thương hiệu tại thị trường nội địa có nhiều cơ hội để xâm nhập và hạn chế việc đối đầu trực tiếp với doanh nghiệp có thương hiệu trong giai đoạn đầu. Bên cạnh đó không khó tính như thị trường thành thị, thị trường nông thôn được coi là dễ tính hơn. Yếu tố đầu tiên thu hút đối tượng khách hàng này chính là giá cả. Cùng một loại sản phẩm, chỉ cần nhãn hiệu này giá đắt hơn một chút là lập tức người tiêu dùng nông thôn sẽ chuyển sang mua nhãn hiệu khác rẻ hơn. Tuy nhiên, với mức sống ở nhiều khu vực nông thôn đang ngày càng được cải thiện thì yêu cầu về chất lượng sản phẩm cũng ngày càng tăng.

    6.         Sự phát triển về nhượng quyền thương mại.

    Hình thức nhượng quyền thương mại (franchising) đang ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam. Bản chất của hình thức tổ chức này là doanh nghiệp kinh doanh một ngành hàng nào đó, sau khi đã đạt được những thành công trong kinh doanh và xây dựng được một thương hiệu mạnh, sẽ nhượng quyền khai thác thương mại cho các doanh nghiệp hay cá nhân khác theo hợp đồng ký kết giữa hai bên.

    Theo thống kê của Hội đồng Nhượng quyền thương mại Thế giới năm 2004, Việt  Nam có khoảng 70 hệ thống nhượng quyền hoạt động, trong đó phần lớn là các thương  hiệu nước ngoài. Đến 2006, có khoảng 530 hồ sơ đăng ký nhượng quyền thương mại trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo dự đoán, hoạt động nhượng quyền thương  mại sẽ tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng 25-30% trong 2-3 năm tiếp theo. Trong số các ngành có thể áp dụng mô hình nhượng quyền thương mại thì bán lẻ là một trong những ngành có tỉ lệ nhượng quyền cao nhất, chỉ sau ngành thực phẩm. Đây là một trong những xu hướng phát triển mới của hệ thống bán lẻ Việt Nam. Đã có một vài thương hiệu bán lẻ Việt Nam dự định mở rộng hệ thống của mình bằng cách nhượng quyền như Coop-mart, G7 Mart, V-24h… Tuy vậy thì các doanh nghiệp cũng gặp phải những khó khăn nhất định trong kinh nghiệm quản lý chuỗi khi thực hiện nhượng quyền. Nhượng quyền là lựa chọn hợp lý cho nhiều doanh nghiệp nội thiếu vốn, ít kinh nghiệm, khó đầu tư trực tiếp. Khi các thương hiệu nước ngoài sử dụng phương thức này để thâm nhập sâu vào Việt Nam, vấn đề của doanh nghiệp nội phải bắt kịp làn sóng nhượng quyền để mở rộng thị phần trong cuộc cạnh tranh bán lẻ hiện nay.

    III. Các kiến nghị cho các doanh nghiệp trong nước có thể cạnh tranh và phát triển trong hệ thống phân phối bán lẻ tại Việt Nam hiện nay.

    Chỉ hai năm trở lại đây, người ta đã khá quen thuộc khi nghe đến “ngành phân phối bán lẻ” ở Việt Nam. Lúc đầu, phần lớn mọi người đều rất nghi ngờ về khả năng  tồn tại và phát triển của ngành này tại thị trường Việt Nam, vốn là quốc gia nghèo, người dân có thu nhập thấp thì việc chi tiêu thường xuyên cho các khu mua sắm lớn là điều không tưởng. Thế nhưng sự thật lại ngược lại, theo như những phân tích ở trên có thể thấy, hệ thống phân phối bán lẻ tại Việt Nam tuy chỉ mới phát triển mạnh trong thời gian gần đây nhưng đã có mức tăng trưởng nhanh với 18,6% năm 2009, và đóng góp đến 14% GDP cho đất nước và tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động (theo số liệu của Tổng cục thống kê).

    1. Từ phía doanh nghiệp.

    Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế của các quốc gia đều mới hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, thị trường bán lẻ dường như cũng khó khăn hơn với tâm lý thắt chặt chi tiêu của người dân. Nhưng thị trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá là phục hồi khá nhanh và đã đang sôi động trở lại. Điều này sẽ giúp hệ thống phân phối bán lẻ Việt Nam sẽ tăng thêm số lượng các nhà đầu tư nước ngoài với tiềm lực tài chính hùng hậu, kinh nghiệm quan lý lâu năm và tính chuyên nghiệp cao nhưng cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong nước sẽ phải gồng mình để tồn tại trước sự có mặt của những gã khổng lồ này. Hơn thế nữa, phân phối bán lẻ là một trong những lĩnh vực xương sống cho nền kinh tế nước ta, hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển của ngành sản xuất trong nước, đưa hàng hóa Việt vào phục vụ người Việt. Do đó, nếu các doanh nghiệp Việt Nam để mất thị phần ngay trên thị trường nội địa sẽ gây ra những tổn thất rất lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế trong nước. Khi nước ta đã là thành viên của WTO thì không có sự khác biệt giữa các doanh nghiệp trong nước hay ngoài nước, do vậy, nhà nước không thể bảo hộ “các con của mình” như trước đây mà buộc bản thân các doanh nghiệp trong nước cần có những chính sách, hành động phù hợp để có thể tồn tại được trên chính mảnh đất của mình. Có 4 thách thức lớn mà các doanh nghiệp tham gia lĩnh vực phân phối bán lẻ của ta phải đối mặt là:

    –        Nguồn lực tài chính

    –        Tính chuyên nghiệp trong quản lý

    –        Nguồn nhân lực

    –        Ứng dụng công nghệ thông tin.

    Hầu hết những người tiên phong khai thác thị trường bán lẻ Việt Nam đều là những nhà phân phối gạo cội trong ngành, có tiềm lực tài chính rất lớn. Chính vì vậy, đây là một trong những khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp trong nước phải đối mặt, đây là lý do mà nhiều địa điểm phân phối bán lẻ đã mọc lên nhưng chỉ trụ được một thời gian thì phải đống cửa. Do đó muốn tạo nên sức mạnh để cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải liên kết lại với nhau để tạo nên sức mạnh về vốn, tăng khả năng tài chính nhằm mở rộng quy mô, cải tiến trang thiết bị và cơ sở vật chất, có tiềm năng tài chính mạnh thì mới có thể tạo lòng tin từ các nhà cung cấp, đối tác từ đó mới có được lòng tin từ khách hàng. Tính chuyên nghiệp trong quản lý còn hạn chế, cuộc sống càng hiện đại thì đòi hỏi tính chuyên nghiệp ngày càng cao, do vậy chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp mình. Sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài vào hệ thống phân phối nước ta là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước có thể học tập được các kinh nghiệm trong công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần phải có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp để đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng. Ngày nay, khi  giới trẻ Việt Nam tăng xu hướng tiêu dùng hướng mạnh về loại hình mua sắm hiện đại (như tiến hành mua sắm ở các trung tâm mua sắm lớn, mua hàng qua mạng hay các kênh truyền hình…) thì việc đầu tư xây mới và cải tạo cơ sở hạ tầng, thiết bị điện tử cho hệ thống phân phối.

    Có nhiều doanh nghiệp trong nước đã tiến hành liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài để có thể tận dụng được sức mạnh tài chính, kinh nghiệm quản lý của họ. Đây cũng là một trong những giải pháp tối ưu mà các doanh nghiệp trong nước có thể áp dụng khi tiềm lực kinh tế còn chưa đủ mạnh để tự kinh doanh hoặc đối đầu với họ trong một thị trường mới.

    Bên cạnh việc củng cố sức mạnh nội lực của mình thì các doanh nghiệp phân phối bán lẻ cần phải tập trung đầu tư và mở rộng hệ thống của mình để tranh thủ chiếm lấy các khoảng còn trống của thị trường. Như các thị trấn nhỏ, các khu vực nông thôn hiện đang thiếu hàng hóa rất nhiều. Trong một cuộc thử nghiệm gần đây của nhà phân phối bán lẻ Hapro đã tiến hành bán hàng tại Ba Vì – Hà Tây đã đạt được kết quả khá bất ngờ, doanh số mà họ thu được trong 3 ngày bằng cả một năm kinh doanh tại Hà Nội. Khi các đại gia nước ngoài quá chú trọng đến mảng thị trường ở thành thị thì thiết nghĩ các doanh nghiệp Việt Nam cần chăm sóc hơn nữa đến các khu vực nông thôn hoặc thành phố nhỏ vì đây là vùng đất đang rất cần nguồn cung ứng hàng hóa tiêu dùng. Đặc biệt, trong giai đoạn vừa rồi, khi mà nền kinh tế thế giới phải trải qua cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2008 làm cho tốc độ đầu tư và mở rộng quy mô của các nhà phân phối nước ngoài vào Việt Nam đã giảm thì đây là cơ hội để các nhà phân phối Việt Nam cần tăng hơn nữa việc mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình ra các địa phương.

    2. Từ phía chính phủ.

    Lưu thông hàng hoá, nhất là khâu tổ chức thị trường bán lẻ là khâu năng động và linh hoạt nhất của chu trình tái sản xuất, có tác động chi phối sự vận động của đời sống kinh tế – xã hội. Do vậy vai trò của nhà nước là không nhỏ trong việc phát triển hệ thống bán lẻ Việt Nam. Với những nhận định về thực trạng cũng như xu hướng phát triển củng ngành công nghiệp bán lẻ, chúng tôi xin đưa ra giải pháp như sau.

    Giải pháp hàng đầu là tổ chức và tăng cường quản lý nhà nước đối với hệ thống bán lẻ, nhất là các DN sản xuất, kinh doanh lớn. Trong đó phát huy vai trò chủ lực của DNNN, sớm hình thành mạng lưới phân phối hợp lý, thông suốt trên phạm vi cả nước, từng bước chiếm lĩnh địa bàn trọng yếu, đủ nguồn lực để can thiệp, chi phối quan hệ cung cầu, không để xảy ra cơn sốt những mặt hàng chiến lược phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, như vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp, lương thực, thuốc chữa bệnh… Xây dựng cơ chế, chính sách để các DN quốc doanh và dân doanh cùng tham gia cạnh tranh cung ứng hàng hoá để hàng hoá đến người tiêu dùng với mức giá hợp lý nhất.

    Các nước phát triển đang giảm bớt các siêu thị bán lẻ, xuất khẩu các siêu thị bán lẻ sang các nước đang phát triển như Việt Nam để phát triển thương mại điện tử ở nước họ. Các nhà bán lẻ nước ngoài vào Việt Nam kinh doanh chủ yếu tập trung ở các đô thị và một số đối tượng khách hàng nhất định. Cho nên nhà nước cần có những chính sách cần tập trung phát triển hình thức bán lẻ truyền thống (chợ, cửa hàng) đồng thời hướng tới thương mại điện tử. Phương thức bán lẻ truyền thống có thể bị thu hẹp nhưng chợ vẫn là kênh mua sắm chủ yếu của người dân lao động, nhất là các mặt hàng thực phẩm tươi sống, nơi giao thương sản phẩm nông nghiệp giữa nông thôn và thành thị. Cần củng cố, đổi mới nâng cấp các chợ trong chuỗi các giải pháp xây dựng TTBL. Bộ Công thương vừa ban hành quy hoạch phát triển mạng lưới chợ toàn quốc và quy hoạch đất đai xây dựng chợ, trung tâm điều phối bán lẻ là điểm nhấn trong tổng thể phát triển kênh phân phối hiện nay.

    Nhà nước cần tạo cơ chế để các DN bán lẻ trong nước có đất đai, có vốn để mở rộng chuỗi bán lẻ theo quy hoạch. Quan tâm phát triển TTBL ở nông thôn và miền núi, trong đó chú trọng phát triển mô hình HTX dịch vụ tổng hợp ở nông thôn, HTX quản lý chợ và kinh doanh chợ.

    Để phát triển TTBL trong nước, Nhà nước cần xây dựng quy hoạch phát triển ngành thương mại, quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại cả nước và các địa phương đồng thời bổ sung, sửa đổi quy chuẩn để hướng dẫn phát triển các loại hình kinh doanh thương mại, làm cơ sở để DN đầu tư, là tiền đề kiểm soát thị trường của cơ quan quản lý.

    KẾT LUẬN

    Sau hơn một năm (kể từ ngày 01/01/2009) Việt Nam chính thức mở cửa  hoàn toàn thị trường bán lẻ thì hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam đã thực sự có những bước tiến đáng kể. Giờ đây, thị trường Việt nam không còn là sân chơi của riêng các nhà phân phối trong nước, mà nó đã trở thành thị trường của toàn cầu, là nơi mà các doanh nghiệp nước nhà phải có những nổ lực thực sự mới có thể cạnh tranh và tồn tại được. Sự tồn tại song song giữa các nhà phân phối trong nước và nước ngoài tuy là một trở ngại rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể đứng vững được trong hệ thống phân phối bán lẻ hiện nay nhưng đó cũng là một tác nhân quan trọng góp phần thúc đầy, tạo môi trường giúp các nhà phân phối của chúng ta học hỏi và phát triển một cách toàn diện nhất. Chính vì vậy mà giờ đây, người dân Việt Nam đã khá quen thuộc với những tên tuổi mang thương hiệu Việt như  Saigon coorp mark, Thái Phú, hay Vinatech… Những nhà phân phối của chúng ta không những đã dần khẳng định tên tuổi của doanh nghiệp mình trên thị trường nội địa mà còn giúp đưa sản phẩm Việt Nam được biết đến rộng rải hơn ở thị trường nước ngoài. Với những xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ hiện nay ở nước ta, phần lớn thị trường nước ta đã bị các nhà phân phối nước ngoài khai thác và nắm giữ, và họ nhanh chóng kéo theo các nhà sản xuất của mình vào để chiếm lĩnh thị trường nước ta, điều này có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến riêng lĩnh vực phân phối bán lẻ mà còn là nền sản xuất nội địa.

    Vì vậy, chúng em thiết nghĩ với những xu hướng phát triển như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, qua đó liên kết và nắm lại chuỗi phân phối bán lẻ tránh tình trạng để rơi vào tay các nhà đầu tư nước ngoài, gây tổn hại về lâu dài cho nền kinh tế nước nhà.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-Marketing-n%C3%A0o-cho-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam?

    Dăm bảy năm trước đây, ngành ngân hàng chẳng mấy ai nghĩ đến bỏ ngân sách ra truyền thông! Bởi dịch vụ ngân hàng là ban phát là xin cho. Giờ thì đã khác, tiền tỷ tỷ đổ vào các hoạt động quảng cáo, tài trợ như để khẳng định đẳng cấp của ngân hàng mình. Nhưng một hiện trạng là tiền thì cứ đổ còn số thương hiệu ngân hàng tạo được chỗ đứng trong tâm trí người tiêu dùng đếm trên đầu ngón tay!


    Tiếp thị ngân hàng Bán lẻ Việt Nam – Thời xa vắng…

    Tôi vẫn còn nhớ như in các hình ảnh “tín dụng viên” phường xã đầy quyền uy trong các dịch vụ cho vay đối với người dân. Họ là một tầng nấc trung gian của ngân hàng với khách hàng,đầy uy quyền và cả phức tạp rắc rối nếu người dân muốn có đặc ân được vay nợ ngân hàng. Không đâu xa, khoảng năm 2000 tôi đưa mẹ tôi đến ngân hàng mở cho bà một cái tài khoản để chuyển tiền cho bà hàng tháng cho tiện. Cô giao dịch viên Ngân hàng Nông nghiệp Thị xã G. phán một câu: nếu bà chỉ nhận tiền thì không mở tài khoản được, ngân hàng chỉ phục vụ nếu bà muốn gửi tiền đi. Tôi thì gân cổ cãi rằng cô phải phục vụ còn cô thì khăng khăng bác chỉ cần chứng minh nhân dân là có thể chuyển nhận tiền an toàn. Cuối cùng thì mẹ tôi kéo tay tôi về với một câu tôi còn nhớ mãi – con đừng cãi sau này đụng tới họ phiền phức lắm! Kết quả là đến giờ bà cũng chưa có được tài khoản ngân hàng và được hưởng tiện ích của nó.

    Giờ thì đã khác, các ngân hàng khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ ngân hàng của họ mà nói vui – chẳng khác gì nắm tay kéo khách ở các quán cơm lề đường! Bạn tôi làm ở ngân hàng nhiều lắm, nên tôi chẳng lạ gì dăm ba bữa có người bảo: cậu xem mở tài khoản công ty qua ngân hàng tớ đi, nhiều ưu đãi lắm. Hay như ba hôm trước, ra chi nhánh ngân hàng Vietcombank Tân Bình làm thẻ. Anh nhân viên cứ khuyên mở thêm cái tài khoản đi, đang khuyến mãi mà, chẳng mất mát gì đâu dù tôi cứ bảo anh ta rằng tôi đã có tài khoản! Kết quả là tôi có thêm một cái tài khoản nữa mà chưa biết họ có tính phí gì hay không!

    Bùng nổ truyền thông quảng cáo ngành ngân hàng thương mại tại Việt Nam

    Một dạo gần đây, cứ y như rằng bật TV lên là thấy quảng cáo về ngân hàng. Hết ngân hàng này đến ngân hàng khác, hết quảng cáo sang tài trợ, hết tài trợ thể thao đến tài trợ game show… Người tiêu dùng có cảm giác như ngân hàng có nhiều tiền quá nên thi nhau xài khi có ngân sách. Thậm chí cả dự báo thời tiết, cả những game show như “Hãy chọn giá đúng”… Nhiều người nói vui, ngân hàng là nơi nhiều tiền nên xài quảng cáo cho đã! Bước ra đường thì các chi nhánh ngân hàng mọc lên như nấm, bởi họ hiểu rằng (dù có lờ mờ hiểu) càng tiếp cận với người dân thì cơ hội phát triển dịch vụ càng lớn. Cũng như thắng hay thua của một ngân hàng là điểm tiếp xúc với khách hàng (POP – Point of Purchase). Các dịch vụ đi đến ngõ ngách phố phường ở các đô thị và người dân quen dần với dịch vụ của ngân hàng Bán lẻ (dù rằng gần đây báo chí đăng tin một cách “trách móc” rằng chỉ có 5 triệu tài khoản cá nhân trên hơn 80 triệu dân Việt Nam!) Nói vậy, nhưng cũng không phủ nhận một vài thương hiệu ngân hàng cũng đi vào lòng người một cách chuyên nghiệp, nhưng có vẻ như là hiếm hoi và đầy khó khăn.

    Không rõ ràng về truyền thông, thiếu tính cách thương hiệu (brand personality) do thiếu chiến lược định vị thương hiệu (brand positioning)

    Có thể khẳng định trong trường hợp các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đang cố gắng xây dựng thương hiệu của mình thông qua các hoạt động truyền thông, tiếp thị ồ ạt. Ít nhất là trong giai đoạn khẳng định tên tuổi để nâng cao giá trị cổ phiếu chẳng hạn. Có chăng vung tiền nhiều thì sẽ thu lợi nhiều? Câu trả lời đôi khi không phải vậy. Tuy nhiên, cũng sẽ thật kiên cưỡng khi nhà quảng cáo mà không biết tạo cho mình một chỗ đứng “trong tâm trí người tiêu dùng”. Một ngày nào đó bạn có thể bật TV lên và kiểm chứng xem, các mẩu quảng cáo các ngân hàng và cũng chỉ mỗi một thông tin đó là ngân hàng, ngoài ra không hề có sự khác biệt hay một định vị nào rõ ràng. Mà cứ là ngân hàng là tiết kiệm, là tin cậy, là sự bảo đảm, chấm hết!

    Dạo gần đây, cứ cuối mẩu quảng cáo thì có một câu ca hay đọc gì đó ngân ngân vang vang nhắc lại tên ngân hàng như một mốt của thời đại. Và như vậy sự lãng phí, vung tiền qua các hoạt động truyền thông tiếp thị là tất yếu!

    Hãy xem ngân hàng “ngoại” H. truyền thông, họ khẳng định đẳng cấp quốc tế nhưng am hiểu địa phương, điều này nhất quán trong việc truyền thông từ tài trợ đua xe xích lô từ thiện đến các giải golf quốc tế tại Việt Nam. Điều này tạo ra một sự khác biệt, một đẳng cấp cũng như khẳng định người tiêu dùng Việt Nam một cơ hội tiếp cận với dịch vụ ngân hàng của họ. Và vì vậy, họ thành công!

    Bản thân chúng tôi cũng không có những dữ liệu cụ thể nhưng có cảm giác rằng hiệu quả hình ảnh thương hiệu (brand awareness) có vẻ như quá kém thông qua các hoạt động truyền thông các ngân hàng Việt Nam thực sự đáng để chính các ngân hàng xem xét khi quyết định một chiến lược marketing của mình.

    Chiến lược nào cho các ngân hàng Bán lẻ Việt Nam?

    Không có chiến lược, các hoạt động truyền thông liệu có hiệu quả, chưa kể đến có mấy ai đo lường định tính hiệu quả của các chiến dịch tiếp thị này của các ngân hàng. Điều cần thiết đầu tiên là các ngân hàng cần định vị cho mình vị trí nào trong tâm trí người tiêu dùng trước khi lập chiến lược tiếp cận. Kế tiếp, các thương hiệu được xây dựng và gán cho nó tính cách thương hiệu (personality) bởi vì thương hiệu là một thực thể sống, có cả giá trị lý tính (physical) và giá trị cảm tính (emotional), nó ví như đời sống của một con người có hỉ, nộ ái, ố; có sinh, lão, bệnh, tử… Truyền thông chỉ là thể hiện bên ngoài của đứa con thương hiệu này. Và cuối cùng, các ngân hàng đừng quên rằng truyền thông không chỉ có quảng cáo. Nó là một nghệ thuật kết hợp của các biện pháp đối thoại với khách hàng. Nó bắt đầu từ những giá trị bên trong nội bộ nhân viên doanh nghiệp (internal) cho đến bên ngoài (quảng cáo, tiếp thị…). Sẽ thật khiên cưỡng và phản tác dụng (đôi khi là những cú đá hậu – hồi mã thương – đau đớn) nếu những quảng cáo rất tốt nhưng khi đến tiếp xúc với ngân hàng thì thái độ hay dịch vụ tồi tệ như một bài báo đăng trên saga về dịch vụ ngân hàng và dịch vụ thẻ A. gần đây!

    Tóm lại, để có một chiến lược marketing chuyên nghiệp và hiệu quả, các ngân hàng thương mại Việt Nam còn cần phải xem lại và đầu tư cho các hoạt động marketing của doanh nghiệp mình nếu không muốn tình trạng tiền tỷ đổ vào các hoạt động tiếp thị trong khi giá trị thương hiệu vẫn là những mong muốn mơ hồ và xa vời. Quả thật, con đường đi đến một thương hiệu vững mạnh quả là còn chông gai và rất xa.

    Thực hiện: Nhóm 2 – Lớp MBA5 – ĐH Mở Bán công TPHCM (Lê Thanh Dũng; Huỳnh Thị Kim Liên; Nguyễn Thị Hạnh Tâm; Nguyễn Văn Thiệu; Đặng Thanh Toàn)

    Bài viết của các nhóm khác

    1. Để việc thẩm định dự án FDI tại các ngân hàng đạt hiệu quả cao
    2. Vai trò của tổ chức định mức tín dụng tại các thị trường chứng khoán đang nổi
    3. Năng lực tài chính các ngân hàng thương mại
    4. Sân chơi nào cho các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
    5. Huy động vốn cho doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp nhỏ từ quỹ đầu tư mạo hiểm

    ===============================================================
    Bài viết www.saga.vn hợp tác với báo Doanh nghiệp và Thương hiệu, số tháng 07/2007
    ===============================================================


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-2010-2015.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Trong quá trình tái cơ cấu các NHTM Việt Nam, việc phát triển các nghiệp vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ đang nổi lên trong hoạch định và thực thi chiến lược của từng hệ thống ngân hàng cũng như ở tầm quản lý vĩ mô của NHNN. Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ của DVNH Việt Nam, nhất là khối bán lẻ.

    Dịch vụ ngân hàng (DVNH) bán lẻ?

    Thị trường bán lẻ là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó, phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm DVNH, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động. Hiện nay, có nhiều khái niệm về DVNH bán lẻ theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ngân hàng bán lẻ thực ra là hoạt động bao trùm tất cả các mặt tác nghiệp của NHTM như tín dụng, các dịch vụ… chứ không chỉ là DVNH. Có lẽ cách nhìn nhận về bán lẻ nên thoáng và đúng nghĩa của nó.

    “Bán lẻ chính là vấn đề của phân phối” (Jean Paul Votron – Ngân hàng Foties): Cần hiểu đúng nghĩa của bán lẻ là hoạt động của phân phối, trong đó là triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại- mà nổi bật là kinh doanh qua mạng. Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ. Bán lẻ ngày càng phát triển sang lĩnh vực xuyên quốc gia.

    Để xác định mức độ thực hiện DVNH bán lẻ của một NHTM, các tổ chức tài chính lớn trên thế giới dựa vào các tiêu chí sau: Giá trị thương hiệu; Hiệu lực tài chính; Tính bền vững của nguồn thu; Tính rõ ràng trong chiến lược; Năng lực bán hàng; Năng lực quản lý rủi ro; Khả năng tạo sản phẩm; Thâm nhập thị trường; Đầu tư vào nguồn nhân lực.

    Đó cũng chính là mục tiêu mà các NHTM Việt Nam cần quan tâm thực sự khi phát triển DVNH bán lẻ của mình. Trong hoạt động bản lẻ của ngân hàng có 3 vấn đề cần quan tâm:

    • Xây dựng kênh phân phối là mối quan tâm lớn của DVNH bán lẻ, mà đặc trưng là sử dụng hệ thống công nghệ thông qua các phương tiện, các kênh phân phối. Các NHTM lớn trên thế giới đang thử nghiệm các kỹ năng phân phối đa kênh (multi chanel distribution skills) trong triển khai DVNH bán lẻ.
    • Xác định khách hàng và nhu cầu của khách hàng qua việc tìm hiểu kẽ hở thị trường, từ đó xây dựng mối liên kết và cơ chế tạo thuận lợi cho giao dịch tài chính. Việc tìm tòi những thị trường chưa khai phá là điều quan trọng, bao gồm khách hàng, loại sản phẩm mà họ cần và kênh phân phối. Vì vậy, với những thị trường mới nổi hoặc đang phát triển, khi mà người dân chưa làm được làm quen nhiều với các DVNH thì tiềm năng của thị trường bán lẻ là vô cùng lớn.
    • Kết hợp thương mại và tài chính, các hoạt động tài chính với nhau trong mối liên hệ chung, chú trọng vào các mối liên kết mới như bancassurance, ngân hàng-chứng khoán…

    Ai tham gia vào thị trường DVNH bán lẻ?

    • Các tổ chức tài chính, đặc biệt là các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
    • Các tập đoàn phi tài chính và các tổ chức tài chính trong tập đoàn.
    • Khách hàng: chủ yếu là khách hàng cá nhân.

    Ưu điểm của DVNH bán lẻ:

    • Đem lại doanh thu cao, chắc chắn, ít rủi ro.
    • Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ phi ngân hàng.
    • Mở rộng khả năng mua bán chéo giữa cá nhân và doanh nghiệp với NHTM, từ đó gia tăng và phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và tiềm năng của NHTM.

    Hoạt động bán buôn của NHTM lại có ưu thế về hoạt động trên các thị trường tài chính, đầu tư ngân hàng, từ đó đem lại doanh thu ổn định hơn, nhưng rủi ro cũng là cao hơn.

    Tại Việt Nam: Hiện nay, các NHTM ở Việt Nam đều hướng tới phát triển DVNH, đây là hướng đi hoàn toàn đúng đắn, bởi lẽ:

    Trước hết, DVNH bán lẻ là xu hướng tất yếu của các NHTM trên thế giới cũng như ở Việt Nam:

    • Cạnh tranh về dịch vụ tài chính ngày càng mạnh và khốc liệt tại Việt Nam.
    • Ngày càng có nhiều tổ chức phi tài chính tham gia vào lĩnh vực này.
    • Đây là một trận tuyến mới còn bỏ ngỏ ở một đất nước đông dân, có tiềm năng phát triển cao trong những năm tới, tiêu dùng dân cư có tiềm năng tăng trưởng cao.
    • Sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh ngày càng mạnh mẽ.

    Thứ hai, về nhận thức. Hiện nay, ban lãnh đạo của khối NHTMCP Việt Nam đều xác định mục tiêu hoạt động tới năm 2010 là trở thành ngân hàng bán lẻ, hướng tới khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc chuyển sang ngân hàng đô thị đa năng (ACB, Techcombank…). Các NHTMNN cũng đã xác định thị trường bán lẻ trong kế hoạch cơ cấu lại ngân hàng, cổ phần hóa ngân hàng sau năm 2010. Sau năm 2015, thị trường bán lẻ sẽ là thị trường chủ đạo mà các ngân hàng nước ngoài sẽ khai thác mạnh sau khi đã đặt chân vững chắc vào thị trường Việt Nam. Từng hệ thống NHTM xác định chiến lược thực hiện DVNH bán lẻ dựa vào:

    • Phát triển mạng lưới của mình,
    • Phát triển các dịch vụ mới dựa trên công nghệ.
    • Phát triển các nhánh dịch vụ, đặc biệt là các kênh phân phối
    • Tạo sự khác biệt trong DVNH bán lẻ: Các NHTMCP có chiến lược tương đối rõ ràng về chiến lược phát triển DVNH bán lẻ tại các đô thị lớn trên nền tảng công nghệ cao, cung cấp dịch vụ tài chính trọn gói cho khách hàng. Như vậy, ở tầm chiến lược, nhận thức về DVNH bán lẻ đã hình thành mà hầu hết các ngân hàng trong nước đều đi theo để phục vụ đối tượng hơn 86 triệu người dân. Để thực hiện được chiến lược này, các ngân hàng cần đến nhiều yếu tố liên quan.

    Thứ ba, nhu cầu của xã hội về dịch vụ và các tiện ích của chúng ngày càng gia tăng và luôn đổi mới.

    Về sản phẩm: Các dịch vụ bán lẻ của NHTM Việt Nam ngày càng đa dạng, trở nên đồng đều hơn với việc triển khai của hầu hết các NHTM, tạo cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn. Theo dõi sự phát triển của dịch vụ này có thể nhận thấy nổi lên một số vấn đề sau:

    • Các sản phẩm của ngân hàng điện tử ngày càng trở nên rộng rãi và phổ biến: Nếu như năm 2004 chỉ có 3 NHTM triển khai dịch vụ Internet banking thì đến năm 2008, con số này lên tới 25, chủ yếu là cung cấp thông tin, thanh toán hoá đơn định kỳ, chuyển tiều trong hệ thống, trong đó có 5 NHTM là Đông Á, Kỹ thương, Á châu, Citibank Việt Nam, Indovina là chuyển khoản ra ngoài hệ thống trong tổng số 11 ngân hàng có chức năng chuyển khoản trực tuyến. Có 3 NHTM là Đông Á, Vietcombank, Kỹ thương và Á châu thực hiện đầy đủ cả 3 nội dung của Internet banking là cung cấp thông tin, giao tiếp và giao dịch. Riêng NHTMCP Á châu triển khai dịch vụ này, dịch vụ Home banking, Mobile Banking, Phone banking tới tất cả khách hàng cá nhân có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng. Ngoài các tiện ích khi sử dụng dịch vụ ngân hang điện tử, khách hàng còn được hưởng ưu đãi về phí dịch vụ. Riêng về dịch vụ Inernet banking, có thể thấy 2 vấn đề nổi lên: (1) khối NHTMCP nhanh và thực hiện toàn diện hơn các tiện ích của ngân hàng điện tử so với khối NHTMNN; (2) khối NHTM có yếu tố nước ngoài thực hiện dịch vụ này với các tiện ích và chất lượng vượt trội so với NHTM Việt Nam (HSBC Việt Nam được Global Finance bình chọn là ngân hàng có dịch vụ Inernet banking tốt nhất Việt Nam năm 2009).

    Dịch vụ thẻ ngày càng trở nên phổ biến trong các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp với nhiều tiện ích, nhiều loại thẻ tín dụng. Việc chuyển từ thẻ từ sang sử dụng thẻ chip là một hướng đi đúng và cần thiết nhằm bảo toàn cho khách hàng, mặc dù cần đến công nghệ, nhân lực và chi phí. Theo thống kê của NHNN, hệ thống ngân hàng có gần 9.000 máy ATM, hơn 28.000 điểm chấp nhận thẻ (POS), 9/41 tổ chức đã phát hành và thanh toán bằng thẻ chip với hơn 28.000 thẻ. Hiện nay có 13.500 máy POS và 2.000 máy ATM đã chấp nhận thanh toán bằng thẻ chip. Riêng ACB đã phát hành hơn 38.000 thẻ tín dụng quốc tế và 205.000 thẻ thanh toán quốc tế cho đến nay.

    Các dịch vụ tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh cả về danh mục và doanh số, tất cả NHTM của Việt Nam đều có sản phẩm cho vay tiêu dùng, đứng đầu là ACB và Techcombank.

    • Các sản phẩm liên kết, bán chéo sản phẩm tài chính, được triển khai ngày càng nhiều, ví dụ Bancasurrance (liên kết ngân hàng – bảo hiểm), đem lại khoản thu cho ngân hàng, phát triển khách hàng, tạo ra tiện ích đa dạng hơn. Các sản phẩm này được nhiều ngân hàng ứng dụng như BIDV, Vietcombank… Năm 2009, dịch vụ này được các ngân hàng và công ty bảo hiểm quan tâm nhiều để gia tăng tiện ích và tăng nguồn thu dịch vụ, mở rộng thị phần. Điều này không những có lợi cho khách hàng trong sử dụng các dịch vụ tài chính (tiết kiệm thời gian thanh toán phí bảo hiểm, được tư vấn bảo hiểm, thanh toán…) mà còn là mong muốn của các NHTM và công ty bảo hiểm nhằm thu hút tiền gửi, thu phí bảo hiểm và chi trả qua thẻ ATM. Việc hợp tác giữa Sacombank và PVN trong cho vay tiêu dùng và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, NH ABBank và Prudential Việt Nam (PVN) mở các điểm giao dịch ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, HDBank và ACE Life, Standard Chartered Bank – SCB và PVN… đã cho thấy triển vọng của dịch vụ bán chéo sản phẩm tài chính ở Việt Nam. Riêng Prudential đã thành công với mô hình này với hơn 70 quan hệ hợp tác ở 12 quốc gia châu Á.
    • Dịch vụ bán lẻ của NHTM phát triển dựa nhiều vào ứng dụng hệ thống công nghệ. Ngày càng nhiều NHTM Việt Nam ứng dụng công nghệ hiện đại với chi phí lớn và diện phủ sóng rộng. Công nghệ thông tin trở thành kênh phân phối quan trọng và không thể thiếu của các DVNH điện tử nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung. Các NHTM lớn như Vietinbank sử dụng hệ thống INCAS, Agribank sử dụng hệ thống IPCAS… trong toàn hệ thống.

    Hộp 1: NHTMCP Đông Nam Á (SeABank) là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam

    triển khai thành công các kiến trúc công nghệ hàng đầu của Oracle như Oracle Grid Computing, Real Application Clusters – RAC, Oracle Enterprice Manager… cho phép mở rộng, linh hoạt và tính sẵn sàng cao, từ đó ngân hàng rút ngắn thời gian giới thiệu sản phẩm ngân hàng ra thị trường, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đem lại khả năng hoàn vốn cao và hiệu quả chi phí cao nhất.

    Bên cạnh đó, kênh phân phối truyền thống qua mạng lưới vẫn tiếp tục được mở rộng: Agribank với hơn 2000 chi nhánh, BIDV với 104 chi nhánh cấp 1, sở giao dịch và hàng trăm phòng giao dịch, Vietinbank với 2 SGD, 130 chi nhánh và trên

    • điểm giao dịch, Sacombank với 52 chi nhánh và 109 phòng giao dịch, Techcombank với 109 điểm giao dịch, ACB với 84 chi nhánh và phòng giao dịch,…
    • Về tốc độ phát triển: khối NHTMCP phát triển nhanh hơn và mạnh hơn về các DVNH (ngân hàng điện tử, tín dụng tiêu dùng, cho vay chứng khoán…).

    Hạn chế:

    Hạn chế hiện nay trong việc mở rộng các DVNH hiện đại về phía NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Việt Nam là:

    • Chiến lược phát triển của các NHTM có nhiều điểm tương đồng, như phát triển dịch vụ bán lẻ, dịch vụ doanh nghiệp hoặc trên thị trường tiền tệ, mở rộng quy mô mạng lưới và phát triển nguồn nhân lực, công nghệ, quản trị điều hành… Điều này phản ánh mặt bằng phát triển chung, song cũng là điểm khó trong xây dựng chiến lược riêng của mỗi NHTM khi muốn tạo dựng cái riêng của mình trước công chúng.
    • Sự phối kết hợp giữa các NHTM trong thực hiện các DVNH mới còn kém: Mỗi hệ thống ngân hàng phát triển một chiến lược hiện đại hoá khác nhau, ít có sự gắn kết với nhau, ví dụ, về hoạt động thanh toán thẻ, séc, máy rút tiền tự động ATM…, gây ra sự lãng phí vốn và thời gian, sự cạnh tranh không đáng có giữa các ngân hàng, sự khó khăn cho lựa chọn của các doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ ngân hàng. Hiệu quả sử dụng vì vậy còn thấp.
    • Khả năng tài chính của các ngân hàng còn thấp, mặc dù phần lớn các NHTM Việt Nam đều đạt yêu cầu vốn điều lệ 3000 tỷ đồng. So với quy mô tài chính của các NHTM trong khu vực thì mức vốn này vẫn ở mức khiêm tốn. Trong bối cảnh hiện nay, năng lực tài chính của các ngân hàng hạn chế, nhất là đối với các NHTMCP, là một trong các nguyên nhân gây ra khó khăn trong việc triển khai về công nghệ đối với các DVNH mới như Home banking, Internet banking…
    • Sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn ban đầu. Các sản phẩm tài chính hiện đại phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động của thương mại và dịch vụ trong nước và không nên đi sớm quá sự phát triển của thương mại trong nước. Theo thống kê gần đây, 97% doanh nghịêp Việt Nam trong hơn 300.000 doanh nghiệp là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khoảng 80% số vốn hoạt động của doanh nghiệp là vốn vay ngân hàng. Cầu nối giữa họ và các tổ chức tín dụng còn gặp nhiều rào cản về nhận thức, cách làm việc…
    • Thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn ở mức thấp, tỷ trọng sử dụng tiền mặt trong lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng/tổng phương tiện thanh toán hiện đang dao động ở mức 24-25%, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực (Thái lan: 6,3%, Trung quốc: 9,7%…). Chính tâm lý dùng tiền mặt, bao gồm cả VND và ngoại tệ mặt, và sự hiểu biết về DVNH của đa số người dân Việt Nam thấp, cũng là một nguyên nhân để cho việc mở rộng các DVNH mới còn gặp nhiều khó khăn.
    • Hiện nay các ngân hàng đang ở thời kỳ đầu của giai đoạn 2 về ứng dụng công nghệ thông tin. Ngay cả NHNN vẫn đang thử nghiệm ở giai đoạn 1 của chương trình AFD. Các ngân hàng chưa có đủ điều kiện để thực hiện các giao dịch chuyển tiền với các tài khoản khác hoặc thanh toán thông qua tài khoản … theo đúng ý nghĩa của dịch vụ này.
    • Bức tranh hoạt động ngân hàng sẽ được vẽ lại khá đậm với việc các NHTMNN cổ phần hóa để hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và việc chuyển hướng sang các SME và bán lẻ; các NHNg xâm nhập vào thị trường Việt Nam dưới nhiều hình thức, các ngân hàng TNHH 100% vốn nước ngoài sẽ mở rộng hoạt động, trong đó DVNH bán lẻ sẽ là một trong những đích ngắm của họ; các định chế tài chính phi ngân hàng đang hoạt động mạnh mẽ về các dịch vụ ngân hàng.

    Hạn chế về phía NHNN là: các NHTMVN sẽ là ngân hàng đa năng, vì vậy, quản lý nhà nước sẽ gặp khó khăn do thiếu thông tin, kinh nghiệm quản lý, mặt bằng công nghệ, nhận thức và trình độ.

    Vậy yêu cầu đặt ra trong việc phát triển các DVNH bán lẻ của các NHTM Việt

    Nam hiện nay là:

    • Đa dạng hơn các sản phẩm này không chỉ danh mục chung mà còn là các sản phẩm cụ thể.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi không chỉ trong một hệ thống NHTM mà còn phải kết nối giữa các NHTM trong những DVNH đòi hỏi có sự liên kết.
    • Lựa chọn các sản phẩm “lõi” của từng NHTM để tạo ra tính khác biệt trong thương hiệu và hấp dẫn riêng.
    • Chú trọng thị trường cũ và quan tâm thực sự tới thị trường mới trong bối cảnh cạnh tranh mạnh với khối NHNg.

    Một số giải pháp: để phát triển các dịch vụ bán lẻ của mình trong thời gian tới, trên cơ sở các thành quả đạt được, các NHTM cần chú ý phát triển đồng bộ cả 4 hoạt động:

    • Thị trường: Xác định thị trường tiềm năng là khối dân doanh – ngoài quốc doanh, trong đó tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (kể cả các công ty cổ phần, công ty TNHH).

    Ngoài ra, khách hàng cá nhân là khách hàng to lớn và lâu dài của dịch vụ bán lẻ. Chú ý tới khách hàng trẻ tiềm năng trong độ tuổi 21-29 (65% dân số Việt Nam có độ tuổi dưới 30) vì tính năng động trong tiếp cận sản phẩm và tính sẵn sàng sử dụng DVNH, mặc dù Việt Nam mới có khoảng 10% dân số tham gia vào thị trường ngân hàng bán lẻ.

    • Kênh phân phối: Chú trọng thật sự vào kênh phân phối điện tử qua việc ứng dụng công nghệ (internet/phone/sms banking), mặc dù việc này đòi hỏi chi phí cao từ ban đầu. Hiện nay, số người dân Việt Nam sử dụng Inernet ngày càng tăng, năm 2008 con số này lên tới 22 triệu người, việc sử dụng thương mại điện tử ở Việt Nam ngày càng phát triển. Nhiều hoạt động quản lý hành chính như hải quan điện tử, thuế điện tử, đấu thầu điện tử… đang được triển khai rộng. Nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin phát triển nhanh ở Việt nam như FPT, công ty Fujitsu Việt Nam…, tạo điều kiện cho các NHTM phát triển kênh phân phối này. Các chi phí cao trong việc mở rộng thị trường có thể được giải quyết một phần với việc phối hợp với công ty viễn thông khi sử dụng kênh phân phối điện tử.

    Cùng với kênh phân phối mới này là vấn đề bảo mật và an toàn, vì đây là rủi ro của DVNH và vấn đề chuyên viên kỹ thuật để bảo hành công nghệ. Trên thực tế, có những ngân hàng sở hữu corebanking hàng chục triệu USD nhưng DVNH điện tử chủ yếu là truy vấn thông tin, chưa cung cấp dịch vụ giao tiếp và giao dịch, gây lãng phí công nghệ.

    • Dịch vụ: Chú trọng phát triển các dịch vụ trên nền tảng công nghệ internet/phone/sms banking) và liên kết (ngân hàng – bảo hiểm, ngân hàng – chứng khoán…) bên cạnh việc phát triển các sản phẩm ngân hàng bán lẻ khác,
    • Chi phí: Việc ứng dụng công nghệ và phát triển dịch vụ bán lẻ nói chung cần đến chi phí lớn, việc áp dụng các DVNH điện tử đòi hỏi chi phí hoà mạng trong kết nối với các ngân hàng nước ngoài. Ví dụ: mua 1 phôi thẻ chip cao gấp 5 lần 1 phôi thẻ từ (chi phí cho thẻ từ ít nhất 330.000đ/thẻ). Vốn bình quân trang bị cho mỗi máy ATM từ 10.000USD-13.000 USD kể cả chi phí bảo hành và duy tu kỹ thuật. Nhưng đây là hoạt động mà NHTM phải thực hiện sớm theo chiến lược của mình để giữ gìn và mở rộng khách hàng.

    Hộp 2: Yếu tố vững mạnh của hệ thống tài chính – ngân hàng là:

    • Ổn định vĩ mô của nền kinh tế và sự cải thiện của kết cấu hạ tầng là yếu tố quyết định đến sự phát triển của hệ thống tài chính và thị trường bán lẻ. Điều này đặc biệt cần thiết đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển.

     

    • Quy mô, cơ cấu sở hữu, quy tắc hoạt động.

     

     

    • Hiệu lực của giám sát an toàn hệ thống.

     

     

    • Khả năng giải quyết các phát sinh trong một ngân hàng không lây lan sang các nơi khác.

     

    • Sự sẵn có của nguồn vốn phi ngân hàng.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-D%E1%BB%8ACH-V%E1%BB%A4-NG%C3%82N-H%C3%80NG-B%C3%81N-L%E1%BA%BA-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    I.Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, xu hướng tất yếu của các NHTM

    Trong nền kinh tế mở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng cao, nhất là dịch vụ ngân

    hàng bán lẻ (NHBL). Mục tiêu của dịch vụ NHBL là khách hàng cá nhân, nên các dịch vụ

    thường đơn giản, dễ thực hiện và thường xuyên, tập trung vào dịch vụ tiền gửi và tài khoản,

    vay vốn, mở thẻ tín dụng…

    Theo các chuyên gia kinh tế củ a H ọc viện Công nghệ Châu á – AIT, dịch vụ NHBL là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp vớ i sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.

    Theo định nghĩa trên, dịch vụ NHBL chỉ được thực hiện nhờ công nghệ thông tin (CNTT), cụ thể là:

    • CNTT là tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến được thực hiện;
    • CNTT hỗ trợ triển khai các sản phẩm dịch vụ NHBL tiên tiến như chuyển tiền tự động, huy động vốn và cho vay dân cư dưới nhiều hình thức khác nhau;
    • Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, CNTT góp phần nâng cao hiệu quả của việc

    quản trị ngân hàng, tạ o điều kiệ n thực hiện mô hình xử lý t ập trung các giao dịch có tính chất phân tán như chuyển tiền, giao dịch thẻ, tiết giảm đáng kể chi phí giao dịch;

    • CNTT có tác dụng tăng cường khả năng quản trị trong ngân hàng, hệ thống quản trị tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác.

    Từ giác độ kinh tế – xã hội, dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển

    tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời

    sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân

    hàng và khách hàng.

    Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, NHBL mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài vì đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưở ng của chu k ỳ kinh tế. Ngoài ra, NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị tr ường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng.

    • Đối với khách hàng, dịch vụ NHBL đem đến sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình.

    Tạp chí Stephen Timewell cũng nhận định: xu h ướng ngày nay thể hiện rõ rằng, ngân hàng nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ NHBL cho một lượng dân cư khổng lồ đang “đói” các dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành những gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai.

    • Hoạt động NHBL ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các NHTM trên thế giới, các NHBL toàn cầu sẽ đóng vai trò chủ đạo trong danh sách 20 ngân hàng toàn cầu hàng đầu theo xếp hạng của tạp chí The Banker vào năm 2015.
    • Các NHTM Việt Nam đã và đang phát triển dịch vụ NHBL, đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh nhỏ, đảm bảo cho các ngân hàng quản lý rủi ro hữu hiệu, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng, định hướng kinh doanh, thị trường sản phẩm mục tiêu, giúp ngân hàng đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu.
    • Tại Việt Nam, kinh tế tăng trưởng liên tục, môi trường pháp lý hoàn thiện dần, nhu cầu xã hội ngày càng tăng, thị trường dịch vụ NHBL còn nhiều tiềm năng phát triển.

    II. Thực trạng phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM

     

    1. Những thành công và hạn chế

    Trong những năm gần đây, dưới áp lực cạnh tranh ngày càng tăng do việc áp dụng lộ trình

    nới lỏng các quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về việc mở chi nhánh

    và các điểm giao dịch, việc dỡ bỏ hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND, khả năng mở rộng

    dịch vụ ngân hàng và sự phát triển bùng nổ của CNTT, các NHTM Việt Nam đã đạt được

    những kết quả đáng khích lệ về phát triển dịch vụ NHBL. Nhìn chung, các ngân hàng bắt đầu

    quan tâm và tập trung khai thác thị trường bán lẻ như đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ ngân

    hàng, phát triển các loại hình dịch vụ mới, đa tiện ích và đã được xã hội chấp nhận như máy

    giao dịch tự động (ATM), internet banking, home banking, PC banking, mobile banking. Thực

    tế đó đã đánh dấu bước phát triển mới của thị trường dịch vụ NHBL tại Việt Nam, làm cơ sở

    cho việc phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, tỷ trọng nguồn vốn huy động từ

    dân cư tăng lên đáng kể và chiếm 35-40% tổng vốn huy động. Hình thức huy động ngày càng

    đa dạng và linh hoạt hơn, lượng kiều hối qua các ngân hàng tăng mạnh. Các NHTM Việt Nam

    đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài chính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ

    chức và mạng lưới kênh phân phối, hệ thống sản phẩm dịch vụ ngân hàng, góp phần phát

    triển dịch vụ NHBL, đem lại cho khách hàng ngày càng nhiều tiện ích mới và văn minh trong

    thanh toán.

    Đến cuối năm 2006, hầu hết các NHTM đã xây dự ng phần mềm NHBL dựa trên nền tảng quy trình xử lý nghiệ p vụ thi ết kế của Mỹ vớ i mục tiêu giải phóng khách hàng nhanh nhất bằng việ c phân chia xử lý nghiệp vụ thành hai bộ phận: Bộ phận giao dịch tạ i quầy và bộ phận hỗ trợ xử lý nghiệp vụ . Hệ thống này đã tạo ra nhi ều giao diện r ất tiện ích, tài khoản của khách hàng được kết nối trên toàn h ệ thống, tạo nề n tảng mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và đưa các sả n phẩm dịch vụ NHBL đến tay ngườ i tiêu dùng. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, dịch vụ NHBL của các NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập:

    • Tính cạnh tranh chưa cao, chủ yếu nhờ mở rộng mạng lưới và cạnh tranh về giá cả và lãi suất, cạnh tranh về chất lượng dịch vụ và công nghệ chưa phổ biến, thị trường dịch vụ NHBL thiếu ổn định, chưa có sự liên kết giữa các ngân hàng trong việc phát hành các loại thẻ và khai thác dịch vụ mới, do các ngân hàng chưa tìm được tiếng nói chung để đi đến thoả thuận kết nối thống nhất nhằm chia sẻ hạ tầng kỹ thuật, gây lãng phí trong việc đầu tư mua sắm máy móc và chưa tạo sự thuận lợi cho khách hàng trong việc sử dụng thẻ;
    • Sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn mang tính truyền thống, nghèo nàn về chủng loại, chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng;
    • Chưa có chiến lược tiếp thị cụ thể trong hoạt động NHBL, thiếu đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về tiếp thị dịch vụ NHBL, tỷ lệ khách hàng cá nhân tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng vẫn còn ở mức khiêm tốn;
    • Kênh phân phối không đa dạng, hiệu quả thấp, phương thức giao dịch và cung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, các hình thức giao dịch từ xa dựa trên nền tảng CNTT chưa phổ biến. Dịch vụ ngân hàng điện tử chưa được triển khai rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn ít, nhiều ngân hàng mới chỉ hoạt động ở mức độ thử nghiệm, giao dịch thanh toán thương mại điện tử còn hạn chế, chưa ứng dụng được hình thức thanh toán qua điện thoại di động sử dụng tài khoản ngân hàng;
    • Các dịch vụ NHBL phát triển dưới mức tiềm năng. Sau 10 năm làm dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ, số người sử dụng thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương chỉ đạt trên 1 triệu khách hàng, phần lớn chủ thẻ là thương nhân và những người sống ở các đô thị lớn, dư nợ cho vay cá nhân chỉ chiếm 5-9% tổng dư nợ;
    • Hiệu quả của chính sách khách hàng còn thấp, chất lượng dịch vụ chưa cao, thủ tục giao dịch chưa thực sự thuận tiện, bộ máy tổ chức chưa theo định hướng khách hàng, thiếu bộ phận nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân, thiếu hệ thống chỉ tiêu định lượng và đánh giá hoạt động NHBL, mức độ ứng dụng CNTT chưa cao.

    2. Những yếu tố hạn chế phát triển dịch vụ NHBL tại Việt Nam

    Nét đặc thù của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là nhắm tới đối tượng khách hàng cá nhân, song

    người dân trong nước chưa biết nhiều về dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ NHBL nói riêng. Do mức thu nhập của phầ n lớn dân cư còn thấp, thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến, nên khả năng phát triển và mở rộng dịch vụ NHBL còn hạn chế.

    Môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng chư a thực sự phù hợp với tình hình thự c tế. Các văn bản pháp quy về hoạt động ngân hàng chủ yếu được xây dự ng trên cơ sở các giao dịch thủ công với nhiều loại giấ y tờ và quy trình xử lý nghiệp vụ phứ c tạp. Trong khi đó, phát triển dịch vụ NHBL đòi hỏi phải áp d ụng công nghệ mới và quy trình nghiệp vụ hiệ n đại, nhanh chóng. Với tốc độ phát triển dịch vụ như hiệ n nay, nhiều quy định pháp lý đã tỏ ra bất cậ p và không bao hàm hết các mặt nghiệp vụ, gây khó khăn cho các NHTM khi muốn triển khai dịch vụ mới.

    Về phía các NHTM, các ngân hàng chư a xây dự ng được chiến lược đồng bộ về phát triển dịch vụ NHBL, s ản ph ẩm và dịch vụ NHBL còn đơn điệu, chưa đáp ứng nhu cầ u khách hàng, bộ máy tổ chức chưa xây dựng theo định hướng khách hàng, chư a có đội ng ũ cán bộ chuyên nghiệp về nghiệp vụ NHBL, mạng lưới kênh cung cấp dịch vụ còn mỏng, nền tảng công nghệ và khả năng ứng dụng công nghệ mới còn hạn chế.

    • Một số giải pháp phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM Việt Nam Hoàn thiện các qui định pháp lý về nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng

    Các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động ngân hàng do nhiều cấp và nhiều cơ quan ban hành, đ iều này đòi hỏi phải hoàn thiện môi trường pháp lý một cách đầy đủ, đồng bộ và thố ng nh ất về các loại hình dịch vụ theo hướng đơ n giản, dễ hiểu, dễ phổ cậ p, phù hợp vớ i thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của khách hàng và ngân hàng.

    2. Đa dạng hóa các kênh phân phối và thực hiện phân phối có hiệu quả

    Trong xu thế hộ i nhập, cạnh tranh trên thị trường NHBL ngày càng gay gắt, phát tri ển dịch vụ NHBL được xác định là m ột định hướng chiến lược quan trọng của các NHTM Việ t Nam. Trong đó, việ c phát triể n các kênh phân phối là một trong nhữ ng giải pháp tiên quyết, đòi hỏi phải tích cự c phát triển mạng lưới các chi nhánh c ấp I và cấ p II, chú tr ọng mở r ộng thêm các phòng giao dịch vệ tinh vớ i mô hình g ọn nhẹ. Bên cạnh việ c duy trì và mở rộng các kênh phân phối truyền thố ng như các chi nhánh, các phòng giao dịch, các NHTM cần nghiên cứ u và ứng dụng các kênh phân phối hiện đại, đồng thời tăng cường qu ản lý phân ph ối nhằm tố i đa hóa vai trò của từng kênh phân phối một hiệu quả, đáp ứng yêu cầu giao dịch ở mọi lúc, mọi nơi như:

    • Tăng cường hiệu quả và khả năng tự phục vụ của hệ thống ATM nhằm cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau với chi phí rẻ hơn, nâng cấp hệ thống ATM thành những “ngân hàng thu nhỏ” trải đều khắp các tỉnh, thành phố. Đồng thời, phát triển mạng lưới các điểm chấp nhận thẻ (POS) và tăng cường liên k ết giữa các NHTM để nâng cao hiệu quả và mở rộng khả năng sử dụng thẻ ATM và thẻ POS;
    • Phát triển loại hình ngân hàng qua máy tính và ngân hàng tại nhà nhằm tận dụng sự phát triển của máy tính cá nhân và khả năng kết nối internet. Trong đó, các NHTM cần sớm đưa ra các loại dịch vụ mới để khách hàng có thể đặt lệnh, thực hiện thanh toán, truy vấn số dư và thông tin về cam kết giữa ngân hàng và khách hàng, v.v;
    • Phát triển loại hình ngân hàng qua điện thoại, đây là mô hình phổ biến với chi phí rất

    thấ p, tiện lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại bất cứ thời gian, địa điểm nào;

    • Mở rộng các kênh phân phối qua các đại lý như, đại lý chi trả kiều hối, đại lý phát hành thẻ ATM, đại lý thanh toán.

    Quá trình phát triển và hoàn thiện dịch vụ NHBL phải được thực hiệ n từng bước, vữ ng chắc, đồ ng thời có bướ c đột phá để tạ o đà phát triển nhanh chóng trên cơ sở giữ vữ ng thị phần đã có và mở rộng thị trường, tạo nhiều tiện ích cho ngườ i sử dụng dịch vụ, kết hợp hài hoà lợi ích khách hàng với lợi ích của ngân hàng và có lợi cho nền kinh tế.

    Chìa khóa của Chiến lược NHBL là phát triển CNTT, làm nền tảng phát triển kinh doanh và

    mở rộng các loại hình dịch vụ mới theo hướng tă ng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phát tri ển h ệ thống giao dịch trực tuyế n và từng bước triển khai mô hình giao dịch một cử a, hiện đại hóa tất cả các nghiệp vụ ngân hàng, đảm b ảo hòa nhập với các ngân hàng quốc tế trong m ọi lĩnh vực. Tăng cường xử lý tự động trong tất cả qui trình tiếp nhận yêu cầu khách hàng, thẩm định và xử lý thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo tính bảo mật và an toàn trong kinh doanh.

    3. Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ

    Đa dạng hóa sản phẩm là điểm mạnh và mũi nh ọn để phát triể n dịch vụ ngân hàng cá nhân, hình thành bộ phậ n nghiên cứu chuyên trách phát triển sản phẩm. Trong đó, tập trung vào những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có đặc điểm nổ i trội trên thị trường nhằm tạo sự khác biệ t trong c ạnh tranh, tận dụng các kênh phân phối mới để đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng và phát triển tín dụng tiêu dùng.

    Phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nhằm phát

    huy hiệu quả và tính năng kỹ thuật của công nghệ mới, góp phần hạn chế giao dịch tiền mặt

    bất hợp pháp, nhanh chóng nâng cao tính thanh khoản của VND và hiệu quả sử dụng vốn

    trong nền kinh tế. Đẩy mạnh các dịch vụ tài khoản tiền gửi với thủ tục đơn giản, an toàn nhằm

    thu hút nguồn vốn của cá nhân trong thanh toán và phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, séc

    thanh toán cá nhân, đẩy mạnh huy động vốn qua tài khoản tiết kiệm. Các NHTM cũng cần

    tăng cường hợp tác với các tổ chức và doanh nghiệp có các khoản thanh toán dịch vụ thường

    xuyên, ổn định số lượng khách hàng, trả lương như bưu điện, hàng không, điện lực, cấp thoát

    nước, kinh doanh xăng dầu. NHNN cần sớm ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp quy

    về thanh toán với cơ chế khuyến khích hơn là ngăn cấm như cho phép thu phí giao dịch tiền

    mặt cao hơn giao dịch chuyển khoản, hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng

    nhằm hình thành hệ thống thanh toán quốc gia thống nhất và an toàn.

    Phát triển các sản phẩm, dịch vụ khác như tăng cường thu hút nguồn kiều hối trên cơ sở phối hợp với các công ty xuất khẩu lao động, các công ty dịch vụ kiều hối, tổ chức chuyển tiền

    • nước ngoài, các ngân hàng đại lý nước ngoài. Có chính sách khai thác và tạo điều kiện thuận lợi phát triển dịch vụ chuyển tiền kiều hối qua hệ thống ngân hàng. Triển khai dịch vụ quản lý tài sản, ủy thác đầu tư, cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng. Tăng cường bán chéo sản phẩm dịch vụ giữa ngân hàng và bảo hiểm, vì có tới 50% khách hàng sử dụng một sản phẩm duy nhất là tài khoản nhận lương.

    4.                 Tăng cường hoạt động tiếp thị và chăm sóc khách hàng

    Do phần lớn đố i tượng phục vụ của dịch vụ NHBL là các cá nhân, việ c quảng bá, tiếp thị các s ản phẩm dịch vụ đ óng vai trò c ực kỳ quan trọng, có lợi cho cả ngân hàng và khách hàng. Tă ng cường chuyển tải thông tin tới công chúng nhằm giúp khách hàng có thông tin cập nhật về năng lực và uy tín c ủa ngân hàng, hiểu biết cơ bản về dịch vụ NHBL, nắm được cách thức sử dụng và lợi ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

    5. Các giải pháp khác

    • NHNN và các NHTM cần phối hợp với Tổng cục Thống kê trong việc xây dựng danh mục dịch vụ NHBL theo chuẩn mực quốc tế, làm cơ sở để xây dựng hệ thống báo cáo định kỳ về các loại hình dịch vụ cụ thể, góp phần nâng cao chất lượng quản trị, điều hành.
    • Xây dựng hệ thống chấm điểm khách hàng cá nhân nhằm giảm nhẹ rủi ro, có thể ra

    quyết định cho vay mộ t cách nhanh chóng, chính xác. Xây dựng bộ phận quản lý và phân loại khách hàng nhằm xác định mức chi phí và lợi nhuận của từng phân đo ạn khách hàng, thực hiện tốt chính sách khách hàng, triển khai mô hình tổ chức kinh doanh theo định hướng khách hàng và ch ủ độ ng tìm đến khách hàng, xác định nhu cầu của từng nhóm khách hàng, từ đó đưa ra các loại sản phẩm và dịch vụ phù hợp.

    • Mỗi NHTM cần thành lập bộ máy điều hành, nghiên cứu và thực thi việc phát triển dịch vụ NHBL, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng và chú trọng nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động NHBL.

    XT-VPNHNN


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giáo trình nghiệp vụ ngoại thương – CHƯƠNG 7 HỢP ÐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/B%C3%A0i-ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-m%C3%B4n-Nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    LỜI MỞ ĐẦU

    Sau hơn mười năm đổi mới nền kinh tế nước ta đang khởi sắc và thu được những thành tựu đáng kể. Từ nền kinh tế khép kín chuyển sang nền kinh tế mở với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Với chính sách đối ngoại mềm dẻo đã thu hút được lượng vốn đầu tư lớn từ nước ngoài tận dụng thế mạnh trong nước.Thực tế đã chứng minh không một quốc gia nào phát triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài. Sự giao lưu buôn bán giữa các nước là một xu hướng tất yếu quốc tế hoá nền kinh tế. Sự phát triển của thương mại quốc tế như là chất keo dính gắn kết các quốc gia lại với nhau trong sự phát triển thống nhất cuả nó. Thương mại quốc tế ngày nay đã vượt qua không gian thời gian tạo những luồng dịch chuyển hàng hoá, tiền tệ để cân bằng cung cầu.

    Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng quan trọng nhất quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi. Nó là mắt xích không thể thiếu trong cỗ máy thương mại quốc tế. Với nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù hợp với từng giai đoạn phát triển và tình hình cụ thể. Ngày nay phương thức thanh toán thư tín dụng đang được sử dụng phổ biến. Trong chu trình thanh toán ấy ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian thanh toán hộ. Ngân hàng thương mại là chất xúc tác giúp quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, hiệu quả. Nó là chất dầu bôi trơn cỗ máy thanh toán quốc tế hoạt động nhịp nhàng và không mệt mỏi. …. Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các mối giao lưu thương mại ngày càng mở rộng đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải phát triển các dịch vụ của mình đặc biệt là thanh toán xuất nhập khẩu. Từ thực trạng không ít rủi ro đã xảy ra gây thiệt hại cả về tài chính và uy tín của ngân hàng trong thanh toán quốc tế đặc biệt là thanh toán thư tín dụng. Vì thế nghiên cứu phòng tránh rủi ro để nâng cao hiệu quả trong thanh toán thư tín dụng đã trở thành mối quan tâm xuyên suốt quá trình hoàn thiện và phát triển của mỗi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và lợi nhuận.

    Chương I : CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU

    I. TRẢ TIỀN MẶT (IN CASH):

     

    • Người mua thanh toán bằng tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặc chấp nhận đơn đặt hàng của người mua.
    • Đánh giá:
    • Ưu điểm:
      • Đơn giản.
        • Khuyết điểm:
      • Rủi ro cao và hiệu quả thấp. VD: phải tốn phí vận chuyển nếu như tiền ở số lượng lớn, nguy cơ bị cướp v.v..
    • Phòng ngừa:
      • Hạn chế thanh toán bằng tiền mặt.
      • Nếu có thanh toán bằng tiền mặt nên chọn những địa điểm an toàn, có bảo vệ.

    II. PHƯƠNG THỨC GHI SỔ (OPEN ACCOUNT):

     

    • Là phương thức thanh toán, trong đó người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua, sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hay cung cấp dịch vụ, theo đó đến hạn quy định người mua sẽ trả tiền cho người bán.
    • Đánh giá:
    • Phương thức thanh toán đơn giản chỉ có hai bên: người bán và người mua tham gia thanh toán.
    • Ngân hàng không tham gia với chức năng mở tài khoản để thực thi thanh toán, chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên.
    • Phương thức này chỉ có lợi cho người mua.
      • Điều kiện áp dụng:
        • Thanh toán trong mua bán nội địa.
        • Thanh toán tiền gửi bán hàng ở nước ngoài.
        • Thanh toán khi đôi bên mua bán rất tin cậy nhau.
        • Thanh toán tiền phí dịch vụ.

    III.  THANH TOÁN TRONG BUÔN BÁN ĐỐI LƯU:

     

    3.1 Khái niệm buôn bán đối lưu:

    Là hoạt động trao đổi hàng hóa trong thương mại quốc tế, trong đó hai (nhiều) bên tiến hành trao đổi hàng hóa nọ lấy hàng hóa kia.

    3.2 Các hình thức buôn bán đối lưu:

    • Nghiệp vụ Barter (nghiệp vụ đổi hàng thuần túy): là nghiệp vụ hàng đổi hàng.
    • Nghiệp vụ song phương xuất nhập: đây cũng là hoạt động mua bán đối lưu, nhưng có thể sử dụng tiền (hoặc một phần tiền) để thanh toán.
    • Nghiệp vụ Buy – Back: là nghiệp vụ mua bán đối lưu trong lĩnh vực đầu tư trung và dài hạn.

    IV.  PHƯƠNG THỨC NHỜ THU (COLLECTION):

     

     

    4.1 Khái niệm:

    Là phương thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ ký phát hối phiếu đòi tiền người mua, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền thu ghi trên tờ hối phiếu đó.

    ÿ Tìm hiểu về hối phiếu:

    Hối phiếu thương mại (B/E – Bill of Exchange).

    Œ Định nghĩa:

    Hối phiếu thương mại là một tờ mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do người xuất khẩu (người bán, người cung ứng dịch vụ) ký phát đòi tiền người nhập khẩu (người mua, người nhận cung ứng) yêu cầu người này phải trả một số tiền nhất định cho người được hưởng lợi quy định trên hối phiếu, tại một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định (có thể trả ngay hoặc trả về sau).

     Đặc điểm:

    • Tính trừu tượng.
    • Tính bắt buộc trả tiền.
    • Tính lưu thông.

    Ž Hình thức (Theo ULB 1930 – Uniform Law for Bills of Exchange):

    • Phải lập thành văn bản. Có thể viết tay, đánh máy hoặc in sẵn…
    • Ngôn ngữ hối phiếu: một thứ tiếng.
    • Không được viết trên hối phiếu bằng bút chì, mực đỏ, mực dễ phai.
    • Hối phiếu có thể lập thành hai hay nhiều bản (thường là hai bản) có giá trị ngang nhau.

     Nội dung (Theo ULB 1930):

    • Phải ghi rõ tiêu đề (Bills of Exchange/Exchange of Draft).
    • Ghi rõ địa điểm, thời gian lập hối phiếu.
    • Mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện.
    • Một số tiền nhất định (ghi rõ ràng bằng số và bằng chữ).
    • Thời hạn trả tiền: trả ngay, trả sau.
    • Địa điểm trả tiền.
    • Người hưởng lợi.
    • Người trả tiền hối phiếu.
    • Người ký phát hối phiếu và ký tên.
    • Ngoài ra còn những nội dung mang tính tùy nghi.

    Mẫu hối phiếu trong phương thức nhờ thu:

     Phân loại:

    P Căn cứ vào thời hạn trả tiền:

    – Hối phiếu trả tiền ngay (Sight Bill).

    – Hối phiếu có kỳ hạn (Usance Bill).

    P Căn cứ vào chứng từ kèm theo:

    – Hối phiếu trơn (Clean Bill): là loại hối phiếu mà việc thanh toán nó không kèm theo điều kiện.

    – Hối phiếu kèm chứng từ (Documentary Bill): là loại hối phiếu khi gửi đến người trả tiền có kèm theo các chứng từ hàng hóa .

    PCăn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu:

    – Hối phiếu đích danh (Nominal Bill).

    – Hối phiếu trả cho người cầm phiếu (Bearer Bill).

    – Hối phiếu theo lệnh (Order Bill).

    P Căn cứ vào người ký phát hối phiếu:

    – Hối phiếu thương mại: do người xuất khẩu ký phát.

    – Hối phiếu Ngân hàng: do Ngân hàng phát hành dùng để chuyển tiền giữa các Ngân hàng.

    4.2PHƯƠNG THỨC NHỜ THU:

    Có hai loại nhờ thu:

    4.2.1) Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection):là phương thức mà người bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền hối phiếu ở người mua, nhưng không kèm theo điều kiện gì cả.

    4.2.2)Nhờ thu kèm theo chứng từ(Documentary Collection):

    Là phương thức mà người bán sau khi hoàn thành nhĩa vụ giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu (chứng từ gửi hàng và hối phiếu) và nhờ ngân hàng thu hộ tiền tờ hối phiếu có điều kiện kèm theo.

    – Tùy theo điều kiện trả tiền, người ta chia phương thức này thành ba loại:

    • D/P at sight – Nhờ thu theo hình thức thanh toán ngay giao chứng từ. An toàn cho cả người mau với người bán.
    • D/A – Nhờ thu theo hình thức chấp nhận thanh toán giao chứng từ (Nhờ thu trả chậm).
    • D/OT – (Delivery of documents on orther terms and conditions) – Giao chứng từ kèm theo các điều kiện khác.

    4.3 QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ:

    Sơ đồ nghiệp vụ:

     

     

    4.3.1) Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection):

    1/ Người bán giao hàng lập bộ chứng từ giao thăng người mua.

    2/ Người bán ký hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ ngân hàng thu hộ tiền của hối phiếu đó.

    3/ Ngân hàng bên bán chuyển hối phiếu cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua.

    4/ Ngân hàng bên mua chuyển hối phiếu cho người mua và yêu cầu trả tiền.

    5/ Người mua trả tiền hoặc từ chối trả tiền, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của họ, có thể chia làm 3 trường hợp:

    • Người mua chiếm dụng hàng của người bán và không trả tiền.
    • Người mua từ chối thanh toán và không nhận hàng, người bán phải xử lý:
      • Thương lượng để bán giảm giá cho người mua.
      • Bán cho người khác.
      • Vận chuyển về hoặc bỏ đi.
    • Người mua đồng ý trả tiền, thông thường sau khi nhận hàng thì người mua mới trả tiền.

    6/ Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán.

    7/ Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại toàn bộ hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán.

    Kết luận:

    Ú Phương thức này có nhược điểm là không đảm bảo quyền lợi cho người bán.

    Ú Trường hợp áp dụng phương thức này:

    Hai bên mua bán tin cậy lẫn nhau hoặc hai bên cùng trong nội bộ công ty với nhau.

    Dùng để thanh toán cước phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng, lợi tức…

    4.3.2) Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection):

    1/ Người bán giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán trong đó bao gồm bộ chứng từ gửi hàng và hối phiếu chuyển cho ngân hàng và nhờ ngân hàng thu hộ tiền ghi trên tờ hối phiếu đó ở người mua.

    2/ Ngân hàng bên bán chuyển bộ chứng từ thanh toán cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua.

    3/ Ngân hàng bên mua yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu để nhận chứng từ, nếu người mua trả tiền mới trao chứng từ gửi hàng cho họ để nhận hàng, nếu không thì cầm giữ chứng từ lại và báo cho ngân hàng bên bán biêt.

    4/ Người mua trả tiền hoặc từ chối rả tiền, có thể chia thành 2 trường hợp:

    ” Người mua từ chối thanh toán và không nhận hàng, người bán phải xử lý tương tự như trên (Clean Collection).

    ” Người mua đồng ý trả tiền:

    + Nếu là D/P thì người mua phải trả tiền để được nhận chứng từ đi lấy hàng.

    + Nếu là D/A thì người mua phải chấp nhận hối phiếu, đến thời hạn quy định sẽ trả tiền, để được nhận chứng từ đi lấy hàng.

    + D/OT thì người mua xuất trình các giấy hứa trả tiền, thư cam kết trả tiền, biên lai tín thác do chính người mua lập, để được nhận chứng từ đi lấy hàng.

    5/ Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán.

    6/ Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại toàn bộ hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán.

    Kết luận:

    Ú Ưu điểm: So với phương thức nhờ thu phiếu trơn, phương thức nhờ thu kèm theo chứng từ đảm bảo hơn, vì ngân hàng đã thay mặt người bán khống chế chứng từ.

    Ú Tuy vậy phương thức này vẫn còn những bất lợi cho người bán như:

    • Người mua có thể từ chối không nhận chứng từ vì lý do nào đó như giá hàng hóa đã hạ xuống chẳng hạn. Tuy quyền sở hữu vẫn thuộc về người bán, song hàng đã gửi đi rồi, giải quyết tiêu thụ ra sao?…
    • Thời gian thu tiền về còn quá chậm, nên vốn của người bán vẫn còn bị ứ đọng.

    V.   PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN (REMITTANCE):

    5.1  Khái niệm:

    Phương thức chuyển tiền là 1 phương thức thanh toán trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu…) yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu, người cung cấp dịch vụ…) ở một địa điểm nhất định.

    Các bên liên quan:

    Người trả tiền hoặc người chuyển tiền là người ủy nhiệm cho ngân hàng đại diện mình chuyển tiền.

    Ngân hàng nhận ủy nhiệm chuyển tiền là ngân hàng ở nước người trả tiền hoặc người chuyển tiền.

    • Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền thường là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.
    • Người hưởng lợi là người chủ nợ hoặc người bán, hoặc là người nào đó mà người chuyển tiền chỉ định.

    5.2.  Hình thức chuyển tiền:

    Thực hiện bằng các cách sau:

    • Hình thức điện báo (gọi là điện hối – Telegraphic Transfers – T/T): Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.

    Phương thức thanh toán này có lợi cho người mua (người nhập khẩu). Rủi ro thuộc về người bán (người xuất khẩu).

    Giao dịch đơn giản, ít khâu, ít chứng từ:
    – Khách hàng có thể mở tài khoản một nơi nhưng có thể giao dịch chuyển tiền tại bất kỳ chi nhánh nào của ngân hàng.
    – Khách hàng luôn được cung cấp đầy đủ ngoại tệ để thanh toán, nếu có nhu cầu.
    – Thời gian phát hành và xử lý chứng từ thanh toán quốc tế tối đa 01 ngày. Phát hành trực tiếp đến các ngân hàng tại 88 quốc gia trên thế giới.

    • Hình thức bằng thư (gọi là thư hối – Mail Transfers – M/T): Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền viết thư (có thể là lệnh trả tiền – Payment Order, hoặc là giấy báo ghi có Avis credit) lệnh cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.

    Đối với thanh toán bằng TT, thì lợi ích của nhà XK sẽ là rủi ro của nhà nhập khẩu. Tuỳ thuộc vào điều kiện thanh toán của từng hợp đồng.
    VD: Thanh toán bằng TT ……% tổng giá trị hợp đồng sau khi hợp đồng có hiệu lực, hoặc ….% tổng giá trị hợp đồng sau khi giao hàng.
    Như thế rủi ro đối với người NK là % ứng trước cho người XK, người XK có thể ko giao được hàng, và ngược lại người NK không có đủ năng lực tài chính để thanh toán khi hàng đã chuẩn bị hoặc đã được giao.

    Cách thức hạn chế là đối với phần ứng trước nên yêu cầu nhà XK xuất trình Letter of guarantee của Ngân hàng tương ứng với giá trị thanh toán trước. Còn đối với nhà XK thì ràng buộc bằng cách yêu cầu nhà NK cam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình thông qua bảo lãnh thanh toán hợp đồng tương ứng với giá trị hợp đồng       được phát hành bởi NH của người NK.

    T/T nhanh hơm M/T nhưng chi phí chuyển tiền cao hơn rất nhiều, nên khi vận dụng các nhà xuất nhập khẩu cần cân nhắc kỹ.

    –   Hai cách chuyển tiền trên chỉ khác nhau ở chỗ là: (1) chuyển tiền bằng điện nhanh hơn chuyển tiền bằng thư, nhưng chi phí chuyển tiền bằng điện cao hơn.

    Tiền chuyển đi có thể là tiền của nước người thụ hưởng hoặc là tiền của nước người trả hoặc là tiền của nước thứ ba. Nếu là tiền của nước người thụ hưởng và tiền của nước thứ ba thì gọi là thanh toán bằng ngoại tệ. Trong trường hợp thanh toán bằng ngoại tệ thì người chuyển tiền phải mua ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái của nước đó.

    Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế. Nó được sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng như các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước vận tải, bảo hiểm, bồi thường…

    5.3.  Qui trình nghiệp vụ:

    Xét về thời hạn chuyển tiền, có:

    • Chuyển tiền trả sau.
    • Chuyển tiền trả ngay.
    • Chuyển tiền trả trước.

    Chuyển tiền trả trước thường được sử dụng trong các trường hợp:

    • Người Nhập khẩu ứng tiền trước cho người Xuất khẩu.
    • Người Nhập khẩu trả tiền trước cho người Xuất khẩu x ngày trước khi giao hàng với mục đích đặt cọc (Performance Bond) thực hiện hợp đồng Nhập khẩu.

    Chuyển tiền trả ngay được thực hiện dưới các hình thức sau:

    • Người Nhập khẩu trả tiền cho người Xuất khẩu ngay sau khi người Xuất khẩu hoàn thành nghĩa vụ giao hàng không trên phương tiện tại địa điểm giao hàng quy định.
    • Người Nhập khẩu trả tiền cho người Xuất khẩu ngay khi người Xuất khẩu hoàn thành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại địa điểm giao hàng qui định.
    • Người Nhập khẩu trả tiền ngay sau khi chứng từ gửi hàng của người Xuất khẩu xuất trình tại địa điểm xuất trình qui định.
    • Người Nhập khẩu trả tiền ngay khi chứng từ gửi hàng được xuất trình 5-7 ngày.
    • Người Nhập khẩu trả tiền ngay sau khi nhận hàng hoá tại nơi đến qui định hoặc tại cảng đến.
    • Trong các hình thức trả trước, trả ngay, trả sau, thì chuyển tiền trả sau được áp dụng nhiều nhất.

    Sơ đồ 3

    1. Sau khi hợp đồng ngoại thương được ký kết, người xuất khẩu cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người nhập khẩu, chuyển giao chứng từ cho người nhập khẩu.
    2. Đến thời hạn quy định, người nhập khẩu viết lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình. Trong đó phải ghi rõ ràng, đầy đủ nội dung như sau:
      • Tên và địa chỉ người xin chuyển tiền.
      • Số tài khoản, ngân hàng mở tài khoản.
      • Số tiền xin chuyển.
      • Tên và địa chỉ người hưởng lợi. Số tài khoản. Ngân hàng phục vụ.
      • Lý do chuyển tiền.
      • Kèm theo các chứng từ có liên quan như: giấy phép nhập khẩu, hợp đồng mua bán ngoại thương, tờ khai hải quan…
    3. Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và nhà nhập khẩu có đủ khả năng thanh toán, ngân hàng sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu đẻ chuyển tiền, gửi giấy báo nợ và giấy báo đã thanh toán cho người nhập khẩu.
    4. Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý cho mình ở nước ngoài để chuyển tiền trả cho người xuất khẩu.
    5. Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người xuất khẩu và gửi giấy báo cho đơn vị đó.

    5.4. Vận dụng:

    1. Đối với nhà xuất khẩu:

    Phòng mã của Ngân hàng nhận điện chuyển tiền từ Ngân hàng nước ngoài, sau khi kiểm tra mã nếu thấy đúng thì chuyển điện cho phòng nghiệp vụ tiến hành ghi bút toán:

    Nợ _ Ngân hàng nước ngoài.

    Có _ Cho công ty xuất khẩu.

    Bút toán được lập 4 liên, 01 liên giao cho nhà xuất khẩu.

    1. Đối với nhà nhập khẩu:

    Phương thức chuyển tiền thường dùng để:

    • Thanh toán tiền dịch vụ.
    • Thanh toán tiền hàng nhập khẩu có:

    Thanh toán ứng trước (hình thức đặt cọc hoặc cung cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu).

    Chuyển tiền trả người xuất khẩu sau khi đã nhận được hàng.

    Nếu thấy hồ sơ hợp lệ, thanh toán viên sẽ kiểm tra số dư trong tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp nhập khẩu và chuyển tiền.

    Ÿ    Nếu số dư lớn hơn giá trị chuyển tiền: thanh toán viên đánh điện chuyển tiền.

    Ÿ    Nếu số dư nhỏ hơn giá trị chuyển tiền: doanh nghiệp nhập khẩu có thể xin mua hoặc vay ngoại tệ để thanh toán.

    Tóm lại:  Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:

    • Xây dựng rõ lộ trình chuyển tiền. Ví dụ: chuyển trước bao nhiêu % tại thời điểm nào?; Thanh toán nốt phần còn lại tại thời điểm nào?…
    • Thỏa thuận thời điểm chuyển tiền trùng với thời điểm giao hàng.

    –     Quy định rõ về phương tiện chuyển tiền, chi phí chuyển tiền ai chịu?

    Chuyển tiền là phương thức thanh toán, quyền lợi của người bán không được đảm bảo chắc chắn vì việc chuyển tiền hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí và năng lực của người mua.

    VI. PHƯƠNG THỨC GIAO CHỨNG TỪ TRẢ TIỀN (CASH AGAINST DOCUMENTS – CAD):

    Trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, trước kia chỉ chủ yếu sử dụng 3 phương thức: documentary credits, collection và Remittance, từ những năm 1990 trở lại đây ở 1 số ngân hàng tại nước ta bắt đầu áp dụng phương thức CAD. Nó có lợi cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho họ có thể thanh toán được nhanh và chắc chắn.

    6.1. Khái niệm:

    CAD (cash against documents): nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoản tín thác (Trust Account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu trình đầy đủ những chứng từ theo yêu cầu. Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán.

    6.2. Quy trình nghiệp vụ:

    Sơ đồ 4

    1. Sau khi ký hợp đồng mua bán ngoại thương với nhà xuất khẩu , người nhập khẩu cần đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu thực hiện nghiệp vụ CAD. Để làm được điều đó, người nhập khẩu và ngân hàng sẽ thoả thuận và ký một bản ghi nhớ (Memorandum), gồm những nội dung sau:
      • Phương thức thanh toán ( Means of payment): CAD.
      • Số tiền ký quỹ (Pledged Amount) trị giá 100% thương vụ.
      • Những chứng từ yêu cầu ( Required documents)
      • Phí dịch vụ (Commission).

    Sau khi nhà nhập khẩu chuyển đầy đủ số tiền ký quỹ, một tài khoản tín thác (Trust Account) sẽ được mở đề ghi số tiền ký quỹ, đồng thời ngân hàng cũng thông báo cho người Xuất khẩu về việc tài khoản tín thác đã hoạt động.

    1. Sau khi kiểm tra các điều kiện của tài khoản tín thác, nếu chấp nhận nhà xuất khẩu giao hàng cho người vận tải để chuyển đến nơi nhà NK yêu cầu.
    2. Nhà XK sau khi tiến hành giao hàng thì xuất trình những chứng từ mà Memorandum yêu cầu tại ngân hàng.
    3. Ngân hàng tiến hành kiểm tra chứng từ theo yêu cầu Memorandum, nếu thấy phù hợp thì tiến hành ghi Có cho người XK và ghi Nợ tải khoản ký quĩ của người NK, sau khi đã thu phí dịch vụ ngân hàng theo chỉ thị trong Memorandum.
    4. Ngân hàng giao chứng từ lại cho nhà NK.

    6.3.  Trường hợp áp dụng:

    Quan hệ bạn hàng tốt và thân tín giữa 2 bên xuất và nhập khẩu. Đặc biệt người NK phải rất tin tưởng ở người XK.

    Khi bán mặt hàng khan hiếm và người XK muốn có đảm bảo chắc chắn trong thanh toán.

    Trong các phương thức thanh toán quốc tế thì tín dụng chứng từ được người ta sử dụng nhiều hơn cả.

    VII.  PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (DOCUMENTARY CREDITS):

    7.1.  Khái niệm: là sự thoả thuận mà trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định đề ra trong thư tín dụng.

    F Các bên tham gia thanh toán trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:

    • Người xin mở thư tín dụng (The applicant for the credit).
    • Ngân hàng mở thư tín dụng (The issuing bank or openinh bank).
    • Người hưởng lợi (The beneficiary).
    • Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The advising bank).

    F Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng mở thư tín dụng:

    • Thông báo nội dung thư tín dụng và gửi bản gốc thư tín dụng cho người xuất khẩu.
    • Sửa đổi, bổ sung những yêu cầu của người xin mở thư tín dụng.
    • Kiểm tra chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến.
    • Ngân hàng được miễn trách nhiệm khi ngân hàng rơi vào trường hợp bất khả kháng.
    • Mọi hậu quả sinh ra do lỗi của mình, ngân hàng chịu trách nhiệm.

    F Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thông báo thư tín dụng.

    • Chuyển toàn bộ nội dung thư tín dụng nhận được cho người xuất khẩu dưới hình thức văn bản.
    • Ngân hàng không chịu trách nhiệm dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra tiếng địa phương.
    • Ngân hàng phải chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ thanh toán đến ngân hàng mở thư tín dụng khi nhận được bộ chứng từ thanh toán của người xuất khẩu.

    F Ngoài ra còn có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này như:

    • Ngân hàng xác nhận (The confirminh bank): bảo đảm việc trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán.
    • Ngân hàng thanh toán (The paying bank): là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc ngân hàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình trả tiền cho người xuất khẩu hay chiết khấu hối phiếu.

    7.2. Quy trình nghiệp vụ:

      Người mua làm đơn xin mở L/C yêu cầu ngân hàng mở L/C cho người bán hưởng.

    • Ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C thông báo nội dung cho người bán biết và gửi bản chính L/C cho người bán thông qua ngân hảng thông báo.
    • Ngân hàng thông báo thông báo nội dung L/C cho người bán và chuyển bản chính L/C cho người bán.
    • Người bán giao hàng cho người mua, nếu chấp nhận L/C.
    • Người bán lập bộ chứng từ thanh toán và xuất trình cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền.
    • ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp thì trả tiền cho người bán.
    • Ngân hàng mở L/C đòi tiền người mua.

    Người mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền cho ngân hàng mở L/C và nhận bộ chứng từ.

    F Lưu ý: trong thực tế trình tự các công việc trong từng trường hợp cụ thể có sự khác nhau, có thể tóm lại trong 4 loại:

    1. Ngân hàng mở L/C kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp mới thanh toán cho nhà xuất khẩu. Loại này không được đòi tiền thẳng mà gửi chứng từ cho ngân hàng mở L/C. Bất lợi cho người xuất khẩu vì gửi chứng từ cho ngân hàng mở L/C đòi hỏi thời gian dài.
    2. Khi ngân hàng bên xuất khẩu nhân được chứng từ của nhà xuất khẩu xuất trình, thấy phù hợp thì phát lệnh đòi tiền một ngân hàng thứ 3.
    3. Ngân hàng bên xuất khẩu nhân được chứng từ của người xuất khẩu xuất trình thấy phù hợp với L/C thì đòi tiền thẳng ngân hàng mở L/C. loại này tiện lợi, bảo đảm thanh toán được nhanh. Tuy nhiên, cần xem xét ngân hàng mở L/C có quan hệ như thế nào đối với ngân hàng bên xuất khẩu.
    4. Khi ngân hàng bên xuất khẩu nhận được chứng từ của người xuất khẩu nếu thấy phù hợp với L/C thì trực tiếp ghi nợ tài khoản của ngân hàng mở L/C tại ngân hàng bên xuất khẩu và trả tiền cho người xuất khẩu.

    7.3.  Thư tín dụng(letter of credit):

    1. Khái niệm:

    Thư tín dụng là một văn bản do một ngân hàng phát hành theo yêu cầu của người nhập khẩu, cam kết trả tiền cho người xuất khẩu trong một thời gian nhất định với điều kiện người này thực hiện đúng, đầy đủ những điều khoản qui định trong thư.

    Tín dụng thư hoạt động theo 2 nguyên tắt:

    ª Độc lập: căn cứ vào nội dung và yêu cầu của hợp đồng để người nhập khẩu làm đơn yêu cầu mở L/C. Nhưng khi đã mở rồi L/C lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán.

    ª Tuân thủ nghiêm ngặt: ngân hàng chỉ thanh toán nếu các chứng từ giao hàng hoàn toàn phù hợp với L/C, đúng với chỉ dẫn của người mua.

    1. Nội dung của L/C:

    Trong thư tín dụng có những nội dung sau:

    • Số hiệu, địa chỉ, ngày mở L/C.
    • Loại L/C.
    • Số tiền của L/C.
    • Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng.
    • Những qui định về hàng hoá.
    • Những qui định về vận tải, giao nhận hàng.
    • Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình.
    • Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C.
    • Những điều kiện đặc biệt khác.
    • Chữ kí cùa ngân hàng phát hành L/C nếu mở L/C bằng thư.
    1. Các loại L/C:

    Phân loại theo loại hình:

    Ø Thư tín dụng có thể huỷ ngang.

    Ø Thư tín dụng không thể huỷ ngang.

    Phân loại theo phương thức sử dụng:

    Ø  Thư tín dụng không huỷ ngang có giá trị trực tiếp.

    • Thư tín dụng không huỷ ngang có giá trị chiết khấu.
    • Thư tín dụng không huỷ ngang và không xác nhận.
    • Thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận.
    • Thư tín dụng tuần hoàn.
    • Thư tín dụng có điều khoản đỏ.
    • Thư tín dụng dự phòng.
    • Thư tín dụng chuyển nhượng.
    • Thư tín dụng giáp lưng.

    Phân loại theo thời hạn thanh toán:

    • Thư tín dụng trả ngay.
    • Thư tín dụng trả chậm.

    Một số loại thư tín dụng thường được sử dụng trong thực tế:

    • Thư tín dụng có thể huỷ bỏ: là loại L/C mà ngân hàng mở L/C và người nhập khẩu có thể sửa đổi, bổ sung hoặc có thể huỷ bỏ L/C bất co lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C (ít được sử dụng).
    • Thư tín dụng không thể huỷ bỏ: là loại L/C sau khi được mở thì ngân hàng và người nhập khẩu không được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời gian hiệu lực của nó trừ khi có sự thoả thuận khác của nhà xuất khẩu và các bên tham gia L/C (được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế vì nó đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu).
    • Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận:là loại L/C có bảo đảm cho việc thanh toán từ một ngân hàng có uy tín nào đó trong trường hợp việc thanh toán có vấn đề từ phía người mua hoặc ngân hàng mở L/C. Thư tín dụng có xác nhận được phát hành trong trường hợp người bán hoặc ngân hàng của người bán nghi ngờ vào khả năng thanh toán của ngân hàng phục vụ người mua do nhiều nguyên nhân. Trách nhiệm của ngân hàng xác nhận nặng hơn ngân hàng mở L/C. Loại L/C này đảm bảo nhất cho quyền lợi người xuất khẩu.
    • Thư tín dụng không thể huỷ bỏ, miễn truy đòi: là loại L/C mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại tiền.
    • Thư tín dụng tuần hoàn: là loại L/C mà người hưởng lợi sau khi sử dung xong hoặc đã hết thời han hiệu lực thì nó tự động có giá trị như cũ có giá trị như cũ và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá tri hợp đồng được thực hiện hoàn tất.

    Loại L/C tuần hoàn không tích lũy (Nocummulative revolving L/C):là loại L/C không cho phép chuyển trị giá L/C trước vào trị giá L/C sau.

    Còn nếu xét theo cách tuần hoàn,thì L/C tuần hoàn chia làm 3 cách tuần hoàn:

    • L/C tuần hoàn tự động:có nghĩa là nếu L/C trước hết thời hạn thì L/C sau tự động có giá trị mà không cần sự thông báo của ngân hàng mở L/C.
    • L/C tuần hoàn không tự động:có nghĩa là nếu L/C sau muốn có giá trị thì phải có sự thông báo của ngân hàng mở L/C cho người xuất khẩu.
    • L/C tuần hoàn bán tự động:có nghĩa là nếu sau ngày kể từ ngày L/C trước hết hiệu lực hoặc đã sử dụng hết giá trị L/C mà không có ý kiến thông báo nào của ngân hàng mở L/C thì L/C tự động có hiệu lực.

    Loại L/C tuần hoàn thường ít được sử dụng trong ngoại thương vì không có sự đảm bảo chắc chắn về thanh toán.Tuy nhiên loại L/C này được áp dụng với hai bên xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không thay đổi.

    • Thư tín dụng dự phòng (standby Letter of Credit)

    Standby L/C là một loại văn bản do ngân hàng phát hành theo chỉ thị của người yêu cầu mở tín dụng cam kết thanh toán cho người thụ hưởng,trong thời hạn hiệu lực của tín dụng,khi người thụ hưởng xuất trình các loại chứng từ sau:

    • Chứng từ yêu cầu thanh toán.
    • Chứng từ chứng minh việc không thực hiện hợp đồng của người yêu cầu mở tín dụng.

    Phân loại L/C standby:

    L/C standby dạng bảo lãnh tài chính:ngân hàng cam kết sẽ hoàn trả cho người thụ hưởng những khoản tiền ứng trước,những khoản tiền đã cho vay..khi người yêu cầu mở L/C không hoàn thành nghĩa vụ với người thụ hưởng.

    L/C standby bảo lãnh việc thực hiện nghĩa vụ:trong đó ngân hàng sẽ cam kết trả tiền cho người thụ hưởng những khoản tiền đã cam kết,khi người yêu cầu mở L/C standby không hoàn thành nghĩa vụ cho họ.

    Phạm vi ứng dụng của L/C standby:

    L/C standby được sử dụng như một bảo lãnh ngân hàng để đảm bảo cho những khoản tiền vay trong xây dựng,đảm bảo khoản tiền ứng trước,đảm bảo việc thực hiện hợp đồng thương mại, hợp đồng gia công, hợp đồng đầu tư liên doanh,tham gia dự thầu…

    Sơ đồ phát hành L/C Standby:

    • Thư tín dụng thanh toán dần dần:

    Là loại L/C không thể hủy ngang,trong đó ngân hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người thụ hưởng sẽ thanh toán làm nhiều lần toàn bộ số tiền của L/C trong những thời hạn hiệu lực được quy định rõ.

    • Thư tín dụng ứng trước:

    Là loại L/C mà trong đó quy định một khoản tiền được ứng trước cho người xuất khẩu vào một thời điểm định trước cho người xuất khẩu vào một thời điểm nhất định trước khi bộ chứng từ hàng hóa được xuất trình.

    • Thư tín dụng chuyển nhượng:

    Là loại L/C không thể hủy bỏ,trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng thụ đầu tiên. L/C chuyển nhượng chỉ được phép chuyển nhượng một lần.chi phí chuyển nhượng thường là do người hưởng lợi đầu tiên phải trả.

    L/C chuyển nhượng được sử dụng trong các trường hợp mua bán tay ba,gồm:người mua,người bán,người mua bán trung gian.

    Sơ đồ quy trình hoạt động của L/C chuyển nhượng :

    Cách mở một L/C chuyển nhượng

    1.kí hợp đồng ngoại thương.

    2.yêu cầu mở L/C chuyển nhượng.

    3.L/C chuyển nhượng được mở.

    4.thông báo L/C gốc cho người kinh doanh.

    5.lệnh chuyển nhượng.

    6.chuyển nhượng L/C.

    7.thông báo L/C cho người thụ hưởng 2

     

          Ø   Thư tín dụng giáp lưng (Back to back Letter of Credit)

    Là loại L/C được mở dựa vào 1 L/C khác, nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình, người kinh doanh dùng L/C này làm căn cứ để mở L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống L/C ban đầu.

    L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng. Thường được người kinh doanh sử dụng để thanh toán với người cung cấp hàng hóa cho mình để xuất khẩu.

    L/C giáp lưng sử dụng trong những trường hợp :

    • Khi “L/C gốc” (master L/C”) mở ra không có từ “chuyển nhượng” (“Transferable”).
    • Khi điều khoản của L/C không cho phép chuyển nhượng (theo điều 48 UCP500 mặc dù nó là L/C chuyển nhượng).
    • Khi điều khoản giao hàng khác nhau.
    • Khi NH đồng ý mở L/C đối trên một cơ sở L/C gốc.
    • Khi các chứng từ cần có theo “L/C gốc” không trùng khớp với các chứng từ được xuất trình theo “L/C đối” (Counter L/C) còn gọi là L/C giáp lưng.
    • Khi người cung cấp hàng hóa không được thông báo về tất cả điều khoản giao hàng.
    • Khi người cung cấpkhông được thông báo về tất cả các chi tiết.

    Chú ý : L/C giáp lưng không thể chuyển nhượng. Cả L/C gốc và giáp lưng phải thông qua một ngân hàng trực tiếp phục vụ người kinh doanh.

    Cách mở một L/C giáp lưng

    1. Các hợp đồng XNk được kí.
    2. Người mua yêu cấu mở L/C gốc.
    3. L/C gốc được mở.
    4. Thông báo L/C gốc cho người kinh doanh.
    5. Người kinh doanh làm đơn mở L/C giáp lưng.
    6. L/C giáp lưng được mở.
    7. Thông báo L/C giáp lưng cho người bán

    Hoạt động của L/C giáp lưng

    1. Giao hàng.
    2. Người bán xuất trình chứng từ để thanh toán.
    3. Chuyển chứng từ về NH trung gian.
    4. Thông báo chứng từ cho người kinh doanh trung gian.
    5. Đổi chứng từ.
    6. Chuyển chứng từ cho NH mở L/C gốc.
    7. Yêu cầu người mua thanh toán để được nhận chứng từ.
    8. Người mua chấp nhận thanh toán, nhận chứng từ.
    9. Chuyển tiền thah toán L/C gốc.
    10. Báo Có cho người kinh doanh trung gian.
    11. Chuyển tiền thanh toán L/C giáp lưng.
    12. Báo Có cho người bán.

                  Ø Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal Letter of Credit)

     

    Là loại L/C được qui định chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra.

    Trong L/C ban đầu ghi” L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để cho người mở L/C này hưởng” và L/C đối ứng ghi” L/C này đối ứng với L/C số … mở ngày …qua nhân hàng …”.

    L/C đối ứng sử dụng trong mua bán trên cơ sở hàng đổi hàng (barter), hoặc để thanh toán trong phương thức gia công quốc tế.

     

     

    Sơ đồ thư tín dụng đối ứng:

    Một số phân loại cần chú ý khác:

    Ø Thư tín dụng thanh toán (Payment Credits)

    L/C được phát hành trong đó qui định được ngân hàng thanh toán (Paying bank) trả ngay khi xuất trình hối phiếu (nếu có) và những chứng từ tại NH thanh toán với điều kiện và điều khoản của L/C.

    Thanh toán ngay tức là thanh toán trong một thời gian hợp lý để kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với điều kiện và điều khoản của L/C. UCP 500, điều 13(b) , 6 ngày, UCP 400, điều 16(c) từ 36 h đến 30 ngày.

    ØThư tín dụng chấp nhận : (Acceptance credits) là loại cho phép trả chậm bằng cách qui định hối phiếu có kỳ hạn ký phát đòi tiền NH chấp nhận.

    ØThư tín dụng thương lượng : (Negotiation credits) là loại có hối phiếu ký phát đòi tiền NH phát hành hoặc người mua. Trừ khi L/C bắt buộc thương lượng tại 1 NH cụ thể thì bất cứ NH nào cũng được phép thương lượng.

    ØThư tín dụng nhờ thu : (Collection credits) Loại này phát hành theo mẫu thông thường, chỉ rõ rằng có hiệu lực thanh toán tại NH phát hành. Không ủy quyền cho bất cứ NH nào khác và cũng không có điều kiện bồi hoàn. NH chỉ đòng vai trò đại lý nhờ thu.

    Ø Thư tín dụng có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện ( TTR Credits – Telegrafic transfer Reimbursement) là L/C cho phép NH phục vụ người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ với điều kiện và điều khoản của L/C sẽ được phép đánh điện đòi tiền NH phát hành hay NH chỉ định trong L/C.

    Đặc điểm là tốc độ thanh toán nhanh.

    Điều kiện áp dụng : Người bán có quan hệ làm ăn lâu dài và có uy tín với người mua , điều kiện vận tải, giao nhận tốt.

    Ø Thư tín dụng không có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện (Non – TTR Credits) L/C không cho phép đòi tiền bằng điện. NH phát hành hay một NH khác được chỉ định chỉ tiến hành thanh toán sau khi kiểm tra bộ chứng từ và bảo đảm bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với L/C.

    • Thư tín dụng có đều khoản cho phép hoàn trả bằng điện ( Telegraphic Transfer Reimbursement ) :

    Là L/C  cho phép ngân hàng phục vụ người hưởng thụ sau khi kiểm tra tình hợp lệ của bộ chứng từ với những điều kiện và điều khoản của L/C sẽ được phép đánh điện đòi tiền của ngân hàng  hay một ngân hàng được chỉ định trong L/C.( “Thanh toán tại quầy”)

    Đăc điểm : Tốc độ thanh toán rất nhanh.

    Điều kiện áp dụng:

    • Khi người bán có quan hệ làm ăn lâu dài và có uy tín với người mua.
    • Điều kiện vận tải, giao nhận tốt.

    Ø  Thư tín dụng không có điều khoản cho phép hoàn trả bằng điện (Non – Telegraphic Transfer Reimbursement ) : là L/C không cho phép đòi tiền bằng điện , nghĩa là NH phát hành hay một NH khác được chỉ định tiến hành thanh toán sau khi kiểm tra một bộ chứng từ và bảo đảm rằng bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với L/C.

    7.4.  Vận dụng:

    a)Đối với nhà xuất khẩu:

    1. Kiểm tra L/C :

    Kiểm tra L/C là khâu cực kì quan trọng trong việc thực hiện phương thức tín dụng chứng từ.

    Các nội dung cần kiểm tra kĩ:

    1. Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C.
    2. Tên NH mở L/C ( opening/ issuing bank ).
    3. Tên, địa chỉ NH thông báo ( Advíing bank), NH trả tiền (Negotiating/ paying bank ), NH xác nhận (Confirming bank ).
    4. Tên, địa chỉ người hưởng thụ, (Beneciary/ in favour of …).
    5. Tên, địa chỉ của người yêu cầu mở L/C (Applicant).
    6. Số tiền của L/C.
    7. Loại L/C.
    8. Ngày, địa điểm hết hiệu lực của L/C(Expiry date)..
    9. Thời hạn giao hàng (Shipment date/ time of delivery).
    10. Cách giao hàng.
    11. Cách vận tải.
    12. Phần mô tả hàng hoá.
    13. Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình
    1. Lập bộ chứng từ thanh toán : Cẩn thận, sao cho hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của L/C.

    Các sai biệt thông thường theo báo cáo của NH:

    • Các vấn đề liên quan đến tín dụng thư.
    • Các vấn đề liên quan đến vận đơn.
    • Các vấn đề liên quan đến chứng từ thư bảo hiểm.
    • Sai biệt giữa các chứng từ.
    1. Chiết khấu chứng từ:

    Là một kĩ thuật cấp tín dụng ngắn hạn của NH cho người xuất khẩu, trong đó người xuất khẩu chuyển nhượng quyền sở hữu toàn bộ chứng từ thanh toán chưa đáo hạn, chưa được thanh toán cho  NH để đổi lấy một khoản tiền nhỏ hơn giá trị của bộ chứng từ.

    Bộ hồ sơ gồm:

    • Thư yêu cầu thanh toán đề nghị chiết khấu phải có đầy đủ chữ kí của Chủ tài khoảnvà Kế toán trưởng (nếu có đăng kí chữ kí của KTT).
    • Bản liệt kê các chứng từ nộp cho NH.
    • Bộ chứng từ xin chiết khấu.

    Công thức tinh lãi suất chiết khấu:

    LCK=    V x D x IR

     360 x100

    Trong đó

     

                    LCK : Trị giá tiền lãi chiết khấu

                    V  :Trị giá tiền ứng trước

                    D :Thời hạn chiết khấu

                    IR :Lãi suất cho vay ( %năm)

     

    1. b) Đối với nhà nhập khẩu:
    2. Cách thức mở L/C:
    • Điều kiện để mở L/C(tại Vietcombank HCM):

    Đối với các doanh nghiệp trong nước cần có :

    • Giấy chứng nhận đăng kí của doanh nghiệp( bản sao có dấu công chứng nộp 1 lần).
    • Giấy chứng nhận đăng kí mã số doanh nghiệp kinh doanh XNK (bản sao có dấu công chứng, nộp 1 lần).
    • Đối với nhóm hàng xuát khẩu có điều kiện( theo Quy định của pháp luật) thì cần xuất trình những giấy phép theo định.
    • Đối vơí chi nhánh thì cần xuất trình giấy uỷ quyền.

    Đối với doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài cần có:

    • Giấy phép đầu tư (bản sao công chứng, nộp 1 lần ).
    • Văn bản phê duyệt kế hoạch XNK của Bộ thương mại( bản chính còn hiệu lực).

    Ngoài những điều kiện trên, điều kiện tiên quyết phải có tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng.

    • Cách thức mở L/C:

    Những giấy tờ cần xuất trình(nộp )khi đến NH xin mở L/C:

    Đối với L/C trả ngay, theo điều 18 QĐ 29, khách hàng cần xuất trình đầy đủ các giấy tờ sau:

    • Thư yêu cầu phát hành L/C theo mẫu.
    • 1 bản sao Hợp đồng ngoai thương / giấy tờ có giá trị tương đương.

    Đối với các L/C trả chậm, cần nộp:

    • Các giấy tờ ở mục trên.
    • Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá bản sao/ giấy tờ có giả trị tương đương.
    • Phương án kinh doanh, Thanh toán.
    • Thư yêu cầu phát hành L/C theo mẫu.

    2.Đơn xin mở L/C: (theo mẫu in sẵn ở NH) gồm:

    1. Loại L/C.
    2. Người mở L/C: tên , địa chỉ đầy đủ của đơn vị.
    3. Người hưởng lợi: tên, địa chỉ đầy đủ.
    4. Số tiền L/C.
    5. Điều kiện cơ sở giao hàng.
    6. Quy định các chứng từ phải xuất trình.
    7. Quy định về hàng hoá.
    8. Địa điểm giao hàng.
    9. Thời hạn giao hàng.
    10. Điều kiện về hàng.
    11. Bao bì đóng gói, ký mã hiệu.
    12. Thời hạn nộp chứng từ.
    13. Chỉ thị cho NH thương lượng: nêu những yêu càu đối vơí việc thanh toán cho lô hàng nhập khẩu sắp tới kể cả chi phí.
    14. Tỷ lệ kí quỹ.
    • Những lưu ý khi mở L/C:
      • Lập L/C phải chính xác.
      • Điều kiện ràng buộc phải chặt chẽ.
      • Tôn trọng điều khoản trong hợp đồng, tránh mâu thuẫn.
      • Đơn xin mở L/C không ghi ngày mở, NH sẽ mở sớm nhất có thể được,nếu không L/C sẽ bị chậm lại cho đến khi hoàn thành xong các thủ tục kí quỹ hoặc sửa mọi sai sót trong đơn.
    1. Kí quỹ mở L/C:

    Kí quỹ là một hình thức trích tiền trong tài khoản lưu thông chuyển qua một tài khoản đặc biệt gọi là tài khoản kí quỹ – tài khoản này không có quyền được tự ý rút tiền ra ,để tiền vào – số tièn đó để dành thanh toán 1 L/C đã mở.

    «  Đối với L/C A/S:

    Phân loại khách hàng:

    o  Loại 1: (khách ưu đãi): không phải kí quỹ.

    o  Loại 2: kí quỹ dưới 100% giá trị L/C.

    o  Loại 3: kí quỹ 100% giá trị L/C.

    Tỷ lệ kí quỹ ảnh hưởng tới quy định về B/L trong L/C, một số trường hợp sau:

    –   Full set 3/3 Bill of Lading: 3 vận đơn đều qua NH, muốn nhận hàng phải đến NH lấy vận đơn.

    –   Set 2/3 Bill of Lading: 2 vận đơn qua NH, vận đơn thứ 3tới nhà nhập khẩu.

    –   Make out to order of … bank: phải có chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng.

    –   Make out to order of  xyz: không cần chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng, chỉ cần chữ kí hậu của người gửi hàng hoặc của một người khác:

    +   Nếu doanh nghiệp kí quỹ đủ 100% thì muốn quy định vận đơn thế nào cũng được.

    +   Nếu doanh nghiệp kí quỹ X% trị giá L/C thì bắt buộc phải chọn 1 trong 2 điều kiện: Full set 3/3 Bill of Lading hoặc Set 2/3 Bill of Lading.

    «  Đối với L/C trả chậm: tỷ lệ kí quỹ thấp (10%-20% ), đối với khách quen có thể không cần kí quỹ.

    Các cách quy định:

    –   Full set 3/3 Bill of Lading: 3 vận đơn đều qua NH, muốn nhận hàng phải đến NH lấy vận đơn.

    –   Set 2/3 Bill of Lading: 2 vận đơn qua NH, vận đơn thứ 3 tới nhà nhập khẩu.

    –   Make out to order of … bank: phải có chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng.

    –   Make out to order of  xyz : không cần chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng, chỉ cần chữ kí hậu của người gửi hàng hoặc của một người khác.

    Sau khi doanh nghiệp hoàn tất thủ tục kí quỹ, NH sẽ soạn L/C và mở ra ngước ngoài theo yêu càu đã ghi trong đơn xin mở L/C của nhà nhập khẩu.

    Kiểm tra và chấp nhận bộ chứng từ:

    Đây là công việc rất quan trọng, đặc biệt khi NH đã lưu ý bộ chứng từ có discrepancy, nếu vội vã chấp nhận sẽ gánh lấy những hậu quả nặng nề.

     

    VIII.   SÉC:

    8.1.   Khái niệm :

    Séc là một chứng từ có giá trị , là một lệnh vô điều kiện của chủ tài khoản ở NH đển NH của mình trả cho người cầm giữ séc hay theo lệnh của người này trả cho người thứ ba một khoản tiền được ghi rõ trong séc thong thời hạn được Pháp luật chỉ định.

    8.2.   Đặc điểm:

    Trong quan hệ, séc có ít nhất 3 chủ thể tham gia :

    –  Người phát hành: thường là người mua với điều kiện là phải có tiền trong tài khoản mở tại NH và số tiền ghi trong séc không được vượt quá số dư trong tài khoản.

    –   Người trả tiền: Ngân hàng mà người phát hành có tài khoản dư ở đó.

    –   Người hưởng lợi: thường là người bán, cung cấp dịch vụ.

    Séc thường được các NH in sẵn theo mẫu giao cho những người có tài khoản ở NH.

       Điểm chung giữa hối phiếu và séc :

    –  Bắt buộc phải thanh toán.

    –  Có thể được chuyển nhượng bằng cách kí hậu.

       Điểm khác biệt hối phiếu và séc :

    Hối phiếu Séc
    – Là công cụ tín dụng thương mại, có thể được kí phát cho bất kì người nào.

     

    – Thời hạn hiệu lực do các bên thỏa thuận.

    – Là loại hình của tín dụng NH, luôn luôn chỉ được kí phát cho NH , trong đó người kí phát phải có tài khoản.

     

    – Thời hạn hiệu lực được xác định bởi qui phạm của Luật quốc gia hoặc của Pháp luật quốc tế  (PL giới hạn hiệu lực của séc).

    Việc thanh toán theo séc có thể được bảo lãnh bởi bất kỳ một người nào ngoài người trả tiền . Việc bảo đảm thể hiện bằng từ “bảo lãnh” kèm theo chữ kí của người bảo lãnh (người thanh toán).

    8.3.  Nội dung bao gồm :

    –  Tiêu đề (tên của séc, ngôn ngữ phải phù hợp với ngôn ngữ trình bày nội dung).

    –  Lệnh séc.

    –  Tên và địa chỉ của NH trả tiền.

    –  Số tiền cần phải trả.

    –  Ngày và địa điểm phát hành.

    –  Tên, địa chỉ, chữ kí của người phát hành séc.

    8.4.  Các loại séc :

    • Phân loại theo tính lưu chuyển :

    –  Séc vô danh: không ghi rõ tên người hưởng lợi, có thể được chuyển nhượng bất kì thời điểm nào trong thời hạn còn hiệu lực và không phải kí hậu.

    –  Séc đích danh: Có ghi rõ tên người hưởng lợi, không thể chuyển nhượng.

    –  Séc theo lệnh: NH phải trả tiền cho bất kì một người nào theo lệnh của người có tên trong séc , có thể chuyển nhượng bằng cách kí hậu.

    • Phân loại theo tính sử dụng :

    –  Séc gạch chéo: trên mặt có 2 gạch chéo song song. Không dùng để rút tiền mặt mà để chuyển tiền qua tài khoản NH:

    + Séc gạch chéo thông thường: không ghi tên NH lĩnh hộ tiền.

    +Loại giữa hai gạch có ghi tên NH lĩnh hộ tiền.

    –  Séc du lịch: do NH phát hành và được thanh toán tai bất kì chi nhánh nào của NH đó. Đây không phải là phương tiện thnah toán trong hoạt động kinh doanh thương mại.

    –  Séc nhận: chỉ được thanh toán khi có xác nhận của NH.

    IX.   PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG TRADECARD:

    TradeCard là hình thức giao dịch thương mại điện tử mới, đang ngày càng phổ biến Tổ chức TradeCard đứng ra cung cấp các dịch vụ điện tử làm cầu nối giữa người mua và người bán từ khâu ký kết hợp đồng, đối chiếu hóa đơn, chứng từ đến khi thanh toán, đảm bảo giao dịch khớp đúng với hợp đồng hai bên đã ký kết. Phương thức thanh toán trong giao dịch TradeCard là phương thức chuyển tiền điện (TTR) thông qua ngân hàng được chỉ định vào tài khoản của người xuất khẩu.

    Phương thức này được tiến hành dựa trên hệ thống bảo mật thông tin cao của TradeCard, được phân quyền riêng biệt đối với người sử dụng, truy cập hệ thống bằng thẻ cá nhân do TradeCard cung cấp. Chương trình giao dịch tương đối dễ sử dụng, với giao diện web cho phép người sử dụng đăng nhập hệ thống từ nhiều phương tiện kết nối Internet khác nhau.

    Ưu điểm

    Tiết kiệm chi phí , thời gian :

    • Nhà nhập khẩu không cần ký quỹ
    • Không tốn phí mởL/C
    • Hai bên tự tu chỉnh những khác biệt , không cầnthông qua NH , không mất phí
    • Tiết kiệm chi phí turng gian khi dùng dịch vụ Logistics và Inspection
    • Hỗ trợ vốn mà không mất nhiều thời gian
    • Thiết kiệm chi phí , thời gian ;lập bộ chứng từ thanh toán
    • Thời gian nhận tiền nhanh , chính xác
    • Về khả năng được tài trợ xuất khẩu khi thanh toán bằng hình thức này, hiện tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã cung cấp sản phẩm chiết khấu theo hình thức TradeCard với tỷ lệ chiết khấu lên tới 90% và thời hạn chiết khấu tối đa 60 ngày, đảm bảo tài trợ vốn lưu động kịp thời cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

    Bảo đảm thanh toán

    • Tình hình tài chính của hai bên đều được thông báo cho tradecard và tradecard đảm bảo việc thanh toán
    • Cung cấp dịch vụ bảo vệ việc thanh toán cho người xuất khẩu thông qua CIT Comercial Services và Coface Debt Purchasing Ltd
    • dịch vụ Logistics và Inspection đảm bảo giao dịch an toàn , việc thanh toán đảm bảo

    Rủi ro thấp do được Tradecard đảm bảo

                X.   CÁC VĂN BẢN, QUY ĐỊNH ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG THANH

    TOÁN QUỐC TẾ:

    Hoạt động thanh toán quốc tế phải:

    • Tuân thủ các quy tắc do phòng thương mại Quốc tế phát hành như: UCP 500, UCR 522, URR 525, ISP 98…
    • Các điều ước quốc tế liên quan đến thanh toán quốc tế.
    • Phù hợp với quy định của chính phủ, Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối, các văn bản liên quan đến thanh toán quốc tế và không trái với pháp luật Việt Nam.

    10.1.   Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP-Uniform customs and practice for documentary credits).

    1. Giới thiệu chung về UCP:
      • Tại đại hội lần thứ 7 ICC tổ chức năm 1933 lần đầu tiên bản “Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (UCP).
      • ICC đã tiến hành sửa đổi UCP 5 lần, vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983, 1993 cho phu hợp với thực tiễn thương mại quốc tế và càng thêm hoàn thiện.
      • UCP là bản quy tắc mang tín chất pháp lý tùy ý, do vậy các bên sử dụng có quyền lựa chọn tùy ý, chỉ cần quy định cụ thể áp dụng UCP năm nào, tránh quy định chung chung.
      • UCP 1933 và 1951 có mục đích chính là bảo vệ ngân hàng khi các chỉ thị của người mua không đầy đủ và rõ ràng.
      • UCP 1962 nhấn mạnh nghĩa vụ của người mua phải nói rõ ràng mình muốn gì, đồng thời cũng nhấn mạnh “các tập quán quốc tế ngân hàng và các quy tắc khác làm dễ dàng việc thực hiện chức năng của ngân hàng”.
    1. Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ , bản hiệu đính 1993, ấn phẩm số 500 của Phòng thương mại Quốc tế. Gọi tắc : UCP 500

    Gồm 49 điều khoản chia làm 5 phần :

    A – Những qui định chung và định nghĩa (điều 1-5)

    B – Những hình thức và thông báo L/C (6-12)

    C – Nghĩa vụ và trách nhiệm (13-19)

    D – Chứng từ (20-38)

    E – Những điều khoản khác (39-49)

    1. c) Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ , bản hiệu chỉnh 2007 , ấn phẩm số 600 của Phòng thương mại Quốc tế . Gọi tắc : UCP 600

    Được trình bày đơn giản , ngắn gọn hơn UCP 500, gồm 39 điều khoản

    10.2.   “Quy tắc thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu” (URC – The Uniform Rules for Collection , ICC Pub No 522 , 1995 Evision) hiệu lực 1/1/1996

    URC 522 có 26 điều , chia làm 7 phần

    A – Những qui định chung và định nghĩa chung (điều 1-3)

    B – Những hình thức và nội dung nhờ thu  ( điều 4)

    C – Hình thức xuất trình (5-8)

    D – Nghĩa vụ và trách nhiệm (9-15)

    E – Thanh toán (16-19)

    F – Lãi suất và chi phí phát sinh (20-21)

    G – Các quy định khác (22-26)

    10.3.   “Quy tắc thống nhất hoàn trả liên hàng theo tín dụng chứng từ” (URR 525 – The Uniform Rules for Bank – to – Bank Reimbursement under Documentary Credit , ICC Pub N 0 525 , 1995 Revision) hiệu lực 1/7/1996

    URR có 17 điều , chia 3 phần

    A – Những qui định chung và định nghĩa chung (điều 1-3)

    B – Nghĩa vụ và trách nhiệm (4-5)

    C – Hình thức và thông báo ủy quyền , sửa đổi và đòi tiền (6-17)

    10.4.Ngoài ra cần nghiên cứu thêm Quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán thư tín dụng chứng từ và nhờ thu kèm chứng từ với nước ngoài trong hệ thống NH Ngoại thương Việt Nam

     

    XI .  PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU Ở VIỆT NAM:  (2)

    Phương thức TTQT thì cơ bản chỉ có các phương thức truyền thống đã học như: LC, Open account(ghi sổ), advance payment và collection…Hầu hết các NH VN đều áp dụng các hình thức đó và họ có đủ các điều kiện để thực hiện các phương thức ấy một cách an toàn.

    XI . RỦI RO VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ:

    –    Các doanh nghiệp cần đặc biệt cảnh giác với các hợp đồng chào bán với giá quá rẻ hoặc có cước phí vận chuyển rẻ bất ngờ. Bởi những hàng hoá giá quá rẻ thường có chất lượng kém, nguồn gốc không rõ ràng. Những doanh nghiệp vận tải giá rẻ thường không đảm bảo uy tín trong việc giao hàng đúng và đủ như thoả thuận. Họ phần nhiều là những doanh nghiệp không có bảo hiểm, tài chính không lành mạnh. Với người bán (doanh nghiệp xuất khẩu) các rủi ro thường gặp là khả năng tài chính, hàng hoá không được chấp nhận, chiến tranh hoặc bạo động ở nước xuất khẩu, ngoại tệ thanh toán biến động, các luật lệ, quy định của các nước nhập khẩu không phù hợp với hàng hoá.

    –   Về lãi suất, doanh nghiệp nên cẩn trọng với các biến động khi cho vay xuất khẩu như biến động tỷ giá ngoại hối, mẫu LC từ phía ngân hàng không đúng thủ tục quốc tế…

    –   Người mua (doanh nghiệp nhập khẩu) có thể gặp rủi ro do không được giao hàng theo hợp đồng, bị giao hàng muộn, thiếu hàng, hàng giả, lừa đảo, kém phẩm chất và không đúng quy cách. Thậm chí, cả khi ngân hàng được uỷ nhiệm chiết khấu hay nhờ thu không thực hiện đúng quy cách quốc tế.

    –   Để người bán thu được tiền nhanh, đúng và đầy đủ, còn người mua là nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn, các bên tham gia mua bán hàng hoá quốc tế phải dựa vào đặc điểm của từng thương vụ mua bán mà lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp. Trong thanh toán quốc tế hiện nay, phương thức tín dụng chứng từ (L/C) được sử dụng phổ biến vì độ tin cậy cao, nó đảm bảo thanh toán nhanh chóng, an toàn chính xác với sự tham gia của các ngân hàng.

    Để đảm bảo quyền lợi cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ vẫn được các bên lựa chọn hàng đầu.

    NHỮNG RỦI RO THƯỜNG GẶP CÁCH PHÒNG NGỪA TRONG THANH TOÁN = L/C ( LETTER OF CREDIT ):

    Ø   Rủi ro thanh toán do chứng từ giả, chứng từ không trung thực, mâu thuẫn giữa hàng hoá và chứng từ:

    Nếu đối tác không tin cậy hay đối tác có chủ ý “lừa đảo”, rất có thể bạn sẽ gặp rắc rối bởi những lọai giấy tờ giả. Ngoài ra, vấn đề mâu thuẫn giữa hàng và chứng từ cũng là yếu tố cần để ý, bởi rất có thể hàng hoá khi nhập khẩu sẽ bị hải quan tịch thu do không có sự trùng khớp với giấy tờ. Để tránh những rủi ro này, bạn cần:

    – Tìm hiểu bạn hàng kỹ lưỡng.

    – Tham khảo ý kiến ngân hàng về quá trình kinh doanh của đối tác..

    – Nghiên cứu kỹ quy định về điều khoản phạt trong hợp đồng (Penalty)
    – Yêu cầu cả hai bên ký quỹ tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng.

    – Yêu cầu phảI đưa ra những công cụ đảm bảo an ninh thanh toán của ngân hàng như Standby L/C, Bank Guarantee, Performance Bond… (chỉ áp dụng đối với những hợp đồng lớn và khách hàng không quen biết nhau) để đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu.

    – Đưa ra các yêu cầu chặt chẽ, thống nhất giữa nội dung và hình thức chứng từ, không yêu cầu chung chung.

    – Chứng từ phải do các cơ quan đáng tin cậy cấp.

    – Vận đơn do hãng tàu đích danh lập. Khi xếp hàng hoá phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu để kịp thời đối chiếu sự thật giả của vận đơn và lịch trình tàu (đối với lô hàng có giá trị lớn).

    – Ðề nghị nhà xuất khẩu gửi thẳng 1/3 bộ vận đơn gốc (bản chính).

    – Hoá đơn thương mại đòi hỏi phải có sự xác nhận của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc của Phòng Thương mại hoặc hoá đơn lãnh sự (Consulars invoice).

    – Giấy chứng nhận chất lượng do cơ quan có uy tín ở nước xuất khẩu cấp.
    – Giấy chứng nhận số lượng cũng phải có sự kiểm tra, giám sát của đại diện phía mình hoặc đại diện thương mại.

    – Cung cấp giấy chứng nhận kiểm tra (Certificate of inspection).

    Các rủi ro khác như lựa chọn hãng tàu không tin cậy, hư hỏng hàng hoá do xếp hàng không đúng quy định,…

    Ø    Phương thức thanh toán qua L/C luôn có thể phát sinh nhiều rủi ro. Do đó, bạn cần có những biện pháp tránh rủi ro như:

    – Giành quyền chủ động thuê tàu (nhập khẩu theo điều kiện nhóm F của Incoterm – Bản quy định về các điều kiện thương mại quốc tế của ICC).

    – Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng giao dịch tại nước nhập khẩu.

    – Mua bảo hiểm cho hàng hoá.

    – Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF stowed… của Incoterm.

    Nhìn chung, trong các cuộc giao thương quốc tế ngày nay, thanh toán theo L/C luôn là phương thức thanh toán quan trọng nhất giữa những đối tác kinh doanh bởi L/C tạo ra sự an tâm và thuận lợi tối đa cho các công ty. Nhưng dù an toàn và tiện lợi đến mấy thì thanh toán qua L/C vẫn không thể tránh khỏi các rủi ro và tranh chấp phát sinh. Bạn cần sớm chuẩn bị cho mình những kiến thức về L/C đồng thời lường trước được những rủi ro trong quá trình thanh toán L/C. Có thế việc mua bán hàng hoá mới diễn ra nhanh gọn và L/C sẽ thực sự trở nên hiệu quả.

    (Nguồn: Các ví dụ và bài học kinh nghiệm được lấy từ www.unctad.com và www.uncitral.com).

    XII .SWOT (3)

    1 )Thư tín dụng (L/C):

    Điểm mạnh: khi 2 bên thiếu tin tưởng lẫn nhau, phương thức tín dụng chứng từ giúp 2 bên yên tâm về quyền lợi của mình. Thanh toán bằng L/C là một phương thức tương đối an toàn cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu. Nói tóm lại L/C với nội dung phù hợp với hợp đồng cơ sở và không trái luật áp dụng sẽ bảo đảm quyền lợi cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu.
    Ø   Lợi ích đối với người xuất khẩu:
    + NH sẽ thực hiện thanh toán đúng như qui định trong thư tín dụng bất kể việc người mua có muốn trả tiền hay không.
    + Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa.
    + Khi chứng từ được chuyển đến NH phát hành, việc thanh toán được tiến hành ngay hoặc vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm).
    + KH có thể đề nghị chiết khấu L/C để có trước tiền sử dụng cho việc chuẩn bị thực hiện hợp đồng.
    Ø   Lợi ích đối với người nhập khẩu:
    +  Chỉ khi hàng hóa thực sự được giao thì người nhập khẩu mới phải trả tiền.
    +  Người nhập khẩu có thể yên tâm là người xuất khẩu sẽ phải làm tất cả những gì theo qui định trong L/C để đảm bảo việc người xuất khẩu sẽ được thanh toán tiền (nếu không người xuất khẩu sẽ mất tiền).
    Ø  Lợi ích đối với Ngân hàng:
    + Được thu phí dịch vụ (phí mở L/C, phí chuyển tiền, phí thanh toán hộ…)– đại khái là có tiền.
    + Mở rộng quan hệ thương mại quốc tế.
    Ưu điểm của L/C là đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên tham gia (kể cả Ngân hàng).

    – Điểm yếu: hơi rườm rà trong thực hiện.

    Ø Người nhập khẩu:

    + Ngân hàng phát hành không thực hiện việc thanh toán.

    + Rủi ro do quốc gia của ngân hàng phát hành.

    + Rủi ro trong vận tải.

    + Rủi ro do biến động tỷ giá.

    + Rủi ro do chứng từ không chính xác.

    + Rủi ro do tín dụng thư bị huỷ ngang.

    Ø Người xuất khẩu:

    + Khi thanh toán bằng L/C không thể huỷ ngang thì việc người mua không thanh toán trên thực tế không thể xảy ra được bởi vì người mua khi mở L/C cho người bán trên thực tế đã giao cho người bán bảo đảm thanh toán của ngân hàng. Tuy nhiên vẫn có rủi ro do ngân hàng phát hành không thực hiện uỷ quyền do mất khả năng thanh toán hay không muốn thanh toán.

    + Khi quốc gia của ngân hàng phát hành đưa ra những hạn chế trong việc thanh toán bằng ngoại tệ thì ngân hàng phát hành có thể không thực hiện thanh toán. Vì vậy trong trường hợp này tốt nhất là sử dụng ngân hàng xác nhận nằm ở quốc gia có chính sách kinh tế ổn định, chắc chắn.

    Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    – Tìm hiểu bạn hàng kỹ lưỡng.
    – Tham khảo ý kiến ngân hàng về quá trình kinh doanh của người xuất khẩu.
    – Quy định trong hợp đồng điều khoản Penalty, trong đó quy định phạt bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ.
    – Yêu cầu cả hai bên ký quĩ tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng.
    – Yêu cầu những công cụ của ngân hàng như: Standby L/C, Bank Guarantee, Performance Bond.. ( chỉ áp dụng đối với những hợp đồng lớn và khách hàng không quen biết nhau) để đảm bảo quyền lợi nhà nhập khẩu.
    – Yêu cầu về nội dung và hình thức chứng từ phải rất chặt chẽ, không yêu cầu chung chung.
    – Chứng từ phải do những cơ quan đáng tin cậy cấp.
    – Vận đơn do hãng tàu đích danh lập. Khi xếp hàng hoá phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu để kịp thời đối chiếu sự thật giả của vận đơn và lịch trình tàu ( đối với lô hàng có giá trị lớn).
    – Ðề nghị nhà xuất khẩu gửi thẳng 1/3 bộ vận đơn gốc ( bản chính) thẳng tới nhà nhập khẩu.
    – Hoá đơn thương mại đòi hỏi phải có sự xác nhận của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc của Phòng Thương mại hoặc hoá đơn lãnh sự( Consular’s invoice).
    – Giấy chứng nhận chất lượng do cơ quan có uy tín ở nước xuất khẩu hoặc quốc tế cấp hoặc có sự giám sát kiểm tra và ký xác nhận vào giấy chứng nhận của đại diện phía nhà nhập khẩu.
    – Giấy chứng nhận số lượng cũng phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc đại diện thương mại Việt Nam.
    – Cung cấp giấy chứng nhận kiểm tra( Certificate of inspection).
    – Giành quyền chủ động thuê tàu( nhập khẩu theo điều kiện nhóm F).
    – Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng giao dịch tại nước nhà nhập khẩu.
    – Mua bảo hiểm cho hàng hoá.
    – Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF stowed…

    • Thách thức: nếu có sự không phù hợp giữa L/C và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà nhà xuất khẩu không phát hiện ra được mà cứ tiếp tục giao hàng thì nhà xuất khẩu sẽ khó đòi được tiền hoặc ngược lại nếu từ chối giao hàng thì vi phạm hợp đồng. Đòi hỏi người tham gia thanh toán L/C phải nắm rõ luật của các khâu trong thanh toán L/C một cách chình xác và rõ ràng.
    • Cơ hội: khi có sai sót hay cần chỉnh sửa trong L/C thì có thể tu chỉnh L/C thông qua việc đàm phán với người yêu cầu mở L/C.

    2)Phương thức chuyển tiền (remittance):

    – Điểm mạnh: nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất khẩu cho đến khi nhận đầy đủ hàng. Đây là một lợi thế của nhà nhập khẩu.

    – Điểm yếu: nhưng lại là rủi ro của nhà xuất khẩu khi mà hàng hóa đã được chuyển giao nhưng tiền hàng không được thanh toán, bị chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.Tuy vậy, bên nhập khẩu cũng có thể gánh chịu rủi ro, đặc biệt trong trường hợp chuyển tiền trước khi giao hàng như: nhận toàn bộ tiền hàng trước khi giao hàng, đặt cọc, tạm ứng,…Trong trường hợp này nhà nhập khẩu có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro nếu tiền đã chuyển mà hàng không được giao đúng thời hạn, đúng chất lượng hoặc số lượng…

    Thách thức: cả 2 bên cần tin tưởng lẫn nhau trong trường hợp đặt cọc tiền

    Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    – Các bên cần xây dựng rõ lộ trình chuyển tiền: Ví dụ chuyển trước bao nhiêu % tại thời điểm nào; Thanh toán nốt phần còn lại tại thời điểm nào…;
    – Thỏa thuận thời điểm chuyển tiền trùng với thời điểm giao hàng;
    – Qui định rõ về phương tiện chuyển tiền, chi phí chuyển tiền ai chịu.

    3) Phương thức ghi sổ (open account):

    • Điểm mạnh: Phương thức này hoàn toàn có lợi cho nhà nhập khẩu (người được ghi sổ).
    • Điểm yếu: Nhà xuất khẩu sẽ phải gánh chịu rủi ro khi bên nhập khẩu không thanh toán hoặc chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.

     Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    Để hạn chế rủi ro, chỉ áp dụng phương thức này khi cả hai bên là các bạn hàng có mối quan hệ làm ăn lâu dài, thực sự tin cậy lẫn nhau. Để bảo đảm an toàn cho nhà xuất khẩu, các bên có thể áp dụng biện pháp bảo đảm như thư bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng dự phòng, đặt cọc…

    4)Phương thức nhờ thu (collection):

    1. Nhờ thu trơn (clean collection):

    –   Điểm mạnh: có lợi cho nhà nhập khẩu.

    –   Điểm yếu: Nhà xuất khẩu giao hàng và gửi trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Như vậy thông thường hoạt động này diễn ra trước thời điểm thanh toán. Đây có thể là một bất lợi cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu chưa phải thanh toán tiền hàng nhưng đã nắm giữ được chứng từ để nhận hàng từ nhà chuyên chở nhưng sau đó cố ý chiếm dụng vốn, thanh toán chậm, thiếu, từ chối thanh toán. Ngân hàng chỉ là một tổ chức trung gian thu hộ và có thể bị nhà nhập khẩu từ chối.

    Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    Chỉ nên áp dụng khi cả hai bên là đối tác tin cậy của nhau, đồng thời trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần có các chế tài nghiêm ngặt để bảo đảm nhà nhập khẩu thanh toán.

    1. Nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection):

      –   Điểm mạnh: Nhà xuất khẩu không giao trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu phải trả tiền thì Ngân hàng mới giao chứng từ để mang chứng từ đi nhận hàng. Như vậy, phương thức này bảo vệ được lợi ích của nhà xuất khẩu, tránh được tình trạng bị nhà nhập khẩu chiếm dụng vốn, chậm thanh toán, thanh toán không đầy đủ hoặc từ chối thanh toán.

     –   Điểm yếu: không có lợi cho nhà nhập khẩu. (Tổng hợp từ http://www.cfo.vn/forum/viewtopic.php?f=37&t=631)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng tóm tắt ưu và nhược điểm của các hình thức thanh toán trong nghiệp vụ mua bán quốc tế

    Một số dịch vụ thanh toán quốc tế do một số Ngân hàng tại Việt Nam cung cấp

     

    (trích từ  http://tinkinhte.jcapt.com/nd5/detail/cong-nghiep/thu-cong-my-nghe-qua-tang/54-phuong-thuc-thanh-toan/35144.136238.html)

     

    KẾT LUẬN  (4)

    Khi tham gia hoạt động kinh doanh trong nước hay quốc tế, cả người mua và người bán đều có một mục tiêu cơ bản khi họ thống nhất với nhau một phương án thanh toán đó là :

    – Người mua sẽ nhận được hàng mà họ đã đặt mua.
    – Người bán sẽ được trả đủ số tiền đã thống nhất đúng hạn.


    Trong khi việc tiến hành các giao dịch thương mại trong nội địa mỗi quốc gia dường như có vẻ đơn giản và thuận tiện thì việc tiến hành các vụ giao dịch quốc tế có vẻ như là phức tạp và có nguy cơ rủi ro cao. Đặc biệt sự xa cách về địa lý, ngôn ngữ, thông tục, luật lệt và các khác biệt về tập quán thương mại khiến cho bạn khó tiếp cận với vũ đài quốc tế.

    Hiểu rõ được các phương thức thanh toán quốc tế sẽ giúp cho bạn vượt qua những khó khăn mà bạn thường xuyên gặp trong thương mại quốc tế .

    Có 4 phương pháp thanh toán quốc tế cơn bản, mỗi một phương pháp khác nhau sẽ giúp bảo vệ bạn an ở mức độ an toàn khác nhau và chi phí cũng khác nhau. Chọn phươn pháp nào là tuy thuộn vào mối quan hệ của bạn với đối tác của mình, tuy thuộc vào mức độ rủi ro của giao dịch và trong một số trường hợp thì tuỳ thuộc vào quy định của quốc gia của đối tác yêu cầu.

    PHỤ LỤC

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – PSS .TS Đoàn Thị Hồng Vân – Giáo trình Kỹ thuật Ngoại thương , Nhà xuất bản Lao động – Xã hội ,2007

     

    – PGS .TS Nguyễn Văn Luyện , TS Lê Thị Bích Thọ , TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật Hợp đồng Thương mại quốc tế , Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2007

    – www.google.com


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tài liệu ôn thi giữa kì 90 Câu trắc nghiệm môn Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương Incoterm 2000 và Incoterm 2010


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/CH%C3%8DNH-S%C3%81CH-NGO%E1%BA%A0I-TH%C6%AF%C6%A0NG-C%E1%BB%A6A-C%C3%81C-N%C6%AF%E1%BB%9AC-TR%C3%8AN-TH%E1%BA%BE-GI%E1%BB%9AI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Chương 4

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    I- Chính sách ngoại thương:

    1- Khái niệm về chính sách ngoại thương:

    Chính sách ngoại thương là một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành chính và pháp luật dùng để thực hiện các mục tiêu đã xác định trong lĩnh vực ngoạüi thương của một nước trong thời kỳ nhất định.

    Chính sách ngoại thương là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế của một nước, nó góp phần thúc đẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ. Mục tiêu phát triển kinh tế của một đất nước trong từng thời kỳ có khác nhau, cho nên đường lối chính sách ngoạ i thương phải thay đổi để đạ t được những mục tiêu cụ thể của chính sách kinh tế. Không có chính sách ngoại thương áp dụng cho mọi thời kỳ phát triển kinh t ế. Tuy nhiên, các chính sách ngoại thương đều có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại sự cạnh tranh từ bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và bành trướng ra bên ngoài.

    Mỗi nước đề u có những đặc thù chính trị, kinh tế – xã hội và điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế, vì vậy mỗi nước đều có chính sách phát triển ngoại thương riêng với các biện pháp cụ thể

    2- Ý nghĩa của việc nghiên cứu chính sách ngoại

    TOP

     
    thương:
       

    Đối với các nhà quản lý và doanh nghiệp của sản xuất và thương mại, việc nghiên cứu chính sách ngoại thương của các nước có ý nghĩa quan trọng:

    • Giúp rút ra những kinh nghiệm về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách ngoại thương của đất nước một cách có khoa học và hiệu quả nhất.
    • Nắm rõ chính sách ngoại thương của các nước mới tìm cách xâm nhập và phát triển thị trường, chọn thị trường thích hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại thương.
    • Giúp các nhà lãnh đạo ở tầm vĩ mô xây dựng chính sách đối ngoại song phương và đa phương phù hợp.
    • Riêng đối với môn học, việc nghiên cứu chính sách ngoại thương sẽ giúp học viên khái quát được chính sách ngoạüi thương trên thế giới và cụ thể những nước thường có quan hệ mậu dịch với nước ta, từ đó có kiến thức cơ bản để hiểu rõ hơn chính sách ngoại thương của nhà nước, tạo điều kiện vận dụng làm tốt công tác chuyên môn trong lĩnh vực ngoại thương.

    3- Các phương pháp áp dụng trong chính sách ngoại

    TOP

     
    thương
       

    :

    Phương pháp ở đây có nghĩa là cách thức thực hiện những mục tiêu mà chính sách ngoại thương đề ra thông qua việc lựa chọn những biện pháp áp dụng thích hợp. Có hai phương pháp:

    • Phương pháp tự định: Nhà nước tự mình quyết định những biện pháp ngoại thương khác nhau với mức độ khác nhau trong các quan hệ buôn bán với nước ngoài.

    Cơ sở để thực hiện phương pháp tự định là quyền độc lập, tự chủ, tự quyết của mỗi quốc gia. Các chính phủ căn cứ vào tình hình kinh tế trong và ngoài nước để đưa ra các biện pháp thuế quan, hạn chế về số lượng, các biện pháp tài chính tiền tệ phi thuế quan… đối với từng ngành hàng, từng quan hệ buôn bán với nước ngoài với mức độ khác nhau để thực hiện các mục tiêu ngoại thương đề ra.

    Trong xu thế nhất thể hóa khu vực và toàn cầu như hiện nay, phương pháp tự định đang giảm dần vai trò của mình trong việc xây dựng chính sách ngoại thương của từng nước. Tuy nhiên, nó vẫn được xây dựng ở các quốc gia có nền kinh tế mạnh, chi phối quan hệ kinh tế tài chính toàn cầu như Mỹ.

    • Phương pháp thương lượng: Nhà nước thực hiện thương lượng với các bên tham gia quan hệ buôn bán thỏa thuận. lựa chọn các biện pháp và mức độ áp dụng nó vào quan hệ buôn bán lẫn nhau

    Phương pháp này được thực hiện dưới hình thức ký kết những điều ước hiệp định mậu dịch tự do song phương và đa phương. Ví dụ như 148 nước đã ký kết vào các hiệp định của tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong quan hệ buôn bán với các nước khác trên thế giới. Ngày nay, việc sử dụng phương pháp này ngày càng phổ biến, phù hợp với quy luật phát triển nhất thể hóa kinh tế khu vực và toàn cầu

    II- Các nguyên tắc điều chỉnh buôn bán TOP

     

    quốc tế:

    Có 3 nguyên tắc thường được sử dụng để điều chỉnh:

    1- Nguyên tắc tương hỗ:   TOP

    Trên nguyên tắc này các bên dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tương xứng nhau trong quan hệ mua bán.

    Mức độ ưu đãi và điều kiện nhân nhượng phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham gia. Bên yếu hơn sẽ bị lép vế và thường bị buộc phải chấp nhận những điều kiện do bên có thực lực kinh tế mạnh hơn đưa ra.

    Ngày nay, các nước ít áp dụng nguyên tắc này hơn trong quan hệ buôn bán giữa các nước.

    2- Nguyên tắc “ Tối huệ quốc “ (Most Favoured

    TOP

     
    Nation)
       
    • Nước được ưu đãi nhất:

    2.1- Khái niệm:

    Nguyên tắc “ Tối huệ quốc “ (MFN) là biểu hi ện của vi ệc “ không phân biệt đối xử “ trong quan hệ mậu dịch giữa các nước. Nó có nghĩa là các bên tham gia trong quan hệ kinh tế buôn bán sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãi không kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặ c sẽ dành cho các n ước khác. Nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:

    Cách thứ nhất: Tấ t cả những ưu đãi và mi ễn gi ảm mà một bên tham gia trong các quan hệ kinh tế – thương mại quốc tế đã hoặc sẽ dành cho bất kỳ một nước thứ ba nào, thì cũng được dành cho bên tham gia kia được hưởng một cách không điều kiện.

    Cách thứ hai: Hàng hóa di chuyển từ một bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia kia sẽ không phải chịu mức thuế và các phí tổn cao hơ n, không bị chịu những thủ tục phiền hà hơn so với hàng hóa nhập khẩu từ nước thứ ba khác.

    Theo luật pháp quốc tế thì điều chủ yếu của quy chế tối huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền, mà là đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế.

    Mục đích của việc s ử dụng nguyên tắc MFN trong buôn bán quốc tế là nhằm chống phân biệt đối xử, làm cho điều ki ện cạnh tranh giữa các bạ n hàng ngang bằng nhau, nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước phát triển. Mức độ và phạm vi áp dụng nguyên tắc MFN còn phụ thuộc vào mức độ quan hệ thân thiện giữa các nước với nhau

    2.2- Cách thức áp dụng nguyên tắc MFN:

    Nguyên tắc MFN được các nước tùy vào lợi ích kinh tế của mình mà áp dụng rất khác nhau, nhìn chung có hai cách áp dụng:

    Cách thứ nhất: Áp dụng chế độ t ối huệ quốc có điều kiện: Quốc gia được hưở ng tối huệ quốc phả i chấp nhận thực hiện những điều kiện kinh tế và chính trị do Chính phủ của quốc gia cho hưởng đòi hỏi.

    Cách thứ hai: Áp dụng chế độ tối huệ quốc không điều kiện: là nguyên tắc quốc gia này cho quốc gia khác hưởng chế độ MFN mà không kèm theo điều kiện ràng buộc nào cả.

    Để đạt được chế độ MFN của một quốc gia khác, có hai phương pháp thực hiện:

    + Thông qua đàm phán song phương để ký kết các hiệp định thương mại

    + Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

    2.3- Chế độ tối huệ quốc dành cho các nước đang phát triển:

    Nghiên cứu chế độ tối huệ quốc cần phải nghiên cứu chế độ MFN đặc biệ t dành cho các nước chậm ti ến và đang phát triển thông qua chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập GSP (Generalized System of Preference).

    GSP là hệ thống ưu đãi về thuế quan do các nước công nghiệp phát triển dành cho một số sả n phẩm nhất định mà họ nhập khẩu từ các nước đang phát triển (gọi là các nước nhận ưu đãi).

    Lần đầu tiên Hội nghị của Liên Hiệp quốc về Thương M ại và phát triển (UNCTAD) năm 1968 thông qua việc áp d ụng hệ thống thuế quan ưu đãi chung (GSP) dành cho các nước đang phát triển t ăng khả năng xuất khẩu, mở rộng thị trường, khuyến khích phát triển công nghiệp đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của các nước này.

    Nội dung chính của chế độ GSP là:

    • Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang hoặc kém phát triển.
    • GSP áp dụng cho các loại hàng công nghiệp thành phẩm hoặc bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến

    Đặc điểm của việc áp dụng GSP:

    • Không mang tính chất cam kết: Chính sách GSP thay đổi từng thời kỳ; số nước cho ưu đãi và nhận ưu đãi không cố định. Hiện nay có đến 16 chế độ GSP bao gồm 27 nước cho ưu đãi và 128 nước, vùng lãnh thổ được nhận ưu đãi.
      • GSP chỉ dành cho các nước đang phát triển: Trong quá trình thực hiện GSP, các nước công nghiệp phát triển kiểm soát và khống chế các nước nhận ưu đãi rất chặt, biểu hiện ở cách quy định về nước được hưởng GSP. Ví dụ như EU quy định nước đang phát triển nào có thu nhập GDP tính trên đầu người cao hơn 6000USD/năm thì không còn được hưởng GSP nữa.

    Quy định đối với hàng hóa được hưởng chế độ GSP:

    Không phải bất kỳ sản phẩm nào nhập khẩu vào các nước cho hưởng từ những nước được hưởng đều được miễn hay giảm thuế theo GSP. Để được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi GSP, hàng nhập khẩu vào thị trường những nước cho hưởng phải thỏa mãn 3 điều kiện cơ bản sau:

    • Điều kiện xuất xứ từ nước được hưởng
    • Điều kiện về vận tải (ví dụ như hàng vận chuyển không qua lãnh thổ của nước thứ ba hoặc không bị mua bán, tái chế…tại nước thứ ba)
    • Điều kiện về giấy chứng nhận xuất xứ ( chứng từ xác nhận xuất xứ From A)

    2.4- Chế độ tối huệ quốc của một số nước trên thế giới:

    2.4.1- Quy chế GSP của EU:

    Quy chế 2501/2001 của EU về GSP được áp dụng từ ngày 01/01/2002 đến

    31/12/2004 cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. So với qui chế áp dụng trong thời

    gian từ 1999 đến 2001, qui chế này đơn giản hơn, chỉ chia hàng hóa làm hai loại, nhạy

    cảm và không nhạy cảm. Các nước khác nhau sẽ được hưởng những mức thuế GSP khác

    nhau theo cách sắp xếp nhằm khuyến khích bảo vệ quyền lợi người lao động và môi

    trường … được định ra trong phụ lục I của qui chế. Cách sắp xếp các dạng khuyến khích

    được chia ra như sau:

    Danh mục chung

    Danh mục đặc biệt khuyến khích bảo hộ quyền lợi người lao động

    Danh mục đặc biệt khuyến khích bảo vệ môi trường Danh mục đặc biệt cho các nước chậm phát triển nhất

    Danh mục đặ c biệt khuyến khích đấu tranh chống sản xuất và vận chuyển ma túy. Các nước được hưởng GSP của EU chủ yếu là các nước G77 và các nước chậm

    phát triển nhất LDC. Ngoài ra, các LDC được hưởng những ưu đãi đặc biệt hơn, tương thích với chương trình EBA (Everything But Arms) của EU dành ưu tiên thuế quan và không áp đặt hạ n ngạch mọi mặt hàng trừ vũ khí và đạn dược; riêng chuối tươ i, g ạo và đườ ng áp dụng hạ n ngạch với số lượng tăng dần và bỏ hẳn vào các năm 2006 và 2009 cho 49 nước chậm phát triển nhất.

    Mỗi danh mục GSP khác nhau bao gồm nhiều loạ i sản phẩm khác nhau, các nước nằm trong danh mục khác nhau sẽ nhận ưu đãi thuế quan khác nhau cho cùng một mặt hàng.

    Các nước nằm trong danh mục chung sẽ được hưởng GSP 7000 mặt hàng (trong 10.300 dòng hàng của biểu thuế quan, trong đó có 2.100 mặt hàng thuế suất MFN đã là 0%), trong đó có khoảng 3.300 mặt hàng không nhạy cảm và 3.700 mặt hàng nhạy cảm, dĩ nhiên GSP cũng loại trừ hàng hóa chương 93 trong biểu thuế, vũ khí và đạn dược.

    Riêng các LDC đượ c khoảng 8.200 mặt hàng. Các nướ c trong danh mục đặc biệt sẽ được hưởng ưu đãi nhiều hơn so với trong danh mục chung, ví dụ như các nước thuộc diện khuyến khích không sản xuất và vận chuyển ma túy, được miễn thuế hoàn toàn đối với sản phẩm nông nghiệp (chương 1 đến chương 24) là những mặt hàng trong danh mục chung được phân là “nhạy cảm”

    Ưu đãi thuế quan GSP dựa vào mức thuế MFN và giảm t ỷ lệ thuế xuống, tuy nhiên có những trường hợp giảm hẳn bằng cách tr ừ đi một t ỷ lệ thuế nhất định. Ví dụ, trong danh mục chung, hàng hóa thuộc chương 50 đến 63 sẽ được giảm 20% thuế MFN, còn hàng hóa nhạy cảm trong phụ lục IV sẽ được giảm đi (trừ đi) 3,5%.

    Tất cả các loạ i hàng hóa này nếu muốn được hưởng ưu đãi thuế quan đều phải tuân thủ quy định về xuất xứ hàng hóa của EU

    Thông tin chi tiết về qui chế GSP của EU có thể tìm trên trang web http://www.eurunion.org/legislat/gsp/gsp.htm

    2.4.2- Chế độ MFN và GSP của Mỹ:

    • Chế độ MFN: Tính đến hết 1997, Mỹ đã cho 164 nước hưởng quy chế MFN trong buôn bán với Mỹ. Các nước Đông Âu và Châu Á đã giành được MFN của Mỹ như Rumani (1975), Hungary (1990), Tiệp khắc (1990), Đông Đức (1990), Bungary (1991), Trung Quốc (1980), Mông Cổ (1991) và Campuchia (1996).

    Những nước được hưởng chế độ MFN bình quân thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa là 9%, trong khi đó thuế nhập khẩu bình thường không được hưởng chế độ MFN thuế bị đánh cao gấp 7 lần. Chẳng hạn năm 1990, trị giá hàng nhập khẩu vào Mỹ từ Trung quốc là 19 tỷ USD, nếu không được hưởng quy chế MFN thuế nhập khẩu sẽ trên 2 tỷ USD, tuy nhiên, do được hưởng quy chế MFN thuế nhập khẩu chỉ là 354 triệu USD.

    • Chế độ GSP của Mỹ mang tính đơn phương, không ràng buộc điều kiện có đi có lại, mức thuế nhập khẩu hàng từ các nước nhận ưu đãi vào Mỹ bằng 0.

    Mỹ thường áp dụng chế độ MFN và GSP có điều kiện để gây sức ép về chính trị và kinh tế với các bạn hàng. Ví dụ, đối với Trung Quốc, từ tháng 2/1980 Mỹ cho hưởng chế độ MFN để kềm chế Trung Quốc phải nhượng bộ trong các vấn đề nhân quyền ở Tây Tạng, vấn đề Đài Loan… Hoặc trong Luật Thương Mại năm 1974, có quy định cấm Tổng Thống không cho các nước hưởng chế độ GSP như các nước Cộng Sản (trừ trường hợp

    sản phẩm của nước đó là thành viên của GATT/WTO và IMF, hoặc nước đó không bị Chủ nghĩa Cộng sản quốc tế khống chế)

    Đối với Việt Nam, dù đàm phán song phương hay đa phương, Mỹ cũng đòi hỏi Việt Nam áp dụng quy chế của GATT/WTO với các nguyên tắc cơ bản là:

    • Không phân biệt đối xử giữa các nước bạn hàng, thể hiện trong điều khoản về tối huệ quốc.
    • Đối xử như nhau giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước (quy chế đối xử trong nước NT – National Treatment).
    • Thực hiện các chính sách cởi mở và tự do. Bảo hộ bằng thuế quan ở mức thấp và chỉ áp dụng hạn chế số lượng trong một số trường hợp đặc biệt.
    • Cam kết thực hiện lịch trình cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan.
    • Chính sách và luật pháp phải rõ ràng, công khai.

    Bên c ạnh những mặt lợi thế có thể mang lại, việc chấp nhận các nguyên tắc này đang là thách thức lớn đối với Việ t nam. Bởi vì, nếu thực hiện, chúng ta phải điều chỉnh luật pháp của mình cho phù hợp với WTO và phả i điều hành nền kinh tế theo nguyên tắc đó. Vấn đề này hết sức phức tạp và đòi hỏi phải có thờ i gian để điều chỉnh, thực hiện. Từ tháng 12/2001, khi hiệp định thươ ng mạ i Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, Mỹ đã trao cho việt nam qui chế MFN (hay còn gọi là qui chế đối xử thương mại bình thường, Normal Trade Relation, NTR).

    2.4.3- Vài nét về chế độ ưu đãi về thuế quan của Nhật:

    Chế độ GSP của Nhật áp dụng từ 8/1971, chủ yếu ở ba mặ t hàng nông sản chế biến, công nghiệ p và hàng dệt nhập khẩ u từ các nước đang phát triển. Các nước Châu Á đang sử dụng nhiều nhất chế độ GSP của Nhật.

    Trong những năm bị ảnh h ưởng bởi lệnh c ấm vậ n của Mỹ, t ỷ lệ hàng hóa xuấ t sang Nhật của Việt Nam được hưởng chế độ GSP rấ t thấ p, khoảng 8% tổng trị giá hàng công nghiệp nhậ p khẩu vào Nhật Bản (mức trung bình của các nước là 39,8%). Từ năm 1994 trở đi, khi lệnh cấm vận được xóa bỏ, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Nhật có dễ dàng hơn .

    3- Nguyên tắc đối xử trong nước (National Treatment _ NT)     TOP

    Nguyên tắc đối xử trong nước NT được áp dụng trên nhiều lĩnh vực như thương mại hàng

    hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…với ý nghĩa là đối xử như “trong nước” đối với phía

    đối tác trong các lĩnh vực được ghi trong thỏa ước. Qui mô của nghĩa vụ này có thể thay

    đổi tùy thỏa ước, đối với hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT, NT được

    qui định chủ yếu trong điều III “Đãi ngộ quốc gia về thuế và nguyên tắc đối xử trong

    nước”. Trong thương mại hàng hóa, nếu như nguyên tắc MFN đòi hỏi đãi ngộ công bằng

    giữa các quốc gia, thì nghĩa vụ NT đòi hỏi sự đãi ngộ với hàng nhập khẩu, sau khi hoàn

    tất các thủ tục hải quan và biên giới, không được tệ hơn cách đãi ngộ dành cho hàng sản

    xuất trong nước.

    III- Các loại hình chính sách ngoại thương:

    Mỗi nước đều có chính sách ngo ại thương riêng phù hợp với điề u kiệ n phát triể n kinh tế riêng của từng nước, ở từng thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, chính sách phát triển ngoại thương của các nước có thể phân loại theo hai tiêu thức cơ bản sau:

    • Phân loại theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại thương.
      • Phân loại theo mức độ tiếp cận của nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. A- Phân loại theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại thương

    1- Chính sách mậu dịch tự do    TOP

     

    1.1- Khái niệm:

    Chính sách mậ u dịch t ự do có nghĩa là nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương mà mở cửa hoàn toàn thị trường nội đị a để cho hàng hóa và tư bản được tự do lưu thông giữa trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển trên cơ sở quy luật tự do cạnh tranh.

    Đặc điểm chủ yếu của chính sách mậu dịch tự do là:

    • Nhà nước không sử dụng các công cụ để điều tiết xuất khẩu và nhập khẩu.
      • Quá trình nhập khẩu và xuất khẩu được tiến hành một cách tự do.
    • Quy luật tự do cạnh tranh điều tiết sự hoạt động của sản xuất tài chính và thương mại trong nước.

    1.2- Ưu và nhược điểm của chính sách mậu dịch tự do:

    Ưu điểm:

    • Mọi trở ngại thương mại quốc tế bị loại bỏ, giúp thúc đẩy sự tự do hóa lưu thông hàng hóa giữa các nước.
    • Làm thị trường nội địa phong phú hàng hóa hơn, người tiêu dùng có điều kiện thỏa mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất.

    -Tạo môi trường cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, kích thích các nhà sản xuất phát triển và hoàn thiện.

    • Nếu các nhà sản xuất trong nước đã đủ sức mạnh cạnh tranh với các nhà tư bản nước ngoài thì chính sách mậu dịch tự do giúp các nhà kinh doanh bành trướng ra ngoài. Thật vậy, chính sách mậu dịch tự do lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh, “cái nôi” của chủ nghĩa tư bản. Nước Anh lúc bấy giờ là cường quốc công nghiệp, sản xuất bằng máy thay thế lao động thủ công đã khiến cho chi phí thấp, hàng hóa dồi dào so với các nước láng giềng chậm phát triển hơn như Pháp, Đức, Nga. Chính nhờ thực hiện chính sách mậu dịch tự do đã giúp cho các nhà tư bản Anh xâm chiếm nhanh chóng thị trường thế giới, khiến các nước khác phải thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch để chống lại sự xâm lăng hàng hóa ồ ạt từ nước Anh. Nhưng sau này khi nền kinh tế của Đức, Pháp, Nga đã phát triển mạnh thì chính sách mậu dịch tự do thay thế cho chính sách bảo hộ mậu dịch.
    • Thực hiện chính sách mậu dịch tự do không đồng nghĩa với việc làm suy yếu vai trò

    của Nhà nướ c tư bản trong quan hệ thươ ng mại quốc t ế. Ngượ c lại, việc tạo điề u kiện tự do phát triển thương mạ i trên thị trường nội đị a nhằm làm suy yếu hoặc xóa bỏ chính sách bảo hộ mậu dịch ở các nước khác, tạo cơ sở để các nhà kinh doanh nội địa dễ dàng xâm nh ập và phát triển ở thị trường mới.

    • Thị trường trong nước điều tiết chủ yếu bởi quy luật tự do cạnh tranh cho nên nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng, phát triển mất ổn định.
    • Những nhà kinh doanh sản xuất trong nước phát triển chưa đủ mạnh, thì dễ dàng bị phá sản trước sự tấn công của hàng hóa nước ngoài.

    Chính bởi những nhược điểm này mà ngày nay trên thế giới, ngay cả những nước có nền kinh tế mạnh nhất như Mỹ, Nhật đều không thực hiện chính sách mậu dịch tự do đối với tất cả các ngành hàng, mà chỉ thực hiện sự tự do mậu dịch trong một số ngành hàng đủ mạnh, cạnh tranh được với hàng hóa nước ngoài và cũng chỉ thực hiện trong một thời gian nhất định.

    1.3- Các khoản lợi và hiệu quả của mậu dịch tự do theo kinh tế học:

    Trong chương 3 chúng ta đã phân tích tác động của một trong những công cụ chính sách ngoại thương là thuế quan. Trong trường hợp một nước nhỏ không gây ảnh hưởng đến

    giá xuất khẩu của nước ngoài, thuế quan gây nên thiệt hại ròng cho nền kinh tế được đo bằng hai hình tam giác b và d (biểu đồ 3.2). Thiệt hại này là do thuế quan đã làm lệ ch lạc những khuyến khích kinh tế đối với người sả n xuất l ẫn người tiêu dùng. Ngược lại, tự do mậu dịch sẽ loại bỏ được những tổn thất này và tăng thêm phúc lợi quốc gia.

    Các nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tính toán t ổng chi phí phải trả cho những lệch lạc do thuế quan và hạn ngạ ch nh ập khẩu gây ra trong một số nền kinh tế cụ thể. Phí tổn này được tính theo % thu nhập quốc dân, đối với Braxin (1966) là 9,5%; Mexico (1960) là 2,5% ; Mỹ (1983) là 0,26%.

    Ngoài ra, ở các nước nhỏ nói chung và các nước đang phát triển nói riêng, nhiề u nhà kinh tế học còn chỉ ra rằ ng, tự do mậu dịch còn nhiề u cái lợi quan trọng không được tính tới trong phân tích chi phí – lợi ích thông thường, Ví dụ như lợi thế kinh tế của qui mô sản xuất chẳ ng hạn, các thị trường được bảo hộ không chỉ chia nhỏ s ản xuất trên phạm vi quốc tế, mà bằng cách giảm cạnh tranh và tăng lợi nhuận, chúng còn đẩy nhiề u công ty gia nhậ p ngành công nghiệp được bảo hộ. Với việc gia tă ng các công ty trong thị trường nội địa nhỏ hẹp, quy mô sản xuất của từng công ty s ẽ trở nên không hiệu quả. (Ví dụ như, do được bảo hộ cao, các nhà máy đường trong nước ta mọc lên rất nhiều, vì vậy chỉ có khoảng 17/47 nhà máy hoạt động được khoảng 50% công suất!)

    2- Chính sách bảo hộ mậu dịch

    TOP

    2.1- Khái niệm:  

    Chính sách bả o hộ mậu dịch là chính sách ngoại thương của các nước nhằm một mặt sử dụng các biện pháp để bảo vệ thị trườ ng nội đị a trước sự cạ nh tranh của hàng hóa ngoại nhập, mặt khác Nhà nước nâng đỡ các nhà kinh doanh trong nước bành trướng ra thị trường nước ngoài.

    Đặc điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch là:

    • Nhà nước sử dụng những biện pháp thuế và phi thuế : thuế quan, hệ thống thuế nội địa, giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các biện pháp kỹ thuật… để hạn chế hàng hóa nhập khẩu.
    • Nhà nước nâng đỡ các nhà sản xuất nội địa bằng cách giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu, thuế doanh thu, thuế lợi tức, giá tiền tệ nội địa, trợ cấp xuất khẩu…để họ dễ dàng bành trướng ra thị trường nước ngoài.

    2.2- Ưu và nhược điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch:

    Ưu điểm:

    • Giảm bớt sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu.
    • Bảo hộ các nhà sản xuất kinh doanh trong nước, giúp họ tăng cường sức mạnh trên thị trường nội địa.
    • Giúp các nhà xuất khẩu tăng sức cạnh tranh để xâm chiếm thị trường nước ngoài.
    • Giúp điều tiết cán cân thanh toán của quốc gia, sử dụng hợp lý nguồn ngoại tệ thanh toán của mỗi nước.

    Nhược điểm: Nếu bảo hộ thị trường nội địa quá chặt chẽ sẽ:

    • Làm tổn thương đến sự phát triển thương mại quốc tế sẽ dẫn đến sự cô lập kinh tế của một nước đi ngược lại xu thế của thời đại ngày nay là quốc tế hóa đời sống kinh tế toàn cầu.
    • Tạo điều kiện để phát triển sự bảo thủ và trì trệ trong các nhà kinh doanh nội địa, kết quả là mứcï bảo hộ kinh tế ngày càng cao, càng làm cho sức cạnh tranh của các ngành không còn linh hoạt, hoạt động kinh doanh và đầu tư không mang lại hiệu quả. Đây sẽ là nguy cơ cho sự phá sản trong tương lai của các ngành sản xuất trong nước nếu quốc gia

    này phải chịu áp lực cạnh tranh trên thị trường thế giới và yêu cầu giảm hàng rào thuế quan khi gia nhập WTO hoặc các khu vực mậu dịch tự do trên thế giới.

    • Người tiêu dùng bị thiệt hại như hàng hóa kém đa dạng, mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng hàng hóa kém cải tiến, giá cả hàng hóa đắt….

    3- Bảo hộ mậu dịch và thuế quan

    TOP

     
    tối ưu:
       

    Việc thi hành các chế độ quan thuế, hạ n ngạch nhập khẩ u và các biện pháp chính sách mậu dịch khác hầu hết là nhằm bảo vệ thu nhập của các nhóm lợi ích đặc biệt….Các nhà

    kinh tế học thường lập luận r ằng, bảo hộ mậu dịch s ẽ giảm phúc lợi quốc gia. Tuy nhiên, trên thực t ế, có một số cơ sở lý thuyết cho thấ y rằng các chính sách mậu dịch tích cực đôi khi có thể làm tăng phúc lợ i của quốc gia nói chung. Bởi vì, theo bi ểu đồ 3.2, đối với một nước lớn, thuế quan s ẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu ở nước ngoài, tạo ra một khoản lợi. Nếu đem so sánh v ới giá phải trả do thi hành thuế quan là làm lệch lạc các khuyến khích đối với sả n xuất và tiêu dùng, có kh ả năng, trong một số trường hợp, lợi ích về điều kiện mậ u dịch của thuế quan lại lớn hơn cái giá phải trả. Vớ i mộtü mức độ thuế quan đủ thấ p, thì lợi ích về điều ki ện mậu dịch sẽ phải lớn hơn cái giá phải trả. Đối với một nước lớn, tỷ suất thuế quan thấp, phúc lợi sẽ cao hơn khi thi hành mậu dịch tự do. Và sẽ tồn tại một

    mức thuế quan t0 tối ưu, t ại đó, lợ i ích biên do điều kiện mậu dịch được cải thiện bằng tổn thất hiệu năng biên do sự lệch lạc trong sản xuất và tiêu dùng. Với mức thuế suất khác

    lớn hơn t0 , phúc lợi quốc gia sẽ đi xuống.

    Tóm lại, chính vì cả chính sách tự do mậu dịch và chính sách bảo hộ mậu dịch đều có những ưu điể m và nhược điểm cho nên không một nướ c nào trên thế giới thi hành chính sách này hay chính sách khác một cách tuyệt đối mà sẽ duy trì chính sách mậu dịch tự do trong một số ngành hàng đối với một s ố thị trường trong một thờ i gian nhất định, còn một số ngành khác thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch (với mức độ khác nhau) trên những thị trường khác nhau.

    B- Phân loại theo mức độ tiếp cận c ủa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới 1- Chính sách hướng nội (Inward Oriented Trade Policies):

    Là chính sách mà nền kinh t ế ít có quan hệ với thị trường thế giới, phát triể n tự lực cánh sinh b ằng sự can thiệp tuyệt đối của Nhà nước. Với mô hình này, nền kinh tế thực hiện chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu.

    Ưu điểm:

    • Thị trường nội địa được bảo hộ chặt chẽ, nhờ đó mà nền công nghiệp còn non yếu trong nước có thể phát triển được trong điều kiện không phải trực diện với cạnh tranh; đặc biệt ở những nước mà nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên.
    • Là mô hình phát triển dựa vào nguồn tài lực bên trong, cho nên mọi tiềm lực quốc gia được huy động cao độ cho công cuộc phát triển kinh tế.
    • Phát triển kinh tế trong nước ít chịu sự tác động của thị trường thế giới, nên tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy thấp nhưng ổn định.

    Nhược điểm:

    • Hàng hóa sản xuất không mang tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
    • Nhiều ngành kinh tế của quốc gia phát triển không có hiệu quả, vì không phát triển dựa vào lợi thế mà chỉ dựa vào nhu cầu của nền kinh tế đóng cửa.
    • Mất cân đối trong cán cân thương mại, vì nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu bị hạn chế.
    • Vay nợ nước ngoài lớn, trả nợ khó khăn.

    2- Chính sách hướng ngoại (Outward Oriented Trade Policies):

    Là chính sách mà nền kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực để phát triển. Tham gia vào

    quá trình phân công lao động khu vực và quốc tế, chuyên môn hóa vào sản xuất những

    sản phẩm mà quốc gia có lợi thế phát triển, về thực chất, đây là chính sách “mở cửa“ kinh

    tế để tham gia vào quá trình quốc tế hóa kinh tế toàn cầu. Và tùy điều kiện phát triển kinh

    tế của mỗi nước mà chính sách “mở cửa“ được lựa chọn thực hiện khá đa dạng như mô

    hình phát triển mở cửa dần từng bước hay mô hình phát triển xuất khẩu dựa vào nguồn

    tài nguyên thiên nhiên hoặc gia công sản phẩm sơ chế hoặc mô hình phát triển XK dựa

    vào lợi thế so sánh…

    Ưu điểm :

    – Tạo ra sự năng động trong sự phân công lao động quốc tế:

    Thật vậy, chúng ta có thể thấy hình ảnh công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của các

    nước Đông và Đông Nam Châu Á trong 3 thập niên cuối thế kỷ 20 trong ngành công

    nghiệp may, sản xuất hàng điện và điện tử gia dụng. Lúc đầu các ngành này phát triển ở

    Nhật Bản, sau đó giá nhân công của Nhật đắt dần lên, các ngành thâm dụng nhiều nhân

    công của Nhật mất dần lợi thế và chuyển các ngành này sang Hàn Quốc, sau đó là các

    nước ASEAN và ở Trung Quốc ở những thập niên 80. Đến thập niên 90, các ngành hàng

    này lại phát triển ở Việt Nam. Sự thay đổi năng động trong phân công lao động khu vực

    như vậy do làn sóng công nghiệp hóa lan rộng làm cho thương mại giữa các nước tăng

    mạnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhờ phát huy được lợi thế và thị trường được mở

    rộng.

    • Chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu làm cho nền kinh tế phát triển năng động vì các doanh nghiệp luôn trực diện với cạnh tranh, sản phẩm và dịch vụ của họ phải có khả năng đảm bảo cạnh tranh (về chất lượng, giá cả…) với các sản phẩm khác trên thế giới.
    • Mở cứ kinh tế tạo điều kiện cho cạnh tranh phát triển, là động lực thúc đẩy cải tổ nền kinh tế, hợp lý hóa sản xuất, đầu tư mới công nghệ.
    • Tăng cường thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa môi trường tài chính quốc gia: giảm bớt vay nợ, thực hiện cân bằng cán cân thanh toán và cán cân buôn bán quốc tế.
    • Chính sách hướng về xuất khẩu còn được xem như là một chính sách ngoại thương tạo ra sự công bằng hơn trong nền kinh tế.

    + Đầu tiên, mở rộng xuất khẩu hàng thâm dụng lao động đồng nghĩa với tăng việc làm cho người lao động.

    + Thứ hai, chính sách này nâng cao khả năng chuyển sang sản xuất hàng thâm dụng kỹ thuật.

    + Cuối cùng, việc áp dụng chính sách này làm nâng cao thu nhập ròng cho quốc gia bởi việc giảm tài trợ giấy phép xuất khẩu…

    Ngày nay, khi xu hướng nhất thể hóa nền kinh tế toàn cầu gia tăng, mô hình kinh tế

    hướng ngoại đẩy mạnh xuất khẩu ngày càng khẳng định ưu thế phát triển và ngày càng được các nước áp dụng rộng rãi.

    IV- Chính sách ngoại thương của các nước đang phát triển:

    Ba mươi năm sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, chính sách thương mại ở các nước đang phát triển vẫn còn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi lý thuyết cho rằng, chìa khóa để phát triển kinh tế là phải thúc đẩy công nghiệp chế tạo và đó là cách tốt nhất để bảo hộ công nghiệp chế tạo trong nước trong sự cạnh tranh toàn cầu. Chúng ta sẽ xem xét chính

    sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩ u, gi ống như một chiến lược của các nước đang phát triển t ừ sau chiến tranh thế giớ i lần thứ hai đến những năm 1970 và sau đó trở nên thấ t bạ i vào những năm cuối thậ p kỷ 1980. Những vấn đề liên quan đế n chính sách kinh tế của các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp, hay những đặc điểm tạ o nên sự khác biệt trong thu nhập giữa các vùng và khu vực, còn được gọi là nền kinh tế “nhị nguyên”. Và đặc biệt, trong việc xét đến chính sách thươ ng mại của các nước đang phát triển, không thể không xét đến các chính sách đem lại sự phát triển diệu kỳ của các nước Đông Á.

    1- Công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu:

    Từ sau chiến tranh thế giớ i lần thứ hai đến những năm 1970, các nước đang phát triển cố gắng đẩ y nhanh quá trình phát triển bằ ng cách hạn chế nhập khẩu s ản phẩm công nghiệp và nâng đỡ ngành công nghiệp chế tạ o để phục vụ th ị trườ ng trong nước. Chiến lược này đã trở nên rất phổ biến vì nhiều lý do, trong đó, lý do quan trọng nhất là lập luận về “nền công nghiệp non trẻ”.

    Theo lập luận này, các nước đang phát triển có một lợi thế tương đối tiềm tàng trong

    công nghiệp chế tạo, nhưng các ngành công nghiệp chế tạo mới hình thành trong nước

    không thể cạnh tranh được với ngành công nghiệp chế tạo được hình thành từ lâu ở các

    nước phát triển. Để tạo điều kiện cho khu vực công nghiệp chế tạo có chỗ đứng, chính

    phủ tạm thời nâng đỡ các ngành công nghiệp mới để nó lớn mạnh, đủ đương đầu được

    với cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, việc sử dụng thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu như là

    những biện pháp tạm thời để bắt đầu công nghiệp hóa là một việc có ý nghĩa. Có một

    thực tế lịch sử là cả ba nền kinh tế thị trường lớn nhất thế giới đều bắt đầu quá trình công

    nghiệp hóa của mình đằng sau hàng rào mậu dịch: Mỹ và Đức có mức thuế quan cao đối

    với hàng chế tạo vào thế kỷ XIX, trong khi Nhật cho đến thập kỷ 1970 vẫn áp dụng rộng

    rãi biện pháp kiểm soát nhập khẩu.

    Lập luận về ngành công nghiệp non trẻ dường như rấ t hợ p lý và trên thực tế nó có tính chất thuyết phục đối vớ i nhiều chính phủ. Thế nhưng các nhà kinh tế học đã chỉ ra nhiều cạm bẫy trong lập luận này và gợi ý rằng nó cần được sử dụng một cách thận trọng.

    Thứ nhất, việc đi ngay vào các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh trong tươ ng lai không phải luôn luôn là ý tưở ng tốt. Giả sử một nước có dồi dào sức lao động đang trong quá trình tích lũy vốn, khi nó tích lũy đủ vốn, nó sẽ có lợi thế so sánh trong các ngành tập trung vốn. Điều đó không có nghĩa là nó phải cố gắng phát triển ngay lập tức các ngành công nghiệp đó.

    Thứ hai, việc bảo hộ công nghiệp chế t ạo sẽ không đem l ại lợi lộc gì trừ khi bản thân việc bảo hộ đó giúp cho ngành công nghiệ p có khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, đôi lúc, sự bảo hộ lạ i không đạt được điều mong muốn đó. Ví dụ như Pakistan và Ấn Độ đã tiến hành bảo hộ khu vực công nghiệp chế tạ o trong hàng thập kỷ và khi họ bắt đầu phát triển xuất khẩu thì hàng hóa mà họ xuất khẩu là những hàng công nghiệp nhẹ như hàng dệt, chứ không phải là hàng công nghiệp nặng mà họ bảo hộ.

    Mặc dù có những nghi ng ờ về lậ p luậ n ngành công nghiệp non trẻ, nhiề u nước đang phát triển vẫn coi l ập luận này như là một lý do bắt buộc để dành sự giúp đỡ đặc biệt do việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng chế tạ o. Chiến lược khuyến khích công nghiệp trong nước bằng cách hạn chế nhập khẩu hàng chế tạo được gọi là công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu.

    Thập kỷ 1950 và 1960 đã chứng kiến cao trào của công nghiệ p hóa thay thế hàng nhập khẩu. Các nước đang phát triển thường bắt đầu bằng việc bảo hộ các công đoạn cuối của

    ngành, ví dụ như chế biến thực phẩm và lắp ráp ôtô. Ở các nước đang phát triển lớn hơn, sản phẩm nội địa hầu như thay thế hoàn toàn hàng tiêu dùng nhập khẩu (mặc dù sả n xuất hàng chế tạo thường do các công ty đa quốc gia tiến hành). Một khi khả năng thay thế hàng tiêu dùng nhậ p khẩu giả m đi, các nước này quay sang bảo hộ hàng hóa trung gian như thân ôtô, thép, sản phẩm hóa dầu.

    • hầu hết các nước đang phát triển xu thế thay thế nhập khẩu đều dừng ở giới hạn hợp lý: những hàng hóa chế tạo tinh vi như máy tính, máy công cụ chính xác… tiếp tục được nhập khẩu. Tuy nhiên, các nước lớn hơn theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu đã cắt giảm nhập khẩu của họ xuống mức thấp đáng kể. Thông thường, qui mô kinh tế của một nước càng nhỏ (tính theo giá trị tổng sản phẩm) thì hàng nhập khẩu và xuất khẩu chiếm tỷ lệ càng lớn. Thế nhưng, như Ấn Độ chẳng hạn, với thị trường trong nước nhỏ thua 5% so với Hoa Kỳ mà mức xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 6% GNP năm 1983 và 8% năm 1990 trong khi tương ứng của Hoa Kỳ là 8 và 10% (Singapore và Hongkong tỷ lệ này năm 1990 là 190% và 137%)

    Mặc dù chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu đem lại cho các nước áp

    dụng một tỷ lệ hàng công nghiệp chế tạo trong tổng sản phẩm quốc nội chiếm một phần bằng các nước tiến tiến, như các nước Mỹ la tinh. Nhưng do hạn chế nhập khẩu đã dẫn đến kiềm hãm xuất khẩu (chương 3) và làm chậm tốc độ phát triển kinh tế. Ví dụ như Ấn độ, sau 20 năm theo đuổi chính sách này (1950 – 1970) thu nhập bình quân đầu người chỉ tăng vài %, cả Achentina, nước từng được xem là một nước giàu, nền kinh tế cũng chỉ tăng trưởng với tốc độ rất chậm trong hàng thập kỷ.

    Ngoài những lý do đã được nêu ra về các cạm bẫy của chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu, khi chính sách này thất bại, các nhà kinh tế học còn đưa ra lý do về “phí tổn” do những lệch lạc trong bảo hộ hàng công nghiệp mang lại. Ví dụ, mức bảo hộ hữu hiệu một số ngành công nghiệp ở Mỹ la tinh và Nam Á là hơn 200%. Chính tỷ lệ bảo hộ cao này đã cho phép các ngành công nghiệp tồn tại thậm chí ngay cả khi chi phí sản xuất cao gấp ba hoặc bốn lần so với hàng nhập khẩu mà chúng thay thế. Ngoài ra, sử dụng hạn ngạch nhập khẩu để bảo hộ sẽ dẫn đến phí “thuê hạn ngạch” và một sự độc quyền. Sự cạnh tranh giành lợi nhuận này dẫn đến nhiều công ty gia nhập vào một thị trường mà thực tế chỉ đủ chỗ cho một công ty và sản xuất được tiến hành trên quy mô rất không có hiệu quả… Một chi phí nữa cũng được đề cập đến là việc hạn chế nhập khẩu để thúc đẩy sản xuất trong nước, nhưng với thị trường trong nước nhỏ hẹp, qui mô sản xuất này cũng không có hiệu quả.

    Vào cuối những năm 1980, những hạn chế của chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu càng bị chỉ trích, không những bởi các nhà kinh tế mà còn là các tố chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và ngay cả những nhà làm chính sách của các nước áp dụng. Số liệu thống kê đã chứng minh rằng, ở các nước đáng phát triển theo đuổi chính sách thương mại tự do hơn có tốc độ phát triển trung bình nhanh hơn các nước theo chính sách bảo hộ. Sự thực hiển nhiên này đã giúp các nước đang phát triển tháo dỡ bớt hàng rào bảo hộ của mình bằng bỏ dần hạn ngạch và giảm thuế quan.

    2- Chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu và nền kinh tế nhị nguyên: Trong khi chính sách thương mại của các nước kém phát triển, một phần bị phản đối bởi sự tụt hậu của họ khi so sánh với các nước phát triển, chính sách này còn bị phản ứng đối với sự phát triển không đồng đều trong phạm vi từng nước. Khi đó, một khu vực công nghiệp hiện đại, sử dụng nhiều vốn, lương cao tồn tại trong cùng một quốc gia với một khu vực nông nghiệp truyền thống rất nghèo khổ. Sự phân chia một nền kinh tế thống

    nhất thành hai khu vực có mức độ phát triển khác nhau được gọi là tình trạng “hai khu vực” của nền kinh tế, và nền kinh tế như vậy được gọi là nền kinh tế “nhị nguyên”. Các dấu hiệu của nền kinh tế nhị nguyên:

    • Giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân ở khu vực hiện đại cao hơn nhiều so với khu vực còn lại của nền kinh tế. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm do một công nhân trong khu vực công nghiệp làm ra có giá trị cao hơn vài lần so với sản phẩm của một công nhân trong nông nghiệp. Đôi khi sự khác biệt này lên tới 15/1.
    • Cùng với giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân cao là mức lương cao. Lương công nhân trong công nghiệp có thể cao hơn 10 lần so với lao động trong nông nghiệp.
    • Tuy nhiên, trong khu vực công nghiệp, mặc dù lương cao, lợi tức của đồng vốn không nhất thiết cao hơn. Trên thực tế, dường như thường là trong khu vực công nghiệp vốn đưa lại lợi tức thấp hơn.
    • Giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân cao tại khu vực hiện đại ít nhất một phần là do sự tập trung vốn cao hơn trong sản xuất. Công nghiệp chế tạo tại các nước kém phát triển thường sử dụng vốn cao hơn nhiều so với nông nghiệp (ở các nước tiên tiến thì trái lại, nông nghiệp lại là ngành sử dụng nhiều vốn). Tại các nước đang phát triển, nông dân thường sử dụng các công cụ thô sơ, trong khi các cơ sở công nghiệp tại đây lại chẳng khác mấy so với các nước tiên tiến.
    • Cuối cùng, nhiều nước kém phát triển có vấn đề thất nghiệp thường xuyên. Đặc biệt

    tại các khu vực đô thị có một số lượng lớn những người hoặc không có việc làm, hoặc thỉnh thoảng mới có vi ệc làm được trả lương đặc biệt thấp. Những người thành thị không có việc làm này cùng tồn tại với tầng lớp công nhân công nghiệp thành thị được trả lương tương đối cao.

    Chính sách ngoại thương thường bị cáo buộc tội là nguyên nhân làm tăng chênh lệch về

    lương giữa công nghiệp và nông nghiệp và khuyến khích tập trung vốn quá mức vào công nghiệp. Sự khác biệt về lương này cũng phản ánh s ức mạnh độc quyền của các ngành công nghiệ p được che chở bởi các hạn ngạch nhập khẩu hay mức thuế quan cao trước sự cạnh tranh của nước ngoài.

    3- Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu : “Sự diệu kỳ Đông TOP  
    Á”
       

    :

    Nếu như thậ p niên 1950-1960 chứng kiến cao trào công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu, thì bắt đầu cuối những năm 1960 đã xuất hiện một chính sách công nghiệp hóa mới, h ướng ra xuất khẩu sản phẩm chế tạo. Một nhóm các quốc gia phát triển theo định hướng này đã đạt tốc độ phát triể n cao về kinh tế, có nước đạt hơn 10%/năm, mà Ngân hàng Thế giới gọi là “những nền kinh tế hiệu quả cao Châu Á” (High Performance Asian Economies HPAEs).

    Trong khi những thành tựu của HPAEs không được nhân lên mà cũng không có một câu hỏi nào về sự thành công của HPEAs đã bác bỏ luậ n cứ trước kia cho rằng phát triển công nghi ệp phải đi bằng con đường thay thế hàng nhập khẩu, mà thành tựu này lại trở thành chủ đề tranh luận về “sự di ệu kỳ Đông Á”. Đặc biệt, qua nhiều quan sát khác nhau đã chỉ ra rằ ng có nhiều cách diễn giải khác nhau về vai trò của những chính sách c ủa chính ph ủ, bao gồm cả chính sách thương mạ i, đã là tiền đề cho sự phát triển kinh tế. Các quan sát này cũng chứng minh được r ằng, sự thành công của kinh tế Châu Á liên quan rấ t nhiều đến thương mại tự do và sự tác động của chính sách chính phủ; mặt khác, sự thành

    công này cũng lại chứng tỏ sự can thiệp của chính phủ vào chính sách thương mại là có hiệu lực.

    3.1- Sự kiện tăng trưởng kinh tế Châu Á :

    Ngân hàng Thế giới chia các nước HPAEs thành ba nhóm khác nhau bởi “sự diệu kỳ” bắt đầu ở những thời điểm khác nhau. Đầ u tiên là Nh ật Bản, t ốc độ phát triể n kinh tế nhanh bắt đầu không bao lâu sau Thế Chi ến Thứ Hai và bây giờ, thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản tương đương Mỹ và các nước EU. Vào những năm 1960 tốc độ kinh t ế phát triển nhanh bắt đầu ở bốn nước Châu Á nhỏ hơn và thường được gọi là “bốn con hổ Châu Á”, đó là Hồng Kông, Đài Loan, Nam Triều Tiên và Singapore. Vào cuối những năm 1970 và những năm 1980 tốc độ kinh tế lại phát triển rất nhanh bắt đầu ở Malaysia, Thailand, Indonesia và ngoạn mục nhất là Trung Quốc.

    Mỗi nhóm nước đề u đạt thành tựu cao bởi tốc độ phátï triển kinh tế. Thu nh ập quốc nội của các “con rồng” t ăng bình quân 8-9% một năm từ giữa những năm 1960 cho đến 1997 xảy ra khủng hoảng tiền tệ Châu Á, trong khi Mỹ và EU chỉ tăng 2-3%/năm. Tốc độ phát triển kinh tế của Châu Á vẫn còn tiếp tục được đem ra so sánh với các nước khác và Trung Quốc là một ví dụ điển hình, trong suốt thập niên 1990 và ngay bây giờ cũng vậy, tốc độ tăng GDP của Trung Quốc là khoảng 10%/năm.

    Ngoài tốc độ phát triển kinh tế cao, các nước HPEAs còn đạt được một thành t ựu tiêu biểu khác, đó là mở cửa hội nhập vào thương mại quốc t ế và càng v ề sau, mức độ hội nhập càng cao hơn. Vì vậ y , trong phát triển kinh tế, các nướ c Châu Á hướ ng về xuất khẩu nhiều hơ n các nước đang phát triển khác như Châu Mỹ la tinh và các nướ c Nam Á. Sự “hướng về xuất khẩ u” của các nước Châu Á trong thập niên 90 cao hơn so với các nước khác có thể nhậ n thấy được qua bảng 4.1, bảng tỷ lệ xuất khẩu so với thu nhập quốc dân của một số nước tiêu biểu.

    Bảng 4.1 Tỷ lệ Xuất khẩu so với thu nhập quốc dân (1990)

    Nước Tỷ lệ xuất khẩu so với thu nhập quốc dân (%)
    Brazil 7
    Ấn độ 8
    Hoa kỳ 10
    Nhật 11
    Tây Đức 32
    Nam Triều Tiên 32
    Hồng Kông 137
    Singapore 190

    (Nguồn: International Economics trang 259)

    2.2- Chính sách thương mại trong các nước HPAEs:

    Một vài nhà kinh tế học cho rằng thành công của các nước Đông Á tượng trưng cho

    chính sách ngoại thương hướng ngoại. Xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao trong

    GDP của các nước Châu Á là một minh chứng cho chính sách này. Mặc dù chính sách

    này chưa tương ứng với chính sách thương mại tự do hoàn toàn, tuy nhiên, nó đã tự do

    hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển chủ trương hạn chế nhập khẩu làm động lực

    phát triển. Và tốc độ phát triển cao giống như phần thưởng cho chính sách thương mại

    mở cửa của họ.

    Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế học khác không đồng ý với quan điểm cho rằng tốc độ phát triển thương mại cao c ủa các n ước HPEAs có quan hệ mật thiết với thương mại tư do, ngoài trừ Hồng Kông, nước có chính sách thương mại tự do nhất, các HPAEs còn lại đều

    duy trì một mức thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu và các chính sách của chính phủ

    để quản lý thương mại. Xuất nhập khẩu tăng cao cũng không nhất thiết phải nhờ đến

    thương mại tự do, như Thái Lan chẳng hạn, xuất nhập khẩu tăng vọt vào những năm 1990

    là nhờ chính sách thu hút đầu tư của các công ty đa quốc gia, chính sự đầu tư này là tiền

    đề cho xuất khẩu và nhập khẩu. Và nhờ vào các con số thống kê, họ chứng minh được

    rằng, với một tỷ lệ bảo hộ mậu dịch thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển khác

    đã góp phần cho các HPAEs đạt được sự phát triển diệu kỳ. Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch của

    các HPAEs thấp hơn các nước khác được thể hiện qua bảng 4.2 như sau:

    Bảng 4.2 Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch trung bình của một số nước (1985).

    Nước Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch trung bình (%)
    HPAEs 24
    Các nước Châu Á khác 42
    Nam Mỹ 46
    Một số nước Châu Phi 34

    (Nguồn: International Economics, trang 268)

    3.3- Kinh nghiệm phát triển xuất khẩu các nước ASEAN :

    Nghiên cứu chính sách ngoại thương hướ ng về xuất khẩu của các nước ASEAN từ những năm 1970 đến nay ta có thể đưa ra các đánh giá cơ bản sau:

    • Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của các nước ASEAN biến động theo

    hướng:

    • Giảm dần tỉ trọng xuất khẩu những hàng hóa xuất khẩu dưới dạng thô ít qua chế biến. Ví dụ, qua bảng 4.3, ta nhận thấy rằng, như Thái Lan chẳng hạn, những năm 1960 hàng hóa chưa qua chế biến chiếm 98% kim ngạch xuất khẩu nhưng đến thập niên 1990, tỷ lệ này chỉ còn là 33%.

    Bảng 4.3:. Thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN giai đoạn 1960-1990

    Tên nước Hàng hóa chưa qua chế biến (%) Hàng hóa đã qua chế biến (%)
      1960 1970 1980 1990 1960 1970 1980 1990
    Singapore 74 70 27 22 26 30 73 78
    Indonesia 99 98 64 53 1 >1 36 47
    Malaysia 94 93 56 39 6 >6 44 61
    Philippines 96 93 48 27 4 >6 52 73
    Thái Lan 98 94 36 33 2 >5 64 67
        (Nguồn: Tư liệu về các nước ASEAN 1997)    
    • Tăng nhanh tỉ trọng hàng công nghiệp chế biến trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong ngành hàng công nghiệp chế biến thì: thực hiện giảm dần tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu những sản phẩm có hàm lượng lao động cao, mà nâng dần tỉ trọng xuất khẩu hàng hóa cao cấp có hàm lượng tư bản và công nghệ cao như sản phẩm của ngành hóa chất, chế tạo máy móc trang thiết bị. Cũng lấy Thái Lan làm ví dụ, những năm 1970, mặt hàng công nghiệp chỉ chiếm 5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đến thập niên 1990, tỷ trọng hàng công nghiệp đã chiếm tới 71,38% kim ngạch xuất khẩu (bảng 4.4). Các nước ASEAN khác như Singapore, Indonesia, Malaysia và Philippines cũng có sự thay đổi tương tự về

    tỷ lệ hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ thập niên 1970 đến 1990 (bảng 4.4).

    Bảng 4.4: Tỉ trọng hàng công nghiệp trong kim ngạch xuất khẩu của các nước

    ASEAN                                                                                                                                                Đơn vị tính:

    %.

    Tên nước 1970 1981 1991 1996
    Indonesia 1,2 2,9 42 55,78
    Malaysia 6,3 19,5 58,9 82,8
    Philippines 6,4 22,8 69,72 70,1
    Thái Lan 5 24,8 74,7 71,38
    Singapore 28 41,1 57,2 85
      (Nguồn: Tư liệu về các nướ c ASEAN 1997)  

    Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN có thể lý giải như sau:

    • Hàng chưa qua chế biến nên giá trị xuất khẩu thấp, tỉ lệ hao hụt, hư hỏng lại cao, đặc biệt xuất khẩu nông sản vốn là thế mạnh trong những ngày đầu phát triển các nước

    ASEAN.

    • Hàng chưa qua chế biến không cho phép sử dụng nhiều nhân công lao động vốn là lợi thế của ASEAN.
    • Hàng sơ chế chỉ thường xuất khẩu qua các thị trường trung gian, sau đó tái chế mới xuất khẩu được sang các thị trường cao cấp cho nên trị giá hàng xuất khẩu càng thấp.
    • Cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật đã lôi kéo các nước ASEANvào cuộc, giúp cho các nước mau chóng đầu tư máy móc và công nghệ cho phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm và chế tạo thiết bị máy móc.
    • Đồng Yên Nhật liên tục lên giá thời kỳ 60-96, giá nhân công liên tục tăng cho nên

    Nhật đấu tư mạnh mẽ ra nước ngoài, trong đó có các nước ASEAN để phát triển những ngành công nghiệ p chế biến sử dụng nhiều nhân công như: công nghiệp dệt, may mặc, lắp ráp hàng điện tử, đồ gia dụng…

    • Giá cả xuất khẩu nông sản thường xuyên biến động, đặc biệt như sự sụt giá liên tục của một số sản phẩm thô diễn ra ở thời kỳ 1960-1970 như đay, mía đường, các loại rau quả…

    khiến cho các nước ASEAN quyết tâm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của mình theo hướng công nghiệp hóa

    Việc sớm mở cửa thị trường và thực hiện chính sách “hướng về xuất khẩu” đã giúp năm nước ASEAN trong nhóm ASEAN – 6 (trừ Bruney, quốc gia chưa đến 1 triệu dân nhưng có thế mạnh đặc thù về xuất khẩu tài nguyên thiên thiên là dầu mỏ) thay đổi cơ cấu kinh tế quốc gia, nâng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP. Cho đến cuối thập niên 90, năm nước ASEAN trong nhóm ASEAN – 6 kể trên đã có một “cơ cấu kinh tế khá lý tưởng” (bảng 4.5).

    Bảng 4.5: Cơ cấu kinh tế của các nước ASEAN 1997

          Đơn vị tính: %
    Nước Nông nghiệp (% GDP) Công nghiệp (% GDP) Dịch vụ (% GDP)
    Myanmar 59 10 31
    Lào 52 21 26
    Cambodia 51 15 34
    Việt Nam 33 27 40
    Philippines 19 32 49
    Indonesia 16 43 41
    Malaysia 12 47 41
    Thailand 11 40 49
    Singapore 0 35 65

    (Nguồn: Kinh tế thế giới số 3/2001)

    Việc thay đổi cơ cấ u kinh tế này đã giúp các quốc gia khai thác được lợ i thế so sánh của mình đồng thời gia tăng sản xuất các ngành hàng có giá trị gia tă ng cao, chính điều này lại thúc đẩy nhanh quá trình phát triển. Điều đó cũng được minh chứng ngay trong bảng 4.5, các nước ASEAN còn lại có nền kinh tế kém phát triển hơ n như Myanmar, Lào, Cambodia, Việ t Nam, cơ c ấu kinh tế còn quá nặng về sản xuất nông nghiệp, một ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp.

    • Thị trường xuất khẩu chủ yếu của các nước ASEAN là các nước công nghiệp phát triển:

     

    Thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của các nước ASEAN là thị trường các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), đặc biệt là thị trường Mỹ, Canada, EU và Nhật Bản. Đây là những thị trường tạo điều kiện cho nền kinh tế của các nước ASEAN cất cánh.

    Qua bảng 4.6 ta thấy, thị trường Mỹ, EU, Nhật chiếm trên dưới 60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của các nước ASEAN* này (ASEAN*: Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia).

    Bảng 4.6: Thị trường xuất khẩu chủ yếu hàng công nghiệp của một số nước ASEAN

              Đơn vị tính: %
    Thị trường 1985   1990 1994  
         
                 
    Nhật   10,6 12,7   11,6  
    EU   20,8 21,1   16,5  
    Mỹ   30,0 25,8   24,7  
    Cộng Mỹ, Nhật,   61,4 59,6   52,8  
    EU            
    ASEAN   3,5 3,3   4,1  
    Các nước khác   35,1 37,1   43,1  
    Với toàn thế giới   100,0 100,0   100,0  

    (Nguồn: Tư liệu về các nước ASEAN 1997)

    Nói chung trên cả thị trường xuất khẩu lẫn nhập khẩu, tỷ trọng buôn bán với các nước thuộc OECD của các nước ASEAN, cũng cao hơn. Nhìn vào bảng 4.6B ta thấ y các nước được liệt kê trong giao thương bên ngoài ASEAN những năm 1996-1997 hầu như là các nước thành viên OECD (trừ Trung Quốc, Nga và Ấn Độ).

    Nguyên nhân:

    • Các nước OECD thường cho các nước ASEAN hưởng chế độ thuế quan đặc biệt thấp.
    • Khả năng tiêu thụ và khả năng thanh toán của các nước OECD rất lớn.
      • Khi xuất khẩu sang các nước OECD dễ dàng nhập khẩu máy móc, công nghệ tiên tiến phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở các nước ASEAN.

    Bảng 4.7: Giao dịch thương mại giữa ASEAN và các nước 1996-1997 (triệu USD).

      ASEAN xuất khẩu đến ASEAN nhập khẩu từ Tỷ lệ xuất Tỷ lệ nhập  
    Nước khẩu (%) khẩu (%)  
           
                       
      1996 1997 1996 1997 1996 1997 1996 1997  
    Bênngoài 192.882,3 212.453,9 228.739,8 238.320,5 59,6 62,0 65,2 66,9  
    ASEAN
                     
    EU 46.926,0 46.086,7 57.380,5 51.009,8 14,5 13,4 16,4 14,3  
    Mỹ 59.515,5 70.030,4 53.011,4 61.695,0 18,4 20,4 15,1 17,3  
    Úc 6.106,0 6.418,4 8.688,8 7.963,9 1,9 1,9 2,5 2,2  
    New Zealand 812,5 773,8 1.150,8 1.297,1 0,3 0,2 0,3 0,4  
    Canda 1.988,2 1.881,9 2.445,6 2.568,0 0,6 0,5 0,7 0,7  
    Nhật 43.150,3 42.008,6 73.310,1 71.264,2 13,3 12,3 20,9 20,0  
    Trung Quốc 18.045,1 29.237,1 14.573,6 22.154,0 5,6 8,5 4,2 6,2  
    Nga 3.169,2 876,1 2.040,9 1.115,6 1,0 0,3 0,6 0,3  
    Ấn Độ 3.722,8 4.473,2 2.843,8 4.395,5 1,2 1,3 0,8 1,2  
    Hàn Quốc 9.446,7 10.667,8 13.294,4 14.857,4 2,9 3,1 3,8 4,2  
                       
    Nội bộ ASEAN 79.986,3 84.419,0 63.948,3 64.452,1 24,7 24,6 18,2 18,1  
    Brunei 2.008,5 1.776,6 457,2 301,9 0,6 0,5 0,1 0,1  
    Indonesia 2.264,9 2.833,4 2.914,5 2.874,2 0,7 0,8 0,8 0,8  
    Lào 721,5 1.287,5 50,0 52,1 0,2 0,4 0,0 0,0  
    Malaysia 25.130,8 27.131,0 25.716,5 25.459,2 7,8 7,9 7,3 7,2  
    Myanma 1.368,3 1.590,7 493,9 344,3 0,4 0,5 0,1 0,1  
    Philippine 4.360,1 5.672,4 2.637,2 3.285,6 1,3 1,7 0,8 0,9  
    Singapore 28.071,7 25.880,3 19.492,1 19.234,4 8,7 7,6 5,6 5,4  
    Thái Lan 11.546,2 10.715,5 11.213,9 11.544,6 3,6 3,1 3,2 3,2  
    Việt Nam 4.514,4 7.531,8 973,0 1.355,9 1,4 2,2 0,3 0,4  
    Các nước khác 50.493,0 45.797,2 57.918,1 53.199,1 15,6 13,4 16,5 14,9  
    Tổng cộng 323.361,5 342.670,1 350,606.2 355,971.8 100,0 100,0 100.0 100.0  
          (Nguồn: ASEAN Secretariat)        

    (3) Nhà nước rất quan tâm đề ra những biện pháp hỗ trợ và khuyến khích xuất

    khẩu:

    Kim ngạch xuất xuất của các nước ASEAN tă ng lên nhanh chóng, một trong những nguyên nhân chính là do Chính ph ủ mỗi nước đề ra những chính sách có hiệu quả để hỗ trợ và khuyến khích xuất khẩu, cụ thể:

    • Phá giá đồng tiền nội địa để khuyến khích xuất khẩu.
    • Trợ cấp xuất khẩu thông qua các hình thức: giảm thuế nội địa cho các nhà xuất khẩu, đầu tư cơ sở hạ tầng, các cơ quan nghiên cứu hỗ trợ phát triển…
    • Nhà nước góp vốn và kêu gọi đầu tư nước ngoài thành lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung để đẩy mạnh phát triển các ngành hàng xuất khẩu.
    • Chính phủ đẩy mạnh hoạt động đối ngoại: thỏa thuận với các chính phủ nước ngoài mở rộng thị trường, hạn ngạch xuất khẩu qua các nước và các khu vực, xin hưởng chế độ thuế quan ưu đãi, giúp các nhà xuất khẩu nội địa tăng cường sức mạnh cạnh tranh ở nước ngoài.
    • Nhà nước phát triển hệ thống thông tin về thị trường, đưa ra định hướng phát triển các ngành hàng xuất khẩu giúp cho các nhà kinh doanh và sản xuất hàng xuất khẩu xây dựng chiến lược phát triển lâu dài.

    Nhờ những biện pháp tích cực kể trên nên chỉ trong hai thập kỷ 70 và 80 mà các nước ASEAN đã nâng tỉ trọng xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội lên nhanh chóng và tiếp tục phát triển trong thập kỷ 90. Bảng 4.7 thể hiện một cách rõ rệt sự gia tăng tỷ lệ xuất khẩu so với tổng GDP của các nước ASEAN:

    Bảng 4.8: Tỉ lệ xuất khẩu so với GDP của các nước ASEAN giai đoạn 1970-2000

    Đơn vị tính: (%)

    Nước 1970 1980 1990 1996 1997 1998 1999 2000
    Brunei       49,71 52,06 45,43 56,80 72,72
    Cambodia       20,30 27,76 32,00 32,54 37,86
    Indonesia 11,2 34,4 28,7 22,07 26,09 52,78 36,26 40,79
    Lao PDR       17,13 18,15 29,32 20,81 20,44
    Malaysia 39,8 56,0 69,9 76,33 77,17 98,97 106,19 109,83
    Myanmar       17,03 18,42 20,33 17,72 19,41
    Philippines 12,3 17,3 18,5 29,63 31,27 45,03 44,63 49,60
    Singapore 78,8 176,3 153,4 136,6 133,15 134,64 137,92 168,90
    Thailand 9,5 20,8 34,4 29,97 37,53 47,25 46,53 55,72
    Việt Nam       29,75 34,60 33,78 40,23 45,26
    ASEAN 19,0 40,0 49,9 46,93 51,80 70,10 65,51 73,32

    (Nguồn: ASEAN Statistics Webmaster)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/%C4%90%E1%BB%81-t%C3%A0i-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-m%E1%BB%9F-r%E1%BB%99ng-v%C3%A0-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-trung-d%C3%A0i-h%E1%BA%A1n-t%E1%BA%A1i-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Sau hơn 10 năm đổi mới kinh tế, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, lạm phát được kiểm soát, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên trong năm

    1997, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  5

    không thể phủ nhận vai trò to lớn của hoạt động tín dụng trung dài hạn trong việc phục hồi và thúc đẩy nền kinh tế sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng phát triển theo hướng CNH – HĐH. Hoạt động tín dụng trung dài hạn có hiệu quả hay không không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi ngân hàng mà còn là vấn đề quan tâm của cả nền kinh tế. Hiệu quả hay nói cách khác chất lượng tín dụng trung dài hạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố thuộc về ngân hàng nhưng cũng có yếu tố thuộc về khách hàng, chất lượng tín dụng trung dài hạn còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô như các yếu tố: chính trị, tình hình phát triển kinh tế…

    Qua một thời gian thực tập tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam, em nhận thấy mặc dù ngân hàng ngoại thương đã có những biện pháp nhất định nhưng hoạt động tín dụng trung dài hạn còn có nhiều khó khăn và tồn tại, ngân hàng cũng chưa phát huy hết hiệu quả và vai trò của nghiệp vụ này trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, cũng như chất lượng tín dụng trung dài hạn cũng còn nhiều bức xúc mà ngân hàng phải giải quyết.

    Sau khi tìm hiểu sâu vấn đề, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm mở

    rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam”.

    Nội dung bài viết của em được chia thành ba chương:

    Chương i: Những lý luận chung về hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại.

    Trong chương này em xin trình bày về một nét khái quát về NHTM và về hoạt động tín dụng trung dài hạn của NHTM.

    Chương ii: Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương

    Trong chương này em trình bày về thực trạng tín dụng trung dài hạn thông qua các con số của ngân hàng ngoại thương thống kê từ đó đưa ra những thành tựu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  6

    mà ngân hàng đã thực hiện được và các tồn tại cần phải giải quyết cùng các nguyên nhân của tồn tại đó.

    Chương iii: Những giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương

    Trong chương này, xuất phát từ những tồn tại đã nêu ở chương ii, em đưa ra một số giải pháp có thể áp dụng vào thực tế hoạt động của ngân hàng ngoại thương trong những năm tới.

    Cuối cùng, em xin chân thành cám ơn Thầy giáo T.S Nguyễn Hữu Tài, cùng toàn thể cán bộ tín dụng phòng dự án của ngân hàng ngoại thương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài viết của mình.

    CHƯƠNG MỘT:

    NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍNH DỤNG TRUNG DÀI

    HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

    i. Khái quát chung về ngân hàng thương mại

    1.     Khái niệm ngân hàng thương mại.

    Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thương mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Khi sản xuất phát

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  7

    triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khác phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền. Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa. Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ… trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.

    Từ lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy, các ngân hàng thương mại chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhất định, dẫn đến tính tất yếu khách quan của việc hình thành hệ thống ngân hàng gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế.

    Ngân hàng quốc gia Việt Nam ra đời ngày 05/05/1951 theo sắc lệnh 15/SL của Chủ tịch nước VNDCCH. Trong giai đoạn 1951 – 1987, ở Việt Nam đã tạo lập hNệ thông ngân hàng một cấp, chỉ phù hợp với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung. Khi nước ta chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, hệ thông ngân hàng một cấp tất yếu phải được cải tổ sang hệ thống ngân hàng hai cấp: cấp quản lý và kinh doanh. Sau khi Nghị định số 53/HĐBT được ban hành ngày 26/03/1998 bộ máy NHNN được tổ chức thành hệ thống thống nhất trong cả nước, gồm hai cấp là NHNN và các Ngân hàng chuyên doanh trực thuộc. Hệ thống NHNN Việt Nam hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 – LTC/HĐNN8 ngày 24/05/1990 quy định: NHTM là: “tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    2.     Chức năng của Ngân hàng thương mại.

    Trung gian tín dụng

    Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh

    tế, mặt khác nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu nối”

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  8

    giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn. Thông qua sự điều chuyển này. ngân hàng thương mại có vai trò quan trong trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi Chính phủ. Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Từ đó cho thấy rằng, đây là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại.

    Trung gian thanh toán

    Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội đều được thực hiện bên ngoài ngân hàng thì chi phí thực hiện là rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền… Với sự ra đời của ngân hàng thương mại, phần lớn các khoản chi trả trong hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ của xã hội dần được thực hiện qua ngân hàng, với những hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện với công nghệ ngày càng hiện đại hơn. Chính nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội ở ngân hàng nên việc lưu thông hàng hoá dịch vụ trở nên nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn. Không những vậy, do thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có điều kiện huy động tiền gửi của toàn xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

    Chức năng tạo tiền

    Xuất phát từ khả năng thay thế lượng tiền giấy bạc trong lưu thông bằng những

    phương tiện thanh toán khác như séc, uỷ nhiệm chi… Chức năng này được thực hiện thông qua nghiệp vụ tín dụng và đầu tư của hệ thống ngân hàng thương mại, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống dự trữ quốc gia. Hệ thống tín dụng là điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế theo hệ số tăng trưởng vững chắc. Mục đích của chính sách dự trữ quốc gia là đưa ra một khối lượng tiền cung ứng phù hợp với chính sách ổn định về giá cả, tăng trưởng kinh tế ổn định và tạo được việc làm.

    3.Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  9

    Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển, đang phát triển, thậm chí chưa phát triển thì hoạt động ngân hàng cũng có tác dụng to lớn đến hoạt động của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của ngân hàng được thể hiện như sau:

    Ngân hàng là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung ứng tiền vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh.

    Ngân hàng là trung gian trong quá trình thanh toán góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá nhanh chóng.

    Ngân hàng góp phần điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn. Ngân hàng góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và cung

    cấp các dịch vụ tài chính khác.

    ii.Tính dụng trung dài hạn của hệ thống ngân hàng thương mại.

    Tính dụng là hoạt động tryền thống chủ yếu và quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại. Các nhà nghiên cứu cho rằng các khoản cho vay chiếm tới 60% tài sản của ngân hàng và đem lại 55 – 70% lợi nhuận của ngân hàng. Do vậy ngân hàng phải thực hiện thành công chính sách, kế hoạch tín dụng thì mới có thể tồn tại và phát triển, đồng thời đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế.

    1.     Khái niệm và bản chất của tín dụng ngân hàng.

    Tín dụng ra đời từ thế kỷ XVi, đó là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, đã và đang thể hiện ngày càng rõ nét những đặc tính ưu việt của mình, đóng góp một vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu.

    Tín dụng ngân hàng là “quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo một thời gian nhất định giữa một bên là ngân hàng – một tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội, và dân cư trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay ”.

    Đề hiểu rõ bản chất của tín dụng ngân hàng, chúng ta cần xem xét quá trình

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          10

    vận động của tín dụng qua các giai đoạn sau:

    Giai đoạn 1: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay.

    • đây vốn được chuyển từ Ngân hàng sang người đi vay. Xét về bản chất, khi đi vay giá trị của vốn tín dụng ngân hàng giống với việc mua bán các hàng hoá

    thông thường. Chỉ một bên nhận được giá trị còn lại một bên nhượng đi giá trị.

    Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất.

    • giai đoạn này, vốn vay được sử dụng để mua hàng hoá để thoả mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay. Người đi vay không có quyền sở hữu

    mà chỉ có quyền sử dụng vốn vay.

    Giai đoạn 3: Hoàn trả tín dụng

    Đây là giai đoạn kết thúc của một vòng tuần hoàn tín dụng. Khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng của người vay hoàn trả lại cho ngân hàng. ở đây tiền không được bỏ ra thanh toán cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ được đem nhượng đi với một điều kiện là nó quay trở lại điểm xuất phát sau một chu kỳ nhất định. Đó là một bản chất riêng của ngành ngân hàng, sự hoàn trả được bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng lên dưới hình thức lợi tức.

    2.Tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại.

    2.1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn, nguồn vốn trung dài hạn và sự cần thiết của nó

    2.1.1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn

    Tín dụng trung dài hạn: “là hoạt động tài chính tín dụng cho khách hàng vay vốn trung dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống”. Tuỳ theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể của hoạt động tín dụng trung dài hạn. ở Việt Nam, về thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 11

    hàng và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Hiện nay thời hạn của tín dụng trung dài hạn được xác định như sau:

    Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 5 năm.

    Thời hạn cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống.

    Như vậy nhìn chung các khoản tín dụng trung dài hạn có các đặc trưng cơ bản sau:

    Chúng có thời hạn trên một năm.

    Chúng được trả bằng những khoản trả vay theo thời gian (có thể theo quý, tháng, năm hoặc nửa năm) trong kỳ hạn của khoản vay.

    Chúng thường được đảm bảo bằng những tài sản lưu động đem ra thế chấp hoặc văn tự cầm cố tài sản cố định.

    Mục đích của hoạt động tín dụng trung dài hạn là để đầu tư dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sảm cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội và pháp luật quy định.

    2.1.2. Nguồn vốn để cho vay trung dài hạn

    Có thể nói rằng nguồn vốn cho hoạt động tín dụng trung dài hạn ở Việt Nam hiện nay là rất nhỏ bé được hình thành từ các nguồn sau:

    Nguồn vốn tự có: nguồn vốn này rất hạn chế vì nó chỉ chiếm từ 5 đến 10% tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.

    Nguồn vốn huy động từ hình thức phát hành trái phiếu trung dài hạn hoặc huy động tiền gửi trung dài hạn.

    Nguồn huy động ngắn hạn định kỳ. Nguồn này có thể được xem xét, tính trích ra một tỷ lệ phần trăm nào đó tuỳ thuộc vào sự biến động của tiền gửi.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          12

    Nguồn vốn vay từ ngân hàng nhà nước. Nguồn này bị hạn chế vào chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN. Các ngân hàng thương mại rất khó thuyết phục NHNN cho vay trung dài hạn vì nó rất dễ gây ra lạm phát, nhất là trong thời kỳ xây dựng cơ bản chưa có hàng hoá đối ứng.

    Nguồn nhận vốn uỷ thác và vốn tài trợ cho vay theo chương trình hoặc dự án đầu tư của nhà nước, của tổ chức kinh tế – tài chính – tín dụng trong và ngoài nước. 2.1.3. Sự cần thiết của tín dụng trung dài hạn

    Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng trung dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát triển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ,… Đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay nhu cầu về vốn xây dựng cơ bản là rất lớn, trong lúc các nhà kinh doanh chưa tích luỹ được nhiều, chưa có thời gian để tích luỹ vốn, tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn hạn chế. Do vậy các doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư chủ yếu phải dựa vào nguồn vốn tự có của mình và bộ phận chủ yếu còn lại phải dựa vào sự tài trợ của hệ thống ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh của mình, các doanh nghiệp ngày càng thích huy động vốn để tiến hành đầu tư thông qua hình thức đi vay trung dài hạn tại các ngân hàng hơn là việc phát hành cổ phiếu hoặc phát hành trái phiếu dài hạn vì:

    Việc đi vay vốn trung dài hạn ở ngân hàng sẽ làm cho doanh nghiệp có thể tự chủ và khả năng kiểm soát độc lập được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình mà không bị pha loãng quyền kiểm soát doanh nghiệp với các cổ đông mới trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu mới.

    Trong trường hợp phát hành trái phiếu, không phải doanh nghiệp nào khi cần huy động vốn trung dài hạn chỉ cần bán trái phiếu là có người mua ngay mà còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa như uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Các nhà đầu tư chỉ tiến hành mua trái phiếu của doanh nghiệp khi họ thật

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          13

    sự tin tưởng vào doanh nghiệp mà yếu tố này không phải bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có được.

    Khi doanh nghiệp vay vốn trung dài hạn ngân hàng, ngân hàng sẽ có thể điều chỉnh được kỳ hạn nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian đến hạn trả nợ khi họ không cần phải sử dụng đến vốn vay trung dài hạn. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định thì cũng có thể xin ngân hàng gia hạn nợ. Còn việc huy động vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu thì doanh nghiệp luôn phải đối mặt với việc trả lãi trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi khi công việc kinh doanh gặp khó khăn.

    Việc trả nợ vốn vay trung dài hạn cũng được ấn định theo một sự phân chia hợp lý và ổn định vì vậy các doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các khoản trả nợ một cách dễ dàng hơn.

    Tín dụng trung dài hạn ngày càng được các doanh nghiệp ưa thích hơn vì phù hợp với điều kiện thực tế của các doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp nhỏ. Các công ty cổ phần lớn cũng thích vay vốn trung dài hạn để tránh những sự phân chia quyền lợi, kiểm soát công ty do việc phát hành cổ phiếu đem lại.

    Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn tín dụng trung dài hạn cho đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ là rất lớn. Nhu cầu vốn này được thoả mãn một phần nhờ vốn do ngân sách nhà nước cấp phát, vay nước ngoài và một phần huy động từ dân cư. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, việc cung cấp vốn thông qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tín dụng trung dài hạn là rất quan trọng.

    Hệ thống ngân hàng thương mại là một hệ thống kinh doanh tiền tệ, có kinh nghiệm thẩm định các dự án, các chương trình đầu tư do vậy việc các ngân hàng thương mại cung cấp vốn trung dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp. Khi ngân hàng cho vay thì có thể soạn thảo hộ những doanh

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          14

    nghiệp các dự án đầu tư, có thể tư vấn cho các doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, thông tin cho khách hàng những thông tin cần thiết.

    2.2. Các hình thức tín dụng trung dài hạn:

    Hoạt động tín dụng theo dự án đầu tư: đây là hình thức tín dụng trung dài hạn chủ yếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Dự án đầu tư là tợp hợp những đề xuất dựa trên cơ sở căn cứ khoa học và thực tiễn về việc bỏ vốn để cải tạo đổi mới kỹ thuật và công nghệ những đối tượng là tài sản cố định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Dự án do doanh nghiệp đưa ra và sau khi được các cấp có thẩm quyền xét duyệt về các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, xã hội sẽ được gửi tới ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vay vốn tài trợ của dự án. Dựa vào lĩnh vực tài trợ mà ta chia làm hai hình thức phổ biến:

    -) Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm cải tạo, khôi phục, mở rộng, thay thế tài sản cố định. Trong hình thức này, nguồn vốn của Ngân hàng tham gia vào dự án tương đối lớn, thời gian tín dụng của dự án không dài, các dự án này thường có quy mô vừa và nhỏ. Các dự án loại này đã và đang được ngân hàng tài trợ có hiệu quả.

    -) Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm để đầu tư xây dựng theo dự án mới, đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi tham gia vào hình thức này nguồn vốn của ngân hàng tham gia thường nhỏ hơn nguồn vốn tự có của chủ đầu tư, thời gian của dự án thường dài.

    Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi hết thời hạn thuê, khách hàng có thể thuê tiếp hoặc mua lại theo các thoả

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          15

    thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng

    Thấu chi: tức là ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được quyền chi vượt số dư trên tài khoản tiền gửi với những điều kiện nhất định. Chi phí cơ bản đối với người vay là lãi suất đánh vào số dư thấu chi ngày. Người vay nói chung chỉ phải trả lãi số tiền đã sử dụng vì không có yêu cầu số dư bồi thường và cho trong giai đoạn số tiền bị lấy đi. Vì lý do đó, chi phí hữu hiệu của một khoản nợ thấu chi là lãi suất được định ra trên số dư thấu chi.

    Bảo lãnh trung dài hạn mua thiết bị trả chậm: là cam kết của ngân hàng về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho chủ đầu tư, đứng trả nhập thiết bị máy móc, thiết bị với thời hạn ít nhất là một năm trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ với nhà xuất khẩu. Hình thức này được áp dụng khi chủ đầu tư không đủ khả năng trả nợ ngay một lần. Họ ký hợp đồng với bên xuất khẩu xin trả nợ dần theo giá trị của thiết bị hàng năm dưới sự bảo lãnh của ngân hàng. Hình thức này rất có lợi cho chủ đầu tư vì họ không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để mua máy móc thiết bị mà khoản tiền nay sẽ được trả dần theo một chuỗi niên kim khi các máy móc này sinh lời. Tuy nhiên, nếu chủ đầu tư không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho nhà xuất khẩu thì ngân hàng bảo lãnh phải đứng ra trả nợ thay cho chủ đầu tư, lúc này ngân hàng trở thành chủ nợ chính của nhà đầu tư.

    2.3. Vai trò của tín dụng trung dài hạn trong nền kinh tế thị trường.

    2.3.1. Đối với ngân hàng

    Ngân hàng là tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ, nhận gửi và huy động các nguồn tài chính nhằm mục tiêu lợi nhuận. An toàn trong lợi nhuận là mục của ngân hàng, nói cách khác ngân hàng là một kinh doanh gặp nhiều rủi ro do phần lớn tài sản có của nó là bộ phận tài sản sinh lợi lại không do ngân hàng trực tiếp sử dụng do vậy mà trong quá trình hoạt động, ngân hàng đạt được mục tiêu lợi

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          16

    nhuận nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn. Vì vậy ngân hàng luôn quan tâm đến những dự án mang hiệu quả cao. Hơn thế nữa, ngày nay sản phẩm ngân hàng cung ứng ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong những nghiệp vụ truyền thống như nhận gửi, cho vay hay trung gian thanh toán mà còn rất nhiều các nghiệp vụ đa dạng khác. Lợi nhuận do các nghiệp vụ này ngày một chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng. Một trong những khách hàng quan trọng nhất của những nghiệp vụ này không ai khác chính là các doanh nghiệp. Do vậy để tạo được mối quan hệ lâu dài trong tương lai, cũng là thị trường sinh lợi chính của mình, ngân hàng sử dụng tín dụng trung dài hạn như là một công cụ cuốn hút các khách hàng, củng cố lòng trung thành của các khách hàng truyền thống, đồng thời tạo ra các mối quan hệ mới với các khách hàng mới. Ngân hàng thông qua nguồn vốn tín dụng ưu đãi cung cấp tín dụng trung dài hạn cho các khách hàng, không những thu được lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đem lại mà còn thu thêm được lợi nhuận từ những dịch vụ khác cung cấp cho khách hàng. Hơn nữa năng lực cung cấp tín dụng trung dài hạn cũng chứng tỏ ngân hàng có được niềm tin lớn từ khách hàng cũng như công chúng, trong giai đoạn hiện nay nó cũng chứng tỏ khả năng cạnh tranh của ngâng hàng.

    2.3.2. Đối với doanh nghiệp

    Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp đang phải tham gia vào cuộc cạnh tranh gay gắt, đây là một thực tế tất yếu xảy ra ở bất kỳ nền kinh tế nào. Do sức ép của cạnh tranh mà các doanh nghiệp luôn có những nhu cầu đầu tư để tái sản xuất mở rộng, tăng khả năng sản xuất, phát triển thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, có như vậy doanh nghiệp mới đảm bảo tồn tại và phát triển. Nhưng muốn thực hiện các kế hoạch như vậy doanh nghiệp cần có một lượng vốn nhất định. ở Việt Nam hiện nay khi mà thị trường tài chính chưa hoàn thiện thì tín dụng ngân hàng là một giải pháp tối ưu nhất cho các doanh nghiệp. Đối với tất cả các dự án trên doanh nghiệp cần phải được tài trợ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 17

    bằng một nguồn vốn trung dài hạn, tín dụng trung dài hạn của ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu này của doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp có những công nghệ mới để nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, giúp cho doanh nghiệp có thể chịu được những sức ép ban đầu của cạnh tranh và của môi trường kinh doanh mới, giúp cho doanh nghiệp yên tâm hơn trong đầu tư và rảnh tay tính toán với những dự án lớn, hiệu quả cao. An toàn về tài chính và khả năng thanh toán là mối quan tâm của nhiều phía đặc biệt là các doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng trung dài hạn của ngân hàng vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

    2.3.3. Đối với nền kinh tế

    Đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu: Nhu cầu về tín dụng đặc biệt là tín dụng trung dài hạn tồn tại trong tất cả các nền kinh tế, không phụ thuộc vào trình độ phát triển cũng như chế độ chính trị xã hội bởi vì tất cả các quốc gia đều có chung một nhu cầu đó là nhu cầu đầu tư để phát triển. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển mạnh và bền vững nếu trong nền kinh tế đó các hoạt động đầu tư được đẩy mạnh. Khác với các loại hình đầu tư khác, hoạt động tín dụng trung dài hạn cho phép các tổ chức có được nguồn vốn với thời hạn hoàn vốn lâu dài đủ để đầu tư vào các dự án mang ý nghĩa chiến lược, phát huy được hiệu quả trong trung dài hạn. Đối với các Chính phủ, đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như: đường xá, cầu cảng, sân bay, nâng cấp, xây mới các đô thị… không thể đem lại hiệu quả trong chốc lát nhưng nó sẽ mang lại ích lợi to lớn sau này. Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính trung dài hạn, đối với các chính phủ sẽ giúp họ theo đuổi được các chính sách kinh tế vĩ mô từ đó có thể hướng được đầu tư tư nhân vào các ngành mà họ đang khuyến khích phát triển, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn. Với những công trình lớn do Chính phủ thực hiện, sẽ tạo ra nhiều việc làm mới, hình thành nhiều công ty đứng ra phục vụ các nhu cầu còn bỏ ngỏ. Những công trình phúc lợi được tài

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          18

    trợ bằng nguồn vốn trung dài hạn không đem lại lợi ích cho cá nhân thực hiện nhưng lợi ích mà nó tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế là vô cùng to lớn. Như vậy có thể nói tín dụng trung dài hạn đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các chương trinh kinh tế xã hội của một quốc gia, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc, theo chiều sâu.

    Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu của Chính phủ: Hiện nay ở nước ta đang tiến hành CNH – HĐH. Công nghiệp hoá không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản xuất công nghiệp mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới về công nghệ tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững, hiệu quả cao cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện hiện nay khi thị trường vốn của nước ta chưa phát triển thì hiện tại và trong thời gian tới tín dụng trung dài hạn vẫn đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình CNH – HĐH. Thông qua hoạt động tín dụng trung dài hạn, ngân hàng có thể cho vay đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành kinh tế này cũng như hạn chế đối với ngành kinh tế khác. Như vậy qua chính sách tín dụng trong từng thời kỳ mà các NHTM có thể tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn: tín dụng trung dài hạn đầu tư cho một dự án mới để đầu tư vào các máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản của doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất phát triển. Khi đó nhu cầu vôn lưu động sẽ tăng lên để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Tốc độ phát triển sản xuất càng lớn thì nhu cầu vốn ngắn hạn càng lớn.

    Thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu: Nhờ có tín dụng trung dài hạn của ngân hàng mà các doanh nghiệp có thể nhập khẩu công nghệ mới từ đó nâng cao được năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, được thị trường quốc tế chấp nhận. Thị trường của doanh nghiệp được mở rộng ra thị trường quốc tế góp phần tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          19

    Đảm bảo nguồn thu vững chắc cho Ngân sách nhà nước: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Khối lượng sản phẩm lớn được sản xuất và tiêu thụ sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách từ các loại thuế như VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK…Trong trường hợp hàng hoá được xuất khẩu thì

    chúng ta sẽ thu được một nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.

    Ngoài ra, tín dụng trung dài hạn còn mang ý nghĩa to lớn đối với các cá nhân trong xã hội và trong toàn bộ nền kinh tế. Sản xuất phát triển, các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, tích luỹ trong xã hội tăng lên, nền kinh tế biến đổi về chất, phúc lợi xã hội được đảm bảo, việc làm tạo ra ngày càng nhiều, tỷ lệ thất nghiệp giảm đi đôi với chất lượng cuộc sống ngày một tăng lên của các tầng lớp dân cư trong xã hội.

    2.     Chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    3.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Tín dụng ngân hàng là một sản phẩm của ngân hàng cung ứng phục vụ các khách hàng của mình. Cũng như các sản phẩm khác nó cũng có chất lượng, tuy nhiên vì ngành ngân hàng là một ngành kinh tế đặc biệt, liên quan chặt chẽ đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nên chất lượng tín dụng ngân hàng có những đặc trưng riêng.

    Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng có lựa chọn, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội

    Chất lượng tín dụng trung dài hạn là chất lượng của các khoản vay có thời hạn trên một năm, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được sử dụng đúng mục đích phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả, đảm bảo trả nợ cho ngân hàng đúng hạn vừa bù đặp được chi phí vừa có lợi nhuận vừa đem lại hiệu quả kinh tế xã hội

    Từ khái niệm trên ta thây rằng khách hàng, NHTM, và bối cảnh kinh tế là ba

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          20

    nhân tố được đề cập đến khi xem xét chất lượng hoạt động tín dụng trung dài hạn. Việc xem xét chất lượng tín dụng trung dài hạn mà thiếu đi một trong ba nhân tố đó là phiến diện vì ba nhân tố này tác động qua lại, vừa thúc đẩy vừa kiềm chế lẫn nhau. Do đó chúng ta xem xét chất lượng tín dụng trung dài hạn trên ba giác độ đó

    Đối với ngân ngân hàng: chất lượng tín dụng trung dài hạn thể hiện ở phạm vi, mức độ giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực theo hướng tích cực của ngân hàng và phải bảo đảm được khả năng cạnh tranh trên thị trường, làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển. Chất lượng tín dụng trung dài hạn thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý, dư nợ tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý, đảm bảo cơ cấu giữa nguồn vốn ngắn hạn, trung dài hạn trong nền kinh tế.

    Đối với khách hàng: chất lượng tín dụng trung dài hạn là sự thoả mãn yêu cầu hợp lý của khách hàng với lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản đảm bảo thu hút khách hàng nhưng vẫn tuân thủ đúng những quy định của tín dụng, góp phần làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh và duy trì sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.

    Đối với nền kinh tế: khoản tín dụng trung dài hạn có chất lượng phải hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ

    tầng kinh tế, vừa thúc đẩy tiêu dùng, thu hút tối đa nguồn vốn trong nước, đồng thời tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.

    3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Chỉ tiêu về huy động vốn trung dài hạn:

    Tổng nguồn vốn trung dài hạn và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn này: chỉ tiêu này thể hiện tốc độ tăng trưởng và khả năng huy động vốn trung dài hạn của ngân hàng.

    Vốn trung dài hạn / Tổng nguồn vốn huy động: phản ánh cơ cấu vốn trung dài hạn của ngân hàng và khả năng cung ứng vốn cho đầu tư phát triển. Ngân hàng

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          21

    không có cơ hội mở rộng hoạt động tín dụng nếu như tỷ lệ này quá thấp.

    Nhóm chỉ tiêu cho vay trung dài hạn

    Doanh số cho vay trung dài hạn: phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân giúp doanh nghiệp trong đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng công nghệ mới… Con số này thể hiện xu hướng hoạt động tín dụng trung dài hạn mở rộng hay thu hẹp. Tuy nhiên việc doanh số cho vay tăng không phải lúc nào cũng là tốt và ngược lại doanh số cho vay thu hẹp không phải lúc nào cũng là xấu, vấn đề này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm lực của ngân hàng, điều kiện của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.

    Doanh số thu nợ trung dài hạn: phản ánh lượng vốn trung dài hạn mà ngân hàng đã được hoàn trả trong một thời kỳ. Doanh số này có thể phản ánh doanh nghiệp do tình hình kinh doanh ổn định mà trả nợ ngân hàng đúng hạn hoặc ngân hàng nhận thấy những dấu hiệu không lành mạnh trong việc kinh doanh của khách hàng mà tăng cường việc thu hồi vốn.

    Dư nợ tín dụng trung dài hạn: là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn trung dài hạn của ngân hàng đã được giải ngân tại một thời điểm cụ thể. Không thể đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn cao hay thấp dựa vào chỉ tiêu này mà phải xem xét mức độ an toàn và tính lành mạnh của nó.

    Dư nợ tín dụng trung dài hạn / Tổng dư nợ: Cho biết tỷ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn là lớn hay nhỏ trong tổng dư nợ, đồng thời cũng cho biết mối tương quan với dư nợ tín dụng ngắn hạn.

    Nhóm chỉ tiêu về nợ quá hạn:

    Tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn = Nợ quá hạn trung dài hạn / Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn. Để tỷ lệ này phản ánh đúng chất lượng cho vay trung dài hạn nên loại trừ các khoản nợ khoanh ra khỏi nợ quá hạn cũng như loại trừ các khoản cho vay ưu đãi và cho vay theo chỉ định của Nhà nước ra khỏi tổng dư nợ.

    Tỷ lệ nợ quá hạn thông thường (cho các khoản nợ dưới 180 ngày): chỉ tiêu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          22

    này có ý nghĩa với ban lãnh đạo ngân hàng trong việc đốc thúc cán bộ cho vay nhằm thu nợ đúng hạn. Tuy vậy, nó chưa phản ánh đúng chất lượng cho vay bởi những khoản vay do khách quan mà doanh nghiệp không thể trả nợ được đúng hạn nhưng doanh nghiệp có khả năng trả nợ vào một thời gian ngắn sau đó

    Tỷ lệ nợ quá hạn khê đọng: áp dụng cho các khoản nợ quá hạn từ 6 đến 12 tháng. Đây là khoản nợ quá hạn có vấn đề với ngân hàng, thể hiện chất lượng cho vay của khoản vay kém. Ngân hàng nếu không có biện pháp khắc phục khoản nợ này sẽ phải gánh chịu tổn thất.

    Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi: áp dụng cho các khoản nợ quá hạn trên 1 năm. Nếu tỷ lệ này cao, ngân hàng không những phải gánh chịu tổn thất mà còn có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán.

    3.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung dài hạn:

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          23

    3.3.1. Các nhân tố về phía khách hàng

    Tiềm lực tài chính của khách hàng: Thể hiện qua các chỉ tiêu như vốn tự có, hệ số nợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi hàng năm… có tiềm lực tài chính mạnh, doanh nghiệp vay vốn sẽ dễ dàng hơn trong việc thoả thuận với ngân hàng về các khoản vay và dịch vụ tài chính khác cũng như uy tín của doanh nghiệp trong việc trả nợ ngân hàng

    Triển vọng kinh doanh: Thông thường khi doanh nghiệp đưa vốn của ngân hàng vào kinh doanh, một doanh nghiệp đang trong tình trạng thị phần của mình bị thu hẹp, nhà cung cấp không ổn định, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn thì tất nhiên khả năng hoàn trả vốn tín dụng cho ngân hàng sẽ không được đảm bảo. Ngược lại một triển vọng kinh doanh sáng sủa đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ mạnh dạn trong việc tài trợ cho doanh nghiệp các nhu cầu về vốn do ngân hàng có thể xác định được các khoản tín dụng cấp cho khách hàng là có chất lượng hay không.

    Mức độ bảo đảm tín dụng: Nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại luôn đề cập đến vấn đề tài sản đảm bảo cho khoản vay đặc biệt là đối với các khoản tín dụng trung dài hạn.

    Xét về cầm cố thế chấp: ngân hàng sẽ cho vay theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên số tài sản cầm cố thế chấp. Loại trừ sự vi phạm đạo đức kinh doanh, nếu doanh nghiệp có đủ tài sản để thế đảm bảo cho các khoản vay thì khoản cho vay này có thể được xem là ít rủi ro, từ đó chất lượng khoản cho vay này cũng được cải thiện.

    Xét về bảo lãnh: Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có uy tín, có mối quan hệ làm ăn lâu dài với các đối tác của mình có thể nhận được sự bảo lãnh để vay vốn ngân hàng. Nếu bên bảo lãnh thường xuyên đảm bảo được năng lực tài chính và năng lực pháp lý tham gia vào hoạt động kinh doanh thì chất lượng cho vay có thể được đảm bảo.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          24

    Đạo đức kinh doanh: nếu khách hàng trung thực sử dụng vốn vay đúng mục đích thì rủi ro xảy ra đối với ngân hàng sẽ ít đi do để dẫn tới quyết định cung cấp vốn trung dài hạn cho khách hàng ngân hàng đã có một quá trình xét duyệt hồ sơ xin vay và nếu như quá trình này thực hiện một cách chính xác thì khi vốn sử dụng đúng mục đích như hồ sơ xin vay, sẽ xảy ra ít rủi ro hơn. Trong thời gian qua một tỷ lệ rủi ro tín dụng tương đối cao xuất phát từ nguyên nhân sử dụng vốn sai mục đích. Đặc biệt là có một số doanh nghiệp tư nhân làm ăn theo kiều lừa đảo khiến cho các ngân hàng không dám cho vay nhiều đối với thành phần kinh tế này.

    Năng lực quản lý và trình độ của doanh nghiệp vay vốn: Xem xét triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp cần xuất phát từ yếu tố con người. Thiếu năng động trong kinh doanh, không kịp thay đổi chiến lược khi môi trường kinh doanh thay đổi, đội ngũ nhân viên không có trình độ, thiếu kỷ luật… sẽ làm giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng, chất lượng khoản vay không được đảm bảo.

    3.3.2. Các nhân tố về phía ngân hàng.

    Chính sách tín dụng:

    Với chính sách tín dụng do ngân hàng nhà nước ban hành và các ngân hàng thương mại dựa vào đó để đề ra các chính sách cho phù hợp với ngân hàng của mình. Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng là văn bản thể hiện chiến lược và đường lối của ngân hàng thương mại trong việc thực thi các giao dịch cho vay đơn lẻ cũng như chiến lược cho vay trong từng thời kỳ. Trong đó có quy trình về một nghiệp vụ cho vay chuẩn để quy định trình tự các bước tiến hành trong quá trình xét duyệt cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo các khoản vay để tạo ra các khoản vay chất lượng tốt.

    Chất lượng nhân sự:

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          25

    Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại của công việc. Nghiệp vụ hoạt động ngân hàng càng phát triển thì đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao hơn. Để thực hiện tốt hoạt động tín dụng trung dài hạn thì cán bộ tín dụng phải tiến hành thẩm định dự án. Nhưng nếu trình độ hạn chế do không được đào tạo chính quy, chuyên sâu hoặc thiếu kinh nghiệm nên không đánh giá được tính khả thi của dự án, không phân tích chính xác báo cáo tài chính, khả năng quản lý của khách hàng… nên thường không có quyết định chính xác về việc cho vay dự án. Bên cạnh đó, đặc biệt cán bọ ngân hàng cần phải có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp. Một công việc có liên quan đến tiền bạc, phải là người có lòng trung thực, có lương tâm và đạo đức tốt, ý chí cao thì cán bộ tín dụng mới tránh khỏi những cám dỗ của đồng tiền. Trên thực tế đã có không ít những món vay không đảm bảo an toàn cho ngân hàng nhưng vẫn được cán bộ tín dụng cho phép, tất nhiên sau đó họ sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật nhưng tổn thất họ gây ra ngân hàng và nền kinh tế vẫn không tránh khỏi.

    Công tác thẩm định dự án

    Thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét một cách khách quan toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án trước khi ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư. Mục đích của việc thẩm định dự án là giúp cho ngân hàng rút ra các kết luận chính xác về tính khả thi của dự án, bao gồm hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ ngân hàng từ đó ngân hàng có thể ra các quyết định cho vay hoặc từ chối. Cũng từ quá trình thẩm định , ngân hàng có thể tham gia tư vấn, góp

    • cho chủ đầu tư đồng thời căn cứ vào đó để xác định số tiền cho vay, thời hạn cho

    vay cũng như hình thức trả gốc và lãi tạo điều kiện cho khách hàng hoạt động có hiệu quả. Nếu việc thẩm định không được thực hiện đúng với trình tự, nội dung không đầy đủ, chính xác thì khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn. Tuy nhiên, nếu quá trình thẩm định diễn ra quá thận trọng, tốn nhiều gian, quá trình cho vay có nhiều thủ tục rườm rà thì ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội đầu tư, làm

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          26

    giảm tính hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tất nhiên chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ giảm sút.

    Công tác tổ chức của ngân hàng

    Công tác tổ chức không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà còn tác động

    đến mọi hoạt động của ngân hàng. Nếu chỉ xét riêng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, thì việc tổ chức thiếu khoa học sẽ tạo sự chồng chéo trong việc phối hợp công việc giữa các bộ phận trong ngân hàng, ảnh hưởng tới thời gian ra quyết định đối với một món vay. Tổ chức thiếu khoa học cũng có thể tạo ra sự thiếu chặt chẽ giữa các khâu, tính ỷ lại, thiếu trách nhiệm của các cán bộ tín dụng đối với công việc. Vì vậy, công tác tổ chức trong ngân hàng phải được hết sức coi trọng. Tổ chức phải đảm bảo đúng người đúng việc, phát huy được khả năng của cán bộ, tạo ra sự nhịp nhàng giữa các khâu. nếu được tổ chức một cách hợp lý, ngân hàng sẽ rút ngắn thời gian thẩm định nhưng vẫn hạn chế tối đa sự thiếu chính xác trong quá trình thẩm định, vừa đảm bảo an toàn cho ngân hàng vừa phục vụ khách hàng tốt hơn, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng.

    Thông tin tín dụng

    Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng, những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng dễ dàng hơn trong việc ra quyết định cho vay hay không đồng thời cũng thuận tiện cho ngân hàng trong quá trình kiểm tra, giám sát khoản vay… Thông tin tín dụng chính xác sẽ giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro ở mức thấp nhất.

    3.3.3. Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô

    Môi trường kinh tế

    Các điều kiện kinh tế trong từng thời kỳ có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trong đó có tín dụng trung dài hạn. Chẳng hạn trong một nền kinh tế phát triển quá nóng, Chính phủ để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng bền vững đề ra một số biện pháp nhằm hạn chế đầu tư. Định hướng này của chính phủ sẽ tác động đến hệ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          27

    thông ngân hàng thông qua chính sách tiền tệ. Các ngân hàng sẽ phải thắt chặt chính sách tín dụng, các khoản tài trợ cho nền kinh tế sẽ được xem xét một cách kỹ lưỡng hơn trước khi quyết định đầu tư thay cho các quyết định nhanh chóng trước kia, từ đó khả năng xảy ra rủi ro cho ngân hàng sẽ ít hơn. Hơn nữa để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho một nền kinh tế đang phát triển, đòi hỏi bản thân ngân hàng cũng phải đổi mới cho phù hợp với tình hình mới. Sự đổi mới này diễn ra ở tất cả các khâu bao gồm công tác tổ chức, trang thiết bị, trình độ nhân sự… chất lượng tín dụng do đó cũng được nâng lên.

    Môi trường chính trị – xã hội

    Môi trường chính trị xã hội ổn định là một điều kiện vô cùng quan trọng trong việc tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư dài hạn cho hoạt đông sản xuất kinh doanh. Một môi trường chính trị – xã hội ổn định sẽ là cơ sở rất tốt cho hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng, vì chỉ khi có nhu cầu đầu tư dài hạn trong nền kinh tế mới xuất hiện nhu cầu vay vốn trung dài hạn ngân hàng. Hơn nữa sự mất ổn định về chính trị – xã hội sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của các doanh nghiệp và nếu doanh nghiệp này đang vay vốn ngân hàng thì rõ ràng việc thu hồi nợ của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn. Chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.

    Môi trường pháp lý

    Môi trường pháp lý không chặt chẽ hoặc thiếu chặt chẽ hay thay đổi cũng gây

    ra ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Môi trường pháp lý ở Việt Nam ta là một vấn đề nổi cộm. Ngay trong lĩnh vực ngân hàng, hiện nay không có một cơ quan nào chứng thực về tài sản và quản lý quá trình chuyển dịch sở hữu tài sản thế chấp để khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chưa có sơ sở pháp lý để phát mại; việc thế chấp đất của thành phần kinh tế quốc doanh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng phần lớn là đi thuê của nhà nước; các chính sách thay đổi trong quá trình chuyển đổi cơ chế như việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          28

    không đồng bộ với việc giải quyết các khoản nợ ngân hàng cũng như làm cho hoạt động thu hồi vốn kinh doanh của các ngân hàng cũng bị ảnh hưởng; các chính sách thường hay thay đổi là một bất lợi lớn vì các doanh nghiệp không dự đoán được cơ hội kinh doanh nên không thực hiện được các dự án, hoặc việc thực hiện các dự án không diễn ra theo đúng kế hoạch ảnh hưởng đến quá trình thu hồi nợ của ngân hàng.

    Bên cạnh các yếu tố trên còn một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng chẳng hạn môi trường tự nhiên: thiên tai làm cho hoạt động của doanh nghiệp bị đình trệ thậm chí phá sản dẫn tới không trả nợ được cho ngân hàng. Tuy nhiên đây là một yếu tố bất khả kháng, trong trường hợp này các ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tài trợ cho khách hàng để tiếp tục kinh doanh từ đó có thể thu hồi được cả nợ cũ lẫn nợ mới.

    3.4. Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

    3.4.1. Sự cần thiết phải mở rộng nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn hiện nay.

    a/ Về mở rộng tín dụng trung dài hạn

    Hoạt động của doanh nghiệp hiện nay theo nguyên tắc hạch toán kinh tế và phải chấp nhận tự bù đắp. kinh doanh có hiệu quả và có lãi là yêu cầu của hạch toán kinh tế, đồng thời cũng là một trong những điều kiện khi đi vay vốn ngân hàng. Do đó tín dụng trung dài hạn thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả kinh doanh. Việc cấp tín dụng được thực hiện trong điều kiện phải hoàn lại chi phí đầu tư. Việc xác định thời hạn hoàn trả tín dụng phải xuất phát từ tính chất luân chuyển của vật tư và chí phí. Điều đó thúc đẩy cải tiến hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó góp phần tác động đến việc nâng cao mức doanh lợi của doanh nghiệp.

    Đối với nước ta, là một nước đang trong quá trình CNH – HĐH, xây dựng những tiền đề cần thiết để có những bước phát triển mạnh ở giai đoạn sau thì nhu vốn cho đầu tư phát triển là rất lớn. Theo báo cáo, thì nhu cầu vốn trong giai đoạn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          29

    2000 – 2003 của toàn bộ nền kinh tế là 56 – 57 tỷ USD, trong đó hơn 60,5% (tương đương 36 tỷ USD) là vốn từ nội bộ nền kinh tế và 40,5% còn lại là thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác thị trường tài chính của nước ta còn kém phát triển, thị trường chứng khoán tuy đã đi vào hoạt động nhưng quy mô chưa lớn thì việc mở rộng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết. b/ Về nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

    Đối với nền kinh tế

    Thứ nhất: Chất lượng tín dụng trung dài hạn tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn.

    Thứ hai: chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế.

    Thứ ba: tín dụng trung dài hạn là công cụ để thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, chất lượng tín dụng trung dài hạn được nâng cao sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đầu tư đúng hướng để khai thác tiềm năng về tài nguyên, lao động, đảm bảo sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, phát triển cân đối giữa các ngành nghề, các vùng trong cả nước theo hướng CNH – HĐH.

    Đối với ngân hàng

    Thứ nhất: chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần làm lành mạnh hoá các quan hệ tín dụng, các thủ tục về tín dụng trung dài hạn được đơn giản, thuận tiện sẽ tạo điều kiện để mở rộng quan hệ tín dụng nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho ngân hàng.

    Thứ hai: chất lượng tín dụng trung dài hạn đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng: làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ do tăng nhanh vòng quay vốn tín dụng, nâng cao uy tín của ngân hàng để có thể thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          30

    nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng bởi nó cho phép ngân hàng giữ được khách hàng trung thành và thu hút được các khách hàng khác.

    Đối với doanh nghiệp

    Thứ nhất: chất lượng tín dụng trung dài hạn được nâng cao tăng niền tin cho khách hàng đối với ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có quyền chọn ngân hàng làm đối tác, khách hàng chỉ đến những ngân hàng nào giúp họ thực hiện các dự án một cách có hiệu quả thông qua các dịch vụ của ngân hàng về tín dụng. Điều này tác động ngược trở lại ngân hàng: khi chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng được nâng cao thì thị trường của ngân hàng được mở rộng.

    Thứ hai: nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần phát triển hoạt động kinh doanh, lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Chất lượng tín dụng trung dài hạn được đảm bảo thì hoạt động của ngân hàng cũng phát triển, do đó ngân hàng có điều kiện đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho các doanh nghiệp. Mặt khác để đảm bảo nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn, các ngân hàng phải giúp đỡ, kiểm tra, giám sát tình hình tài chính của doanh nghiệp, qua đó chấn chỉnh những sai sót trong hoạt động tìa chính của họ.

    Chính vì những lý do trên, việc củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng là sự cần thiết khách quan để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển vững chắc đồng thời tạo ra hiệu quả kinh tế cho toàn xã hội.

    3.4.2. Một số kinh nghiệm để mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Đa dạng hoá các hình thức cho vay trung và dài hạn: Bên cạnh việc cho vay trực tiếp với những khách hàng, cần tăng cường việc cho vay hợp vốn với các dự án lớn mà một mình ngân hàng khó có thể kham nổi (tăng cường các hợp đồng đồng tài trợ). Mở rộng các nghiệp vụ cho vay bất động sản, cho vay trả góp…

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          31

    Mở rộng thị trường cho vay: Tiến hành thu hút khách hàng thông qua chính sách cho vay ưu đãi, các ưu đãi có thể là cho vay với lãi suất thấp hoặc ưu đãi về thời hạn trả nợ… áp dụng nhiều hình thức dịch vụ mới như dịch vụ tri trả hộ, dịch vụ uỷ thác, dịch vụ bảo quản tài sản, dịch vụ tư vấn khách hàng…

    Điều chỉnh cơ cấu cho vay phù hợp với cơ cấu kinh tế đang chyển đổi. Tập trung đầu tư vào các ngành kinh tế đang có tốc độ tăng trưởng cao. Đối với nước ta, một nước đang tiến hành công nghiệp hoá, với xu hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế thì khi tiến hành cho vay cũng cần ưu tiên cho các ngành công nghiệp và dịch vụ.

    Bên cạnh việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng mạng lưới chi nhánh trong nước, ngân hàng cần tiến hành thành lập các chi nhánh ở nước ngoài nhằm mở rộng thị trường cho vay quốc tế.

    Tăng cường công tác đối ngoại, hợp tác với các ngân hàng, tổ chức tín dụng quốc tế nhằm mở rộng thị trường cho vay liên ngân hàng.

    Nâng cao trình độ đội ngũ tín dụng: con người là nhân tố mấu chốt của mọi thắng lợi, trình độ của cán bộ ngân hàng được nâng cao. Có trình độ chuyên môn, am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau có liên quan đến hoạt động tín dụng trung dài hạn, được trang bị những kiến thức về sự phát triển của kinh tế thị trường, kiến thức về Marketing với việc đáp ứng nhu cầu, thoả mãn mọi mong muốn của khách hàng.

    Tăng cường đổi mới công nghệ ngân hàng: trang bị, nâng cấp máy móc thiết bị tin học công nghệ là đòn bẩy của sự phát triển, là điều kiện để một ngân hàng hội nhập vào cộng đồng tài chính ngân hàng quốc tế. Hiện đại hoá công nghệ nhằm nâng cao chất lượng phụ vụ, đáp ứng nhu cầu quản lý và tăng cường cạnh tranh để có thị phần khách hàng lớn trong hệ thống ngân hàng quốc gia.

    Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm soát, kiểm tra và kiểm toán nội bộ: ở Việt Nam công tác kiểm tra, kiểm soát còn yếu trong những năm qua còn yếu nên đây là

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          32

    một trong những chương trình hành động quan trọng để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng đi đúng hành lang pháp lý, thực hiện các biện pháp an toàn và kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời tăng cường tập trung chỉ đạo công tác kiểm toán để nhìn nhận một cách khách quan thực trạng tài chính của các doanh nghiệp vay vốn cũng như đơn vị mình.

    Nâng cao chất lượng thẩm định của các dự án về cả mặt tài chính cũng như về mặt kỹ thuật của dự án đó.

    Giảm nợ quá hạn, tăng cường khai thác tài sản xiết nợ gồm có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh có nghĩa là hạn chế nợ quá hạn mới phát sinh, quản lý và sử dụng các tài sản xiết nợ tốt hơn. Đối với các khoản nợ quá hạn trước đây có thể thu hồi lại bằng một số biện pháp:

    Đối với khách hàng gặp khó khăn nhất thời trong sản xuất kinh doanh, ngân hàng có thể giảm lãi suất, thu nợ gốc trước, tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ Trong trường hợp bên vay cố tình không trả nợ, ngân hàng kiên quyết yêu cầu

    các cơ quan có thẩm quyền can thiệp nhằm thu hồi nợ

    Đối với các khoản vay không thu được nợ, nếu có thể thu hồi bằng tài sản, ngân hàng cần nhanh chóng nắm giữ hồ sơ gốc của các tài sản này, tránh để các ngân hàng khác hoặc chủ nợ khác nắm giữ.

    Lập các quỹ đề phòng rủi ro để làm nguồn tài chính quan trọng cho việc bù đắp các khoản xoá nợ, khoanh nợ, giãn nợ, làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của ngân hàng.

    Nợ không thể đòi được do doanh nghiệp phá sản, giải thể có thể giải quyết bằng quỹ phòng ngừa rủi ro, nếu chưa có quỹ này thì chờ khi nào trích được quỹ phòng ngừa rủi ro thì xử lý

    Nợ có thể đòi được thì ngân hàng cùng ban lãnh đạo của doanh nghiệp cùng bàn bạc để tìm ra biện pháp trả nợ, kể cả trường hợp bán nợ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          33

    Tham gia bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn để đề phòng những rủi ro

    không lường trước được như thiên tai, hoả hoạn, chính trị…

    Đa dạng hóa danh mục đầu tư: không nên hạn chế vào một số ít doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh mà nên đầu tư vào tất cả các lĩnh vực với một cơ cấu hợp lý để phân tán rủi ro khi tình hình kinh doanh của một ngành nghề, một số các doanh nghiệp bị xấu đi.

    Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn thông qua việc thu hút các nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế, của dân cư để tạo nguồn. Từ đó ngân hàng có cơ sở để tiến hành cho vay trung dài hạn. Đặc biệt nguồn tiền gửi có kỳ hạn dài, đây là một nguồn quan trọng để ngân hàng có tiềm lực mạnh trong việc cho vay trung dài hạn. Ngân hàng cần có những giải pháp mới trong việc huy động vốn qua các kênh: hoàn thiện các hình thức huy động vốn hiện có, áp dụng thêm các hình thức huy động mới với thủ tục đơn giản, có khả năng chuyển nhượng dễ dàng, với các phương thức trả lãi linh hoạt…

    CHƯƠNG HAI:

    THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI

    THƯƠNG VIỆT NAM

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          34

    i.Tổng quan về ngân hàng ngoại thương.

    1. Sự hình thành và phát triển

    Ngân hàng ngoại thương Việt Nam được thành lập vào năm 1963, với chức năng là ngân hàng phục vụ kinh tế đối ngoại duy nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tổ chức tiền thân là Cục quản lý Ngoại hối của Ngân hàng quốc gia. Ngân hàng ngoại thương ra đời đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong hoạt động ngân hàng của Việt Nam. Trong hơn 35 năm hoạt động, không ngừng phát triển và trưởng thành, Ngân hàng ngoại thương đã đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước đặc biệt là từ khi đất nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường – hướng mạnh về xuất khẩu – có sự quản lý của nhà nước và đinh hướng xã hội chủ nghĩa.

    Khi thành lập Ngân hàng ngoại thương chỉ có một cơ sở ở Hà Nội, ngày nay ngân hàng đã trở thành một hệ thống hoàn chỉnh gồm Ngân hàng ngoại thương Trung ương và 23 chi nhánh tại các tỉnh thành phố, duy trì mối quan hệ với hơn 1000 Ngân hàng khác tại 85 nước trên thế giới nhằm đảm bảo thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tín dụng quốc tế và các nghiệp vụ ngân hàng khác, an toàn và từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng ngoại thương.

    3.     Hệ thống tổ chức của Ngân hàng ngoại thương hiện nay

    Trong thời gian qua, ngân hàng đã triển khai mô hình tổ chức mới theo loại hình doanh nghiệp nhà nước đặc biệt, bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ chặt chẽ với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo trong hoạt động kinh doanh. Ngân hàng ngoại thương hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các hoạt động liên quan đến hoạt động tài chính, tiền tệ, ngân hàng.

    Sơ đồ tổ chức ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Trụ sở chính

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          35

    Hội đồng

    quản trị

    Ban kiểm

    soát

    Ban

    Tổng giám

    Hội đồng

    Tín dụng

    Phòng kiểm tra nội bộ

    Phòng quản lý tín dụng

    Phòng đầu tư và chứng khoán

    Phòng Công nợ

    Phòng Khách hàng

    Phòng kế toán tài chính

    Phòng kế toán quốc tế

    Phòng quản lý thẻ

    Trung tâm thanh toán

    Phòng tin học

    Phòng quản lý các đề án công nghệ

    Phòng tổng hợp thanh toán

    Phòng tổng hợp và phân tích kinh

    Phòng vốn

    Phòng quan hệ quốc tế

    Phòng quản lý liên doanh và văn phòng đại diện

    Phòng tín dụng quốc tế

    Phòng báo chí

    Văn phòng

    Phòng đầu tư và chứng khoán

    Phòng quản trị

    Phòng pháp chế

    Phòng thông tin tín dụng

    Mạng lưới trong nước

                         
    Trung tâm đào tạo và   Sở giao   Các chi nhánh   Các công ty con
    bồi dưỡng nghiệp vụ                  
                   
                         

    Mạng lưới ngoài nước

               
               
    Văn phòng đại diện     Công ty Tài chính
    (Paris, Moscow, Singapore)     (Hồng Kông)
               

    Cơ quan cao nhất của Ngân hàng ngoại thương là hội đồng quản trị mà đứng đầu là vị chủ tịch. Hội đồng quản trị là nơi đề ra các chiến lược kinh doanh chủ yếu cũng như các chế độ chính sách lớn của ngân hàng. Ban kiểm soát có nhiệm vụ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 36
     

    giám sát các hoạt động của Hội đồng. Tổng giám đốc trực thuộc Hội đồng quản trị thay mặt Hội đồng quản trị để điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của ngân hàng. Ngoài ra theo cơ cấu tổ chức của Ngân hàng ngoại thương còn có một hội đồng tín dụng giám sát hoạt động tín dụng của Tổng giám đốc ngăn ngừa những vi phạm chế độ tín dụng có thể xảy ra. Tại VCB Trung ương có 23 phòng ban có nhiệm vụ phối hợp với nhau để giúp cho Tổng giám đốc điều hành công việc kinh doanh.

    4.     Các nghiệp vụ của Ngân hàng ngoại thương

    Trong khuôn khổ của pháp luật, Ngân hàng ngoại thương có quyền thực hiện các nghiệp vụ:

    1. Huy động vốn

    Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của tất cả các tổ chức, dân cư trong nước và nước ngoài bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ.

    Phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và các hình thức huy động vốn khác.

    1. Tiếp nhận tài trợ, vốn uỷ thác của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá nhân khác cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội.
    2. Vay vốn ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tài chính tín dụng khác trong và ngoài nước, các tổ chức và cá nhân nước ngoài.
    1. Cho vay

    Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng đồng Việt Nam đối với cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế.

    Chiết khấu các thương phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị khác trị giá bằng tiền.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          37

    1. Thực hiện các nghiêp vụ cho thuê tài chính (kể cả nhập khẩu và tái xuất thiết bị cho thuê).
    1. Thực hiện nghiệp vụ thanh toán L/C, bảo lãnh, tái bảo lãnh cho các doanh nghiệp, tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước.
    1. Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng đối ngoại
    1. Đầu tư dưới hình thức mua cổ phần, hùn vốn, liên doanh, mua tài sản và các hình thức đầu tư khác với các doanh nghiệp và tổ chức tài chính tín dụng khác.
    1. Thực hiện nghiệp vụ cầm cố bất động sản.
    1. Kinh doanh vàng bạc, kim khí quí, đá quí (kể cả xuất nhập khẩu).
    1. Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
    1. Kinh doanh chứng khoán và làm môi giới, đại lý phát hành chứng khoán cho

    khách hàng.

    1. Cất giữ bảo quản và quản lý các chứng khoán, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các tài sản quý cho khách hàng.
    1. Thực hiện các dịch vụ tư vấn về tiền tệ, đại lý ngân hàng quản lý tiền vốn và các dự án phát triển theo yêu cầu của khách hàng.
    1. Đầu tư, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản thế chấp, cầm cố đã được chuyển

    thành tài sản thuộc sở hữu Nhà nước do Ngân hàng ngoại thương quản lý để sử dụng hoặc kinh doanh; tự doanh hoặc liên doanh dầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ kinh doanh và được phép cho thuê phần năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật chưa sử dụng.

    1. Thực hiện dịch vụ bảo hiểm.
    1. Kinh doanh những ngành nghề khác theo qui định của pháp luật khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.
    1. Thực hiện các nghiệp vụ uỷ nhiệm khác của Nhà nước và ngân hàng nhà nước.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          38

    4.Tình hình hoạt động của ngân hàng ngoại thương năm 2000

    4.1. Nguồn vốn

    Tổng nguồn vốn tăng trưởng mạnh và liên tục. Đến cuối tháng 12 năm 2000 tổng nguồn vốn của ngân hàng ngoại thương đạt 66.618 tỷ quy VND, tăng 45,3% so với cuối năm 1999. Nếu ngoại trừ yếu tố tỷ giá thì tổng nguồn vốn tăng ở mức 41,7% vượt chỉ tiêu kế hoạch đặt ra là 25%. Trong đó nguồn vốn ngoại tệ phát triển mạnh đạt 3.395 triệu USD (tương đương 49.229 tỷ VND), tăng 43,7%, chiếm tỷ trọng tới 74,9% trong tổng nguồn vốn. Nguồn vốn tiền đồng đạt 17.389 tỷ đồng chiếm 25,1%. Nguồn vốn huy động từ nền kinh tế (thị trường 1) của ngân hàng thương mại chiếm tỷ lệ cao so với toàn ngành và so với khối bốn ngân hàng thương mại quốc doanh, chiếm tương ứng khoảng 24,7% và 32,0% (năm 1999 khoảng 23,1% và 29,6%).

    4.2.     Hoạt động tín dụng

    Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm 2000 đạt khá cao, tổng dư nợ cho vay đạt 15.634 tỷ quy VND, tăng 36,0%. Doanh số cho vay đạt 38.731 tỷ quy VND tăng 35,1%; doanh số thu nợ đạt 34.235 tỷ, tăng 23%. Thị phần tín dụng trong tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế của toàn ngành đạt 8,8% tăng hơn so với 8,3% của năm ngoái.

    4.3.     Thanh toán quốc tế

    Thanh toán xuất nhập khẩu trong năm 2000 đạt 9.175 triệu USD, tăng 39,4% so với năm 1999, và chiếm thị phần 31,1% trong thanh toán xuất nhập khẩu của cả nước – vượt chỉ tiêu so với kế hoặc đầu năm đề ra là giữ thị phần thanh toán 28%. Trong đó thanh toán xuất khẩu đạt 4.163 triệu USD, tăng 27,6% so với năm 1999, đưa thị phần của ngân hàng ngoại thương trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng từ 28,3% năm 1999 lên 29,1% trong năm nay. Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu qua ngân hàng ngoại thương trong năm là 5.012 triệu USD, tăng 51,1% so với năm 1999, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          39

    của cả nước (30,8%), dẫn đến thị phần thanh toán hàng nhập khẩu của ngân hàng ngoại thương tăng lên 33,0% từ 28,5% năm 1999.

    4.4.     Thanh toán phi mậu dịch

    Trong năm 2000, doanh số thu chi phi mậu dịch qua ngân hàng ngoại thương đạt 2.480 triệu USD, giảm 5,5% so với năm trước. Doanh số thu đạt 1.798 triệu USD giảm 1,7% chủ yếu vì doanh số đổi tiền giảm 47,7%. Thu từ kiều hối đạt 271,5 triệu USD tăng 17,1%. Doanh số chi đạt 682 triệu USD, giảm 14,4%, chủ yếu là do giảm doanh số chi từ các tổ chức cơ quan và người nước ngoài tại Việt Nam, chi kiều hối và đổi tiền

    4.5.     Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng

    Tổng số thẻ phát hành năm 2000 là 1372 thẻ, tăng 2% so với năm 1999, nâng tổng số thẻ phát hành từ trước đến nay lên 5.029 thẻ. Doanh số thanh toán thẻ năm 2000 đạt 71 triệu USD, bằng doanh số năm 1999. Hầu hết doanh số các loại thẻ đều tăng, riêng thẻ Amex bị giảm vì tổ chức thẻ Amex đã ký thêm hợp đồng thanh toán với ngân hàng khác nên thị phần của ngân hàng ngoại thương bị phân chia. Số phí dịch vụ thu được từ phát hành thẻ đạt 903.517 USD trong năm 2000 giảm 7% do ngân hàng ngoại thương có trủ trương thu hút khách hàng nên giảm tỷ lệ thu phí đối với các đơn vị chấp nhận thẻ.

    4.6.     Kinh doanh ngoại tệ.

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong năm 2000 của ngân hàng ngoại thương diễn ra trong tình hình khan hiếm ngoại tệ kéo dài. Tổng doanh số mua vào là 3684 triệu USD tăng 23% so với năm ngoái, trong khi đó tổng doanh số bán ra là 3721 triệu USD. Mặc dù có sự hỗ trợ của NHNN trong việc mua bán ngoại tệ phục vụ xuất nhập khẩu nhưng ngân hàng ngoại thương vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc cân đối ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp nhập khẩu.

    4.7.     Hoạt động ngân quỹ

    Mặc dù khối lượng công việc lớn nhưng công tác ngân quỹ ở ngân hàng

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          40

    ngoại thương vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối, không xảy ra trường hợp nào mất ngân quỹ. Cán bộ kiểm tra đã trả lại 1582 món tiền thừa cho khách với tổng số tiền là 1.874 triệu VND và 19200 USD. Trong năm 2000 toàn hệ thống đã phát hiện được số tiền giả là 483 triệu VND và 16200 USD.

    4.8.     Một số hoạt động khác

    Công tác đối ngoại: ngân hàng ngoại thương trong năm 2000 đã có những bước tiến đáng kể trong việc cũng cố và mở rộng mối quan hệ với ngân hàng trên thế giới: Kết nghĩa giữa các chi nhánh ở Huế, Hà Tĩnh, Vinh với các chi nhánh ngân hàng của ngân hàng Lào. Ký thoả ước với City Bank, Scotia Bank về thực hiện một số mặt nghiệp vụ ngân hàng…

    Công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ (KTKTNB) đang từng bước được hoàn thiện về chức năng nhiệm vụ cũng như tổ chức hoạt động. Trong năm 2000 bộ phận KTKTNB tại trung ương đã tiến hành kiểm tra tại một số chi nhánh phát hiện và chấn chỉnh một số sai sót trong việc thực hiện đầy đủ các quy định về kiểm toán, đối chiếu số dư tiết kiệm và quy trình tín dụng tại các chi nhánh này.

    Công tác đào tạo cán bộ tại ngân hàng ngoại thương thường xuyên được coi trọng. Ngoài đội ngũ cán bộ lãnh đạo đã được củng cố và tăng cường, trong năm 2000 ngân hàng đã tổ chức cho 470 lượt cán bộ tham gia các khoá đào tạo, học tập, khảo sát ngắn hạn trong và ngoài nước. Cũng trong năm 2000, ngân hàng đã hoàn thiện hồ sơ mời thầu và tổ chức lễ mời thầu giai đoạn một và hiện đã lập xong báo cáo lượng thầu giai đoạn 1 gửi NHNN và ngân hàng thế giới xin phê duyệt.

    Công tác kế toán tài chính đã được thực hiện tốt góp phần vào quản lý an toàn vốn và tài sản, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Tại thời điểm 01/01/2000 được NHNN đánh giá là một trong những ngân hàng thực

    hiện đầy đủ các báo cáo không sai sót và nộp đúng hạn.

    1. Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          41

    3.     Một số quy định về cho vay trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt

    Nam.

    Ngân hàng ngoại thương chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, có khả năng hoàn trả nợ vay và tự chịu trách nhiệm về các quyết định cho vay của mình

    Ngân hàng ngoại thương xem xét và quyết định cho vay khi các khách hàng thoả mãn:

    Các pháp nhân phải có trách nhiệm dân sự: Các cá nhân và chủ doanh nghiệp tư

    nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Các khách hàng phải mở tài khoản tại ngân hàng ngoại thương nơi vay vốn (không bắt buộc với các cá nhân, hộ gia đình hoặc trường hợp cho vay hợp vốn mà ngân hàng ngoại thương không phải là đầu mối)

    Có khả năng tài chính trong thời hạn cam kết, tức là tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có hiệu quả, các báo cáo tài chính theo định kỳ phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp theo đúng hợp đồng ký khi tiến hành vay vốn của ngân hàng.

    Có dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh khả thi, có hiệu quả; tức là dự án đó mang lại lợi ích cho số đông và có khả năng hoàn trả vốn vay khi đến hạn.

    Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN và ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

    Thời hạn cho vay được xác định là:

    Đối với cho vay trung hạn từ trên 12 tháng cho đến 60 tháng (5 năm), nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân.

    Đối với cho vay dài hạn từ trên 60 tháng nhưng không vượt quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không vượt quá 15 năm đối với cho vay các dự án phục vụ đời sống.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          42

    Mức lãi suất cho vay do ngân hàng ngoại thương và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng và phù hợp với biểu lãi suất công bố của ngân hàng do Tổng giám đốc ngân hàng ngoại thương quy định trong từng thời kỳ.

    Đối tượng cho vay trung và dài hạn: Cho vay để thanh toán tiền nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ… Cho vay bắt buộc thanh toán nợ nước ngoài do ngân hàng ngoại thương bảo lãnh và cho vay với các đối tượng không trái với quy định về quản lý của Nhà nước và được Thống đốc NHNN chấp nhận

    Mức cho vay: được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo nợ vay theo đúng luật và tuỳ thuộc vào vốn tự có của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng ngoại thương. Mức phán quyết cho vay tối đa do Tổng giám

    đốc ngân hàng ngoại thương quy định. Thông thường là:

    Mức cho vay = tổng nhu cầu vốn của dự án – Vốn tự có của các bên tham gia – Nguồn vốn huy động khác (trong đó có vay của các tổ chức tín dụng khác).

    Tổng nhu cầu vốn bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động

    Việc phát tiền vay, ngân hàng sẽ tiến hành thực hiện theo quy định của hợp đồng trong thời hạn rút vốn.

    Trả gốc và lãi:

    Do ngân hàng và khách hàng thoả thuận có thể trả nợ gốc và lãi theo một kỳ hạn hoặc nhiều kỳ hạn

    Khi đến kỳ hạn trả nợ hoặc kết thúc thời hạn cho vay, khách hàng phải chủ động chuyển tiền trả nợ. Nợ chưa có khả năng trả nợ đúng hạn thì khách hàng phải gia hạn nợ nếu không ngân hàng sẽ tự động trích tiền trong tài khoản tiền gửi của khách hàng để thu nợ gốc và lãi. Nếu số dư trong tài khoản không đủ thu nợ thì số nợ này có thể chuyển sang nợ quá hạn và khách hàng phải chịu lãi suất nợ quá hạn.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          43

    Phương thức cho vay:

    Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, thì ngân hàng áp dụng hình thức cho vay từng lần. Trong thời hạn rút vốn của hợp đồng khách hàng có thể rút vốn nhiều lần hoặc một lần nhưng tổng số tiền rút ra không vượt quá số tiền vay. Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng phải nhận giấy tờ nhận nợ theo mẫu quy định của ngân hàng ngoại thương cùng các giấy tờ cần thiết khác.

    Trường hợp cho vay ngoại tệ mở LC thanh toán hàng nhập khẩu, khách hàng làm thủ tục ký nhận trên giấy nhận khi mở LC; ngân hàng ghi nợ khách hàng từ ngày chính thức thanh toán cho ngân hàng nước ngoài hoặc từ ngày ngân hàng nước ngoài ghi nợ ngân hàng ngoại thương.

    Ngân hàng ngoại thương có thể cho vay theo hạn mức khi giữa ngân hàng và khách hàng có một thoả thuận về một hạn mức cho vay trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh áp dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có tín nhiệm với ngân hàng. Và các cán bộ ngân hàng luôn phải thực hiện kiểm tra đảm bảo nợ vay bằng phương pháp tính toán cân đối vật tư đảm bảo nợ vay.

    Cho vay theo dự án đầu tư để phát triển sản xuất, cơ sở hạ tầng, kinh doanh, phục vụ và các sự án phục vụ đời sống.

    Đối với các dự án cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, hợp lý hoá sản xuất phải có vốn tự có tối thiểu tham dự dự án bằng 15% tổng mức vốn đầu tư.

    Đối với dự án mới khách hàng phải có tối thiểu bằng 20% tổng mức đầu tư .

    Giới hạn cho vay:

    Tổng dư nợ cho vay với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của

    ngân hàng ngoại thương tại thời điểm xét cho vay, trừ trường hợp có chỉ thị của Chính phủ

    Ngoài ra còn một số các quy định khác như lập hồ sơ vay vốn, thẩm định và quyết định cho vay, gia hạn nợ…

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          44

    2.Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    2.1. Tình hình huy động vốn trung dài hạn

    Trong những năm qua, nguồn vốn của ngân hàng ngoại thương đã tăng trưởng mạnh mẽ

    Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Tỷ đồng)

                   
      Năm 31/12/1999 31/12/2000 Tăng/ giảm  
      Chỉ tiêu Quy VND Tỷ trọng Quy VND Tỷ trọng  
      Vốn huy động 37.939 100% 57035 100% 50,3%  
      Vốn kỳ hạn 19.111 47,7% 33.356 58,8% 84,2%  
      Vốn kỳ hạn thị trường i 16.389 43,2% 28.290 49,6% 72,6%  
      Vốn kỳ hạn thị trường ii 1.722 4,5% 5.066 8,9% 194,2%  
      Vốn kỳ hạn trên 12 tháng 7.221 19% 12.788 22,4% 77,1%  
                   

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 2000) Năm 1998 tăng 32,6% so với năm 1997, năm 1999 tăng 34,4% so với năm 1998 và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của năm 2000 là 45,3% so với năm 1999

    (vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 25%) đạt mức 66.618 tỷ VND (số liệu tại thời điểm 31/12/2000).

    Nguồn vốn huy động tại ngân hàng ngoại thương cũng tăng trưởng liên tục trong các năm gần đây: Năm 1999 vốn huy động từ hai thị trường đạt 37939 tỷ, năm 2000 đạt 57035 tỷ, tăng 50,3% so với năm 1999.

    Trong tổng nguồn vốn huy động tại hai thị trường nguồn vốn kỳ hạn đến cuối năm 2000 (31/12/2000) đạt 33356 tỷ quy VND tăng 84,2%, chiếm 58,5% tổng vốn huy động từ hai thị trường cao hơn mức 47,7% cuối năm 1999. Trong đó 84,8% tổng vốn kỳ hạn huy động trên thị trường i, 16,2% huy động trên thị trường ii.

    Điều đáng chú ý là tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng trở lên trong những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng cao và chiếm tỷ trọng lớn: năm 1999 tiền gửi trên 12 tháng đạt 7220 tỷ quy VND, năm 2000 đạt 12788 tỷ quy VND tăng 77,1% so với năm 1999 và chiếm 45,2% vốn kỳ hạn của thị trường i và 38,3% tổng vốn kỳ hạn,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          45

    tương đương với 22,4% tổng vốn huy động. Đây là yếu tố thuận lợi cho ngân hàng ngoại thương mở rộng cho vay trung dài hạn.

    Việc tăng trưởng nguồn vốn trong những năm gần đây, đặc biệt là sự tăng trưởng mạnh vào năm 2000 là do tác động của một số nhân tố sau:

    Ngân hàng ngoại thương đã chủ động cải thiện huy động vốn bằng biện pháp đa dạng hoá các hình thức huy động, bổ sung các kỳ hạn lãi suất khác nhau, linh hoạt điều chỉnh lãi suất, áp dụng chính sách ưu đãi lãi suất đối với khách hàng có số dư lớn

    Lãi suất USD trên thị trường quốc tế tăng mạnh kéo theo việc tăng lãi suất của thị trường trong nước đã khuyến khích dân cư tăng cường gửi USD trong khi đó ngân hàng ngoại thương lại có thế mạnh trong việc huy động nguồn vốn này

    Nguồn kiều hối trong năm tăng mạnh, nhất là vào những tháng cuối năm.

    2.2. Tình hình cho vay trung dài hạn

    2.2.1. Cho vay, thu nợ và dư nợ trung dài hạn

    Bảng 2: Tình hình cho vay trung dài hạn: (tỷ VND)

                         
      Chỉ tiêu 31/12/1997 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Quy VND Tăng/giả Quy VND Tăng/giả Quy VND Tăng/giả Quy VND Tăng/giảm  
          m   m   m      
      Cho vay 859 20% 1065 24% 1385 30% 1869 35%  
      Thu nợ 567 20% 835 47% 1973 136% 1419 -28%  
      Dư nợ 2874 10% 3104 8% 2516 -19% 2966 17%  
                         

    (Nguồn:  Báo  cáo  kết  quả  kinh  doanh  của  ngân  hàng  ngoại  thương  các  năm

    1998,1999,2000)

    Doanh số cho vay đạt tốc độ tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng cho vay những năm gần đây liên tục tăng, mặc dù trong các năm 1997 và 1998 nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực. Năm 1998 doanh số cho vay tăng 24% so với năm trước, con số này trong các năm tiếp theo lần lượt là 30 và 35%. Do việc tăng doanh số cho vay tăng trưởng, dư nợ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương cũng tăng trưởng theo. Trong các năm 1997 và

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          46

    1998 tốc độ tăng trưởng dư nợ khá chậm. Năm 1999 dư nợ giảm 19% so với năm 1998 tuy nhiên đây là kết quả của việc thu nợ tăng đột biến: thu nợ năm 1999 tăng 136% so với năm 1998. Thực hiện chính sách kích cầu của Chính phủ: năm 1999 ngân sách nhà nước đã cấp vốn cho Vaxuco để thanh toán khoản vay 70,6 triệu USD, và việc Tổng công ty điện lực Việt Nam thanh toán khoản nợ trước hạn trên 8 triệu USD Năm 2000 dư nợ tín dụng trung dài hạn tăng cao hơn nhưng vẫn ở mức thấp đạt 2966 tỷ quy VND, tăng 17% so với năm 1999. Nguyên nhân là các dự án lớn như dự án khí Nam Côn Sơn, dự án điện Phú Mỹ 2.1, công ty Bia Hà Nội, công ty cổ phần đầu tư xây dựng… vẫn chưa được giải ngân.

    Bảng 3: Cơ cấu dư nợ tín dụng trung dài hạn trong tổng dư nợ tín dụng (Tỷ VND)

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      Tín dụng thông thường 10338 100% 10102 100% 14317 100%  
      1.Ngắn hạn 7234 70% 7586 75,1% 11351 79,3%  
      2.Dài hạn 3104 30% 2516 24,9% 2966 20,7%  
                     

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999, 2000)

    Bên cạnh việc dư nợ tín dụng trung dài hạn tăng trưởng chậm, nó còn chiếm một tỷ lệ thấp trong tổng dư nợ tín dụng tại ngân hàng ngoại thương: năm 1998 dư nợ tín dụng trung dài hạn chiếm 30% tổng dư nợ tín dụng thông thường, tuy nhiên tỷ lệ này liên tục giảm trong các năm tiếp theo, đến năm 2000 chỉ chiếm 20,7% trong tổng dư nợ tín dụng thông thường.

    Điều này có thể thấy được: ngoài việc cho vay trung dài hạn gặp nhiều rủi ro

    12000

    10000

    8000

    6000

    4000

    2000

    0

     1.Ng¾n h¹n

     2.Dµi h¹n

     

    1998                   1999                    2000

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          47

    Biểu đồ 1: Tương quan giữa dư nợ ngắn hạn và trung dài hạn

    hơn so với cho vay ngắn hạn do các loại rủi ro có thể gặp như: rủi ro kỳ hạn, rủi ro lãi suất… thì khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế là thấp, không có nhiều các dự án đầu tư trung dài hạn có hiệu quả, ngay cả một số công trình lớn do chính phủ đề xuất mặc dù đã ký hợp đồng tín dụng nhưng vẫn chưa thể giải ngân. Bên cạnh đó công tác Marketing ngân hàng ở ngân hàng ngoại thương hoạt động chưa hiệu quả, và chưa thật sự chủ động tìm kiếm các dự án có hiệu quả để cho vay…

    2.2.2. Dư nợ theo nội tệ, ngoại tệ

    Trong năm 1999, dư nợ tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ tại ngân hàng ngoại thương là 199 triệu USD giảm 37% so với năm 1998, năm 2000 là 103 triệu USD, giảm 13,9% so với năm 1999. Tình hình này dẫn đến cơ cấu cho vay trung dài hạn theo nội ngoại tệ có xu hướng cân bằng (năm 2000 dư nợ theo nội ngoại tệ đều xấp xỉ 50%). Dư nợ cho vay bằng ngoại tệ giảm là do các nguyên nhân sau:

    Khi cho vay bằng ngoại tệ ngân hàng không những phải đối phó với những Bảng 4 :Dư nợ tín dụng trung dài hạn theo cơ cấu nội ngoại tệ: (tỷ VND)

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      1. Nội tệ 658 21,2% 844 33,5% 1477 49,8%  
      2.Ngoại tệ 2446 78,8% 1627 66,5% 1489 50,2%  
      (USD quy đổi ra VND)              
      Tổng dư nợ 3104 100% 2516 100% 2966 100%  
                     

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999, 2000)

    rủi ro thông thường mà còn phải đối phó với rủi ro về tỷ giá hối đoái (đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính). Việc đồng Việt Nam bị mất giá so với đồng ngoại tệ gây ra tâm lý e ngại đối với khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ. Hơn nữa trong năm 1999 lãi suất bằng đồng Việt Nam liên tục giảm (NHNN đã liên tục giảm trần lãi suất cho vay VND từ 1,25%/ tháng xuống 0,8% đối với khu vực đô thị và 1%/ tháng đối với khu vực nông thôn), do đó các doanh nghiệp được khuyến khích vay bằng nội tệ và lãi suất cho vay thấp nên doanh nghiệp sẽ giảm được chi

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          48

    phí vốn vay. Tuy nhiên đây không phải là xu hướng tốt vì ngân hàng ngoại thương là một ngân hàng có tiềm lực mạnh về vốn ngoại tệ và có nhiều kinh nghiệm trong việc cung cấp tín dụng bằng USD, nên việc tỷ lệ cho vay bằng USD bị giảm sút làm cho một lượng vốn lớn ngoại tệ bị ứ đọng.

    2.2.3. Dư nợ theo thành phần kinh tế

    Bảng 5: Dư nợ tín dụng trung dài hạn theo thành phần kinh tế (tỷ VND):

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      1.Quốc doanh 2669,4 86% 2264,4 90% 2728,7 92%  
      2.Ngoài quốc doanh 434,56 14% 251,6 10% 237,3 8%  
      3. Tổng 3104 100% 2516 100% 2966 100%  
                     

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999,2000) Theo số liệu ở trên ta thấy, dư nợ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương tập trung chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp quốc doanh. Năm 1998 tỷ trọng nay là 86%, năm 1999 tăng lên 90% và năm 2000 đã đạt tỷ lệ 92% trong tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn. Khách hàng chủ yếu của ngân hàng ngoại thương đặc biệt là các tổng công ty lớn như: Tổng công ty điện lực Việt Nam, Animex, Tổng công ty xây dựng Lũng Lô, Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam, Tổng

    công ty xây dựng sông Đà…

    Việc dư nợ tín dụng của các doanh nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng cao bởi thực tế cho thấy: đầu tư vào khu vực ngoài quốc doanh, ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn, ngay cả trong trường hợp có tài sản thế chấp thì ngân hàng cũng rất khó khăn trong việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi vốn: Giá của tài sản thế chấp luôn biến động, có thể lúc đánh giá là cao nhưng khi phát mại thì giá của tài sản lại ở múc thấp. Mặt khác, trung tâm bán đấu giá tại Việt Nam hoạt động chưa có hiệu quả nên việc bán tài sản là vấn đề phức tạp. Nhiều trường hợp khách hàng sở hữu một tài sản nhưng lại mang đi thế chấp tại nhiều ngân hàng khác nhau. Các cán bộ của ngân hàng ngoại thương trong quá trình thẩm định khó có thể phát hiện được.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          49

    Tình trạng này cũng gây ra khó khăn cho ngân hàng khi tiến hành phát mại tài sản. Lúc này, các ngân hàng sẽ không thể hiểu được ai là người thực sự có quyền đối với tài sản đó. Hơn nữa các công ty ngoài quốc doanh (Trừ các công ty liên doanh với nước ngoài) thường có trình độ tổ chức kém, đội ngũ nhân viên yếu về chuyên môn, nghiệp vụ vì vậy mà rủi ro xảy ra đối với thành phần kinh tế này là lớn. Tuy nhiên, những rủi ro này cũng có thể xảy ra đối với thành phần kinh tế quốc doanh.

    Tỷ trong dư nợ của khu vực kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn là phù hợp với định hướng phát triển của nước ta trong đó ngành kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, thực tế là với sự hỗ trợ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương các doanh nghiệp nhà nước đã cũng cố được vị trí và phát huy được vai trò của minh trong nền kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm tới ngân hàng ngoại thương cũng cần có những biện pháp đẩy mạnh cho vay với kinh tế ngoài quốc doanh vì đâu là khu vực kinh tế rất năng động và tất nhiên nhu cầu vốn cũng lớn.

    2.2.4. Dư nợ theo ngành kinh tế

    Cơ cấu này trong những năm gần đây gần như không thay đổi nhiều gồm các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông, thương mại và các ngành khác. Ngân hàng tập trung cho vay chủ yếu là hai ngành công nghiệp và thương mại. Hai ngành

    Bảng 6: Dư nợ cho vay trung dài hạn theo ngành kinh tế (tỷ đồng)

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      1.Công nghiệp 1316,2 39,5% 1071,82 42,4 1251,65 42,2%  
      2.Xây dựng 180 5,8% 156,48 6,1% 186,86 6,3%  
      3.Giao thông 242,11 7,8% 231,47 9,2% 281,77 9,5%  
      4.Thương mại 1244,7 40,1% 1016,46 40,3% 1204,2 40,6%  
      5.Ngành khác 121,09 3,9% 42,77 1,7% 41,52 1,4%  
      Tổng dư nợ 3104 100% 2516 100% 2966 100%  
                     

    (Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999, 2000) này chiếm tỷ trọng khá cao (hơn 80% trong tổng dư nợ trung dài hạn ). Tổng dư

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          50

    nợ của ngành xây dựng chiếm tỷ trọng không cao (dưới 6,5%), điều này phản ánh từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực thì ngân hàng ngoại thương đã thận trọng hơn khi đầu tư cũng như cho vay vốn đối với các trong lĩnh vực xây dựng như khách sạn, bất động sản, cao ốc… bởi đây là một trong những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng. Hơn nữa, theo nhận định trong một số năm tới ngành kinh doanh khách sạn sẽ tăng trưởng chậm hơn so với thời kỳ năm 1995, chính vì vậy tỷ trọng dư nợ trung dài hạn theo ngành xây dựng trong năm 1999 chỉ tăng nhẹ so với năm 1998 và đến năm 2000 cũng chỉ ở mức 6,3% trong tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn.

    Bên cạnh đó sau tác động của cuộc khủng hoảng, hầu hết các nền kinh tế trong khu vực đều có dầu hiệu phục hồi, vì thế trong những năm tới đầu tư vào Việt Nam có xu hướng tăng nhanh. Do đó nhu cầu vay vốn của các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng, giao thông, đường xá, cầu cống… đều có xu hướng tăng lên. Điều này thể hiện trong tỷ trọng dư nợ trung dài hạn của ngành giao thông năm 1998 chỉ đạt 7,8% nhưng sang năm 1999 đạt mức 9,2% và đến năm 2000 đạt mức 9,5% trong tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn, chủ yếu là do ngân hàng cho vay làm đường xá như đường Trường Sơn, công trình cảng Cái lân…

    Tỷ trọng dư nợ của ngành công nghiệp trong những năm qua vẫn tăng trưởng mặc dù vẫn còn ở mức thấp (năm 1998 tỷ trọng là 39,5%, năm 1999 là 42,4%). Mặc dù năm 2000, tỷ trọng này có giảm nhẹ xuống còn 42,2% tuy nhiên có một số dự án lớn thuộc ngành này đến nay vẫn chưa giải ngân được.

    Tỷ trọng dư nợ trong ngành thương nghiệp vẫn tăng ổn định và chưa có sự đột phá: tỷ trọng này trong năm 1998 là 40,1%, năm 1999 là 40,4$ và đến năm 2000 là 40,6%.

    2.3.     Tình hình nợ quá hạn

    Bảng 7: Tình hình nợ quá hạn trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          51

                 
      Năm 31/12/1997 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Nợ quá hạn 98 123 116 160  
      Tổng dư nợ 2874 3104 2516 2966  
      Tỷ lệ nợ quá hạn (%) 3,4 3,9% 4,6% 5,4%  
                 

    (Nguồn :Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1998, 1999, 2000)

    Bên cạnh tăng tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn thì tỷ lệ nợ quá hạn trong những năm qua cũng gia tăng, điều này phản ánh chất lượng tín dụng trung dài hạn có chiều hướng đi xuống và đây là một vấn đề cần giải quyết.

    Nói đến kinh doanh không thể không nói đến rủi ro mà nghề ngân hàng được biết đến như là một ngành có nhiều rủi ro nhất mà đặc biệt là trong hoạt động tín dụng trung dài hạn. Rủi ro này có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như rủi ro về kỳ hạn, rủi ro đạo đức khách hàng, rủi ro về tỷ giá và cũng có những rủi ro do yếu tố khách quan như thiên tai, hoả hoạn…Vì vậy tình hình nợ quá là không thể tránh khỏi, vấn đề đặt ra đối với ngân hàng là giảm tối đa các khoản nợ quá hạn để vừa tránh được rủi ro, vừa đảm bảo lợi nhuận cũng như việc xử lý các khoản nợ quá hạn đó như thế nào.

    Năm 1997 tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng ngoại thương ở mức tương đối thấp là 3,4% nhưng tỷ lệ này lại tăng dần qua các năm: năm 1998 là 3,9%, năm 1999 là 4,6% và năm 2000 là 5,4%. Thực ra trong những năm gần đây ngân hàng ngoại thương đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn các khoản nợ quá hạn hầu hết là của các khoản vay trước năm 1997 và theo dự báo của ngân hàng nợ quá hạn sẽ còn tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp theo do một số dự án cho vay theo chỉ định của Chính Phủ chưa thể thu hồi vốn ngay như việc cho vay khắc phục hậu quả cơn bão số năm.

    Một điều rất đáng quan tâm là tỷ lệ nợ quá hạn của các khoản vay bằng USD lại tăng ở mức rất cao từ 4,2% năm 1999 đã tăng lên tới 6,9% trong năm 2000 trong khi đó tỷ lệ này đối với các khoản vay bằng VND lại giảm từ 5,4% năm

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          52

    1999 xuống còn 3,9% năm 2000. Điều này có vẻ như không hợp lý khi ngân hàng ngoại thương là một ngân hàng có kinh nghiệm trong việc cho vay và thu hút vốn bằng ngoại tệ.

    Tỷ lệ nợ quá hạn đối với doanh nghiệp nhà nước ở mức thấp 3,0%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực kinh tế tư nhân là 7,6%. Điều này phản ánh một thực tế là hiện nay các doanh nghiệp tư nhân, ngoài quốc doanh (không kể đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) do trình độ tổ chức chưa cao, năng lực cán bộ còn hạn chế nên tình hình kinh doanh không đạt hiệu quả, do đó phát sinh nợ quá hạn lớn đối với ngân hàng. Có thể thấy rõ nhận định qua sự so sánh với tỷ lệ nợ quá hạn của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nơi mà có trình độ tổ chức cao, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ được xem là tốt nhất hiện nay: tỷ lệ nợ quá hạn ở mức rất thấp 1,3%.

    Về cơ cấu nợ quá hạn theo thời gian: Nợ quá hạn khó đòi chiếm tỷ lệ cao xấp xỉ 74% (năm 1999 chiếm 74,5% và 73,6% vào năm 2000), tỷ lệ nợ khê đọng chiếm khoảng 19% trong hai năm gần đây, trong khi đó tỷ lệ nợ thông thường

    Bảng 8: Cơ cấu nợ quá hạn theo thời gian

                 
      Chỉ tiêu 31/12/1999 31/12/2000  
        Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      Tổng dư nợ 116 100% 160 100%  
      Nợ quá hạn thông thường 7,6 6,6% 11,9 7,4%  
                 
      Nợ quá hạn khê đọng 21,9 18,9% 30.4% 19%  
                 
      Nợ quá hạn khó đòi 86,5 74,5% 117,7 73,6%  
                 
                 

    (Nguồn :Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1998, 1999, 2000)

    (dưới 6 tháng) chiếm tỷ lệ nhỏ dưới 8%. Sở dĩ tình hình nợ quá hạn khó đòi chiếm tỷ trọng lớn là do các khoản nợ phát sinh từ năm 1997 trở về trước đều là những khoản nợ khó đòi gần như là mất luôn. Các khoản nợ này cho vay theo những dự án mà chất lượng thẩm định của ngân hàng ngoại thương những năm trước đây còn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          53

    nhiều bất cập. Trong khi đó ngân hàng ngoại thương lại chưa có biện pháp xử lý

    hữu hiệu những khoản nợ đó

    4.     Một số kết quả đạt được và tồn tại trong hoạt động tín dụng trung dài hạn

    tại ngân hàng ngoại thương.

    3.1. Những thành tựu đạt được

    Trong những năm qua, mặc dù có nhiều khó khăn do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế thấp nhưng dư nợ tín dụng trung dài hạn vẫn tăng trưởng với tốc độ khá. Ngân hàng ngoại thương đã thực hiện tốt việc cung ứng vốn tín dụng trung dài hạn cho nền kinh tế vừa đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp vừa tạo ra một đội ngũ khách hàng truyền thống như các Tổng công ty lớn của cả nước.

    Để có thể đáp ứng nhu cầu cho vay ngày một tăng, công tác huy động vốn của ngân hàng ngoại thương cũng đạt kết quả tốt tỷ lệ nguồn vốn trung dài hạn ngày một tăng trong tổng nguồn vốn huy động.

    Ngân hàng đã tăng cường khâu giám sát khách hàng trước, trong và sau khi cho vay, cùng với việc thực hiện nghiêm túc quy trình cho vay theo quy định của

    NHNN cũng như các quy định do ngân hàng đề ra đã làm cho chất lượng các khoản tín dụng trung dài hạn trong thời gian gần đây được nâng cao rõ rệt.

    Ngân hàng đã từng bước đơn giản hoá thủ tục cho vay, giảm thời gian cho khách hàng trong quá trình đến vay vốn tại ngân hàng.

    Chính sách tín dụng trung dài hạn của ngân hàng đề ra phù hợp với thực tế phát triển của nước ta và đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, với chính sách tín dụng này, hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương đã đóng góp tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH.

    Ngân hàng đã sắp xếp những cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình vào phòng dự án tại các Chi nhánh và tại Sở giao dịch, điều này là nhân tố

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          54

    quyết định cho việc thành công của hoạt động tín dụng trung dài hạn. 3.2. Những tồn tại và nguyên nhân

    3.2.1. Những tồn tại

    Mặc dù dư nợ tín dụng trung dài hạn vẫn tăng trưởng qua các năm, nhưng tỷ trọng của nó so với tổng dư nợ tín dụng thông thường ngày một giảm, hoạt động tín dụng trung dài hạn vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng đặc biệt là tiềm năng về huy động vốn trung dài hạn đang chiếm tỷ trọng ngày càng tăng.

    So với các ngân hàng khác, ngân hàng ngoại thương có ưu thế hơn hẳn về khả năng huy động vốn ngoại tệ, tuy nhiên xu hướng vay bằng ngoại tệ hiện đang giảm. Có thể nói ngân hàng ngoại thương chưa phát huy được điểm mạnh về khả năng cho vay trung dài hạn bằng ngoại tệ này của mình.

    Ngân hàng còn khá dè dặt trong việc cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh làm cho tỷ trọng dư nợ của khu vực này đã nhỏ lại càng nhỏ hơn.

    Công tác xử lý tài sản xiết nợ còn kém hiệu quả

    3.2.2. Nguyên nhân:

    Thứ nhất: trong quy trình xét duyệt cho vay ngân hàng còn khá cứng nhắc trong việc áp dụng các quy định của cấp trên.

    Thứ hai: Công tác Marketing ngân hàng tại ngân hàng ngoại thương chưa được coi trọng đúng mức, ngân hàng chưa có các biện pháp Marketing nhằm hỗ trợ cho hoạt động tín dụng trung dài hạn.

    Thứ ba: Ngân hàng thiếu những thông tin trung thực về khách hàng, đặc biệt là các khách hàng mới. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều dự án có tính khả thi nhưng ngân hàng không dám cho vay hoặc ngược lại nhiều dự án hiệu quả không cao nhưng ngân hàng vẫn cho vay do những thông tin được cung cấp là không chính xác.

    Thứ năm: Môi trường pháp lý ở nước ta hiện nay chưa thật tốt, điều này gây

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          55

    rất nhiều khó khăn cho ngân hàng trong công tác xử lý nợ quá hạn và phát mại tài sản thế chấp.

    Thứ sáu: một số yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định đặc biệt là tỷ giá hối đoái. Chính nhân tố này là một trong những nghuyên nhân quan trọng dẫn đến tỷ trọng vay bằng ngoại tệ giảm trong những năm gần đây

    CHƯƠNG BA:

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG

    DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

    i.                   Định hướng hoạt động của ngân hàng ngoại thương Việt Nam trong thời gian tới (Đến năm 2010).

    Mặc dù trong những năm vừa qua ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng mạnh (trong mười năm từ năm 1991 đến năm 1999 quy mô

    nguồn vốn đã tăng hơn 6 lần), tuy nhiên để đứng vững và tiếp tục phát triển trong một môi trường mà sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, ngân hàng ngoại thương đã xây dựng cho mình một chiến lược phát triển đến năm 2010 tập trung vào bốn nội dung chủ yếu sau:

    Mục tiêu và phương châm

    Chiến lược chung

    Những nhiệm vụ chiến lược và định hướng phát triển Các giai đoạn triển khai thực hiện chiến lược

    Trong đó mục tiêu chiến lược phát triển của ngân hàng ngoại thương đến

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          56

    năm 2010 là phấn đấu trở thành ngân hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam, hoạt động đa năng, kết hợp bán buôn với bán lẻ, mở rộng các dịch vụ ngân hàng, phục vụ phát triển kinh tế trong nước và trở thành một ngân hàng quốc tế khu vực

    Phương châm của ngân hàng ngoại thương là:

    Đối với ngân hàng: An toàn – Hiệu quả – Tăng trưởng. An toàn trong mọi lĩnh vực kinh doanh. Hiệu quả mang ý nghĩa kinh tế xã hội. Tăng trưởng phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước và chính sách tiền tệ của ngành ngân hàng.

    Đối với khách hàng: Đem đến cho khách hàng sự an toàn tiền gửi, phục vụ nhanh chóng, giá rẻ. Khách hàng chính của ngân hàng ngoại thương là các Tổng công ty, các doanh nghiệp lớn hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, khách hàng có địa bàn hoạt động chính tại các thành phố và các khu vực có tiềm năng kinh tế…

    Chiến lược phát triển chung của Ngân hàng ngoại thương đó là định hướng quyết định bước phát triển mới cả về chất lượng và số lượng: từng bước xây dựng ngân hàng ngoại thương trở thành một ngân hàng hiện đại, hội nhập với quốc tế có mô hình tổ chức khoa học, có công nghệ hiện đại, đội ngũ cán bộ công nhân viên có phẩm chất tốt.

    Cụ thể là:

    Trong năm 2001, ngân hàng ngoại thương tiếp tục thực hiện định hướng phát triển 10 năm của mình là: “ An toàn – Hiệu quả – Phát triển ”, căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước năm 2001 và nhiệm vụ của ngành ngân hàng với năng lực của ngân hàng mình, ngân hàng ngoại thương định hướng hoạt động kinh doanh trong năm 2001 với các chỉ tiêu chính sau:

    1. Tăng trưởng nguồn vốn 19 – 20%
    2. Tăng trưởng dư nợ tín dụng 20 – 22%
    3. Tỷ lệ nợ quá hạn / Tồng dư nợ Dưới 4,0%
    4. Thị phần trong thanh toán xuất nhập khẩu 29%

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          57

    5.  Tăng trưởng lợi nhuận trước thuế 5%

    Để thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh trên, ngân hàng ngoại thương sẽ triển khai các nhiệm vụ công tác sau:

    Đẩy mạnh công tác huy động vốn, thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động vốn (trả lãi trước, có thưởng, khuyến mại), bổ sung các loại kỳ hạn, áp dụng lãi suất linh hoạt… để phát triển nguồn vốn đạt tốc độ tăng trưởng 19 – 20%, trong đó chú ý đến việc phát triển nguồn vốn bằng VND.

    Chủ động tìm các dự án khả thi không phân biệt thành phần kinh tế, loại hình sở hữu, bám sát các dự án lớn, các chương trình kinh tế trọng điểm… để đẩy mạnh cho vay nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng 20 – 22%, cải tiến phương pháp quản lý rủi ro tín dụng, giữ tỷ lệ nợ quá hạn dưới 4%.

    áp dụng công nghệ mới, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, giảm phí… nhằm giữ vững thị phần 29% trong kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu của cả nước.

    Triển khai đề án tái cơ cấu ngân hàng ngoại thương, trong năm 2001 cần đạt một số mục tiêu như: thành lập công ty quản lý tài sản, bổ sung hoàn thiện hệ thống quy chế các mặt hoạt động của ngân hàng ngoại thương, đổi mới phương thức kiểm tra nội bộ…

    ii.                Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất luọng tín dụng trung dài hạn tại

    ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    l. Giải pháp để mở rộng hoạt động tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại

    thương

    Hiện nay, yêu cầu trước tiên đối với Ngân hàng ngoại thương là phải làm thế nào để mở rộng được hoạt động tín dụng trung dài hạn. Như đã phân tích ở trên là chất lượng các khoản tín dụng hiện có của Ngân hàng là khá tốt nhưng mức dư nợ còn thấp, do đó Ngân hàng cần phải thực hiện những giải pháp tích cực để cải thiện tình hình :

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          58

    1.1 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn trung dài hạn.

    Ngân hàng vẫn có thể chuyển một phần vốn ngắn hạn sang tín dụng trung dài hạn nhưng còn tùy thuộc vào tính ổn định của nguồn tiền gửi. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới chỉ ra mức tín dụng trung dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn được khống chế bởi chỉ số an toàn về mức chuyển hóa vốn ( H ) :

    Tổng số nguồn vốn dài hạn trên 5 năm

    H = ——————————————————-

    Tổng các khoản sử dụng vốn trên 5 năm

    • Trái Phiếu Ngân hàng

    Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường vốn, là giấy nhận nợ của các Ngân hàng đối với người mua (hoặc chủ sở hữu) cam kết sẽ trả nợ và lãi theo kỳ hạn đã định. Đối với người mua, nó là giấy chứng nhận quyền đầu tư và quyền hưởng một phần lãi theo số tiền đầu tư. Đây là hình thức phổ biến

    • nhiều nước trên thế giới, nó hấp dẫn hơn các hình thức gửi tiền có kỳ hạn dài bởi tính đa dạng trong hình thức trả lãi cũng như lãi suất huy động. Khi cần phát hành trái phiếu, để có thể thu hút được người mua, Ngân hàng có thể đưa ra các mức lãi suất chiết khấu tại các mốc thời gian khác nhau trước khi trái phiếu đáo hạn .

    Ngân hàng phát hành các trái phiếu dài hạn có bảo đảm giá trị bằng USD

    và có thể chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường. Điều đó có nghĩa là khoản tiền gửi gốc sẽ được bảo đảm theo giá trị của USD tại thời điểm gửi tiền, nếu thiếu hụt sẽ được bù đắp. Biện pháp này lựa trên hai căn cứ khoa học; một là: hiện nay nền kinh tế Mỹ phát triển khá ổn định lên USD có giá trị ít biến động, hai là: trong tiềm thức người dân Việt Nam hiện nay vẫn rất tin tưởng vào USD .

    • Tiền gửi dài hạn có lãi suất biến động theo thị trường hoặc được bảo đảm

    bằng vàng.

    Ngân hàng có thể là cho người gửi tiền an tâm bằng cách áp dụng lãi suất biến động theo thị trường để giảm rủi ro cho người gửi tiền khi lãi suất lên cao, có

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          59

    thể dùng vàng để đảm bảo chi khoản tiền gửi vì đó là tâm lý của người Việt Nam từ xưa đến nay, một tập quán có từ lâu đời vì cất trữ vàng người ta cảm thấy an toàn hơn khi mà đồng tiền không ổn định.

    Mặt khác vàng vẫn là hình thức được ưa chuộng mang tính độc tôn trong xã hội Việt Nam vì chúng có tính thanh khoản cao, đảm bảo được giá trị ngay cả trong thời kỳ đồng tiền không ổn định, là phương tiện thanh toán thay tiền mặt trong việc mua bán các hàng hóa có giá trị lớn như nhà cửa, đất đai,…

    • Giấy chứng nhân tiền gửi có thể bán lai

    Giấy chứng nhận tiền gửi có thể bán lại là công cụ huy động tiền gửi dài hạn do Ngân hàng bán cho người gửi tiền. Nó thanh toán lãi hàng năm theo một khoản nhất định và khi hết hạn thì hoàn trả hết giá mua ban đầu. Do có thể bán lại trên thị trường nên nó biến việc gửi các khoản dài hạn thành các khoản tiền gửi ngắn hạn. Đặc điểm này khiến giấy chứng nhận tiền gửi rất thịnh hành ở các nước Châu âu từ những năm 1970 cho đến nay nó vẫn chiếm những vị trí đầu trong danh sách nguồn huy động vốn của các Ngân hàng Châu âu.

    1.2. Đa dạng hóa các hình thức tín dụng trung dài hạn

    Hiện nay, nếu so sánh hệ thống Ngân hàng Việt Nam với hệ thống Ngân hàng của nhiều nước có nền tài chính phát triển thì các hình thức cho vay của các Ngân hàng Việt Nam là quá đơn điệu. Chính điều đó đã là một nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng. Tình trạng ứ đọng vốn của các NHTM Việt Nam thời gian qua có liên hệ khá chặt chẽ với điều này. Khi Ngân hàng không có khách hàng phù hợp, không có nghĩa là không có thị trường mà có thể hiểu là không khai thác được thị trường. Điều kiện của mỗi khách hàng xin vay vốn rất khác nhau, để thu hút được nhiều khách hàng cần có các hình thức tín dụng đa dạng và phù hợp. Hơn nữa theo các lý thuyết kinh tế, đa dạng hóa là một biện pháp quan trọng để giảm rủi ro. Khi các NHTM Việt Nam không có các hình thức cho vay đa dạng, nghĩa là đã tự loại bỏ cơ hội giảm rủi ro của mình .

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          60

    Như vậy, có thể nói một nguyên nhân làm tăng những thiệt hại có tính chi phí cơ hội trên các hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng Việt Nam là do tính kém phát triển về các lĩnh vực đầu tư. Giải pháp cho điều đó là cần phải tích cực mở rộng các loại hình hoạt động, cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích mới để tận dụng tối đa những cơ hội sinh lời tốt nhất. Thực tế là một khi Ngân hàng có các loại hình đầu tư và lĩnh vực hoạt động đa dạng, nó có thể lựa chọn những cơ hội có khả năng sinh lời tốt nhất. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ giảm được mức thiệt hại có tính chi phí cơ hội trên các dự án. Ngoài ra như đã nói, với các lĩnh vực hoạt động đa dạng, Ngân hàng có thể phân đều rủi ro của mình sang các lĩnh vực khác nhau, trên cơ sở đó có thể tăng được tính ổn định của mình. Em xin được đề cập đến một số hình thức đầu tư tín dụng mới với mục tiêu nghiên cứu để góp phần đa dạng hóa hoạt động của ngành Ngân hàng :

    Đồng tài trợ.

    Việc đông tài trợ là quá trình cho vaybảo lãnh của một nhóm các tổ chức tín dụng (LCTD ) cho một dự án, do một TCTD làm đầu mối phối hợp các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các TCTD. Các hình thức đồng tài trợ là cho vay hợp vốn; bảo lãnh, tái bảo lãnh hoặc kết hợp của các hình thức trên .

    Nghiệp vụ đồng tài trợ được áp dụng trong các trường hợp sau: nhu cầu vay vốn để thực hiện dự án vượt giới hạn tối đa được cho phép vay hoặc bảo lãnh của một TCTD; do nhu cầu phân tán rủi ro của các TCTD; khả năng nguồn vốn của một TCTD không đáp ứng được nhu cầu vốn của dự án .

    Theo cách làm truyền thống từ trước tới nay, các TCTD thường ngồi chờ khách hàng đem dự án tới Ngân hàng để xin vay, mà không chịu tìm kiếm các khách hàng tiềm năng nhất là trong giai đoạn hiện nay, các TCTD Việt Nam hoạt động trong môi trường khó cạnh tranh được với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài về vốn, công nghệ và cả cách tổ chức quản lý. Do vậy, Ngân hàng ngoại

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          61

    thương nên căn cứ vào chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành kinh tế, của từng địa phương, của toàn nền kinh tế, liên kết với các NHTM khác để xây dựng các phương án đầu tư vốn để chủ động nguồn vốn tín đụng trung dài hạn chủ động trong công tác thẩm định, cho vay đúng mục đích, đồng thời quản lý được rủi ro của mình. Ngân hàng ngoại thương không chỉ cần liên kết với các NHTM quốc doanh mà còn cần phải liên kết với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh. Các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài có tiềm lực về vốn vô cùng lớn nhưng do quy định của NHNN nên khả năng cho vay bằng VNĐ của các Ngân hàng này bị hạn chế. Do đó, Ngân hàng ngoại thương có thể liên kết với các Ngân hàng này cho vay bằng VNĐ hay làm trung gian cho các Ngân hàng này. Sự liên kết không chỉ giúp Ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng mà còn giúp nâng cao hiệu quả món vay. Bên cạnh đó, trong quá trình liên kết thực hiện dự án, Ngân hàng và đội ngũ cán bộ tín dụng cũng học hỏi được các kinh nghiệm, cách thức thẩm định dự án, phương pháp quản lý món vay, phương pháp quản lý điều hành hoạt động Điều này giúp cho Ngân hàng nâng cao năng lực riêng của mình trong hoạt động quản trị nói chung và hiệu quả trong hoạt động tín dụng trung dài hạn nói riêng.

    Tín dụng thuê mua tài sản cố định.

    Thuê – mua, thuê mua trả góp hay tín dụng thuê mua trả góp đều có chung một nội dung. Nó được coi như một hình thức cho thuê tài chính, chỉ khác ở chỗ Công ty thuê mua trực tiếp mua tài sản hoặc chế tạo tài sản cho thuê. Khi bên thuê thanh toán hết tiền thuê theo thỏa thuận của hợp đồng thuê, quyền sở hữu mặc nhiên chuyển cho bên thuê.

    Với loại hình này, các máy móc thiết bị phù hợp theo yêu cầu sử dụng của người thuê, trên các nhà doanh nghiệp nắm được chất lượng của sản phẩm làm ra, khả năng tiêu thụ của chúng, nên sản xuất kinh doanh có hiệu quả, do đó xác suất rủi ro rất nhỏ. Ưu điểm của tín dụng thuê mua là các doanh nghiệp có thể đổi mới

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          62

    trang thiết bị máy móc, quy trình công nghệ hiện đại mà không cần đến tài sản thế chấp và một số lượng lớn vốn tự có như trong cho vay dự án.

    Chính ưu điểm lớn này khiến cho tín dụng thuê mua trở thành một giải pháp vô cùng quan trọng cho các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Nhu cầu vốn trung dài hạn để mua sắm máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại của các doanh nghiệp hiện nay là rất lớn, nhưng để có thể được vay vốn của các Ngân hàng, doanh nghiệp ngoài phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả còn phải cần tới 30% vốn tự có và phải có tài sản thế chấp (đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh). Trong khi đó với hình thức này, doanh nghiệp chỉ cần có điều kiện là có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, vì bản chất của tín dụng thuê mua đã bao hàm tài sản thế chấp trong hợp đồng thuê mua.

    Tín dụng hối phiếu

    Thay vì trực tiếp cho khách hàng vay tiền, Ngân hàng ký phát một giấy nhận nợ hẹn sẽ thanh toán cho người vay một khoản tiền vào một thời gian định trước trong tương lai ( khách hàng cũng đồng thời phải ký phát một giấy nhận nợ tương tự với Ngân hàng với mệnh giá và thời hạn theo thỏa thuận giữa Ngân hàng với khách hàng để bảo đảm Ngân hàng là có lợi nhận ). Sau đó khách hàng có thể dùng giấy nhận nợ đó đem thế chấp lại một Ngân hàng khác để vay vốn. Nếu khắc phục được các rủi ro đi kèm, phương thức này là một hình thức đầu tư hấp dẫn đối với Ngân hàng ( không cần thiết phải xuất tiền cho vay ).

    Cho vay xây dưng nhà ở

    Cho vay xây dựng nhà ở là hình thức trung dài hạn nhằm mục đích cho vay tiền xây dựng đối với các cá nhân, những cặp vợ chồng trẻ có công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, có nhu cầu về nhà ở nhưng chưa có đủ tiền xây nhà hoặc mua nhà. Việt Nam là một quốc gia có dân số trẻ, tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động và số cặp vợ chồng trẻ rất cao. Vấn đề nhà ở đang là một trong những ván đề cấp bách đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM Để giải quyết nhu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          63

    cầu nhà ở, ổn định đời sống cho người dân, đồng thời lại giải quyết được tình trạng ứ đọng vốn Ngân hàng thì Ngân hàng ngoại thương nên thực hiện món cho vay xây nhà theo hai cách sau:

    • Thứ nhất Ngân hàng đầu tư bằng cách mua đất, xây nhà rồi bán cho

    những người có nhu cầu với phương thức trả góp, lượng trả căn cứ vào thu nhập của người mua. Ngân hàng sẽ nắm quyền sở hữu nhà cho đến khi người mua trả hết tiền thì làm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu.

    • Thứ hai, Ngân hàng cho những người có nhu cầu vay tiền để họ tự mua

    nhà hoặc xây nhà. Để giảm rủi ro, Ngân hàng chỉ có thể cho vay đối với những người có sẵn đất và coi quyền sở hữu mảnh đất đó là tài sản thế chấp. Người vay cũng thực hiện trả dần theo phương thức trả góp theo thu nhập.

    Thí điểm áp dung loai hình cho vay theo hình thức ” Không thời han “.

    Theo hình thức này món cho vay sẽ không có thời hạn hoàn trả cụ thể định trước, thay nào đó Ngân hàng sử dụng hình thức có báo trước. Nghĩa là khi muốn thu nợ Ngân hàng có thể báo trước cho khách hàng. Khách hàng sẽ có một thời gian nhất định để chuẩn bị nguồn tiền cần thiết trả cho Ngân hàng. Thực tế đây là một hình thức tín dụng khá linh hoạt cả về thời hạn và lãi suất. Mức lãi suất sẽ được điều chỉnh theo một tiêu thức chung trên thị trường (chẳng hạn theo lãi suất tín phiếu kho bạc ).

    1.3. Đẩy mạnh công tác tư vấn đầu tư

    Trong thời đại hiện nay, khi nền kinh tế đã phát triển, hệ thống thông tin đã rộng khắp, mạng lưới tin học đã đi sâu vào mọi lĩnh vực ngành nghề thì việc đáp ứng các hiểu biết của con người trở lên cần thiết hơn. Cũng như nhiều trung tâm tư vấn khác, tư vấn của Ngân hàng là một lĩnh vực nhằm đánh giá phân tích, dự báo các thông tin về tình hình kinh tế, xã hội, pháp luật, thị trường, giá cả Liên quan đến vấn đề đầu tư giúp cho các doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư một cách đúng đắn nhất, sáng suốt nhất .

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          64

    Cho đến nay hầu như các doanh nghiệp ở nước ta ít hiểu biết về lĩnh vực đầu tư, chính vì vậy đầu tư vào các công trình chưa thu hút được kết quả như mong muốn, rủi ro đầu tư vẫn còn. Để phổ biện rộng khắp, giải đáp các thắc mắc, Ngân hàng nên có trung tâm dịch vụ tư vấn và đầu tư về các công trình, hướng dẫn cố vấn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triền nhanh hơn, điều đó cũng làm cho chính Ngân hàng phát triển, thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển .

    1.4. Tăng cường thực hiện Marketing Ngân hàng

    Công bằng mà nói, không chỉ riêng Ngân hàng ngoại thương mà nhìn chung các NHTM nước ta chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của Marketing trong hoạt động Ngân hàng nên chưa dành sự quan tâm hợp lý, thích đáng cho nó. Tư duy kinh doanh theo quan niệm Marketing còn thiếu vắng ở các NHTM Việt Nam, dẫn tới việc Marketing tuy bước đầu đã được ứng dụng trong Ngân hàng nhưng chủ yếu mới tập trung vào các hoạt động bề nổi như quảng cáo, khuếch trương còn các chức năng chủ yếu có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành công trong thực hành Marketing như nghiên cứu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu, nâng cao uy tín, chất lượng dịch vụ Ngân hàng... thì hầu như còn rất mờ nhạt, bế tắc. Do vậy, để đưa Marketing thực sự thâm nhập vào Ngân hàng và phát huy tác dụng của nó, Ngân hàng ngoại thương cần thực hiện một số biện pháp sau :

    • Các cán bộ quản lý cần phải nhanh chóng chuyển sang tư duy kinh doanh

    mới, lấy quan điểm Marketing làm chủ đạo vì chỉ có tìm hiểu thị trường một cách kỹ lưỡng nắm bắt được sự thay đổi nhu cầu của khách hàng mới có thể đưa ra những giải pháp, chính sách linh hoạt nhằm hướng hoạt động của Ngân hàng về mục tiêu.

    • Triết lý Marketing cần phải được thâm nhập vào tất cả các bộ phận giao

    dịch, tất cả các cán bộ nhân viên trong Ngân hàng.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          65

    • Thành lập phòng chức năng Marketing trong cơ cấu lổ chức quản trị, đề ra và định hướng hoạt động Marketing một cách khoa học, với đội ngũ cán bộ thực sự

    nhạy bén, am hiểu về Marketing.

    • Cán bộ Marketing Ngân hàng cần phải xem xét ba yếu tố có tác động trực

    tiếp đến hoạt động của Ngân hàng:

    • Nhu cầu của khách hàng trên thị trường đối với sản phẩm của Ngân hàng

     

    • Khả năng thích ứng cầu của tất cả các Ngân hàng đối thủ trên thị trường.

     

    • Các sản phẩm, dịch vụ cung ứng của chính bản thân Ngân hàng mình.

    Tất nhiên, nói thì bao giờ cũng dễ hơn làm, để đưa được Marketing vào Ngân hàng thực tế cần nhiều thời gian và phải trải qua rất nhiều khó khăn. Nhưng thực sự đây là một điều rất cần thiết đối với tất cả các NHTM Việt Nam, đặc biệt khi sự cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân hàng mang tính quốc tế.

    1.5. Mở rộng cho vay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

    Ngân hàng tiếp tục điều chỉnh cơ cấu cho vay và đầu tư phải phù hợp với cơ cấu thành phần kinh tế quốc dân. Đa dạng hóa các hình thức tín dụng để phân chia rủi ro và điều quan trọng là không phân biệt thành phần kinh tế, thực hiện chính sách khách hàng để cho vay .

    Hiện nay, ở ngân hàng ngoại thương tỷ trọng tín dụng trung dài hạn đối với khu vực KTNQD còn quá nhỏ bé và ngày càng giảm sút. Mặc dù quy định về cho vay thành phần kinh tế này đòi hỏi rất cao và chặt chẽ nhưng không vì thế mà Ngân hàng không cho vay ra, thờ ơ với khách hàng, coi những khoản vay này là nhỏ bé Ngân hàng cần phải làm tốt hơn nữa quan hệ Ngân hàng – khách hàng, lấy khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, kinh tế tư nhân để hướng tới. Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năng động, nhạy bén, thích ứng với cơ chế thị trường, bộ máy kinh doanh gọn nhẹ, hiệu quả kinh tế luôn gắn liền với lợi ích của người sản xuất, tuy vậy sự ra đời cũng như hoạt động của nhiều doanh nghiệp còn rất nhiều điều chưa sáng tỏ, vì vậy Ngân hàng rất dè dặt khi cho vay vì

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          66

    sợ không thu hồi được nợ, khách hàng bỏ trốn mất. Cho nên cho vay khu vực kinh tế này phải vừa biết năng động, nhìn nhận đâu là khách hàng đáng tin cậy, vừa phải phân tích xem khách hàng nào có triển vọng sẽ quịt nợ hay kinh doanh kém mà dẫn tới khả năng không lrả được nợ. Muốn mở rộng ra khu vực này Ngân hàng phải biết chấp nhận kiểu ” năng nhặt chặt bị ” không chê những vay nhỏ.

    1.6. Đơn giản hóa các thủ tục cho vay

    Ngân hàng ngoại thương nên đơn giản hóa các thủ tục xin vay vốn, đẩy mạnh quá trình điều tra xét duyệt cho đối với các dự án có hiệu quả. Nhìn chung, khách hàng đi vay vốn bao giờ cũng ngại thủ tục xét duyệt cho vay quá rườm rà. Trong bộ hồ sơ xin vay vốn trung dài hạn có rất nhiều các thủ tục: Đơn xin vay, luận chứng kinh tế, dự toán công trình kinh tế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bản quyết toán hiệu quả kinh tế của dự án

    Trong các khách hàng vay vốn trung dài hạn của Ngân hàng chủ yếu là khách hàng truyền thống và khách hàng lâu dài từ trước đã tham gia vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng. Vì vậy giữa bộ hồ sơ vay vốn trung dài hạn với bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn có hai điểm trùng nhau đó là: Báo cáo thực trạng tài chính của doanh nghiệp, báo cáo quyết toán của doanh nghiệp kế tiếp hai năm trước Do đó, Ngân hàng có thể đơn giản hai thủ tục này khi mà doanh nghiệp chưa có đủ thì hoàn toàn có thể áp dụng dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn: vì trong nghiệp vụ vay vốn ngắn hạn, cán bộ tín dụng vẫn phải thường xuyên kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn chỉ thường dùng cho các doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng, còn đối với đơn vị lần đầu thì phải đảm bảo đầy đủ thủ tục. Việc đơn giản hóa như vậy sẽ làm khách hàng không ngần ngại khi đặt quan hệ vay vốn với Ngân hàng. Việc các thủ tục xét duyệt đơn giản cũng sẽ tại điều kiện cho Ngân hàng điều tra có trọng điểm, không mất thời gian tìm hiểu quá lâu. Đơn giản không có nghĩa là qua loa, hời hợt đó là nguyên tắc của Ngân hàng trước khi điều tra cho vay .

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          67

    2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

    Thực hiện song song với việc mở rộng hoạt động tín dụng trung dài hạn là việc nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn. Ngân hàng nên áp dụng những giải pháp sau:

    2.1. Đổi mới chính sách tín dụng

    Chính sách tín dụng vừa phải phù hợp với đường lối phát triển của Nhà nước đồng thời đảm đảm bảo kết hợp hài hòa quyền lợi của người gửi, người đi vay và chính bản thân Ngân hàng. Muốn vậy, phải xây dựng chính sách tín dụng trên cơ sở khoa học, phải đảm bảo khả năng sinh lời của các hoạt động tín dụng, trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật và đường lối chính sách của Nhà nước, đồng thời đảm bảo tính công bằng. Chính sách tín dụng cần được tiếp tục hoàn thiện, đảm bảo vừa huy động được tiền gửi vào Ngân hàng (đặc biệt là vốn trung dài hạn) vừa đảm bảo NHTM kinh doanh có lãi, bảo toàn được vốn khuyến khích được các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn của các Ngân hàng, kích thích mở rộng tín dụng trung dài hạn đề đổi mới kỹ thuật, hiện đại hóa công nghệ, tăng cường sức mạnh của sản phẩm nội địa.

    2.2. Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư

    Thẩm định tài chính là phương diện quan trọng nhất trong công tác thẩm định dự án đầu tư Chất lượng của công tác thẩm định tài chính dự án quyết định chất lượng tín dụng .

    Tuy nhiên, công tác này ở các NHTM Việt Nam nói chung và ngân hàng ngoại thương nói riêng còn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả. Bên cạnh các nguyên nhân như trình độ của cán bộ tín dụng còn hạn chế, chưa được đào tạo chuyên sâu, thông tin khách hàng cung cấp bị sai lệch thì phương pháp thẩm định cũng là một nguyên nhân quan trọng làm cho chất lượng công tác thám định dự án chưa cao.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          68

    • Thứ nhất, hiệu quả tài chính cũng như các loại hiệu quả khác, bản chất

    của nó được thực hiện không đơn thuần chỉ trên một mặt nào đó mà trên nhiều khía cạnh khác nhau.

    Do vậy hệ thống chỉ tiêu về thẩm định tài chính dự án đầu tư phải đầy đủ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để phản ánh về dự án đầu tư một cách hiệu quả nhất, trung thực nhất. Kết quả nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, cho thấy các chỉ tiêu đó tựu trung chia làm hai nhóm chính: Một là, các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của dự án đầu tư. Hai là, nhóm phản ánh mức độ rủi ro của dự án. Trong mỗi nhóm chỉ tiêu cần phải lựa chọn, xác định số lượng, loại chỉ tiêu để phản ánh đặc thù của nhóm san cho phù hợp với hoàn cảnh phân tích cụ thể.

    • Thứ hai, thực chất của việc xây dựng tính toán những chỉ tiêu thẩm định

    dự án tài chính đầu tư có cơ sở toán học chặt chẽ, logic, ở đây, nếu quá chú trọng đến cơ sở lý thuyết thì rất khó cho việc áp dụng triển khai trong thực tiễn thẩm định tài chính dự án vì bị giới hạn nhiều điều kiện như thời gian, hoạt động tổ chức

    • Thứ ba, hệ thống chỉ tiêu là nội dung chính trong thẩm định phương diện

    tài chính dự án đầu tư nhưng dù sao nó cũng chỉ là phương tiện để phân tích, đánh giá. Điều quan, trọng là phải sử dụng những chỉ tiêu đó để phân tích, đánh giá chất lượng hiệu quả của dự án đầu tư.

    2.3. Cho vay kịp thời đầy đủ đối với các dự án có hiệu quả kinh tế

    Ngân hàng cần tiến hành đầu tư dứt điểm cho từng dự án, từng công trình tránh tình trạng cho vay thiếu hài hòa, khi thì tràn lan, khi thì thưa thớt. Trong quá trình điều tra xét duyệt cho vay, Ngân hàng cần chú trọng đến những công trình phục vụ xây dựng cơ cấu cả nền kinh tế quốc dân, thực sự có hiệu quả, đảm bảo đầu tư đúng mục đích, đúng kế hoạch có khả năng trả nợ lãi vay Ngân hàng đúng thời hạn, có khả năng thu hổi vốn nhanh, để đó có kế hoạch đầu tư một cách đầy đủ, kịp thời. Công trình sau khi được phê duyệt, Ngân hàng cần phát tiền vay theo

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          69

    đúng kế hoạch để đảm bảo thực hiện đúng tiến độ thi công đã đề ra, sớm đưa dự án vào sử dụng phát huy hiệu quả .

    2.4. Xử lý linh hoạt các tình huống trong quá trình cho vay

    Đây thực chất chỉ là giải pháp mang tính chất “chữa cháy” hơn là tính chất “phòng ngừa“. Thực hiện giải pháp này, cán bộ tín dụng thường xuyên phải theo sát tình hình thực tế cơ sở, đốc thúc thu nợ, lãi đúng hạn, tuyệt đối không để khách hàng có cảm giác là Ngân hàng không quan tâm tới mục tiêu thu hồi nợ lãi. Tuy nhiên, trong khi thu nợ sớm hoặc đốc thúc thu nợ lãi, cán bộ tín dụng nên sử dụng các biện pháp nghệ thuật ứng xử, nghiệp vụ phù hợp để vừa thu hồi được vốn vừa không làm mất lòng khách hàng. Trong trường hợp, khách hàng không trả được nợ, nhưng còn khả năng phát triển bởi hiện tại họ đang gặp khó khăn do những nguyên nhân bất khả kháng, thì cán bộ tín dụng có thể lập bảng tường trình và đơn xin gia hạn nợ hoặc cho vay thêm đối với khách hàng đó .

    2.5. Tăng cường các biện pháp thu nợ, đảm bảo trả nợ và lãi vay Ngân hàng

    Nếu thẩm định dự án là khâu đầu tiên và là khâu quyết định để cho vay đối với dự án thì quá trình đưa vốn ra theo dõi đôn đốc thu nợ cũng là khâu không kém phần quan trọng.

    Khi một dự án đầu tư trung và dài hạn được cho vay theo đúng mục đích, đúng lúc, đúng thời điểm, đúng số vốn ghi trong hợp đồng tín dụng thì công việc quản lý vốn vay ở đây là theo dõi kiểm tra số tiền mà doanh nghiệp rút ra lần trước xem có sử dụng đúng mục đích không. Việc kiểm tra này thông qua các chứng từ, hóa đơn, hợp đồng giá cả... Nếu doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích như trong hợp đồng tín dụng thì đó là cơ sở cho việc phát vốn lần sau. Những trường hợp nào sử dụng sai mục đích thì phải xử lý ngay theo chế độ tín dụng. Ngoài ra phải theo dõi, bám sát mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để đánh giá chính xác những diễn biến trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng, phát hiện

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          70

    kịp thời khả năng có thể phát sinh nợ quá hạn, nợ khó đòi, từ đó có biện pháp xử lý ngay.

    Việc đôn đốc thu nợ, thu lãi đúng kỳ hạn và đủ là trách nhiệm, là kỷ luật đối với cán bộ tín dụng. Lịch trả nợ gốc và lãi vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng phải theo dõi hàng ngày. Ngân hàng đồng thời phải gửi báo cáo cho doanh nghiệp có nợ quá hạn chuẩn bị nguồn trả vào trước kỳ hạn trả. Việc thu nợ, lãi đúng kỳ hạn sẽ không có nợ quá hạn thể hiện sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.

    Khi một dự án vay mà đã đến hạn trả nhưng doanh nghiệp chưa có nguồn vốn để trả nợ thì việc xem xél để gia hạn, trả nợ gốc phải đúng thẩm quyền được uỷ nhiệm và các chế độ tín dụng quy định, không tùy tiện gia hạn. Nếu trong các dự án cho vay có nợ quá hạn thì cán bộ tín dụng phải thường xuyên theo dõi mọi diễn biến để kịp thời thu hồi, tránh để nợ nần dây dưa .

    Để xử lý nợ quá hạn thì Ngân hàng có biện pháp thích hợp để giúp đỡ doanh nghiệp tháo gỡ mọi khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Ngân hàng giúp doanh nghiệp việc tư vấn trong sản xuất để giảm nợ quá hạn. Tuyệt đối không cho vay khoản mới khi chưa hết nợ cũ, không lấy nợ nuôi nợ .

    2.6. Luôn luôn dự báo các rủi ro tiềm ẩn trong tín dụng trung dài hạn và có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu

    Rủi ro thanh toán, rủi ro lãi suất luôn đe dọa các Ngân hàng bởi cấp độ của khoản vay trung dài hạn lớn hơn đáng kể so với khoản vay ngắn hạn. Sự quan tâm đến vấn đề phòng ngừa rủi ro đối với khoản tín dụng trung dài hạn không chỉ đòi hỏi đối với Ngân hàng mà còn đặc biệt đối với cơ quan quản lý tiền tệ. Bởi vì mức độ của khoản vay trung dài hạn là rất lớn, gây đột biến và kéo dài cho cả bên vay, Ngân hàng tài trợ và các bên có liên quan. Chính vì vậy, biện pháp xác định dự báo rủi ro tiềm ẩn trong thế chấp và bảo lãnh vay vốn là hết sức cần thiết đối với Ngân hàng. Việc dự báo rủi ro tiềm ẩn càng đầy đủ, các biện pháp phòng ngừa càng cẩn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 71

    trọng thì hiệu quả tín dụng ngay từ khâu phán quyết càng cao. Đương nhiên việc phát hiện và dự báo các rủi ro tiềm ẩn để đề ra các biện pháp phòng ngừa phải là việc làm liên tục, thường xuyên không chỉ trước khi phán quyết mà cả trong suất trong quá trình đưa vốn vay ra cho đến khi thu hết nợ gốc và lãi vay .

    Vì vậy khi tính toán nguồn trả nợ, thời hạn trả nợ, người ta tính toán cả phương án: phương án lạc quan nhất, phương án trung bình nhất. Để an toàn và phòng ngừa các rủi ro tiềm ẩn, có một cách thường dùng là lấy phương án sản xuất xấu nhất đề xem xét. Nếu phương án này vẫn trả được nợ và lãi vay Ngân hàng trong giới hạn cho phép, thì chắc chắn ngay từ khi phán quyết đã có thể yên tâm về khoản vay được duyệt.

    Thế chấp và bảo lãnh cho việc vay vốn là chìa khóa an toàn cuối cùng cho việc vay vốn. Trong điều kiện hiện nay, việc sử dụng công cụ này đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Ngân hàng phải biết sự nhạy cảm, đảm bảo nguyên tắc và chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Nhà nước, áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nhưng không tùy tiện. Tuyệt đối không coi thế chấp, cầm cố, bảo lãnh là “bùa hộ mệnh ” trong cho vay, không thể coi là chiếc chìa khóa an toàn đặc biệt mà chỉ coi là chiếc chìa khóa an toàn cuối cùng trong việc đảm bảo an toàn tín dụng. Thực hiện việc thế chấp, bảo lãnh đúng quy định và cho vay lãi phải dựa trên những cơ sở thực sự từ phía doanh nghiệp chứ không phải dựa vào duy nhất tài sản thế chấp .

    2.7. Nâng cao công nghệ ngân hàng.

    Một công nghệ bao giờ cũng gồm bốn yếu tố: Thiết bị, con người, tổ chức, và thông tin. Vì vậy để nâng cao công nghệ của mình, ngân hàng ngoại thương cần quan tâm phát triển cả bốn yếu tố trên:

    2.7.1. Về thiết bị ngân hàng:

    Hiện nay các ngân hàng đứng trước nhu cầu đổi mà trước hết là đổi mới thiết bị, ngân hàng ngoại thương cần nâng cấp hệ thống thiết bị của mình mà trước

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          72

    hết là hệ thống mạng máy tính. Đây là một điều kiện để ngân hàng hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu quản lý và tăng cường sức cạnh tranh. Ngân hàng ngoại thương đã thực hiện chuyển tiền qua mạng SWiFT. Tuy nhiên để nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ Ngân hàng ngoại thương có thể đặt hàng với các công ty tin học trong hoặc ngoài nước nghiên cứu hoàn thiện phần mềm cũng như hệ thống mạng máy tính.

    2.7.2. Về con người

    Con người luôn là nhân tố quyết định đến sự thành công của một tổ chức. Để có một khoản tín dụng có chất lượng, yếu tố trước tiên thuộc về người cán bộ tín dụng. Họ phải là người am hiểu khách hàng, hiểu biết sâu sắc thực lực tài chính, khả năng thanh toán của khách hàng kể cả hiện tại cũng như sau này, xác định được tiềm năng phát triển và dự báo được những biến động trong tương lai. Bên cạnh đó, cán bộ tín dụng cần phải hiểu được tâm lý của khách hàng, xem xét được mức độ trung thực của khách hàng để bảo đảm tính an toàn của khoản tín dụng. Có khả năng giao tiếp ứng xử hợp lý để có thể duy trì được các khách hàng có mối quan hệ từ trước, đồng thời lại thu hút được những khách hàng mới có tiềm năng .

    Sự tác động của các chính sách kinh tế của Chính phủ hay ảnh hưởng của các biến động trên thị trường đến kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp là vô cùng phức tạp. Điều này đòi hỏi cán bộ tín dụng cần có kiến thức hiểu biết nhất định về thị trường và về lĩnh vực chuyên môn mà khách hàng của mình đang tiến hành kinh doanh.

    Tất cả các yêu cầu đó đối với một cán bộ tín dụng dường như là quá nhiều, một cán bộ dù tài giỏi đến đâu cũng không thể có đầy đủ những yếu tố đó. Vì vậy Ngân hàng cần phải kế hoạch hóa công tác đào tạo cán bộ, sớm thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ tín dụng, đưa việc nâng cao trình dộ trở thành mục tiêu phấn đấu và làm việc thường xuyên. Công tác đào tạo cần tập trung theo trọng điểm và đào

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          73

    tạo một cách toàn diện để thực sự có những cán bộ có đủ năng lực và hiểu biết phục vụ yêu cầu công tác kinh doanh, tránh đào tạo tràn lan, lãng phí.

    ưu tiên đào tạo cán bộ chủ chốt trước, sau đó đào tạo những cán bộ kế cận, có năng lực và phẩm chất đạo đức.

    Hoạt động tín dụng sử dụng phần lớn nguồn vốn của Ngân hàng, giao tiền vào tay người khác, chính vì vậy cán bộ tín dụng phải cớ trình độ chuyên môn cao. Nhất là trong lĩnh vực trung dài hạn, phải thẩm định dự án, dự đoán trước cho một khoảng thời gian dài, vì vậy cán bộ tín dụng phải có cái nhìn tổng quát, có đầu óc phán đoán. Chính vì vậy Ngân hàng nên chọn những cán bộ có đầy đủ năng lực và nhiệt tình công tác vào hoạt động tín dụng trung dài hạn. Để nâng cao trình độ cho các cán bộ tín dụng, Ngân hàng nên tổ chức những lớp tập huấn đào tạo lại hoặc bổ sung kiến thức nghiệp vụ trong cơ chế thị trường cho các cán bộ quá lâu trong thời kỳ bao cấp; cho các cán bộ có năng lực đi học tập ở nước ngoài; tuyển chọn những cán bộ trẻ tuổi có năng lực thực sự am hiểu về kinh tế thị trường chuẩn bị cho đội ngũ kế cận. Ngân hàng có thể tạo điều kiện thuận về giờ giấc, học phí… để giúp cán bộ tham gia các lớp học để nâng cao trình độ. Trong công tác đào tạo này, Ngân hàng nên chú trọng chất lượng hơn là số lượng. Các lớp tập huấn kiến thức chung lại Ngân hàng không nên tổ chức tại hội trường lớn – nơi mà ai cũng có thể làm việc riêng của người ấy mà nên tổ chức thành các lớp nhỏ với số lượng khoảng trên dưới 10 học viên. Cán bộ sau khi được Ngân hàng cử đi học cũng phải chịu trách nhiệm cụ thể tránh căn bệnh hình thức, tránh Ngân hàng bỏ tiền cho cán bộ đi học nhưng sau khi kết thúc khóa học lại không mang lại hiệu quả trong công việc.

    2.8.3. Về tổ chức:

    Trong những năm qua ngân hàng ngoại thương đã có những bước tiến vững chắc trong việc củng cố bộ máy tổ chức ngân hàng, trong những năm tới kết hợp với đề án tái cơ cấu ngân hàng, ngân hàng tiếp tục sắp xếp lại tổ chức tránh việc

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          74

    chồng chéo trong công việc. Để đơn giản hoá thủ tục và không lãng phí thời gian trong quá trình xin vay cho khách hàng thì đây cũng là một giải pháp tốt.

    2.8.4.Về thông tin:

    Ngân hàng cần cập nhật những thông tin về sự đổi mới công nghệ ngân hàng trong hệ thống ngân hàng cả trong và ngoài nước để có sự tiếp thu kế thừa, và thích ứng một cách hợp lý và đem lại hiệu quả cao

    2.8. Phát triển hình thức bảo hiểm quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có hai cách thực hiện: một là, các doanh nghiệp trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh thì phải mua bảo hiểm ở các công ty bảo hiểm; hai là, Ngân hàng

    kiêm luôn chức năng này. ở đây em xin đề cập đến cách thứ hai, vì nó phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay hơn .

    Để vay vốn Ngân hàng trước tiên doanh nghiệp phải lập một dự án như bình thường. Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định dự án đó. Nếu Ngân hàng thấy không cho vay được thì thôi, còn nếu cho vay được thì khi giao tiền cho khách hàng, Ngân hàng sẽ giữ lại một tỷ lệ nhất định của khoản vay và cấp cho khách hàng một thẻ bảo hiểm. Các khoản tiền bảo hiểm đó sẽ được sử dụng để bù đắp rủi ro cho Ngân hàng trong trường hợp khách hàng làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán. Cách làm này có lợi là Ngân hàng có thể chủ động phòng ngừa từ xa những rủi ro có thể xảy ra khi cho vay những dự án có tính rủi ro cao, đổng thời khách hàng không có lý do gì để trốn tránh trách nhiệm mua bảo hiểm, vì khoản đóng bảo hiểm đã được Ngân hàng giữ lại ngay khi cho vay. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng đây cũng chỉ là một trong những biện pháp nhằm hạn chế bớt tác hại của rủi ro, không thể coi đó là chỗ dựa cho Ngân hàng, mà điều cốt yếu là phải thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa để không cho các rủi ro đó xảy ra. Đó mới là mục tiêu mà ngành Ngân hàng cần hướng tới. Các doanh nghiệp cần phải thấy rõ được điều này không chỉ có lợi cho Ngân hàng mà còn có lợi cho chính doanh nghiệp vì khi

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          75

    mua bảo hiểm nếu gặp rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ có khoản để bù đắp lại một phần hoặc toàn bộ tổn thất tùy thuộc vào mức đóng bảo hiểm .

    2.9. Bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn:

    Tham gia bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn để phòng ngừa các rủi ro. Rủi ro có thể xảy ra là do khách quan xảy ra như thiên tai, hoả hoạn… cũng có thể do chủ quan của ngân hàng dẫn đến việc không thu hồi được vốn vay.

    Hiện nay, tại ngân hàng ngoại thương việc tham gia bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn cho các dự án ở trong nước gần như là không có. Vì vậy, cần tiến hành phân tích, nghiên cứu một số dự án xin vay vốn trung dài hạn có mức độ rủi ro khá cao mà thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ cho vay thì ngân hàng khó có thể cho vay được

    Nhưng theo quy luật thì một dự án có rủi ro cao lại đem lại một tỷ lệ sinh lời lớn, vì vậy ngân hàng sẽ tính toán để có thể tham gia bảo hiểm cho các khoản vay này khi nó gặp rủi ro. Nhờ vậy, ngân hàng ngoại thương có thể cho dự án này vay vốn, một mặt để thu được lợi nhuận, một mặt có thể phòng ngừa được rủi ro thông qua hình thức bảo hiểm cho chính khoản vay này.

    Như vậy, vô hình chung ngân hàng có thể mở rộng cho vay trung dài hạn và thông qua tăng doanh số cho vay trung dài hạn vừa hạn chế được rủi ro khi dự án này gặp phải khó khăn trong việc thu hồi nợ.

    Nói tóm lại, trên đây chỉ là một số suy nghĩ riêng của cá nhân dựa trên cơ sở lý thuyết, chưa có ý nghĩa thực tế, chính vì vậy chúng chỉ có giá trị tham khảo. Em hy vọng những giải pháp trên đây sẽ ít nhiều có ích trong việc áp dụng vào thực tế tại ngân hàng nhằm giải quyết những vướng mắc mà ngân hàng đang gặp phải.

    • Một số kiến nghị

    3.1 Đối với Nhà nước

    3.1.1. Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho Ngân hàng hoạt động

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          76

    Do tình hình kinh tế – xã hội phát triển nhanh, nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường thực sự phải có pháp luật điều chỉnh, tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh trong sự phát triền kinh tế. Chính vì vậy đòi hỏi một hệ thống pháp luật đồng bộ làm chỗ dựa pháp lý cho Ngân hàng, cho doanh nghiệp là rất cần thiết. Hơn nữa, luật lệ của nước ta chưa ổn định, thay đổi luôn luôn không tạo ra cơ sở vững chắc cho Ngân hàng. Việc luôn bị sửa đổi của các Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài, Luật đất đai nhà cửa khiến cho các giấy tờ liên quan như giấy phép kinh doanh, giấy sở hữu nhà đất không rõ ràng, rất khó khăn cho Ngân hàng xem xét dự án có thể cho vay.

    Riêng đối với lĩnh vực Ngân hàng, có hai bộ Luật Ngân hàng (Luật NHNN và Luật các TCTD) là cơ sở pháp lý quan trọng để Ngân hàng cho vay đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên việc ban hành các quy định ngặt nghèo đối với khu vực KTNQD, khiến cho dư nợ của thành phần kinh tế này ngày càng giảm sút. NHNN cần ban hành quy chế có tính mềm dẻo hơn nhằm kích thích cán bộ tín dụng tìm nhiều khách hàng để cho vay.

    Làm rõ nội dung lợi nhuận chịu thuế, chi phí hợp lý vốn chủ sở hữu và cơ sở ấn định mức phải chịu thuế lợi tức bồ sung. Có hai kiến nghị của các TCTD đối với các Luật thuế mới là áp thuế đúng luật định và thuế suất hợp lý .

    • Trong Luật các TCTD quy định các hoạt động bảo lãnh mua bán tài sản

    xiết nợ, chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá... thì không phải chịu thuế. Thế nhưng trong Thông tư 178/ TT hướng dẫn Thuế GTGT lại xếp các hoạt động trên vào hoạt động chịu thuế.

    Chính vì vậy việc hoàn thiện môi trường pháp lý là rất cần thiết. Các Luật không được chồng chéo lên nhau mà phải vừa đảm bảo tính dân chủ vừa phải kích thích cho tất cả các hoạt động đều phát triển và đi vào khuôn phép.

    3.1.2 Nhà nước cần có các biện pháp đồng bộ để ổn định tiền tệ.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 77

    Trên tổng quan, chính sách tiền tệ giai đoạn 1998 – 2005 vẫn phải hướng vào mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền, đồng thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển với tốc độ cao và bền vững. Chính sách tiền tệ phải được điều hành bởi các công cụ, chính sách cụ thể về tín dụng đối với nền kinh tế, về quản lý ngoại hối và chính sách đối với Ngân sách thay cho cách điều hành thông qua các chỉ tiêu kế hoạch như trước đây. Quan điểm trong xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn này là phải điều hòa được các quan hệ vốn có mâu thuẫn, đó là:

    • Giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát và mục tiêu tăng trưởng kinh tế .
    • Giữa lợi ích chung kiềm chế lạm phát và lăng trưởng kinh tế với lợi ích

    của các NHTM và các TCTD .

    • Giữa lợi ích người gửi tiền, nhà kinh doanh tiền tệ và người đi vay.

    Định hướng trong giai đoạn này là phải chuyển mạnh sang vận dụng các công cụ tiền tệ gián tiếp thay cho việc sử dụng các công cụ tiền tệ trực tiếp vì hiện nay Việt Nam đã bước đầu hình thành các khung định chế và môi trường cho các công cụ gián tiếp được sử dụng.

    Bên cạnh đó các công cụ trực tiếp ngày càng bộc lộ những nhược điểm như làm cho việc phân phối vốn không hiệu quả, kiềm chế tài chính cứng nhắc và thiếu linh hoạt trong khi đó các công cụ gián tiếp sẽ giúp cho NHNN điều hành tiền tệ một cách linh hoạt theo thị trường.

    Giai đoạn sau năm 2000 về cơ bản hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã được củng cố về nhiều mặt, do đó cần tiến thêm một bước trong cải cách quản lý về tiền tệ để tiến tới một hệ thống tài chính tự do và hòa nhập vào hệ thống tài chính khu vực và quốc tế.

    3.1.3. Tăng cường trách nhiệm từ phía Nhà nước Doanh nghiệp Ngân hàng

    Từ năm 1996 đến nay, việc mở rộng tín dụng Ngân hàng đã gặp không ít

    khó khăn, thậm chí có lúc tưởng chừng như vốn Ngân hàng đang bị “đóng băng“,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          78

    trong khi đó các doanh nghiệp lại thiếu vốn trầm trọng. Để quan hệ giữa hoạt động của Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng ngày càng phát triển, cần có sự phối hợp đồng bộ của các cấp các ngành, và thực hiện các giải pháp chủ yếu sau đây :

    Kiên quyết sắp xếp lại các DNNN, chỉ để tồn tại những doanh nghiệp công ích doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, những doanh nghiệp thực sự cần thiết cho phái triển dân sinh, tạo điều kiện cho đầu tư tín dụng nâng cao được hiệu quả. Trong hội nghị tổng kết đổi mới và phát triển DNNN từ năm 1986 đến nay (3 – 4 /5/2000), đã thống nhất lộ trình đổi mới doanh nghiệp NN giai đoạn 2000 – 2003, số lượng DNNN sẽ chỉ còn lại 3000 doanh nghiệp, giảm đi 2280 doanh nghiệp, bao gồm 1498 doanh nghiệp được tiến hành CPH, hoặc giao bán, khoán, cho thuê (65,3%); 380 doanh nghiệp sáp nhập vào các doanh nghiệp khác (16,7%) và 368 doanh nghiệp phải giải thể, phá sản ( 6%); 43 doanh nghiệp chuyển thành đơn vị sự nghiệp (2%). Đến năm 2003, quy mô DNNN sẽ tăng vốn bình quân từ hơn 18 tỷ đồng /1 doanh nghiệp lên trên 27 tỷ đồng; giảm 18,5% tổng nợ, 15,3% nợ Ngân hàng và quan trọng nhất là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được nâng lên. Hiện chỉ có 20% DNNN đạt mức lợi nhuận trước thuế cả năm từ 12% trở lên (tương đương với mức lãi suất Ngân hàng). Theo phương án sắp xếp lại đến năm 2003, số DNNN đạt mức lợi nhuận nêu trên sẽ tăng lên 50%. Đến năm 2005, dự kiến chỉ còn 2000 DNNN, có thể nói, đây chính là sự “giảm lượng tăng chất”. Các DNNN khẳng định được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế, làm ăn có hiệu quả, có định hướng hoạt động chắc chắn, tạo sự tin lượng cho nhà đầu tư và cũng là mảnh đất tốt để phát triển hoại động tín dụng của Ngân hàng. Bên cạnh đó, sau khi sắp xếp sẽ xử lý nợ được 21 .000 tỷ đổng, trong đó có 7.000 tỷ đổng nợ Ngân hàng . Bộ Tài chính cần tiếp tục cấp bổ sung đủ mức vốn điều lệ đã được duyệt cho các doanh nghiệp để đảm bảo số tiền vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN. Đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          79

    trong sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng của chu kỳ sản xuất hoặc thực sự cần thiết phải tồn tại thì đề nghị Bộ Tài chính cho phép giãn nợ 3 – 5 năm để doanh nghiệp có thời gian sắp xếp lại sản xuất, tạo nguồn trả nợ cho Ngân hàng.

    Tiếp tục hoàn thiện sửa đổi, ban hành các bộ Luật, văn bản dưới Luật liên quan đến hoạt động của nền kinh tế nói chung, đến hoạt động của Ngân hàng nói riêng, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động củadoanh nghiệp và NHTM đi đúng giới hạn cho phép và phân rõ trách nhiệm của người đi vay và người cho vay trong quan hệ tín dụng.

    Rà soát lại năng lực trình độ cũng như phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác trực tiếp kinh doanh. Tiếp tục nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ Ngân hàng.

    Tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ của Ngân hàng, tạo ra nhiều sản phẩm mới ( tư vấn, bảo hiểm, thuê mua ) .

    3.1.4. Thành lập trung tâm quản lý và bán đấu giá tài sản thế chấp

    Hình thức công ty mua bán nợ đã xuất hiện từ rất lâu trên ở nhiều nước trên thế giới như : Nhật Bản, Hàn Quốc Các công ty này được hình thành khách quan trong nền kinh tế thị trường khi có nhiều khoản nợ xuất hiện ở các TCTD khác nhau. Bản chất của chúng là các công ty kinh doanh các khoản nợ của các doanh nghiệp vay các TCTD để thu lợi nhuận.

    Hiện nay, ở Việt Nam, Chính phủ đang xúc tiến thành lập công ty nợ trực thuộc Chính phủ thực hiện hai mục tiêu là đảm bảo an toàn, lợi ích của các TCTD và thực hiện mục tiện lợi nhuận. Ban lãnh đạo của công ty phải bao gồm các thành viên của NHNN, Bộ Tài chính, Tổng cục địa chính và cán bộ các ngành có liên quan đến việc quản lý và bán đâu giá.

    Hoạt động của công ty bao gồm từ khâu định giá; nhận tài sản thế chấp, cầm cố đến việc quản lý các tài sản này và cuối cùng là bán đấu giá để thu hồi khoản vay nếu khách hàng không trả được nợ.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          80

    3.1.5. Thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc

    Để giúp các Ngân hàng xét duyệt hồ sơ xin vay vốn của các khách hàng được chính xác, báo cáo tài chính của khách hàng phải phản ánh đúng tình hình thực tế đồng thời việc thu thập thông tin của Ngân hàng cũng phải được tiến hành thuận lợi và chính xác. Muốn vậy, Nhà nước cần sớm ban hành quy chế tài chính và hạch toán kinh doanh đối với khu vực KTNQD. Qua đó tăng cường tính hiệu lực pháp lý, đảm bảo tính đồng bộ chuẩn mực của công tác hạch toán kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ Ngân hàng có những kết luận chính xác về tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Việc chấn chỉnh công tác kiểm toán phải đi đôi với nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán. Hiện nay ở nước ta đã có hệ thống kiểm toán Nhà nước, 15 công ty kiểm toán độc lập bao gồm cả công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, công ly kiểm toán của Nhà nước và trách nhiệm hữu hạn, song hiệu quả hoạt động của các công ty này chưa cao, một phần là do quan niệm của các doanh nghiệp thường rất ngại thực hiện kiểm toán do nhiều lý do khác nhau: có thể sợ kiểm toán phát hiện ra những sai sót về kế toán hay kiểm toán sẽ phát hiện ra những điều mà doanh nghiệp cần giấu kín

    Đề nâng cao hiệu quả của công tác kiểm toán và làm cơ sở cho việc thẩm định tín dụng, trước mắt cần có sự thống nhất giữa các cơ quan kiểm toán Việt Nam, cụ thể hóa chuẩn mực kiểm toán sao cho phù hợp với thông lệ của kiểm toán quốc tế. Ví dụ như: một doanh nghiệp có số vốn điều lệ bao nhiêu thì cần phải tiến hành kiểm toán, trách nhiệm cung cấp và giữ bí mật thông tin của các cơ quan kiểm toán, áp dụng công nghệ kiểm toán gì, giá trị pháp lý của số liệu và chữ ký của cơ quan kiểm toán… Tiến tới, Nhà nước cần quy định chế độ kiểm toán bắt buộc đối với mọi loại hình doanh nghiệp, qua đó để đảm bảo độ tin cậy cho các báo cáo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thẩm định các dự án đầu tư .

    3.2 Đối với NHNN

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          81

    Về xử lý tài sản thế chấp: NHNN quy định nếu sau thời hạn trả nợ cuối cùng là 10 ngày, bên vay không trả được nợ thì Ngân hàng làm đơn đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Mặt khác, trong thủ tục cho vay ràng buộc bên vay bằng một hợp đồng thế chấp tài sản có ghi: ” nếu không trả nợ gốc và lãi thì Ngân hàng phải phát mai tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ “. Như vậy, người vay tự nguyện mang tài sản thế chấp hợp pháp đến vay vốn đã cam kết với Ngân hàng bằng đảm bảo. Ngân hàng làm bản thông báo công khai, trước hết dành quyền ưu tiên cho người có tài sản thế chấp đó được mua lại tài sản đó theo đánh giá của Hội đồng định giá. Sau 10 ngày nhận dược thông báo, nếu chủ tài sản không mua thì Ngân hàng sẽ có quyền bán cho người khác.

    Như vậy, Ngân hàng có thể tự phát mại tài sản đó mà không phải xin ý kiến của các cơ quan Nhà nước khác.

    Về nâng cao chất lượng thông tin: một trong những nguyên nhân gây nên rủi ro trong hoạt động tín dụng trung dài hạn của các NHTM là sự thiếu thông tin cần thiết, chính xác từ phía khách hàng, từ thị trường và dự án. Vì vậy, muốn hoạt động của các NHTM đạt hiệu quả cao thì NHNN phải thiết lập một trung tâm lưu trữ thông tin có thể cung cấp những thông số chính xác nhất, mới nhất về các doanh nghiệp, các biến động trên thị trường, các thông tin có liên quan đến dự án

    Về mức lãi suất: NHNN nên áp dụng hai mức lãi suất khác nhau cho nợ quá hạn phân theo nguyên nhân khách hàng và chủ quan. Sẽ là không công bằng nếu doanh nghiệp phải trả mức lãi suất cao gấp 1,5 lần nếu nguyên nhân gây nên nợ quá hạn là sự thay đổi của cơ chế chính sách của Nhà nước, hay do những ảnh hưởng của môi trường tự nhiên.

    3.3. Đối với doanh nghiệp

    Doanh nghiệp cần cung cấp những thông tin chính xác cho Ngân hàng

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          82

    Đa số khách hàng đi vay vốn thường than phiền rằng Ngân hàng còn gây nhiều khó khăn cho họ với nhiều thủ tục nhiêu khê, phiền hà, làm mất cơ hội sản xuất kinh doanh của họ. Song họ không ý thức được một điều là họ cũng là một phần trong những khó khăn đó vì :

    • Khách hàng không muốn cung cấp đầy đủ thông tin vì họ sợ cung cấp

    nhiều sẽ vô tình phơi bày ra những yếu điểm của họ.

    • Khách hàng thường cung cấp những thông tin không hoàn toàn chính xác vì họ muốn giữ kín những số liệu kinh doanh, sợ Ngân hàng tiết lộ ra ngoài. Chỉ gò ép vào những số liệu tài chính, sản xuất kinh doanh mà không căn cứ vào thực tế

    thì Ngân hàng khó có thể đưa ra quyết định một cách nhanh chóng và chính xác được.

    Số tiền vay và thời gian xin vay không đúng với nhu cầu thực tế, vì vay vốn trung dài hạn thì phải trả lãi suất cao hơn ngắn hạn nên mặc dù muốn vay trung dài hạn nhưng doanh nghiệp lại vay ngắn hạn, đến thời hạn trả nợ ngắn hạn thì lại đệ đơn xin gia hạn nợ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng.

    Để có thể đáp ứng được nhu cầu vốn tín dụng trung dài hạn của toàn bộ nền kinh tế thì chỉ có sự nỗ lực cố gắng của toàn bộ hệ thống NHTM là chưa đủ, mà phải có sự nỗ lực hợp tác, giúp đỡ từ phía đối tác còn lại đó là các doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải đổi mới tư duy, khắc phục những nhận thức sai lầm trên để có thể tự khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân đồng thời giúp đỡ hỗ trợ các Ngân hàng trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Nâng cao năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    Trong nền kinh tế mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp luôn phải chủ động tìm kiếm thị trường và nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng từ đó thực hiện nhiều biện pháp hợp lý như sắp xếp lại cơ cấu tổ chức,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          83

    nâng cao khả năng quản lý, có chính sách đào tạo nhân lực, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý, đẩy mạnh hoạt động Marketing, phát huy nội lực và kết hợp với sự hỗ trợ giúp đỡ của hệ thống NHTM để có vốn tiến hành các dự án sản xuất kinh doanh có khả năng sinh lời cao để từ đó có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước sau đó tiến ra thị trường quốc tế .

    KẾT LUẬN

    hư em đã trình bày ở trên, tín dụng trung dài hạn của ngân hàng N thương mại đóng một vai trò hết sức to lớn đối với nền kinh tế, với ngân hàng và với doanh nghiệp. Vì vậy để hoạt động tín dụng trung

    dài hạn thật sự phát huy hết vai trò của nó cần có sự phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng, khách hàng và nhà nước.

    Với vai trò đặc biệt quan trọng đó ngân hàng, nhà nước và các doanh nghiệp nên có các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động này, làm cho ngân hàng có thể mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          84

    Qua nghiên cứu đề tài, do thời gian và trình độ còn hạn chế nên em không tránh khỏi những sai sót trong việc đưa ra và làm rõ các nguyên nhân, tồn tại, khó khăn và tìm ra những giải pháp để khắc phục những tồn tại trên.

    Một lần nữa em xin chân thành cám ơn Thầy giáo T.S Nguyễn Hữu Tài cùng toàn thể cán bộ phòng dự án của Sở Giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam và các bạn đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.

    Sinh Viên: Trần Huy Phương

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Mishkin. Tiền tệ Ngân hàng và thị trường tài chính. NXB khoa học và kỹ thuật Hà Nội năm 1994
    1. Lê Vinh Danh. Tiền và hoạt động ngân hàng.
    1. Robert raymond. Tiền tệ ngân hàng và tín dụng
    1. Quy đinh về nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng ngoại thương Việt Nam
    1. Quy chế về tín dung trung dài hạn của Thống đốc NHNN Việt Nam.
    1. Các báo cáo thường niên, báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương Việt Nam năm 1997, 1998, 1999, 2000.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          85

    1. Tạp chí ngân hàng
    1. Tạp chí nghiên cứu kinh tế
    1. Thị trường tài chính tiền tệ
    1. Thời báo kinh tế Việt Nam và một số báo khác

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          86


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam

    Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam

    Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-h%E1%BB%A3p-%C4%91%E1%BB%93ng-m%E1%BA%ABu-trong-%C4%91%C3%A0m-ph%C3%A1n-k%C3%BD-k%E1%BA%BFt-h%E1%BB%A3p-%C4%91%E1%BB%93ng-mua-b%C3%A1n-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-th%E1%BB%B1c-ti%E1%BB%85n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hoạt động ngoại thương có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế ở các nước cũng như ở Việt Nam. Sự chuyển hướng kinh tế đối ngoại giữa các tổ chức kinh doanh trong nước và các tổ chức và cá nhân nước ngoài đã tạo cho ngành ngọai thương Việt Nam gặt hái được những kết qủa đáng mừng. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi nền kinh tế thế giới có nhiều biến chuyển tích cực, hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngọai thương nói riêng ngày nay rất đa dạng và phong phú cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Do vậy việc ra đời của hợp đồng mẫu là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp có hoạt động buôn bán ngọai thương vì nó là công cụ đắc lực cho hoạt động này.

    Trong buôn bán ngoại thương phần lớn các giao dịch đàm phán kết thúc bằng việc các bên đương sự ký vào một hợp đồng đã in sẵn, họ chỉ bổ sung thêm một vài điều khoản riêng biệt. Hợp đồng như thế gọi là hợp đồng mẫu (standard contract).

    Hợp đồng mẫu thường được làm dưới dạng như:

    • Bản hợp đồng in sẵn, có để trống cho ngững điều khoản cần điền thêm.
    • Điều kiện chung bán (hoặc mua) hàng do người bán (hoặc người mua) thảo sẵn
    • Điều kiện chung giao hàng đã được hai bên ký kết từ trước về những nguyên tắc cơ bản làm khung cho việc ký kết những hợp đồng cụ thể.
    • Điều kiện chung do các tổ chức Quốc tế dự thảo.

    Hợp đồng mẫu thường được soạn thảo trên cơ sở tập quán buôn bán của ngành hàng có liên quan và / hoặc tập quán buôn bán của địa phương có liên quan cho nên việc tìm hiểu các hợp đồng mẫu giúp cho chúng ta càng hiểu sâu hơn về tập quán buôn bán để vận dụng chúng vào những giao dịch của chúng ta.

    Các hợp đồng mẫu nói lên kỹ thuật buôn bán về từng ngàng hàng. Hợp đồng mẫu về lương thực thực phẩm có rất nhiều chi tiết khác với hợp đồng mẫu về ngành hàng thủ công mỹ nghệ. Thậm chí cũng cùng một thuật ngữ mà sự giải thích ở từng ngành hàng có thể mỗi khác. Ví dụ: thuật ngữ “giao nguyên lành” – Sound delivery được giải thích ở mỗi ngành hàng một khác.

    4

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Đó cũng chính là lý do tôi thực hiện đề tài này. Trên cơ sở tham khảo sách báo, tạp chí trong và ngoài nước, thực tiễn ở một số công ty có hoạt động buôn bán ngoaị thương.

    Trong luận văn này tôi xin đề cập đến những điểm cơ bản nhất trong hợp đồng mẫu, bao gồm 3 phần chính như sau:

    • Chương I: Khái quát chung về hợp đồng mẫu
    • Chương II: Một số điều khoản chung của hợp đồng mẫu & một số hợp đồng mẫu trong buôn bán Quốc tế
    • Chương III: Thực trạng sử dụng hợp đồng mẫu Việt Nam

    Với năng lực tổng hợp của người viết có hạn cho nên có thể sẽ có nhiều thiếu sót trong đề tài này. Vì vậy người viết rất mong được sự đóng góp ý kiến và sự chỉ bảo của người đọc để có thể hoàn thiện hơn nữa chuyên đề này.

    5

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MẪU

    1.     Định nghĩa về hợp đồng mẫu & sự ra đời và phát triển của hợp đồng mẫu.

    Định nghĩa: Hợp đồng mẫu có thể hiểu là hợp đồng mà đại bộ phận các điều khoản đều được quy định sẵn và, mỗi khi đàm phàn để ký hợp đồng, hai bên chỉ cần ghi bổ sung những chi tiết về chủ thể hợp đồng ( như tên và địa chỉ hai bên, những người đại diện cho hai bên, chức vụ của họ ) và những điều khoản thoả thuận riêng của thương vụ đó ( như mức giá, thời hạn giao hàng, địa điểm giao hàng, ký mã hiệu hàng hoá ).

    Trên thị trường thế giới các bên mua và các bên bán thường có mâu thuẫn về quyền lợi. Trong một thương vụ nếu bên bán có lợi ắt hẳn bên mua ở vào thế bất lợi. Ngược lại, nếu bên mua có lợi bên bán lại vào thế bất lợi. Tham vọng giành giật thêm điều lợi hoặc, chí ít, bảo vệ quyền lợi cho mình đã tập hợp những doanh nghiệp có lợi ích giống nhau lại thành các tập đoàn. Những tập đoàn đó có thể là những tổ chức lũng loạn như: Cartel, Trust, Syndicat, Consortium, Conglomerate, cũng có thể là những tổ chức xã hội có tính chất nghề nghiệp như các hiệp hội (Association), hội liên hiệp (Federation ). Chỉ có những doanh nghiệp nào có nhiều lợi thế, có tiềm năng dồi dào thì mới đứng độc lập trong kinh doanh quốc tế, gọi là những doanh nghiệp “ ngoài rìa” (outsiders)

    Để bảo vệ quyền lợi cho các thành viên của mình, các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn thường đưa ra những điều quy định này, những cách ứng xử kia cho việc mua bán hàng hoá. Đầu tiên đó là những điều khoản mẫu (standard clause; clause type ) để vận dụng vào các hợp đồng mua bán. Đó chỉ mới là các qui định, cách xử lý cho từng vấn đề của quan hệ mua bán như: như cơ sở của giá cả, phương thức thanh toán, điều kiện giao hàng, khiếu nại, phạt bội ước, trọng tài. Điều khoản mẫu chưa phải là biện pháp có tính chất tổng thể cho việc ký kết hợp đồng. Sau đó người ta đã tập hợp những điều khoản mẫu như thế vào trong một văn bản có tính tổng quát hơn, đó là các hợp đồng mẫu.

    Với các hợp đồng mẫu đã được thảo sẵn, khi đàm phán để ký kết hợp đồng, một bên chỉ cần đưa ra cho bạn hàng, đòi hỏi sự nhất trí của bạn hàng về các điều khoản và điều kiện của hợp đồng mẫu. Do đó việc đàm phán trở nên

    6

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    gọn nhẹ, người ta đã tiết kiệm được chi phí và thời gian trong việc thảo luận từng vấn đề, từng điều khoản.

    Các tập đoàn kinh doanh đã đưa ra hàng loạt hợp đồng mẫu như vậy để những thành viên của mình sử dụng.

    Ví dụ: Hiệp hội buôn bán ngũ cốc Luân đôn (The London Corn Trade Association) có tới trên dưới 60 loaị hợp đồng mẫu: Hiệp hội đường của Luân đôn (The Sugar Association of London) cũng có hàng chục loại hợp đồng mẫu để các hội viên tuỳ nghi sử dụng.

    Các hợp đồng mẫu có thể được trình bày dưới dạng bản điều kiện chung của doanh nghiệp hoặc của tập đoàn kinh doanh. Đó là các bản điều kiện chung bán hàng (General conditions of sales) hoặc điều kiện chung mua hàng (General Conditions of Purchases). Các bản điều kiện chung như thế có thể là những văn bản độc lập riêng rẽ, cũng có thể là bản quy định nằm ở các mặt sau của hợp đồng. Trong trường hợp này, để làm cho bản điều kiện chung trở nên một bộ phận không thể tách rời khỏi hợp đồng, người ta phải ghi trên hợp đồng một lời dẫn chiếu đến bản điều kiện chung, ví dụ như: “ Theo bản điều kiện chung bán hàng kèm theo đây” (tiếng Anh là : as per the hereinattached general conditions of sales)

    Hợp đồng mẫu dù được thành lập bằng cách nào, nội dung của nó không phải là bất di bất dịch. Từng thời gian, cùng với sự thay đổi của kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, sự đa dạng hoá phương thức kinh doanh và mặt hàng mua bán, các tập đoàn và các doanh nghiệp vẫn sửa đổi thường xuyên nội dung các hợp đồng mẫu cho phù hợp với yêu cầu của việc kinh doanh trao đổi hàng hóa.

    2. Lĩnh vực áp dụng hợp đồng mẫu.

    Xét về mức độ chế biến của hàng hoá, đối tượng của các hợp đồng mua bán ngoại thương có thể chia ra làm hai loại:

    a. Những hàng nguyên liệu nông sản và khoáng sản:

    Đây là những mặt hàng hoặc chưa được chế biến hoặc có mức độ chế biến thấp, có khối lượng lớn, thường là những hàng đồng loại, chưa được đặc định hoá vào lúc ký kết hợp đồng. Đại bộ phận những mặt hàng này nằm trong danh mục hàng được mua bán tại các sở giao dịch hàng hoá.

    b. Những hàng công nghiệp và thủ công nghiệp:

    7

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Bao gồm cả máy móc thiết bị và hàng công nghiệp tiêu dùng lâu bền và cả hàng nông sản chế biến. Mặt hàng này có mức độ chế biến cao hơn mặt hàng loại (a) kể trên. Tính chất đặc định cũng nhiều hơn và không nằm riêng trong danh mục những mặt hàng được mua bán ở sở giao dịch hàng hoá.

    Trước chiến tranh thế giới lần hai, các hợp đồng mẫu chỉ được áp dụng đối với tất cả các mặt hàng, kể cả những loại hàng hoá vô hình như dịch vụ tư vấn kỹ thuật (Engineering), mua bán sáng chế (Licence) và bí quyết kỹ thuật (knowhow) .. tuy nhiên, lãnh vực mà các hợp đồng mẫu được áp dụng phổ biến vẫn là lãnh vực buôn bán những mặt hàng nguyên liệu nông sản và khoáng sản nghĩa là những mặt hàng có khối lượng lớn.

    3. Ngôn từ dùng trong các hợp đồng mẫu

    Nội dung của hợp đồng mẫu thường bao gồm những bộ phận như sau:

    a. Số lượng hợp đồng:

    Các hợp đồng mẫu thường in sẵn chữ: “ Hợp đồng số:…. (Contract No.

    ….) và giành chỗ để các đương sự điền số vào đó.

    b. Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng:

    Nội dung này có thể để trên đầu hợp đồng hoặc để cuối cùng của hợp

    đồng.

    Nếu để trên đầu hợp đồng, nội dung này có thể chỉ viết đơn giản: “Tên địa điểm và ngày tháng năm”. Người ta cũng có thể dùng cả một tập hợp câu chữ, ví dụ như: “Hợp đồng này được thành lập và bắt đầu có hiệu lực tại… ngày, tháng, năm…. bởi hai bên và giữa hai bên sau đây” (The present contract was made and entered into at… on…by and between)

    Nếu để dưới cùng, nội dung này thường được viết thành công thức:

    “Hợp đồng này thành lập tại….vào ngày, tháng, năm…thành…bản có

    hiệu lực ngang nhau, mỗi bên giữ…bản”(The present contract was made at…on…in/ duplicate, triplicate, quadruplicate/ of equal force, … copies of which are kept by each party).

    c. Tên và địa chỉ các bên ký kết hợp đồng.

    Trên các hợp đồng mẫu thường in sẵn các chữ “giữa” (between) “với” (and). Sau hai chữ đó là những dòng để trống để hai bên điền tên và địa chỉ của họ, tư cách của họ (là người mua hay người bán) trong quan hệ hợp đồng đó:

    8

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Người ta có thể điền: “Công ty X, địa chỉ…, dưới đây được dẫn chiếu tới như là bên bán” ( X company, address, hereinafter referred to as the seller)
    • Người ta cũng có thể đề: “ Công ty X, địa chỉ.., do ông.. chức vụ giám đốc, dưới đây gọi là bên bán” ( X company, address.., represented by Mr…, Dierector, hereinafter called the “sellers” )

    d.                 Sự thể hiện nguyên vọng (hoặc sự thoả thuận) cam kết của các bên.

    Sau khi đã giành những dòng để các bên ghi tên, địa chỉ và tư cách của mình (là người bán hoặc người mua), hợp đồng in sẵn những dòng chữ thể hiện sự thoả thuận cam kết của mỗi bên bằng những từ ngữ sau đây:

    • Trên cơ sở thoả thuận, bên bán cam kết bán và bên mua cam kết mua những hàng hoá dưới đây theo các điều khoản và điều kiện sau đây (On the basis of mutual agreement the seller commits to sell and the buyer commits to buy the undermentioned goods on the following terms and conditions)
    • Bên bán đồng ý bán, bên mua đồng ý mua (The seller agrees to sell and the buyer agrees to buy…)
    • Xác nhận rằng (Witnesseth that)
    • Xác nhận về việc sau (in witness whereof..)
    • Các bên thoả thuận dưới đây rằng (The parties hereby agree that…) Sự giải thích hợp đồng (Interpretation)

    Trong rất nhiều trường hợp, người ta áp dụng những thuật ngữ ngắn gọn vào hợp đồng mẫu như vậy hợp đồng cần có những đoạn giải thích rõ ngữ nghĩa của thuật ngữ đó.

    Ví dụ: người ta định nghĩa như sau:

    • “Nhà máy” là máy móc, công cụ, vật liệu và mọi thứ được cung cấp theo hợp đồng này để lắp đặt vào các công trình. (“ Plant: means machinery, apparatus, materials and all things to be provided under the contract for incorporation in the works).
    • “Hợp đồng” là bản thoả thuận mua hàng này và tất cả các điều kiện chung mua hàng được áp dụng, các bản điều kiện mua hàng đặc biệt, các bản quy cách, bản thuyết minh công trình và các bản vẽ chế tạo (“Contract” means

    this  purchase  agreement  itself,  and  all  applicable  general  conditions  of

    9

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    purchase, special conditons of purchase, specifications, the statement of works, and manufacturing drawings).

    • “Incoterms 2000” là bản Incoterms 2000 – tức bản những quy tắc quốc tế giải thích các điều kiện thương mại quốc tế do Phòng Thương mại quốc tế xuất bản. Nếu một điều kiện của Incoterms 2000 được áp dụng vào trong hợp đồng này, thì những quy tắc và khái niệm được áp dụng đối với điều kiện đó trong Incoterms 2000 sẽ được coi là bộ phận gắn liền vào hợp đồng này trừ trường hợp chúng mâu thuẫn với các quy dịnh khác của hợp đồng. Trong trường hợp này, những quy định của hợp đồng này sẽ có giá tri hiệu lực. (“Incoterms 1990” means Incoterms 2000, The International rules for the interpretation of commercial terms published by the International Chamber of Commerce. When a term from Incoterms 2000 is used in this contract, the rules and definitions applicable to that terms in Incoterms 2000 shall be deemed to have been incorporated in this contract except insofar as they may conflict with any other provisions of the contract, in which case the provisions of the contract prevail).

    g.                  Các điều khoản hợp đồng ( clause)

    Trên thị trường thế giới một số khá lớn điều kiện đã được hình thành từ thực tiễn của việc giao dịch trao đổi, mua bán sản phẩm, trong đó nêu rõ nghĩa vụ của người bán và người mua về các mặt như: Chịu phí tổn và rủi ro trong việc chuyên chở, làm thủ tục kiểm tra hàng hoá, trách nhiệm giao nhận đúng phẩm chất và số lượng…. những điều kiện đó gọi là những điều kiện giao dịch.

    Những điều kiện giao dịch ra đời như là một qui định của pháp luật, hoặc như là một tập quán, hoặc như là những sự giải thích hay những điều qui ước của một tổ chức kinh tế quốc tế (ví dụ như của phòng thương mại quốc tế chẳng hạn).

    Sự hình thành những điều kiện giao dịch nói trên có tác dụng thuận lợi đối với việc đẩy mạnh buôn bán quốc tế, bởi vì, nhờ các điều kiện đó, người mua và người bán mau hiểu biết ý của nhau hơn, giảm bớt những chanh chấp với nhau hơn… vì vậy, khi chào hàng, khi hỏi hàng cũng như khi ký kết và thực hiện hợp đồng người ta thường vận dụng các điều kiện giao dịch buôn bán vào hoàn cảnh cụ thể và biến chúng thành các điều khoản cụ thể.

    10

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Những điều kiện giao dịch phần nhiều đều có tính chất kỹ thuật – nghiệp vụ thuần tuý, song việc vận dụng chúng lại có tính chất giai cấp rõ rệt, bởi vì việc vận dụng đó có thể nhằm bảo vệ quyền lợi cho một đương sự nào đó (hoặc cho người bán hoặc cho người mua). Do đó, việc vận dụng các điều kiện giao dịch vào một hợp đồng cụ thể nào đó thường phải chải qua một quá trình đấu tranh phức tạp giữa hai bên liên quan. Ngoài ra, việc vận dụng các điều kiện giao dịch cũng đòi hỏi phải linh hoạt và sáng tạo, bởi vì bản thân các điều kiện đó cũng được bổ sung, thay đổi hoàn chỉnh không ngừng.

    Trong quá trình buôn bán với nước ngoài, việc vận dụng chính xác các điều kiện giao dịch có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta. Đó là do:

    Một là, có vận dụng khéo léo và sáng suốt các điều kiện giao dịch, chúng ta mới thực hiện đúng đắn được các đường lối chủ trương của đảng và chính phủ về công tác ngoại thương.

    Hai là, những điều kiện giao dịch, một khi đã được vận dụng và trở thành nội dung của hợp đồng sẽ là cở sở có ý nghĩa bắt buộc trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên ký kết. Vì vậy, có vận dụng chính xác những điều kiện đó mới ngăn ngừa được những hiểu lầm tranh chấp và những hậu quả tai hại trong khi ký kết và thực hiện hợp đồng

    Ba là, những điều kiện giao dịch công bằng và hợp lý, sau khi đã được các bên liên quan thoả thuận, thì không những có tác dụng xác định quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong lần giao dịch đó mà có thể trở thành cơ sở và tiền tệ để thoả thuận những giao dịch mới sau đó. Vì vậy, việc vận dụng chính xác các điều kiện giao dịch có thể có tác dụng rút ngắn được thời gian đàm phán hoặc tránh được những thiếu sót xảy ra trong quá trình giao dịch bằng thư từ, điện tín.

    Do vậy các điều khoản chính là nội dung chính của các hợp đồng mẫu. Các điều khoản có thể được in trực tiếp vào hợp đồng, cũng có thể được in riêng trong những văn bản gọi là “ Điều kiện chung giao hàng” (General conditions of delivery), “Điều kiện chung cung cấp” ( General conditions of supply ), “Điều kiện chung mua hàng: ( General conditions of purchase), “Điều kiện đặc biệt về mua hàng” ( Special conditions of purchase)… cũng có khi nội dung chính này của hợp đồng mẫu lại phù hợp với một văn bản do một tổ chức quốc tế ( như Uỷ ban liên hợp quốc về thống nhất tư pháp Unidroit, Uỷ ban kinh tế châu Âu Liên hợp quốc ECE, Phòng thương mại quốc tế ICC v.v..)

    11

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    soạn thảo. Trong các trường hợp này, thay vì trình bày các điều khoản, người ta dẫn chiếu đến các văn bản có liên quan.

    Các điều khoản có thể đánh số thứ tự ( Điều khoản I, điều khoản II, v.v…) cũng có thể được bắt đầu bằng một tên gọi ( Điều khoản giá cả, điều khoản giao hàng v.v…); cũng có thể vừa có số thứ tự vừa có tên gọi.

    Ngôn từ dùng trong các khoản hợp đồng là ngôn ngữ pháp lý thương mại rất chặt chẽ và không chắc là đã thật dễ hiểu. Muốn loại trừ sự hiểu lầm có thể xẩy ra trong những vấn đề lớn, người ta thường có nhiều điều bảo lưu và nhiều điều thêm bớt, câu cú được sắp đặt một cách khác biệt so với văn phong bình thường.

    Trong nội dung nhiều thuật ngữ thương mại được sử dụng. Nhưng thuật ngữ này, trong nhiều trường hợo, chứa đựng những công thức để xử lý những vấn đề nghiệp vụ cụ thể. Ví dụ hợp đồng mẫu có thể dẫn chiếu đến Incoterms 1990 về điều kiện CIF, trong đó người ta đã nêu ra công thức về nghĩa vụ thuê tàu đi theo hành trình thông thường (usual route), phải trả cước đến tận cảng đến v.v…

    Những thuật ngữ trên đây có thể được giải thích bởi mỗi hợp đồng một khác. Ví dụ thuật ngữ “giao nguyên lành” (sound delivery) được giải thích ở các hợp đồng của Đức khác với các giải thích ở các hợp đồng của Anh.

    Tóm lại, hợp đồng mẫu trong buôn bán có một số nét đặc thù cả về hình thức, nội dung và sự vận dụng. Hợp đồng mẫu luôn luôn phục vụ quyền lợi của người thảo ra nó. Sau khi được hai bên ký kết, hợp đồng mẫu sẽ có giá trị ràng buộc các bên đương sự. Vì vậy ngôn từ trong hợp đồng rất chặt chẽ và chính xác.

    12

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    CHƯƠNG II- NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHUNG HỢP ĐỒNG MẪU.

    I. ĐIỀU KHOẢN TÊN HÀNG.

    “Tên hàng” là điều khoản quan trọng của mọi đơn chào hàng, thư hỏi hàng, hợp đồng hoặc ghị định thư. Nó nói lên chính xác đối tượng mua bán trao đổi. Điều khoản này hoặc mang tên là điều khoản “hàng hóa đã thoả thuận” (contracted goods, contracted merchandise) “hàng hoá” (commodity), hoặc “đối tượng cảu hợp đồng” (Object of the contract), hoặc” mô tả hàng hoá” (description of the goods), hoặc “mô tả” (description).

    Trong buôn bán Quốc tế, người ta phân biệt rất rõ ràng các khái niệm sau: “hàng” (tên hàng), “nhóm hàng”, “loại hàng” và loạt hàng giống nhau (family of goods). Trên cơ sở những khái niệm đó, chúng tôi rút ra những nhận xét sau đây: Trong đa số trường hợp, một hợp đồng mẫu được soạn thảo cho một nhóm hàng ( như hạt có dầu, ngũ cốc, cao su). cũng có khi, một hợp đồng mẫu chỉ áp dụng cho một loại hàng, ví dụ như hợp đồng mẫu về đường tinh chế, hợp đồng mẫu về đường thô…

    Trong điều khoản tên hàng có những cách sau để biểu đạt tên hàng.

    • Người ta ghi tên thương mại cả hàng hoá và kèm theo tên thông thường và tên khoa học của nó.
    • Người ta ghi tên hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra hàng đó VD: Rượu vang Bordeux, thuỷ tinh bohêmia…
    • Người ta ghi tên hàng kèm theo tên hàng sản xuất ra hàng đó.

    VD: Xe máy honda, xe hơi ford…

    Ngoài ra, có khi người ta còn kết hợp một hai phương pháp trên với

    nhau.

    VD: Ti-vi 14 inches, màu của hàng sony ( Sony 14” color TV set)

    II. ĐIỀU KHOẢN SỐ LƯỢNG.

     

     

    1.     Chỉ tiêu số lượng và cách biểu thị của nó.

    13

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Nhằm nói lên mặt “lượng” của hàng hoá được giao dịch, điều khoản này bao gồm các vấn đề về đơn vị tính số lượng (hoặc trọng lượng) của hàng hoá, phương pháp qui định số lượng và phương pháp xây dựng trọng lượng.

    1. Đơn vị tính số lượng:

    Nếu hàng hoá mua bán được tính bằng cái, chiếc, hòm, kiện thì rất dễ dàng. Những hàng tính theo chiều dài, trọng lượng, thể tích và dung tích thì đơn vị phức tạp hơn nhiều: Nếu đơn vị tính không được qui định rõ ràng, các bên giao dịch dễ có sự hiểu lầm nhau. Nguyên nhân của sự hiểu trái ý của nhau là do, trong buôn bán quốc tế, nhiều đơn vị đo lường có cùng một tên gọi nhưng ở mỗi nước lại có một nội dung khác.

    VD: Một bao bông ở Ai cập là 330 kg, ở Brazin là 180 kg, một bì cà phê ở các nước thường là 60 cân Anh (27,13kg), nhưng ở Colombia là 70 cân Anh (31,7 kg).

    Ngoài ra một nguyên nhân đáng kể khác nữa là sự áp dụng đồng thời nhiều hệ thống đo lường trong buôn bán quốc tế. Ngoài các đơn vị thuộc mét hệ, người ta còn dùng hệ thống do lường của Anh, của Mỹ v.v…

    Dưới đây là một số đơn vị đo lường thường dùng trong buôn bán quốc tế, ngoài các đơn vị thuộc mét hệ:

    • Đơn vị đo chiều dài inch (2,54cm ): Foot (12 inches = 0,304m); yard (3 feet = 0,914m); Mile (1,609km).
    • Đơn vị đo diện tích square inch (6,4516 cm2); Square foot (2,2903 dm2); Square yard (0,836 m2); Acre (0,40468 ha) v.v…
    • Đơn vị đo dung tích: Gallon (Anh: 4,546 lít, Mỹ:3,785 lít): Bushel

    (Anh: 3,637 dê ca lít, Mỹ: 3,523 lít): Barrel (158,98 lít)

    • Đơn vị đo khối lượng (trọng lượng ) Grain (0,0648g): Dram(1,772g); Ounce (28,35g trong buôn bán hàng thông thường và 31,1035g trong buôn bán vàng bạc): Short ton (907,184 kg); Long ton (1.016,074kg) Pound (453,59 kg)…
    • Đơn vị tính số lượng tập hợp: Tá (12 cái ); Gross (12 tá), hộp, đôi… Phương pháp quy định số lượng.

    Trong thực tiễn buôn bán quốc tế người ta có thể quy định số lượng hàng hoá giao dịch bằng hai cách:

    14

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Một là, bên bán và bên mua quy định cụ thể số lượng hàng hoá giao dịch. Đó là một khối lượng được khẳng định dứt khoát. Khi thực hiện hợp đồng các bên không đựơc phép giao nhận theo số lượng khác với số lượng đó. Phương pháp này thường được dùng với những hàng tính bằng cái, chiếc.

    Hai là, bên bán và bên mua quy định một cách phỏng chừng về số lượng hàng hoá giao dịch. Khi thực hiện hợp đồng, các bên có thể giao nhận theo một số lượng cao hoặc thấp hơn số lượng quy định trong hợp đồng. Khoản chênh lệch đó gọi là dung sai về số lượng. Điều khoản của đơn chào hàng, hợp đồng hoặc hiệp định qui định dung sai về số lượng gọi là điều khoản số lượng phỏng trừng (moreless clause).

    Điều khoản này có thể được thực hiện trong hợp đồng bằng cách ghi chữ “Khoảng chừng” ( about), “xấp xỉ” (approximately) hoặc (moreless), ± (cộng, trừ ), hoặc “từ…tấn mét đến…tấn mét”.

    Phạm vi của dung sai có thể được xác định trong hợp đồng. Nếu không, nó được hiểu theo tập quán.

    VD: Trong tập quán buôn bán hàng ngũ cốc, dung sai là ±5%, hàng cà phê là ±3%, cao su là ±2,5%, gỗ là ±10%, máy và thiết bị là ±5%, về trọng lượng hàng giao.

    Hợp đồng cũng có thể qui định về người được hưởng quyền lựa chọn dung sai như: Do người bán chọn (at sellers’ option), do người mua chọn (at buyers option), hoặc do bên nào đi thuê tàu thì được chọn (at charterers’ option).

    Trong nhiều trường hợp người ta còn thoả thuận quy định giá hàng của khoảng dung sai về số lượng sao cho một trong hai bên không thể lợi dụng sự biến động của giá cả thị trường để làm lợi cho mình.

    Ngoài việc quy định dung sai về số lượng người ta còn quan tâm đến địa điểm xác định số lượng và trọng lượng. Nếu lấy trọng lượng được xác định ở nơi gửi hàng (trọng lượng bốc – shipped weight) là cơ sở để xem xét tình hình người bán chấp hành hợp đồng, hoặc để thanh toán tiền hàng thì những rủi ro xảy đến với hàng hoá trong quá trình chuyên chở do người mua phải chịu. Nếu việc thanh toán tiền hàng tiến hành trên cơ sở trọng lượng được xác định ở nơi hàng đến (trọng lượng dỡ –landed weight) hai bên phải căn cứ vào kết quả kiểm tra trọng lượng hàng ở nơi đến. Kết quả này được ghi trong một chứng từ do một tổ chức được các bên thoả thuận chỉ định tiến hành kiểm tra và lập lên.

    15

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Trong những trường hợp cần thiết, người ta cũng có thể quy định một tỷ lệ miễn trừ (franchese). Ý nghĩa của việc miễn trừ, trong điều kiện này là:

    • Người bán được miễn trách nhiệm (như trách nhiệm giao bổ xung, hoặc giảm giá, hoặc bồi thường bằng tiền…) nếu mức hao hụt tự nhiên thấp hơn tỷ lệ miễn trừ đã được quy định.

    2.                 Phương pháp xác định trọng lượng.

    Để xác định trọng lượng hàng hoá mua bán, người ta thường dùng những phương pháp sau đây:

    1. Trọng lượng cả bì: Đó là trọng lượng của hàng hoá cùng với trọng lượng của các loại bao bì hàng đó. Những mặt hàng được mua bán theo trọng lượng cả bì không phải là ít. Những quận giấy làm báo, các loại đậu tạp…khi mua bán, người ta thường tính trọng lượng cả bì.

     

    1. Trọng lượng tịnh: Đó là trọng lượng thực tế của bản thân hàng hoá. Nó bằng trọng lượng cả bì trừ đi trọng lượng của vật liệu bao bì . Từ trọng lượng cả bì, muốn tính ra trọng lượng tịnh, phải tính được trọng lượng bì. Có mấy phương pháp tính trọng lượng bì:

     

    • Theo trọng lượng bì thực tế (actual tare): Đem cân cả bao bì rồi tính tổng số trọng lượng bì. Phương pháp này chính xác nhưng mất nhiều công và nhiều khi không thể thực hiện được.
    • Theo trọng lượng bì trung bình ( average tare) trong số toàn bộ bao bì, người ta rút ra một bao bì nhất định để cân lên và tính bình quân. Trọng lượng bình quân đó được coi là trọng lượng bì của mỗi đơn vị hàng hoá.
    • Trọng lượng bì quen dùng( customory tare) đối với những loại bao bì đã được nhiều lần sử dụng trong buôn bán, người ta lấy kết quả cân đo từ lâu là tiền tệ để xác định trọng lượng bì. Khi gặp những loại bao bì như thế người ta tính theo một trọng lượng cố định, gọi là trọng lượng bì quen dùng.
    • Trọng lượng bì ước tính (estimated tare). Trọng lượng bao bì được xác định bằng cách ước lượng, trứ không qua cân thực tế.
    • Theo trọng lượng bì ghi trên hoá đơn (invoiced tare). Trọng lượng bì được xác định căn cứ vào lời khai của người bán, không kiểm tra lại.

    Trong một số trường hợp để biểu thị chính xác trọng lượng tịnh thực tế của hàng hoá người ta còn dùng thuật ngữ “trọng lượng thuần tuý” (net net weight) ý nghĩa của thuật ngữ này là: trọng lượng được xác định chỉ bao gồm

    16

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    trọng lượng của bản thân hàng hoá, không có bất kỳ một loại bao bì nào. Khác với “trọng lượng tịnh thuần tuý”, trọng lượng nửa bao bì gồm trọng lượng của bản thân hàng hoá cộng với trọng lượng của vật liệu trực tiếp.

    Đối với một số mặt hàng mà trọng lượng của bao bì rất nhỏ không đáng kể hoặc đơn giá của bao bì không chênh lệch bao nhiêu so với đơn gía của hàng hoá nhiều khi người ta còn có thể thoả thuận với nhau tính gía cả của bao bì theo cách thức “với cả bao bì coi như tịnh” (gross weight for net). Ý nghĩa của điều khoản này là: Giá cả của bao bì được tính như giá cả của bản thân hàng hoá và cả hai yêú tố này đều tính theo trọng lượng.

    1. Trọng lượng thương mại: Đây là phương pháp áp dụng trong buôn bán những mặt hàng dễ hút ẩm, có độ ẩm không ổn định và có giá trị kinh tế tương đối cao như: Tơ tằm, lông cừu, bông, len.. trọng lượng thương mại là trọng lượng của hàng hoá có độ ẩm tiêu chuẩn. Trọng lượng thương mại thường được xác định bằng công thức:

    Trong đó:

    • GTM : là trọng lượng thương mại của hàng hoá
    • GTT : là trọng lượng thực tế của hàng hoá

    – Wtt   : là độ ẩm thực tế của hàng hoá

    • Wtc : là độ ẩm tiêu chuẩn của hàng hoá
    1. Trọng lượng lý thuyết: Phương pháp này thích hợp với những mặt hàng có

    quy cách và kính thước cố định như: Tấm thép, thép chữ U, thép chữ I, tôn lá… và cả trong trường hợp mua bán thiết bị toàn bộ. Theo phương pháp này, người ta căn cứ vào thể tích, khối lượng riêng và số lượng hàng để tính toán trọng lượng hàng, hoặc căn cứ vào thiết kế của nó ( trường hợp đối với thiết bị toàn bộ) để xác định trọng lượng hàng hoá cung cấp cho nhau. Trọng lượng tìm thấy được gọi là trọng lượng lý thuyết.

    III. ĐIỀU KHOẢN BAO BÌ.

    Trong điều khoản về bao bì, các bên giao dịch thường phải thoả thuận với nhau những vấn đề yêu cầu chất lượng của bao bì và giá cả của bao bì.

    17

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Phương pháp quy định chất lượng của bao bì.

    Để quy định chất lượng của bao bì, người ta có thể dùng một trong hai phương pháp sau đây:

    • Quy định chất lượng của bao bì phải phù hợp với một phương thức vận tải nào đó.

    VD: “bao bì thích hợp với vận chuyển đường sắt”, “bao bì đường biển”.

    Sở dĩ người ta có thể thoả thuận chung chung như vậy, mà vẫn hiểu nhau được là vì trong buôn bán quốc tế, đã hình thành một số tập quán quốc tế về các loại bao bì này.

    Theo tập quán đó bao bì đường biển thường có hình dạng là hình hộp, ít khi là những hình khác, có độ bền khá đủ để chịu đựng sức ép của những hàng hoá khác chất xếp trong cùng hầm tầu trong khi chuyên chở, có kích thước là những số nguyên của đơn vị đo lường. Trong chuyên chở hàng hoá đường biển, ít khi người đóng chung những mặt hàng có suất cước khác nhau vào cùng một kiện hàng, bởi vì trong trường hợp như vậy, các hãng tàu có quyền áp dụng một suất cước cao nhất trong số các suất cước của hàng hoá đóng gói chung để tính cước cho cả kiện hàng.

    Trong chuyên chở đường sắt, bao bì cũng cần khá chắc chắn bởi vì hàng hoá có thể phải qua nhiều khâu sang toa, dịch chuyển. Đồng thời bao bì đường sắt cũng cần kích thước phù hợp với quy định của cơ quan đường sắt, nơi hàng đi qua. Những hàng hoá có bao bì quá dài và có trọng lượng quá nặng, thường gặp khó khăn trong khi đăng ký xin toa, cũng như khi bốc dỡ.

    Bao bì thích hợp với việc vận chuyển bằng máy bay, phải là bao bì nhẹ, có kích thước phù hợp với quy định của công ty hàng không. Có như vậy, mới giảm được chi phí chuyên chở, bởi vì suất cước máy bay cao hơn rất nhiều so với suất cước của các phương thức chuyên chở khác. Ngoài ra, để tránh nguy hiểm cho hàng hoá và công cụ vận tải, người ta tránh dùng những vật liệu dễ bốc cháy trong việc chế tạo bao bì máy bay.

    Điểm lại các tập quán có liên quan đến bao bì, chúng ta thấy rằng cách quy định chung chung về chất lượng bao bì vẫn có thể gây nên sự không thống nhất trong việc giải thích yêu cầu đối với bao bì.

    VD: Mỗi bên giao dịch có thể hiểu một cách khác nhau về khái niệm “khá chắc chắn” hoặc “kích thước phù hợp”.

    18

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Quy định cụ thể các yêu cầu về bao bì như: + Yêu cầu về vật liệu làm bao bì.

    VD: bằng gỗ mới, bằng màng mỏng polyetylen, bằng tre lứa đan, bìa bồi (cardboard), gỗ gép (fiberboard).

    + Yêu cầu về hình thức của bao bì.

    VD: (case) bao (bale), thùng (drum), quận (roll), bao tải (gunny bag).. + Yêu cầu về kích cỡ của bao bì

    VD: Mỗi bao 50kg, đay ép 100kg/ kiện hàng…

    + Yêu cầu về số lợp bao bì và cách thức cấu tạo mỗi lớp đo.

    VD: lớp trong có bôi mỡ và phủ giấy nến, lớp giữa làm bằng nylon, lớp ngoài là hòm gỗ mới dày không dưới 2cm.

    + Yêu cầu về đai nẹp của bao bì:

    VD: hòm phải có ba lượt nẹp, mà bề rộng từ 2cm trở lên, mỗi góc hòm phải có săt cooc-ne…

    Đương nhiên phương pháp quy định các yêu cầu cụ thể của bao bì có nhiều ưu điểm hơn phương pháp quy định chung. Song nó đòi hỏi mỗi bên giao dịch phải có trình độ nhất định về kiến thức và kinh nghiệm cả trong lĩnh vực thương phẩm lẫn trong lĩnh vực vận tải.

    2. Phương thức cung cấp bao bì

    Nói chung, việc cung cấp bao bì được thực hiện bằng một trong ba cách dưới đây, tuỳ theo sự thoả thuận của các bên tham gia giao dịch.

    Một là, bên bán cung cấp bao bì đồng thời với việc giao hàng cho bên mua. Đây là phương thức thông thường nhất, phổ biến nhất.

    Hai là, bên bán ứng trước bao bì để đóng gói hàng hoá nhưng sau khi nhận hàng bên mua phải trả lại bao bì. Nói cách khác, bên bán chỉ bán hàng hoá còn bao bì được giữ lại tiếp tục sử dụng. Phương thức này chỉ thường dùng đối với những loại bao bì có giá trị cao hơn giá hàng hoặc những bao bì sử dụng nhiều lần.

    Ba là, bên bán yêu cầu bên mua gửi bao bì đến trước để đóng gói, sau đó mới giao hàng. Trường hợp này chỉ xảy ra khi nào bao bì quả thật khan hiếm và thị trường thuộc về người bán.

    3. Phương thức xác định giá cả của bao bì.

     

    19

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Nếu bên bán chịu trách nhiệm cung cấp bao bì, sau đó không thu hồi, thì hai bên giao dịch thường phải thoả thuận với nhau việc xác định giá bao bì. nói chung việc tính giá của bao bì có thể có mấy trường hợp:

    • Giá của bao bì được tính vào giá cả của hàng hoá, không tính riêng. Đây là biện pháp hay dùng. Trong trường hợp này người ta khẳng định giá hàng đã bao gồm giá của bao bì (Packing charges included)

     

    • Giá cả của bao bì do bên mua trả riêng. Muốn vậy cần xác định mức độ chi phí tạo nên giá cả bao bì. Chi phí này có thể tính theo chi phí thực tế, có thể tính bằng mức phần trăm so với giá hàng. Nhưng cả hai phương pháp này đều có những điểm không thoả đáng. Phương pháp trước sẽ khuyến khích bên bán chế tạo bao bì bằng vật liệu đắt tiền hoặc với khối lượng lớn quá mức cần thiết. Phương pháp sau dễ làm cho giá cả bao bì nhiều hơn chi phí thực tế vì rằng chi phí bao bì không có quan hệ trực tiếp với giá cả hàng hoá.
    • Giá cả của bao bì được tính như giá cả của hàng hoá. Đây là trường hợp các bên thoả thuận áp dụng điều khoản (cả bì coi như tịnh).

    IV. ĐIỀU KHOẢN VỀ PHẨM CHẤT

    1. Tên điều khoản và các phương pháp xác định phẩm chất

    Trong các hợp đồng mẫu, điều khoản phẩm chất có thể mang nhiều tên khác nhau. Có khi đó là: “Phẩm chất” (Quality), có khi là “Phẩm chất hàng hoá” (Quality of goods), có khi là “Quy cách và phẩm chất” (Specification and quality), có khi là “Sự mô tả” ( Description ).

    Trong nội dung của điều khoản này, người ta quy định phẩm chất hàng hoá bằng nhiều cách khác nhau.

    Có hợp đồng chỉ nêu lên phẩm cấp ( category hoặc grade). Trong trường hợp này, phụ lục của hợp đồng xác định rõ nội dung và các chỉ tiêu chất lượng của mỗi loại đó. Cũng có trường hợp bản quy định chất lượng đã được công bố trước tại sở giao dịch và hợp đồng chỉ dẫn chiếu đến bản đó.

    Một số hợp đồng mẫu có nêu lên khả năng dùng hàng đó vào một mục đích nhất định. Ví dụ, ngũ cốc dùng cho người ăn ( for human consumption ) hoặc cho súc vật ( for cattle) hoặc để chế biến công nghiệp v.v…

    Cách mua bán theo mẫu hàng (sale by sample )được dùng khá phổ biến. Theo cách này, trước khi ký hợp đồng người bán đưa ra để người mua xem xét

    20

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    mẫu. Khi đã thoả thuận thành lập hợp đồng, mẫu được hai bên đóng dấu hoặc ghi số hiệu và giao cho bên bán, bên mua và một bên thứ ba để lưu giữ. Công thức thường được dùng trong trường hợp này là: “ Gần giống mẫu đã được đóng dấu / hoặc ký tên / và được lưu giữ tại…” ( About as per sample sealed / or signed / in possession of…). Đôi khi việc bán hàng theo mẫu lại có kèm theo một số chỉ tiêu về chất lượng. Như vậy, ta có thể hiểu rằng hàng hoá phải phù hợp với các chỉ tiêu đã quy định cả đối với những chỉ tiêu khác không được quy định trong hợp đồng, hàng hoá phải phù hợp với mẫu hàng. Còn khái niệm “gần giống”, “gần đúng” với mẫu hàng, các hợp đồng mẫu cũng chưa có sự giải thích rõ ràng. Đa số hợp đồng dành việc này cho trọng tài quy định. Chỉ có hợp đồng mẫu của London Corn Trade Association quy định phạm vi dung sai” đó là 0,5% và của Italia quy định đó là 1%.

    Một số không ít hợp đồng có quy định chung chung, theo những chỉ tiêu đại khái quen dùng như:

    • Phẩm chất trung bình vào lúc giao hàng” (Average quality at the time of shipment) trong hợp đồng của Antwerp.
    • “Phẩm chất tiêu thụ tốt theo mô tả trên: ( Good merchantable quality of the above-mentioned description), trong thương mại về dầu thực vật.
    • “Phẩm chất trung thực và tiêu thụ được” (Qualité loyale et marchande) trong buôn bán về dầu gai.

    -“Phẩm chất bình quân tốt ở thời kỳ bốc hàng theo tập quán ổn định ở địa phương của nước xuất xứ” (Qualité bonne moyenne à l’ e’poque de l’embarquement, suivant usages locaux et constants du pays d’origine) ở các bản điều kiện chung trước đây của Pháp.

    Trong số các hợp đồng loại này, một số hợp đồng đã dùng công thức FAQ (Fair Average Quality). Trong trường hợp này, người ta chỉ định một tổ chức lấy mẫu và công bố trong từng thời gian một. Tuy nhiên, trong ngành thương mại cao su, người ta lại dùng công thức FAQ với mọi ý nghĩa khác thông thường, tức là không mang tính chất của một phương pháp xác định phẩm chất thay đổi tuỳ thời gian và khu vực chọn mẫu trung bình, mà lại là một nhân tố xác định vĩnh viễn cho từng tiêu chuẩn được xếp hạng.

    Đôi khi ta lại thấy thuật ngữ FAQ còn được kèm thêm một tính ngữ như “tốt”, “dưới mức” ví dụ: good FAQ hoặc inferior FAQ. Như vậy một lần nữa chúng ta thấy rất khó dịch chữ “fair” là “tốt” hay “hoàn hảo”.

    21

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Phương pháp xác định phẩm chất “theo hiện trạng” cũng được dùng với thuật ngữ tiếng Pháp “Tel quel”. Đôi khi các hợp đồng của Italia, của London cũng dùng thuật ngữ này với sự biến đổi theo cách phát âm của người Anh cũng dùng thuật ngữ này với sự biến đổi theo cách phát âm của người Anh “Tale quale”, mặc dù trong tiếng Anh đã có thuật ngữ tương đương “As is”. Nội dung của các thuật ngữ này là: Hàng có thể giao theo đúng loại hàng yêu cầu, còn phẩm chất thì “có sao giao vậy”.

    Trong nhiều trường hợp, hàng có khối lượng lớn cũng được mua bán theo sự mô tả ( sale by description). Trong đó, tuỳ theo từng loại hàng, điều khoản mô tả có thể bao gồm:

    • Tỷ lệ tối đa những nhân tố mà người ta không muốn có:
    • Tỷ lệ tối thiểu về những nhân tố có ích:

    -Dung trọng, tức là trọng lượng tự nhiên (natural weight) của một đơn vị dung tích.

    • Kích cỡ (ví dụ: 2800hạt /kg, cục có đường kính từ 3 cm trở lên)
    • Mầu sắc

    -Hương vị

    – v.v…

    Đối với những chất muốn có trong hàng hoá, người ta thường ám chỉ bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như: chất lạ: (foreign matters, extraneous matters), chất hỗn hợp (admixture) … Người ta xác định chúng bằng công thức “Không qua…%” (Not exceed…%, not over…%) hoặc “chỉ tới…%” (up to …%). Tuy nhiên, có khi sự quy định chỉ ở mức chung chung, thiếu cụ thể. Ví dụ trong hợp đồng mủ cao su (latex) của London quy định rằng “Không có tạp chất về thương mại” ( Commercially free from extraneous matters).

    Đối với những nhân tố cấu tạo nên hàng hoá, có khi người ta quy định tỷ lệ càng thấp càng tốt của một thành phần nào đó. Ví dụ trong các hợp đồng gạo, tỷ lệ % tấm càng ít thì chất lượng gạo càng cao. Tuy nhiên trong trường hợp này, điều cần là chính xác là chiều dài của tấm ( bằng 1/2 hạt gạo hay bằng 3/4 hạt gạo…)

    Ngoài ra, nhiều chỉ tiêu khác cũng được nêu ra trong hợp đồng, tuỳ thuộc yêu cầu về từng loại hàng như: màu sắc, nhiệt lượng (ví dụ đối với than,

    22

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    dầu mỏ…) hàm lượng của chất chủ yếu trong hàng hoá; số lượng thành phần thu được khi chế biến hàng hoá nói trong hợp đồng v.v…

    Một số hàng có khối lượng lớn đã được tiêu chuẩn hoá và việc mua bán theo tiêu chuẩn cũng không phải là hiện tượng hiếm thấy đối với hàng này. Tuy nhiên, điều khá mới ở nước ta là: Những tiêu chuẩn này không phải chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng mà có cả các tiêu chuẩn do các hiệp hội tư nhân xây dựng nên, nhưng do được dùng lâu, các tiêu chuẩn này cũng được thừa nhận trên thị trường. Một ví dụ về trường hợp này là tiêu chuẩn RSS (Ribbed Smoked Sheet) trong buôn bán cao su do RMA (Rubber Manufacturers Association – hiệp hội các nhà chế tạo cao su) xác định.

    2. Phạm vi chênh lệch cho phép về chất lượng.

    Đối với hàng có khối lượng lớn, phẩm chất thường bị tác động bởi khí hậu, thời tiết, phương tiện bảo quản và vận chuyển v.v… Do đó thật khó lòng bảo đảm sự phù hợp hoàn toàn giữa phẩm chất hàng giao với phẩm chất được quy định trong hợp đồng. Cũng tinh thần như vậy, ngay đến Công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (Công ước Vienna 1980) cũng khẳng định rằng hàng hoá chỉ bị coi là không phù hợp với hợp đồng nếu:

    1. Hàng không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hoá cùng loại vẫn thường đáp ứng.
    2. Hàng không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà người bán đã trực tiếp và gián tiếp biết được vào lúc ký kết hợp đồng, trừ trường hợp nếu căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng không dựa vào ý kiến sau sự phán đoán của người bán hoặc nếu đối với họ làm như thế là không hợp lý.
    1. Hàng không có các tính chất của hàng mẫu hoặc kiểu dáng mà người bán đã cung cấp cho người mua.
    2. Hàng không được đóng bao bì theo cách thông thường cho những hàng cùng loại hoặc, nếu không có cách thông thường, bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó. (Điều 35 – Mục 2)

    Còn các hợp đồng mẫu thì cho phép hàng giao được phép chênh lệch ở mức độ nhất định so với quy định của hợp đồng. Khi phẩm chất hàng giao nằm trong phạm vi chênh lệch đó (ngoài mức dung sai đã được xác định trước) người mua vẫn không được đòi bồi thường. Đó là tỷ lệ vẫn gọi là miễn thường

    23

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    (franchise). Tỷ lệ miễn thường và mức dung sai cao thấp bao nhiêu đều là do mối tương quan giữa gười mua và người bán quyết định.

    Đôi khi hợp đồng mẫu còn quy định cả những chỉ tiêu được phép chênh lệch và chỉ tiêu nào không được phép như vây.

    Về cách xử lý trường hợp mức độ hàng xấu vượt quá phạm vi chênh lệch, mỗi hợp đồng cũng quy định một khác. Quy định này có khi có lợi cho bên mua, có khi có lợi cho bên bán. Đây là điều khoản nhận hàng trong hợp đồng mẫu về ngũ cốc của Italia:

    “Nghĩa vụ nhận hàng: Người mua phải nhận hàng trong bất cứ trường hợp nào. Người mua không được gửi trả ngay hàng cho người bán dù với lý do phẩm chất không hợp lệ. Người mua vẫn phải nhận hàng và bảo quản, nếu sau khi dỡ hàng thấy hàng xấy do có tiềm tật( inherent vice)

    Trong một số hợp đồng khác về ngũ cốc, ta cũng thấy quy định tương tự. Sở dĩ ngành hàng ngũ cốc có thể quy định như vậy vì ngành này có cả một hệ thống chiết khấu và hạ giá đã có lợi cho bên mua.

    Để xác định sự hoàn thành nghĩa vụ của người bán, người ta thường tiến hành kiểm tra, giám định phẩm chất hàng sau khi hàng đó được giao xong. Để né tránh trách nhiệm đối với việc kiểm tra, giám định như vậy, người bán quy định rằng giấy chứng nhận phẩm chất do mình đưa ra là giấy chứng nhận cuối cùng (Certificate to be final ), trừ phi người mua chứng minh được giấy đó không hợp lệ. Quy định này đã xuất hiện trong các hợp đồng mẫu ngành than và một số hợp đồng mẫu ngũ cốc xuất khẩu từ Canada và Hoa kỳ.

    3. Trạng thái hàng hoá.

    Hàng hoá có thể được đánh gía chẳng những bằng các chỉ tiêu chất lượng (tạp chất, thủy phần, kích cỡ, độ dài của sơ sợi v.v…) như đã trình bày ở phần 1 của chương này, mà còn được đánh giá bằng trạng thái bên ngoài của nó. Trạng thái (condition of goods) thể hiện ở sự biến dạng, sự hấp hơi, sự gãy vụn v.v… hoặc ở sự nguyên lành. Sự nguyên lành này còn gọi là sự an toàn hàng hoá (tiếng Anh: Sound, tiếng Pháp: Sain, tiếng Đức: Gesund).

    Địa điểm đánh gía trạng thái hàng hoá có thể là nơi hàng đi hoặc nơi hàng đến.

    Khi hợp đồng là hợp đồng giao hàng ở nơi đi (shipment contract), trạng thái của hàng hoá được xem xét trong thời gian bốc hàng lên tàu và người bán

    24

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    phải giao hàng trong trạng thái tốt (in good condition) cho người vận tải. Ngược lại đối với hợp đồng giao hàng ở nơi đến (arrival contract), trạng thái hàng được xem xét ở cảng đến.

    Tuy nhiên, điều khó khăn là hợp đồng thuộc loại giao hàng ở nơi đi (ví dụ họp đồng FOB, CIF, CFR) nhưng lại có điều khoản quy định lấy phẩm chất

    • cảng đến làm căn cứ quýêt định. Trong trường hợp này, các điều kiện FOB, CIF, CFR chỉ còn là điều kiện cơ sở của giá cả.

    Để đánh gía trạng thái hàng hoá, người ta thường dùng mấy công thức sau đây: “Giao hàng theo hiện trạng” (Tel quel) “Giao nguyên lành” (Sound delivery), “Điều kiện mạch đen” ( Rye terms)

    “Giao theo hiện trạng” (Tel quel) như đã được định nghĩa ở phần &1 chương này, có nghĩa là “có sao giao vậy”. Nhưng trong các hợp đồng của London Corn Trade Association lại giải thích thuật ngữ này là: Hàng hư hỏng vì nước biển hoặc vì lý do nào khác phải được coi như tốt”

    Những hợp đồng của Antwerp cắt nghĩa thuật ngữ đó như sau: “Khi mua bán theo điều kiện Tel quel, người mua sẽ nhận hàng bị hư hỏng vì nước biển hay vì lý do khác mà không có quyền đòi hạ giá”.

    Đa số những hợp đồng “giao theo hiện trạng” là hợp đồng giao hàng ở nơi đến (DES, DEQ, DDU,DDP) và hợp đồng CIF.

    “Giao nguyên lành”(Sound delivery) là công thức thường thấy trong các hợp đồng của Antwerp. Các hợp đồng của Đức cũng dùng điều kiện này và gọi là “Gesund Auszuliefern” hợp đồng Đức- Hà Lan coi điều kiện này giống như điều kiện Rye terms ( sẽ được trình bày dưới đây còn theo các hợp đồng mẫu của Antwerp giải thích điều kiện “Giao nguyên lành” là : nếu hàng bị hư hỏng vì nước biển hoặc vì lý do khác, người mua phải nhận tất cả hàng, bảo quản hàng đó một cách thích ứng (en bon pere re de famille), không có quyền đòi hạ giá. Nếu đó là người mua cuối cùng (người tiêu dùng), người này phải thông báo bằng hình thức viết cho người bán trong vòng hai ngày kể từ khi hàng được dỡ xong. Nếu là người kinh doanh ở khâu trung gian, người mua phải thông báo cho người bán bằng hình thức biết cho người bán trong một thời gian hợp lý (hoặc nội nhật ngày nhận hàng hoặc trước 12 h:00 ngày hôm sau)

    Trong trường hợp này, những rủi ro và chi phí xảy ra trong thời gian bảo quản hàng hư hỏng đều do người mua ứng trước và người bán phải hoàn lại

    25

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    cho người mua. Và nếu người mua yêu cầu, người bán phải nhận lại hàng hư hỏng đó.

    Như vậy, theo điều kiện này, nếu hàng giao có hư hỏng, người mua được quyền lựa chọn: hoặc là nhận hàng mà không được hạ giá (giống điều kiện Tel quel), hoặc từ chối hoàn toàn lô hàng.

    “Điều kiện mạch đen” (Rye terms) tuy có tên gọi “Lúa mạch đen” nhưng điều kiện này cũng được dùng trong mua bán các loại ngũ cốc khác.

    Điều kiện này được giải thích trong các hợp đồng của London rằng:

    “Người mua sẽ nhận hàng hư hỏng vì nước biển hoặc vì một lý do khác

    nếu người bán hạ giá hàng, nhưng không kể trường hợp do bị nóng nhẹ, không bị ảnh hưởng tới phẩm chất và không làm giảm giá trị hàng hoặc trường hợp hư hỏng trên đất liền mà không cho quyền đòi hỏi giá”

    Các hợp đồng của Italia cũng giải thích tương tự. Hợp đồng Đức-Hà lan biểu thị cùng một nghĩa này: “hàng giao đi phải tốt, không kể tới hàng bị khô, nóng nhẹ, không làm phẩm chất biến đổi người mua

    Phải nhận hàng hư hỏng đó và được hạ gía theo mức mà trọng tài quyết

    định”

    “Tổn thất trên biển do bên bán chịu” (Sea damages for the sellers account) tuy là điều kiện không được phổ biến nhiều nữa, nhưng vẫn còn được nêu trong một vài hợp đồng mẫu, với tên gọi tắt là điều kiện S.D.

    Điều kiện này được định nghĩa đầy đủ như sau:

    Hàng bị hư hỏng vì nước biển, thiệt hại do người bán chịu (damages by sea water, if any to be for the sellers account).

    Các hợp đồng của London về hạt ngũ cốc nhập khẩu từ ấn độ có ghi thể thức như sau: “người mua sẽ không nhận những kiện hàng và hàng hoá bị hư hỏng vì nước biển hay hơi nước đọng lại”

    Hợp đồng của Antwerp về hạt ngũ cốc nhập từ Achentina và Urugay (với điều kiện hàng đến Antwerp an toàn và lại tái xuất CIF) cho lựa chọn: hoặc hai bên thoả thuận rằng hàng sẽ giao cho người mua ở trạng thái lúc bốc hàng ở Châu Âu thế nào thì giao như thế với điều kiện sẽ hạ gía hoặc hợp đồng sẽ coi như hoàn thành mà người bán không phải phí tổn khi hàng không có trạng thái bên ngoài tốt.

    26

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    V. ĐIỀU KHOẢN GIAO HÀNG

     

     

    1.     Điều kiện cơ sở giao hàng.

    Các hợp đồng mẫu đều có sự vận dụng một trong những điều kiện cơ sở giao hàng đã được hình thành trong buôn bán quốc tế để phân chia trách nhiệm về việc giao hàng. Đó là các điều kiện như EXWORK, EX WARE-HOUSE, FOB, CIF, CFR v.v..

    Các điều kiện này được giải thích một cách rất khác nhau bởi các tập đoàn buôn bán, bởi tập quán ngành hàng và bởi tập quán địa phương. Phòng thương mại quốc tế đã có công thống nhất giải thích các điều kiện đó trong văn bản “ các điều kiện thương mại” gọi tắt là Incoterms.

    Các hợp đồng mẫu đã dẫn chiếu đến Incoterms bằng công thức, chẳng hạn như:

    • Giá hàng được hiểu là FOB /CIF/CFR cảng… theo Incoterms 1990 (the price to be understood interested in accordance with Incoterms 1990.
    • Hợp đồng này chịu sự điều tiết của những quy định trong Incoterms 2000 (the contract will be governed by the provision of Incoterms 2000).

    Những hợp đồng không dẫn chiếu đến Incoterms thường có quan niệm rất khác nhau về điều kiện cơ sở giao hàng. Chẳng hạn, đã có trường hợp người ta quan niệm điều kiện CIF giống như điều kiện EX SHIP (mà ngày nay, theo Incoterms là DES).

    Sở dĩ có sự hiểu lầm giữa CIF và EX SHIP là vì, trong nhiều lúc, người ta không phân biệt giữa hàng giao thực tế (actual delivery) với giao hàng tượng trưng (Symbol delivery) CIF thuộc loại giao hàng tượng trưng, trong đó giao chứng từ được coi là giao hàng, nếu chứng từ hợp lệ thì người mua phải trả tiền. Còn EX SHIP (tức DES) thuộc loại giao hàng thực tế, trong đó người bán phải thực sự đặt hàng hoá dưới sự định đoạt của người mua trên tàu tại cảng đến quy định.

    Theo Incoterms, khi hàng được giao bằng container hoặc tàu RO/RO thì cần thay điều kiện FOB bằng điều kiện FIA, thay CFR bằng CPT, thay CIF băng CIP.

    2. Thời gian giao hàng.

    27

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Thời hạn giao hàng là thời hạn mà người bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Nếu các bên giao dịch không có thoả thuận gì khác, thời hạn này cũng là lúc di chuyển rủi ro và tổn thất về hàng hoá từ người bán sang người mua.

    Trong buôn bán quốc tế, người ta có 3 kiểu quy định thời hạn giao hàng như sau:

    • Thời hạn giao hàng có định kỳ: theo phương pháp này người ta có thể xác định thời hạn giao hàng.

    + Hoặc vào một ngày cố định, ví dụ vào ngày 30 tháng 5 năm 2000

    • Hoặc vào một ngày được coi là ngày cuối cùng của thời hạn giao hàng, ví dụ: Không chấp nhận quá ngày 30 tháng 5 năm 2000.
    • Hoặc bằng một khoảng thời gian như: quý 3 năm 2000
    • Hoặc bằng một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo sự lựa chọn của một trong hai bên, ví dụ: trong vòng 6 tháng sau khi ký kết hợp đồng tuỳ theo sự lựa chọn của người bán (within 6 months after concluding the contract, at the sellers option) từ tháng 2 đến tháng 7 tuỳ người mua lựa chọn (delivery Feb./Jul. at the buyers option)…
    • Thời hạn giao hàng ngay: theo phương pháp này các bên giao dịch có thể thoả thuận:
    • Giao nhanh ( Prompt)
    • Giao ngay lập tức (immediately)
    • Giao càng sớm càng tốt ( as soon as possible)
    • v…

    Nội dung của những qui định trên đây được giải thích ở từng nơi, từng vùng, từng ngành một khác nhau. Ví dụ, ở Mỹ người ta giải thích “giao ngay” là giao trong vòng 5 ngày sau khi ký kết hợp đồng, “giao gấp” là giao trong vòng 5 ngày đến 10 ngày sau khi ký kết hợp đồng.

    Trong bản “ qui tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ” (bản sửa đổi năm 1993), phòng thương mại quốc tế giải thích một cách thống nhất “các từ ngữ đó là yêu cầu gửi hàng trong thời gian 30 ngày kể từ ngày mở thư tín dụng” (tài liệu của phong thương mại quốc tế số 500)

    • Thời hạn giao hàng không định kỳ: Đây là cách quy định chung chung ít được dùng. Theo cách này người ta có thể thoả thuận như:

    28

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Giao hàng cho chuyến tầu đầu tiên (Shipment by first available steamer).
    • Giao hàng khi nào có khoang tàu (Subject to shipping space available

    )

    • Giao hàng sau khi nhận được L/C (Suject to the opening of L/C)
    • Giao hàng khi nào xin được giấy phép xuất khẩu (subject to export

    licence.

    Trong hợp đồng mẫu có thể dành chỗ cho việc ghi ngày giao hàng, cũng có thể dành chỗ cho việc ghi tháng giao hàng. Theo công ước Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế (công ước Vienna1980) “Người bán phải giao hàng đúng vào ngày mà hợp đồng đã quy định cho việc giao hàng”. Vì vậy khi quy định ngày giao hàng, người bán phải giao trước 24 giờ ngày đó; còn khi qui định tháng giao hàng, người bán phải tiến hành việc giao hàng vào một ngày trong tháng đó (tính từ ngày đầu tiên đến ngày cuối tháng).

    Tuy nhiên, nếu ngày ấn định giao hàng lại là một ngày không làm việc (Tiếng Anh: Non-business day, non-market day) thì, theo một số hợp đồng mẫu, người bán phải giao hàng vào ngày tiếp theo.

    Nhiều khi các bên trong hợp đồng lại dùng những thuật ngữ chung chung để quy định thời gian giao hàng như: “giao càng sớm càng tốt” (as soon as posible – viết tắt là: asap)…những thật ngữ này được mỗi tập đoàn giải thích một khác.

    Dưới đây là cách hiểu của các tập đoàn đối với các thuật ngữ chỉ thời gian giao hàng tính từ lúc ký hợp đồng:

    (Đơn vị: ngày)

    NHÓM TÊN TẬP ĐOÀN TẠI CHỖ NHANH LẬP TỨC GẤP
    HÀNG   SPOT QUICK IMMEDIAT PROMP
              E T
    Ngũ cốc Chambre Arbitrale-Anvers        
    6   6 31
    Ngũ cốc Associasione dei Cereale-Genova        
      8 5  
    Hạt Seed,  Oil,  Cake  Association  –        
        7-21 7-21
    dầu   Liverpool        
    Hạt Foreign  comm.  Asso  –  San        
    1 2 5 10
    dầu   Francisco        
        29        

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Hạt  có Nat. Cottonseed Prod. Asso.-New     5 10
    dầu Orleans        
    Đường Refined Sugar Asso        
        3 14
    Cao su Rubber Trade Asso –Newyork        
          10
    Bông Assol de coton –Haver        
        14 15-30
    Bông Alexandria Cotton Asso- Egypt        
          14
    Gỗ Timber Trade Feeder of U.k        
          45
    Kim London Metal Exchange        
          5
    loại          
               

    Phòng thương mại quốc tế đã giải thích – trong các UCP (Điều lệ và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ) rằng tất cả các thuật ngữ trên đều có nghĩa là hàng được giao trong vòng 30 ngày kể từ ngày L/C được mở.

    Trong các hợp đồng mẫu do các sở giao dịch hàng hoá soạn thảo, người ta thường nêu ra 2 thời hạn giao hàng: thời hạn giao hàng cơ sở (basic delivery) và thời hạn giao hàng có thể kéo dài (tenderable delivery) khi đến thời hạn giao hàng cơ sở, nếu một bên thấy việc thanh toán hợp đồng không có lợi cho mìng thì có thể nộp một số tiền bù để hoãn mua hặc hoãn bán là Backwardation.

    3. Địa điểm giao hàng.

    Địa điểm giao hàng thường được ghi bên cạnh điều kiện cơ sở giao hàng. Trong các hợp đồng mẫu, người ta để chừa một khoảng trống sau điều kiện cơ sở giao hàng để các đương sự ghi địa điểm giao hàng.

    Đối với các hợp đồng giao hàng tại chỗ (spot contract), việc quy định địa điểm giao hàng là khôg có gì phức tạp. Nhưng đối với các hợp đồng CIF, người ta phải ghi rõ tên hai cảng: cảng bốc hàng (loading port) và cảng dỡ hàng (discharging port).

    Cũng không ít khi người ta còn quy định cảng giao nhận về số lượng và cảng giao nhậ về chất lượng hàng.

    Việc lựa chọn địa điểm giao hàng có liên quan chặt chẽ đến phương thức chuyên chở hàng hoá và đến điều kiện cơ sở giao hàng. Mặc dù nói chung điều kiện cơ sở giao hàng đã xác định rõ địa điểm giao hàng, ví dụ khi thoả thuận

    30

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    giao hàng theo điều kiện FOB Marseille, FOB Liverpool thì địa điểm giao hàng đã được quy định rồi. Tuy nhiên, có những điều kiện cơ sở giao hàng chỉ xác định cảng đến mà không xác định cảng đi (ví dụ điều kiện CIF, CFR) hoặc có trường hợp hai bên muốn giành giật hơn nữa lợi thế về mình. Vì thế, hai bên có thể còn phải thoả thuận quy định địa điểm giao hàng.

    Trong buôn bán quốc tế, người ta phân biệt các phương pháp sau đây về việc quy định địa điểm giao hàng.

    • Quy định cảng (ga) giao hàng, cảng (ga), đến, cảng (ga) thông qua.
    • Quy định một cảng (ga) và nhiều cảng (ga): trong trường hợp đối tượng giao dịch là hàng bách hoá người ta thường chỉ quy định một địa điểm hàng đi hoặc một địa điểm hàng đến. Nhưng khi giao dịch về hàng hoá có khối lượng lớn, người ta có thể quy định nhiều địa điểm gửi hàng và – hoặc nhiều địa điểm hàng đến. Ví dụ, cảng đi: Hải Phòng/ Đà Nẵng/ TP Hồ Chí Minh; Cảng đến: Luân đôn/ Livơpun/ Hămbua.
    • Quy định cảng (ga) khẳng định và cảng (ga) lựa chọn: dù có quy định một hoặc nhiều cảng (ga) nhưng phương pháp trên vẫn khẳng định nơi giao hàng. Tuy nhiên trong buôn bán quốc tế nhiều khi người ta còn cho phép một bên lựa chọn cảng khẩu (optional ports) trong trường hợp này người ta có thể quy định bằng một trong hai phương pháp sau:
    • Trong thuật ngữ về điều kiện cơ sở giao hàng, các bên giao dịch lựa chọn thêm một cảng thứ hai hoặc thứ ba, ví dụ: FOB Hămbua/ Rot-tec-dam/ Am-xtec-dam; điều kiện CIF Luân đôn/ Rortecdam/ Hămbua.
      • Các bên giao dịch quy định những cảng chủ yếu của một khu vực nào đó được coi là cảng lựa chọn đối với một trong hai bên. Ví dụ, nếu các bên quy định: “ CIF European main ports” hoặc “CIF EMP” thì đến lúc giao hàng, bên mua có thể chỉ định bất cứ một cảng nào đó trong số các cảng chủ yếu của Châu Âu làm cảng hàng đến.

    Thật ra trong cách quy định thứ hai này vẫn có thể xảy ra tranh chấp vì, trong số các cảng của Châu Âu hiện nay vẫn chưa có một quy định cụ thể những cảng nào là cảng chủ yếu.

    4. Phương thức giao hàng.

    Thực tiễn giao hàng trong mua bán hàng hoá đã làm nảy sinh nhiều phương thức giao hàng.

    31

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Người ta có thể quy định việc giao nhận được tiến hành ở một nơi nào đó là giao nhận cuối cùng. Việc giao nhận sơ bộ thường được tiến hành ở ngay địa điểm sản xuất hàng hoá hoặc ở nơi gửi hàng. Việc giao nhận sơ bộ thường có mục đích là bước đầu xem xét hàng hoá, xác định sự phù hợp về số lượng và chất lượng hàng so với quy định trong hợp đồng. Trong khi giao nhận sơ bộ, người mua có quyền đòi hỏi khắc phục khuyết điểm hàng hoá trước khi giao hàng. Việc giao nhận cuối cùng có mục đích xác nhận việc người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng về các mặt số lượng, chất lượng hàng, thời gian giao hàng. Qua đó, hai bên thừa nhận các kết quả kiểm tra hàng hoá đã lấy được ở nơi giao nhận cuối cùng. Người ta cũng có thể quy định việc giao nhận được tiến hành ở một địa điểm nào đó là việc giao nhận về số lượng hoặc là việc giao nhận về chất lượng.

    Giao nhận về số lượng là xác định số lượng thực tế của hàng được giao bằng các phương pháp cân, đo, đếm. Việc giao nhận bằng số lượng được tiến hành ở đâu là tuỳ theo điều khoản quy định trong hợp đồng. Ví dụ, nếu hợp đồng quy định “ trọng lượng bốc hàng” thì địa điểm xác định trọng lượng là cảng gửi hàng, thời gian xác định là khi giao hàng.

    5. Thông báo giao hàng.

    Các điều kiện cơ sở giao hàng đã bao hàm nghĩa vụ về thông báo giao hàng. Nhưng, bên cạnh đó, các bên giao dịch thường vẫn thoả thuận thêm về nghĩa vụ thông báo giao hàng. Trong khi thoả thuận về việc này, người ta thường quy định về số lần thông báo giao hàng và những nội dung cần được thông báo.

    Thời gian hoàn thành nghĩa vụ giao hàng được khá nhiều hợp đồng mẫu quan tâm quy định. Theo phần lớn các hợp đồng mẫu, ngày giao hàng được xác định “bằng ngày vận đơn được cấp hoặc sẽ được cấp” (tiếng anh: as per bill of lading dated or to be dated). Đa số các hợp đồng thuộc loại này còn quy định rằng, nếu không có bằng chứng khác thì vận đơn đường biển được công nhận là bằng chứng ngày bốc hàng lên tầu. Một số hợp đồng còn đề cao giá trị này của vận đơn bằng cách quy định rằng nếu muốn phủ nhận bằng chứng của vận đơn thì phải đưa ra bằng chứng “có khả năng thuyết phục” (conclusive). Những hợp đồng khác không công nhận những bằng chứng khác ngoài vận đơn về ngày bốc hàng.

    32

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Vì ngày của vận đơn quan trọng như thế cho nên để xác định thời gian hoàn thành việc giao hàng các hợp đồng thường quy định khi nào thì ghi ngày vào vận đơn. Đa số hợp đồng ngũ cốc của London quy định vận đơn phải đề ngày hàng thực sự đã nằm trên tầu biển, các vận đơn nhận hàng để xếp (Received for shipment bill of lading) không được công nhận là hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.

    Hầu hết các hợp đồng mẫu đều có một hay nhiều điều khoản cho hoãn hoặc miễn giao hàng nếu gặp những trở ngại khách quan (không phụ thuộc vào đương sự) cản trở việc giao hàng đó. Điều khoản này có thể mang tên là điều khoản “trường hợp bất khả kháng” (Force majeure), điều khoản “ngoại lệ” (exception) điều khoản “miễn trách”

    Thông thường thời hạn giao hàng được hoãn trong một thời gian tương ứng với thời gian diễn biến của trở ngại cộng với thời gian khắc phục hậu quả của nó để thực hiện hợp đồng. Khi trở ngại kéo dài, quá một thời gian đã được quy định thì, với những điều kiện nhất định, một bên có thể yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng.

    Một số hợp đồng không quy định thời hạn cụ thể để sau đó có thể yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng. Mà chỉ quy định đó chỉ là thời gian quy định hợp lý (Reasonable time). Cũng có hợp đồng mà, nếu ta suy diễn từng chữ trong đó, lại không cho huỷ hợp đồng, không kể tới thời gian dài hay ngắn của sự việc trở ngại, đương sự vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.

    Ngoài nguyên nhân khách quan trên đây, việc giao hàng có khi còn phụ thuộc vào chủ quan của đương sự. ở một vài hợp đồng mẫu, chúng ta có một điều khoản đặc biệt, gọi là “điều khoản gia hạn” (extension clause), cho đương sự được quyền hoãn giao trong một vài ngày (có thể tối đa là 8 ngày), miễn là phải trả cho đối tác của mình một khoản tiền thích ứng. Như vậy, người bán có quyền lựa chọn quyền giao hàng đúng hạn với việc hoãn giao hàng và chịu phạt. Nhưng khi sử dụng quyền hoãn giao hàng người bán phải báo cho người mua biết.

    6. Những quy định khác về việc giao hàng.

    Ngoài những vấn đề nêu trên, trong điều kiện giao dịch, căn cứ vào nhu cầu của bên mua, vào khả năng của bên bán và vào những đặc điểm của hàng hoá, người ta có những quy định đặc biệt như sau:

    33

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Đối với những hàng hoá có khối lượng lớn, người ta có thể quy định “cho phép giao hàng từng đợt” (partial shipment).
    • Nếu trên dọc đường đi cần phải thay đổi phương tiện vận chuyển, người ta có thể quy định “cho phép chuyển tải” (transhipment alloed).
    • Nếu cảng gửi hàng ở gần cảng đến, khi hành trình của giấy tờ lại chậm hơn hành trình hàng hoá, người ta có thể quy định “ vận đơn đến chậm được chấp nhận”.
    • Nếu người bán uỷ nhiệm cho một người thứ ba đứng ra thay mặt mình đứng ra giao hàng, người ta có thể quy định “vận đơn người thứ ba được chấp nhận” (thirdparty B/L acceptable).

    VI. ĐIỀU KHOẢN VẬN TẢI:

     

    Trong điều khoản vận tải của các hợp đồng người ta thường nêu lên những vấn đề sau:

    1. a. Quy định tiêu chuẩn về con tầu trở hàng như: tầu có khả năng đi biển, phải được xếp loại A theo đăng kiểm của Loyd’s hoặc tầu phải dưới 15 tuổi sử dụng, hoặc phụ phí tầu già (OAP) phải do người thuê tầu chịu.
    1. Quy định về nước bốc dỡ, thời gian bốc dỡ, thưởng phạt bốc dỡ.
    1. Quy định về thời gian bắt đầu tính thời gian bốc dỡ.
    1. Quy định về điều kiện để tống đạt thông báo sẵn sàng bốc dỡ như:

     

    • WIBON (whether in berth or not) dù ở cầu cảng hay chưa.
    • WIPON (whether in port or not) dù ở cảng hay chưa.
    • WIFPON (whether in free pratique or not) dù đã được tự do tiếp xúc với bờ hay chưa.
    • WICCON (whether in custom’s clearance or not) dù đã thông quan hay

    chưa.

    1. Quy định về thưởng (Despatch money) và phạt (Demurrage) bốc dỡ.

    Cũng có khi, người ta không quy định thưởng phạt bằng cách quy định chung chung như “mức bốc dỡ nhanh thường lệ” ( CQD-customary quick despatch)

    Ngoài những điều kiện trên đây trong quá trình giao dịch tuỳ từng tình hình cụ thể, các bên có thể đề ra những điều kiện khác ví dụ:

    34

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Điều kiện cấm chuyển bán, thu hẹp quyền hạn của bên mua, không cho bên mua được bán lại hàng hoá mà mình đã mua theo một hợp đồng nhất định.
    • Điều kiện về quyền lựa chọn: cho phép một bên được lựa chọn về một nội dung nào đó của hợp đồng như: lựa chọn về số lượng dung sai, lựa chọn cảng giao hàng…
    • Điều kiện chế tài quy định các loại phạt, phạt bội ước, bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng phải chịu.
    • Điều kiện quy định trình tự thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng.
    • Điều kiện cấm chuyển nhượng quyền lợi và nghĩa vụ cho một bên thứ ba, nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của bên cùng ký kết hợp đồng.
    • .v.v…

    Các điều kiện trên đây đều có tính chất tuỳ ý, cho phép hai bên được tự nguyện vận dụng. Nhưng một khi đã được vận dụng vào hợp đồng, chúng trở thành bắt buộc với các bên ký kết và phải được thực hiện nghiêm chỉnh.

    Trong buôn bán quốc tế, nhiều công ty hoặc hiệp hội công nghiệp ghi sẵn những điều kiện giao dịch có lợi cho mình vào một văn bản gọi là “Standard form contract” hoặc “điều kiện chung bán hàng” (General conditions of sale) hoặc “điều kiện chung giao hàng” (General conditions for delivery of goods) của họ. Mỗi khi đàm phán ký kết hợp đồng, họ đưa ra một số dự thảo sẵn của hợp đồng để làm căn cứ thảo luận. Tuy nhiên, nếu gặp đối thủ yếu thế hơn so với họ, hoặc đối thủ có sơ xuất trong việc kiểm tra các điều khoản của hợp đồng, họ cũng không ngần ngại buộc đối thủ phải chấp nhận các điều kiện do họ đưa ra.

    VII -ĐIỀU KHOẢN GIÁ CẢ VÀ THANH TOÁN.

    1. Đồng tiền của hợp đồng.

    Trong giao dịch buôn bán điều kiện gía cả là một điều kiện quan trọng, điều khoản giá cả những vấn đề : đồng tiền tính giá, mức giá, phương pháp quy định giá, phương pháp xác định mức giá, cơ sở của giá cả và việc giảm giá.

    Các hợp đồng mẫu trong các sở giao dịch hàng hoá thường có in sẵn đơn vị tiền tệ là đồng tiền của địa phương. Còn trong các hợp đồng mẫu khác, đồng tiền của hợp đồng được ghi là đồng tiền ổn định, thậm chí đang lên giá. Ngược lại, nếu đó là người mua thì, do tâm lý sợ giảm sút tài sản hiện có và

    35

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    muốn chuyển đổi đồng tiền mất giá mau chóng thành hàng hóa, đồng tiền của hợp đồng có thể là đồng tiền mất giá, không ổn định.

    Bên cạnh nhân tố trên đây, sự lựa chọn đồng tiền của hợp đồng còn phụ thuộc vào tập quán của ngành – hàng. Ví dụ các hợp đồng mẫu về cao su thường dùng đồng bảng Anh (GBP), nhiều hợp đồng mẫu về ngành – hàng khác lại dùng đồng đô la Mỹ (USD). Nhân tố này vẫn có thể thay đổi. Cụ thể, thước chiến tranh thế giới thứ hai, các hợp đồng bông thường dùng đồng bảng Anh, nhưng đến nay các hợp đồng về mặt hàng này lại thường dùng đồng đô la Mỹ.

    Không phải bao giờ đồng tiền tính giá cũng là đồng tiền thanh toán. Trong trường hợp giá cả ghi bằng một đồng tiền, thanh toán lại là một đồng tiền khác, hợp đồng có qui định tỷ giá để chuyển đổi. Tỷ giá đó có thể là một đồng tiền khác, hợp đồng có qui định tỷ giá để chuyển đổi. Tỷ giá đó có thể là tỷ giá do Ngân hàng trung ương công bố hoặc là tỷ giá hình thành trên thị trường hối đoái. Thời gian công bố có thể là lúc mở cửa chợ/ mở cửa ngân hàng (opening rate) hoặc là lúc đóng cửa cợ / đóng cửa ngân hàng (closing rate). Thường thường, tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra bao giờ cũng có chênh lệch, cho nên hợp đồng cũng phải qui định rõ tỷ giá nào được áp dụng.

    Sự biến động của tỷ giá hối đoái ngày nay rất nhanh chóng và hợp đồng mẫu lại được soạn thảo cho một thời gian không quá ngắn, cho nên điều khoản đảm bảo hối đoái có thể lúc này có lợi cho tập đoàn, lúc khác lại bất lợi cho họ.

    2. Giá cả của hợp đồng.

    Giá cả trong các hợp đồng ngoại thương là gía quốc tế. Việc xuất khẩu thấp hơn giá quốc tế và nhập khẩu cao hơn giá quốc tế làm tổn hại dến tài sản quốc gia. Vì vậy, trước khi ký hợp đồng, các bên phải tuân theo những nguyên tắc xác định giá quốc tế.

    Trong buôn bán một số mặt hàng (như qặng, kim loại, lương thực, thực phẩm… chẳng hạn) giá cả lại được xác định theo hàm lượng của chất hữu ích trong hàng hoá mua bán. Nếu hàm lượng chất đó càng giàu thì giá cả càng cao. Nếu hàm lượng chất hữu ích càng thấp thì giá cả càng hạ. Trong không ít hợp đồng. Giá cả lại được xác định ngay vào khi ký kết, nhưng kèm theo giá đó có điều khoản về mức tăng giá khi hàng được giao có hàm lượng chất hữu ích cao hơn qui định của hợp đồng. Mức tăng giá đó gọi là tăng gia về chất lượng hàng

    36

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    (bonification). Ngược lại, khi hàm lượng chất hữu ích trong hàng được giao lại thấp hơn so với qui định, mức giảm giá tương ứng gọi là giảm giá về chất lượng hàng (refaction).

    Trong một số hợp đồng mẫu về quặng, người mua còn đề ra những qui định bất lợi cho người bán như: Nếu hàm lượng chất hữu ích thấp hơn qui định, người bán chẳng những phải hạ giá mà còn phải hoàn lại một phần tiền cước mà người bán đã phải trả cho người vận tải. Phần cước phải hoàn lại này tương ứng với phần tạp chất vô ích đã có trong khối lượng hàng chuyên chở.

    Một số hợp đồng mẫu qui định giá hàng giao rời (tức “để xá”), không đóng gói), và giá hàng có bao bì. Giá có bao bì thường cao hơn giá hàng giao rời.

    Đa số hợp đồng trực tiếp xác định giá, có thể là giá cố định (fixed price), có thể là giá linh hoạt (flexible price). Trong trường hợp này, hợp đồng có thể qui định giá bằng một con số, ví dụ: Đơn giá…. USD (Unit price:…USD). Nhưng cũng có khi giá cả được qui định bằng hai con số là giá và mức giảm giá, ví dụ: Giá đơnvị….USD giảm giá…% (Unit price: USD…. To be discounted ….%)

    Trong ngành buôn bán quặng, hợp đồng có thể qui định giá cơ sở (basic price) và, kèm theo hợp đồng, có cả một bản tính toán mức tăng giá thời vụ (seasonal discount), giảm giá trả tiền sớm (cash discount), giảm giá vì số lượng lớn (quantiy discount),v,v…

    Một số hợp đồng lại qui định giá một cách gián tiếp. Theo cách này, hợp đồng chỉ qui định phương pháp xác định mức giá, ví dụ giá phải cao hơn giá yết bảng ở sở giao dịch. Lại có trường hợp, hợp đồng thoả thuận lấy làm giá hợp đồng giá yết bảng ở một sở giao dịch hàng hoá vào một thời điểm nào đó tuỳ người bán chọn (on seller’s call) hoặc tuỳ người mua chọn (on Buyer’s call).

    Tất nhiên, dù qui định bằng cách nào, hợp đồng cũng phải xác định những vấn đề sau đây: Giá đó tương ứng với điều kiện giao hàng nào (FOB, CIF, CFR, FCA v.v…). Giá đó đã bao gồm chi phí bao bì hay chưa?

    3. Một số vấn đề về việc thanh toán.

    Nếu giao hàng là nghĩa vụ quan trọng của người bán thì trả tiền cũng là nghĩa vụ rất quan trọng của người mua. Vì vậy, bên cạnh điều khoản giao

    37

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    hàng, các hợp đồng mẫu đều có điều khoản trả tiền (ở các hợp đồng mẫu bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, điều khoản này ghi là “payment”, còn các hợp đồng mẫu tiếng Đức ghi là “Zahlung”.

    Trong nghiệp vụ xuất khẩu hàng ngũ cốc, các hợp đồng mẫu thường người mua trả tiền sớm, thậm chí trả tiền trước khi giao hàng (CBD – cash berore delivery) hoặc trả tiền ngay khi ký hợp đồng (CWO –cash with order) hoặc trả tiền trước với ý nghiã đặt cọc (down payment.)

    Trong khi đó, những hợp đồng mẫu do các liên doàn soạn thảo để nhập khẩu lại thường quy định trả chậm, trả sau (deferred payment) hoặc trả sau thành nhiều kỳ bằng nhau (instalment payment)

    Trong lĩnh vực buôn bán da sống, có hợp đồng qui định là trả ngay, nhưng điều khoản trả tiền vẫn bất lợi cho người bán. Ví dụ, người ta qui định “trả ngay vào lúc giao hàng ở cảng đến” (cash on delivery at port of destination.)

    Trong không ít trường hợp, hợp đồng mẫu nhập khẩu cho bên mua được quyền chọn thời hạn trả tiền trong phạm vi một thời hạn quy định. Nếu trả tiền sớm, trước hạn thì người mua được hưởng một khoản giảm giá, gọi là “giảm giá trả tiền sớm” (cash discount)

    Về thời hạn trả tiền, một số hợp đồng mẫu của London chỉ đề chung chung như: Trả tiền trong thời hạn thích đáng (in due course hặc due days) hay trả gấp (prompt)… Hợp đồng cũng không giải thích những thuật ngữ đó là bao nhiêu ngày.

    Việc trả tiền có thể tiến hành làm một lần, có thể làm hai lần: Tạm tính và thanh toán chính thức. Việc tạm tính thường sảy ra trong hai trường hợp sau:

    1. Hợp đồng qui định lấy số lượng và/ hoặc chất lượng hàng ở cảng đến làm căn cứ quyết định để thanh toán. Khi đó, sau lúc giao hàng ở cảng đi, người bán chỉ thanh toán tạm thười bằng một hoá đơn tạm tính (Provisional Invoice hoặc Facture provisoire hoặc Provisorisch Rechnung ). Sau khi hàng đã được giao nhận chính thức về số lượng và / hoặc chất lượng tại cảng đến, người bán mới làm hoá đơn chính thức (final Invoice hặc facture finale hặc Schlut – Rechnung ) để thanh toán dứt khoát.

    38

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Hàng được giao làm nhiều lần, cứ mỗi lần giao hàng, người bán chỉ làm hoá đơn tạm tính. Chỉ sau khi hàng được giao lần cuối cùng, người bán mới làm hoá đơn chính thức để thanh toán dứt khoát tiền hàng.

    Trong các hợp đồng mẫu được soạn thảo từ những năm 60 trở về trước, vẫn còn có trường hợp trong đó qui định việc trả tiền tiến hành trên cơ sở thực tế hàng giao. Nhưng trong những hợp đồng soạn thảo gần đây, tuyệt đại bộ phận qui định trả tiền trên cơ sở chứng từ (cash againt docments)

    Trong số những chứng từ hàng hoá làm cơ sở để thanh toán tiền hàng, chứng từ quan trọng nhất là vận đơn. Tuỳ theo phương thức vận tải, đó có thể là vận đơn đường biển (ocean bill of lading ), vận đơn đường sắt (Railway bill) vận đơn ô tô (Bill of truck….) Nếu hàng được chở bằng container, vận đơn đó có thể là vận đơn giao nhận gọn container (FCL –full container load) hoặc vận đơn tập hơp (housed B/L) khi hàng xếp không đủ container (LCL-less than container load). Điều quan trọng là vận dơn phải hoàn hảo (clean bill of lading), nghĩa là không có phê chú xấu về tình trạng bên ngoài của hàng hoá.

    Sở dĩ vận đơn là chứng từ quan trọng nhất vì nó có tới ba chức năng: là bằng chứng của một hợp đồng vận tải đã được ký kết; là biên lại của người vận tải về việc đã nhận hàng để chở và là chứng từ sở hữu hàng hoá đang được chuyên chở trên tàu. Chính là do chức năng thứ ba này của vận đơn, người ta có thể mua bán hàng hoá bằng cách chuyển nhượng vận đơn về hàng đó.

    Trong các hợp đồng mẫu đôi khi người ta lại qui định chứng từ làm cơ sở thanh toán tiền hàng là chứng chỉ lưu kho (warehouse warrant). Thông thường, đây là trường hợp mua bán hàng hiện vật (spot transaction)

    Về phương thức trả tiền được quy định trong các hợp đồng mẫu, phổ biến nhất là sự vận dụng phương thức tín dụng chứng từ (documentary credit) Phương thức này còn gọi là phương thức thư tín dụng (Letter of credit – viết tắt là L/C) vì thư này chứa đựng cam kết của ngân hàng về việc trả tiền hàng đầy đủ cho bên bán, hoặc cho một người được bên bán chỉ định, nếu bên bán thoả mãn những yêu cầu đề ra trong thư. Về sự giải thích nội dung L/C, thường thường các hợp đồng mẫu dẫn chiếu đến văn bản do Phòng thương mại quốc tế ấn hành, có tên gọi là “Điều lệ và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ” (Uniform Custom and Practice for Documentary Credit – Viết tắt UCP). Loại

    39

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    thư tín dụng được dùng nhiều là thư tính dụng không huỷ ngang (irrevocable L/C).

    Một số hợp đồng mẫu lại qui định tiền hàng được trả bằng phương thức nhờ thu. Hối phiếu dùng trong nhờ thu có thể không kèm chứng từ (nhờ thu phiếu trơn – clean bill collection ) hoặc có kèm chứng từ ( nhờ thu kèm chứng từ – chứng từ để nhận hàng, người mua hoặc phải trả tiền (Documents against payment – viết tăt D/P), hoặc chấp nhận trả tiền (Documents against acceptance – viết tắt D/A). Một số ít hợp đồng mẫu qui định dùng tiền mặt để trả tiền hàng ( cash payment ). Tuy nhiên, theo quan điểm của họ, séc cũng được coi là tiền mặt.

    Phương thức ghi sổ (Open account) cũng được dùng trong các hợp đồng mẫu về buôn bán đối lưu.

    Để làm ví dụ cho tính phức tạp của điều khoản “trả tiền”, chúng tôi xin ghi dưới đây điều khoản cùng tên trích từ hợp đồng mẫu về xuất khẩu cảu tập đoàn Sumitomo (Nhật bản)

    “Trả tiền”: Nếu việc trả tiền hàng được tiến hành bằng L/C thì, ngay sau khi ký kết hợp đồng này, bên mua sẽ thông qua một ngân hàng loại một, có tín nhiệm quốc tế , mở cho Bên bán hưởng một L/C không huỷ ngang dưới hình thức và theo những điều khoản thoả mãn cho Bên bán.

    Nếu lường trước một cách hợp lý thấy Bên mua không trả tiền hàng đúng hạn, không mở L/C hoặc không làm việc gì đó khác để thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng này thì Bên Bán có thể đòi Bên Mua, khi đó trong một khoảng thời gian hợp lý, phải cung cấp một sự bảo đảm đầy đủ, thoả mãn Bên Bán về việc sẽ thực hiện nghiêm túc hợp đồng này, đồng thời Bên bán có thể từ chối gửi hoặc giao những hàng chưa giao cho tới khi nhận được sự bảo đảm đó.

    Bên mua phải trả số tiền hàng được ghi trên mặt trước của hợp đồng này chứ không có quyền bù trừ, hồi tố, bớt giảm hoặc thực hiện những quyền khác mà Bên Mua được làm để chống lại Bên Bán, những quyền đó phải được thực hiện riêng giữa Bên Mua và Bên Bán

    Mọi khoản mới phát sinh, thu bổ xung hoặc tăng thêm về suất cước phí hoặc tiền phụ thu (về nhiên liệu, ngoại tệ, ùn tắc hoặc nhập khẩu hoặc các khoản chi phí luật định khác, hoặc tiền phí bảo hiểm mà Bên bán có thể phải

    40

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    chịu đối với hàng hoá sau khi ký hợp đồng này đều do Bên Mua phải chịu và phải được bên mua hoàn lại cho Bên Bán khi Bên Bán yêu cầu.

    Nếu Bên Mua không trả tiền hàng theo đúng hợp đồng thì bên mua phải trả cho Bên Bán – với tính cách là tiền bồi thường thiệt hại định sẵn chứ không phải là tiền phạt – khoản lợi tức vượt trội tính theo mức lãi suất thấp hơn 18% năm hoặc theo lãi suất tối đa mà luật nước người bán cho phép, tính từ ngày đến hạn trả tiền cho đến ngày thực tế trả tiền, tính trên cơ sở 360 ngày một năm đối với số ngày thực tế quá hạn”

    (Payment: If payment for the Goods shall be made by a letter of credit, Buyer shall establish in favor of Seller an irrevocable letter of credit through a prime bank of good international repute immediately after the conclusion of this contract in a form and upon terms satisfactory to Seller.

    If Buyer’s failure to make payment, to establish a letter of credit or otherwise to perform its obligations hereunder is reasonably anticipated, Seller may demand that Buyer provide, within a reasonable time, adequate assurance is given.

    Buyer shall pay the price specified on the face of this Contract without set-off, counterclaim, recoupment or other similar rights which Buyer may have against Seller , which rights shall be exercised in separate proceedings between Buyer and Seller.

    Any new, additional or increased freight rates, surcharges (bunker, currency, congestion or other surcharges), taxes, customs duties, export or import surcharges or other governmental charges, or insurance premiums, which may incurred by Seller which respect to the Goods after the conclusion of this Contract shall be for the account of Buyer and shall be reimbursed to Seller by Buyer no demand.

    If Buyer fails to pay for the Goods in accordance with this Contract, Buyer shall pay to Seller as liquidated damages and not as penalty overdue interest at the rate of the lower of eighteen percent ( 18%) per annum or the maximum interest rate permitted by the laws of Buyer’s country, clculated from the due date for such payment until the actual date of payment calculated on the 360 days a year vasis for he actual number of days elaped.)

    41

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    VIII. ĐIỀU KHOẢN PHÁP LÝ.

    Trong các hợp đồng mẫu, những điều khoản pháp lý là bộ phận không thể thiếu được. Đó là các điều khoản về luật áp dụng, trường hợp bất khả kháng, trọng tài chuyển nhượng hợp đồng ..v..v..

    1. Luật điều chỉnh hợp đồng (governing law)

    Hợp đồng dù có đầy đủ đến đâu cũng không bao trùm được tất cả các tình tiết có thể xẩy ra, không thể qui định được tất cả những cách sử trí cụ thể cho từng trường hợp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Vì vậy, người ta thường phải dẫn chiếu đến một nguồn luật nào đó có thể được áp dụng vào quan hệ hợp đồng (law applicable to the contract).

    Đa số hợp đồng mẫu quy định luật điều chỉnh hợp đồng là luật của nước người bán hoặc của nước người mua. Cũng có trường hợp người ta lại quy định áp dụng luật của nơi ký kết hợp đồng. Nhìn chung, người soạn thảo hợp đồng mẫu luôn luôn muốn luật của nước mình được áp dụng vào hợp đồng. Vì vậy, chúng có thể đi đến nhận xét chung như sau: Luật áp dụng vào hợp đồng là luật qui định của nước người soạn thảo hợp đồng mẫu.

    Chẳng hạn, hợp đồng mẫu của Sumitomo (Nhật bản) quy định như sau: “Về mọi khía cạnh hợp đồng này phải được điều chỉnh và giải thích phù hợp với luật của nước Nhật Bản” ( This Contract shall be, in all respectes, governed by and construed in accordance with the laws of Japan).

    2.     Trường hợp bất khả kháng và trường hợp trở ngại ( Force majeure and Hardship clause )

    Trong khi thực hiện hợp đồng, một trong hai bên ký kết có thể gặp những hiện tượng khách quan khác thường không lường trước được và không thể khắc phục được, cản trở việc thi hành nghĩa vụ của hợp đồng.

    Những trường hợp xảy ra hiện tượng như thế, trog thương mại, vẫn gọi là trường hợp bất khả kháng (Force majeure). Ghi điều khoản trường hợp bất khả kháng vào hợp đồng, các bên ký kết cho mục đích cho phép đương sự lâm vào trường hợp đó có quyền miễn hoặc hoãn thi hành nghĩa vụ hợp đồng trong một thời gian, tương ứng với thời gian xảy ra bất khả kháng, cộng với thời gian khắc phục hiện tượng đó.

    42

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Trong các hợp đồng mẫu, điều khoản này thường liệt kê hàng loạt trường hợp được gọi là trường hợp bất khả kháng. Ví dụ, trong hợp đồng mẫu do người bán soạn thảo đã ghi như sau:

    “Nếu khi người Bán thực hiện các nghiã vụ theo hợp đồng này trực tiếp hoặc gián tiếp bị ảnh hưởng hoặc bị cản trở bởi hiện tượng bất khả kháng, bao gồm nhưng không hạn chế các trường hợp thiên tai, lụt bão, động đất, sóng thần, đất lở, cháy, tai hoạ, dịch bệnh, tai nạn trên biển, phong tỏa, bị chính phủ, vua chúa hoặc nhân dân bắt giữ hoặc cầm giữ tàu hoặc hỏng hóc toàn bộ hoặc một phần của thiết bị, nhà máy, phương tiện vận tải bốc dỡ, do yêu cầu của chính phủ, của chỉ thị, mệnh lệnh hay quy chế, không sẵn sàng về phương tiện vận tải bốc dỡ, phá sản hoặc khánh kiệt của người sản xuất hoặc cung cấp hàng, hoặc do những nguyên nhân hoặc hoàn cảnh hất kỳ nào khác ngoài sự kiểm soát hợp lý của người bán, người sản xuất hoặc người cung cấp hàng, thì người bán sẽ không chịu trách nhiệm đối với mất mát, hoặc hư hại, hoặc không thực hiện, hoặc chậm thực hiện những nghĩa vụ của mình, có thể kéo dài thời hạn gửi hàng hoặc giao hàng, hoặc chấm dứt vô điều kiện, mà không chịu trách nhiệm gì, bộ phận chưa được thực hiện của hợp đồng này trong chừng mực bị ảnh hưởng hoăc bị cản trở nói trên đây”.

    (If the performance by Seller of its obligations hereunder is directly of indirectly affected or prevented by force majeure, including but not limited to Acts to God, flood, typhoon, earthquake, tidal wave, landslide, fire, plague, epidemic, quarantine restriction, perils of the sea, war declared or not or thread of the same, civil commotion, blockade, arrest of restrain of government, rules of people, requisition of vessel or aircraft, strike, lockout, sabotage or other labor dispute, explosion, accident or breakdown in whole or in part f machinery, plant, transportation or loading facility, governmental request, guidance, order or regulation, unavailability of transportation or loading facility, bankruptcy or insolvever beyond the reasonable control of Seller or manufacturer or supplier of the Goods, then Seller shall not be liable for loss or damage, or failure of or delay in performing its obligations under this Contract and may, at its option, extend he time of shipment or delivery of the Goods or terminate unconditionally and without liability the unfulfilled portion of this Contract to the extent so affected or prevented)

    43

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Cũng tập đoàn ấy trong hợp đồng mẫu về nhập khẩu, lại chỉ quy định rất ngắn gọn như sau:

    “Nếu trong khi bên mua thực hiện các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng này mà lại, trực tiếp bị ảnh hưởng hoặc bị cản trở hởi hiện tượng bất khả kháng, hao gồm nhưng không hạn chế thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh có tuyên bố hoặc không tuyên bố hoặc bị đe doạ nghiêm trọng bởi chiến tranh, dân bến, đình công hoặc tranh chấp lao động khác, có lệnh hoặc quy chế cấm của chính phủ, hoặc do các nguyên nhân khác ngoài sự kiểm soát hợp lý của bên Mua hoặc của khách hàng của bên mua , bên mua sẽ không chịu trách nhiệm đối với những mất mát, hoặc tổn thất , hoặc việc không thực hiện hoặc việc chậm trễ thực hiện các nghĩa vụ của mình và, tuỳ theo sự xem xét của mình, có thể chấm dứt hợp đồng này hoặc một bộ phận của hợp đồng này”

    (If the performance by Buyer of its obligations hereunder is directly affeted or prevented by force majeure, including but limited to Acts of God, fire, war or serious threat of the same, civil commotion, strike or other labor dispute, governmental order or regulaton or any other causes beyond the reasonable control of Buyer or Buyer’s customer(s), Buyer shall not be liable for loss or damage, or failure of or delay in performing its obligations hereunder and may, at its sole discreation, terminate this Contract or any portion thereof.)

    Trong những hợp đồng mẫu mới được soạn thảo gần dây, người ta đã đưa ra một phạm trù mới: Trường hợp khó khăn (Hardship). Đó là những hiện tượng khách quan gây trở ngại cho việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nhưng không đến nỗi “ không thể khắc phục được”.

    Nghiên cứu về “các hợp đồng mua bán quốc tế”. Tiến sĩ James R. Pinnells (Phần Lan) cho biết rằng khái niệm về “ trường hợp trở ngại” mới ra đời gần đây và đang trong quá trình phát triển. Có lẽ chính vì lý do đó, khi soạn thảo điều khoản trường hợp trở ngại của hợp đồng mẫu, người bán thường nêu lên một danh mục rất rộng những trường hợp được gọi là “trở ngại”.

    3. Chế tài (Sanction).

    Nghiên cứu các hợp đồng mẫu, chúng ta thường gặp các chế tài về việc không thực hiện hợp đồng – đó là phạt, giảm gía và bồi thường thiệt hai.

    44

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Chế tài phạt được ghi ở các hợp đồng mẫu của lục địa Châu Âu là “phạt bội ước” ( Penalty) và, ở các hợp đồng của Anh – Mỹ là “tiền bồi thường định trước” (liquidated demages). Mức phạt được quy định ở mỗi hợp đồng một khác tuỳ theo mặt hàng, người soạn thảo hợp đồng mẫu và tình hình thị trường.

    Chế tài giảm giá hàng được áp dụng trong trường hợp người bán giao hàng có phẩm chât kém hơn phẩm chất qui định trong hợp đồng hoặc giao hàng chậm chễ … mức % giảm giá hàng được qui định mỗi lúc một khác. Hợp đồng mẫu cũng có khi quy định việc bồi thường thiệt hại nêú một bên thực hiện không nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình, gây nên thiệt hại cho đối phương, chẳng hạn như chậm hoặc không giao hàng, chậm hoặc không trả tiền hàng…

    4. Giải quyết tranh chấp (settlement of disputes)

    Đối với những tranh chấp hoặc bất đồng ý kiến, các hợp đồng mẫu đề ra nhiều cách giải quyết khác nhau.

    Có hợp đồng mẫu quy định việc hai bên trước hết phải thương lượng với nhau, nếu thương lượng với nhau không thành công thì tranh chấp mới được đưa ra trọng tài hoặc toà án, ví dụ:

    “Mọi tranh chấp và bất đồng có thể xảy ra từ hợp đồng này hoặc có liên quan đến hợp đồng này phải được giải quyết bằng cách hữu nghị, nếu có thể. Nếu không thể giải quyết bằng cách hữu nghị, hai bên sẽ đưa ra trọng tài phòng thương mại quốc tế tại Paris”.

    (All disputes and differences which may arise out of the present contract or in connection with it shall be settled, if possible, in an amicable way.

    In the event that it is not possible to settle them in an amicable way, the parties shall refer the matter to Arbitration in the International Chamber of Commerce in Paris)

    Có hợp đồng mẫu lại quy định việc giải quyết tranh chấp bằng toà án, ví dụ: “Mọi tranh chấp và bất đồng có thể xảy ra từ hợp đồng này hoặc có liên quan đến hợp đồng này sẽ phải đưa ra và xác định bởi Toà án Anh quốc và các bên phải tuân theo quyền tài phán độc nhất của các toà án Anh”.

    (Any dispute and difference between the parties arising under, out of, or in connection with the present contract shall be refered to and determined by the English courts and parties hereto submit themselves to the exclusive jurisdiction of the English courts)

    45

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Đa số các hợp đồng mẫu lựa chọn cách giải quyết bằng trọng tài. Trong cách giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, có hợp đồng mẫu (ví dụ hợp đồng mẫu của liên đoàn ngũ cốc và thực phẩm GAFTA) quy định trọng tài trọng vụ (ad –hoc arbitration ) theo thể thức được quy định sẵn của mình.

    Nhiều hợp đồng mẫu quy định việc sử dụng trọng tài quy chế (Institutional Arbitration) cả nước mình. Ví dụ:

    “Mọi bất đồng hoặc khiếu nại xảy ra từ hoặc có liên quan đến hợp đồng này, hoặc mọi sự vi phạm hợp đồng, sẽ được giải quyết bằng trọng tài theo quy tắc Trọng tài Thương mại của hiệp hội trọng tài Mỹ và phán quyết theo quýêt định của (các) trọng tài viên sẽ có hiệu lực tại bất cứ toà án nào có thẩm quyền xét xử vụ đó”

    (Any controversy or claim arising out of or relating to ths contract, or the breach thereof, shall be settle by arbitratiion in accordance with the Commercial Arbitration Rules of the American Arbitration Association, and judgement upon the award rendered by the Arbitrator(s) may be entered in any Court having juridiction thereof.)

    Có hợp đồng mẫu lại dẫn chiếu đến quy tắc trọng tài của một tổ chức nào đó.

    Ví dụ:

    “Mọi tranh chấp, khiếu nại xảy ra từ hoặc có liên quan đến hợp đồng này, hoặc sự vi phạm, sự chấm dứt hoặc sự vô hiệu của hợp đồng này, phải được giải quyết bằng trọng tài, phù hợp với quy tắc trọng tài của Uỷ ban Liên hợp quốc về luật thương mại đang hiện hành”.

    (Any controversy of claim arising out of or relating to this contract, or the breach, termination or invalidity thereof, shall be setted by arbitratiion in accordance with the UNCITRAL Arbitration Rules at present in force)

    Tóm tại, hợp đồng mẫu bao giờ cũng có nội dung phong phú, toàn diện hơn các hợp đồng soản thảo tức thời. Điều này không những xuất phát từ động cơ tránh hiểu lầm, tránh không thống nhất giải thích, tránh những tranh chấp và kiện tụng, mà còn xuất phát từ việc bảo vệ quyền lợi và giành lợi thế trong buôn bán. Nội dung của các hợp đồng mẫu cũng được quy định khác nhau, tuỳ theo địa phương áp dụng hợp đồng mẫu, tuỳ theo bạn hàng mua bán thường xuyên. Sự khác nhau này sẽ được nghiên cứu cụ thể hơn ở chương sau.

    46

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    MỘT SỐ HỢP ĐỒNG MẪU TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ

    1. Hợp đồng về ngũ cốc
    1. Việc xác định phẩm chất và trạng thái của hàng ngũ cốc

    Trong buôn bán quốc tế, hàng ngũ cốc là một trong những mặt hàng có những đặc điểm sau đây:

    • Khối lượng lớn,
    • Phẩm chất được tiêu chuẩn hoá cao
    • Mỗi lô hàng có tính đồng đều cao

    Người sản xuất khá phân tán và thường không trực tiếp xuất nhập khẩu. Vì những đặc điển này, cho nên mặc dù cách giải quyết những vấn đề riêng lẻ có phần khác nhau, nhưng từ lâu trong buôn bán quốc tế đã có những trình tự kỹ thuật thống nhất về ký kết hợp đồng.

    Nhiều khi hợp đồng mẫu được xây dựng cho một nhóm hàng và có tên gọi riêng. Ví dụ: các hợp đồng ngũ cốc của Pháp có đầu đề “ Grains et graines” (hạt và giống), của Italy đều có đầu đề “ cereany” (ngũ cốc) và của Đức có đầu đề “Getrede” (ngũ cốc) các mẫu hợp đồng của Anh không ghi đầu đề

    Nhiều hợp đồng mẫu được xây dựng cho từng mặt hàng như lúa mạch, thóc gạo, đậu đỗ…. cũng có khi hợp đồng được xây dựng cho một mặt hàng như: kiều mạch, đại mạch, ngô, gạo… tuy nhiên trong tất cả các trường hợp, hợp đồng đều để trống phần tên hàng để cho các bên ký kết ghi thêm tên mặt hàng cụ thể. Ví dụ họ có thể ghi “ngô vàng”, “ngô trắng”, “gạo hạt tròn”, “gạo hạt dài”…

    Cách xác định phẩm chất thường được in sẵn trong hợp đồng với hai ba phương án (Option) để các bên có thể chọn dùng một trong những phương pháp như:

    Theo mẫu hàng, theo hàm lượng chất chủ yếu, theo tiêu chuẩn phẩm cấp, theo mô tả các chỉ tiêu chất lượng …

    Nếu đã sử dụng một phương pháp thì xoá bỏ các phương pháp khác

    Phổ biến trong các hợp đồng mẫu là sử dụng chỉ tiêu FAQ. Chỉ tiêu này được một tổ chức chỉ định trong hợp đồng tiến hành xác định và công bố. Muốn vậy, lúc bốc hàng, người bán phải lấy mẫu đúng qui định, niêm phong theo thủ tục quy định. Sau khi thừa nhận là FAQ, mẫu cần được lưu ở một tổ chức hay một người thứ 3 do hai bên qui định trong hợp đồng

    47

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Hợp đồng mẫu cũng chỉ định tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm – hàng hoá. Tuy nhiên nếu người bán mạnh hơn về mặt tài chính thì người này đưa vào hợp đồng những điều khoản quy định rằng giấy chứng nhận phẩm chất cả bán (hoặc người sản xuất) cấp sẽ coi là giấy chứng nhận cuối cùng.

    Thông thường hợp đồng quy định người bán không chịu trách nhiêm về các khuyết điểm kín (inherent vice) của hàng hoá.

    Hầu hết các hợp đồng ngũ cốc đều quy định rằng hàng giao xuống tàu phải trong tình trạng tốt đẹp (of good conditions), trong trạng thái bao bì thích đáng như: bao bì xuất khẩu, bao bì đường biển v.v…

    1. Đơn vị tính số lượng dung sai và cách tính giá dung sai.

    Hai hệ thống đo lường thường được dùng: các hợp đồng của Anh dùng hệ thống Avoir Dupois, còn hợp đồng của lục địa châu Âu thì dùng mét hệ (metric system). Các hợp đồng thường dành cho các đương sự quyền tự do chọn đơn vị trọng lượng. Đơn vị dùng nhiều nhất là tấn: tấn dầu (long ton) và tấn mét (metric ton). Đơn vị nhỏ hơn được dùng là kilogam hay pound. Cũng có khi người ta sử dụng đơn vị đo là dung tích như thùng (bushel), thùng lớn (quarter).

    Người ta cũng qui ước những đơn vị mua bán đối với lúa mạch là 480 pounds, đối với đại mạch là 448 pounds, đối với điều mạch là 320 pounds.

    Các hợp đồng Đức Hà lan lấy tấn mét làm đơn vị tính số lượng. Các hợp đồng Antwerp lấy tạ (100kg) làm đơn vị. Trong khi đó hợp đồng của Liên đoàn Calcutta Grain Oilseed and Tice association tính giá theo đơn vị gọi là Bazar mound (đơnvị này ở Calputta là 37.522kgs, cỏ ở Bombay là 12.7kgs)

    Mức dung sai thường thấy là 5% trên số lượng của cả tầu. Số lượng dung sai có thể được tính theo giá trị của hợp đồng nếu dung sai chỉ nằm trong một phạm vi nhất định. Thông thường dung sai là 2% so với số lượng của hợp đồng thì tính theo giá hợp đồng, nếu quá 2% (nhưng vẫn trong giới hạn ± 5%) thì thính theo giá thị trường.

    Các hợp đồng của London có điểm rất đặc biệt là mức dung sai cho phép rấtnhỏ. Ví dụ trong mẫu của hợp đồng nhập khẩu CIF ngũ cốc từ Ấn độ, mức dung sai là 2%, còn dung sai trong hợp đồng nhập khẩu ngũ cốc từ Mỹ và Canada là 5% tính theo giá hợp đồng và 5% tính theo giá thị trường.

    48

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Nói chung nhiều hợp đồng không qui định trước các biện pháp cần giải quyết khi sốlượng hàng thực giao vượt quá mức dung sai. Một vì hợp đồng của Antwerp quy định rằng “người mua hông buộc phải nhận số lượng hàng vượt quá 5% số lượng ghi trong hợp đồng”. Trái với cách giải quyết trực tiếp hoặc mặc nhiên cho phép, các hợp đồng Đức Hà Lan và một số hợp đồng của Antwerp chỉ cho người mua quyền lựa chọn một trong hai cách thanh toán: Theo giá hợp đồng hoặc theo giá thị trường tại cảng đến vào ngày kết thúc việc dỡ hàng. Thoạt nhìn ta có thể tưởng như biện phápnày khắt khe với người mua (người mua thường là nhà kinh doanh ở các nước phát triển), như thực ra nó lại bảo đảm quyền lợi cho người mua. Nếu người mua không cần tới số lượng được giao vượt thì người này sẽ bán ngay tại địa phương và tính theo giá thị trường. Khi giá thị trường cao hơn giá hợp đồng, người mua chỉ thanh toán theo giá hợp đồng và được hưởng phần chệnh lệch. Nếu giá thị trường thấp hơn giá hợp đồng , người mua sẽ tính với người bán theo giá thị trường, tức là không bị lỗ vốn.

    1. Tăng giá và hạ giá.

    Trong các hợp đồng mẫu vê ngũ cốc thường đặt vấn đề tăng giá và hạ giá. Có những hợp đồng đặt vấn đề này ra nhưng không quy định mức tăng và mức hạ giá là bao nhiêu.

    Hạ giá thường xẩy ra khi phẩm chất sút kém so với mẫu hàng, hoặc so với chỉ tiêu FAQ, hoặc khi trạng thái của hàng xấu đi so với các điều quy định trong hợp đồng ( ví dụ khi hợp đồng có điều khoản liên quan như Rye terms). Trong nhiều hợp đồng của London lại có điều khoản “gửi hàng ở cảng đi” (Shipment clause) quy định như sau: “nếu ngũ cốc đến nơi trong trạng thái xấu thì phải lưu ý đến phẩm chất khi hàng được bốc lên tàu ở cảng đi. Hiện tượng hàng tới nơi trong trạng thái xấu không nhất thiết có nghĩa là hàng được gửi đi đã xấu”

    Khi xảy ra vấn đề hạ giá mà các bên không tự thoả thuận được, họ có thể nhờ trọng tài quyết định. Ngoài ra, các hợp đồng của London còn nói rõ như sau: “nếu hàng đã giao có chênh lệch so với tiêu chuẩn ở mức dưới 0.5% thì không có việc hạ hoặc tăng giá”.

    Một số hợp đồng ngũ cốc quy định rất chi tiết về hạ giá khi tăng mức % tạp chất. Ví dụ hợp đồng Đức Hà lan về ngũ cốc quy định mức hạ giá đối với

    49

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    lúa mạch đen như sau: “ Nếu tạp chất vượt quá nhiều % thì hạ giá 0,5% cho các % thứ nhất, thứ hai, thứ ba và hạ giá 1% cho các tỷ lệ % thứ tư, thứ năm, thứ sáu”.

    Đa số hợp đồng của London và Đức Hà lan công nhận rằng nếu hao hụt dưới 1% thì coi đó là hao hụt tự nhiên, không có vấn đề hạ giá.

    1. Giao hàng và hậu qủa của việc chậm giao hàng.

    Hàng ngũ cốc có đặc điểm là mau bị hư hỏng, cho nên người ký hợp đồng thường quan tâm đến những quy định về thời hạn giao hàng và hiệu quả của việc giao chậm hàng.

    Trong hầu hết các hợp đồng London, Đức hoặc Antwerp đều có điều khoản “cấm đoán” (prohibition clause) quy định rằng: “Nếu hợp đồng không thể thực hiện được hoàn toàn hoặc một phần do có lệnh cấm xuất khẩu, vì phong toả cấm vận hậu chiến tranh thì hợp đồng – hoặc bộ phận chưa thực hiện được của hợp đồng – sẽ phải được huỷ bỏ”

    Trong trường hợp gặp đình công ở cảng bốc hặc cảng dỡ, hợp đồng thường cho đương sự được hoãn giao hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Khi việc đình công kéo dài quá thời hạn này (thường là 4 tuần ): Theo các hợp đồng mẫu của Đức, hai bên có thể hoãn thêm một thời hạn nữa (có thể là 3 tuần); còn theo các hợp đồng mẫu của Anh, hai bên có thể thoả thuận huỷ hợp đồng. Các hợp đồng của Paris không hạn chế việc kéo dài thời hạn giao hàng với điều kiện người bán phải thông báo cho người mua về việc gặp trường hợp bất khả kháng, trong vòng 48 tiếng đồng hồ sau khi hết thời hạn giao hàng lần thứ nhất.

    Việc đóng cửa eo biển nằm trên đường đi giữa cảng bốc và cảng dỡ cũng là một căn cứ để hoãn giao hàng tới 14 ngày theo hợp đồng của Đức Hà Lan, 21 ngày theo hợp đồng của Antwerp, 45 ngày theo hợp đồng của Italia.

    Một hợp đồng London về việc nhập hàng từ Ấn độ vào Anh quy định về vấn đề này như sau: “nếu một bên không hoàn thành hợp đồng thì bên kia, sau khi thông báo bằng thư hoặc điện, có quyền tiếp tục hoặc không tiếp tục hợp đồng như phí tổn về việc này do đương sự không hoàn thành nghĩa vụ phải chịu (against the defaulter)

    Nếu người bán giao chậm, người mua có quỳên đòi bồi thường, mức bồi thường thiệt hại theo thực tế do việc giao chậm gây nên. Nếu hai bên không có

    50

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    thoả thuận về việc bồi thường, trị giá bồi thường sẽ do trọng tài quyết định. Không có một điều kiện nào của hợp đồng hay một hành động nào có liên quan tới hợp đồng có thể dùng làm cơ sở để người mua đòi bồi thường số lãi bị bở lỡ trong một hợp đồng khác mà người mua đã cấu kết ý với người đó, trừ khi trọng tài ra nghị quyết bồi thường về việc này”.

    Một công thức khác được đưa ra trong hợp đồng mua bán ngũ cốc giữa Anh (London Corn Trade association) và Nhật bản. Trong đó, người ta quy định rằng:

    • Nếu người bán chậm giao hàng hoặc chậm thông báo về việc sẵn sàng giao hàng, hợp đồng sẽ bị huỷ bỏ bằng cách bên mua đòi tiền lại (invoicing back) tính cao hơn giá thị trường 2%. Giá này bao giờ cũng được tất cả các bên có liên quan công nhận và chấp hành.
    • Nếu người mua chậm thực hiện hợp đồng (chậm chỉ định tàu, chậm điều tàu đến nhận hàng…) thì sau khi đã báo cho người mua bằng thư hoặc bằng điện, người bán có quyền bán hàng cho người khác và người mua phải chịu phí tổn bán hàng và chênh lệch gía (nếu có)”. Rõ ràng công thức này bất lợi cho người mua.

    Theo các hợp đồng Đức – Hà lan, nếu một bên chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ, bên kia có quyền:

    • Từ chối hợp đồng
    • Bán hàng hoặc mua hàng khác trong vòng 3 ngày tại thị trường tự do hoặc bán đấu giá, với phí tổn do bên gây ra chậm trễ phải chịu.
    • Yêu cầu trọng tài định giá hàng và bồi thường thiệt hại vì chênh lệch

    giá.

    Tuy nhiên, nếu bên bị vi phạm không thông báo ngay cho bên vi phạm thì chỉ được quyền nói ở điểm thứ ba. Còn nếu đã chọn quyền thứ hai (bán hoặc mua hàng) thì trong vòng một tuần vẫn có thể thay đổi để thực hiện quyền thứ ba (hưởng chênh lệch giá).

    1. Kiểm tra hàng hoá.

    Tất cả các hợp đồng ngũ cốc đều quy định việc kiểm tra phẩm chất bằng cách chọn mẫu và phân tích mẫu. Các hợp đồng mẫu của Anh thường quy định việc chọn mẫu tại cảng dỡ hàng, trong thời gian dỡ hàng, hợp đồng FOB bán

    51

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    ngũ cốc của Paris lại quy định chọn mẫu trước khi bốc hàng. Có lẽ đây là một ngoại lệ trong buôn bán ngũ cốc. Nhưng ngoại lệ này có lợi cho người bán.

    Phương pháp chọn mẫu phải bảo đảm cho mẫu đó đại diện được cho phẩm chất bình quân của lô hàng. Nhưng cách chọn mẫu cũng có thể đem lại cái lợi cho người bán hoặc người mua.

    Theo hợp đồng xuất khẩu ngũ cốc từ Ấn độ đi Anh, người mua có quyền yêu cầu lấy mẫu khi dỡ hàng theo cách sau đây: cứ 5 bao thì lấy mẫu ở 1 bao và số bao mẫu nhiều nhất là 60 bao, không kể số hàng để lại coi như không bán. Người mua (ở Anh) sẽ chọn mẫu cuối cùng ở các bao này.

    Các hợp đồng Đức Hà Lan lại chỉ rõ: Nếu hang giao bằng Si-lô thì sẽ không chọn mẫu ở trên tàu. Người ta bắt đầu lấy mẫu từ tấn thứ 7 và sau đó cứ

    • tấn lấy một mẫu. Mẫu được để vào trong bao nhỏ, có dung tích ít nhất là 1 lít. Trên bao phải ghi rõ tên tàu, lô hàng đã dỡ, ngày dỡ hàng, tên người giao hàng và tên người nhận hàng.

    Theo các mẫu hợp đồng của Italia, các mẫu dùng để kiểm tra phẩm chất hàng phải cân được 2kg và tổng số phải ước lượng 100kg. Các hợp đồng của Paris thường hạn chế mẫu là 1kg.

    Chi phí kiểm tra theo hợp đồng của London mua ngũ cốc từ Ấn độ, là do người bán chịu. Nhưng các hợp đồng khác quy định chia đều chi phí kiểm tra cho cả hai bên. Vì có hợp đồng lại quy định “không ai chịu thay cho người khác”, nghĩa là nếu kiểm tra ở cảng đi thì do người bán chịu, nếu kiểm tra ở cảng đến thì do người mua chịu.

    1. Những vấn đề khác.

    Đa số hợp đồng ngũ cốc là hợp đồng CIF. Về cơ bản, đây là hợp đồng giao hàng ở cảng đi (shipment contract). Do đó rủi ro và tổn thất về hàng hoá di chuyển từ người bán sang người mua từ khi hàng qua hẳn lan can tàu ở cảng đi.

    Tuy nhiên không ít hợp đồng mẫu nhập khẩu ngũ cốc từ nước đang phát triển vào nước phát triển lại có những quy định bất lợi cho người bán. Ví dụ họ trút những rủi ro đường biến lên đầu người bán, họ quy định lấy số lượng và/ hoặc phẩm chất ở cảng dỡ hàng làm căn cứ để thanh toán. Như vậy trong những trường hợp này, điều kiện CIF, FOB, CFR chỉ còn là điều kiện về giá cả.

    52

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Sau khi hàng được bốc lên tàu, người bán phải thông báo việc đã giao hàng lên tàu.Người ta coi thông báo này như một thông báo về sự cá biệt hoá hàng hoá (notice of appropriation). Thời hạn thông báo này được quy định ở mỗi hợp đồng một khác.

    Đa số hợp đồng ngũ cốc quy định việc thanh toán tiền hàng trên cơ sở người bán xuất trình chứng từ (cash against documents). Nhưng một hợp đồng của London lại quy định “trả tiền khi giao hàng” (cash on delivery). Song, nếu người bán trả tiền hàng sớm thì được hưởng giảm giá trả sớm” (cash discount). Theo hợp đồng của Italia, nếu chậm trả tiền hàng, người bán phải trả thêm tiền lợi tức theo lãi suất của ngân hàng Italia cộng (+) với 2% tiền phạt và / hoặc bồi thường thiệt hại do việc chậm trả đó gây nên.

    Trong buôn bán ngũ cốc, hàng có thể được chở bằng tàu chợ hoặc tàu chuyến, tiền cước và chi phí bốc và/ hoặc dỡ hàng là những khoản chi phí khá lớn. Vì vậy, trong nhiều hợp đồng người ta quy định cả điều kiện thuê tàu (mớn nước cẩu con tàu, cờ phương tiện, phương tiện bốc dỡ của nó), mức bốc/ dỡ, thưởng phạt bốc / dỡ…

    Hợp đồng bán ngũ cốc cảng Đan mạch quy định rằng tàu của người mua đưa đến phải có mớn nước thích hợp sao cho luôn luôn nổi (always afloat). Nếu người mua thuê tàu quá lớn thì người mua phải chịu chi phí lõng hàng (lighterage)

    Về bảo hiểm, đa số hợp đồng quy định phải bảo hiểm FPA (điều kiện C) hoặc WA (điều kiện B). Hợp đồng Đức Hà Lan lại dành vấn đề này cho các đương sự thoả thuận.

    53

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Hợp đồng ngũ cốc của London.

    Sách báo kinh tế đều nhất trí công nhận rằng trong các hợp đồng mẫu về ngũ cốc, vị trí hàng đầu thuộc về các hợp đồng của London Corn Trade Association và của GAFTA (Grain and Feed Trade Association) nguyên nhân là ở vai trò cổ truyền ở nước Anh, một trong những nước nhập khẩu ngũ cốc lớn nhất thế giới.

    Liên đoàn London Corn Trade Association đã thành lập với hình thức pháp lý hiện nay của nó (hình thức INCORPORATED) từ năm 1986 những hợp đồng mà nó công bố đã là mẫu mực cho các liên đoàn ngành khác muốn khỏi bị lệ thuộc vào các hợp đồng của Anh, họ dần dần tự xây dựng lấy những hợp đồng nhập khẩu riêng của họ. Dù sao, hiện nay các hợp đồng của Anh vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong và ngoài thị trường nước Anh, không những ở các hợp đồng có hãng Anh tham gia mà cả ở các hợp đồng khác nữa. tuy nhiên nguyên nhân là vì các hội viên của London Corn Trade Association không những là các hãng Anh, mà là cả hàng loạt các hãng ngũ cốc của Pháp, Bỉ, Hà lan, Đức, ý, Bắc Âu. ở nước Anh thực tế các hợp đồng này đã lấn át các hợp đồng của Liverpool và Briston vẫn được dùng từ trước cho tới chiến tranh thế giới thứ II.

    Tiêu chuẩn chính để xếp loại các hợp đồng của London là nơi xuất xứ hàng hoá. Chỉ có một ngoại lệ là hợp đồng FOB giành cho mua bán hàng bất kỳ xuất sứ từ đâu. Các hợp đồng giành cho những hàng hoá xuất sứ từ một nước nhất định được xếp theo những tiêu chuẩn khác nhau. Đôi khi chúng được phân chia theo các loại hạng, đồng thời phạm vi của các nhóm hàng cũng khác nhau; ở mỗi trường hợp, nhân tố quyết định để dùng mẫu lại là nơi hàng đến (đến Anh hay Lục địa) có lúc tiêu chuẩn lại là các trở hàng (tầu chuyến hay tầu chợ) hoặc công thức trạng thái bề ngoài được ứng dụng (Tel Quel hay Rye Terms), ở trường hợp khác (lúa mạch Oxtraylia giao chuyến lẻ, chưa biết giao tới đâu), lý do lập ra hai mẫu hợp đồng mẫu mới là vì áp dụng những cách trả tiền đặc biệt. Tiêu chuẩn chủ yếu để chọn mẫu hợp đồng được in ở đầu đề của bản mẫu. Nếu hợp đồng không cho trở hàng bằng thuyền buồm thì ở đầu đề cũng ghi rõ (Steamer or power vessel).

    Từ những điều nói trên ta có thể kết luận rằng các hợp đồng của London đã được nghiên cứu rất sâu và mỗi mẫu xét đủ các vấn đề có thể xảy ra vì đặc

    54

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    điểm cơ cấu của nó. Tất nhiên, chúng được xây dựng theo các quy phạm luật của Anh. Tình trạng này có thể làm cho việc dùng mẫu của London khó khăn mỗi khi luật của Anh không được áp dụng, hoặc vì ở mẫu hợp đồng không ghi nơi giao kết và nơi thực hiện hợp đồng, không ghi địa chỉ của các đương sự, nơi có các đối tượng mua bán hoặc vì các đương sự thoả thuận theo luật của một nước khác.

    Về vấn đề này cần lưu ý đến công thức hết sức tỉ mỉ về địa chỉ pháp lý của các đương sự mà ở tất cả các phương pháp mẫu đều nhắc tới với một hình thức giống nhau.

    Tuy thể lệ của điều khoản này về mặt pháp lý đã có nhiều điều đáng nghi ngờ, nó còn làm cho địa vị pháp lý của các đương sự phức tạp hơn. Hơn nữa, nếu bác bỏ điều khoản này thì cũng không giải quyết được vấn đề, bởi vì nó là cơ sở logic cho nhiều điều khoản khác xây dựng theo luật nước Anh. Lại cần phải chú ý rằng tất cả các mẫu của London đều in sẵn chú thích. London là nơi được coi là trụ sở giao dịch, còn một số mẫu, mặc dù có công thức đầy đủ về nơi ở của các đương sự, nhưng hợp đồng lại ghi thêm câu “trú quán pháp lý

    • London” .

    Các hợp đồng London xây dựng chủ yếu về lợi ích của người nhập khẩu và có nhiều điều khoản chèn ép người bán. Những hợp đồng tương đối có lợi hơn cho người xuất khẩu là những hợp đồng về hàng từ Canađa và Hoa kỳ.

    Cần đặc biệt chú ý phân biệt hợp đồng về ngũ cốc của Baltic là mẫu có thể đưa ra trong trường hợp xuất khẩu ngũ cốc từ Balan. Hợp đồng này bất lợi cho người xuất khẩu, quy định trách nhiệm lớn về việc trạng thái bề ngoài bị xấu đi trong thời gian vận tải (Rye terms)

    Nhưng không như những hợp đồng khác theo điều kiện Rye terms, hợp đồng này không có điều khoản “người bán chịu mọi tổn thất” nhưng từ điểm này, có thể nói rằng người bán không phải chịu trách nhiệm về trạng thái bề ngoài bị xấu vì rủi ro hàng hải. Ngoài ra, còn có những chi tiết sau đây cần chú ý.

    55

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Phẩm chất hàng có thể do các bên đương sự quy định theo tiêu chuẩn FAQ hay theo mẫu. Nhưng dù có quy định như vậy, người bán vẫn phải đảm bảo trọng lượng tính bằng pound Anh của một butxen.

    Không được chở hàng bằng buồm.

    Phần dung sai 2% so với lượng quy định tính theo giá hợp đồng, 3% sau (8% nếu hàng trở cả chuyến tầu) thì theo giá CIF thị trường , căn cứ vào số lượng ngày ký vận đơn. Nếu các đương sự không có thoả thuận về giá thì sẽ do trọng tài quyết định. Dung sai số lượng trong vận đơn thì tính theo giá trị hợp đồng.

    Người mua có quyền chọn cảng nhận hàng và phải sử dụng quyền này trong ngày ký vận đơn. Người bán phải nhắc nhở người mua biết ngày nào người mua phải chỉ thị về việc này.

    Cước vận tải phải trả khi dỡ hàng, trừ khoản tiền ứng trước cho tầu tại cảng bốc hàng hay ứng theo hợp đồng thuê tầu (Charter party).

    Các điều kiện trả tiền tương đối có lợi cho người xuất khẩu: trả tiền mặt tại London trong 3 ngày sau khi nhận được hoá đơn, trả tiền đổi lấy chứng từ giao hàng và/ hay bản sao hợp đồng thuê tầu, trừ khoản tiền hạ giá vì thời gian không sử dụng trong 60 ngày kể từ ngày ký vận đơn, hạ giá theo tỷ lệ 5% một năm hoặc theo mức lãi ngân hàng nếu lãi này cao hơn.

    Hàng bảo hiểm theo giá tối thiểu là giá trị hoá đơn thêm 3%, khoản trị giá bảo hiểm trên 3% chỉ bồi thường cho người bán khi nào hàng mất toàn bộ. Nội dung bảo hiểm là FPA cộng thêm rủi ro chiến tranh, đình công, rủi ro về chuyên trở bằng xà lan. Người mua trả phần phí bảo hiểm chiến tranh vượt 0,5% . Có thể thay đơn bảo hiểm (Policy) bằng một giấy chứng nhận bảo hiểm (Certificate)

    Người mua không chịu trách nhiệm các khoản tiền mà tầu đòi tại cảng giỡ hàng.

    Các đương sự sẽ thoả thuận về đơn vị số lượng dùng để tính giá hàng.

    Khoản hạ giá khi cân bằng cân tự động là 0,1%.

    56

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Phải thông báo về việc cá thể hoá lô hàng trong vòng 48 ngày hay 72 tiếng sau khi ký vận đơn. Người bán thứ nhất phải gửi bản hoá đơn tạm thời trong vòng 3 ngày sau ngày bán hàng.

    Người mua phải báo cho người bán là mình sẵn sàng tiếp nhận chứng từ trước 11h30 sáng ngày trả tiền (trước 16h00 ngày hôm trước nếu ngày trả tiền là ngày thứ 7)

    Các điều khoản của việc thực hiện chậm trễ không có gì là chèn ép người bán.

    Mẫu hàng được chọn phải được gửi đi kiểm nghiệm trong vòng 21 ngày sau khi dỡ hàng xong, còn nếu trọng tài yêu cầu phải có mẫu thì phải gửi đi kiểm nghiệm trong vòng 14 ngày sau khi trọng tài yêu cầu, phí tổn về kiểm tra chia đều cho 2 bên.

    Nếu hàng bán theo mẫu, khiếu nại về phẩm chất và trạng thái bên ngoài phải làm trong vòng 28 ngày sau khi dỡ hàng xong, còn nếu bán theo tiêu chuẩn FAQ thì sau khi công bố tiêu chuẩn hay thông báo rằng sẽ không xác lập tiêu chuẩn. Khiếu nại về số lượng trong vòng 6 tuần sau khi dỡ hàng xong.

    Từ những điểm đã nói ta thấy rằng hợp đồng này không đến nỗi bất lợi như những hợp đồng khác của London nhưng nó cũng không cho người bán những ưu quyền đặc biệt. điều bất lợi nhất cho người bán là điều kiện Rye terms và điều kiện phải hạ giá nếu không được đền bù trong giá hàng của hợp đồng.

    Ngoài những bản mẫu hợp đồng, London Corn Trade Association còn công bố nhiều thông báo khác.

    Tuy nhiên cần lưu ý rằng ngay ở trong cùng một câu, có cả những điểm có lợi cho người bán và có cả những điểm có lợi cho người mua.

    Mỗi mẫu được dùng tuỳ theo “mục đích chung” vủa hợp đồng trong từng hoàn cảnh riêng. Ví dụ có những hợp đồng CIF “Hợp đồng CIF với điều kiện là hàng tới nơi an toàn”, Hợp đồng “tái xuất”, đôi khi còn thêm điều khoản “ hàng tới nơi an toàn” “hợp đồng có thời hạn và cả hợp đồng giao hàng tại nơi đến.

    57

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Một số các bản thông báo này là phần gắn liền với tất cả hoặc một số hợp đồng.

    Ví dụ: bản công bố về điều kiện bảo hiểm cụ thể hoặc các điều khoản bảo hiểm của những hợp đồng có dẫn chiếu nó. Bảng này luôn luôn được dổi mới và bổ sung có tính chất một tư liệu đáng chú ý để nghiên cứu vấn đề bảo hiểm hàng hải trong buôn bán ngũ cốc.

    Ngoài thể lệ về tỷ lệ tạp chất được phép và thể lệ xác định trọng lượng, các hợp đồng còn bao gồm cả những tiêu chuẩn hạ giá nói ở chương trước. Nếu ký hợp đồng theo mẫu của London mà không biết tới các tiêu chuẩn này thì không thể thanh toán tạm thời được đúng. Về vấn đề này, một tác giả am hiểu tình hình, có nhận xét như sau: “ý đồ của đương sự đưa vào hợp đồng những điều kiện có lợi cho mình có thể dẫn tới tình trạng bên đối phương ký vào hợp đồng mà không biết tới các điều kiện đặc biệt của nó hay những khó khăn trong việc sửa đổi một phần các điều kiện này, cũng như tình trạng nhẹ dạ và tín nhiệm mù quáng khi dùng những điều kiện mà các liên đoàn lớn lập ra và công bố ở một nơi nào đó . Tình trạng nhẹ dạ và tín nhiệm mù quáng này làm cho ta hiểu tại sao người ta hay dùng loại “mẫu hợp đồng rút ngắn” trên thị trường, dẫn chiếu đến một hợp đồng mẫu chính mà đôi khi người ta không biết tới đầy đủ.

    58

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    CHƯƠNG III: VIỆC SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG MẪU

    TẠI VIỆT NAM

    1. Các doanh nghiêp Việt Nam với việc soạn thảo hợp đồng mẫu.

    Qua nghiên cứu khái quát về nội dung và hình thức của hợp đồng mẫu, cho ta thấy việc sử dụng hợp đồng mẫu là hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Nắm được những ưu việt này của hợp đồng mẫu, các tập đoàn kinh doanh xuất nhập khẩu trên thế giới đã sử dụng khá phổ biến để tạo nên những lợi thế hơn hẳn so với đối phương trên thị trường.

    Ở Việt Nam, ngành ngoại thương vẫn còn rất nhiều hạn chế so với các nước phát triển trên thế giới. Tuy nhiên những năm gần đây nhờ có chính sách đổi mới đối với ngành ngoại thương nói riêng và ngành kinh tế nói chung đã cho ta thấy những dấu hiệu phát triển rất đáng mừng. Với sự tham gia rất tích cực của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường thế giới. Điều này thể hiện qua kim ngạch ngoại thương của nước ta trong những năm gần đây như sau:

    59

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    201 Tổng trị gía xuất khẩu và nhập khẩu 1990-2000

    Foreign trade turnover 1990-2000

      Tổng số   Chia ra – Of which  
      (triệu Rup – Xuất khẩu – Export Nhập khẩu – Import
      đô la Mỹ)        
        Trong đó   Triệu rup – Trong đó
        Triệu đô la Mỹ đô la Mỹ Triệu đô la Mỹ
      (Mill. R-USD) Mill. R.USD Of which Mill. R-USD Of which
          Mill. USD   Mill. USD
    1990 5156,4 2404 1352,2 2752,4 1372,5
    1991 4425,2 2087,1 2009,8 2338,1 2049
    1992 5121,4 2580,7 2552,4 2540,7 2540,3
    1993 6909,2 298,2 2952 3924 3924
    1994 9880,1 4054,3 4054,3 5825,8 825,8
    1995 13604,3 5448,9 5448,9 8155,4 8155,4
    1996 18399,5 7255,9 7255,9 11143,6 11143,6
    1997 20777,3 9185 9185 11592,3 11592,3
    1998 20859,9 9360,3 9360,3 11499,6 11499,6
    1999 23162 11540 11540 11622 11622
    Sơ bộ – Prel. 2000 29508 14308 14308 15200 15200
      Chỉ số phát triển (năm trước = 100)-%  
      Index (Previous year = 100)-%    
    1990 114,3 123,5 118,8 107,3 156,1
    1991 85,8 86,8 148,6 84,9 149,3
    1992 115,7 123,7 127 108,7 124
    1993 134,9 115,7 115,7 154,4 154,5
    1994 143 135,8 137,3 148,5 148,5
    1995 137,7 134,4 134,4 140 140
    1996 135,2 133,2 133,2 136,6 136,6
    1997 112,9 126,6 126,6 104 104
    1998 100,4 101,9 101,9 99,2 99,2
    1999 111 123,3 123,3 101,1 101,1
    Sơ bộ – Prel. 2000 127,4 124 124 130,8 130,8

    60

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Xu©t nhËp khÈu hμng ho¸

    Tû USD

    18

    16

    14

    12

    10

    8

    6

    4

    2

    0

    -2

    -4

    -6

    1995               1996               1997               1998                1999        S¬ bé – Prel.

    2000

     

     XuÊt khÈu – Export  NhËp khÈu _ Import  Balance

    61

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    N¨m

     

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Nếu như trước kia số doanh nghiệp trực tiếp tham gia xuất nhập khẩu chỉ ở con số vài nghìn, thì nay, đặc biệt là từ năm 1997 khi Luật thương mại đã được Quốc hội thông qua tại khoá IX kỳ họp thứ 11 ngày 10 tháng 05 năm 1997. Con số này đã tăng lên đáng kể. Theo số liệu thống kê của viện chiến lược thì đến cuối năm 2001 doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp đã lên đến hơn 21.000,. Và đặc biệt hai năm trở lại đây các doanh nghiệp (có đủ tư cách pháp nhân) muốn xuất nhập khẩu trực tiếp không phải xin giấy phép của Bộ thương mại với những điều kiện khắt khe như trước nữa, mà họ chỉ cần đăng ký với Cục Hải Quan và đưa mã số thuế của mình là có thể trực tiếp xuất khẩu hàng hoá (hàng hoá trong danh mục được phép xuất nhập khẩu theo qui định).

    Tuy nhiên với trình độ nghiệp vụ còn hạn chế các doanh nghiệp Việt nam chưa tranh thủ được hết những lợi thế của hợp đồng mẫu. Qua tìm hiểu một số hợp đồng mẫu ở một số doanh nghiệp cho ta thấy mức độ sử dụng hợp đồng mẫu của các doanh nghiệp này có thể chia ra thành 7 loại như sau:

    1. Các doanh nghiệp đã có những loại hợp đồng mẫu được soạn thảo sẵn, do đó rất chủ động trong việc đàm phán ký kết hợp đồng. Những doanh nghiệp này là những Công ty, Tổng công ty trước đây thuộc Bộ ngoại thương (nay là Bộ thương mại). Họ có kinh nghiệm và kỹ thuật soạn thảo hợp đồng và giao dịch đối ngoại.
    2. Một số doanh nghiệp đã có những hợp đồng được soạn thảo từ khá lâu, không định kỳ xem xét và sửa chữa lại, ngày nay vẫn còn sử dụng. Do đó trong hợp đồng có nhiều điều lạc hậu. Ví dụ, trong hợp đồng vẫn còn dẫn chiếu đến INCOTERMS1953, đến UCP ban hành năm 1974.
    1. Có những doanh nghiệp chỉ dùng một loại hợp đồng mẫu cho cả nghiệp vụ xuất khẩu lẫn nghiệp vụ nhập khẩu. Như vậy, nếu trong hợp đồng xuất khẩu có điều khoản nào đó lợi ích cho người bán thì điều khoản đó tất nhiên sẽ bất lợi cho người mua.
    1. Một số doanh nghiệp đã có hai loại hợp đồng mẫu (một dùng cho xuất khẩu, một dùng cho nhập khẩu ), nhưng mỗi hợp đồng lại áp dụng cho mọi mặt hàng, mọi khách khàng của doanh nghiệp. Vì vâỵ, hợp đồng mẫu có nội dung chung chung, không sát sao với điều kiện và hoàn cảnh giao dịch.
    1. Khá nhiều hợp đồng mẫu lại được xây dựng cho nhiều điều kiện cơ sở giao hàng, vì trong đó ở điều khoản giá cả thường ghi câu “giá trên đây được

    62

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    hiểu là giá FOB/CFR/CIF”. Như vậy, đến khi ký kết người ta chỉ cần xoá hai điều kiện không cần và giữ lại điều kiện sử dụng. Cách làm này cũng đem lại nhiều điều bất lợi vì nhiều điều khoản không sát hợp với sự giao dịch. Ví dụ, theo hợp đồng xuất khẩu FOB, người bán không có nghĩa vụ thuê tàu trở hàng, nhưng trong hợp đồng lại chói buộc người bán vào những việc không đáng có.

    1. Một số không ít công ty của chúng ta chưa có hợp đồng mẫu riêng của mình. Vì vậy khi ký kết hợp đồng, họ sử dụng ngay hợp đồng mẫu của khách hàng. Như đã phân tích ở trên (xem phần I). hợp đồng mẫu là công cụ phục vụ đắc lực cho bên đương sự thảo ra nó. Do đó, sử dụng hợp đồng mẫu của đối phương, doanh nghiệp của ta, tất nhiên, ở vào thế bất lợi.
    2. Một số không ít công ty của chúng ta không có hợp đồng được soạn thảo sẵn. Mỗi khi đàm phán ký kết hợp đồng, hai bên (bên mua và bên bán) mới soạn thảo hợp đồng. Do đó, hợp đồng rất sơ sài, nhiều điều khoản bất lợi, nhiều nội dung rất cần thiết mà lại không được quy định. Vì thế, trong quá trình thực hiện hợp đồng giữa các bên đương sự thường diễn ra tranh chấp, kiện tụng và, trong nhiều trường hợp, bất lợi nghiêng về phía doanh nghiệp Việt Nam.

    Ba trường hợp sau cùng (5,6,7) thường rơi vào các công ty mới bắt đầu chưa lâu các hoạt động trực tiếp xuất nhập khẩu, qui mô công ty không lớn và không có đội ngũ cán bộ được đào taọ một cách hệ thống về nghiệp vụ xuất nhập khẩu.

    1. Yêu cầu của việc thống nhất soạn thảo hợp đồng mẫu.

    2.1 Ngôn ngữ trong hợp đồng phải chính xác, cụ thể, đơn nghĩa.

    2.1.1- Nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ phải chính xác:

    Tức là ý nghĩa của từ sử dụng trong hợp đồng phải thể hiện đúng ý chí của các bên ký kết, điều này đòi hỏi người soạn thảo hợp đồng phải có vốn từ vựng về nghiệp vụ phong phú, sâu sắc mới có thể xây dựng được bản hợp đồng chặt chẽ về từ ngữ, không gây ra những nhầm lẫn đáng tiếc, phí tổn nhiều tiền bạc và công sức, đặc biệt là khi thoả thuận về phẩm chất, quy cách hàng hoá phải hết sức thận trọng khi chọn sử dụng thuật ngữ.

    2.1.2- Ngôn ngữ hợp đồng phải cụ thể.

    63

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Khi thoả thuận về điều khoản nào các chủ thể ký kết hợp đồng phải chọn những số liệu những ngôn từ chỉ đích danh ý định, mục tiêu hoặc nội dung mà họ đang bàn đến nhằm đạt được, tránh dùng từ ngữ chung chung, đây cũng là những thủ thuật để chốn tránh trách nhiệm trong quá trình thực hiện hợp đồng.

    2.1.3- Ngôn ngữ hợp đồng phải đơn nghĩa.

    Từ ngữ của hợp đồng phải có sự chọn lọc chặt chẽ, thể hiện đúng mục đích của chủ thể đề nghị ký kết hợp đồng, tránh dùng những từ có thể hiểu thành nhiều nghĩa khác nhau: nó vừa mâu thuẫn với yêu cầu chính xác, cụ thể vừa có thể tạo ra khe hở cho kẻ xấu tham gia hợp đồng lợi dụng gây thiệt hại cho đối tác hoặc trốn tránh trách nhiệm khi có hành vi vi phạm hợp đồng, vì họ có quyền thực hiện theo ý nghĩa của từ ngữ mà họ thấy có lợi nhất cho họ, dù cho đối tác có bị thiệt hại nghiêm trọng rồi sau đó họ sẽ có cơ sở để biện luận, để thoái thác trách nhiệm. Một ví dụ điển hình như: “bên B thanh toán cho bên

    • bằng ngoại tệ…” ý đồ của bên A là muốn được thanh toán bằng USD như mọi trường hợp làm ăn với người thiện trí khác nhưng bên B lại thanh toán bằng đồng RUP của Nga cũng là ngoại tệ nhưng khả năng giao dịch rất yếu và giá trị không ổn định, kém hiệu lực rất nhiều so với đồng Đôla Mỹ (USD).

    2.2- Chỉ được sử dụng từ ngữ thông dụng, phổ biến trong hợp đồng tránh dùng các thổ ngữ hoặc tiếng lóng.

    Trong tình hình hiện nay nhà nước đang có chủ trương mở cửa giao dịch với nhiều cá nhân và tổ chức nước ngoài, các bên đương sự cần phải đựơc hiểu đúng chính xác ý chí của nhau thì việc giao dịch mới nhanh chóng thành đạt. Phải dùng tiếng phổ thông mới tạo điều kiện thuận lợi cho các bên cùng hiểu, dễ hiểu, tránh tình trạng hiểu nhầm dẫn tới việc thực hiện hợp đồng sai gây ra thiệt hại cho cả hai bên, đồng thời trong quan hệ với đối tác nước ngoài việc dùng tiếng phổ thông mới tạo ra sự tiện lợi cho việc dịch thuật ra tiếng nước ngoài, giúp cho đối tác nước ngoài hiểu đựơc đúng đắn, để việc thực hiện hợp đồng có hiệu quả cao giữ được mối tương quan bền chặt lâu dài thì làm ăn mới phát đạt. Đó cũng là yếu tố quan trọng để gây niềm tin ở đối tác…

    Tóm lại trong nội dung của bản hợp đồng việc sử dụng tiếng địa phương và tiếng lóng là biểu hiện sự tuỳ tiện trái với tính chất pháp lý, nghiêm túc mà bản thân loại văn bản này đòi hỏi phải có.

    2.3- Trong hợp đồng không được tuỳ tiện ghép chữ, ghép nghĩa, không tuỳ tiện thay đổi từ ngữ pháp lý và kinh tế.

    64

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Việc ghép chữ, ghép tiếng dễ dẫn đến sự hiểu nhầm ý của các bên chủ thể, việc thay đổi ngôn từ pháp lý trong hợp đồng có thể dẫn đến tình trạng vận dụng bị sai lạc gây ra thất bại trong việc thực hiện hợp đồng. Chẳng hạn pháp luật quy định khi xây dựng hợp đồng phải thoả thuận về “thời hạn có hiệu lực của hợp đồng…” không được tuỳ tiện ghép chữ và thay đổi ngôn từ pháp lý thành điều khoản “thời hiệu của hợp đồng…” đến đây có thể làm sai lạc ý nghĩa của từ ngữ ban đầu.

    2.4- Trong hợp đồng quốc tế không đựơc sử dụng chữ thừa vô ích, không tuỳ tiện dùng chữ v.v hoặc dấu và dấu .

    Xuất phát từ yêu cầu bắt buộc trong bản thân hợp đồng phải chính xác, chặt chẽ, cụ thể như mọi văn bản pháp quy khác, không thể chấp nhận hoặc dung nạp chữ thừa vô ích làm mất đi tính nghiêm túc của sự thoả thuận, đó là chưa kể đến khả năng “ chữ thừa” còn có thể chứa đựng ý sai làm lạc đi mục tiêu của sự thoả thuận trong nội dung hợp đồng.

    Việc dùng loại chữ “v.v.” hoặc “…” là nhằm liệt kê hàng loạt tạo điều kiện cho người đọc hiểu một cách trừu tượng rằng còn rất nhiều nội dung tương tự không cần thiết phải viết ra hết hoặc không có khả năng liệt kê toàn bộ ra hết, điều này trong văn phạm pháp lý của hợp đồng không thể chấp nhận vì nó cũng trái với nguyên tắc chính xác, cụ thể của văn bản hợp đồng và có thể sẽ bị lợi dụng làm sai đi nội dung thoả thuận của hợp đồng chưa đưa ra bàn bạc thoả thuận trước các bên hợp đồng thì không cho phép thực hiện nó vì nó chưa được đủ hai bên xem xét quy định. Thực tế trong văn phạm của các loại văn bản pháp quy và hợp đồng hầu như không sử dụng chữ “v.v..” hoặc dấu “…”.

    2.5- Yêu cầu về văn phạm trong soạn thảo hợp đồng mẫu.

    2.5.1- Văn phạm trong hợp đồng phải nghiêm túc, dứt khoát.

    tính nghiêm túc , dứt khoát của hành văn trong hợp đồng được thể hiện ở tính mục đích được ghi nhận một cách trung thực, trong hoàn cảnh các bên tiến hành làm ăn kinh tế rất nghiêm túc, đi tới những nộidung thoả thuận rất thiết thực, kết quả của nó là các lợi ích kinh tế, hậu quả của nó là sự thua lỗ, phá sản, thậm chí bản thân người ký kết phải gánh chịu sự trừng phạt bằng đủ loại hình thức cưỡng chế: từ cảnh cáo, cách chức đến giam cầm, tù tội kèm theo cả sự bồi thường tài sản cho chủ sở hữu giao cho họ quản lý. Tóm lại hợp đồng kinh tế thực chất là phương án làm ăn có hai bên kiểm tra, chi phối lẫn nhau,

    65

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    trong nội dung đó tất nhiên không thể chấp nhận sự mô tả dông dài, thiếu nghiêm túc, thiếu chặt chẽ và dứt khoát.

    2.5.2- Văn phạm trong hợp đồng phải rõ ràng, ngắn gọn và đủ ý.

    Việc sử dụng từ ngữ phải chính xác, cụ thể sẽ dẫn tới những hành văn rõ ràng, ngắn gọn, đòi hỏi việc sử dụng các dấu chấm (.), dấu phẩy (,) phải chính xác, thể hiện được rõ ý không được phép biện luận dài dòng làm sai lạc nội dung thoả thuận nghiêm túc của hai bên hoặc làm loãng đi vấn đề cốt yếu cần quan tâm của các điều khoản trong hợp đồng.

    Đảm bảo yêu cầu ngắn gọn, rõ ràng nhưng phải chứa đựng đầy đủ các thông tin cần thiết về những nội dung mà hai bên cần thoả thuận trong hợp đồng: Ngắn gọn dẫn đến phản ánh thiếu ý, thiếu nội dung là biểu hiện của sự tắc trách, chú trọng mặt hình thức mà bỏ mặt nội dung tức là bỏ vấn đề cốt yếu của hợp đồng. Cách lập hợp đồng kinh tế như vậy bị coi là khiếm khuyết lớn không thể chấp nhận được.

    KẾT LUẬN

    Qua những phân tích kể trên, chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn của hợp đồng mẫu trong buôn bán Quốc tế. Nhờ những hợp đồng mẫu nên việc thực hiện các thương vụ kinh tế dễ dàng hơn và đỡ phát sinh tranh chấp hơn.

    Chính vì những ưu việt này của hợp đồng mẫu nên nó được sử dụng ngày càng nhiều và đa dạng trong buôn bán Quốc tế. Ngày nay, hầu hết các

    66

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    ngành và thậm chí các công ty đều đang cố gắng xây dựng cho mình các hợp đồng mẫu. Công việc này rất khó khăn, nhưng vô cùng cần thiết và quan trọng vì chúng ta phải thảo ra một hợp đồng mẫu như thế nào để nhằm bảo vệ lợi ích tối đa cho công ty, đồng thời những điều khoản của hợp đồng phải phù hợp với tập quán buôn bán Quốc tế và nhất là phải được đối phương của chúng ta chấp nhận.

    Nếu một hợp đồng được ký kết không theo đúng nguyên tắc, bình đẳng, và cân đối giữa quyền và nghĩa vụ, chặt chẽ về pháp lý thì sẽ rất dễ gây ra tranh chấp.

    Như chúng ta đã biết các hợp đồng mẫu với các điều khoản càng chi tiết bao nhiêu càng giúp cho chúng ta thực hiện nó dễ dàng bấy nhiêu.Vì vậy chúng ta nên loại bỏ dần những hợp đồng với những điều khoản sơ sài và mỗi công ty nên tham gia khảo sát các hợp đồng về những mặt hàng cùng chủng loại để xây dựng cho mình những hợp đồng mẫu cho từng nhóm hàng cụ thể và dựa trên các điều khoản đó để làm căn cứ cho đàm phán trước khi ký kết hợp đồng.

    Với điều kiện buôn bán Quốc tế ngày càng được mở rộng, nên danh mục về hàng hóa xuất nhập khẩu của chúng ta ngày càng trở nên phong phú. Cùng với cơ chế mới, số lượng các đơn vị tham gia xuất nhập khẩu ngày càng tăng lên không ngừng. Để tránh những ấu trĩ trong việc soạn thảo và thực hiện hợp đồng ngoại thương việc nghiên cứu hợp đồng mẫu là điều hết sức cần thiết.

    Hơn nữa, mọi thương vụ Quốc tế đều có đặc điểm riêng biệt. Dù là những thương vụ lặp lại vẫn luôn có khả năng phát sinh những rủi ro mới trong quá trình thực hiện. Do vậy việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý xung quanh hợp đồng mua bán hàng hoá ngoại thương trước khi ký kết cũng có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.

    Do thời gian có hạn, tôi chỉ phân tích một cách khái quát về nội dung và hình thức của hợp đồng mẫu và tôi chọn ra một số hợp đồng mẫu tiêu biểu. Tôi hy vọng rằng những sự phân tích của tôi trong đề tài này sẽ giúp ích một phần nào đó cho các cán bộ làm công tác xuất nhập khẩu và nhất là những người trực tiếp tham gia đàm phán ký kết hợp đồng trong buôn bán Quốc tế.

    67

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    PHẦN PHỤ LỤC

    68

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    SALES CONTRACT

    No.: NTL-NVL0303-03

    Date: 27-02-2003

    Between:

    The Buyer:          NESTLE VIETNAM LTD.

    NESTLE FACTORY

    Bien Hoa Industrial Zone II, Lot 14, Bien Hoa, Dong nai Province, Vietnam. Account name: Nestle Vietnam Ltd.,

    41, Nguyen Thi Minh Khai, District 1, HCMC, VN. A/c No 00201112150000USD at Credit Argicole Indosuez,

    21-12 Nguyen Thi Minh Khai, District 1, HCMC, VN.

    Represented by:Mr. LUCA FICHERA-Supply Chain Manager

    And:

    The Seller:            NESTLE (THAI) Ltd.

    500 Ploenchit Road, Lumpini, Pathumwan Bangkok 10330, Thailand.

    Deutsche Bank AG, Bangkok Branch

    SWIFT DEUTTHBK

    A/C with Deutsche Bank Trust Company Americas in favor of Nestle (Thai) Ltd. A/C no. 0010405-30-0

    Represented  by:Mr.S. SUREE – Vice President of Indochina

    Development Dept.

    69

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    We are pleased to confirm the sale under the following terms and conditions:

    1. Commodity: MAGGI SEASONING SAUCE FOR COOKING, MAGGI SEASONING SAUCE FOR DIPPING, MAGGI OYSTER SAUCE.
    1. Specifications: Maggi Brand.
    1. Origin:
    1. Packing:Standard export cartons of
        Maggi : 700mlx12,  
        Maggi : 100mlx24,  
        Maggi : 340g x24 / 790gx12.  
    5. Quantity: 3x20FT containers of 3,600 cartons comprising following:
        Maggi : 700mlx12 – 1,240 cartons,  
        Maggi : 100mlx24 –  280 cartons,  
        Maggi : 340g x24 – 1,250 cartons / 790gx12  – 830
        cartons.      
    6. Delivery: March 2003.      
    7. Unit price: THB 201.68 / carton Maggi700ml x12 FOB,
        THB 124.34 / carton Maggi100ml x24 FOB,
        THB 247.58 / carton Maggi340g x24 FOB,  
        THB 234.04 / carton Maggi790g x12 FOB,  
        Sea Freight : THB 36,120.00  
        Insurance : THB 824.40  

    Total amount CIF HCM City Port: THB 825,571.00 (Thai Baht Eight Hundred & Twenty Five Thousand, Five Hundred & Seventy One only).

    1. Quality, quantity, packing (if any)

    All finalised at loading port as per certificate of manufacturer.

    1. Payment: 100% of Invoice Value.

    70

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • By T/T 30 days after B/L date through a reputable international bank in favour of account number:

    A/C no. 0010405-30-0

    Deutsche Bank AG, Bangkok Branch

    SWIFT DEUTTHBK

    A/C with Deutsche Bank Trust Company Americas in favor of Nestle (Thai) Ltd.

    • All expenses incurred due to buyer’s delay in taking delivery of goods, arrived in normal quality conditions at destination, will be on buyer’s account.
    • All charges caused by buyer’s refusal to take delivery of goods, unless they are not arrived at destination in good conditions, as well as all formalities relating this end will be for buyer’s account. This will not, nevertheless, discharge them of the obligation for the commodity.
    1. Insurance:

    All risks, including war risks for seller’s account.

    1. Force Majeure:

    Seller is not liable any penalty of delay of all or any of this contract caused by any contingency beyond its control or beyond the control of, or covered by its contract to furnish this commodity. Such contingencies shall include, but not limited to governmental or other restrains affecting shipment or credit, strikes, lockout, flood, droughts, short or reduced supply of fuel or raw materials, declared or undeclared wars, revolutions, fires, cyclones or hurricanes or any other acts of God or force majeure.

    1. Arbitration:

    In case of dispute and if the contracting parties cannot reach an amicable settlement of claim within 60 days from its occurrence, the case shall be referred to arbitration in Ho Chi Minh City for final settlement. A panel of 3 arbitrators will be formed, each party appointing one arbitrator and both shall

    appoint a third one as president of the panel.

    71

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Definition:

    This contract is subject to interpretation as per the provisions of the 1990 edition of Incoterms as amended.

    THE BUYER

    Name:

    THE SELLER

    Name:S. Suree

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    72

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Giáo trình “Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương” – PGS, NGƯT-Vũ Hữu Tửu. Nhà xuất bản giáo dục 1996.
    1. Giáo trình “Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại” –PTS-Nguyễn Thị Mơ, PGS, Hoàng Ngọc Thiết, NXB Giáo dục 1994
    1. Giáo trình “Thanh toán Quốc tế” – PGS – Đinh Xuân Trình, NXB Giáo dục 1996.
    1. Giáo trình “Luật hợp đồng kinh tế”, Trường đại học luật HN.
    1. “Pháp lệnh hợp đồng kinh tế”
    1. “Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng kinh tế – Hợp đồng thương mại”- Luật gia Phạm Thanh Tuấn – Nguyễn Duy Anh.
    1. Hợp đồng mẫu một số công ty xuất nhập khẩu trong và ngoài nước.

    73

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    74

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyên đề tốt nghiệp Phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-thu%E1%BA%BF-quan-v%C3%A0-phi-thu%E1%BA%BF-quan-trong-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-Ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-c%E1%BB%A7a-Nh%E1%BA%ADt-B%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    LỜI NÓI ĐẦU

    1.Tính cấp thiết của đề tài :

    Ngày nay, trong hoạt động mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia, hoạt động ngoại thương giữ vị trí vô cùng quan trọng. Một trong những công cụ quan trọng để đạt được các mục tiêu của chính sách thương mại là dựa vào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan.

    • Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dưới sự quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách thuế quan và phi thuế quan ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đối với một nước mà kinh nghiệm thị trường còn ít, thì việc học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển , đặc biệt là kinh nghiệm về chính sách Ngoại thương của Nhật Bản – đất nước được cho rằng “đã đạt tới sự phát triển thần kỳ” là vô cùng cần thiết.

     

    1. Mục đích nghiên cứu :
    • Phân tích ảnh hưởng của chính sách thuế quan và phi thuế quan đối với ngoại thương của Nhật Bản.

     

    • Từ sự nghiên cứu tìm hiểu thuế quan và phi thuế quan của Nhật Bản rút ra những bài học từ kinh nghiệm và khả năng áp dụng đối với Việt Nam trong việc phát triển ngoại thương hiện nay.

     

    1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

    Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận này chỉ nghiên cứu thuế nhập khẩu, các biện pháp phi thuế quan quản lý nhập khẩu của Nhật Bản những năm gần đây, từ đó rút ra bài học trong việc vận dụng đối với Ngoại thương ở Việt Nam.

    __________________________________________________________

    _____________

    1

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    4.Kết cấu khóa luận :

    Ngoài Lời nói đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương như sau :

    Chương I: Tổng quan về các công cụ của chính sách Ngoại thương

    Chương II:                    Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản.

    Chương III: Bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện chính sách phát triển ngoại thương Việt Nam hiện nay.

    Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như : phương pháp phân tích tổng hợp, duy vật biện chứng & duy vật lịch sử, phương pháp thống kê số liệu, so sánh đối chiếu …

    Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô trong Khoa Kinh tế Ngoại thương, đặc biệt là Thạc sỹ Nguyễn Quang Minh đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý thực hiện đề tài để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành đúng thời hạn.

    CHƯƠNG I

     

    TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ CỦA

     

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG

     

    __________________________________________________________

    _____________

    2

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Đây là một hệ thống các nguyên tắc và các biện pháp kinh tế, hành chính, pháp luật thích hợp mà nhà nước áp dụng để đạt được nhữngmục tiêu xác định trong lĩnh vực ngoại thương. Bản chất của chính sách ngoại thương thể hiện bản chất của chế độ xã hội và do chế độ xã hội quyết định, vì vậy nó luôn được điều chỉnh một cách mềm dẻo để phù hợp với từng thời kỳ phát triển. Mặc dù được điều chỉnh liên tục nhưng chính sách ngoại thương vẫn phải luôn luôn đảm bảo mục tiêu : tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăng nhanh qui mô xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới trong khi vẫn bảo vệ được thị trường nội địa, hạn chế được những cạnh tranh bất lợi từ bên ngoài.

    Có rất nhiều hình thức và công cụ trong chính sách ngoại thương nói chung và mỗi quốc gia sẽ tự chọn lựa cho mình một công cụ phù hợp nhất. Tuy nhiên, trong các công cụ của chính sách ngoại thương, hầu hết các quốc gia đều chọn thuế quan và các biện pháp phi thuế quan làm công cụ mũi nhọn. Điều này chứng tỏ rằng thuế quan và các biện pháp phi thuế quan có những ưu thế mà những công cụ khác khó có thể so sánh được. Đây chính là đặc điểm mà chúng ta nên nghiên cứu.

    I.                   CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ.

     

    1.     Khái niệm:

    Chính sách ngoại thương là một hệ thống nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành chính và pháp luật liên quan đến hoạt động ngoại thương mà Nhà nước áp dụng để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của một đất nước trong một thời kỳ nhất định. Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế nói chung và chính sách kinh tế đối ngoại nói chung của Nhà nước.

    __________________________________________________________

    _____________

    3

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Mục tiêu cơ bản của chính sách ngoại thương là hướng tới việc sử dụng và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Chính sách ngoại thương vùa thể hiện chính tất mở của nền kinh tế, vừa thể hiện sự phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất, kinh doanh nước ngoài theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.

    2.Nhiệm vụ và vai trò của chính sách ngoại thương.

    Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách Ngoại thương là tạo điều kiện thuận lợi nhất nhất cho các doanh nghiệp mở rộng buôn bán với nước ngoài, cũng như thông qua đàm phán quốc tế để đạt được mở rộng thị trường hợp pháp cho các doanh nghiệp. Đồng thời chính sách ngoại thương còn phải góp phần bảo hộ hợp lý sản xuất nội địa , hạn chế cạnh tranh bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước.

    Chính sách ngoại thương bao gồm các bộ phận cấu thành như: chính sách thị trường, chính sách sản phẩm, chính sách thuế quan, biện pháp cấm đoán, kiểm soát hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu.

    Việc ban hành các chính sách ngoại thương làm giảm bớt sự bất trắc bằng cách tạo ra một thể chế tương đối ổn định cho công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp, để khi họ muốn lập một công ty, muốn bán một hàng hoá, muốn vay tiền…. thì hộ biết mình phải làm gì, hoặc có thể học được cách thực thi việc đó.

    Doanh nhân phải biết tôn trọng các chính sách của các nước khác, nếu họ muốn kinh doanh ở nước ngoài. nhưng sự ổn định của các chính sách ngoại thương không phủ nhận một thực tế là chúng luôn thay đổi. Và sự thay đổi của chính sách ngoại thương là một qúa trình tất yếu. chính sách ngoại thương tác động đến chiều hướng phát triển của nền kinh tế, đến công thương nghiệp thông qua ảnh hưởng của chúng đến các chi phí troa đổi và sản xuất. Vì vậy tác động của chính sách ngoại thương đến nền kinh tế , dến chính sự phát triển ngoại thương theo chiều hướng nào phụ thuộc vào chính sách đó có quan tâm đến lợi ích của doanh nhân và người tiêu dùng hay không. Do đó chính sách ngoại thương phải bắt đầu

    __________________________________________________________

    _____________

    4

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    từ lợi ích của các nhà kinh doanh, của giới tiêu dùng. Tuy nhiên các chính sách ngoại thương sẽ hận chếmột số lựa chọn của nhà sản xuất và tiêu dùng. Đảm bảo sự hài hoà lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và quốc gia trong hoạt động ngoại thương là mục tiêu quan trọnh của chính sách ngoại thương. Tuy là bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế nói chung của nhà nước trong mỗi thời kỳ nhất định nhưng chính sách ngọai thương có những đặc điểm riêng. Đó là:

    • Việc ban hành chính sách ngoại thương là công việc nội bộ của mỗi quốc gia, phải xuất phát từ lợi ích nước mình nhưng không được gây tổn hại đến lợi ích nước khác.
    • Chính sách ngoại thương làm cầu nối liên kết kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho một quốc gia hội nhập về kinh tế với các nền kinh tế khu vực và quốc tế theo những bước đi có hiệu quả.
    • Chính sách ngoại thương có nhiệm vụ cân bằng cán cân thanh toán thu chi. Các hoạt động ngoại thương không chỉ đơn thuần tác động đến sự phát triển vầ cân đối nền kinh tế quốc dân mà còn có nhiệm vụ đặc thù là cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.

    II.               CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG.

     

    1.     THUẾ QUAN

    1.1. Khái niệm

    Là loại thuế lấy vật phẩm xuất nhập qua biên giới quốc gia hay quá cảnh làm đối tượng thu thuế, tạo thành khoản thu nhập thuế của nhà nước do hải quan thực hiện. Một số hiệp định quốc tế đã đưa ra định nghĩa rõ ràng hơn về thuế quan là “ Thuế thu theo tỷ suất thuế kê rõ trong biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu”. khái niệm này mmột mặt tách đối tượng nghiên cứu với thuế trong nước, mặt khác tách biệt thuế quan với các loại thuế khác thu được từ xuất khẩu, nhập khẩu như thuế chống phá giá, thuế trả đũa… các loại thuế như vậy chuyên thu với hàng nhập khẩu không gắn với thuế quan.

    __________________________________________________________

    _____________

    5

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.2. Vai trò của thuế quan

    Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình. Mục đích đánh thuế của mỗi quốc gia, ở vào các thời kỳ khác nhau không giống nhau. Trong xã hội phong kiến, thu thuế chủ yếu là tăng thu nhập tài chính quốc gia. Bước sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa, thuế quan không chỉ là nguồn thu tài chính mà còn là công cụ thực hiện chính sách ngoại thương của các nước. Tuy nhiên, trong tất cả các nền kinh tế xã hội, thuế đều có vai trò như sau:

    1.2.1. Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

    Trong nguồn thu ngân sách của các quốc gia, thông thường gồm các khoản thu như : thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách chính phủ. Trong các khoản thu đó, có thể nói rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước.

    Suốt thời kỳ dài của lịch sử từ sau khi thuế quan ra đời, nhìn chung mục đích thu thuế là để cho giai cấp thống trị hoặc thu nhập tài chính quốc gia hoặc cung đình. Sau khi kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, do sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, để bảo vệ sản xuất và phát triển kinh tế của mình, các nước lợi dụng thuế quan làm phương tiện bảo vệ bảo hộ, từ đó xuất hiện thuế quan bảo hộ nhưng thuế quan tài chính vẫn là nguồn thu nhập tài chính của quốc gia.

    Từ kinh nghiệm của các nước, có hai vấn đề có tính nguyên tắc cần chú ý trong chính sách thuế quan để có thể tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách là :

    • Đối với nhà nước, thuế suất phải đem đến một năng suất thu tối đa mà lại không gây cản trở, thậm trí còn kích thích sự phát triển kinh tế xã hội. Thuế không được triệt tiêu thuế mà trái lại thuế phải nuôi thuế.
    • Đối với người chịu thuế, thuế suất cần phải hạ, làm sao để người chịu thuế bớt cảm thấy gáng nặng của thuế.

    __________________________________________________________

    _____________

    6

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.2.2. Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân

    Khi kinh tế phát triển, chính phủ có thể gia tăng thuế để làm cán cân thu nhập nghiêng về phía nhà nước, hạn chế thu nhập có thể sử dụng, tăng tích luỹ nhà nước, tạo ra một nguồn nhất định dự phòng khi kinh tế bị suy thoái hay gặp những điều kiện bất lợi. Nói cách khác, chính phủ sẽ giảm thuế khi nền kinh tế đang khó khăn.

    Để phù hợp với chính sách của chính phủ trong từng giai đoạn, thuế được sử dụng như một biện pháp điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất thông qua các mức thuế suất phân biệt đối với từng sản phẩm, dịch vụ hoặc giữa các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau, có chính sách ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành hàng.

    1.2.3. Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển :

    Để bảo hộ sản xuất trong nước, một trong những biện pháp hữu hiệu mà chính phủ các nước hay sử dụng là đánh thuế cao vào hàng nhập khẩu để làm tăng giá thành hàng hoá nhập khẩu, dẫn đến giảm mức cạnh tranh với sản phẩm trong nước. Thuế quan bảo hộ nói chung là bảo hộ cho công nghiệp nội địa còn yếu kém và hàng hoá mẫn cảm cạnh tranh. Tỷ lệ thuế quan bảo hộ về lý thuyết sẽ không thấp hơn mức chênh lệch giữa giá trong nước và giá nhập khẩu. Nhưng trong thực tế thì tỷ lệ thuế cao hay thấp còn phụ thuộc vào tình hình cung cầu cũng như điều kiện thay đổi cung cầu gây ảnh hưởng đến giá cả hàng nhập khẩu.

    1.2.4. Thực hiện phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại :

    Có thể nói, thuế quan là biện pháp hay sử dụng để thực hiện phân biệt đối xử giữa các nước trong quan hệ thương mại. Các nước có thể thực hiện thuế ưu đãi đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc hoặc những thoả thuận ưu đãi riêng và áp dụng thuế trả đũa đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thực hiện các biện pháp bán phá giá, trợ giá của chính phủ hoặc từ những nước có sự phân biệt đối xử với hàng hoá của nước mình.

    __________________________________________________________

    _____________

    7

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.2.5. Góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối:

    Trong nền kinh tế tập trung, tình trạng phân cực giàu nghèo là khó có thể tránh khỏi. Tình trạng này không chỉ nói lên mức sống bị phân biệt mà còn liên quan đến đạo đức, công bằng xã hội. Vì vậy sự can thiệp, điều tiết của chính phủ rất quan trọng, trong đó thuế là một công cụ hữu ích. Thông qua thuế, chính phủ có thể thực hiện điều tiết thu nhập bằng cách đánh thuế cao đối với những công ty, cá nhân có thu nhập cao và đánh cao vào những hàng hoá dịch vụ cao cấp mà đối tượng phục vụ chủ yếu là tầng lớp có thu nhập cao và ngược lại.

    Có thể nói thuế đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách ngoại thương của mọi quốc gia. Trong xu hướng đưa hoạt động ngoại thương và thương mại quốc tế vào môi trường tự do cạnh tranh, các quốc gia đều cố gắng giảm dần mức thuế quan xuống, tiến tới xoá bỏ các rào cản thương mại. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã đề xướng tự do thương mại, huỷ bỏ hoặc cắt giảm các rào cản thương mại. Trong 7 vòng đàm phán (1948-1994) các thành viên GATT đã đạt được thoả thuận giảm thuế cho 89.900 hạng mục hàng hoá. Tỷ lệ thuế quan nói chung đã giảm đi nhiều, theo hiệp định Urugoay (kết quả của vòng đàm phán thứ 8 của GATT), mức thuế quan trung bình giảm 40%. Khi đó mức thuế nói chung ở các nước công nghiệp phát triển còn khoảng không quá 5%, trừ hàng dệt và may mặc, mức trung bình khoảng 10-40% chủ yếu là đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Mức thuế quan trung bình ở các nước Đông Á chỉ còn từ 5-15%, Nam Á 10-60%, Mỹ Latinh, Trung Đông, Châu Phi 10-25%.

    1.3.Phân loại thuế quan:

    1.3.1. Phân loại theo mục đích đánh thuế :

    • Thuế tài chính (còn gọi là Thuế ngân sách) : là thuế đánh vào hàng hoá để tăng thu cho ngân sách nhà nước.

    __________________________________________________________

    _____________

    8

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Thuế quan bảo hộ : là mức thuế suất cao đánh vào hàng nhập khẩu, làm cho giá cả hàng nhập khẩu cao hơn so với giá hàng trong nước và bị suy giảm sức cạnh tranh, tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước.

    1.3.2. Phân loại theo đối tượng chịu thuế :

    • Thuế xuất khẩu : chủ yếu đánh vào những mặt hàng mà nhà nước hạn chế xuất khẩu ra nước ngoài. Những mặt hàng xuất khẩu này sau khi chịu thuế sẽ bị hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới do những bất lợi về giá cả.
    • Thuế nhập khẩu : đánh vào hàng nhập khẩu, thực hiện đồng thời cả hai chức năng về tài chính và bảo hộ.
    • Thuế quá cảnh : là loại thuế đánh vào hàng hoá khi đi qua biên giới hay lãnh thổ của một quốc gia.

    1.3.3. Phân loại theo phương pháp tính thuế :

    • Thuế tính theo giá : là loại thuế tính theo tỷ lệ phần trăm so với trị giá của lô hàng.
    • Thuế tính theo lượng : là loại thuế tính ổn định theo số lượng hoặc trọng lượng của lô hàng.
    • Thuế hốn hợp : là loại thuế kết hợp cả tính theo giá và tính theo lượng.

    1.3.4. Phân loại theo mức tính thuế :

    • Thuế suất ưu đãi : áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ những nước hay những khu vực hợp tác kinh tế trên cơ sơ ký kết các thoả thuận dành cho nhau những ưu đãi về thuế quan.
    • Mức thuế phổ thông : là mức thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ những nước hoặc khu vực không có thoả thuận dành cho nhau ưu đãi về thuế quan.

    __________________________________________________________

    _____________

    9

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Mức thuế tự vệ : là mức thuế do chính phủ quyết định áp dụng trong từng trường hợp cụ thể. Ví dụ : khi hàng hoá nước ngoài được bán phá giá trong thị trường nước mình hoặc hàng hoá nhập khẩu từ một nước có chính sách bảo hộ, trợ giá cho hàng xuất khẩu.

    2.            CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN

    2.1. Khái niệm :

    Phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan làm cản trở tự do thương mại. Trước kia các nước thường hay sử dụng biện pháp phi thuế quan với mục đích chủ yếu là để bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng hiện nay cùng với xu thế quốc tế hoá ngày càng mở rộng, biện pháp này dần dần được xoá bỏ và thay thế bằng các biện pháp thuế quan.

    2.2 Vai trò của phi thuế quan :

    Phi thuế quan cũng thường được sử dụng với những mục đích tương đối giống thuế quan. Tuy nhiên, theo thời gian, đi đôi với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế là sự phát sinh nhiều vấn đề và vai trò của phi thuế quan đã được mở rộng, gây ảnh hưởng gián tiếp đến những quan hệ khác. Một trường hợp điển hình là nó được sử dụng như là một trong những biện pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường – một vấn đề được coi là vấn đề toàn cầu hiện nay. Vấn đề này cũng ảnh hưởng đến chính sách ngoại thương giữa các nước, đặc biệt là quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, liên quan đến việc chuyển vốn và công nghệ.

    Theo nguyên tắc lợi thế so sánh, ngoại thương sẽ tạo ra lợi nhuận cho cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, nhưng đối với những nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước, không khí, đất đai mà mọi người nghĩ là vô tận thì không thể phản ánh được chi phí môi trường vì chi phí để bảo vệ, làm sạch hầu như không thể hiện.

    __________________________________________________________

    _____________

    10

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    GATT thừa nhận những trường hợp ngoại lệ của việc tự do hoá ngoại thương như đưa ra những biện pháp qui định để bảo vệ sức khoẻ con người, tài nguyên thiên nhiên nhưng vấn đề bảo vệ môi trường cũng không được qui định một cách rõ ràng. Trên thực tế, các nước vẫn đưa ra những biện pháp khác nhau để bảo vệ môi trường đối với hoạt động ngoại thương, trong đó tích cực sử dụng các biện pháp phi thuế quan như đặt ra những tiêu chuẩn về vệ sinh đối với mặt hàng lương thực thực phẩm, tiêu chuẩn về kỹ thuật đối với mặt hàng máy móc thiết bị …

    2.3. Các biện pháp phi thuế quan.

    2.3.1 Hạn ngạch nhập khẩu.

    Hạn ngạch nhập khẩu là giới hạn về khối lượng hoặc giá trị đối với những hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Trên thực tế việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó thực hiện vì thế các hạn ngạch về số lượng được áp dụng một cách phổ biến. Nhà nước quy định hạn ngạnh nhập khẩu là để bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên và cải thiện cán cân thanh. toán.

    2.3.2 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER).

    Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến tướng của hạn chế nhập khẩu, là thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác đối với một mặt hàng xác định với một mức tối đa. Các thoả thuận này tự nguyện chỉ ở mức độ nước xuất khẩu muốn tránh một mối đe dọa lớn hơn đối với ngoại thương của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn đối với ngoại thương của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn.

    Nói cách khác, hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu chấp nhận nhằm ngăn chặn những mối đe dọa và những hạn chế đối với ngoại thương nước mình.

    2.3.3 Giấy phép nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    11

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý nhập khẩu của Nhà nước. Nó đòi hỏi khi nhập khẩu hàng hoá phải có giấy phép của cơ quan quản lý Nhà nước. Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ giấy phép nhập khẩu, yêu cầu các nhà nhập khẩu phải đệ trình đơn hoặc các tài liệu khác cho cơ quan quản lý hành chính có liên quan như là một số điều kiện để nhập khẩu.

    Giấy phép nhập khẩu có hai loại thường gặp: Giấy phép tự động và giấy phép không tự động. Với loại giấy phép thứ nhất: Người nhập khẩu xin phép nhập khẩu thì cấp gay không cần đòi hỏi gì cả. Với loại giấy phép thứ hai: nmgười nhập khẩu bị ràng buộc bởi các hạn chế nhập khẩu.

    Giấy phép nhập khẩu ngày nay ít được sử dụng hơn so với trước. Mặc dù vậy, hệ thống giấy phép này vẫn cần để quản lý nhập khẩu một số mặt hàng.

    2.3.4 Chế độ hạn ngạch thuế

    Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ trong đó quy định áp dụng dụng mức thuế thấp hơn hoặc bằng không (0%) đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng số lượng quy định, nhằm bảo đảm cung cấp với giá hợp lý cho người tiêu dùng. Khi hàng hoá nhập khẩu vượt quá số lượng quy định thì sẽ áp dụng mức thuế cao (thuế lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

    Chế độ hạn ngạch nhập khẩu thuế được thiết lập dựa trên quan điểm đảm bảo hài hoà mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ người sản xuất nội địa. Vì vậy, Chính phủ thường nghiên cứu kỹ càng việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế đối với từng mặt hàng trên cơ sở xem xét cung cầu, thực trạng sản xuất trong nước để đề ra mức thuế olần một, lần hai và thời hạn áp dụng… nhằm thúc đẩy tự do hoá ngoại thương.

    Như vậy chế độ hạn ngạch nhập khẩu, nhà nhập khẩu chỉ được phép nhập khẩu trong phạm vi số lượng quy định., Còn trong chế độ hạn ngạch thuế, nhà

    __________________________________________________________

    _____________

    12

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    nhập khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số lượng quy định nhưng phải nộp thuế theo mức thuế quy định (mức thuế lần 2) đối với phần vượt đó.

    Theo quy định của GATT/ WTO, các nước thành viên không được sử dụng chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối sử với tùng nước.

    2.3.5 Các biện pháp mang tính hành chính – kỹ thuật hạn chế nhập

    khẩu.

    Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng xuất, nhập khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Các biện pháp hành chính kỹ thuật rất phong phú và đa dạng. Tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế, mỗi quốc gia đưa ra những biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau để kiểm soát hàng hoá xuất khâủ, nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    13

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    CHƯƠNG II

    CÁC BIỆN PHÁP THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

    Như chúng ta đã biết Nhật Bản là một quần đảo với diện tích là 372.815 km2. Mặc dù diện tích lớn hơn diện tích nước ta (khoảng 15%), song Nhật Bản lại là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên. Rừng núi chiếm 2/3 diện tích cả nước, diện tích đất trồng trọt được chỉ chiếm 15%. Khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác hầu như không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua. Đối với các nguyên liệu cơ bản như đồng, chì, kẽm, nhôm…. Nhật Bản đều phải phụ thuộc

    vào nhập khẩu từ nước ngoài. Thêm vào đó lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nền kinh tế đất nước. Tài nguyên duy nhất của Nhật Bản để phục hồi kinh tế đó là con người.

    Trong điều kiện khó khăn như thế, Nhật Bản đã biết phát huy lợi thế của mình để mở rộng hoạt động thương mại quốc tế, coi ngoại thương là nhiệm vụ sống còn của đất nước. Vì vậy, chính sách ngoại thương , cụ thể là chính sách xuất khẩu và nhập khẩu của Chính phủ trong lĩnh vực ngoại thương hết sức quan trọng.

    Trong chương này chúng ta sẽ lần lượt xem xét nghiên cứu các chính sách thuế quan và sự phát triển của ngoại thương Nhật bản trong những năm gần đây.

    I. CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN

    1. Các loại thuế

    1.1. Thuế theo giá : Là loại thuế đánh theo tỷ lệ giá hàng hoá nhập khẩu, do đó số tiền thuế biến động theo sự thay đổi của giá hàng nhập khẩu. Trong trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp thì tiền thuế thấp và chức năng bảo hộ sản

    __________________________________________________________

    _____________

    14

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    xuất trong nước không rõ ràng. Bên cạnh đó, thuế theo giá cũng có nhược điểm là cơ quan tính thuế sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chính xác giá hàng nhập khẩu để đánh thuế.

    1.2. Thuế theo lượng : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa trên số lượng, dung tích, trọng lượng … hàng nhập khẩu, do đó mức thuế sẽ không phụ thuộc vào giá cả hàng hoá nhập khẩu. Theo phương pháp này, có thể tính toán số tiền thu thuế một cách đơn giản, nhưng khi giá hàng hoá biến động thì sẽ phát sinh sự không công bằng trong việc chịu thuế giữa các đối tượng bị đánh thuế.

    1.3. Thuế giá chênh lệch : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa vào mức chêch lệch giữa giá hàng nhập khẩu và giá tiêu chuẩn do nhà nước qui định. Áp dụng loại thuế này sẽ không bị thất thu trong trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp hơn mức giá tiêu chuẩn. Hiện nay, Nhật Bản đang áp dụng loại thuế này đối với lợn, thịt lợn và các mặt hàng chế biến từ thịt lợn.

    1.4. Thuế theo mùa : Là loại thuế mà mức thuế áp dụng sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nhập khẩu. Chẳng hạn, trong thời kỳ hàng hoá sản xuất trong nước đang mùa thu hoạch thì người ta sẽ đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu có sức cạnh tranh với hàng hoá đó để bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước. Nhưng khi chuyển sang các mùa khác thì người ta lại đánh thuế thấp để có thể đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Ở Nhật Bản thường hay áp dụng phương pháp tính thuế này đối với các loại trái cây sản xuất trong nước có chi phí cao, không trồng được quanh năm và rất khó cạnh tranh với các loại trái cây nhập khẩu giá rẻ như chuối, cam …

    1.5. Các loại thuế khác :

    • Thuế lựa chọn : áp dụng đối với những hàng hoá đồng loại, số lượng lớn. Người ta qui định cả 2 cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng và có thể chọn một trong hai cách tính theo số tiền thuế cao hay thấp.

    __________________________________________________________

    _____________

    15

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Thuế hỗn hợp : là tổng hợp cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng, cũng áp dụng đối với hàng hoá đồng loại số lượng lớn.
    • Chế độ hạn ngạch thuế : là chế độ áp dụng mức thuế suất thấp hoặc bằng 0 khi hàng hoá nằm trong một số lượng qui định nhưng khi số lượng vượt quá mức qui định thì sẽ áp dụng mức thuế cao đối với phần vượt đó.

    Mỗi cách tính thuế đều có ưu điểm và nhược điểm. Tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất trong nước, tính chất của hàng hoá … mà chọn cách tính thuế phù hợp để vừa có thể đảm bảo tiền thu thuế cao vừa thực hiện chức năng bảo hộ sản xuất trong nước mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến tiêu dùng.

        Biểu đồ 1: Các loại thuế
    CIF+ Thuế          
        CIF+ Thuế
    __________________________________________________________
        _____________
      CIF 16
     
            Thuế
             
             

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Nguồn: Nihon no kanzei, NXB Zaikeiyohosha- 1998

    2. Các loại mức thuế

    Nhật Bản có hai loại mức thuế quốc định qui định trong luật và mức thuế hiệp định trong các hiệp ước.

    2.1. Mức thuế quốc định:

    __________________________________________________________

    _____________

    17

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Mức thuế cơ bản : theo luật thuế hải quan, đây là mức thuế được áp dụng trong thời gian dài. Số lượng mặt hàng áp dụng mức thuế này tính đến năm 1997 là 6.952 mặt hàng.
    • Mức thuế tạm thời : theo luật thuế tạm thời, đây là mức thuế mang tính tạm thời được áp dụng thay cho mức thuế cơ bản trong một thời gian nhất định trong trường hợp khó áp dụng mức thuế cơ bản. Số lượng mặt hàng áp dụng mức thuế này tính đến năm 1997 là 1.010 mặt hàng.
    • Mức thuế ưu đãi : là mức thuế được áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển và thấp hơn so với mức thuế qui định đối với hàng nhập khẩu từ các nước phát triển.

    2.2. Mức thuế hiệp định:

    Là mức thuế được thoả thuận trong các hiệp định với nước ngoài, theo đó sẽ chỉ đánh thuế thấp hơn một mức nhất định đối với một mặt hàng nào đó. Hiện nay, mức thuế qui định trong GATT là loại mức thuế hiệp định duy nhất ở Nhật Bản. Mức thuế hiệp định được áp dụng đối với tất cả các nước thành viên của GATT một cách tự động. Trên thực tế, mức thuế hiệp định cũng được áp dụng đối với những nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Nhật Bản. Trong trường hợp các nước muốn sửa đổi lại mức thuế đã thoả thuận thì các nước cần thiết phải thương lượng với nhau.

    3. Chế độ thuế quan

    3.1. Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)

    Theo nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc không phân biệt đối xử, bất kỳ nước nào là thành viên của GATT đều được hưởng mức thuế ưu đãi mà các nước thành viên dành cho nhau. Trong những qui định của GATT có đưa ra những điều kiện như không mở rộng số nước được hưởng ưu đãi … Thế nhưng, từ sau năm 1950 dưới sức ép mạnh mẽ của một loạt các nước Châu Á, Châu Phi mới giành được

    __________________________________________________________

    _____________

    18

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    độc lập từ tay thực dân Anh, Pháp … thì cuối cùng GATT đã cho tất cả các nước đang phát triển hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập.

    Trải qua những cuộc thảo luận ở GATT, OECD, tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển lần thứ 2, Nhật Bản cùng 18 nước phát triển khác đã từng tuyên bố cho hưởng ưu đãi đã thực hiện chế độ ưu đãi thuế phổ cập

    Hơn nữa, từ khoảng năm 1980, các nước phát triển còn áp dụng các biện pháp đặc biệt về thuế quan ưu đãi đối với các nước chậm phát triển (LDC) nơi có GDP bình quân đầu người rất thấp. Vào năm 1978, Bangladesh đại diện cho 30 nước LDC, đã yêu cầu hãy cho các nước LDC hưởng ưu đãi và đến năm 1990 Nhật Bản đã chấp nhận.

    Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu áp dụng ưu đãi của các nước chủ

      yếu   Đơn vị tính: 1.000.000USD
                   
      Nhập khẩu từ các Nhập khẩu từ các nước được hưởng chế độ ưu đãi  
      nước trên thế giới            
                 
            Nhập khẩu những mặt hàng thuộc đối  
            tượng được hưởng ưu đãi  
                   
                Kim ngạch nhập khẩu  
                áp dụng ưu đãi  
               
    EC (Năm 1992) 567,688 149,164 74,454 35,727  
               
    Mỹ (Năm 1992) 532,654 117,900 35,700 16,700  
               
    Nhật (Năm 1996) 347,948 184,701 42,418 17.623  
                   

    ( Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha- 1997, tr.27 )

    Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/8/1971. Nó dựa trên hiệp ước của hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển năm 1970 và được dự định thực hiện trong 10 năm, nhưng cuối cùng được gia hạn áp dụng tới ngày 31/3/2001. Nội dung chủ yếu của chế độ này bao gồm những vấn đề sau :

    3.1.1. Danh mục hàng hóa được hưởng ưu đãi :

    __________________________________________________________

    _____________

    19

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Nông thuỷ sản (từ chương 1 đến chương 24 thuộc hệ HS) : 73 mặt hàng đã được công nhận hưởng qui chế ưu đãi (hệ thống danh sách tích cực). Các mặt hàng này được lựa chọn sau khi đã cân nhắc các ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp trong nước khi chúng được hưởng quy chế ưu đãi. Thuế quan ưu đãi không áp dụng đối với các sản phẩm không có tên trong “danh sách tích cực”.

    * Các

    hệ  HS): tất

    sản phẩm từ

    bộ phận của

    sản phẩm công nghiệp, khai mỏ (từ chương 25 đến chương 97 thuộc cả đều được hưởng ưu đãi trừ 27 mặt hàng như dầu thô, đồ da, các các loại lông, gỗ dán, lụa thô, sợi lụa, vải lụa, sợi bông, giầy và các giầy … (hệ thống danh sách tiêu cực).

    3.1.2. Mức thuế ưu đãi :

    • Hàng hoá nông thuỷ sản : có mức thuế thấp hơn 10% đến 100% so với mức thuế chung hiện hành của các loại hàng hoá cùng loại.
    • Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ : về nguyên tắc sẽ không phải chịu thuế nhập khẩu, tuy vậy có 66 mặt hàng mà thuế nhập khẩu không thể giảm đến 0 bởi cần tính đến các ngành sản xuất trong nước như các loại cặp bằng da, quần áo

    … Thay vào đó, các mặt hàng này chỉ phải chịu 50% so với mức thuế chung hiện hành.

    3.1.3. Phương thức về cấp thuế quan ưu đãi :

    • Nông, thuỷ sản : Thông thường, nông, thủy sản đủ tiêu chuẩn quy chế ưu đãi thì không chịu giới hạn của hạn ngạch. Tuy nhiên nếu như quy chế ưu đãi đối với hàng nhập khẩu có thể gây ảnh hưởng xấu tới ngành nông, thuỷ sản trong nước thì một qui định về trường hợp ngoại lệ sẽ được đưa ra để tạm hoãn quy chế ưu đãi của các sản phẩm này.

    Để áp dụng qui định, cần phải chứng minh được việc áp dụng thuế ưu đãi sẽ dẫn đến tăng kim ngạch nhập khẩu của nông, thuỷ sản và chứng minh các sản phẩm nhập khẩu đó sẽ phương hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc

    __________________________________________________________

    _____________

    20

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    cạnh tranh trực tiếp của các ngành. Bên cạnh đó, phải chứng minh rằng cần phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước.

    • Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ : về nguyên tắc cũng được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan giống như nông, thủy sản và đối với một số trường hợp ngoại lệ các sản phẩm đó cũng không được hưởng ưu đãi. Nhật Bản cũng đặt ra hạn ngạch trần đối với 146 mặt hàng cần thiết ảnh hưởng đến sản xuất trong nước và áp dụng mức thuế ưu đãi đó trong phạm vi hạn ngạch đó. Các sản phẩm nhập khẩu đã sử dụng hết hạn ngạch thì không được hưởng ưu đãi thuế quan.

    3.1.4. Biện pháp ưu đãi đặc biệt đối với các nước chậm phát triển :

    Đối với 42 nước chậm phát triển (LLDC) , ngoài việc áp dụng mức thuế 0% đối với nông, thuỷ sản, các sản phẩm công nghiệp, khai thác mỏ Nhật Bản còn không đưa ra mức hạn ngạch trần đối với các sản phẩm công nghiệp khai thác mỏ.

    Đến thời điểm 1997, Nhật Bản đã cho 155 quốc gia và 25 khu vực (trong đó tất cả đều là thành viên của UNCTAD và hầu hết là các nước đang phát triển) được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan.

    Về kim ngạch nhập khẩu có áp dụng ưu đãi, thì năm 1972 đạt 109.800 triệu Yên, đến năm 1991 tăng lên tới 1.621.900 triệu Yên, trong vòng gần 20 năm đã tăng 15 lần. Nếu so với mức tăng 5 lần của tổng kim ngạch nhập khẩu trong thời gian này thì con số trên là rất lớn và nó góp phần vào việc đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước đang phát triển. So với 18 nước cho các nước đang phát triển hưởng chế độ ưu đãi thuế quan ưu đãi, như EC : 2 tỷ USD, Nhật Bản: 14,2 tỷ USD, Mỹ : 10 tỷ USD.

    Nước đang hưởng ưu đãi thuế quan nhiều nhất của Nhật Bản là Hàn Quốc, tiếp theo là Đài Loan, Trung Quốc, Braxin, ASEAN. Hơn nữa, do hoạt động ngoại thương, sản xuất công nghiệp của các nước NIES châu Á ngày càng phát triển, nên vào năm 1989 Mỹ đã huỷ bỏ quy chế thuế quan ưu đãi đối với các

    __________________________________________________________

    _____________

    21

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    nước Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông. Ngay cả EC cũng chấm dứt việc cho Hàn Quốc hưởng quy chế ưu đãi trong một thời gian do những vướng mắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Chính vì những lý do đó mà trong thời gian gần đây người ta chia các nước đang phát triển thành các nước thương mại Đông Á, Đông Nam Á và các nước con nợ lớn và vẫn tiếp tục thảo luận việc chấm dứt cho hưởng quy chế này.

    Bảng 2: Những nước và khu vực được hưởng chế độ GSP

      LDC LLDC
         
    1971 96 nước
         
    1975 110 nước và 28 khu vực
         
    1980 117 nước và 29 khu vực 29 nước
         
    1985 123 nước và 25 khu vực 34 nước
         
    1990 130 nước và 25 khu vực 38 nước
         
    1995 147 nước và 25 khu vực 41 nước
         
    1997 155 nước và 25 khu vực 42 nước
         

    LLDC:Các nước kém phát triển nhất

    LDC: Các nước kém phát triển

    (Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997, tr.31)

    Biểu đồ 2: Kim ngạch nhập khẩu được hưởng ưu đãi của các nước từ

                                    Nhật             Tr¨m triÖu yªn
                                                     
    0 1000 2000   3000 4000   5000 6000
                                                                 
    Tæng Asean                                                          
                                                             
                                                               
    Singapore                                                          
                                                             
                                                             
                                                               
    Morocco                                                          
                                                             
                                                             
                                                               
    Braxin                                         Kim ng¹ch 95          
                                                     
                                                     
                                                         
                                                       
    Philippin                                         Kim ng¹ch 96          
                                                     
                                                         
                                                         
    Indonexia                                                 _____________
                                                   
                                                     
    Malayxia                                                
                                                   
                                                   
                                                              22
    Th¸i Lan                                                      
                                                         
                                                             
                                                               
    §μi Loan                                                          
                                                             
                                                             
                                                                 
                                                                 

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997, tr31

    3.2 Chế độ thuế quan đặc biệt

    Thuế quan đặc biệt hiện nay của Nhật Bản bao gồm 3 loại: thuế khẩn cấp, thuế đối kháng và thuế chống phá giá hàng hoá.

    3.2.1 Thuế khẩn cấp: là loại thuế đánh vào hàng nhập khẩu để bảo vệ kịp thời ngành sản xuất trong nước khi có sự tăng nhanh nhập khẩu do giá hàng hoá của nước ngoài rẻ.

    3.2.2 Thuế đối kháng: là loại thuế đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu để bù lại việc các nhà sản xuất và nhập khẩu được hưởng trợ cấp của chính phủ.

    3.2.3 Thuế chống phá giá hàng hoá: là loại thuế đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu để bảo vệ cho những ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại do việc các nhà sản xuất và xuất khẩu được hưởng trợ cấp từ chính phủ hoặc là do việc bán phá giá hàng hoá.

    Theo nguyên tắc WTO, các biện pháp chống phá giá chỉ được áp dụng khi nó gây thiệt hại đối với nền công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu. Thuế quan chống phá giá của Nhật Bản được quy định rất rõ ràng, chặt chẽ dựa theo hiệp định GATT và pháp lệnh Nhà nước. Cụ thể là :

    Bước 1: Yêu cầu đánh thuế quan chống phá giá

    Trước hết những nhà sản xuất trong nước phải chứng minh được một cách đầy đủ việc hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá và hàng hoá nhập khẩu đó làm phương hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp của các ngành, sau đó đưa lên Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét.

    __________________________________________________________

    _____________

    23

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Bước 2 : Chính phủ sẽ bắt đầu điều tra khi thấy đơn yêu cầu đánh thuế đã được chứng minh đầy đủ. Thời gian đưa ra quyết định có bắt đầu tiến hành điều tra hay không kéo dài trong 2 tháng kể từ khi nhận được đơn yêu cầu.

    Bước 3 : Điều tra

    Ban điều tra bao gồm đại diện của Bộ Tài chính, Bộ trực thuộc, Bộ thương mại. Việc điều tra sẽ hoàn thành trong vòng 1 năm kể từ sau khi bắt đầu điều tra.

    Bước 4 : Đánh thuế

    Sau khi chứng minh được hàng hoá nhâp khẩu được bán phá giá và có thiệt hại, chính phủ sẽ thực hiện đánh thuế chống phá giá trong phạm vi chênh lệch của mức giá thấp hơn.

    Tại vòng đàm phán Tokyo, người ta đã xây dựng những hiệp định về các biện pháp trợ cấp đối kháng và hiệp định chống phá giá. Vì vậy, Nhật Bản đã tiến hành sửa đổi luật, sửa đổi pháp lệnh của chính phủ và soạn thảo những qui định về thủ tục từ việc bắt đầu điều tra đến việc quyết định mức thuế. Sau đó, dựa vào những qui định trong quan điểm hướng dẫn liên quan đến những thủ tục của thuế đối kháng và thuế chống phá giá mà Nhật Bản đã làm rõ các vấn đề thủ tục, cơ sở áp dụng thuế.

    Nhìn vào sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương thế giới và tiềm lực kinh tế của Nhật Bản người ta có thể dự đoán rằng sản xuất trong nước sẽ ngày càng phải chịu nhiều thiệt hại do việc nhập khẩu hàng nước ngoài với số lượng lớn. Vì vậy, Nhật Bản đã áp dụng quy chế thuế quan đặc biệt một cách thích hợp.

    3.                 Miễn giảm và hoàn trả thuế

     

    4.1. Miễn giảm thuế:

    __________________________________________________________

    _____________

    24

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Khi hàng hoá nhập khẩu đáp ứng được các điều kiện nhất định thì sẽ được miễn giảm một phần hoặc toàn bộ tiền thuế. Hàng hoá được miễn một phần thuế hải quan gọi là giảm thuế còn nếu hàng hoá được miễn toàn bộ thuế gọi là miễn thuế. Việc xem xét miễn giảm thuế xuất phát từ những yêu cầu mang tính chính sách của kinh tế, xã hội, văn hoá và trong nhiều trường hợp cũng căn cứ vào tập quán, hiệp ước quốc tế, quan hệ ngoại giao …

    Miễn giảm thuế gồm có 2 loại là miễn giảm vô điều kiện như đối với hành lý xách tay của du khách nước ngoài, đồ dùng của người tàn tật và miễn giảm thuế có điều kiện.

    Bên cạnh đó, căn cứ vào luật mà theo đó hàng hóa được hưởng miễn giảm thuế thì miễn giảm thuế được chia làm 2 loại là miễn giảm thuế tạm thời nếu theo Luật tính thuế tạm thời và miễn giảm thuế lâu dài nếu theo Luật thuế hải quan.

    * Theo Luật thuế hải quan, các hàng hoá sẽ được miễn thuế lâu dài là :

    • Hàng tiêu dùng, sinh hoạt : khi giá nhập khẩu của những mặt hàng như lương thực thiết yếu (gạo, bột mỳ … ) cao, khi giá cả trong nước lẫn giá nhập khẩu của thịt lợn và đường là những mặt hàng có giá biến động lớn đồng loạt tăng cao thì những hàng hóa này được miễn giảm thuế.

    Ngoài những mặt hàng có quan hệ mật thiết tới đời sống hàng ngày như lương thực, quần áo … thì ngay cả với những mặt hàng khác khi giá nhập khẩu tăng vọt mà đó lại là những mặt hàng rất cần thiết để đảm bảo đời sống nhân dân hoặc không ảnh hưởng tới sản xuất trong nước thì cũng có thể được miễn giảm thuế.

    • Vật tư nguyên liệu dùng để sản xuất : là vật tư, nguyên liệu cần thiết để sản xuất ra những hàng hoá chuyên dụng như thức ăn gia súc …
    • Hàng hoá có mục đích sử dụng đặc biệt : là những hàng hoá dùng cho nghiên cứu khoa học và giáo dục, hàng là quà tặng, quà biếu cho các hoạt động

    phúc lợi xã hội.

    __________________________________________________________

    _____________

    25

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Hàng hoá của các nhà ngoại giao: miễn thuế cho hàng hoá được sử dụng trong đại sứ quán …
    • Ngoài ra, hàng hoá cũng được miễn thuế trong các trường hợp sau:
    • Giảm thuế trong trường hợp hàng hoá bị thiệt hại do thay đổi phẩm chất.
    • Giảm thuế đối với hàng hoá xuất khẩu để gia công.
    • Miễn thuế đối với các hàng hoá như thuỷ sản đánh bắt nước ngoài.
    • Miễn thuế đối với hàng tái xuất.
    • Miễn thuế đối với những vật tư, nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu.
    • Miễn thuế xuất khẩu những hàng hoá mà nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hoá đó đã bị chịu thuế.
    • Theo Luật tính thuế tạm thời, các hàng hoá được hưởng miễn giảm thuế bao gồm:
    • Miễn đối với dầu thô được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm hoá dầu : căn cứ vào mục đích sử dụng, nếu là dầu thô dùng làm nhiên liệu thì sẽ phải chịu thuế, nếu sử dụng làm nguyên liệu thì không phải chịu thuế, Nhật Bản đã thực hiện miễn thuế đối với dầu thô được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu sản xuất các sản phẩm hoá dầu.
    • Giảm thuế đối với các hàng được gia công ở nước ngoài (rồi nhập khẩu trở lại Nhật) để đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước đang phát triển ở xung quanh, Nhật Bản đã thực hiện chế độ này, theo đó chẳng hạn như đối với quần áo may mặc, Nhật Bản sẽ giảm thuế nguyên liệu được xuất khẩu ra nước ngoài để gia công, lắp ráp và chỉ đánh thuế vào phần giá trị gia tăng từ gia công, lắp ráp với điều kiện thời hạn thực hiện gia công, lắp ráp ở nước ngoài dưới 1 năm.

    __________________________________________________________

    _____________

    26

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Miễn giảm thuế cho nguyên liệu dùng để nghiên cứu năng lượng nguyên tử : là chế độ miễn thuế đối với những nguyên liệu dùng để nghiên cứu năng lượng nguyên tử mà Nhật Bản khó chế tạo. Ngoài ra cũng miễn thuế cho những hàng hoá sản xuất trong nước gặp khó khăn như máy bay và các bộ phận của máy bay, các máy móc, thiết bị để khám phá vũ trụ.
    • Miễn thuế cho sữa bột đã tách bơ dùng làm thức ăn ở nhà trẻ, trường học

    … Sau đại chiến lần thứ 2, chế độ dinh dưỡng của trẻ em Nhật Bản đã được cải thiện rõ rệt nên việc sử dụng sữa bột tăng lên nhanh chóng.

    Biểu đồ 3: Số tiền thuế được miễn giảm

    Tr¨m triÖu yªn

    1 8 0 0

    1 6 0 0

    1 4 0 0

    1 2 0 0

    1 0 0 0

    8 0 0

    6 0 0

    4 0 0

    Nguồ2n:00 Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha. 1997, tr.23

    0                    
                    9 6    N ¨m
    8 9 9 0 91   9 2 9 3 9 4 9 5
    4.2 Chế độ hoàn trả thuế:            
                         

    Chế độ này cho phép những hàng hoá nhập khẩu đã nộp thuế thoả mãn được những tiêu chuẩn để được hoàn trả thì sẽ được hoàn trả một phần hay toàn bộ thuế đã nộp trước đó. Hoàn trả thuế cũng được chia làm 2 loại là trả thuế tạm thời và trả thuế lâu dài.

    * Các trường hợp được hoàn trả thuế lâu dài theo Luật thuế hải quan :

    • Hàng hoá bị thiệt hại, hư hỏng do thay đổi phẩm chất.
    • Vật tư, nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
    • Những hàng hóa mà nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hoá đó đã phải chịu thuế.
    • Hàng hoá bị trả lại hoặc bị huỷ bỏ do không phù hợp với hợp đồng.

    __________________________________________________________

    _____________

    27

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Theo Luật thuế tạm thời có :
    • Chế độ hoàn trả thuế do tăng sản xuất những hàng hoá như các sản phẩm tinh dầu mỏ tinh chế thô : đây là chế độ hoàn trả một phần thuế trong trường hợp tình hình cung cấp các sản phẩm tinh chế từ dầu thô như dầu hoả, dầu nhẹ, dầu nặng loại A … bị thiếu nên phải sử dụng biện pháp xử lý đặc biệt sản xuất từ dầu nặng.
    • Chế độ hoàn trả thuế đối với những hàng hoá như dầu mỏ dùng để sản xuất ra các sản phẩm hoá dầu.

    Bảng 3: Các mặt hàng áp dụng chế độ miễn giảm, hoàn trả thuế

    Năm Số lượng hàng hoá Tên hàng hoá  
    được áp dụng
         
           
    1969 5 Tủ lạnh, bộ nhớ, vòng bi, đèn chân không, các loại đồng hồ  
    đeo tay.  
       
    1974 24 Ống đồng vàng, pittong, máy kéo sợi, ôtô, tai nghe, dây điện  
    từ chậm…  
       
    1987 4 Ống đồng vàng, vòng bi, đèn chân không, dây điện từ chậm.  
    1988 626 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS)  
    1989 843 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS),  
    các loại hàng may mặc (chương 62 trong hệ HS)  
       
    1990 258 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS),  
    các loại hàng may mặc (chương 62 trong hệ HS)  
       

    __________________________________________________________

    _____________

    28

     

    Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9  
         
    Từ 369 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS)
    1994 & 28 mặt hàng tương ứng, các loại hàng may mặc (chương 62
    trở đi   trong hệ HS), các loại đạn dược (chương 57 trong hệ HS)…

    Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997,tr.25

    4.3 Chế độ thanh toán lại thuế Hải quan:

    Chế độ này giống với chế độ hoàn trả ở chỗ một phần hay toàn bộ thuế nộp trước được hoàn trả. Nhưng khác ở chỗ, theo chế độ hoàn trả, tiền thuế nộp trước được hoàn trả lại cho người nộp thuế. Còn theo chế độ này, tiền thuế đó được thanh toán cho người chịu thuế. Trong các trường hợp không thuộc sự điều chỉnh của chế độ miễn giảm hay hoàn trả thuế thì người ta sẽ áp dụng chế độ này để bảo vệ ngành sản xuất trong nước và áp dụng chủ yếu cho các sản phẩm sản xuất từ dầu mỏ được sản xuất ở Nhật Bản mà có sử dụng dầu thô nhập khẩu đã bị đánh thuế hay các sản phẩm dầu được dùng làm nguyên liệu cho việc sản xuất các hàng hoá như các sản phẩm hoá dầu, khí gas.

    III.            CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG NHẬT BẢN

     

    1.     Hạn ngạch nhập khẩu

    Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp về khối lượng hoặc giá trị nhập khẩu của các loại hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất định thường là một năm. Hạn ngạch nhập khẩu được tính toán trên cơ sở dự đoán nhu cầu và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước. Vào đầu và giữa năm tài chính, Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp và Thương mại (MITI) sẽ phê chuẩn những mặt hàng nhập khẩu hạn ngạch được ghi trong giấy thông báo nhập khẩu. Thông báo nhập khẩu quy định trình tự các bước để xin hạn ngạch cho một hay một nhóm mặt hàng. Khi nhập khẩu một mặt hàng theo hạn ngạch, nhà nhập khẩu sẽ không được cấp giấy phép của ngân hàng quản

    __________________________________________________________

    _____________

    29

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    lý ngoại hối hay các cơ quan khác nếu họ chưa xin được hạn ngạch của Bộ Công Nghiệp và Thương mại.

    Hiện nay, ở Nhật Bản có 66 mặt hàng thuộc hạn ngạch nhập và hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phân cho các nhà nhập khẩu trong giới hạn của tổng hạn ngạch theo một trong các chế độ sau :

    • Chế độ theo dõi việc phân bố hạn ngạch nhập khẩu : hạn ngạch được phân bố căn cứ vào tỷ lệ hạn ngạch của nhà nhập khẩu trong một thời kỳ cụ thể trong quá khứ so với tổng trị giá hay số lượng hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng.
    • Chế độ theo dõi việc thông quan : việc phân bổ căn cứ vào tổng số lượng hạn ngạch hay giá trị hạn ngạch dự tính hoặc đã thực hiện được trong thời gian trước.
    • Chế độ thông báo chính thức : việc phân bổ căn cứ vào số lượng hay trị giá hạn ngạch tối đa do các cơ quan nhà nước phân trước cho các nhà nhập khẩu. Mức hạn ngạch được quyết định trước này được qui định trong các thông báo chính thức gửi cho các nhà nhập khẩu.
    • Chế độ theo đơn đặt hàng : hạn ngạch được phân bổ căn cứ vào số lượng hay trị giá hàng đã được đặt mua bởi người tiêu dùng cuối cùng.
    • Chế độ theo đầu doanh nghiệp : là chế độ theo đó số lượng hoặc trị giá hạn ngạch được phân bổ bình đẳng cho các nhà nhập khẩu. Chế độ này thường được dùng đi đôi với một trong hai chế độ theo dõi nói trên.
    • Chế độ ai xin trước được trước : hạn ngạch được phân theo nguyên tắc ai xin trước được trước cho đến khi đạt đến một nửa số lượng hay giá trị qui định.
    • Chế độ thống nhất ý kiến của các quan chức về phân bổ hạn ngạch: theo chế độ này, các quan chức Bộ Công Nghiệp và Thương mại và các Bộ khác sẽ bàn bạc để quyết định hạn ngạch phân bổ cho các nhà nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    30

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    2. Những hạn chế xuất khẩu tự nguyện

    Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restrain: VER) là thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu sang nước khác đối với một mặt hàng xác định, với một mức tối đa trong khoảng một thời gian nào đó. Hay nói cách khác hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu tự nguyện chấp nhận nhằm ngăn chặn trước những mối đe doạ lớn hơn và những hạn chế khác đối với thương mại của mình.

    Xét về hình thức, VER cũng giống như hạn ngạch nhập khẩu, đều làm giảm khối lượng trao đổi mậu dịch và làm cho giá cả hàng hoá tăng lên theo quy luật cung cầu. Tuy nhiên, xét về lợi ích thì đối với nước xuất khẩu VER sẽ có lợi hơn vì mặc dù số lượng xuất khẩu bị hạn chế nhưng giá cả hàng hoá lại tăng lên và phần thu nhập tăng thêm này các nhà xuất khẩu sẽ nhận được, trái ngược với hạn ngạch nhập khẩu, phần thu tăng thêm thuộc về các nhà nhập khẩu. Chính vì vậy, chính phủ Nhật Bản trong các cuộc thương thuyết để giải quyết vấn đề mâu thuẫn mậu dịch đã cố gắng ký được các hiệp định về VER thay cho việc để các nước bạn hàng ban hành các hàng rào mậu dịch.

    Nếu như trước đây, Nhật Bản chỉ phải thực hiện VER đối với các sản phẩm dệt và một số mặt hàng sử dụng nhiều lao động do có những mâu thuẫn mậu dịch nảy sinh thì đến nay, Nhật Bản đã thực hiện VER đối với rất nhiều loại hàng hoá xuất khẩu sang các thị trường Mỹ và Tây Âu như các sản phẩm sắt thép, nhiều loại sản phẩm máy móc công nghiệp, ôtô, tivi màu và đầu video…

    Trong đó, tự nguyện hạn chế xuất khẩu ôtô sang thị trường Mỹ là một trong những ví dụ điển hình. Đứng trước nguy cơ bị phá sản vì không thể cạnh tranh nổi các loại ôtô có chất lượng cao và tiêu tốn ít nhiên liệu của Nhật Bản, các nhà sản xuất ôtô Mỹ đã đấu tranh đòi chính phủ phải có những chính sách bảo hộ và kết quả sau cuộc thương lượng, Nhật Bản đã chấp nhận thực hiện VER đối với các loại ôtô xuất khẩu sang Mỹ. Việc thực hiện VER trong khi có lợi cho nhà sản xuất thì gây thiệt thòi cho người tiêu dùng vì phải chịu giá ô tô tăng lên.

    __________________________________________________________

    _____________

    31

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Theo yêu cầu của các chính phủ nước ngoài, chính phủ Nhật Bản đã trực tiếp điều hành việc phân phối VER cho các ngành công nghiệp và các công ty trong nước. Tổng hạn ngạch xuất khẩu sau khi thương lượng với các nước bạn hàng sẽ được phân phối cho các công ty xuất khẩu. Một số VER được ban hành bởi MITI dựa trên cơ sở của Luật quản lý thương mại, nhưng rất nhiều VER cũng được thực hiện thông qua sự hướng dẫn hành chính của MITI và sự phân phối giữa các ngành có liên quan. Việc phân phối hạn ngạch xuất khẩu cố định cho các nhà xuất khẩu sẽ làm giảm cạnh tranh, giữ giá cả ở mức cao làm tổn hại đến người tiêu dùng và những ngành công nghiệp trong nước sử dụng những sản phẩm trung gian được sản xuất theo chế độ VER làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm khác.

    Tuy nhiên, VER chỉ là giải pháp tạm thời và không hiệu quả. Nó có thể giúp làm giảm khối lượng thặng dư mậu dịch của Nhật Bản nhưng cũng đồng thời làm giảm khối lượng trao đổi mậu dịch hoặc bóp méo quá trình tự do mậu dịch dẫn đến giảm hiệu quả trong việc phân phối các nguồn tài nguyên quốc gia và quốc tế. Từ đó dẫn đến ngày càng nhiều các công ty Nhật Bản tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm chuyển các hoạt động sản xuất để xuất khẩu hoặc trực tiếp sang thị trường xuất khẩu hoặc sang các nước thứ ba mà từ đó sản phẩm sẽ được xuất khẩu sang thị trường các nước khác. Theo thống kê năm 1990, trong khi xuất khẩu ôtô của Nhật Bản theo VER sang Mỹ đã giảm xuống dưới 2,4 triệu xe, nhưng sản xuất ôtô của Nhật Bản ở thị trường Mỹ và các nước đã lên tới 1,7 triệu xe.

    VER là biện pháp hạn chế thương mại nằm ngoài phạm vi nguyên tắc của GATT và việc huỷ bỏ VER đã được thảo luận tại vòng đàm phán Urugoay về các thương thuyết mậu dịch đa phương. Sau vòng đàm phán này, hầu hết các hiệp định về VER của Nhật Bản đã được huỷ bỏ. Ví dụ, VER đã được dỡ bỏ đối với thép và các sản phẩm thép vào tháng 3-1992, máy công cụ vào tháng 12-1993, ôtô khách vào tháng 3-1994, đồ gốm sứ vào tháng 12-1994.

    __________________________________________________________

    _____________

    32

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    3. Các hạn ngạch hạn chế nhập khẩu khác :

    Ngoài các chế độ hạn ngạch nói trên, ở Nhật Bản còn có một số chế độ khác như :

    • Chế độ cho phép nhập khẩu : là chế độ theo đó người nhập khẩu muốn nhập khẩu phải được sự đồng ý của các tỉnh nhập hàng, hàng nhập khẩu có định mức được qui định trong nguyên tắc chi tiết của Luật quản lý thương mại.
    • Chế độ định mức nhập khẩu phối hợp : chế độ này căn cứ vào mối quan hệ cung cầu trong nước để hạn chế số lượng hoặc giá trị của hàng hoá nhập khẩu.
    • Chế độ báo cáo nhập khẩu : chế độ này được qui định cũng nhằm để hạn chế số lượng hoặc giá trị nhập khẩu.

    4.                 Giấy phép nhập khẩu

    Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ cấp giấy phép nhập khẩu. Hiệp định này đòi hỏi hệ thống giấy phép nhập khẩu phải rõ ràng và dự đoán trước được, đồng thời các bên phải công bố cho các thương nhân những thông tin đầy đủ về các loại giấy phép được cấp. Thời hạn tối đa cho các cơ quan quốc gia xem xét đơn xin phép nhập khẩu là 60 ngày.

    • Nhật Bản, tuy hầu hết hàng nhập khẩu không cần giấy phép nhập khẩu của MITI nhưng các mặt hàng sau vẫn phải có giấy phép nhập khẩu :
    • Hàng hoá nằm trong 66 mặt hàng liệt kê trong thông báo nhập khẩu thuộc diện có hạn ngạch nhập khẩu.
    • Hàng hoá sản xuất hay vận chuyển từ các quốc gia, khu vực quy định trong thông báo nhập khẩu đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu.
    • Hàng hoá đòi hỏi phương thức thanh toán đặc biệt.
    • Hàng hoá đòi hỏi sự xác nhận của hải quan về nhập khẩu hay sự xác

    nhận của một số Bộ, các nhà nhập khẩu được toàn quyền ký hợp đồng với các

    __________________________________________________________

    _____________

    33

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    nhà xuất khẩu, nhưng việc đăng ký và thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào sự cho phép hay xác nhận của các Bộ phận liên quan.

    Việc thanh toán hàng nhập khẩu cần giấy phép chỉ có thể thực hiện sau khi giấy phép nhập khẩu đã được cấp.

    5. Chế độ hạn ngạch thuế

    Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ qui định trong đó áp dụng mức thuế bằng

    • hoặc thấp đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng một số lượng qui định nhằm đảm bảo cung cấp những hàng hoá với giá rẻ cho người tiêu dùng. Khi hàng hoá nhập khẩu vượt quá số lượng qui định đó thì sẽ áp dụng mức thuế cao (thuế lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

    Có nhiều cách tính số lượng để áp dụng mức thuế suất lần 1 nhưng hiện nay ở Nhật Bản, phương pháp tính số lượng phổ biến là lấy số lượng dự đoán nhu cầu trong nước trừ đi số lượng dự đoán sản xuất trong nước.

    Khi Nhật Bản thực hiện tự do hoá thương mại thì chế độ hạn ngạch thuế được sử dụng như là biện pháp mang tính quá độ nhằm làm giảm xung đột gay gắt của sản xuất trong nước và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá. So với qui định hạn ngạch nhập khẩu, theo đó chỉ cho phép nhập khẩu trong một số lượng nhất định thì theo chế độ hạn ngạch thuế, nhà nhập khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số lượng qui định, nhưng phải chịu thuế mức thuế suất lần 2 đối với phần vượt đó. Theo nguyên tắc của GATT, các nước thành viên không được sử dụng chế độ hạn ngạch nhập khẩu nhưng lại thừa nhận chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối với từng nước.

    Chế độ hạn ngạch này được xây dựng dựa trên sự đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ nhà sản xuất trong nước. Chính vì vậy, đối với mỗi danh mục hàng hoá chính phủ đều phải nghiên cứu ưu và nhược điểm của việc vận dụng chế độ hạn ngạch này căn cứ trên việc xem xét

    __________________________________________________________

    _____________

    34

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    đến tình hình cung cầu, thời hạn áp dụng, thực trạng sản xuất trong nước … và tiến hành cách thức áp dụng phù hợp để thúc đẩy mậu dịch tự do.

    Bảng 4: Các mặt hàng thuộc đối tượng của việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế (tính đến năm 1992), cụ thể như sau :

    ST Hàng hoá Thời hạn bắt     Mức thuế
    T đầu áp dụng Lần 1   Lần 2
       
    1 Bò thịt giống 4/1972   0   45.000 yên/con
    2 Pho mát tự nhiên 10/1970   0   35%
    3 Yến mạch 4/1971   0   10%
        4/1965   0   50% hoặc 12
    4 Ngô     yên/kg tuỳ theo
    4/1989   10%  
            cách nào cao hơn
               
    5 Lúa mạch 10/1974   0   25 yên/kg
    6 Đường  mật  dùng  để 4/1987   0   18 yên/kg, 25%
    nấu rượu    
               
    7 Cacao để làm sôcôla 4/1988   0   25%
    (không đường)    
               
    8 Cà chua dạng tương, 7/1989   0   20%
    cà chua bột    
               
    9 Dứa hộp 4/1990   0   30%
    10 Cồn để sản xuất rượu.. 4/1972   0   44.8 yên/1,20.2%
        96 yên/1,17.9%
               
            0    
    11 Dầu nặng và dầu thô 4/1972   2.770 yên/kl   3.750 yên/kl
      2.580 yên/kl  
               
            2.520 yên/kl    
    12 Da (ngựa, cừu, dê) 4/1986   20%   60%

    __________________________________________________________

    _____________

    35

     

      Khoá luận tốt nghiệp   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9
               
            15%  
      13 Giầy da 4/1986 27% 60% hoặc 4.800
      21.6% yên/đôi tuỳ theo
            30% cách nào cao hơn

    Nguồn: Thuế xuất nhập khẩu Nhật Bản

    6. Các biện pháp hành chính kỹ thuật hạn chế nhập khẩu

    Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Tuỳ thuộc mỗi nước mà có các biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau được đưa ra để kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu.

    Thị trường Nhật Bản luôn là một thị trường có nhiều điểm khác biệt mang tính đặc trưng so với thị trường các nước khác. Trong buôn bán, giá cả có thể là rất quan trọng, nhưng ở thị trường Nhật Bản, chất lượng là yếu tố được quan tâm hàng đầu. Ngay cả khi mua một mặt hàng rẻ tiền thì người Nhật cũng vẫn rất quan tâm tới chất lượng mặt hàng đó. Nhìn chung, tiêu chuẩn chất lượng và độ an toàn của hàng hoá của Nhật Bản cao hơn và chặt chẽ hơn so với yêu cầu quốc tế và thông thường, hàng hoá nước ngoài muốn xâm nhập thị trường Nhật Bản thì trước hết phải đáp ứng được những tiêu chuẩn này.

    Hiện nay, hệ thống dấu chất lượng ở Nhật Bản bao gồm nhiều loại qui định cho những hàng hoá khác nhau, trong đó hai dấu chứng nhận chất lượng được sử dụng phổ biến là : dấu chứng nhận tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS) và dấu chứng nhận công nghiệp Nhật Bản (JIS)

    6.1 Dấu JAS (tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản):

    Luật về tiêu chuẩn hoá các nông lâm sản và hợp lý hoá các nhãn hiệu chất lượng thường được gọi là Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản hay Luật JAS. Luật này qui định các tiêu chuẩn về chất lượng, đưa ra các quy tắc về việc ghi nhãn chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS. Các qui định áp dụng đối với các sản phẩm được phát hành theo định kỳ. Các qui định này xác định

    __________________________________________________________

    _____________

    36

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    phạm vi áp dụng của luật, nêu ra định nghĩa về các sản phẩm tiêu chuẩn JAS, xác định các tiêu chuẩn về chất lượng cần được thoả mãn và các phương pháp đánh giá chất lượng.

    Việc sử dụng dấu chứng nhận phẩm chất JAS trên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện và các nhà sản xuất cũng như những người bán lẻ không bị bắt buộc phải sản xuất hay kinh doanh các sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng JAS. Tuy nhiên, việc ghi nhãn sản phẩm là bắt buộc đối với những sản phẩm do Bộ nông – lâm- ngư nghiệp qui định. Các nhà sản xuất muốn được dán nhãn hiệu chất lượng JAS lên các sản phẩm của họ thì phải thông qua các tổ chức giám định để đánh giá chất lượng của hàng hoá đó.

    Danh sách các sản phẩm được điều chỉnh bởi luật JAS bao gồm : đồ uống, thực phẩm chế biến, dầu ăn và mỡ, các nông lâm thuỷ sản chế biến. Đa số các sản phẩm như thực phẩm đóng hộp, nước hoa quả, các sản phẩm chế biến từ cà chua, dăm bông, thịt lợn hun khói được sản xuất tại Nhật đều mang dấu chất lượng JAS.

    Các sản phẩm nhập khẩu cũng có thể được cung cấp dấu chứng nhận phẩm chất JAS nếu họ đạt các tiêu chuẩn do JAS đề ra. Việc giám định các tiêu chuẩn này có thể lấy kết quả của các tổ chức giám định nước ngoài do Bộ trưởng Bộ nông- lâm- ngư nghiệp chỉ định.

    6.2 Dấu JIS (tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản):

    Dấu này cũng tương tự như dấu JAS nhưng là áp dụng đối với tất cả các sản phẩm công nghiệp và khoáng sản như vải, quần áo, lò sưởi, các thiết bị điện, giầy dép, bàn ghế, đồ dùng nấu nướng, dụng cụ thể thao, nhạc cụ và các loại sản phẩm khác đòi hỏi phải được tiêu chuẩn hoá về chất lượng và kích cỡ hay các qui cách phẩm chất khác. Dấu này lúc đầu được áp dụng để tạo ra một chuẩn mực về chất lượng cho các sản phẩm xuất khẩu khi Nhật Bản bắt đầu bán sản phẩm của mình ra nước ngoài.

    __________________________________________________________

    _____________

    37

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Dấu chứng nhận tiêu chuẩn JIS chỉ được áp dụng đối thoả mãn các yêu cầu về chất lượng của JIS. Do đó khi kinh này chỉ cần kiểm tra dấu chất lượng tiêu chuẩn JIS là đủ để của chúng và người tiêu dùng Nhật Bản cũng thích chọn đóng dấu chất lượng JIS.

    với những sản phẩm doanh các sản phẩm xác nhận chất lượng những sản phẩm có

    Ngoài hai loại dấu chứng nhận phẩm chất trên, ở Nhật Bản còn có một số loại dấu chứng nhận phẩm chất khác, trong đó có những dấu mang tính bắt buộc như dấu S và những dấu mang tính tự nguyện như dấu G, dấu Q là hai loại dấu chuyên ngành hiện đang sử dụng rộng rãi.

    Dấu S được cấp cho các sản phẩm có đủ độ an toàn, dùng cho nhiều chủng loại hàng hoá dành cho trẻ em, đồ dùng gia đình, dụng cụ thể thao.

    Dấu G được áp dụng đối với các sản phẩm có thiết kế đạt tiêu chuẩn. Các sản phẩm được đóng dấu này được bộ phận giám định thiết kế của MITI lựa chọn trên cơ sở độ an toàn, độ bền, màu sắc và các đặc tính khác cùng với thiết kế. Các đồ gia dụng được lựa chọn để mang dấu chất lượng thiết kế là các sản phẩm dệt như rèm cửa, chăn, đồ nội thất, đồ điện, các thiết bị nghe nhìn, đồ thuỷ tinh và đồ uống. Hiện nay có khoảng 500 sản phẩm được cấp dấu G.

    Dấu Q được cấp cho các sản phẩm dệt có chất lượng cao. Dấu này được Viện giám định các sản phẩm dệt của MITI cấp sau khi tiến hành các cuộc giám định chất lượng đối với sản phẩm. Ban đầu dấu Q chỉ được cấp cho các sản phẩm quần áo trẻ em, về sau dấu này được cấp cho các loại sản phẩm phải trải qua rất nhiều cuộc kiểm tra về các đặc tính khác nhau như độ bền, độ co, độ phai và chất lượng của thiết kế.

    Bên cạnh đó cũng có một số loại dấu khác có các quy định về quy cách phẩm chất tương tự như của dấu JIS chẳng hạn như dấu “Len” có thể được áp dụng đối với các loại quần áo len may sẵn theo các tiêu chuẩn về quy cách phẩm

    __________________________________________________________

    _____________

    38

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    chất JIS hay như dấu SIF cấp cho các hàng may mặc có chất lượng tốt như quần áo nam, nữ, ba lô và các sản phẩm phục vụ thể thao.

    • Nhật có nhiều dấu chất lượng khác nhau, do các cơ quan của chính phủ hoặc các tổ chức giám định đặt ra. Trong một số trường hợp các dấu này trùng nhau và một sản phẩm có thể cùng một lúc mang nhiều hơn một dấu.

    Người Nhật có thói quen đưa ra quyết định mua hàng căn cứ vào các dấu chất lượng trên bao bì vì họ coi đó như là sự đảm bảo độ tin cậy về chất lượng hàng hoá được mua. Các nhà xuất khẩu có ý định xâm nhập vào thị trường Nhật cần có được dấu chứng nhận phẩm chất cho sản phẩm của họ để đảm bảo rằng các sản phẩm này đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu của thị trường Nhật, từ đó sẽ dễ dàng hơn trong việc tiêu thụ hàng hoá. Hơn nữa, nếu chất lượng của một sản phẩm đã được thị trường Nhật Bản chấp nhận thì sản phẩm đó hoàn toàn có thể cạnh tranh được ở các thị trường khác.

    Nhiều nhà xuất khẩu hay sản xuất nước ngoài tại Nhật Bản cho rằng những tiêu chuẩn người Nhật đề ra là quá cao và việc đáp ứng được những tiêu chuẩn đó là không thể được vì quá tốn kém. Ngược lại, nhiều nhà xuất khẩu nhận thức là phải đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng và độ an toàn của hàng hoá đối với người tiêu dùng Nhật Bản và họ đã đạt được kết quả kinh doanh tốt.

    7. Keiretsu (Hệ thống)

    Keiretsu là một hệ thống kinh tế và tổ chức kinh doanh kiểu Nhật Bản và thường được hiểu là các tổ hợp hay tập đoàn công nghiệp khổng lồ của Nhật Bản. Nó được thành lập vào đầu những năm 60, khi các thị trường chứng khoán của Nhật Bản đã trở nên rất yếu kém. Các cổ phiếu của các công ty lớn lâm vào tình trạng ế ẩm, giá tụt xuống rất nhanh. Họ đang trong tình trạng có thể bị các đối thủ mạnh khác giành quyền kiểm soát. Theo đó, việc ra đời các tập đoàn này là một biện pháp đối phó hợp lý cho sự tồn tại của họ.

    __________________________________________________________

    _____________

    39

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Trong nền kinh tế Nhật Bản hiện nay có 8 tập đoàn lớn được xếp vào Keiretsu bao gồm Mitsubishi, Mitsu, Sumitomo, Fuyo, DKB, Sanwa, Tokai và IBJ. Các tập đoàn này được tổ chức xoay quanh các ngân hàng và các tổng công ty thương nghiệp. Các công ty thành viên của mỗi tập đoàn được liên kết với nhau qua 3 yếu tố then chốt, đó là:

    • Nắm chéo các cổ phần của nhau.
    • Các mối quan hệ nhân sự.
    • Vấn đề tài chính bên trong.

    Việc nắm giữ cổ phần đan xen, chiếm một số vốn lớn gần 35% toàn bộ số vốn của nền kinh tế Nhật Bản cùng đội ngũ quản lý điều hành công việc với mục tiêu tạo ra lợi nhuận tối đa trong một thời gian dài đã cho phép các tập đoàn này khống chế thị trường trong thời kỳ mở rộng kinh tế, thủ tiêu cạnh tranh trong các thời kỳ suy thoái, bảo vệ lẫn nhau khỏi sự phá sản và thoát ra khỏi mối đe doạ bị mất quyền kiểm soát canh tranh. Các mạng lưới phân phối của Keiretsu còn cho phép kiểm soát giá bán lẻ. Chính vì vậy trung bình mỗi người tiêu dùng Nhật Bản phải trả giá cao hơn từ 30% đến 40% so với người tiêu dùng phương Tây đối với các sản phẩm cùng loại.

    Keiretsu là một trong số những đặc trưng nhất của nền kinh tế Nhật Bản và đã cung cấp một sự cạnh tranh sắc bén mà các nước khác không thể địch được, nó tạo ra một hàng rào ngăn cản mậu dịch chính cho các bạn hàng nước ngoài thâm nhập vào thị trường Nhật Bản.

    8. Hệ thống phân phối Nhật Bản

    Đóng góp vào sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản sau chiến tranh có nhiều yếu tố khác nhau đặc trưng riêng của nền kinh tế Nhật mà các nước khác không có như Keiretsu, hệ thống phân phối …

    __________________________________________________________

    _____________

    40

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Hệ thống phân phối bao gồm tất cả các khâu mà thông qua đó sản phẩm được đưa từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng. Hệ thống phân phối Nhật Bản hết sức phức tạp, có các đặc điểm chủ yếu sau phân biệt với hệ thống phân phối của các nước khác :

    • Có nhiều cửa hàng bán lẻ. Nói cách khác, mật độ cửa hàng bán lẻ rất đông.
    • Giữa nhà chế tạo và các nhà bán lẻ tồn tại rất nhiều cấp phân phối trung gian.
    • Tồn tại hệ thống duy trì giá bán lẻ.
    • Giữa nhà sản xuất và nhà bán lẻ có sự câu kết chặt chẽ, thể hiện ở chỗ : các nhà sản xuất sẽ cung cấp vốn cho các nhà bán buôn, các nhà bán buôn lại cung cấp tài chính cho các nhà bán lẻ, các nhà sản xuất thực hiện chế độ chiết khấu hoa hồng thường xuyên và rộng rãi, sẵn sàng mua lại hàng hoá nếu không bán được … Các nhà bán lẻ thường chỉ kinh doanh một số hàng hoá của các nhà sản xuất nhất định, không kinh doanh các hàng hoá của các nhà sản xuất khác kể cả các nhà sản xuất trong nước. Mối quan hệ giữa các nhà sản xuất với các nhà phân phối, bán lẻ rất khăng khít, bền vững khiến cho hàng hóa nước ngoài rất khó thâm nhập thị trường Nhật Bản và mở rộng đại lý tiêu thụ hàng.

    Hệ thống này đã góp phần bảo hộ cho những sản phẩm sản xuất trong nước một thời gian khi những sản phẩm này chưa đủ sức cạnh tranh nhưng dần dần cùng với sự thay đổi của tình hình trong, ngoài nước, nó đã bộc lộ nhiều hạn chế mà nếu tiếp tục duy trì, không thay đổi thì nhất định sẽ ảnh hưởng xấu tới kinh tế như làm cho giá hàng hoá đắt lên nhiều lần khi tới tay người tiêu dùng, giảm bớt tính minh bạch của việc định giá, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là chắc chắn vấp phải sự phản kháng của các nhà kinh doanh nước ngoài.

    Kể từ khi nền kinh tế bong bóng sụp đổ vào cuối những năm 80 làm cho việc sản xuất cũng như tiêu thụ gặp nhiều khó khăn cùng với những tác động từ bên ngoài như quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mâu thuẫn với các nước bạn hàng tăng do mất cân đối trong mậu dịch

    __________________________________________________________

    _____________

    41

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    buôn bán … điều đó đòi hỏi muốn tiếp tục tăng trưởng, Nhật Bản phải tích cực tự do hoá, nới lỏng những hạn chế nhập khẩu của mình trong đó có hệ thống phân phối khép kín và bài ngoại. Cho đến nay, hệ thống này được thay đổi theo hướng tích cực bằng nhiều biện pháp khác nhau như các nhà phân phối có thể tự do bán các sản phẩm của các nhà sản xuất khác bao gồm cả các sản phẩm nhập khẩu, tiêu biểu cho xu hướng này là các nhà bán buôn và bán lẻ trực thuộc tập đoàn chế tạo ôtô Nissan đã được phép ký hợp đồng trực tiếp với hãng Ford và được độc quyền bán các ôtô Ford tại Nhật Bản; các siêu thị lớn thực hiện hệ thống “phát triển và nhập khẩu” tiêu thụ các sản phẩm nước ngoài, chẳng hạn như Tổng công ty siêu thị lớn nhất Nhật Bản – Daiei đã nhập khẩu các máy ghi hình, tivi màu và các đồ gia dụng để bán …

    9.                 Quản lý ngoại tệ

     

    • Nhật Bản, Ngân hàng Nhật Bản – Ngân hàng trung ương của Nhật Bản – là nơi tập trung các nguồn thu ngoại tệ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động ngoại thương thông qua những chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất.

    Khác với các nước khác, ngân hàng Nhật Bản được phân loại theo những lĩnh vực hoạt động khác nhau như ngân hàng xuất nhập khẩu, ngân hàng tín dụng dài hạn … để cung cấp vốn một cách hiệu quả. Những loại ngân hàng này đã trợ giúp cho các công ty Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh vì vốn của họ tích lũy được còn rất thấp, phải dựa chủ yếu vào các khoản tiền đi vay. Cùng với sự phát triển lớn mạnh của các công ty Nhật Bản với số vốn ngày càng lớn đã làm thu hẹp sự khác biệt giữa các kênh cung cấp vốn khác nhau.

    Biện pháp trên được thực hiện chủ yếu trong các thập niên trước.Bước sang những năm gần đây, khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển vươn lên trở thành một trong những cường quốc kinh tế hùng mạnh của thế giới, ngân hàng Nhật

    __________________________________________________________

    _____________

    42

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Bản thường hay sử dụng biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái dựa trên việc quản lý ngoại tệ của mình.

    Một biện pháp gián tiếp khác Nhật Bản sử dụng để hạn chế nhập khẩu hàng hoá trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế là đưa ra lãi suất tiền gửi cao để thu hút tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng, giảm mức tiêu thụ của người dân.

    Ngoài ra, Nhật Bản còn sử dụng nhiều biện pháp khác như hạn chế những giao dịch ngoại tệ, chỉ cho phép một tỷ lệ % nhất định về việc chuyển lợi nhuận bằng ngoại tệ ra nước ngoài.

    IV.             TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

    1.Hoạt động xuất khẩu:

    1.1 Kim ngạch xuất khẩu

    Đối với một nước nghèo tài nguyên khoáng sản như Nhật Bản thì ngoại thương đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế.

    Trước đây, tỷ trọng xuất khẩu của Nhật trong tổng xuất khẩu thế giới rất thấp. Xuất khẩu thì ngoài tàu thuyền, các mặt hàng chủ yếu là những sản phẩm công nghiệp nhẹ, công nghiệp thô sơ như vải, quần áo, giày dép mà phẩm chất chưa có uy tín trên thế giới. Để đẩy mạnh xuất khẩu, chính phủ Nhật Bản đã đưa ra nhiều biện pháp khác nhau như : “Luật về tỷ giá hối đoái và kiểm soát mậu dịch” hay chính sách giảm thuế đối với các khoản tiền thu từ xuất khẩu, thực hiện thuế ưu đãi đối với các ngành xuất khẩu. Nhờ đó đã giúp Nhật Bản có một lợi thế đáng kể trong việc mở rộng xuất khẩu.

    Trong giai đoạn này, chính phủ Nhật Bản đã thành lập nên các ngân hàng hỗ trợ phát triển, ngân hàng xuẩt khẩu để cung cấp vốn, tín dụng với lãi suất thấp cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Xuất khẩu của Nhật Bản liên tục tăng, ngày càng chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường quốc tế làm cho thặng dư mậu dịch của Nhật Bản tăng mạnh.

    __________________________________________________________

    _____________

    43

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Ngoài ra, chính phủ còn thiết lập các tổ chức, cơ quan yểm trợ như Tổ chức xúc tiến mậu dịch JETRO để đẩy mạnh xuất khẩu. Mức tăng trưởng xuất khẩu của Nhật Bản đạt bình quân trên 10% một năm.

    Vào những năm 90, khi cán cân mậu dịch giữa Nhật Bản và các nước ngày càng thặng dư, để tránh xảy ra mâu thuẫn xung đột, ngân hàng trung ương Nhật Bản đã thực hiện tăng lãi suất làm cho hoạt động xuất khẩu tăng chậm. Sau khi lượng hàng xuất khẩu giảm nhẹ vào năm 1990 với tỷ phần 2,1% tổng xuất khẩu của Nhật các năm sau tăng lên một cách vững chắc đạt 5% vào năm 1995 và 6,3% vào năm 2000.

    2.1 Những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu.

    Sự điều chỉnh trong chính sách sản phẩm xuất khẩu gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật. Trong thời kỳ đầu những năm 60, Nhật bản chủ yếu xuất khẩu hàng thô sau dố chuyển sang các hàng háo , sản phẩm công nghiệp nhẹ. Bước tiếp theo Nhật Bản chuyển sang khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nặng và sản phẩm hoá chất. Việc xuất khẩu máy móc thiết bị có sự gia tăng mạnh trong suốt hai thập kỷ gần đây.

    Bảng 5: Các mặt hàng xuất khẩu của Nhật Bản

                    Tỷ lệ %
                     
      Loại sản phẩm 1960 1970 1980 1997 1998 1999 2000
                     
    1. Lương thực thực phẩm 6,6 3,5 1,2 0,5 0,5 0,5 0,4
                     
    2. Sản phẩm dệt may 30,2 12,5 4,8 2,0 1,9 1,9 1,8
                     
    3. Hoá chất 4,2 6,4 5,2 7,1 7,0 7,4 7,4
                     
    4. Kim loại 13,8 19,7 14,6 6,4 6,3 5,7 5,5
                     
    5. Máy móc thiết bị 25,3 46,3 62,8 73,8 73,6 74,5 70,0
                     
      – Thiết bị thông dụng 5,5 10,4 13,9 23,8 22,5 21,4 21,5
                     
      – Thiết bị điện 6,8 14,8 17,5 23,6 23,2 24,4 26,5
                     

    __________________________________________________________

    _____________

    44

     

      Khoá luận tốt nghiệp     Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9  
                         
        – Thiết bị vận tải 2,6 6,9 17,9 14,0 15,4 14,9 13,4  
                         
        – Thiết bị chính xác 7,1 7,3 3,6 2,3 2,6 2,4 2,2  
                         
      6. Sản phẩm phi kim loại 3,6 1,9 1,4 1,2 1,1 1,1 1,2  
                         
      7. Sản phẩm khác 16,8 9,8 8,1 9,0 9,5 10,0 9,5  
                         

    Nguồn: – Japan Almanac 2002

    – Tổng giá trị xuất khẩu là 100%

    2.     Hoạt động Nhập khẩu

     

    • những thập niên trước, bằng các biện pháp thuế quan và phi thuế quan nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và tăng thu ngoại tệ, nền kinh tế của Nhật Bản đã đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng, dần dần tham gia trở lại vào các quan hệ mậu dịch quốc tế, gia nhập các tổ chức thương mại, kinh tế thế giới. Tuy nhiên, để tiếp tục đà tăng trưởng cao, Nhật Bản vẫn tiếp tục duy trì các biện pháp nói trên và chưa gia nhập hoàn toàn mà mới chỉ gia nhập bảo lưu một số một điều khoản. Ví dụ, tháng 12-1955, Nhật Bản gia nhập GATT nhưng xin hoãn áp dụng điều 11 của tổ chức này mà theo đó các nước thành viên không được hạn chế nhập khẩu vì lý do cán cân thanh toán bị nhập siêu. Sau đó, khi Nhật Bản trở thành nước gia nhập điều thứ 11 của GATT, nhập khẩu của Nhật Bản có tăng nhưng chậm.

    Nhật Bản đã đạt được sự phát triển kinh tế thần kỳ khiến cả thế giới kinh ngạc, nhiều ngành sản xuất trong nước vươn lên có sức cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế. Vì vậy, Nhật Bản đã giảm mạnh về thuế quan đối với nhiều danh mục hàng hoá. Mức độ giảm thuế quan của Nhật nói chung là lớn so với các nước khác và là mức thuế quan nhập khẩu thấp nhất so với các nước phát triển. Thêm vào đó, Nhật Bản đã đơn giản hoá các thủ tục kiểm tra hải quan tạo điều kiện cho việc nhập khẩu.

    Kể từ sau năm 1980, chính phủ Nhật Bản đã cố gắng đổi mới trong việc tự do hoá trao đổi ngoại tệ và bắt đầu nới lỏng quy chế về các thị trường tài chính

    __________________________________________________________

    _____________

    45

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    trong nước, hệ thống viễn thông nhằm khuyến khích sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài. Chính phủ Nhật Bản đã thông báo và thực hiện hàng loạt các “chương trình trọn gói” về các biện pháp khuyến khích xuất nhập khẩu một cách toàn diện bao gồm việc giảm hoặc xoá bỏ thuế quan, xoá bỏ hạn ngạch, cải tiến các thủ tục nhập khẩu, cử những phái đoàn vận động nhập khẩu ra nước ngoài, mở các hội chợ nhập khẩu ở Nhật Bản. Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản cũng đã đổi mới khoảng 100 nguyên tắc liên quan đến các thủ tục nhập khẩu, các tiêu chuẩn hàng hoá, vấn đề kiểm dịch …

    Những chính sách này giúp cho nhập khẩu tăng lên. Đến tháng 12-1987, Nhật Bản tiếp tục điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nâng giá đồng Yên lên 122 Yên = 1USD. Trước đó, vào 30-7-1985, chính phủ Nhật Bản đã thông báo một “Chương trình hành động” với mục tiêu đạt được mở cửa thị trường Nhật Bản vượt mức quốc tế hiện hành. Chương trình này bao gồm những biện pháp đặc biệt để cải thiện sự mở cửa của thị trường Nhật Bản trên 6 lĩnh vực : giảm thuế quan hạn ngạch các tiêu chuẩn chứng nhận và thủ tục nhập khẩu, sự thu mua của chính phủ, thị trường tài chính, vốn, các dịch vụ và khuyến khích nhập khẩu. Cụ thể :

    • Về hàng rào thuế quan : chương trình bao gồm việc huỷ bỏ hoặc giảm thuế quan đối với 1853 mặt hàng.
    • Về hàng rào phi thuế quan : tiến hành một cuộc cải cách căn bản về các tiêu chuẩn và chứng nhận đối với hàng hoá và các thủ tục nhập khẩu như chuyển đổi từ hệ thống chứng nhận của chính phủ sang hệ thống tự chứng nhận về tiêu chuẩn chất lượng và chủng loại hàng hoá, giảm hơn nữa hoặc huỷ bỏ hệ thống các qui định về tiêu chuẩn hàng hoá và chấp nhận các số liệu kiểm tra hàng hoá và thiết kế của các cơ quan nước ngoài; sửa đổi lại một cách toàn diện các điều luật và quy tắc.

    Các biện pháp tự do hoá này đã mở đường cho nhiều hàng hoá của Mỹ như các thiết bị điện tử, máy vi tính, ôtô, phụ tùng ôtô, nông sản phẩm … tràn vào thị

    __________________________________________________________

    _____________

    46

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    trường Nhật Bản. Ngoài ra, ngày càng có thêm nhiều nước đang phát triển khác cũng tăng cường xuất khẩu hàng hoá sang Nhật.

    Nhập khẩu của Nhật Bản đã liên tục tăng nhanh từ mức 3,8% năm 1993, 13,5% năm 1994 lên 22,5% năm 1995 và khoảng 12,6% năm 1996 – tức là cao nhất trong các nước G7, cao hơn hẳn mức trung bình của các nước công nghiệp phát triển (5,3%), các nước EU (3,7%) và còn cao hơn các nước đang phát triển (11,3%).

    Trong năm 1999, tỷ lệ thuế quan trung bình của Nhật Bản giảm từ 3,9% xuống 1,7% trong đó tỷ lệ thuế quan chính thức của các sản phẩm công nghiệp (trừ một số trường hợp ngoại lệ) được giảm xuống mức rất thấp, thậm chí nhiều loại sản phẩm được huỷ bỏ thuế quan hoàn toàn.

    Tới năm 2000, Nhật Bản cũng đã chuyển dần từ hình thức bảo hộ phi thuế quan sang hình thức thuế quan (trừ gạo) và sẽ giảm đi khoảng 36% đối với các sản phẩm nông nghiệp. Có lẽ, với chính sách đó, nông phẩm của các nước trong đó có Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường Nhật Bản dễ dàng hơn.

    Một số sản phẩm nhập khẩu chủ yếu :

    Mức thuế bình quân của Nhật Bản rất thấp, khoảng 2,7% (năm 1990) nhưng cũng rất phức tạp. Mức thuế của mỗi mặt hàng được xây dựng dựa trên tình hình sản xuất trong nước của mặt hàng đó. Nhìn chung, mức thuế đánh vào nguyên liệu, các sản phẩm công nghiệp có xu hướng thấp còn nông phẩm thì cao.

    Trước kia, thuế đánh vào nguyên liệu thấp và ngày càng cao khi tỷ lệ gia công ngày càng lớn. Nhưng hiện nay, dưới sức ép của các nước bạn hàng, mức thuế đánh vào thành phẩm đã giảm để tạo điều kiện cho nhập khẩu.

    Xét riêng từng ngành, mức thuế đối với các mặt hàng như sau :

    __________________________________________________________

    _____________

    47

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Nông sản : số mặt hàng có mức thuế 0% chiếm khoảng 20% tổng số hàng nông sản, còn lại là những mặt hàng phải chịu thuế trong đó hơn một nửa có mức thuế lên tới 15%. Trong đó :
    • Các sản phẩm từ động vật : thịt trên 10%, hải sản 5 ~ 15%
    • Các sản phẩm từ thực vật : hoa 0%, hoa màu 0 ~ 10%
    • Các sản phẩm chế biến như kem, rượu …: 10 ~ 40%
    • Các sản phẩm công nghiệp, khoáng sản : số mặt hàng có mức thuế 0% chiếm khoảng 40% trong đó chủ yếu là khoáng sản, máy móc. Các mặt hàng như gỗ, dệt, da thuộc … có mức thuế tương đối cao.
    1. Gạo, lúa mỳ:
    • Nhật Bản, do môi trường chung không thuận lợi cho nông nghiệp nên sản xuất lúa gạo có quy mô nhỏ. Giá thành gạo sản xuất ở Nhật Bản cao gấp 4-5 lần ở Mỹ, 7-8 lần ở Thái Lan. Vì vậy, mức độ cần thiết bảo hộ để duy trì sản xuất là vô cùng cao.

    Từ sau chiến tranh, việc sản xuất, nhập khẩu lúa gạo chịu sự điều chỉnh của Luật quản lý lương thực, theo đó nếu muốn nhập khẩu gạo, lúa mỳ, lúa mạch thì cần thiết phải được sự cho phép của Bộ trưởng Bộ nông thuỷ sản. Sau khi được phép mới tiến hành nhập khẩu và rồi bán luôn cho Bộ nông thủy sản (gọi là chế độ nhập khẩu một cửa của chính phủ). Còn gạo sản xuất trong nước thì nhà nước sẽ thu mua với giá được tính theo công thức thiết lập để duy trì thu nhập từ nông nghiệp ở mức trung bình của quốc gia. Đồng thời, lúa gạo cũng là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu (IQ thuộc Luật thương mại quản lý nhập khẩu).

    Từ quan điểm cho rằng phải tự cung lương thực, chính phủ Nhật Bản đã đứng ra quản lý hoàn toàn việc sản xuất cũng như nhập khẩu gạo, do vậy mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu không cao trừ những trường hợp phải nhập khẩu do

    __________________________________________________________

    _____________

    48

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    thiếu gạo. Hiện nay, hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 40.000 tấn gạo mà chủ yếu là dùng vào mục đích đặc biệt như chế biến rượu Sake ở Okinawa.

    Lúa mỳ, cũng như gạo, là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu. Hầu như toàn bộ lúa mì sản xuất trong nước đều do nhà nước kiểm soát. Trong quá trình công nghiệp hoá tiến lên một nước công nghiệp phát triển, người tiêu dùng Nhật Bản ngày càng chuyển từ món ăn truyền thống là gạo sang các món ăn theo kiểu phương Tây và lẽ dĩ nhiên, việc tiêu thụ lúa mì sẽ tăng lên dẫn đến mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu ngày càng lớn. Hàng năm, Nhật Bản phải nhập khẩu hơn 5 triệu tấn lúa mỳ.

    Biểu đồ 6: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu lúa mỳ

    800         Khối lương Nhập  
            Khối lượng SX  
    600          
             
                     
                     
                     

    400

    200

    0

    1980                         1985                          1990                          1995

    Nguồn: Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

    1. Các sản phẩm sữa, tinh bột

    Các sản phẩm sữa, tinh bột vừa là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu (IQ) vừa phải chịu thuế. Nguyên nhân xuất phát từ chỗ có một số loại thuộc sản phẩm sữa và tinh bột không nhập khẩu theo chế độ nhập khẩu một cửa của chính phủ nên không bị đánh thuế thì sẽ phải chịu hạn chế về số lượng nhằm tránh sự ảnh hưởng đến giá hàng hoá trong nước do giá nhập khẩu thấp.

    Cho dù hạn ngạch nhập khẩu trái với nguyên tắc của GATT nhưng cho đến nay, các sản phẩm sữa, tinh bột vẫn không được phép nhập khẩu tự do.

    Biểu đồ 5: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu của sữa bột tách bơ (1), tinh bột (2)

     

    __________________________________________________________

    _____________

    49

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    250

    200

    150

    100

    50

    0

     Khèi l−îng nhËp khÈu

     Khèi l−îng nhËp khÈu                                   3000

    Khèi l−îng s¶n xuÊt

    2500

    Khèi l−îng s¶n xuÊt

    2000

    1500

    1000

    500

    0

    1980             1985            1990             1995                           1980             1985            1990             1995

    Nguồn : Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

    1. Thịt bò, cam :

     

    Nhật Bản vốn là một nước nông nghiệp nhưng điều kiện sản xuất chăn nuôi khó khăn. Mặc dầu vậy, Nhật Bản vẫn cố gắng áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật hiện đại để tạo ra năng suất cao nhằm đáp ứng được nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, chi phí sản xuất cao khiến cho thịt lấy từ vật nuôi của Nhật Bản như thịt bò không thể nào cạnh tranh được với thịt bò nhập khẩu. Vì vậy nó cần được chính phủ bảo hộ, đưa vào danh sách những mặt hàng chịu hạn ngạch nhập khẩu.

    Nhưng dưới sức ép nhiều phía, sau những đàm phán với Mỹ và Ôxtrâylia về thịt bò, với Mỹ về cam, Nhật Bản thực hiện tự do hóa thịt bò, cam vào tháng 4-1991, nước cam vào tháng 4-1992.

    Nhật Bản đã có nhiều cố gắng để dỡ bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với thịt bò, cam nhưng cũng không thể nào tự do hoá hoàn toàn mà phải áp dụng mức thuế suất tương đối cao để bảo vệ sản xuất trong nước. Chính vì vậy, mức thuế của thịt bò sau khi thực hiện tự do hoá vào năm 1991 đã nâng lên 70% từ mức 25% của trước khi thực hiện tự do hoá. Sau đó nhờ hợp lý hoá trong quá trình sản xuất, chi phí giá thành giảm xuống nên mức thuế cũng được điều chỉnh hạ thấp dần xuống 60% vào năm 1992, đến năm 1993 còn 50%. Do vậy, lượng nhập khẩu thịt bò có xu hướng ngày càng tăng, một phần cũng do nhu cầu của người dân Nhật tăng lên. Tuy nhiên, trong trường hợp nhập khẩu thịt bò tăng nhanh thì chính phủ sẽ đề ra qui định tăng mức thuế mang tính khẩn cấp, bảo hộ (biện pháp áp dụng từ năm 1991 đến năm 1993).

    __________________________________________________________

    _____________

    50

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Đối với cam, sau khi xem xét, tính toán các yếu tố tác động, mức thuế vẫn không có gì thay đổi so với trước khi thực hiện tự do hoá : từ tháng 6 đến tháng 11/1992 : 20%, từ tháng 12/1992 đến tháng 5/1993 : 40%, nước cam (không đường) : 25% hoặc 30%.

    Biểu đồ 6: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu thịt bò

    1200 Khèi l−îng nhËp khÈu    
    Khèi l−îng s¶n xuÊt    
    1000    
         
    800      
    600      
    400      
    200      
    0      
    1980 1985 1990 1995

    Nguồn: Shukuryojyukyuhyo Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

    1. Lâm sản

    Vào đầu những năm 90, nhu cầu về gỗ ở Nhật Bản vẫn tăng lên, đặc biệt là gỗ cho xây dựng và làm bột giấy. Nhưng sau đó, do giảm xây dựng nhà ở, nhu cầu lại giảm xuống 20% từ mức cao nhất. Gỗ có nhiều loại khác nhau nhưng ở đây sẽ đi sâu vào 3 loại gỗ chủ yếu :

    * Gỗ tròn:

    70% lượng gỗ tiêu thụ ở Nhật Bản là dựa vào nhập khẩu, do vậy mức thuế đánh vào mặt hàng này (trừ gỗ pơmu) chỉ 0%. Gỗ được nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau như Mỹ, Canada, Malayxia, New Guinea … và được sử dụng làm ván ép, dùng để xây dựng, làm đồ nội thất…

    Hiện nay việc nhập khẩu gỗ tròn đang gặp vướng mắc do các nước xuất khẩu đang xem xét nâng giá xuất khẩu gỗ đồng thời Nhật Bản cũng bị chỉ trích trong việc gián tiếp gây ra hiện tượng phá rừng, làm huỷ hoại môi trường sinh thái ở các nước xuất khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    51

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    * Gỗ xẻ

    Gỗ xẻ là loại gỗ được xẻ từ gỗ tròn, dùng cho việc xây dựng, đồ dùng nội thất. Gỗ xẻ được nhập khẩu chủ yếu từ Mỹ và Canada.

    Mức thuế đối với gỗ SPF từ 4,8% đến 8%; gỗ lauan: 10%; còn lại nhiều loại gỗ khác không bị đánh thuế. (Gỗ SMF là gỗ xẻ từ các loại gỗ vân xam, gỗ thông, gỗ linh xam).

    * Gỗ ván ép

    Là những tấm gỗ mà người ta ghép dính những ván mỏng với số lượng lẻ

    vào nhau, được sử dụng để xây dựng, làm đồ nội thất trong gia đình …

    Trước đây, sản xuất ván ép của Nhật Bản để nhằm mục đích xuất khẩu nhưng gần đây nhập khẩu có xu hướng tăng lên, có đến 30% nhu cầu gỗ ván ép trong nước là phải nhập khẩu trong đó chủ yếu từ Indonexia. Gỗ ván ép phải chịu mức thuế tương đối cao so với các loại gỗ khác : 10 ~ 20%.

    Các ngôi nhà truyền thống của người Nhật thường được làm bằng gỗ. Do đó, nhu cầu về gỗ là rất lớn. Đặc biệt, vào những năm 89, 90, dưới tác động của nền kinh tế “bong bóng” làm cho giá đất tăng vọt, mọi người đổ xô vào xây dựng nhà khiến cho nhu cầu về nhập khẩu gỗ lên tới 1300 tỷ yên. Nhưng sau đó, khi nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ, nhu cầu về gỗ cũng giảm theo. Điều này có thể thấy rõ qua biểu đồ dưới đây.

    Biểu đồ 7: Nhập khẩu các loại gỗ của Nhật Bản

    1400

    1200

    1000

    800

    600

    400

    200

    0

     G ç v¸n Ðp

     G ç x Î

     G ç trßn

    Nguồn: Shukuryojyukyuhyo – Bộ nông- lâm- thuỷ sản Nhật Bản, 1998

     

    1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991
    e. Dầu lửa, các sản phẩm dầu mỏ      

    __________________________________________________________

    _____________

    52

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Dầu lửa có quan hệ mật thiết với cuộc sống của con người, nó không chỉ được sử dụng làm nhiên liệu mà còn sử dụng làm nguyên liệu để tạo ra tơ sợi hóa học, nhựa … Dầu lửa chiếm 89% trong cung cấp năng lượng chủ yếu của Nhật, cao hơn so với các nền kinh tế tiên tiến khác. Tuy nhiên kể từ cuộc khủng hoảng dầu lửa đầu tiên, việc cắt giảm tiêu dùng dầu lửa và phát triển năng lượng nguyên tử và các nguồn năng lượng khác đã giúp Nhật Bản giảm sự lệ thuộc vào dầu lửa. Mặc dầu vậy, Nhật Bản vẫn phải dựa vào các nguồn cung cấp năng lượng từ bên ngoài với mức độ lớn hơn bất kỳ nước phát triển nào khác. Do nhu cầu mở rộng sản xuất trong nước, nhập khẩu dầu lửa tăng nhanh vào những năm đầu thập niên

    1. Năm 1991, Nhật Bản nhập khẩu 236 triệu tấn kl tương đương với 30,2 tỷ USD, chiếm 13% trong tổng số tiền bỏ ra để nhập khẩu.

    Trước kia, Nhật Bản chủ yếu nhập khẩu dầu naphatha, dầu nặng, nhưng từ năm 1986 lại nhập khẩu cả xăng, dầu phun, dầu nhẹ. Các sản phẩm nhập khẩu này đáp ứng 20% nhu cầu nhiên liệu dầu của Nhật Bản.

    Nhìn chung, đánh thuế là nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước (gọi là thuế bảo hộ) nhưng đối với Nhật Bản – một nước mà đến 99,7% dầu mỏ tiêu thụ trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu thì không cần thiết phải đánh thuế.

    Thuế đánh vào các sản phẩm dầu lửa ngoài chức năng là thuế bảo hộ còn thực hiện chức năng là thuế tài chính. Hàng năm, Nhật Bản vẫn xem xét, nghiên cứu để đưa ra một mức thuế phù hợp.

    Bảng 6 : Chương trình giảm thuế dầu lửa

    Sau

    Đến năm 1991    Từ 1992 đến 1996  Từ 1997 đến 2001

    2002

    Mức

    350 yên/kl                     315 yên/kl                          215 yên/kl                         0

    thuế

    Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản

    __________________________________________________________

    _____________

    53

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1. Da thuộc

    * Da thuộc và các sản phẩm từ da

    Ngành sản xuất da thuộc của Nhật Bản phát triển dựa chủ yếu vào việc nhập khẩu da từ nước ngoài. Các doanh nghiệp tham gia vào ngành này phần nhiều có quy mô vừa, nhỏ hoặc rất nhỏ nên khả năng cạnh tranh quốc tế rất kém. Đặc biệt trong đó mặt hàng da thuộc và giầy da cho đến tháng 3-1986 vẫn là mặt hàng chịu hạn ngạch nhập khẩu, còn hiện nay nó chịu sự điều chỉnh của chế độ hạn ngạch thuế (TQ).

    Theo chế độ hạn ngạch thuế, mức thuế đánh lần 2 vào da thuộc, giầy da so với ngay cả các loại khoáng sản cũng thuộc loại cao. Ví dụ : cặp da xách tay từ 10 đến 17,5%; quần áo bằng da từ 12,5 đến 20% … Ngoài ra, cơ quan thuế sẽ qui định các mức thuế cụ thể đối với từng mặt hàng.

    Bảng 7: Mức thuế của da thuộc và giầy da

    . Mức tế hạn ngạch lần1 Mức tế hạn ngạch lần2
         
    Da: Bò, ngựa, cừu, dê 15% ~ 20% 60%
         
    Giầy da 21,6% ~ 30% 60% hoặc 4.800 yên
         

    ( Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha- 1997, tr.27 )

    2.Đầu tư trực tiếp NN liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu của Nhật Bản

    • Nhật Bản, Luật về đầu tư nước ngoài đã được xây dựng từ khá lâu. Ban đầu, Luật qui định chỉ cấp giấy phép cho các dự án có tác dụng tích cực tới cán cân thanh toán của Nhật khi đang ở trong tình trạng khó khăn hoặc các dự án có

    __________________________________________________________

    _____________

    54

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    đóng góp cho sự phát triển của các ngành sản xuất quan trọng; đối với các dự án đã được cấp giấy phép, Luật này đảm bảo chuyển lợi nhuận cũng như tiền vốn đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, lo sợ các công ty xuyên quốc gia của phương Tây, nhất là Mỹ chi phối kinh tế của mình, các tập đoàn kinh tế lớn ở Nhật Bản được sự hỗ trợ của chính phủ đã liên kết lại với nhau theo kiểu Keiretsu, lập nên một hệ thống phân phối hàng hoá mang tính chất bài ngoại, khép kín để ngăn chặn sự thâm nhập của các công ty nước ngoài, chống những mối đe doạ cạnh tranh thôn tính. Một loạt những Luật về tiêu chuẩn kỹ thuật, độ an toàn của sản phẩm … được ban hành đã làm cho các công ty nước ngoài rất ngại đầu tư vào Nhật Bản.

    Sau đó, Nhật Bản gia nhập OECD nên không thể đưa ra qui định hạn chế đầu tư trực tiếp của xí nghiệp nước ngoài nữa. Thêm vào đó, Nhật Bản đã nhiều lần thực hiện tự do hoá tư bản. Cho đến nay, ngoài một số rất ít các ngành cấm nước ngoài đầu tư (negative list), còn lại tất cả hoàn toàn được tự do hoá.

    Những năm gần đây, khi chính phủ chuyển hướng trọng tâm trước kia của Luật về đầu tư nước ngoài là “ngăn ngừa việc thôn tính doanh nghiệp trong nước của đầu tư nước ngoài” sang tự do hoá hơn, qui định dễ dàng hơn về phẩm chất hàng hoá, sự cải cách của hệ thống phân phối cùng với điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nâng giá đồng Yên lên mà đầu tư trực tiếp vào Nhật Bản đã tăng lên.

    Đồng thời, những chính sách bảo hộ thuế quan và phi thuế quan của chính phủ về hạn chế hoặc tiến đến xoá bỏ hoàn toàn như giảm mức thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu, giảm hạn ngạch nhập khẩu làm xói mòn khả năng cạnh tranh của hàng hoá Nhật Bản không chỉ ở các thị trường nước ngoài mà ở ngay cả thị trường trong nước với các hàng nhập khẩu rẻ hơn. Do đó, ngày càng nhiều công ty Nhật đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với trọng tâm là thị trường Bắc Mỹ và Châu Á

    __________________________________________________________

    _____________

    55

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Việc di chuyển các cơ sở sản xuất ra nước ngoài là tạo ra nơi sản xuất hàng xuất khẩu sang nước thứ 3, nhờ đó làm giảm xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước này. Mặt khác, thông qua đó, việc nhập khẩu những nguyên liệu mà từ trước đến nay phải nhập khẩu để dùng cho sản xuất trong nước sẽ giảm. Hơn nữa, trong trường hợp hàng hoá sản xuất ở nước ngoài nếu được nhập khẩu trở lại Nhật Bản (gọi là hình thức xuất khẩu ngược) thì sẽ giúp cho nhập khẩu tăng.

    Những nỗ lực này đã đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản lên tới 69,7 tỷ USD trong năm tài chính 1990, gấp hơn 6 lần lượng đầu tư của năm năm trước đó khiến Nhật Bản trở thành nước đứng đầu thế giới về mặt này. Tổng số vốn đầu tư của các công ty Nhật Bản vào các nhà máy ở nước ngoài trong năm 1996 tăng khoảng 11,6%.

    Thực tế hiện nay, hầu như toàn bộ các công ty hàng đầu của Nhật Bản đang tiếp tục quá trình di chuyển hoạt động sản xuất của họ ra nước ngoài và tăng tỷ lệ nhập khẩu trở lại thị trường nội địa về những hàng hoá được sản xuất tại đó. Xu hướng này được thể hiện rõ nhất trong ngành ô tô. Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ở các cơ sở nước ngoài của 5 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Nhật Bản đã vượt quá tổng khối lượng sản phẩm xuất khẩu của họ xuất ra từ Nhật Bản do sản xuất trong nước. Tỷ lệ sử dụng vốn để đầu tư ra nước ngoài của toàn bộ các công ty trong ngành lắp ráp chiếm tới 46% kinh phí của họ, trong ngành ô tô là 30% và trong toàn ngành công nghiệp nói chung là 13%.

    3. Chính sách sản phẩm

    Để thực hiện những mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ, chính phủ Nhật Bản nói riêng cũng như chính phủ các nước nói chung đều phải định ra hướng cho chính sách cơ cấu sản phẩm xuất nhập khẩu. Việc xác định được một cơ cấu sản phẩm hợp lý dựa vào điều kiện trong nước cùng tình hình môi trường ngoài nước sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu những

    __________________________________________________________

    _____________

    56

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    sản phẩm có lợi thế so sánh và nhập khẩu những sản phẩm mà sản xuất trong nước không thuận lợi.

    Cơ cấu sản phẩm này được điều chỉnh theo tốc độ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu ngành nghề. Để thực hiện được sự điều chỉnh này, một trong những biện pháp là hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu và ngược lại.

    Nhìn chung trong suốt quá trình phát triển từ trước đến nay, Nhật Bản luôn chủ trương đánh thuế thấp đối với nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu và đánh thuế cao đối với các thành phẩm, cho nên trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Nhật Bản, tỷ trọng của các nguyên liệu và sản phẩm sơ chế rất cao trong khi đó tỷ trọng của các thành phẩm trong tổng kim ngạch nhập khẩu lại thấp.

    Trước đây, trong giai đoạn sản xuất bắt đầu hồi phục, chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách miễn giảm thuế đối với nguyên vật liệu, năng lượng, máy móc thiết bị để sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Nhờ đó, tỷ trọng của các hàng hóa này trong cơ cấu nhập khẩu đã tăng lên.

    Bước sang thời kỳ tăng trưởng kinh tế, cùng với môi trường quốc tế thuận lợi cho sự thay đổi cơ cấu công nghiệp và hướng vào xuất khẩu các hàng chế biến có giá trị gia tăng ngày càng cao, chính phủ tăng cường hỗ trợ vốn, tín dụng với lãi suất thấp cho các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp hoá dầu làm cho hoạt động sản xuất của những ngành này phát triển, từ đó tăng xuất khẩu, thay thế vị trí của các hàng hóa công nghiệp nhẹ. Các sản phẩm tàu thuỷ, thép … trở thành những hàng xuất khẩu trụ cột của Nhật Bản. Bên cạnh đó, sau vòng đàm phán Kennơdy, Nhật Bản đã tiến hành giảm thuế quan đối với nhiều mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng chế biến trước kia bị hạn chế, nhờ đó khối lượng nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng lên.

    Sau khi đạt tới tốc độ tăng trưởng cao, chính phủ Nhật Bản lại buộc phải có những điều chỉnh trong chính sách thuế quan để hạn chế tác động của hai cuộc

    __________________________________________________________

    _____________

    57

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    khủng hoảng dầu lửa lên nền kinh tế. Chính phủ đã tiến hành miễn thuế đối với các mặt hàng gia công ở nước ngoài để tăng cường nhập khẩu hàng gia công, giảm nhập khẩu hàng nguyên liệu và ban hành các hàng rào phi thuế quan để bảo hộ các ngành công nghiệp hoá học mới, kỹ thuật mới, sản phẩm điện tử …

    Một vài năm lại đây, các chế độ bảo hộ bằng hạn ngạch, thuế quan cao dần dần được nới lỏng nên số lượng nhập khẩu gạo, lúa mì đã tăng lên và trong những năm tới chắc sẽ còn tăng hơn nữa.

    Sau thoả thuận Plaza năm 1985, việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái làm cho giá trị đồng Yên lên cao đã tạo điều kiện cho việc nhập khẩu ôtô, phụ tùng ôtô, thiết bị văn phòng, linh kiện điện tử như chất bán dẫn, những sản phẩm có mức độ gia công, giá trị gia tăng cao cũng tăng lên rõ rệt.

    CHƯƠNG III

    BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

    Như chương trước đã đề cập, hệ thống chính sách thuế quan và phi thuế quan của Nhật Bản đã phát huy hiệu quả cao đối với sự phát triển kinh tế. Vậy Việt Nam có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm của Nhật Bản. Để trả lời câu hỏi

    __________________________________________________________

    _____________

    58

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    đó, trong chương này sẽ nghiên cứu hiện trạng chính sách thuế quan và phi thuế quan của Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

    I. TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG Ở VIỆT NAM

    1.                 Chính sách thuế quan

     

    • nước ta, Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu được ban hành vào năm 1987 để thay cho chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương tồn tại trong suốt thời quản lý theo cơ chế hành chính bao cấp. Vào thời kỳ đó, bạn hàng chính của Việt Nam là Liên Xô cũ và các nước Đông Âu thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), họ chiếm khoảng từ 75% đến 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Do đó, Luật thuế ra đời chủ yếu áp dụng cho hàng hoá buôn bán giữa Việt Nam và các nước này và danh mục biểu thuế được ban hành theo danh mục hàng hoá của SEV. Tuy nhiên, sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ yếu sụp đổ đã gây tác động lớn đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng. Bối cảnh quốc tế thay đổi buộc các nhà hoạch định chính sách Việt Nam phải tìm ra một hướng đi mới nếu không muốn bị tụt hậu.

    Chính sách ngoại thương – một trong những hướng trọng tâm của Việt Nam sau thời kỳ đổi mới đã được xây dựng theo hướng đa dạng hoá về thị trường và sản phẩm, tự do hoá các hoạt động nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để hỗ trợ cho chính sách ngoại thương được thực hiện một cách có hiệu quả, Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/12/1991 và sửa đổi, bổ sung vào năm 1993, trong đó đưa ra nhiều nội dung thay đổi căn bản.

    1.1 Biểu thuế xuất nhập khẩu

    Trong biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu mới sử dụng danh mục hàng hóa HS của Tổ chức hải quan quốc tế thay cho danh mục hàng hóa của khối SEV, dù đã có những sửa đổi, bổ xung nhưng biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của ta vẫn còn dàn trải quá rộng. Mức thuế cao nhất (100%) áp dụng cho 28 mặt hàng trong đó

    __________________________________________________________

    _____________

    59

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    có 21 mặt hàng bia rượu, 6 mặt hàng thuốc lá và 1 mặt hàng quần áo cũ. Mức thuế cao (60%) áp dụng cho ôtô, hàng tiêu dùng (may mặc, giầy dép, dụng cụ gia đình khác) còn thuế đánh vào nhập khẩu các nguyên liệu thô, các máy móc thiết bị cơ bản và các sản phẩm trung gian khác nói chung rất thấp (từ 0% ~ 5%). Thuế suất dàn trải như vậy vừa phức tạp lại không có lợi cho nền kinh tế, chúng có thể đưa các nguồn lực vào những hoạt động không có hiệu quả, tạo tâm lý không tốt đối với các nhà kinh doanh nước ngoài vì họ cho rằng thuế suất của Việt Nam quá phức tạp và quá cao. Trên thực tế, với việc qui định thuế suất như thế, nếu tính tổng số thuế thu được thì có thể còn thấp hơn việc qui định thuế suất tập trung.

    1.2 Chế độ thuế

    Theo Luật Thuế của Việt Nam năm 1987, sửa đổi, bổ xung vào các năm 1991 và 1993, thuế nhập khẩu gồm có 2 loại là thuế suất phổ thông và thuế suất ưu đãi nhưng trên thực tế chỉ có 1 loại thuế suất phổ thông áp dụng cho tất cả các loại hàng hoá. Từ 1/1/1991, thuế nhập khẩu của Việt Nam đã được sửa đổi gồm 3 loại là: thuế suất phổ thông, thuế suất ưu đãi và thuế ưu đãi đặc biệt. Thuế suất phổ thông được áp dụng thống nhất cao hơn 50% so với thuế suất ưu đãi. Thuế ưu đãi đặc biệt được áp dụng đối với từng nước, hoặc khu vực hợp tác đa phương trên nguyên tắc bình đẳng.

    Ngoài ra, Luật thuế xuất nhập khẩu bổ sung cũng áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu có giá thấp hơn mức giá thông thường, thuế chống trợ giá đối với hàng hoá có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, thuế chống phân biệt đối xử đối với hàng hoá nhập từ nước có sự phân biệt đối xử khác với hàng hoá của Việt Nam.

    1.3 Thuế VAT (Thuế giá trị gia tăng)

    Luật thuế giá trị gia tăng (VAT) được áp dụng ở Việt Nam kể từ ngày 01/01/1999 theo Nghị định của Chính phủ ngày 11/05/1998.

    __________________________________________________________

    _____________

    60

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Thuế giá trị gia tăng (VAT) là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

    Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của Nghị định nói trên.

    Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính & thuế suất đối với từng loại, nhóm mặt hàng đều

    thuế và thuế suất. Giá tính thuế được Chính phủ quy định rõ.

    2. Các biện pháp phi thuế quan trong hoạt động Ngoại thương

    2.1 Giấy phép xuất nhập khẩu

    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý hàng nhập khẩu. Nhưng giấy phép nhập khẩu khác với hạn ngạch là được áp dụng rộng rãi hơn. Người nhập khẩu phải am hiểu các quy định của Nhà nước về việc xin giấy phếp và những phí tổn có liên quan đến việc xin giấy phép nhập khẩu để hoạt động kinh doanh được thuận lợi và có hiệu quả.

    Tại Việt Nam, giấy phép nhập khẩu từng lô hàng ( chuyến hàng ) được bãi bỏ từ 15/12/1995. Tuy nhiên giấy phép nhập khẩu vẫn là một biện pháp quan trọng trong quản lý nhập khẩu. Ngày 04/042001, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg, quy định cơ chế quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2005. Theo đó, nhiều hàng hoá chịu sự quản lý, thông qua hình thức cấp giấy phép của Bộ Thương mại và các Bộ chuyên ngành.

    2.2 Hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu

    Hạn ngạch xuất khẩu được áp dụng cho các mặt hàng mà nhà nước và các tổ chức quốc tế ấn định đối với Việt Nam như hàng may mặc xuất sang Liên minh Châu Âu.

    Trong năm 1998, giá gạo trên thế giới cao do nhu cầu tăng và nguồn cung hạn chế, song hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta vẫn được điều phối để vừa tăng

    __________________________________________________________

    _____________

    61

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    kim ngạch xuất khẩu, vừa đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực. Nhờ lượng gạo xuất khẩu tăng, lúa hàng hoá trong dân đã được mua ở mức tối đa, giá lúa gạo tăng bảo đảm thu nhập có lợi cho nông dân, đồng thời nhờ công tác điều hành xuất khẩu gạo mà giá lúa, gạo không có sự biến động mạnh, không gây tác động xấu đến tình hình cung cầu của thị trường lương thực trong nước. Bên cạnh đó cũng có nhận xét cho rằng, việc qui định hạn ngạch về gạo đã làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước và thu nhập của người nông dân do họ bị các doanh nghiệp đầu mối được nhà nước phân bổ hạn ngạch ép giá nên hiện nay chính phủ Việt Nam đã bỏ chế độ hạn ngạch về gạo.

    Về may mặc, những năm trước kia, hạn ngạch may mặc được chính phủ phân bổ cho các doanh nghiệp nhưng bắt đầu từ năm 1999 đã thực hiện đấu thầu hạn ngạch. Vì là năm đầu tiên thực hiện nên lượng quota đem ra đấu thầu mới chỉ dừng ở mức 20% hạn ngạch thương mại, còn lại giao theo phương thức giao hạn ngạch thu phí, chủ yếu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may đủ tiêu chuẩn kỹ thuật.

    Mục đích của hạn ngạch xuất khẩu là để bảo vệ các nhà sản xuất, người tiêu dùng trong nước khỏi sự thiếu hụt tạm thời của sản phẩm này và cải thiện giá của các sản phẩm trên thị trường thế giới bằng việc thu hẹp nguồn cung cấp chúng. Khả năng thứ hai chỉ có thể thực hiện được ở một nước hay nhóm nước có ưu thế xuất khẩu về một sản phẩm. Vào thời điểm hiện nay, so với năng lực sản xuất trong nước, hạn ngạch xuất khẩu may mặc vẫn còn thấp nên chúng ta cần xúc tiến các hoạt động đàm phán để nâng cao mức hạn ngạch xuất khẩu. Vừa qua, hiệp định mới ký với EU đã đạt được thoả thuận tăng hạn ngạch hàng năm là 3 ~ 5% so với 1,2 ~ 2,5% trước đây.

    Đối với hạn ngạch nhập khẩu, hàng năm, chính phủ đều xem xét, nghiên cứu, phân tích dự đoán khả năng sản xuất và nhu cầu trong nước, căn cứ vào mục tiêu, định hướng phát triển để qui định số lượng hoặc trị giá những hàng hoá được nhập khẩu, đặc biệt là hàng tiêu dùng, mặt hàng mà khả năng cạnh tranh

    __________________________________________________________

    _____________

    62

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    của các ngành sản xuất trong nước vẫn còn rất non kém so với hàng ngoại nhập vừa rẻ vừa mẫu mã đẹp. Tuy nhiên, từ những năm 90, những qui định về hạn ngạch nhập khẩu đã giảm một cách đáng kể.

    2.3 Qui định cấm xuất khẩu, nhập khẩu

    Theo qui định kèm theo nghị định 57/1998/NĐ- CP ngày 31/7/1998 của chính phủ, có 6 mặt hàng bị cấm xuất khẩu (vũ khí, đạn dược …) và 9 mặt hàng cấm nhập khẩu (ma tuý, các loại văn hoá phẩm đồi truỵ …). Nhìn chung, những mặt bị cấm xuất khẩu chủ yếu xem xét ảnh hưởng của nó đến mặt chính trị, xã hội hơn là kinh tế nên nó cũng không gây mâu thuẫn mấy đến hoạt động ngoại thương. Riêng gỗ, trước kia được xuất khẩu nhưng từ tháng 1/1994 đã được đưa vào danh mục hàng cấm xuất khẩu do nguy cơ phá rừng tăng cao làm ảnh hưởng đến môi trường thiên nhiên. Điều này cũng dẫn đến chính phủ phải qui định hạn chế số lượng hoặc trị giá những đồ gỗ liên quan đến nguyên liệu gỗ khai thác trong nước.

    2.4 Quản lý ngoại tệ

    Theo qui định hiện hành, tất cả các nguồn thu ngoại tệ đều tập trung gửi vào ngân hàng hoặc các cơ quan quản lý ngoại hối để nhà nước có thể kiểm soát được hoạt động kinh tế đối ngoại đặc biệt là hoạt động nhập khẩu, ngăn chặn nguồn vốn thất thoát ra ngoài, duy trì cân bằng thu chi quốc tế, thực hiện chính sách tỷ giá tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

    • Việt Nam, Ngân hàng trung ương hàng ngày qui định một khung tỷ giá chính thức cho việc mua bán ngoại tệ. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái do ngân hàng công bố thường chênh lệch so với tỷ giá hối đoái thị trường, là tỷ giá mà nhà sản xuất quan tâm vì nó cho phép nhà sản xuất có thể tính được lợi nhuận thực tế thu

    được.

    Trong cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1997, bằng các biện pháp đồng bộ thắt chặt chính sách tiền tệ như điều chỉnh tỷ giá hối đoái chính thức,

    __________________________________________________________

    _____________

    63

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    thực hiện thu mua bắt buộc đối với nguồn ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, điều chỉnh cơ chế tín dụng ngoại tệ, giảm lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh tế, Việt Nam đã khắc phục được những tác động xấu của cuộc khủng hoảng tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể nào tránh khỏi tình trạng xuất khẩu suy giảm do đồng tiền các nước trong khu vực bị giảm giá so với đồng đôla, hàng hoá Việt Nam trở nên đắt đỏ so với hàng các nước trong khu vực. Sau đó, ngân hàng trung ương đã điều chỉnh để nâng giá đồng Việt Nam lên so với đồng đôla Mỹ, nhờ vậy mà xuất khẩu có xu hướng tăng trở lại.

    Từ ngày 11/9/1998, ngân hàng Nhà nước đã thực hiện hạ thấp mức lãi suất cho vay bằng đôla của các tổ chức tín dụng đối với các doanh nghiệp từ 8,5%/năm xuống còn 7,5%/năm đồng thời tiền gửi ngoại tệ của các doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng cũng hạ xuống nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với nguồn vốn ngoại tệ, góp phần bình ổn tỷ giá, tạo tâm lý tốt và điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn, tăng cường xuất khẩu.

    Ngoài các biện pháp bảo hộ nói trên, chính phủ còn áp dụng các biện pháp khác như qui định các quy chế hành chính kỹ thuật nhằm kiểm soát nhập khẩu; từ ngày 8/9/1998 chính phủ cũng đã lập ra quỹ thưởng cho các doanh nghiệp xuất khẩu, theo đó, đối tượng được thưởng là các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng mới lần đầu tiên xâm nhập thị trường nước ngoài, những mặt hàng có chất lượng cao, được tổ chức quốc tế về đánh giá chất lượng sản phẩm công nhận bằng văn bản; thâm nhập thị trường xuất khẩu cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam; mở rộng thị trường, gia tăng được kim ngạch xuất khẩu đối với những mặt hàng cần khuyến khích xuất khẩu; sản xuất mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều nguyên vật liệu sản xuất trong nước, thu hút nhiều lao động trong nước hoặc các doanh nghiệp xuất khẩu ngoài hạn ngạch, có kim ngạch từ 50 triệu USD/năm trở lên. Biện pháp này đã tỏ ra có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu như trong các ngành dệt may, việc thưởng đã

    __________________________________________________________

    _____________

    64

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    làm tăng tỷ trọng sử dụng vải, nguyên phụ liệu trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường ngoài hạn ngạch tăng. Thực tế, tại các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu cho thấy họ thích thú vì được thưởng, hay chạy đua để được thưởng. Tiền thưởng có thể chưa nhiều nhưng có sự động viên rất lớn. Có doanh nghiệp nói rằng: “Một trăm đồng tiền công không bằng một đồng tiền thưởng”.

    Có thể nói rằng, sau khi mở cửa thị trường, nhà nước ta đã không ngừng đưa các biện pháp để kích thích nền kinh tế nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng phát triển, đặc biệt đã liên tiếp thực hiện các cải cách về thuế quan và phi thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần không nhỏ vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế của nước nhà. Trong các biện pháp trên có nhiều biện pháp đạt hiệu quả cao, cần tiếp tục phát huy nhưng cũng có một số biện pháp còn bất cập và trong quá trình thực hiện nhà nước phải từng bước sửa đổi, bổ sung, áp dụng thêm những biện pháp khác lấy từ kinh nghiệm của các nước khác điển hình như Nhật Bản.

    II. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG TỪ CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN ĐỐI

    VỚI VIỆT NAM

    Trước khi bước vào thời kỳ phát triển kinh tế cao độ, nền kinh tế Nhật Bản cũng đã phải trực diện với bối cảnh quốc tế giống với Việt Nam: phải có chiến lược như thế nào trước trào lưu chung của thế giới là mở cửa và hội nhập vào các tổ chức thương mại và kinh tế quốc tế trong khi nền kinh tế nước mình còn non yếu ? Và cuối cùng, người Nhật đã tìm ra chiến lược mở cửa, hội nhập đúng đắn cho mình – một chiến lược góp phần quan trọng vào việc làm cho nền kinh tế “phát triển thần kỳ” như đã thấy- bao gồm việc giải quyết 3 vấn đề đặt ra:

    • Mở cửa như thế nào để hàng ngoại nhập không cản trở sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước.

    __________________________________________________________

    _____________

    65

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Việc mở cửa phải kết hợp như thế nào với chiến lược, chính sách làm cho các ngành sản xuất ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới.
    • Để hội nhập có hiệu quả, tranh thủ được nhiều nhất cơ hội của thị trường thế giới, phải có chiến lược và tổ chức như thế nào việc đẩy mạnh xuất khẩu.

    Việt Nam và Nhật Bản, ngoài những điểm khác biệt cũng có những tương đồng, đặc biệt là về mặt kinh tế. Cả hai nước đều là nước nông nghiệp, đi lên từ một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá đến kiệt quệ và không còn con đường nào khác là đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, phải tham gia, hội nhập vào các tổ chức thế giới. Từ đó, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản để đưa ra một chính sách thuế phù hợp thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển trong những năm tới.

    1. Bài học và khả năng áp dụng về chính sách thuế quan

    1.1 Áp dụng giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu cho phù hợp với thông lệ quốc tế

    Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại 3 cách xác định giá tính thuế là:

    • Giá theo hợp đồng (giá CIF).
    • Giá tối thiểu do nhà nước qui định.
    • Giá do hợp đồng qui định.

    Từ kinh nghiệm của Nhật Bản, đồng thời để phù hợp với các qui định về trị giá tính thuế quan của GATT, chúng ta nên xác định trị giá tính thuế dựa trên gía trị kinh doanh tức giá thực trả hoặc có thể trả cho hàng hoá được ghi trong hoá đơn hay các chứng từ khác của người bán mà dựa vào đó việc thanh toán được thực hiện. Trong trường hợp hàng hoá không thể sử dụng, giá trị kinh doanh sẽ áp dụng các phương pháp khác để quyết định giá trị như : giá của các

    __________________________________________________________

    _____________

    66

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    hàng hoá giống hệt, giá của hàng hoá tương đương hay phương pháp khấu trừ, phương pháp dự phòng.

    1.2 Giảm mức thuế và thuế suất

    Trong thời gian vừa qua, nhà nước ta đã tiến hành nhiều sửa đổi để giảm mức thuế và thuế suất. Tuy nhiên so với các nước nói chung và Nhật Bản nói riêng thì còn nhiều và dàn trải rộng, do đó cần thu hẹp chẳng hạn còn khoảng mười mức từ 0% đến 50% để tạo sự công bằng trong kinh doanh, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng ta cũng cần nâng mức thuế suất các mặt hàng có thuế suất dưới 5% và giảm thuế suất đối với một số mặt hàng có thuế suất cao và quá cao (trên 50%).

    1.3 Đa dạng các biện pháp tính thuế

    Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam hiện nay chỉ mới áp dụng phương pháp tính thuế theo giá. Theo phương pháp này, số tiền thuế thu được tăng lên khi giá hàng hoá tăng nhưng trong trường hợp giá hàng thấp thì ngược lại, làm cho nguồn thu ngân sách không ổn định. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp có những hàng hoá nhu cầu trong nước đang rất cần nhưng do hàng hoá tăng cộng thêm giá thuế phải trả tăng khiến cho giá khi đến tay người tiêu dùng quá cao không thể mua được, gây khó khăn cho quá trình sản xuất, tiêu dùng của nhân dân trong nước.

    Do vậy, ngoài cách tính thuế theo giá như hiện nay, cũng như Nhật Bản, ta nên áp dụng thêm các cách tính thuế khác như thuế theo lượng nhập khẩu, hoặc hỗn hợp cả hai vừa theo giá vừa theo lượng, thuế lựa chọn, thuế theo mùa, thuế chênh lệch đối với hàng hoá nhập khẩu. Mỗi cách đều có ưu điểm, nhược điểm, điều quan trọng là cần nghiên cứu, xem xét nên chọn cách tính thuế nào cho phù hợp với mỗi loại hàng hoá khác nhau để vừa bảo hộ sản xuất trong nước, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng lại vừa đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách.

    __________________________________________________________

    _____________

    67

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Nhật Bản, thuế theo lượng được áp dụng đối với mặt hàng điển hình là dầu lửa. Việc tiêu thụ dầu dùng trong sản xuất và dùng trong tiêu dùng ở Nhật Bản chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng cao độ, nhập khẩu chiếm đến 90% đồng thời giá dầu hay thay đổi theo sự điều chỉnh của OPEC và quan hệ cung cầu trên thị trường, vì lẽ đó, Nhật đã chọn cách tính theo lượng. Đối với Việt Nam, chúng ta cũng có thể áp dụng thuế theo lượng đối với một số mặt hàng mà nhu cầu trong nước rất cần nhưng giá của hàng hoá đó lại hay biến động.

    Việt Nam là một đất nước thuộc vùng nhiệt đới, thuận lợi cho việc trồng các loại cây ăn quả, rau các loại … sản xuất nông nghiệp của ta so với các nước còn lạc hậu và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nhiều loại rau quả chỉ thu hoạch được theo mùa và chi phí sản xuất cũng thường cao hơn các nước. Trong những năm gần đây, nhờ kỹ thuật hiện đại, áp dụng biện pháp chế biến, bảo quản, người dân Việt Nam có thể ăn những loại rau quả trái mùa. Tuy nhiên, nếu không có những biện pháp bảo hộ hàng hoá do người nông dân sản xuất trước sự cạnh tranh của hàng hoá ngoại nhập đặc biệt là từ Trung Quốc với giá rẻ thì có thể làm cho lợi nhuận của người nông dân thấp đi do phải bán với giá rẻ hoặc hàng hoá bị tồn đọng. Từ đó, phải chăng nhà nước cũng nên áp dụng thuế theo mùa đối với táo, lê … của Trung Quốc. Nhưng phần lớn những mặt hàng này nhập khẩu từ Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch hoặc buôn lậu nên việc kiểm soát để thực hiện đánh thuế gặp nhiều khó khăn.

    1.4 Giảm thuế suất nhanh các ngành có lợi thế cạnh tranh mạnh, giảm thuế chậm cho các ngành có khả năng cạnh tranh kém

    Theo qui định của Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), đến đầu năm 2006 (chậm hơn các nước thành viên khác 3 năm), Việt Nam phải hoàn thành chương trình giảm thuế nhập khẩu nhằm đạt mức thuế suất cuối cùng từ 0 ~ 5%. Đồng thời để tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế như WTO , Việt Nam có thể giảm thuế theo hướng cắt giảm thuế sớm nhất đối với những

    __________________________________________________________

    _____________

    68

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    ngành hàng có thế mạnh về xuất khẩu, tiếp đó là những ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu và sau cùng là những ngành hàng thiếu khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu, trong trường hợp cần thiết để bảo hộ ngành sản xuất non trẻ trong nước có thể xin bảo lưu chưa tham gia điều khoản đó như Nhật Bản đã thực hiện.

    • Việt Nam, những ngành hàng có thể coi là có thế mạnh xuất khẩu bao gồm các mặt hàng nông sản (gạo, cafê, chè … ), thuỷ sản, dệt may, cao su …

    Nhóm ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu như ngành hàng rau quả, thực phẩm chế biến, các sản phẩm hoá chất, cơ khí, xi măng … Những ngành hàng giấy, đường, luyện kim, khoáng sản … thuộc nhóm các ngành hàng có tiềm năng cạnh tranh kém so với hàng nhập khẩu.

    Nhà nước dựa vào tình hình sản xuất trong nước và nước ngoài để xác định các mặt hàng cần bảo hộ chặt chẽ và những mặt hàng có thể tự do hoá thông qua biện pháp thuế quan.

    1.5 Thực hiện chế độ miễn, giảm thuế lâu dài và chế độ miễn giảm thuế tạm thời

    Căn cứ vào những yêu cầu của nền kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục mà Việt Nam có thể áp dụng chế độ miễn, giảm thuế lâu dài đối với những hàng hoá phục vụ cho mục tiêu dài hạn như nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu mà trong nước không có hoặc khan hiếm, những hàng hoá nhập khẩu cần thiết đối với cuộc sống của người dân Việt Nam, những hàng hoá dùng vào mục đích nghiên cứu khoa học, phát triển giáo dục … và chế độ miễn, giảm thuế tạm thời đối với những hàng hoá nhà nước cần thường xuyên theo dõi để điều chỉnh cho phù hợp với sự biến động của tình hình trong nước cũng như ngoài nước. Hơn nữa, việc qui định miễn, giảm thuế tạm thời là để tránh hiện tượng ỷ lại vào những đặc quyền của các doanh nghiệp trong nước và tránh làm suy giảm năng lực cạnh tranh.

    __________________________________________________________

    _____________

    69

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.6. Mở rộng diện mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

    Để đảm bảo sự công bằng đối với những giao dịch trong nước, từ tháng 4/1989 chính phủ Nhật Bản không chỉ đánh thuế tiêu thụ đối với hàng trong nước mà đối với ngay cả hàng nhập khẩu từ nước ngoài. Thuế tiêu thụ tại cửa khẩu cùng với hải quan. Thuế tiêu thụ được miễn đối với hàng hoá xuất khẩu, trong trường hợp những hàng hóa xuất khẩu đã nộp thuế tiêu thụ thì số tiền thuế đã thu được hoàn trả lại. Thuế tiêu thụ đóng vai trò là một loại thuế tài chính của chính phủ Nhật Bản, số tiền thuế thu vào ngân sách chính phủ hàng năm ngày càng tăng.

    • Nhật Bản, thuế tiêu thụ là một loại thuế gián tiếp đánh vào tất cả các hàng hoá, dich vụ, ngay cả những hàng hoá nhập khẩu, dù được miễn thuế nhập khẩu cũng vẫn phải chịu thuế tiêu thụ.

    Tại Việt Nam, chỉ có 12 nhóm hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả sản xuất trong nước và nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Để bảo hộ sản xuất trong nước, tăng thu ngân sách nhà nước đặc biệt là khi thực hiện AFTA và các định chế của APEC cũng như tham gia vào WTO mà theo đó Việt Nam phải từng bước giảm mức thuế quan xuống, chúng ta nên đưa thêm nhiều mặt hàng như nhóm mặt hàng tiêu dùng thành phẩm cao cấp (mỹ phẩm, nước hoa, đồ kim hoàn…) vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vì thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế nội địa, không thuộc đối tượng đàm phán khi ký kết các hiệp định quốc tế.

    2. Bài học và khả năng áp dụng về các biện pháp phi thuế quan

    Dựa trên những biện pháp mà Nhật Bản đã thực hiện thành công cùng với tình hình Việt Nam ngày nay, có thể đưa ra những giải pháp sau để bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    70

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    2.1 Đơn giản hoá thủ tục xuất nhập khẩu

    Vấn đề thủ tục xuất nhập khẩu hiện nay ở nước ta mặc dù đã được các cơ quan, bộ ngành từng bước sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh cho phù hợp với xu thế chung trên thế giới nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, gây trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu. So với Nhật Bản và các quốc gia khác, thủ tục xuất nhập khẩu của ta còn rất phức tạp, rườm rà, nhiều qui định không rõ ràng, đặc biệt là hiện tượng cửa quyền gây khó dễ cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, làm cho các đối tác nước ngoài có thể từ bỏ ý định đầu tư vào Việt Nam.

    2.2 Tăng cường quản lý chất lượng hàng xuất khẩu

    Về vấn đề này, nhà nước ta cần chú trọng đúng mức bởi thị trường thế giới chỉ đánh giá chất lượng hàng hoá Việt Nam theo nhóm hàng, chứ không quan tâm nhiều đến tên tuổi doanh nghiệp sản xuất hoặc xuất khẩu sản phẩm đó nên nếu để hàng kém chất lượng tiêu thụ ở nước ngoài sẽ làm giảm uy tín nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, ảnh hưởng xấu đến những doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu lớn. Chẳng hạn, vừa qua có tình trạng lái buôn ngâm tôm vào nước làm tăng trọng lượng lên 7 ~ 10% khiến cho hàng xuất khẩu bị khiếu nại trả lại. Sau đợt đó, chúng ta mất luôn cả khách hàng lẫn thị trường .

    Ngày nay, không chỉ Việt Nam mà ở nhiều nước khác trên thế giới, nói đến hàng Nhật Bản là người ta nghĩ đến những sản phẩm có chất lượng tốt, đó chính là ngay từ đầu Nhật Bản đã có sự kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hoá xuất khẩu thông qua các tổ chức, cơ quan chuyên trách được thành lập, theo đó chỉ những hàng hoá có đủ tiêu chuẩn đặt ra mới được xuất khẩu để đảm bảo uy tín của hàng hoá Nhật.

    Trong xu thế hiện nay, các doanh nghiệp cạnh tranh chính là bằng chất lượng, dịch vụ bán hàng và sau bán hàng chứ không phải hoàn toàn bằng giá cả như trước đây nên việc gây ấn tượng ban đầu về chất lượng hàng hoá Việt Nam đối với người tiêu dùng là rất cần thiết để tạo điều kiện dễ dàng cho việc buôn

    __________________________________________________________

    _____________

    71

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    bán về sau, tiếp cận với thị trường thế giới. Bên cạnh việc thiết lập cơ quan kiểm tra, chúng ta có thể dần dần luật hoá những qui định cụ thể về các yếu tố tối thiểu liên quan đến chất lượng hàng xuất khẩu để bảo vệ uy tín hàng hoá Việt Nam.

    2.3 Chuyển một số mặt hàng từ chế độ cấm nhập khẩu sang chế độ hạn ngạch nhập khẩu kết hợp với biện pháp thuế quan :

    Trong số các biện pháp cấm hoặc hạn chế nhập khẩu, đánh thuế đối với những hàng hoá cạnh tranh với những sản phẩm quan trọng sản xuất trong nước, cấm nhập khẩu biện pháp mang tính cưỡng chế cao nhất nên hậu quả xấu gây ra cũng lớn. Chẳng hạn như trường hợp thuốc lá điếu do bị cấm nhập khẩu trong khi hoạt động hải quan của nước ta vẫn còn lỏng lẻo đã gây nên tình trạng buôn lậu rất nhiều và nhà nước thì bị thất thu thuế. Vì vậy, ngoài những hàng cấm (vũ khí, ma tuý …) đối với các loại hàng hoá khác như thuốc lá điếu nên chuyển sang áp dụng các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu kết hợp với thuế quan là nếu hàng hoá vượt quá hạn ngạch qui định thì phải chịu thuế suất cao.

    2.4 Đầu tư hệ thống phân phối sản phẩm

    Mặc dù thị trường nội địa với gần 80 triệu dân rất hấp dẫn các doanh nghiệp nhưng để trụ được là điều không dễ dàng trước sự tràn ngập của hàng ngoại nhập đặc biệt là hàng Trung Quốc, chủ yếu nhập lậu hoặc theo đường tiểu ngạch. Ví dụ như hàng dệt may Việt Nam với bình quân 75% giá trị đầu vào gồm bông sơ, hoá chất, thuốc nhuộm … được nhập khẩu nên sản phẩm may làm ra giá còn cao, khó cạnh tranh để tìm chỗ đứng. Trong thời gian qua, các giải pháp bảo hộ như dán tem chống hàng giả vẫn đang tỏ ra bất cập với thực tế các sản phẩm như vải, may mặc … chính vì vậy việc đầu tư cho hệ thống bán hàng, mở rộng các đại lý là rất cần thiết để đưa hàng hoá Việt Nam trở nên phổ biến trong hành

    • tiêu dùng của người Việt Nam thông qua việc thực hiện chiết khấu hoa hồng cho những người bán hàng của Việt Nam sản xuất hoặc sẵn sàng nhận hàng hoá bị trả lại …

    __________________________________________________________

    _____________

    72

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    2.5 Chính sách tỷ giá hối đoái

    Một tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá phù hợp là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện định hướng của hoạt động xuất nhập khẩu. Nếu tỷ giá hối đoái chính thức quá cao sẽ làm cho hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với hàng nội địa, còn hàng xuất khẩu trở nên đắt hơn do phải chịu chi phí cao từ lạm phát trong nước, dẫn đến khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, một điều hoàn toàn bất lợi đối với Việt Nam đang thiếu vốn và ngược lại.

    Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu, Việt Nam nên thực hiện một chính sách tỷ giá hối đoái như thế nào cho phù hợp. Nên chăng là chúng ta cần có một chiến lược dài hạn cho việc xây dựng tỷ giá hối đoái, tránh biến động lớn về tỷ giá, gây rủi ro cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Để thực hiện chiến lược này, cần giảm bớt biên độ giao dịch của tỷ giá hối đoái ở mức nhỏ (0,5%~1%) và nâng dần tỷ giá chính thức lên ở mức nhỏ. Nếu không, chúng ta có thể thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo điều kiện dễ dàng cho việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch lâu dài mà không thể thiếu được cho công cuộc đưa một nước có nền kinh tế đang phát triển thành nước phát triển như Việt Nam. Hơn nữa, việc qui định này còn làm cho nguồn vốn trong nước có hạn cũng không bị lôi cuốn vào đầu cơ ngoại hối như trước và có thể tập trung vào cho đầu tư thực chất.

    KẾT LUẬN

     

    __________________________________________________________

    _____________

    73

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Nhật Bản là một nước đảo nghèo tài nguyên thiên nhiên và phải chu cấp cho một số dân hơn 120 triệu người trên một diện tích tương đối nhỏ. Tuy nhiên, bất chấp những điều kiện hạn chế này và việc cơ sở chế tạo của đất nước bị tàn phá trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã không những có thể xây dựng lại được nền kinh tế của mình mà còn trở thành một trong những quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới và ngày càng đuổi sát, thách thức vị trí cường quốc kinh tế số một của Mỹ. Đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển của Nhật Bản không thể không nói đến vai trò quan trọng của chính sách thuế quan và phi thuế quan.

    Từ những năm đầu bước vào công cuộc hồi phục đất nước sau chiến tranh cho đến lúc đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, các ngành sản xuất của Nhật Bản vốn đã bị tàn phá hầu hết muốn vực dậy thì cần có sự hỗ trợ đắc lực của chính phủ. Trong giai đoạn này, chính phủ đã thực hiện một loạt các biện pháp thuế quan và phi thuế quan mang tính chất bảo hộ sản xuất trong nước, thúc đẩy xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, từng bước nâng cao vị thế quốc gia.

    Sau khi các ngành sản xuất trong nước đã lớn mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới, đồng thời, trước xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá, chính phủ Nhật Bản đã dần dần nới lỏng các biện pháp bảo hộ chặt trong thời kỳ trước, nhờ đó mà tránh được mâu thuẫn thương mại, thúc đẩy hơn nữa hoạt động ngoại thương phát triển.

    Từ việc phân tích, nghiên cứu chính sách thuế quan và phi thuế quan và sự phát triển ngoại thương của của Nhật Bản cùng hiện trạng chính sách thuế quan và phi thuế quan ở Việt Nam, trên cơ sở đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích, phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tài liệu Tiếng Việt:

    __________________________________________________________

    _____________

    74

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1. GS, TS, Dương Phú Hiệp – TS Nguyễn Duy Dũng “Điều chỉnh chính sách kinh tế của Nhật Bản” 2002
    1. “Nhật Bản ngày nay”, NXB Hiệp hội quốc tế về thông tin giáo dục, Tokyo 1993.
    1. Goro Ono, “Chính sách công nghiệp cho công cuộc đổi mới”, NXB Chính trị quốc gia, 1998.
    1. PTS Bùi Xuân Lưu, “Giáo trình thuế & hệ thống thuế ở Việt Nam”, trường Đại học Ngoại thương, 1998.
    1. PTS Bùi Xuân Lưu, “Giáo trình chính sách ngoại thương”, trường Đại học Ngoại thương, 2002.
    1. Hiroshi Nakajima – Harumi Uraoka, “Nhật Bản – tăng cường hiểu biết và hợp tác”, NXB Tokyo United Publisher Inc, 1998.
    1. “Các chính sách huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế của Nhật Bản”, NXB Chính trị quốc gia, 1996.
    1. Chalmers Johnson, “MITI và sự thần kỳ của Nhật Bản”, Viện kinh tế thế giới, 1989.
    1. Lê Văn Sang, “Kinh tế Nhật Bản : giai đoạn thần kỳ”, Viện Kinh tế thế giới, 1998.
    1. Yasusuke Marakami, “Kinh tế học chính trị Nhật Bản”, NXB Khoa học xã hội, 1994.
    1. Chủ Hữu Quý, “Nông nghiệp nông thôn Nhật Bản”, NXB Sự thật, 1991.

    12.”Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản” NXB Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản.

    1. Tài liệu Tiếng Nhật:
    • Japan Almanac 2001

    __________________________________________________________

    _____________

    75

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    __________________________________________________________

    _____________

    76


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Phân tích SWOT về thị trường viễn thông Việt Nam

    Tiểu luận Phân tích SWOT về thị trường viễn thông Việt Nam

    Tiểu luận Phân tích SWOT về thị trường viễn thông Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Báo cáo thực tập thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại trung tâm viễn thông công ty điện lực phú thọ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-SWOT-v%E1%BB%81-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-vi%E1%BB%85n-th%C3%B4ng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích SWOT về thị trường viễn thông Việt Nam

    Tiểu luận: Phân tích SWOT về thị trường viễn thông Việt Nam

     

    I KHÁI QUÁT CHUNG:

     

    1. Khái quát về môi trường marketing vĩ mô của doanh nghiệp.

    Môi trường marketing là một tập hợp những lực lượng “không khống chế được” mà các công ty phải chú ý đến khi xây dựng các hệ thống marketing – mix của mình. Môi trường marketing được hiểu như sau:

    Môi trường marketing của công ty là tập hợp những chủ thể tích cực và những lực lượng hoạt động ở bên ngoài công ty và có ảnh hưởng đến khả năng chỉ đạo bộ phận marketing, thiết lập và duy trì mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với các khách hàng mục tiêu.

    Do tính chất luôn biến động, khống chế và hoàn toàn bất định, môi trường marketing động chạm sâu sắc đến đời sống công ty. Những biến đổi diễn ra trong môi trường này không thể gọi là chậm và có thể dự đoán trước được. Nó có thể gây ra những điều bất ngờ lớn và những hậu quả nặng nề. Vì thế công ty cần phải chú ý theo dõi tất cả những diễn biến của môi trường bằng cách sử dụng vào mục đích này việc nghiên cứu marketing và những khả năng thu thập thông tin marketing thường ngày bên ngoài công ty hiện có.

    Môi trường marketing gồm có môi trường vĩ mô và môi trường vi mô. Môi trường vi mô là những lực lượng có quan hệ trực tiếp với bản thân công ty và những khả năng phục vụ khách hàng của nó, tức là những người cung ứng, những người môi giới marketing, các khách hàng, các đối thủ cạnh tranh và công chúng trực tiếp. Môi trường vĩ mô là những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn hơn, có ảnh hưởng đến môi trường vi mô, như các yếu tố nhân khẩu, kinh tế, tự nhiên, kỹ thuật, chính trị và văn hóa. Chúng ta hãy cùng nghiên cứu môi trường markting vĩ mô của doanh nghiệp.

    Các lực lượng chủ yếu của môi trường vĩ mô.

    Các công ty, những người cung ứng, những người trung gian Marketing, khách hàng, các đối thủ cạnh tranh và công chúng đều hoạt động trong một môi trường vĩ mô rộng lớn của các lực lượng và xu hướng tạo ra những cơ hội đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa. Những lực lượng này là những lực lượng “không thể khống chế được” mà công ty phải theo dõi và đối phó. Trong số những lực lượng xã hội mới có phong trào xanh, phong trào phụ nữ, quyền đồng tình luyến ái, v…v. Trong số các lực lượng kinh tế có tác động ngày càng tăng của sự cạnh tranh toàn cầu. Các công ty và người tiêu dùng ngày càng phải chịu nhiều tác động của những lực lượng toàn cầu. Trong bức tranh toàn cầu đang biến đổi nhanh chóng công ty phải theo dõi sáu lực lượng chủ yếu, cụ thể là các lực lượng nhân khẩu, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, chính trị và văn hóa.

    Trong khi mô hình 5 áp lực của M-Porter đi sâu vào việc phân tích các yếu tố trong môi trường ngành kinh doanh thì PEST lại nghiên cứu các tác động của các yếu tố trong môi trường vĩ mô. Các yếu tố đó là:

    → Political (Thể chế- Luật pháp)

    → Economics (Kinh tế)

    → Sociocultrural (Văn hóa- Xã Hội)

    → Technological (Công nghệ)

    Đây là bốn yếu tố có ảnh hưởng  trực tiếp đến các ngành kinh tế, các yếu tố này là các yếu tố bên ngoài của của doanh nghiệp và ngành, và ngành phải chịu các tác động của nó đem lại như một yếu tố khách quan. Các doanh nghiệp dựa trên các tác động sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp.

    Trong các yếu tố đã nêu trên của môi trường Marketing vĩ mô mô thì yếu tố  kinh tế và tâm lý xã hội là những yếu tó có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và giải pháp marketing của doanh nghiệp. Chúng ta hãy cùng phân tích, dự báo và tìm ra các giải pháp marketing khi bị tác động bởi các yếu tố kinh tế và tâm lý xã hội.

    2. GIỚI THIỆU VỀ VIETTEL.

     Chặng đường phát triển:

     

    –  1/6/1989: Thành lập Tổng Công ty Điện tử thiết bị thông tin (SIGELCO), tiền thân của Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel).

    – 1989 – 1994: Xây dựng tuyến vi ba băng rộng lớn nhất (140 Mbps); xây dựng tháp anten cao nhất Việt Nam lúc bấy giờ (85m).

    – 1995: Doanh nghiệp mới duy nhất được cấp giấy phép kinh doanh dịch đầy đủ các dịch vụ viễn thông ở Việt Nam.

    –  1999: Hoàn thành đường trục cáp quang Bắc – Nam với dung lượng 2.5Mbps có công nghệ cao nhất Việt Nam với việc áp dụng thành công sáng kiến thu – phát trên một sợi quang.

    –  2000: Doanh nghiệp đầu tiên ở Việt Nam cung cấp dịch vụ thoại sử dụng công nghệ IP (VoIP) trên toàn quốc.

    –  2001: Cung cấp dịch vụ VoIP quốc tế.

    –  2002: Cung cấp dịch vụ truy nhập Internet.

    –  2003: Cung cấp dịch vụ điện thoại cố định (PSTN). Cổng vệ tinh quốc tế.

    –  2004: Cung cấp dịch vụ điện thoại di động. Cổng cáp quang quốc tế.

    –  2005: Dịch vụ mạng riêng ảo.

    –  2006: Đầu tư sang Lào và Campuchia.

    –  2007: Doanh thu 1 tỷ USD. 12 triệu thuê bao. Hội tụ 3 dịch vụ cố định – di động – Internet

    –  2008: Doanh thu 2 tỷ USD. Nằm trong 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới. Số 1 Campuchia về hạ tầng Viễn thông.

    –  2010 : Viettel trở thành tập đoàn kinh tế nhà nước.

    Thành tích đạt được:

    Tại Việt Nam:

    ♦  Thương hiệu mạnh nhất Việt Nam ngành hàng Bưu chính-Viễn thông-Tin học do người tiêu dùng bình chọn.

    ♦   Doanh nghiệp đầu tiên phá thế độc quyền trong ngành Bưu chính Viễn thông ở Việt Nam.

    ♦    Mạng di động đứng đầu Việt Nam với việc cung cấp dịch vụ GPRS trên toàn quốc, có 11 triệu thuê bao, và là một trong những mạng di động có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới (tạp chí Wireless Intelligence bình chọn).

    ♦   Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2009

    ♦  Số 1 về dịch vụ di động tại Việt Nam.

    ♦   Số 2 về vùng phủ dịch vụ PSTN, VoIP và ADSL ở Việt Nam.

    ♦   Số 1 về tốc độ truyền dẫn cáp quang ở Việt Nam.

    ♦   Số 1 về mạng lưới phân phối ở Việt Nam.

    ♦   Số 1 về đột phá kỹ thuật: Thu – phát trên một sợi quang. VoIP. Cung cấp GPRS trên toàn quốc. Thử nghiệm thành công Wimax. Triển khai NGN. Hệ thống tính cước tích hợp. MPLS. DWDM (40 x 10Mbps).

    ♦  Số 1 về quy mô tổng đài chăm sóc khách hàng ở Việt Nam.

    Trong khu Vực:

    ♦  Doanh nghiệp viễn thông Việt Nam đầu tiên đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

    ♦  Số 1 tại Campuchia về hạ tầng viễn thông.

    Trên thế giới:

    ♦  Nằm trong 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới

    ♦  Mạng di động có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới (tạp chí Wireless Intelligence bình chọn)

    ♦  Nhà cung cấp dịch vụ của năm tại thị trường mới nổi trong hệ thống Giải thưởng Frost&Sullivan Asia Pacific ICT Awards 2009.

    Nhận xét:

    Viettel telecom ra đời với sứ mệnh luôn theo đuổi trở thành nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông số một tại Việt Nam và có tên tuổi trên thị trường thế giới, do đó công ty luôn phấn đấu và cố gắng nỗ lực hết mình để vươn lên trong thị trường Viễn thông cạnh tranh đầy cam go và quyết liệt như hiện nay.

    Chỉ tính riêng trong năm 2008, Viettel có tới 25,5 triệu thuê bao kích hoạt mới, đạt 119% kế hoạch và bằng tổng số thuê bao phát triển trong vòng 4 năm 2004-2007.

    Năm 2008,mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhưng Viettel vẫn hoàn thành tốt chỉ tiêu kinh doanh với doanh thu đạt 30.000 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận ước khoảng 6.600 tỷ đồng, tăng 26% so với kế hoạch và gấp 1,7 lần so với năm 2007.

    Năm 2009, Viettel đạt doanh thu 60,2 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 80%. Đây là năm thứ 5 Viettel phát triển nhanh. Bốn năm trước (2004 – 2008) phát triển trên 100%. Trong 5 năm qua, tổng doanh thu của Viettel tăng 32 lần

    Từ thành công và đà tăng trưởng trong năm 2009, năm 2010 Viettel tiếp tục đặt mục tiêu duy trì tăng tốc độ tăng trưởng nhanh, thấp nhất là 60%, tương đương với doanh thu đạt 75 – 78 nghìn tỷ đồng. Tiếp tục lắp đặt gần 20.000 trạm BTS, trong đó chủ yếu là  trạm 3G tại thị trường Việt Nam.

    Một trong những mục tiêu quan trọng của Viettel trong năm 2010 là triển khai nghiên cứu phát triển và sản xuất thiết bị Viễn thông và CNTT. Năm 2010, Viettel dự kiến đưa ra thị trường 3-5 sản phẩm đầu tiên.

    Trong năm 2010, Viettel tiếp tục đẩy mạnh đầu tư về hạ tầng Viễn thông tại Việt Nam, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đầu tư cho công nghệ mới, tiếp tục triển khai các dự án của năm 2009: hoàn thành quang hóa đến xã, hoàn thành xây dựng mỗi xã một trạm BTS, đưa điện thoại Homephone về các hộ gia đình, tiếp tục hoàn thành kết nối Internet tới các trường học trong cả nước.

    Viettel cũng tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ cho an ninh quốc phòng như phủ sóng hoàn toàn quần đào Trường Sa và khu vực Biển Đông, triển khai cáp quang vùng biên giới…

    Có thể nói rằng dù Viettel là doanh nghiệp phát triển sau các nhà mạng như: Vinaphone, Mobiphone nhưng trong chặng đường phát triển của  mình ,công ty đã có những bước phát triễn nhảy vọt, số lượng thị phần tăng lên cấp số nhân trong những năm phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh doanh của mình. Không chỉ phát triển thị trường trong nước mà còn tập trung phát  triển thị trường nước ngoài. Trong những năm qua, hoạt động kinh doanh của Viettel đã có những thành công đáng kể và thương hiệu Viettel đã được khẳng định trên thị trường Viễn thông. Hiện nay Viettel trở thành nhà cung cấp dịch vụ di động số một tại Việt Nam.

    3. Marketing Viettel:

    Khi đọc câu khẩu hiệu (slogan) “Hãy nói theo cách của bạn – Say it your way”, không ai tin đó là một slogan của một công ty Việt Nam mà còn là slogan của một công ty của quân đội bởi nó quá “Tây”. Những chuyên gia xây dựng thương hiệu gọi đùa đó là câu chuyện của “Gã nhà quê” làm thương hiệu. “ Viettel, gã nhà quê làm thương hiệu” – “Nhà quê” nhưng chơi trội!

    Trước khi bắt tay vào việc xây dựng thương hiệu cho Công ty Viễn thông Quân đội, kiến thức về thương hiệu của những lãnh đạo công ty này gần như bằng con số O tròn trĩnh..
    JW Thompson (JWT) – Công ty quảng cáo nước ngoài đã được chọn. Một công ty quân đội vốn có kiểu marketing “nhà quê” như Viettel thì việc thuê JWT có thể coi là một hành động “chơi trội”. Hợp đồng của Viettel và JWT lúc đó có trị giá 45.000 USD với thời hạn 2 tháng được coi là một hợp đồng đắt đỏ của Viettel trong lịch sử làm marketing của công ty này.

    Vì là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mặt khác trên thị trường dịch vụ Viễn thông có rất nhiều các đối thủ cạnh tranh nặng kí và đáng gờm như Mobifone, Vinaphone cùng các đối thủ cạnh tranh hiện tại như Sfone, Vinamobile,Beeline, Evntelecom cùng nhiều đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn khác  nên hoạt động marketing luôn được Viettel quan tâm và chú trọng nhằm thu hút khách hàng và khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Chiến lược định vị: giá thấp, linh loạt trong quảng bá hình ảnh và đặc biệt là có hẳn sách lược chăm sóc khách hàng một cách thân thiện, tận tình là một chiến lược kinh doanh rất đúng đắn của Viettel. Bên cạnh chiến lược định vị đúng, Viettel còn thể hiện lối tư duy kinh doanh “vì khách hàng trước, vì mình sau” tuy chưa đậm nét và đạt tới mức độ cao nhưng đã tạo được sự tin cậy trong người tiêu dùng. Các gói cước tính có lợi cho khách hàng, các cách chăm sóc khách hàng tốt, các tiện ích mang lại giá trị ngoại sinh cho khách hàng như chọn số… thật sự đã góp phần làm cho Viettel thành công hơn. Ngoài ra, Viettel còn có các hoạt động chăm sóc khách hàng nhằm thu hút khách hàng như: Viettel chào đón khách hàng thứ 10 triệu, Viettel tri ân khách hàng…Và các hoạt động xã hội khác mang tính nhân bản cao như: Vang mãi khúc quân hàng, Chúng tôi là chiến sĩ…Đây cũng thể hiện triết lý kinh doanh gắn với trách nhiệm xã hội của Viettel. Viettel đã tặng hơn 3000 suất quà với tổng trị giá 900 triệu đồng trong chương trình “ấm áp tình thân” đến các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, các chiến sĩ biên giới, hải đảo đón tết xa nhà trong dịp Tết Mậu Tý. Công ty cũng đã dành hơn 10 tỷ đồng cho hoạt động xây dựng nhà tình nghĩa trên toàn quốc; tài trợ các chương trình có tiếng vang lớn như: Chúng tôi là chiến sĩ, Như chưa hề có cuộc chia ly, Chương trình mổ tim nhân đạo: Trái tim cho em, chương trình phẫu thuật nụ cười… Ngoài ra, Viettel đã phát động chương trình hỗ trợ hàng tháng cho mỗi sinh viên Việt Nam, Campuchia 25.000 -30.000 đồng, mỗi chiến sĩ biên phòng và hải đảo 50.000 đồng sử dụng điện thoại di động, miễn phí Internet đến 39.000 trường và 25 triệu học sinh, sinh viên; chương trình đưa Internet về 100% xã; chương trình hỗ trợ mỗi hộ nông dân nghèo 15.000 đồng một tháng để gọi điện thoại cố định. Đến hết năm 2008, Viettel đã đưa Internet băng rộng đến được trên 6.000 trường học và điện thoại cố định đến trên 1, 5 triệu hộ gia đình. Với các hoạt động nhân đạo, hoạt động xã hội hướng tới khách hàng, vì lợi ích của người tiêu dùng Viettel đang dần chiếm được sự tin dùng của khách hàng. Các hoạt động của Viettel vừa mang tính nhân đạo cao cả vừa giúp cho Viettel nâng vị trí của mình lên tầm cao mới để có được những thành công vang dội như ngày nay..

    1. Sự ảnh hưởng các nhân tố của môi trường marketing vĩ mô đến hoạt động của viettel

    1. Tác động của yếu tố kinh tế đến hoạt động marketing của doanh nghiệp.

    1. Phân tích và dự báo.

    Môi trường kinh tế trước hết phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế chung về cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng. Tình hình có thể tạo nên tính hấp dẫn về thị trường và sức mua khác nhau với các thị trường hàng hóa khác nhau.Môi trường kinh tế cũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng. Các hoạt động thị trường đều quan tâm đến sức mua và việc phân bổ thu nhập để mua sắm các loại hàng hóa dịch vụ khác nhau. Tổng sức mua lại phụ thuộc nhiều nhân tố như thu nhập hiện tại, giá cả hàng hóa dịch vụ, các khoản tiết kiệm và tín dụng …. Cơ cấu chi tiêu lại còn chịu tác động thêm của nhiều yếu tố nữa như điều kiện giai đoạn phát triển của nền kinh tế, chu kỳ kinh doanh. Thu nhập bình quân đầu người có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong nước và quốc tế. khi nền kinh tế ở giai đoạn khủng hoảng , tỷ lệ lạm phát cũng như thuế khóa tăng….thì người tiêu dùng buộc phải đắn đo để đưa ra các quyết định mua sắm. Nhiều hành vi mua sắm mang tính chất không tích cực sẽ diễn ra . Tình trạng sẽ ngược lại khi nền kinh tế trở lại thời kỳ phục hồi và tăng trưởng, phân hóa thu nhập sẽ chỉ cho các nhà marketing những phân đoạn thị trường khác nhau rất rõ rệt với mức độ chi tiêu và phân bố chi tiêu. Những người có thu nhập cao sẽ đòi  hỏi hàng hóa và dịch vụ cao hơn. Con người không chỉ đơn giản  “ ăn no mặc ấm” mà thay bằng mong muốn “ăn ngon mặc đẹp”. Họ cần nhiều loại sản phẩm tiêu dùng cho phép tiết kiệm thời gian hình thức bao bì mẫu mã trở thành yếu tố quan trọng để thu hút người mua, đạt được trạng thái thảo mãn những mong muốn nhu cầu nguyện vọng của khách hàng- người tiêu dùng. Nền kinh tế thế giới đang diễn ra theo xu hướng vận động  nhiều chiều. Sự phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia chậm phát triển và các quốc gia phasot triển theo hướng “dịch vụ hậu công nghiệp” , xu thế toàn cầu hóa, những nỗ lực cạnh tranh và hợp tác đang làm thay đổi bộ mặt đời sống kinh tế từng vùng từng khu vực. Thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp dịch vụ bên cạnh việc tăng mức độ tuyệt đối về thu nhập quốc dân sẽ là điều kiện nền tảng để mỗi quốc gia hội nhập với nền kinh tế quốc tế. Chiến lược marketing mang tính toàn cầu, đa quốc gia , xuyên quốc gia là một đòi hỏi tất yếu một thách thức cơ hội đồi với các nhà hoạt động thị trường.

    Thật vậy, trong bối cảnh kinh tế thị trường như hiện nay, nhất là Việt Nam đang trong tiến trình gia nhập WTO thì tác động của nhân tố kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động marketing của Viettel.

    Năm 2006, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Với việc gia nhập WTO đã mang đến làn gió mới, động lực mới thúc đẩy kinh tế trong nước tăng trưởng và phát triển tốt, trong đó có thị trường viễn thông Việt Nam. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều cơ hội mới song cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức này, mỗi doanh nghiệp phải tự tìm ra cho mình hướng đi và cách làm mới để nâng cao khả năng cạnh tranh không chỉ trong nước mà cả với nước ngoài.

    Cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp viễn thông di động Việt Nam

    Từ cuối năm 2006 và đầu năm 2007, trên thị trường viễn thông di động Việt Nam đang chứng kiến sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt giữa 6 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã ra đời và có tên tuổi. Trong đó có ba nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động sử dụng công nghệ GSM là Công ty thông tin di động VMS (MobiFone), Công ty dịch vụ viễn thông (Vinaphone) và Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel), ba nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động sử dụng cùng công nghệ CDMA là: Công ty thông tin viễn thông điện lực (EVN Telecom), Công ty Cổ phần viễn thông Hà Nội (Hanoi Telecom với mạng di động HT mobile, từ ngày 15/3/2008 HT mobile chính thức chuyển đổi công nghệ từ CDMA sanng e – GSM ) và Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (với mạng di động S – Fone). Sự cạnh tranh trên thị trường viễn thông Việt Nam tập trung chủ yếu cạnh tranh về giá cước, chất lượng dịch vụ, dịch vụ gia tăng trên mạng di động, cạnh tranh vùng phủ sóng, tăng thuê bao và lợi nhuận.

    Các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam tập trung cạnh tranh đẩy mạnh vùng phủ sóng, lắp đặt trạm BTS để nâng cao chất lượng dịch vụ, trong đó nổi lên Viettel là doanh nghiệp viễn thông ra đời sau vào năm 2004 nhưng đã vượt MobiFone và Vinaphone. Viettel với cách làm tập trung xây dưng mạng lưới trước và kinh doanh sau, chỉ trong một thời gian ngắn Viettel đã phát triển được vượt bậc được số trạm BTS với vùng phủ sóng 63/63 tỉnh nhất là tại vùng sâu, vùng xa, biên gới và hải đảo, tiếp theo sau Viettel là Mobiphone và Vinaphone, S – Fone, HT mobile và EVN Telecom có vùng phủ sóng và trạm BTS ít.

    Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường viễn thông trong nước với quy mô thị trường hơn 80 triệu dân, xu hướng thị trưởng viễn thông di động sau năm 2010 sẽ bão hoà và phải đối mặt cạnh tranh với các tập đoàn viễn thông hùng mạnh của nước ngoài vào Việt Nam buộc các doanh nghiệp viễn thông của Việt Nam phải tìm ra những hướng đi mới để tự nâng cao sức mạnh cạnh tranh của mình.

    Nền kinh tế tuột dốc, nhu cầu sử dụng điện thoại di động vẫn cao

    Gần đây, một nghiên cứu của Hiệp hội viễn thông quốc tế mới công bố cho hay điện thoại di động đã trở thành một “nhu cầu tối tiểu” với mọi cư dân khắp thế giới. Cho dù nền kinh tế tuột dốc, nhu cầu sử dụng dịch vụ này vẫn tiếp tục tăng mạnh.

    Điện thoại di động- không thể ngưng sử dụng

    “Một khi ai đó đã có chiếc điện thoại di đông, quả là khó để ngưng không dùng nữa, hơn thế ở nhiều nước, sử dụng điện thoại di động đã trở thành một nhu cầu thiết yếu. Công nghệ viễn thông, trong đó có điện thoại di động và băng thông rộng vẫn còn rất nhiều tiềm năng phát triển, kể cả nền kinh tế có suy giảm hay không. Với tiềm năng phát triển lớn như hiện nay, ngành điện thoại di động còn có thể trợ giúp cho quá trình khôi phục nền kinh tế”

    Tuy nhiên,  năm 2009 là năm khó khăn của nền kinh tế Việt Nam, vấn đề lớn nhất của năm là sự giảm sút lòng tin của người tiêu dùng, niềm tin của người tiêu dùng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như nền kinh tế, tỷ giá đồng việt nam, công ăn việc làm, chi phí sinh hoạt, đầu tư nước ngoài và mức sống cá nhân, với cạnh tranh dịch vụ viễn thông gay gắt thì người tiêu dùng có nhiều cơ hội sử dụng, lựa chọn những mạng có giá cước rẻ và khuyến mãi cao.

    Thị trường viễn thông sắp có bão khuyến mãi

    Tốc độ phát triển thuê bao giảm sút, người tiêu dùng quay lưng với mức khuyến mãi thấp là nguyên nhân khiến các nhà khai thác di động nghĩ ra chiêu thức mới để chạy đua.

    MobiFone vừa tạo ra một cú sốc cực lớn trên thị trường với việc cho phép khách hàng gọi miễn phí “quên ngày tháng” gần như chính sách của gói cước BigZero mà Beeline đang áp dụng.

    Theo chương trình khuyến mại này, MobiFone cho phép tất cả các thuê bao di động tại Hà Nội (cả Hà Nội cũ và Hà Tây) thực hiện các cuộc gọi nội mạng được miễn phí 9 phút. Nghĩa là các cuộc gọi 10 phút chỉ bị tính tiền một phút trong khoảng thời gian từ ngày 2/10 cho đến hết năm 2009.

    Đây cũng chính là 1 trong những khó khăn lớn của Viettel trong nền kinh tế hiện nay.

    Đánh giá toàn cảnh thị trường dịch vụ viễn thông Việt Nam hiện tại với các dự báo và phân tích từ năm 2009 đến năm 2013. Được kích thích bởi cam kết của chính phủ đối với phát triển nội dung kỹ thuật số và tự do hóa ngành – có nghĩa đón thêm các nhà cung cấp dịch vụ mới và cạnh tranh mạnh mẽ. Ngoài việc tiếp tục tăng trưởng, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam sẽ phải đối mặt với một số vấn đề như các chương trình khuyến mãi không thể tránh khỏi, doanh thu trung bình trên mỗi thuê bao (ARPU) giảm, tỷ giá cao và thuê bao danh nghĩa (thuê bao ảo).

    PHÂN TÍCH SWOT VỀ THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM

    * Điểm mạnh:

    – Thị trường di động cạnh tranh hơn với sự tham gia của  EVNTelecom và  Hanoi Telecom

    – Dịch vụ di động và dịch vụ cố định đạt mức tăng trưởng cao tương ứng với 104% và 43%

    – Việc gia nhập WTO cuối năm 2006 giúp Việt Nam thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là tập trung cho thi trường băng rộng.

    * Điểm Yếu

    – Lĩnh vực dịch vụ cố định vẫn do một công ty nắm giữ (VNPT)

    – Thiếu các nhà đầu tư chiến lược trên thị trường

    – Tuy dịch vụ viễn thông đã khá phổ biến tại khu vực thành thị, nhưng nhiều vùng nông thôn vẫn chưa tiếp cận được với các dịch vụ viễn thông.

     

    * Cơ hội

    –   Cạnh tranh gia tăng trên thị trường di động sẽ thức đẩy tăng trưởng toàn thị trường viễn thông

    –   Tốc độ tăng trưởng thị trường băng rộng là rất nhanh, dự kiến vượt 1 triệu thuê bao trong năm 2008 – Chính phủ đang thực hiện tự do hoá ngành viễn thông, tạo điều kiện tham gia cho các tập đoàn viễn thông lớn.

    –   VNPT mới triển khai dịch vụ vô tuyến cố định để phủ sóng vùng nông thôn cùng với Viettel và EVN Telecom.

     

    * Nguy cơ

    –   Quá trình phân cấp quản lý nhà nước diễn ra chậm chạp

    –   1/3 làng xã Việt Nam nằm tại các vùng núi non rất khó để triển khai dịch vụ viễn thông. Làm cản trở việc phát triển mạng cố đinh, di động và Internet.

    –   Tỷ lệ thuê bao di động ngừng hoạt động chưa được xác định rõ ràng, tạo ra sự không minh bạch trên thị trường di động

    –   Sự gia tăng cạnh tranh có thể dẫn đến chiến tranh về giá cước, quá đó có thể làm giảm nghiêm trọng chất lượng dịch vụ.

    Sau 1 năm gia nhập WTO, thị trường dịch vụ di động tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao với mức tăng trung bình hàng năm đạt 35%. Dự báo đến năm 2011, tổng thuê bao di động sẽ vượt mốc 50 triệu, với mật độ đạt 56%. Các nhà khai thác di động đang cạnh tranh mạnh mẽ để giành thị phần bằng các chương trình khuyến mãi hấp dẫn và kéo dài liên tục.

    • Đứng trước những phân tích và dự báo trên đây thì Viettel đã, đang và sắp đưa ra các giải pháp marketing như thế nào để đứng vững trên thị trường viễn thông đầy khốc liệt.
    1. B. Giải pháp.

    Như chúng ta đã biết thành công của VIETTEL mang dấu ấn MARKETING: Viettel vừa đạt con số kỷ lục 1 triệu thuê bao. Đây là một thành tích đáng nể với một mạng di động mới. Trong sự thành công của Viettel, nhiều người đã nói đến sự năng động và vai trò quan trọng của marketing với thông điệp “ Hãy nói theo cách của bạn ”.

    Nghiên cứu của Markcom Research & Consulting về thị trường viễn thông VN và động thái cạnh tranh của từng nhà cung cấp dịch vụ trên thị trường trong ba năm qua cho phép đánh giá 50% thành công của Viettel là do khai thác hiệu quả sự lơi lỏng (nếu không muốn nói là sai lầm) của đối thủ về marketing và 50% là do nỗ lực của đội ngũ nhân viên năng động.

    Đánh giá về sự sai lầm trong marketing của các đối thủ của Viettel có ba nguyên nhân và điều này đã tạo lợi thế cho Viettel khi biết tận dụng thời cơ, đó là sự chậm chạp trong chiến lược cạnh tranh (thiếu linh hoạt) và xử lý rủi ro chậm (ví dụ vụ nghẽn mạng Vinaphone đầu năm 2005); chăm sóc quyền lợi khách hàng chưa đúng mức; cuối cùng là có sai lầm trong xây dựng hình ảnh.

    Chính vì vậy việc “đánh bóng” hình ảnh của mình nhân sự lơi lỏng về chiến lược marketing của đối thủ đã là một giải pháp làm nên thành công của Viettel. Tuy nhiên, thành công của thương hiệu Viettel,  còn do hai nguyên nhân bao trùm khác. Đó là một chiến lược định vị và tiêu chí tiếp cận kinh doanh “vì khách hàng trước, vì mình sau”.

    Chiến lược định vị: giá thấp, linh loạt trong quảng bá hình ảnh và đặc biệt là có hẳn sách lược chăm sóc khách hàng một cách thân thiện, tận tình là một chiến lược kinh doanh rất đúng đắn. Đây có thể coi là cách định vị tối ưu nhất cho một mạng di động trong bối cảnh thị trường di động VN cách đây 2 – 3 năm (S-Fone tuy ra trước đã không làm điều này).

    Bên cạnh chiến lược định vị đúng, Viettel còn thể hiện lối tư duy kinh doanh “vì khách hàng trước, vì mình sau” tuy chưa đậm nét và đạt tới mức độ cao nhưng đã tạo được sự tin cậy trong người tiêu dùng. Các gói cước tính có lợi cho khách hàng, các cách chăm sóc khách hàng tốt, các tiện ích mang lại giá trị ngoại sinh cho khách hàng như chọn số… thật sự đã góp phần làm cho Viettel thành công hơn.

    Viettel đã đưa ra các gói cước đánh vào nền kinh tế thị trường rất ưu dụng, luôn muốn phổ cập hóa viễn thông đến người dân việt nam, với những mức phí rẻ nhất giúp nền kinh tế ngày càng tăng trưởng cao và chính viettel cũng đã đạt được những bước đột phá đáng kế trang nền kinh tế thị trường cùng với quá trình gia nhập WTO của việt nam:

    • Gói cước tomato- điện thoại di động cho mọi người:

    Không giới hạn thời gian sử dụng, với mức cước hàng tháng bằng không!

    Gói cước Tomato là gói cước đại chúng nhất của Viettel, đặc biệt dành cho nhóm khách hàng mong muốn sử dụng điện thoại di động nhưng ít có nhu cầu gọi, mà nghe là chủ yếu. Gói cước không giới hạn thời gian sử dụng, với mức cước hàng tháng bằng không.

    Lợi ích khi sử dụng gói cước Tomato:

    –     Không giới hạn thời hạn thẻ  => Dùng vô thời hạn đến khi tài khoản không còn tiền;

    –     Không cước thuê bao tháng

    –     Không cước hoà mạng

    –     Chỉ cần phát sinh 1 cuộc đến hoặc gọi đi trong vòng 2 tháng.

    –     Khách hàng có thể thực hiện cuộc gọi hoặc nhắn tin tại bất kỳ thời điểm nào, miễn là tài khoản >0 đồng.

    Gói cước sumo sim: giá hấp dẫn.

    Nếu như trước đây các khách hàng muốn dùng dịch vụ di động phải đầu tư máy điện thoại và thẻ SIM với mức chi phí cả triệu đồng thì giờ đây chỉ phải bỏ ra một mức chi phí từ 445.000đ đến 500.000đ sẽ có ngay một SIM Tomato không hạn gọi, không hạn nghe, mà còn được tặng thêm 150.000đ trong tài khoản trong vòng 4 tháng và một máy ĐTDĐ. Bên cạnh đó, trong 5 lần nạp thẻ đầu tiên, thuê bao Sumo SIM sẽ được khuyến mãi nhân đôi tài khoản. Chính sách ưu đãi này mở ra cơ hội dùng di động cho những người dân có thu nhập thấp, người dân vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn… giúp thu hẹp khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn, góp phần xã hội hóa dịch vụ di động.
    Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, người dân đang cắt giảm chi tiêu tối đa thì việc ra mắt bộ hòa mạng tích hợp cả SIM và “dế” với mức giá hết sức bình dân của Viettel sẽ phần nào giải tỏa nỗi lo về chi phí viễn thông cho khách hàng.
    Ngoài lợi thế về giá, chất lượng sản phẩm và chế độ bảo hành cũng được nhà cung cấp này đặc biệt quan tâm. Hệ thống bảo hành chuyên nghiệp, rộng khắp với điểm bảo hành ở ngay tại cửa hàng bán sản phẩm của Viettel tại tất cả các tỉnh thành trên cả nước, Viettel luôn tạo được sự quan tâm tuyệt đối cho khách hàng khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ của mình.

    Gói cước Tourist

    Tourist Sim là gói cước di động đầu tiên ở Việt Nam được thiết kế dành riêng cho đối tượng khách hàng là người nước ngoài đến Việt Nam công tác, du lịch, thăm bạn bè Với ưu điểm

    • Giá cước quốc tế ưu đãi
    • Không cước thuê bao tháng
    • Gói cước này được cài đặt mặc định và miễn phí cước thuê bao GPRS.
    • Không cước hoà mạng
    • Miễn phí tin nhắn tra cứu thông tin du lịch
    • Hệ thống tổng đài hỗ trợ riêng 18008168  (miễn phí) bằng tiếng Anh và tiếng Trung
    • Kênh phân phối thuận tiện

    – Gói cước Economy: Thân thiện và kinh tế

    Đơn giản, thuận tiện và dễ sử dụng,Economy là gói cước trả trước đơn giản, thuận tiện và dễ sử dụng nhất của Viettel Mobile. Khác với các gói cước trả sau (Basic+, Family) và các gói trả trước khác, Gói cước Economy có cước thoại thấp, dành cho khách hàng cá nhân gọi nhiều với mức sử dụng dưới 150.000đồng/tháng. Lợi ích khi sử dụng gói cước economy:

    • Không phải ký hợp đồng thuê bao;
    • Không phải trả phí hoà mạng;
    • Không phải trả cước thuê bao tháng, thuê bao ngày;
    • Không phải thanh toán hoá đơn cước hàng tháng;
    • Chỉ trả cước cho từng cuộc gọi;
    • Giá cước thoại cực thấp;
    • Sử dụng dịch vụ bất cứ lúc nào.

    – Gói cước VIP- Luôn khác biệt

    Gói cước VIP của Viettel là gói cước trả sau dành cho nhóm khách  hàng có thu nhập cao với những ưu đãi đặc biệt.

    Lợi ích khi sử dụng gói cước VIP:

    • Không cần đặt cọc khi đăng ký chuyển vùng quốc tế;
    • Được hoãn thời gian chặn cước;
    • Được cài đặt ngay các dịch vụ gia tăng khi đăng ký gói cước;
    • Miễn phí 200 phút gọi đầu tiên trong nước/tháng;
    • Miễn phí cước thuê bao tháng dịch vụ MCA;
    • Miễn phí cước thuê bao tháng dịch vụ I – mail;
    • Được đăng ký sử dụng gói dịch vụ data Dvip với những ưu đãi sau:
    • Miễn phí cước thuê bao tháng;
    • Lưu lượng miễn phí: 200MB;
    • Giá cước vượt định mức: 0.25đ/1kb (lớn hơn 200MB).

    – Gói cước Corporate: Giải pháp tiết kiệm cho doanh nghiệp

    Gói cước Coporate (đổi tên từ gói VPN) của Viettel là gói cước trả sau dành cho doanh nghiệp, tổ chức có từ 5 thuê bao trả sau của Viettel trở lên. Với tính năng quản lý hướng gọi và mức sử dụng của các thành viên, giờ đây, việc quản lý doanh nghiệp của chủ nhóm đã trở nên dễ dàng hơn.

    • Lợi ích khi sử dụng gói cước Corporate:
    • Gói cước duy nhất cung cấp tính năng quản lý hướng gọi và mức sử dụng tại Việt Nam;
    • Thuê bao nhóm Corporate được hưởng tính năng hoá đơn kép;
    • Tạo ra kết nối dài lâu giữa các thành viên trong nhóm chỉ với 495 đồng/phút, giảm tới 50% so với cước gọi nội mạng thông thường;
    • Chính sách chăm sóc khách hàng tốt nhất dành cho doanh nghiệp.

    Chủ động đầu tư ra nước ngoài – cách làm mới để Viettel nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập

    Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) chính thức cung cấp dịch vụ viễn thông di động ra thị trường, chỉ sau một thời gian ngắn Viettel đã có bước phát triển ngoạn mục, liên tục trong 4 năm qua Viettel giữ được tốc độ tăng trưởng doanh thu năm sau gấp đôi năm trước và năm 2008 Viettel đạt mốc doanh thu 2 tỷ USD. Viettel là doanh nghiệp Viễn thông có tốc độ phát triển trạm BTS và thuê bao nhanh nhất và lớn nhất Việt Nam hiện nay, tính đến hết năm 2008 Viettel có hơn 28 triệu thuê bao di động.

    Năm 2008, Viettel được Vietnam Mobile Awards 2008 trao giải mạng di động có tốc độ phát triển thuê bao nhanh nhất và mạng di động có hệ thống thương hiệu được nhiều người biết đến nhất. Đặc biệt theo tổ chức chuyên đánh giá thương hiệu thuộc World Cellular Service đã công bố 100 nhãn hiệu nhà khai thác đi động lớn nhất thế giới thì Viettel là nhãn hiệu di động duy nhất Việt Nam có trong danh sách với giá trị thương hiệu là 536 triệu USD, đứng thứ 83/100. Tháng 10/2008, Viettel được đánh giá là 1 trong 4 Nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tốt nhất ở các quốc gia đang phát triển do tổ chức WCA (World Communication Awards) bình chọn. Như vậy có thể thấy chỉ sau một thời gian ngắn, Viettel đã nổi lên là doanh nghiệp viễn thông phát triển nhanh nhất Việt Nam với tên tuổi và thương hiệu đã được xếp vào bản đồ viễn thông thế giới.

    Điều đặc biệt ở đây là mặc dù đang dẫn đầu thị trường về tốc độ phát triển thuê bao cũng như thị phần, đang phải cạnh tranh găy gắt với các hãng viễn thông trong nước thì Viettel đã có một quyết định đầy bất ngờ và táo bạo, Viettel là doanh nghiệp viễn thông đầu tiên của Việt Nam vươn ra đầu tư ở nước ngoài.

    Tháng 5/2006, Viettel bắt đầu cung cấp dịch vụ tại Campuchia với dịch vụ VoIP, sau đó là dịch vụ internet, tiếp theo đó Viettel triển khai mạng di động. Khi Viettel bắt đầu thâm nhập vào thị trường Capuchia thì đã phải đối mặt với các doanh nghiệp viễn thông đang hoạt động tại Campuchia có nhiều kinh nghiệm và tiềm lực tài chính mạnh, chủ yếu là liên doanh với nước ngoài như Thuỵ Điển, Thái Lan, NaUy.

    Viettel đã đẩy nhanh tập trung vào xây dựng hạ tầng mạng lưới và xây dựng riêng một đường truyền về Việt Nam, trong khi các doanh nghiệp viễn thông khác tại Campuchia không có đường truyền riêng như vậy. Đến ngày 19/2/2009, Viettel chính thức khai trương mạng Metfone thuộc công ty Viettel Cambodia ( Công ty 100% vốn của Viettel đầu tư), chỉ sau 3 tháng đi vào hoạt động mạng lưới Metfone đã triển khai rộng khắp Campuchia, dung lượng lớn với hơn 1000 trạm phát sóng BTS tương đương hớn 40% tổng số trạm phát sóng của cả nước Campuchia, phủ sóng cả nước, với một mạng cáp quang lớn nhất Camphuchia với chiều dài 5000km phủ khắp các quốc lộ, tỉnh thành.

    Sự thích ứng nhanh của Viettel khi đầu tư ra nước ngoài còn thể hiện ở chỗ Metfone xây dựng gói cước đa dạng với mệnh giá thấp và dịch vụ gia tăng phong phú đã đem đến cho người dân Camphuchia nhiều sự lựa chọn. Hiện nay Metfone là mạng có giá cước tốt nhất, giúp người dân Campuchia tiết kiêm 25% chi phí nhờ cách tính cước theo từng giây cho tất cả các hướng gọi, kể cả liên mạng và quốc tế. Sau 3 tháng cung cấp thử nghiệm Metfone đã có 500.000 thuê bao.

    Viettel đẩy mạnh kinh doanh gắn kết với vấn đề xã hội, cùng với việc khai trương mạng Metfone tại Campuchia, Viettel chính thức công bố tài trợ dịch vụ internet miễn phí tới các trường học Camphuchia, dự kiến 5 năm tới Metfone sẽ cung cấp internet miễn phí cho 1.000 trường học trên toàn lãnh thổ Campuchia với tổng giá trị ước tính 5 triệu USD. Dự kiến năm 2009 Metfone sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển mạng lưới, mở rộng lên 3000 trạm BTS với 10,000 km cáp quang. Viettel đặt mục tiêu là doanh nghiệp số 1 Camphuchia.

    Viettel táo bạo đầu tư sang Campuchia bước đầu thành công đã thể hiện một cách làm mới đầy táo bạo và nhanh nhạy để chủ động cọ sát với bên ngoài, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Sau sự thành công tại Campuchia, Viettel đang chuẩn bị đầu tư sang Lào, Myanmar và nhiều nước khác nữa.

    Như vậy có thể thấy Viettel đầu tư ra nước ngoài đã nâng cao khả năng cạnh tranh của Viettel trên các mặt chủ yếu sau: Phát triển thương hiệu Viettel vượt khỏi lãnh thổ Việt Nam vươn ra nước ngoài nhằm nâng cao thương hiệu Viettel; Nâng cao sự cọ sát với bên ngoài để tích luỹ và lấy kinh nghiệm cạnh tranh quốc tế; Viettel chủ động đầu tư ra nước ngoài để mở ra thị trường mới đầy tiềm năng phát triển, tạo nguồn doanh thu từ nước ngoài; Nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của Viettel trên trường quốc tế.

    2. Tác động của yếu tố văn hóa đến hoạt động Marketing của doanh nghiệp:

    1. Phân tích và dự báo các yếu tố văn hóa xã hội:

    Văn hóa thường được định nghĩa là hệ thống những giá trị và đức tin, truyền thống và những chuẩn mực hành vi. Văn hóa được hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ, được truyền từ đời này sang đời khác và thường được hấp thụ ngay từ buổi đầu trong đời sống gia đình, giáo dục, tôn giáo, trong công việc và bằng giao tiếp với những người khác trong cộng đồng. Có thể xem văn hóa là nguyên nhân đầu tiên, cơ bản quyết định đến nhu cầu và hành vi của con người. Những điều cơ bản về cảm thụ, giá trị thực sự, sự ưa thích, thói quen, hành vi ứng xử mà chúng ta quan sát được qua việc mua sắm đều chứa đựng bản sắc văn hóa. Từ đó, để nhận biết những người có trình độ văn hóa cao, thái độ của họ đối với sản phẩm khác biệt so với những người có trình độ văn hóa thấp. chấp nhận của người bản địa.

    Văn hóa rất có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng, đến quyết định mua hàng của mỗi người. Do vậy, hành vi tiêu dùng đã được xem là một nghiên cứu về đặc điểm của người tiêu dùng, về nhân khẩu học, tâm thần học và những biến chuyển của nhu cầu con người. Ngoài ra, đây còn được dùng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của một nhóm người như gia đình, bạn bè và xã hội lên một cá thể. Do tất cả các khía cạnh của hành vi tiêu dùng đều được yếu tố văn hóa bao trùm, nên những người làm marketing cần phải xác định và thấu hiểu nhân tố này và tầm ảnh hưởng của nó lên marketing toàn cầu để đạt được thành công trong kinh doanh.

    Tháp nhu cầu của Maslow

    Khi nhắc đến hành vi tiêu người tiêu dùng, không thể không nhắc đến Tháp nhu cầu của Maslow (Maslow’s hierachy of needs). Maslow đã phân chia nhu cầu của con ngườit heo 5 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là các nhu cầu cơ bản con người như văn, uống, duy trì nòi giống…. để đảm bảo sự tồn tại của con người. Khi đã thỏa mãn nhu cầu cơ bản này, vấn đề con người quan tâm lúc này là sự an toàn, an ninh của chính bản thân.

    Kế đến là nhu cầu giao tiếp, những mối quan hệ và gắn bó trong xã hội. Nhu cầu tiếp tục tiến lên đến giai đaọn được nhận biết và tôn trọng, để cuối cùng nhu cầu cao nhất là nhu cầu được thể hiện chính mình.Hành vi người tiêu dùng sẽ thể hiện rất khác nhau qua các giai đoạn của tháp Maslow và văn hóa có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ ở 2 điểm sau:

    Thứ nhất: Một điều cơ bản trong thuyết Maslow nhưng không hoàn toàn đúng ở tất cả các nền văn hóa là nhu cầu không nối tiếp nhu cầu theo một trật tự nhất định. Đối với nền kinh tế đang phát triển, mọi người sẽ chú trọng nhiều đến điều cơ bản là nhu cầu tồn tại. Trong khi đó, một số nền văn hóa (tiêu biểu là Hindu) khuyến khích nhu cầu tự khẳng định mình phải được đặt ưu tiên so với các nhu cầu khác. Hay như nhu cầu về sự an toàn có thể không được xem trọng ở một số nền văn hóa khác.

    Thứ hai: Các nhu cầu có tính chất tương đồng sẽ được thỏa mãn bởi nhiều sản phẩm khác nhau hay loại hình tiêu thụ khác nhau.Thật vậy, văn hóa có ảnh hưởng mạnh đến hành vi người tiêu dùng và những nhà làm marketing phải hiểu được hành vi con người để có htể cung cấp những sản phẩm, dịch vụ đến đúng đối tượng trong một không gian và thời gian thích hợp.

    Mối quan hệ giữa văn hóa và hành vi tiêu dùng

    Rào cản của văn hóa đối với việc phát triển thị trường đã quá rõ ràng. Để vượt qua rào cản này đòi hỏi nhà sản xuất và người kinh doanh phải “luôn luôn thấu hiểu”  văn hóa bản địa và tầm ảnh hưởng của văn hóa ấy lên quyết định mua hàng. Trong một phạm vi xã hội, hành vi tiêu dùng của cá nhân sẽ thể hiện cá tính riêng và sẽ xây dựng mối quan hệ xã hội dưới sự dẫn dắt của yếu tố văn hóa. Tôi chỉ lấy ví dụ thông qua chỉ số đo lường Hofsted ở các quốc gia đa văn hóa.

    Tại Indonesia, dân số thừa hưởng một di sản Malay quan trọng nhưng đã bị thay đổi thành hơn 300 nền văn hóa khác nhau trên lãnh thổ. Văn hóa khác biệt này bắt nguồn từ sự xung đột giữa các quốc gia, văn hóa, tín ngưỡng mà sản sinh ra các hành vi tiêu dùng khác nhau. Một trong những điều thú vị là người dân Indonesia rất lịch sự và luôn nói từ “Đúng” trong câu trả lời dù đôi khi câu trả lời đó không thật sự chính xác. Họ cho rằng nói từ “Không” sẽ thể hiện sự bất lịch sự, thiếu tôn trọng người đối diện.

    Nếu như không hiểu những điều về giao tiếp nhỏ nhặt đó thì làm sao những người làm kinh doanh có thể hiểu và bán hàng cho người dân tại đây. Nếu chúng ta chưa hiểu văn hóa của Indonesia, không biết về hành vi, con người Indonesia thì chúng ta không thể cung cấp cho họ những sản phẩm và dịch vụ đúng.Sự tồn tại của văn hóa ảnh hưởng đến sở thích của từng cá nhân và đồng thời ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng.

    Văn hóa là một kinh nghiệm được chia sẽ bao gồm những hành vi đã được trải nghiệm và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của từng cá nhân trong xã hội. Việc tiêu dùng trở thành một tiến trình xã hội tích cực bắt nguồn từ các yếu tố văn hóa. Văn hóa ảnh hưởng đến sự lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng và đồng thời ảnh hưởng đến đức tin và thái độ của cá nhân.

    Vì vậy người làm marketing không chỉ hiểu về hành vi khách hàng, sự thay đổi hành vi của mỗi cá nhân mà chúng ta còn cần phải nhận biết các khía cạnh khác nhau như sự thay đổi của môi trường, đối thủ cạnh tranh….

    Để thành công trong thị trường đầy cạnh tranh, chúng ta phải hiểu đối thủ mang đến những gì cho người tiêu dùng và chiến lược của họ để chúng ta tìm cách ứng phó kịp thời. Điều đó quả thật không dễ dàng. Chúng ta hiểu sâu sắc hành vi người tiêu dùng, niềm mong ước và sự khát khao của họ để từ đó chúng ta mới có thể phát triển hàng hóa, dịch vụ bằng các chiến lược marketing cụ thể trên thị trường các nước trên thế giới.

    Ảnh hưởng của văn hoá lên hoạt động marketing của doanh nghiệp

    Ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá lên hoạt động marketing của DN là tác động lên chính hành vi của các chủ thể kinh doanh hay hành vi của các nhà hoạt động thị trường. Những hành vi đó sẽ in dấu lên các biện pháp marketing mà họ thực hiện. Ví dụ: những quy tắc xã giao, cách nói năng cư xử của một nền văn hoá nào đó mà các nhà hoạt động thị trường chịu ảnh hưởng sẽ đựơc họ mang theo và sử dụng trong quá trình giao tiếp, đàm phán, thương lượng với khách hàng. Trong trường hợp này văn hoá đã tác động hay chi phối trực tiếp đến loại công cụ thứ tư của marketing- công cụ xúc tiến hỗn hợp với ý nghĩa giao tiếp, truyền thông.

    So với ảnh hưởng trực tiếp, ảnh hưởng gián tiếp của văn hoá mang tính thường xuyên hơn với diện tác động rộng hơn. Các giá trị văn hoá được truyền tải thông qua các tổ chức như: gia đình, các tổ chức tôn giáo, tổ chức xã hội, trường học, v.v… từ đó mà ảnh hưởng đến người mua để rồi quyệt định các biện pháp marketing của người bán. Tác động của văn hoá đến người mua không chỉ tập trung ở nhu cầu mong muốn của họ mà còn được thể hiện qua thái độ của con người đối với bản thân mình, đối với người khác, đối với các chủ thể tồn tại trong xã hội, đối với tự nhiên và vũ trụ… Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng đến các biện pháp marketing.

    Văn hoá với tư cách là yếu tố của môi trường marketing ảnh hưởng toàn diện đến hoạt động marketing của các DN, cụ thể:

    • Văn hoá ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề có tính chất chiến lược trong marketing như: lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, lựa chọn thị trường mục tiêu, lựa chọn các chiến lược marketing chung, các quyết định về nhiệm vụ mục tiêu tổng quát của DN và hoạt động marketing.
    • Văn hoá cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các chiến thuật, các sach lược, các biện pháp cụ thể, các thao tác, hành vi cụ thể của nhà hoạt động thị trường trong quá trình làm marketing.
    • Văn hoá hầu như ảnh hưởng một cách toàn diện đến các công cụ khác nhau của hệ thống marketing- mix của DN trong đó đặc biệt đáng lưu ý là ảnh hưởng đến công cụ sản phẩm, phân phối và xúc tiến hỗn hợp.

    B Giải pháp:

    Với triết lý kinh doanh gắn liền với trách nhiệm xã hội, trong năm 2009 Tập đoàn Viễn thông Quân đội tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xã hội cả về tổng số kinh phí cũng như hình thức các chương trình.

    Chương trình nhân đạo Trái tim cho em sau 2 năm hoạt động, từ một chương trình do Viettel khởi xướng, phối hợp tổ chức với Đài Truyền hình VN và tổ chức Đông Tây Hội ngộ đã được xã hội hoá mạnh mẽ và lôi cuốn được các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hưởng ứng. Ngoài 7,6 tỷ đồng đóng góp của Viettel, đến cuối năm 2009 các tổ chức cá nhân đã ủng hộ hơn 13 tỷ đồng để trẻ em nghèo bị bệnh tim có cơ hội sống. Đến hết năm 2009 tổng cộng đã có 305 em bé được tài trợ kinh phí phẫu thuật để trở lại cuộc sống bình thường. Bên cạnh chương trình Trái tim cho em, Viettel còn phối hợp với chương trình Nụ cười trẻ thơ tổ chức phẫu thuật miễn phí cho gần 500 em bị dị tật hở hàm ếch bẩm sinh với tổng kinh phí hỗ trợ lên tới hơn 2 tỷ đồng. Đối với các chương trình này, không chỉ là đóng góp kinh phí đơn thuần, người Viettel còn trực tiếp tham gia tổ chức vừa để bám sát hiệu quả vừa là một hình thức giáo dục CBNV về trách nhiệm xã hội. Ngoài ra, Viettel còn đóng góp 8 tỷ đồng cho chương trình xây 1.500 nhà tình nghĩa của Bộ Quốc phòng, đóng góp 10 tỷ đồng cho Quỹ Chất độc da cam và ủng hộ đồng bào các tỉnh bị thiên tai năm 2009.

    Với cách làm bám sát cơ sở, hỗ trợ thiết thực để đưa cần câu và cách câu cá, Viettel đã hỗ trợ 3 huyện nghèo theo Nghị quyết 30A của Chính phủ (gồm các huyện: Mường Lát, Bá Thước – Thanh Hóa; Đakrong – Quảng Trị) bước đầu tạo được tiền đề phát triển bền vững. 30 tỷ đồng hỗ trợ xoá hàng ngàn nhà dột nát, hỗ trợ viễn thông, truyền hình kỹ thuật số cho các trường học đã được chuyển đến tận tay những đối tượng cần được hỗ trợ. Năm 2010, các hỗ trợ của Viettel sẽ tập trung nhiều vào nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng cuộc sống, đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cho nhân dân các địa phương được hỗ trợ.

    Là doanh nghiệp viễn thông hàng đầu Việt Nam, Viettel luôn sử dụng chính sức mạnh cốt lõi của mình vào đóng góp phát triển lâu dài cho đất nước. Chương trình Kết nối mạng Giáo dục đang được tiếp tục triển khai mạnh mẽ với 65% cơ sở giáo dục trên cả nước đã được lắp đặt và sử dụng Internet miễn phí, bước đầu ứng dụng hiệu quả trong công tác quản lý, nâng cao chất lượng dạy và học. Dự kiến chương trình sẽ hoàn thành trong năm 2010. Chương trình Điện thoại nông thôn nhằm hỗ trợ để mọi hộ nông dân Việt Nam đều có điện thoại phục vụ nhu cầu kết nối do chính phủ giao cho Viettel thực hiện đã đi được những bước rất quan trọng. Chỉ trong 1 năm, 3 triệu máy điện thoại đã được cung cấp trên tổng số 9 triệu hộ nông dân chưa có điện thoại. Với chính sách hỗ trợ cước thuê bao và tặng 15.000 đồng tiền gọi mỗi tháng, mỗi năm Viettel hỗ trợ cho đối tượng này tương đương tới 1.200 tỷ đồng. Một chương trình có ý nghĩa xã hội đặc biệt khác cũng đã được Viettel hoàn thành về cơ bản trong năm qua, đó là 2.000 km duyên hải với bán kính ra biển là 100 km, riêng vùng biển Vịnh Bắc Bộ là 100% diện tích đã được phủ sóng di động. Trong năm 2010, Viettel sẽ hoàn thành phủ sóng di động hoàn toàn con đường nối đất liền với quần đảo Trường Sa. Hiện nay, hầu hết các đảo chính của quần đảo này đã được Viettel phủ sóng di động.  Ông Dương Văn Tính, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viễn thông Quân đội cho biết: “Năm 2010 với một quy mô mới, Viettel chắc chắn sẽ không chỉ đóng góp nhiều hơn về kinh phí mà còn tham gia sâu hơn nữa vào các chương trình xã hội để người Viettel thực sự chia sẻ, đồng cảm và sáng tạo những cách làm mới nhằm nâng cao hiệu quả của những hoạt động này”. 

    Đưa ra các gói cước hợp lý với văn hóa và thuộc tính văn hóa của từng đối tượng, từng tầng lớp xã hội thuộc các quốc gia khác nhau:

    – Gói cha và con – Lời giải cho bài toán khó

    Hiện nay, cuộc sống ở thành thị vốn bận rộn, các bậc phụ huynh mải mê với công việc, không còn thời gian quan tâm nhiều đến con cái như trước. Nhiều bậc cha mẹ muốn làm thế nào đó để có thể quản lý được giờ giấc, thời gian học hành của con cái, biết con mình đang ở đâu,.. . Họ cũng nghĩ đến việc cho con dùng di động bởi các cô tú cậu tú dù sao cũng không còn nhỏ, dùng di động cũng không phải là nhu cầu quá đáng. Tuy nhiên, họ lo lắng khi cho con dùng điện thoại bởi cho rằng nếu con dùng điện thoại di động tự do thì sẽ khó kiểm soát được mức chi tiêu cũng như các mối quan hệ của con. Hiểu được băn khoăn ấy, gói Cha và con ra đời giúp “giải bài toán khó” cho các bậc làm cha làm mẹ: Con vẫn dùng được di động, nhưng tiền sử dụng cho di động lại phụ thuộc vào người cha, chobaonhiêuthìdùngbấynhiêu…
    Nếu phân tích sâu xa thì mới thấy, quan điểm kinh doanh gắn liền với trách nhiệm xã hội của Viettel luôn là sợi chỉ đỏ, kim chỉ nam để Viettel sáng tạo ra các sản phẩm của mình.
    Do vậy, vì sao đối tượng có thu nhập thấp là cảm hứng sáng tạo bất tận cho một doanh nghiệp lớn như Viettel tưởng chừng như rất dễ lí giải…

    – Hi School- gói cước mới của Viettel dành cho teen: Đồng hành cùng tuổi xanh

    Gói cước dành cho các teen từ 14-18 tuổi.Với tên gọi Hi School, Viettel đã thiết kế gói cước mới dành riêng cho các teen, đây là một ưu đãi đặc biệt dành cho các teen các teen có thể gọi và nhắn tin thoải mái cho bạn bè mà không phải lo tốn nhiều cước phí, các thuê bao sẽ được đăng kí tự động và miễn phí cước thuê bao gói Data tốc độ cao, hàng tháng được dùng free 10 Mb dung lượng, miến phí thuê bao dịch vụ nhạc chuông chờ Imuzik, gói “SMS siêu tiết kiệm”: chỉ với 3.000đ cho 100 tin nhắn nội mạng trong một ngày.Các teen sẽ được ưu đãi trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường, Hi school cũng giúp các bậc phụ huynh tiết kiệm được chi phí điện thoại cho con em mình. Hi School với những tính năng và ưu đãi hấp dẫn. Thông qua gói cước mới này, Viettel mong muốn đem đến cho các teen  một phương tiện kết nối, chia sẻ tiện ích trong quá trình giao lưu và học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường”.Hi School còn hấp dẫn đặc biệt ngay từ khi đăng ký hòa mạng, với bộ Kit có mệnh giá chỉ 25.000đ, rất phù hợp với độ tuổi học sinh còn đang phụ thuộc về tài chính. Sau khi đăng ký thành công, Viettel sẽ cộng 25.000đ vào tài khoản gốc. Trong thời gian đầu ra mắt gói cước này, Viettel áp dụng chương trình khuyến mại đặc biệt tặng 100% giá trị thẻ nạp trong 3 tháng liên tiếp kể từ khi hòa mạng.

    – Gói cước Sinh viên: Tôi là sinh viên

    Gói cước trả trước dành riêng cho đối tượng khách hàng đang là sinh viên; như một món quà Viettel tặg riêng cho sinh viên- những người chăm chỉ học hành và là niềm tự hào của gia đình, bè bạn. Gói cước sinh viên hội tụ tất cả những tính năng ưu việt nhất từ các gói cước hiện có của Viettel:

    • Mức cước thoại và nhắn tin rẻ nhất trong số các gói cước trả trước.
    • Không giới hạn thời gian sử dụng.
    • Được cộng 25.000 đồng vào tài khoản sử dụng mỗi tháng
    • Được đăng ký tự động và miễn phí cước thuê bao gói data tốc độ cao với 30MB lưu lượng sử dụng miễn phí hàng tháng
    • Sử dụng tính năng gọi nhóm tiết kiệm 50% chi phí.

    – Gói cước Family: Chi tiêu hiệu quả- gắn kết tình thân

    Gói cước Family của Viettel là gói cước trả sau dành riêng cho nhóm khách hàng gia đình, bạn bè có từ 2 – 4 thuê bao trả sau của Viettel.

    Lợi ích khi sử dụng gói cước Family: Gói cước Family của Viettel là gói cước trả sau dành riêng cho nhóm khách hàng gia đình, bạn bè có từ 2 – 4 thuê bao trả sau của Viettel.

    • Giảm 50% cước gọi giữa các thuê bao thành viên trong nhóm;
    • Giảm 50% cước cuộc gọi tới 02 số máy điện thoại cố định (bao gồm số cố định có dây và không dây của tất cả các mạng) đã đăng ký trước;
    • Được sử dụng tất cả các dịch vụ giá trị gia tăng và chăm sóc khách hàng tốt nhất.

    Văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội, những mỹ từ mà doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng hô lên trong các hội nghị, diễn đàn, trong các trang quảng cáo, nhưng để thực hiện chúng một cách nghiêm túc thật không dễ. Bài toán lợi nhuận dễ làm mờ mắt không ít người. Tuy nhiên, từ câu chuyện của những doanh nhân hàng đầu thế giới không chỉ trong kinh doanh mà cả trong những đóng góp từ thiện, xã hội như Bill Gates, Warent Buffet đến những doanh nghiệp Việt Nam như Viettel, có thể khẳng định rằng, người ta  có thể cạnh tranh, làm giàu thành công nhưng vẫn luôn ý thức đầy đẩy đủ trách nhiệm xã hội của mình.

    Khi viettel đàu tư vào campuchia. Mục tiêu số 1 là dẫn đầu thị phần tại thị trường này, trong đó yếu tố văn hóa được viettel đặt lên hàng đầu: Cơ hội của Viettel ở thị trường này hiện còn rất ít, nhưng mục tiêu và khát vọng của công ty khi đầu tư sang Campuchia rất lớn, Mạng Metfone là mạng của người Campuchia xuất phát đầu tiên từ sự nhận thức của ban lãnh đạo Tổng công ty khi đầu tư sang thị trường này. Khi đến một quốc gia nào ta cũng phải “nhập gia tùy tục”. Ngoài ra, khi xây dựng mạng Metfone thì lực lượng chính để xây dựng mạng này là người dân Campuchia, được xây dựng trên đất nước Campuchia. Khi Viettel cung cấp dịch vụ thì chính những người Campuchia được hưởng. Sang nước bạn ta phải tuân thủ theo đúng luật pháp Campuchia, theo văn hóa, phong tục tập quán của Campuchia. Nếu không xác định được yếu tố Metfone là mạng của người Campuchia, phục vụ người dân Campuchia thì sẽ không pháttriểnđược.Viettel Cambodia quyết tâm trong thời gian nhanh nhất sẽ trở thành nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đứng số 1 tại Campuchia. Trước thách thức và cơ hội đó, Viettel phải có những chiến lược cụ thể, ví dụ như chiến lược về giá cả, chiến lược về chất lượng sản phẩm với việc phủ sóng cân bằng ở tất cả các vùng với giá thành tốt nhất. Hơn nữa, Viettel Cambodia còn thực hiện đúng triết lý kinh doanh của Viettel là “kinh doanh gắn với trách nhiệm xã hội”, đẩy mạnh những hoạt động xã hội như quỹ người nghèo, ủng hộ các trường học, các bệnh viện… Chính những hoạt động xã hội đó đã giúp thương hiệu Viettel đi sâu vào đời sống người dân Campuchia, chiếm được thiện cảm của người dân để từ đó có chỗ đứng vững chắc trên đất nước Campuchia.

     Tóm tại: Văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội, những mỹ từ mà doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng hô lên trong các hội nghị, diễn đàn, trong các trang quảng cáo, nhưng để thực hiện chúng một cách nghiêm túc thật không dễ. Bài toán lợi nhuận dễ làm mờ mắt không ít người. Tuy nhiên, từ câu chuyện của những doanh nhân hàng đầu thế giới không chỉ trong kinh doanh mà cả trong những đóng góp từ thiện, xã hội như Bill Gates, Warent Buffet đến những doanh nghiệp Việt Nam như Viettel, có thể khẳng định rằng, người ta  có thể cạnh tranh, làm giàu thành công nhưng vẫn luôn ý thức đầy đẩy đủ trách nhiệm xã hộicủamình.

     

    III KẾT LUẬN:

     

    Qua bài thảo luận trên, nhóm chúng tôi muốn mang lại cho mọi người các chiến lược marketting mà công ti Viettel đã sử dụng thành công. Quan trọng hơn là tất cả chúng ta có cái nhìn như thế nào về những yếu tố luôn luôn thay đổi xung quanh môi trường kinh doanh của doanh nghiệp? Đặt ra câu hỏi này, chúng tôi muốn cùng các bạn thảo luận sâu hơn về những chiến lược marketing đối với sự thay đổi đó – mà mỗi nhà làm marketing cần phải nắm bắt lấy cơ hội cũng như thách thức từ nó để có những quyết định marketing phù hợp. Cảm ơn mọi người đã lắng nghe và cùng nhóm thảo luận!!!

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]