Category: Thương Mại – Marketing

  • Báo cáo thực tập thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại trung tâm viễn thông công ty điện lực phú thọ

    Báo cáo thực tập thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại trung tâm viễn thông công ty điện lực phú thọ

    Báo cáo thực tập thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại trung tâm viễn thông công ty điện lực phú thọ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số vấn đề về công tác lập kế hoạch nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-ch%C4%83m-s%C3%B3c-kh%C3%A1ch-h%C3%A0ng-t%E1%BA%A1i-trung-t%C3%A2m-vi%E1%BB%85n-th%C3%B4ng-c%C3%B4ng-ty-%C4%91i%E1%BB%87n-l%E1%BB%B1c-ph%C3%BA-th%E1%BB%8D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại trung tâm viễn thông công ty điện lực phú thọ

     

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ là đơn vị trực thuộc công ty Điện lực Phú Thọ. Trải qua gần sáu năm xây dựng và trưởng thành, Trung tâm đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh viễn thông. Song, trong tình hình cạnh tranh gay gắt của thị trường viễn thông như hiện nay, hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ đều gặp phải không ít khó khăn. Một trong những khó khăn đó liên quan đến hoạt động chăm sóc khách hàng.

    Trên thực tế, Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ đã tập trung mọi nỗ lực vào hoạt động Marketing, chăm sóc khách hàng nhằm nâng cao vị thế và uy tín của Viễn thông điện lực trên thương trường, tăng khả năng cạnh tranh để tồn tại phát triển lâu dài. Xuất phát từ thực tế nên em chọn chủ đề “Thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ” cho bài báo cáo thực tập của mình. Bài báo cáo được chia làm 2 phần như sau:

    -Phần 1 : Giới thiệu về Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

    -Phần 2 : Công tác Chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

    Chương 1: Thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ.

    Chương 2: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ.

     

     

     

     

     

     

    LỜI CẢM ƠN

    Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể thầy cô khoa Điện tử viễn thông trường Đại học Điện lực đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để em tiếp cận được với môi trường thực tế thông qua đợt thực tập đầy ý nghĩa thiết thực này.

    Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, cán bộ công nhân viên Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian em thực tập. Em tiếp thu được những kiến thức bổ ích từ thực tế và góp phần to lớn vào việc hoàn thiện kiến thức chuyên môn.

    Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn – cô Vũ Ngọc Châm đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn để em hoàn thành báo cáo thực tập đúng thời gian quy định.

    Với thời gian thực tập ngắn, cơ hội tiếp cận thực tế và hoàn thiện bài viết tuy có cố gắng, nhưng em sẽ còn có nhiều thiếu sót nhất định. Trên cơ sở của những vấn đề đã được giải quyết, em sẽ tiếp tục quá trình tìm hiểu, nghiên cứu góp phần vào sự phát triển chung của ngành viễn thông.

    Trân trọng cảm ơn!

     

    PHẦN 1 :   KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM VIỄN THÔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC PHÚ THỌ

    1.1 Giới thiệu về Trung tâm viễn thông (TTVT) công ty Điện lực Phú Thọ

    1.1.1 Quá trình thành lập doanh nghiệp

    Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ được thành lập ngày 01/12/2006 theo quyết định số 2690/QĐ-ĐL1-P3 ngày 29/11/2006 của Tổng công ty Điện lực Miền Bắc.

    1.1.2 Ngành nghề kinh doanh hiện tại

    – Cung cấp các dịch vụ viễn thông công cộng.

    – Kinh doanh dịch vụ Internet.

    – Phối hợp kinh doanh và quản lý hệ thống đường dây, cáp quang trục mạng truyền hình cáp.

    1.1.3 Tổ chức bộ máy và nhân lực

    Qui mô đơn vị: Trung tâm viễn thông có tổng số lao động tính đến thời điểm ngày 01 tháng 5 năm 2011 có 68 CBCNV.

    Ban lãnh đạo gồm: P.Giám đốc TTVT, Phó trưởng TTVT, 3 trưởng phòng chức năng (phòng Kinh doanh, Phòng Tổng hợp, phòng Kỹ thuật) và 12 Điện Lực (gồm: Điện lực Thị xã Phú Thọ, Điện lực huyện Lâm Thao, Điện lực huyện Phù Ninh, Điện lực huyện Đoan Hùng, Điện lực huyện Thanh Ba, Điện lực huyện Cẩm Khê, Điện lực huyện Hạ Hoà, Điện lực huyện Yên Lập, Điện lực huyện Thanh Sơn, Điện lực huyện Thanh Thuỷ, Điện lực huyện Tam Nông, Điện lực huyện Tân Sơn)

    Hiện tại, đơn vị đang quản lý chính thức 13 cửa hàng đại lý cấp 1 và trên 150 cửa hàng (cộng tác viên bán hàng) trên khắp địa bàn tỉnh Phú Thọ.

    1.2 Mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

    TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN BẮC

    1.2.1 Mô hình tổ chức

     
       

     

    PHÒNG KINH DOANH
    PHÒNG KỸ THUẬT
    PHÒNG TỔNG HỢP

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ( Nguồn: Phòng Tổng hợp Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ)

    1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

    – Công ty Điện lực Phú Thọ là đơn vị được Tổng công ty Điện lực Miền Bắc giao nhiệm vụ kinh doanh, phân phối các sản phẩm, dịch vụ Viễn thông công cộng (VTCC), Internet và truyền hình cáp  trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (bao gồm cả các dịch vụ trả trước và trả sau).

    – Triển khai trực tiếp các hoạt động khai thác, kinh doanh cung cấp dịch vụ, quản lý thuê bao, phát triển và hỗ trợ, chăm sóc phục vụ khách hàng viễn thông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

    – Quản lý vận hành hệ thống cáp quang truyền dẫn nội hạt, các trạm BTS theo hợp đồng giữa EVNTelecom và Tổng công ty Điện lực Miền Bắc hoặc công ty Điện lực Phú Thọ.

    – Quản lý hệ thống kênh phân phối (đại lý phổ thông, cộng tác viên bán hàng).

    – Khảo sát và tìm kiếm khai thác thị trường, xác định các khách hàng chiến lược, tổ chức triển khai thực hiện các chương trình quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi các dịch vụ  viễn thông công cộng theo quy định của EVNTelecom.

    – Xây dựng quy trình khai thác kinh doanh, tập huấn, tổ chức công tác giám sát và kiểm tra nghiệp vụ; Tiếp nhận, giải quyết các khiếu nại theo quy trình giải quyết khiếu – Thực hiện các nhiệm vụ khác do công ty Điện lực Phú Thọ giao theo phân cấp.

    – Thực hiện thi công, lắp đặt các đường kết nối nội hạt và đấu nối các thiết bị đầu cuối để cung cấp các dịch vụ viễn thông công cộng đến các khách hàng khi có yêu cầu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

    PHẦN 2 : CÔNG TÁC CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG TẠI TRUNG TÂM VIỄN THÔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC PHÚ THỌ

    CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG TẠI TTVTĐLPT

    1.1. Cơ sở lý luận về Chăm sóc khách hàng

    1.1.1 Khái niệm về khách hàng

    Đối với bất kỳ một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì việc tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường là điều hết sức quan trọng. Để thực hiện được điều đó thì doanh nghiệp phải không ngừng giữ vững khách hàng hiện có và thu hút được ngày càng đông những khách hàng mới. Vì vậy, khách hàng đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đều có vai trò rất quan trọng. Vậy “khách hàng” là những ai? Theo một cách hiểu chung nhất của các nhà kinh tế thì khách hàng là tất cả các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp; đã, đang và sẽ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.

    1.1.2 Khái niệm về Chăm sóc khách hàng

    Từ nhận thức đúng đắn về vai trò của khách hàng đối với sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp, công tác chăm sóc khách hàng ngày càng được chú trọng. Người ta thường nghĩ rằng chăm sóc khách hàng nghĩa là phải lịch sự và thân thiện khi tiếp xúc với khách hàng và chỉ có nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng mới cần quan tâm đến việc chăm sóc khách hàng. Thực chất thì thái độ khi tiếp xúc với khách hàng chỉ là một phần rất nhỏ của công tác chăm sóc khách hàng. Bên cạnh đó, công tác này còn bao gồm rất nhiều các hoạt động khác nữa. Vậy, chăm sóc khách hàng là gì?

    Trên thực tế hiện nay, thuật ngữ chăm sóc khách hàng vẫn chưa được định nghĩa một cách nhất quán. Tuy nhiên, ta có thể hiểu một cách tương đối về CSKH là một trong những hoạt động của Marketing hiện đại. Nó hướng tới việc phục vụ khách hàng theo như cách họ mong muốn. Nói một cách khác, chăm sóc khách hàng là tất cả những gì một doanh nghiệp có thể làm để làm khách hàng hài lòng.

    1.1.3 Tầm quan trọng và vai trò của Chăm sóc khách hàng

    Hoạt động chăm sóc khách hàng có thể đem lại nhiều lợi thế cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển quan hệ với khách hàng, duy trì và giữ vững lợi thế cạnh tranh. Khách hàng thường coi chăm sóc khách hàng là một tiêu chuẩn quan trọng khi quyết định lựa chọn nhà cung cấp. Như vậy một dịch vụ sẽ thiếu hoàn chỉnh nếu thiếu nội dung chăm sóc khách hàng. Còn xét về thực chất, nếu thiếu hoạt động chăm sóc khách hàng thì dịch vụ không có khả năng cạnh tranh, do vậy không thể cung cấp được trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    Chăm sóc khách hàng có một số vai trò cụ thể như sau:

    Thứ nhất: chăm sóc khách hàng giúp doanh nghiệp duy trì khách hàng hiện tại và tạo ra khách hàng trung thành

    Thứ hai: chăm sóc khách hàng góp phần thu hút khách hàng tiềm năng

    Thứ ba: chăm sóc khách hàng giúp doanh nghiệp giảm chi phí kinh doanh

    Thứ tư: chăm sóc khách hàng – vũ khí cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh hiện nay

    1.2 Thực trạng hoạt động Chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

    1.2.1 Các dịch vụ Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ cung cấp cho khách hàng

    + Dịch vụ điện thoại cố định không dây (E-Com): Hay còn gọi là điện thoại để bàn, xuất hiện đầu tiên tại Việt Nam so với các nhà cung cấp khác. Việc truyền tín hiệu không bằng dây cáp đồng như máy bàn thông thường mà tín hiệu được truyền đi bằng sóng vô tuyến tần số 450MHz giữa máy điện thoại và trạm thu phát sóng nhờ có hệ thống Anten lắp sẵn trong máy điện thoại. Dịch vụ này rất phù hợp với địa bàn vùng sâu, vùng xa, những nơi chưa có điều kiện kéo cáp điện thoại hữu tuyến. Với tính năng vượt trội là kết nối không cần đi cáp như vậy, máy E-Com có thể di chuyển máy dễ dàng trong nhà, mang đến nơi làm việc…. Ngoài ra, dịch vụ điện thoại cố định không dây còn cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích như nhắn tin, miễn phí chức năng hiển thị số gọi đến, gọi đi, gọi lỡ…

    + Dịch vụ điện thoại di động nội tỉnh (E-Phone): Là dịch vụ điện thoại di động mà vùng di động (di chuyển) của máy trong phạm vi tỉnh mà khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ. Thiết bị đầu cuối của EVNTelecom cho phép sử dụng SIM rời với đầy đủ tính năng nghe, gọi như các dịch vụ di động thông thường khác ViNa, Viettel, S-Fone… nên tạo điều kiện cho khách hàng nâng cấp máy và chuyển sang sử dụng dịch vụ di động toàn quốc E-Mobile dễ dàng. Cách tính cước hợp lý 6s+1s, thủ tục hòa mạng nhanh chóng, giá cước cực rẻ so với di động toàn quốc và cung cấp nhiều nhiều dịch vụ phong phú: nhắn tin, kết nối Internet tốc độ cao… E-Phone thực sự là dịch vụ điện thoại di động dành cho khách hàng ít có nhu cầu di chuyển ra ngoài tỉnh.

    + Dịch vụ di động toàn quốc (E-Mobile): Phạm vi cung cấp trên cả nước, EVNTelecom luôn cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ. Vùng phủ sóng của EVNTelecom trên tỉnh Phú Thọ đã đạt khoảng 95% diện tích hành chính. Dịch vụ     E-Mobile mang đến cho khách hàng các dịch vụ thông thường như nhắn tin, hiển thị số cuộc gọi… và còn có nhiều dịch vụ vượt trội khác: Truy cập Internet, mạng riêng ảo, thông tin định vị toàn cầu… Chủng loại thiết bị tương đối đa dạng, phong phú, mẫu mã được cải tiến liên tục và có dùng thẻ SIM rời rất thuận tiện cho việc khách hàng thay thế và nâng cấp máy.

    + Dịch vụ điện thoại đường dài giá rẻ trong nước và quốc tế (VoIP 179): Dịch vụ giá rẻ trong nước và quốc tế sử dụng công nghệ thoại qua giao thức IP nên gọi 179 khách hàng sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí. Cũng giồng như các nhà cung cấp dịch vụ khác như Viettel có 178, VNPT có 171, EVNTelecom cung cấp cho khách hàng dịch vụ 179 với giá cước rẻ và cách tính cước hiệu quả đang là dịch vụ có tính cạnh tranh cao nhất đối với các dịch vụ cùng loại trên thị trường

    1.2.2 Mô hình tổ chức hoạt động CSKH tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

    Ngày 02/4/2008, Tổ Chăm sóc khách hàng tại TTVTĐLPT chính thức được thành lập với mô hình tổ chức như sau:

     
       
     
       

    Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức hoạt động CSKH của Trung tâm viễn thông công ty Điện lưc (Nguồn phòng Kinh doanh viễn thông)

    • Cách thức phối hợp hoạt động CSKH

    Khách hàng phản ánh tới bộ phận CSKH nào (đội CSKH của Điện lực, hay Trung tâm CSKH của EVNTelecom) thì bộ phận đó chịu trách nhiệm giải quyết đến cùng phản ánh của KH đó. Mỗi bộ phận CSKH chủ động trả lời các thông tin cơ bản như: hướng dẫn quy trình thủ tục, quy định về giá cước, khuyến mại, hướng dẫn sử dụng TBĐC, truy cập Internet Dial Up, hướng dẫn sử dụng các dịch vụ gia tăng,…

    Đối với các trường hợp KH phản ánh đến Điện lực mà Điện lực có thể tự giải quyết. Đội CSKH tại Điện lực có trách nhiệm giải quyết và thông báo kết quả cho khách hàng, thời gian giải quyết tối đa không quá 24h kể từ thời điểm nhận được phản ánh.

    Đối với các trường hợp khách hàng phản ánh đến Điện lực tiếp về các vấn đề Điện lực không giải quyết được kết nối, KH không sử dụng được dịch vụ (gọi đi, gọi đến, hộp thư thoại, truy cập Internet,…), KH không nạp được thẻ cào, không kích hoạt được dịch vụ,….Sau khi đã kiểm tra nhưng không khắc phục được cho KH, Điện lực cần chuyển yêu cầu cho Trung tâm CSKH của EVNTelecom (Callcenter hoặc HTHM) để tiếp tục giải quyết trong vòng 4h. Trung tâm CSKH của EVNTelecom có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết hoặc tiến độ giải quyết cụ thể (với các trường hợp chưa xử lý được ngay) trong vòng 24h.

    Đối với các khách hàng phản ánh đến Trung tâm CSKH cần sự hỗ trợ trực tiếp (các phản ánh liên quan đến bảo hành, thu cước, thái độ nhân viên, KH bị chặn cắt dịch vụ,….). Trung tâm CSKH sẽ liên hệ với Đội CSKH của Điện lực. Đội CSKH có trách nhiệm phối hợp để giải quyết ngay cho KH.

    Ngoài thời gian làm việc của Đội CSKH tại Điện lực, mọi phản ánh của KH đều do Trung tâm CSKH tiếp nhận giải đáp.

    1.2.3 Hoạt động Chăm sóc khách hàng

    Hiện tại, TTVTĐLPT đang thực hiện các hoạt động chăm sóc khách hàng theo chỉ thị của Tổng công ty Điện lực Miền Bắc số 2491/CT-PC1 và theo kế hoạch của TTVTĐLPT. Dựa trên các điều kiện về tình hình kinh tế xã hội của tỉnh, nhu cầu của khách hàng, khả năng của đơn vị. Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ đã phân loại khách hàng thành các cấp và mức độ khác nhau để có kế hoạch và phương thức chăm sóc phù hợp cho từng đối tượng khách hàng. Cụ thể là:

    • Nhóm khách hàng đặc biệt

    Là khách hàng thuộc các cơ quan thường trực, điều hành của Đảng, cơ quan quản lý nhà nước từ tỉnh đến huyện, xã. Các số máy đặc biệt phục vụ báo cháy, cứu thương, phòng chống bão lụt, hoả hoạn, thiên tai và các số máy phục vụ các trường hợp khẩn cấp khác. Nhóm khách hàng này tuy có thể là doanh thu không cao nhưng phải luôn được ưu tiên phục vụ. TTVTĐLPT đã tổ chức tặng hoa, tặng quà cho khách hàng nhân dịp Lễ, Tết, ngày kỷ niệm, ngày truyền thống… Trung tâm viễn thông Điện lực Phú Thọ đã lên kế hoạch tặng quà cụ thể cho khách hàng theo từng tháng, trong kế hoạch nêu rõ tên khách hàng, nội dung quà tặng, chi phí tặng quà và đơn vị chịu trách nhiệm tặng quà . Đối với khách hàng đặc biệt cấp tỉnh, lãnh đạo Trung tâm viễn thông sẽ trực tiếp tặng hoa, quà cho khách hàng. Đối với khách hàng đặc biệt cấp Huyện, Thị xã Trung tâm yêu cầu Lãnh đạo đơn vị trực tiếp tặng hoa, quà cho khách hàng.

    • Nhóm khách hàng lớn

    Là khách hàng sử dụng các dịch vụ viễn thông Điện lực trả sau đạt mức doanh thu bình quân trên tháng từ 500.000 đồng trở lên.

    Đối với khách hàng là các doanh nghiệp, công ty kinh doanh thì nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông là rất lớn. Phân công cho cá nhân cụ thể, cho nhóm nhân viên chịu trách nhiệm chăm sóc từng đối tượng khách hàng. Các cá nhân, nhóm nhân viên này có nhiệm vụ thường xuyên liên lạc với khách hàng để tìm hiểu về khách hàng cũng như xây dựng mối quan hệ thân thiết với khách hàng.

    Khu vực Dịch vụ Viễn thông
    Số lượng Tỷ trọng DT/ DT khu vực (%)
    TP. Việt Trì 160 17,3
    TX. Phú Thọ 115 16,5
    Đoan Hùng 98 12,1
    Cẩm Khê 82 8,2
    Yên Lập 48 10,7
    Tam Nông 56 11,3
    Tân Sơn 21 21,5

     

    Bảng 2.1: Bảng thống kê số lượng khách hàng lớn trên một số địa bàn tỉnh Phú Thọ (tháng 5/2011)

    (Nguồn: Phòng Kinh doanh viễn thông)

     

     

    • Nhóm khách hàng doanh nghiệp đặc biệt

    Là doanh nghiệp có tiềm năng sử dụng nhiều dịch vụ Viễn thông , phạm vi hoạt động trên toàn quốc và quốc tế. Đó là các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp. Đạt mức doanh thu bình quân trên tháng từ 1triệu trở lên. Được tặng quà vào các dịp lễ tết, ưu tiên giải quyết nhanh chóng yêu cầu cũng như khiếu nại, thắc mắc của khách hàng. Cụ thể như sau:

    – Được thực hiện chính sách ưu tiên mềm dẻo, linh hoạt trong giải quyết các yêu cầu cung cấp dịch vụ, giải quyết khiếu nại cũng như trong việc xử lý tạm dừng thông tin do chậm thanh toán cước phí theo qui định của Trung tâm viễn thông.

    – Được các đơn vị quản lý hướng dẫn, tập huấn và cung cấp đầy đủ các thông tin về dịch vụ, giá cước và các hoạt động chăm sóc khách hàng.

    • Nhóm khách hàng là các đại lý

    Là các khách hàng đã ký làm Cộng tác viên cho Trung tâm viễn thông công ty  ĐLPT, hưởng hoa hồng theo doanh số bán hàng. Bao gồm: Cộng tác viên bán hàng, Cộng tác viên thu cước. Cung cấp cho nhóm khách hàng này 01 số thuê bao và được hỗ trợ tiền thuê bao hàng tháng. Được tặng quà 1lần/năm nhân các ngày lễ, Tết, tổng kết cuối năm.

    • Nhóm khách hàng nhỏ, khách hàng là cá nhân hộ gia đình

    Đối với các khách hàng là các hộ gia đình, công nhân lao động, học sinh – sinh viên… thì nhu cầu về dịch vụ viễn thông, internet… cũng khá cao. Đối với loại khách hàng này, TTVTĐLPT thực hiện CSKH với hình thức tổ chức hội nghị khách hàng, phát tờ rơi, lấy phiếu thăm dò của khách hàng nhận xét về chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ của từng loại dịch vụ. Tại các điểm giao dịch, khách hàng được phục vụ tân tình chu đáo. Tất cả các khiếu tố khiếu nại về dịch vụ được giải quyết nhanh chóng, chính xác, kịp thời làm khách hàng rất hài lòng.

    • Vào các dịp lễ tế TTVTĐLPT tiến hành tặng quà cho khách hàng. Số lượng khách hàng nhận quà là tương đối nhiều và đây chủ yếu là những khách hàng lớn của Trung tâm viễn thông Điện lực Phú Thọ. Kinh phí chi ra mỗi đợt chăm sóc khách hàng lên đến hàng chục triệu đồng. Điều này cho thấy Trung tâm viễn thông đã chú trọng rất nhiều đến vấn đề chăm sóc khách hàng đặc biệt là các khách hàng lớn.
    TT Nội dung tặng quà cho khách hàng Số lượng khách hàng
    1 Tặng quà nhân dịp ngày lễ tết 626
    2 Tổ chức hội nghị khách hàng 100
    3 Ngày thành lập các doanh nghiệp lớn 300
    4 Mừng ngày lễ sinh nhật 150
      Tổng cộng 1176

     

    Bảng 2.2: Các đợt chăm sóc khách hàng lớn của Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ 5 tháng đầu năm 2011.

    (Nguồn: Phòng Kinh doanh viễn thông)

    1.2.4 Hoạt động hỗ trợ công tác chăm sóc khách hàng

    • Quảng cáo

    Về hình thức, các loại hình quảng cáo của TTVTĐLPT được thực hiện theo từng đợt khi có yêu cầu phát triển dịch vụ hoặc khi đưa ra sản phẩm mới trên nhiều loại phương tiện phong phú khác nhau như:

    • Quảng cáo trên báo, tạp chí: báo Phú Thọ, hoặc trên các báo ngành như: Tạp chí Điện lực…
    • Quảng cáo trên truyền thanh, truyền hình: chương trình quảng cáo chưa hấp dẫn, không gây được ảnh hưởng lớn với khách hàng.
    • Quảng cáo trên băng rôn.
    • Quảng cáo trên tờ rơi đặt tại các kênh phân phối.
      • Quan hệ với công chúng

    Trong những năm qua ngành Điện lực nói chung và Điện lực Phú Thọ nói riêng đã quan tâm nhiều đến công tác này. Cụ thể bằng các hoạt động sau:

    – Xây dựng nhà tình nghĩa và nuôi dưỡng hai mẹ Việt nam anh hùng trên địa bàn Tỉnh, thường xuyên thăm hỏi, gặp mặt tặng quà cho gia đình chính sách, cho thương binh, gia đình liệt sĩ. Quyên góp tiền ủng hộ quỹ xóa đói giảm nghèo, quĩ chất độc màu da cam, quĩ vì người nghèo, quĩ vì trẻ thơ, quỹ người tàn tật, ủng hộ, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt với số tiền mỗi đợt lên tới hàng trăm triệu đồng.

    – Tham gia tài trợ cho các hoạt động Văn hoá xã hội của Tỉnh

    – Tham gia các hoạt động công cộng của địa phương như tham gia phong trào phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, phong trào phòng chống cháy nổ, phong trào an ninh quốc phòng, phong trào thi đua xây dựng cơ quan văn hoá…

    • Khuyến mại

    Việc khuyến mại cho khách hàng của TTVTĐLPT được thực hiện theo đúng Quy định của Tổng công ty Điện lực Miền Bắc.

    – Khuyến mại giảm trừ tiền cước đối với các thuê bao trả sau.

    -Khuyến mại bán thẻ di động trả trước EVNTelecom: Tặng 100% mệnh giá thẻ cào, thời gian gọi, nghe.

    – Khuyến mại bộ kít trả trước: tặng tiền vào tài khoản, thời gian gọi, nghe…

    • Tổ chức hội nghị khách hàng

    Việc tổ chức Hội nghị khách hàng của Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ diễn ra mỗi năm một lần. Do tính chất quy mô của tổ chức Hội nghị lớn nên với điều kiện hiện tại của Trung tâm viễn thông không thể tổ chức liên tục được. Tuy nhiên, với số lượng khoảng 200 khách hàng lớn thì sau mỗi hội nghị, Trung tâm viễn thông thu được những ý kiến đóng góp rất bổ ích cho công tác chăm sóc khách của mình.

    • Tổ chức quản lý, theo dõi cơ sở dữ liệu khách hàng

    – Với khách hàng là cơ quan, doanh nghiệp đã có một số thông tin chủ yếu như: tên cơ quan; doanh nghiệp; loại khách hàng; địa chỉ; điện thoại; tên người liên hệ; ngày thành lập; chức năng hoặc lĩnh vực kinh doanh chủ yếu; những thông tin về các cấp lãnh đạo; mức cước sử dụng.

    – Đối với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình có các thông tin chủ yếu: họ và tên khách hàng; ngày tháng năm sinh; địa chỉ nghề nghiệp; mức cước sử dụng.

    – Cơ sở dữ liệu khách hàng được chia làm 2 mảng chính: khách hàng hiện tại và tiềm năng theo quy định của Công ty.

    Việc quản lý và theo dõi cơ sở dữ liệu về khách hàng giúp Trung tâm viễn thông  nắm rõ khách hàng và có những chính sách chăm sóc khách hàng hợp lý, đúng thời điểm… tạo được những ấn tượng tốt cho khách hàng.

    1.2.5 Công tác giải quyết khiếu nại

    Công tác giải quyết khiếu nại là một bộ phận quan trọng của chăm sóc khách hàng. TTVTĐLPT đã tổ chức đa dạng hoá các kênh tiếp nhận khiếu nại của khách hàng như: tiếp nhận trực tiếp các khiếu nại bằng văn bản tại các điểm giao dịch của chi nhánh điện, qua đường thư gửi về Tổ CSKH của TTVTĐLPT.

    Kênh tiếp nhận khác: là bộ phận tiếp nhận khiếu nại ở đội ngũ thu cước, bán hàng trực tiếp. Bộ phận này có trách nhiệm tiếp nhận đơn khiếu nại của khách hàng và chuyển đến bộ phận giải quyết khiếu nại.

    Bộ phận giải quyết và tiếp nhận khiếu nại là Tổ CSKH của TTVTĐLPT. Bộ phận này tiếp nhận và trả lời các khiếu nại nếu có cơ sở chính xác. Khi nhận được khiếu nại các nhân viên sẽ tiến hành phân loại khiếu nại thành khiếu nại về chất lượng dịch vụ, về thái độ phục vụ, về cước phí và các loại khác. Từ đó định tuyến khiếu nại và gửi phiếu xác minh khiếu nại đến Trung tâm CSKH của EVNTelecom những vấn đề không thuộc quyền giải quyết. Khi nhận được thông tin khiếu nại Trung tâm CSKH của EVNTelecom sẽ giải quyết khiếu nại và phản hồi về Tổ CSKH của TTVTĐLPT, bộ phận sẽ phối hợp với các điện lực thông báo trả lời khách hàng.

    • Đánh giá sự hài lòng của khách hàng

    Với sự nỗ lực hết mình của tập thể cán bộ công nhân viên trong thời gian qua, đồng thời với nhận thức mới về công tác chăm sóc khách hàng, TTVTĐLPT đã bước đầu xây dựng được hình ảnh tốt trong lòng khách hàng.

    Đây sẽ là động lực và điều kiện thuận lợi để giúp viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ tăng khả năng cạnh tranh và ngày càng phát triển hơn nữa.

    Do việc thực hiện công tác chăm sóc khách hàng được đẩy mạnh nên số lượng đơn khiếu nại đã giảm đáng kể. Số đơn khiếu nại tính đến tháng 5/2011 đã giảm 28% so với thời gian cùng kỳ năm trước.

    Dịch vụ Tổng số đơn khiếu nại Số đơn khiếu nại đã được giải quyết Số đơn khiếu nại chưa giải quyết
    Số đơn Tỷ lệ Số đơn Tỷ lệ
    Viễn thông 120 110 91,6% 10 8,4%

    Bảng 2.3: Tình hình giải quyết khiếu nại của Trung tâm viễn thông ĐLPT 9 tháng đầu năm 2009

    (Nguồn: Phòng Kinh doanh viễn thông)

     

    Dịch vụ Xác định nguyên nhân gây lỗi Số tiền đã bồi thường (đồng)
    Do TTVTĐLPT Do khách hàng
    Viễn thông 67% 33% 5.000.000

    Bảng 2.4: Nguyên nhân khiếu nại

    (Nguồn: Phòng Kinh doanh viễn thông)

    1.3 Đánh giá thực trạng CSKH tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

    1.3.1. Kết quả đã đạt được

    Trong giai đoạn hiện nay, khi tình hình cạnh tranh về các dịch vụ viễn thông trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt TTVTĐLPT đã ngày càng chú trọng hơn đến việc xây dựng và thực hiện các hoạt động chăm sóc khách hàng. Với những nỗ lực không ngừng TTVTĐLPT đã đạt được một số kết quả nhất định sau:

    – Có đội ngũ CSKH bảo hành lưu động đến từng khách hàng khi có nhu cầu của khách hàng. Do đó dã tạo được ấn tượng tốt của khách hàng về dịch vụ viễn thông điện lực.

    – Thiết lập hệ thống đường dây nóng CSKH qua số điện thoại 0210. 2244444 miễn phí nội mạng chiều gọi đến. Mọi thắc mắc khách hàng đã gọi trực tiếp và được giải đáp một cách nhanh chóng tạo tâm lý thoải mải cho khách hàng.

    – Việc giải quyết khiếu nại của khách hàng ngày càng nhanh gọn hơn, số lượng khiếu nại giảm bớt nhiều do các khâu được quản lý chặt chẽ và đồng bộ. Và với chính sách chăm sóc khách hàng hiện tại, TTVTĐLPT đã thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với rất nhiều khách hàng lớn trong tỉnh.

    Những kết quả bước đầu trên đã trở thành động lực, nguồn cổ vũ rất lớn cho cán bộ TTVTĐLPT tiếp tục hoàn thiện thêm công tác chăm sóc khách hàng.

    1.3.2. Những tồn tại

    Ngoài những thành công mà TTVTĐLPT đã đạt được thì bên cạnh đó cũng tồn tại hạn chế mà TTVT cần khắc phục, cụ thể như sau:

    – Nhiều chi nhánh điện chưa tạo được tính tiện lợi, an toàn cho khách hàng như quầy giao dịch còn hơi nhỏ, các biển quảng cáo, hướng dẫn nghiệp vụ đặt ở những chỗ không thuận tiện.

    – Việc tuyên truyền quảng cáo, tiếp thị chưa được thực hiện rộng rãi cho người sử dụng, nên chưa tận dụng được hết khách hàng có nhu cầu sử dụng vụ. Bên cạnh đó, các chính sách khuyến mại của TTVTĐLPT cũng thiếu tính chiến lược nên chưa thực sự khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ lâu dài.

    – Các hoạt động CSKH của TTVTĐLPT nhiều khi chưa xuất phát từ thực tế mà mang tính dây chuyền, chưa thực sự chủ động. Nhìn chung, các hoạt động CSKH của TTVT còn đơn lẻ, chưa được xây dựng thành một chiến lược hoạt động cụ thể. Nội dung các hoạt động phần lớn chỉ chú trọng vào các hình thức khuyến mại.

    Qua kết quả điều tra khách hàng, TTVTĐLPT đã nhận được một số phản ánh như sau:

    + Việc tiếp nhận khách hàng tại địa chỉ giao dịch vào giờ cao điểm còn chậm.

    + Có trường hợp khách hàng phải chờ đợi lâu trong quá trình sử dụng dịch vụ, yêu cầu phải được phục vụ ngay khi có yêu cầu. Do vậy đội ngũ giao dịch viên cần phải có chuyên môn nghiệp vụ vững chắc.

    + Thủ tục, quy trình dịch vụ phức tạp. Chính vì vậy mà có nhiều khách hàng đã chuyển sang sử dụng dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh với thủ tục đơn giản hơn.

    – Chăm sóc khách hàng đôi khi chưa thống nhất, thiếu sự đôn đốc kiểm tra của trung tâm, vi phạm về thái độ phục vụ chưa mềm dẻo gây cho khách hàng không hài lòng.

    – Công tác nghiên cứu thị trường chưa phát huy được hết thế mạnh. Đối với khách hàng tiềm năng chưa sử dụng dịch vụ hoặc đang sử dụng dịch vụ của đối thủ cạnh tranh, hoặc ngừng sử dụng dịch vụ của đơn vị chuyển sang sử dụng dịch vụ của đối thủ cạnh tranh, TTVTĐLPT chưa có các hình thức tích cực để tìm hiểu, thăm dò, nghiên cứu thị trường, đáp ứng nhu cầu của khách hàng tiềm năng, thuyết phục khách hàng quay lại sử dụng dịch vụ.

    • Những tồn tại về hoạt động chăm sóc khách hàng của TTVTĐLPT có thể thấy là do những nguyên nhân sau:

    – Việc bồi dưỡng và phát triển lực lượng cán bộ có chuyên môn về công tác Maketing cũng như CSKH trong TTVTĐLPT chưa được tiến hành đầy đủ, hoàn chỉnh và rộng khắp.

    – Các hình thức khuyến mãi, quảng cáo không hiệu quả do chưa thực sự chú trọng và các kênh thông tin ít, nhiều khi thông tin về khuyến mại hay quảng cáo không đến được người tiêu dùng hoặc đến nơi mà không đầy đủ.

    – Các sản phẩm thay thế mang lại sự tiện lợi, chất lượng cao, hoặc theo nhu cầu sở thích của từng nhóm đối tượng khách hàng còn ít. Các sản phẩm thay thế  thường là kết quả của công nghệ mới triển khai chậm. Do công tác nghiên cứu thị trường chưa thực sự chuyên sâu nên chậm đưa ra các sản phẩm mới hoặc sản phẩm thay thế và khi đưa ra rồi có một số lại không thực sự phù hợp với thị hiếu của khách hàng.

    – Hệ thống cơ sở dữ liệu khách hàng là căn cứ để xây dựng các chính sách và nội dung CSKH. Việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu là điều kiện tiên quyết để hoàn thiện công tác CSKH. Tuy nhiên việc này vẫn chưa được hoàn thiện và quan tâm đúng mức, xây dựng cơ sở dữ liệu về khách hàng còn thô sơ.

     

     

     

     

    CHƯƠNG 2 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG TẠI TRUNG TÂM VIỄN THÔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC PHÚ THỌ

    2.1 Định hướng phát triển của trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

    2.1.1 Định hướng và mục tiêu hoạt động phát triển chung của Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

               Để có một h­ư­ớng đi đúng đắn, một chiến l­ư­ợc phát triển lâu dài đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong thời kỳ cạnh tranh và hội nhập, Trung tâm viễn thông đã đề ra cho mình các định hướng phát triển như sau :

    – Cung cấp thêm dịch vụ mới (3G). Cụ thể là giữ vững và nâng cao chất lượng dịch vụ chấp hành nghiêm chỉnh các thể lệ, thủ tục đã quy định, không để xẩy ra sai sót nghiệp vụ, tích cực nghiên cứu để phát triển thêm dịch vụ mới và đề ra biện pháp để giành lại thị trường doanh thu cao.

    – Chuyên nghiệp hoá các dịch vụ phối hợp với viễn thông và các hoạt động liên quan đến dịch vụ viễn thông như: thu cước kinh doanh viễn thông công cộng, Internet, hoà mạng….

    – Chính sách hoa hồng, chiết khấu linh hoạt và bám sát chỉ đạo của Công ty. Cơ chế giao khoán phù hợp.

    – Giao khoán sản lượng, doanh thu, đơn giá tiền lương đến từng Đơn vị để tiến tới giao khoán đến từng cá nhân.

    – Rà soát và định mức lại lao động trong toàn tỉnh. Các đơn vị phải tổ chức cho các cán bộ công nhân viên tự thu cước. Giám đốc trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm về công tác thu nợ. Giao thu nợ kiêm nhiệm cho Tổ khoán quản của bên Điện, giao dịch viên…..

    – Việc mua sắm công cụ dụng cụ phải được kiểm soát chặt chẽ, chỉ mua khi thực sự cần thiết. Các loại công cụ dụng cụ như giấy, mực in, văn phòng phẩm,… được cấp bằng hiện vật để giảm chi phí, quản lý được thời gian sử dụng.

    – Quy định lại chế độ sử dụng và thanh toán cước điện thoại, định mức sử dụng, văn phòng phẩm…

    – Rà soát lại công tác đạo tạo, việc đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn được thực hiện trên nguyên tắc chức danh nào cần trình độ đào tạo đến đâu thì đào tạo đến đó.

    – Khẩn trương ban hành các quy định, quy chế để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động viến thông và công tác quản lý. Quy chế phân phối thu nhập phải dựa trên nguyên tắc: làm việc nhiều, kết quả cao thì hưởng nhiều, làm việc ít, kết quả thấp lương thấp.

    – Các tổ chức Đảng, đoàn thể tập trung chỉ đạo, vận động Đảng viên tích cực thực hiện các chủ trương lớn của Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ, phấn đấu hoàn thành nhiệm đã đặt ra trong năm 2011 và các năm tiếp theo. Kịp thời phát hiện những nhân tố tích cực để động viên khen thưởng, đồng thời cũng phát hiện những vi phạm sai sót để phối hợp với chuyên môn có hình thức xử lý phù hợp.

    2.1.2 Định hướng phát triển thị trường và khách hàng

    Để TVTVĐLPT thực hiện được các chỉ tiêu kinh doanh cũng như chiến lược phát triển lâu dài thì đơn vị cần phải tổ chức nghiên cứu thị trường nhằm xác định nhu cầu tiêu dùng các dịch vụ, phát hiện những yêu cầu cần đòi hỏi của khách hàng đối với các dịch vụ hiện có để có biện pháp điều chỉnh nâng cao chất lượng phục vụ, đảm bảo giữ thị phần khách hàng hiện có. Đồng thời kích thích khơi dậy tiềm năng sử dụng dịch vụ của khách hàng. Việc xác định giữ vững khách hàng hiện có và mục tiêu phát triển khách hàng, thị trường là một trong những mục tiêu có ý nghĩa hết sức quan trọng trong toàn bộ mục tiêu phát triển của của doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu này, Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ xác định trong thời gian tới cần chú trọng thực hiện tốt các vấn đề sau:

    – Khảo sát, phát triển thêm các Cộng tác viên, nhằm mở rộng diện phục vụ và tăng doanh thu; nghiên cứu đưa thêm dịch vụ mới vào kinh doanh nhằm mục tiêu cung cấp và làm hài lòng các khách hàng đã đang và sẽ sử dụng các dịch vụ của Viễn thông Điện lực.

    – Nâng cao chất lượng dịch vụ để tạo niềm tin và lòng trung thành của khách hàng hiện có, với mục tiêu quan trọng là giữ khách hàng trung thành sử dụng dịch vụ, sản phẩm của doanh nghiệp.

    2.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện nhằm hoàn thiện công tác chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ

    Từ những nguyên nhân và tồn tại trong công tác chăm sóc khách hàng và định hướng phát triển của Trung tâm viễn thông, em xin đề xuất một số giải pháp để góp phần hoàn thiện hơn công tác chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông.

    2.2.1 Hoàn thiện cơ sở dữ liệu khách hàng

    Để chăm sóc tốt khách hàng không gì tốt hơn là phải hiểu rõ khách hàng có như vậy mới thật sự biết được khách hàng cần gì và phải cung cấp phục vụ khách hàng thế nào cho họ hài lòng. Do vậy, TTVTĐLPT cần phải xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu khách hàng. Sau đây là những vấn đề cần thực hiện :

    Hiện nay tại bộ phận chăm sóc khách hàng của Trung tâm viễn thông chỉ quản lý cơ sở dữ liệu của khách hàng với những dữ liệu đơn giản như: tên , địa chỉ, mức cước sử dụng, ngày hoà mạng… chứ chưa xây dựng được một cơ sở dữ liệu với đầy đủ mọi thông tin về khách hàng.

    Dữ liệu về khách hàng bao gồm các thông tin về khách hàng, thông tin do khách hàng tạo ra và các thông tin khách hàng có thể giúp doanh nghiệp hiểu được khách hàng. Các thông tin này có thể giúp chỉ ra các thị trường cần hướng tới và các khách hàng cần phải quan tâm chăm sóc đặc biệt.

    * Các bước chính trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng

    Trước hết xây dựng các thông tin, dữ liệu cơ bản về khách hàng như là: tên, tuổi, địa chỉ liên lạc, sản lượng khách hàng sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp.

    Sau khi đã xây dựng được cơ sở dữ liệu thô cần thực hiện sắp xếp và phân loại khách hàng.

    Khi phân loại được các khách hàng lớn, đặc biệt cần tiến hành thu thập bổ sung thêm các thông tin chi tiết. Thông tin càng chi tiết càng giúp ích cho việc chăm sóc khách hàng.

    Có được cơ sở dữ liệu rồi cần phải thường xuyên cập nhật thông tin theo một khoảng thời gian nhất định, tuỳ theo đặc điểm của doanh nghiệp có thể cập nhật theo tuần, quý….

    * Nhóm thông tin cần thu thập về khách hàng

    – Nhóm thông tin cơ bản về khách hàng .

    – Dữ liệu về quá trình sử dụng dịch vụ của khách hàng.

    – Mối quan hệ giữa Trung tâm viễn thông và khách hàng.

    – Dữ liệu về khiếu nại của khách hàng.

    – Một số dữ liệu khác mà doanh nghiệp thấy cần thiết.

    * Đối tượng nhân viên chịu trách nhiệm thu thập thông tin

    -Để có được thông tin về khách hàng cần sự tham gia của tất cả các nhân viên giao dịch, nhân viên khai thác,…đã có điều kiện tiếp xúc một hoặc vài lần với khách hàng. Thực hiện giải pháp này sẽ giúp cho Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ hiểu rõ về khách hàng hơn, trên cơ sở đó sẽ duy trì lòng trung thành của khách hàng và tranh thủ những khách hàng mục tiêu đang sử dụng dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.

    Ngoài ra, TTVTĐLPT cần phải được trang bị thêm một số hệ thống phần mềm quản lý dữ liệu, chi phí bước đầu cho việc thu thập. Nguồn nhân lực đã có chỉ cần đào tạo thêm về kỹ năng phân tích thống kê dữ liệu. Và việc quản lý lại được thực hiện trên máy tính nên cũng không tốn nhiều nhân công. Chi phí đầu tư không tốn kém lắm và nếu được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và các nhân viên sẽ thực hiện được dễ dàng.

    2.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy chăm sóc khách hàng

    Tổ chức bộ máy chăm sóc khách hàng đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý và điều hành tổ chức các hoạt động chăm sóc khách hàng, nâng cao vị thế, uy tín của Trung tâm viễn thông đối với khách hàng. Để bộ máy hoạt động phát huy tốt hơn vai trò của mình thì cần phải tổ chức bộ máy theo h­ướng gọn nhẹ, năng động, linh hoạt, hiệu quả trên cơ sở những nội dung sau:

    – Phân công trong bộ máy chăm sóc khách hàng phải có một ngư­ời giữ vai trò chủ đạo, là ng­ười có nhiệm vụ quản lý toàn diện, chịu trách nhiệm về mọi mặt của hoạt động trong bộ máy đó.

    – Tổ chức các tổ, nhóm hoặc chuyên viên chăm sóc khách hàng ở các đơn vị trực thuộc. Qui định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, từng khâu, từng vị trí, từng ng­ười để họ phát huy quyền tự chủ thực hiện nhiệm vụ đ­ược phân công.

    – Xác định, tuyển chọn, bố trí nhân sự làm việc trong bộ máy chăm sóc khách hàng là những ng­ười có kiến thức, am hiểu về công tác Marketing và chăm sóc khách hàng, nếu đã qua thực tế thì càng có điều kiện để họ phát huy năng lực và đem lại hiệu quả cao cho bộ máy.

    – Th­ường xuyên xem xét đánh giá thực trạng hoạt động của bộ máy để có những biện pháp chấn chỉnh và hoàn thiện. Công tác này có ý nghĩa quan trọng, nhờ đó có thể kiểm tra đ­ược hiệu quả hoạt động của từng khâu, từng bộ phận.

    – Tổ chức các nhóm chăm sóc khách hàng đối với nhóm khách hàng lớn, khách hàng đặc biệt.

    Đối với Trung tâm viễn thông do đặc điểm riêng nên chưa có phòng chăm sóc khách hàng riêng biệt nên vấn đề cần thiết nhất là phải thành lập phòng chăm sóc khách hàng riêng, để có hiệu quả tốt trong việc chăm sóc khách hàng.

    Công tác hoàn thiện bộ máy chăm sóc khách hàng phải được tiến hành song song với công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức kinh doanh và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động. Những lớp tập huấn về công tác kinh doanh nói chung và chăm sóc khách hàng nói riêng. Đó chính là cơ sở để lãnh đạo các đơn vị, các thành viên tham gia lớp tập huấn tự nâng cao trình độ và ý thức kinh doanh. Đồng thời chính họ sẽ trở thành cán bộ đào tạo tại đơn vị mình, để biến những kiến thức thu nhận được trở thành kiến thức và hành động chung của toàn đơn vị. Kết hợp với công tác đào tạo là học tập, rút kinh nghiệm qua các hoạt động cụ thể của đơn vị, xây dựng đơn vị thí điểm, điển hình sau đó sử dụng trong toàn đơn vị. Kết quả là mọi cán bộ công nhân viên sẽ trở thành những nhân viên chăm sóc khách hàng không chuyên, tạo nên một mạng lưới chăm sóc khách hàng rộng khắp và đồng bộ.

    Việc tổ chức bộ máy CSKH theo hướng nêu trên có thể giảm bớt gánh nặng cho phòng Kinh doanh viễn thông, đồng thời tạo ra bộ máy chăm sóc khách hàng chuyên sâu hơn. Trên thực tế, với điều kiện về nguồn lực và nguồn vốn của đơn vị, cùng với sự quyết tâm của lãnh đạo, cán bộ công nhân viên trong TTVTĐLPT thì nhất định giải pháp sẽ thực hiện được.

    2.2.3 Nâng cao ý thức và trình độ của cán bộ công nhân viên trong TTVTĐLPT

    Ban lãnh đạo đơn vị là nhân tố quyết định các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, tầm nhìn của họ quyết định quy mô phương thức kinh doanh của doanh nghiệp, là nhân tố chủ chốt dẫn đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Các cấp lãnh đạo phải thường xuyên đổi mới tư duy để bắt kịp với sự thay đổi của thị trường, kiên quyết chỉ đạo đạt bằng được những kế hoạch đã đặt ra.

    Yếu tố con người, ý thức, chất l­ượng đội ngũ CBNV có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác CSKH. Công tác chăm sóc khách hàng không còn là việc riêng của một bộ phận nào đó mà phải trở thành ý thức của mọi lao động tham gia. Riêng đối với với các khâu trực tiếp giao dịch với khách hàng (như: giao dịch viên,  nhân viên thu cước, nhân viên bảo hành thiết bị đầu cuối…) cần được nâng cao hơn nữa ý thức phục vụ khách hàng, thái độ phục vụ chu đáo ân cần, niềm nở. Để làm được điều này, TTVTĐLPT cần có biện pháp giáo dục tích cực để mọi người đều nhận thức một cách sâu sắc rằng ngày nay chăm sóc khách hàng là một vũ khí cạnh tranh mạnh nhất của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sự sống còn của doanh nghiệp và nó sẽ gián tiếp ảnh hưởng đến thu nhập và lợi ích của từng người trong doanh nghiệp.

    Đi đôi với việc nâng cao ý thức kinh doanh, tuyên truyền giáo dục phải không ngừng nâng cao trình độ của công nhân viên. Coi trọng vấn đề tuyển dụng đào tạo, bồi dưỡng đào tạo lại, khuyến khích đi học thêm. Đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh hiện nay để tăng sức cạnh tranh, tăng ưu thế cạnh tranh thì phải đảm bảo đội ngũ lao động có năng lưc là rất cần thiết.

    Đối với hình thức đào tạo cần đa dạng hoá các loại hình đào tạo như sau :

    – Thuê các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chăm sóc khách hàng về giảng dạy trực tiếp cho tất cả các nhân viên chuyên trách về chăm sóc khách hàng.

    – Luân phiên cử các nhân viên chăm sóc khách hàng đi đào tạo, về chuyên môn nghiệp vụ hoặc tham dự các chương trình hội thảo, hội nghị về chăm sóc khách hàng.

    – Tiến hành đào tạo tại chỗ: Xây dựng một đội ngũ chuyên gia được đào tạo chuyên sâu về chăm sóc khách hàng để chuyên phục vụ những khách hàng lớn của Trung tâm viễn thông và sử dụng chính các chuyên gia này để đào tạo cho các nhân viên cán bộ trong Trung tâm viễn thông.

    -Tiến hành điều tra đội ngũ cán bộ công nhân viên hiện có theo các tiêu thức: lứa tuổi, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sở trường, sức khỏe để có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo bố trí lao động cho phù hợp với từng bộ phận, từng cơ sở sản xuất. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ, kỹ thuật mới chuyên sâu hơn để người lao động ở từng lĩnh vực công tác nắm vững kiến thức phục vụ tốt hơn trong công việc

    – Đối với lao động quản lý: khi dinh doanh trong điều kiên cạnh tranh, người quản lý ngoài việc biết về chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật cần phải được đào tạo các kiến thức về kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh. Trên cơ sở những kiến thức nền tảng, họ cần phải thường xuyên được cập nhật các thông tin về công nghệ mới, các phương pháp quản lý tiên tiến, về các chủ trương chính sách của nhà nước, của ngành.

    – Đối với lao động kỹ thuật: lao động kỹ thuật phải thường xuyên được đào tạo và tái đào tạo để thích ứng với công nghệ mới, từ đó làm chủ được công nghệ, kỹ thuật mạng lưới, đủ sức đảm đương việc vận hành, khai thác mạng lưới an toàn, ổn định, giải đáp những khó khăn vướng mắc của khách hàng.

    – Đối với nhân viên giao dịch: cần được đào tạo các kỹ năng về khai thác, xử lý nghiệp vụ, nên khuyến khích nhân viên cố gắng học hỏi, nâng cao trình độ, kỹ năng giao tiếp xử lý tình huống. Ngoài ra đây còn là bộ phận lao động trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, là nơi thể hiện hình ảnh của doanh nghiệp. Với đội ngũ này nên bổ xung các chương trình đào tạo về kiến thức Marketing, làm cho mỗi người đều hiểu rõ những nguy có thách thức của quá trình cạnh tranh và hội nhập, để từ đó thay đổi cung cách kinh doanh, phục vụ để mỗi giao dịch viên đều là nhân viên tiếp thị cho các hoạt động của đơn vị, chiếm được niềm tin yêu của khách hàng.

    Thực hiện giải pháp này sẽ tạo ra đội ngũ nhân viên có phẩm chất, nghiệp vụ cao, sẵn sàng cho những khó khăn và thử thách mới. Là tiền đề cho việc phát triển của Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ về lâu về dài.

    2.2.4 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường

                Mục đích của công tác điều tra nghiên cứu, tìm hiểu thị trường là đo lư­ờng, đánh giá mức độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng, đánh giá sự am hiểu, lòng tin và sự ­ưa thích của khách hàng, phát hiện ra các nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng…Từ đó xác định chính xác nhu cầu tiêu dùng đối với dịch vụ đang cung cấp và khả năng cung cấp dịch vụ mới nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn.

    Nội dung nghiên cứu có thể tập trung vào các vấn đề:

    – Nghiên cứu nhu cầu của khách hàng: Nhằm xác định nhu cầu mà khách hàng muốn thoả mãn khi sử dụng dịch vụ. Khi xác định đ­ược những nhu cầu nào của khách hàng mà hiện tại ch­ưa đ­ược đáp ứng thì đây là cơ hội để Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ phát triển dịch vụ cung cấp cho khách hàng.

    – Nghiên cứu sự mong đợi của khách hàng: Dùng các kỹ thuật định lư­ợng để xác định tiêu chuẩn dịch vụ mà khách hàng mong đợi khi họ tiêu dùng dịch vụ. Ví dụ thời gian chờ đợi khi sử dụng dịch vụ, thời gian sử lý khiếu nại, thái độ phục vụ của nhân viên Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ…

    – Nghiên cứu sự nhận thức của khách hàng về dịch vụ: Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ không thể cho rằng dịch vụ mình cung cấp là tốt, mà phải xem xét sự đánh giá của khách hàng như­ thế nào. Nếu thật sự dịch vụ mà viễn thông Điện lực cung cấp là tốt thì phải chứng minh để khách hàng hiểu và sử dụng; nếu theo đúng đánh giá của khách hàng chư­a tốt thì ta phải sửa đổi hoàn thiện chất l­ượng dịch vụ.

    – Nghiên cứu để phân loại các đối t­ượng khách hàng: Việc nghiên cứu này nhằm mục đích phân loại từng đối tư­ợng khách hàng để có cơ chế chăm sóc khách hàng đối với từng loại khách hàng.

    – Nghiên cứu tìm hiểu về hoạt động của các đối thủ cạnh tranh để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh và của doanh nghiệp mình, từ đó đư­a ra các quyết định chính xác trong tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    Nghiên cứu về khách hàng có thể bằng nhiều phư­ơng pháp khác nhau:

    – Qua phiếu điều tra do bộ phận chăm sóc khách hàng thiết kế mẫu mã và thu thập dữ liệu.

    – Thiết lập đ­ường dây nóng bằng cách cung cấp số máy điện thoại thư­ờng trực nhận tin để khách hàng gọi đến phản ảnh các vấn đề có liên quan đến việc cung cấp và sử dụng dịch vụ.

    – Nếu khách hàng cho phép có thể phỏng vấn xin ý kiến khách hàng về các lĩnh vực: Chất l­ượng dịch vụ, chất lư­ợng phục vụ, nhu cầu sử dụng dịch vụ mới…

    – Ng­ười làm công tác chăm sóc khách hàng có thể đóng vai ng­ười bình thường để thâm nhập tìm hiểu, lắng nghe khách hàng trong quá trình sử dụng các dịch vụ tại các nơi công cộng.

    – Mở hộp thư để nhận các ý kiến đóng góp của khách hàng về mọi mặt. Hộp thư nên sử dụng cả hai hình thức bưu chính và điện tử để thuận lợi cho khách hàng.

    – Đơn vị phải tổ chức các cuộc điều tra nhu cầu của thị trư­ờng về dịch vụ viễn thông, tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh về dịch vụ bị cạnh tranh, tìm hiểu thị tr­­ường trong t­­ương lai. Để từ đó có cơ sở ra quyết định kinh doanh có hiệu quả.

    Qua công tác nghiên cứu thị trường doanh nghiệp sẽ xác định được điểm mạnh điểm yếu của mình để sửa chữa khắc phục. Biết được điểm yếu của đối thủ để tấn công và điểm mạnh của đối thủ để phòng thủ. Biết được nhu cầu, ý kiến của khách hàng về sản phẩm dịch vụ mình cung cấp để sửa chữa cho phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.

    Trung tâm viễn thông Điện lực Phú Thọ có đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, hiểu biết về các dịch vụ viễn thông. Đội ngũ giao dịch, chăm sóc khách hàng có trình độ, nhanh nhạy trong việc nắm bắt  tâm lý khách hàng là điều kiện để thực hiện tốt giải pháp.

    2.2.5 Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

    Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng chính là việc thực hiện theo phương châm “Hướng về khách hàng”, TTVTĐLPT phải cải tiến cung cách phục vụ nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Để nâng cao chất lượng phục vụ, TTVTĐLPT cần phải kể đến các hoạt động sau:

    – Tiếp tục đầu tư trang thiết bị khai thác, giao dịch hiện đại cho tất cả các điểm phục vụ, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng.

    – Bố trí quầy gjao dịch, bảng giá cước, bảng hướng dẫn sử dụng dịch vụ ở những nơi dễ quan sát để khách hàng dễ dàng tìm hiểu về các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.

    – Cần phát triển hơn nữa mạng lưới phân phối bằng cách mở thêm đại lý ở những nơi có nhu cầu lớn nhằm nâng cao khả năng phục vụ cho khách hàng.

    – Đẩy mạnh các dịch vụ sau cung cấp dịch vụ: Với thị trường cạnh tranh như hiện nay thì việc đẩy mạnh các dịch vụ chăm sóc khách hàng sau cung cấp dịch vụ là vô cùng cần thiết vì nếu như khách hàng không hài lòng với những sản phẩm dịch vụ mà Trung tâm viễn thông cung cấp thì họ sẽ chuyển sang sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp khác. Các hoạt động chăm sóc khách hàng sau cung cấp dịch vụ có thể bao gồm: Tư vấn, giúp đỡ khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ

    – Thực hiện việc đa dạng hóa các hoạt động chăm sóc khách hàng, mục tiêu của các hoạt động này là duy trì mối quan hệ giữa khách hàng và nhà cung cấp. Vì vậy, TTVTĐLPT cần có kế hoạch xây dựng các hoạt động chăm sóc khách hàng cụ thể với từng nhóm khách hàng khác nhau. Để thực hiện tốt được các hoạt động chăm sóc khách hàng thì cần phải hiểu rõ tâm lý thị hiếu cũng như đặc điểm của từng đối tượng khách hàng trên từng khu vực thị trường.

    – Cố gắng giải quyết khiếu nại một cách triệt để, hạn chế khiếu nại vượt cấp, khiếu nại không cần thiết của khách hàng. Các thủ tục giải quyết và tiếp nhận khiếu nại cần được cải tiến, chất lượng giải quyết khiếu nại phải được nâng cao hơn, giảm thời gian trả lời khiếu nại cho khách hàng. Nên xây dựng quy trình giải quyết khiếu nại nội bộ, phân cấp, tạo điều kiện chủ động về giải quyết khiếu nại ở từng khâu, nhằm rút ngắn thời gian giải quyết khiếu nại của khách hàng. Phải thường xuyên đánh giá, thống kê tỷ lệ khiếu nại của khách hàng để có giải pháp trả lời, hướng dẫn thỏa đáng xây dựng các nội dung hướng dẫn, trả lời khách hàng mẫu để các nhân viên làm nhiệm vụ liên quan có sở cứ để trả lời khách hàng một cách thống nhất.

    Thực hiện giải pháp này sẽ đáp ứng được nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông của mọi tầng lớp khách hàng. Thông qua các phân phối đánh giá được thị trường của từng loại dịch vụ và có kế hoạch để cung cấp các dịch vụ cho phù hợp với từng địa bàn. Đồng thời để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thu hút được nhiều khách hàng, là mục tiêu của đơn vị. Với số lượng điểm phục vụ rộng và đội ngũ lao động như hiện nay, chỉ cần sự quan tâm của lãnh đạo đơn vị và sự quyết tâm của toàn thể cán bộ, nhân viên Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ sẽ thực hiện được giải pháp này.

    2.2.6 Tăng cường các kênh thông tin về chương trình khuyến mãi

    Người ta thường cho rằng chính sách khuyến mại là cứ việc bỏ tiền ra để mua lấy lòng tin, hưởng ứng của khách hàng và khuyến mãi càng nhiều càng tốt mà ít ai để ý đến việc các thông tin về chương trình khuyến mãi đó có đến được với người sử dụng hay không.

    Đối với công tác chăm sóc khách hàng thì khuyến mãi là công cụ hữu hiệu thu hút khách hàng về phía doanh nghiệp. Nhưng để các chương trình khuyến mãi được thành công thì việc trước hết là phải làm cho khách hàng biết đến chúng. Và để làm được điều này thì phải tăng cường các kênh thông tin đến người tiêu dùng về các đợt, các chính sách khuyến mại đã, đang và sắp có của doanh nghiệp.

    Đối với các khách hàng vừa và nhỏ, khách hàng đặc biệt, khách hàng là doanh nghiệp đặc biệt trong thời gian tới, Trung tâm viễn thông cần phải tăng cường các kênh thông tin để thông báo, nhanh chóng kịp thời các chương trình khuyến mại tới tất cả các khách hàng. Thay vì bỏ ra rất nhiều tiền để được một vài phút xuất hiện trên đài truyền hình, sóng phát thanh để quảng cáo chúng ta có thể giảm bớt chi phí bằng các kênh phân phối trực tiếp – phân tán tại địa chỉ khách hàng là các nhân viên thu cước, lắp đặt, nhân viên bảo hành thiết bị đầu cuối… gửi các thông báo về khuyến mãi đi kèm với các hoá đơn, các hợp đồng. Trên các thông báo khuyến mãi sẽ ghi tên và địa chỉ cụ thể của khách hàng. Việc làm này sẽ làm tăng tính hiệu quả của các chương trình khuyến mãi lên rất nhiều.

    Với các doanh nghiệp thuộc nhóm khách hàng lớn cần phải đảm bảo rằng tất cả trong số họ sẽ nhận được thông báo khuyến mãi của mình. Cần gọi điện, gửi email thậm chí cử cả chuyên viên chăm sóc khách hàng đến tận nơi để thông báo. Theo nhiều nghiên cứu thì nhóm khách hàng này sẽ quyết định ngay sau khi nhận thông báo không lâu.

    Qua các hình thức trên, thì việc thông tin khuyến mãi đến với khách hàng là hiệu quả. Phương pháp này sử dụng nguồn nhân lực sẵn có không phải thuê ngoài chỉ cần tổ chức cho tốt và được sự đồng ý của ban lãnh đạo thì giải pháp này sẽ thực hiện được.

    KẾT LUẬN

    Ngày nay, trong xu thế mở cửa hội nhập quốc tế, cạnh tranh sẽ ngày càng gay go quyết liệt, vấn đề chất lượng, giá cả và dịch vụ chăm sóc khách hàng là vấn đề then chốt đối với mọi doanh nghiệp Việt Nam.

    Thực hiện các hoạt động chăm sóc khách hàng theo chỉ thị của Tổng công ty Điện lực Miền Bắc và theo kế hoạch của Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ. TTVTĐLPT đang rất nỗ lực để có thể dần đứng vững trên đôi chân của mình. Với những cố gắng không ngừng TTVTĐLPT đã dần đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Nhờ vậy, viễn thông điện lực đã phục vụ tốt nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông của toàn xã hội.

    Trên cơ sở sau khi được liên hệ thực tiễn với hoạt động chăm sóc khách hàng tại TTVTĐLPT, em đã chọn chủ đề báo cáo thực tập là “Thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ”.

    Trong bài báo cáo này em đã nêu được một số vấn đề sau:

    –  Phân tích thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ.

    – Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác chăm sóc khách hàng.

    Em hy vọng bài báo cáo này sẽ đóng góp phần nào vào việc cải thiện công tác chăm sóc khách hàng tại Trung tâm viễn thông công ty Điện lực Phú Thọ. Song, do hiểu biết về lý thuyết cũng như thực tế còn hạn chế, vì vậy báo cáo của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được các thầy cô giáo góp ý để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn nữa.

    Em xin cám ơn sự giúp đỡ của CBCNV trong TTVTĐLPT và cô giáo hướng dẫn đã giúp em hoàn thành bài báo cáo thực tập này .

    Sinh viên

    Chử Thị Ngọc Liên


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo khoa học Phân tích chiến lược tăng trưởng tập trung tại công ty viễn thông quân đội (Viettel)

    Báo khoa học Phân tích chiến lược tăng trưởng tập trung tại công ty viễn thông quân đội (Viettel)

    Báo khoa học Phân tích chiến lược tăng trưởng tập trung tại công ty viễn thông quân đội (Viettel)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận marketing-mix dịch vụ ineternet viễn thông đồng nai


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/B%C3%A1o-khoa-h%E1%BB%8Dc-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-t%E1%BA%ADp-trung-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-vi%E1%BB%85n-th%C3%B4ng-qu%C3%A2n-%C4%91%E1%BB%99i-Viettel-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo khoa học Phân tích chiến lược tăng trưởng tập trung tại công ty viễn thông quân đội (Viettel)

    MỞ ĐẦU

     

    Ở nước ta, từ khi chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế kế hoach hoá tập trung sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đã rất lúng túng trong công tác hoạch định chiến lược. Các doanh nghiệp cần thiết phải hoạch định và triển khai một công cụ kế hoạch hoá mới có đủ tính linh hoạt để ứng phó với những thay đổi của thị trường. Chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở phân tích và dự đoán các cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin tổng quát về môi trường kinh doanh bên ngoài cũng như nội lực của doanh nghiệp.

    Tổng công ty viễn thông quân đội Vitetel từ khi thành lập đến nay đã là thương hiệu số 1 tai thị trường Việt nam và đang mở rông hoạt động sang các thị trường lân cận nhờ có chiến lược xây dựng thương hiệu Viettel, lựa chọn đúng chiến lựợc tăng trưởng tập trung nhằm tận dung lợi thế và tiềm năng của Công ty để mở thị phần và chiếm lĩnh thị trường phát triển hoạt động kinh doanh hiệu quả. Vì vậy, việc hoạch định và thực hiện chiến lược kinh doanh là rất quan trọng và cấp bách đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty.

       Để hiểu thêm về thương hiệu Viettel cùng với sự thành công của Viettel nhóm chúng ta cần thiết “ Phân tích chiến lược tăng trưởng tập trung tại công ty viễn thông quân đội Viettel” với những nội dung sau:

    Phần 1: Giới thiệu chung về Tổng công ty viễn thông quân đội (VIETTEL)

    Phần 2: Phân tích môi trường

    Phần 3: Phân tích chiến lược và đánh giá chiến lược kinh doanh của Viettel

                                                                            

       Tác giả

     

                                                                                               ThS. Đỗ Văn Tính

                                                                                           Giảng viên khoa QTKD

     

     

    – PHẦN I –

     GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI

     

    I. Giới thiệu khái quát về Tổng công ty viễn thông quân đội (VIETTEL)

    Trụ sở giao dịch: Số 1, Giang Văn Minh, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội.

    • Điện thoại: 62556789
    • Fax: 62996789
    • Email: [email protected]
    • Website: viettel.com.vn
    • Tên cơ quan sáng lập: Bộ Quốc phòng

    Quyết định số 43/2005/QĐ-TTg ngày 02/03/2005 của Thủ tướng Chính Phủ  phê duyệt Đề án thành lập Tổng công ty Viễn thông Quân đội và  Quyết định số 45/2005/QĐ-BQP ngày 06/04/2005  của Bộ Quốc Phòng về việc thành lập Tổng công ty Viễn thông Quân đội.

    * Hoạt động kinh doanh:

    – Cung cấp dịch vụ Viễn thông;
    – Truyễn dẫn;
    – Bưu chính;
    – Phân phối thiết bị đầu cuối;
    – Đầu tư tài chính;
    – Truyền thông;
    – Đầu tư Bất động sản;
    – Đầu tư nước ngoài.

    ♦ Mỗi khách hàng là một con người – một cá thể riêng biệt, cần được tôn trọng, quan tâm và lắng nghe, thấu hiểu và phục vụ một cách riêng biệt. Liên tục đổi mới, cùng với khách hàng sáng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ ngày càng hoàn hảo.

    ♦ Nền tảng cho một doanh nghiệp phát triển là xã hội. VIETTEL cam kết tái đầu tư lại cho xã hội thông qua việc gắn kết các hoạt động sản xuất kinh doanh với các hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo.

     

     

     

    * Chặng đường phát triển của công ty

        Năm 1989 Công ty Ðiện tử thiết bị thông tin, tiền thân của Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) được thành lập.
        Năm 1995 Đổi tên thành Công ty Ðiện tử Viễn thông Quân đội (tên giao dịch là Viettel),
       Năm 2000 Viettel có giấy phép cung cấp thử nghiệm dịch vụ điện thoại đường dài 178
       Năm 2003 Viettel đã tổ chức lắp đặt tổng đài đưa dịch vụ điện thoại cố định vào hoạt động kinh doanh trên thị trường
       Năm 2004 Khai trương dịch vụ điện thoại di động vào ngày 15/10/2004 với thương hiệu 098.
       Năm 2005 Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký quyết định thành lập Tổng Công ty Viễn thông quân đội ngày 02/3/2005
       Năm 2008 –  Doanh thu 2 tỷ USD.
    –  Nằm trong 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới

          

     II. Sứ mệnh

    * Quan điểm phát triển

    • Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng
    • Đầu tư vào cơ sở hạ tầng
    • Kinh doanh định hướng khách hàng
    • Phát triển nhanh, liên tục ổn định

    * Triết lí kinh doanh

    ♦ Mỗi khách hàng là một con người – một cá thể riêng biệt, cần được tôn trọng, quan tâm và lắng nghe, thấu hiểu và phục vụ một cách riêng biệt. Liên tục đổi mới, cùng với khách hàng sáng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ ngày càng hoàn hảo.

    ♦ Nền tảng cho một doanh nghiệp phát triển là xã hội. VIETTEL cam kết tái đầu tư lại cho xã hội thông qua việc gắn kết các hoạt động sản xuất kinh doanh với các hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo.

    ♦ Chân thành với đồng nghiệp, cùng nhau gắn bó, góp sức xây dựng mái nhà chung VIETTEL.

    * Giá trị cốt lõi

    • Lý thuyết màu xám, chỉ có cây đời là mãi mãi xanh tươi. Lý luận để tổng kết thực tiễn rút ra kinh nghiệm , tiệm cận chân lý và dự đoán tương lai. Chúng ta cần có lý luận và dự đoán để dẫn dắt nhưng chỉ có thực tiễn mới khẳng định được những lý luận và dự đoán đó đúng hay sai.
    • Chúng ta tiếp cận chân lý thông qua thực tiễn hoạt động.

        Hành động

    • Phương châm hoạt động của chúng ta “Dò đá qua sông” và liên tục điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn.

        Nhận thức

    • Thách thức là chất kích thích. Khó khăn là lò luyện, “Vứt nó vào chỗ chết thì nó sẽ sống”.
    • Chúng ta không sợ mắc sai lầm. Chúng ta chỉ sợ không dám nhìn thẳng vào sai lầm để tìm cách sửa. Sai lầm là không thể tránh khỏi trong quá trình tiến tới mỗi thành công. Sai lầm tạo ra cơ hội cho sự phát triển tiếp theo.

       Hành động

    • Chúng ta là những người dám thất bại. Chúng ta động viên những ai thất bại, tìm trong thất bại những lỗi sai của hệ thống để điều chỉnh. Chúng ta không cho phép tận dụng sai lầm của người khác để đánh đổ người đó. Chúng ta sẽ không lặp lại những lỗi lầm cũ.
    • Chúng ta phê bình thẳng thắn và xây dựng ngay từ khi sự việc còn nhỏ. Chúng ta thực sự cầu thị, cầu sự tiến bộ.

    Nhận thức

    • Cái duy nhất không thay đổi đó là sự thay đổi. Trong môi trường cạnh tranh sự thay đổi diễn ra từng ngày, từng giờ. Nếu nhận thức được sự tất yếu của thay đổi thì chúng ta sẽ chấp nhận thay đổi một cách dễ dàng hơn.
    • Mỗi giai đoạn, mỗi qui mô cần một chiến lược, một cơ cấu mới phù hợp. Sức mạnh ngày hôm nay không phải là tiền, là qui mô mà là khả năng thay đổi nhanh, thích ứng nhanh. Cải cách là động lực cho sự phát triển.

        Hành động

    • Tự nhận thức để thay đổi. Thường xuyên thay đổi để thích ứng với môi trường thay đổi. Chúng ta sẽ biến thay đổi trở thành bình thường như không khí thở vậy. Liên tục tư duy để điều chỉnh chiến lược và cơ cấu lại tổ chức cho phù hợp.

    Nhận thức

    • Sáng tạo tạo ra sự khác biệt. Không có sự khác biệt tức là chết. Chúng ta thực hiện hoá những ý tưởng sáng tạo không chỉ của riêng chúng ta mà của cả khách hàng.

     

    Hành động

    • Suy nghĩ không cũ về những gì không mới. Chúng ta trân trọng và tôn vinh từ những ý tưởng nhỏ nhất. Chúng ta xây dựng một môi trường khuyến khích sáng tạo để mỗi người Viettel hàng ngày có thể sáng tạo. Chúng ta duy trì Ngày hội ý tưởng Viettel.

       Nhận thức

    • Môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp. Tư duy hệ thống là nghệ thuật để đơn giản hoá cái phức tạp.
    • Một tổ chức phải có tư tưởng, tầm nhìn chiến lược, lý luận dẫn dắt và hệ thống làm nền tảng. Một hệ thống muốn phát triển nhanh về qui mô thì phải chuyên nghiệp hoá.
    • Một hệ thống tốt thì con người bình thường có thể tốt lên. Hệ thống tự nó vận hành phải giải quyết được trên 70% công việc. Nhưng chúng ta cũng không để tính hệ thống làm triệt tiêu vai trò các cá nhân.

    Hành động

    • Chúng ta xây dựng hệ thống lý luận cho các chiến lược, giải pháp, bước đi và phương châm hành động của mình.
    • Chúng ta vận dụng qui trình 5 bước để giải quyết vấn đề: Chỉ ra vấn đề – Tìm nguyên nhân – Tìm giải pháp – Tổ chức thực hiện – Kiểm tra và đánh giá thực hiện.
    • Người Viettel phải hiểu vấn đề đến gốc: Làm được là 40% – Nói được cho người khác hiểu là 30% – Viết thành tài liệu cho người đến sau sử dụng là 30% còn lại.

    Nhận thức

    • Có hai nền văn hoá, hai cách tư duy, hai cách hành động lớn nhất của văn minh nhân loại. Mỗi cái có cái hay riêng có thể phát huy hiệu quả cao trong từng tình huống cụ thể.
    • Kết hợp Đông Tây cũng có nghĩa là luôn nhìn thấy hai mặt của một vấn đề. Kết hợp không có nghĩa là pha trộn.

      Hành động

    • Chúng ta kết hợp tư duy trực quan với tư duy phân tích và hệ thống. Chúng ta kết hợp sự ổn định và cải cách.

     

     

    Nhận thức

    • Viettel có cội nguồn từ Quân đội. Chúng ta tự hào với cội nguồn đó. Một trong những sự khác biệt tạo nên sức mạnh Viettel là truyền thống và cách làm quân đội.

    Hành động

    • Truyền thống: Kỷ luật, Đoàn kết, Chấp nhận gian khổ, Quyết tâm vượt khó khăn, Gắn bó máu thịt. Cách làm: Quyết đoán, Nhanh, Tiệt để.

      Nhận thức

    • Viettel là ngôi nhà thứ hai mà mỗi chúng ta sống và làm việc ở đó. Mỗi người Viettel phải trung thành với sự nghiệp của Tổng Công ty. Chúng ta phải hạnh phúc trong ngôi nhà này thì chúng ta mới làm cho khách hàng của mình hạnh phúc được.
    • Mỗi chúng ta là một cá thể riêng biệt, nhưng chúng ta cùng chung sống trong một nhà chung Viettel – ngôi nhà mà chúng ta cùng chung tay xây dựng. Đoàn kết và nhân hoà trong ngôi nhà ấy là tiền đề cho sự phát triển.

      Hành động

    • Chúng ta tôn trọng nhau như những cá thể riêng biệt, nhạy cảm với các nhu cầu của nhân viên. Chúng ta lấy làm việc nhóm để phát triển các cá nhân. Các cá nhân, các đơn vị phối hợp với nhau như các bộ phận trong một cơ thể. Mỗi người chúng ta qua các thế hệ sẽ góp những viên gạch để xây lên ngôi nhà ấy.
    • Chúng ta lao động để xây dựng đất đất nước, Viettel phát triển, nhưng chúng ta phải được hưởng xứng đáng từ những thành quả lao động đó. Nhưng chúng ta luôn đặt lợi ích của đất nước của doanh nghiệp lên trên lợi ích cá nhân.

    * Triết lý thương hiệu hãy nói theo cách của bạn”:  Để thấu hiểu khách hàng như những cá thể riêng biệt, Viettel muốn được lắng nghe tiếng nói của khách hàng, và để được như vậy, khách hàng được khuyến khích nói bằng tiếng nói của chính mình.

    Triết lý thương hiệu

    • Luôn đột phá, đi đầu, tiên phong.
      ●  Công nghệ mới, đa sản phẩm, dịch vụ chất lượng tốt.
      ●  Liên tục cải tiến.
      ●  Quan tâm đến khách hàng như những cá thể riêng biệt.
      ●  Làm việc và tư duy có tình cảm, hoạt động có trách nhiệm xã hội.
      ●  Trung thực với khách hàng, chân thành với đồng nghiệp.

     

    III/ TÌNH HÌNH KINH DOANH

    Thể hiện qua các bảng số liệu ở nhiều lĩnh vực

    Bưu chính

     

     

     

    Có thể nói rằng dù Viettel là doanh nghiệp phát triển sau các nhà mạng như: Vinaphone, Mobiphone nhưng trong chặng đường phát triển của  mình ,công ty đã có những bước phát triễn nhảy vọt, só lượng thị phần tăng lên cấp số nhân trong gần 20 năm phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh doanh của mình. Không chỉ phát triển thị trường trong nước mà còn tập trung phát  triển thị trường nước ngoài.

     

    – PHẦN II –

    PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG

       

     I. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ

    Trong giai đoạn 1986 – 2009 kinh tế vĩ mô phát triển tương đối ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty và nhiều thuận lợi cho Công ty phát triển và mở rộng hoạt động của mình.

    1. Chỉ tiêu kinh tế Việt nam

    Tổng GDP(tỷ USD) 60.9 71.1 87
    Tăng trưởng GDP(%) 8.2 8.45 6.35
    Thu nhập đầu người(USD/người) 736 835 1030
    Tỷ giá hối đoái 15.984 16.072 16.525
    Lạm phát(%) 6.6 12.6 23

     

    Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) là Công ty dịch vụ viễn thông với thu nhập người dân ngày càng tăng cao, khả năng tiếp cận với dịch vụ của chúng tôi càng nhiều là cơ hội chúng tôi mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình.

    Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2001 – 2010, Nhà nước đã xây dựng các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội như sau:

    –  GDP cứ 8 năm tăng gấp đôi.

    – Đảm bảo tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP.

    – Tỷ trọng trong GDP của công nghiệp là 38 – 39% vào năm 2005 và 40 – 41% vào năm 2010.

    Theo đó, nhu cầu về dich vụ tăng các dịch vụ về điện thoại, intenet ngày càng tăng giúp cho Công ty chúng tôi có thể mở  rộng quy mô va hoạt động của mình trọng lĩnh vực dịch vụ.

    Việc Việt Nam kí kết Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và tham gia vào các thoả thuận khu vực thương mại tự do theo lộ trình CEPT/AFTA đã mở ra thị trường rộng lớn.

    Lạm phát gia tăng, ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận lớn người dân với mức tăng chỉ số giá tiêu dùng lên tới 12,63% trong năm 2007 và tính tới hết tháng 11 năm 2008, chỉ số này là trên 23%. Năm 2009 lạm phát tuy có giảm nhưng cũng vẫn còn ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty chúng tôi.

    Chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm tăng trưởng tín dụng nhằm chặn đứng lạm phát đã làm cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động, phải tính tới phương án mua bán trong đó công ty Viettel chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn.

    Sự suy thoái và khủng hoảng kinh tế thế giới từ giữa năm 2008 đến nay cũng đã đạt đáy đã ảnh hưởng rất nhỉều đến hoạt động kinh doanh của Công ty chúng tôi. Lợi nhuận đã không đạt mục tiêu đề ra của công ty do khung hoảng kinh tế làm cho người dân hạn chế chi tiêu.

    Như vậy, với tình hình kinh tế vĩ mô hiện nay và xu hướng trong tương lai thì vừa đem lại những cơ hội, thuận lợi cho các lĩnh vực hoạt động của Công ty VIETTEL chúng tôi. nhu cầu về dịch vụ viễn thong gia tăng, nhưng cũng gây ra không ít khó khăn: đó là đòi hỏi phải tìm cách thay đổi công nghệ, phương pháp quản lý để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, sự chăm sóc khách hang, sự canh tranh gay gắt.

    2/ Môi trường chính trị

    Chính trị nước ta hiện nay được đánh giá rất cao về sự ổn định đảm bảo cho sự hoạt động của Công ty chúng tôi được ổn định, tạo ra tâm lý an toàn khi đầu tư.

    Việc gia nhập WTO, là thành viên Hội đồng bảo an lien hợp quốc, vấn đề toàn cầu hóa, xu hướng đối ngoại ngày càng mở rộng, hội nhập vào kinh tế thế giới là cơ hội của công ty tham gia vào thị truờng toàn cầu. Các quy định về thủ tục hành chính ngày càng hoàn hiện, giấy phép hoạt động kinh doanh ngày càng được rúy ngắn. Chính phủ rất quan tâm về hiệu năng hành chính công, tháo gỡ các rào cản trong hoạt động kinh doanh. Đây là một thuận lợi cho Công ty VIETTEL chúng tôi giảm bớt rào cản ra nhập ngành.

    Luật pháp Việt nam hiện nay có chiều hướng được cải thiện. luật kinh doanh ngày càng được hoàn thiện. Luật doanh nghiệp tác đọng rất nhiều đến tất cả doanh nghiệp nhờ khung pháp lý của luật pháp duới sự quản lý của nhà nuớc các thanh tra kinh tế. Tất cả các doanh nghiệp đều hoạt động thuận lợi.

    3/ Các nhân tố văn hoá – xã hội

    Để có thể thành đạt trong kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ hướng nỗ lực của mình vào các thị trường mục tiêu mà còn phải biết khai thác tất cả các yếu tố của môi trường kinh doanh, trong đó có yếu tố môi trường văn hoá.

    Về sắc thái văn hoá, nó vừa chịu ảnh hưởng của truyền thống lại vừa chịu ảnh hưởng của môi trường, lãnh thổ và khu vực. Sắc thái văn hoá in đậm lên dấu ấn ứng xử của người tiêu dùng trong đó có vấn đề quan niệm và thái độ đối với hàng hoá, dịch vụ mà họ cần mua. Nhu cầu liên lạc tăng, nhu cầu dịch vụ…. Ngày nay, hầu hết mỗi nguời từ các nhà doanh nghiệp, người nông dân, sinh viên, công chức cho đến học sinh đều có nhu cầu liên lạc, và có những nhu cầu dịch vụ khác…Như vậy, việc này sẽ kích cầu dịch vụ của Công ty VETEL chúng tôi.

    Cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ dân trí của Việt Nam ngày một được nâng cao hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho Công ty có nguồn lao động có trình độ quản lý, kỹ thuật, có đội ngũ nhân viên lành nghề có trình độ cao…            Với thị trường 86 triệu dân, tỷ lệ dân số trẻ đang có nhu cầu dịch vụ liên lạc, tao ra nhu cầu lớn và một thị trường rộng lớn sẽ là cơ hội cho Công ty mở rộng hoạt động và chiếm lĩnh thị trường giàu tiềm năng này.

    4/ Các yếu tố tự nhiên – công nghệ

    Ngày nay, yếu tố công nghệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp. Công nghệ có tác động quyết định đến 2 yếu tố cơ bản tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: chất lượng và chi phí cá biệt của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường. Song để thay đổi công nghệ không phải dễ. Nó đòi hỏi doanh nghiệp cần phải đảm bảo nhiều yếu tố khác như: trình độ lao động phải phù hợp, đủ năng lực tài chính, chính sách phát triển, sự điều hành quản lý … Với Công ty VIETTEL chúng tôi đây vừa là điều kiện thuận lợi vừa tạo ra những khó khăn: sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là công nghệ 3G sắp tới giúp Công ty có điều kiện lựa chọn công nghệ phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, năng suất lao động, nhưng khó khăn cho Công ty là sự cạnh tranh rất lớn trong ngành, cùng với đòi hỏi giảm giá các dịch vụ…

          Yếu tố tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết… Yếu tố này ảnh hưởng đến chất lượng các dịch vụ của chúng tôi, sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng viễn thông của chúng tôi.

             Tóm lại: Những nhân tố môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty  do đó Công ty cần phải có những chiến lược cụ thể để giữ vững và phát triển thị phần.

    II. MÔI TRƯỜNG VI MÔ (MÔ HÌNH 05 ÁP LỰC CỦA FORTER)

       

    1. Đối thủ cạnh tranh hiện tại

    – Thị trường Viễn thông đã có sự cạnh  tranh gay gắt của các Công ty dịch vụ viễn thông khác như MOBIFONE, VINAFONE, SFONE, BEELINE… Dù hiện tại Viettel đang chiếm lĩnh thị phần nhiều nhưng các mạng điện thoại khác đang dần tiến tới mức cân bằng như Mobifone đã chiếm 35%.

    2. Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

          –  Truyền thông “lấn sân” viễn thông kế hoạch truy cập Internet qua  mạng cáp truyền hình (Với ưu thế về băng rộng). Với sự phát triển của công nghệ, các doanh nghiệp viễn thông – công nghệ thông tin và truyền thông của Việt Nam bắt đầu trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau. Việc truy cập Internet qua mạng cáp truyền hình có thể đạt tốc độ tải về tới 54 Mbps và tải lên 10 Mbps. Đồng thời, thông qua hệ thống đường truyền này, ngoài truyền hình và Internet, khách hàng còn có thể tiếp cận nhiều dịch vụ giải trí khác như chơi game online, xem ti vi trên máy vi tính, xem truyền hình và phim theo yêu cầu…

    Mạng di động MVNO

    – Ưu điểm lớn nhất của di động MVNO là khai thác tối đa cơ sở hạ tầng mạng. Những nhà cung cấp MVNO sẽ không phải đầu tư quá nhiều vốn để xây dựng hệ thống mạng. Bên cạnh đó, nhờ các đối tác MVNO, các nhà khai thác di động MNO sẽ tận thu được số vốn đã đầu tư vào cơ sở hạ tầng bằng việc khai thác triệt để những phân khúc thị trường còn bỏ ngỏ.

    – Nhà đầu tư nước ngoài đang hào hứng tham gia vào thị trường viễn thông Việt Nam

         3. Khách hàng tiêu thụ

    Khi thị trường viễn thông hội tụ đến 7 nhà cung cấp dịch vụ di động:

    Vinaphone, Mobifone, Viettel, HT mobile, EVN Telecom, S-fone và Gtel mobile, người ta vẫn thấy sự khác biệt Viettel. Đó là:
    – Doanh nghiệp có số lượng thuê bao di động lớn nhất

    – Doanh nghiệp có vùng phủ sóng rộng nhất
    – Doanh nghiệp có giá cước cạnh tranh nhất

    – Doanh nghiệp có những gói cước hấp dẫn
    – Doanh nghiệp có chính sách CSKH tốt nhất

    4. Nhà cung cấp

    – Nhà cung cấp tài chính bao gồm: BIDV, MHB, Vinaconex, EVN

       – Nhà cung cấp nguyên vật liệu, sản phẩm bao gồm: AT&T (Hoa Kỳ), BlackBerry Nokia  Siemens Networks, ZTE

    5. Sản phẩm thay thế

    – Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành.

    – Ngành viển thông rộng mở vì vậy trong tương lai gần sẽ có những sản phẩm thay thế sẽ giúp khách hàng ngày càng thỏa mản nhu cầu của mình.

    III.  PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG NỘI BỘ

    1) Nghiên cứu nội lực của Tổng công ty

    1. a) Những điểm mạnh

    – Viettel sở hữu nguồn vốn lớn, có lợi thế cạnh tranh, có sự tín nhiệm cao của khách hàng đối với các  sản phẩm và các dịch vụ của công ty.

    – Có đội ngũ nhân viên trình độ cao, chuyên nghiệp và năng động.

    – Cơ sở kĩ thuật mạng Bưu chính Viễn thông đã được đầu tư nâng cấp trên sở đầu tư cho khoa học công nghệ cao, với chi phí thấp mà hiệu quả, và giá cả phải chăng.

    -Tổng công ty còn có lợi thế là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông, kế thừa bề dày truyền thống ngành với mạng lưới Bưu chính Viễn thông rộng khắp cả nước.

    1. b) Những điểm yếu

    – Quy mô mạng lưới chưa đáp ứng yêu cầu.

    – Khả năng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ và giá cước còn hạn chế.

    – Năng suất lao động thấp.

    – Cung ứng dịch vụ còn nhiều hạn chế.

    2) Phân tích về hoạt động Maketting

    – Viettel là một trong những nhà cung cấp có nhiều sản phẩm và nhiều loại hình dịch vụ nhất. Sản phẩm và dịch vụ rất đa dạng. Viettel có những sản phẩm thì hướng tới đối tượng khách hàng theo độ tuổi, có sản phẩm lại hướng tới đối tượng theo mức thu nhập.

    –  Khi thị trường viễn thông hội tụ đến 8 nhà cung cấp dịch vụ di động: Vinaphone, Mobifone, Viettel, HT mobile, EVN Telecom, S-fone, Gtel mobile và Beeline thì người ta vẫn thấy được sự khác biệt của Viettel. Đó là:

    – Doanh nghiệp có số lượng thuê bao di động lớn nhất: Số lượng thuê bao của Viettel lên tới hơn 20 triệu thuê bao, chiếm trên 40% thị phần di động.

    – Doanh nghiệp có vùng phủ sóng rộng nhất: Hiện Viettel có khoảng 12.000 trạm thu phát sóng, không chỉ phủ sóng tại các thành thị mà sóng Viettel đã về sâu đến vùng nông thôn, vùng hải đảo xa xôi. Thuê bao di động Viettel có thể gọi đi bất cứ đâu, bất cứ thời điểm nào đều không sợ bị nghẽn.

    – Doanh nghiệp có giá cước cạnh tranh nhất: giá cước Viettel cung cấp rất hấp dẫn. Những gói cước của Viettel thật sự hấp dẫn và phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Bản thân nhân viên trực tổng đài giải đáp như chúng ta đã thật sự hiểu ý nghĩa của từng sản phẩm Viettel đang cung cấp trên thị trường.

    – Doanh nghiệp có gói cước hấp dẫn nhất: những gói cước như Happy Zone, Homephone không cước thuê bao, Sumo sim hay “Cha và con” đều là những gói cước khác biệt mà không một doanh nghiệp viễn thông nào có.

    – Bên cạnh đó, Viettel cũng là doanh nghiệp có những nhiều chương trình gắn liền với những lợi ích to lớn của xã hội hoặc chính sách nhân đạo, quan tâm đặc biệt đến người nghèo và trẻ em nhất: với quan điểm kinh doanh có trách nhiệm với xã hội, các chương trình như Mạng Internet cho bộ giáo dục, hội nghị thoại cho Bộ Y Tế, Viettel đã giúp cho hàng triệu triệu học sinh, sinh viên và giáo viên có cơ hội tiếp xúc với khoa học công nghệ, nền tri thức hiện đại; cho các bác sỹ, y tá và những người làm việc trong ngành y dù ở cách xa nhau hàng nghìn kilômet về mặt địa lý vẫn có thể đàm thoại, hội thảo với nhau về một ca phẫu thuật khó… như đang cùng ngồi tại một hội trường vậy.

    – Vẫn chưa đủ, hàng năm, Viettel chi hàng tỷ đồng ủng hộ người nghèo với chương trình đặc biệt tổ chức cuối năm: chương trình “nối vòng tay lớn”. Ngoài ra, gần đây nhất, Viettel góp sức chung tay với những người hảo tâm để gây quỹ cho chương trình “Trái tim cho em” nhằm giúp cho các em bị bệnh tim bẩm sinh có cơ hội được phẫu thuật để có một trái tim khỏe mạnh hơn.

         – Chính sách ưu đãi

        + Ưu đãi về dịch vụ: được phục vụ riêng tại khu vực dành cho khách hàng VIP tại các siêu thị Viettel trên toàn quốc, ưu tiên trả lời trước khi gọi điện tổng đài 19008198, hoãn chặn cước, được cài đặt và thử nghiệm các dịch vụ mới, miễn phí đặt cọc Roaming…

       + Ưu đãi về chi phí: Khách hàng có thể đổi điểm thành tiền trừ vào cước/tài khoản (đổi 1 điểm bằng 20 đồng), miễn giảm cước phí khi sử dụng dịch vụ các dịch vụ giá trị gia tăng, nhận quà sinh nhật hàng năm..v…v. Đặc biệt,  với thẻ Hội viên Viettel Privilege, khách hàng còn được giảm giá khi sử dụng dịch vụ của các đối tác liên kết của Viettel trên toàn quốc.

    –  Chức năng định giá bán

      – Giá cả là một trong các công cụ thuộc phối thức marketing mà công ty sử dụng để đạt được mục tiêu marketing của mình. Các quyết định về giá phải được phối hợp với những quyết định về mẫu mã, phân phối, cổ động cho sản phẩm để hình thành một chương trình marketing nhất quán và có hiệu quả. Nhờ chiến lược định giá bán phù hợp, giá cả dịch vụ vá các sản phẩm của Viettel được coi là cực kì hấp dẫn như hiện nay đã giúp cho Viettel có thể cạnh tranh được các đối thủ lớn.

        3) Phân tích về tình hình tài chính

    – Theo báo cáo tài chính, lợi nhuận hợp nhất trước thuế của viettel trong quý 1 năm 2009 là 359 tỷ đồng, đạt 31,2% mức kế hoạch năm 2009; lợi nhuận sau thuế đạt 273 tỷ đồng; thu nhập trên mỗi cổ phiếu của riêng quý 1 năm 2009 đạt 1.351 đồng.

    – Về tình hình tài chính: Tổng số nợ vay trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất của viettel tại ngày 31 tháng 3 năm 2009 là 2.893 tỷ đồng, giảm 204 tỷ đồng so với số dư tại ngày 31 tháng 12 năm 2008, chiếm 32% trên tổng tài sản hợp nhất toàn Tong coong ty là 9.024 tỷ đồng.

    – Về tình hình lưu chuyển tiền tệ: Dòng tiền thuần thu từ hoạt động kinh doanh là 440 tỷ đồng, tiền chi cho hoạt động đầu tư là 322 tỷ đồng và chi trả nợ vay thuần là 204 tỷ đồng.

    4) Đánh giá hoạt động kinh doanh

    Theo báo cáo kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm, doanh thu của Tổng công ty Viễn thông Quân  đội (Viettel) tăng 78% so với cùng kỳ năm 2008, ước thực hiện 24.222 tỷ đồng đạt 54% kế hoạch năm. Do vậy có thể nói hoạt động kinh doanh rất hiệu quả.

    Trong đó, tỷ suất lợi nhuận ước đạt 24% doanh thu, tương ứng 5.328 tỷ đồng, bằng 59% kế hoạch năm, tăng 63% so cùng kỳ năm 2008.

    Theo phân tích của Viettel, 6 tháng cuối năm, cạnh tranh giữa các mạng di động vẫn sẽ tiếp tục gay gắt, quyết liệt hơn trên mọi phương diện như giá cước, chất lượng dịch vụ, chăm sóc khách hàng…

    Trong  đó, mục tiêu cả năm mà Viettel hướng  đến là  đạt doanh thu 62.000 tỷ đồng; lắp đặt mới 7.000 – 8.000 trạm BTS (trong đó, 3G là 6.000 trạm) nâng tổng số trạm BTS tại Việt Nam lên hơn 25.000; tại Lào và Campuchia lắp đặt từ 2.000 trạm và trở thành mạng có hạ tầng lớn nhất.

    Mạng này cho biết sẽ phấn đấu phát triển mới 5 triệu thuê bao di động hoạt động, nâng tổng số thuê bao hoạt động đến cuối năm 2009 là 25 triệu. Ngoài ra, Viettel cũng sẽ nâng tổng số trạm phát sóng tại Campuchia lên 3.000 trạm và dự kiến khai trương mạng di động tại Lào vào tháng 8/2009.

    5. Đánh giá môi trường nội bộ

    Nhân tố thuận lợi 

    –  Công ty Viễn thông là công ty hoạt động trong lĩnh vực đã được Đảng và Nhà nước xác định “ưu tiên phát triển”, đây là một điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới và phát triển của công ty.

    –  Việt Nam được đánh giá  là một  thị  trường  tiềm năng, với  tốc độ  tăng  trưởng kinh  tế cao, với dân số đông. Đây là thuận lợi lớn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bưu chính viễn thông nói chung và cho hoạt động của công ty Viettel chúng tôi nói riêng.

    –  Chất lượng dịch vụ của công ty ngày càng được nâng cao, phục vụ tốt nhu cầu liên lạc và sử dung internet của khách hàng, tạo được lòng tin và  phát  triển  được một số lượng lớn khách hàng trung thành của công ty trong những năm qua.

    –  Mạng  lưới Viễn thông Viettel đã phủ khắp các tỉnh thành và  trở  thành nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn nhất cả nước với hơn 50 triệu thuê bao và thuơng hiệu ngày cang lớn mạnh.

    –  Hoạt động tài chính của công ty tương đối lành mạnh, minh bạch.

    –  Ngoài ra, công ty còn xây dựng được văn hóa doanh nghiệp đoàn kết gắn bó, khắc phục khó khăn và đề xuất những giải pháp sang tạo để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

    Nhân tố bất lợi 

    –  Thị trường Viễn thông đã có sự cạnh  tranh gay gắt của các Công ty dịch vụ viễn thông khác như MOBIEPHONE, VINAPHONE, SPHONE, BEELINE…

    –  Thói quen sử dụng các dịch vụ Viễn thông, internet ở Việt Nam hiện nay tăng nhanh nhưng vẫn còn ở mức thấp.

    –  Công tác đầu tư mặc dù được quan tâm nhưng thiếu sự đồng bộ đã dẫn đến những khó khăn nhất định trong công tác điều hành mạng lưới.

    – Sự khủng hoảng kinh tế giảm nhu cầu sử dụng các dịch của Công ty chúng tôi

    – Đòi hỏi chất lựợng dịch vụ và giảm giá thành dịch vụ

    Một số rủi ro khác ít có khả năng xảy ra nhưng nếu xảy ra thì ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty như: thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh,…

    * PHÂN TÍCH MA TRẬN SWOT

    – PHẦN III –

    PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC TĂNG TRƯỞNG TẬP TRUNG CỦA VIETTEL

     

    1. Chiến lược thâm nhập thị trường.

         Trên cơ sở phân tích, đánh giá môi trường kinh doanh, xem xét các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định, các nhà quản lý của Viettel đã lựa chọn chiến lược tăng trưởng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng vị thế của Tổng công ty bằng cách tập trung phát triển các sản phẩm dịch vụ mà hiện là thế mạnh của Tổng công ty như: điện thoại quốc tế, điện thoại trong nước, các dịch vụ thông tin di động, internet, bưu chính, tài chính, nhân lực. Tổng công ty bưu chính viễn thông quân đội Viettel còn thực hiện chiến lược tăng trưởng bằng cách đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ.

    – Thị trường viễn thông tại Việt nam đang phát triển rất mạnh, với thị phần trên dưới 40% tuy vậy các hà mạng cũng đang cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần. Vì vậy Viettel đang nỗ lực tung ra những gói cước giá rẻ, đang nỗ lực tiếp thị quảng cáo mạnh mẽ, hiệu quả nhằm tăng thị phần của các sản phẩm.

    – Viettel đã tăng số nhân viên bán hàng và mở rộng đại lý tại các tinh thành tỷong cả nước.

    – Tăng cường các hoạt đông quảng cáo trên truyền hình, internet, báo chí, băng rôn…

    – Đồng thời Viettel đang đẩy mạnh các chiến dịch khuyến mại như đưa ra các gói cước giá rẻ:

    Gói cha và con: Hiểu được băn khoăn ấy, gói Cha và con ra đời giúp “giải bài toán khó” cho các bậc làm cha làm mẹ: Con vẫn dùng được di động, nhưng tiền sử dụng cho di động lại phụ thuộc vào người cha, cho bao nhiêu thì dùng bấy nhiêu…

    Gói Happy Zone: Bình thường, người sử dụng di động sẽ trả 1.500đ/ phút khi gọi đi. Tuy nhiên, có một bộ phận dân cư (đặc biệt khu vực miền Tây) cũng muốn đi du lịch hoặc làm ăn nhưng hầu như họ chỉ di chuyển trong phạm vi tỉnh mình sinh sống. Trong khi đó, giá cước di động như hiện nay nếu dành cho họ không phù hợp, họ – những người di chuyển trong một phạm vi hẹp – phải trả tiền bằng những người giàu – những người hay đi du lịch.

    Gói Tomato:  Đã  góp phần phát triển thương hiệu công ty và một điểm quan trọng nữa là nó sẽ giúp doanh nghiệp đưa viễn thông đến cả những người nông dân nghèo nhất – tính đại chúng và phúc lợi – khi họ có thể hầu như không mất đồng tiền cước nào mà vẫn có thể sử dụng.

    Gói Sumo Sim: Viettel luôn tuân theo tôn chỉ: xã hội hóa di động, làm sao để người nghèo cũng có cơ hội dùng di động để họ có cơ hội bớt nghèo. Thực tế cho thấy rằng: Rào cản lớn nhất hạn chế người dân có thu nhập thấp sử dụng dịch vụ di động chính là giá máy điện thoại còn rất cao. Hiện nay, chi phí thấp nhất để họ có được máy điện thoại là khoảng 600.000 đồng. Hiểu được mong muốn khát khao của những người dân ấy, gói SumoSim ra đời. Với chính sách bán bộ trọn gói SumoSim, Viettel giúp một lượng lớn người dân thỏa mãn ước mơ của mình là có được 1 máy di động hoàn toàn miễn phí.

    Người ta có thể nhận thấy đây là nỗ lực của Viettel trong công tác phổ cập hoá dịch vụ di động, mang lại cơ hội dùng dịch vụ di động cho tất cả mọi người dân Việt Nam, kể cả những người có thu nhập thấp nhất.

    Cố định Homephone: Hơn nữa, tâm lý người Việt thường muốn chỉ phải trả trọn gói khi sử dụng một sản phẩm hay dịch vụ, chứ không muốn bị ám ảnh một khoản nợ phải trả cả đời (tiền thuê bao điện thoại hàng tháng).  Vì thế, gói Homephone không cước thuê bao ra đời: chỉ cần đóng trọn gói 500.000đ, người sử dụng không còn phải quan tâm chi trả khoản thuê bao hàng tháng nữa.

    Ngoài ra còn tặng 100%  các thẻ nạp, tặng cổng Modul cho 1 thuê bao internet…

       2. Chiến lược phát triển thị trường

    Công ty đã tiến hành đa dạng hoá sản phẩm nhằm tận dụng nguồn vốn lớn mạnh và đội ngũ nhân lực sẵn có của mình cùng với một hệ thống kênh phân phối khắp các tỉnh thành và quan trọng nhất là người tiêu dùng  chuyển hướng sở thích và có sự đánh giá. Nhu cầu của khách hàng đòi hỏi phải được quan tâm hơn, được phục vụ tốt hơn. Cơ hội của thị trường đang phát triển vì thế mà Công ty đã đưa ra các gói dịch vụ phù hợp với nhu cầu khách hàng đồng thời mở rộng nhiều lĩnh vực kinh doanh để tận dụng khả của Công ty nhằm chiếm lĩnh thị trường với mục tiêu dẫn đầu một số lĩnh vực có lợi thế.

    – Viettel hiện có số lượng thuê bao di động lớn nhất: Số lượng thuê bao của Viettel lên tới hơn 22 triệu thuê bao, chiếm trên 42% thị phần di động đồng thời  cũng chiếm thị phần lớn trong các sản phẩm và dịch vụ khác mà Công ty đang kinh doanh.

    – Về chiến lược tiếp cận khách hàng, Viettel đã tìm kiếm những phân khúc thị trường mới như: những khách hàng có nhu cầu nghe nhiều (gói cước Tomato), đối tượng trẻ thích sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng (như gói cước Ciao). Và mạng này đã “bắt” nhanh cơ hội để liên tục đưa ra các dịch vụ mới mang lại doanh thu lớn. Dịch vụ nhạc chuông chờ I-muzik sau một năm rưỡi ra đời đã có tám triệu người sử dụng. Bên cạnh đó, Viettel còn đưa ra nhiều loại dịch vụ như I-share – sẻ chia tài khoản, dịch vụ nhận và gửi thư điện tử trên điện thoại động…
    – Với những bước đi ấy, chỉ sau hơn ba năm hoạt động, Viettel đã dẫn đầu thị trường về lượng thuê bao di động. Theo công bố của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5/2008 (cuộc điều tra gần đây nhất về lượng thuê bao của các mạng di động), cả nước có hơn 48 triệu thuê bao di động, trong đó, Viettel có 20 triệu, MobiFone 13,5 triệu, VinaPhone hơn 12 triệu và S-Fone hơn 3 triệu…

    – Công ty đang tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường. Hiện nay công ty đã mở rộng hoạt động kinh doanh của mình sang thị trường Lào và Campuchia.

    – Với chiến lược giá mà công ty đưa ra rất hớp dẫn cùng với chiến lược Maketting mạnh mẽ nhằm tới việc thu hút những khách hàng sử dụng mới.

    3. Chiến lược phát triển sản phẩm.

    Hiện nay công ty kinh doanh:

    – Là công ty hoạt động trong nghiều lĩnh vực với cơ cấu chủng loại sản phẩm đa dạng thích hợp , có khả năng cạnh tranh thị trường. Với thị trường rộng lớn trong nước và ngoài nước. Đồng thời khách hàng luôn luôn quan tâm đến các sản phẩm và dịch vụ của Viettel. Vì vậy mà Công ty đã và đang nghiên cứu đưa ra chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp với thị hiếu khách hàng, với nhu cầu thị trường.

         Đối với chất lượng:- Chất lượng được đo từ đầu vào cho đến đầu ra cho các sản phẩm và các loại hình dich vụ của Công ty, do đó trước tiên cần phải đảm bảo đầu vào đạt đúng tiêu chuẩn, dịch vụ phải tốt nhất với công nghệ mới nhất

    – Phổ cập và mở rộng phạm vi thị trường cho các dịch vụ: điện thoại, bưu phẩm, dịch vụ di động, internet, bưu phẩm chuyển phát nhanh (EMS), các dịch vụ Bưu chính Viễn thông đặc biệt khác.

    Tóm lại, Chiến lược tăng trưởng sẽ giúp cho Viettel mở rộng qui mô về thị trường, về sản phẩm, dịch vụ thực hiện được mục tiêu vừa kinh doanh vừa phục vụ, chiếm ưu thế về thị phần cũng như ảnh hưởng đối với khách hàng.Cho phép Viettel tập hợp mọi nguồn lực của Công ty vào các hoạt động sơ trường và truyền thống của mình để tập trung khai thác các điểm mạnh , phát triển quy mô kinh doanh trên cơ sở ưu tiên chuyên môn hóa sản xuất và đổi mới công nghệ, sản phẩm, dịch vụ. Nhờ đưa ra chiến lược phù hợp mà thị phần và quy mô của Viettel không những chiếm thị phần lớn nhất mà ngày càng mở rộng trong cả các lĩnh vực khác.

    4/ Đánh giá chiến lược

    Như chúng ta đã biết, kiểm tra là việc cần thiết trong quá trình thực hiện chiến lược. Có nhiều hình thức kiểm tra khác nhau, tuỳ theo từng mục đích khác nhau. Viettel đã tỏ chức hệ thống kiểm tra như sau:

    – Ban kiểm soát tiến hành kiểm tra thường xuyên các hoạt động của Ban giám đốc, các phòng ban;

    – Kểm tra  đột xuất đối với hoạt động của các đơn vị thành viên. Sau đó lập báo cáo trình Hội đồng quản trị.

    – Tổng giám đốc và bộ phận giúp việc tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với  các đơn vị thành viên.

    Các kênh thông tin nội bộ bao gồm: các báo cáo tài chính, báo cáo sơ kết hàng quý, báo cáo tổng kết cuối năm…

    Viettel còn tổ chức thu thập thông tin từ bên ngoài như thông tin phản hồi từ phía khách hàng (sổ đóng góp ý kiến), thông tin về đối thủ cạnh tranh…

    Từ các nguồn thông tin thu thập được lãnh đạo Tổng công ty tiến hành phân tích, đánh giá về tiến trình thực hiện chiến lược, tình hình của môi trường để từ đó xem xét và điều chỉnh chiến lược. Hàng năm Tổng công ty đã điều chỉnh các chỉ tiêu chiến lược và việc thực hiện chiến lược bằng các kế hoạch năm; thực hiện việc điều chỉnh giá cước; nghiên cứu cải thiện cơ chế quản lý tài chính…

    Trong quá trình thực hiện chiến lược, Tổng công ty đã chú ý tới công tác kiểm tra, đã thu thập được những thông tin cần thiết và có sự điều chỉnh hợp lý, kịp thời.

    Tóm lại, như hầu hết các doanh nghiệp nước ta, việc xây dựng chiến lược và tổ chức thực hiện chiến lược của Viettel còn có nhiều khoảng cách.

    Tuy vậy, chỉ qua một thời gian ngắn tiến hành quản lý và thực hiện  chiến lược. Viettel đã gặt hái được nhiều thành công đã giúp cho thương hiệu Viettel đứng vững trong lòng khách hàng và chiếm vị trí số 1 trên thị trường Việt nam. Với chiến lược đúng đắn và hiệu quả tận dụng hiệu quả các nguồn lực của Công ty cùng với sự chỉ đạo của ban lãnh đạo và đồng tâm của các cán bộ công nhân viên Tổng công ty đã giúp Công ty đứng vững trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

     

     

    Qua việc nghiên cứu chiến lược tăng trưởng tập trung của Tổng công ty Viettel chúng ta có thể hiểu được tình hình hoạt động của Công ty và các quyết định của công ty đã giúp cho thương hiệu VIETTEL lần lượt vượt qua khó khăn để ngày nay trở thành thương hiệu viễn thông số 1 tại Việt nam.

    Bên cạnh chiến lược định vị đúng, Viettel còn thể hiện lối tư duy kinh doanh “vì khách hàng trước, vì mình sau” tuy chưa đậm nét và đạt tới mức độ cao nhưng đã tạo được sự tin cậy trong người tiêu dùng. Các gói cước tính có lợi cho khách hàng, các cách chăm sóc khách hàng tốt, các tiện ích mang lại giá trị ngoại sinh cho khách hàng như chọn số… thật sự đã góp phần làm cho Viettel thành công hơn.

    Do vậy, dù là một doanh nghiệp có bước phát triến sau nhiều nhà mạng khác nhưng đó là doanh nghiệp chiếm thị phần lớn nhất và trở thành một thương hiệu đứng thứ 83 trên thế giới.

     

     

       Tác giả

     

                                                                                               ThS. Đỗ Văn Tính

                                                                                           Giảng viên khoa QTKD


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận marketing-mix dịch vụ ineternet viễn thông đồng nai

    Tiểu luận marketing-mix dịch vụ ineternet viễn thông đồng nai

    Tiểu luận marketing-mix dịch vụ ineternet viễn thông đồng nai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Định hướng Cấu trúc mạng thế hệ mới mạng viễn thông của VNPT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-marketing-mix-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-ineternet-vi%E1%BB%85n-th%C3%B4ng-%C4%91%E1%BB%93ng-nai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận marketing-mix dịch vụ ineternet viễn thông đồng nai

    LỜI MỞ ĐẦU

    –&—

    1. Lý do chọn đề tài:
      • Hiện nay, công nghệ viễn thông đã phát triển không ngừng và góp phần to lớn trong sự phát triển của xã hội. Trong thời gian gần đây, mạng lưới cơ sở hạ tầng viễn thông của nước ta liên tục được cải thiện, nâng cấp để phục vụ tốt hơn đông đảo người dùng. Chính vì thế khả năng đòi hỏi nhu cầu của khách hàng từ đó ngày một tăng. Giới doanh nghiệp nói chung và ngành Viễn thông nói riêng đang đứng trên một bình diện cạnh tranh chưa từng thấy. Mỗi doanh nghiệp cần phải nhạy bén phát hiện được phương hướng kinh doanh và khéo léo hòa nhập vào thị trường. Xu hướng hiện nay là phải nắm bắt được cầu thì mới có thế xác định đựơc cung.
      • Thông tin rất cần thiết, mọi hoạt động của con người đều có nhu cầu về thông tin trong cuộc sống. Viễn thông là một trong những ngành sử dụng thông tin làm nên sản phẩm – dịch vụ của mình đáp ứng nhu cầu của xã hội. Người sử dụng dịch vụ viễn thông không chỉ đơn thuần là liên lạc, trao đổi thông tin qua điện thọai truyền thống mà với các dịch vụ viễn thông mới đặc biệt là Internet.
      • Internet ngày nay cũng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin và trong sự phát triển của đất nước. Người sử dụng có thể tìm thấy thông tin cần thiết ngay trên mạng hoặc có thể truyền tải những thông điệp đến mọi người trong thời gian ngắn nhất. Nhu cầu về sử dụng Internet ngày càng cao nhất là đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam tính đến tháng 7/2006
      • Số lượng thuê bao Internet quy đổi là :3.688.000 triệu thuê bao
      • Số lượng người sử dụng khoảng 13,4 triệu
      • Tỷ lệ thuê bao/100 dân là:16 (thuê bao/100 dân). Tỷ lệ này ngang với tỷ lệ sử dụng Internet bình quân của cả thế giới
      • Trước một thị trường đầy tiềm năng như thế, viễn thông muốn tự khẳng định mình thì không thể nào lơi lỏng đối với Marketing, vì chính nó sẽ giúp cho các doanh nghiệp viễn thông đứng vững trên thị trường.
      • Viễn thông Đồng Nai – sau khi hoàn tất việc chia tách Viễn thông ra khỏi Bưu Điện Tỉnh Đồng Nai cũ – đã gặp nhiều khó khăn trong công tác Marketing, quảng cáo thương hiệu trong hoạt động của mình nhất là những họat động cho dịch vụ Internet nhằm đảm bảo được sự tồn tại và phát triển. Việc phân tích các yếu tố Marketing-mix trong dịch vụ Internet sẽ phần nào giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về những ưu và nhược điểm trong đơn vị

    Phạm vi nghiên cứu : Do hạn chế về mặt không gian và thời gian, vấn đề trình bày  được thể hiện qua 4 phần như sau :

    • Phần 1 : Trình bày về các cơ sở lý luận về Marketing
    • Phần 2 : Phân tích hiện trạng kinh doanh tại Viễn Thông Đồng Nai
    • Phần 3 : Nhận xét về tình hình Marketing và đề xuất ý kiến.

     

     

    PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING

                                                                 I.      Khái niệm về Marketing

    1.      Khái niệm về Marketing

    • Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: “Marketing là 1 quá trình họach định, quản lý, thực hiện việc họach định giá, chiêu thị, phân phối các hàng hóa nhằm tạo các giao dịch để thỏa mãn mục tiêu của cá nhân, tổ chức, xã hội.”
    • Theo Groncross: “Marketing là thiết lập duy trì củng cố các mối quan hệ với khách hàng hàng, đối tác để làm thỏa mãn mục tiêu của các thành viên này “. Khái niệm này đáp ứng được sự thỏa mãn của người tiêu dùng và thể hiện được mục đích tìm kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp.

    Tóm lại: Marketing là các giải pháp của doanh nghiệp để : Nghiên cứu, phát hiện nhu cầu của khách hàng; đưa ra các giải pháp để khai thác và thỏa mãn các nhu cầu đó. Mục đích của Marketing là: Chọn đúng khách hàng và thị trường mục tiêu; hướng các công tác Marketing vào nhóm khách hàng đó; chiếm thị phần, tiêu thụ sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.

    2. Marketing dịch vụ:

                    2.1 Dịch vụ là gì?

    • Là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. dịch vụ có 4 đặc điểm quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các chương trình marketing:
    • Tính vô hình
    • Tính đồng thời
    • Tính không thể lưu trữ
    • Tính không ổn định

    2.2 Marketing dịch vụ:

    • Marketing dịch vụ được phát triển trên cơ sở thừa kế những kết quả của Marketing hàng hóa. Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng của dịch vụ, hệ thống Marketing Mix cho hàng hóa không hoàn toàn phù hợp với các tổ chức cung ứng dịch vụ. “Tiếp thị trong thế kỷ 21 không còn bó hẹp trong công thức 4P truyền thống nữa mà đã và đang mở rộng ra thêm 3P thành Công thức 7P. Những nỗ lực tiếp thị sẽ được tiếp thêm nhiều năng lực và đánh bại các đối thủ cạnh tranh với công thức mới này. Một khi doanh nghiệp đã xây dựng xong chiến lược tiếp thị, công thức 7P nên được sử dụng để liên tục đánh giá và tái đánh giá các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”.
    • Product ( Sản phẩm ) Sản phẩm là những cái gì có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Hàng hoá là sản phẩm có thể đưa vào thị trường để tạo ra sự mua bán. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được lợi nhuận thỏa đáng nếu đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của hệ thống Marketing – mix. Chất lượng của sản phẩm được đo lường giữa chất lượng khách hàng kì vọng và chất lượng khách hàng mong đợi. Nếu chất lượng thực tế của sản phẩm không như mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy thất vọng. Ngược lại, khi chất lượng thực tế của sản phẩm đáp ứng như mong đợi hoặc vượt quá sự mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng và hoan hỉ, vui vẻ. Chất lượng thật sự của hàng hoá do nhà sản xuất cung cấp thường khác với chất lượng khách hàng cảm nhận được. Chất lượng mà khách hàng cảm nhận mới là quan trọng. Chính vì thế doanh nghiệp cần phải có một chính sách sản phẩm hợp lý. Chính sách sản phẩm này đòi hỏi phải thông qua những quyết định phù hợp với nhau về từng đơn vị hàng hoá, chủng loại hàng hoá và danh mục hàng hoá
    • Price ( Giá ) Giá cả là những gì mang lại doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đồng thời, giá tạo ra chi phí cho khách hàng, là những gì họ “trả” để có được sản phẩm với tính năng và nhãn hiệu cụ thể. Doanh nghiệp phát triển thói quen thường xuyên xem xét và xem xét lại các mức giá của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp để đảm bảo rằng nó luôn phù hợp với thực tế của thị trường hiện tại. Bằng việc nâng giá, các doanh nghiệp có thể đánh mất một số lượng khách hàng, nhưng tỷ lệ phần trăm (%) khách hàng còn lại có thể sẽ phát sinh lợi nhuận trên từng giao dịch bán hàng. Do đó để xây dựng chính sách giá cả các doanh nghiệp cần phải lưu ý: Chi phí nào doanh nghiệp phải chịu với mức giá mà thị trường chấp nhận có lãi; sản phẩm mang nhãn hiệu của doanh nghiệp mình đáng giá bao nhiêu và làm sao truyền được giá trị này cho khách hàng; mức doanh thu hay thị phần nào, sản phẩm có thể đạt được, để thu lợi nhuận tối đa.
      • Promotion ( Xúc tiến ) Xúc tiến bao gồm tất cả các cách thức mà doanh nghiệp có thể nói với khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp và làm thế nào doanh nghiệp có thể tiếp thị và bán chúng. Những thay đổi nhỏ trong cách thức mà doanh nghiệp xúc tiến và bán sản phẩm, dịch vụ có thể dẫn tới những thay đổi lớn trong kết quả kinh doanh. Thậm chí cả những thay đổi nhỏ trong quảng cáo cũng có thể dẫn ngay tới doanh số bán hàng cao hơn. Doanh nghiệp cần phải linh hoạt hơn trong công tác xúc tiến của mình. Ngay khi phương pháp bán hàng và tiếp thị hiện tại không còn phù hợp nữa doanh nghiệp cần phải xây dựng những chiến lược, chào mời và phương pháp tiếp thị, bán hàng và quảng cáo mới.
        • Place ( Kênh phân phối ) Chữ P thứ tư trong Công thức tiếp thị 7P đó là địa điểm nơi doanh nghiệp thực tế bán các sản phẩm hay dịch vụ. Việc lựa chọn địa điểm hoặc kênh phân phối phù hợp sẽ ảnh hưởng tới kết quả tăng trưởng doanh số bán hàng mạnh mẽ. Bên cạnh đó việc lựa chọn địa điểm bán hàng tốt sẽ giúp cho khách hàng nắm rõ những thông tin thiết yếu về sản phẩm hoặc dịch vụ cần thiết cho những quyết định sử dụng của khách hàng.
      • Process ( Cung ứng dịch vụ ) Do tính đồng thời trong quá trình cung ứng dịch vụ, chất lượng của sản phẩm dịch vụ được đảm bảo chủ yếu thông qua một quy trình cung ứng rõ ràng, chuẩn xác. Loại trừ được những sai sót từ cả hai phía. Một quy trình hiệu quả cũng hạn chế được đặc điểm không đồng nhất trong quá trình cung ứng dịch vụ.
      • Physical evidence ( Điều kiện vật chất ) Môi trường vật chất của công ty cung ứng dịch vụ là nơi dịch vụ được tạo ra, nơi khách hàng và người cung ứng dịch vụ giao tiếp, thêm vào đó là những phần tử hữu hình được sử dụng để hỗ trợ vai trò của dịch vụ. Do đặc trưng của dịch vụ là vô hình cho nên trong kinh doanh dịch vụ các nhà Marketing phải cố gắng cung cấp các đầu mối vật chất để hỗ trợ vị trí và tăng cường cho dịch vụ bao quanh nhằm làm giảm bớt tính vô hình của dịch vụ. Do vậy có thể khẳng định bằng chứng vật chất của công ty cung ứng dịch vụ là hết sức quan trọng. Nó giúp cho việc tạo ra vị thế của công ty và trợ giúp hữu hình cho dịch vụ. Chính vì vậy mà các ngân hàng đã phải chi ra những khoản tiền lớn để tạo ra kiểu dáng kiến trúc các trang trí nội thất, trang bị đồng phục cho nhân viên…nhằm gây ấn tượng về tiếng tăm, uy tín vị thế của mình.
    • People ( Con người ) Con người là nhân tố giữ vị trí quan trọng trong Marketing dịch vụ và nó là nhân tố chính tạo ra dịch vụ và quyết định tới chất lượng dịch vụ cung ứng. Bởi vì con người là nhân tố không thể thiếu tham gia vào quy trình cung ứng dịch vụ của công ty. Do vậy chất lượng dịch vụ cũng như sự thành công của một công ty, Marketing dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào việc tuyển chọn đào tạo con người. Chính vì thế khả năng lựa chọn, tuyển dụng và giữ chân những con người thích hợp với những năng lực và kỹ năng tốt để hoàn thành công việc được giao phó là rất quan trọng.
      1. Sự cần thiết của việc ứng dụng Marketing trong hoạt động kinh doanh của mỗi công ty
    • Các doanh nghiệp Việt Nam luôn phải đối diện với nhiều cơ hội thị trường hấp dẫn. Chính vì thế việc doanh nghiệp phải đương đầu với nhiều nguy cơ trước mắt và tiềm ẩn là điều không thể tránh khỏi. Marketing giữ vai trò quan trọng thông qua việc nghiên cứu thị trường doanh nghiệp có thể hoạch định đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm giúp cho doanh nghiệp phát triển và cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường. Bên cạnh đó, Marketing sẽ giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được đúng nhu cầu của xã hội và đáp ứng nhu cầu đó ngày một tốt hơn.

    3.      Tổng quan về  Internet

    • Internet là một hệ thống thông tin được kết nối với nhau bởi giao thức truyền thông Internet (IP) và sử dụng một hệ thống địa chỉ thống nhất trên phạm vi toàn cầu để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho người sử dụng.. Internet không phải là một mạng máy tính đơn lẻ mà là một mạng máy tính rất rộng lớn của các mạng máy tính khác nhau nằm trải rộng khắp toàn cầu. không có một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức nào đứng ra vận hành Internet. Thay vào đó, các mạng thành phần của Internet được điều hành bởi nhiều tổ chức và nhiều cá nhân ở những vùng khác nhau trên toàn thế giới, các mạng liên kết với nhau dựa vào giao thức như “giao thức điều khiển truyền dẫn” (TCP-Transmission Control Protocol) và “giao thức liên mạng (IP-Interenet Protocol). Giao thức TCP/IP (giao thức điều khiển truyền dẫn/giao thức liên mạng) là tập hợp các giao thức dùng để truyền tải và sửa lỗi các dữ liệu, cho phép chuyển dữ liệu giữa các máy tình trong mạng Internet, TCP/IP được sử dụng như một giao thức chuẩn trong Internet
    • Ở Việt Nam, Internet là một bộ phận quan trọng thuộc cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, được bảo vệ theo pháp luật Việt Nam, không ai được xâm phạm. Bảo đảm an toàn, an ninh cho các hệ thống thiết bị và thông tin tên Internet là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, mọi tổ chức và cá nhân.

    PHẦN II : KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG KINH DOANH TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG NAI VÀ ỨNG DỤNG MARKETING TẠI ĐƠN VỊ

    CHƯƠNG I:  GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VIỄN THÔNG ĐỒNG NAI

                                                           I.      Khái quát về Viễn Thông  Đồng Nai:

    1. Quá trình hình thành :
      • Viễn thông Đồng Nai được thành lập trên cơ sở tách ra từ Bưu điện tỉnh Đồng Nai cũ và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 01/01/2008. Viễn thông Đồng Nai là đơn vị trực thuộc, hạch toán phụ thuộc VNPT, có chức năng: Tổ chức xây dựng, quản lý, vận hành, lắp đặt, khai thác, bảo dưỡng sửa chữa mạng viễn thông, cung cấp các dịch vụ viễn thông trên địa bàn tỉnh… Các dịch vụ mà Viễn thông Đồng Nai cung cấp là: điện thoại cố định, dịch vụ Internet, điện thoại di động, dịch vụ 1080 và 1088, dịch vụ điện thoại VoIP.

    Tên chi nhánh :       VIỄN THÔNG ĐỒNG NAI

    – Địa chỉ chi nhánh :  61 Nguyễn Văn Trị, Phường Hoà Bình, TP.Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

    – Điện thoại : 061 – 3842916.               – Fax : 061 – 3824840.

    – Email :  [email protected] Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó                           – Website :  www.dnitc.vn

    • Ngành nghề kinh doanh :
      • Tổ chức xây dựng, quản lý, vận hành, lắp đặt, khai thác, bảo dưỡng, sữa chữa mạng viễn thông trên địa bàn tỉnh
      • Tổ chức, quản lý, kinh doanh và cung cấp các dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin
      • Sản xuất kinh doanh, cung ứng, đại lý vật tư, thiết bị viễn thông – công nghệ thông tin theo yêu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị và nhu cầu của khách hàng
      • Khảo sát, tư vấn, thiết kế, lắp đặt, bảo dưỡng các công trình viễn thông – công nghệ thông tin
      • Kinh doanh dịch vụ quảng cáo; dịch vụ truyền thông, kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng
      • Tổ chức phục vụ thông tin đột xuất theo yêu cầu của cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phương và cấp trên
      • Kinh doanh các ngành nghề khác khi được Tập đoàn cho phép.
        • Viễn thông Đồng Nai bao gồm:
        • Trung tâm Dịch vụ khách hàng
        • Trung tâm Viễn thông 1
        • Trung tâm Viễn thông 2
        • Trung tâm Viễn thông 3
        • Trung tâm Viễn thông 4
        • Trung tâm Viễn thông 5
        • Trung tâm Tin học.
        • Các trung tâm này được quản lý chung bởi Ban Giám đốc Viễn thông Đồng Nai. Ở mỗi trung tâm sẽ vận hành theo một mô hình cơ cấu tổ chức thống nhất của Viễn thông Đồng Nai.

    CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KINH DOANH TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG NAI

    1.     Công tác tổ chức hoạt động tại Viễn Thông Đồng Nai:

    • 1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Viễn Thông Đồng Nai
      • Tình hình phát triển số lượng thuê bao viễn thông tại Viễn Thông Đồng Nai
    Các chỉ tiêu Đơn vị tính Năm Tỷ lệ so sánh
    thực hiện
    2007/2006
    Tỷ lệ so sánh
    thực hiện
    2008/2007
    2006 2007 2008
    Kế hoạch phát triển Máy   44000 43800
    Thực hiện chủ yếu Máy 57807 78156 78428 1.4 1.0
    So với kế hoạch tăng % 37.6 79.9 76.1
    Tổng số máy điện thoại Máy 366462 445634 522764 1.2 1.17
    Số thuê bao Internet phát triển 1000 máy 15.5 17.3 22.4 1.12 1.29

    Bảng 2.1: Bảng tình hình kế hoạch – thực hiện của Viễn Thông Đồng Nai qua các năm_Nguồn :P.KT-TK-TC

    Nhận xét: Số lượng thuê bao của Viễn thông Đồng Nai qua các năm tăng, số lượng trong thực hiện so với số lượng trong kế hoạch đều hoàn thành vượt kế họach. Năm 2006 tăng 37.6 %, năm 2007 tăng 79.9%,  năm 2008 tăng 76.1%. Số máy thực hiện trong năm 2007 tăng 1.4 lần so với năm 2006. Số máy thực hiện trong năm 2008 tăng 100% so với năm 2007. Tổng số máy điện thoại qua các năm tăng nhanh. Tổng số máy điện thoại trong năm 2007 tăng 1.2 lần so với năm 2006; tổng số máy điện thoại trong năm 2008 tăng 1.17 lần so với năm 2007. Số thuê bao Internet trong năm 2007 tăng 1.12 lần so với năm 2006. Số thuê bao Internet trong năm 2008 tăng 1.29 lần so với năm 2007

    • Tình hình phát triển doanh thu dịch vụ viễn thông tại Viễn thông Đồng Nai
    Các chỉ tiêu Đơn vị tính Năm Tỷ lệ so sánh thực hiện
    2007/2006
    Tỷ lệ so sánh thực hiện
    2008/2007
    2006 2007 2008
    Kế hoạch doanh thu phát triển Tỷ đồng 732 753.9 729.3
    Doanh thu thực hiện Tỷ đồng 741.1 775.1 736.4 1.05 0.95
    So với kế hoạch tăng % 1.2 2.8 0.97

    Bảng 2.2: Bảng tình hình thực hiện doanh thu qua các năm tại Viễn Thông Đồng Nai_Nguồn: P.KT-TK-TC

    Nhận xét: Doanh thu qua các năm đều tăng, so với kế hoạch thì doanh thu thực hiện các năm đều hoàn thành vượt mức: Năm 2006 tăng 1.2%, năm 2007 tăng 2.8%, năm 2008 tăng 0.97%. Doanh thu năm 2007 tăng 1.05lần so với năm 2006. Doanh thu năm 2008 tăng 0.95 lần so với năm 2007.

    2.     Tình hình kinh doanh dịch vụ Internet tại Viễn Thông Đồng Nai

    • Thị trường dịch vụ Internet là một thị trường hấp dẫn. Trước đây dịch vụ này chủ yếu tập trung vào thành phố Biên Hòa, nhưng từ khi được mở rộng trong tòan tỉnh thì dịch vụ này đã có ảnh hưởng đến sự phát triển chung của Viễn thông Đồng Nai, đặc biệt là đối với các trung tâm Viễn thông. Dưới đây là tình hình khảo sát kinh doanh tại Trung tâm Viễn Thông 4 về dịch vụ Internet, để minh chứng rõ sự phát triển của dịch vụ này khi được mở rộng trong từng khu vực một tại Tỉnh Đồng Nai, và qua đó cũng cho ta thấy rõ sự ảnh hưởng của nó tới sản lượng và doanh thu tại Viễn Thông Đồng Nai như đã nêu ở mục trên.
      • 1 Tình hình doanh thu của dịch vụ Internet qua các năm tại Trung Tâm Viễn Thông 4 – Viễn Thông Đồng Nai
    Các chỉ tiêu Đơn vị tính Năm Tỷ lệ so sánh
    2007/2006
    Tỷ lệ so sánh
    2008/2007
    2006 2007 2008
    Doanh thu từ dịch vụ Internet Triệu đồng 1.4 72.1 168.5 51.5 2.34

    Bảng 2.3: Thống kê doanh thu của dịch vụ Internet qua các năm tại Trung Tâm Viễn Thông 4 – Viễn Thông Đồng Nai_Nguồn: P.KT-TK-TC

    Nhận xét: Doanh thu qua năm tại trung tâm Viễn Thông 4 tăng mạnh qua các năm. Năm 2006 doanh thu chỉ đạt 1.4 triệu đồng.Doanh thu năm 2007 tăng 70.7 triệu đồng so với năm 2006. Tỷ lệ so sánh giữa năm 2007 với năm 2006 là: 51.5 lần. Doanh thu năm 2008 tăng 96.4 triệu đồng so với năm 2007. Tỷ lệ so sánh giữa năm 2008 với năm 2007 là 2.34 lần.

    • 2 Tình hình số lượng thuê bao qua các năm
    Các chỉ tiêu Đơn vị tính Năm Tỷ lệ so sánh
    2007/2006
    Tỷ lệ so sánh
    2008/2007
    2006 2007 2008
    Số lượng thuê bao Internet Máy 5 212 1236 42.4 5.83

    Bảng 2.4: Thống kê số lượng thuê bao dịch vụ Internet qua các năm tại Trung Tâm Viễn Thông 4 – Viễn Thông Đồng Nai_Nguồn: P.KT-TK-TC

    Nhận xét : Dựa vào bảng trên cho thấy số lượng thuê bao Internet qua các năm tại trung tâm này có sự tăng trưởng mạnh. Số lượng thuê bao năm 2007 tăng 207 máy so với năm 2006. Đặc biệt số thuê bao trong năm 2008 tăng nhanh so với năm 2007 tăng 1024 máy – do nhu cầu sử dụng Internet và đời sống người dân trên địa bàn ngày càng tăng cao. Chính vì thế đã làm cho số lượng thuê bao trong năm 2008 tăng 5.83 lần so với năm 2007. Số lượng máy năm 2007 tăng 42.4 lần so với năm 2006. Do dịch vụ Internet mới được triển khai trong những năm gần đây nên dẫn đến sự phát triển mạnh tại các trung tâm cả về số lượng lẫn doanh thu. Số lượng thuê bao Internet và doanh thu của dịch vụ Internet trong năm 2006 của Trung tâm Viễn thông 4 tập trung chủ yếu tại Đài Viễn thông 4 trước đây.

    3.     Tình hình thực hiện chất lượng dịch vụ Internet tại Viễn Thông Đồng Nai.

    STT Tên trạm DSLAM DL lắp đặt DL sử dụng Hiệu suất
    1 Tân Phú 72 70 97,22%
    2 Định Quán 96 91 94,79%
    3 La Ngà 48 40 85,3%
    4 T.xã Long Khánh 1200 1164 97%
    5 Xuân Lộc 120 115 95.8%
      Tổng cộng 1536 1480 96.4%

    Bảng 2.6: Hệ thống mạng DSLAM tại Trung Tâm Viễn Thông 4- Viễn Thông Đồng Nai_Nguồn: P. Đầu tư và Quản lý mạng

    Nhận xét:  Theo bảng hệ thống mạng cho ta thấy hiệu suất hoạt động tại các  trạm DSLAM đạt trên 94%. Tuy nhiên trạm DSLAM La Ngà có hiệu suất thấp nhất so với các trạm khác, đạt 85,3%. Hiệu suất sử dụng trung bình tại các trạm DSLAM của Trung tâm Viễn thông 4  đạt 96,4%. Qua đó cần phải có dự phòng để đảm bảo thông tin khi có sự cố xảy ra. Trung tâm Viễn thông 4 cần yêu cầu nâng dung lượng.

    • Để nâng cao chất lượng dịch vụ Viễn thông nói chung và dịch vụ Internet nói riêng, Viễn thông Đồng Nai đã chú ý hơn trong công tác quản lý mạng của Trung Tâm . Nhận thấy công tác quản lý mạng là công tác chính yếu để quản lý và khai thác hiệu quả năng lực mạng lưới, đơn vị đã tiến hành tổ chức thường xuyên kiểm tra sự đấu nối trên mạng của công nhân dây máy; những công trình cáp mạng ngoại vi được thi công ngoài việc giám sát chặt chẻ còn được cập nhật kịp thời của các trạm và chịu trách nhiệm quản lý kiểm tra độ chính xác của số liệu là cán bộ kỹ thuật mạng, cập nhật kịp thời mọi sự thay đổi mạng ngoại vi. Hiện nay VTĐN đã hoàn chỉnh việc viết số hiệu cột, số hiệu tủ hộp cáp; và vẽ đầy đủ các bản vẽ kỹ thuật quản lý mạng cáp đồng : bản vẽ tổng thể hiện trạng mạng cáp, bản vẽ chi tiết các tuyến cột treo cáp, các tuyến cống bể của từng trạm để tiện quản lý, từ đó xử lý nhanh được những hư hỏng trên mạng. Thực hiện tương đối tốt theo quy định 119, tận dụng năng lực mạng lưới và có hướng đầu tư mới để đáp ứng việc phát triển thuê bao.
    • Đối với tình hình an toàn mạng lưới : Tuy trong năm xảy ra nhiều vụ trộm căp cáp, điển hình có 12 vụ trộm cắp cáp chủ yếu thuộc khu vực huyện Định Quán có chiều hướng gia tăng do giá kim loại đồng tăng, kẻ gian trộm cắp cáp lấy lõi đồng bán phế liệu. Các vụ việc xảy ra nằm trên địa bàn đường vắng, đường rẫy, trong khu vực khu công nghiệp vắng người chưa khai thác. VTĐN đã tăng cường các biện pháp ngăn chặn, lắp đặt các thiết bị giám sát và phối hợp với lực lượng công an để truy tìm xử lý. Nhìn chung, trong năm qua VTĐN đã đảm bảo được thông tin liên lạc phục vụ cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp và khách hàng trên địa bàn.Đối với công tác đầu tư – xây dựng cơ bản, các công trình phân cấp đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng . Tất cả các công trình thi công đều được giám sát chặt chẻ chất lượng, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ, nhanh chóng đưa công trình vào sử dụng và khai thác có hiệu quả.
      • Ngòai ra công tác an tòan lao động, phòng cháy chữa cháy và vệ sinh công nghiệp cũng được VTĐN thực hiện tốt nhằm đảm bảo hiệu quả làm việc và chất lượng của dịch vụ. Công tác ATLĐ, PCCN, Vệ sinh công nghiệp đã được tổ chức triển khai đến CBCNV trong đơn vị về công tác an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, về an toàn khi tham gia giao thông. Phối hợp với Công đoàn bộ phận tập huấn, hướng dẫn thực hiện các tiêu chuẩn, quy định, biện pháp an toàn lao động, nhất là đối với bộ phận kỹ thuật, công nhân dây máy.  VTĐN đã phối hợp với các trung tâm trực thuộc tổ chức huấn luyện bảo hộ lao động cho  cán bộ công nhân viên. VTĐN cũng đã thực hiện xây dựng phương án PCCC, quy chế hoạt động an toàn vệ sinh viên, phương án phòng chống bảo lụt; xây dựng kế hoạch bảo hộ lao động và trang cấp hai đợt về phương tiện bảo vệ cá nhân bao gồm : Nón cứng, giày vải, dép xốp, túi đựng dụng cụ, găng tay, dây an toàn, nón bảo hộ mô tô, áo đi mưa, xà bông. Mạng lưới ATVSV tại các tổ, trạm phối hợp với tổ trưởng chuyên môn, Công đoàn hoạt động có hiệu quả, tổ chức triển khai phổ biến kịp thời các văn bản về ATVSLĐ đến CBCNV cùng thực hiện; Hàng tháng, hàng quý thực hiện tự kiểm tra, chấm điểm theo quy định, có biên bản kiểm tra, mở sổ theo dõi đầy đủ, xử lý tồn tại tại các trạm. Nhìn chung công tác ATLĐ – PCCN được đảm bảo, công tác vệ sinh công nghiệp được chú trọng, các tổ trạm tổ chức vệ sinh xung quanh cơ quan sạch sẽ, tạo cảnh quan môi trường sạch đẹp.

    CHƯƠNG III: KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MARKETING TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG NAI

    1. Các yếu tố của Marketing – mix của dịch vụ Internet

    • Sản phẩm
      • Dịch vụ Internet 1260: Dịch vụ Internet 1260 là dịch vụ kết nối vào mạng Internet-VNN để sử dụng các dịch vụ truy cập trang Web, thư điện tử (E-mail), truyền tệp dữ liệu (FTP), truy cập từ xa (Telnet), và các dịch vụ thông dụng khác trên mạng Internet. Khi đăng ký thuê bao khách hàng được cấp 1 account truy cập và 1 địa chỉ hộp thư điện tử. Truy cập trên toàn quốc với số điện thoại duy nhất là 1260. Tốc độ truy cập Internet cao nhất hiện nay (56KBPS). Số cổng kết nối nhiều nhất tại Việt nam và liên tục được mở rộng, giúp khách hàng dễ dàng khi kết nối vào Internet qua mạng VNN. Thanh toán cước thuận tiện theo hóa đơn điện thoại hoặc hóa đơn riêng.Áp dụng nhiều biện pháp bảo vệ mã truy cập Internet (password ) cho khách hàng.Hỗ trợ kỹ thuật đa năng và hiệu quả : Tư vấn, hướng dẫn khách hàng trực tiếp tại nhà, qua điện thoại, qua email, trên trang Web. Chi phí sử dụng :Không cước hòa mạng, Cước thuê bao : Miễn cước thuê bao,Cước truy cập : Không bao gồm cước điện thoại nội hạt và chưa bao gồm 10% VAT
      • Dịch vụ Internet 1260-P: Dịch vụ Internet 1260-P là dịch vụ truy cập Internet trả tiền trước của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông cho phép sử dụng các dịch vụ Internet thông qua mạng điện thoại công cộng trên phạm vi toàn quốc theo phương thức khách hàng trả tiền trước. Thủ tục đơn giản ,sử dụng thuận tiện, dễ dàng , thuê bao có thể kiểm soát được cước sử dụng. Dịch vụ không cước hòa mạng, không cước thuê bao hàng tháng, dễ dàng thanh toán cho người thân, người có chế độ trong công ty qua phương thức nạp tiền từ thẻ vào tài khoản. Giá truy cập rẻ và  có  nhiều công cụ bảo vệ password tin cậy và linh động.
      • Dịch vụ Internet 1268 – 1269: Dịch vụ Internet 1268 – 1269 Dịch vụ Gọi VNN là dịch vụ truy nhập Internet gián tiếp tính cước theo số điện thoại truy nhập với mật khẩu chung công khai.
      • Dịch vụ MegaVNN:Dịch vụ MegaVNN là dịch vụ truy nhập Internet băng rộng qua mạng VNN do Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) cung cấp, dịch vụ này cho phép khách hàng truy nhập Internet với tốc độ cao dựa trên công nghệ đường dây thuê bao số bất đối xứng ADSL. Tốc độ là 2Mbps cho đường tải dữ liệu xuống và 640Kbps cho đường đưa dữ liệu lên mạng phù hợp hơn với người sử dụng phải thường xuyên khai thác thông tin trên Internet. Công nghệ ADSL có thể phục vụ cho các ứng dụng đòi hỏi phải truy cập Internet với tốc độ cao như: Giáo dục và đào tạo từ xa, xem video theo yêu cầu, trò chơi trực tuyến, nghe nhạc, hội nghị truyền hình… Tốc độ là 2Mbps cho đường tải dữ liệu xuống và 640Kbps cho đường đưa dữ liệu lên mạng phù hợp hơn với người sử dụng phải thường xuyên khai thác thông tin trên Internet. Công nghệ ADSL có thể phục vụ cho các ứng dụng đòi hỏi phải truy cập Internet với tốc độ cao như: Giáo dục và đào tạo từ xa, xem video theo yêu cầu, trò chơi trực tuyến, nghe nhạc, hội nghị truyền hình…Tránh được tình trạng vẫn phải trả cước khi quên ngắt kết nối.Không tín hiệu bận, không thời gian chờ. Vẫn có thể nhận và gọi điện thoại khi đang truy nhập Internet. Tránh được tình trạng vẫn phải trả cước khi quên ngắt kết nối.Không tín hiệu bận, không thời gian chờ. Vẫn có thể nhận và gọi điện thoại khi đang truy nhập Internet. Giá rẻ, dùng đến đâu trả đến đó. Vẫn có địa chỉ Email.
      • Dịch vụ VNN-Roaming: Dịch vụ VNN-Roaming là dịch vụ truy nhập Internet chuyển vùng quốc tế. Được sự cho phép của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) là ISP đầu tiên tại Việt Nam hợp tác với mạng Internet toàn cầu iPass và Gric cung cấp dịchvụ Internet chuyển vùng quốc tế : VNN – Roaming. Với dịch vụ VNN-Roaming khi khách hàng đăng ký một tài khoản VNN1260 và dịch vụ Roaming, khách hàng có thể sử dụng tài khỏan này truy nhập Internet tại hơn 150 nước trên thế giới khi đang đi công tác hoặc tạm trú ở nước ngòai. Truy nhập nội hạt với chất lượng kết nối mạng tốt hơn, tránh được việc ngắt quãng trong việc truy nhập đường dài. Chỉ cần duy trì 01 account Internet với 1 ISP có thể truy nhập Internet tại hơn 150 nước trên thế giới. Khách hàng vẫn giữ nguyên địa chỉ hộp thư VNN. Tiết kiệm chi phí từ 70% đến 90% so với những cuộc truy nhập đường dài.Đối tượng sử dụng: Là các thuê bao VNN1260 có đăng ký sử dụng dịch vụ VNN-Roaming.
    • Giá cả: Giá cả là yếu tố duy nhất trong Marketing – mix tạo ra thu nhập, còn các yếu tố khác thì tạo nên giá thành. Giá cả cũng là một trong những yếu tố linh hoạt nhất của Marketing – mix, trong đó nó có thể thay đổi nhanh chóng. Chiến lược về giá đóng vai trò quan trọng, ngoài việc nó liên quan đến lợi ích của khách hàng, nó còn mang ý nghĩa quan trọng đối với cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay. Thị trường dịch vụ Internet hiện nay có 5 nhà khai thác gồm: VNPT, FPT, Viettel, EVNTelecom và Netnam. Chỉ có duy nhất VNPT bị khống chế không được tự quyết định giá vì là doanh nghiệp có thị phần khống chế. Còn lại các doanh nghiệp khác đều được tự quyết định giá. Hiện tại VNPT là nhà khai thác có mức cước cao nhất.
    • Kênh phân phối: Hệ thống phân phối của Viễn Thông Đồng Nai bao gồm 1 Trung tâm dịch vụ khách hàng, 5 trung tâm viễn thông ,1 trung tâm tin học. Hệ thống phân phối nhìn chung còn thụ động và chậm trễ trong công tác triển khai kế hoạch thực hiện khuyến mãi, ít thu hút được thuê bao trong suốt thời gian tổ chức khuyến mãi. Khó khăn của hệ thống phân phối của Viễn Thông Đồng Nai là các trung tâm mới được thành lập và các công tác quản lý đang được tiến hành bàn giao sau khi chia tách Viễn thông khỏi Bưu Điện Tỉnh Đồng Nai.
      • Xúc tiến: Để thu hút khách hàng, Viễn Thông Đồng Nai đã triển khai những chương trình quảng cáo và khuyến mãi hấp dẫn:
        • Khuyến mãi : thực hiện các chương trình tặng cước đấu nối hoà mạng dịch vụ Mega VNN/ADSL mang tên như: “Chào 2008” và “Nối tiếp niềm vui cùng Viễn thông Đồng Nai” cho khách hàng, trong đó bao gồm: Tặng 100% cước đấu nối hoà mạng trong trường hợp khách hàng lắp đặt Mega VNN trên đường dây có sẵn; tặng 50% cước đấu nối hoà mạng trong trường hợp khách hàng lắp đặt Mega VNN trên đôi cáp riêng; Tặng 1 modem ADSL. Trong trừơng hợp khách hàng hoà mạng Mega VNN đồng thời với điện thoại cố định trên đôi cáp riêng (đường dây mới), khách hàng được khuyến mãi: 50% cước đấu nối hoà mạng Mega VNN; 1 modem ADSL; 1 máy điện thoại cố định để bàn trị giá tối đa 100000 đồng/máy.
          • Quảng cáo: tổ chức tuyên truyền trên Website Viễn Thông Đồng Nai, Đài Truyền Hình Đồng Nai; treo bandroll tại các trạm viễn Thông và tại các Trung Tâm; kết hợp với hệ thống bưu điện trong địa bàn phát tờ rơi tại nhà kèm với các sản phẩm bưu chính : báo chí, bưu phẩm… Bên cạnh đó Viễn thông Đồng Nai cũng đã cố gắng trong công tác giới thiệu, quảng bá hình ảnh VNPT ,các dịch vụ viễn thông – CNTT mà Viễn thông Đồng Nai đang cung cấp trong việc tham gia hội chợ “Khuyến mại Đồng Nai”. Nhìn chung Viễn thông Đồng Nai đã triển khai được nhiều chương trình quảng cáo, tiếp thị đạt hiệu quả. Đơn vị đã có nhiều nổ lực trong việc tự làm mới mình nhằm thu hút thêm nhiều khách hàng. Tuy nhiên bên cạnh đó thời gian thực hiện quảng cáo, tiếp thị không dài nên chưa gây được nhiều ấn tượng cho khách hàng. Các chương trình khuyến mãi thường bị trùng lắp đã tạo sự hạn chế cho đơn vị tiếp cận khách hàng
        • Con người: Yếu tố con người luôn được Viễn Thông Đồng Nai chú trọng quan tâm. Tính đến 31/12/2007 tổng số cán bộ mà Viễn thông hiện có là 1.949 người. Trong đó lao động nam  là 1.127 người, lao động nữ  là 822 người. Viễn thông Đồng Nai luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ nâng cao trình độ. Bên cạnh đó Viễn thông Đồng Nai còn vận động cán bộ- công nhân viên thi đua phấn đấu hoàn thành chương trình công tác quản lý nhà nước và các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở việc làm với năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ năm 2003 đến nay, hàng năm đều có tốc độ tăng trưởng từ 10-12% doanh thu, Viễn thông Đồng Nai đã tham gia với Chuyên môn xây dựng quy chế phân phối thu nhập cho người lao động đảm bảo được mức thu nhập năm sau cao hơn năm trước; thu nhập bình quân trong 5 năm qua là 3 triệu đồng/tháng/người. Từ thu nhập đó đời sống cán bộ- công nhân viên chức giữ được ổn định và từng bước được cải thiện, ổn định được cuộc sống ngày càng tốt hơn. Ngoài ra, Viễn thông Đồng Nai cũng chú trọng phần nào đến công tác chăm sóc đời sống tinh thần cho các CB-CNVC như tổ chức các hội thao, các đêm diễn văn nghệ…
        • Cung ứng sản phẩm dịch vụ: Để tạo điều kiện phục vụ tốt nhất cho khách hàng, bên cạnh các thủ tục đăng ký dịch vụ truyền thống, Viễn thông Đồng Nai còn có thêm thủ tục đăng ký dịch vụ trực tuyến trên mạng thông qua website, việc đăng ký này được phối hợp chặt chẽ với website Bưu điện Đồng Nai.Ngoài ra Viễn thông Đồng Nai còn xây dựng hệ thống quản lý khách hàng phù hợp. Mỗi trung tâm Viễn thông được chủ động trong việc quản lý các cơ sở dữ liệu. Các đơn vị này có trách nhiệm theo dõi, quản lý những thông tin về nhu cầu sử dụng dịch vụ, các thông tin liên quan để phục vụ công tác tiếp thị và chăm sóc khách hàng, cung ứng dịch vụ một cách kịp thời
        • Điều kiện vật chất: Nhìn chung cơ sở vật chất tại Viễn thông Đồng Nai được đầu tư khá tốt, các bảng hiệu pano, bandroll đều được thống nhất về hình ảnh cả về màu sắc ứng với màu của ngành. Bên cạnh đó đơn vị cũng đã xúc tiến việc may đồng phục thống nhất cho các nhân viên của các trung tâm, các phòng ban trong đơn vị với màu chủ đạo là màu xanh truyền thống, nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và tạo sự gần gũi với khách hàng.
    1. Công tác nhận và giải quyết khiếu nại
      • Sự xuất hiện ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì công tác chăm sóc khách hàng càng được chú trọng. Hầu hết các hoạt động chăm sóc khách hàng là những chương trình liên quan đến sử dụng dịch vụ, giải quyết các vướng mắc, khiếu nại một cách nhanh nhất…Chăm sóc khách hàng là tất cả những gì mà một doanh nghiệp cần thiết phải làm để thoả mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Với mục tiêu nhằm đem lại sự hài lòng cho khách hàng về chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ thì việc hạn chế mức tối thiểu việc khiếu kiện của khách hàng là điều quan trọng đối với Viễn thông Đồng Nai. Chính vì thế việc giải quyết khiếu nại luôn phải kịp thời, tận  tình, hợp lý và triệt để, không để kéo dài quá thời gian quy định giải quyết khiếu nại ngành theo quyết định 05/2007/QĐ-BBCVT. Nhìn chung vấn đề khiếu nại của khách hàng tập trung chủ yếu vào giá cước và chất lượng của các dịch vụ viễn thông. Khách hàng có thể khiếu nại trực tiếp bằng miệng (kể cả qua điện thoại),  hoặc bằng đơn khiếu nại theo quy định hoặc bằng đơn khiếu nại trực tuyến trên Website Bưu điện Đồng Nai liên kết với Website Viễn thông Đồng Nai để yêu cầu bên cung cấp dịch vụ tiếp nhận khiếu nại
      • Vấn đề thời gian trong công tác khiếu nại là một trong những yếu tố mà khách hàng quan tâm. Do đó, thời gian khiếu nại về giá cước của dịch vụ Viễn thông và Internet là 1 tháng kể từ ngày nhận được thông báo hoặc hóa đơn thanh toán cước đầu tiên hoặc kể từ ngày thanh toán cước dịch vụ, về chỉ tiêu chất lượng dịch vụ và các vi phạm khác là 03 tháng kể từ ngày sử dụng dịch vụ hoặc xảy ra vi phạm. Thời gian giải quyết khiếu nại đối với dịch vụ viễn thông và Internet là 2 tháng kể từ ngày nhận được khiếu nại. Khi tiếp nhận khiếu nại của khách hàng, bên cung cấp dịch vụ phải có trách nhiệm cấp phiếu xác nhận đã tiếp nhận yêu cầu khiếu nại cho người khiếu nại. Trong trường hợp khiếu nại được gửi qua đường bưu điện thì trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đơn, bên cung cấp dịch vụ phải có văn bản thông báo cho người khiếu nại về việc đã tiếp nhận đơn khiếu nại. Trường hợp không tiếp nhận đơn, bên cung cấp dịch vụ cũng phải nêu rõ lý do từ chối.
      • Để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, bên cạnh việc phải tiếp nhận, xem xét và trả lời người khiếu nại theo thời hạn quy định và báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, việc hướng dẫn giải quyết tranh chấp tại Viễn thông Đồng Nai được thực hiện trên nguyên tắc dân chủ, khách quan, đảm bảo công bằng quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp. Không quá 2 ngày làm việc kể từ ngày có ý kiến của người khiếu nại về kết quả giải quyết khiếu nại, bên cung cấp dịch vụ phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về diễn biến vụ khiếu nại, kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu của doanh nghiệp (nếu có), kết quả giải quyết khiếu nại theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước và ý kiến của người khiếu nại về kết quả giải quyết khiếu nại.

    PHẦN IV: NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH MARKETING VÀ NHỮNG  ĐỀ XUẤT

    1.     Nhận xét

    • Viễn thông Đồng Nai đã liên tục có các đợt quảng cáo, khuyến mãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng như Tivi- báo đài, tiến hành treo các bảng pano, bandroll quảng cáo ngòai trời… Đây được xem như một công cụ rất hiệu quả trong cạnh tranh, tạo nên phong cách của Viễn thông Đồng Nai trong mắt người tiêu dùng khi tiềm lực kinh tế cũng như khả năng cạnh tranh của hai đối thủ xấp xỉ nhau, không có sự vượt trội hẳn. Với việc khai thác lợi thế về vốn, nhân lực và kênh phân phối truyền thống có sẵn, Viễn thông Đồng Nai đã khẳng định thương hiệu của mình trong mắt người tiêu dùng, chứng tỏ sức mạnh của mình trước đối thủ cạnh tranh. Nhìn chung chiến lược Marketing tại Viễn thông Đồng Nai đã bám sát đối thủ cạnh tranh, học hỏi các kinh nghiệm đối tác trong các chiến lược kinh doanh, huấn luyện đội ngũ nhân viên năng động,xem khách hàng là người bạn thân thiết, là người trả lương cho mình…Dưới đây là kết quả khảo sát và đánh giá tình hình Marketing mà Viễn thông Đồng Nai để cho chúng ta thấy rõ việc ứng dụng Marketing vào họat động kinh doanh của đơn vị. Dưới sức ép hội nhập và sức ép tăng trưởng trong ngành viễn thông nói chung và dịch vụ Internet nói riêng như:
    • Doanh thu : tăng bình quân 10%/năm
    • Doanh thu năm 2010: 3.7 tỷ $
    • Tổng vốn đầu tư 2006-2010: 3.9tỷ $
    • Phát triển mới 21 triệu thuê bao điện thoại
    • Phát triển 5 triệu thuê bao Internet
    • Phóng vệ tinh lên quỹ đạo vào năm 2008

    (Nguồn _ P.KH-KD )

    • Viễn thông Đồng Nai đã đề ra những chiến lược nhằm phát triển khách hàng của mình. Đối với từng nhóm khách hàng, Viễn thông Đồng Nai đã có những chiến lược riêng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Nhìn chung, chiến lựơc hiện nay của Viễn Thông Đồng Nai là đẩy mạnh các nhóm khách hàng . Việc phân chia thị trừơng ra từng nhóm thị trường khác nhau với nhu cầu sử dụng khác nhau sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng định hướng được các chiến lược của mình sao cho có thể mang lại sự phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. Viễn thông Đồng Nai đã tiến hành phân khúc dựa vào các loại hành vi như: hành vi sử dụng, hành vi thanh toán/trả chậm, hành vi bảo trì…Việc phân khúc này giúp cho đơn vị có những hành động nhất quán. Khách hàng của Viễn Thông Đồng Nai là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về dịch vụ BCVT – CNTT đã, đang và sẽ sử dụng dịch vụ của Viễn Thông Đồng Nai. Nhìn chung khách hàng của đơn vị đa dạng và được phân thành các loại như sau: khách hàng đặc biệt, khách hàng là nhà khai thác, khách hàng doanh nghiệp đặc biệt, khách hàng lớn, khách hàng vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Hiện nay thị trường mục tiêu của Viễn Thông Đồng Nai là các khách hàng lớn. Đặc điểm của nhóm khách hàng này là những khách hàng đã trực tiếp ký hợp đồng sử dụng dịch vụ với đơn vị, thanh toán cước phí đầy đủ. Các khách hàng này thường là những cơ quan tổ chức hoặc các doanh nghiệp có quy mô lớn.
    • Ngoài ra Viễn Thông Đồng Nai cũng đang mở rộng thị trường của mình khi nhắm tới các khách hàng như nhóm khách hàng tiềm năng, khách hàng là cá nhân, hộ gia đình.. trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Những nhóm khách hàng này có nhu cầu về dịch vụ Internet ngày càng cao. Đây có thể đựơc xem là một thị trường mới hấp dẫn cho Viễn Thông Đồng Nai. Dịch vụ Internet tại tỉnh Đồng Nai hiện nay đang từng bước phát triển, Viễn Thông Đồng Nai vẫn có ưu thế trong lĩnh vực kinh doanh này, khi các đối thủ khác vẫn tập trung phát triển mạnh tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, Viễn thông Đồng Nai đang là nhà cung cấp chính loại hình dịch vụ này cho các cơ quan chủ chốt của tỉnh.

    1.1.          Những thành quả đạt đựơc

    • Với việc xây dựng chiến lược Marketing cho các dịch vụ viễn thông nói chung và dịch vụ Internet nói riêng, Viễn thông Đồng Nai đã thu hút một lượng lớn khách hàng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu về thông tin Internet cho khách hàng. Chất lượng của dịch vụ ngày càng một tăng cao. Trong 5 năm qua mạng lưới dịch vụ viễn thông cùng với mạng lưới bưu chính trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hoạt động ổn định, đảm bảo phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của Đảng, nhà nước, chính quyền các cấp, phục vụ yêu cầu sử dụng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội…
    • Bên cạnh đó Viễn thông Đồng Nai đã tiếp tục đổi mới công nghệ và hiện đại hoá mạng lưới Viễn thông với tốc độ phát triển mạnh mẽ sâu rộng. Lắp đặt thêm tổng đài, tăng dung lượng số, phát triển mạng cáp, mở rộng mặt bằng sản xuất, trang bị thêm phương tiện làm việc, đặc biệt với việc nắm bắt kịp thời nhu cầu của khách hàng đơn vị đã mở thêm các dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng. Các đợt khuyến mãi được mở ra khá đa dạng, và với các chính sách chăm sóc khách hàng cho từng nhóm  khách hàng riêng biệt đã giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời nhu cầu của khách hàng, đơn vị đã mở thêm các dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng. Doanh thu của đơn vị qua các năm đều tăng. Uy tín của Viễn Thông Đồng Nai ngày được củng cố và phát triển

    1.2.           Những mặt còn tồn tại và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tồn tại này

    • Song song với những thành quả mà Viễn thông Đồng Nai đạt được vẫn còn những mặt tồn tại sau: Viễn Thông Đồng Nai vừa mới thực hiện hoàn chỉnh việc chia tách và trong bối cảnh hiện nay thị trường đang bị cạnh tranh gay gắt nhiều doanh nghiệp khác cùng kinh doanh dịch vụ viễn thông, đồng thời liên tục giảm giá cước các dịch vụ viễn thông dẫn đến việc thị phần bị chia sẻ, ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện kế hoạch hàng năm. Công tác chăm sóc khách hàng chưa được quan tâm đúng mức vì vẫn còn một số cán bộ công nhân viên chức chưa thật sự thay đổi cách nghĩ, cách làm.
    • Bên cạnh đó tình hình đội ngũ cán bộ- công nhân viên đã có hiện tuợng “chảy máu chất xám”, một số cán bộ- công nhân viên bỏ ngành sang công tác khác. Việc đầu tư, mở rộng các pha ADSL, mở rộng mạng cáp, lắp đặt tổng đài còn chậm trễ chưa đáp ứng được nhu cầu về dịch vụ. Công tác quảng bá, tiếp thị còn chậm trễ, thời gian tổ chức khuyến mãi của Viễn thông Đồng Nai thường chậm hơn so với thời gian quy định của Tập đoàn. Các chương trình khuyến mại vẫn chưa áp dụng rộng rãi vì còn có những khu vực thiếu cổng ADSL. Chưa có chương trình khuyến mãi riêng cho dịch vụ Internet, đa phần hiện nay chương trình khuyến mãi của dịch vụ này được lồng ghép với các chương trình khuyến mãi của dịch vụ điện thoại.Thời gian giải quyết khiếu nại của khách hàng còn chậm trễ. Việc đáp ứng nhu cầu về dịch vụ của khách hàng còn chậm
    1. Đề xuất ý kiến
      • Trước khó khăn và tồn tại trước mắt, tôi xin đề xuất ý kiến như sau:
    • Các đơn vị trực thuộc Viễn thông Đồng Nai nên chủ động hơn trong công tác quảng cáo, tiếp thị đến khách hàng.
    • Đối với những khu vực thiếu cổng ADSL, đơn vị nên có kế hoạch mở rộng dung lượng để đáp ứng cung cấp dịch vụ trong thời gian tới. Đồng thời thu thập đầy đủ thông tin về khách hàng và thông tin ưu tiên lắp đặt cho khách hàng khi đủ điều kiện
    • Đơn vị nên phát động thi đua thực hiện tốt công tác chăm sóc khách hàng trước, trong và sau khi đưa sản phẩm, dịch vụ ra bán. Nêu cao tinh thần phục vụ “ Tất cả vì khách hàng”, không để khách hàng phàn nàn hay than phiền. Đơn vị cần hòan thiện các chính sách chăm sóc từng đối tượng khách hàng. Chính sách cần theo hướng mở, tăng quyền quyết định cho các đơn vị cơ sở trực thuộc.
    • Bên cạnh đó, nhằm tạo sự tiện lợi cho khách hàng, Viễn thông Đồng Nai nên tạo thêm nhiều kênh thanh tóan cước cho khách hàng như thu cước tại nhà, ATM…
    • Yếu tố con người đóng vai trò khá quan trọng trong chiến lược xây dựng Marketing của đơn vị, chính vì thế đơn vị cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đề ra biện pháp thu hút được lực lượng lao động có chất lượng cao đủ khả năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và theo hướng phát triển của tập đoàn trong giai đoạn hội nhập phát triển.
    • Đơn vị cần phải thực hiện phong cách văn minh Bưu điện, tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông trên địa bàn.
    1. Kiến nghị
      • Trước xu thế cạnh tranh của thị trường hiện nay, việc xây dựng chiến lược Marketing hợp lý là một vấn đề mà các doanh nghiệp cần chú ý, nhất là đối với những ngành dịch vụ như viễn thông. Các chiến lược Marketing này phải đồng nhất trong một hệ thống để từ đó mang lại hiệu quả cao trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đảm bảo sự phát triển bền vững cho Viễn thông. Chính vì thế VNPT cần phải có những giải pháp mới, cụ thể và đồng nhất trong họat động Marketing như sau:
      • VNPT nên có chính sách xây dựng về giá hợp lý
      • VNPT cần đầu tư, xây dựng mạng lưới theo hướng đồng bộ, hiện đại, độ an toàn cao để có thể đáp ứng mọi nhu cầu khách hàng
      • Cần phải nhanh chóng đầu tư, xây dựng hệ thống chăm sóc khách hàng hiện đại, có sự hỗ trợ mạnh mẽ của Công nghệ thông tin
      • Tổ chức lại sản xuất theo hướng phân công, phân nhiệm rõ ràng.
      • Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phù hợp với tình hình mới.
      • Đẩy mạnh tiếp thị trực tiếp, bán hàng qua mạng, thương mại điện tử.
      • Thường xuyên tổ chức các hội nghị khách hàng, để nắm bắt nhu cầu thiết thực của khách hàng.
      • Rút ngắn thời gian khiếu nại và giảm thời gian xử lý sự cố đến mức thấp nhất cho khách hàng.
    2. Kết luận
      • Marketing là công cụ quan trọng giúp rút ngắn khoảng cách giữa doanh nghiệp và khách hàng. Mọi hoạt động thực tiễn của Marketing có ảnh hưởng lớn tới con người khi họ ở cương vị là người mua, người bán và người dân thường. Mục tiêu của Marketing hướng tới là làm sao đạt được mức tiêu dùng cao nhất, đạt được mức độ thoả mãn người tiêu dùng cao nhất, dành cho người tiêu dùng quyền lựa chọn lớn nhất. Họat động kinh doanh trong lĩnh vực Viễn thông cũng chính là họat động kinh doanh dịch vụ. Chính vì thế Viễn thông Đồng Nai cần phải có một chiến lược riêng trong việc đưa “sản phẩm” đến khách hàng, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Nắm bắt nhu cầu của khách hàng nhanh chóng kịp thời sẽ giúp cho đơn vị hiểu được khách hàng cần gì, bên cạnh đó cũng giúp đơn vị biết được cách đơn vị đáp ứng nhu cầu đó ra sao. Từ đó góp phần cho sự phát triển bền vững và lâu dài cho Viễn thông Đồng Nai trên con đường hội nhập với công nghệ Viễn thông thế giới.

    DANH SÁCH CÁC BẢNG

    1. Bảng 2.1: Bảng tình hình kế hoạch – thực hiện của Viễn Thông Đồng Nai qua các năm_Nguồn :P.KT-TK-TC
    2. Bảng 2.2: Bảng tình hình thực hiện doanh thu qua các năm tại Viễn Thông Đồng Nai_Nguồn: P.KT-TK-TC
    3. Bảng 2.3: Thống kê doanh thu của dịch vụ Internet qua các năm tại Trung Tâm Viễn Thông 4 – Viễn Thông Đồng Nai_Nguồn: P.KT-TK-TC
    4. Bảng 2.4: Thống kê số lượng thuê bao dịch vụ Internet qua các năm tại Trung Tâm Viễn Thông 4 – Viễn Thông Đồng Nai_Nguồn: P.KT-TK-TC
    5. Bảng 2.5: Bảng chỉ tiêu chất lượng dịch vụ kết nối Internet _Nguồn: vnpt.com.vn
    6. Bảng 2.6: Hệ thống mạng DSLAM tại Trung Tâm Viễn Thông 4- Viễn Thông Đồng Nai_Nguồn: P. Đầu tư và Quản lý mạng

    Các từ viết tắt:

    –&—

    1. TCP Transmission Control Protocol          Giao thức điều khiển truyền dẫn
    2. IP Internet Protocol                                  Giao thức liên mạng
    3. DSLAM DSL Access Multiplexer                       Là một phần thíêt bị được đặt tại tổng đài địa phương, dùng kết nối các đường dây từ  phía khách hàng
    4. ADSL Asymmetrical Digital Subcriber Line 

                                                                                               Là khả năng truy nhập Internet tốc độ cao thông qua đường dây thuê bao hoặc đường cáp riêng

    1. VNPT Viet Nam  Posts and Telecommunications

                                                                                                                Tập đòan Bưu chính – Viễn thông Việt Nam.

    1. CB – CNVC Cán bộ công nhân viên chức
    2. ATLĐ An toàn lao động
    3. PCCC Phòng cháy chữa cháy
    4. ATVSV An toàn vệ sinh viên
    5. ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
    6. VTĐN Viễn Thông Đồng Nai

    Phụ lục

                                     Tên Gói

     

    Mô tả

    Mega Easy Mega Family Mega Extra Mega Maxi
    1.Tốc độ kết nối        
    Tốc độ tối đa (Download/Upload) 1024Kbps/

     

    512Kbps

    1536Kbps/

     

    512Kbps

    2048Kbps/

     

    512Kbps

    3072Kbps/

     

    640Kbps

    Tốc độ tối thiểu (Download/Upload)
    2.Mức cước        
    Cước thuê bao tháng 24000
    đồng/tháng
    35000
    đồng/tháng
    82000
    đồng/tháng
    165000
    đồng/tháng
    Cước 01 Mbyte theo lưu lượng sử dụng gửi và nhận 48 đồng 48 đồng _6000 Mbyte đầu:55 đồng
    _các Mbyte tiếp theo:41 đồng
    _6000 Mbyte đầu:55 đồng
    _các Mbyte tiếp theo:41 đồng
    Cước trần: tổng cước thuê bao tháng và cước sử dụng không vượt quá 300000
    đồng/tháng
    450000
    đồng/tháng
    700000
    đồng/tháng
    1100000
    đồng/tháng
    Cước trọn gói (trả luôn 1 lần hàng tháng để sử dụng dịch vụ không hạn chế, không phụ thuộc vào lưu lượng) 250000
    đồng/tháng
    350000
    đồng/tháng
    550000
    đồng/tháng
    900000
    đồng/tháng
    Địa chỉ IP IP động IP động IP động IP động

    Giá cươc dịch vụ Mega-VNN

                                    Tên gói

     

    Mô tả                                     

    Mega Maxi + Mega Pro Mega
    For Game
    Mega
    Dreaming
    1.Tốc độ kết nối        
    Tốc độ tối đa (Download/Upload) 3072Kbps/
    640Kbps
    4096Kbps/
    640Kbps
    6Mbps/
    640Kbps
    8Mbps/
    640Kbps
    Tốc độ tối thiểu (Download/Upload)
    2.Mức cước        
    Cước thuê bao tháng 300.000
    đồng/tháng
    500.000
    đồng/tháng
    600.000
    đồng/tháng
    2.000.000
    đồng/tháng
    Cước 01 Mbyte theo lưu lượng sử dụng gửi và nhận _6000Mbyte đầu tiên:
    50 đồng
    _6000Mbyte tiếp theo:
    45 đồng
    _Các Mbyte tiếp theo:
    40 đồng
    40 đồng 45 đồng _10Gbyte đầu tiên:
    450 đồng
    _Các Gbyte tiếp theo:
    350 đồng
    Cước trần: tổng cước thuê bao tháng và cước sử dụng không vượt quá 1818181
    đồng/tháng
    2272727
    đồng/tháng
    3000000
    đồng/tháng
    15000000
    đồng/tháng
    Cước trọn gói (trả luôn 1 lần hàng tháng để sử dụng dịch vụ không hạn chế, không phụ thuộc vào lưu lượng) 1454454
    đồng/tháng
    1818181
    đồng/tháng
    2500000
    đồng/tháng
    10000000
    đồng/tháng
    Địa chỉ IP Miễn phí
    1 địa chỉ IP tĩnh
    Miễn phí
    1 địa chỉ IP tĩnh
    IP động Miễn phí
    8 địa chỉ IP tĩnh

    Giá cước dịch vụ VNN1260 và VNN 1260-P

    Đơn vị tính : đồng/phút

    Thời gian sử dụng của thuê bao trong tháng Đến 5 giờ Từ trên 5 giờ đến 10 giờ Từ trên 10 giờ đến 20 giờ Từ trên 20 giờ đến 35 giờ Từ trên 35 giờ đến 50 giờ Trên 50 giờ
    Mức cước 153 128 102 85 60 40
    • Cấu trúc cước theo gói thời gian sử dụng dịch vụ.
    Gói cước Mức Cước Gói (đồng) Số giờ sử dụng miễn phí trong gói (giờ) Đơn giá cho mỗi phút sử dụng tiếp theo ngoài số giờ miễn phí (đ/phút)
    Basic 20.000 3 107
    Standard 50.000 8 100
    Gold 100.000 18 93
    Silver 150.000 28 85
    • Mệnh giá thẻ và thời lượng truy nhập dịch vụ VNN1260-P :
    STT Mệnh giá  Thời lượng
    truy nhập (giờ)
    Thời hạn
    hiệu lực
    1 30.000 đồng 5 50 ngày
    2 50.000 đồng 10 50 ngày
    3 100.000 đồng 21 500 ngày
    4 200.000 đồng 43 500 ngày
    5 300.000 đồng 79 500 ngày
    6 500.000 đồng 169 500 ngày
    7 1.000.000 đồng 370 500 ngày

    Giá cước sử dụng dịch vụ Internet 1268 – 1269  

    1. VNN1268
    • Cước thuê bao: không thu
    • Cước truy nhập VNN1268: 20đ/ phút
    1. VNN1269

      a . Cước thuê bao: Không thu cước thuê bao dịch vụ VNN1269.

    1. Cước truy nhập.

    Đơn vị tính : đồng/phút

    Thời gian sử dụng của thuê bao trong tháng Đến 5 giờ Từ trên 5 giờ đến 15 giờ Từ trên 15 giờ đến 30 giờ Từ trên 30 giờ đến 50 giờ Trên 50 giờ
    Mức cước 128 111 85 60 40

    Bảng  cơ cấu lao động và trình độ nhân viên tại Viễn thông Đồng Nai

    Trình độ Số lao động (người) Tỷ lệ (%)
    Trên đại học 5 0.3%
    Đại học, cao đẳng 445 22.8
    Trung cấp 400 20.5
    Công nhân 1027 52.7
    Lao động khác 72 3.7
    TỔNG CỘNG 1949 100

    Phiếu yêu cầu cung cấp dịch vụ Internet Gián tiếp (MegaVnn) trực tuyến_Nguồn: www.donapt.com.vn

    Mẫu đơn khiếu nại trực tuyến _ Nguồn: www.donapt.com.vn

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    –¯—

    1. Marketing Căn Bản – TS. Phan Thăng
    2. Marketing dịch vụ viễn thông trong hội nhập và cạnh tranh – NXB Bưu điện ( Năm 2002 )
    3. Chiến lược thành công trong thị trường Viễn thông cạnh tranh – NXB Bưu điện ( Năm 2004)
    4. Các dịch vụ viễn thông của tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam – NXB Bưu điện ( Năm 2005 )
    5. Nghiên cứu thị trường giải mã nhu cầu khách hàng – NXB Trẻ ( Năm 2004)
    6. vnpt.com.vn
    7. donapt.com.vn
    8. dnitc.vn
    9. nhantrachoc.net.vn
    10. fpt.com.vn
    11. viettel.com.vn

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Phân tích mối liên hệ giữa thị trường vốn với các thị trường bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ

    Đồ án Phân tích mối liên hệ giữa thị trường vốn với các thị trường bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ

    Đồ án Phân tích mối liên hệ giữa thị trường vốn với các thị trường bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Kế toán ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-m%E1%BB%91i-li%C3%AAn-h%E1%BB%87-gi%E1%BB%AFa-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-v%E1%BB%91n-v%E1%BB%9Bi-c%C3%A1c-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-v%C3%A0ng-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Phân tích mối liên hệ giữa thị trường vốn với các thị trường bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ

    LỜI CẢM ƠN

    Để hoàn thành được bài báo cáo này, không chỉ nhờ vào sự nổ lực của từng thành viên trong nhóm mà còn nhờ vào sự giúp đỡ của rất nhiều người.

    Lời đầu tiên nhóm chúng em xin gửi lời cám ơn chân thành đến thầy Trần Linh Đăng chủ nhiệm bộ môn “Tài chính tiền tệ”. Thầy đã tận tình truyền đạt kiến thức và hướng dẫn kĩ càng trong quá trình học tập. Bên cạnh đó thầy luôn cập nhật đầy đủ mọi thông tin học tập trên trang web của thầy để chúng em có thể tiện theo dõi nắm kỹ hơn về bài học. Từ những kiến thức, sự hướng dẫn tận tình và những tài liệu mà thầy cung cấp đã giúp nhóm chúng em hoàn thành tốt bài báo cáo này.

    Ngoài ra, nhóm chúng em cũng muốn gửi lời cám ơn đến các anh chị bộ phận trực thư viện đã hướng dẫn và giúp chúng em tìm được tài liệu cần tham khảo một cách nhanh chóng nhất.

    Và cuối cùng là lời cảm ơn của chúng em gửi đến nhà trường đã tạo điều kiện cho chúng em tiếp xúc với môn học này, điều ấy đã làm tăng vốn kiến thức và là hành trang cho chúng em cho công việc sau này. Hơn nữa, qua bài báo cáo này chúng em có cơ hội để hiểu sâu bài học hơn nhờ việc tự nghiên cứu tài liệu để hoàn thành bài báo cáo này.

    Chúng em xin chân thành cám ơn!

    4

    NỘI DUNG

    A.                GIỚI THIỆU VỀ CÁC THỊ TRƯỜNG

     

    I.                   Giới thiệu về thị trường vốn

    1. Khái niệm

    Thị trường vốn là thị trường cung cấp vốn cho các khoản đầu tư dài hạn các doanh nghiệp, của chính phủ và các hộ gia đình. Thị trường vốn là nơi trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn. Một công cụ tài chính có thời hạn thanh toán trên 1 năm được coi là công cụ của thị trường vốn.

    1. Phân loại

    Thị trường vốn đầu tư gián tiếp Thị trường vốn quốc tế

    Căn cứ vào sự luân chuyển của nguồn vốn

     

    • Thị trường sơ cấp
    • Thị trường thứ cấp

    Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường

    • Thị trường cổ phiếu
    • Thị trường trái phiếu
    • Chứng khoán phái sinh

    Căn cứ vào phương thức hoạt động

    • Thị trường niêm yết tập trung
    • Thị trường phi tập trung ( OTC )

    Qũy đầu tư

    1. Vai trò

    Vai trò tập trung và tích tụ vốn cho đầu tư vốn cho đầu tư.

    Thị trường vốn góp phần tạo lập cơ chế đầu tư hợp lý, thúc đẩy quá trình sử dụng vốn một cách hợp lý.

    Thị trường vốn tác động đến tăng trưởng tới nền kinh tế của đất nước. Thị trường vốn làm đa dạng hoá các cơ hội đầu tư cho các chủ đầu tư.

    Thị trường vốn tạo điều kiện để thực hiện các chính sách kinh tế vi mô.

    Thị trường vốn là công cụ đánh giá, dự báo chu kì kinh doanh của các doanh nghiệp của nền kinh tế.

    Thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhà nước.

    II. Giới thiệu về thị trường chứng khoán

     

    1. Định nghĩa

    Thị trường chứng khoán là bộ phận quan trọng của thị trường vốn. Đó là nơi để phát hành, trao đổi và giao dịch mua bán các loại chứng khoán như: cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác có thời hạn trên m ột năm. Có thể nói thị trường hoạt động nhằm mục đích huy động vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế và cung cấp vốn cho các dự án đầu tư.

    1. Đặc điểm

    Thị trường chứng khoán là hình thức tài chính trực tiếp, tức là người cần vốn và người cung cấp vốn trực tiếp tham gia thị trường mà không có trung gian tài chính. Đây cũng là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo bởi giá cả trên thị trường được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu. Ngoài ra, thị trường chứng khoán là một thị trường liên tục. Chứng khoán sau khi được phát hành trên thị trường sơ cấp sẽ được mua bán nhiều lần trên thị

    6

    trường thứ cấp, đảm bảo nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào. Với các đặc điểm đó, có thể thấy thị trường chứng khoán giúp cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư và khả năng thanh toán cho các chứng khoán. Thị trường chứng khoán còn giúp huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế và đánh giá giá trị doanh nghiệp cũng như tình hình của nền kinh tế. Ngoài ra, đây cũng là môi trường giúp Chính phủ thực hiện giúp sách kinh tế vĩ mô.

    1. Phân loại

     

    Dựa vào cơ cấu tổ chức, thị trường chứng khoán được phân thành hai loại là: thị trường sơ cấp – nơi mua bán những chứng khoán được phát hành lần đầu và thị trường thứ cấp – thị trường mua bán chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Hai thị trường này luôn tác động lẫn nhau: trong khi thị trường sơ cấp là cơ sở để hình thành thị trường thứ cấp, thị trường thứ cấp lại là điều kiện để thị trường sơ cấp phát triển. Thị trường thứ cấp còn được tổ chức thành hai thị trường nhỏ là thị trường tập trung – nơi mà các chứng khoán được giao dịch phải thỏa mãn các tiêu chuẩn niêm yết và hoạt động giao dịch được thực hiện tại sở giao dịch và thị trường phi tập trung, hay còn gọi là thị trường trao tay, là thị trường mà việc giao dịch được thực hiện qua hệ thống máy tính hoặc đường dây viễn thông với phương thức mua bán thẳng cho bất kỳ ai chấp nhận mức giá đưa ra.

     

    Căn cứ vào công cụ tham gia, thị trường chứng khoán được phân loại thành ba thị trường là: thị trường chứng khoán nhà nước – nơi mua bán các loại chứng khoán do nhà nước phát hành như trái phiếu chính phủ, công trái, chứng chỉ đầu tư…để huy động vốn cho xã hội, thị trường trái phiếu doanh nghiệp – nơi mua bán các trái phiếu do doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn và thị trường cổ phiếu – nơi mua bán cổ phiếu và là bộ phận cơ bản của thị trường chứng khoán.

     

    1. Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán

    Theo tổng quát, tham gia vào thị trường chứng khoán có nhiều chủ thể khác nhau. Thứ nhất là chủ thể phát hành chứng khoán. Đó có thể là các công ty, xí nghiệp, các tổ chức tài chính và nhà nước…là những chủ thể có nhu cầu về vốn đầu tư và được nhà nước cho phép phát hành chứng khoán để huy động vốn. Thứ hai là người đầu tư – những người có vốn nhàn rỗi và muốn mua chứng khoán để kiếm lời, có thể là các pháp nhân kinh tế và các thể nhân. Thứ ba là người kinh doanh chứng khoán là những người chỉ mua chứng khoán nhằm kiếm lợi cho bản thân. Thứ tư, tham gia thị trường chứng khoán còn có người môi giới chứng khoán là chủ thể kết nối nguồn cung (chủ thể bán hoặc phát hành chứng khoán) với nguồn cầu (chủ thể cần mua chứng khoán). Người môi giới chứng khoán có thể là các thể nhân hay pháp nhân (công ty môi giới chứng khoán). Thứ năm là người tổ chức thị trường. Đó là Ban điều hành của Sở giao dịch giúp tổ chức các khâu hoạt động trên thị trường và chuyển tải luật lệ của nhà nước. Thứ sáu là người điều hòa thị trường, là cơ quan do nhà nước thành lập: Ủy ban điều hành thị trường chứng khoán, Hội đồng chứng khoán quốc gia…Ngoài ra, còn có các chủ thể phụ quan trọng giúp cho hệ thống giao dịch trên thị trường chứng khoán đạt hiệu quả như: công ty máy tính, trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công ty đánh giá mức tính nhiệm …

    1. Nguyên tắc hoạt động

    Để thị trường chứng khoán có thể hoạt động tốt và hiệu quả, đảm bảo cho các quan hệ mua bán được diễn ra công khai, bình đẳng và hợp lý, các chủ thể tham gia vào thị trường phải tôn trọng các nguyên tắc sau:

    Nguyên tắc đăng ký giao dịch: theo đó, sở giao dịch chứng khoán sẽ chỉ chọn một số loại chứng khoán của những công ty đủ tiêu chuẩn nhất định. Nguyên tắc này giúp sở giao dịch nắm được những chứng khoán có chất lượng cao, chiếm doanh số giao dịch lớn, những chứng khoán có ảnh hưởng mạnh đến giá cả chứng khoán trong nền kinh

    7

    tế. Qua đó, nhà nước có thể nắm được tình hình biến động của thị trường chứng khoán và kịp thời thực hiện biện pháp quản lý thích hợp.

    Nguyên tắc công khai hóa thông tin: đó là các công ty, khi tham gia vào sở giao dịch chứng khoán, phải cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin về tình hình tài chính, phương án kinh doanh, chính sách phân phối lợi nhuận…để sở giao dịch có thể theo dõi và đưa vào danh mục chứng khoán những công ty đủ điều kiện cũng như loại ra những công ty không đủ tiêu chuẩn. Nguyên tắc này giúp cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đảm bảo tính trung thực của thị trường và góp phần giúp đánh giá chứng khoán.

    Nguyên tắc đấu giá chứng khoán và thực hiện theo trình tự ưu tiên: Đây là một trong những phương pháp định giá cổ điển trong giao dịch chứng khoán. Theo đó, sở giao dịch sẽ chọn ra một số loại chứng khoán có doanh số giao dịch lớn và có sức hút với nhà đầu tư trên thị trường để đấu giá tại sàn giao dịch của sở giao dịch nhằm mục đích công khai và tạo sự bình đẳng trong hoạt động giao dịch. Bên cạnh đó, trước phiên giao dịch, các lệnh mua và bán sẽ được sắp xếp lại theo nguyên tắc ưu tiên về giá: lệnh đặt bán được xếp từ giá thấp đến cao và lệnh đặt mua sẽ được xếp từ giá cao đến thấp. Ngoài ra, còn có các nguyên tắc phụ khác như: ưu tiên về thời gian (những lệnh cùng mức giá thì sẽ ưu tiên lệnh đến trước), ưu tiên về khách hàng (ưu tiên cho khách

    hàng cá nhân trước khách hàng là nhà đầu tư có tổ chức), ưu tiên về khối lượng (lệnh có khối lượng lớn sẽ được ưu tiên trước) và ưu tiên ngẫu nhiên (tức là chỉ ưu tiên về giá, sau đó các lệnh sẽ được máy tính sắp xếp một cách ngẫu nhiên)

    Nguyên tắc thanh toán thuận tiện và nhanh chóng: đây là nguyên tắc giúp tổ chức hệ thống thanh toán có hiệu quả, đảm bảo nhanh chóng, chính xác, thuận tiên và an toàn. Theo đó, các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán có thể thanh toán trực tiếp, thanh toán qua tài khoản ngân hàng hoặc qua máy điện toán…

    1. Ưu điểm và nhược điểm

    Thị trường chứng khoán có nhiều ưu giúp cho nền kinh tế của một quốc gia phát triển. Trước hết, nó khuyến khích người dân tiết kiệm và thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của họ vào đầu tư. Thay vì gửi tiết kiệm trong ngân hàng, họ có thêm một lựa chọn khác là đầu tư vào chứng khoán, rủi ro cao hơn nhưng lợi nhuận cũng cao hơn. Thấy được lợi ích đó, người dân sẽ sẵn sàng tiết kiệm và đầu tư vốn vào chứng khoán nhiều hơn. Và điều đó giúp lưu động hóa các nguồn vốn nhàn rỗi trong nước. Nhờ đó, nhà nước và các doanh nghiệp sẽ có thể chủ động hơn trong việc huy động vốn và có thể huy động trực tiếp từ các nguồn tiết kiệm bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Họ sẽ không quá phụ thuộc vào ngân hàng để có vốn kinh doanh như trước đây. Ngoài ra, trường chứng khoán chính là công cụ giúp kiểm soát và thu hút vốn đầu tư nước ngoài bởi thị trường hoạt động công khai và các thông tin đều được cung cấp chính xác và kiểm soát chặt chẽ. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể xem xét các thông tin đó và dễ dàng đầu tư vào. Điều đó sẽ tạo điều kiện cho quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Đồng thời, thị trường chứng khoán giúp kích thích doanh nghiệp hoạt động đàng hoàng hơn bởi chỉ có kinh doanh hợp pháp và có tài chính lành mạnh thì các doanh nghiệp mới thu hút được người dân và được họ tin tưởng mua cổ phiếu.

    Tuy có nhiều ưu điểm nhưng nhìn chung, thị trường chứng khoán cũng có không ít nhược điểm . Trước tiên, ta phải nhắc đến yếu tố đầu cơ. Một số chủ thể tham gia thị trường chứng khoán vì muốn mưu lợi riêng mà đầu cơ, làm dẫn đến tình trạng khan hiếm hay thừa thải cổ phiếu và khiến cho giá của cổ phiếu tăng giảm đột biến. Bên cạnh đó, một số chủ thể tham gia thị trường, thông qua công việc biết được thông tin nội bộ của một đơn vị kinh tế, mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị kinh tế đó làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường. Ngoài ra, một số người còn mua bán cổ phiếu ngoài thị trường chứng khoán gây ra ảnh hưởng và tạo áp lực cho các nhà đầu tư khác. Còn có các khuyết điểm khác mà thị trường chứng khoán gây ra cho các doanh nghiệp. Khi họ tham gia vào thị trường và trở thành công

    8

    ty đại chúng, họ khó bảo đảm được các thông tin mật của công ty và có thể trở nên phụ thuộc lớn vào thị trường chứng khoán.

    1. Xu hướng phát triển trong tương lai

    Trong thời đại toàn cầu hóa như ngày nay, xu hướng quốc tế hóa là điều không thể thiếu đối với thị trường chứng khoán. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là không thể thiếu đối với việc phát triển kinh tế của một quốc gia và quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài đó chính là bước khởi đầu của xu hướng quốc tế hóa của thị trường chứng khoán.

    Song hành với xu hướng đó chính là sự gia tăng các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Trong thời đại công nghệ thông tin cùng sự phát triển của nền kinh tế, các nhà đầu tư càng muốn kiếm được lợi nhuận từ thị trường chứng khoán thì càng phải được đào tạo chuyên nghiệp hơn. Do đó, sự gia tăng các nhà đầu tư chuyên nghiệp là xu hướng tất yếu của thị trường chứng khoán.

    Bên cạnh đó, khi thị trường chứng khoán phát triển, khi các doanh nghiệp cần vốn cùng các nhà đầu tư muốn kiếm lời có xu hướng tham gia vào thị trường chứng khoán, nguồn vốn dần được chứng khoán hóa trên thị trường chứng khoán giúp cho thị trường chứng khoán ngày càng phát triển và đồng thời, đẩy mạnh sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh.

    III. Giới thiệu về thị trường bất động sản

    1. Khái niệm

    Bất động sản (Real Estate): nói chung là các tài sản bao gồm: đất đai, nhà ở, các công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất đai do nhà nước quy định ở điều 174. Chủ sở hữu của bất động sản có thể sử dụng, mua bán, cho tặng, ký quỹ,… nhưng ở Việt Nam thì phải chịu sự quản lý của nhà nước.

    Bất động sản cơ bản được chia thành ba loại: Bất động sản có đầu tư xây dựng, bất động sản không có đầu tư xây dựng và bất động sản đặc biệt. Thứ nhất là bất động sản có đầu tư xây dựng, đây là nhóm bất động sản có tỷ trọng rất lớn, phức tạp và là nhóm chiếm phần lớn các giao dịch trên thị trường. Thứ hai là bất động sản không có đầu tư xây dựng, nhóm bất động sản này thường nằm ngoài khu vực đô thị lớn để thuận tiện cho mục đích sử dụng như: sử dụng cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, đất chưa sử dụng… Cuối cùng là bất động sản đặc biệt, là nhóm dành riêng cho các công trình bảo tồn những di sản văn hóa – tôn giáo của quốc gia như: nhà thờ, đình chùa,…

    1. Ưu và khuyết điểm

    Ưu điểm

    Thị trường bất động sản có rất nhiều ưu điểm và đây là ba ưu điểm chính khiến thị trường bất động sản trở thành một trong những thị trường có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư.

    Thứ nhất, thị trường bất động sản là một trọng những thị trường mang lại lợi nhuận nhanh chóng nhất nhưng đòi hỏi người tham gia vào thị trường phải có đầy đủ những kiến thức chuyên môn lẫn nhiều yếu tố khác. Thứ hai, đa số các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và trong cuộc sống hằng ngày đều có m ối liên hệ mật thiết đến thị trường bất động sản. Cuối cùng, thị trường bất động sản là một trong những thị trường có sức mạnh rất lớn góp phần phát triển đất nước và tạo lập mối quan hệ với các nước trên thế giới.

    Khuyết điểm

    Tuy thị trường bất động sản có rất nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó khuyết điểm cũng rất nhiều và dễ dàng gây ra những hậu quả không thể lường trước được. Một là, do là thị trường có khả năng phát triển rất manh mẽ nên nó dễ kéo ta nhịp độ phát triển của thị trường dẫn đến sự đầu tư tràn lan, thiếu quy hoạch đồng bộ dẫn đến lãng phí tài nguyên – tiền bạc của quốc gia như nhiều công trình không xoay vốn và bỏ hoang. Hai là, luật pháp cần phải rất chặt chẽ để bảo vệ những nhà đầu tư vào thị trường này tránh khỏi hiện trạng giao dịch, mua bán, chuyển nhượng,… trái pháp luật. Ba là, giá của thị trường bất động sản nước ta đã bị đẩy lên quá cao so với thu nhập của người dân. Điều này đã gây rất nhiều khó khăn trong cuộc sống hằng ngày của người dân có thu nhập thấp. Cuối cùng là, ngoài những luật pháp bảo vệ người

    9

    đầu tư vào thị trường chứng khoán, nhà nước cũng cần phải có những chính sách tái định cư một cách hợp lý (phóng mặt bằng, giải tỏa,…)

    1. Dự đoán tương lai

    Trong năm 2012, theo các nhà phân tích thị trường, diễn biến thị trường bất động sản được chia làm hai giai đoạn chính:

    Giai đoạn 1 (tháng 1 – 4): là giai đoạn trầm lắng, giao dịch không diễn ra hoặc diễn ra với giá trị không lớn. Nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản.

    Giai đoạn 2 (tháng 4 – 12): theo hai xu hướng:

    • Một là, nhiều dự án mới không được triển khai hoặc triển khai chậm với tiến độ nhưng đây không hẳn hoàn toàn là điều bất lợi vì như vậy thì các nhà đầu tư tiềm năng cũng không phải đóng tiền theo tiến độ. Bên cạnh đó, một số chủ đầu tư bỏ ngang hay giảm giá bán các sản phẩm đã đóng tiền nên lượng tiền thu về không đủ đáp ứng phát triển doanh nghiệp.
    • Hai là, vẫn có những dự án đã được hoàn thiện giúp ta thấy được sự phục hồi

    của thị trường, các chủ dự án đã sắp xếp được tài chính hay các nhà đầu tư đã có niềm tin lại với các dự án.

    Nhìn chung trong tương lai, thị trường phải đi lên đó là chu trình không thể khác do giá bất động sản đã nằm ở vùng đáy trong thời gian khủng hoảng 2011 – 2012. Nhưng hiện tại không phải là thời điểm bùng nổ của thị trường do nhiều doanh nghiệp đang trong tình trang khó khăn, nhiều công trình dự án bị trì trệ, nhiều khoảng đầu tư thua lỗ và đặc biệt là các rủi ro liên quan đến hệ thống ngân hàng (do hệ thống ngân hàng là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho thị trường bất động sản).

    1. Yếu tố ảnh hưởng đến thị trường bất động sản

    Thị trường bất động sản là một thị trường nhạy cảm, nó dễ dàng bị tác động bới các chính sách hay tác động ngoại cảnh nào đó. Nhìn chung gồm ba yếu tố chính: Các yếu tố tự nhiên, các yếu tố kinh tế, các yếu tố về chính trị và pháp luật của nhà nước.

    Một là, các yếu tố tự nhiên, giá trị bất động sản bị chi phối rất lớn bởi địa hình và vị trí địa lý. Giá của bất động sản cao khi nằm ở vị trí địa lý thuận lợi như nằm trong trung tâm (đô thị), địa hình, tính chất của đất, nằm ở những chốt giao thông quan trọng và đặc biệt là tình trạng môi trường ảnh hưởng rất lớn đến giá của bất động sản.

    Hai là, các yếu tố kinh tế, gồm có hai yếu tố chính là sự phát triển kinh tế và các yếu tố kinh tế vĩ mô.

    Phát triển kinh tế dẫn đến:

    • Nhu cầu sử dụng đất tăng (xây cơ sở sxuất, khu thương mại, dịch vụ,…).
    • Công nghiệp hóa hiện đại hóa làm cho mục đích sử dụng đất chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
    • Phát triển khoa học – kỹ thuật tạo ra các bất động sản mới hay cải tạo bất động sản cũ cho phù hợp với kinh doanh, thúc đẩy giao dịch trên thị trường bất động sản.

    Các yếu tố thuộc kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến thị trường bất động sản có:

    • Giá của bất động sản phụ thuộc vào tính hình cung cầu bất động sản
    • Hiện trạng vùng lân cận
    • Mức độ tăng trưởng GDP
    • Mức thu nhập bình quân đầu người
    • Mức giá bình quân của các loại đất
    • Tình hình lạm phát
    • Tình hình của các loại thị trường: thị trường vàng, thị trường chứng khoán,…

    10

    Các yếu tố về chính trị và pháp luật của nhà nước: để ổn định thị trường này thì chỉ có thông qua hệ thống các chính sách và pháp luật của nhà nước.

    1. Vai trò

    Thị trường bất động sản là một trong những thị trường quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước vì nó chiếm tỉ trọng rất lớn khoảng 40% lượng của cải vật chất của một quốc gia, các hoạt động của thị trường bất động sản chiếm 30% tổng các hoạt động của nền kinh tế. Bất động sản bên cạnh là tài sản của các hộ gia đình mà trong thời đại kinh tế ngày nay bất động sản được coi là nguồn vốn khi thế chấp. Khi ta có những chính sách để quản lý và phát triển tốt loại thị trường này thì sẽ giúp ích rất nhiều cho nền kinh tế như: gia tăng quốc sách, phát triển đô thị, giải quyết các vấn đề về nhà cửa,…

    IV.       Giới thiệu về thị trường vàng

    1. Định Nghĩa

    Thị trường vàng : Nói 1 cách đơn giản nhất, thị trường vàng là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi vàng có sự cạnh tranh. Trong số tất cả các kim loại quý, vàng là phổ biến nhất do sự quan trọng, tính bền cũng như giá trị và công dụng của nó. Vàng còn được dùng để đầu tư . Các nhà đầu tư thường mua vàng như một hàng rào hoặc bến cảng đối với kinh tế, khủng hoảng tiền tệ chính trị, xã hội (bao gồm cả thị trường đầu tưđang giảm , đang phát triển, nợ quốc gia, không tiền tệ,lạm phát, chiến tranh và bất ổn xã hội). Thị trường vàng cũng như các thị trường khác,cũng có thể bị đầu cơ, đặc biệt là thông qua việc sử dụng các hợp đồng tương lai và các dẫn xuất. Lịch sử của tiêu chuẩn vàng, vai trò của dự trữ vàng của ngân hàng trung ương, vàng tương quan thấp với giá cả hàng hóa khác, và giá cả của nó liên quan đến tiền tệ trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2012, cho thấy vàng ứng xử giống như một loại tiền tệ hơn một mặt hàng .

    1. Những yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng

     

    Ngân hàng trung ương

     

    Rào cản chống lại lạm phát

     

    Nhu cầu trang sức và công nghiệp Tái sử dụng vàng trang sức

     

    Mua bán ngắn

     

    Chiến tranh, xâm lược và kẻ thù quốc gia

     

    1. Ưu, Nhược Điểm Của Vàng1

    Vàng đã từng được sử dụng để sao lưu tiền tệ

    Ngay từ đế chế Byzantine, vàng đã được dùng để hỗ trợ các đơn vị tiền tệ được coi là hợp pháp tại quốc gia nó xuất xứ. Vàng cũng được sử dụng như là đồng tiền dự trữ được thế giới thông qua gần như trong suốt thế kỉ 20; Hoa Kỳ đã sử dụng tiêu chuẩn vàng cho đến năm 1971 khi tổng thống Nixon dừng tiêu chuẩn này lại.

    Một trong những lý do cho việc sử dụng vàng là khả năng giới hạn lượng tiền giấy được in của một quốc gia. Bởi vì từ xưa cho đến nay, mọi quốc gia đều có giới hạn cung cấp vàng của nó. Cho đến khi tiêu chuẩn vàng bị ngưng lại, một quốc gia chỉ được in số lượng tiền giấy bằng với lượng vàng họ sở hữu. Măc dù tiêu chuẩn vàng không còn được sử dụng trên thế giới, một vài chuyên gia kinh tế cho rằng chúng ta sử dụng lại tiêu chuẩn đó do sự biến động của đồng Dollar và các đơn vị tiền tệ khác.

    Vàng được sử dụng như m ột hàng rào chống lại lạm phát

    Nhà đầu tư thường mua một số lượng lớn vàng khi đất nước họ ở mức lạm phát cao. Nhu cầu vàng tăng suốt thời kỳ lạm phát do giá trị vốn có và nguồn cung có giới hạn. Vì vàng không thể được pha loãng, vàng có thể giữ lại giá trị tốt hơn nhiều so vơi các hình thức của tiền tệ.

    • Tổng họp từ: http://www.oxy.co/; http://www.youtube.com

    11

    Giá vàng ảnh hưởng đến quốc gia xuất và nhập khẩu nó.

    Giá trị tiền tệ của một quốc gia gắn tiền với giá trị xuất nhập khẩu. Khi một quốc gia nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, giá trị đồng tiền của quốc gia đó sẽ suy giảm. Mặt khác, giá trị tiền tệ sẽ tăng lên nếu quốc gia trở thành một nước xuất khẩu ròng. Như vậy, một quốc gia xuất khẩu vàng hoặc có quyền truy cập vào dự trữ vàng sẽ thấy sự gia tăng sức mạnh đồng tiền của mình khi giá vàng tăng, vì điều này làm tăng giá trị của tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước.

    Nói cách khác, sự gia tăng trong giá vàng có thể tạo ra thặng dư thương mại hoặc giúp bù đắp thâm hụt thương mại. Ngược lại, các nước nhập khẩu vàng lớn chắc chắn sẽ kết thúc có một đồng tiền yếu đi khi giá của giá vàng tăng. Ví dụ, các quốc gia chuyên sản xuất các sản phẩm được làm bằng vàng, nhưng không có đủ dự trữ vàng của riêng mình, sẽ là nhà nhập khẩu lớn của vàng. Vì vậy, họ sẽ được đặc biệt nhạy cảm với sự gia tăng trong giá vàng.

    Mua vàng có xu hướng làm giảm giá trị của đồng tiền được sử dụng để mua nó. Khi các ngân hàng trung ương mua vàng, nó ảnh hưởng đến việc cung cấp và nhu cầu của các loại tiền tệ trong nước và có thể dẫn đến lạm phát. Điều này phần lớn là do thực tế rằng các ngân hàng dựa trên in thêm tiền để mua vàng, và do đó tạo ra một nguồn cung cấp dư thừa của đồng tiền.

    Nhiều người nhầm lẫn sử dụng vàng như là một chủ thể để xác định giá trị tiền tệ của một quốc gia. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa vàng và tiền tệ không phải luôn luôn là một mối quan hệ nghịch đảo như nhiều người giả định.

    Vàng có một tác động sâu sắc về giá trị của tiền tệ thế giới. Mặc dù tiêu chuẩn vàng đã bị bỏ rơi, vàng như một loại hàng hóa có thể hoạt động như là một thay thế cho tiền tệ và được sử dụng như một hàng rào chống lạm phát có hiệu lực. Không có nghi ngờ rằng vàng sẽ tiếp tục đóng một vai trò trong thị trường ngoại hối. Vì vậy, nó là một kim loại quan trọng để theo dõi và phân tích khả năng độc đáo của nó để đại diện cho sức khỏe của cả hai nền kinh tế địa phương và quốc tế.

    V.                 Giới thiệu về thị trường ngoại tệ

     

    1. Đặc điểm của thị trường ngoại tệ

    Tính thanh khoản cao: với đặc điểm là một thị trường lớn và liên thông toàn cầu, thị trường ngoại tệ có tính thanh khoản cao. Bất cứ thời gian nào, bạn cũng có thể mua hoặc bán giá mà bạn muốn và một người trong thị trường sẽ sẵn sàng giao dịch với bạn Thị trường ngoại tệ trải rộng khắp thế giới nên có sự phân tán địa lí

    Hoạt động liên tục trừ cuối tuần và một số ngày nghỉ, từ 20 giờ 15 giờ GMT ngày Chủ nhật đến 22 giờ giờ GMT ngày thứ sáu

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỉ giá đối hoái như sự kiện chính trị, xã hội (thiên tai chiến tranh…), tỉ lệ lạm phát, sự biến động của lãi suất… Không có địa điểm cụ thể

    Người giao dịch thực hiện giao dịch qua các phương tiện thông tin hiện đại như máy tính, điện thoại…

    Cần một đồng tiền đóng vai trò làm ngoại tệ

    Ngôn ngữ được sử dụng rất ngắn gọn nhưng mang tính chất nghiệp vụ nên rất khó hiểu với người thường

    1. Vai trò của thị trường ngoại tệ

    Cân đối các nhu cầu mua bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu cho hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác… Việc áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi khiến cho tỷ giá hối đoái luôn biến động, điều này gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các chủ thể khi các nguồn thu, chi ngoại tệ trong tương lai của họ chịu ảnh hưởng rủi ro rất lớn về sự biến động của tỷ giá hối đoái Sự tham gia của các ngân hàng và nhà đầu cơ sẽ

    12

    giải quyết vấn đề mỗi khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu ngoại tệ, từ đó tỷ giá hối đoái sẽ được cân bằng.

    Phòng chống rủi ro tỉ giá: tỷ giá hối đoái trên thị trường được thả nổi ở đa số các quốc gia. Lợi ích của các công ty đa quốc gia và các công ty xuất nhập khẩu chịu ảnh hường rất lớn từ tỉ giá hối đoái đó, vì vậy mà các công ty cần áp dụng các biện pháp phòng chống rủi ro như mua bán kỳ hạn, quyền chọn… của thị trường.

    Tạo ra thu nhập cho người sở hữu ngoại tệ: Phục vụ cho quá trình chu chuyển, thanh toán trong các lĩnh vực thương mại và phi thương mại nhờ vào khả năng đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi ngoại tệ của thị trường ngoại tệ. Bên cạnh đó, thị trường ngoại tệ còn cung cấp công cụ giúp ngân hàng trung ương thực hiện được các chính sách tiền tệ, từ đó chính phủ có thể điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu của mình. Không những thế, thị trường ngoại hối còn có chức năng tín dụng. Cuối cùng, thị trường ngoại tệ còn là cánh tay phải đắc lực cho các nhà kinh tế nghiên cứu trong việc phòng ngừa rủi ro hối đoái trong trao đổi ngoại tệ, đồng thời cũng hộ trợ các nhà đầu cơ thu được lợi nhuận một khi họ đưa ra những dự đoán đúng về tý giá hối đoái.

    1. Chức năng của thị trường ngoại tệ

     

    Đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi ngoại tệ

    Điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu của chính phủ Chức năng tín dụng

    Cung cấp công cụ để phòng ngừa rủi ro. Bên cạnh đó, còn giúp các nhà đầu cơ thu được lợi nhuận nếu họ dự đoán đúng tỉ giá hối đoái

     

    1. Lý do khiến người ta đầu tư vào thị trường ngoại hối

    Đầu tư nước ngoài

     

    Bảo vệ chủ thể khỏi rủi ro của ngoại tệ khác

     

    Đầu cơ. Hầu hết người ta đến với sàn giao dịch với lí do thứ ba. Họ lợi dụng sự chênh lệch tỉ giá giữa các đồng tiền để kiếm lợi.

     

    1. Thành phần tham gia

    Các thành phần tham gia thị trường ngoại tệ rất đa dạng.

    Đầu tiên phải kể đến các ngân hàng. Trong đó, ngân hàng trung ương là quan trọng nhất với vai trò định hướng thị trường như ổn định, tổ chức, kiểm soát và điều hành.

    Các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư tham gia vào thị trường ngoại tệ để kinh doanh và cung cấp dịch vụ chuyển đổi tiền tệ cho khách hàng với vai trò là nhà môi giới. Ngoài ra còn có các doanh nghiệp chủ yếu là kinh doanh xuất nhập khẩu. Họ vừa là chủ thể cầu ngoại tệ,vừa là chủ thể cung ngoại tệ.

    Các cá nhân và nhà kinh doanh cũng là một thành phần tham gia vào thị trường này với nhu cầu rất đa dạng như đi du lịch, khám chữa bệnh , đi công tác…

    Cuối cùng là các tổ chức tài chính phi ngân hàng và các công ty đa quốc gia.

    1. Ưu điểm

     

    Thị trường ngoại tệ giao dịch 24/24h vì thế mà người tham gia có thể thực hiện giao dịch bất cứ lúc nào cần thiết.

     

    Cùng với thị trường vàng, thị trường ngoại tệ quá lớn (giá trị giao dịch hằng ngày trên 4,000 tỷ USD) và có rất nhiều người tham gia, vì thế mà không ai hay một tổ chức nào có thể thao túng được nó.

    Khả năng sinh lợi cao: người ta có thể kí một hợp đồng lớn với một số tiền kí quỹ nhỏ vì thì trường này cho phép sử dụng đòn bẩy cao là 1:500

     

    Với đặc điểm là một thì trường lớn và liên thông toàn cầu, thị trường ngoại tệ có tính thanh khoản cao. Bất cứ thời gian nào, bạn cũng có thể mua hoặc bán giá mà bạn muốn và một người trong thị trường sẽ sẵn sàng giao dịch với bạn.

    13

    Thị trường hai chiều: giá cả luôn biến động liên tục lên xuống nên bạn có thể mua hoặc bán theo sự lên xuống của nó để kiếm lợi nhuận chênh lệch.

    B.                PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRƯỜNG VỐN VỚI CÁC THỊ

    TRƯỜNG

    Qua quá trình xem xét, nghiên cứu mối quan hệ của các thị trường với thị trường vốn, nhóm chúng em đã rút ra kết luận là chỉ một số thị trường như chứng khoán, bất động sản tồn tại một mối quan hệ trực tiếp với thị trường vốn. Các thị trường còn lại thông qua việc phân tích sự thay đổi giá trị của hàng hóa, dịch vụ trong các thị trường, cũng như mối quan hệ của tất các thị trường tác động qua lại lần nhau thì mới nhìn thấy rõ sợi dây liên kết vô hình với thị trường vốn. Điều này được lý giải đơn giản là vì hàng hóa và dịch vụ từng thị trường cung cấp cũng như mục đích hoạt động của từng thị trường là khác nhau nên rất khó để tìm ra được mối liên hệ trực tiếp nào.

    Ngoài ra, qua tình hình điều tra thực tế, cũng như lý thuyết, tất cả các thị trường đều được vận hành theo chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Nên ở đây, nhóm chúng em sẽ có thêm phần phân tích các sự tác động của nên kinh tế vĩ mô đã gây ành hưởng như thế nào đến các thị trường. Qua đó, phần nào làm rõ thêm hơn mối liên hệ, sợi dây liên kết chung của các thị trường lần nhau hay mối liên hệ của thị trường vốn với các thị trường khác nói riêng.

    I. Thị trường chứng khoán

    Bản thân thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn. Do đó, thị trường chứng khoán phát triển sẽ làm cho thị trường vốn phát triển và ngược lại, thị trường chứng khoán đi xuống sẽ dẫn đến sự suy yếu của thị trường vốn.

    Điều này dẫn đến việc nhóm chúng em sẽ chỉ phân tích những tác động của nền kinh tế vĩ mô lên thị trường này. Còn về mối liên hệ với các thị trường khác ngoài thị trường vốn thì thông qua phân tích của các thị trường bên dưới sẽ làm rõ hơn, nhằm tránh việc lặp lại trong bài báo cáo.

    Tác động của chính sách điều hành nền kinh tế vĩ mô

    Tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán có ba nhân tố vĩ mô cơ bản là: tỷ giá hối đoái, lạm phát và lãi suất.

    Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ về giá trị giữa đồng tiền nước này với nước khác. Do đó, sự tăng giảm của tỷ giá hối đoái sẽ làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài. Điều đó sẽ tác động không nhỏ đến thị trường chứng khoán.

    Lạm phát là sự mất giá của đồng tiền. Nó làm thay đổi hành vi tiết kiệm và tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp. Do đó, nếu tỷ lệ lạm phát không hợp lý sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp cũng như ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới của doanh nghiệp.

    Về lãi suất, lãi suất Trái phiếu Chính phủ được xem là lãi suất chuẩn và nếu lãi suất này thay đổi sẽ ảnh hưởng tới giá chứng khoán: khi lãi suất chuẩn tăng, giá của các loại chứng khoán khác sẽ giảm xuống và ngược lại, khi lãi suất giảm thì giá của các loại chứng khoán khác sẽ tăng lên.

    Bên cạnh cách nhân tố trên, chính sách điều tiết của Chính phủ cũng có tác động không nhỏ. Vào năm 2009, Chính phủ đã áp dụng các biện pháp gián tiếp kích cầu trên thị trường chứng khoán như miễn giảm thuế, giãn thuế thu nhập cá nhân, miễn thuế đối với các khoản thu nhập từ đầu tư vốn và chuyển nhượng vốn…đồng thời thực hiện chính sách tiền tệ là giảm lãi suất và hỗ trợ lãi suất. Chính sách đó đã giúp cho thị trường chứng khoán phát triển mạnh bởi khi

    14

    Chính phủ cắt giảm lãi suất, các nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận với các khoản vay và có thể mua thêm cổ phiếu bằng tiền vay với lãi suất thấp hơn từ ngân hàng. Cơ chế hỗ trợ lãi suất đã giúp tăng trưởng nhanh tín dụng nhưng đồng thời cũng gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ như: tăng sức ép lên lãi suất làm, tăng chi phí vốn và giá thành sản xuất làm việc huy động vốn trái phiếu Chính phủ gặp khó khăn… Lãi suất và tỷ giá không ổn định làm ảnh hưởng lớn đến tâm lý và hoạt động của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Khi xảy ra lạm phát, thị trường tiền tệ bất ổn dẫn đến sự bất thường của giá vàng và ngoại tệ. Ngân hàng nhà nước phải thắt chặt chính sách tiền tệ. Việc chính sách vĩ mô thay đổi từ hỗ trợ tăng trưởng sang ổn định vĩ mô, hạn chế tín dụng đã gây sốc cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Sự đảo chiều của chính sách đã tác động không nhỏ đến luồng tiền và thị trường tài chính và tâm lý nhà đầu tư khiến cho thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng lớn và trong trường hợp này, chỉ số chứng khoán rơi vào thời kỳ giảm điểm .

    II. Thị trường bất động sản

     

    1. Mối quan hệ với thị trường vốn

    Do những công trình (nhà ở, đường xá,…) là những dự án bất động sản lớn mang tầm cỡ quốc gia nên các dự án bất động sản này sẽ cần đến 1 số vốn khổng lồ dẫn đến thời gian thu hồi số vốn này là một khoảng thời gian dài, vì thế thị trường vốn và thị trường bất động sản có mối quan hệ rất mật thiết với nhau.

    Trong thị trường bất động sản, nếu những cuộc giao dịch buôn bán, trao đổi, kinh doanh, chuyển nhượng, … diễn ra một cách suôn sẻ thì khối lượng vốn khổng lồ sẽ được thu lại nhanh chóng và mang đến lợi nhuận hoặc ngược lại. Vì thế thị trường bất động sản chính là một trong những đầu ra cực kì quan trọng của thị trường vốn.

    Do những đặc điểm cơ bản của bất động sản như : lâu bền, không thể di dời, … nên nó đã được tận dụng và trở thành một trong những sản phẩm vay mượn quan trọng trong thị trường vốn. Vì thế khi thị trường bất động sản bị biến động nhất là giá của thị trường bị rớt nhanh chóng sẽ dẫn đến nhiều khoảng vay nợ trở nên khó đòi được, từ đó dẫn đến gia tăng khả năng phá sản – vỡ nợ của các công ty, tổ chức trên thị trường vốn.

    1. Mối quan hệ với thị trường chứng khoán (Securities)

    Mối quan hệ giữa thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán gần như là mối quan hệ tỉ lệ thuận, tức khi thị trường bất động sản có thông tin nào bất lợi sẽ kéo thị trường chứng khoán đi xuống và ngược lại. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán còn có tác dụng kìm hãm sự bùng nổ của thị trường bất động sản (ví dụ cả 2 thị trường đang bùng nổ thì lượng bùng nổ sẽ san sẻ bớt qua thị trường chứng khoán chứ không chỉ đổ dồn qua thị trường bất động sản). Ngoài ra, lợi nhuận thu được từ những khoản đầu tư chứng khoán không những góp phần gia tăng số lượng giao dịch cho thị trường bất đông sản mà còn tạo tính thanh khoản rất cao cho thị trường này.

    1. Mối quan hệ với thị trường vàng (Gold)
    • Do nước ta hơn 70% giao dịch các sản phẩm bất động sản bằng vàng nên khi giá vàng tăng đột biến đẫn đến các sản phẩm của thị trường bất động sản sẽ tạm dừng

    giao dịch do việc thay đổi giá tức thời.

    • Khi thị trường chứng khoán có biến động không tốt thì thị trường vàng và thị trường bất động sản là những kênh được các nhà đầu tư ưu tiên chọn. Nhưng trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế, khi cả thị trường chứng khoán lẫn bất động sản đi xuống nhưng thị trường vàng lại tăng đột biến.
    1. Tác động của chính sách điều hành nền kinh tế vĩ mô

    (Đã giới thiệu ở phần Bất động sản)

    15

    III. Thị trường Vàng

    1. Mối quan hệ với thị trường bất động sản (Real estate)

    Thị trường bất động sản thường có tin công bố hàng tháng về doanh số nhà xây mới, doanh số nhà chờ bán, hoặc giấy phép xây dựng. Các thông tin này được xem như yếu tố chủ đạo, vì thị trường nhà đất ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực. Sự thay đổi đột ngột tỷ giá vàng và đồng Đô la sẽ tác động tới các ngân hàng tín dụng, cụ thể là quy trình vay – nợ. Trên thế giới, những nước có thị trường bất động sản quan hệ chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, thị trường vốn thì tác động này rất mạnh và trực tiếp. Khi giá vàng tăng đột biến, nhất là khi đồng tiền Việt Nam chưa đủ độ tin cậy và bảo đảm an toàn thì buộc cá nhân hay các nhà đầu tư phải tìm đến phương thức giao dịch mua bán bất động sản bằng vàng hay Đôla – Đó là điều hiển nhiên! Theo ước tính, các giao dịch bất động sản bằng vàng hiện nay vẫn chiếm từ 60 đến 70%.

    1. Mối quan hệ với đồng Dollar Mỹ

    Trong cuộc chạy đua giá vàng, đã đến thời điểm để thực sự suy nghĩ vàng có mối quan hệ như thế nào đến đồng Dollar Mỹ. Thực chất, từ trước đến giờ vàng không thay đổi giá trị của nó mà chính là đồng Dollar định lại giá trị của vàng.

    Để trả lời cho câu hỏi đâu là mối quan hệ giữa vàng và Dollar Mỹ chúng ta sẽ cùng xem xét ví dụ sau:

    Giả dụ thể giới chỉ có 3 loại tiền tệ. Thứ nhất là đồng Dollar Mỹ, thứ hai là vàng và thứ ba là tất cả các loại tiền tệ còn lại (ví dụ: Yen, Rupee, Baht,…).

    Chúng ta sẽ giả định rằng tỉ giá hối đoái giữa Dollar và vàng là 1 đơn vị vàng sẽ đổi được $1000. Trên thực tế 1 đơn vị vàng trương đương với 1 ounce. Như vậy 1 đơn vị vàng hay 1 ounce vàng có giá trị bằng $1000.

    Chúng ta cũng sẽ giả định rằng tỉ giá hối đoái giữa Dollar và loại tiền tệ thứ 3- tất cả các loại tiền tệ còn lại trên thế giới (Rest of the World – ROW) là 1 US Dollar đổi được 2 ROW. Như vậy có thể nói 1 đồng Dollar Mỹ có giá trị gấp đôi giá trị trung bình của tiền tệ thế giới.

    Chúng ta có hình vẽ:

    3 loại tiền tệ này tác động qua lại lẫn nhau. Nếu giải phương trình

      1 gold = $1000
      $1 = 2 ROW
         
    Chúng ta có : 1 gold = 2000 ROW
    Tương tự với phương trình: $1 = 2 ROW
      1 gold = 2000 ROW

    16

    1 gold  = $1000

    Như vậy nếu chúng ta định giá 2 đối tượng tiền tệ trong tam giác này nghĩa là chúng ta đang định giá đối tượng thứ 3.

    Trong trường hợp này chúng ta sẽ xác định tỷ giá hối đoái của Dollar và vàng. Vì vậy ta sẽ

    giả định tỷ giá giữa vàng và ROW là hằng số. Nếu như bây giờ đồng Doller bị mất giá. 1
    USD chỉ đổi được 1 ROW. Giải phương trình:
          $1  =  1  ROW
          1 gold = 2000 ROW
             
    Suy ra   1 gold = $2000

    Từ ví dụ trên, ta thấy khi giá Dollar giảm thì giá vàng sẽ tăng. Trả lời cho câu hỏi “Mối liên hệ giữa vàng và Dollar Mỹ”: giá vàng tỉ lệ nghịch với giá Dollar Mỹ.

    Từ mối quan hệ nghịch đảo giữa vàng và đô-la Mỹ, ta có thể ngầm hiểu rằng về cơ bản, vàng sẽ có mối quan hệ tỷ lệ thuận với những đồng tiền có diễn biến trái chiều rõ rệt nhất so với đồng đô-la. Đồng euro đã được kiểm chứng là đồng tiền đối sánh của đô-la Mỹ do EUR/USD là cặp tiền tệ được giao dịch rộng rãi nhất trên thị trường ngoại hối. Với cương vị là đồng tiền chính thức của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, đồng tiền chung châu Âu đang dần trở thành đối trọng so sánh với đồng đô-la trong mối quan hệ trái chiều: đồng euro tăng giá khi đô-la mất giá và ngược lại.

    1. Tác động của chính sách điều hành nền kinh tế vĩ mô

    Vàng trước hết là một hàng hóa nên giá của nó dao động dựa trên các yếu tố cung cầu. Và đó chính là loại hàng hóa mà toàn thế giới đều muốn có với mục đích sử dụng và nhu cầu khác nhau. Tùy vào mục đích sử dụng mà nhu cầu về vàng tăng giảm trong từng thời kỳ khác nhau. Để đáp ứng được sự thay đổi đó và yêu cầu giao dịch trên thế giới, vàng thường được định giá theo USD – đồng tiền được xem là mang tính thanh toán trên toàn cầu. Vì thế, giá trị đồng USD thay đổi sẽ dẫn đến sự biến động của giá vàng và các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị đồng USD cũng tác động đến giá vàng.

    Ngày nay, sự mất giá của các đồng tiền mạnh, đặc biệt là đồng USD, dẫn đến sự tăng giá trị của vàng, làm cho giá vàng tăng lên. Ví dụ như trước khi FED giảm lãi suất cơ bản, 1 ounce vàng có giá là 1000 USD nhưng sau khi FED cắt giảm lãi suất, vàng do bị định giá thấp bởi USD mất giá sẽ được thị trường tự động điều chỉnh bằng cách nâng giá vàng lên và trong trường hợp này, 1 ounce vàng sẽ có giá là 1050 USD.

    Đồng thời, xu hướng dài hạn của đồng USD là giảm giá và của vàng là tăng lên cùng sự hồi phục của các nền kinh tế trên thế giới, sự đầu tư của các nhà đầu tư bị ảnh hưởng, chuyển từ giảm phát sang lạm phát – nhân tố sẽ hỗ trợ tốt cho kim loại quý là vàng.

    Bên cạnh sự tác động của đồng USD, vàng còn bị tác động bởi lãi suất. Khi các ngân hàng trung ương tại thị trường mới nổi quyết định giảm tỷ lệ lãi suất, tức là chi phí vay mượn cũng sẽ giảm đi, lạm phát sẽ vượt mức lợi nhuận tiết kiệm và tạo ra mức lãi suất thực âm. Khi đó, giới đầu tư, để bảo vệ cho tài sản của mình khỏi nguy cơ xuống giá, sẽ có xu hướng chuyển sang thị trường kim loại quý, tức là thị trường vàng. Trong trường hợp này, nhu cầu về vàng lại tăng lên dẫn đến sự gia tăng giá vàng trong tương lai.

    Ngoài ra, sự nổi lên của giới trung lưu ở Trung Quốc và Ấn Độ (nơi nhập khẩu vàng lớn) cũng làm nhu cầu về vàng chẳng những tăng lên m à còn tăng theo cấp số nhân. Bởi tại các nước này, những món quà đặc biệt mà mọi người dành tặng cho nhau trong các ngày lễ chủ yếu là được làm từ vàng nên sự gia tăng của giới trung lưu làm cho nhu cầu về vàng tăng cao và do đó, giá vàng được thị trường tự động điều chỉnh sẽ tăng theo.

    17

    IV.       Thị trường ngoại tệ

    1. Mối quan hệ với thị trường chứng khoán

    Thị trường chứng khoán là một trong những thị trường hấp dẫn các nhà đầu tư nhiều nhất. Vì chứng khoán tồn tại đã lâu, bên cạnh đó các nhà đầu tư cá nhân có thể liên hệ với các công ty mà họ mua chứng khoán. Vậy nên, khi thị trường chứng khoán hoạt động tốt, các nhà đầu tư sẽ tự khắc dồn tiền vào thị trường chứng khoán. Ngược lại, khi thị trường chứng khoán có dấu hiệu khó khăn, các nhà đầu tư sẽ tự khắc rút tiền ra khỏi thị trường.

    Hiện nay, sự toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ đã tạo nhiều cơ hội mới cho các nhà đầu tư từ các quốc gia khác khi họ có điều kiện đầu tư một cách dễ dàng hơn vào thị trường chứng khoán của các quốc gia khác. Một khi các nhà đầu tư nhận thấy thị trường chứng khoán ở một quốc gia nào đó hoạt động có hiệu quả, họ sẽ nhanh chóng đổ tiền vào mua chứng khoán của nước đó. Ví dụ, khi các nhà đầu tư nhận thấy chứng khoán ở Mỹ hoạt động tốt hơn chứng khoán ở Trung Quốc, thì họ sẽ rút tiền của họ ra khỏi thị trường Trung Quốc để đầu tư vào thị trường Mỹ.

    Vậy, thị trường chứng khoán có tác động thế nào đến thị trường ngoại tệ. Chứng khoán của mỗi quốc gia được giao dịch bằng đồng tiền của chính quốc gia đó. Vậy, nếu muốn đầu tư vào chứng khoán của một quốc gia nào, các nhà đầu tư phải đổi tiền của họ ra tiền của quốc gia đó. Ví dụ, để đầu tư vào chứng khoán Nhật, các nhà đầu tư phải đổi tiền của họ ra đồng Yên Nhật. Chính điều này sẽ dẫn tới sự gia tăng nhu cầu của đồng tiền đó (trong ví dụ này là đồng Yên Nhật). Cùng lúc đó, nguồn cung của các đồng tiền khác sẽ tăng và làm giảm giá trị của các đồng tiền này.

    Vậy nên, các nhà kinh doanh ngoại tệ thường dựa vào tình trạng hoạt động chứng khoán của các quốc gia lớn để đưa ra các quyết định của mình. Nếu chứng khoán của một quốc gia hoạt động tốt hơn quốc gia khác, các nhà kinh doanh ngoại tệ sẽ nhận biết ngay rằng các nhà đầu tư khác rút tiền của họ từ quốc gia có thị trường chứng khoán yếu hơn để đầu tư vào quốc gia có thị trường chứng khoán mạnh hơn. Việc này sẽ khiến giá trị đồng tiền của quốc gia có thị trường chứng khoán yếu hơn giảm đi, đồng nghĩa với việc giá trị đồng tiền của quốc gia có thị trường chứng khoán mạnh hơn tăng lên. Một khi đã hiểu được điều này, nếu cơ hội xuất hiện và ta biết nắm bắt thì có thể sẽ kiếm được rất nhiều lợi nhuận.

    1. Mối quan hệ với thị trường vàng2

    Giá vàng hiện nay chủ yếu được niêm yết bằng USD, vậy nên khi chỉ số USD xảy ra biến động thì sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng. Ngoài nguyên nhân ảnh hưởng do tỷ giá quy đổi giữa vàng và USD thì ngay trong bản thân các yếu tố dẫn đến sự thay đổi (tăng – giảm) của chỉ số USD cũng tác động trực tiếp đến giá vàng theo từng thời điểm nhất định.

    Khi nhu cầu USD tăng, USD sẽ được định giá cao hơn bởi nhiều yếu tố kinh tế tác động, trong đó có một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp như: tăng lãi suất, các chỉ số sức mạnh của nền kinh tế Mỹ tăng bền vững và chính trị bình ổn, khi đó giá vàng sẽ được điều chỉnh lại thông qua quy đổi. Về mặt quy đổi trong mối tương quan của các cặp tiền tệ, chúng ta nhận thấy, khi USD tăng thì giá vàng được định giá bằng đồng USD sẽ trở nên đắt hơn so với các loại tiền tệ khác, ngay lập tức giá vàng sẽ được điều chỉnh giảm.

    Để đồng USD trở nên mạnh hơn nhờ sự hỗ trợ bởi nhiều yếu tố, trong đó tình hình tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Mỹ là quan trọng nhất. Khi nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng ổn định thì vàng sẽ không có nhiều sự hỗ trợ cho việc tăng giá. Một khi chỉ số USD được củng cố bởi các yếu tố, dẫn đầu là chính sách lãi suất, kinh tế tăng trưởng đều, chỉ số thu nhập và niềm tin tiêu dùng được củng cố thì các nhà đầu cơ, nhà đầu tư sẽ tăng cường giữ

    • Dựa vào: http://www.vatgia.com/hoidap/3962/152021/moi-lien-he- giua-van g-va-thi-truong-tien-te.html

    18

    USD theo thời điểm hoặc dài hạn để kiếm lợi nhuận và là phương tiện thanh toán, chính điều này cũng là yếu tố không hỗ trợ cho giá vàng.

    Các đồng tiền mạnh trong rổ tiền tệ khi tăng hoặc giảm thì có ảnh hưởng ít nhiều đến đến chỉ số USD, vì chỉ số USD được thiết lập bởi các đồng tiền EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF. Khi có sự thay đổi giá trị của các đơn vị tiền tệ này thì chỉ số USD sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, chúng ta có thể hình dung rằng, giá trị thời điểm của các đơn vị tiền tệ này ảnh hưởng gián tiếp đến giá vàng. Và khi một đơn vị tiền tệ mạnh ngoài USD, như EUR, JPY hay GBP tăng hoặc giảm mạnh do yếu tố kinh tế, chính trị, thì dòng chảy đầu tư hoặc đầu cơ mua hoặc bán vào đồng tiền này tăng mạnh. Một số chỉ số cơ bản mà nhà đầu tư có thể theo dõi khi phân tích giá vàng: USD Index, EUR/USD, giá dầu thô, giá bạc và sự tăng giảm của chỉ số chứng khoán trên các TTCK lớn.

    1. Mối quan hệ với thị trường vốn3

    Để tránh tình trạng đầu cơ tích trữ ngoại tệ và cụ thể là USD, chính phủ nước ta đã quy định trạng thái ngoại tệ theo quy định trước đây là +/-30% vốn tự có đã được thu hẹp lại còn +/-20%. Những quy định này còn giúp nước ta tránh được tình trạng USD hóa vốn.

    Trước đó, đầu năm 2011, thị trường ngoại hối có nhiều biến động với sự căng thẳng của tỷ giá USD/VND. Một số ý kiến cho rằng Ngân hàng Nhà nước cần thu hẹp trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng, thậm chí xuống còn +/-5%, để hạn chế khả năng đầu cơ, chuyển đổi vốn trong hệ thống gây bất lợi tới tỷ giá.

    1. Tác động của chính sách điều hành nền kinh tế vĩ mô

    Ổn định kinh tế vĩ mô có vai trò quan trọng về nhiều mặt. Nó giúp cho nền kinh tế không bị rơi vào vòng luẩn quẩn: tăng trưởng- lạm phát- thắt chặt- suy giảm- nới lỏng- lạm phát… Ổn định kinh tế vĩ mô giúp cho việc tăng trưởng hợp lý, để không làm lạm phát cao trở lại, thông qua các quan hệ cân đối tiền- hàng, cân đối cung- cầu, cân đối giữa sản xuất với sử dụng GDP…, từ đó giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững.

    Một khi kinh tế vĩ mô ổn định, thì nền kinh tế Việt Nam sẽ thu hút lượng ngoại hối trên thị trường trong nước, vừa giảm bớt tình trạng vàng hóa, đô la hóa, vừa tăng được dự trữ ngoại hối. Việc thu hút này là kết quả đồng thời cũng tác động trở lại đối với lòng tin vào đồng tiền quốc gia, thể hiện sự ổn định của giá vàng, giá USD. Bên cạnh đó, ổn định kinh tế vĩ mô cũng sẽ khiến lượng ngoại tệ vào từ các các nguồn tăng lên, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng tăng lên. Không những thế, nguồn ngoại tệ đến từ lượng kiều hối và từ chi tiêu của khách quốc tế cũng tăng lên.

    • Dựa vào: http://vneconomy.vn/20120321032635546P0C6/chinh-thuc-siet-trang-thai-ngoai-te-cac-ngan-hang.htm

    19

    C. KẾT LUẬN

    Qua kết quả phân tích mối liên hệ của từng thị trường, ta có thể thấy được một sự ảnh hưởng, tác động vô hình qua lại giữa các thị trường với nhau. Mối liên hệ đó được nhìn thấy thông qua sự biến động giá cả của hàng hóa, dịch vụ của từng thị trường. Tùy theo mối quan hệ (đồng biến hoặc nghịch biến) của các thị trường với nhau mà dẫn tới sự khác nhau khi thị trường này tác động lên thị trường kia.

    Nếu ta giả định rằng tất cả các mối quan hệ giữa các thị trường với nhau là trực tiếp, và sẽ có sự tác động lẫn nhau của từng thị trường, mỗi thị trường chỉ có quan hệ với hai thị trường thì ta có thể đơn giản hóa mối quan hệ của các thị trường bằng sơ đồ sau:

      Thị trường
      Vốn
    Thị trường Thị trường
    Bất động chứng
    sản khoán

    Thị trường

    Vàng

    Thị trường

    Ngoại tệ

    Hình 1 – Mối quan hệ của các thị trường khi đã được đơn giản hóa.

    Ngoài ra, các thị trường chịu sự điều tiết và quản lý của các chính sách kinh tế Vĩ mô do nhà nước ban hành. Các chính sách này đưa ra có tác động trực tiếp đến từng thị trường. Điều đó dẫn đến việc nếu nhìn trên một cái nhìn tổng thể thì tất cả các thị trường đều có chung một sợi dây liên kết vô hình, điều khiển từ phía sau 1 cách linh động và trực tiếp đó chính là chính sách vĩ mô của nhà nước. Chính vì lý do đó, việc đưa ra những chính sách hợp lý, thúc đẩy sự phát triển của các thị trường, hay của nền kinh tế nói chung là vô cùng bức thiết, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình kinh tế khá khó khăn hiện nay.

    20

    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Website:
    • wikipedia.com
    • vneconomy.vn
    • youtube.com
    • tailieu.vn
    • http://www.nmd.vn/
    • http://fnews.vn
    • http://moneybold.com/
    • goldenstar.net.vn

    Và còn rất nhiều website khác do quá trih2 tham khảo, cũng như việc dịch thuật từ tiếng Anh sang bài báo cáo…

    • Sách:

    Giáo trình “Tài Chính tiền tệ” do trường cấp Giáo trình “Kinh tế Vĩ mô” do trường cấp

    Sách “Tài chính quốc tế”  do Trần Ngọc Thơ – Nguyễn Ngọc Định biên soạn

    …cũng như rất nhiều sách khác, đọc lướt lấy tính chất tham khảo cho bài báo

    21


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam

    Tiểu luận Giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam

    Tiểu luận Giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài giảng Kế toán giao dịch ngoại tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Giao-d%E1%BB%8Bch-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam

    Trong các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp thường quan tâm và lo lắng về sự biến động của tỷ giá hối đoái. Các DN nhập khẩu lo tỷ giá tăng. Ngược lại, các DN xuất khẩu lo tỷ giá giảm. Hoạt động kinh tế ngày càng phát triển, xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập càng tăng, hoạt động XNK ngày càng mở rộng, các DN quan tâm ngày càng nhiều hơn đến rủi ro tỷ giá.

    Các công cụ giao dịch hối đoái sẽ giúp các Doanh Nghiệp Xuất Nhập Khẩu hạn chế sự biến động, phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Cùng với nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn (Forwward), giao dịch quyền lựa chọn tiền tệ (Currency Option) là một trong những công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính cho các Doanh Nghiệp Xuất Nhập Khẩu một cách có hiệu quả.

    Bên cạnh đó, việc nghiên cứu phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ sẽ làm đa dạng hoá các sản phẩm tài chính cho thị trường. Mặt khác, nó còn tạo ra công cụ để bảo vệ nhà đầu tư, các nhà xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp…trước những rủi ro của sự biến động về giá cả, lãi suất, tỉ giá thị trường.

    Trên thế giới, các giao dịch quyền chọn dựa trên các tài sản tài chính chiếm một tỉ trọng lớn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… Bên cạnh đó, do là những hàng hóa đặc biệt quan trọng nên quyền chọn vàng và dầu cũng chiếm một tỉ trọng khá lớn. Mặc dù các giao dịch quyền chọn phi tập trung chỉ chiếm khoảng 2% tổng giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, do thị trường quyền chọn còn khá mới mẻ, chưa phát triển nên các giao dịch quyền chọn phi tập trung chiếm một tỉ trọng tuyệt đối, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 4

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUNG VỀ GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN

    1..1 Lịịch sử hìình thành thịị trường quyền chọn

    • Các sản phẩm tài chính phái sinh nói chung mà quyền chọn nói riêng ra đời từ sự bất ổn của thị trường, nhằm mục đích tạo ra công cụ bảo vệ giá trị tài sản của nhà đầu tư trước sự thay đổi của giá cả thị trường. Vào giữa thế kỷ 15, tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi mua bán các vật phẩm, hàng hóa, v…v…lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, dần dần tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ 15, để tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc thống nhất các qui ước và cũng dần dần những qui ước này được sửa đổi hoàn chỉnh thành những qui tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia thị trường.
    • Phiên chợ đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có một bảng hiệu có hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “Mậu dịch trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”. Còn ba chiếc túi da tượng trưng cho 3 nội dung của Mậu dịch trường đó là: Hàng hóa, Ngoại tệ và Giá khoán động sản. Năm 1574 do eo biển dẫn tàu bè vào thị trấn bị lấp mất mà Mậu dịch trường Bruges mất hẳn sự phồn vinh của nó. Thị trường được dời đến Auvers, tại đây Mậu dịch trường đã phát triển mạnh và từ kinh nghiệm của nó mà Mậu dịch trường ở các nước đã bắt đầu phát triển. Tại London vào khoảng giữa thế kỷ 18 Mậu dịch trường Anh quốc đã được phát triển theo nguyên mẫu của Auvers được gọi là Stock Exchange. Tại các nước Châu Âu khác Mậu dịch trường cũng dần được thành lập nhưng cũng đã có ít nhiều cải tiến để phù hợp với điều kiện ở mỗi quốc gia. Sau một thời gian hoạt động Mậu dịch trường không còn đủ sức và phù hợp để tiến hành giao dịch trên cả 3 lĩnh vực với nội dung khác nhau. Cho nên giao dịch hàng hóa tách ra thành Khu thương mại, giao dịch ngoại tệ thành Thị trường hối đoái, giao dịch các hợp đồng về sau được gọi là “Thị trường tương lai”…. và giao dịch giá khoán động sản thành Thị trường chứng khoán.
    • Vào đầu những năm 1900 một nhóm công ty đã thành lập Hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn. Mục đích của Hiệp hội này là cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và những người bán lại với nhau. Nhà đầu tư muốn mua quyền chọn liên hệ với một công ty thành viên, công ty này sẽ cố gắng tìm người bán quyền chọn từ những khách hàng của họ hoặc của các công ty thành viên khác., nếu không

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 5

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    có người bán công ty sẽ tự phát hành quyền chọn với giá cả thích hợp. Thị trường hoạt động theo cách này gọi là thị trường OTC ( Over – the – counter market), các nhà kinh doanh không gặp nhau trên sàn giao dịch của thị trường.

    • Thị trường quyền chọn của hiệp hội các nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn chịu áp lực của hai yếu tố. Một là, không có thị trường thứ cấp, người mua quyền chọn không có quyền bán cho bên khác trước ngày đáo hạn. Hai là, không có kỹ thuật nào bảo đảm rằng người bán quyền chọn sẽ thực hiện hợp đồng, nếu người bán không thực hiện hợp đồng thì người mua phải tốn chi phí kiện tụng.
    • Trong thập niên 80 thị trường quyền chọn đối với ngoại tệ, chỉ số chứng khoán và hợp đồng future đã phát triển ở Mỹ. Thị trường chứng khoán Philadelphia là nơi giao dịch quyền chọn ngoại tệ đầu tiên. Thị trường Chicago Board Option Exchange trao đổi quyền chọn chỉ số chứng khoán của S & P 100 và S & P 500. Thị trường chứng khoán Mỹ giao dịch quyền chọn về chỉ số chứng khoán của một số thị trường chính, và thị trường chứng khoán New York giao dịch chỉ số NYSE.
    • Các thập niên 80 và 90 đã chứng kiến sự phát triển của thị trường OTC dành cho quyền chọn. Giao dịch OTC quyền chọn được thoả thuận qua điện thoại hơn là trên sàn giao dịch. Một bên đối tác thường là ngân hàng đầu tư, ngân hàng sẽ duy trì hạng mục đầu tư quyền chọn và bảo hộ bằng cách sử dụng một số công cụ. Bên còn lại là khách hàng của ngân hàng đầu tư như là nhà quản lý quỹ đầu tư (Fund manager) hoặc là người chịu trách nhiệm về vốn và ngoại hối của các tập đoàn lớn. Một thuận lợi của giao dịch quyền chọn trên thị trường OTC là chúng có thể được nối kết để đáp ứng nhu cầu cho khách hàng của ngân hàng đầu tư.
    • Quyền chọn là một trong những công cụ phái sinh được sử dụng khá phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển, công cụ phái sinh này có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro hữu hiệu trên thị trường tài chính nói chung và trên thị trường ngoại hối nói riêng.

    1..2 Địịnh nghĩĩa

    • Quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua (call) hoặc bán (put) một công cụ tài chính khác ở một mức giá và thời hạn được xác định trước. Người bán hợp đồng quyền chọn phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng nếu người mua yêu cầu. Bởi vì quyền chọn là một tài sản tài chính nên nó có giá trị và người mua phải trả một khoản chi phí nhất định (premium cost) khi mua nó.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 6

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày đáo hạn; thời gian từ khi ký hợp đồng quyền chọn đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn. Mức giá xác định áp dụng trong ngày đáo hạn gọi là giá thực hiện (exercise price hay strike price).
    • Quyền chọn không chỉ cho phép nhà đầu tư đón đầu xu thế của một đồng tiền mà nó còn cho phép giới hạn rủi ro thua lỗ. Bạn có thể kiếm được lợi nhuận từ options với bất cứ chiều nào của biến động giá: giá lên, giá xuống hay thậm chí là giá không biến động.
    • Một số thuật ngữ liên quan
    • Người mua quyền (holder) – là bên nắm giữ quyền chọn, và phải trả cho bên mua phí quyền chọn để được “quyền” mua hoặc bán một loại tài sản cơ sở nào đó. Tài sản cơ sở trên thị trường ngoại tệ như EUR, CHF, CAD,… Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng, bên mua có ba sự lựa chọn: (i) thực hiện hợp đồng quyền chọn nếu giá trên thị trường biến động theo hướng có lợi cho họ; (ii) bán hợp đồng quyền chọn cho bên thứ ba trên thị trường để hưởng chênh lệch giá; (iii) để quyền chọn tự động hết hiệu lực mà không tiến hành bất cứ một giao dịch mua bán nào nếu giá trên hợp đồng quyền chọn bất lợi hơn so với giá trên thị trường. Trường hợp không thực hiện quyền chọn, họ vẫn bị mất phí mua quyền. Do vậy, bên mua quyền bị lỗ chỉ giới hạn bằng phí quyền chọn nhưng có lời thì không giới hạn. Có hai loại người mua quyền: người mua quyền chọn mua (Buyer Call Option) và người mua quyền chọn bán (Buyer Put Option)
    • Người bán quyền (writer) – là bên phát hành quyền chọn, sau khi thu phí quyền chọn phải có nghĩa vụ luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch (mua hoặc bán) tài sản cơ sở đã thỏa thuận trong hợp đồng với bên mua – khi bên mua thực hiện quyền trong thời hạn đã thỏa thuận. Bên bán quyền chọn có lợi nhuận giới hạn (tối đa là phí quyền chọn), còn lỗ thì không giới hạn. Trên thị trường, có hai loại người bán quyền: người bán quyền chọn mua (Seller Call Option) và người bán quyền chọn bán (Seller Put Option).
    • Tài sản cơ sở (underlying assets) – Tài sản mà dựa vào đó quyền chọn được giao dịch. Giá cả trên thị trường của tài sản cơ sở là căn cứ để xác định giá trị của quyền chọn. Tài sản cơ sở trên thị trường ngoại tệ như EUR, CHF, CAD,…
    • Tỷ giá thực hiện (exercise or strike rate) – Tỷ giá sẽ được áp dụng nếu người mua quyền yêu cầu thực hiện quyền chọn.
    • Phí mua quyền (premium) – Chi phí mà người mua quyền phải trả cho người bán quyền để được nắm giữ hay sở hữu quyền chọn. Chi phí này thường được tính bằng một số nội tệ trên mỗi ngoại tệ giao dịch.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 7

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Trị giá hợp đồng quyền chọn (volume) – Trị giá được chuẩn hóa theo từng loại ngoại tệ và thị trường giao dịch.
    • Thời hạn của quyền chọn (maturity) – Thời hạn hiệu lực của quyền chọn. Quá thời hạn này quyền không còn giá trị.
    • Loại quyền chọn – Loại quyền mà người mua nắm giữ. Loại quyền chọn nào cho phép người mua có quyền được mua một loại tài sản cơ sở ở mức giá xác định trước trong thời hạn nhất định gọi là quyền chọn mua (call). Ngược lại, loại quyền chọn nào cho

    phép người mua có quyền được bán gọi là quyền chọn bán (put).

    • Một số lưu ý trong việc định giá hợp đồng quyền chọn
    • Việc ra giá một quyền chọn (premium) tuỳ thuộc vào tỷ giá thực hiện. Giá bán hợp đồng quyền chọn mua tăng khi tỷ giá thực hiện giảm và giá bán hợp đồng quyền chọn bán tăng khi tỷ giá thực hiện tăng.
    • Trong cả hai trường hợp, chọn mua và chọn bán, chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện quyết định giá bán tối thiểu của quyền chọn. Nếu giá bán tối thiểu của quyền chọn thấp hơn mức chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện thì một cơ hội kinh doanh chênh lệch giá sẽ xuất hiện (bỏ qua các yếu tố khác như hoa hồng, chênh lệch giữa giá bán và giá mua).
    • Sự chênh lệch lãi suất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định giá cả quyền chọn.

    1..3 Các lloạii quyền chọn

    • Một quyền chọn để mua tài sản với một mức giá thực hiện trước hay đúng vào ngày được ấn định gọi là quyền chọn mua (Call Option). Một quyền chọn cho phép chủ sở hữu của nó quyền bán tài sản với một mức giá ấn định trước đúng vào ngày được ấn

    định gọi là quyền chọn bán (Put Option).

    1.3.1  Quyền chọn mua

    • Hợp đồng quyền chọn mua (Call Option) là một loại hợp đồng tài chính diễn ra giữa hai bên, cho phép người mua hợp đồng có quyền mua một số lượng tài sản nhất định ở một mức giá ấn định trước, gọi là “strike price” hoặc “exercise price” – vào hoặc trước ngày đáo hạn của hợp đồng. Đổi lại, người mua hợp đồng (holder) phải trả cho người bán hợp đồng quyền chọn (writer) một khoản phí (call premium).
    • Nếu giá tài sản cơ sở tăng như dự đoán thì người mua hợp đồng sẽ thu được lợi nhuận trong khi chỉ phải đầu tư một khoản nhỏ (phí hợp đồng) hơn là phải bỏ tiền ra mua toàn bộ số tài sản đó, trường hợp này người ta nói hợp đồng quyền chọn mua có lãi (in-the-money call option), ngược lại hợp đồng quyền chọn mua bị lỗ (out-of-the

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 8

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    money call option). Về phía người bán, anh ta chỉ thu được một khoản lợi tức bằng với phí quyền chọn, nhưng khi người mua thực hiện hợp đồng thì người bán sẽ bị lỗ không giới hạn.

    • Nếu hợp đồng được thực hiện thì người bán sẽ phải từ bỏ quyền sở hữu đối với số tài sản đã xác định trong hợp đồng. Nếu người mua hợp đồng cảm thấy không có lợi anh ta có thể từ chối việc thực thi hợp đồng.
    • Trong hợp đồng quyền chọn mua, người mua bao giờ cũng kì vọng giá tài sản tăng trong khi người bán kì vọng giá tài sản đứng hoặc giảm hoặc cũng có trường hợp là do người bán sẵn sàng từ bỏ khoản lợi nhuận từ giá tài sản tăng để đổi lấy khoản phí thực hiện hợp đồng (được thanh toán ngay). Do có những nguồn thông tin khác nhau, cách phân tích, đánh giá khác nhau cho nên mới nảy sinh những kì vọng khác biệt giữa người mua và người bán, dẫn đến việc các hợp đồng quyền chọn (call option, put option) như thế này diễn ra.
    • Vị thế của người mua, người bán và phí quyền chọn được mô tả bằng hình sau:

    Hình 1.1: Vị thế của quyền chọn mua

    • Hình 1.1(a) mô tả thành quả của người mua quyền chọn mua với lợi nhuận tiềm năng là vô hạn khi giá của tài sản tăng trong tương lai. Ngược lại, nếu giá chứng khoán giảm so với giá thực hiện, người mua quyền chỉ lỗ với mức lỗ tối đa bằng với phí mua quyền chọn.
    • Hình 1.1(b) mô tả thành quả của người bán quyền chọn mua tài sản, người bán quyền chọn mua chỉ kiếm lời bằng khoản phí nhận được từ người mua quyền chọn, và sẽ bị

    thua lỗ vô hạn khi giá tài sản tăng so với giá thực hiện.

    Ví dụ: Trên thị trường, 1 Quyền chọn mua với thời gian đáo hạn là tháng 01/01/2012, giá thực hiện 16.000 đồng/1 USD với khối lượng giao dịch là 10.000 USD, có giá là

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 9

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    500.000 đồng. Một nhà đầu tư quyết định mua 10 quyền chọn. Hãy xem giá thị trường vào ngày 01/01/20012 và lợi nhuận của nhà đầu tư đó như thế nào.

    Nếu vào ngày 01/01/2012,giá của USD là:16.200 đồng/1 USD. Nhà đầu tư sẽ thực hiện quyền chọn mua với tổng chi phí gồm chi phí mua quyền chọn và chi phí mua 100.000 USD: 1,605,000,000 đồng. Sau đó dùng lượng tiền USD mua được theo HĐ Quyền chọn bán theo giá thị trường thu được: 1,620,000,000 triệu đồng.

    Như vậy lợi nhuận thu được là 15 triệu đồng. Mức lỗ cao nhất nhà đầu tư đó phảichịu là 5.000.000, vì nhà đầu tư có thể thực hiện hoặc không thực hiện Quyền chọn. Mức lợi nhuận thì đồng biến theo sự tăng giá của đồng USD.

    • Lợi nhuận của nhà đầu tư tổng quát như sau:
    Giá hiện hành (S) Lợi nhuận (P)
       
    S =< 16.000 P = -5.000.000
       
    S = 16.050 P = 0
       
    16.000 < S <16.050 -5.000.000 < P < 0
       
    S > 16.050 P > 0
       
       

    1.3.2  Quyền chọn bán

    • Nếu như Call option là hợp đồng quyền chọn mua thì ngược lại với nó có một loại hợp đồng quyền chọn khác là Put option, hợp đồng quyền chọn bán. Hợp đồng quyền chọn bán là một hợp đồng tài chính giữa hai bên, theo đó người mua hợp đồng (holder) có quyền bán cho người bán hợp đồng (writer) một số tài sản nhất định tại một mức giá xác định (strike price, exrcise price), vào hoặc trước ngày đáo hạn hợp đồng (expiration date). Để đổi lại người mua phải trả cho người bán một khoản phí hợp đồng (option premium).
    • Cần lưu ý trong hợp đồng quyền chọn bán người mua hợp đồng lại chính là người có quyền bán tài sản. Người mua hợp đồng sẽ có lợi nếu giá tài sản sụt giảm mạnh, khi đó nếu người mua hợp đồng quyết định thực thi quyền bán (exercise the option), người bán hợp đồng buộc phải mua số tài sản đó. Ngược lại, người bán hợp đồng (người có

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 10

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    nghĩa vụ mua tài sản khi đến hạn nếu người mua hợp đồng yêu cầu) sẽ thu lợi khi giá chứng khoán tăng, đứng, hoặc giảm ít hơn khoản phí hợp đồng nhận được.

    • Hợp đồng quyền chọn bán là một cách để nhà đầu tư bảo hiểm cho tài sản của mình khi ông ta dự đoán tài sản đó có khả năng tụt giá trong tương lai, đồng thời không muốn bán hẳn số tài sản đó hoặc để đầu cơ thu lợi trước dự đoán đó. Dù trường hợp nào có xảy ra chăng nữa thì rủi ro người mua hợp đồng cũng chỉ giới hạn trong số phí hợp đồng. Hợp đồng quyền chọn bán phổ biến nhất đối với cổ phiếu của một số công ty nhất định, ngoài ra, hợp đồng put option còn được mua bán với tài sản tài chính như lãi suất, hoặc mặt hàng thực như vàng, dầu mỏ.
    • Ngược lại với quyền chọn mua, vị thế của người mua, người bán và phí quyền chọn được mô tả bằng hình sau:

    Ø

    Hình 1.2 Vị thế của quyền chọn bán

    • Tương tự, hình 1.2(a) mô tả thành quả của người mua quyền chọn bán và hình 1.2(b) mô tả thành quả của người bán quyền chọn bán. Với một khoản phí để sở hữu quyền, người mua quyền chọn bán chỉ lỗ giới hạn bằng với khoản phí đã trả khi mua quyền chọn mua tài sản và có lời vô hạn khi giá của tài sản giảm. Ngược lại, người bán quyền chọn bán chỉ thu về có giới hạn bằng với phí bán quyền chọn nhưng nếu giá tài sản giảm thì họ sẽ gánh chịu một khoản lỗ là vô hạn
    • Như vậy, khi nhà đầu tư có dự định mua tài sản và kỳ vọng giá của tài sản đó sẽ tăng lên trong tương lai thì họ sẽ phòng ngừa rủi ro bằng cách mua một quyền chọn mua. Ngược lại khi nhà đầu tư đang sở hữu tài sản và họ dự đoán trong tương lai giá tài sản sẽ giảm thì sự lựa chọn cho nỗi lo về giá của họ đối với tài sản đang sở hữu là mua một quyền chọn bán.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 11

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Nếu như vậy, không có nghĩa là người bán quyền chọn mua và chọn bán là những kẻ liều lĩnh hay thích đùa, đánh đổi một ít lợi nhuận bằng cả một rủi ro thua lỗ vô hạn. Trên thị trường các nhà đầu tư khác nhau sẽ có nhận định và đánh giá khác nhau về xu hướng thay đổi của thị trường vì vậy họ sẽ hành động theo nhận định, phân tích, dự báo của mình. Ngoại trừ họ vững tin xu thế giá cả tài sản sẽ biến động theo hướng kỳ vọng, bằng cách này hay cách khác họ sẽ tiến hành bù trừ vị thế rủi ro hay tự bảo vệ mình khỏi thua lỗ bằng cách kết hợp nhiều chiến lược một cách khôn khéo và độc đáo.

    Ví dụ: Quyền chọn bán 10.000 USD, thời gian đáo hạn 01/01/2012, giá đáo hạn 16.000 đồng/1 USD có giá là 500.000 đồng. Một nhà đầu tư dự đoán rằng giá USD sẽ giảm, mua 10 Quyền chọn bán. Chúng ta sẽ xét xem lợi nhuận của nhà đầu tư đó như thế nào.

    Vào ngày 1/1/2012. Giá USD hiện hành là 15.900. Nhà đầu tư sẽ bỏ tiền mua 100.000 USD và sử dụng quyền chọn bán để bán 100.000 USD đó với giá thực hiện 160.000. Vậy Tổng chi phí nhà đầu tư là: 1.595.000.000 đồng, thu được: 1.600.000.000, Chênh lệch thu được: 5.000.000 đồng.

    Xem xét một cách tổng thể, giá hiện hành và lợi nhuận của người đó như sau:

    Giá hiện hành (S) Lợi nhuận (LN)
       
    S >= 16.000 LN = -P
       
    15.950 < S < 16.000 -P < LN <0
       
    S = 15.950 LN = 0
       
    S < 15.950 LN > 0
       
       

    1..4 Các chủ thể tham giia thịị trường

    • Những người phòng ngừa rủi ro: các tổ chức tài chính và phi tài chính hay cá nhân tham gia thị trường quyền chọn. Họ tham gia thị trường với tư cách là người mua quyền để thực hiện bảo hiểm rủi ro về tỷ giá, lãi suất…
    • Các nhà đầu tư, đầu cơ: các tổ chức tài chính và phi tài chính hay cá nhân tham gia thị trường với mục đích đầu cơ vào sự chênh lệch tỷ giá, lãi suất.
    • Các tổ chức tài chính trung gian: gồm các NHTM, NH đầu tư, công ty chứng khoán… tham gia thị trường với muc đích đầu tư hoặc bảo hiểm rủi ro.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 12

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    1..4..1 Theo thờii điiểm thực hiiện quyền chọn

    Kiểu quyền chọn – Kiểu giao dịch do hai bên thỏa thuận cho phép người mua quyền được lựa chọn thời điểm thực hiện quyền.

    • Kiểu quyền chọn cho phép người mua quyền được thực hiện bất cứ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của quyền chọn gọi là quyền chọn kiểu Mỹ.
    • Kiểu quyền chọn chỉ cho phép người mua thực hiện khi quyền chọn đến hạn gọi là quyền chọn kiểu châu Âu.

    1..4..2 Theo thịị trường giiao dịịch

    • Thị trường tập trung : là quyền chọn được tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn được giao dịch trên các thị trường tập trung như Chicago Board of Trade, thị trường chứng khoán New York.
    • Thị trường phi tập trung (OTC): là thỏa thuận mua bán của hai bên, theo đó quyền chọn được người bán đưa ra theo thỏa thuận với người mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của người mua, chúng không được giao dịch trên các sở giao dịch tập trung.

    1..5 Vaii trò của quyền chọn

    • Hợp đồng quyền chọn, ngoài việc được sử dụng như một công cụ đầu cơ, còn được sử dụng như một công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối cho cả hai trường hợp: phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với khoản phải trả và giá đối với khoản phải thu bằng ngoại tệ.

    Ví dụ: Để minh họa cho việc sử dụng quyền chọn vào mục đích đầu cơ chúng ta xem xét tình huống mô tả như sau: Hiện tại tỷ giá EUR/USD là 1,2412 – 82. Giả sử khách hàng G dự báo ba tháng nữa EUR sẽ lên giá so với USD trong khi khách hàng H ngược lại dự báo EUR sẽ xuống giá so với USD. Cả hai khách hàng này đều có mục tiêu đầu cơ kiếm lời từ thị trường ngoại hối.

    Khách hàng G có thể đầu cơ bằng cách mua 100.000EUR giữ đó để ba tháng sau khi EUR lên giá bán lại kiếm lời. Muốn vậy, ngay hiện tại G phải bỏ ra 100.000 x 1,2482 = 124.820 USD để mua 100.000EUR. Do không có được ngay ở hiện tại số tiền khá lớn này nên giấc mơ đầu cơ của G khó có thể thực hiện được. Thời cơ không thể đến được, dù G là người có hiểu biết. Để tạo điều kiện cho G thử thời vận, NH A chào cho G một hợp đồng quyền chọn mua, có những điều khoản như sau:

    • Người bán quyền: NH A

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 13

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Người mua quyền: G

     

    • Loại quyền: chọn mua (call)

     

    • Kiểu quyền: kiểu Mỹ

     

    • Số lượng ngoại tệ: 100.000EUR

     

    • Tỷ giá thực hiện: 1,2502

     

    • Thời hạn hiệu lực của quyền chọn: 90 ngày kể từ ngày thoả thuận

     

    • Phí mua quyền: 0,02USD cho mỗi EUR.

    Với hợp đồng quyền chọn, G không phải mua 100.000EUR và do đó không phải bỏ ra 124.820USD ở hiện tại. G chỉ mua quyền được mua trị giá 100.000EUR ở mức tỷ giá 1,2502 USD cho mỗi EUR và chi phí mua quyền G phải bỏ ra ở hiện tại là: 0,02 x 100.000 = 2.000USD. Chỉ bỏ ra 2.000USD thay vì phải bỏ ra 124.820USD có thể dễ dàng hơn cho G thử thời vận của mình.

    • Quyền chọn mua có thể được sử dụng như một công cụ phòng ngừa rủi ro đối với các khoản phải thu và phải trả. Ví dụ như:

    Ví dụ 1: Một doanh nghiệp (DN) trong vòng 3 tháng tới phải thanh toán một lượng ngoại tệ rất lớn, để phòng ngừa ngoại tệ lên giá, DN đó có thể bỏ ra một khoản chi phí để mua quyền chọn mua loại ngoại tệ đó ở giá thực hiện đúng với giá mà DN đó mong muốn, như vậy, rủi ro tăng giá đối với DN đó đã bị triệt tiêu.

    Ví dụ 2: Một DN sẽ được thanh toán một lượng ngoại tệ lớn trong thời gian tới, nhưng có nhận định trong thời gian tới tỷ giá ngoại tệ sẽ giảm, DN sẽ ngăn ngừa rủi ro bằng cách mua quyền chọn bán cho lượng ngoại tệ sẽ được thanh toán, và như vậy tỷ giá ngoại tệ sẽ được DN đó cố định.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 14

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ GIAO DỊCH

    QUYỀN CHỌN NGOẠI TỆ TẠI VIỆT NAM

    2..1     Cơ sở pháp llý

    2..1..1  Cơ sở pháp llý lliiên quan đến chíính sách ngoạii hốii

    • Thống đốc ngân hàng nhà nước đã ký quyết định 17/1998/QĐ-NHNN ngày 10/01/1998 ban hành quy chế giao dịch hối đoái (quyết định 17). Quy chế này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất, đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của ngân hàng nhà nước về lĩnh vực ngoại hối. Tuy nhiên, với quyết định này thì giao dịch ngoại hối chỉ mới được thực hiện thông qua các công cụ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi.
    • Nghị định 05/2001/NĐ-CP ngày 17/01/2001 về quản lý ngoại hối.
    • Quyết định 648/2002-2004/QĐ-NHNN về cơ chế thỏa thuận tỷ giá kỳ hạn giữa ngân hàng thương mại với khách hàng trên cơ sở chênh lệch lãi suất.
    • Quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về điều chỉnh giao dịch hối đoái của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
    • Đặc biệt là pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 01/6/2006, pháp lệnh này như một khuôn khổ thống nhất về quản lý ngoại hối. Theo đó, ngân hàng nhà nước nới lỏng kiểm soát ngoại tệ, tự do hóa các giao dịch, tăng quyền tự chủ cho các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng, làm cho thị trường ngoại tệ diễn ra uyển chuyển và linh hoạt hơn.
    • Tháng 5/2004, ngân hàng nhà nước đã bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi suất. Tháng 7/2006, ngân hàng nhà nước bỏ biên độ giao dịch USD bằng tiền mặt.
    • Biên độ giao dịch USD không ngừng được mở rộng, ngày 10/3/2008 biên độ được xác định là +/-1%, sau đó được nâng lên thành +/-2%, +/-3%, ngày 11/02/2011 biên độ này lại được thu hẹp xuống +/-1%. Việc biên độ tỷ giá thay đổi phản ánh chính xác quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời chính việc này đã làm rủi ro hối đoái không ngừng tăng lên.
    • Giai đoạn năm 1998-2008, với sự thông thoáng hơn trong cơ chế chính sách, thị trường ngoại hối có nhiều khởi sắc với hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ sôi động hơn, tạo cơ hội để mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng trong nước và nước

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 15

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    ngoài. Những chính sách này đã mở ra nhiều nghiệp vụ mới đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, …giúp doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn để bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại.

    2..1..2  Cơ sở pháp llý về giiao dịịch quyền chọn giiữa ngoạii ttệ vớii ngoạii ttệ

    • Công văn số 135/NHNN-QLNH ngày 12/02/2003 về giao dịch quyền chọn ngoại tệ đã có các quy định cụ thể nhằm triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ ở các ngân hàng như về đối tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn giao dịch, giới hạn số dư…
    • Sau 7 năm đi vào hoạt động, đến cuối năm 2004, quyết định 17 đã phát sinh những hạn chế. Vì vậy, ngày 10/11/2004, thống đốc NHNN đã ký quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng để thay thế quyết định 17 và khắc phục những hạn chế này. Quyết định này có những điểm mới như chính thức cho phép tất cả các tổ chức tín dụng được phép thực hiện các giao dịch hối đoái đều được quyền thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ mà không cần phải xin phép ngân hàng nhà nước. Qua đó, thời điểm này ngân hàng nhà nước đã chấm dứt thời gian thí điểm nghiệp vụ này. Đồng thời, quy định kỳ hạn của giao dịch quyền chọn giữa các ngoại tệ với nhau do tổ chức tín dụng được phép và khách hàng tự thỏa thuận. Quy định này là một sự chuyển biến lớn trong cung cách quản lý các hoạt động giao dịch ngoại hối giúp thị trường quyền chọn nước ta ngày càng đa dạng hơn. Bên cạnh đó, quyết định này cho phép các cá nhân được phép tham gia ngoài các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế, tổ chức khác và ngân hàng nhà nước. Đây thực sự là một cơ hội cho các nhà đầu tư cá nhân có thêm một sân chơi mới trên thị trường tiền tệ.

    2..1..3  Cơ sở pháp llý về giiao dịịch quyền chọn giiữa ngoạii ttệ vớii nộii ttệ

    • Ngày 18/4/2005, NHNN đã có công văn số 326/NHNN-QLNH cho phép ngân hàng Á Châu triển khai thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Theo công văn này, NHNN đã đưa ra những quy định cụ thể về các loại ngoại tệ được giao dịch, cơ sở tính phí quyền chọn, thời hạn giao dịch, đối tượng giao dịch… những quy định này là cơ sở để triển khai thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ tại các ngân hàng thương mại khác dưới sự cho phép của NHNN.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 16

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Ngày 29/8/2006, NHNN cũng đã ban hành công văn số 7404/NHNN-KTTC. Nội dung chính của công văn này gồm có các hướng dẫn cụ thể, chi tiết về nguyên tắc và nội dung kế toán đối với các nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, để giải quyết vấn đề hạch toán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ tại các NHTM.
    • Ngày 18/3/2009, NHNN ban hành Văn bản số 1820/NHNN-QLNH, yêu cầu tất cả các ngân hàng thương mại kể từ 23/3/2009 phải dừng thực hiện nghiệp vụ “quyền chọn USD – VND”.

    2..2 Thực trạng triiển khaii quyền chọn ngoạii tệ của các tổ chức tàii chíính (TCTT) ở Viiệt Nam trong thờii giian qua

    2..2..1  Quyền chọn ngoạii ttệ vớii ngoạii ttệ

    2.2.1.1 Ngân hàng tham gia

    • Trong giai đoạn thí điểm, các NHTM muốn thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ phải là ngân hàng đã được cấp phép kinh doanh ngoại hối, có vốn tự có tối thiểu là 200 tỷ VNĐ, kinh doanh ngoại tệ có lãi trong ít nhất 5 năm gần nhất và doanh số mua bán ngoại tệ của năm trước tối thiểu là 1 tỷ USD. Ngoài ra, NHTM phải lập ra quy trình nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và trình cho thống đốc NHNN chấp thuận bằng văn bản cho thực hiện thí điểm.
    • Theo công văn số 135/NHNN-QLNH, cho phép Eximbank là ngân hàng đầu tiên trong cả nước được thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ. Sau Eximbank, NHNN cũng cho phép 7 ngân hàng khác thực hiện thí điểm nghiệp vụ này, gồm có hai ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là Citibank, HSBC chi nhánh TPHCM và 5 ngân hàng trong nước là BIDV, ACB, Vietcombank, ICB, và Agribank.

    2.2.1.2 Đặc điểm giao dịch

    • Người mua quyền chọn: các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.
    • Người bán quyền chọn: các NHTM.
    • Đồng tiền giao dịch: giao dịch bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.
    • Kiểu quyền chọn: kiểu Mỹ hoặc Châu Âu.

    2.2.1.3 Doanh số giao dịch

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 17

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Tính đến tháng 6/2004, mặc dù lợi ích trong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm rủi ro đã thấy rõ như một nhu cầu cấp thiết, nhưng số lượng hợp đồng được ký kết chỉ dừng lại con số 50 hợp đồng quyền chọn với doanh số thực hiện hơn 50 triệu USD của Eximbank ký với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong thời gian thí điểm nghiệp vụ quyền chọn, còn 6 ngân hàng còn lại không ký được hợp đồng nào.
    • Từ 2004 đến 2007, mặc dù không còn giới hạn về số lượng NHTM tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ nhưng thực tế cho thấy các hoạt động mua bán này chưa thực sự sôi động, chỉ tập trung vào chi nhánh các ngân hàng nước ngoài như HSBC hay Citibank và một số ít NHTM Việt Nam như Eximbank, Techcombank, còn lại các ngân hàng vẫn không có giao dịch.

    Nhận xét: Với nghiệp vụ này, chắc chắn tương lai sẽ được mở rộng bởi khi đó VNĐ sẽ có cơ hội tiếp cận với thị trường tài chính thế giới. Vị thế của VNĐ và Việt Nam cũng qua đó mà tăng lên. Tuy nhiên, vì đang trong giai đoạn thí điểm nên các ngân hàng này bị giới hạn bởi thời gian thực hiện. Sau 4 năm hoạt động, công cụ phòng ngừa rủi ro đã có những bước phát triển nhưng vẫn chưa thu được kết quả như mong muốn, và hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa thiết tha với các nghiệp vụ này lắm. Dù gặp phải một số khó khăn trong việc áp dụng, song các công cụ này đang là nhu cầu cấp thiết cho các doanh nghiệp và là cơ hội cho các ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh trong giai đoạn hiện nay.

    2..2..2  Quyền chọn ngoạii ttệ vớii nộii ttệ

    2.2.2.1 Ngân hàng tham gia

    • Tháng 4/2005 NHNN Việt Nam đã bắt đầu cho triển khai thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ. ACB là ngân hàng đầu tiên được thí điểm nghiệp vụ này, với mức tối đa giá trị hợp đồng là 10 triệu USD và mức tối thiểu là 10.000 USD (quy đổi ngoại tệ khác tương đương mức này cho quyền chọn giao dịch giữa các ngoại tệ khác và VNĐ).
    • Tiếp theo ACB là ngân hàng Techcombank với giá trị hợp đồng là 8 triệu USD-100.000 USD và chỉ được thực hiện với quyền chọn Châu Âu. BIDV được phép thí điểm từ ngày 22/8/2005 và kể từ đây không còn quy định giới hạn cho giá trị hợp đồng quyền chọn. Ngoài ra, còn có các ngân hàng như Eximbank, GPbank cũng tham gia nghiệp vụ này. Như vậy, tính đến tháng 5/2008, đã có 7 ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 18

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    2.2.2.2 Đặc điểm giao dịch

    Cũng giống với giao dịch giữa quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, quyền chọn ngoại tệ với VNĐ yêu cầu các ngân hàng thương mại muốn thực hiện nghiệp vụ này phải có đề án chi tiết quy trình nghiệp vụ, phương án phòng ngừa rủi ro, và được ngân hàng nhà nước chấp nhận bằng văn bản. Quy định về tỉ giá thực hiện như sau:

    • Đối với hợp đồng quyền chọn USD/VNĐ: tỷ giá này không vượt quá tỷ giá kỳ hạn USD/VNĐ cùng thời hạn.
    • Đối với hợp đồng quyền chọn giữa ngoại tệ khác với VNĐ: tỷ giá do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận.

    2.2.2.3 Doanh số giao dịch

    • Mặc dù được triển khai từ năm 2005, nhưng doanh số mua bán thực tế của các ngân hàng thương mại không đáng kể, hầu hết các giao dịch đều được tiến hành theo kiểu Mỹ vì điều kiện thanh toán linh hoạt hơn. Qua kết quả thăm dò, các ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ mới thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể. Riêng Vietcombank và Eximbank được xem là hai ngân hàng mạnh về lĩnh vực này nhưng doanh số hoạt động vẫn không cao. Tính trong năm 2006 – 2007 Vietcombank chỉ đạt khoảng 3,53 triệu USD (chiếm chưa đến 0,1% tổng doanh số giao dịch ngoại tệ), Eximbank đạt 128,12 triệu USD (chiếm khoảng 0,8% trong tổng số giao dịch ngoại tệ).

    Nhận xét: Qua thực tế trên, chúng ta thấy rằng giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ chưa phát triển. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng với kết quả ban đầu trong giai đoạn thí điểm này là một dấu hiệu đáng mừng góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển sau này. Tuy nhiên 18/3/2009, Ngân hàng Nhà nước ban hành Văn bản số 1820/NHNN – QLNH, yêu cầu tất cả các ngân hàng thương mại kể từ 23/3/2009 phải dừng thực hiện nghiệp vụ này đồng nghĩa với việc nghiệp vụ quyền chọn giữa VND và ngoại tệ biến mất hoàn toàn trên thị trường.

    2..3 Những khó khăn và thuận llợii ảnh hưởng đến thịị trường quyền chọn ngoạii tệ Viiệt Nam

    2..3..1 Những khó khăn ảnh hưởng đến tthịị ttrường quyền chọn ngoạii ttệ Viiệtt Nam a. Cơ sở pháp lý

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 19

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    Chúng ta có thể nhận thấy rằng các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách quản lý ngoại hối và quyền chọn ngoại tệ được ban hành là khá nhiều nhưng chúng vẫn chưa quy định cụ thể và chưa thúc đẩy được các giao dịch mua bán quyền chọn phát triển, chỉ mang tính tức trong ngắn hạn sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư… trong việc hoạch định các chiến lược dài hạn để kinh doanh trên thị trường.

    1. Thị trường

    Nguyên nhân chủ yếu là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, ngoại hối… của nước ta còn thấp, tư duy kinh doanh truyền thống còn phổ biến và Việt Nam, chưa phải chịu ảnh hướng lớn từ những cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nên việc sử dụng các công cụ phái sinh chưa thực sự phát triển.

    Thêm vào đó, do mức độ hiệu quả của thị trường ngoại hối còn yếu nên các giao dịch quyền chọn nói chung không minh bạch và gây thiệt hại cho nhà đầu tư, doanh nghiệp nếu thiếu thông tin. Đây cũng là một trong những lý do chính khiến các nhà đầu tư còn dè dặt áp dụng đối với các công cụ quyền chọn ngoại tệ.

    1. Sự điều tiết tỷ giá USD/VND

    Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VNĐ không dao động mạnh, do có sự điều tiết từ phía ngân hàng nhà nước khiến cho tỷ giá ổn định theo chiều hướng đi lên để khuyến khích xuất khẩu. Với xu hướng tỷ giá này, các nhà đầu tư luôn muốn thực hiện quyền chọn mua ngoại tệ để kiếm lợi nhuận chứ không mua quyền chọn bán. Do đó, từ sự giao dịch một chiều này, sẽ tạo ra những rủi ro cho ngân hàng khi bán quyền chọn ngoại tệ. Để giảm rủi ro, ngân hàng phải tăng phí bán quyền chọn khiến cho quyền chọn càng không có điều kiện thực hiện và không còn muốn mua quyền chọn nữa. Vòng luẩn quẩn này gây khó khăn cho cả nhà đầu tư và phía ngân hàng.

    1. Biên độ giao dịch USD

    Biên độ giao dịch giao động ở mức thấp đồng nghĩa với rủi ro đối với tỉ giá giảm đi đáng kể, hạn chế phần nào tâm lý phòng ngừa rủi ro của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do đó, làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.

    1. Vấn đề hạch toán kế toán

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 20

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    Hiện nay, trong hạch toán kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm.

    Chẳng hạn, doanh nghiệp mua một hợp đồng phái sinh, cụ thể là một hợp đồng quyền chọn trị giá 1 tỷ đồng và bút toán ghi sổ 1 tỷ đồng nhưng ngày mai, ngày kia, giá trị “hàng hóa” đã mua chỉ còn 800 triệu đồng hoặc lên 1,5 tỷ đồng thì sổ sách kế toán vẫn chỉ thể hiện 1 tỷ đồng. Thực tế này đã không những không phản ánh hết giá trị thực trong hệ thống sổ sách kế toán mà còn là kẽ hở của tình trạng “lãi giả, lỗ thật” và ngược lại trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp.

    1. Cách tính phí quyền chọn

    Trên thị trường ngoại hối, đối với quyền chọn ngoại tệ, hiện nay hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam do một số hạn chế, vẫn chưa thể tự mình đứng ra phát hành hay cung cấp các quyền chọn ngoại tệ trực tiếp cho khách hàng, mà chỉ đóng vai trò như một trung gian môi giới quyền chọn giữa các ngân hàng lớn khác và khách hàng. Thường là theo yêu cầu của khách hàng, các ngân hàng sẽ liên hệ với các ngân hàng đối tác ở nước ngoài (thường là các ngân hàng lớn), hoặc thậm chí là một ngân hàng lớn trong nước để mua một quyền chọn rồi bán lại cho khách hàng của mình. Qui trình này dẫn đến một hệ quả là các ngân hàng muốn có lợi nhuận thì tiền phí (giá) của quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng phải theo công thức sau:

    Giá (phí) quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng = Giá phí quyền chọn ngoại tệ mua của các NH đối tác (trong và ngoài nước) + chi phí để phục vụ hợp đồng options ngoại tệ này + khoảng chênh lệch lợi nhuận cho ngân hàng.

    Cách tính phí (giá) quyền chọn như trên đã làm đội chi phí thực hiện một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ của khách hàng, làm cho họ cảm thấy mua một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ không còn có lợi do chi phí qua cao, không hiệu quả. Điều này cũng đã trở thành một lực càn cho các giao dịch quyền chọn ngoại tệ cũng như thị trường quyền chọn phát triển ở Việt Nam trong hiện tại.

    1. Trình độ nhận thức của nhà đầu tư

    Theo các chuyên gia tài chính, do sản phẩm quyền chọn khá phức tạp nên hiện nay, các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước vẫn ngại sử dụng. Thêm vào đó, hiểu biết của doanh nghiệp và nhà đầu tư về các sản phẩm này vẫn còn khá hạn chế.

    Trong khi đó, các tổ chức cung cấp, đặc biệt là ngân hàng vẫn còn yếu trong tuyên truyền, tiếp cận khách hàng. Lãnh đạo của một ngân hàng quốc doanh cho biết: “Lý do

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 21

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    một phần vì doanh thu của các sản phẩm quyền chọn ngoại tệ vẫn còn hạn chế nên các ngân hàng chưa quan tâm đúng mức tới việc quảng bá sản phẩm.”

    Bảng 1: Kết quả khảo sát về việc sử dụng công cụ quyền chọn ngoại tệ

    (Nguồn: Báo cáo tại hội thảo khoa học 2007 về “giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam)

    Loại Doanh nghiệp Doanh nghiệp ít Doanh  nghiệp thường Tổng
    chưa biết   sử dụng xuyên sử dụng   cộng
         
                 
    Quyền  chọn 21%   58% 21%   100%
    ngoại tệ    
               
                 
                 

    Tham gia thị trường tài chính Việt Nam còn thiếu các doanh nghiệp và nhà đầu tư am hiểu về lợi ích cũng như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này. Các nhà môi giới chuyên nghiệp, các trung gian tài chính đủ năng lực tổ chức thị trường quyền chọn còn quá ít trên thị trường tiền tệ, ngoại hối nên chúng ta chưa thể thúc đẩy họ tham gia mạnh mẽ vào thị trường.

    1. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghệ

    Việc trang bị các hệ thống kết nối, thông tin đến khách hàng khá là phức tạp, các phần mềm định giá quyền chọn, phân tích thị trường… đều có giá rất cao, mà không phải ngân hàng nào cũng có thể trang bị được. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ.

    Đối với nghiệp vụ quyền chọn, việc trang bị hệ thống kỹ thuật công nghệ càng phức tạp và tốn kém hơn, đặc biệt là khi muốn kết nối với sàn giao dịch quyền chọn tập trung sau này, nếu doanh nghiệp không tính toán kỹ, có thể gây ra thua lỗ lớn.

    1. Việc đào tạo nguồn nhân lực

    Thị trường quyền chọn Việt Nam hiện nay chưa phát triển nên nguồn nhân lực chưa được chuẩn bị kỹ về kiến thức, khả năng chuyên môn và việc sử dụng thành thạo các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ngoại tệ là rất ít. Chúng ta chỉ tổ chức các buổi hội thảo khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam và các nhà đầu tư chứng khoán áp dụng các công cụ quyền chọn ngoại tệ để tự bảo vệ mình, nhưng hầu như chưa tổ chức

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 22

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    các khóa đào tạo chuyên sâu về quyền chọn và phòng ngừa rủi ro đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư.

    2..3..2 Những tthuận llợii ttrong viiệc phátt ttriiển tthịị ttrường quyền chọn ngoạii ttệ Viiệtt Nam a. Về phía ngân hàng

    Hiện nay, chúng ta nhận thấy rằng các ngân hàng ngày càng chú trọng đến sự phát triển cung cấp các giao dịch ngoại hối mặc dù ngân hàng nhà nước vẫn can thiệp và giữ tỷ giá tương đối ổn định. Việc phát triển các nghiệp vụ này ngoài mục đích giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn đồng thời áp dụng các công cụ quyền chọn để quản lý rủi ro, đây còn là cơ hội cạnh tranh cho các ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm cung cấp, đồng thời đón trước được nhu cầu cấp thiết trong việc sử dụng các công cụ này trong thời gian tới của doanh nghiệp.

    1. Về phía doanh nghiệp

    Các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian trước đây, còn ỷ lại vào sự che chở của cơ quan nhà nước, do vậy các doanh nghiệp đã không quan tâm đến vấn đề rủi ro tỷ giá đúng mức, nhưng trong thời gian hiện tại với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và những rủi ro trong quá trình hội nhập buộc các doanh nghiệp phải chú trọng quan tâm đến các công cụ phòng ngừa rủi ro như quyền chọn để tự bảo vệ mình.

    1. Yêu cầu ngày càng cao về công khai và minh bạch hóa thông tin

    Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, tính cạnh tranh ngày càng cao, vấn đề công khai hóa, minh bạch hóa thông tin thị trường, nền kinh tế ngày càng được đòi hỏi, yêu cầu cao hơn. Việc thành lập thị trường quyền chọn nói chung và thị trường quyền chọn ngoại tệ nói riêng ở Việt Nam sẽ giúp các hoạt động này diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường một cách công bằng hơn so với trước đây, chúng ta sẽ giảm được độc quyền, sự phân biệt và các giao dịch bí mật trong thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả trong hoạt động quảng bá sản phẩm của các ngân hàng.

    1. Cơ chế chính sách thông thoáng khi Việt Nam gia nhập WTO

    Mở cửa thị trường vào không gian WTO, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất đã được tự do hoá; lộ trình tự do hóa tài chính đã đi qua rất nhiều bước và trên thực tế, các luồng vốn đã tương đối tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam cả trực tiếp và gián tiếp với qui mô, tần suất ngày càng lớn; chính sách tỷ giá cũng từng bước linh hoạt theo tín hiệu thị trường… Những bối cảnh trên đã, đang là những nhân tố khách quan thúc

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 23

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    đẩy các bên tham gia thị trường tài chính Việt Nam phải đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của thị trường phái sinh nói chung và thị trường quyền chọn ngoại tệ nói riêng trong công tác phòng ngừa rủi ro của mình.

    1. Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam

    Nhìn một cách tổng thể, những năm gần đây và nhất là trong những năm hậu WTO, chỉ riêng các doanh nghiệp nước ngoài đã, đang và sẽ đưa vào Việt Nam một lượng vốn ngoại tệ khổng lồ để đầu tư, đặc biệt là trong trong giai đoạn 2007-2008. Trong số đó có không ít doanh nghiệp FDI chỉ bán hàng trong nước, thu tiền đồng. Họ phải bán ngoại tệ (chủ yếu vẫn là USD) thu VNĐ để thanh toán cho các chi phí, hoặc dùng lượng ngoại tệ này để nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài. Sau một thời gian, khi có lợi nhuận, họ được chuyển tiền về nước và cần dùng VNĐ mua ngoại tệ chuyển ra… Trong quá trình đó rủi ro tỉ giá là một điều luôn tiềm ẩn đối với các doanh nghiệp này. Khi đó, công cụ quyền chọn ngoại tệ sẽ giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro tỷ giá nếu được sử dụng trong những trường hợp này, giúp các doanh nghiệp tránh được khoản thiệt hại do tăng hoặc giảm giá ngoại tệ (nếu có). Thế nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam.Vì vậy, việc phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ chắc chắn sẽ tạo nhiều cơ hội cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 24

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT

    3..1  Xây dựng,, điiều chỉỉnh khung pháp llý cho thịị trường quyền chọn ngoạii tệ

    • Đồng bộ hóa các văn bản pháp lý liên quan: ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện từ NHNN về việc sử dụng các công cụ quyền chọn ngoại tệ cũng như các văn bản pháp lý cấp cao nhằm chi phối, điều tiết, hướng dẫn thực hiện các giao dịch quyền chọn ngoại tệ.
    • Nới rộng các điều kiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ: khuyến khích doanh nghiệp và cá nhân tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ, đặc biệt là quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Mở rộng kỳ hạn giao dịch và hạn mức doanh số giao dịch so với quy định thí điểm. Cho phép các tổ chức tín dụng khác ngoài ngân hàng thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ nhằm gia tăng số lượng các nhà cung cấp, nâng cao tính cạnh tranh cho thị trường. Trong thời gian tới, khi thị trường đạt đến một mức độ phát triển nhất định và VNĐ được tự do chuyển đổi thì NHNN nên cho phép các doanh nghiệp tham gia vào giao dịch với tư cách vừa là người mua vừa là người bán để góp phần thúc đẩy giao dịch quyền chọn phát triển.

    3..2  Nớii llỏng vaii trò điiều hành của Nhà nước vào thịị trường tàii chíính

    • Hoạt động giao dịch phải thật sự có ý nghĩa trong điều kiện tình hình biến động của thị trường hoàn toàn khách quan. Các nhà đầu tư, doanh nghiệp, những nhà kinh doanh thường dựa vào những phán đoán về diễn biến của thị trường, họ sẽ lựa chọn các phái sinh, quyền chọn thích hợp để thực hiện những mục tiêu cụ thể của mình là kinh doanh hay hạn chế rủi ro.
    • Trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay, theo lộ trình hội nhập mà nước ta đã cam kết với tổ chức thương mại hế giới (WTO), nhà nước cần nới lỏng dần chính sách can thiệp trực tiếp vào thị trường. Đối với thị trường ngoại hối, nhà nước nên dần thực hiện chính sách tự do hóa tỉ giá bằng cách dần dần nới rộng biên độ giao động của VNĐ với USD từ +/-1% lên +/-2%, và có thời gian biên độ dao động +/-3%. Đến một thời điểm thích hợp, có thể xóa bỏ biện độ giao động tỉ giá hướng đến tự do hóa chuyển đổi tiền đồng Việt Nam. Điều này sẽ đảm bảo tỉ giá phản ảnh đúng cung cầu trên thị trường. Khi đó, rủi ro đối với các giao dịch ngoại hối sẽ dần hiện rõ, gây ra những thiệt hại lớn hơn, buộc các doanh nghiệp, cá nhân, nhà đầu tư phải quan tâm đến các hợp đồng quyền chọn để bảo hiểm, giảm thiểu rủi ro cho chính mình.
    • Mặt khác, trên thị trường vốn chính sách tự do hóa bước đầu lãi suất tín dụng mang lại những hiệu quả tích cực, lãi suất ngày càng mang tính khách quan, phản ánh tương

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 25

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    đối được thực trạng cung cầu vốn của thị trường. Với sự biến động của lãi suất tín dụng tác động đến thị trường ngoại mang tính khách quan hơn, đây sẽ là một tác nhân quan trọng kích thích các nhà đầu tư quan tâm đến giao dịch phái sinh, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.

    3..3 Hỗ trợ,, phốii hợp vớii các tổ chức tàii chíính cung cấp dịịch vụ quyền chọn trong công tác nâng cao nhận thức của doanh nghiiệp,, nhà đầu tư

    Công tác nâng cao trình độ và nhận thức của các đối tượng có nhu cầu sử dụng quyền chọn (nhà đầu tư, các nhà xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp…) cần được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, mục đích rõ ràng. Các cơ quan chính phủ cần hỗ trợ, phối hợp với các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn đề ra chiến lược phát triển thị trường để dần dần tiến tới chuyên nghiệp hóa các giao dịch quyền chọn, làm cho chúng trở thành những giao dịch quen thuộc và phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp, giới đầu tư và các TCTC. Cụ thể, các bộ ngành Giáo dục, Tài chính, Truyền thông cần phối hợp với nhau cũng như với các TCTC thực hiện các công việc sau:

    • Tuyên truyền, phổ biến cho các doanh nghiệp nhận thức một cách đầy đủ và chính xác những ảnh hưởng do biến động tỷ giá, giá cả, lãi suất gây ra thông qua các kênh thông tin như báo chí, truyền hình, internet…
    • Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, chuyên đề nghiên cứu bàn về rủi ro hối đoái, xây dựng và triển khai các khóa học đào tạo ngắn hạn cho các doanh nghiệp về sự cần thiết bảo hiểm rủi ro hối đoái, chứng khoán, hàng hóa…
    • Trong tương lai, cần tăng thêm các kiến thức về các công cụ phái sinh nói chung, quyền chọn nói riêng và các giao dịch của chúng cũng như các kiến thức về quản trị rủi ro vào giảng dạy tại các trường đại học, các cơ sở giảng dạy về tài chính…để trang bị cho các thế hệ tương lai nhận thức đầy đủ về việc sử dụng các công cụ phái sinh, quyền chọn vào các hoạt động quản trị rủi ro của mình.

    3..4  Nâng cao hiiệu quả thịị trường thông qua viiệc công khaii hóa và miinh bạch hóa

    thông tiin

    • Thị trường tài chính Việt Nam mới chỉ tăng tốc phát triển trong một thời gian ngắn, vấn đề truyền thông tài chính cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của xã hội. Nhưng nhìn chung, truyền thông tài chính ở Việt Nam chỉ mới phát triển sơ khai, hầu như là mang tính tự phát, thiếu sự quản lý, ràng buộc trách nhiệm từ các cơ quan quản

    lý nhà nước. Với một TTTC bậc cao như thị trường quyền chọn, thông tin càng đóng

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 26

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    một vai trò quan trọng trong các quyết định đầu tư, phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp, nhà đầu tư…Do đó, để phát triển thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu, cần chấn chỉnh và thúc đẩy truyền thông tài chính phát triển. Thông tin tài chính cần được công khai, minh bạch hóa. Nhà nước cần tiếp tục ban hành các qui chế, thông tư, hướng dẫn…chi tiết hơn việc công bố thông tin ra thị trường ngoại hối cũng như chế tài nghiêm khắc đối với các vi phạm về công bố thông tin.

    • Ngoài ra, cần thúc đẩy các nguồn thông tin đa dạng, đầy đủ và cần thiết đến với mọi đối tượng tham gia thị trường. Trước mắt, nên thành lập các tổ chức chuyên nghiên cứu phát triển các công cụ dự báo giá và công bố kết quả dự báo giá cả, đặc biệt là giá của một số mặt hàng quan trọng như ngoại tệ, cổ phiếu, vàng, xăng dầu… qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc qua các tạp chí chuyên ngành để các nhà đầu tư có cơ sở phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định kinh doanh hay phòng ngừa rủi ro cho riêng mình.

    3..5  Thay đổii một số quii địịnh về hạch toán kế toán

    Các vấn đề về hạch toán quyền chọn nói riêng và các công cụ phái sinh nói chung hiện nay còn khá mới mẻ ở nước ta. Do đó, nhà nước nên điều chỉnh, hoàn thiện các vấn đề pháp lý về hạch toán, xác định rõ ràng nghiệp vụ giao dịch hợp đồng quyền chọn, phái sinh là một nghiệp vụ kinh doanh tài chính mang tính chất phòng ngừa rủi ro của các doanh nghiệp không thuộc các tổ chức tài chính tín dụng, bảo hiểm, kinh doanh. Trên cơ sở này, Bộ tài chính xác định phí giao dịch quyền chọn là một khoản chi phí hợp lý, hợp lệ được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế. Điều này sẽ góp phần khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng công cụ quyền chọn nhiều hơn, trong đó có quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu.

    3..6 Chủ động giiớii thiiệu,, quảng bá thông tiin về các sản phẩm,, dịịch vụ quyền chọn đến khách hàng

    • Ngày nay, thị trường tài chính cạnh tranh ngày một gay gắt. Các định chế tài chính chuyên nghiệp như NHTM xuất hiện ngày càng nhiều. Việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ cơ bản của mỗi tổ chức tài chính là cần thiết để có thể thu hút các đối tượng khách hàng. Đối với công cụ quyền chọn ngoại tệ, một trong những loại hình dịch vụ mới, khá phức tạp đối với khách hàng, việc làm này càng trở nên cần thiết, thiết thực hơn, nhằm tạo ra sự nhận thức và hiểu biết cho khách hàng,

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 27

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    nhà phát hành và nhà hoạch định chính sách về công dụng, lợi ích và cách thức sử dụng các công cụ quyền chọn, từ đó phát triển nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ quyền chọn này.

    • Để thực hiện điều đó, các ngân hàng cần rút kinh nghiệm và thay đổi cách tiếp thị chào bán các sản phẩm phái sinh nói chung và quyền chọn nói riêng, theo hướng là lựa chọn và huấn luyện kiến thức tiếp thị, bán hàng cho những nhân viên thật sự am hiểu về sản phẩm để trực tiếp giới thiệu và chào bán cho khách hàng. Ngoài ra, về lâu dài, các NHTM cần lập ra bộ phận chuyên phân tích, tư vấn và hỗ trợ cho khách hàng tìm kiếm thông tin, cách thức sử dụng các công cụ.
    • Phối hợp với các bộ, ngành như Bộ Tài Chính, Giáo Dục, Truyền Thông, NHNN …để tăng cường hơn nữa công tác quảng bá và giới thiệu sản phẩm quyền chọn đến các khách hàng doanh nghiệp và nhà đầu tư, trong đó chú trọng đầu tư cho hình thức quảng bá trên các website của các NHTM.
    • Tổ chức các buổi tư vấn hướng dẫn thực hành tham gia vào giao dịch quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Trong đó đưa ra cho các tình huống mẫu để khách hàng thử ứng dụng. Từ đó, phân tích cho các khách hàng thấy lợi ích của việc sử dụng công cụ quyền chọn trong bảo hiểm rủi ro tỷ giá, giá cả chứng khoán và tìm kiếm lợi nhuận trong các hoạt động đầu tư của mình.

    3..7 Không ngừng cảii tiiến chất llượng,, đa dạng hóa các sản phẩm,, dịịch vụ quyền chọn tớii khách hàng

    • Theo thực trạng hiện nay tại các NHTM như Eximbank, Techcombank, BIDV…, các NHTM này chỉ mới đóng vai trò là nhà môi giới trung gian giữa các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng hợp đồng quyền chọn ngoại tệ với các ngân hàng cung cấp dịch vụ ở nước ngoài. Do đó, cần phải xem xét đến việc nghiên cứu ứng dụng các chiến lược kinh doanh như tự đứng ra phát hành các quyền chọn thích hợp tới khách hàng nhằm thể hiện tính chuyên nghiệp chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động môi giới.
    • Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ các NHTM cần nhanh chóng chuẩn hóa tổ chức các phòng, ban kinh doanh liên quan đến quyền chọn của mình. Tăng thẩm quyền trực tiếp kinh doanh và thẩm quyền quyết định cho các cán bộ kinh doanh quyền chọn.
    • Ngoài ra, các NHTM nên tìm hiểu, nghiên cứu sâu các mô hình chiến lược liên quan đến giao dịch quyền chọn, cùng sự hỗ trợ từ những công cụ kỹ thuật như các phần mềm tiên tiến, cũng như bám sát diễn biến của thị trường để dự báo xu hướng biến

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 28

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    động tỷ giá, giá cả chứng khoán, lãi suất trong tương lai. Từ đó, vận dụng các chiến lược một cách chính xác trong từng trường hợp, để tư vấn, hỗ trợ khách hàng, giúp các khách hàng hiện tại ngày càng tin tưởng vào việc thực hiện hợp đồng quyền chọn, đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới tham gia giao dịch.

    • Bên cạnh đó, song song với việc triển khai các sản phẩm quyền chọn thuần nhất, các TCTC nên có những tiếp cận đối với các sản phẩm lai tạp, đặc biệt là lai tạp với quyền chọn như: quyền chọn hợp đồng hoán đổi ngoại tệ (currency swaptions), quyền chọn hợp đồng kỳ hạn, tương lai ngoại tệ (currency forwards options, futures options)… Từ đó, sẽ là cơ sở để có thể định giá các sản phẩm quyền chọn hiệu quả nhất.

    3..8  Thay đổii cách tíính phíí quyền chọn

    • Như đã đề cập ở trên, đối với quyền chọn ngoại tệ, hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay chỉ cung cấp dịch vụ quyền chọn với tư cách là nhà môi giới, làm đại lý cho các ngân hàng nước ngoài, thực hiện tái bảo hiểm trên thị trường quốc tế, chỉ sử dụng phí quyền chọn của ngân hàng nước ngoài, cộng với phí dịch vụ để tính phí cho khách hàng. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam và cả các ngân hàng vì việc này đẩy phí quyền chọn lên cao ảnh hưởng đến lựa chọn của khách hàng và ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng. Do đó, việc thay đổi cách tính phí quyền chọn là cần thiết.
    • Dựa vào các điều kiện, khả năng của mình, các ngân hàng nên tự đứng ra cung cấp và phát hành quyền chọn trực tiếp cho khách hàng, tìm hiểu và vận dụng một số mô hình để tính phí quyền chọn cho khách hàng một cách hợp lý. Nhanh chóng triển khai ứng dụng các mô hình chiến lược kinh doanh quyền chọn, từ đó tạo nền tảng đề ra một mức phí mang tính cạnh tranh hơn.
    • Trong tình hình hiện tại, rất cần một số ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ đi tiên phong thử nghiệp các mô hình tính phí mới, từ đó giúp các ngân hàng, công ty chứng khoán khác đi sau học hỏi kinh nghiệm và tiến tới triển khai nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu có hiệu quả hơn.

    3..9 Nâng cao trìình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiiệp của độii ngũ cán bộ kiinh doanh quyền chọn

    • Trong mọi hoạt động dịch vụ, nhân tố con người đóng vai trò rất quan trọng. Do bản chất của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn vốn là một công việc phức tạp, căng thẳng,

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 29

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    chứa đựng nhiều rủi ro… Do đó, đòi hỏi cán bộ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ tại các tổ chức không chỉ có chuyên môn về các nghiệp vụ mà còn phải năng động, nhạy bén, am hiểu thị trường tài chính, có khả năng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá, giá cả chứng khoán, lãi suất…; đồng thời phải là những người có đạo đức nghề nghiệp, trung thực trong kinh doanh.

    • Vì vậy, các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn nên thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên ngành cho nhân viên của mình, thông qua các khóa học đào tạo ngắn hạn ở trong nước và nước ngoài để vừa nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vừa tạo cơ hội làm quen với môi trường kinh doanh sôi động và hiện đại của thị trường quyền chọn quốc tế. Ngoài ra, cần có những chính sách đãi ngộ thích đáng để thu hút và giữ chân nhân tài, tránh để xảy ra tình trạng chảy máu chất xám trong tổ chức của mình.

    3..10 Tăng cường hợp tác quốc tế vớii các tổ chức tàii chíính khu vực và thế giiớii

    • Các nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan… có các điều kiện kinh tế xã hội khá tương đồng với Việt Nam hay các nước như Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông…. thì có điều kiện phát triển vượt bậc so với chúng ta. Do đó, các NHTM và các TCTC khác cần mở rộng hợp tác, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm về trang bị hạ tầng kỹ thuật, công tác điều hành, quản lý thị trường quyền chọn, cũng như kiến thức chuyên môn cho đội ngũ nhân lực về lĩnh vực này với các ngân hàng lớn trong khu vực và thế giới trong quá trình tạo lập và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam.

    3..11 Giiảii pháp kỹ thuật

    Bên cạnh các giải pháp nêu trên làm tiền đề cho sự phát triển của thị trường quyền chọn, thì việc giải quyết các vấn đề về hệ thống hạ tầng – kỹ thuật đóng vai trò không kém phần quan trọng. Vì giao dịch quyền chọn là một quy trình giao dịch phức tạp, nên rất cần sự hỗ trợ từ các hệ thống kỹ thuật để các giao dịch diễn ra nhanh chóng, chính xác giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ và khách hàng. Giải pháp cho vấn đề này có thể thực hiện như sau:

    • Các NHTM cần trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho hoạt động kinh doanh quyền chọn. Thị trường quyền chọn là thị trường dựa vào các thị trường cơ sở khác (ngoại tệ, chứng khoán, vàng, lãi suất…). Các thị trường này hầu hết đều có độ rủi ro

    rất cao. Do đó, thông tin về các thị trường tài sản cơ sở như thị trường ngoại hối đóng

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 30

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    một vai trò rất quan trọng trong các quyết định giao dịch quyền chọn của khách hàng. Vì vậy, đòi hỏi các tổ chức cung cấp dịch vụ phải có một hệ thống cung cấp thông tin thật hiệu quả, tức thời.

    • Các NHTM cần thiết lập hệ thống nối mạng với các hãng truyền thông tài chính nổi tiếng trên thế giới như Reuters, Bloomberg…để đáp ứng nhu cầu thông tin cho khách hàng. Số lượng máy nối mạng cần gia tăng, hiện đại dần theo thời gian khi đội ngũ nhân viên đã được đào tạo chuyên sâu và thuần thục trong việc sử dụng.
    • Bên cạnh đó, việc định giá quyền chọn và phân tích thị trường cũng là một khâu khá quan trọng và phức tạp. Do đó, các tổ chức cung cấp quyền chọn cần ứng dụng công nghệ thông tin như các phần mềm chuyên dùng cho việc định giá, tính phí quyền chọn, hỗ trợ cho việc theo dõi hạn mức giao dịch của các nhân viên kinh doanh và hạn mức khách hàng; cũng như các phần mềm kỹ thuật hiện đại cho việc phân tích, dự đoán xu hướng tỷ giá, giá cổ phiếu để giúp đơn giản hóa các khâu trung gian như xử lý số liệu theo cách truyền thống và tiết kiệm thời gian làm việc; đồng thời mang lại hiệu quả, độ chính xác cao. Nhưng hiện nay, để tiếp cận được với các công nghệ tiên tiến này đòi hỏi các tổ phải có nguồn kinh phí mạnh, cũng như một đội ngũ nhân viên, chuyên gia nắm vững cả kiến thức chuyên môn và kỹ năng sử dụng các phần mềm. Đó cũng là một trong những lý do khiến một số các ngân hàng, công ty chứng khoán nhỏ khó tiếp cận với những tiện ích này.
    • Ngay cả đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp kinh doanh quyền chọn thì việc phân tích, dự đoán các xu thế biến động của thị trường cũng cần phải thiết lập hệ thống công nghệ tiên tiến như một yêu cầu cơ bản. Nhưng hiện nay chỉ một số ít các đại gia mới có khả năng ứng dụng các công nghệ này. Đó cũng là những khó khăn đối với việc phát triển thị trường quyền chọn trong thời gian sắp tới.
    • Có thể nói, vấn đề hạ tầng kỹ thuật công nghệ luôn là vấn đề phức tạp, tốn kém. Việc áp dụng công nghệ nào còn tùy thuộc vào mức độ phát triển của thị trường quyền chọn, cũng như khả năng của từng TCTC cung cấp dịch vụ.

    3..12 Giiảii pháp để tiiến tớii thành llập một sàn giiao dịịch quyền chọn niiêm yết tập trung..

    • Ngoài các giải pháp cho sự phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ phi tập trung ở trên, để thị trường quyền chọn thực sự phát triển và trở thành một trong những trụ cột của thị trường tài chính, khi thị trường quyền chọn và các giao dịch quyền chọn đạt đến độ chín mùi cần thiết, bên cạnh một thị trường quyền chọn phi tập trung (OTC)

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 31

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    vẫn đang tồn tại, nhà nước cần tiến hành tham khảo, học hỏi kinh nghiệm từ các sàn giao dịch quyền chọn lớn trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, để thành lập một sàn giao dịch quyền chọn tập trung chính thức như ở các nước có TTTC phát triển. Điều này sẽ làm tăng tính thanh khoản, khối lượng giao dịch trên thị trường quyền chọn, đặc biệt là thị trường ngoại hối dần dần tiến đến chuyên nghiệp hóa, tạo thuận tiện, phổ biến và đưa thị trường quyền chọn trở thành một một trong những thị trường thiết yếu trên TTTC.

    • Việc xây dựng hệ thống kỹ thuật công nghệ cho sàn giao dịch quyền chọn tập trung đòi hỏi sự đầu tư lớn và đồng bộ. Các nhà quản lý có thể dựa vào kinh nghiệm xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật công nghệ cho sở giao dịch chứng khoán và tham khảo từ các sàn giao dịch quyền chọn tập trung ở các nước, kết hợp với khả năng, tình hình thị trường hiện tại để trang bị hệ thống kỹ thuật công nghệ phù hợp với điều kiện nước ta. Các hệ thống lưu ký, giao dịch, thanh toán bù trừ, hệ thống kết nối với các thành viên cần được trang bị đồng bộ, thống nhất, giúp đơn giản hóa các qui trình giao dịch, đồng thời tăng tính chính xác, thanh khoản và độ an toàn cho các nhà đầu tư tham gia thị trường.
    • Về phía các TCTC, ngoài các giải pháp đã nêu ở trên, khi một sàn giao dịch quyền chọn tập trung được thành lập, cũng giống như thị trường chứng khoán; các hoạt động giao dịch, chuyển nhượng quyền chọn sẽ diễn ra. Các TCTC sẽ đóng vai trò là thành viên của sở giao dịch quyền chọn, đứng ra môi giới và thu phí đối với các giao dịch chuyển nhượng quyền chọn đối với khách hàng. Khi đó, phí môi giới quyền chọn cần được các TCTC môi giới tính toán kỹ lưỡng để có thể bù đắp được các khoảng chi phí đầu tư đã bỏ ra, đảm bảo khả năng cạnh tranh và bước đầu thu lợi nhuận. Trong điều kiện các giao dịch chuyển nhượng quyền chọn mới bắt đầu hình thành, các TCTC môi giới nên chào một mức phí cạnh tranh, để bước đầu thu hút được khách hàng, giúp cho nhà đầu tư làm quen cũng như hứng thú hơn với việc tham gia giao dịch các quyền chọn tập trung, đóng vai trò tích cực trong việc phát triển một thị trường giao dịch quyền chọn tập trung chính thức.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 32

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    Với những thuận lợi, cơ hội cũng như những khó khăn, hạn chế, chúng ta cần đề ra các mục tiêu, định hướng phát triển nhằm phát huy tối đa các tiềm năng, cơ hội từ chính sách nhà nước và thị trường; cũng như khắc phục được những khó khăn, hạn chế trong hiện tại và tương lai. Để đi đúng các mục tiêu, định hướng đề ra, các giải pháp đề xuất, thực hiện cần cụ thể, thiết thực, phù hợp với các điều kiện ở Việt Nam và đứng từ góc độ vĩ mô của các cơ quan nhà nước (về chính sách, pháp luật…) cũng như góc độ vi mô từ các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu. Để thực hiện tốt các giải pháp nêu trên, rất cần sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan chức năng và các chủ thể tham gia thị trường. Đặc biệt, cần có thời gian để thực hiện theo lộ trình, khả năng ở từng giai đoạn, tránh tư tưởng gấp gáp, nôn nóng, có thể dẫn đến những sai lầm thất bại, gây hậu quả nghiêm trọng cho thị trường tài chính và nền kinh tế.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 33

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • TS Trần Hoàng Ngân, TS Nguyễn Minh Kiều (2007), “Thanh toán quốc tế”, NXB Thống Kê
    • TS Nguyễn Minh Kiều (1998), “Thị trường ngoại hối”, NXB Tài chính
    • http://bantinsom.com
    • http://saga.vn
    • http://vneconomy.vn

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 34


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-g%C3%B3p-ph%E1%BA%A7n-th%C3%BAc-%C4%91%E1%BA%A9y-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-t%E1%BA%A1i-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-C%C3%B4ng-th%C6%B0%C6%A1ng-%C4%90%E1%BB%91ng-%C4%90a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    LỜI CẢM ƠN

     

     

    Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Ninh, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bản chuyên đề này. Xin cám ơn các anh chị đã giúp đỡ em trong đợt thực tập tại ngân hàng Công thương Đống Đa. Xin cám ơn tất cả các bạn những người đã động viên, khuyến khích và đóng góp ý kiến cho bản chuyên đề của tôi được đầy đủ hơn và hoàn thiện hơn.

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Thực hiện chính sách mở cửa, với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới, hoạt động kinh doanh  đối ngoại này được mở rộng, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh trong đó có sự đóng góp tích cực của hệ thống ngân hàng thương nmại. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động của các ngân hàng thương mại đã đang dạng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, nền kinh tế quốc dân trong đó có nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ ngày càng mở rộng  và phát triển

    Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại  Ngân hàng công thương Đống Đa trong thời gian qua đã  phần nào đáp ứng được nhu cầu nào trong kinh doanh. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có những vấn đề nổi lên cần phải xử lý tiếp như quan hệ mua bán giữa các loại ngoại tệ, giữa ngoại tệ và nội tệ, giữa huy động và sử dụng,.. Do đó đòi hỏi phải tìm kiếm các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ .

    Với ý nghĩa đó thông qua hoạt động thực tế tại ngân hàng Công thương Đống Đa, em xin được chọn đề tài: “Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa“, mong được góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc của thực tiễn và có ý nghĩa lâu dài.

     

    MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

    Bản chuyên đề được nghiên cứu một cách tổng hợp những vấn đề cơ bản của hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại.

    Từ những  nghiên cứu cơ bản đó, đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động tại ngân hàng Công thương Đống Đa từ đó đánh giá kết quả, những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động này, phân tích những nguyên nhân của hạn chế đó và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị của tác giả nhằm tháo gỡ những hạn chế trên và thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng.

    1/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    + Đối tượng nghiên cứu là mảng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng Thương mại cùng các hình thức giao dịch của nó cũng như các điều kiện để thực hiện các hình thức này.

    + Phạm vi nghiên cứu là chi nhánh ngân hàng Công thương Đống Đa

    2/ Kết cấu:

    Tên đề tài nghiên cứu”Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa”

    3/ Bố cục

    Lời mở đầu

    Chương I: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Chương III: Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa.

    Lời kết

    Hà nôi, ngày    tháng    năm 2001

    Sinh viên

    Nguyễn Mạnh Thắng

     

    CHƯƠNG I

    NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

     

    1. NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.1 Tổng quan về thị trường ngoại hối

    Thế  nào là thị trường ngoại hối. Sự ra đời và phát triển của thị trường ngoại hối gắn liền với sự phát triển của ngoại thương. Các giao dịch trong ngoại thương liên quan đến nhiềuloại đồng tiền của nhiều quốc gia khác nhau. Chẳng hạn chúng ta không thể thu mua nông sản bằng USD để xuất khẩu và cũng không thể nhập phân bón từ nước ngoài bằng VND. Do đó cần có sự chuyển đổi USD và VND khi xuất nhập khẩu. Đó chính là thị trường ngoại hối.

    Như vậy, thị trường ngoại hối là thị trường thực hiện các giao dịch trao đổi các ngoại tệ. Thị trường này bắt nguồn từ sự hình thành và phát triển của ngoại thương, do đó sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của ngoại thương. Có rất nhiều các trung tâm giao dịch ngoại hối lớn trên thế giới như London, Newyork, Tokyo., Frankfurk… điều hành và phát triển thịnh vượng gắn liền với sự phát triển của các trung tâm thương mại sầm uất với đầy đủ các giao dịch buôn bán trong và ngoại nước.

    1.1.1 Đặc điểm của thị trường ngoại hối

    Vì là thị trường mua bán các loại hàng hoá đặc biệt – đồng tiền của các nước – nên thị trường ngoại hối có đặc điểm riêng sau:

    – Thị trường ngoại hối là thị trường mang tính quốc tế, phạm vi hoạt động không chỉ trong một quốc gia mà trên khắp toàn cầu để phục vụ cho nhu cầu giao dịch ngoại tệ.

    – Thị trường ngoại hối là thị trường hoạt động liên tục trong một ngày. đặc điểm này xuất phát từ sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực địa lý khác nhau khiến cho thị trường ngoại hối quốc tế nói chung luôn mở cửa, các giao dịch được thực hiện nhờ vào các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như: Điện thoại, FAX, hệ thống giao dịch và thông tin tài chính, ngân hàng quốc tế khiến cho các giao dịch luôn được thực hiện.

    – Các hoạt động giao dịch trên thị trường ngoại hối chủ yếu là các loại ngoại tệ mạnh, có khả năng chuyển đôỉ cao: USD, DEM,JPY,GBP,… Các thị trường ngoại hối quốc tế giao dịch chủ yếu là USD và thường dùng nó làm dự trữ ngoại tệ của nước mình. Do đó thông thường giá trị của các đồng tiền khác được biểu hiện thông qua USD.

    – Thị trường ngoại hối là thị trường vô hình nhưng hoạt động rất sôi động các đồng  tiền không phải được mua bán tại các sàn giao dịch mà được tổ chức thành thị trường qua tay, tại đó hàng năm các nhà kinh doanh ngoại hối chủ yếu là các ngân hàng sẵn sàng mua và bán các loại tiền gửi ghi bằng ngoại tệ. Thị trường ngoại hối mang tính chất cạnh tranh  cao và việc mua bán giữa các Công ty, ngân hàng, chính phủ, thườngdiễn ra thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại.

    1.1.2 Cấu trúc thị trường ngoại hối

    Về cấu trúc thị trường ngoại hối không phức tạp lắm. Nếu căn cứ vào hình thức tổ chức, thị trường gồm hai loại: thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức, có thể mô tả bằng sơ đồ sau:

    Nếu căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh, thị trường ngoại hối có thể bao gồm nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao ngay. Thị trường có kỳ hạn, thị trường giao sau, thị trường quyền chọn và thị trường hoán đổi ngoại tệ.

    Sơ đồ:

    Cơ cấu của thị trường ngoại hối

    Các bên tham gia  thị trường ngoại hối được xác định bằng luật lệ của nhiều quốc gia khác nhau. Tại phần lớn các nước luật lệ này được các  chủ thể thực hiện các giao dịch thông qua các trung gian được uỷ quyền có hay không có trách nhiệm kiểm soát và là những thành viên chính tham gia thị trường ngoại hối, đó là các NHTM và NHTW, các nhà môi giới, các Công ty xuất nhập khẩu. Chúng ta xem xét vai trò của các thành viên trên thị trường ngoại hối

    NHTM và ngân hàng đầu tư.

    Nhóm này bao gồm tất cả các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư tham gia  mua bán ngoại tệ cho chính họ khi thực hiện mục tiêu kinh doanh hay mua bán thay cho khách hàng khi thực hiện vai  trò môi giới. Ngày nay, thị phần ngoại tệ liên ngân hàng lớn hơn rất nhiều so với hoạt động trên cơ sở hoạt động khách  hàng. Theo thống kê, hoạt động ngoại tệ liên ngân hàng chiếm từ 70- 90% tổng doanh số hoạt động kinh doanh đối ngoại.

    Hoạt động trên cơ sở nghiệp vụ khách hàng: Các ngân hàng thương mại đảm nhận hầu hết các hoạt động chuyển hoá trên thị trường ngoại hối với tư cách là người bán hoặc mua. Những ngân hàng lớn có nhiều khách hàng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, họ thương xuyên có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh tóan tiền hàng nhập khẩu hoặc có nhu cầu bán ngoại tệ để lấy nôị tệ chi tiêu trong nước, lúc này NHTM sẽ tham gia vào thị trường ngoại hối với tư  cách là trung gian thay mặt cho khách hàng của mình để thực hiên các giao dịch. Khi thực hiện các hợp đồng thanh toán bằng ngoại tệ trước hoặc sau các NHTM đều phải thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    Bên cạnh những giao dịch phục vụ thanh toán, hầu hết các ngân hàng còn hoạt động kinh doanh ngoại tệ theo hình thức liên ngân hàng, có nghĩa các ngân hàng trực tiếp mua bán với nhau bằng chính số dư tài khoản ngoại tệ của mình.

    Ngân hàng Trung ương

    Ở hầu hết các nước NHTW là người đóng vai trò tổ chức và kiểm soát, điều hành và ổn định sự hoạt động của thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá hối đoái. Ngân hàng trung ương có 2 chức năng trên thị trường ngoại hối  đó là một mặt phục vụ khách hàng của mình ( chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước, các ngân hàng thương mại nước ngoài, các tổ chức tiền tệ quốc tế,. Mặt khác trung ương giám sát các hoạt động của thị trường, theo dõi, tỷ giá và trong trường hợp cần can thiệp thì có thể một mình hoặc cùng các ngân hàng trung ương khác để tác động tới một đồng tiền này hay một đồng tiền khác. Sự can thiệp của ngân hàng thương mại nhằm cân bằng nhu cầu ngoại tệ để giữ cho tỷ giá hối đoái tránh được những biến động. Khi can thiệp trên thị trường ngoại hối, ngân hàng trung ưong thường sử dụng quý dự trữ bình ổn tỷ giá và thực hiện chính sách hoạt động công khai. Ngân hàng trung ương dùng nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều chỉnh cung cầu thị trường. Trong trường hợp cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, ngân hàng trung ương buộc phải mua ngoại tệ bằng đồng bản tệ và bán ngoại tệ trong trường hợp ngược lại với giá cả do ngân hàng thương mại quy định trong trường hợp ngược lại với giá cả ngân hàng trung ương. Thông qua nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái là những biện pháp rất quan trọng của nhà nước để ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia, đây là biện pháp trực tiếp tác động vào tỷ giá. Bên cạnh đó, các ngân hàng trung ương cũng thường ký thoả thuận vay dự trữ và thoả thuận này cho phép các ngân hàng trung ương vay dự trữ ngoại tệ trong thời gian ngắn để bình ổn tỷ giá.

    Là những người tham gia trên thị trường với tư cách là trung tâm trong giao dịch mua bán hoặc mua bán thay cho người khác nhằm thu hoa hồng trong  từng chuyến giao dịch. Họ có thể là trung gian giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau để tạo điều kiện cho cung cầu ngoại tệ.

    Cơ sở hoạt động của các nhà mối giới là việc tổ chức bằng điện thoại hoặc mạng vi tính với các ngân hàng, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nhiệm vụ của người môi giới là tìm ra một tỷ giá có lợi nhất cho khách hàng của mình thông qua việc sử dụng hệ thống thông tin. Các nhà môi giới luôn có các hợp đồng mua bán ngoại tệ với ngân hàng cộng tác với họ, các họp đồng này thường xuyên ấn định mức chính từ các hợp đồng, tất nhên tuỳ từng ngân hàng tuỳ từng hợp đồng đã thoả thuận trước giá mua tối đa và giá bán tối thiểu, đã tạo cho các nhà môi giới những cơ hội lớn để tìm đến đối tác có nhu cầu.

    Từ đó tỷ giá hối đoái của thị trường được các nhà môi giới xác định trên cơ sở tham gia cung cầu thị trường

    Các Công ty

    Việc tham gia vào thị trường ngoại hối  của Công ty bắt nguồn từ thị trường quốc tế đầu tư trực tiếp. Thương maị quốc tế gắn liền với việc thanh toán bằng ngoại tệ, do vậy việc mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối của các Công ty, trước hết để thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, sau nữa nhằm tự bảo hiểm đối với các rủi ro do những biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái gây ra

    Các giao dịch mua bán ngoại tệ  giưã các Công ty và ngân hàng chỉ chiêm một tỷ lệ nhỏ trong các giao dịch trên thị trường ngoại hối. Tuy nhiên hiện nay vai trò của các Công ty lớn, đặc biệt là các Công ty quốc gia ngày càng phát triển trên thị trường ngoại hối.  Nguyên nhân  do các Công ty đa quốc gia thi hành chính sách mở cửa rộng các nguồn dự trữ ngoại tệ, giảm bớt nguy cơ thiệt hại do sự mất giá của các nguồn vốn tính bằng tiền không ổn định, đồng thời tích cực chạy đua vì lợi nhuận trên cơ sở thu chênh lệch giá. Nếu như tỷ giá của  một đồng tiền nào đó có xu hướng giảm thì các Công ty sẽ chuyển nguồn vốn của mình  sang đồng tiền ổn định hơn.

    Tuy nhiên, các Công ty có nhu cầu về mua bán ngoại tệ  đều tiến hành giao dịch với các ngân hàng và không chỉ căn cứ vào giá mua bán do ngân hàng chào mà còn dựa vào khả năng cung cấp, việc đánh giá các thông tin về kinh tế ở các nước mà họ đang hoạt động, khả năng đưa ra dự báo tỷ giá trong tương lai.

    Qua phân tích cơ cấu tổ chức của thị trường ngoại hối, chúng ta thấy các ngân hàng thương mại là những thành viên chính tham gia thị trường ngoại hối, sau đây chúng ta xem xét họ sẽ thực hiện các nghiệp vụ gì trên thị trường này.

    1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của NHTM

    Thực tế cho thấy, bất kỳ loại hình kinh doanh nào mang lại lợi nhuận lớn thì rủi ro mà nó đem lại cũng không phải là nhỏ và kinh doanh ngoại tệ cũng không nằm ngoài quy luật đó.  Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối:

    + Rủi ro tỷ giá hối đoái

    + Rủi ro trạng thái ngoại hối

    + Rủi ro tỷ lệ SWAP ( tỷ lệ chuyển đổi)

    + Rủi ro thực hiện

    + Rủi ro chuyển đổi và kinh doanh

    Để hạn chế các rủi ro người ta áp dụng các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái.

    Tuy nhiên, các nghiệp vụ này không chỉ đơn thuần là hạn chế phòng ngừa rủi ro mà trong quá trình thực hiện, nó còn mang lại một phần lợi nhuận đáng kể trong tổng lợi nhuận. Do đó, nó cũng là các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trong chính sách đa dạng hoá sản phẩm kinh doanh cuả ngân hàng. Mục đích kinh doanh của ngân hàng là: phòng ngừa rủi ro, kinh doanh kiếm lời và kinh doanh mang tính chất dịch vụ để thu phí.

    1.2.1.Nghiệp vụ hối đoái giao ngay

    Thị trường hối đoái giao ngay là một bộ phận của thị trường hối đoái, doanh số hoạt động của nó  chiếm khoảng 58 % tổng số doanh số thương mại ngoại hối, trong khi thị trường kỳ hạn và thị trường theo quyền chọn chỉ chiếm tương ứng là 40% và 20%.

    Nghiệp vụ hối đoái giao ngay được thực hiện bằng hợp đồng mua bán ngoại tệ giao ngay trong đó việc cung ứng các đồng tiền  chuyển đổi được thực hiện chậm nhất là hai ngày làm việc kể từ khi hợp đồng được ký kết.

    Tỷ giá thanh toán ngay (sau hai ngày làm việc) trong thương mại quốc tế gọi là SPORT-RATE, nếu một nhà kinh doanh ngoại tệ muốn thay đổi thời hạn thực hiện hai ngày thành ba ngày thì có thể đề nghị bạn hàng của mình thực hiện tỷ giá SPORT-NEXT, nếu muốn đổi thời hạn thực  hiện từ hai ngày thành một ngày thì đề nghị tỷ giá TOMOROW-NEXT,

    Kỹ thuật giao dịch có thể thực hiện bằng điện thoại, hệ thống màn hình ( Computer), bằng điện báo và trên các sở giao dịch chứng khoán. Thực hiện bằng kỹ thuật màn hình  thực chất là thực hiện qua hệ thống thông tin điện tử, tức là việc thoả thuận hay các hợp đồng được thực hiện thông qua hệ thống “ Money dealing”. Thông qua hệ thống này,  các ngân hàng có thể trực tiếp liên hệ với nhau và thoả thuận các hợp đồng thương mại. Việc chuyển thông tin được thực hiện bằng bàn phím với những ký tự điện tử và thông tin sẽ xuất hiện trên màn hình, đồng thời một máy in được nối mạng với hệ thống sẽ in lại thành biên bản thông tin được chuyển đi. Hệ thống này có ưu điểm so với hình thức điện thoại là việc ghi nhận các thoả thuận bằng văn bản, khắc phục các lỗi nhầm thường gặp trong giao dịch điện thoại như nghe nhầm, viết nhầm, vì thế hệ thống “ Money dealing” được sử dụng rộng rãi.

    Tỷ giá giao ngay (SPORT-RATE) được niêm yết trên các báo kinh tế hàng ngày ở các quốc gia. Thực tế hiện nay, tỷ giá của hầu hết các loại ngoại tệ được trao đổi đều được tính toán so với USD  mà không được tính toán trực tiếp với nhau nữa. Đồng USD được sử dụng như một  loại ngoại tệ trung chuyển ( transport), đồng thời tỷ giá giữa hai đồng tiền không thông dụng, người ta sử dụng tỷ giá tính chéo sau:

    Tỷ gía giao ngay: USD/FRF: 4.8240-60

    Tỷ gía giao ngay: USD/JPY: 125.25-36

    Tỷ gía giao ngay: USD/JPY được tính như sau:

    * Tỷ giá mua:

    + Bán 1 FRF thu được 1/4.8240 USD

    + Bán 1/4.8240 USD thu được 1/4.8240×125.25 JPY, tức là  thu được 25.9639 JPY.

    Vậy tỷ giá mua FRF là 25.9639

    * Tỷ giá bán

    + Mua 1 FRF cần có 1/4.8260 USD

    + Muốn có số USD trên cần có 125.35×1/4.8260 JPY, tức là cần có 25.9739 JPY.

    Vậy tỷ giá bán FRF là 25.9739

    Ta có tỷ giá tính chéo là: 25.9639  –  25.9739

    Điều kiện thực hiện nghiệp vụ hối đoái giao ngay là:

    + Trước hết, phải có nhu cầu của khách hàng, thông thường nghiệp vụ giao ngay phát sinh khi có nhu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ thực hiện nghiệp vụ này để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    + Nghiệp vụ giao ngay còn được thực hiện trong hoạt động đầu cơ của ngân hàng, dự toán tỷ giá của một đồng tiền trong thời gian tới, ngân hàng sẽ mua đồng tiền đó theo hợp đồng giao ngay với ngân hàng khác. Khi tỷ giá thay đổi theo đúng dự toán, ngân hàng có thể bán trao ngay số tiền đầu cơ đó và thu chênh lệch. Ngoài ra, nghiệp vụ trao ngay được sử dụng kết hợp với các nghiệp vụ khác trong các đầu cơ chênh lệch lãi suất.

              1.2.2 Nghiệp vụ ARBITRAGE:

    Nghiệp vụ ARBITRAGE là nghiệp vụ kinh doanh của bản thân ngân hàng, theo ý nghĩa nguyên thuỷ cuả nó, nghiệp vụ này là việc lợi dụng sự chênh lệch về tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để thu lời thông qua hoạt động mua và bán. Do đó, nó còn có tên gọi là nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá hay kinh doanh giao ngay. Đó là việc tiến hành mua bán ngoại tệ đồng thời trên các thị trường hối đoái theo nguyên tắc mua ở nơi rẻ và bán ở nơi đắt. Nghĩa là mua với tỷ giá thấp và bán với tỷ giá cao.

    Nghiệp vụ này được thể hiện dưới hai dạng: kinh doanh giản đơn và kinh doanh phức tạp. Kinh doanh giản đơn là việc mua bán ngoại tệ được thực hiện ở hai thị trường khác nhau trong cùng một thời điểm. Kinh doanh phức tạp là việc mua bán ngoại tệ thông qua nhiều thị trường, từ 3 thị trường trở lên. Dù là giản đơn hay phức tạp, nghiệp vụ này chỉ áp dụng giao dịch giữa ngân hàng với ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của các nhà kinh tế có thu chi ngoại tệ vẫn diễn ra thường xuyên, để đạt được hiệu quả trong việc sử dụng các loại ngoại tệ, họ đã yêu cầu ngân hàng sử dụng kỹ thuật ARBITRAGE để dịch vụ cho họ. Khi đó,ngân hàng với tư cách là người phục vụ khách hàng và thu phí.

    Khi thực hiện nghiệp vụ này, người ta áp dụng tỷ giá giao ngay, là tỷ giá áp dụng tại thời điểm giao dịch (J) nhưng ngày giá trị của nó là sau hai ngày việc (J+2). Trong trường hợp khách hàng cần giao dịch với hai đồng ngoại tệ thì ngân hàng phải xác định tỷ giá chéo của hai loại đồng tiền thông qua đồng tiền trung gian thứ ba.

    Để thấy được lợi ích cuả nghiệp vụ này, ta xét ví dụ sau:

    Ngày 4/7/1998, Công ty XNK Việt nam nhận được 100.000 DEM từ lô hàng xuất khẩu sang Đức, đồng thời lại phải thanh toán cho lô hàng nhập khẩu từ  Pháp là : 500.000 FRF, tỷ giá trên các thị trường:

    USD/DEM = 2.1525/40

    USD/FRF   = 5.6410/30

    USD/VND  = 12960 – 980

    Nếu thực hiện nhiệm ARBITRAGE : Ngân hàng sẽ phục vụ cho khách hàng bằng cách bán DEM lấy FRF, số FRF còn thiếu sẽ được mua bằng VND.

    Vì đây là giao dịch giữa hai đồng ngoại tệ nên ta phải xác định tỷ giá chéo. Theo ví dụ: số DEM của khách hàng không đủ để mua số FRF nên chiều yết giá sẽ là DEM/FRF.

    + Xác định tỷ giá bán: DEM/FRF

    Bán DEM theo tỷ giá 1 USD = 2,1540 DEM

    Mua FRF theo tỷ giá  1 USD = 5,6410 FRF

    Tỷ giá cần tìm là DEM/FRF, do DEM là đồng tiền yết giá và FRF là đồng định giá. Vậy ta có: 1 DEM = 5,6410/2,1540 = 2,6188 FRF

    + Số FRF mua được từ 100.000 Dem:

    100.000 x 2,6188 = 261.880 FRF

    + Số FRF còn thiếu: 500.000 – 261880 = 238.120 FRF

    * Mua số FRF còn thiếu bằng VND:

    + Tỷ giá mua FRF/VND

    Mua FRF theo tỷ giá 1 USD = 5,6410 FRF

    Bán VND theo tỷ giá 1 USD = 1.0980 VND

    Vậy 1 FRF =  12980/5,6410 = 2301 VND

    + Số VND dùng để mua 238.120 FRF:

    23812         0 x 2301 = 547.914.120 VND

    Nếu thực hiện nghiệp vụ ARBITRAGE:

    Công ty sẽ bán toàn bộ số DEM lấy VND, sau đó dùng VND để mua 500.000 FRF:

    + Bán DEM lấy VND: Tỷ giá bán DEM/VND:

    Bán theo tỷ giá: 1 USD = 2,1540 DEM

    Mua VND theo tỷ giá: 1 USD = 12960 VND

    Vậy 1 DEM = 12960/2,1540 = 6016,71 VND

    + Số VND thu được do bán DEM:

    100000 x 6016,71 = 601671000 VND

    + Mua 500000 FRF bằng VND: 500000 x 2301 = 1150500000 VND

    Số VND công ty phải bỏ ra để thực hiện thanh toán:

    1.150.500.000 – 601.671.000 = 548.829.000 VND

    Như vậy, so sánh hai kết quả trong hai trường hợp trên ta thấy rằng:

    Thông qua hai dịch vụ ARBITRAGE của ngân hàng, công ty sẽ tiết kiệm được số tiền là:

    548.829.000 – 547.914.120 = 914.880 VND

    Nếu là giao dịch với khối lượng ngoại tệ lớn sẽ tạo ra một khoản chênh lệch đáng kể cho khách hàng. Sở dĩ có khoản chênh lệch này là do có sự chênh lệch khác nhau giữa rty giá mua và tỷ giá bán của các đồng tiền. Trước đây,nghiệp vụ này rất phát triển chiếm tới đến 40 % lợi nhuận kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng nhưng ngày nay, trên cơ sở những thông tin hiện đại, các thị trường ngoại hối trở nên thông suất nhiệp vụ ARBITRAGE trê không cón ý nghĩa lới trong kinh doanh ngoại hối.

    Khái niệm nghiệp vụ ARBTRAGE ngày nay được hiểu là việc mua bán ngoại tệ để nhằm thu lợi nhuận tư sự chênh lệch tỷ giá mua tỷ giá bán, nhưng hai hoạt động đối ứng này không phát sinh cùng một thời điểm mà thông thường liên quan tơí những phát sinh  khi cân đối ngoại tệ.

    Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ ARBITRAGE  là :

    Trước hết, Ngân hàng phải là thành viên của hện thống thông tin điện tử, ở đó Ngân hàng có thể thường xuyên theo dõi biến động tỷ giá các thị trường khác nhau trên thế giới, đồng thời có thể đưa ra tỷ giá chào mua, chào bán của mình.

    Thứ hai, cán bộ kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng cần có trình độ, phản ứng linh hoạt với thị trường. Anh tay phải biết thông thi kinh tế chính trị, xã hội phải dự đoán được phản ứng của thi trường trước những thông tin đó, đưa ra được mức tỷ giá thực tế luôn biến động ( ví dụ : Khi nhận được thông báo thu từ nước ngoài vào Pháp giảm nhẹ trong tháng qua, dự đoán xuất khẩu giảm sẽ dẫn tới giảm cung USD trong tương lai, lập tức cán bộ ngân hàng Pháp ấn định tỷ giá của mình tăng cao một chút để tránh những thiệt hại xẩy ra. Một ngân hàng Đức có 3 triệu USD chưa cân đối được sau một hợp đồng bán FRF với khách hàng, nhận thấy cố thể thu lợi từ tỷ giá chào mua vừa tăng của ngân hàng Pháp, lập tức bán 3 triệu USD này cho ngân hàng Pháp.

    Như vậy, các ngân hàng liên tục thay đổi tỷ giá, liên tục giao dịch ngoại tệ trong ngày nhằm tránh rủi ro trước những biến động tỷ giá và thu lơị nhuận ARBITRGE. Lợi nhuận này có thể thấp hơn lợi nhuận tính theo khoảng cách giữa tỷ giá mua vào và bán ra của ngân hàng.

              1.2.3. Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn (FORWARD): 

    Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn được thực hiện bằng hợp đồng mua bán bằng ngoại tệ kỳ hạn, trong đó việc hoàn tất nghiệp vụ này được thực hiện vào một thời điểm nhất định sau đó, vơéi tỷ giá nhất định đã được quy định trong hợp đồng tại thời điểm ký kết.

    Khác với nghiệp vụ mua bán giao ngay là kinh doanh chênh lệch giá kiếm lời, nghiệp vụ mua bán kỳ hạn chủ yếu là phòng ngừa rủi ro do biến động của tỷ giá tại thời điểm chuyển đổi quyền sở hữu về tài sản hữu hình của các chủ thể kinh tế trong nước và nước ngoài với tỷ giá tại thời điểm thanh toán các giao dịch trong tương lai.

    Đối với ccác nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, họ luôn có nguồn thu chi về ngoại tệ trong nước cũng như nứoc ngoài và họ không thể tránh khỏi rủi ro do các đồng ngoại tệ đem lại , vì nó luôn biến động theo chiều hướng tăng hoặc giảm. Chính vì vậy các nhà xuất nhập khẩu, thực hiện hợp đồng với nước ngoài về xuất khẩu một loại hàng hoá nào nhưng việc thanh toán không xẩy ra ngay sau khi giao hàng mà nó xảy ra vào một ngày ấn định trong tương lai. Trong khi đó tỷ giá các đồng ngoại tệ có thể thay đổi theo chiều hướng giảm , nghĩa là đồng ngoại tệ bị mất giá và đến ngày thanh toán nhà xuất khẩu nhận được số tiền bản tệ “ít hơn” so với lúc giao hàng. Vì vậy, để giảm bớt rủi ro, Anh ta ký với ngân hàng một hợp đồng gọi là hợp đồng có kỳ hạn với đúng bằng thời hạn thanh toán của người nứơc ngoài. Ngược lại các nhà nhập khẩu, để tránh khỏi rủi ro khi tỷ giấ tăng họ cũng có thể ký hợp đồng mua với ngân hàng.

    “Hợp đồng mua bán kỳ hạn” là một hợp đồng trao đổi một đồng tiền này với một đồng tiền khác, tỷ giá trao đổi trong tuơng lai được ấn định ngày ký hợp đồng (J), việc giao vốn đựoc thực hiện ở một ngày xác định trong tương lai (J+N)

    Thị trường hối đoái giao ngay và thị trường hối đoái kỳ hạn có những đắc điểm chung về phạm vi nhân sự tham đự và tổ chức thị trường, kỹ thuật ký kết hợp đồng, ưu thế giao dịch của đồng USD. Điểm khác lớn nhất giữa chúng thể hiện ở chỗ : Trên thị trường kỳ hạn , tỷ giá giao dich ít phụ  thuộc vào mức độccung cầu thời hạn mà phụ thuộc lớn vào mức chênh lệch lãi suất giữa haiđồng tiền giao dịch .

    Cách xác định tỷ giá kỳ han :

    * Cách xác định hướng giao dịch :

    Ngân hàng luôn là người mua rẻ , bán đắt và khách  hàng là người mua đắt bán rẻ . Khi ngân hàng mua bán trên thi trường với ngân háng khác thì cũng có thể với tư cách là khác hàng chịu thiệt thòi về tỷ giá ( Nếu ngân hàng là người hỏi gía)

    * Cách xác điịnh tỷ giá kỳ hạn :

    Tỷ giá ky hạn của gân hàng là tỷ giá kỳ hạn của khách hàng và ngược lại . Ngân hàng khi xác định tỷ giá mua bán kỳ hạn thì ngân hàng đứng ra với tư cách là khách hàng mua bán hoặc vay, cho vay với ngân hàng khác.

    *Cách xác điịnh tỷ giá mua kỳ hạn của ngân hàng :

    Bước 1: Xác điịnh tỷ giá bán giao ngay đồng yết giá đối khoản là đồng định giá (C), bao giờ cũng là giá thấp, vì trên thi trương ngân hàng đang đóng vai trò là khách hàng.

    Bước 2: Cho vay đồng định giá với lãi suất thấp(t2)

    Bước 3: Đi vay đồng yết giá với lãi suất cao(t+1)

    Bước 4: Xác định chênh lệch lãi suất :

    Nếu t2>t1 thì At là điểm gia tăng

    Nếu t2<t1 thì At là điểm khấu trừ.

    Bước 5: Xác định tỷ giá kỳ hạn ;

    Nếu t2>t1 : Tỷ giá kỳ hạn =C+At

    Nếu t2 < t1: Tỷ gía kỳ hạn =C+At

    *Cách xác định tỷ giá bán kỳ hạn của ngân hàng :

     Bước 1: Xác định tỷ giá mua giao ngay đồng yết giá với đối khoản là đồng định giá, tỷ giá cao (C).

    Bước 2: Cho vay đồng yết giá với lãi suất thấp (t1)

    Bước 3: Đi vay đồng định giá với lãi suất cao (t2)

    Bước 4: Xác định chênh lệch lãi suất :

    Bước 5 : Xác định tỷ giá kỳ hạn (CAT)

    Nếu t2>t1 :CAT=C+At

    Nếu t2< t1: CAT=C+At

    *Ví dụ : Một nhà kinh doanh XNK của Pháp có nguồn thu ngoại tệ do XK  hàng hoá là 1000000 USD với thời hạn 3 tháng . Để phòng ngừa rủi ro , nhà kinh doanh này kỳ kết hợp đồng bán kỳ hạn với ngân hàng .

    Tỷ giá bán giao ngay : USD/FRF=5,1420/60

    Lãi suất USD (Thời hạn 3 tháng ) : 7%-8%

    Lãi suất FRF (thời hạn 3 tháng ) 6% -6,5%

    *Xác định tỷ giá mua kỳ hạn của ngân hàng :

    + Tỷ giá bán giao ngay :USD / FRF=5,1420

    + Để có bán, giao ngay, ngân hàng sẽ phải thực hiện :

    Cho vay đồng FRF với lãi suất thấp 6%, đi vay đồng USD với lãi suất cao 8%, lúc đó ngân hàng sẽ lỗ2%.

    Cêch lệch trên thị trường tiền tệ sẽ bù lại cên lệch tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn trên thi trường hối đoái.

    + Vậy tỷ giá kỳ hạn của USD / FRF 3 tháng là :

    CAT=5,1420 – 0,0257=5,1163

    Sau 3 tháng nhà XNK Pháp bán cho ngân hàng với tỷ giá :

    USD/FRF = 5,1163, nhà XK đã hạn chế được rủi ro.

    * Giả sử sau ba tháng tỷ giá bán trên thi trường là 5,1110. Nếu xét ở góc độ là nhà XNK không ban kỳ hạn cho ngân hàng tớc là chỉ chờ cho hợp đồng thanh toans của nước ngoài đến hạn. Số ngoại tệ thu về, nhà XNK bán ngay cho ngân hàng với giá thi trường thì lúc đó nhà XNKbị mất mồi . USD là 0,005 FRF so với tỷ giá kỳ hạn (Nếu như bán kỳ hạn cho ngân hàng ). Tuy nhiên, xét ở mức độ sâu xa hơn thì nhà XNK còn mất nhiều hơn nếu ta đem so sánh tỷ giá lúc giao hàng với tỷ già tại thời điểm được thanh toán.

    Với ví dụ kể trên, nhà XNK mất mồi USDlà 0,035(tức là 5,1460 – 5,1110).

    Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ kỳ hạn là:

    + Các quy định của pháp luật phải cho phép, tạo điều kiện cho các ngân hàng qua các quy định về xác định tỷ giá kỳ hạn, phí hợp đồng…

    + Khách hàng biết đến nghiệp vụ này của ngân hàng và có yêu cầu thực hiện nó nhằm tránh nhưỡng biến động tỷ giá ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động kinh doanh của khách hàng.

    + Khả năng của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Nếu ngân hàng chỉ thực hiện một nghiệp vụ kỳ hạn đơn lẻ, ngân hàng có thể phải gánh chịu một rủi ro hối đoái thay cho khách hàng của mình. Vậy khả năng, mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng khác, với các ngân hàng bạn trong nước và thế giới là yếu tố quan trọng để ngân hàng thực hiện được các nghiệp vụ đối ứng, loại trừ rủi ro trên. Hơn nữa, ngân hàng còn có khả năng đưa ra mức tỷ giá kỳ hạn hấp dẫn với khách hàng hơn các ngân hàng khác.

    1.2.4.Nghiệp vụ hồi đoái tương lai (FUTURE):

    Đây là một nghiệp vụ hối đoái mới, đưa vào các giao dịch ngoại tệ từ đầu những năm 80. Nghiệp vụ này cũng được thực hiện theo hợp đồng kỳ hạn,trong đó quy định tránh nhiệm mua hoặc bán một khối lượng ngoại tệ nhất định vào thời điểm ấn định và theo tỷ giá thoả thuận từ trước. Điểm khác biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hoá, cụ thể như sau:

    * Số đồng tiền giao dịch chỉ giới hạn ở một số ít đồng tiền cò lưu lượng giao dịch lớn.

    * Quy mô của từng giao dịch :Được quy định là bội chuẩn theo từng loại đồng tiền giao dịch.

    * Thời điểm tất toán : Được quy định là một số thời điểm nhất định trong năm, bất kể hợp đồng được ký kết vào các thời gian khác nhau.

    *Phương thức đánh dấu thị trường :Các loại động trên thị trường hối đoái tương lai không tất toán trực tiếp giữa người bán và người mua.Việc ký kết mỗi một hoạt động là việc ký kết với quỹ cân đối :(clreaing house). Các hợp đồng dược đảm bảo thực hiện bằng giá trị nguồn đảm bảo tại quỹ cân đối, quỹ này sau mỗi ngày làm việc có trách nhiệm đánh giá lại các hợp đồng giao dịch cuối ngày. Nếu có sự thay đổi về giá so với hợp đồng đã ký kết,quỹ cân đối sẽ thực hiện ba hoạt động đó là; Chuyển tiền từ nguồn đảm bảo của bên bị thiệt hại sang bên được lợi, huỷ bỏ hợp đồng cũ và ký kết hợp đồng mới.

    * Khác với các giao dịch hối đoái kỳ hạn, các giao dịch hối đoái tương lai rất ít được duy trì cho tới thời điểm tất toán. Trong khi tỷ lệ hợp đồng kỳ hạn được thực hiện là 90% thì với giao dịch hối đoái chỉ khoảng 10%. Thông thường ở giao dịch tương lai, chỉ có các nghiệp vụ thanh toán chênh lệch tại thời điểm tất toán.

     

     

              1.2.5. Nghiệp vụ hoàn đổi ngoại tệ.

    Trong nghiệp vụ kinh doanh kỳ hạn, một ngân hàng chỉ hoạt động một giá để phục vụ khách hàng của mình, nghĩa là ngân hàng mua hoặc bán ngoại tệ theo tỷ giá kỳ hạn mà không đồng thời thoả thuận với khách hàng một nghiệp vụ đối ứng bán hoặc mua lại. Những nghiệp vụ như vậy được gọi là nghiệp vụ có kỳ hạn đơn phương pháp (SOLO) hoặc nghiệp vụ outright chỉ được các ngân hàng thực hiện với khách hàng hoặc theo sự uỷ nhiệm của khách hàng. Ngược lại, giữa các ngân hàng người ta sử dụng phổ biến nghiệp vụ SWAP,đó là nghiệp vụ mà cùng ví một bạn hàng, Ngân hàng đồng thời mua và bán hai loại ngoại tệ khác nhau theo tỷ giá giao ngay và theo tỷ giá kỳ hạn.

    * Nghiệp vụ SWAP thông thường:

    Nếu tỷ giá kỳ hạn trong giao dịch có kỳ hạn nhằm hạn chế rủi ro do những biến động lớn về tỷ giá thì nghiệp vụ SWAP là nghiệ vụ được thực hiện nhằm giải quyết những nhu cầu tạm thời. Ví dụ : Mua đồng GBP bằng đồng USD theo thời hạn 3 tháng, đồng thời giao bàn ngay đồng GBP lấy USD thanh toán ngay sau 2 ngáy làm việc. Trạng thái ngoại hối trong giao dịch SWAP không thay đổi vì số lượng mua bán bằng nhau. Với nghiệp vụ này hai bên giao kỳ hanj và tỷ giá giao ngay gọi là điểm SWAP.

    công thức tính điểm SWAP:

    Nếu quy định hiện tại ta có công thức :

    Tỷ giá kỳ hạn tính căn cứ vào tỷ giá giao ngay và điểm SWAP (At):

    + Nếu >0 thì tỷ gía kỳ hạn = C+At

    + Nếu < 0 thì tỷ giá kỳ hạn =C+At

    Giao dịch này được áp dụng phổ biến trong giao dịch liên hàng, bởi vì nó suất phát từ mối quan hệ chăt chẽ giữa thị trường tiền gửi và hị trường giao ngay. Bất kỳ người nào có nhu cầu vay tiền hoặc cho vay tiền đều có thể thực hiện bằng ngoại tệ hoặc nội tệ. Nhưng thông thường thi trường ngoại tệ luôn chào đón với lãi suất ưu đãi hơn, chẳng hạn như lãi suất USD là 15%/năm, khi đó lãi suất bản tệ chỉ 9%/năm. Như vậy, nhà đầu tư có tiền gửi bản tệ sẽ mang USD đầu tư vào thi trường ngoại tệ USD với lãi suất 15% /năm.Một điều mạo hiểm với anh ta là nếu tỷ giá ở thời điểm anh ta đổi lại có biến động bất lợi so với tỷ giá lúc đổi đi, khi đó anh ta chỉ còn cách bù lỗ thông qualãi suất thu được. Tuy nhiên, để khác phụ rủi ro này, anh ta thực hiện giao dịch SWAP như sau:

    + Mua giao ngay USD đối khoan lá nội tệ.

    + Bán kỳ hạn USD đổi khoản là nội tệ với thời hạn bằng thời gian đầu tư trên thi trường tiền gửi.

    Như thế, anh ta đi đi vay nội tệ với lãi suất t2, cho vay ngoại tệ với lãi suất t1, thu được một khoản lãi mà không phải chịu rủi ro. Đay là ưu điểm cơ bản của nghiệp vụ SWAP.

    Ví dụ : Do dự thừa FRF, ngân hàng thoả thuận một giao dịch SWAP 500000 USD đối khoản FRF sau 3 tháng trên thi trường tỷ giá như sau:

    Lãi suất USD :USD= 6% – 6,125%/năm

    Lãi suất FRF : FRF=7,125 – 7,25%/năm

    Ngân hàng A này thực hiện các hợp đồng cùng một lúc như sau:

    + Mua USD/FRF trên thi trường giao ngay tỷ giá là 6,6540

    + Bán kỳ hạn USD/FRF sau 3 thàng như ngân hàn B.

    Muốn thực hiện giao ngay , giả sử ngân hang A không thừa FRF anh ta sẽ:

    + Vay FRF với lãi suất 7,25%/năm

    + Cho vay USD với lãi suất 6%/năm

    + Thời hạn n=3 tháng

    Điểm gia tăng :

    (Quy về hiện tại: At=0.0212/1+(6*92/36000)=0,0208 tỷ giá SWAP= 0,0208)

    Tỷ giá giao dịch kỳ hạn SWAP là : CAT = 6,7540 + 0,0208=6,6748.

    Như vậy, ngày ký hợp đồng (J) ngân hàng A sẽ nhận được 500.000USD đổi lấy :

    500.000USD x 6,6540 = 3.327.000FRF.

    Vào ngày giá trị ngân hàng sẽ nhận được số FRF là :

    500.000 USD x 6,6748 = 3.337.405FRF.

    Ngân hàng sẽ giao cho ngân hàng B 500.000USD, như vậy qua giao dịch này, ngân hàng A sẽ có một khoản lãi là :

    3.337.405 – 3.327.000 = 10.405FRF.

    * Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ SWAP cũng tương tự như với nghiệp vụ kỳ hạn, tuy nhiên SWAPcó những ưu điểm hơn so với kỳ hạn đối với một số đối tượng sau :

    + Một doanh nghiệp lớn vừa hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Doanh nghiệp này vừa nhận được khoản thu ngoại tệ về xuất khẩu, anh ta muốn đổi nội tệ để sử dụng chi trả trong nước. Tuy nhiên, anh ta lại có nhu cầu ngoại tệ trong tháng tới để trả tiền hàng nhập khẩu. Thay vì ký kết hợp đồng bán ngoại tệ giao ngay và hợp đồng mua ngoại tệ kỳ hạn, doanh nhiệp này sẽ sử dụng SWAP. Như vậy doanh nghiệp vừa đảm bảo tránh được rủi ro hối đoái vừa giảm được chi phí giao dịch phải trả cho ngân hàng khi chỉ ký kết SWAP, chứ không phải hai hợp đồng riêng biệt.

    + Đối với ngân hàng thương mại, SAP là công cụ hữu hiệu tạo ra trạng thái vốn của hai đồng tiền mà không làm ảnh hưởng tới trạng thái ngoại hối. Vì vậy, giao dịch này trong thực tế thường được các ngân hàng thợc hiện với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng một đồng tiền nhất định mà không phải đi vay trên thị trường. Nhiệp vụ SWAP còn giúp các ngân hàng cân bằng được sự mất cân đối về hối đoái trong các nghiệp vụ tiền gửi và tiền vay.

              1.2.6. Nghiệp vụ hối đoái theo quền chọn (OPTION) :

    Nghiệp vụ hối đoái theo quyền chọn là một sự thoả thuận bằng hựp đồng giữa người mua và người bán về quyền chọn mua (call-option) hoặc quyền chọn bán (put-option), một loại ngoại tệ nhất định, với số lượng cụ thể theo tỷ giá cố định và vào thời điểm cụ thể.

    Trong hợp đồng này, người mua quyền lựa chọn phải trả cho người bán một khoản tiền đảm bảo. Thông qua đó, người mua dành được quyền mua hoặc bán một loại ngoại tệ nào đó. Mặt khác, anh ta có thể từ chối bỏ quyền lựa chọn của mình khi thấy bất lợi. Rủi ro của người mua quyền lựa chọn chỉ giứi hạn ở số tiền phải trả cho quyền đó (option money). Ngược lại, người bán quyền chọn thu được một khoản tiền từ việc bán quyền nhưng trở thành đối tác thụ động, chịu rủi ro không hạn mức khi tỷ giá biến động không thuận lợi vớ anh ta. Như vậy, hợp đồng quyền chọn là một công cụ đảm bảo tỷ giá thực sự cho các nhà kinh doanh XNK, các nhà đầu tư tham gia vào thi trường quyền chọn, ngoài các ngân hàng các nhà XNK còn có các tổ chức kinh tế có ngoại tệ trên tài khoản, muốn tăng thu nhập bằng việc thu các lệ phí quyền và chấp nhận làm đối tác thụ động, hay các hãng đầu cơ tham dự với mục đích thu lợi nhuận chênh lệch.

    Nghiệp vụ này có ưu điểm hơn nghiệp vụ kỳ hạn là bên cạnh việc khắc phục rủi ro về tỷ giá bất lợi của nó còn tạo khả năng kiếm lời cho người muaquyền lựa chọn, khi tỷ giá biến động có lợi. Tuy nhiên, để có quyền lựa chọn các nhà kinh doanh hối đoái phải trả môt khoản phí đảm bảo quyền lựa chọn mua bán, phí này phụ thuộc vào các yếu tố sau :

    * Sự ổn định của tỷ giá các đồng giao dịch:Đây là yêú tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến mức phí, đối với đồng tiền có khẩ năng biến động giá mạnh thì mức phí cao và ngược lại những đồng tiền tương đối ổn định thì mức phí thấp.

    Miền hoạt động của các đồng tiền giao dịch: Với những đồng tiền của các quốc gia phát triển như  USD, FRF, GBP … có doanh số giao dịch lớn, có khả năng chyển đổi mạnh thì mức phí thấp và ngược lại những đồng tiền của những nước kém phát triển khó chuyển đổi và ngoại tệ mạnh thí mức phí cao.

    * Thời hạn hiệu lực của hợp đồng mua bán quyền lựa chọn : Thời hạn càng dài thì khẳ năng kiếm lời của nhà kinh doanh mua quyền chọn càng cao và tất nhiên với đối tác thụ động thì rủi ro càng nhiều. Vì vậy, phí cho thời hạn dài thường lớn hơn phí trong mua bán quyền lựa chọn với thời hạn ngắn rất nhiều.

    Mức lãi suất của đồng tiền dùng thanh toán phí mua bán quyền lựa chọn:Đối với đối tác thụ động coi đây là khoản phí tiền gửi không có lãi, do vậy lãi suất đồng tiền này cao thì phí càng cao và ngược lại.

    Thông thường, các ngân hàng là người bán các hợp đồng quyền lựa chọn cho khách hàng XNK của mình. Vì phải ngánh chịu rủi ro nên việc xác định mức tiền đảm bảo cho hợp đồng lựa chọn rất quan trọng. Có thể nói, khoản tiền đảm bảo là giá các của nghiệp vụ quyền chọn. Theo lý thuyết, gía cả của quyền lựa chọn được xác định theo công thức sau :

    Mức tiền đảm bảo của quyền mua ngoại tệ:

    Mức tiền đảm bảo quyền chọn bán ngoại tệ :

    Trong đó

    +^ : Tỷ giá lãi suất của hai đồng tiền dùng tính tiền đảm bảo ( theo thời hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng …)

    + T :Thời hạn hợp đồng ( trong vòng 1 năm)

    + F :Tỷ giá ngoại tệ có kỳ hạn theo hợp đồng

    + X : Giá cơ sở ( giá thoả thuận giữa hai bên quyết định )

    + @ : Độn lệch tiêu chuẩn.

    Công thức tính chỉ  có giá trị tham khảo về tham khảo về mặt lý thuyết. Trong thực tế, công thức tính mức tiền đảm bảo đã được chuyên gia điện toán lập thành chương trình máy tính điện tử.  Các ngân hàng có thể mua chương trình này để sử dụng được.

    1.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    1.3.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại các mục sau.

    Đây là một hoạt động dịch vụ để đảm bảo chắc chắn việc thực hiện thanh toán cho các khách hàng giữa các nước một cách trôi chảy.

    Thực hiện phiệp vụ tiền gửi bằng ngoại tệ cho các khách hàng tại ngân hàng trong nước.

    Tạo cho các ngân hàng khả năng tránh rủi ro do biến động tỷ giá.

    Tạo cho các ngân hàng khả năng tận dụng sự chênh lẹch tỷ giá, lãi suất giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để thu lợi nhuận.

    Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng của nước ngoài, khai thác các nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng, tổ chức tài chính bằng ngoại tệ tại ngân hàng trong nước.

    Hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ được hiểu trên các khía cạnh sau

    Về mặt định hướng: Trên thị trường hối đoái giao ngay thường diễn ra quan hệ mua bán ngoại tệ giữa ngân hàng và khách hàng. Các ngân hàng thường không thu phí giao dịch hay hoa hồng mà sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua để trang trải chi phí, kể cả bù đắp rủi ro và thu lợi nhuận thoả đáng. Chênh lệch giá mua và giá bán của một ngoại tệ cao hay thấp tuỳ thuộc vào phạm vi giao dịch hẹp hay rộng và mức độ biến động giá trị cuả ngoại tệ đó trên thị trường.

    Các loại ngoại tệ có thị trường giao dịch tương đối rộng như USD, GBP, DEM, JPY thường có chênh lệch giá mua bán ở mức 0,1%đến 0,5% trong khi các ngoại tệ mà thị trường giao dịch hẹp hơn có mức chênh lệch giá bán và mua vào rất thấp đối với USD trong khi lớn hơn nhiều đối với các ngoại tệ khác.

    Khả năng đáp ứng các nhu cầu của khách hàng tại ngân hàng đó.

    Tuy nhiên, một khách hang đến giao dịch mua bán ngoại tệ với ngân hàng không phải chỉ vì giá ngoại tệ ở đó rẻ hơn ngân hàng khác mà còn xem ngân hàng đó có đáp ứng được mọi nhu cầu hợp lý của mình hay không. Nhu cầu đó bao gồm việc gửi vốn, vay trả nợ thuận tiện, việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng, các thông tin mà ngân hàng đó mang lại. Vậy trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ ngân hàng sẽ mua hết và khi có nhu cầu mua hợp lý thì ngân hàng sẽ bán đủ, từ đó nhà kinh doanh sẽ có được loại ngoại tệ mà mình mong muốn.

    Sử dụng phương tiện phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái.

    Qua giao dịch mua bán ngoại tệ với ngân hàng sẽ phòng ngừa được rủi ro về tỷ giá, sẽ có được thông tin hưũ ích cho hoạt động kinh doanh của mình. Trong một môi trường kinh tế không ổn định, tỷ giá thương xuyên biến động thì khách hàng luôn luôn chịu ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá. Đương nhiên là không và tốt hơn là nhà kinh doanh tập trung vào công việc thương mại của mình. Từ đó dẫn đến đòi hỏi của khách hàng và ngân hàng đối với ngân hàng là ngân hàng phải có nghiệp vụ nào đó để hạn chế bớt rủi ro về tỷ giá. Đây là một đòi hỏi cần thiết, hợp lý của khách hàng và ngân hàng khó có thể từ chối. Do ngại biến động tỷ giá các nhà xuất khẩu có nhu cầu bán ngoại tệ trong khi các nhà nhập khẩu có nhu cầu mua. Đây chính là cơ hội cho các ngân hàng thương mại sẽ đứng ra mua ngoại tệ có kỳ hạn từ nhà xuất khẩu cho nhà nhập khẩu và kiếm lợi nhuận và chênh lệch giữa giá bán và giá mu. Cơ hội kinh doanh này càng tốt khi tỷ giá biến động mạnh trên thị trường.

    Vậy kinh doanh ngoại tệ không chỉ giúp cho khách hàng phòng chống rủi ro về tỷ giá mà còn giúp cho chính bản thân ngân hàng.

    Để phòng chống rủi ro ngân hàng có thể sử dụng các phương pháp sau:

    Sử dụng hợp đồng có kỳ hạn: Nguyên tắc chung khi sử dụng hợp đồng có kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro tỷ giá là thông qua hợp đôngf mua bán ngoại tệ có kỳ hạn các đơn vị cố định tỷ giá mua hay tỷ giá bán ngoại tệ với ngân hàng, từ đó cố định các khoản phải thu hay khoản phải chi bằng nội tệ. Tuy nhiên hợp đồng có kỳ hạn chưa phải là cách phòng chống rủi ro hối đoái tốt nhất mặc dù các hợp đồng có kỳ hạn cố định trước các khoản thu nhập hay chi trả bất luận sự biến động của tỷ giá trên thị trường nhằm giúp công ty có thể xác định chắc chắn hiệu quả kinh doanh nhưng nó chưa hoàn toàn thuận lợi cho công ty nếu tỷ giá biến động ngược lại với dự kiến.

    Sử dụng hợp đồng quyền chọn: Phương pháp phòng chống rủi ro bằng hợp đồng có kỳ hạn trên đồng thời đánh mất cơ hôi kinh doanh kiếm lơị nhuận từ sự biến động tỷ giá. Hơn nữa chúng ta chỉ áp dụng được khi nào công ty chắc chắn mình chiếm được hợp đồng mua bán và trong kinh doanh đôi khi công ty không chắc chắn rằng minh có thể giành được hợp đồng hay không. Trong trường hợp này nên sử dụng hợp đồng quyền chọn bởi hợp đồng quyền chọn công ty có quyền, nhưng không bắt buộc, mua bán một só lượng ngoại tệ.

    Sử dụng hợp đồng hoán đổi ngoại tệ: Thông qua hợp đồng này, một mặt chúng ta có thể thoả mãn nhu cầu tiền tệ hiện tại của mình, mặt khác chúng ta có được sự cam kết của ngân hàng về số ngoại tệ sẽ nhân lại trong tương lai theo một tỷ giá biết trước.

    Như vậy ngân hàng luôn tìm mọi cách để hạn chế các rủi ro về tỷ giá hối đoái đến mức thấp nhất thông qua nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    Các phương pháp phòng ngừa rủi ro hối đoái chỉ thực hiện được khi nào có một thị trường tiền tệ phát triển và ngân hàng thương mại sẵn sàng cung cấp những hợp đồng có kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn, hay các hợp đồng vay và cho vay trên thị trường tiền tệ. Ở Việt Nam hiện nay chưa có một thị trường tiền tệ phát triển nên các ngân hàng thương mại chưa thể cung cấp hợp đồng quyền chọn.

    Sự đa dạng hoá các loại ngoại tệ kinh doanh

    Ngoài việc sử dụng các phương pháp trên, việc mua bán nhiều loại ngoại tệ như USD, FTF, JPY, DEM đã tạo điều kiẹn cho ngân hàng dự trữ  nhiều loại ngoại tệ. Từ đó phân tán đều rủi ro, tránh gây tổn thất nặng nề cho ngân hàng khi tỷ giá một loại ngoại tệ nào đó đột nhiên biến đôngj mạnh. Với việc đa dạng hoá các loại ngoại tệ mạnh một cách chủ động trong kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện đa dạng và phát triển thêm các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ khác nhau như quy đổi, điều chuyển vốn giữa các ngoại tệ với nhau trên các tài khoản tiền gửi ngân hàng tài các ngân hàng nước ngoài nhằm đảm bảo thanh toán xuất nhập khẩu, hưởng chênh lệch tỷ giá và lãi suất.

    Hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn được đánh giá qua hoạt động cho vay bằng ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Ví dụ một ngân hàng thương mại có vay của các tổ chức tài chính hoặc ngân hàng thương mại  nào đó bằng một loại ngoại tệ này, nhưng khi cho các doanh nghiệp vay lại bằng một ngoại tệ khác, hoặc khi cho các doanh nghiệp vay ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá, thiết bí nhưng khi thu tiền bán hàng lại bằng nội tệ, để có ngoại tệ trả nợ vay ngân hàng hầu hết các doanh nghiệp đều phải mua của các ngân hàng thương mại mà rất ít khi thu được qua hoạt đông xuất khẩu. Vậy hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn được đánh giá qua việc cho vay, thu nợ bằng ngoại tệ một cách thuận lợi, đúng thời hạn qua đó thúc đẩy hiệu quả nghiệp vu cho vay.

    Hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn được đánh giá qua việc nó thúc đẩy công tác thanh toán quốc tế.

    Nhờ hoạt động kinh doanh ngoại tệ mà công tác thanh toán quốc tế được thuận lợi, trơn tru. Qua đó giúp khách hàng thực hiện nhanh chóng các thanh toán với nước ngoài, giúp khách hàng thực hiện nhanh chóng các thanh toán với nước ngoài, giúp ngân hàng tăng thu dịch vụ phí chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng. Bởi vì thanh toán quốc tế luôn đi liền với nghiệp vụ kinh doanh ngoại tê, để có đủ các loại ngoại tệ (kể cả số lượng và chủng loại) trong thanh toán với khách hàng nước ngoài đúng thời hạn quy định thì không có con đường nào khách là pải có kinh doanh ngoại tệ.

    Tăng cường mở rộng quan hệ với các ngân hàng đại lý và với khách hàng.

    Hơn nữa qua kinh doanh ngoại tệ các ngân hàng thương mại còn có điều kiện mở mang quan hệ với các ngân hàng thương mại, tăng cường mối quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực với các ngân hàng trên toàn thế giới.

    Vậy hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ không chỉ được đánh giá qua chỉ tiêu lãi do hoạt động này mang lại mà còn đánh giá qua các nghiệp vụ phòng chống rủi ro về tỷ gía hối đoái và trong mối quan hệ tổng thể với các mặt nghiệp vụ khác như tín dụng, thanh toán quốc tê, là các quan hệ khác với các ngân hàng, khách hàng.

    Tóm lại hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh kiếm lợi nhuận cho chính bản thân ngân hàng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội đặc biệt về kinh tế đối ngoại, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.

    1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại phức tạp và gắn chặt chẽ với nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân vì thế nó chịu tác động của nhiều nhân tố như:

    1. Sự phát triển của nền kinh tế

    Trong nhiều năm qua, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tự cung tự cấp, khép kín với thị trường quốc tế và chia cắt giữa các địa phương trong nước. Quan điểm xây dựng một cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh đã dẫn đến thừa thì bán, mà thiếu thì mua, trong quan hệ với thị trường nước ngoài. Cơ chế hoạt động kinh tế đối ngoại trong thời kỳ này là cơ chế cứng nhắc theo Nghị định thư và Nhà nước độc quyền về ngoại thương. Buôn bán chủ yếu diễn ra với các nước xã hội chủ nghĩa, kim ngạch xuất khẩu thấp, đầu tư nước ngoài bị hạn chế. Đồng thời, trong điều tiết lợi ích, nhà nước thu bù chênh lệch ngoại thương nên tỷ giá hối đoái được ấn định trong một thời gian dài, nếu chi phí thực tế cao hơn hoặc thấp hơn tỷ giá thì ngân sách nhà nước sẽ cấp bù hoặc thu về. Tất cả những nhân tố trên có tác động tiêu cực đến kinh tế đối ngoại của Việt Nam, chẳng những kìm hãm tốc độ phát triển mà còn làm giảm sút hiệu quả của việc buôn bán và hợp tác quốc tế. Trong điều kiện như vậy, mọi yếu tố như cung cầu ngoại tê, các yếu tố tác động đến tỷ giá, sự biến động của tỷ giá và sự tồn tại của thị trường hối đoại là không cần thiết đối với các doanh nghiệp trong nưóc cũng như trong quan hệ kinh tế với nước ngoài. Và vì vậy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại không có môi trường, điều kiện để phát triển mở rộng cũng như nâng cao hiệu quả.

    Trong quá trình đổi mới hiện nay, việc phát triển nền kinh tế thị trường, đổi mới các chính sách kinh tế ngoại thương, ngoại hối, từ bỏ chế độ tỷ giá cố định là xu thế tất yếu khi nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ từ đó nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ này trong các ngân hàng thương mại. Tóm lại, qua phân tích trên cho thấy: Sự phát triển của nền kinh tế nói chung và nền kinh doanh đối ngoại nói riêng là một ỵếu tố vĩ mô, có tác động chiến lược tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại.

    1. Chính sách quản lý ngoại hối quốc gia.

    Chính sách quản lý ngoại hối là những quy định pháp lý, những thể lệ của Nhà nước trong vấn đề quản lý ngoại tệ, quản lý vàng bạc đá quý và các chứng từ có giá trị ngoại tệ cũng như đối với việc trao đổi sử dụng mua bán trên thị trường nội địa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài.

    Nội dung của chính sách quản lý ngoại hối là quản lý và kiểm soát các luồng vận động ngoại hối từ nước ngoài vào và trong nước ta, có liên quan đến quan hệ ngoại thương cũng như các quan hệ kinh tế đối ngoại khác bằng ngoại tệ. Đồng thời, chính sách quản lý ngoại hối cũng quản lý và kiểm soát sự lưu thông ngoại hối (chủ yếu là vàng bạc, đá quý và đặc biệt là ngoại tệ) trong phạm vi mỗi quốc gia. Với việc thực hiện nội dung này, chính sách quản lý ngoại hối không những góp phần phát triển cán cân thanh toán quốc tế mà còn có vai trò quan trọng trong việc ổn định giá trị tiền tệ ràng buộc được pháp luật thừa nhận. Đặc biệt một chính sách quản lý ngoại hối đúng đắn và phù hợp với điều kiện của từng quốc gia trong mỗi thời kỳ sẽ đóng vai trò là đòn bẩy khuyến khích phát triển ngoại thương hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài qua đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

    1. Sự biến động của tỷ giá hối đoái.

    Tỷ giá hối đoái mặc dù đã có lịch sử lâu dài trong các giai đoạn phát triển của nhân loại, nhưng cho đến nay vẫn còn là vấn đề hết sức phức tạp. Sự phức tạp của vấn đề tỷ giá thể hiện trên hai phương kiện: Một ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (tình hình kinh tế, thị trường tài chính quốc tế và chính sách can thiệp của các nước) các yếu tố này không nằm trong tầm khoong chế của một quốc gia. Hai là sự tương tác nhiều chiều của quá trình chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ ở mỗi nước. Hình thức biều hiện tổng hợp về sự tương tác từ hai phương diện trên chính là quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Nói chung có rất nhiều yếu tố tác động lên tỷ giá hối đoái, một số yếu tố cơ bản là.

    – Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nước hữu quan.

    – Trạng thái cán cân thanh toán quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu ngoại tệ thông qua đó tác động lên tỷ giá.

    – Chênh lệch lãi suất giữa các nước, giữa thị trường tín dụn nội địa và quốc tế.

    – Một số các nhân tố tác động lên cung cầu ngoại tệ qua đó ảnh hưởng đến tỷ giá như các cú sốc chính trị, thói quen tâm lý, các nhân tố xã hội.

    Bên cạnh đó bất kỳ một biến động nhỏ của tỷ giá hối đoái cũng tác động tới rất nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, tình hình lạm phát. Tất cả các nhân tố nàu lại ảnh hưởng, chi phối trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại nói riêng và thị trường ngoại hối nói chung. Do đó có thể nói biến động của tỷ giá có tác độn sâu, nhiều chiều, phức tạp tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

    1. Các nghiệp vụ khác của ngân hàng thương mại có liên quan đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    Các ngân hàng thương mại ngoài những nghiệp vụ có liên quan đến VNĐ còn có các hoạt động liên quan đến ngoại tệ như: Huy động vốn bằng ngoại tệ kinh doanh ngoại tệ. Có thể thấy rằng toàn bộ các nghiệp vụ này có mối quan, tác động qua lại lẫn nhau, phát triển nghiệp vụ này sẽ có điều kiện mở rộng và ơphát triển các nghiệp vụ khác. Trong đó hoạt động thanh toán và nhiều đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    Cho vay ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ hay sản xuất thu hàng xuất khẩu thì cuối cùng cũng phát sinh nghiệp vụ mua ngoại tệ để trả nợ tiền vay, hoặc bán ngoại tệ lấy VNĐ. Vì vậy khi mở rộng cho vay thanh toán hàng xuất khẩu sẽ có điều kiện để phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và qua đó thúc đẩy hiệu quả nghiệp vụ này.

    Thanh toán quốc tế là việc thực hiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều bằng ngoại tệ. Vì vậy đều phải liên quan đến nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    Tóm lại hai mặt nghiệp vụ này có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, các hoạt động này thường có tốc độ phát triển gần ngang nhau, theo chiều hướng tỷ lệ thuận.

    1.3.2.5 Một số nhân tố khác.

    Bên cạnh các yếu tố cơ bản kể trên, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay còn chịu tác động của một số nhân tố quốc tế như:

    Sự ra đời của các liên minh tín dụng, liên minh tiền tệ, như liên minh tiền tệ Châu âu (EMU)

    Sự xuất hiện của các đồng tiền tiêu chuẩn quốc tế khác bên cạnh các ngoại tệ khác như đồng EURO.

    Trên đây là một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương maị. Nhìn chung các nhân tố trên có quan hệ đan xen nhau, tác động tổng thể nhiều chiều tới cụ diện kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại. Do đó cần tiến hành phân tích tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng trên cũng như phải biết vận dụng cơ chế của nhà nước, chủ động nắm bắt sự biến động của cung cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái, nghiên cứu thực trạng hoạt động của thị trường tài chính, ngoại hối trước khi quyết định thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh để vừa phục vụ được khách hàng, vừa đảm bảo có lãi trong kinh doanh ngoại tệ.

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ

    TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH NHCT ĐỐNG ĐA

    1.1  Sự ra đời và phát triển của chi nhánh NHCT  Đống Đa

    Thực hiện nghị định số 53/HĐBT ngày 16/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng, hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển từ một cấp sang hai cấp trong đó phân định  rõ chức năng quản lý nhà nước của ngân hàng nhà nước và chức năng kinh doanh của hệ thống NHTM. Trong bối cảnh lịch sử đó, cùng với sự ra đời của NHCT Việt Nam ngày 1/7/1988 ,chi nhánh NHCT Đống Đa được thành lập

    Là chi nhánh trực thuộc của NHCT Nà Nội từ năm 1988 đến 1990 là thời kỳ chuyển đổi khó khăn của hệ thống ngân hàng nói chung và NHCT Đống Đa nói riêng cũng là thời kỳ hệ thống ngân hàng bắt đầu được chuyển sang cơ chế thị trường. Giai đoạn này có rất nhiều quỹ tín dụng kinh doanh không có hiệu quả, còn các ngân hàng thì nợ quá hạn, nợ khó đòi tăng lên mức kỷ lục. Sự kiện này không phải do bản thân hoạt động của ngân hàng tạo ra mà chính là do vòng xoáy của qúa trình chuyển đổi nền kinh tế mà ngân hàng là tấm gương phản chiếu toàn bộ nền kinh tế. nguyên nhân chính là do sự yếu kém của cơ chế tập trung bao cấp nhưng vẫn có hoạt động kinh doanh.

    Qua nhiều năm phát triển, từ một ngân hàng với cơ sở vật chất lạc hậu, gặp nhiều khó kăn về nguồn nhân lực ,về địa điểm giao dịch , với sự tiến bộ của toàn thể cán bộ công nhân viên ngân hàng, đồng thời được sự lãnh đạo cuả Uỷ ban nhân dân quận Đống Đa , và NHCT Việt Nam, NHCT Đống Đa đã từng bước trưởng thành và đạt được các kết quả đáng khích lệ. NHCT Đống Đa đã tự đổi mới để tồn tại và phát triển, đứng vững trong cơ chế thị trường với địa thế nằm trên địa bàn rộng lớn, tập trung nhiều loại hình kinh tế nên khách hàng của ngân hàng rất phong phú và đa dạng. Mặt khác, ngân hàng cồn là một trong những đơn vị có đội ngũ cán bộ lãnh đạo có năng lực , năng động trong điều hành hoạt động kinh doanh, nội bộ đoàn kết thống nhất đã tạo điều kiện cho NHCT Đống Đa mở rộng qui mô, kinh  doanh trên lĩnh vực tiền tệ ,  tín dụng , thanh toán. Ngoài việc tích cực huy động tiền gửi trong dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế ,ngân hàng đã mở rộng các hình thức huy động khác như huy động tiền gửi ngoại tệ từ dân cư, huy động vốn ngoại tệ từ các tổ chức quốc tế và thực hiện một số công tác thanh toán qua ngân hàng cho các đơn vị kinh tế đóng trên địa bàn quận. Nguồn vốn kinh doanh mạnh đã giúp NHCT Đống Đa tự lực được vốn trong kinh doanh, đồng thời thường xuyên có lượng vốn thừa khá lớn điều hoà trong toàn nghành.

    Nguyên tắc hoạt động của NHCT Đống Đa là tự huy động vốn, tự bù đắp chi phí trang trải vốn và làm nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước . Nhờ có nguồn thu vốn lớn và ổn định, NHCT Đống Đa đã mở rộng đầu tư tín dụngcho các thành phần kinh tế trên địa bàn. NHCT Đống Đa cũng đa dạng hoá các nghiệp vụ cho vay nhằm nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng như: Cho vay ngoại tệ phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu , cho vay cầm cố , cho vay tiêu dùng , chiết khấu chứng từ có giá, cho vay theo các chương trình được tài trợ của các tổ chức quốc tế…

    Phục vụ sự phát triển kinh tế của cả nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, NHCT Đống Đa đã chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thường xuyên tăng cường cả nguồn vốn lẫn sử dụng vốn. Ngân hàng cũng rất chú trọng nâng cao trình độ cán bộ cả về chuyên môn lẫn ngoại ngữ. Cơ sở vật chất ngân hàng được hiện đại hoá, đặc biệt là công nghệ tin học, phù hợp với xu hướng hiện đại hoá ngân hàng nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh ngày một tốt hơn . Trong nhiều năm liên tục , ngân hàng đều kinh doanh có lãi, làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, ổn định và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, kết quả kinh doanh năm sau cao hơn năm trước, đóng góp cho ngân sách Nhà nước ngày càng lớn, tạo được uy tín với khách hàng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau đây:

    • Huy động vốn
    • Hoạt động tín dụng
    • Thanh toán quốc tế
    • Kinh doanh ngoạI tệ
    • Các hoạt động dịch vụ khác

    1.2. Các hoạt động chính của NHCT Đống Đa

    1.2.1. Huy động vốn

    NHCT Đống Đa luôn chú trọng công tác huy động vốn bởi vì có nguồn vốn ổn định, mạnh mẽ sẽ giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh , với chính sách lãi suất, thời hạn linh hoạt, phù hợp với sự biến động của thị trường, NHCT Đống Đa đã thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội và nguồn vốn nàyluôn tăng tưởng trong các năm:

                      Bảng 1: Nguồn vốn huy động qua các năm của NHCT Đống Đa

                                                                                                                 (Đơn vị :tỉ đồng)

    Năm 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000
    Chỉ tiêu Số tiền %(98/97) Số tiền %(99/98) Số tiền %(00/99)
    Tổng huy động vốn 1295,282 108,94% 1518,146 117,2% 1847 125%
    1.Có kỳ hạn 1036,225 80% 1211,898 80% 1421,654 86%
    2.Không kỳ hạn 259,056 2% 306,255 2% 359,128 2%
    3. Tiền gửi khác 295,713 22,83% 346,586 22,83% 325,412 23,51%
    4.Kỳ phiếu,trái phiếu 984,414 76% 1152,067 76% 1257,021 79%

                           (Số liệu : Báo cáo tổng kết của NHCT Đống Đa qua các năm 1998-2000)

    Ngân hàng căn cứ vào chiến phát triển kinh tế quốc dân trên phạm vi toàn quốc và trên địa bàn quận Đống Đa, đồng thời căn cứ vào nhịp độ phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn để xây dựng cho mình một cơ chế huy động vốn có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động huy động vốn làm cơ sở cho hoạt động cho vay phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, ngân hàng phải đánh giá cho đúng điểm mạnh, điểm còn hạn chế của từng loại vốn huy động, tập trung cao độ  nhất , nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất, an toàn nhất trong công tác huy động của mình. Ngày nay , đất nước ta đang còn trong thời kỳ đổi mới với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá . Nhu cầu vốn cho chiến lược này là vô cùng lớn. Tuy vậy, khi độ hội nhập của đất nước ra bên ngoài với cường độ ngày càng cao, quan hệ thương mại quốc tế, ngoại thương không ngừng tăng trưởng. Chúng ta phải nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ cho sản xuất kinh doanh để tránh lạc hậu so với thế giới. Hầu hết các chủ kinh tế, các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại  và thanh toán quốc tế đều có tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng. Bản thân xuất khẩu hàng hoá dịch vụ của các đơn vị kinh tế trong nước, khi kết thúc hoạt động xuất khẩu, họ lại gửi ngoại tệ vào tài khoảncủa mình ở ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu nhập  khẩu có thể phát  sinh hoặc bán lại một phần hay toàn bộ ngoại tệ để trang trải chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh như: nguyên liệu , tiền công… Mặt khác, phục vụ cho khách hàng của mình trong nhu cầu nhập khẩu máy móc , công nghệ , trang thiết bị với lượng ngoại tệ mà ngân hàng huy động

    1.2.2. Hoạt động tín dụng

    Nhờ có nguồn vốn tăng trưởng ổn định, NHCT Đống Đa đã tích cực mở rộng đầu tư, đáp ứng mọi nhu cầu tín dụng  hợp lý của khách hàng . Tổng dư nợ của ngân hàng nói chung tăng đều. Đây là một kết quả khả quan của NHCT Đống Đa so với các ngân hàng khác trong bối cảnh kinh tế nước ta đang bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực.

    Bảng 2: Tổng dư nợ tín dụng giai đoạn1997-2000

                                                                                                           Đơn vị :tỷ đồng

    Năm
    Chỉ tiêu
    1997 1998 1999 2000
    Tổng dư nợ: 541 603,96 711,677 1.001
    Ngắn hạn 474 529,6 572,807 579
    Trung hạn và dài hạn 67 6774,535 121,628 422

    Như vậy tín dụng ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong dư nợ tín dụng của ngân hàng . Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, NHCT Đống Đa đã thu hút được số khách hàng đến giao dịch với ngân hàng ngày càng tăng

                1.2.3. Thanh toán quốc tế

    Đây là nghiệp vụ mới của ngân hàng , do phòng thanh toán quốc tế đảm nhiệm, được thành lập tháng 7 năm 1997. Tuy vậy , doanh số của hoạt động này ngày càng tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ và cho vay ngoại tệ , đồng thời góp một phần  vào lợi nhuận hàng năm của ngân hàng

    Bảng 3: Doanh số thanh toán quốc tế  qua NHCT Đống Đa

    Năm
    Chỉ tiêu
    1997 1998 1999 2000
    1.Hàng nhập khẩu 25.028.178 18.983.589 20.700.000 22.042.000
    2.Hàng xuất khẩu 805.423 2.759.953 380.000 313.000
    3.Phí dịch vụ 1.242.379 5/191/027 9/084/297 9.841.297

              1.2.4. Kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHCT Đống Đa được thực hiện từ năm 1988. Tuy nhiên , nghiệp vụ này chỉ thực sự phát triển khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, trực tiếp cho vay ngoại tệ

    Bảng 4: Doanh số bán ngoại tệ từ năm 1997-2000

    Đơn vị : Quy đổi USD

    Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000
    1.Doanh số mua vào 27.166.850 17.542.742 29.694.710 28.200.000
    2.Doanh số bán ra 27.162.996 15.390.722 29.690.124 23.500.000

    ( Báo cáo kinh doanh ngoạI tệ từ năm 1997-2000)

    •  

    1.2.5. Các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng

    – Công tác thanh toán:

    Ngân hàng luôn chú trọng đến việc thanh toán của khách hàng , đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại. Hiện nay, các hoạt động thanh toán , chuyển tiền của khách hàng cả trong và ngoài nước đều được thực hiện nhanh, chính xác , đảm bảo lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng

    – Công tác ngân quĩ

    Công tác này được nhanh chóng đổi mới và duy trì cùng công tác thnah toán, tiến hành thu đủ, nhanh , chính xác cho khách hàng . Ngoài ra, ngân hàng còn có dịch vụ thu tiền tại chỗ cho tất cả các doanh nghiệp có nguồn thu lớn và ổn định

    – Ngoài ra, ngân hàng còn mở rộng cịch vụ cầm đồ , với đối tượng chủ yếu là các kỳ phiếu, trái phiếu… do các ngân hàng thương mại quốc doanh, kho bạc Nhà nước phát hành , Dịch vụ này vừa đảm bảo cung ứng vốn cho khách hàng nhanh chóng, vừa đơn giản, vừa đảm bảo an toàn và hiệu quả cho kinh doanh ngân hàng

    2. BỐI CẢNH CHUNG TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NHCT  ĐỐNG ĐA

    Trong giai đoạn đầu mở cửa của nền kinh tế nước ta, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại là một trong những lĩnh vực hoạt động chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Vì hoạt động này rất “nhạy cảm”với hàng loạt chỉ số quan trọng của nền kinh tế như tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất… từ đó ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân GDP, thu nhập quốc dân theo đầu người,…Mặt khác, khi mà hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM Việt nam chủ yếu xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu khách hàng , thì kim nghạch xuất khẩu hàng năm , lực lượng đầu tư nước ngoài vào Việt nam cũng có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới hoạt động này. Bối cảnh chung của nền kinh tế xã hội với tác động của nó tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của hệ thống NHTM Việt nam được xem xét trên các mặt sau:

              2.1 Những thành tựu của nền kinh tế sau hơn 10 năm đổi mới

    Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt nam được coi như một điểm mốc đánh dấu một giai đoạn phát triển mới cho nền kinh tế Việt nam . Từ đó cơ chế quản lý tập trung, quan liêu , bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, có sự đIều tiết, quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN , với chính sách mở cửa nền kinh tế , từng bước hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, nền kinh tế Việt nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ và thực sự đạt được những thành tựu đáng kể

              a, Kim nghạch xuất khẩu tăng trưởng

    Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế , tận dụng những lợi thế so sánh của quốc gia trong xuất khẩu và khai thác những ưu thế từ bên trong nhập khẩu để phát triển kinh tế xã hội , kim nghạch xuất khẩu của Việt nam đã tăng nhanh qua các năm. Trong giai đoạn 1990-1999 , kim nghạch xuất khẩu tăng trung bình trên 20% /năm, nhu cầu nhập khẩu cũng tăng rất nhanh , có thời kỳ việc đáp ứng ngoại tệ cho thanh toán nhập khẩu khiến cho một số ngân hàng gặp nhiều khó khăn.

    Từ tháng 7/1997, khi cuộc khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái Lan toả sang các nước trong khu vực thì tại Việt nam, đồng USD có chiều hướng tăng giá do dân chúng bắt đầu có xu hướng chuyển dịch từ đồng Việt nam sang đồng USD trong việc ký thác tiền gửi tại các NHTM . Mục đích của sự chuyển dịch này là để đề phòng sự mất giá của nội tệ và sự tăng giá của đồng USD như các nước khác trong khu vực . Hệ quả là mức cầu USD tăng nhanh trên thị trường và do đó giá USD sẽ tăng theo qui luật cung cầu. Nhất là khi ngân hàng Nhà nước có quyết định tăng biên độ mua bán ngoại tệ so  với tỷ giá chính thức (ngày 18/10/1997) thì đồng USD càng khan hiếm và tăng giá nhiều hơn

    Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới, năm 1998 và có thể trong một vài năm tới, kim nghạch xuất khẩu của Việt nam tăng trưởng chậm lại.Trong tình hình hiện nay, nếu chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu là đẩy tỷ giá lên cao sẽ gây những tác hại rất lớn. Chỉ cần nâng tỷ giá lên 10% thì tiềm lực tài  chính quốc gia sẽ bỗng chốc mất đi một khoản khổng lồ:12 tỷ USD nợ nước ngoài, cán cân nhập siêu năm 1997 = 2,2 tỷ USD , giá trị vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt nam 35,5 tỷ USD đều được tính tăng lên 10% , như vậy chúng ta tự nhiên mất đi một khoản tiền lớn 5 tỷ USD.

    Việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu không đơn thuần chỉ là việc hạ giá bán , mà giá hiện nay của ta cũng không cao so với các nước trong khu vực. Vấn đề cốt lõi là phải đổi mới công nghệ sản xuất, và gia công chế biến hàng xuất khẩu để chất lượng và giá cả hàng hoá của ta có sức hấp dẫn hơn. Mặt khác, thuế xuất nhập khẩu hiện nay tất yếu phải giãm xuống khi nước ta tham gia vào các tổ chức thương mại khu vực và thế giới và điều này sẽ làm cho giá hàng xuất khẩu của ta giảm xuống. Song ,với chủ trương của nhà nước ta  khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu  ,.cải cách thủ tục xuất nhập khẩu, cải cách hệ thống xuất nhập khẩu,…cùng với xu hướng hội nhập, kinh tế Việt nam trong khu vực và thế giới, chắc chắn mọi hoạt động xuất nhập khẩu của ta sẽ có những chuyển hoá tích cực và tăng trưởng mạnh trở lậi

    Bảng 5:Tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt nam trong giai đoạn 90 – 99

                                                                                            Đơn vị tính:1.000.000 USD

                       Năm

     

    Chỉ tiêu

    1990 1992 1994 1996 1997 1998 1999
    1.Xuất khẩu 2404,0 2580,7 4054 7256 9000,0 9360 9820
    2.Nhập khẩu 2752,4 2540,8 5826 11144 11200 11390 12160

    b, Đầu tư nước ngoài

    Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ban hành ngày 29/12/1987, tạo ra những cơ sở pháp lý cơ bản đầu tiên cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài tại  Việt nam. Từ đó đến nay, Việt nam luôn được coi là một trong những nước có điều kiện khá thuận lợi cho đầu tư nước ngoài: Nguyên liệu và công nhân tại chỗ, giá rẻ càng với những nỗ lực của Chính phủ Việt nam trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài như: giảm giá thuê đất đai, cho phép chuyển lợi nhuận về nước, tổ chức các buổi gặp gỡ kiến nghị giữa chính phủ và các nhà đầu tư…

    Đầu tư nước ngoài vào Việt nam đã tích cực gia tăng, số dự án và số vốn dăng ký tăng nhanh qua các năm, tính đến năm 1999 , số dự án nước ngoài là 2198 dự án với số vốn đăng ký đạt 43 tỷ USD.

    Bảng 6: Đầu tư nước ngoài tại Việt nam giai đoạn 1988-1999

     

    Năm
    Chỉ tiêu
    1988 1990 1992 1994 1996 1997 1998
    1.Số dự án 37 108 197 343 325 336 295
    2.Tổng vốn đăng ký 372 839 2165 3766 8497 5609 4828
    3.Vốn pháp định 288 407 1418 1730 2941 3250 1900

    Như vậy, hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài gia tăng tại Việt nam đã và đang tạo ra những điều kiện thuận lợi, dồng thời là những thách thức cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở các NHTM . Nhu cầu ngoại tệ ngày càng lớn của khách hàng làm cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng phát triển tương đương cả về quy mô và chất lượng. Tại một thời đIểm nhất định, khi nhu cầu ngoại tệ gia tăng( do cần đáp ứng nhu cẩu trả nợ  khi đến kỳ hạn , nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ , nhu cầu nhập khẩu, những cơn sốt hang ngoại nhập…) làm gia tăng tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ và ngược lại. Bằng việc mua bán dự trữ ngoại tệ của mình trên thị trường ngoại hối trong nước , chính phủ có thể lập tức đIều tiết tỷ giá hối đoái như mong muốn. Song không phải ngân hàng nào cũng có thể thoả mãn nhu cầu phát triển cả về quy mô và chất lượng , bởi vì hoạt động này đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn cả về công nghệ và nhân lực. Nó thách thức các ngân hàng thương mạI Việt nam trong cạnh tranh thu hút khách hàng và tăng cao lợi nhuận cho ngân hàng

                c, Những thành công trong quan hệ đối ngoai

    Ba sự kiện nổi bật về lĩnh vực đối ngoại đánh dấu những thành công ngoại giao đầu tiên của nước ta(năm 1996) . Thứ nhất, nước Việt nam đã bình thường hoá quan hệ với Hoa kỳ, sự kiện này chấm dứt những năm tháng Việt nam bị bao vây , cô lập một cách phi lý, tạo ra những đIều kiện cho đầu tư nước ngoài vào Việt nam và thương mại quốc tế của Việt nam phát triển. Thứ hai,nước ta ký kết hiệp định khung hợp tác với liên minh Châu âu, mở ra thị trường mới với nhiều đối tác mới cho các doanh nghiệp Việt nam trong kinh doanh . Thứ ba, đó là sự kiện Việt nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN, ASEAN là một khu vực kinh tế năng động, có nhịp độ tăng trưởng cao trên thế giới. Cùng với việc gia nhập ASEAN, Việt nam cùng tham gia khối mậu dịch tự do của ASEAN là AFTA và ký kết hiệp định ưu đãi thuế quan CEPT ( Common effective preferential tarriffs). AFTA với mục tiêu tự do hoá thương mại trong ASEAN bằng việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và rào phi thuế quan sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu trong khu vực, đồng thời bằng việc đưa ra một khối thị trường thống nhất , ASEAN sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực . Đó chính là những cơ hội mới cho Việt nam trong phát triển thương mại quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài.

          2.2 Cải cách cơ cấu tổ chức, đổi mới quản ký trong hệ thống ngân hàng  Việt nam

    1. Cải cách cơ cấu tổ chức và quản lý:

    Trong thời kỳ đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt nam đã có những chuyển biến sâu sắc cả về tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động. Nghị định 53/HĐTB ngày 23/3/1988 và pháp lệnh ngân hàng ra đời bước đầu đã quán triệt các nguyên tắc kinh tế thị trường trong tổ chức vận hành hệ thống ngân hàng . Cụ thể , thiết lập một hệ thống ngân hàng theo mô hình hai cấp: Tách chức năng kinh doanh của ngân hàng thương mại với chức năng quản ký vĩ mô trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng  và ngân hàng của ngân hàng nhà nước. ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng của ngân hàng Trung Ương chấm dứt các nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ. Các ngân hàng thương mại đóng vai trò các doanh nghiệp, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh của mình. hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại thực sự đã chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

    Hệ thống những văn bản pháp quy đã nêu ( NĐ161/HĐBT) ban hành “ đIều lệ quản lý ngoại hối” của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam. Ngày 15/3/1989 ngân hàng Nhà nước có thông tư số 33/NH – tiền tệ “Hướng dẫn thi hành đIều lệ quản lý ngoại  hối…”) , chứng tỏ rằng công tác quản lý ngoại hối đã được nhà nước ta thường xuyên quan tâm chỉ đạo. Vì vậy, so với trước khi có nghị định 161/HĐBT  những năm qua, việc quản lý ngoại hốỉ nước ta có những tiến bộ đáng kể. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nghành ngân hàng đã đổi mới từng bước công nghệ ngân hàng cả về kỹ thuật (phần cứng) và trình độ kiến thức của cán bộ. Các định chế, qui chế, hệ thống luật mới được ban hành để đIều chỉnh hoạt động của ngân hàng trong những điều kiện mới. Trong đó, hoạt động kinh doanh ngoại tệ tuy còn là nghiệp vụ mới mẻ đối với nhiều NHTM Việt nam, nhưng trước việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và xu thế hội nhập kinh tế tiI chính trên thế giới đã hình thnàh phát triển trở thành một hoạt động không thể thiếu  của các ngân hàng thương mại . Vì vậy, các ngân hàng thương mại phải đổi mới cơ cấu tổ chức ngân hàng , đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ ngân hàng . Điều này tạo ra sức ép rất lớn về vốn đối với đại bộ phận ngân hàng hiện nay.

                  c, Đổi mới quản lý vĩ mô, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý ngoại hối và kinh doanh ngoại tệ :

                 –  Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái

    Tỷ giá hối đoái thể hiện mối tương quan giá trị (sức mua) giữa các đồng tiền khác nhau nên nó được coi là “tâm” của mọi hoạt động kinh doanh ngoại tệ . Vì vậy cơ chế đIều hành tỷ giá là một trong tác động tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM . Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái và việc quản lý ngoại hối được xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thương mại quốc tế trên cơ sở sản xuất , trao đổi vvà sử dụng những lợi thế so sánh của các nước khác nhau trong phân công lao động quốc tế ở nước ta, khi đề ra chính sách biện pháp quản lý thị trường ngoại tệ và tỷ giá hối đoái, chúng ta luôn có sự đánh giá phân tích một cách khoa học  về các yếu tố khách  quan  và chủ quan ảnh hưởng đến thị trường hàng hoá, tiền tệ…Nhờ có những quyết sách đúng đắn, kịp nthời chúng ta đã hạn chế bớt những ảnh hưởng tiêu cực kìm hãm quả trình  đầu tư trong nước, hạn chế thâm hụt cán cân thanh   toán vãng lai về giá trị tương đối lẫn giá trị tuyệt đối , từng bước đẩy lùi tình trạng đôla hoá trong lưu thông, tiến tới làm cho đồng tiền Việt nam có giá trị chuyển đổi đầy đủ. Kể từ năm 1986 , cơ chế đIều hành tỷ giá hối đoái của nhà nước ta đã có những “thay đổi căn bản” , có thể chia thành mấy giai đoạn cụ thể sau:

                      Giai đoạI 1980-1988: Nước ta thi hành chế độ đa tỷ giá , mang nặng tính quan liêu bao cấp, tỷ giá hối đoái do nhà nước trực tiếp xác định mà không tính đến cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng  thời mang tính chất cố định giữa đồng Việt nam và các loại ngoại tệ theo 3 tỷ giá khác nhau: tỷ giá mậu dịch, tỷ giá phi mậu dịch, tỷ giá kết toán nội bộ

    Cung cầu ngoại tệ đóng vai trò quyết định tới biến động của tỷ giá hối đoái, đặc biệt là đối với moọt nước có nền kinh tế nhỏ bé như Việt nam, một đồng tiền không có giá trị chuyển đổi cả trên thị trường trong nước cũng như thị trường ngoài nước. Định hướng đIều chỉnh  tỷ giá cần bám sát cung cầu ngoại tệ (chủ yếu là USD) để sử dụng khoản dự trữ ngoại tệ như một cái neo an toàn , hay một vũ khí hiệu quả nhất.

                  Giai đoạn 1989-1998: Trước tình hình trên , ngày 3/3/1989 , Chủ tịch HĐBT ra Chỉ thị  số 43 đã xoá bỏ chế độ đa tỷ giá, duy trì chế độ một tỷ giá giữa đồng Việt nam và các ngoại tệ       khác, áp dụng cho mọi hình thức thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng , tỷ giá náy sẽ được điều chỉnh thường xuyên theo những biến động trên thị trường. Đến ngày20/9/1994, Quyết định số 205/QQĐ – NH7 củaThống đốc ngân hàng nhà nước quy định việc điều tiết tỷ giá như sau: ngân hàng Nhà nước công bố hàng ngày tỷ giá chính thức của đồng Việt nam so với một số ngoại tệ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tỷ giá này được các tổ chức tín dụng có giấy phép kinh doanh ngoại tệ dùng làm cơ sở xác định tỷ giá giao dịch trong một biên độ nhất định. Biên độ này được ngân hàng Nhà nước điều chỉnh qua các thời kỳ, phù hợp với chính sách tỷ giá hối đoái của ngân hàng Nhà nước. Từ đầu năm 1998 đến nay ngân hàng Nhà nước đã hai lần điều chỉnh tỷ giá hối đoái VND/USD. Ngày  16/2 mức tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ 11.175đ/USD lên 11.800đ/USD (giá USD so với VND tăng 5,6%, đồng thời tăng biên dộ giao động , giới hạn chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán so với tỷ giá chính thức do ngân hàng Nhà nước công bố) từ =(-) 5% lên +(-) 10%. Mới đây, ngày 7/8 tỷ giá hối đoái chính thức VND/USD lại được ngân hàng nhà nước điều chỉnh từ 11.815đ/USD lên 12.998 (tăng 10%). Trong lần điều chỉnh thứ hai này, mức độ điều chỉnh tỷ giá tuy lớn hơn lần trước nhưng biên độ giao động tỷ giá mua, bán lại thu hẹp từ +(-)10% xuống +(-)7% và thay đổi cách thức công bố tỷ giá chính thức “lấy tỷ giá thực tế đang giao dịch trên thị trường liên ngân hàng làm tỷ giá cho ngày hôm sau”.

    Việc ngân hàng Nhà nước lấy mức tỷ giá hình thành trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng làm tỷ giá chính thức cho ngày giao dịch hôm sau là một thay đổi quan  trọng trong phương pháp điều hành tỷ giá hối đoái theo hướng giảm sự áp đặt từ phía Nhà nước. Chủ trương này sẽ tạo điều kiện cho tỷ giá vận động theo sát biến động của cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Đương nhiên, điều này không hạn chế sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước vào thị trường ngoại tệ thông qua việc mua bán ngoại tệ nhằm có được mức tỷ giá mong muốn trong các phiên giao dịch . Nhưng sự can thiệp như vậy hoàn toàn mang nội dung kinh tế và phù hợp quy luật cũng như đúng với luật về các ngân hàng mới được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực trong thời gian tới.

    Như vậy bằng việc điều chỉnh một cách linh động biên độ giao dịch Ngân hàng Nhà nước có thể điều tiết tỷ giá linh hoạt, thực hiện mục tiêu ổn định đồng tiền Việt Nam, ổn định môi trường kinh tế xã hội. Điều chỉnh tỷ giá sẽ làm tăng thu nhập xuất khẩu, giảm chi tiêu cho nhập khẩu và cải thiện cân đối ngân sách Nhà nước.

    Tuy nhiên Ngân hàng Nhà nước không thể thay đổi biên độ giao động tỷ giá cho phép hàng được, trong khi việc thực thi chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái đòi hỏi phải điều hành hằng ngày. Hơn nữa tỷ giá chính thức trong giai đoạn này đã thể hiện rõ tính hành chính của nó. Tỷ giá giao dịch ngoại tệ thực tế trên thị trường có tổ chức hầu như tách rời tỷ giá chính thức ỏ mức độ tối đa cho phép, tất cả các đợt điều chỉnh tăng biên độ hay tỷ giá chính thức đều có chung một xu thế là sự giảm đến mức tối đa cho phép của tỷ giá đồng Việt Nam.

    Giai đoạn từ 25/2/1999 đến nay: Quyết định số 64/NĐ-NHNN được ban hành đã đánh dấu một sự thay đổi về chất trong cơ chế điều hành tỷ giá của nước ta, điều tiết trên cơ sở thị trường. Theo Quyết định này, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá giao dịch bình quân hằng ngày trên cơ sở giá thực tế bình quân hình thành ở thị trường liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất. Cơ chế này không có nghĩa là tỷ giá hoàn toàn thả nổi. Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ giá giao dịch trên thị trường có tổ chức hằng ngày bị khống chế trong biên độ 0,1% so với tỷ giá bình quân do Ngân hàng Nhà nước công bố.

    Như vậy cơ chế điều tiết tỷ giá mới đã thể hiện đúng nguyên tắc: điều tiết theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tỷ giá công bố đã phản ánh trung thực tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ có tổ chức (chiếm tới 90%  doanh số hoạt động ngoại tệ trong nền kinh tế). Việc khống chế biên độ của tỷ giá sẽ giúp đồng Việt Nam tránh được những biến động đột xuất có thể xẩy ra và tâm lý sùng bái ngoại tệ còn cao của nền kinh tế nước ta hiện nay. Với chính sách điều hành tỷ giá mới này, sẽ giúp cho các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ, xác định được tỷ giá mua, bán ngoại tệ sát với cung cầu thị trường, có sự chủ động trong hoạt động kinh doanh, từ đó điều hành được nó theo đúng nghĩa. Thực tế sau một tháng áp dụng quyết định mới, việc mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại, giữa các ngân hàng với khách hàng được thực hiện thuận lợi, tỷ giá ngoại tệ giữa thị trường tự do và Ngân hàng Nhà nước công bố đã ít chênh lệch. Việc công bố một tỷ giá này là phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với chế độ hạch toán kinh tế của nước ta hiện nay. Nó sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng và làm cho các hoạt động này “ xích lại” gần hơn với trình độ của khu vực và của thế giới.

    1. Chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước:

    Chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước theo tinh thần đổi mới được thiết lập bằng “Điều lệ quản lý ngoại hối của nước CHXHCN Việt Nam” ban hành kèm theo Nghị định số 161/HĐBT ngày 18/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng. Văn bản này được xem như một văn bản pháp quy về quản lý ngoại hối đầu tiên của nước ta trong công cuộc đổi mới đất nước, mục đích bảo vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ, thống nhất quản lý kinh doanh ngoại hối, góp phần củng cố và mở rộng các quan hệ kinh tế, chính trị văn hoá với nước ngoài. Từ đó đến nay liên tục đã có những văn bản mới điều chỉnh, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn các quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam. Nghị định số 63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 17/8/1998 và sẽ có hiệu lực ngày 2/9/1998. Đây là lần đầu tiên trong vòng 10 năm qua, một văn bản pháp quy với những quy định  đầy đủ và thống nhất về quản lý ngoại hối được ban hành thay thế Điều lệ quản lý ngoại hối (ban hành ngày 18/10/1988) và hàng loạt các văn bản khác về lĩnh vực này, giải quyết những vướng mắc trong việc quản lý  và sử dụng ngoại hối. Nghị định về quản lý ngoại hối được ban hành với mục đích tạo chuyển biến mới trong việc biến VND thành đồng tiền chuyển đổi trong các giao dịch vãng lai, đồng thời giảm bớt sự tác động của tình trạng USD hoá đối với nền kinh tế Việt Nam, tăng cường sử dụng VND trong việc giao dịch buôn bán trên lãnh thổ Việt Nam.

    Cơ chế quản lý ngoại hối từng bước được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn kinh tế, chính sách quản lý ngoại hối cần được thiết kế trên  một số cơ sở như: đồng Việt Nam chưa chuyển đổi trên thị trường hối đoái quốc tế, thị trường tiền tệ và thị trường vốn chưa phát triển, tính hiệu quả tiền tệ (high yield of currency) của bản tệ đang suy giảm, chu chuyển trên tài khoản vốn thiếu vững chắc. Nhận thức được các đặc trưng nói trên để góp phần xây dựng một chính sách quản lý ngoại hối phù hợp với thực tiễn của Việt Nam là một việc làm rất có ý nghĩa. Hiện nay, Việt Nam thi hành chế độ quản lý chặt chẽ với những nội dung chính sau:

    – Quy định về mua bán và gửi ngoại tệ tại ngân hàng, mọi nguồn thu ngoại tệ của các tổ chức, đơn vị kinh tế đều phải gửi vào một tài khoản ngoại tệ mở tại ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ tại Việt Nam, được giữ lại một phần ngoại tệ trên tài khoản (theo quy định hiện nay là 20% nguồn thu vãng lai), còn lại toàn bộ phải bán cho ngân hàng. Khi đơn vị có nhu cầu, ngân hàng có trách nhiệm bán lại cho đơn vị tối thiểu bằng số ngoại tệ đã mua của đơn vị, mọi giao dịch mua bán vay mượn ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam nhất thiết phải có sự tham gia cuả ngân hàng với tư cách là người mua, người bán hoặc  người tài trợ.

    – Quy định về mở tài khoản tại nước ngoài: người cư trú là các tổ chức kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tín  dụng tại Việt Nam được cấp giấy phép mở và sử dụng tài khoản ở nước ngoài nếu là hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực: hoạt động kinh doanh quốc tế thuộc các ngành hàng không, hàng hải , bưu điện, bảo hiểm, du lịch, xuất khẩu lao động, nhận thầu các công trình ở nước ngoài, thực hiện vay và trả nợ nước ngoài, được cơ quan có thẩm quyền cho phép mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở nước ngoài, được phép hoạt động ngoại hối ở nước ngoài , các trường hợp khác được Chính phủ cho phép.

    – Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý và kinh doanh ngoại hối thông qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực này là các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ.

    Ngoài các ngân hàng này còn có một số ít các cá nhân, đơn vị được thu ngoại tệ do đặc điểm kinh doanh riêng, nhưng phải có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước, Nhà nước nghiêm cấm việc lưu thông ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam.

    1. Hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng:

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được thành lập theo “ Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH” ban hành kèm theo Quyết định số 203/NĐ-NH13 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 20/9/1994. TTNTLNH do ngân hàng tổ chức và điều hành đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/10/1994 cho tới nay. Mục đích của việc thành lập TTNTLNH là nhằm hình thành thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức, làm cơ sở cho việc triển khai thị trường hối đoái hoàn chỉnh ở Việt Nam.

    Tính hữu hiệu của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng: thị trường này được thiết lập với mục đích chính là hướng hoạt động mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng và trong tương lai với khách hàng vào quy củ với sự kiểm soát của Nhà nước. Qua các giao dịch tại đây, ngân hàng nhà nước sẽ có những điều chỉnh về chính sách tỷ giá cho ơhù hợp với thực tiễn và tình trạng ngoại hối của ngân hàng Việt Nam . cũng như sự phục vụ cho mục đích thanh toán đối nội và đối ngoại.

    Hiện nay, lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường  ngoại tệ liên ngân hàng đã chiếm tới 90% tổng  số giao dịch của cả nước, đạt tới 6 triệu USD/ngày, giữa ngân hàng với khách hàng đạt 47 triệu USD/ngay. Thị trường này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tỷ giá thị trường giữa các NHTM. Qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, các NHTM đã đáp ứng được nhu cầu mua bán ngoại tệ của mình, từ đó đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đối ngoại và thanh toán quốc tế. Khi mới thành lập chỉ có 23 thành viên tham gia thị trường, đến hết năm 1997 đã có tới 60  thành viên khiến cho hoạt động của thị trường sôi động lên nhiều, nhất là có sự tham gia của nhiều ngân hàng lớn như  Citibank, Standard Chartered…

    Gần đây với quy chế mới “Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng” ban hành kèm theo quyết định số101/1999/QĐ-NHNN 13 ngày 16/31999 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước, đã có quy định rộng hơn về điều kiện thành viên tham gia thị trường về loại đồng tiền trong giao dịch, về các loại hình giao dịch… Đây chính là điều kiện thuận lợi cho nhiều chi nhánh ngân hàng lớn như NHCT Đống Đa mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của mình trên thị trường này.

    3. THỰC TRẠNG HOẠT  ĐỘNG  KINH DOANH NGOẠI  TỆ  TẠI CHI NHÁNH  NHCT ĐỐNG ĐA

    3.1. Các hoạt động chủ yếu liên quan tới kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh NHCT Đống đa

    Mọi hoạt động của ngân hàng đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau , chúng được coi như từng bộ phận của cỗ máy hoàn chỉnh, mà nó chỉ hoạt động tốt  khi các bộ phận đều hoạt động tốt. Đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ, có 3 lĩnh vực hoạt động liên quan mật thiết với nó là: huy động vốn, sử dụng vốn và trung gian thanh toán. Hoạt động của NHCT Đống đa được thể hiện trên 3 lĩnh vực sau:

    3.1.1. Huy động vốn

    Huy động vốn là một trong những khâu quan trọng nhất để duy trì sự ổn địnhvà phát triển của chính bản thân ngân hàng, ngân hàng phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế quốc dân trên phạm vi toàn quốc và trên địa bàn quận Đống Đa đồng thời căn cứ vào nhịp độ phát triển kinh tế qua từng thời kỳ, giai đoạn để xây dựng cho mình một cơ chế huy động vốn có hiệu quả. Các nguồn huy động và khai thông các nguồn đối với một chi nhánh  ngân hàng thương mại nói chung và chi nhánh ngân hàng công thương Đống đa nói riêng xuất phát từ:

    –  Các tài khoản tiền gửi của các chủ thể kinh tế tại ngân hàng đảm bảo công tác thanh toán, chi trả trong các hoạt động nội thương và ngoại thương

    –  Các tài khoản tiết kiệm của dân, của các tổ chức kinh tế , họ tin tưởng ngân hàng nên mang vốn đang trong giai đoạn “nhàn rỗi” của mình gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất.

    –  Là trung gian tiếp nhận các khonả vốn đầu tư của nước ngoài…

    Để đạt được hiệu quả  kinh tế cao trong hoạt động huy động vốn làm cơ sở cho hoạt động cho vay, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước và quận Đống Đa, ngân hàng phải đánh giá cho đúng điểm mạnh , điểm yếu hạn chế của từng loại vốn huy động, tập trung cao độ nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất và an toàn nhất trong công tác huy động của mình

                3.1.2. Sử dụng vốn

    – Cho các đơn vị kinh tế vay

    – Cho các ngân hàng khác vay để đảm  bảo khả năng thanh toán của họ hay đảm bảo giải quyết tình thế cấp bách

    – Đem đầu tư, góp vốn  liên doanh

    Cho vay ngoại tệ dể nhập khẩu hàng hoá hay để sản xuất, thu gom hàng xuất khẩu thì cuối cùng đều phát sinh nghiệp vụ mua bán ngoại tệ. Ngân hàng cần  mua ngoại tệ để thanh toán L/C đến hạn , khách hàng khi đến hạn phải mua ngoại tệ để trả nợ tiền vay, doanh nghiệp xuất khẩu cần bán ngoại tệ lấy VND để tiêu dùng trong nước . Cho vay ngoại tệ được triển khai ở ngân hàng công thương Đống đa từ năm 1988, tuy nhiên lúc đó ngân hàng không cho vay trực tiếp mà chỉ thẩm định dự án xin vay để trình  Ngân hàng Công thương Việt Nam quyết định. Doanh số cho vay trong thời kỳ này còn thấp, từ năm 1988 Ngân hàng Công thương Đống Đa thực hiện cho vay ngoại tệ trực tiếpđối với các doanh nghiệp, doanh số cho vay ngoại tệ ngày càng tăng, đến nay dư nợ ngoại tệ đã chiếm tỷ trọng hơn 20% tổng dư nợ của ngân hàng.

    Hoạt động cho vay ngoại tệ của NHCT Đống đa được thực hiện theo quyết định số17/QĐ-NHNN ngày 10/1/1998 của Hội đồng quản trị ngân hàng Công thương Việt nam, trong đó quy định rõ:

    – Đối tượng cho vay: Ngân hàng công thương cho khách hàng vay bằng ngoại tệ để thanh tiền nhập khẩu vật tư , hàng hoá, máy móc thiết bị và dịch vụ cho nước ngoài phục vụ hoạt động kinh doanh của khách hàng

    – Cách phát tiền vay: Ngoại tệ cho vay sử dụng để chuyển trả cho nước ngoài theo các phương thức thnah toán quốc tế và chế độ quản lý ngoại hối quy định: không cho vay chuyển vào tài khoản tiền gửi ngoại tệ của khách hàng, không cho vay bằng ngoại tệ tiền mặt.

    – Trả nợ gốc và lãi:Vay bằng ngoại tệ nào thì trả bằng ngoại tệ đó, trưòng hợp khách hàng đề nghị trả nợ bằng ngoại tệ khác với ngoại tệ đã vay hoặc bằng VND thì phải được giám đốc  chi nhánh cho vay xem xét  , đồng ý và thoả thuận với khách hàng tỷ giá quy đổi theo đúng quy định hiện hành. Như vậy, ngân hàng không được phép cho vay bằng ngoại tệ đối với các doanh nghiệp để: trả nợ ngân hàng khác (đảo nợ), trả nợ tiền vay, thanh toán tiền hàng cho các doanh nghiệp khác trong nước, đem bán lại cho ngân hàng thương mại, NHNN hoặc các doanh nghiệp khác…

    Hiện nay, NHCT Đống đa đã cho vay ngoại tệ chủ yếu là ngắn hạn để  nhập khẩu vật tư hàng hoá phục vụ cho sản xuất kinh doanh như: Sắt, thép xây dựng , nhựa , giấy…Khi một chủ thể kinh tế nhập khẩu máy móc, thiết bị, họ có thể dùng tài khoản ngoại tệ của mình tại ngân hàng để thanh toán cho đối tác nước ngoài , tuy nhiên nếu không có thì họ   vay ngoại tệ hoặc mua ngoại tệ của ngân hàng để đảm bảo cho việc thanh toán diễn ra tốt đẹp

    Ngoài cho vay ngắn hạn, ngân hàng cũng đầu tư trung hạn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị cho các đơn vị, giúp đỡ đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả kinh tế. Tuy vậy, cho vay trung hạn mới chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong dư nợ ngoại tệ.

    Việc thu nợ của ngan hàng đối với các doanh nghiệpchủ yếu từ doanh thu bán hàng, dịch vụ trong nước tính bằng VND. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải mua ngoại tệ để trả nợ cho ngân hàng , NHCT Đống Đa đảm nhận việc cung cấp số ngoại tệ này trong khả năng của ngân hàng theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm thu nợ. Chính vì vậy, ngân hàng phải chủ động khai thácnguồn ngoại tệ để phục vụ khách hàng. Doanh số cho vay ngoại tệ tăng nhanh hàng năm đã thúc đẩy rất nhiều quy mô hoạt động mua bán ngoại tệ của ngân hàng

    Bảng 7: Tình hình cho vay ngoại tệ của NHCT Đống đa

    Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000
    I,Doanh số cho vay cả năm 1087 968 1132,567 1842
    Tỷ trọng so với tổng cho vay 22,63% 36% 47,2% 48,2%
    II,Doanh số thu nợ cả năm 948,3 986,24 1025,690 1346,702
    Lãi thu từ cho vay ngoại tệ 59,6 61,984 64,463 71,013
    III,Dư nợ ngoại tệ đến 31/12 113 99,881 116,861 360
    Trong đó:Ngắn hạn 1,033 15,208 27,043 29,421
    Tỷ trọngNQH/Tổng dư nợ 1,3% 1,7% 3,8% 3,9%

    (Báo cáo kết quả kinh doanh ngoại tệ từ 1997-2000)

    Những kết quả đạt được trong hoạt động cho vay ngoại tệ

    • Doanh số cho vay ngoại tệ tăng nhanh qua các năm, tỷ trọng của nó trong tổng cho vay của ngân hàng ngày càng cao chứng tỏ vai trò của tín dụng ngoại tệ đang ngày càng quan trọng trong tổng thể hoạt động của ngân hàng
    • Lãi thu từ cho vay ngoại tệ tăng nhanh qua các năm đã góp phần đáng kể vào thu nhập của ngân hàng , riêng năm 1997 doanh số thu nơj có giảm là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nên ngân hàng có gia hạn nợ ,đã trả được nợ cho ngân hàng, làm cho doanh số thu nợ và lãi thu ngày càng tăng rất cao, tạo nguồn thu nhập tốt cho ngân hàng và thúc đẩy mạnh mẽ quy mô hoạt động mua bán ngoại tệ trong năm
    • Tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ đã giảm và ở mức tương đối thấp so với các ngân hàng thương mại khác trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay đang còn có dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực (năm 1997). Tuy nhiên , trong hoạt động cho vay vẫn còn có một số hạn chế
    • Cho vay ngoại tệ mới chỉ tập trung vào ngắn hạn , cho vay trung hạn và dài hạn còn ít. Nguyên nhân là do nguồn ngoại tệ huy động chủ yếu là ngắn hạn, lại phải chịu rủi ro hối đoái lớn do thời hạn tương đối dài đối với cả khách hàng và ngân hàng
    • Nợ quá hạn tại ngân hàng cần giảm đi , nếu không có thể ảnh hưởng tới kết quả hoạt động tín dụng ngoại tệ trong các năm

    3.1.3. Trung gian thanh toán

    Như đã nói và phân tích, các ngân hàng này luôn có lợi thế về trang thiết bị liên lạc, điện tử , điều này thể hiện rất rõ khi các ngân hàng ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới vào hoạt động của mình. Các trang thiết bị như điện thoại, TELEX, màn hình coputer hay cao hơn nữa là hệ thống truyền tin một cách nhanh chóng và chính xác, đạt hiệu quả kinh tế cao. Chính nhờ các thế mạnh về ứng dụng công nghệ hiện đại này mà vai trò trung gian thanh toán của ngân hàng ngày càng được nâng cao, cả về thanh toán trong nước cũng như nước ngoài.

    Công tác thanh toán quốc tế trong ngoại thương luôn được ngân hàng chú trọng với các hình thức chuyển tiền từ trong nước ra nước ngoài hay tiếp nhận từ nước ngoài vào trong nướcđều diễn ra hết sức nhịp nhàng. Khi phát sinh hoạt động xuất nhập khẩu giữa một đơn vị kinh tế ở Việt nam với bên ngoài, không phải đơn vị kinh tế này chuẩn bị sẵn các “bao tiền” rồi đến điểm hẹn trao cho người xuất khẩu mà họ đến ngân hàng viết lệnh chi trả, kỳ phiếu thương mại  đề nghị ngân hàng có mối quan hệ làm ăn với ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu . Bằng việc truyền tin thông qua hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT, việc chi trả    trở nên vô cùng đơn giản nhưng lại rất chính xác, đem lại sự thoả mãn cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu, bởi vì xuất khẩu thì có tiền, nhập khẩu thì có hàng nhanh chóng

    Hiện nay, việc thanh toán tiền hàng nhập khẩu được NHCT Đống đa thực hiện trực tiếp  cho nước ngoài thông qua sở kinh doanh hối đoái, nơi quản lý nguồn ngoại tệ  của toàn hệ thống ngân hàng công thương. Thực chất, việc thanh toán của NHCT Đống  đa cho các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài vẫn có tính chất trực tiếp , nội dung của nghiệp vụ thanh toán vẫn thuọc trách nhiệm của NHCT Đống Đa

    Qua đáp  ứng nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán tiền hàng nhập khẩu,, mua ngoại tệ để trả nợ ngân hàng bán ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu, quy mô hoạt động mua bán ngoại tệ đã tăng liên tục cùng với sự gia tăng doanh số quốc tế hàng năm qua  ngân hàng. Đến đây chúng ta đã thấy được ý nghĩa quan trọng của vị trí trung gian thanh toán khi hàng ngày, hàng giờ có hàng ngàn , hàng triệu quan hệ giao dịch thương mại quốc tế đều được tiến hành một cách suôn sẻ

    Bảng 8: Kim ngạch xuất nhập khẩu thanh toán qua NHCT Đống Đa

     

    Chỉ tiêu 1998 1999 2000
    Số món Trị giá Số món Trị giá 99/98 Số món Trị giá 00/99
    1.Hàng nhập khẩu bình quân

     

    một lần nhập

    332 18.983.589 390     286 22.024.000  
    2. Hàng xuất khẩu bình quân một lần xuất 35 2.759.953 25     20 313.000  
    3 Phí dịch vụ 1461 10.374.757 1476 10.478.504   1258 10.762.102  

            (Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT Đống đa từ 1998-2000)

    Qua số liệu trên, có thể đưa ra những nhận xét sau:

    Doanh số thanh toán quốc tế  qua ngân hàng hàng năm nhìn chung đều tăng. Số món thanh toán tăng nhanh từ năm 1998 đến 1999 đặc biệt là hàng nhập khẩu nhưng chỉ riêng năm 2000 thì có giảm hơn so với các năm trước . Điều này , do ảnh hưởng của chính sách Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu là  tăng cường xuất nhập khẩu những mặt hàng, trang thiết bị , công nghệ đang sản xuất và hạn chế xuất nhập khẩu đối với những mặt hàng đã sản xuất hoặc sản xuất lại cho nên lượng thanh toán xuất nhập khẩu qua ngân hàng có giảm trong năm. Tuy vậy, hoạt động ngân hàng vẫn đảm bảo có lãi, kim nghạch thanh toán quốc tế qua ngân hàng vẫn tăng.Đặc biệt, ngân hàng tích cực thu hút khách hàng xuất khẩu , tạo một  phần thuận lợi cho huy động  nguồn ngoại tệ của ngân hàng

    Một điều còn hạn chế của ngân hàng trong khai thác nguồn ngoại trực tiếp từ các   nhà xuất khẩu với tỷ giá thấp hơn so với mua lại từ các ngân hàng bạn bởi qua số liệu ta thấy doanh số hàng xuất khẩu ít hơn nhiều so với doanh số  hàng nhập khẩu

    3.2. Tình hình hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ

              3.2.1. Hiện nay, hoạt động mua bán ngoại tệ tại NHCT Đống Đa được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các văn bản pháp lý sau:

    – Quyết định 64/1999/QĐ-NHNN7 của thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc công bố tỷ giá   hối đoái của đồng Việt Nam với các ngoại tệ

    – Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dungj được phép kinh doanh ngoại tệ

    – Quyết định số 18/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/1/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về trạng thái ngoại tệ đối với các tổ chức được phép kinh doanh ngoại tệ

    – Nghị định 63/1998/ NĐ-CP về quản lý ngoại hối được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17/8/1998

    – Quyết định số: 173/1998/QĐ-TTg ngày 12/9/1998 của Thủ ướng Chính phủ về  nghĩa vụ mua bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức

    – Quyết định số 232/1998/QĐ-TTg ngày 1/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam sửa đổi khoản 1 và 2 điều 1 quyết định số 173/QĐ-TT

               3.2.2. Quy trình giao dịch tại NHCT Đống đa

    Hàng ngày, căn cứ vào trạng thái ngoại hối, vào nhu cầu thanh toán trong ngày, nhân viên giao dịch xác định nhu cầu mua bán trong ngày. Nhu cầu thanh toán được phòng thanh toán quốc tế lập và gửi cho cán bộ kinh doanh ngoại tệ trước một tuần, để cân đối ngoại tệ cho đơn vị  vào ngày phải thanh toán. Sau khi xác định được nhu cầu mua bán trong ngày, nhân viên giao dịchgọi điện đến các ngân hàng có quan hệ giao dịch thường xuyên để chào mua hoặc chào bán. Nếu chấp nhận về giá chào mua , bán và thoả thuận về khối lượng giao dịch, thời hạn, địa điểm chuyển tiền , hai bên nhận lại với nhau bằng FAX và thực hiện chuyển tiền vào thời hạn đã thoả thuận. Đối với giao dịch giao ngay, việc chuyển tiền thường được tiến hành ngay trong ngày làm việc.

    Các giao dịch doanh nghiệp thường được tiến hành bằng điện thoại, nếu thoả thuận được tỷ giá , khối lượng, hai bên sẽ ký kết hợp đồng mua bán ngoại tệ và thực hiện chuyển tiền. Tỷ giá mua bán ngoại tệ của ngân hàng được công bố hàng ngày và  dược coi là tỷ giá  cam kết  mua ,bán của ngân hàng đối với khách hàng khi phát sinh giao dịch. Hàng ngày, vào đầu giờ làm việc phòng kinh doanh đối ngoại nhận được tỷ giá từ NHCT Việt Nam qua mạng vi tính, tiến hành niêm yết giá và tiến hành giao dịch ngoại tệ với các tổ chức , cá nhân có nhu cầu. Các ngoại tệ giao dịch tại ngân hàng bao gồm:USD,FRF,DEM,JPY,… trong đó, đồng USD và DEM là chủ yếu . Khi có nhu cầu mua bán các loại ngoại tệ khác, NHCT Đống đa sẽ các định tỷ giá đó và Việt nam  đồng theo  tỷ giá giữa công bố của Ngân hàng Ngoại thương Việt nam, là ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn ( 70%) trong tổng giao dịch hối đoái ở  Việt nam và có mạng thông tin với thế giới

               3.2.3. Nguồn thu ngoại tệ của NHCT  Đống Đa

    Ngân hàng Công thương Đống Đa mua ngoại tệ từ các nguồn sau

    – Mua của trung tâm giao dịch ngoại tệ

    – Mua trong hệ thống Ngân hàng công thương

    – Mua ngoài hệ thống Ngân hàng công thương

    – Mua của các đơn vị, tổ chức kinh tế

    – Mua của các thành phần kinh tế khác

    – Mua do chi trả kiều hối

    Trong đó, lượng ngoại tệ mua của hệ thống Ngân hàng công thương Việt nam

    bao giờ cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất theo các năm và tháng. Năm 1999, mua trong hệ thống Ngân hàng công thương đối với các loại ngoại tệ:

    – DEM : 54,5%

    – USD : 47,6%

    – FRF :   87.2%

    – JPY : 56,6%

    Mua từ Ngân hàng công thương Việt nam: Đây là nguồn mua lớn của NHCT Đống đa, với tỷ giá thường thấp hơn so với tỷ giá trên thị trường ngoại tệ chính thức ( chênh lệch không đáng kể) . Tuy vậy , Ngân hàng công thương Việt nam cho NHCT Đống đa vào một số thời điểm nhất định và chỉ cung cấp thanh toán cho một số mặt hàng nhất  định mà  Chính phủ quy định. Còn lại, chỉ vào những thời điểm gay go , khan hiếm ngoại tệ , NHCT Đống đa mới mua được ngoại tệ từ Ngân hàng công thương Việt nam và chỉ thanh toán một số mặt hàng theo quy

    định.

    Mua từ các ngân hàng thương mại khác: Đây là nguồn chủ yếu của NHCT Đống đa, trong đó một phần quan trọng là  mua từ các ngân hàng chi nhánh của NHCT  Việt nam, nơi có nguồn thu ngoại tệ lớn. Còn lại, NHCT Đống đã mua của các ngân hàng thương mại khác hệ thống. Tuy vậy, chỉ những ngân hàng nào cân đối thừa ngoại tệ mới bán, và các ngân hàng này thường bán với giá kịch trần do Ngân hàng Nhà nước quy định . Vì vậy, NHCT Đống đa chỉ đóng vai trò trung gian mua hộ ngoại tệ cho khách hàng mà không hề được hưởng lãi qua giao dịch này, thậm chí có lúc còn chịu lỗ do phải chịu chi phí giao dịch của nhiều giao dịch mới mua đủ số ngoại tệ cần thiết cho khách hàng

    Mua từ các khách hàng xuất khẩu: Lượng ngoại tệ mua được từ các khách hàng xuất khẩucủa NHCT Đống đa rất ít ỏi, lý lo chủ yếu là trên địa bàn quận, thành phố, số doanh nghiệp xuất khẩu còn ít, doanh số còn rất thấp.

               3.2.4 Nguồn bán ngoại tệ của Ngân hàng Công thương Đống đa

    Đối tượng mà Ngân hàng Công thương Đống đa bán ngoại tệ là:

    – Bán trong hệ thống Ngân hàng Công thương

    – Bán ngoài hệ thống Ngân hàng Công thương

    – Bán cho các đơn vị kinh tế và các thành phần kinh tế khác

    Chủ yếu NHCT Đống đa bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hoá, thiết bị,.. để thanh toán cho nước ngoài. Trước kia, khi tình hình  ngoại tệ chưa khan hiếm, NHCT Đống đa cũng thực hiện bán ngoại tệ cho các ngân hàng bạn, tuy nhiên số lượng không nhiều. Hiện nay, nguồn mua vào ngoại tệ của NHCT Đống đa còn hạn chế nên ngân hàng chỉ bán ngoại tệ phục vụ cho khách hàng nhập khẩu

    Năm 1999, tỷ lệ ngoại tệ bán cho các đơn vị kinh tế là

    • USD :98,6%
    • DEM :88,2%
    • FRF : 100%
    • JPY :  93,7%

    Các nguồn bán trong và ngoài hệ thống Ngân hàng Công thương hiện nay được thực hiện rất ít. Như vậy, cơ cấu mua , bán ngoại tệ chi nhánh là không cân đối, thực chất trong kinh doanh ngoại tệ, NHCT Đống đa mới chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng, còn các nghiệp vụ kinh doanh thuần tuý nhằm thu lợi nhuận cho ngân hàng chưa được thực hiện mạnh.

    3.2.5. Loại ngoại tệ và hình thức giao dịch ngoại tệ:

    Hiện nay, NHCT Đống đa chỉ mua bán chủ yếu là đồng USD và DEM , doanh số bán USD, DEM so với các ngoại tệ khác chiếm tỷ trọng khá cao so với tổng doanh số mua bán ngoại tệ .

    Chi nhánh NHCT Đống đa áp dụng hai nghiệp vụ mua bán ngoại tệ. Đó là: mua bán theo tỷ giá giao ngay (SPOT) và giao dịch kỳ hạn(FORWARD)

    • Hình thức giao dịch giao ngay: Là phổ biến , được thực hiện bằng hợp đồng mua bán ngoại tệ trao ngay

    Mua bán giao ngay là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong hai ngày làm việc kể từ khi thoả thuận hợp đồng mua bán. Hình thức này phát sinh trên cơ sở nhu cầu hợp lý về ngoại tệ của khách hàng trong thanh toán quốc tế ( có hợp đồng ngoại tệ và chứng từ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước) , và của các Ngân hàng thương mại khác cũng như của NHCT Đống đa trong mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng

         Ví dụ: Ngày 14/3/1999, Công ty Cơ điện Trần Phú xin mua của Ngân hàng Đống đa 35000USD để trả nợ vay ngắn hạn

    Tỷ giá giao ngay USD/VND =14525-14530

    Trình tự giải quyết như sau:

    • Công ty viết giấy xin mua ngoại tệ
    • Chi nhánh ngân hàng đồng ý bán sẽ ghi số tiền vào phần xác nhận bán và tính toán dựa trên tỷ giá bán mà NHCT Việt nam công bố. Ngân hàng xác nhận bán cho công ty 35000USD theo tỷ giá bán là 14530VND/USD

    Số tiền mà Công ty phải trả để mua USD là:

    14530 x 35000= 508.550.000 VND

    Mức phí Công ty phải trả cho giao dịch là:

    0,05% x 35000 x 14530=244.275 VND

    Chênh lệch tỷ giá mua bán :

    14530-14525=5

    Số tiền thu được từ chênh lệch giá mua bán :

    35000 x 5= 175.000 VND

    Vậy qua nghiệp vụ SPOT chi nhánh sẽ thu được :

    175.000+243.075=418.075 VND

    • Hình thức giao dịch kỳ hạn (FORWARD):

    Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà tại thời điểm chuyển giao ngoại tệ sẽ ddược thực hiện sau một thời gian nhất định kể  từ khi thoả thuận hợp đồng

    Hiện nay, tỷ giá giao dịch hối đoái kỳ hạn được ấn định trên cơ sở tỷ giá giao ngay và không vượt quá giới  hạn tối đa của tỷ giá giao ngay, tại thời điểm giao dịch cộng từng mức tỷ lệ % cụ thể so với mức giới hạn tối đa của tỷ giá giao ngay.

    Ví dụ : Ngày 3/3/2000, NHCT Đống đa ký thoả thuận mua bán ngoại tệ kỳ hạn với Công ty cơ khí Hà nội , thoả thuận như sau:

    • Bên mua là Công ty cơ khí Hà nội
    • Bên bán là Ngân hàng Công thương Đống đa
    • Số lượng ngoại tệ : 100.650,66 USD
    • Tỷ giá kỳ hạn thoả thuận giữa hai bên là 14.023 / VND/USD
    • Giá trị hợp đồng là :1.411.424.205 VND
    • Kỳ hạn : 33 ngày( từ ngày 13/3/00 đến 15/4/00)
    • Công ty cơ khí Hà nội vay để trả nợ ngân hàng
    • Đến thời hạn thanh toán (15/4/2000), Công ty cơ khí Hà nội sẽ chuyển VND cho chi nhánh NHCT Đống đa. Ngay sau khi nhận đủ số tiền VND như đã thoả thuận , NHCT Đống đa sẽ thanh toán số ngoại tệ tương ứng cho Công ty cơ khí Hà nội.

    Bảng 9. Tình hình mua bán ngoại tệ tại chi nhánh NHCT Đống Đa năm 1998-2000

                                                                                                       Đơn vị :1000đồng

    Chỉ tiêu 1998 1999 2000
    I.Doanh số mua vào

     

    –         USD

    –         DEM

    –         FRF

    –         JPY

    –         EUR

    18.656

     

    548

    165

    11.548

    _

    5.508

     

    45

    67

    8.548

    126

    27.400

     

    2.837

    981

    22.000

    105

    II.Doanh số bán ra

     

    –         USD

    –         DEM

    –         FRF

    –         JPY

    –         EUR

    17.694

     

    546

    166

    11.548

    _

    5.608

     

    40

    72

    7.947

    123

    22.000

     

    3.300

    918

    22.000

    105

    Bảng 10: Tình hình mua bán ngoại tệ phân theo đối tượng mua bán tại chi nhánh NHCT Đống Đa năm 2000.

                                                                                                             Đơn vị : 1000

    Chỉ tiêu Mua vào Bán ra
    –         Trong hệ thống NHCT

     

    –         Ngoài hệ thống NHCT

    –         Các đơn vị kinh tế

    –         Các thành phần kinh tế

    –         Chi trả kiều hối

    19.500

     

    2000

    4.800

    770

    280

    _

     

    _

    21.000

    1000

    205

    Bảng 11 : Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa năm 1996

    Đơn vị :1000

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 1996
      USD FRF JPY DEM
    Tồn 18.853     453
    * Mua vào

     

    +Mua TTGDNT

    +Muảtong hẹ thống NHCT

    +Mua ngoài hệ thống

    +Mua các đơn vị kinh tế

    +Mua từ các TPKT khác

    + Mua do chi trả kiều hối

      474

     

    467

    7

    9.624

     

    9628

    2.397

     

    745

    110

    1.543

    * Bán ra

     

    +Bán cho TTGDNT

    + Bán cho NHNN

    + Bán trong hệ thống

    + Bán ngoài hệ thống

    +Bán cho các đơn vị kinh tế

    + Bán cho các TPKT khác

    36.128

     

    0,7

    35.460

    0,22

    467

     

    467

    9.628 2379

     

    1427

    0,9

    9628

    Ngoại tệ mua chưa bán 1.185 0,7   1,8

    Tổng lãi năm 1996:  298 triệu USD

                               (Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng năm 1996)

    Bảng 12: Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa 1997

     Đơn vị : 1000đ

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 1997
    USD FRF JPY DEM
    * Mua vào

     

    + Mua của TTGDNT

    + Mua trong hệ thống NHCT

    + Mua ngoài hệ thống

    + Mua của cccs đơn vị kinh tế

    + Mua từ các TPKT khác

    + Mua do chi trả kiều hối

    27.166

     

    12.059

    11.459

    2.872

    752

    23

    1.722

     

    1.501

    17

    152

    9

    40

    4.805

     

    2.720

    2

    080

    4

    2.512

     

    1.319

    250

    55

    50

    835

    * Bán ra

     

    + Bán cho TTGDNT

    + Bán cho NHNN

    + Bán trong hệ thống NHCT

    + Bán ngoài hệ thống

    + Bán cho các đơn vị kinh tế

    + Bán cho các TPKT khác

    27.162

     

    370

    26.783

    9

    1.728

     

    1.728

    4.650

     

    287

    4.317

    3.527

     

    287

    0,1

    2.229

    0,8

    * Ngoại tệ mua chưa bán 1189   199 3

                                                            Tổng lãi :493 triệu

                ( Báo cáo kết quả kinh doanh của NHCT Đống Đa năm 1997)

    * Nhận xét : Mặc dù doanh số mua bán ngoại tệ giảm qua các năm, song chi nhánh NHCT Đống Đa vẫn kinh doanh có lãi, đáp ứng đủ nhu công cầu ngoại tệ của khách hàng, đảm bảo việc thanh toán hàng nhập khẩu của khách hàng thông qua các L/C mở tại chi nhánh. Nguồn ngoại tệ của chi nhánh chủ yếu là mua trng hệ thống ngân hàng và các NHTM khác, nguồn từ các đơn vị kinh tế khác …  Như vậy quy mô kinh doanh ngoại tệ tăng nhanh, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng đang ngày càng được mở rộng. Nguồn ngoại tệ của chi nhánh là khá ổn định, song điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu của ngân hàng. Phần bán ra của ngân hàng chủ yếu là cho các đơn vị kinh tế để thanh toá L/C trả nợ, trong khi mua bán trực tiếp thì cũng còn hạn chế.

    * Năm 1996 và đầu năm 1997, tỷ giá giữa VND và USD tương đối ổn định, lãi suất vay USD lại thấp hơn lãi suất vây VND. Vì vậy, các đoanh nghiệp có xu hướng sử dụng  vay ngoại tệ  trong thanh toán hàng nhaapj khẩu. NHư vậy trong năm 1996 việc kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa tương đối ổn định, hầu hết các tháng trong năm đều đạt lãi cao thì năm 1997 doanh số mua bán các ngoại tệ đều giảm so với năm 1997.

    Sở dĩ có tình trạng này là do giữa năm 1997 xảy ra tình trạng khủng hoảng tiền tệ khu vựcở các nước đong Nam á làm cho VND hai lần sụt giá so với USD trên 10%, tỷ giá giữa USD /VND tăng mạnh từ 11.156 lên 12.293 ( vào cuối năm 1997 ) Những khách hàng nhập khẩu mở tài khoản và vay vốn tại ngân hàng bị thiệt hại do biến động tỷ giá lên đến hàng trăm tỷ đồng. Dân cư rút tiền gửi, mua ngoại tệ gửi ngân hàng vì lo sợ USD bị giảm giá. Những ảnh hưởng này gây nên tâm lý hoang mang và xuất hiện hiện tượng đầu cơ trong dân chúng cũng như các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, làm cho ngoại tệ trên thị trường khan hiếm hơn và khó mua. Ngân hàng cũng không thể bán ra ngoại tệ huy động vài phải bảo toàn vốn USD cho khách hàng và chấp nhận quy chế về trạng thái ngoại hối do NHNN quy định. Trong khi đó, số L/C thanh toán cho nước ngoài trong năm là26.273.298 USD. Thêm vào đó một số dơn vị mở L/C tại các ngân hàngkhác nhưng lại có tài khoản tiền gửi  tại chi nhánh đến mua ngoại tệ trước khi đến hạn thanh toán để hạn chế rủi ro, tỷ giá tăng đã tạo nên cầu về ngoại tệ tăng, gây sức ép với chi nhánh. Ngoài hình thức thanh toán bằng L/C, các đơn vị còn thanh thông qua hình thức chuyển tiền TTR. Do vậy, muốn giữ khách hàng truyền thống phải đáp ứng đa dạng hoá phương thức thanh toán của khách hàng.

    Việc chi trả kiều hối vẫn được đẩy mạnh. Năm 1998, chi nhánh trả 23751.33 USD và 9576 DEM, tăng 12% so với năm 1996. Tuy nhiên, một số khách hàng nhận kiều hối không muốn bán ngoại tệ cho chi nhánh như trước mà rút về cất trữ chờ tỷ giá tăng, do đó nguồn mua ngoại tệ từ kiều hối tương đối thấ, chỉ chiếm 0,3% doanh số mua vào.

    Đứng trước những khó khăn về nguồn mua ngoại tệ, chi nhánh đã chủ động đến các đơn vị có hàng xuất khẩu đóng trên địa bàn thành phố để liên hệ thanh toán L/C xuất, rồi quan hệ với các đơn vị khác ngoài địa bàn. Do vậy, chi nhánh đã khai thác được nguồn ngoại tệ đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán L/C mở cho khách hàng tại chi nhánh. Doanh số mua từ các khách hàng này chiếm 485 trong tổng doanh số mua vào, mua từ NHCT Việt Nam chiếm 45%. Điều này chứng tỏ chi nhánh đã cvó nỗ lực trong việc thu hút khách hàngtìm kiếm được nguồn ngoại tệ có giá trị hợp lý, lãi kinh doanh của ngân hàng & đạt 493 triệu VND, tăng 35% soa với năm 1996, lãi thu được từ hoạt động mua bán ngoại tệ cũng góp phần chung và thu nhập của ngân hàng. Điều quan trọng hơn la hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã ddaps ứng được nhu cầu ngoại tệ của khách hàng xuất nhậpkhẩu từ đó đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế và cho vay ngoại tệ của ngân hàng, tạo nên sự hài hoà thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển giữa các hoạt động  ngân hàng.

    Năm 1998, thực hiệnchủ trường văn bản quản lý ngoại hối theo quết định 37/QĐ – TTg ngày 14/2/1998 của thủ tướng chính phủ về duy trì khoản ngoại tệ cho các doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ ddã tác động phần nào đến việc ổn định tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do. Mặt khác, các quyết định 173/1998/QĐ – NHNN7 , 418/1998 /QĐ của thống đốc NHNN Việt Nam về việc quy định các doanh nghiệp phải bán 80% lượng ngoại tệ thu về cho ngân hàng. Trong năm 1998, tỷ giá VND/USD có hai lần được điều chỉnh bởi NHNN Việt Nam làm chio tỷ giá biến động và luôn có xu hướng tăng. Lần điều chỉnh thứ nhất là ngày 16/2/1998 , tỷ giá công bố chính thức của NHNN từ 11.175VND/USD lên tới 11.800 VND/USD, với biên độ giao động cho phép là +(-) 10% . Lần điều chỉnh thứ hai là ngày 7/8/1998, tỷ giá chính thức đươc điều chỉnh đúng bằng thị trường liên ngân hàng là 11.998VND/USD, với biên độ giao động là +(-) 7%. Cả hai lần điều chỉnh đều dẫn đến sự  giảm tối đa mức cho phép của VND.

    Cơ chế chính sách tỷ giá được cải thiện theo quyết định số 17/1998/QĐ- NHNN7 của NHNN Việt Nam về việc ban hành quy chế  hoạt động giao dich hối đoái đã làm cơ sở để chi nhánh giao dịch với các ngân hàng và các khách hàng được thuận lợi. Việc quy định những tỷ giá cụ thể đối với từng kỳ hạn trong bối cảnh tỷ gía biến động như hiên này đã tạo cho khách hàng yên tâm hơn trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng cách ký hợp đồng kỳ hạn với ngân hàng để thanh toán L/C nhập. Từ đó chi nhánh cững có cơ sở để cân đối, điều chỉnh nguồn ngoại tệ, tạo thế chủ động trong kinh doanh.

    Bảng 13 Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa năm 1999

    Đơn vị : 1000

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 1999
    USD FRF JPY DEM
    1 Tồn 1189 911 19 30
    2 Mua vào

     

    + Mua của TTGDNT

    Mua trong hệ thống NHCT

    + Mua ngoài hệ thống

    + Mua của các hệ thống đơn vị kinh tế

    + Mua của các TPKT khác

    + Mua do chi trả kiều hối

    18656

     

    7315

    8649

    2319

    314

    58

    165

     

    120

    4

    8

    31

    1154

     

    7

    1054

    3

    4

    548

     

    162

    0,35

    56

    295

    3 Bán ra

     

    + Bán cho TTGDNT

    +Bán cho NHNN

    + Bán cho các đơn vị kinh té

    + Bán trong hệ thống

    + Bán ngoài hệ thống

    + Bán cho các  TPKT  khác

    17694

     

    17648

    30

    195

    166

     

    132

    30

    3

    1174

     

    7

    1154

    204

    3

    506

     

    307

    193

    5

    4 Ngoại tệ mua chưa bán 2125     44

                                                        Tổng lãi : 396 tiệu VND

    ( Báo cáo kết quả hoạt động của NHCT Đống Đa năm 1999)

    * Nhận xét : Doanh số mua bán USD trong năm 1999 giảm 52% so với năm 1997, 1998. Doanh số DEM cũng giảm 40%, doanh số bán cũng trong tình trạng giảm xuỗng, nhìn chung chi nhánh vẫn đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ của khách hàng trong năm, kinh doanh ngoại tệ vẫn lãi 396 triệu VND ( 75% so với năm 1997,1998 )

    Về chi trả kiều hối, chi nhánh đã trả 58 .754 USD và 3676 DEM tăng 50% so với nam 1998. Hầu hết số kiều hối này khách hàng đều bán lại cho ngân hàng . thông qua nghiệp vụ này chi nhánh vừa có cơ hội mua được ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán, vừa thu được chi phí, góp phần làm tăng lợi nhuận kinh doanh của toàn chi nhánh. Doanh số  mua vào thường lớn hơn doanh số bán ra. Điều này chi nhánh luôn  có trạng thái ngoại tệ dương . Trong xu thế đồng USD lên giá như hiện nay thì tình  trạng này luôn có lợi nhuận cho nhân hàng.

    Bảng 14 : Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đóng Đa năm 2000

    Đơn vị : 1000

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 2000
    USD FRF JPY DEM
    1 Mua vào

     

    + Mua trong hệ thống NHCT

    + Mua ngoài hệ thống

    + Mua của các đơn vị kinh tế

    + Mua các TPKT

    + Mua do chi trả kiều hối

           
    2. Bán ra

     

    + Bán cho TTGDNT

    + Bán trong hệ thống NHCT

    + Bán ngoài hệ thống

    + Bán cho các đơn vị kinh tế

    + Bán cho các TPKT

    22.000

     

    21.000

    1000

    918

     

    3300

    588

    22.000

     

    22.000

    3.300

     

    3.200

    100

                                               Tổng lãi : 496 triệu VND

                ( Báo cáo kết quả hoat động của NHCT Đống Đa năm 2000)

    * Nhận xét :Ta thấy rằng tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa là tương đối phát triển, doanh số mua bánUSD tăng 47% so với năm 1999, doanh số mua bán DEM cũng tăng 39%. Đặc biệt, doanh số cuả hai loại ngoại tệ FRF và JPY tăng rất mạnh so với năm trước, đáp ứng đủ nhu cầu đa dạng ngoại tệ của khách hàng tạo cho ngâqn hàng có nguồn thu lãi 496 triệu VND ( 78% so với năm 1999)

    Về chi trả kiều hối, chi nhánh thực hiện rất tốt,tăng 53% so với năm 1999. Ngân hàng đã thu hút lượng ngoại tệ khá lớntừ nguồn kiều hối này cho nên ngân hàng có điều kiện thuận lợi kinh doanh cho toàn chi nhánh, thúc đẩy hoạt động này ngày càng hoàn thiện hơn.  Qua bảng ta thấy doanh số mua vào và bán ra có sự chênh lệch nhau không nhiều lắm cho nên điều này không dẫn đến số lượng ngoại tệ chưa bán còn tồn đọng, gây cho ngân hàng những trở ngại bất cập trong kinh doanh.

    4. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI CHI NHÁNH NHCT ĐỐNG ĐA :

    4.1. Kết quả đạt được :

    Tuy là một nghiệp vụ mới mẻ với ngân hàng Công thương Đống Đa nhưng kinh doanh ngoại tệ đã có được những kết quả khả quan sau :

    * Trong thời gian qua, ngoại tệ khan hiếm, chi nhánh tích cực khai thác bằng nhiều luồng để tăng khả năng thanh toán bằng ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập vật tư, hàng hoá của các doanh nghiệp, cũng như nhu cầu thanh toán kiều hối cho dân cư.

    Doanh số mua bán ngoại tệ tăng nhanh qua các năm, quy mô hoạt động được mở rộng, lãi thu từ kinh doanh ngoại tệ đã góp phần không nhỏ vào tổng thu nhập hàng năm của ngân hàng. Hiện nay, ngoài mua bán USD và DEM là chủ yếu, ngân hàng còn kinh doanh các đồng tiền khác như JPY, SGD, FRF, … theo nhu cầu của khách hàng, mặc dù doanh số giao dịch này chưa lớn.

    * Kinh doanh ngoại tệ góp phần quan trọng mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế và cho vay ngoại tệ của ngân hàng, bởi vì hai hoạt động này gắn liền với nhu cầu mua ngoại tệ thanh toán nhập khẩu và mua ngoại tệ trả nợ ngân hàng cũng như nhu cầu về bán ngoại tệ từ thu xuất khẩu… Nhờ chủ động ngoại tệ ngân hàng luôn thanh toán cho khách hàng đúng hạn, đảm bảo uy tín của ngân hàng đồng thời bảo vệ được lợi ích của khách hàng. Hoạt động này cũng góp phần mở rộng quan hệ của ngân hàng Đống Đa với các ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng thương mại khác trong cả nước. Chi nhánh đã sử dụng quỹ ngoại tệ từ quỹ điều hoà của Trung ương cho vay có hiệu quả, tăng vòng quay vốn ngoại tệ, tạo môi trường giúp các nhà doanh nghiệp nhập nguyên liệu, máy móc thiết bị phát triển sản xuất kinh doanh.

    4.2. Nguyên nhân và hạn chế trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ hiện nay tại NHCT Đống Đa.

              4.2.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng mới chỉ dừng lại ở đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng xuất nhập khẩu, tức là hoạt động mua bán ngoại tệ chủ yếu trên cơ sở nghiệp vụ khách hàng. Ngân hàng chưa thực hiện các nghiệp vụ liên ngân hàng, thực hiện kinh doanh thu lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch tỷ giá thuần tuý.

    Nguyên nhân của hạn chế này :

    + Nguồn vốn ngoại tệ của ngân hàng còn nhỏ bé. Vì vậy, ngân hàng khó có thể chủ động trong các nghiệp vụ liên ngân hàng như đầu cơ, thực hiện nghiệp vụ AEBITRAGE, cơ cấu hợp lý cac ngoại tệ trong tổng nguồn…

    + Chính sách điều hành tỷ giá của ngân hàng nhà nước ổn định và thống nhất, các ngân hàng thương mại chưa chủ động hoàn toàn xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ. Chính vì vậy, việc ban hành các quyết định về kinh doanh ngoại hối của nhà nước là hết sức hợp lý và kịp thời, góp phần cho ngân hàng nhà nước có một công cụ hữu hiệu để khống chế và xử lý linh hoạt chính sách tỷ giá trong bối cảnh thị trường hối đoái trong nước và trên thế giới đang có nhiều biến động.

    + Để thực hiện nghiệp vụ liên ngân hàng, ngân hàng cần phải trang bị những thiết bị hiện đại cho bộ phận kinh doanh ngoại tệ (hệ thống máy computer nối mạng với Internet, dịch vụ của hãng tin Reuter…) để theo dõi sự biến động tỷ giá thường xuyên trên thị trường hối đoái. Nhưng ở NHCT Đống Đa, hoạt động kinh doanh ngoại tệ còn mang tính chất bán thủ công, chủ yếu thực hiện bằng điện thoại, ngân hàng chưa sử dụng nhiều các dịch vụ của hãng Reuters.

              4.2.2. Các nghiệp vụ hối đoái còn sử dụng đơn điều,  chủ yếu ngân hàng thực hiện nghiệp vụ giao ngay và nghiệp vụ kỳ hạn, còn nghiệp vụ hối đoái ngoại tệ thì đã được thực hiện nhưng rất ít.

    Quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường hối đoái luôn biến động, kéo theo tỷ giá của các đồng tiền cũng biến động, trong khi chúng ta vẫn áp dụng chế độ 6 trần tỷ giá kỳ hạn (từ 30 ngày đến 180 ngày, trong 15 ngày có một tỷ giá…) Nó giống như chỉ tiêu khống chế trong việc tính toán xác định tỷ giá kỳ hạn trong giao dịch, vì vậy bên cạnh những lợi ích mà các quyết định đó đem lại, cho đến nay cũng đã bộc lộ những nhược điểm không phù hợp và gây ra không ít khó khăn đối với các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong quá trình vận dụng và thực hiện.

    – Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu của khách hàng về sử dụng loại hợp đồng kỳ hạn và hoán đổi chưa cao. Thực hiện quyết định số 16/1998/QĐ-NHNN7 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam về giới hạn biên độ tỷ giá kỳ hạn và hoán đổi, các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp còn nhiều vướng mắc trong việc tính toán tỷ giá mua bán kỳ hạn. Các doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu ngoại tệ trong tươnglai cũng không muốn bán kỳ hạn cho ngân hàng vì kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng. Các doanh nghiệp nhập khẩu thì chấp nhận mua ngoại tệ với tỷ giá tại thời điểm phải thanh toán.

    – Theo điều 1 của quyết định này, cách xác định mức trần tỷ giá kỳ hạn dựa vào các yếu tố sau:

    + Dựa vào tỷ giá chính thức do ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm giao dịch.

    + Dựa vào biên độ của tỷ giá chính thức để xác định tỷ giá mua bán giao ngay của Ngân hàng thương mại.

    + Dựa vào tỷ lệ % theo các kỳ hạn khác nhau cộng vào tỷ giá giao ngay của các Ngân hàng thương mại.

    Đây là cơ sở cho việc xác định tỷ giá giao dịch của các Ngân hàng. Nhưng trong quá trình tính toán và đưa ra tỷ giá giao dịch với khách hàng thì không phải NHTM naò cũng thực hiện đúng quy định vì nó có nhiều điểm bất hợp lý, không phù hợp với thực trạng kinh doanh, để thấy rõ điều này chúng ta xét ví dụ sau:

    Xác định mức trần tỷ giá kỳ hạn 6 tháng vào ngày 5/8/1998, tỷ giá chính thức do NHNN công bố là 1USD = 11.816VNĐ. Khi đó, mức quy định của tỷ giá giao ngay tối đa với Ngân hàng thương mại sẽ là:

    1 USD = 11816 x (1 + 10%) = 12997,6 VNĐ

    Mức trần tỷ giá kỳ hạn 6 tháng sẽ là:

    1 USD = 12997,6 x (1 + 3,5%) = 13452,5 VNĐ

    Vậy theo điểm 1 (điều 11) của quyết định số 17/1998, đối với một giao dịch kỳ hạn là 6 tháng thì NHTM được Ngân hàng Nhà nước cho phép giao dịch kỳ hạn phải chấp hành chào giá cho khách hàng của mình không vượt quá 13452,5 VNĐ/USD. Khi bán ra và mua vào không vượt quá 13452,5 x (100% – 0,1%) = 13439 VNĐ/USD (mua bán chuyển khoản).

    Thế nhưng, điều gì xảy ra đối với một ngân hàng kinh doanh trong khi

    + Lãi suất USD 6 tháng là 5% – 8,5%

    + Lãi suất USD 6 tháng là 9% – 14,4%.

    + Tỷ giá giao ngay USD/VNĐ là 12997,6.

    Kết quả của ngân hàng:

    + Tỷ giá mua vào của ngân hàng:

    12977,6 + 12997,6 (9% – 8,5%) x 180 = 13028
    36000 + (8,5% x 180)  

    + Tỷ giá bán của ngân hàng:

    12997,6 + 12997,6 (14,4% – 5%) x 180 = 13028
    36000 + (5% x 180)  

    Với tỷ giá kỳ hạn của ngân hàng thương mại tính theo phương pháp lãi suất là : USD/VND = 13028 – 13593.

    Từ kết quả tính trên về mức trần tỷ giá kỳ hạn 6 tháng tại thời điểm giao dịch ngày 5/8/1998 đã xuất hiện mẫu thuẫn trong cách xử lý cũng như vận dụng vào thực tiễn :

    + Nếu ngân hàng thương mại vẫn thực hiện tốt việc chấp hành mức trần tỷ giá kỳ hạn nghĩa là ngân hàng chỉ đưa ra tỷ giá mua bán cho khách hàng xoay quanh mức trần tỷ giá, trong đó tỷ giá bán 1USD= 13452,5VND và tỷ giá mua trừ lùi đi 0.1% (áp dụng mua bán chuyển khoản). Như vậy, NHTM sẽ không chấp nhận bởi vì trong mua bán kỳ hạn, bản thân các NHTM đã không được gì và tất nhiên cũng không mất ở tỷ giá mà họ đã cung cấp cho khách hàng. Tỷ giá cân bằng là khi họ mua vào, bán ra với tỷ giá USD/VND = 13028 – 13593.

    + Nếi ngân hàng Thương mại hướng các hoạt động mua bán kỳ hạn của mình để không bị lỗ thì buộc phải bỏ qua yếu tố trần tỷ giá kỳ hạn. Đây là điều trăn trở đối với các NHTM trong giai đoạn hiện nay. Trên thực tế, mỗi ngân hàng đưa ra tỷ giá khác nhau, ngân hàng nào vì chiến lược khách hàng sẽ đưa ra tỷ giá thấp, do đó không có lãi thậm chí còn có nguy cơ lỗ, còn ngân hàng nào có thế lực sẽ đưa ra một tỷ giá cao hơn. Do vậy, gây nên tình trạng không phản ánh đúng cung cầu, gây khó khăn đối với một số ngân hàng trong khi giao dịch với khách hàng và đã có nhiều thắc mắc về tỷ giá từ phía khách hàng. Nhiều khi chính vì kháng hàng, chi nhánh NHCT Đống Đa phải giảm cho khách hàng từ hai đến ba giá, như ngân hàng Ngoại thương vẫn ưu tiên cho khách hàng của họ.

    Qua phân tích trên, NHCT Đống Đa nên có cách tính tỷ giá kỳ hạn phù hợp hơn để đẩy mạnh các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi giữa ngân hàng và khách hàng. Hiện nay, đồng USD vẫn là đồng tiền được sử dụng chủ yếu trong thanh toán quốc tế, vì vậy ngân hàng chỉ kinh doanh mua bán, dự trữ phần lớn USD, DEM. Ngân hàng chưa có chính sách về một cơ cấu ngoại tệ hợp lý, tránh quá phụ thuộc vào USD. Đó là vì : quỹ ngoại tệ của ngân hàng còn nhỏ, hơn nữa để làm được điều đó đòi hỏi trình độ cán bộ kinh doanh ngoại tệ cao và nhiều kinh nghiệm, phải theo dõi, nắm chắc thường xuyên biến động tỷ giá và trạng thái từng ngoại tệ của ngân hàng cũng như dự toán một cách nhanh nhạy hơn với thị trường.

              4.2.3 Nguồn mua ngoại tệ của NHCT Đống đa từ các khách hàng xuất khẩu rất hạn chế. Vì vậy, ngân hàng thường phải mua lại ngoại tệ từ các NHTM khác với tỷ giá khá cao, nên ngân hàng hoặc đóng vai trò mua hộ ngoại tệ cho khách hàng (không thu lãi), điều này sẽ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh ngoại tệ, hoặc bán với tỷ giá cao hơn một chút thì có thể gây ấn tượng không tốt với khách hàng và có khả năng mất khách hàng cho các NHTM khác.

    Nguyên nhân của hạn chế này là do số lượng khách hàng xuất khẩu đến với ngân hàng rất ít. Tuy nhiên, đây cũng là tình hình chung đối với nhiều NHTM khác trên địa bàn, vì nước ta chủ yếu xuất khẩu nông lâm hải sản và đều tập trung ở phía nam. Còn các Tổng công ty 90 và 91 đặc biệt là các đơn vị xuất khẩu trước đây có duy trì tài khoản taị ngân hàng công thương nay đều tất toán rút về mở tại Ngân hàng Ngoại thương nên nguồn mua ngoại tệ của NHCT giảm đáng kể. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ thanh toán L/C của khách hàng ngày một gia tăng. Sự mở rộng khoảng cách giữa cung cầu ngoại tệ đã làm cho ngân hàng Công thương Việt Nam mất chủ động trong cân đối ngoại tệ. Hơn nữa, mặc dù đã đóng tài khoản tiền gửi ngoại tệ nhưng họ vẫn duy trì tài khoản tiền gửi VNĐ và hoạt động vay trả với ngân hàng công thương Việt Nam vì ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu của họ. Sự bất cập này tạo nên lợi thế cho ngân hàng Ngoại thương và bất lợi cho ngân hàng Công thương, một số khách hàng lớn có giao dịch với NHCT Đống Đa nay cũng phải tập trung về một tài khoản. Thực tế này đã làm cho nguồn ngoại tệ của chi nhánh giảm dẫn đến kinh doanh ngoại tệ gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, việc giảm tỷ trọng mua ngoại tệ từ ngân hàng công thương Việt Nam đối với chi nhánh lại càng khó khăn hơn.

              4.2.4 Ngân hàng Công thương Đống Đa ít nhận được đầy đủ thông tin và những dự báo về biến động trên thị trường ngoại tệ, về biến động tỷ giá. Về thế khi tỷ giá lên xuống đột ngột đã xảy ra trong năm 1998, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng đã bị ảnh hưởng lớn.

    Nhìn chung, thực trạng kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh ngân hàng Công thương Đống Đa trong những năm qua được đánh giá là có hiệu quả và khá thành công. Để đạt được những thành tựu đó, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu cao của cán bộ công nhân viên trong ngân hàng trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Muốn hoạt động kinh doanh  ngoại tệ của Ngân hàng phát triển, có vị trí và tầm quan trọng xứng đáng trong tổng thể hoạt động của một ngân hàng thương mại hiện đại trong thế kỷ 21, tất cả những hạn chế trên trong hoạt động này của NHCT Đống Đa đòi hỏi cần phải giải quyết, khắc phục bởi chính ngân hàng cũng như các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    Chương III của luận văn này sẽ nêu ra một số ý kiến của tác giả về những vấn đề trên.

     

    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI  CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐỐI NGOẠI CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2001

    Như chúng ta đã biết, NHCT khu vực Đống Đa được tách từ NHNN ngày 1/7/1988, kể từ ngày đó ngâ hàng thực hiện chế độ hoạch toán kinh doanh XHCN

    Theo cơ chế thị trrường. NHCT Đống Đa là một chi nhánh thực thuộc NHCT Việt Nam. Vì vậy, mọi định hướng hoạt động của NHCT Việt Nam đều có tác động tầm vĩ mô tới hoạt động của NHCT Đống Đa.

    Một trong những cơ sở quan trọng để đưa ra giải pháp và kién nghị nhằm thúc đảy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHCT Đống Đa, dó là định hướng hoạt động kinh doanh đối ngoại của NHCT Việt Nam  đến năm 2001.

    * Tăng cường khai thác các nguồn vốn vay nước ngoài cho các dự án trung và dài hạn của các doanh nghiệp dưới mọi hình thức như định chế tàI chính, uỷ thác vay vố từ các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân nước ngoài , thực hiện tốt các dự án vay dài hạn của các tổ chức quốc  tế như : Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á …

    *Chấp hành nghiêm chỉnh quy định của NHNN và yêu cầu của tổ chức cấp vốn vay.

    * Khai thác triệt để mọi khoản tàI trợ của tổ chức nước ngoàI, giúp đỡ về mặt kỹ thuật nhằm đổi mới công nghệ ngân hàng và đào tạo cán bộ.

    * Định hướng chiến lược Marketing ngân hàng nhằm mở rộng thị trường hoạt động, nâng cao uy tín của NHCT Việt Nam trên thương trường khu vực và quốc tế, tranh thủ mọi thuận  lợi đồng thời hạn chế thấp nhất rủi ro trong kinh doanh hối đoái và quan hệ đối tác với nước ngoài.

    * Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh đối ngoạI bao gồm: Thanh toán quốc tế, thanh toán biên giới, cho vay ngoại tệ và nhất là hoạt động mua bán ngoại tệ.

    * Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại bao gồm : Thanh toán quốc tế, mở rộng mạng lưới ngoại tệ cũng như thu đổi ngoạI tệ nhằm thu hút ngoại tệ trên thị trường vào ngân hàng.

     2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI CHI NHÁNH NHCT ĐỐNG ĐA.

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động tinh vi phức tạp và phải chịu nhiều ảnh hưởng của các biến cố kinh tế, chính trị, văn hoá… Chính vì vậy, nó đòi hỏi tất cả các ngân hàng thương mại, với chức năng tài chính, hỗ trợ phát triển cho toàn bộ nền kinh tế nói  chung và lĩnh vực kinh doanh đối ngoại nói riêng phảI cóa những chiến lược kinh doanh hợp lý thích hợp với từng thời kỳ mang lạI những thành công tốt đẹp hiệu quả kinh tế cao, các giải pháp cụ thể là:

              2.1. Đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh ngoại tệ sẽ giúp ngân hàng mở rộng quy mô kinh doanh, tạo sự tăng trưởng về lượng và chất trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ, đồng thời góp phần vào sự phát triển tổng thể các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

     2.1.1.  Đối với nghiệp vụ ngoại hối giao ngay: Ngân hàng cần tiếp tục mở rộng quy mô các loại hình nghiệp vụ này, với các biện pháp sau :

    1. Mở rộng quan hệ với các NHTM khác, các ngan hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài, luôn giữ uy tín trong quan hệ giao dịch thương mại.
    2. Thu hút số lượng khách hàng giao dịch ngoại tệ cới ngân hàng:

    – Hiện nay, ngân hàng đang quy định phí giao dịc là 0,05 % là mức tối đa cho phép của NHNN. Vì vậy, NHCT Đống Đa có thể hạ thấp các mức phí trong đIều kiện cho phép.

    – Luôn vì lợi ích của khách hàng thanh toán đúng hạn, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng, giữ uy tín với khách hàng .

    – Mở rộng giao dịch với các loại ngoại tệ khác như: SGD,CHF, FRF, JPY…

    1. NHCT cần phải chủ động nguồn vốn ngoại tệ để đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng cũng như mọi nhu cầu phát sinh khác xẩy ra một cách kịp thời nhanh chóng.

               2.1.2. Đối với nghiệp vụ SWAP.

    1. Trước hết cần phải làm cho khách hàng hiểu rõ về nghiệp vụ này và lợi ích của chúng. Hiện nay nói chung những hiểu biết về giao dịch hối đoái nhằm phòng tránh rủi ro trên ở các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao. Vì vậy, nhu cầu sử dụng các giao dịch còn hạn chế. NHCT Đống Đa có vai trò quan trọng là hướng dẫn, giới thiệu về các nghiệp vụ cho khách hàng để họ có thể sử dụng chúng hiệu quả trong kinh doanh.
    2. Các cán bộ kinh doanh ngoại tệ cần được đào tạo một cách cơ bản và thường xuyên. Hơn nữa họ không chỉ giao dịch với khách hàng trong và ngoài nước, nhằm tránh rủi ro cho ngân hàng và thu lợi nhuận nhiều nhất có thể cho ngân hàng.

    2.2  Chủ động trong khai thác các nguồn ngoại tệ .

    2.2.1. Tăng cương hoạt động linh hoạt và hiệu quả hơn trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để chủ đôngj nhiều hơn trong khai thác nguồn ngoại tệ với quy mô lớn hơn, chi phí thấp và ngân hàng sẽ có điều kiện để phát triển nghiệp vụ liên ngân hàng của mình.

               2.2.2.  Chủ động thu hút nguồn ngoại tệ trên thị trường.

    1. Mở rộng và thu hút nguồn ngoại tệ tiền gửi của dân cư.
    2. Thu hút ngoại tệ từ nguồn kiều hối gửi về trong nước: Hiện nay nguồn kiều hối gửi về qua NHCT Đống Đa không nhiều, song với chính sách tỷ giá hiện hành, tỷ giá mua bán trên thị trường tự do đã chênh lệch không nhiều. Vì vậy, ngân hàng cần tạo sự tiện íc cho khách hàng để khách hàng có đIều kiện trực tiếp tiếp cận với ngân hàng hoặc bán cho ngân hàng nếu cần.

    2.3. Thúc đẩy hoạt động có liên quan tới kinh doanh ngoạI tệ của ngân hàng.

               2.3.1. Cho vay ngoại tệ.

    Hiện nay ngân hàng cho vay ngoại tệ chủ yếu với khách hàng nhập khẩu thời gian ngắn. Ngân hàng cần mở rộng hoạt động này với các biện pháp sau:

    1. Tiếp tục thực hiện chính sách khách hàng, tạo sự tin cậy với số lượng khách hàng quen thuộc có uy tín, có lãi suất ưu đãi.

    b Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ thẩm đinh tín dụng để họ không chỉ xem xét khả năng trả nợ cho khách hàng mà còn tư vấn cho khách hàng trong hoạt động kinh doanh của họ, ngân hàng cần phải phân công từng nhóm cán bộ  phụ trách từng bộ phận nhất định , ngoài ra, NHCT Đống Đa cũng thực hiệncho vay tài trợ xuất khẩu bằng cách chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất. Đây là hình thức tài trợ của ngân hàng đối với khách hàng xuất khẩu sau khi họ đã xuất được hàng.

    Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên phàn thực trạng lượng khách hàng xuất khẩu qua ngân hàng rất ít (20% ) nên ngân hàng khôngcó được nguồn ngoại tệ trực tiếp này. Vì vậy, để thu hút khách hàng xuất khẩu ngân hàng cần tài trợ từ giai đoạn sản xuất hoặc thu gom hàng xuất khẩu. Với hình thức này, ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn, nên ngân hàng cần áp dụng một số bắt buộc đối với doanh nghiệp như: Cán bộ ngân hàng thường xuyên đến cơ sở để kiểm tiến độ sản xuất, mở tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng thanh toán hàng xuất nhập khẩu qua ngân hàng.

              2.3.2. Thanh toán quốc tế.

    Để hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng mở rộng, NHCT Đống Đa cần được có ccs biện pháp như sau :

    1. Có chính sách thu hút khách hàng xuất nhập khẩu giao dịch qua ngân hàng : Ngoài các biện pháp tài trợ xuất nhập khẩu ở trên ,ngân hàng cần phát huy hơn một số biện pháp như : giảm chi phí giao dịch cho khách hàng quen, có uy tín tư vấn cho khách hàng về thanh toán quốc tế phương thức thanh toán có lợi nhất cho khách hàng tổ chức thực hiện nghiệp vụ theo khoa học hợp lý, phục vụ nhu cầu giao dịch của khách hàng một cách nhanh chóng.
    2. Mở rộng quan hệ đối ngoại với các ngân hàng khác, nhất là các ngân hàng nước ngoài để trợ giúp đào tạo về nghiệp vụ chuyên môn và khai thác các thông tin kinh tế.

     2.4. Đầu tư trang thiết bị phục vụ cho việc kinh doanh ngoại tệ và chính sách phát triển nhân lực .

    Trong điều kiện đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công nghẹ ngân hàng là mối quan tâm hàng đầu của toàn ngành ngân hàng. việc máy tính hoá các nghiệp vụ ngân hàng là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

    Thực trạng tại phòng kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh NHCT Đống Đa cho thấy hệ thống mạng mà phòng đang sử dụng đã khá cũ, không thuận tiện cho việc nắm bắt và xử lý thông tin ngày nay. Chính vì thế mà ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng cập nhật thông tin.

     2.4.1. NHCT Đống Đa cần trang bị những thiết bị, hệ thống thông tin hiện đại hơn, phục vụ cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Trong thời gian trước mắt, ngân hàng cần đầu tư để có sự liên kết mạng hệ thống thông tin với các ngân hàng khác trên trên TTNTLNH và NHNN một cách linh hoạt, nhánh chóng để hoạt động có hiệu quả trên thị trường này.

    2.4.2. Chính sách phát triển nhân lực trên hai hướng chính sau.

    1. Chính sách đào tạo: Kinh doanh ngoại tệ là một lĩnh vực mới , nhạy cảm và sẽ là một hoạt động ngày càng phát triển trong mô hình hiện đại. Vì vậy, NHCT Đống Đa cần có chính sách đầu tư thích đáng, tài trợ cho các ccán bộ chuyên môn đi học tập, nâng cao trình độ trong và ngoài nước, đào tạo đIều kiện khuyến khích các cán bộ đhược học trong khả năng, có chính sách đái ngộ xứng đáng với các cán bộ có năng lực.
    2. Chính sách tuyển dụng : Ngân hàng cần có chế độ tuyển dụng một cách khắt khe hơn, sắp xếp sử dụng cán bộ chuyên môn để tạo hiệu cao nhất trong công việc, một phong cách văn hoá giao tiếp cởi mở, văn minh lịch sử, thái độ phong cách giao tiếp chính là nghệ thuật giữ khách hàng có hiệu quả cao nhất trong Marketing ngân hàng hiên nay , các ngân hàng thường chú trọng về chính sách quảng cáo, khuyếch trương tạo sự tín nhiệm… giúp khách hàng hiểu biết về ngân hàng do quảng cáo không mang tính chất bền vững mà chính là do các hoạt động giao tiếp hàng ngày của ngân hàng. Bởi vậy, phong cách giao tiếp sẽ tạo tâm lý hài lòng thoả mái với khách hàng- người đến giao dịch với ngân hàng ngất là trong xu thế cạnh tranh thu hút khách hàng hiện nay cuả các ngân hàng.

    Trong thời gian tới NHCT Đống Đa cần chú trọng những vấn đề sau:

    +  Tổ chức hội nghị khách hàng thông qua giới thiệu cho họ về chính sách của nhà nước, các loại hình nghiệp vụ mới như mua bán kỳ hạn, hoán đổi và những lợi ích của chũng nhằm giúp họ nhận thức đúng đắn về các nghiệp vụ đó, một mặt hạn chế được rủi ro trong kinh doanh mặt khác phối hợp với ngân hàng thực hiên chính sách của nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

    + Điều trăn trở của các cánbộ nhân viên phòng kinh doanh đối ngoại tại NHCT Đống Đa là các anh chị nhận thức những thông tin và những dự báo về thị trường kinh doanh ngoại tệ trong nước và trên thế giới để có thể đIều chỉnh tham khảo trong kinh doanh ngoại tệ. Về vấn đề này phòng thanh toán quốc tế xin kiến nghị với hiệp hội ngân hàng và NHCT Việt Nam cần thường xuyên có các buổi hội thảo chuyên đề kinh doanh ngoạI tệ, các buổi nói chuyện về tình hình kinh tế chính trị của các nước trên thế giới, trong đó cung cấp những thông tin cần thiết và đáp ứng những thắc mắc của chi nhánh NHCT Đống Đa.

     3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

     3.1. Kiến nghị với NHCT Việt Nam.

    * Ngân hàng công thương Việt Nam nên cho phép các chi nhánh được mua bán ngoại tệ với nhau.

    * Tổ chức khai thác và cung cấp một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác cho toàn bộ hệ thống các tin kinh tế trong nước và ngoài nước, các tin về khách hàng nước ngoài … có liên quan đến nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    * Tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn nghiệp vụ về thanh toán quốc tế và các hội thảo giải đáp những vương mắc trong thanh toán quốc tế của chi nhánh.

    * NHCT Việt Nam cần có biện pháp cải tiến thông tin để thời gian chuyển bức điện từ chi nhánh sang nước ngoài được nhanh hơn.

    * Hàng năm NHCT Việt Nam cần tổ chức hội nghị tổng kết về hoạt động kinh doanh đối ngoại nhằm tạo đIều kiện cho các chi nhánh trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

    3.2. Kiến nghị với NHNN

    3.2.1. Chính sách tỷ giá hối đoái.

    Với ba quyết định số : 64/1999/ QĐ/NHNN7 về việc công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam so với các loạIingoại tệ, quyết định số 65/1999/QĐ/NHNN7 về quy định tỷ giá mua bán ngoạI tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ và quyết định 298/2000/QĐ/NHNN, cơ chế tỷ giá và đièu hành tỷ giá của nước ta được thay đổi cơ bản, tỷ giá công bố đã công bố phản ánh  một cách khách quan thị trường và quan hệ cung cầu trên thị trường, đồng thời NHNN vẫn thể hiện được vai trò nhất định trong điều kiện thị trường hối đoái nước ta chưa hoàn thiện. Thực tế cho thấy sự thay đổi này đã tạo thuận lợi hơn nhiều cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các ngân hàng.

    Tuy nhiên, để cơ chế trên phát huy có hiệu quả, NHNN cần tập trung hoàn thiện ccác vấn đề có tính chất then chốt sau đây:

    1. củng cố và phát triển TTNTLNH một cách căn bản để phát triển thị trường ngoại hối ở nước ta. TTNTLNH phải hoạt động thông suốt, liên tục, không bị giới hạn bởi thời gian và không gian, số thành viên tham gia thị trường lớn tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh và sôi động trên thị trường.
    2. Củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp vụ hoạt động của nó.
    3. NHNN cần nâng cao dự trữ ngoại tệ tương xứng với nhịp độ tăng trưởng của kim ngạch xuất nhập khẩu, từ đó NHNN đảm bảo được vai trò là người mua người bán cuối cùng trên TTNTLNH, đủ sức can thiệp vào thị trường khi tỷ giá thị trường có sự biến động ảnh hưởng tới nền kinh tế, cơ cấu đự trữ ngoại tệ cũng được tính toán hợp lý, giảm thiểu sự phụ thuộc vào đồng USD.

    3.2.2. Chính sách ngoại hối.

    1. NHNN cần xây đựng quy chế thông tin, thống kê hệ thống hoá kịp thời số liệu nguồn ngoại tệ ra vào trong nước từ đó có dự báo về quan hệ cung cầu trên thị trường làm căn cứ điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối kịp thời.
    2. Các quy định về quản lý ngoại hối hiện hành phải được thực hiện nghiêm chỉnh, có cơ sở nghiêm minh mọi nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế đều phảI được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng . NHNN tạo đIều kiện cho các loại ngoại tệ tự do song hành với thị trường chính thức, gây ra những bất ổn mà NHNN không kiểm soát được.

              3.2.3. Đầu tư hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

    Để có cơ hội  theo kịp các nước trong khu vực và thế giới, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam cần đảm bảo tương đối tốt vai trò mở đường và thúc đẩy các hoạt động kinh tế. Muốn vây, nhu cầu cần thiết trước mắt phải là thường xuyên đầu tư, nâng cấp công nghệ ngân hàng. Chi phí thực hiện rất cao, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ, NHNN cần kêu gọi sự đầu tư, giúp đỡ của các tổ chức tài chính quốc tế, ciùng với sự nỗ lực của mỗi ngân hàng Việt Nam. Để nâng cao công nghệ hoạt động ngân hàng tránh sự tụt hậu đối với thế giới.

    3.2.4. Một số văn bản liên quan đến kinh doanh ngoại tệ của các NHTM. 

    1. Về kỳ hạn của hợp đồng giao dịch SWAP.

    Trong giao dịch SWAP ngoại tệ có hình thức giao dịch trong đó hai bên ngoài việc trao đổi tiền vốn gốc vào thời điểm ký kết hợp đồng và thời điểm kết thúc hợp đồng, hai bên còn trao đổi với nhau lãi suất của đồng tiền mình vay vào thời điểm thời hạn, trong khi SWAP còn có hiệu lực. Với các loại lãi suất thay đổi hay cố định được trao đổi theo SWAP, NHTM có thể thực hiện sử dụng hình thức này nhằm phòng tránh rủi ro về lãi suất có hiệu quả. Vậy NHNN nên quy định hình thức này vào ” Quy chế giao dịch hối đoái ” đồng thời  không nên quy định thời hạn tối đa của SWAP vì với SWAP có lãi suất cố định thì cần thời hạn tương đối dài.

    1. Về hình thức cho vay bằng ngoại tệ tài trợ xuất nhập khẩu : Hiện nay, NHNN không cho phép vay xuất khẩu bằng ngoại tệ. Tuy nhiên, hình thức này rất có lợi dựa vào các lý do sau:

    + Xét về khả năng thu hồi nợ khá đảm bảo nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu (trong khi cho vay để thanh toán L/C rất khó để tạo nguồn trả nợ lại bằng USD)

    + Hình thức cho này tạo cho khách hàng xuất khẩu có trạng thái ngoại tệ đóng tránh được rủi ro hối đoái. Bởi vì, ngoài USD, khách hàng còn vay ngoại tệ khác như : DEM, JPY, FRF …

    + Nhà xuất khẩu không chỉ sử dụng nhân công và nhiên liệu trong nước mà có khi phải nhập khẩu một số vật tư, thiết bị từ bên ngoài.

    1. Quy định tỷ giá kỳ hạn :

    NHNN hiện nay đang quy định cách tính tỷ giá kỳ hạn bằng cách khống chế mức tối đa được phép dựa trên tỷ giá giao ngay, được phép cộng với tỷ lệ % nào đó tuỳ theo từng kỳ hạn. Với quy định này, NHNN có thể kiểm soát chiều mất giá đồng Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ giá kỳ hạn thực chất được tính toán dựa trên cơ sở chênh lệch lãI suất giữa hai đồng tiền và stỷ giá giữa chúng tạI thời đIểm ký hợp đồng. Nếu một trong hai bên không tham gia sẽ bị thiệt hại, ĐIều mà không bên nào muốn. Vì vậy, để tiến dtới hoàn thiện thị trườnghối đoáI ở Việt Nam. NHNN nên quy định cách tính tỷ giá kỳ hạn một cách tổng quát dựa trên chênh lệch lãI suất thay vì cách tính có tính hành chính hiện nay.

    1. Ngoài ra, NHNN cần nghiên cứu đưa ra những quy định cụ thể hơn về chế độ hoạch toán kế toán mới. Một số nghiệp vụ khác như: Giao dịch tương lai, giao dịch lựa chọn … cũng cần được phát triển ngày càng hoàn thiện thị trường hối đoái ở Việt Nam.

    Trong nền kinh tế mở các hoạt  động liên quan đến một lượng ngoại tệ lớn và nhu càu mua bán trao đổi ngoại tệ của họ trên thị trường rất đa dạng. Trong khi đó, sự hiểu biết về thực chất cũng như lợi ích của các doanh nghiệp mua bán kỳ hạn hoán đổi còn thấp. Do vậy họ chỉ mua bán ngoại tệ với các NHTM dưới hình thức giao ngay hoặc chuyển khoỉan. Đây là điều khó khăn đối với ngân hàng trong việc mở rộng các loại hình dịch vụ.

    3.3. Một số kiến nghị khác.

    3.3.1. Việc niêm yết tỷ giá của NHCT Vệt Nam hiện nay đang gây trở ngại đối với khu vực Đống Đa nói riêng trong giao dịch với khách hàng. Nhiều khi khách hàng đến giao dịch với chi nhánh vì chưa có tỷ gía nên họ phải chờ đợi, điều này không những tạo tâm lý không tốt cho họ mà còn ảnh hưởng tới công viêc kinh doanh của họ. Chính sự hạn chế này đã đẩy họ đế quyết định không giao dịch với ngân hàng mà giao dịch trên thị trường tự do. Bên cạnh đó, sự giới hạn này đã hạn chế việc nhận thức và tính nhạy bén của chi nhánh đối với việc tỷ giá lên xuống hàng ngày. Trên thị trường giá USD và các loại ngoại tệ khác thay đổi thường xuyên nếu như không nắm bắt được thực trạng biến động của thị trường thì việc đưa ra quyết định là rất khó khăn. Do đó, đề nghị NHCT Việt Nam xem xét vấn đề này nhằm tạo điều kiện cho các chi nhánh trong việc thanh toán, phân tích và có quyết định đúng đắn. Từ đó góp phần vào thực hện mục tiêu chung của toàn hệ thống và các chi nhánh NHCT.

              3.3.2. Kiểm soát trạng thái ngoại tệ kinh doanh.

    Tuy NHCT Đống Đa không thuộc đối tượng báo cáo theo quyết định số 18/QĐ- NHNN7 nhưng việc kiểm soát trạng thái ngoại tệ đối với chi nhánh không phải là không quan trọng. Trong những năm qua, chi nhánh đã cố gắng thực hiện mục tiêu mua vào bao nhiêu bán hết bấy nhiêu để tránh xuất hiện trạng tháI ngoạI tệ. Vì vậy, để tiếp tục thực hiện mục tiêu này trong năm thán cuối cùng của năm 2000 và những năm tiếp theo chi nhánh cần có kế hoạch mua bán sát với nhu cầu để hạn chế trạng thái ngoại tệ tránh tình trạng hình thành trạng thái ngoại tệ theo xu thế dương. chỉ gồm các ngoại tệ xuống giá và trạng thái âm chỉ toàn những ngoại tệ đang lên giá.

    KẾT LUẬN

    Cùng với xu thế phát triển và hội nhập của nước ta hiện nay, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ đang trở thành bức thiết đối với các NHTM Việt Nam. Tiến tới mô hình ngân hàng hiện đại trong thế kỷ mới, đáp ứng được vai trò tiên phong cho các hoạt động kinh tế. Là một lĩnh vực còn rất mới mẻ, kinh doanh ngoại tệ không chỉ đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải đầu tư lớn về các thiết bị công nghệ hiện đại mà còn phải có một đội ngũ cán bộ kinh doanh có năng lực, trình độ cao, hiểu biết sâu sắc và tổng hợp về tài chính và tiền tệ. Vì vậy, những nghiên cứu và lý luận về hoạt động này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay

    Với  mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào các nghiên cứu đó, bản chuyên đề được hoàn thành với các nội dung cơ bản sau

    + Tổng những kiến thức cơ bản về kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, nhất là nghiệp vụ kinh doanh thực hiện và đIều kiện thực hiện chúng .

    + Phân tích thực trạng hoạt động này tại NHCT Đống Đa. Qua đó, đánh giá những kết quả và hạn chế còn tồn tại ở ngân hàng, phân tích những nguyên nhân của nó.

    + Đưa ra các giải pháp kiến nghị với NHCT Đống Đa để góp phần tháo gỡ những hạn chế, khó khăn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng, đồng thời có những kiến nghị với NHCT Việt Nam, NHNN để hỗ trợ cho việc thực hiện trên tại NHCT Đống Đa

    Với những hiểu biết còn hạn chế, em mong được nhiều ý kiến đóng quý báu của các thầy cô và độc giả để chuyên đề có điều kiện bổ sung và hoàn thiện hơn sau này.

    Một lần nữa em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn TS: Nguyễn Quang Ninh, người đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình viết báo cáo thực tập và làm chuyên đề tốt nghiệp. Xin cảm ơn các anh chị đã giúp đỡ em trong đợt thực tập tại Ngân Hàng Công Thương Đống Đa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. “Ngân hàng Thương mại” (Edward W. Reed, Ph.D và Edward.K.Gill Ph.D)

    Nhà xuất bản TP.Hồ Chí Minh (1993)

    1. “Thương mại và việc xác định tỷ giá trên thị trường hối đoái” (Peter Fischer)

    Văn phòng dự án Đức – Viện Ngân hàng 1993

    1. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính (Fredenc S. Miskin)
    2. Các văn bản pháp luật ngân hàng từ năm 1990 – 2001.
    3. Tạp chí Ngân hàng năm 1996 -> 2001
    4. Các báo : Thời báo kinh tế Việt Nam, báo Đầu tư năm 1998 -> 2001.
    5. Quyết định 196 / QĐ – NH14 của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam
    6. Quyết định 173 /QĐ – TTg của thủ tướng chính phủ ngày 12/9/1998
    7. Báo cáo kinh doanh đối ngoại của ngân hàng Công thương Việt Nam 1995 – 2000
    8. Báo cáo thường niên của ngân hàng Công thương Đống Đa 1996 – 2000
    9. Tiền và hoạt động ngân hàng. Lê Vinh Danh (Nhà xuất bản chính trị quốc gia)

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:LIỆU CÓ NÊN CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUA CỔ PHẦN BẰNG NGOẠI TỆ HAY KHÔNG?


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ho%C3%A1n-%C4%91%E1%BB%95i-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    LỞI MỞ ĐẦU

    Thị trường ngoại hối Việt Nam tuy đã được hình thành song còn ở mức sơ khai và chưa phát triển. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối còn nghèo nàn, đại đa số các NH chỉ tiến hành nghiệp vụ giao ngay phục vụ khách hàng trong việc thanh toán và kinh doanh tiền gửi trên thị trường quốc tế, chưa kinh doanh ngoại tệ kiếm lời một cách thực sự và chú trọng đến việc phòng ngừa rủi ro thông qua các công cụ ngoại hối phái sinh như hợp đồng kì hạn và hợp đồng hoán đổi.

    Trên thị trường ngoại hối quốc tế, các nghiệp vụ kinh doanh đã đạt đến một

    trình độ cao, ngoài giao dịch giao ngay còn bao gồm:

    • Giao dịch kì hạn
    • Giao dịch tương lai
    • Giao dịch hoán đổi
    • Giao dịch quyền chọn.

    Trong đó giao dịch hoán đổi được sử dụng như một công cụ chuyên nghiệp trong việc phòng ngừa rủi ro tỉ giá cũng như kinh doanh ngoại hối kiếm lời. Tại Việt Nam, do thị trường ngoại hối chưa hoàn thiện và còn kém phát triển cho nên các sản phẩm tài chính trên thị trường rất hạn chế và chật hẹp. Các công cụ ngoại hối phái sinh như giao dịch hoán đổi tuy đã được sử dụng nhưng rất ít và hiệu quả không cao, các NHTM chỉ sử dụng nó với tư cách là một biện pháp mang tính tạm thời với NHNN khi quá thiếu vốn VND. Mặc dù không thể phủ nhận rằng, nghiệp vụ này mang lại rất nhiều lợi ích cho các chủ thể khác nhau trên thị trường ngoại hối, đặc biệt phù hợp trong điều kiện của Việt Nam hiện nay khi mà các hoạt động kinh doanh XNK đang trên đà phát triển, các hoạt động đầu tư, tín dụng ngày một khởi sắc. Việc sử dụng một công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá, bảo đảm an toàn vốn mặt khác có thể xử lí trạng thái luồng tiền, gia tăng vốn ngắn hạn tạm thời mà không làm gia tăng những rủi ro kèm theo như hoán đổi ngoại hối là hết sức cần thiết. Song tại Việt Nam, đây còn là một nghiệp vụ khá mới mẻ. NHNN đã ra quyết định cho phép các NHTM, được phép tiến hành giao dịch hoán đổi với nhau và với khách hàng cũng

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 4

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    như là tiến hành với NHNN. Tuy nhiên thực tế quá trình tiến hành giao dịch còn nhiều

    yếu kém.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 5

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOÁN ĐỔI

    1.1      Khái niệm

    Có nhiều loại hoán đổi khác nhau nên khó có thể đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, nói chung một hoán đổi là một sản phẩm phái sinh tài chính bao gồm hai bên giao dịch thực hiện một chuỗi các thanh toán cho bên còn lại vào những ngày cụ thể.

    1.2 Các loại hoán đổi

    Dựa trên trạng thái của hàng hóa cơ sở thì có tất cả bốn loại hoán đổi cơ bản

    Hoán đổi tiền tệ: là chuỗi các thanh toán giữa hai bên mà cả hai tập hợp thanh

    toán đều dựa trên những đồng tiền khác nhau. Các khoản thanh toán này tương đương với các khoản thanh toán tiền lãi bởi vì chúng được tính toán như thể lãi suất được chi trả trên một số vốn khái toán cụ thể.

    Hoán đổi lãi suất: là chuỗi các thanh toán tiền lãi giữa hai phía. Mỗi tập hợp

    thanh toán được dựa trên lãi suất cố định hoặc thả nổi

    Hoán đổi chứng khoán: trong một hoán đổi chứng khoán tối thiểu một trong hai dòng tiền được xác định bởi giá của một chứng khoán, giá trị của một danh mục chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. Dòng tiền còn lại có thể được xác định bởi lãi suất cố định, lãi suất thả nổi chẳng hạn như LIBOR hoặc được xác định bởi giá trị của một chứng khoán, danh mục chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán khác.

    Hoán đổi hàng hóa: tối thiểu một khoản thanh toán phải được dựa vào giá cả

    của hàng hóa như dầu lửa, vàng. Khoản thanh toán còn lại thường được cố định nhưng cũng có thể được xác định dựa trên một vài loại tài sản có giá biến động.

    1.3      Các thuật ngữ được sử dụng trong một giao dịch hoán đổi

    Các hoán đổi luôn có một ngày bắt đầu, một ngày kết thúc và những ngày thanh toán

    Ngày thanh toán: là ngày mà việc thanh toán được thực hiện.

    Kỳ thanh toán: là khoản thời gian giữa các lần thanh toán.

    Không có các khoản thanh toán trước bằng tiền mặt từ một bên này cho bên kia.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 6

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Mỗi hoán đổi được cụ thể hóa bởi một số tiền giao dịch được gọi là vốn khái toán (notional principal).

    Các hoán đổi được chi tiết hóa một cách riêng biệt, nó là các công cụ OTC. Do đó hai bên tham gia thông thường bao gồm một nhà giao dịch, là một định chế tài chính cung cấp các hoán đổi trên thị trường và một người sử dụng cuối cùng. Khách hàng của nhà giao dịch thường là một doanh nghiệp, một quỹ hưu bổng, quỹ phòng ngừa rủi ro hoặc là một tổ chức nào đó. Đương nhiên, hoán đổi giữa các nhà giao dịch lẫn nhau cũng rất phổ biến.

    1.4 Hoán đổi tiền tệ

    1.4.1  Lịch sử của hoán đổi tiền tệ

    Hoán đổi tiền tệ ban đầu được hình thành vào những năm 1970 để phá vỡ kiểm soát ngoại hối ở Vương quốc Anh. Vào thời điểm đó, các công ty của Anh đã phải trả một khoản tiền cho vay bằng đô la Mỹ. Để tránh điều này, các công ty của Anh thiết lập các thỏa thuận vay trở lại với các công ty Mỹ có nhu cầu vay Sterling (đồng bảng Anh ngoài khu vực).

    Năm 1981, hoán đổi tiền tệ diễn ra giữa Ngân hàng Thế giới và IBM. WB muốn có franc Thụy Sĩ và nhãn hiệu của Đức bằng cách trao đổi lưu chuyển tiền tệ với IBM. Thỏa thuận này được môi giới bởi Salomon Brothers với một số lượng danh nghĩa của $ 210 triệu USD và thời hạn của hơn mười năm.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 7

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    U.S. Dollar

    World

    Bank

    Swiss Franc

    U.S. Dollar

    Payments to

    Investors

    Investors in U.S.

    dollar-denominated

    bonds issued by the

    World Bank

    IBM

    Swiss Franc

    Payments to

    Investors

    Investors in Swiss franc-denominated bonds issued by IBM

     

    World Bank-IBM Swap

    1.4.2  Khái niệm

    Hoán đổi tiền tệ là một chuỗi các thanh toán giữa hai bên mà cả hai tập hợp thanh toán đều dựa trên những đồng tiền khác nhau.

    Hợp đồng hoán đổi tiền tệ là một hợp đồng trao đổi những đồng tiền khác nhau, sau một khoảng thời gian nhất định số tiền đó sẽ được hoán đổi ngược trở lại như ban đầu. Một hợp đồng hoán đổi tiền tệ bao giờ được cấu thành từ 2 phần, bắt đầu là một vụ trao đổi tiền tệ (nhánh ngắn), và kết thúc bằng việc thực hiện một hợp đồng kì hạn.

    Hoán đổi tiền tệ có thể là hợp đồng ngắn hạn hoặc dài hạn, thời hạn của nó có thể kéo dài đến 10 năm hoặc hơn. Không giống như vay giáp lưng, theo luật kế toán của

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 8

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    một số nước, hợp đồng hoán đổi tiền tệ không được coi là một khoản vay, do đó nó không phản ánh trên bảng cân đối kế toán.

    1.4.3  Các loại hoán đổi tiền tệ

    Có tất cả bốn loại hoán đổi tiền tệ:

    Thanh toán cả hai đồng tiền theo lãi suất cố định. Cả hai thanh toán theo lãi suất thả nổi.

    Thanh toán đồng tiền đầu tiên theo lãi suất thả nổi và đồng tiền thứ hai theo lãi suất cố định.

    Thanh toán đồng tiền đầu tiên theo lãi suất cố định và đồng tiền thứ hai theo lãi suất thả nổi.

    1.4.4  Cấu trúc của một cấu trúc tiền tệ chuẩn

    Ví dụ :

    Reston thực hiện 1 hoán đổi tiền tệ với GSI theo nội dung công ty sẽ thực hiện một chuỗi các thanh toán tiền lãi mỗi nửa năm bằng Euro cho GSI với lãi suất 4,35% / năm, dựa trên số vốn khái toán là 10 triệu Euro.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 9

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    GSI sẽ trả cho Reston tiền lãi mỗi nửa năm bằng đồng USD với lãi suất 6,1%/năm trong vòng 2 năm, dựa trên số vốn khái toán là 9,804 triệu USD. Hai bên sẽ trao đổi vốn khái toán vào thời điểm bắt đầu và kết thúc của giao dịch.

    Ta có:

    Vào ngày bắt đầu hoán đổi:

    Reston trả cho GSI 9,804 triệu đôla

    GSI trả cho Reston 10 triệu euro

    Mỗi sáu tháng trong vòng hai năm

    Reston trả cho GSI: 0,0435x(180/360)x€10.000.000=€217.500

    GSI trả cho Reston: 0,061x(180/360)x$9.804.000=$299.022

    Vào ngày kết thúc của hoán đổi

    Reston trả cho GSI 10 triệu euro

    GSI trả cho Reston 9,804 triệu đôla.

    Dòng tiền của một hoán đổi tiền tệ từ quan điểm của Reston

    1.4.5  Những điểm khác biệt giữa hoán đổi lãi suất và hoán đổi tiền tệ

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Hoán đổi lãi suất dòng thanh toán chỉ tính trên một đồng tiền duy nhất, còn

    hoán đổi tiền tệ được tính toán dựa trên hai đồng tiền khác nhau.

    Trong một hoán đổi tiền tệ có hai vốn khoái toán, mỗi số vốn được định danh bằng một trong hai đồng tiền. Còn trong hoán đổi lãi suất chỉ có một vốn khoái toán.

    Trong hoán đổi lãi suất, số vốn khoái toán không bao giờ được thanh toán, còn

    hoán đổi tiền tệ số vốn khoái toán có thể được trao đổi vào thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc đời sống của hoán đổi tùy theo yêu cầu của các bên.

    1.4.6  Định giá và giá trị hoán đổi tiền tệ

    1.4.6.1 Các ký hiệu và công thức

     

    NPf

    NPh

    S0

    số vốn khoái toán định danh bằng đồng ngoại tệ số vốn khoái toán định danh bằng đồng nội tệ tỷ giá hối đoái tại thời điểm bắt đầu hoán đổi

    St             tỷ giá hối đoái tại thời điểm kết thúc hoán đổi

    Rf             lãi suất cố định của hoán đổi lãi vanilla thuần nhất định danh bằng

    đồng ngoại tệ

    Rh            lãi suất cố định của hoán đổi lãi vanilla thuần nhất định danh bằng

    đồng ngoại tệ

    (    ) giá trị của khoản thanh toán cố định (thả nổi) của số vốn khoái toán

    định danh bằng đồng ngoại tệ

    • (V ) giá trị của khoản thanh toán cố định (thả nổi) của số vốn khoái toán định danh bằng đồng nội tệ

    q               = số ngày/360

    ( )           lãi suất LIBOR n ngày vào ngày t

    • giá chiết khấu của trái phiếu zero coupon với lãi suất L (n)

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 11

     

    Hoán đổi ngoại tệ     GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng
                   
                   
    1   1 − ( )    
    =           (1)
      ( )
    = 1 + ( ) ∗     (2)  
             
    1 +  ( ) ∗ ( )/360
                             
    • ∗ ∗  (  ) +   (  ) (3)

    1.4.6.2 Định giá một hoán đổi tiền tệ

    Ta thấy rằng, việc hoán đổi tiền tệ cũng giống như việc một công ty phát hành một trái phiếu định danh bằng đồng tiền này, lấy số tiền đó mua lại một trái phiếu của một công ty khác định danh bằng đồng tiền khác. Trong thời gian còn hiệu lực của trái phiếu, công ty sẽ phải nhận lãi bằng đồng tiền này và trả lãi bằng đồng tiền kia. Nhưng sự thật thì công ty không hề phát hành hay mua bất kỳ một trái phiếu nào. Các công ty thực hiện giao dịch hoán đổi nhưng việc thanh toán lại diễn ra giống như giao dịch trái phiếu.

    Hoán đổi tiền tệ là một giao dịch với hai dòng tiền tệ, một dòng tiền bằng đồng tiền này và dòng tiền còn lại bằng một đồng tiền khác. Mỗi dòng tiền dựa trên một số vốn khoái toán khác nhau và mỗi dòng tiền có thể có lãi suất cố định hay thả nổi. Để xác định giá trị của hoán đổi tiền tệ chúng ta phải tìm được hiện giá của hai dòng tiền nay, cả hai được tính bằng một đồng tiền chung. Chúng ta lấy giá trị dòng tiền vào trừ cho giá trị của dòng tiền ra.

    Trong hoán đổi vanilla thuần nhất, chúng ta không hoán đổi vốn khoái toán nhưng trong hoán đổi tiền tệ thì hoán đổi vốn khoái toán có xảy ra. Hai bên giao dịch hoán đổi NPf và NPh vào thời điểm bắt đầu. Hoán đổi này không có giá trị vì hai khoản tiền này là tương đương (NPf = NPh /S0). Khi hoán đổi kết thúc, các bên sẽ đảo ngược lại

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 12

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    hoán đổi vốn khoái toán ban đầu. Tuy nhiên, tại thời điểm này thì tỷ giá giao ngay không còn là S0 nữa vì vậy mà hoán đổi vốn khoái toán không còn giá trị tương đương.

    Trong hoán đổi, giả dụ rằng việc thanh toán được thực hiện bằng đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, trước hết chúng ta phải xác định lãi suất cố định của một đồng tiền nào đó (ngoại tệ hoặc nội tệ) mà nó làm cho hiện giá của khoản thanh toán bằng với số vốn khoái toán cơ bản (1 đồng nội tệ hoặc ngoại tệ). Ở đây chúng ta sẽ sử dụng lãi suất cố định của một hoán đổi lãi suất vanilla thuần nhất sử dụng cấu trúc kỳ hạn của ngoại tệ hay nội tệ .

    Mặc dù giá trị của hoán đổi bằng 0 vào thời điểm bắt đầu nhưng sau đó giá trị của nó sẽ thay đổi. Giá trị của hoán đổi tiền tệ được xác định bằng cách tìm hiện giá của hai dòng thanh toán trên một đơn vị khoái toán. Sau đó chúng ta sẽ điều chỉnh giá trị của dòng thanh toán ngoại tệ bằng vốn khoái toán thực tế theo ngoại tệ và sau đó chuyển sang nội tệ theo tỷ giá hối đoái mới.

    Ví dụ minh họa: ta có thể tóm tắt giao dịch hoán đổi giữa công ty XYZ và Ngân hàng

    ACB như sau:

    NPf = 100.000 USD

    NPh = 2.100.000.000 VND

    S0 = 21.000 VND/1USD

    St = 21.050 VND/1USD

    q = 180/360

    Các bước thực hiện

    Bước 1: Tìm lãi suất cố định của hai đồng tiền

    Các cấu trúc kỳ hạn, giá trái phiếu chiết khấu và kết quả lãi suất cố định của hoán đổi được cho như sau:

    Kỳ hạn Lãi suất của USD Giá trái phiếu chiết khấu ( )
           

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 13

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    180 ngày   4,2%                     1/(1+4,2%*(180/360)) = 0,9747      
                                                                                           
    360 ngày   4,2%                     1/(1+4,2%*(360/360)) = 0,9506      
                                                                                           
    540 ngày   5%                       1/(1+5%*(540/360)) = 0,9302      
                                                                                           
    720 ngày   5,3%                     1/(1+5,3%*(720/360)) = 0,9042      
                                                                                           
                                                                                       
        = 360                       1 0,9042               = 5,1%        
                                                                       
        180       0,9747 + 0,9506 + 0,9302 + 0,9042        
                             
                                                                                           
                                                                   
    Kỳ hạn                 Lãi suất của VND                 Giá trái phiếu chiết khấu ( )
                                                               
    180 ngày     12,1%                       1/(1+12,1%*(180/360)) = 0,9430  
                                                               
    360 ngày       12,3%                         1/(1+12,3%*(360/360)) = 0,8905  
                                                                 
    540 ngày       13%                           1/(1+13%*(540/360)) = 0,8368    
                                                               
    720 ngày       13,5%                         1/(1+13,5%*(720/360)) = 0,7874  
                                                                 
                                                           
                =     360                   1 0,7874                 = 12,3%      
                                               
                  180       0,9430 + 0,8905 + 0,8368 + 0,7874      
                                     
                                         
                                                                                           

    Bước 2: Định giá hoán đổi tiền tệ trong suốt đời sống của nó

    Hoán đổi của XYZ – ACB sau khi thực hiện được ba tháng (90 ngày), cấu trúc kỳ hạn mới và giá của trái phiếu zero-coupon của các đồng tiền:

    Kỳ hạn Lãi suất của USD Giá trái phiếu chiết khấu ( )  
             
    90 ngày 4,4% 1/(1+4,4%*(90/360)) = 0,9891    
             
    270 ngày 4,5% 1/(1+4,5%*(270/360)) = 0,9674    
           
             
           
    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22 Trang 14  

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

      450 ngày         4.9%   1/(1+4,9%*(450/360)) = 0,9423
                                                 
      630 ngày         5,8%   1/(1+5,8%*(630/360)) = 0,9079
                                             
                                                 
        = (1 + 4,2% 180/360) * 0,9891 = 1,0099    
                                                 
                                     
          =   5,1%         ( 0,9891+ 0,9674 + 0,9423 + 0,9079) + 0,9079  
                     
                                                 
                                     
    = 1,0050                          
                                                 
      Kỳ hạn       Lãi suất của VND Giá trái phiếu chiết khấu ( )
                                               
      90 ngày     12,1%   1/(1+12,1%*(90/360)) = 0,9706  
                                               
      270 ngày     12,4%   1/(1+12,4%*(270/360)) = 0,9149  
                                               
      450 ngày     13,1%   1/(1+13,1%*(450/360)) = 0,8593  
                                               
      630 ngày     13,7%   1/(1+13,7%*(630/360)) = 0,8066  
                                             
                                         
      = (1 + 12,1% 180/360) * 0,9706 = 1,0293      
                                               
                                 
        =   12,3%         ( 0,9706+ 0,9149 + 0,8593 + 0,8066) + 0,8066    
                     
                                               
                                     
    = 1,0250                            
                                               

    Giá trị số vốn khái toán thực tế của hoán đổi:

    USD                                                               VND

    Thả nổi 100.000 * 1,0099 = 100.990 2.100.000.000 * 1,0293 =

    2.161.530.000

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 15

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Cố định 100.000 * 1,0050 = 100.500 2.100.000.000 * 1,0250 =
        2.152.500.000      
               

    Giá trị thuần của hai dòng tiền thực tế được chuyển giá trị của hai dòng tiền về một dòng tiền chung:

        USD      
               
        Thả nổi   Cố định  
               
      Thả 2.161.530.000/21.050 2.161.530.000/21.050 – 100.500  
      nổi 100.990 = 1.695,51 USD   = 2.185,51 USD  
           
    VND          
    Cố 2.152.500.000/21050 2.152.500.000/21050 – 100.500  
     
      định 100990 = 1.266,53 USD   = 1.756,53 USD  
           
               

    1.5 Ứng dụng hoán đổi tiền tệ

     

     

     

    Có thể thấy ứng dụng của giao dịch hoán đổi trong thực tế vô cùng phong phú và đa dạng, tuỳ điều kiện cụ thể mà mỗi nhóm chủ thể trên tham gia giao dịch hoán đổi với một hoặc nhiều mục đích khác nhau nhưng đều dựa trên đặc trưng của loại hình giao dịch này nhằm tránh được rủi ro tỉ giá.

    1.5.1 Tuần hoàn trạng thái luồng tiền trong thanh toán quốc tế

    Đối với các nhà XNK, việc bỏ vốn ra bằng đồng tiền này và thu về đồng tiền khác nếu không cân đối sẽ tạo ra trạng thái ngoại hối ròng và phát sinh rủi ro nếu tỉ giá tăng trong khi chuẩn bị phải thanh toán một hợp đồng nhập khẩu bằng ngoại tệ và ngược lại, nếu tỉ giá giảm khi một hợp đồng xuất khẩu sắp đến hạn.

    Trong thực tế, họ sử dụng hợp đồng mua bán ngoại tệ kì hạn một chiều (Outright forward), đến hạn cùng thời điểm giao hàng nhằm bảo hiểm cho các khoản thu chi trong kế hoạch. Họ chỉ sử dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối trong các trường hợp.

    Thứ nhất, trong hoạt động kinh doanh tổng hợp xuất – nhập khẩu, nếu có luồng tiền vào và ra đối với cùng một đồng tiền vào các thời điểm khác nhau, một hợp đồng

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 16

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    hoán đổi ngoại hối kì hạn – kì hạn cũng tương đương với hai hợp đồng kì hạn riêng biệt ngược chiều và có giá trị bằng nhau.

    Thứ hai, không phải lúc nào việc giao hàng cũng đúng hẹn, đôi khi sớm hơn hoặc muộn hơn thoả thuận, làm phát sinh rủi ro lãi suất. Nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối được sử dụng để tuần hoàn trạng thái tiền tệ trong khoảng thời gian chênh lệch đó.

     Kéo dài trạng thái tiền tệ

    Ví dụ: Công ty Toyota Việt Nam đã kí với Vietcombank một hợp đồng kì hạn 3 tháng mua JPY để bảo hiểm cho khoản linh kiện nhập khẩu dự tính từ Nhật. Tuy nhiên tàu chở hàng sẽ đến muộn một tháng, lúc này công ty phải xử lí rủi ro lãi suất, đồng thời kéo dài trạng thái JPY thêm 1 tháng mà không sợ rủi ro tỉ giá. Toyota có thể kí thêm một hợp đồng hoán đổi với VCB, trong đó công ty bán số JPY cho VCB tại thời điểm hợp đồng kì hạn cũ đáo hạn và mua lại sau 1 tháng để thanh toán cho hợp đồng nhập khẩu. Các luồng tiền và trạng thái ngoại hối có thể biểu diễn đơn giản như sau:

    Thời     Trạng thái luồng tiền Trạng thái ngoại hối
      Giao dịch        
    điểm          
      USD VND USD VND
       
         
                 
        Trạng thái đầu ngày +    
    Hợp            
      Vế bán giao ngay USD + +
    đồng kỳ
    hạn đến          
    Vế mua kỳ hạn USD     +
    hạn            
        Trạng thái cuối ngày 0 0 0 0
                 
    Sau 1 Thực hiện mua kỳ hạn +    
    tháng   USD    
             
                 
        Trạng thái cuối ngày + 0 0
                 

    Nhìn vào bảng ta thấy, trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền sau 1 tháng là giống như trạng thái đầu ngày hôm nay. Nói khác đi chúng ta sử dụng nghiệp vụ hoán

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 17

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    đổi để tuần hoàn trạng thái tiền tệ và trạng thái ngoại hối của các đồng tiền. Nếu trong trường hợp trên thay vì nhập khẩu công ty xuất khẩu một lô hàng và nhận được khoản thanh toán hàng xuất khẩu trước hạn công ty cũng có thể áp dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối tương tự .

     Rút ngắn trạng thái tiền tệ

    Các hợp đồng hoán đổi cũng được sử dụng để rút ngắn thời hạn các luồng tiền . Nếu ở trên công ty Toyota xuất khẩu 1 lô hàng và kí hợp đồng bán kì hạn JPY 3 tháng với VCB nhằm bảo hiểm cho khoản thu xuất khẩu. Theo dự tính, còn 1 tháng nữa công ty mới đuợc thanh toán, nhưng hôm nay công ty đã nhận được khoản tiền hàng . Do đó công ty muốn rút ngắn kì hạn hợp đồng kì hạn ngay ngày hôm nay, nghĩa là xử lí sao cho không có bất cứ luồng tiền nào xảy ra tại thời điểm sau 1 tháng, khi hợp đồng kì hạn đáo hạn . Công ty liền tiến hành 1 giao dịch swap ngay thời điểm ngày hôm nay, trong đó bán giao ngay JPY và mua lại kì hạn 1 tháng lượng JPY đó. Như vậy, thông qua nghiệp vụ hoán đổi các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu có thể kéo dài hay rút ngắn trạng thái các tiền tệ. Do tỉ giá giao ngay ảnh hưởng không đáng kể tới giá trị kinh tế của hợp đồng hoán đổi nên ngân hàng và khách hàng có thể thoả thuận áp dụng tỉ giá giao ngay trong hợp đồng kì hạn cũ cho hợp đồng hoán đổi, nhằm đơn giản hoá các khoản thanh toán, nhất là khi tỉ giá giao ngay trên thị trường có nhiều biến động.

          Trạng thái luồng tiền Trạng thái ngoại hối  
    Thời điểm Giao dịch            
    USD VND USD VND  
         
                     
        Vế bán giao ngay USD + +    
    Trước 1              
    Vế mua kỳ hạn USD     +    
    tháng          
                   
                     
        Trạng thái cuối ngày + 0 0    
                     
    Hợp đồng Trạng thái đầu ngày +        
                 
    kỳ hạn đến              
    Thực hiện  mua  kỳ hạn +        
                 
                     
                 
    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22     Trang 18    

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    hạn                      USD

    Trạng thái cuối ngày 0 0 0 0

    1.5.2 Ứng dụng trong các khoản đầu tư quốc tế

    Khi thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối không hoàn toàn đồng nhất, nhà đầu tư có thể tăng thu nhập khi chuyển đổi đồng tiền đầu tư, và họ có thể áp dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối thay cho một giao dịch mua giao ngay và một bán kì hạn đồng tiền đầu tư. Nếu giá trị bán ra không bằng giá trị mua vào mà gồm cả khoản lãi thì gọi là giao dịch đầu tư hoán đổi (investment swap). Phương thức này nhiều khi có lợi do tránh được qui chế và phí tín dụng.

    Ví dụ: Tỉ giá giao ngay trên thị trường      S(USD/JPY) = 104,95 – 105,05

    RJPY = 2,2 – 2,8%/năm

    RUSD = 6,0 – 6,5%/năm

    F3t (USD/JPY) = 104,40-104,70

    Sau khi tính toán các mức tỉ giá giao ngay, kì hạn và chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền, nhà đầu tư quyết định đầu tư bằng đồng USD bằng khoản vốn gốc JPY . Qui trình bảo hiểm khoản thu thông qua giao dịch hoán đổi mua giao ngay 1 USD và bán kì hạn gốc cùng lãi của 1 USD đó sau 3 tháng như sau:

    Thời điểm Nghiệp vụ giao dịch Trạng thái luồn tiền   Tỷ giá
          Lãi suất
    USD JPY  
         
                 
      1. Đi vay JPY   +105,5   2,8%  
    Hôm nay            
    2. Vế mua giao ngay USD +1 -105,5   105,05  
         
               
                 
               
    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22   Trang 19  

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

      3. Đầu tư USD   6%
             
      Trạng thái cuối ngày 0 0  
             
      4. Thu về gốc+lãi USD +1,015    
             
      5. Vế bán kỳ hạn USD -1,015 +105,97 104,40
    Sau 3 tháng        
    6. và Trả gốc lãi JPY   -105,79  
         
             
      Trạng thái ròng   +0,18  
             

    Quan sát ta thấy kết quả cuối cùng cho trạng thái luồng tiền JPY ròng là dương 0,18 JPY. Cho thấy sức hấp dẫn của giao dịch hoán đổi đối với các nhà đầu tư quốc tế là nó có thể mang lại mức lãi suất cao hơn và nó có thể phòng ngừa được rủi ro về tỉ giá.

    1.6      Những rủi ro của giao dịch hoán đổi tiền tệ

    Hoán đổi tiền tệ về bản chất là một nghiệp vụ ngoại hối phái sinh, và được tiến hành giao dịch trên thị trường ngoại hối . Tuy nhiên bên cạnh đó, còn có rất nhiều nghiệp vụ hoán đổi khác đã ra đời như hoán đổi lãi suất, hoán đổi hàng hoá, hoán đổi chỉ số chứng khoán….Chúng là các sản phẩm phái sinh về ngoại hối, lãi suất, hàng hoá

    hay chứng khoán…nghĩa là mức giá cả của chúng biến động phụ thuộc vào tỉ giá, lãi suất, giá hàng hoá hay một số chỉ số khác…Ngoài những ứng dụng vào thực tế giúp nhà đầu tư quản trị được rủi ro của họ, giao dịch hoán đổi cũng tồn tại những hạn chế nhất định.

    1.6.1 Rủi ro tín dụng

    Rủi ro tín dụng trong giao dịch hoán đổi ngoại hối là khi vế giao dịch kì hạn bị huỷ bỏ không thực hiện, trạng thái luồng tiền không được xử lí, trạng thái ngoại hối ròng phát sinh, buộc ngân hàng phải nhanh chóng cân đối bằng một nghiệp vụ kì hạn một chiều hoặc giao ngay tương ứng. Rủi ro lãi suất thì có thể xử lí thông qua thị trường tiền tệ hoặc thị trường ngoại hối, nhưng rủi ro tín dụng chỉ có thể xử lí bằng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối mà thôi.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 20

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    1.6.2 Rủi ro về giá

    Ngoài ra, trong giao dịch hoán đổi ngoại hối cũng còn tồn tại rủi ro về giá, nghĩa là khả năng tỉ giá giao ngay trên thị trường vào thời điểm hợp đồng đáo hạn không biến động đúng như dự tính, và chênh lệch với tỉ giá kì hạn hoán đổi thoả thuận trong hợp đồng theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng. Tuy nhiên trên các thị trường tài chính phát triển, sự liên kết chặt chẽ giữa thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, cùng với các hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất có bảo hiểm luôn đưa thị trường về trạng thái cân bằng và rủi ro này hầu như không có.

    1.7      Lợi ích

    Sử dụng hợp đồng hoán đổi có thể hạ thấp chi phí vay vốn cho các thành viên tham gia bằng nhiều cách như tận dụng ưu thế tương đối trong vay vốn, hạ thấp chi phí thông qua phòng ngừa rủi ro, khai thác sự chênh lệch thuế khóa.

    1.7.1 Tận dụng ưu thế tương đối

    Sự không hoàn hảo của thị trường gây ra sự chênh lệch chi phí vay vốn ở các thị trường khác nhau. Chẳng hạn, trên thị trường vốn nội địa các công ty trong nước thường có ưu thế tương đối hơn các công ty nước ngoài, do đó, có thể vay vốn với chi phí thấp hơn các công ty nước ngoài. Hơn nữa, sự đánh giá của ngân hàng và thị trường về uy tín trong vay vốn của các khách hàng vay cũng thường khác nhau. Điều này kích thích việc sử dụng hợp đồng hoán đổi để tận dụng ưu thế tương đối của từng khách hàng trong quan hệ vay vốn. Ví dụ nhờ có quan hệ tốt, công ty A có thể vay USD từ Ngân hàng A trong khi công ty B có thể vay JPY từ Ngân hàng B thấp 50 điểm so với lãi suất thị trường. Mặt khác công ty A đang cần JPY trong khi công ty B lại cần USD. Trong hoàn cảnh này, công ty A nên vay từ Ngân A và công ty B nên vay từ Ngân hàng B, sau đó sử dụng hợp đồng hoán đổi để có được đồng tiền mong đợi nhưng với một chi phí thấp hơn.

    1.7.2 Hạ thấp chi phí thông qua phòng ngừa rủi ro

    Phòng ngừa rủi ro có thể hạ thấp chi phí vay vốn bởi vì nó cắt giảm sự không chắc chắn của dòng tiền tệ và xác xuất thay đổi bất lợi của tài sản có và tài sản nợ, và do đó làm cho công ty uy tín hơn trong vay mượn. Hơn nữa, nhờ có phòng ngừa rủi ro và gia

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 21

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    tăng uy tín nên công ty có thể vay vốn với số lượng lớn. Điều này cũng góp phần hạ thấp chi phí nhờ tận dụng ưu thế về qui mô (economies of scale).

    1.7.3 Khai thác sự khác biệt về các qui định và thuế

    Điều này có thể minh họa bằng ví dụ sau đây. Một công ty Nhật muốn phát hành trái phiếu có lãi suất cố định với thời hạn 10 năm nhưng chính phủ áp dụng thuế lợi tức và qui định chặt chẽ hơn nếu trái phiếu phát hành trên thị trường Nhật và bằng JPY, trong khi đó nếu phát hành Eurobond bằng USD thì không phải chịu thuế lợi tức và thủ tục đơn giản hơn. Hơn nữa, Eurobond bằng USD dễ được thị trường chấp nhận hơn là trái phiếu bằng JPY. Trong trường hợp này, công ty nên phát hành Eurobond để tận dụng những ưu thế của thị trường Eurobond và tiến hành hợp đồng hoán đổi để có được JPY như mong muốn.

    CHƯƠNG II: THỰC TIỄN HOÁN ĐỔI TIỀN TỆ

    2.1 Tập đoàn Carton với hợp đồng hoán đổi đô la thả nổi lấy Swiss Francs cố định

    Thời điểm ban đầu

    Carlton huy động $10,000,000 bằng một khoản nợ với lãi suất thả nổi.

    Carlton có dòng thu bằng đồng Swiss Francs (sales contract), vì vậy Carlton mong muốn thực hiện hợp đồng hoán đổi tiền tệ bằng việc hoàn trả bằng đồng Swiss Francs với lãi suất cố định.

    Carlton ký kết hợp đồng có thời hạn 3 năm với điều kiện trả Swiss Francs và nhận về USD.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 22

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    NP$ = $10,000,000
    S0Sfr = 1.50000/ $
    Rask (Sfr) = 2.01%
    RBid ($) = 5.56%

    Carlton’s Currency Swap: Pay Swiss Francs and Receive U.S.Dollars

      Year 0 Year 1 Year 2 Year 3
              5.56% 5.56% 5.56%
      RBid ($) = 5.56%  
                 
                       
    $ 10,000,000                
        $556,000 $556,000 $10,556,000
             
      S0Sfr 1.5000/ $      
          2.01 % 2.01 % 2.01 %
             
      SSfr 15,000,000      
                   
                   
               
      Rask (Sfr)  = 2.01% SSfr 301,500 SSfr 301,500 SSfr 15,301,500
                       
                       

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Thời điểm tất toán hợp đồng trước hạn

    Hoán đổi tiền tệ đòi hỏi tính toán duy trì một dòng tiền dưới dạng một hợp đồng hoán đổi với mức lãi suất hiện tại, sau đó sẽ quy đổi ra loại tiền mục tiêu (Swiss Francs) sang bản tệ của Carlton (USD).

    Giả định sau 1 năm, hợp đồng bán hàng của Carlton hết hạn, Carlton sẽ chấm dứt hoặc mở rộng hoán đổi với thỏa thuận trước đó. Tại thời điểm tất toán hợp đồng hoán đổi, Carlton có 2 khoản phải trả trong hợp đồng hoán đổi là:

    Lãi: 301,5000fr

    Vốn và lãi: 15,301,500fr

    Với lãi suất đối với Sfr là 2%, hiện giá dòng tiền ký kết của Calton đối với Swiss Francs là:

    301,500                        15,301,500

    • (1.020) +   (1.020)=    15,002,912

    Cùng thời điểm đó, hiện giá của dòng tiền duy trì đối với USD trong hợp đồng hoán đổi với lãi suất 5.5%.

    ($) = $556,000 + $10,556,000 = $10,011,078
           
    (1.055)   (1.055)  
    Vậy Hiện giá dòng tiền vào: PV($) = $10,001,078.  
    Hiện giá dòng tiền ra : PV(Sfr) = Sfr 10,011,078
    Tỷ giá giao ngay SSfr   = 1.4650/$  
          15,002,912
    = $10,011,078 −   = ($229,818)
    1.4650/$

    Giá trị sổ sách của hợp đồng hoán đổi lúc này là: ($229,818), thể hiện việc hoán đổi này làm Calton lỗ một khoản là $229,818.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 24

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    2.2      Rủi ro đối tác

    Là khả năng một bên của hợp đồng tài chính khó thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với những điều kiện của hợp đồng tại thời điểm hiện tại.

    Là một trong những nhân tố chính dẫn đến việc sử dụng các hợp đồng phái sinh trên thị trường niêm yết chứ không phải thông qua thị trường OTC.

    Hầu hết các sở giao dịch, chẳng hạn như Philadelphia Stock Exchange hay Chicago Mercantile Exchange đều là đối tác cho tất cả giao dịch.

    Rủi ro thực tế nhất đối với một hoán đổi lãi suất hay tiền tệ không phải là khoản vốn khái toán mà là giá trị gắn với thị trường của những khoản chênh lệch thanh toán lãi suất.

    2.3      Kết luận

    Các công ty thường có nhu cầu nợ tại một vài thị trường, cho phép họ huy động vốn với mức lãi suất thấp hơn các thị trường khác.

    Do vậy, ngày càng nhiều các công ty phải đối mặt với các nghĩa vụ nợ bằng những đồng tiền khác nhau mà không đúng với hoạt động thông thường của họ.

    Kết quả của việc phát hành nợ thường đi kèm với các thỏa thuận hoán đổi.

    2.4 Liên hệ thực tiễn

    2.4.1 Hoán đổi tiền tệ trên thế giới

     Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, cơ cấu giao dịch hoán đổi tiền tệ được sử dụng bởi Hoa Kỳ thông qua Hệ thống Dự trữ Liên bang để thiết lập các giao dịch hoán đổi thanh khoản với ngân hàng trung ương. Mục đích của giao dịch hoán đổi thanh khoản của ngân hàng trung ương là “cung cấp thanh khoản bằng đô la Mỹ cho thị trường nước ngoài”. Trong khi các ngân hàng trung ương giao dịch hoán đổi thanh khoản và hoán đổi tiền tệ có cấu trúc, hoán đổi tiền tệ cùng một giao dịch thương mại được thúc đẩy bởi lợi thế so sánh, trong khi tính thanh khoản của ngân hàng trung ương chính là các giao dịch hoán đổi tiền tệ của các khoản vay khẩn cấp bằng đồng đô la Mỹ trên thị trường nước ngoài.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 25

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

     Trong tháng 5 năm 2011, Charles Munger của Berkshire Hathaway Inc cáo buộc các ngân hàng đầu tư quốc tế tạo điều kiện lạm dụng thị trường của các chính phủ quốc gia. Ví dụ như Goldman Sachs đã giúp Hy Lạp huy động khoảng 1 tỷ đồng kinh phí thể hiện trên bảng cân đối kế toán năm 2002 thông qua một trao đổi tiền tệ, cho phép chính phủ để che giấu nợ.

     Ngày 29/12/2011, Ấn Độ và Nhật Bản đã ký một thỏa thuận hoán đổi tiền tệ trị giá đến 15 tỉ USD nhằm thúc đẩy hợp tác tài chính song phương. Các giao dịch hoán đổi được kỳ vọng sẽ hỗ trợ đồng rupee của Ấn Độ vì đồng tiền này đang tiếp tục suy yếu so với đồng USD, khi khủng hoảng nợ công Châu Âu khiến xuất khẩu của Ấn Độ bị suy giảm đáng kể. Với thỏa thuận này, hai nước sẽ có thể đổi đồng tiền tệ quốc gia lấy đồng USD, cũng như được sử dụng quỹ dự trữ nước ngoài của nhau để làm giảm bớt các vấn đề về tiền mặt. Bước đi này mở ra cơ hội để các tập đoàn Ấn Độ có thể vay bằng yen với lãi suất thấp do ngân hàng Trung ương Nhật đã giữ lãi suất gần bằng 0 trong mười năm qua.

     Ngày 3/5/2012, 10 thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và ba nước đối tác gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO). Một trong những nhiệm vụ của AMRO là giám sát những ảnh hưởng có thể có của cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu tới khu vực này. Cùng với việc nghiên cứu và tham vấn cho các chính phủ về các chính sách kinh tế và tài chính, AMRO sẽ có các nhiệm vụ khác như nghiên cứu khả năng hoán đổi tiền tệ mang tính phòng ngừa) đã quyết định tăng gấp đôi quỹ hoán đổi tiền tệ ngăn ngừa khủng hoảng tài chính từ 120 tỷ USD lên 240 tỷ USD. Theo đó, Nhật Bản sẽ tăng phần đóng góp lên 76,8 tỷ USD (chiếm 32% quỹ), ngang với nước đóng góp nhiều nhất là Trung Quốc.

    Quyết định trên được đưa ra tại Hội nghị bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng ASEAN+3 lần thứ 15 diễn ra ở Manila (Philíppin) khi các đại biểu đều nhất trí rằng, nền kinh tế ASEAN+3 vẫn duy trì được mức tăng trưởng, song đang phải chịu nhiều tác động từ tình trạng lạm phát gia tăng và đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công ở Khu vực đồng euro (Eurozone). Theo Bộ trưởng Tài chính Hàn Quốc Pahk

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 26

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Jaewan, ASEAN+3 có thể phải sử dụng tới quỹ hoán đổi tiền tệ lần đầu tiên nếu cuộc khủng hoảng ở Eurozone dẫn tới tình trạng rút vốn ồ ạt khỏi châu Á.

    Quỹ hoán đổi tiền tệ nằm trong chương trình Đa phương hóa Sáng kiến Chiang Mai (CMIM), theo đó, khi xảy ra khủng hoảng, các nước gặp khó khăn có thể hoán đổi đồng nội tệ với đồng USD.

     Ngày 19/06/2012, Đài truyền hình NHK của Nhật Bản cho biết, nhóm 5 nền kinh tế mới nổi gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi, gọi tắt là BRICS vừa đồng ý cung cấp cho nhau ngoại tệ trong trường hợp bất cứ thành viên nào trong nhóm hứng chịu tác động từ cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực các nước sử dụng đồng euro.

    Các nhà lãnh đạo BRICS đã đạt được sự đồng thuận trên tại Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi G20 tại thành phố biển Los Cabos của Mexico. Biện pháp hoán đổi tiền tệ như vậy được xem là cần thiết để giúp những nước thiếu hụt ngoại tệ có ngoại tệ dùng can thiệp vào thị trường.

    Ngoài ra, các nhà lãnh đạo BRICS còn xem xét việc thành lập một ngân hàng chung nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển ở châu Á cũng như ở những khu vực khác.

    Các nước phát triển trong G20 cho biết, họ cảm thấy ấn tượng trước sự hợp tác ngày càng năng động của BRICS.

     Kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối năm 2008, Trung Quốc đã phát động một chiến dịch mạnh mẽ với mục tiêu “ngoại giao hoán đổi tiền tệ” và ký kết khoảng 20 hiệp định tương tự như trên trong vòng 4 năm qua với các nước trên thế giới, từ Argentina đến Australia và các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất với tổng trị giá ít nhất 1.500 tỷ Nhân dân tệ (238 tỷ USD) để thúc đẩy thương mại và đầu tư của Trung Quốc với các nền kinh tế đó. Các giao dịch hoán đổi tiền tệ là những bước đầu tiên để đồng nhân dân tệ chuyển đổi sang một đồng tiền toàn cầu

    22/03/2012, Ngân hàng Trung ương Australia đã ký thỏa thuận hoán đổi tiền tệ trị giá 30 tỷ đô la Australia (31,2 tỷ USD) với Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, thêm

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 27

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    ví dụ cho thấy quá trình quốc tế hóa của đồng nhân dân tệ và liên kết thương mại ngày càng tăng giữa 2 nước.Thỏa thuận sẽ thúc đẩy dòng chảy thương mại và đầu tư, đồng thời hỗ trợ thanh thoán thương mại bằng nhân dân tệ

    21/06/2012, Brazil và Trung Quốc nhất trí xây dựng một thỏa thuận hoán đổi đồng nội tệ giá trị 30 tỷ USD. Theo thỏa thuận, Brazil có thể rút từ Ngân hàng Trung ương Trung Quốc số tiền trên bằng đồng Nhân dân tệ và sử dụng như nguồn dự trữ hoặc thanh toán hoạt động thương mại, và Trung Quốc tương tự cũng có thể thực hiện điều đó với Ngân hàng Trung ương Brazil

    Ngày 26/6/2012, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Quốc gia Ukraine đã ký thỏa thuận hoán đổi tiền tệ với tổng giá trị 15 tỷ nhân dân tệ, tương đương 2,38 tỷ USD. Thỏa thuận có thời hạn ban đầu là 3 năm và có thể gia hạn nếu hai bên nhất trí.

    2.4.2 Hoán đổi tiền tệ ở Việt Nam

    • Việt Nam giao dịch hoán đổi chính thức ra đời từ khi Ngân hàng nhà nước ban hành Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/01/1998. Theo quyết định này, giao dịch hoán đổi là giao dịch hối

    đoái bao gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng.

    Ngày 11/10/2001, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã quyết định rút ngắn thời gian thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (SWAP) xuống còn 1 ngày làm việc, giảm 3 ngày so với trước đây. Động thái này được đưa ra sau khi nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài thông báo họ chưa sử dụng được nghiệp vụ SWAP do thủ tục xét duyệt và thời gian chuyển tiền của Ngân hàng Trung ương kéo dài.

    Tuy nhiên, quyết định trên chỉ áp dụng với các giao dịch hoán đổi ngoại tệ có giá trị đến 20 triệu USD. Trường hợp các giao dịch có giá trị trên 20 triệu USD, trong vòng 1 ngày làm việc, Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ trình Thống đốc xem xét, quyết định.

    Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng từ ngày 17/7, nhằm hỗ trợ các ngân hàng trong trường hợp thiếu hụt tạm thời vốn khả dụng.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 28

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Thông tư số 02/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 27/02/2012, Hướng dẫn giao dịch hối đoái giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

    Hiện tại có một số ngân hàng thương mại như BIDV, MHB, ACB…đã có giao dịch hoán đổi tiền tệ.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Kinh doanh ngoại tệ – Kiến thức căn bản

    ( Bình chọn: 8   —  Thảo luận: 8 —  Số lần đọc: 20578)

    Ngoại tệ đang là chủ đề nóng của giới ngân hàng hiện nay. Để những bạn có nhu cầu tìm hiểu về cách thức kinh doanh ngoại hối tôi xin tóm tắt một quy trình về kinh doanh ngoại tệ mà các ngân hàng đang áp dụng hiện nay.

    Trong thời gian gần đây thị trường tài chính tiền tệ luôn dậy sóng với những biến đổi thất thường của lãi suất liên ngân hàng, của tỷ giá đồng USD, ngay cả các ngân hàng cũng không lường hết được những thay đổi ấy. Để hiểu rõ cách thức kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng ra sao, theo tôi, cũng là vấn đề cần quan tâm của các bạn Saganors nói chung và các bạn đang làm trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Bằng những kinh nghiệm thực tế cũng như những tài liệu tham khảo của các ngân hàng tôi xin trình bày một quy trình cụ thể về kinh doanh ngoại tệ mà các ngân hàng trong nước hiện nay đang tiến hành.

     NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    1) Một số thuật ngữ liên quan khi giao dịch trên thị trường hối đoái

    Ngân hàng là Ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Trong bài này thì ngân hàng được hiểu như là ngân hàng đứng ra kinh doanh ngoại tệ với các tổ chức khác.

    Chi nhánh là phòng giao dịch, Chi nhánh cấp 1, 2 trực thuộc Ngân hàng

    Đối tác là các tổ chức tín dụng, tố chức tài chính, công ty ở nước ngoài có ký hợp đồng giao dịch ngoại hối với Ngân hàng hoặc có thỏa thuận bằng văn bản về hạn mức giao dịch ngoại hối với ngân hàng.

    Khách hàng là các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, tổ chức khác và cá nhân ở trong nước có nhu cầu mua bán ngoại tệ với Ngân hàng.

    Giao dịch hối đoái giao ngay (spot) là giao dịch mua, bán một số lượng ngoại tệ giữa hai bên theo tỉ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán chậm nhất trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán.

    Giao dịch hối đoái kỳ hạn (forward) là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức tỉ giá xác định, và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai xác định.

    Giao dịch hối đoái hoán đổi (swap) là giao dịch bao gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán dùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỉ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    Giao dịch quyền chọn (option) là giao dịch ngoại tệ trong đó bên mua có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải thực hiện giao dịch đã cam kết với bên bán, trong khi đó bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện giao dịch đã cam kết khi bên mua có yêu cầu theo tỉ giá đã thỏa thuận trước.

    Phí quyền chọn (premium) là mức phí mà bên mua quyền chọn phải trả cho bên bán quyền chọn khi mua quyền chọn

    Dealer là Giao dịch viên thuộc bộ phận nguồn vốn.

    Trạng thái mở (chưa cân bằng-open position) của ngoại tệ là trạng thái phát sinh trong giao dịch mua (hoặc bán) ngoại tệ nhưng chưa bán (hoặc mua) lại với số lượng tương ứng. Trạng thái phát sinh do mua gọi là dư thừa, còn phát sinh do bán gọi là dư thiếu.

    Trạng thái ngoại tệ chung của toàn ngân hàng là trạng thái ngoại tệ mở tối đa của toàn ngân hàng tại một thời điểm. Trạng thái này do Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.

    Mức dừng lỗ (stop loss) là chênh lệch giá bất lợi tối đa giữa giá của trạng thái mở và tỉ giá thị trường tại một thời điểm. Trong trường hợp Dealer đang có một trạng thái mở với giá bất lợi so với giá hiện tại thì phải chuẩn bị một mức dừng lỗ hợp lý để hạn chế lỗ nhiều một khi giá biến động mạnh.

    Hạn mức giao dịch với đối tác và khách hàng là hạn mức giao dịch mà Ngân hàng thỏa thuận được với đối tác và khách hàng. Bộ phận nguồn vốn và Chi nhánh chỉ được phép giao dịch với các đối tác và khách hàng trong hạn mức giao dịch này. Danh sách hạn mức giao dịch với đối tác và khách hàng sẽ phải được xem xét, cập nhật định kỳ hàng năm hoặc khi cần thiết (ngoại trừ các Giao dịch quyền chọn, trong đó đối tác hoặc khách hàng là người mua quyền chọn và các giao dịch ngoại tệ mà đối tác/ khách hàng có đặt cọc cho Ngân hàng).

    Tỉ giá hối đoái là giá của một đồng tiền quốc gia này so với đồng tiền của một quốc gia khác. Tỉ giá hối đoái bao gồm tỉ giá giao ngay, tỉ giá kỳ hạn và tỉ giá thực hiện trong quyền chọn.

    • T ỉ giá giao ngay (áp dụng đối với giao dịch hối đoái giao ngay) là tỉ giá do Ngân hàng niêm yết tại thời điểm giao dịch hoặc do thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng hoặc đối tác nhưng phải đảm bảo phù hợp với thị trường tại thời điểm giao dịch và quy định về tỉ giá giao ngay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm giao dịch.
    • Tỉ giá kỳ hạn (áp dụng đối với giao dịch hối đoái kỳ hạn) là tỉ giá do Ngân hàng và khách hàng hoặc đối tác tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo phù hợp với thị trường tại thời điểm giao dịch và quy định về tỉ giá kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm giao dịch.
    • Tỉ giá thực hiện (áp dụng đối với giao dịch quyền chọn) là tỉ giá do người mua quyền chọn yêu cầu người bán quyền chọn thực hiện.

    2) Các hoạt động giao dịch hối đoái và phạm vi giao dịch

    Hoạt động giao dịch hối đoái của Ngân hàng bao gồm:

    • Mua và bán ngoại tệ với đối tác / khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu muốn mua và bán của đối tác/ khách hàng;
    • Mua và bán ngoại tệ với đối tác nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền đó của Ngân hàng để giảm thiểu rủi ro.
    • Mua và bán ngoại tệ giữa hội sở với Chi nhánh, phòng giao dịch nhằm thỏa mãn nhu cầu muồn mua và bán của Chi nhánh, phòng giao dịch.

    Phạm vi giao dịch :  Bộ phận nguồn vốn được thực hiện toàn bộ các họat động giao dịch hối đoái. Chi nhánh, phòng giao dịch chỉ thực hiện họat động giao dịch hối đoái trong hạn mức trạng thái ngoại tệ của đơn vị mình và trong quy trình kinh doanh ngoại tệ tại Chi nhánh, phòng giao dịch.

    Các loại hình giao dịch: Các loại hình giao dịch hối đoái được phép tiến hành bao gồm

    – Giao dịch hối đoái giao ngay

    – Giao dịch hối đoái kỳ hạn

    – Giao dịch hối đoái hoán đổi

    Đồng tiền giao dịch : Các giao dịch hối đoái được phép tiến hành giữa ngoại tệ với đồng Việt Nam hoặc giữa các loại ngoại tệ với nhau. Các loại ngoại tệ được phép giao dịch là các ngoại tệ được niêm yết trên Bảng tỉ giá công bố hàng ngày của Ngân hàng. Việc công bố loại ngoại tệ nào trên Bảng công bố tỉ giá hàng ngày do quy đinh của từng ngân hàng.

    Đặt cọc :   Để đảm bảo cho các giao dịch giao ngay, hoán đổi và kỳ hạn, Ngân hàng có thể  yêu cầu đối tác hoặc khách hàng đặt cọc cho Ngân hàng hoặc Ngân hàng có thể đặt cọc cho đối tác/ khách hàng. Quyền yêu cầu đặt cọc và thỏa thuận mức đặt cọc do quy đinh của từng ngân hàng. Số tiền đặt cọc và khoản lãi từ tiền cọc (nếu có) sẽ được hoàn trả lại cho đối tác hoặc khách hàng, hoặc Ngân hàng được nhận lại từ phía đối tác hoặc khách hàng khi các bên trong giao dịch đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.

    CÁC KỸ THUẬT GIAO DỊCH CỤ THỂ

    1) Nguyên tắc niêm yết tỉ giá và phí quyền chọn.

    • Bộ phận nguồn vốn là nơi lập Bảng niêm yết tỉ giá giao dịch hàng ngày áp dụng thống nhất cho toàn Ngân hàng. Tỷ giá niêm yết này được tính toán bằng các kỹ thuật sao cho vừa phù hợp với cung cầu thị trường vừa nằm trong biên độ giao động cho phép của ngân hàng nhà nước.
    • Bảng niêm yết tỉ giá đầu ngày phải được lập và cập  nhật vào hệ thống chương trình quản lý của Ngân hàng trên máy tính chậm nhất là đầu giờ làm việc của ngày làm việc. Tỷ giá cũng ngay lập tức phải chuyển đi các chi nhánh và phải nhập tỉ giá vào bảng điện tử của hội sở để các khách hàng có thể tham chiếu được ngay.
    • Trong ngày làm việc, nếu có phát sinh biến động lớn về tỉ giá của một loại ngoại tệ niêm yết nào đó thì phải lập  bảng niêm yết tỉ giá giao dịch mới và thực hiện công bố tỉ giá tương tự như việc công bố tỉ giá đầu ngày làm việc.
    • Chi nhánh khi nhận được Bảng niêm yết tỉ giá giao dịch phải cập nhật ngay vào Bảng niêm yết tỉ giá giao  tại quầy giao dịch trực tiếp với khách hàng và thông báo ngay cho các bộ phận có liên quan thuộc đơn vị mình.
    • Đối với giao dịch hối đoái giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi, có thể thực hiện giao dịch theo tỉ giá niêm yết hoặc tỉ giá thương lượng giữa Ngân hàng với khách hàng hoặc đối tác nhưng phải đảm bảo tỉ giá giao dịch phù hợp với tỉ giá của thị trường tại thời điểm giao dịch và quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về giao dịch về giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi.
    • Mức phí quyền chọn được thực hiện theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng

    hoặc đối tác khi thực hiện quyền chọn. Bộ phận nguồn vốn căn cứ vào mức phí quyền chọn trong giao dịch với đối tác trên thị trường quốc tế tại thời điểm giao dịch để quyết định phí quyền chọn cho khách hàng/ đối tác.

    2) Thực hiện giao dịch với đối tác hoặc khách hàng :

    Việc thực hiện giao dịch với đối tác /khách hàng do Dealer thực hiện. Các phương tiện được thực hiện trong giao dịch là: điện thoại, fax. Cần lưu ý rằng tất cả các giao dịch qua điện thoại được coi là hợp lệ khi giao dịch được thực hiện thông qua của Ngân hàng

    3) Tạo dữ liệu giao dịch:

    Sau khi hoàn tất việc thực hiện giao dịch  với đối tác/khách hàng.  Dealer phải nhập nội dung của giao dịch vào hệ thống quản lý giao dịch (trading system) và in ra  “Phiếu giao dịch” ngay lập tức để chuyển sang cho Bộ phận kiểm soát rủi ro.

    4) Kiểm soát giao dịch:

    Ngay sau khi nhận được giao dịch từ hệ thống quản lý giao dịch hoặc “Phiếu giao dịch cho Dealer chuyển sang, Bộ phận kiểm soát rủi ro phải thực hiện các bước sau:

    • Kiểm tra tỷ giá giao dịch có phải là tỷ giá công bố hoặc tỷ giá giao dịch của thị trường hay không;
    • Kiểm tra hạn mức của đối tác hoặc khách hàng;
    • Kiểm tra tiền cọc (nếu có);
    • Kiểm tra hạn mức giao dịch của Dealer.

    Trong trường hợp giao dịch không đảm bảo một trong các yêu cầu trên thì nhân viên kiểm soát rủi ro được quyền không duyệt, và phải tiến hành lập ngay biên bản vi phạm giao dịch, đồng thời báo cáo kịp thời cho cấp quản lý trực tiếp của bộ phận kiểm soát rủi ro để xử lý. Khi  giao dịch đảm bảo các điều kiện nêu trên thì nhân viên kiểm soát rủi ro tiến hành duyệt giao dịch trên hệ thống giao dịch hoặc ký tên trên “phiếu giao dịch” và chuyển sang cho bộ phận hỗ trợ giao dịch (back office)

    5) Xác nhận giao dịch:

    Việc thực hiện xác nhận do nhân viên hỗ trợ giao dịch thực hiện:

    • Đối với giao dịch hối đoái giao ngay (spot) chỉ cần xác nhận lại với đối  tác hoặc khách hàng bằng fax, văn bản hoặc điện xác nhận (swift);
    • Đối với giao dịch hối đoái kỳ hạn (forward), hoán đổi và quyền chọn thì ngân hàng và đối tác hoặc khách hàng phải ký kết hợp đồng chi tiết bằng văn bản hoặc điện xác nhận.

    Đối với các giao dịch được xác nhận bằng hợp đồng: ngân hàng và đối  tác/khách hàng phải ký hợp đồng ngay khi thực hiện giao dịch và hợp đồng phải được gửi đi trong ngày giao dịch (căn cứ vào dấu của bưu điện). Với các giao dịch được xác nhận bằng fax: hợp đồng phải gửi đi ngay sau khi Dealer tạo dữ liệu giao dịch hoặc sau khi nhận được hợp đồng do đối tác/khách hàng gửi đến. Tất cả giao dịch trong ngày phải được xác nhận hoàn tất trong ngày. Còn đối với các giao dịch được xác nhận bằng điện xác nhận: Xác nhận giao dịch phải gửi đi trong phiên kết nối vào hệ thống swift gần nhất. Tất cả các giao dịch trong ngày phải được xác nhận hoàn tất trong ngày.

    6) Thanh toán giao dịch:

    Việc thực hiện thanh toán giao dịch do nhân viên hỗ trợ giao dịch thực hiện.

    Giao dịch giao ngay: Việc thanh toán theo thỏa thuận cụ thể về thời điểm chuyển tiền đối với đối tác/khách hàng nhưng phải thực hiện và kết thúc chậm nhất trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán;

    Giao dịch kỳ hạn: Ngày thanh toán là ngày làm việc cuối cùng của kỳ hạn giao dịch và được ghi rõ trong hợp đồng đã đuợc ký kết.   Ngân hàng chỉ được phép chuyển tiền khi đến hạn thanh toán;

    Giao dịch hoán đổi:

    • Trường hợp giao dịch hoán đổi gồm hai giao dịch giao ngay thì việc  thanh toán dựa trên ngưyên tắc đã quy định  đối với giao dịch giao ngay.
    • Trường hợp giao dịch hoán đổi gồm một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn thì việc thanh toán dựa trên nguyên tắc đã quy định đối với giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn.
    • Trường hợp giao dịch hoán đổi gồm hai giao dịch kỳ hạn thì việc thanh toán dựa trên nguyên tắc đã quy định đối với giao dịch kỳ hạn.

    7) Thanh toán bù trừ: Thanh toán bù trừ là việc chỉ thanh toán phần chênh lệch giũa các giao dịch mua và các giao dịch bán có cùng cặp tiền tệ hoặc của một lọai tiền tệ  của nhiều cặp tiền tệ khác nhau, cùng ngày giá trị thanh toán giữa ngân hàng với đối tác/khách hàng. Để thực hiện thanh toán bù trừ, ngân hàng và đối tác khách hàng giao dịch phải có thỏa thuận thanh toán bù trừ bằng văn bản riêng.

    8) Theo dõi thanh toán đi và thanh toán đến : Việc theo dõi thực hiện các khoản tiền thanh toán đi và thanh toán đến do nhân viên hỗ trợ giao dịch thực hiện.

    • Theo dõi thực hiện các khoản tiền thanh toán đến: bao gồm theo dõi tất cả các   khoản tiền thanh toán đến trong ngày căn cứ vào các hợp đồng giao dịch đã thực hiện với đối tác hoặc khách hàng; đối chiếu nội dung nhận tiền, số tiền thực nhận với nội dung, số tiền trên hợp đồng giao dịch.
    • Theo dõi thực hiện các khoản tiền thanh toán đi: bao gồm theo dõi tất cả các khoản tiền phải thanh toán đi trong ngày căn cứ vào các hợp đồng giao dịch đã được thực hiện với đối tác/khách hàng; đối chiếu nội dung chuyển tiền, số tiền thực chuyển trên chứng từ thanh toán đi với nội dung, số tiền trên hợp đồng giao dịch.

    Quy trình nghiệp vụ cơ bản của kinh doanh ngoại tệ thì chỉ có như vậy. Tùy theo mỗi ngân hàng mà chia ra các phòng ban chức năng và nhân sự khác nhau. Tuy nhiên nói gì thì nói bộ phận kinh doanh ngoạiệ phải đảm bảo ba nhóm sau:

    • N hóm giao dịch kinh doanh (front office): gồm các Dealer kinh doanh được phép giũ  trạng thái ngoại tệ mở và các Dealer môi giới không được phép giũ trạng thái ngoại tệ mở;
    • Nhóm kiểm soát rủi ro (risk control): gồm các kiểm soát viên;
    • Nhóm nghiệp vụ (back office): gồm các nhân viên hỗ trợ giao dịch.

    Có điều cần chú ý là các ngân hàng luôn quy định phòng làm việc của bộ phận giao dịch phải tách biệt với bộ phận kiểm soát rủi ro và bộ phận hỗ trợ giao dịch và việc sử dụng các trang thiết bị thông tin cần phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt của mỗi ngân hàng.

    Quy trình này chưa đề cập đến công tác hạch toán trong kinh doanh ngoại tệ, cũng là một công việc khá phức tạp và khó trình bày. Tuy nhiên các bạn có thể tham khảo các văn bản sau để hiểu rõ cách thức hạch toán của các nghiệp vụ ngân hàng nói chung và nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ nói riêng:

    Quyết định 479/2004 QĐ-NHNN của thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành ngày 29/04/2004

    Quyết định 29/2006 QĐ-NHNN của thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành ngày 10/07/2006


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Sau khi có cái nhìn tổng quan về quyền chọn và thị trường quyền chọn, câu hỏi đặt ra là: Ở Việt Nam hiện nay, thị trường quyền chọn đã phát triển như thế nào? Bất kỳ thị trường nào muốn đi vào vận hành thị cũng cần có một hệ thống cơ sở pháp lý để chi phối, điều chỉnh và kiểm soát. Vậy hệ thống cơ sở pháp lý cho thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán đã phát triển như thế nào? Đã bao quát thị trường hết chưa hay vẫn còn thiếu hụt trầm trọng?

    1.Cơ sở pháp lý

     

     

    a. Đối với quyền chọn ngoại tệ

     

     

    • Cơ sở pháp lý liên quan chính sách quản lý ngoại hối

    Trong thời gian qua, thị trường ngoại hối phát triển với nhiều nghị định, quyết định, văn bản hướng dẫn… Trong đó, Nghị định 05/2001/NĐ-CP ngày 17/1/2001 về quản lý ngoại hối, quyết định 648/2002-2004/QĐ-NHNN về cơ chế thỏa thuận tỷ giá kỳ hạn giữa NHTM với khách hàng trên cơ sở chênh lệch lãi suất, quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về điều chỉnh giao dịch hối đoái của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Đặc biệt là pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, pháp lệnh này như một khuôn khổ thống nhất về quản lý ngoại hối. Theo đó, NHNN nới lỏng kiểm soát ngoại tệ, tự do hóa các giao dịch, tăng quyền tự chủ cho

    các NHTM và TCTD, làm cho thị trường ngoại tệ diễn ra uyển chuyển và linh hoạt hơn.

    Cơ chế điều hành tỷ giá cũng đã có những thay đổi đáng kể. Vào tháng 5/2004,

    NHNN đã bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi

    suất. Tháng 7/2006, NHNN bỏ biên độ giao dịch đô la Mỹ tiền mặt, cho Eximbank

    thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thỏa thuận.

    Biên độ giao dịch USD không ngừng được mở rộng, ngày 10/3/2008 biên độ được xác định là +/-1%, sau đó được nâng lên thành +/-2%, và gần đây nhất đã được nâng lên +/-3%. Việc nới lỏng biên độ tỷ giá góp phần phản ánh chính xác quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời chính việc này đã làm rủi ro hối đoái không ngừng tăng lên.

    Giai đoạn năm 1998-2008, với sự thông thoáng hơn trong cơ chế chính sách, thị trường ngoại hối có nhiều khởi sắc với hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ sôi động hơn, tạo cơ hội để mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Những chính sách này đã mở ra nhiều nghiệp vụ mới đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, …giúp doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn để bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM.

    * Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ

    Ngày 10/01/1998, trên cơ sở nhận thức sự cần thiết thúc đẩy giao dịch ngoại hối phát triển, thống đốc NHNN đã ký quyết định 17/1998/QĐ_NHNN ban hành quy chế giao dịch hối đoái (quyết định 17). Quy chế này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất, đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của NHNN về lĩnh vực ngoại

    hối. Tuy nhiên, với quyết định này thì giao dịch ngoại hối chỉ mới được thực hiện thông qua các công cụ giao ngay kỳ hạn và hoán đổi.

    Ngày 12/02/2003, công văn số 135/NHNN-QLNH về giao dịch quyền chọn ngoại tệ, trước tiên là quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ chính thức ra đời. Eximbank là NHTM đầu tiên thực hiện thí điểm nghiệp vụ này. Trong đó, công văn này đã quy định cụ thể nhằm triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ ở các ngân hàng như về đối tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn giao dịch, giới hạn số dư…

    Sau 7 năm đi vào hoạt động, đến cuối năm 2004, quyết định 17/1998/QĐ-NHNN

    (quyết định 17) đã phát sinh những hạn chế. Vì vậy, ngày 10/11/2004, thống đốc

    NHNN đã ký quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái của các

    TCTD để thay thế quyết định 17 và khắc phục những hạn chế này. Quyết định này

    có những điểm mới như chính thức cho phép tất cả các TCTD được phép thực

    hiện các giao dịch hối đoái đều được quyền thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại

    tệ mà không cần phải xin phép NHNN. Qua đó, thời điểm này NHNN đã chấm dứt

    thời gian thí điểm nghiệp vụ này. Đồng thời, quy định kỳ hạn của giao dịch quyền

    chọn giữa các ngoại tệ với nhau do tổ chức tín dụng được phép và khách hàng tự

    thỏa thuận. Quy định này là một sự chuyển biến lớn trong cung cách quản lý các

    hoạt động giao dịch ngoại hối giúp thị trường quyền chọn nước ta ngày càng đa

    dạng hơn. Bên cạnh đó, quyết định này cho phép các cá nhân được phép tham gia

    ngoài các TCTD, tổ chức kinh tế, tổ chức khác và NHNN. Đây thực sự là một cơ

    hội cho các nhà đầu tư cá nhân có thêm một sân chơi mới trên thị trường tiền tệ.

    * Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ

    Ngày 18/4/2005, NHNN đã có công văn số 326/NHNN_QLNH cho phép ACB triển khai thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Theo công văn

    này, NHNN đã đưa ra những quy định cụ thể về các loại ngoại tệ được giao dịch, cơ sở tính phí quyền chọn, thời hạn giao dịch, đối tượng giao dịch… những quy định này là cơ sở để triển khai thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ tại các NHTM khác dưới sự cho phép của NHNN.

    Ngày 29/8/2006, NHNN cũng đã ban hành công văn số 7404/NHNN-KTTC. Nội dung chính của công văn này gồm có các hướng dẫn cụ thể, chi tiết về nguyên tắc và nội dung kế toán đối với các nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, để giải quyết vấn đề hạch toán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ tại các NHTM.

    b. Đối với quyền chọn chứng khoán (Cụ thể là quyền chọn cổ phiếu)

    Từ khi thị trường chứng khoán ra đời ngày 20-7-2000, các văn bản pháp lý để tạo lập, vận hành và quản lý thị trường được các cơ quan nhà nước ban hành khá nhiều. Nhưng nhìn chung, những thiếu sót, bất cập vẩn còn rất lớn, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất non trẻ, đang trên con đường phát triển và trưởng thành. Ngày 29-6-2006, luật chứng khoán chính thức được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ 1-1-2007, đánh dấu bước chuyển mình của thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo một đường băng cất cánh cho thị trường.

    Đáng chú ý nhất là trong giai đoạn thị trường suy giảm mạnh từ khoảng cuối quí I đến thời gian gần đây, UBCK nhà nước đã lần lượt giảm biện độ dao động giá cổ phiếu, chứng chỉ quĩ xuống còn +/-1% đối với HOSE và +/-2% đối với HASTC.

    Sau một thời gian ngắn thị trường phục hồi nhẹ, UBCK đã cho phép nâng biên độ lên +/-2% đối HOSE và +/-3% đối với HASTC, sau đó lại tiếp tục được nâng lên +/-3% đối với HOSE và +/-4% đối với HASTC.

    Gần đây nhất, ngày 14/8/2008, UBCK nhà nước ban hành công văn số 1650/UBCK-PTTT về việc điều chỉnh biên độ giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ. Theo đó, biên độ giao dịch giá của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ là +/-5% đối với HOSE và +/-7% đối với HASTC, điều này sẽ làm cho giá cả chứng khoán giao động mạnh hơn, phản ánh đúng cung cầu hơn, nhưng rủi ro cho các nhà đầu tư sẽ nhiều hơn, mở ra cơ hội cho việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro như quyền chọn cổ phiếu để bảo hiểm cho các nhà đầu tư.

    Thế nhưng, cho đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp lý chính thức nào qui định, hướng dẫn hay cho phép thực hiện về quyền chọn cổ phiếu tất cả chỉ mới ở giai đoạn dự thảo, ngoại trừ một số công văn cho phép một số tổ chức thí điểm triển khai nghiệp vụ này như VCBS…

    c. Đánh giá chung về cơ sở pháp lý

    Như vậy, có thể thấy, các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách quản lý ngoại hối và quyền chọn ngoại tệ được ban hành là khá nhiều nhưng chúng vẫn chưa quy định cụ thể và thúc đẩy được các giao dịch mua bán quyền chọn phát triển, nó chỉ mang tính tức thời bổ sung cho thị trường ngoại hối, cũng giống như chúng ta chỉ ban hành văn bản luật khi thị trường cần thực hiện các giao dịch này trong ngắn hạn, chứ chưa đưa ra các bộ luật chuẩn quy định cụ thể, thống nhất như luật công cụ bảo hiểm phái sinh chẳng hạn. Như vậy, sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư… trong việc hoạch định các chiến lược dài hạn để kinh doanh trên thị trường.

    Đối với quyền chọn cổ phiếu chúng ta dường như chưa có văn bản pháp luật nào quy định, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện giao dịch quyền chọn trên thị trường chứng khoán, ngoại trừ một số công văn cho phép vài tổ chức thí điểm triển khai nghiệp vụ này như công ty chứng khoán Vietcombank (VCBS)… Với yêu cầu cấp

    thiết hiện nay, những lúc thị trường chứng khoán giảm sâu, các nhà đầu tư hoang mang, bán đổ bán tháo cổ phiếu vì họ chưa thể áp dụng các công cụ để bảo vệ mình. Như vậy, việc ban hành các văn bản luật liên quan đến quyền chọn cổ phiếu và thành lập thị trường của chúng hiện nay đang là nhu cầu cấp thiết đòi hỏi các cơ quan chức năng sớm thực hiện .

    Nói tóm lại , cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các giao dịch quyền chọn ngoai tệ cũng như các quyền chọn cổ phiếu có một lỗ hổng lớn so với nhu cầu thực tế, mà không thể một sớm một chiều có thể khỏa lấp được. Các cơ quan chức năng cần tập trung nghiên cứu, tham khảo nhằm ban hành các văn bản pháp luật liên quan để dần xóa bỏ lỗ hổng pháp lý lớn này, đưa thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu vào đường băng của sự phát triển.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Với sự hình thành bước đầu của thị trường quyền chọn, thì thực trạng triển khai quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu của các tổ chức tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua như thế nào? Chúng đã trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro và đầu tư phổ biến cho thị trường hay chưa? (Bài viết thuộc loạt bài:”Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – Thực trạng và giải pháp cho sự phát triển trong tuơng lai”).

    2.Thực trạng triển khai options ngoại tệ và options cổ phiếu của các tổ chức tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua

    Thời gian qua ở Việt Nam, quyền chọn ngoại tệ dường như là công cụ phái sinh được thị trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh tỷ giá luôn ở trạng thái tăng giảm liên tục. Trong khi đó, quyền chọn cổ phiếu chỉ mới được thí điểm bước đầu ở VCBS.

    a.Quyền chọn ngoại tệ

    Gồm quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ và quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ)

    Quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ

    Về phía ngân hàng tham gia

     

    Trong giai đoạn thí điểm, các ngân hàng thương mại (NHTM) muốn thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ phải là ngân hàng đã được phép kinh doanh ngoại hối, có vốn tự có tối thiểu là 200 tỷ VNĐ kinh doanh ngoại tệ có lãi trong ít nhất 5 năm gần nhất và doanh số mua bán ngoại tệ của năm trước tối thiểu là 1 tỷ USD. Ngoài ra, NHTM phải lập ra quy trình nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và trình cho thống đốc ngân hàng nhà nước (NHNN) chấp thuận bằng văn bản cho thực hiện thí điểm.

    Theo công văn số 135/NHNN-QLNH, cho phép Eximbank là ngân hàng đầu tiên trong cả nước được thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ. Sau Eximbank, NHNN cũng cho phép 7 ngân hàng khác thực hiện thí điểm nghiệp vụ này, gồm có hai ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Viet Nam là Citibank, HSBC chi nhánh TPHCM và 5 ngân hàng trong nước là BIDV, ACB, Vietcombank, ICB, và Argribank.

    Đặc điểm giao dịch

    Nguyên tắc chính của loại quyền chọn này là các doanh nghiệp và cá nhân được quyền đặt mua hay đặt bán USD với VNĐ thông qua một tỷ giá do khách hàng tự chọn, được gọi là tỷ giá thực hiện. Đặc biệt, quyền chọn USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu trong đó quyền chọn mua áp dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọn bán áp dụng cho nhà xuất khẩu, trong đó:

    Người mua quyền chọn là các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.

    Người bán quyền chọn là các NHTM.

    Đồng tiền giao dịch: giao dịch bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.

    Kiểu quyền chọn: kiểu Mỹ hoặc Châu Âu.

    Về doanh số giao dịch

     

    Tính đến tháng 6/2004, mặc dù lợi ích trong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm

    rủi ro đã thấy rõ như một nhu cầu cấp thiết, nhưng số lượng hợp đồng được ký kết chỉ dừng lại con số 50 hợp đồng quyền chọn với doanh số thực hiện hơn 50 triệu USD của Eximbank ký với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong thời gian thí điểm nghiệp vụ quyền chọn, còn 6 ngân hàng còn lại không ký được hợp đồng nào.

    Từ 2004 đến 2007, mặc dù không còn giới hạn về số lượng NHTM tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ nhưng thực tế cho thấy các hoạt động mua bán này chưa thực sự sôi động, chỉ tập trung vào chi nhánh các ngân hàng nước ngoài như HSBC hay Citibank và một số ít NHTM Việt Nam như Eximbank, Techcombank, còn lại các ngân hàng vẫn không có giao dịch.

    Với nghiệp vụ này, chắc chắn tương lai sẽ được mở rộng bởi khi đó VNĐ sẽ có cơ hội tiếp cận với thị trường tài chính thế giới. Vị thế của VNĐ và Việt Nam cũng qua đó mà tăng lên. Tuy nhiên, vì đang trong giai đoạn thí điểm nên các ngân hàng này bị giới hạn bởi thời gian thực hiện. Sau 4 năm hoạt động, công cụ phòng ngừa rủi ro đã có những bước phát triển nhưng vẫn chưa thu được kết quả như mong muốn, và hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa thiết tha với các nghiệp vụ này lắm. Dù gặp phải một số khó khăn trong việc áp dụng, song các công cụ này đang là nhu cầu cấp thiết cho các doanh nghiệp và là cơ hội cho các ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh trong giai đoạn hiện nay.

    Quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ)

    Về phía ngân hàng tham gia giao dịch

    Tháng 4/2005 NHNN Việt Nam đã bắt đầu cho triển khai thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ. ACB là ngân hàng đầu tiên được thí điểm nghiệp vụ này, với mức tối đa giá trị hợp đồng là 10 triệu USD và mức tối thiểu là

    10.000 USD (quy đổi ngoại tệ khác tương đương mức này cho quyền chọn giao dịch giữa các ngoại tệ khác và VNĐ).

    Tiếp theo ACB là ngân hàng Techcombank với giá trị hợp đồng là 8 triệu USD-100.000 USD và chỉ được thực hiện với quyền chọn Châu Âu. BIDV được phép thí điểm từ ngày 22/8/2005 và kể từ đây không còn quy định giới hạn cho giá trị hợp đồng quyền chọn. Ngoài ra, còn có các ngân hàng như Eximbank, GPbank cũng tham gia nghiệp vụ này. Như vậy, tính đến tháng 5/2008, đã có 7 ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ.

    Đặc điểm giao dịch

    Cũng giống với giao dịch giữa quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, quyền chọn ngoại tệ với VNĐ yêu cầu các NHTM muốn thực hiện nghiệp vụ này phải có đề án chi tiết quy trình nghiệp vụ, phương án phòng ngừa rủi ro, và được NHNN chấp nhận bằng văn bản. Quy định về tỉ giá thực hiện như sau:

    Đối với hợp đồng quyền chọn USD/VNĐ: tỷ giá này không vượt quá tỷ giá kỳ hạn USD/VNĐ cùng thời hạn.

    Đối với hợp đồng quyền chọn giữa ngoại tệ khác với VNĐ: tỷ giá do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận.

    Doanh số giao dịch

    Mặc dù được triển khai từ năm 2005, nhưng doanh số mua bán thực tế của các NHTM không đáng kể, hầu hết các giao dịch đều được tiến hành theo kiểu Mỹ vì điều kiện thanh toán linh hoạt hơn. Qua kết quả thăm dò, các ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ mới thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể.

    Riêng Vietcombank và Eximbank được xem là hai ngân hàng mạnh về lĩnh vực này nhưng doanh số hoạt động vẫn không cao. Tính trong năm 2006-2007 Vietcombank chỉ đạt khoảng 37,53 triệu USD (chiếm chưa đến 0,1% tổng doanh số giao dịch ngoại tệ), Eximbank đạt 128,12 triệu USD (chiếm khoảng 0,8% trong tổng số giao dịch ngoại tệ).

    Qua thực tế trên, chúng ta thấy rằng giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ chưa phát triển. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng với kết quả ban đầu trong giai đoạn thí điểm này là một dấu hiệu đáng mừng góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển sau này.

    b.Quyền chọn chứng khoán (cổ phiếu)

    Trong giai đoạn thí điểm hiện nay, UBCK chỉ cho công ty chứng khoán VCBS thí điểm triển khai nghiệp vụ quyền chọn cổ phiếu, với đối tượng giao dịch là giữa VCBS và các nhà đầu tư (kể cả cá nhân và tổ chức). Thế nhưng, do là một nghiệp vụ mới nên rất ít các nhà đầu tư biết đến và sử dụng dịch vụ này, các con số về hợp đồng, doanh thu của tổ chức thực hiện VCBS hầu như là không đáng kể.

    c. Đánh giá chung về thực trạng sử dụng options ngoại tệ và cổ phiếu ở Việt

    Nam thời gian qua

    • Việt Nam, các nghiệp vụ phái sinh nói chung và options nói riêng mới bắt đầu được sử dùng từ đầu những năm 2000. Tuy nhiên, các nghiệp vụ options này còn

    mang tính thí điểm và đơn lẻ. Số lượng giao dịch của các công cụ này còn hết sức khiêm tốn:

    • Về quyền chọn ngoại tệ: NHNN đã cho phép thực hiện thí điểm đối với Eximbank, VIB, Vietcombank; ACB, BIDV, Techcombank, NHTMCP Quân đội, nhưng doanh số về hoạt động này vẫn không đáng kể so với doanh số các hoạt

    động truyền thống. Mặc dù thị trường các công cụ tài chính phái sinh, quyền chọn ngoại tệ đã hình thành ở Việt Nam, nhưng còn rất nhỏ bé và chưa phổ biến.

    • Về quyền chọn cổ phiếu: Thị trường chứng khoán Việt Nam đã ra đời được 8 năm, nó đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển thăng trầm, thị trường lên xuống thất thường, rủi ro cho các nhà đầu tư là khá lớn, nhu cầu phòng ngừa rủi ro đã trở

    thành cấp thiết. Thế nhưng, quyền chọn cổ phiếu vẫn chưa chính thức được ra đời ở nước ta để hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Thị trường vẫn mới ở trong giai đoạn chuẩn bị, thí điểm nhỏ lẻ, những kết quả thu được hầu như chỉ là con số không.

    Như vậy, điểm lại những mốc chính xuất hiện của các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ở Việt Nam, dễ nhận thấy rằng nó chưa được thị trường đón nhận như là một công cụ không thể thiếu trong phòng ngừa rủi ro. Theo báo cáo tại hội thảo khoa học về “giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam” năm 2007, doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường giữa các ngân hàng với khách hàng ngày càng tăng lên: Năm 2004 tăng 30%, từ năm 2005-2007 trung bình tăng khoảng 20%/năm. Trong đó, các giao dịch giao ngay chiếm từ 90-95%, các giao dịch quyền chọn ngoại tệ chỉ chiếm từ 1-5%, một tỉ trọng rất nhỏ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]