Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-tr%C3%ADch-theo-l%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i-v%C3%A0-D%E1%BB%8Bch-vu-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%C4%90%C3%B4ng-Nam-%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Với cơ chế thị trường mở cửa như hiện nay thì tiền lương là một trong những vấn đề rất quan trọng vì đó chính là khoản thù lao cho công lao động của người lao động.

    Lao động chính là hoạt động tay chân và trí óc của con người nhằm tác động biến đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm có ích đáp ứng nhu cầu của con người. Trong doanh nghiệp lao động là yếu tố cơ bản quyết định quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, thường xuyên thì chúng ta phải tái tạo sức lao động hay ta phải trả thù lao cho người lao động trong thời gian họ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.

    Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến. Tiền lương chính là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động. Ngoài ra người lao động còn được hương một số thu nhập khác như: Trợ cấp, BHXH, tiền thưởng… Đối với doanh nghiệp thì chi phí tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý hạch toán tốt lao động và tính đúng thù lao của người lao động, thanh toán tiền lương và các khoản trích đúng thù lao của người lao động, thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương kịp thời sẽ kích thích người lao động quan tâm đến thời gian và chất lượng lao động.Từ đó nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành từ đó sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Sau khi thấy được tầm quan trọng của tiền lương và các khoản trích theo lương em đã chọn đề tài: “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á” để làm chuyên đề báo cáo thực tập dưới sự chỉ dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn thực tập cô Trần Ngọc Lan.

    Chuyên đề báo cáo của em gồm có 3 phần:

    – Chương I: Lý luận chung về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.

    – Chương 2: Thực trạng công tác hạch toán kế toán tại công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ Đông Nam Á.

    – Chương 3: Các giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán tại công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ Đông Nam Á.

    Do trình độ và thời gian có hạn nên trong báo cáo thực tập này không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế vì vậy em mong được sự chỉ bảo và giúp đữo của cô Trần Ngọc Lan.

    Em xin chân thành cảm ơn!.

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

     

    I. ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP.

    1. Bản chất và chức năng của tiền lương

    Tiền lương là biểu hiện bằng tiền hay sản phẩm mà xã hội trả cho người lao động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến. Như vậy tiền lương thực chất là khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho người lao động trong thời gian mà họ cống hiến cho doanh nghiệp. Tiền lương có chức năng vô cùng quan trọng nó là đòn bẩy kinh tế vừa khuyến khích người lao động chấp hành kỷ luật lao động, đảm bảo ngày công, giờ công, năng suất lao động giúp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    2. Vai trò và ý nghĩa của tiền lương

    1. Vai trò của tiền lương

    Tiền lương có vai trò rất to lớn nó làm thỏa mãn nhu cầu của người lao động vì tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, người lao động đi làm cốt là để nhận được khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho họ để đảm bảo cho cuộc sống. Đồng thời đó cũng là khoản chi phí doanh nghiệp bỏ ra để trả cho người lao động vì họ đã làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp. Tiền lương có vai trò như một nhịp cầu  nối giữa người sử dụng lao động với người lao động. Nếu tiền lương trả cho người lao động không hợp lý sẽ làm cho người lao động không đảm bảo được ngày công và kỷ luật lao động cũng như chất lượng lao động, lúc đó doanh nghiệp sẽ không đạt được mức tiết kiệm chi phí lao động cũng như lợi nhuận cần có của doanh nghiệp để tồn tại như vậy lúc này cả hai bên đều không có lợi. Vì vậy công việc trả lương cho người lao động cần phải tính toán một cách hợp lý để cả hai bên cùng có lợi.

    1. ý nghĩa của tiền lương

    Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, ngoài ra người lao động còn được hưởng một số nguồn thu nhập khác như: Trợ cấp BHXH, tiền lương, tiền ăn ca… Chi phí tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan cho người lao động từ đó sẽ làm cho người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động nâng cao năng suất lao động, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

    1. Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương

    Giờ công, ngày công lao động, năng suất lao động, cấp bậc hoặc chức danh thang lương quy định, số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành, độ tuổi, sức khỏe, trang thiết bị kỹ thuật đều là những nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương cao hay thấp.

    II. CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

    1. Hình thức tiền lương theo thời gian:

    Là tiền lương trả cố định căn cứ vào hợp đồng lao động và thời gian làm việc: Hình thức tiền lương theo thời gian được chia thành: Tiền lương tháng, ngày, giờ.

    – Tiền lương tháng: là tiền lương trả cho người lao động theo bậc lương quy định gồm có tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (nếu có). Được áp dụng cho nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất.

    – Lương ngày: được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngày làm việc theo chế độ. Lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả công nhân, tính trả lương cho công nhân viên trong những ngày hội họp, học tập, trả lương theo hợp đồng.

    – Lương giờ: Được tính bằng cách lấy lương ngày chia cho số giờ làm việc trong ngày theo chế độ. Lương giờ thường làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêm giờ.

    2.Hình thức trả lương theo sản phẩm:

    Là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm làm ra.

    3. Theo sản phẩm trực tiếp:

    Là hình thức tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng sản lượng hoàn thành đúng qui cách, phẩm chất và đơn giá sản phẩm.

    4.Theo sản phẩm gián tiếp:

    Được áp dụng để trả lương cho công nhân làm các công việc phục vụ sản xuất ở các bộ phận sản xuất như: công nhân vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị. Trong trường hợp này căn cứ vào kết quả sản xuất của lao động trực tiếp để tính lương cho lao động phục vụ sản xuất.

    5. Theo khối lượng công việc:

    Là hình thức tiền lương trả theo sản phẩm áp dụng cho những công việc đơn giản, có tính chất đột xuất như: Khoán bốc vác khoán vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm.

    6. Các hình thức đãi ngộ khác ngoài tiền lương:

    Ngoài tiền lương, BHXH công nhân viên có thành tích trong sản xuất, trong công tác được hưởng khoản tiền lương, tiền thưởng thi đua được trích từ quỹ khen thưởng căn cứ vào kết quả bình xét A, B, C và hệ số tiền lương để tính.

    – Tiền lương về sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động sẽ căn cứ vào hiệu quả kinh tế cụ thể để xác định.

    III. QUỸ TIỀN LƯƠNG, QUỸ BHXH, QUỸ BHYT VÀ KPCĐ

    1. Quỹ tiền lương

    Là toàn bộ số tiền lương trả cho số công nhân viên của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và chi trả lương.

    Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ lương của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: tiền lương chính, tiền lương phụ.

    – Tiền lương chính: là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế bao gồm tiền lương cấp bậc, tiền lương, phụ cấp.

    – Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho người lao động khi họ không làm việc bao gồm: nghỉ lễ, nghỉ phép, ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan

    2. Quỹ bảo hiểm xã hội

    Quỹ BHXH là khoản tiền được trích lập theo tỉ lệ qui định là 20% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng, trong đó 15% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 5% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHXH được trích lập nhằm trợ cấp công nhân viên có tham gia đóng góp quỹ trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động.

    – Trợ cấp công nhân viên ốm đau, thai sản.

    – Trợ cấp công nhân viên khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp.

    – Trợ cấp công nhân viên khi về hưu, mất sức lao động.

    – Chi công tác quản lý quỹ BHXH.

    3. Quỹ bảo hiểm y tế

    Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ qui định trên tiền lương phải trả công nhân viên trong kỳ. Theo chế độ hiện hành doanh nghiệp trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 3% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng, trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 1% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHYT được chi tiêu trong trường hợp: khám chữa bệnh, viện phí, thuốc thang, kinh phí công đoàn.

    4. Kinh phí công đoàn

    Kinh phí công đoàn là khoản tiền được trích lập theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng thời duy trì hoạt động của công đoàn tại doanh nghiệp.

     

     

    IV. YÊU CẦU VÀ NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

    – Tổ chức ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ số lượng, chất lượng, thời gian và kết quả lao động.

    – Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, đúng chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương. Mở sổ, thẻ kế toán và hạch toán lao động, tiền lương theo đúng chế độ.

    – Tính toán phân bổ chính xác, đúng đối tượng chi phí tiền lương các khoản trích theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận đơn vị sử dụng lao động.

    – Lập báo cáo kế toán và phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền lương, đề xuất biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động trong doanh nghiệp.

    V. HẠCH TOÁN CHI TIẾT TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

    1. Hạch toán số lượng lao động:

    Căn cứ vào  chứng từ ban đầu là bảng chấm công hàng tháng tại mỗi bộ phận, phòng ban, tổ, nhóm gửi đến phòng kế toán để tập hợp và hạch toán số lượng lao động trong tháng đó tại doanh nghiệp và cũng từ bảng chấm công kế toán có thể  nắm được từng ngày có bao nhiêu người làm việc, bao nhiêu người với lý do gì.

    Hàng ngày tổ trưởng hoặc người có trách nhiệm sẽ chấm công cho từng người tham gia làm việc thực tế trong ngày tại nơi mình quản lý sau đó cuối tháng các phòng ban sẽ gửi bảng chấm công về phòng kế toán. Tại phòng kế toán, kế toán tiền lương sẽ tập hợp và hạch toán số lượng công nhân viên lao động trong tháng.

    2. Hạch toán thời gian lao động

    Chứng từ để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công. Bảng chấm công là bảng tổng hợp dùng để theo dõi ngày công thực tế làm việc, nghỉ việc, ngừng việc, nghỉ BHXH của từng người cụ thể và từ đó có thể căn cứ tính trả lương, BHXH…

    Hàng ngày tổ trưởng (phòng ban, nhóm…) hoặc người ủy quyền căn cứ vào tình hình thực tế của bộ phận mình quản lý để chấm công cho từng người trong ngày và ghi vào các ngày tương ứng trong các cột từ 1 đến 31 theo các kí hiệu qui định. Kế toán tiền lương căn cứ vào các ký hiệu chấm công của từng người rồi tính ra số ngày công theo từng loại tương ứng để ghi vào các cột 32, 33, 34, 35, 36. Ngày công quy định là 8h nếu giờ lễ thì  đánh thêm dấu phẩy.

    Ví dụ: 24 công 4 giờ thì ghi 24,4

    Tùy thuộc vào điều kiện đặc điểm sản xuất, công tác và trình độ hạch toán đơn vị có thể sử dụng một trong các phương pháp chấm công sau:

    Chấm công ngày: Mỗi khi người lao động làm việc tại đơn vị hoặc làm việc khác như họp, thì mỗi ngày dùng một ký hiệu để chấm công cho ngày đó.

    Chấm công theo giờ: Trong ngày người lao động làm bao nhiêu công việc thì chấm công theo các ký hiệu đã qui định và ghi số giờ công việc thực hiện công việc đó bên cạnh ký hiệu tương ứng.

    Chấm công nghỉ bù: Chỉ áp dụng trong trường hợp làm thêm giờ lương thời gian nhưng không thanh toán lương làm thêm.

    3. Hạch toán kết quả lao động

    Căn cứ vào phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành. Do phiếu là chứng từ xác nhận số lượng sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động nên nó làm cơ sở để kế toán lập bảng thanh toán tiền lương hoặc tiền công cho người lao động. Phiếu này được lập thành 2 liên: 1 liên lưu tại quyển 1 và 1 liên chuyển đến kế toán tiền lương để làm thủ tục thanh toán cho người lao động và phiếu phải có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng và người duyệt.

    Phiếu xác nhận sản phẩm hoàn thành được dùng trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng theo hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp hoặc lương khoán theo khối lượng công việc.

    4. Hạch toán tiền lương cho người lao động

    Bảng thanh toán tiền lương: là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương phụ cấp cho người lao động, kiểm tra việc thanh toán tiền lương cho người lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh đồng thời làm căn cứ để thống kê về lao động tiền lương. Bảng thanh toán tiền lương được lập hàng tháng theo từng bộ phận (phòng, ban, tổ chức, nhóm…) tương ứng với bảng chấm công.

    Cơ sở lập bảng thanh toán tiền lương là các chứng từ về lao động như: Bảng chấm công, bảng tính phụ cấp, trợ cấp, phiếu xác nhận thời gian lao động hoặc công việc hoàn thành. Căn cứ vào các chứng từ liên quan, bộ phận kế toán tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương, chuyển cho kế toán trưởng duyệt để làm căn cứ lập phiếu chi và phát lương. Bảng này lưu tại phòng kế toán. Mỗi lần lĩnh lương người lao động phải trực tiếp ký vào cột “ký nhận” hoặc người nhận hộ phải ký thay.

    Từ bảng thanh toán tiền lương và các chứng từ khác có liên quan kế toán tiền lương lập bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương.

    VI. HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

    1. Các chứng từ ban đầu hạch toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ:

    Các chứng từ ban đầu hạch toán tiền lương thuộc chỉ tiêu lao động tiền lương gồm các biểu mẫu sau:

    Mẫu số 01 – LĐTL – Bảng chấm công

    Mẫu số 02 – LĐTL – Bảng thanh toán TL

    Mẫu số 03 – LĐTL – Phiếu nghỉ ốm hưởng BHXH

    Mẫu số 04 – LĐTL – Danh sách người lao động hưởng BHXH

    Mẫu số 05 – LĐTL – Bảng thanh toán tiền lương

    Mẫu số 06 – LĐTL – Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn chỉnh

    Mẫu số 07 – LĐTL – Phiếu báo làm thêm giờ

    Mẫu số 08 – LĐTL – Hợp đồng giao khoán

    Mẫu số 09 – LĐTL – Biên bản điều tra tai nạn lao động

    2. Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

    Tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán

    * Tài khoản sử dụng:     TK 334 – phải trả công nhân viên

    TK 338 – phải trả phải nộp khác

    * TK 334 phản ánh các khoản phải trả CNV và tình hình thanh toán các khoản đó (gồm: Tiền lương, tiền thưởng, BHXH và các khoản thuộc thu nhập của CNV .

    Kết cấu TK 334:

    * Phương pháp hạch toán:

     
       
     
       

    Sơ đồ 2.1: Hạch toán các khoản phải trả CNV

    Hàng tháng căn cứ vào bảng thanh toán tiền lương thanh toán TL và các chứng từ liên quan khác, kế toán tổng hợp số tiền lương phải trả CNV và phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh theo từng đối tượng sử dụng lao động, việc phân bổ thực hiện trên “Bảng phân bổ tiền lương và BHXH”. Kế toán ghi:

    Nợ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp

    Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung

    Nợ TK 641: Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642: Chi phí QLDN

    Nợ TK 241: XDCB dở dang

    Có TK 334: Phải trả CNV

    – Tính ra số tiền lương phải trả CNV trong tháng, kế toán ghi:

    + Trường hợp thưởng cuối năm, thường thường kỳ:

    Nợ TK 431 – Quỹ khen thưởng, phúc lợi

    Có TK 334

    + Trường hợp thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật, thưởng tiết kiệm vật tư, thương NSLĐ:

    Nợ TK 642: Chi phí QLDN

    Có TK 334

    – Tính ra số tiền ăn ca, tiền phụ cấp trả cho người lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Nợ TK 622

    Nợ TK 627

    Nợ TK 641

    Nợ TK 642

    Có TK 334

    – Các khoản khấu trừ vào lương của CNV: khoản tạm ứng chi không hết, bồi thường vật chất, BHXH, BHYT công nhân viên phải nộp, thuế thu nhập phải nộp ngân sách Nhà nước.

    Nợ TK 334: Tổng số khấu trừ

    Có TK 141: Tạm ứng thừa

    Có TK 333: Thuế thu nhập cá nhân

    Có TK 338: Đóng góp của người lao động cho quỹ BHXH, BHYT.

    – Khi thanh toán lương cho người lao động

    Nợ TK 334

    Có TK 111, 112

    – Nếu vì một lý do nào đó mà người lao động: Nợ TK 3388

    Có TK 111, 112

    * TK 338: Dùng để phản ánh các khoản trả, phải nộp cho cơ quan quản lý, tổ chức đoàn thể xã hội.

    – Kết cấu TK 338

    + Phương pháp hạch toán

    Hàng tháng căn cứ vào tổng số tiền lương phải trả CNV trong tháng, kế toán trích BHXH, BHYT, CPCĐ theo tỷ lệ quy định tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận sử dụng lao động.

    Nợ TK 622: 19% lương CNTTSX

    Nợ TK 627: 19% lương NVQLPX

    Nợ TK 641: 19% lương NVBH

    Nợ TK 642: 19% lương NVQLDN

    Nợ TK 334: 6% tổng số lương

    Có TK 338: Tổng số BHXH, BHYT, KPCĐ

    Có TK 338 (2): 2% KPCĐ

    Có TK 338 (3): 20% BHXH

    Có TK 338 (4): 3% BHYT

    – Khi nộp BHXH, BHYT, KPCĐ cho các cơ quan quản lý quỹ:

    Nợ TK 3382, 3383, 3384

    Có TK 111, 112

    – Khi chi tiêu kinh phí công đoàn tại đơn vị:

    Nợ TK 3382

    Có TK 111, 112

    – Khi tính ra BHXH phải trợ cấp cho người lao động

    Nợ TK 3383

    Có TK 111, 112

    – KHi thanh toán BHXH cho người lao động

    Nợ TK 334

    Có TK 111, 112

    – KPCĐ và BHXH vượt chi khi được cấp bù:

    Nợ TK 111, 112

    Có TK 3382, 3383

    – Thanh toán lương BHXH khi công nhân nghỉ ốm, thai sản

    Nợ TK 3383

    Có TK 334

    VII. HÌNH THỨC SỔ KẾ TOÁN

    Đối với mỗi doanh nghiệp thì việc áp dụng hình thức sổ kế toán là hoàn toàn khác nhau, có thể áp dụng một trong 4 hình thức sau:

    – Nhật ký chung

    – Nhật ký sổ cái

    – Chứng từ ghi sổ

    – Nhật ký chứng từ

    1. Nhật ký chung:

    Là hình thức kế toán đơn giản, sử dụng sổ nhật ký chung để ghi chép cho tất cả các hoạt động kinh tế tài chính. Theo thứ tự, thời gian và theo quan hệ đối ứng tài khoản sau đó sử dụng số liệu ở sổ nhật ký chung để ghi sổ cái các tài khoản liên quan. Các loại sổ kế toán của hình thức này bao gồm: sổ nhật ký chuyên dùng, sổ  nhật ký chung, sổ cái và các sổ kế toán chi tiết.

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 1.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức nhật ký chung

    1. Nhật ký chứng từ:

    Đặc điểm chủ yếu của hình thức kế toán này là mỗi nghiệp vụ kinh tế đều căn cứ vào chứng từ gốc để phân loại ghi vào các nhật ký – chứng từ theo thứ tự thời gian. Cuối tháng căn cứ vào số liệu tổng hợp ở từng nhật ký – chứng từ để lần lượt ghi vào sổ cái. Do nhật ký chứng từ vừa mang tính chất của sổ nhật ký, vừa mang tính chất của một chứng từ ghi sổ nên gọi là nhật ký  – chứng từ. Nhật ký chứng từ kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế và kết hợp việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ kế toán vào trong cùng một quá trình ghi chép.

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ hoặc cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 2.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức nhật ký chứng từ

    3. Chứng từ ghi sổ:

    Là hình thức kế toán chứng từ ghi sổ được hình thành sau các hình thức Nhật ký chung và Nhật ký sổ cái. Nó tách việc ghi nhật ký với việc ghi sổ cái thành 2 bước công việc độc lập, kế thừa để tiện cho phân công lao động kế toán, khắc phục những hạn chế của hình thức nhật ký sổ cái. Đặc trưng cơ bản là căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là chứng từ ghi sổ. Chứng từ này do kế toán lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp các chứng từ gốc cùng loại, có cùng nội dung kinh tế.

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ hoặc cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 3.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức chứng từ ghi sổ

    4. Nhật ký sổ cái:

    Đặc điểm của hình thức kế toán này là sử dụng sổ nhật ký – sổ cái làm sổ kế toán tổng hợp duy nhất để ghi sổ theo thứ tự thời gian kết hợp với ghi sổ phân loại theo hệ thống các nghiệp vụ kinh tế. Các loại kế toán sử dụng trong hình thức này bao gồm: sổ kế toán tổng hợp – sổ nhật ký sổ cái, sổ kế toán chi tiết.

     
       

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ hoặc cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 4.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức Nhật ký sổ cái.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á

     

    I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ ĐÔNG NAM Á

    1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Đông Nam Á.

    Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á là công ty cổ phần trong đó có 70% vốn thuộc ngân sách Nhà nước. Được thành lập ngày 28-3-2005 do bà: Đỗ Thị Thanh Minh làm giám đốc

    Số vốn điều lệ: 1.800.000.000đ

    Giấy  phép kinh doanh số: 0103011527

    Mã số thuế: 0101900857

    Điện thoại: 04.636.7689

    Fax: 04.636.7689

    Địa chỉ: số 10 Ngõ 19 Lạc Trung, Hai Bà Trưng, Hà Nội

    2. Các ngành nghề kinh tế chủ yếu của công ty

    – Cung cấp văn phòng phẩm, thiết bị máy văn phòng

    – Cung cấp  dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng máy văn phòng

    1. Một số chỉ tiêu mà công ty đạt được từ quý 2/2005 đến quý 6/2006

    KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    Đơn vị: đồng

    Chỉ tiêu Mã số Quý 2/2005 Quý 2/2006 Sự tăng giảm
    Số tuyệt đối %
    DTBH và cung cấp dịch vụ 01 3.268.740.000 3.889.825.750 621.085.750 119,001%
    Các khoản giảm trừ 03 17.365.890 18.731.180 1.365.290 107,86%
    Chiết khấu TM 04 12.530.000 14.521.000 1.991.000 115,89%
    Giảm giá hàng bán 05 3.471.000 2.782.650 -688.350 80,17%
    Hàng bán bị trả lại 06 1.364.890 1.431.530 66.640 104,89%
    Doanh thu thuần 10 3.251.374.110 3.871.094.570 619.720.460 119,06
    Doanh thu HĐTC 21 19.612.242 17.307.168 -2.305.074 88,25
    Giá vốn hàng bán 11 2.614.125.000 2.526.531.200 -87.593.800 96,65
    Lợi nhuận gộp 20 637.249.110 944.563.370 307.314.260 148,23
    Chi phí tài chính 22 215.867.797 206.590.381 -9.277.416 95,7
    Chi phí bán hàng 24 17.021.500 19.325.680 2.304.180 113,54
    Chi phí QLDN 25 12.764.000 13.623.370 859.370 106,73
    Lợi nhuận từ HĐTC 30=20+(21-22)-(24-25) 30 411.208.055 722.331.107 311.123.052 175,67
    Thu nhập khác 31 231.508.686 195.758.794 -35.749.892 84,57
    Chi phí khác 32 32.819.352 29.325.757 -3.493.595 89,36
    Lợi nhuận khác (40=31-32) 40 198.689.334 166.433.037 -32.256.297 83,77
    Tổng lợi luận (50=30+40) 50 609.897.389 888.764.144 278.866.755 145,72
    Thuế TNDN phải nộp 51 162.568.705 193.553.729 30.986.024 119,06
    Lợi nhuận sau thuế (60=50-51) 60 447.328.684 695.209.415 247.880.731 155,4

    Qua biểu báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý 2/2005 so với quý 2/2006 cho thấy:

    + Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng hơn năm trước

    – Về số tuyệt đối tăng 621.085.750đ

    – Về số tuyệt đối tăng 119,001% tức là vượt 19,001%

    + Doanh thu thuần cũng tăng hơn so với năm trước:

    – Về số tuyệt đối tăng 619.720.460đ

    – Về số tương đối tăng 119,06% vượt 19,06%

    + Lợi nhuận sau thuế

    – Về số tuyệt đối tăng: 247.880.731đ

    – Về số tuyệt đối: 155,4% vượt 55,4%

    Như vậy, lợi nhuận sau khi đã nộp thuế thu nhập quý 2/2005 so với quý 2/2006 tăng 247.880.731đ hay 55,4%.

    Đặc biệt là tỷ lệ giá vốn hàng bán giảm 15,13% quý 2/2005 so với quý 2/2006 đã làm cho lợi nhuận tăng đáng kể

    x 100 = 65,27%  <   = 80,4%

    Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên ta có thể thấy công ty đã ngày càng lớn mạnh và làm ăn có lãi, tạo được niềm tin cho cán bộ công nhân viên, giúp họ hăng say trong công việc tạo ra nhiều lợi nhuận cho công ty và làm cho cuộc sống của họ ngày càng được nâng cao.

    4. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh của công ty cổ phần  thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á.

    * Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty

    Bộ máy của công ty quản lý theo hình thức tập chung, chức năng gọn nhẹ chuyên sản xuất, tổ chức bộ máy gồm có

     
       

    4.1. Mô hình bộ máy quản lý của công ty

    Giám đốc: là người đứng đầu, đại diện cho tư cách pháp nhân của công ty và là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động kinh doanh của công ty.

    – Dưới giám đốc là phó giám đốc.

    + Phó giám đốc kỹ thuật: có nhiệm vụ xác định các định mức về kinh tế kỹ thuật.

    + Phó giám đốc tài chính: chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều động nhân lực và quản lý nguồn vốn gửi điểm của công ty.

    – Các phòng ban khối hành chính: chịu trách nhiệm về phương hướng kinh doanh và phát triển thị trường.

    – Phòng kế toán: Quản lý và thực hiện chặt chẽ chế độ tài vụ của công ty theo đúng nguyên tắc, quy định của Nhà nước và ban giám đốc của công ty. Hoàn thành việc quyết toán sổ sách và báo cáo tài chính, lưu trữ và bảo mật hồ sơ, chứng từ… Thực hiện đúng nguyên tắc về chế độ tiền lương, thường theo qui định. Quản lý trực tiếp các quỹ của công ty theo dõi và báo cáo kịp thời tình hình tài chính cho giám đốc.

    5. Đặc điểm tổ chức kế toán tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á.

    1. Tổ chức bộ máy công tác kế toán

    Tổ chức bộ máy kế toán của công ty được tổ chức  theo hình thức tập trung chuyên sâu, mỗi người trong phòng kế toán được phân công phụ trách một công việc nhất định do vậy công tác kế toán tại công ty là tương đối hoàn chỉnh, hoạt động không bị chồng chéo lên nhau.

     
       

    5.1. Tổ chức công tác kế toán

    Phòng kế toán của công ty Đông Nam á có 5 người trong đó có 1 phó giám đốc, 1 kế toán trưởng và 3 kế toán viên.

    – Chức năng phòng kế toán: Giúp cho ban giám đốc chỉ đạo thực hiện toàn bộ chính sách của Nhà nước về quản lý tài chính.

    – Nhiệm vụ: Thực hiện ghi chép phản ánh toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các tài khoản có liên quan. Lập báo cáo cung cấp số liệu, tài liệu của công ty theo yêu cầu của giám đốc công ty và của cơ quan quản lý Nhà nước. Lập kế hoạch, kế toán tài chính, tham mưu cho giám đốc về các quyết định trong việc quản lý công ty.

    – Kế toán trưởng: chịu trách nhiệm trước ban giám đốc và các cơ quan pháp luật về toàn bộ công việc kế toán của mình tại công ty. Có nhiệm vụ theo dõi chung. Chịu trách nhiệm hướng dẫn tổ chức phân công kiểm tra các công việc của nhân viên kế toán.

    – Kê toán kho: Cập nhật chi tiết lượng hàng hoá, dụng cụ xuất ra cho các văn phòng, công ty và lượng hàng hoá mua vào của công ty. Dựa vào các chứng từ xuất nhập vật tư, cuối tháng tính ra số tiền phát sinh và lập báo cáo.

    – Kế toán tổng hợp: thực hiện công tác cuối kỳ, có thể giữ sổ cái tổng hợp cho tất cả các phần hành ghi sổ cái tổng hợp, lập báo cáo nội bộ cho bên ngoài đơn vị theo định kỳ báo cáo hoặc yêu cầu đột xuất.

    – Kế toán công nợ: phản ánh  các khoản nợ phải thu, nợ phải trả các khoản phải nộp, phải cấp cũng như tình hình thanh toán và còn phải thanh toán với đối tượng (người mua, người bán, người cho vay, cấp trên, ngân sách…). Ngoài ra  do mô hình thanh toán tức là sẽ ghi chép kịp thời các nghiệp vụ thanh toán phát sinh tính toán tiền lương và các khoản trích theo lương tiến hành phân bổ các khoản chi phí lương, chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ theo đúng chế độ kế toán hiện hành.

    – Thủ quỹ: phản ánh thu, chi tồn quỹ tiền mặt hàng ngày đối chiếu tồn quỹ thực tế với sổ sách để phát hiện những sai sót và xử lý kịp thời đảm bảo tồn quỹ thực tế tiền mặt cũng bằng số dư trên sổ sách.

    1. Hình thức kế toán được công ty áp dụng: Chứng từ ghi sổ
     
       

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ

    Đối chiếu

    Sơ đồ 5.2: Hình thức kế toán của công ty

    II. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á

    1. Đặc điểm về lao động của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ ã Đông Nam Á

    Đặc điểm kinh doanh củâ công ty là kinh doanh về văn phòng phẩm và thiết bị văn phòng nhưng công ty cũng không đòihỏi tất cả mọi người đều phải có trình độ đại học mà chỉ bắt buộc đối với các trưởng phòng đại diện và nhữgn người làm trong phòng kế toán.

    Tại công ty tỷ trọng của những người có trình độ trung cấp và chiếm 4% trên tổng số CBCNV toàn công ty được thể hiện qua bảng sau:

    STT Chỉ tiêu Số CNV Tỷ trọng
    1 – Tổng số CNV

     

    + Nam

    + Nữ

    30

     

    16

    14

    30

     

    16

    14

    2 – Trình độ

     

    + Đại học

    + Cao đẳng

    + Trung cấp

    20

     

    6

    4

    20

     

    6

    4

    2. Phương pháp xây dựng qũy lương tại công ty

    Quỹ lương của công ty là toàn bộ số tiền lương trả cho cán bộ CNV của công ty. Hiện nay công ty xây dựng qũy tiền lương trên tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là 22%.

    Hàng tháng sau khi tổng hợp toàn bộ doanh số bán hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán sẽ lấy tổng doanh thu đó nhân với 22% sẽ ra quỹ lương của công ty trong tháng đó.

    Ví dụ:

    Doanh thu của công ty tháng 12 năm 2005 là 136.274.545,46đ

    136.274.545,46 x 22% = 35.920.400đ

    1. Hàng tháng công ty sẽ tính ra thưởng cho CNV lấy từ quỹ thưởng khoản tiền thưởng này góp phần thoả mãn nhu cầu vật chất cho 1 lao động, khuyến khích họ hăng say trong công việc với thời gian ngắn nhất. Tiền thưởng của công ty được tính 15% trên tổng quỹ lương: 15% x 35.920.400 = 5.388.060đ.

    Sau đó sẽ phân chia cho các bộ phận:

    – Bộ phận QLDN sẽ là: 2% x 35.920.400 = 718.408 đ

    – Bộ phận kinh doanh: 7% x 35.920.400 = 2.514.428đ

    – Bộ phận kỹ thuật: 5% x 35.920.400 = 1.796.020đ

    – Bộ phận kế toán: 1% x 35.920.400 = 359.204 đ

    4. Nguyên tắc trả lương và phương pháp trả lương của công ty

    Theo qui định của Nhà nước thì hệ số lương của các bậc đại học, cao đẳng, trung cấp như sau:

    – Đối với bậc đại học là 2,34

    – Đối với bậc cao đẳng là 1,80

    – Đối với bậc trung cấp là 1,70

    và mức lương cơ bản là 350.000đ

    Ở công ty việc chi trả lương đều do thủ qũy thực hiện, thủ quỹ căn cứ vào các chứng từ “Bảng thanh toán tiền lương” và “Bảng thanh toán BHXH” để chi trả lương và các khoản khác cho nhân viên trong công ty.

    Do qui mô còn nhỏ nên công ty chỉ áp dụng hình thức trả lương theo thời gian.

    Công thức tính như sau:

    Ltg =  x Số ngày làm việc trong tháng

    VD: Nhân viên Hồ Ngọc Chương thuộc bộ phận kinh doanh trong tháng 12 làm được 30 công, do là trưởng phòng nên sẽ có hệ số phụ cấp là 0,30 và hệ số lương là 2,34 vậy tháng lương của Hồ Ngọc Chương sẽ được tính như sau:

    x 30 = 924.000

    Cứ như vậy kế toán sẽ dựa vào hệ số lương, hệ số phụ cấp và sô ngày làm việc của từng nhân viên đẻ tính ra  tiền lương hàng tháng cho công nhân viên.

    Chỉ tính lương cho bộ phận quản lý doanh nghiệp phải căn cứ vào hệ số lương và hệ số phụ cấp của từng người cùng với bảng chấm công. Bảng chấm công dùng để theo dõi thời gian làm việc của từng người trong tháng. Bảng chấm công do cán bộ phụ trách có trách nhiệm chấm công cho từng người, cuối tháng sẽ chuyển về phòng kế toán cùng với những chứng từ khác để tính ra số tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên.

    Do doanh nghiệp là công ty cổ phần có 70% vốn thuộc ngân sách Nhà nước nên hệ số chức vụ quản lý doanh nghiệp được tính như sau:

    Chức danh Hệ số lương Hệ số phụ cấp
    – Giám đốc

     

    – PGĐ – KTT

    – Trưởng phòng

    – Phó phòng

    4,98

     

    4,32

    0,30

     

    0,20

    4.1. Bảng tính hệ số lương, hệ số phụ cấp của công ty

    BẢNG CHẤM CÔNG PHÒNG KINH DOANH

    Tháng 11/2005

     

    STT Họ và tên Cấp bậc lương hoặc cấp bậc chức vụ Ngày trong tháng Cộng bảng lương sản phẩm Số công lương thời gian Sô công nghỉ việc hưởng 100% Số công nghỉ việc hưởng 100% Số công hưởng BH

     

    XH

    1 2 3 4 5 6 29 30 31
    1 Hồ Ngọc Chương (2,34  + 0,30) x x x x x x   x x     30      
    2 Nguyễn Hồng Phong (2,34 + 0,20) x x x x x x   x x     30      
    3 Nguyễn Ngọc Đức 2,34 x x x x x x   x x     30      
    4 Nguyễn Thị Hương 2,34 x x 0 x x x   x x     29      
    5 Đào Thanh Khoa 2,34 x x x x x x   x x     30      
    6 Phạm Quỳnh Hoa 2,34 x x x x x x   x x     30      
    7 Vũ Thị Hằng 1,80 0 x x x x x   0 x     28      
    8 Trương Thị Trang 1,80 x x x x x x   x x     30      
    9 Lê Thị Lan 1,80 x x x x x 0   x x     29      
    10 Trần Văn Lực 1,80 x x x x x x   x x     30      
    11 Đỗ Bích Thuỷ 1,80 x x x x x x   x x     30      
    12 Vũ Thị Yến 1,80 x x x x x x   x x     30      
    13 Vũ Thị Trang 2,34 x x 0 x x x   x x     29      
    14 Lê Thị Vân 2,34 x x x x x x   x x     30      
    15 Trần Thị Nga 2,34 x x x x 0 x   x x     29      
    16 Lê Ngọc Vân 1,80 x x x x x x   x x     30      
    17 Vũ Ngọc Lương 1,80 x 0 x x x x   x x     30      
    18 Phạm Văn Lực 1,80 x x x x x x   x x     29      
    19 Nguyễn Thị Lệ 1,80 x x x x x x   x x     30      

    4.2: Bảng chấm công bộ phận kinh doanh tháng 11

    Bộ phận: Quản lý doanh nghiệp

    BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG

    Tháng 11 năm 2005

    STT Họ và tên Chức vụ Lương chính Tổng số Tạm ứng kỳ I Các khoản khấu trừ 6% BHXH Tiền thưởng Kỳ II thực lĩnh
    SL Hệ số lương Lương cơ bản
    1 Đỗ Thị Thanh Minh 30 4,98 350.00 1.743.000 400.000 104.580 179.602 1.418.022
    2 Bùi Văn Long PGĐ 30 4,32 350.00 1.512.000 400.000 90.720 179.602 1.200.882
    3 Lê Đức Hùng PGĐ 30 4,32 350.00 1.512.000 400.000 90.720 179.602 1.200.882
    4 Nguyễn Thị Lý KTT 30 4,32 350.00 1.512.000 400.000 90.720 179.602 1.200.882
      Tổng   120   1.400.000 6.279.000 1.600.000 376.740 718.408 5.020.668

    4.3: Bảng thanh toán lương bộ phận QLDN tháng 11

    Bộ phận: Phòng kinh doanh

    BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG

    Tháng 11 năm 2005

    TT Họ và tên Chức vụ Lương chính Phụ cấp khác Tổng số Tạm ứng kỳ I Các khoản khấu trừ 6% BHXH Thưởng Kỳ II thực lĩnh
    SC Hệ số bậc Lương TT
    1 Hồ Ngọc Chương TP 30 2,34 350.000 0,30 924.000 300.000 55.440 132.338 700.898
    2 Nguyễn Hồng Phong PP 30 2,34 350.000 0,20 889.000 300.000 53.340 132.338 667.998
    3 Nguyễn Ngọc Đức NV 30 2,34 350.000   819.000 300.000 49.140 132.338 602.198
    4 Nguyễn Thị Hương NV 29 2,34 350.000   791.000 300.000 47.502 132.338 576.536
    5 Đào Thanh Khoa NV 30 2,34 350.000   819.000 300.000 49.140 132.338 602.198
    6 Phạm Quỳnh Hoa NV 30 2,34 350.000   819.000 300.000 49.140 132.338 602.198
    7 Vũ Thị Hằng NV 28 1,80 350.000   588.000 300.000 35.280 132.338 385.058
    8 Trương Thị Trang NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    9 Lê Thị Lan NV 29 1,80 350.000   609.000 300.000 36.540 132.338 404.798
    10 Trần Văn Lực NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    11 Đỗ Bích Thuỷ NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    12 Vũ Thị Yến NV 30 2,34 350.000   630.000 300.000 37.000 132.338 424.538
    13 Vũ Thị Trang NV 29 2,34 350.000   630.000 300.000 47.502 132.338 576.536
    14 Lê Thị Vân NV 30 2,34 350.000   791.700 300.000 49.140 132.338 602.198
    15 Trần Thị Nga NV 29 1,80 350.000   819.000 300.000 47.502 132.338 576.536
    16 Lê Ngọc Vân NV 30 1,80 350.000   791.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    17 Vũ Ngọc Lương NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 504.798
    18 Phạm Văn Lực NV 29 1,80 350.000   609.000 300.000 36.540 132.338 424.538
    19 Nguyễn Thị Lệ NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000      
      Tổng   563   6.650.000   14.309.400 5.700.000 783.006 2.514.428 10.340.822

    4.4: Bảng thanh toán lương bộ phận kinh doanh tháng 11

     

    BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG

    Tháng 11/2005

     

     

    Bộ phận Lương chính Lương BHXH Tổng số Tạm ứng kỳ I Số tiền KT 6% BHXH Thưởng Kỳ II thực lĩnh
    SC ST SC ST
    1. Bộ phận QLDN

     

    2. Bộ phận kinh doanh

    3. Bộ phận kỹ thuật

    4. Bộ phận kê toán

    120

     

    563

    325

    59

    6.279.000

     

    14.309.400

    12.560.000

    2.772.000

    0

     

    0

    0

    0

    0

     

    0

    0

    0

    6.279.000

     

    14.309.400

    12.560.000

    2.772.000

    1.600.000

     

    5.700.000

    4.370.000

    1.200.000

    376.740

     

    783.006

    753.600

    166.320

    718.408

     

    2.514.428

    1.796.020

    359.204

    5.020.668

     

    10.340.822

    9.232.420

    1.764.884

    Tổng   35.920.4000 0 0 35.920.400 12.870.000 2.079.666 5.388.060 26.358.794

    4.5: Bảng thanh  toán lương của công ty tháng 11 năm 2005

    5. Hàng tháng công ty có hai kỳ trả lương vào ngày 15 và ngày 30.

    – Kỳ I: Tạm ứng cho CNV đối với những người có tham gia lao động trong tháng.

    – Kỳ II: Sau khi tính lương và các khoản phải trả cho CNV trong tháng của doanh nghiệp. Kế toán sẽ trừ đi số tiền tạm ứng trước đây và thanh toán nốt số tiền còn lại mà CNV được lĩnh trong tháng đó.

    – Khi muốn tạm ứng người có trách nhiệm của các bộ phận sẽ lập 1 giấy đề nghị tạm ứng và gửi lên cho thủ trưởng đơn vị để xin xét duyệt. Trong giấy đề nghị tạm ứng phải ghi rõ số tiền tạm ứng, lý do tạm ứng. Sau đó giấy đề nghị này sẽ được chuyển cho kế toán trưởng và kế toán trưởng xem xét và ghi ý kiến đề nghị. Căn cứ vào quyết định của thủ trưởng và kế toán trưởng, kế toán thanh toán lập phiếu chi kèm giấy đề nghị tạm ứng, chuyển cho thủ quỹ làm thủ tục xuất quỹ.

     

    GIẤY ĐỀ NGHỊ TẠM ỨNG

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    Kính gửi: Ban giám đốc

    Tên tôi là: Hồ Ngọc Chương

    Địa chỉ: Trưởng phòng kinh doanh

    Đề nghị cho tạm ứng số tiền: 5.700.000đ

    (Viết bằng chữ): Năm triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn

    Lý do tạm ứng: Tạm ứng lương cho CNV

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    Thủ trưởng đơn vị

     

    (Ký, họ tên)

    Kế toán trưởng

     

    (Ký, họ tên)

    Thủ quỹ

     

    (Ký, họ tên)

    Người nhận

     

    (Ký, họ tên)

    5.1: Giấy đề nghị tạm ứng

    Nợ TK: 334

    Có TK111

    PHIẾU CHI

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    Họ tên người nhận: Hồ Ngọc Chương

    Địa chỉ: Trưởng phòng kinh doanh

    Lý do tạm ứng: Tạm ứng lương kỳ I cho CNV trong tháng

    Số tiền: 5.700.000đ

    (Viết bằng chữ): Năm triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn

    Kèm theo 02 chứng từ gốc

    Thủ trưởng đơn vị

     

    (Ký, họ tên)

    Kế toán trưởng

     

    (Ký, họ tên)

    Thủ quỹ

     

    (Ký, họ tên)

    Người nhận

     

    (Ký, họ tên)

    Đã nhận đủ số tiền (bằng chữ) Năm triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    5.2: Phiếu chi tạm ứng

    1. Hạch toán các khoản trích theo lương tại công ty
    2. Quỹ BHXH: Dùng để chi trả cho 1 người lao động trong thời gian nghỉ do ốm đau theo chế độ hiện hành. BHXH phải được tính là 20% trên tổng quỹ lương trong đó 15% tính vào chi phí kinh doanh của công ty. 5% do người lao động góp trừ vào lương công ty sẽ nộp hết 20% cho cơ quan bảo hiểm.

    Tháng 11 tổng quỹ lương của công ty là: 35.920.400đ

    Theo quy định công ty sẽ nộp BHXH với số tiền là:

    35.920.400 x 20% = 7.184.080đ

    Trong đó NV đóng góp trừ vào lương là:

    35.920.400 x 5% = 1.796.020đ

    Còn lại 15% công ty tính vào chi phí:

    7.184.080 – 1.796.020 = 5.388.060đ

    VD: Hồ Ngọc Chương thuộc bộ phận kinh doanh cuối tháng  kế toán tính ra số tiền lương là 924.000 vậy số tiền mà Chương phải nộp BHXH là:

    924.000 x 5% = 46.200đ

    Còn tiền BHXH mà công ty phải chịu vào chi phí là:

    924.000 x 15% = 138.600đ

    1. Quỹ BHYT: Dùng để chi trả cho người tham gia đóng góp trong thời gian khám chữa bệnh. BHYT được tính 3% trên tổng quỹ lương trong đó:

    – 2% tính vào chi phí của công ty

    – 1% tính vào lương của CNV

    Tháng 11 quỹ lương của công ty là 35.920.400đ. Theo qui định công ty sẽ nộp BHYT với số tiền: 35.920.400 x 5% = 1.077.612đ

    Trong đó: Nhân viên chịu trừ vào lương 1%

    35.920.400 x 1% = 359.204đ

    Còn lại 2% công ty tính vào chi phí:

    35.920.400 x 2% = 718.408 đ

    VD: Nhân viên Hồ Ngọc Chương với số lương là 924.000 thì số tiền mà Chương phải nộp BHYT là: 924.000 x1% = 9.240đ

    Còn 2% công ty tính vào chi phí:

    924.000 x 2% = 18.480đ

    1. KPCĐ: Dùng để duy trì hoạt động của công đoàn doanh nghiệp được tính 2% trên tổng quỹ lương, 1% nộp cho công đoàn cấp trên, 1% giữ lại tại doanh nghiệp.2% này được tính hết vào chi phí.

    Quỹ lương tháng 11 của công ty là: 35.920.400đ thì 2% KPCĐ được công ty tính vào chi phí là: 35.920.400đ x 2% = 718.408đ

    Trong đó: 1% mà doanh nghiệp phải nộp cấp trên là:

    35.920.400 x 1% = 359.204đ

    1% giữ lại tại doanh nghiệp là:

    35.920.400 x 1% = 359.204đ

    Như vậy: Hai khoản BHXH, BHYT phải thu của nhân viên được tính vào là 6% trừ luôn vào lương của người lao động khi trả lương.

    Số tiền mà doanh nghiệp sẽ trừ vào lương của nhân viên là:

    35.920.400 x 6% = 2.155.224đ

    1. Cuối tháng kế toán tính ra số tiền lương phải trả cho các bộ phận hạch toán như sau:

    * Ngày 15/11 tạm ứng lương kỳ I cho CNV:

    Nợ TK 334

    Có TK 111           11.870.000

    * Ngày 28/11 tính ra số tiền lương phải trả cho nhân viên QLDN (bộ phận kỹ thuật + bộ phận kế toán) và bộ phận bán hàng

    Nợ TK 641: 14.309.400đ

    Nợ TK 642: 21.611.000đ

    Có TK 334: 35.920.400đ

    * Ngày 28/11 tính ra các khoản phải trích theo lương

    Nợ TK 641: 14.309.400 x 19% = 2.718.786đ

    Nợ TK 642: 21.611.000 x 19% = 4.106.090đ

    Nợ TK 334: 35.920.400 x 6% = 2.155.224đ

    Có TK 338: 35.920.400 x 25% = 8.980.100đ

    Có TK 3382: 35.920.400 x 2% = 718.408

    Có TK 3383:35.920.400 x 20% = 7.184.080đ

    Có TK 3384: 35.920.400 x 3% = 1.077.612đ

    * Tính ra số tiền từ quỹ khen thưởng, tiền trợ cấp BHXH từ qũy BHXH không phản ánh vào chi phí:

    Nợ TK 431: 5.388.060đ

    Nợ TK 3383: 2.079.666đ

    Có TK 334:7.467.726đ

    * Khi thanh toán lương cho công nhân  viên (ngày 30/11/2005)

    Nợ TK 334

    Có TK 111           26.358.794

    * Khi nộp KPCĐ (1%), BHXH (20%), BHYT (3%) cho cơ quan quản lý quỹ lương bằng chuyển khoản.

    Nợ TK 338:  x 24 = 8.620.896đ

    Nợ TK 3382: 359.204đ

    Nợ TK 3383: 7.184.080đ

    Nợ TK 3384: 1.077.612đ

    Có TK 111: 8.620.896đ

     

     

    BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH

    Tháng 11 năm 2005

    STT      TK ghi có

     

    TK ghi nợ

    TK 334 TK 338 Tổng 338 Tổng
    Lương chính Phụ cấp Khác Cộng 3382 3383 3384
    1 TK 641 14.309.400     14.309.400 286.188 2.146.410 286.188 2.718.786 17.028.186
    2 TK 642 21.611.000     21.611.000 432.220 3.241.650 432.220 4.106.090 25.717.090
    3 TK 338     2.079.666           2.079.600
    4 TK 431     5.388.060           5.388.060
    5 TK 334           1.796.020 359.204 2.155.224 2.155.224
        35.920.400   7.467.726 35.920.400 718.408 7.184.080 1.077.612 8.980.100 52.368.160

    6.1: Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội tháng 11

    Từ bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương cùng bảng thanh toán tiền lương, kế toán lập một số chứng từ ghi sổ. Cuối tháng các chứng từ này sẽ được tổng hợp vào sổ đăng ký chứng từ.

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 01

    Ngày 15/11/2005

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Tạm ứng lương kỳ I cho CNV 334 111 12.870.000
    Tổng cộng x x 12.870.000

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.2: Chứng từ ghi sổ số 01

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 02

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Trích TL phải trả trong tháng

     

    – Tiền lương NV QLDN

    – Tiền lương NV BH

    642

     

    641

    334 21.611.000

     

    14.309.400

    Tổng cộng     35.920.400

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.3. Chứng từ ghi sổ số 02

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 03

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Tính ra các khoản trích theo lương

     

    – Tính vào chi phí bán hàng

    – Tính vào chi phí QLDN

    – Tính vào lương

    641

     

    642

    334

    338 2.718.786

     

    4.106.090

    2.155.224

    Tổng cộng x x 8.980.100

    Kèm theo 05 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.4. Chứng từ ghi sổ số 03

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 04

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    BHXH phải trả CNV trong tháng 334 338 2.079.666
    Tổng cộng x x 2.079.666

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.5: Chứng từ ghi sổ số 04

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 05

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Khấu trừ lương khoán BHXH 334 338 2.155.224
    Tổng cộng x x 2.155.224

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.6: Chứng từ ghi sổ số 05

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 06

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Tính ra số tiền thưởng phải trả CNV 431 334 5.388.060
    Tổng cộng x x 5.388.060

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.7: Chứng từ ghi sổ số 06

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 07

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Thanh toán lương cho công nhân viên 334 111 26.358.794
    Tổng cộng x x 26.358.794

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.8: Chứng từ ghi sổ số 07

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 08

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Nộp KPCĐ, BHXH, BHYT cho cơ quan quản lý 338 112 8.620.896
    Tổng cộng x x 8.620.896

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.8: Chứng từ ghi sổ số 08

    – Cuối tháng tổng hợp các chứng từ vào sổ đăng ký chứng từ

    SỔ ĐĂNG KÝ CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Tháng 11/2005

    Chứng từ ghi sổ Số tiền Chứng từ ghi sổ Số tiền
    SH NT SH NT
    01 15/11 12.870.000 05 30/11 2.155.224
    02 28/11 35.920.000 06 30/11 5.388.060
    03 28/11 8.980.100 07 30/11 26.358.794
    04 28/11 2.079.600 08 30/11 8.620.896

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Kế toán trưởng                                        Thủ trưởng đơn vị

    (Ký, họ tên)                                                  (Ký, họ tên)

    6.9: Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    SỔ CÁI

    Tài khoản 334

    Đơn vị tính: đồng

    Chứng từ ghi sổ Diễn giải Số hiệu TK Số tiền
    SH NT Nợ
    01 15/11 Số dư đầu tháng

     

    Số phát sinh

    Tạm ứng lương kỳ I

    111 12.870.000  
    02 28/11 TL phải trả CNV

     

    – TL trả NVQLDN

    – TL trả VNBH

    642

     

    641

      21.611.000

     

    14.309.400

    04 28/11 BHXH phải trả CNV trong tháng 338   2.079.666
    05 30/11 Khấu trừ lương khoản BHXH 3383 2.155.224  
    06 30/11 Tiền thưởng phải trả 431   5.388.060
    07 30/11 Thanh toán lương cho CNV 111 26.155.224  
        Số phát sinh

     

    Dư cuối tháng

      41.180.448 43.388.126

     

    2.207.678

    6.11: Sổ cái tài khoản 334

    SỔ CÁI

    Tài khoản 338

    Đơn vị tính: đồng

    Chứng từ ghi sổ Diễn giải Số hiệu TK Số tiền
    SH NT Nợ
        Số dư đầu tháng      
    03 28/11 Trích BHXH, BHYT, KPCĐ

     

    – Tính vào CPBH

    – Tính vào CPQLDN

    – Trừ vào lương

    641

     

    642

    334

      2.718.786

     

    4.106.090

    2.155.224

    04 28/11 BHXH phải trả trong tháng 334 2.079.600  
    08 30/11 Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ 111 8.620.896  
        Cộng phát sinh

     

    Dư cuối tháng

      10.700.496

     

    1.720.396

    8.980.100

    6.10. Sổ cái tài khoản 338
    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á

    I. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY THƯƠNG MẠI THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á.

    1. Nhận xét chung về công tác kế toán của công ty

    Trong mỗi một công ty tư nhân, liên doanh hay thuộc ngân sách Nhà nước thì bộ phận kế toán là một bộ phận không thể thiếu. Hệ thống sổ sách của công ty tương đối hoàn chỉnh, kế toán đã sử dụng hình thức trả lương rất phù hợp đối với cán bộ công nhân viên trong công ty đặc biệt ở phòng kế toán được bố trí rất khoa học, hợp lý và được phân công theo từng phần hành cụ thể rõ ràng nên công việc không bị chồng chéo cùng với đội ngũ cán bộ đều có trình độ nên đã đóng góp một phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh doanh của công ty.

    2. Nhận xét về công tác kế toán lao động tiền lương trích BHXH, BHYT, KPCĐ tại công ty

    Hạch toán tiền lương là một hệ thống thông tin kiểm tra các hoạt động của tài sản và các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối trao đổi và tiêu dùng.

    Kế toán tiền lương ngày càng trở nên cấp thiết và quan trọng về tiền lương là giai đoạn gắn liền với lợi ích kinh tế của người lao động và tổ chức kinh tế. Phương pháp hạch toán chỉ được giải quyết khi nó xuất phát từ  người lao động vfa tổ chức kinh tế. Trong công ty việc trả lương công bằng luôn luôn được đặt lên hàng đầu, trả lương phải hợp lý với tình hình kinh doanh của công ty.

    Để công tác kế toán tiền lương các khoản trích theo lương của người lao động thực sự phát huy được vai trò của nó và là những công cụ hữu hiệu của công tác quản lý thì vấn đề đặt ra cho những cán bộ làm công tác kế toán lao động tiền lương và các nhà quản lý, doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu các chế độ chính của Nhà nước về công tác tiền lương và các khoản trích theo lương để áp dụng vào công ty mình một cách khoa học và hợp lý, phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty đồng thời phải luôn luôn cải tiến để nâng cao công tác quản lý lương và các khoản trích theo lương. Thường xuyên kiểm tra xem xét để rút  ra những hình thức và phương pháp trả lương một cách khoa học, công bằng với người lao động để làm sao đồng lương phải thực sự là thước đô giá trị lao động.

    Cùng với việc nâng cao chất lượng lao động công ty phải có lực lượng lao động với một cơ cấu hợp lý, trình độ tay nghề phải được qua đào tạo, có sức khoẻ và bố trí lao động phù hợp với khả năng để họ phát huy, tạo thuận lợi cho việc hoàn thành kế hoạch đồng thời công ty phải quản lý và sử dụng tốt thời gian lao động nhằm nâng cao thu nhập cho công ty. Ngoài ra công ty phải không ngừng nâng cao hoàn thiện trang thiết bị TSCĐ của công ty để phát huy khả năng lao động nhằm nâng cao thu nhập cho công ty và cải thiện đời sống cho người lao động thông qua số tiền lương mà họ được hưởng.

    Trong công ty ngoài tiền lương được hưởng theo số lượng và chất lượng lao động đã hao phí. Người lao động còn được hưởng, thu nhập từ các quỹ BHXH, khi ốm đau, tai nạn, thai sản mất sức…

    Công ty đã sử dụng qũy KPCĐ tại công ty rất hợp lý. Bộ máy quản lý của công ty rất quan tâm đến tình hình lao động cũng như cuộc sống của công nhân viên. Chính điều này đã làm cho CNV trong công ty  cảm thấy yên tâm về công việc cũng như công ty mà mình đã chọn để cống hiến sức lao động của mình sao cho đúng đắn.

    3. Ưu điểm

    Với hình thức trả lương theo thời gian với mức lương ổn định và tăng dần đã làm cho CBCNV thực sự tin tưởng và gắn bó với công ty cùng với điều hành của ban lãnh đạo cũng như sự lao động hiệu quả của phòng kế toán luôn đảm bảo công bằng hợp lý chính xác đã làm cho CNV yên tâm và hăng say trong công việc, do vậy công ty đã ngày càng phát triển hơn, đời sống CBCNV ngày càng được đảm bảo và nâng cao.

    4. Nhược điểm

    Do sự cập nhật của các chứng từ còn chậm hơn nữa sự giám sát, quản lý của các văn phòng vẫn còn buông lỏng do vậy các chứng từ về tiền lương, BHXH… đôi khi cũng chưa thật chính xác, chưa thập hợp lý. Do vậy công ty cần phải đưa ra chính sách quản lý thật đúng đắn, chặt chẽ để công tác kế toán hoạt động có hiệu quả hơn, chính xác hơn.

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY

    Để công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của công ty thực sự phát huy hết vai trò của nó là công cụ hữu hiệu quả công tác quản lý, để từ đó nâng cao mức sống cho người lao động và để công ty ngày một phát triển thì công ty Thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á nói chung và công tác kế toán nói riêng phải không ngừng nghiên cứu để hoàn thiện hơn hình thức trả lương hiện nay của công ty để quản lý tốt lao động và nâng cao hiệu quả lao động.

    Phải quan tâm đến đời sống cán bộ CNV hơn nữa để tìm ra phương thức trả lương phù hợp với sức lao động mà họ đã bỏ ra.

    Để đáp ứng kịp thời thông tin nhanh và chính xác phù hợp với tình hình kinh doanh của công ty, xin đề nghị ban giám đốc và phòng kế toán quản lý tốt các hình thức trả lương hơn nữa.

    – Do công ty áp dụng hình thức trả lương là thời gian nên việc tính ra lương của công nhân viên vẫn chưa thiết thực.

    – Ngoài việc trả lương theo thời gian công ty nên áp dụng thêm hình thức trả lương theo sản phẩm, có như vậy thì việc tính toán lương của công nhân viên sẽ thực tế hơn.

    – Đối với bộ phận kỹ thuật và bộ phận kinh doanh nên áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, vì có như vậy công nhân viên mới tích cực tham gia, hoạt động kinh doanh tiêu thụ được nhiều hàng hoá giúp cho lợi nhuận của công ty tăng cao đồng thời việc hạch toán lương cũng cụ thể hơn, thiết thực hơn đối với năng lực của từng người.

    KẾT LUẬN

    Công tác kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương được tổ chức tốt sẽ góp phần quản lý chặt chẽ, thúc đẩy việc chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chế độ lao động, đảm bảo tính toán phân bổ đúng đắn, chính xác các khoản tiền lương và các khoản trích theo lương nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm tăng nhu thập cho người lao động và tăng lợi nhuận cho Công ty để công ty ngày càng lớn mạnh hơn. Để góp phần giúp kế toán thực hiện tốt chức năng quản lý lao động tiền lương thì kế toán cần phải biết kết hợp mô hình hạch toán dựa trên cơ sở kết hợp với thực trạng của công ty để đưa ra phương thức quản lý tốt nhất.

    Đề tài kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương  của người lao động, với những vấn đề quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á sẽ đóng góp một phần vào việc giải quyết vấn đề đảm bảo công bằng trong việc trả lương của công ty cũng như ngoài công ty, ở nơi sử dụng lao động làm việc, giúp công ty tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

    Trên cơ sở lý luận trên xuất phát từ hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ kỹ thuật và đặc biệt quá trình sản xuất kinh doanh của công ty.

    Đề tài đã đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương phù hợp với điều kiện cụ thể của công ty. Góp phần nâng cao hiệuq ảu sử dụng lao động và đưa phương pháp quản lý đạt kết quả cao hơn.

    Qua thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế về công tác quản lý kế toán đối với bộ phận kế toán nói chung và tiền lương nói riêng ở công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á em thấy. Qua 1 năm xây dựng và phát triển đến nay đã có một bộ phận quản lý khá ổn định, quy mô kinh doanh vững chắc nhưng với thời đại ngày nay nền kinh tế nước ta đã và đang phát triển với một tốc độ rất nhanh chính vì thế mà công ty bằng mọi cách phải có biện pháp cố gắng hoà nhập vào chế độ kế toán mới, để hoà nhập bước đi của mình với nhịp độ kinh tế phát triển chung của đất nước.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Giáo trình Lý thuyết Hạch toán kế toán – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do Tiến Sỹ Nguyễn Thị Đông chủ biên – Nhà xuất bản Tài chính Tháng 11/1999.
    2. Giáo tình Kế toán Công trong đơn vị hành chính sự nghiệp – Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân do PGS – Tiến sỹ Nguyễn Thị Đông chủ biên – Nhà Xuất bản Tài chính T5/2003
    3. Giáo trình Kế toán Doanh nghiệp sản xuất – Trường Đại học Tài chính kế toán chủ tiên Tiến Sỹ Nguyễn Đình Đồ – Nhà xuất bản Tài chính Tháng 12/2000.
    4. Giáo trình Kế toán tài chính trường Đại học Kinh tế Quốc dân
    5. Giáo trình Tổ chức hạch toán kế toán trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

    Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

    Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

    A. LỜI MỞ ĐẦU

    Tín dụng cho người nghèo là một trong những chính sách quan trọng đối với người nghèo trong chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001- 2010. Viêt Nam là một nước đi lên từ sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển nên mục tiêu xóa đói giảm nghèo được Đảng và Nhà nước ta coi là mục tiêu hàng đầu cần đạt được.

    Đời sống bộ phận người dân ở nông thôn những năm gần đây đã có nhiều cải thiện, sinh hoạt của người lao động đã bớt nhiều khó khăn do mỗi hộ nông dân đã được tham gia làm kinh tế từ nhiều nguồn vốn tài trợ khác nhau, trong đó có nguồn vốn của Ngân hàng chính sách xã hội việt nam(NHCSXHVN). Tìên thân của NHCSXHVN là Ngân hàng phục vụ người nghèo, là ngân hàng của người nghèo nên nó ra đời xuất phát từ nhu cầu bức thiết của người lao động. Việc giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo trong nông nghiệp và nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước và là một yêu cầu bức thiết không chỉ mang tính xã hội, tính chất nhân đạo giữa con người với con người mà nó còn mang tính chất kinh tế. Bởi lẽ nền kinh tế khi vẫn còn tồn tại một tỷ lệ không nhỏ nông dân nghèo sẽ kéo theo rất nhiều vấn đề kinh tế xã hội khác, nền kinh tế khó có thể phát triển với tốc độ cao và ổn định.

    Việc tiếp nhận được nguồn vốn hỗ trợ từ hệ thống ngân hàng chính sách là có ý nghĩa to lớn đối với những hộ nghèo đang cần vốn để sản xuất kinh doanh, thay vì phải chấp nhận những nguồn vốn vay đắt đỏ từ những ngân hàng thương mại trong cả nước, khó khăn trong những đIều kiện về tín dụng. Từ khi ngân hàng chính sách xã hội ra đời, họ đã có thể được tiếp cận với một nguồn vốn rẻ hơn, những đIều kiện cho vay dễ dàng hơn, góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho người nghèo. Có thể tìm hiểu và nghiên cứu cụ thể về ngân hàng chính sách xã hội và những họat động của nó, vì thế cho nên chúng em quyết định lựa chọn Ngân hàng chính sách xã hội

    1

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Việt Nam làm đề tài nghiên cứu và hy vọng qua đề tài này sẽ có thể giúp chúng em hiểu thêm về hoạt động của ngân hàng chính sách và cách tiếp cận nguồn vốn ưu đãi này. Đề tài được hoàn thành có thể có nhều thiếu xót, Chúng em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô để hoàn thiện thêm cho nội dung của để tài. chúng em xin chân thành cảm ơn cô giáo-Thạc sĩ Lê hương Lan-giảng viên bộ môn tài chính quốc tế-khoa Ngân hàng tài chính đã nhiệt tình giúp đỡ chúng em xây dựng đề cương và hoàn thành đề tài này.

    2

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    B. NỘI DUNG

    I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN.

    1.Sự ra đời của NHCSXHVN.

    Ngân hàng chính sách xã hội viết tắt là NHCSXH, được thành lập theo quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày mồng 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ Tướng chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo.

    Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập năm 1995 và chính thức đI vào hoạt động năm 1996, do hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam làm đại lý giải ngân, với tổng số vốn cho vay hàng ngàn tỉ đồng tới các hộ nghèo ở nông thôn. việc tồn tại bộ phận nông dân nghèo ở nông thôn đã thúc đẩy việc ra đời và hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo. Có thể tổng kết một số nguyên nhân cơ bản tạo nên bộ phận nông dân nghèo thiếu vốn như sau:

    • thiếu vốn đầu tư vào những ngành nghề cây trồng, vật nuôI có năng suất cao, có giá trị hàng hóa nông sản lớn. Công cụ kĩ thuật canh tác và sản xuất lạc hậu, trình độ sản xuất kinh doanh hạn chế, không có điều kiện, không có khả năng tiếp thụ, tiếp cận khoa học tiên tiến. Từ đó năng suất lao động và chất lượng hàng hóa thấp, hạn chế khả năng cạnh tranh, khả năng tiêu thụ hàng hóa, hạn chế khả năng tích lũy để tiếp tục qúa trình táI sản xuất mở rộng và cảI thiện đời sống cho người nông dân.
    • cơ chế sản xuất công nghiệp và ngành nghề ở nông thôn chưa hợp lý, chưa phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. đối với những vùng thuần nông, thu nhập hộ gia đình còn rất hạn chế. ở những vùng sản xuất phụ thu nhập có khá hơn. Mặc dù trong thời gian qua đã thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôI, đa dạng ngành nghề ở nông thôn để khai thác có hiệu quả tiêm năng, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của nền kinh tế tự phát. Do đó một số sản phẩm làm ra không có thị trường tiêu thụ. Nhiều hộ gia đình rơI vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”.

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    • nguyên nhân của xã hội như tàn tật, thiếu sức lao động, một số tệ nạn xã hội ngày càng phát sinh như cờ bạc, rượu chè…ảnh hưởng đến sản xuất, thu nhập của một số hộ gia đình. Đặc biệt là nạn cho vay nặng lãI với lãI suất cắt cổ đã làm cho những người thiếu vốn đI vào con đường bế tắc… Xuất phát từ những nguyên nhân lớn trên đây cho thấy việc cho ra đời một ngân hàng dành cho các đối tượng trên là hoàn toàn cần thiết và kip

    thời.

    Ngân hàng phụ vụ người nghèo hoạt động được 6 năm, đến đầu năm 2003 Ngân hàng chính sách được thành lập, thực hiện nhiệm vụ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

    Việc xây dựng Ngân hàng chính sách xã hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục là hộ nghèo, học sinh, sinh viên, có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách cần vay vốn để giảI quyết việc làm, đi lao động có thời hạn ở nước ngoàI và các tổ chức cá nhân hộ sản xuất kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa (chương trình 135).

    Ngân hàng chính sách được thành lập đã tạo ra một kênh tín dụng riêng, là sự tách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách ra khỏi hoạt động của ngân hàng thương mại; thực hiện đổi mới, cơ cấu lại tổ chức và hoạt động hệ thống ngân hàng trong quá trình đổi mới- hội nhập quốc tế trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng hiện nay.

    2. Cơ cấu tổ chức.

    Từ khi mới thành lập NHCSXHVN đã thực hiện mô hình cơ cấu tổ chức quản lý như sau:

    4

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Tính đến 31/6/2004, toàn hệ thống NHCSXHVN đã hình thành Hội đồng quản trị, Ban điều hành, 64 chi nhánh cấp tỉnh, 593 phòng giao dịch cấp huyện trực thuộc tỉnh và sở giao dịch của Ngân hàng chính sách trung ương; Bổ nhiệm hàng trăm cán bộ lãnh đạo từ cấp phòng trở lên, tiếp nhận và tuyển dụng gần 5.000 CBNV nghiên cứu soạn thảo hàng trăm văn bản về cơ chế quản lý điều hành, cơ chế nghiệp vụ, tổ chức 5 đợt tập huấn cho trên 2.000 cán bộ lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ, xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện làm ổn định cho toàn hệ thống.

    II.HOẠT ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG PHỤC VỤ CỦA NHCSXH :

    1. Những họat động chủ yếu : NHCSXH thực hiện các hoạt động sau:

     

    • Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức tầng lớp dân cư, bao gồm: tiền gửi có kì hạn , không kì hạn.Tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo.
    • Phát hành trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác, vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, vay tiết kiệm bưu điện. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, vay NHNN

    5

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    • Được nhận các nguồn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân, tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính tín dụng và các tổ chức chính trị xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.
    • Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước.
    • NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và than gia hệ thống liên NH trong nước.
    • NHCSXH được thực hiện các dịch vụ về thanh toán và ngân quỹ :
    • Cung ứng các phương tiện thanh toán
    • Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước
    • Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt
    • Các dịch vụ khác theo quy định của Thống đốc NHNN
    • Cho vay ngắn hạn trung hạn và daì hạn phục vụ cho sản xuất,kinh doanh tạo việc làm cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội
    • Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức Quốc tế, Quốc gia, cá nhân trong nước, ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác.

    2.                 Về đối tượng phục vụ:

    NHCSXH phục vụ các đối tượng sau:

    • Hộ nghèo
    • Học sinh , sinh viên có hoàn cảnh khó khăn
    • Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm theo Nghị quyết

    120/HĐBT

    • Các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
    • Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất , kinh doanh thuộc hải đảo , thuộc khu vực II, III miền núi và thuộc chương trình phát triển

    6

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    kinh tế –xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi , vùng sâu , vùng xa

    • Các đối tượng khác khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ .

    III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHCSXH QUA CÁC NĂM:

    1.                 Những kết quả đạt được của NHCSXH qua qúa trình hoạt động từ khi thành lập cho đến nay:

     

    • Về các hoạt động nghiệp vụ:

    Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn ưu tiên quan tâm đến vấn đề xoá đói giảm nghèo. Vì vậy Chính phủ đã hình thành một chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo, thực hiện xã hội hoá, đa dạng hoá các kênh huy động vốn và hỗ trợ mọi mặt cho các hộ nghèo.Từ cuối năm 1995, Chính phủ đã quyết định thành lập riêng một định chế tài chính để hỗ trợ vốn tín dụng cho người nghèo , đó là Ngân hang phục vụ người nghèo Việt nam , có mạng lưới chi nhánh ở tất cả 64 tỉnh thành phố trong cả nước .Từ đầu năm 2003 thành lập và đưa vào hoạt động Ngân hàng chính sách xã hội , thực hiện chức năng của Ngân hàng phục vụ người nghèo trước đó , tiếp nhận chương trình cho sinh viên vay vốn học tập từ Ngân hàng Công thương Việt Nam chuyển sang , tiếp nhận một số chương trình cho vay giải quyết việc làm từ Kho bạc Nhà nước chuyển sang , triển khai cho vay vốn đi xuất khẩu lao động . NHCSXH ra đời là một hệ quả mang tính tất yếu của quá trình cải cách theo hướng hiện đại hoá ngành ngân hàng nhằm hướng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế Việt Nam nói nói chung cũng như của ngành ngân hàng nói riêng.Do đó có thể nói cho đến nay Việt nam đã đạt được những tiến bộ lớn, những kết quả quan trọng về xoá đói giảm nghèo , được nhiều tổ chức quốc tế như :UNDP,ADB, IMF…đánh giá cao. tiếp tục triển khai nhiều dự án mới tài trợ cho lĩnh vực này.

    7

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Từ khi thành lập đến nay hoạt động huy động vốn và cho vay vốn của định chế tài chính phục vụ cho người nghèo và các đối tượng chính sách trong các năm được thể hiện qua bảng số liệu sau:

    Huy động và cho vay vốn của Ngân hàng người nghèo và Ngân hàng chính sách xã hội giai đoạn 1996-2003 (Đơn vị :Tỷ đồng )

    Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
                     
    1.Tổng lượng 1956 2340 3421 4086 4746 267 6714 8400
                     
    Vốn điều lệ 500 500 700 700 700 1015 1015 2200
                     
    Vay NHNN 600 600 900 900 900 940 1031 1031
                     
    Vay NHTM 432 796 1282 2103 2183 3696 4022 300
                     
    Vay nước ngoài 221 221 221 221 221 151 154 154
                     
    Nhận vốn DVUT 183 199 289 349 909 413 443 443
                     
    Vốn  huy  động 20 24 29 34 54 52 49 4072
    khác                
                     
    2.Cho vay                
                     
    DSCV trong năm 1608 1094 1797 2001 1554 3244 2901 3720
                     
    DSTN trong năm 328 606 954 1204 1038 1350 1753 1550
                     
    Dư nợ cuối năm 1769 2257 3100 3897 4412 4704 6194 8070
                     
    % nợ quá hạn 0,7 1,8 1,44 1,49 1,69 1,7 1,73 2
                     
    Số hộ dư nợ 1282 1606 2060 2335 2464 2776 2760 3000
                     

    (Nguồn :Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

    Từ bảng số liệu trên ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

    • Tổng nguồn vốn của Ngân hàng đến ngày 31/12/2000 đạt 4746 tỷ đồng , tăng 660 tỷ đồng (tốc độ tăng trưởng 13,9%) so với năm 1999. Đến ngày 31/12/2003 ước tính sẽ là 8400 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2002, cụ thể như sau :

    + Vốn điều lệ :Năm 2000 là 700 tỷ đồng chiếm 14% tổng nguồn vốn

    • không tăng so với năm 1999 , năm 2003 là 2200 tỷ đồng, tăng 116% so

    8

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    với năm 2002 do được ngân sách Nhà nước bổ sung khi thành lập NHCSXH

    • Vốn vay NHNN: năm 2000 là 900 tỷ đồng, trong đó vay trung hạn 600 tỷ đồng và vay ngắn hạn 300 tỷ đồng, không tăng so với năm 1999.Năm 2003 là 1031, không tăng so với năm 2002.
    • Vốn vay các NHTM NN: Năm 2000 là 2183 tỷ đồng chiếm 46% trong nguồn vốn, đến năm 2002 là 4022 tỷ đồng trong đó chủ yếu là tăng số dư tiền vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

    (NHNN&PTNT VN). Cụ thể: đến 31/12/2000 số dư nợ vay NHNN&PTNT VN là 1972 tỷ đồng, Ngân hàng Công thương Việt Nam là

    • tỷ đồng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 300 tỷ đồng. Nguồn vốn vay các NHTM là chủ yếu, chiếm 58% tổng nguồn vốn và toàn bộ là vốn vay ngắn hạn (thời hạn tối đa là 12 tháng ). Đến năm 2003, nguồn vay từ các NHTM chỉ còn 300 tỷ đồng do NHCSXH sử dụng nguồn vốn tiền gửi tại NHCSXH của các TCTD nhà nước để thanh toán các khoản nợ vay các

    NHTMNN.

    • Vốn vay nước ngoài năm 2000 là 6,1 triệu USD (tương đương 88 tỷ đồng).Đây là khoản vay trong Hiệp định vay 10 triệu USD của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ thế giới (OPEC) mà ngân hàng Phục vụ người nghèo trước đây đã kí Hiệp định vay vốn phụ với Bộ Tài chính từ tháng 8/1999 nhận vốn vay tháng 9/2000, tăng 100%, đến năm 2003 là 154 tỷ đồng không tăng so với năm 2002.
    • Vốn nhận dịch vụ từ một số tổ chức quốc tế để thực hiện một số dự án :51 tỷ đồng trong đó chủ yếu là dự án IFAD (Tuyên Quang ) 49 tỷ đồng , tăng 21,4%.
    • Nguồn vốn huy động từ cộng đồng người nghèothông qua các dự án: 36 tỷ đồng, tăng 5,8%.
    • Nguồn vốn từ ngân sách địa phương chuyển sang NHNg để cho vay hộ nghèo: 338 tỷ đồng, chiếm 6,7% tổng nguồn vốn, tăng 10%, điển

    9

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    hình như các tỉnh: Nghệ An 18,5 tỷ đồng, Hà Tây 17 tỷ đồng, Đắc Lắc 14,8 tỷ đồng, Khánh Hoà 13,7 tỷ đồng, Quảng Trị 8 tỷ, Lạng Sơn 10,9 tỷ, Hải Phòng 10,7 tỷ đồng .

    • Về diễn biến kết quả cho vay vốn tới các hộ nghèo trong cả nước các năm qua như sau:
    • Doanh số cho vay trong năm 2000 là 1554 tỷ đồng, trong đó doanh số cho vay quý IV là 724 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 46,5% doanh số cho vay cả năm, doanh số cho vay năm 2003 ước đạt 3720 tỷ đồ Doanh số thu nợ đạt năm 2000 là 1038 tỷ đồng, trong đó doanh số thu nợ quý IV là 452 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 43,5% doanh số thu nợ cả năm, doanh số thu nợ năm 2003 là 1850 tỷ đồng. Đến 31/12/2000 tổng dư nợ cho vay hộ nghèo đạt 4412 tỷ đồng, tăng 515 tỷ đồng (tăng 13,2%) so với năm 1999, trong đó quý IV tăng 326 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 63,3% trong tổng số tăng dư nợ cả năm. Hiện có gần 3 triệu hộ thuộc 208.000 tổ vay vốn dư nợ NHCSXH. Dư nợ bình quân một hộ là 1.880.000 đồng tăng so với năm đầu tiên hoạt động (1996) là 500000 đồng/hộ và tăng so với năm 1999 là 200000đồng/hộ.
    • Dư nợ phân theo thời hạn cho vay như sau:

    Dư nợ cho vay ngắn hạn là 1180 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 2,25% tổng dư nợ.

    Dư nợ cho vay trung hạn là 3519 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 74,8% tổng dư nợ. Như vậy trong tổng dư nợ, tỷ trọng cho vay trung hạn chiếm gần 75% trong khi đó nguồn vốn trung hạn chỉ  chiếm 29% tổng nguồn vốn. Đây là khó khăn của NHCSXH trong công tác kế hoạch hoá và cân đối nguồn vốn cho vay hộ nghèo. Ước tính đến 31/12/2003 tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân chung cho toàn quốc là: vùng khu 4 cũ: 26,1%, duyên hải miền trung 22,6%, đồng bằng sông Hồng: 20,9%, trung du miền núi phía Bắc: 20,6%. Vùng có

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    tốc độ tăng trưởng dư nợ thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ 12,8%, vùng Tây Nguyên 12,3%.

    Năm 2000 vốn tín dụng Ngân hàng phục vụ người nghèo (trước đây) tập trung ưu tiên cho các tỉnh có nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. So với năm 1999 dư nợ ở những vùng này tăng hơn nhiều và tăng hơn tốc độ chung của toàn quốc, cụ thể:

    • Dư nợ cho vay hộ nghèo vùng 3 là 550 tỷ đồng, tăng 123% (+28,8%) trong đó dư nợ các xã đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 CP của Chính phủ là 390 tỷ đồng, tăng 166 tỷ đồng (974%).
    • Dư nợ cho vay hộ nghèo dân tộc thiểu số là 780 tỷ đồng, tăng 177 tỷ đồng (+29%).
    • Dư nợ phân theo mức cho vay: trên 3 triệu đến 5 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 1,9% tổng dư nợ, tập trung ở vùng Đông Nam Bộ, vùng duyên hải miền trung. Đến nay có 30/67 chi nhánh có dư nợ loại này, trong đó duy nhất chỉ có Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Bình Phước có dư nợ loại này đạt 14% còn các chi nhánh khác đạt mức từ 4-7% tổng dư nợ là 4.615 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 98,1% tổng dư nợ.

    Dư nợ phân theo ngành kinh tế: vốn vay được hộ nghèo đầu tư vào ngành nông nghiệp là chủ yếu, chiếm 88% còn các ngành khác chiếm tỷ trọng nhỏ như: ngư nghiệp 2,4%, tiểu thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ 3,2%, ngành nghề khác 6,4%.

    Chất lượng tín dụng và kết quả xử lý nợ bị rủi ro bất khả kháng: đến cuối năm 2000 dư nợ quá hạn là 80 tỷ đồng, chiếm 1,7% tổng dư nợ, tăng 0,21% so với năm 1999. Nếu tính 102 tỉ đồng được khoanh và 117 tỷ đồng nợ bị rủi ro bất khả kháng xảy ra năm 1999 đang chờ Chính phủ xử lý thì tổng dư nợ quá hạn là 299 tỷ đồng, chiếm 6,4% tổng dư nợ. Nợ quá hạn đến 180 ngày: 47 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 59%. Nợ quá hạn từ 180 ngàyđến 360 ngày: 25 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 31%. Đến 31/12/2003 tỷ lệ nợ quá hạn ước là 2% so với tỉ lệ nợ quá hạn năm 2002 là 1,7%. Như vậy có thể

    11

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nói bên cạnh các khoản vốn tín dụng cho vay các hộ nghèo và đối tượng chinh sách thông qua các tổ chức tài chính vi mô như: hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, các chương trình quốc tế của các tổ chứcphi chính phủ … hoặc vốn hỗ trợ trực tiếp không hoàn lại cho các hộ nghèo thì nguồn vốn tín dụng thông qua NHCSXH là lớn nhất. Nguồn này được đa dạng hoá từ nhiều nguồn khác nhau trong và ngoài nước, của ngân sách nhà nước và củacác doanh nghiệp.

    Bước sang năm 2004 NHCSXH cũng đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ. Do mới thành lập, cơ sở vật chất kĩ thuật đảm bảo cho hoạt động của NHCSXH còn rất sơ khai và nghèo nàn, từ sau khi có chỉ thị của thủ tướng Chính phủ (chỉ thị 05/2003/CT–TTg ngày 18/3/2003 và chỉ thị 09/2004/CT–TTg ngày 16/3/2004) NHCSXH đã nhận được sự giúp đỡ tạo điều kiện rất lớn từ chính quyền các cấp đặc biệt là việc bố trí trụ sởlàm việc và phương tiện làm việc. Đã có 41 chi nhánh NHCSXH tỉnh, thành phố và hàng trăm ngân hàng cấp huyện được cấp hoặc cho mượn trụ sở để xử dụng lâu dài. Các tỉnh huyện được cấp trên 70 tỷ đồng để mua sắm công cụ làm việc và phương tiện đi lại.

    Sau 5 tháng NHCSXH triển khai nhiệm vụ năm 2004, bước đầu đã đạt được một số kết quả:

    Về tổ chức màng lưới: Hoàn thành các thủ tục cần thiết để thành lập chi nhánh NHCSXH tại 3 tỉnh mới được chia tách gồm: Lai Châu, Đắk Nông, Hậu Giang, đổi tên 2 chi nhánh NHCSXH Điện Biên và Cần Thơ. Thành lập với 14 phòng giao dịch huyện thuộc tỉnh: Đồng Nai, Cà Mau,Phú Yên, Quảng Ngãi, Bà Rịa–Vũng Tàu, Cần Thơ. Thành lập lại 13 phòng giao dịch huyện thuộc các chi nhánh NHCSXH Điện Biên, Lai Châu, Hậu Giang, Đắk Nông và Cần Thơ.

    Về công tác cán bộ, đã bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo chi nhánh NHCSXH một số tỉnh, thành phố, trưởng phó các phòng chuyên môn

    12

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nghiệp vụ tại hội sở chính. Đây cũng là quá trình nâng cao năng lực hoạt đọng của NHCSXH và chiển khai thực hiệnchi thị của thủ tướng chính phủ.

    Về công tác kiểm tra giám sát, trên cơ sở đề cương và chương trình kế hoạch kiểm tra, giám sát đã thực hiện kiểm tra thực tế tại địa phương, thành lập đoàn công tác thẩm địnhbáo cáo tài chính tại hội sở chính và một số chu nhánh tỉnh thành phố.

    Về chỉ đạo xử lý những vướng mắc trong hoat động nghiệp vụ. Ban điều hành xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời tiến hành giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể cho từng chi nhánh, chỉ đạo các chi nhánh thực hiện tốt công tác giải ngân cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách đi đôi với việc nâng cao chât lượng tín dụng.

    Về hoạt động tín dụng đến hết tháng 6 năm 2004: Tổng nguồn vốn đạt 11572 tỷ đồng, tăng 1044 tỷ đồng so với 31/12/2003. Tổng dư nợ đạt 1982 tỷ đồng, tăng 633 tỷ đồng so với 31/12/2003: trong đó dư nợ cho vay hộ nghèo là 8.742 tỷ đồng chiếm 79,6% tổng dư nợ.

    Trong 2 năm NHCSXH đã lỗ lực hết mình để hoàn thiện hệ thống, tập trung và tích tụ các kênh vốn phục vụ cho các đối tượng chính sách còn phân tán ở các tổ chức tín dụng và các đoàn thể quần chúng. Nguồn vốn của NHCSXH tăng nhanh, tổng nguồn vốn tính đến 31/12/2004 ước đạt 15245 tỷ đồng, tăng 4.741 tỷ đồng so với năm 2003, đạt 116% kế hoạch năm 2004. Trong đó vốn điều lệ ước đạt 1531 tỷ đồng, vốn nhận từ các chương trình ước đạt 2565 tỷ đồng tăng 339 tỷ đồng : vốn nhận tài trợ, uỷ thác từ ngân sách địa phương, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước ước đạt 708 tỷ đồng, tăng 164 tỷ đồng so với năm 2003; nguồn vốn tự có huy động ước đạt 3956 tỷ đồng, tăng 2556 tỷ đồng so với năm 2003, đạt 117% kế hoạch năm 2004. Sau 2 năm, vốn hoạt động tăng gần gấp 2 lần và từ một đối tượng thụ hưởng là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất đã tiếp quản các nguồn vốn từ các chương trình quốc gia khác, mở rộng tín dụng ưu đãi tới 6 đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng của chính phủ.

    13

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Xuất phát từ phương châm “không vì mục tiêu lợi nhuận” với cơ chế thông thoáng, thuận tiện, có lợi cho người vay, kết hợp với phương châm xã hội hoá hoạt động, trong hai năm qua, vốn đầu tư của NHCSXH tăng mạnh. Tính đến 31/12/2004, tổng dư nợ của NHCSXH đạt 14109 tỷ đồng, tăng 3760 tỷ so với 31/12/2003, đạt 92,3% kế hoạch năm 2004. Trong đó: dư nợ cho vay hộ nghèo ước đạt 11489 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 81,4% tổng dư nợ) tăng 3240 tỷ so với 31/12/2003, đạt 100% kế hoạch năm 2004, dư nợ cho vay giải quyết việc làm ước đạt 2.202 tỷ đồng tăng 238 tỷ đồng so với năm 2003; dư nợ cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn ước đạt 133 tỷ đồng tăng 45 tỷ đồng so với năm 2003; các chương trình khác như cho vay đối tượng chính sách xuất khẩu lao động vay trả chậm nhà ở ĐBSCL… Do nhiều lý do khách quan chưa đạt được kế hoạch đề ra nhưng bước đầu đã có những chuyển biến tích cực khẳng định tính ưu việt của kênh tín dụng chính sách trong các chương trình hỗ trợ của chính phủ đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Đặc biệt, từ tháng 10/2004, NHCSXH triển khai chương trình thí điểm cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại 10 tỉnh: Sơn La, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định, Nghệ An, Khánh Hoà, Tiền Gíang, Kiên Giang, Đăc Lắc, Bình Thuận theo quyết định 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 của thủ tướng chính phủ.

    Hoạt động hỗ trợ tín dụng ưu đãi từ NHCSXH đã góp phần đáng kể cho công cuộc xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm của nước ta trong thời gian qua. Các hộ nghèo thông qua sử dụng tín dụng đầu tư sản xuất , kinh doanh bước đầu đã biết tính toán đầu tư sản xuất chi tiêu gia đình có hiệu quả tiếp cận cách thức sản xuất tiên tiến và thị trường; hộ nghèo tự vươn lên tạo việc làm có thu nhập. Điều đó đã góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam trong thời gian qua. Từ năm 2001 đến năm 2003, bình quân mỗi năm giảm được 31 vạn hộ nghèo tương ứng 2,06%. Hiện nay có 5 tỉnh, thành phố có tỷ lệ hộ nghèo dưới 5%; 23 tỉnh thành phố từ 5-dưới 10%; 13

    14

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    tỉnh thành phố từ 10-dưới 15%; 16 tỉnh từ 15-dưới 20%; 4 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo trên 20%. Dự kiến đến hết năm 2003 có 18 tỉnh và 1 thành phố có khả năng về trứơc kế hoạch 5 năm 2001-2005 (hoàn thành kế hoạch xoá đói giảm nghèo vào năm 2003); 12 quận, huyện và 201 xã phường cơ bản không còn hộ nghèo.

    1.2.Các hoạt động khác :

    Nhằm xã hội hoá hoạt động, NHCSXH đã ký hợp đồng dịch vụ uỷ thác với 4 tổ chức chính trị xã hội gồm: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

    1.2.1. Hoạt động phối hợp giữa hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam với NHCSXH trong việc cung cấp vốn cho các hộ nghèo và đối tượng chính sách:

    Là một tổ chức chính trị –xã hội, hoạt động vì sự bình đẳng tiến bộ và hạnh phúc của phụ nữ Việt Nam, một trong những mục tiêu hoạt động của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (HLHPNVN) là giúp phụ nữ xoá đói giảm nghèo. Để thực hiện mục tiêu này hội đã phối hợp với Ngân hàng phục vụ người nghèo (nay là Ngân hàng chính sách xã hội) tín chấp cho phụ nữ thuộc diện hộ nghèo vay vốn .Mối quan hệ này đã được thiêt lập ngay từ khi ngân hàng mới thành lập thông qua dự án do UNFPA tài trợ cho hội LHPNVN 50 ngàn đô la Mỹ để thành lập quỹ bảo lãnh tại ngân hàng cho phụ nữ nghèo vay vốn. Cùng với thời gian mối quan hệ này ngày càng chặt chẽ và phát triển trên khắp cả nước tới cấp cơ sở. Và sự hợp tác này đã được đánh dấu một bước tiến mới bằng việc sau khi NHCSXH chính thức được thành lập, hội LHPNVN đã kí với Văn bản liên tịch về việc tổ chức thực hiện uỷ thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng, rất cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội tiếp cận nguồn vốn bảo đảm vốn đến tay người nghèo. Đối

    15

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    tượng vay vốn không chỉ bó hẹp trong phạm vi hộ nghèo mà còn mở rộng cho vay giải quyết việc làm, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn…

    Sau lễ kí kết liên tịch ở TW, nhiều tỉnh thành phố cũng tổ chức kí văn bản liên tịch: Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Trị, Nam Định… Các tỉnh khác chưa kí liên tịch nhưng đã triển khai thực hiện, bước đầu đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận:

    • Cho vay vốn quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm theo NQ 120/HĐBT: đến nay tổng nguồn vốn TW Hội quản lý là 39,5 tỷ đồng, cho vay 175 dự án với 14.592,5 triệu đồng. Hội phụ nữ đã hoàn thành kế hoạch năm 2003 với chỉ tiêu cho vay 4 tỷ đồng vốn mới vay cho vay lại 16 tỷ đồng vốn thu hồi hỗ trợ cho 7.542 lao động có việc làm. Ngoài nguồn vốn TW phân bổ theo thống kê chưa đầy đủ hội phụ nữ các tỉnh thành phố còn quản lý 180 tỷ đồng vốn giải quyết việc làm của các địa phương. Trong đó nhiều nơi còn nhận uỷ thác với NHCSXH (Quảng Trị, Nghệ An, Bà Rịa Vũng Tàu, Hải Phòng…).
    • Cho vay hộ nghèo: Hội tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền phổ biến các chủ trương chính sách cho vay các nhóm đối tượng thuộc NHCSXH, lựa chọn đối tượng, hướng dẫn thủ tục, quy chế vay vốn, duy trì và phát triển các tổ nhóm phụ nữ nghèo vay vốn ngân hàng ở 64 tỉnh thành phố.Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay có 875.333 hộ nghèo được vay qua nhóm do Hội phụ nữ tổ chức với 1.507 tỷ đồng tiền vốn.

    Nhìn chung trong vòng chưa đầy một năm, sự phối hợp giữa Hội LHPNVN và NHCSXH đã đạt được một số kết quả quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận và sử dụng vốn có hiệu quả .

    1.2.2. Những kết quả bước đầu qua công tác thí điểm nhận bàn giao vốn uỷ thác từ NHNN &PTNT sang NHCSXH:

    Sau hơn 3 tháng triển khai thực hiện nhiệm vụ thí điểm nhận bàn giao vốn uỷ thác cho vay hộ nghèo từ NHNN&PTNT sang NHCSXH tại 9

    16

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hải Dương, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam, Gia Lai, Long An, và Tây Ninh theo chỉ đạo tại Văn bản số 1313/VPCP – KTTH ngày 22/3/2004, các tỉnh được chọn làm thí điểm đã hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo đúng kế hoạch và nội dung chỉ đạo của NHNN cũng như sự thống nhất giữa hai ngân hàng NHNN&PTNT và NHCSXH. Đến ngày 30/4/2004 các số liệu bàn giao đã đựơc hai ngân hàng thống nhất. Từ sau ngày 10/5/2004 công tác bàn giao đã cơ bản hoàn thành. Ngay sau khi nhận bàn giao, chi nhánh NHCSXH các tỉnh đựơc chọn làm thí điểm đã triển khai ngay việc củng cố, kiện toàn lại các tổ tiết kiệm và vay vốn và triển khai cho vay hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội đảm bảo vốn đến với hộ nghèo không chậm trễ.

    Một số chi nhánh NHCSXH được thí điểm nhận bàn giao, sau 3 tháng hoạt động (sau bàn giao) hiệu quả của công tác cho vay thu nợ được thể hiện một cách rõ rệt: tại chi nhánh NHCSXH tỉnh Quảng Nam doanh số cho vay 3 tháng đạt 23 tỷ đồng, tăng so với cùng kì khi uỷ thác toàn phần qua NHNN&PTNT là 19 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 9,5 tỷ đồng, tăng so với cùng kì khi uỷ thác là 3,4 tỷ đồng. Tổng dư nợ đến 31/7/2004 của chi nhánh đạt 207 tỷ đồng tăng so với cùng kì 41,7 tỷ đồng và so với đầu năm 2004 là 21,7 tỷ đồng.Tại chi nhánh NHCSXH tỉnh Tây Ninh, sau 3 tháng nhận bàn giao dư nợ cho vay hộ nghèo từ 64,5 tỷ đồng ( 4 tháng đầu năm giảm 1,2 tỷđồng) đã đạt trên 80 tỷ đồng, tăng 16 tỷ đồng. Tại chi nhánh NHCSXH tỉnh Long An đến 30/6/2004 tổng dư nợ đạt 134 tỷ đồng tăng so với đầu năm 21 tỷ đồng trong đó dư nợ cho vay hộ nghèo đạt 98 tỷ đồng, tăng so với đầu năm 19 tỷ đồng. Sau khi nhận bàn giao chi nhánh NHCSXH tỉn Long An đã tập trung củng cố lại các tổ nhóm gắn với các đoàn thể, chủ động kí kết hợp đồng uỷ thác với 4 đoàn thể cấp tỉnh (hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh và đoàn thanh niên); kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động cuẩ các tổ tiết kiệm và cho

    17

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    vay vốn (khi nhận bàn giao có 2.563 tổ tiết kiệm vay vốn, các tổ này được kiện toàn và củng cố lại còn 1.633 tổ, giảm 930 tổ).

    2.                 Những khó khăn cần giải quyết :

     

    • Vấn đề lãi suất:

     

    Hiện nay NHCSXH đang cho vay với nhiều mức lãi suất rất khác

     

    nhau:

     

    Mức 0,25 %/tháng: áp dụng cho vay trả chậm về nhà ở.

     

    Mức 0,35%/thấng: áp dụng trong cho vay giải quyết việc làm và cho thương bệnh binh và người tàn tật.

     

    Mức 0,45%/tháng: áp dụng trong cho vay học sinh, sinh viên và cho vay hộ nghèo vùng III, hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135.

     

    Mức 0.5%/tháng: áp dụng trong cho vay hộ nghèo, cho vay

    giải quyết việc làm thông thường và cho vay xuất khẩu lao động.

    Về lãi suất nợ quá hạn tính trên lãi suất khi cho vay cũng có nhiều mức khác nhau: mức 120% được áp dụng trong cho vay học sinh sinh viên, mức 130% được áp dụng trong cho vay hộ nghèo, cho vay xuất khẩu lao động và mức 200% được áp dụng trong cho vay giải quyết việc làm.

    Mặc dù có nhiều mức lãi suất cho vay khác nhau như trên nhưng nói chung lãi suất cho vay của NHCSXH đều rất thấp, thấp hơn lãi suất huy động vốn trên thị trường theo bất đẳng thức lãi kép sau: LSCV ưu đãi < LS huy động vốn thị trường < LSCV thị trường.

    Do lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất của các ngân hàng thương mại trên cùng địa bàn, do đó ngay cả chính quyền cơ sở, ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo cũng có tư tưởng ban phát tín dụng nên dễ xảy ra hiện tượng bình quân chia đều, tiêu cực trong cho vay, nảy sinh nhu cầu gỉa tạo để sử dụng vốn sai mục đích (vay vốn để gửi tiết kiệm hoặc mua chứng chỉ có giá với lãi suất cao hơn để kiếm lời), mức vay bình quân của hộ nghèo hiện

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nay là hơn 2 triệu đồng/hộ, như vậy là thấp hơn nhu cầu mức vốn đầu tư của các hộ.

    Lãi suất cho vay không dựa trên cơ sở chi phí dịch vụ của ngân hàng, do đó thiếu sức thuyết phục để thu hút các nguồn vốn trong cộng đồng, doanh nghiệp các tổ chức quốc tế, vì các tổ chức tài chính quốc tế nghi ngại tính bền vững của ngân hàng nên hạn chế đầu tư. Vì vậy nguồn vốn của NHCSXH chủ yếu dựa vào “bao cấp” của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, chưa thực hiện được chủ trương xã hội hoá nguồn vốn cho vay đối với người nghèo. Từ trước đến nay, ngân sách nhà nước đã phải bỏ ra hàng trăm tỉ đồng mỗi năm để cấp bù cho các khoản tín dụng ưu đãi. Năm 2003 Ngân sách nhà nước đã cấp bù cho NHCSXH 356 tỷ đồng và kế hoạch năm 2004 sẽ cấp bù cho NHCSXH 450 tỷ đồng. Hiện nay kinh tế nước ta còn rất nhiều khó khăn, rất nhiều chương trình dự án cấc được ngân sách nhà nước hỗ trợ trong khi nguồn này lại quấ eo hẹp. Vì vậy đây là vấn đề còn rất nhiều bất cập cần có biện pháp tháo gỡ .

    Hơn nữa lãi suất ưu đãi đối với người nghèo chỉ có thể hỗ trợ trong thời gian có hạn, không thể là công cụ lâu đài giúp cho người nghèo phát triển được. Bởi vì: việc nâng cao đời sống và không ngừng phát triển đi lên đối với người nghèo chỉ có thể dựa vào sự phát triển chung của nền kinh tế, họ phải tự mình nỗ lực phấn đấu, không thể trông chờ ỷ lại vào sự giúp đỡ của xã hội. Cái chính không phải là việc ưu đãi lãi suất bao nhiêu cho người nghèo mà chính là người nghèo được giúp đỡ về việc làm, văn hoá, kĩ thuật… và họ cần vay bao nhiêu vốn để phất triển sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập để cải thiện đời sống và trả nợ Ngân hàng.

    2.2.Tiêu chí để xácđịnh người nghèo:

    Hiện nay có rất nhiều tiêu chí khác nhau của các tổ chức trong và ngoài nước đánh giá về nghèo đói.Các phương pháp đánh giá tổng hợp điều tra và thống kê cũng khác nhau, do đó con số đưa ra về tỉ lệ nghèo đói ở

    19

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nước ta chưa hoàn toàn trùng khớp nhau. Theo tiêu chí do Bộ Lao động thương binh và Xã hội đưa ra mới đây thì hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 80.000 đồng/tháng (miền núi, hải đảo), dưới 100.000 đồng/tháng (ở nông thôn) và dưới 150.000 đồng/tháng (ở thành thị). Theo Văn phòng chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm, trong giai đoạn 2001-2003, kết quả điều tra ở một số tỉnh nghèo nhất nước ta cho thấy, Lai Châu tỷ lệ hộ nghèo còn 36,84%, Bắc Kạn 26,05%, Sóc Trăng 27,08%, Quảng Trị 17,1%… Tính chung cả nước còn khoảng 2 triệu hộ nghèo. Vì vậy cần phải có cơ chế đánh giá chính xác và công bằng đối với các hộ nghèo để đồng vốn chính sách có thể đến đúng đối tượng cần vay, cần được ưu đãi.

    2.3.Vấn đề tái nghèo :

    Trong thực tế có nhiều trường hợp người nông dân được vay vốn của ngân hàng để làm kinh tế và có nhiều hộ thoát được đói nghèo nhưng do thời hạn vay vốn không dài nên sau khi trả vốn cho ngân hàng họ lại rơi vào tình trạng nghèo đói. Đây là một thực tế đã xảy ra ở rất nhiều địa phương trong cả nước. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này một phần là do người nghèo chưa sử dụng vốn có hiệu quả, họ chưa hiểu biết nhiều về khoâ học kĩ thuật nên chỉ có thể kinh doanh trên quy mô nhỏ nên hiệu quả đem lại không lớn.

    2.4.Vấn đề cho học sinh sinh viên vay vốn:

    Đảng và nhà nước ta khẳng định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội: “giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển”. Chính vì vậy, trong những năm qua nền giáo dục nước nhà đã được Đảng , nhà nước ta và toàn xã hội đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển, cơ sỏ vật chất và điều kiện học tập của học sinh sinh viên ngày càng được cải thiện. Từ đó chất lượng giáo dục đã được nâng cao lên . Để hỗ trợ cho những học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, không

    20

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    đủ khả năng tài chính để trang trải chi phí học tập, đặc biệt là học sinh, sinh viên thuộc đối tượng chính sách, thuộc hộ nghèo, vùng sâu vùng xa… Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ như: miễn giảm học phí, thực hiện trợ cấp cho các đối tượng chính sách, ưu tiên về điều kiện tuyển sinh…

    trong đó chính sách hỗ trợ tín dụng cho đối tượng này cũng được thực hiện. Ngày 2/3/1998 Thủ tướng chính phủ kí quyết định số 51/1998/QĐ-TTg thành lập quỹ tín dụng đào tạo để cho vay với lãi suất ưu đãi đốivới

    học sinh sinh viên đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Quỹ có vốn ban đầu là 160 tỷ đồng bao gồm các nguồn: ngân sách nhà nước, vốn do các ngân hàng thương mại tự nguyện đóng góp và của các tổ chức cá nhân khác…

    Ngân hàng Công thương Việt Nam là đơn vị được giao quản lý qũy và cho vay từ khi thành lập, đến ngày 30/6/2003, quỹ tín dụng đào tạo được bàn giao sang Ngân hàng Chính sách xã hội quản lý và cho vay. Mặc dù đẫ thu được những kết quả bước đầu khá khả quan song trong quá trính cho vay với đối tượng này chúng ta vấn thấy nổi lên một số vấn đề:

    Trên thực tế nhiều trường không thông tin kịp thời cho ngân hàng những học sinh chuyển trường, bỏ học, bị kỉ luật, bị xoá tên, bị đình chỉ và buộc thôi học có vay vốn ngân hàng, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xác định địa chỉ cư trú của học sinh sinh viên do đó nguy cơ mất vốn là rất lớn.

    Từ bản thân học sinh,sinh viên, có nhiều học sinh, sinh viên có ý thức trách nhiệm trả nợ kém, nhiều trường hợp coi đây như một khoản hỗ trợ của nhà nước không cần hoàn trả, nhất là sau khi sinh viên ra trừơng ngân hàng không nắm được địa chỉ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc theo dõi thu nợ…

    Về quy chế cho vay: Theo quy định hiện hành thì ngân hàng tiến hành cho vay và giải ngân trực tiếp tới tay học sinh. Thực tế quy định này

    21

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    gây khó khăn cho ngân hàng trong việc theo dõi thu nợ sau khi học sinh ra trường, rủi ro mất vốn là khó tránh khỏi.

    Về chi phí hoạt động của quỹ tín dụng đầo tạo, theo quy định hiện hành tại thông tư 97/1997/TT-BTC của Bộ Tài chính về chế độ tài chính của quỹ chưa quy định cụ thể về các khoản chi cấn thiết cho hoạt động sơ kết tổng kết hoạt động của quỹ, chi phí cho hoạt động tuyên truyền quảng bá về kết quả và hoạt động của quỹ cũng gây nên khó khăn cho hoạt động triển khai hoạt động của quỹ tại ngân hàng quản lý quỹ.

    Về thu nhập của ngân hàng quản lý Quỹ tín dụng đào tạo theo quy định tại thông tư 97 thì phí dịch vụ chi trả cho ngân hàng quản lý tính trên dư nợ cho vay trong hạn là chưa hợp lí vì đâylà hình thức cho vay không áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền mặt, thời hạn trả nợ kéo dài, lại chứa đựng nhiều rủi ro làm ảnh hưởng đến khẳ năng tài chính của ngân hàng quản lí quỹ.

    Nguồn vốn dùng để cho vay học sinh sinh viên còn quá hạn hẹp .Nếu đáp ứng đủ nhu cầu vay của các đối tượng thuộc diện ưu đãi thì còn thiếu rất nhiều.

    2.5 .Một số vấn đề khác :

    Cho vay vốn đối với hộ nghèo còn hạn chế bởi một số cấp chính quyền địa phương, hội, đoàn thể chưa thực sự quan tâm đến công tác cho vay vốn đối với hộ nghèo. Có nơi còn sợ trách nhiệm không kí xét duyệt cho vay hoặc không hướng dẫn hộ nghèo thành lập tổ vay vốn để tiếp cận vốn vay ngân hàng. Còn nhiều tổ chức cho vay vốn đối với hộ nghèo dẫn đến sự chồng chéo (một hộ nghèo vay ở nhiều nơi) gây khó khăn trong kiêm tra sử dụng vốn và đánh giá hiệu quả vốn. Một số chủ dự án, tổ trưởng tổ vay vốn còn có biểu hiện thu thêm phí của người vay ngoài lãi suất trong hợp đồng tín dụng kí với ngân hàng. Một số ít trường hợp chủ dự án, tổ trưởng tổ vay vốn thu nợ của người vay không trả nợ vào ngân hàng

    22

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    hoặc sử dụng vốn vào mụch đích khác. Các khoản nợ quá hạn, nợ khoanh…

    đến nay khó có khả năng thu hồi vốn.

    IV.ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA NHCSXH:

    Từ những kết quả đã đạt được có thể thấy: việc triển khai cho vay hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội đã từng bước góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá hoạt động cho vay của NHCSXH, huy động các bộ các cấp các ngành, đặc biệt lầ các hội đoàn thể cùng gắn trách nhiệm với NHCSXH trong suốt quá trình từ khâu thẩm định đến khâu khi giải ngân, thu nợ, thu lãi, đảm bảo đồng vốn ưu đãi kịp thời đến với các đối tượng chính sách và hộ nghèo có nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống. Việc huy động được một lực lượng đông đảo cán bộ của các hội đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội vào quá trình cho vay và thu nợ đã tạo ra cho NHCSXH một mạng lưới cán bộ không biên chế hết lòng vì người nghèo, được sống trong sự đùm bọc của cộng đồng, bớt đi những mặc cảm xã hội, phấn đấu vươn lên khắc phục khó khăn trong cuộc sống.

    Nhờ sự phối kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể chính trị xã hội, các món vay cũng tăng lên (trung bình 4,5 triệu đồng/hộ, cá biệt có hộ được vay tới 10triệu đồng/hộ), chất lượng tín dụng của NHCSXH cũng tăng lên. Nợ quá hạn đến 31/12/2004 ước 493 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ, giảm

    • tỷ đồng (-1,5%) so với 31/12/2003. Trong đó nợ quá hạn cho vay hộ nghèo là 369 tỷ đồng.

    Tuy nhiên trong quá trình hoạt động NHCSXH cũng đã gặp phải một số vấn đề cần tháo gỡ. Vì vậy trong thời gian tới để NHCSXH thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình và những nhiệm vụ lớn hơn khi được chính phủ giao, rất cấn sự hỗ trợ của các cấp các ngành và đặc biệt là sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền các cấp về một số vấn đề sau: củng cố lại các tổ tiết kiệm và vay vốn, nâng cao trách nhiệm của ban xoá đói giảm nghèo; xác định lại chuẩn nghèo trên cơ sở chuẩn nghèo do Bộ Lao động –Thương binh xã hội công bố, các địa phương cần tổ chức khảo sát đánh giáchung và

    23

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    công bốchuẩn nghèo phù hợp với thực tế địa phương mình, để từ đó có giải pháp giúp đỡ các hộ nghèo thoát nghèo một cách bền vững, chống tái nghèo; đồng thời từng bước xác định chuẩn nghèo của nứơc ta phù hợp với tiều chí đánh giá của thế giới và các nước trong khu vực.

    V. GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA NHCSXH

    1. Bài học kinh nghiệm từ NHCSXH Nhật Bản

     

    Sau chến tranh thế giới II, Nhật bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Để vượt qua tình trạng đó, Nhật Bản đã huy động nguồn lực trong nước là con người. Do vậy Nhật Bản đã đưa ra một mô hình cho vay thích hợp.

     

    * Về mô hình cho vay chính sách của Nhật Bản

     

    Huy động tiết kiệm:

     

    Trong huy động vốn, chính phủ Nhật khuyến khích phát huy nội lực dưới hình thức tiết kiệm của dân chúng gửi vào ngân hàng từng bước tích luỹ vốn tạo tiền đề cho phát triển kinh tế. Và hình thức huy động hiệu quả nhất được sử dụng đó là “ Tiết kiệm bưu điện”. Bởi đây là tổ chức kiểm soát 1/4 tài sản gia đình ở Nhật Bản.

     

    Nhờ áp dụng chính sách tăng cường tiết kiệm trong nước nên tỉ lệ tiết kiệm của Nhật Bản cao hơn nhiều so với các nước Âu–Mỹ. Trong đó tiền tiết kiệm bưu điện chiếm 30% tổng số tiền tiết kiệm quốc nội và 20% trong tổng số tiền tiết kiệm của hộ gia đình.

    Cho vay chính sách:

    Trong sử dụng vốn, Chính phủ luôn chú trọng đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết cho tăng trưởng kinh tế. Các doanh nghiệp, công ty không thể tiếp cận với các vốn vay từ ngân hàng thương mại thì Chính phủ thành lập những cơ quan tài trợ của Chính phủ như: Ngân hàng phát triển Nhật

    24

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Bản, Cơ quan tài chính tài trợ doanh nghệp vừa và nhỏ, Cơ quan tài chính hỗ trợ dân sinh (NLFC)… để sử dụng nguồn tiết kiệm Bưu điện và Quỹ bảo hiểm lương hưu để thực hiện cho vay đầu tư tài chính hỗ trợ cho các chương trình kinh tế trọng điểm của Chính phủ như: đầu tư vào lĩnh vực hỗ trợ dân sinh về nhà ở, môi trường, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ… theo lãi suất được Nhà nước quy định. Chính phủ sử dụng ngân sách quốc gia để đầu tư vào các công trình như xây dựng cơ sở hạ tầng.

    • Nhật Bản, doanh nghiệp vừa và nhỏ được coi là “bảo vật quốc gia” vì chính các doanh nghiệp này đã tạo nên sự phát triển kỳ diệu của nền kinh tế Nhật Bản. Vì vậy, ở Nhạt Bản đã thành lập riêng một cơ quan chuyên hỗ trợ tài chính cho loại hình doanh nghiệp này có tên gọi “Ngân hàng Tín dụng” (Shinkin Bank), có hình thức tổ chức hoạt động giống như hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ở nước ta hiện nay.

    Cơ chế hoạt động của NLFC:

    Cơ chế tạo lập nguồn vốn: NLFC không có hoạt động huy động vốn, không được phép huy động tiền gửi tiết kiệm của dân chúng, huy động tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và cá nhân. Do đó, hầu hết nguồn vốn là do Nhà nước cấp 90% và 10% còn lại dưới dạng trái phiếu đầu tư tài chính (quốc trái) hoặc trái phiếu có bảo lãnh của Chính phủ.

    Cơ chế cho vay: Tại Nhật Bản, các ngân hàng tư nhân và các tổ chức tín dụng không muốn cho vay các doanh nghiệp cực nhỏ, doanh nghiệp mới khởi lập dù có tài sản thế chấp; do đó, Chính phủ giao cho NLFC đầu tư cho vay. Vì vậy khách hàng vay vốn của NLFC để kinh doanh bao gồm: 30% là những doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ không thể vay được từ ngân hàng thương mại, 70% số khách hàng vay từ ngân hạng thương mại và một phần từ NLFC.

    Trong cơ chế cho vay bao gồm: cho vay thường chiếm trên 60% tổng dư nợ; cho vay cải thiện tình hình kinh doanh; cho vay đặc biệt (ví dụ như doanh nghiệp mới khởi lập, ưu tiên đối với chủ doanh nghiệp là doanh

    25

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nghiệp đầu tư thiết bị để tham gia vào lĩnh vực mới…) ; cho vay sinh hoạt; cho vay giáo dục; cho vay bảo đảm bằng tiền lương,với lãi uất ưu đãi bằng lãi suất ngân hàng thương mại. Nhật Bản cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt, cao hơn lãi suất huy động vốn và do Chính phủ quy định từng thời kỳ.

    Cơ chế tài chính: Do được bao cấp nên hoạt động của NLFC được phép lỗ theo kế hoạch. Sau hàng chục năm hoạt động, đến năm 2003, NLFC mới đạt được cân bằng thu chi, thoát khỏi tình trạng bao cấp của Chính phủ nhờ tiết kịêm giảm chi phí thông qua hệ thống thông tin quản lý; áp dụng khoa học kỹ thuật và sự thay đổi trong chính sách cho vay vốn của Chính phủ. Hiện nay, NLFC đã có thể trả nợ Bộ Tài chính trước hạn và những lúc cần thiết, NLFC được “vay nóng” của ngân hàng tư nhân với số lượng nhỏ, thời hạn ngắn, cuối năm tất toán hết.

    * Những bài học kinh nghiệm đối với NHCSXHVN:

    Thứ nhất: là tổ chức tài chính được thành lập với mục đích giúp Chính phủ thực hiện mục tiêu tạo công ăn việc làm, ổn định kinh tế, chính trị xã hội là chính, không vì mục tiêu lợi nhuận; do vậy, cần phải có những chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội phúc lợi xã hội… thoả đáng cho những đối tượng tham gia trong tổ chức tài chính này để ổn định cuộc sống, an tâm với công việc được giao chứ không nên thuần tuý chỉ thực hiện công tác giáo dục tư tưởng.

    Thứ hai: để thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Chính phủ trong việc hỗ trợ phát triển một số lĩnh vực kinh tế hay chính sách quan trọng, nhất thiết phải có sự trợ giúp từ Chính phủ đặc biệt trong giai đoạn đầu. Tuy nhiên, việc bao cấp chỉ nên thực hiện trong một giai đoạn nhất định, không nên kéo dài mà cần phải từng bước giảm dần, tiến tới tự chủ về tài chính.

    26

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Thứ ba: nghiên cứu chỉnh sửa phương thức cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn thông qua bố mẹ hoặc người bảo trợ của học sinh, sinh viên để từ đó, mở rộng đầu tư cho vay, đảm bảo an toàn và hiệu quả.

    Thứ tư: quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng và quản lý cán bộ. Đặc biệt, ngoài việc đào tạo kiến thức chuyên môn cần chú trọng giáo dục đạo đức nghề nghiệp, phong cách giao tiếp, tiếp xúc với khách hàng, thực sự coi khách hàng là “thượng đế ”.

    2. Giải pháp phát triển cho NHCSXHVN:

    Cần phải nhận thức sâu sắc NHCSXH là một ngân hàng, đồng thời là một tổ chức tín dụng của Nhà nước, nhằm tạo một kênh tín dụng ưu đãi một phần lãi suất và các điều kiện tín dụng khác để hỗ trợ các hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, thu hồi được vốn để tiếp tục cho vay chứ không phải là một tổ chức tài chính tài trợ bao cấp. Vì vậy, NHCSXH phải được tổ chức và hoạt động theo những chuẩn mực của một tổ chức tín dụng có hiệu quả kinh tế – xã hội, an toàn và phát triển đúng hướng.

    2.1. Giải pháp về tổ chức, bộ máy NHCSXHVN:

    Thứ nhất: NHCSXH và các bộ ngành liên quan cần lập đoàn cán bộ liên ngành để thực hiện kiểm tra, đánh giá lại vốn, tài sản và các khoản nợ đã cho các đối tượng chính sách vay ưu đãi, nay thuộc đối tượng vay vốn của NHCSXH, để xác định rõ số vốn và tài sản đã bị tổn thất; căn cứ vào đó để cân đối tài lực hàng năm trình Chinh phủ các phương án bổ sung vốn điều lệ cho NHCSXH

    Thứ hai: NHCSXH cần phối hợp chặt chẽ với các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương nhanh chóng triển khai hệ thống tổ chức bộ máy, nhân sự từ trung ương đến địa phương, đảm bảo việc cho vay hộ nghèo thuận lợi. Đồng thời NHCSXH cần khuyến khích mở tài khoản tiền gửi đối với nhiều tổ chức và doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi.

    27

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Thứ ba: Để đảm bảo an toàn và phục vụ đúng đối tượng, ngoài những quy định của luật pháp và Điều lệ, NHCSXH cần khẩn trương hoàn thiện và mở rộng hệ thống các tổ vay vốn ở cơ sở cho phù hợp với đối tượng vay vốn mới của ngân hàng.

    Thứ tư: Chấn chỉnh bổ sung các quy định về tổ chức hoạt đọng của các bộ phận chức năng, nhằm nâng cao quyền hạn, trách nhiệm đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Đồng thời triển khai hoạt động của NHCSXH tại các địa bàn tỉnh, huyện mới, vùng sâu vùng xa chưa có phòng giao dịch.

    Thứ năm: Đổi mới công tác quản lý và điều hành trong toàn hệ thống theo hướng phân cấp, phân quyền, giảm cấp trung gian, thực hiện chế dộ quản lý dân chủ từ cơ sở nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, tự chịu trách nhiệm trước Đảng và chính quyền các cấp.

    Thứ sáu: Tập trung sức nâng cao năng lực tài chính cho NHCSXH để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vay vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của phòng hợp tác quốc tế. Đây là một định hướng quan trọng trong việc tổ chức bộ máy của NHCSXH, bởi đây là một trong những nguồn thu hút các dự án với nhiều loại hình và qui mô khác nhau.

    Thứ bảy: Tăng cường cơ sở vật chất cho NHCSXH, bởi đây là điều kiện và phương tiện hoạt động, đảm bảo an toàn và thuận lợi. Vì vậy Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp hoạt động với NHCSXH lập đề án đầu tư hoàn chỉnh trụ sở làm việc của hệ thống NHCSXH.

    2.2 Giải pháp về hoạt động

    Thứ nhất: Tăng cường nguồn vốn vay hỗ trợ do nhu cầu vay vốn hiện nay lớn hơn mức cho vay quy định, ví dụ như nâng mức cho vay xuất khẩu lao động tối đa từ 10 triệu lên 20 triệu/1khách hàng, cho vay hộ nghèo lên 10 triệu/1hộ, nâng mức cho vay sinh viên lên cho phù hợp với cuộc sống (tức là trên 300.000/tháng)…

    28

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Thứ hai: Chuyển cho vay trực tiếp đối với học sinh, sinh viên sang cho vay thông qua hộ gia đình để đảm bảo khả năng trả nợ. Mặt khác cũng cần điều chỉnh chính sách ưu đãi về lãi suất đối với học sinh, sinh viên đồng bộ với các đối tượng chính sách khác: cho vay theo cùng một mức lãi suất và thu lãi cả trong thời gian ân hạn.

    Thứ ba: Có cơ chế xử lý rủi ro triệt để cho người nghèo vay vốn khi gặp rủi ro bất khả kháng. Điều đó có nghĩa khi những đối tượng vay vốn gặp phải thiên tai nặng nề, ốm đau kéo dài, tai nạn lao động, thiệt hại về người… thì Chính phủ nên xoá nợ cho họ tạo điều kiện cho họ tiếp tục vươn lên.

    Thứ tư: Điều chỉnh lãi suất cho vay hiện nay đối với các đối tượng lên mức 0,6%/tháng. Với mức đều chỉnh này sẽ làm giảm nhẹ gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước trong việc cân đối nguồn tài chính cấp bù cho tín dụng chính sách.

    Thứ năm: Tăng cường công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ trong toàn hệ thống. Một mặt, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách làm nghiệp vụ ở Hội sở chính và các chi nhánh, mặt khác đẩy mạnh công tác kiểm tra hoạt động tại các chi nhánh trong cả nước để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh sửa chữa sai sót trong thực tiễn điều hành.

    Thứ sáu: NHCSXH cần phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh xã hội chỉ đạo, hướng dẫn phương pháp xác định và nhận diện hộ nghèo; kiểm tra giám sát quá trình tổ chức thực hiện, không nên “khoán trắng” nhiệm vụ này cho UBND cấp xã như thời gian vừa qua ở một số địa phương; đảm bảo nguồn vốn được chuyển tới đúng đối tượng cần vay.

    Thứ bảy: Các cấp chính quyền phối hợp chặt chẽ với mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng; dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, phát động phong trào thi đua sôi nổi trong cả nước, khơi dậy và phát huy tiềm lực của toàn dân của mỗi xóm làng… phấn đấu để nhanh chóng xoá đói,

    29

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    giảm nghèo, vươn lên làm giàu cho mình và cho đất nước; góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.

    30

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    C. KẾT LUẬN

    Nghèo đói là điều tất yếu trong sự phát triển của mọi quốc gia. Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói ở mỗi quốc gia là khác nhau: có quốc gia chỉ có tình trạng nghèo tương đối so với mức sống bình quân của toàn xã hội, có quốc gia thì có tình trạng nghèo đói thực sự, thiếu ăn và thiếu các điều kiện sinh hoạt cần thiết. Theo tiêu chuẩn đánh giá của Liên hợp quốc, người có thu nhập bình quân một ngày dưới 2$ thì được coi là nghèo đói. Tình trạng nghèo đói ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển chung của nền kinh tế, nảy sinh nhiều vấn đề xã hội cần giải quyết. Nếu giải quyết không tốt nó có thể kéo thụt lùi tốc độ tăng trưởng kinh tế, phân tán các nguồn lực quốc gia, tăng gánh nặng trợ cấp ngân sách quốc gia.

    Nhận thức rõ vấn đề quan trọng trên, trong thời kỳ đổi mới Nhà nước ta đã đưa ra một chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo. Từ cuối năm 1995, Chính phủ đã quyết định thành lập riêng một định chế tài chính để hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, đó là Ngân hàng Phục vụ Người nghèo Việt Nam có mạng lưới chi nhánh ở tất cả 61 tỉnh thành phố trong cả nước. Đến đầu năm 2003, thành lập và đưa vào hoạt động NHCSXH, thực hiện chức năng của Ngân hàng Phục vụ Người nghèo trước đó, tiếp nhận chương trình cho sinh viên vay vốn từ Ngân hàng Công thương Việt Nam chuyển sang, tiếp nhận một số chương trình cho vay giải quyết việc làm từ Kho bạc Nhà nước chuyển sang, triển khai cho vay vốn đi xuất khẩu lao động.

    NHCSXH đã đạt được một số kết quả đáng kể: tính đến ngày 31/12/2004 tổng nguồn vốn ước tính đạt 15.245 tỷ đồng, tăng 4.741 tỷ đồng so với năm 2003, đạt 116% kế hoạch năm 2004. Trong đó vốn điều lệ ước đạt 2.315 tỷ đồng, tăng 800 tỷ so với năm 2003; vốn vay Ngân hàng Nhà nước ước đạt 1.531 tỷ đồng; vốn nhận từ các chương trình ước đạt 2.565 tỷ đồng, tăng 339 tỷ đồng…. Tổng dư nợ cho vay ước đạt 14.109 tỷ

    31

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    đồng, tăng 3.760 tỷ đồng so với cuối năm 2003, đạt 92,3% kế hoạch năm; nợ quá hạn tính đến ngày 31/12/2003 ước đạt 493 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ, giảm 7 tỷ đồng (-1,5%) so với cung kỳ năm trước. Trong đó, nợ quá hạn cho vay hộ nghèo là: 369 tỷ đồng…

    Mặc dù kết quả hoạt động là như vậy, những hạn chế cần khắc phục vẫn tồn tại. Như chúng ta đã biết, NHCSXH được phép huy động tiền gửi của cá nhân và tổ chức nhưng chủ yếu vẫn là từ nguồn Ngân sách Nhà nước. Nhưng đến nay, nguồn vốn điều lệ được cấp là 1.515 tỷ VND/5.000 tỷ (tính đến thời điểm 31/12/2003, năm 2004 chưa có số liệu chính xác), nguồn vốn ODA, nguồn vốn vay nước ngoài và các nguồn khác không đổi. Mặt khác, NHCSXH không thực hiện dịch vụ thanh toán nên không thu hút được tiền gửi thanh toán của dân cư và doanh nghiệp. Trong việc xác định đối tượng phục vụ của NHCSXH thì: theo Nghị định số 78/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ, hộ nghèo vay vốn “phải có tên trong danh sách hộ nghèo của được UBND cấp xã quyết định theo chuẩn nghèo do Bộ Lao động-Thương binh xã hội công bố, được Tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét, lập thành danh sách có xác nhận của UBND cấp xã”. Vấn đề nhận diện hộ nghèo được giao hoàn toàn cho UBND cấp xã, khi có danh sách NHCSXH theo danh sách đó xét cho vay vốn; do đó không tránh khỏi hiện tượng vốn không đến đúng đối tượng cần vay. Và vấn đề thu nợ, xử lý nợ quá hạn… đều bị vi phạm.

    Để nâng cao hiệu quả hoạt động của NHCSXH thì cần có những biện pháp khắc phục. Trong đó có thể kể đến như: đa dạng hoá các hoạt động huy động vốn, nâng mức cho vay với mỗi đối tượng, nâng cao nghiệp vụ cho các cán bộ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nâng mức lãi xuất cho vay nhằm làm giảm gánh nặng cấp bù cho Ngân sách Nhà nước.

    Xoá đói giảm nghèo là sự nghiệp chung của cả nước, của mỗi người dân… Vì vậy cần được quan tâm của tất cả các cấp ngành, của toàn xã hội.

    32

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Chúng ta cần xoá bỏ tiêu chi đánh giá hộ nghèo ở nước ta tiến tới tiêu chi hộ nghèo của thế giới.

    33

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Danh mục tài liệu tham khảo:

    1. “NHCSXH góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam” – Tạp chí Ngân hàng- Số chuyên đề 2004.
    1. “Quản trị các định chế tài chính nông thôn và đổi mới hoạt động của NHNN& PTNT” – Tạp chí Ngân hàng – Số chuyên đề 2004.
    2. Tạp chí Ngân hàng các số:

    Số 12/2000

    Số 6/2001

    Số (1+2)/2002

    Số 3, 4, 8, 14, 15, (1+2), 9/2003

    Số 4, 8, 9, 10, 11/2004

    1. Tạp chí Thị trường tài chính – Tiền tệ các số:

    Số (1+2), 8, 16, 19/2004.

    34

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Tiểu luận Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Tiểu luận Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Kỹ năng quản lý thời gian


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%90%E1%BB%A9c-Tr%E1%BB%8B-c%E1%BB%A7a-Kh%E1%BB%95ng-T%E1%BB%AD-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-doanh-nghi%E1%BB%87p-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    LỜI MỞ ĐẦU

    Kinh tế là một thế giới động luôn phát triển và không ngừng thay đổi, nhất là vào thời đại ngày nay khi chạm ngõ thế kỷ XXI, trên thế giới chu trình toàn cầu hoá là tất yếu khách quan của tăng trưởng, nó tạo ra những khó khăn và thách thức mới cho các doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Việc quản lý tốt hay không, luôn là vấn đề có ảnh hưởng đến sự tồn vong của một doanh nghiệp. Nhưng để quản lý tốt cần phải có những yếu tố nào? yếu tố kinh doanh hiện đại hay yếu tố quản lý truyền thống. Quá trình phát triển các học thuyết quản lý trải qua hàng nghìn năm những gì tích luỹ của quá khứ là của cải cho tương lai. Đặc biệt với phong thái quản lý phương Đông – một phong thái gần gũi với Việt Nam vẫn đứng trong kinh doanh thời đại “viễn thông – tên lửa”. Nổi bật nhất là chính sách, vị đức, trung dung trong Đức trị – Khổng Tử. Người viết quyết định chọn đề tài: “Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay” nhằm mục đích giải thích, giới thiệu tìm hiểu liệu trong giai đoạn này nó còn đúng đắn hay không hay đã lỗi thời.

    Những khó khăn chồng chất do tư liệu ít, ít người đề cập hay quan tâm đến vấn đề này. Đề tài quá rộng người viết không đủ khả năng khái quát hoặc đưa ra nhận xét hợp lý khi kinh nghiệm thực tiễn không nhiều. Mặt khác do thời gian gấp rút đã làm cho người viết lúng túng khi trong nhận định phân giải. Vượt qua khó khăn, người viết quyết tâm theo đuổi đề tài này, những mong có thể góp một phần nhỏ của mình vào việc nghiên cứu.

    Xin chân thành cảm ơn.

     

    CHƯƠNG I

    TƯ TƯỞNG “ĐỨC TRỊ” CỦA KHỔNG TỬ

    I. Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử

    1. Khổng Tử – Nhà quản lý xuất sắc

    Khổng Tử là một nhân vật lớn có ảnh hưởng tới diện mạo và sự phát triển của một số dân tộc. Ở tổ quốc ông, Khổng học có lúc bị đánh giá là hệ tư tưởng bảo thủ của (những người chịu trách nhiệm rất nhiều về sự trì trệ về mặt xã hội của Trung Quốc”. Ở những nước khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapor… Khổng Giáo lại được xem xét như một nền tảng văn hoá tinh thần tạo ra môi trường thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hoá các quốc gia theo mô hình xã hội “ổn định, kỷ cương và phát triển”.

    Sự đánh giá về Khổng Tử rất khác nhau, trước hết là vì những mập mờ của lịch sử. Ông sống cách chúng ta hơn 2 nghìn năm trăm năm và sau ông có rất nhiều học trò, môn phái phát triển hệ tư tưởng nho giáo theo nhiều hướng khác nhau. Có khi trái ngược với tư tưởng của thầy. Ở Trung Quốc vai trò của ông đã nhiều lần thăng giáng theo quan điểm và xu hướng chính trị, song đến nay, ông vẫn lại được đánh giá cao, UNESCO đã thừa nhận ông là một “danh nhân văn hoá thế giới”.

    Việc tách riêng từng khía cạnh trong cái tài năng đa dạng và thống nhất của ông đã tìm ra một Khổng Tử là nhà tư tưởng lớn về Triết học, chính trị học, đạo đức học và giáo dục học. Trong các lĩnh vực đó thật khó xác định đâu là đóng góp lớn nhất của ông. Có thể nhận định rằng, tầm vóc của Khổng Tử lớn hơn khía cạnh đó cộng lại, và sẽ là khiếm khuyết nếu không nghiên cứu ông như một nhà quản lý.

    Nếu thống nhất với quan niệm nhà quản lý là nhà lãnh đạo của một tổ chức, là người “thực hiện công việc của mình thông qua những người khác thì Khổng Tử đúng là người như vậy.

    2. Khổng Tử  – nhà tư tưởng quản lý của thuyết Đức trị

    Sống trong một xã hội nông nghiệp, sản xuất kém phát triển vào cuối đời Xuân Thu, đầy cảnh “đại loạn” và “vô đạo”, bản thân đã từng làm nhiều nghề “bỉ lậu” rồi làm quan cai trị, Khổng Tử nhận thức được nhu cầu về hoà bình, ổn định, trật tự và thịnh vượng của xã hội và mọi thành viên.

    Khác với Trang Tử coi đời như mộng, kiếp người phù du chỉ cốt “toàn sinh” cho bản thân, Khổng Tử là một người “nhập thể” và luôn trăn trở với chuyện quản lý của xã hội theo cách tốt nhất. Song, ông không phải là một nhà cách mạng từ dưới lên, ông chỉ muốn thực hiện những cải cách xã hội từ trên xuống, bằng con đường “Đức trị”.

    Xã hội lý tưởng mà Khổng Tử muốn xây dựng là một xã hội phong kiến có tôn ti, trật tự. Từ Thiên Tử tới các chư hầu lớn nhỏ, từ quý tộc tới bình dân, ai có phận nấy, đều có quyền lợi và nhiệm vụ sống hoà hảo với nhau, giúp đỡ nhau, nhất là hạng vua chúa, họ phải có bổn phận dưỡng dân- lo cho dân đủ ăn đủ mặc, và bổn phận giáo dân bằng cách nêu gương và dậy lễ, nhạc, văn, đức, bất đắc dĩ mới dùng hình pháp. Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở và hình mẫu, trọng hiếu đễ, yêu trẻ, kính giá. Mọi người đều trọng tình cảm và công bằng, không có người quá nghèo hoặc quá giàu; người giàu thì khiêm tốn, giữ lễ, người nghèo thì “lạc đạo”.

    Dù sao thì ý tưởng trên cũng được cả hai giai cấp bóc lột và bị bóc lột thời đó dễ chấp nhận hơn, dễ thực hiện hơn so với hình mẫu xã hội vô chính phủ “ngu si hưởng thái bình” của Lão Tử và mẫu “quốc cường quân tôn” bằng hình phạt hà khắc và lạm dụng bạo lực của phái pháp gia.

    Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên, cái giúp cho các nhà cai trì lập lại trật tự từ xã hội vô đạo chính là đạo Nho – đạo Nhân của Khổng Tử. Cho nên, dù có nói về chính trị, giáo dục hay đạo đức thì Khổng Tử đều xuất phát từ vấn đề nhân sự và mục đích của ông chính là xaay dựng một xã hội nhân bản.

    2.1. Đạo nhân về quản lý

    Với vũ trụ quan “thiên, địa, nhân – vạn vật nhất thể”, trời và người tương hợp, Khổng Tử nhận thấy các sự vật của vạn vật tuân theo một quy luật khách quan mà ông gọi là trời “mệnh trời”. Con người theo Nho học “là cái đức của trời, sự giao hợp âm dương, sự hội tụ của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành”. Con người sinh ra đều có bản chất Người (đức – nhân) nhưng do trời phú khác nhau về năng lực, tài năng và hoàn cảnh sống (môi trường) khác nhau cho nên đã trở thành những nhân cách không giống nhau. Bằng sự học tập, tu dưỡng không ngừng, con người dần dần hoàn thiện bản chất người của mình – trở thành người Nhân. Và những người hiền này có xứ mệnh giáo hoá xã hội, thực hiện nhân hoá mọi tầng lớp. Nhờ vậy, xã hội trở nên có nhân nghĩa và thịnh trị. Học thuyết Nhân trị của Khổng Tử cũng là một học thuyết quản lý xã hội nhằm phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người, lãnh đạo – cai trị họ theo nguyên tắc đức trị: người trên noi gương, kẻ dưới tự giác tuân theo.

    – Về đạo Nhân:

    “Nhân là yêu người” (Nhân là ái nhân). Nhân là giúp đỡ người khác thành công “Người thân, mình muốn thành công thì cũng giúp người khác thành công, đó là phương pháp thực hành của người nhân”. Nhưng Khổng Tử không nói đến tính nhân chung chung ông coi nó như đức tính cơ bản của nhà quản lý. Nói cách khác, người có nhân luôn tìm mọi cách đủ thu lợi về mình, nhân là nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý (trong quan hệ nhà quản lý với đối tượng bị quản lý) vưà là đạo đức và hành vi của các chủ thể quản lý. Khổng Tử nâng tư tưởng nhân lên thành đạo (nguyên tắc sống chung cho xã hội) vì là một nhà tư tưởng quản lý sâu sắc, ông thấy đó là nguyên tắc chung gắn kết giữa chủ thể và khách thể quản lý đạt hiệu quả xã hội cao: “người quân tử học đạo thì yêu người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến” (Dương hoá).

    – Nhân và lễ:

    Nhân có thể đạt được qua Lễ, Lễ là hình thức biểu hiện của Nhân, thiếu Nhân thì Lễ chỉ là hình thức giả dối: “Người không có đức Nhân thì Lễ mà làm chi”.

    – Nhân và Nghĩa:

    Đúng lễ cũng là làm đúng nghĩa rồi. Nhân gắn liền với Nghĩa vì theo Nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì phải làm, không mưu tính lợi của cá nhân mình. “Cách xử sự của người quân tử, không nhất định phải như vậy mới được, không nhất định như kia là được, cứ hợp nghĩa thì làm”, làm hết mình không thành thì thôi.

    Tư tưởng nhân ái của Khổng Tử có thể so sánh với tình bác ái của chúa Giê su và Đức phật. Nhưng ông khác 2 vị kia ở chỗ, trong tình cảm, có sự phân biệt tuỳ theo các mối quan hệ: trước hết là ruột thịt, sau đến thân, quen và xa hơn là người ngoài.

    – Nhân và Trí

    Trí trước hết là “biết người”. Có hiểu biết sáng suốt mới biết cách giúp người mà không làm hại cho người, cho mình: “Trí giả lợi Nhân”. Rõ ràng là người Nhân không phải là người ngu, không được để cho kẻ xấu lạm dụng lòng tốt của mình. Trí có lợi cho Nhân, cho nên khi Khổng Tử nói đến người Nhân – quân tử, bao giờ cũng chú trọng tới khả năng hiểu người, dùng người của họ. Phải sáng suốt mới biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét.

    – Nhân và Dũng

    Dũng là tính kiên cường, quả cảm, dám hy sinh cả bản thân mình vì nghĩa lớn. Khổng Tử khen Bá Di, Thúc Tê, thà chết đói chứ không thèm cộng tác với kẻ bất nhân, là người Nhân. Khổng Tử rất ghét những kẻ hữu Dũng bất Nhân, vì họ là nguyên nhân của loạn.

    Đạo của Khổng Tử không quá xa cách với đời. Nhân – Trí – Dũng là những phẩm chất cơ bản của người quân tử, là tiêu chuẩn của các nhà quản lý- cai trị. Tư tưởng đó của Khổng Tử được Hồ Chsi Minh kế thừa có chọn lọc và nó vẫn còn ảnh hưởng đối với sụ phát triển của xã hội hiện nay. Khổng Tử cũng mong phú quý, nhưng ông chỉ thừa nhận nó trở thành ích lợi cho xã hội khi nó “không trái với đạo lý” và phải đạt được bằng những phương tiện thích đáng. Khổng Tử khuyên các nhà cai trị không nên chỉ dựa vào lợi để ra quyết định quản lý: “nương tựa vào điều lợi mà làm hay là sinh ra nhiều điều oán” (Lý nhân, IV). Ông biết họ có nhiều ưu thế để tranh lợi với cấp dưới và những người lao động luôn phải chịu mức sống thấp hơn, cho nên, điều quan trọng đối với nhà quản lý là phải nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người và lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Chỉ như vậy xã hội mới có cái lợi dài lâu là môi trường chính trị – xã hội ổn định, các giai cấp hợp tác cùng làm ăn vì mục tiêu chung: kinh tế thịnh vượng, tinh thần tốt đẹp.

    Khổng Tử khuyên các nhà quản lý phải “khắc phục được tư dục”, không nên cầu lộc cho cá nhân mình, cứ chuyên tâm làm tốt công việc thì “bổng lộc tự khắc đến”. Làm cho dân giàu là mục tiêu đầu tiên, cơ bản của nhà quản lý”: đối với những người nông dân nghèo khổ đương thời, Khổng Tử biết lợi ích kinh tế là nhu cầu thiết yếu của họ, nên ông biết đạo Nhân sẽ khó thực hiện được khi quần chúng còn nghèo khổ: “Nghèo mà không oán là khó, giàu mà không kiêu là dễ” (Hiếu Vấn). Khổng Tử sang nước Vệ, Nhiễm Hữu đánh xe, Khổng Tử nói: “Dân đông thay”, Nhiễm Hữu hỏi: “Đã đông rồi làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử nói: “ Làm cho dân giàu”, Nhiễm Hữu hỏi: “ Đã giàu rồi, lại làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử  nói: “Giáo dục họ”.

    Tư tưởng “làm cho dân giàu”, “tiên phú, hậu giáo” là tư tưởng duy vật của Khổng Tử, được các học giả của Nho gia và Mắc gia sau này phát triển thêm. Nhưng những giá trị tư tưởng của Khổng Tử để lại cho hậu thế đã không bị mai một theo thời gian. Ngày nay, hệ thống học thuyết của Khổng Tử đã trở nên lạc hậu, trước hết là phần nội dung liên quan tới vấn đề thế giới quan, song nhiều triết lý của ông về đạo đức – đạo lý, giáo dục, cai trị – quản lý con người và xã hội… vẫn là những nguyên tắc và triết học chỉ đạo một số hoạt động. Ví dụ như:

    Khổng Tử nhấn mạnh tới quá trình tự tu dưỡng trong hoạt động quản lý: “tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” (Đại học).

    Người Nhân thì phải hết lòng vì người, biết từ bụng ta suy ra bụng người: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Luận ngữ).

    Trong hoạt động kinh tế, không chỉ căn cứ vào lợi nhuận đơn thuần “Giàu sang là điều ai cũng muốn, nhưng nếu được giàu sang mà trái với đạo lý thì người quân tử không thèm”. Cứ làm việc tốt, phục vụ người tốt thì “bổng lộc tự khắc đến”.

    Ở đây có một điểm cần nói rõ hơn: “Chính” mà Khổng Tử nói ở đây là chính trị, chính sự. Và chính trị là chỉ mọi biện pháp được thi hành để quản lý đất nước, làm cho chính sự được quản lý chặt chẽ; chính sự là chỉ việc làm hành chính. Khổng Tử chủ trương tham gia chính trị nuôi dưỡng nhân tài “Tòng chính” có nghĩa là chấp chính. Lúc bấy giờ, chưa thể có quản lý xí nghiệp cũng như khái niệm về quản lý xí nghiệp. Thời bấy giờ, việc quản lý quốc gia là việc mọi người quan tâm nhất, đó cũng là chính sự. Do đó, Khổng Tử quan tâm đến “Chính”. Quan tâm và nghiên cứu việc quản lý quốc gia là rất tự nhiên. Nhưng quản lý quốc gia là quản lý! Còn về điểm quản lý con người, nó cũng có nét chung như bất cứ việc quản lý nào. Do đấy, tư tưởng quản lý của Khổng Tử có ý nghĩa phổ biến.

    Quản lý học phương Tây truyền thống cho rằng quản lý là quản lý, luân lý đạo đức là luân lý đạo đức, hai phạm trù đó không có liên quan với nhau. Nhưng quản lý là cái gì? Suy cho cùng, quản lý là quản lý con người. Trong quản lý, đối với con người thì quản lý là cái gì? Quản lý mọi quan hệ giữa người với người. Còn luân lý đạo đức, là quy phạm chuẩn mực hành vi giữa con người với con người. Do đấy giữa luân lý đạo đức và quản lý là có quan hệ mật thiết.

    Quản lý có nghĩa là xử lý tốt mọi quan hệ giữa con người với nhau. Ví dụ trong quản lý xí nghiệp là cần xử lý tốt hai quan hệ lớn của con người với nội bộ xí nghiệp bên ngoài. Quan hệ giữa xí nghiệp với bên ngoài là: Quan hệ giữa xí nghiệp với khách hàng, giữa xí nghiệp với tiền tệ, tiêu thụ, cung ứng… Do đấy cũng tự nhiên rút ra kết luận là Khổng Tử không có tư tưởng quản lý. Nhưng qua phân tích ở trên, chúng ta có thể nhìn thấy rõ nhận thức ấy là phiến diện.

    So với cách quản lý truyền thống của phương Tây và pháp gia cổ đại của Trung Quốc, cách quản lý của Khổng Tử đi một con đường khác. Ông nhấn mạnh đức trị, nhấn mạnh lấy luân lý đạo đức để giáo hoá nhân dân. Đương nhiên ở thời Khổng Tử, nội dung của luân lý khác với ngày nay. Trong khi Khổng Tử nhấn mạnh nghiên cứu “vị chính” quản lý, thì nội dung luân lý và nội dung quản lý có sự khác biệt. Nhưng đó chỉ là sự cá biệt của vấn đề, không thể thay đổi được kết luận chung về mối quan hệ khăng khít giữa quản lý và luân lý đạo đức. Quản lý là thể thống nhất hữu cơ của tư tưởng quản lý và thuận quản lý. Tư tưởng quản lý là cái bản chất, thuật quản lý chỉ là cái phát sinh mà thôi. Nhân tố cơ bản quyết định tính chất quản lý và thành bại của nó là tư tưởng quản lý chứ không phải là thuật quản lý. Từ ý nghĩa ấy, lấy “thuật” để thay thế quản lý phiến diện. Cũng vì lý do ấy, quyết không nêu vì Khổng học không có “thuật” mà phủ định Khổng Tử từng bàn đến quản lý, phủ định tư tưởng quản lý của Khổng Tử.

    Vậy, tư tưởng học thuyết lễ trị (Vị Đức) của Khổng Tử là: Làm gì muốn thành công cũng phải có chính danh (lẽ phải), phải biết chọn người hiền tài giúp việc, phải thu phục lòng người, phải đúng đạo và phải tiết kiệm. Các ông cho rằng con người phải chia thành 2 loại: quân tử thì có nghĩa, còn tiểu nhân thì chỉ chăm lo điều lợi.

    2.2. Khổng Tử với tầng lớp quản lý chuyên nghiệp

    Đạo nhân của Khổng Tử là nền tảng của học thuyết quản lý đức trị, kỷ cương và phát triển thịnh vượng. Trong một xã hội sản xuất thô sơ, có sự đối chọi về lợi ích và tương phản rõ rệt giữa người giàu và kẻ nghèo thì rất khó thực hiện điều nhân cho toàn xã hội. Tư tưởng của Khổng Tử đã được các vua chúa sau này học tập, xây dựng một hệ thống tuyển lựa nhân tài cho quốc gia. Căn cứ vào kết quả các kỳ thi, những người đỗ đạt, dù xuất thân từ giai cấp nào, đều được đề bạt các chức vụ quản lý, từ thấp đến cao. Chế độ tuyển chọn nhân tài này đã tạo ra một đẳng cấp các nhà quản lý ở nhiều nước phương Đông kiểu Khổng giáo.

    Thuyết chính danh của Khổng Tử đòi hỏi đặt tên đúng sự vật và gọi sự vật bằng đúng tên của nó, khiến danh đúng với thực chất sự vật. Trong quản lý, chính danh là phải làm việc xứng đáng với danh hiệu chức vụ mà người đó được giao. Muốn chính danh thì thân phải chính (có nhân), không chấp nhận thói xảo trá, lừa lọc hoặc việc lạm dụng chức quyền. Đã mang cái danh là vua phải làm tròn trách nhiệm của một vị vua, không sẽ mất cả danh và ngôi. Khổng Tử có tư tưởng khi việc làm vượt quá trách nhiệm và danh vị, Khổng Tử gọi là “Việt vị”. Khổng Tử cho rằng mầm mống của loạn lạc, bất ổn của quốc gia là các hành vi “việt vị”, “tiếm lễ” của tầng lớp cai trị.

    Ngày nay, nhìn lại, chúng ta thấy tư tưởng quản lý của Khổng Tử có nhiều điểm bảo thủ, thiếu dân chủ và ảo tưởng. Nhưng ở thời ông, luật pháp còn rất sơ sài, quyền lực thực sự được quyết định bởi ý chí và hành vi của vua và tầng lớp cai trị, người dân còn đói nghèo, dốt nát, không có quyền tự bảo vệ mình. Trong bối cảnh như vậy, Khổng Tử muốn xây dựng xã hội lý tưởng bằng cách bắt đầu “từ trên xuống dưới”, ông phải kêu gọi lòng khoan dung, sự gương mẫu của các nhà quản lý.

     

    CHƯƠNG II

    VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP HIỆN ĐẠI

    I. Vận dụng trong thực tiễn

    Trong thực tiễn cải cách quản lý doanh nghiệp liên quan đến hai đặc tính lớn là tính dân tộc và tính thời đại của quản lý, về khách quan cũng tồn tại hai thái độ cực đoan đối với hai đặc tính lớn này. Đó chính là: Hoặc là chủ nghĩa bảo thủ dân tộc chỉ nhấn mạnh tính dân tộc của quản lý mà coi nhẹ tính thời đaị, hoặc chủ nghĩa hư vô dân tộc chỉ nhấn mạnh tính thời đại của quản lý mà coi nhẹ tính dân tộc. Hai thái độ này, về nhận thức để phiến diện, trong thực tiễn đều là có hại. Noi gương kinh nghiệm của Nhật Bản, trong hai thái độ cực đoan này cũng nên tìm được “Trung đạo” và kiên trì “trung dung”. Đó chính là một mặt biểu hiện khác của đạo trung dung trong quản lý doanh nghiệp. “Trung đạo” này đòi hỏi sự thống nhất hoàn mỹ giữa tính dân tộc và tính thời đại hoá quản lý doanh nghiệp, thực hiện việc hiện đại hoá quản lý doanh nghiệp có bản sắc dân tộc, cũng tức là quản lý doanh nghiệp có đặc sắc của Trung Quốc.

    Từ góc độ quản lý hiện đại, tiến hành phân tích, giám định toàn diện một lượt đối với quản lý truyền thống của Trung Quốc, cũng chính là xem xét một cách hệ thống “hiện thực” quản lý doanh nghiệp. Đối với những tư tưởng, lý luận, chế độ, phương pháp quản lý doanh nghiệp được chứng minh qua thực tiễn lâu dài, đã có đặc điểm văn hoá dân tộc, lại phù hợp với đặc trưng cơ bản của quản lý doanh nghiệp hiện đại, phải tiến hành khẳng định, kế thừa và phát triển một cách đầy đủ. Đối với những cái có đặc điểm văn hoá dân tộc, nhưng không hoàn toàn phù hợp với đặc trưng cơ bản của quản lý doanh nghiệp hiện đại, nên căn cứ  yêu cầu của quản lý hiện đại. Dưới tiền đề giữ gìn đặc tính cơ bản dân tộc, tiến hành cải tạo, loại bỏ, làm cho nó phù hợp với đòi hỏi của quản lý hiện đại. Chẳng hạn thực tiễn công tác giáo dục tư tưởng tiến hành mấy chục năm lại đây trong các xí nghiệp của Trung Quốc đại lục đã phù hợp với quan niệm nghĩa lợi trong truyền thống văn hoá dân tộc, lại nhất trí ở trình độ tương đối lớn với quản lý mềm, quản lý của thế giới ngày nay rất chú trọng đối với các doanh nghiệp.

    Về thực tiễn, quản lý đã có từ lâu. Nhưng quản lý trở thành một khoa học thì khởi đầu phải nói là phương Tây. Ở thế kỷ này, nhất là trước thập kỷ 70, quản lý học phát triển nhanh chóng, các học phái mọc ra như nấm, một cảnh tượng phát triển rực rỡ. Cần phải nói rằng, về mặt khoa học hoá, định lượng hoá về quản lý thì quản lý phương Tây có công đầu.

    Tóm lại: Quản lý doanh nghiệp kiểu Trung Quốc và Nhật Bản cần phải có nét khái quát lớn. Song nó không phải là trạng thái tĩnh, mà là trạng thái động. Nó dứt khoát không phải là một loại mô thức cứng nhắc cố định, hình thức cụ thể của nó phải tuỳ từng nơi mà chế định biện pháp thích hợp, tuỳ lúc mà chế định biện pháp thích hợp, từ đó mà là cái trăm ngàn dáng vẻ, phong phú, đa dạng.

    II. Những điểm lợi và hại của “Đức trị”

    Đường lối đức trị trong quản lý, chủ yếu là dựa vào xây dựng quan niệm giá trị chung của mọi người, dựa vào quyền lực phi chính thức của bản thân người lãnh đạo như phẩm chất đạo đức, tài năng, tình cảm…, dẫn dắt mọi người hoàn thiện cuộc sống tinh thần và tu dưỡng đạo đức, trên cơ sở đó, thực hiện khống chế bên trong của hành vi, khiến cho hành vi của mọi người tự giác đảm bảo nhất trí với mục tiêu tổ chức.

    Cái lợi và cái hại của quản lý đức trị, hầu như ngược lại với quản lý pháp trị, ưu điểm, khuyết điểm trái ngược nhau. Pháp trị dựa vào sức răn đe, luôn luôn có hiệu quả ngay. Đức trị dựa vào giáo hoá, dựa vào tư tưởng để giải quyết vấn đề. Như vậy, hiệu quả sẽ nhìn thấy chậm. Nhất là hình thành đạo đức nếp sống lí tưởng, xây dựng quan niệm giá trị chung thì mất thời gian, quyết không thể một sớm một chiều. Do vậy, dùng nó để ngăn cấm ác, giảm lan truyền thì tỏ ra lực bất tòng tâm. Nhất là trong khi quản lý xuất hiện hỗn loạn, đòi hỏi dẹp loạn để xây dựng lại trật tự, làm cho quản lý nhanh chóng từ không nền nếp chuyển biến thành có nền nếp thì đức trị tỏ ra mềm yếu đuối sức. Nhưng sau khi một loại tư tưởng, một loại quan niệm giá trị được mọi người tiếp nhận, thì thời gian phát huy tác dụng của nó tương đối dài, thậm chí là rất sâu xa. Điểm này quản lý pháp trị không sao bì kịp. Do vậy, có thể nói pháp trị theo đổi là hiệu quả thời gian ngắn, đức trị theo đổi là hiệu quả thời gian dài. Pháp trị là quản lý tính chiến thuật, đức trị là quản lý tính chiến lược.

    Còn chức năng đức trị ở chỗ “khuyên thiện”. Nó không phải là giảm lưu truyền, ngăn chặn “ác” một cách tiêu cực mà là tích cực tiêu diệt tận gốc cái “ác”, thực hiện “chặt đứt gốc rễ”, giải quyết vấn đề từ căn bản.

    III. Nhận xét

    Những phân tích ở trên cho thấy rằng, trong thực tiễn quản lý, hai đường lối quản lý đức trị và pháp trị phải có đủ cả và kết hợp sử dụng, rộng mạnh cùng thi hành. Kết luận của thực tiễn quản lý mấy ngàn năm của Trung Quốc đói với hôm nay phải có ý nghĩa răn bảo. Không chỉ Trung Quốc, ngay ở Nhật Bản, giới xí nghiệp trong tổng kết thực tiễn, cũng rút ra kết luận như vậy. Nhà xí nghiệp nổi tiếng đương đại Songxia nói: “Là một người lãnh đạo, đối với ân uy phải phối hợp vận dụng được”; “ân uy kiêm sử dụng, rộng nghiêm thoả đáng, mới có thể giúp nhau cùng hoàn thành thu được hiệu quả một công đôi việc”.

    Từ chức năng và đặc điểm của đức trị chúng ta có thể thấy nó phù hợp đòi hỏi tổ chức trị an lâu dài của xí nghiệp, có lợi cho phát triển ổn định lâu dài.

    Chức năng của quản lý đức trị dựa vào giáo hoá để hình thành khống chế bên trong của mọi người. Cũng tức là biến mục tiêu, tôn chỉ, quan niệm giá trị của xí nghiệp thành mục tiêu, tôn chỉ quan niệm giá trị của bản thân toàn thể thành viên.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Tiểu Luận Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Tiểu Luận Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu Luận Công nghệ sinh học thực vật


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-th%C3%B4ng-tin-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu Luận Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT)) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn.

    Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin. Vì lý do đó, những người làm việc trong ngành này thường được gọi là các chuyên gia CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant), và bộ phận của một công ty hay đại học chuyên làm việc với CNTT thường được gọi là phòng CNTT.

    Ở Việt Nam thì khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin của chính phủ Việt Nam, như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.”

    Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông. Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác. Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực.

    Theo định nghĩa này thì không thể nào có chuyên gia CNTT mà lại không hiểu biết về sử dụng máy tính và phần mềm máy tính!

    Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010

    Huy Tài – 21/04/2009 4:00 PM

    Công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đặc biệt là hoạt động quản lý nhà nước. Nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước, ngày 31/3/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010.

    Kế hoạch này đã đưa ra các mục tiêu, nội dung và giải pháp cần thực hiện để nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin đối với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước. Trước mắt, từ nay đến hết 2010, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tập trung hoàn thành hai mục tiêu sau:

    Một là nâng cao năng lực quản ký, điều hành của các cơ quan nhà nước. Để thực hiện mục tiêu này, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đảm bảo: Tỷ lệ trung bình thông tin chỉ đạo, điều hành được đưa lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử là 60%; tỷ lệ trung bình cán bộ, công chức sử dụng thư điện tử cho công việc là 80%; tỷ lệ Vụ, Văn phòng triển khai sử dụng phần mềm ứng dụng quản lý văn bản và điều hành trên môi trường mạng là 90%. Bên cạnh đó, cần nâng cao tỷ lệ trung bình máy tính trên cán bộ, công chức; giảm thiểu việc sử dụng giấy tờ; khuyến khích cán bộ, công chức khai thác thông tin trên môi trường mạng phục vụ công tác. Ngoài ra, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần tăng dần và khuyến khích sử dụng các hình thức truyền thông cơ bản như thư điện tử, điện thoại, fax, hội nghị và họp trên môi trường mạng, đưa thông tin lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử để trao đổi thông tin ở khoảng cách xa.

    Hai là đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp: Theo mục tiêu này, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đảm bảo 100% có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử theo quy định của Luật Công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, tùy theo đơn vị phải bảo đảm 80% (đối với Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh) hoặc 100% (đối với Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương) số cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 cho người dân và doanh nghiệp.

    Để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu trên, Chính phủ đã đưa ra các hoạt động triển khai cụ thể sau:

    Thứ nhất, để nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước, các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện cải tiến quy trình công việc, thủ tục và chuẩn hóa nghiệp vụ; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ứng dụng các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành và quản lý của các cơ quan nhà nước, bao gồm các nội dung chủ yếu như: hệ thống thư điện tử; hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành và số hóa nguồn thông tin chưa ở dạng số theo thứ tự ưu tiên về thời gian và tầm quan trọng; tăng cường sử dụng văn bản điện tử; phát triển và cung cấp thông tin trực tuyến phục vụ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước; thông tin công khai về tuyển dụng, chế độ lương, hưu, bảo hiểm, khen thưởng và kỷ luật. Các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng cần tiếp tục xây dựng và triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ phù hợp với đặc thù của từng đơn vị.

    Bên cạnh đó, các cuộc họp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các cuộc họp của các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với các cơ quan trực thuộc cần đảm bảo thực hiện từ xa.

    Thứ hai, để đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần xây dựng và hoàn thiện các cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của đơn vị mình để cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp, tiếp tục cung cấp biểu mẫu điện tử qua cổng điện tử hoặc trang thông tin điện tử. Bên cạnh đó, các Bộ, Ngành cần căn cứ vào tình hình thực tế chỉ đạo triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3. Trong giai đoạn 2009 – 2010, Chính phủ ưu tiên triển khai các nhóm dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 sau đây: cấp phép giấy đăng ký kinh doanh; giấy phép đầu tư; giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; giấy phép xây dựng; chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất; giấy chứng nhận đăng ký ô tô, xe máy; giấy chứng nhận đăng ký tạm trú, tạm vắng; giấy đăng ký hành nghề y, dược; giấp phép hoặc dịch vụ đặc thù và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Bên cạnh đó, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần hình thành kênh tiếp nhận ý kiến đóng góp trên môi trường mạng, tổ chức đối thoại trực tuyến, chuyên mục hỏi đáp trực tuyến về hoạt động của các cơ quan nhà nước để phục vụ người dân và doanh nghiệp.

    Bên cạnh những nội dung kể trên, để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đề ra, Chính phủ đưa ra hai nhóm hoạt động khác có tính chất nền tảng, phục vụ cho việc ứng dụng công nghệ thông tin đối với cơ quan quản lý nhà nước.

    Một là xây dựng nền tảng phục vụ Chính phủ điện tử. Nội dung này đòi hỏi Chính phủ, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan phát triển hạ tầng truyền thông; phát triển cơ sở dữ liệu; xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật quốc gia về công nghệ thông tin áp dụng trong các cơ quan nhà nước; nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn mô hình ứng dụng công nghệ thông tin điển hình cấp huyện để phổ biến áp dụng rộng rãi; bảo đảm an toàn thông tin và hoàn chỉnh môi trường pháp lý.

    Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin. Nội dung này đòi hỏi các Bộ, Ngành và đơn vị liên quan phải tiếp tục xây dựng và phát triển đội ngũ giám đốc công nghệ thông tin; bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước; nghiên cứu xây dựng chế độ ưu đãi đối với cán bộ, công chức chuyên trách về công nghệ thông tin; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về quản lý dự án công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng đào tạo trực tuyến cho cán bộ, công chức.

    Một số giải pháp thực hiện

    Rõ ràng, việc thực hiện và hoàn thành các mục tiêu lớn nói trên không hề đơn giản. Do đó, để đảm bảo hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra, trong thời gian tới, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần triển khai thực hiện tốt các giải pháp sau:

    Một là kết hợp chặt chẽ việc triển khai Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010 với việc thực hiện Chương trình cải cách hành chính để ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước có tác dụng thực sự thúc đẩy cải cách hành chính và tăng hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin.

    Hai là đa dạng hóa các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cao hiệu quả đầu tư về sử dụng điện thoại, thư điện tử, nhắn tin và các hình thức thông tin liên lạc khác để cung cấp thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp, không giới hạn chỉ sử dụng Internet, mạng máy tính.

    Ba là tăng cường liên hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức, đoàn thể và doanh nghiệp để thực hiện tốt các dịch vụ trực tuyến và các hệ thống thông tin, đảm bảo việc ứng dụng công nghệ thông tin ổn định, thường xuyên.

    Bên cạnh đó, trong thời gian tới cần triển khai các hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin; khuyến khích tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về công nghệ thông tin; tổ chức tuyên truyền rộng rãi nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức về các lợi ích trong việc xây dựng Chính phủ điện tử cho cán bộ, công chức, người dân và doanh nghiệp.

    Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là trong thời gian tới, chúng ta cần tích cực nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm tốt của các nước có Chính phủ điện tử phát triển; tiếp cận ứng dụng công nghệ, phương thức thực hiện tiên tiến vào điều kiện thực tế của Việt Nam.

    Bên cạnh những mục tiêu từ nay đến hết năm 2010, trong Kế hoạch này, Chính phủ cũng đã đưa ra một số định hướng ứng dụng công nghệ thông tin đối với các cơ quan quản lý nhà nước đến năm 2015, trong đó tập trung vào ba nội dung cơ bản sau:

    Một là, ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương thức cung cấp thông tin và dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Phấn đấu đến năm 2015 cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 3 và hoặc 4, người dân và doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin, gửi, nhận hồ sơ, thanh toán phí dịch vụ, nhận kết quả dịch vụ qua mạng.

    Hai là ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương thức quản lý tài nguyên thông tin trong các cơ quan nhà nước; phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia về con người, đất đai, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại tạo nền tảng triển khai Chính phủ điện tử; từng bước tích hợp các hệ thống thông tin, tiếp tục xây dựng và mở rộng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành chung của các cơ quan nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

    Ba là ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước nhằm xây dựng môi trường làm việc điện tử giữa các cơ quan nhà nước trên phạm vi toàn quốc, tạo thói quen làm việc của cán bộ, công chức trên môi trường mạng và hệ thống thông tin trợ giúp, thay thế văn bản giấy.

    Chúng ta tin tưởng rằng trong thời gian tới, với quyết tâm của Chính phủ và sự tham gia tích cực của các Bộ, Ngành, người dân và doanh nghiệp về ứng dụng công nghệ thông tin sẽ là đòn bẩy cơ bản để nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn./.

    Ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước: mạnh nhưng còn hoang sơ

    Cập nhật: 20/2/2009 với   no comments
    Xếp trong: công nghệ thông tin

    “Việc ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước hiện vẫn chưa có quy hoạch tổng thể, chưa xác định được hướng đi trong tương lai, mới chỉ mang tính tự phát, không đồng đều” …

    Ông Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở TT&TT TPHCM nhận xét như vậy tại buổi gặp gỡ đầu năm ngành CNTT – TT năm 2009. Theo ông Hà, tại TPHCM, việc áp dụng vào việc quản lý là rất phát triển, trong khi đó một số địa phương khác lại chưa có được bước tiến nào.

    Sau đây là 9 sự kiện CNTT – TT được xem có tác động sâu rộng đến xã hội do Sở TT&TT nêu ra.

    Lãnh đạo các ngành tại buổi hội thảo diễn ra sáng nay (19/2). (Ảnh: Lê Mỹ)

    1. Tăng thêm đầu số điện thoại cố định và thống nhất giá cước điện thoại nội hạt trên toàn quốc

    Trong năm vừa qua, việc tăng thêm đầu số cho điện thoại cố định tại các tỉnh trong nước đã thành công, đây được xem là một bước tiến của ngành viễn thông trong nước. Việc tăng thêm đầu số cũng xảy ra một số khó khăn như người dùng vẫn khó hiểu trong việc áp dụng các đầu số vào điện thoại của các mạng điện thoại khác nhau như EVN, VNPT, Viettel,…Một số doanh nghiệp cũng như các cá nhân phải thay đổi số điện thoại mới, namecard,…

    2. Giá cước giảm, sự gia tăng đột biến số thuê bao di động trả trước và những bất cập.

    Năm 2008, mặc dù nền kinh tế bị khủng hoảng, nhưng giá cước thuê bao di động cũng như điện thoại cố định của Việt Nam lại giảm mạnh, đây được xem là một thành công của ngành này. Bên cạnh đó số thuê bao di động cũng tăng đột biến, theo số liệu thống kê thì cả nước đã có gần 83 triệu thuê bao di động. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều bất cập trong việc quản lý, đặc biệt là các thuê bao di động trả trước dẫn đến xuất hiện rất nhiều số thống kê “ảo”.

    3. Thành lập các sở TT&TT trên toàn quốc

    Đã có rất nhiều sở TT&TT được thành lập trong năm qua, hầu hết các tỉnh đã chú trọng đầu tư cho ngành này.

    4. Dịch vụ nội dung số phát triển nhưng gặp không ít khó khăn

    Nội dung số của Việt Nam đã có bước phát triển mạnh trong năm qua, nhiều cổng thông tin được thành lập, các dịch vụ giá trị gia tăng có nhiều bước tiến. Nhưng song song với nó còn không ít khó khăn trong việc quản lý. Chẳng hạn như các tin nhắn khuyến mãi xuất hiện nhiều nhưng lại có quá nhiều tin nhắn “ma” gây khó chịu cho người dùng. Các trang web có nội dung xấu vẫn hoạt động mạnh, một số đã bị đánh sập nhưng vẫn chưa đáng kể.

    5. Blog và quản lý blog

    Blog đã phát triển mạnh trong năm qua, bên cạnh các blog giải trí, trang nhật ký cá nhân thì cũng xuất hiện những blog có nội dung chính trị. Thông tin đã được truyền đi nhanh chóng và được nhiều người quan tâm.

    Bên cạnh đó blog cũng gây ra nhiều vấn đề đau đầu cho các cơ quan chức năng, chính vì thế Bộ TT&TT đã quyết định đưa nó vào danh mục cần quản lý, có điều việc quản lý blog bước đầu chỉ mang tính tác động tâm lí là chính.

    6. Phát triển mạnh các trạm BTS, cáp viễn thông, truyền hình và biện pháp quản lý

    Các trạm BTS đã được đầu tư phát triển, cả nước đã có 31.000 trạm phát sóng BTS. Có điều song song với nó là sự xuất hiện của các mạng dây cáp chằng chịt trên thành phố, nhiều doanh nghiệp còn vi phạm trong việc cung cấp internet. Đã có 7 doanh nghiệp bị xử lý trong việc cung cấp dịch vụ internet trên cáp truyền hình.

    7. Ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước: mạnh nhưng còn hoang sơ

    8. An toàn thông tin

    An toàn thông tin là vấn đề đã được chú trọng trong năm qua, hiệp hội an toàn thông tin trong ngành CNTT đã ra đời và ngày an toàn thông tin đã được tổ chức. Nhưng có thể nói trong năm qua nhiều vi phạm trong an toàn thông tin đã diễn ra, chẳng hạn như PA Việt Nam bị tấn công, nhiều tin tặc tấn công vào website doanh nghiệp,…

    9. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động mạnh đến CNTT của Việt Nam

    Việc nền kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng đã làm cho nhiều doanh nghiệp hoạt động CNTT trong nước gặp không ít khó khăn. Nhiều công ty phải bù lỗ, thậm chí nhiều doanh nghiệp đã phải đóng cửa.

    Thương mại điện tử và ứng dụng trong marketing

    Nguyễn Tuyết Mai
    BwPortal
    11:54′ AM – Thứ ba, 25/10/2005
     
    Trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu của mỗi doanh nghiệp, bên cạnh những phương tiện quảng cáo truyền thống như TV, báo, tạp chí, Internet đóng vai trò quan trọng và là một phương tiện hiệu quả, tiết kiệm trong việc xây dựng nhận thức của người tiêu dùng đối với một thương hiệu. Người làm marketing có thể sử dụng tất cả những ứng dụng của trang web, nhằm quảng cáo, tăng cường quan hệ với công chúng, xây dựng những cộng đồng trên mạng để tạo những ấn tượng tốt cho thương hiệu.

     

    Marketing điện tử khuyến khích người tiêu dùng tham gia tích cực vào phát triển thương hiệu, đọc thông tin về sản phẩm, hướng dẫn cụ thể cách sử dụng. Hiệu quả phát triển thương hiệu của những tập đoàn lớn như Fedex, Charles Schwab, The New York Times, Nike, Levi Strauss, Harley Davidson đã chứng minh vai trò của marketing điện tử trong chiến lược marketing thế kỷ 21.

    • Marketing trực tiếp: Nhiều nhà marketing đặt ra những mục tiêu cụ thể hơn trong chiến lược marketing trên mạng là sử dụng Internet thực hiện marketing trực tiếp. Internet tiết kiệm tối thiểu chi phí và đem lại hiệu quả lớn hơn nhiều so với phương pháp gửi quảng cáo bằng thư truyền thống: không tem, không phong bì, không tốn giấy và các chi phí khác. Trên cơ sở dữ liệu về người tiêu dùng, nhà marketing có thể gửi hàng triệu e-mail bằng một lần nhấn chuột, hoặc có thể sử dụng chương trình tự động gửi e-mail cho từng nhóm khách hàng hoặc từng khách hàng những nội dung phù hợp với đặc điểm nhóm này.
    • Bán hàng trên mạng: Người tiêu dùng có thể tìm thấy mọi thứ mình cần trên mạng từ chocolate đến ô-tô. Amazon.com từng có doanh số bán sách 32 triệu USD trong năm đầu khai trương cửa hàng trên mạng.
    • Hỗ trợ tiêu dùng: Hỗ trợ tiêu dùng và khách hàng là một trong những ưu điểm quan trọng của Marketing điện tử mà nhiều công ty không chú ý đến. Hiện nay, hỗ trợ tiêu dùng mới chỉ dừng lại ở dạng sơ khai dưới hình thức các câu hỏi khách hàng thường hỏi (FAQs-Frequent Asked Questions). Những hình thức khác doanh nghiệp có thể áp dụng là trả lời thắc mắc của khách hàng, email trả lời tự động, thông tin cập nhật, diễn đàn người tiêu dùng, tán chuyện trên mạng…
    • Điều tra thị trường: Internet mang lại hiệu quả cao trong nghiên cứu thị trường, thông qua xây dựng hệ thống dữ liệu khách hàng cập nhật và đầy đủ. Điều tra thị trường qua mạng tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp và thời gian cho khách hàng. Đồng thời, độ tin cậy của điều tra cũng có thể được kiểm tra chặt chẽ bằng cách kết hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.
    • Theo dõi hành vi người tiêu dùng: Máy chủ cho phép doanh nghiệp theo dõi từng động thái của khách hàng mỗi khi khách hàng xâm nhập vào mạng của công ty: thời gian trên mạng, mở những trang web nào, chọn và mua những sản phẩm gì, đã mở trang web có sản phẩm đó bao nhiêu lần, quan tâm tới nhóm sản phẩm nào, ưa thích màu gì, thường chọn cỡ sản phẩm nào… Thông tin này cho phép người làm marketing giới thiệu sản phẩm phù hợp hoàn toàn với nhu cầu của từng cá nhân khách hàng.

    Thách thức trong phát triển thương mại điện tử đối với doanh nghiệp

    Một công trình điều tra thị trường do E-CommerceNet.com tiến hành trên cơ sở 1000 phiếu điều tra, trong đó 80% từ các nước châu Á đã rút ra 10 yếu tố cơ bản hạn chế doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia thương mại điện tử là:

    1. Vấn đề an ninh và mã hoá
    2. Độ tin cậy thấp và rủi ro lớn trong giao dịch thương mại điện tử
    3. Thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ kinh doanh và tin học cần thiết
    4. Thiếu mô hình kinh doanh thương mại điện tử phù hợp cho từng quốc gia có mức độ phát triển mạng Internet
    5. Trở ngại văn hoá trong phát triển thương mại điện tử
    6. Đối tượng tham gia thương mại điện tử giới hạn trong nhóm người thuộc tầng lớp trí thức và thu nhập cao
    7. Thương mại điện tử đòi hỏi những thay đổi căn bản trong cơ cấu tổ chức và quản lý của doanh nghiệp
    8. Rủi ro xuất phát từ gian lận thương mại, nguy cơ hàng giả rất cao trong thương mại điện tử
    9. Tốc độ kết nối mạng Internet ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Việt Nam rất chậm
    10. Các vấn đề luật pháp

    Thách thức đối với quá trình marketing trên nền tảng thương mại điện tử

    Mặc dù mang lại những lợi ích kinh tế lớn, thương mại điện tử cũng đồng thời tạo ra những thách thức mới đối với người làm marketing, đặc biệt trên thị trường quốc tế.

    1. Khó khăn trong xây dựng nhãn hiệu toàn cầu: Câu hỏi đặt ra đối với nhà marketing quốc tế là nên xây dựng một nhãn hiệu toàn cầu hay xây dựng nhãn hiệu khác nhau phù hợp với văn hoá từng địa phương? Nên xây dựng các trang web với hình thức và nội dung căn bản giống nhau hay có thay đổi ở từng quốc gia? Có nên đăng ký địa chỉ trang web khác nhau ở các quốc gia khác nhau hay không? P&G đã sử dụng tới 134 địa chỉ trang web khác nhau ở các quốc gia khác nhau nhằm giới thiệu các sản phẩm đa dạng của P&G.
    2. Thương mại điện tử tạo lực lượng cạnh tranh mới: Với chi phí marketing không cao, hiệu quả kinh tế có thể xác định rõ, thương mại điện tử giúp các doanh nghiệp mài giũa các công cụ cạnh tranh như giá, quảng cáo và các thông tin marketing khác ngày càng sắc bén và hiệu quả hơn. Nhưng cũng chính tiện ích của thương mại điện tử lại gây ra nhiều lực lượng cạnh tranh đối với một sản phẩm từ nhiều phía.
    3. Hiệu quả ngược của marketing điện tử: Quảng cáo điện tử có thể gây ra những hiệu quả marketing ngược khi quảng cáo ảnh hưởng đến cuộc sống riêng tư của từng cá nhân tiêu dùng. Tâm lý chán ghét và không tin vào quảng cáo đã xuất hiện ở nhiều quốc gia. Người tiêu dùng cảm thấy luôn bị theo dõi mọi hành vi mua hàng và trong cuộc sống, quảng cáo xuất hiện mọi nơi mọi lúc. Bởi vậy, nhà marketing cần thiết phải sử dụng thương mại điện tử thông qua các công cụ marketing có sự cho phép của người nhận thông tin, nhằm hạn chế tối thiểu tác động tiêu cực của marketing điện tử.

    Quả thật, thương mại điện tử luôn là một giải pháp kinh doanh hữu hiệu mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải hướng tới trong tương lai. Và để thương mại điện tử thật sự phát huy hết ưu thế trong các hoạt động marketing và kinh doanh, các doanh nghiệp cần chủ động đề ra những chiến lược thích hợp để vượt qua những thách thức khó khăn của thương mại điện tử.

     

    1. Khái niệm về kinh tế thông tin

    Khái niệm xã hội và nền kinh tế hậu công nghiệp được nói đến lần đầu vào những năm 1950, khi người ta nhận thấy sự phát triển không ngừng của một số khu vực (section) phi nông nghiệp và phi công nghiệp trong một số nền kinh tế tiên tiến. Những khu vực đó được xem là hạt nhân của một nền kinh tế mới đang nổi và người ta sử dụng thuật ngữ “hậu công nghiệp” để nói về nền kinh tế này.

    Nền kinh tế “hậu công nghiệp” hiện được nhiều học giả của các trường phái khoa học xã hội gọi là “nền kinh tế tri thức”, còn các học giả của các trường phái khoa học tự nhiên, công nghệ thông tin gọi là “nền kinh tế thông tin – kinh tế số”. Các khái niệm “kinh tế tri thức”, “kinh tế thông tin” hay “kinh tế số” hiện được dùng với nghĩa gần tương đương, chúng đều nhấn mạnh và khẳng định vai trò động lực phát triển kinh tế toàn cầu của thông tin, tri thức, công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông.

    “Kinh tế thông tin” là gì? Khái niệm này hiện được định nghĩa chưa thật chặt chẽ, được dùng để đặc trưng cho một nền kinh tế với vai trò tăng trưởng của các hoạt động thông tin và công nghiệp thông tin.

    Trong nền kinh tế thông tin, tri thức đóng vai trò chủ đạo bên cạnh các thành tố truyền thống khác của nền kinh tế; các sản phẩm của nền kinh tế đó chứa đựng hàm lượng tri thức cao hơn hẳn so với trước đây. Khái niệm kinh tế thông tin đã chỉ ra sự khác biệt giữa 2 lĩnh vực (domain): lĩnh vực vật chất và năng lượng, và lĩnh vực thông tin, trong đó lĩnh vực đầu tiên bao gồm các khu vực nông nghiệp và công nghiệp, trong khi lĩnh vực thứ 2 tương ứng với khu vực thông tin và quan tâm đến sự biến đổi thông tin từ “dạng này sang dạng khác”.

    Có hai điểm quan trọng còn chưa rõ trong khái niệm kinh tế thông tin. Thứ nhất là chưa rõ tiêu chuẩn nào để đánh giá một nền kinh tế có phải là nền kinh tế thông tin hay không và thứ hai là hiện đang có quá nhiều cách quản lý khác nhau đối với các chỉ tiêu kinh tế liên quan đến thông tin.

    Nếu đối với vấn đề thứ nhất người ta mới tập trung vào nghiên cứu, đánh giá sự tăng trưởng của các hoạt động thông tin hơn là vào mức độ đạt được của nó, và hiện có rất ít những nghiên cứu nhằm xác định rõ mức độ thông tin hóa nền kinh tế để nó trở thành nền kinh tế thông tin thì đối với vấn đề thứ hai lại được quan tâm nghiên cứu và thảo luận rộng rãi, cộng đồng quốc tế hiện đã khá thống nhất về hệ thống chỉ tiêu hạt nhân để đo nền kinh tế thông tin [10].

    Thực chất của phát triển KTTT là quá trình không ngừng khai thác, phân phối, sử dụng thông tin, tri thức trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội trên cơ sở nền giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ hiện đại. Trong nền kinh tế thông tin, tri thức sẽ trở thành đối tượng chủ yếu của sản xuất, phân phối, tiêu thụ và là nguồn gốc, động lực của tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế được chuyển hoá từ mô hình dựa trên tiêu hao nguồn tài nguyên vật chất sang loại hình dựa trên tri thức và kỹ thuật.

    Cùng với sự phát triển hướng về kinh tế thông tin, cơ cấu nguồn nhân lực ở nhiều quốc gia cũng đang có sự dịch chuyển về khu vực thông tin – dịch vụ với nhiều ngành, nghề mới được hình thành. Trong số 500 nghề hàng đầu ở những năm cuối thế kỷ trước đã có gần 400 nghề chưa từng xuất hiện ở thời điểm giữa thế kỷ này, riêng trong lĩnh vực CNTT đã có khoảng 40 ngành nghề khác nhau.

    2.Các hoạt động về thông tin

    Người ta phân loại lĩnh vực thông tin thành khu vực thông tin sơ cấp và thứ cấp. Những người làm việc trong khu vực thông tin sơ cấp là những người mà công việc chủ yếu của họ là nhằm tạo ra hoặc quản lý, sử dụng thông tin như các nhà khoa học, các nhà văn, những người làm công tác thư viện, ..; còn những người làm việc trong khu vực thông tin thứ cấp là những người làm việc chủ yếu trên những công việc không phải là thông tin nhưng công việc của họ đòi hỏi phải có thông tin, họ đưa ra thông tin để sử dụng trong sản xuất hàng hóa không phải là hàng hóa thông tin.

    Khu vực thông tin sơ cấp bao gồm: Sản xuất và sáng tạo tri thức (như R&D và các dịch vụ thông tin); Phân phối thông tin và truyền thông (giáo dục đào tạo, dịch vụ thông tin công, viễn thông,…); Quản lý rủi ro (các ngành công nghiệp tài chính, bảo hiểm); Tìm kiếm và hợp tác (các nghề môi giới, quảng cáo); Dịch vụ xử lý và chuyển giao thông tin (xử lý thông tin dựa trên máy tính, hạ tầng kỹ thuật truyền thông); Hàng hóa thông tin (máy tính bỏ túi, chất bán dẫn, máy tính điện tử); Một số hoạt động có lựa chọn của chính phủ (dịch vụ giáo dục, bưu điện..); …

    Khu vực thông tin thứ cấp bao gồm tất cả các dịch vụ thông tin được tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu trong các cơ quản quản lý nhà nước và trong các khu vực phi thông tin, trừ các hoạt động của chính phủ thuộc vào khu vực thông tin sơ cấp nêu ở trên. Các hoạt động khác của chính phủ như lập kế hoạch, hợp tác, giám sát, điều chỉnh, đánh giá và ra quyết định… là thuộc về khu vực thông tin thứ cấp.

    Mặc dù nền kinh tế hậu công nghiệp đã được xác định là nền kinh tế thông tin, nhưng việc tranh luận nhằm xác định xem những hoạt động và hàng hóa nào sẽ được xếp vào lĩnh vực thông tin của nền kinh tế thực tế hiện vẫn còn đang tiếp diễn.

    3. Các ngành công nghiệp thông tin

    Mặc dù còn rất non trẻ, nhưng nền kinh tế thông tin đã chứng tỏ được ưu thế vượt trội và tiềm năng phát triển to lớn của nó. Hiện tại đã xuất hiện các ngành công nghiệp thông tin và chúng đang được coi là quan trọng nhất trong nền kinh tế bởi những lý do chủ yếu là:

    –   Các ngành công nghiệp thông tin là bộ phận tăng trưởng nhanh của nền kinh tế. Nhu cầu về dịch vụ và hàng hoá thông tin từ những người tiêu dùng ngày càng tăng lên. Các phương tiện thông tin đại chúng như máy tính cá nhân, nhạc số, phim kỹ thuật số, truyền hình kỹ thuật số, trò chơi điện tử, là thuộc vào các ngành công nghiệp thông tin và đang có sự bùng nổ về tăng trưởng. Các ngành nghề như lập trình máy tính; thiết kế hệ thống; tin học ứng dụng trong tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và bất động sản; viễn thông và nhiều ngành nghề liên quan đến thông tin khác cũng đang tăng lên không ngừng cả ở phạm vi quốc gia lẫn quốc tế, và đang tạo ra cơ hội để kinh tế phát triển nhanh nếu có chiến lược và bước đi thích hợp, kịp thời trong việc phát triển những ngành nghề đó.

    –   Các ngành công nghiệp thông tin được coi là là những ngành động lực thúc đẩy sự đổi mới và đẩy mạnh sản xuất của các ngành công nghiệp khác. Thực tiễn cho thấy những nền kinh tế với các ngành công nghiệp thông tin vững chắc thường có khả năng cạnh tranh cao hơn các nền kinh tế khác, và các nhân tố trong những nền kinh tế ấy trở lên công bằng hơn.

    –   Người ta nhận thấy rằng tác động của việc thay đổi cơ cấu kinh tế (hay thành phần các ngành công nghiệp trong nền kinh tế) liên quan đến sự thay đổi rộng rãi xã hội. Điều này có nghĩa là khi thông tin trở thành bộ phận trung tâm trong các hoạt động kinh tế, thì xã hội cũng như thế sẽ trở thành xã hội thông tin. Hiện nay vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, và các thông tin trung gian khác trong cuộc sống hàng ngày, trong các hoạt động vui chơi giải trí, trong đời sống xã hội, công việc, chính trị, giáo dục, nghệ thuật và nhiều khía cạnh khác của xã hội đã được tăng lên.

        Phân loại các ngành công nghiệp thông tin:

        Các ngành công nghiệp thông tin đang trở thành các ngành công nghiệp mũi nhọn. Mỗi ngành công nghiệp thông tin có những đặc điểm khác nhau. Xu hướng hiện nay là phân các ngành công nghiệp thông tin thành 6 loại như sau:

    (1) Các ngành công nghiệp sản xuất và bán thông tin dưới dạng hàng hoá hoặc dịch vụ. Các sản phẩm truyền thông đại chúng như chương trình truyền hình, phim ảnh, các cuốn sách và tạp chí được xuất bản định kỳ,… chính là các hàng hóa thông tin điển hình. Một số thông tin được cung cấp không phải là những sản phẩm thông tin hữu hình mà là vô hình, chẳng hạn như tư vấn,…

    (2) Các ngành dịch vụ xử lý thông tin như: các dịch vụ về pháp lý, ngân hàng, bảo hiểm, lập trình máy tính, xử lý dữ liệu, kiểm thử phần mềm và nghiên cứu thị trường,… Mặc dù các dịch vụ này không cung cấp thống tin, nhưng vì lợi ích của khách hàng các dịch vụ đó thường đòi hỏi tính chuyên môn cao.

    (3) Các ngành công nghiệp mà việc phổ biến hàng hoá thông tin là hoạt động chính của nó như: ngành điện thoại, truyền thanh – truyền hình, truyền thông, và bán lẻ sách báo,…,.

    (4) Các nhà sản xuất thiết bị xử lý thông tin. Các sản phẩm này là sống còn đối với các hoạt động xử lý thông tin, chúng bao gồm các loại máy tính điện tử, các thiết bị tin học, các chương trình phần mềm, các máy in và photocopy, các thiết bị ghi âm, ghi hình, …

    (5) Các ngành công nghiệp chuyên về nghiên cứu, nhưng không đóng vai trò như là cơ sở hạ tầng cho sản xuất thông tin hoặc đưa ra quyết định phức tạp như: ngành dược phẩm và khám chữa bệnh, thiết kế thời trang, chế biến thực phẩm và một số ngành công nghiệp công nghệ cao khác,…

    (6) Các ngành công nghiệp không chuyên sâu về nghiên cứu, nhưng lại đóng vai trò như là cơ sở hạ tầng để tạo ra thông tin và đưa ra quyết định phức tạp, chẳng hạn ngành sản xuất các văn phòng phẩm là thuộc loại này, mặc dù đôi khi nó cũng đòi hỏi phải nghiên cứu tổ chức lực lượng lao động và phát triển chất liệu mới. .

    Hiện nay, các ngành công nghiệp thông tin được nói đến nhiều là: công nghiệp nội dung, công nghiệp phần mềm và công nghiệp phần cứng. Có thể thấy rằng về cơ bản nó tương ứng thuộc về các ngành công nghiệp (1), (2) và (4) theo phân loại ở trên.

    Trong nền kinh tế thông tin, các ngành công nghiệp liên quan đến công nghệ thông tin và truyền thông, tạo nội dung thông tin số hoá giữ vai trò chủ đạo. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, nhất là mạng Internet thế giới dường như được thu nhỏ lại. Nhờ mạng Internet và các kỹ thuật tin học, các quốc gia trên thế giới sẽ dễ dàng liên kết, hợp tác trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và vì thế toàn cầu hoá nhất là toàn cầu hoá về kinh tế sẽ trở thành xu thế tất yếu và ngày càng phát triển.

    4. Các chỉ tiêu hạt nhân đo lường nền kinh tế thông tin

    Các nhà hoạch định chính sách ngày càng có nhu cầu về dữ liệu thực tế và những chỉ số đánh giá về kinh tế thông tin. Trình độ phát triển kinh tế thông tin của mỗi quốc gia được thể hiện tập trung và rõ nét qua trình độ phát triển và mức độ ứng dụng CNTT&TT trong quốc gia đó. CNTT&TT đã trở thành nhân tố chủ yếu trong các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội ở quy mô vùng, quốc gia cũng như toàn cầu. Việc xác định các chỉ tiêu CNTT&TT để đánh giá tình hình phát triển kinh tế thông tin của một quốc gia là chủ đề của nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức trong nhiều năm, trong đó nhất là hội nghị được tổ chức tại Giơnevơ, từ 7-9/2/2005 [9]. Trong hội nghị này đã đề xuất hệ thống chỉ tiêu CNTT&TT hạt nhân hiện được đa số các nước trên thế giới công nhận. Các chỉ tiêu CNTT&TT hạt nhân được xác định bao gồm:

       a. Nhóm chỉ tiêu cơ bản về CNTT&TT

    –   Số người sử dụng Internet: bao gồm những người sử dụng Internet ở những địa điểm công cộng, ỏ cơ quan, ở các quán cà phê, gia đình…. Số lượng thuê bao Internet không cung cấp đầy đủ thông tin về việc sử dụng Internet vì nhiều người sử dụng Internet cùng sử dụng chung một số thuê bao, và thực tế có rất nhiều người sử dụng Internet ở những địa điểm công cộng, quán cà phê, …

    –   Đường truyền băng thông rộng: là điều kiện tối cần thiết đối với kinh doanh điện tử, cho phép các doanh nghiệp có các đường truyền thông đa mục đích. Nó đặc biệt cần thiết và hấp dẫn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đường truyền băng thông rộng có vai trò quan trọng trong việc phố biến và sử dụng CNTT&TT, đóng góp của CNTT&TT trong tăng trưởng kinh tế. Đường truyền băng thông rộng được đo bằng số lượng những người thuê bao.

    –  Số máy tính điện tử: việc truy cập Internet có thể được thực hiện qua nhiều thiết bị khác nhau, nhưng máy tính vẫn là thiết bị chủ yếu và quan trọng nhất. Máy tính là nhất thiết không thể thiếu để phát triển kinh tế thông tin và nhất là để ứng dụng CNTT&TT trong các quá trình sản xuất và kinh doanh điện tử. Việc đánh giá số lượng máy tính được thực hiện qua thống kê các số lượng máy tính được bán ra.

    –  Số máy điện thoại di động: được đo bằng số người thuê bao trên /100 dân.

    b. Nhóm chỉ ttêu về ứng dụng CNTT&TT trong các doanh nghiệp

    –  Thương mại điện tử (e-commerce)

    – Ứng dụng CNTT&TT trong doanh nghiệp (hay e-business): Thuật ngữ e-business được sử dụng để đánh giá việc ứng dụng CNTT&TT trong các doanh nghiệp theo các hoạt động sản xuất kinh doanh và khác với thương mại điện tử, chẳng hạn: các ứng dụng nhằm thay đổi qui trình sản xuất kinh doanh như quản lý việc cung ứng vật liệu và hàng tồn kho, giám sát thực hiện và điều chỉnh kế hoạch, giành và giữ khách hàng, …

    Các giao dịch thương mại điện tử chỉ là một trong số những ứng dụng CNTT&TT trong doanh nghiệp. Thương mại điện tử là một trong những loại ứng dụng mới đang nổi. Về bản chất, đó là những ứng dụng CNTT&TT nhằm tăng hiệu quả các hoạt động giao tiếp giữa doanh nghiệp với người dân và giữa các doanh nghiệp với nhau. Do thương mại điện tử được nhấn mạnh và nói đến nhiều nên có thể đã gây sự hiểu lầm và làm sai lệch sự quan tâm triển khai nhiều ứng dụng CNTT&TT khác không kém phần quan trọng trong các doanh nghiệp.

        Trong Hội nghị Giơnevơ đã xác định 12 chỉ tiêu hạt nhân để đánh giá việc sử dụng CNTT&TT trong các doanh nghiệp (e-business) là :

    Các chỉ hạt nhân cơ bản về e-business

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp sử dụng máy tính;

    +  Tỷ lệ người lao động sử dụng máy tính;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp sử dụng Internet;

    +  Tỷ lệ người lao động sử dụng Internet;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp có Websire riêng;

    +  Tỷ lệ doanh nghiệp có mạng Intranet;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp nhận đơn đặt hàng thông qua Internet;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp mua hàng thông qua Internet;

    Các chỉ số hạt nhân mở rộng

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp truy cập Internet theo các dạng truy cập;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp có mạng nội bộ LAN;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp có mạng Extranet;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp sử dụng Internet theo các kiểu hoạt động;

      c. Nhóm chỉ tiêu về thẻ điện tử, tài chính thương mại và tài chính điện tử:

    Đánh giá mức độ ứng dụng CNTT&TT trong các ngành tài chính, ngân hàng như chuyển nhượng qua ngân hàng, chi trả và thanh toán, chứng từ nhờ thu và tín dụng chứng từ, cho vay với tổ chức và hộ gia đình, kinh doanh thẻ, theo dõi cho vay và người vay, thông tin tín dụng điện tử và các hoạt động khác,…

        d. Nhóm chỉ tiêu về du lịch điện tử:

    Chủ yếu đánh giá việc ứng dụng CNTT&TT trong việc giới thiệu hình ảnh quốc gia, tổ chức các tour du lịch trực tuyến theo yêu cầu khách hàng và tiết kiệm chi phí cho các tour du lịch,…

    1. Phương hướng cơ bản CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhận thức sâu sắc hơn nữa vị trí quan trọng của nông nghiệp, nông thôn, là nơi đang chiếm đại bộ phận dân cư lao động xã hội và đất đai, có điều kiện phát triển, là nguồn nội lực to lớn và đang là lợi thế của đất nước ta. Phải tập trung cao hơn với những dự án cụ thể thiết thực để đưa nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển, từng bước thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phải giành một tỷ lệ quan trọng các nguồn vốn huy động được để đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, hình thành các tổ hợp công – nông nghiệp – dịch vụ ở những địa bàn cho phép để chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất công cụ lao động nông nghiệp, phát triển các loại dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ khoa học – kỹ thuật, cung cấp vật tư, giống cây trồng, vật nuôi và tiêu thụ sản phẩm cho nông, lâm, ngư nghiệp. Đổi mới chính sách và tháo gỡ các ách tắc để phát triển toàn diện, bền vững; khuyến khích thật mạnh việc khai thác, đưa vào sử dụng đất trống, đồi núi trọc và đất còn hoang hóa, đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất, tăng sức mua và phát triển ổn định thị trường nông thôn. II. Các giải pháp CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn trong thời gian tới. Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa trên cơ sở đảm bảo an toàn lương thực quốc gia. Trước hết hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn để có điều kiện ứng dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến cho những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, tính hàng hóa cao; chuyên canh để có nông sản hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nông sản, bao gồm cả lâm sản và thuỷ, hải sản, ưu tiên phát triển các cây trồng và vật nuôi có quy mô xuất khẩu tương đối lớn và thị trường ổn định, đặc biệt coi trọng các sản phẩm quý hiếm ta có lợi thế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn phải nhằm nâng tỷ trọng và tốc độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Muốn vậy, phải coi công nghệ sinh học và công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch nông – lâm – thủy, hải sản để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của hàng nông sản là nội dung cốt lõi của CNH, HĐH sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Điều đó đòi hỏi phải có quy hoạch, chính sách phù hợp, kết hợp lợi ích và tìm ra mô hình tối ưu để giải quyết quan hệ giữa người làm ra nguyên liệu và người chế biến tiêu thụ. Hai là, phát triển công nghiệp nông thôn, kết cấu hạ tầng, dịch vụ nông thôn, tiến hành phân công lại lao động ở nông thôn theo hướng giảm lao động thuần nông, tăng lao động trong những ngành phi nông nghiệp trên cơ sở phát triển các ngành nghề, làng truyền thống và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp nông thôn sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân v.v… Muốn vậy phải tăng tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, ưu đãi, khuyến khích mọi người dân, mọi thành phần kinh tế và đầu tư nước ngoài phát triển công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn nhằm phát triển kinh tế, tạo việc làm tăng thu nhập ở nông thôn. Xây dựng những khu công nghiệp quy mô nhỏ, các trung tâm kinh tế – xã hội ở các vùng nông thôn . Trong phát triển công nghiệp nông thôn thì phải đặc biệt chú ý phát triển công nghiệp chế biến nông sản để đảm bảo tiêu thụ nông sản cho nông dân. Hiện nay, nhiều cơ sở chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp, kể cả cơ sở quy mô lớn, thiết bị và công nghệ còn lạc hậu, hiệu quả thấp, chưa làm được vai trò là người bao mua tin cậy của nông dân, chưa có cơ chế hợp lý để gắn lợi ích của các nhà máy chế biến với lợi ích của nông dân, các hộ nông dân sản xuất nguyên liệu thường phải chịu thiệt thòi, thậm chí thua lỗ. Vì vậy, việc ưu tiên đầu tư nâng cấp, mở rộng các kho chứa, thiết bị phơi sấy, bảo quản sau thu hoạch, các cơ sở chế biến thuộc các thành phần kinh tế trong nông nghiệp đi đôi với chấn chỉnh hoạt động theo hướng gắn kết hài hòa hiệu quả của nhà máy với lợi ích của nông dân, phải được coi là yêu cầu quan trọng để mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cho nông dân và nâng cao chất lượng hàng nông sản xuất khẩu. Chính phủ sẽ bổ sung chính sách hỗ trợ về vốn vay, về thuế, về chuyển giao công nghệ đối với các cơ sở chế biến nông sản ở nông thôn để giúp họ tự vươn lên đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ba là, thực hiện chính sách ruộng đất theo hướng thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa, trên cơ sở sử dụng ruộng đất có hiệu quả. Cho phép tích tụ ruộng đất lành mạnh, nhưng không làm bần cùng hóa một bộ phận nông dân. Tích tụ ruộng đất phải đi đôi với phát triển ngành nghề, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn cho dân cư nông thôn. Phát triển kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau ở những nơi có nhiều ruộng đất, khai phá đất hoang để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc… Chính sách đất đai phải tạo điều kiện và thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hiện có và khai thác nhanh đất hoang hóa đang còn chiếm một diện tích lớn; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng đất vào mục đích chuyên dùng phù hợp với quy hoạch, đặc biệt là đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Trên nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài với các quyền cụ thể tùy mục đích và đối tượng sử dụng đất. Bốn là, đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, tăng nhanh trang bị kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất nông nghiệp và nông thôn, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật tiên tiến cho nông dân. Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện để đẩy mạnh sản xuất và sử dụng sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp. Nâng cao dần trình độ công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch. Lựa chọn và nhanh chóng tiếp thu những công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến ở những khâu, những ngành then chốt, có ý nghĩa quyết định và tác động trực tiếp đến việc đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của nhiều ngành khác. Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp nông thôn theo sở trường, thế mạnh về năng lực và bàn tay khéo léo của người Việt Nam, phù hợp với nhu cầu thị trường. Công nghiệp và dịch vụ sẽ là những ngành kinh tế ngày càng chiếm vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong kinh tế nông thôn. Nhà nước giúp đào tạo cán bộ khoa học, công nhân kỹ thuật, các nhà kinh doanh cho nông nghiệp, nông thôn. Năm là, chú trọng phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cả trong và ngoài nước. Đây là vấn đề bức xúc, đóng vai trò quyết định trở lại đối với sản xuất và đời sống của nông ngư dân. Cả nước là một thị trường thống nhất, phát triển sản xuất tăng sức mua dân cư, củng cố hệ thống thương nghiệp nông thôn. Tạo ra một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực mà ta có ưu thế và có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Giữ vững và mở rộng thị trường đã tạo lập được. Đẩy mạnh việc tìm thị trường mới, đa phương và đa dạng hóa quan hệ thương mại quốc tế, giảm sự tập trung vào một vài đối tác và việc mua bán qua thị trường trung gian nhằm tăng hiệu quả xuất khẩu và tạo được thị trường ổn định. Xuất phát từ nhu cầu thị trường để tổ chức sự hợp tác liên kết từ sản xuất đến lưu thông chế biến tiêu thụ từng loại nông sản. Sáu là, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong kinh tế nông nghiệp, nông thôn. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải gắn với chuyển đổi, xây dựng và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác trên cơ sở tự nguyện của các hộ nông dân theo hướng chuyển đổi hợp tác xã

    TRÌNH ÐỘ CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP VÀ

    TÍNH THÍCH ỨNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH ÐÀO TẠO

    1

    PGS.TS. Thái Bá Cần

    Mục tiêu của báo cáo là khảo sát trình độ công nghệ trong sản xuất công

    nghiệp ở một số lĩnh vực kỹ thuật, sự thích ứng của chương trình đào tạo với

    thực tế sản xuất, từ đó đề xuất những kiến nghị trong việc xây dựng chương

    trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Vậy chất lượng

    đào tạo là gì?

    Thông thường nói đến chất lượng đào tạo, người ta chú ý đến ba khía

    cạnh: chất lượng chương trình học, chất lượng giảng dạy và chất lượng học tập.

    Nhưng yếu tố cuối cùng mà xã hội quan tâm chính là sản phẩm của quá trình

    đào tạo: nguồn nhân lực.

    Việc đánh giá sản phẩm đào tạo qua việc nghiên cứu khả năng hoàn tất

    chương trình học của sinh viên qua các kỳ thi và văn bằng là việc đánh giá hiệu

    qủa trong của quá trình đào tạo – công việc thường làm của các trường đại học.

    Ðiều mà các trường đại học của ta thuờng chưa quan tâm đầy đủ là việc đánh

    giá “sự thành công nghề nghiệp” (professional success) của người sinh viên sau

    khi ra trường – đánh giá hiệu qủa ngoài.

    Sự thành công của sinh viên tốt nghiệp được thể hiện qua bốn nhóm yếu

    tố:

    − Các số đo về thời gian chuyển tiếp từ khi người sinh viên tốt nghiệp

    cho đến khi tìm được việc làm.

    − Các số đo về sự thành công nghề nghiệp, trong đó bao gồm cả mức

    lương và chức vụ được đảm nhận.

    − Các số đo chủ quan về sự thành công nghề nghiệp, bao gồm những

    nhận xét chủ quan của người cựu sinh viên về công việc làm của mình: sự

    thỏa mãn trong công việc, cơ hội sử dụng các kiến thức, khả năng đã được

    học tập ở nhà trường, cơ hội tiến xa hơn trong vấn đề đào tạo chuyên

    môn, sự hợp tác với các đồng nghiệp và tính chất an toàn của công việc

    đang đảm nhận cũng như các đánh giá khách quan của người sử dụng lao

    động về khả năng của sinh viên tốt nghiệp (SVTN).

    − Các đánh giá của cựu sinh viên về mối liên hệ giữa chương trình giảng

    dạy – học tập ở nhà trường với thực tiễn nghề nghiệp.

    Có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng đào tạo, nhưng định nghĩa

    đơn giản và được nhiều người chấp nhận là:

    Chất lượng đào tạo là mức độ đáp ứng mục tiêu đề ra

    1

    Trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM

    Trong báo cáo này chúng tôi trình bày một số kết qủa khảo sát về trình độ

    công nghệ của sản xuất công nghiệp của một số ngành trong khu vực tam giác

    công nghiệp quan trọng phía Nam: TP. Hồ Chí Minh, Ðồng Nai, Bình Dương,

    những đánh giá của các cựu sinh viên, những người sử dụng lao động về sự

    thành công nghề nghiệp của những sinh viên tốt nghiệp và về mối liên hệ giữa

    chương trình giảng dạy – học tập ở nhà trường với thực tiễn nghề nghiệp để trên

    cơ sở đó có thể đưa ra được những mục tiêu chính xác cho việc xây dựng

    chương trình đào tạo.

    Mỗi chương trình đào tạo có một mục tiêu cụ thể: sản phẩm được đào tạo

    ra phải thực hiện được những công việc nhất định trong xã hội. Mục tiêu cụ thể

    này phải phù hợp với mục tiêu giáo dục chung đối với từng cấp học đã được qui

    định trong luật giáo dục và phù hợp với những yêu cầu của thực tế sản xuất.

    Ðể xây dựng hoặc đổi mới một chương trình đào tạo phù hợp với mục tiêu

    đề ra, ngoài việc phân tích các yếu tố bên trong như: khối lượng kiến thức, nội

    dung kiến thức, trình độ kỹ năng v.v.. một vấn đề hết sức quan trọng là phải

    phân tích được mối quan hệ giữa chương trình đào tạo, chương trình các môn

    học với môi trường bên ngoài – nơi mà những người tốt nghiệp sẽ ra công tác.

    Ðiều này, trong những năm qua chưa được coi trọng đúng mức, chính vì vậy mà

    sản phẩm đào tạo của các trường luôn bị xã hội cho là chưa đáp ứng yêu cầu về

    chất lượng làm việc, không phù hợp thực tế v.v.. mặc dù trong thời gian học tập

    ở trường sinh viên đã phải học một khối lượng kiến thức khổng lồ !

    Vì vậy, việc nghiên cứu môi trường bên ngoài – trình độ công nghệ và các

    yêu cầu thực tiễn sản xuất – để xây dựng mới cũng như cải tiến các chương trình

    đào tạo hiện có là một vấn đề hết sức quan trọng hiện nay. Việc nghiên cứu này

    sẽ làm tăng hiệu quả đào tạo giúp cho các trường đưa ra được những chương

    trình đào tạo phù hợp để các sản phẩm được đào tạo ra đáp ứng được các yêu

    cầu nhân lực của xã hội.

    1. Khảo sát về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp:

    Trình độ công nghệ trong các lĩnh vực khác nhau rất khác nhau. Sự cách biệt

    còn thể hiện giữa các doanh nghiệp trong cùng một lĩnh vực. Khó có thể đưa ra

    được một nhận xét chung về trình độ công nghệ trong các doanh nghiệp hiện

    nay. Vì vậy, việc đánh giá trình độ công nghệ trong các doanh nghiệp được thực

    hiện bằng các khảo sát riêng rẽ trong từng lĩnh vực.

    Trong quá trình thâm nhập thực tế để thu thập các thông tin phục vụ cho

    việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã chọn một số doanh nghiệp điển hình trong

    từng lĩnh vực để khảo sát. Các lĩnh vực được chọn để khảo sát là:

    Cơ khí chế tạo máy

    Cơ khí ô tô

    Ðiện

    Ðiện tử

    Công nghệ cắt may

    Công nghệ In

    Có trên 50 cơ quan, đơn vị đã được khảo sát trong quá trình thâm nhập thực

    tế, trong đó có:

    Công ty TNHH sửa chữa ôtô Sài Gòn.

    Công ty TNHH Thuận Lân (Peugeot Importer)

    Công ty ôtô Toyota Biên Hòa

    Công ty cơ khí ôtô Sài Gòn (SAMCO)

    Công ty ôtô Toyota Tân Bình

    Công ty ôtô Mêkông

    Công ty ôtô Mercedes – Benz Việt Nam

    Công ty ôtô Ford Việt Nam

    Công ty ôtô Isuzu Việt Nam

    Công ty ôtô Ngôi Sao (VINASTAR)

    Công ty điện tử Toshiba

    Công ty thiết bị điện Thibidi

    Nhà máy thuốc lá Sài Gòn

    Nhà máy thủy điện Trị An

    Nhà máy Giấy Tân Mai

    Nhà máy Casumina

    Công ty truyền tải điện 4

    Công ty TNHH nhựa và hóa chất TPC VINA

    Công ty sữa Việt Nam Foremost

    Công ty sản phẩm máy tính Fujitsu – Việt Nam

    Công ty thang máy Viet – Sin

    Công ty xây lắp và phát triển Bưu điện TP. Hồ Chí Minh

    Công ty điện tử ANAM

    Công ty TNHH V.A.E

    Công ty công nghiệp chính xác (VPIC)

    Công ty may Nhà Bè

    Công TNHH TM – DV điện tử công nghiệp và tự động hóa

    Công ty cổ phần thủy sản số 1

    Công ty Cổ phần Cơ – Ðiện lạnh (REE)

    Công ty TNHH thiết bị lạnh Việt.

    ….

    Các ý kiến đánh giá về thực trạng công nghệ một số ngành:

    1. Ngành công nghệ Cơ khí chế tạo máy:

    Qua khảo sát 14 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cơ khí cho thấy:

    1. Các cơ sở sản xuất trong nước:

    Hầu hết các thiết bị máy móc có độ tuổi trung bình 30 năm.

    Công suất thiết bị sử dụng rất thấp khoảng 20% 30%, các định mức

    thiết kế tiêu thụ năng lượng đều rất cao.

    Chất lượng sản phẩm thấp, không ổn định, thiếu phương tiện đo lường

    kiểm soát chất lượng.

    Khoảng 20% trang thiết bị được đổi mới, trong đó chỉ có khoảng 10%

    thiết bị hiện đại nhưng không đồng bộ, chủ yếu ở các cơ sở sản xuất nhỏ, tư

    nhân.

    Một số cơ sở đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO.

    1. Các cơ sở sản xuất liên doanh

    Trang thiết bị chủ yếu được sản xuất từ năm 1990 đến năm 1995.

    Mức độ tự động hóa chỉ đạt tới bán phần, chưa có cơ sở đạt mức độ tự

    động hóa hoàn toàn.

    Công suất thiết bị đạt từ 70% đến 80%.

    90% cơ sở áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO.

    1. Các cơ sở dịch vụ

    Công tác chủ yếu là lắp ráp, bảo trì, bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ.

    1. Ngành công nghệ Cơ khí ôtô:

    Qua khảo sát 10 doanh nghiệp gồm 6 doanh nghiệp liên doanh, 1 doanh

    nghiệp quốc doanh, 3 doanh nghiệp tư doanh thuộc lĩnh vực cơ khí ô tô cho

    thấy:

    Các doanh nghiệp Cơ khí ôtô hoạt động rất đa dạng bao gồm nhiều lĩnh vực:

    sửa chữa, mua bán phụ tùng, lắp ráp tổng thành ôtô, thiết kế chế tạo khung

    thùng ôtô, thiết kế chế tạo bộ phận ôtô chuyên dùng, mua bán ôtô và dịch vụ

    hậu mã, v.v.. Nhìn chung, các doanh nghiệp cơ khí ôtô đều có mức độ phát triển

    tương đồng về trình độ công nghệ.

    Trang thiết bị chủ yếu được sản xuất từ sau năm 1990, đa số thuộc khối

    G7 và Nhật.

    Mức độ tự động hóa của thiết bị : do người trực tiếp điều khiển chiếm

    50%, bán tự động chiếm 40% và tự động hoàn toàn chiếm 10%.

    1. Ngành công nghệ Ðiện – Ðiện tử:

    Qua khảo sát 23 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực Ðiện – Ðiện tử cho thấy:

    Công nghệ mà các công ty, nhà máy đang sử dụng thuộc thế hệ từ tương

    đối mới đến thế hệ mới chiếm 81,2%. Các nhà doanh nghiệp đã tự đánh giá về

    trình độ công nghệ của đơn vị mình so với các xí nghiệp cùng lĩnh vực trong

    nước là tân tiến chiếm 62,5%. So với các xí nghiệp cùng lĩnh vực trong khu vực

    và trên thế giới: tiên tiến chiếm 44%, trung bình chiếm 56%

    Tóm lại, thực trạng công nghệ của các công ty, nhà máy trong lĩnh vực Ðiện

    – Ðiện tử khu vực thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận là: công nghệ thuộc

    thế hệ mới và trình độ công nghệ so với khu vực và trên thế giới là trung bình.

    1. Ngành Công nghệ cắt may:

    Ða số trang thiết bị đang được sử dụng tại các doanh nghiệp đều sản

    xuất từ khối G7 và Nhật. Có 1/3 là tương đối mới và 2/3 là mới. Thiết bị cũ

    hầu như không còn được sử dụng.

    Mức độ tự động hóa: hầu hết là tự động bán phần, số còn lại là do

    người trực tiếp điều khiển.

    Trình độ công nghệ: các doanh nghiệp tự đánh giá có trình độ công

    nghệ mới chiếm 75% và trung bình chiếm 25% so với các doanh nghiệp

    trong nước. So với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực trong khu vực và trên thế

    giới thì 75% cho là trung bình, 25% cho là mới.

    1. Ngành Công nghệ In:

    Ngành sản xuất in bao gồm 3 công đoạn: trước in – in – sau in. Vì năng lực

    sản xuất, phần lớn các cơ sở in (từ gọi chung các đơn vị kinh doanh hoạt động

    trong các lĩnh vực liên quan đến mọi hình thức gia công, sản xuất các loại ấn

    phẩm) nhỏ chỉ tập trung thực hiện một công đoạn sản xuất trong 3 công đoạn

    trên. Các cơ sở in quốc doanh lớn thường thực hiện cả 3 công đoạn để chủ động

    trong sản xuất, hoàn thành trọn vẹn ấn phẩm không bị lệ thuộc vào hoạt động

    của các cơ sở khác. Trong 11 cơ sở in trả lời khảo sát, 100% có đủ cả 3 khâu

    sản xuất

    1. Công đoạn trước in:

    Hầu hết các cơ sở in tại thành phố đều dùng phương pháp chế bản điện tử.

    Phương pháp chế bản quang cơ đang bị loại bỏ dần, hiện chỉ còn tồn tại ở các xí

    nghiệp in nhỏ ở các tỉnh.

    Ðể thực hiện việc chế bản điện tử các cơ sở in đều trang bị các máy vi tính

    (IBM hay MAC) có cấu hình phù hợp cho công việc nhưng chỉ xí nghiệp lớn mới

    có đủ khả năng trang bị các máy quét hình (scanner) chuyên dùng có chất lượng

    cao và các máy xuất phim khổ lớn. Trong 11 cơ sở in trả lời khảo sát, 8/11 có

    máy quét hình và xuất phim thuộc thế hệ mới. Tại các cơ sở này yếu tố cạnh

    tranh nằm chủ yếu ở giai đoạn thiết kế ấn phẩm.

    Trong thời gian tới sẽ dần dần chuyển qua công nghệ ghi bản trực tiếp

    (không qua xuất phim – phơi bản như hiện nay) với máy móc hoàn toàn hoạt

    động bằng vi mạch trên cơ sở kỹ thuật số.

    1. Công đoạn in:

    Phần lớn các máy in của các cơ sở in lớn tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà

    Nội được sản xuất từ năm 1985 trở lại với mức độ tự động hóa tương đối cao,

    một số xí nghiệp in (Liksin, Trần Phú, In quân đội 2, v.v..) đã nhập máy tự động

    hóa hoàn toàn, thuộc thế hệ mới nhất của thế giới.

    1. Công đoạn sau in:

    Mới bắt đầu được chú ý đầu tư trong 5 năm gần đây. Có 2 lý do chính khiến

    cho các cơ sở in ít chú trọng giai đoạn sau in này:

    Nhu cầu xã hội chưa đòi hỏi các ấn phẩm có mức độ hoàn tất cao cấp,

    đa dạng, đặc biệt, v.v..

    Giá nhân công tương đối rẻ, phù hợp cho việc gia công thủ công, đơn

    giản.

    Vì 2 lý do nêu trên nên công việc thành phẩm phần lớn đang được thực

    hiện thủ công hoặc bán thủ công với một số kỹ thuật hoàn tất sản phẩm đơn

    giản.

    Tóm lại, mức độ công nghệ của các cơ sở in không đồng đều. Các cơ sở in

    có quy mô lớn, các cơ sở in tại các thành phố lớn có công nghệ, trang thiết bị

    hiện đại hơn các cơ sở in có quy mô nhỏ, các cơ sở in tại các thành phố nhỏ.

    Nhìn chung, mức độ công nghệ trước in và in cao hơn giai đoạn sau in.

    1. Khảo sát tính thích ứng của chương trình đào tạo với thực tế sản

    xuất:

    Sự thích ứng của chương trình đào tạo với thực tế sản xuất là mối quan hệ

    giữa khả năng lao động của sinh viên tốt nghiệp với yêu cầu thực tiễn sản xuất.

    Mối quan hệ này có thể được thể hiện trên nhiều phương diện như:

    Ý kiến đánh giá của người quản lý lao động về khả năng đáp ứng công

    việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp, qua đó cho thấy về khả năng thích ứng

    của chương trình đào tạo.

    Ý kiến của cựu sinh viên về kiến thức được lĩnh hội trong các chương

    trình đào tạo của nhà trường so với yêu cầu thực tiễn trong sản xuất.

    Nhu cầu xã hội đối với đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong tương lai.

    Cụ thể với các ngành đào tạo như sau:

    1. Ý kiến của người sử dụng lao động:
    2. Ngành Cơ khí chế tạo máy:

    Các cơ sở sản xuất luôn có nhu cầu cao trong tuyển dụng kỹ sư cơ khí.

    Các cơ sở dịch vụ đề nghị nên trang bị kiến thức tổng hợp cho sinh viên.

    1. Ngành Cơ khí ôtô:

    Qua thực tế khảo sát và rà soát lại chương trình đào tạo ngành Cơ khí động

    lực (Cơ khí ôtô) của trường, chúng tôi có một số nhận xét sau:

    Hầu hết các doanh nghiệp đều yêu cầu người kỹ sư phải có năng lực tổ

    chức quản lý, có trình độ tin học ứng dụng ở mức khá hoặc giỏi. Riêng các

    doanh nghiệp có thiết kế chế tạo còn đòi hỏi người kỹ sư phải có khả năng

    lập trình ở mức khá hoặc giỏi.

    Về ngoại ngữ, các doanh nghiệp luôn cần người kỹ sư có trình độ B hoặc

    C một ngoại ngữ nào đó phù hợp với công việc được giao, phổ biến nhất là

    Anh ngữ.

    Về kiến thức cơ bản cần trang bị cho sinh viên ở mức tổng quát để có

    thể thích ứng với nhiều mảng công tác khác nhau, trang bị đầy đủ kiến thức

    chuyên môn thuộc chuyên ngành hẹp, kiến thức nghệ thuật giao tiếp khách

    hàng, kiến thức an toàn lao động và luật lao động, tác phong công nghiệp

    cho người lao động tương lai.

    1. Ngành Ðiện – Ðiện tử:

    Qua tìm hiểu từ các buổi trao đổi trực tiếp cũng như căn cứ vào các phiếu

    khảo sát nhu cầu tuyển dụng nguồn nhân lực tốt nghiệp từ trường Ðại học Sư

    phạm Kỹ thuật, kết quả cho thấy:

    Các

    nhà quản lý đề xuất cần trang bị thêm cho sinh viên:

    Kiến thức về lĩnh vực tự động thuộc chuyên ngành.

    Kiến thức tổ chức quản lý.

    Kiến thức về công nghệ thông tin.

    Kiến thức ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành.

    1. Ngành Công nghệ cắt may
    2. Khả năng tiếp cận thực tế công việc

    Qua số liệu điều tra, khảo sát tại các công ty đang trực tiếp sử dụng đội ngũ

    kỹ sư ngành Công nghệ cắt may cho thấy:

    Có 85% ý kiến cho rằng sinh viên có khả năng vận dụng kiến thức vào

    thực tế sản xuất đạt khá (70% đến 80%) và đáp ứng tốt nhu cầu thực tế sản

    xuất. Tuy nhiên, trường chỉ trang bị được cho sinh viên các kiến thức chuyên

    môn cơ bản, tạo tiền đề cho việc tiếp thu những kiến thức chuyên môn nâng

    cao sau này. Vì vậy, so với thực tế sản xuất có một chênh lệch khá xa.

    Có 57,14% lãnh đạo các đơn vị cho rằng do sinh viên ít được đi tham

    quan thực tế, thiếu thực tập nhà máy nhất là môn qui trình công nghệ, sinh

    viên chỉ đáp ứng được về mặt lý thuyết.

    Có 57,1% ý kiến lãnh đạo các công ty và 35,5% ý kiến của các kỹ sư

    cho rằng việc trang bị cho sinh viên khối kiến thức tin học – ngoại ngữ chuyên

    ngành may là cấp thiết.

    Tuy còn nhiều bất cập nhưng số liệu khảo sát cũng cho thấy:

    Có 38,6% ý kiến lãnh đạo các công ty cho rằng sinh viên sau khi tốt

    nghiệp nắm vững các kiến thức chuyên môn tổng quát, nhưng khả năng vận

    dụng vào thực tế còn nhiều hạn chế.

    Có 80% ý kiến lãnh đạo các công ty đánh giá các sinh viên sau khi tốt

    nghiệp có khả năng tiếp cận với khoa học công nghệ tiên tiến, có phương

    pháp làm việc khoa học, có ý thức cầu tiến, có sáng tạo trong khoa học, nhạy

    bén nắm bắt công việc.

    Tuy nhiên do Kiến thức chuyên môn mới chưa được cập nhật kịp thời

    nên khả năng đáp ứng với công việc thực tế của sinh viên chưa cao.

    1. Ngành Công nghệ In:

    Thống kê các bản trả lời khảo sát của 13 cơ sở in cho thấy các kiến thức mà

    các cơ sở sử dụng nhân lực yêu cầu trang bị cho sinh viên như sau:

    Kiến thức tổng quát (theo diện rộng)

    : 4/13

    Kiến thức sâu thuộc chuyên ngành hẹp

    : 9/13

    Kiến thức tổ chức quản lý

    : 9/13

    Kiến thức ứng dụng công nghệ thông tin

    : 8/13

    Kiến thức ngoại ngữ

    : 9/13

    Kiến thức điều khiển tự động

    : 4/13

    Qua tiếp xúc trực tiếp với các đơn vị đã tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp từ

    khoa Kỹ thuật in, chúng tôi ghi nhận được các lời phê bình như sau:

    Kiến thức tay nghề thực tế yếu, thiếu khả năng tổng hợp.

    Ý thức làm việc tập thể yếu.

    Thiếu khả năng quản lý, tổ chức công việc (điều độ sản xuất).

    Thiếu kiến thức về kinh tế,

    Khả năng đọc, dịch tài liệu chuyên ngành yếu.

    1. Ý kiến của cựu sinh viên:

    Qua khảo sát 259 ý kiến của cựu sinh viên (tốt nghiệp Ðại học, Cao đẳng)

    loại hình đào tạo chính qui, không chính qui; Trong đó:

    10% thuộc ngành Cơ khí chế tạo máy

    14% thuộc ngành Cơ khí ôtô

    7% thuộc ngành Kỹ thuật công nghiệp

    10% thuộc ngành Kỹ thuật nữ công

    03% thuộc ngành Kỹ thuật in

    20% thuộc ngành Kỹ thuật điện – điện tử

    15% thuộc ngành Ðiện khí hóa – cung cấp điện

    14% thuộc ngành Công nghệ cắt may

    06% thuộc ngành Thiết kế máy

    Kết quả nhận được như sau :

    1. Sự thích ứng của chương trình đào tạo:

    Chưa tốt

    : 34%

    Ðạt yêu cầu

    : 56%

    Rất tốt

    : 7%

    Không có ý kiến

    : 3%

    1. Khả năng bản thân đáp ứng với công việc:

    Bình thường

    : 33%

    Khá tốt

    : 24%

    Tốt

    : 30%

    Rất tốt

    : 4%

    Còn thấp

    : 7%

    Không có ý kiến

    : 2%

    1. Ý kiến về tính phù hợp đối với các khối kiến thức và kiến nghị:

    Cơ bản:

    Hợp lý

    : 27%

    Chưa hợp lý

    : 20%

    Thêm thời gian

    : 16%

    Bớt thời gian

    : 13%

    Không có ý kiến

    : 24%

    Cơ sở:

    Hợp lý

    : 28%

    Chưa hợp lý

    : 18%

    Thêm thời gian

    : 14%

    Bớt thời gian

    : 11%

    Không có ý kiến

    : 29%

    Chuyên ngành

    Hợp lý

    :

    8%

    Chưa hợp lý

    :

    19%

    Thêm thời gian

    :

    63%

    Không ý kiến

    :

    10%

    1. Ðiều chỉnh môn học

    Thời gian

    Tăng lý thuyết

    : 49%

    Tăng thực hành

    : 75%

    Giảm lý thuyết

    : 14%

    Giảm thực hành

    : 3%

    Nội dung

    Tăng lý thuyết

    : 69%

    Tăng thực hành

    : 73%

    Giảm lý thuyết

    : 19%

    Giảm thực hành

    : 3%

    Cần học thêm

    Lý thuyết

    : 43%

    Thực hành, thí nghiệm : 40%

    Thực hành

    : 19%

    Cần bổ sung

    Thí nghiệm

    :

    6%

    Thực hành mô phỏng

    :

    31%

    Thực hành sản xuất

    :

    61%

    Thực tập sản xuất ngoài trường:

    Rất cần thiết

    :

    66%

    Nên

    :

    24%

    Không cần thiết

    :

    9%

    1. Bằng lòng với Ngành, Trường

    Ngành học

    :

    91%

    Không

    :

    7%

    Trường học

    :

    92%

    Không

    :

    5%

    III. Một số kết luận

    Về trình độ công nghệ:

    1. Trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp trên địa bàn khảo sát rất

    không đồng đều: có sự chênh lệch lớn trong trình độ công nghệ giữa các ngành

    nghề và trong mỗi nghành trình độ công nghệ giữa các doanh nghiệp cũng có

    khoảng cách khá lớn.

    1. Nhìn chung, ít có doanh nghiệp có trình độ công nghệ ở mức cao, phần lớn ở

    mức trung bình của khu vực, còn nhiều doanh nghiệp đang sản xuất với các công

    nghệ cũ, đặc biệt trong lĩnh vực Cơ khí.

    1. Trình độ quản lý của các doanh nghiệp chưa được cải tiến nhiều, chỉ mới có

    một tỷ lệ nhỏ các doanh nghiệp thực hiện việc quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn

    ISO.

    Về chất lượng đào tạo:

    1. Ở các mức độ khác nhau, theo đánh gía của người sử dụng lao động khoảng

    70% SVTN đáp ứng được nhu cầu công việc, con số đó theo sự tự đánh gía của

    cựu sinh viên là 90%.

    1. Những mặt yếu kém của SVTN ở chỗ:

    Kiến thức lý thuyết tạm được nhưng tay nghề thực tế yếu.

    Kiến thức rời rạc, thiếu khả năng tổng hợp. Không biết vận dụng kiến

    thức để giải quyết các vấn đề có tính hệ thống.

    Không biết cách làm việc tập thể, theo đội nhóm với tư cách một thành

    viên.

    Thiếu khả năng quản lý, tổ chức công việc (điều độ sản xuất).

    Thiếu kiến thức về kinh tế, lúng túng khi phải tính gía thành sản phẩm,

    v.v..

    Trình độ ngoại ngữ yếu, đặc biệt là khả năng đọc dịch tài liệu kỹ thuật

    chuyên ngành.

    Về sự thích ứng của chương trình đào tạo

    1. Có 63% cho rằng chương trình đào tạo là phù hợp, 34% cho rằng chưa hợp

    lý và 3% không có ý kiến. Con số này cho thấy chương trình đào tạo còn có

    nhiều bất ổn cần phải điều chỉnh.

    1. Về khối kiến thức Cơ bản và Cơ sở ý kiến khá phân tán nhưng đối với khối

    kiến thức chuyên ngành ý kiến khá tập trung, cụ thể là chỉ có 8% cho là hợp lý

    còn lại phần lớn đều cho rằng cần tăng cường cả về thời lượng lẫn nội dung.

    1. Một số đề xuất cụ thể của cựu sinh viên tập trung vào các điểm:

    Ðề nghị giảm các học phần chính trị, quân sự

    Tăng cường thí nghiệm cho các môn học cơ sở và lý thuyết chuyên

    ngành.

    Bổ sung các môn học mới như: ứng dụng máy tính trong nghề nghiệp,

    kiến thức quản lý, các công nghệ mới như PLC, thủy lực, khí nén, lập trình

    gia công trên máy tính, v.v.. kiến thức về bảo trì, bảo dưỡng công nghiệp.

    Tăng cường thực tập sản xuất ở xí nghiệp.

    Nên cho phép sinh viên ở học kỳ cuối được tự chọn hướng chuyên sâu

    trong ngành đào tạo để có thể đáp ứng ngay cho công việc sau khi tốt

    nghiệp.

    Những ý kiến trên là hết sức xác đáng và cần được điều chỉnh khi thiết kế,

    điều chỉnh các Chương trình đào tạo ở trường ÐHSP KT nói riêng và ở các trường

    ÐH Kỹ thuật nói chung.

    Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, hướng nào?    
    Thứ hai, 04 Tháng 1 2010 10:14
    Mặc dù ngành công nghiệp công nghệ thông tin của Việt Nam đã và đang tăng trưởng khá nhanh nhưng phần lớn các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ, manh mún và năng suất thấp.

     

    Tại buổi tọa đàm “Thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin – truyền thông Việt Nam” do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức ngày 23/12, ông Nguyễn Trọng Đường, Vụ trưởng Vụ Công nghệ thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho biết, từ năm 2000 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành công nghiệp công nghệ thông tin luôn đạt từ 20- 25%/năm. Năm 2008, doanh thu của ngành này đạt hơn 5,22 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2007; năm 2009 cũng ước đạt gần 20%, tương đương khoảng 6,26 tỷ USD.

    Nổi bật là một số ngành như công nghiệp phần mềm, trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng trung bình là 35%/năm; công nghiệp nội dung số tăng trên 55%/năm; công nghiệp phần cứng, điện tử luôn thuộc top 10 ngành công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao; đã có nhiều khu công nghiệp, trung tâm công nghệ thông tin tập trung ở Tp.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng…

    Mặc dù vậy, theo ông Đường, hầu hết các doanh nghiệp công nghệ thông tin đều có quy mô nhỏ, manh mún và năng suất thấp. Như ngành công nghiệp điện tử và phần cứng máy tính đang chiếm tỷ trọng lớn nhưng lại có giá trị gia tăng rất thấp, chủ yếu là lắp ráp, trong khi công nghệ lõi – lĩnh vực có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao thì lại chưa được đầu tư.

    Ngành công nghiệp phần mềm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng phát triển chủ yếu là… tự phát, mới chỉ tập trung vào các dịch vụ giải trí, các sản phẩm nội dung số nhập ngoại vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong các sản phẩm được phát hành.

    “Dù ngành công nghiệp nội dung số đạt 700 hay 800 triệu USD nhưng có tới 70- 80% giá trị là “của những người chơi game đóng góp”, chứ đâu phải mạnh về sản xuất, ngành công nghiệp nội dung số đã có gì đâu”, ông Chu Tiến Dũng, Giám đốc Công ty phần mềm Quang Trung nói.

    Tuy nhiên, theo nhận định của Bộ Thông tin và Truyền thông, trong những năm tới, ngành này sẽ còn phát triển rất mạnh do xu hướng hội tụ ngày càng sâu rộng giữa điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin. Đặc biệt là ngành nội dung số sẽ có xu hướng phát triển bùng phát, khi các dịch vụ, tiện ích được dự báo sẽ phát triển mạnh trên nền công nghệ 3G.

    “Hơn nữa, Việt Nam đã và đang trở thành điểm đến hấp của nhiều nhà đầu tư và các công ty đa quốc gia, như Intel, Samsung, Foxcon…”, báo cáo của Bộ này cho biết.

    Cần có những công ty chiến lược

    Theo dự tính của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến năm 2015, doanh thu của toàn ngành này sẽ đạt khoảng 25,5 tỷ USD, với tốc độ trung bình hàng năm là 20%, trong đó công nghiệp phần cứng là 8 tỷ USD, phần mềm là 2,2 tỷ; nội dung số là 2,3 tỷ và công nghiệp viễn thông là 13 tỷ USD. Còn mục tiêu đến năm 2020, doanh thu toàn ngành đạt khoảng 50 tỷ USD.

    Tuy nhiên, câu hỏi mà nhiều chuyên gia tâm huyết đặt ra là liệu Việt Nam sẽ phát triển nền công nghiệp công nghệ thông tin theo hướng mạnh về sản xuất, để tạo ra những sản phẩm mang thương hiệu riêng của Việt Nam hay chỉ là nước tiêu thụ, ứng dụng mạnh các sản phẩm, phát minh của thế giới.

    Một số ý kiến cho rằng, để có một nền công nghiệp công nghệ thông tin mạnh thì Việt Nam phải có những công ty, tập đoàn chiến lược của mình.

    Sở dĩ nền công nghiệp công nghệ thông tin của Trung Quốc đang phát triển mạnh là do nhà nước này đã có những chính sách hỗ trợ, đầu tư rất mạnh vào các công ty chiến lược của mình như Huawei, ZTE, Lenovo và lấy các công ty này làm xương sống để phát triển.

    Trong khi đó, theo ông Thân Trọng Phúc, Giám đốc quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ DVJ VinaCapital, lý do Đài Loan cũng có nền công nghiệp công nghệ thông tin đang khá phát triển là nhà nước đã có chính sách mạnh để “kéo” những kỹ sư Đài Loan đang làm bên Mỹ về để xây dựng các trung tâm sản xuất phần cứng của quốc gia.

    “Để phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin, Việt Nam cần phải có những chính sách riêng để xây dựng các công ty, trung tâm chiến lược, mạnh về công nghệ thông tin cho Việt Nam và trong chuỗi cung ứng sản phẩm quốc tế”, ông Phúc chia sẻ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    TIỂU LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    TIỂU LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nâng cấp công nghệ trong họ GSM lên 3G


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-TH%C3%94NG-TIN-TRONG-C%C3%94NG-T%C3%81C-GI%E1%BA%A2NG-D%E1%BA%A0Y-V%C3%80-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ QUẢN LÝ

    Ngày nay, khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các tất cả các lĩnh v ực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin bước đầu đã được ứ ng dụng trong công tác quản lý, một số nơi đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở các nhà trườ ng nước ta còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng dạy và đẩy mạnh các công tác quản lý bằng cách ứng dụng công ngh ệ thông tin vào lĩnh vực của mình. Để nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không nên từ chối nhữ ng gì có sẵn mà lĩnh vực công nghệ thông tin mang lại, chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của mình.

    Làm thế nào để ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả trong các trường phổ thông? Đó là vấn đề mà bất cứ một trường phổ thông trung học nào cũng gặp phải, bất kể đó là trường đã có các máy tính hoặc là trường đang chuẩn bị đầu tư vào lĩnh vực này và cũng có thể là cả các trường chưa có máy tính.

    A.    Quản lý

    I.                   Bí thư Đoàn trường:

    Từ lâu nay, tại các trường phổ thông trung học việc quản lý các đoàn viên, các phong trào hoạt động Đoàn vẫn theo phong cách cổ điển, tức là mọi thứ đ iều được quản lý thông qua sổ sách, giấy tờ dù cho trường đó đã có một hệ thống máy tính cùng các thiết bị hỗ trợ khác khá đầy đủ. Chúng ta có một cơ sở hạ tầng như thế nhưng chúng ta chưa biết cách tận dụng những nguồn tài nguyên sẵn có đó hay là chúng ta ngại khi chuy ển qua một phong cách làm việc mới. Tại sao chúng ta không thử làm một cuộc cách mạng bằng cách ứng dụng công ngh ệ thông tin vào công tác quản lý Đoàn trường dựa trên những gì chúng ta sẵn có, vấn đề là chỉ cần một ý tưởng chúng ta có thể lập tức chuyển công việc đang làm từ thô sơ sang hiện đại và tất nhiên hiệu quả do nó mang lại rất lớn.

    Với công việc quản lý các Đoàn viên cũng như các phong trào hoạt động trong trường phổ thông thì công việc lâu nay chúng ta vẫn làm như thế nào?

    • Để quản lý các Đoàn viên thì chúng ta có các sổ Đoàn viên để theo dõi
    • Quản lý việc thu, chi Đoàn phí theo định kỳ bằng sổ sách và giấy tờ
    • Thực hiện các thông báo đến các Đoàn viên bằng các lời nhắn trên loa hoặc dán thông báo

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          1

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    V ới việc quản lý bằng thủ công như thế, chắc chắn rằng chúng ta luôn gặp các khó khăn và tốn nhiều thời gian trong công việc mà hiệu quả của công việc đem lại chắc chắn không cao. Chẳng hạn như:

    • Việc thống kê việc chi tiêu hàng tháng, quí, năm
    • Thống kê xem số lượng Đoàn viên đã nộp Đoàn phí, chưa nộp Đoàn phí
    • Thống kê số lượng Đoàn viên ở độ tuổi trưởng thành
    • Dựa trên các số liệu thống kê để bình xét thi đua khen thưởng của các chi Đoàn
    • Tuyên truyền về các chính sách của Đảng, nhà nước đến các Đoàn viên
    • Thông báo các hoạt động của Đoàn trong thời gian đến
    • Các Đoàn viên khó có thể gặp mặt, trao đổi cùng nhau thưòng xuyên

    Những khó khăn đó chúng ta có thể dễ dàng vượt qua nếu biết ứ ng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý của mình. Tất cả những vấn đề đặt ra ở đây là áp dụng cho các trường đã có mộ t cơ cở hạ tầng về công nghệ thông tin khá tố t như là số lượng máy tính có đủ cho một lớp học, có projector, có màn chiếu và một số thiết bị kỹ thuật khác để hỗ trợ cho các máy tính nối mạng với nhau và nối mạng Internet thì càng tốt. Như vậy, vấn đề cuối cùng là làm thế nào để chuyển tất cả các công việc lâu nay chúng ta vẫn làm bằng giấy tờ, sổ sách chuyển qua sử dụng máy tính.

    Đối với việc quản lý về số lượng Đoàn viên, thống kê chi tiêu của chi Đoàn theo từng giai đo ạn,… thì công việc có thể nhẹ nhàng hơ n b ằng cách sử dụng ph ần mềm tính toán Excel. Không cần phải có một phần mềm gì to tác c ả, chúng ta có thể sử dụng phần mềm Excel để hỗ trợ chúng ta trong trong việc quản lý cũng như thống kê, tính toán các số liệu một cách nhanh chóng và chính xác. Yêu cầu ở đây là cần có một máy tính và người sử dụng phải khá thành th ạo trong việc sử d ụng phần mềm này. Việc cuối cùng là người sử dụng nhập số liệu vào và tiến hành việc thống kê, so sánh, đối ch ứng. Từ các kết quả thu được chúng ta nhanh chóng biết được các thông tin về chi tiêu theo từng giai đoạn, chúng ta có th ể thống kê được số lượng Đoàn viên đã tham gia đ óng đoàn phí, chưa đóng đoàn phí từ đó đưa ra đượ c kế sách phù hợp hơn trong công tác quản lý. Chúng ta cũng có thể đễ dàng thống kê số lượng đoàn viên đã đến tuổi trưởng thành hay chưa ch ỉ cần một vài thao tác cho dù số lượng Đoàn viên đó lớn, trong khí đó nếu chúng ta thao tác bằng tay thông qua các sổ sách thì mất nhiều thời gian và có thể không chính xác.

    Đối với các công việc như tuyên truyền, thông báo các hoạt động của Đoàn thì các Đoàn trường có thể xây dựng một Website, trên đó có thể có các thông tin tuyên truyền về các chính sách của Đảng, nhà nước cũng như thông qua Website ban chấp hành Đoàn trường có thể có những thông báo đến các Đoàn viên một cách nhanh nhất. Để Website thật sự hiệu qu ả chúng ta phải xây d ựng mộ t diễn đàn gồm các chủ đề liên quan đến các hoạt động của Đoàn trường, các chủ đề về học tập, chủ đề về giới tính, các sáng kiến của các em,… và một số chức năng trưng cầu để chúng ta có thể lấy ý kiến của các em học sinh v ề một vấn đề nào đó. Thiết nghĩ với việc làm như thế sẽ thu hút được các em khi tham gia vào các hoạt động của trường. Việc xây dựng Website thật ra cũng không phải là khó khăn như người quản lý vẫn nghĩ, chỉ cần một ngườ i am hiểu, có chuyên môn về Công nghệ thông tin thì có thể xây dựng được một Website đơn

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          2

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    giản để hỗ trợ mà việc đó thì có lẽ là không quá khó đối với các trường đã được cung cấp mộ t cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin khá đầy đủ. Hoặc là chúng ta có thể ch ọn ra một số em học sinh nào đó trong trường khá về Tin học hướng dẫn cho các em thực hiện và có thể sau này giao cho các em đó quản trị diễn đ àn dưới sự giám sát của các thầy cô giáo Tin học. Như thế càng thiết thực và càng gầm với tâm tư nguyện v ọng của các em hơn và ngườ i xây dựng Website cũng có thể là người cập nhật thông tin cho Website đó. Sau khi xây dựng thành công Website nếu là những trường có điều kiện thuận lợi thì có thể đăng ký một tên miền và đưa lên Internet, còn nếu không thì chúng ta có thể đưa Website lên mạng nội bộ Intranet. Vấn đề còn lại là làm thế nào để các Đoàn viên có điều kiện thuận lợi nhất để truy cập?

    • Trước tiên chúng ta phải tạo một môi trường sao cho tất cả các học sinh khi đến tham gia cảm thấy thoải mái và lại nhiều ích khi đến đây
    • Trong các giờ học Tin học tại các lớp, giáo viên động viên, khuyến khích học sinh vào Website để nắm thêm thông tin.
    • Có một phòng máy luôn mở cửa để hỗ trợ cho các em ngay khi các em cần.
    • Theo định kỳ nên đưa những câu đố lên Website để các em vào đó giải đáp và có những phần thưởng động viên khuyến khích các em nếu giải đáp đúng

    Với tất cả các công việc được thực hiện như thế, chắc ch ắn rằng không những tạo điều kiện cho các em gặp gỡ giao lưu mà còn có thể có những phương hướng hoạt động Đoàn hiệu quả.

    Ngoài ra, với những trường có projector thì ban chấp hành Đoàn trường có th ể tổ chức các buổi serminar về các hoạt động ngoại khóa, các bu ổi giao lưu tìm hiểu về các hoạt động của Đoàn thông qua các bài trình bày bằng Slide sống động nhằm nâng cao nhận thức của tất cả các đoàn viên trong trường.

    II.                Giáo viên

    Ngo ại trừ các giáo viên giảng dạy tin học, đa số các giáo viên còn lại đều quản lý tình hình học tập của các em học sinh theo các cách khác nhau nhưng hầu như ch ưa ứ ng dụng tin học vào việc quản lý. Qu ản lý ở đây bao gồm tình hình học tập chuyên cần và bảng điểm của học sinh trong các năm học. Có thể nói rằng, với cách quản lý thủ công hiện tại đã gây không ít rắc rối, phiền hà cho giáo viên trong những n ăm vừa qua. Đơn cử cho trường hợp một giáo viên dạy môn sinh học, sau khi chấm bài kiểm tra củ a một lớp học cần phải lưu đ iểm vào sổ và cần thống kê xem bao nhiêu phần trăm đạt điểm trung bình, khá, giỏi… Như thế, người thầy buộc phải phân loại theo từng mức độ, đếm xem mỗi mức như vậy có tất cả bao nhiêu bài và động tác cuối cùng là chia để lấy phần trăm. Một trong những tình huống nảy sinh ở đ ây là trong quá trình chấm bài, vì lí do nào đó bài kiểm tra này cộng sai đ iểm từ mức khá bị hạ xuống mức trung bình. Như vậy, quá trình thống kê phải b ắt đầu lại từ đầu? Một tình huống không mong mu ốn khác lại xảy ra là quá trình vào sổ điểm xong xuôi, không biết th ế nào mà sổ điểm “không cánh mà bay”. Thế thì lấy đâu ra bản điểm th ứ hai nếu không có bản sao? Đó là chưa kể một số giáo viên có bản sao nhưng không sử dụng. Như vậy phải chăng đề nghị các em học sinh tìm lại các bài kiểm tra và đọc lại số điểm để giáo viên ghi vào sổ? Đấy là điều bất cập mà chúng tôi muốn nói đến.

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          3

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    Chỉ cần một ít hiểu biết về Excel, đơn giản là cách tạo các công thức để tính điểm trung bình, câu lệnh if để phân thành các nhóm, người thầy hoàn toàn có thể thự c hiện các công việc thống kê kể trên một cách nhanh chóng mà ít xảy ra các sai sót. Đồng thời tránh được tình trạng mất dữ liệu. Đấy chỉ mới là bài kiểm tra, và chúng ta phần nào cũng đoán được mức độ phức tạp của vấn đề khi đối mặt với bài toán tính đ iểm trung bình của các học kì. Lúc này không chỉ có một mà rất nhiều cột điểm, mỗi cột điểm lại có h ệ số khác nhau. Cột thì hệ số một, cột thì hệ số hai, giáo viên phải tổng cộng lại theo h ệ số và chia trung bình. Mà có phải là tính cho một hay hai học sinh đâu mà tính cho số lượng rất lớn (có thể một giáo viên dạy hơn một lớp trong cùng khối và dạy các khối khác nhau). Nhiều giáo viên sử dụng hình thức tự mình tính trước, sau đó cung cấp điểm cho các em học sinh tính lại và so sánh hai kết qu ả để đảm bảo tính chính xác. Liệu hình thức này có ổn không? Quá trình giáo viên đọc điểm cho từng em học sinh có đảm bảo các em ghi đúng, chính xác? Nếu những dữ liệu này được lưu trong Excel, giáo viên chỉ cần thiết lập công thức tính điểm trung bình chỉ cho một em, sau đó sử dụng công thức này để tính cho các trường hợp tương tự mà không cần tốn nhiều thời gian và công sức. Các em học sinh không phải đợi lâu để biết được kết quả học tập của mình.

    Công việc của giáo viên chủ nhiệm thì vất v ả hơn một tí. Ngoài công việc giảng dạy như các giáo viên bộ môn khác, còn bao nhiêu thứ phải bàn đến chẳng hạn như việc thu tiền quỹ, thu học phí, quản lý học bạ củ a học sinh. Nếu chỉ tính đến công việc giảng dạy thì có thể áp dụng cách thức quản lý điểm mà chúng tôi đề cập ở trên. Vấn đề chúng tôi đưa ra ở đây là cách quản lý tài chính và học bạ của h ọc sinh. Các kho ản nộp quỹ và chi tiêu trong từng năm học, giáo viên nên quản lý chi tiết bằng Excel, có thể chia nhỏ thành từng tháng hay từng học kì. Có như thế mọi việc sẽ rõ ràng, tránh tình trạng thắc mắc của h ọc sinh và phụ huynh học sinh. Trên cơ sở đó, hướng dẫn cho thủ quỹ củ a lớp dần làm quen vớ i cách làm việc khoa họ c này. Vấn đề tiếp theo là quản lý học bạ của họ c sinh. Th ực tế, các em học sinh không được phát sổ h ọc bạ vào cuối mỗi năm học thay vào đó là giấy photo học bạ. Đã có những trường hợp đáng tiếc x ảy ra là học sinh sau khi xem xong không đem về cho ph ụ huynh xem mà giấu đi, thậm chí còn vứt vào sọt rác và tất nhiên việc trình bày như th ế nào với phụ huynh thì giáo viên không thể biết được. Phụ huynh có muốn biết tình hình học tập của con mình thế nào thì liên hệ với phòng giáo vụ. và để tìm được đúng sổ học bạ cuả con mình cũng là vấn đề. Đầu tiên người phụ trách phải tìm đúng khối và đúng lớp trong các chồng học bạ lộn xộn, sau đó lục tìm đến đúng tên học sinh được yêu cầu vì chúng được xếp không theo mộ t thứ tự nào cả. Thế thì tại sao mỗi giáo viên chủ nhiệm lại không lưu họ c bạ của các em họ c sinh mình đã và đang giảng dạy? Thay vì phụ huynh phải tìm đến phòng giáo vụ, phải ch ờ đợi tìm kiếm thì chỉ cần họ nêu tên của giáo viên chủ nhiệm phụ trách con mình sau đó làm việc trực tiếp với giáo viên này để lấy các thông tin cần thiết?

    Nói tóm lại, giáo viên nên cải tiến cách quản lý cổ đ iển của mình. Việc làm quen và quản lý dữ liệu bằng Excel không có gì là phức tạp. Chỉ cần một ít thời gian tìm hiểu thông qua sách vở hay đồ ng nghiệp của mình, chúng tôi tin rằng chẳng bao lâu nữa sẽ không còn các mớ giấy tờ lộn xộn trên bàn làm việc của giáo viên.

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          4

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    B. Công tác giảng dạy

    I.                   Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào các trường phổ thông

    Hiện nay bộ môn tin học đã được đưa vào các trường phổ thông và xem như là môn họ c chính trong các trường. Các giáo viên tin học là những ngườ i tiếp cận v ới máy móc và môi trường làm việc này đầu tiên. Nhưng có một th ực trạng đáng buồn là hiện nay tại một số trường vớ i số lượng máy đủ để giảng d ạy một lớp như thế, thậm chí có trường lại có hơn hai phòng máy nhưng chưa thật sự sử dụng hết công suất của chúng. Có một số trường có máy nhưng lại chỉ sử dụng trong thời gian đầu hoặc ít sử dụng. Việc sử dụng ph ần lớn chỉ được các giáo viên Tin học đưa vào để cho các lớp thực hành bộ môn tin học sau các giờ học lý thuyết trên lớp. Các giáo viên chưa biết tận dụng những gì có sẵn để phục vụ cho việc giảng d ạy củ a mình để nâng cao chất lượng bài học. Như vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến thực trạng này?

    Nhiều giáo viên chư a biết sử dụng vi tính, ứng dụng các thiết bị công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc giảng dạy của mình. Trên thực tế, máy vi tính đ ã được trang bị ở nhiều trường. Có trường xây dựng được cả một phòng máy hiện đại. Nhưng điều đáng buồn là, trong khi nhiều quán cà phê ngay ven đường đã nối mạng Internet để nhiều người truy cập thông tin, phục vụ cho những mục đích khác nhau nhằm nâng cao sự hiểu biết thì hầu h ết cán bộ quản lý và giáo viên phổ thông chưa biết sử dụng máy vi tính – dù ở chương trình đơn giản nhất. Các phần mềm dạy học được các công ty tin học quảng bá rộng rãi nhưng nhiều giáo viên (GV) không hiểu đượ c tính năng, tác dụng cũng như cách sử dụng chúng. Có thể nói, nó vẫn còn xa lạ vớ i nhiều GV các trường phổ thông. Một số trường đã đư a máy vào sử dụ ng, những công việc chính vẫn là soạn thảo các báo cáo, văn bản, quản lý hồ sơ, số liệu và ch ơi trò chơi điện tử. Không ít n ơi, máy tính còn được đem cất vào tủ cho nhện đỡ ch ăng mạng hoặc đắp ch ăn nằm ch ờ vì không có người biết sử dụ ng. Có th ể nói, chính sự thiếu hiểu biết v ề tác dụ ng của CNTT cộng với trình độ sử dụng còn hạn chế, đặc biệt là thiếu đội ngũ GV Tin học đã làm cho việc ứng dụng CNTT vào nhà trường hết sức chậm chạp.

    Các giáo viên ngại sử dụng, nghĩ rằng sẽ tốn nhiều thời gian để chuẩn bị một bài giảng. Việc thực hiện một bài giảng một cách công phu bằng các dẫn chứng sống động trên các slide trong các giờ học lý thuyết là một điều mà các giáo viên không muố n nghĩ đến. Để có được một bài giảng như thế đòi hỏi phải mất nhiều thời gian chuẩn bị mà đó chính là điều mà các giáo viên thường hay tránh. Khảo sát hiệu quả tiếp thu từ phía HS cho thấy, nếu sử dụng phương pháp dạy học truy ền thống với phấn trắng bảng đen thì hiệu quả mang lại chỉ có 30%, trong khi hiệu quả củ a phương pháp multimedia (nhìn – nghe) lên đến 70%. Việc sử dụ ng phương pháp mớ i đòi hỏi một giáo án mớ i. Thực ra, mu ốn “click” chuột để tiết dạy thật sự có hiệu quả thì giáo viên phải vất v ả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống. Ngoài kiến thức căn bản v ề vi tính, sử dụng thành thạo phần mềm power point, giáo viên cần phải có niềm đ am mê thật sự vớ i với công việc thiết kế đòi hỏi sự sáng tạo, sự nhạy bén, tính thẩm mỹ để “săn tìm” tư liệu từ nhiều nguồn.

    Chỉ ứng dụng khi có nhu cầu. Tức là chỉ khi có thao giảng mới sử d ụng và việc làm này ch ỉ mang tính chất đối phó. Tình trạng này cũng phổ biến đối với các trường phổ thông. Mục đích sử dụng máy tính để phục vụ cho công tác giảng dạy chỉ được áp dụng trong các tình huống này.

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          5

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    C ũng có ứng dụng như ng ứng dụng không đúng qui trình. Trường hợp này khá phổ biến. Cũng có một số giáo viên sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc giảng dạy của mình nhưng lại thực hiện không bài bản có thể gây phản tác dụng

    Các trường cũng chưa mạnh dạn áp dụng CNTT vào các hoạt động nhà trường như: bồi dưỡng giáo viên, qu ản lý nhân sự, quản lý tài chính, thống kê báo cáo, tuyển sinh, thi tốt nghiệp, các phần mềm dạy học… là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng GD.

    II.                Yêu cầu cần thiết để làm Giáo án điện tử

    Mặc dù giáo án đ iện tử (GAĐT) chưa được các trường học đón nhận, chưa thực sự phổ biến nhưng bước đầu nó đã tạo ra một không khí học tập và làm việc khác hẳn so với cách học và cách giảng dạy truyền thống. Phải chăng việc giảng dạy bằng GAĐT sẽ giúp ng ười thầy đỡ vất vả bởi vì chỉ cần “click” chuột? Thự c ra, mu ốn “click” chuột để tiết d ạy thực sự có hiệu quả thì ngườ i giảng dạy cũng phải ch ịu bỏ công tìm hiểu, làm quen với cách giảng dạy mới này. Cụ thể, người thầy cần phải:

    • Có một ít kiến thức về sử dụng máy tính
    • Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint
    • Biết cách truy cập Internet
    • Có khả năng sử dụng một phần mềm chỉnh sửa ảnh, làm các ảnh động, cắt các file âm thanh…
    • Biết cách sử dụng projector

    Thoạt nghe thì có vẻ phức tạp nhưng thự c sự muốn ứng dụng CNTT vào giảng dạy có b ắt buộc phải thực hiện hết những yêu cầu trên? Câu trả lờ i là không. Tuỳ thuộ c vào tính chất của mỗi môn học mà các yêu cầu khác nhau được đặt ra cho các giáo viên. Tuy nhiên nếu đáp ứng được các yêu cầu trên thì thật tuyệt vời.

    Tại sao chúng tôi lại đặt ra các yêu cầu như trên? Chúng ta thử tưởng tượng xem nếu một người không có khái niệm gì về CNTT liệu họ có bật máy tính lên và chọn được cho mình một chương trình làm việc? Liệu họ có biết được tài liệu của mình nằm

    • đâu trên máy tính? Cách copy tài liệu từ nơi này sang nơi khác hay xoá một tài liệu nào đó khi không còn dùng?… Nghĩa là dù ít hay nhiều họ cũng phải sử dụng được chiếc máy tính theo ý muốn của mình.

    Thứ hai, từ những giáo án được soạn sẵn trên giấy và được trình bày lại trên bảng đen làm thế nào để chúng trở thành các GAĐT được trình bày trên màn chiếu? Điều này đòi hỏi người thầy phải biết sử dụng PowerPoint, đây là một phần mềm nằm trong bộ MS Ofice dùng để tạo các trình diễn đa dạng trên máy tính. Nếu chỉ dừng ở mức độ gõ những nội dung cần thiết cộng thêm một ít định dạng về màu sắc, font chữ, chúng tôi thiết nghĩ giáo viên nào cũng có thể làm được. Tuy nhiên, nếu chỉ có thế thì chúng ta chưa thực sự thấy được sức mạnh của PowerPoint cũng như chưa phát huy hiệu quả của phương pháp giảng dạy mới này. Lấy ví dụ trong một tiết giảng v ăn học về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, thay vì giáo viên hay các em học sinh cầm sách để đọc bài thơ thì bây giờ, trên màn hình lớn hiện ra các khổ thơ, bên dưới các dòng thơ là hình ảnh dòng sông Hương êm đềm và cầu Tràng Tiền thơ mộng. Giọng ngâm thơ của ngh ệ sỹ nào đó được thay cho lời đọc của thầy, của trò. Người thầy chỉ việc nhìn vào màn hình và cứ

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          6

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    thế phân tích từng câu thơ. V ới hình thức giảng d ạy như thế, chúng tôi tin rằng các em học sinh đều cảm nh ận được cái hay của bài thơ, cảm nhận đượ c tình yêu thiên nhiên, đất nước của tác giả. Hay đối với mộ t tiết giảng môn vật lý, các em chắc hẳn cũng khá vất vả để hình dung ra chuyển độ ng theo quán tính, chuyển động biến đổi đều… hay các hiện tượ ng xảy ra trong vũ trụ khi nghe giáo viên giảng. Có khi nghe rồi có em lại hiểu sai vấn đề. Thế thì tại sao chúng ta không đưa ra hình ảnh thật minh hoạ cho các lời giảng trên. Có như thế các em mới hiểu sâu hơn v ấn đề đồ ng th ời làm cho giờ học sinh động và đạt hiệu quả hơn rất nhiều. Hay đối với các định luật, các em có thể biết được định luật nào sẽ do nhà khoa học nào phát minh nhưng có thể không biết được hình dáng của những người này, và d ĩ nhiên chúng ta có thể lồng các hình ảnh của các nhà khoa học này vào trong bài giảng mà không mất nhiều thời gian.

    Ngoài những nội dung, hình ảnh minh hoạ được đưa vào bài giảng, thao tác cơ bản nhất đòi hỏi người thầy phải nắm được là cách thiết lập các hiệu ứng để làm cho bài giảng sinh động, mang lại không khí học tập, giảng dạy mới mẻ. Các hiệu ứng này là gì? Đó chính là các hoạt ảnh của các đối tượng (văn bản, hình ảnh…) đượ c thiết lập có thứ tự. Có th ể dòng chữ này xuất hiện trước dòng chữ kia hay khi thì dòng chữ này xuất hiện từ dưới lên, khi từ trên rơi xuống… Chẳng h ạn trong giờ học ngoại ngữ , giáo viên cho học sinh đoán từ vự ng trước sau đó mới hiển thị kết quả trên màn hình, như th ế sẽ tiết kiệm được thời gian chép câu hỏ i lên bảng, đồng thời tăng khả năng tư duy củ a học sinh. Tương tự đối với các phản ứng hoá học, chất phản ứng sẽ xuất hiện trên màn hình, sau khi học sinh suy nghĩ xong, giáo viên sẽ giúp các em thấy được các chất tạo thành từ các phản ứng này. Ngoài ra, đặc điểm này giúp cho giáo viên tiết kiệm được thời gian viết nội dung lên bảng, nội dung hiển thị đến đâu, giáo viên giảng đến đó, làm cho thời gian giảng bài nhiều hơn, các em học sinh hiểu bài sâu hơn.

    Đối với các môn học xã hội như lịch sử, địa lý, bài giảng thường đi kèm với nhiều hình ảnh minh họa. Có thể là hình ảnh mô tả một trận chiến, các căn cứ địa cánh mạng hay hình ảnh minh hoạ các vùng kinh tế, diện tích lãnh thổ của vùng địa lý nào đ ó… Nếu chỉ trình bày suông, chúng tôi nghĩ cũng chẳng có vấn đề gì cả, nhưng tại sao khi chúng ta đã chấp nh ận làm GAĐT chúng ta lại không làm cho bài giảng phong phú hơn? Hiện tại những hình ảnh minh hoạ cho các nội dung nói trên tương đối nhiều trên Internet. Chúng tôi thiết ngh ĩ nếu chỉ cần bỏ chút thời gian mà có được nh ững nội dung, hình ảnh cần minh hoạ cho bài giảng thì người thầy nào cũng sẵn lòng cả. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giáo viên cần biết cách thức truy cập Internet để lấy thông tin.

    Tuy nhiên, không ph ải hình ảnh nào chúng ta lấy từ Internet đều thỏa mãn ý muốn của chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta cần hình ảnh của một hình chóp để minh hoạ trong giờ học toán nhưng hình ảnh chúng ta lấy từ Internet lại quá nhỏ hay nó lại n ằm chung với một hình khác. Nh ư vậy chúng ta bó tay, không cần minh hoạ hay vẽ lên bảng hay tìm một hình khác cho đến khi vừa ý? Không, giải pháp đơn giản hơn là chúng ta có thể phóng to hình này lên hay xén lại hình để chỉ lấy phần hình chóp. Hay để tăng thêm tính thuyết phục, tính chất thực của các sự kiện, giáo viên d ạy lịch sử có thể dẫn dắt thông qua các đoạn phim tư liệu. Vậy chúng ta thực hiện các công việc trên b ằng cách nào? Điều này đòi hỏi giáo viên cần biết một ít kỹ thuật để xử lý màu sắc, cắt xén ảnh, các đoạn phim, đoạn nhạc một cách hợp lý. Hoặc trong giờ học ngoại ngữ, giáo viên có thể lấy các hình ảnh minh hoạ và cho các em nghe các bài đọc của người b ản xứ. Có như thế bài giảng sẽ sinh động hẳn, các em lại nhớ được các từ vựng và phát âm chuẩn

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          7

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    hơn. Có thể đ ây là thao tác tương đối phức tạp nhưng nó mang lại tính hiệu quả cao trong công tác giảng dạy.

    Bài giảng sau khi thiết kế sẽ được trình chiếu lên màn hình thông qua máy chiếu. Nghĩa là dù muốn hay không giáo viên buộc phải biết cách sử dụng nó. Đây là một trong những yêu cầu bắt buộc đối vớ i giáo viên, ch ỉ cần một vài thao tác lắp máy chiếu vớ i CPU của máy tính và điều chỉnh độ lớ n, độ nét trên màn hình giáo viên chắc hẳn sẽ có một bài giảng chất lượng, học trò sẽ có không khí học tập sảng khoái hơn.

    Điều cuối cùng chúng tôi muố n nói đến là nhờ GAĐT mà các giáo viên đã tạo ra một không khí khác hẳn so với giờ d ạy truyền thống. Học sinh buộc phải tập trung nghe giảng và tư duy nhiều hơn trong các giờ học. Tuy nhiên, tối thiểu người giảng dạy phải có một số kiến thứ c nh ất định chẳng hạn như sử dụng được phần mềm trình diễn PowerPoint để trình bày bài giảng và cần phải có quan niệm các phương tiện kỹ thuật được đề cập trên là các phương tiện hỗ trợ cho việc giảng dạy chứ không thể thay thế vai trò chủ đạo của người thầy trong giờ lên lớp.

    III.             Quy trình và nguyên tắc khi thực hiện GAĐT

    Hiện tại, một số trường đã áp dụng GAĐT trong các giờ d ạy. Nhưng vấn đề là chúng ta có nghĩ đến việc áp dụng như thế đã đúng chưa, đã hiệu quả chưa? Nếu chưa thì áp dụng nh ư th ế nào là đúng quy trình, làm thế nào để giáo viên đỡ vất vả trong những lần d ạy tiếp theo? Đ iều chúng tôi muốn nói ở đây là quy trình để chuẩn bị cho một giáo án điện tử. Cụ thể, giáo viên cần có:

    • Slide bài giảng
    • Chương trình phân bổ thời gian học trong mỗi học kỳ
    • Tài liệu hướng dẫn bài tập

    Khi chuyển từ bài giảng truyền thống sang các slide trình diễn, giáo viên thường mang tư tưởng của bài giảng cũ để áp đặt vào. Nghĩa là, chúng ta nghĩ chúng ta sẽ trình bày những gì mình nói và viết tất cả các nội dung vào slide. Điều này hoàn toàn sai lầm vì như thế học sinh sẽ cho rằng giáo viên chỉ nói những điều trong sách, không mở rộ ng các kiến thức ngoài. Chúng ta cần nh ớ một điều slide là nơi ch ỉ chứa tên bài họ c, các đề mục và các cụm từ chốt phục vụ cho bài giảng. Tuỳ theo từng môn h ọc, chúng ta có thể bổ sung các công thức, định lý, ph ản ứng hoá họ c, hình ảnh minh hoạ một cách hợp lý… Đ ây là bướ c mà giáo viên cần vận dụng khả n ăng, kiến thức v ề tin học của mình để xây dựng bài giảng. Nếu slide này cần hình ảnh minh hoạ, giáo viên nên tìm kiếm hình ảnh để chèn vào. Hay slide kia đang trình bày kết quả mộ t thí nghiệm, giáo viên có thể đưa đoạn phim thí nghiệm vào để tăng thêm tính thực tế. Công đoạn đưa nội dung vào giáo viên cũ ng nên lưu đến số lượng chữ, màu sắc, kích thước trên các slide. Giáo viên nên tóm tắt v ấn đề mình sẽ trình bày d ướ i dạng các keyword một cách rõ ràng và dễ hiểu. Nhìn vào slide, giáo viên có nhiệm vụ giải thích kỹ càng và mở rộng vấn đề ra chứ không phải là đọc các dòng chữ trên slide. Nếu chưa quen với cách giảng d ạy này, giáo viên có thể thấy khó khăn trong việc xác định xem slide tiếp theo sẽ trình bày về vấn đề gì. Không sao, giáo viên có thể in ra một bản handout để vừa giảng vừa nhìn vào nó để xác định vấn đề sẽ nói tiếp theo.

    Sử dụng GAĐT cũng có nghĩa giáo án truyền thống dần được lãng quên. Chúng ta hãy nhìn lại xem trong giáo án truyền thống chúng ta trình bày những gì. Phải chăng là

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          8

    Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế

    tất cả nộ i dung bài giảng? Vậy thì đố i vớ i GAĐT chỉ gồm một số slide, các slide chỉ chứa các keyword, hình ảnh… thì làm thế nào để giáo viên có thể bao quát hết các vấn đề cần được giảng? Phải chăng giáo viên thích nói nội dung nào trướ c đều được? Nhữ ng nội dung giáo viên cảm thấy thích thì tập trung nhiều thời gian vào và giảm thời gian cho các nội dung còn lại? Liệu một giáo viên mới đứng lớp có thể nhớ hết được những gì mình đã chu ẩn bị trướ c buổi dạy? Chỉ cần chúng ta xây dựng đề cương giảng dạy thì v ấn đề trên sẽ được giải quyết ngay lập tức. Đề cương này sẽ ghi rõ số tiết dạy của môn học, tên bài giảng tương ứ ng với các tiết học, nộ i dung cụ thể sẽ trình bày trong mỗi tiết học là gì? Vấn đề nào trình bày trước, vấn đề nào trình bày sau? Vấn đề nào là trọng tâm, cần đượ c nhấn mạnh?… Sở dĩ chúng ta phải chuẩn bị kỹ lưỡng như vậy là vì nếu tiết giảng đó giáo viên chưa nói hết nội dung các slide hay đã trình bày hết nhưng thời gian còn thừa đồng nghĩa với việc “cháy giáo án” và học trò rất dễ nhận ra. Kết hợp đề cương này cùng handout một cách thích hợp, giáo viên ắt hẳn sẽ không còn băn khoăn gì về cách dạy mới mẻ này.

    Kèm theo các tiết học lý thuyết là các tiết học bài tập, giáo viên cần có tài liệu hướ ng dẫn bài tập cụ thể bao gồm bài tập trong sách giáo khoa và bài tập nâng cao và các bài tập này phải được giải một cách rõ ràng tránh trường hợp đến tiết bài tập nào thì giải các bài tập đến đó. Các bài tập này sẽ được lưu vào sổ tay hướng dẫn giảng dạy để làm tài liệu giảng dạy sau này.

    IV.       Giải pháp cho việc áp dụng GAĐT

    Đúng là GAĐT lắm công phu thật. Có lẽ vì thế mà một số tr ường đã thực hi ện nhưng chỉ mang tính hình thức và dừng lại ở mức các tiết học thao giảng. Phải chăng có nhiều rào cản trong việc áp dụng phương án mới này? Đó là cơ sở vật chấ t hay sự ngại ngùng của một số giáo viên khi làm quen với các kỹ thuật tin học để phục vụ cho môi trường giả ng dạy mới? Trở ngại thứ nhất chúng tôi nghĩ khó giải quyết nhưng khi giải quyết được thì vấn đề đặt ra thứ hai thì hoàn toàn có thể khắc phục đượ c. Với đội ngũ giáo viên tin học hiện có trong nhà trường, chỉ cần tổ chức một số buổi seminar về cách sử dụng máy chiếu, thiết lập các hiệu ứng trong PowerPoint cho toàn thể giáo viên các bộ môn khác để họ có thể tự mình thi ết kế GAĐT riêng cho mình. Ngoài ra, các thầy cô giáo trong cùng t ổ chuyên môn nên có các buổi thao giảng để thu nhận những góp ý chân thành từ những ng ười khác, từ đó nâng cao chất lượng gi ảng dạy theo phương pháp mới. Chúng tôi nghĩ rằng, với khả năng sư phạm vốn có cộng thêm một ít bồi dưỡng về kiến thức tin học, các giáo viên hoàn toàn có thể thiết kế được bài giảng điện tử để thể hiện tốt hơn phương pháp sư phạm, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy.

    Hội thảo Ứng dụng CNTT trong các hoạt động Đoàn trường học lần I                                          9


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị tại Việt Nam

    Tiểu luận Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị tại Việt Nam

    Tiểu luận Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Quy-lu%E1%BA%ADt-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-quy-lu%E1%BA%ADt-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị tại Việt Nam

    Đề án KTCT

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Một xã hội có những chính sách về phát triển kinh tế ngày một toàn diện và hiệu quả hơn sao cho đòi sống tinh thần và vật chất của con người trong xã hôị dó ngáy một ổn dịnh phong phú ,nhưng để có được một xã hội như vậy không phảI tự nhiên mà có .Thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế là một việc vô cùng khó khăn ,đó là cuộc chạy đua sôi động giữa các nước trên thế giới nhằm đạt được một vị trí cao hơn trên truường quốc tế .Muốn thực hiện điều đó thì nhất quyết trong chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đòi hoỉ phảI được dựa trên một nền tảng cơ sở lý thuyết vững chắc về các quy luật kinh tế ,đặc biệt là quy luật giá trị .Vì sao lạu nói quy luật giá trị là quy luật quan trọng nhất ? và đối với nứơc ta hiện nay nền kinh tế thị trướng liệu có chịu ảnh hưởng của quy luật này ? Nếu trả lời được câu hỏi trên hay nói cách khác là nghiên cứu quy luật giá trị thì ta nhận định đươc thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay từ đó có được những lý luận chung về những tồn tại .những tiến bộ .cũng như hướng phát triển. Mặt khác tác dụng của quy luật giá trị tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản suất mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất XHCN và vào khả năng nhận thức vận dụng và tổ chức các hoạt động kinh tế thực tiễn của nhà nước. Hơn nữa tác dụng của quy luật giá trị là tác dụng khách quan ,khả năng con người nhận thức và vận dụng quy luật sẽ quy định tính chất tiêu cực hay tích cực mà việc vận dụng nó sẽ mang lại cho xã hội,vì vậy nghiên cứu để có thể áp dụng quy luật giá trị một cách khoa học hiệu quả tận dụng một cách tối ưu nhất những ưu điểm của nó khi tham gia vào nền kinh tế đất nước chính là mục đích của em khi chọn đề tài này – với vai trò là một thành viên tương lai của nền kinh tế việt nam.

    Đề án KTCT

    Về mặt lý thuyết , quy luật giá trị được phát biểu như sau : “sản xuất trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở lượng giá trị hàng hoá hay thời gian lao động cần thiết “. Trên thực tế thì quy luật giá trị mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng do mang các tính chất sau :

    • Điều tiết và lưu thông hàng hoá: trong sản xuất quy luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động giưa các ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá
    • Kích thích lực lượng sản xuất phát triển :người sản xuất muốn đứng vững phải liên tục đổi mới kỹ thụât vì kỹ thuật tiên tiến thì giá trị cá biệt của hàng hoá sẽ thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá như vậy người sản xuất mới có lãi nhất
    • Thực hiện sự bình tuyển tự nhiên :sự tác động của quy luật giá trị bên

    cạnh những tích cực kể trên còn dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa những người sản xuất hàng hoá nhất là những người sản xuất nhỏ

    Vì nền kinh tế Việt Nam cung được xây dựng trên cơ sở của quy luật giá trị nên tất yếu các khía cạnh của nền kinh tế cũng mang dáng dấp của những đạc điểm trên và dù được thể hiện trực tiếp hay gián tiếp nó cũng nói lên được một phần nào đó thực trạng của quá trình vận dụng ,thấy được những ưu khuyết điểm để từ đó có những phương pháp khắc phục ,nhằm đạt được nhưng hiệu quả tốt hơn trong quá trình phát triển

    “Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị ở Việt Nam”

    Trên đây là tất cả những vấn đề mà em sẽ tập trung nghiên cứu trong bài viết của mình, những nội dung đó sẽ được đề cập trong hai chương bao gồm :

    +Chương I: lý luận chung về quy luật giá trị

    +Chương II: thực tế vấn đề đó ở Việt Nam

    Đề án KTCT

    Cuối cùng em xin cám ơn thầy giáo đã ra đề tài và đã hướng dẫn cho em nghiên cứu đề tàI này một cách khoa học và nghiêm túc. Tuy nhiên đây là một đề tài hết sức bao quát và tổng hợp nhiều kiến thức vì vậy bà viết của em không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế .Em rất mong có được sự chỉ bảo và giúp đỡ của thầy cô .Em xin chân thành cám ơn .

    3

    Đề án KTCT

    CHƯƠNG I:

    1.1      TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VỀ QUY LUẬT NGIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KTTT

    Thực tế lịch sử đã chứng minh , bất kỳ mợt sự vật hiện tượng nào ,từ vi mô đến vĩ mô ,tất cả khi tồn tại trong tự nhiên đều tuân theo nhưng quy luật nhất định .Những quy luật này chi phối tới cả quá trình hình thành và phát triển của mỗi sự vật hiện tượng

    Và tất nhiên nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó.Theo thời gian ,nền kinh tế không ngừng biến đổi nóliên tục phân chia và hình thành thêm nhiều thành phần tế mới có những định hướng khác ,có những đặc đIểm và quy định riêng biệt đối với các thành viên tham gia trong nền kinh tế đó

    .Chúng giống nhau là nhìn bề ngoài tưởng như sản xuất và trao đổi hàng hoá là việc riêng của mỗi thành viên họ độc lập và hình như không chịu sự chi phối nào .Trên thực tế ,mọi người sản xuất và trao đổi hàng hoá đều chịu sự chi phối của quy luật giá trị .Đúng như Mac đã “ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có quy luật giá trị” (1) hay nói cách khác nó chính là quy luật thống soái của nền kinh tế thị trường.Các quy luật khác chịu sự chi phối của quy luật này và một phần cũng biểu hiện những yêu cầu của nó:

    Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế thị trường có tín hiệu nhạy bén nhất là giá cả mà giá cả lại chịu sư chi phối của quy luật giá trị vì thế nói quy luật giá trị có ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế là hoàn toàn phù hợp mang tính tất yếu.

    Hơn thế nữa việc vận dụng các phương pháp và chuẩn mực dựa trên cơ sở quy luật giá trị trong việc tính toán hao phí lao động xã hội cần thiết ta

    Đề án KTCT

    có thể định hướng được các kế hoạch kinh tế quốc dân .Nhờ đó mà ta có thể phân tích và có được những bước đi cụ thể cho nền kinh tế trong các thời kỳ tiếp theo

    (1):Tư bản quyển III STH 1978 Tr.309

    Bản thân quy luật giá trị biểu hiện sự ngang bằng giữa các tiêu chuẩn được dùng làm cơ sở để xây dựng quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá nó nói lên tính chất ngang giá cúa việc trao đổi giữa họ với nhau

    Từ những điểm trên cho thấy việc chi phối các mặt của nền kinh tế thị trường bởi quy luật giá trị là vấn đề cơ bản tất yếu ,đã được thực tế kiểm nghiệm chứng minh và khẳng đinhl.!

    1.2      CÁC QUAN ĐIỂM VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ

    Quy luật giá trị là quy luật của kinh tế của sản xuất hàng hoá , ở đâu có sản xuất hàng hoá thì ở đó tồn tại quy luật này , dù là xã hội tư bản hay xã hội xã hội chủ nghĩa .Nó sẽthể hiện những đặc điểm khác nhau tuy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh kinh tế chính trị của xã hội mà nó tồn tại .

    Trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hưu về tư liệu sản xuất , những ngưới sản xuất tách rời nhau mặc dầu được liên kết với nhau do sự phân công lao động xã hội – có sự đối kháng về lợi ích giữa họ với nhau , cũng như giữa họ với toàn xã hội ,trong đIũu kiện đó ,trao đổi những lượng lao động bằng nhau là phương thức duy nhất để thực hiện lợi ích kinh tế của người sản xuất . Còn trong nền sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa , chế độ công hữuvề tư liệu sản xuất và tính chất lao đôngj xã hội trực tiếp sinh ra từ chế độ sở huữu đó ,đã tạo sự nhất trí về lợi ích giữa mọi thành viên trong xã hội ,nhất trí về lợi ích cá nhân và tập thể những

    5

    Đề án KTCT

    người sản xuất ngay từ đầu đa ý thức rõ việc tiêu phí lao động riêng của mình với tư cách là mọt bộ phận của toàn bộ lao động xã hội .Quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hội yêu cầu việc sản suất và trao đổi hàng hoá phải tiến hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết ,nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa các lợi ích : lợi ích xã hội ,lợi ích tập thể ,lợi ích cá nhân

    Sự thống nhất giữa các lợi ích này đã mang lại cho quy luật giá trị một nội dung đinh tính mới khacs với quy luật giá trị trước nó: đó là sự kết hợp các lợi ích trong lượng giá trị Theo yêu cầu cũa quy luật này việc xác định đúng đắn thời gian lao động xã hội cần thiết có tầm quan trọng đặc biệt. Trong các xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu lao đọng sản xuất , thời gian lao động xã hội cần thiết được hình thành một cách tự phát thông qua một con đường vòng xã hội trong trao đổi hàng hoá . Còn chủ nghĩa xã hội có thể kế hoạch hoá việc hình thành thời gian lao đọng xã hội cần thiết nó đưọc nhận thức và xác lập từ trong quá trình sản xuất , nó được tính toán đầy đủ mối quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trị giữa các lợi ích kinh tế cuả cá nhân người lao động ,của xí nghiệp ,và của xã hội phù hợp với đIũu kiện kinh tế của xã hội trong từng thơ kỳ:

    “ Trong chủ nghĩa xã hội , dưới sự thống trị của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa tư liệu sản xuất , quy luật giá trị biểu hiện của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa giưa người và người ,hoạt động trong hệ thống quy luật của chủ nghĩa xã hội ,trong mối liên hệ lẫn nhau giữa các quy luật đó và được sử dụng để quản lý có kế hoạch nền sản xuất “ (2)

    Quy luật giá trị là trừu tượng, Nó thể hiện sự vận động của giá cả mà giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị từ đó làm cho làm cho giá cả hàng hoá lên suống xung quanh giá trị của nó .Mac quan niệm đó là “ vẻ đẹp của quy luật giá trị “ (3)

    6

    Đề án KTCT

    Quy luật giá trị, với tư cách là quy luật cơ bản của sản xuất hàng hoá, đã tạo ra cho người mua và người bán những động lực cực kỳ quan trọng . Trên thị trường, người mua bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi ích sử dụng . Vì vậy người mua luôn luôn muốn ép giá thị trường với mức thấp nhất. Ngược lại, người bán bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận và do đó muốn bán với giá cao Để tồn tại và phát triển, những người bán một mặt phảI phấn đấu giảm chi phí ( đặc biệt là ở giai đoạn trước khi đưa hàng hoá ra thị trường ) để chi phí cá biệt nhỏ hơn hoặc bàng chi phí xã hội trung bình . Họ cố gắng dùng mọi thủ đoạn và biện pháp nhằm bán được hàng với giá cao nhất nhằm tối đa hoá lợi nhuận .Như vậy quy luật giá trị tác động tới người bán theo hướng thúc đẩy họ nâng cao giá thị trường lên và “ giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị . Gía trị là quy luật của giá cả . Gía cả cũng là phương thức vận động của quy luật giá trị có nghĩa là quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả để tác động đến nền kinh tế, do vậy giá cả là cơ chế chủ yếu để vận dụng quy luật giá trị “(4)

    Những quan đIểm trên đều cho thấytầm quan trọng của quy luật gia trị và tất cả đều xuất phát từ học thuyết của Mac xit :cơ chế thị trường là cơ chế tự vận động của hệ thống quy luật trước hết là quy luật giá trị đó là sự khác nhau giữahọc thuyết kinh tế mac với kinh tế hoạ hiện đại .Kinh tế học phương tây quá đề cao quy luật cung cầu họ

    • (3) Bài viết “những đặc trưng chủ yếu của cơ chế thị trường TB CN “của PTS Nguyễn Văn Ký – “một số lý luận về KTCT và thực tế kinh tếViệtNam“Tr29Họcviện chính trị quốc gia 1995(4) “Vai trò quản lý nhà nước về giá trong nền KTTTnước ta “ Tr9 của PGS.PTS. Trần Hởu Thự_ NXB chính trị quốc gia 1994

    7

    Đề án KTCT

    coi quy luật cung cầu là quy luật tạo thế cân bằng sản xuất , chi phối quyết định giá còn A.Smith lại quá đề cao tính tự do ,trật tự tự nhiên không thấy quy luật giá trị là trung tâm của cơ chế thị trường ngược lại Mac quan niệm quy luật cung cầu không quyết định về giá trị và giá cả hàng hoá được .Mac chứng minh rằng ngay cả khi cung cầu cân bằng nhau giá vẫn biến động.

    Mặt khác cũng theo Mac quy luật giá trị là quy luật của kinh tế hàng hoá nên quy luật giả trị vẫn tồn tại trong chủ nghĩa xã hội vì ở đó vẫn tồn tại kinh tế hàng hoá . Xét theo góc độ đó quy luật giá trị là một quy luật chung tồn tại trong nhiều phương thức .Vì là quy luật trung, quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hội cũng sẽ có những nội dung chung giống với các quy luật giá trị trong trong các phương thức sản xuất trước nó . Đồng thời phép biện chứng về cái riêng là cái toàn thể ,cái chung là cái bộ phận

    • cái chung nằm trong cái riêng lại cho phép khẳng định rằng quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hôị lại là một toàn thể vừa chứa đựng những nội dung chung giống nhau của các quy luật trước nó vừa chứa đựng cả những nội dung riêng phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Như vậy rõ ràng quy luật giá trị tồn tại trong chủ nghĩa xã hội Không phải là sự tái hiện nguyên vẹn của quy luật giá trị trước đó mà là một quy luật khác , quy luật giá trị của kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa ,quy luật của chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản. Trên cơ sở những quan điểm đó áp dụng với nền kinh tế Việt Nam hiện nay Đảng và nhà nước ta khẳng định :

    Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường vì vậy tồn tại quy luật gía trị là tất yếu và chỉ có học thuyết Mac xit mới đặt đúng địa vị quy luật giá trị trong cơ chế thị trường (chủ nghĩa Mac vạch rõ thực chất cơ

    8

    Đề án KTCT

    chế thị trường là cơ chế phân phối tư bản phân phối lợi nhuận để tìm kiếm lợi nhuận tối đa cho giai cấp tư bản)

    Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa thế giới lớn mạnh sự phân công quốc tế xã hội chủ nghia là điều kiện kinh tế quan trọng để phát triển kinh tế môĩ nứơc , chúng ta cần thiết và có đầy đủ khả năng tham gia vào sự phân công quốc tế đó . Yêu cầu của sự tham gia này là phát huy thế mạnh của mỗi nước, bổ xung vào sự phát triển toàn diện của tất cả các nước .

    Với nền kinh tế sản xuất nhỏ là chủ yếu,khi tham gia vào sự phân công quốc tế này những mâu thuẫn của sản xuất hàng hoá gay gắt thêm .Trong điều kiện hàng hoá có hạn chúng ta phải phân phối sao cho hợp lý nhu cầu hàng hoá tiêu dùng trong nước với nhu cầu hàng hoá xuất khẩu theo sự phân công quốc tế để đạt được cânđối tối ưu

    đó là một đòi hỏi khó khăn . Mặt khác sự giao lưu tăng tiến do phân công quốc tế mà có , tạo ra những nhu cầu ngày càng đổi mới và đa dạng , vượt quá khả năng đáp ứng được của nền sản xuất trong nước về mặt giá trị phát sinh mâu thuân giá cả hàng hoá trong nước với hàng hoá các nước thành viên .Vấn đề cần giải quyết để phát triển sản xuất hàng hoá nước ta nhằm đáp ứng quan hệ phân công hợp tác quốc tế này là phải quy hoạch lại ,sản xuất kế hoạch hoá chặt chẽ, tập trung vào nhưng trọng đIểm để tạo nguồn hàng tham gia vào sự phân công và giảI quyết nhu cầu trong nước . Sự hợp tác về mặt kế hoạch do vậy có tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển kinh tế hàng hoá ỏ nước ta:

    ”Phát huy tác dụng của quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế tác động của các quy luật giá trị trong kinh tế không xã hội chủ nghĩa là yêu cầu của chính sách giá cả và quản lý thị trường ở nước ta trong thời kỳ quá độ “ (5)

    9

    Đề án KTCT

    Đảng ta cũng chỉ rõ : trong thời kỳ tiến lên xã hộ chủ nghĩa do tồn tại ba loại quan hệ sản xuất hàng hoá nên quy luật giá trị tồn tại trong cả ba loại hình sản xuất đó , tuy nhiên cách thức biểu hiện lại khác nhau ,trong sản xuất hàng hoá giản đơn quy luật giá trị có yêu cầu là bảo đảm lợi ích cá nhân người lao đọng riêng biệt ,trong sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa quy luật giá trị có yêu cầu mang lại giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt cho nhà tư bản . Trong sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa quy luật giá trị bảo đảm sự thống nhất hài hoà giữa các loựi ích xã hội , lợi ích tập thể và lợi ích người lao động làm chủ ã hội . Gắn liền với cuộc đấu tranh giữa ba loại hình sản xuất hàng hoá có cuộc đấu tranh giữa các quy luật giá trị

    . Đó là cuộc đấu tranh về giá cả trên thị trường đã làm nảy sinh hai khuynh hướng phát triển :ổn định và rối loạn , có kế hoạch và vô chính phủ , xã hội chủ nghĩa và tư bảnchủ nghĩa.

    Vấn đề đặt ra cho nước ta hiện nay là phải vận dụng quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghiã , hạn chế và hướng dẫn quy luật giá trị trong hai thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa

    Đảng ta nêu rõ : “ trong giai đoạn hiện nay ở nước ta kinh tế xã hội chủ nghĩa không chỉ chịu tác động của quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa mà còn chịu tác động của các

    • (6) BàI “vai trò quản lý của nhà nước về giá trong nền KTTT ở nước ta “Tr57 của PGS.PTS. TrầnHậu Thư NXBchính trị quốc gia 1994

    quy luật giá trị trong các thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa thể hiện ở việc một số xí nghiệp chạy theo giá cả thị trường không tổ chức , bán sản phẩm của mình với giá cao hơn giá quy định để thu về chênh lệch giá ,cho lợi ích riêng của xí nghiệp”(6)

    10

    Đề án KTCT

    Điều đó cho thấy Đảng và nhà nước đã đánh giá được toàn bộ tầm quan trọng của quy luật giá trị trong nền kinh tế của nước ta hiện nay

    2.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ .

    • ó thể nói Liên Xô là nước đi đầu trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa về vấn đề công nghiệp hoá hiện đại hoá phát triển nền kinh tế và cũng là quốc gia đầu tiên hiểu rõ và áp dụngquy luật giá trị vào nền sản xuất , tuy không tránh khỏi những sai sót nhưng cũng đã để lại nhiều dấu ấn trong nền kinh tế nước Nga nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung Sau cách mạng tháng mười Nga thành công ,chính quyền xô viết đã tranh thủ giải quyết những vấn đề cụ thể ,cấp bách, củng cố chính quyền của giai cấp vô sản ,đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.Để làm được điều đó nhất thiết phải tìm ra con đường đổi mới quy cách của nền kinh tế Nga lúc bấy giờ, và Đảng Cộng Sản đã chỉ ra :hướng đi đúng đắn và cấn thiết lúc này là phát triển một nền kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa như thế cũng có nghĩa là phát triển một nền kinh tế tuân thủ theo những quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa mà dẫn đầu là quy luật giá trị

    Trong thời kỳ chiến tranh việc bao cấp quy định giá đã đóng góp một vị trí quan trọng trong việc chiến thắng và xây dựng một nền kinh tế tự lực tự cường và phát triển của Liên Xô.Để đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích của cả xã hội ,của mỗi tập thể và của từng cá nhân Liên Xô đã tiến hành xây dựng một nền kinh tế dựa trên nền tảng của mô hình hợp tác hoá : mọi người cùng làm việc và cùng hưởng thụ thành quả đạt được, nói cách khác tư liệu sản xuất được nắm giữ chung bởi mọi thành viên tham gia vào quá trình sản xuấtvà giá cả là do nhà nước quyết định ền kinh tế nước Nga lúc này trở thành nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo , sự

    11

    Đề án KTCT

    phát triển chủ yếu dựa vào sự nỗ lực chủ quan của nhân dân Liên Xô trong quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa .Và kết quả là : “cho đến năm 1940 giá trị tổng sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã gấp 7,7 lần so với năm 1923 ,nhịp độ tăng hàng năm là14% . Đến lúc đó lịch sử thế giới chưa biết đến nhịp độ phát triển nào như vậy . Trong cơ cấu công nông nghiệp, sản lượng công nghiệp đã chiếm 77,4% , sản lượng công nghiệp Liên Xô chiếm 10% sản lượng công nghiệp thế giới “(8)

    • BàI “kinh tế Liên Xô “trong sách “Lịch sử kinh tế quốc dân “ Tr117 NXB giáo dục _Hà Nội 2001

    Sau khi phát xít Đức tấn công Liên Xô toàn bộ nền kinh tế chuyển sang phục vụ chiến tranh , trong thời gian này tuy công nông nghiệp có phần giảm sút nhưng vẫn đảm bảo cho nước Nga hoàn thành cuộc chiến bảo vệ tổ quốc và sau bốn năm chiến tranh nền kinh tế Liên Xô bị tàn phá rất nặng nề , nhà nước cộng sản và nhân dân Nga quyết định khôi phục và ổn định lại nền kinh tế. Đặc biệt chú trọng đến vấn đề giá cả và tiền tệ là những khía cạnh quan trọng của quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa ( quy luật giá trị ) để khắc phục việc đồng rúp đang mất giá và giá cả hàng hoá biến động sau chiến tranh năm 1947 cải cách tền tệ được thực hiện (1 rúp mới ăn 10 rúp cũ ) do đó sức mua của đống rúp được nâng lên và bình ổn được thị trường giá cả.” Sau bao nhiêu nỗ lực tính đến năm 1955 thu nhập quốc đân tăng gấp 17 lần so với năm 1913 , tiền lương thực tế tăng lên 4 lần , đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt “(9).

    Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu , Liên xô cũng phạm phải những sai lầm đáng tiếc ,do các nhà lãnh đạo không nhanh nhạy nắm bắt thời cuộc

    12

    Đề án KTCT

    dẫn đến hiểu sai và áp dụng sai những nội dung của quy luật giá trị và kéo theo kết quả cuối cùng là sự sụp đổ của cường quốc thứ hai trên thế giới .

    Sau khi thị trường Liên Xô cũ và các nước Đông Âu tan rã ,Việt Nam đã chuyển hướng buôn bán sang các nước Châu á , để có được mối quan hệ lâu dài và bền chặt thì cả hai phía phải hiểu rõ về nhau ,chính vì vậy trong phạm vi bài viết ngày hôm nay em xin được đề cập đến quá trình phát triển của một số nước châu á , đặc biệt là 3 nước : Nam Triều Tiên ,Nhật Bản , Singgapo ba “con rồng châu á”, để từ đó thấy được những thành công của họ đã đạt được như thế nào , liệu những kinh nghiệm của họ có phù hợp với tình hình kinh tế xã hội Việt Nam hay không ?

    • (9) BàI “kinh tế Liên Xô “trong sách “Lịch sử kinh tế quốc dân “Tr119 NXB giáo dục –Hà Nội 2001

    Trước hết chúng ta đề cập đến đất nước Nam Triều Tiên :

    Đặc điểm nổi bật của đất nước này là “ phá vỡ nền kinh tế tự nhiên và mở rộng quan hệ hàng tiền tư bản chủ nghĩa “(10) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị theo định hướng tư bản chủ nghĩa tạo nên một nền kinh tế hàng hóa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất .

    Cho đến khi Đại chiến thế giới II kết thúc Nam Trỉều Tiên vẫn còn là thuộc địa của Nhật Bản và nền kinh tế bị phá huỷ nặng nề trong chiến tranh đến mức khó có thể gượng dậy được . Nhưng nền tảng cơ bản của nền kinh tế thị trường là khu vực kinh tế tư nhân và những quan hệ hàng hoá tiền tệ trong khu vực sản xuất đã xuất hiện trước đó , khi thực dân Nhật Bản xâm chiếm thuộc địa vùng này .

    • Nam Triều Tiên : “cho đến thế kỷ 19 , 84% nền kinh tế Triều Tiên vẫn còn nằm ở khu vực nông nghiệp và lâm nghiệp lạc hậu và quan hệ sản

    13

    Đề án KTCT

    xuất chủ đạo ở nông thôn là chủ nghĩa phong kiến trong đó dân cư chủ yếu là hai thành phần một bên là địa chủ cùng với các gia đình quý tộc trong vương triều với bên kia là tá điền . Phương thức bóc lột chủ yếu là phát canh thu tô .khái niệm tiền công còn xa lạ với các triều đại Triều Tiên cho đến khi Nhật áp đặt ách thống trị của họ vào năm 1910. ”(11)

    Chính sách thực dân hoá của Nhật Bản đã đặt dấu chấm hết cho triều đại phong kiến YI vốn suy tàn từ nhiều năm trước đó . Cùng với việc đưa kháI niệm đất đai là hànghoá Nhật còn đem đến cho người Triều Tiên biết đến kháI niệm tiền lương

    (10)(11) bài “Các nền kinh tế công nghiệp mới Châu á”của PGS.TSNguyễn Phú Trọng trên tạp chí Cọng Sản số 15 (8/2001) trang 4 Và giá cả của hàng hoá sức lao động. Chính sách thuộc địa của Nhật Bản trên thực tế đã thúc đẩy những quan hệ hàng hoá tiền vốn tồn tại yếu ớt và còn ở mức độ hạn hẹp trong nền kinh tế Triều Tiên . Nói cách khác nước này đã tiếp thu những lý thuyết về vai trò chức năng của nền kinh tế thị trường được khởi sướng từ A.Smith cũng như những bổ xung thêm từ các nhà kinh tế lỗi lạc phương tây như Ricacdo và Keynes . Họ đề cao sự quan trọngcủa cung cầu nhưng đồng thời cũng chú trọng đến tác dụng đIều tiết nền kinh tế hàng hoá của quy luật giá trị và ở đây là lấy sự bù đắp ngang giá làm chuẩn mực trong trao đổi , vì rằng sự trao đổi những lượng lao động bằng nhau là lợi ích cơ bản của chế độ sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất ở nước này . Chính vì vậy:

    14

    Đề án KTCT

    Kinh tế tư nhân ở Triều Tiên chiếm một tỷ trọng lớn , mặt khác các nhà doanh nghiệp tư nhân này rất nhạy cảm với những biến động của thị trường và nhaỵ cảm nhận rõ vai trò đIều tiết của quy luật giá trị đối với quá trình sản xuất trong doanh nghiệp của họ đó là trao đổi những lượng lao động bằng nhau là phương thức duy nhất để thực hiện lợi ích kinh tế của người sản xuất , đIều đó đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế của Nam Triều Tiên tăng trưởng không ngừng : “ cho đến năm 1982 khu vực kinh tế tư nhân chiếm 96% tổng sản phẩm trong nước của Nam Triều Tiên , gần 96% giá trị sản lượng công nghiệp chế biến do khu vực kinh tế tư nhân đảm nhiệm “(12) . Thế nhưng bên cạnh những thành quả đạt được nền kinh tế của Nam Triều Tiên cũng vẫn còn những mặt tồn tại đó là sự gia tăng của những bất đồng xã hội hố sâu ngăn cách giữa giàu và nghèo ngày càng tăng tỷ lệ thất nghiệp cao , ô nhiễm môi trường . Tồn tại những hậu quả đó là do nước này đã áp dụng quy luật giá trị theo định hướng tư bản chủ nghĩa : không kết hợp lợi ích tư nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội

    Nền kinh tế thứ hai cần nghiên cứu là nền kinh tế của đất nước Nhật Bản

    . Có thể nói nèn kinh tế Nhật Bản là kết quả của những bước nhảy thần kỳ : phục hưng Minh Trị bắt đầu vào năm 1896 chuyển từ chính phủ Tokugaoa sang một chế độ hiện đại hoá với với một mục tiêu chính sách rõ ràng . Rút kinh nghiệm 250 năm khép kín và tự cô lập mình khiến nền kinh tế trì trệ lạc hậu đời sống thấp và bị các nước khác tiên tiến hơn đe doạ , chính phủ Minh Trị thấy không có cách nào khác hơn để phát Trion đất nước ngoàI viêc.mở cửa chọn lọc với thế giới bên ngoài , xây dựng một đất nước ,một nền kinh tế một xã hội theo mô hình của một xã hội dân chủ , một nền kinh tế thị trường , điều này tất nhiên phải kéo theo

    15

    Đề án KTCT

    viẹc nền kinh tế Nhật phải hoạt đọng hướng theo những quy luật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa .Sau chiến tranh thế giới thứ hai , từ kinh nghiệm cay đắng mà Nhật Bản phải gánh chịu trong chiến tranh do họ không thống nhất được mục tiêu quốc gia vào nhưng năm 1930và 1940.Nhật Bản đã đề ra nguyên tắc từ bỏ vĩnh viễn việc đuổi kịp các quốc gia khác .Do xác định được một mục tiêu quóc gia thống nhất ,Nhật Bản đã có thể huy động và hướng được nguồn lực vật chất và tinh thần của đất nước vào viềc thực hiện mục tiêu đó.

    (12)”các nền kinh tế công nghiệp mới châu á “ của PGS.TSNguyễn Phú Trọng trên tạp chí cộng sản số 15(8/2001)Tr6

    Thêm vào đó Nhật Bản đã phát triển một cơ sở hạ tầng toàn quốc như một cơ sở cho sụ tăng trưởng kinh tế .Điều này gồm việc xây dựng các hệ thống giao thông vận tải -đường sắt ,bưu điện và diện báo trong suốt thời kỳ Minh Trị ,và cả việc tập trung vào các nguồn tài nguyên con người ,tức là duy trì mộthệ thống giáo dục mạnh .Năn 1869, chínhphủ đã quyết định xây dựng đường sắt ,và chỉ 3 năm sau năm1872 ,tuyến đường sắt đầu tiên giưa Tôkyo và Yokohama đã đưa vào sử dụng .Những năm đó , tổng chiều dài đường sắt đã tăng khá nhanh, đường biểu cũng được hiện đại hoá bằng cách nhập khẩu các tàu chạy bằng hơI nước từ phương Tây .Mạng lưới thônh tin liên lạc cũng được hiện đại hoá bằng cách áp dựng các dịch vụ bưu đIện và địên báo. Từ giữa những năm 1880 ,mặc dù các xí nghiệp nhà nước đã được tư nhân hoá ,nhà nước không còn can thiểptực tiếp vào nền kinh tế ,song việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát Trion kinh tế xã hội vẫn là trọng điểm hoạt động của chính phủ .

    16

    Đề án KTCT

    Ngoài cơ sở hạ tầng ,Nhật Bản còn liên tục tập trung phát Triển hệ thống giáo dục nhằm nâng cao dân trí và tạo ra một ddọi ngũ công nhân làm nghề phục vụ cho phát Triển kinh tế .Sau Phục hưng Minh Trị ,nhà trường đã được ưu tiên mở khắp cả nước . Hệ thống giáo dục bắt buộc tới đầu thế kỷ 20 được kéo dài tời 6 năm và chiến tranh là 9 năm .Sách báo nước ngoài cần để truyền bá về chế độ mới rộng rãi ,nhiều học sinh được cử đi nước ngoài học tập bằng tiền nhà nước .Nhờ những nỗ lực đó ,hiện nay Nhật Bản được xắp xếp vào nước có học vấn hàng đầu thế giới .

    Gắn liền với các yếu tố trên mộtlĩnh vực quan trọng khác mà bất kỳ một quốc gia nào muốn phát Triển không thể bỏqua được đó là lĩnh vực công nghiệp. Chiến lược công nghiệp của nhật Bản bao gồm hai giai đoạn : một ,chính sách thay thế nhập khẩu hạn chế để bảo vệ các ngành công nghiệp còn non trẻ (chảng hạn ,ô tô và điện tử )thông qua những hảngào nhập khẩu ,sau đó phát triểnthành một chiến lược tập trung vào viêc xâu dụng những thị trường xuất khẩu hay chiến lược tăng trưởng kinh tế do xuất khẩu dẫn dắt .Đó chính là thực tế sau chiến tranh ở Nhật Bản .Nó làm cho nền kinh tế Nhật Bản phát Triển không ngừng và đạt được những thành tựu to lớn “trong khoảng hơn 20 năm sau chiến tranh (1952-1973) ,nền kinh tế nhật Bản phát Triển với nhịp độ rất nhanh chóng .Nhiều nhà kinh tế thế giới coi đây là giai đoại phát Triển”thần kì “của nền kinh tế Nhập Bản .”Từ một nước bị chiến tranh bị tàn phá nghiêm trọng ,Nhật Bản đã trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trong thế giới tư bản (sau Mĩ).Từ năm 1950 đến 1960,tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước trung bình hàng năm của Nhật Bản là 8.5%,trong khi tốc độ tăng của Anh là 2.4% ,Mĩ:2.9%,Pháp:4.6% ;từ 1960-1969,Nhật Bản :10.8%,Anh:2.7%,Mĩ:4.8%,CHLB Đức :5.2So với năm 1950đến 1973

    17

    Đề án KTCT

    giá trịtổng sản phaarm trong nước tăng hơn 20 lần ,từ 20tỉ đô la lên 402tỉ đo la , vượt Anh,Pháp ,CHLBĐức.

    Tốc độ phát Triển công nghiệp trung bình hàng năm thời kì 1950-1960:15.9%;1960-1969:13.5%/Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 4.1tỉ đô la năm 1960lên 56.4tỉ đô la năm 1960.Đúng 100năm sau cảI cách Minh Trị (1868-1968),Nhật Bản đã dẫn đàu các nước tư bản về tàu biển ,xe máy ,máy khau ,máy ảnh ,vô tuyến truyền hình ;đứng thứ hai về sản lượng thép, ô tô ,xi măng ,sản phẩm hoá chát ,hàng dệt …”(13)

    • BàI “nền kinh tế NHật Bản “tr71 sách Lịch sử kinh tế quốc dân NXBgiáo dục-1999

    18

    Đề án KTCT

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

    Mác từng khảng định ở đâu có kinh tế sản xuất hàng hoá thì ở đó có quy luật giá tị hiện nay nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn hình thành và phát Trion cở chế thị trường cho nên việc vận dụng quy luật giá trị là một quan đIểm tất yếu không tránh khởi .Nền kinh tế Việt Nam đã trai qua nhiều giai đoạn khác nhau ,quy luật giá trị lai được phát hiện và áp dụng theo nhiều cách khau rất phong phú và đa dạngphù họp đặc đIún của từng thời kỳ .Với cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp mà đạc trưng là nhà nước tiếp

    đIều khiển nền kinh tế bằng hệ thống các chỉ tiêu pháp lệnh : chỉ tiêu về sản lượng ,về thu nhập ,về nộp ngân sách và tiêu thụ ,về vốn và lãI suất tín dụng ngân hàng … giá cả do nhà nước quy định thực chất cũng là một chỉ tiêu pháp lệnh mà giá cả lại là biểu hiện của quy luật giá trị. Chính vì vậy có thể nói trong thời kỳ này quy luật giá trị được áp dụng một cách cứng nhắc ,áp đặt này vào nền kinh tế thông qua việc định giá theo những chỉ tiêu có sẵn mà không để ý đến thực trạng của nền kinh tế Việt Nam .Cho đến những năm 1964, ở miền Bắc ,hệ thống giá chỉ đạo của Nhà nước đã được hìnhthành trếco sở lấy giá thóc sản xuất trong nước làm căn cứ xác định giá chuẩn và tỷlệ trao đổi hiện vật .Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10 (khoáIII ) năm 1964 ,về công tác thương nghiệp và giá cả đã đánh giá : Hai hệ thống giá thu mua nốngản và giá bán lể hàng tiêu dùng đã được xây dụng tương đối hoàn chinhr và cơ bản họplý ,tỷ giá giữa hàng nông sản và hàng công nghiệp nói chung thể hiện được mối quan hệ lớn của nền kinh tế quốc dân.

    19

    Đề án KTCT

    Hệ thống giá này về cơ bản được thực hiện cho đến năm 1980 ,trong khi đIều kiện sản xuất ,lưu thông ,thị trường trong nước và quan hệ kinh tế đối ngoại đã có những thay đổi lớn .Hệ thóng giá chỉ đạo của nhà nước ngày càng thấp xa so với giá thị trường tự do .Việc duy trì giá mua nông sản thấp ,giá bán hàng công nghiệp cũng thấpnguyên nhân chủ yếu do kìm hãm sự phát Trion sản xuất nông nghiẹep ,sản xuất công nghiệp ,lầm rối loạn phân phố lưu thông gây khó khăn cho ngân sách Nhà nước

    .Việc duy trì hệ thống giá này chủ yếu là do chúng ta có được sự viện trợ to lớn của Liên Xô, Trung Quốcvà các nước Đông Âu trước đây.

    Có thể khái quát quá trinh diễn biến giá cả cho đên đầu năm 1991 như sau :Hầu hết hàng hoá và dịch vụ lưu thông trong xã hội đều theo chỉ đạo của Nhà nước ( ví dụ giá gạo 0.4đ/kg ,bán theo định lượng ). Suốt thời kỳ Nhà nước chỉ đạo giá cho đến trước cải cách giá năm1981 trên thị trường có hai hệ thống giá :giá chỉ đạo của Nhà nước áp dụng trên thị trường có tổ chức và giá thị trường tự do biến động theo quan hệ cung cầu .Đặc điểm của giá chỉ đạo là không chú ý đến quan hệ cung cầu và gần như bất biến.

    Cả giá chỉ đạo của Nhà nước và giá thị trườngtự do đều không có quan hệ với giá thị trường thế giới .Tỷ giá ở khu vực áp dụng Từ NĂM 1958-1980 vẫn là 5.644đ/rúp (tỷ giá kết toán nội bộ) .Đây chính là cơ sở quan trọng để an định toàn bộ giá nội địa mà thực chất là sự bao cấp qua giá tư liệu sản xuất.

    Các quan điểm cơ bản để chỉ đạo chính sách giá cả trong thời kỳ này:

    1)Hệ thông giá trong nền kinh tế phải được chỉ đạo tập trung ,do Nhà nước quy định và đưa vào cuộc sống như những chỉ tiêu pháp lệnh của kế hoạch Nhà nước.

    20

    Đề án KTCT

    2)Giá cả phải được an định và Nhà nước chủ trương phấn đấu tạo đIều kiện đẻ hạ giá .

    3)Quan hệ cung cầu chỉ có ảnh hưởng đến giá cả những hàng hoá không thiết yếu và không có vị trí quan trọng trong nền kinh tế .

    4)Giá cả được xây dựng trên cơ sở lấ giá thị trường trong nước làm căn cứ ,tách rời hệ thống giá quốc tế theo chử chương xây dụng hệ thống giá độc lập ,tự chủ.

    Thực tiễn phát Trion kinh tế qua mấy thập kỷ qua cho ta thấy,khi đánh giá chính sách giá cả cần phải xem trọng hai yếu tố :

    Một là mô hình cơ chế kinh tế và quản ký kinh tế kiểu cũ với những đặc trưng cơ bản của no liên quan mật thiết đến các chính sách, đến sự hình thành giá cả trong hơn hai thập kỷ .

    Hai là thực tiễn vận hành chính sách giá cả ,nhất là trong thời kỳ 1964-1975.

    Yừu tố thứ nhất đã quyết định tính kế hoạch caođộ ,tính tập trung ,pháp lệnh của chính sách giá cả.Yếu tố thứ hai có tác động nổi bật yêu cầu ổn định lâu dà i hệ thốnggiá.

    Song ,điều đáng chú ý là từ những năm 1975 ,sau ngày miền Nam được giải phóng ,cùng với quá trình thống nhất đất nước về chính trị và quân sự ,việc thống nhất về thể chế kinh tế cũng được xúc tiến và được khảng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lầnIV tháng 12năm 1976 .Quá trình thống nhất về thể chế kinh tế trong cả nước ,trên thực tế là sự dập khuôn gần như toàn bộ thể chế kinh tế đã tồn tại trước đó ở miềnBắc .Để thực hiện được thể chế kinh tế thống nhất đó ,đòi hởi phảI tiến hành ở miền Nam các cuộc cảI tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh với quy mô rộng khắp nhằm quốc hữu hoá các cơ sở công thương nghiệp tư nhân

    21

    Đề án KTCT

    ,xoá bỏ tư thương tổ chức lại thị trường theo hướng quốc doanh ,hợp tác xã và tổ hợp ,tiến hành hợp tác xá nông nghiệp với mức độ khác nhau .

    Như vậy ,lịch sử phát Triển kinh tế nước ta một lần nữa lại lặp lại thời kỳ trì trệ ,bảo thủ .Sự thống nhất đất nước ,đáng lẽ phảI mở ra một thời kỳ mới ,phát huy cao độ các động lục nền kinh tế hàng hoá và làm cho chúng trở thành đòn bảy mạnh mễ thúc đảy nền kinh tế đI lên .Song thực tế đã không diễn ra như vậy .Trong thời kỳ 1976-1980,khi chiến tranh đã chấm dứt ,cả nước chuyển sang nhiệm vụ xây dựng kinh tế làm

    trọng tâm thì cơ chế giá “thời chiến” không còn lý do tồn tại .

    Trước đây ,chúng ta đã mắc sai lầm khi cường điệu tínhhợp lý của hệ thống giá mua ,giá bán lẻ và giá tư kiệu sản xuất nhập khẩu vơI tỷ giá kết toán nội bộ 5.644đòng /rúp mậu dịch ,được định ra ngay sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi .

    Trong giai đoạn này ,cùng với việc thống nhất thể chế kinh tế ,nhiều vấn đề mới nảy sinh .

    Đất nước thống nhất đã tạo ra niềm phấn khởi lạc quan cả về chính xã hội và kinh tế .Tuy nhiên ,những khó khăn mới cũng xuất hiện .Trước hết là sự thiếu hụt nguồn tàI trợ ,sự bùng nổ về tiêu dùng ,về công ăn việc làm đã bị dồn nén qua nhiều năm chiến tranh .

    Cuộc cảI tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở các tỉnh phía Nam trên thực tế khong thu được k ết quả mong muốn .Một bộ phận của khu vực kinh tế này đã được quốc doanh hoá và tập thể hoá ,nhưng hiệu quả rất thấp .Một bộ phận khác tiếp tục tồn tại và phát Triển thông qua thị trường tự do ,trong đó một bộ phận đã chuyển thành kinh tế ngầm .Thị trường tiếp tục bị phân hoá mậnh ,hàng hoá ngày càng khan hiếm ,chủ nghĩa vị bản ,cục bộ phát Triển mạnh cùng với cơ chế cấp phát vật tư

    22

    Đề án KTCT

    ,tiền vốn theo chỉ tiêu kế hoạch đã kính thich các địa phương hình thành hàng loạt tổ chức kinh tế quốc doanh ,hoạt dộng bất chấp hiệu quả kinh tế ,nhằm bòn rút ,giành giật vốn liếng từ trung ương để kinh doanh ,mua đi bán lại ăn giá chênh lệch giá ,stăng thêm nguồn thu cho ngân sách địa phương .Để bảo vệ lợi ích cục bộ ,chính quyền địa phương đã sử dụng các biện pháp hành chính nhằm “ngăn sông ,cấm chợ “ ,chia cắt thị trường theo địa giới hành chính ,làm cho hàng hoá ,tiền tệ bị ách tắc nghiêm trọng .”Theo số liệu thống kê thời kỳ này ,mức tăng trưởng bình quân của công nghiệp nói chung chỉ đạt 0.6%năm .Nền kinh tế bước vào giai đoạn suy thoái nghiêm trọng ,lợi tức đầu tư giảm sút .Tổng giá trị đầu tư tăng bình quân 5.7%năm ,riêng đầu tư cho công nghiệp tăng 14%, nông nghiệp –0.9%, lâm nghiệp –11.8%; trong đó tổng sảm phẩn xã hội chỉ tăng bình quân –1.4% .tổng hàng háo bán lẻ giảm 3.5%năm ,xuất khẩu không đáng kể .Cơ cấu đầu tư vẫn thực hiện theo nguyên tắc cũ là yêu tiên phát Triển công nghiệp nặng ,mà chủ yếu là công nghiệp hướng nội .Tỷ trọng vốn đầu tư cho công nghiệp nặng chiếm 42-48%;nông nghiệp –19-20% ;công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến chỉ chiếm 10-11%” (14) .Cơ cấu đầu tư như vậy không tận dụng được tiềm lực tài nguyên và nguồn nhân lực phong phu của đất nước ,và cũng như kỹ thuật tiên tiến của thế giới ,do đó càng đầu tư thì hiệu quả càng giảm sút ,tình trạng thiếu vốn ,thiếu hàng hoa ,thiếu công ăn việc làm ngày càng gay gắt .

    Cùng với việc các tổ chức kinh tế quốc doanh địa phương mọc lên nhanh chóng ,bộ máy hành chinh kinh tế từ trung ương đến tỉnh ,huyện ,xã đã phình lên ,tạo ra tình trạng thừa người thiếu việc làm nghiêm trọng .Trong kinh tế quốc doanh và trong bộ máy Nhà nước hình thành hệ

    23

    Đề án KTCT

    thống quan liêu mà cho đến ngày nay vẫn còn là gánh nặng đối với toàn bộ nền kinh tế .

    Việc duy trì chính sách tàI chính ,tín dụng ,chính sách giá cả và tiền lương theo kiểu cấp phát ,giao nộp hiện vật bình quân của nền kinh tế thời chiến gây ra tác hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế .Đồng thời cũng xuất hiện mức chênh lệch ngày càng lớn giữa mặt bằng giá doNhà nước quy định và mặt bằng giá thị trương tự do ,trong đó giá thị trương tự do cao gấp 7-8lần giá do Nhà nước quy định.

    Trên thực tế ,sự đánh giá quá cao tiềm năng kinh tế của miền Nam sau ngày giảI phóng ,vận dụng một cách duy ý chi cơ chế kinh tế cũ trên phạm vi cả nước và những sai lầm trong chính sách đầu tư ,trong cảI tạo kinh tế tư nhân đã làm đảo làm đảo lộn kế hoạch phát Triển năm năm 1976-1980 .: “ chỉ tiêu về kế hoạch sản lượng lương thực dự định đến năm 1980 là 21 triệu tấn nhưng chỉ đạt 14triệu tấn ,băngd 69% than đạt 52% ,gỗ 455 ,đIện 72% ,xi măng 32% … các mục tiêu cải thiện đời sống và

    • cuốn “Vai trò của nhà nước về giá trong nền kinh tế thị trường ở nước ta “ của PGS.PTS Trần Hậu Thự Tr30 NXBchính trị quốc gia 1994

    nâng cao phúc lợi xã hội không thực hiện được tiềm lực phát Triển bị kìm hãm ,động lực kinh tế bị vô hiệu hoá “(15)

    Đời sống của nông dân ,công nhân viên chức lực lượng vũ trang giảm xút nghiêm trọng . Thực trạng kinh tế đó đã làm lung lay các các tư tưởng cổ đIển và làm xuất hiện những ý tưởng cải tạo đầu tiên trên một số lĩnh vực

    24

    Đề án KTCT

    kinh tế nóng bỏng nhất như chính sách giá cả ,cơ chế kế hoạch hoá chính sách tàI chính

    chính sách đầu tư và hiệu quả kinh tế quốc dân , Nhiều cuộc tranh luận đá diễn ra khá sôI động .Hai vấn đề trọng tâm đã được đề cập trong nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 là nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất và hạn chế một bước cơ chếquản lý hành chính tậ trung , chú

    • hơn đến sản xuất công nghiệp nhỏ sản xuất hàng tiêu dùng ở các địa phương thừa nhận kinh tế tư nhân và thị trường tự do như một thành phần của nền kinh tế quốc dân và thị trường xã hội . Nhờ đó , kinh tế tư nhân , nhất là công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được phục hồi và phát Trion một bước , thị trường trở nên sôI động hơn . TUY nhiên trong khu vực kinh tế quốc doanh , tình hình vẫn còn khó khăn trì trệ , sản xuất tiếp tục giảm sút . cuối năm 1980 chính phủ đã đưa ra quyết định 96-cp về bãI bỏ chế độ giao nghĩa vụ nộp nông sản theo giá thấp và chuyển sang thu mua theo hợp đồng kinh tế hai chiều . Đồng thời cho phếp nông dân bán nông sản thừa theo giá thoả thuận thay thế việc mua theo giá khuyến khích . Tuy nhiên chính sách này chưa phát huy tác dụng ngay trong năm 2980 mà phảI sau đó một năm mới thực sự có tác động tốt

    Cần phải nói thêm rằng , những tư tưởng cải cách của nghị quyết hội nghị trung ương 6 ( 9/1970) chỉ mới là tiếng chuông thức tỉnh đầu tiên đối với nền kinh tế . Các biện pháp chưa đụng chạm đến thể chế kinh tế và về cơ bản vẫn như cũ . Kế hoạch nhà nước vẫn tiếp tục quy định hàng loạt các chỉ tiêu pháp lệnh về cung ứng vật tư kỹ thuật , cung ứng vốn và giao nộp sản phẩm , trong thu mua nông sản vẫn do nhà nước quy định với tỷ lệ thấp xa so với thị trường tự do

    Nói tóm lại , Nghị quyết trung ương 6 đã đánh dấu một bước chuyển căn bản về nhận thức và tư duy mới đối với công cuộc cải cách kinh tế ở

    25

    Đề án KTCT

    nước ta , vạch ra phương hướng thay đổi chính sách và cơ chế kinh tế , trong đó lấy việc thay đổi căn bản chính sách giá cả và tiền kương là bước đột phá .

    • cuốn “vai trò quản lý của nhà nước trong nền KTTTở nước ta “ Tr 32 của Trần Hậu Thự NXBchính trị quốc gia 1994

    Đây chính là bước đầu trong việc vận dụng một cách sáng tạo hơn quy luật giá trị để đạt được những hiệu quả cụ thể hơn mở đầu cho quá trình đổi mới đất nước.

    Tiếp tục những tư tưởng của hội nghị trung ương 6 , sau năm 1981 nước ta đã có hàng loạt những cuộc cải cách nhằm dduwa nền kinh tế phát Trion theo một hướng mới . Đảng ta đã thẳng thắn nhận biết và phê phán những sai lầm trong những chính sách kinh tế thời kỳ trước . , phê phán và yêu cầu sửa đổi chính sách và hệ thống giá hiện hành , phê phán tư tưởng kinh tế “ phi thị trường “ chỗ dựa lâu dàI và vững chác của hệ thống giá lúc đó . Việc đổi mới này đã bắt đầu tạo lập nền móng cho sự chuyển biến từ tư duy giá cả phi thị trường sang tư duy giá cả thị trường . Nó đã tiến hành đIều chỉnh giá để kích thích sản xuất , tiến tới cảI cách toàn bộ hệ thống giá của nhà nước theo hướng làm cho giá cả phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý về sản xuất và lưu thông , đảm bảo cho người sản uất có lợi nhuận thoả đáng . Gía cả phù hợp với sức mua của đồng tiền và có tính đến giá cả trên thị trường thế giới của hàng nhập , xoá bỏ những bù lỗ bất hợp lý của nhà nước và chấm dứt tình trạng xí nghiệp sản xuất kinh doanh bị lỗ vốn do nhà nước quy định giá không chính xác . Tiếp tục xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế : nỗ lực phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế , vừa cạnh tranh vừa

    26

    Đề án KTCT

    hợp tác bổ xung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân . Để thực hiện được điều đó Đảng ta quyết định khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh phát Trion có hiêụ quả nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để phát huy hiệu quả trong nền kinh tế . Tiếp tục đổi mới và kiện toàn kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện , dân chủ ,bình đẳng phát huy và kết hợp hài hoà sức mạnh của tập thể và xã viên.

    Bên cạnh đó kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục phát Triển , đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất , theo sự quản lý của nhà nước .. hướng kinh tế tư bản tư nhân phát Triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức . Từng bước hình thành và mở rộng đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng

    • tư liệu sản xuất , dịch vụ … tiếp tục đổi mới và hoàn thiện công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của nhà nước . Xây dựng các chính sách tài chính quốc gia và thực hiện cải cách cơ bản tài chính nhà nước theo hướng thúc đẩy khai thác tiềm năng tự nhiên của các tầng lớp nhân dân , vừa tích tụ vốn ở đơn vị kinh tế vừa đảm bảo nguồn vốn tập trung của nhà nước. Sau hàng loạt những công tác cải tiến trên nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể :

    “ Tính trung trong năm năm , GDP tăng hàng năm 5.2% (trong thời kỳ 1986-1990) và 8.2% ( 1991-1995) kế hoạch đề ra là 5.5-6.5% . Cũng trong 5 năm (1991-1995 ) hàng năm nông nghiệp tăng 4.5% , công nghiệp tăng 13.5% kim ngạch xuất khẩu tăng 20% . Trong sản xuất nông nghiệp có một kết quả nổi bật là sản lượng lương thực quy ra thóc đã tăng nhanh từ 21.5 triệu tấn (1990) lên 27.5 triệu tấn (1995) “ (16)

    “ tỷ trọng công nghiệp và xây dựng cơ bản trong GDP đã tăng từ 22.6% (1990) lên 30.3% (1995) tỷ trọng dịch vụ từ 38.6% lên 42.5% “(17)

    2.1.2 NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ CÁC MẶT CÒN TỒN TẠI

    27

    Đề án KTCT

    Trong quá trình phát Triển kinh tế tiến lên chủ nghĩa xã hội , nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thắng lợi bước đầu hết sức to lớn đó không chỉ biểu hiện ở những con số phản ánh quá trình tăng trưởng mà còn thể hiện ở sự khăcs phục được sự tách rời người lao động khỏi tư liệu sản xuất nên đảm bảo được tính tập thể của viẹec tổ chức nền sản xuất xã hội . Đó là do biết vận dụng chức năng tổ chức xã hội của quy luật giá trị

    .Bên cạnh đó do biết kết hợp giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích kinh tế của tập thể và toàn xã hôị nên việc thực hiện công bằng xã hội kích thích nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lưọng công tác ., đời sống của nhân dân tiếp tục được cảI thiện và nâng cao

    Việc định hướng nền kinh tế và tiêu chuẩn hoá nền kinh tế đã chỉ ra những mục tiêu xác thực cụ thể cho từng bứoc tiến của nền kinh tế . Bên cạnh đó ta cũng phảI nhấn mạnh tới những thuận lợi trong quá trình cảI cách kinh tế ở Việt Nam hiện nay đó là cùng với xu thế phát Trion kinh tế thế giới Việt Nam tiến hành cảI cachs đồng thời với nhiều nước nằm trong một vùng tăng trưởng nhanh ( NICs ,A SEAN ,)nên có thể học hỏi được nhiều ưu đIúmột vấn đề nữa cần đề cập là sự nhanh nhạy của Đảng và nhà nước ta trong quá trình đổi mới cách thức quản lý và địng hướng nền kinh tế sao cho phú hợp với từng thời kỳ.

    28

    Đề án KTCT

    (16)(17) BàI “kinh tế Việt Nam thời kỳ cả nước cùng xây dựng XHCN1976-1995 “ tr332-333 trong sách lịch sử kinh tế quốc dân NXBgiáo dục 1999

    Tuy nhiên bên cạnh những thành công còn tồn tại những mặt hạn chế : đó lá sự vận dụng dập khuân những quy luật kinh tế , đôi khi cách nhìn nhận vấn đề còn lúng túng, quẩn quanh .Nền kinh tế nước ta vẫn còn mang nặng dấu ấn của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và chưa thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất , tiết kiệm trong tiêu dùng , nền kinh tế phát Triển khá nhưng chất lượng và hiệu quả còn thấp . Vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế còn yếu nên khả năng quản lý chưa được bao quát Nói tóm lại trong quá trình vận dụng quy luật giá tri vào nền kinh tế Việt Nam tuy còn có nhiều sơ suất nhưng cũng đã đạt được những hiệu quả nhất định ếu có thể hạn chế những thiếu sót , phát huy những thành quả đã đạt được thì chác chắn trong tương lai không xa nèn kinh tế Việt Nam sẽ phát Trion đuổi kịp các nước trong khu vực cũng như trên thế giới

    2.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHO VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRI VÀO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

    Để trong thời gian tới quá trình vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế Việt Nam không còn gặp những khó khăn trở ngại thì Đảng và nhà nước ta phảI thực hiện được những yêu cầu sau :

    Việc vận dụng bên cạnh kế thừa cũng phảI có sự sáng tao để thực sự phù hợp với hoàn cảnh và đIều kiện của nền kinh tế nước ta vốn là nước đI lên CNXHkhông qua trung gian là TBCN , nền kinh tế còn mang nặng tính nông nghiệp lạc hậu .

    ĐIều cần thiết thứ hai là phảI tăng cường liên kết các quan hệ hàng hoá tiền tệ với các quan hệ xã hội . Nâng cao nhận thức và trình độ của con

    29

    Đề án KTCT

    người vì đội ngũ vận dụng quy luật giá trị vào sản xuất là ddiều quan trọng nhất . Nhận thức của con người mới quyết định vai trò và hiệu quả của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường

    Vấn đề đặt ra là phảI vận dụng quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghĩa ,hạn chế và hướng dẫn quy luật giá trị trong hai thành phần kinnh tế phi xã hội chủ nghĩa

    Chính sách giá cả ,chính sách và biện pháp quản lý thị trường phảI nhằm tạo điều kiện phát huy cao độ tác dụng của quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghĩa hạn chế tác dụng của quy luật giá trị trong hai thành phần kinh tế phii xã hội chủ nghĩa .

    Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta kinh tế xã hội chủ nghĩa không chỉ chịu ảnh hưởng của quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa ,mà cồn chịu tác động của các quy luật giá trị trong các thành phần kinh tế khong xã hội chủ nhgiã .Vì vậy hạn chế một số xí nghiệp chạy theogiá cả thị trường không tổ chức ,bán sản phẩm của xí nghiệp ra thị trường đó vơí giá cao hơn hoặt tìm mọi cách nâng giá cao hơn gía quy định để thu về chênh lệch giá cho lơI ích riêng của xí nghiệp cũng là một vấn đề cần thiết sớm phải thựchiện.

    III  KẾT LUẬN

    Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến sâu sắc từ kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước . Sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng và nhà nước ta thể hiện trong các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế đã phát huy được những động lực to lớn của nền kinh tế mới đối với sự phát Trion của đất nước . Đặc biệt sự đổi mới về

    30

    Đề án KTCT

    cả nhận thức lý luận lẫn công tác đièu hành thực tiễn trên lĩnh vực áp dụng quy luật giá trị định hướng XHCN vào nền kinh tế đã góp phần đáng kể vào những thành quả kinh tế chung .

    Thực tiễn những năm qua chứng tỏ rằng quy luật giá trị với những biểu hiện của nó như giá cả , tiền tệ , giá trị hàng hoá .. là lĩnh vực tác động hết sức nhanh nhạy và lớn lao tới đời sống kinh tế xã hội của đất nước ảng và nhà nước ta đã nhận thức đúng đắn về vấn đề này và đã thực hiện nhiều cuộc cảI cách kinh tế tuân theo những nội dung của quy luật giá trị nhằm hình thành và phát Triển một nền kinh tế hàng hoá XHCN đa dạng và hiệu quả và đã đạt được những hiệu quả nhất định

    Bên cạnh đó việc xụp đổ của nền kinh tế Liên Xô và các nước Đông Âu cũng là một thực tế cho thấy quan niệm về giá trị giá cả mà các nước đó đã từng áp dụng có rất nhiều nhược đIểm và do đó không thể là cơ sở lý luận cho chính sách đIều tiết nền kinh tế ỏ nước ta . Nhưng những lý thuyết giá trị củakinh tế học phương tây mặc dù có những ưu đIểm nhất định nhưng cungsx có nhiều khiếm khuyết đặc biệt trong quan đIểm về cơ sở khách quan của giá cả . Cách duy nhất để có được cơ sở lý luận đúng đắn cho chính sách phát Trion kinh tế ở nước ta là dựa trên nguyên lý cơ bản của lý luận giá trị , tiếp tục phát Triển nó cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới , làm giàu nó bởi chính những thay đổi cho phù hợp với đIều kiện kinh tế của nước mình.

    Tóm lại quá trình phát Triển kinh tế là một quá trình lâu dàI , đòi hỏi gắt gao việc áp dụng đúng đắn các quy luật kinh tế , trong thời gian qua tuy đôI lúc sự vận dụng đó của nước ta còn chưa quán triệt nhiều khi là sự quẩn quanh ,dập khuân nhưng bên cạnh đó ta cũng đã đạt được nhữngtiếnbộ nhất định má nếu tiếp tục phát huy thì trong tương lai không xa chúng ta sẽ có một nền kinh tế XHCNphát Triển và thịnh vượng

    31

    Đề án KTCT

    32

    Đề án KTCT

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí cộng sản số 15(tháng 8-2001)
    1. Tư bản quyển 3, ST,H,1978
    1. Vai trò quản lý của nhà nước về giá trong nền kinh tế thị trường ở nước ta – Trần Hậu Thự
    2. Sách lịch sử kinh tế quốc dân – NXBGD 1999-
    1. Paul A.samuelson và William Dordhaus: Kinh tế học, Viện quan hệ quốc tế, 1990
    2. Nguyễn Tiến Hoàng: HDI – tiêu chí cho phát triển ; T/C “Quốc tế”, số 49/50(tháng 11/12)/1993
    3. Nguyễn Tiến Hoàng: Học thuyết giá trị của C.Mác trong thời đại hiện nay; Học viện CTQGHCM, Trung tâm TT-TL, H;1993

    33


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Phần Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ph%C3%A1t-huy-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%E1%BB%A7a-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt N

    am

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Như một quy luật có tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giưói, đó là ở đâu có thị trường chứng khoán phát triển, thì ở đó hệ thống các tổ chức trung gian tài chính, các Ngân hàng thương mại phát triển. Ngược lại, ở đâu có cạnh tranh hoạt động ngân hàng và các dịch vụ tài chính sôi động, thì ở đó giao dịch trên TTCK cũng nhộn nhịp. Hay nói cách khác, không thể nói đến sự tham gia tích cực của các tổ chức trung gian tài chính. Ngân hàng thương mại đã thực sự giữ một vai trò rất quan trọng đối sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt Nam đang trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển. Việc tham gia của các định chế tài chính đặc biệt là các Ngân hàng thương mại hiện nay còn rất hạn chế. Trong khi đây là một trong những định chế gần gũi và có khả năng tiếp cận với các hoạt động chứng khoán một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy, trong phạm vi kiến thức của mình, em đã lựa chọn đề tài: “Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam” làm công trình nghiên cứu khoa học của mình với hi vọng có thể đóng góp một cái nhìn nhỏ bé của mình về vấn đề này.

    Về kết cấu của công trình nghiên cứu khoa học này, ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, công trình bao gồm 3 chương:

    Chương 1: Lý luận về Ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán

    Chương 2: Hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam

    Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chương 1:

    LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    1.1 Thị trường chứng khoán và hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán

    1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán

    Trong các sách báo kinh tế ở Việt Nam hiện tồn tại nhiều cách định nghĩa và cách giải thích khác nhau về thị trường chứng khoán. Một số tác giả gắn thị trường chứng khoán với cụm từ Securities Market và cho rằng thị trường chứng khoán là “nơi giao dịch chứng khoán và công cụ tài chính có liên quan đến chứng khoán”. Ở đây, nếu từ Securities được giải nghĩa theo cụm từ Written evidence of ownership, bằng chứng giấy trắng mực đen về quyền sở hữu, thị trường tài chính. Một số tác giả khác giải thích thị trường chứng khoán xuất phát từ cụm từ Stock Market và cho rằng, thị trường chứng khoán “là đối với chứng khoán thông qua các sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung”. Cách giải thích này nhấn mạnh thị trường chứng khoán với tư cách lĩnh vực trao đổi những loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu và công cụ tài chính phát sinh. Các tác giả của Trường đại học Tài chính – kế toán cho rằng “thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi. Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn do đặc tính của chứng khóan trong việc huy động vốn dài hạn”. Các tác giả của trường Đại học Ngoại thương nêu ra định nghĩa: “thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời”.

    Những cách định nghĩa khác nhau về thị trường chứng khoán như trên cho thấy, bản thân thị trường chứng khoán là một thực thể phức tạp với nhiều mối quan hệ và đặc trưng khác nhau. Hơn nữa, thị trường chứng khoán là một hiện

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    tượng kinh tế khách quan có sự phát sinh, phát triển. ở từng giai đoạn phát triển của mình thị trường chứng khoán cũng mang những nội dung khác nhau về mô hình tổ chức, chủng loại hàng hoá và về phương thức giao dụch. Chính vì thế, mặc dù cách định nghĩa khác nhau nhưng về nội dung khái niệm thị trường chứng khóan, các tác giả đều thng nhất ở một số điểm sau:

    Thứ nhất, thị trường chứng khoán là một dạng thị trường đặc biệt, nằm trong một thị trường lớn hơn gọi là thị trường tài chính.

    Sơ đồ cấu trúc thị trường tài chính

    Thị trường tài chính

    Thị trường tín dụng                                            Thị trường trao đổi các giấy tờ có giá

    Thị trường tiền tệ                                                Thị trường chứng khoán

    • Thị trường tài chính là lĩnh vực trao đổi các giấy tờ có giá và quan hệ vay mượn qua các tổ chức tín dụng.
    • Thị trường tín dụng: thị trường vay và cho vay qua các tổ chức tín dụng.
    • Thị trường tiền tệ: trao đổi các giấy tờ có giá ngắn hạn (thường dưới một

    năm).

    • Thị trường chứng khoán: thị trường trao đổi các giấy tờ có giá dài hạn (thường trên một năm).

    Thứ hai, hàng hoá trao đổi trên thị trường chứng khoán chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu dài hạn. Ngoài ra, trên các thị trường chứng khoán phát triển còn trao đổi các công cụ tài chính phát sinh từ cổ phiếu và trái phiếu, như chứng quyền, khế quyền, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai…

    Thứ ba, thị trường chứng khoán bao gồm thị trường sơ cấp (thị trường phát hành) và thị trường thứ cấp (thị trường mua – bán lại).

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Thứ tư, thị trường chứng khoán bao gồm hai mô hình tổ hức quản lý chính, đó là Sở giao dịch chứng khoán và thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC).

    Từ những nội dung căn bản của thị trường chứng khoán như trên, có thể nêu khái quát: thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, trong đó chuyên môn hoá giao dịch một số loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, kể cả các công cụ tài chính phát sinh từ cổ phiếu, trái phiếu theo những phương thức có tổ chức như giao dịch qua sở giao dịch chứng khoán, Công ty chứng khoán, giao dịch trực tiếp và qua mạng.

    1.1.2 Hoạt động của thịh trường chứng khoán

    1.1.2.1 Thị trường chứng khoán chính thức

    Đây là TTCK tập trung, hoạt động đúng theo các quy định của pháp luật, là nơi giao dịch mua bán các loại CK đã được đăng ký (listed or registered securities) hay được biệt lệ. Vì lẽ đó, nó còn được gọi là thị trường niêm yết tập trung.

    CK đã được đăng ký là loại CK đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian, các môi giới và công ty môi giới. Chứng khoán sau khi phát hành đại chúng, nếu hội đủ một số yêu cầu chọn lọc, thì có thể niêm yết trên sàn giao dịch. Các tiêu chuẩn niêm yết thường chú trọng thâm niên hoạt động, thành tích lợi nhuận, quy mô cổ phần và lượng cổ đông. Sở dĩ như vậy là vì Sở giao dịch muốn chứng khoán niêm yết phải là loại đủ chất lượng và lượng cổ phần phải lớn, cổ đông nhiều thì mới có mua bán liên tục, sôi nổi và đảm bảo uy tín thị trường. Người đầu tư khi mua chứng khoán trong một đợt phát hành đại chúng(tức mua các IPO), dù đang mạo hiểm vào một chứng khoán mới, nhưng xem như họ được bảo vệ tối đa. Cả hệ thống dường như đã sàng lọc cho họ rồi, Trong đó Sở giao dịch là một khâu then chốt trong một hệ thống vận hành đồng bộ, Ta cũng nên biết rằng, chỉ có các nhà môi giới là đồng bộ. Ta cúng nên biết rằng, chỉ có các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới được mua và bán chứng khoán tài sản giao dịch(tranding

    4

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    floor) của Sở giao dịch đó. Các yêu cầu về mua của người có tiền (cầu) và bán của người có chứng khoán (cung) sẽ được các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán đem đến Sở giao dịch, quá trình mua bán đó diễn ra chỉ thoáng qua bằng động tác đầu gía. Còn lại, nói chuyện mua bán thực sự sẽ được giải quyết ở các công ty môi giớivà kinh doanh chứng khoán, có thể có sự tham gia của một số định chế khác.

    CK biệt lệ là loại CK được miễn giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, do Chính phủ trong các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm.

    TTCK chính thức là một tổ chức có thực thể, là thị trường minh bạch và được tổ chức cao, có địa điểm nhất định, với những trang thiết bị cần thiết, ở đó các CK được giao dịch theo những quy chế nghiêm ngặt và nguyên tắc nhất định.

    TTCK chính thức có thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định trên cơ sở đấu giá công khai có sự kiểm soát của hội đồng chứng khoán quốc gia. Việc mua bán CK được thực hiện tại sàn giao dịch thể hiện bằng các Sở giao dịch chứng khoán. Chính vì vậy, TTCK tập trung (hay TTCK có tổ chức – Organnied market) còn được gọi là Sở giao dịch, quá trình mua bán (The Stock Exchange). Tại Sở giao dịch, quá trình mua bán chứng khoán diễn ra chỉ thoáng qua bằng động tác đấu giá. Còn lại chuyện mua bán thực sự sẽ được giải quyết ở các công ty môi giới kinh doanh chứng khoán, có thể có sự tham gia của một số định chế khác. Nó đóng vai trò là nơi tập trung thông tin và duy trì sự rõ ràng đáng tin cậy để người mua kẻ bán tiện tham khảo, tạo điều kiện cho những nhà đấu tư chẳng hề biết nhau vẫn có thể an tâm làm ăn với nhau. Nó là một định chế đầu mối (đầu mối chớ không phải trung gian hoặc chợ), là nơi tạo ra niềm tin, sự công bằng, trung thực và trật tự cho những nhà đầu tư chứng khoán. Những nhà đầu tư chứng khoán đều phải tốn tiền để mua những thứ đó từ Sở giao dịch. Nó là nơi tập hợp và chuyển hoá niềm tin thành những kết ước cụ thể của những nhà đầu tư chứng khoán.

    Hoạt động nhộn nhịp của Sở giao dịch có vẻ như là thứ hào quang chói sáng lấn át, làm cho người ta khó phân biệt. Khi nhắc đến TTCK, hầu như mọi

    5

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    người có thói quen liên tưởng ngay dến một Sở giao dịch (Stock exchange) nào đó. Nói đến TTCK là người ta hình dung đến các sàn giao dịch (tranding floor) được vận hành với những phương tiện hiện đại, là bàn bạc về một thị trường diễn biến nhộn nhịp nhưng lại có tiếng là trật tự và trung thực, với sự trợ giúp của các ngành kỹ thuật cao. Thế nhưng hoạt động tại các sàn giao dịch chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh TTCK. Cùng với cả một hệ thống vận hành đồng bộ, Sở giao dịch là một khâu then chốt tạo điều kiện cho việc mua bán chứng khoán được diễn ra thuận lợi, vì vậy người ta gọi chung bối cảnh đó là thị trường. Các yêu cầu về mua của người có tiền(cầu) và bán của người có chứng khoán(cung) sẽ được các thông tin môi giới và kinh doanh chứng khoán đem đến Sở giao dịch để giao mua bán chào bán(bid và offer). Tại Sở giao dịch; quá trình mua bán đó bằng động tác đấu giá công khai (open/auction). Các nhà môi giới phải la lớn lên giá “bid” và “offer” của họ ngay tại các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới được mua bán chứng khoán tại sàn giao dịch của Sở giao dịch đó. Và dù Sở giao dịch là nơi rất tập trung, nó cũng chỉ giữ nhiệm vụ là một khâu trong TTCK.

    1.1.2.2 Thị trường chứng khoán bán chính thức hay thị trường chứng khoán bán tập trung (thị trường OTC)

    Đây là thị trường không có địa điểm tập trung những người môi giới, những người kinh doanh CK như ở Sở giao dịch chứng khoán, không có khu vực giao dịch diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, vào thời điểm và tại chỗ mà những người có nhu cầu mua bán CK gặp gỡ nhau. Đây là một loại thị trường bậc cao, được tự động hoá cao độ, hàng ngàn hãng môi giới trong cả nước giao dịch mua bán CK với nhau thông qua hệ thống điện thoại và hệ thốngvi tính nối mạng. Nó không phải là thị trường hiện hữu, vì vậy còn được gọi là thị trường giao dịch không qua quầy – thị trường OTC (Over-the-Counter Market). Thông thường, đối với các nước phát triển và các nước có TTCK phát triển và các nước có TTCK phát trin, mới có điều kiện hình thành loại thị trườngbậc cao này, vì chỉ các nhà đầu tư ngoài quỹ đầu tư, qũy hưu bồng, các công ty lớn mới có khả năng

    6

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, còn tham gia nối mạng máy lớn thì rất khó khăn, còn các nhà đầu tư nhỏ khó có thể trang bị cho mình những phương tiện máy móc thiết bị hiện đại, vì vậy thị trường OTC chưa thích hợp với các nước đang phát triển.

    Thị trường OTC có những nét đáng chú ý sau đây:

    +Về đặc điểm của thị trường OTC: thị trường OTC không có trung tâm giao dịch, mà giao dịch mua bán CK thông qua mạng lưới điện tín, điện thoại. Một điều quan trọng là các nhà đầu tư trên thị trường OTC không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận mua bán CK như trong phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán, thay vào đó họ thuê các công ty môi giới giao dịch hộ thông qua hệ thống viễn thông. Thị trường OTC là thị trường thương lượng, không có vị trí tập trung để trực tiếp gặp nhau. Việc giao dịch được điều khiển thông qua điện thoại và mạng vi tính để liên lạc giữa những dealer chứ không đối mặt trực tiếp (face- to – face) như tại SGDCK. Thị trường OTC được quy định luật lệ bởi Hiệp hội những người kinh doanh CK (NASD). Một giao dịch CK trên OTC thường bắt đầu khi một khách hàng đặt một lệnh và người môi giới (broker) điền vào phiếu lệnh. Sau đó phiếu lệnh được chuyển đến nhân viên giao dịch trên OTC (OTC trader) của công ty để thi hành. Nhân viên giao dịch sẽ xác định người kinh doanh CK (dealer) đề ra thương lượng các điều khoản của giao dịch. Một người kinh doanh CK trên OTC (OTC dealer), người cung cấp liên tục các giá hỏi mua (bids) và giá chào bán (offers) cho một CK cụ thể thì được cho là “tạo một thị trường” (make a market) cho CK đó và được gọi là người tạo ra thị trường (market/ a market). Người tạo ra thị trường mua và bán CK vì lợi nhuận của chính họ và chấp nhận rủi ro. Nếu ở Sở giao dịch chứng khoán chỉ có một người tạo ra thị trường cho mỗi loại CK (chuyên gia- specialist) thì trên OTC có thể có nhiều người tạo ra thị trường cho một loại CK. Một người tạo ra thị trường phải sẵn sàng bán hay mua cổ phiếu tại giá đưa ra (quoted price). Trừ khi công bố giá được định trước, tất cả các báo giá được đưa ra từ công ty CK.

    Có nhiều loại giao dịch trên OTC, bao gồm (nhưng không có giới hạn): cổ phiếu và trái phiếu công ty; trái phiếu chính quyền địa phương; chứng khoán

    7

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chính phủ Mỹ; và chứng khoán cơ quan Chính phủ Mỹ (U.S. Government Agency Securities).Khi việc giao dịch CK này được thương lượng giữa người mua và người bán, phải có mạng lưới liên lạc nối liền những người kinh doanh (dealer) và biểu diễn những thông tin báo giá. Có 2 hình thức chính của việc liên lạc là bảng điện và in ấn.

    Công ty chứng khoán trên OTC tương tự như công ty môi giới hoạt động trên một Sở giao dịch chứng khoán, do đó nó có tên gọi khác nữa là công ty giao dịch – môi giới. Công ty CK OTC luôn bán các loại CK phi tập trung cho các khách hàng của mình.

    Nhà môi giới trung gian là một loại công ty môi giới nhất định mà khách hàng của nó là các nhà giao dịch và môi giới trên thị trường. Các công ty thông báo cho nhà môi giới trung gian loại CK mà họ muốn mua hoặc muốn bán. Sau đó, nhà môi giới trung gian thông báo các yêu cầu này qua mạng lưới thông tin cho các thành viên khác biết.

    Thị trường OTC thực hiện vai trò của thị trường thứ cấp, tức là thực hiện vai trò điều hoà, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn để đưa vào đầu tư phát triển kinh tế. Nhờ có thị trường OTC, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thể yên tâm đầu tư vào CK vì khi cần tiền họ có thể bán lại các CK của mình cho các nhà đầu tư khác trên TTCK. Có tiền, thấy có lợi, hoặc thích là mua. Kẹt tiền, thấy không hấp dẫn nữa hoặc không thích thì bán. Nếu không có thị trường thứ cấp, có lẽ người đầu tư mua cổ phần, trái phiếu sẽ còn bị kẹt dài dài.

    Các công ty thực hiện môi giới và kinh doanh CK là cầu nối giữa những người đầu tư trên thị trường OTC. Nhờ có các công ty này, quan hệ cung cầu CK trên thị trường được giải quyết dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện hơn. Các công ty muốn hoạt động môi giới và kinh doanh CK phải được phép của cơ quan có thẩm quyền (NASD). Thông thường các công ty CK thường được phép thực hiện cả nghiệp vụ môi giới và kinh doanh mua bán CK cho chính mình.

    Các công ty CK trên thị trường OTC có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh mua bán một số loại CK nhất định. Các công ty

    8

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    CK giao dịch mua bán CK cho mình và cho khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà tạo thị trường về các loại CK đó. Các công ty cũng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh CK như: giao dịch mua bán cho chính mình, môi giới mua bán CK cho khách hàng dịch vụ tư vấn đầu tư CK, bảo lãnh phát hành.

    • Niêm yết Ck trên thị trường OTC: các CK buôn bán trên thị trường OTC cũng phải được niêm yết công khai cho công chúng (các nhà đầu tư) biết để cócác quyết định đầu tư. Các CK được niêm yết trên thị trường OTC tương đối dễ dàng, các điều kiện được niêm yết không quá nghiêm ngặt, chỉ cần được phép phát hành là CK có thể giao dịch trên thị trường này. Như vậy, hầu như tất cả các CK không được niêm yết để giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán đều được giao dịch ở đây. Các CK buôn bán trên thị trường OTC thường có mức độ tín nhiệm thấp hơn các CK được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán. Song, do thị trường nằm rải rác ở khắp nơi nên độ lớn của thị trường khó có thể xác định chính xác được, thông thường khối lượng buôn bán CK trên thị trường này là lớn hơn Sở giao dịch chứng khoán. Từ điều kiện niêm yết thông thường hơn mà CK của các công ty được buôn bán trên thị trường này nhiều hơn, thậm chí một số CK được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán cũng được mua bán ở thị trường này.

    yết giá trên thị trường OTC được thể hiện trên hệ thống màn hình yết giá tự động, tuỳ theo độ chuyên sâu của thị trường và sự hấp dẫn của một loại CK nhất định mà nó có các loại yết giá như: yết giá chắc chắn, yết giá phụ thuộc, yết giá có chủ định.

    Từ việc buôn bán giao dịch CK trên thị trường OTC không tại một địa điểm nhất định mà thay vào đó là tại các công ty CK và thực hiện các giao dịch thông qua hệ thống viễn thông, nên việc niêm yết công khai cũng được đa dạng và đơn giản hơn. Giá thị trường hiện tại của các loại CK phổ biến trên thị trường OTC được thông bán trên hệ thống màn hình yết giá tự động của NASDAQ.

    Ngoài ra, yết giá công khai trên thị trường OTC còn được thực hiện dưới các hình thức ra các yết giá có chọn lọc là các yết giá do NASDAQ tập hợp hàng ngày các mức giá chào bán và giá đặt mua của một số loại CK trên thị trường

    9

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    OTC theo một danh sách có chọn lọc thông qua Uỷ ban yết giá của nó, sau đó nó được công bố trên nhiều tờ báo hàng ngày trong khắp cả nước. Các thông báo yết giá màu hồng là do một tổ chức có tên là Phòng yết giá quốc gia (National Quotation Bureau) xuất bản. Nó xuất bản hàng ngày giá bán buôn các loại CK trên thị trường OTC kèm theo đó là tên của những nhà giao dịch hay nhà giao dịch có liên quan. Các thông báo yết giá màu hồng không được phổ biến rộng rãi mà chỉ được phân phối cho các công ty đặt mua. Các công ty niêm yết CK trên thị trường OTC cũng phải công khai các thông tin về tình hình của công ty cho công chúng đầu tư biết. Quy trình công khai thông tin, các vấn đề, báo cáo cần công khai cho công chúng cũng như các yêu cầu công khai về thông tin công ty cũng tương tự như trên Sở giao dịch chứng khoán.

    • Giao dịch mua bán CK trên thị trường OTC: hoạt động giao dịch buôn bán CK trên thị trường OTC cũng diễn ra khá đơn giản. Khi một khách hàng muốn mua một số lượng CK nhất định, anh ta sẽ đưa lệnh này ra cho công ty CK đang quản lý tài sản của mình yêu cầu thực hiện giao dịch hộ mình. Thông qua hệ thống viễn thông, công ty môi giới – giao dịch sẽ biết được giá chào bán thấp nhất của loại CK đó. Sau đó công ty này sẽ thông báo lại cho khách hàng của mình và nếu khách hàng chấp thuận, thì công ty sẽ thực hiện lệnh này và giao dịch của khách hàng sẽ được thực hiện.

    CK giao dịch trên thị trường OTC không đòi hỏi điều kiện các tiêu chuẩn như giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán. Điều kiện duy nhất là loại CK đó được phép phát hành và chưa được đăng ký yết giá tại trụ sở giao dịch nào cả. Hầu hết các loại CK mới phát hành lần đầu đều giao dịch qua thị trường OTC, sau đó mới xin đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán.

    Quản trị thị trường OTC là Hiệp hội các nhà kinh doanh CK quốc gia. Hiệp hội có nhiệm vụ ban hành quy chế. Thành viên của Hiệp hội cũng là thành viên của TTCK và ngược lại.

    1.2 Hoạt động của NHTM trên TTCK

    1.2.1 Các mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Hiện nay, mô hình NHTM hoạt động trên TTCK, trên thế giới có 2 loại:

    * Mô hình chuyên doanh (hay còn gọi là mô hình đơn năng)

    Theo mô hình này, các công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh độc lập, các NHTM và các tổ chức tài chính khác không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi roc ho hệ thống ngân hàng do những ảnh hưởng tiêu cực của thị trường chứng khoán, và các ngân hàng không được sử dụng vốn huy động để đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán: mặt khác, với sự chuyên môn hoá tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển. Điển hình cho mô hình này là các công ty chứng khoán

    • Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, có sự tách bạch giữa hoạt động ngân hàng và lĩnh vực chứng khoán. ở Mỹ, đạo luật Glass-Steagall 1933 bắt buộc hai hoạt động này tách biệt nhau Glass – Steagall chỉ cho phép các ngân hàng thương mại tiến hành chào bán các loại chứng khoán chính phủ mới phát hành lần đầu; nhưng cấm các tổ chức này bảo lãnh phát hành chứng khoán doanh nghiệp hoặc tham gia vào hoạt động môI giới chứng khoán. Tuy nhiên, hiện nay tại Mỹ, người ta đề nghị huỷ bỏ đạo luật Glass-Steagall, cho phép các ngân hàng được tham gia vào lĩnh vực chứng khoán. Tháng 7 năm 1988, Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ đã cho phép thí điểm ngân hàng J.P Morgan được phép bảo lãnh phát hành tráI phiếu công ty từ tháng 1 năm 1989 và được phép bảo lãnh phát hành cổ phiếu từ tháng 9 năm 1990, tiếp đó dần dần mở rộng cho các ngân hàng khác.
    • Mô hình đa năng bao gồm:

    Một là mô hình ngân hàng đa năng hoàn toàn: Mô hình này không có sự tách bạch nào giữa hoạt động ngân hàng và chứng khoán. NHTM không những được hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn được hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm. (Các hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán gồm bảo lãnh phát hành, môI giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư, tham gia vào lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán). Nó được áp dụng ở các nước Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, áo… Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó mà giảm bớt rủi roc ho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng về tài chính chịu đựng các biến động của thị

    11

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường chứng khoán. Tuy nhiên, mô hình đa năng hoàn toàn có một số hạn chế: thị trường chứng khoán phát triển chậm vì hoạt động chủ yếu của hệ thống ngân hàng dùng vốn để cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán, do đó ngân hàng thường quan tâm đến lĩnh vực chứng khoán. Điều này đã thể hiện sự kém phát triển ở thị trường chứng khoán Châu Âu tương quan với thị trường chứng khoán Mỹ. Bên cạnh đó, còn nhược điểm là trong trường hợp biến động trên thị trường chứng khoán, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ giữa hai loại hình kinh doanh này. Thực tế đã chứng minh thông qua cuộc đại khủng hoảng 1929-1933, hay vụ phá sản ngân hàng Barings của Anh năm 1995. Ngược lại, trong trường hợp thị trường tiền tệ biến động có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở TháI Lan là một minh chứng.

    Hai là mô hình đa năng một phần: Các ngân hàng muốn hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán phảI thành lập công ty con- công ty chứng khoán , hoạt động độc lập. Mô hình này được áp dụng ở Anh và những nước có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, úc. Mô hình này có ưu điểm các ngân hàng được kết hợp kinh doanh ngân hàng và kinh doanh chứng khoán, do đó tận dụng được thế mạnh về tài chính, kinh nghiệm, mạng lưới khách hàng rộng khắp của ngân hàng. Bên cạnh đó, bởi vì có quy định hoạt động riêng rẽ giữa hai hoạt động trên cho nên hạn chế được rủi ro nếu có sự biến động của một trong hai thị trường. Đặc biệt, mô hình này phù hợp với những nước mới thành lập thị trường chứng khoán khi mà cần có tổ chức tài chính lành mạnh tham gia vào thị trường và khi hệ thống luật, kiểm soát… còn nhiều mặt hạn chế.

    Mỗi một mô hình có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy, tuỳ vào thể chế chính trị, đặc điểm nền kinh tế mỗi quốc gia nên chọn cho mình một mô hình phù hợp nhất để có thể phát huy một cách có hiệu quả nhất vai trò của NHTM đối với TTCK.

    1.2.2 Các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK

    1.2.2.1 Ngân hàng thương mại với hoạt động kinh doanh chứng khoán

    12

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Kinh doanh chứng khoán là nghiệp vụ mua bán chúng khoán cho chính mình và tự gánh chịu rủi ro. Với vai trò kinh doanh chứng khoán, các trung gianm chứng khoán là một thành viên quan trọng của thị trường chứng khoán, có tác dụng làm cho hoạt đọng của thị trường đều đặn, không bị gián đoạn và sôi nổi. Là một nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM được xem là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chất lượng và hiệu quả của thị trường. Có thể chia hoạt đọng kinh doanh chứng khoán của NHTM thành hai nhóm, đó là: hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư chứng khoán

    Hoạt động ngân quỹ là hoạt động của NHTM thường đầu tư ngắn hạn vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và có tính ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được… chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhu cầu tích trữ. Hoạt động ngân quỹ là cầu nôí quan trọng giữa tín dụng trầm lắng, một bộ phận vốn trên thị trường tín dụng sẽ được chuyển sang thị trường chứng khoán thông qua hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM và ngược lại. Việc dịch chuyển vốn giữa hai thị trường giúp cho các NHTM có thể sử dụng tối đa các nguồn vốn để sử dụng có hiệu quả hoạt động. Mặt khác, sự cạnh tranh giữa hai thị trường này cũng làm tăng hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính.

    Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM mang tính đa dạng hơn ít tập trung vào một loạI chứng khoán và với thời hạn đầu tư dàI hơn. Là một định chế trung gian tích cực nhất trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, NHTM tham gia trên TTCK với tư cách là nhà đầu tư và nhà tài trợ cho doanh nghiệp đầu tư chứng khoán. NHTM có thể sử dụng các khoản vốn huy động để thường xuyên tham gia TTCK bằng cách mua các loại cổ phiếu và trái phiếu. Thực chất của hình thức kinh doanh này là NH luôn luôn mua CK của khách hàng bằng tiền mặt của mình và bán cho khách hàng không vì mục đích ăn hoa hồng, mà là lợi nhuận chênh lệch giữa thị giá mua và thị giá bán. Nghĩa là NH sẽ tìm cách mua CK với giá thấp nhất và bán vơí giá cao nhất có thể. ở các Sở Giao dịch Chứng khoán khác nhau, thị giá của cùng một loại chứng

    13

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    khoán cũng khác nhau. Giữa các Sở GDCK có mối liên hệ về thông tin rất chặt chẽ. Do đó, các NH sẽ mua các CK ở nơi có thị giá thấp để bán ở nơi có thị giá cao để kiếm lời cho tới khi thị giá được cân bằng giữa các thị trường. Khi mua cổ phiếu NHTM có thể trở thành cổ đông lớn của công ty cổ phần tham gia vào việc điều hành và kiểm soát công ty. Bằng nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm dày dạn trong kinh doanh tiền tệ, NHTM có ưu thế hơn các nhà đầu tư khác trong việc nắm bắt thông tin, phân tích chứng khoán và TTCK đúng lúc đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra, bằng những phương tiện sẵn có, ngân hàng có thể đầu tư theo danh mục, quản lý danh mục đầu tư, thành lập quỹ đầu tư, để đầu tư trên TTCK có hiệu quả cao nhất và rủi ro thấp nhất. Khi mua trái phiếu, NHTM đã thực hiện các chức năng cho vay của mình. Trái phiếu thường có độ rủi ro tương đối thấp nên việc đầu tư vào trái phiếu là một hoạt động thường xuyên của NHTM. Hơn nữa với tính thanh khoản cao của NHTM có thể bán trái phiếu bất cứ lúc nào khi cần thu hồi vốn.

    1.2.2.2 NHTM với nghiệp vụ huy động vốn trên TTCK

    NHTM là một tổ chức kinh doanh, cũng cần có vốn để hoạt động. Vốn của NHTM có thể hình thành từ nhiều nguồn. Một nguồn vốn quan trọng của NHTM trong nền kinh tế thị trường là huy động vốn trên TTCK. Luật pháp từng nước khác nhâu, song về cơ bản, cá NHTM có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư đẻ huy động vốn trên thị trường.

    Về phát hành cổ phiếu, đối với các NHTM cổ phần thì đây là một nguồn vốn đặc biệt quan trọng. Ngân hàng phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn khi thành lập ngân hàng và trong quá trình hoạt động có nhu cầu tăng vốn ngân hàng có thể phát hành thêm số phiếu mới. Khi phát hành cổ phiếu lần đầu hay cổ phiếu mới, ngân hàng phải tuân thủ theo các quy định của TTCK.

    Về phát hành trái phiếu, NHTM khi có nhu cầu huy động vốn với số lượng lớn có thể phát hành trái phiếu trung và dài hạn. Để thu hút các nhà đầu tư và chiều theo thị hiếu khách hàng có nhiều loại tráI phiếu NHTM đã ra đời như: TP có lãI chuyển đổi, TP chiết khấu, TP có lãI suất thả nổi, TP có lãi suất cố

    14

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    định. Đối với NHTM sẵn có chuyên môn và cơ sở vật chất, việc phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn được xem như là giải pháp mang tính hiệu quả cao.

    Có thể thấy, với tính chuyên nghiệp cao, với uy tín lớn trên thị trường tài chính, và các mối quan hệ rộng rãi của NHTM, hoạt động phát hành chứng khoán của các NHTM có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp thông thường khác, bên cạnh đó NHTM có thể tự đứng ra phát hành làm giảm chi phí huy động vốn. Do vậy, chứng khoán của các NHTM phát hành dễ dàng được chấp nhận hơn so với các doanh nghiệp khác.

    1.2.2.3 NHTM với các nghiệp vụ trung gian trên TTCK

    Bản thân NHTM là một định chế tài chính trung gian rất phổ biến và hoạt động rất tích cực trên thị trường tài chính, do đó nó góp phần cực kỳ quan trọng trong hoạt động trung gian trên TTCK. Nghiệp vụ trung gian bao gồm nhiều hoạt động mà NHTM đều có thể tham gia với tư cách của một công ty chứng khoán con. Công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, các tổ chức tín dụng. Công ty muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải khai báo thành lập công ty chứng khoán độc lập.

    * Nghiệp vụ môi giới chứng khoán

    Đây là dịch vụ ngân hàng rất phát triển ở các nước trên thế giới đã có TTCK, gọi là dịch vụ môi giới chứng khoán (Brokerage service). Công ty chứng khoán thuộc ngân hàng sẽ đảm trách dịch vụ này và mang lại cho ngân hàng những lợi nhuận từ lệ phí giao dịch hay hoa hồng giao dich rất lớn. Công ty chứng khoán thuộc ngân hàng có những ưu thế hơn so với các công ty chứng khoán khác trong nghiệp vụ môi giới vì:

    Thư nhất, Ngân hàng đã có mối quan hệ sâu sắc với các doanh nghiệp qua việc tín dụng thanh toán, nắm được các thông tin cần thiết cho việc môi giới chứng khoán, tạo được uy tín với khách hàng.

    15

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Thứ hai, Ngân hàng đã có sẵn cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật một mạng lưới chi nhánh, đại lý rộng khắp sẵn sàng phục vụ mọi yêu cầu của nhà đầu tư.

    Thứ ba, Ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn về kinh doanh tiền tệ liên quan chặt chẽ và gần gũi với nghiệp vụ môi giới chứng khoán.

    Trong nghiệp vụ này, NHTM tiến hành các hoạt động như: đại diện cho khách hàng của mình để thương lượng mua bán chứng khoán sao cho có lợi nhất cho thân chủ. Ngân hàng cũng thay mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan tuỳ theo sự uỷ nhiệm quyền tự do linh hoạt, quyết đoán trong việc mua bán chứng khoán hộ cho họ mà không cần phải thông báo cho họ biết đã mua hoặc bán chứng khoán cho ngân hàng ký hợp đồng uỷ nhiệm nhận mua hộ và bán chứng khoán hộ không chỉ cho một khách hàng mà cho nhiều khách hàng, ngân hàng với tư cách là đối tác của khách hàng sẽ được hưởng nhiều khoản lợi nhuận qua việc mua bán chứng khoán (nếu mua hoặc bán chứng khoán của mình cho khách hàng theo thị giá) thì hoa hồng thực hiện lệnh mua hoặc lệnh bán, khoản thù lao môi giới.

    * Nghiệp vụ tư vấn chứng khoán

    Đây là các hoạt động phân tích, đưa ra các khuyến nghị liên quan đến chứng khoán, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên quan đến chứng khoán. Một trong những trở rngại quan trọng đối với thị trường tài chính là vấn đề thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Với chức năng là thủ quỹ doanh nghiệp, thực hiện kiểm soát vàgiám sát bằng đồng tiền đối với nên kinh tế quốc dân, NHTM có đặc quyền về việc thu thập các thông tin về các doanh nghiệp có phát hành chứng khoán qua mối quan hệ lâu năm rất sâu sát trong quan hệ tín dụng, thanh toán. Từ đó có thể phân tích mọi mặt sản xuất kinh doanh, các nguồn tài trợ và cả xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Nguồn thông tin này là cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc phân tích và đánh giá doanh nghiệp, định giá chứng khoán, từ đó

    16

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    có thể thực hiện việc tư vấn đầu tư cho khách hàng một cách nhanh chóng hiệu quả.

    * Nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán

    NHTM thông thường là cơ quan thích hợp nhất đảm nhiệm việc phân phối chứng khoán ra công chúng. Với một mạng lưới nhiều cơ sở của ngân hàng, công ty chứng khoán con sẽ có chứng khoán rộng rãi phục vụ nhu cầu của nhà đầu tư.

    Nghiệp vụ phân phối chứng khoán có thể thực hiện thông qua phương thức bảo lãnh phát hành hay đại lý phát hành.

    Về đại lý phát hành chứng khoán:

    • Công ty nhận phân phối chứng khoán ra thị trường cho cơ quan phát hành để hưởng hoa hồng. Khi thực hiện nghiệp vụ này:
    • Công ty không hứa mua trực tiếp số chứng khoán phân phối hộ.
    • Công ty không hứa bán với một giá nhất định
    • Công ty không hứa bán hết hay mua số chứng khoán không bán hết.

    Về bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán thực hiện việc bảo lãnh phát hành chứng khoán khi có một khả năng tài chính vững mạnh, thường đó là một tập đoàn tài chính bao gồm cả NHTM đứng ra đảm nhận thực hành công việc phát hành chứng khoán với chủ thể phát hành bằng cách:

    – Hứa mua trực tiếp toàn bộ hay một phần số chứng khoán được phát

    hành.

    • Đảm bản bán chứng khoán với một giá nhất định
    • Cam kết mua lại số chứng khoán không bán được.

    * Nghiệp vụ đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán

    Là một nghiệp vụ rất phổ biến, tại các nước phát triển đã có TTCK nhằm tạo sự tiện ích trong đầu tư.

    • Hoạt động đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán bao gồm: + Đăng ký chứng khoán

    17

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    • Thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán: Trên thị trường chứng khoán, nếu tất cả cá khoản thanh tón đều thực hiện bằng tiền mặt thì sẽ mất đi tính sôi động. Để giải quyết được nhược diểm trên người ta áp dụng thanh toán bằng chuyển khoản, đã giảm đi một gánh nặng lớn, theo đó tất cả những người mua và người bán , các môi giới, kinh doanh chứng khoán đều có tài khoản ở ngân hàng, khi các giao dich mua bán kết thúc thì mỗi người đều nhận được các giấy báo nợ, báo có mà không cần quan tâm đến tiền mặt nữa. Đây là một bước tiến giúp cho TTCK hoạt động một cách trôi chảy hơn. Việc thực hiện công tác thanh toán đều do các ngân hàng đảm nhận, nếu công tác này được tiến hành tốt sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của một thị trường chứng khoán
    • Lưu giữ, bảo quản chứng chỉ chứng khoán: Từ hoạt động kinh doanh của mình như huy động vốn, kinh doanh vàng, bạc, đá quý hay cho vay thanh toán, NHTM có nhiều kinh nghiệm trong việc thu nhận, quản lý, cắt giữ chứng từ có giá trị. Những nhà đầu tư cầm chứng khoán trong công ty với số lượng lớn sẽ không an toàn, họ có nhu cầu như ai đó quản lý hộ chẳng hạn như thuê két sắt và NHTM là một tổ chức rất ưu thế trong lĩnh vực này. Thông thường, khách hàng ngoài việc nhờ NHTM bảo quản hộ chứng khoán còn muốn ngân hàng cung cấp thêm một số các dịch vụ khác có liên quan như: mua, bán, thanh toán, giao hoán chứng khoán khi khách hàng thực hiện các giao dịch, chuyển những quyền sử dụng của khách hàng.
    • Hạch toán ghi sổ chứng khoán thông qua việc mở tài khoản lưu ký thông qua việc mở tài khoản lưu ký chứng khoán cho khách hàng.
    • Các dịch vụ khác theo uỷ quyền của khách hàng có chứng khoán lưu ký.

    Trên đây là những nghiệp vụ cơ bản đã minh chứng được phần nào vai trò và ảnh hưởng to lớn của NHTM đối với TTCK. Có thể nói phát triển các hoạt động của NHTM trên TTCK là một trong những yêu cầu kiên quyết cho sự thành công của TTCK.

    18

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động của Ngân hàng thương mại và hoạt động của thị trường chứng khoán

    Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính bậc cao, là sản phẩm của nền kinh tế thị trường phát triển. Để thị trường chứng khoán có thể hoạt động minh bạch, hiệu quả và an toàn, không thể thiếu được các tổ chức tài chính trung gian trong đó phải kể đến đầu tiên vai trò của ngân hàng thương mại mà đại diện là các công ty chứng khoán thuộc sở hữu của ngân hàng đó. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu được lưu thông tấp nập trên thị trường, qua đó một lượng vốn nhàn rỗi được đưa vào đầu tư cho phát triển kinh tế từ những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng.

    Nói đến vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán có thể đến các khía cạnh sau: về hàng hoá, về tổ chức trung gian, về thông tin , về sự điều tiết cung cầu và về các đinh chế tài chính trên thị trường. Đó là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự phát triển của một thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Thông qua việc phân tích những ảnh hưởng và tác động của ngân hàng thương mại đến các yếu tố trên của thị trường chứng khoán sẽ cho ta thấy được hơn hết vai trò to lớn của ngân hàng thương mại đối với thị trường chứng khoán.

    1.3.1 Vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoá

    Hàng hoá của thị trưòng nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng (chứng khoán) là yếu tố không thể thiếu cúạư tồn tại và phát triển của thị trường. Chứng khoán có thể định nghĩa như sau: Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư ( tư bản đầu tư ), chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đợin hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời gian nào đó.

    19

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Ngân hàng thương mại có vai trò rất to lớn trong việc tạo ra hàng hoá cho thị trường chứng khoán dưói hai góc độ trực tiếp và gián tiếp

    Trên góc độ trực tiếp, các ngân hàng thương mại có thể tham gia hoạt động với tư cách là người phát hành và bán cổ phiếu của mình( ngân hàng cổ phần). Các ngân hàng cổ phần phát hành cả cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc vốn bổ sung thêm trong quá trình hoạt động. Ngoài ra, tất cả các Ngân hàng thương mại không phân biệt thành phần sở hữu đề có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn từ nền kinh tế. Những việc này đã tạo cho thị trường chứng khoán một khối lượng hàng hoá rất lớn ở thị trường thứ cấp. Như vậy, với tư cách là một tổ chức kinh doanh đơn thuần trên thị trường, Ngân hàng thương mại thông qua các hoạt động phát hành của mình đã cung cấp một lượng chứng khoán lớn phong phú, đa dạng và đặc biệt là có chất lượng cao cho thị truờng. Ngoài các loại chứng khoán truyền thống là cổ phiếu và trái phiếu, các công ty chứng khoán thuộc Ngân hàng thương mại hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ (trung ương và địa phương), chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh doanh. Trong những thị trường mới nổi, hàng hoá và dịch vụ còn nghèo nàn, đơn diệu, nếu được tổ chức phát triển tốt, các Ngân hàng thương mại có thể góp phần cải thiện môi trường đầu tư này. Một môi trường đầu tư tốt đa dạng về sản phẩm, với chi phí dich vụ thấp và có lợi nhuận thoả đáng sẽ thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi cho tăng trưởng kinh tế.

    Bên cạnh đó, Ngân hàng với tư cách là một tổ chức trung gian, thực hiện các nghiệp vụ trung gian chứng khoán như bảo lãnh phát hành, tư vân đầu tư chúng khoán, ….. đã góp phần không nhỏ giúp các doanh nghiẹp khác phát hành

    chứng khoán, gián tiếp tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị trường chứng khoán. Thứ nhất, phải kể đến đó là Ngân hàng thương mại là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước thành các công ty cổ phần. Ngân hàng tham gia vào việc thành lập công ty cổ phần hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước với tỷ lệ cổ phiếu đáng kể để có đủ điều kiện tham gia quản trị kinh doanh, tín nhiệm. Công ty cổ phần dù mới thành lập hay cổ phần

    20

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hoá, vốn vẫn còn hạn hẹp so với yêu cầu của kỹ thuật và công nghệ hiện đại, do đó ngân hàng phải là trợ thủ đắc lực cho công ty cổ phần, tạo điều kiện cho các công ty vay tín dụng. Như vậy, chính chế độ tín dụng và ngân hàng đã xã hội hoá các nguồn vốn, giải quyết các mâu thuẫn trong sự vận động của nguồn vốn giữa các thành phần kinh tế, xoá bỏ tính chất tư nhân các biệt của nguồn vốn trong công ty cổ phần. Một doanh nghiệp có thể bắt đầu hoạt động của mình bằng một món nợ vay ngân hàng. Vay ngân hàng là một cơ sở hoạt động của các doanh nghiệp và năng lực kinh doanh của họ. Các ngân hàng là ngưòi đầu tiên đã lập ra việc kiểm tra các hoạt động của công ty, họ quyết định có nên cho vay hay không và có nên tiếp tục cung cấp tín dụng hay không. Ngân hàng sẽ cung cấp kinh doanh nếu biết được rằng một Công ty thành công cuối cùng có thể hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán. Như vậy kỷ cương tài chính của ngân hàng sẽ đưa công ty vào thị trường chứng khoán, gián tiếp bổ sung một lượng hàng hoá cho thị trường. Thứ hai, ngân hàng thương mại cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp các công ty phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Khi những nhà sáng lập một công ty nào đó muốn phát hành chứng khoán để thu hút vốn, họ có thể dựa vào uy tín, và kinh nghiệm của ngân hàng để ký hợp đồng về việc phát hành và bán các chứng khoán của mình. Như vậy, Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng môi giới phát hành chứng khoán giữa người muốn bán và ngưỡi muốn mua chứng khoán. Khi đảm nhận vai trò này, Ngân hàng sẽ giúp cho những người sáng lập công ty chọn lựa loại chứng khoán phát hành, tư vấn về các vấn đề như lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán, và các vấn đề kỹ thuật khác. Trong những trường hợp đặc biệt, như sẽ phát hành một lượng chứng khoán khá lớn, các Ngân hàng có thể cùng nhau chia sẻ việc dự định số phát hành này nhằm giảm thiểu rủi ro, hoặc mua toàn bộ các cổ phiếu, trái phiếu phát hành mới và sau đó bán lại cho công chúng. Bên cạnh đó, bằng cách cung cấp dịch vụ tư vấn cổ phần hoá, tư vấn niêm yết, thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán trong đợt phát hành và giúp nhà đầu tư phát hành và giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về giá trị các khoản

    21

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đầu tư của mình, bằng cách dó công ty chứng khoán sẽ phát huy được vai trò tạo sản phẩm hàng hoá nới cho thị trường.

    1.3.2 Vai trò trung gian chứng khoán của Ngân hàng thương mại

    Bất kể một thị trường nào, thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng muốn hoạt động và phát triển thì ddeuf đến vai trò của các trung gian. Không phải nhà kinh doanh nào cũng có thể gặp ngay được những đối tượng cần mua chứng khoán để cả hai cùng thực hiện việc mua bán lẫn nhau. Cũng như không phải bất kỳ người dân nào muốn đầu tư vào chứng khoán cũng có thể nhanh chóng đủ hiểu biết, đủ thông tin để tìm được cho mình nơi mua loại chứng khoá hợp túi tiền, có mức lãi suất và thời gian đáo hạn đúng như ý muốn. Do những hạn chế này và nhu cầu tiẹn lợi cho các chủ thể, trên thị trường xuất hiện những người trung gian đưa đường dẫn lối, để người bán và người mua gặp nhau theo đúng yêu cầu của cả hai bên. Các trung gian sẽ giúp cho hoạt động của các thị trường được suôn sẻ, nhanh chóng và hiệu quả, là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển của thị trường. Và Ngân hàng thương mại chính là một tổ chức trung gian quan trọng nhất trong thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Trong thị trường chứng khoán, vói tư cách là một tổ chức trung gian, Ngân hàng thương mại sẽ đưa đường dẫn lối để hai bên gặp nhau thông qua các nghiệp vụ của ngân hàng trên thị trường chứng khoán. Ngân hàng thương mại với kiến thức rộng, am hiểu tình hình kinh tế chung và rất rành hoạt động của các công ty. Do vậy, ngân hàng thương mại không phải là một người môi giới thông thường, mà giữ vai trò vô cùng chủ động trong việc thương lượng chứng khoán, thay thế thân chủ để cam kết mua bán chứng khoán với giá định sẵn do chính trung gian chứng khoán lựa chọn. Với các nghiệp vụ chủ yếu của minh trên thị trường chứng khoán như kinh doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán và bảo lãnh chứng khoán đã góp phần vào hoạt động có hiệu quả của thị trường chứng khoán. Quả thật, Ngân hàng thương mại thông qua các công ty chứng khoán của mình đã thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa nhà

    22

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đầu tư với các doanh nghiệp, góp phần tạo kênh huy động vốn mới thực sự hiệu quả cho nề n kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ môi giới và bảo lãnh chứng khoán, nâng cao chất lượng và mở rộng hơn nữa tư vấn đầu tư chứng khoán, tăng cường tiếp xúc với các doanh nghiệp dưới mọi hình thức nhằm giới thiệu khả năng huy động vốn qua kênh thị trường chứng khoán cho các doanh nghiệp. Khi thực hiện môi giới chứng khoán, các công ty chứng khoán có hai nhiệm vụ chính là: nhiêm vụ cung cấp thông tin và tư vấn khách hàng ( thông qua các nhân viên lành nghề, công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư); đồng thời, cung cấp các sản phẩm và dich vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích khách hàng. Với nhiệm vụ này, nhân viên môi giới nhận đơn đặt hàng từ khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ. Quá trình này bao gồm các tác nghiệp từ hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại công ty, tiến hành truyền lệnh, xác nhân giao dịch,thanh toán và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng. Không chỉ dừng ở đó, sau khi giao dịch đã được thực hiện, người môi giới còn phải tiếp tục quản lý tài koản của khách hàng, đưa ra những khuyến cáo và cung cấp thông tin, theo dõi để nắm bắt những thay đổi trong đời sống, công việc… của khách hàng mà có thể dẫn đến những thay đổi trong tình trạng tài chính và thái độ chấp nhận rủi ro của khách hàng, từ đó đề xuất chiến lược đầu tư mới thích hợp hơn. Trên thị trường sơ khai, khi sản phẩm hàng hoá còn đơn giản, nhà đầu tư có thể chưa có nhu cầu sủ dụng dịch vụ tư vấn và do mặt bằng dân trí thấp nên hoạ động tiếp thị, giới thiệu sản phẩm trên diện rộng lại giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Có thể nói, hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán dồng thời chứa đựng hàm lượng tư vấn đầu tư khá cao, người đàu tư trông chờ người môi giới cho biết khi nào thì nên mua, lúc nào nên bán chứng khoán và cung cấp thông tin về tình hình diễn biến trên thị trường.

    Quả thật với vai trò một trung gian trên thị trường chứng khoán, ngân hàng thương mại đã đóng góp rất to lớn vào sự phát triển của thị trường. Để kể thêm vào những đóng góp của ngân hàng thương mại với tư cách một trung gain chứng khoán, ta có thể kể đến vai trò của ngân hàng nhu quản lý tài khoản tiền

    23

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    gởi của pháp nhân và thể nhân tạo tiền đề cho việc tích luỹ vốn để mua bán chứng khoán, kinh nghiệm về hoạt động tín dụng của ngân hàng tạo điều kiện cho việc mua bán chứng khoán được thuận lợi khi có nhu cầu đầu tư và đặc biệt là kinh nghiệm về tổ chức thanh toán giúp ngân hàng thương mại thực hiện tốt việc chi trả trong mua bán chứng khoán. Khi có thị trường chứng khoán, các quan hệ mua bán chứng khoán diễn ra thường xuyên, nhiều khi chóng mặt nhất là thị trường chứng khoán thứ cấp. Các quan hệ mau bán bao giờ cũng kéo theo quan hệ thanh toán: Người mua trả tiền cho người bán, người bán giao chứng khoán cho người mua. Có thể tới hàng trăm mối quan hệ thanh toán diễn ra với tốc độ rất nhanh, hàng ngàn giao dịch mỗi ngày tại Sở giao dịch chứng khoán của nhiều nước. Qua đó có thể thấy vai trò làm trung gian thanh toán của NHTM trên TTCK là không thể phủ nhận, góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    1.3.3 Vai trò điều chỉnh cung cầu chứng khoán của NHTM trên TTCK.

    Ngân hàng thường mại là một trung gian tài chính quan trên thị trường tài chính với hoạt động cơ bản nhất đó là nhận tiền gửi và tiến hành cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Và chính hoạt động này có tác động rất lớn đến hoạt động của thị trường chúng khoán, mà cụ thể là giá cả, cung và cầu của chứng khoán trên thị trường. Bơi lẽ xet cho cùng, mục đích của bất kỳ nhà đầu tư nào dưới bất kỳ hình thức nào cũng xuất phát từ mục tiêu cuối cùng, đó là mục tiêu lợi nhuận. Việc họ quyết định đầu tư vào lĩnh vực nào là tuỳ thuộc vào những nhận định và dự đoán của họ về khả năng sinh lời, đem lại thu nhập, và mức đọ rủi ro của nó. Chính vì vậy mà lãi suất tiền gửi và cho vay của các ngân hàng cũng có tác động không nhỏ đến mức cung cầu chứng khoán trên thị trường và giá của những chứng khoán đó.

    Khái niệm lãi suất dùng để chỉ mức lãi suất áp dụng cho cá khoản vay và cho vay giữa cá ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng và các khách hàng của họ trên thị trường. Còn lợi suất cổ phiếu hay trái phiếu, nói chung là lợi suất

    24

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    chứng khoán là mức lãi suất qui định sẵn trên mỗi trái phiếu hoặc mức lãi dự kiến sẽ nhận được vào lúc chia cổ tức của cổ phiếu. Đồng thời, đối với cổ phiếu đó là kỳ vọng tương lai về giá cổ phiếu gia tăng.

    Quan hệ giữa lãi suất và lợi suất chứng khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đối với giá của chứng khoán. Nếu lãi suất cao hơn lợi suất chúng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm. Ngược lại, nếu lãi suất thấp hơn lợi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ tăng. Trường hợp lãi suất ngân hàng giữ ở mức thấp hơn có thể dẫn đến hiện tượng gọi là phi trung gian hàng hoá. Lúc đó mọi người sẽ đổ xô đến rút tiền tuết kiệm và dùng nó để mua chứng khoán. Ngược lại, khi lãi suất ngân hàng cao, điều này sẽ khiến cho hoạt động trên thị trường chứng khoán giảm sút vì người ta thích gởi tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.

    Thị giá chứng khoán không phải chỉ căn cứ vào số tiền ghi trên chúng khoán mà còn phụ truộc rất nhiều vào mối quan hệ giữa lãi suất tiền gửi tiết kiệm và tỷ suất lợi tức của chứng khoán. TTCK chỉ có thể hoạt động bình thường nếu lãi suất tiềm gửi tiết kiệm và tỷ suất lợi tức của chứng khoán cạnh tranh được với nhau và hoà nhập với nhau, giữa người mua và người bán chỉ còn việc lựa chọn khả năng rủi ro và quyết định mạo hiểm. Chẳng hạn, nếu cổ tức quá bấp bênh và chỉ ở mức tối đa là 30%/năm, trong khi đó lãi suất tiền gửi ngân hàng kỳ hạn 1 năm là 50%/năm, thì không ai mua cổ phiếu và TTCK sẽ khó vận hành. Ngược lại, nếu lợi tức cổ phần là 30%/ năm và lãi suất ngân hàng là 25%/ năm, thì bắt đầu có sự lựa chọn. Người ưa mạo hiểm và thích lãi suất cao sẽ đầu tư tiền của mình để mau cổ phiếu, còn người thích an bài sẽ gửi tiền của mình vào ngân hàng. Xu hướng này sẽ tạo điều kiện để vận hành TTCK.

    Một vai trò khác của NHTM đối với cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán đó là cung cấp cơ chế giá cho các khoản đầu tư. Thứ nhất, NHTM sẽ tạo cơ chế giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp thông qua các Sở GDCK. Công ty chứng khoán có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác giá trị khoản đầu tư của mình thông qua trình độ chuyên môn chuyên nghiệp, kinh nghiệm dày dăn, và thông tin chính xác, đầy đủ. Toàn bộ các lệnh

    25

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    mua bán chứng khoán được tập hợp tại thị trưòng giao dịch tập trugn thông qua các công ty chứng khoán của NHTM, và trên cơ sở đó giá chứng khoán sẽ được xác định theo quy luật cung cầu. Ngoài ra, thông qua hạot động tự doanh, các công ty chứng khoán của NHTM còn có một chức năng quan trọng là can thiệp vào thị trường, góp phần điều chỉnh giá chứng khoán. Thứ hai, NHTM còn tạo cơ chế giá trên thị trường sơ cấp: khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành. Thông thường, mức giá phát hành thường do các công ty chứng khoán xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu, thoả thuận với các nhà đầu tư tiềm năng trong đợt phát hành và tư vấn cho tổ chức phát hành.

    1.3.4 Vai trò của NHTM trong việc cung cấp thông tin trên TTCK

    Đối với thị trường chứng khoán, thông tin giữ một vai trò hết sức quan trọng giúp cho thị trường duy trì và phát triển. Thông tin giúp các nhà đầu tư quyết định những phương án đầu tư để thu được lợi nhuận lớn nhất và tránh được những rủi ro trên thị trường. Thông tin giúp cho những cơ quan quản lý thị trường giám sát, quản lý thị trường một cách chặt chẽ và hiệu quả. Có thể nói, NHTM có một ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp một kênh thông tin rất phong phú và tương đối đáng tin cậy cho thị trường. Hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán của các ngân hàng thương mại luôn chứa đựng cả hàm lượng tư vấn đầu tư cao, người môi giới chứng khoán cho biết khi nào nên mua, khi nào nên bán chứng khoán và cung cấp thông tin về tình hình diễn biến trên thị trường. Các công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ đầy đủ không chỉ thực thực hiện lệnh của khách hàng, mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua nghiên cứu thị trường rồi cung cấp thông tin đó cho các tổ chức và cá nhân đầu tư. Các dịch vụ ấy bao gồm: thu thập thông tin cung cấp theo yêu cầu của khách hàng; cung cấp thông ti về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng

    26

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai; cung cấp thông tin về chính sách tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng cân nhắc. Bên cạnh đó, các NHTM cũng cung cấp các thông tin rất đáng tin cậy về tình hình diễn biến thị trường giúp các cơ quan quản lý thị trường có những điều chỉnh phù hợp nhất. Đó là một vài ví dụ về vai trò cung cấp thông tin của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.

    1.3.5 Vai trò của NHTM về định chế quản lý TTCK.

    Chính hoạt động của cá Công ty chứng khoán thuộc các NHTM và các nhân viên môi giới của họ là một yếu tố góp phần hoàtn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh chứng khoán. Nếu môi trường pháp lý không đủ chặt chẽ và việc thực hiện không nghiêm thì mâu thuẫn sẽ phát sinh có thể dẫn đến làm đổ vỡ thị trường. Công ty chứng khoán cùng cá nhân viên của mình sẽ đưa pháp luật đến với người đầu tư, giúo người đầu tư luôn có ý thức tìm hiểu và tuân thủ pháp luật trong quá trình tìm kiếm lợi ích; đồng thời các công ty chứng khoán cũng kịp thời phản ánh cho cá nhà làm luật kịp thời chỉnh sửa những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật.

    27

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chương 2:

    HOẠT ĐÔNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

    2.1.Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Thị trường chứng khoán là một dạng của thị trường mà ở đó đối tượng được giao dịch là loại giấy tờ có giá ( chứng khoán ). TTCK là một dấu hiệu đồng thời là một bộ phận quan trọng của một nền kinh tế thị trường đang hoạt động. Sớm nhận thức được vai trò của TTCK, ngay từ những năm đầu của công cuộc cải tổ nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phải xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam có trật tự, dưới sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở đạt được sự chính muồi về cá điều kiện thiết nhằm khai thác và sử dụng có hiệu qua nhất nguồn vốn hạn hẹp của nền kinh tế, đảm bảo các mục tiêu vốn trong nước là quyết định trong chiến lược huy động và sử dụng cá nguồn vốn. Trên cơ sở chủ trương này, ngay từ đầu những năm 1990 chúng ta đã rất tích cực học hỏi kinh nghiệm từ cá nước đi trước, đồng thời chuẩn cá điều kiện cần thiết cho việc hình thành và phát triển TTCK Việt Nam.

    Ngày 20/7/2000, Trung tâm giao dịch chưnứg khoán Tp. Hồ Chí Minh đã chính thức khai trương đi vào hoạt động, đây là cột mốc quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển TTCK Việt Nam, đồng thời là một bước đột phá cơ bản, quan trọng trong chiến lược khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ 21. Sau hơn hai tháng chính thức đi vào hoạt động, Trung tâm giao dịch chứng khoán thu hút một lượng nhất định cá nhà đầu tư tham gia giao dịch mua bán trên thị trường, trong hai tuần đầu thị trường khá sôi động nên chỉ số giá chứng khoán và khối lượng vốn giao dịch trên thị trường liên tục tăng lên, phiên

    28

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    cao nhất đạt khối lượng giao dịch đã đạt gần 2,5 tỷ đồng gấp 25 lần so với phiên giao dịch đầu tiên. tuy nhiên, hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh nói riên và TTCK Việt Nam nói chung trong thời gain này vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

    Cho đến năm 2003, sau hơn hai năm hoạt động, trên sàn giao dich của TTGDCK đã có 19 loại cổ phiếu và 28 loại trái phiếu được niêm yết. Tuy nhiên, đây vẫn là thời kỳ thử nghiệm để đi đến xây dựng Trung tâm này thành một SDGCK hiện đại, hoàn chỉnh. Chúng ta vẫn chưa có một TTCK đầy đủ theo đúng nghĩa, sự tham gia của các định chế tài chính trung gian vào thị trường này còn ở mức độ thăm dò,nhiều tổ chức còn đứng ngoài cuộc. Đến năm 2003, sao hai năm hoạt động của TTCK VIệt Nam có thể được chia làm hai thời kỳ rõ rệt, thời kỳ tăng trương và thời kỳ suy thoái.

    • Thời kỳ tăng trưởng bắt đầu từ phiên giao dịch đầu tiên ( ngày 27/7/2000 ) đén ngày 25/6/2001 là thời kỳ giá CK tăng liên tục ; số lượng tài khoản mở tại cá công ty CK cãng tăng rất nhanh, trung bình có 1000 tài khoản được mở trong một tháng; chỉ số VN- index tăng hơn 400%, đạt trên 500 diẻm, cao hơn cả TTCK Thái Lan và Thượng Hải – những thị trường ra đời trước thị trường của ta hàng chục năm.
    • Thời kỳ suy thoái bắt đầu từ ngày 26/6/2001 đến năm 2003, TTCK Việt Nam luôn ở trogn tình trạng sụt giảm cả về sức cầu lẫn các chỉ số đặc trưng của thị trường khiến các nhà quan sát đã phải dùng đến những từ “ ảm đạm”, “ngủ gật”, “sớm nắng chiều mưa”,v.v để chỉ tình trạng của TTCK Việt Nam. Cho đén phiên giao dịch lần thứ 419 ngày 13/11/2002, chỉ số VN- index sụt xuóng chỉ còn 175,63 điểm.

    Theo tư liệu của TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh, trong 10 tháng đầu năm 2002 có 193 phiên giao dịch vớ tổng khối lượng đặt mua là 49.081.240 CK (bình quân một phiên là 251.119); tổng khối lượng đặt bán là 51.071.580 CK ( bình quân 280.017 CK một phiên). Khối lượng CK được đặt bán cao hơn được đặt mua là 1.990.340. Hiện có khoảng 13.000 tài khoản giao dịch mở tại cá công ty chứng khoán nhưng thực tế giao dịch thực hiện chỉ ở triên vài trăm tài khoản.

    29

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Trong số cá nhà đầu tư có tổ chức, chỉ có duy nhất công ty Dragon Capital là tích cực tham gia mua cổ phiếu; số tổ chức còn lại thì hầu như hoạt động cầm chừng hoặc án binh bất động. Trước tình hình giao dịch CK ngày càng kém sôi động trên thị trường, một nhóm cá nhà đầu tư cá nhân kêu gọi thành lập Hiệp hội các nhà đầu tư CK để có tiếng nói mạnh hơn với cá nhà quản lý thị trường CK và bảo vệ quyền lợi của mình.

    Trên đây là một vài nét phác thảo qua về sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam trong những năm đầu mới thành lập, qua đó thấy được một chặng đường cũng vói những thành tích đã đạt được và những tồn tại của thị trường ( phần này sẽ được phân tích kỹ hơn trong mục sau nói về thực trạng của thị trường chúng khoán Việt Nam hiện nay)

    2.1.2 Thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay

    2.1.2.1 Những đánh giá chung về thị trường chứng khoán hiện nay

    Sau gần bốn năm hoạt động, thị trường đã dần định hình và phát triển. Bắt đầu với hai công ty niêm yết vào năm 2000, hiện nay TTCK đã có 24 công ty niêm yết với tổng giá trị vốn điều lệ là 1240 tỷ đồng, 147 loại phiếu trái phiếu của chính phủ, hai laọi trái phiếu của Ngân hàng đầu tư và phát triển, 01 loại trái phiếu đô thị với tổng giá trị niêm yết trên 17300 tỷ đồng. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng đã cấp phép hoạt động cho 13 công ty chứng khoán, 01 công ty quản lý quỹ đầu tư và 5 ngân hàng lưu ký. Năm 2004, quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên đã tiến hành huy động vốn và đi vào hoạt động. Tính đến hết tháng 6/2004, có 820 phiên giao dịch đã được thực hiẹn thành công tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với tổng giá trị giao dịch trung bình mỗi phiêm hơn 17 tỷ đồng. Ngày 30/6/2004, chỉ số chứng khoán VN Index là 249,7 điểm, tăng 80,5 điểm cơ sở (khoảng 47,6%) so với đầu năm.Tổng giá trị thị trường tính cùng thời điểm là 3,4% GDP, tăng hơn hai lần so với năm 2003.

    Ngày 28/ 11/2003, Nghị định số 144/CP cua rChính phủ về chứng khoán và TTCK (NĐ/144) đã được ban hành thay thế cho Nghị định 48/CP trước đây.

    30

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Nghị định này bao gồm những quy định mới tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc niêm yết của các công ty, sự vận hành của thị trường và yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư. Với quan diểm khuyến khích đầu tư và huy động vốn, NĐ 144 đã có những bước tiến đáng kể bằng cách áp dụng một hệ thống các itêu chuẩn và điều kiện niêm yết linh hoạt hơn, cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với TTCK tập trung để huy động vốn. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định cũng được mở rộng đối với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng. Đây là một thay đổi hết sức có ý nghĩa nhằm tăng cường hiệu lực quản lý và giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, NĐ 144 mới đã cho phép đa dạng hoá ccá loại hình đầu tư chứng khoán để có thể khuyến khích mọi tầng lớp từ nhà đầu tư nhỏ lẻ đến nhà đầu tư có tổ chức tham gia TTCK

    Tuy ở giai đoạn đầu phát triển, TTCK đã có những bước tiếp cận nhất định với những chuẩn mực quốc tế trong việc phát triển TTCK và thu hút nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Kiểm toán và công bố thông tin là điều kiện bắt buộc đối với các tổ chức phát hành và niêm yết. Các thông lệ quốc tế về quản trị công ty tốt đã được áp dụng trên TTCK nhằm tăng cường chất lượng của chứng khoán niêm yết. Hiện nay, tất cả những công ty niêm yết đều phải tuân thủ và áp dụng Điều lệ mẫu được ban hành vào tháng 11/2002

    Sau hai năm hoạt động, nhận thức được tầm quan trọng của việc mở cưa thị trường chứng cho nhà đầu tư nước ngoài, Thủ tướng Chính phủ đã nới rộng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết từ 20% lên 30%, không hạn chế sở hữu cảu người nước ngoài đối với trái phiếu. Chính phủ đã cho phép các tổ chức kinh doanh trái phiếu nước ngoài được góp vốn với đối tác trogn nước thành lập công ty chứng khoán liên doanh với tỷ lệ tối đa là 49%. Các chính sách về ngoại hối đã được sửa đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đầu tư chứng khoán ra nước ngoài. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cá nhân trong nước cũng như nước ngoài còn được miễn thuế thu nhập cá nhân khi đầu tư vào thị trường chứng khoán; Chính phủ đã bãi bỏ việc đánh thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

    31

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Để tạo ra định hướng cơ bản cho việc phát triển TTCK về trugn và dài hạn, ngay 5/8/2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt và ban hành Chiến lược phát triên TTCK đến năm 2010. Việc xác định một quan điểm chiến lược trong phát triển TTCK và thiết lập một chứng trình hành động cụ thể chi từng năm là một nhiên\mj vụ được UBCK cho là có tầm trọng hàng đầu trong việc xây dựng và phát triển TTCK. Trên cơ sở Chiến lược, Bộ Tài chính đã xác định mô hình TTCK là: TTGDCK Tp HCM là thị trường tập trung, phát triển thàh Sở Giao Dịch Chứng Khoán có khả năng liên kết với các thị trường trong khu vực; TTGDCK Hà Nội là thị trường giao dịch cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển thành thị trường phi tập trung phù hợp với quy mô của TTCK. Cùng với việc xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho các TTGDCK; phát triển các định chế tài chính trung gian, phát triển cơ sở các nhà đầu tư , tiến trình xây dựng một Luật Chứng khoán toàn diện và đầy đủ hiện đang được xuac tiến khẩn trương.

    Những con số và sự kiẹn vừa nêu là những bằng chứng sinh động về sự phát triển tuy chưa được nư kỳ vọng, song rát đáng khích lệ của một TTCK còn non tre và đang ở giai đoạn ban đầu như thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều trở ngại và hạn chế về mặt khuôn khổ pháp lý, thành viên thị trường và cơ sở đầu tư khiến TTCK chưa thể được coi là một thị trường hàon thiện

    2.1.2.2 Một số hạn chế và trở ngại của TTCK

    Một là, những hạn chế về mặt khuôn khổ pháp luật và năng lực hoạch định chính sách. Xét trên phương diện khuôn khổ luật pháp, trở ngại lớn nhất hiện nay là TTCK chưa có một Luật Chứng khoán toàn diện và đầy đủ. Lĩnh vực khoán và thị trường chúng khoán còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật phá sản. Do vị thế của NĐ 144 thấp hơn các Luật liên quan mà môi trưòng pháp lý hiện hành cón chưa đây đủ thì những bất cập và xung đột giữa các văn bản pháp luật liên quan đến TTCK là điều khó tránh khỏi. Một môi

    32

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường pháp lý ổn định và đầy đủ là yếu tố đầu tiên để đảm bảo lòngtin của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài chỉ có thể đầu tư vào TTCK nếu họ nhận thấy rằng vốn đầu tư cũng như kỳ vọng sinh lời của họ được bảo vệ bởi một khuôn khổ pháp luật minh bạch và an tàon. Điều này cho thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của việc xây dựng một Luật chứng khoán. Bên cạnh đó, năng lực hoạch định chính sách và thực thi luật pháp cũng là một vấn đề cần tính đến. Đánh giá một cách khách quan, UBCK và những cơ quan quản lý liên quan khác trên thị trường vốn chưa có đủ năng lực càn thiết để thực hiện chức năng giám sát, quản ly và cướng chế thực thi các chính sách trên TTCK một cách hiệu quả. Điều này xuất phá từ thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý thị trường thiếu kinh nghiệm, khả năng xây dựng và thực thi các chính sách thích hợp nhằm khuyển khích sự phát triển cảu thị trường, thu hút và bảo vệ nhà đầu tư.

    Hai là những hạn chế về mặt thể chế thị trường. Xét về goc độ thu hút vốn đầu tư những hạn chê về mặt thể chế thị trường là một trở ngại đáng kể, không chỉ trên phương diện đảm bảo an toàn cho chu trình lưu chuyển vốn đầu tư mà còn trên phương diện duy trì tính toàn vẹn của thị trường và niềm tin của công chúng đầu tư trong và nước ngoài. Đối với một thị trường mới hình thành à phát triển thì việc chưa có được một thể chế thị trường hoàn chỉnh là điều tất yếu. Sự vắng mặt của các tổ chức tự quản, tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, phạm vi hoạt động hạn hẹp, và tính chuyên môn hoá chưa cao của các công ty chứng khoán là những điểm yếu khiến cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài coi việc đầu tư vào TTCK phần nào mang tính chất mạo hiểm. Bên cạnh đó, sự thiếu hoàn thiện trong thể chế thị trường cũng khiến cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài gặp phải những khó khăn trong việc ra quyết định đầu tư và phải đối mặt với những rủi ro.

    Ba là những trở ngại và hạn chế về nguồn cung ứng chứng khoán. Một hạn chế nổi bật về nguồn cung ứng chứng khoán xét từ góc độ thu hút đầu tư trong nước và nước ngoàilà số lượng hàng hoá ít ỏi và chất lượng hàng hoá chưa cao. Một TTCK với 24 cổ phiếu niêm yết của những công ty có quy mô vốn chưa phải là lớn không thể đại diện cho nền kinh tế Việt Nam để các nhà đầu tư

    33

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    nước ngoài có thể nhìn nhận và đánh giá sức khoả cũng như triển vọng của toàn bộ nền kinh tế nhằm đưa ra các quyết định đầu tư có cư sở. Tương tự, số lượng chứng khoán niêm yết quá ít ỏi trên thị trường cũng khiến cho cá nhà đầu tư trong nước chưa có nhiều sự lựa chọn để thay thế các khoản tiền gửi ngân hàng theo truyền thống của mình. Các cổ phiếu niêm yết trêb thị trường chưa thực sự là cổ phiếu của những công ty mạnh nhất để thuyết phục nhà đầu tư trong nước và nước ngoài rằng tiền bạc của họ sé sinh lời thông qua những cổ phiếu đó. Tuy nhiênm cần phải xác định nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng hàng hoá trên TTCK còn thưa thớt và chất lượng chưa cao. Có thể nhận diện một số nguyên nhân như sau: Nguyên nhân thứ nhất là sự bất cập của tiến trình cổ phần hoá. Từ năm 1992 đến nay, việc thực hiện CPH chỉ đạt 63% kế hoạch đặt rta xét về mặt số lượng các doanh nghiệp cần cổ phàn hoá; con số 6% số vốn tại doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá trong suốt thời kỳ này lại càng cho thấy những doanh nghiệp dược cổ phần hoá chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự bất cập này bắt nguồn từ những khó khăn trong định giá tài sản, xử lý nợ quá hạn, những hạn chế về năg lực và những tồn tại về mặt tư tưởng và nhận thức của những người quản lý doanh nghiệp. Nguyên nhân thứ hai là các doanh nghiệp chưa có nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc ra niêm yết tại TTCK. Chưa quen với một văn hoá kinh doanh minh bạch, các doanh nghiệp coi việc công bố thông tin và đáp ứng những chuẩn mực về kiểm toán, kế toán, quản trị công ty là một gánh nặng và không muốn ra niêm yết trên TTCK. Nguyên nhân thư ba là xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam là sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh để vay vốn hoạt động. Mặc dù đã thực hiện sự chuyển đổi cơ chế thị trường và cổ phần trong một thời gian đáng kể, song cơ chế bao cấp tín dụng, tâm lý lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng vẫn còn phổ biến khiến cho các doanh nghiệp chua thực sự có nhu cầu và nhận thức được lợi ích của việc huy động vốn trên TTCK. Sự hội tụ những yếu tố kể trên là những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hàng hoá chứng khoán niêm yết còn chua đáng kể trên thị trường.

    34

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Bốn là những trở ngại và hạn chế về cơ sở nhà đầu tư. Do bối cảnh kinh tế và xã hội, TTCK chưa có được một cơ sở nhà đầu tư hoàn thiện bao gồm các nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá nhân nhu những thị trường phát triển khác. Phần lớn các nhà đầu tư trên thị trường là nhà đầu tư nhỏ lẻ và chưa có đầy đủ kinh nghiệm cũng như kiến thức về đầu tư chứng khoán. Đây là một vấn đề có tính hia mặt. TTCK chưa hoàn thiện, thiếu các định chế có vai trò trụ cột trong kiến tạo thị trường; hệ thống văn bản pháp quy chưa đầy đủ, hàng hoá ít ỏi là một nguyên nhân khiến TTCK chưa hấp dẫn các nhà đầu tư lại khiến thị trường không có động lực phát triển cần thiết. Các nhà đầu tư nước ngoài còn dè dặt cới TTCK do chưa tiếp cận được với những thông tin doanh nghiệp cần thiết để ra quyết định đầu tư. Trong khi đó, nhà đầu tư trong nước lại gặp phải những trở ngại về mặt kiến thức và kinh nghiệm. Trong 2 năm, từ 2001-2003, đã có nhiều đợt biến động giá cổ phiếu trên TTCK theo chiều hướng xấu trong khi tình hình hoạt động của nền kinh tế và cá doanh nghiệp niêm yết vẫn đang trên đà phát triển. Nghịch lý này tồn tại chủ yếu là do nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về đầu tư tài chính nói chung và trên TTCK nói riêng. Đa số quyết định đầu tư của công chúng mang tính chất đầu cơ giá lên và tâm lý hơn là dựa trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của cá công ty niêm yết. Tuy nhiên, từ cuối năm 2003, chính các nhà đầu tư nước ngoài với nhứng quyết định đầu tư chuyên nghiệp hơn đã góp phần định hướng cho nhà đầu tư trong nước và giúp TTCK quay trở lại với nhịp độ phát triển phù hợp với quy luật thị trường. Điều này lại càng cho thấy tầm quan trọng của việc thiết lập song song cơ sở nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trong quá trình phát triển TTCK.

    Vấn đề là thế nào để thị trường chứng khoán trở thành, một kênh huy động vốn trong nước và nước ngoài một cách hiệu quả cho đầu tư, phát triển theo đúng chức năng của một TTCK là một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho chính phủ và các cơ quan lý thị trường. Một TTCK chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu có thể thu hút được các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài. Ngược lại, các nguồn vốn tiết kiệm dân cư, các luồng tiền nhàn rỗi trong nước và những nguồn vốn nước ngoài đang ngày càng gia tăng trong xu thế hội hập và trào lưu tìm

    35

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    kiếm những thị trường mới của các nhà đầu tư quốc tế chỉ có thể được phân bổ và sử dụng một cáh hiệu quả thông qua một TTCK được vận hành an toàn, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh.

    2.2 Sự tham gia của NHTM trên thị trường chứng khoán.

    2.2.1 NHTM tham gia với tư cách tổ chức cung cấp dịch vụ thông qua các công ty chứng khoán của mình

    Tại Việt Nam, việc tham gia TTCK của các định chế tài chính trung gian hiện nay còn rất khiêm tốn. Trong khi đây là những định chế gần gũi và có khả năng tiếp cận với các hoạt động CK một cách hiệu quả nhất. Hiện Việt Nam có vài chục NHTM và các định chế trung gian phi ngân hàng khác có khả năng thành lập công ty CK theo kiểu công ty con trực thuộc làm nhiệm vụ kinh doanh chứng khoán và môi giới chứng khoán, nhưng mới chỉ có chưa đầy 10 công ty chứng khoán được thành lập và tham gia làm thành viên của TTGDCK. Hơn nữa, hiện nay chúng ta chưa có công ty đầu tư Nhà nước để bình ổn thị trường thì vai trò của các công ty chứng khoán có nguồn gốc từ các định chế ngân hàng và tài chính là rất lớn. Công ty CK có thể tham gia vào hoạt động giao dich cả trên thị trường sơ cấp lẫn thứ cấp, có thể hoạt động theo mô hình đa năng hoặc chuyên doanh nhưng nói chung hiện nay, ở nước ta công ty CK hoạt động với các nghiệp vụ chính là: môi giới CK, bảo lãnh phát hành, tự kinh doanh… Kỳ vọng đối với hoạt động của các công ty chứng khoán là lớn nhưng kết quả hoạt động thực tế của các công ty chứng khoán trong bốn năm qua còn rất nhỏ bé. Nhìn chung, trong giai đoạn tăng trưởng của TTCK, các công ty chứng khoán đều kinh doanh có lãi. Song đến htời kỳ suy thoái thì ngược lại, các tài khoản khách hàng lần lượt bị đóng, cá công ty chứng khoán bị giảm cơ hội kinh doanh. Sở dĩ như vậy là vì các công ty chúng khoán mặc dầu có vốn không nhiều nhưng chỉ mới triển khai một số nghiệp vụ đơn giản không cần vốn nhiều như tư vấn, môi giới CK còn các nghiệp vụ khác như tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, v.v… là những nghiệp vụ có ý nghĩa lớn trong việc bình ổn thị

    36

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường, điều tiết quan hệ cung cầu thì các công ty chứng khoán chưa triển khai được nhiều, thậm chí các công ty chứng khoán phải đem nguồn vốn của mình gửi vào ngân hàng để hưởng lãi tiền gửi. Như vậy, việc tham gia TTCK của cá định chế trung gian tài chính thông qua các công ty chứng khoán của mình là rất quan trọng và cần thiết. Nhưng để cho các công ty chứng khoán hoạt động có hiệu quả, bước đầu các chủ sở hữu phải hỗ trợ công ty chứng khoán cảu mình không những về vốn, về cung cấp và đào tạo cán bộ mà cả việc sử dụng những dịch vụ và tiện ích sẵn có của mình phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán, đặc biệt là mạng lưới thông tin và hệ thống cá chi nhánh, nhằm mở rộng các đối tượng khách hàng và phát triển thêm nhiều loại hình dịch vụ mới. Chẳng hạn, công ty chứng khoán của Ngân hàng á Châu đã sử dụng mạng thông tin nhanh có sẵn của ACB để giúp khách hàng của mình trên khắp cả nước có thể giao dịch tức thời với sàn giao dịch tại trung tâm. Những khách hàng ở xa vẫn có thể biết được thời giá và đặt lệnh mua bán rất thuận lợi. Công ty chứng khoán ACB cũng đã giúp các khách hàng của mình mở một tài khoản đặc biệt tại Ngân hàng ACB, gọi là “ tìa khoản giao dịch CK’. Bằng tài khoản này, khách hàng vừa có thể sử dụng như một tài khoản tiền gửi thanh toán bình thường, vừa có thể sử dụng để giao dịch CK. Do đó, khách hàng chỉ cần gửi tiền tại một nơi duy nhất, nhưng có thể chủ động chi tiêu theo nhu cầu của mình, vừa có quyền đặt lệnh mua- bán CK bất kỳ lúc nào có phiên giao dịch mà không cần phải làm thủ tục ký quỹ trước.

    Đến nay, TTCK Việt Nam có 13 công ty chứng khoán được cấp phép hoạt động trong đó bao gồm 6 công ty chứng khoán thuộc NHTM: Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán ACB, công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Công thương ( cấp phép năm 2000 ), công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ( cấp phép năm 2001), Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương ( cấp phép năm 2002 ), Công ty chứng khoán Ngân hàng Đông á.

    37

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Từ khi được cấp phép hoạt động, các công ty chứng khoán không ngừng củng cố, hoàn thiện bộ máy tổ chức của mình, mở rộng địa bàn hoạt động bằng việc mở rộng đại bàn hoạt động bằng việc mở thêm chi nhánh tại Hà Nội, Tp. HCM, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh tại Hà Nội, Vũng Tàu, Hải Phòng, Đồng Nai, Cần Thơ…. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh cũng

    được cá công ty từng bước hoàn thiện qua việc mở rộng sàn giao dịch, trang bị thêm các thiết bị công bố thông tin, thiết lập trang Web riêng của công ty tạo điều kiện cho người đầu tư có thể tiếp cận được với công ty ở mọi nơi. Một số công ty chứng khoán sau một thời gian hoạt động đã xin tăng vốn để thực hiện thêm nghiệp vụ như cong ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển và công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng vốn lên 100 tỷ để gia tăng tiềm lực tài chính, có điều kiện mở rộng các loại hình kinh doanh chứng khoán.

    Về nhân lực, các công ty chứng khoán đã chú trọng tuyển chọn, những người có kinh nghiệm quản lý ở những ngành có liên quan, những người được đào tạo cơ bản ở nước ngoài về làm việc cho công ty với chính sách đãi ngộ thoả đáng. Mặt bằng trình độ chuyên môn ở các công ty chứng khoán hiện nay đều từ trình độ cử nhân trở lên, nhiều vị trí chủ chốt trong cong ty được sự đảm nhận bởi những người có học vị cao. Được sự giúp đỡ của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trong việc đào tạo nhân lực cho ngành chứng khoán, đến nay tổng số nhân viên của các công ty chứng khoán được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh là

    • người trong tổng số trên 400 người hiện đang làm việc cho các công ty chứng khoán.

    Việc tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nhân sự, đầu tư thêm cơ sở vật chất, tăng vốn đã cho phép các công ty mở rộng triển khai các nghiệp vụ của mình. Chúng ta có thể điểm qua một số nét về tình hình hoạt động của các công ty chứng khoán qua các nghiệp vụ kinh doanh của công ty

    Đến nay, nghiệp vụ môi giới vẫn là một trong các nghiệp vụ được cá công ty triển khai tích cực nhất. Nếu như ngày đầu thị trường mới đi vào hoạt động chỉ có khoảng 500 tài khoản người đầu tư mở tại các công ty chứng khoán thì

    38

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đến cuối tháng 5/ 2004 đã có 18700 tài khoản trong đó có 170 nhà đầu tư có tổ chức. Các công ty ty chứng khoán đã thực hiện khá chính xác cá lệnh giao dịch của kháchhàng. Khi có sai sót trong việc thực hiện lệnh, các công ty chứng khoán cùng hợp tác, trợ giúp nhau khắc phục. Hình thức nhận lệnh giao dịch của khách hàng cũng đã phong phú hơn trước với các hình thức như qua điện thoại, qua fã, qua Internet. Nhờ đó góp phần giúp công ty chứng khoán mở rộng đối tượng khách hàng.

    Ngoài ra, các công ty chứng khoán cũng đã thực hiện tốt các dịch vụ phụ trợ cho hoạt động môi giới như cung cấp miễn phí các báo cáo giao dịch cho nhà đầu tư, tổ chức các buổi phân tích hiễn biến tình hình thị trường cho nhà đầu tư, phối hợp các NHTM thực hiện dịch vụ cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán. Nhờ đó khách hàng có thể đưa ra cá quyết định đúng đắn, kịp thời và gia tăng khoản đầu tư của mình, công ty chứng khoán cũng gia tăng giá trị giao dịch. Chính sách phí môi giới cũng được các công ty chứng khoán áp dụng linh hoạt trên cơ sở mức trần do pháp luật quy định. Mức phí thường được ưu đãi đối với những lệnh giao dịch lớn và với khác hàng có gái trị giao dịch lớn tính trong một thời gian nhất định ( hàng tuần, hàng tháng). Mức phí môi giới hiện nay cũng là một công cụ để các công ty chứng khoán cạnh tranh nhau. Tình hình thực hiện các nghiệp vụ của các công ty chứng khoán thuộc NHTM cụ thể như sau:

    2.2.1.1 Về nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

    Tự doanh chứng khoán là nghiệp vụ kinh doanh do công ty chứng khoán thực hiện vì lợi ích của chính mình. Như vậy, khi thực hiện nghiệp vụ nay, công ty chứng khoán đóng vai trò là người đầu tư có tổ chức trên thị trường. Nghiệp vụ tụ doanh cũng được các công ty chú trọng thực hiện, nhiều công ty tăng vốn điều lệ để được thực hiện nghiệp vụ này. Tổng giá trị giao dịch và doanh thu tự doanh đã tăng mạnh qua cá năm mặc dù mức độ có khấc nhau ở từng công ty. Hiện nay sự thay đổi về kết cấu danh mục đầu tư chứng khoán tự doanh ở các công ty chứng khoán. Nếu như 2 năm đầu đi vào hoạt động cá công ty tập trung

    39

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    bào tự doanh cổ phiếu chưa niêm yết thì bắt đầu vào nửa cuối năm 2002 đến nay các công ty tập trung vào tự doanh trái phiếu và cổ phiếu niêm yết. Những công ty chứng khoán tự doanh nhiều cổ phiếu là công ty chứng khoán Đệ Nhất, công ty chứng khoán ACB. Những công ty chứng khoán tự doanh nhiều cổ phiếu là công ty chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương, Công ty chứng khoán Ngân hàng công thương, công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Gần đây, giá trị trái phiếu tự doanh tăng là do một số công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ theo hình thúc cam kết chắc chắn và thực hiện giao dịch trái phiếu theo hợp đồng có kỳ hạn. Điều này góp phần kích hoạt thị trường thứ cấp về trái phiếu điều mà hơn 2 năm trước đây không có được.

    2.2.1.2 Về nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán:

    Cả 13 công ty chúng khoá trong đó có 6 công ty của các NHTM hiện nay đều được cấp phép để thực hện nghiệp vụ này. Những ngày đầu thị trường mới đi vào hoạt động, các công ty chúng khoán cũng là những chủ thể góp phần tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và TTCK cho công chúng đầu tư. Đến nay, ngoài việc tư vấn đầu tư trực tiếp cho khác hàng, cung cấp miễn phí các báo cáo giao dịch định kỳ có phân tích, khuyến cáo, giúp cho người đầu tư nhìn nhận diễn biến thị trường, lựa chọn chứng khoán đầu tư dưới con mắt của người đầu tư chuyên nghiệp, công ty chứng khoán đã mở rộng hình thức tư vấn có tính chất lượng chuêyn môn sâu hơn như tư vấn phát hành cho một số công ty niêm yết trên TTGDCK có ý định phát hành thêm, tư vấn tái cấu trúc tái chính, tư vấn dự án cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.

    Đặc biệt trong thời gian qua, các công ty chứng khoán đã tích cực tham gia mạnh mẽ vào tiến trình cổ phần hoá bằng việc tư vấn cổ phần hoá, định giá doanh nghiệp, tổ chức bán đấu giá cổ phần cho công ty cổ phần. Trong đó, đặc biệt có hợp đồng lớn như hợp đồng tư vấn cổ phần hoá Tổng công ty (TCty) Saigontourist, tổ chức đấu giá cho Công ty bảo hiểm Bảo Minh, TCty Sữa Việt Nam (Vinamilk). Có thể nói đây là nghiệp vụ có tính chuyển biến rõ rệt nhất

    40

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trong số các nghiệp vụ mà các công ty chứng khoán đã thực hiện. Ngoài ra, cùng với số lượng công ty được niêm yết trên TTGDCK tăng lên cũng là từng đó số công ty cổ phần được công ty chứng khoán tư vấn niêm yết thành công. Về hoạt động tư vấn phát hành và tư vấn niêm yết, ngoài việc phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của công ty chứng khoán, còn phụ thuộc rất lứon vào tình hình giao dịch trên thị trường chính thức. Trong giai đoạn thị trường đi xuống ( từ cuôi năm 2001 đến hết quý III/2003), việc tư vấn niêm yết và tư vấn phát hànhlà đặc biệt khó khăn, nhiều hợp đồng đã được ký kết nhưng vẫn trong giai đoạn triển khai do thị trường chưa thuận lợi mặc dù vẫn được các công ty chứng khoán duy trì. Vì thế, số lượng công ty cổ phần được công ty chứng khoán tư vấn niem yết thành công đều qua các năm như năm 2002 có thêm 11 công ty niêm yết, năm 2003 có thêm 2 công ty niêm yết và 5 tháng đầu năm 2004 có thêm 3 công ty niêm yết.

    Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong việc thực hiện nghiệp vụ nay, đó là: nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán đã xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh khi tham gia đấu thầu các hợp đồng tư vấn, đặc biệt là giữa các công ty chứng khoán trên cùng đại bàn. Trong việc tư vấn phát hành, tư vấn niêm yết, các công ty chứng khoán mới chỉ thể hiện vai trò qua việc chuẩn bị hồ sơ xin niêm yết nhưng kể cả việc làm này vẫn chưa được tốt. Vai trò tư vấn sau niêm yết chưa được thể hiện, bằng chứng là đa phần các công ty niêm yết chưa thực hiện tốt quy định về công nố thông tin và một số công ty niêm yết còn lúng túng trong việc xử lý tình huống bất lợi phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh.

    2.2.1.3 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:

    Đây thực chất là hoạt động quản lý vốn cho khách, vì quyền lợi củakhách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết. Trong những năm đầu, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư đều chưa triển khai tại hầu hết các công ty chứng khoán được cấp phép nghiệp vụ này. Trong Quý I/2003 không có công ty chứng khoán nào có doanh thu từ hoạt động quản lý danh mục đầu tư. Các công ty vẫn tiếp tục thục

    41

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hiện các hợp đồng đã ký kết nhưng gặp rất nhiều khó khăn do tình hình thị trường diễn biến không thuận lợi. Đến nay đã có 12 công ty chứng khoán được cấp giấy phép hoạt dộng nghiệp vụ này và trong đó mới có công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và phát triển thuộc hệ thống NHTM đã triển khai nghiệp vụ này. Tuy nhiên, sang năm 2004, đã có dấu hiệu nghiệp vụ này được tăng cường hoạt động, đã có thêm công ty chứng khoán ACB, công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát tiển nông thôn bắt đầu có xu hướng triển khai nghiệp vụ này với các hợp đồng có giá trị lớn hàng trăm, hàng chục tỷ đồng. Hiện tại, công ty chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển vẫn chưa ký kết được một hợp đồng quản lý danh mục quản lý danh mục dầu tư nào. Nhưng công ty cũng mạnh dạn thí điểm các hình thức ban đầu của hoạt động quản lý dnah mục đầu tư như: hợp đồng uỷ thác giao dịch, hợp đồng bán hộ trái phiếu niêm yết,…

    Tuy nhiên , theo đánh giá một cách khách quan và tổng thể, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư vân tiếp tục dậm chân tại chỗ, doanh số giao dịch của nghiệp vụ này không cao, còn dè dặt, mang tính tập dượt. Điều này một phần là do xu hướng của người đầu tư trong giai đoạn đầu thường thích tự đầu tư hơn là uỷ thác cho người khác quản lý, đầu tư hộ mình. Thêm vào nữa, đây là nghiệp vụ đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao trong khi khả năg đáp ứng của công ty chứng khoán trong giai đoạn này còn rất khiêm tốn. Ngoài ra, do hàng hoá trên tị trường chưa nhiêu, số lượng cổ phiếu thực được giao dịch thấp hơn nhiều so với số lượng chứng khoán phát hành do tỷ lệ cổ phần của Nhà nước ở các doanh nghiệp này còn lứon, chưa đa dạng nên không có diều kiện triển khai.

    2.2.1.4 Về nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán

    Ngiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của NHTM là việc NHTM tiến hành nhứng hoạt động cần thiết nhằm giúp cho tổ chức phát hành thực hiện thành công việc chào bán cổ phiếu ra công chúng. Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, bảo lãnh phát hành chứng khoán được coi là một nghiệp vụ quan tọng và là một trong số 5 nghiệp vụ được cấo giấy phép cho hoạt động của các công ty chứng khoan thuộc NHTM. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng

    42

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    khoán trong đó quan trọng nhất là mang lại tính chuyên nghiệp cho thị trường. Tuy nhiên, hiện nay nghiệp vụ này mới chỉ được các công ty chứng khoán tiếp cận bước đầu. Theo quy định hiện hành và qua thực tế của TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh, thì boả lãnh phát hành chứng khoán ở nước ta hiện nay được chia làm hai loại: Bảo lãnh phát hành trái phiếu, hiện có trái phiếu chính phủ, trái phiếu Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và vừa rồi là trái phiếu đô thị TP.HCM; và bảo lãnh phát hành cổ phiếu của các công ty cổ phần ra công chúng. Hiện tại, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chỉ quản lý việc phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu và trái phiếu trên TTGDCK, còn việc phát hành trái phiếu chính phủ thì thực hiện theo các qy định của Bộ Tài chính, tức là hầu như Bộ này quản lý việc phát hành trái phiếu chính phủ. Thực tê thì các NHTM mới chỉ triển khai hoạt động nhiều tỏng việc bảo lãnh trái phiếu chính phủ có độ rui ro rất thấp, còn việc triển khai các nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cổ phiếu của các công ty cổ phần thì còn rất nhiêu hạn chế.Trong năm 2001, chỉ có công ty IBS có doanh thu từ nghiệp vụ này. trong năm 2002, chưa có công ty nào thực hiện được bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Công ty VCBS thực hiện việc bảo lãnh 6 đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ (qua Quỹ Hỗ Trợ Phát triển). Một số công ty chứng khoán khác như ASC, ACBS và VCBS đã làm đại lý phát hành kỳ phiếu của một số tổ chức tín dụng như Ngân hàng Phát triển nhà Đồng Bằng sông Cửu Long, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam hoặc đại lý phát hành cổ phiếu Công ty cổ phần Bảo Hiểm Nhà Rồng. Đến 31/3/2003 có một số công ty chứng khoán có doanh thu tư hoạt dộng bảo lãnh phát hành chứng khoán, hoạt động này tập trung ở một số công ty chứng khoán như: BVSC, VCBS, ARSC. Ngoài ra, các công ty còn ký tiếp các hợp đồng bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Quỹ hỗ trợ phát triển Việt Nam.

    Nguyên nhân khiến việc bảo lãnh cổ phiếu của các công ty cổ phần còn hạn chế bên cạnh những lý do từ phía thị trường và các công ty cổ phần, thi còn xuất phát tù những hạn chế của những công ty chứng khoán của các NHTM. Các công ty chứng khoán hiện nay yếu cả về tiềm lực vốn và nghiệp vụ chuyên môn

    43

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    để có thể đảm đương được vai trò của đơn vị bảo lãnh phát hành. Với mức vốn đáp ứng ở mức yêu cầu tối thiểu khi đăng ký như hiện nay, các công ty chứng khoán chỉ dám tham gia với vai trò làm đại lý phân phối cho tổ chức phát hành. Có thể nói nghiệp vụ này cũng chỉ được áp dụng tại một số NHTM có quy mô lớn, chủ yếu là các NHTMNN. Các NHTM cổ phần chưa mạnh dạn áp dụng nghiệp vụ này. Tuy nhiên, đối với những đợt phát hành có giá trị vài chục tỷ đồng thì bản thân các công ty chứng khoán này cũng sẽ gặp khó khăn về vốn nhất là trong diều kiện các công ty chứng khoán chưa có thói quen liên kết thành tổ hợp bảo lãnh phát hành. Đội ngũ cán bộ của các công ty chứng khoán hiện nay còn có nhuẽng hạn chế khi triển khai nghiệp vụ bảo lãnh phát hành. Hầu hết các cán bộ hoạt động tỏng các công ty chứng khoán là những cán bộ trẻ được đào tạo bài bản nhưng còn thiếu kinh nghiệm thực tế. Trong khi đó, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành đòi hỏi những cán bộ không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn phải có nững kinh nghiêm về ngành hay lĩnh vực hoạt động của tôt chức phát hành. Kinh nghiệm từ các thị trường khác cho thấy, tổ chức bảo lãnh phát hành thường phải tổ chức thành những nhóm hay có những cá nhân chuyên trách thực hiện nghiên cưu, phân tích và thường xuyên công bố các nghiên cứu của mình theo từng laọi cổ phiếu mà đơn vị tham gia bảo lãnh phát hành. Công việc này tốn kém nhưng cần thiết để hướng dẫn đầu tư cho thị trường. Đối với TTCK Việt Nam, các công ty chứng khoán hầu như chưa tổ chức thực hiện được công việc này. Có rất ít những nghiên cứu hay bài phân tích được công bố một cách có hệ thống nhằm thu hút nhà đầu tư mua cổ phiếu được đơn vị đó bảo lãnh phát hành. Đó chính là những thực tế đáng quan tâm đối với các NHTM để đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán.

    2.2.1.5. Hoạt động lưu ký chứng khoán

    Hoạt động lưu ký chứng khoán la hoạt động mà các công ty chứng khoán đặc biệt là các công ty thuộc các NHTM rất quan tâm. Nhìn chung, các thanh viên luôn tìm cách thu hút số khách hàng vào lưu ký tại công ty mình ngày càng nhiều, song do ngày càng nhiều các thanh viên được cấp phép hoạt động lưu ký

    44

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    nên đã diên ra sự cạnh tranh giữa các thanh viên. Tuy vậy, cũng có thành viên mới được cấp phép hoạt động đã khẳng định vị thế của mình trên thị trường như Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), đã chiếm được 5,09% thị phần, trong khi đó có một số thành viên khác mặc dù có thời gian hoạt động từ khi thị trường thành lập nhưng vẫn chỉ đạt được mức khiêm tốn như công ty CK Đệ hất và công ty CK Thăng Long.

    Tính đến 31/12/2004 số thành viên lưu ký chứng khoán là 18 tổ chức trong đó có: 13 Công ty chứng khoán (6 công ty chứng khoán thuộc các NHTM); 02 Ngân hàng thương mại trong nước; 03 chi nhánh ngân hàng nước ngoìa; số nhân viên nghiệp vụ lưu ký là 115 nhân viên.

    Tính đến cuối năm 2004 đã có 26 loại cổ phiếu, 207 loại trái phiếu, o1 loại chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết tại TTGDCK T.p Hồ Chí Minh. Là trên 234 triệu trái phiếu ( chiếm trên 98% tổng số trái phiếu phát hành) và trên 123 triẹu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư ( chiếm trên 75% tổng số cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đang lưu hành). Đối vơi nghiệp vụ này, có thể nói các NHTM đã tham gia rất tích cực sử dụng nhứng kỹ thuật vốn có và những kinh nghiệm quý báu của mình trên lĩnh vực hoạt động chủ yếu của mình là tín dụng để đẩy mạnh hơn nũa nghiệp vụ này, hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển thuận lợi của thị trường. Trong năm 2004, các công ty chứng khoán của NHTM trên 12 công ty triển khai nghiệp vụ cầm cố chứng khoán cho khách hàng. Tổng số phiếu cấm cố / tổng số cổ phiếu niêm yết là cổ phiếu chiếm 0,45%. Tỷ lệ cầm cố trái phiếu/ tổng số trái phiếu niêm yết đạt là trái phiếu chiếm 3,12%. Tỷ lệ cầm cố trái chứng chỉ quỹ đạt xấp xỉ 4%. Việc giải toả chứng khoán do mất khả năng thanh toán.

    2.2.1.6 Hoạt động thanh toán bù trừ qua Ngân hàng chỉ định thanh toán

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được UBCK lựa chọn làm Ngân hàng chỉ định thanh toán. Hoạt động thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán của Ngân hàng chỉ định thanh toán cho đến nay được thực hiện tốt, không có hiện tượng vi phạm nguyên tắc thanh toán. Doanh số thanh toán bù trừ

    45

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    tiền/chứng khoán tăng liên tục qua các năm. Năm 2000, doanh số thanh toán bù trư tiền/ chứng khoán đạt gần 39 tỷ đồng, năm 2001 là 396 tỷ đồng, năm 2002 là

    • tỷ đồng, năm 2003 đạt 839 tỷ đồng và năm 2004 doanh số thanh toán bù trừ tiền/ chứng khoán đạt gần 32.382 tỷ đồng.

    Hoạt động thanh toán các giao dịch chứng khoán được thực hiện đúng quy định kịp thời dảm bảo hời gian thanh toán chứng khoán, góp phần tăng tính thanh khoản của các chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán tập trung, Ngân hàng chỉ định than toán đã mở rộng cung cấp dịch vụ như dịch vụ cho vay tiền thực hiện các giao dịch chứng khoán, ứng trước tiền thanh toán giao dịch chứngkhoán cho khách hàng… Tính đến cuối năm 2004 số tiền cho vay ứng trước cho thanh toán giao dịch chứng khoán của Ngân hàng đạt gầ 300 tỷ đồng.

    Một đặc điểm dễ nhận thấy hệ thống bù trừ thanh toán ở Việt Nam hoạt động theo 2 cấp, TTGDCK chỉ mở tài khoản cho thanh viên lưu ký, quan rlý và thực hiện lưu ký, bù trừ thanh toán theo thanh viên lưu ký, còn các thành viên lưu ký quản lý và cung cấp dịch vụ lưu ký, bù trừ và thanh toán chi tiêt ho các nhà đàu tư. Trong hoạt động thanh toán, việc chyển giao chứng khoán diễn ra tại TTGDCK, còn thanh toán tièn do ngân hàng chỉ định thanh toán do ngân hàng chỉ định thanh toán thực hiện dực trên kết quả bù trừ của TTGDCK. Hệ thống thanh toán bù TTCKừ chứng khoán có những hạ hcế như sau: thứ nhất, đó là chưa đạt tính đồng bộ và hoàn thiện về mặt pháp lý, và chưa tạo dựng được các yếu tố thị trường đồng bộ. Thứ hai, là thiéu một cơ chế quản lý việc in ấn và lưu ký chứng khoán thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thứ ba là các biện pháp khắc phục lỗi giao dịch chưa chủ động và hiệu quả. Thứ ba là năng lực của hệ thống phần mềm phục vụ cho các hoạt động bù trừ thanh toán chứng khoán chưa cao. Thưa tư, khả năng khắc phục rủi ro thanh toán của quỹ hỗ trợ thanh toán chưa cao. Và cuối cùng là các biện pháp phòng ngừa và khắc phục rủi ro chưa hoàn hảo. Đó là những mặt được và hạn chế của hệ thống ngân hàng trong hoạt động thanh toán bù trừ chứng khoán.

    46

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    2.2.2. Sự tham gia vào TTCK của các NHTM với tư cách là chủ thể phát hành chứng khoán.

    2.2.2.1 Tình hình hoạt động của các NHTM cổ phần.

    NHTM cổ phần là loại hình tổ chức tín dụng được hình thành từ trước khi có Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính . Sau khi điều chỉnh theo các Pháp lệnh trên ở nước ta, có 53 NHTM cổ phần, trong đó có 32 NHTM cổ phần đo thị và 20 NHTM cổ phần nông thônm được phân bố ở các thành phố lớn và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là những vùng có nên kinh tế hàng hoá tương đối phát triển. Đến ngày 31/12/2002, sau hơn 3 năm thực hiện Đề án chấn chỉnh, củng cố sắp xếp lại các NHTM cổ phần,còn 24 NHTM cổ phần đô thị và 15 NHTM cổ phần nông thôn.

    Với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, NHTM cổ phần có thể phát hành cổ phiếu lần đầu để thành lập ngân hàng hoặc phát hành các lần tiếp theo để tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên do cá NHTM cổ phần chưa thực sự lớn mạnh, số lượng vốn huy động còn nhỏ nên hiện nay, các n cổ phần Việt Nam mới chỉ thực hiện phương thực hiện phát hành riêng lẻ, nghĩa là huy động vốn cổ phần dưới hình thức kêu gọi các cổ đông hoặc nhóm cổ đông quen biết lẫn nhau cùng góp vốn. Chưa có ngân hàng nào phát hành, niêm yết giao dịch cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các ngân hàng này mới chỉ có duy nhất loại cổ phiếu phổ thông có ghi tên, mỗi ngân hàng páht hành với một mệnh giá khác nhau: nếu ngân hàng có các cổ đông với tiềm lực vốn lớn thì mệnh giá thường cao ( 5 triệu đến 10 triệu đồng/ 1 cổ phiếu), những ngân hàng có cổ đông đại chúng thì mệnh giá thấp ( ngoài NHTM cổ phần Sài Gòn thương tín phát hành mệnh giá 0,2 triệu đồng/ 1 cổ phiếu, đa số các ngân hàng pháthành với mệnh giá 1 triệu đồng / cổ phiếu). Tính đến 31/12/2002/, toàn hệ thống NHTM cổ phần huy động được trên 2.200 nghìn tỷ đồng vốn điều lệ, nếu tính tho mệnh giá 10.000đ/1cổ phiếu thì hiện nay, các nnn này năm giữ trên 200 nghìn tỷ cổ phiếu. Việc các NHTM cổ phần được phát hành cổ phiếu ra công chúng, được niêm yết và giao dịch cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ giúo

    47

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    các ngân hàng có cơ hội nâng quy mô về vốn, gia tăng một khối lượng hàng hoá đáng kể cho thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, để thực hiện được thực hiện điều này, không phải điều dễ dàng đặc biệt là những trở ngại về cơ sở pháp lý. Thủ tướng Chính phủ đã có Ưuyết định số 172/1999/QĐ- TTg bgày 19/8/1999 “V/v các tổ chức tín dụng thành lập Công ty chứng khoán và tham gia niêm yết chứng khoán”. Theo đó, về chủ trương, các NHTM cổ phần được phát hành và niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, chủ trương chưa được triển khai trong thực tiễn, do Ngân hàng Nhà nước chưa có hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của các NHTM cổ phần, thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường vào tạo cơ sở pháp lý cần thiết để Ngân hàng Nhà nước xem xét, chấp nhận cho một số NHTM cổ phần đã có hơn và hồ sơ xin niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành văn bản quy đinhk về việc cho phép các NHTM cổ phần được tham gia niêm yết, giao dịch và phát triển cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành văn bản quy định về việc cho phép các NHTM cổ phần được tham gia niêm yết, giao dịch và phát hành cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán.

    2.2.2.2 Vấn đề cổ phần hoá NHTMNN.

    Trong chỉ thị 11/2004/Ct-TTg để đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới DNNN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 9 và tổ chức triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp nhà nước, Thủ tướng chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ tài chính và cá cơ quan cos liên quan xyâ dứng đề án CPH Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cưu Long, trình Thủ tướng Chính phủ xem xet quyết định trước ngày 30/6/2004. Cho đến nay, Đề án CPH VCB đã được xây dựng và trình thông đốc Ngân hàng Nhà nước. Trả lời báo chí, thông đốc Ngân hàng Việt Nam Lê Đức Thuý cho hay, tiến trình CPH VCB sẽ chậm hơn dự kiến khoảng 15 tháng. Trên cơ sở thực hiện Đề án CPH VCB sẽ rút kinh nghiệm để CPH Ngân hàng Đồng bằng sông Cửu Long và tiến toiư CPH cac NHTM nhà nước khác.

    48

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Trong bối cảnh hiện nay, chủ trương CPH cá NHTM nhà nước có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với ngành ngân hàng , mà còn tác động tích cực đến cá doanh nghiệp là khách hàng truyền thống của hệ thống ngân hàng này và có thể tạo “ đòn bẩy kép” cho sự phát triển của TTCK. Trên thực tế, các NHTM đều đang có nhu cầu về vốn cấp bách phải nâng cao năng lực về vốn, về quản trị điều hành và hiệu quả kinh doanh để có thể đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tê. Trong khi nguôn lực của Nhà nước có hạn, việc CPH NHTM nhà nước la fdiều tất yếu và sẽ mang lại lợi ích nhiều mặt đối với Nhà nước, xã hội và bản thân ngân hàng. CPH NHTM nhà nước , nếu được thực hiện thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng, chính là tạo điều kiện cho công chúng đầu tư được cùng Nhà nước tham gia trực tiếp vào việc kiểm soát ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ chế sở hữu cổ phiếu của cán bộ nhân viên Ngân hàng được xác lập thông qua CPH là nguồn động lực mạnh mẽ tạo nên đội ngũ nhân viên năng động và tích cực cho ngân hàng, đồng thời góp phần tăng cường công tác kiểm soát nội bộ. Là những doanh nghiệp có uy tín, ngân hàng thực hiện CPH thường gắn liền với việc niêm yết cổ phiếu trên TTCK có tổ chức. Sự tham gia của ngan hàng vào TTCK không những làm tăng uy tín, hình ảnh của ngân hàng, mà còn làm tăng giá trị và tính thanh khoản cho cổ phiếu của ngân hàng; từ đó mở ra khả năng huy động những nguồn vốn lớn một cách thường xuyên và chủ động để đáp ứng yêu cầu phát triển của từng giai đoạn. Như vậy, CPH NHTM nhà nước không những thúc đẩy quá trình xã hội hoá đầu tư, tạo điều kiện cho những ngân hàng này tăng, giảm vốn một cách linh hoạt cùng với quy mô hoạt động mà còn tăng cường tính đại chúng của ngân hàng và sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của ngân hàng. Khi đó, ngân hàng không thể cho vay dễ dãi và không chờ Nhà nước khoanh nợ, xoá nợ cho cá khoản tín dụng xấu. Các doanh nghiệp khách hàng của ngân hàng do đó cũng sẽ phải tìm kiếm các nguồn vốn khác trên thị trường để bổ sung cho tín dụng ngân hàng, nhất là nguồn vố trùn và dài hạn. Vì những lợi ích to lớn đó, CPH hay đại chúng hoá chính là con đường phát triển của nhiều tập đoàn, công ty lớn trên thế giới trong đó có ngân hàng.

    49

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động của NHTM trên thị trường chứng khoán.

    Một điều dễ nhận thấy là vai trò của NHTM đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán là còn rất hạn chế, các NHTM chưa thực sự vào cuộc, cùng bắt tay sẻ chia những khó khăn voiư sthị trường chứng khoán nhằm đưa TTCK phát triển. Các hoạt động của NHTM vẫn còn mang tính chất tham dò và tiến hành cá nghiệp vụ ít rủi ro, và không đòi hỏi vốn lớn. Nguyên nhân của những hạn chế này chủ yếu không phải là các NHTM không thấy được tiêm năng to lớn của TTCK và vai trò của mình trên TTCK mà đó xuất phát từ những hạn chế, yếu kém về năng lực và nguồn lực bên trong của các NHTM Việt Nam.

    Thứ nhất, về năng lực tài chính của các NHTM. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “ sau 15 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn ở giai đoạn phát triển ban đầu, năng lực tài chính của nhiều NHTM Việt Nam còn yếu, nợ quá hạn cao, nhiều rủi ro.”Tuy chiếm gần 80% thị phần tín dụng nhưng vốn tự có của cá NHTM nhà nước thấp và chưa tương xứng với thị phần. Vốn tự có của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chỉ chiếm 4,1% trong tổng nguồn vốn; Ngân hàng Công thương là 2,9%. Tỷ lệ này là quá thấp so với chuẩn mực quốc tế 8%. Tính đến tháng 3/2003, NHTM nhà nước có vốn điều lệ lớn nhất là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Viêt Nam với số vốn là 4.320tỷ đồng, tương đương với 280 triệu úD. Mức vốn này chỉ ngang với tổng vốn đầu tư của một dự án lớn của một doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, chứ chưa nói đến việc so sánh với vốn điều lệ hàng tỷ, hàng chục tỷ của cá ngân hàng nước ngoài. Trong khi đó, vốn tự có đóng vai trò quan trọng đói với hoạt động của một ngân hàng, vừa là nguồn lực đảm bảo sức mạnh tài chính vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng. Nếu không tăng được vốn ở mức cần thiết thì khó có thể nói đến việc tài trợ hiệu quả cho những dự án lớn, khách hàng lớn. Đồng thời, khi không có nguồn lực thì khó có thể đầu tư cho công nghệ hiện đại, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, không có khả năng đầu tư tài chính, vươn ra cạnh tranh trên các thị trường tài chính khu vực và thế giới. Để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về vốn, đến năm 2010, các

    50

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    NHTM nhà nứoc cần bổ sung khoảng 117.000 tỷ đồng. Nguồn vốn nói trên namư ngoài khả năng cân đối của ngân sách nhà nước.

    Thứ hai, về công nghệ ngân hàng, tuy vấn đề hiện đại hoá công nghệ ngân hàng đã được quan tâm và đầu tư song chủ yếu cũng mới ở giai đoạn thử nghiệm và cũng mới được thực hiện ở một số ngân hàng lớn, thuộc khu vực đô thị. Còn lại phần lớn hệ thống ngân hàng có trình độ cơ giới thấp, công nghệ lạc hậu, mạng lưới chi nhánh rộng nhưng hoạt động kém hiệu quả. Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần lớn các ngân hàng thương mại mà đặc biệt là các Ngân hàng thương mại Nhà nước đều thua kém các ngân hàng trong khu vực. Đó là một trở ngại, một vấn đề lớn cần quan tâm của hệ thông ngân hàng Việt Nam hiện nay.

    Thứ ba, Về năng lực quản trị của các NHTM mà dặc biệt là các ngân hàng thương mại Nhà nước là rất thấp. Hiện nay, “đội ngũ lao động của các NHTM Việt Nam tương đối đông về số lượng nhưng trình độ chuyên môn thấp, nhất là cán bộ quản lý”. Năng lực quản trị của các NHTM không thể cải thiện được một khi cung cách hoạt động của ngân hàng vẫn mang nặng tính bao cấp, trông chờ bảo hộ, khoanh nợ, xoá nợ của Nhà nước. Năng lực của nhân viên ngân hàng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hôi nhập, đáp ứng được xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay. Đó là một hiện tượng đáng báo nói đến hiện nói. Nói riêng về các công ty chứng khoán hiện nay, nhân viên của họ được đào tạo tương đối bàn bản và quy củ nhưng họ thiếu nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh chứng khoán , vốn là một lĩnh vực hết sức khó khăn và phức tạp. Vì vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các NHTM còn dè dặt khi tham gia vào TTCk và chưa thực sự trở thành cầu nối giữa những tổ chức phát hành chứng khoán và những nhà đầu tư.

    Chương 3:

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NNTM ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    51

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    3.1 Mục tiêu chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

    Quan điểm chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam là đi từ quy mô nhỏ đến lớn, theo định hướng XHCN, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng thị trường hoạt động ổn định, an toàn, hiệu quả, bảo vệ người đầu tư, và có thể linh hoạt thích ứng thực tế, đồng thời tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với thị trường.

    Mục tiêu tổng quát của chiến lược là “củng cố, ổn định và nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường, từng bước mở rộng phạm vi, quy mô htij trường; tăng cường hiệu quả quản lý giám sát thị trường, bảo vệ người đầu tư. Góp phần phát triển thj trường tài chính Việt Nam, đảm bảo ổn định và an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia; nâng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế. Tạo ra một môi trường nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá và huy động nguồn vốn cho đầu tư pahs triển

    Mục tiêu giai đoạn 2003- 2005 là củng cố TTCK và hoàn thiện xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản cho thị trường, từng bước phát triển quy mô, phạm vi hoạt động TTCK. Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là: hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động TTCK; tăng cung hàng hoá; hoàn thiện cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật của thị trường; xây dựng và phát triển các định chế hoạt động trên thị trường.

    Mục tiêu gia đoạn 2006- 2010 là tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịc vụ của TTCK. Nhiệm vụ chủ yếu là mở rộng và tăng cường năng lực của thị trường, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ; khuyến khích, tăng cường khả năng cạnh tranh; thúc đẩy hội nhập quốc tế

    Đó là những mục tiêu chính trong chiến lược phát triển ngành chứng khoán. Dựa vào đó ta có thể đưa ra những giải pháp phù hợp để phát triển thị trường mà ở trong phần nghiên cứu này em chỉ dám đua ra một vài những ý kiến nhằm phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.

    3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của NNTM trên TTCK

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Để phát triển TTCk hiện nay, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giã hoạt động của các trung gian tài chính với sự điều tiết nhanh nhạy của cá nhà uản lý thị trường, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước về luật pháp, chính sách và cũng không loại trừ cả những giải pháp mạnh ở tầm vĩ mô lúc cần thiết. Trong tình hình hiện nay, ở Việt Nam nếu không có sự kết hợp đồng các tổ chức nói trên thì khó có thể phát huy được hết vai trò của các NNTM cũng như sự phát triển hon nữa của thị trường.

    3.2.1 Đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý thị trường

    3.2.1.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK Việt Nam và công tác pháp chế của UBCKNN

    Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK hiện nay với văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Nghị Định số 144/2003/NDD-CP tuy đã khắc phục được nhiều mặt hạn chế, thiếu sót của Nghị định số 48/1998/NDD-CP nhưng do là văn bản dưới luật nên tính pháp lý của hệ thông pháp luật về chứng khoán và TTCK chua cao, chưa đồng bộ, không thể giải quyết được một cách triệt những mâu thuẫn xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan, chưa tạo được môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định để điều chỉnh mọi hoạt động trên TTCK phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay và phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển TTCK Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và TTCK Việt Nam hiện nay là chính là xây dựng Luật Chứng khoán. Đây cũng là chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK. Luật Chứng khoán với những ưu thế rất lớn sẽ tạo ra một môi trường pháp luý ổn định, vững chắc, bảo vệ quyền, lợi ích của cá chủ thể tham gia thị trường. Góp phần xây dựng và phát triển TTCK Việt nam trở thành một kênh huy động vốn quan trọng và thiết yếu đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Hoàn thiện khung pháp lý TTCK Việt nam là một trong những giải pháp nhằm bình ổn và phát triển TTCK, mở rộng phạm vi, quy mô của thị trường, đảm bảo

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    xây dựng một TTCK hoạt động có tổ chức, an toàn, hệu quả, được quản lý một cách chặt chẽ. Qua đó cũng tạo điều kiên thuận lợi, khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia của các NHTM trên TTCK.

    3.2.1.2 Hiện đại hoá các hệ thống và nâng cấp hoạt động của TTCK

    Hoàn thiện hệ thống giao dịch theo hướng đảm bảo sự kết hợp giữa các điều kiện sẵn có của môi trường kinh tế với nhu cầu của các đối tượng tiềm năng tham gia TTCK, trong đó tập trung vào các yêu tố như: Tính ổn định của thị trường; tính đơn giản; tính thích nghi; tính bảo mật. Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống gaio dịch của TTGDCK được xây dựng từ các nguồn cung cấp khác nhau nhưng bước đầu đã đáp ứng được các nhu câu giao dich chứng khoán trên thị trường. Tuy nhiên, hệ thống giao dịch hiện tại sẽ khó có thể đáp ứng được yêu cầu cho giao dịch sắp tới, đòi hỏi chúng ta cần phải thiết kế, xây dựng hệ thống mang tính đồng bộ, có công suất lớn và đảm bảo được sự tương thích giữa các hệ thống và có tính mở để có thể nâng cấp và khả năng kết nối với các hệ thống khác từ công ty chứng khoán, trung tâm lưu ký, trung tâm thanh toán ……,

    từng bước cho phép ứng dụng các giao dịch trực tuyến trên TTCk, tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc tiếp cận các phòng giao dịch thông qua mạng Internet; Mobile phne; fax; telex v.v..Cần pahir đưa hẹ thống giao dịch tự đọng mới vào vận hành, có thể khớp lệnh liên tục hoặc định kỳ. Kết nối mạng diện rộng với các công ty chứng khoán thành viên, áp dụng hệ thống ngừng giao dịch tự động khi đưa hệ thống khớp lệnh liên tục vào hoạt động.

    Hiện đại hoá hệ thống giám sát thị trường, xây dựng hệ thống giám sát tự động kết nối với các hệ thống giao dịch, công bố thông tin, lưu ký, thanh toán

    Nâng cấp hệ thống công bố thông tin, đảm bảo có một hệ thống công bố thông tin có thể truyền phát rộng và truy cập dễ dàng cho các đối tượng tham gia thị trường, đặc biệt là các nhà đầu tư. Mở rộng phạm vi thông tin cần công bố trên cơ sở xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin đầy dủ bao gồm thông tin giao dịch

    54

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trên thị trường, thông tin về các công ty niêm yết, thông tin về các tổ chức trung gian thị trường và thông tin quản lý thị trường.

    Tự động hoá một bước hệ thống lưu ký, và thanh toán bù trư chứng khoán. Thực hiện dịch vụ lưu ký cho các chứng khoán chưa niêm yết.; giảm thời gian thanh toán; tự đọng hoá tứng bước hệ thống lưu ký, thanh toán bù trừ; thực hiện nối mạng giữa các thanh fvieen lưu ký và TTGDCK

    3.2.1.3 Hoàn thiện thể chế TTCk va tăng cường năng lực cho các định chế trung gian khác

    Để đảm bảo một môi trường đầu tư ổn định, giảm thiểu rủi ro thị trường, hấp dẫn nhà đầu tư trong và ngoài nước, thể chế TTCK cần được hoàn thiện thông qua một số các hoạt động sau đây: Củng cố và hiện đại hoá các định chế thị trường thị trường đã có như các TTGDCK, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.Bên cạnh đó, cũng cần phải phát triển và hoàn thiện hơn nữa những thể chế khác cho TTCk. Các quỹ đầu tư chứng khoán với quy mô ài chính lớn và kỹ năng chuyên nghiệp cân được khuyến khích hoạt động mạnh mẽ hơn nhằm chuyên môn hoá hoạt động đầu tư chứng khoán và tạo đinh hướng cho nhà đầu tư nhỏ lẻ. Việc phát triển các định chế quỹ đầu tư chứng khoán sẽ tạo ra một đội ngũ các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp định hướng đầu tư cho thị trường.

    Bên cạnh đó các định chế mang tính chất thiết yếu trong cấu trúc thị trường như tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký, ddanwg ký và thanh toán bù trừ chứng khoán độc lập cần được xây dưng và sớm đi vào hoạt động. Việc thành lập cá tổ chức tín nhiệm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu cũng như tổ chức tốt một thị trường trái phiếu thứ cấp. Có thể thành lập một tổ chức định mức tín nhiệm dưới hình thức một công ty cổ phần với sự tham gia của các định chế ngân hàng, tài chính và có sự tham gia quản lý của Nhà nước. Hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm Việt Nam cần phải đáp ứng được các tiêu chí xếp hạng và nguyên tắc hoạt động cơ bản của một tổ chức định mức tín nhiệm trên thế giới, nhưng cần phải phù hợp với bối cảnh hiện tại ở Việt Nam.

    55

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Ngoài ra vai trò của những tổ chức tự quản như Hiệp hôi ngành chứng khoán và Hiệp hôi các nhà đầu tư tài chính cần được phát huy để có thể thực hện được các chức năng tự quản đối với các thanh viên tham gia thị trường, giảm nhẹ gánh nặng quản lý cho cơ quan quản lý nhà nước, và tăng cường hiệu quả quản lý thị trường thông qua cơ chế kiểm tra và điều chỉnh.

    3.2.2 Các giải pháp đối với các NHTM

    3.2.2.1 Nâng cao vai trò cầu nối của các Cty chứng khoán của các NHTM

    Hiện nay, các hoạt động của NHTM tham gia vào TTCk mới chỉ chủ yếu là thông qua các công ty chứng khoán giông như nhiều các công ty chứng khoán khấc không thuộc ngân hang. Như vây, các NHTM chưa thuạc sự pahts huy dược vai trò của minh, thế mạnh của mình trên thị trường chứng khoán. Các công ty chứng khoán của các NNTM cần phải phát huy hiưn nữa vai trò cầu nối trung gian của minhf giữa các nhà đầu tư với các doanh nghiệp, góp phần tạo kênh huy động vốn mới thực sự hiệu quả cho nền kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ môi giới và bảo lãnh phát hành chứng khoán; nâng cao chất lượng và mở rộng hơn nữa tư vấn đầu tư chứng khoán, tăng cường tiếp xúc với cá doanh nghiệp dưới mọi hình thức nhằm giới thiệu khả năng huy động vốn qua kênh TTCK cho các doanh nghiệp; nâng khả năng và tính chuyên nghiệp cho các công ty chứng khoán là một đòi hỏi rất quan trọng. Bên cạnh đó, bằng cachs cung cấp dịch vụ tư vấn CPH, tư vấn niêm yết thực hiện BLPH chứng khoán, cá công ty chứng khoán se phát huy vai trò tạo cơ chê giá, giup cá doanh nghiệp đánh giá phát ành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành và giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình bắng cách dó công ty chứng khoán sẽ phát huy được vai trò tạo sản phẩm mới cho thị trường. Cuối cùng, công ty chứng khoán cần quan tâm hơn nữa tới việc tăng cường cầu nối trung gian trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường tiếp cận với khách hàng tiềm năng, góp phần tạo nên văn hoá đầu tư, tạo thói quen đầu tư trên TTCK cho nhà đầu tư, tạo thói quen và kỹ năng sử dụng

    56

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    dịch vụ tư vấn đầu tư thông qua việc xây dựng hình ảnh của công ty, tạo niềm tin và sự tín nhiệm của khách hàng đối với cá nhân người hành nghề kinh doanh chứng khoán và đối với chính công ty.

    3.2.2.2 Tăng cường đào tạo đội ngũ nhân viên chứng khoán của các NHTM

    Thứ nhất, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên tác nghiệp tại các công ty chứng khoán và công tác đào tạo cấp giấy phép hành nghề chứng khoán có tình độ và kỹ năng nghề nghiệp ngang tầm với cá nước trong khu vực; đảm bảo chất lượng đào tạo và thi tuyển cấp phép hành nghề ngang tầm khu vực.

    Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ tư vấn đầu tư chứng khoán: Ngoài những kiến thức nền tảng về kinh tế tài chính, đội ngũ này cần có hiểu biết sấu sắc về kỹ năng phân tích chứng khoán và lựa chọn danh mục đầu tư chứng khoán, có khả năng tìm tòi, khai thác, phân tích tổng hợp thông tin.

    Các công ty chứng khoán nên phối hợp với TTNCKH& DDTCK cử các chuyên gia giảng dạy đối với từng nghiệp vụ chuyên sâu, cũng như thông tin tình hình của thị trường.

    3.2.2.3 Hiện đại hoá trang thiết bị cho các NHTM

    Hoạt động chứng khoán là hoạt động hết sức phức tạp, đòi hỏi những công nghệ và thiết bị hiện đại. Để phát huy được vai trò của mình trên thị trường chứng khoán, cùng với sự đổi mới toàn ngành, hệ thống ngân hàng không thể không đổi mới công nghệ của minh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường khả năng cạnh tranh. Các NHTM cần đầu tư đổi mới các cơ sở vật chất nhằm phục vụ cho các hoạt động giao dịch và thanh toán được nhanh chóng và hiệu quả, áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến vào trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động của NHTM. Hiện đại hoá hệ thống htoong tin, nối mạng giữa các công ty chứng khoán với TTGDCK và người đầu tư; phát triển hệ thống tác nghiệp tập trung cho các công ty chứng khoán để hiện đại hoá hệ thống tác nghiệp trên cơ

    57

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    sở tiết kiệm chi phí, dễ dàng chia sẻ thông tin giupc ho việc quản lý được thuận tiện , nâng cao chaat lượng xử lý giao dịch và dễ dàng nâng cấp trong tương lai.

    3.2.2.4 Cổ phần hoá NHTMNN nhằm nâng cao tiêm lực về vốn

    Có thể thấy, cổ phần hoá NHTMNN là một nhu cầu cần thiết và thực tế, một xu hướng tất yếu khi mà định hướng chung của kinh tế nước ta là hội nhập với kinh tế thế giới. Tuy nhiên, cần phải quan tâm đến những yêu cầu sau đây:

    Một là, CPH các NHTMNN phải nằm trong kế hoạch tổng thể cơ cấu lại và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam. Một trong những trọng tâm của nó là việc nâng vốn của các NHTMNN lên càng sớm càng tốt, để khi tiến hành CPH xong thì tỷ lệ an toàn vốn phải đạt chuẩn mực quốc tế

    Hai là, CPH các NHTMNN cần phải tiền hành từng bước thận trọng. Do tính chất tương đối đặc thù, ngân hàng vốn được coi là một ngành nhạy cảm, hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng raat to lớn đến hầu hết cá ngành khác trong nền kinh tế. Do đó, CPH các NHTMNN cần hết sức thận trọng để đảm bảo độ an toàn và bên vững của không những hệ thống ngân hàng mà còn của toàn bộ nền kinh tế.

    Ba là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với việc nâng cao điều hành, quản trị, ứng dụng các công nghệ ngân hàng hiện đại, tạo ra cá sản phẩm ngân hàng mới, có sức cạnh tranh cao

    Bốn là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với trình xử lý các yếu kém tồn tại, lành mạnh hoá tài chính, giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn.

    Năm là, CPH các NHTMNN phải được tiến hành theo hướng công khai, minh bạch theo hướng đa sở hữu trong đó Nhà nwocs nắm giữ cổ phần chi phối. Tránh hiện tượng CPH khép kín. Hơn nữa, CPH NHTMNN không phải là bán tài sản hiện tại của Nhà nước cho khu vực tư nhân mà là giữ nguyên tài sản Nhà nước với mức tăng hàng năm do tái đầu tư bình thường, đồng thời huy động thêm vốn mới từ công chúng, nhằm nâng cao tiêm lực tài chính và quy mô hoạt dộng của các NHTMNN. Ngoài việc đảm bảo an toàn cho hoạt động cho cả hệ thống ngân hàng , cơ sở vốn bền vững còn là điều kiện cần thiết và là cơ hội để

    58

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hiện đại hoá công nghệ và quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện vai trog, vị thế và uy tín quốc tế của hẹ thống tài chính, ngân hàng Việt Nam, đồng thời có thể hỗ trợ đặc lực cho phát triển thị trường chứng khoán của nước ta.

    3.2.2.5 Tạo điều kiện cho phép các NHTM cổ phần mở rộng quy mô vốn

    Một trong những vấn đề đang thời sự hiện nay là ch phép các NHTM cổ phần niêm yết phát hành cổ phiếu trên TTGDCK để huy đông vốn, tăng thêm vốn điều lệ cho các ngân hàng này.Đó là một tỏng những giải pháp quan trọng được đưa ra bàn bạc sôi nổi trong thời gian qua. Được biết UBCKNN cũng mong muốn triển khai vấn đề này vì nó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt nam lên tầm cao mới , trước mắt là tăng thêm số lượng cổ phần giao dịch trên TTGDCK Tp.HCM. Đồng thời cho đến nay, Thống đốc NHNN cũng ủng hộ chủ trương nói trên. Hiện nay, trên thực tế, nhiều NHTM cổ phần trong nước làm ăn có bài bản, lãi lớn, hoạt động ổn định, hạch toán rõ ràng, được kiểm toán quốc tế hay kiểm toán độc lập, có uy tín trong nước và quốc tế, tạo được lòng tin trong dân chúng, nên chắc chắn việc niêm yết và phát hành cổ phiếu trên TTGDCK sẽ thành công.

    59

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    KẾT LUẬN

    Thị trường chứng khoán là thể chế tài chính bậc cao voíư sự tham gia của các tổ chức trung gian, trong đó có vai trò quan trọng của các tổ chức trung gian đặc biệt là các ngân hàng thương mại

    Thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn đầu hình thành và triển. Thị trường chứng khoán đang dần đi vào ổn định, và đã thu được một số kết qảu đáng khích lệ nhưng bên cạnh đó cũng không ít những hạn chế và tồn tại. Có thể nói, ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại có nhiều lợi thế nhất trong việc trở thành trung gian, hỗ trợ cho sự páht triển thị trường. Nhưng trên thực tế, việc tham gia của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán là rất hạn chế, còn dè dặt, chưa phát huy được hết vai trò của các ngân hàng làm cầu nối trung gian trên thị trường chứng khoán.

    Bằng việc vận dụng những kiến thức đã học và sự tìm tòi tham khảo các tài liẹu thực tiến em đã nghiên cứu được một số vấn đề sau:

    Thứ nhất, nêu được những lý luận cơ bản về thị trường chứng khoán và vai trò của ngân hàng thương mại đối với thị trường này.

    Thứ hai, phân tích thực trạng việc các ngân hàng thương mại thực hiện các vai trò của mình trên thị trường chứng khoán

    Thứ ba, đưa ra một số giả pháp nhằm phát huy vai trò của các ngân hàng thương mại để thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển.

    Tuy nhiên, đay là một vấn đề mới, rất đa dạng và phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiến. Qua bài nghiên cứu nay, em chỉ hi vọng đóng góp một cái nhìn nhỏ bé của mình về vấn đề này, va mong rằng thì trường chứng khoán Việt Nam

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    sẽ phát triển trong một tương lai không xa với sự tham gia tích cực của các ngân hàng thương mại. Đồng thời, em rất mong muốn nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các độc giả để có thể lĩnh hội và có hiểu biết sâu sắc hơn về lĩnh vực mà em đã quan tâm nghiên cứu.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Ts Lê Văn Tư, “Ngân hàng thương mại” Nhà xuất bản thống kê
    1. Ts Lê Văn Tư, “Thị trường chứng khoán”, Nhà xuất bản thống kê
    1. Ts Lê Văn Tư, “ Các nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, Nhà xuất bản thống kê.
    2. Phan Thị Thu Hà, “Giáo trình Ngân hàng thương mại- Quản trị và nghiệp vụ”
    1. Ts Phan Đình Nam (chủ biên), “Giáo trình Thị trưòng chứng khoán”, Nhà xuất bản thống kê
    2. Trần Thị Minh Châu, “ Thị trường chứng khoán và những điều kiện kinh tế-xã hội nhình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
    3. Đỗ Đức Sơn- TC 41A, Luận văn tốt nghiệp “ Một số giải pháp nhằm thúc

    đẩy sự tham gia các hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán của chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Hải Phòng”.

    1. Tạp chí Ngân hàng
    1. Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
    1. Một số tạp chí khác.

    61

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    62

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    63


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-ng%E1%BA%AFn-h%E1%BA%A1n-%E1%BB%9F-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hệ thống ngân hàng thương mại nước ta đang vào giai đoạn chuẩn bị cho quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong khoảng gần chín năm nữa, khi hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực đối với thị trường tài chính tiền tệ thì về mặt luật pháp ngân hàng thương mại nước ta hoàn toàn được đối xử bình đẳng như ngân hàng nước ngoài khác. Điều này cho thấy nếu như ngân hàng thương mại nước ta đang đối mặt với những thách thức cạnh tranh mới trong tương lai.

    Hình thức ngân hàng liên doanh là hình thức mới ở Việt Nam, xuất hiện vào đầu những năm 90. Việc thành lập các ngân hàng liên doanh ở nước ta là một trong những chính sách của Đảng và Nhà nước để ngân hàng thương mại nước ta có dịp học hỏi kinh nghiệm của các nước bạn, nâng sức cạnh tranh của ngân hàng mình.

    Ngân hàng liên doanh Chohung vina là ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước Hàn Quốc. Đây là một trong những ngân hàng liên doanh hoạt động hiệu quả ở nước ta, hơn nữa Hàn Quốc cũng là một nước có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh, do đó học tập kinh nghiệm kinh doanh của ngân hàng liên doanh Chohung vina là một điều hết sức cần thiết đối với hệ thống ngân hàng thương mại nước ta.

    Xuất phát từ điều này nên em chọn thực tập tại ngân hàng liên doanh Chohung vina. Trong quá trình thực tập ở ngân hàng liên doanh Chohung vina em nhận thấy hoạt động tín dụng ngắn hạn của họ rất tốt có chất lượng cao do đó em tìm hiểu về kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng liên doanh Chohung vina, qua đó ngân hàng thương mại nước ta có thể tham khảo và có thể áp dụng thành những giải pháp của mình. Đề tài như sau:

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    (nghiên cứu từ quá trình thực tập tại chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina)”

    Luận văn này gồm ba phần chính như sau:

    Chương1: Lý luận chung về chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại.

    Chương 2: Thực trạng về chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina.

    Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (nghiên cứu từ thực tiễn hoạt động của ngân hàng Chohung vina).

    Do thời gian làm việc tại ngân hàng chưa lâu và trình độ hiểu biết thực tế có hạn nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy, cô giáo và các cô chú trong ngân hàng để luận văn được hoàn chỉnh, góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.

    ∗      ∗

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.1. Ngân hàng thương mại

    1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

    • Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật.

    Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân. Việc đưa ra khái niệm niệm về ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết. Theo Pháp lệnh Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty Tài chính ban hành ngày 24/05/1990: “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.”. Như vậy, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.1.2. Đặc trưng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

    Hoạt động kinh doanh trên thị trường tài chính của nhiều tổ chức kinh doanh tiền tệ, những tổ chức môi giới tài chính, hoạt động như những chiếc cầu chuyên tải những khoản tiền tiết kiệm- tích luỹ được trong xã hội đến tay những người có nhu cầu chi tiêu cho đầu tư. Nhưng giữa chúng lại có sự khác nhau về tính chất cũng như về đối tượng và phương pháp kinh doanh. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ những nguyên nhân về lịch sử và chế độ kinh tế.

    Lịch sử của ngân hàng thương mại là lịch sử kinh doanh tiền gửi. Từ chỗ làm nhiệm vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ bảo quản tiền cho người sở hữu để nhận những khoản thù lao, trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi nghĩa là huy động tiền gửi không những miễn khoản thù lao mà còn trả lãi cho khách hàng gửi tiền để làm vốn cho vay nhằm tối ưu khoản lợi nhuận thu được.

    Trong khi thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, các ngân hàng thương mại đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương tiện thanh toán, trong đó quan trọng nhất là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn thanh toán bằng séc- một trong những công cụ chủ yếu để tiền vận động qua ngân hàng và quá trình đó đưa lại kết quả là đại bộ phận tiền giao dịch trong giao lưu kinh tế là tiền qua ngân hàng. Do đó, hoạt động của ngân hàng thương mại gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống thanh toán trong nước đồng thời có mối liên hệ quốc tế rộng rãi.

    Trong thế giới hiện đại, tính cho đến thời điểm hiện nay thì ngân hàng thương mại và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng nhất trong thể chế tài chính mỗi nước. Hoạt động của ngân hàng thương mại đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, trong khi các tổ chức tài chính khác thường hoạt động trên một vài lĩnh vực hẹp theo hướng chuyên sâu.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.2. Tín dụng ngân hàng

    1.2.1. Khái niệm về tín dụng

    Có thể nói: tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn.

    Qua nhiều giai đoạn tồn tại và phát triển, ngày nay tín dụng được hiểu theo định nghĩa cơ bản sau: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế trong đó cá nhân (hay tổ chức) nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho cá nhân (hay tổ chức) khác với những ràng buộc nhất định như: thời hạn hoàn trả (cả gốc lẫn lãi) lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. Nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo định nghĩa cơ bản sau:

    “ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.”

    Trong mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:

    • Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
    • Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay.
    • Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay).

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.2.2. Đặc trưng của tín dụng

    Có thể nói trong hoạt động kinh doanh tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng, đặc trưng của tín dụng đều dựa trên 3 đặc tính chủ yếu là: lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả.

    1.2.2.1.Yếu tố lòng tin:

    Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-tinh “credittum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.

    Lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện từ chủ yếu từ phía người cho vay đối với người đi vay bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng.

    1.2.2.2 Tính thời hạn và tính hoàn trả:

    Khác với các quan hệ mua bán thông thường khác (sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt bán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước với người cho vay.

    Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hoá và vì thế nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Trong kinh doanh tín dụng người cho vay chỉ bán “giá trị (quyền) sử dụng của khoản vay” chứ không

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    bán “giá trị của khoản vay”, nên sau khi hết thời gian sử dụng theo cam kết, khoản vay đó được hoàn trả về và vẫn giữ nguyên giá trị của nó, phần lợi tức theo thoả thuận nếu có là “giá bán” quyền sử dụng khoản vay trong thời gian nhất định. Như vậy, khối lượng hàng hoá hay tiền tệ (phần gốc) cho vay ban đầu chỉ là vật chuyên chở giá trị sử dụng của chúng, nó được phát ra qua các thời gian nhất định rồi sẽ thu về chứ không được bán đứt.

    Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, tùy theo đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng mà tín dụng được phân chia theo các hình thức phù hợp. Thông thường các ngân hàng phân chia tín dụng theo tiêu thức thời gian bao gồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, và tín dụng dài hạn.

    1.3. Khái niệm và vai trò của tín dụng ngắn hạn của ngân hàng

    1.3.1. Khái niệm

    Theo quyết định 324 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam tín dụng ngắn hạn là hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.

    Thời hạn đối với tín dụng ngắn hạn được tổ chức tín dụng khách hàng thoả thuận tối đa là 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.

    1.3.2. Vai trò tín dụng ngắn hạn

    Tín dụng ngắn hạn bổ sung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính thực hiện một trong những chức năng chủ yếu của mình là tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi sau đó cho ra đối với nền kinh tế. Thông qua các hoạt động cho vay của mình ngân hàng đã đảm bảo cho các doanh nghiệp nói

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng không chỉ duy trì sản xuất kinh doanh mà còn tái sản xuất mở rộng.

    Đối với các doanh nghiệp hiện nay, vốn vẫn luôn là vấn đề gây khó khăn nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp là phổ biến và nghiêm trọng. Tín dụng ngắn hạn là hình thức tốt nhất để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động hoặc sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp bởi tính linh hoạt của nó. Tín dụng ngắn hạn không chỉ còn là nguồn vốn bổ sung nữa mà đã dần trở thành một nguồn vốn chủ yếu, quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tín dụng ngắn hạn giúp cho các doanh nghiệp không bỏ lỡ thời vụ làm ăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, quá trình lưu thông được thông suốt, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội.

    Mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị trường để thực hiện được các khoản đầu tư đó doanh nghiệp không chỉ cần có vốn lưu động tạm thời mà còn phải có một lượng vốn cố định và ổn định lâu dài. Qui mô vốn đầu tư cho các yêu cầu trên đôi khi vượt quá khả năng vốn của doanh nghiệp. Tín dụng ngắn hạn có thể giúp cho các doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu vốn phục vụ cho các hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh đó.

    Tín dụng ngắn hạn giúp các doanh nghiệp tăng cường quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả

    Bản chất của tín dụng ngắn hạn không phải là hình thức cung ứng vốn mà là hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn qui định. Do đó, các doanh nghiệp sau khi sử dụng vốn vay trong sản xuất kinh doanh không chỉ cần thu hồi vốn là đủ mà còn phải tìm ra nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay của vốn, đảm bảo tỷ suất lợi

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nhuận lớn hơn lãi suất ngân hàng thì doanh nghiệp mới có thể trả được nợ và thu lãi.

    Về phía ngân hàng, khả năng thu hồi khoản cho vay phụ thuộc rất lớn vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn. Vì vậy, trước khi cho vay ngân hàng thường xem xét đánh giá rất kỹ lưỡng phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có phương án khả thi, lợi nhuận đủ cao để có thể trả nợ ngân hàng. Ngoài ra, doanh nghiệp muốn có được vốn vay ngân hàng thì phải hoàn thiện năng lực tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả. Thêm vào đó, trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ thực hiện quy trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát trong và sau khi cho vay, thông qua việc làm đó ngân hàng giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện đúng những điều khoản như đã thoả thuận trong hợp đồng, sử dụng vốn đúng mục đích để đem lại hiệu quả cao nhất. Một yếu tố khác là do quyền lợi của ngân hàng luôn gắn chặt với quyền lợi của khách hàng, nên ngân hàng sẽ sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp để tháo gỡ những khó khăn trong phạm vi cho phép, tư vấn cho doanh nghiệp về các vấn đề có liên quan, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    Tín dụng ngắn hạn tác động tích cực đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy cạnh tranh

    Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện, không những thoả mãn về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá mà còn đòi hỏi thoả mãn cả trên phương diện thời gian, địa điểm. Hoạt động của các nhà doanh nghiệp phải đạt hiệu

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    quả kinh tế nhất định theo qui định chung của thị trường thì mới đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán, mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng vật liệu mới, mở rộng qui mô sản xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối doanh nghiệp với thị trường, nguồn vốn tín dụng ngắn hạn cấp cho các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, theo kịp với nhịp độ phát triển chung, từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.

    1.4. Chất lượng tín dụng ngắn hạn

    1.4.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng ngắn hạn

    Trong hoạt động ngân hàng thương mại, tín dụng là một nghiệp vụ mang lại phần lớn doanh lợi nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro có khả năng xảy ra với tỷ lệ cao. Trên thực tế nhiều nhân viên ngân hàng quan niệm cho vay có tài sản cầm cố thế chấp, nhưng không quá tỉ lệ qui định là an toàn nhất. Thực ra quan niệm này hết sức sai lầm, bởi vì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng là vấn đề quan trọng nhất để đảm bảo khả năng trả nợ của khách và khả năng thu hồi vốn gốc và lãi của ngân hàng. Tính đến tháng 12/1998, con số nợ quá hạn của toàn ngành ngân hàng lên tới trên 10% tổng dư nợ. Tình trạng nợ quá hạn cao cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng không thu được khoản vay và lãi, do đó kinh doanh không có lợi nhuận, thậm chí là mất vốn. Điều này khiến nhiều ngân hàng có phản ứng co cụm, không cho vay nữa, dẫn đến

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nền kinh tế trì trệ suy thoái. Đảm bảo chất lượng tín dụng đem lại lợi ích cho các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp của ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

    Chất lượng tín dụng: Là sự đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, hay chất lượng tín dụng là kết quả tổng hợp của những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn định, vững chắc của nền kinh tế quốc dân

    Chất lượng tín dụng có thể được nhìn nhận dưới các góc độ kinh tế khác nhau, từ phía ngân hàng, từ phía doanh nghiệp, từ phía nền kinh tế.

    • Từ phía doanh nghiệp : Do nhu cầu vốn vay được đáp ứng để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh bù đắp được chi phí sản xuất, trả nợ ngân hàng và có lãi nên chất lượng tín dụng ngân hàng đứng trên giác độ doanh nghiệp chỉ đơn giản là thỏa mãn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và làm cho đồng vốn sử dụng có hiệu quả.
    • Từ phía ngân hàng : Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi .
    • Xét từ góc độ nền kinh tế – xã hội : Tín dụng ngân hàng phản ánh sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thị trường. Tín dụng phải huy động mức tối đa vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội để cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển.

    Chất lượng tín dụng thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân hàng. Tín dụng ngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh toán chi trả cao, tránh được rủi ro hệ thống. Nâng cao chất lượng tín dụng

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    làm cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lí kinh tế vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hòa nhập với cộng đồng quốc tế.

    Tóm lại, chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Để có chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở sự tin cậy và uy tín của ngân hàng. Hiểu đúng bản chất và phân tích, đánh giá đúng chất lượng tín dụng, cũng như xác định chính xác các nguyên nhân tồn tại của chất lượng tín dụng sẽ giúp ngân hàng tìm được giải pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt hiện nay.

    1.4.2. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hoạt động tín dụng ngắn hạn

    Để xem xét hiệu quả hoạt động của một Ngân hàng, ta sử dụng rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau nhưng có thể sử dụng các chỉ tiêu cơ bản sau:

    Chỉ tiêu nợ quá hạn

    Nợ quá hạn là những khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá thời gian cho vay theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng cộng với thời gian đã được gia hạn thêm nếu khách hàng yêu cầu. Nợ quá hạn có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau từ phía doanh nghiệp, hay do khách quan… Các ngân hàng luôn mong muốn giảm thấp tỉ lệ nợ quá hạn bởi nó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

    Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn

    Tỉ lệ nợ quá hạn =

    Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn

    Tổng dư nợ các món vay có phát sinh nợ quá hạn

    Tỉ lệ đầu tư rủi ro =

    Tổng dư nợ cho vay

    Đây là hai chỉ tiêu chủ yếu đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn ngắn hạn phản ánh chất lượng của khoản vay ngắn hạn, còn chỉ tiêu tỉ lệ đầu tư rủi ro thì phản ánh chất lượng

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    của tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng. Các tỉ lệ này càng nhỏ thì phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng đó là hiệu quả, không có rủi ro mất vốn. Còn nếu các tỉ lệ này càng lớn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, có thể từ việc mất khả năng thanh toán hoặc tệ hơn nữa là phá sản.

    Hai chỉ tiêu trên đều chịu ảnh hưởng của chính sách xóa nợ của ngân hàng, một ngân hàng có chính sách tốt là phải thiết lập được quĩ dự phòng rủi ro đủ mạnh và thông báo định kì về các món vay không có khả năng thu hồi, để tránh tình trạng trong một lúc phải thông báo con số nợ không có khả năng thu hồi là quá lớn và làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng. Thông thường khi lập bảng theo dõi nợ quá hạn ngân hàng thường phải phân nợ quá hạn theo thời gian 30, 60, 90,120 ngày. Sự phân loại này có ý nghĩa đối với việc quản lí chất lượng tín dụng và đánh giá thiết lập dự phòng mất vốn.

    Ngoài ra người ta còn xem xét các chỉ tiêu sau Nợ khó đòi quá hạn/ Tổng dư nợ ngắn hạn

    Khi nợ quá hạn tồn tại đến một thời điểm nào đó và có khả năng không thu hồi được thì khoản nợ này được coi là nợ khó đòi. Khi một khoản nợ được coi là khó đòi thì đồng nghĩa với nó là ngân hàng khó có thể thu hồi được vốn. Tỉ lệ nợ khó đòi cao chứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng kém hiệu quả và chất lượng của khoản vay là thấp.

    Chỉ tiêu quản lí vốn

    Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá việc quản lí vốn của mỗi ngân hàng.

    Tổng số tiền cho vay đã được xóa nợ

    Tỉ lệ mất vốn =

    Dư nợ bình quân

    Tỉ lệ này càng nhỏ bàng tốt.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Các ngân hàng thường có những khoản vay không có khả năng thu hồi nhưng một ngân hàng quản lí tốt là tỉ lệ này ở mức thấp. Một món nợ khi đã được xóa thì vẫn phải có nỗ lực trong việc thu hồi nợ. Cho nên xóa nợ cũng chỉ là một phương thức quản lí tài chính của ngân hàng, không hề thừa nhận về mặt pháp lí rằng người vay không còn nợ ngân hàng nữa.

    Dự phòng mất vốn

    Tỉ lệ dự phòng =

    Tổng dư nợ

    Tỉ lệ này càng nhỏ càng tốt.

    Chỉ tiêu tỉ lệ lợi nhuận tín dụng ngắn hạn

    Chất lượng tín dụng ngắn hạn được đánh giá thông qua phần lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động tín dụng ngắn hạn.

    Lợi nhuận tín dụng ngắn hạn

    Tỉ lệ lợi nhuận tín dụng ngắn hạn =

    Tổng lợi nhuận của ngân hàng

    Trong kinh doanh tín dụng phải thực hiện lãi suất dương, có nghĩa là lãi suất đầu ra phải cao hơn lãi suất đầu vào cộng với chi phí nghiệp vụ ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động kinh doanh là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng có thể tùy từng thời gian, điều kiện kinh doanh cụ thể để có chính sách khách hàng hợp lí, mở rộng đầu tư tín dụng, thu hút khách hàng nhưng vẫn đảm bảo cho hoạt động tín dụng có hiệu quả cao nhất. Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ các khoản vay không thu hồi được gốc mà còn thu hồi được lãi, đảm bảo độ an toàn của đồng vốn cho vay.

    Hiện nay ngân hàng áp dụng nhiều giải pháp tình thế để đảm bảo chất lượng tín dụng, thể hiện qua nhóm chỉ tiêu định tính và định lượng. Nhóm chỉ tiêu định tính thể hiện cho vay đảm bảo các quy chế thể lệ tín dụng. Nhóm chỉ tiêu định lượng nhằm phân tán rủi ro, đảm bảo các thông số tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tín dụng như dư nợ của 10 khách hàng nhỏ

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    hơn hoặc bằng 30% tổng dư nợ, dư nợ của một khách hàng nhỏ hơn hoặc bằng 10%vốn điều lệ và cấc quĩ, tỉ lệ nợ quá hạn nhỏ hơn hoặc bằng 5% tổng dư nợ…

    Các nhóm chỉ tiêu trên có được thực hiện hay không là tùy thuộc vào ý thức chấp hành thể lệ tín dụng, qui trình kĩ thuật cho vay.

    1.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.

    1.4.3.1. Những nhân tố khách quan

    Hoạt động của mỗi NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh tế – xã hội. Một ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt động kinh doanh của mình nhưng nếu môi trường kinh tế – xã hội không ổn định thì cũng khó mà thành công. Ta có thể xem xét ảnh hưởng của môi trường kinh tế – xã hội đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM từ các yếu tố sau:

    Môi trường kinh tế

    Môi trường kinh tế phát triển có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Một môi trường kinh tế phát triển lành mạnh, các chủ thể tham gia nền kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng, chất lượng hoạt động tín dụng cũng sẽ được nâng lên. Nhưng môi trường kinh tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ. Chẳng hạn khi lạm phát cao, lãi suất thực tế sẽ giảm xuống và nếu như ngân hàng không cân đối giữa các khoản mục bên nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất thì có thể các khoản tín dụng đó có thể không mang lại hiệu quả như mong đợi. Cũng có thể có những biến động về tỷ giá hoặc biến động về thị trường làm cho chủ đầu tư bị bất ngờ, dẫn đến tình trạng dòng tiền vào không như kế hoạch làm giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng. Như vậy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    mà nó hoạt động, vấn đề đối với các ngân hàng là phải làm tốt công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có sự biến động nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động tín dụng.

    Môi trường pháp lý

    Một ngân hàng thương mại khi hoạt động phải tuân thủ đầy đủ các quy định về luật pháp của Nhà nước, cũng như của ngân hàng Nhà nước như vậy môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Một hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ giúp các ngân hàng dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của mình, góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.

    Môi trường chính trị –xã hội

    Môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động đầu tư và mạnh dạn mở rộng hoạt động tín dụng. Điều này giúp cho ngân hàng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Tác động của môi trường chính trị – xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụng là không thường xuyên, nhưng khi có những biến động về chính trị, tác động của nó tới các ngân hàng là vô cùng lớn. Một sự thay đổi hệ thống chính trị bạo động có thể làm cho các ngân hàng mất toàn bộ các khoản tín dụng của mình, điều này sẽ đẩy nó đến bờ vực phá sản.

    1.4.3.2. Những nhân tố chủ quan.

    Chính sách tín dụng.

    Chính sách tín dụng là định hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Thông thường chính sách tín dụng có các khoản mục sau: các loại cho vay được thực hiện, giới hạn tín dụng, kỳ hạn cho vay, hướng giải quyết tín dụng vượt giới hạn, thanh toán nợ…vì thế nó có quyết định to lớn đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ kích thích được việc tiết kiệm và đầu tư thu hút được nhiều

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    khách hàng đảm bảo khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời tuân thủ theo pháp luật và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra. Bất cứ một ngân hàng nào muốn có tín dụng tốt đều phải có một chính sách tín dụng rõ ràng phù hợp với ngân hàng của mình.

    Chất lượng của công tác thẩm định dự án.

    Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín dụng, khách hàng thường phải mang đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện. Thẩm định dự án giúp ngân hàng xem xét một cách toàn diện các mặt của dự án để xác định tính khả thi của dự án trên cơ sở đó sẽ quyết định khách hàng này có đủ điều kiện để được cấp tín dụng hay không. Cũng thông qua công tác thẩm định, ngân hàng với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư vấn, giúp đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để dự án có tính khả thi hơn tạo mối quan hệ tốt với khách hàng.

    Thẩm định là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán phức tạp. Do công việc này là cơ sở để quyết định có cấp tín dụng hay không cho nên chất lượng của công tác này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động tín dụng. Nếu chất lượng của công tác thẩm định không cao tức là nhân viên tín dụng không xác định thực chất dự án có hiệu quả hay không thì những khoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp sẽ gặp những rắc rối trong việc thu hồi các món nợ của mình. Chính vì vậy công tác thẩm định đòi hỏi các nhân viên thẩm định có trình độ cao và sự kết hợp một cách có hiệu quả giữa các phòng ban trong ngân hàng

    Công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô của ngân hàng, chính sách tín dụng của ngân hàng, quy mô và loại hình tín dụng, quy trình tín dụng tại ngân hàng đó. Trong quy trình hoạt động tín dụng, các cán bộ tín dụng sẽ tiếp xúc trực tiếp với người vay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn khách hàng, thu nhập thông tin về khách hàng và dự án trước khi có quyết định chính thức trình cán bộ cấp cao hơn. Những thông tin về khách hàng và dự án sau khi được

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    các phòng ban chức năng của ngân hàng xem xét nếu thấy đủ điều kiện thì sẽ quyết định cụ thể giải ngân và thu nợ sau này. Trong quá trình này nếu các khâu được thực hiện tốt nó sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được các dự án tốt để cấp tín dụng, cũng như tạo uy tín trong lòng khách hàng.

    Như vậy, công tác tổ chức thực hiện hoạt động tín dụng có thể hỗ trợ đắc lực cho nhân viên tín dụng thực hiện công việc của mình và nó có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.

    Chất lượng của đội ngũ nhân sự.

    Yếu tố mang tính quyết định đến việc nâng cao hay suy giảm chất lượng tín dụng lại chính là nguồn nhân lực của ngân hàng vì suy cho cùng quyết định cung cấp tín dụng của ngân hàng là những quyết định mang tính chất chủ quan. Một ngân hàng với một đội ngũ lãnh đạo tốt sẽ đưa ra được những chính sách hợp lý và phương thức phát triển phù hợp với khuynh hướng phát triển của nền kinh tế. Một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi sẽ giúp ngân hàng có được những khoản cho vay với chất lượng cao nhất. Các cán bộ của các phòng ban, các bộ phận chức năng khác sẽ giúp cho ngân hàng mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình, tạo dấu ấn trong lòng thị trường.

    Ngoài ra, chất lượng nguồn thông tin khách hàng, thông tin thương mại khác cũng góp phần rất lớn vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng. Điểm yếu của ngân hàng thương mại nước ta là thiếu hệ thống thông tin khách hàng một cách đầy đủ, kịp thời. Điều này đã phần nào giảm hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng.

    1.4.3.3. Các yếu tố từ khách hàng.

    Do khách hàng kinh doanh thua lỗ.

    Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ quá hạn của ngân hàng. Đối với những khoản vay phục vụ mục đích kinh doanh thì nguồn vốn vay được

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    sử dụng có hiệu quả không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn là tiền đề cho sự hoàn trả nợ ngân hàng cả gốc và lãi. Ngược lại, thua lỗ trong kinh doanh của doanh nghiệp xảy ra khi việc tính toán triển khai dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không khoa học, không được thực hiện kỹ càng, xác thực, các rủi ro bất khả kháng của các định hướng sản xuất kinh doanh gây tác động xấu và sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ với các mức độ khác nhau.

    Năng lực tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, sử dụng vốn sai mục đích.

    Nhiều doanh nghiệp dùng vốn vay ngân hàng không đúng phương án, mục đích xin vay vốn. Các nguồn thu của doanh nghiệp rất hạn chế nhưng khối lượng các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp quá lớn (như các khoản nợ ngân sách, nợ công nhân viên chức, nợ người bán hàng, nợ ngân hàng, nợ các đối tượng khác…). Cơ cấu về vốn đầu tư của doanh nghiệp không hợp lý, dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến không trả được nợ đúng hạn.

    Tất cả những nguyên nhân trên gây nên khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn của khách hàng đối với ngân hàng, tạo ra các khoản nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng.

    Do chủ ý lừa đảo của người đi vay.

    Việc không trả nợ đúng hạn có thể xuất phát từ khả năng chi trả yếu kém của khách hàng, cũng có thể xuất phát từ ý định chủ quan của người đi vay không muốn trả nợ (mặc dù có khả năng nhưng không muốn thực hiện). Năm 1997 đã xuất hiện hiện tượng một số công ty trách nhiệm hữu hạn và tư nhân dùng hồ sơ thế chấp nhà giả hoặc hồ sơ thế chấp nhiều ngân hàng để vay tiền rồi bỏ trốn.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG LIÊN DOANH CHOHUNG VINA

    2.1. Tổng quan về ngân hàng liên doanh Hàn Quốc Chohung Vina

    Nước ta đang trên đà phát triển đổi mới. Nền kinh tế chuyển theo hướng mở, thông thương, mua bán với các nước trên thế giới. Sự ra đời của các ngân hàng liên doanh là những điều kiện nhằm hỗ trợ cho các hoạt động ngoại thương. Ngân hàng Chohung Vina là một ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Ngân hàng này được đổi tên từ ngân hàng liên doanh First Vina theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước vào ngày 2/1/2001.

    Ngân hàng First Vina được thành lập và cấp giấy phép hoạt động từ ngày 3/2/1993 theo giấy phép số 10/ NH-GP của Thống đốc ngân hàng Nhà nước cấp ngày 4/1/1993. Ngân hàng First Vina là ngân hàng liên doanh giữa các bên như sau:

    * Bên Việt Nam:

    Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

    Địa chỉ trụ sở: 47 – 49 Lý Thái Tổ, quận Hoàn kiếm, Hà Nội.

    • Bên nước ngoài: (gồm 2 cổ đông).

     

    1. Korea First Bank

    Địa chỉ trụ sở: 100 Kyngpyung-dong, Chong no-gu, Seoul 110-160 Hàn Quốc.

    1. Daewoo Securities co, LTD.

    Địa chỉ trụ sở: 34-3 Yongdungo Seoul Hàn Quốc.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Trụ sở chính của ngân hàng liên doanh First Vina tại thành phố Hồ Chí Minh, và có một chi nhánh ở Hà nội.

    Vốn điều lệ của ngân hàng là 10.000.000 USD (mười triệu đôla Mĩ), trong đó bên Việt Nam góp là 5.000.000 USD (năm triệu đôla Mĩ) bằng 50% vốn điều lệ. Bên nước ngoài là Korea First bank góp 4.000.000 USD (bốn triệu đôla Mĩ) bằng 40% vốn điều lệ, bên Công ty Daewoo securities góp 1.000.000 (một triệu đôla Mĩ) bằng 10% vốn điều lệ. Đến ngày 8-8-1995 căn cứ theo Quyết định số 217/QĐ-NH5 ngân hàng liên doanh được phép tăng vốn điều lệ từ 10 triệu lên 20 triệu USD.

    Chi nhánh ngân hàng liên doanh First Vina ở Hà Nội hoạt động từ năm 1993 đến năm 2001, sau đó đổi tên thành ngân hàng liên doanh Chohung Vina, do thay đổi bên đối tác nước ngoài góp vốn. Hiện tại bên đối tác nước ngoài góp vốn là Chohung Korea Bank cũng góp với số vốn là tám triệu USD, và đối tác thứ hai không thay đổi là Công ty Daewoo Securities và bên Việt Nam là ngân hàng ngoại thương với tổng số vốn góp là mười triệu USD.

    Nói chung, ngân hàng Chohung Korea và ngân hàng Korea First đều là ngân hàng lớn ở Hàn Quốc. Đặc biệt, ngân hàng Korea First là một ngân hàng hàng đầu ở Hàn Quốc có bề dày hoạt động, tích lũy nhiều kinh nghiệm là điều kiện để chúng ta học hỏi. Ngân hàng Korea First có 6 văn phòng đại diện, 12 chi nhánh nước ngoài và 276 chi nhánh ở trong nước .

    Năm 1990, ngân hàng Korea First được xếp thứ 13 trong số ngân hàng có vốn lớn nhất ở Hàn Quốc, đứng thứ 200 trong tổng số ngân hàng lớn nhất thế giới. Đại lí của ngân hàng Korea First bao gồm các chi nhánh ngân hàng ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Nha Trang, Quảng Ninh, và các chi nhánh xuất nhập khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Công ty Daewoo Securities là công ty con của tập đoàn Daewoo. Đây là tập đoàn lớn và có mối quan hệ chặt chẽ với Việt nam. Cuối năm 1992,

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    tập đoàn Daewoo có 200 dự án đầu tư tại Việt Nam tương đương 200 triệu USD, trong đó có 5 dự án đầu tư được Uỷ Ban Nhà nước hợp tác và đầu tư cấp giấy phép hoạt động.

    Thành lập chi nhánh ngân hàng liên doanh là một trong những chiến lược phát triển của Đảng giao cho ngân hàng Ngoại thương. Là một trong bốn ngân hàng Nhà nước : Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ngân hàng Ngoại thương phụ trách về mảng hoạt động ngoại thương, xuất nhập khẩu. Đây là mảng hoạt động kinh tế mang lại nhiều khoản lợi lớn cho ngân sách, và hỗ trợ thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung Ngân hàng ngoại thương là ngân hàng duy nhất được chính phủ giao cho các hoạt động đối ngoại, cung ứng tất cả các dịch vụ hoạt động và tài trợ nhằm hỗ trợ cho các hoạt động ngoại thương. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm các cơ hội mang lại lợi ích quốc gia.Và đặc biệt việc hợp tác của ngân hàng với ngân hàng nước ngoài tạo ra hướng tích cực cho sự phát triển kinh tế, mở ra nhiều cơ hội cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước, đồng thời thu hút một lượng đầu tư các doanh nghiệp Hàn Quốc. Ngân hàng liên doanh First Vina ngay từ năm 1995 đã hoạt động rất hiệu quả. Theo số liệu thực tế thu thập được của chi nhánh Ngân hàng First Vina ở Hà Nội thì tình hình kinh doanh của Ngân hàng First Vina như sau:

    Năm Lãi (USD)
       
    1995 150,261.6
       
    1996 755,356.16
       
    1997 588,194.17
       
    1998 571,775.74
       
    1999 504,042
       

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    2000                  682,127.08

    Sau khi đổi tên thành ngân hàng Chohung Vina thì con số lãi của năm 2001 là 602,862 USD, năm 2002 là 625,018 USD, mang lại một nguồn thu lớn cho ngân sách.

    2.2. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức năng các phòng ban

    2.2.1. Cơ cấu tổ chức

    Người đứng đầu chi nhánh Chohung Vina tại Hà Nội là ban giám đốc gồm Giám đốc và Phó giám đốc. Chi nhánh gồm 5 phòng là phòng tín dụng, phòng kế toán, phòng thanh toán quốc tế, phòng quĩ, phòng hành chính nhân sự. Các phòng hoạt động dưới sự chỉ đạo điều hành của Ban giám đốc.

    Phòng thanh toán quốc

    tế

          Phòng kế toán  
             
    Ban      
    Giám      
    Phòng tín dụng  
    Đốc      
         
             
             
          Phòng quĩ  
           
             
             
          Phòng hành chính  
          nhân sự  
             

    Sơ đồ về cơ cấu tổ chức của chi nhánh ngân hàng Chohung vina

     

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Giám đốc của chi nhánh là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của chi nhánh. Tuy nhiên, do chi nhánh Chohung Vina là ngân hàng liên doanh cho nên đối với những vấn đề quan trọng thì cần có sự bàn bạc, đánh giá thêm của cả hai bên, và quyết định đưa ra đều phải được cả hai bên thống nhất.

    2.2.2. Nhiệm vụ, chức năng của phòng tín dụng

    Để phục vụ cho nhu cầu tín dụng của các khách hàng, chi nhánh đã qui định rất rõ ràng, cụ thể về chức năng nhiệm vụ của phòng. Bao gồm các công việc cụ thể như sau:

    • Giới thiệu và tư vấn cho khách về các hình thức vay nợ
    • Phân tích tín dụng và các hợp đồng vay nợ của khách
    • Chuẩn bị các chứng từ liên quan tới các khoản nợ được xác nhận.
    • Thông báo cho ban giám đốc của chi nhánh và trụ sở chính xin ý kiến và thừa nhận đối với các khoản cho vay.
    • Hoàn thành các hợp đồng về cầm cố, thế chấp tài sản. Các chứng từ này đều phải được công chứng và đăng ký.
    • Thực hiện và quản lí các khoản tín dụng.
    • Thực hiện các mẫu chứng từ về việc phát hành L/C bảo đảm.
    • Phát hành các bảo lãnh ngân hàng (trừ bảo lãnh vận chuyển)
    • Thực hiện các chứng từ bảo đảm cho việc phát hành thẻ tín dụng.
    • Điều chuyển vốn trong nước hàng ngày.
    • Thường xuyên kiểm tra, thu thập hông tin về tình hình kinh doanh của khách.
    • Thường xuyên báo cáo tình hình kinh doanh của khách và khả năng có thể trả nợ của khách cho ban giám đốc của chi nhánh.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    • Thường xuyên cập nhật các thông tin về các văn bản luật, các thông tin về tình hình kinh tế, đầu tư trong nước, ngoài nước và các thông tin có liên quan tới việc kinh doanh của ngân hàng.
    • Điều chỉnh về thời hạn, điều kiện vay nợ, lãi suất vay cho khách để phù hợp với sự thay đổi của lãi suất trên thị trường
    • Lập các báo cáo về hoạt động tín dụng.

    Đến nay chi nhánh có một khối lượng lớn các khách hàng vay vốn. Tình hình trả nợ của các khách hàng rất đúng qui định, cho đến nay chưa hề có một vấn đề xảy ra về việc vi phạm của khách hàng. Điều này cũng phải kể đến sự nỗ lực cố gắng của các cán bộ tín dụng chi nhánh trong việc lựa chọn các khách hàng cho vay và thường xuyên kiểm tra tình hình kinh doanh của khách hàng. Các khoản cho vay của chi nhánh Chohung Vina hầu hết là các khoản ngắn hạn và cho vay theo phương thức “credit line” hay còn gọi là “hạn mức tín dụng” chiếm 90%. Phương thức này tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định

    2.3. Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn của chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung Vina

    2.3.1. Tình hình sử dụng vốn vay

    Một ngân hàng kinh doanh hiệu quả là ngân hàng biết sử dụng đầu tư đồng vốn của mình vào đúng chỗ, mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Các ngân hàng chủ yếu sử dụng đồng vốn huy động được để tiến hành cho vay hưởng chênh lệch lãi suất.

    Ngân hàng Chohung vina đã tiến hành cho vay chủ yếu là các doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với Hàn quốc, hoặc doanh nghiệp 100%vốn Hàn Quốc. Đến nay tổng số khách hàng lên tới 17 khách hàng. Dư nợ tín dụng mỗi năm đạt khoảng 10-15 triệu USD.

      Luận văn tôt nghiệp       Nguyễn Phương Nhung
      Bảng 1: Tình hình dư nợ tín dụng từ năm 2000-2002    
      Đơn vị: USD          
                 
      Năm 2000 2001   2002  
                 
      Dư nợ tín dụng 13,173,434 12,191,663   13,581,900  
      ngắn hạn    
               
      Dư nợ tín dụng 14,637,149 13,546,293   15,091,000  
                 
      Nợ quá hạn ngắn 0   0  
      hạn    
               
      Lợi nhuận tín   618,000   523,000  
      dụng ngắn hạn      
               

    Qua bảng 1 cho ta thấy cơ cấu sử dụng vốn vay của ngân hàng Chohung vina, dư nợ tín dụng năm 2000 đạt 14,637,149USD tức là vào khoảng hơn 200 tỷ VND năm 2001 đạt 13,546,293 USD và đến năm 2002 con số này là 15,091,000 USD. Tình hình dư nợ ổn định và tăng đều đáp ứng nhu cầu vốn của các khách hàng. Riêng năm 2001 dư nợ tín dụng có giảm đi do nguyên nhân từ phía ngân hàng là có sự thay đổi cổ đông góp vốn và đổi tên ngân hàng. Tính đến năm 2002 ngân hàng chưa có trường hợp nào phải nợ quá hạn, các khách hàng tham gia vay vốn hoàn trả nợ đúng hạn và đầy đủ. Điều này phản ánh phần nào hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp nước ngoài đặc biệt là các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam và cũng đồng thời phản ánh cơ chế quản lí chính sách cho vay ngắn hạn.

    Ngân hàng Chohung vina chủ yếu là cho vay ngắn hạn, tỉ lệ cho vay ngắn hạn chiếm 90% tổng số cho vay, hình thức cho vay đáp ứng nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp. Đây là hình thức cho vay phù hợp với tình hình hoạt động của các khách hàng Chohung vina, bởi vì các doanh nghiệp này hầu hết là các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động dưới sự bảo trợ về vốn của công ty mẹ bên nước ngoài cho nên doanh nghiệp chỉ cần vay vốn của ngân hàng để đáp ứng về nhu cầu vốn lưu động của mình.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Tỉ lệ nợ quá hạn trong ngân hàng đạt mức tối thiểu là 0%, như vậy tình hình cho vay tín dụng đối với các khách hàng của ngân hàng được tiến hành rất hiệu quả, các doanh nghiệp chấp hành tốt những qui định của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản vay.

    Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng ngắn hạn năm 2001 là 618,000 USD, năm 2002 là 523,000 USD. Phần lợi nhuận này chiếm một phần lớn trong ngân hàng, là một trong ba mguồn thu của ngân hàng gồm: nguồn thu từ tiền gửi của ngân hàng tại ngân hàng khác, hoạt động thanh toán quốc tế, và lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Lợi nhuận từ tín dụng ngắn hạn trong năm 2002 giảm so với lợi nhuận trong năm 2001 là do trong năm 2002 lãi suất cho vay ngoại tệ trên thị trường biến động giảm.

    Dựa trên cơ sở qui định của ngân hàng nhà nước về các phương thức cho vay ngân hàng sẽ tiến hành thỏa thuận với khách hàng, tư vấn về các hình thức cho vay, và quyết định với khách hàng một hình thức phù hợp nhất. Qua các hồ sơ vay vốn của khách hàng thì hình thức vay vốn chủ yếu là hình thức “credit line” hay là hạn mức tín dụng, hình thức này có một đặc điểm là rất linh động trong quá trình vay vốn của khách hàng, các doanh nghiệp có thể vay vốn được nhiều lần, tuy nhiên tổng tín dụng tất cả các lần vay đều không vượt quá hạn mức tín dụng đã đề ra trong hợp đồng vay vốn, như vậy hình thức này sẽ không như hình thức vay vốn từng lần vay và trả phải đúng thời hạn qui định theo như hợp đồng, hình thức này khách hàng trong thời hạn một năm khách hàng có thể trả vốn bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian một năm đó, và khi trả bớt đi một phần vốn đó thì khi lúc nào cần nhu cầu về vốn trong khoảng thời gian năm đó khách hàng hoàn toàn có thể xin được vay tiếp miễn là sao cho tổng giá trị các lần mượn tối đa bằng với hạn mức tín dụng. Như vậy việc vay vốn sẽ rất thuận tiện cho hoạt động của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, vốn của doanh nghiệp được chu chuyển thường xuyên, khi ngân hàng thu được tiền thì doanh nghiệp sẽ chuyển trả lại cho ngân hàng tránh để tình trạng ứ đọng

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    do không hợp với qui định về thời hạn trả tiền như các hình thức vay tiền khác và từ đó tránh gây tổn thất cho doanh nghiệp.

    Ngoài ra ngân hàng còn tiến hành các dịch vụ đi kèm với hoạt động tín dụng ví dụ ngân hàng còn tiến hành thanh toán hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng, mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng, thực hiện thanh toán theo hóa đơn khi có nhu cầu của khách. Để thực hiện được điều này ngân hàng phải tăng cường đầu tư trang thiết bị công nghệ cơ sở vật chất. Và theo kinh nghiệm của ngân hàng thì vấn đề này là quan trọng sẽ sức hút mạnh đối với hoạt động tín dụng.

          So sánh  
    Tài sản có Năm 2000 Năm 2001 năm 2001/2000  
             
    Tiền gửi tai các 23,586,425 29,836,812 6,250,387  
    ngân hàng khác
           
             
    Đầu tư 244,526 240,093 -4,433  
    Cơ sở và thiết 131,298 131,862 564  
    bị
           
    Tài sản có khác 567,959 352,080 -215,879  
             

    Bảng2: Bảng tổng kết tài sản của ngân hàng liên doanh Chohung vina

    Đơn vị: USD

    Nhìn lại cơ cấu vốn của ngân hàng như bảng trên thì ngân hàng đầu tư vào phần cơ sở vật chất trang thiết bị khá lớn, ngân hàng trang bị đầy đủ thiết bị máy vi tính, kết nối mạng cho các phòng. Trong năm 2002 ngân hàng đã tiến hành trang bị máy rút tiền tự động ATM để đáp ứng nhu cầu của khách.Tuy nhiên ta thấy phần tiền gửi ngân hàng khác chiếm tỉ lệ thị phần rất lớn vào năm 2000 tỉ lệ tiền gửi tại các ngân hàng khác là 23,586,425 chiếm khoảng 59.53% trên tổng số tài sản có, đến năm 2001 con số này là 29,836,812 chiếm 60.74% tổng tài sản có, như vậy ngân hàng còn dư thừa một lượng tiền khá lớn chưa phát huy được hiệu quả, thực ra

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    đây cũng là một đặc điểm riêng của ngân hàng liên doanh nước ta do có những ràng buộc trong qui định về pháp luật do đó việc cho vay vốn của ngân hàng liên doanh chỉ trong một phạm vi nhỏ hẹp.

    2.3.2. Đánh giá về thành tựu và những tồn tại của ngân hàng liên doanh Chohung vina

    2.3.2.1.Thành tựu

    Trong quá trình hoạt động tín dụng của ngân hàng thì một điểm nổi bật là chất lượng tín dụng khá cao, nợ quá hạn là bằng không. Điều này phản ánh quá trình cho vay của ngân hàng rất hiệu quả, thực tế chứng kiến quy trình cho vay của ngân hàng rất chặt chẽ, các cán bộ tín dụng có phẩm chất tốt, có năng lực, và đã chấp hành tốt các qui định trong quá trình cho vay vốn. Ngoài ra điều này cũng phản ánh hiệu quả của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, chấp hành tốt các qui định của ngân hàng.

    Trong những năm vừa qua ngân hàng đã cấp vốn tín dụng cho khá nhiều dự án trong các lĩnh vực khác nhau, ví dụ như cung cấp vốn cho công ty LGCable để sản xuất cáp điện; công ty LGIST để sản xuất tủ điện; trong lĩnh vực sản xuất thép có công ty VINAPIPE, công ty VPS(Vietnam Posco steel); trong lĩnh vực dệt có công ty dệt Pangrim; công ty sản xuất mì chính Miwon; công ty Duna Furniture sản xuất đồ gỗ… đóng góp rất lớn vào GDP, mở mang kĩ thuật, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động.

    Ngoài ra ngân hàng liên doanh Chohung vina tạo ra một cầu nối thu hút luồng vốn của các doanh nghiệp Hàn quốc đầu tư trong nước, bởi vì xét về phía tâm lí nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào một nước nào đó thì cần phải xét xem là nước đó có ngân hàng của rnức họ chưa? Bởi vì nếu có ngân hàng nước họ thì sẽ thuận tiện hơn về mặt ngôn ngữ giao tiếp, cách thức thói quen, hơn nữa ngân hàng họ có những công nghệ hiện đại hơn, việc thanh toán với công ty mẹ dễ dàng hơn vì ngân hàng liên doanh cũng có những đường dây bên nước của họ. Trên thực tế, ngân hàng thương mại nước ta chưa thọc sâu vào đối tượng khách hàng này đó là về mặt thanh

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    toán quốc tế của ngân hàng nước ta còn kém, hiện nay ngoại trừ ngân hàng ngoại thương, các ngân hàng còn lại chưa đủ uy tín để thực hiện thanh toán quốc tế cho nên đối tượng khách hàng nước ngoài ở các ngân hàng này là rất ít, chủ yếu là do ngân hàng nước ngoài đảm nhiệm.

    Năm vừa qua ngân hàng liên doanh Chohung vina chịu một sức ép cạnh tranh của ngân hàng nước ngoài rất lớn, nhất là từ khi Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập ở nước ta rất nhiều, và để thu hút thị phần các ngân hàng thi nhau cạnh tranh lãi suất rất thấp nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình và chấp nhận lỗ những năm đầu, và trong thời gian đầu không ít những khách hàng của Chohung vina đã rời bỏ ngân hàng song qua một thời gian thì họ lại quay về ngân hàng vì họ đã cân nhắc rất kĩ những lợi ích mà họ nhận được. Ngân hàng Chohung vina không phải tham gia vào cuộc cạnh tranh không lành mạnh với các ngân hàng nước ngoài mà họ vẫn thu hút được thị phần trên thị trường bởi vì họ tạo ra những tiện ích mà ngân hàng khác không có được, do đó trong những năm qua họ vẫn trụ vững, có lãi đều trong khi nhiều ngân hàng khác rơi vào thế lao đao.

    Ngân hàng Chohung vina thực hiện nghiêm chỉnh chính sách nhà nước, trong thời gian vừa qua ngân hàng đã nộp thuế lợi tức cho ngân sách nhà nước, mức thuế lợi tức bằng 25% lợi nhuận hàng năm, và mỗi năm dành 5% lãi ròng hàng năm để trích lập quĩ dự trữ bổ sung vốn điều lệ cho đến khi bằng với vốn điều lệ của ngân hàng; dành ra 5% lãi ròng hàng năm để thành lập quĩ trợ cấp thất nghiệp.

    Hơn nữa ở chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina đã có giám đốc điều hành là người Việt Nam, thông hiểu luật pháp, chịu trách nhiệm về chi nhánh đối với các đối tác và trụ sở chính, về điểm này ngân hàng liên doanh đã khắc phục được nhược điểm trước là người đứng đầu chi nhánh là người nước ngoài. Các nhân viên hoạt động trong chi nhánh rất có

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    chuyên môn, kĩ thuật, học tập được nhiều kinh nghiệm và phong cách làm việc của nước ngoài.

    2.3.3.2.Tồn tại của ngân hàng

    Hiện nay việc huy động vốn nước ngoài để đầu tư tín dụng tại Việt Nam của ngân hàng liên doanh Chohung vina còn rất hạn chế. Ngoài số vốn huy động được từ các nhà đầu tư nước ngoài, ngân hàng chưa vay mượn trực tiếp từ thị trường vốn quốc tế để cho vay lại tại Việt Nam. Điều này cũng do một phần đối tác ngân hàng nước ngoài của ngân hàng Chohung vina mới chỉ là ngân hàng có tầm cỡ quốc gia, uy tín và kinh nghiệm hoạt động quốc tế còn hạn chế, mạng lưới hoạt động quốc tế còn nhỏ hẹp.

    Hơn nữa do mức vốn thấp, trong khi ngân hàng nước ngoài cũng không phải là ngân hàng lớn, nên ngân hàng liên doanh còn gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng địa bàn hoạt động, ngân hàng chưa thu hút được nhiều nguồn đầu tư lớn, chưa vay được khoản vốn lớn từ quốc tế do đó ngân hàng liên doanh Chohung vina hoạt động chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn.

    Về mặt luật pháp, do việc lo ngại về khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và các ngân hàng liên doanh đã dẫn đến việc đưa ra những qui định nhằm hạn chế phạm vi và nội dung hoạt động của các ngân hàng liên doanh. Ví dụ như qui định về vốn góp của một cổ đông nước ngoài tại ngân hàng liên doanh chỉ được phép nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ của ngân hàng. Các ngân hàng liên doanh không được phép huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng Việt Nam. Do đó ngân hàng liên doanh cũng bị hạn chế trong nghiệp vụ huy động vốn, và mở rộng phạm vi cho vay đối với khách hàng.

    Số lượng khách hàng tín dụng của ngân hàng hiện nay chỉ khoảng 17 như vậy là tương đối ít do đó không phát huy được hết hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, điều này cũng do hạn chế của nhà nước muốn

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    giảm tính cạnh tranh trên thị trường cho các ngân hàng thương mại trong nước. Điều này có thể không có hiệu lực khi Việt Nam tham gia kí kết các hiệp định thương mại. Do đó ngân hàng thương mại nước ta nên sớm khắc phục những tồn tại của mình để đủ sức tự nâng cao khả năng cạnh tranh mà không cần nhờ, chờ ngân hàng nhà nước giúp cho một số lợi thế cạnh tranh.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN Ở HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    (nghiên cứu từ thực tiễn hoạt động của ngân hàng liên doanh Chohung Vina)

    3.1. Những ảnh hưởng của xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

    Qua hơn 15 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, có được sự ổn định và tốc độ phát triển khá cao. Trước xu hướng quốc tế hiện nay là hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế nước ta đang mở rộng hội nhập cùng khu vực và quốc tế. Nước ta tham gia kí kết các hiệp định thương mại với các nước trên thế giới, tham gia vào tổ chức ASEAN, kí hiệp định thương mại với nước Mĩ và sắp sửa tiến tới gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới(WTO). Khi tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế thì nền kinh tế thị trường mỗi nước sẽ trở thành những sân chơi chung cho các quốc gia, thị trường tài chính mở rộng phạm vi hoạt động không biên giới.

    Giờ đây hầu hết các nước đang phát triển đều coi xu hướng hội nhập là con đường phát triển, qua đó có thể học hỏi kinh nghiệm các nước tiên tiến trên thế giới về thành tựu công nghệ, đẩy nhanh tiến trình phát triển nước mình, tuy nhiên cũng vừa làm sâu sắc thêm quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế, và dẫn đến hoạt động của các tổ chức kinh tế nước ta sẽ trở nên khó khăn hơn, cho nên hơn bao giờ hết các tổ chức kinh tế phải tìm ra những giải pháp nâng cao nội lực của chính mình.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Điều này đã được nhận rõ qua đường lối chính sách của Đảng Nhà nước trong những năm vừa qua trong việc nỗ lực tìm kiếm các đường đi nhằm đẩy mạnh sức mạnh của các tổ chức kinh tế nước ta nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế.

    Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, vấn đề nâng cao sức mạnh cạnh tranh cho các ngân hàng thương mại quốc doanh nước ta còn đặc biệt quan trọng hơn vì hoạt động ngân hàng là hoạt động huyết mạch của một quốc gia, quyết định vận mệnh của một quốc gia. Khi tham gia hội nhập quốc tế, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài là không tránh khỏi. Yêu cầu của hội nhập là phải bình đẳng giữa các thành phần kinh tế không phân biệt các quốc gia khác nhau.

    Trước tình hình đó ngân hàng thương mại Việt Nam phải nhanh chóng đổi mới hoạt động của mình nâng cao sức mạnh của chính mình thì mới mong trụ vững trong nền kinh tế. Trên thực tế trong những năm vừa qua tỉ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại nước ta còn ở mức rất cao như bảng sau

    Bảng 5: Tình hình nợ quá hạn ở ngân hàng thương mại Nhà nước năm 1991-2001

    Năm 91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000 2001
    Tỉ lệ                      
    NQH 19.7 13.7 11.1 6.0 7.8 9.3 12.3 13.1 13.7 12.78 8.53
    /TSC                      

    (Theo tài liệu khoa học đào tạo ngân hàng số 2/2003)

    Với một tỉ lệ xấu cao như vậy sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới tình hình hoạt động trong ngân hàng. Ngoài hậu quả của nó là ngân hàng có thể sẽ mất vốn, mà hơn nữa nó còn làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế, ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, điều này có thể so sánh như trên thị trường chứng khoán, các công ty cổ phần có uy tín thì giá cổ phiếu của công ty đó sẽ cao hơn, công ty có khả năng huy động được nhiều vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nếu công ty nào mà bị giảm uy tín thì sẽ rất khó khăn trong hoạt động huy động vốn, hơn nữa đối tượng kinh doanh của ngân hàng đó là tiền tệ, do đó hoạt động của ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào lòng tin của khách hàng. Do đó việc tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng là điều quan trọng hiện nay của ngân hàng.

    Một trong những mục tiêu của việc thành lập ngân hàng liên doanh, hay ngân hàng nước ngoài ở nước ta là để nhằm học hỏi kinh nghiệm của họ, đặc biệt là những ngân hàng nước phát triển, bởi vì những nước phát triển hoạt động ngân hàng họ có một quá trình phát triển ngân hàng rất lâu so với ngân hàng nước ta do đó họ cũng tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong hoạt động của mình. Do đó việc học hỏi kinh nghiệm và áp dụng linh hoạt vào hoạt động của ngân hàng nước mình là điều rất cần thiết, và đây cũng không phải là điều mới mẻ đối với nước ta trong những năm qua.

    Ngân hàng Chohung vina là ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước Hàn Quốc, mà Hàn Quốc cũng là một nước có nền tài chính phát triển mạnh, và có những đặc điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện địa lí, kinh tế xã hội và đã nhiều quan hệ với Việt Nam trong những năm qua.

    Qua quá trình thực tập ở ngân hàng liên doanh Chohung vina em đã rút ra một sô những kinh nghiệm trong hoạt động của ngân hàng mà qua đó ngân hàng nước ta có thể tham khảo thêm nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của mình.

    3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với các ngân hàng thương mại nước ta rút ra từ quá trình nghiên cứu

    ngân hàng Chohung vina

    3.2.1. Đối với quá trình thẩm định đối với các dự án xin vay vốn.

    Đối với một hợp đồng tín dụng, khâu thẩm định là một bước rất quan trọng. Có thể nói, thẩm định toàn diện mọi nội dung của dự án là một trong

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    những yêu cầu quan trọng nhất giúp cho việc ra quyết định đầu tư của ngân hàng được chính xác đảm bảo tính khoa học, khách quan. Để được vay vốn, khách hàng phải giải trình dự án kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình với cán bộ tín dụng. Nội dung của công tác thẩm định nhằm khẳng định 2 vấn đề:

    Một là, phương án phải thoả mãn các điều kiện, nguyên tắc cho vay theo thể lệ chế độ quy định cụ thể đối với các khoản vay đó để có thể thu hồi được nợ gốc và lãi đúng hạn.

    Hai là, hồ sơ và thủ tục vay vốn phải đầy đủ hợp pháp, hợp lệ, nếu xảy ra tranh chấp thì phải đảm bảo tính pháp lý cho ngân hàng.

    Quá trình thẩm định dự án là bước nhằm để đưa ra quyết định cho vay hay không, như vậy thì ngân hàng phải kiểm tra hai điều từ hồ sơ và thủ tục vay vốn ở doanh nghiệp ; thứ nhất là tính chính xác của thông tin cấp cho ngân hàng, bước này đòi hỏi ngân hàng phải có trình độ phân tích và quan sát, tổng hợp các số liệu và tìm hiểu kĩ càng; thứ hai là kiểm tra tính khả thi của dự án mang lại, bước này nhằm để đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi hoàn thành dự án.

    Nói chung trong hai bước kể trên thì bước thứ nhất ngân hàng liên doanh Chohung vina làm khá tốt. Trước một hồ sơ xin vay ngân hàng liên doanh yêu cầu doanh nghiệp phải nói rõ mục đích mà doanh nghiệp vay mượn, và kiểm tra tính chính xác của mục đích đó. Ví dụ doanh nghiệp muốn vay để mua nguyên vật liệu thì doanh nghiệp phải trình hóa đơn mua hàng của mình ra, mua của ai, số tiền phải trả là bao nhiêu? Sau khi kiểm tra chính xác các thông tin đó ngân hàng sẽ tự chuyển đến cho tài khoản của người bán. Như vậy đương nhiên quá trình trở nên rất chặt chẽ và hiệu quả. Đây là bước rất quan trọng đối với một dự án vay vốn, vì nếu doanh nghiệp vay vốn để sử dụng vào sản xuất kinh doanh thì ắt sẽ có nguồn thu về sau này và sẽ có khả năng thanh toán cho ngân hàng, còn trong trường hợp mà do ảnh hưởng của những nguyên nhân khách quan đem lại, doanh

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nghiệp làm ăn thua lỗ ngân hàng nên xem xét gia hạn nợ cho doanh nghiệp, để có thể giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thực hiện đúng chức năng của một ngân hàng chân chính. Ngoài ra ngân hàng cần phải tiến hành thẩm định các bước như sau

    • Thẩm định về phương diện thị trường: Phân tích khả năng tiêu thụ sản phẩm, giá cả, quy cách phẩm chất, mẫu mã thị hiếu của người tiêu dùng. Xem xét các hợp đồng bao tiêu sản phẩm về số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn và phương thức thanh toán.
    • Thẩm định về phương diện kỹ thuật: Phải xem quy mô dự án có phù hợp với năng lực tiêu thụ sản phẩm hay không, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, năng lực quản lý của doanh nghiệp. Phải xem xét mặt công nghệ của thiết bị để đưa ra các phương án nhằm chọn được công nghệ tối ưu nhất. Thẩm định về mặt số lượng công suất, chủng loại, danh mục của thiết bị dây chuyền sản xuất và năng lực hiện có của doanh nghiệp so với quy mô của dự án.
    • Thẩm định tính khả thi của dự án về nội dung kinh tế tài chính: Đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến việc lựa chọn các dự án đầu tư. Ngân hàng có thể sử dụng các chỉ tiêu tài chính đơn giản như: lợi nhuận ròng, tỷ suất lợi nhuận, thời gian thu hồi vốn, điểm hoà vốn… hoặc phân tích tính khả thi của dự án bằng phương pháp giá trị hiện tại, tỷ suất hoàn vốn nội bộ để xem xét độ nhậy bén của dự án. Nguồn trả nợ sẽ là tốt nhất nếu thu được từ dự án nhưng ngân hàng cũng nên tính đến khả năng trong thời gian đầu khi dự án chưa thu đựơc lợi nhuận thì doanh nghiệp có nguồn thu nào khác bù vào không.

    Ngoài ra còn thẩm định về môi trường xã hội, phương án tổ chức thực hiện, phương diện tổ chức quản lý…

    Đây cũng là những bước rất quan trọng của dự án song nó cũng chỉ có

    • nghĩa về mặt lý thuyết, còn trên thực tế còn có rất nhiều yếu tố khách quan tác động tới hoạt động của doanh nghiệp, do đó trong quá trình cho

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    vay ngân hàng thường xuyên phải xuống thực tế của doanh nghiệp kiểm tra cụ thể.

    Điều này ngân hàng liên doanh Chohung vina làm khá tốt cũng do một mặt địa bàn hoạt động của chi nhánh tương đối hẹp, chỉ xung quanh mấy tỉnh phía bắc như Hà nội, Hải phòng, Quảng ninh, Thái Nguyên và khách hàng của ngân hàng là 17 doanh nghiệp, tuy nhiên đây chỉ xét là một chi nhánh liên doanh hoạt động nên ta không thể so sánh với các ngân hàng thương mại lớn khác.

    Còn ngân hàng thương mại nước ta hiện nay thì sao, do khối lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn là khá lớn dẫn đến tình trạng quá tải của các cán bộ tín dụng dẫn đến việc thẩm định dự án cho vay sẽ bị bỏ sót. Rút kinh nghiệm từ hoạt động ngân hàng liên doanh Chohung vina, ta nên học tập cách tổ chức của họ, lấy chất lượng tín dụng làm mục tiêu hàng đầu, đồng thời mở rộng tín dụng phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng địa bàn thì phải có sự phân bố hợp lí chi nhánh hoạt động trên địa bàn, nhằm có thể tiện lợi cho quá trình đi thực tế kiểm tra của cán bộ tín dụng.

    Đối với việc quá tải công việc của cán bộ tín dụng như hiện nay cần phải có chính sách tuyển thêm người, đào tạo nâng cao trình độ của các cán bộ tín dụng, giảm thiểu bớt những qui trình công đoạn không hợp lí, cần phải đi sâu vào trọng tâm. Ví dụ như: trong các khách hàng vay vốn trung dài hạn của ngân hàng chủ yếu là khách hàng truyền thống và khách hàng lâu dài từ trước đã tham gia vay vốn ngắn hạn của ngân hàng. Vì vậy giữa bộ hồ sơ vay vốn trung dài hạn với bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn có hai điểm trùng nhau đó là: Báo cáo thực trạng tài chính của doanh nghiệp, báo cáo quyết toán của doanh nghiệp kế tiếp hai năm trước. Do đó, ngân hàng có thể đơn giản hai thủ tục này khi mà doanh nghiệp chưa có đủ thì hoàn toàn có thể áp dụng dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn: vì trong nghiệp vụ vay vốn ngắn hạn, cán bộ tín dụng vẫn phải thường xuyên kiểm tra tình hình tài

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn chỉ thường dùng cho các doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với ngân hàng, còn đối với đơn vị lần đầu thì phải đảm bảo đầy đủ thủ tục. Việc đơn giản hóa như vậy sẽ làm khách hàng không ngần ngại khi đặt quan hệ vay vốn với ngân hàng. Việc các thủ tục xét duyệt đơn giản cũng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng điều tra có trọng điểm, không mất thời gian tìm hiểu quá lâu. Đơn giản không có nghĩa là qua loa, hời hợt đó là nguyên tắc của ngân hàng trước khi điều tra cho vay.

    3.2.2.Về hình thức tín dụng của ngân hàng

    Ngân hàng nên thỏa thuận với doanh nghiệp về hình thức vay vốn. Hiện nay, theo Quyết định số 217/ 2002/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 thì tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay theo các phương thức:

    • Cho vay từng lần.
    • Cho vay theo hạn mức tín dụng .
    • Cho vay theo dự án đầu tư.
    • Cho vay hợp vốn.
    • Cho vay trả góp.
    • Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
    • Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng .
    • Cho vay theo hạn mức thấu chi.
    • Theo các phương thức cho vay khác mà pháp luật Việt Nam không cấm, phù hợp với qui định tại Qui chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay.

    Khi tiến hành cho vay vốn ngân hàng liên doanh cùng khách hàng thỏa thuận về hình thức cho vay, ngân hàng liên doanh Chohung vina thực hiện tư vấn cho khách hàng về các hình thức vay vốn trên cơ sở đó khách hàng quyết định hình thức vay vốn của mình. Trong các phương thức cho

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    vay của ngân hàng Chohung vina, thì hình thức chủ yếu mà ngân hàng cùng khách hàng thỏa thuận là hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng, hình thức này phù hợp với tín dụng ngắn hạn, tiện lợi cho khách hàng trong quá trình sử dụng vốn và thanh toán vốn cho ngân hàng. Tuy nhiên hình thức này cũng đòi hỏi ngân hàng cần phải quan sát tình hình của doanh nghiệp chặt chẽ hơn, các hoạt động của khách hàng thì ngân hàng cần phải nắm bắt, điều này cũng trở nên dễ dàng nếu như doanh nghiệp hoạt động thanh toán qua tài khoản của mình tại ngân hàng, và ngân hàng thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp.

    Đối với hệ thống ngân hàng thương mại nước ta cũng vậy ngân hàng cần phải có những hình thức tín dụng trên cơ sở thỏa thuận, có thể thiết kế các hình thức tín dụng độc đáo nhưng phải dựa trên lợi ích của doanh nghiệp, như vậy ngân hàng mới có thể thu hút được khách hàng đến với ngân hàng mình, đã qua lâu rồi thời kì ngân hàng độc quyền trong kinh doanh nên có thể áp đặt hình thức vay mượn cho doanh nghiệp mà giờ đây phải coi khách hàng mình là thượng đế, phải phục vụ khách hàng theo nhu cầu của họ mới mong giữ được khách hàng của mình trong tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay.

    Trên thực tế thì hình thức tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế khá đơn điệu, chủ yếu là tín dụng theo dự án đầu tư trong khi đó mỗi khách hàng có đặc điểm riêng về sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn các thời kỳ, mức độ tín nhiệm trong quan hệ tín dụng cho nên nếu ngân hàng chỉ áp dụng hình thức tín dụng cố định thì có thể gây bất tiện cho ngân hàng, cho khách hàng phải tốn công sức và chi phí hơn nữa mỗi khi cần vay vốn lại không giải quyết kịp thời với nhu cầu vốn. Do vậy, ngân hàng nên tìm ra những phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay mà vẫn đảm bảo khả năng kiểm tra giám sát việc sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp. Trong thực tế có những khách hàng sau khi được thay đổi phương thức cho vay kịp thời đã hoạt động có hiệu quả hơn, thanh toán

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    được một phần nợ cũ. Như vậy việc áp dụng các phương thức cho vay đối với nhiều phương án kinh doanh khác của một khách hàng cũng có thể coi là biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng.

    3.2.3. Đa dạng và phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng:

    Đây là một yếu tố rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng hiện nay. Theo quan điểm hiện đại thì một ngân hàng kinh doanh hiệu quả không phải thể hiện ở số lượng tín dụng mà ngân hàng đó cung cấp ra thị trường mà là ở tính đa dạng sản phẩm ngân hàng, do đó thu nhập của ngân hàng không phải chủ yếu tập trung ở hoạt động tín dụng. Điều này hoàn toàn có thực, trên thực tế một doanh nghiệp khi lựa chọn vay vốn ở đâu thì họ phải cân nhắc về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng có thuận tiện hơn ngân hàng khác không, bởi vì ngoài muốn vay vốn ngân hàng doanh nghiệp còn muốn hưởng thêm các dịch vụ khác chứ không chỉ đắn đo về mức lãi suất cho vay mà ngân hàng đưa ra, trên thực tế doanh nghiệp chấp nhận một hình thức lãi suất cao hơn một chút nhưng bù lại doanh nghiệp được tiện ích hơn trong các hoạt động thanh toán sau này.

    Bởi thế cho nên, trong thời gian qua trên thị trường có sự cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng nước ngoài mới vào Việt Nam, các ngân hàng này thi nhau hạ mức lãi suất xuống rất thấp để thu hút khách hàng về phía mình, chấp nhận chịu lỗ trong thời gian đầu, trong khi đó ngân hàng liên doanh Chohung vina vẫn không cần phải hạ mức lãi suất xuống mà khách hàng của ngân hàng không rời bỏ bởi vì họ căn cứ vào những lợi ích do ngân hàng đem lại nhiều hơn.

    Điều này cũng phản ánh một thực trạng là hiện nay tại sao các ngân hàng thương mại nước ta chưa thọc sâu vào các đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp nước ngoài này, bởi lẽ các ngân hàng chưa chú ý tới những sản phẩm dịch vụ đi kèm khoản tín dụng. Có thể chấp nhận được không khi một ngân hàng cung cấp hàng trăm tỉ đồng vốn tín dụng ra thị trường mà không thực hiện thanh toán được L/C, việc thực hiện thanh toán

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    này cần có uy tín trên thị trường quốc tế, điều này tương đối khó khăn cho ngân hàng thương mại nước ta bởi vì hiện nay tỉ lệ nợ xấu trong ngân hàng vẫn rất cao, tỉ lệ an toàn vốn thấp so với thế giới, do đó trong vấn đề này ngành ngân hàng nước ta cần phải phối hợp với những ngân hàng lớn khác trên thế giới để nhằm có thể mở rộng nghiệp vụ thanh toán của mình.

    3.2.4. Nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng

    Yếu tố con người đóng một vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng tín dụng sau này. Các cán bộ tín dụng trước hết phải có phẩm chất đạo đức tốt, luôn đặt lợi ích của tập thể ngân hàng lên trên lợi ích cá nhân, một cán bộ như thế sẽ nhìn mọi sự việc bằng con mắt trí công vô tư. Thực tế đã chứng minh không ít những vụ án đã xảy ra ở Việt Nam vừa qua xuất phát từ những cán bộ tín dụng vì lòng tham ăn hối lộ dẫn đến không xuy xét cẩn thận tiếp tay cho những kẻ xấu lừa đảo và làm thiệt hại vốn tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên đi đôi với phẩm chất đạo đức thì cán bộ tín dụng cần phải có một trình độ chuyên môn, có óc nhận xét, quan sát.

    Tất cả các yêu cầu đó đối với một cán bộ tín dụng dường như là quá nhiều, một cán bộ dù tài giỏi đến đâu cũng không thể có đầy đủ những yếu tố đó. Vì vậy ngân hàng cần phải kế hoạch hóa công tác đào tạo cán bộ, sớm thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ tín dụng, đưa việc nâng cao trình độ trở thành mục tiêu phấn đấu và làm việc thường xuyên. Công tác đào tạo cần tập trung theo trọng điểm và đào tạo một cách toàn diện để thực sự có những cán bộ có đủ năng lực và hiểu biết phục vụ yêu cầu công tác kinh doanh, tránh đào tạo tràn lan, lãng phí.

    Ưu tiên đào tạo cán bộ chủ chốt trước, sau đó đào tạo những cán bộ kế cận, có năng lực và phẩm chất đạo đức .

    Để nâng cao trình độ cho các cán bộ tín dụng, ngân hàng nên tổ chức những lớp tập huấn đào tạo lại hoặc bổ sung kiến thức nghiệp vụ trong cơ chế thị trường cho các cán bộ quá lâu trong thời kỳ bao cấp; cho các cán bộ có năng lực đi học tập ở nước ngoài; tuyển chọn những cán bộ trẻ tuổi có

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    năng lực thực sự am hiểu về kinh tế thị trường chuẩn bị cho đội ngũ kế cận. Ngân hàng có thể tạo điều kiện thuận lợi về giờ giấc, học phí … để giúp cán bộ tham gia các lớp học để nâng cao trình độ. Trong công tác đào tạo này, ngân hàng nên chú trọng chất lượng hơn là số lượng. Các lớp tập huấn kiến thức chung lại ngân hàng không nên tổ chức tại hội trường lớn – nơi mà ai cũng có thể làm việc riêng của người ấy mà nên tổ chức thành các lớp nhỏ với số lượng khoảng trên dưới 10 học viên. Cán bộ sau khi được ngân hàng cử đi học cũng phải chịu trách nhiệm cụ thể tránh căn bệnh hình thức, ngân hàng bỏ tiền cho cán bộ đi học những sau khi kết thúc khóa học lại không mang lại hiệu quả trong công việc.

    3.2.5. Tăng cường hoạt động Marketing ngân hàng và áp dụng chính sách khách hàng hợp lý.

    Nhìn chung, đại đa số các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay thì việc áp dụng Marketing vào hoạt động còn rất hạn chế, chỉ tập trung vào các hoạt động bề nổi như quảng cáo khuếch trương, còn các chức năng chủ lực có ý nghĩa quyết định thành công trong hoạt động kinh doanh như nghiên cứu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu, định vị hình ảnh, nâng cao về chất lượng dịch vụ ngân hàng hầu như còn rất mờ nhạt. Do vậy, các nhà quản lý ngân hàng cần phải chuyển sang tư duy mới, lấy quan điểm Marketing làm chủ đạo, có tầm nhìn chiến lược, có khả năng phân tích. Triết lý Marketing cần phải thâm nhập vào các bộ phận ngân hàng, tất cả các nhân viên với mục tiêu phục vụ tối đa những gì khách hàng cần. Mỗi cán bộ đều phải coi mình là nhân viên. Thành lập phòng chức năng Marketing trong cơ cấu tổ chức quản trị để đề ra và định hướng hoạt động Marketing một cách bài bản, với một đội ngũ nhân viên nhạy bén, am hiểu.

    Chính sách khách hàng: các ngân hàng nên xây dựng chính sách khách hàng lâu dài, ngân hàng và khách hàng luôn gắn bó với nhau, mối quan hệ này luôn tồn tại khách quan, bổ sung và tạo điều kiện cho nhau

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    cùng phát triển. Cần thiết phải đánh giá cao khách hàng truyền thống, có uy tín và mở rộng có chọn lọc đối với khách hàng mới.

    Khách hàng truyền thống là khách hàng gắn bó với ngân hàng cả về thời gian và nội dung hoạt động, có cả quá trình lịch sử, hiện tại và tương lai, gắn liền với ngân hàng từ những ngày đầu đến nay. Đối với khách hàng có uy tín điều dễ nhận thấy là đều thực hiện tốt việc vay mượn, trả nợ sòng phẳng, có trách nhiệm với đồng vốn, sử dụng vốn có hiệu quả và có lãi. Vì vậy với đối tượng này, ngân hàng phải hết sức quan tâm gắn hoạt động khách hàng với ngân hàng, thẩm định và đầu tư kịp thời các dự án có hiệu quả. Cần xây dựng trong lòng khách hàng này hình ảnh ngân hàng luôn gần gũi và hỗ trợ kịp thời để sản xuất nhiều sản phẩm có chất lượng cao cho xã hội. Có chính sách lãi suất hợp lý, ưu đãi đối với các doanh nghiệp có số dư tiền vay lớn và không có nợ quá hạn.

    Mở rộng có chọn lọc đối với khách hàng mới.

    Tích cực bằng mọi biện pháp để thu hút khách hàng thuộc khu vực Nhà nước để cho vay khép kín cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với chu trình sản xuất, đồng thời thiết lập và nâng cao hiệu quả xử lý thông tin tín dụng. Ngân hàng cũng cần quan tâm đến những doanh nghiệp ngoài quốc doanh, bởi đây là một lực lượng khách hàng tiềm năng đang ngày càng lớn mạnh, những dự án của các doanh nghiệp này vừa có tính khả thi cao, thiết thực với đời sống lại đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Với những khách hàng mới, việc cung cấp tín dụng sẽ có phần nào khó khăn hơn, tính rủi ro cao hơn nên ngân hàng cần chú ý.

    Thông qua xây dựng chiến lược khách hàng, ngân hàng có thể tiến hành quản lý khách hàng một cách sát thực hơn, chính xác hơn. Nhờ đó có thể chủ động trực tiếp tham gia vào những dự án mới của doanh nghiệp từ đầu, không phải đợi đến lúc doanh nghiệp tự mang dự án đến xin vay đồng thời ngân hàng qua đó cũng nắm rõ dự án hơn, giúp cho hoạt động tín dụng hiệu quả hơn.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Trên đây là một số giải pháp rút ra từ kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng liên doanh Chohung vina.

    3.3. Một số giải pháp khác.

    3.3.1. Tăng cường hoạt động huy động vốn

    Đối với chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina thì nghiệp vụ huy động vốn bị hạn chế bởi chính sách của nhà nước nhằm hạn chế khả năng huy động của ngân hàng liên doanh do đó dẫn đến khả năng mở rộng qui mô cho vay của ngân hàng cũng bị thu hẹp lại. Tuy nhiên đối với hệ thống ngân hàng thương mại nước ta thì cần phải tăng cường huy động vốn trên thị trường nhằm mở rộng khả năng cho vay của ngân hàng.

    Đối với ngân hàng, khách hàng là đối tượng quan trọng trong chiến lược huy động vốn, họ đến với ngân hàng để gửi tiền và mở tài khoản với nhiều mục đích khác nhau, vì vậy có thể chia thành hai loại: Khách hàng thường xuyên và khách hàng không thường xuyên. Từ đó ngân hàng có đối sách thích hợp.

    Huy động tiền gửi:

    Khách hàng là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ. Đối tượng này khi mở tài khoản tiền gửi hoặc tiền vay với mục đích chính là phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi, được sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Trên thực tế, tổng số nguồn vốn của các ngân hàng thương mại nước ta thì vốn huy động từ các tổ chức kinh tế có tỷ trọng còn thấp (< 25%). Do đó ngân hàng cần phải tiến hành các biện pháp để tăng lượng tiền gửi trong ngân hàng mình lên:

    • Tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để các doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi và sử dụng tiền mặt một cách linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp để chi trả phục vụ cho hoạt động kinh doanh.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    • Có chính sách ưu đãi về lãi suất (lãi suất huy động và cho vay) đối với các doanh nghiệ Vì lãi suất là công cụ tác động mạnh đến việc khách hàng quyết định đặt giao dịch với ngân hàng hay không. Ngân hàng phải dành cho doanh nghiệp những điều kiện phục vụ thuận lợi như: không thu phí chuyển tiền, phí mở séc bảo chi, phí mở L/C…. Thay vào đó ngân hàng không phải trả lãi cho loại tiền gửi để thực hiện các dịch vụ này.
    • Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi những biến động trên tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp để rút ra những quy luật vận động của đồng vốn và giúp doanh nghiệp sử dụng tốt số dư trên tài khoản tiền gửi ở ngân hàng.

    Khách hàng là các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức đoàn thể: loại khách hàng này vốn hoạt động chủ yếu là do Ngân sách Nhà nước cấp, tuy nhiên trong pháp lý được Nhà nước cho phép những khoản tiền không có nguồn gốc từ ngân sách như tiền cho thuê mặt bằng… Các khoản tiền này sẽ gửi ở Ngân hàng dưới hình thức tài khoản chuyên dùng. Mục đích của đối tượng khách hàng này là gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi. Ngân hàng nên khai thác tốt nguồn vốn này, tạo điều kiện cho các cơ quan đơn vị gửi và sử dụng tiền gửi.

    Huy động tiết kiệm

    Khách hàng thuộc tầng lớp dân cư: khi nền kinh tế tăng trưởng, các tầng lớp dân cư có nguồn thu nhập dưới hình thức tiền tệ ngày càng tăng. Loại thu nhập này được phân tán ở các hộ dân cư trong toàn xã hội. Theo đánh giá của ngân hàng Nhà nước và WB thì đây là nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi nhất, không những bằng nội tệ mà còn bằng cả ngoại tệ, để thu hút được nguồn vốn quan trọng này, ngân hàng cần có những biện pháp thích hợp

    • Đa dạng hoá các loại hình tiền gửi với nhiều kỳ hạn khác nhau mang tính linh hoạ Kèm theo những loại tiền gửi này là những hình thức khuyến khích hấp dẫn đối với khách hàng.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    • Ngân hàng cần có những đại lý để thu hút tiền gửi của cán bộ, công nhân viên chức ở cơ quan xí nghiệp, ở những thời điểm tập trung dân cư chưa có ngân hàng và các quỹ tiết kiệm hoạt độ
    • Ngoài ra ngân hàng có thể bố trí khoa học giờ làm việc để giao dịch với các khách hàng một cách thuận lợi hơ Trong khả năng và điều kiện cho phép có thể làm việc cả ngày và ngoài giờ vì thời gian này sẽ thu hút được khách hàng bận việc đến giao dịch với ngân hàng.

    Ngân hàng còn có thể trường chứng khoán, vay trên

    huy động vốn thông qua việc tham gia thị thị trường liên ngân hàng …

    3.3.2. Đa dạng hoá các đối tượng cho vay.

    Đa dạng hóa đối tượng cho vay là một hình thức phân chia rủi ro trên thị trường.

    Hiện nay nền kinh tế thị trường nước ta phát triển, các loại hình doanh nghiệp đa dạng về các loại hình sở hữu. Chủ trương chính sách của Chính phủ nước ta là tiến tới bình đẳng về pháp luật của tất cả mọi loại hình kinh tế, do đó số lượng doanh nghiệp nước ta được thành lập ngày càng tăng tham gia vào tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội, do đó nhu cầu về vốn luôn cần được đáp ứng. Khi nền kinh tế phát triển hơn thì các doanh nghiệp sẽ hoạt động ổn định hơn, cơ chế thị trường sẽ tự chọn lọc các doanh nghiệp làm ăn chân chính và có hiệu quả, loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn yếu kém và lúc đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay ngân hàng thương mại nước ta nên mở rộng thị phần hoạt động của mình, vừa giúp tăng lợi nhuận trong ngân hàng, vừa giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực hoạt động, tăng sức cạnh tranh.

    Đối với doanh nghiệp Nhà nước

    Hiện nay đối tượng chính thức được ngân hàng cho vay vốn là các doanh nghiệp Nhà nước. Ngân hàng cần tiếp tục đầu tư cho các các doanh

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nghiệp làm ăn có hiệu quả, quan tâm tới các doanh nghiệp truyền thống đồng thời giúp các doanh nghiệp tạm thời khó khăn có điều kiện vươn lên sản xuất kinh doanh có lãi.

    • Ngân hàng cần bám sát tình hình tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước, đầu tư theo đúng ngành nghề kinh doanh đã đăng ký. Nắm vững tình hình tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp, các báo cáo này phải được kiểm tra kỹ lưỡng, kể cả yêu cầu doanh nghiệp thực hiện kiểm toán theo quy đị Đối với các doanh nghiệp có tình hình tài chính khả quan, có hướng phát triển đúng đắn, có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh Ngân hàng cần đầu tư và có thể mở rộng quy mô đầu tư vốn.
    • Ngân hàng cần chủ động nắm vững tình hình các doanh nghiệp nằm trong kế hoạch cổ phần hoá để xác định hướng cho vay phù hợ
    • Hạn chế việc đầu tư cho các doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả. Đối với những doanh nghiệp tình hình tài chính không lành mạnh, sản phẩm cạnh tranh kém… có thể đình chỉ cho vay, hạ dư nợ đến mức cần thiế

    Tăng cường cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

    Đa dạng hoá các loại hình cho vay nghĩa là vốn tín dụng của ngân hàng sẽ thâm nhập vào nhiều khách hàng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, cả tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn. Việc cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay cũng rất quan trọng.

    Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực mới thực sự đi vào hoạt động trong 10 năm trở lại đây. Quy mô của các doanh nghiệp thuộc loại này là không lớn nhưng đây là khu vực kinh tế rất năng động và tỏ ra có tiềm năng trong những năm tới. Trong những năm qua các ngân hàng chưa thực sự quan tâm tới khu vực kinh tế này, nó thể hiện ở doanh số cho vay nhỏ bé, dư nợ < 12% trong tổng số dư nợ của ngân hàng. Các doanh nghiệp

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    này được vay vốn bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các cơ sở kinh doanh được Nhà nước công nhận. Đối với các đơn vị này, ngân hàng chủ yếu cho vay vốn ngắn hạn chưa mạnh dạn cho vay trung và dài hạn mặc dù nhu cầu về vốn trung hạn và dài hạn của họ là rất lớn. Trong những năm tới, khu vực kinh tế này được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển cả về lĩnh vực hoạt động cũng như quy mô, thêm vào đó với sự khuyến khích và tăng cường công tác cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước do đó nó sẽ trở thành thị trường cho vay đầy tiềm năng đối với các ngân hàng thương mại.

    Muốn khai thác tốt thị trường kinh doanh mới mẻ này ngân hàng phải luôn theo sát sự biến động của và nhu cầu về vốn của các đơn vị kinh tế thuộc lĩnh vực này, tăng cường tiếp cận đối với các đơn vị đó thông qua các hình thức tiếp xúc như hội nghị khách hàng, giới thiệu các sản phẩm tín dụng của ngân hàng qua phương tiện thông tin đại chúng. Để các khoản vay đối với các doanh nghiệp này thực sự có chất lượng, ngân hàng cũng nên thay đổi một số quan điểm về việc cho vay và không nên coi tài sản bảo đảm là chỗ dựa an toàn cho số tiền vay phát ra, là một công cụ duy nhất để bảo đảm việc thu hồi nợ mà phải xác định tư cách người vay cũng như việc doanh nghiệp đó sử dụng vốn vay đó như thế nào, khả năng trả nợ đó ra sao. Bởi vì tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh chỉ là cơ sở để ngân hàng thương mại có khả năng thu hồi nợ vay khi doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ, song không phải tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh nào cũng dễ bán ra một cách kịp thời. Thực chất việc thu nợ bằng tài sản bảo đảm của khách hàng chẳng phải là một giải pháp tốt mà đó chỉ là một giải pháp tình thế, bắt buộc và khả năng thu hồi các khoản nợ từ việc phát mại tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh cũng rất khó khăn, thực chất đã chứng minh rằng thu nợ bằng tài sản xiết nợ đang là gánh nặng khi xử lý nợ của các ngân hàng thương mại. Việc quan trọng nhất khi xét duyệt hồ sơ tín dụng của các doanh nghiệp vay vốn là các cán bộ tín dụng phải xác định được thực lực tài chính của đơn vị đi vay, xác định được hiệu quả của dự

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    án mà đơn vị đó đã thực hiện. Điều này cũng đòi hỏi các cán bộ phải quan tâm nhiều hơn đến việc thẩm định tính hiệu quả của dự án của các doanh nghiệp thuộc các đơn vị kinh tế của Nhà nước.

    3.3.3. Tích cực xử lý nợ quá hạn.

    Để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, song song với việc thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế phát sinh nợ quá hạn mới thì việc xử lý các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi đang tồn đọng là điều rất quan trọng.

    Việc đầu tiên là phải phân tích từng loại nợ quá hạn, nợ khó đòi để tìm hiểu rõ nguyên nhân phát sinh, trên cơ sở đó phân thành nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi mà phải xử lý bằng tài sản thế chấp.

    Nghị định 178/NĐ-CP về khả năng phát mại tài sản đã tạo thuận lợi, tăng tính chủ động rất lớn trong việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố cho ngân hàng, tuy nhiên trong nhiều trường hợp việc phát mại tài sản thường gặp khó khăn do số tiền phát mãi nhỏ hơn vốn cần cần phải thu hồi, thời gian phát mãi dài, nhiều chi phí phát sinh, thậm chí là không phát mãi được, trong những trường hợp này, ngân hàng nên:

    • Hoặc dùng tài sản để cho thuê và trực tiếp đứng ra thu tiền.
    • Dùng tài sản đó làm vốn góp liên doanh.
    • Liên hệ với ngân hàng khác có nhiều tài sản thế chấp thuận lợi

    Nợ quá hạn là điều không ai muốn xảy ra, nhất là cán bộ tín dụng. Song nếu đã xảy ra thì ngân hàng nên có biện pháp tích cực để thu hồi nợ về, tránh rủi ro xảy ra. Thực tế trong thời gian qua công tác thu hồi nợ còn chiếm tỷ trọng nhỏ so với nợ quá hạn, chủ yếu vẫn dùng các biệp pháp khoanh nợ, gia hạn nợ…Để giảm thấp nợ quá hạn trong thời gian tới, các ngân hàng nên chú trọng hơn nữa công tác này. Bên cạnh đó như đã đề cập, để hạn chế nợ quá hạn mới tiếp tục phát sinh ngân hàng cần có biện pháp thẩm định và giám sát các món vay chặt chẽ hơn, phát hiện sớm những dấu

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    hiệu chủ yếu của nợ quá hạn để có biện pháp xử lý phù hợp. Những dấu hiệu của nợ quá hạn thường là:

    • Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị thu hẹp biểu hiện qua doanh số bán hàng thấp hơn doanh số cho vay, dư nợ không giảm.
    • Các khoản công nợ trong thanh toán của doanh nghiệp lớn và tồn đọng lâu dài, không giải quyết được dẫn tới đơn vị thiếu vốn hoạt động làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng.
    • Tồn kho hàng hoá tương đối lớn và trong thời gian dài do không tiêu thụ được vì chất lượng kém hoặc do sự cạnh tranh giảm giá với sản phẩm cùng loại trên thị trường.
    • Tiền lãi hàng tháng doanh nghiệp không trả đều đặn như theo hợp đồng tín dụng đã kí với ngân hàng, có tình trạng nợ lãi.
    • Số dư trên tài khoản tiền gửi, thanh toán ở ngân hàng giảm sút, xuất hiện tình trạng phát hành séc quá số dư.
    • Đơn vị trì hoãn việc nộp các báo cáo tài chính.

    3.3.4. Thực hiện bảo hiểm tín dụng.

    Bảo hiểm tín dụng là việc bảo hiểm số vốn tín dụng của ngân hàng cấp cho khách hàng vay, bảo hiểm tài sản mà người vay đem thế chấp cho ngân hàng. Có các hình thức bảo hiểm phổ biến sau:

    Khách hàng vay vốn mua bảo hiểm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Trong trường hợp này họ đã bảo hiểm gián tiếp cho vốn ngân hàng vì họ sẽ có nguồn thu khi gặp rủi ro trong kinh doanh và có thể dùng nguồn vốn đó để thanh toán nợ ngân hàng. Phương pháp này không làm ngân hàng phát sinh thêm nghiệp vụ và chi phí mà cũng khá an toàn. Do đó ngân hàng nên khuyến khích cách này bằng việc xem xét ưu đãi cho vay đối với khách hàng có mua bảo hiểm.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Ngân hàng hình thành các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại do không thu hồi hết nợ quá hạn, từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà không làm xáo động tình hình tài chính. Mặc dù ngân hàng có thể lấy vốn tự có để bù đắp những thiệt hại rủi ro, nhưng vốn tự có thường là rất nhỏ và thường là cơ sở huy động vốn nên việc hình thành quỹ dự phòng luôn là cần thiết. Trong quá trình trích lập các quỹ dự phòng vấn đề cần được giải quyết thoả đáng là quỹ dự phòng sẽ trích từ nguồn nào và trích như thế nào để vừa phản ánh được đúng kết quả kinh doanh vừa nâng cao chất lượng của ngân hàng.

    Ngân hàng mua bảo hiểm của các tổ chức chuyên nghiệp đối với hoạt động đầu tư cho vay của mình. Tuy nhiên theo biện pháp này thì ngân hàng phải bỏ ra một số chi phí để trả cho công ty bảo hiểm, do vậy biện pháp này chỉ nên sử dụng với những khoản đầu tư lớn, thời hạn dài và ngân hàng chuyển một phần chi phí cho khách hàng cùng san xẻ.

    3.3.5. Giải pháp về thông tin.

    Cùng với sự phát triển của công nghệ hiện đại, công tác thông tin trong ngân hàng ngày càng được hoàn thiện dần đáp ứng được với những đòi hỏi của nền kinh tế. Triển khai thực hiện tốt các chương trình quản lý kế toán-tín dụng MISAC, tiết kiệm điện tử SAMIT. Chuyển đổi một số chương trình sang môi trường Visual Basic, Visual Foxpro, triển khai chương trình BACKUP số liệu trên máy chủ. Nghiên cứu thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng phục vụ cho hoạt động ngân hàng như từ báo chí, số liệu thống kê và những định hướng chính sách của nhà nước. Thông tin mà Ngân hàng có được thường là do thu thập thông tin trực tiếp doanh nghiệp xin vay, thu thập thông tin từ nguồn khác.

    Thu thập thông tin từ các nguồn bên ngoài rất tốn kém và mất nhiều thời gian, song do sự chính xác và tính khách quan nên nó rất có ý nghĩa. Do vậy để tiết kiệm được thời gian và tiền bạc đồng thời vẫn đảm bảo chất

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    lượng thông tin, các ngân hàng thương mại phải tự xây dựng hệ thống thông tin cho mình:

    • Thiết lập hệ thống thông tin phản hồi: Ngân hàng cần thường xuyên thu thập thông tin về những mối quan hệ kinh doanh, thị trường mà doanh nghiệp quan tâm trong một giới hạn nhất định và nhận thông tin thường xuyên từ doanh nghiệp. Tuy nhiên, những thông tin này thường không đầy đủ hoặc thiếu chính xác do hầu hết khách hàng không muốn công khai hoá tình hình tài chính của mình. Vì vậy, để có được thông tin chính xác từ phía khách hàng, Ngân hàng nên đảm bảo các điều kiện sau:
    • Thực sự có uy tín trong việc thu thập thông tin, thông tin phải chính xác, có tính cập nhật.
    • Đảm bảo tính bí mật của các thông tin thu thập được.
    • Giữa các phòng ban cần có thông tin đa chiều, đặc biệt giữa phòng nguồn vốn, phòng kế toán và phòng kinh doanh.
    • Thiết lập thông tin với các ngân hàng khác trên địa bàn. Thực hiện tốt công tác này sẽ tránh được những khoản vay đảo nợ, rủi ro do thế chấp cùng một tài sản tại nhiều Ngân hàng.
    • Thu thập thông tin từ quan hệ khách hàng lâu dài.

    Nếu đơn vị đã có mối quan hệ thanh toán, tín dụng với ngân hàng trong một thời gian dài thì nhìn vào hoạt động quá khứ của khách hàng có thể biết được những thông tin hữu ích đối với khoản tiền sắp cho vay. Những thông tin đó cho phép đánh giá một cách nhanh chóng và tương đối chính xác về khả năng sử dụng vốn vay, thái độ của người vay. Việc này sẽ giảm được chi phí và thời gian thu thập thông tin giúp Ngân hàng xử lý vấn đề được dễ dàng hơn, từ đó các kết luận cho vay hoặc từ chối chính xác hơn.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    3.4. Một số kiến nghị

    3.4.1. Kiến nghị với Nhà nước

    Đối với ngân hàng liên doanh

    Đối với các qui định hạn chế hoạt động của ngân hàng liên doanh Nhà nước cần tiến hành xem xét lại. Về mặt luật pháp, do việc lo ngại về khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và các ngân hàng liên doanh đã dẫn đến việc đưa ra những qui định nhằm hạn chế phạm

    • và nội dung hoạt động của các ngân hàng liên doanh. Ví dụ như qui định về vốn góp của một cổ đông nước ngoài tại ngân hàng liên doanh chỉ được phép nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ của ngân hàng. Các ngân hàng liên doanh không được phép huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng Việt Nam. Mặc dù đây chỉ là những qui định xuất phát từ sự bảo hộ của nhà nước đối với các ngân hàng trong nướ Tuy nhiên cho đến nay các quyết định đó có thể phải hủy bỏ khi trong tương lai nền kinh tế nước ta sẽ mở cửa, hội nhập cùng các nước trên thế giới chúng ta sẽ phải tuân theo các qui định quốc tế, đối xử bình đẳng giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Do đó thay vì chúng ta hạn chế phạm vi hoạt động của ngân hàng liên doanh thì hãy tập trung quyết tâm cố gắng làm cho hệ thống ngân hàng thương mại trong nước còn yếu sớm khắc phục được những tồn tại của mình để các ngân hàng trong nước đủ sức tự nâng cao khả năng cạnh tranh mà không cần nhờ, chờ NHNN giúp cho một số lợi thế cạnh tranh.

    Việc hạn chế nội dung và phạm vi hoạt động đối với các ngân hàng liên doanh còn chưa hợp lí, nhiều khi tạo ra sự bất lợi, hạn chế về hoạt động đối với các tổ chức kinh tế Việt Nam và bên cạnh đó gây ra sự lo ngại cho phía đầu tư kinh doanh chứ không chỉ bản thân các ngân hàng liên doanh gặp khó khăn trong quá trình hoạt động.

    Trong hoạt động huy động vốn, đặc biệt bằng đồng Việt Nam, chẳng hạn việc đưa ra các qui định trong giải pháp hoạt động của NHNN cấp cho các ngân hàng liên doanh như đối với việc nhận tiền gửi của các tổ chức cá

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nhân là người Việt Nam và của các pháp nhân là các tổ chức kinh tế Việt Nam không quá 10% vốn được cấp và quĩ dự trữ của ngân hàng liên doanh. Điều này đã một mặt hạn chế khả năng hoạt động của ngân hàng liên doanh, mặt khác hạn chế khả năng buôn bán xuất nhập khẩu của các tổ chức kinh tế Việt Nam qua ngân hàng liên doanh trong khi vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh chỉ có khoảng 20 triệu USD cho nên 10% chỉ có khoảng 2 triệu USD nên ngân hàng liên doanh không thể nhận được một khoản tiền kí quĩ lớn để mở thư tín dụng cho khách hàng Việt Nam trong khi các ngân hàng thương mại trong nước chưa đủ uy tín để mở L/C.

    Về hoạt động cho vay, ngân hàng liên doanh không được cho vay với tổng dư nợ vượt quá 15% vốn điều lệ và quĩ dự trữ tức là khoảng 3 triệu USD nên đã gây những khó khăn nhất định đối với khách hàng xuất khẩu của Việt Nam có quan hệ thanh toán qua ngân hàng liên doanh.

    Nhà nước cần có những biện pháp nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh ổn định cho hoạt động của các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại. Ban hành, hoàn thiện và đồng bộ hoá các bộ luật và văn bản luật có liên quan.

    Đối với ngân hàng thương mại Việt Nam

    Cần có các văn bản liên ngành nhằm phối hợp kết hợp chặt chẽ hoạt động của Ngân hàng với hoạt động của các bộ, ngành liên quan nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Ví dụ giữa Ngân hàng với Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại, Bộ Tài Chính, Tổng Cục thuế…

    Bộ tài chính cần tổ chức thực hiện tốt việc kiểm tra buộc các doanh nghiệp tiến hành hạch toán theo pháp lệnh kế toán thống kê và đảm bảo số liệu chính xác, trung thực và kịp thời nhằm giúp cho ngân hàng có được các thông tin tài chính làm cho việc phân tích tín dụng được kịp thời chính xác.

    Nên giao cho một cơ quan tiến hành thống kê tổng hợp các tỉ lệ tài chính của các ngành, rút ra hệ thống các tỉ lệ trung bình hàng năm để làm

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    căn cứ phân tích kinh tế, so sánh đánh giá các doanh nghiệp đang ở trong tình trạng nào tốt, trung bình hay yếu kém.

    Việc ban hành, hoàn thiện và đồng bộ hoá các bộ luật, văn bản pháp luật phải tạo ra sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong tất cả các thành phần kinh tế, dần xoá bỏ những ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhà nước để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế.

    Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cần tạo ra hành lang pháp lý để các ngân hàng thương mại có quyền tự chủ đứng ra tổ chức bán tài sản, cầm cố, thế chấp để thu hồi vốn đối với các khoản nợ quá hạn, đặc biệt cần có chính sách ưu tiên đối với những khoản nợ khó thu hồi phát sinh như miễn thuế doanh thu, thuế chuyển quyền sử dụng đất…

    Nhà nước cần tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại quốc doanh nhằm tăng tiềm lực tài chính, tăng cường khả năng cạnh tranh và sức đề kháng của hệ thống ngân hàng trước những biến động của thị trường.

    Nhà nước cần có những chính sách cho vay hợp lý đối với những doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang cổ phần hoá.

    Kiên quyết sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, chỉ để tồn tại những doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, những doanh nghiệp thực sự cần thiết cho phát triển dân sinh, tạo điều kiện cho nâng cao hiệu quả tín dụng. Trong việc nhanh chóng tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp cần tập trung vào việc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Đây là một biện pháp nhằm huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác tham gia vào phát triển kinh tế. Thực hiện cổ phần hoá sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tăng vốn tự có, trang trải nợ nần, tạo ra sức cạnh tranh mới dưới một hình thức quản lý mới. Nếu chúng ta không khẩn trương thực hiện cổ phần hoá thì các doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội tiếp cận với các khoản tín dụng lớn, cũng như cơ hội phát triển khi mà thị trường chứng khoán nước ta mới ra đời. Vì vậy cổ phần hoá là một trong những biện pháp quan trọng nhằm giải quyết những mâu thuẫn hiện nay trong nền kinh tế, đó là các ngân hàng thương mại thì thừa

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    vốn tín dụng tạm thời nhưng không cho vay được, trong khi các doanh nghiệp lại thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhưng lại bị trói buộc về cơ chế tín dụng hiện hành của các ngân hàng thương mại hiện nay.

    Thực hiện chế độ kiểm toán chặt chẽ

    Để giúp các ngân hàng xét duyệt hồ sơ xin vay vốn của các khách hàng được chính xác, báo cáo tài chính của khách hàng phải phản ánh đúng tình hình thực tế, đồng thời việc thu thập thông tin của ngân hàng cũng phải được tiến hành thuận lợi và chính xác. Muốn vậy Nhà nước nên sớm ban hành quy chế tài chính và hạch toán kinh doanh đối với những khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Qua đó tăng cường tính hiệu lực pháp lý, đảm bảo tính đồng bộ chuẩn mực của công tác hạch toán kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ ngân hàng có những kết luận chính xác về tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Việc chấn chỉnh công tác kiểm toán phải đi đôi với nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán. Hiện nay ở nước ta đã có hệ thống kiểm toán nhà nước, 15 công ty kiểm toán độc lập bao gồm các công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, công ty kiểm toán của Nhà nước và trách nhiệm hữu hạn, song hiệu quả hoạt động của các công ty này chưa cao, một phần là do quan niệm của các doanh nghiệp thường rất ngại thực hiện kiểm toán do nhiều lí do khác nhau: có thể sợ kiểm toán phát hiện ra những sai sót về kế toán hay kiểm toán sẽ phát hiện những vấn đề mà doanh nghiệp còn giấu kín. Chi phí cao cho công tác kiểm toán cũng là nguyên nhân khiến doanh nghiệp không muốn thực hiện. Tiến tới Nhà nước cần quy định chế độ kiểm toán bắt buộc đối với mọi loại hình doanh nghiệp, qua đó để đảm bảo độ tin cậy cho các báo cáo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thẩm định các dự án đầu tư.

    3.4.2. Đối với Ngân hàng nhà nước

    Tăng cường hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ, chức năng giám sát kiểm tra đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Ngân hàng nhà nước nên hình thành cơ quan phân tích đánh giá về tài chính và dự báo xu hướng phát triển của ngân hàng thương mại trên cơ sở đó kịp thời điều chỉnh các quy định và biện pháp giám sát.

    Cho phép NHTM được áp dụng nhiều biện pháp thích hợp với từng loại tài sản ngoài những biện pháp thông thường hiện nay để khai thác kể cả chấp nhận việc bán thấp hơn giá trị nhận cầm cố, thế chấp, coi đó là hiện tượng kinh tế bình thường để có vốn luân chuyển.

    Trong điều kiện kinh tế hiện nay Trung tâm thông tin Ngân hàng của nước ta còn chưa kịp thời đầy đủ, đề nghị Ngân hàng Nhà nước chấn chỉnh hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng từ khâu cập nhật số liệu, cung cấp số liệu đảm bảo thông tin chính xác kịp thời.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    KẾT LUẬN

    Ngân hàng có chức năng huy động mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để cho vay nên nó là công cụ tích tụ và tập trung vốn để hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu, thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Tín dụng ngân hàng cũng góp phần hút và đẩy tiền ra lưu thông, chống lạm phát, ổn định tiền tệ giá cả, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp.

    Để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của các doanh nghiệp, trước hết tín dụng ngân hàng cần phải có những giải pháp thích hợp để thu hút vốn và mở rộng các hình thức cho vay. Nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, các ngân hàng cần mở rộng cho vay trung và dài hạn để các doanh nghiệp từng bước đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế.

    Trước tình trạng số dư nợ quá hạn và nợ khó đòi ở các ngân hàng đang tăng cao, các ngân hàng cần đề ra các biện pháp để nâng cao chất lượng nghiệp vụ tín dụng, đảm bảo an toàn vốn vay, hạn chế thấp nhất các rủi ro thiệt hại có thể xảy ra.

    Trong tương lai gần, ngân hàng nước ta sẽ đương đầu với sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường, mà quy luật cạnh tranh là kẻ nào mạnh thì thắng và tiếp tục tồn tại và phát triển còn kẻ nào yếu thì sẽ bị loại bỏ. Do đó ngân hàng thương mại nước ta cần nỗ lực hơn nữa nhằm tìm ra những giải pháp cho mình.

    Trong chuyên đề này, trên cơ sở nghiêm cứu, phân tích rút ra những kinh nghiệm từ hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng liên doanh Chohung vina và có thêm một số giải pháp riêng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng, mong rằng có thể góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    cứu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-trong-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    LỜI MỞ ĐẦU.

    Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) cũng ngày càng phát triển và trở thành các trung gian tài chính đưa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, đáp ứng được nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá phát triển nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh là rất lớn, tích luỹ không kịp để mở rộng sản xuất, chính vì vậy các doanh nghiệp đã cần sử dụng vốn tín dụng thực hiện mục đích của mình. Ở nước ta hiện nay thì chủ yếu mới chỉ có hoạt động tín dụng ngân hàng là thực hiện nhiệm vụ này, và các NHTM ngày càng phát triển thực hiện tốt chức năng vai trò của mình trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.

    Để có thể hiểu rõ hơn về hoạt động tín dụng trong các NHTM và vai trò to lớn của nó trong nền kinh tế thị trường nhằm khai thác có hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam, em xin chọn đề tài “Hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”. Bài viết bao gồm những nội dung sau:

    • Chương I: Lý luận chung về NHTM và tín dụng ngân hàng.
    • Chương II: Một số vấn đề cơ bản trong hoạt động tín dụng của NHTM ở Việt Nam.
    • Chương III: Thực trạng hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam hiện nay và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng.

    Em hy vọng bài viết có thể làm rõ một số lý luận về NHTM, hoạt động tín dụng ngân hàng, và thực trạng của hoạt động tín dụng trong các NHTM Việt Nam hiện nay. Bài viết chắc còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp

    • của thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.

    1

    CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.

    I/ Ngân hàng thương mại.

    1/ Khái niệm Ngân hàng thương mại.

    Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước xác định:” Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    Như vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính, mặc dù giữa NHTM và các tổ chức tài chính trung gian khác rất khó phân biệt sự khác nhau, nhưng người ta vẫn phải tách NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó như tổng tài sản có của NHTM luôn là khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, hơn nữa khối lượng séc hay tài khoản gửi không kì hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế. Cho thấy NHTM có vị trí rất quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế quốc dân.

    2/ Các nghiệp vụ của NHTM.

    Các NHTM có 3 loại nghiệp vụ chính, đó là nghiệp vụ nợ (huy động tạo nguồn vốn), nghiệp vụ có (sử dụng vốn) và nghiệp vụ trung gian (thanh toán hộ khách hàng).

    2.1/ Nghiệp vụ nợ.

    Đây là nghiệp vụ huy động tạo nguồn vốn dùng cho các hoạt động của ngân hàng, bao gồm các nguồn vốn sau:

    2.1.1. Nguồn vốn tự có, coi như tự có và vốn dự trữ.

    • Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu được hình thành khi NHTM được thành lập, nó có thể do Nhà nước cấp đối với NHTM quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của các cổ đông đối với NHTM cổ phần, có thể là vốn góp của các bên liên

    2

    doanh đối với NHTM liên doanh, hoặc vốn do tư nhân bỏ ra của NHTM tư nhân. Mức vốn điều lệ là bao nhiêu tuỳ theo quy mô của NHTM được pháp lệnh quy định cụ thể.

    • Vốn coi như tự có: bao gồm lợi nhuận chưa chia, tiền lương chưa đến kỳ thanh toán, các khoản phải nộp nhưng chưa đến hạn nộp, các khoản phải trả nhưng chưa đến hạn trả.
    • Vốn dự trữ: Vốn này được hình thành từ lợi nhuận ròng của ngân hàng được trích thành nhiều quỹ trong đó quan trọng nhất là quỹ dự trữ và quỹ đề phòng rủi ro, được trích theo quy định của ngân hàng trung ương.

    2.1.2/ Nguồn vốn quản lý và huy động.

    Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nguồn vốn của ngân hàng. Đây là tài sản của các chủ sở hữu khác, ngân hàng có quyền sử dụng có thời hạn cả vốn lẫn lãi. Nó bao gồm các loại sau:

    • Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Nó có mục đích chủ yếu là để bảo đảm an toàn tài sản và giao dịch, thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí lưu thông.
    • Tiền gửi có kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức khác. Đây là khoản tiền gửi có thời gian xác định, về nguyên tắc người gửi chỉ được rút tiền khi đến hạn, nhưng thực tế ngân hàng cho phép người gửi có thể rút trước với điều kiện phải báo trước và có thể bị hưởng lãi suất thấp hơn. Mục đích của người gửi chủ yếu là lấy lãi.
    • Tiền gửi tiết kiệm: đây là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Có 2 hình thức: một là, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể ký thác nhiều lần và rút ra theo nhu cầu sử dụng và không cần báo trước; hai là, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, là tiền gửi đến kỳ mới được rút.
    • Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu theo mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước. Trái phiếu, kỳ phiếu có thời hạn cụ thể và chỉ đến thời hạn đó mới được thanh toán.

    Hình thức kỳ phiếu thường được áp dụng theo 2 phương thức, một là: phát hành theo mệnh giá (người mua kỳ phiếu trả tiền mua theo mệnh giá và được trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn); hai là:phát hành dưới hình thức chiết khấu (người

    3

    mua kỳ phiếu sẽ trả số tiền mua bằng mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu và sẽ được hoàn trả theo đúng mệnh giá khi đến hạn).

    2.1.3/ Vốn vay.

    Bao gồm vốn vay của ngân hàng trung ương dưới hình thức tái chiết khấu hoặc cho vay ứng trước, vay ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức tín dụng khác và các khoản vay khác trên thị trường như: phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành hợp đồng mua lại, phát hành giấy nợ phụ, các khoản vay USD ngoài nước … Với nguồn vốn này NHTM có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả và hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi.

    2.1.4/ Các nguồn vốn khác.

    Bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư. Vốn này để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước hoặc trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình dự án có mục tiêu riêng.

    2.2/ Nghiệp vụ có.

    Đây là những nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.

    2.2.1/ Nghiệp vụ ngân quỹ.

    • Tiền két: tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ. Nhu cầu dự trữ tiền két cao hay thấp phụ thuộc vào môi trường nơi ngân hàng hoạt động và thời vụ.
    • Tiền dự trữ: gồm tiền dự trữ bắt buộc là số tiền bắt buộc phải giữ lại theo tỷ lệ nhất định so với số tiền khách hàng gửi được quy định bởi ngân hàng trung ương; tiền dự trữ vượt mức là số tiền dự trữ ngoài tiền dự trữ bắt buộc; và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng đại lý, tiền gửi loại này được sử dụng để thực hiện các khoản thanh toán chuyển khoản giữa các ngân hàng khi khách hàng tiến hành các thể thức thanh toán không dùng tiền mặt như séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán…

    2.2.2/ Nghiệp vụ cho vay và đầu tư.

    • Nghiệp vụ cho vay: hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú, nó là hoạt động quan trọng nhất, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ lệ sinh lợi cao nhất của các NHTM, nó gồm các loại hình sau:

    4

    • Tín dụng ứng trước: đây là thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhất định. Có 2 loại là: ứng trước có bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; ứng trước không bảo đảm là việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.
    • Thấu chi (tín dụng hạn mức): là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.
    • Chiết khấu thương phiếu: khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
    • Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào đó để rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.
    • Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khi hết hạn thuê bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.
    • Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín dụng bảo lãnh.
    • Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư, có 2 loại: một là, tín dụng tiêu dùng trực tiếp là việc ngân hàng cho vay trực tiếp khách hàng để tiêu dùng. Hai là, tín dụng tiêu dùng gián tiếp là việc ngân hàng mua các phiếu mua bán hàng từ những người bán lẻ hàng hoá, tức là hình thức tài trợ bán trả góp của NHTM.

    – Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liên doanh và kinh doanh chứng khoán. Trong đó đầu tư vào chứng khoán là một hình thức khá phổ biến, nó mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng, nhiều thể loại và có tính thanh khoản cao). NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên. NHTM còn được phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên NHTM chỉ được đầu

    5

    tư chứng khoán có giới hạn không được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay.

    Nghiệp vụ đầu tư đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy động.

    2.3/ Nghiệp vụ trung gian.

    • đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các nhiệm vụ theo sự uỷ thác của khách bao gồm:

    – Nghiệp vụ thanh toán: ngân hàng là một trung tâm thanh toán không bằng tiền mặt, nó thanh toán dưới các hình thức: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán.

    – Nghiệp vụ thu hộ: ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các chứng khoán khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứng khoán có giá.

    – Nghiệp vụ thương mại: ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng, hàng hoá ở đây chủ yếu là các chứng khoán.

    – Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: đây là một nghiệp vụ quan trọng và ngày càng phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán có giá trị như cổ phiếu, kỳ phiếu đầu tư có mục đích… nhằm thu hút vốn để tăng nguồn vốn, hay khi Nhà nước phát hành công trái thì thường nhờ các ngân hàng, thông qua NHTM làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó và được nhận số tiền thù lao theo tỷ lệ quy định từ người phát hành.

    – Nghiệp vụ uỷ thác: làm theo các uỷ thác của khách hàng như bảo quản tài sản( đá quý, chứng khoán…), khách hàng phải trả lệ phí cho việc bảo quản; thực hiện các uỷ nhiệm về chuyển quyền thừa kế tài sản: khách hàng nhờ ngân hàng thực hiện các di chúc sau khi họ qua đời.

    2.4/ Mối quan hệ giữa 3 nghiệp vụ.

    Giữa 3 nghiệp vụ này có một mối liên hệ khăng khít, tương hỗ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Giữa nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có có tác động qua lại, cùng giúp cho nhau phát triển. Muốn cho vay, kinh doanh thu lời thì phải

    6

    có vốn, vậy trước tiên ngân hàng phải huy động vốn, bởi vậy nghiệp vụ nợ là tiền đề để phát triển nghiệp vụ có, nghiệp vụ nợ càng phát triển thì càng tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được mở rộng. Ngược lại, nếu ngân hàng cho vay, kinh doanh càng nhiều, càng thu được nhiều lãi thì càng bổ sung thêm cho nguồn vốn, tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được phát triển.

    Giữa nghiệp vụ nợ – có với nghiệp vụ trung gian cũng có tác động qua lại lẫn nhau. Khách hàng vừa là người gửi tiền vừa là người vay đối với ngân hàng, họ có quan hệ thanh toán với nhau qua ngân hàng bởi vậy nghiệp vụ nợ và có phát triển sẽ tác động làm tăng nghiệp vụ trung gian. Mặt khác nghiệp vụ trung gian cũng có tác dụng tích cực đối với nghiệp vụ nợ – có, khi thực hiện các nghiệp vụ trung gian như thu hộ, uỷ thác, thương mại … sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng tập trung được những khoản tiền mà nhờ đó bổ sung cho nghiệp vụ nợ và đồng thời phát triển nghiệp vụ có tức là bổ sung tạm thời vào nguồn vốn để tiến hành cho vay.

    Một vấn đề quan trọng nữa là về khả năng thanh toán của mỗi ngân hàng. Nếu cho vay quá lớn, tuy có thể thu lãi nhiều song gặp rủi ro là khi những người gửi tiền ở ngân hàng đồng loạt đến rút tiền sẽ gây ra biến động lớn nguồn vốn khả năng thanh toán làm cho hệ số an toàn và khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ giảm xuống. Ngược lại nếu cho vay ít thì khả năng thanh toán cao hơn nhưng thu lãi ít không bổ sung phát triển được nghiệp vụ nợ.

    Chính vì vậy mà mối liên hệ mật thiết giữa các nghiệp vụ của ngân hàng là hết sức quan trọng, do đó người làm ngân hàng phải biết bố trí một cách khoa học và phù hợp giữa các nghiệp vụ để đảm bảo ngân hàng hoạt động có hiệu quả.

    II/ Hoạt động tín dụng của NHTM.

    Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có của các NHTM, do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Chính vì vậy vấn đề về tín dụng rất được các ngân hàng quan tâm, trong khuôn khổ đề tài này em xin được đi sâu vào hoạt động tín dụng của NHTM.

    1/ Khái niệm tín dụng ngân hàng.

    1.1/ Định nghĩa tín dụng.

     

    7

    Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng.

    Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn.

    Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tuy nhiên trong sự phát triển của mình, các hình thức quan hệ tín dụng trước không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một hình thức tín dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại và bổ sung lẫn nhau, và nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế.

    1.2/ Tín dụng ngân hàng.

    Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế. Với công nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế.

    Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn bên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế.

    Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu

    8

    mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi.

    1.3/ Đặc điểm của tín dụng ngân hàng.

    • Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân.
    • Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.
    • Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là một hiện tượng rất bình thường của nền kinh tế.
    • Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật so với các hình thức khác là:

    Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn.

    Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.

    Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.

    2/ Phân loại tín dụng ngân hàng.

     

    9

    Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau:

    • Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau:
    • Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân.
    • Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
    • Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.

    Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất.

    • Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại:
    • Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh.
    • Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình… Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên.
    • Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau:
    • Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh.
    • Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối

    10

    với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ…

    Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.

    3/ Lãi suất tín dụng ngân hàng.

    3.1/ Khái niệm.

    Trước hết ta cần xem xét lợi tức tín dụng. Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được ở người đi vay do việc sử dụng tiền vay của người này.

    • đây người đi vay sử dụng vốn vay được để sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận được tạo ra trong quá trình này tất yếu được phân chia theo một tỷ lệ thoả đáng giữa người cho vay và người đi vay tương ứng với nguồn vốn bỏ vào sản xuất kinh doanh. Phần lợi nhuận dành cho người cho vay này được gọi là lợi tức.

    Thực chất lợi tức là giá cả của lượng hàng hoá (tức lượng tiền tệ ) cho vay. Giá cả này lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn, nhưng khác với các hàng hoá thông thường khá là giá cả của chúng phản ánh và xoay quanh giá trị của chúng, còn giá cả của vốn lại hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn, nó còn phụ thuộc vào nhu cầu và sự thoả thuận của 2 bên. Chính vì vậy, lợi tức chưa phản ánh được hiệu quả của số vốn cho vay phát ra.

    Như vậy, để xác định khả năng sinh lợi của vốn cho vay người ta đã so sánh lợi tức với vốn cho vay hình thành nên lãi suất tín dụng. Vì vậy ta có định nghĩa khái quát về lãi suất tín dụng như sau: Lãi suất tín dụng là tỷ lệ so sánh giữa số lợi tức thu được với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định. Lãi suất tín dụng chính là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng, nó là cái giá của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó.

    3.2/ Các loại lãi suất tín dụng ngân hàng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và các hình thức tín dụng mà các loại lãi suất tín dụng cũng được hình thành một cách đa dạng, đại bộ phận chúng đều do ngân hàng trung ương kiểm soát và khống chế. Các hình thức lãi suất

    11

    càng phong phú thì càng tạo độ linh hoạt và hiệu quả trong quan hệ tín dụng vì chính lãi suất là chất xúc tác hình thành nên quan hệ tín dụng, do đó cần phải phân biệt được các loại lãi suất tín dụng ngân hàng để thấy được hiệu quả của chúng trong phát triển tín dụng nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung.

    Thông thường hệ thống lãi suất trên thị trường có các loại lãi suất sau:

    • Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng trung ương công bố làm cơ sở cho các NHTM và các tổ chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh.
    • Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và lãi suất cao nhất trong một khung lãi suất nào đó mà ngân hàng trung ương ấn định cho các NHTM hoặc do NHTM quy định trong hệ thống của nó nhằm thống nhất các hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
    • Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn mà ngân hàng trung ương dành cho các NHTM, trong trường hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc của các NHTM, để từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất được phép.
    • Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực:

    Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà người cho vay được hưởng, không tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ, nó được xác định cho một kỳ hạn gửi hoặc vay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước.

    Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ, như lạm phát hoặc lên giá tiền tệ. Do đó ta có công thức tính lãi suất thực như sau: Lãi suất thực= lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát dự đoán.

    Do vậy, lãi suất danh nghĩa luôn lớn hơn 0 nhưng lãi suất thực thì không phải lúc nào cũng dương, khi xảy ra lạm phát mà tỷ lệ lạm phát lại lớn hơn lãi suất danh nghĩa thì lúc đó lãi suất thực sẽ <0 điều này sẽ gây bất lợi cho người cho vay và người đi vay lại có lợi hơn. Chính lãi suất thực ảnh hưởng đến đầu tư, đến việc tái phân phối thu nhập giữa người cho vay và người đi vay, vì vậy ngân hàng chỉ thực sự thúc đẩy tích luỹ khi đưa ra được chính sách lãi suất thực dương.

    4/ Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.

     

    12

    Là một mối quan hệ kinh tế, tín dụng ngân hàng có những tác động nhất định đến hoạt động kinh tế. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, nó có vai trò khá quan trọng:

    4.1/ Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển. Nhờ có nguồn vốn tín dụng của ngân hàng nên các doanh nghiệp có điều kiện bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nguồn vốn đảm bảo được quá

    trình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới tăng tính cạnh tranh. Tín dụng đã giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội.

    Ngày nay trong quá trình toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế ngày càng tăng cường, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, do đó tín dụng ngân hàng trên lĩnh vực tín dụng quốc tế cũng trở nên quan trọng giúp cho việc liên kết chuyển giao công nghệ giữa các nước trên thế giới được nhanh chóng, rút ngắn thời gian phát triển.

    Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nước và quốc tế.

    4.2/ Tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ đó giúp cho việc tích tụ và tập trung sản xuất.

    Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trình lớn hiệu quả cao. Đồng thời các doanh nghiệp cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng sản xuất rút ngắn thời gian tích luỹ vốn. Tóm lại, tín dụng đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất.

    Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận được khối lượng vốn bổ sung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm cho doanh nghiệp lớn ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do không cạnh tranh nổi, từ đó các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng khả năng cạnh tranh, như vậy tín dụng đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.

    13

    4.3/ Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hoà nguồn vốn góp phần ổn định thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu vốn, giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các ngành.

    Việc điều hoà nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hoà lưu thông tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ.

    Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào việc đưa ra các ưu đãi tín dụng… do vậy đã kích thích thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, ngành trọng điểm trong diện ưu tiên của Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối trong cả nước.

    14

    CHƯƠNG II: CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM VÀ BIỂU HIỆN THỰC TẾ Ở VIỆT NAM.

    Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, như: Môi trường kinh doanh, môi trường pháp luật, địa bàn hoạt động… Tuy nhiên trong chương này sẽ chỉ đề cập về một số yếu tố chủ quan, bản thân ngân hàng kiểm soát được có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và khả năng phát triển của hoạt động tín dụng trong các NHTM, và tình trạng của chúng trong thực tiễn ở Việt Nam.

    I/ Quy trình tín dụng.

    Hoạt động cho vay là một hoạt động cơ bản của ngân hàng. Nó mang lại doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên việc cho vay là một vấn đề không đơn giản, nó mang lại khá nhiều rủi ro, bất trắc, vì vậy để đảm bảo cho hoạt động này có hiệu quả tích cực thì cần phải đảm bảo thực hiện cho vay theo đúng quy trình thủ tục đã được quy định. Quy trình cho vay đối với các đối tượng khác nhau cũng khác nhau. Và ở Việt Nam có quy định cụ thể về quy trình cho vay đối với các tổ chức tín dụng như sau:

    1/ Hình thành khoản vay.

    Đối với cá nhân thì hầu hết các khoản vay được bắt đầu bằng việc khách hàng xin vay vốn, họ đến gặp nhân viên ngân hàng và ghi những thông tin cần thiết vào đơn xin vay. Trong trường hợp cho vay kinh doanh, các doanh nghiệp thì thường bắt đầu bằng việc tiếp xúc giữa cán bộ tín dụng và đại diện các hãng. Đây chính là cơ hội đầu tiên để cán bộ ngân hàng tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp và thuyết phục họ về một khoản vay.

    2/ Xử lý yêu cầu vay vốn.

    Sau khi nhận được một yêu cầu vay vốn thì cán bộ ngân hàng cần xử lý yêu cầu vay vốn này. Với một khách hàng cá nhân thì anh ta cần trả lời đầy đủ các câu hỏi của cán bộ tín dụng, qua đó cán bộ có thể tìm hiểu về mục đích xin vay, tính cách và điều kiện, khả năng sử dụng vốn và khả năng trả nợ của khách hàng qua đó có thể chấp nhận hay từ chối khoản vay.

    Còn đối với doanh nghiệp, cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin cần thiết về doanh nghiệp gồm các thông tin về quản lý, hành chính; thông tin về tình hình tài chính, về cá nhân; thông tin về khoản vay của doanh nghiệp. Việc thu

    thập thông tin không chỉ thông qua phỏng vấn, giấy tờ báo cáo của doanh nghiệp mà cán bộ còn phải đi xuống tận cơ sở sản xuất kinh doanh để quan sát, nghiên cứu. Ngoài ra còn phải điều tra thêm về các thông tin khác có liên quan đặc biệt là việc thực thi các quan hệ tín dụng trước đó của doanh nghiệp thông qua tiếp xúc với các chủ nợ trước đó. Xác định các thông tin doanh nghiệp đã cung cấp và khám phá các thông tin mới cần thiết về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sau khi đã xác định rõ thì ngân hàng còn có thể tư vấn cho khách hàng vay vốn về sự hợp lý của yêu cầu vay vốn và có thể gợi ý sự sửa đổi.

    3/ Đưa ra quyết định cho vay.

    Sau khi đã tập hợp đầy đủ thông tin tài liệu thì bộ phận phân tích tín dụng sẽ tiến hành phân tích các báo cáo tài chính nhằm xác định xem dòng tiền và các tài sản dự phòng của khách có đủ hoàn trả món vay hay không, sau đó sẽ chuẩn bị một bản báo cáo tóm tắt có kèm theo kết quả phân tích để gửi cho người có thẩm quyền xem xét. Từ đó rút ra kết luận chính xác về điểm mạnh điểm yếu trong yêu cầu xin vay của khách hàng. Sau khi đã xem xét khoản vay, chính sách tín dụng và mục đích, mục tiêu của ngân hàng, cán bộ phải đưa ra một quyết định có nên cho vay hay không và doanh nghiệp phải được thông báo ngay lập tức. Nếu yêu cầu được chấp thuận cán bộ tín dụng phải trao cho người vay danh mục các chứng từ cần thiết để ký kết khoản vay và đưa ra ngày dự tính ký kết.

    4/ Cấu trúc khoản vay, ký kết khoản vay.

    Một khoản vay có cấu trúc hoàn hảo là khoản vay đáp ứng được nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp đồng thời cũng thoả mãn các tiêu thức tín dụng của ngân hàng. Cấu trúc của khoản vay gồm các yếu tố: lãi suất; thời hạn và lịch hoàn trả; sự đảm bảo; người bảo lãnh; các hạn chế và kiểm soát. Các yếu tố này phụ thuộc vào sự đàm phán thỏa thuận giữa ngân hàng và doanh nghiệp xin vay.

    Sau khi đã đạt được thoả thuận vay vốn thì hai bên cần xây dựng một hợp đồng tín dụng làm sao cho phù hợp với tình hình riêng biệt cụ thể và đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng. Và cuối cùng là việc ký kết khoản vay. Trước khi ký kết cần phải chuẩn bị lập ra một danh mục kiểm tra toàn bộ các chứng từ tài liệu cần thiết, và ngày ký kết phải có đầy đủ 2 bên, và đảm bảo cả 2 đều phải hiểu cặn kẽ giấy tờ vay vốn. Việc ký kết khoản vay được quản lý tốt sẽ có tác

    16

    dụng rất lớn trong việc thúc đẩy mối quan hệ làm ăn tốt giữa ngân hàng và doanh nghiệp.

    5/ Kiểm soát khoản cho vay.

    Ký kết tín dụng chưa phải là đã kết thúc một quá trình cho vay mà ngân hàng còn phải tiếp tục theo dõi khoản cho vay này để đảm bảo rằng khách hàng sẽ thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi như đã cam kết. Còn với các khoản cho vay thương mại lớn cán bộ tín dụng phải đến và kiểm tra công việc kinh doanh của khách hàng định kỳ, đồng thời phải tổ chức quá trình kiểm soát cẩn thận và nghiêm túc để đảm bảo xem xét và đánh giá được tất cả những đặc tính quan trọng nhất đối với khoản vay như: đánh giá quá trình thanh toán, đánh giá chất lượng, tình trạng của tài sản thế chấp, đánh giá sự thay đổi trong tình hình tài chính của người vay… Tiến hành theo dõi thường xuyên hơn đối với những khoản cho vay có vấn đề.

    Kiểm soát tín dụng là rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Nó không chỉ giúp các nhà quản lý ngân hàng phát hiện ra những khoản cho vay có vấn đề nhanh hơn mà còn giúp xác định được vấn đề các cán bộ tín dụng có tuân thủ đúng chính sách cho vay của ngân hàng hay không.

    6/ Xử lý khoản vay có vấn đề.

    Mặc dù đã có những biện pháp quản lý an toàn áp dụng trong các chương trình cho vay song việc tồn tại các khoản cho vay có vấn đề là một thực tế không thể tránh khỏi, có nghĩa là người vay đã không thực hiện thanh toán đúng kế hoạch hay giá trị tài sản thế chấp đã sụt giảm đáng kể.

    Khi cán bộ tín dụng nhận ra khoản vay có vấn đề thường thì cán bộ tín dụng cần phải liên lạc với doanh nghiệp để giám sát khoản vay. Nếu ngân hàng và doanh nghiệp muốn sửa chữa khoản vay thì phải xác định được nguyên nhân của vấn đề và tìm ra giải pháp, khi kế hoạch sửa chữa đã được thiết lập thì ngân hàng phải giám sát việc thực hiện một cách liên tục, doanh nghiệp phải báo cáo thường xuyên và cả 2 bên cùng phải quan tâm tích cực và phải thường xuyên thận trọng phân tích kết quả của chương trình sửa chữa. Và thường thì ngân hàng chỉ tiến hành thủ tục pháp lý để thu hồi khoản nợ vay sau khi đã áp dụng các biện pháp chỉnh sửa mà không có hiệu quả.

    17

    7/ Thu nợ.

    Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo các điều kiện của hợp đồng tín dụng thì cán bộ tín dụng phải lập ngay một kế hoạch thu nợ, sau đó thận trọng cân nhắc vạch ra các phương án khác nhau để có thể thực hiện điều đó. Thường thì ngân hàng thuyết phục khách hàng tự động bán tài sản thế chấp của mình, nếu không được thì ngân hàng sẽ tiến hành thu hồi tài sản cầm cố thế chấp và bán hoặc cho thuê tài sản này. Việc ngân hàng xử lý và bán lại tài sản làm đảm bảo phải chú ý thực hiện đúng mọi điều khoản luật pháp có liên quan, vì nếu không ngân hàng sẽ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại xảy ra đối với khách hàng.

    • Đây là một quy trình rất cụ thể, nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo sự an toàn chắc chắn trong việc cho vay. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay việc áp dụng nó còn nhiều tồn tại như: thủ tục, giấy tờ còn rườm rà, nhất là đối với việc cho hộ nông dân vay, đó là những món vay nhỏ lẻ, địa bàn cư trú của người vay phân tán, trình độ dân trí thấp, nhu cầu vay vốn cao, vậy mà hồ sơ, quy trình thủ tục vay vốn của họ lại rất phức tạp, gây khó khăn cho người dân. Hay như, việc tuân thủ theo đúng quy trình của cán bộ tín dụng hoặc sự hợp tác của khách hàng vay vốn trong việc cung cấp thông tin, giám sát… cũng là một vấn đề bức xúc, do trình độ kém hay đạo đức nghề nghiệp khiến cho cán bộ tín dụng đôi khi không thực hiện đúng quy trình, hay khách hàng không hợp tác khiến cho việc cho vay gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến rủi ro lớn. Nhất là hiện nay vấn đề nợ quá hạn, nợ khó đòi trong các NHTM là rất lớn, một phần là do quy trình thủ tục cho vay không được đảm bảo thực hiện đúng như quy định, đồng thời biện pháp thu hồi nợ sau khi cho vay trong các ngân hàng cũng chưa được xây dựng tổ chức tốt, vì vậy hiệu quả của các khoản tín dụng là rất thấp. Tình hình đó đòi hỏi các cán bộ tín dụng khi cho vay cần đảm bảo thực hiện đầy đủ và đảm bảo các bước trong quy trình cho vay mà các ngân hàng đều đã cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn của mình.

    II/ Các phương thức tín dụng.

    Nhìn chung các phương thức cấp tín dụng của NHTM có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của doanh nghiệp. Các ngân hàng mạnh không chỉ thể hiện ở chỗ cung ứng một khối lượng tín dụng to lớn cho thị trường mà là ở chỗ phương

    thức cấp tín dụng như thế nào. Ở Việt Nam các phương thức cho vay còn quá nghèo nàn, hầu như chỉ bán ra những gì mà ngân hàng có chứ không thật quan tâm đến cái mà khách hàng cần, do đó kém sức hấp dẫn và khó mở rộng tín dụng. Trong Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 ngày 30/9/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc “Ban hành quy chế cho vay của các Tổ chức tín dụng đối với khách hàng” có quy định về một số phương thức cho vay của các tổ chức tín dụng. Nó quy định tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng về phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay và khả năng kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay theo một trong các phương thức cho vay sau:

    1. Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
    2. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh.
    1. Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống.
    2. Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
    1. Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay, tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay khi trả đủ nợ gốc và lãi.
    1. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.

    19

    1. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
    2. Các phương thức cho vay khác phù hợp với quy định của Quy chế này và các quy định khác của Ngân hàng Nhà nước.
      • Tuy nhiên Quyết định 324 còn quy định khá chung chung, và đối với các NHTM việc áp dụng cụ thể như thế nào lại thuộc quyền hướng dẫn của mỗi ngân hàng, và tất nhiên có bao nhiêu ngân hàng sẽ có bấy nhiêu văn bản pháp lý khác nhau quy định cụ thể về các phương thức cho vay. Nhưng có những điều mà các NHTM lại không thích quy định cụ thể rõ ràng trong văn bản vì nếu thế sẽ bị mắc trong quá trình thực hiện hoặc sẽ không có chỗ “lùi” khi mà quy định của ngân hàng mình lại “chặt” hơn ngân hàng bạn do đó giảm khả năng cạnh tranh. Vì vậy qua thực tiễn hoạt động thì Ngân hàng Nhà nước nên sửa đổi quy định về phương thức cho vay theo hướng cụ thể hoá để thống nhất phương thức cho vay trong các tổ chức tín dụng là một vấn đề cấp thiết, không để tình trạng tự quy định dẫn đến sự sai lệch về phương thức cho vay và quản lý vốn vay như hiện nay.

    III/ Lãi suất tín dụng.

    Như ta đã biết lãi suất chính là giá của quyền được sử dụng vốn mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó trong một thời gian nhất định. Cái giá đó sẽ quyết định việc khách hàng có vay hay không, do vậy nó ảnh hưởng đến khả năng tín dụng ngân hàng. Để sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất trong phát triển tín dụng ta cần xem xét vấn đề sau:

    1/Nguyên tắc xác định lãi suất tín dụng ngân hàng.

    • 1/ Những nguyên tắc xác định lãi suất hình thành theo cơ chế thị trường.

     

    – Lãi suất huy động vốn < lãi suất cho vay. Điều này là đương nhiên nó cho phép đảm bảo tính có lợi nhuận của kinh doanh ngân hàng, đảm bảo cho các NHTM kinh doanh có lãi, từ đó mới có thể tồn tại và phát triển được.

    • Lãi suất tín dụng bao giờ cũng dương (lãi suất thực >0) và tối đa bằng suất lợi nhuận bình quân. Lãi suất thực phải >0 thì mới đảm bảo có lãi cho ngân hàng, và tối đa bằng suất lợi nhuận bình quân vì ngân hàng cũng là một ngành trong nền kinh tế.
    • Lãi suất phi kinh tế là lãi suất của tín dụng nặng lãi, nó rất cao so với mặt bằng lãi suất tín dụng bình thường và suất lợi nhuận bình quân, do đó khoản vốn vay này không thể sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh mà chỉ sử dụng với mục đích phi sản xuất. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của nguồn vốn cho vay, khả năng chịu đựng của người đi vay và tính chất xã hội hoá hoạt động của màng lưới ngân hàng.

    1.2/ Những nguyên tắc xác định lãi suất tín dụng theo luật định.

    Trong nền kinh tế thị trường, thông thường ngân hàng trung ương ấn định thống nhất một khung lãi suất trong từng thời kỳ và các tổ chức tín dụng tự xác định lãi suất riêng theo quan hệ cung cầu trên thị trường. Ngân hàng trung ương xác định lãi suất theo nguyên tắc sau:

    • Với lãi suất huy động vốn.
    • Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn < lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.
    • Lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế < lãi suất tiền gửi của dân cư.
    • Lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân cư là cao nhất.
    • Với lãi suất cho vay.
    • Lãi suất cho vay ngắn hạn < lãi suất cho vay dài hạn.
    • Lãi suất cho vay các ngành sản xuất < lãi suất cho vay các ngành thương mại, dịch vụ.
    • Lãi suất các khoản cho vay đến hạn < lãi suất các khoản cho vay quá

    hạn.

    • Lãi suất các khoản cho vay ưu đãi theo chính sách của Chính phủ là thấp

    nhất.

    2.Phân loại lãi suất.

    Ở đây ta phân loại lãi suất dựa theo cách phân loại các hoạt động tín dụng.

    • Theo thời hạn tín dụng thì có lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

    Đây là cách phân loại lãi suất theo độ dài thời gian mà ngân hàng cho các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vay. Cơ sở của nguyên tắc này là ở

    21

    chỗ thời gian cho vay vốn càng dài thì lợi nhuận làm ra càng nhiều đồng thời tính rủi ro mất vốn càng cao do đó thời hạn càng dài thì giá của quyền sử dụng vốn càng cao. Do vậy, lãi suất cho vay dài hạn cao hơn lãi suất cho vay trung hạn, lãi suất cho vay trung hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn.

    Tuy nhiên trên thực tế nó còn phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Chính phủ dùng công cụ lãi suất để điều chỉnh cơ cấu sản xuất xã hội hay chống khủng hoảng khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh chẳng hạn, khi đó cần vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản, kiến thiết nền sản xuất… do đó lãi suất trung, dài hạn có khi lại thấp hơn so với ngắn hạn.

    • Xét theo tính chất của các ngành nghề sản xuất kinh doanh thì có các loại lãi suất sau: lãi suất cho vay kinh doanh, lãi suất cho vay nông nghiệp, lãi suất cho vay tiêu dùng, lãi suất cho vay bất động sản.

    Lãi suất cho vay kinh doanh là lãi suất áp dụng cho các loại hoạt động kinh doanh, về mặt lý thuyết thì lãi suất này thường là thấp nhất trong số các loại lãi suất cho vay của NHTM vì thời hạn thu hồi vốn nhanh.

    Lãi suất cho vay nông nghiệp: thường thì nó cao hơn lãi suất sản xuất kinh doanh vì nó có rủi ro khách quan lớn (do biến động của khí hậu, thời tiết, điều kiện tự nhiên, sâu bọ, bệnh tật mà con người không kiểm soát được)và quy mô sản xuất lại nhỏ hơn, và thời gian thu hồi vốn lâu hơn (do tính thời vụ trong nông nghiệp).

    Lãi suất cho vay tiêu dùng: thường cao hơn các lãi suất cho khoản vay khác vì nó có quy mô nhỏ, rủi ro nhiều và khả năng trả nợ thấp.

    Lãi suất cho vay bất động sản: lãi suất tương đối cao do bị ảnh hưởng bởi kỳ hạn vay, tỷ lệ cho vay, nhu cầu về thanh khoản và tính chất đảm bảo hay bảo hiểm bởi một cơ quan khác.

    • Ngoài ra còn các hình thức lãi suất phụ thuộc vào chính sách tín dụng của nhà nước như: lãi suất thông thường, lãi suất ưu đãi, lãi suất quá hạn, lãi suất co dãn hoặc lãi suất cứng.

    3/ Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất.

    Đối với các NHTM thì để đưa ra mức lãi suất nào cho thoả đáng với mỗi khoản vay thì cần phải xem xét các yếu tố sẽ ảnh hưởng tới lãi suất sau:

    22

    • Điều kiện thị trường tiền tệ: nếu như ngân hàng phụ thuộc và khoản vốn huy động dưới dạng các chứng chỉ tiền gửi mệnh giá lớn hoặc tiền vay Chính phủ thì giá vốn huy động nó sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các điều kiện của thị trường tiền tệ, hơn nữa thị trường tiền tệ lại quyết định sức hấp dẫn của các dự án đầu tư, do đó nó ảnh hưởng đến lãi suất cho vay.
    • Rủi ro: cho vay là một hoạt động luôn mang tính rủi ro, và lãi suất sẽ thay đổi theo mức độ rủi ro. Món vay có khả năng rủi ro càng cao, thì yêu cầu lãi suất càng lớn và ngược lại.
    • Lãi suất cố định và lãi suất có thể điều chỉnh: một món vay không bị điều chỉnh lãi suất trong một thời gian càng dài thì rủi ro do những biến động trong tương lai của điều kiện thị trường tiền tệ càng lớn nên lãi suất cho vay yêu cầu càng cao. Mặc dù hệ thống lãi suất thả nổi hay có thể điều chỉnh là kém hấp dẫn theo quan điểm của một số doanh nghiệp, hay có thể tạo ra một số vấn đề về quản lý và tính toán đối với ngân hàng, nhưng chắc chắn nó thể hiện là cách tính lãi suất tốt nhất cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.
    • Các chi phí hoạt động và quản lý: Để ngân hàng tồn tại và phát triển, ngân hàng phải bỏ ra các chi phí tiền lương, tiền thuê và các phương tiện… Do đó ngân hàng phải đạt được mức lợi tức đủ để trang trải các chi phí này và cần phải có lợi nhuận, tăng tích luỹ… vì vậy nó cũng ảnh hưởng đến việc xác định lãi suất.
    • Thời hạn hoàn trả: do trong thời gian dài sẽ có rất nhiều biến động trong tình hình tài chính của doanh nghiệp, hay giá trị của tài sản bảo đảm sẽ giảm sút, do đó rủi ro càng lớn yêu cầu lãi suất càng cao và ngược lại, thời hạn ngắn hơn thì lãi suất sẽ thấp hơn.
    • Cạnh tranh: trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, để có thể cạnh tranh mỗi ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất hợp lý để vừa đảm bảo thu hút khách hàng vừa đảm bảo lợi nhuận tối ưu.
    • Ngoài ra còn một số nhân tố khác như: các chính sách của Nhà nước (chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, chính sách lãi suất…); sự ổn định của nền kinh tế, lạm phát; tỷ suất lợi nhuận bình quân…
      • Hiện nay ở Việt Nam sau khi Nhà nước chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản từ 2/8/2000 thì các NHTM có thể chủ động linh hoạt thay đổi lãi suất cho phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể, vì vậy đã dẫn đến hiện tượng cạnh tranh

    23

    lãi suất làm lãi suất hạ rất thấp gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực như “phá giá” lãi suất, gây áp lực cho các ngân hàng nhỏ, đồng thời môi trường hoạt động khó khăn…Vì vậy các NHTM muốn cạnh tranh thì cũng cần phải quan tâm đến các loại hình cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất để có thể đưa ra những khung lãi suất các loại một cách đúng đắn sao cho đảm bảo được hiệu quả tín dụng, mở rộng tín dụng phải có lợi nhuận, đặc biệt quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế.

    IV/ Chính sách tín dụng.

    Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một ngân hàng có thể vận dụng để đảm bảo rằng các khoản cho vay của nó thoả mãn được những tiêu chuẩn do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra là thiết lập một chính sách cho vay bằng văn bản. Mỗi một NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng. Một chính sách tín dụng sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản lý ngân hàng đường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay và xây dựng danh mục cho vay. Cấu trúc thực tế của danh mục cho vay sẽ phản ánh những gì mà chính sách cho vay của ngân hàng đặt ra. Nếu điều này không xảy ra thì đó là một chính sách cho vay không hiệu quả và nên xem xét lại. Thông thường một chính sách cho vay tốt gồm một số yếu tố quan trọng sau:

    • Một tuyên bố về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của ngân hàng (ví dụ như nêu lên các đặc điểm của một danh mục cho vay chất lượng cao như loại hình, thời gian đáo hạn, quy mô và chất lượng của các khoản cho vay).
    • Một bản tiêu chuẩn chất lượng thích hợp áp dụng cho toàn bộ danh mục cho vay. Công bố mức giới hạn tối đa đối với tổng dư nợ.
    • Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với cán bộ tín dụng và ban thẩm định tín dụng. Giới hạn về trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao và trong việc thông báo thông tin trong phạm vi phòng tín dụng.
    • Những thủ tục và hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với đơn xin vay của khách hàng.
    • Những tài liệu được yêu cầu phải kèm theo đơn xin vay và phải được lưu lại trong hồ sơ tín dụng của ngân hàng (báo cáo tài chính, thoả thuận cam kết…).

    24

    Những hướng dẫn về việc tiếp nhận, đánh giá và bảo quản tài sản thế chấp cho các món vay.

    • Một bản trình bầy về chính sách và thủ tục đối với việc xác định lãi suất cho vay, các khoản phí và thời hạn hoàn trả món vay.
    • Miêu tả rõ ràng thị trường tín dụng chính của ngân hàng.
    • Miêu tả các bước cần được tiến hành để phát hiện và phân tích những khoản cho vay có vấn đề…
      • Một chính sách cho vay rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngân hàng. Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng các thủ tục, các bước phải tuân thủ và chỉ rõ phạm vi trách nhiệm của họ. Nó giúp cho ngân hàng hướng tới một danh mục cho vay hiệu quả, có thể đạt nhiều mục tiêu như tăng cường khả năng sinh lợi, hạn chế rủi ro và đáp ứng được những đòi hỏi của cơ quan quản lý.

    Đối với Việt Nam để phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển kinh tế, chính sách tín dụng đã và đang được đổi mới đồng bộ và hữu hiệu đáp ứng các yêu cầu mới, tạo bước đột phá trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nội lực và nguồn lực bên ngoài. Để nền kinh tế có tăng trưởng cao, chính sách tín dụng của các ngân hàng nên tập trung vào việc mở rộng đáp ứng các nhu cầu vay vốn có hiệu quả với phương châm không để các dự án đầu tư có hiệu quả bị thiếu vốn. Cơ cấu tín dụng cần tiếp tục chuyển dịch có lợi cho đầu tư và phát triển, tăng cường cho vay trung và dài hạn. Không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khó đòi xuống mức lành mạnh theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng vòng quay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của xã hội. Tiếp tục mở rộng đối tượng cho vay đến tất cả các thành phần kinh tế, chú ý thích đáng việc cho vay đối với nông dân và các đối tượng chính sách góp phần khuyến khích phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, địa phương.

    V/ Rủi ro tín dụng.

    • Việt Nam từ khi chuyển sang nền cơ chế thị trường, sự ra đời và phát triển các loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng, tính đa dạng của các hoạt động và hình thức tín dụng đã tạo nên một thị trường tín dụng phong phú và sôi động. Nhưng điều đó cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro có thể xẩy ra với các ngân hàng và nhất là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là tình trạng người đi vay

    25

    không có khả năng hoàn trả được hoặc lãi hoặc gốc hoặc cả lãi và gốc một cách đầy đủ và đúng hạn.

    1/ Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với các NHTM.

    Nếu một khoản vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi được, thì ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Vì vậy nếu xảy ra quá nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng mà ngân hàng phải dùng vốn của mình để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc “xoá sổ” những khoản thất thoát này nữa và ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền thậm chí dẫn đến phá sản.

    2/ Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.

    Rủi ro tín dụng xảy ra rất phức tạp và đa dạng, nó có thể do khách hàng mất khả năng trả nợ hay do họ cố ý chây ỳ, tìm cách lừa đảo chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Nguyên nhân rủi ro tín dụng thì có nhiều nhưng người ta thường chia làm 2 loại nguyên nhân rủi ro xuất phát từ các hành động có thể kiểm soát và không thể kiểm soát.

    • Những nguyên nhân có thể kiểm soát:
    • Quyết định cho vay sai lầm từ ban đầu do khâu phân tích thu thập thông tin không đủ hay sai lầm, hoặc việc xây dựng ký kết hợp đồng có sự khó hiểu thiếu sót.
    • Không nhận ra các dấu hiệu cảnh báo.
    • Không có khả năng theo sát kiểm soát các khoản vay.
    • Không hành động kịp thời khi phát hiện khoản nợ có vấn đề.
    • Những nguyên nhân không thể kiểm soát được:
    • Sự phá sản của các doanh nghiệp vay nợ, hay hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả do quản lý không tốt, sản phẩm công nghệ lạc hậu, thiếu vốn và khả năng cạnh tranh yếu…
    • Một số nguyên nhân bất ổn khác từ bên ngoài như khách hàng gặp rủi ro bất chợt nên chưa thể trả nợ ngay, hay tài sản cầm cố thế chấp bị mất giá trị …

    khiến ngân hàng không thể thu hồi được khoản nợ…

    26

    Việc phân loại theo các nguyên nhân có thể kiểm soát hay không thể giúp cho ngân hàng định hướng được việc ngăn chặn rủi ro tập trung vào những rủi ro mà nguyên nhân có thể kiểm soát. Trước hết là hệ thống các thể chế tạo hành lang và môi trường hoạt động an toàn và hiệu quả của tín dụng. Sau đó là các quy định điều kiện cụ thể đối với mỗi loại vay, mỗi đối tượng vay, để xác định các điều kiện và hình thức về giá trị vật chất, giá trị uy tín làm đảm bảo vốn vay tuỳ theo năng lực tài chính, tính chất và loại hình sản xuất kinh doanh, uy tín và mức độ rủi ro của người vay. Đối với rủi ro bất khả kháng, các ngân hàng chỉ có cách chống đỡ bằng việc thành lập các dự phòng tài chính, đủ khả năng chống đỡ cho mọi rủi ro có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào. Khả năng dự phòng càng cao, tính chủ động chống đỡ rủi ro càng lớn.

    3/ Một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng.

    Để phòng tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng, hiện nay các ngân hàng đã và đang thực hiện một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng sau:

    • Mở rộng tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng. Việc mở rộng khối lượng tín dụng là cần thiết để mở rộng kinh doanh, song vấn đề chất lượng tín dụng mới có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển thực chất của ngân hàng. Chất lượng tín dụng chính là kết quả của các khoản tín dụng được thực hiện trọn vẹn, người vay thực hiện đúng các cam kết và ngân hàng thu được gốc và lãi đúng hạn. Vì vậy, khi phân tích mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khi cho vay cần phải suy xét kỹ càng về kinh nghiệm quản lý, tiềm năng, các chính sách, khả năng sinh lời, luân chuyển vốn và giá trị thực của khách hàng. Cán bộ tín dụng phải xem xét và tự đưa ra quyết định cho rằng nên cho khách hàng vay bao nhiêu, mục đích khoản vay và thời gian thu hồi nợ.
    • Hiệu quả và chất lượng tín dụng dựa trên cơ sở hiệu quả của sản xuất kinh doanh của người vay vốn. Khi người vay vốn hoạt động sản xuất kinh doanh không có hiệu quả dẫn đến tình trạng thua lỗ sẽ là nguyên nhân trực tiếp làm cho các khoản tín dụng không được thực hiên đúng hạn, do đó ngân hàng có thu được gốc và lãi hay không là phụ thuộc chủ yếu vào việc người vay vốn sử dụng vốn có hiệu quả hay không.

    27

    • Quyết định cho vay trên cơ sở phải xác định và hiểu rõ người vay. Việc tìm hiểu và đánh giá người vay cần được xem xét trên nhiều mặt. Trước hết là phẩm chất đạo đức kinh doanh, tính trung thực trong quan hệ kinh tế, tính nghiêm túc trong việc chấp hành luật lệ. Thứ hai là người vay vốn phải có đủ năng lực pháp lý và năng lực tài chính để sử dụng tiền vay và thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết đối với khoản vay. Thứ ba là đảm bảo xây dựng được các phương án dự phòng trả nợ.
    • Cho vay phải do chính ngân hàng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Việc có cho vay hay không là một quyết định mang tính độc lập, không hề chịu ảnh hưởng bởi những người có liên quan và ngân hàng phải cảm thấy thoải mái khi đưa ra quyết định cho vay. Mọi sự can thiệp bên ngoài đối với mỗi khoản cho vay đều phi kinh tế, thiếu tính nghiệp vụ ngân hàng, thường đưa đến những sai lầm và gây ra những tổn thất, do đó khi ngân hàng chịu trách nhiệm hoàn toàn về những khoản cho vay, thì ngân hàng cũng phải hoàn toàn chủ động với quyết định của các khoản vay đó.
    • Chủ động phân tán rủi ro để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Việc phân tán rủi ro được thực hiện thông qua phân tán dư nợ và cộng đồng tài trợ. Cụ thể là mỗi ngân hàng không nên tập trung quá nhiều vốn cho một người vay, những dự án lớn cần huy động nhiều ngân hàng tham gia tài trợ và cùng quản lý vốn cho vay, hạn chế cho vay trong các lĩnh vực có tỷ lệ rủi ro cao. Nhờ đó sẽ phân tán rủi ro, tránh tập trung rủi ro lớn vào một ngân hàng, làm cho ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ ảnh hưởng đến môi trường kinh tế chung. Phân tán rủi ro là một yêu cầu và xu thế quan trọng của mỗi NHTM hiện nay.
    • Cho vay phải có đảm bảo tiền vay với tính khả thi cao. Trong các điều kiện vay vốn thì điều kiện về đảm bảo tiền vay được coi là quan trọng nhất. Đảm bảo có thể bằng cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh để phòng khi khách hàng không có khả năng trả nợ thì có thể dùng tài sản bảo đảm trả nợ thay. Vì vậy bản thân tài sản phải có giá trị, và bản thân nó phải trở thành hàng hoá để có thể chuyển thành giá trị để trả nợ ngân hàng, đồng thời tài sản phải có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay, và có thị trường tiêu thụ hàng hoá đó để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
    • Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc bảo đảm tín dụng là một vấn đề rất quan trọng để tránh được rủi ro tín dụng.

    28

    Theo số liệu do NHNN công bố đến đầu năm 2001 kết quả phân tích, đánh giá của NHNN đối với nợ xấu của các NHTM trên toàn quốc là 15 nghìn tỷ đồng, tương đương với 1 tỷ USD, tuy nhiên nguồn tin từ các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá có thể lên đến 2-3 tỷ USD. Như vậy rủi ro tín dụng ở Việt nam là rất lớn, đó là do việc chấp hành các nguyên tắc đảm bảo tín dụng còn lỏng lẻo như: chất lượng tín dụng của các NHTM còn thấp, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao; việc quyết định cho vay còn chịu nhiều can thiệp từ bên ngoài, điển hình là việc các cơ quan chính quyền các cấp đề nghị, thậm chí yêu cầu ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu về vốn nào đó vì quyền lợi của người vay…; hay các tài sản đảm bảo nợ vay khi phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì lại không thể hoán chuyển thành giá trị được, tức là không thể bán để thu hồi nợ khi các ngân hàng phát mại tài sản đó. hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng còn kém hiệu quả do nhiều lý do về trình độ, môi trường kinh doanh, pháp lý…; đồng thời môi trường kinh doanh của nước ta còn kém, doanh nghiệp làm ăn có lãi thì ít hơn là các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, không có lãi thậm chí lỗ, hay do pháp luật còn nhiều kẽ hở khiến nhiều doanh nghiệp gian lận, lừa đảo. Vì vậy đã xảy ra những vụ rủi ro tín dụng lớn như trong vụ án TAMEXCO, Minh Phụng – Epco… mà đó chính là một bài học đắt giá cho các NHTM Việt Nam.

    Chính vì vậy việc nhận biết và nghiên cứu kỹ các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, các loại rủi ro, cách phát hiện, xử lý rủi ro cũng như đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc nguyên tắc an toàn tín dụng là những vấn đề hết sức quan trọng đối với các NHTM ở Việt Nam hiện nay. Các NHTM cần phải tăng cường các hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình cũng như hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

    29

    CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG CÁC NHTM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.

    I/ Những thuận lợi và một số thách thức trong hoạt động tín dụng ngân hàng.

    1/ Một vài nét về cơ sở pháp lý của hoạt động tín dụng ở Việt Nam hiện nay.

    Hiện nay môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng được hoàn thiện, đầy đủ, rõ ràng chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. NHNN đã chỉnh sửa, bổ sung, ban hành mới một loạt quyết định, thông tư phù hợp với cơ chế hiện nay; những vướng mắc, sơ hở, chồng chéo của cơ chế cũ đã được tháo gỡ, bãi bỏ làm cho hoạt động tín dụng được thuận lợi hơn, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức tín dụng. Một số văn bản pháp lý quan trọng được tập trung ban hành trong thời gian qua bao gồm:

    Các văn bản quy phạm pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng như: Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ “về đảm bảo tiền vay của TCTD”; Quyết định số 266/2000 của NHNN, ngày 18/8/2000 về việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với NHTM cổ phần, công ty tài chính cổ phần và ngân hàng liên doanh; Quyết định số 283/2000 ngày 25/8/2000 Của NHNN, ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng; Thông tư số 06/2000 ngày 4/4/2000 và Thông tư số 10/2000 ngày 31/8/2000 của NHNN, hướng dẫn thực hiện bảo đảm tiền vay của TCTD…

    Về xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng thì có Thông tư liên tịch số 03/2001/ TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC được ban hành ngày 23/04/2001 hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho các TCTD.

    Về một số hoạt động khác của tín dụng thì có Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg được Chính phủ ban hành ngày 30/3/1999 về “Một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn”; NHNN ban hành Quyết định số 428/2000 ngày 22/9/2000 về chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại; Ngày 29/6/1999 Chính phủ đã ra Nghị định 43/1999/NĐ-CP “về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước”; Quyết định số 48/1999/QĐ-NHNN5 về việc phân loại tài sản Có, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi

    30

    ro trong hoạt động ngân hàng được Thống đốc NHNN ban hành ngày 8/2/1999; Quyết định số 418/2000 ngày 21/9/2000 về đối tượng cho vay bằng ngoại tệ…

    Một số văn bản chung quan trọng khác như: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Quốc hội ban hành quy định về Ngân hàng Nhà nước; Luật các tổ chức tín dụng của Quốc hội ban hành được chủ tịch nước công bố ngày 26/12/1997, luật này quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng…

    Từ các văn bản quy phạm pháp luật chung, mỗi ngân hàng lại tự ban hành cho mình những văn bản cụ thể riêng để điều hành, quản lý hoạt động của mình. Ví dụ như NHNO&PTNT VN có một số văn bản sau: Quyết định số 180/QĐ/HĐQT về việc ban hành quy định cho vay đối với khách hàng và có Quy định cho vay đối với khách hàng ban hành kèm theo quyết định này; Hướng dẫn thẩm định, tái thẩm định các điều kiện vay vốn của doanh nghiệp; Hướng dẫn nội dung thẩm định cho vay đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác…

    Với các văn bản về cơ chế, chính sách nói trên, ngoài ra còn có thêm nhiều văn bản pháp luật về các vấn đề liên quan cũng được bổ sung và sửa đổi khiến cho hoạt động tín dụng đã được phát triển lành mạnh và an toàn hơn. Tạo điều kiện cho các NHTM mạnh dạn hơn trong hoạt động cho vay góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

    2/ Những thuận lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.

    Trong những năm qua, bối cảnh kinh tế nước ta xuất hiện nhiều yếu tố thuận lợi cho việc phát triển hoạt động tín dụng. Nền kinh tế nước ta tăng trưởng khá, tiêu biểu là hoạt động xuất nhập khẩu, có nguyên nhân quan trọng từ các giải pháp tiền tệ tín dụng; đồng thời đó cũng là tiền đề cho tăng trưởng tín dụng an toàn. Đặc biệt tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng rau quả, thuỷ sản, hạt điều…đây là thuận lợi cho vốn tín dụng của các NHTM đầu tư trong các khâu sản xuất như thuê mua, chế biến, xuất khẩu… Các ngành trước đây hoạt động thua lỗ, nợ đọng vốn với ngân hàng lớn như xi măng, mía đường,…thì nay giá bán đã cải thiện, tình hình khả quan hơn, tiền vốn vay và lãi

    31

    treo đã thu hồi được. Sự phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển tín dụng, mở rộng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng.

    Môi trường vĩ mô cho hoạt động tín dụng ngân hàng dần dần đi vào ổn định, rõ ràng và an toàn hơn, thể hiện các đối tượng khách hàng sau:

    • Các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại. Một số doanh nghiệp được cổ phần hoá và nhiều doanh nghiệp đã khẳng định được hiệu quả của mình.
    • Luật doanh nghiệp mới ban hành có hiệu lực thi hành từ 1/1/2000. Theo số liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư, tính đến hết tháng 11/2000 trong cả nước đã có trên 12000 doanh nghiệp với đủ các loại hình được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký trên 10000 tỷ đồng. Do đó tư cách pháp lý, số vốn tự có thực sự…

    của doanh nghiệp được khẳng định.

    • Các hộ gia đình ở nông thôn đang định hình rõ nét: hộ làm ngành nghề, hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ, hộ có trang trại, hộ nuôi trồng thuỷ sản… Ngành chức năng đã ban hành tiêu chí cụ thể xếp loại trang trại, từ đó có các quy chế cụ thể về hoạt động tín dụng thực hiện đối với họ.

    3/ Một số thách thức mới trong hoạt động tín dụng ngân hàng.

    Những năm gần đây, điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh của các NHTM là thay đổi cơ cấu thu nhập, nhất là đối với các NHTM có quy mô lớn. Nhìn chung tỷ trọng doanh thu từ hoạt động tín dụng giảm xuống ở hầu hết các ngân hàng, thu từ dịch vụ và nghiệp vụ khác như nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán, đầu tư vào giấy tờ có giá…tăng lên. Tuy nhiên hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính của các NHTM. Trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện một số thách thức đáng lưu ý sau:

    Với cơ chế điều hành lãi suất cơ bản từ đầu tháng 8/2000 của NHNN, đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động cạnh tranh về lãi suất, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng giữa các NHTM, tuy nhiên nó lại dẫn đến những khó khăn cho các NHTM cổ phần quy mô nhỏ.

    Cạnh tranh về cung cấp vốn đầu tư, trong khi tổng đầu tư xã hội sụt giảm thì đầu tư của Nhà nước lại tăng nhanh, nhưng trong tổng nguồn vốn đầu tư chỉ có khoảng 10% là vốn huy động trong nước còn lại là nguồn vốn ODA, vốn đầu tư, tài trợ nước ngoài. Sự hiện diện của các nguồn vốn ưu đãi quốc tế rõ ràng sẽ làm giảm các cơ hội cung cấp tín dụng của các NHTM.

    32

    Tuy nền kinh tế tăng trưởng khá nhưng lại xuất hiện một số khó khăn mới như các ngành trước đây có kim ngạch xuất khẩu cao như hàng dệt may, giày da… nhưng năm 2000 lại không đạt kế hoạch, diễn biến không ổn định làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện các hợp đồng tín dụng. Trước đây một số lĩnh vực có kim ngạch xuất khẩu lớn như gạo, cà phê…thì giờ lại gặp khó khăn làm cho vốn tín dụng cho vay cũng phải giãn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, khoản cho vay cũ chưa thu được lại phải cho vay mới. Nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long do lũ lụt đã gây ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh làm cho số vốn phải khoanh nợ, giãn nợ lên tới gần 1000 tỷ đồng. Đồng thời thị trường cũng bị ảnh hưởng biến động, khó dự đoán, gây áp lực lên chất lượng tín dụng ngân hàng.

    Tính rủi ro đối với hoạt động tín dụng có xu hướng tăng lên, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường rủi ro đạo đức là rất lớn, do chính cán bộ tín dụng trong việc thực hiện các thể lệ chế độ gây ra. Dư nợ tiếp tục tăng nhanh trong khi số lượng cán bộ tín dụng hầu như không tăng, điều kiện giao thông nông thôn, miền núi không được cải thiện làm tăng lên áp lực quá tải của cán bộ tín dụng.

    Đó chính là một số thuận lợi và thách thức đối với các NHTM trong hoạt động tín dụng hiện nay, họ phải biết tận dụng và phát huy những thuận lợi và dám đương đầu với những thách thức để đưa hoạt động tín dụng tăng trưởng có hiệu quả và khẳng định được vai trò của mình trong thời đại mới.

    II/ Thực trạng tín dụng ở các NHTM Việt Nam.

    1/ Một số kết quả đạt được.

    -Ước tính đến hết tháng 12/2000, dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế tăng 21% so với cuối năm 1999, tăng đáng kể so với mức tăng 19,1% của năm 1999;16,4% của năm 1998. Đồng thời ước tính tỷ lệ nợ quá hạn chỉ ở mức 11,7%, giảm gần 1,28% so với 13,5% của năm 1999. Và trong 6 tháng đầu năm nay tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế khoảng 9,1% so với 31/12/2000, so với cùng kỳ tăng 24,5%. Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã ngày càng được mở rộng.

    -Từ 2/8/2000 NHNN chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản, các ngân hàng chủ động linh hoạt quy định lãi suất cho vay theo quan hệ với khách hàng, lãi suất cho vay của ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh giảm xuống

    ngang hàng với DNNN, lãi suất cho vay linh hoạt theo diễn biến cung cấp vốn, theo yêu cầu của thị trường và khách hàng, làm cho tín dụng được mở rộng, và đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp.

    • Hiện nay, các NHTM đã quan tâm đến việc thiết kế các loại sản phẩm tín dụng bán ra, quan tâm đến sức mua của khách hàng. Như ngân hàng Á Châu và Ngân hàng Sài Gòn thương tín là 2 ngân hàng có nhiều sản phẩm được “thiết kế” khá công phu và được khách hàng tiếp nhận như: cho vay theo dự án BOT, cho vay mua hàng trả góp, cho vay đối với CBCNVC trả dần từ lương, cho vay hộ kinh doanh ở các chợ trả lãi và góp vốn mỗi ngày, mỗi tuần. Ngoài ra còn có thẻ tín dụng thấu chi cho một số khách hàng, bên cạnh đó còn có cả dự án cho vay mua nhà trả góp với thời hạn cho vay lên đến 10 năm. Tóm lại, đã có nhiều loại cho vay cụ thể để khách hàng lựa chọn sản phẩm phù hợp với yêu cầu và khả năng của họ.
    • Thực hiện theo đúng đường lối chính sách đổi mới của Đảng về nội dung cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập niên 90 là: “Đặc biệt coi trọng hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm,

    ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản”, hệ thống ngân hàng nhất là NHNO& PTNT đã tăng cường đầu tư cho khu vực nông nghiệp nông thôn. Ước tính đến hết tháng 6/2001, dư nợ cho vay khu vực này

    đạt khoảng 48500 tỷ đồng, tăng 12,7% so với 31/12/2000, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 4,6%. Cụ thể: NHNO&PTNT cho vay 32300 tỷ đồng, Ngân hàng Công thương 3000 tỷ đồng, Ngân hàng ngoại thương1900 tỷ đồng… So với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của cả nước thì khu vực nông nghiệp và nông thôn có tốc độ tăng trưởng khá hơn.

    • Thực tế từ khi ra đời và đi vào hoạt động cho đến nay, ngân hàng người nghèo (NHNg) đã thực hiện cho người nghèo vay với lãi suất ưu đãi (lãi suất

    thấp hơn nhiều so với lãi suất thị trường, chỉ bằng khoảng 60%-80% lãi suất của NHNO&PTNT cùng thời kỳ). Cụ thể, hiện nay NHNO&PTNT cho vay 1,0% thì NHNg cho vay là 0,7%. Nhờ vậy, nó đã giúp người nghèo khắc phục được những khó khăn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, khuyến khích được các hộ nghèo mạnh dạn tính toán vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Và đã đạt được một số kết quả khá khả quan, tính đến 30/9/2000 đã có hơn 5,3 triệu lượt

    34

    hộ nghèo nhận được vốn tín dụng với tổng số tiền là 8396 tỷ đồng đầu tư vào sản xuất đạt hiệu quả, và ngân hàng cũng đã thu được nợ đạt 4017 tỷ đồng.

    • Bên cạnh đó ngân hàng còn cho vay phục vụ các đối tượng chính sách và chương trình phát triển kinh tế của Chính phủ đã mang lại hiệu quả rõ rệt về mặt xã hội, thông qua các chương trình như: Cho vay khắc phục hậu quả cơn bão số 5; cho vay tôn nền và làm sàn nhà trên cọc, chương trình một triệu tấn đường, chương trình đánh bắt cá xa bờ… nhờ đó đã giúp đồng bào sông Cửu Long khắc phục hậu quả lũ lụt, hay vực dậy và phát triển đội tàu thuyền đánh bắt cá xa bờ, xây dựng các vùng mía nguyên liệu…

    2/ Những vấn đề còn tồn tại.

    • Mức tăng trưởng tín dụng trong hệ thống ngân hàng vẫn còn chậm, mức tăng trưởng tín dụng thấp hơn tốc độ tăng trưởng vốn huy động, một số nguyên nhân chính là do: nhiều công ty làm ăn thua lỗ, phá sản, hàng loạt vụ án lớn đối với doanh nghiệp vay vốn bị đưa ra xét xử khiến ngân hàng e ngại không dám mở rộng cho vay như trước. Nhiều doanh nghiệp chưa đủ điều kiện pháp lý đảm bảo an toàn cho vay, không có dự án khả thi nên khó tiếp cận với vốn ngân hàng. Ngoài ra còn một số ngành trước đây tăng trưởng khá thì nay lâm vào tình trạng khó khăn do biến động của thị trường hay rủi ro thiên tai. Vì vậy ngân hàng gặp khó khăn trong phát triển tín dụng.
    • Từ 2/8/2000 khi NHNN áp dụng điều hành theo lãi suất cơ bản, dẫn đến tình trạng cạnh tranh lãi suất. Bên cạnh một số mặt tích cực cũng đang bộc lộ một số tồn tại đáng lo ngại như: Hạ lãi suất theo kiểu “phá giá”. Theo quy định của NHNN thì lãi suất cơ bản hiện nay là 0,75%/tháng với biên độ giao động tối đa tới 0,5%/tháng. Tuy vậy đã có NHTM hạ lãi suất cho vay xuống còn 0,6%/tháng, thậm chí thấp hơn cả lãi suất cho vay người nghèo. Với lãi suất đầu vào còn cao như hiện nay rõ ràng với lãi suất đó chỉ có tác dụng lôi kéo khách

    hàng chứ không thu được lợi nhuận, và nó sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng có môi trường kém thuận lợi hơn như NHNO&PTNT. Vì cạnh tranh các ngân hàng sẽ nới lỏng các điều kiện vay vốn như quy trình thẩm định cho vay, bảo đảm tiền vay như vậy sẽ dẫn đến những rủi ro tín dụng tiềm tàng, hậu quả khó lường. Đồng thời khách hàng sẽ lợi dụng đòi hạ lãi suất, nới lỏng điều kiện vay vốn, vay của ngân hàng này với lãi suất thấp hơn để trả cho ngân hàng kia.

    35

    • Trong nền kinh tế thị trường tính rủi ro đối với hoạt động tín dụng có xu hướng tăng lên. Thể hiện ở chỗ tổng số vốn bị nợ quá hạn tăng lên, bên cạnh đó xuất hiện một loạt khoản nợ khoanh mới không thể hiện trong tỷ lệ nợ quá hạn; xuất hiện các khoản dư nợ được điều chỉnh kỳ hạn, được giãn nợ…mà cũng còn nằm ngoài tỷ lệ nợ quá hạn. Hiện nay vấn đề nợ tồn đọng, xử lý nợ xấu là vấn đề rất khó khăn và cần phải tiếp tục giải quyết. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ có chiều hướng giảm nhưng giá trị tuyệt đối lại tăng lên. Tiến độ xử lý các khoản nợ có liên quan tới vụ án và việc phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ xấu phát sinh từ những năm trước, mặc dù đã được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, nhưng kết quả đạt được là chậm so với yêu cầu đặt ra. Cơ sở pháp lý cho việc xử lý tài sản thế chấp liên quan đến nợ xấu hiện nay còn chưa đồng bộ, nhiều khách hàng cố tình gây cản trở việc phát mại tài sản, không giao nộp tài sản thế chấp cho ngân hàng, hay trốn chạy khiến cho việc xử lý, thu hồi nợ xấu gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
    • Mặc dù một số ngân hàng đã có quan tâm đến việc đưa ra những loại cho vay cụ thể phù hợp với yêu cầu khách hàng nhưng trên thực tế hiện nay các loại cho vay của ta còn quá nghèo nàn, hầu như chỉ bán ra những gì mà ngân hàng có mà không thật quan tâm đến cái mà khách hàng cần. Trong khi ngân hàng thiết kế công phu các thể lệ huy động vốn bao nhiêu thì các sản phẩm đầu ra lại đơn điệu bấy nhiêu, có những ngân hàng mà huy động loại nào thì cho vay loại đó, ví dụ như vốn huy động 6 tháng thì cho vay 5 tháng 25 ngày. Một số NHTM thường ít áp dụng phương thức cho vay luân chuyển mà chỉ cho vay theo từng món độc lập vì thế vốn tín dụng thường không tiếp cận kịp thời với đối tượng cho vay. Như vậy, thực tế hiện nay các khách hàng hầu như ít có cơ hội lựa chọn, nhiều khách hàng cần vốn dài hạn nhưng bắt buộc phải vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến tình trạng lúng túng về tài chính. Đây cũng là điều bất cập mà ngay cả ngân hàng cũng lúng túng khi khách hàng đáo hạn phải dàn xếp cho khách hàng gia hạn hay đảo nợ mà đáng lẽ các ngân hàng có thể khắc phục được bằng việc đưa ra các loại cho vay phù hợp với yêu cầu của khách hàng.

    -Tuy tín dụng ngân hàng phục vụ đối tượng chính sách đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng nó vẫn còn một số tồn tại vướng mắc, nhất là khả năng thu hồi vốn rất thấp, nợ quá hạn ngày càng gia tăng. Nhiều ngân hàng chỉ thu

    36

    được một phần số lãi phát sinh, còn vốn gốc chỉ thu được một tỷ lệ không đáng kể. Thực trạng này đã không những làm suy yếu năng lực tài chính của NHTM mà nguy hại hơn, đã hình thành tư tưởng ỷ lại trong một bộ phận dân cư, cho rằng đó là nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ nên chậm hoàn trả nợ ngân hàng khi đến hạn. Hậu quả là việc cho vay chính sách đã mang lại gánh nặng tài chính cho chính các ngân hàng thực thi chính sách này.

    • Ngoài ra còn một số khó khăn về cán bộ tín dụng, tình trạng quá tải của cán bộ tín dụng hiện nay là một thực tế phổ biến, gây nhiều khó khăn trong hoạt động ngân hàng. Đồng thời trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nên việc thẩm định cho vay có trường hợp không đầy đủ, đúng quy trình…

    3/ Một số giải pháp khắc phục những vấn quả của hoạt động tín dụng ngân hàng hiện

     

    đề còn tồn tại và nâng cao hiệu nay.

     

    Trên đây ta đã thấy một số mặt được và chưa được trong hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM, để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế nước ta hiện nay thì cần tập trung giải quyết các vấn đề còn tồn tại theo một số giải pháp sau:

    • Để có thể mở rộng tín dụng, mỗi NHTM cần phải xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng, xác định rõ chiến lược phát triển, xây dựng chiến lược kinh doanh trước mắt và lâu dài.

    Tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị phù hợp với chiến lược khách hàng của từng NHTM, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Tăng cường cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế, đồng thời xây dựng nhiều phương thức cho vay mới, đa dạng phù hợp với nhiều loại khách hàng. Các chi nhánh NHTM trên địa bàn cần kịp thời phát hiện, xử lý và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cụ thể trên địa bàn mình. Đồng thời các cấp lãnh đạo, quản lý cũng cần có những sửa đổi bổ sung cơ chế chính sách có liên quan một cách kịp thời và đúng đắn.

    Về mặt cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ cán bộ theo nhiều phương thức, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ… Do đặc điểm của tín dụng là cơ chế chính sách thay đổi thường xuyên, nên mỗi khi có các văn bản bổ sung sửa đổi mới cần

    được tổ chức phổ biến, đào tạo ngắn ngày cập nhật thông tin cho cán bộ nghiệp vụ.

    • Đối với vấn đề lãi suất, nhằm khắc phục những hạn chế trong cạnh tranh lãi suất cần thực hiện một số biện pháp sau: NHNN cần ban hành lãi suất sàn trong cho vay để đảm bảo thực thực thi công cụ lãi suất, đem lại môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. Đẩy mạnh kích cầu qua tín dụng ngân hàng, làm đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong kinh doanh nói chung; từ đó mở rộng đầu tư cho tín dụng ngân hàng, khơi thông dòng chảy tiền tệ trong nền kinh tế. Các NHTM cần mở rộng các hình thức cạnh tranh mang tính chủ động thông qua chất lượng và công nghệ, do đó các NHTM cần chủ động cải tiến chất lượng, quy trình tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, cải tiến chất lượng phục vụ, đồng thời phải nghiên cứu áp dụng công nghệ mới trong hoạt động ngân hàng, cải tiến các vấn đề nhân sự, chi phí quản lý…giảm tối đa chi phí kinh doanh. Ngoài ra còn cần phải chú trọng đến công tác tiếp thị thường xuyên lắng nghe, thấu hiểu khách hàng. Mở rộng tín dụng đến nhiều đối tượng khách hàng, đa dạng hoá các loại hình tín dụng để tăng trưởng tín dụng cân bằng với huy động vốn… nói chung có nhiều biện pháp nhằm khắc phục hạn chế của cạnh tranh lãi suất, tuy nhiên áp dụng linh hoạt biện pháp nào và vào khi nào, nơi nào cụ thể thì phải tuỳ theo đặc điểm, tính chất hoạt động của từng NHTM.
    • Về việc xử lý nợ xấu thì cần có giải pháp đồng bộ và hữu hiệu nhằm xử lý tốt nợ xấu của NHTM. Việc xoá bỏ nợ xấu không chỉ là nhiệm vụ của riêng hệ thống ngân hàng mà còn của cả nền kinh tế, nó không chỉ tuỳ thuộc vào các biện pháp của ngân hàng trung ương, NHTM, hay khách hàng vay mà còn tuỳ thuộc vào cả một hệ thống pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh, một môi trường kinh tế thuận lợi. Cần thành lập một tổ chức mua bán nợ- một tổ chức tài chính- tín dụng đặc thù có trách nhiệm xử lý nợ xấu. (Mô hình này đã được ngành ngân hàng xem xét áp dụng, nhưng đến nay đề án thành lập của NHNN trình Chính phủ không khả thi, thay vào đó, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính đang phối hợp với ngành ngân hàng xúc tiến hoàn chỉnh đề án thành lập một uỷ ban chuyên trách có chức năng xử lý nợ xấu). Cần tập trung tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, thủ tục pháp lý: hoàn chỉnh, bổ sung thủ tục giấy tờ đối với những tài sản

    38

    bảo đảm tiền vay để có thể bán, cho thuê…Đồng thời cần thực hiện phân loại tài sản “Có” trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng; nâng cao chất lượng tín dụng của các khoản cho vay ngay từ những khâu đầu tiên của quy trình tín dụng.

    • Để tăng hiệu quả của tín dụng chính sách của Nhà nước cần nhanh chóng tách bạch việc cho vay thực hiện chính sách với cho vay thương mại của các ngân hàng. Nếu cần, các NHTM có thể thực hiện theo sự uỷ thác của Chính phủ để hưởng phí hoặc hoa hồng trên số vốn đã thực hiện. Như vậy, các ngân hàng sẽ nâng cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm trong công việc của mình. Hơn nữa cần quan tâm đến khía cạnh kinh tế khi giải quyết các vấn đề xã hội, nếu không sẽ mang lại hậu quả ngược lại. Và một vấn đề quan trọng nữa là cần xem lại cơ chế tài chính trong việc thực hiện các chương trình kinh tế mang tính chính sách như trên, và nhất thiết phải có cơ chế hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng. Nên chăng có thể khoán thu ở mức tối thiểu nào đó để các ngân hàng cố gắng và có trách nhiệm trong việc thu hồi nợ, số còn lại có thể cho phép trừ vào các khoản phải nộp ngân sách hoặc ngân sách cấp hỗ trợ trực tiếp.

    Các giải pháp trên tuy chưa phải là đầy đủ, tối ưu song cũng có thể để tham khảo nhằm khắc phục những vấn đề còn hạn chế và cũng là để nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng trong các NHTM.

    39

    PHẦN KẾT LUẬN.

    Từ khi ra đời hệ thống NHTM Việt Nam cùng với hoạt động tín dụng của nó đã góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực. Nó không những cung ứng vốn cho các doanh nghiệp tăng cường mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ các dự án, chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước. Tín dụng ngân hàng đã đạt được một số thành tựu nhất định, chứng tỏ rõ nó là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống tín dụng ở nước ta, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đưa đất nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong nền cơ chế thị trường thì hoạt động tín dụng trong các NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết.

    Trong khuôn khổ hạn hẹp của đề tài em đã trình bày một số lý luận cơ bản về NHTM và hoạt động tín dụng của nó, cùng với một số vấn đề nổi cộm trong thực tế hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam, và có đưa ra một số đề xuất về giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Đăng Khâm đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành đề án này. Song do trình độ và thời gian có hạn nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của các thầy cô và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Hà Nội, ngày 10/11/2001.

    40

    TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    1. Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.- Nguyễn Đức Thảo. TpHCM.
    1. Ngân hàng thương mại. – Reed Edward, Gill Edwardk. TpHCM.
    1. Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại. – DCox. Nxb Chính trị quốc gia.
    1. Tiền và hoạt động ngân hàng. – Lê Vinh Danh. Nxb Chính trị quốc gia.
    1. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính. – Frederic. S. Mishkin.
    1. Quản trị ngân hàng thương mại. – Peter S.Rose. Nxb Tài chính.
    1. Tạp chí Ngân hàng.
    1. Thời báo Ngân hàng.
    1. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ.

    41


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát

    Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát

    Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích tài chính trong ngân hàng thương mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-chi-ph%C3%AD-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-v%C3%A0-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-th%C3%A0nh-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-TNHH-Th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-T%C3%A2n-V%C4%A9nh-Ph%C3%A1t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát

     

    LỜI MỞ ĐẦU

     

     

    Để quản lý một cách có hiệu quả đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh hay sản xuất dịch vụ của một doanh nghiệp nói riêng, một nền kinh tế quốc dân của một nước nói chung đều cần phải sử dụng các công cụ quản lý khác nhau và một trong những công cụ quản lý không thể thiếu được đó là kế toán.

    Trong đó hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giữ một vai trò rất quan trọng trong công tác kế toán của doanh nghiệp. Vì đối với các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết và cạnh tranh quyết liệt, khi quyết định lựa chọn phương án sản xuất một loại sản phẩm nào đó đều cần phải tính đến lượng chi phí bỏ ra để sản xuất và lợi nhuận thu được khi tiêu thụ. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp phải tập hợp đầy đủ và chính xác chi phí sản xuất. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất. Giá thành sản phẩm thấp hay cao, giảm hay tăng thể hiện kết quả của việc quản lý vật tư, lao động, tiền vốn. Điều này phụ thuộc vào quá trình tập hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Chính vì thế kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai quá trình liên tục, mật thiết với nhau. Thông qua chỉ tiêu về chi phí và giá thành sản phẩm các nhà quản lý sẽ biết được nguyên nhân gây biến động chi phí và giá thành là do đâu và từ đó tìm ra biện pháp khắc phục. Việc phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là một trong những mục tiêu quan trọng không những của mọi doanh nghiệp mà còn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội.

    Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát là một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực khai thác chế biến đá. Sản phẩm của công ty mang tính đặc thù. Công ty đã xác định được quy trình hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm khá hoàn chỉnh.

    Tuy nhiên, qua thời gian thực tập tại công ty, được tiếp xúc trực tiếp với công tác kế toán ở công ty, thấy được tầm quan trọng của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, để hiểu sâu sắc hơn về nội dung này nên em đã lựa chọn đề tài: ” Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát“.

    Nội dung của chuyên đề gồm bốn chương:

    • Chương 1: Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát
    • Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
    • Chương 3:Thực trạng về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát
    • Chương 4:Nhận xét và kiến nghị về tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG 1:

    GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ

    CÔNG TY TNHH TM TÂN VĨNH PHÁT

    1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    – Tên công ty viết bằng tiếng Việt: Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thương Mại Tân Vĩnh Phát.

    – Tên công ty viết tắt: Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    – Địa chỉ trụ sở chính: 104 Hai Bà Trưng – Tp.Pleiku – Gia lai.

    – Mã số thuế: 5900188075

    – E-mail:[email protected]

    – Ngày 10/01/1994 tiền thân của công ty ra đời với số vốn 1,4 tỷ và có tên là Công ty TNHH Thương Mại Tân Vĩnh Phát. Công ty TNHH Thương mại hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng luật pháp Nhà nước quy định. Bảo đảm có lãi để ổn định cuộc sống của các thành viên công ty và cán bộ công nhân viên. Thực hiện đầy đủ  nghĩa vụ thuế để xây dựng đất nước. Kinh doanh có hiệu quả, tích luỹ và phát triển được nguồn vốn để ngày càng mở rộng nâng tầm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty lên cao góp phần các công trình công ích xã hội ở địa phương.

    Tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty một số năm gần đây được khái quát qua bảng số liệu sau:

    Đơn vị:VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
    Doanh thu thuần 22.324.118.653 24.065.688.785 26.382.449.770
    Giá vốn hàng bán 19.433.241.522 20.071.615.595 20.449.012.707
    Lợi nhuận sau thuế 591.716.138 629.386.583 650.383.688

    Trong 3 năm gần đây, doanh thu hoạt động kinh doanh của công ty liên tục tăng, doanh thu năm 2008 tăng 2.316.760.990đ so với năm 2007 tương ứng với tốc độ tăng 9,63%. Vì công ty là doanh nghiệp sản xuất nên giá vốn chiếm tỷ trọng lớn. Lợi nhuận sau thuế năm 2008 tăng 20.997.105đ so với năm 2007 tương ứng tốc độ tăng 3,34%. Như vậy, công ty đã có cố gắng trong việc tăng doanh thu và lợi nhuận.

    1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CÔNG TY

    1.2.1 Chức năng:

    Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát được thành lập theo tinh thần của Bộ Luật doanh nghiệp , nhằm góp phần phát huy nội lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Như phương án đã hoạch định, công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát kinh doanh mua bán và làm đại lý các mặt hàng: vật liệu xây dựng; gia công chế biến đá xây dựng; xây dựng công trình giao thông; khai thác sản xuất đá xây dựng,cát,sỏi….

    1.2.2 Nhiệm vụ:

    – Nắm bắt mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong địa phương để có định hướng sản xuất kinh doanh góp phần phát triển xã hội. Nhạy bén trong cơ chế thị trường để kịp thời sản xuất và tiêu thụ kịp thời đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của địa phương.

    – Tăng cường công tác hạch toán kinh doanh, quản lý chặt trẻ các chi phí quản lý sản xuất và chi phí quản lý doanh nghiệp, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tích luỹ vốn.

    – Thực hiện thi công đảm bảo đúng thiết kế, đạt yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo an toàn lao động các công trình thi công trong các lĩnh vực: Xây dựng nhà máy thuỷ điện, các công trình giao thông, thuỷ lợi, các công trình dân dụng và công nghiệp,…

    – Chịu trách nhiệm với khách hàng về các hợp đồng đã ký.

    – Chịu trách nhiệm bảo tồn nguồn vốn của công ty, bảo đảm hạch toán kinh tế đầy đủ, chịu trách nhiệm nợ đi vay và làm tròn nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.

    – Thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên, môi trường, di tích lịch sử, văn hoá, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và công tác phòng chống cháy nổ.

    1.3 CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY

    1.3.1 Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty

    Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty

    1.3.2 Chức năng của từng bộ phận:

    • Giám đốc công ty: Giám đốc là người điều hành cao nhất, chịu trách nhiệm hoàn toàn mọi hoạt động và hoạch định chiến lược và định hướng kinh doanh của công ty. Giám đốc là người quản lý và sử dụng số nhân viên được công ty tuyển dụng trên cơ sở bố trí phù hợp để nhằm phát huy tốt đội ngũ nhân viên.
    • Phòng kinh doanh: Tổng hợp và phân tích các báo cáo kinh doanh, lập kế hoạch cung ứng vật liệu, tìm hiểu thị trường, đề ra hoạt động cho công ty, giúp ban giám đốc điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh của công ty.
    • Phòng kế toán: Ghi chép, tính toán, phản ánh số hịện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và sử dụng kinh phí của công ty. Cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm tra và phân tích hoạt động tài chính.
    • Phòng tổ chức hành chính: Theo dõi ngày công thực tế của các bộ phận khai thác và sản xuất để kịp thời phân công hợp lý lực lượng lao động, điều động nhân lực cho tiến độ sản xuất hợp lý tránh những lãng phí không cần thiết.
    • Phòng sản xuất: Tổ chức quản lý và lập kế hoạch thay đổi thiết bị, thay đổi công nghệ, thay đổi máy móc tại công ty, đề ra chất lượng sản phẩm phù hợp với thị trường.
    • Bộ phận khai thác: Đảm nhiệm và chịu trách nhiệm công việc trong quá trình khai thác nguyên liệu cho công ty.
    • Bộ phận sản xuất: Đảm nhiệm và chịu trách nhiệm công việc trong quá trình sản xuất thành phẩm đạt hiệu quả cao nhất.

    1.4. TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY

    1.4.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức kế toán

    Sơ đồ 1.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức kế toán

    1.4.2. Chức năng và nhiệm vụ của phòng kế toán

    • Tham mưu cho lãnh đạo vế công tác nghiệp vụ tài chính kế toán và quản lý các nguồn vốn của công ty. Đồng thời lập và quản lý các thủ tục chứng từ về công tác tài chính kế toán theo đúng kế toán của nhà nước.
    • Tổ chức ghi chép tính toán đầy đủ và phản ánh chính xác, kịp thời toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch chi tiêu tài chính để trình Giám đốc phê duyệt, triển khai và thực hiện.
    • Theo dõi và sử dụng vốn có hiệu quả. Quản lý các quỹ tiền lương, quỹ khen thưởng, quỷ dự phòng. Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, kiểm kê các tài sản của công ty và lập báo cáo quyết toán.
    • Kế toán trưởng

    – Chịu trách nhiệm trực tiếp trước Giám đốc

    – Bảo đảm công tác kế toán thực hiện theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước và quy định của công ty.

    – Đồng thời cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin kế toán cho ban lãnh đạo có liên quan,

    • Kế toán viên

    – Theo dõi thanh quyết toán các khoản thu, chi của doanh công ty.

    – Theo dõi vật tư và công nợ của khách hàng

    – Theo dõi chi phí giá thành sản phẩm

    – Theo dõi, tổng hợp chứng từ, lưu trữ chứng từ về nghiệp vụ kế toán

    – Phụ trách công việc nội vụ văn phòng

    1.5 HÌNH THỨC TỔ CHỨC SỔ KẾ TOÁN

    – Công ty áp dụng hình thức kế toán: nhật ký chung, hình thúc tổ chức kế toán tập trung. Do đó, tất cả chứng từ về kế toán được tập trung về phòng kế toán doanh nghiệp. Phòng kế toán có nhiệm vụ tổng hợp chứng từ, ghi sổ kế toán, thực hiện kế toán chi tiết, tổng hợp, lập báo cáo tài chính và lưu giữ chứng từ.

    – Hàng ngày nhân viên phụ trách sẽ căn cứ vào chứng từ gốc để ghi vào nhật ký chung, sổ chi tiết, sỗ quỹ và sổ chi tiết đặc biệt. Cuối tháng căn cứ vào sổ nhật ký chung để lập ra sổ cái.

    – Cuối tháng khóa sổ, tìm tổng số tiền của các nghiệp vụ phát sinh trong tháng của từng tài khoản sổ cái từ đó để lập ra bảng cân đối tài khoản.

    – Công ty tiến hành phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh vào thời điểm cuối năm sau khi lập bao cáo tài chính.

    Sơ đồ 1.3:  Sơ đồ luân chuyển chứng từ:

     
       

    Ghi chú:

    Theo dõi hàng tháng

    Theo dõi hàng ngày

    Đối chiếu

    CHƯƠNG 2:

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT

    VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    2.1.1. Chi phí sản xuất

    2.1.1.1. Khái niệm:

    Quá trình sản xuất sản xuất sản phẩm là quá trình phát sinh thường xuyên, liên tục các loại chi phí sản xuất khác nhau để tạo ra sản phẩm. Chi phí sản xuất là những biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa trong quá trình sản xuất sản phẩm. Hao phí lao động sống là hao phí sức lao động của con người biểu hiện qua chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương , hao phí lao động vật hóa là hao phí các đối tượng lao động và tư liệu lao động biểu hiện qua chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí sử dụng công cụ – dụng cụ, chi phí sử dụng nhà xưởng, văn phòng, chi phí sử dụng các loại máy móc – thiết bị khác nhau…

    2.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất:

    2.1.1.2.1 Phân loại chi phí theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí: là căn cứ vào đặc điểm đồng nhất của của chi phí để phân chia chí phí thành các nội dung.

            Bao gồm các yếu tố:

    – Chi phí nguyên vật liệu chính

    – Vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng cho hoạt động sản xuất.

    – Tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân phục vụ và nhân viên quản lý sản xuất.

    – Chi  phí khấu hao tài sản  cố định.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài ( thuê mặt bằng sản xuất, chi phí điện, nước…).

    – Các khoản chi bằng tiền cho hoạt động sản xuất.

    Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài có thể không có nếu tất cả đều chi ra bằng tiền.

    2.1.1.2.2. Phân loại chi phí theo công dụng:

    Những chi phí sản xuất có cùng mục đích và công dụng được xếp vào cùng một khoản mục chi phí. Theo tiêu thức phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ được chia ra làm các khoản mục chi phí sau:

    –  Chi phí NVL trực tiếp.

    – Chi phí nhân công trực tiếp.

    – Chi phí sản xuất chung

    + Chi phí nguyên vật liệu

    + Chi phí nhân viên quản lý phân xưởng

    + Chi phí dụng cụ sản xuất

    + Chi phí khấu hao TSCĐ

    + Chi phí dịch vụ mua ngoài

    + Chi phí bằng tiền khác

    2.1.1.2.3 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu chi phí.

    • Chi phí trực tiếp : là chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc sản xuất ra sản phẩm chính, một loại công trình, hạng mục công trình, một hoạt động xây lắp. Đối với chi phí trực tiếp hoàn toàn có thể căn cứ vào chứng từ gốc để tập hợp cho từng đối tượng chịu chi phí.
    • Chi phí gián tiếp : Là chi phí phát sinh có liên quan đến nhiều loại công trình, nhiều sản phẩm sản xuất hoạt động tại nhiều địa điểm khác nhau. Do đó không thể tập hợp, quy nạp trực tiếp nên chi phí này được tính cho các đối tượng liên quan bằng cách phân bổ thích hợp. Đối với chi phí gián tiếp bắt buộc phải áp dụng phương pháp phân bổ. Mức độ chính xác của chi phí gián tiếp tập hợp cho từng đối tượng tuỳ thuộc vào tính khoa học, hợp lý của tiêu chuẩn dùng để phân bổ chi phí.

    2.1.1.2.4. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí.

    Chi phí sản xuất được chia thành ;

    + Các chi phí bất biến ( Định phí )

    + Các chi phí khả biến ( Biến phí )

    + Các chi phí hỗn hợp .

    Chi phí bất biến ( Định phí ) : Là chi phí mà tổng số không đổi khi có sự thay đổi về khối lượng hoạt động nhưng chi phí trung bình của một đơn vị khối lượng hoạt động thay đổi theo thời gian.

    Chi phí khả biến ( Biến phí ) : Là các chi phí mà tổng số thay đổi tỷ lệ với sự thay đổi của khối lượng hoạt động.

    Chi phí hỗn hợp : Là chi phí mà bản thân nó gồm cả yếu tố định phí và biến phí. Để phục vụ việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí hỗn hợp, các nhà quản lý Doanh nghiệp cần phân tích chi phí hỗn hợp thành các yếu tố định phí và biến phí bằng các phương pháp thích hợp.

    Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý của Doanh nghiệp .

    • Thứ nhất : Giúp các nhà quản trị xác định đúng đắn phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả của chi phí sản xuất. Đối với biến phí cần tiết kiệm tổng chi phí và chi phí cho một khối lượng hoạt động. Đối với định phí cần nâng cao hiệu lực của của chi phí trong sản xuất .
    • Thứ hai : Là cơ sở để thiết kế, xây dựng mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận, xác định điểm hoà vốn và ra các quyết định quan trọng khác.

    2.1.2 Giá thành sản phẩm

    2.1.2.1. Khái niệm:

    Nếu chi phí sản xuất là tiêu hao của lao động sống và lao động vật hóa phát sinh thường xuyên, liên tục trong quá trình sản xuất thì giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất doanh nghiệp đã bỏ ra gắn liền với một kết quả sản xuất nhất định.

    2.1.2.2. Phân loại:

    Nếu căn cứ vào nguồn số liệu để xác định thì giá thành sản phẩm bao gồm: giá thành định mức, giá thành kế hoạch, giá thành thực tế.

    2.1.2.2.1. Giá thành định mức:

    Để quyết định sản xuất một loại sản phẩm mới tung ra thị trường, doanh nghiệp cần phải xác định được các định mức tiêu hao về lao động sống và lao động vật hóa. Từ đó xác định được giá thành sản xuất sản phẩm theo những định mức đã được xác định trên cơ sở giá cả đầu vào của loại lao động nói trên và đưa ra giá bán cạnh tranh trên thị trường. Giá thành sản xuất được xác định như trên chính là giá thành định mức của doanh nghiệp.

    2.1.2.2.2. Giá thành kế hoạch ( giá thành dự toán ) :

    Căn cứ vào định mức tiêu hao về lao động sống và lao động vật hóa đã được xác định cho từng loại sản phẩm, vào đầu mỗi kỳ kế hoạch, căn cứ vào giá cả đầu vào hiện hành của các loại lao động, doanh nghiệp xây dựng giá thành kế hoạch.

    2.1.2.2.3. Giá thành thực tế:

    Tiêu hao về lao động sống và lao động vật hóa thực tế phát sinh kết tinh trong sản phẩm

    2.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    • Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất gồm 2 mặt: mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất. Tất cả các khoản chi phí phát sinh vá các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
    • Nghĩa là giá thành là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động sản xuất ở bất kể kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ còn còn chi phí sản xuất gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí.
     
     
    Giá thành SP =  Chi phí DDĐK + Chi phí SXPSTK – Chi phí SXDDCK
    • Xét về bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một, vì cùng hao phí về lao động sống và lao động vật hóa. Nhưng xét về mặt lượng, thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau.

    2.1.4 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành

    2.1.4.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất:

    Để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường căn cứ vào.

    + Đặc điểm phát sinh chi phí sản xuất và công dụng của chi phí.

    + Đặc điểm phát sinh chi phí và công dụng của chi phí .

    + Đặc điểm của quy trình công nghệ ( Giản đơn hay phức tạp ).

    + Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.

    Trên thực tế việc tổ chức tập hợp chi phí sản xuất của Doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng: Từ khâu hạch toán ban đầu đến khâu tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.

    2.1.4.2. Đối tượng tính giá thành:

    Đối tượng tính giá thành các loại sản phẩm, lao vụ, công trình, hạng mục công trình do Doanh nghiệp sản xuất ra cần được tính giá thành và giá thành đơn vị. Công việc tính giá thành là xác định giá thành thực tế từng loại sản phẩm và toàn bộ sản phẩm đã hoàn thành. Xác định khối lượng tính giá thành là công việc đầu tiên của toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp và có ý nghĩa quan trọng. Bộ phận kế toán giá thành phải cân đối, xem xét tổng thể các căn cứ để xác định khối lượng tính giá thành cho phù hợp.

    + Cơ cấu tổ chức sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ.

    + Đặc điểm của sản phẩm và đặc điểm sử dụng của sản phẩm .

    + Dựa vào yêu cầu hạch toán kế toán nội bộ Doanh nghiệp và yêu cầu xác định hiệu quả kinh tế của từng loại sản phẩm .

    + Khả năng và trình độ quản trị của lãnh đạo Doanh nghiệp nói chung và khả năng của cán bộ kế toán nói riêng .

    2.1.5 Kỳ tính giá thành

    Tuỳ thuộc vào từng đối tượng cụ thể của từng doanh nghiệp, vào đặc điểm và chu kỳ sản xuất – kinh doanh để lựa chọn kỳ tính giá thành phù hợp. Kỳ tính giá thành có thể là tháng đối với các doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất – kinh doanh thông thường, là quý (thậm chí là năm) đối với các doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, là thời điểm hoàn thành đơn đặt hàng nếu doanh nghiệp lựa chọn đối tượng tính giá thành sản phẩm là các đơn đặt hàng cụ thể

    2.1.6 Nhiệm vụ kế toán

    • Lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành sản phẩm và kỳ tính giá thành sản phẩm phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp, trang thiết bị của phòng kế toán.
    • Mở đầy dủ các sổ thẻ chi tiết để theo dõi và ghi nhân chi phí phát sinh kịp thời.
    • Xác định tiêu thức phân bổ chi phí phát sinh phù hợp và tiến hành lập các bảng phân bổ chi phí phát sinh vào đối tượng chịu chi phí khác nhau.
    • Lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang phù hợp và tiến hành đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm phù hợp, tiến hành tính giá thành sản phẩm và lập bảng tính giá thành sản phẩm chính xác, kịp thời.
    • Lập báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm đánh giá việc tuân thủ các định mức kinh tế – kỹ thuật, việc thực hiện kế hoạch và dự toán chi phí sản xuất, đề xuất các biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm.

    2.2 KẾ TOÁN CÁC KHOẢN CHI PHÍ SẢN XUẤT

    2.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    2.2.1.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 621 “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” dùng để phản ánh chi phí, nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, dịch vụ.

    2.2.1.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản

    2.2.1.3. Nguyên tắt hạch toán vào tài khoản

    – Chỉ hạch toán vào tài khoản này những chi phí nguyên, vật liệu thực tế sử dụng cho hoạt động sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ. Chi phí nguyên, vật liệu thực tế sử dụng phải tính theo giá thực tế căn cứ vào phương pháp tính giá hàng xuất kho của doanh nghiệp.

    – Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Trong kỳ kế toán, thực hiện việc ghi chép, tập hợp chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp vào bên Nợ tài khoản này theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Cuối kỳ kế toán, thực hiện việc kết chuyển hoặc tiến hành tính phân bổ và kết chuyển chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp vào tài khoản tính giá thành tương ứng. Khi tiến hành tính phân bổ trị giá nguyên, vật liệu thực tế sử dụng để tính giá thành phẩm phẩm cần lựa chọn các tiêu thức phân bổ hợp lý. Mức phân bổ cho từng đối tượng được xác định theo công thức sau:

     
       

    2.2.1.4. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật trực tiếp

    Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán hàng tồn kho

    – Căn cứ vào phiếu xuất kho nguyên vật liệu sử dụng để trực tiếp sản xuất sản phẩm ghi:

    Nợ TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Có TK 152 – Nguyên vật liệu

    – Nếu mua nguyên vật liệu sử dụng ngay cho hoạt động sản xuất ( không qua kho), căn cứ vào chứng từ có liên quan ghi:

    Nợ TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Nợ TK 133 –  Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)

    Có TK 111,112,331,… – Tổng giá thanh toán

    – Nếu mua số nguyên vật liệu đã xuất ra không sử dụng hết vào hoạt động sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ, khi nhập lại kho, ghi:

    Nợ TK 152 – Nguyên vật liệu

    Có TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    – Nếu số nguyên, vật liệu đã xuất ra không sử dụng hết nhưng không nhập lại kho mà để lại hiện trường để sử dụng trong kỳ kế toán tiếp theo, ghi bút toán đỏ như sau:

    Nợ TK 152 – Nguyên vật liệu

    Có TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ để hạch toán hàng tồn kho.

    – Vào cuối kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế, xác định trị giá nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ theo công thực:

     
       

    – Căn cứ vào mục địch sử dụng nguyên vật liệu xuất kho, xác định trị giá nguyên vật liệu để trực tiếp sản xuất sản phẩm ghi:

    Nợ TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Có TK 611 – Mua hàng (chi tiết nguyên,vật liệu)

    2.2.1.5. Phương pháp phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

    • Đối với nguyên, vật liệu chính: là những nguyên liệu, vật liệu cấu thành nên vật thể vật chất của sản phẩm

    Thông thường, khi xuất kho nguyên vật liệu chính sử dụng cho quá trình sản xuất sản phẩm đã xác định cụ thể loại sản phẩm mà nguyên vật liệu tạo nên. Do đó căn cứ vào phiếu xuất kho nguyên vật liệu kế toán có thể ghi nhận trực tiếp chi phí nguyên vật liệu vào các đối tượng tính giá thành có liên quan.

    Trong trường hợp cùng một loại nguyên, vật liệu xuất để sử dụng cho nhiều loại sản phẩm nhưng có nhiều quy cách khác nhau thì kế toán căn cứ vào định mức tiêu hao nguyên, vật liệu đã sử dụng.

    • Đối với vật liệu phụ: là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm mà có thể kết hợp với nguyên, vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dang bề ngoài, làm tăng thêm chất lượng hoặc giá trị sử dụng của sản phẩm.

    Tuỳ thuộc vào tính chất của các loại vật liệu phụ mà kế toán có thể sử dụng các phương pháp phân bổ gián tiếp chi phí vật liệu phụ vào các đối tượng tính giá thành khác nhau

    • Căn cứ vào định mức tiêu hao vật liệu phụ (phương pháp tính toán và phân bổ giống như đối với nguyên, vật liệu chính.
    • Căn cứ vào lượng nguyên, vật liệu chính đã sử dụng.
    • Căn cứ vào số giờ máy sử dụng,
      • Đối với nhiên liệu các loại: là vật liệu phụ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, rắn và thể khí. Lượng nhiên liệu tiêu hao nếu không xác định trực tiếp cho từng loại máy sử dụng thì có thể phân bổ căn cứ vào công suất thiết kế của từng loại máy và định mức sử dụng nhiên liệu tương ứng.

    SƠ ĐỒ 2.1: SƠ ĐỒ TỔNG HỢP TK 621

    2.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    2.2.2.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 622 “Chi phí nhân công trực tiếp” dùng để phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí lao động trực tiếp bao gồm cả các khoản phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, dịch vụ thuộc danh sách quản lý của doanh nghiệp và cho lao động thuê ngoài theo từng loại công việc như lương các khoản phụ cấp và các khoản trích theo lương.

    2.2.2.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản

    2.2.2.3. Nguyên tắc phản ánh vào tài khoản:

    • Không hạch toán vào tài khoản này những khoản phải trả về tiền lương và các khoản phụ cấp cho nhân viên quản lý và phục vụ tại phân xưởng, nhân viên của bộ máy quản lý doanh nghiệp hoăc nhân viên của hoạt động bán hàng.
    • Tài khoản này được mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
    • Cuối kỳ kế toán, thực hiện việc kết chuyển hoặc tiến hành tính phân bổ và kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào các tài khoản tính giá thành tương ứng.

    2.2.2.4. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp.

    – Cuối kỳ căn cứ vào bảng tính lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất ghi.

    Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có TK 334 – Phải trả công nhân viên

    – Tính và trích các khoản theo lương theo quy định hiện hành của nhân công trực tiếp sản xuất kế toán ghi:

    Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có TK 338 – Phải trả, phải nộp khác

    – Trích tiền lương nghỉ phép của nhân công trực tiếp sản xuất kế toán ghi:

    Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có TK 335 – Chi phí phải trả

    2.2.2.5. Phương pháp phân bổ chi phí nhân công trực tiếp:

    Thông thường chi phí phân bổ nhân công trực tiếp được theo dõi cụ thể đối với từng loại sản phẩm. Trương hợp không thể tách riêng để theo dõi thì cuối kỳ kế toán tiến hành phân bổ chi phí nhân công trực tiếp vào các đối tượng tính giá thành khác nhau căn cứ vào định mức lao động hoặc vào định mức tiền công kế hoạch. Công thức xác định mức phân bổ chi phí nhân công trực tiếp như sau:

     
       

    SƠ ĐỒ 2.2: SƠ ĐỒ TỔNG HỢP TK 622

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất chung

    2.2.3.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 627 “ chi phí sản xuất chung” dùng để phản ánh chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh phát sinh ở phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất,…( dùng chung là phân xưởng sản xuất) phục vụ sản xuất sản phẩm, dịch vụ.

    2.2.3.2. Nội dung và kết cấu của TK

     
       

    2.2.3.2. Nguyên tắt phản ánh vào tài khoản:

    – Tài khoản này được mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Cuối kỳ kế toán, thực hiện việc kết chuyển hoặc tiến hành tính phân bổ và kết chuyển chi phí sản xuất chung vào tài khoản tính giá thành tương ứng.

    Tài khoản này có 6 tài khoản cấp 2, bao gồm:

    + Tài khoản 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng

    + Tài khoản 6272: Chi phí vật liệu

    + Tài khoản 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất

    + Tài khoản 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ

    + Tài khoản 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài

    + Tài khoản 6278: Chi phí khác bằng tiền

    2.2.3.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung

    – Khi tính tiền lương, tiền công các khoản phụ cấp,… phải trả cho nhân viên quản lý và phục vụ sản xuất tại phân xưởng, ghi:

    Nợ TK 627 (6271) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 334 – Phải trả công nhân viên

    – Khi trích theo lương đối với nhân viên quản lý và phục vụ quản lý tại phân xưởng ghi:

    Nợ TK 627(6271) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 338 – Phải trả, phải nộp khác

    • Đối với chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất:

    – Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, căn cứ vào phiếu xuất kho vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất, ghi:

    Nợ TK 627(6272) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 152 – Nguyên vật liệu

    – Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế cuối kỳ, xác định trị giá dùng chung cho phân xưởng sản xuất, ghi:

    Nợ TK 627(6272) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 611 – Mua hàng

    • Đối với chi phí dụng cụ sản xuất dùng chung cho phân xưởng sản xuất:

    – Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, căn cứ vào phiếu xuất kho vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất:

    – Nếu dụng cụ sản xuất có trị giá nhỏ, thời gian sử dụng ngắn, ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 153 – Công cụ, dụng cụ

    – Nếu dụng cụ sản xuất có trị giá lớn, thời gian sử dụng dài, ghi:

    Nợ TK 142, 242 – Chi phí trả trước

    Có TK 153 – Công cụ, dụng cụ

    – Khi  phân bổ trị giá dụng cụ sản xuất vào chi phí sản xuất chung, ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 142,242 – Chi phí trả trước

    – Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế cuối kỳ, xác định trị giá dùng chung cho phân xưởng sản xuất, ghi:

    – Nếu dụng cụ sản xuất có trị giá nhỏ, thời gian sử dụng ngắn, ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 611 – Mua hàng

    – Nếu dụng cụ sản xuất có trị giá lớn, thời gian sử dụng dài, ghi:

    Nợ TK 142,242 – Chi phí trả trước

    Có TK 611 – Mua hàng

    – Khi phân bổ trị giá dụng cụ sản xuất vào chi phí sản xuất chung ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 142,242 – Chi phí trả trước

    – Nếu phát sinh chi phí sữa chữa lớn TSCĐ, ghi:

    Nợ TK 627(6273) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 142,242 – chi phí trả trước hoặc

    Có TK 335 – Chi phí trả trước

    – Căn cứ vào bảng khấu hao TSCĐ của phân xưởng sản xuất ghi:

    Nợ TK 627(6274) – Chi phí sản xuất chung

    Có TK 214 – Hao mòn TSCĐ

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền khi phát sinh, ghi:

    Nợ TK 627(6277, 6278) – Chi phí sản xuất chung

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)

    Có TK 111,112,331,.. – Tổng giá thanh toán

    – Nếu phát sinh các khoản làm giảm chi phí sản xuất chung, ghi:

    Nợ TK 111,112,138,… – Các khoản thu hồi

    Có TK 627 – Chi phí sản xuất chung

    2.2.3.4.Phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung.

    Tiêu thức dùng để phân bổ đối với chi phí sản xuất chung là căn cứ vào tiền lương nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm. Công thức xác định mức phân bổ chi phí sản xuất chung như sau:

     
       

    SƠ ĐỒ 2.3: SƠ ĐỒ TỔNG HỢP TK 627

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.2.4 Kế toán các khoản thiệt hại trong sản xuất

    2.2.4.1.Thiệt hại về sản phẩm hỏng:

    Sản phẩm hỏng bao gồm sản phẩm hỏng sữa chữa được và không sữa chữa được

    • Sản phẩm hỏng có thể sữa chữa được: là những sản phẩm hỏng mà về mặt kỹ thuật có thể sữa chữa được và việc sữa chữa đó có lợi về mặt kinh tế.

    + Các chi phí về sữa chữa được tập hợp vào TK 621, 622

    Nợ TK 621, 622

    Có TK 152, 153, 334, 338…

    + Sau đó căn cứ nguyên nhân và biện pháp xử lý khoản thiệt hại này để ghi vào các TK có liên quan.

    Nợ TK 154, 138, 811

    Có TK 621, 622

    • Sản phẩm không thể sữa chữa được: là những sản phẩm hỏng mà về mặt kỹ thuật không thể sữa chữa được nhưng không có lợi về mặt kinh tế.

    Xác định giá trị sản phẩm hỏng  không sữa chữa được, kế toán ghi như sau:

    Nợ TK 138, 152, 154, 811

    Có TK 154

    2.2.4.2. Thiệt hại do ngừng sản xuất

    Trong thời gian ngừng sản xuất, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một khoản chi phí để duy trì hoạt động như tiền công lao động, nhiên liệu, chi phí sữa chữa… các khoản chi phí này được xem là một thiệt hại ngừng sản xuất.

    Trong thời gian ngừng sản xuất chia làm 2 loại:

    Ngừng sản xuất có kế hoạch.

    Ngừng sản xuất ngoài kế hoạch.

    • Ngừng sản xuất có kế hoạch: căn cứ vào kế hoạch, kế toán tính vào chi phí hàng tháng, khoản thiệt hại về ngừng sản xuất kế toán ghi:

    Nợ TK 621,622

    Có TK 335

    + Khi phát sinh chi phí thực tế:

    Nợ TK 335

    Có TK 152,334

    • Ngừng sản xuất ngoài kế hoạch: bao gồm các khoản thiệt hại thiên tai, hỏa hoạn, hư hỏng máy móc thiết bị…

    + Tập hợp chi phí phát sinh trong thời gian ngừng sản xuất, kế toán ghi:

    Nợ TK 142 – Chi phí trả trước

    Có TK 152, 334, 111, 214

    + Các khoản thiệt hại được xử lý ghi:

    Nợ TK 138,811,627

    Có TK 142 – Chi phí trả trước

    2.3 TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    2.3.1  Tổng hợp chi phí sản xuất

    2.3.1.1. Theo phương pháp kê khai thường xuyên.

    2.3.1.1.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 154 “chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” dùng để tổng hợp chi phí sản xuất, kinh doanh phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm công nghiệp, xây lắp, nuôi trồng, chế biến sản phẩm nông lâm, ngư nghiệp, dịch vụ ở doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên trong hạch toán hàng tồn kho.

    2.3.1.1.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản

     
       

    2.3.1.1.3. Nguyên tắt phản ánh vào tài khoản .

    – Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong kỳ, chi phí sản xuất, kinh doanh của khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ, chi phí sản xuất, kinh doanh đầu kỳ của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phụ và thuê ngoài gia công chế biến.

    – Chi phí sản xuất, kinh doanh phản ánh trên tài khoản này phải được chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Chi phí sản xuất, kinh doanh phản ánh trên tài khoản này bao gồm:

    – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.

    – Chi phí nhân công trực tiếp.

    – Chi phí sử dụng máy thi công.

    – Chi phí sản xuất chung.

    2.3.1.1.4. Trình tự hạch toán

    – Cuối kỳ, căn cứ vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ.

    Nợ TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

    Có TK 621 – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp

    Có TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có TK 627 – Chi phí sản xuất chung.

    • Phương pháp hạch toán các khoản điều chỉnh giảm giá thành như sau:

    – Trị giá phế liệu thu hồi từ vật tư sử dụng nhập kho, ghi:

    Nợ TK 152 – Nguyên, vật liệu

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Trị giá sản phẩm phụ thu được từ quá trình sản xuất nhập kho, ghi:

    Nợ TK 155 – Thành phẩm

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Trị giá sản phẩm hỏng không sữa chữa được, người gay ra chịu thiệt hại sản phẩm hỏng phải bồi thường

    Nợ TK 111,112 – Số tiền thu được từ các sản phẩm hỏng

    Nợ TK 138 – Phải thu khác

    Nợ TK 334 – Phải trả công nhân viên

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Xác định giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ trong kỳ nhập kho, ghi:

    Nợ TK 155 – Thành phẩm

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Trường hợp sản phẩm sản xuất xong giao thẳng cho khách hàng hoặc gởi bán , ghi:

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán

    Nợ TK 157 – Hàng gửi đi bán

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

    2.3.1.2. Theo phương pháp kiểm kê định kỳ.

    2.3.1.2.1. Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 631 “giá thành sản xuất” dùng để tổng hợp chi phí sản xuất, kinh doanh phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm công nghiệp, xây lắp, nuôi trồng, chế biến sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ ở doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ trong hạch toán hàng tồn kho.

    2.3.1.2.2. Nội dung và kết cấu của tài khoản 631:

     
       

    2.3.1.2.3. Nguyên tắc phản ánh vào tài khoản

    Đối với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo nguyên tắt kê khai thường xuyên không sử dụng tài khoản này.

    Chỉ hạch toán vào tài khoản này các loại chi phí sản xuất, kinh doanh sau:

    – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp

    – Chi phí nhân công trực tiếp

    – Chi phí sử dụng máy thi công

    – Chi phí sản xuất chung

    2.3.1.2.4. Trình tự hạch toán:

    – Đầu kỳ, kết chuyển trị giá sản phẩm dở dang vào bên Nợ TK 631

    Nợ TK 631 – Giá thành sản xuất

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    – Cuối kỳ kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung vào TK 631.

    Nợ TK 631 – Giá thành sản xuất

    Có TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Có TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Có  TK 627 – Chi phí sản xuất chung

    – Cuối kỳ kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

    Nợ TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    Có TK 631– Giá thành sản xuất

    – Xác định giá thành sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ.

    Nợ TK 632– Giá vốn hàng bán

    Có TK 631– Giá thành sản xuất

    2.3.2  Đánh giá và điều chỉnh các khoản giảm giá thành

    Các khoản giảm giá thành là những khoản chi phí sản xuất thực tế phát sinh nhưng không được tính vào giá thành hoặc những khoản chi phí sản xuất thực tế phát sinh nhưng không tạo ra giá trị sản phẩm chính. Những khoản điều chỉnh giá thành như chi phí thiệt hại ngừng sản xuất, chi phí thiệt hại về sản phẩm hỏng, giá trị phế liệu…Khi hạch toán kế toán chỉ điều chỉnh khi chi phí đã tổng hợp sang tài khoản 154(631). Tuỳ thuộc vào tính chất trọng yếu của các khoản giảm giá thành, kế toán có thể đánh giá và điều chỉnh giảm giá thành theo giá bán, giá vốn….

    2.3.3  Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

    2.3.3.1. Khái niệm:

    • Sản phẩm dở dang cuối kỳ là những sản phẩm chưa hoàn thành một trong những giai đoạn quy trình công nghệ chế biến sản phẩm.
    • Sản phẩm dở dang hay còn gọi là bán thành phẩm, là những sản phẩm chưa hoàn tất quy trình công nghệ chế biến. sản phẩm dở dang có thể được nhập kho, cũng có thể để lại tại phân xưởng sản xuất, dây chuyền công nghệ để tiếp tục hoàn thiện nhằm cho ra đời những sản phẩm hoàn thành (thành phẩm).
    • Chi phí sản xuất dở dang là những cho phí sản xuất đã kết tinh trong các sản phẩm dở dang.
    • Đánh giá sản phẩm dở dang vào cuối kỳ chính là việc xác định chi phí sản xuất dở dang tương ứng với khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Tại mỗi doanh nghiệp sản xuât, phụ thuộc vào các tỷ trọng các khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm và yêu cầu quản lý chi phí để có thể lựa chọn một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau:

    2.3.3.2. Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang

    2.3.3.2.1. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    • Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính thường được áp dụng nếu chi phí nguyên vật liệu chính chiếm tỷ trọng lớn trong gia 1thành sản phẩm.
    • Theo phương pháp này, chỉ tính chi phí nguyên vật liệu chính đã kết tinh trong sản phẩm dở dang cuối kỳ, các chi phí khác vì tương đối nhỏ nên không tính đến, coi như bằng không và được tính chung trong giá thành của toàn bộ sản phẩm trong kỳ.
    • Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ được xác định theo công thức đánh giá sản phẩm dở dang (1).
     
       

    2.3.3.2.2. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo 50% chi phí chế biến

    • Theo phương pháp này người ta lấy mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang là 50% so với thành phẩm để phân bổ chi phí chế biến còn chi phí vật liệu trực tiếp tính cho sản phẩm dở dang tính theo phương pháp trực tiếp.
    • Điều kiện áp dụng: phương pháp này áp dụng khi đến thời điểm tính giá thành đại bộ phận sản phẩm dở dang nằm ở giữa quá trình sản xuất.

    2.3.3.2.3. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo sản lượng hoàn thành tương đương

    • Phương pháp này đánh giá sản phẩm dở dang theo sản phẩm hoàn thành tương đương thường được áp dụng nếu không tồn tại chi phí nào chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.
    • Theo phương pháp này, trong sản phẩm dở dang cuối kỳ tồn tại tất cả các khoản mục chi phí tính giá thành.
    • Tùy thuộc vào thời điểm phát sinh chi phí mà kế toán có thể lựa chọn công thức xác định chi phí sản xuất dở dang cho phù hợp.
      • Nếu tất cả các khoản mục chi phí phát sinh dần theo tiến độ sản xuất thì từng loại chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ được xác định theo công thức đánh giá sản phẩm dở dang (2):
     
       
     
       

    Khi đó trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ bằng tổng các loại chi phí dở dang cuối kỳ đã được xác định.

    • Nếu chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh ngay từ đầu quy trình sản xuất, các chi phí chế biến (chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) phát sinh dần theo tiến độ sản xuất thì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xác định theo công thức (1), các chi phí chế biến được xác định theo công thức (2).

    Quy trình đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ được thực hiện theo các bước sau:

    • Bước 1: Căn cứ vào tỷ lệ hoàn thành, quy đổi từ số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ thành số lượng sản phẩm hoàn thành tương đương .
    • Bước 2: Xác định từng khoản mục chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
    • Bước 3: Xác định trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ ( tổng các khoản mục chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ ).

    2.3.3.2.4. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí định mức

    • Phương pháp này thường được áp dụng nếu doanh nghiệp xây dựng được định mức tiêu hao chi phí cho từng loại sản phẩm và các định mức này ít biến động.
    • Theo phương pháp này, trong sản phẩm dở dang cuối kỳ tồn tại tất cả các khoản mục chi phí tính giá thành.
    • Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ (chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ) được xác định theo công thức đánh giá sản phẩm dở dang (3).
     
       

    2.3.4  Các phương pháp tính giá thành sản phẩm

    Phương pháp tính giá thành sản phẩm là một hoặc một hệ thống các phương pháp dùng để tính tổng giá thành và giá thành từng đơn vị sản phẩm sản xuất trong kỳ theo các khoản mục chi phí theo quy trình hiện hành căn cứ vào các chi phí sản xuất đã được tập hợp.

    Các khoản mục chi phí dùng để tính giá thành bao gồm:

    – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.

    – Chi phí nhân công trực tiếp.

    – Chi phí sản xuất chung.

    Tùy theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp có thể chia nhỏ, tách riêng các khoản mục chi phí nêu trên chi tiết hơn. Ví dụ chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp có thể chia thành:

    – Chi phí nguyên, vật liệu chính.

    – Chi phí nguyên, vật liệu phụ.

    Tương tự như vậy, chi phí sản xuất chung có thể được theo dõi chi tiết thành các khoản mục như:

    – Chi phí nhân viên phân xưởng.

    – Chi phí vật liệu.

    – Chi phí dụng cụ sản xuất.

    – Chi phí khấu hao TSCĐ.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài.

    – Các chi phí bằng tiền khác…

    Việc lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm phải phù hợp với:

    – Đặc điểm tổ chức quy trình sản xuất.

    – Tính chất của quy trình công nghệ.

    – Trình độ của đội ngủ nhân viên kế toán.

    – Mức độ tin học hóa công tác kế toán.

    -Yêu cầu quản lý.

    – Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành đã lựa chọn.

    -Các quy định hiện hành…

    Tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của mình mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các bước tính giá thành sau:

    2.3.4.1.Phương pháp đơn giản (Phương pháp trực tiếp)

    Phương pháp trực tiếp thường được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ đơn giãn, khép kín bắt đầu từ khâu đưa nguyên vật liệu vào cho đến khi sản phẩm hoàn thành.

    – Tình huống này xảy ra khi doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí sản xuất phát sinh riêng cho từng loại sản phẩm:

    • Trường hợp phân xưởng chỉ sản xuất ra một loại sản phẩm.

    Doanh nghiệp lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trùng với đối tượng tính giá thành sản phẩm (1):

     
       

     

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:
    • Tập hợp chi phí theo sản phẩm và kết chuyển chi phí.
    • Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi (nếu có).
    • Tính tổng giá thành sản phẩm.
    • Tính giá thành đơn vị sản phẩm.
    • Trường hợp phân xưởng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm.

    Đặc điểm của trường hợp này là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp có thể tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm, chỉ có chi phí sản xuất chung được tập hợp chung cho tất cả các loại sản phẩm khác nhau trong phân xưởng, sau đó mới áp dụng các tiêu thức phân bổ phù hợp để phân bổ chúng cho các loại sản phẩm khác nhau. Doanh nghiệp vẫn áp dụng công thức tính tổng giá thành sản phẩm (1) để tính tổng giá thành sản phẩm từng loại.

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:
    • Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp theo sản phẩm, chi phí sản xuất chung theo phân xưởng.
    • Phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm theo tiêu thức phù hợp và kết chuyển chi phí.
    • Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi (nếu có).
    • Tính tổng giá thành từng loại sản phẩm.
    • Tính giá thành đơn vị từng loại sản phẩm.
      • Trường hợp phân xưởng sản xuất đồng thời cả sản phẩm chính và sản phẩm phụ.

    Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ thường được áp dụng trong trường hợp sản phẩm phụ được sản xuất ra đồng thời với sản phẩm chính, các sản phẩm phụ này phát sinh tự nhiên, ngoài ý muốn chủ quan của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, giá thành sản phẩm được xác định theo công thức tính tổng giá thành sản phẩm (2);

     
       

    Sản phẩm phụ thu hồi được có thể đem bán ngay hoặc nhập kho. Trị giá sản phẩm phụ thu hồi để ghi giảm tổng giá thành sản phẩm chính được tính theo giá quy định của doanh nghiệp.

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:
    • Tập hợp chi phí sản xuất theo từng đối tượng tập hợp chi phí đã lựa chọn.
    • Phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm theo tiêu thức phù hợp (nếu có) và kết chuyển chi phí.
    • Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi (nếu có).
    • Xác định trị giá sản phẩm phụ.
    • Tính tổng giá thành từng loại sản phẩm.

    2.3.4.2.Phương pháp hệ số

    Phương pháp này thường được áp dụng trong cùng một quy trình công nghệ sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau. Doanh nghiệp không thể tập hợp chi phí sản xuất riêng cho từng loại sản phẩm, song giữa các sản phẩm có hệ số quy đổi để tính giá thành, nghĩa là giữa giá thành của các sản phẩm tồn tại một tỷ lệ nhất định. Khi đó đối tượng tập hợp chi phí sản xuất hoặc quy trình công nghệ, đối tượng tính giá thành sản phẩm. Sản phẩm chuẩn được xem là phân xưởng sản xuất hoặc quy trình công nghệ, đối tượng tính giá thành sản phẩm là từng loại sản phẩm. Sản phẩm chuẩn được xem là sản phẩm có hệ số quy đổi bằng 1.

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:

    – Tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng sản xuất hoặc quy trình công nghệ và kết chuyển chi phí.

    – Xác định số lượng sản phẩm chuẩn hoàn thành tương đương cuối kỳ:

     
       

    Quy đổi sản phẩm dở dang về sản phẩm dở dang chuẩn tương ứng theo công thức:

     
       

    Quy đổi sản phẩm hoàn thành về sản phẩm chuẩn tương ứng theo công thức:

     
       
    • Đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp phù hợp
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi và sản phẩm phụ (nếu có)
    • Tính tổng giá thành toàn bộ sản phẩm.
    • Tính giá thành đơn vị sản phẩm chuẩn theo công thức:
    • Tính giá thành đơn vị từng loại sản phẩm theo công thức:
     
       
    • Tính tổng giá thành từng loại sản phẩm
     
       

    2.3.4.3.Phương pháp tỷ lệ

    Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp trong cùng một quy trình công nghệ tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau nhưng giữa chúng không tồn tại hệ số quy đổi mà phải xác định tỷ lệ giữa tổng giá thành thực tế và tổng giá thành kế hoạch để xác định giá thành từng loại sản phẩm. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phân xưởng sản xuất hoặc quy trình công nghệ, đối tượng tính giá thành sản phẩm là từng loại sản phẩm

    • Quy trình được thực hiện như sau:

    Tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng sản xuất hoặc quy trình công nghệ

    • Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
    • Xác định trị giá phế liệu thu hồi và sản phẩm phụ.
    • Tính tổng giá thành thưc tế toàn bộ sản phẩm.
    • Xác định tỷ lệ giữa tổng giá thành thưc tế và tổng giá thành kế hoạch .
    • Tính tổng giá thành thực tế từng loại sản phẩm.
    • Tính giá thành thực tế đơn vị từng loại sản phẩm.

    Công thức:

     
     
    Giá thành của từng loại SP = Tỷ lệ CP x Giá thành kế hoạch của từng loại SP

     

    2.3.4.4. Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ

    Phương pháp áp dụng đối với những qui trình công nghệ sản xuất có kết quả sản xuất vừa tạo ra sản phẩm chính và sản phẩm phụ (sản phẩm song song). Đối tượng kế toán chi phí là toàn bộ quy trình, đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính.

    Quy trình tính toán:

    – Ước tính giá vốn sản phẩm phụ

    + Gia vốn ước tính = Giá bán x- chi phí ngoài sản xuất – Lợi nhuận

    + Giá vốn ước tính – Giá bán x Tỷ lệ giá vốn ước tính

    + Giá vốn ước tính = Chi phí x Tỷ lệ chi phí sản phẩm phụ

    – Loại trừ giá vốn sản phẩm phụ ra khỏi chi phí đầu vào

    – Tính chi phí dở dang và tính giá thành sản phẩm chính bằng phương pháp giản đơn, hệ số hoặc tỷ lệ

    Công thức:

     
       

    2.3.4.5.Phương pháp phân bước

    Phương pháp phân bước áp dụng trong các doanh nghiệp có quy trình sản xuất phức tạp theo dạng chế biến liên tục. Quy trình sản xuất bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau theo một trình tự nhất định. Mỗi giai đoạn cho ra đời một bán thành phẩm và bán thành phẩm của giai đoạn thứ (n-1) sẽ là đầu vào của giai đoạn thứ kế tiếp n. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong trường hợp này là các giai đoạn, đối tượng tính giá thành sản phẩm có thể là bán thành phẩm của từng giai đoạn và thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng.

    Quy trình công nghệ có thể minh hoạ bằng sơ đồ giản đơn như sau:

     
       
     
     
    =

    Chi phí chế biến bao gồm chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Tùy vào đối tượng tính giá thành sản phẩm, phát sinh các tình huống kết chuyển như sau:

    2.3.4.4.1.  Phương pháp kết chuyển chi phí tuần tự.

    Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp cần tính giá thành của bán thành phẩm trong từng công đoạn.

    • Quy trình tính toán được thực hiện như sau:

    – Tập hợp chi phí sản xuất theo từng giai đoạn của quy trình công nghệ.

    – Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ của giai đoạn thứ nhất trong quy trình công nghệ.

    – Tính tổng giá thành thực tế của toàn bộ bán thành phẩm giai đoạn thứ nhất.

    – Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ của giai đoạn thứ 2 trong quy trình công nghệ.

    – Tính tổng giá thành thực tế của toàn bộ bán thành phẩm giai đoạn thứ hai,…

    – Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ của giai đoạn thứ n (cuối cùng) trong quy trình công nghệ.

    – Tính tổng giá thành thực tế của toàn bộ thành phẩm.

    – Tính giá thành thực tế đơn vị thành phẩm.

    2.3.4.4.2.  Phương pháp kết chuyển chi phí song song.

    Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp không cần tính giá thành của bán thành phẩm trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành của thành phẩm trong giai đoạn cuối cùng.

    2.3.4.4.Phương pháp đơn đặt hàng

    – Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành trùng nhau là các đơn đặt hàng.

    – Nếu đơn đặt hàng được thực hiện tại nhiều phân xưởng sản xuất khác nhau thì khi tính giá thành đơn đặt hàng cần tổng hợp toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến lô hàng này tại các phân xưởng sản xuất chúng.

    – Thông thường các chi phí nguyên vật liệu và nhân công trực tiếp sẽ được tập hợp chung cho từng lô hàng, chi phí sản xuất chung được tập hợp theo phân xưởng sản xuất. Do đó, để tính được giá thành đơn đặt hàng cần phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng lô hàng theo những tiêu thức phù hợp.

    – Kỳ tính giá thành được thực hiện khi hoàn thành đơn đặt hàng để bàn giao cho khách hàng. Tuy nhiên, trong kỳ nếu đơn đặt hàng chưa được sản xuất xong thì doanh nghiệp vẫn phải lập bảng tính giá thành để tập hợp và theo dõi chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến từng lô hàng. Sang kỳ tiếp theo, tiếp tục tập hợp chi phí sản xuất phát sinh và tính giá thành lô hàng. Khi việc sản xuất đã hoàn thành.

     

     

     

     

     

     

    TK 152

    SƠ ĐỒ 2.4: SƠ ĐỒ TỔNG HỢP

     
       

    Ghi chú:

    (1) : Tập hợp chi phí sản xuất nguyên,vật liệu trực tiếp dùng để chế tạo sản phẩm

    (2) : Tập hợp chi phí nhân công  trực tiếp dùng để chế tạo sản phẩm

    (3) : Tập hợp chi phí nhiên liệu, phụ tùng thay thế

    (4) : Tập hợp chi phí nhân viên

    (5) : Tập hợp chi phí sản xuất

    (6) : Tập hợp chi phí khấu hao TSCĐ

    (7) : Tập hợp chi phí trả trước và chi phí trích trước

    (8) : Tập hợp chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền

    (9) : Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của dịch vụ mua ngoài và các khoản chi bằng tiền.

    (10) : Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào TK 154

    (11) : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 154

    (12) : Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào TK 154

    (13) : Nguyên vật liệu đã xuất, sử dụng không hết nhập lại kho, phế phẩm hoặc phế thải nhập kho

    (14) : Trị giá sản phẩm hoàn thành nhập kho

    CHƯƠNG 3:

    THỰC TRẠNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH TM TÂN VĨNH PHÁT.

    3.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY.

    3.1.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất tại công ty

    • Đặc điểm sản phẩm của công ty:

    Sản phẩm của công ty là vật liệu đá xây dựng các loại được phục vụ cho các công trình giao thông, xây dựng, thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Gia lai. Được sản xuất các loại đá như: Đá hộc, đá 1×2, đá 4×6, đá cấp phối, đá 2×4, đá loka…

    • Đặc điểm tổ chức sản xuất:

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát đã lựa chọn hệ thống khai thác phù hợp với điều kiện khai thác của mỏ cũng như khả năng đầu tư thiết bị để đảm bảo công tác khai thác và sản xuất chế biến an toàn, dể thi công và có khả năng nâng cao năng suất. Với công suất khai thác trong giai đoạn dự kiến 40.000m3 đá nguyên khai/ năm tương đương với 32.000m3 đá các loại/năm.

    SƠ ĐỒ 3.1: SƠ ĐỒ QUY TRÌNH KHAI THÁC 

    • Tổ chức công tác chế biến:

    Sản phẩm yêu cầu sau khi chế biến là đá các loại chủ yếu phục vụ nhu cầu làm đường giao thông. Máy xay đá sử dụng là loại có công suất 33m3 đá loka/h, chạy bằng máy phát điện 3 pha, một ngày có thể xay được 150m3 đá thành phẩm, tương đương 180m3 đá Loka.

    SƠ ĐỒ 3.2:  SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ KHI NGHIỀN SÀNG

    3.1.2  Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm

    Sản phẩm của công ty là các loại đá xây dựng.

    Phạm vi giới hạn là nơi phát sinh chi phí: Đó là bộ phận khai thác đá nguyên khai và bộ phận xay nghiền sản xuất.

    Phạm vi giới hạn là đối tượng chịu chi phí: là sản phẩm, thành phẩm hoặc là từng chi tiết bộ phận.

    Công ty có quy trình sản xuất từ khi khai thác đá thô chuyển đến xay nghiền ra các sản phẩm đá thành phẩm.

    Để tiến hành công tác chi phí sản xuất, toàn bộ các chi phí được nhà máy phân loại như sau:

    • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

    Bao gồm các nguyên vật liệu chủ yếu được sử dụng trực tiếp vào sản xuất sản phẩm.

    • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho khai thác đá thành phẩm: Là những nguyên liệu được sử dụng trực tiếp vào quá trình khai thác như: Dầu diesel, nhớt máy, Thuốc nổ, kíp nổ…
    • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho chế biến thành phẩm đá :
      • Chi phí nhân công trực tiếp:

    Là toàn bộ các chi phí về tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất theo qui chế khoán sản phẩm, các khoản thưởng có tính chất lương ở Công ty và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn. Kế toán tập hợp vào tài khoản 622

    • Chi phí sản xuất chung bao gồm:

    Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí văn phòng phẩm phục cụ cho công tác quản lý, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền. Kế toán tập hợp vào tài khoản 627.

    3.2.2  Kỳ tính giá thành

    Kỳ tính giá thành của công ty là hàng tháng, số liệu căn cứ vào tháng 12 năm 2009

    3.2.3  Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Tổng hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên và tính giá thành theo phương pháp

    3.2. KẾ TOÁN CÁC KHOẢN CHI PHÍ SẢN XUẤT

    3.2.1  Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí bao gồm như: nhiên liệu, thuốc nổ nhủ tương ¢ 60, kíp điện vi sai dây 6m, đá nguyên liệu ………..

    – Nhiên liệu bao gồm: Dầu diesel, nhớt máy, mở máy …

    – Thuốc nổ nhủ tương ¢ 60, kíp điện vi sai 6m dùng để làm nổ đá thô ra thành phẩm đá nguyên liệu.

    – Phương pháp tính giá vật liệu xuất kho của công ty: Phương pháp bình quân gia quyền.

    – Chứng từ sử dụng: Phiếu xuất kho (02- VT)

    – Tài khoản sử dụng: Tài khoản 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    – Nghiệp vụ phát sinh:

    Khi đơn vị khai thác có nhu cầu sử dụng nguyên liệu ở trong kho, thủ kho tiến hành lập phiếu xuất kho và xuất nguyên liệu.

    Mẫu số 02 – VT

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    – Xuất kho khai thác:

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Mã số thuế:  5900188057

    PHIẾU XUẤT KHO

    Ngày 5 tháng 12 năm 2009

    Quyển số:………….

    Số:…………….

    Họ tên người nhận hàng: Nguyễn Văn Hồng

    Địa chỉ (Bộ phận):  Đại diện tổ thác đá

    Lí do xuất : Xuất kho khai thác đá

    Xuất tại kho :

    STT Tên , nhãn hiệu, qui cách,phẩm chất  vật tư (sản phẩm, hàng hoá) Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    A B C D 1 2 3 4
    1

     

    2

    3

    4

    Dầu diesel

     

    Thuốc nổ nhủ tương φ 60

    Kíp điện vi sai 6m

    Nhớt máy

      Lít

     

    Kg

    Cái

    Lít

      8.950

     

    5.616

    422

    8.566,23

     

    15.127,26

    9.410

    76.667.744

     

    84.956.712

    3.971.020

      Cộng           165.595.476

    Bằng chữ: Một trăm sáu mươi lăm triệu, năm trăm chín mươi lăm ngàn, bốn trăm bảy mươi sáu đồng./.

    Thủ trưởng đơn vị    Kế toán trưởng  Phụ trách cung tiêu      Người nhận            Thủ kho

          ( Ký, họ tên )     ( Ký, họ tên )            ( Ký, họ tên )            ( Ký, họ tên )      ( Ký, họ tên )

    – Xuất kho chế biến:

    Mẫu số 02 – VT

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Mã số thuế:  5900188057

    PHIẾU XUẤT KHO

    Ngày 15 tháng 12 năm 2009

    Quyển số:………….

    Số:…………….

    Họ tên người nhận hàng: Nguyễn Văn Thanh

    Địa chỉ (Bộ phận):  Đại diện xay nghiền chế biến

    Lí do xuất : Xuất kho nguyên liệu xay nghiền chế biến

    Xuất tại kho :

    STT Tên , nhãn hiệu, qui cách,phẩm chất  vật tư (sản phẩm, hàng hoá) Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    A B C D 1 2 3 4
    1

     

    2

    Dầu diesel 0,25%

     

    Đá Loka nguyên liệu

      M3

     

    Lít

      1.120

     

    9.060

    9.390,90

     

    36.469,92

    10.517.819

     

    330.417.476

      Cộng           340.935.295

    Bằng chữ: Ba trăm bốn mươi triệu, chín trăm ba mươi lăm ngàn, hai trăm chín mươi lăm đồng./.

    Thủ trưởng đơn vị    Kế toán trưởng  Phụ trách cung tiêu      Người nhận            Thủ kho

          ( Ký, họ tên )     ( Ký, họ tên )            ( Ký, họ tên )            ( Ký, họ tên )      ( Ký, họ tên )

    Căn cứ vào chứng từ gốc phiếu xuất kho vật tư, … kế toán ghi vào sổ nhật ký chung:

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Mã số thuế:  5900188057

    Mẫu số 02 – VT

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    SỔ NHẬT KÝ

    Tháng 12/2009

    Ngày tháng Chứng từ Diễn giải Số hiệu TKĐU Số phát sinh
    Số hiệu Ngày tháng Nợ
    —– —- —- ————— ——– ——— ——–
        5/12/09 Xuất kho nguyên vật liệu cho bộ phận khai thác 621

     

    152

    165.595.476 165.595.476
        15/12/09 Xuất kho nguyên vật liệu cho bộ phận chế biến 621

     

    152

    340.935.295 340.935.295
        20/12/09 Chi phí thuê xe vận chuyển đá 6277

     

    1331

    331

    51.520.000

     

    5.152.000

    56.672.000
        31/12/09 Phân bổ chi phí đào bốc tầng phủ 6277

     

    242

    5.000.000 5.000.000
        31/12/09 Chi phí nhân công khai thác 622

     

    334

    108.720.000 108.720.000
        31/12/09 Chi phí nhân công chế biến 622

     

    334

    39.600.000 39.600.000
        31/12/09 Chi phí vận chuyển được thanh toán bằng tiền 6277

     

    111

    7.500.000 7.500.000
        31/12/09 Phân bổ chi phí tài nguyên 6278

     

    3336

    6.342.000 6.342.000
        31/12/09 Phân bổ chi phí môi trường 6278

     

    3338

    18.120.000 18.120.000
        31/12/09 Chi phí khấu hao TSCĐ chế biến 6274

     

    214

    10.000.000 10.000.000
        31/12/09 Chi phí điện sản xuất chế biến 6277

     

    1331

    331

    6.992.000

     

    699.200

    7.691.200
        31/12/09 Phân bổ máy biến áp 6277

     

    242

    5.000.000 5.000.000
        31/12/09 Chi phí vận chuyển thanh toán bằng tiền 6277

     

    111

    113.250.000 113.250.000
        31/12/09 Chi phí khác bằng tiền 6278

     

    111

    4.008.000 4.008.000
        31/12/09 K/C chi phí nguyên vật liệu khai thác 154.1

     

    621

    165.595.476 165.595.476
        31/12/09 K/C chi phí nguyên vật liệu chế biến 154.2

     

    621

    340.935.295 340.935.295
        31/12/09 K/C chi phí nhân công khai thác 154.1

     

    622

    108.720.000 108.720.000
        31/12/09 K/C chi phí nhân công chế biến 154.2

     

    622

    39.600.000 39.600.000
        31/12/09 K/C chi phí thuê xe vận chuyển đá 154.1

     

    6277

    51.520.000 51.520.000
        31/12/09 K/C chi phí phan bổ đào bốc tầng phủ 154.1

     

    6277

    5.000.000 5.000.000
        31/12/09 K/C chi phí vận chuyển được thanh toán bằng tiền 154.1

     

    6277

    7.500.000 7.500.000
        31/12/09 K/C chi phí tài nguyên 154.1

     

    6278

    6.342.000 6.342.000
        31/12/09 K/C chi phí môi trường 154.1

     

    6278

    18.120.000 18.120.000
        31/12/09 K/C chi phí khấu hao TSCĐ chế biến 154.2

     

    6274

    10.000.000 10.000.000
        31/12/09 K/C chi phí điện sản xuất chế biến 154.2

     

    6277

    6.992.000 6.992.000
        31/12/09 K/C chi phí phân bổ máy biến áp 154.2

     

    6277

    5.000.000 5.000.000
        31/12/09 K/C chi phí vận chuyển thanh toán bằng tiền 154.2

     

    6277

    113.250.000 113.250.000
        31/12/09 Chi phí khác bằng tiền 154.2

     

    6278

    4.008.000 4.008.000

       

    Đồng thời với việc ghi vào sổ Nhật ký chung, kế toán ghi vào sổ cái TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                SỔ CHI TIẾT

    MST : 5900188057                                     Tháng 12 năm 2009

    TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        Xuất kho nguyên vật liệu cho bộ phận khai thác 152 165.595.476    
        Xuất kho nguyên vật liệu cho bộ phận chế biến 152

     

    155.1

    10.517.818

     

    330.417.476

       
        K/C chi phí nguyên vật liệu khai thác 154.1   165.595.476  
        K/C chi phí nguyên vật liệu chế biến 154.2   340.935.295  

    Số liệu chi phí vật liệu : 165.595.476 đ của bộ phận khai thác được chuyển ghi vào sổ theo dõi chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành của quá trình khai thác, và số liệu chi phí vật liệu: 340.935.295 đ của bộ phận chế biến được chuyển ghi vào sổ theo dõi chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành của quá trình chế biến.

    3.2.2  Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm. Đơn giá lương tính cho công nhân sản xuất trong tháng, cho bộ phận lao động gián tiếp căn cứ  vào lượng sản phẩm sản xuất ra trong tháng. Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm khoản chi tiền lương, tiền thưởng có tính chất lương, các khoản phụ cấp phải trả khác cho công nhân trực tiếp trên tổng quỹ lương.

    Lương công nhân được xác định  như sau:

    Chi phí lương công nhân trực tiếp = Sản lượng sản phẩm hoàn thành nhập kho x Đơn giá khoán sản phẩm

    Đơn giá khoán sản phẩm khai thác là 12.000đ/m3, đơn giá khoán sản phẩm chế biến là 8.000đ/m3,

    Cuối tháng, kế toán giá thành căn cứ vào Bảng chấm công, Phiếu xác nhận sản phẩm hoàn thành hoặc công việc hoàn thành (05-LĐTL), phiếu nhập kho thành phẩm hàng tháng  để lập bảng thanh toán lương cho công nhân. Kế toán phân loại, tổng hợp và ghi sổ Nhật ký chung đồng thời ghi vào sổ cái TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Đến cuối tháng kết chuyển chi phí nhân công vào tài khoản 154 “ chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”.

    Cụ thể trong tháng 12 năm 2009, phòng kế toán công ty nhận được các chứng từ có liên quan  đến chi phí nhân công như sau:

    1.Số chứng từ: TLKT ngày 31/12/2009, tiền lương công nhân khai thác số tiền là: 108.720.000đ

    2.Số chứng từ: TLCB ngày 31/12/2009, tiền lương công nhân chế biến số tiền là: 39.600.000đ

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                              Tháng 12 năm 2009

    TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
      31/12/09 Chi phí nhân công khai thác 334 108.720.000    
      31/12/09 Chi phí nhân công chế biến 334 39.600.000    
      31/12/09 K/C chi phí nhân công khai thác 154.1   108.720.000  
      31/12/09 K/C chi phí nhân công chế biến 154.2   39.600.000  

    Như vậy chi phí nhân công: 108.720.000đ của bộ phận khai thác được chuyển ghi vào sổ theo dõi chi phí sản xuất và tính giá thành thai thác, và chi phí nhân công: 39.600.000đ của bộ phận chế biến được chuyển ghi vào sổ theo dõi chi phí sản xuất và tính giá thành chế biến.

    3.2.3  Kế toán chi phí sản xuất chung

    3.2.3.1 Chi phí khấu hao TSCĐ: TK chi tiết sử dụng TK 6274

    Công ty đang áp dụng phương pháp tính khấu hao đường thẳng .

    Giá trị khấu hao bình quân một tháng là:  10.000.000đ

    Trong đó:            + Khấu hao máy móc thiết bị              : 10.000.000đ

    Hàng tháng ,căn cứ bảng trích khấu hao TSCĐ được phân bổ theo phương pháp đường thẳng. Kế toán ghi vào sổ nhật ký chung đồng thời ghi vào sổ cái tài khoản 6274 theo chứng từ.

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                  Tháng 12 năm 2009

    TK 6274 – Chi phí khấu hao TSCĐ

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
      31/12/09 Chi phí khấu hao TSCĐ cho bộ phân chế biến 214 10.000.000    
      31/12/09 K/C chi phí khấu hao TSCĐ bộ phận chế biến 154.2   10.000.000  

    3.2.3.2. Chi phí dịch vụ mua ngoài:Sử dụng TK 6277

    Khoản mục chi phí dịch vụ mua ngoài gồm những chi phí phục vụ trực tiếp cho hoạt động khai thác và chế biến. Khoản mục này bao gồm:

    – Chi phí vận chuyển nguyên liệu

    – Chi phí thuê xe xúc đá

    – Chi phí đào bốc tầng phủ.

    – Chi phí điện điện sản xuất.

    – Chi phí phân bổ máy biến áp…

    * Trình tự kế toán khoản mục này như sau:

    Hàng ngày căn cứ vào chứng từ như: phiếu chi tiền, hợp đồng thuê xe vận chuyển, xúc đá và các chứng từ khác liên quan, kế toán ghi vào sổ nhật ký chung và sổ cái TK 6277:

    Cuối tháng kế toán kết chuyển chi phí bằng tiền khác vào bên Nợ TK 154

    Số liệu được chuyển tiếp vào sổ theo dõi chi phí sản xuất, tính giá thành của từng bộ phận khai thác và chế biến bằng chi phí bằng tiền khác trong tháng cụ thể là:

    1. Chứng từ: hoá đơn giá trị gia tăng thuê xe xúc đá cho quá trình khai thác đá , số tiền: 51.520.000đ
    2. Chứng từ: thanh toán tiền điện sản xuất của bộ phận chế biến, số tiền:6.992.000đ

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                   Tháng 12 năm 2009

    TK 6277 – Chi phí dịch vụ mua ngoài

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        Chi phí thuê xe xúc đá bộ phận khai thác 331 51.520.000    
        Phân bổ chi phí đào bốc tầng phủ bộ phận khai thác 242 5.000.000    
        Chi phí vận chuyển bằng tiền trong bộ phận khai thác 111 7.500.000    
        Chi phí điện sản xuất cho bộ phận chế biến 331 6.992.000    
        Phân bổ chi phí máy biến áp bộ phận chế biến 242 5.000.000    
        Chi phí vận chuyển ở bộ phận chế biến thanh toán bằng tiền 111 113.250.000    
        K/C chi phí dịch vụ mua ngoài khai thác 154.1   64.020.000  
        K/C chi phí dịch vụ mua ngoài chế biến 154.2   125.242.000  

    3.2.3.3. Chi phí bằng tiền khác:Sử dụng TK 6278

    Khoản mục chi phí bằng tiền khác gồm những chi phí phục vụ trực tiếp cho hoạt động khai thác và chế biến. Khoản mục này bao gồm:

    – Chi phí thuế tài nguyên

    – Chi phí phí môi trường

    – Chi phí bằng tiền khác…

    * Trình tự kế toán khoản mục này như sau:

    Hàng ngày căn cứ vào chứng từ như: phiếu chi tiền, Tờ khai thuế tài nguyên và các chứng từ khác liên quan, kế toán ghi vào sổ nhật ký chung và sổ cái TK 6278:

    Cuối tháng kế toán kết chuyển chi phí bằng tiền khác vào bên Nợ TK 154

    Số liệu được chuyển tiếp vào sổ theo dõi chi phí sản xuất, tính giá thành của từng bộ phận khai thác và chế biến bằng chi phí bằng tiền khác trong tháng .

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                  Tháng 12 năm 2009

    TK 6278 – Chi phí bằng tiền khác

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        Chi phí phân bổ thuế tài nguyên của bộ phận khai thác 3336 6.342.000    
        Phí môi trường của bộ phận khai thác 3338 18.120.000    
        Chi phí khác bằng tiền ở bộ phận chế biến 111 4.008.000    
        K/C chi phí bằng tiền khác khai thác 154.1   24.462.000  
        K/C chi phí bằng tiền khác chế biến 154.2   4.008.000  

    3.3 KẾ TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH THỰC TẾ

    3.3.1  Tổng hợp chi phí sản xuất thực tế

    Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát là các sản phẩm đá. Vì vậy, các chi phí sản xuất liên quan đến quá trình khai thác hay chế biến thì được tập hợp cho quá trình hoạt động đó cho đến khi hoàn thành sản phẩm nhập kho.

    Trong hình thức kế toán nhật ký chung mà công ty áp dụng thì việc tập hợp chi phí sản xuất chính toàn công ty được tiến hành như sau:

    Cuối tháng, kế toán tiến hành kết chuyển toàn bộ chi phí vật liệu, chi phí nhân công (gồm cả các khoản trích theo lương), chi phí dịch vụ mua ngoài,chi phí bằng tiền khác vào bên Nợ TK 154 trên sổ nhật ký chung và vào các sổ cái như sổ cái TK 154, sổ cái TK 621, sổ cái TK 622, sổ cái TK 627. Đồng thời, kế toán ghi vào sổ theo dõi chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành của từng bộ phận khai thác và chế biến theo từng khoản mục chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác. Cuối kỳ theo dõi chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành của từng bộ phận có cột tổng hợp chi phí, cột dư đầu kỳ, dư cuối kỳ.

    Số liệu cụ thể được tập hợp vào TK 154

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                 Tháng 12 năm 2009

    TK 154.1 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang khai thác

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        K/C chi phí nguyên vật liệu khai thác 621 165.595.476    
        K/C chi phí nhân công khai thác 622 108.720.000    
        K/C chi phí dịch vụ mua ngoài khai thác 6277 64.020.000    
        K/C chi phí bằng tiền khác khai thác 6278 24.462.000    
        Nhập kho thành phẩm 155.1   330.417.476  
        Cộng   362.797.476 330.417.476  

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát                    SỔ CÁI

    MST : 5900188057                                 Tháng 12 năm 2009

    TK 154.1 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chế biến

    Số CT Ngày CT Diễn giải Đối ứng Số phát sinh Số dư
    Nợ
        K/C chi phí nguyên vật liệu chế biến 154.2 340.935.295    
        K/C chi phí nhân công chế biến 154.2 39.600.000    
        K/C chi phí khấu hao TSCĐ bộ phận chế biến 154.2 10.000.000    
        K/C chi phí dịch vụ mua ngoài chế biến 154.2 125.242.000    
        K/C chi phí bằng tiền khác chế biến 154.2 4.008.000    
        Nhập kho thành phẩm chế biến 155.2   318.518.923  
        Cộng   519.785.295 318.518.923  

    3.3.2. Đánh giá sản phẩm dở dang

    • Sản phẩm dở dang cuối kỳ của bộ phận khai thác đá thành phẩm là:32.380.000đ

    + Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ của Dầu diesel là 1.702 lít với số tiền là: 14.579.332đ

    + Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ của thuốc nổ là 1.129kg với số tiền là 17.085.508đ và của kíp nổ điện vi sai là 76 cái, số tiền là: 715.160đ

    Cuối kỳ không có sản phẩm dở dang.

    • Sản phẩm dở dang cuối kỳ của bộ phận chế biến đá xây dựng là:201.266.372đ

    + Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ của Đá Loka nguyên liệu là 149.891.372đ (4.110m3)

    + Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ của chi phí vận chuyển là 51.375.000đ

    3.3.3  Tính giá thành thực tế

    – Tổng Giá Thành        CPDD                        CPSX p/s               CPDD

    =                       +                                   –

    SP                         Đầu Kỳ                    Trong Kỳ                  Cuối Kỳ

    Tổng chi phí

    – Giá thành đơn vị   =

    Số Lượng SP hoàn thành

    Ø  Tính giá thành thực tế đá Loka nguyên liệu ở bộ phận khai thác:

    – Sản phẩm đá Loka nguyên liệu của công ty sản xuất nhập kho trong tháng 12 năm 2009 với số lượng : 9.060 m3. Từ các số liệu đã tập hợp trên tính được giá thành đơn vị trong tháng 12 năm 2009 như sau:

    Mẫu số S37 – DN

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    Đơn vị: Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Địa chỉ: 104 Hai Bà Trưng – Pleiku – Gia Lai

    THẺ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ

    Tháng 12 năm 2009

    Tên sản phẩm, dịch vụ: Đá Loka = 9.060 m3 x 36.469,92đ/m3

    Chỉ tiêu Tổng

     

    số tiền

    Chi ra các khoản mục
    Dầu

     

    diesel

    Thuốc nổ, kíp nổ

     

    Nhớt máy

    Chi

     

    Phí

    nhân công

    Chi phí khác
    Chi phí khác Thuế tài nguyên Phí môi trường
    1.Chi phí SXKD dở dang đầu kỳ 0 0 0 0 0 0 0
    2.Chi phí SXKD dở dang phát sinh trong kỳ 362.797.476 76.667.744 88.927.732 108.720.000 64.020.000 6.342.000 18.120.000
    3. Giá thành sản phẩm, dịch vụ trong kỳ 330.417.476 62.088.412 71.127.064 108.720.000 64.020.000 6.342.000 18.120.000
    4.Chi phí SXKD dở dang cuối  kỳ 32.380.000 14.579.332 17.800.668 0 0 0 0

    BẢNG 3.1: BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH KHAI THÁC

    Mẫu số 05 – LĐTL

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Bộ phận: Khai thác

    PHIẾU XÁC NHẬN SẢN PHẨM HOẶC

    CÔNG VIỆC HOÀN THÀNH

    Ngày 31 tháng 12 năm 2009

    Tên đơn vị (cá nhân):Trần Hưng Long    Tổ khai thác

    Theo hợp đồng số: ……. ngày 02 tháng 01 năm 2008

    STT Tên sản

     

    phẩm

    (công việc)

    Đơn

     

    vị

    tính

    Số

     

    lượng

    Đơn

     

    giá

    Thành

     

    tiền

    Ghi

     

    chú

    A B B 1 2 3 D
    01 Đá Loka M3 9.060 36.469,92 330.417.476  
      Cộng       9.060   330.417.476  

    Tổng số tiền (viết bằng chữ): Ba trăm ba mươi triệu, bốn trăm mười bảy ngàn, bốn trăm bảy mươi sáu đồng./.

    Ngày31tháng 12 năm 2009

    Người giao việc              Người nhận việc               Người kiểm tra                 Giám đốc

       (ký, họ tên)                      (ký, họ tên)                        (ký, họ tên)                   (ký, họ tên)

     

     

     

     

     

     

    Cuối tháng, căn cứ vào phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành nhập kho thành phẩm, kế toán lập phiếu nhập kho và định khoản:

    Sử dụng TK: 155.1- Thành phẩm khai thác

     

    Ø  Tính giá thành thực tế đá xây dựng các loại ở bộ phận khai thác:

    – Sản phẩm đá xây dựng các loại của công ty sản xuất nhập kho trong tháng 12 năm 2009 với số lượng : 3.669 m3 đá các loại. Từ các số liệu đã tập hợp trên tính được giá thành đơn vị trong tháng 12 năm 2009 như sau:

    Mẫu số S37 – DN

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    BẢNG 3.2: BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH CHẾ BIẾN

    Đơn vị: Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Địa chỉ: 104 Hai Bà Trưng – Pleiku – Gia Lai

    THẺ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ

    Tháng 12 năm 2009

    Tên sản phẩm, dịch vụ: Đá xây dựng các loại

    Chỉ tiêu Tổng

     

    số tiền

    Chi ra các khoản mục
    Dầu diesel Đá

     

    Loka nguyên liệu

    Chi

     

    phí

    công nhân

    Điện

     

    sản xuất

    Khấu

     

    Hao

    TSCĐ

    Vật tư

     

    sửa chữa

    Chi phí vận chuyển Phân

     

    bổ chi

    phí

    (máy biến

    áp)

    1.Chi phí SXKD dở dang đầu kỳ 0 0 0 0 0 0 0 0 0
    2.Chi phí SXKD dở dang phát sinh trong kỳ 519.785.295 10.517.819 330.417.476 39.600.000 6.992.000 10.000.000 4.008.000 113.250.000 5.000.000
    3. Giá thành sản phẩm, dịch vụ trong kỳ 318.518.923 10.517.819 180.526.104 39.600.000 6.992.000 10.000.000 4.008.000 61.875.000 5.000.000
    4.Chi phí SXKD dở dang cuối  kỳ 201.266.372 0 149.891.372 0 0 0 0 51.375.000 0
    Mẫu số 05 – LĐTL

     

    (Ban hành theo QĐ Số 15/2006/BTC

    Ngày 20/03/2006

    của Bộ trưởng BTC)

    Cty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Bộ phận: chế biến

    PHIẾU XÁC NHẬN SẢN PHẨM HOẶC

    CÔNG VIỆC HOÀN THÀNH

    Ngày 31 tháng 12 năm 2009

    Tên đơn vị (cá nhân):Trần Nam Trung    Tổ Chế biến

    Theo hợp đồng số: ……. ngày 02 tháng 01 năm 2008

    STT Tên sản

     

    phẩm

    (công việc)

    Đơn

     

    vị

    tính

    Số

     

    lượng

    Đơn

     

    giá

    Thành

     

    tiền

    Ghi

     

    chú

    A B B 1 2 3 D
    01 Đá Loka M3 3.669   318.518.923  
      Cộng   3.669   318.518.923  

    Tổng số tiền (viết bằng chữ):Ba mươi chín ngàn, sáu trăm đồng chẵn./

    Ngày31tháng 12 năm 2009

    Người giao việc              Người nhận việc               Người kiểm tra                 Giám đốc

       (ký, họ tên)                      (ký, họ tên)                        (ký, họ tên)                   (ký, họ tên)

     

     

    Cuối tháng, căn cứ vào phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành nhập kho thành phẩm, kế toán lập phiếu nhập kho , sử dụng TK 155.2: Thành phẩm chế biến

    3.4. SƠ ĐỒ LẬP VÀ LUÂN CHUYỂN CHỨNG TỪ

    SƠ ĐỒ 3.3: SƠ ĐỒ LẬP VÀ LUÂN CHUYỂN CHỨNG TỪ

    CHƯƠNG 4:

    NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ TỔ CHỨC

     HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH

    TẠI CÔNG TY TNHH TM TÂN VĨNH PHÁT

    4.1. NHẬN XÉT

    4.1.1. Về tổ chức công tác kế toán tại Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    4.1.1.1. Thuận lợi.

    – Phòng kế toán luôn hoàn thành tốt các công việc mà cấp trên giao. Lý do là công ty có một đội ngũ nhân viên trẻ, năng động và nhiệt tình. Đồng thời nhờ vào công tác kế toán của kế toán trưởng đã xây dựng được bộ máy kế toán hoạt động rất có hiệu quả.

    – Hình thức kế toán áp dụng tại công ty là hình thức kế toán nhật ký chung, đây là hình thức phổ biến, tiện lợi cho việc hạch toán của công ty.

    – Công ty sử dụng các chứng từ, sổ sách theo đúng quy định của kế toán hiện hành.

    – Các số liệu của công ty được giữ gìn theo đúng quy định của Bộ Tài Chính.

    – Khối lượng công việc mà bộ phận kế toán được giao phù hợp với quy mô hoạt động của công ty.

    – Phòng kế toán luôn được Giám đốc công ty thường xuyên chú ý, quan tâm, động viên, tạo điều kiện cho các nhân viên làm tốt công việc của mình.

    4.1.1.2. Khó khăn.

    – Hiện nay công ty vẫn chưa áp dụng phần mềm kế toán để phục vụ cho việc hạch toán.

    – Mọi công việc đều được ghi chép và theo dõi trên sổ sách kế toán của công ty. Nên đôi khi không thể tránh khỏi những sai sót trong việc kiểm tra và điều chỉnh.

    – Cơ sở vật chất của phòng kế toán còn chưa được trang bị đầy đủ.

    4.1.2. Về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của Công ty TNHH TNHH TM Tân Vĩnh Phát

    Đánh giá tổng quan về công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát.

    Hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm là một công việc cần thiết và quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp. Nó giúp cho bộ máy quản lý và các thành viên trong doanh nghiệp nắm được tình hình thực hiện kế hoạch chi phí giá thành, cung cấp những tài liệu xác thực để chỉ đạo sản xuất kinh doanh, phân tích đánh giá tình hình sản xuất. Thông qua đó, khai thác và huy động mọi khả năng tiềm tàng nhằm mở rộng sản xuất, nâng cao năng xuất lao động và hạ giá thành sản phẩm. Với ý nghĩa như vậy, hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm nghiên cứu trong quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.

    Những năm gần đây, cùng với xu hướng thay đổi chung của nền kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã có những biến đổi theo hướng tích cực. ở Công ty , điều này thể hiện bằng quá trình tổ chức sắp xếp lại bộ máy quản lý, tổ chức lại các phòng ban, lực lượng lao động ở tất cả các bộ phận và sự nỗ lực của toàn bộ công nhân viên toàn công ty để khắc phục những khó khăn, vươn lên tự khẳng định mình. Trong quá trình ấy, hệ thống tài chính kế toán không ngừng được đổi mới, hoàn thiện cả về cơ cấu tổ chức và phương pháp hạch toán.

    Qua tìm hiểu thực tế công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm ở công ty, em thấy rằng, nhìn chung, việc quản lý CPSX và tính giá thành ở công ty tương đối chặt chẽ, và được thực hiện khá nề nếp theo định kỳ hàng tháng đã cung cấp thông tin kịp thời, nhanh chóng cho lãnh đạo công ty để từ đó lãnh đạo công ty nắm rõ tình hình biến động các khoản chi phí trong giá thành sản phẩm, có biện pháp quản lý thích hợp để giảm chi phí, tiết kiệm NVL, giảm giá thành và tăng lợi nhuận cho công ty. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng bộc lộ những khiếm khuyết đòi hỏi phải có giải pháp thiết thực hơn.

     

    4.2. KIẾN NGHỊ

    4.2.1. Ưu điểm

    • Bộ máy kế toán:

    Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức phù hợp với yêu cầu công việc. Đồng thời phù hợp với khả năng chuyên môn của từng người. Đội ngũ cán bộ kế toán đều có nghiệp vụ vững, có trình độ, được đào tạo cơ bản, lại rất năng động, nhạy bén, bắt kịp và thích ứng rất nhanh trong quá trình hạch toán kế toán. Phòng kế toán được tổ chức rất gọn nhẹ, hợp lý và hiệu quả, sự phối hợp rất khoa học và ăn ý giữa từng người phụ trách các phần hành kế toán.

    • Hình thức kế toán áp dụng:

    Đây là một công ty khai thác và chế biến đá xây dựng cho nên các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều và thường xuyên. Công ty áp  dụng hình thức kế toán Nhật ký chung để thực hiện việc phản ánh, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hợp lý, nó đảm bảo cho việc thực hiện, xử lý các nghiệp vụ cũng như lên các sổ sách báo cáo rất nhanh gọn, đơn giản. Công tác tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cũng đã được phản ánh vào Bảng biểu, sổ sách kế toán phù hợp với chế độ kế toán quy định cho hình thức kế toán này.

    • Phương pháp kế toán chi tiết:

    Kế toán chi tiết vật tư phù hợp với đặc điểm quản lý nguyên liệu, vật liệu của công ty, thực hiện một cách đơn giản, gọn nhẹ, lại quản lý rất hiệu quả, chính xác từng khâu Nhập-Xuất-Tồn từng loại vật tư, công tác kiểm tra đối chiếu cũng dễ dàng, nhanh chóng.

    • Phương pháp kế toán tổng hợp:

    Kế toán công ty lựa chọn phương pháp Kê khai thường xuyên để tiến hành tập hợp CPSX là rất thích hợp. Bởi lẽ, trong bối cảnh kinh tế hiện nay, việc thu thập và cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cập nhật, thường xuyên có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó phục vụ một cách kịp thời cho công tác phân tích tình hình CPSX giúp cho lãnh đạo công ty có được những thông tin đầy đủ, toàn diện, kịp thời để từ đó đề ra các biện pháp cũng như chiến lược về sản xuất kinh doanh một cách nhạy bén.

    • Phân loại CPSX:

    Với ngành nghề sản xuất kinh doanh là chế biến đá, nên ở công ty có rất nhiều loại chi phí sản xuất kinh doanh. Để tạo thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán chi phí, công ty đã phân loại CPSX theo 2 tiêu thức đó là: Theo nội dung, tính chất của chi phí và Theo công dụng, mục đích của chi phí. Việc phân loại CPSX như vậy là phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, giúp cho công tác kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm được thuận tiện, chính xác và khoa học.

    • Chi phí nhân công trực tiếp:

    Công ty áp dụng hình thức trả lương dựa trên cơ sở đơn giá lương và đảm bảo quyền lợi cho người lao động, đồng thời cũng gắn chặt trách nhiệm của người lao động với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp. Điều này góp phần khuyến khích cho tinh thần lao động, ý thức nghiêm túc, tiết kiệm trong lao động sản xuất sản phẩm của công nhân.

    4.2.2. Tồn tại

    Bên cạnh những thuận lợi đó, Công ty cũng gặp phải những khó khăn, một trong những khó khăn đ­ược coi là điển hình nhất là nguyên vật liệu đầu vào. Nguyên liệu chính của quá trình khai thác là thuốc nổ, kíp … Sự biến động về giá cả trên thị trường và chỉ tiêu khai thác đá đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty. Điều này làm cho chi phí đầu vào của công ty tăng lên, dẫn đến giá thành sản xuất sản phẩm cũng tăng lên, bắt buộc công ty phải tăng giá bán sản phẩm. Trong tình trạng khó khăn chung này, công đang rất nỗ lực tìm ra các giải pháp tốt nhất để v­vượt qua, có các chính sách ­ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi cho các khách hàng để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm.

    – Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là bộ phận khai thác và chế biến đá có thể sẽ không cung cấp thông tin kịp thời, chính xác. Sự phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi thông tin kế toán phải cụ thể, chi tiết hơn nên phải đảm bảo rằng chi phí sẽ đ­ược đầy đủ nhanh chóng và chính xác. Chính vì vậy cần phải căn cứ vào cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý để xác định chính xác đối t­tượng tập hợp chi phí sản xuất.

    – Trong công tác kế toán đôi khi kế toán có thể tính gộp như­ng phải trong phạm vi cho phép và phải đảm bảo đúng thực chất. Tại Công ty việc hạch toán chung công cụ dụng cụ nhỏ vào với vật liệu khác trên TK 152 là ch­ưa hợp lý.

    – Trong hệ thống sổ sách kế toán của hình thức nhật ký chung mặc dù Công ty đã sử dụng các sổ tổng hợp và sổ chi tiết theo đúng chế độ hiện hành tuy nhiên Công ty không mở sổ chi tiết thành phẩm là một thiếu xót.

    – Công ty còn áp dụng kế toán thủ công, máy vi tính của phòng kế toán chỉ sử dụng cho việc soạn thảo văn bản và tính toán đơn giản.

    KẾT LUẬN

    Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát một công ty có nhiều khả năng phát triển trong tương lai. Trong quá trình tìm hiểu thực tế tại công ty em đã nhận thấy rằng học tập chỉ dựa trên công thức đã học ở trường vẫn chưa đủ, mà còn phải bước vào thực tế, phải nắm vững những vấn đề đang diễn ra. Đây là thời gian em thử nghiệm những kiến thức của mình đã được học vào công tác thực tế, nó giúp em hiểu sâu những kiến thức mình đã có.

     

    Trong thời gian thực tập ở Công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát, nhờ sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn Nguyễn Phước Bảo Ấn, ban lãnh đạo Công ty, các phòng ban có liên quan đặc biệt là cán bộ, nhân viên phòng kế toán công ty cùng với sự cố gắng của bản thân tiếp cận với những công việc thực tiễn. Vì vậy em đã đi sâu nghiên cứu và hoàn thành bài chuyên đề, đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thμnh sản phẩm tại công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát”.

     

    Đồng thời, em đã nhận thức về hệ thống hoá thực tế công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty theo một trình tự khoa học, hợp lý. Quá đó, em mạnh dạn đưa ra một số ý kiến nhận xét và đề xuất nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty, góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nói chung và bộ máy kế toán nói riêng.

     

    Do trình độ còn hạn chế, kiến thức thực tế còn ít ỏi, thời gian thực tập tìm hiểu chưa nhiều nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý cuat toàn thể cán bộ công nhân viên, toàn thể công ty, cùng thầy cô giáo và đặc biệt là của phòng kế toán công ty để làm cho bản chuyên đề của em được phong phú về lý luận và sát thực tiễn công ty.

             Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tập thể công ty TNHH TM Tân Vĩnh Phát phòng kế toán công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập, đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Th.s Nguyễn Phước Bảo Ấn đã giúp em hoàn thành bài viết của mình.

          Em xin chân thành cảm ơn!

                                                                                                 Gia lai, ngày 26 tháng 02 năm 2010

                                                                                                               Sinh viên thực hiện

                                                                                                                

     

     

                                                                                                               Đặng Văn Hùng

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Tập thể tác giả bộ môn kế toán quản trị – phân tích hoạt động kinh doanh (2006), Kế toán chi phí, NXB thống kê.
    2. Tập thể tác giả khoa kế toán – kiểm toán(2000), Kế toán tài chính, NXB tài chính.
    3. Võ Văn Nhị (2001), Kế toán tài chính, NXB thống kê
    4. Và một số tài liệu khác.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]