Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-khoa-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-trong-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-l%E1%BB%B1c-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Lời mở đầu

    Tính cấp thiết của đề tài:

    Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, khoa học và kỹ thuật đã trở thành yếu tố cốt tử của sự phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu. Điều này được phản ánh rõ trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật và kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ sự phát triển cụ thể của từng nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển khoa học kỹ thuật mang tính đa dạng và đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia. Và điều nỗi bật rút ra ở các chiến lược, chính sách đó ở tất cả các nước trên thế giới từ những nước có nền kinh tế hiện đại đứng hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật, Pháp,…cho đến những nước có nền kinh tế chậm phát triển và lạc hậu như Việt Nam , Lào , Campuchia, một số nước Trung Đông

    …đó chính là quan điểm:”Sự phát triển khoa học và kỹ thuật là một phương hướng quan trọng mới , có tính quyết định trong việc phát triển kinh tế quốc gia…”Bởi vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng các chính sách và chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật của các nước trên thế giới và trong khu vực để áp dụng và phát huy một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của đất nước mình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước trên con đường công nghiệp hoá- hiên đại hoá nói chung và đối với Việt Nam nói riêng hiện nay.

    Trong thời đại ngày nay, khi nền văn minh nông nghiệp dần dần nhường chỗ cho nền văn minh công nghiệp thì tương ứng với nó thuật ngữ ”công nghiệp hoá – hiện đại hoá” cũng ít được sử dụng mà thay thế vào đó là các thuật ngữ khoa học mang tính chất hiện đại ,phù hợp với xu thế của một thời đại mới “thời đại tri thức” như “tăng trưởng”, “phát triển”,” cất cánh theo lối hoá rồng”…Mặc dù vậy,chúng ta không thể phủ nhận công nghiệp hoá- hiện đại hoá luôn luôn là vấn đề hàng đầu trong các lí luận về sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới .Thật vậy ,lịch sử phát triển của nhân loại trong vài trăm năm trước đó đã cho thấy con đường mà các nước chậm tiến cần phải đi theo,không thể là cái gì khác ngoài việc biến đổi nền kinh tế theo cơ cấu hợp lý ,phát triển năng động

    1

    dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật hiện đại .Để đạt được mục đích đó,điều tất yếu là phải đưa đất nước đi lên con đường công nghiệp hoá- hiên đại hoá bởi đó là phương thức duy nhất để phát triển kinh tế thế giới, và bất kì một quốc gia nào bỏ qua quá trình này đều sẽ trở nên quá chậm , quá lạc hậu so với bước đi của thế giới.Có thể coi đó là quy luật Việt Nam không thể đứng ngoài.

    Chúng ta đều biết ,công nghiệp hoá được coi là sản phẩm trực tiếp của cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVII, còn hiện đại hoá là sản phẩm tất yếu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật giữa thế kỷ XX. Ngày nay, trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá được xem là nấc thang đánh dấu trình độ phát triển mới của nền văn minh nhân loại. Chúng ta không thể phủ nhận những thành tựu về khoa học cũng như nhiều lĩnh vực khác trong đời sống kinh tế xã hội .Chẳng hạn, việc sử dụng năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời đã làm giảm sự phụ thuộc của con người vào nguồn năng lượng khoáng sản, việc chế tạo ra các tên lửa với công suất cực lớn dùng nhiên liệu hoá học, hỗn hợp ở dạng lỏng hoặc rắn. Với hệ thống động lực mới này, con người đã tạo ra được tốc độ vũ trụ cấp một (7,9km/s),phóngvệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất (năm 1957), tốc độ vũ trụ cấp hai (11,2 km/s) phóng các tàu vũ trụ thám hiểm các hành tinh thuộc hệ mặt trời như mặt trăng, Sao hoả, Sao kim…(năm 1959) và đặc biệt là đưa con người đặt chân lên mặt trăng (năm 1981) mở ra kỷ nguyên chiến lược chinh phục vũ trụ. Sự ra đời của các vật liệu tổng hợp không những giúp con người giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên không tái sinh được mà cung cấp cho con người nguồn vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn và tái sinh được…Do đó vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia trên con đường thực hiện công nghiệp hoá- hiên đại hoá là ở chỗ cần nắm bắt xu thế phát triển tất yếu, khách quan của thời đại, khai thác tối đa những thời cơ, thuận lợi và hạn chế đến mức thấp nhất mọi nguy cơ, bất lợi để thực hiện thành công nghiệp sự nghiệp đó.

    Đối vớiViệt Nam hiện nay, công nghiệp hoá- hiên đại hoá không chỉ là quá trình mang tính tất yếu mà đó còn là một đòi hỏi bức thiết. Đứng trước thực trạng đất nước từ một nền kimh tế tiểu nông đang phấn đấu vươn lên đạt đến mục tiêu:” Dân giàu ,nước mạnh,xã hội công bằng dân chủ văn minh” lại vốn là một nước nghèo bị chiến tranh tàn phá nhiều năm, tình trạnh khủng khoảng kinh tế xã hội vẫn chưa chấm dứt, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định,

    bội chi ngân sách lớn, lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm ngày càng tăng (riêng ở thành thị chiếm tới 7%), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) tính theo đầu người thấp nhất thế giới: 220$ (tháng9/1993) thấp hơn cả Lào, Băngladesh, chỉ bằng 1/9 Thái Lan, bằng 1/4 của Malaixia, bằng 1/45 của Đài Loan…Gắn liền với nền kinh tế đó lại là lối làm ăn tản mạn, tuỳ tiện của sản xuất nhỏ; những thói quen cũ của thời kì bao cấp trong sản xuất, kinh doanh vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay, ảnh hưởng không nhỏ tới sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước trong quá trình toà cầu hoá. Vì vậy công nghiệp hoá- hiên đại hoá còn là quy luật tất yếu của quá trình phát triển kinh tế-xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp nhân dân và cả dân tộc.

    Nhận thức rõ vai trò đó, Đảng và nhà nước, ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học – kỹ thuật và khẳng định: “Cùng với giáo dục, đào tạo khoa học và kỹ thuật là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế -xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá- hiên đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học, kỹ thuật” Như vậy, vai trò động lực, là lực lượng sản xuất hàng đầu của khoa học và kỹ thuật đã được Đảng ta nhất quán khẳng định và là điều tất yếu không thể thay đổi được. Song vấn đề đặt ra là làm sao để khoa học và kỹ thuật đảm nhận được vai trò đó? Hay nói cách khác, trong điều kiện đất nước ta hiện nay để phát triển khoa học và kỹ thuật phù hợp với vài trò “Là lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình công nghiệp hoá- hiên đại hoá ” thì chúng ta phải làm gì? Đó là một vấn đề rất bức bách hiện nay trước thực trang khoa học – kỹ thuật của đất nước còn phát triển chậm và chưa đi vào cuộc sống mặc dù tiềm năng là không nhỏ.

    Nghiên cứu về vấn đề khoa học và kỹ thuật trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá không chỉ là công trình khoa học của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, mà còn là của toàn thể xã hội. Và cho tới nay, chúng ta cũng đã thu được nhiều kết quả không nhỏ trong việc nghiên cứu, góp phần giúp cho đất nước hoàn thành mục tiêu là một nước công nghiệp vào những năm 2020. Là một sinh viên, em cũng muốn góp một phần nhỏ công sức của mình vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học của đất nước. Nghiên cứu về đề tài “Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất” là một vấn đề lớn cần có thời gian và sự hiểu biết cũng như sự đầu tư nhiều. Mặc dù rất cố gắng nhưng em

    không thể tránh khỏi những thiếu sót trong việc thu thập thông tin . Song với sự giúp đỡ tận tình của thầy em đã hoàn thành bài viết này.

    Em xin chân thành cảm ơn thầy !

    CHƯƠNG I

    NGUỒN GỐC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

    1. Lực lượng sản xuất trong lý luận hình thái kinh tế – xã hội của

    Mác:

    Xuất phát từ quan niệm cho rằng lịch sữ xã hội loài người là quá trình con người thường xuyên sản xuất và tái sản xuất, Mác đã xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế -xã hội . Hoạt động sản xuất bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con người là đặc trưng vốn có của xã hội loài người mà trong đó sản xuất vật chất đóng vai trò cực kì quan trọng. Nó là động lực, là nền tảng của các hoạt động sản xuất còn lại của xã hội. Trong quá trình sản xuất vật chất, con người sử dụng các công cụ lao động thích hợp và tác động cải tạo giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu của mình. Trong sản xuất, con người không chỉ quan hệ với giới tự nhiên mà giữa những con người cần phải có mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau, tức là việc sản xuất chỉ diễn ra trong khuôn khổ của những mỗi liên hệ và quan hệ xã hội. Có như vậy con người mới có thể biến đổi được giới tự nhiên, biến đổi đời sống xã hội đồng thời biến đổi chính bản thân con người.Trong biện chứng tự nhiên, Ănghen đã viết “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó ta phải nói :lao động đã sáng tạo ra bản thân con người “. Như vậy theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, trong lịch sử sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành nên mối quan hệ phổ biến đó là: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hợp thành phương thức sản xuất. Trong đó lực lượng sản xuất “biểu hiện cho mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong qúa trình sản xuất ra của cải vật chất”. Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kĩ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động . Sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất. Và quan hệ sản xuất là “quan hệ giữa người với người trong qúa trình sản xuất”. Mỗi phương thức sản xuất đặc trưng cho một hình thái kinh tế -xã hội nhất định, nó là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng, đóng vai trò quyết

    định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Và lịch sử xã hội loài người chẳng qua là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất. Phương thức sản xuất cũ, lạc hậu được thay thế bằng phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn. Trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố động đóng vai trò quyết định. Lực lượng sản xuất là thước đo năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển xã hội loài người, làm thay đổi mối quan hệ giữa người với người và từ đó dẫn tới sự thay đổi các mối quan hệ xã hội. Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, Mác viết: ” Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thayđổi tất cả những mối quan hệ xã hội của mình”. Khi lực lượng sản xuất trước hết là tư liệu sản xuất thay đổi và phát triển thì quan hệ sản xuất tất yếu cũng thay đổi và phát triển theo, khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội. Như vậy, lực lượng sản xuất không chỉ là yếu tố khách quan, năng động nhất của phương thức sản xuất mà còn là yếu tố cấu thành nền tảng vật chất của toàn thể nhân loại.

    Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Khi mà con người đã trải qua ba cuộc đại cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, lần thứ hai và lần thứ ba thì khoa học trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành “lực lượng sản xuất hàng đầu”, là yếu tố không thể thiếu được để làm cho lực lượng sản xuất có động lực để tạo nên những bước phát triển nhảy vọt tạo thành cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại. Có thể nói rằng :”khoa học và kỹ thuật hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại. CacMác đã từng dự báo: ” Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào số lượng lao động đã chi phí hơn vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân, đến lượt chúng ( hiệu quả to lớn của chúng ) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng mà đúng ra chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa

    học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất …” và trong thời đại ngày nay đã khẳng định: phát triển xã hội hội không thể dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học- kỹ thuật hiện đại.

    Theo quan niệm của Mác, mỗi hình thái kinh tế-xã hội được hình thành từ nhiều yếu tố, nhiều mối quan hệ như: mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng…Các yếu tố, các mối quan hệ này luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau tạo thành động lực nội tại của sự phát triển xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Xuất phát từ quan niệm đó, CacMác đã cho rằng ngay trong cùng một hình thái kinh tế-xã hội thì không phải bất cứ lúc nào nó cũng được thể hiện dưới một hình thức giống nhau. Chính vì lẽ đó, Mác đòi hỏi phải vận dụng phương pháp phân tích lịch sử cụ thể khi sử dụng phạm trù hình thái kinh tế-xã hội vào vệc xem xét, phân tích một xã hội cụ thể, phải làm rõ được vai trò, vị trí và sự tác động của những quan hệ xã hội đó trong đời sống xã hội. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể rút ra những kết luận có tính quy luật của một xã hội cụ thể khi áp dụng phạm trù hình thái kinh tế-xã hội vào việc nghiên cứu xã hội đó. Và xét cho đến cùng, thì sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực xã hội mới là yếu tố quyết định tiến trình phát lịch sử của nhân loại hàng nghìn năm qua. Ph.Anghen nói: ” Theo quan niệm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế…”. Lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một hình thái kinh tế xã hội nhất định, và sự tiến bộ xã hội chính là sự vận động theo hướng hoàn thiện dần của các hình thái kinh tế xã hội, là sự thay đổi hình thái kinh thái kinh tế lạc hậu lỗi thời bằng hình thái kinh tế xã hội tiến bộ, hiện đại hơn mà gốc rễ sâu xa của nó là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Nó là nền tảng, là cơ sở vật chất-kĩ thuật, là yếu tố quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế-xã hội. Mác viết: ”Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một qúa trình lịch sử tự nhiên” nhưng sự phát triển xã hội chẳng những có thể diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự từ hình thái kinh tế-xã hội này lên hình thái kinh tế – xã hội khác, mà còn có thể diễn ra bằng con đường bỏ qua một giai đoạn phát triển nào đó, một hình thái kinh tế-xã hội nào đó trong những điều kiện khách quan và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

    Dựa trên những tư tưởng cụ thể của học thuyết Mác về hình thái kinh tế-xã hội với vai trò then chốt của lực lượng sản xuất là cơ sở lý luận cho phép chúng ta khẳng định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển CNTB, là quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc ta.

    2. Khoa học và kỹ thuật trong nền kinh tế toàn cầu.

    Trong nửa thế kỷ qua, việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và tạo ra công ăn việc làm luôn luôn đứng ở vị trí cao trong trong danh mục những ưu tiên hàng đầu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã cho thấy rằng ít nhất một nửa mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu là nhờ những tiến bộ khoa học-kỹ thuật đem lại thông qua việc chúng góp phần làm tăng thêm hiệu quả đầu tư của các nguồn vốn và năng suất lao động xã hội cũng như tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Chính vì vậy khoa học và kỹ thuật đóng vai trò rất lớn trong các chiến lược tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển va đang phát triển. Sự thành công của các nước trong việc đạt tới những mục tiêu về khoa học kỹ thuật để tạo ra tăng trưởng kinh tế đã tác động trực tiếp tới sức cạnh tranh và dẫn tới kết quả là làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nếu như trong thiên niên kỷ thứ nhất, than đá, sức gió, sức nước, sức mạnh cơ bắp của người và gia súc là nguồn năng lượng chủ yếu thì tới gần thiên niên kỷ thứ hai, đó là dầu khí, máy hơi nước, điện, năng lượng nguyên tử phân hạch. Hiện nay nhân loại đang tiến vào thiên niên kỷ thứ ba dựa trên nền tảng của các nghành công nghiệp cao như kỹ thuật thông tin, kỹ thuật năng lượng hạt nhân, tổng hợp nhiệt hạch, kỹ thuật nanô… Có thể nói rằng từ vị trí đi sau, tổng hợp các kinh nghiệm ở hai thiên niên kỷ đầu, khoa học và kỹ thuật đã trở thành động lực phát triển hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, là lực lượng dẫn đường và là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu hoá. Có thể nói đây là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trong khoa học tự nhiên, là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại. Để làm rõ vai trò của khoa học kỹ thuật trong nền kinh tế toàn cầu, ta cần tìm hiểu thế nào là khoa học, kỹ thuật, là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại.

    Khoa học là một khái niệm thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau: khoa học là một hình thái ý thức xã hội, là một công cụ nhận thức; khoa học là một lĩnh vực hoạt động xã hội; khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết…Tuy nhiên định nghĩa cho rằng khoa học là một hệ thống chỉnh thể các tri thức của tiến trình lịch sử xã hội được coi là định nghĩa đầy đủ nhất dưới góc độ lịch sử phát triển của khoa học. Ngoài ra, khoa học còn được hiểu là quá trình hoạt động của con người để có được hệ thống tri thức về thế giới với chức năng làm cho con người nắm được những quy luật của hiện thực khách quan ,ngày càng làm chủ được những điều kiện sinh hoạt tự nhiên và xã hội

    Kỹ thuật trước hết là tập hợp tri thức gắn liền và tương ứng với một tập hợp kỹ thuật (Như máy móc, thiết bị, phương tiện…) bao gồm các tri thức về phương pháp, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm…được sử dụng theo một quy trình hợp lý để vận hành, tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Kỹ thuật từ chỗ chỉ dùng trong các hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất theo sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu thì giờ đây khái niệm đó được sử dụng với nghĩa rộng hơn và trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người .

    Nếu như trong nhiều thế kỷ trước đây khoa học chỉ phát triển một cách độc lập riêng rẽ thì tới đầu thế kỷ 20 mối quan hệ mật thiết giữa khoa học- kỹ thuật đã tạo nên cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại của xã hội loài người, đánh dấu “quá trình khoa học kỹ thuật biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp là điều kiện cần để đưa lực lượng sản xuất lên một bước phát triển mới”. Cho tới nay chưa có một công trình nào đưa ra định nghĩa cụ thể về cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, song về đại thể ta có thể hiểu đó là sự thay đổi căn bản trong bản thân các lĩnh vực khoa học kỹ thuật cũng như mối quan hệ và chức năng xã hội của chúng, khiến cho cơ cấu và động thái phát triển của các lực lượng sản xuất cũng bị thay đổi hoàn toàn. Ở nét khái quát nhất có thể định nghĩa cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại là sự biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của xã hội hiện đại, được thực hiện với vai trò dẫn đường của khoa học kỹ thuật trong toàn bộ chu trình: “khoa học – kỹ thuật – sản xuất- con người – môi trường “. Có thể nói rằng sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đưa văn minh nhân loại quá độ sang một giai đoạn phát triển mới về chất. Đó là kết

    quả của quá trình tích luỹ lâu dài các kiến thức khoa học của việc đổi mới kỹ thuật sản xuất, và việc tăng quy mô sử dụng kỹ thuật mới. Trong đó sự phát triển có tính tiến hoá và các dịch chuyển có tính chất có tính cách mạng đã cùng tạo điều kiện cho nhau phát triển. Trong lĩnh vực sản xuất cũng như trong các ngành tri thức khoa học đều có thể quan sát thấy những sự luân phiên đặc sắc của cuộc nhảy vọt và sự phát triển tuần tự trong nhiều lĩnh vực như :

    Trong ngành năng lượng, sử dụng năng lượng nước, cơ bắp, gió, than, điện, dầu lửa rồi năng lượng nguyên tử và hiện nay chính là năng lượng nhiệt hạch.

    Trong lĩnh vực sản xuất, từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạn công trường thủ công rồi tiến lên phương thức sản xuất đại cơ khí với các quy trình sản xuất và kỹ thuật được cơ giới hoá tổng hợp, xuất hiện các hệ thống máy móc, tạo ra các máy tự động, tự động hoá đồng bộ, hệ thống sản xuất linh hoạt.

    Trong sản xuất vật liệu, chuyển từ nguyên liệu nông nghiệp, các loại vật liệu xây dựng truyền thống ( như gỗ, gạch, đá…), sử dụng kim loại đen ( như sắt gang…) là chủ yếu sang sử dụng kim loại màu, chất dẻo, bê tông, các vật liệu kết cấu (omposite), vật liệu thông minh vật liệu siêu dẫn…

    Trong kỹ thuật sản xuất, chế tạo từ sản xuất thủ công, tiến lên bán tự động rồi tới kỹ thuật tự động hoá( tự động hoá thiết kế – chế tạo…), kỹ thuật thông tin ( tin học, viễn thông vũ trụ…) kỹ thuật nano, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật hạt nhân, kỹ thuật không gian, kỹ thuật vật liệu mới…

    Sự khởi đầu của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã đưa con người tiến vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của tri thức. Đây là bước quá độ trong sự phát triển khoa học và kỹ thuật hoàn toàn chỉ dựa trên cơ sở khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và các ngành sản xuất vật chất, biến bản thân khoa học thành nền công nghiệp tri thức trong thời đại tri thức, nền kinh tế công nghiệp sẽ trở thành nền kinh tế thông tin (hay còn gọi là nền kinh tế tri thức, nền kinh tế tin học, nền kinh tế mạng…)

    Như vậy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại dựa trên cơ sở cốt lõi là cuộc cách mạng vi điện tử diễn ra từ đầu thập niên 60 và các thành tựu khoa học kĩ thuật lớn nhất của thế kỉ XX thì đó là “bước quá độ dưới sự chỉ đạo với

    vai trò dẫn đường của khoa học sang quá trình tổ chức lại về căn bản kỹ thuật sản xuất, điều tiết các quy trình kỹ thuật với quy mô ngày càng tăng, tổ chức lại tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội dựa trên cơ sở những ngành kỹ thuật cao mà các cuộc cách mạng trước đó chưa đủ điều kiện tạo ra một cách hoàn chỉnh như :Kỹ thuật thông tin, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật vật liệu mới, kỹ thuật năng lượng mới kỹ thuật tự động hoá trên cơ sở kỉ thuật vì điện tử “. Thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo điều kiện tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội. Cho phép chi phối tương đối các phương tiện sản xuất để cùng tạo ra cùng một khối lượng hàng hoá tiêu dùng. Kết quả là kéo theo sự thay đỗi cơ cấu của nền sản xuất xã hội ,làm thay đổi tận gốc lực lượng sản xuất mà khoa học kỹ thuật là yếu tố hàng đầu. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tác động sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người,đưa con người tiến vào thời đại mới- thời đại của nền kinh tế tri thức.

    CHƯƠNG II

    CÔNG NGHIỆP HOÁ -HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM

    I: Sự hình thành và phát triển công nghiệp hoá -hiện đại hoá ở Việt Nam.

    1.1 Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là gì ?

    Lịch sử loài người trải qua 5 -6 ngàn năm (Trước thế kỷ XVIII) thời kỳ công trường thủ công, gần 300 năm thời kỳ đại công nghiệp cơ khí nhưng chỉ mất gần 120 năm để hoàn thành thời kỳ công nghiệp hoá đầu tiên, sau đó ở các nước Mỹ, Tây Âu chỉ tiến hành công nghiệp hoá trong vòng 80 năm, Nhật Bản 60 năm…và ngày nay Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đang tích cực rút ngắn khoảng cách, tiến dần tới nền văn minh nhân loại cũng chính bằng Công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Các nước đã đi qua giai đoạn phát triển TBCN đi vào thời kỳ quá độ lên CNXH tiến hành thực hiện quá trình tái công nghiệp nhằm điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và kỹ thuật hiện đại theo yêu cầu của chế độ xã hội hội mới. Các nước có nền kinh tế phát triển chậm nhất là các nước nông nghiệp lạc hậu thì tiến lên CNXH để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nhất thiết phải công nghiệp hoá để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế-Xã hội.Vậy ta nên hiểu về phạm trù công nghiệp hoánhư thế nào ?

    Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng: “công nghiệp hoá đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị (cho một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công nghiệp…”.Quan niệm mang tính triết tự này được hình thành dựa trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ.

    Nghiên cứu định nghĩa về phạm trù công nghiệp hoá của các nhà kinh tế Liên Xô (cũ), Cuốn “Giáo khoa về kinh tế chính trị “của Liên Xô được dịch sang tiếng Việt đã định nghĩa: “công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến. Cuốn từ điển tiếng Việt đã giải thích: “Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân

    và đặc biệt công nghiệp nặng dần tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động. Quan điểm công nghiệp hoá là quá trình xâydựng và phát triển đại công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô (cũ) được chúng ta tiếp nhận, áp dụng vào Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá của đất nước ngay từ những năm 1960 với nội dung chủ đạo là “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời gia sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ…nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH”. Nhưng trên thực tế, chúng ta đã phải trả giá cho sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN theo kiểu đó khi áp đặt mô hình công nghiệp hoá XHCN ở Liên xô vào nước ta mà không xuất phát từ thực trạng đất nước là một nước nông nghiệp lạc hậu. Tuy nhiên, dù không đạt được mục tiêu đề ra trong những năm đầu tiến hành công nghiệp hoá nhưng cũng nhờ đó mà chúng ta đã xây dựng được một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực mới về nhiều mặt đặc biệt là kinh tế, quốc phòng, văn hoá, chính trị…góp phần cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, bảo đảm được phần nào đời sống vật chất của nhân dân.

    Đến năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của liên hiệp quốc đã đưa ra định nghĩa về Công nghiệp hoá là: “Công nghiệp hoá một quá trình phát triển kinh tế”. Trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là “có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội “.Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá được hiểu là quá trình rộng lớn và sâu sắc với nhiều mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm thực hiện một mục tiêu duy nhất là kinh tế kỹ thuật như trước kia. Dựa trên cơ sở kỹ thuật đó, chúng ta nhận thức rõ được sai lầm của mình trên con đường công nghiệp hoá XHCN theo kiểu cũ, cứng nhắc và kém hiệu quả. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng: Quá trình phát triển đầy khó khăn, thử thách từ tình trạng kinh tế lạc hậu sang trạng thái kinh tế phát triển hiện đại không thể không tiến hành công nghiệp hoá và cùng với công nghiệp hoá là hiện đại hoá. Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá và là hai quá trình nối tiếp và đan xen lẫn nhau. Trước đó, ở các nước Mỹ và Tây Âu, họ đã tiến hành công nghiệp hoá khá lâu rồi

    mới đi vào hiện đại hoá và cho tới nay, quá trình này vẫn còn đang tiếp tục. Ta có thể hiểu: Hiện đại hoá là quá trình chống lại sự tụt hậu củạ sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra trên thế giới. Như vậy, xét về mặt lịch sử quá trình công nghiệp hoá diễn ra trước quá trình hiện đại hoá. Kinh nghiệm của cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ở nước ta cho thấy rằng: “công nghiệp hoá nhất thiết phải gắn liền với hiện đại hoá “.Tại hội nghị Trung ương khoá VII (Tháng7/1994) và khoá VIII(Tháng 6/1995) Đảng ta đã khẳng định: “Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với kỹ thuật và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của cồng nghiệp và tiến bộ khoa học – kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động xã hội cao “(Văn kiện hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung Ương khoá VIII ).

    Với quan niệm này, về cơ bản đã phản ánh được phạm vi rộng của quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá, chỉ ra được cái cốt lõi của nó là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng lao động tiên tiến, hiện đại để đạt được năng suất lao động cao, gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, xác định rõ vai trò của công nghiệp, của khoa học – kỹ thuật trong sự nghiệp công nghiệp hoá. Như vậy về cơ bản công nghiệp hoá theo định hướng XHCN: “là một cuộc cách mạng sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.”

    1.2 Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình tất yếu khách quan

    Ngay từ những năm 60, khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và nhà nước ta đã nhận rõ tính quy luật và vai trò Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá trong tiến hành vận động, phát triển của các nước trên thế giới nói chung,Việt Nam nói riêng và xác định: “Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm thời kì quá độ lên CNXH”. Với đường lối công nghiệp hoá XHCN chủ trương phát triển công nghiệp nặng mà trọng tâm là ngành cơ khí chế tạo đã dẫn đến những sai lầm cơ bản về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Trong suốt hơn một phần tư thế kỉ, chúng ta đã đặt công nghiệp hoá XHCN ở vị trí đối lập hoàn toàn với “công nghiệp hoá TBCN”, coi việc phát triển công nghiệp là giải pháp đúng đắn

    để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH mà “quên” mất vai trò của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ trong nền kinh tế quốc dân. Chúng ta chỉ đơn giản coi công nghiệp hoá là “Một quá trình xây dựng nền sản xuất được cơ khí hóa trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân “. Quan niệm này bắt nguồn từ nhận thức giáo điều, máy móc của Đảng và nhà nước ta về mô hình công nghiệp hoá XHCN của Liên Xô mà không xuất phát từ thực trạng kinh tế xã hội của đất nước cũng như bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ. Trong những năm đầu tiến hành công nghiệp hoá đất nước, tuy nền công nghiệp của nước ta đã được đầu tư khá lớn nhưng với quan niệm như vậy về công nghiệp hoá đã dẫn đến hiệu quả của quá trình công nghiệp hoá rất thấp ,thậm chí còn kéo theo cả nông nghiệp và công nghiệp nhẹ cũng rơi vào tình trạng đình trệ nghiêm trọng. Nhiều nhà máy, xí nghiệp quốc dân làm ăn thua lỗ kéo dài, tỷ trọng cuả ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân không đáng kể, nợ nước ngoài chồng chất, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Nghiêm trọng hơn, nền kinh tế lâm vào tình trạng thiếu hụt lớn, mất cân đối một cách căn bản, không có tích luỹ và rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế -xã hội kéo dài. Sự phát triển kinh tế chỉ chú trọng vào chiều rộng đã không tạo ra được những yếu tố cần thiết để phát triển theo chiều sâu, tính năng động và sáng tạo của cá nhân cũng như tập thể bị kìm hãm và không có cơ hội được thể hiện và điều tất yếu là chúng ta phải trả một giá quá đắt cho đường lối công nghiệp hoá XHCN theo kiểu đó .

    Nhận thức được hậu quả đó, Đảng và nhà nước ta đã kịp thời đưa ra chiến lược công nghiệp hoá mới phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Thế nhưng khi loại bỏ đường lối “công nghiệp hoáXHCN” theo lối cũ, người ta bỏ luôn cả công nghiệp hoá chỉ nhắc đến “phát triển “, “tăng trưởng”, “cất cánh “…chứ không đề cập tới công nghiệp hoá nữa. Nhưng thử hỏi những khái niệm đó đặt trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay sẽ là gì nếu không phải chính là công nghiệp hoá. Việc chúng ta từ bỏ một quan điểm sai lầm về công nghiệp hoá và cách thức tiến hành công nghiệp hoá theo lối chủ quan duy ý chí, kém hiệu quả hoàn toàn không có ý nghĩa là phủ nhận tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá. Mọi lý thuyết về phát triển trên thế giới hiện thời đều không bỏ qua một trong những nội dung chủ yếu không thể thiếu của nó là công nghiệp hoá. Đảng và nhà nước ta xác định: “Xây dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,

    cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hộ công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy đối với một nước nghèo như Việt Nam, không còn con đường phát triển nào khác ngoài con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ngày nay trên thế giới, công nghiệp hoá vẫn được coi là phương hướng chủ đạo, là con đường tất yếu phải trải qua của các nước đang phát triển. Ở nước ta khi những tư tưởng cơ bản trong học thuyết của CacMác về hình thái kinh tế-xã hội được nhận thức lại một cách sâu sắc với tư cách là cơ sở lý luận cho công cuộc đổi mới đất nước. Công nghiệp hoá được xem là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nhằm cải biến xã hội, gắn với việc hình thành bản chất ưu việt của chế độ mới. So với các nước trong khu vực có điểm xuất phát tương tự như nước ta hiện nay, chúng ta đang ở tình trạng tụt hậu xa hơn. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiên thời, chúng ta cần và có thể tiến hành “công nghiệp hoá đuổi kịp “, đồng thời “công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá ” đã mở ra con đường tắt, rút ngắn khoảng cách giữa các nước đang phát triển với các nước tiên tiến. Thực tế lịch sử đã cho thấy: Nhiều nước châu Á như: Singapo, Đài Loan, Hàn Quốc…chỉ trong một thời gian ngắn từ một nước kém phát triển đã trở thành một nước công nghiệp mới (NIC). Đó là những tấm gương kinh nghiệm cho chúng ta học hỏi và vươn lên

    .Công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá kết hợp những bước tiến tuần tự về kỹ thuật với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt đón đầu hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiến tiến của khoa học – kỹ thuật thế giới. Một điều rõ ràng là chúng ta không thể thực hiện tốt quá trình công nghiệp hoá với nội dung căn bản là cơ khí hoá các ngành của nền kinh tế quốc dân rồi mới tiến hành hiện đại hoá. Mặt khác khi thực hiện cơ khí hoá các ngành sản xuất, ta không thể dựa trên cơ sở sủ dụng máy móc lạc hậu mà phải sử dụng kỹ thuật và kỹ thuật sản xuất hiện đại .Với ý nghĩa đó, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Trong thời đại hiện nay, Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nước ta có nhiều đặc điểm khác với Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nhiều nước khác, nhưng xét về tổng thể nó là một quá trình rộng lớn, phức tạp bao hàm những nội dung cơ bản sau:

    Một là : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là qúa trình trang bị và trang bị lại kỹ thuật hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí trọng yếu. Lịch sử công nghiệp hoá trên thế giới cho thấy rằng, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và kỹ thuật. Đến giữa thế kỉ XX, cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại lại tạo ra những bước đột phá mới trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, đem lại tính chất hiện đại cho các tư liệu sản xuất, cho kĩ thuật, trình độ tổ chức và quản lý tiên tiến vv…Đó là những yếu tố cấu thành nội dung kỹ thuật mà sự phát triển của nó là vấn đề cốt lõi của Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá. Chính vì vậy trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá luôn đòi hỏi phải trang bị và trang bị lại kỹ thuật cho các ngành kinh tế gắn liền với quá trình công nghiệp hoá ở cả phần cứng lẫn phần mềm của kỹ thuật. Tuy nhiên, cách thức tiến hành ở các nước lại không giống nhau, có nước tiến hành bằng cách tự nghiên cứu , sáng chế, tự trang bị kỹ thuật mới cho các ngành kinh tế trong nước ,một số nước khác lại tiến hành thông qua chuyển giao kỹ thuật, có nước thì kết hợp giữa hai hình thức tự nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật. Như vậy có thể nói công nghiệp hoá- hiện đại hoá là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ kỹ thuật thấp lên trình độ kỹ thuật hiên đại cùng với sự dịch chuyển lao động thích ứng cơ cấu ngành, nghề.

    Hai là: Qúa trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá không chỉ liên quan tới phát triển công nghiệp mà là quá trình bao hàm tất cả các ngành ,các lĩnh vực hoạt động của một nước. Nó thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu kinh tế mới, hợp lý cho phép khai thác tốt nhất nguồn lực và lợi thế của đất nước. Nền kinh tế của mỗi nước là một thể thống nhất các ngành, các lực lượng quan hệ biện chứng vơí nhau,sự thay đổi ở ngành kinh tế, sự thay đổi ở ngành kinh tế,

    • lĩnh vực hoạt động này sẽ kéo theo sự thay đổi ở các ngành các lĩnh vực khác và ngược lại. Vì thế, quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá gắn liền với quá trình phân công lao động xã hội với những đặc điểm mang tính quy luật. Xét về tổng thể, cơ cấu kinh tế của mỗi nước được cấu thành bởi ở bộ phận nông nghiệp – công nghiệp và dịch vụ.

    Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sự chuyển dịch các ngành diễn ra theo xu hướng từ nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ đến công nghiệp – nông nghiệp dịch vụ. Ở giai đoạn đầu nông nghiệp giữ vị trí then chốt nhưng

    đến một trình độ phát triển nhất định khi nhu cầu về lương thực, thực phẩm được bảo đảm thì công nghiệp sẽ được đẩy lên trên.Tuy công nghiệp hoá không đồng nhất với phát triển công nghiệp nhưng không thể tiến hành công nghiệp hoá nếu không phát triển công nghiệp vững mạnh , chiếm vị trí hàng đầu trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, các hoạt động dịch vụ còn là điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân

    Ba là: Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình kinh tế, kỹ thuật vừa quá trình kinh tế-xã hội.Trong quá trình đẩy mạnh Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá,quá trình kinh tế-xã hội có quan hệ biện chứng với nhau ở cả tầm vĩ mô lẫn

    • mô, và với cả qua trình kinh tế -kỹ thuật. Với ý nghĩa đó khi xem xét sự tác động và hiệu quả của công nghiệp hoá phải có quan điểm toàn diện không dừng lạỉ ở khía cạnh kinh tế-kỹ thuật mà phải xem xét khía cạnh kinh tế-xã hội của nó. Do đó xét cho đến cùng Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình xây dựng và phát triển văn hoá, trong đó nguồn lực con người, gia tăng giá trị và vai trò con người là nội dung cốt lõi .

    Bốn là: Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá cũng đồng thời là quá trình mở rộng kinh tế quốc tế trong điều kiện hiện nay nền kinh tế nước ta không thể tăng trưởng và phát triển mạnh nếu không thiết lập mối quan hệ kinh tế với nước ngoài. Bởi vậy Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá theo hướng hội nhập quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật thị trường, kinh nghiệm của các nước đi trước đẩy mạnh chiến lược xuất khẩu, năng lực cạnh tranh đã trở thành một xu thế chung của thời đại. Mỗi nước trở thành một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới có tác động tương hỗ lẫn nhau và chịu sự biến động kinh tế-xã hội chung của thế giới. Vì thế, cần phải tính đến việc gắn Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá với việc xây dựng hệ thống kinh tế mở, tăng cường quan hệ thương mại, tích cực liên kết kinh tế quốc tế .

    Năm là: Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá không phải là mục đích tự thân mà là một phương thức có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu phát triển của mỗi nước. Bản thân công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một hiện tượng có tính phổ biến, nghĩa là từ kém phát triển trở thành phát triển, từ lạc hậu trở thành tiên tiến hiện đại, các nước đều phải tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá với những nét chung là quá trình trang bị kỹ thuật hiện đại cho các ngành

    kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước tạo ra năng suất lao động xã hội cao, bảo đảm nhịp độ phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững.

    Có thể nói rằng, Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống của xã hội, mà nhiêm vụ lớn lao của cuộc cách mạng đó là” tạo ra những điều kiện thiết yếu về vật chất-kỹ thuật, về con người và khoa học-kỹ thuật. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng tăng năng suất lao động xã hội, làm tăng hiệu quả thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

    2: Tính đặc thù của Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nước ta.

    Trong những năm qua sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá về cơ bản đã làm thay đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống nhân dân, cũng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ XHCN, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên thị trường quốc tế. Nhưng bên cạnh đó ,nền kinh tế nước ta vẫn chưa có sự phát triển vững chắc,hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, các vấn đề về văn hoá-xã hội ngày càng trở nên bức xúc, gay gắt, cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo được động lực mạnh mẽ để phát triển…Trong hoàn cảnh đó, Đảng ta vẫn kiên định thực hiện đường cối đẩy mạnh Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ để nhanh chóng đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại .

    Nhận định về tình hình phát triển của thế giới trong thế kỉ XXI. Nghị quyết đại hội của Đảng đã nêu rõ: “Thế kỉ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi ,khoa học và kỹ thuật sẽ có bước nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nỗi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan”. Những nét mới ấy trong tình hình thế giới và khu vực tác động mạnh mẽ đến tình hình nước ta. Trước mắt nhân dân ta có cả cơ hội lẫn thách thức lớn. Mặc dù chúng ta còn nhiều thiếu sót trong thực tiễn tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá mà chúng ta cần khắc phục và sữa chữa nhưng nhìn chung, cả thế và lực của nước ta đều có sự biến đổi rõ rệt về chất. Chúng ta đã thoát khỏi các cuộc khủng khoảng nghiêm trọng kéo dài, tạo ra được tiền đề cần thiết để chuyển sang giai đoạn mới, đẩy mạnh Công nghiệp hoá – Hiện đại

    hoá đất nước. Không những vậy đất nước còn có nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên cũng như nguồn lực con người, tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn định, nhân dân đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, môi trường hoà bình sự hợp tác quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, kỹ thuật mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường. Bên cạnh đó là những thách thức mà các nước đang tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá như nước ta phải tính đến là ưu thế về nguồn lao động và nguyên liệu ngày càng giảm so với sự phát triển của kỹ thuật tự động hoá, chất lượng lao động ổn định đang làm giảm ưu thế về việc xuất khẩu lao động sang các nước phát triển .Mặt khác, kỹ thuật tiên tiến đã nâng tỷ trọng chất xám trong giá thành sản phẩm khiến cho giá thành của các nguồn nguyên liệu thô và nguyên liệu sơ chế có kèm theo lượng chất xám thấp giảm đi nhanh chóng. Điều này đã và đang đe doạ nghiêm trọng tới xu hướng xuất khẩu nguyên liệu ở các nước, trong đó có Việt Nam .Vì vậy việc lựa chọn đi theo con đường Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá tất yếu phải giải quyết những thách thức đó. Trước hết, khó khăn trong việc giải quyết những thách thức này là do đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của chúng ta còn thiếu và yếu, bất cập với sự phát triển của khoa học -kỹ thuật. Ngoài ra Đảng ta còn phải xây dựng cơ vật chất kỹ thuật vững mạnh, kết cấu hạ tầng tương xứng để tiến hành các công trình nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng kỹ thuật và một hệ thống thông tin cho việc định hướng, lựa chọn kỹ thuật. Việc này cần rất nhiều vốn trong khi đó tình hình ngân sách nước ta hết sức hạn hẹp, tình trạng thiếu vốn là phổ biến. Vì vậy trong điều kiện: “Thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau. Chúng ta phải chủ động nắm thời cơ, vươn lên phát triển mạnh và vững mạnh, tạo ra các thế lực mới, đồng thời luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ, kể cả nhữnh nguy cơ mới nảy sinh, đảm bảo phát triển đúng hướng.Việc nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới,đó là vấn có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta“.(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB chính trị quốc giaHà Nội năm 1996 , trang 79-80 và văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần IX,. NXB chính trị quốc gia Hà Nội năm 2001 trang 67-68)

    Như vậy, đối với đất nước ta hiện nay, vấn đề đặt ra là cần tiến hành Công nghiệp hoá – hiện đại hoá như thế nào cho thích hợp? Trong bối cảnh

    mà cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng, mô hình công nghiệp hoá hỗn hợp (kết hợp giữa thay thế nhập khẩu với đẩy mạnh xuất khẩu) theo hướng hội nhập quốc tế là xu hướng có triển vọng rất lớn ở nước ta, về cơ bản Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước cũng vận động theo hướng đó. Nhưng xét theo cụ thể, với phương châm “rút ngắn khoảng cách, vừa có những bước tuần tự vừa có những bước nhảy vọt” công cuộc Công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở nước ta không những khác các nước khác về nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành mà khác cả về mục tiêu chiến lược. Chính sự khác biệt này đã làm nên tính đặc thù của sự nghiệp Công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở nước ta :

    Thứ nhất: Công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Kết hợp kỹ thuật truyền thống với kỹ thuật hiện đại, tranh thủ đi sâu vào hiện đại hoá ở những khâu quyết định.Trong điều kiện cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại đang có những bước phát triển nhanh chóng với xu thế quốc tế hoá nền kinh tế hiện nay, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Thực chất của quá trình hiện đại hoá nền kinh tế là không ngừng nâng cao trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo tiến trình phát triển của khoa học và kỹ thuật trên thế giới. Tuy nhiên, nếu ta không kịp thời sử dụng các kỹ thuật và kỹ thuật hiện đại để hiện đại hoá nền kinh tế thì nguy cơ tụt hậu sẽ rất cao. Nhưng nếu dồn mọi sự đầu tư cho việc trang bị kỹ thuật và kỹ thuật thì lại có nguy cơ lãng phí về tiền năng và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác. Để khắc phục nghịch lý này, chúng ta cần áp dụng đồng thời nhiều trình độ khoa học và kỹ thuật mà các nước đi trước đã thực hiện ở những thời điểm khác nhau. Có như vậy chúng ta mới có thể từng bước hiện đại hoá nền kinh tế vừa khai thác được các nguồn lực và lợi thế của đất nước. Cụ thể hơn, chúng ta cần biết kết hợp giữa nhảy vọt thủ công lên hiên đại, với bước đi tuần tự từ thủ công: Nửa cơ khí, cơ khí, tự động hoá…đồng thời phát huy tính ưu việt, hiện đại hoá nền kỹ thuật truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Ở nước ta việc tiếp nhận chuyển giao và phát triển kỹ thuật cho quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là hết sức cần thiết song quan trọng hơn là phải có cơ chế chính sách hợp lý để việc chuyển giao kỹ thuật đạt được mục tiêu khai thác và sử dụng có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. Có như vậy, chúng ta mới

    có được kỹ thuật mới, hiện đại có hàm lượng chất xám cao, kỹ thuật sạch kết hợp được các mục tiêu kinh tế và sinh thái.

    Thứ hai: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản. Trước đây, công nghiệp hoá được tiến hành theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp kế hoạch hoá cao độ thì giờ đây, công nghiệp hoá – hiện đại hoá được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Cơ chế thị trường tạo ra cơ hội và điều kiện thuận lợi cho con người tham gia vào các hoạt động kinh tế-xã hội đa dạng, cho sự dịch chuyển cơ cấu lao động, tạo cho con người có thể chủ động lựa chọn lao động và việc làm… Nói một cách khái quát, cơ chế thị trường có tác dụng làm chủ thể của quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá năng động, biết tính toán và luôn đề cao tính hiệu quả. Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có nhiều hạn chế của nó mà nếu không được chủ động khắc phục, điều tiết thì quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá sẽ không đạt được mục tiêu ổn định xã hội và bền vững của môi trường. Thực tế, khách quan này đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế-xã hội .

    Công nghiệp hoá – hiện đại hoá theo định hướng XHCN phải hướng vào việc ưu tiên phát triển sự tăng trưởng và phát triển của các nghành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế … có khả năng đem lại tích luỹ nhanh, lớn và hiệu quả kinh tế cao để đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh. Mặt khác, công nghiệp hoá – hiện đại hoá còn phải đảm bảo mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đảm bảo an ninh quốc gia và sự phát triển bền vững. Khi hiệu quả đạt được sẽ kéo theo hiệu quả xã hội và ngược lại đạt được hiệu quả xã hội sẽ tạo nên động lực thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, không phải mọi lúc mọi nơi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội đều tỷ lệ và song hành với nhau mà ta phải lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm thước đo chủ yếu quyết định chính sách, phương hướng phát triển, phương hướng đầu tư và trang bị kỹ thuật cho từng ngành từng thành phần kinh tế, từng doanh nghiệp .

    Thứ ba: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Quan điểm này thể hiện ở chỗ, trước hết công nghiệp hoá – hiện đại hoá phải xuất

    phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, đó là thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bên cạnh đó sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá là do nhân dân thực hiện bằng sức lao động, tài năng, sự sáng tạo, bằng cả tài sản toàn dân, phát huy sức mạnh và lợi thế so sánh của các thành phần kinh tế với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Và, công nghiệp hoá – hiện đại hoá chỉ thực sự là sự nghiệp của nhân dân và do nhân dân khi xây dựng được và thực hiện tốt cơ chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng đường lối công nghiệp hoá – hiện đại hoá và kiểm tra quá trình thực hiện đường lối đó. Có thể nói rằng việc huy động mọi nguồn lực trong nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế xã hội là biện pháp quan trọng bảo đảm sự thành công của công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước .

    Thứ tư: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá gắn liền với việc ” xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế “. Mở cửa nền kinh tế là sự đổi mới mang tính bước ngoặt trong tư duy và quan điểm của Đảng và nhà nước. Mở cửa cả bên trong lẫn bên ngoài là điều kiện để kết hợp sứ mệnh của dân tộc với sứ mệnh của thời đại, khai thác tổng hợp nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài cho công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta đã khẳng định: “ giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền kinh tế mở rộng, hội nhập với khu vực và thế giới”. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ tức là xây dựng nền kinh tế mở dựa trên cơ sở phát triển hợp tác đa phương hướng mạnh vào xuất khẩu và thay thế nhập khẩu nhằm tạo ra nguồn vốn cho công nghiệp hoá – hiện đại hoá .

    Thứ năm: khoa học và kỹ thuật được xác định là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Về thực chất, công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật, kỹ thuật hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội ngày càng cao. Do đó, nói đến công nghiệp hoá – hiện đại hoá là nói đến việc áp dụng những tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội. Trong thời đại ngày nay, khoa học và kỹ

    thuật thực sự là nền tảng và là động lực của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Phát triển khoa học và kỹ thuật, gắn khoa học và kỹ thuật với sản xuất và đời sống chính là mẫu chốt đảm bảo sự thành công của công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhận thức được điều đó, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học và kỹ thuật như: Tại hội nghị lần thứ VII, ban chấp hành TW khoá VII đã khẳng định : “Khoa học kỹ thuật là nền tảng của công nghiệp hoá hiện đại hoá ”: Hội nghị lần thứ II ban chấp hành TW khoá VIII một lần nữa nhấn mạnh: “Cùng với giáo dục-đào tạo, khoa học và kỹ thuật là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công XHCN. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học-kỹ thuật”; Và tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX quan điểm: Coi phát triển khoa học và kỹ thuật là quốc sách hàng đầu là nền tảng, là động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Muốn vậy chúng ta phải gắn hoạt động nghiêp cứu khoa học và kỹ thuật với thực tiễn, với quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, phải tăng cường vốn đầu tư và tìm ra động lực cho sự phát triển của bản thân nó. Động lực đó chính là lợi ích của những nhà nghiên cứu, phát minh, ứng dụng có hiệu quả của khoa học và kỹ thuật .

    Thứ sáu: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Sự phát triển như vũ bão của khoa học và kỹ thuật hiện đại ngày nay đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất xã hội. Nếu trước đây quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá tập trung khai thác tài nguyên thiên nhiên thì bây giờ công nghiệp hoá – hiện đại hoá lại hướng vào việc khai thác con người, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ của con người làm yếu tố cơ bản. Mặt khác, công nghiệp hoá

    • hiện đại hoá không chỉ đơn thuần là đạt được mục tiêu tăng trưởng phát triển nhanh bền vững về lượng mà còn là về chất, trước hết là phúc lợi nhân dân. Do đó, quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá ngày nay đòi hỏi phải biết nuôi dưỡng, phát triển và khai thác có hiệu quả nguồn lực con người. Như vậy đối với nước ta, thực hiện đường lối công nghiệp hoá – hiện đại hoá đòi hỏi phải nỗ lực phát huy mọi lợi thế so sánh vốn có của đất nước, tận dụng mọi cơ hội để có thể nhanh chóng đạt được trình độ kỹ thuật tiên tiến, tranh thủ ứng dụng ở mức cao hơn, phổ biến hơn các thành tựu mới về khoa

    học và kỹ thuật; từng bước phát triển nền kinh tế tri thức, lấy phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và kỹ thuật làm nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá .

    3.Khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất hàng đầu.

    3.1> Khoa học và kỹ thuật là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và đời sống xã hội không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học và kỹ thuật hiện đại. Khi chúng ta nói đến vai trò nền tảng và động lực của khoa học và kỹ thuật trong tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá cũng là nói đến công nghiệp hoá – hiện đại hoá dựa trên cơ sở khoa học và kỹ thuật. Quan điểm này hơn một trăm năm trước CacMác đã từng dự báo: “ Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phí hơn là vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân, đến lượt chúng (hiệu quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng ra, chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào sự ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất”,và ngày nay cũng được Đảng và nhà nước ta khẳng định rõ trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong nghị quyết các hội nghị TW VII ( khoá VII), hội nghị TW II (khoá VIII) và kết luận Hội nghị TW VI (khoá IX) về phát triển khoa học kỹ thuật. Nhận định đó của CacMác ngày càng được thực tiễn phát triển khoa học và kỹ thuật xác nhận. Khoa học và kỹ thuật hiện đại không chỉ là yếu tố không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia mà còn là yếu tố then chốt trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, là yếu tố “quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của các quốc gia”. Đối với nước ta hiện nay, vai trò của khoa học và kỹ thuật lại càng trở lên đặc biệt quan trọng khi mà chúng ta đang trên con đường rút ngắn giai đoạn phát triển để sớm trở thành một xã hội hiện đại. Ngay từ khi mới bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước , Đảng ta đã xác định: khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp quan trọng hàng đầu cho xã hội. Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu

    nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ,văn minh phải dựa trên nền tảng và động lực của khoa học – kỹ thuật. Vai trò nền tảng chỉ được phát huy khi đất nước có một nền khoa học kỹ thuật phát triển, đủ khả năng giải quyết được những nhiệm vụ chủ yếu về khoa học và kỹ thuật do yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia đặt ra.Vai trò động lực của khoa học và kỹ thuật được thể hiện thông qua sự đổi mới không ngừng của kỹ thuật và sản phẩm,tạo ra năng suất, chất lượng,và sức cạnh tranh cao của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá đang là xu hướng của toàn nhân loại. Chỉ khi nào khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu thì vai trò nền tảng và động lực của nó mới trở nên vững chắc và mạnh mẽ. Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, muốn đẩy nhanh tiến trình đổi mới đất nước thì điều tất yếu là phải tiến hành song song cả hai qúa trình: vừa thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá vừa xây dựng và phát triển nền khoa học kỹ thuật trong hoàn cảnh tiềm lực kinh tế đất nược còn rất hạn hẹp và nhỏ bé. Điều này chỉ có thể thực hiện được một khi hoạt động khoa học và kỹ thuật gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội.

    Trong thế kỷ XX , chứng kiến những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia, và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người

    . Mặt khác, trên bản đồ kinh tế thế giới, xuất hiện nhóm các nước mới công nghiệp hoá (NIC) sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng và lan toả của các thành tựu khoa học và kỹ thuật thông qua quá trình chuyển giao và tiếp thu tri thức khoa học và kỹ thuật tiên tiến. Bằng việc thực hiện đường lối công nghiệp hoá dựa vào khoa học và kỹ thuật, biết tận dụng các cơ hội để tiếp nhận và làm chủ nhanh chóng các kỹ thuật mới, thay đổi phương thức sản xuất dựa trên lao động thủ công và khai thác tài nguyên thiên nhiên sang ứng dụng các kỹ thuật cơ khí hoá, tự động hoá theo hướng tạo ra giá trị gia tăng cao,đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà các nước này nhanh chóng rút ngắn thời gian tiến hành công nghiệp hoá đất nước,tăng nhanh thu nhập bình quân đầu người, đồng thời khẳng định tiềm năng, vị thế của mình trên trường quốc tế.

    Bước vào thế kỷ XXI, cả thế giới đang cuốn theo xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức. Các nước phát triển đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức với đặc điểm là nền kinh tế biết khai thác, biết phát huy triệt để tiềm năng của chất xám, của những ý tưởng sáng tạo và đặc biệt là tri thức về khoa học và kỹ thuật phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của xã hội. Xu thế này mở ra nhiều cơ hội mới cho các nền kinh tế đang phát triển với điểm xuất phát thấp nhằm định hướng chiến lược phát triển phù hợp với xu thế chung là thu hút và sử dụng tri thức khoa học và kỹ thuật để tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Điều này đồng nghĩa với việc quốc gia nào xây dựng được khoa học và kỹ thuật đủ khả năng tiếp thu, làm chủ, thích nghi, sáng tạo và sử dụng nhiều tri thức, nhất là tri thức khoa học và kỹ thuật, tạo ra môi trường thể chế năng động thì mới có thể thu hút được nhiều vốn đầu tư, kỹ thuật hiện đại và lao động có trình độ cao từ các quốc gia khác vì mục tiêu phát triển toàn diện.

    Thực tế của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng nếu không có sự đầu tư thích đáng vào khoa học và kỹ thuật thì không thể thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Khoa học và kỹ thuật chính là chiếc chìa khoá thần kì để đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, trong đó điển hình là các nước công nghiệp hoá mới. Qua đó, ta càng thấy rõ vai trò quyết định của tri thức khoa học và kỹ thuật, tri thức của toàn xã hội . Có tri thức mới có sáng tạo và sáng tạo trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật là hoạt động ở trình độ cao. Bởi vậy cần phải có sự đầu tư công phu và tốn kém vào việc xã hội hoá tri thức khoa học và kỹ thuật nhằm trang bị những tri thức nghề nghiệp kết hợp với tay nghề cao của những người trực tiếp sản xuất, trang bị những tri thức tổng hợp kết hợp với nghệ thật điều hành của những người lãnh đạo và quản lý các cấp trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    3.2> Khoa học và kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế xã hội trong những năm đổi mới.

    Sinh thời, Ph.Ănghen đã từng nhấn mạnh rằng : “Sự phát sinh và phát triển của các nghành khoa học đã do sản xuất qui định” và nếu như các nghành khoa học có sự phát triển một cách nhanh chóng, một cách kỳ diệu thì sự kì diệu ấy cũng nhờ sản xuất mà có. Điều đó khẳng định rằng : Khoa học sẽ không thể phát triển nhanh được một khi nó không có môi trường thuận lợi, khi sản xuất và

    đời sống xã hội chưa có đòi hỏi bức bách đối với khoa học. Trước đây, khi nền kinh tế đi theo cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, giáo điều bao cấp, nền kinh tế hàng hoá không có điều kiện để phát triển, không có sự cạnh tranh trong nội bộ nghành cũng như giữa các nghành nên sản xuất không cần đến những thành tựu mới của khoa học. Vì vậy, động lực động lực quan trọng và bức thiết nhất để thúc đẩy sự phát triển của khoa học và kỹ thuật gần như không có. Thậm chí nhiều thành tựu của các viện và các phòng nghiên cứu không thể đi vào đời sống, không đưa ra áp dụng được vào thực tế sản xuất. Hậu quả là khoa học và kỹ thuật và sản xuất không tìm được sự phối hợp hài hoà với nhau, hỗ trợ lẫn nhau phát triển. Phía sản xuất thì bằng lòng với cái cũ, cách làm cũ, trong khi đó khoa học và kỹ thuật lại thiếu một môi trường đầu tư đúng mức, hợp lý và mang lại hiệu quả cao.

    Sau mười lăm năm tiến hành công cuộc đổi mới cùng với việc chuyển nền kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường thì khoa học và kỹ thuật nước ta bước đầu có nhiều chuyển biến tích cực. Khoa học và kỹ thuật đã thực sự phát huy được vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá như Đảng và nhà nước ta đã khẳng định : “Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và kỹ thuật “. Cho tới nay, nước ta đã có một tiềm lực khoa học và kỹ thuật đáng kể, lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật tương đối đông đảo với trên 1,1 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng ; 30 000 cán bộ có trình độ trên đại học ,trong đó có trên 10 000 thạc sĩ, khoảng 12 000 tiến sĩ và trên 600 tiến sĩ khoa học, hơn 45 000 cán bộ khoa học làm việc trong khu vực nghiên cứu khoa học, 20 000 cán bộ giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng,

    • 000 cán bộ khoa học làm việc trong khu vực sản xuất và khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật. Bình quân, có 190 cán bộ khoa học trên 10 000 dân. Về trình độ chuyên môn, cơ cấu tỷ lệ cán bộ có trình độ như sau: 28,6 % cao đẳng, 68,92 % đại học, 1,49 % thạc sĩ, 0,93% tiến sĩ tức là có 1 tiến sĩ thì có 1,61 thạc sĩ, 74,4 đại học và 30,9 cao đẳng. Thực tế cho thấy rằng, với đội ngũ cán bộ này, khả năng tiếp thu là tương đối nhanh và làm chủ dược tri thức, kỹ thuật hiện đại trên một số nghành và lĩnh vực. Cùng với đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật đông đảo, chúng ta đã xây dựng được một mạng lưới với khoảng 1050 tổ chức khoa họcvà kỹ thuật thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có hơn 450 tổ chức ngoài nhà nước. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung tâm nghiên cứu, các

    phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin khoa học và kỹ thuật, thư viện cũng được tăng cường và nâng cấp.

    Cùng với quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật từng bước được đổi mới theo hướng mở rộng liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh; nhờ đó đã nâng cao được hiêụ quả hoạt động khoa học và kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, cho tới nay, nền khoa học và kỹ thuật nước ta vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, chưa đáp ứng được đúng và đủ nhu cầu của đất nước. Tuy số lượng cán bộ khoa học, kỷ thuật lớn nhưng tỷ lệ cán bộ nghiên cứu ứng dụng chỉ đạt tỷ lệ 4 người trên 1000 dân, xếp vào loại thấp nhất thế giới. Về cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật, do giáo dục nghề nghiệp kể cả trung học chuyên nghiệp và dạy nghề chưa được tập trung đẩy mạnh nên mối quan hệ của các lực lượng này vẫn còn chưa hợp lý, khoa học, do đó tạo nên xu thế bất lợi “nhiều thầy, ít thợ’’. Tỷ lệ giữa cán bộ khoa học kỹ thuật/ nhân viên kỹ thuật/ công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng hoặc chứng chỉ cũng chỉ là 1/ 1,04 / 8,86. Về cơ cấu lứa tuổi, tuổi bình quân của các cán bộ khoa học, kỹ thuật nước ta hiện nay là 40,2 ( trong đó nam 42,7 tuổi và nữ là 37,0 tuổi ). Trình độ càng cao, tuổi càng lớn đó là điều mang tính quy luật, tuy nhiên trong cơ cấu lứa tuổi của các loại hình trình độ, có thể quan sát thấy được một sự cách biệt đáng chú ý , đó là : Tuổi bình quân của các cán bộ khoa học và kỹ thuật có trình độ cao đẳng là 38,2 tuổi ; Đại học là 40,9 tuổi ; Thạc sỹ là 42,6 tuổi và tiến sỹ là 52,6 tuổi; Số cán bộ khoa học và kỹ thuật ở độ dưới tuổi 25 chỉ chiếm 9,06 % ; Trong khi số cán bộ khoa học và kỹ thuật ở độ tuổi trên 55 lên tới 13,55 %. Mặt khác, nhiều chính sách như chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách xuất nhập khẩu và chính sách kinh tế nói chung chưa khuyến khích cả khoa học và kỹ thuật lẫn sản xuất trong nước. Sự ứng dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong nước không mang lại lợi ích cao hơn ngoại nhập. Thêm đó, nguồn vốn chi cho hoạt động khoa học và kỹ thuật của nước ta là quá thấp, chỉ đạt khoảng 1 % ngân sách nhà nước. Chi phí cho nghiên cứu triển khai bình quân hàng năm cho mỗi cán bộ khoa học và kỹ thuật của ta cũng rất thấp, khoảng dưới 1000 USD. Có thể nói về trình độ kỹ thuật – kỹ thuật, so với các nước tiên tiến trên thế giới , chúng ta lạc hậu từ 50 đến 100 năm, so với các nước tiên tiến ở mức trung bình ta lạc hậu từ 1 đến 2 thế hệ.

    Với thực trạng đó, để khoa học và kỹ thuật nước ta thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu trong nền kinh tế xã hội của đất nước trong những năm đổi mới thì việc phát triển khoa học và kỹ thuật không chỉ được coi là tất yếu khách quan mà còn là một đòi hỏi bức thiết để đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    Về khoa học xã hội và nhân văn: trong thời kỳ đổi mới đã có những đóng góp tích cực vào việc phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn xây dựng XHCN ở nước ta. Cùng với các nghiên cứu lý luận cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đóng góp cho việc chuẩn bị các văn kiện Đảng, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ… thì khoa học xã hội và nhân văn còn hướng vào việc giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, bức xúc trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như : vấn đề toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, tác động cảu cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực đối với tăng trưởng của Việt Nam, các vấn đề về tôn giáo, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    Khoa học tự nhiên phát huy được thế mạnh, đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý thuyết mang tính ứng dụng cao, tiếp cận có hiệu quả một số bộ môn lý thuyết như toán, vật lý ứng dụng … ngang tầm với trình độ của thế giới. Cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học tự nhiên đem lại chất lượng cao khi mang vào ứng dụng như nghiên cứu thu và xử lý ảnh vệ tinh có độ phân giải cao để theo dõi tình trạng cháy rừng, kỹ thuật viễn thám, địa chất vật lý, thăm dò dầu khí …

    Khoa học và kỹ thuật đã có khả năng thích nghi và làm chủ nhiều kỹ thuật tiên tiến ngoại nhập trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là viễn thông, năng lượng, dầu khí, cơ khí lắp ráp xe máy, ôtô và các loại hàng điện tử dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng … Nhiều vấn đề cấp bách, có ý nghĩa quan trọng với quốc kế dân sinh do thực tiễn đặt ra đã được lực lượng khoa học và kỹ thuật nước ta nghiên cứu và đưa ra giải pháp hữu hiệu như : cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống thiên tai đặc biệt là phương án kiểm soát lũ ở các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long… Các giải pháp chống sa mạc hoá ở vùng ven biển miền Trung, sản xuất vắc xin phòng chống viêm gan B. Đặc biệt, trong các ngành nông nghiệp và thuỷ sản, khoa học và kỹ thuật góp phần lai tạo nhiều giống cây

    con có năng suất, chất lượng cao. Các giống lúa lai, ngô lai của Việt Nam chiếm lĩnh 65 % thị phần trong nước. Chúng ta còn nghiên cứu thành công kỹ thuật nuôi tôm sú nước mặn, nước lợ và nước ngọt, năng suất từ vài tạ trên một ha đã tăng lên 2 đến 3 tấn một ha. Nhờ có khoa học và kỹ thuật mà ngành nông nghiệp đã tạo ra mức tăng sản lượng lương thực từ 30,6 triệu tấn ( 1997 ) lên 34,7 triệu tấn ( năm 2000)…

    Những thành quả trên bước đầu đã cho thấy tiềm năng to lớn của khoa học và kỹ thuật nước ta có thể tạo ra động lực thúc đẩy nhanh chóng quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước .

    3.3> Để khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    Mục tiêu của công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đến những năm 2020 là về cơ bản, nước ta trở thành một nước công nghiệp. Khác với các nước đi đầu, công nghiệp hoá đòi hỏi phải kéo dài hàng thế kỷ thì công nghiệp hoá ở nước ta đòi hỏi phải thực hiện rút ngắn, “ đi tắt , đón đầu ’’. Có như vậy chúng ta mới có thể rút ngắn được khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nước phát triển. Công nghiệp hoá không chỉ là quá trình chuyển trạng thái kinh tế – xã hội của đất nước từ trạng thái năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp, dựa vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công là chính sang trạng thái năng suất, chất lượng và hiệu quả cao dựa trên phương pháp sản xuất công nghiệp, vận dụng những thành tựu mới của khoa học và những kỹ thuật tiên tiến mà ta còn có thể xem công nghiệp hoá là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các nghành có hàm lượng khoa học và kỹ thuật cao, giá trị tăng cao. Vì thế nếu không đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật thì cũng không thể nói đến đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Cùng với đó, yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường cũng đòi hỏi chúng ta phải phát triển khoa học và kỹ thuật. Đây vừa là cơ hội, để tận dụng lợi thế của các nước phát triển sau, vừa là thách thức đòi hỏi phải vượt qua. Đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật đối với nước ta không chỉ bắt nguồn từ đòi hỏi bức xúc của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá và quá trình phát triển nền kinh tế thị trường mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng XHCN mà về bản chất là một kiểu định hướng tổ chức nền kinh tế xã hội vừa dựa trên

    nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên nguyên tắc và mục tiêu của CNXH. Muốn đạt được điều đó, chúng ta cần có sự nỗ lực và sáng tạo rất cao, mà nếu không đủ trình độ trí tuệ, không đủ năng lực nội sinh thì khó có thể thành công. Do vậy, đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật trở nên rất quan trọng và bức thiết. Muốn vậy, chúng ta phải thực hiện một số phương pháp sau :

    Một là, tạo ra được động lực cho sự phát triển khoa học và kỹ thuật. Động lực phát triển khoa học và kỹ thuật luôn luôn vận động từ hai phía : khoa học và sản xuất. Do vậy, chúng ta cần phải khuyến khích người sản xuất tự tìm đến khoa học, coi khoa học và kỹ thuật là yếu tố sống còn và phát triển của doanh nghiệp. Chỉ có như vậy mới có thể thúc đẩy nhu cầu về khoa học và kỹ thuật, các nhà khoa học mới có cơ hội để phát huy triệt để năng lực của mình . Để tạo được năng lực này, chúng ta cần phải :

    • Hình thành cơ chế chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp làm việc có hiệu quả bằng cách ứng dụng khoa học, triển khai kỹ thuật.
    • Cho phép các doanh nghiệp dùng vốn của mình để sử dụng và phát triển khoa học.
    • Sớm sửa đổi và hoàn thiện các chính sách miễn và giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng kỹ thuật tiên tiến, đổi mới kỹ thuật, đổi mới sản phẩm. Đánh thuế cao đối với các doanh nghiệp sử dụng kỹ thuật lạc hậu, tiêu tốn nguyên liệu và nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường …

    Đối với những người làm khoa học, chúng ta cần phải đảm bảo cho có đựơc mức thu nhập tương ứng với giá trị lao động mà họ đã bỏ ra, trang bị cơ sở vật chất cần thiết để làm việc, khuyến khích tạo điều kiện để cán bộ khoa học và kỹ thuật là người Việt Nam sống ở nước ngoài chuyển giao tri thức , kỹ thuật về nước .

    Hai là, tạo vốn cho hoạt động khoa học và kỹ thuật .Vốn là nguồn lực để phát triển khoa học và kỹ thuật. Nếu không có hoặc thiếu vốn thì đều không có đủ điều kiện để thực hiện các mục tiêu khoa học và kỹ thuật. Kinh nghiệm ở các nước cho thấy vấn đề phát triển khoa học và kỹ thuật thường được huy động từ hai phía nhà nước và khu vực doanh nghiệp, trong đó phần nhiều là từ các nhà

    doanh nghiệp. Tại hội nghị ban chấp hành TW khoá VIII lần hai, Đảng ta đưa ra chính sách đầu tư khuyến khích hỗ trợ phát triển khoa học và kỹ thuật, theo đó một phần vốn ở các doanh nghiệp được dành cho nghiên cứu, đổi mới kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực. Một phần vốn từ các chương trình kinh tế – xã hội và dự án được dành để đầu tư cho khoa học và kỹ thuật nhằm đẩy mạnh việc nghiên cứu, triển khai và đảm bảo hiệu quả của dự án. Tăng dần tỷ lệ chi ngân sách nhà nước hàng năm cho khoa học và kỹ thuật đạt không dưới 2 % tổng chi ngân sách nhà nước .

    Ba là, mở rộng quan hệ quốc tế về khoa học và kỹ thuật. Có thể nói, đây là điều kiện rất quan trọng để phát triển khoa học và kỹ thuật. Nếu không thực hiện có hiệu quả quan hệ hợp tác và trao đổi quốc tế về nghiên cứu – triển khai … thì không thể tiếp nhận được khoa học và kỹ thuật tiên tiến của nhân loại, không thể tranh thủ nhân tố ngoại sinh hết sức cần thiết để làm biến đổi các nhân tố nội sinh, thúc đẩy năng lực khoa học và kỹ thuật quốc gia. Chúng ta cần coi trọng hợp tác nhằm phát triển các nghành kỹ thuật cao, ưu tiên hợp tác đầu tư nước ngoài vào phát triển khoa học và kỹ thuật, chỉ nhập khẩu và tiếp nhận chuyển giao những kỹ thuật tiên tiến phù hợp với khả năng của chúng ta .

    Bốn là, tăng nguồn nhân lực khoa học và kỹ thuật. Nguồn nhân lực khoa học và kỹ thuật là lực lượng chủ yếu của công nghiệp hoá – hiện đại hoá và triển khai khoa học và kỹ thuật. Thiếu nguồn lực này thì không thể nói tới sự phát triển. Vì vậy, chúng ta cần đẩy nhanh việc đào tạo các cán bộ khoa học và kỹ thuật, nhất là cho các nghành kinh tế trọng yếu và các nghành kỹ thuật cao; trẻ hoá đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật trong các cơ sở nghiên cứu, các trường học và các cơ sở kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển thị trường nhân lực khoa học và kỹ thuật.

    Năm là, tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động khoa học – kỹ thuật. Hệ thống này đóng vai trò phân phối, tập trung và quản lý lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật, đảm bảo tính hiệu quả của các mục tiêu phát triển. Một trong những nguyên nhân khiến cho khoa học và kỹ thuật quốc gia hiện nay còn thua kém các nước trên thế giới là do tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật còn kém hiệu quả. Vì vậy, việc tiếp tục đổi mới hệ thống này theo hướng nhà nước thống nhất quản lý các hoạt động khoa học và kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược

    nhằm phát triển tiềm lực, đón đầu và phát triển những kỹ thuật mới có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ nền kinh tế.

    Những giải pháp này luôn có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Do vậy, việc thực hiện đồng bộ chúng sẽ mang lại hiệu quả cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    4> Chiến lược phát triển khoa học – kỹ thuật.

    Việt Nam coi khoa học – kỹ thuật là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là “ lực lượng sản xuất hàng đầu’’ trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá, phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai, ban chấp hành TW khoá VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ngày 24 -12 – 1996 đã vạch ra định hướng chung của chiến lược phát triển khoa học – kỹ thuật đến năm 2020 là :

    • Vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác- LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, đi sâu điều tra, nghiên cứu thực tế, tổng kết sâu sắc quá trình đổi mới đất nước. Xây dựng, không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về con đường đi lên CNXH của Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN.
    • Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng an ninh, nhanh chóng nâng cao trình độ kỹ thuật của đất nước. Coi trọng nghiên cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến các kỹ thuật nhập từ bên ngoài tiến tới sáng tạo ngày càng nhiều kỹ thuật mới ở những khâu quyết định đối với sự phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI.
    • Nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng, phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật của nhà nước: Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật có đủ đức, đủ tài, kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng các nguồn cung cấp thông

    tin, từng bước hình thành một nền khoa học và kỹ thuật hiện đại của Việt Nam có khả năng giải quyết phần lớn những vấn đề then chốt được đặt trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá .

    Để thực hiện được mục tiêu chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật , đưa khoa học và kỹ thuật nước ta thực sự trở thành nền tảng và động lực cho quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, trong giai đoạn tới chúng ta cần tập trung thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

    Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật để khoa học và kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu trong phát triển kinh tế xã hội. Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, quan tâm tới hiệu quả khi lựa chọn kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi nỗ lực của các doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các cá nhân tiếp cận, vận dụng, nghiên cứu và phát triển khoa học và kỹ thuật theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước .

    Đổi mới quản lý khoa học và kỹ thuật là ưu tiên phát triển kỹ thuật cao. Đây là một giải pháp có ý nghĩa đột phá. Trong giai đoạn tới, chúng ta cần chuyển đổi căn bản cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật hiện nay còn nặng về hành chính, bao cấp sang cơ chế mới dựa trên nguyên tắc hướng dẫn, phân cấp, hướng tới thị trường và phù hợp với đặc thù của hoạt động khoa học và kỹ thuật ; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân hoạt động khoa học và kỹ thuật. Đặc biệt chú trọng chính sách đối với cán bộ khoa học và kỹ thuật trong đào tạo, tuyển dụng, đãi ngộ nhằm tạo động lực thu hút và khuyến khích nhân tài cống hiến cho sự nghiệp khoa học và kỹ thuật. Đồng thời cần sắp xếp lại các tổ chức khoa học và kỹ thuật phù hợp với từng loại hình hoạt động và định hướng ưu tiênvề phát triển khoa học và kỹ thuật.

    Xây dựng và phát triển thị trường khoa học và kỹ thuật. Trước hết cần xây dựng năng lực đổi mới kỹ thuật và tạo nhu cầu mạnh mẽ từ phía doanh nghiệp thông qua việc tăng cường hỗ trợ của nhà nước nhằm nâng cao năng lực đổi mới kỹ thuật của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng sản phẩm khoa học và kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống như : dành tỷ lệ thích đáng kinh phí khoa học và kỹ thuật của nhà nước cho việc hỗ trợ, hoàn thiện sản phẩm nghiên

    cứu có khả năng thương mại hoá, hoàn thiện quy trình, quy phạm giám định về độ tin cậy, chất lượng, an toàn và giá cả của kỹ thuật trước chuyển giao. Phát triển các dịch vụ môi giới về thị trường khoa học và kỹ thuật, kể cả nước ngoài. Phát triển các tổ chức tư vấn khoa học và kỹ thuật, dịch vụ môi giới về kỹ thuật, cung cấp thông tin thị trường khoa học và kỹ thuật. Xây dựng các chợ kỹ thuật ( techmart ) làm cầu nối giữa cung và cầu của kỹ thuật. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho phát triển thị trường khoa học và kỹ thuật, đặc biệt là các văn bản pháp luật về bảo vệ sở hữu trí tuệ.

    Phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật, tập trung đầu tư xây dựngcác lĩnh vực khoa học và kỹ thuật trọng điểm quốc gia. Có như vậy mới nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với khu vực và quốc tế, phục vụ có hiệu quả cho mục tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn tới. Thực hiện xã hội hoá đầu tư cho khoa học và kỹ thuật. Một mặt tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước để xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất kỷ thuật và các nguồn lực cho các hướng khoa học và kỹ thuật ưu tiên trọng điểm quốc gia. Mặt khác xoá bỏ bao cấp tràn lan, tạo môi trường thuận lợi để huy động nguồn lực xã hội nhằm gắn kết khoa học và kỹ thuật với sản xuất và đời sống.

    Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật có vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt với nước ta hiện nay. Định hướng giải pháp về hợp tác khoa học và kỹ thuật trong những năm tới là tạo ra cơ chế, chính sách thuận lợi để các tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và kỹ thuật được học tập, đào tạo, giao lưu, hợp tác nghiên cứu với thế giới và khu vực. Đồng thời khuyến khích, thu hút cán bộ khoa học Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, liên kết, hợp tác phát triển khoa học và kỹ thuật tại Việt Nam . Chúng ta đang đứng trước những thách thức to lớn trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học và kỹ thuật cũng như nền kinh tế dựa trên tri thức. Nhưng điều này càng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học và kỹ thuật trong tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá và phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Để cho khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá, chúng ta cần phải quán triệt quan điểm phát triển khoa học và kỹ thuật trong toàn Đảng, toàn dân.

    Kết luận.

    Công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay đang bước vào thời kỳ phát triển mới – đẩy mạnh công nghiêp hóa, hiện đại hoá. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị lớn lao của học thuyết Mác – Lênin về hình thái kinh tế – xã hội. Đây là cơ sở lý luận cho đường lối cách mạng của Đảng cộng sản, so sánh con đường cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới XHCN. Khi tiến hành phân tích hình thái kinh tế – xã hội TBCN, CácMác đã khẳng định: Sự phát triển của những hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, song không phải quốc gia, dân tộc nào cũng nhất thiết phải trải qua tất cả các hình thái đã có trong lịch sử. Do những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định, một quốc gia, một dân tộc có thể bỏ qua một hình thái kinh tế -xã hội nhất định nào đó. Với Việt Nam, con đường phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường phát triển tất yếu, khách quan hợp quy luật và về thực chất đó chính là quá trình thực hiện Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước theo phương thức “rút ngắn thời gian , vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt” Nhằm tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực nhằm phát triển nhanh lực lượng sản xuất và xây dựng nền kinh tế hiện đại. Mọi sự phát triển rút ngắn đều phải nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra sự phát triển vượt bậc thậm chí nhảy vọt của lực lượng sản xuất .Tuy nhiên dù phát triển tuần tự hay phát triển rút ngắn thì cũng đều là sự phát triển liên tục của lực lượng sản xuất. Tại đại hội IX- đại hội đầu tiên trong thế kỷ XXI, dựa trên lý luận và thực tiển sau mười lăm năm đổi mới đất nước theo định hướng XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin Đảng ta đã khẳng định :”con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu , thừa kế những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN,đặc biệt về khoa học và kỹ thuật , để phát triển nhanh lực lượng sản xuất , xây dựng nền kinh tế hiện đại.”(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB chính trị quốc gia HN 2001, Trang 84) . Như vậy trong sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học- kỹ thuật hiện

    đại. Hơn nữa cần biết phát huy những lợi thế của đất nước và tận dụng được những khả năng vốn có , đồng thời tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và kỹ thuật. Có như vậy chúng ta mới có thể phát huy được nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần vốn có của Việt Nam để biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp như CacMác đã từng dự báo và làm cho khoa học, kỹ thuật trở thành nền tảng, động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước .

    DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình triết học Mác-Lênin. NXB chính trị quốc gia- 2002
    1. Phân viện báo chí và tuyên truyền-Bộ môn khoa học luận. Danh từ, thuật ngữ khoa học, kỹ thuật và khoa học về khoa học. NXB khoa học kỹ thuật. Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây-2002
    1. 3. Khoa học và kỹ thuật thế giới. Kinh nghiệm và định hướng chiến lược. NXB bộ khoa học, kỹ thuật và môi trường-2002. Trung tâm thông tin tư liệu khoa học và kỹ thuật quốc gia .
    1. Khoa học và kỹ thuật Việt Nam 1996-2000. NXB Bộ khoa học, kỹ thuật và môi trường -2001.
    1. GS,TS: Nguyển Trọng Chuẩn; PGS,TS: Nguyễn Thế Nghĩa; PGS,TS: Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên). Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam. lý luận và thực tiễn. NXB chính trị quốc gia Hà Nội- 2002
    1. PGS,TS: Đặng Hữu Toàn. Chủ nghĩa Mác-Lênin và công cuộc đổi mới

    Việt Nam

    1. Đỗ Đức Thịnh. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Phát huy lợi thế so sánh. Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á. NXB chính trị quốc gia-1999
    1. Tạp chí cộng sản tháng 10-2003
    9.
    10.     Phần mở đầu

     

    MỤC LỤC

     

    ………………………………………………………….. 1

     

    Chương I : Nguồn gốc và cơ sở lý luận ………………………………. 4

     

    1 . Lực lượng sản xuất trong lý luận hình thái

     

    kinh tế xã hội của Mác ……………………………………………….. 4

     

    2 . Vai trò tất yếu của khoa học và kỹ thuật

     

    trong nền kinh tế toàn cầu ……………………………………………7

     

    Chương II : Công nghiệp hoá – hiện đại hoá Việt Nam ……………..11

     

    1. Sự hình thành và phát triển công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở Việt Nam. 1.1 Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là gì ?……………………………11

    1.2  Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình tất yếu

    của đất nước ………………………………………………………13

    1. Tính đặc thù của công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở Việt Nam …………18
    1. Khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất

    quan trọng hàng đầu …………………………………………………….23

    3.1 Khoa học và kỹ thuật là nền tảng và động lực của

    sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá…………………………23 3.2 Khoa học và kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế – xã hội

    trong những năm đổi mới………………………………………….26 3.3 Để khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành

    lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình Công nghiệp hoá,

    hiện đại hoá đất nước ………………………………………………29

    1. Chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật ………………………….32

     

    Kết luận …………………………………………………………………36


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-th%E1%BB%9Di-gian-qua-v%C3%A0-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-trong-th%E1%BB%9Di-gian-t%E1%BB%9Bi-nh%E1%BA%B1m-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đề án Kinh tế đầu tư

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia là một trong những vấn đề hàng đầu mà nhà đầu tư quan tâm khi quyết định thực hiện đầu tư.

    Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam đã có những bước phát triển, đáp ứng phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và khẳng định được vai trò của lĩnh vực này đối với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng.

    Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của chúng ta đã và đang bộc lộ hạn chế về nhiều mặt, chẳng hạn sự xuống cấp của hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, phí bưu điện khá cao… Dẫn đến vai trò của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bị suy giảm, xuất hiện nguy cơ về sự giảm sút của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Xuất phát từ thực tiễn trên, với sự tìm hiểu và nghiên cứu của mình, hơn nữa được hướng dẫn, giúp đỡ của Thầy Minh em đã nhận thức được rõ vai trò và tầm quan trọng của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . Đây là lý do em chọn đề tài:

    “Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài “

    Nhưng vì cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một khái niệm riêng bao gồm một hệ thống các công trình như cấp điện, cấp nước, giao thông, nhà ở, thông tin liên lạc…mà thời gian nghiên cứu hạn chế, nên em chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu một số bộ phận như cấp điện, giao thông, thông tin liên lạc.

    Kết cấu bài viết ngoài phần mở đầu và phần kết luận còn bao gồm:

    Trang 1

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Chương I: Cơ sở lý luận chung.

    Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua.

    Chương III: Phương hướng và giải pháp đối với vấn đề đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút FDI trong thời gian tới.

    Do trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế, bài viết này của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy giáo nhằm giúp đỡ em trau dồi và nắm chắc hơn những gì mình đã học, những gì mình có thể vận dụng cho thực tiễn.

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

    I.                   MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển

    Trong thời đại ngày nay, đầu tư đã trở thành một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia. Thuật ngữ “đầu tư ” được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, song tựu chung lại có thể coi “đầu tư là việc bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng các nguồn lực khác trong hiện tại để thực hiện một hoạt động nào đó để tạo ra, khai thác sử dụng tài sản nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai”.

    Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, tạo ra những tài sản mới cũng như duy trì được những tiềm lực sẵn có của nền kinh tế.

    Đây là hoạt động không những chỉ tạo ra tài sản mà còn duy trì hoạt động của những tài sản đã có. Những tài sản đó bao gồm cả tài sản vật chất và phi vật chất. Do vậy, kết quả của hoạt động đầu tư khi được xem xét từ góc độ nền kinh tế thì nó còn phải làm tăng thêm tài sản mới cho nền kinh tế.

    2. Khái niệm và đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    2.1. Khái niệm.

    • Khái niệm: Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.

    Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động chưa có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bên cạnh đó, chính

    Đề án Kinh tế đầu tư

    vì sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 3. Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển.

    * Phân loại

    Căn cứ vào chức năng, tính chất và đặc điểm người ta chia các công trình cơ sở hạ tầng thành 3 loại

    • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
    • Cơ sở hạ tầng xã hội.
    • Cơ sở hạ tầng môi trường

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc.

    Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các cồn trình phục vụ cho các địa điểm dân cư như nhà văn hoá, bệnh viện, trường học, nhà ở và các hoạt động dịch vụ công cộng khác. Các công trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ.

    Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo về, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người. Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

    2.2.Đặc điểm

    Trang 4

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Hệ thống cơ sở hạ tầng có nhiều đặc điểm riêng biệt khác với hệ thống kinh tế xã hội khác. Đứng dưới góc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cần xem xét các đặc điểm sau:

    • Bản thân hệ thống cơ sở hạ tầng là một tập hợp các cồn trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài thường là thông qua các hoạt động kinh tế khác để thu hồi vốn.

    Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động một cách năng động và chịu sự chi phối của lợi nhuận, nơi nào có lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn nhanh thì sẽ được đầu tư nhiều và ngược lại. Vì thế, lĩnh vực kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật thường được các nhà đầu tư ít quan tâm hơn là dịch vụ kinh doanh buôn bán khác.

    • Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều đặc tính của hàng hoá công cộng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng thì không chỉ có sự tham gia của chính phủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư nhân, còn hàng hoá công cộng về cơ bản do chính phủ cấp, chính phủ là người đứng ra bỏ vốn đầu tư xây dựng mà chủ yếu là vốn từ ngân sách, tư nhân thì rất ít, đầu tư thì các công trình này thường có vốn đầu tư hơn, thời gian thu hồi vốn chậm, thậm trí rất khó thu hồi vốn.
    • Hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật mang tính kỹ thuật cao, quy mô lớn nó không chỉ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người… trong hiện tại và cả trong tương lai nữa. Mặt khác thời gian tồn tại của các công trình cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ là rất lâu dài. Vì thế những sai lầm trong bố trí địa điểm, áp dụng công nghê sẽ đều phải trả giá rất đắt. Do đó, yêu cầu khi xây dựng cơ sở hạ tầng bên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng và dự kiến được những biến động trong tương lai.

    Trang 5

    Đề án Kinh tế đầu tư

    • Các công trình cơ sở hạ tầng trên phạm vị lãnh thổ có chức năng phục vụ sản xuất và đời sống. Tuy vậy, nếu xét về bản chất kết quả hoạt động của các cơ sở hạ tầng lại là từ dịch vụ chứ không phải là sản xuất vật chất cụ thể chẳng hạn dịch vụ bưu chính viễn thông, giáo dục đào tạo đây chính là điểm điểm phân biệt giữa cơ cở hạ tầng với các ngành sản xuất vật chất khác.

    3.                 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    3.1. khái niệm.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư.

    Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên.

    3.2. Vai trò.

    Việc tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đi sau. Đứng dưới góc độ nước nhận đầu tư, FDI có một vai trò sau:

    • FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước kem phát triển.

    Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái vòng luẩn quẩn, đó là: thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và hậu quả lại là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn nhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại.

    Trang 6

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của vòng luẩn quẩn này. Trở ngại lớn nhất đối với các nước này là vốn đầu tư, tuy nhiên để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích luỹ nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sự tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó FDI là cú huých đột phá cái vòng luẩn quẩn đó.

    Mặt khác theo lý thuyết hai lỗ hổng của Cherery và Strout, có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư gọi là lỗ hổng tiết kiệm; (2) Thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu gọi là lỗ hổng thương mại. Hầu hết ở các nước đang phát triển, hai lỗ hổng trên là rất lớn. Vì vậy FDI là nguồn quan trọng không chỉ bổ xung sự thiếu hụt về vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt ngoại tệ nói riêng.

    • Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến của các nươc đi trước.

    Đứng về lâu dài, đây là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư, FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật, trong các nước nhận đầu tư như là góp phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm…thúc đẩy sự phát triển của các nghề mới đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng đối với quá trình công nghệ hoá – hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư.

    FDI mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua các chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo ra những kỹ sư, nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.

    Trang 7

    Đề án Kinh tế đầu tư

    * Lợi ích về công ăn việc làm

    Thực ra đây là một tác động kép: tạo thêm công ăn việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước.

    FDI ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội tạo việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hoá dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước hoặc thuê họ qua các hợp đồng gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã góp phần tích cực tạo ra công ăn việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chế biến.

    * Thông qua FDI các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế

    giới.

    Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí có thể cạnh tranh được thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Trong khi đó, thông qua FDI các nước này có thể thâm nhập vào thị trường thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở những thanh thế và uy tín của họ về chất lượng và kiểu dáng của các sản phẩm, việc giữ đúng thời hạn…

    Với những vai trò của FDI đã trình bày ở trên, một lẫn nữa khẳng định FDI là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia và được coi là nguồn lực quốc tế cần được khai thác để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết về vốn. Một cách tiếp cận thông minh để bước nhanh trên con đường phát triển.

    Trang 8

    Đề án Kinh tế đầu tư

    3.3 Các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn của các nước đang phát triển đối với FDI.

    Nhiều nghiên cứu gần đây đã đưa ra nhận xét: Thành công của các nước đang phát triển trong thu hút FDI có thể được đặc trưng bởi sự kết hợp hài hoà giữa các nhân tố về sự ổn định chính trị, kinh tế – xã hội. Nó bao gồm một loạt các yếu tố như tăng trưởng nhanh, sự phát triển của thị trường trong nước, những điều kiện thuận lợi và tiềm năng của các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên và con người, điều kiện hoàn hảo về cơ sở hạ tầng

    Vấn đề đặt ra là liệu các nhân tố như vậy có thực sự đóng góp vào việc thu hút đối với đầu tư nước ngoài hay không.

    Trong thực tế không có một lý thuyết đơn nhất nào có khả năng khái quát một cách toàn diện hiện tượng FDI và các điều kiện cần thiết để thu hút nó. Trong một chuẩn mực nhất định, các yếu tố quyết định tính hấp dẫn đối với FDI của mỗi nước là khác nhau, mối liên hệ giữa các yếu tố này với sự vận động của từng nền kinh tế cũng khác nhau. Mặc dù không phải là lý thuyết chuyên về đầu tư quốc tế nhưng “hệ phương pháp luận về sản xuất quốc tế thuộc phái trung dung” (J.H Dunning 1988) đã nêu ra hai tiền đề quan trọng.

    • Đó là các yếu tố thuộc về tiền năng các nguồn lực của nền kinh tế và khả năng kết hợp một cách linh hoạt các nguồn lực đó.
    • Những nhân tố thuộc thị trường nhằm vào việc tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong các nhân tố thuộc loaị này.

    Đứng trên góc độ các nhà đầu tư, nhân tố này rất quan trọng bởi đó là chỉ dẫn đại thể về mức độ hấp dẫn của nước chủ nhà. FDI sẽ được đẩy mạnh khi có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, sự phát triển của FDI tại Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh duyên hải là một ví dụ. Điều này cũng phù hợp với các

    Trang 9

    Đề án Kinh tế đầu tư

    nghiên cứu gần đây đối với các thành phố duyên hải của Trung Quốc: chính vì hệ thống giao thông thuận lợi, khoảng cách đến các cảng lớn ngắn đã thu hút mạnh FDI vào khu vực này. ngược lại các nghiên cứu tại phía Nam Sahara cho thấy hệ thống đường xá kém phát triển, liên lạc viễn thông xấu không có khả năng thu hút FDI vào khu vực này.

    Qua việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến cơ sở hạ tầng và FDI chúng ta đã phần nào thấy được mối quan hệ giữa hệ thống cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI. Song để hiểu rõ hơn mối quan hệ này chúng ta cần phải nghiên cứu tiếp.

    II. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN FDI.

    1. Đặc điểm của hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng .

    Các công trình cơ sở hạ tầng khi xây dựng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn lâu và thường là việc thu hồi vốn phải thực hiện gián tiếp thông qua các ngành kinh tế khác. Do vậy, khi tiến hành đầu tư vào lĩnh vực này cần phải tính toán kỹ vấn đề kinh tế kỹ thuật trong xây dựng và sử dụng các công trình đó. Công tác thăm dò tài nguyên, xác định nhu cầu sử dụng cơ sở hạ tầng mỗi vùng là công việc thiết thực trong quá trình đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả của công trình. Bên cạnh đó, phương hướng phát triển của vùng, lãnh thổ cũng là nhân tố quyết định đến việc bố trí đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng của vùng.

    Với vai trò là nền tảng tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển, là yếu tố tạo nên tính hấp dẫn đối với FDI nên khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng phải lựa chọn các công trình có hàm lượng kỹ thuật cao, đây là vấn đề đảm bảo tính hiệu quả. Nếu tồn tại tình trạng lạc hậu cac cơ sở hạ tầng thì công trình không còn

    Trang 10

    Đề án Kinh tế đầu tư

    mang tính hiệu quả nữa, thậm chí ảnh hưởng tới các ngành khác và nhịp độ thu hút FDI là điều không tránh khỏi.

    Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, xong đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng thì được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp, chủ thể tham gia có thể là các chủ thể nươc sở tại hoặc nước ngoài. Dưới hình thức chủ đầu tư bỏ vốn và trực tiếp tham gia điều hành, quản lý công trình.

    Trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ sở hạ tầng hết sức yếu kém, cần được củng cố và hoàn thiện. Tuy nhiên vồn đầu tư cho cơ sở hạ tầng hết sức hạn hẹp. Khu vực tư nhân không thể đáp ứng nhiều về vốn trong lĩnh vực này. Do vậy, hình thức BOT ra đời là giải pháp tốt nhất để xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhưng dù hoạt động đầu tư có được tiến hành dưới hình thức nào đi chăng nữa thì hiệu quả đầu tư không được coi nhẹ. Bởi đây là vấn đề hết sức phức tạp, bao gồm những nội dung mang tính tổng hợp.

    Để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và vốn đầu tư, người ta sử dụng mô hình Harrod- bomar. Nếu gọi K là tỷ số giữa vốn và đầu tư (ICOR), ta có:

    K =

    Trong đó:

    It là vốn đầu tư

    Yt, Yt+1 sản lượng năm t & t+1.

    -> ICOR là thước đo năng lực của vốn đầu tư, nó nói lên rằng để tạo ra một đơn vị sản lượng cần bao nhiêu vốn đầu tư. ICOR càng nhỏ chúng tỏ hiệu quả đầu tư càng lớn và ngược lại.

    Trang 11

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Theo ước tính, năm 2000 hệ số ICOR mọt số ngành nước ta như sau:

    Nông – lâm – nghiệp 1,5 – 2,5
    Công nghiệp 2,5 – 3,5
    Cơ sở hạ tầng 3 – 5

    Như vậy, qua đó ta thấy ICOR của lĩnh vực cơ sở hạ tầng là cao hơn so với các ngành khác. Song tại sao chúng ta vẫn phải giành một vốn lớn cho cơ sở hạ tầng.

    2. Vai trò của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI.

    Cơ sở hạ tầng là một trong số các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn với FDI nên thực tế cũng cho thấy những quốc gia nào mà cơ sở hạ tầng yếu kém rất khó thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khi đã không thu hút được đầu tư nước ngoài thì khả năng tạo cơ sở hạ tầng cũng rất hạn chế. Do đó để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này cần đi trước một bước, tiến hành đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu FDI đặt ra với lĩnh vực này.

    Khi một thị trường mới xuất hiện, thời gian đầu luôn là thời kỳ thăm, ào ạt vào thời gian đầu là những công ty nhỏ, thậm chí có cả những môi giới đầu tư. Những đầu tư vào lúc này vốn không lớn, thời gian không dài và chủ yếu ở khu vực dịch vụ và sản xuất nhỏ. Trong khi đó, các nhà đầu tư lớn lại đứng ở ngoài quan sát để quyết định xem có đầu tư hay không.

    Điều này cũng có nghĩa: để thu hút được dòng FDI và nước chủ nhà cần phải chuẩn bị một môi trường đầu tư thuận lợi với các chính sách, quy tắc được nới lỏng theo hướng khuyến khích FDI, cải thiện cơ sở hạ tầng … Như vậy, để thu hút được FDI có rất nhiều việc phải làm, song điều quan trọng hơn là làm sao để dòng chảy đó được duy trì liên tục. Câu trả lời: phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bởi số lượng FDI có tăng lên hay không theo thời gian còn

    Trang 12

    Đề án Kinh tế đầu tư

    phụ thuộc vào sự thoả mãn thường xuyên về cơ sở hạ tầng như đường xá, giao thông vận tải, thông tin liên lạc. Tăng trưởng cao của FDI thường đi đôi với kế hoạch triển vọng về phát triển cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà. Malaixia với những dự án khổng lồ về xây dựng cơ sở hạ tầng cho đến năm 2020 của thủ tướng Mahathir, là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về thu hút FDI.

    Về vai trò của cơ sở hạ tầng, theo kết quả khảo của nhóm 25 nước bao gồm nước: Indonêxia, Hàn Quốc …. Trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương

    cho thấy những chỉ tiêu cụ thể như số máy điện thoại trên 100 người dân, mức độ hiện đại của hệ thống thông tin liên lạc, chất lượng của đường bộ, đường sắt … là một trong những điều hiện được xem xét để duy trì FDI ở nước này.

    Vì vậy, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với quá trình thu hút FDI. Và vốn đầu tư vào lĩnh vực này không đúng hướng và hợp lý thì sẽ làm mất đi một động lực quan trọng trong thu hút FDI. Để không rơi vào tình huống này. Chúng ta cần phải biết được thực trạng hiện nay của các công trình hạ tầng kỹ thuật, nắm bắt được những thành tựu đã đạt được và những mặt tồn tại của nó cũng như các yêu cầu của FDI đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do đó, ở phần sau chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT VÀ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI TRONG THỜI GIAN QUA

    Kể từ khi áp dụng chính sách “mở cửa” nền kinh tế vào cuối thập niên trước đến nay, Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế nổi bật. Chẳng hạn, từ một nước nghèo, nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào viện trợ nước ngoài, Việt nam đã vươn lên trở thành một trong số ít các quốc gia xuất khẩu gạo lớn

    Trang 13

    Đề án Kinh tế đầu tư

    nhất thế giới. Những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này ta nhờ một phần đóng góp không nhỏ của FDI. Có thể coi FDI như một trong các nguồn năng lượng quan trọng khởi động cho cỗ máy kinh tế Việt Nam đi vào quỹ đạo của sự tăng trưởng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây xu thế FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

    Có nhiều nguyên nhân để giải thích trình trạng trên, xong theo các chuyên gia thì việc lợi thế so sánh của Việt nam đang bị giảm dần là một trong những lý do chính dẫn đến trình trạng trên.

    Muốn phát huy được những lợi thế so sánh, điều đầu tiên chúng ta cần phải làm là nắm được những yêu cầu của FDI. Đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng vậy, FDI có những yêu cầu riêng đối với hệ thống này.

    1. NHỮNG YÊU CẦU CỦA FDI ĐỐI VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT. Theo sự thăm dò ý kiến của hơn 3000 bạn đọc của kinh tế Viễn Đông ở
    • nước Châu Á, được công ty ASIA Studies LTD Hồng Kông thưc hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1995. Hầu hết các doanh nghiệp khi được hỏi “Những trở ngại lớn nhất cho việc làm ăn ở các nền kinh tế đang nên như Việt nam, Trung Quốc, Myanma là gì ?” thì những khó khăn được độc giả đưa ra là:
    • Sự bất ổn không thể đoán trước được là trên 70 %
    • Sự bảo đảm về pháp luật là trên 70%
    • Tệ quan liêu trên 70%
    • Nạn tham nhũng trên 60%
    • Cơ sở hạ tầng phù hợp trên 60%

    Như vậy, sự phù hợp của cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với quá trình thu hút vốn FDI. Riêng đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì sự phù hợp

    Trang 14

    Đề án Kinh tế đầu tư

    mà FDI yêu cầu cần phải được xem xét ở hai khía cạnh: Sự hiện đại, đồng bộ và một mức giá hợp lý.

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư đều nhằm 3 mục tiêu chính, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm hiệu quả.

    Do đó, một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ sẽ la ba đỡ cho hoạt động đầu tư của họ. Thực tế cho thấy, ở nước ta trong thời gian qua hệ thống cơ sở hạ tàng kỹ thuật còn tồn tại sự mất cân đối giữa các vùng, miền đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động đầu tư nước ngoài. Có nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào các vùng miền núi để khai thác tài nguyên phải bỏ dở cũng chỉ vì lú do ở đó chưa có điện, thêm vào đó đường đi đến các vùng này là khó khăn.

    Vì vậy, tính đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đồng bộ giữa mạng và nguồn, giữa đường sắt và đường bộ, giữa cảng với đường sắt, đường bộ…)là điều kiện cần làm cho hoạt động đầu tư được thuận lợi. Đồng thời hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải đạt được sự hiện đại cần thiết, sự hiện đại đó sẽ đem lại hiệu quả cao trong hoạt động đầu tư.

    Tình hình thu hút FDI tại Bình Dương xẽ là một minh chứng rõ ràng nhất cho yêu cầu này. Nếu không tính đến các dự án dầu khí ở tỉnh Quảng Ngãi thì Bình Dương là tính dẫn đầu cả nước về thu hút FDI. Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài đến nay, Bình Dương đã có 227 dự án có vốn FDI với tổng vốn đầu tư 1,75 tỷ USD, hàng năm tạo ra giá trị lượng hàng hoá trên 110 tỷ USD. Vậy bằng cách nào Bình Dương đã hấp dẫn được các nhà đầu tư ? .

    Bình Dương không chỉ trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư với chính sách thông thoáng, cởi mở, thủ tục hành chính nhanh gọn mà còn đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại cho các nhà đầu tư .Với hệ thống đường giao thông từ Bình Dương tới TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh khác có mặt đường rộng

    Trang 15

    Đề án Kinh tế đầu tư

    3,6 m với tổng chi phí 100 tỷ đồng và nhiều tuyến đường đã được nhựa hoá,

    100% xã đều có đường ôtô.

    Bưu chính viễn thông và điện nước luôn được đảm bảo cho nhu cầu thông tin liên lạc thông suốt và sử dụng điện năng trong sinh hoạt và sử dụng đến nay đã có 100% xã có điện và điện thoại.

    Tuy nhiên, để hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của FDI thì sự đồng bộ, hiện đại thôi là chưa đủ. Đi liền với nó phải có một mác giá hợp lý cho các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Sở dĩ các nhà đầu tư phải tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài là do các nguồn lực trong nước họ trở nên khan hiếm. Vì vậy, chi phí cho các nguồn lực này là rất cao. Điều này đã làm cho chi phí các yếu tố đầu vào tăng lên, dẫn đến lợi nhuận bị giảm sút. Như vậy, vấn đề mấu chốt là chi phí các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh. Nơi nào có chi phí thấp tất yếu dòng đầu tư sẽ chảy về đó. Bản thân các nhà đầu tư cũng hiểu rằng chi phí đầu vào thấp là tốt nhưng thấp quá không phải đã là tốt. Nếu thấp quá, các nước nhận đầu tư sẽ không có điều kiện tích luỹ. Khi đó, các yếu tố cần thiết cho hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ không được đảm bảo. Xong cũng không được quá cao, nếu cao hơn chi phí ở nước họ thì cũng chẳng cần đầu tư ra từ nước ngoài làm gì.

    Với các nước nhận đầu tư, điều này dường như là vô lý nhưng thực ra nó lại rất có lý bởi đó chính là chi phí cơ hội cho việc tiếp nhận đầu tư.

    Đối với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giá cả cho việc sử dụng các dịch vụ này được coi là yếu tố đầu vào và được xác định trên cơ sở có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng cũng không được quá thấp. Mức giá này không đứng một cách cô lập, bên cạnh nó phải là sự đồng bộ, hiện đại của hệ thống này. Dù cho đó là những khía cạnh khác nhau xong giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong đó giá cả dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật là yếu tố

    Trang 16

    Đề án Kinh tế đầu tư

    quyết định. Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật dù hiện đại, đồng bộ đến mấy mà chi phí cho cho những dịch vụ này quá cao thì hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó cũng không có tác dụng lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại cũng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại đồng bộ đó nhưng nước chủ nhà lại đưa ra một mức giá quá thấp thì sẽ không có điều kiện tích luỹ để đầu tư phát triển chánh hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó, làm cho nó trở nên lạc hậu. Từ đó cũng lại không có khả năng thu hút FDI.

    Do đó, yêu cầu của FDI đối với nước chủ nhà là phải xác định được một mốc giá hợp lý bên cạnh sự hiện đại, đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Trong thời gian qua, ở Việt nam các nhà đầu tư nước ngoài than phiền rất nhiều về giá cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mức giá này theo các nhà đầu tư là quá cao, đặc biệt là giá cước viễn thông, hàng không và hàng hải. Đây được coi là một trong những nguyên nhân làm cho FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

    Theo số liệu điều tra của WB, cước phí vận tải container bằng đường biển từ Nhật về các cảng ở Việt Nam thường cao hơn gấp hai dến ba lần so với đến Singapore, Thái Lan, và Philippines. Chẳng hạn cước phí vận chuyển một container 20 feet từ Tokyo đến Singapore khoảng 500 USD, đến Bangkok khoảng 450-750 USD trong khi đến cảng Đà Nẵng trên 1 500 USD, Hải Phòng từ 1000 đến 1500 USD và cảng Sài Gòn là gần 900 USD.

    Nguyên nhân là các cảng của Việt nam không thể đón các tàu lớn và do khối lượng hàng hoá ít nên phải trung chuyển qua Singapore hay Hồng Kông, đôi khi để đi đến được Đà Nẵng hay Hải Phòng các tàu phải ghé qua TP.HCM để tiếp nhiên liệu

    Trang 17

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Tương tự, cước phí vận tải hàng không cũng vào loại đắt nhất trong khu vực làm cho việc đi lại, vận chuyển hàng hoá bằng đường không chậm phát triển.

    Về giá dịch vụ viễn thông, sở dĩ phải thu giá cước điện thoại quốc tế cao là để bù lỗ cho dịch vụ bưu chính và duy trì mạng viễn thông mà quốc tế cao. Còn cước nội tỉnh lại rất thấp hay nói cách khác: người có nhiều tiền nhất phải trả giá cao nhất.

    Như vậy, để thu hút FDI thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải đáp ứng được hai yêu cầu: sự đồng bộ, hiện đại và một mức giá hợp lý.Trong hai yêu cầu trên có một yêu cầu chúng ta chưa đáp ứng được, đó là việc xác định một mức giá hợp lý. Còn trên thực tế yêu cầu về sự hiện đại , đồng bộ có được đảm bảo hay không. Để trả lời câu hỏi này thì phải biết được hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta hiện nay và ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    II.               THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam nhìn chung còn yếu kém trên nhiều phương diện cả về số lượng và chất lượng, lại chưa được xây dựng theo một quy hoạch thống nhất dẫn đến tình trạng khập khiễng, chắp vá và chưa đồng bộ đang là vấn đề lớn ảnh hưởng đến nhịp độ thu hút FDI.

    1. Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam

    1.1 Hệ thống giao thông.

    Trang 18

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Hệ thống giao thông Việt nam được đưa vào khai thác từ hơn 100 năm nay. Trong cả thời gian này không được đầu tư đúng mức để bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp. Vì vậy sau một thời gian dù khai thác và trải qua hai cuộc chiến tranh, đến nay hệ thống giao thông Việt nam không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế

    Từ cuối những năm 80, Chính phủ Việt nam đã dành ưu tiên nguồn vốn NSNN và tín dụng ra ưu đãi đầu tư nước ngoài cho các dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới đường bộ, đường sắt, cảng biến và hàng không. Đến nay, nước ta đã có một mạng lưới giao thông khá đa dạng về số lượng, mật độ và loại hình phong phú. Xong chất lượng còn chưa cao.

    • Đường bộ:

    Mạng lưới đường bộ Việt Nam dài khoảng 210 000 km trong đó quốc lộ và tỉnh lộ là 56 000 km, mật độ đường bộ trên 100 km2 là 16,16km. Tỷ số này không phải là thấp so với các nước trong khu vực.

    Về hệ thống : có 3 trục Bắc–Nam trong quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cà Mau dài 2300 km. Bên cạnh đó chúng ta đã xây dựng được một số công trình giao thông quan trọng, công trình có kỹ thuật cao như cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, tuyến đường Thăng Long-Nội Bài, đường 5 … củng cố nâng cấp một số tuyến giao thông nội thị ở các thành phần phố lớn. Đang khởi công xây dựng công trình trọng điểm, cải thiện các đầu mối và các trục chính ở các vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ, Nam Bộ và Miền Trung.

    Tuy nhiên, đường bộ của ta còn hẹp mặt đường xấu và mới có 60% quốc lộ và tính lộ được nhựa hoá. Theo kết quả điều tra cho đến năm 95 trên địa bàn cả nước.

    – Đường rải nhựa chiếm 22%
    • Đường nhựa bán thành nhập 38%

    Trang 19

    Đề án Kinh tế đầu tư

    – Đường đá 15%
    – Đường đất 25%
    • Đường sắt:

    Mật độ đường sắt nước ta là 0,8 km/100km2 trong đó đường sắt Bắc Nam dài 1726 km, tuyến Hà nội – Lào Cai 230 km, tuyến Hà nội-Hải phòng 100km. Hai tuyến trên vận tải quốc tế Hà nội – Trung Quốc là Hà Nội-Đồng Đăng -Bắc Kinh và Hà nội-Lào Cai-Côn Minh. Đường sắt Bắc Nam đang được củng cố, nâng cấp nhưng hệ thống này đang ở vào thế độc tuyến. Chỉ cần một ách tắc nhỏ tại một địa điểm sẽ làm cho cả hệ thống phải tạm dừng hoạt động .

    • Đường biển

    Hệ thống cảng phân bố đều ở cả ba miền với bờ biển dài 3.200 km, quy mô và tổng công suất trên nên trục triệu tấn. Mặc dù đã có những hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận tàu các nước ra vào. Xong đó chỉ là số ít, phần lớn các cảng biển nước ta không đảm nhận được những tàu trọng tải lớn vì vậy chi phí cho việc bốc dỡ hàng hoá cao do phải chuyển tải. Bên cạnh đó hệ thống dịch vụ ở các cảng này cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

    • Hàng không

    Hiện có gần 100 vị trí sân bay lớn nhỏ trong nước, trong số gần 20 sân bay đã được đưa vào khai thác sử dụng, có 3 sân bay cấp IV là Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng đạt tương đương tiêu chuẩn quốc tế.

    1.2 Bưu chính viễn thông:

    Đã triển khai chiến lược tăng tốc, mạng thông tin mở rộng nhanh, đi vào kỹ thuật hiện đại hoà nhập với quốc tế, các dịch vụ bưu chính viễn thông đang có nhiều cố gắng cải thiện đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung và thu hút FDI nói riêng.

    Trang 20

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Tuy phát triển tăng tốc xong còn ở mức độ thấp, mới chỉ tập trung ở đô thị, đáp ứng được nhu cầu trước mắt với chất lượng chưa cao và chi phí đắt. Mạng cáp nội hạt quá cũ , bố trí cáp treo thiếu quy hoạch, kém an toàn và mất mỹ quan. Mạng viễn thông có hệ thống thiết bị chưa đồng bộ, tồn tại nhiều hệ khác nhau, chưa phát triển nhiều dạng thông tin, giá cả còn mang tính độc quyền.

    1.3 Cung cấp điện.

    Đã phát triển nhanh chóng nguồn điện, đến năm 98 sản lượng điện đạt 21,77 tỷ kwh, tốc độ tăng sản lượng điện thời kỳ 91-95 đạt bình quân 10,2%/ năm với việc đưa vào vận hành đường dùng 500 KV Bắc Nam tạo điều kiện khai thác hợp lý các nguồn điện trong cả nước, cung cấp điện an toàn, liên tục cho nhu cầu các vùng và toàn bộ đất nước.

    Cung cấp điện năng bình quân đầu người tăng lên đáng kể ( năm 90: 135 Kwh, 95: 175 kwh, 98: 279 kwh). Hệ thống lưới chuyển tải được mở rộng, lưới phân phối được cải tạo hoàn thiện từng bước. Đến nay đã có 85% số huyện và 60% số xã được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

    Tuy nhiên, thời gian qua phát triển nguồn điện chưa cân đối về cơ cấu, thuỷ điện chiếm tỷ trọng cao gần 71% năm 95 cả về công suất lẫn sảnlượng gây ra tính kém ổn định của hệ thống. Tổn thất điện năng còn lớn (năm 95 là 19%). Hiệu suất của các nhà máy nhiệt điện đạt rất thấp, tiêu hao nhiên liệu cao, máy móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu.

    Phần tiếp theo sau đây, chúng ta đi vào nghiên cứu, phân tích tình hình đầu tư phát triển và kết quả, hiệu quả đạt được trong quá trình xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Việt Nam trong thời gian qua.

    2. Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam trong thời gian qua.

    Trang 21

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Cùng với tiến trình đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đang tập trung cải tạo, nâng cấp, xây mới vừa góp phần thay đổi bộ mặt của đất nước vừa đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI, hướng tới mực tiêu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Như phần trước đã phân tích và chỉ ra cho chúng ta thấy một thực cảnh về hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta: lạc hậu và không đồng bộ. Thực trạng đó bắt nguồn từ những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, được tiếp nối bởi sự dẫn dắt của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, trì trệ, kém năng động và cuối cùng là thời gian đã tàn phá và hao mòn, huỷ hoại dần từng mảng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta. Nhiệm vụ đặt ra đối với chúng ta lúc này phải từng bước hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đang ngày càng bức thiết.

    Nắm bắt được điều đó, các cơ quan chức năng đã đề ra mục tiêu đén năm 2020: mạng lưới giao thông vận tải phát triển, kết hợp hài hoà giữa các chủng loại có chất lượng cao, đảm bảo vận tải tiện lợi, nhanh chóng và an toàn Mạng bưu chính viễn thông đạt trình độ trung bình tiên tiến của thế giới, tham gia mạng thông tin siêu tốc toàn cầu, nối mạng đến xã, máy điện thoại đạt bình quân 20 máy/100 người. Mạng điện quốc gia phủ khắp các đô thị đến nông thôn, đạt 100% điện khí hoá toàn quốc, có thể có điện nguyên tử.

    Để thực hiện được những mục tiêu thên đã đề ra thì vấn đề khó khăn lớn nhất với chúng ta chính là vốn đầu tư. Theo dự báo của chính phủ, trong vài ba năm tới cầu đầu tư khoảng 3 tỷ USD mỗi năm (tương đương 12% GDP) để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, ngân sách chỉ đáp ứng chừng 3% GDP, nguồn ODA thêm chừng 2% GDP nữa. Khoảng 7% GDP hay chừng 2,1 tỷ USD hàng năm chỉ có thể trông chờ vào các nguồn vốn đầu tư khác. Do đó, một giải pháp lớn được đặt ra là thực hiện chiến lược thu hút, huy

    Trang 22

    Đề án Kinh tế đầu tư

    động một nguồn vốn đầu tư, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đất nước. Vậy thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như thế nào, chúng ta sẽ đi vào phân tích va đánh giá.

    Vốn đầu tư chính là điều kiện tiền đề để thực hiện các dự án đầu tư, từ đó góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội. Đối với các công trình dự án đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nên cũng cần một khối lượng vốn lớn.

    Trong thời qua, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc củng cố và phát triển cơ sỏ hạ tầng của đất nước được thể hiện trong bảng sau:

    Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

          Đơn vị: tỷ đồng
               
    Năm 1990 1995   2000  
    Ngành       ( ước tính )  
               
    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 4.732,5 41.849,3   92.452  
               
    Ngành khác 5.6000,5 26.198,3   23.548  
               
    Tổng số 10.333 68.047,6   116.000  
               

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 10+11/2000

    Tính toán các số liệu trong bảng 1 ta thấy được tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành trong tổng vốn đầu tư như sau:

    Trang 23

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

    Đơn vị: %

    Năm 1990 1995 2000
    Ngành      
           
    Cơ sở hạ tầng 45,8 61,5 79,7
           
    Ngành khác 54,2 38,5 20,3
           
    Tổng số 100 100 100
           

    Từ số liệu hai bảng trên ta thấy được rằng: vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng số vốn. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật của năm 2000 ước tính 116.000 tỷ đồng chiếm 79,7%. Nếu so với các ngành khác thì quả là sự chênh lệch khá lớn. Điều này thể hiện những đặc điểm cơ bản trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật…đó là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện bằng nguồn vốn đầu tư từ NSNN, ít có sự tham gia của các thành phần khác trong lĩnh vực này.

    Theo số liệu ở bảng 2, trong năm 1990 tỷ trọng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật chiếm 45,8% trong tổng vốn đầu tư. Các năm sau 1990 và 2000 lượng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tỷ trọng ngày càng cao 61,5% và 79,7%. Tại sao vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng lại tăng cao như vậy, có thể giải thích rằng trước những năm 1990 thì thấy cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu và xuống cấp do hậu quả của những năm chiến tranh, sau đó đất nước lại rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế.

    Trang 24

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Để đưa đất nươc ra khỏi khủng hoảng và hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đảng và Nhà Nước thực hiện chủ trương mở cửa về kinh tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài. Vì vậy nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trở nên hết sức cấp bách. Hơn nữa, do vừa trải qua cuộc khủng hoảng nên tích luỹ trong nước rất thấp, nguồn vốn đầu tư XDCB hết sức hạn hẹp. Chúng ta muốn chuyển dịch sơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, thúc đẩy quá trình thu hút vốn FDI thì việc ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là lẽ đương nhiên.

    Bên cạnh đó, việc đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đã có những bước tiến đáng kể. Để cụ thể hơn chúng ta sẽ xem xét dựa trên số liệu trên bảng sau:

    Bảng 3: vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống CSHT kỹ thuật thời gian qua.

          Đơn vị: tỷ đồng.
             
    Năm 1990 1995 2000  
    Ngành     ( ước tính )  
             
    Giao thông -Bưu điện 1.102,7 11.341,2 21.633,8  
             
    Công nghiệp 2.423,0 5.482,3 18.582,9  
             
    Nông nghiệp 1.206,8 25.025,8 52.235,3  
             
    Tổng số 4.732,5 41.849,3 92.452  
             

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và dự báo số 10 + 11/2000

    Trang 25

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Để tiện theo dõi, chúng ta sẽ tính tỷ trọng vốn đầu tư cho các lĩnh vực trong tổng số vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vào bảng sau:

    Bảng 4: Tỷ vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thời gian qua.

    Đơn vị: %

    Năm 1990 1995 2000
    Ngành      
           
    Giao thông – bưu điện 23,3 27,1 23,4
           
    Công nghiệp 51,2 13,1 20,1
           
    Nông nghiệp 25,5 59,6 56,5
           
    Tổng số 100 100 100
           

    Nhìn vào bảng 4 có thể thấy rằng, thời gian qua vốn đầu tư cho ngành giao thông – bưu điện mặc dù có sự tăng về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng của chúng trong tổng vốn đầu tư cho CSHT kỹ thuật lại có xu hướng giảm. Điều này đã phản ảnh đúng thực trạng của các lĩnh vực này. Bên cạnh đó đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cũng còn tồn tại sự mất cân đối, cụ thể trong hai năm 1995 và 2000 đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trong rất cao 59,6% và 56,5% lớn hơn cả các lĩnh vực giao thông -bưu điện và công nghiệp cộng lại. Tuy nhiên, vốn đầu tư cho các lĩnh vực của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đều có sự tăng lên về số tuyệt đối. Đây cũng là điều đáng mừng, nhưng là việc đầu tư đó có đem lại kết quả hay không, để trả lời cho câu trả lời đó trong phần tiếp theo chúng ta sẽ đi vào đánh giá kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    III.            ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA.

    Trang 26

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1.Đánh giá tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    Khách quan mà nói, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua đã đạt được một thành tựu đáng kể.

    • Cải thiện hệ thống đường giao thông bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không. Trong đó, hai hệ thống đường bộ và đường không có sự chuyển biến đáng kể. Một loạt các tuyến đường đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp và cải tạo như đường Mai Dịch – Nội Bài, quốc lộ 5, nhiều đoạn của quốc lộ 1, quốc lộ 18… cũng trong thời gian qua các các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất được xây dựng, bổ xung, hiện đại hoá máy bay và hệ thống thông tin liên lạc dưới mặt đất.

    Sự phát triển đó đã góp phần vào việc nâng cao khả năng lưu thông hàng hoá và đáp ứng phần nào yêu cầu của nhà đầu tư.

    • Xây dựng được mạng lưới thông tin liên lạc rộng khắp và kém hiệu quả trên toàn quốc. Đặc biệt ngành bưu chính viễn thông, từ một mạng lưới nhỏ và lạc hậu trược những năm 90, đến nay Việt Nam đã có mạng viễn thông hiện đại ứng dụng hoàn toàn kỹ thuật số. Tốc độ tiếp thu dịch vụ mới của các ngành này tăng khá nhanh, trung bình có sau 6 tháng kẻ từ khi một dịch vụ mới được tung ra trên thị trường quốc tế.
    • Hệ thống điện năng từng bước được nâng cấp, giải quyết cơ bản nhu cầu điện cho sản xuất và tiêu dùng. Đến cuối năm 1999, tổng công suất lắp đặt các hệ thống điện nước ta đạt 5.774 MM, tổng sản lượng điện đạt khoảng 23.740 triệu Kwh. Lưới điện truyền tải có chiều dài 109.977 Km và dung lượng các trạm truyền tải lên tới 14.709 MA. Tất cả các tính toán trên toàn quốc đã có lưới điện quốc gia, 95,7% số huyện và 77,2% số xã, 68,1% số hộ trong nước đã có điện.

    Số liệu về phát triển của ngành điện và bưu chính viễn thông.

    Trang 27

    Đề án Kinh tế đầu tư

      1990 2000
         
    Sản lượng điện (tỷ Kwh) 8,79 2,5
         
    Số máy điện thoại trên 100 người dân 0,4 4
         

    Bên cạnh những thành tựu đạt được, cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn tồn tại nhiều yếu kém, cụ thể:

    • Giao thông đường bộ và đường sắt còn ở thế độc tuyến, chúng ta chưa có đường bộ cao tốc, đường sắt đôi, nhiều điểm vượt sông không có cầu…mặc dù mỗi năm giao thông đường bộ được đầu tư 5000 tỷ đồng từ MSNN xong chỉ đáp ứng đủ 30 – 40 % nhu cầu. Vì vậy các công trình gần đây được đầu tư xây dựng một cách tình thế. Kết quả là đến nay còn 515 xã chưa có đường ôtô về trung tâm, trung bình 10km đường bộ có 4 km chưa được trải nhựa và khoảng 70% chiều dài toàn bộ nằm trong tình trạng này.

    Cả nước có gần 1000 cây cầu yếu, hàng nghìn km đường bị ngập và ách tắc. Chỉ cần 1 tai nạn gây ách tắc ở một đoạn đường sẽ gây ách tắc giao thông toàn tuyến, một ví dụ rất rõ là tình hình lũ lụt tại miền trung tháng 10/ 1999 gây áhc tắc giao thông từ nam ra bắc hoặc sự cố cầu Bến Lức tháng 1/2000 gây thiệt hại nặng nề cho nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

    *Các cảng biển có chất lượng dịch vụ cao vẵn còn chưa nhiều. Trong lúc hiện nay ở các cảng trên thế giới năng suất qua lại đạt đến 4000 tấn/m cầu tàu thì ở Việt Nam con số phổ biến từ 500 m- 1000 tấn/m cầu tàu. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có cảng nào đủ điều kiện thu hút cac tàu contenner trên 1.200 TEU và đáp ứng được dịch vụ tiếp vận phân phối hàng, vận tải đa phương theo tiêu chuẩn quốc tế.

    Trang 28

    Đề án Kinh tế đầu tư

    • Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp để nâng cao sản lượng điện cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng như xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện mới (Sông Hinh, Yaly…) cải tạo hệ thống nhiệt điện nhưng nếu cân đối với các yêu cầu phát triển kinh tế trong tương lai, rõ ràng ta chưa thể đáp ứng được. Nếu so sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực thì quả thật chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.

    So sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực.

      Việt Nam Thái Lan Indonexia Philipin Malaysia
               
    Tỷ lệ hộ có điện (%) 51 87 39 58 90
               
    Năng lượng (Mw) 4.890 13.003 14.327 9.539 7.391
               
    Sản lượng điện năm 19.151 80.068 61.199 29.697 45.453
    97 (Gwh)          
               
    Tiêu  thụ  điện  đầu 204 1294 315 399 2.032
    người mỗi năm (Kwh)          
               
    Tỷ lệ hao hụt điện qua 16 9 12 17 11
               

    Trang 29

    Đề án Kinh tế đầu tư

    phân phối (%)

    Bên cạnh đó tiền điện dùng cho kinh doanh thuộc vào loại khá cao ảnh hưởng không nhỏ tới lợi thế so sánh của nước ta.

    So sánh chi phí đầu tư tại Hà nội, Tp Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn.

      Hà nội Tp. HCM Thượng Hải Bangkok Jakarta Kuala Lampar
                 
    – Phí điện thoại quốc tế 8,52 8,52 4,3 3,11 2,59 2,61
    (3 phút gọi dang Nhật)            
                 
    – Tiền điện dùng cho 0,07 0,07 0,035 0,03 0,0177 0,06
    kinh doanh / kwh            
                 
    – Vận chuyển container 1.825 1.375 880 1.466 1.252 895
    (40ft/container) chuyển            
    từ  nhà máy đến cảng            
    gần nhất ở Nhật – cảng            
    Yukohama            
                 

    Từ thực trạng kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như vừa nêu trên, cho thấy mặc dù đầu tư khá nhiều, xong nhìn chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn lạc hậu, chưa đồng bộ còn chi phí cho các dịch vụ này rất cao. Như vậy, những yêu cầu mà FDI đặ ra đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chúng ta chưa cung cấp được một cách hoàn hảo nhất. Điều đó là do việc đầu tư còn dàn trải, chưa xác định được những màu đột phá trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nguồn vốn còn eo hẹp bởi huy động được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào làm việc này rất khó khăn.

    Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nước ta được thể hiện rõ hơn qua sự so sánh ở bảng sau:

    So sánh môi trường đầu tư “cứng” của các nước ASEAN.

    Tên nước Sân bay Cảng biển Giao thông Điện lực Viễn thông Bình quân
                 
    Singapore 4,9 4,9 4,6 4,4 4,7 4,7
                 

    Trang 30

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Brunay 3,3 3,3 3,3 3,6 3,5 3,3
                 
    Thailan 3,1 2,5 1,6 2,7 3,0 2,6
                 
    Philipines 2,3 2,4 2,9 2,2 2,7 2,3
                 
    Indonesia 3,0 2,4 2,3 2,6 2,7 2,6
                 
    Malaysia 3,1 3,1 2,7 2,6 3,2 2,9
                 
    Myanma 1,6 1,5 1,6 1,4 1,4 1,5
                 
    Lào 1,5 1,5 1,5 1,7 1,5 1,5
                 
    Campuchia 1,6 1,5 1,8 1,4 1,4 1,5
                 
    Việt Nam 1,9 2,0 1,9 1,9 2,2 2,0
                 

    Xếp hạng: 5 điểm lớn nhất.

    Tuy sự so sánh trên còn có phần chưa thoả đáng vì nước ta vẫn còn là một nước đang phát triển, mọi điều kiện về vật chất, con người còn nhiều hạn chế so với các nước đã có quá trình phát triển trước rất nhiều năm. Nhưng dù sao khoảng cách khá chênh lệch đó cuĩng đòi hỏi nhiều hơn nữa cho việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này.

    Trên đây chúng ta đã đánh giá được một số vấn đề trong công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua. Trong quá trình đánh gía, chúng ta đã thấy được những thành tựu và những yếu kém. ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đánh giá đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với qua trình thu hút FDI.

    2. Đánh giá hiệu quả của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đối với quá trình thu hút vồn FDI.

    Trang 31

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ tiền ra đầu tư vào một nơi nào đó, xem xét rất kỹ lưỡng mọi khía cạnh. Trong đó có khía cạnh rất quan trọng từ cơ sở hạ tầng. Thực tế cho thấy những nơi nào có kết cấu hạ tầng phát triển thì nơi đó có nhiều dự án đầu tư. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được những kết quả dáng khích lệ trong việc thu hút vốn FDI.

    Tính đến thời điểm 30/6/2000 đã có gần 3100 dự án của 65 nước và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép, tổng vốn đầu tư đăng ký gần 43 tỷ USD, trong đó vốn tăng thêm của các dự án đang thực hiện là trên 5,5 tỷ USD. Tìm các dự án hết hạn, giải thể, hiện có khoảng 2500 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký đạt gần 36 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt gần 18 tỷ USD và hiện chiếm tới 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực đầu tư nước ngoài không những đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, mà còn khai thác, đưa vào sử dụng nhiều nguồn lực trong nước như đất, tài nguyên, lao động.

    Để đạt mục tiêu đến năm 2005 GDP tăng gấp hai năm 95, sơ bộ

    • nhu cầu vốn đầu tư phát triển của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 khoảng
    • – 62 tỷ USD, trong đó dự kiến vốn đầu tư nước ngoài khoảng 25 tỷ USD. Vì vậy tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.

    Tuy nhiên trong những năm gần đây xu thế vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang chững lại và có phần giảm sút, cụ thể:

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

    Đơn vị: triệu USD.

      91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000
                         

    Trang 32

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Vốn 1275 2027 2589 3746 6607 8640 4649 3897 1567 1600
    cam kết                    
                         
    Vốn 432 478 871 1936 2363 2447 4768 2062 1758 1800
    thực                    
    hiện                    
                         

    Theo số liệu ở bảng trên ta thấy rằng, năm 96 là năm có số vốn thu hút cao nhất từ trước đến nay. Sau thời kỳ ấy biểu đồ ngày càng đi xuỗng và đến thời điểm năm 2000 (dự kiến) cũng chỉ hơn năm 91 chút ít cũng sau thời điểm 96 đến nay FDI suy giảm cả về vốn cam kết và vốn thực hiện. So với cùng kỳ năm trước, nbịp tăng vốn đăng ký của các dự án FDI năm 97 giảm 49%, năm 98 giảm 16%, năm 99 giảm 60%. Số vốn thực hiện từ năm 97 – 99 giảm khoảng 40%. Sự suy giảm FDI đã gây ảnh tiêu cực đến việc huy động vốn đầu tư phát triển và tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay và một số năm tới.

    Ngoài những nguyên nhân khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong thu hút FID của các quốc gia thì nguyên nhân chính vẫn thuộc về chúng ta. Mặc dù, cơ chế chính sách, luật pháp đã có sự thông thoáng cởi mở. Song hệ thống CSHT kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của FDI đã dẫn đến chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, đã là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới lưu lượng của dòng chảy FDI vào Việt Nam.

    Để Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài, trong thời gian tới chúng ta cần phải cố gắng hơn nữa trong việc đề ra những giải pháp cho vấn đề này.

    Trang 33

    Đề án Kinh tế đầu tư

    CHƯƠNG III

    PHƯONG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT NHẰM THU HÚT VỐN FDI TRONG THỜI GIAN TỚI

    I.PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

    Trong phần này chúng ta sẽ đề cập tới định hướng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian tới và một số giải pháp để giải quyết những tồn tại trong thời gian qua. Nhưng dù có định hướng hay giải pháp gì đi chăng nữa thì cơ bản việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải tuân theo những nguyên tắc sau

    Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật một cách hoàn chỉnh, đồng bộ theo một quy hoạc tổng thể ngay từ ban đầu.

    Trang 34

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Trong điều kiện hạn chế về vốn có thể hoàn thành từng phần tránh đầu tư manh mún dẫn đến thất thoát, lãng phí và hiệu quả thấp.

    Cần có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật .

    1. Hệ thống giao thông vận tải.

    Phương hướng phát triển hệ thống giao thông là tạo sự chuyển biến cơ bản về cơ cấu, quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ, trong đó phát triển nhanh ngành hàng hải và hàng không, tận dụng tốt các đường sông, ngăn chặn sự xuống cấp, từng bước nâng cấp các tuyến đường bộ, đường sắt trọng điểm, giải quyết giao thông đường bộ ở các vùng kinh tế trọng điểm. Hoàn chỉnh tuyến trục Bắc-Nam, củng cố các tuyến lên Tây Nguyên và xuống đồng bằng Cửu Long, cải thiện mạng lưới giao thôgn đồng bằng sông Hồng và giao thông các thành phố lớn. Mở rộng, hiện đại hoá các đầu mối giao lưu quốc tế: cảng biển, cảng hàng không, phát triển các tuyến nối trục giao thông quốc tế xuyên A’ và các nước láng giềng.

    Phát triển tuyến vận tải ven biển và các cảng nước sâu trên các vùng.

    Nâng cấp toàn bộ tuyến quốc lộ 1 từ Đồng Đăng đến Năm Căn Là trục huyết mạch, đến năm 2005 hoàn thành và nối kết các mạng đường bộ các vùng.

    Nghiên cứu khả thi và xây dựng dẫn trục xa lộ Bắc Nam để đáp ứng cho thời kỳ CNH-HĐH từ sau năm 2000.

    Nâng cấp tuyến đường sắt xuyên Việt để tạo nên tuyến đường vận tải hàng hoá có khối lượng lớn từ Bác đến Nam và các tính miền Trung, một tuyến vận chuyển hành khách đường dài nhanh chóng tiện lợi.

    Tăng năng lực vận chuyển trên các tuyến hàng không hướng Bắc-Trung-Nam, và nâng cấp các sân bay này.

    Trang 35

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Triển khai chương trình giao thông nông thôn, giải quyết đường đến huyện và 599 xã cũng 15 điểm cụm xã có tổng chiều dài là 7425 km.

    2. Bưu chính viễn thông.

    Tăng cường và phát triển mạng bưu chính viễn thông công cộng cũng như chuyên dùng theo hướng đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá bằng kỹ thuật số, quang học với công nghệ tiên tiến để có dung lượng lớn, tốc độ cao nhằm đạt mục tiêu 3T (tốc độ, tiêu chuẩn, tin học và đồng thời cập nhật kịp thời những công nghệ mới)

    Mở rộng các dịch vụ mới: Điện thoại thấy hình, hội nghị truyền hình, truyền số liệu tốc độ cao nhằm, internet, thư điện tử, bưu phẩm khai giá

    Đưa các dịch vụ đối với khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi, văn minh lịch sự. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dịch vụ, bỏ độc quyền dịch vụ bưu chính viễn thông.

    3. Cung cấp điện

    ưu tiên khai thác thuỷ năng, trước hết tập trung vào các công trình có hiệu quả kinh tế cao như Sông Đà, Sông Đồng Nai và một số công trình vừa và nhỏ trên các lưu vực sông khác nhằm kết hợp thuỷ điện và thuỷ lợi, phát triển nhiệt điện dùng than ở các tỉnh phía Bắc trên cơ sở tăng cường khai thác sử dụng than Quảng Ninh.

    Tích cực chuẩn bị cho phát điện nguyên tử sau năm 2000

    Liên kết tất cả các huyện thị vào mạng lưới quốc gia. Phấn đấu đến năm

    2010 có 70% số hộ được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Đầu tư đồng bộ và từng bước hiện đại hoá lưới điện chuyển tải và phân phối nhằm nâng cao độ tin cây, chất lượng cung cấp và giảm tỷ lệ hao hụt xuống còn khoảng 10%.

    II.GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐẦU TƯ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRONG THỜI GIAN TỚI

    Căn cứ vào sự đánh giá về tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở phần trước, căn cứ vào định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật . Trong thời gian tới để tăng cường thu hút vốn FDI một mặt chúng ta cần cải thiện và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng những yêu cầu của FDI đối với lĩnh vực này. Mặt khác cần tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu hút FDI có hiệu quả. Nhưng xuất phát từ việc bài viết trên lĩnh vực kinh tế đầu tư nên đưa ra những giải pháp thuộc lĩnh vực kinh tế đầu tư chứ không thể đưa ra những giải pháp dựa trên lĩnh vực kỹ thuật.

    1.Giải pháp cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng hiện đại là yếu tố quan trọng trong thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Do đó, để cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

    • Thứ nhất: Tổ chức này cấp hệ thống đường bộ các nước trên quan điểm phá vỡ thế lực tuyến (như hiện nay-vừa qua, dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 1 từ 2000-2003 đã được khởi công). Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện thành công dự án này nhằm giải quyết hướng ra trong tương lai đối với giao thông đường bộ.
    • Thứ hai: Để khai thức có hiệu quả lợi thế về vị trí địa chính tạo trong thu hút FDI cần đầu tư hienẹ đại bản 3 sân bay Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất nhằm

    Trang 37

    Đề án Kinh tế đầu tư

    đáp ứng các chuyến bay trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ngành hàng không cũng cần phải tổ chức lại. Nếu tình trạng bù lỗ cứ kéo dài như hiện nay, chúng ta sẽ không có nguồn vốn cho đầu tư phát triển, dẫn đến tình trạng lạc hậu so với hàng không các quốc gia khác trong khu vực.

    • Thứ ba: Cải thiện hệ thống giao thông đô thị và chú ý phát triển mạng lưới giao thông ở các vùng nông thôn, vùng xa… ở các đô lớn như Hà nội, TP Hồ Chí Minh… hệ thống giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế hiện đại , chưa kể đến tầm phát triển trong tương lai. Điều này đã làm ngao ngán không ít các nhà đầu tư. Điển hình, tại TP HCM nạn kẹt xe ngày càng có xu hướng trầm trọng hơn. Tại Hà nội, trong các giờ cao điểm trên trục đường hệ số sử dụng lòng đường đã vượt 1 đến 3 làn do lòng đường nội thành quá chật hẹp, các giao cắt đường mốc quá gần nhau, do đó đã dẫn đến tình trạng ùn tắc, lộn xộn mất trật tự.

    Như vậy, hệ thống giao thông đô thị đến nay đã trở lên quá tải, trong khi việc sửa chữa, áp dụng kỹ thuật còn quá thô sơ, manh mún, mang tính chắp vá không hề cải thiện tình hình giao thông. Việc xây dựng những con đường mới thực hiện quá chậm, thậm chí không đảm bảo chất lượng. Đó là thực trạng ửo các thành phố lớn nói chung ở nước ta hiện nay. Còn ở những thị xã, quận huyện xa thì vấn đề giao thông còn ách tắc hơn, gây cho nhà đầu tư tâm lý muốn đầu tư vào các đô thị lớn, nơi có môi trường đầu tư t*88 cả nước. Do đó, một mặt cần cải thiện hệ thống giao thông đô thị, mặt khác phải chú ý xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông ửo các vùng nông thôn, vùng núi, vùgn xa căn cứ trên quy hoạch chi tiết của từng địa phương.

    +Thứ tư: Đầu tư cải thiện hệ thống cảng biển trên quan điểm”cảng biển Việt nam cần chất lượng “ vì vậy cần tiếp tục đầu tư cải tạo và nâng cấp hiệu quả hoạt động của cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu và cảng Hải Phòng tạo lên khu vực

    Trang 38

    Đề án Kinh tế đầu tư

    cảng lớn, mặt khác tập trung đầu tư phát triển hệ thống cảng biển miền Trung như Đà Nẵng, Ba Ngòi…. Và đặc biệt là cảng Dung Quất. Đội tàu viễn dương

    của ta đã quá cũ kỹ lạc hậu, vận tải đường biển còn kém phát triển trong khi đây là xu thế cảu Việt nam. Do vậy việc đầu tư hiện đại háo những cơ sở để phát triển kinh tế và thu hút FDI.

    • Thứ năm: hợp tác với các nước láng giềng để mở rộng hệ thống giao thông quốc tế, cụ thể: làm một hệ thống truvj giao thông sang Lào, Campuchia và Trung Quốc trên cơ sở hệ thống giao thông đã có, khai thông tuyến giao thông quốc tế đến Hà nội, mở rộng hệ thống giao thông đường sắt với Trung Quốc.

    +Thứ sáu:

    Đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc đặc biệt cần tăng số kênh thông tin quốc tế, tìm kiếm nguồn vốn để xây dựng hệ thống cáp quang biển hoà chung vào mạng cáp quang biên thông tin quốc tế khu vực nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của chủ đầu tư, điều chỉnh mức cước phí thông tin và bưu điện theo hướng phù hợp với nguồn sử dụng trong nước và hợp lý trong khu vực.

    Để thực hiện các giải pháp đầu tư cải thiện và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cảu nền kinh tế, một vấn đề cần giải quyết trước mắt là tìm kiếm, xác định được nguồn vốn đầu tư.

    Cũng như các nước đang phát triển khác, nhu cầu về vốn đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất lớn, trong khi đó nguồn vốn dành cho đầu tư lại hạn chế do nguồn thu ngân sách không đảm bảo. Do đó, để giải quyết bài toàn về vốn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần có những giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư một cách hợp lý.

    2. Giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

     

     

     

     

    Trang 39

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Thực hiện đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên quan điểm “tập trung dứt điểm” không đầu tư dàn trải và hậu quả của việc đầu tư dàn trải sẽ không cao, thực hiện đầu tư nhiều công trình nhưng đều chậm hoàn thành và khó đưa vào sử dụng do thiếu vốn. Muốn vậy cần có quy hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thống nhất và hợp lý. Những công trình trong tình trạng phân phối đều vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các địa phươgn mà phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế các địa phương.

    • Phải thực hiện chặt chẽ công tác phân cấp quản lý và đầu tư đói với những công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật thuộc hế thống quốc gia như đường quốc lộ, những cồng trình mang tính chất liên ngành, liên vùng, những công trình hàng không, cảng biển quốc gia và hệ thống đường sắt. Tránh tình trạng chia nhỏ như trước đây, mỗi địa phương quản lý một đoạn quốc lộ v tổ chức thu kinh phí cho ngân sách địa phương. Cần tập trung nguồn thu này do ngân sách và điều phối một cách hợp lý, không quản lý manh mún, kém hiệu quả và việc đầu tư lại mang tính chắp vá như hiện nay.

    Đồng thời phải có sự phân cấp quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật một cách rõ ràng, chi tiết: bộ máy quản lý thành phố, tỉnh phải khác với huyện, xã. các công trình loại I, loại II thuộc trung ương thì phân cấp thế nào? Phạm vi nào thuộc quyền của tỉnh, lĩnh vực nào của Trung ương… một thực tế là sẹ phân cấp và phối hợp trong quản lý hệ thống giao thông còn rất yếu kém. Tại các thành phố, thị xã có quốc lộ đi qua thì Bộ giao thông vận tải quản lý, một số đoạn lại do sở giao thông công chính đảm nhiệm đầu tư xây dựng, nâng cấp, bảo dưỡng, còn cấp thoát nước, xây dựng mạng lưới điện, điện thoại lại do các cơ sở chuyên ngành nên có tình trạng đường làm xong thì phải đào lên để mắc điện thoại, làm cống thoát nước,/… đây là việc phân cấp quản lý vì mục đích chung lâu dài chứ không phải vì lợi ích nhất thời dàn trải. Việc đầu tư vào các hệ lĩnh vực thuộc hệ

    Trang 40

    Đề án Kinh tế đầu tư

    thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ do từng địa phương thực hiện một ngân sách để thực hiện tài trợ trong những trường hợp đặc biệt.

    Thực hiện xây dựng “Nhà nước và nhân dân cùng làm” nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đối với những công trình mang tính chất phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, việc huy động vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải được bàn bạc từ Trung ương đến địa phương để không lặp lại? Trung ương cho gì, địa phương nhận “và” địa phương xin, Trung ương xem và cho”. Mặt khác, cần có sự chỉ đạo thống nhất trong xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật giữa Trung ương và địa phương. Các nguồn vốn được cấp, sử dụng đều phải có sự giám sát của Họi đồng nhân dân và ở mức độ cho phép thì có sự tham gia của nhân dân.

    • hoàn thiện từng bước các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào cơ sở hạ tầ

    Trong những năm tới, chỉ riêng 4 lĩnh vực điện, đường bộ, viễn thông và cấp nước mỗi năm cần đầu tư hơn 3,5 tỷ USD, gấp 3 lần nguồn vốn ngân sách (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức –ODA) của Chính phủ dành cho cơ sở hạ tầng nói chung.

    Cho đến nay ngân sách vẫn là nguồn tài chính chủ yếu cho dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhưng như thế thì không thể đáp ứng hết các yêu cầu về phát triển cơ sở hạ tầng. Do vậy cần phải có các biện pháp huy động vốn từ các doanh nghiệp, để bù đắp khoảng trống giữa cung, cầu về vốn.

    Từ những năm 92, chúng ta đã bắt đầu chú ý đến việc thu hút nguồn đầu tư của các doanh nghiệp vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bằng cách đưa ra những chính sách ưu đãi về thuế, giá thuế đất và đưa hình thức đầu tư BOT vào các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài … từ đó đến nay nhiều đường quốc lộ đã được nâng cấp bằng nguồn vốn của doanh nghiệp như QL5L từ TP HCM

    Đề án Kinh tế đầu tư

    đi vũng tàu, đường Láng-Hoà Lạc ở Hà nội, quốc lộ 14.. Tuy đã có một số kết quả nhưng các chính sách về thuế, đất đai vẫn chưa thuyết phục được ccs doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn vào cơ sở hạ tầng.

    Trong thời gian tới cần tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác tham gia rộng rãi hơn vào một số lĩnh vực dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đang do các Doanh nghiệp Nhà nước kiểm soát bằng cách cổ phần hoá từng bước các mảng dịch vụ phân phối điện, dịch vụ viễn thông và đấu thầu khai thác các cảng biển cũng như sân bay.

    Trang 42

    Đề án Kinh tế đầu tư

    KẾT LUẬN.

    Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Hiện nay việc huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vào hiệu quả của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đang là vấn đề nóng bỏng. Trong thời gian tới, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự cạnh tranh quyết liệt trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia, chắc chắn rằng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam sẽ có những bước tiến đáng kể đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Chính vì thế ngay từ bây giờ chúng ta phải có sẹ tìm hiểu cụ thể thực trạng của hệ thống này để thấy được vai trò của nó đối với quá trình thu hút FDI. Qua đó tìm ra những giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại trong việc đầu tư phát triển hệ thống này.

    Trên cơ sở như vậy. bài viết được hoàn thành. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài rất rộng, trình độ còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Trang 43

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế đầu tư. NXB giáo dục – 1998.

     

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế phát triển. NXB Thống kê – 1997.

     

    1. Bộ Kế hoạch – Đầu tư. Một số vấn đề mới về FDI tại Việt Nam

     

    1. Nguyễn Anh Tuấn. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: cơ sở pháp lý, thực trạng và triển vọng. NXB Thế giới – 1994.

     

    1. Vũ Chí Lộc. Giáo trình đầu tư nước ngoài. NXB Giáo dục – 1997.

     

    1. Tổng cục Thống kê. Cơ sở hạ tầng Việt Nam 10 năm đổi mới (1985 –

     

    1995).

     

    1. Niên giám Thống kê Việt Nam các năm 96, 97, 98.
    1. Các báo, tạp chí sau:
    • Kinh tế và dự báo số 1+2/97, 4/98, 3/200, 10+11/2000
    • Thời báo kinh tế Sài Gòn số 27, 28, 36/2000
    • Nghiên cứu kinh tế số 1/98, 7/98, 4/99, 11/99, 9/2000
    • Kinh tế Châu á – Thái Bình Dương số 4/97
    • Thông tin kinh tế xã hội số 2/96
    • Kinh tế và phát triển số 38/2000
    • Công nghiệp số 23/99
    • Phát triển kinh tế số 102/99
    • Thương mại số 1/2000
    • Giao thông vận tải số 1+2/2000

    Trang 44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ

    TIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ

    TIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo thực tập tốt nghiệp ở Khoa dược bệnh viện đa khoa Kon Tum


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/PH%C3%82N-C%E1%BA%A4P-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-KINH-T%E1%BA%BE-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM-NH%C3%8CN-T%E1%BB%AA-G%C3%93C-%C4%90%E1%BB%98-TH%E1%BB%82-CH%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TTIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ

    PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ1

    1.       Giới thiệu

    Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam được khởi động từ Đổi mới (1986) và được tăng tốc từ cuối thập niên 1990. Đồng thời, phạm vi phân cấp cũng liên tục được mở rộng, cho đến giữa thập niên 2000 đã bao trùm sáu lĩnh vực chính là: quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển; ngân sách nhà nước; đất đai, tài nguyên; doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; và tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức. Chính phủ kỳ vọng rằng chính sách phân cấp sẽ giúp “phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.”2

    Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế, kết quả thu được không như kỳ vọng. Từ góc độ của chính quyền trung ương, phân cấp làm xói mòn tính thống nhất của chính sách quốc gia, gia tăng sự cạnh tranh không lành mạnh các giữa chính quyền địa phương, do đó một mặt làm suy giảm mức độ kiểm soát của chính quyền trung ương, mặt khác làm tăng tính cục bộ địa phương. Từ góc độ địa phương, phân cấp chưa đi kèm với những điều kiện nguồn lực và thể chế cần thiết để triển khai phân cấp một cách hiệu quả. Không những thế, khung khổ chính sách phân cấp còn thiếu sự ăn khớp giữa các ngành và thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực phân cấp, vì vậy trong nhiều trường hợp đẩy chính quyền địa phương vào thế lúng túng, bị động. Cuối cùng, người dân và doanh nghiệp – những đối tượng chịu tác động cuối cùng của chính sách phân cấp – chưa thực sự được tham gia và có tiếng nói đối với ngay cả những chính sách quan trọng nhất tác động đến hoạt động và kết quả kinh tế của họ.

    Trong quá trình phân cấp ở Việt Nam, nổi lên bốn mâu thuẫn có tính nền tảng trong bản thân hệ thống nhà nước. Thứ nhất, phân cấp ở một quốc gia nhất thể và tôn ti trật tự như Việt Nam nhất thiết đòi hỏi sự chuyển đổi vai trò của nhà nước, từ vai trò truyền thống như người ra và thực hiện quyết định trở thành người định hướng và xác lập luật chơi. Tuy nhiên, việc chuyển đổi này không hề đơn giản vì nó kéo theo không

    • Bài viết này do TS. Vũ Thành Tự Anh thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Bài viết này được thực hiện hoàn toàn với danh nghĩa cá nhân, và do vậy, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright hay của Chương trình Việt Nam tại Trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy. Tôi xin chân thành cảm ơn những nhận xét quý báu của người thảo luận – Ông Trương Đình Tuyển – cố vấn cao cấp của Thủ tướng Chính phủ và nguyên Bộ trưởng Bộ Thương Mại. Đề nghị không phổ biến và trích dẫn nếu không được

    sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.

    • Nghị quyết 08/2004/NQ-CP.

     

    1

    chỉ thay đổi về tổ chức nội bộ, minh định lại các nhiệm vụ và chức năng, mà còn làm xói mòn quyền lực có tính tùy định vốn có của nhà nước. Thứ hai, trách nhiệm được phân cấp nhiều hơn trong nhiều trường hợp không đi đôi với sự gia tăng nguồn lực một cách cân xứng, khiến cho địa phương bị quá tải. Thứ ba, việc tăng tính tự chủ cho chính quyền địa phương không tự nó đảm bảo trách nhiệm giải trình. Và thứ tư, việc tăng tính tự quản (self-governance) của chính quyền địa phương trong nhiều trường hợp thực tế đã dẫn tới việc phá vỡ tính thống nhất của chính sách quốc gia.

    Theo yêu cầu của UBKT Quốc hội, bài viết này sẽ đánh giá tổng quan về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam trên các phương diện cơ sở lý thuyết, bản chất, và những nguyên tắc của phân cấp; thực trạng phân cấp kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua và những hệ quả của nó; từ đó đưa ra những khuyến nghị về đổi mới chính sách phân cấp. Vì tính chất tổng quan, bài viết này sẽ không đi sâu vào các khía cạnh cụ thể của phân cấp – là chủ đề của các bài viết khác trong Diễn đàn này – mà tập trung vào các vấn đề chung, xuyên suốt các khía cạnh khác nhau của phân cấp kinh tế ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng theo yêu cầu của UBKT Quốc hội, bài viết này chỉ tập trung phân tích mối quan hệ phân quyền giữa hai cấp chính quyền quan trọng nhất – đó là giữa chính quyền trung ương và chính quyền tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng phân cấp là một khái niệm rất đa diện, và như sẽ chỉ ra trong bài viết này, việc chỉ thu hẹp mối quan tâm vào một số phương diện sẽ có nguy cơ dẫn tới sự đơn giản hóa quá mức, thậm chí phiến diện trong thiết kế chính sách.

    • thời điểm hiện nay, việc thảo luận về định hình lại chính sách phân cấp đặc biệt thích hợp khi quá trình sửa đổi Hiến pháp đang diễn ra dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Quốc hội, trong đó mối quan hệ quyền lực giữa chính quyền trung ương và địa phương hiển nhiên là một nội dung trọng yếu. Bên cạnh đó, hai đạo luật đặc biệt quan trọng đối với phân cấp là Luật Đầu tư công – mua sắm công và Luật Đất đai (sửa đổi) đã được đưa vào chương trình xây dựng luật của năm 2013. Hơn nữa, việc sửa đổi các Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, và Luật ngân sách nhà nước sẽ được đưa vào chương trình xây dựng luật của năm

    2014.

    All data used for this analysis were obtained either from official government sources, including the General Statistical Office (GSO), Ministry of Finance (MOF), Ministry of Planning and Investment (MPI), or from studies funded by international donors such as the World Bank, UNDP, and USAID.

    Phần còn lại của bài viết này được chia thành năm phần. Phần 2 trình bày ngắn gọn khái niệm phân cấp. Phần 3 giải thích tại sao lại cần phân cấp từ góc độ lý thuyết cũng như thực tiễn. Phần 4 thảo luận một cách khái lược về chủ trương phân cấp ở Việt Nam

    2

    kể từ Đổi mới trở lại đây. Phần 5 sẽ đánh giá một cách tổng quan những thành công và hạn chế của phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam. Phần 6 sẽ kết luận và đưa ra một số gợi ý chính sách, trong đó nhấn mạnh nhu cầu thay đổi một cách cơ bản quan niệm về phân cấp và thiết kế phân cấp ở Việt Nam.

    2.       Khái niệm phân cấp

    Phân cấp (decentralization) là quá trình chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các chính quyền địa phương hay cho khu vực kinh tế tư nhân. Ở một số quốc gia đang tiến hành chuyển đổi hệ thống kinh tế như Việt Nam, phân cấp còn bao hàm sự chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và cho thị trường. Các hình thức phân cấp này có đặc điểm chung là đều bắt đầu với sự minh định lại vai trò của nhà nước, để trên cơ sở đó tiến hành phân định quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, giữa nhà nước với thị trường, và giữa khu vực nhà nước với khu vực tư nhân và khu vực dân sự.

    Các lĩnh vực của phân cấp rất rộng, tuy nhiên về đại thể có thể chia thành bốn nhóm chính như sau:

    • : mục đích là tạo ra môi trường thuận lợi cho người dân và các

    thể chế dân cử được tham gia và có tiếng nói trong quá trình hoạch định chính

    sách ở địa phương. Thông qua phân cấp chính trị, chính quyền địa phương và

    các đại biểu dân cử sẽ có trách nhiệm giải trình cao hơn trước người dân địa

    phương.

    • : là việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm trong việc

    thực hiện các nhiệm vụ công từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa

    phương. Thông qua quá trình này, công tác kế hoạch, quy hoạch, quản lý, điều

    hành, thậm chí cả tài trợ cho cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công sẽ được

    chuyển giao từ cấp trung ương xuống các cơ quan hành chính địa phương. Phân

    cấp hành chính được chia thành 3 nhóm

    • Phi tập trung (deconcentralization) là hình thức chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm cho các đơn vị đại diện chính quyền trung ương ở các vùng hay địa phương (ví dụ văn phòng đại diện của bộ ở các vùng , theo đó các cơ quan đại diện này thực thi các chính sách quốc gia do các cơ quan trung ương ban hành. Đây là hình thức thấp nhất trong các hình thức phân cấp hành chính, thậm chí có người cho rằng nó không phải là hình

    thức phân cấp bởi vì việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chỉ diễn ra trong nội bộ ngành dọc của trung ương.

    • Uỷ quyền (delegation) là hình thức phân cấp hành chính trong đó chính quyền trung ương chuyển giao quyền quyết định và trách nhiệm điều hành cho cơ quan địa phương trong khuôn khổ các hướng dẫn do chính

    3

    quyền cấp cao hơn ban hành. Trong hình thức phân cấp này, chính quyền địa phương thay mặt chính quyền trung ương để ra quyết định, song chính quyền trung ương vẫn chịu trách nhiệm về các quyết định này.

    o    Phân ề (devolution): là cấp độ phân cấp hành chính cao nhất theo đó toàn bộ chức năng ra quyết định, quản lý và tài chính được chuyển giao cho chính quyền địa phương. Trong các trường hợp cụ thể, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm giải trình trước các quan chức dân cử. Đồng thời, các quan chức dân cử sẽ chịu trách nhiệm giải trình trước cử tri chứ không phải là trước chính quyền các cấp cao hơn.

    • Phân c p ngân sách: là trọng tâm của mọi biện pháp phân cấp. Mỗi đơn vị phân cấp chỉ có thể độc lập thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp khi họ có đủ các nguồn lực cần thiết và có quyền đưa ra các quyết định chi tiêu. Bốn nội dung trọng tâm của phân cấp ngân sách bao gồm (i) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chi tiêu; (ii) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm thu ngân sách; (iii) chuyển giao ngân sách từ trung ương cho địa phương và điều tiết ngân sách từ

    địa phương về trung ương; và (iv quy định về khả năng đi vay và phát hành nợ của chính quyền địa phương.

    • Phân c p th ường: là hình thức phân cấp trong đó nhà nước chuyển giao một số chức năng từ khu vực công sang khu vực tư và từ nhà nước sang thị trường. Như vậy một số quyền hạn và nhiệm vụ trước đây thuộc các cơ quan nhà nước sẽ được chuyển giao cho khu vực kinh tế tư nhân, hợp tác xã, các hiệp hội, và các tổ chức phi chính phủ thực hiện. Hình thức này lại có thể được phân thành hai nhóm, bao gồm: (i) “tư nhân hoá” – chuyển giao việc cung ứng một số sản phẩm và dịch vụ từ nhà nước sang các chủ thể ngoài nhà nước; và (ii) giải quy chế – giảm các rào cản hành chính, tạo điều kiện cho các chủ thể ngoài nhà nước tham gia vào thị trường.

    Cách phân loại phân cấp thứ hai không căn cứ vào lĩnh vực phân cấp mà căn cứ vào các chức ă g trong quá trình hoạch định chính sách công. Theo cách phân loại này, việc phân cấp có thể được thực hiện đối với một số hoặc toàn bộ các chức năng hoạch định chính sách công, từ việc đưa ra đề xuất chính sách và lập kế hoạch cho đến việc thực hiện, giám sát, và đánh giá chính sách.

    4

    Hình 1. Sơ đồ nội dung và chức năng phân cấp

    Trung Ương

     Hoạch định Phân cấp chính trị

    Tài trợ

    Phân cấp hành chính

    Địa phương Thực hiện
     

    Phân cấp ngân sách

    Giám sát

    Phân cấp thị trường

     Kiểm toán, đánh giá Các cấp NS thấp

    hơn

    Khái niệm và hai cách phân loại phân cấp được minh họa trong

    Hình 1. Sự kết hợp giữa hai cách phân loại này có thể đưa đến rất nhiều cấu hình (hay trạng thái) phân cấp khác nhau. Nói cách khác, lựa chọn trong việc thiết kế phân cấp không đơn thuần là “có” hay “không” phân cấp, mà là phối hợp các nội dung và các chức năng phân cấp như thế nào để tạo ra cấu hình phân cấp mong muốn. Bên cạnh đó, vì các nội dung và chức năng phân cấp có tính tương tác, nên khi thiết kế chính sách phân cấp, cần rất lưu ý đến trình tự và sự phối hợp giữa các nội dung và chức năng phân cấp để tạo ra hiệu quả tổng hợp cao nhất. Chẳng hạn như trong phạm vi của phân cấp ngân sách, nếu như phân cấp nguồn thu không đi trước, hoặc ít nhất là đi đôi với phân cấp nhiệm vụ chi thì địa phương sẽ không đủ nguồn tài chính để thực hiện những nhiệm vụ được giao thêm. Một ví dụ khác là nếu như việc phân cấp chức năng hoạch định và thực hiện đầu tư cho địa phương nhưng lại không đi kèm với những biện pháp đánh giá và điều phối thích hợp thì có thể dẫn đến tình trạng đầu tư phân tán, kém hiệu quả và lãng phí.

    Cần lưu ý rằng chính sách và quá trình phân cấp không được định hình và thực hiện một cách biệt lập mà trong một môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và pháp

    5

    luật nhất định – gọi chung là môi trường thế chế theo nghĩa rộng của thuật ngữ này3. Do vậy, thiết kế – và đương nhiên là cả kết quả – của chính sách phân cấp phụ thuộc vào môi trường thế chế chung của quốc gia. Một cách khái quát, các môi trường thể chế khác nhau sẽ tạo ra những động cơ khuyến khích khác nhau, từ đó đưa đến những hành vi và cuối cùng là các kết quả khác nhau. Những kết quả này, đến lượt mình, lại có tác động trở lại đối với môi trường thể chế, có thể theo hướng củng cố mà cũng có thể theo hướng làm rạn nứt các thể chế hiện tại. Và vòng lặp này cứ thế tiếp tục tái diễn.

    3.       Tại sao cần phân cấp?

    Làn sóng phân cấp trên thế giới trong mấy thập niên trở lại đây xuất phát từ cả cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Về phương diện lý thuyết, theo Stigler (1957) thì “một chính phủ đại diện hoạt động tốt nhất khi nó ở gần dân nhất” và “người dân phải có quyền bỏ phiếu cho loại hình và số lượng dịch vụ công mà họ cần”. Còn Olson (1969 đề xuất “nguyên lý tài khóa tương đương” như là tiêu chuẩn cho sự thiết kế phân chia quyền hạn giữa các cấp chính quyền, theo đó phạm vi của quyền hạn và lợi ích của dịch vụ công phải trùng nhau nhằm đảm bảo lợi ích biên của việc cung cấp dịch vụ công ngang bằng chi phí biên của nó và rằng không có vấn đề “người ăn theo”. Oates (1972 sau đó cụ thể hóa thêm khi viết rằng “dịch vụ công nên do cấp chính quyền đại diện tốt nhất cho vùng hay địa phương được hưởng lợi cung cấp” và “mỗi dịch vụ công nên được cung ứng bởi cấp chính quyền kiểm soát được khu vực địa lý tối thiểu trong đó “nội hóa” được các lợi ích và chi phí của việc cung cấp dịch vụ công này.”

    Lý thuyết của những học giả tiên phong về phân cấp này cũng như các lý thuyết phân cấp về sau (Shah 2004, WB 2010) đều cho rằng nhờ ở gần dân hơn nên so với chính quyền trung ương chính quyền địa phương có thông tin tốt hơn về nhu cầu và ý nguyện của người dân, đồng thời thấu hiểu hơn những điều kiện đặc thù của địa phương. Vì vậy, chính quyền địa phương có thể đáp ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn trước các yêu cầu của người dân, và do vậy thích hợp hơn trong việc ra các quyết định tác động trực tiếp đến phúc lợi của người dân địa phương. Ở chiều ngược lại, vì người dân ở gần chính quyền địa phương hơn nên tiếng nói của họ cũng được chính quyền cảm nhận một cách nhanh chóng và rõ ràng hơn. Tựu trung lại, các lý thuyết về phân cấp cho rằng việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương xuống cho chính quyền địa phương, nhờ đó đưa cấp chính quyền ra quyết định đến gần dân hơn, sẽ giúp tăng cường hiệu quả, tính công bằng, sự minh bạch, và trách nhiệm giải trình của khu vực công.

    Những lý thuyết này dựa trên một số giả định (điều kiện tiền đề), trong đó quan trọng nhất là những giả định về:

    • Thể chế (institution theo Douglass North (1990 bao gồm các quy tắc thành văn và không thành văn cũng những cơ chế cưỡng chế thi hành các quy tắc này.

     

    6

    • Minh bạch thông tin: Cộng đồng dân cư địa phương phải được tiếp cận thông tin về các quyết định công một cách đầy đủ, kịp thời, và chính xác. Chẳng hạn như khi chính quyền địa phương cung ứng một hàng hóa hay dịch vụ công thì người dân phải được thông tin về các lựa chọn chính sách khả hữu cùng với chi phí và lợi ích của chúng. Nếu thông tin được minh bạch thì một mặt sẽ giúp đảm bảo rằng việc cung ứng hàng hóa – dịch vụ công là có ý nghĩa, mặt khác giúp cộng đồng dân cư giảm sát một cách hiệu quả đối với kết quả hoạt động của chính quyền địa phương.
    • Tiếng nói: Tồn tại những cơ chế có hiệu lực để cộng đồng dân cư địa phương truyền đạt ý nguyện và các ưu tiên của mình tới chính quyền. Điều này, cùng với yêu cầu về minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình sẽ khuyến khích người dân tích cực tham gia vào toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách để bảo vệ lợi ích của mình và của cộng đồng.
    • Trách nhiệm giải trình: Đối tượng được phân cấp phải có trách nhiệm giải trình

    hai chiều: với chính quyền cấp trên mà từ đó trách nhiệm và quyền lực được phân cấp xuống dưới và với các đối tượng phía dưới chịu tác động trực tiếp của phân cấp. Lấy ví dụ như phân cấp từ chính quyền trung ương cho địa phương.

    Chính quyền địa phương khi ấy phải chịu trách nhiệm giải trình trong việc tuân thủ chủ trương, chính sách do chính quyền trung ương ban hành; đồng thời phải chịu trách nhiệm giải trình trước người dân địa phương về chất lượng phục vụ của mình. Nếu thiếu những cơ chế đảm bảo trách nhiệm giải trình ở cả hai chiều này thì việc đưa cấp chính quyền ra quyết định đến gần dân hơn một mặt không

    đảm bảo nó sẽ phục vụ người dân tốt hơn, mặt khác lại đưa nó ra xa khỏi tầm quản lý của chính quyền trung ương.

    • Nguồn lực: Ngay cả khi thông tin minh bạch, người dân có tiếng nói, và chính quyền địa phương có trách nhiệm song lại không đủ nguồn lực thì cũng không thể đáp ứng một cách có hiệu quả các ý nguyện của người dân. Nói cách khác, nếu tiền và các nguồn lực khác không đi theo sự gia tăng quyền hạn và trách nhiệm thì phân cấp sẽ rất khó thành công.4
    • Quy mô: Đơn vị phân cấp nên có quy mô đủ lớn để có thể tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, đồng thời bao trùm được các lợi ích và chi phí của các hoạt động hay chức năng được phân cấp (để có thể “nội hóa” được ngoại tác, cả tiêu cực lẫn tích cực). Quy mô của đơn vị phân cấp đủ lớn – hay số lượng đơn vị phân cấp đủ nhỏ – còn giúp cho việc điều phối chính sách của trung ương cũng như phối hợp chính sách liên địa phương hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu quy mô phân cấp quá bé và số lượng đơn vị phân cấp quá nhiều sẽ dễ dẫn đến cạnh tranh
    • Điều này cũng hàm ý rằng, ít nhất từ phương diện lý thuyết, các địa phương với nguồn lực và năng lực khác nhau sẽ nên được phân cấp các quyền hạn và trách nhiệm không giống nhau.

     

    7

    không lành mạnh thay vì hợp tác giữa các địa phương. Điều này một mặt làm tăng chi phí và xói mòn tác dụng của phân cấp, mặt khác còn có thể đưa đến nhiều tác động tiêu cực đối với nền kinh tế quốc gia.

    Các giả định này đồng thời là những điều kiện cần (mặc dù chưa đủ) cho sự thành công của hoạt động phân cấp. Có thể thấy rằng cả năm điều kiện này đều chịu tác động, thậm chí trong một chừng mực nào đó là sản phẩm của môi trường thể chế. Vì vậy, để phân cấp thành công thì những yếu tố của môi trường thể chế phải được điều chỉnh sao cho chúng vận hành cùng chiều và hỗ trợ cho quá trình phân cấp. Tuy nhiên, thể chế thường có tính tự duy trì, vì vậy trong nhiều trường hợp không những không hỗ trợ mà còn cản trở phân cấp.

    Từ góc độ thực tiễn, hầu hết các chương trình phân cấp của các quốc gia trên thế giới trong vòng hai thập niên trở lại đây xuất phát từ những động cơ và quan ngại về chính trị (xem thêm Shah 2004). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là phân cấp không hề bị thúc đẩy bởi các yếu tố thực tiễn có tính phi chính trị. Sự chuyển đổi từ hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như hiện nay đương nhiên đòi hỏi phải xác định lại một cách cơ bản vai trò của nhà nước, và đi kèm với nó, là tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng phân cấp và phân quyền nhiều hơn. Ở những quốc gia nơi chính quyền trung ương luôn bị quá tải, phân cấp được đẩy mạnh với kỳ vọng rằng nó sẽ giúp giải tỏa những ách tắc trong quá trình ra quyết định, giảm bớt sự phiền hà của thủ tục hành chính, và tăng tính nhạy cảm của chính quyền trước nhu cầu, ý nguyện, và điều kiện đặc thù của địa phương. Ở những quốc gia có thành phần dân tộc và tôn giáo phức tạp và dễ xung đột, phân cấp được kỳ vọng sẽ đem lại sự tham gia và tiếng nói của những thành phần thiểu số, dễ bị tổn thương, và qua đó góp phần duy trì tính cố kết dân tộc.

    Bảng 1. Các xu thể thay đổi quản trị nhà nước trong thế kỷ 21

        THẾ K  20       THẾ K  21
                     
    Nhất thể   Liên bang
    Tập trung   •  Toàn cầu hóa và địa phương hoá5
    •  Trung ương quản lý   •  Trung ương lãnh đạo
    Quan liêu   Cùng tham gia
    •  Chỉ huy, kiểm soát   •  Đáp ứng nhu cầu của dân
    •  Kiểm soát đầu vào   •  Chú trọng đầu ra (kết quả)
    •  Trách nhiệm giải trình từ trên xuống   •  Trách nhiệm giải trình từ dưới lên
    •  Phụ thuộc nội bộ   Cạnh tranh
    Đóng và chậm   Nhanh và mở
    •  Không chấp nhận rủi ro   Tự quyết định thất bại thành công
                     
    • : Shah, Anwar (2004).
    • Thuật ngữ Shah sử dụng để miêu tả quá trình toàn cầu hóa song hành với địa phương hóa này là “glocalization”.

     

    8

    Từ góc độ quản trị nhà nước (public governance), theo Shah (2004), tiến trình phân cấp

    • các nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển còn được thúc đẩy bởi làn sóng toàn cầu hóa và xu thế dân chủ hóa từ cuối thập niên 1980. Toàn cầu hóa biến thế giới thành một “ngôi làng toàn cầu” và thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia. Điều này, đến lượt

    mình, đòi hỏi chính quyền địa phương phải có nhiều thẩm quyền hơn và gần dân hơn để có thể phản ứng một cách hiệu quả hơn đối với những cơ hội và thách thức mới nổi lên của toàn cầu hóa. Song song với sự trao quyền này, chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giải trình và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Shah (2004 đã tổng kết các xu hướng thay đổi trong quản trị nhà nước trên thế giới trong thế kỷ 20 và 21 trong Bảng 1.

    4. Khái lược về chủ trương phân cấp ở Việt Nam

    Trong suốt lịch sử Việt Nam, kể từ khi Ngô Quyền giành lại độc lập dân tộc vào thế kỷ thứ X cho đến trước Đổi mới, dù ở chế độ phong kiến, dưới thời thực dân đô hộ, hay trong giai đoạn quá độ kế hoạch hóa tập trung, tuy mức độ nặng nhẹ khác nhau song cấu trúc nhà nước đều thiên về tập quyền hơn là phân cấp. Chính quyền trung ương luôn nắm hầu hết quyền lực mang tính quyết định, phân cấp nếu được sử dụng cũng rất giới hạn. Hệ quả là chính quyền địa phương hầu như lệ thuộc vào chính quyền trung ương cả về chính sách, ngân sách và nhân sự.

    Tuy vậy, trong đời sống thực tiễn, bên cạnh cấu trúc tập trung đậm nét, vẫn tồn tại vai trò của làng xã trong việc cung ứng hàng hóa công và giải quyết các sự vụ có tính địa phương, đặc biệt là ở miền Bắc.6 Hương ước của làng cũng là một điểm đặc biệt trong hệ thống luật pháp Việt Nam trong những thế kỷ trước, thể hiện một mức độ tự quản nhất định của làng. Nhưng dù làng có vị thế như vậy nhưng nó chưa bao giờ được thừa nhận như một đơn vị hành chính chính thức của bộ máy chính quyền. Lý trưởng trước kia và trưởng thôn ngày nay mặc dù được hưởng trợ cấp từ ngân sách nhưng không phải là công chức trong hệ thống hành chính. Như vậy, quyền lực của làng mang tính phi chính thức và chỉ có thể giải quyết được một số vấn đề với quy mô nhỏ trong phạm vi của làng.

    Ngay từ giai đoạn đầu của Đổi Mới, vấn đề phân cấp đã được Đảng nhìn nhận một cách nghiêm túc và được đưa ngay vào Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986):

    “Phải lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý kinh tế, xã hội. Chính cơ chế quản lý còn nặng tính chất tập trung quan liêu, vừa gò bó cấp dưới, vừa làm giảm hiệu lực quản lý tập trung là nguyên nhân trực tiếp làm rối loạn trật tự, kỷ cương. Vì vậy, không thể khắc phục sự rối ren bằng cách quay

    • Những câu tục ngữ như “phép vua thua lệ làng” hoặc nhận định Việt nam tuy có nhiều thời gian dài bị mất nước nhưng chưa bao giờ bị mất làng là những biểu hiện của sức sống của làng.

     

    9

    trở lại cơ chế cũ, mà phải kiên quyết thực hiện phân cấp quản lý (chữ in nghiêng do tác giả nhấn mạnh) theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Việc phân cấp quản lý phải bảo đảm quyền làm chủ của ba cấp: quyền quyết định của trung ương (bao gồm cả các ngành trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm cho sự phát triển cân đối của toàn bộ nền kinh tế; quyền chủ động của các địa phương trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý kinh tế – xã hội trên địa bàn lãnh thổ; quyền tự chủ sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở và vai trò làm chủ của các tập thể lao động. Trong sự phân công, phân cấp quản lý, trách nhiệm phải đi đôi với quyền hạn, nghĩa vụ gắn liền với lợi ích.”7

    Mặc dù có chủ trương song lý luận về phân cấp, đặc biệt là lý luận về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế mới, vẫn chưa rõ ràng, thiếu hệ thống, và còn nhiều khoảng trống. Vì vậy, sau một thời gian dài, phân cấp chưa đáp ứng được mục tiêu và đi sau thực tiễn như được thừa nhận trong Nghị quyết 08/2004/NQ-CP như sau:

    Tuy nhiên, quá trình đổi mới phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp vừa qua xét về tổng thể vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, còn nhiều hạn chế, bất hợp lý:

    • Phân cấp nhưng chưa bảo đảm quản lý thống nhất, còn biểu hiện phân tán, cục bộ; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; chưa chú trọng việc thanh tra, kiểm tra đối với những việc đã phân cấp cho địa phương.
    • Chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ công, đại diện chủ sở hữu đối với các tổ chức kinh tế nhà nước và tài sản nhà nước. Chưa xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp, của tập thể và cá nhân đối với những nhiệm vụ đã được phân cấp.
    • Phân cấp nhiệm vụ cho cấp dưới, nhưng chưa bảo đảm tương ứng các

    điều kiện cần thiết để thực hiện, còn thiếu sự ăn khớp, đồng bộ giữa các ngành, các lĩnh vực có liên quan, chưa tạo điều kiện thực tế cho địa phương chủ động cân đối các nguồn lực và các nhu cầu cụ thể của mình.

    • Một số nội dung phân cấp đã được pháp luật quy định nhưng chậm

    được triển khai thực hiện hoặc thực hiện không triệt để. Mặt khác, các

    7Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, trang 747

    10

    quy định phân cấp hiện hành chưa phù hợp với thực tiễn của mỗi khu vực, vùng lãnh thổ, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa đô thị và nông thôn.

    Những hạn chế, bất cập trên đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân: nhận thức, quan điểm về các chủ trương, giải pháp phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh chưa rõ ràng, rành mạch, thiếu nhất quán, lo ngại phân cấp mạnh dẫn đến tình trạng cục bộ, cát cứ, phân tán. Trong tổ chức chỉ đạo còn thiếu quyết tâm, mạnh dạn từ xây dựng, ban hành thể chế, chính sách đến tổ chức thực hiện; chưa chú trọng tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng với yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong tình hình mới.

    Mặc dù đồng ý với hầu hết những nhận định về nhược điểm của phân cấp của Chính phủ, song chúng vẫn chưa chạm đến những nguyên nhân cốt lõi – những nguyên nhân đã ăn sâu bám rễ trong hệ thống thể chế hiện tại. Cụ thể là Chính phủ luôn cố gắng bảo về quyền lực tối cao của trung ương, trong đó đặc biệt quan trọng là quyền lực chính trị, ngân sách, và bổ nhiệm nhân sự. Một hệ quả của thực tế này là quan niệm về phân cấp ở Việt Nam chỉ giới hạn chủ yếu trong phạm vi phân cấp quản lý kinh tế chứ hầu như không bao gồm phân cấp chính trị và nhân sự.8 Bên cạnh đó, việc định nghĩa lại vai trò của nhà nước trong một nền kinh tế ở đó khu vực tư nhân đóng vai trò động lực và quan trọng nhất cũng không được đặt ra. Không những thế, ngay cả khi khu vực nhà nước (cụ thể là DNNN, đầu tư công, và ngân hàng thương mại nhà nước được công nhận là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn vĩ mô và suy giảm kinh tế trong giai đoạn gần đây thì các chương trình tái cơ cấu của chính phủ vẫn khẳng định nhiệm vụ hàng đầu là khôi phục và khẳng định vị trí chủ đạo, chủ lực của khu vực này.

    Với nhận định như vậy về những hạn chế trong chính sách và triển khai phân cấp, Nghị quyết 08 tiếp tục khẳng định mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước, đồng thời đưa ra một hệ thống quan điểm và nguyên tắc phân cấp như sau:

    1. Quán triệt quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất, bảo đảm quản lý thống nhất của Chính phủ về thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, thanh tra, kiểm tra; đồng thời phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
    1. Tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ những nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ,
    • Như sẽ chứng minh ở một phần dưới, ngay trong địa hạt kinh tế, phân cấp ngân sách trên thực tế không những không làm tăng sự tự chủ mà trái lại còn làm tăng sự phụ thuộc của chính quyền địa phương vào trung ương.

     

    11

    ngành với nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với các hoạt động kinh tế – xã hội trên địa bàn lãnh thổ.

    1. Bảo đảm nguyên tắc hiệu quả, việc nào, cấp nào sát thực tế hơn, giải quyết kịp thời và phục vụ tốt hơn các yêu cầu của tổ chức và nhân dân thì giao cho cấp đó thực hiện; phân cấp phải rõ việc, rõ địa chỉ, rõ trách nhiệm, gắn với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp.
    1. Phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn,

    đặc thù của ngành, lĩnh vực, điều kiện và khả năng phát triển của từng khu vực, vùng lãnh thổ, với từng loại hình đô thị, nông thôn, với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế.

    1. Phải bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, tổ chức, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác; phải

    đồng bộ, ăn khớp giữa các ngành, lĩnh vực có liên quan.

    1. Bảo đảm quyền và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định, thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp; chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính; đồng thời phát huy dân chủ rộng rãi để nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
    1. Phân cấp phải thể hiện được sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy phạm pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở.
    1. Đối với những vấn đề đã phân cấp, chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện; các bộ, ngành trung ương có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc trái với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thì xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét.

    Bên cạnh những quan điểm và nguyên tắc chính thống được liệt kê ở trên thì trên thực tế, chính sách phân cấp ở Việt Nam còn được định hướng bởi hai nguyên tắc quan trọng khác. Nguyên tắc đầu tiên là “phân cấp từ trên xuống”, có nghĩa là những gì ở cấp trên không cần làm thì cấp dưới sẽ thực hiện” (từ trên xuống), hoàn toàn không tương ứng với nguyên tắc phân cấp phổ biến trên thế giới là “những gì cấp dưới không làm được thì cấp trên mới phải làm” (từ dưới lên). Nguyên tắc phân cấp từ trên xuống đã đẩy đến hiện tượng “cấp dưới luôn cảm thây bị gò bó và cấp trên luôn ở trong tình trạng “quá tải” và không thể kiểm soát được đồng thời tiếp tục làm tăng tính “ỷ lại” ở chính quyền cấp dưới.

    Nguyên tắc thứ hai là phân cấp theo quy mô, hay còn gọi là “nắm to, buông nhỏ”. Đây là một trong những tiêu chí chủ đạo trong quá trình phân cấp ở Việt nam, đặc biệt trong

    12

    vấn đề quản lý đầu tư và DNNN. Song quy mô đầu tư không phải lúc nào cũng tương ứng với tính chất và mức độ ảnh hưởng của dự án đầu tư. Chính nguyên tắc phân cấp này đã gây khó khăn không nhỏ cho các địa phương và đó cũng là một nguyên nhân khiến họ phải tìm những biện pháp “xé rào” để thu hút đầu tư nước ngoài.9

    5. Đánh giá khái quát kết quả phân cấp ở Việt Nam

    Việc đánh giá một chính sách lớn và phức tạp như phân cấp phải dựa trên nhiều nghiên cứu toàn diện, tỉ mỉ, và được tiến hành một cách khách quan. Đáng tiếc là cho đến thời điểm này, chúng ta hầu như chưa có những nghiên cứu như vậy.10 Mục đích của phần này, vì vậy, chỉ khiêm tốn là đưa ra một số đánh giá có tính khái quát từ góc độ thể chế về những thành công và hạn chế của việc thiết kế và thực hiện phân cấp, để từ đó làm cơ sở đưa ra những khuyến nghị chính sách cụ thể.

    5.1. Một số thành công của chính sách phân c p

    Có thể nói những thành công lớn nhất trong chính sách phân cấp ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đều gắn liền với sự hạn chế bớt vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế và sự tham gia ngày một tăng của thị trường và của khu vực dân doanh. Điều này xuất phát từ một thực tế là bản chất của quá trình cải cách ở Việt Nam kể từ năm 1986 là sự chuyển đổi vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Cho đến nay, ngoại trừ những hoạt động độc quyền hay tựa độc quyền của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước chiếm khoảng 20-25% GDP của cả nước, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang thị trường phi tập trung. Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi nhiều thành tựu nổi bật nhất của quá trình Đổi mới đến từ quá trình phân cấp thị trường. Có thể kể ra đây một vài ví dụ điển hình. Sự chuyển đổi của khu vực nông nghiệp trong giai đoạn cuối thập niên 1980 là kết quả trực tiếp của một loạt những thay đổi thể chế quan trọng như việc ban hành Luật đất đai 1987 công nhận những quyền sử dụng đất cơ bản, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10) vào tháng 4/1988 qua đó công nhận loại hình kinh tế hộ trong nông nghiệp, giảm vị trí độc quyền của kinh tế quốc doanh trong sản xuất và phân phối lúa gạo v.v. Kết qủa là chỉ sau một năm, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nhập khẩu lương thực, và sau đó vài năm trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.

    Một thành tựu nữa của công cuộc Đổi mới được ghi nhận vào đầu những năm 1990 khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, và kéo theo nó là nguồn viện

    • Xem thêm Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng (2007 .

     

    • Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2010 nhan đề “Các thể chế hiện đại” là một ngoại lệ. Tuy nhiên, như sẽ chỉ ra trong bài viết này, ý kiến khách quan – ít nhất là về mặt hình thức – của các nhà tài trợ nước ngoài về thành công và thất bại của phân cấp trong một số trường hợp cũng vẫn còn có ý kiến khác nhau.

     

    trợ nước ngoài lớn nhất của Việt Nam khi ấy. Cũng trong thời gian đó, Mỹ vẫn còn áp đặt lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Kết quả là Việt Nam gần như hoàn toàn bị cô lập khỏi thế giới bên ngoài. Một lần nữa, khu vực tư nhân – lần này là doanh nghiệp tư nhân – lại được giải phóng và trở thành cứu tinh của nền kinh tế thông qua Luật Công ty 1990, trong đó công nhận quyền sở hữu tư nhân và vai trò của khu vực tư nhân trong sự phát triển của nền kinh tế. Kể từ đó, nhà nước đã dần dần từ bỏ vị trí độc tôn của mình trong các ngành công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ. Việc thông qua Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 sau đó tiếp tục đẩy mạnh phân cấp thị trường bằng việc tái khẳng định quyền tự do kinh doanh của người dân và giảm bớt chi phí giao dịch khi đăng ký thành lập công ty. Sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 được ban hành, một số lượng kỷ lục các doanh nghiệp tư nhân đã được thành lập nhờ thủ tục đăng ký kinh doanh giờ đây đã trở nên dễ dàng hơn. Khối lượng vốn khổng lồ trong nước được các doanh nghiệp này huy động đã giúp cho Việt Nam hồi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực năm 1997-1998 và duy trì một tốc độ tăng trưởng cao kể từ năm 2000.

    Từ những thành công trong phân cấp thị trường này, có thể rút ra một bài học là, nếu như ngay từ giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới, nhận thức và lý luận về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế, đồng thời lý luận về phân cấp (theo nghĩa rộng được nghiên cứu một cách nghiêm túc thì Việt nam đã có thể thiết kế được một lộ trình tương đối rõ ràng cho quá trình chuyển đổi và có thể hạn chế được rất nhiều sai lầm về thiết kế và triển khai chính sách phân cấp trong suốt hơn môt phần tư thế kỷ qua.

    Đối với các nội dung khác của phân cấp – bao gồm phân cấp chính trị, ngân sách, và quản lý hành chính – tuy Việt Nam cũng đã thu được một số thành công với các mức độ khác nhau, song những thành công này không thực sự thuyết phục như trường hợp phân cấp thị trường. Điều này có thể thấy rõ qua những đánh giá về sáu nội dung phân cấp được đề ra trong Nghị quyết 08 của Chính phủ trong Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010 và những bài viết của những tác giả khác trong Diễn đàn kinh tế mùa Thu 2012.11 Để không lặp lại nội dung của các tác giả khác, trong phần kế tiếp, bài viết này sẽ trình bày một số hạn chế phổ biến trong các hình thức phân cấp ở Việt Nam và phân tích những nguyên nhân cơ bản nằm đằng sau những hạn chế này.

    5.2. Một số   ượ      điểm trong thiết kế và thực hiện chính sách phân c p ở Việt Nam

    1. a) Phân c ưa thực sự đi kèm với nhữ g điều kiện cần để phân c p hiệu quả
    • Sáu nội dung phân cấp này bao gồm: (1) phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; (2 phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; (3 phân cấp quản lý đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước; (4 phân cấp quản lý doanh

    nghiệp nhà nước; (5 phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; và (6 phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy và cán bộ công chức.

    Như đã thảo luận ở Phần 2, lý thuyết và thực tiễn phân cấp cho thấy, để phân cấp một cách hiệu quả và công bằng thì phân cấp phải được thực hiện cùng với các điều kiện về minh bạch thông tin, tiếng nói, trách nhiệm giải trình, nguồn lực, và quy mô. Để đánh giá thực trạng của các điều kiện cần này, một cách lý tưởng, chúng ta cần so sánh số liệu trước và sau khi tiến hành phân cấp. Tuy nhiên, vì số liệu quá khứ không có nên chúng ta đành phải bằng lòng với việc chủ yếu sử dụng số liệu hiện tại.

    • Thông tin thiếu minh bạch: Số liệu Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công

    cấp tỉnh (PAPI)12 ở Việt Nam cho thấy mức độ minh bạch về thông tin rất thấp. Chẳng hạn như trong cả hai năm 2010 và 2011, trong số hàng ngàn người được phỏng vấn, chỉ khoảng một phần ba đã từng được nghe nói đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn, mặc dù Pháp lệnh này được thực thi từ đầu năm 2007 (Hình 2). Bên cạnh đó, có tới khoảng một phần ba số người được phỏng vấn chưa từng nghe đến khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, mặc dù khẩu hiệu này đã được nói đi nói lại nhiều lần từ Đại hội Đảng VI năm 1986 đến nay.

    Hình 2. Tỷ lệ người dân đã từng nghe đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ và khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

    80%                  
      71%              
                     
    70%     65%          
    60%                 Đã từng nghe đến Pháp
                   
    50%                
                   
                    lệnh thực hiện dân chủ cơ
             
    40%                 sở ở xã, phường, thị trấn
      33% 34%          
                 
    30%                 Đã từng nghe đến khẩu
                   
                   
                      hiệu “dân biết, dân bàn,
    20%                 dân làm, dân kiểm tra”
                   
                     
    10%                  
                     
    0%                  
      2010 2011          
                       

    Nguồn: PAPI 2010 và 2011

    Tương tự như vậy, và bất chấp thực tế đất đai là một tài sản vô cùng quan trọng, số liệu PAPI cho thất có tới gần 80% người được phỏng vấn không hề được biết về quy

    • PAPI gồm có 6 chỉ số bộ phận, bao gồm: (i tham gia của người dân ở cấp cơ sở; (ii công khai, minh bạch; (iii trách nhiệm giải trình với người dân; (iv kiểm soát tham nhũng; (v thủ tục hành chính công; và (vi cung ứng dịch vụ công. PAPI được tiến hành lần đầu tiên vào năm 2010 bao gồm 30 tỉnh, sau đó được mở rộng ra tất cả 63 tỉnh thành trong năm 2011.

     

    15

    hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở xã phường/thị trấn của họ.13 Tỷ lệ này của năm 2011 còn tăng so với 2010. Bên cạnh đó, có chưa đến 20% số người được phỏng vấn biết về quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở địa phương của họ. Không những thế, con số này còn giảm từ 18,6% trong năm 2010 xuống còn 16,2% trong năm 2011 (

    Hình 3).

    Hình 3. Tỷ lệ người dân được biết về quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở xã phường/thị trấn

    90%                    
      76.6% 79.2%                
    80%                  
                       
    70%                    
                  2010    
    60%                
                 
                       
                  2011    
    50%                
                 
                       
                       
    40%                    
                       
    30%                    
        18.6% 16.2%            
    20%                
            5.8%    
    10%         3.8%  
                     
    0%                    
        Không được biết   Được biết nhờ thông   Được biết nhưng qua  
            báo của chính quyền       nguồn khác  

    Ngu n: PAPI 2010 và 2011

    Không chỉ người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin chính sách mà doanh nghiệp cũng gặp phải tình trạng này. Hơn nữa, tình trạng này còn xấu đi trong những năm trở lại đây. Theo số liệu PCI (năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) của VCCI và VNCI thì đa số doanh nghiệp cho rằng cần phải có “mối quan hệ” để có được các tài liệu của tỉnh, và tỷ lệ này tăng từ 62% trong năm 2006 lên 73,3% trong năm 2011. Bên cạnh đó, khả năng dự đoán được việc thực thi pháp luật của tỉnh cũng rất thấp và giảm từ 10,5% trong năm 2006 xuống chỉ còn 8,9% trong năm 2011. Kết quả chung là trong giai đoạn 2006 – 2011, chỉ số đo lường mức độ minh bạch chính sách ở cấp tỉnh ở Việt Nam đã giảm từ 5,8 xuống còn 5,3.

    Bảng 2. Tính minh bạch trong chính sách của chính quyền cấp tỉnh

        Cần có “mối quan hệ” để có Khả năng có thể dự đoán được Minh bạch
        được các tài liệu của tỉnh trong thực thi pháp luật của tỉnh
        nói chung
        (% quan trọng hoặc rất quan (% luôn luôn hoặc thường
         
               
               
    • Số liệu của Báo cáo Phát triển Việt Nam cũng phản ảnh tình trạng “dân không biết” này. Trong số những người quan tâm, có tới hơn một nửa không hề được biết thông tin nào về ngân sách và kế hoạch của xã. Hơn nữa, nếu giả sử họ có được cung cấp thông tin đi chăng nữa thì những thông tin đó cũng không đủ đáp ứng được yêu cầu của họ.

     

    16

      trọng xuyên)  
           
    2006 62.0% 10.5% 5.8
    2011 73.3% 8.9% 5.3

    Ngu n: VCCI và VNCI

    • Trách nhiệm giải trình th p14

    Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào thực sự có hệ thống và đáng tin cậy về trách nhiệm giải trình của các đối tượng được phân cấp, và điều này càng đúng đối với các nghiên cứu có tính định lượng.15 Vì thế, phần này sẽ sử dụng một số trường hợp điển hình nhằm minh họa cho luận điểm rằng trách nhiệm giải trình theo cả hai chiều lên trên và xuống dưới ở Việt Nam nhìn chung còn rất thấp.

    Trường hợp đầu tiên liên quan đến các khiếu kiện về đất đai của người dân. Đã từ lâu, khiếu kiện về đất đai luôn chiếm tới 80-90% tổng số khiếu kiện chính thức của người dân. Điều đáng lưu ý là tuy là hiện tượng phổ biến, song số vụ khiếu kiện về đất đai đột nhiên tăng vọt ngay sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành (Hình 4). Rõ ràng là chính sách phân cấp đi đôi với đạo luật này đã không đảm bảo được trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương đối với người dân, khiến cho số lượng đơn khiếu kiện tăng đột biến.

    Hình 4. Các khiếu nại chính thức liên quan đến đất đai

    Ngu n: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010

    • Có thể thấy trách nhiệm giải trình thấp trong các nội dung phân cấp liên quan đến DNNN (điển hình là trường hợp của Vinashin và quản lý đầu tư công (cụ thể là PMU 18 . Độc giả có thể tham khảo thêm các bài trong kỷ yếu của Diễn đàn kinh tế mùa Xuân 2012.

     

    • Dự án PAPI đã nỗ lực đo lường trách nhiệm giải trình của chính quyền đối với người dân địa phương. Tuy nhiên, với thiết kế câu hỏi như hiện nay, PAPI không thể đo lường (chứ chưa nói đến việc đo lường chính xác trách nhiệm giải trình này.

     

    17

    Trường hợp thứ hai là phong trào “xé rào” trong ưu đãi đầu tư FDI của 32 tỉnh – thành phố trong giai đoạn 2001-2005 trong bối cảnh phân cấp quản lý FDI đang tiếp tục được đẩy mạnh.16 Cụ thể là các tỉnh này đã đưa ra những ưu đãi trái hoặc vượt quá khuôn khổ chính quyền trung ương quy định cho các nhà đầu tư, đặc biệt là trong các khu công nghiệp. Trước tình hình này, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký quyết định số 1387 ngày 29/12/2005 ra lệnh chấm dứt ngay lập tức các ưu đãi đầu tư trái quy định mà 32 tỉnh đang áp dụng. Nhiều bộ, trong đó có Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại, Bộ Tài nguyên Môi trường, và Văn phòng Chính phủ đã tham gia vào việc ban hành Quyết định này. Quyết định của Thủ tướng cũng đã yêu cầu UBND của tất cả 64 tỉnh thành phải báo cáo về tất cả các

    • phạm trong các quy định về ưu đãi đầu tư.17 32 tỉnh xé rào ngoài ra còn được yêu cầu hải báo cáo về các biện pháp mà họ đã thực hiện để khắc phục những vi phạm

    đã mắc phải. Mặc dù hạn nộp báo cáo là ngày 1 3 2006, nhưng tính đến ngày 14/3/2006, chỉ mới có 14 tỉnh nộp báo cáo, và chỉ có 4 tỉnh trong số này thừa nhận là có vi phạm. Sau đó, chính quyền trung ương một lần nữa lại yêu cầu 50 tỉnh còn lại nộp báo cáo muộn nhất là ngày 15 4 2006. Nhưng cho đến ngày 2/8/2006, vẫn còn 22 tỉnh chưa nộp. Trong số 42 tỉnh đã nộp báo cáo, một số tỉnh báo cáo một cách chiếu lệ về những biện pháp khắc phục mà không hề đưa ra một danh sách các vi phạm như chính quyền trung ương đã yêu cầu. Ví dụ này cho thấy mức độ tuân thủ của chính quyền địa phương đối với quyết định của chính quyền trung ương (còn gọi là trách nhiệm giải trình lên trên) là rất hạn chế.

    • Nguồn lực của đa số đ a ươ  g       t hạn chế:

    Nguồn lực nhiều hơn là điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện những trách nhiệm địa phương được phân cấp thêm. Thoạt nhìn, có vẻ như chính quyền địa phương ở Việt Nam đang được giao ngày càng nhiều ngân sách, thể hiện qua thực tế là cả tỷ lệ thu và chi của cấp chính quyền địa phương so với tổng chi tiêu liên tục tăng trong 10 năm trở lại đây (Hình 5). Cụ thể là tỷ lệ thu ngân sách của địa phương trong tổng thu ngân sách nhà nước đã tăng từ 25% vào năm 2000 lên 38% vào năm 2010. Cũng trong giai đoạn này, tỷ lệ chi ngân sách địa phương trong tổng chi ngân sách nhà nước cũng tăng tương ứng từ 45% lên tới 53%.

    Hình 5. Thu, chi ngân sách ĐP và chuyển giao từ TƯ (1996-2010)

    • Trích từ nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng (2007 .

     

    • Báo cáo này cần phải được đệ trình đồng thời cho các Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, Bộ Tư pháp, và VPCP.

     

    18

    Ngu n: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính

    Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào bức tranh thu chi ngân sách thì thấy tồn tại một số vấn đề quan trọng. Thứ nhất, tỷ lệ thu ngân sách của địa phương tăng lên trong thời gian gần đây không thực sự xuất phát từ những thay đổi cơ bản trong thiết kế phân cấp ngân sách, mà xuất phát từ việc gia tăng một số nguồn thu được để lại 100% ở địa phương, mà cụ thể là thu từ đất (lớn nhất là thuế chuyển quyền sử dụng đất). Đây là khoản thu có tính nhất thời, không thể duy trì trong dài hạn.

    Thứ hai, trong ngân sách chung của nhà nước, tỷ lệ thu của ngân sách địa phương vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ chi. Điều này có nghĩa là một phần rất lớn trong chi ngân sách của địa phương vẫn phụ thuộc vào các khoản chuyển giao từ chính quyền trung ương, và do vậy làm tăng sự phụ thuộc của địa phương vào trung ương. Điều này đặc biệt đúng với hơn 50 tỉnh hiện đang nhận trợ cấp từ trung ương (Hình 5).

    Bảng 3. Tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối trên địa bàn (%

      2003 2005 2010
           
    Hà Nội 12.5 12.4 17.6
    Hồ Chí Minh 10.5 10.1 9.7
    Đà Nẵng 17.3 16.5 15.4
    Cần Thơ 54.4 27.1 36.3
    Hà Giang 312.0 118.7 180.3*
    Vĩnh Phúc 29.1 28.8 13.0
    Nam Định 107.0 174.3 114.5
    Quảng Bình 108.2 109.7
    Khánh Hòa 30.4 24.1 29.3
    Bình Định 73.7 45.2 89.9
    Đắc Lắc 173.8 8.3 77.8
    Đồng Nai 24.3 32.4 26.5*
    Bình Dương 20.7 33.8 25.7
        19  
    Long An 81.6 39.9 24.4
    Bạc Liêu 99.9 21.9 4.5

    Ghi chú: * là số liệu của 2009

    Ngu n: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính

    Thứ ba, mặc dù tỷ lệ chi ngân sách địa phương tăng, song trong một phần rất lớn trong tỷ lệ tăng thêm này là những khoản chi có tính định mức, và do vậy chính quyền địa phương không hề được tự chủ mà buộc phải tuân theo. Một lần nữa, điều này đặc biệt đúng đối với các tỉnh không tự chủ được ngân sách, tức là không gian tài khóa vừa hẹp vừa thiếu khả năng tự chủ. Bảng 3 trình bày số liệu về tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối trên địa bàn của một số địa phương có tính đại diện cho các mức độ phát triển và vùng miền khác nhau trong các năm 2003, 2005 (là hai năm trước và sau khi Luật Ngân sách 2002 có hiệu lực và 2010 (là năm gần nhất có số liệu). Kết quả cho thấy tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối của các địa phương là hết sức khác nhau, thấp nhất là Hồ Chí Minh chỉ có 9,7%, cao nhất là Hà Giang, lên tới 180%. Rõ ràng là với tỷ lệ chi thường xuyên cao như thế này, tất cả nguồn thu cân đối trên địa bàn của Hà Giang chỉ đáp ứng được phân nửa nhu cầu chi thường xuyên, làm cho ngân sách của tỉnh luôn thâm hụt nặng, và vì vậy hoàn toàn không tự chủ.

    • Quy mô đ a ươ g nhận phân c           ươ g đối nhỏ

    Số lượng tỉnh khá lớn làm cho quy mô trung bình của một đơn vị phân cấp ở Việt Nam tương đối nhỏ. Trên thực tế, đây là đặc điểm chung của các nước Đông Nam

    • Nếu so với các nước Đông Bắc Á thì quy mô trung bình của một đơn vị phân cấp – được đo bằng diện tích, dân số và GDP trung bình, của các nước Đông Nam Á nhỏ hơn rất nhiều (Bảng 4).

    Bảng 4. Quy mô của đơn vị phân cấp: Đông Bắc Á sv. Đông Nam Á (2010

      Số đơn vị Diện tích trung Dân số trung GDP trung  
    Nước bình (triệu
    phân cấp bình (km2) bình (tỷ USD)  
      người)
             
    Đô g Á          
    China 34 282.264 38,6 175,0  
    South Korea 9 10.010 5,5 112,8  
    Japan 47 8.041 2,7 116,8  
    Đô g Nam Á          
    Thailand 75 6.842 0,9 4,3  
    Việt Nam 63 5.257 1,4 1,6  
    Philippines 80 3.750 1,2 2,5  

    Với quy mô như thế này, các địa phương không tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, đồng thời không giải quyết được một cách hiệu quả các vấn đề ngoại tác.

    20

    Không những thế, quy mô nhỏ cùng với số lượng đơn vị phân cấp nhiều còn có thể dẫn tới sự cạnh tranh quyết liệt giữa các địa phương.

    Hình 6. Sự chia cắt thể chế ở Việt Nam: Sân bay, cảng biển, khu kinh tế ven biển

         
    Sân bay Cảng biển Khu kinh tế ven biển
         

    Trên một số phương diện, chẳng hạn như xây dựng môi trường kinh doanh hay thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, sự cạnh tranh này là lành mạnh và đưa đến những kết quả tích cực. Tuy nhiên, trên nhiều phương diện khác, đặc biệt là liên quan đến việc tranh giành các nguồn lực cũng như sự ưu ái từ trung ương thì hệ quả có thể hết sức tiêu cực. Cụ thể là địa giới hành chính có thể bị biến thành địa giới kinh tế giữa các địa phương, nền kinh tế quốc gia bị chia cắt thành vô số mảnh nhỏ, đầu tư

    21

    công bị dàn trải và dẫm chân lên nhau – những điều trên thực tế đã và đang xảy ra ở Việt Nam (xem

    Hình 6).

    1. b) Phân c đồng loạ v    đại trà

    Nếu xét địa phương như là đơn vị phân cấp thì các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam được chia ra thành ba nhóm. Nhóm một gồm Hà Nội và Hồ Chí Minh được hưởng chính sách phân cấp đặc biệt.18 Nhóm hai gồm ba thành phố trực thuộc trung ương còn lại, bao gồm Hải Phòng, Đà Nẵng, và Cần Thơ, với hưởng chính sách phân cấp không rộng rãi như nhóm một, nhưng thông thoáng hơn so với nhóm ba, bao gồm 58 tỉnh còn lại, được hưởng chung một chính sách phân cấp, bất chấp sự khác nhau hiển nhiên về quy mô, không gian tài khóa, nguồn lực, năng lực v.v. của những địa phương này. Việc có một tấm áo phân cấp chung cho hầu như tất cả các địa phương là điều có thể hiểu được từ góc độ chính quyền trung ương, song điều này hạn chế hiệu quả của chính sách phân cấp.19 Một hệ thống phân cấp hiệu quả sẽ điều chỉnh mức độ tự quyết của chính quyền mỗi tỉnh sao cho phù hợp nhất với năng lực của chính quyền tỉnh đó. Tất nhiên, khi không gian phân cấp của một địa phương nào đó trở nên rộng rãi hơn thì cũng cần phải quy định trách nhiệm giải trình chặt chẽ hơn và công tác điều hành của chính quyền của địa phương đó phải minh bạch hơn.

    1. c) Phân c k ô g đồng bộ

    Phân cấp ở Việt Nam không cân đối trên ít nhất hai khía cạnh. Thứ nhất là các nội dung khác nhau của phân cấp không song hành với nhau, và do vậy không những không tạo ra tác dụng cộng hưởng mà còn hạn chế hiệu quả của phân cấp. Chẳng hạn như phân

    • Chẳng hạn như về phân cấp ngân sách, xem Nghị định 123/2004/NĐ-CP và 124/2004/NĐ-CP về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với Hà Nội và Hồ Chí Minh.

     

    • Xem thêm Ninh Ngọc Bảo Kim và Vũ Thành Tự Anh (2008).

     

    22

    cấp về quản lý đất đai (đặc biệt là liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất), quản lý FDI, và trong một chừng mực nào đó, phân cấp tài khóa đã diễn ra khá mạnh mẽ, song lại không được đi kèm với phân cấp chính trị. Điều này có nghĩa là không gian tự quyết của địa phương được mở rộng, nhưng cơ chế để buộc chính quyền địa phương hành động thực sự vì lợi ích của người dân địa phương không được cải thiện một cách tương ứng. Kết quả là không gian tự chủ rộng rãi hơn này có thể bị lạm dụng, thậm chí đi ngược lại lợi ích của một bộ phận dân chúng địa phương.

    Khía cạnh không cân đối thứ hai tồn tại giữa các cấp chính quyền khác nhau ở địa phương. Ví dụ như cho đến thời điểm này, chính sách dân chủ cơ sở chủ yếu mới dừng lại ở cấp độ phường, xã, và thị trấn; trong khi chính quyền cấp tỉnh mới là đối tượng tiếp nhận quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu trong phân cấp. Sự bất cân xứng này, một lần nữa, vừa làm yếu tiếng nói của người dân vừa làm giảm trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương.

    ) Cá    ơ       ế giám sát và phối hợp còn thiếu và yếu

    Đây là một hạn chế được tổng kết trong Nghị quyết 08/2004/NQ-CP, nhưng cho đến thời điểm này vẫn còn nguyên vẹn. Như các phần trên đã phân tích, quan hệ giữa các địa phương với nhau hiện nay mang tính cạnh tranh nhiều hơn là phối hợp. Mặc dù có tồn tại một số cơ chế điều phối vùng, chẳng hạn như thông qua các Ban chỉ đạo vùng, song Ban chỉ đạo này hoạt động trên cơ sở kiêm nhiệm và bán thời gian, trung bình một năm chỉ gặp nhau vài lần. Hơn nữa, nguồn lực về con người, tài chính, và tổ chức của các Ban chỉ đạo đều rất hạn chế. Tất cả những điều này dẫn đến một hệ quả là việc phối hợp giữa các địa phương với nhau hiện nay rất lỏng lẻo.

    Về phương diện giám sát, một cơ chế ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng là thông qua các cơ quan đại biểu dân cử. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, hiệu quả và hiệu lực của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp còn rất hạn chế. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân có tính kỹ thuật và những nguyên nhân có tính thể chế. Về phương diện kỹ thuật, thời gian, ngân sách, và các nguồn lực khác phục vụ cho hoạt động giám sát hết sức hạn chế, đồng thời nguồn thông tin và dữ liệu không đủ, dẫn đến các cơ quan dân cử không thể sâu sát trong việc giám sát hoạt động của UBND. Về phương diện thể chế, tỷ lệ chuyên trách của đại biểu HĐND rất thấp (chỉ khoảng từ 10% đến 30% tùy từng địa phương . Điều này có nghĩa là đa số đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, chủ yếu là công chức nhà nước. Bên cạnh đó, hơn 90% số đại biểu là Đảng viên. Như vậy, câu hỏi đặt ra là những đại biểu này đại diện cho ai, cho dân, cho chính quyền, cho Đảng, hay cho cả ba?

    1. d) Hạn chế xu t phát từ sự ươ g  á       giữa chính sách phân c p với môi       ường thể chế

     

    23

    Phần này sẽ minh họa một luận điểm được nêu ra ở một phần trước, đó là kết quả của chính sách phân cấp phụ thuộc rất nhiều vào môi trường thể chế và chính sách trong đó chính sách phân cấp được thiết kế và thực hiện.

    Chẳng hạn như khi tốc độ (chứ không phải chất lượng tăng trưởng GDP được sử dụng làm thước đo gần như duy nhất cho thành tích phát triển kinh tế thì một cách tự nhiên, mỗi địa phương sẽ tìm mọi cách để có tốc độ tăng GDP cao hơn, trong đó cách đơn giản nhất có lẽ là tăng đầu tư từ nguồn xin được của trung ương. Hơn nữa, do không có cơ chế điều phối hữu hiệu giữa các địa phương trong cùng một vùng nên các các tỉnh đều mạnh ai nấy xin trung ương, mạnh ai nấy đầu tư, cho dù có thể biết rằng làm như vậy sẽ khiến hiệu quả đầu tư chung của cả vùng giảm sút. Kết quả là vô hình trung, địa giới hành chính đã trở thành biên giới kinh tế giữa các địa phương, và nền kinh tế quốc gia bị phân rã thành 63 nền kinh tế nhỏ, kém hiệu quả.

    Bên cạnh đó, tư duy “nhiệm kỳ” khiến việc chạy đua GDP càng trở nên gấp gáp, và thường thì quyết định càng vội vã, xác suất phạm sai lầm càng lớn, nhất là khi người ra quyết định nhiệm kỳ sau không còn ở đó để nhận lãnh trách nhiệm cho quyết định của mình. Như vậy, trong bối cảnh thể chế hiện nay, tầm nhìn của lãnh đạo địa phương bị giới hạn về cả không gian (địa giới hành chính) và thời gian (nhiệm kỳ 5 năm .

    Các tỉnh nghèo sẽ tham gia cuộc đua tăng trưởng này bằng cách nào? Rõ ràng khi đang nhận trợ cấp của trung ương thì chúng không thể chạy đua nếu chỉ dựa vào nguồn ngân sách của bản thân mình. Vì vậy, các tỉnh này buộc phải dựa vào các yếu tố đến từ bên ngoài, có thể là từ nhà nước trung ương hoặc từ khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, với công thức ngân sách như hiện nay, các tỉnh sẽ có rất ít động cơ để tiến tới tự cân đối thu chi tài khóa. Cụ thể là phương trình cân bằng tài khóa địa phương như sau:

    A = B + t.C + T

    Trong đó:

    • A = Tổng chi ngân sách của địa phương

     

    • B = Các khoản thu NSĐP hưởng 100%

     

    • C = Các khoản thu chia sẻ giữa TƯ và ĐP

     

    • t = Tỷ lệ phân chia

     

    • T = Chuyển giao (trợ cấp) từ TƯ cho ĐP

    Theo công thức này:

    • Nếu A > B + C thì NSTƯ sẽ bù thông qua trợ cấp (hay chuyển giao) T = A – (B + C). Tất nhiện khi ấy tỷ lệ phân chia ngân sách t = 100%.

     

    • Nếu A ≤ B + C thì NSTƯ không bù, nghĩa là T = 0 và tỷ lệ phân chia ngân sách t = (A – B)/C

     

    24

    Rõ ràng là với phương trình tài khóa và công thức chia sẻ ngân sách như thế này, các địa phương sẽ có động cơ tăng chi và giảm (hay giấu) nguồn thu – cả hai động cơ này đều có tác động tiêu cực đến sự lành mạnh của nền tài khóa quốc gia. Không những thế, nó còn tạo ra sự ỷ lại của địa phương, do vậy hạn chế sự nỗ lực cải thiện và nuôi dưỡng nguồn thu, đồng thời cải thiện hiệu quả của chi tiêu ngân sách.

    Có ý kiến cho rằng tình trạng đầu tư tràn lan của các địa phương hiện nay có nguồn gốc từ chính sách phân cấp quá mức. Điển hình là trong thời gian vừa qua, hiện tượng phát triển các khu, cụm công nghiệp và sân golf mang tính phong trào vì giờ đây chỉ bằng một quyết định của chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, hàng trăm héc-ta đất nông nghiệp có thể được chuyển thành đất công nghiệp hay thương mại.20 Mặc dù không thể phủ nhận một thực tế là nhiều địa phương đã lợi dụng nhiều khe hở của quá trình phân cấp nhưng suy đến cùng, chính sự thiếu giám sát, điều phối và kỷ luật lỏng lẻo của trung ương cùng với chất lượng quy hoạch thấp là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới tình trạng đầu tư lan tràn, chồng chéo, và kém hiệu quả (Bảng 5).

    Bảng 5. Trách nhiệm và thẩm quyền của TƯ và ĐP trong đầu tư công

              Cảng       Sân       Khu       Quốc lộ       Điện  
                                       
                                       
              biển lớn       bay       kinh tế              
                                           
                                                 
                                             
                                             
      Quy hoạch                                
                                                 
                                         
      Thẩm định                                
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Phê duyệt                                
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Tài trợ                   TƯ ĐP              
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Thực hiện                   TƯ/ĐP              
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Giám sát       TƯ ĐP       TƯ ĐP       TƯ ĐP       TƯ ĐP       TƯ ĐP  
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Kiểm toán                   TƯ ĐP              
                                     
                                                 
                                                 

    Một ví dụ minh họa là trường hợp cảng biển, theo quy hoạch (Quyết định 2190 QĐ-TTg ngày 24 12 2009 thì đến năm 2020 cả nước sẽ có 39 cảng biển với khoảng 100 khu bến cảng tổng hợp. Thế nhưng từ bản phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng đến bản quy hoạch chi tiết của Bộ Giao thông – Vận tải, số lượng bến cảng không ngừng mọc thêm. Lấy ví dụ như nhóm cảng số 6 ở ĐBSCL. Theo Quyết định 2190 QĐ-TTg thì ĐBSCL sẽ có 14 cảng biển với 21 bến tổng hợp. Chưa đầy 2 năm sau, đến Quyết định 1746 QĐ-

    • Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong giai đoạn 2000 – 2010, trung bình mỗi năm có

     

    • 300 héc-ta đất nông nghiệp bị thu hồi để chuyển thành đất công nghiệp, đô thị và hạ tầng.

    25

    BGTVT ngày 3/8/2011 về quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển ĐBSCL, con số bến tổng hợp đã tăng lên 27. Đấy là chưa kể đến 21 bến cảng chuyên dùng, phục vụ cho hoạt động kinh doanh xăng dầu, gas, và nhiệt điện cũng mới được đưa vào quy hoạch.

    Sự phân mảnh về thể chế không chỉ nằm ở phạm vi của các tỉnh, giữa chính quyền trung ương và địa phương, mà còn giữa những bộ ngành khác nhau của trung ương. Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Việt Nam 2010 của Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương và Trường Chính sách công Lý Quang Diệu đã nhận định rằng việc hoạch định chính sách ở Việt Nam “thiếu tầm nhìn, thiếu trọng tâm và xác định thứ tự ưu tiên

    • Mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí xung đột giữa các chính sách và các quy định khác nhau, thiếu sự gắn kết giữa kế hoạch ngắn hạn và chiến lược dài hạn”21. Báo cáo này

    cũng chỉ ra rằng nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế này là do “thiếu sự phối hợp liên ngành trong xây dựng nội dung cũng như thực hiện chính sách” và thiếu cơ chế để buộc các bộ làm việc cùng nhau”.

    Kết luận

    Sau một phần tư thế kỷ đẩy mạnh phân cấp, Việt Nam hiện đang đứng ở ngã ba đường. Nhìn từ góc độ toàn xã hội, có thể nói rằng nhiều thành tựu nổi bật nhất của quá trình Đổi mới được bắt nguồn từ quá trình phân cấp thị trường, và đây đồng thời là những thành công quan trọng nhất của phân cấp kinh tế ở Việt Nam. Cốt lõi của những cải cách thành công trong quá trình Đổi mới chính là sự rút lui của nhà nước và trỗi dậy của thị trường. Trong nội bộ hệ thống nhà nước, phân cấp đã giúp chính quyền các tỉnh có nhiều không gian chính sách và quyền tự chủ hơn trong việc theo đuổi các mục tiêu của họ. Đặc biệt, phân cấp ngân sách đã cho phép chính quyền ở các địa phương có thặng dư ngân sách trở nên linh hoạt hơn trong việc huy động và phân bổ nguồn lực của họ. Ngoài ra, việc phân cấp quản lý FDI cũng giúp cho chính quyền địa phương gần như có toàn quyền tự chủ trong việc cấp giấy phép FDI.

    Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ tăng tốc phân cấp, kết quả đạt được thua xa so với kỳ vọng của chính phủ. Từ góc độ của chính quyền trung ương, phân cấp làm xói mòn tính thống nhất của chính sách quốc gia, gia tăng sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các chính quyền địa phương, do đó một mặt làm suy giảm mức độ kiểm soát của chính quyền trung ương, mặt khác làm tăng tính cục bộ địa phương. Từ góc độ địa phương, phân cấp chưa đi kèm với những điều kiện nguồn lực và thể chế cần thiết để triển khai phân cấp một cách hiệu quả. Không những thế, khung khổ chính sách phân cấp còn thiếu sự ăn khớp giữa các ngành và thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực phân cấp, vì vậy trong nhiều trường hợp đẩy chính quyền địa phương vào thế lúng túng, bị động. Cuối cùng, người dân và doanh nghiệp – những đối tượng chịu tác động cuối cùng của chính

    • Xem phần “Hoạch định chính sách kinh tế ở Việt Nam”, tr. 69-70.

     

    26

    sách phân cấp – chưa thực sự được tham gia và có tiếng nói đối với ngay cả những chính sách quan trọng nhất tác động đến hoạt động và kết quả kinh tế của họ.

    Những hạn chế của phân cấp xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thực tế là cho đến tận ngày hôm nay, Việt Nam vẫn còn thiếu ngay cả những điều kiện tiền đề cơ bản cho phân cấp thành công. Đầu tiên phải kể đến sự thiếu ý chí chính trị. Quan điểm chủ đạo của chính thể hiện nay vẫn là tăng cường tập trung hóa và nhất thể hóa về chính trị và quản lý nhà nước. Biểu hiện cụ thể của tư tưởng này là nguyên lý “phân cấp từ trên xuống” và duy trì “vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước” bất chấp sự yếu kém của khu vực này.

    Thứ hai, môi trường thể chế và quản trị của Việt Nam còn yếu kém. Thông tin chưa minh bạch, tiếng nói của người dân, doanh nghiệp, và xã hội dân sự còn yếu ớt, trách nhiệm giải trình hai chiều của chính quyền còn hạn chế. Tất cả những điều này triệt tiêu phần lớn tác dụng kỳ vọng cải thiện hiệu quả của khu vực công thông qua việc đưa chính quyền đến gần người dân hơn nhờ phân cấp.

    Thứ ba, về phương diện chính sách, phân cấp ở Việt Nam còn khập khiễng. Trong khi phân cấp thị trường, và trong một chừng mực nào đó, phân cấp tài khóa đã được đẩy mạnh thì phân cấp chính trị và nhân sự hầu như chưa xảy ra. Bên cạnh đó, năng lực của các cấp chính quyền còn yếu, và càng xuống cấp chính quyền thấp hơn thì hạn chế về năng lực càng được bộc lộ rõ. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, phân cấp không đi đôi với bổ sung nguồn lực, khiến cho chính quyền địa phương, cả giàu lẫn nghèo, đều luôn phải chịu áp lực quá tải. Không những thế, với công thức chia sẻ ngân sách được quy định bởi Luật Ngân sách hiện nay, các địa phương không có nhiều động cơ để nuôi dưỡng và huy động nguồn thu. Thêm nữa, việc áp dụng một chính sách phân cấp như nhau cho hầu hết các tỉnh làm vấn đề trở nên trầm trọng vì nó áp đặt thêm một số hạn chế đối với chính quyền địa phương về sự linh hoạt trong huy động nguồn lực và phát triển các chính sách sáng tạo, mà đến lượt mình điều này lại làm cho sự phân cấp trở nên không hiệu quả.

    Thứ tư, từ góc độ quản lý nhà nước, việc thực hiện phân cấp đòi hỏi phải có sự tham gia và phối hợp giữa các bộ ngành và giữa các tỉnh với nhau. Tuy nhiên, do thiếu sự liên kết, phối hợp, và hợp tác ở tất cả các cấp nên quá trình phân cấp trên thực tế tạo ra tình trạng cát cứ và chia cắt trong hệ thống quản lý nhà nước (cụ thể là giữa các bộ ngành và các địa phương cũng như một cuộc chạy đua xuống đáy giữa các tỉnh.22 Liên quan đến sự giám sát chính sách phân cấp, mặc dù vai trò của Hội đồng nhân dân đã được cải thiện, nhưng tính hiệu quả và hiệu năng của cơ quan này vẫn còn hạn chế cả về khía cạnh thể chế lẫn kỹ thuật.

    • See Vu Thanh Tu Anh, Le Viet Thai, and Vo Tat Thang (2007).

     

    27

    Cuối cùng, ở những khía cạnh kỹ thuật hơn, quy mô của các tỉnh ở Việt Nam quá nhỏ để có thể tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô cũng như để nội hóa các ngoại tác liên tỉnh. Hơn nữa, việc có quá nhiều tỉnh như vậy cũng dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh thay vì là sự hợp tác giữa các tỉnh này với nhau, mà điều này lại làm tăng chi phí và làm xói mòn các lợi ích của sự phân cấp.

    Đối với Việt Nam, để thiết kế một chính sách phân cấp có hiệu quả, ưu tiên trước hết là phải chuẩn bị các điều kiện tiền đề – và điều này chỉ có thể có nếu như Chính phủ thực sự thay đổi quan niệm hẹp về phân cấp (chỉ bao hàm phân cấp quản lý kinh tế) và chấp nhận một sự thay đổi cơ bản về vai trò của nhà nước. Đây là quyết định chính trị chứ không phải quyết định kinh tế, và tương lai phân cấp của Việt Nam phụ thuộc một cách cơ bản vào quyết định chính trị này.

    28

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. CECODES, TCMT, BDN & UNDP (2012). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân.
    1. Cộng đồng các nhà tài trợ (2009). Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010: Các thể chế hiệ đại.
    1. Musgrave, Richard, 1986. “The Economics of Fiscal Federalism.” In: Richard Musgrave,

    Public Finance in a Democratic Society, Collected Papers. Vol. 2. New York University Press.

    1. Oates, Wallace (1972). Fiscal Federalism. New York: Harcourt Brace.
    1. Oates, Wallace and Robert Schwab (1988). Economic Competition Among Jurisdictions: Efficiency Enhancing or Distortion Inducing? Journal of Public Economics 35: 33-354.
    1. Oates, Wallace (1999). An Essay on Fiscal Federalism. Journal of Economic Literature, Vol.XXXVII (September): 1120-1140.
    1. Olson, Mancur (1969). The Principle of Fiscal Equivalence: The Division of Responsibilities among Different Levels of Government, American Economic Review, Papers and Proceedings, 59(2), 479-487.
    1. Shah, Anwar (2004). Fiscal Decentralization in Developing and Transition Economies: Progress, Problems, and the Promise. World Bank Policy Research Working Paper 3282.
    1. Stigler, George (1957). The Tenable Range of Local Functions. Reprinted in Wallace Oates, editor, (1998), pp.3-9.
    1. Willis, Garman and Haggard (1999). The politics of decentralization in Latin America. Latin American Research Review, Winter 1999, volume 34, issue 1: 7-46.
    1. World Bank (2001). Decentralization in the Transition Economies: Challenges and the Road Ahead. Europe and Central Asia Region.
    1. World Bank (2010). Local Government and Decentralization Project. Có thể truy cập từ địa chỉ: http://www.worldbank.org/projects/P111577/local-government-decentralization-project?lang=en

    29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập cuối khóa Quản lý học sinh trường cấp 3

    Báo cáo thực tập cuối khóa Quản lý học sinh trường cấp 3

    Báo cáo thực tập cuối khóa Quản lý học sinh trường cấp 3

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Động Cơ Điện


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-cu%E1%BB%91i-kh%C3%B3a-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-h%E1%BB%8Dc-sinh-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-c%E1%BA%A5p-3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập cuối khóa Quản lý học sinh trường cấp 3

    Lời nói đầu

    Công nghệ thông tin là một trong những ngành khoa học ngày càng được quan tâm và sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Với những ưu điểm mạnh có thể ứng dụng được nhiều trong cuộc sống thì công nghệ thông tin đã giúp cho công việc quản lý được dễ dàng hơn. Để quản lý một công việc cụ thể của một cơ quan nào đó thì người quản lý cần thực hiện rất nhiều công việc. Nhờ có các phần mềm thì công việc đó trở nên đơn giản hơn rất nhiều.

    Ví dụ như để quản lý được điểm của học sinh thì người quản lý cần liên tục cập nhật điểm của học sinh. Thông tin về học sinh như: mã học sinh, giới tính, năm sinh, quê quán, điểm thi.… Công việc đó làm người quản lý rất vất vả. Với phần mềm quản lý

    điểm mà chúng em nghiên cứu và xây dựng trong bài tập sau đây sẽ phần nào giúp ích cho người quản lý. Đây là một đề tài nhỏ của chúng em. Vì sự hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn chế nên chắc chắn phần mềm của chúng em vẫn còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy và các bạn.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn !

    Giới Thiệu Chung

    1 , Giới Thiệu

    Chương trình : Quản lí học sinh cấp 3 (Trường THPT Nghĩa Hưng C ) với một số chức năng cơ bản giúp bộ phận giáo vụ của trường thực hiện nghiệp vụ của mình dễ dàng và nhanh chóng hơn

    Chương trình được viết ra với mục đích quản lí các học sinh về thông tin cơ bản ( tên , tuổi , địa chỉ ….) , điểm của các môn trong 2 kì học , điểm thi tốt nghiệp, học phí . Người quản trị có thể thêm , sửa , xóa thông tin về học sinh và điểm của các học sinh

    2 , Khảo sát thực trạng

    Hiện nay, quản lí điểm là một công việc hết sức quan trọng đối với các trường học. Công việc đó hiện còn đang làm rất thủ công tại một số trường và chính vì thế mà nó mang lại hiệu quả không cao. Nguồn khảo sát mà chúng tôi thực tế là trường THPT Nghĩa Hưng C . Công việc hàng ngày bao gồm:

    Nhập điểm cho học sinh, sửa chữa thông tin về điểm.

    Cập Nhật các khoản tiền học phí .

    In bảng điểm, in danh sách Học sinh các lớp , các học sinh đỗ, trượt tốt nghiệp … Lưu trữ thông tin của các bảng điểm của Học sinh…

    Công việc quản lí còn hết sức thủ công và đòi hỏi nhiều kỹ năng của người quản lí.

    Ví dụ: hàng ngày, khi người quản lí nhập điểm cho học sinh, tính toán, in danh sách theo yêu cầu của nhà trường: những học sinh đỗ trượt, đạt học bổng… thời gian nhập thông tin mất nhiều, việc theo dõi, thống kê, tổng hợp dễ bị nhầm lẫn, khó đảm bảo độ tin cậy…

    2 , Yêu cầu đề tài

    Bộ phân : Giáo Vụ lập được danh sách lớp từ kết quả thi đầu vào của các học sinh ( Ở đây chương trình đã nhập từ năm 2006 – Người quản trị có thể thêm vào các năm trước hoặc các năm sau để quản lý) .

    Các giáo viên các bộ môn : tổng hợp điểm trung bình môn và điểm thi(nếu có) . hạnh kiểm , tiền học…. . sau đó nộp về phòng giáo vụ để tính điểm trung bình và đưa ra

    xếp loại học lực cho các học sinh , xếp loại hạnh kiểm , quản lí những học sinh đã và chưa nộp học phí….

    Bảng các công việc của người quản trị

    Công Việc Ghi Chú
    Tiếp nhận hồ sơ học sinh Lấy từ kết quả thi đầu vào
       
    Lập danh sách lớp Gồm các giá trị : mã học
      sinh , tên sv , ngày sinh ,
      địa chỉ , năm học ….
    Tra cứu học sinh Tra cứu theo mã sv , tên
      sv , năm học , lớp
    Nhận bảng điểm các môn Theo học kì
       
    Nhập bảng điểm thi tốt nghiệp  
       
    Tra cứu điểm  
       
    Xếp loai học sinh Theo cả năm học
    Nhập danh sách các khoản tiền cho học  
    sinh  
    In Thống kê , báo cáo  

    4 , Cơ sở dữ liệu của hệ thống.

    Để nắm được yêu cầu của bài toán, chúng ta cần hiểu rõ những thông tin về cơ sở dữ liệu mà bài toán cần. Ở đây, chúng tôi xin đưa ra những thông tin mà phần mềm quản lí học sinh cần có như sau:

    Thông tin của học sinh:

    MaHS (Mã Học sinh), HotenSV (họ tên học sinh), ngaysinh (Ngày sinh ) , diachi (địa chỉ) , gioitinh (giới tính ) , Malop (mã lớp), namhoc (năm học ) , dantoc (dân tộc ) , tongiao(tôn giáo ) , tencha(tên cha) , nghenghiepcha(nghề nghiệp cha) , ngaysinhcha(ngày sinh cha) , tenme(tên mẹ) , nghenghiepme(nghề nghiệp mẹ) , ngaysinhme (ngày sinh mẹ) , hanhkiem (hạnh kiểm) ,Ghichu (ghi chú)…

    Thông tin về Điểm học kì :

    Mahs(mã học sinh), namhoc(năm học ), toan_tk(toán tổng kết ), toan_thi(toán thi), vatly_tk (vật lí tổng kết), vatly_thi (vật lý thi) , anh_tk(anh tổng kết) , anh_thi (anh thi), van_tk (văn tổng kết), van_thi (văn thi), sinhhoc(sinh học), hoa (hóa học), dialy (địa lý), cd(công dân), cn (công nghệ), tin (tin học), lsu (lịch sử), theduc(thể dục)

    Thông tin điểm tốt nghiệp

    Sobd(số báo danh) , mahs (mã học sinh ) , namthi (năm thi ), lop (lớp ), toan ( điểm toán ), vatly (điểm vật lý ), anh (điểm anh ), van (điểm văn ), monphu1 ( môn phụ 1 ), monphu2 (môn phụ 2 )

    Thông tin các khoản tiền

    Mahs(mã học sinh ) , namhoc(năm học ) , lop(lớp học) , hocphi(học phí tháng) ,

    baohiem( tiền bảo hiểm ) , xaydung(xây dựng) , sachgiaokhoa(sách giáo khoa ) , dongphuc(đồng phục) , doanphi( đoàn phí)

    Thông tin năm học

    Namhoc( năm học)

    Thông tin lớp học

    Malop (mã lớp ) , siso (sĩ số ) , khoi ( khối ) , namhoc (năm học ) , gvcn (giáo viên chủ nhiệm )

    Mã lớp học

    Malop (mã lớp ) , tenlop ( tên lớp học )

    Thông tin các giáo viên

    Magv ( mã giáo viên ) , tengv ( tên giáo viên ) , lopchunhiem ( lớp chủ nhiệm ) , Monday (môn dạy )

    Thông tin các môn học

    Mamon ( mã môn học ) , tenmon ( tên môn học )

    Thông tin đăng nhập

    Taikhoan ( tài khoản ) , matkhau ( mật khẩu )

    Các thông tin khác:

    Yêu cầu của hệ thống

    Để thực hiện những mục tiêu trên chúng tôi thấy phần mềm cần phải đạt những yêu cần sau:

    Việc đăng nhập thông tin và truy nhập thông tin phải hết sức đơn giản và nhanh chóng.

    Đưa ra những danh sách học sinh , danh sách  điểm một cách chính xác và đầy đủ.

    Việc thao tác trên máy tính phải đơn giản và dễ sử dụng.

    Các thông tin đưa ra phải dễ hiểu và thuận tiệc cho người quản lí sử dụng được thuận lợi và an toàn.

    3 , Mô tả hệ thống

    Sơ đồ phân cấp chức năng

    Quản lý học sinh cấp 3

     

    1.Quản

    lý học

    sinh

    1.1 QL

    DS học

    sinh

    1.2 QL

    chuyển

    lớp

    1.3 QL

    học phí

    2.Quản

    lý điểm

    1. 1QL Điểm Học kì 1

    2.2 QL Điểm

    học kì 2

    2.3 QL Điểm

    cả năm

    2.4 QL Điểm

    Thi Tốt

    nghiệp

    3.Tra

    cứu

    3.1 Tra

    cứu TT

    học sinh

    3.2 Tra

    cứu Điểm

    học kì 1

    3.3Tra

    cứu Điểm

    học kì 2

    3.4 Tra

    cứu Điểm

    cả năm

    3.5Tra

    cứu Điểm

    Thi tốt

    nghiệp

    3.6 Tra

    cứu tổng

    hợp

    4.Báo cáo

    4.1 BC

    Danh Sách

    Học sinh

    4.2BC

    điểm Hk1

    4.3 BC

    điểm Hk2

    4.4 BC

    điểm cả

    năm

    4.5 BC

    điểm TN

    4.6 BC DS

    Lớp học

    4.7 BC DS

    Nộp tiền

    4.8 BC

    tổng hợp

    Ds học sinh ở lại lớp

    Ds học sinh lên lớp

    Trả lời  yêu cầu chuyển lớp

    Yêu cầu chuyển lớp

    Tiền học phí

    Phiếu Xác nhận tiền học phí

    Bằng ( chứng chỉ ) Tốt nghiệp

    Học bạ

    Giấy khen

    Học Sinh

    Sổ liên lạc

    Hồ sơ học sinh

    Thẻ học sinh

    Thời khóa biểu

    DS HS rèn luyện đạo đức trong hè

    Ds điểm HK1

    Ds điểm HK2

    Ds điểm cả năm

    Ds điểm thi TN

    Sơ đồ luồng mức ngữ cảnh

    Quản

    Học

    Sinh

    DS KQ tra cứu    
    Người  
     
    Báo cáo Quản  
     

    Yêu cầu báo cáo

    Yêu cầu tra cứu

    Người Quản Lí

    Yêu cầu báo cáo BC Tổng hợp

    Báo cáo

    4.Báo Cáo

    DS HS rèn luyện đạo đức trong hè

    Thời khóa biểu

    Trả lời yêu cầu chuyển lớp

    Yêu cầu chuyển lớp

    Tiền học phí

    Phiếu Xác nhận tiền học Ds các  
    khoản tiền  
     
    Thẻ học sinh    
       
      Học bạ
      Sổ liên lạc
       
    Học Sinh Hồ sơ học sinh
       

    DS Lớp

    1.Quản Lý

    Học Sinh

    DS nộp Tiền

    DS             Hồ sơ HS     TT HS  
    điểm DS   Bằng        
    hk2 điểm DS DS ở (chứng                    
                       
    hk1   lên chỉ )                    
      lớp lại Tốt                    
      lớp Giấy                  
        nghiệp DS                
                         
            khen điểm   DS          
                         
              cả   điểm          
              năm   thi          
        2.Quản lí       TN       DS khen
                        thưởng
        điểm                    
                           

    DS điểm cả năm

    DS điểm Hk1 DS điểm Hk2      
      DS điểm thi TN
           
               

    3.Tra cứu

    DSKQ tra

    cứu                   Yêu cầu tra cứu

    Sơ đồ luồng dữ liệu mức đỉnh                               Tra cứu tổng hợp

    Sơ đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh

    1 , Quản lí học sinh

    DS rèn luyện đạo đức              
    Sổ liên lạc     1.1 QL DS
    Thời       học sinh
    Hồ sơ              
    khóa Thẻ            
    biểu HS             Hồ sơ HS
      HS          
                   
                     
          Học bạ
    Học sinh    
                       
        Trả lời yêu TT Học sinh  
         
               
             
       
        cầu chuyển
    Yêu cầu   lớp              
                     
    chuyển lớp                  
    Tiền Phiếu  
    Xác  
    Học
    nhận  
    Phí
    tiền học  
      phí  

    1.2 QL

    chuyển lớp

    1.3 QL học DS lớp
     
    phí  

    Ds các khoản tiền

    DS nộp tiền

    2 , Quản lí điểm

    Ds điểm Hk2

              Ds điểm       2.1 QL điểm         2.2 QL điểm
                    hk1               hk2
              Hk1                            
                                                 
                                                 
                          DS điểm hk1                  
                                 
                                               
                                             
    Học     Ds điểm cả năm               DS điểm hk2
                                                   
                                                 
      sinh       Ds hs DS lớp                  
                                 
              Giấy lên lớp                      
                                                 
                                                 
              khen                                    
            Ds hs ở     2.3 QL         2.4 QL điểm
                điểm cả         Thi TN
            lại lớp            
                  năm                      
                                           
                                           
                                       
                                       
          DS khen thưởng                      
                            DS điểm
                    DS điểm cả năm                  
                                     
                                      thi tn
                                               
          Bằng (chứng chỉ) TN                  
                               
                               
                                           
                Ds điểm thi TN                      

    3, Tra cứu

      Tra cứu tổng hợp      
      Người quản lí  
           
          Yêu    
          cầu DS  
          tra
    DS tra cứu HS
    KQ  
    cứu
          tra  
           
            cứu  
              3.6 Tra             3.2 Tra
      3.1 Tra cứu tổng   DS điểm hk1   cứu điểm
        cứu   hợp             Hk1
        DS Học                    
        sinh                    
                                 
                    DS tra cứu điểm hk1    
        DSHS                   3.3 Tra
                               
                    DS tra cứu điểm hk2  
                      cứu
      DS tra cứu điểm thi TN  
                  điểm Hk2
                               
                         
                DS tra cứu điểm cả năm    
        3.5 Tra         3.4 Tra cứu    
        cứu         DS điểm hk2
                điểm cả
        điểm thi            
                năm    
                         
          DS điểm TN     DS điểm cả năm

    4, Báo cáo

            Người quản lí       DS điểm hk1
      DSHS                
                     
        Yêu Báo Báo cáo 4.2 BC
           
          BCDS HS cáo
          cầu tổng hợp điểm
             
            báo         Hk1
      4.1 BC   cáo            
    Danh 4.8 Báo BC bảng  
    Sách Học  
    cáo tổng  
    điểm Hk1  
    sinh  
    hợp  
       
         
    BCDS lớp   BC bảng 4.3 BC
      điểm Hk2
        điểm
    4.6 BC    
        Hk2
    ds lớp    
         
        BC DS  
    BC bảng BC điểmNộp tiền  
    điểm thi cả năm DS điểm hk2
     

    DS lớp

      BC DS khen 4.4 BC  
    4.5 BC thưởng  
    điểm cả  
    điểm thi   4.7 BC
      năm
    TN   DS nộp
       
      DS khen thưởng tiền  
         
    DS điểm TN DS điểm cả năm DS nộp tiền  
     
         
               
    DS Thuộc tính   1NF   2NF   3NF  
                   
    Mã học sinh   Mã học sinh   Mã học sinh   Mã học sinh    
    Tên học sinh   Tên học sinh   Tên học sinh   Tên học sinh  
    Ngày sinh   Ngày sinh   Ngày sinh   Ngày sinh  
    Địa chỉ   Địa chỉ   Địa chỉ   Địa chỉ  
    Giới tính   Giới tính   Giới tính   Giới tính  
    Mã lớp   Mã lớp   Mã lớp   Mã lớp    
    Năm học   Năm học   Năm học   Năm học    
    Dân tộc   Dân tộc   Dân tộc   Dân tộc  
    Tôn giáo   Tôn giáo   Tôn giáo   Tôn giáo  
    Tên cha   Tên cha   Tên cha   Tên cha  
    Ngày sinh cha   Ngày sinh cha   Ngày sinh cha   Ngày sinh cha  
    Nghề nghiêp cha   Nghề nghiêp cha   Nghề nghiêp cha   Nghề nghiêp cha  
    Tên mẹ   Tên mẹ   Tên mẹ   Tên mẹ  
    Ngày sinh mẹ   Ngày sinh mẹ   Ngày sinh mẹ   Ngày sinh mẹ  
    Nghề nghiệp mẹ   Nghề nghiệp mẹ   Nghề nghiệp mẹ   Nghề nghiệp mẹ  
    Hạnh kiểm   Hạnh kiểm   Hạnh kiểm   Hạnh kiểm  
    Ghi chú   Ghi chú   Ghi chú   Ghi chú  
    Tổng kết toán   Tổng kết toán   Tổng kết toán                
    Tổng kết anh   Tổng kết anh   Tổng kết anh   Mã học sinh    
    Tổng kết văn   Tổng kết văn   Tổng kết văn   Năm học  
    Tổng kết lý   Tổng kết lý   Tổng kết lý                
    Tổng kết toán  
    ĐiểmThi toán   ĐiểmThi toán   ĐiểmThi toán  
          Tổng kết anh  
    Điểm Thi anh   Điểm Thi anh   Điểm Thi anh  
          Tổng kết văn  
    Điểm Thi văn   Điểm Thi văn   Điểm Thi văn  
          Tổng kết lý  
    Điểm Thi lý   Điểm Thi lý   Điểm Thi lý  
          ĐiểmThi toán  
    Sinh học   Sinh học   Sinh học  
          Điểm Thi anh  
    Hóa học   Hóa học   Hóa học  
          Điểm Thi văn  
    Địa lý   Địa lý   Địa lý  
          Điểm Thi lý  
    Công dân   Công dân   Công dân  
          Sinh học  
    Công nghệ   Công nghệ   Công nghệ  
          Hóa học  
    Tin học   Tin học   Tin học  
          Địa lý  
    Thể dục   Thể dục   Thể dục  
          Công dân  
                       
    Mã giáo viên   Mã giáo viên     Mã giáo viên     Công nghệ  
              Tin học  
    Tên giáo viên   Tên giáo viên   Tên giáo viên   Thể dục  
    Lớp chủ nhiệm   Lớp chủ nhiệm   Môn dạy                
    Môn dạy   Môn dạy           Mã giáo viên  
                Số báo danh   Tên giáo viên    
    Số báo danh   Số báo danh         Địa chỉ  
        ĐiểmThi toán  
              Điểm Thi anh   Số điện thoại  
    ĐiểmThi toán   ĐiểmThi toán    
    Điểm Thi anh   Điểm Thi anh   Điểm Thi văn   Môn dạy  
    Điểm Thi văn   Điểm Thi văn   Điểm Thi lý                
    Điểm Thi lý   Điểm Thi lý   Điểm môn phụ 1   Số báo danh  
    Điểm môn phụ 1   Điểm môn phụ 1   Điểm môn phụ 2  
          Mã học sinh    
                       
                                     
    Điểm môn phụ 2 Điểm môn phụ 2         ĐiểmThi toán
    Sĩ số Sĩ số   Mã lớp     Điểm Thi anh
      Sĩ số   Điểm Thi văn
    Khối Khối   Khối   Điểm Thi lý
    Giáo viên CN Địa chỉ   Địa chỉ   Điểm môn phụ 1
      Số điện thoại   Số điện thoại   Điểm môn phụ 2
                   
    Học phí Giáo viên CN   Giáo viên CN   Mã lớp
    Sách Giáo khoa          
              Sĩ số  
    Đồng phục Học phí   Học phí  
        Khối
    Đoàn phí Sách Giáo khoa   Sách Giáo khoa  
        Năm học  
    Bảo hiểm Đồng phục   Đồng phục  
        Giáo viên CN
    Xây dựng Đoàn phí   Đoàn phí  
                 
    Điểm trung bình Bảo hiểm   Bảo hiểm   Mã học sinh  
    Xây dựng   Xây dựng  
    Tổng điểm     Năm học  
             
              Mã lớp  
               
    Tổng tiền           Học phí
              Sách Giáo khoa
               
                Đồng phục
                Đoàn phí
                Bảo hiểm
                Xây dựng

    Sơ đồ thực thể liên kết

     

                                                  1                       Chủ                     n   Lớp học
                    Giáo viên chủ nhiệm                                                                    
                                                  nhiệm                                              
                                                                                               
            Mã Lớp  
            Sĩ số
                    Mã giáo viên               1                                                          
                    Tên giáo viên                                                                                 Khối
      Địa chỉ   1   Năm học  
                    Số điện thoại                                                                           Giáo viên CN
                                                                      Thuộc              
                    Môn dạy                                                                                          
              n      
             
         
      Dạy     1   Nộp  
                                                                                                                               
                                                        Học sinh                                    
                                                                                                 
                                                                                                               
             
                                                          n     Mã học sinh                                              
                                                              Tên học sinh                     Bảng Điểm HK2      
        Bảng Điểm HK1                                      
                                        Ngày sinh                                              
                                                                                     
                                                                                                               
                                                                  Địa chỉ                   Mã học sinh          
        Mã học sinh                                                          
                                                Giới tính                   Năm học            
          Năm học                                                          
                                                                        Tổng kết toán      
                                                    Mã lớp                        
        Tổng kết toán                                                      
                                                              Tổng kết anh      
                                                                                           
                                          Năm học                  
        Tổng kết anh                                                       Tổng kết văn      
                                            Dân tộc                          
        Tổng kết văn                                                       Tổng kết lý      
                                            Tôn giáo                        
        Tổng kết lý                                                       ĐiểmThi toán      
                                            Tên cha                        
        ĐiểmThi toán                                                       Điểm Thi anh      
        Điểm Thi anh                                     Ngày sinh cha                   Điểm Thi văn      
        Điểm Thi văn                                     Nghề nghiêp cha           Điểm Thi lý      
        Điểm Thi lý                                     Tên mẹ                   Sinh học      
        Sinh học                                     Ngày sinh mẹ                   Hóa học      
        Hóa học                                     Nghề nghiệp mẹ                   Địa lý                    
        Địa lý  * *                                   Hạnh kiểm                   Công dân      
        Công dân                                     Ghi chú                   Công nghệ      
        Công nghệ                                                       Tin học                    
                                        1                                                          
        Tin học       1                                         1     Thể dục                    
        Thể dục                                                                                    
                                                                                       
               
             
             
                                                                                          Điểm thi TN                    
                                                                                                             
                                              Học phí kì 1         1                          
                                                                                                         
                                                  Số báo danh                    
                                                                                           
            Học phí kì 2                 Mã học sinh                                    
                                                                             
                                                                             
                                                          Mã học sinh                            
                                                                                                       
                                                                                                       
                  Năm học              
            Mã học sinh                                   Năm học                                  
                            Lớp                                                                
                                                                      Lớp                                    
                       
            Năm học                                                                                            
                            Tiền xây dựng                                                              
                                                                                                     
                                                      ĐiểmThi toán                    
                                                                                             
            Lớp                                                                
                            Tiền học phí                             Điểm Thi anh                    
                                                                                             
            Tiền xây dựng                                                                
                            Tiền bảo hiểm                             Điểm Thi văn                    
            Tiền học phí                                                                
                            Tiền sách GK                             Điểm Thi lý                            
            Tiền bảo hiểm                                                                        
                            Tiền đồng phục                             Điểm môn phụ 1                    
            Tiền sách GK                                                                
                            Đoàn phí                             Điểm môn phụ 2                    
            Tiền đồng phục                         1                                    
                                                                                                             
        Đoàn phí   1        
             
         
         
         

    Các Form chương trình

    1. Màn hình đăng nhập

    Sau khi người dùng đăng nhập thành công bằng tài khoản đã được cung cấp sẵn (user : admin / password : admin)

    thì mới được quyền quản trị hệ thống

    1. Màn hình chính

    -Menu :

    +Trang chủ (phím tắt Ctrl + H)

    • Đăng nhập (phím tắt Ctrl + L)
    • Đăng Xuất (phím tắt Ctrl + Q)
    • Hướng Dẫn sử dụng (phím tắt F1 )
    • Đóng hết các tab ( Ctrl + shift + A) +Tác Giả

    +Thoát

    • quản lí học sinh
      • thông tin học sinh
      • thêm học sinh

    +sửa học sinh

    • Xóa học sinh
    • tìm kiếm hs

    -Quản lí điểm

    • Bảng điểm Hk
    • Tra cứu điểm HK
    • Bảng điểm TN
    • Tra cứu điểm TN

    -Quản lí học phí

    • DS nộp tiền Hk1
    • DS nộp tiền Hk2

    -Quản lí khác

    • Giáo viên CN
    • Lớp học
      • xếp lớp
    • Các lớp học +Năm học

    -Thống kê

    • Học sinh
    • hạnh kiểm yếu *học lực kém
    • điểm tốt nghiệp

    *đỗ TN

    * trượt TN

    -Báo cáo

    • Học sinh
    • Bảng điểm +DS lớp
    • DS khen thưởng
    • DS nộp tiền

    -Tiện ích

    • Nhập dữ liệu +Hướng dẫn sử dụng
    • Thông tin tác giả

    -Giao diện

    +Animal

    +windows 8

    +life

    • vista +valentine +christmas +summer +my book
    • phong cảnh
    1. Các chức năng chính

    Quản lí thông tin học sinh

    STT Chức năng   Ý nghĩa   Ghi chú
           
    1 Button thu nhỏ Thu  nhỏ  các  giá  trị  trong  
        datagridview      
      Button phóng to          
        Phóng  to  các  giá  trị  trong  
        datagridview      
    2 Các button đầu , cuối , Để di chuyển đến các bản ghi  
      sau , trước tương ứng trong datagridview  
           
    3 Button xóa Dùng để xóa 1 học sinh nào đó  
           
    4 Group box thông tin Để  hiện  thị  các  học  sinh  khi  
        người  dùng  click  chọn  vào  1  
        học sinh bên lưới  
        (datagridview)      
    5 Button cập nhật Để thay đổi các thông tin của sau khi sửa xong click button cập
        học sinh       nhật để lưu lại thông tin
             
    6 Button thêm Thêm thông tin học sinh   để thêm thông tin học sinh vào
                csdl
                . để xóa các giá trị nhập trong
                groupbox thông tin các giá trị bạn
                click vào button làm mới
    7 Thoát Đóng form quản lí học sinh    
                 

    Quản lí điểm

    Gồm điểm của học kì 1 + hk2 , điểm thi tốt nghiệp

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button xóa Dùng để xóa điểm của 1 học sinh nào  
        đó  
           
    2 Group box thông Để  hiện  thị  các  học  sinh  khi  người  
      tin dùng click chọn vào 1 học sinh bên  
        lưới (datagridview)  
    3 Button sửa Để thay đổi các thông tin điểm của Khi bạn click vào button sửa sẽ
        học sinh hiện ra button Thực hiện cho
          phép bạn lưu lại các thông tin
          đã được sửa bên group box
          thông tin, sau khi sửa xong
          click button Back để quay lại
           
    4 Button thêm Thêm điểm cho học sinh Tương tự như button sửa . sau
          khi nhập các giá trị cần thêm .
          lúc này button Thực hiện sẽ để
          lưu thông tin học sinh vào csdl
    6 Thoát Đóng form quản lí học sinh  
           

    Điểm thi tốt nghiệp

     

    Quản lí Lớp

    Lớp học

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button xóa Dùng để xóa 1 lớp học  
           
    2 Button sửa Để thay đổi các thông tin lớp học Thay đổi về số học sinh , năm
          học …
           
    3 Button thêm Thêm lớp mới (nếu có)  
           
    4 Button chi tiết Hiện  lên  bảng  thông  tin  chi  tiết  về  
      gv giáo viên đó  
    5 Thoát Đóng form quản lí các lớp học  
           

    Quản lí năm học

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button xóa Dùng để xóa 1 năm học  
           
    2 Button sửa Để thay đổi các thông tin năm học  
           
    3 Button thêm Thêm năm học mới  
           
    4 Thoát Đóng form quản lí năm học  
           

    Quản lí giáo viên

     

    Quản lí thông tin giáo viên chủ nhiệm các lớp

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button xóa Dùng để xóa 1 giáo viên  
           
    2 Button sửa Để thay đổi các thông tin giáo viên  
           
    3 Button thêm Thêm giáo viên mới  
           
    4 Thoát Đóng form quản lí giáo viên  
           

    Tra cứu Thông tin

    Tra cứu thông tin học sinh

    Cho phép tra cứu thông tin theo các giá trị : mã học sinh , tên học sinh

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button tìm Tìm kiếm học sinh theo mã hoặc tên  
      kiếm khi giá trị được nhập vào textbox  
           
    2 Radio button Tra cứu các học sinh mã  
      mã học sinh    
           
    3 Radio button Tra cứu các học sinh theo tên  
      tên học sinh    
           
    • Button thoátĐóng form tìm kiếm học sinh

    Tra cứu điểm

    Cho phép tra cứu điểm của các học sinh và hiện thị thông tin cơ bản của các học sinh học kì 1 + 2 + xếp loại cả năm , điểm tốt nghiệp

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Textbox nhập Tra cứu các học sinh theo mã  
      mã hs    
           
    2 Texbox  thông Hiện thị số học sinh có mã đã nhập  
      tin HS sau khi tìm  
           
    3 Button Tìm Tra cứu thông tin điểm của học sinh Bạn cần phải chọn cả năm học và
        theo năm học và lớp học lớp cần tra cứu
           
    4 Button thoát Đóng form  
           

    In Báo Cáo



    Form cho phép người dùng xuất ra các dạng xls , pdf .và chức năng in ấn . Người dùng có thể in ra , hay xuất ra các định dạng về học sinh , bảng điểm …. Đã được chọn từ các button và combobox

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Menu Cho phép người dùng chọn cách tra  
        cứu học sinh , điểm  
           
    2 ReportViewer Hiện thị các thông tin đã tra cứu  
           
    3 Comboxbox Cho phép chọn năm hoặc lớp cần tra  
        cứu để in ấn  
           
    4 Các điều khiển Cho phép người dùng in thông tin  
      bên trên vừa tìm được , xuất ra các định dạng  
      ReportViewer khác . trỏ tới các trang khác trong  
        ReportViewer ……  
           

    Các Hàm chính trong chương trình

    Class kết nối đến csdl dùng chung cho tất cả các form Ở đây dùng csdl là access nên ta cần khai báo 2 namespace sau

    using System.Data;

    using System.Data.OleDb;

    // khai báo đường dẫn đến data

    public OleDbConnection taoketnoi()

    {

    return new OleDbConnection(“Provider=Microsoft.Jet.OLEDB.4.0;Data Source=csdl.mdb”);

    }

    // tạo truy vấn đến data

    public DataTable taobang(string sql)

    {

    OleDbConnection con = taoketnoi();

    OleDbDataAdapter ad = new OleDbDataAdapter(sql, con); DataTable dt = new DataTable(); ad.Fill(dt);

    return dt;

    }

    • thực hiện truy vấn

    public void ExcuteNonQuery(string sql)

    {

    OleDbConnection con = taoketnoi(); OleDbCommand cmd = new OleDbCommand(sql, con); con.Open();

    cmd.ExecuteNonQuery();

    con.Close();

    cmd.Dispose();

    }

    Sau khi đã có class kết nối đến data , chúng ta dùng khai báo trong các form cần kết nối đến data như sau :

    Tên class (dấu cách) tên viết tắt = new tên class

    ketnoi ac = new ketnoi();

    Hàm đăng nhập

    OleDbConnection con = ac.taoketnoi();

    con.Open();

    OleDbCommand cmd = new OleDbCommand(“Select matkhau from dangnhap where taikhoan =’” + txtDangnhap.Text + “’”, con);

    OleDbDataReader reader = cmd.ExecuteReader();

    reader.Read();

    Trong đó : matkhau và taikhoan là 2 trường được lấy trong bảng dangnhap ở csdl

    Ta dùng OleDbDataReader để đọc giá trị cần lấy

    Hàm load giá trị từ csdl vào combobox

    private void load_lop()

    {

    // truy vấn bằng câu lệnh select

    string sql = “select * from malop order by malop asc “;

    comboBox2.DataSource = ac.taobang(sql);

    comboBox2.ValueMember = “malop”;

    comboBox2.DisplayMember = “tenlop”;

    }

    private void load_nam()

    {string sql = “select * from namhoc order by namhoc asc “; comboBox3.DataSource = ac.taobang(sql); comboBox3.ValueMember = “namhoc”; comboBox3.DisplayMember = “namhoc”;

    }

    Tương tự với nhưng combobox khác

    Load data vào lưới

    // khai báo 1 chuỗi truy vấn đến bảng

    string sql = “select * from sinhvien”;

    • Đổ dữ liệu vào lưới DataSource = ac.taobang(sql);

    Thêm 1 bản ghi vào csdl

    //truy vấn bằng câu lệnh insert into tên bảng value (các giá trị cần thêm )

    string sql = “insert into sinhvien values(‘” + textBox1.Text + “‘ ,’” + textBox2.Text + “‘,’” + textBox4.Text + “‘ , ‘” + dateTimePicker1.Text + “‘, ‘” + textBox3.Text + “‘, ‘” + comboBox1.Text + “‘, ‘” + comboBox2.Text + “‘, ‘” + comboBox3.Text + “‘)”;

    • thực thi câu lệnh sql ExcuteNonQuery(sql);

    Xóa 1 bản ghi

    //truy vấn bằng câu lệnh delete from tên bảng where điều kiện

    string sql = “delete from sinhvien where masv=’” + textBox1.Text + “‘”; ac.ExcuteNonQuery(sql);

    Cập nhật

    //truy vấn bằng câu lệnh  update tên bảng set các giá trị where điều kiện

    string sql = “update sinhvien set hosv =’” + textBox2.Text + “‘ ,tensv =’” + textBox4.Text + “‘ , malop=’” + comboBox2.Text + “‘,namhoc=’” + comboBox3.Text + “‘,gioitinh =’” + comboBox1.Text + “‘, diachi=’” + textBox3.Text + “‘, ngaysinh=’”

    • Text + “‘ where masv=’” + textBox1.Text + “‘”; ac.ExcuteNonQuery(sql);

    Tìm kiếm

    // truy vấn bằng câu lệnh select các giá trị trong bảng from tên bảng where điều kiện

    dataGridView1.DataSource = ac.taobang(“select * from sinhvien where malop=’” + comboBox4.Text + “‘ order by tensv asc”);

    Bắt lỗi

    Trong trường hợp trùng với khóa chính hoặc tên đăng nhập không đúng ,… thì chúng ta có thể sử dụng

    Try

    {

    • câu lệnh truy vấn

    }

    Catch

    {

    • hiện thị thông báo lỗi

    }

    Để bắt lỗi

    Import data từ file excel

    Code mẫu với bảng namhoc

    • mở file dùng open filedialog

    OpenFileDialog dlg = new OpenFileDialog();

    dlg.Filter = “Excel files 2003 (*.xls)|*.xls|All files (*.*)|*.*”; //tạo kết nối

    if (dlg.ShowDialog() == DialogResult.OK)

    {

    System.Data.OleDb.OleDbConnection oleCnn = new System.Data.OleDb.OleDbConnection();

    OleDbConnection sqlCnn = ac.taoketnoi();

    try

    {

    //load file excel

    string sConnectionString = “Provider=Microsoft.Jet.OLEDB.4.0; Data Source= ” + dlg.FileName + “;” + “Extended Properties=Excel 8.0;”;

    oleCnn.ConnectionString = sConnectionString; System.Data.OleDb.OleDbDataAdapter oleDa = new

    System.Data.OleDb.OleDbDataAdapter(); oleDa.SelectCommand = new

    System.Data.OleDb.OleDbCommand(“Select * from [Sheet1$] , [Sheet2$] ,[Sheet3$]”, oleCnn);

    DataTable dtExcel = new DataTable();

    oleDa.Fill(dtExcel);

    //END

    //load bảng cần import trong csdl

    OleDbDataAdapter sqlDa = new OleDbDataAdapter(); sqlDa.SelectCommand = new OleDbCommand(“Select * from namhoc”,

    sqlCnn);

    DataTable dtSql = new DataTable();

    sqlDa.Fill(dtSql);

    dtSql.PrimaryKey = new DataColumn[] { dtSql.Columns[“namhoc”] }; // kiểm tra khóa chính

    // bắt đầu chèn vào csdl

    OleDbCommand cmd = new OleDbCommand(“Insert into namhoc values(@namhoc)”, sqlCnn);

    cmd.Parameters.Add(“@namhoc”, OleDbType.VarChar, 50);

    sqlCnn.Open();

    cmd.Prepare();

    int dem = 0;

    foreach (DataRow row in dtExcel.Rows)

    {

    if (dtSql.Rows.Find(row[“namhoc”]) != null)

    {

    MessageBox.Show(“Row with namhoc is ” + row[“namhoc”] +

    ” already exists.”);

    }

    else

    {

    cmd.Parameters[“@namhoc”].Value =

    row[“namhoc”].ToString();

    cmd.ExecuteNonQuery();

    //end

    dem++;

    }

    }

    MessageBox.Show(“There are ” + dem.ToString() + ” added

    row(s).”);

    }

    catch (Exception ex)

    {

    MessageBox.Show(ex.Message);

    }

    finally

    {

    if (oleCnn.State == ConnectionState.Open)

    sqlCnn.Close();

    if (oleCnn.State == ConnectionState.Open)

    oleCnn.Close();

    }

    }

    Tổng Kết

    1.                 Khả thi về kĩ thuật:

     

    • Thành viên tham gia dự án: 4 thành viên
    • Thời gian thực hiện: 4 tuần
    • Kích thước hệ thống: trung bình

    2.                 Công cụ phát triển:

     

    • Hệ điều hành windows 2007
    • Công cụ lập trình: Microsoft Visual Studio 2005 (ngôn ngữ C sharp)
    • Cơ sở dữ liệu : Microsoft access 2003
    • Công cụ khác : photoshop cs2 , Microsoft office 2007 ….

    3.                 Bảng tổng hợp về rủi ro hệ thống:

    STT Rủi ro Mức độ Mô tả đánh giá Chú thích
             
    1 Tâm lý người dùng Cao Nhân viên nơi làm Tổ chức đào tạo huấn luyện
      chưa quen với hệ   việc đều có khả cho người sử dụng hệ hống.
      thống mới.   năng sử dụng máy Hỗ trợ trực tiếp người dùng
          vi tính. trong thời gian đầu.
            Tiến hành triển khai thử từng
            bước.
             
    2 Kích thước hệ thống Trung Thời gian triển  
        bình khai hệ thống là 1  
          tuần  
             
    3 Chuyển từ cách hoạt Bình Nhân viên sẽ Đào tạo một lớp sử dụng phần
      động từ thủ công sang thường nhanh chóng thích mềm trước khi sử dụng.
      sử dụng phần mềm   nghi với việc sử  
          dụng hệ thống  
          mới.  
             
    4 Dữ liệu không thể Cao Chọn chức năng Có cảnh báo.
      phục hồi khi xóa   xóa.  
             
    5 Nhập dữ liệu sai Khá cao Trong quá trinh Có cảnh báo.
          nhập không tránh  
          khỏi khả năng  
          nhập sai.  
             
    6 Mở thêm tính năng Thấp Khi muốn mở tính Nhóm phát triển phải chi cho
      cho phần mềm.   năng mới cho phần phép người dùng hoạt động
          mềm. trên những model có sẵn
             

    4.Yêu cầu bảo mật:

    Chỉ người có user + password của hệ thống mới có quyền truy cập quản trị hệ thống

    5 , Ngôn ngữ viết

    Chương trình sử dụng ngôn ngữ C # :

    • Phát triển tại Microsoft, đội nghiên cứu do Anders Hejlsberg và Scott Wiltamuth lãnh đạo

     

    • Điều khiển sự kiện, hướng đối tượng, ngôn ngữ lập trình trực quan

     

    • Dựa trên nền tảng C, C++ và Java

     

    • Hợp nhất trong nền .NET platform

     

    • Có thể phân phối các ứng dụng Web

     

    • Các thiết bị và máy tính để bàn

     

    • Các chương trình cho phép mọi người truy cập qua bất cứ thiết bị nào

     

    • Cho phép giao tiếp với các ngôn ngữ máy khác.

     

    • Integrated Design Environment (IDE)-Môi trường tích hợp phát triển phần mềm

     

    • Dễ dàng hoá việc lập trình và gỡ lỗi.

     

    • Phát triển ứng dụng nhanh- Rapid Application Development (RAD)

    6 , Cơ sở dữ liệu

     

    Chương trình sử dụng cơ sở dữ liệu access      vì :

    • Tiện lợi , dễ dùng

     

    • Các form, query, report đều chung 1 chỗ nên nên phát triển và xây dựng nhanh.

     

    • Chi phí mua bản quyền rẻ hơn sql server

    KẾT LUẬN

    • Ưu điểm:
      • Các chức năng cơ bản của chương trình đã hoàn thành.

     

    • Giao diện thân thiện, dễ sử dụng.

     

    • Cài đặt trên nhiều hệ điều hành

     

    • Có trợ giúp hướng dẫn sử dụng

     

    • Nhược điểm
      • Dữ liệu cập nhật hơi chậm.

     

    • Nếu mở rộng chức năng quản lí ( quản lí nhiều lớp – nhiều năm ) thì cơ sở dữ liệu access không đáp ứng được yêu cầu truy vấn vì thế cần chạy trên csdl khác như sql , oracle …

     

    • Phần mềm được viết trên bộ visual studio 2005 vì thế để chạy được chương trình cần phải cài netframe work 2.0

     

    • Độ bảo mật ko cao

     

    • Thời gian hạn chế và nhóm chỉ có 4 thành viên cho nên trong quá trình xây dựng phần mềm còn gặp nhiều khó khăn.

     

    • Chưa có kinh nghiệm nhiều trong việc xây dựng một chương trình quản lý với quy mô lớn.

     

    • Hầu hết các chức năng hệ thống đã hoàn chỉnh , nhưng còn chức năng chuyển lớp cho các học sinh chúng em chưa làm được ( chuyển các học sinh từ lớp dưới lên lớp trên sau 1 năm học , chuyển các lớp trong khối và chuyển xuống lớp dưới – nếu học lực yếu )

     

    • Kinh nghiệm thu được:
      • Hiểu được nhiều kinh nghiệm trong giao tiếp cũng như công việc thực tế

     

    • Có cơ hội để vận dụng kiến thức lý thuyết trong nhà trường áp dụng vào thực tiễn.

     

    • Củng cố các kiến thức về các môn học: công cụ phần mềm, phân tích thiết kế hệ thống thông tin, ngôn ngữ lập trình…
    • Hướng giải quyết :

    Phần mềm được viết với các chức năng cơ bản và có thể dựa vào nó để nâng cấp lên quản trị thêm nhiều chức năng hơn , như chức năng quản lí các điểm kiểm tra các môn ( điểm 15 phút , điểm 1 tiết ….) giúp giáo viên không cần mất nhiều thời gian để tính điểm , quản lí các giáo viên trong trường , quản lí hạnh kiểm học sinh ( số buổi vắng , các vi phạm ) , quản lí điểm tổng kết 3 năm và điểm thi tốt nghiệp để xét loại tốt nghiệp cho học sinh , quản lí học sinh diện con nhà nghèo , …..


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập một số khó khăn của Tổng Công ty may Đồng Nai

    Báo cáo thực tập một số khó khăn của Tổng Công ty may Đồng Nai

    Báo cáo thực tập một số khó khăn của Tổng Công ty may Đồng Nai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-kh%C3%B3-kh%C4%83n-c%E1%BB%A7a-T%E1%BB%95ng-C%C3%B4ng-ty-may-%C4%90%E1%BB%93ng-Nai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập một số khó khăn của Tổng Công ty may Đồng Nai

    LỜI CẢM ƠN

    Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến quý Thầy, Cô trường Cao đẳng Cao đẳng Công nghệ & Quản trị Sonadezi, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em, đó chính là những nền tảng cơ bản, là những hành trang vô cùng quý giá, là bước đầu tiên cho em bước vào sự nghiệp sau này trong tương lai. Đặc biệt là Thầy Hồ Văn Khôi – một người Thầy đã cho em rất nhiều kiến thức và niềm đam mê ngành quản trị mà em đã chọn. Cảm ơn Thầy đã tận tình, quan tâm, giúp đỡ em trong một tháng qua, giải đáp những thắc mắc trong quá trình kiến tập. Nhờ đó, em mới có thể hoàn thành được bài báo cáo thực tập này.

    Bên cạnh đó, em cũng xin được gởi lời cảm ơn chân thành tới Trưởng phòng, các anh chị trong Công ty CP Tổng Công ty May Đồng Nai đã tạo cơ hội giúp em có thể tìm hiểu rõ hơn về môi trường làm việc thực tế của một doanh nghiệp mà ngồi trên ghế nhà trường em chưa được biết. Em chân thành cảm ơn chú Phạm Hữu Úy – Trưởng phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu, dù chú rất bận rộn với công việc nhưng vẫn dành thời gian chỉ bảo, hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để em có thể tìm hiểu và thu thập thông tin phục vụ cho bài báo cáo này.

    Trong quá trình thực tập và làm báo cáo, vì chưa có kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào lý thuyết đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên bài báo cáo chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía quý Thầy, Cô cũng như Chú, các anh chị trong Tổng Công ty để kiến thức của em ngày càng hoàn thiện hơn và rút ra được những kinh nghiệm bổ ích có thể áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả trong tương lai.

    Kính chúc mọi người luôn vui vẻ, hạnh phúc, dồi dào sức khỏe và thành công trong công việc

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Lời mở đầu

    Ngành dệt may đang có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia vì nó phục vụ nhu cầu tất yếu của con người, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động xã hội và tạo điều kiện cân bằng xuất nhập khẩu. Ở Việt Nam, ngành dệt may cũng đã sớm phát triển và trong các năm qua được quan tâm đầu tư, mở rộng năng lực sản xuất, trải qua những bước thăng trầm do những diễn biến của thị trường quốc tế và cơ chế quản lý trong nước, đến nay, ngành dệt may đã tạo được sự ổn định và tạo điều kiện cho bước phát triển mới.

    Công ty Cổ phần Tổng Công ty May Đồng Nai là một trong những doanh nghiệp may mặc thu hút và tạo việc làm cho nguồn lao động trong tỉnh Đồng Nai. Là một doanh nghiệp có bề dày trên 35 năm kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh hàng may mặc xuất khẩu và tiêu thụ nội địa; kinh doanh các thiết bị, phụ tùng và các sản phẩm của ngành dệt may; đã tạo được uy tín về năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm trong những năm qua. Tuy nhiên, Tổng Công ty còn gặp rất nhiều khó khăn hiện nay, vì thế em mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu một số khó khăn của Tổng Công ty May Đồng Nai đang gặp phải và hướng giải quyết” làm đề tài báo cáo kiến tập của mình và để thuận tiện làm nền tảng cho đề tài tốt nghiệp vào năm sau.

    Bài báo cáo gồm 4 chương:

    Chương 1:  Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng Công ty May Đồng Nai

    Chương 2: Tổng quan về Tổng Công ty May Đồng Nai

    Chương 3: Thông tin của phòng kế hoạch xuất nhập khẩu

    Chương 4: Tình hình chung của Tổng Công ty May Đồng Nai, một số khó khăn và hướng giải quyết.

    Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian, trình độ, nguồn số liệu nên chắc chắn bài viết của em sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được những góp ý, phê bình và nhận xét của quý Thầy Cô và các Cô Chú trong toàn Công Ty để em rút kinh nghiệm và bài báo cáo tốt nghiệp có cơ hội được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!

     

    CHƯƠNG MỘT

    LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    CỦA TỔNG CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI

    I.                   Lịch sử hình thành và phát triển:

    Công ty Cổ phần may Đồng Nai trước đây là QUỐC TẾ SẢN XUẤT Y TRANG (Internation Garment Manufacture) gọi tắt là IGM do 14 cổ đông là các chủ nghĩa tư bản người Đài Loan thành lập ngày 17 tháng 12 năm 1974.

    Nhà xưởng sản xuất của công ty đặt tại Khu kĩ nghệ Biên Hòa (nay là  Khu công nghiệp Biên Hòa 1), với số vốn ban đầu 300 triệu (tiền chế độ cũ), 367 máy móc thiết bị và khoảng 300 công nhân; văn phòng của công ty đặt tại số 2-đường Công Lý-Sài Gòn. Dự định của IGM là sản xuất áo chemise và các loại Jean để xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á và một số nước châu Mỹ.

    Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, vào tháng 5/1975 QUỐC TẾ SẢN XUẤT Y TRANG được tiếp quản và đổi tên là NHÀ MÁY QUỐC TẾ Y TRANG. Sau đó căn cứ vào quyết chuyển sở hữu số: 673/CNn-TSQL ngày 05/09/1977 Quốc tế y trang được chuyển thành XÍ NGHIỆP MAY ĐỒNG NAI là một đơn vị quốc doanh, trực thuộc Liên hiệp các Xí nghiệp May. Trong quá trình hình thành và phát triển, đến tháng 6/1992: Xí nghiệp được nâng cấp thành CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI- Theo quyết định của Bộ Công Nghiệp nhẹ số 491/CNn-TCLĐ ngày 22/06/1992 và năm 1993 Bộ Công Nghiệp Nhẹ ra quyết định số: 415/CNn-TCLĐ ngày 24/04/1993 thành lập công ty May Đồng Nai thuộc liên hiệp các Xí nghiệp May. Năm 1995 Công ty May Đồng Nai trở thành thành viện hạch toán độc lập của Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam (“VINATEX”) – Nay là Tập đoàn Dệt May Việt nam của Thủ tướng Chính phủ, số 253/TTg, ngày 29/04/1995.

    Đến năm 2001, thực hiện chủ trương sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước của Đảng và Nhà nước, Công ty May Đồng Nai được tiến hành cổ phần hóa – Theo Quyết định số: 640/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/5/2001 Công ty đã chuyển thành CÔNG TY CỔ PHẦN MAY ĐỒNG NAI. Sau đó các đại biểu cổ đông của Công ty đã tiến hành Đại hội đồng cổ đông thành lập vào ngày 13/8/2001. Hiện nay, Donagamex là thành viên liên kết của Tập đoàn Dệt May Việt Nam – Vinatex, theo Hợp đồng số: 1405/HĐ-TĐDMVN, ngày 29/6/2006.

    Ngày 29/6/2007 Công ty chính thức là Công ty đại chúng thứ 455 được đăng ký với Ủy ban chứng khoán Nhà nước với mức vốn điều lệ là 13 tỷ đồng, đến nay là: 39,84 tỷ đồng.

    Hàng năm Công ty May Đồng Nai ký hợp đồng tham gia thành viên Tập đoàn Vinatex, (Hợp đồng mới nhất số: 525/HĐ-TĐDMVN, ngày 12/6/2009, hiệu lực đến 31/12/2010 – đang tiếp tục gia hạn).

    Năm 2010, đánh dấu 35 năm hình hình và phát triển, kể từ ngày 01/7/2010 Công ty CP May Đồng Nai đã chuyển đổi mô hình hoạt động lên thành Tổng Công ty May Đồng Nai theo Quyết định số 278/QĐ-ĐHCĐ ngày 29/6/2010 và giấy CN.ĐKKD sửa đổi lần 6, số 3600506058, hoạt động theo loại hình Công ty cổ phần và sản xuất kinh doanh đa ngành nghề trong các lĩnh vực: May mặc; bất động sản; cho thuê nhà xưởng, phương tiện vận tải; nhựa bao bì; vải không dệt; đầu tư, xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị, khu nghỉ dưỡng, mua bán, đại lý mua bán máy móc, thiết bị y tế…

    II. Thành tích nổi bật Tổng Công ty May Đồng Nai đã đạt qua các thời kì:

    – Các danh hiệu, khen thưởng cấp Nhà nước:

    Trong lịch sử hình thành và phát triển, Tổng Công ty đã được Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng ba – năm 2007, Huân chương Lao động hạng nhất – năm 1999, Huân chương Lao động hạng nhì – năm 1986 và 1991, Huân chương Lao động hạng ba – năm 1981, Cờ thi đua suất sắc của Chính phủ năm 2008 – 2009 và nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và Tập đoàn Dệt May Việt Nam. Năm 2010 được UBND Tỉnh Đồng Nai tặng Danh hiệu “Doanh nghiệp tiêu biểu 3 năm” (2007-2009).

    Với thành tích và bề dày kinh nghiệm sản xuất kinh doanh nhiều năm Tổng Công ty đã đạt được các Giải thưởng và danh hiệu quý giá như: Sao vàng đất Việt – năm 2004, 2006, 2009; Cúp vàng thương hiệu và Huy chương vàng hàng công nghiệp Việt Nam – năm 2005, 2006; 6 năm liền là Doanh nghiệp tiêu biểu toàn diện ngành Dệt May Việt Nam – năm 2005 – 2010; Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín Việt Nam từ 2004 – 2009; Doanh nghiệp phát triển bền vững – năm 2008; Thương hiệu nổi tiếng Việt Nam, Doanh nghiệp văn hóa UNESCO – năm 2009; Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam từ năm 2007 đến nay. Top 100 nhà cung cấp đáng tin cậy Việt Nam năm 2010 và nhiều giải thưởng, danh hiệu, cúp, chứng nhận có giá trị khác…

    – Các Chứng nhận về hệ thống quản lýchất lượng, trách nhiệm xã hội được cấp:

    Ngay từ những năm 2000 đến nay, Tổng Công ty đã xây dựng, đạt chứng nhận và duy trì vận hành hệ thống hoạt động sản xuất kinh doanh và trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 và SA 8000, cũng như đáp ứng các yêu cầu đánh giá của khách hàng trước khi đặt hàng sản xuất tại các thành viên trong Tổng Công ty. Nhiều năm qua Tổng Công ty đã sản xuất được nhiều loại sản phẩm cao cấp (Jacket, Sơ-mi, Quần, Bộ đồng phục…) cho các nhãn hiệu nổi tiếng, như: Cabela’s, Asics, Xebec, DKNY, Lucky, Port Authority …

    – Giấy chứng nhận ISO 9001:2000 – Số: HT 791.04.04, ngày 27/9/2004

    – Giấy chứng nhận TNXH – SA 8000:2001 – Số: 0605-2003-ASA-RGC-SAI, ngày 27/7/2003

     

    Chứng chỉ ISO 9001:2000       Huân chương Độc Lập Hạng Ba          Chứng chỉ SA 8000:2001

    Cúp “Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt”


    Cúp “Vàng Hội chợ Thời Trang”     Cúp “Thời Trang Việt Nam”          Cúp “Thời Trang Việt Nam”

     

    CHƯƠNG HAI

    TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI

    I.                   Giới thiệu sơ lược về Tổng Công ty may Đồng Nai:

    1.     Những thông tin chung về Tổng Công ty:

    Tên công ty: CÔNG TY CP TỔNG CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI

    Thương hiệu:

    Tên viết tắt: DONAGAMEX

    Tên giao dịch: DONGNAI GARMENT CORPORATION

    Ngành hàng: Dệt may

    Địa chỉ: Đường 2, phường An Bình, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

    Địa phương: Đồng Nai

    Điện thoại: 061-3836151

    Fax: 061-3836141

    Email: [email protected]

    Website: http://www.donagamex.com.vn

    Tổng Giám đốc: Bùi Thế Kích

    Vốn điều lệ: 39.844.850.000đ

    Khối lượng phát hành cổ phiếu: 3.984.485 cp

    • Sơ đồ vị trí:

    2.     Ngành nghề kinh doanh:

    • Sản xuất, mua bán hàng may mặc các loại.
    • Mua bán các mặt hàng: thiết bị phụ tùng ngành dệt may, các sản phẩm của ngành dệt may, giấy, bao bì giấy, bao bì nhựa; nguyên liệu sản xuất giấy và sản xuất bao bì giấy; hạt nhựa và nguyên liệu sản xuất bao bì nhựa.
    • Xuất nhập khẩu trực tiếp.
    • Môi giới bất động sản, dịch vụ nhà đất, kinh doanh nhà.
    • Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi.
    • Cho thuê nhà xưởng, kho bãi, nhà ở.
    • Mua bán mỹ phẩm, nước giải khát, rượu, bia.
    • Đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa.
    • Vận tải hành khách đường bộ theo hợp đồng.
    • Vận tải hàng hóa đường bộ. Kinh doanh nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ dưỡng.
    • Đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị.
    • Bổ sung: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê (6810). Bán buôn tổng hợp (4690). Bán lẻ trong các cửa hàng kinh doanh tổng hợp, bán lẻ trong siêu thị, trung tâm thương mại (4719). Bán buôn gạo (4631). Bán buôn thực phẩm (4632)./. (theo Số: 279 / MĐN-BCTN)

    3.     Quy mô hoạt động của Tổng Công ty May Đồng Nai

    Hiện Tổng Công ty May Đồng Nai có trên 4.000 cán bộ công nhân viên làm việc tại Tổng Công ty và 4 Công ty con thành viên, 1 Công ty thành viên liên kết, 11  Xí nghiệp trực thuộc và đang tiếp tục đầu tư phát triển mở rộng sản xuất ra các vùng xa trung tâm thành phố lớn.

    • Cơ sở vật chất, nguồn nhân lực:
    • Tổng số lao động:

    + Trên 4.000 cán bộ, công  nhân viên. Trong đó: Trên 3.000 công nhân may lành nghề.

    • Tổng số máy móc thiết bị:

    + Trên 4000 máy móc, thiết bị hiện đại, chuyên dùng được sản xuất từ Nhật, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan.

    • Số nhà máy sản xuất:

    + 11 xí nghiệp may khép kín từ khâu cắt đến hoàn thành.

    + 1 xưởng thêu vi tính và chần gòn.

    + 1 xưởng ép keo.

    • Diện tích đất đai công ty: 80.000m2. Trong đó:

    + Diện tích nhà xưởng: 45.000m2. Trong đó gồm một khu công nghệ cao với tòa nhà 4 tầng diện tích sử dụng: 8.000m2.

    + Đường nội bộ, sân bãi: 16.000m2

    + Diện tích  cây xanh, đất trống: 27.000m2

    • Sản phẩm chính của Công ty gồm:
    • Áo Jacket và Áo khoác nam nữ các loại.
    • Bộ Vest nữ.
    • Bộ thể thao.
    • Bộ bảo hộ lao động
    • Áo sơ mi và quần nam nữ các loại.
    • Đầm, váy…
    • Khả năng sản xuất hàng năm:
    • 000.000 Áo sơmi
    • 000.000 Quần
    • 000.000 Áo Jacket, Áo Khoác.
    • 000 Bộ Vest nữ.
    • 000 Bộ đồng phục.
    • 000 Sản phẩm thời trang khác.
    • 000.000 Bộ thể thao, Bộ bảo hộ lao động

    Sản phẩm và thương hiệu DONAGAMEX đã tạo được niềm vui của khách hàng vì chất lượng cao, giá cả hợp lý, đảm bảo giao hàng đúng hẹn.

    Tại Donagamex, chúng tôi thấu hiểu “Niềm tin của khách hàng tạo nên sự thành công”.

    Nhiều năm nay, sản phẩm của Công ty đã có mặt tại thị trường các nước: NHẬT, MỸ, CHÂU ÂU, CANADA, HỒNG KÔNG, ĐÀI LOAN, HÀN QUỐC, ÚC, và NGA…

    • Tình hình hoạt động:

    Kể từ ngày chính thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần (ngày ĐKKD 21/8/2001) đến nay công ty đều phát triển mạnh, bền vững; mức tăng trưởng hàng năm khá cao; tình hình tài chính lành mạnh; hiệu quả kinh doanh cao, tỷ lệ lợi nhuận và thu nhập cán bộ công nhân viên (“CB.CNV”) luôn vượt kế hoạch; đời sống vật chất, tinh thần của CB.CNV và cổ tức của cổ đông luôn đảm bảo và nâng cao.

    Tổng Công ty tiếp tục tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng may mặc (Sản phẩm chủ yếu: Áo Jacket, Áo Khoác, Áo Sơ-mi, Quần Jeans, Quần Âu, Bộ Vest nữ, Bộ đồng phục BHLĐ, Bộ quần áo thể thao …); đồng thời, từng bước mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực khác để đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh mang lại hiệu quả cao, như: kinh doanh nhà xưởng bán và cho thuê, sản xuất ngành nhựa, sản xuất vải không dệt ….

    4.     Định hướng phát triển

     Mục tiêu chủ yếu của Tổng Công ty:

    – Tốc độ tăng trưởng hàng năm (GTSXCN, Doanh thu) bình quân 20 – 30%.

    – Hiệu quả hoạt động SXKD (Khấu hao, lợi nhuận, thu nhập người lao động…) hàng năm luôn cao hơn năm trước.

    – Phát triển thị trường nội địa hàng năm tăng thị phần trên doanh thu từ 15 – 20%.

    – Hoạt động theo mô hình Tổng Công ty hiệu quả đạt doanh thu hàng năm trên 1000 tỷ đồng.

    – Đầu tư mở rộng sản xuất, bình quân mỗi năm thêm 1 nhà máy mới.

    Chiến lược phát triển trung và dài hạn:

    – Tiếp tục kinh doanh ngành may mặc làm nền tảng, trên cơ sở:

    + Chuyển hướng mạnh sang kinh doanh hàng xuất khẩu bán đứt (FOB); chủ động nguồn NPL và mẫu mã để phát triển kinh doanh nội địa và phục vụ kinh doanh FOB xuất khẩu.

    + Đầu tư mở rộng sản xuất ra các vùng xa trung tâm thành phố lớn để tăng năng lực, đầu tư nâng cấp và đổi mới công nghệ cho các khu sản xuất hiện hữu tại Biên Hòa.

    – Phát triển thành Tổng Công ty kinh doanh đa ngành nghề, trên cơ sở:

    + Chuyển hướng dần sang công nghiệp dịch vụ (Khách sạn, nhà hàng), khu đô thị, thương mại tại các Khu A và B ở Biên Hòa.

    + Mở rộng mỗi khu vực sản xuất và mỗi lĩnh vực ngành nghề Tổng Công ty đang kinh doanh để giao cho một Công ty thành viên trực thuộc Tổng Công ty tổ chức quản lý, điều hành.

    + Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành may mặc và các ngành công nghiệp sản xuất khác.

    1. Quy trình sản xuất sản phẩm của Tổng Công ty May Đồng Nai:

     

     

    II.               Cơ cấu tổ chức và trách nhiệm , quyền hạn của các phòng ban

    ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
    Tổng Giám đốc
    HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
    BAN KIỂM SOÁT
    P. Tổng GĐ
    P. Tổng GĐ
    P. Tổng GĐ
    P. Tổng GĐ
    VP Tổng hợp (TC-HC-NS
    Phòng kinh doanh
    Phòng tài chính- kế toán
    P. Kế hoạch -Xuất nhập khẩu
    P. Kỹ thuật sản xuất
    KHU A

     

    XN May 1

    XN May 2

    XN May 3

    XN May 4

    KHU B

     

    XN May 5

    XN May 6

    XN May 7

    CTY. MAY ĐỊNH QUÁN

     

    XN Đồng Phú

    XN Đồng Lợi

    CT. ĐỒNG XUÂN LỘC

     

    XN May

    VĂN PHÒNG CHI NHÁNH TẠI TP.HCM & CN TẠI HÀ NỘI
    • Cơ cấu tổ chức Tổng Công ty May Đồng Nai

     

    2.     Diễn giải sơ đồ:

    • Đại hội đồng cổ đông:

    Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn được Điều lệ Công ty và Pháp luật liên quan quy định. Đại hội đồng cổ đông có các quyền và nhiệm vụ sau:

    • Thông qua, sửa đổi, bổ sung Điều lệ.
    • Thông qua kế hoạch phát triển Công ty, thông qua Báo cáo tài chính hàng năm, báo cáo của HĐQT, Ban kiểm soát và của Kiểm toán viên.
    • Quyết định số Thành viên HĐQT.
    • Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thành viên HĐQT, Ban kiểm soát.
    • Các quyền khác được quy định tại Điều lệ Công ty.
      • Hội đồng quản trị:

    Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị của Công ty có 05 thành viên, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông. HĐQT có các quyền sau:

    • Quyết định cơ cấu tổ chức, bộ máy của Công ty.
    • Quyết định chiến lược đầu tư, phát triển của Công ty trên cơ sở các mục đích chiến lược do ĐHĐCĐ thông qua.
    • Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, giám sát hoạt động của Ban Giám đốc.
    • Kiến nghị sửa đổi bổ sung Điều lệ, báo cáo tình hình kinh doanh hàng năm, Báo cáo tài chính, quyết toán năm, phương án phân phối lợi nhuận và phương hướng phát triển, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và ngân sách hàng năm trình ĐHĐCĐ.
    • Triệu tập, chỉ đạo chuẩn bị nội dung và chương trình cho các cuộc họp ĐHĐCĐ.
    • Đề xuất việc tái cơ cấu lại hoặc giải thể Công ty.
    • Các quyền khác được quy định tại Điều lệ.
      • Ban Kiểm soát

    BKS do ĐHĐCĐ bầu ra gồm 03 thành viên, thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động quản trị và điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty. BKS chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ và Pháp luật về những công việc thực hiện theo quyền và nghĩa vụ như:

    • Kiểm tra sổ sách kế toán và các Báo cáo tài chính của Công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của các hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính Công ty, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của HĐQT.
    • Trình ĐHĐCĐ báo cáo thẩm tra các báo cáo tài chính của Công ty, đồng thời có quyền trình bày ý kiến độc lập của mình về kết quả thẩm tra các vấn đề liên quan tới hoạt động kinh doanh, hoạt động của HĐQT và Ban Giám đốc.
    • Yêu cầu HĐQT triệu tập ĐHĐCĐ bất thường trong trường hợp xét thấy cần thiết.
    • Các quyền khác được quy định tại Điều lệ.
    STT Họ và tên Chức vụ
    I)                  HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ  
    1 Ô. Bùi Thế Kích Chủ tịch HĐQT
    2 B. Nguyễn Thị Thanh Vân Thành viên HĐQT
    3 Ô. Hứa Trọng Tâm Thành viên HĐQT
    4 Ô. Vũ Đức Dũng Thành viên HĐQT
    5 Ô. Nguyễn Thanh Hoài Thành viên HĐQT
    II)              BAN KIỂM SOÁT  
    1 B. Phạm Ngọc Ánh Trưởng Ban Kiểm soát
    2 Ô. Phạm Hữu Úy Thành viên BKS
    3 B. Vũ Lan Thương Thành viên BKS

     

    • Ô. Bùi Thế Kích – Tổng Giám đốc

    Tổng Giám đốc  phân công nhiệm vụ cho các Phó Tổng Giám đốc chủ động giải quyết và tự chịu trách  nhiệm về các vấn đề hoặc các đơn vị đã được giao phụ trách.

    Các vấn đề chưa được phân công sẽ do Tổng Giám đốc giải quyết hoặc các vấn đề lớn quan trọng sẽ do Tổng Giám đốc trực tiếp chỉ đạo, quyết định, ký duyệt.

    • Phụ trách chung, chịu trách nhiệm toàn diện trước HĐQT và tập thể CB.CNV về các hoạt động của Công ty.
    • Xác định chính sách, mục tiêu và chiến lược phát triển của Công ty.
    • Đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn lực cho các bộ phận.
    • Chịu trách nhiệm trước khách hàng về vấn đề chất lượng của Công ty.
    • Điều hành các cuộc họp xem xét của lãnh đạo về Hội đồng quản lí chất lượng, Hội đồng quản lí trách nhiệm xã hội.
    • Phân công trách nhiệm và quyền hạn cho các trưởng bộ phận.

    Ngoài ra, trong công tác điều hành, Tổng giám đốc chỉ đạo trực tiếp các hành động sau:

    • Công tác tổ chức cán bộ, kế hoạch thị trường, đầu tư phát triển, tiền lương, tài chính, công tác kinh doanh, giá cả, thi đua khen thưởng.
    • Phê duyệt các dự án đầu tư, các phương án giá cả, các phương án sản xuất – kinh doanh, các hợp đồng xuất – nhập khẩu, các chi phí ngoài quy chế.
    • Phụ trách ký:
      • Các nội quy, quy chế, quyết định và quy phạm điều hành nội bộ.
      • Các chứng từ kế toán, hợp đồng tín dụng, thuế ước Ngân hàng.
      • Các hợp đồng lao động, thử việc với nhân viên các phòng ban, văn phòng khu.
      • Các hợp đồng nguyên tắc, biên bản xem xét hợp đồng và các hợp đồng mua bán thiết bị.
      • Các loại giấy tờ, chứng từ khác do TGĐ chủ động giải quyết.
    • Nguyễn Thị Thanh Vân – Phó Tổng Giám đốc thường trực
      • Phụ trách phòng Kế hoạch- Xuất Nhập khẩu, phòng Kỹ thuật-Sản xuất và khu A, B, D
      • Công tác kế hoạch sản xuất, chất lượng sản phẩm và giao hàng trong Tổng Công ty.
      • Quản lý chi phí sản xuất, các định mức kinh tế kĩ thuật, đơn giá CM trong Tổng Công ty.
      • Quản lý các hợp đồng gia công trong nước.
      • Thực hiện các nhiệm vụ khác do TGĐ phân công.
    • Phụ trách ký:
      • Ký hợp đồng gia công trong nước.
      • Các phiếu nhập xuất vật tư, sản phẩm.
      • Kế hoạch làm thêm giờ, đơn đặt hàng chỉ-bao bì, xác nhận chất lượng hàng hóa xuất khẩu và nội địa  tại khu A, B, D.
      • Các đơn đặt hàng trong nước.
      • Phê duyệt các dự trù vật tư, chi phí sản xuất, chi phí quản lý trong Tổng Công ty.
      • Phê duyệt định mức NPL, kế hoạch bổ sung thiết bị trong Tổng Công ty.
      • Điều động thiết bị trong Tổng Công ty.
      • Phê duyệt điều tiết đơn giá CMPT trong Tổng Công ty
      • Bảng tổng hợp lương Tổng Công ty và bảng lương khu A, B, D.
      • Điều tiết đơn giá công đoạn, quỹ lương và phương án lương khu A, B, D.
    • Khi vắng mặt: Giao cho ông Phạm Hữu Úy Trưởng phòng kế hoạch-xuất nhập khẩu ký các chứng từ nhập, xuất vật tư, sản phẩm.
      • Ô. Vũ Đức Dũng – Phó Tổng Giám đốc
        • Phụ trách phòng kinh doanh và chi nhánh TP.HCM, chi nhánh Hà Nội.
        • Chịu trách nhiệm chính về công tác kinh doanh nội địa, phát triển thương hiệu.
        • Các hợp đồng xuất-nhập khẩu, gia công xuất nhập khẩu.
        • Các thủ tục quyết toán, thanh toán, thanh lý các hợp đồng xuất khẩu; các yêu cầu của khách hàng; các thủ tục xuất-nhập khẩu liên quan đến hải quan, VCCI, giải quyết công nợ với khách hàng.
        • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc phân công.
      • Phụ trách ký:
        • Các hợp đồng XNK (FOB, gia công); các hóa đơn GTGT.
        • Các chứng từ XNK của các đơn hàng, các bản sao phục vụ cho XNK.
        • Phương án kinh doanh nội địa, giá thành, giá bán-mua sản phẩm kinh doanh nội địa; chứng từ cửa hàng, các đại lý và hệ thống phân phối hàng kinh doanh nội địa.
      • Ô. Hứa Trọng Tâm – Phó Tổng Giám đốc
        • Phụ trách văn phòng tổng hợp, công tác Đảng, đoàn thể trong Tổng Công ty.
        • Công tác bảo vệ trật tự, an ninh nội chính, PCCC, môi trường, an toàn lao động.
        • Công tác xây dựng cơ bản, quản lý các công trình xây dựng trong Tổng Công ty.
        • Chỉ đạo công tác nâng bậc lương, công tác chế độ lao động và bảo hiểm.
        • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc phân công.
      • Phụ trách ký:
        • Ký phương án lương chung và bảng lương khối gián tiếp trong Tổng Công ty.
        • Quyết định điều động, bổ nhiệm lao động đến cấp tổ trưởng sản xuất tại khu A, B, D.
        • Ký hợp đồng lao động, hợp đồng thử việc, hội nghề, tập nghề với công nhân trực tiếp sản xuất tại khu A, B, D.
        • Ký giấy tờ xác nhận cho CB.CNV, các chứng từ BHXH, BHYT, bản sao phục vụ cho sản xuất-kinh doanh.
        • Các phương án bảo vệ lễ Tết, PCCC, Dân quân tự vệ trong Tổng Công ty.
      • Khi vắng mặt: Giao cho Ô. Phạm Xuân Tâm- Chánh văn phòng ký các chứng từ BHXH, BHYT, giấy giới thiệu và bản sao giấy tờ.
        • Ô. Vũ Đình Hải – Phó Tổng Giám đốc
          • Phụ trách công ty Đồng Xuân Lộc, Cty CP Đông Bình, chỉ đạo sản xuất, giao hàng, chất lượng hàng hóa tại công ty Đồng Xuân Lộc.
          • Theo dõi quản lý công ty CP Đông Bình.
          • Đại diện lãnh đạo hệ thống ISO, SA và chỉ đạo, quyết định về đánh giá sự phù hợp.
          • Thực hiện các nhiệm vụ khác do TGĐ phân công.
        • Phụ trách ký:
          • Kế hoạch làm thêm giờ, đơn đặt hàng chỉ-bao bì, xác nhận chất lượng hàng hóa xuất khẩu và nội địa tại công ty Đồng Xuân Lộc.
          • Ký hợp đồng lao động, hợp đồng thử việc, hội nghề, tập nghề với công nhân trực tiếp sản xuất tại công ty Đồng Xuân Lộc.
          • Quyết định điều động, bổ nhiệm lao động đến cấp Tổ trưởng sản xuất tại công ty Đồng Xuân Lộc.
          • Điều tiết đơn giá công đoạn, quỹ lương, phương án lương và bảng lương công ty Đồng Xuân Lộc.
        • Trách nhiệm thi hành và chế độ báo cáo:

    + Các Phó Tổng Giám đốc được phân công và ủy quyền nêu trên:

    • Chịu trách nhiệm trực tiếp trước Tổng Giám đốc và pháp luật về quyết định của mình.
    • Hàng tháng phải xây dựng phương án, kế hoạch cụ thể đối với công việc do mình phụ trách để báo cáo cho Tổng Giám đốc và để chỉ đạo thực hiện.
    • Thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ báo cáo thỉnh thị ý kiến với TGĐ trước, trong và sau khi thực thi các công việc trong phạm vi phân công, phải tuân thủ đúng các quy định của hệ thống quản lý trong Tổng Công ty.

    + Căn cứ vào phân công nhiệm vụ trong lãnh đạo Tổng Công ty yêu cầu các đơn vị trong Tổng Công ty có trách nhiệm báo cáo, thỉnh thị đúng người phụ trách, trình ký theo phân công. Nếu phát hiện có vấn đề chưa phù hợp phải phản ánh ngay với các đồng chí lãnh đạo trực tiếp phê duyệt hoặc Tổng Giám đốc để xử lý trong thời hạn không quá 1 ngày.

    3.     Chức năng, trách nhiệm của các phòng ban:

    • Phòng Văn phòng tổng hợp
      1. Chức năng:

    Văn phòng công ty là đơn vị giúp việc cho TGĐ, có chức năng điều phối các hoạt động chung trong công ty đảm bảo tính thống nhất, liên tục và có hiệu chung trong các hoạt động của công ty; tham mưu cho TGĐ trong công tác lãnh đạo, điều hành và quản lý về công tác tổ chức-lao động-tiền lương, công tác quản trị hành chính và công tác văn thư, lưu trữ, điều hành, kiểm tra, công tác bố trí trạm, điều động xe và công nhân lái xe đưa đón công nhân viên: công tác sửa chữa bảo trì bảo dưỡng xe.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn
    • Về công tác tổ chức, lao động-tiền lương:
    • Lập phương án, kế hoạch hoặc xây dựng phương án, kế hoạch đổi mới về tổ chức bộ máy, tổ chức cán bộ, tuyển dụng lao động, đào tạo, theo dõi các diễn biến lao động.
    • Tổ chức, thực hiện công tác tuyển dụng lao động trong toàn bộ công ty.
    • Tổ chức, thực hiện công tác đào tạo: đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, đào tạo bổ sung, bồi dưỡng tay nghề…
    • Tiếp nhận, quản lý và chịu trách nhiệm về toàn bộ hồ sơ cá nhân của người lao động trong công ty.
    • Lập các thủ tục giúp TGĐ ký kết hợp đồng lao động với người lao động, xây dựng Thỏa ước lao động tập thể với đại diện người lao động; quản lý, theo dõi thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể.
    • Triển khai công tác điều động và thuyên chuyển nhân sự theo sự chỉ đạo của TGĐ; theo dõi diễn tiến lao động trong toàn công ty.
    • Thực hiện các chế độ về BHXH, BHYT, BH thương mại khác đối với người lao động, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người dan lao động.
    • Xác định các phương án kế hoạch về tiền lương, tiền thưởng và các chế độ phúc lợi khác đối với người lao động; triển khai thực hiện các phương án, kế hoạch đó khi được duyệt.
    • Tổ chức thực hiện các công việc về nâng bậc lương đối với người lao động toàn công ty.
    • Theo dõi diễn biến tiền lương, tiền thưởng và thu nhập của người lao động; quản lý các hồ sơ nghiệp vụ về lương lao động của công.
    • Triển khai các quy định khác của luật lao động đối với người lao động.
    • Hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị thành tiền về công tác lao động tiền lương.
    • Thực hiện công tác báo cáo, thống kê về tình hình quản lý lao động, tiền lương trong công ty và đề xuất, kiến nghị và các hoạt động nghiệp vụ lên cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
    • Thực hiện các nghiệp vụ khác về công tác lao động tiền lương theo sự chỉ đạo của TGĐ.
    • Về công tác quản trị – hành chánh.
    • Tổ chức thực hiện và quản lý công tác bảo vệ công ty; các hoạt động quân sự – an ninh quốc phòng, phòng chống nổ nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối về người và tài sản của công ty.
    • Thực hiện công tác bảo vệ nội bộ trong công ty.
    • Tổ chức trang bị, quản lý, bố trí sử dụng và sữa chữa cơ sở vật chất, kỹ thuật, các thiết bị phương tiện, tiện nghi phục vụ văn phòng đảm bảo an toàn, kịp thời và hiệu quả.
    • Quản lý, điều động xe ô tô con đi lại hợp lý và kịp thời; quản lý, tổ chức xe đưa đón công nhân viên đúng giờ, đúng trạm.
    • Tổ chức, thực hiện và quản lý công tác y tế, khám chữa bệnh, cấp phát thuốc; bảo hộ lao động khác, an toàn vệ sinh – lao động, vệ sinh phòng dịch, vệ sinh môi trường làm việc, tạp vụ .
    • Tổ chức phục vụ tốt bữa ăn giữa ca cho người lao động, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
    • Quản lý nguồn nước sinh hoạt, nước công nghiệp, nước phòng cháy chữa cháy…trên toàn công ty; phối hợp với P.KT-SX quản lý các nguồn và hệ thống điện sinh hoạt trong công ty.
    • Tổ chức thực hiện và theo dõi việc xác định, sữa chữa nhỏ, sữa chữa thường xuyên; duy trì, bảo quản đất đai, các công trình nhà xưởng, các công trình kiến trúc, các công trình công cộng khác (nếu có).
    • Tổ chức, thực hiện, theo dõi, đánh giá công tác thi đua, khen thưởng, sáng kiến. cải tiến trong toàn công ty.
    • Xác định các chương trình, kế hoạch công tác chung của công ty chuẩn bị và tổ chức thực hiện, phục vụ lễ- hội, tiếp tân, giao lưu, tham gia du lịch; chuẩn bị các nội dung và tham gia các cuộc họp giao ban của công ty.
    • Tổ chức, thực hiện và duy trì mới quan hệ công tác chung giữa công ty với các cơ quan nhà nước hữu quan, cơ quan thông tấn, báo chí để đảm bảo phục vụ lợi ích và hoạt động của công ty.
    • Hướng dẫn chuyên môn các nghiệp vụ công tác quản trị hành chính cho các đơn vị trong công ty.
    • Thực hiện các báo cáo thường xuyên hoặc đột xuất theo yêu cầu của Tổng Giám đốc về công tác quản trị – hành chính.
    • Thực hiện các nghiệp vụ khác về quản trị – hành chính theo sự chỉ đạo của TGĐ.
    • Về công tác pháp chế doanh nghiệp.
    • Tập hợp hóa và hệ thống các văn bản pháp luật, pháp quy của Nhà nước (kể cả của địa phương và của ngành) cũng như các thông lệ quốc tế có liên quan đến tổ chức và hoạt động của công ty để triển khai thực hiện trong công ty.
    • Soạn thảo các dự thảo văn bản quy phạm nội bộ, một số văn bản hành chánh trong công ty; phối hợp và kiểm tra tính pháp lý đối với các văn bản của các đơn vị trong công ty.
    • Tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền, công bố hoặc phân phối và kiểm tra giám sát việc thực hiện về các nội quy, quy phạm nội bộ của công ty và các quy định của các cơ quan quản lý Nhà nước áp dụng trong công ty.
    • Tham gia theo dõi và quản lý các loại hợp đồng (HĐ kinh tế và các loại hợp đồng khác ), thông báo giá hạn ngạch XNK; tham gia về mặt pháp lý với các đơn vị trong việc giao dịch, đàm phán, soạn thảo, ký kết thực hiện và thanh lý các loại hợp đồng.
    • Tiến hành các hoạt động nghiệp vụ để đại diện về mặt tố tụng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công ty; trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, hành chánh, dân sự và các tranh chấp khác trước các tranh chấp khác trước các cơ quan pháp luật.
    • Thụ lý, xác định các đơn thư, khiếu nại, tố tụng, kiện tụng có liên quan đến hoạt động, uy tín công ty để tham mưu cho Tổng Giám đốc giải quyết các loại vụ việc này.
    • Quản lý các loại hồ sơ, giấy tờ pháp lý về công ty, thực hiện công tác thư ký cho một số cuộc họp;
    • Lập các báo cáo định kì hoặc đôt xuất theo yêu cầu của cơ quan TGĐ về công tác thực hiện pháp luật, điều lệ về các quy phạm nội bộ trong công ty.

    Thực hiện các nghiệp vụ khác về pháp chế DN theo sự chỉ đạo của TGĐ.

    • Về công tác tổ chức thực hiện công tác văn thư lưu trữ.
    • Tiếp nhận, xử lý và trình giải quyết hay giải quyết theo thẩm quyền tất cả các hoạt động công văn, giấy tờ, báo chí đến công ty (thông qua các phương tiện).
    • Tổ chức soạn thảo, đánh máy, in ấn, sao chép tài liệu;biểu mẫu, trình duyệt và trình ký các loại công văn, giấy tờ, giải quyết các loại giấy tờ ra khỏi công ty.
    • Lập hồ sơ, tiến hành lưu trữ hồ sơ và khai thác hồ sơ lưu trữ theo đúng quy định của nhà nước và quy định của công ty.
    • Quản lý và sử dụng con dấu pháp nhân của công ty theo đúng quy định của nhà nước và công ty, quản lý sử dụng các con dấu nghiệp vụ khác.
    • Tổ chức ghi chép, biên tập, thu âm, thu hình,…làm tư liệu (nếu cần ) về các cuộc họp, hội nghị, lễ hội của công ty; truyền đạt hay quản lý các loại văn bản ấy theo chế độ nghiệp vụ văn thư.
    • Quản lý, cấp và sử dụng các loại giấy tờ nghiệp vụ: giấy giới thiệu, giấy xác nhận công nhân viên.
    • Cập nhật về công tác văn thư – lưu trữ sổ sách riêng để quản lý.
    • Thực hiện công tác báo cáo thường xuyên hoặc đột xuất theo yêu cầu của TGĐ về công tác văn thư – lưu trữ.

    Thực hiện các công tác, nghiệp vụ văn thư – lưu trữ khác theo sự chỉ đạo của TGĐ.

    • Phòng Kinh doanh
    1. Chức năng

    Phòng kinh doanh là phòng chuyên môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu và giúp việc cho Tổng Giám đốc trong các hoạt động quản lý và điều hành về công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh phục vụ cho kinh doanh nội địa của công ty.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn:
    • Lập phương án kế hoạch, tìm hiểu, phát triển thị trường và khách hàng cho sản phẩm của công ty.
    • Tổ chức thực hiện các hoạt động tiếp thị, nghiên cứu, đánh giá thị trường trong nước để thực hiện các phương án chiến lược cạnh tranh.
    • Xác định các mục tiêu chiến lược và kế hoạch cụ thể về kinh doanh hàng nội địa.
    • Xác nhận hệ thống cửa hàng, đại lý tiêu thụ sản phẩm của công ty, quản lý hệ thống cửa hàng kinh doanh của công ty, theo dõi hoạt động kinh doanh tại các đại lý.
    • Hạch toán tình hình kinh doanh nội địa, thống kê, báo cáo và đề xuất kịp thời về tình hình kinh doanh nội địa.
    • Kiểm tra các hàng hóa tồn kho của Tổng Công ty.
    • Thực hiện các nhiệm vụ khác về công tác sản xuất kinh doanh theo sự chỉ đạo cũa Tổng Giám đốc.
      • Phòng Tài chính- Kế toán
    1. Chức năng

    P.KT- TC là phòng chuyên môn nghiệp vụ, có chức năng tham mưu và giúp việc cho TGĐ trong các hoạt động quản lý, tổ chức về tài chính, kế toán và báo cáo, thống kê trong công ty.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn
    • Công tác quản lý tài chính và các loại quỹ theo quy định hiện hành.
    • Giao nhận vốn và tài sản khác.
    • Lập các phương án huy động vốn và các nguồn tín dụng khác, các phương án đầu tư tài chính.
    • Quản lý tiền mặt và thu chi tài chính, thanh toán, quyết toán tiền hàng.
    • Quản lý các quỹ trích lập; theo dõi việc sử dụng phân phối các loại quỹ.
    • Lập phương án và tổ chức thực hiện phân phối các loại quỹ.
    • Trích nộp các nghĩa vụ tài chính với nhà Nhập Khẩu.
    • Thực hiện các nghiệp vụ khác về quản lý tài chính.
    • Công tác nghiệp vụ kế toán theo chế độ kế toán hiện hành.
    • Kế toán tài sản cố định, công cụ lao động và đầu tư dài.
    • Kế toán tiền lương, tiền thưởng, BHXH, BHYT, BHTM khác.
    • Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
    • Kế toán bán hàng và kế quả kinh doanh
    • Kế toán tổng hợp và kiểm tra
    • Kế toán thanh toán, Quốc tế và trong nước
    • Kế toán vật tư, hàng hóa và công cụ.
    • Kế toán nguồn vốn và các quỹ doanh nghiệp
    • Thực hiện các nghiệp vụ kế toán khác theo quy định
    • Thực hiện chế độ tổng kết, báo cáo về tình hình tài chính – kế toán, báo cáo thuế và các nghĩa vụ tài chính khác với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định công bố, công khai về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh theo qui định
    • Thực hiện công tác kế toán thống kê, hoạch toán kinh tế đưa ra các giải pháp tham mưu cho tổng giám đốc về công tác điều hành kinh doanh, lập phương án tài chính cho năm sau.
    • Thực hiện chế độ độc lập và quản lý hệ thống, so sánh, tài liệu, chứng từ kế toán – thống kê, báo cáo tổng giám đốc và trình hệ thống sổ sách, tài liệu chứng từ kế toán cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo quy định khi thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.
    • Hướng dẫn kiểm tra, nhiệm vụ kế toán – tài chính cho các bộ phận, nghiệp vụ kế toán – thống kê tại các đơn vị thành viên theo đúng nguyên tắc và chế độ kế toán hiện hành.
    • Phối hợp với văn phòng công ty tiến hành tổ chức bởi những nghiệp vụ cho nhân viên của phòng và các nhân viên của bộ phận liên quan đến tài chính, kế toán – thống kê và quản lý tài chính theo sự chỉ đạo của tổng giám đốc.
      • Phòng Kế hoạch – Xuất Nhập khẩu
    1. Chức năng

    Phòng Kế hoạch- Xuất nhập khẩu là phòng chuyên môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu và giúp việc cho Tổng Giám đốc trong các hoạt động quản lý và điều hành về công tác kế hoạch, điều độ sản xuất kinh doanh phục vụ cho mục tiêu kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn:
    • Xây dựng chiến lược cũng như kế hoạch xuất nhập khẩu của toàn công ty phù hợp với chiến lược phát triển của ngành dệt may.
    • Tiến hành các hoạt động tiếp xúc, đàm phán, thỏa thuận, ký kết hợp đồng với các khách hàng trong và ngoài nước có liên quan đến công tác xuất nhập khẩu.
    • Trực tiếp theo dõi và triển khai thực hiện các hợp đồng gia công, hợp đồng mua nguyên phụ liệu bán sản phẩm (FOB) xuất nhập khẩu; triển khai thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu, các hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng chuyển giao công nghệ với nước ngoài.
    • Chịu trách nhiệm tổ chức huấn luyện, triển khai các hoạt động xuất nhập khẩu của công ty theo đúng quy định của Nhà nước và của Công ty.
    • Thực hiện các nghiệp vụ xuất nhập khẩu bao gồm: làm thủ tục đăng ký (hợp đồng, tờ khai); lập bộ hồ sơ chứng từ xuất nhập khẩu; giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, tiến hành thanh lý các hợp đồng xuất nhập khẩu với khách hàng và với cơ quan hải quan, thực hiện các nghiệp vụ xuất nhập khẩu khác.
    • Lập chứng từ và thực hiện các thủ tục thanh toán quốc tế.
    • Thực hiện công tác thống kê, lập báo cáo về hoạt động xuất nhập khẩu của công ty theo quy định.
    • Thực hiện công tác quản lý hạn ngạch được giao; đảm bảo việc phân bổ và quản lý hạn ngạch hợp lý, thống kê, báo cáo về tình hình thưc hiện hạn ngạch được giao.
    • Tiếp xúc, giao dịch và tạo mối quan hệ với Hải quan và các cơ quan hữu quan để phục vụ cho công tác nghiệp vụ xuất nhập khẩu.
    • Tổ chức, tham gia hội nghị khách hàng, hội chợ triển lãm.
    • Chuẩn bị nội dung các cuộc họp giao ban về nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu, kịp thời đề xuất các giải pháp kinh doanh xuất nhập khẩu.
    • Phối hợp phòng tài chính-kế toán lập các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, kiến thiết cơ bản, kế hoạch trang bị máy móc thiết bị trong công ty cho hoạt động sản xuất; triển khai thực hiện các dự án đầu tư và kế hoạch phát triển đã được duyệt.
    • Xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án đầu tư (đầu tư cơ bản, đầu tư phát triển, mở rộng, đầu tư ngành nghề khác…) liên doanh, liên kết với các tổ chức, đơn vị kinh tế trong và ngoài nước.
    • Công tác kế hoạch  điều độ, cung ứng, triển khai sản xuất:
    • Lập kế hoạch sản xuất hàng tháng, hàng quý, 6 tháng và cả năm căn cứ vào các hợp đồng kinh tế đã được triển khai.
    • Định mức các nguồn lực phục vụ sản xuất: Lao động, nguyên phụ liệu, nhiên liệu, vật tư, máy móc thiết bị.
    • Lập kế hoạch chi tiết để triển khai sản xuất đối với từng mã hàng cho các đơn vị sản xuất, số lượng đơn hàng, đơn giá, thời gian sản xuât, tiến độ giao hàng, doanh thu hiệu quả, lợi nhuận…và triển khai thực hiện kế hoạch được duyệt.
    • Cân đối, điều độ và cung ứng các nguồn lực đã định mức, đảm bảo phục vụ kịp thời cho sản xuất.
    • Làm việc với khách hàng về các công tác phát sinh trong quá trình sản xuất.
    • Theo dõi, báo cáo và giải quyết kịp thới các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai sản xuất theo sự chỉ đạo của TGĐ.
    • Công tác quản lí kho tàng, giao nhận hàng hóa.

    Quản lý mặt bằng kho: Kho NPL,…kho thành phẩm và các hoạt động xếp dỡ, lưu kho, bảo quản hàng hóa trong kho hay bến bãi.

    • Quản lý hoạt động xuất nhập kho: thực hiện các nghiệp vụ kế toán kho.
    • Quản lý, điều động lực lượng bốc xếp, vận chuyển hàng háo nội bộ, điều động xe tải.
    • Phối hợp với phòng xuất – nhập khẩu trong công tác giao nhận hàng hóa xuất – nhập khẩu.
    • Thực hiện các nhiệm vụ khác về công tác kế hoạch xuất nhập khẩu theo sự chỉ đạo của TGĐ giao.
      • Phòng kĩ thuật – sản xuất
    1. Chức năng

    Phòng kĩ thuật – sản xuất là phòng chuyên môn nghiệp vụ của công ty có chức năng tham mưu cho Tổng Giám đốc trong công tác nghiên cứu, phương pháp và đổi mới kỹ thuật – công nghệ và môi trường; quản lý máy móc thiết bị, thực hiện các yêu cầu về mẫu phục vụ cho công tác sản xuât và kinh doanh của công ty.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn
    • Nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các chương trình quản lý vào sản xuất kinh doanh;
    • Xây dựng chiến lược, kế hoạch đầu tư phương pháp về kỹ thuật khoa học – công nghệ và môi trường trong công ty.
    • Chú ý quy trình công nghệ sản xuất các sản phẩm của công ty: nghiên cứu cải tiến, đổi mới hoặc áp dụng những quy định công nghệ hiện đại khác vào sản xuất, tiếp thụ chuyển giao kỹ thuật công nghệ vào công ty.
    • Thiết kế các mẫu, mã, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp,…để đưa vào sản xuất kinh doanh; đăng ký và sở hữu công nghiệp ( nếu có).
    • Quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động sáng kiến, cải tạo kỹ thuật – công nghệ.
    • Quản lý, triển khai kĩ thuật và mẫu mã (FOB) chuẩn bị cho sản xuất.
    • Làm việc với khách hàng về các vấn đề kĩ thuật phát sinh trong sản xuất.
    • Xây dựng định mức lao động, đơn giá tiền lương theo quy định.
    • Quản lý máy móc thiết bị và hệ thống cung cấp điện sinh hoạt, sản xuất trong toàn công ty.
    • Quản lý theo dõi và kiểm tra số lượng, chất lượng các máy móc thiết bị, phụ tùng, công cụ gác lăng. Lập kế hoạch và hướng dẫn các xí nghiệp thành viên về công tác sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng, sữa chữa máy móc thiết bị, lưu trữ hồ sơ về thiết bị cơ – điện.
    • Xây dựng và ban hành các quy đinh về việc sử dụng , vận hành , chế biến an toàn, bảo trì, bảo dưỡng máy móc thiết bị.
    • Thực hiện các công tác về bảo hộ lao động; nghiên cứu đánh giá tác động môi trường; bảo vệ môi trường trong công ty theo quy định;
    • Tham gia công tác đào tạo về kỹ thuật, tay nghề cho người lao động.
    • Quản lý hoạt động của tổ thêu và chân gòn , tổ ép keo phục vụ cho sản xuất.
    • Chuẩn bị nội dung các cuộc họp chuyên đề với các xí nghiệp thành viên bên về công tác kỹ thuật, khoa học – công nghệ.
    • Thực hiện các nhiệm vụ khác về công tác kỹ thuật, khoa học – công nghệ theo sự chỉ đạo của Tổng Giám đốc.
      • Các xí nghiệp may
    1. Chức năng:

    Các Xí nghiệp thành viên là đơn vị sản xuất trực thuộc của Tổng Công ty, không có tư cách pháp nhân. Có chức năng trực tiếp quản lý sản xuất phù hợp với kế hoạch hay nhiệm vụ do Tổng Công ty giao. Các xí nghiệp thành viên nhận kế hoạch tổ chức sản xuất và giao nộp sản phẩm theo kế hoạch và quy định của Tổng Công ty. Mọi hoạt động điều hành của xí nghiệp đều phải tuân thủ các quy định của Nhà nước và điều lệ, quy chế, cũng như các văn bản hướng dẫn của Tổng Công ty.

    1. Nhiệm vụ, quyền hạn:
    • Quản lý và thực hiện về kế hoạch, kỹ thuật sản xuất
    • Nhận kế hoạch sản xuất do Tổng Công ty giao; triển khai kế hoạch sản xuất của Tổng Công ty đến các tổ sản xuất.
    • Tiếp nhận và quản lý NPL đã được giao cho sản xuất theo kế hoạch của Tổng Công ty.
    • Tổ chức thực hiện các hoạt động triển khai kỹ thuật phục vụ sản xuất.
    • Điều hành quá trình sản xuất theo kế hoạch được giao; giải quyết hoặc phối hợp với p.kế hoạch-xuất nhập khẩu, p.kĩ thuật giải quyết các vấn đề phát sinh trong sản xuất.
    • Quản lý, sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng các loại máy móc thiết bị có hiệu quả.
    • Giao hàng theo kế hoạch; nhập kho thành phẩm và các loại NPL, vật tư thừa (nếu có) sau sản xuất về kho Tổng Công ty theo quy định.
    • Tổ chức thực hiện hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo quy định của Tổng Công ty; chịu trách nhiệm trước Tổng Công ty về chất lượng sản phẩm do đơn vị mình sản xuất.
    • Quản lý và thực hiện công tác lao động và tiền lương
    • Tham gia công tác hoạch định nguồn lao động, phân tích công việc và định mức lao động, đơn giá tiền lương tại đơn vị.
    • Tiếp nhận và quản lý lao động do văn phòng Tổng Công ty tuyển dụng: tổ chức, tuyển dụng hoặc tham gia cùng văn phòng Tổng Công ty thực hiện công tác tuyển dụng lao động theo phương án đã được duyệt.
    • Tổ chức thực hiện công tác đào tạo, huấn luyện công nhân công nghệ; xác định nhu cầu và giới thiệu công nhân viên của mình tham gia các khóa đào tạo do Tổng Công ty tổ chức.
    • Tổ chức điều chuyển đánh giá, sắp xếp, đề bạt công nhân viên và giải quyết các mối quan hệ về nhân sự khác (kỷ luật, cho thôi việc…) theo phân cấp quản lý lao động trong đơn vị.
    • Tổ chức thực hiện việc trả công lao động thông qua chế độ tiền lương theo quy định của Tổng Công ty: thực hiện việc xét duyệt các danh hiệu thi đua, khen thưởng, nâng bậc lương và cho người lao động trong xí nghiệp theo quy định và phân cấp của Tổng Công ty.
    • Tổ chức thực hiện các công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, y tế các công tác về vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường, quang cảnh tại đơn vị.
    • Thực hiện các chế độ BHXH, BHYT đối với công nhân viên tại đơn vị theo quy định và phân cấp quản lý của Tổng Công ty.
    • Quản lý và thực hiện công tác văn phòng và quản trị hành chính
    • Quản lý các văn thư hành chính đến và đi của xí nghiệp.
    • Ban hành văn bản về nội quy, lề lối làm việc của xí nghiệp không trái với quy định của Tổng Công ty, trình TGĐ công ty phê duyệt cho thực hiện; tham gia góp ý các dự thảo quy phạm nội bộ của Tổng Công ty tiếp nhận và chuyển tiếp đơn thư khiếu nại, tố cáo của công nhân viên lên Tổng Công ty theo quy định.
    • Thực hiện hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền trong xí nghiệp.
    • Tổ chức thực hiện công tác bảo vệ xí nghiệp theo quy định phân cấp của Tổng Công ty và hướng dẫn nghiệp vụ của văn phòng Tổng Công ty.
    • Quản lý và thực hiện công tác hạch toán nội bộ, thống kê báo cáo
    • Xí nghiệp thực hiện hạch toán nội bộ theo sự hướng dẫn của các phòng nghiệp vụ về:
    • Về doanh thu, tiền lương, thưởng, lợi nhuận xí nghiệp
    • Các khoản thu, chi khác theo quy định và phân cấp của Tổng Công ty.
    • Nhận khoán một số khoản chi phí theo quy định của Tổng Công ty.
    • Thực hiện công tác thống kê về các chi tiêu do xí nghiệp thực hiện theo phân cấp quản lý của Tổng Công ty và sự hướng dẫn của các phòng nghiệp vụ.
    • Thực hiện công tác báo cáo thường xuyên, định kì hoặc đột xuất về các chỉ tiêu, các nhiệm vụ đơn vị đã thực hiện theo yêu cầu của Tổng giám đốc và sự hướng dẫn của các phòng nghiệp vụ.

    III.            Nhận xét, kiến nghị về cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty May Đồng Nai:

    Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Tổng Công ty May Đồng Nai đang áp dụng là cơ cấu tổ chức trực tuyến-chức năng. Cơ cấu này là sự kết hợp của cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng. Theo đó mối liên hệ giữa cấp dưới và lãnh đạo là một đường thẳng, còn những bộ phận chức năng (phòng Tài chính-Kế toán, phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu, phòng Kinh doanh, phòng Kỹ thuật-Sản xuất, phòng Văn phòng tổng hợp) chỉ làm nhiệm vụ chuẩn bị những lời chỉ dẫn, những lời khuyên và kiểm tra sự hoạt động của các cán bộ trực tuyến (Tổng Giám đốc, Phó tổng Giám đốc, trưởng phòng).

    Những kết quả đạt được:

    • Theo cơ cấu này Tổng Giám đốc được sự giúp sức của các Phó Tổng Giám đốc để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quyết định.
    • Công tác chỉ đạo sản xuất rất kịp thời, phát huy tối đa lợi thế của mô hình tổ chức thông qua sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban chức năng và ban giám đốc .
    • Việc phân chia quyền hạn, nhiệm vụ của các phòng ban chức năng khá rõ ràng không những giúp tạo ra sự linh hoạt trong giải quyết đề mà còn thống nhất hành động, không tạo ra sự chồng chéo trong mệnh lệnh và quá trình thực thi mệnh lệnh đó .
    • Theo mô hình cơ cấu trực tuyến, ban lãnh đạo có thể quan sát một cách tổng thể và chi tiết toàn bộ hoạt động của công ty, từ đó có những điều chỉnh hợp lý và kịp thời trước những biến động của môi trường, tạo ra sự ổn định trong sản xuất, công nhân yên tâm hơn về công việc và thu nhập của họ.

    Những hạn chế:

    • Cơ cấu phức tạp, nhiều vốn, cơ cấu này đòi hỏi người lãnh đạo tổ chức phải thường xuyên giải quyết các mối quan hệ giữa các bộ phận trực tuyến với bộ phận chức năng.
    • Do các chức năng là rất khác nhau nên không có những tiêu chuẩn chung cho các chức năng, vì thế cấu trúc trực tuyến chức năng tạo ra sự khó khăn, phức tạp trong việc kiểm soát, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các chức năng.
    • Việc trao đổi thông tin, sự truyền thông giữa các phòng ban chức năng bị hạn chế làm giảm sự gắn kết trong toàn bộ công ty. Do đó không tạo ra sự thống nhất hành động cao và rất khó để quy kết trách nhiệm cụ thể khi có sự cố xảy ra .
    • Một cách tổng quan, với thị trường kinh doanh hiện nay và tình hình sản xuất hiện tại của Tổng Công ty, mô hình trực tuyến-chức năng là phù hợp với quy mô hoạt động của Tổng Công ty.

     

    CHƯƠNG BA

    SƠ LƯỢC PHÒNG KẾ HOẠCH-XUẤT NHẬP KHẨU

    I.                   Giới thiệu sơ lược phòng kế hoạch- xuất nhập khẩu

    1.     Sơ đồ tổ chức:

    TRƯỞNG PHÒNG
    PHÓ PHÒNG
    PHÓ PHÒNG
    PHÓ GĐ CHI NHÁNH
    Cân đối
    Điều độ
    Thống kê
    Kho NPL
    Kho TP
    Vận chuyển
    Thủ tục
    Giao nhận
    Gia công
    Thanh lý

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.     Chức năng, quyền hạn của thành viên trong P.KH-XNK

    • Ông Phạm Hữu Úy – Trách nhiệm, quyền hạn của Trưởng phòng
      • Vị trí: Trưởng phòng
      • Báo cáo: Tổng giám đốc

    2.1.3   Trách nhiệm:

    • Đề xuất các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự không phù hợp đồi với công việc, quy trình và hệ thống chất lượng.
    • Phát hiện vả lập hồ sơ mọi vấn đề về công việc, quá trình và hệ thống chất lượng.
    • Đề xuất, kiến nghị hoặc cung cấp các giải pháp theo các kênh đã định.
    • Thẩm tra xác nhận việc thực hiện các giải pháp.
    • Kiểm soát việc xử lý tiếp theo thực hiện hoặc chỉnh sửa công việc không phù hợp cho đến khi khiếm khuyết hoặc điều kiện không thỏa mãn được khắc phục.
    • Điều hành và chịu trách nhiệm về mọi vấn đề trong đơn vị của mình phụ trách.
    • Phân công và huấn luyện nhân viên trong đơn vị thực hiện công việc được giao, điều hành trực tiếp nhóm kinh doanh FOB.
    • Cung cấp nguồn lực cho nhân viên trong đơn vị thực hiện công việc.
    • Phối hợp, hỗ trợ các bộ phận/đơn vị khác.
    • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao.
    • Được quyền yêu cầu đảm bảo cung cấp đầy đủ các nguồn lực để thực hiện công việc được giao.
    • Ký các chứng từ, giấy tờ liên quan đến phạm vi công việc phụ trách và các công việc khác đã phân công cho phó phòng khi cần thiết.
      • Bà Nguyễn Thị Hằng – Trách nhiệm, quyền hạn của Phó trưởng phòng
        • Vị trí: Phó trưởng phòng
        • Báo cáo: Trưởng phòng
        • Trách nhiệm:
      • Tham mưu, đề xuất và điều hành công tác cung ứng vật tư phục vụ sản xuất.
      • Tham mưu, đề xuất và điều hành công tác quản lý kho, giao nhận hàng hóa; quản lý đội xe vận tải; đội xe con, đội xe đưa rước công nhân.
      • Tham mưu, đề xuất và điều hành trực tiếp nhóm Điều độ, nhóm kỹ thuật sản xuất, tổ Cơ điện.
      • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao hoặc trưởng phòng phân công.
      • Ký các chứng từ, giấy tờ liên quan đến phạm vi công việc được phân công và các công việc khác được Trưởng phòng ủy quyền khi vắng mặt.
        • Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Phó trưởng phòng
          • Vị trí: Phó phòng
          • Báo cáo: Trưởng phòng
          • Trách nhiệm:
        • Trực tiếp phụ trách các hoạt động sau:
        • Tham mưu, đề xuất và lập kế hoạch sản xuất tháng, quý cho toàn Công ty.
        • Tham mưu, đề xuất và điều hành công tác cân đối, điều độ và chuẩn bị sản xuất
        • Tham mưu, đề xuất và điều hành trực tiếp nhóm Điều độ, nhóm Kỹ thuật sản xuất, tổ cơ điện.
        • Triển khai, thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự chỉ đạo của Tổng giám đốc hoặc phân công của Trưởng phòng.
        • Ký các chứng từ, giấy tờ liên quan đến phạm vi công việc được phân công và các công việc khác được Trưởng phòng ủy quyền khi vắng mặt.
          • Ông Nguyễn Văn Diệu- Phó GĐ Chi nhánh TP.HCM
        • Tham mưu, đề xuất và điều hành công tác chứng từ XNK, giao nhận hàng hóa thanh khoản hợp đồng với Hải quan.
        • Triển khai, thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự chỉ đạo của Tổng giám đốc
        • Ký các chứng từ, giấy tờ liên quan đến phạm vi công việc được phân công và các công việc khác được TGĐ ủy quyền.
          • Trách nhiệm, quyền hạn của nhân viên
            • Vị trí: Nhân viên
            • Báo cáo: Trưởng hoặc Phó phòng trực tiếp quản lý
            • Trách nhiệm:
          • Tuân thủ chính sách chất lượng.
          • Tuân thủ các thủ tục, các chỉ dẫn công việc để thực hiện tốt công việc của mình.
          • Được quyền yêu cầu cung cấp đủ nguồn lực để thực hiện công việc được giao.

    II.               Quy trình công việc của phòng

    1.     Quy trình công việc của P.KH-XNK (có kèm theo tài liệu dẫn chứng)

    CHI TIẾT CÁC BƯỚC CÔNG VIỆC ĐỐI VỚI HÀNG “FOB”

    1. Tóm Tắt Các Bước Công Việc
    • Tiếp nhận yêu cầu khách hàng
    • Xác định giá gia công (CMPT), định mức nguyên phụ liệu (NPL), may mẫu
    • Xác định giá NPL & chào giá FOB
    • Đàm phán và ghi nhận kết quả đàm phán
    • Lập Hợp đồng bán FOB
    • Bên mua (KH) tiến hành mở L/C cho bên bán (DGM), kiểm tra L/C
    • Đặt mua NPL
    • Thanh toán tiền mua NPL
    • Làm thủ tục Nhập NPL
    • Nhập NPL
    • Kiểm tra NPL
    • Cân đối NPL (SX)
    • Lệnh SX & cấp phát NPL
    • Triển khai kỹ thuật
    • Đặt chỉ, bao bì
    • Nhập kho, kiểm tra, cấp phát
    • Kiểm tra chất lượng thành phẩm
    • Kiểm tra tiến độ SX
    • Thông báo giao hàng
    • Làm thủ tục xuất hàng
    • Đóng gói, nhập kho TP
    • Kiểm tra chất lượng
    • Xuất hàng
    • Bộ chứng từ xuất
    • Thanh toán
    • Quyết toán NPL, thanh lý Hợp đồng
    1. Diễn Giải Chi Tiết

    Hàng “FOB” là các đơn hàng chúng ta mua NPL, SX và bán thành phẩm cho khách hàng (KH).  Trong đó bên mua có thể chỉ định các nhà cung cấp NPL hoặc chúng ta tự tìm nhà cung cấp NPL.

    • Tiếp nhận yêu cầu khách hàng:

    Các thông tin đặt hàng nhận được từ khách hàng qua nhiều hình thức khác nhau như: E-mail, fax, điện thoại, hoặc làm việc trực tiếp… Đối tượng nhận thông tin này là TGĐ, P.TGĐ, P.KH-XNK, P.KT-SX.

    Khi có nhu cầu đặt hàng của khách hàng (KH), các thông tin về đơn hàng được thể hiện trên BM-KH-18-“Phiếu xem xét yêu cầu khách hàng” (có mẫu kèm)

    • Xác định giá CMPT, tính định mức (Đ/M) NPL, may mẫu:
    1. Xác định giá CMPT: Căn cứ vào áo mẫu, tài liệu kỉ thuật (TLKT), số lượng, màu/cỡ, thị trường xuất khẩu, thời gian sản xuất, quy cách đóng gói…, để xác định giá CMPT.
    • Đơn vị thực hiện: KT-SX
    • Yêu cầu thời gian thực hiện
    • Người duyệt giá CMPT trước khi báo khách hàng
    • Đơn vị nhận báo giá CMPT KH; KH-XNK
    1. Tính Đ/M NPL: Căn cứ vào mẫu rập, áo mẫu, TLKT, số lượng, tỉ lệ màu/cỡ, sẽ xác định và lập Đ/M NPL của mỗi mã hàng (có mẫu kèm)
    • Đơn vị thực hiện: KT-SX
    • Yêu cầu thời gian thực hiện:
    • Đơn vị nhận bản Đ/M NPL: KH-XNK

    (Đối với hàng FOB do khách hàng chỉ định NPL, khách hàng đã có Đ/M NPL, P.KT-SX có nhiệm vụ kiểm tra lại Đ/M NPL & làm việc với KH nếu Đ/M tăng).

    1. May mẫu: khi có đủ các điều kiện để may mẫu (mẫu rập, NPL may mẫu, TLKT,…), Kh sẽ yêu cầu may mẫu đối để kiểm tra. Mỗi mã hàng trước khi vào sản xuât, chúng ta phải may mẫu để KH duyệt trước khi sản xuất (gọi là mẫu PP). Đây cũng là cơ sở để đối chiếu về chất lượng hàng sản xuất hàng loạt sau này.
    • Đơn vị thực hiện: KT-SX
    • Yêu cầu thời gian thực hiện:
    • Đơn vị nhận mẫu: KH

    *Lưu ý:  Đối với các đơn hàng FOB mà NPL do KH chỉ định, nếu mục a) không được xác nhận, có nghĩa là đơn hàng sẽ không được thực hiện. Do đó không cần làm tiếp các mục b) và c).

    P.KT-SX sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các loại mẫu mà KH yêu cầu (mẫu đối, mẫu catalog, mẫu PP…, kể cả mẫu chào hàng (salesman). Trường hợp nếu số lượng mẫu salesman nhiều mà P.KT-SX không là được hết thì P.KT-SX phải báo cho P.KH-XNK số lượng  không làm được để bố trí sản xuất tại các XN.

    • Xác định giá NPL, chào giá FOB:
    1. Xác định giá NPL
    • Đối với hàng FOB KH chỉ định NPL, giá NPL KH đã có sẵn
    • Đối với hàng FOB do ta cung cấp NPL, trên cơ sở yêu cầu của KH, ta phải tìm nhà cung cấp, yêu cầu nhà cung cấp gửi mẫu NPL và báo giá NPL. (Các mẫu NPL này sẽ được dùng may mẫu đối và gửi KH duyệt).
    1. Chào giá FOB:

    Trên cơ sở giá NPL, sẽ lập bảng chiết tính giá thành (có mẫu  kèm) đã xác định giá FOB cho từng mã hàng.

    • Đơn vị thực hiện: KH-XNK
    • Yêu cầu thời gian thực hiện
    • Người duyệt giá FOB trước khi báo khách hàng
    • Đơn vị nhận báo giá FOB KH

    Cơ cấu đơn giá FOB:

    Giá FOB = (Trị giá NPL 1sp)*(P%)+ (Giá gia công CMPT)

    Giá FOB trên có thể được công thêm các chi phí khác như giá thêu, wash, in… Tùy theo thỏa thuận giữa hai bên lúc đàm phán.

    + Trị giá NPL 1 sp: Là toàn bộ chi phí NPL của một sp mà bên bán phải mua (không  kể phần bao bì và chỉ đã tính trong CMPT. Lưu ý là chỉ tính NPL chúng ta mua. Vì có thể một số NPL do bên mua cung cấp miễn phí => phần này sẽ không tính vào giá FOB.

    (Trị giá NPL = Đ/M NPL (có % hao hụt) * đơn  giá NPL)

    + P% trên đây gọi là “Handling tharge”: Là phần lợi nhuận và phần bù đắp các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện đơn hàng của bên bán được hưởng. Các chi phí phát sinh như lãi vay Ngân hàng, phí giao dịch và các chi phí khác trong quá trình NPL, cũng như trong quá trình thực hiện đơn giá nói chung. Tỉ lệ P% này có thể thay đổi tùy theo lúc đàm phán giá (thường từ 5%-8% chi phí NPL).

    • Đàm phán và ghi nhận kết quả đàm phán:

    Quá trình đàm phán nói chung nhằm mục đích thống nhất về giá cả & thời gian giao hàng. Dụa trên các thông tin ban đầu của BM-KH-18 và giá FOB đã chào cho khách hàng, hai bên sẽ tiến hành đàm phán để đi đến thống nhất về tất cả các vấn đề liên quan đến đơn hàng: Giá FOB, ngày giao hàng, phương thức thanh toán… để đi đến việc ký kết hợp đồng.

    Đối tượng tham gia vào quá trình đàm phán gồm: TGĐ, P.TGĐ, P.KH-XNK, P.KT-SX.

    Sau khi kết thúc đàm phán, các thông tin về đơn hàng được thông báo đến các đơn vị liên quan (P.KH-XNK, P.KT-SX…) để triển khai các công việc tiếp theo. Nhân viên theo dõi đơn hàng của P.KH-XNK sẽ lập  bảng tổng hợp các đơn hàng theo từng khách hàng để theo dõi.

    • Lập Hợp đồng bán FOB/Proforma Invoice:

    Dựa vào kết quả đàm phán, hợp đồng bán FOB sẽ được lập theo mẫu (có mẫu kèm).

    • Đơn vị thực hiện: KH-XNK
    • Yêu cầu thời gian thực hiện
    • Người duyệt HĐ FOB trước khi ký KH-XNK
    • Đơn vị nhận HĐ: KH(3), BP XNK(2), P.KT-TC(1), P.KH-XNK(1copy lưu)

    Một số KH yêu cầu làm Proforma Invoice (P/I) để làm cơ sở mở garment L/C.

    • Yêu cầu KH mở L/C; kiểm tra các điều kiện L/C:

    Sau khi ký kết hợp đồng, phải yêu cầu KH mở L/C TP (garment L/C) theo các điều kiện quy định trong hợp đồng hay P/I (có mẫu L/C kèm).

    Cần yêu cầu KH gửi bản nháp L/C để kiểm tra, nếu phát hiện điểm nào không phù hợp hoặc bất lợi thì đề nghị KH chỉnh lại trước khi KH mở L/C chính thưc để tránh phải tu chỉnh gây phát sinh chi phí. Các điều kiện L/C cần kiểm tra chủ yếu như sau:

    • Tên & địa chỉ người thụ hưởng (Beneficiary name & address)
    • Tên hàng, số lượng, đơn giá, trị giá
    • Ngày giao hàng, ngày hết hiệu lực của L/C
    • Các chứng từ yêu cầu
    • Thời hạn trình chứng từ
    • Quy định về phí ngân hàng

    P.KT-TC sẽ nhận L/C bản gốc từ ngân hàng. Sau đó L/C bản gốc sẽ được chuyển cho BP.XNK của P.XNK, BP.CĐ-ĐĐ của P.KH-XNK & P.KT-TC giữ bản sao.

    BP.XNK sẽ kiểm tra các quy định về chứng từ yêu cầu, thời hạn trình chứng từ, ngày giao hàng, thời hạn hiệu lực L/C.

    P.KT-TC sẽ kiểm tra các quy định về phí ngân hàng, chứng từ, thời hạn trình chứng từ, thời hạn hiệu lực L/C.

    BP.CĐ-ĐĐ sẽ kiểm tra các phần còn lại của L/C, liên lạc với KH.

    Thời gian kiểm tra từ lúc nhận L/C: Tối đa 7 ngày.

    Một số trường hợp đặc biệt KH sẽ không thanh toán bằng L/C, mà thanh toán bằng T/T tùy thuộc sự thỏa thuận giữa hai bên lúc đàm phán và được thực hiện trên hợp đồng. Trường hợp này mục 6) sẽ không thực hiện.

    • Đặt mua NPL cho SX:

    BP.CĐ-ĐĐ sẽ tiến hành cân đối, tính số lượng nhu cầu NPL để đặt mua. Cơ sở tính toán là bảng Đ/M NPL, bảng chiết tính giá thành, TLKT, áo mẫu, số lượng chi tiết của mã hàng… Cần tính toán chính xác S/L nhu cầu đặt mua.

    Sau khi tính toán được nhu cầu NPL cần mua, tiến hành đặt mua NPL:

    Lập các đơn đặt hàng (P/O) hoặc hợp đồng mua NPL theo từng nhà cung cấp (có mẫu kèm)

    Kiểm tra lại các thông tin trên P/O hay HĐ mua và gửi cho các nhà cung cấp (thường bằng email hoặc fax).

    Trên các P.O phải thể hiện đầy đủ chi tiết tên hàng, quy cách, màu sắc, số lượng, ngày giao hàng, phương thức thanh toán…

    Sau khi các nhà cung cấp nhận các P.O này, họ sẽ phát hành các P/I (Proforma Invoice) hay Sales Confirmation (S/C) (áp dụng đối với các nhà  cung cấp ngoài nước) để ta xác nhận. Một số nhà cung cấp trong nước họ sẽ làm  hợp đồng.

    Sau khi nhận các P/I (S/C hay hợp đồng), ta phải kiểm tra lại nội dung các thông tin về hàng hóa, số lượng, đơn giá, ngày giao hàng, điều kiện thanh toán…xem có đúng với nội dung trên các P.O đặt hàng không. Nếu có điều kiệu nào bất lợi thì tiếp tục thương lượng để đạt được thỏa thuận tối ưu, nhất là giá cả và ngày giao hàng.

    Khi đã kiểm tra các P/I…, phải trình kí xác nhận (TGĐ) và gửi lại các nhà cung cấp NPL ngay để họ tiến hành SX (một số nhà cung cấp, nếu không được xác nhận của ta thì họ sẽ không sản xuất). Lưu ý là các P/I, S/C…này có giá trị như hợp đồng và là cơ sở để làm thủ tục thanh toán sau này.

    Phải lập bảng theo dõi đặt mua NPL cho từng đơn hàng để theo dõi tiến độ đặt mua NPL, như số lượng các P.O cần đặt, ngày giao hàng…

    • Đ/Vị thực hiện KH_XNK(Nhóm FOB)

    *Lưu ý: Chỉ sau khi nhận được garment L/C của KH ta mới tiến hành đặt mua NPL, nếu không phải có ý kiến của lãnh đạo.

    • Làm thủ tục thanh toán tiền mua NPL:

    Dựa theo các P/I, S/C hay các hợp đồng mua NPL với các nhà cung cấp, tiến hành làm thủ tục thanh toán theo như thỏa thuận.

    Các hình thức thanh toán phổ biến la L/C và T/T.

    1. Thanh toán bằng L/C: (Đề nghị thanh toán bằng L/C cho các đơn hàng có trị giá >5000USD).

    *Các chứng từ cần có để mở L/C: (P.KH-XNK cung cấp cho P.KT-TC)

    1. Giấy đề nghị mở L/C (có mẫu)
    2. P/I hay S/C hay Hợp đồng mua NPL hay P.O có ký xác nhận hai bên (có mẫu kèm)
    3. Bảng dự trù vật tư & chi phí (có mẫu)
    4. Hợp đồng bán FOB thành phẩm

    Căn cứ vào các chứng từ trên, P.KT-TC sẽ làm thủ tục mở L/C cho nhà cung cấp NPL.

    Thời gian yêu cầu phải mở L/C: chậm nhất 15 ngày trước khi xuất NPL.

    • Lưu ý: Khi mở L/C mua NPL, trong phần chứng từ xuất hàng, ta cần yêu cầu nhà cung cấp gửi trực tiếp cho ta 1 bộ c/từ (Invoice, P.list, B/L), 2 bộ c/từ gốc còn lại nhà cung cấp sẽ trình qua ngân hàng.
    1. Thanh toán bằng T/T: (Đề nghị thanh toán bằng T/T cho các đơn hàng có trị giá <5000USD).

    Thường có hai trường hợp là T/T trước khi xuất hàng và T/T sau khi xuất hàng tùy theo thỏa thuận trong P/I, S/C hay hợp đồng giữa hai bên.

    *Các chứng từ cần có để thanh toán T/T: (P.KH-XNK cung cấp cho P.Kế toán)

    1.Giấy đề nghị thanh toán

    2.P/I hoặc S/C hoặc P.O hay hợp đồng mua có xác nhận hai bên

    1. Bằng dự trù vật tư & chi phí
    2. Hợp đồng bán FOB thành phẩm

    Nếu là T/T sau khi xuất hàng, chừng từ thanh toán cần phải có chứng từ nhập kèm theo (B/L, Invoice, P.list, TKHQ nhập NPL bản gốc).

    Trường hợp T/T trước khi xuất hàng, sau khi đã nhập hàng xong, P.KH-XNK phải cung cấp các chứng từ nhập cho P.Kế toán (Invoice, P.List, B/L), trong đó có TKHQ bản gốc để hoàn tất thủ tục thanh toán với Ngân hàng.

    *Trường hợp NPL mua trong nước, chứng từ thanh toán gồm:

    1. Giấy đề nghị thanh toán
    2. Hợp đồng mua NPL
    3. Hóa đơn GTGT
    4. c) Thanh toán bằng D/P:

    Một số ít trường hợp có thể áp dụng thanh toán bằng D/P (thanh toán nhờ thu hay chấp nhận thanh toán đổi chứng từ gốc).

    • Làm thủ tục nhập NPL:

    Sau khi hoàn tất công việc đặt mua NPL với các nhà cung cấp, phải theo dõi chặt chẽ tiến độ thanh toán & giao hàng căn cứ thỏa thuận đã xác nhận trên P/I, S/C, hợp đồng mua NPL…

    Sau khi nhận chứng từ xuất hàng từ các nhà cung cấp, phải kiểm tra đối chiếu với các P.O đặt hàng, các P/I, S/C hay các hợp đồng mua NPL về chủng loại, màu sắc, số lượng… xem có đúng với các thông tin đã đặt mua không kịp thời yêu cầu nhà cung cấp trước khi phát hành chứng từ chính thức.

    *Bộ chứng từ cần có để nhận hàng khi hàng về cảng/sân bay gồm:

    • B/L hay AWB (bản gốc)
    • Invoice (bản gốc)
    • List (bản gốc)
    • Hợp đồng mua NPL
    • Bản sao L/C mua NPL (nếu thanh toán bằng L/C)

    Đối với trường hợp thanh toán bằng L/C: Nhà cung cấp sẽ gửi bộ chứng từ gốc cho chúng ta theo quy định trong L/C. Thường chứng từ các lô hàng thanh toán bằng L/C, B/L yêu cầu giao hàng theo lệnh của ngân hàng, nên phải có ký hậu của ngân hàng trên B/L mới nhận được hàng. (P.KH-XNK làm c/văn  đề nghị ký hậu (kèm bộ chừng từ gốc), P.KT-TC gửi ngân hàng ký hậu & gửi lại P.KH-XNK để làm thủ tục nhận hàng). Đối với trường hợp hàng xuất Air thì một chứng từ sẽ được gửi kèm theo hàng.

    Đối với trường hợp thanh toán T/T (nước ngoài): Chứng từ gốc các nhà cung cấp sẽ gửi trực tiếp cho ta bằng phát chuyển nhanh.

    *Khi có đủ các chứng từ, bộ phận chứng từ P.KH-XNK tiến hành các thủ tục nhận hàng:

    • Xuất trình B/L cho đại lý vận chuyển để lấy lệnh giao hàng (D/O)
    • Lập TKHQ nhập (theo mẫu TK nhập SXXK)
    • Khai HQ
    • Nhập NPL:

    Sau khi làm xong các thủ tục nhận hàng, giao-nhận P.KH-XNK sẽ nhận hàng.

    Bộ phận giao-nhận P.KH-XNK phải lập kế hoạch dự kiến nhận hàng gửi lãnh đạo Phòng và các bộ phận liên quan (Kho NPL, nhóm FOB) để theo dõi và bố trí nhận hàng. LĐ phòng sẽ xác định các lô hàng cần ưu tiên nhất, bố trí phương tiện vận chuyển,  khó tiếp nhận NPL.

    Khi nhận hàng xong, BP giao-nhận P.KH-XNK phải gửi TKHQ nhập (bản sao)  kèm theo hàng khi vận chuyển về kho. Kho NPL sẽ chuyển TKHQ này cho nhóm FOB của phòng. Tất cả các bản sao TKHQ nhập phải gửi về cho nhóm FOB đầy đủ để làm cơ sở làm ĐMHQ sau này.

    • Kiểm tra NPL:

    Sau khi nhận NPL,

    • Kho NPL tiến hành mở kiện, kiểm tra số lượng, chất lượng NPL theo P.List hoặc đơn đặt hàng.

    Việc kiểm tra chất lượng NPL sẽ được phối hợp với P.KT-SX để  tiến hành kiểm tra. Số lượng kiểm tra bắt buộc là 10% cho vải chính, nếu phát hiện chất lượng không đạt, kho NPL báo lãnh đạo phòng & KH để có hướng xử lý  tiếp theo.

    • Kho NPL lập biên bản mở kiện gửi NV mặt hàng P.KH-XNK chậm nhất 7 ngày kể từ ngày nhận về.

    Trong quá trình SX, nếu có phát sinh về vấn đề chất lượng NPL, XN phải báo cho P.KT-SX, P.KH-XNK để có hướng xử  lý.

    • Cân đối NPL:

    Sau khi NPL nhận về kho, NV mặt hàng P.KH-XNk sẽ lập bảng cân đối NPL. Cập nhật các số liệu thực tế NPL nhận về (theo biên bản mở kiện của kho NPL), đối chiếu với nhu cầu NPL theo bảng cân đối và báo cáo lãnh đạo phòng.

    NV mặt hàng nhóm FOB sẽ báo cho các nhà cung cấp biết để có xu hướng xử lý nếu có vấn đề về chất lượng  hay số lượng NPL thực tế nhận về.

    • Ban hành lệnh sản xuất & bảng cấp phát NPL:

    Sau khi đã cân đối xong NPL, nhóm CĐ-ĐĐ P.KH-XNK sẽ lập lệnh SX & bảng cấp phát NPL (có mẫu) gửi đến các XN SX & kho NPL.

    Cơ sở lập bảng cấp phát NPL: Đ/M NPL (đã xác nhận với KH), số lượng mã hàng.

    Đ/M cấp phát gồm Đ/M gốc x 1.01 (1% hao hụt)

    Tùy từng KH, mã hàng, P.Kh-XNK có thể cấp phát với % hao hụt cao hơn. Việc tăng % hao hụt nhằm tăng số lượng cắt dư để có thể xuất dư số lượng so với kế hoạch. Nếu có thể xuất dư S.L, hiệu quả sẽ rất cao. NV CĐ-ĐĐ sẽ cân đối & điều chỉnh % hao hụt và yêu cầu S.L cắt dư cho từng mã hàng khi cấp phát NPL cho XN.

    • Triển khai kĩ thuật:

    Sau khi có đủ NPL, các XN kết hợp với P.KT-SX triển khai sản xuất.

    P.KT-SX: Cung cấp cho XN áo mẫu, TLKT, mẫu rập, bảng màu NPL, các góp ý của khách hàng…

    XN: Triển khai may mẫu, chuẩn bị rập, sơ đồ…

    • Đặt chỉ, bao bì:
    1. Đặt chỉ: Căn cứ vào số lượng đơn hàng, bảng mẫu, XN tính nhu cầu chỉ & lập phiếu đặt chỉ (có mẫu đặt hàng) & gửi P.KH-XNK để gửi nhà cung cấp chỉ.
    2. Đặt bao bì: Căn cứ số lượng mã hàng, quy cách đóng gói của KH, XN tính nhu cầu bao bì & lập phiếu đặt bao bì (theo mẫu) & gửi P.KH-XNK để gửi nhà cung cấp bao bì.

    *Lưu ý:

    • Việc đặt chỉ cần tiến hành trước khi vào SX 1 tuần.
    • Các đơn hàng đưa g/c ngoài, P.KH-XNK sẽ tính toán & đặt chỉ.
    • Nhập kho, kiểm tra, cấp phát chỉ, bao bì:

    Sau khi nhận chỉ, bao bì, kho kiểm tra số lượng, quy cách theo các đơn đặt hàng và cấp phát cho các XN theo đúng định mức từng mã hàng.

    • Kiểm tra chất lượng:

    Chất lượng sản phẩm sẽ dựa theo mẫu PP đã được KH duyệt.

    P.KT-SX sẽ kiểm tra chất lượng SP đầu tiên may ra, kiểm hàng trên chuyền (kiểm Inline).

    • Kiểm tra tiến độ SX:

    Nhân viên CĐ-ĐĐ P.KH-XNK theo dõi sát tiến độ SX hàng ngày, giải quyết các vấn đề phát sinh, báo cáo lãnh đạo kịp thời.

    Cần theo dõi sát tiến độ cắt, may, giao là, đóng gói, (có biểu mẫu theo dõi), đảm bảo đúng tiến độ giao hàng đã thỏa thuận với KH.

    • Thông báo giao hàng:

    Nhân viên CĐ-ĐĐ lập bảng thông báo giao hàng gửi các XN & BP.XNK trước 1 tuần ngày giao hàng.

    • Làm thủ tục xuất hàng:

    Nhân viên CĐ-ĐĐ lập P.List, nhân viên FOB lập bảng ĐMHQ gửi P.XNK, P.List & ĐMHQ phải gửi cho BP.XNK chậm nhất 3 ngày (đối với hàng xuất bằng tàu), 5 ngày (đối với hàng  xuất bằng máy bay) trước ngày xuất hàng.

    1. C/từ P.XNK liên hệ đại lý vận chuyển đặt chỗ (booking). Sau khi đại lý vận chuyển xác nhận, đại lý vận chuyển sẽ gửi lại bảng xác nhận đặt chỗ cho BP XNK.

    BP C/từ P.XNK làm TKHQ xuất.

    1. C/từ P.XNK đăng ký HQ, C/từ để đăng ký gồm: TKHQ xuất, hợp đồng bán FOB, Invoice, P.List.
    • Đóng gói, nhập kho TP:

    Các XN đóng gói & nhập kho TP.

    • Kiểm tra chất lượng:

    P.KT-SX kiểm tra chất lượng TP (kiểm final), phối hợp với KH kiểm final, lập biên bản kiểm hàng gửi P.KH-XNK.

    • Xuất hàng (sau khi làm xong các thủ tục ở mục 20)

    BP.XNK liên hệ với đại lý vận tải để thống nhất thời gian, địa điểm đóng hàng & báo BP.CĐ-ĐĐ để sắp xếp phương tiện chở hàng ra cảng/sân bay hay đóng hàng tại công ty.

    • Bộ chứng từ xuất hàng:

    BP.XNK lập bộ chứng từ xuất hàng theo quy định trong L/C hay trong hợp đồng. Nếu xuất bằng tàu, chứng từ xuất hàng sẽ được lập hoàn chỉnh sau khi tàu chạy. Nếu là hàng xuất máy bay, chứng từ phải lập trước và một bộ sẽ gửi kèm theo hàng.

    Bộ chứng từ xuất  hàng gồm:

    • Commercial Invoice
    • P/List
    • B/L hay AWB
    • C/O
    • Visa (nếu có)
    • Các chứng từ khác theo yêu cầu L/C.

    Cần lưu ý yêu cầu thời gian trình chứng từ trong L/C tránh bị trễ hạn.

    • Thanh toán:

    Một bộ chứng từ đầy đủ (theo quy định của L/C) sẽ chuyển cho P.KT-TC, P.KT-TC sẽ kiểm tra lại các chứng từ này trước khi trình ngân hàng theo đúng trình tự thanh toán L/C.

    Sau khi nhận được tiền từ KH, ngân hàng sẽ gửi giấy báo có cho P.KT-TC. Điều này xác nhận tiền thanh toán của KH đã được chuyển  vào TK của C.ty, kết thúc việc thanh toán cho một lô hàng xuất.

    • Quyết toán NPL, thanh lý hợp đồng:
    1. Quyết toán NPL với XN: Sau khi xuất hàng, các XN sẽ gửi quyết toán NPL cho NV CĐ-ĐĐ bảng quyết toán NPL.
    • Mục đích: Quyết toán NPL giữa XN và C.ty. Xác định hiệu quả sử dụng NPL tại các XN, làm cơ sở để công ty xét thưởng tiết kiệm NPL cho các XN hàng tháng.
    • Cơ sở số liệu: Bảng cấp phát NPL, số lượng xuất-nhập kho NPL.
    • Thời gian XN gửi quyêt toán NPL cho P.KH-XNK: 7 ngày sau khi giao hàng.
    1. Quyết toán NPL với KH: NV nhóm FOB sẽ lập bảng quyết toán NPL với KH (áp dụng đối với các mã hàng mà một số NPL do KH cung cấp miễn phí).
    • Mục đích: Quyết toán NPL với KH để xác định phần NPL thừa của KH.
    • Cơ sở số liệu: Bảng cân đối NPL theo Đ/M mà hai bên đã xác nhận, số lượng NPL nhập, số lượng TP xuất hàng.
    • Thời gian gửi quyết toán NPL cho KH: 7 ngày sau khi xuất hàng.
    1. Quyết toán NPL với Hải quan: NV chứng từ BP.XNK quyết toán NPL với Hải quan sau khi xuất hàng.
    • Mục đích: Quyết toán NPL với HQ
    • Cơ sở số liệu: TKHQ nhập, bảng ĐMHQ, TKHQ xuất TP.
    • Thời gian hoàn tất quyết toán: 3 tuần sau khi xuất hàng.

    *Lưu ý: Thời gian gia hạn nộp thuế tối đa là 275 ngày cho các TKHQ nhập SXXK. Tuy nhiên cần tiến hành thanh lý NPL với HQ sớm, tránh để bị quá hạn bị  cưỡng chế làm ảnh hưởng việc xuất-nhập hàng.

    C- NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý:

    1. Về giá CMPT & Đ/M NPL
    • Giá CMPT được hiểu bao gồm gái gia công thuần túy (CM) và các chi phí về bao bì đóng gói (P) và chỉ may (T). Khi làm giá, cần biết rõ các yêu cầu của khách hàng về quy cách đóng gói (số lượng sản phẩm sẽ đóng trong 1 carton, các thông tin về túi nylon, in ấn trên bao bì, băng keo dán thùng, bìa lưng, kẹp nhựa, giấy lót..) cũng như quy định về loại chỉ may sẽ được sử dụng.
    • Về Đ/M NPL: việc xác định chính xác & kịp thời Đ/M NPL là yêu cầu rất quan trọng để làm cơ sở cho việc xác định giá FOB cũng như đặt mua NPL cho SX. Để xác định Đ/M NPL cho 1 mã hàng cần có Mẫu rập, thông số KT, áo mẫu & TLKT. Một số khách hàng họ có sẵn Đ/M NPL, nên P.KT-SX chỉ cần kiểm tra lại tính chính xác cùa Đ/M này. Đ/M các loại NPL có đơn vị tính bằng đơn vị chiều dài Met/Yard là Đ/M bình quân và Đ/M này phụ thuộc vào cơ cấu số lượng của từng size/cỡ và từng màu của 1 mã hàng.
    1. Lập bảng chiết khấu giá thành: Bảng chiết khấu tính giá thành (costing sheet ) là bảng kê chi tiết các khoản mục chi phí về NPL, giá CMPT, % handing…tạo nên giá FOB của một mã hàng. Một số NPL có Đ/M nhỏ, do đó khi lập bảng chiết khấu cần tăng tỷ lệ tiêu hao hợp lý nhằm tránh tình trạng phát sinh thiếu trong SX mà không thể hoặc rất khó có thể mua bổ sung. Một số phụ liệu như Băng dính, Nhãn giấy…, thường các nhà cung cấp chỉ bán theo số lượng tối thiểu hay tròn cuộn, không bán lẻ, do đó cần lưu ý để tăng tỷ lệ hao đối với các số liệu này hợp lý để tránh phát sinh thêm chi phí ngoài giá thành.
    2. Vấn đề “dung sai”cho phép về số lượng xuất hàng của các nhà cung cấp (vải): Thường trên hợp đồng với các nhà cung cấp vải họ yêu cầu chúng ta chấp nhận tỷ lệ dung sai về số lượng xuất hàng trong khoảng 2%~3% (có khi 5%) nhiều hơn hoặc ít hơn số lượng đặt hàng ban đầu. Điều này xuất phát từ đặc điểm riêng của mặt hàng này là không thể đảm bảo số lượng xuất hàng tuyệt đối đúng như yêu cầu được, và buộc chúng ta phải chấp nhận. Do đặc điểm này mà khách hàng của chúng ta cũng phải chấp nhận một tỷ lệ dung sai tương ứng cho số lượng TP xuất và điều này phải được thể hiện trên L/C cũng như trên hợp đồng. Như vậy sau khi nhận NPL& tiến hành SX, cần tính toán khả năng cắt tăng thêm số lượng (hoặc giảm số lượng nếu thiếu vải) hợp lý để có thể xuất tối đa số lượng TP nhằm đạt hiệu quả thuận lợi tối đa.
    3. Tên NPL trên TKHQ nhập: nhóm CĐ-ĐĐ sẽ phối hợp với BP. Chứng từ XNK để thống nhất tên NPL bằng tiếng việt để thể hiện trên TKHQ nhập. Cần lưu ý khi cùng 1 loại NPL nhưng nhập nhiều lần, thì các lần nhập sau phải thống nhất tên NPL của TK nhập đầu.
    4. ĐMHQ: Khi lập bảng ĐMHQ để làm thủ tục xuất hàng, cần lập cho tất cả các mã hàng sử dụng NPL đã nhập về để cân đối trước tình hình thừa thiếu của từng loại NPL. Nên lập bảng tổng hợp NPL nhập theo từng TK nhập, rồi trừ lùi cho từng số lượng sử dụng của từng mặt hàng. Mục đích là triệt tiêu hết NPL đã nhập, tránh để thừa NPL phải nộp thuế NK khi thanh lý NPL với HQ sau này.

    Tên NPL trên bảng ĐMHQ phải thống nhất với tên NPL trên TKHQ nhập.

    Phải thể hiện đúng và đầy đủ số TKHQ nhập & ngày tháng năm của từng TK nhập trên cột “ ghi chú” của bảng ĐMHQ.

    Sau mỗi đợt xuất hàng, BP.XNK cần gửi cho BP.CĐ-ĐĐ các bảng ĐMHQ chính thức để cập nhật lại các Đ/M nếu có thay đổi khi làm thủ tục xuất hàng.

    NV CĐ-ĐĐ cần lưu ý trường hợp số lượng cắt thực tế không đủ số lượng KH để điều chỉnh lại Đ/M trong bảng ĐMHQ cho phù hợp, tránh để thừa NPL (trên số liệu HQ).

    1. Kiểm soát thời gian trong toàn bộ các khâu của quá trình SX:

    Cần kiểm soát chặt chẻ tiến độ thực hiện công việc theo từng mốc thời gian của mỗi khâu trong quá trình SX từ lúc ký kết hợp đồng (nhận đơn hàng) cho đến khi giao hàng.

    Thường thời gian cho phép từ khi kí hợp đồng (nhận đơn hàng) cho đến khi giao hàng TP là khoảng 90 ngày (leadtime).

    Trong đó:

    • Thời gian từ lúc đặt mua NPL đến khi giao NPL: 30~40 ngày
    • Thời gian vận chuyển NPL (từ cảng bên cung cấp NPL đến cảng HCM):7 ngày
    • Thời gian triển khai SX & xuất hàng (cắt, may, đóng gói, giao hàng): 36~ 40 ngày

    Cần phải kiểm soát tiến độ thực hiện công việc trên cơ sở các mốc thời gian này để đảm bảo không ảnh hưởng đến KH SX & giao hàng.

    Trong khoảng thời gian 30~40 ngày đầu, cần phải hoàn tất công việc chuẩn bị (may mẫu, duyệt mẫu, mở L/C mua NPL, theo dõi chứng từ gửi hàng của các nhà cung cấp…) để có thể nhận nhanh NPL, và khi nhận NPL về là có thể tiến hành SX ngay.

    Một vấn đề rất quan trọng là trước khi đặt mua NPL, cần phải có Đ/M NPL chính xác (từ P.KT-SX ) để tiến hành đặt nua NPL. Do đó cần phối hợp tốt giữa P.KT-SX & BP.FOB để có được Đ/M NPL kịp thời & chính xác.

    2.     Mô tả việc đã làm tại phòng KH-XNK (nhật ký thực tập)

    • Quan sát các anh, chị trong phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu làm việc trong Công ty.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    III.            Ưu, nhược điểm của Phòng KH-XNK

    1.     Ưu điểm

    • Đội ngũ nhân viên:
      • Đội ngũ nhân viên trẻ, năng động, hứa hẹn nhiều năng lực phát triển lâu dài của công ty (tuổi bình quân 26-35 tuổi)
      • Các nhân viên nắm bắt được môi trường làm việc của Tổng Công ty, xử lý kịp thời những tình huống khó khăn trong công việc.
      • Tác phong làm việc tốt, tuân thủ đúng mọi quy định của Tổng Công ty đề ra.
      • Rất nhiệt tình tham gia các phong trào, văn hóa của Tổng Công ty đề ra. Tham gia tích cực các lớp học nâng cao trình độ, tay nghề.
      • Có Trưởng phòng, phó phòng tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ, khéo léo xử lý các công việc.
    • Hiệu quả công việc
      • Luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức năng, hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng đạt được yêu cầu cấp trên đề ra.
      • Sáng tạo, dễ thích nghi với những biến đổi quan trọng của Tổng Công ty.
      • Làm việc với tinh thần tự giác, không cần nhắc nhở, sự có mặt của Trưởng phòng.
      • Các cá nhân, nhóm biết phối hợp đồng bộ với nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
    • Mục tiêu của phòng
      • Tập trung hàng FOB, phấn đấu 100% là hàng xuất khẩu.
      • Tiết kiệm chi phí cho nguồn nguyên phụ liệu (tìm nguồn cung cấp ở trong nước, chất lượng), giảm định mức sử dụng.
      • Giao hàng đúng hẹn, giữ uy tín với khách hàng.
      • Chủ động tìm đến khách hàng.

    2.     Nhược điểm

    • Kinh nghiệm
      • Do đội ngũ còn trẻ nên chưa có nhiều kinh nghiệm chuyên sâu, còn thiếu nhiều kĩ năng xử lý, dễ mắc sai lầm.
      • Có nhiều nhân viên mới không có nhiều kinh nghiệm.
      • Mất thời gian và chi phí đào tạo.
      • Mất cân đối lao động về cơ cấu lao động về trình độ, tay nghề.
    • Nguyên phụ liệu
      • Còn phụ thuộc rất nhiều vào nhà cung ứng nguyên phụ liệu (chất lượng, thời gian giao hàng).
      • Giá nguyên phụ liệu còn biến động thất thường, khó xác định giá gia công.
      • Nguyên phụ liệu còn phải nhập khẩu của nước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc), còn gặp nhiều khó khăn.
    • Ngoài ra, còn rất nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến quá trình làm việc của phòng như thiết bị máy móc, tiến độ làm việc của phòng ban khác, thời gian… nên phòng Kế hoạch-Xuất nhập khẩu chưa phát huy hết khả năng làm việc của mình.

    IV.             Nhận xét cá nhân về phòng ban nơi thực tập

    Trong quá trình kiến tập một tháng tại phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu (P.KH-XNK) của Tổng Công ty May Đồng Nai. Với những hiểu biết của mình và những gì em đã được tìm hiểu về phòng, em mạnh dạn nêu lên một số nhận xét của cá nhân với hy vọng nó có ý nghĩa thực tiễn của phòng:

    • Thứ nhất: P.KH-XNK là một phòng ban quan trọng nhất của Tổng Công ty, bao gồm các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu cho Tổng Công ty. Các quy trình được thực hiện một cách logic, trình tự, đúng tiến độ. Mỗi nhân viên có ý thức trách nhiệm, vai trò của mình trong Tổng Công ty.
    • Thứ hai: Các anh, chị làm việc rất nhiệt tình, chu toàn trách nhiệm, hăng say với công việc. Có sự kết hợp giữa đồng nghiệp với nhau tạo nên môi trường làm việc thân thiện, năng động trong công việc để đảm bảo chính xác và đòi hỏi trong công việc.
    • Tuy nhiên, những yếu tố bên trong và bên ngoài cũng đã ảnh hưởng ít nhiều đến các nhân viên, đôi lúc các mối quan hệ căng thẳng do thời gian gấp gáp, trình độ, kinh nghiệm, ngôn ngữ, tiến độ hoàn thành, các nhà cung ứng,… Nhìn chung, P.KH-XNK đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ, vai trò của mình trong công việc được giao.

     

    CHƯƠNG BỐN

    TÌNH HÌNH CHUNG CỦA TỔNG CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI, MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT

    I.                   Những kết quả đạt được của Tổng Công ty năm 2010

    • Hiệu quả kinh doanh đạt cao – tăng 36% cùng kỳ.
    • Vẫn giữ được khách hàng lớn và thị trường truyền thống (thị phần xuất khẩu trên doanh thu cho các thị trường Hoa Kỳ đạt 43%, Nhật đạt 46% và EU đạt 11%) năm 2010.
    • Lao động bình quân có mặt chỉ bằng 90% so cùng kỳ nhưng năng suất vẫn đạt khá, nhất là tại Định Quán năng suất đã tăng mạnh, có triển vọng phát triển.
    • Đầu tư, xây dựng, thành lập và đưa vào hoạt động Công ty Đồng Xuân Lộc tại ấp 3, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
    • Tiếp tục tổ chức được nhiều khóa đào tạo nghề cho công nhân lao động theo chương trình hỗ trợ của Khuyến công để tuyển dụng vào làm việc ngay cho Công ty Đồng Xuân Lộc mới đầu tư đã có lao động ngay để hoạt động.
    • Giữ được đội ngũ lao động có kinh nghiệm, tay nghề và đoàn kết gắn bó với Tổng Công ty. Tổng Công ty vẫn đảm bảo chăm lo tốt đến đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, thể hiện qua: Mức thu nhập bình quân tăng 23%, (Khu vực Biên Hòa tăng 30%), tăng lương cơ bản theo mức lương tối thiểu mới của Nhà nước quy định, thực hiện đầy đủ chế độ BHXH, BHYT, BHTN; đầu năm tổ chức cho cán bộ và CSTĐ đi tham quan nghỉ mát trong nước và ngoài nước; xét khen thưởng với nhiều hình thức: Thưởng danh hiệu thi đua, thưởng hoàn thành kế hoạch, thưởng hiệu quả SXKD, thưởng cuối năm (tháng 13) trên 2 lần lương bình quân năm ….
    • Công tác đầu tư đã đúng định hướng phát triển mở rộng ra các vùng xa trung tâm như: Mở rộng đầu tư ra Bắc Ninh, Định Quán, Xuân Lộc … để tăng năng lực sản xuất.
    • Máy móc thiết bị chuyên dùng, tự động đã được đầu tư trang bị kịp thời phục vụ sản xuất góp phần đảm bảo tăng năng suất, đảm bảo chất lượng sản phẩm.
    • Bước đầu đã đầu tư phát triển hoạt động kinh doanh nội địa bằng việc củng cố tổ chức bộ máy, phát triển mạng lưới tiêu thụ, đầu tư vào nguồn nhân lực, mẫu mã và xây dựng hình ảnh, thương hiệu …
    • Với những kết quả trên, trong năm 2010 Tổng Công ty tiếp tục đạt danh hiệu Doanh nghiệp tiêu biểu của ngành Dệt May Việt Nam, Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín,…. và được Bộ Công Thương tặng cờ thi đua đơn vị xuất sắc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2010 trong ngành Dệt May Việt Nam.

    1.     Tình hình sản xuất kinh doanh trong những năm gần đây

    Như ta đã biết, trong thời gian qua dệt may Việt Nam đã có những sự phát triển nhảy vọt, đóng góp to lớn vào sự ổn định và phát triển kinh tế của đất nước. Với hơn 35 năm tồn tại và phát triển tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong công ty không ngừng nỗ lực xây dựng công ty ngày càng lớn mạnh có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Thêm vào đó, Tổng Công ty luôn nhận được sự quan tâm của các cấp, ban ngành đoàn thể mà đặc biệt là Tập đoàn Dệt-May Việt Nam (“VINATEX”). Do đó công ty đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong sản xuất kinh doanh. Điều này được minh họa qua báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh qua các năm:

    BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SXKD NĂM 2007-2010

    STT Chỉ tiêu ĐVT 2007 2008 2009 2010
    1 Giá trị SXCN (GTTSL) Tỷ Đ 284,609 405,285 326,697 509,0
    2 Doanh thu. Trong đó: Tỷ Đ 339,167 487,152 394,719 619,0
      – DT xuất khẩu Tỷ Đ 326,167 475,810 381,970 602,6
      – DT nội địa Tỷ Đ 13,0 11,348 12,751 16,4
    3 Doanh thu CMPT USD 6.250.000 7.220.130 6.598.050 7.798.094
    4 Sản lượng nhập kho Chiếc 5.200.000 4.765.000 3.970.000 4.867.000
    5 Kim ngạch XK.TT USD 32.609.000 31.054.000 28.495.000 36.798.000
    6 Kim ngạch NK.TT USD 21.079.000 19.250.000 15.905.000 24.801.000
    7 Lao động B/Q Người 2.810 2.436 2.347 2.351
    8 Thu nhập B/Q ng/th 2.130.000 2.512.000 2.748.000 3.253.000

    (Qua BCTN qua các năm 2007, 2008, 2009, 2010)

    Qua biểu trên ta thấy: Nhìn chung kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong các năm qua đều đạt chỉ tiêu năm sau cao hơn năm trước, doanh thu không ngừng tăng. Tuy nhiên trong năm 2009 doanh thu có giảm do Tổng Công ty chịu ảnh hưởng trực tiếp từ khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu, đơn hàng giảm, việc cung cấp nguyên phụ liệu không đồng bộ (thông qua sản lượng nhập khẩu, Kim ngạch XK, NK của các năm), chậm tiến độ, lao động biến động giảm (giảm 3,65% so với năm 2008) và khách hàng chuyển sang hình thức gia công thay vì kinh doanh FOB xuất khẩu. Nhưng sang năm 2010 doanh thu của công ty lại tiếp tục tăng trong năm 2010. Điều này thể hiện công ty đã vượt qua được những khó khăn trong năm 2009 và nguyên nhân doanh thu tăng trong năm 2010 cũng thể hiện bước phát triển đầu tiên khi chuyển đổi sang mô hình Tổng Công ty và chỉ đạo sát sao việc đẩy mạnh hình thức kinh doanh xuất khẩu bán đứt (FOB), chiếm đến 94% tổng doanh thu xuất khẩu.

    Mặt khác, tổng số vốn công ty đưa vào sản xuất kinh doanh liên tục tăng mạnh qua các năm, điều này chứng tỏ công ty không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường mục tiêu, tạo ra nhiều việc cho người lao động, nâng cao mức sống bằng việc tăng thu nhập bình quân lên tới 3.253.000đ /1 tháng trong năm 2010 (tăng 18,377% so với năm 2009).

    Để đạt được những thành tựu to lớn đó trước hết phải kể đến sự lãnh đạo sáng suốt của Ban điều hành Tổng Công ty và tập thể CB.CNV trong việc thực hiện các biện pháp để khắc phục khó khăn, tiết kiệm và giảm tối đa chi phí trong thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế, đặc biệt hiệu quả của việc kinh doanh hàng FOB xuất khẩu vẫn đạt khá cao.

    Hằng năm, Tổng Công ty đều vạch ra kế hoạch phát triển trong tương lai để cho phấn đấu cho toàn công ty. Sau đây là biểu đồ kế hoạch doanh thu trong giai đoạn năm 2006-2011

    1. Đối tác

    Để đạt được những thành tích trong những năm qua, Tổng Công ty đã nỗ lực phát huy, xây dựng được rất nhiều các mối quan hệ hợp tác với các khách hàng trong và ngoài nước. Một số thương hiệu nổi tiếng trên thế giới là người bạn đồng hành cùng Tổng Công ty May Đồng Nai trong suốt thời gian qua.

    Sau đây là các thương hiệu thời trang đồng hành cùng Tổng Công ty:

     

    2.     Một số thị trường trọng điểm của Tổng Công ty May Đồng Nai

    Sau hơn 35 năm hoạt động, sản phẩm của Tổng Công ty May Đồng Nai đã có được chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Các thị trường chủ yếu là Nhật, Mỹ, EU. Ngoài ra, các nước Canada, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Úc, Nga,…là những khách hàng tiềm năng cần khai thác.

    Tổng quan chung về thị trường xuất khẩu của Tổng Công ty được thể hiện trong hình sau trong những năm gần đây.

    • Thị trường Mỹ: (chiếm 45%)

    Mỹ là là nơi tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất thế giới. Thị trường lại đa dạng, phong phú, có nhiều cấp độ. Điều này rất phù hợp với hoàn cảnh, trình độ sản xuất của Việt Nam. Hiện nay, quan hệ hai bên đã được bình thường hoá. Hiệp định thương mại song phương và hiệp định hàng dệt may được ký kết. Đó chính là điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị trường này.

    Với tiềm năng như vậy, Mỹ được coi là thi trường hấp dẫn, thu hút nhiều quốc gia xuất khẩu hàng dệt may.

    • Thị trường Nhật Bản: (chiếm 35%)

    Nhật Bản là thị trường rất lớn, tiêu thụ nhiều nhất khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Đây cũng là thị trường phi hạn ngạch (Free-quota). Nhật Bản nhập khẩu chủ yếu theo phương thức mua đứt bán đoạn.

    Giống EU, thị trường Nhật bản cũng đòi hỏi quy định rất khắt khe, nghiêm ngặt về chất lượng, cũng như thời hạn giao hàng. Các thương gia Nhật Bản đều khẳng định rằng: “Người tiêu dùng Nhật không dùng sản phẩm có bất kì một khuyết tật nào, hàng may mặc sai quy cách, thủng, không vừa, ố phai màu…đều không bao giờ được chấp nhận”.

    Tuy nhiên, sản phẩm Việt Nam xuất sang Nhật Bản còn hạn chế về chủng loại, mẫu mã, chất lượng. Giá cả chỉ đạt mức trung bình, chưa có mặt hàng cao cấp. Nhưng nếu được đầu tư, chất lượng cao hơn, mẫu mã phù hợp, giá cạnh tranh…ta sẽ có khả năng thâm nhập sâu và phát triển được thị trường to lớn này.

    • Thị trường Châu Âu (EU) (chiếm 15%)

    EU có lịch sử phát triển công nghiệp dệt may lâu đời, là trung tâm mốt thời trang với nhiều công ty tạo mốt thời trang nổi tiếng thế giới như Fendi, Piere – Cardin, Christian Dior, Yves Saint – Laurent,… Đây là nơi có nhiều thông tin nhất về thời trang. EU có kỹ thuật sản xuất những sản phẩm may mặc cao cấp truyền thống với các loại sợi thiên nhiên như len, tơ tằm, sợi tổng hợp…Sự mở rộng ngành dệt may EU dưới các hình thức liên kết sản xuất ở nước ngoài đang ngày càng tăng, nhất là với các nước Châu Á. Ngoài ra, hình thức gia công ở nước ngoài (OPT – Oversea Processing Trade) cũng phát triển mạnh.

    EU là thị trường rộng lớn, có nhu cầu tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất, sản phẩm đa dạng, phong phú và tinh tế. Sau 10 năm hợp tác, EU là thị trường quen thuộc. Đây là thị trường đòi hỏi chất lượng cao, điều kiện thương mại nghiêm ngặt, mức bảo hộ đặc biệt cao. EU nổi tiếng là khách hàng khó tính về mẫu mã, chất lượng, thời gian giao hàng. Mặt khác, mối quan hệ truyền thống lâu đời giữa EU với 50 bạn hàng khác trên thế giới đã thẩm định tính nghiệt ngã này. Đây là bức tường thành cản trở sự thâm nhập của ta vào thị trường này. Nếu xem xét kỹ, thì nó cũng mở ra một thị trường rộng lớn để các doanh nghiệp có cơ hội vươn lên thích ứng và phát triển. Qua đó sẽ cải thiện được năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, mẫu mã, chủng loại, phương thức kinh doanh, tiếp thị.

    • Ngoài ra, các thị trường khác cũng chiếm tỷ lệ xuất khẩu gần khoảng 5%, như Canada, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Úc, Nga… là những thị trường tiềm năng phát triển.

    II.               Những thế mạnh của Tổng Công ty May Đồng Nai

    Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.894,73 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Tổng Công ty May Đồng Nai nằm ở Khu Công nghiệp Biên Hòa 1 (trước đây là khu kỹ nghệ Biên Hòa) nằm ở phường An Bình, thành phố Biên Hòa, giáp sông Đồng Nai. Vị trí này rất thuận lợi cho Tổng Công ty, gần Tp.HCM, gần hệ thống tuyến đường huyết mạch quốc lộ 1A, quốc lộ 51; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế của Tổng Công ty. Tuy nhiên, do khu công nghiệp Biên Hòa 1 được xây dựng từ năm 1963 là khu công nghiệp được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam, nên đến nay hệ thống hạ tầng kĩ thuật tại đây đang xuống cấp nghiêm trọng. Do vậy, tỉnh Đồng Nai đã có chủ trương thay đổi công năng của KCN Biên Hòa 1 thành khu đô thị-trung tâm thương mại-dịch vụ. Để biến KCN này thành khu đô thị hiện đại, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp sẽ được hỗ trợ di dời về KCN Giang Điền. Tổng Công ty May Đồng Nai đang xúc tiến dự án đầu tư cụm công nghiệp 75 ha tại Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, nhằm chuẩn bị từng bước cho chuyển đổi công năng Khu CN Biên Hòa 1 theo chủ trương của tỉnh Đồng Nai.

    Mặt khác, Việt Nam đang được xem là ứng viên tốt nhất vì giá nhân công hợp lý. (Với lương trung bình 49 USD/tháng, lương của lao động Việt Nam chỉ nhỉnh hơn Campuchia một chút, là 47,36 USD, theo Phòng Thương mại Âu châu tại Việt Nam.

    Trong khi công nhân tại Indonesia được trả 82 USD/tháng, Trung Quốc 117 USD/tháng, Thái Lan 156 USD/tháng, Philipines 167 USD/tháng, Malaysia 336 USD/tháng, Ðài Loan 540 USD/tháng, Hàn Quốc 830 USD/tháng, Singapore 1.146 USD/tháng và Nhật 1.810 USD/tháng).

    Ông Bùi Thế Kích-TGĐ Donagamex thì nhận định, trong năm 2010 các DN may mặc chủ động được đơn hàng sản xuất. Tổng Công ty có thế mạnh hàng FOB chiếm tỷ trọng lớn, đạt 95% tổng doanh thu xuất khẩu. Chất lượng hàng hóa, sản phẩm của Tổng Công ty được các nước nhập khẩu được đánh giá cao, mặt hàng đa dạng so với các nước Campuchia, Lào, Bangladesh.

    Tổng Công ty đang dần chú trọng và có kế hoạch đầu tư nâng cao năng lực thiết kế, năng suất lao động, ứng dụng công nghệ vào sản xuất nhằm giảm lãng phí về nguyên phụ liệu.

    III.            Những khó khăn, thử thách của Tổng Công ty May Đồng Nai

    • Ông Bùi Thế Kích, Tổng giám đốc Công ty Donagamex cho rằng, khó khăn trước mắt đối với DN may không phải đơn hàng, mà là chi phí sản xuất tăng cao (chi phí điện, nước, xăng dầu, vận chuyển) và sự tăng vọt của nguyên phụ liệu nhập khẩu. “Nếu không tính toán kỹ hoặc đàm phán cụ thể với các nhà nhập khẩu để đưa ra hợp đồng linh hoạt, thì sẽ rất khó cho các nhà sản xuất nếu giá nguyên liệu cùng các chi phí khác tiếp tục tăng cao hơn so với thời điểm ký hợp đồng”, ông Kích nhấn mạnh (www.baomoi.com/det-may-tu-tin-vao-xuat-khau). Nguyên phụ liệu được nhập khẩu từ nước ngoài chủ yếu là Trung Quốc do giá NPL rẻ, dồi dào, chất lượng ổn định hơn NPL trong nước, mặt khác giá NPL trong nước thường cao hơn hàng nhập khẩu ít nhất là 5%, kèm theo đó là nguồn cung cấp lẫn chất lượng không ổn định.
    • Tổng Công ty tiếp tục phải đối mặt trong năm là thiếu lao động phổ thông và lao động có tay nghề cao, giàu kinh nghiệm còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Mức độ ổn định của nguồn lao động trong Tổng Công ty không cao khiến Tổng Công ty phải quan tâm đến việc tuyển dụng lao động mới, khiến tốn thời gian và chi phí đào tạo (ở các khu và ở Xuân Lộc, Định Quán).
    • Còn chủ yếu thực hiện may gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài nên giá trị gia tăng của ngành may còn thấp.
    • Chưa xây dựng được thương hiệu riêng cho ngành may của Tổng Công ty tại thị trường nước ngoài.
    • Thị trường nội địa còn gặp rất nhiều khó khăn, chưa tạo được uy tín, được nhiều người tiêu dùng trong nước chú ý và quan tâm.
    • Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã đặt hàng của phía nước ngoài để xuất khẩu.
    • Các thủ tục xuất nhập khẩu còn gặp rất nhiều trắc trở, phải trải qua rất nhiều thủ tục, gây mất thời gian.

    IV.             Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu và giải quyết khó khăn cho Tổng Công ty:

    1.     Về phía doanh nghiệp:

    • Kế hoạch và phát triển trong tương lai (năm 2011)

    *Tình hình và đặc điểm chung:

    Năm 2011 sẽ có nhiều cơ hội cho Tổng Công ty phát triển vì tình hình hàng hóa đầy đủ, thị trường tiêu thụ hàng may mặc đã hồi phục sau khủng hoảng. Hiện Tổng Công ty đã có kế hoạch đơn hàng đấn hết tháng 9/2011.

    Bên cạnh đó năm 2011 cũng sẽ được dự báo tăng chi phí rất mạnh do tình hình lạm phát ngay từ đầu năm, lãi suất cho vay của Ngân hàng tăng, giá cả đầu vào (điện, nước, xăng dầu, vận chuyển…) đều tăng, chi phí nhân công tăng mạnh ở tất cả các mặt lương, BHXH, BHYT, lương lễ-tết, phép năm…

    Trước tình hình đó, Tổng Công ty đề ra kế hoạch như sau:

    1/ Chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2011:

    STT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch năm 2011 Tỷ lệ/

     

    2010

    Ghi chú
    1 Giá trị SXCN (GTTSL) Tỷ Đ 650 127  
    2 Doanh thu. Trong đó Tỷ Đ 800 129 Phấn đấu 1.000 tỷ
      -DT xuất khẩu Tỷ Đ 780 129  
      -DT nội địa Tỷ Đ 20 138  
    3 Giá vốn hàng bán Tỷ Đ 770 130  
    4 Lợi nhuận  trước thuế Tỷ Đ 30 100 Phấn đấu 40 tỷ
    5 Doanh thu CMPT USD 9.200.000 118  
    6 Sản lượng nhập kho Ch 6.000.000 123  
    7 Kim ngạch XK.TT USD 40.000.000 111  
    8 Kim ngạch NK.TT USD 28.000.000 116  
    9 Lao động B/Q Ng 2.700 115  
    10 Thu nhập B/Q ng/th 3.650.000 112  

    (theo BCTN năm 2010)

    2/ Các giải pháp định hướng phát triển trong thời gian tới:

    –               Tiếp tục phát triển phương thức kinh doanh hàng FOB, nhưng phải tìm nguồn Nguyên phụ liệu cung ứng đầy đủ, kịp thời, chủ động và chi phí hợp lý.

    –           Tập trung phát triển thị trường nội địa, đầu tư cho sản phẩm và quảng bá thương hiệu. Trong năm 2011 tiếp tục thành lập thêm cửa hàng có quy mô lớn, chuyên nghiệp hơn ở Tp.HCM, Biên Hòa và Hà Nội.

    –           Tập trung đầu tư MMTB chuyên dùng, tự động cao; sản xuất hàng xuất khẩu có giá trị cao, thương hiệu lớn, sẵn sàng đầu tư cải tiến hệ thống để có đơn hàng của khách hàng lớn.

    –           Cải tiến hệ thống quản lý, tổ chức bộ máy; thành lập các công ty thành viên trực thuộc tại Khu A và Xuân Lộc; tiếp tục liên doanh, liên kết để mở rộng sản xuất và thu hút vốn đầu tư của đối tác, khách hàng.

    –           Kiên quyết sắp xếp lại cơ cấu, quy mô một số đơn vị và vị trí công việc của cá nhân để phù hợp với năng lực từng người. Cải tiến cơ bản về tiền lương để thu hút lao động.

    –           Tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng tình hình phát triển của Tổng Công ty.

    2. Một số giải pháp từ phía Nhà nước

    Cần đơn giản hóa thủ tục nhập nguyên phụ liệu, nhập hàng mẫu, nhập bản vẽ để thực hiện các hợp đồng gia công xuất khẩu hiện vẫn còn rườm rà, mất nhiều thời gian gây nhiều khó khăn cho Doanh nghiệp đặc biệt là các hợp đồng gia công xuất khẩu có thời hạn ngắn.

    “Doanh nghiệp rất cần sự tiếp sức của Nhà nước có thể giảm, tạm không thu trong ngắn hạn và dài hạn thuế thu nhập DN 20% để DN lấy khoản chi này chăm lo đời sống, giữ chân người lao động. Đây cũng là một cách để ngành may thu hút lao động.” (theo Ông Phạm Xuân Hồng, Tổng Giám đốc Công ty CP May Sài Gòn 3 trên http://vietstock.vn)

    Nhà nước hỗ trợ tư vấn cho các Doanh nghiệp với lãi suất ưu đãi, thủ tục vay đơn giản, gọn nhẹ, đưa ra những chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích sử dụng nguyên phụ liệu sản xuất trong nước.

     

    NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

    Qua một tháng kiến tập tại Công ty CP Tổng Công ty May Đồng Nai, sau khi tìm hiểu về Tổng Công ty nói chung và phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu nói riêng. Trên cơ sở đối chiếu giữa lý thuyết và thực tế, tôi xin đưa ra một số nhận xét và kiến  nghị sau:

    NHẬN XÉT

    • Về Tổng Công ty

    Tổng Công ty là một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, luôn chấp hành nghiêm túc nghĩa vụ quy định của Nhà nước, có cơ cấu tổ chức phù hợp với quy mô và hoạt động hiện tại của công ty cùng với đội ngũ công nhân viên có năng lực về chuyên môn, năng động, được đào tạo chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và trách nhiệm cao.

    Tổng Công ty hoạt động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (TP Biên Hòa, Xuân Lộc, Định Quán,..) là nơi có nguồn lao động năng lực, hấp dẫn, do đó công ty có thể mở rộng năng lực sản xuất. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Tổng Công ty đã luôn cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm, uy tín của mình.

    Tổng Công ty đã không ngừng hoàn thiện công tác quản lý và cố gắng không ngừng khắc phục những khó khăn còn tồn tại với mục tiêu là mang kết quả tốt nhất  và hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, công ty còn có những chiến lược, kế hoạch đúng đắn trong tương lai, đồng thời cũng luôn quan tâm đến nguồn lực, không ngừng nâng cao, bồi dưỡng trình độ quản lý cũng như năng lực chuyên môn của công nhân viên chính vì vậy sẽ giúp Tổng Công ty ngày càng phát triển hơn nữa trong tương lai.

    Tổng Công ty đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO

    • ISO 9001 : 2000
      1. Tổng Công ty May Đồng Nai được giấy chứng nhận ISO 9001 : 2000, Tổng Công ty đã thực hiện tốt việc quản lý chất lượng, giúp nâng cao năng lực quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng Công ty. Giúp điều hành nội bộ và kiểm soát công việc tốt hơn, áp dụng tốt HTQLCL sẽ nâng cao uy tín, hình ảnh của Tổng Công ty với khách hàng và các bên liên quan. Tuy nhiên, HTQLCL thường hay phát sinh nhiều tài liệu, hồ sơ, biểu mẫu…mà có nhiều trường hợp là không cần thiết. Dẫn đến Tổng Công ty khó cập nhật tài liệu mới, sửa và bổ sung tài liệu lỗi thời.
    • SA 8000

    Việc thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn SA 8000 mang lại lợi ích cho từ người lao động đến công ty và các bên hữu quan khác có thể phân loại như sau:

    1. Lợi ích đứng trên quan điểm của người lao động, các tổ chức công đoàn và tổ chức phi chính phủ
    • Tạo cơ hội để thành lập tổ chức công đoàn và thương lượng tập thể.
    • Là công cụ đào tạo cho người lao động về quyền lao động.
    • Nhận thức của công ty về cam kết đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi trường lành mạnh về an toàn, sức khoẻ và môi trường.
    1. Lợi ích đứng trên quan điểm của khách hàng:
    • Có niềm tin về sản phẩm được tạo ra trong một môi trường làm việc an

    toàn và công bằng

    • Giảm thiểu chi phí giám sát
    • Các hành động cải tiến liên tục và đánh giá định kỳ của bên Thứ Ba là cơ sở để chứng tỏ uy tín của công ty
    1. Lợi ích đứng trên quan điểm của chính doanh nghiệp:
    • Cơ hội để đạt được lợi thế cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng hơn và xâm nhập được vào thị trường mới có yêu cầu cao
    • Nâng cao hình ảnh công ty, tạo niềm tin cho các bên trong “Sự yên tâm về mặt trách nhiệm xã hội”
    • Giảm chi phí quản lý các yêu cầu xã hội khác nhau.
    • Có vị thế tốt hơn trong thị trường lao động và thể hiện cam kết rõ ràng về các chuẩn mực đạo đức và xã hội giúp cho công ty dễ dàng thu hút được các nhân viên giỏi, có kỹ năng. Đây là yếu tố được xem là “Chìa khoá cho sự thành công” trong thời đại mớ
    • Tăng lòng trung thành và cam kết của người lao động đối với công ty.
    • Tăng năng suất, tối ưu hiệu quả quản lý.
    • Có được mối quan hệ tốt hơn với khách hàng và có được các khách hàng

    trung thành.

    • Về phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu

    Phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu là một trong năm phòng ban quan trọng, có tính chất quyết định đến khâu sản xuất, xuất nhập khẩu, đơn đặt hàng trong Tổng Công ty.

    Tất cả các nhân viên trong phòng Kế hoạch-Xuất nhập khẩu đều có kiến thức vững vàng, có sự phân công rõ ràng. Luôn có sự phối hợp nhịp nhàng, liên hệ, kiểm tra, đối chiếu lẫn nhau tạo điều kiện luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Tuy nhiên, phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu cũng gặp một số khó khăn như về thời gian, sự chậm trễ của các bên, phòng ban, các nhà cung ứng nguyên phụ liệu.

    KIẾN NGHỊ

    + Thường xuyên xem xét, cập nhật và sửa đổi hệ thống tài liệu cho phù hợp với môi trường kinh doanh, tình hình hoạt động sản xuất của Tổng Công ty.

    + Các phòng ban phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với nhau để luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ và đạt hiệu quả cao trong kinh tế.

    + Luôn cải thiện, nâng cao trình độ chuyên môn cho các đội ngũ nhân viên trong các phòng (P.KH-XNK) để đáp ứng nhu cầu hiện tại của Tổng Công ty.

     

    • Các yêu cầu cần kiểm soát của tiêu chuẩn ISO 9001: 2000

    1- Kiểm soát tài liệu và kiểm soát hồ sơ 
    Kiểm soát hệ thống tài liệu nội bộ, tài liệu bên ngoài, và dữ liệu của công ty
    2- Trách nhiệm của lãnh đạo
    – Cam kết của lãnh đạo
    – Định hướng bỡi khách hàng
    – Thiết lập chính sách chất lượng, và mục tiêu chất lượng cho các phòng ban
    – Xác định trách nhiệm quyền hạn cho từng chức danh
    – Thiết lập hệ thống trao đổi thông tin nội bộ
    – Tiến hành xem xét của lãnh đạo
    3- Quản lý nguồn lực
    – Cung cấp nguồn lực
    – Tuyển dụng
    – Đào tạo
    – Cơ sở hạ tầng
    – Môi trường làm việc
    4- Tạo sản phẩm
    – Hoạch định sản phẩm
    – Xác định các yêu cầu liên quan đến khách hàng
    – Kiểm soát thiết kế
    – Kiểm soát mua hàng
    – Kiểm soát sản xuất và cung cấp dịch vụ
    – Kiểm soát thiết bị đo lường

    5- Đo lường phân tích và cảI tiến
    – Đo lường sự thoả mãn của khách hàng
    – Đánh giá nội bộ
    – Theo dõi và đo lường các quá trình
    – Theo dõi và đo lường sản phẩm
    – Kiểm soát sản phẩm không phù hợp
    – Phân tích dữ liệu
    – Hành động khắc phục
    – Hành động phòng ngừa

    • Các yêu cầu của SA 8000

    SA 8000 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc làm việc trong các công ước của ILO và Tuyên bố toàn cầu của Liên Hợp Quốc về Quyền con người và Công ước về Quyền của Trẻ em. Các yêu cầu của tiêu chuẩn bao gồm:

    1. Lao động trẻ em: Không có công nhân làm việc dưới 15 tuổi, tuối tối thiểu cho các nước đang thực hiện công ước 138 của ILO là 14 tuổi, ngoại trừ các nước đang phát triển; cần có hành động khắc phục khi phát hiện bất cứ trường hợp lao động trẻ em nào.
    2. Lao động bắt buộc: Không có lao động bắt buộc, bao gồm các hình thức lao động trả nợ hoặc lao động nhà tù, không được phép yêu cầu đặt cọc giấy tờ tuỳ thân hoặc bằng tiền khi được tuyển dụng vào.
    3. Sức khoẻ và an toàn: Đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, có các biện pháp ngăn ngừa tai nạn và tổn hại đến an toàn và sức khoẻ, có đầy đủ nhà tắm và nước uống hợp vệ sinh.
    4. Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể: Phản ảnh quyền thành lập và gia nhập công đoàn và thương lượng tập thể theo sự lựa chọn của người lao động.
    5. Phân biệt đối xử: Không được phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, đẳng cấp, tôn giáo, nguồn gốc, giới tính, tật nguyền, thành viên công đoàn hoặc quan điểm chính trị
    6. Kỷ luật: Không có hình phạt về thể xác, tinh thần và sỉ nhục bằng lời nói.
    7. Giờ làm việc: Tuân thủ theo luật áp dụng và các tiêu chuẩn công nghiệp về số giờ làm việc trong bất kỳ trường hợp nào, thời gian làm việc bình thường không vượt quá 48 giờ/tuần và cứ bảy ngày làm việc thì phải sắp xếp ít nhất một ngày nghỉ cho nhân viên; phải đảm bảo rằng giờ làm thêm (hơn 48 giờ/tuần) không được vượt quá 12 giờ/người/tuần, trừ những trường hợp ngoại lệ và những hoàn cảnh kinh doanh đặc biệt trong thời gian ngắn và công việc làm thêm giờ luôn nhận được mức thù lao đúng mức.
    8. Thù lao: Tiền lương trả cho thời gian làm việc một tuần phải đáp ứng được với luật pháp và tiêu chuẩn ngành và phải đủ để đáp ứng được với nhu cầu cơ bản của người lao động và gia đình họ; không được áp dụng hình thức xử phạt bằng cách trừ lương.
    9. Hệ thống quản lý: Các tổ chức muốn đạt và duy trì chứng chỉ cần xây dựng và kết hợp tiêu chuẩn này với các hệ thống quản lý và công việc thực tế hiện có tại tổ chức mình.

     

    Kết luận

    Trong công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, với những đặc điểm kinh tế kĩ thuật riêng phù hợp với tình hình kinh tế xã hội nước ta hiện nay, công nghiệp Dệt-May được đánh giá là ngành có triển vọng phát triển sản xuất và xuất khẩu đem lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế trước mắt cũng như lâu dài.

    Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Tổng Công ty May Đồng Nai đã đạt nhiều thành công, đưa công ty lớn mạnh và phát triển như ngày nay. Tuy nhiên, cùng với những tác động của môi trường, chính sách và các nhân tố khác gây một số khó khăn cho Tổng Công ty May Đồng Nai nói riêng và ngành may mặc Việt Nam nói chung. Thực tế đòi hỏi Ban lãnh đạo công ty cần có những điều chỉnh kịp thời và chính xác nhằm khắc phục những hạn chế đang tồn tại và phát triển đi lên.

    Qua thời gian thực tập tại công ty, với sự giúp đỡ của Chú Trưởng phòng, anh chị trong Công ty giúp em tìm hiểu được nhiều kiến thức bổ ích trong thực tế mà  sách vở chưa triệt để nhắc đến. Do trình độ hiểu biết có hạn, lại chưa có kinh nghiệm nên bài báo cáo này chắc chắn còn  nhiều thiếu sót. Em mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của thầy cô Trường Cao đẳng Công nghệ & Quản trị Sonadezi, Ban lãnh đạo và các cô chú, anh chị trong Tổng Công ty May Đồng Nai.

    Cuối cùng, một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và đặc biệt là Thầy Hồ Văn Khôi, Chú Phạm Hữu Úy, các anh chị trong Tổng Công ty đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.

    Sinh viên thực tập

    Lư Thị Hoàng Vang

     

     

     

     

     

     

     

     

    Tài liệu kham thảo

    1. Giáo trình “Kinh tế và Quản trị doanh nghiệp” của TS Ngô Xuân Bình-TS. Hoàng Văn Hải
    2. Các báo cáo của CTCP Tổng Công ty May Đồng Nai
    3. Tài liệu của Tổng Công ty do phòng KH-XNK cung cấp.
    4. Tổng hợp tài liệu trên các tạp chí điện tử:

    + http://www.donagemex.com.vn

    + http://www.baomoi.vn

    + http://diachidoanhnghiep

    Và một số tạp chí điện tử khác!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Báo cáo thực tập cơ khí


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-ph%E1%BB%A5c-v%E1%BB%A5-t%E1%BA%A1i-b%E1%BB%99-ph%E1%BA%ADn-nh%C3%A0-h%C3%A0ng-kh%C3%A1ch-s%E1%BA%A1n-v%C6%B0%E1%BB%9Dn-th%E1%BB%A7-%C4%91%C3%B4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô

    PHẦN 1

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong thời gian thực tập tại khách sạn Vườn Thủ Đô, qua những tìm hiểu cùng những thực tế tại khách sạn tôi đã học hỏi và thu thập được nhiều thông tin, cũng như những nhiệm vụ cần thiết phục vụ cho bản báo cáo thực tập của mình cũng như công việc sau này của mình.

    Từ những thực tế tôi đã thu được trong chuyến thực tập về hoạt động kinh doanh, tổ chức của bộ phận nhà hàng nói riêng và khách sạn Vườn Thủ Đô nói chung, bài báo cáo thực tập của tôi với mục đích tìm hiểu để đánh giá về cơ cấu tổ chức, hoạt động kinh doanh tại bộ phận nhà hàng, phục vụ ăn uống cho khách. Nó còn nhằm cung cấp cho người đọc những thông tin cũng như những hiểu biết nhất định về nghiệp vụ tổ chức, phục vụ nhà hàng tạ khách sạn Vườn Thủ Đô.

    Bài báo cáo còn nhiều hạn chế về lượng thông tin, tài liệu tham khảo nên còn nhiều thiếu xót mong bạn đọc góp ý để bài báo cáo được tốt hơn tôi xin chân thành cảm ơn.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                                 2

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    PHẦN HAI

    PHẦN NỘI DUNG

    Chương 1: Tổng quan về khách sạn Vườn Thủ Đô

    1.1 Quá trình hình thành khách sạn

    Nói đến Khách sạn người ta thường hình dung ra những công trình nguy nga lộng lẫy, những món ăn sang trọng phong cách phuc vụ hoàn hảo, lợi nhuận trong kinh doanh cao.Chính vì vậy hoat động kinh doanh khách sạn đã thu hút đông đảo số lượng người tham gia vào hoạt động kinh doanh này.

    Khi nhắc đến hoạt động kinh doanh khách sạn, người ta thường nói đến việc kinh doanh dịch vụ lưu trú.Ngoài dịch vụ cơ bản này ngành khách sạn còn tổ chức các dịch vụ bổ sung khác như dịch vụ phục vụ ăn, uống, phục vụ vui chơi giải trí, phục vụ các nhu cầu có liên quan đến sinh hoạt hàng ngày của khách như (điện thoại, fax, giặt là, chữa bệnh…)

    Không nằm ngoài những quy luật chung của hoạt động kinh doanh, khách sạn Vườn Thủ Đô được coi là khách sạn có nhiều điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí cũng như trật tự an ninh. Khách sạn đã đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về xếp hạng khách sạn.

    Có vị trí kiến trúc

    Trang thiết bị tiện nghi phục vụ Dịch vụ và mức độ phục vụ

    Nhân viên phục vụ

    Vệ sinh

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn trên khách sạn Vườn Thủ Đô đã được công nhận là khách sạn 3 sao với trang thiết bị tiện nghi phục vụ hiện đại, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch về ăn nghỉ, sinh hoạt, giải trí theo tiêu chuẩn 3 sao, phù hợp tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

    Khách sạn Vườn Thủ Đô nằm trên đường 48A – Láng Hạ – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. Là khách sạn liên doanh với Hồng Kông được xây dựng và đi vào hoạt động năm 1995, khách sạn được xây dựng theo kiểu kiến trúc Châu Âu giống như một khu vườn nhỏ giữa lòng thủ đô. Khách sạn có tổng số 70 phòng, các phòng đều được trang trí những thiết bị nội thất tốt,chất

    lượng cao. Bao gồm các loại phòng, giá phòng như sau:  
    Room  Types Single Occupancy Double
    Occupancy      
    Superior US$ 79.00 US$ 89.00
    Duluxe US$ 89.00 US$ 99.00
    Executive Deluxe US$ 99.00 US$ 109.00
    Executive Suite US$ 129.00 US$ 139.00
    Roll-away bed for 3rd person     US$ 10.00

    Với tiện nghi trang bị cho các phòng đều rất đầy đủ, trong phòng đều có các trang thiết bị và dịch vụ rất tiện nghi như, minibar, ti vi, điện thoại, điều hòa, phòng tắm, phòng tiếp khách.

    Trong khách sạn đều có sẵn và luôn sẵn sàng phục vụ khách với các dịch vụ như:

    Phòng hội nghị gồm 2 phòng lớn và nhỏ, phòng nhỏ có sức chứa 30 người, còn phòng họp lớn chứa khoảng từ 120-150 người.Giá phòng cho thuê có mức giá là khoảng 150USD/ ngày, khách sạn thường có rất đông các cơ

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    quan tổ chức, các phái đoàn trong và ngoài nứơc chọn làm địa điểm họp và tổ

    chức các diễn đàn, các hội nghi…

    Các dịch vụ như soạn thảo văn bản, thư tín điện tử trong và ngoài nước, giặt là, Thai masage, thu đổi ngoại tệ,dịch vụ internet…đều đựơc phục vụ tận tình và chu đáo.

    Khách sạn còn có một đội xe chuyên chở phuc vụ nhu cầu đi lại của quý khách để phục vụ các chuyến hội nghị xa và nhu cầu đi lại của nhân viên trong khách sạn.

    Ngoài những dịch vụ kể trên khách sạn còn có các phòng ban với đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, làm việc tận tình và luôn làm hài lòng nhu cầu của du khách trong và ngoài nước.

    Những nhân tố kể trên đã làm cho khách sạn trở thành điểm dừng chân lí tưởng, an toàn, tin cậy của du khách quốc tế và nội địa. Hàng năm khách sạn thu hút tới hàng nghìn lượt khách tới nghỉ, giải trí và ăn uống.

    2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của khách sạn Vườn Thủ Đô

    Việc xây dựng được một cơ cấu tổ chức khách sạn tối ưu và chính xác là một nhiệm vụ quan trọng với các cấp quản lí của khách sạn. Khách sạn Vườn Thủ Đô cũng đã nghiên cứu học hỏi, nhằm đưa ra được một cơ cấu tổ chức phù hợp nhất để đưa khách sạn đứng vững trên thị trường kinh doanh và đưa lại nhiều lợi nhuận cho khách sạn. Đó là một cơ cấu tổ chức theo kiểu hỗn hợp, nhưng hài hòa.

    Cơ cấu tổ chức này có sự kết hợp giữa cơ cấu tổ chức trực tuyến và cơ cấu chức năng. Người chỉ đạo và ban hành các quyết định chính là Hội đồng quản trị, dưới đó là Tổng Giám Đốc, các phòng ban đều có các cấp lãnh đạo trực tiếp và giám sát công việc của cấp dưới đảm bảo công việc đựơc thực thi và đạt hiệu quả tốt nhất. Các bộ phận cấp dưới cũng nhận rõ trách nhiệm và

    công việc của mình, với cơ cấu tổ chức này giúp cho từng bộ phận trong

    khách sạn phát huy lợi thế và quyền lợi của bộ phận mình.

    sơ đồ

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                                 7

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Từ cơ cấu tổ chức bộ máy của khách sạn nói trên, căn cứ vào bản chất của ngành khách sạn và tổ chức các hoạt động kinh doanh trong khách sạn, các nhà quản lý khách sạn Vườn Thủ Đô đã chia ra làm 2 khối ngành chính để sản suất và kinh doanh.

    Khối thứ nhất: kinh doanh dịch vụ lưu trú và các dịch vụ bổ sung khác.

    Khối thứ hai: kinh doanh dịch vụ nhà hàng và các dịch vụ bổ sung khác.

    Việc phân ra thành 2 khối ngành kinh doanh trên nhằm mục đích phân

    định rõ ràng, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi khối, mỗi bộ phận, mỗi tổ trong quá trình kinh doanh phục vụ của khách sạn. Nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng tổ chức công tác hạch toán kinh tế cũng như xác định các mục tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh của từng khối. Với việc xác định rõ mục tiêu và định hướng kinh doanh, khách sạn Vườn Thủ Đô đã thu được nhiều lợi nhuận từ kinh doanh và tăng doanh thu cao trong mỗi năm, đó là việc mà không phải khách sạn nào cũng làm đựơc.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                                 8

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Chương 2: Giới thiệu về họat động kinh doanh của bộ phận nhà hàng tại Khách sạn Vườn Thủ Đô

    Trong khoảng thời gian thực tập tại khách sạn Vườn Thủ Đô, căn cứ vào nghành nghề đào tạo của trường cùng sức hấp dẫn của ngành kinh doanh dịch vụ ăn uống tôi đã xin thực tập tại bộ phận nhà hàng của khách sạn với mục đích tìm hiểu, học hỏi và bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ cho nghề nghiệp của mình.

    Như nhiều ngành nghề kinh doanh khác, hoạt động kinh doanh nhà hàng, phục vụ ăn uống rất phong phú và đa dạng nó đã và đang thu hút được đông đảo các nhà kinh doanh tham gia vào lĩnh vực này, mà trong khách sạn thì đây được coi là bộ phận quan trọng.

    2.1 Giới thiệu chung về bộ phận nhà hàng- khách sạn Vườn Thủ Đô

    Bộ phận nhà hàng hay còn gọi là bộ phận phục vụ ăn uống, có vai trò quan trọng trong đới sống xã hội và nhất là trong các khách sạn. Nó thỏa mãn một trong những nhu câu thiết yếu của khách, đưa du khách đến với một nền văn hóa ẩm thực, tạo sự hấp dẫn và uy tín cho du khách. Hoạt động này góp phần đáng kể vào sự thành công của công tác đối ngoại, ngoại giao, sự ổn định kinh tế, chính trị, và văn hóa.

    Với chức năng kinh doanh tạo ra sản phẩm và bán sản phẩm, góp phần tạo ra lợi nhuận, tăng doanh thu.Hoạt động kinh doanh này mang lại doanh thu cho khách sạn( chiếm xấp xỉ khoảng 50% doanh thu của khách sạn)

    Đây là bộ phận thu hút đông đảo lực lượng lao động và góp phần chung vào việc giải quyết các khó khăn trong đời sống xã hội nói chung.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                                 9

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    2.2. Tìm hiểu hoạt động chung của bộ phận nhà hàng-Khách sạn Vườn Thủ Đô.

    2.2.1.Cơ cấu tổ chức quản lý, hoạt động của bộ phận nhà hàng

    Giống như nhiều bộ phận khác trong khách sạn bộ phận phục vụ ăn uống của khách sạn Vườn Thủ Đô chiếm tỉ trọng doanh thu cao trong tổng số thu nhập của khách sạn, đem lại cho khách sạn những lợi nhuận đáng kể. Dưới đây là sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của bộ phận ăn uống.

    Giám đốc bộ phận ăn uống

    Trợ lý giám đốc

    Trưởng bộ phận bàn   Trưởng bộ phận bar   Bếp trưởng
             
    Phụ trách nhà hàng   Phụ trách quầy bar   Phụ trách bếp trưởng
             
    Nhân viên bàn   Nhân viên quầy bar   Nhân viên bếp
             

    Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của bộ phận ăn uống,

    nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              10

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Với cơ cấu tổ chức trên, người đứng đầu là Giám đốc nhà hàng, người trực tiếp điều hành quản lý cả 3 bộ phận, 3 bếp và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Ban giám đốc khách sạn về toàn bộ hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của bộ phận ăn uống trong khách sạn. Xây dựng và hoạch định chiến lựơc kinh doanh của bộ phận, tham gia tổ chức hoạt động sản xuất, chế biến. Tuy giám đốc không phải là người tham gia vào quá trình chế biến, nhưng lại tham gia vào quá trình giám sát công việc. Nhiệm vụ này được cụ thể hóa trong một số việc.

    Tư vấn, duyệt thực đơn nhà hàng, quầy bar

    Lên kế hoạch, kiểm soát nhập nguyên liệu, đồ uống

    Tạo điều kiện cho quá trình sản xuất, chế biến, quản lý việc sử dụng tiêu hao vật chất.

    Giám đốc của nhà hàng có chức năng tổ chức giới thiệu và bán sản phẩm, lập kế hoạch nghiên cứu và tiếp cận thông tin, tìm hiểu nhu cầu của khách để giới thiệu các sản phẩm của bộ phận, xây dựng các chương trình tiếp thị quảng cáo nhằm tư vấn kích thích tiêu dùng của khách. Nắm vững ngân sách, quản lý chặt chẽ doanh thu và chi tiêu của bộ phận, hoạch toán lỗ lãi hoạt động kinh doanh.

    Bố trí và quản lý lao động, tham gia vào công tác tuyển dụng nhân viên bộ phận trực tiếp chịu trách nhiệm huấn luyện đào tạo nhân viên mới, bồi dưỡng kĩ thuật nghiệp vụ cho nhân viên đang làm tại bộ phận. Bố trí phân công lao động hợp lý và căn cứ vào năng lực, thực tế của nhân viên và tính chất, đặc điểm công việc. Xây dựng các tiêu chuẩn, quy trình phục vụ, tổ chức quản lý và thường xuyên giám sát công việc của nhân viên. Quyết định và có vai trò tư vấn cho Ban lãnh đạo khách sạn trong việc thưởng, phạt, cất nhắc, thăng tiếp đối với nhân viên bộ phận.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              11

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Quản lý chất lượng sản phẩm, phát huy tích cực vai trò quản lý chất lượng đầu vào, nguyên vật liệu tươi sống … chất lượng đầu ra(chất lượng phục vụ của nhân viên.Quản lý và đảm bảo an toàn cho hệ thống cơ sở vật chất.

    Trợ lý Giám đốc có trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của giám đốc và giúp việc cho giám đốc nhà hàng, có tinh thần trách nhiệm và tổ chức kỷ luật cao trong công việc, khẳng định chuyên môn nghiệp vụ của mình và hỗ trợ cho cấp lãnh đạo quản lý tốt bộ phận nhà hàng.

    Đối với từng bộ phận cụ thể trong nhà hàng đều được tổ chức và phân công công việc cụ thể, nhằm chuyên môn hóa công việc trong từng bộ phận.

    Đối với bộ phận bàn, đứng đầu bộ phận này là trưởng bộ phận bàn, chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý mọi hoạt động liên quan đến việc phục vụ bàn.

    Phụ trách nhà hàng (Dining- room manager) Restaurant Supervisor, có trách nhiệm giám sát hoạt động ăn uống của một nhà hàng, đưa ra thực đơn, định giá và một số việc khác, đón tiếp các đoàn khách.

    Trưởng ca (a.m/p.m Shift Supervisor) quản lý giám sát các nhân viên trong ca, có mặt khi khách ăn để kiểm tra mức độ phục vụ nhân viên, độ hài lòng của khách.

    Nhân viên bộ phận bao gồm nhân viên đón tiếp, nhân viên ghi phiếu, nhân viên phục vụ tại bàn, nhân viên tiếp món, nhân viên thu ngân, nhân viên phục vụ tại phòng, nhân viên phục vụ tiệc.

    Bộ phận bar gồm trưởng bộ phận bar(Bar maneger), phụ trách quầy bar( Bar Supervisor), nhân viên bộ phận (nhân viên đón tiếp, nhân viên đứng quầy, nhân viên pha chế(Bartender), nhân viên phục vụ(wai staff)).

    Bộ phận bếp có bếp trưởng là người phụ trách bếp( Executive Chef),bếp trưởng là người quyết định thực đơn của nhà hàng, khách sạn trên cơ sở có sự

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              12

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    tham gia của các trưởng bộ phận và phụ trách các nhà hàng.Phân công điều phối công việc trong bộ phận bếp, giám sát các hoạt động dưới quyền và của các nhân viên, kiểm soát kỹ thuật chế biến chất lượng các món ăn, lên kế hoạch về nguyên vật liệu, tư vấn về mua sắm thiết bị.Phổ biến kinh nghiệm cách chế biến cũng như nghệ thuật trang trí món ăn cho các đầu bếp.

    Phụ trách bếp bộ phận( Sous Chef), được coi là xương sống củ bộ phận

    bếp.

    Nhân viên bộ phận gồm:Đầu bếp (Chef/Cook), nhân viên vệ sinh(Dish-Washer)

    Trong bộ phận phục vụ ăn uống của nhà hàng-Khách sạn Vườn Thủ Đô, luôn có sư phối hợp chặt chẽ giữa ba bộ phận, nhà hàng- bar- bếp. Đó là sự phối hợp giữa nhiều nhân viên, nhiều nguồn nhân lực, nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất. Phối hợp về mặt nhân lực, trong đó giám đốc bộ phân hay trưởng các bộ phận điều phối, bố trí lại lao động trong các bộ phận vào từng thời điểm nhất định. Phối hợp về mặt thông bằng cách cung cấp cho khách hàng những dịch vụ, phục vụ mang tính chuyên nghiệp đồng thời tạo ra sự dãn đọan mặt thông tin.Chính vì vậy nhân viên trong bộ phận nhà hàng luôn chính xác và truyền đạt thông tin rõ ràng để tránh những sai xót hoặc nhầm lẫn trong công việc.

    Để công việc kinh doanh đạt hiệu quả và thu hút được đông đảo lượng khách đến, cấp quản lý bộ phận nhà hàng cũng rất chú trọng tới những yêu cầu đối với nhân viên trong bộ phận. Nhân viên phải đảm bảo yêu cầu về sức khỏe và vệ sinh cá nhân, yêu cầu về tư cách đạo đức, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, lịch sự xã giao, yêu cầu về trang phục đông phục. Nhân viên bộ phận phải chấp hành và đạt những yêu cầu trên.

    2.2.2.Quy mô, hình thức hoạt động kinh doanh của bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              13

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    2.2.2.1.Quy mô hoạt động bộ phận nhà hàng

    Bộ phận nhà hàng khách sạn Vườn Thủ Đô, điểm đến của đông đảo du khách trong và ngoài nước.Với 3 nhà hàng lớn sẵn sàng phục vụ và đón tiếp du khách, nơi đây là môt điểm thưởng thức văn hóa ẩm thực với nhiều mầu sắc phong phú và đa dạng.

    Nhà hàng Âu(Anytime) mở cửa từ 6h sáng đến 2h đêm phục vụ khách với món phở CaLi nổi tiếng đến từ Caliphornia của Mỹ, ngoài ra nhà hàng Âu còn phục vụ khách ăn theo thực đơn chọn món với nhiều món ăn nổi tiếng. Món phở CaLi nổi tiếng được ông Tôn Lâm Tổng Giám Đốc khách sạn Vườn Thủ Đô người đã sống và học tập tại Mỹ chọn phục vụ tại nhà hàng, ông nói, nó có nguồn gốc tại Việt Nam nhưng vượt qua nửa vòng trái đất vào Nam rồi qua Mỹ nó vẫn giữ được cái gốc đặc trưng của Việt Nam và lại có thêm hương vị mới. Đó chính là điều đặc biệt thu hút khách tới ăn tại nhà hàng, tô phở CaLi có một đặc điểm rất…Mỹ là lớn hơn nhiều so với phở Hà Nội. Ở Mỹ không phải ai cũng dám kêu một tô phở “xe lửa”(tô lớn bằng cái bánh xe lửa). Phở CaLi khi có mặt tại nhà hàng Âu của khách sạn mặc dù đã “giảm kí rất nhiều so với nguyên bản nhưng còn rất bự”. Món phở được làm theo phong cách của Caliphorlia, thịt bò dùng cho món phở sẽ được để trên đĩa, đưa ra cho khách hàng tự nhúng trong tô sao cho vừa với nhu cầu của bản thân. Một điểm nữa cũng khác nhiều so với các quán phở Hà Nội là đồ dùng như(tô, thìa, đĩa…)của phở CaLi rất sạch, tất cả sau khi rửa đều được tiệt trùng và sấy nóng trong lò, khi nào dùng mới lấy ra.Và một điều hơn hẳn các quán phở khác, phở CaLi không dùng mì chính. Nếu món phở ở Caliphornia phải dùng bánh phở khô(do ở Mỹ không có nơi sản xuất bánh phở) thì phở CaLi tại khách sạn Vườn Thủ Đô lại có bánh phở xịn do đặt làm riêng.

    Phở CaLi được phục vụ ăn sáng tại nhà hàng Âu của khách sạn Vườn Thủ Đô, khi mới được khai trương vào đầu năm 2004 giá của mỗi tô là 15

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              14

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    000nghìn VND nhưng đến nay giá của mỗi tô phở đã thay đổi lên đến 25 000 một tô và với mỗi tô phở đặc biệt là 30 000 mức giá này không phải là cao so với nhưng người sành ăn đã từng ăn phở CaLi.

    Tại nhà hàng Âu còn có một quầy bar phục vụ đồ uống cho khách, coktail, các loại rượu nổi tiếng và mở cửa song song cùng với nhà hàng Âu.

    Nhà hàng Á phục vụ từ 6h sáng đến 10h đêm, có một quầy bar phục vụ đồ uống cho khách với loại Cafe Rendezvous. Phục vụ khách ăn sáng, chủ yếu là khách phòng với các món ăn tự chọn, buffet các món ăn của Nhật Bản, Trung Quốc,và Châu Á. Buổi trưa cơm công sở tự chọn với nhiều món ăn Việt Nam và Hàn Quốc.Tối phục vụ lẩu tự chọn, lẩu hải sản từ thứ 2- đến tối thứ 6.

    Nhà hàng Nhật khai trương tháng 6 năm 2005, phòng ăn đẹp, lịch sự theo phong cách của Nhật mở cửa từ 11giờ sáng đến 12giờ đêm. Phục vụ khách ăn theo thực đơn, thức ăn phong phú với các món Shashimi, gỏi cá hồi, cá ngừ, mực bạch tuộc…Trong nhà hàng Nhật còn có phòng Karaoke, phục vụ nhu cầu giải trí của khách, 2phòng ăn phục vụ khách ăn theo đoàn.

    Bộ phận nhà hàng còn có quầy vịt nướng, do những đầu bếp nổi tiếng chế biến và bán tại quầy hàng bên ngoài khách sạn gồm các món vịt nướng, quay, xa xíu, sườn nướng.

    2.2.2 Hình thức hoạt động kinh doanh của bộ phận nhà hàng

    Bộ phận nhà hàng ra đời cùng với sự ra đời của ngành kinh doanh nhà hàng khách sạn, tại nhà hàng phục vụ bữa sáng với 2 hình thức.

    Nhà hàng Á phục vụ bữa sáng theo kiểu tự chọn, kiểu Alacarter(ăn sáng chọn món), ăn tại phòng.

    Với kiểu ăn sáng tự chọn đồ ăn thức uống được bày trên các dãy bàn, được quy hoạch thành các khu riêng, đồ nóng riêng, đồ nguội riêng, rất bắt mắt.Thông thường các bữa ăn sáng này nằm trong giá phòng, nếu như khách muốn mời bạn ở ngoài vào thì phải trả thêm tiền.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              15

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Còn kiểu ăn sáng chọn món, nhà hàng xây dựng thực đơn điểm tâm số lượng thức ăn ít hay nhiều tùy vào số lượng khách.

    Ăn sáng tại phòng khách là đáp ứng những yêu cầu của khách qua điên thoại, hoặc ghi vào các phiếu yêu cầu để ở ngoài cửa phòng.

    Còn bữa chính ở nhà hàng Á gồm có bữa trưa cơm công sở tự chọn bắt đầu từ11giờ trưa đến 1giờ chiều, cơm công sở phục vụ mọi đối tượng khách, buổi tối lẩu tự chọn kiểu Hồng Kông.Tối thứ7 buffet quốc tế, phong phú và đa dạng.Chủ nhật từ 11giờ đến 14 giờ Dimsum Buffet, do đầu bếp Trung Quốc đảm nhiệm, tối chủ nhật buffet Âu- Á (có góc món ăn Sài Gòn).

    Dưới đây là bảng giá đồ ăn phục vụ tại bộ phận nhà hàng

    *Phở Cali: 25.000/bát

    *Dimsum Chiên US$ 1.00++ -Hấp US$ 1.20++ *Cơm công sở- tư chọn : 60 000 VND /người

    Tối thứ 2 đến thứ 6:           * Lẩu tự chọn – kiểu Hồng Kông

    US$ 8.90++/ người lớn

    US$ 4.90++/ trẻ em

    Tối thứ 7

    * Buffet Quốc tế

    US$ 10.00++/ người lớn

    US$ 6.50++/trẻ em

    Chủ nhật(11h-14h)            * Dim Sum Buffet (đầu bếp Trung Quốc)

    US$ 6.00++/ người lớn

    US$ 4.00++/trẻ em

    Tối chủ nhật                           * Buffet Âu – Á

    US$ 6.50++/người lớn

    US$ 4.00++/ trẻ em

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              16

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Với mức giá trên thực sự chỉ có ở nhà hàng khách sạn Vườn Thủ Đô,với phương châm tạo sự hài lòng, ngon miệng cho khách hàng nhà hàng đã không ngừng tạo ra những phong cách ẩm thực đặc trưng và mới lạ để phục vụ quý khách hàng.

    Nhà hàng Âu với Phở CaLi hấp dẫn sẽ làm cho bạn cảm giác ngon miệng trong bữa sáng với tô phở to, ngon, hấp dẫn trong cách chế biến và phục vụ đã thu hút đông đảo khách trong nước, mở cửa phục vụ khách hàng từ 6h sáng đến 2h đêm.

    *Phở CaLi :giá 25 000Đ/bát

    Các món ăn kiểu Âu phục vụ theo kiểu chọn món đầy hấp dẫn và phong phú, từ cách chế biến đến phong cách phục vụ sẽ tạo cho khách một không khí thưởng thức ẩm thực châu Âu ngay giữa lòng thủ Đô.

    Nhà hàng Nhật với nhừng món ăn Nhật Bản mới lạ Shashimi(gỏi cá hồi,cá ngừ, mực và bạch tuộc…), nhà hàng sẽ phục vụ theo đúng kiểu Nhật và bạn sẽ được ăn món Nhật theo phong cách Nhật. Một phòng Karaoke ngay trong khuôn viên nhà hàng phục vụ nhu cầu giaỉ trí cho khách.

    Với hai quầy bar, lớn ở nhà hàng Âu phục vụ các loại rượu nổi tiếng, rượu vang, coktail, nước hoa quả, sinh tố. Quầy bar nhỏ trong nhà hàng Á phục vụ các loại cafe, trà…Quầy bar với không khí nhạc nhẹ tạo sự thoải mái, và phong cách thưởng thức đồ uống thật lí thú và thoải mái.

    Bộ phận nhà hàng còn mở quầy hàng vịt quay phục vụ khách với các món

    Vịt quay: 160.000VND/kg

    Xa xíu, sườn nướng: 60.000VND/kg

    Quầy vịt mới đựơc đưa vào sử dụng nhưng đã thu hút đông đảo khách hàng doanh thu mỗi ngày đạt từ 10triệu VND trở lên, mở cửa từ 2h chiều đến7h tối để phục vụ.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              17

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Hai phòng hội thảo dành cho các hội nghị hội thảo, các sự kiện trong và ngoài nước thuê làm địa điểm với giá từ 120-150USD/ ngày. Nơi đây cũng làm nơi tổ chức tiệc trà, phục vụ tiệc giải lao, ăn nhẹ cho các đoàn khách.

    Bộ phận nhà hàng còn có dịch vụ tổ chức tiệc cưới, chiêu đãi… thời điểm đông khách nhất diễn ra từ tháng 4- tháng 9 và những tháng cuối năm.

    Giá cho tiệc cưới là:700,000VND/ mâm trở lên (khuyến mại bánh cưới, xe đưa đón, tháp sâm panh với tiệc từ 30 mâm trở lên)

    Phục vụ cartering, out side ngoài trời đến tận các công ty đơn vị đặt ăn với giá cả phù hợp, phục vụ tận tình, chu đáo.

    Với những phương thức kinh doanh riêng và đáp ứng nhu cầu phong phú và đa dạng về các loại tiệc, các loại hình phục vụ ăn uống nhà hàng đã thường xuyên có chương trình khuyến mại, giảm giá và có những mức độ ưu đãi nhất định với khách đoàn, khách Vip…với phương thức kinh doanh yếu tố chất lượng và sự ngon miệng, hài lòng của khách hàng được đặt lên hàng đầu nên khách hàng đã tới đây ngày một đông và càng đông nhất vào những ngày cuối tuần.Theo ước tính của bộ phận lãnh đạo nhà hàng cho biết doanh thu của nhà hàng, mỗi tháng đạt khoảng 100,000 USD$ /tháng. Ngoài ra bộ phận còn tiến hành đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận bếp, bar, bàn hàng tháng hàng quý dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ sản xuất kinh doanh, năng suất lao động, các hình thức phục vụ khách, tỷ trọng giữa “sản phẩm tự chế và số hàng hóa chuyên bán, chất lượng phục vụ. Mục tiêu của nhà hàng đặt ra luôn nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, các nhà quản lý bộ phận thường sử dụng các biện pháp kinh tế để điều hòa lợi ích, khuyến khích từng cá thể.

    Ví dụ: Nếu nhân viên phục vụ bàn, phục vụ khách tốt sẽ được thưởng tiền .Số tiền thưởng này sẽ được phân chia thỏa đáng cho bộ phận bếp .Vì nếu như không có món ăn có chất lượng, mỹ thuật thì không thể làm cho khách hài lòng được.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              18

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Vì vậy bộ phận nhà hàng đã và đang khẳng định được uy tín và chỗ đứng của mình trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống và ngày càng thu được nhiều lợi nhuận.

    2.2.3 Công tác tổ chức đón tiếp, quy trình phục vụ khách tại bộ phận nhà hàng Hoạt động sản xuất kinh doanh các dịch vụ phục vụ ăn uống của bộ phận

    nhà hàng là phong phú và đa dạng, khối này bao gồm những bộ phận sản xuất kinh doanh sau:

    Bộ phận bếp “sản xuất” ra các món ăn phục vụ khách

    Bộ phận phục vụ bàn :phục vụ khách các món ăn do bộ phận bếp “sản xuất” và chế biến

    Bộ phận bar: chế biến và phục vụ các đồ uống cho khách, đồng thời bán

    một số hàng hóa khác như: thuốc lá bánh ngọt…

    Nhà hàng đã vạch rõ kế hoạch tổ chức đón tiếp khách trong từng bộ phận và mỗi bộ phận phải làm tốt công việc của bộ phận mình. Mỗi bộ phận đều có ngưòi lãnh đạo và chỉ đạo rõ ràng phân công đúng công việc, mỗi ca đều có người giám sát đó là ca trưởng(Captian) chịu trách nhiệm giám sát công việc, chỉ đạo, nhắc nhở từng cá nhân.

    Đối với việc phục vụ khách dùng bữa hay phục vụ các loại tiệc chiêu đãi, hội nghị… các bộ phận của nhà hàng đều tuân theo quy trinh phục vụ khách như sau.

    Chuẩn bị trước giờ phục vụ

    Đón tiếp khách

    Giớ thiệu thực đơn

    Tiếp nhận yêu cầu

    Phục vụ khách

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch 19

    Làm thủ tục thanh toán

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Sơ đồ quy trình phục vụ khách dùng bữa

    Bước 1: Với quy trình phục vụ khách trên bao giờ trước giờ phục vụ các nhân viên và Ban quản lý nhà hàng cũng phải tiến hành hội ý phân công công việc.

    Ví dụ như có 200 khách đặt tiệc trong nhà hàng, trước đó trưởng bộ phận tiến hành trao đổi, rút kinh nghiệm từ tiệc trước, đồng thời chỉ ra thiếu xót, khắc phục…Cung cấp thông tin về đối tượng khách hàng (quốc tịch,…) sắp xếp bàn ghế sao cho thuận lợi cho buổi tiệc, kiểm tra hình thức, thực đơn của nhân viên.

    Chuẩn bị nhà hàng, phòng ăn chu đáo, kê bàn trải bàn trước buổi tiệc, bày bàn ăn, xếp ghế, chuẩn bị đồ dùng và các mẫu phiếu cần thiết, chuẩn bị dụng cụ quay vòng.Bày bàn ăn thì căn cứ vào số lượng khách nhiều hay ít để kê cho hợp lí thường kê theo kiểu hình tròn, hinh chữ U, hình kim đồng hồ, kê từ trong ra ngoài…Nếu là khách đặt trước thì chuẩn bị bàn ăn trước cho khách, sau đó phải tiến hành kiểm tra.

    Với bước 2 đón tiếp khách, bao giờ cũng bố trí nhân viên đứng mở cửa cho khách, chào khách, tìm hiểu yêu cầu của khách, xem khách đã đăt trước hay chưa, dẫn khách đến bàn ăn, nhân viên giúp khách cất các vật dụng (áo

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              20

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    khoác, túi xách),bàn giao khách cho nhân viên trong bàn. Nhân viên trong nhà hàng bao giờ cũng được lưu ý vễ vấn đễ tìm hiểu tâm lý khách để bố trí bàn.

    Bước 3:Giới thiệu thực đơn cho khách thực đơn có định sẵn các món ăn, hoặc thực đơn đã đặt trước của khách.Đưa thực đơn từ bên phải đầu hơi cúi, đưa thực đơn cho khách nữ trước, khách nam sau. Khi tiếp nhận yêu cầu của khách nhân viên đứng bên phải khách, giải thích mô tả về thành phần, cách chế biến các món ăn trong thực đơn, giới thiệu các món ăn đặc sản, tư vấn về số lượng, chất lượng, thành phần dinh dưỡng của thực đơn.Tiếp nhận yêu cầu theo trình tự bữa ăn, ghi lại yêu cầu của khách về cách thức chế biến. Kiểm tra lại các yêu cầu của khách.

    Bước 4: Phục vụ khách, trải khăn ăn cho khách, phục vụ trước cho khách một loại đồ uống đặc trưng của nhà hàng.Nhân viên bàn nhận món ăn từ bộ phận bếp kiểm tra xem có đúng vơi thực đơn không, sau đó đem lại bàn cho khách. Phục vụ khách trong khi dùng bữa, giúp khách hoàn thiện món ăn(nếu cần) như nướng, cắt, xé nhỏ, bóc vỏ…Phục vụ món ăn cho từng khách, rót thêm rượu, tiếp thêm đồ uống cho khách, khéo léo quan sát, dự đoán tâm lý nhu cầu của khách, điều chỉnh tốc độ chế biến và tiếp món ăn. Tiếp nhận yêu cầu về món tráng miệng và đồ uống tiêu vị, thu dọn, thay đặt dụng cụ mới khi chuyển món hay khi có yêu cầu của khách.

    Bước 5: Làm thủ tục thanh toán(nhân viên thu ngân hoặc nhân viên phục vụ tại bàn) tham khảo nhận xet đánh giá của khách. Nhân viên bàn thông báo cho nhân viên thu ngân chuẩn bị hóa đơn thanh toán, kiểm tra lại hóa đơn rồi đưa cho khách. Dành thời gian cho khách kiểm tra hóa đơn, thực hiện thanh toán cho khách.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              21

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Bước 6: Tiễn khách và thu dọn, nhân viên kéo ghế cho khách, đưa lại cho khách những vật dụng cần thiết, cám ơn và đưa card nhà hàng cho khách. Tiễn khách ra khỏi nhà hàng và chào khách.

    Trên đây là quy trình phục vụ khách dùng bữa theo kiểu thực đơn chọn món còn đối với quy trình phục vụ tiệc, phục vụ buffet, quầy bar cũng giống như trên nhưng có một số điểm đáng lưu ý sau:

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              22

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Đối với phục vụ tiệc quy trình phục vụ tiệc cũng bao gồm 6 bước

    Chuẩn bị trước giờ phục vụ

    Đón tiếp khách

    Mời khách đồ uống khai vị

    Phục vụ khách

    Làm thủ tục thanh toán

    Tiễn khách

    Quy trình phục vụ tiệc của khách sạn Vườn Thủ Đô

    Bước1: Chuẩn bị trước giờ phục vụ, trang trí phòng tiệc, trang trí sân khấu, chủ đề bữa tiệc nội dung bữa tiệc, kê bàn tiệc, trải khăn, bày biện và trang trí bàn tiệc, xếp ghế, chuẩn bị đồ ăn thức uống theo thực đơn. Hội ý phân công công việc, kiểm tra lại công việc chuẩn bị.

    Bước 2 và bước 3 giống với quy trình phục vụ dùng bữa theo thực đơn. Bước 4 phục vụ khách dùng bữa :bao giờ nhân viên cũng được nhắc nhở và lưu ý các vấn đề sau khi phục vụ như, số lượng khách thường đông, đồ uống nhiều nên cần phục vụ chính xác, đầy đủ các món ghi trong thực đơn.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              23

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Tiệc có khách long trọng đòi hỏi nhân viên có thao tác nhanh nhẹn, có kinh nghiệm, trình độ phục vụ cao hơn khách thông thường. Trong mỗi phòng tiệc đều được có người chỉ huy, tiệc phục vụ đó được các nhân viên luôn hoàn thành tốt.

    Bước 5: Làm thủ tục thanh toán: Nhà hàng thực hiện thanh toán sau khi khách ra về hóa đơn được đưa cho chủ tiệc tránh không để khách biết.

    Quy trình phục vụ tại quầy bar: Bao gồm đón tiếp khách, giới thiệu thực đơn, tiếp nhận đồ ăn nhẹ, đồ uống. Sau đó nhân viên đứng quầy pha chế mang cho khách đồ uống đóng hộp, đặt cốc trên bàn rót mời khách. Làm thủ tục thanh toán, tiễn khách.

    Quy trình phục vụ tiệc Buffet: Với kiểu phục vụ này thức ăn được bày trên các dãy bàn, được quy hoặch thành các khu riêng, đồ nóng riêng nguội riêng. Mỗi khu vực bày đồ ăn thức uống có từ 2 đến 3 nhân viên phục vụ, có nhân viên rót trà và cà phê cho khách

    Việc tuân thủ đảy đủ quy trình nghiệp vụ phục vụ khách trong nhà hàng khách sạn luôn được các nhân viên và cấp lãnh đạo của nhà hàng tuân thủ và thực hiên đúng nhằm làm khách hàng hài lòng và chất lượng phục vụ tốt nhất

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              24

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Chương 3: Trình bày công việc thực tập tại bộ phận

    nhà hàng và những kết quả thu được.

    3.1 Những công việc được phân công và việc vận dụng lí thuyết đã học vào công việc thực tập tại nhà hàng khách sạn Vườn Thủ Đô

    3.1.1.Những công việc được phân công trong bộ phận nhà hàng

    Trong thời gian thực tập tại nhà hàng của khách sạn những công việc mà tôi được phân công đều rất cần thiết cho nghề nghiệp của tôi sau này,những công việc mà tôi làm tôi đều có khái quát trong nhật kí thực tập.Nhưng để hiểu rõ hơn về những công việc mà một sinh viên năm cuối đi thưc tập phải khẳng định chuyên môn nghiệp vụ của mình như thế nào, tôi muốn trình bày rõ về công việc mình thực tập tại bộ phận nhà hàng của khách sạn.

    Với bất kì một sinh viên năm cuối nào đều muốn chọn cho mình một nghề nghiệp ổn định và có thu nhập cao, đúng và phù hợp với ngành nghề mình học.Với sinh viên thời gian thực tập chính là để khăng định và rèn luyện mình để rồi khi ra trường sẽ vững vàng hơn bước vào nghề. Không chọn công ty lữ hành, hay những chỗ thực tập khác tôi xin thực tập tại khách sạn. Xác định và luôn nghĩ công việc sẽ có nhiều khó khăn, nhưng để quen với công việc thì dù thế nào cũng phải cố gắng. Những dư luận xã hội cho rằng sinh viên đại học chuyên ngành du lịch thì không thể lại đi làm công việc phục vụ bàn….Nhưng với tôi một nghề dù nhỏ hay có thể bị cho rằng không phù hợp

    với ngành mình học thì đó cũng là một cơ hội để mình thử sức và học hỏi Hàng ngày 8h sáng tôi đến khách sạn, thay đồng phục nhân viên nhà

    hàng bắt đầu vào công việc như các nhân viên đang làm, tôi phải bắt đầu học từ những công việc nhỏ nhất như cách đi đứng chào hỏi, đầu tóc búi gọn gàng và luôn phải đứng trong các nhà hàng mà không được phép ngồi. Ngày đầu

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    tiên tôi phải học cách làm quen công việc từ tên nhà hàng, các số bàn, các quy cách phục vụ khách, cách bưng đồ uống, bê và phục vụ đồ ăn.Tôi phải quan sát các nhân viên khi họ làm và học dần, rồi cái gì không rõ tôi phải hỏi để được chỉ dẫn.Tuy rằng khi trên giảng đường tôi đã được học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn, có được học về quy trình phục vụ khách trong bộ phận nhà hàng nhưng số lượng thông tin thì lại không nhiều.Với công việc thực tập tại bộ phận nhà hàng, hầu hết mọi công việc tôi đều phải làm và học hỏi dần, từ việc đón chào khách,dẫn khách vào bàn ăn…Nhưng quy trình phục vụ khách tôi phải nắm được và làm quen dần với công việc của một nhân viên chứ không phải là một sinh viên nữa.

    Nhưng ngày đầu học, nhìn và có sự hướng dẫn của các anh chị đội trưỏng trong bộ phận và cùng với việc đưa những kiến thức mình đã học trong trường vào thực hành tôi cũng làm quen và thấy yêu thích công việc. Buổi sáng sau khi phục vụ bữa sáng cho khách, tôi vừa làm vừa học cách phục vụ để quen và nắm được chính xác các cách phục vụ, cả công việc mình phải làm.Tại nhà hàng Á tôi cùng các nhân viên bày bàn ăn và chuẩn bị dụng cụ phục vụ cho cơm công sở tự chọn buổi trưa như kê bàn, bày bàn ăn, gấp khăn ăn, các dụng cụ phục vụ cho cơm trưa. Buổi trưa bắt đầu khách ăn trưa tư 11h trưa đến 1h chiều tôi đứng tại các bàn ăn thu don dụng cụ ăn của khách khi khách chuyển món hoặc khách yêu cầu, ghi yêu cầu( oder) đồ uống cho khách mang sang quầy bar để pha chế…Hết quy trình phục vụ khách tôi cùng các nhân viên tiễn khách và thu dọn bàn và bày bàn ăn cho món lẩu buổi tối.Ca buổi sáng của tôi bắt đầu từ 8h sáng cho đến 2h chiều thì nghỉ, nếu như lịch làm ca tối sẽ bắt đấu từ 3h chiều đến 9h tối.

    Công việc thường có sự quay vòng trong các nhà hàng của bộ phận bắt đầu làm tại nhà hàng Á thì ngày hôm sau sẽ là tại nhà hàng Âu, rồi đến nhà hàng Nhật.

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Công việc tại nhà hàng Âu phục vụ món phở Cali và các món ăn chọn theo thực đơn hoặc đặt trước.Tôi được giao sẽ đón chào khách, dẵn kháh vào bàn, ghi và tiếp nhận các yêu cầu của khách về đồ ăn, và có lúc thì phục vụ phở cho khách, phục vụ đồ uống. Công việc phục vụ cũng được quay vòng chứ không phải chỉ làm một công việc mà thường đan xen và có sự phối hợp giũa các nhân viên với nhau để tránh sự phân biệt và các nhân viên có thể học hỏi giúp đỡ nhau.

    Trong nhà hàng Nhật thì thường là khách Vip, khách nước ngoài nên mức độ phục vụ cao thường đòi hỏi có ngoại ngữ và chuyên môn nghiệp vụ tốt.Từ những ngày đầu tôi quan sát công việc tỉ mỉ và học dần cách phục vụ và tạo điều kiện tiếp xúc khách trong các công việc phục vụ bằng vốn ngoại ngữ tiếng Anh của mình.Tôi phục vụ đồ uống theo chỉ dẫn của nhân viên và dần tới phục vụ khách, có thể tìm hiểu tâm lý khách để phục vụ đúng yêu cầu sở thích của khách.

    Nhìn chung công việc của tôi tại bộ phận nhà hàng được giao là phục vụ bàn và ghi yêu cấu của khách về chọn món cho khách nhưng tôi thường làm cả nhưng công việc khác để có thêm hiểu biết và va chạm dần với công việc.

    3.2.2 Việc vận dụng lí thuyết vào công việc thực tập

    Với những kiến thức và nghiêp vụ được học tại trường, tôi đều mang vào để vận dụng và làm cơ sở nền tảng cho nhưng quy trình phục vụ khách tại nhà hàng.Viêc nắm chắc các kiến thức và lí thuyết về những bộ môn trong nhà trường như: Quản trị khách sạn, Nghiệp vụ Ngoại giao, Nghiệp vụ Lễ tân khách sạn…đó là nhưng môn học giúp tôi có nhưng kiến thức để áp dụng vào trong công việc thực tập và có cơ hội trau dồi, học thêm để làm phong phú lượng kiến thức của mình. Những môn học trên cho tôi các kiến thức nền tảng vê các quan hệ ngoại giao, các hiểu biết về ngành kinh doanh khách sạn và

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    dịch vụ phục vụ đồ ăn thức uống trong nhà hàng.Tuy rằng việc vận dụng lí thuyết đã học vào trong công việc thực tế không phải là việc dễ dàng mà đòi hỏi chúng ta phải có tư duy và lô gíc để vận dụng đúng kiến thức đã học một cách hiệu quả và chính xác nhất.

    Người ta thưòng nói công việc thường đi đôi với thực hành nên tôi đã rất cố gắng, vận dụng những kiến thức đã học vào trong công việc phục vụ khách tại bộ phận nhà hàng, kinh doanh đồ ăn thức uống và làm thật tốt công việc tại đây, tôi vừa làm vừa quan sát để có thể làm mà tránh xảy ra sai xót trong công việc phục vụ, làm hài lòng khách và khách sẽ còn quay trở lại vào lần sau.

    3.2 Những nhận xét, đánh giá và kết quả thu được trong thời gian thực tập Công việc thực tập tại khách sạn đã cho tôi cơ hội tiếp xúc và hiểu

    được những giá trị trong cuộc sống, bước vào một ngành kinh doanh dịch vụ đòi hỏi nhiều nghiệp vụ phục vụ, khả năng nhanh nhẹn và xử lý tốt các tình huống hay các sai xót xảy ra trong nhà hàng. Bộ phận phục vụ đồ ăn thức uống của nhà hàng thực sự là phát triển và đóng góp nhiều cho sự phát triển của xã hội.Với gần 3 tháng thực tập tôi đã được thực hành băng khả năng, vận dụng kiến thức của mình vào công việc một lĩnh vực kinh doanh phong phú và đa dạng, hấp dẫn với nhiều loại hình kinh doanh khác nhau.

    Học du lịch có thể khong chỉ làm hướng dẫn, làm lữ hành, làm nghiên cứu… mà chúng ta có thể làm kinh doanh khách sạn trong đó có thể học được nhưng nghề dù có thể được coi là không cao không sang như nghề phục vụ. Nhưng chúng ta phải biết rằng mọi thành công bao giờ cũng phải đi lên từ những cái nhỏ, vì vậy làm nhà hàng hay nhân viên phục vụ chúng ta sẽ có cơ hội để thử thách, cọ sát công viêc và khẳng định bản thân. Nếu bạn làm tốt và luôn có ý trí vươn lên bạn sẽ có cơ hội để vươn cao.

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Chuyến thực tập đã giúp tôi có được những hiểu biết cụ thể, chính xác về bộ phận nhà hàng phục vụ đồ ăn thức uống.Tôi đã thu được nhưng kinh nghiệm trong việc đón tiếp các đoàn khách, cách thức phục vụ tiệc, rượu, đồ uống và pha chế đồ uống các chuyên thực tế vế hoạt động outside…Đây là cơ hội để tôi thực hành và làm công việc mà tôi chỉ đựợc học qua lí thuyết trứơc kia không được tìm hiểu sâu.Tôi còn được thưởng thức và tìm hiểu các món ăn từ truyền thống đến đặc sản, từ trong nước cho đến quốc tế để có thể có hiểu biết về công việc sau này của minh.

    Nếu ai hỏi bạn thực tập trong khách sạn bạn có thấy thích và tốt không, tôi sẽ trả lời rằng tôi rất thích và tôi đã học được từ công việc thực tập rất nhiều kinh nghiệm nghề nghiêp, cách sống và cư xử, cả vốn ngoại ngữ của tôi cũng được trau dồi và tích lũy. Những văn hóa ẩm thực, pha trộn nét hiện đại đều được tìm thấy tại đây. Một môi trường mới với những con người mới, nhưng cách làm việc thì đầy nhiệt tình, năng động và sáng tạo đã thực sự làm tôi thấy cần học tập về phong cách làm việc đúng giờ, chính xác và cả những thái độ cư xử ân cần, lịch sự xã giao và luôn có lòng yêu nghề, yêu công việc.Nhiều con người đến từ nhiều vùng đất khác nhau mang theo những nền văn hóa mới là dịp để tôi có thể quan sát, va trạm với mọi đối tượng khách, để rồi khi ra trường đi làm khách sạn, hướng dẫn hay công việc khác tôi cũng có những hiểu biết nhất định về giao tiếp và về cách xử lí công việc. Ngành du lịch nói chung và trong đó có ngành khách sạn, mà những người làm nghề này được coi là nghề làm dâu trăm họ, vậy thì tôi đã được thử thách, được học hỏi và được cả nhìn và làm bằng chính sức mình bằng thực tế đó là một điều bổ ích và lí thú.

    Khi thực tập tại khách sạn tôi có đựơc các anh chị nhân viên hỏi công việc vất vả không? tôi thường cười và trả lời em thấy bình thường, tôi biết rằng họ cũng đang làm tốt công việc đó hơn cả tôi mà tôi thấy nụ cười và

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    gương mặt họ luôn rạng rỡ và thái độ lúc nào cũng ân cần, lịch thiệp vậy thì với tôi những tấm gương đó phẩi là một động lực để tôi theo và học tâp. Để nói về những kết quả mà tôi thu được chắc sẽ rất dài vì ông cha ta thường nói “đi một ngày đàng học một sàng khôn” đúng vậy, tôi đã học đã trải ngiệm từ lí thuyết đến thực hành, thực tế và thấy “khôn” ra rất nhiều mà trước kia tôi chưa được biết đến.

    3.3 Những kiến nghị của bản thân vễ công việc của bộ phận nhà hàng-Khách sạn Vườn Thủ Đô và khoa Du Lịch

    Đứng trên phương diện của một sinh viên Du Lịch đã thực tập và làm tại bộ phận nhà hàng Khách sạn Vườn Thủ Đô tôi thấy công việc của bộ phận nhà hàng rất phát triền, khách đến rất đông và công việc kinh doanh cũng đang dần khẳng định chỗ đứng trên thị trường kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhưng một bộ phận bao giờ cũng tồn tại song song những ưu điểm và nhưng nhược điểm hay những măt thiếu xót mà người làm kinh doanh, nhà kinh doanh đều không thể tránh khỏi.Tôi xin được đưa ra một số kiến nghị sau nhằm làm cho bộ phận có thể khắc phục và rút kinh nghiệm cho hoạt đông kinh doanh của bộ phận nhà hàng nói riêng và khách sạn nói chung.

    Khách sạn phải đặt yếu tố chất lượng phục vụ lên hàng đầu để khách hàng thấy yên tâm, tin tưởng vào các dịch vụ họ sử dụng và tiêu dùng,không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ trong nhà hàng, khách sạn.

    Ví dụ :Nếu tại bộ phận nhà hàng hay bất kì một bộ phận nào mà nhà quản lý luôn thực hiện đúng việc đặt chất lượng phục vụ khách hàng trong việc ăn uống giải trí lên hàng đầu, nhằm tạo sự hài lòng cho khách hàng sẽ là điều kiện thúc đẩy cho khách sạn thu nhiều lợi nhuận và tăng uy tín cho khách sạn.

    Không ngừng nâng cao trình độ quản lý cho các bộ phận lãnh đạo và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho nhân viên trong từng

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    bộ phận để có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách và làm khách hài lòng.Vì nếu như khách sạn là 3 sao nhưng nhân viên chỉ có trinh độ nghiệp vụ phục vụ trong khách sạn 2 sao thì sẽ làm giảm uy tín và kìm hãm sự phát triển của khách sạn. Ngoài ra yếu tố ngoại ngữ của nhân viên nhà, quản lý phải được nâng cao, nhìn chung tai bộ phận nhà hàng tôi thực tập nhân viên còn yếu về mặt ngoại ngữ, khả năng giao tiếp còn hạn chế.

    Nhà quản lý phải có các chiến lựơc kinh doanh và cập nhật thông tin trên thi trường chính xác và nhanh nhạy, không ngừng học hỏi từ các bạn hàng các nhà kinh doanh khách sạn khác để rút kinh nghiệm, tạo mối quan hệ tốt.

    Tiến hànhh kiểm tra, rút kinh nghiệm và khắc phục những thiếu xót, hạn chế trong các tuần, tháng, quý. Có thái độ phê bình khen thưởng, kỷ luật hay khuyến khích sự thăng tiến của cá nhân và nhân viên trong bộ phận kịp thời và chính xác.

    Thường xuyên đôn đốc kiểm tra, giám sát các công việc và bồi dưõng chuyên môn cho từng bộ phận, cá nhân.

    Đó là những kiến nghị với khách sạn, cũng từ công việc thực tập của mình tôi xin được đưa ra một vài kiến nghị cho khoa Du Lich.

    Kết hợp việc học lí thuyết và thực hành cho sinh viên, để sinh viên không còn bỡ ngỡ khi đến làm hay thực tập tại các cơ quan đơn vị. Rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng nghiệp vụ nhất định về chuyên ngành, để họ có thể không bị thiếu hụt kiến thức chuyên môn.

    Những chuyến thực tế, thực hành trong các môn học tại nhà trường, và các chuyến đi khảo sát cho sinh viên năm cuối để thực tập các nghiệp vụ là cần thiết nhằm tạo cho họ cơ hội cọ xát với thực tế và ngoài môi truờng xã hội.

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Lượng kiến thức chuyên ngành du lịch còn chưa nhiều vì số tiết học các môn chuyên ngành còn ít, chưa đủ đáp ứng với công việc sau này.Sinh viên muốn được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác với các phương tiên thông tin hiện đại ngay trên giảng đường.

    Tôi hi vọng rằng rng những kiến nghị trên đây của tôi, sẽ giúp ích cho khách sạn Vườn Thủ Đô trong việc nâng cao chất lượng phục vụ, tăng doanh thu và lợi nhuận trong kinh doanh. Còn với khoa du lịch sẽ nâng cao chất lưọng giảng dạy và đào tạo ra những cử nhân chuyên ngành du lịch thật giỏi, năng động.

    Phần 3: Phần kết luận

    Bản báo cáo thực tập của tôi với tiêu đề “Hoạt động tổ chức phụ vụ tại bộ phận nhà hàng- khách sạn Vườn Thủ Đô” nhằm khái quát về các hoạt động tổ chức của khách sạn và của bộ phận nhà hàng,với các hình thức kinh doanh và quy trình phục vụ ăn uống của bộ phận nhà hàng. Đồng thời giới thiệu, trình bày về các công việc mình đã làm tại khách sạn, qua đó đưa ra những nhận xét đánh giá về kết quả công việc và những kiến nghị cho khách sạn, khoa du lịch. Qua bản báo cáo này tôi xin chân thành cám ơn Khách sạn Vườn Thủ Đô, bộ phận nhà hàng cùng Ban quản lý nhà hàng đã giúp đỡ tôi hoàn thành thời hạn thực tập một cách tốt đẹp và đã cung cấp cho tôi những thông tin tư liệu, cùng những thắc mắc về khách san, nhà hàng…để tôi có thể viết được báo cáo. Tôi cũng chân thành cám ơn Phó giáo sư Tiến sĩ Phạm Quốc Sử đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành bài báo cáo này. Bài báo cáo còn nhiều thiếu xót rất mong nhận được sư giúp đỡ góp ý của bạn đọc và thầy giáo, để tôi có thể hoàn thiện hơn bài báo cáo của mình.Tôi xin chân thành cám ơn.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              32

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              33

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Tài liệu tham khảo

    1. Trịnh Xuân Dũng – Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn.

     

    1. Giảng viên Nguyễn Ngọc Dung – Bài giảng nghiệp vụ lễ tân khách sạn.

     

    1. Tạp chí Du lịch Việt Nam số 2, 3, 4, 5, 6,7 năm 1998 về kinh doanh nhà hàng khách sạn.
    1. Tài liệu tham khảo của Khách sạn Vườn Thủ đô.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              34


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập tốt nghiệp Quản trị chiến lược

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp Quản trị chiến lược

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp Quản trị chiến lược

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Báo cáo thực tập tốt nghiệp: Công tác Văn thư – Lưu trữ và quản trị văn phòng của văn phòng UBND Huyện Vĩnh Tường


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập tốt nghiệp Quản trị chiến lược

    CHƯƠNG I

     

    CƠ SỞ LÝ LUẬN

    I: KHÁI NIỆM, VAI TRỊ CỦA QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC

    1: Khái niệm:

    Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như trong tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như trong tương lai.

    Đặc điểm quan trọng là tất cả các chiến lược kinh doanh khi hình thành được quan tâm và nó được dùng để phân biệt các kế hoạnh kinh doanh chính là “ lợi thế cạnh tranh”. Thực tế cho thấy rằng không có đối thủ cạnh tranh nào mà không cần đến chiến lược, vì các chiến lược có mục đích duy nhất và bảo đảm cho các doanh nghiệp tìm và giành được lợi thế bền vững của mình đối với các đối thủ.

    2: Vai trò của quản trị chiến lược:

    Quá trình quản trị chiến lược giúp tổ chức thấy rõ mục đích và hướng đi của mình. Nó khiến cho nhà quản trị phải xem xét và xác định xem tổ chức đi theo hướng đi nào và khi nào thì đạt được vị trí nhất định. Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục đích trong tương lai giúp cho nhà quản trị cũng như nhân viên nắm vững được việc gì cần làm để đạt được thành công. Như vậy sẽ khuyến khích cả hai đối tựợng trên đạt được những thành tích ngắn hạn, nhằm cải thiện tốt hơn lợi ích lâu dài của tổ chức.

    Điều kiện môi trường mà tổ chức gặp phải luôn biến đổi. Những biến đổi nhanh thường tạo ra các cơ hội và nguy cơ bất ngờ. Dùng quản trị chiến lược giúp nhà quản trị nhằm vào các cơ hội và nguy cơ trong tương lai. Mặc dù các quá trình kế hoạch hóa không loại trừ việc các nhà quản trị dự kiến hoặc dự báo trước các điều kiện môi trường trong tương lai. Trong khi đó, quá trình quản trị chiến lược buộc nhà quản trị phân tích và dự báo các điều kiện môi trường trong tương lai gần cũng như trong tương lai xa. Nhờ đó thấy rõ môi trường tương lai mà nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt các cơ hội, tận dụng hết các cơ hội và giảm bớt nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường.

    Nhờ có quá trình quản trị chiến lược, doanh nghiệp sẽ gắn liền với các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan. Do sự biến động và tính phức tạp của môi trường ngày càng gia tăng doanh nghiệp ngày càng cố gắng chiếm được thế chủ động hoặc thụ động tấn công. Quyết định là sự cố gắng dự đoán điều kiện môi trường và sau đó làm tác động hoặc làm thay đổi dự báo sao cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra. Quyết định thụ động tấn công là dự báo các điều kiện môi trường trong tương lai và thông qua biện pháp hành động nhằm tối ưu hóa vị thế của doanh nghiệp trong môi trường đó bằng cách tránh những vấn đề đã thấy trước và chuẩn bị tốt hơn để thực hiện bằng được cơ hội tìm tàng

    Phần lớn các công trình nghiên cứu cho thấy các công ty nào vận dụng quản trị chiến lược thì đạt được kết quả tốt hơn nhiều so với công ty nào không sử dụng quản trị chiến lược. Quản trị chiến lược còn giúp cho doanh nghiệp gặp phải những vấn đề trầm trọng và tăng khả năng của công ty trong việc tranh thủ các cơ hội trong môi trường khi chúng xuất hiện.

    II: CÁC MỨC ĐỘ CỦA QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC

    1. Chiến lược cấp công ty

    Chiến lược cấp công ty là một kiểu mẫu của các quyết định trong một công ty, nó xác định và vạch rõ mục đích, các mục tiêu của công ty, xác định các mục tiêu kinh doanh mà công ty theo đuổi, tạo ra các chính sách và kế hoạch cơ bản để đạt được mục tiêu của công ty.

    Chiến lược công ty đề ra nhằm xác định các hoạt động kinh doanh mà trong đó công ty sẽ cạnh tranh và phân phối các nguồn lực giữa các hoạt động kinh doanh đó.

    2.. Chiến lược cấp kinh doanh

    Chiến lược kinh doanh được hoạch định nhằm xác định việc lựa chọn sản phẩm hoặc dạng cụ thể thị trường cho hoạt động kinh doanh riêng trong nội bộ công ty, và nó xác định xem công ty sẽ cạnh tranh như thế nào với một hoạt động kinh doanh cùng với vị trí đã biết của bản thân công ty, giữa người cạnh tranh của nó.

    Chiến lược cấp các đơn vị kinh doanh của doanh nghiệp xác định cách thức mỗi đơn vị kinh doanh sẽ cố gắng hoàn thành mục tiêu của nó để đóng góp vào việc hoàn thành vào mục tiêu cấp công ty. Nếu như công ty là đơn ngành thì chiến lược cấp đơn vị kinh doanh có thể được coi là chiến lược cấp công ty.

    1. Chiến lược cấp chức năng

    Tập trung hỗ trợ vào việc bố trí của chiến lược công ty và tập trung vào các lĩnh vực tác nghiệp, những lĩnh vực kinh doanh.

    Dù ở mức độ nào, các chiến lược cũng tuân theo qui trình cơ bản sau:

    Các cấp chiến lược

          Cấp công ty

     

    v  Phân tích môi trường

    v  Xác định nhiệm vụ và mục tiêu

    v  Phân tích và lựa chọn chiến lược

    v  Thực hiện

    v  Kiểm soát

    thông tin

     
       

          Cấp chức năng

    v  Phân tích môi trường

    v  Xác định nhiệm vụ và mục tiêu

    v  Phân tích và lựa chọn chiến lược

    v  Thực hiện

    v Kiểm soát

          Cấp kinh doanh

    v  Phân tích môi trường

    v  Xác định nhiệm vụ và mục tiêu

    v  Phân tích và lựa chọn chiến lược

    v  Thực hiện

    v  Kiểm soát

    thông tin

    • Các yêu cầu khi xây dựng chiến lược:

    Một là, chiến lược kinh doanh phải đạt được mục tiêu tăng thế lực của doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh. Vì chiến lược kinh doanh chỉ thật sự cần thiết khi có sự cạnh tranh trên thị trường. Không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược kinh doanh. Muốn đạt được yêu cầu này khi xây dựng chiến lược phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của doanh nghiệp mình, tập trung các biện pháp tận dụng thế mạnh chớ không dùng quá nhiều sức lực cho việc khắc phục các điểm yếu tới mức không đầu tư gì thêm cho các điểm mạnh.

    Hai là, chiến lược kinh doanh đảm bảo an tòan kinh doanh cho doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh chứa đựng trong lòng nó yếu tố mạo hiểm mà các doanh nghiệp phải đương đầu. Do vậy sự an toàn trong kinh doanh nhiều khi là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Để đạt được yêu cầu này chiến lược kinh doanh phải có vùng an toàn, trong đó khả năng rủi ro có thể xảy ra nhưng chỉ là thấp nhất, phải luôn đề phòng chiến lược được ăn cả ngã về không, do chưa hiểu kỹ luận thuyết kinh doanh mạo hiểm.

    Ba là, phải xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu. Việc xác định phạm vi kinh doanh trong chiến lược kinh doanh phải đảm bảo sao cho khắc phục sự dàn trải nguồn lực. Trong mỗi phạm vi kinh doanh nhất định doanh nghiệp có thể định ra các mục tiêu cần đạt tới, phù hợp với điều kiện cụ thể của mình

    Bốn là, phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai. Việc dự đóan này càng chính xác bao nhiêu thì chiến lược kinh doanh càng phù hơp bấy nhiêu. Dự đoán trước hết là hoạt động trí não, vì vậy muốn có được dự đoán tốt, cần có một khối lượng thông tin và tri thức nhất định, đồng thơi phải có phương pháp tư duy đúng đắng để có được cái nhìn thực tế và sáng suốt về tất cả những gì mà doanh nghiệp có thể phải đương đầu ở tương lai.

    Năm là, phải kết hợp độ chín mùi với thời cơ. Chiến lược kinh doanh không chín mùi chắc chắn sẽ thất bại.

    Sáu là, phải có chiến lược dự phòng. Sở dĩ phải như vậy vì, chiến lược kinh doanh là để thực thi trong tương lai, lại luôn là điều chưa biết. Vì thế khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải tính đến khả năng xấu nhất mà doanh nghiệp gặp phải và trong tình hình đó thì chiến lược nào có thể thay thế.

    III. QUÁ TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC

    1 . Phân tích môi trường

    Các yếu tố môi trường có một tác động to lớn đối với doanh nghiệp. Vì chúng ảnh hưởng đến các tiếp theo của quá trình quản trị chiến lược. Chiến lược được lựa chọn phải được hoạch định trên cơ sở các điều kiện môi trường đã nghiên cứu.

    Môi trường của tổ chức là những yếu tố, những lực lượng, những thể chế … nằm bên ngoài doanh nghiệp mà nhà quản trị không kiểm soát được nhưng chúng ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh của doanh nghiệp.

    Môi trường của tổ chức bao gồm: môi trường vĩ mô hay còn gọi là môi trường tổng quát, môi trường vi mô hay còn goi là môi trường đặc thù. Mục đích xác định và hiểu rõ các điều kiện môi trường nào có nhiều khả năng ảnh hưởng đến các việc ra quyết định của doanh nghiệp. Đó có thể chỉ đơn giản là những danh mục những ảnh hưởng chủ yếu đối với tổ chức. Danh mục này xác định những yếu tố môi trường nào mà doanh nghiệp thực sự thay đổi.

    1.1.  Môi trường vĩ mô

    Môi trường vĩ mô bao gồm những yếu tố tác động đến đơn vị một cách toàn

    diện, đặc điểm hoạt động của đơn vị đó. Nó được xác lập bởi các yếu tố như: các điều kiện kinh tế, chính trị xã hội, văn hoá tự nhiên, dân số, công nghệ và kỹ thuật. Mỗi yếu tố của môi trường vĩ mô có thể ảnh  hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc trong liên kết với các yếu tố khác

    Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi : doanh nghiệp đang trực diện với những gì ?

    1.1.1.  Các yếu tố kinh tế

    Các yếu tố môi trường kinh tế thường tác động một cách trực tiếp và năng động, các diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với từng doanh nghiệp đối với từng doanh nghiệp và cũng có ảnh hưởng tiềm tàng đến các chiến lược của các doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế cơ bản là:

    –  Xu hướng của tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân. Bao gồm các số liệu về tốc độ tăng trưởng GDP và GNP hàng năm sẽ cho biết tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và tốc độ tăng của thu nhập bình quân đầu người. Từ đó cho phép dự đoán được dung lượng thị trường của từng ngành và thị phần của từng doanh nghiệp.

    –  Lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến xu thế của đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng. Do đó ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp

    –  Cán cân thanh toán quốc tế.

    –  Xu hướng của tỷ giá hối đoái. Sự biến động của tỷ giá hối đoái làm thay đổi điều kiện kinh doanh nói chung, tạo ra những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với doanh nghiệp.

    –  Mức độ lạm phát. Lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế. Việc lạm phát quá cao hoặc thiểu phát đều ảnh hưởng không tốt đối với nền kinh tế. Do đó việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có tác dụng khuyến khích thị trường tăng trưởng.

    –  Các chính sách tiền tệ của nhà nước.

    –  Mức độ thất nghiệp         .

    –  Những chính sách thuế quan.

    1.1.2..  Yếu tố chính trị pháp luật

    Môi trường chính trị – pháp luật bao gồm các hệ thống quan điểm đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống pháp luật hiện hành, các xu hướng chính trị, ngoại giao của chính phủ và những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới. Các biến động về môi trường chính trị – pháp luật sẽ tạo cơ hội và rủi ro doanh nghiệp với các doanh nghiệp. Do đó khi nghiên cứu cac yếu tố này ta nên chú ý một số các vấn đề sau đây:

    –  Các qui định về khách hàng vay tiêu dùng

    –  Các luật lệ về chống độc quyền.

    –  Những đạo luật về bảo vệ môi trường.

    –  Những đạo luật về thuế khóa

    –  Các chế độ đãi ngộ đặc biệt

    –  Những luật lệ về đạo luật quốc tế

    –  Những luật lệ về thuê mướn lao động

    –  Sự ổn định của chính quyền

    • Yếu tố văn hóa xã hội

    Môi trường văn hóa xã hội bao gồm các chuẩn mực và các giá trị được chấp thuận và tôn trọng bởi một văn hóa hoặc một văn hóa cụ thể. Yếu tố văn hoá  – xã hội tác động rất chậm đến doanh nghiệp. Nhung nếu không lưu tâm rất khó nhận ra nhưng lại có ảnh hưởng rất sâu và rộng. Do đó ta phải quan tâm đến yếu tố văn hóa – xã hội. Khi nghiên cứu các vấn đề này cần lưu ý các điểm sau đây

    –  Những quan điểm về đạo đức, thẩm mỹ, lối sống về nghề nghiệp .

    –  Phong tục tập quán truyền thống

    –  Sự thay đổi về quan điểm sống và mức sống

    –  Quan niệm tiêu dùng, nhất là sản phẩm tiêu dùng thời tiết

    • Yếu tố dân số

    Yếu tô dân số rất quan trọng trong quá trình xây dựng chiến lược. Nó tác động tiếp đến sự thay đổi của môi trường kinh tế và xã hội. Thông tin về dân số  cung cấp cho nhà quản trị những dữ liệu quan trọng trong việc hoạch định chiến lược. Do đó khi xây dựng chiến lược cần quan tâm yếu tố dân số sau :

    –  Tổng dân số xã hội, tỉ lệ tăng dân số

    –  Kết cấu và xu hướng thay đổi của dân số: tuổi tác, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, tôn giáo, phân phối thu nhập

    • Xu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng
    • Yếu tố tự nhiên

    Môi trường tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan tự nhiên, cảng biển, các tài nguyên. Điều kiện tự nhiên là yếu tố đầu vào quan trọng của nhiều nghành kinh tế. Đồng thời điệu kiện tự nhiên có thể trở thành thế mạnh. Do đó khi xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải quan tâm đến :

    –  Các loại tài nguyên

    –  Các vấn đề ô nhiễm môi trường

    –  Sự thiếu hụt năng lượng

    • Sự tiêu phí nguồn tài nguyên thiên nhiên
    • Yếu tố kỹ thuật-công nghệ

    Ít có ngành công nghiệp và doanh nghiệp nào mà không phụ thuộc vào công nghệ hiện đại. Sẽ còn nhiều công nghệ tiên tiến ra đời, tạo ra các cơ hội cũng như các nguy cơ đối với tất cả các nghành. Khi nghiên cứu yếu tố này cần lưu ý các vấn đề sau:

    –  Chi phí cho công tác nghiên cứu và phát triển từ ngân sách quốc gia

    –  Chi phí nghiên cứu và phát triển trong ngành

    –  Tiêu điểm các lỗ lực công nghệ

    –  Sự bảo vệ bằng phát minh sáng chế

    –  Chuyển giao công nghệ

    –  Tự động hoá

    Các yếu tố môi trường vĩ mô trên có tác động lẫn nhau và cùng tác động lên doanh nghiệp. Các nội dung của từng yếu tố có mức độ quan trọng khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu. Khi nghiên cứu các yếu tố này không nên kết luận ngay dựa trên một vài yếu tố, mà phải xem xét một cách tòan diện trong quan hệ tác động qua lại giữa chúng với nhau.

    1.2. Môi trường vi mô

    Môi trường vi mô là một phần của môi trường vĩ mô nhưng nó tác động trực tiếp đên doanh nghiệp. Mmỗi doanh nghiệp chịu tác động của môi trường vi mô riêng. Do đó không nên áp dụng một cách máy móc các kinh nghiệm của các doanh nghiệp khác, mà phải nghiên cứu trong điều kiện ứng với tình hình thực tế của doanh nghiệp mình. Để đề ra một chiến lược thành công thì phải phân tích kỹ từng yếu tố của môi trường vi mô. Sự hiểu biết của các yếu tố nỳ giúp doanh nghiệp nhận ra các điểm mạnh, điểm yếu của mình. Nó liên quan đến cơ hội và nguy cơ mà ngành kinh doanh gặp phải. Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố: đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ tiềm ẩn, sản phẩm thay thế.

    Xuất hiện cạnh tranh

    g cấp                 áp lực cung cấp                                  áp lực mặc cả

    đe doạ của sản phẩm thay thế

     
       

    Mô hình 5 áp lực cạnh tranh

    1.2.1. Đối thủ cạnh tranh

    Đối thủ cạnh tranh là những đơn vị cùng chia sẻ lượn khách hàng của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, giúp doanh nghiệp xác định được mức độ bản chất của cạnh tranh . tè đó đưa ra những biện pháp thích hợp trong cạnh tranh để giữ vững vị trí và gia tăng áp lực lên đối thủ. Những nội dung then chốt khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh bao gồm:

    –    Mục tiêu tương lai của đối thủ cạnh tranh

    • Chiến lược hiện tại của đối thủ cạnh tranh

    Các nội dung chủ yếu cần phân tích đối thủ cạnh tranh

           
           
     
       
           
           

    –  Anh hưởng đối với cạnh tranh trong nghành công nghiệp

    –  Điểm mạnh, điểm yếu cuả đôi thủ cạnh tranh

    –   khả năng chuyển dịch và chuyển hướng chiến lược của đối thủ cạnh tranh

    –  kết quả kinh doanh hiện tại của đối thủ cạnh tranh

    • Khách hàng

    Khách hàng là những người tiêu thụ và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp muốn tồn tại cần phải lôi kéo khách hàng nhiều hơn, khách hàng trung thành là một lợi thế của doanh nghiệp.

    Muốn làm được điều đó doanh nghiệp hải làm thoã mãn những nhu cầu

    và những mong muốn của khách hàng ngày càng một tốt hơn. Vì vậy, việc nghiên cứu khách hàng là rất quan trọng nhằm giúp doanh nghiệp gần gũi với khách hàng hơn. Các vấn đề đặc ra khi nghiên cứu khách hàng:

    –  Vì sao khách hàng mua hoặc không mua sản phẩm ?

    –  Những vấn đề nhu cầu nào của khách hàng cần xem xét ?

    –  Các khác biệt quan trọng giữa các nhóm khách hàng khác nhau là gì ?

    –  Khách hàng mua sản phẩm như thế nào? Khi nào và bao nhiêu ?

    • Nhà cung cấp

    Nhà cung cấp bao gồm những người cung cấp các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp như: những nhà cung ứng trang thiết bị, vật tư, cung ứng tài chính hay các nguồn lao động. Các nhà cung cấp có thể tạo ra những áp lực cho các doanh nghiệp trong các trường hợp sau:

    –  Khi chỉ có một số ít các nhà cung cấp

    –  Khi sản phẩm thay thế không có sẳn

    khi người mua thể hiện một lượng nhỏ trong sản lượng của nhà cung cấp

    –  Khi sản phẩm của nhà cung cấp có tính khác biệt và đượcđánh giá cao hơn khách hàng của ngươì mua

    – Người mua phải chịu một chi phí cao do thay đổi nhà cung cấp

    –  Khi nhà cung ứng đe doạ hội nhập về phía trước.

    Từ những áp lực của các nhà cung cấp. Doanh nghiệp phải nghiên cứu để hiểu biết về những nhà cung cấp các nguồn lực cho doannh nghiệp, để từ đó giúp doanh nghiệp có chiến lược liên kết một cách thích hợp với các nhà cung cấp nhằm giảm áp lực đầu vào.

    • Đối thủ tiềm ẩn

    Đối thủ tiểm ẩn hay còn goi là đối thủ tiềm năng là các đối thủ chưa nguy hiểm ở hiện tai, nhưng sẽ rất nguy hiểm trong tương lai. Mặc dầu chưa có sức mạnh trong ngành cạnh tranh, nhưng đang nắm vững lợi thế kỹ thuật hoặc ưu thế về phát triển. Do đó doanh nghiệp phải nghiên cứu đề phòng các đối thủ này, vì khi các đối thủ này nhảy vào ngành thì có thể làm giảm thị phần hoặc làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, cũng như nó làm ảnh hưởng đếnd chiến lược của doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp phải tạo ra một rào cảng sự xâm nhập từ bên ngoài bằng cácd biện pháp sau:

    –  Tạo lợi thế cho sản phẩm

    –  Đa dang hoá sản phẩm

    –  Sự đòi hỏi của nguồn tài chính

    –  Chi phí chuyển đổi mặc hàng cao

    –  Khả năng hạn chế trong việc xâm nhập các kênh tiêu thụ

    –  Ưu thế về giá thành mà các đối thủ khác không tạo ra được

    • Sản phẩn thay thế

    Sản phẩm thay thế là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ, là yếu tố thường tạo ra mối đe doạ làm cho chi phí hoạt động của doanh nhgiệp gia tăng, trong khi lợi nhuận giảm. Dó áp lực từ sản phẩm thay thế làm hạn chế mức lợi nhuận của mỗi nghành bằn cách đặt một ngưỡng tối đa cho các mưc giá mad doang nghiệp có thể kinh doanh có lãi. Các nhà quản trị cần phải xác định sản phẩm thay thế thông qua tìm kiếm các sản phẩm có cùng công năng nhyư sản phẩm của ngành.

    • Phân tích nội bộ

    Tất cả các tổ chức đều có điểm mạnh và điểm yếu trong lĩnh vực kinh doanh. Những điiểm mạnh và những điểm yếu bên trong, cùng với cơ hội và nguy cơ bên ngoài là những điểm cơ bản cần quan tâm khi thiết lập các mục tiêu và chgiến lược. Trong một doanh nghiệp baoi gồm tất cả các yếu tố và hệ thôngs bên trong của nó, phải phân tích kỹ các yếu tố nội bộ nhằm xác định rõ ưu điểm, nhược điểm ccủa mình. Trên cơ sở đó đưa ra các biên pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và phát huy wu điểm để đạt được lợi thế tối da. Các yếu tố chủ yếu bên trong nội bộ mà ta cần phân tích là: Marketing, sản xuất, tài chính, quản trị, nhiên cứu và phát triển hệ thống thông tin.

    Các hoạt động hỗ trợ

    Cấu trúc hạ tần công ty

    Phần lời

    Quản trị nguồn nhân lực
    Phát triển công nghệ
    Mua sắm/thu mua
    Các hoạt động đầu vào

    Vận hành

    Các hoạt động đầu ra Marketing và bán hàng

    Dịch vụ

    Phần lời
                 
    • Marketing

    Marketing là một quá trình xác định dự báo, thiết lập và thoã mãn các nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng đối với sản phẩm hay dịch vụ. Cácc vấn đề sau cần làm rõ v à xem xét đến hiệu quả của hoạt động marketing:

    –  Các loại sản phẩm hay dịch vụcủa doanh nghiệp, mức đa dạng của sản phẩm, chu kỳ sống của sản phẩm, chất lượng và ấn tượng của sản phẩm.

    –  Kênh phân phối: số lượng, phạn vi và mức độ kiểm soát.

    –  Chiến lược về giá và tính linh động trong việc định  giá.

    • Vấn đề quảng cáo, khuyến mãi và dịch vụ sau khi bán.
    • Sản xuất

    Sản xuất là một hoạt động chính yếu trong doanh nghiệp, nó gắn liền với việc tạo ra sản phẩm. Vgì vậy nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng đạt tới thành công của doanh nghiệp. Do đo, khi phân tích đến hoạt động sản xuất phải chú ý đến quá trình sản xuất, công suất may móc, thiết bị tồn kho, lượng lao động. Khi phân tích các yếu tố sản suất ta nên lưu ý các vấn đề sau:

    –  Mức độ cung ứng nguyên vật liệu, quan hệ với người cung cấp hàng.

    –  Sự bố trí các phương tiện sản xuất v à hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị.

    –  Lợi thế do sản xuất quy mô lớn.

    –  Hệ thống kiểm tra hàng tồn kho, chu kỳ lưu chuyển hàng tồn kho.

    –  Các phường pháp kiểm tra tác nghiệp hữu hiệu, kiểm tra thiết bị, lập kế hoạch tiên độ mua hàng, kiểm tra chất lượng.

    • Tài chính kế toán

    Tài chính kế là một vấn đề quan trọng đối với doanh nghiệp. Vì vậy để xây dựng chiến lược cần xác định điểm mạnh và điểm yếu về tài chính. Các yếu tố tài chính thường làm thay đổi các chiến lược hiện tai cũng như việc thực hiện các mục tiêu khác của doanh nghiệp. Việc phân tích các chỉ số tài chính là phương pháp sử dụng nhiều nhất, để xác định điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức về đầu tư, tài chính và tiền lãi cổ phần. Khi phân tích tài chính cần xem xét các vấn đề sau:

    –  Khả năng huy động vốn ngắn hạn và dài hạn.

    –  Tỷ lệ vốn vay và cổ phần

    – Tình hình vay có thế chấp, khả năng tận dụng các chiến lược tài chính, thay thế như: cho thuê,  bán hoặc cho thuê lại.

    –  Vốn lưu động, tính linh hoạt của cơ cấu đầu tư.

    – Quy mô tài chính.

    -Chi phí vốn so với toàn ngành, so với đối thủ cạnh tranh.

    • Quản trị

    Quản trị có bốn chức năng cơ bản: hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm tra.

    *    Hoạch định bao gồm tất cả các hoạt động quản trị liên đến việc chuẩn bị cho tương lai như: Dự đoán, thiết lập mục tiêu, đề ra các chiến lược phát triển, các chính sách.

    *   Tổ chức bao gồm tất cả các hoạt dộng quản trị ta ra cơ cấu của mối quan hệ của quyền hạn và trách nhiệm.

    *  Điều khiển gồm những nổ lực nhằm xác định hướng hoạt động của con ngưởi, cụ thể là lãnh đạo, liên lạc với nhóm làm việc chung, thay đổi của hoạt động uỷ quyền, nâng cao chất lượnh công việc.

    *  kiểm soát liên quan đến tất cả các hoạt động quản lý nhăm đảm bảo cho kết quả thực tế phù hợp nhất quán với kết quả đã được hoạch định.

    • nghiên cứu và phát triển

    Kết quả của nghiên cứu và phát triển giúp doanh nghiệp giữ vững được vị trí đầu trong ngành, hoặc nếu doanh nghiệp yếu kém trong các nổ lực nghiên cứu và phát triển thì có thể làm cho doanh nghiệp tụt hậu so với các doanh nghiệp khác. Vì vậy cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển nhằm nâng cao khả năng đự báo của doanh nghiệp, cũng như giúp doanh nghiệp kiểm soát được thị trường một cách hữu hiệu nhất.

    1.3.6.  Hệ thống thông tin

    Hệ thống thông tin giúp doanh nghiệp cải tiến các hoạt động của mình bằng cách nâng cao chất lượng của các quyết định quản trị. Một hệ thống thông tin hiệu quả sẽ thu thập mã hoá, lưu trữ tổng hợp và đưa ra các thông tin nhằm trả lời những câu hỏi về chiến lược. Do ngày nay các tổ chức càng trở nên phức tạp hơn, phân tán trên một không gian rộng nên việc tổ chức một hệ thống thông tin sao cho nhanh chống và có hiệu quả là một việc làm hết sức cần thiết.

    1.3.7   Quản trị nguồn nhân sự

    Bao gồm các hoạt động được thực hiện nhằm tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện  phát hiện và trả công cho tất cả các bật của người lao động. Quản trị nguồn nhân lực có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp. Nó được thể hiện qua các mặt sau:

    –  Hiệu quả của các thủ tục cho việc tuyển mộ, huấn luyện và đề bạt tất cả các cấp của người lao động.

    –  Sự phù hợp của hệ thống phần thưởng cho động viên và thách thức nhân viên.

    –  Môi trường làm việc nhằm giảm thiểu sự vắng mặt và giữ tỷ lệ thuyên chuyển ở các mức độ mong đợi

    –   Những quan hệ công đoàn

    –  Sự tham gia tích cực của các nghà quản trị và các chuyên gia kỹ thuật trong các tổ chức chuyên môn.

    • Mức độ thoả mãn và động viên của người lao động.
    1. Ma trận SWOT
      • Ma trận SWOT

    Từ phân tích môi trường vĩ mô  phân tích môi trường vi mô và môi trường nội bộ ta tổng kết nhữmg điểm mạnh, điểm yếu của doanh mghiệp và các cơ hội, nguy cơ có ảnh hưởng đến doanh nghiệp.

    • Những điểm mạnh : phân tích những điểm mạnh

    –  Những điểm yếu : Phân tích những điểm yếu

    • Những cơ hội : Phân tích các cơ hội
    • Các nguy cơ : Phân tích các nguy cơ

    2.2. Phân tích ma trận SWOT

    Để xây dựng ma trận SWOT trước tiên ta cần phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và các nguy cơ trên các ô tương ứng. Sau đó phối hợp các yêu tố trên để tạo chiến lươc và tiến hành so sánh môtỵ cách có hệ thống từng cập tương ứng của các yếu tố. Ma trận SWOT được biểu thị như sau :

    Ma trận SWOT

    SWOT

    Các cơ hội – O Các nguy cơ – T
    1.

     

    2.

    3.        liệt kê các cơ hội

    4.

    5.

    6.

    1

     

    2.

    3. Lệt kê các nguy cơ

    4.

    5.

    6.

    Các điểm mạnh – S Các chiến lược – SO Các chiến lược – ST
    1.

     

    2.

    3.  liệt kê các điêm mạnh

    4.

    5.

    6.

    1.

     

    2.

    3. Sử dụng các điểm mạnh để tận dụng những cơ hội.

    4.

    5.

    6.

    1.

     

    2.

    3. Vượt qua những bất trắc tận dụng điểm mạnh

    4.

    5.

    6.

    Các điểm yếu – W Các chiến lược – WO Các chiến lược – WT
    1..

     

    2.

    3.  liệt kê các điểm yếu

    4.

    5.

    6.

    1.

     

    2.

    3. Hạn chế các điểm yếu lợi dụng các cơ hội

    4.

    5.

    6.

    1.

     

    2.

    3. Tối thiểu hoá những điểm yếu và tránh khử môi đe doạ.

    4.

    5.

    6.

    Việc kết hợp các yếu tố quan trọng bên ttrong và bên ngoài là nhiệm vụ khó khăn nhất của việc phát triển ma trận SWOT. Nó đòi hỏi các nhà quản trị chiến lược phải có sự phán đoán tốt và không có sự kết hợp nào được xem là tốt nhất mà tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp mà ta nên chọn sự kết hợp nào là tốt nhất.

    1. Xác định mục tiêu của chiến lược
    2. Xây dựng sứ mạng

    Sứ mạng là một phát biểu có giá trị lâu dài, tjể hiện triết lý kinh doanh, thể hiện những nguyên tắc và tin tưởng của con người trong quá trình

    –   Sứ mạng thường thể hiện mục đích tồn tại của tổ chức.

    • Sứ mạng của công ty thường thể hiện trong thời gian dài mang tính chất định hướng cho tổ chức hoạt động.

    Sứ mạng được xây dựng, cần phải xác định rõ các mục tiêu sau.

    –  Phải xác định rõ khách hàng là ai

    –  Sản phẩm và dịch vụ chủ yếu của chúng ta

    –  Thị trường chính của ta ở đâu

    –  Công nghệ nào được sử dụng

    –  Sự quan tâm dến các yếu tố con người

    –  Triết lý hoạt động và triết lý tồn tại

    –  Đánh giá năng lực của doanh nghiệp

    –  Mối quan tâm đến cộng đồng xã hội

    –  Quan tâm đến các nhân viên

    Đồng thời sứ mạng được xây dựng phải thể hiện vai trò sau :

    +  Đảm bảo sự thống nhất trong tổ chức

    +  Tạo cơ sở huy động các nguồn lực của doanh nghiệp

    +  tạo ra các điều kiện xây dựng khung cảmh nội bộ thích hợp

    +  Sứ mạng là cơ sở để xây dựng hệ thống mục tiêu phù hợp

    + là cơ sở hình thành và khai thác các hoạt động

    Ngoài ra mạng còn nhằm các khía cạnh phân biệt tổ chức với tổ chức khác, là khuôn khổ đánh giá các hoạt động hiện thời cũng như trong tương lai.

    1. Xây dựng mục tiêu

    Mục tiêu là kết quả kỳ vọng cần phải đạt được các đối tượng tại thời điểm nhất định. Mục tiêu thường mang các đặc điểm sau :

    –  Mục tiêu phải mang tính định lượng

    –  Mục tiêu phải gắn liền với từng đối tượng cụ thể

    – Mục tiêu phải gắn liền với thời gian

    *  Mục tiêu xây dựng có các tiêu chuẩn sau

    Mục tiêu phải mang tính chuyên biệt, gắn liền với đặc điểm hoạt động của từng đối tượng

    –  Tính linh hoạt tạo ra giới hạn của mục tiêu

    – tính định hướng : Mục tiêu phải là những con số có khả năng đo lường được

    –  Mục tiêu phải mang tính khả thi, lhả năng thực hiện được trê thực tế.

    – Mục tiêu phải đảm bảo tính thiíng nhất

    • Mục tiêu phải được con người chấp nhận

    Sơ đồ các áp lực cần xem xét mục tiêu

     
       
     
       

    Bảo vệ quyền lợi

    Độ an                                                 Thói

    toàn                                         quen

    thoả mãn

     
       

    *  Các loại mục tiêu

    –  Căn cứ theo thời gian

    +  Mục tiêu dài hạn : mục tiêu được thực hiện trong khoảng thời gian tương đối dài, thường khoảng 5 năm trở lên

    +  Mục tiêu khác hạn : Gồm những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, thường có thời gian thực hiện 3 năm trở lại.

    • Mục tiêu ngắn hạn : NHững mục tiêu có thời gín thực hiện khoảng một năm. Loại mục tiêu này thường gắn với các quyết định chiến thuật và tác nghiệp.

    –  Căn cứ vào bản chất của mục tiêu

    +  Những mục tiêu kinh tế : Lợi nhuận, doanh thu, thị phần, năng suất,

    Chất lượng sản phẩm, vị thế cạch tranh…

    +  Mục tiêu Xã hội : Giải quyết công ăn việc làm, tham gia vào các họt động Xã hội, các hoạt động từ thiện, vấn đề bảo vệ môi trường, môi sinh, tạo ra hình ảnh doanh nghiệp trước cộng đồng Xã hội.

    +  Những mục tiêu chính trị : Quan hệ tốt với chính quyền địa phương, quan hệ tốt đẹp với cơ quan chính phủ nhằm nắm bắc kịp thời thông tin.

    *  Các yếu tố ảnh hưởng tới mục tiêu:

    –  Yếu tố ảnh hưởng bên trong : Khả năng về nguồn nhân tài và vật lực của doanh nghiệp, quan điểm người đứn đầu doanh nghiệp, hoạt động và thành tích của doanh nghiệp trong quá khứ, các đối tượng hữu quan bên trong bao gồm các chủ sở hữu và tậo thể.

    –  Các yêu tố ảnh hưởng bên ngoài : Những điều kiện môi trường tổng quát. Đặc biệt là môi trừơng kinh tế và môi trường chính trị – pháp luật. Các đối tượng hữu quan bên ngoài gồm : Khách hàng, đối thủ cạnh tranh, Xã hội…

    1. 4. Xây dựng chiến lược.

    Muốn xây dựng được chiến lược nhà quản trị phải thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược trong doanh nghiệp.

    Trước hết, quản trị chiến lược nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức, quản trị chiến lược giúp thấy rõ các mục tiêu của tổ chức. Thông qua đó lôi kéo các nhà quản trị của các cấp vào quá trình quản trị chiến lược của tổ chức, tạo ra sự cộng hưởng của toàn bộ tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu chung của toàn bộ phận tổ chức là các mục tiêu cụ thể của từng bộ phận phòng ban.

    Thứ hai, quản trị chiến lược quan tâm một cách rộng lớn với các nhân vật hữu quan. Các nhân vật hữu quan này có thể là khách hàng, nhà cung ứng, người lao động, cũng như sự thành bại của tổ chức. Vì vậy, quan tâm và giải quyết hài hoà cá nhu cầu và lợi ích của các nhân vật hữu quan là một việc làm có sự quan tâm đặc biệt của các tổ chức hiện nay.

    Thứ ba, quản trị chiến lược gắn với sự phát triển ngắn hạn trong bối cảnh dài hạn. Phát triển bền vững và tư duy chiến lược là những khái niệm được nhắc đến ẻất nhiều hiện nay. nghĩa vụ của các nhà quản trị là phải đảm bảo sự phát triển của tổ chức họ. Muốn vậy, các nhà quản trị cần có quan điểm dài hạn, có tầm nhìn chiến lược cho sự phát triể của tổ chức họ. Những mục tiêu chiến lược là những cơ sở quan trọng cho các kế hoạch, và mục tiêu ngắn hạn. Thông qua đó các mục tiêu và kế hoạch ngắn hạn để đạt tới những mục tiêu chiến lược dài hạn. Trong điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi nhanh, và bất định thì năng lực thích ứng của tổ chức đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển, và tồn tại của nó.

    Thứ tư, quản trị chiến lược quan tâm đến hiệu suất và hiệu quả, quản trị

    nhằm đưa tổ chức đạt tới mục tiêu của nó với hiệu suất cao nhất.

    * Các loại chiến lược phát triển

    –  Chiến lược tăng trưởng tập trung

    Đó là những chiến lược chủ yếu nhằm cải thiện những sản phẩm thông thường trên thị trường không thay đổi những yếu tố nào. Khi theo đuổi chiến lược này, doanh nghiệp chủ yếu phải nổ lực khai thác những cơ hội sẳn có với nững sản phẩm thường sản xuất, hay những thị trường thông dụng bằng cách làm những gì hiẹn có, đang làm và tốt hơn. Một chiến lược tang trưởng tập trung chỉ ra rằng, những nhà chiến lựoc cấp công ty có ý định ở lại trong một ngành kinh doanh cơ bản.

    Trong những hoàn cảnh khác nhau, một chiến lược tăng trưởng tập trung sẽ được thực hiện cấp công ty. Do đó, nó thực hiện cấp đợn vị kinh doanh, nhất là một thủ đắc bên ngoài cần tới gấp. Chiến lược này có ưu điểm và khuyết điêm sau

    • Ưu điểm:
      • Có khả năng tập trung nguồn lực.
      • Hoạt động quản trị không phức tạp lắm.
      • Khai thác được lợi thế kinh nghiệm
      • Khuyết điểm
      • Khó tối đa hoá lợi nhuận.
      • Khả năng khai thác cơ hôi kém.

    Ba chiến lược tập trung chính yếu được nghiên cứu qua sơ đồ sau đây:

    Mạng lưới thay đổi chiến lược:

    Sản phẩm
    Thị trường
    Ngành sản xuất Trình độ

     

    sản xuất

    Quy trình công nghệ
    Hiện tại Hiện tại hay mới Hiện tại hay mới Hiện tại hay mới Hiện tại hay mới
     
    Mạng lưới thay đổi chiến lược
    cho sự tăng trưởng tập trung:
    Sản phẩm
    Thị trường
    Ngành sản xuất Trình độ

     

    sản xuất

    Quy trình công nghệ
    Hiện tại hay mới Hiện tại hay mới Hiện tại Hiện tại Hiện tại

    +  Xâm nhập thị trường

    liên quan tới việc tìm cách tăng trưởng cho sản phẩm hiện tại, bình thường

    bằng việc tiếp thị táo bạo hơn

    Có thông báo của giá trị cao cấp cho các đơn vị chiến lược. Tuy rằng chiến lược về thâm nhập thị trường tập trung về nôị bộ, nhưng cũng có thể chú ý thị trường bên ngoài. Doanh nghiệp có thể tính đến việc tìm cách giữ được quyền kiểm soát lớn hơn của một hay nhiều hãng cạnh tranh. Điều này gọi là “ sát nhập hàng ngan”. Nhưng doanh nghiệp chọn lưa chiến lược này phải cẩn thận không được vi phạm các luật lệ quy định chống độc quyền

    Mạng lưới thay đổi chiến lược

    cho việc thâm nhập thị trường:

    Sản phẩm
    Thị trường
    Ngành sản xuất Trình độ

     

    sản xuất

    Quy trình công nghệ
    Hiện tại Hiện tại Hiện tại Hiện tại Hiện tại

    +  Phát triển thị trường:

    Công ty tìm cách phát triển thị trường mới dựa tên sản phẩm truyề thống của mình. Điều kiện áp dụng :

    • Thị trường hiện tại chưa có dấu hiệu bảo hoà hay xuất hiện rào cản cạnh tranh mới mà doanh nghiệp không vào được.
    • Nếu thị trường mới chưa bảo hoà, áp lực cạnh tranh chưa cao.
    • Nếu chúng ta chuwrn bị được hệ thống phân phối mới đủ độ tin cậy và chi phí chấp nhận được.
    Mạng lưới thay đổi chiến lược
    cho sự phát triển thị trường
    Sản phẩm
    Thị trường
    Ngành sản xuất Trình độ

     

    sản xuất

    Quy trình công nghệ
    Hiện tại mới Hiện tại Hiện tại Hiện tại

    +  phát triển sản phẩm:

    Công ty tìm cách cải tiến hoặc đưa ra sản phẩm mới tại thị trường truyền thống của mình

    Đây là sự tăng trưởng bằng cách phát triển thị trường nhiện tại cho sản phẩm mới. Những sản phẩm mới này có thể đưa tới sự phát triển nội bộ, đạt được nhờ những hợp đồng nhượng quyền hay không qua một sự sát nhập với một doanh nghiệp khác. Điều kiện áp dụng chiến lược này :

    • Khi sản phẩm cũ có dấu hiệu bảo hoà.
    • Khi doanh nghiệp hoạt động trong một thị trường có tốc độ phát triển cao.
    • Khi doanh nghiệp hoạt động trong một ngành có tốc độ phát triển công nghệ rất cao.
    • Khi đối thủ cạnh tranh đưa ra sản phẩm mới.
    • Khi doanh nghiệp có khả năng nghiên cứu và phát triển mạnh.
    Mạng lưới thay đổi chiến lược
    cho sự phát triển sản phẩm
    Sản phẩm
    Thị trường
    Ngành sản xuất Trình độ

     

    sản xuất

    Quy trình công nghệ
    Hiện tại
    Hiện tại Hiện tại Hiện tại Hiện tại

    –  Các chiến lược hội nhập :

              Là loại chiến lược tìm cách phá vỡ sự lệ thuộc đầu vào và đầu ra bằng cách thamm gia vào các hoẹt động phân phối, tiêu thụ hoặc tham gia vào các hoạt động cung ứng nguyên vật liệu

    Những chiến lược này thì thích ứng cho những tổ chức nằm trong ngành sản xuất mà e ngại hoặc không thể khởi phát. Một trong những chiến lược tăng trưởng tập trung, có thể vì những thi trường đã bảo hoà. Một chiến lược tăng trưởng hội nhập thích hợp khi những cơ hội có sẳn phù hợp với những chiến lược dài hạn và những mụ tiêu của hãng tăng cường vị trí của tổ chức trong kinh doanh cơ bản, và cho phép một sự khai thác đầy đủ hơn tài năng kỹ thuật của hãng. Có hai loại chiến lược cấp công ty cho việc tăng trưởng hội nhập :

    +  Hội nhập phía sau :

    tìm sự tăng trưởng bằng cách liên kết, hội nhập với các nhà cung cấp, nhằm giành quyền chủ cung cấp các yếu tố đầu vào.

    +  Hội nhập phía trước :

    Nhằm tìm kiếm sự tăng trưởng bằng cách đạt quyền sở hữu hay gia tăng kiểm soát những chức năng mạnh hay gần gũi hơn các thi trường sau cùng.

              –  Những chiến lược tăng trưởng đa dạng: Là loại chiến lược đầu tư phát triển nhiều lĩnh vực, nhiều sản phẩm và nhiều thi trường khác nhau.

    • Ưu điẻm :
    • Tối đa hoá lợi nhuận.
    • Khả năng khai thác cơ hội nhanh.
    • Tạo ra tốc độ tăng trưởng rất nhanh về qui mô và thị trường.
    • Khuyết điểm:
    • Dễ bị xé lẻ nguồn tài nguyên.
    • Trình độ quản lý rất kém.
    • Dễ dẩn tới mâu thuẩn nội bộ và địa phương cục bộ.
    • Yêu cầu:
    • Phải kiểm soát chặt chẽ qui mô hoạt động.
    • Giữ được những lợi thế cạnh tranh và sức mạnh cạnh tranh trong những mặt hàng truyền thống của mình
    • Phải đảm bảo quản lý được lĩnh vực đa dạng hoá.

    +  Đa dạng hoá đồng tâm : Dựa vào những dãy sản phẩm chủ yếu với một công nghệ nhất định người ta phát triển những dãy sản phẩm hoặc những sản phẩm xoay quanh sản phẩm chính đó. Sự  phát triể sản phẩm này đồng thời với việc mở rộng thị trường khác nhau (thường mang cùng nhãn hiệu ).

    +  Đa dạng hoá két hợp : Là việc đầu tư phát triển vào những lĩnh vực hoàn toàn mới,thẩm chí rất xa lạ với những sản phẩm truyền thống của mình.

    +  Đa dạng hoá hỗn hợp : Là sự kết hợp giữa hai chiến lược đa dạng hoá đồng tâm và đa dạng hoá hàng ngang. Chiến lược này áp dụng cho những doanh nghiệp có qui mô lớn

    –  Các loại chiến lược suy thoái : Là chiến lược nhằm giảm bớt qui mô, giảm củng cố thị trường loại bỏ những sản phẩm không có lợi để củng cố cạnh tranh của thương hiệu. Có 4 hình thức sau :

    +  Sự chỉnh đốn đơn giản : Nhằm chỉnh đốn sắp xếp lại nội bộ doanh nghiệp, thông qua việc cắt giảm, xa thải nhân viên, dứt bỏ saen phẩm bên lề.

    +  Sự rút bớt vốn : Là chiến lược rút vốn dầu tư ở một sản phẩm hay thị trường, thường doanh nghiệp đóng cửa hoặc ngưng hoạt động. Các dơn vị kinh doanh không hiệu quả của mình để dạt được sự thay đổi lâu dài trong khuôn khổ hoạt động hoạt động.

    +  Thu hoạch : Doanh nghiệp tìm mọi cách thu hút tối đa lượng tiềm năng trong thời gian ngắn kể cả hậu quả lâu dài, thường doanh nghiệp có một chiến lược tương lai mờ mịt.

    +  Thanh toán : Đây là loạichiến lược được sử dụng khi doanh nghiệp không tồn tại nữa. Nó được thực hiện theo các thủ tục của các cơ quan thẩm quyền như : Toà án, ngân hàng.

    Bên cạnh những chiến lược trên, ta có thể sử dụng từng chiến lược riêng biệt hoặc sử dụng cùng lúc tất cả bốn loại chiến lược nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả cao nhất.

    Nếu doanh nghiệp áp dụng chiến lược suy giảm cần chủ động những yếu cụ thể sau :

    • Cắt giảm chi phí.
    • Sắp xếp lại sản xuất kinh doanh.
    • Loại bỏ thi trường hoặc sản phẩm
    • Rút lui.
    • Phá sản.
    • Quy trình chọn lựa chiến lược :

    Quy trình chọn lựa chiến lược tổng quát cho doanh nghiệp cần tiến hành những bước sau :

    –  Nhận ra chiến lược hiện nay.

    –  Phân tích doanh mục vốn đầu tư.

    –  Chọn lựa chiến lược cuả doanh nghiệp.

    Trên đây là toàn bộ chương cơ sở lý luận cho việc xây dựng chiến lược trong doanh nghiệp sử dụng trong chuyên đề này. Sang chương tiếp theo, ta áp dụng các lý luận này vào trong thực tiển của công ty ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2, từ phân tích môi trường bên trong đến phân tích môi trường bên ngoài, đến phân tích hoàn cảnh nội bộ của doanh nghiệp, để ta có thể xác định được điểm mạnh, điểm yếu, nhưng cơ hội và đe doạ để ra chiến lược thực tiển cho doanh nghiệp.

    CHƯƠNG II

     

    TÌNH HÌNH KINH DOANH TẠI CƠNG TY

    ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2

    1. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2

    Tên giao dịch quốc tế : Construction Inesmennt Corporation ( C.I.C )

    Địa chỉ : 45A Nguyễn Văn Tiết, thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An,

    Tỉnh Bình Dương.

    Điện thoại  : 0650.754960               Fax: 0650.755605

    Email         : [email protected]

    Xí nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng: QL 1K, ấp Đông An, xã Tân Đông Hiệp, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

    Xưởng cơ khí và Cấu kiện bêtông ly tâm : QL 13, ấp Hoà Lân I, xã Thuận Giao, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

    I.  LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CƠNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2

    Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 ( C.I.C ) là doanh nghiệp làm kinh tế xây dựng ngân sách Đảng trực thuộc văn phòng tỉnh ủy Bình Dương. Tiền thân của Công ty là Công ty Kinh doanh phát triển nhà Sông Bé (SB.P.Corp ) trực thuộc Uy ban Nhân dân tỉnh Sông Bé, được thành lập theo quyết định số 06/QD-UB ngày 08/01/1993 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Sông Bé.

    Ngay từ khi thành lập, công ty đã sớm ổm định bộ máy tổ chức quản lý, tạp trung sức mạnh vào công tác xây dựng cung ứng vật liệu xây dựng, nhằm đáp ứng nhu cầu được giao và nhu cầu phát triển xã hội. Mục tiêu của công ty là tìm kiếm thị trường về xây dựng, nâng cao sản lượng sản xuất vật liệu xây dựng và thực tốt nghĩa vụ nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.

    Năm 1997, để phù hợp với tình hình phân chia tỉnh Sông Bé (cũ) thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước theo tinh thần thực hiện hoạt độngtheo tỉnh mới và để đáp ứng nhu cầu phát triển của đơn vị công ty đã đổi tên thành Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 theo quyết định số54/QĐ-UB ngày 04/03/1997 CỦA Sở Kế hoạch và Đầu tỉnh Bình Dương.

    Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 ( C.I.C ) là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách phấp nhân, có con dấu riêng thao thể chế nhà nước qui định, có taì khoản tại ngân hàng, chịu sự chỉ đạo và quản ký về mọi mặt của TỈnh Uỷ Bình Dương.

    Ra đời trong điều kiện kinh tế thi trường cạnh tranh gay gắt giưa các đơn vị cùng ngành trong và ngoài tỉnh, trong khi công ty chưa có chổ dựa vững chắc về moi mặt, đứng trước một thực trang như thế, tập thể giám đốc, cán bộ và công nhân viên công ty đã không lùi bước, tìm cách khắc phục khó khăn phát huy tiềm năng sẳn có để từng bước phát triển một cách vững chắc.

    Ngày nay, Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 đã trưởng thành và chứng minh năng lực của mình, nắm trong tay năng lực sản xuất kinh doanh lớn.

    II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA CƠNG TY

    1. Chức năng :

    Xây dựng công trình công nghiệp, công trình nhà ở, công trình kỹ thuật (thủy lợi, cấp thoát nước, xử lý nước) và lắp đặt thiết bị cho các công trình xây dựng

    Thi công lưới điện hạ thế từ 20 KVA trở xuống và hệ thống chiếu sáng

    San lắp mặt bằng, thi công cầu đường

    Khai thác và kinh doanh đá xây dựng

    Kinh doanh vật liệu xây dựng (sản phẩm thép), dịch vụ sân bãi, bất động sản

    Gia công sản phẩm cơ khí

    Sản xuất bê tông ly tâm

    Hoạt động xây lắp và kinh doanh đá là hai lĩnh vực kinh doanh chủ lực của doanh nghiệp. Trong năm 2005, kinh doanh khu dân cư, nhà ở sẽ là lĩnh vực kinh doanh đóng góp nhiều vào doanh thu, ngoài ra còn có sản phẩm cơ khí, bêtông ly tâm và kinh doanh sắt, thép.

    1. Nghĩa vụ của công ty

    Nghĩa vụ bảo toàn và phát triển vốn :

    Công ty có nghĩa vụ sử dụng hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, do Nhà Nước giao, nhận và sử dụng hiệu quả tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác do Nhà Nước giao.

    Xây dựng phát triển và sản xuất kinh doanh theo pháp luật :

    Công ty có nghĩa vụ đăng kí kinh doanh và kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng kí, chịu trách nhiệm trước Nhà Nước về kết quả kinh doanh của công ty và chịu trách nhiệm trước khách hàng và pháp luật về sản phẩm, và dịch vụ do công ty thực hiện.

    Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinhdoanh phù hợp với nhiệm vụ được giao và nhu cầu của thị trường.

    Đổi mới hiện đại hoá công nghệ và phương thức quản lý, sử dụng thu nhập từ chuyển nhượng tài sản để tái đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ của công ty.

    Thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động theo luật lao động, bảo đảm cho người lao động tham  gia quản lý công ty.

    Thực hiện chế dộ báo cáo thống kê, báo cáo định kì và trách nhiệm về tính xác thực của báo cáo.

    Tuân thủ các quy định về thanh tra của cơ quan tài chính và của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luât.

    Thực hiện cá quy định Nhà Nước về bảo vệ tài nguyên, môi trường,quốc phòng và an ninh quốc gia.

    Công khai tài chính – nghĩa vụ đối với ngân sách.

    Công ty có nghĩa vụ thực hiện đúng chế độ và các quy định về quản lý vốn, tài sản, các quỹ, về kế toán, hạch toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác do Nhà nước quy định và chịu trách nhiệm tính xác thực và hợp pháp của hoạt động tài chính.

    Công ty phải công khai báo cáo tài chính hằng năm, các thông tin để đánh giá đúng đắn và khách quan về hoạt động của công ty.

    Công ty phải thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế và các khoản nộp ngân sách theo quy định của pháp luật

    1. Quyền của công ty

    –  Công ty được quyền sử dụng vốn, đất đai tài nguyên và các nguồn lực khác do Nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh sản xuất.

    Công ty có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc mình quản lý. Đối với đất đai, tài nguyên thì thực hiện theo quy định của pháp luật.

    –  Tuyển chọn, bố trí, đào tạo lao động và lựa chọn các hình thức trả lương, thưởng theo luật lao động trên cơ sở đơn giá tiền lương và hiệu quả kinh doanh.

    –  Xây dựng, áp dụng các định mức lao động, vật tư, đơn giá tiền lương trong khuôn khổ các định mức đơn giá của nhà nước.

    –  Đổi mới công nghệ, trang thiết bị

    –  Đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại các tỉnh trong nước

    –  Kinh doanh ngành nghề đã đăng ký, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh theo khả năng công ty và nhu cầu thi trường. Trong quá trình kinh doanh sản xuất, công ty có quyền bổ xung ngành nghề phù hợp với mục tiêu và các ngành nghề khác được cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền cho phép.

    –  Tự quyết định giá mua, giá bán sản phẩm ,dịch vụ do mình quản lý

    –  Liên doanh liên kết, góp vốn đầu tư vào công ty cổ phần theo quy định của pháp luật và tổ chức chính trị.

    –  Công tyđược sử dụng vốn và các quỹ của Công tyđể ơphục vụ kiệp thời các nhu cầu trong kinh doanh theo nguên tắc bảo toàn có hoàn trả

    –  Tự huy động vốn kinh doanh nhưng không thay đổi chủ sở hữu, được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất tại các ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật.

    1. Hoạt động kinh doanh của công ty
    • Ngành nghề kinh doanh của công ty là :

    –  Xây dựng kinh doanh nhà.

    –  Xây dựng công trình công nghiệp, lắp đặt thiết bị cho các công trình xây dựng và xây dựng các công trình kỹ thuật ( thuỷ lợi, cấp thoát nước, xử lý nước )

    –  Xây dựng công trình nhà ở.

    –  Thi công lưới điện hạ thế từ 20KVA trở xuống, hệ thống chiếu sáng

    –   Sang lấp mặt bằng, thi công cầu đường.

    –   Kinh doanh vật liệu xây dựng, dịch vụ kho bãi, bất động sản

    –   Khai thác nguyên liệu phi quặng như : cát,đá ,sỏi, đất…

    III.  CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CƠNG TY.

    1. Bộ máy công ty
    • Ban giám đốc.

    +  Giám đốc

    +  phó giám đốc kinh tế – kỹ thuật

    +  Kế toán trưởng

    +  Phó giám đốc nhân sự – hành chính

    • Bộ phận nghiệp vụ :

    +  Phòng kinh tế kĩ thuật.

    +  Phòng tài chính tổng hợp

    +  Phòng nhân sự – hành chánh

    • Bộ phận trực thuộc

    +  Xí nghiệp khai thác & sản xuất vật liệu xây dựng.

    +  Ban quản lý khu dân cư

    1. Quyền và nhiệm vụ các phòng ban
    • Nhiệm vụ và quyền hạn của ban giám đốc

    Quyết định mục tiêu chiến lược, pương hướng, kế hoạch sản xuất kinh doanh và các chủ trương đầu tư phát triển công ty.

    Quyết định hợp tác đầu tư, liên doanh liên kếtcủa Công ty.

    Quyết định các vấn đề tổ chức bộ maý điều hành  để đảm bảo hiệu quả cao.

    Quyết định phân chia lợi nhuận, phân phối lợi nhuận vào các quỹ của Công ty.

    Phê chuẩn quyết toán các đơn vị trực thuộc và duyệt quyết toán Công ty.

    Quyết định về việc mua bán cầm cố cáctài chung của Công ty theo quy định của nhà nước.

    Quyết định về việc thành lập, giải thể , sát nhập các đơn vị trực thuộc Công ty.

    Phê chuẩn quyết toán các đơn vị trực thuộc và duyệt quyết toán công ty.

    Quyết định về việc mua bán, cầm cố các tài sản chung  của công ty theo quy định của Nhà Nước.

    Quyết định về việc thành lập mới, giải thể sáp nhập các đơn vị trực thuộc của công ty.

    Đề cử phó giám đóc, kế toán trưởng của công ty, bổ nhiệm, bãi nhiệm các trưởng, phó phòng công ty và các chức danh lãnh đạo của các đơn vị trực thuộc.

    Quyết định về kế hoạch đào tạo cán bộ, cử cán bộ đi công tác nước ngoài.

    Quyết định các biện pháp bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh.

    Đề ra chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng hàng năm, tổ chức duy trì hệ thống quản lý chất lượng của công ty, bổ nhiệm đai diện lãnh đạo về chất lượng, phê duyệt ban hành các tài liệu của hệ thống quản lý chất lượng, định kỳ xem xét hệ thống quản lý chất lượng để đảm bảo luôn thích hợp, thoả đáng và có hiệu lực.

    SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CÔNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2

    Ø    Nhiệm vụ và quyền hạn của phó giám đốc

    • PGĐ kinh tế kỹ thuật :

    Được giám đốc phân công trách nhiệm phối hợp, điều hoà kế hoạch thi công của phòng kinh tế kỹ thuật, hướng dẩn và kiểm tra các mặt thiết kế, kỹ thuật, quy trình công nghệ của các sản phẩm theo hợp đồng của khách hàng, nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, đề xuất các quy trình công nghệ mới.

    Nghiên cứu thị trường giá cả trong nước để đề ra các chính sách tiếp thị, tổng hợp các báo cáo tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh thường kỳ cho giám đốc.

    Xây dựng kế hoạch công tác hàng năm và dài hạn của phòng kinh tế kỹ thuật trên cơ sở năng lực, thiết bị và nguồn vật tư nguyên liệu.

    Phân công chỉ đạo phòng kinh tế kỹ thuật, rong từng thời kỳ có thể được giám đốc uỷ nhiệm trực tiếp quyết định các vấn đề liên quan đến sản xuất kinh doanh của công ty.

    • PGĐ hành chính nhân sự :

    Được giám đốc phân công chịu trách nhiệm về công tác tổ chức và nhân sự toàn công ty, quản trị cơ sở vật chất của công ty, văn thư hành chính, thực hiện chế độ chính sách, tiền lương và công tác đời sống cho nhân viên, công tác bảo vệ nội bộ và an ninh tại địa phương, công tác bảo vệ các công trường thi công nơi công ty đóng trụ sở. Tổng hợp báo cáo tình hình tổ chức bộ máy và nhân sự, quản trị hành chính, đời sống an ninh nội bộ thường kỳ cho giám đốc

    PGĐ hành chính – nhân sự được phân công chỉ đạo cho phòng nhân sự của công ty.

    • Nhiệm vụ và quyền hạn của kế toán trưởng :

    Theo điều lệ kế toán trưởng xí nghiệp auốc doanh được ban hành kem theo Nghị định 26-HĐBT ngày 18/03/1989

    • Nhiêm vụ và quyền của phòng kinh tế – kỹ thuật :

    –  Tham mưu cho giám đốc về các mạt quản lý kế hoạch – kỹ thuật, công tác an toàn lao động và thực hiện công tác thiết kế – kỹ thuật.

    –   Nắm vững  các chế độ, chính sách hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng và các văn bản pháp quy của công trình

    –   Cập nhật các thông tin trong lĩnh vực xây dựng trên thị trường và toàn cầu

    –   Thực hiện tính toán khối lượng dự toán, lập các hồ sơ dự thầu

    –   Nghiên cứu hồ sơ trúng thầu, tiến hành lên kế hoạch thi công

    –  Lập nhật ký các biên bản nghiệm thu kỹ thuật,

    –  khối lượng thanh toán vốn cho công trình

    –  Lập kế hoạch cung ứng vật tư cho từng công trình theo tiến độ thi công.

    –  Lập hồ sơ hoàn công theo quy định vàghi chép đầy đủ vào sổ về tình hình đề xuất, thực nhận vật tư, tình hình xuất nhập dụng cụ thi công

    –  Xác định  va tính toán khối lượng  phát sinh của công trình, giám sát quá trình thi công và chất lượng vật tư được cung ứng đến công trình.

    –  Kiểm tra tình hình sử dụng công cụ, dụng cụ, máy móc thiết bị và vật tư tại công trường, theo dỏi tình hình sử dụng nhiên liệu, phụ tùng thay thế, tình hình sữa chữa, tham gia các công tác thí nghiệm khi có nhu cầu.

    – Thông báo cho phòng nhân sự hành chính khi lập hợp đồng khoán việc với các đội để cùng phối hợp ký hợp đồng lao động cho tất cả cônh nhân tham gia tại công trình.

    • Nhiệm vụ và quyền hạn của phòng tài chính – tổng hợp  :

    Tham mưu cho ban giám đốc về các mặt quản lý tài chinh của công ty, giúp giám đốc chỉ đạo thực hiện thống nhất kế toán của công ty luôn đạt hiệu quả đúng pháp luật.

    Làm rõ các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt đôngh kinh doanh của công ty. Xây dựng chiến lược, phát triển sản xuất kinh doanh và kế hoạch hàng năm trước tài chính.

    –  Hoàn vốn để đảm bảo sản xuất kinh doanh :

    +  Thanh toán nhu cầu vốn, tổ chức huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.

    Phân phối thu nhập bằng tiền : kiểm tra băng đồng tiền, hiện vật đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, theo dỏi thường xuyên tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tiêu thụ sản phẩm, theo dỏi thị trường để sản xuất và cung cấp kiệp thời cho thị trường.

    +  Cung cấp tài liệu làm cơ sở hoạch định chương trình hành động cho từnh giai đoạn, từng thời kỳ, báo cáo theo qui định của nhà nước.

    Cung cấp số liệu, báo cáp theo qui định nhà nước để giải quyết sự tranh tụng, khiếu tố.

    –   Phân tích tình hình tài chính , quản trị giúp cho giám đốc hạ được giá thành sản phẩm và quản lý doanh nghiệp được kiẹp thời, ra quyết định phù hợp.

    –   Xây dựng định mức tiêu hao vật tư, thiết bị phụ tùng thay thế, định mức lao động tiền công.

    • Công tác kế hoạch:

    –  Kế hoạch định mức tiêu hao vật tư, thiết bị.

    –  Kế hoạch cung ứng vật tư, thiết bị.

    –  Lập kế hoạch sản xuất – kinh doanh hàng năm của công ty.

    –  Kế hoạch giá thành sản phẩm đá, sản phẩm xây dựng.

    –  Kế hoạch đơn giá tiền lương và hồ sơ xếp hạn doanh nghiệp.

    –  Kế hoạch tín dụng và phương án vay vốn ngắn hạn và dài hạn

    –  Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản

    –  Kế hoạch công tác và tổng hợp số liệu giao ban hàng tháng của phòng tài chính

    –Kế hoạch thi đua của phòng tài chính.

    • Công tác tổng hợp:

    –  Lập báo cáo phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh.

    –  Lập báo cáo kế toán – tài chính, báo cáo quản trị theo đúng thời gian quy định.

    –  Lập báo cáo phân tích tình hình tài chính của công ty định kỳ quý, năm.

    –  Phân tích tình hình tài chính quý, năm giúp cho người quản lý hạ giá thành sản phẩm và quản lý doanh nghiệp kịp thời, ra quyết định phù hợp.

    –  Lập báo cáo tổng kết hàng năm cho đại hội công nhân viên chức.

    –  Lập các báo cáo nhanh về tài chính khác theo yêu cầu lãnh đạo, ngành tổng hợp.

    • Công tác nghiệp vụ:

    –  Quản lý doanh thu, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

    –  Quản lý tài sản cố định, công cụ lao động và đầu tư xây dựng cơ bản.

    –  Xây dựng định mức tiêu hao vật tư.

    –  Quản lý vật tư, tiền mặt, tiền lương, các khoản vay ngân hàng và con nợ.

    –  Dự thảo các quy định về quản lý tài chinhs và hoạch toán kế toán.

    –  Tham mưu cho lãnh đạo trong việc xây dựng giá bán các loại sản phẩm.

    –  Tham gia xây dựng hợp đồng kinh tế.

    –  Xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê, ghi chép và tổng hợp số liệu thống kê luỹ kế hàng năm.

    –  Lập các báo cáo thuế, báo cáo thống kê cho cơ quan chủ quản, các ngành tổng hợp.

    –  Phổ biến các chính sách chế độ về kế toán và tài chính.

    –  Lưu trữ, bảo quản hồ sơ tài liệu và quản lý tập trung thống nhất số liệu kế toán thống kê, cung cấp số liệu kịp thời cho các ban ngành và trong nội bộ công ty.

    • Công tác kiểm tra, thanh tra.

    –  Kiểm tra việc ghi chép sổ sách kế toán tại phòng tài vụ và xí nghiệp đá định kỳ hàng tháng, quý hoặc theo yêu cầu của lãnh đạo.

    –  Kiểm tra chứng từ thanh toán theo yêu cầu của lãnh đạo.

    –  Công tác thanh tra, kiểm tra theo yêu cầu của lãnh đạo.

    Phòng tài chính – tổng hợp được phân ra các tổ nhiệm vụ: Tổ một đi chuyên về nhiệm vụ kế toán, hai tổ còn lại thì quản lý chuyên sâu.

    • Tổ kế toán tài chính – kiểm tra – báo cáo thống kê gồm : Một kế toán tổng hợp, công nợ và thống kê; một kế toán thanh toán, một kế toán doanh thu và thuế; một thủ quỹ, một thủ kho.
    • Tổ Dự án tài sản cố định – quản lý chi phí, giá thành – kế hoạch, kế toán quản trị và phân tích hoạt động kinh doanh gồm : một quản lý dự án, tài sản cố định, tài sản lưu động; một quản lý chí phí, giá thành; một kế hoạch, kế toán quản trị và phân tích hoạt động kinh doanh.
    • Tổ Quản lý công nợ – vật tư – công trường gồm : một quản lý kinh doanh, công nợ bán hàng; một cung ứng vật tư; một quản lý vật tư; một quản lý khối lượng, quyết toán công trình

    SƠ ĐỒ TỔ CHỨC PHÒNG TÀI CHÍNH TỔNG HỢP

               
               
     
    • Trưởng ban quản lý khu dân cư:
    • Nhiệm vụ của Ban quản lý

    Xây dựng và tổ chức thực hiện đầu tư.

    Thực hiện báo cáo thường xuyên và đầy đủ với chủ đầu tư. Chủ đầu tư phải chỉ đạo, kiểm tra sự hoạt động của Ban quản lý.

    Tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh môi trường và an toàn lao động tại khu dân cư.

    Giám sát thi công xây dựng trong và ngoài khu dân cư.

    Bảo toàn, khai thác và phát triển có hiệu quả tài sản  do chủ đầu tư giao.

    Thực hiện tốt các chế độ quản lý tài sản, tài chính, lao động, tiền lương theo chế độ của Nhà nước.

    Quản lý các dịch vụ về điện, nước, bưu điện, nhập hộ khẩu và các giấy tờ khác có liên quan.

    Cắm mốc ranh, phân lô trên mặt bằng thiết kế.

    Chịu trách nhiệm về chất lượng về công trình do mình quản lý.

    Mua bán bất động sản rong khu vực Khu dân cư theo giấy phép hoạt động của công ty.

    Điều hành khu dân cư, bảo đảm thuận tiện cho đời sống sinh hoạt và quản lý xã hội.

    Quản lý quy hoạhc không gian bảo đảm đúng thiết kế được duyệt.

    Một số nhiệm vụ khác do Giám đốc Công ty phân công.

    • Quyền hạn :

    Ban quản lý được chủ đông ttổ chức thực hiện các dự án đã được phê duyệt.

    Thay mặt chủ  đầu tư chi trả các chi phí  có liên quan đến quá trình điều hành quản ký của Ban.

    Xây dựng, áp dụng các định mức lao động, vật tư, đơn giá tiền lương trong khuôn khổ các định mức, đơn giá của Nhà nước.

    Ban quản lý chịu trách nhiệm tổ chức phòng cháy, chữa cháy, an ninh trật tự công cộng, vệ sinh môi trường trên địa bàn mình quản lý.

    Tổ chức bán sản phẩm và dịch vụ do mình quản lý.

    Đề xuất với công ty về việc kí kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng cung ứng vật tư và cá hợp đồng lao động.

    • Giám đốc xí nghiệp trực thuộc:

    Quyết định các phương án, kế hoạch, dự án sản xuất kinh doanh của đơn vị theo phương hướng kế hoạch của công ty.

    Đàm phán, kí tắt các văn bản thoả thuận với khách hàng trong giao dịch kinh doanh. Kí hợp đồng kinh tế với khách hàng nếu được Giám đốc Công ty uỷ quyền.

    Điều động các loại tài sản, phương tiện vận tải, vật tư, nguyên liệu cho hoạt động SXKD của đơn vị theo sự phân cấp của Công ty.

    Tổ chức sắp xếp bộ máy làm việc theo yêu cầu phát triển hoặc thu hẹp quy mô của đơn vị sau khi đã được Giám đốc phê duyệt.

    Tổng hợp báo cáo tình hình SXKD của xí nghiệp hàng tháng, quý, năm theo quy định chung của Nhà nước.

    Quyết định các biện pháp an toàn lao động, bảo vệ an ninh, môi trường và an ninh trật tự của đơn vị. Tham gia cùng chính quyền địa phương trong công tác phòng cháy chữa cháy và an ninh quốc phòng.

    v Nhiệm vụ và quyền hạn của xí nghiệp :

    Xây dựng tổ chức thực hiện các kế hoạch liên quan đến hoạt động cuả xí nghiệp được lập từ dầu mổi năm như :

    • Kế hoạc sản xuất, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm.
    • Kế hoạch đào tạo, tuyểnn dụng lao động tại xí nghiệp
    • Kế hoạch sữa chữa thay thế phụ tùng
    • Kế hoạch thi đua khen thưởng
    • Xây dựng các định mức tiêu hao cho các phương tiện vận chuyển, sản xuất tại xí nghiệp và đề xuất lên công ty
    • Tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường và an ninh trật tự tại xí nghiệp

    –       Bảo toàn, khai thác, sử dụng và ohát triển có hiệu quả tài sản do công ty giao.

    Chịu trách nhiệm về chất lượng sảnphẩm của xí nghiệp, cung cách bán hàng theo ophương châm tôn trọng khách hàng.

    Thực hiện tốt các chế độ quản lý tài sản, tài chính, lao động, tuiền lương theo chế độ Nhà Nước.

    Định kỳ tuần, tháng, quý, năm… báo cáo về công ty, tình hình thực hiện các kế hoạch đã lên từ đầu năm.

    Tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên xí nghiệp hoạt động đoàn thể phong trào.

    Sơ đồ tổ chức : xí nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng

                   
         
     
         
     
         
       
     

     

    1. Những thành quả mà Công ty đạt được trong thời gian qua.
    2. Về công tác tổ chức quản lý

    Thực hiện đổi mới quản lý và điều hành theo mục tiêu đã xác định. Đây là công việc khó khăn, ảnh hưởng đến tư tưởng tình cảm của nhiều người và sự đoàn kết trong nội bộ Công ty.Nhưng với tin thần quyết tâm cao trong đổi mới quản lý điều hành, lãnh đạo Công ty đã đã đi vào nề nếp tổ chức ổn định.          Ban giám đốc trực tiếp điều hành chỉ đạo công tác quản lý khối văn phòng, công tác đối ngoại với chính quyền các cấp.

    Mọi hoạt động  của xí nghiệp, và ban quản ly Khu dân cư đều thông qua ban giám đốc. Đây là mô hình mà quản lý Công ty đã áp dụng một cách triệt để, khối văn phòng kết hợp với ban giám đốc, xi nghiệp, KDC và các phòng ban điều khiển hoạtđông sản xuất kinh doanh của Công ty nhằm hoàn thành nhiệm vụ của BGĐ đề ra.

    Nhờ mô hình quản lý này đã phát huy được tính năng động của các thành viên thuôc Công ty, đươc đề xuất ý kiến đưa ra những phương án sản xuất, khai thác đá, thi công các công trình xây dựng cho BGĐ phê duyệt. Các phòng chức năng thuộc khối văn phòng không được ra lệnh trực tiếp mà chỉ đóng góp ý kiến cho BGĐ. Điều này giảm thiểu những thiếu sót trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh được những quyết định chồng chéo giữa các cấp và gây khó khăn cho người điều hành. Đây là mô hình ma trận mà Công ty áp dụng một cách có hiệu quả và là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả trong kinh doanh.

    Tình hình nhân sự của Công ty trong một số năm gần đây.

    Năm 2000, lao động chính thức của công ty đạt 59 lao động thì đến năm 2003 tăng lên 134 lao động, đạt mức 208 vào tháng 9 năm 2004. Tốc độ tăng nhân lực cho thấy hướng mở rộng, phát triển mới của Công ty.

    Trình độ nguồn nhân lực đầy tiềm năng. Lao động có trình độ Đại học chiếm khoảng ¼ tổng lao động, lao động có tay nghề: Công nhân, Trung cấp đạt 45,67% / tổng số lao động, lao động phổ thông chỉ chiếm khoảng 15%. Với trình độ lao động thuộc hàng khá, sự phát triển đi lên của công ty sẽ được tác động bởi yếu tố này.

    Cơ cấu lao động được xác định là lao động trẻ. Lao động ở độ tuổi 18 – 25 chiếm 37,98% tổng số lao động. Lao động vừa có kinh nghiệm, vừa năng động (tuổi từ 26-35) đạt 35,20%. Lao động có nhiều kinh nghiệm (tuổi từ 36-45) đạt mức 20,67%. Lao động trên 45 tuổi chỉ đạt 6,25%. Với cơ cấu độ tuổi lao động như trên, cơ cấu nhân lực của công ty vừa đảm bảo sự kết hợp của sức trẻ và kinh nghiệm. Đặc biệt trong năm 2004, năm chuyển hướng mạnh cho sự đổi mới về nhân sự. Lao động bổ sung, thực tập viên có trình độ cao chiếm tỉ lệ áp đảo, họ đang tràn đầy nhiệt huyết, năng động của sức trẻ, với hy vọng được thử thách và cống hiến nhiều hơn cho công ty.

    1. b) Về công tác quản lý kinh doanh
    • Đầu tư kinh doanh bất động sản, khu dân cư, phát triển nhà.

    Ngành kinh doanh vừa được bổ sung vào hồ sơ kinh doanh, được xác định là ngành kinh doanh của tầm nhìn xa trong tương lai. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản, khu dân cư, nhà ở sẽ dần đóng góp nhiều hơn vào tổng doanh thu và tốc độ tăng doanh thu sẽ phụ thuộc nhiều vào hoạt động kinh doanh này.

    Thị trường hướng đến bao gồm:

    Trung tâm của các Huyện, Thị trong địa bàn Tỉnh, các tỉnh lân cận.

    Khu vực tập trung các khu công nghiệp, khu dân cư.

    Khu vực được quy hoạch thành các đô thị trong tương lai.

    • Kinh doanh vật liệu xây dựng các mặt hàng chủ lực.

    Hoạt động mới được đưa vào kinh doanh năm 2004. Giai đoạn 2006 – 2010 xác định những mặt hàng chủ lực liên kết kinh doanh bao gồm: Sắt, thép, xi măng…Những mặt hàng vật liệu xây dựng khác sẽ được đưa vào nếu nghiên cứu thấy nhu cầu thị trường lớn và công ty có khả năng cung cấp. Mục tiêu hướng đến:

    Cung cấp thêm chủng loại vật liệu xây dựng cho các công trình của công ty.

    Giảm được chi phí nhờ mua với giá sỉ.

    Tạo ra doanh thu từ bán hàng.

    Ít lệ thuộc vào việc cung ứng của thị trường.

    1. c) Về Công tác bảo vệ sở hữu Nhà Nước.

    Tài sản hợc vốn trong sản xuất kinh doanh được quản lý chặt chẽ, chế độ trực, gác được phân công rõ trách nhiệm và bàn giao nghiêm túc.

    Công ty tác phòng chống chửa chay dược tập huấn và kiểm tra thường xuyên, nhất là là xí nghiệp chế biến, phát huy quyền làm chủ tập thể tróngản xuất kinh doanh, kiên quyết chống lại hiện tượng tiêu cực xâm phạm tài sản Xã hội Chủ nghĩa.

    Tóm lại  :  Kết quả sản xuất kinh doanh trong những năm qua đã có những dấu hiệu tốt đẹp. Tuy chưa đúng tầm với một Công ty lớn trong ngành xây dựng nhưng đã nói lên quyết tâm của ban lãnh đạo và sự cố gắng to lớn của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty. Nó khẳng định tồn tại và trụ vưng trong một bối cảnh khó khăn về tài chính, xây dựng lòng tin với với các ngành, các cấp và khách hàng.

    CHƯƠNG III

     

    CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TẠI CƠNG TY

    ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2

    GIAI ĐOẠN 1005 – 1010

    PHÂN TÍCH MƠI TRƯỜNG KING DOANH CỦA CƠNG TY

    1. Môi trường vĩ mô

    1.1. Môi trường kinh tế

    Cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực và sự kiện 11/9 tại Mỹ đã ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển nền kinh tế thế giới nói chung và khu vực nói riêng. Trong đó có cả những nước công nghiệp mới (NIC ) ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do phụ thuộc nhiều vào mậu dịch của Mỹ. Xuất khẩu Việt Nam cũng chịu chung số phận. Một loạt mặt hàng xuất khẩu then chốt bị giảm giá mạnh, keo theo những vấn đề nang giải : Thất nghiệp, lạm phát..

    Đến năm 2004 Việt Nam cơ bản đã khắc phục được hậu quả trên và đạt được nững thành tựu kinh tế rực rỡ với tốc độ phát triển đứng thứ tư trên thế giới sau Trung Quốc, Singgapore và Hongkong. Việt Nam đang trong thời kỳ mở cửa và hội nhập nền kinh tế thế giới tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế. Hiệp định thương mại có hiệu lực trong thực tế, trong tương lai gần Việt Nam gia nhập WTO và AFFTA sẽ thu hút được đầu tư nước ngoài vào thị trường nội địa. Đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong nước nói chung và Công ty Đầu tư xây dựng Bình Dương nói riêng.

     

    Tốc độ tăng trưởng của GDP Việt Nam những năm gần đây

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
    GDP 8.85% 5.85 4.8% 6.77 6.84% 7.5% 7.85% 8.0%

    Từ năm 1999 đến nay tốc độ tăng GDP có xu hướng tăng dần đều, do đó chúng ta có thể kỳ vọng một xức tiêu dùng lớn với chất lượmg cao trong tương lai

    • Tỷ lệ lạm phát :

    Tỷ lệ phạm phát của nước ta trong 10 năm gần đây có xu hướng giảm xuống nhanh chóng chỉ còn một con số. Điều này sẽ làm cho giá cả hàng hoá

    được ổn định. Tuy nhiên tỷ lệ lạm phát xuống quá thấp, có lúc bị giảm phát làm cho môi trường kinh doanh có lúc bị ngưng lại, gây khó khăn cho việc đầu tư đổi mới công nghệ.

    Tỷ lệ lạm phát ở nước ta trong những năm gần đây

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
    Tỷ lệ   lạm  phát 4.5% 3.6% 9.2% 0.1% 3.5% 3.6% 6.5% 5.6%
    • GDP đầu người :

    Qua số liệu thống kê cho thấy GDP đầu người tăng dần trong các năm gần đây và có xu hướng tăng trong các năm sau, qua đó mức chi tiêu cho nhu cầu tiêu dùng cũng tăng lên. Đây là cơ hội cho Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 phát triển sản xuất kinh doanh.

    GDP đầu người một số năm gần đây

    Đơn vị tính USD/người

    năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
    GDP 210 290 376 403 415.5 440.1 483.1 504.3
    • Tỷ giá hối đoái :

    năm

    1997

    1998

    1999

    2000

    2001

    2002

    2003

    2004

    Tỷ giá hối đoái bình quân

    11.689

    13.613

    13.932

    14000

    15425

    15412

    15532

    15621

     

    Từ năm 1997 tỷ giá hối đoái của Việt Nam nhích nhẹ và tương đối ổn định. Đến năm 2003 đồng USDbij mất giá mạnh, nhưng đến năm 2004 đột ngột tăng giá trở lại so với EURO và đồng YÊN Nhật tạo nên tình hình biến động mạnh. Nhưng ngân hàng Nhà Nước đã ra sức can thiệp nên tỷ giá chỉ và hiện nay đang ở mức 15621VND/USD.

    Tỷ lệ mất giá của VND so với USD

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
    Tỷ lệ mất giá của VND so với USD(%) 14,2 9,6 1,1 3,4 3,8 2,1 1,8

    (nguồn: tạp chí tài chính – 02/2004)

    • Lãi suất :

    Từ năm 2001 đến nay ngân hàng Nhà Nước đã cắt giảm lãi suất đói với VND với 4 lần từ mức 0,7%/tháng xuống còn 0,725%/tháng, rồi 0,65%/tháng cuối cùng la 0,625%/tháng. Như vậy xu hướng giảm của lãi suất lại là cơ hội cho công ty vì lãi suất lãi vay thấp. Bên cạnh đó, lãi suất giảm thì xu hướng tiêu dùng sẽ tăng. Đối với Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 là cơ hội đầu tư vốn để sản xuất kinh doanh.

    • Cán cân thương mại

    Trong những năm qua, cán cân thương mại của Việt Nam thâm hụt khá lớn, tính đến cuối tháng 4/2003 cán cân thương mại thâm hụt đến 1023tỷ USD bằng 16,4% kim ngạch xuất khẩu. Nguyên nhân chủ yếu là do nhập siêu

    Tình hình xuát nhập khẩu của Việt Nam

    năm Xuất khẩu

     

    (tr USD)

    Tốc độ tăng (%) Nhập khẩu

     

    (tr USD)

    Tốc độ tăng (tr USD) Nhập siêu (tr USD) Tốc độ nhập siêu (%)
    1999 11.541,4 23,3 11742,1 2,1 -200,7 -1,7
    2000 14.482,7 25,5 15636,5 33,2 -1153,8 -8,0
    2001 15.027,0 3,8 16162,0 3,4 -1.135,0 -7,66
    2002 16.530 10,0 19300,0 19,4 -2.770,0 -16,8
    01/2003 1.480,0 31,0 1770,0 36,2 -290,0 -19,6
    02/2003 2865,0 44,2 3023,0 25,9 -158,0 -5,5
    03/2003 4.665,0 43,4 4863,0 26,3 -198,0 -4,2
    04/2003 6.223,0 36,1 7264,0 34,7 -1.041,0 -16,4

    (Nguồn: Dương Ngọc thời báo kinh tế)

    Nhưng nhập siêu chủ yếu là máy móc thiết bị phục vụ cho đầu tư, bên cạnh đó tỷ lệ xuất khẩu vẩn tảng đều qua các năm nê không đáng lo ngại cho tình hình cán cân thương mại. Chính điều này thể hiện mối quan tâm đầu tư vào thiết bị công nghệ của Nhà Nước, đồng thời tạo ra môi trường khả quan cho các hoạt động xuất khẩu của cá doanh nghiệp. Bên cạnh đó nhập siêu cũng làm giảm nội tệ do cầu ngoại tệ tăng cũng tạo điều kiện cho xuất khẩu.

    1.2. Chính trị – pháp luật

    Chính phủ cũng như Bộ Thương Mại sử dụng các quỹ xúc tiến thương mại giúp đỡ doanh nghiệp trong việ tiếp thị, mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu.

    Đại hội Đảng lần IX đẫ quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế Xã hội đất nước giai đoạn 2001 – 2010 là đẩy nhanh công nghiệp

    hóa – hiện đậi hóa (CNH – HĐH), đậc biệt là CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triên toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp, chuyển dịch cơ câu kinh tế nông thôn.

    Thủ tục Hải quan được cải tiến, bỏ bớt các giai đoạn rườm rà, tạo điều kiện cho xuất khẩu được tiến hành nhanh chóng.

    • Định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh BÌnh Dương đến năm  2010
    • Huớng chiến luợc phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010 của tỉnh là: tập trung khai thác các lợi thế về vị trí địa lý, về cơ sở hạ tầng công nghiệp… và khai thác các nguồn lực đầu tư bên ngoài để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh, phấn đấu để phát triển kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững, thực sự trở thành một địa bàn động lực kinh tế và phát triển năng động gắn kết với các địa phương trong vùng trọng điểm kinh tế Nam Bộ. Xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp. Gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, quốc phòng an ninh vững chắc.
    • Công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chủ yếu để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trước hết là phát triển các khu công nghiệp tập trung (có 13 khu công nghiệp). Các khu công nghiệp này đều nằm trên hành lang công nghiệp của tỉnh (xuất phát từ ga Sóng Thần – tỉnh lộ 743 – An Phú – vành đai ngoài thị xã Thủ Dầu Một). Hành lang này nằm trên vùng đất đồi cao (trên 20m so với mực nước biển) là vùng đất ít thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng lại rất thuận lợi cho xây dựng, dễ giải tỏa, đền bù thấp.

    Bình Dương có nhiều ưu thế:

    • Có quốc lộ 13, tỉnh lộ 741, 742, 743…
    • Có ga đường sắt Sóng Thần.
    • Gần sân bay, bến cảng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam…
    • Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 40 km.
    • Gần các nguồn cấp điện, cấp nước, các trung tâm đô thị và khu dân cư
    • Lao động trẻ, có trình độ văn hóa, tay nghề khá.
    • Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, mở rộng và phát triển các đô thị. Thị xã Thủ Dầu Một giữ vai trò trung tâm, tập trung các cơ sở kinh tế – kỹ thuật chủ yếu tạo ra động lực phát triển của toàn tỉnh. Phát triển các đô thị độc lập hoặc vệ tinh lân cận là các thị trấn công nghiệp, hình thành chùm đô thị Nam Bình Dương.
    • Định hướng đầu tư và các lĩnh vực ưu tiên
    1. Định huớng đầu tư:

    Từ nay đến 2010, tỉnh Bình Dương mời gọi sự hợp tác của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để phát triển kinh tế trên các phương diện sau:

    • Đầu tư cơ sở hạ tầng như xây dựng hệ thống giao thông, điện nước, thông tin liên lạc giáo dục, y tế,… Tỉnh Bình Dương sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, trong đó đặc biệt khuyến khích các dự án theo phương thức BOT, liên doanh.
    • Với nguồn nguyên liệu sẵn có, phong phú và nguồn lao động dồi dào của địa phương. Tỉnh Bình Dương chú trọng hợp tác liên doanh trong các lĩnh vực hàng xuất khẩu, chế biến nông sản, hàng tiêu dùng chất lượng cao thay thế nhập khẩu.
    • Các dự án về công nghiệp cơ khí, điện, điện tử, hóa chất cơ bản, cao su và ngành công nghiệp hỗ trợ… sẽ được quan tâm, đặc biệt là các dự án chuyển giao công nghệ. Đẩy nhanh quá trình hình thành và xây dựng các khu công nghiệp tập trung với công nghệ kỹ thuật cao.
    • Trên cơ sở quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đến 2010, tỉnh Bình Dương cần vốn đầu tư rất lớn vào cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp, xử lý ô nhiễm môi trường và các công trình phúc lợi xã hội khác. Do vậy, ngoài chính sách chung của Chính phủ, tỉnh sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công nghệ cao, các công trình phúc lợi xã hội. Với mong muốn các nhà đầu tư có thể tìm thấy không những cơ hội đầu tư mà còn cả thiện chí trên cơ sở hợp tác đôi bên cùng có lợi, tỉnh Bình Dương đang triển khai cải tiến và từng bước hoàn thiện các thủ tục có liên quan đến các hồ sơ đầu tư trên cơ sở pháp luật để các dự án sớm được tiến hành và đi vào hoạt động.
    1. Các giải pháp chủ yếu được thực hiện:

    Thủ tục một cửa :

    Tất cả các dự án khi đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Dương đều thực hiện theo thủ tục một cửa một cách nhanh chóng, thuận lợi; UBND tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phân cấp xét cấp phép các dự án đầu tư; Hiện tỉnh có 2 ban quản lý các khu công nghiệp là BQL các khu công nghiệp Bình Dương và BQL khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (VSIP) được Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ủy quyền xét cấp phép các dự án đầu tư (từ 40 triệu USD trở xuống).

    Với cơ chế thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xét, cấp phép đầu tư được nhanh chóng, đúng luật; các nhà đầu tư khi có nhu cầu đầu tư tại tỉnh Bình Dương chỉ cần đến liên hệ tại một cơ quan đầu mối để được hướng dẫn và giải quyết các thủ tục đầu tư

    • Giá cho thuê đất với cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong các khu công nghiệp và ngoài khu công nghiệp hợp lý. Bình Dương là tỉnh gần thành phố Hồ Chí Minh với giá cho thuê đất thấp hơn các khu vực phụ cận là yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư được lựa chọn đầu tư.
    • Các cơ quan quản lý Nhà nước của tỉnh hỗ trợ và phục vụ thiết thực cho các nhà đầu tư triển khai dự án sau khi được cấp giấy phép đầu tư.
    • Lập quy hoạch tổng thể và định hướng nhu cầu đầu tư cho các ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh (đang trình chờ Quyết định của Chính phủ).
    • Cải tiến thủ tục đầu tư đối với dự án trong và nước ngoài, sắp xếp các đầu mối tiếp nhận và xử lý hồ sơ nhằm thẩm định, cấp phép nhanh, gọn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Dương là thường trực hội đồng đầu tư của tỉnh, có trách nhiệm nhận và tham mưu cho UBND tỉnh Bình Dương quyất định tất cả các dự án đầu tư; từ việc cung cấp thông tin cần thiết ban đầu, danh mục các dự án gọi vốn đầu tư nước ngoài để trả lời các câu hỏi liên quan đến các thủ tục của dự án trước và sau khi cấp giấy phép.
    • Đầu tư xây dựng hoàn thiện hệ thống trường dạy nghề để đào tạo và cung ứng lao động cho các đơn vị và đặc biệt là các khu công nghiệp, đảm bảo cả về số lượng và chất lượng lao động. Hình thành và phát triển các khu dân cư đô thị gắn liền với các khu công nghiệp tập trung, hình thành mạng lưới dịch vụ phục vụ cho quá trình xây dựng và hoạt động của các khu công nghiệp tập trung.
    1. Chính sách ưu đãi:
    • Tỉnh Bình Dương ngoài việc thực hiện các chính sách chung của Chính phủ về thu hút, gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước; tỉnh sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tìm hiểu, khảo sát thị trường, tìm cơ hội đầu tư và xúc tiến đầu tư trên địa bàn tỉnh.
    • Với vị trí tiếp giáp với Tp.Hồ Chí Minh, do đó giá cho thuê đất là một lợi thế so sánh của tỉnh đối với các vùng lân cận; các dịch vụ cung ứng cho các khu công nghiệp và các dự án đầu tư như: điện, nước, lao động, thông tin… tỉnh Bình Dương đã đầu tư bảo đảm nguồn để cung cấp cho các nhà đầu tư. Đây là yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư trong và ngoài nứơc so sánh lựa chọn. Đầu tư trên địa bàn tỉnh, các nhà đầu tư sẽ được hưởng giá cho thuê đất ưu đãi nầy.
    • Đối với các dự án đầu tư trong các khu công nghiệp tập trung, các nhà đầu tư nhất là trên các lĩnh vực điện tử, chế biến nông sản phẩm xuất khẩu với công nghệ kỹ thuật tiên tiến sẽ được khuyến khích với giá cho thuê đất giảm

    hơn khung giá bình quân.

    • Đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực giao thông, quy hoạch phát triển vùng rau xanh sạch để cung cấp cho các khu đô thị, chế biến nông sản, chăn nuôi; đầu tư phát triển cây công nghiệp dài ngày như cao su… ở phía Bắc của tỉnh sẽ được đặc biệt khuyến khích như: giá thuê đất giảm, nhà nước đầu tư hỗ trợ hệ thống kỹ thuật hạ tầng…
    • 3. Thông tin liên lạc

    100% cơ sở thông tin với kỹ thuật số hóa và tổng đài kỹ thuật số; các dịch vụ điện thoại, fax, telex, gentex, truyền dẫn số liệu tự động hóa hai chiều đạt tiêu chuẩn quốc tế; hệ thống cáp quang đã được xây dựng ở thị xã Thủ Dầu Một, huyện Thuận An và các khu công nghiệp; năm 2002 đạt 13,8 máy điện thoại/100 dân và năm 2010 đạt 20 máy/100 dân.

    1.4.         Dân số
    • Theo kết quả tổng điều tra dân số 2001 dân số tỉnh Bình Dương 769.946 người, trong đó nam có 372.350 người, nữ có 397.596 người; số dân thành thị có 229.766 người, chiếm 29,84% tổng số dân; nông thôn có 540.180, chiếm 70,16%. Mật độ dân số 286 người/km2. Số người trong độ tuổi lao động chiếm 59,9% dân số. Lao động trẻ, có trình độ, lao động truyền thống có tay nghề chiếm tỷ lệ cao: Số lao động có trình độ đại học và trên đại học có 6.272 người, chiếrn 4,74% tổng số lao động; trình độ trung cấp và tương đương có 21.268 người, chiếm 16,02%.

    Cơ cấu lao động:

    • Lao động công nghiệp – xây dựng chiếm khoảng 30%
    • Lao động nông lâm ngư nghiệp chiếm 50%
    • Lao động trong các ngành dịch vụ chiếm 20%.
    Đơn vị hành chính Dân số (1000 người) Diện tích (ha)
    Thị xã Thủ Dầu Một 400 – 500 5000 – 6000
    Thi trấn Bình Chuẩn 50 – 70 600 – 700
    Búng – Thuận Giao – Bình Chuẩn 100 – 110 110 – 1200
    Khu đô thi mới Vĩnh Phú 110 – 130 110 – 130
    Dĩ An – Đông Hòa – Tân Đông Hiệp 100 –120 1000 – 1200
    Thị trấn Uyên Hưng 40 – 50 500 – 600
    Thị trấn mới Tân Định An 70 – 90 800 – 900
    Tổng 850 – 1000 9000 – 12000

    Hàng năm có khoảng 15 – 20 nghìn lao động trẻ tham gia lực lượng lao động. Đó là nguồn nhân lực dồi dào phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội.

    Quy mô dân số và đất đai các đô thị năm 2010

     
    1.5.   Điều kiện tự nhiên
    • Vị trí địa lý

    Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 2.681.01 km2 (chiếm 0,83% diện tích cả nước xếp thứ 42/62 về diện tích tự nhiên), có tọa độ địa lý :

    11052’- 12o18’ vĩ độ Bắc đến 106o45’ – 107o67’30’’ kinh độ Đông

    Phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh

    Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước

    Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai

    Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh

    Bình Dương có một thị xã, 6 huyện với 5 phường, 8 thị trấn và 66 xã. Tỉnh lỵ là thị xã Thủ Dầu Một là trung tâm hành chính – kinh tế – văn hóa của tỉnh Bình Dương.

    Diện tích, dân số, phương , thị trấn năm 2004 của các huyện như sau :

    Huyện, thị Diện tích (km2) Dân số  (người) Xã, phường thị trấn
    Thị xã Thủ Dầu Một 84,80 148.645 10
    Huyện dầu Tiếng 720,10 89.037 11
    Huyện Bến Cát 586,52 107.940 15
    Huyện Phú Giáo 538,61 61.340 9
    Huyện Tân Biên 611,17 121.172 18
    Huện Thuận An 82,46 115.754 10
    Huyện Dĩ An 57,35 98.902 6
    cộng 2.681,01 742.790 79
     
    Ø   Khí hậu

    Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau.

    Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 – 2000mm với số ngày có mưa là 120 ngày. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 335mm, năm cao nhất có khi lên đến 500mm, tháng ít mưa nhất là tháng 1, trung bình khoản 50mm và nhiều năm trong tháng này không mưa.                              Nhiệt độ trung bình hàng năm là 36,5oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 29oC (tháng 4), tháng thấp nhất 24oC ( tháng 1). Tổng nhiệt độ hàng năm là 9500oC – 10000oC, số giờ nắng trung bình là 2400 giờ, có năm lên đến 2700 giờ.

    Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp bão và áp thấp nhiệt đới. Về mùa khô gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông, Đông – Bắc , về mùa mưa gió thịnh hành nhất là hướng Tây, Tây – Nam. Tốc độ gió bình quân khoản 0.7m/s tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 12m/s thường là tây, Tây – Tây Nam.

    Chế độ không khi ẩm tương đối cao trung bình 80 – 90% theo mùa. Độ ẩm mang lại cchủ yếu là gió mùa Tây Nam trong mưa, do đó độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất là giữa mùa mưa.

    Với khí hậu mang tính chất cận xích đạo, nên nhiệt độ cao quanh năm, ẩm độ cao và ánh sáng dồi dào, rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cây công nghiệp ngắn và dài ngày. Khi hậu Bình Dương tương đối hiền hòa, ít bị thiên tai, lũ lụt….

     
    Ø Địa hình

    Địa hình tỉnh Bình Dương tương đối bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc phổ biến là những dãy đồi phù xa cổ nối tiếp nhau với độ dốc không quá 3 – 5o. đặc biệt có một vài đồi núi thấp nhô lên giữa địa hình bằng phẳng như núi Châu Thới (Dĩ An) cao 82m và ba ngọn núi thuộc huyện Dầu Tiếng là núi Ông cao 284,6m, núi Tha La cao 198m, núi Cậu cao 155m.

    Từ phía Nam lên phía Bắc, theo độ cao cóvùng địa hình :

    –     Vùng thung lũng bãi bồi, phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé. Đây là vùng đất thấp, phù xa mới,khá phì nhiêu, bằng phẳng, cao trung bình 6 – 10m.

    –        Vùng địa hình bằng phẳng, nằm kế tiếp nhau các vùng thung lũng bãi bồi có độ dốc 3 – 120, cao trung bình từ 30 – 60m

    với địa hình cao trung bình từ 6 – 60m, nên trừ một vài vùng thung lũng dọc theo sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Đất đai ở Bình Dươngít bị lũ lụt, ngập úng, địa hình tương đối bắng phẳng thuận lợi cho việc mở mang hệ thông giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và sản xuất nông nghiệp.

    • Tài nguyên khóang sản :

    Bình Dương có nguồn khóang sản tương đối đa dạng, nhất là khóan sản phi kim loại có nguồn gốc magma, trầm tích và phong hóa đặc thù. Đây là nguồn cung cấp nguyên liệu cho những ngành công nghiệp truyền thống và thế

    mạnh của tỉnh như : Gốm sứ, vật liệu xây dựng, khai khoáng.

    Kết quả thăm dò địa chất ở 82 vùng mỏ lớn, nhỏ cho thấy tỉnh Bình Dương có 9 loại khoáng sản gồm : Kaolin, sét, các loại đá xây dựng ( gồm đá phun trào Andezit, đá granit và đất các kết), các xây dựng, cuội sỏi, laterut và than bùn

    • Than bùn

    Thuộc nhóm nhiên liệu cháy, phân bố dọc theo thung lũng xác sông Sài Gòn, Đồng Nai, Thì Tính với trữ lượng không lớn, chất lượng thấp (nhiệt lượng thấp, tro cao) có thể sử dụng chế biến phân bón vi sinh thích hợp hơn là làm chất đốt. Có bảy vùng mỏ, riêng mỏ Tây Ba có trữ lượng 0,705 triệu m3

    • Kaolin

    Có 23 vùng mỏ với tiềm năng từ 300 – 320 triệu tấn trong đó 15 vùng đang được khai thác cung cấp nguyên liệu cho ngàh gốm sứ và lam chất phụ gia công nghiệp cho các cơ sở sản xuất trong và ngoài tỉnh. Những mỏ có trữ lượng lớn và được nhiều nơi biết đến là Đất Cuốc, Chánh Lưu, BÌnh Hòa.

    Kaolin Bình Dương có chất lượng trung bình do hàmh lượng sắt cao, hàm lượng nhôm thấp.

    • Sét

    Có 23 vùng mỏ với tổng trữ lượng trên 1 tỷ m3, sét có nguồn gốc từ trâm tích và phong hóa với trữ lượng phong phú và phân bố nhiều nơi trong tỉnh.

    Phần lớn mỏ sét có chất lượng tốt, ngoài dùng dể sản xuất gạch ngói thông thường còn có thể san xuất các loại sản phẩm co giá trị cao như : Gạch ngói trang trí, gạch lát sàn, bột màu, làm phối liệu cho ngành gốm sứ, chất độn cho nhiều ngành sản xuất khác.

    • Đá xây dựng

    Đá xây dựng phun trào đã dược thăm dò và khai thác ở Dĩ An với trữ lượng khoản 30 triệu m3 .

    Đá xây dựng granit được phát hiện ở phú giáo gần đây với rổng trữ lượng 200 triệu m3  và còn có thể phát hiện thêm ở một số nơi khác.

    Đá xây dựng cát kết trong tầng Dray Linh đã được thăm dò và khai thác ở Tân Uyên.

    • Cát xây dựng

    Phát triển theo các sông Sài Gòn, Đồng Nai và Thi TÍnh với tổng tiềm

    năng khoáng sản gần 20 triệu m3, trong đó 20% có thể dùng cho xây dựng, 80% dùng cho san nền. Cát xây dựng đang được khai thác ở cù lao Rùa, cù lao Bình Chánh.

    Tài nguyên khóang sản ở Bình Dương là điều kiện thuận lợi và là tiềm năng rất lớn để cho Công ty đầu tư xây dựng 3/2 đầu tư phát triển.

    1. Môi trường vi mô

    2.1.  Thị trường và đối thủ cạnh tranh

    Trong nền kinh tế thị trường mở cửa  hiện nay, ngành xây dựng là một ngành có tốc dộ tăng trưởng khá cao, do đó sẽ xuất hiện nhiều công ty trên thị trường. Đây là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thị trường, giúp cho doanh nghiệp hoàn thiện hơn, đồng thời cũng loại bỏ những đơn vị yếu kém. Nhờ những yếu tố này mà doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 nói riêng phải xác định thị trường và đối thủ cạnh tranh cụ thể :

    1. a) Thị trường
    • Xây dựng và kinh doanh bất động sản là những ngành tiềm năng trong thị trường tỉnh Bình Dương. Với quá trình công nghiệp hoá, lực lượng lao động đang hướng về Bình Dương như một vùng đất hứa, xây lắp và kinh doanh nhà ở đang có vị trí quan trọng. Tuy nhiên, hai lĩnh vực trên tại địa bàn Tỉnh đang bị cạnh tranh mạnh của các công ty Đầu tư Xây dựng, Địa ốc. Cơ hội và thách thức đang ở phía trước.
    • Đối với lĩnh vực khai thác đá, đây là lĩnh vực mang tính đặc thù hơn – sản phẩm mang tính khan hiếm, sự gia nhập vào thị trường của đối thủ là không lớn – vấn đề kinh doanh đá xây dựng phụ thuộc nhiều vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Đối với những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm bước đầu chủ yếu cung cấp cho hoạt động xây lắp của Công ty. Khi đi vào kinh doanh sản phẩm ra bên ngoài, đòi hỏi phải có chiến lược nghiên cứu thị trường và kinh doanh phù hợp.
    • Thị trường chủ lực tập trung ở ba địa phương: thị xã Thủ Dầu Một, huyện Dĩ An và Thuận An. Thị trường hướng đến bao gồm các huyện xa trung tâm như: Bến Cát, Phú Giáo, Tân Uyên, Dầu Tiếng và các Tỉnh lân cận: TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An.
    1. b) Đối thủ cạnh tranh

    – Đối với sản phẩm đá xây dựng, đối thủ cạnh tranh được xác định bao gồm:

    STT Công ty Thành phẩm   / tháng Lượng xuất  / tháng Thị phần
    1 Cty XNK Biên Hòa – Tân Bản 70.000 m3 60.000 m3 10%
    2 Cty VLXD Biên Hòa – Bảy Hồng 15.000 m3 156.000 m3 26%
    3 Cty Khoáng sản va XD Bình Dương 15.000 m3 156.000 m3 26%
    4 Xí nghiệp đá III 15.000 m3 156.000 m3 26%
    5 Cty Đầu tư xây dựng 3/2 76.500 m3 72.000 m3 12%

    Năng lực khai thác và thị phần cung cấp sản phẩm đá của Công ty thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Tiềm năng mỏ đá vẫn còn, nếu được đầu tư và tổ chức tốt hơn, thị phần sản phẩm đá bán ra trên thị trường sẽ tăng cao hơn.

    • Lĩnh vực xây dựng, thị trường Bình Dương có tiềm năng và tốc độ tăng trưởng nhanh. Công ty Đầu tư Xây dựng 3/2 thuộc hàng doanh nghiệp có vị thế trên địa bàn Tỉnh. Đối thủ chính bao gồm các công ty Xây dựng có quy mô lớn trong tỉnh Bình Dương. Mặt khác, với một lĩnh vực tiềm năng và nhiều công ty tham gia, đối thủ khác được nhìn nhận từ việc xây dựng cơ cấu tổ chức và vận hành trong nội bộ Công ty. Xây dựng Công ty ngày càng lớn mạnh sẽ có vai trò thu ngắn hoặc tạo khoảng cách với các đối thủ cạnh tranh.
    • Đối với lĩnh vực kinh doanh mới: kinh doanh bất động sản, sản phẩm cơ khí, bêtông ly tâm và kinh doanh vật liệu xây dựng là những lĩnh vực vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị vận hành và mới tham gia vào thị trường. Đối thủ cạnh tranh bao gồm tất cả những doanh nghiệp hiện đang hoạt động trong các lĩnh vực nêu trên.
    • 2. Đối thủ tiềm ẩn

    Hiện nay ngành xây dựng có tốc độ phát triển rất nhanh, nhiều đối thủ trong ngành xuất hiện. Điều đó làm cho doanh thu của công ty giảm xuống, tuy nhiên các đối thủ trong tỉnh đa phần đều được Công ty nhận định rõ và có chính sách đối phó, đồng thời công ty cũng tổ chức quản lý trong việc cung ứng nguyên vật liệu để tránh sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

    • 3. Nhà cung cấp

    Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 hoạt đông sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực và các lĩnh vực kinh doanh có mối quan hệ  bổ trợ vơ cho nhau. Các lĩnh vực kinh doanh hiện nay của Công ty bao gồm :

    • Xây dựng công trình công nghiệp, công trình nhà ở, công trình kỹ thuật (thủy lợi, cấp thoát nước, xử lý nước) và lắp đặt thiết bị cho các công trình xây dựng
    • Thi công lưới điện hạ thế từ 20 KVA trở xuống và hệ thống chiếu sáng
    • San lắp mặt bằng, thi công cầu đường
    • Khai thác và kinh doanh đá xây dựng
    • Kinh doanh vật liệu xây dựng (sản phẩm thép), dịch vụ sân bãi, bất động sản
    • Gia công sản phẩm cơ khí
    • Sản xuất bê tông ly tâm

    Điều này cho thấy Công ty không lo ngại về nguồn cung ứng nguyên liệu đầu vào, tạo lợi thế cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

    Công ty có mối quan hệ và uy tín tốt đối với nhà cung ứng, cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng trong và ngoài Tỉnh.

    Nằm trên địa bàn thuận lợi về nguồn tài nguyên, nguyên liệu, đường giao thông. Tập trung nhiều cở sở chế biến nguyên vật liệu, đại lý lớn của các công ty chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng.

    Tiếp giáp với các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng tập trung nhiều khu công nghiệp – nơi sản xuất và cung cấp các sản phẩm đầu vào đối với Công ty.

    Chính với những thuận lợi nêu trên, năng lực tiếp cận và mua nguyên vật liệu luôn ổn định và thuận lợi.

    • 4. Khách hàng

    –        Đối với các công trình phục vụ cho lợi ích xã hội Công ty thực hiện theo mục tiêu phát triển của tỉnh sau khi đã thành công trong đấu thầu xây dựng.

    –        Đối với các công trình xây dựng nhà ở thì khách hàng của Công ty là những khách hàng có nhu cầu xây nhà ở và xây dựng mặt bằng phục vụ cho mục đích kinh doanh

    • Đối với sản phẩm đá xây dựng đối tượng khách hàng của Công ty chủ yếu là các doanh nghiệp, các công ty xây dựng
    • Chính sách giao tế cộng đồng sẽ đóng vai trò lớn, Chiến lược này có ý nghĩa rất lớn, nó góp phần nâng cao uy tín và chất lượng sản phẩm của Công ty. Đây được xem là chính sách mới được tiếp nhận nhưng đem lại hiểu quả cao.

    –  Về hình thức mua bán : Khách hàng ký hợp đồng với công ty hoặc thoả thuận qua đơn đặt hàng.

    – Hình thức thanh toán: khách hàng phải thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản đúng theo thoả thuận trong hợp đồng và đơn đặt hàng.

    1. Môi trường nội bộ

    3.1. Bộ máy quản lý của Công ty

    • Về lao động

    Công ty xác định bộ phận gián tiếp gọn nhẹ, một người kiêm nhiều việc, công ty tổ chức thành hai phòng nghiệp vụ : kế toán – tài vụ kiêm luôn về tài chính – nhân sự, phòng kế hoạch – kỹ thuật và xí nghiệp trực thuộc là xí nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, dưới các phòng là các đội sẩn xuất đá và cá đội thi công xây dựng.

    • Trình Năm 2000, lao động chính thức của công ty đạt 59 lao động thì đến năm 2003 tăng lên 134 lao động, đạt mức 208 vào tháng 9 năm 2004. Tốc độ tăng nhân lực cho thấy hướng mở rộng, phát triển mới của Công ty.
    • độ nguồn nhân lực đầy tiềm năng. Lao động có trình độ Đại học chiếm khoảng ¼ tổng lao động, lao động có tay nghề: Công nhân, Trung cấp đạt 45,67% / tổng số lao động, lao động phổ thông chỉ chiếm khoảng 15%. Với trình độ lao động thuộc hàng khá, sự phát triển đi lên của công ty sẽ được tác động bởi yếu tố này.

    –      Cơ cấu lao động được xác định là lao động trẻ. Lao động ở độ tuổi 18 – 25 chiếm 37,98% tổng số lao động. Lao động vừa có kinh nghiệm, vừa năng động (tuổi từ 26-35) đạt 35,20%. Lao động có nhiều kinh nghiệm (tuổi từ 36-45) đạt mức 20,67%. Lao động trên 45 tuổi chỉ đạt 6,25%. Với cơ cấu độ tuổi lao động như trên, cơ cấu nhân lực của công ty vừa đảm bảo sự kết hợp của sức trẻ và kinh nghiệm. Đặc biệt trong năm 2004, năm chuyển hướng mạnh cho sự đổi mới về nhân sự. Lao động bổ sung, thực tập viên có trình độ cao chiếm tỉ lệ áp đảo, họ đang tràn đầy nhiệt huyết, năng động của sức trẻ, với

    • Về chuyên môn nghiệp vụ
    • Cán bộ quản lý được đào tạo chuyên môn tốt, trình độ và kinh nghiệm quản lý ngày càng nâng cao. Có tầm nhìn chiến lược đối với từng sản phẩm và thị trường.
    • Cán bộ công nhân viên được đào tạo bài bản, thực tiễn trong hoạt động sản xuất, công tác nhiều năm đã giúp họ tích lũy được kinh nghiệm.
    • 2. Sản xuất

    Quá trình kiểm soát khai thác, chế biến & tiêu thụ đá xây dựng tại Xí nghiệp khai thác & sản xuất VLXD được chia ra làm các giai đoạn sau:

    • Khai thác bắn mìn
    • Sản xuất chế biến
    • Tiêu thụ sản phẩm
    • Kiểm soát về chất lượng sản phẩm
    Giai đoạn I: Khai thác bắn mìn

    Bước 1: Dọn bốc tầng phủ tầng khai thác.

    • Dùng xe cơ giới dọn phần đất phún bề mặt và bốc chuyển cho đến lớp đá phong hoá.
    • Bóc lớp đá phong hoá bằng phương pháp khoan bắn mìn.
    • Dọn bằng thủ công những phần đất phún và đá phong hoá mà máy thi công không làm sạch được.

    Bước 2: Lập hộ chiếu nổ mìn

    • Vẽ sơ đồ bãi khoan, vẽ mặt cắt địa chất bãi mìn (hoặc gương tầng), đo chiều sâu từng lỗ khoan.
    • Tính toán lượng thuốc nổ cho từng lỗ và cả bãi mìn, chọn loại thuốc nổ phù hợp với đất đá, chọn phương pháp nổ cho phù hợp (nổ tập trung vi sai, phân đoạn…) và chọn đấu mạng bãi mìn.
    • Tính toán khoảng cách an toàn cho người và các công trình, thiết bị thi công.
    • Vẽ sơ đồ bố trí canh gác và lên danh sách phân công người gác.
    • Vẽ sơ đồ ẩn nấp cho người đốt mìn, có vật che đỡ (Container trú ẩn, hầm an toàn…)

    Bước 3: Thi công bãi khoan

    • Dùng xe cuốc dọn vệ sinh bãi khoan.
    • Bẩy, cậy hết đá cheo leo phía trên và dưới nơi công nhân đứng khoan.
    • Dọn bằng phẳng chỗ đứng khoan rộng 1m2, nơi đất đá ổn định.
    • Dùng sơn đánh dấu lỗ khoan (theo sơ đồ bãi khoan).
    • Máy khoan thi công theo sơ đồ đã đánh dấu, mũi khoan fi 105.
    • Giám sát việc thi công bãi khoan.
    • Nghiệm thu bãi khoan hoàn thành.

    Bước 4: Nhận và vận chuyển vật liệu nổ

    • Nhận vật liệu nổ từ kho khoáng sản, bốc xếp lên xe tải, vận chuyển đến bãi của xí nghiệp, lập biên bản giao nhận vật liệu nổ.
    • Bốc xếp lên xe xúc, vận chuyển xuống bãi bắn dưới hầm khai thác.
    • Công nhân bốc xếp thuốc nổ đến từng lỗ khoan.

    Bước 5: Thi công bãi bắn mìn

    • Kiểm tra kíp, thuốc nổ, dây dẫn (xem đã nhận đủ, thiếu so với hộ chiếu, kíp xấu tốt, dây dư thiếu) phải đo điện trở kíp và thực hiện ở nơi riêng biệt.
    • Cho di chuyển thiết bị ra khỏi bãi mìn, hướng dẫn và mời người không phận sự ra khỏi khu vực bãi mìn trước 15 phút.
    • Cắm cờ báo hiệu bãi mìn đang thi công (cờ lớn có ký hiệu nguy hiểm).
    • Nạp thuốc, kíp được phép dùng cây tre nhỏ hoặc gỗ để chọc thuốc nhẹ nhàng xuống lỗ khoan, lấp cát hoặc đất mìn.
    • Đấu dây và chia theo mạng nổ.
    • Kiểm tra thông mạch phải dùng đồng hồ chuyên dùng và người chỉ huy nổ mìn thực hiện. Người chỉ huy giữ chìa khoá nổ mìn không giao cho người khác.
    • Dọn vệ sinh bãi thi công chuẩn bị bắn mìn.

    Bước 6: Phân công trực gác bắn mìn

    • Người chỉ huy kiểm tra công nhân trực gác bắn mìn đúng vị trí (theo hộ chiếu tính toán), phân bốn trạm gác xung quanh (phải đáp ứng theo yêu cầu an toàn từ tâm bãi mìn: bán kính đối với thiết bị >= 200 m, đối với người >= 300 m).
    • Bố trí người đốt mìn và hướng dẫn chỗ trú ẩn an toàn.

    Bước 7: Công tác bắn mìn:

    • Chấp hành theo quy định chung của Ban quản lý mỏ Tân Đông Hiệp.
    • Cắm cờ đỏ xung quanh khu vực chuẩn bị bắn mìn.
    • Phải đảm bảo thiết bị và con người cách tâm bãi bắn đúng theo khoảng cách an toàn nêu trên công tác trực gác.
    • Người chỉ huy bắn mìn kiểm tra lại điện trở toàn mạng bãi mìn đã đấu dây, đảm bảo ổn định. Các hiệu lệnh nổ mìn:

    Hiệu lệnh 1: Một hồi còi hú dài, thể hiện các bãi mìn đã thi công xong, tất cả các vị trí an toàn đã bố trí người canh gác.

    Hiệu lệnh 2: Hai hồi còi hú dài, thể hiện công tác an toàn đã đảm bảo 100% và cho bật công tắc nạp điện. Khuyếch đại điện áp lên để đảm bảo đủ cường độ dòng điện đốt cháy kíp điện, sẵn sàng điểm hỏa.

    Hiệu lệnh 3: Ba hồi còi hú liên tục và tiếp theo là một hồi kẻng, thể hiện chuẩn bị bắn. Ban chỉ huy nổ mìn khu vực mỏ, lần lượt liên lạc bằng điện đàm cho từng bãi mìn điểm hỏa theo thứ tự đã sắp xếp trước.

    Hiệu lệnh 4: Một hồi còi hú dài, thể hiện báo yên sau khi bắn mìn. Mười phút sau hiệu lệnh 4 báo yên, người chỉ huy bắn mìn vào kiểm tra bãi mìn vừa nổ. Nếu có hiện tượng mìn câm, báo cáo ngay cho Ban quản lý mỏ để khoanh định khu vực nguy hiểm, cử người canh gác khu vực mìn câm. Xử lý mìn câm do người chỉ huy bắn mìn theo từng tình huống cụ thể mà xử lý kịp thời.

    Bước 8: Thi công đục đá

    • Sau khi bắn mìn cho ra bãi đá nguyên liệu (hỗn hợp), nếu đá to trên 30 x 30, phải tiến hành thi công đục nhỏ lại bằng xe cơ giới tại bãi hầm, đảm bảo đúng kích thước đá nguyên liệu chế biến.
    • Trường hợp đá to, đường kính từ 1m x 1,5m trở lên, xử lý khoan chiết fi 32, tổ chức bắn mìn theo quy định.

    Bước 9: Thi công cuốc đá lên xe tải

    • Khi đá nguyên liệu đảm bảo kích cở từ 30 x 30 trở xuống, dùng xe cơ giới cuốc đá lên xe tải tại bãi hầm.

    Bước 10: Vận chuyển đá nguyên liệu

    • Xe tải xuống tận bãi hầm nhận đá nguyên liệu từ xe cuốc. Khi đầy xe (tính khối lượng chuẩn bằng thùng xe tải), xe tải vận chuyển đá nguyên liệu từ bãi hầm lên đổ vào máng của từng máy xay đá (máy nghiền sàng)

    Bước 11: Ghi nhận số lượng đá nguyên liệu vào chế biến

    • Khi xe tải vận chuyển đá nguyên liệu từ bãi lên tới miệng hầm, nhân viên thống kê nguyên liệu sẽ ghi vào sổ nhật ký số lượng đá nguyên liệu của từng xe tải chuyển lên đổ vào máng từng máy xay (theo số lượng chuẩn đã định mức cho từng xe tải, căn cứ vào kích thước thùng xe, trừ 6% tỷ lệ hao hụt).

    Bước 12: Lập kế hoạch, thống kê, báo cáo

    • Hàng ngày lập các chứng từ gồm: sơ đồ bãi khoan, biên bản nghiệm thu lỗ khoan, bảng yêu cầu vật liệu nổ cho bãi chuẩn bị bắn, hộ chiếu khoan nổ mìn cho từng bãi, ghi nhận ký khai thác, nhật ký khoan bắn mìn, nhật ký đá nguyên liệu chế biến, phiếu xác nhận công việc cuốc, vận chuyển đá nguyên liệu.
    • Hàng tuần lập kế hoạch bãi bắn, ngày bắn, số lượng thuốc bắn cho từng bãi mìn, báo cáo nhật ký khai thác.
    • Hàng tháng lập kế hoạch khai thác, khoan bắn mìn trong tháng.
    • Cuối tháng lập báo vật liệu nổ sử dụng, báo cáo khối lượng đá nguyên liệu cuốc, vận chuyển, báo cáo giờ thi công đục đá.
    Giai đoạn II: Sản xuất chế biến

    Bước 1: chuẩn bị khởi động máy xay

    • Kiểm tra các mô tơ điện, các đầu mối dây điện, dây nối đất.
    • Kiểm tra điều chỉnh dây curoa, đường ống dẫn, bôi trơn các bộ phận (bơm nhớt, mở…).
    • Kiểm tra hệ thống con lăn, băng tải (xem có rách đứt, kẹt…).
    • Kiểm tra xiết chặt các thiết bị che chắn an toàn cho người và máy.
    • Kiểm tra bơm nước, hệ thống dẫn nước rửa đá và chống bụi.
    • Kiểm tra mức dầu bôi trơn máy (nếu thiếu phải bổ sung)

    Bước 2: Nhận đá nguyên liệu (hỗn hợp)

    • Đá nguyên liệu từ xe tải vận chuyển từ hầm khai thác lên đổ vào máng máy xay.
    • Máy xay kiểm tra đá nguyên liệu đảm bảo chất lượng (màu sắc đều xanh hoặc vàng, đá vụn không quá 30%), kích thước đá nạp phải phù hợp với hàm nghiền của máy để tránh hiện tượng kẹt đá làm hư máy.
    • Ghi nhận vào nhật ký máy xay số lượng đá nhập cho máy, theo khối lượng đã định mức cho từng xe.

    Bước 3: Vận hành máy xay

    • Mở máy chạy không tải khoảng 5 phút để kiểm tra thử điện có rò rỉ ra giàn máy hay không, lắng nghe tiếng kêu của motơ, giàn máy (nếu không bình thường thì cho ngừng máy, kiểm tra lại).
    • Tăng tốc độ máy đến tốc độ nghiền và cho nạp liệu (vận hành có tải).

    Bước 4: Xúc dời bãi thành phẩm

    • Khi máy xay ra đá thành phẩm đầy cầu băng tải, phải dùng xe xúc dời đá ra bãi gần. Nếu bãi xa, xúc lên xe tải chuyển đi.
    • Khối lượng tính theo định mức gàu xe xúc hoặc định mức thùng xe tải đá.

    Bước 5: Vệ sinh, bảo trì máy

    • Khi ngừng vận hành máy, công nhân phải tiến hành kiểm tra bảo dưỡng, làm vệ sinh máy xay.

    Bước 6: Thống kê báo cáo

    • Hằng ngày lập phiếu giao nhận đá nguyên liệu, phiếu xác nhận xúc dời bãi thành phẩm.
    • Hàng tuần báo cáo nhật ký tình hình máy nghiền sàng, lượng đá chế biến.
    • Cuối tháng lập bảng kê đá nguyên liệu chế biến, báo cáo chi tiết đá chế biến, báo cáo khối lượng đá xúc vận chuyển dời bãi thành phẩm.
    Giai đoạn III: Tiêu thụ

    Giai đoạn IV: Kiểm soát chất lượng

    • Công nghệ

    Hầu hết các thiết bị máy móc của ngành xây dựng của công ty Đầu tư xây dựng là tương đối hiện đại, năng suất cao, mức tiêu thụ ngyên vật liệu thấp và chất lượng sản phẩm đảm bảo được cạnh tranh tên thi trường. Điều này thuận lợi trong môi trường cạnh tranh của Công ty.

    Nhằm nâng cao  năng suất khai thác cung như chất lượng sản phẩm tốt hơn nữa Công ty đã đầu tư mới công nghệ để tăng hiệu quả cạnh tranh trên thị trường.

    • 4. Marketing

    Hiện nay bộ phận marketing của công ty Đầu tư xây dựng 3/2 chỉ là bán hàng và tiêu thụ sản phẩm, về tiếp thị và nghiên cứu thị trường chưa mới được thành lập vì vậy đội ngũ nhân viên marketing còn yếu kém và hoạt động chưa thật sự hiệu quả do còn thiếu kinh nghiệm. Đây chính là điều khó khăn trước mắt. Do đó Công ty rất quan tâm đến lĩnh vực này. Sở dĩ có tình trạng như vậy là do trước đây hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty chỉ theo kế hoạch chưa có chiến lược kinh doanh dài hạng. Hiện nay ngành xây dựng phát triển rất nhanh, nhiều doanh nghiệp cùng ngành ra đời. Do đó đòi hỏi Công ty phải có chiến lược kinh doanh cụ thể mà bộ phận marketing là một phần không thể thiếu trong chiến lược kinh doanh của Công ty.

     

    II.  TẦM NHÌN VÀ SỨ MẠNG

    1. Tầm nhìn

    Công ty là một trong những công ty Đầu tư Xây dựng, kinh doanh bất động sản hàng đầu trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

    Công ty luôn được biết đến như một đơn vị cung cấp sản phẩm và dịch vụ với chất lượng tốt.

    Có những chính sách tốt đối với người lao động dựa trên năng lực, tính kỹ luật và mức đóng góp của nhân viên đối với sự phát triển của Công ty.

    Mục tiêu của Công ty xây dựng một chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn phát triển ổn định, bền vững, xây dựng một thương hiệu có uy tín nhằm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

    • Sứ mạng

    Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại của công ty bao gồm: khai thác, sản xuất và kinh doanh đá xây dựng; xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp và cầu đường; gia công sản phẩm cơ khí.

    Lĩnh vực kinh doanh trong tương lai gần: xây dựng khu dân cư, kinh doanh nhà đất; sản xuất bêtông ly tâm; kinh doanh thép xây dựng. Tương lai xa hơn: xây dựng và cho thuê nhà xưởng, văn phòng, sân bãi; các hoạt động đầu tư tài chính khác.

    Đối với sản phẩm đá xây dựng, thép, sản phẩm cơ khí, bêtông ly tâm: khách hàng chính bao gồm các công ty xây dựng, cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn trong và ngoài Tỉnh Bình Dương. Trong đó, có một phần cung cấp cho lĩnh vực xây lắp của Công ty.

    Đối với lĩnh vực xây lắp: khách hàng bao gồm các cơ quan ban ngành trong và ngoài Tỉnh, các công ty Xây dựng khác; một phần thị trường nhỏ đến từ các công ty và người dân.

    Đối với kinh doanh khu dân cư, nhà ở: khách hàng chính bao gồm người dân trong và ngoài Tỉnh, lao động từ các địa phương khác đến công tác.

    Là một trong những doanh nghiệp làm kinh tế xây dựng ngân sách Đảng đạt được những thành công trong lĩnh vực xây dựng, khai thác đá. Cung cấp sản phẩm và dịch vụ với chất lượng tốt đối với khách hàng. Có nhiều chính sách ưu đãi đối với nhân viên trong công ty.

    III.  MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN (GIAI ĐOẠN 2005 – 2010)

    Định hướng: “Tập trung khai thác các lợi thế của công ty, phát triển ổn định các thế mạnh. Đẩy mạnh liên kết với các nguồn lực bên ngoài, tạo thế cạnh tranh bền vững. Kinh doanh bất động sản, khu dân cư, kinh doanh vật liệu xây dựng và mở rộng địa bàn hoạt động thi công xây dựng. Tạo thương hiệu trong kinh doanh để trở thành một đơn vị có uy tín trong và ngoài Tỉnh.”

    Mục tiêu chung:

    Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng trong những năm qua. Sản phẩm đá thành phẩm và xây lắp vẫn đóng vai trò nền tảng. Trong tương lai xa hơn, doanh thu từ kinh doanh bất động sản, khu dân cư, nhà đất sẽ dần đóng vai trò quan trọng trong tổng thu của công ty.

    Đặt trọng tâm vấn đề xây dựng thương hiệu cho công ty giai đoạn 2006 – 2010. Thương hiệu CÔNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2 phải được biết đến nhiều hơn trong Tỉnh và các tỉnh lân cận.

    Quy mô hoạt động của công ty ngày càng mở rộng, tuyển dụng và đào tạo vì thế sẽ đóng phần quan trọng. Chiến lược thu hút nguồn nhân lực trình độ cao (trình độ Cao đẳng, Đại học) được xem là ưu tiên. Kế hoạch đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên tiếp tục duy trì theo yêu cầu công việc và nguyện vọng của cán bộ công nhân viên.

    Trong xu thế cạnh tranh hiện nay, xây dựng thương hiệu được xem là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Đặc biệt trong trường hợp chúng ta muốn mở rộng sang thị trường mới, thị trường tiềm năng, thương hiệu công ty đóng góp một phần vào sự thành công. Định hướng chiến lược năm 2006 – 2010 xác định xây dựng thương hiệu là mục tiêu ưu tiên đầu tư. Ba phương pháp xây dựng:

    Xây dựng thương hiệu từ uy tín tạo ra của công ty (Phương pháp đặt mục tiêu ưu tiên nhất): Khách hàng, người dân và những đối tượng quan tâm sẽ biết đến CÔNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2 qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà công ty cung cấp. Với phương pháp này chất lượng sản phẩm, dịch vụ chính là thước đo cho sự thành công của xây dựng thương hiệu.

    Xây dựng từ việc bỏ vốn ra đầu tư  bao gồm các hoạt động:

    +  Thiết kế website quảng bá thương hiệu

    +  Quảng cáo trên báo trí địa phương

    Một số mục tiêu chủ yếu:

    Phương châm hoạt động của công ty “Năng suất, chất lượng, hiệu quả”.

    Doanh thu năm 2006 dự kiến đạt 150 tỷ đồng, năm 2010 đạt: 200 tỷ đồng.

    Mức đóng góp doanh thu sản phẩm đá ước đạt: 30 – 40% / tổng doanh thu.

    Doanh thu xây lắp ước đạt: 40 – 50 % / Tổng doanh thu.

    Tăng dần doanh thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản, xưởng sản xuất bêtông ly tâm, xưởng cơ khí. Giai đoạn 2006 – 2010 ước chiếm 10 – 30% / tổng doanh thu.

    1. VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ TRONG XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC CÔNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2
    1. Ma trận cac yếu tố bên ngoài

    Các yếu tố bên ngoài chủ yếu

    Mức quan trọng Phân loại Số điểm quan trọng
    –  Ngành xây dựng la ngành mũi nhọn của nên kinh tế

     

    –  Môi trường kinh doanh luôn biến động do các chính kinh tế thay đổi.

    –  Thu nhập bình quân đầu người tăng, nền kinh tế phát triể ổn định.

    –  Nhà Nước đang từng bước tháo gỡ vướng măc về thủ tục kinh doanh.

    –  Sự di chyển của dân cư vào thành phố ngày càng tăng.

    –  Hệ thống thông tin đang hiện đại hóa.

    – Vấn đề môi trường, sức khõe người lao động ngày càng đươc quan tâm.

    –  Đối thủ canh tranh ngày càng phat triển mạnh không ngừng.

    0,20

     

    0,10

    0,20

    0,10

    0,05

    0,18

    0,05

    0,12

    4

     

    2

    3

    3

    2

    3

    2

    4

    0,8

     

    0,2

    0,60

    0,3

    0,1

    0,37

    0,1

    0,48

    Tổng cộng 1,00   – 2,95

    Ta thấy số điểm quan trọng của Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 là 2,95 điểm cho thấy Công ty đang ở mức trên trung bình trong việc đeo đuổi các chiến lược nhằn tận dụng các cơ hội môi trường và tránh các cơ hội đe dọa từ bên ngoài.

    1. Ma trận các yếu tố bên trong

    Các yếu tố bên ngoài chủ yếu

    Mức quan trọng Phân loại Số điểm quan trọng
    –   Tin thần làm việc của  nhân viên cao.

     

    –   Cơ cấu tổ chức khoa học.

    –   Đội ngũ Marketing chưa hoạt động mạnh trên thi trường.

    –   Máy móc thiết bị tương đối hiện đại.

    –   Sự cạch tranh của các đối thủ trong ngành ngày càng cao.

    –   Nguyên vật liệu của Công ty thấp.

    –   Thiếu vốn đầu tư và vốn lưu động trong kinh doanh.

    –   Chất lương sản phẩm và năng suất sử dụng công nghệ cao.

    –   Nguyên vật liệu cho  hoạt động sản xuất kinh doanh thấp.

    –   Tỷ lệ CB – CNV có trình độ và kinh nghiệm chiếm tỷ lệ cao.

    0,15

     

    0,20

    0,10

    0,10

    0,05

    0,05

    0,10

    0,05

    0,15

    0,05

    3

     

    4

    3

    3

    2

    1

    2

    2

    2

    1

    0,45

     

    1

    0,3

    0,3

    0,1

    0,05

    0,2

    0,3

    0,05

    0,05

    Tổng cộng 1 2,80

    Số điểm quang trọng la 2,80  cao hơn mức trung bình là 2,5 cho thấy Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 mạnh về nội bộ, nói cách khác là cơ hội giữa các nhà quản trị với các nhân viên trong Công ty với việc tham gia cá quyết định trong tương lai của Công ty là rất cao, đây là động lực thúc đẩy sự phát triển của Công ty.

    1. Ma trận SWOT

    3.1.  xác định điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – đe dọẵ

    • 1.1 Điểm mạnh cua Công ty ( strengths )

    –      CÔNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2 có trụ sở và xí nghiệp nằm tại hai trung tâm lớn của Tỉnh: huyện Thuận An, Dĩ An, tiếp giáp với thị xã Thủ Dầu Một, và các khu công nghiệp. Những lợi thế mà Bình Dương có được thì Công ty đều được tiếp cận, cơ hội ở phía trước dành cho chúng ta là rất lớn.

    –        Nguồn khoáng sản về đá xây dựng của Bình Dương là lớn hơn so với các địa phương trong vùng, CÔNG TY ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3/2 chiếm được một thị phần trong đó. Tài nguyên khoáng sản là dạng nguồn lực có giới hạn, sở hữu được khoáng sản là một cơ hội, đặc biệt với công ty xây dựng. Vấn đề là tranh thủ cơ hội để phát triển sẽ đóng vai trò quyết định đến sự thành công.

    –     Đăc biệt Công ty được sự quan tâm giúp đỡ của tỉnh Bình Dương các hữu quan và chính quyền địa phương… trong việctháo gỡ những khó khăn và được tỉnh giao nhiều công trình xây dựng quan trọng.

    –        Với một đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, nhiệt tình tâm quyết với ngành và đại đa số nhân viên cung như công nhân điều được đào tạo, huấn luyện chuyên môn và có tay nghề cao. đây chính là nồng cốt của Công ty.

    • 1.2. Điểm yếu ( weaknesse )

    –     Nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của công ty ở mức thấp, vốn kinh doanh đạt khoảng 10 tỷ đồng. Đối với một công ty Đầu tư Xây dựng và sản xuất đá 10 tỷ đồng khó có thể giải quyết được cho nhu cầu về vốn. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu dựa vào vốn vay từ hệ thống các ngân hàng, quỹ hỗ trợ của Tỉnh. Chính do những hạn chế nêu trên, Công ty sẽ gặp nhiều khó khăn trong trường hợp nguồn vốn vay không được giải ngân.

    –      Thị trường cung cấp sản phẩm và dịch vụ hầu như chỉ tập trung trong địa bàn tỉnh Bình Dương, với ba địa phương: Thuận An, Dĩ An và Thị xã Thủ Dầu Một. Chính do khả năng và nội lực thuộc doanh nghiệp vừa và nhỏ nên có thể công ty bị hạn chế về quy mô. Trong tương lai, muốn thắng lớn, bài toán mở rộng thị trường phải được đầu tư nghiên cứu.

    –     Hoạt động bán hàng và tiếp thị còn yếu, đội ngũ nhân viên Marketing còn thiếu kinh nghiệm.

    –      Cơ cấu nhân sự chưa tương xứng. Tầm nhìn, chiến lược cho nhân sự có thể đã được xây dựng. Thực thi việc quy hoạch lại cơ cấu nhân sự tương xứng với sự đổi mới, phát triển của Công ty. Đặc biệt trong cơ cấu cán bộ của bộ phận quản lý, kinh doanh, tiếp thị và bán hàng.

    –      Máy móc thiết bị chưa đáp ứng đủ theo yêu cầu phát triển và mở rộng của công ty.

    • 1.3 Cơ hội ( opportunities )

    –    Bình Dương là tỉnh nằm trong khu vực kinh tế năng động – vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở tốp đầu, là vùng kinh tế thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài mạnh nhất.

    –      Bình Dương tiếp giáp với trung tâm kinh tế lớn nhất nước: Thành phố Hồ Chí Minh (Năm năm trước đây, Đồng Nai là địa phương thu được sức hút mạnh nhất từ TPHCM, thì giờ đây Bình Dương đang thay thế vị trí của Đồng Nai) sức hút từ Thành phố đã tạo cho Bình Dương sự thay đổi vượt bậc (thuật ngữ trong kinh tế gọi là: “Sự vươn ra của vết dầu loang”). Được tiếp cận với trung tâm khoa học kỹ thuật, tài chính, nhân lực là những thuận lợi mà không phải địa phương nào cũng có được, cơ hội đang ở phía trước.

    –     Bình Dương đang trên đường công nghiệp hoá: so với các địa phương trong vùng thì Bình Dương đang trong quá trình công nghiệp hoá nhanh. Các khu công nghiệp và quy hoạch phát triển các khu công nghiệp diễn ra liên tục, mạnh mẽ. Những hệ quả đó kéo theo nhiều sự phát triển, các nhà đầu tư tìm về đây, các công ty tài chính, đặc biệt là lực lượng lao động đang hướng về Bình Dương…chính lực lượng này tạo ra nhu cầu cho phát triển nhà ở, khu dân cư, lĩnh vực xây lắp trên địa bàn.

    • 1.4. Đe dọa ( threats )

    –       Thách thức từ các đối thủ cạnh tranh: Qua việc tìm hiểu thị trường tỉnh Bình Dương cho cả hai lĩnh vực: sản xuất đá và xây dựng, nhận thấy cả hai đều có nhiều đối thủ cạnh tranh từ thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng. Những loại hình kinh doanh mới bổ sung so với thị trường ta còn rất mới và non trẻ. Những nhận định trên xác định thách thức phía trước là rất lớn.

    –       Chậm cơ cấu, đổi mới: nội dung thách thức này thường ít được nhìn nhận nhưng lại đóng vai trò quyết định cho sự thắng lợi của công ty. Hoạt động kinh doanh luôn thay đổi và có những bất trắc, nếu sự đổi mới của công ty trên tất cả các mặt yếu hơn so với thị trường, các đối thủ cạnh tranh Công ty sẽ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh. Đổi mới nhìn nhận trên ba khía cạnh: đổi mới về cơ cấu tổ chức trong nội bộ công ty, đổi mới về ngành nghề kinh doanh, đổi mới về thị trường.

    –      Sự biến động của thị trường: biến động của thị trường cho lĩnh vực xây dựng và kinh doanh bất động sản là rất nhạy. Những thành viên kinh doanh trong cả hai lĩnh vực trên phải có kế hoạch nghiên cứu thị trường xường xuyên và hợp lý. Trong bất kỳ trường hợp nào, không nghiên cứu kỹ thị trường thì Công ty sẽ gặp nhiều khó khăn trong phương án kinh doanh của mình.

    –      Thiếu nguồn vốn để đầu tư: vấn đề nguồn vốn đầu tư được xem là thách thức cản trở những ý tưởng lớn. Giai đoạn chiến lược 2006 – 2010, lãnh đạo công ty cần tìm ra được nguồn vốn đảm bảo cho nhu cầu phát triển của công ty, hạn chế sự lệ thuộc về vốn từ hệ thống các Ngân hàng và các nguồn vốn khác là mục tiêu cần được quan tâm.

    • 2. Lập ma trận SWOT

    Ma trận SWOT là bước lượng hóa nhưng phân tích điểm mạnh (strengths), điểm yếu (Weaknesse), cơ hội (Opportunities), và đe doa (Threát) để đưa vào mô hình, nhằm giúp cho các doanh nghiệp có cai nhìn tập trung và tập hợp hơn các yếu tố thuận lợi cũng như khó khăn trong doanh nghiệp, từ đó đưa ra cá chiến lược kinh doanh để đảm bảo cho công ty giành ưu thê trên thị trường hay ít ra cũng có thể tồn tại được…

     
     
     
    Cơ hội (O)

    O1:  Nền kinh tế phát triển ổn định     theo cơ chế thị trường. Bình Dương là vùng kinh tế trọng điểm và thu hút vốn đầu nước ngoài mạnh nhất.

    O2: Nhu cầu về cơ sỡ vật chất ngày càng cao nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế.

    O3 : Bình Dương đang trên đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa

    4: Ngành khai thác vật liệu xây dựng là ngành có hiệuquả kinh tế cao

    Nguy cơ (T)

    T1: Sự cạnh tranh ngày càng gây gắc của nền kinh tế thị trường.

    T2 : Chậm cơ cấu đổi mới. Đổi mới của công ty chậm hơn đối thủ cạnh tranh.

    T3 :  Thị trường vật liệu xây dựng và thị trường bất động sản luôn biến động.

    T4 : Thiếu nguồn vốn đầu tư. Là thách đối với Công ty cho nhũng ý tưỏng lớn.

    Điểm mạnh (S)

    S1 : Đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ, giàu kinh nghiệm nhiệt tâm huyết với ngành.

    S2 : Có lợi thế về tài nguyên khoáng sản. Đăc biệt khoáng sản phuc vụ cho nhành xây dựng.

    S3 : lĩnh vưc kinh doanh của công ty đa dạng và có mối quan hệ hỗ trợ.

    S4 : Công ty được sự quan tâm giúp đỡ của của các ngành các cấp…

    Phối hợp : (SO)

    S2O1 :  Chiến lựơc mở rộng khai thác và phát triển sản phẩm.

    S2O2 : Chiến lược phát triển thị truờng ra phạm ngoài phạm vi tỉnh Bình Dương.

    S4O2 : Chiến lược xâm nhập thị trường trong tỉnh Bình Dương.

    Phối hợp : (ST)

    S1T1 : Chiến lược định giá sản phẩm.

    S3T :  Chiến lược quảng cáo khuyến mãi

    4T3 : Chiến lựơc về đa dạng hoa hàng ngang

    Điểm yếu (W)

    W1: Thị trường cung cấp sản phẩm chủ yếu ở trong phạm vi tỉnh Bình Dương.

    W2 : Máy móc thiết bị chưa tương xứng với nhu cầu phát triển của Công ty.

    W3 : Cơ cáu nhân sự chưa tương xứng với sự đổi mới của Công ty.

    W4 : Hoạt động Marketing con yếu , còn non trẻ và thiếu kinh nghiệm.

    Phối hợp : (WO)

    W2O4 : Chiến lược tăng    trưởng.

    W2O1  :  Chiến lược cạnh tranh

    Phối hợp : (WT)

    WT1 : Chiến lược hội nhập về phía trước

    W2T4  : Chiến lược về vốn.

     
    1. Lựa chọn chiến lược cho Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 trong gia doạn (2006 – 2010)
    2. Cơ sở lựa chọn

    Với chính sách mở cửa của nền kinh tế và tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của Việt Nam hiện nay việc lựa chọn chiến lược phát triển cho ngành sản xuất kinh doanh nói chung và Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 nói riêng là điều tất yếu. Lựa chọn chiến lược giúp Công ty khai thác, phát triển hết những lợi thế hiện có của mình. Đồng thời hạn chế né tránh những rủi ro mới xuất hiện và lựa chọn chiến lược của  Công ty không ngoài mục đích đạt tới lợi nhuận cao.

    1. Các chiến lược lựa chọn

    Qua việc phân tích điểm mạnh, điểm yếu, nhưng cơ hội cũng như rủi ro của Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 hiện nay, tôi lựa chọn những chiến lược phát triển sau:

    1. a) Chiến lược mở rộng phát triển thị trường.

    Trên cơ sở lợi thế về vật liệu xây dựng của Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 chú trọng đến sự mở rộng và phát triển thị trường kinh doanh. Coi đây là yếu tố sống con của mình, đề ra các phương hướng kinh doanh hợp lý và giữ vững tốc độ phát triển ổn định, bền vững và lâu dài.

    Mở rộng hoạt động thi công các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và cầu đường qua các tỉnh lân cận:

    Doanh thu xây lắp ngày càng tăng thêm. Trong tương lai, xây lắp tiếp tục đóng góp tỉ trọng lớn, khoảng 40% tổng doanh thu. Bình Dương vẫn là thị trường chủ lực. Trong đó, Thị xã Thủ Dầu Một, Thuận An và Dĩ An là thị trường sẵn có sẽ đặc biệt cũng cố, đồng thời sẽ mở rộng ra các huyện lân cận:

    Khai thác các thị trường các tỉnh lân cận: Long An, Tây Ninh, TPHCM, Đồng Nai và Bình Phước. Giai đoạn 2006 – 2010, cố gắng mở rộng thi công các công trình sang các thị trường này. Để đạt mục tiêu nêu trên, vấn đề nghiên cứu thị trường và quảng bá thương hiệu đóng vai trò quan trọng.

    • b) Chiến lược cạnh tranh trên thị trường

    Công ty cần đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại nhằm khai thác hiệu quả lợi thế của mình, sản phẩm đạt chất lượng cao, giảm  chi phí sản xuất, tính ổn định và giá bán hạ. Phát triển thị trường nội địa, thực hiện nghiêm ngặt với hợp đồng đã ký với khách hàng truyền thống trong và ngoài tỉnh. Đây là yếu tố giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược cạnh tranh.

    • c) Chiến lược đa dang hóa hàng ngan

    Ngành kinh doanh của tầm nhìn xa trong tương lai. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản, khu dân cư, nhà ở sẽ dần đóng góp nhiều hơn vào tổng doanh thu và tốc độ tăng doanh thu sẽ phụ thuộc nhiều vào hoạt động kinh doanh này.

    Thị trường hướng đến bao gồm:

    Trung tâm của các Huyện, Thị trong địa bàn Tỉnh, các tỉnh lân cận.

    Khu vực tập trung các khu công nghiệp, khu dân cư.

    Khu vực được quy hoạch thành các đô thị trong tương lai.

    xác định những mặt hàng chủ lực liên kết kinh doanh bao gồm: Sắt, thép, xi măng…Những mặt hàng vật liệu xây dựng khác sẽ được đưa vào nếu nghiên cứu thấy nhu cầu thị trường lớn và công ty có khả năng cung cấp. Mục tiêu hướng đến:

    Cung cấp thêm chủng loại vật liệu xây dựng cho các công trình của công ty.

    Giảm được chi phí nhờ mua với giá sỉ.

    Tạo ra doanh thu từ bán hàng.

    Ít lệ thuộc vào việc cung ứng của thị trường.

    VI.  CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC

    1.  Đào tạo, quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ lao động

    Từ những phân tích, đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty trong các năm qua cùng những việc phân tích thuận lợi và khó khăn và việc sử dụng lao động tôi xin có một số kiến nghị như sau:

    • Về công tác cán bộ:

    Rà soát lại đội ngũ cán bộ hiện có, đào tạo đội ngũ cán bộ là Giám Đốc, Phó Giám Đốc. Mở các lớp bồi dưỡng quản trị doanh nghiệp, pháp luật và kiến thức chuyên môn cho cán bộ kỷ thuật thuộc ba đối tượng: cán bộ quản lý kỹ thuật, cán bộ sản xuất khai thác vật liệu xây dựng,  cán bộ quản lý kinh doanh để có đủ năng lực và khả năng đảm đương khâu sản xuất then chốt của Công Ty.

    Ngoài ra lực lượng cán bộ khoa học kỷ thuật cũng phải từng bước củng cố lại.

    Sắp xếp lại bộ máy quản lý thật tinh gọn, tinh giảm lực lượng lao động gián tiếp tại một số phòng ban, đảm bảo “ đúng người, đúng việc” tạo điều kiện phát huy nghề nghiệp và năng lực làm việc.

    • Về công tác quản lý, xây dựng lao đội ngũ lao động trực tiếp:

    Việc sử dụng lao động phải được chú trọng ngay từ đầu, phải lập thành chỉ tiêu trong kế họach bao gồm việc chăm lo các chế độ, các chính sách trách nhiệm của ban quản lý các đơn vị đối với người lao động, phấn đấu đảm bảo 100% lao động trong kế hoạch có việc lam ổn định, hạn chế thấp nhất hiện tượng khong có việc làm thường xuyên.

    Bên cạnh đó các công tác quản lý xây dựng đội ngũ lao động cũng phải hướng vào mục tiêu thực hiện kế hoạch sẩn xuất kinh doanh hàng năm. Đây thực sự là động lực căn bản phát huy nội lực để hoàn thành nhiệm vụ chung của Công ty.

    Kết hợp quản lý đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho công nhân tại chổ hoặc gởi đi học, nhầm nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân lành nghề, trên cơ sở tạo đủ việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động.

    Tăng cường thưcj hiện chế độ hợp đồng lao động có thời hạn hay theo mùa vụ… việc thực hiện hợp đồng phù hợp sẽ giúp đảm bảp cơ cấu lao động.

    Thực hiện và đầy đủ các chính sách đối với người lao động :

    +     Thường xuyên đôn đốc kiểm tra việc thực nộp bảo hiểm Xã hội và thanh toán các chế độ bảo hiểm Xã hội của người lao động, các đơn vị thành viên. Việc nộp bảo hiểm Xã hội phải dưa vào kế hoạch chương trình của Công ty.

    +   Từng bước thực hiện các chính sách cho người lao động như : BHYT, bảo hộ lao động, bảo hiểm sinh mạng, chế độ bồi thường và các chế độ khác nhằm đảm bảo quyền hợp pháp cho người lao động.

    Có kế hoạch khen thưởng cá nhân một cách hợp lý :

    +   Hưởng theo năng suất lao động: THực hiện trên cơ sở lượng giá rị sản phẩm do công nhân tạo ra.

    +     Thưởng theo ý kiến đóng góp: Để khuyến khích ra những sáng kiến trong công việc. Đặc biệt đối với những cán bộ, đàu ngành, góp phần dưa ra những phương hướng, đường lối phát triển phù hợp với năng lực sẵn có của đơn vị.

    1. Nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị, công cụ và các phương tiện phục vụ sản xuất kinh donah.

    Quá trình phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại công ty, nhìn chung hầu hết các thiết bị nhà xưởng chỉ mới khai thác khoảng 60% công suất thiết kế, bên cạnh đó còn một số khiếm khuyết làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để khắc phục tình trạng này tôi xin có một số giải pháp kiến nghị với Công ty như sau :

    • Xác định cơ cấu tài sản cố định hợp lý, lập phương án sử dụng tài sản cố định, phân công sản xuất cho từng đơn vị thành viên cụ thể có thiết bị phù hợp tạo ra sản phẩm đáp ứng nh cầu thị trường.
    • Cố gắng khai thác nguồn vâtỵ liệu xây dựng đúng chất lượng, giá thành rẻ làm tiền đề cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu thị  trường.
    • Trong giai đoạn mà khoa học phát triển đến chóng mặt như hiện nay trong đó có ngành xây dựng. Tài sản cố định đặc biệt là máy móc thiết bị phục vụ trực tiếp sản xuất chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hao mòn vô hình. Vì vậy Công ty cầ áp dụng phương pháp khấu hao nhanh là diều kiện càn thiết, nhằm tạo điều kiện để tạo ra máy móc thiết bị mới, công nghệ mới để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao trên thị trường.
    • Thanh lý tài sản cố định không cần thiết, chờ thanh lý, kể cả tài sản cố định sử dụng kém hiệu quả bổ sung vao nguồn vốn lưu động phục vụ cho quá trình sản xuất.
    • Đối với kho bãi kể cả văn phòng làm việc nếu không làm việc thì nên cho đơn vị khác thuê, sử dụng một thời gian nhất định để góp phần tăng thêm thu nhập.
    1. Các phương pháp nhằm huy động vốn.
    • Từ kết quả phấn tích thực tế trong những năm qua Công ty vẫn còn thiếu nguồn vốn hoạt động. Trong khi đó hiện nay thời cơ đang xuất hiện, nhu cầu về xây dựng đang có chiều hướng tốt. Tuy nhiên việc nắm bắc thời cơ và vận dụng cơ hội của Công ty không phải là chuyện đơn giản. Chính vì vậy Công ty cần tiềm các huy động vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh hiiện tại, khắc phuc tình trạng khó khăn cho những ý tưởng lớn từng bước mở rộng quy mô hoạt động của Công ty.

    Theo tôi để giải quyết vấn đề này trước mắt phải huy động vốn dưới nhiều hình thức :

    –      Vay nội bộ nhân viên trong toàn công ty theo mức lãi suất cao hơn mức lãi suất ngân hàng 0,1% tháng.

    –    Vay các công ty trong nội bộ ngành xây dựng dưới sự giúp đỡ của chủ quản.

    –    Bán thanh lý tài sản không cần dùng, hàng tồn kho, giảm hàng kém phẩmm chất….

    Ngoài ra có thể lập bản tường trình, xin kiến nghị với tỉnh, các đơn vị thành viên được xét đặc cách bổ sung thêm vốn và ngân hàng cho phép Công ty vay vốn lưu động để tổ chức sản xuất kinh doanh.

    • Tập trung vào các dự án trọng điểm, tạo mối liên kết với nhà thầu Hoạt động tạo mối liên kết với các nhà thầu gồm liên kết trong lĩnh vực xây dựng và cung cấp sản phẩm đá. Xây dựng các mối liên kết với các nhà thầu xây dựng hướng đến các mục tiêu:

    Liên kết trong đấu thầu xây dựng (thành phẩm của bên này là bán thành phẩm của bên kia và ngược lại).

    Liên kết trong giao khoán thi công.

    Liên kết trong thi công các công trình.

    Liên kết trong trao đổi thông tin thị trường .

    Liên kết trong hoạt động xây lắp với các nhà thầu tiếp tục duy trì và mở rộng ra. Đối với các công trình  không thuận lợi cho bên này hoặc bên kia thì mối liên kết hai bên sẽ giúp giải quyết bài toán cho cả hai bên.

    • Đầu tư kinh doanh bất động sản, khu dân cư, phát triển nhà

    Ngành kinh doanh vừa được bổ sung vào hồ sơ kinh doanh, được xác định là ngành kinh doanh của tầm nhìn xa trong tương lai. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản, khu dân cư, nhà ở sẽ dần đóng góp nhiều hơn vào tổng doanh thu và tốc độ tăng doanh thu sẽ phụ thuộc nhiều vào hoạt động kinh doanh này.

    Thị trường hướng đến bao gồm:

    Trung tâm của các Huyện, Thị trong địa bàn Tỉnh, các tỉnh lân cận.

    Khu vực tập trung các khu công nghiệp, khu dân cư.

    Khu vực được quy hoạch thành các đô thị trong tương lai.

    1. Củng cố mối quan hệ với khách hàng, từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
    • Để phát huy và tận dụng tốt những cơ hội hiện có của Công ty tôi xin kiến nghị một số vấn đề sau :

    –    Duy trì củng cố khách hàng truyền thống băng cach thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh đối với khách hàng và luôn lắng nghe ý kiến của khách hàng, làm tốt công tác sản xuất và tổ chức con người trong kinh doanh “ thống nhấtquản lý thị trường xây dựng trong Công ty”.

    –     Củng cố cửa hàng bán vật liệu xây dựng của Công ty và phát triển mạng lưới ra nhiều tỉnh trong vùng và ngoài vùng kinh tế Đông Nam Bộ, thường xuyên nghiên cứu thị trường, nắm bắc thị hiếu của khách hàng để từ đó đưa ra chiến lươc kinh doanh thích hợp với môi trường hiện tại.

    –      Căn cứ vào hợp đồng tiêu thụ với khách hàng. Công ty ký các hợp đồng với các đơn vị trực thuộc về số lượng, đơn giá các mặt hàng và thời gian giao hàng nhằm đảm bảo yêu cầu của khách hàng.

    –      Công ty cần tạo cơ chế quản lý sản xuất kinh doanh có thể hội tụ tất cả các thành phần kinh tế trong ngành xây dựng trong vùng thì mới có thể khai thác lợi thế về tài nguyên khoáng sản của vùng kinh tế Đông Nam Bộ, cũng như các vùng khác trong cả nước.

    1. Thực hiện kế hoặch giao nộp ngân sách Nhà Nước và các chế đô cho người lao động

    Nộp ngân sách cho Nhà Nươc và thưc hiện cá chế độ cho người lao động là nghĩa vụ và trách nhiệm của Công ty. Vì vậy thực hiện tốt các chủ trương này theo tôi ban lãnh đạo Công ty trước hết phải thống nhất giao nộp theo quý, dứt điểm hàng kỳ, coi đây là chỉ tiêu pháp lệnh và thi đua trong nội bộ Công ty.

    1. Nhóm biện pháp về tổ chức trong nội bộ Công ty với diển biến của tình hình sản xuất kinh doanh.
    • a) Cải tiến bộ máy tổ chức quản lý

    Bộ máy quản ly của công ty hiện nay chưa thật sự phù hợp với cơ chế mới. Theo tôi Công ty có thể thực hiện một số biện pháp sau :

    –      Tiếp tục nghiên cứu tình hình cụ thể của tưng đơn vị để hòan thiện thêm phương pháp xắp xếp doanh nghiệp, trên cơ sở đã có những giải pháp

    cho từng đơn vị cụ thể.

    –      tập trung củng cố xí nghiệp khai thác, BQL KDC và kinh doanh vật liệu xây dựng về chức năng, nhiệm vụ tổ chức cán bộ và chất lượng sản phẩm nhăm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    –      Tiếp tục rà soát, xem xét ban hành bổ xung các định mức kih tế kỷ thuật còn thiếu hoặc chưa phù hợp kể cả định mức đơn giá tiền lương/ đơn vị sản phẩm.

    1. b) Thành lập bộ phận Marketing trực thuộc phong kinh doanh và tách phòng kinh doanh từ phòng tài chinh tổng hợp.

    –        Hiện nay phòng kinh doanh của Công ty chưa tách ra khỏi phòng tài chính tổng hợp. Điều này gây kho khăn cho việc tổ chức kinh và dể bị chòng chéo cho việc phân công. Công ty đã có kế hoặch tổ chức lại bộ máy quản ly Công ty theo tôi vấn đề này cần thực hiện ngay càng nhanh càng tốt và xây dựng đội ngũ nhân viên Marketing trực thuộc phòng kinh doanh.

    • Theo như đã phân tích thì vai trò Marketing của Công ty Đầu tư xây xựng 3/2 chỉ mang tính chất bán hàng và chào hàng. Chính vì vậy sự ra đời của bộ phận Marketing là một yêu cầu bức thiết giúp Công ty thích ứng hơn với cơ chế thị trường. Trước mắt bộ phận Marketing của Công ty có thể hình thành từ nguồn nhân lực hiện tại.
    • Về nhiệm vụ của bộ phận Marketing

    +    Tổ chức nghiên cứu thị trường trong và ngoài tỉnh

    +     Xây dựng chiến lược Marketing ngắn, trung và dài hạn

    +     Xây dựng chính sách về sản phẩm, giá cả, phân phối, chiêu thị, thực hiện linh hoạt Marketing Mix

    • Việc thiết lập bộ phận Marketing trực thuộc phòng kinh doanh là việc làm trước mắt. Để có thể thực hiện công tác nghiên cứu thị trường và khách hàng chưa được chú trọng trong những năm qua. Theo tôi về lầu dài thì Công ty có quy mô lớn và phát triển vững chắc, có mục tiêu chiến lược trong tương lai thì việc ra đời của phòng Marketing độc lập là điều kiện cần thiết.

     

    MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI CƠNGTY

    1. a) Đối với Nhà Nước
    • Sớm phê duyệt định hướng phát triển sản xuất kinh doanh ngành xây dựng đến năm 2010 để các địa phương có cơ sở quy hoạch, xây dựng chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất kinh doanh xây dựng cũng như các thành phần kinh tế khác.
    • Ưu tiên vốn ngân sách đầu tư cho ngành khai thác xây dựng, tạo điều kiện duyệt các dự án nhỏ. Chỉ đạo ngân hàng thương mại cho phép Công ty vay vốn trung và dài hạn đầu tư công nghệ khai thác vật liệu xây dựng hiện đại.
    • Giảm thuế nhập khẩu đối với thiết bị công nghệ phục vụ khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng và giảm thuế nhập khẩu vật liệu xây dựng đặc biệt là sắt, thép nhằm ổn định thị trường vật liệu xây dựng.

    Nghiên cứu lại chính sách thuế lợi tức hiện hành để doanh nghiệp có điều kiện tích lũy, đầu tư mở rộng sản xuất. Khuyến khích các doanh nghiệp cổ phần hóa bằng cách cho miễn mọi sắc thuế trong những năm đầu tiên, có chính sách ưu đãi cho vay từ quỹ đầu tư và phát triển ngành công nghiệp.

    • Cân đối nguồn tín dụng từ quỹ bổ trợ đầu tư của thành phố cho ngành công nghiệp để nhằm đổi mới trang thiết bị với lãi suất ưu đãi dưới 8% một năm thay vì 13,2% một năm như hiện nay.

    –     Tỉnh cần xem xét để không thu thuế vốn đối với các doanh nghiệp nhà nước, vì doanh nghiệp khi được nhà nước giao vốn có trách nhiệm phải bảo tồn và đã nộp thuế doanh thu, thuế lợi tức cho nhà nước từ nguồn vốn đó làm ra. Đồng thời nên cho các doanh nghiệp được khấu trừ tiền đền bù giải tỏa và tiền thuê đất hàng năm của nhà nước.

    • b) Đối với Công ty Dầu tư xây dựng 3/2

    Tổ chức xắp xếp lại sản xuất kinh doanh, trên cơ sở sắp xếp lại công nghệ, thiết bị phân công sản xuất , hợp tác sản xuất đạt mục tiêu chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và chiếm lĩnh thị trường, chuyển dịch cơ cấu sản xuất.

    Phát triển thị trường ra khỏi phạm vi tỉnh Bình Dương nhất là một số tỉnh lân cận

    Có kế hoạch đầu tư công nghệ hiện đại vào sản xuất, khai thác vật liệu xây dựng nhằm giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.

    Xây dựng từ các hoạt động xã hội (phương pháp đạt hiệu quả cao trong địa bàn với chi phí thấp): Tổ chức và tham gia các hoạt động trong phong trào thanh niên; hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ; hoạt động thể dục thể thao với các cơ quan ban ngành trong Tỉnh. Các hoạt động nêu trên là một hình thức xây dựng thương hiệu cho công ty. Từ những hoạt động này, tên tuổi của công ty sẽ được biết đến nhiều hơn trong các cơ quan ban ngành, các công ty bạn và người dân địa phương. Hoạt động càng mạnh, quy mô càng lớn thì việc mở rộng thương hiệu đạt được hiệu quả càng cao.

     

    KẾT LUẬN

    Trong những năm thập niên 90, với chính sách mở cửa, nền kinh tế Việt Nam có những chuyển biến khá rõ rệt, sản xuất kinh doanh trở nên sôi động hơn nhờ vào sự cạnh tranh của nền kinh tế đa thành phần.

    Chúng ta biết rằng ở bất kỳ lĩnh vực kinh tế nào, muốn đạt được hiệu quả và lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp cần nhận dạng những cơ hội và đe dọa trong môi trường kinh doanh của mình từ đó phân tích điểm mạnh, điểm yếu của mình để xây dựng thành công chiến lược trong tương lai.

    Bằng sự phấn đấu nổ lực của toàn bộ cán bộ công nhân viên, Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 trong thời gian qua, tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng đã kiên trì trụ vững, vượt qua khó khăn trước mắt, từng bước đưa Công ty phát triển và đạt được những kết quả tốt trong những năm gần đây tạo niềm tin cho bước phát triển cho những năm tới.

    Nội dung của chuyên đề này đã đề cập đến hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm qua, từ khâu tổ chức, cơ cấu quản lý đến việc sản xuất kinh doanh của Công ty. Trên cơ sở phân tích chiến lược phát triển của Công ty giai đoạn 2005 – 2010 và đã đề ra một số giải pháp để khắc phục đồng thời có một số kiến nghị với cơ quan chức năng giải quyết những vấn đề mà theo tôi sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển của Công ty.

    Với những định hướng này cùng với đội ngũ co trình độ khoa học kỹ thuật, đầy tâm huyết với ngành xây dựng tôi tin răng trong một tương lai không xa Công ty Đầu tư xây dựng 3/2 sẽ phát triển với quy mô tầm vóc đích thực của một “ CORPORATION” hoạt động có hiệu quả. Và một ngày gần đây vị thế của Công ty sẽ là một Công ty có thế đứng trên thị trường cả Nước.

    Công ty có đầy đủ cơ sở để đạt được niềm tin vào những triển vọng trong tương lai.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập tốt nghiệp: Công tác Văn thư – Lưu trữ và quản trị văn phòng của văn phòng UBND Huyện Vĩnh Tường

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp: Công tác Văn thư – Lưu trữ và quản trị văn phòng của văn phòng UBND Huyện Vĩnh Tường

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp: Công tác Văn thư – Lưu trữ và quản trị văn phòng của văn phòng UBND Huyện Vĩnh Tường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-C%C3%B4ng-t%C3%A1c-V%C4%83n-th%C6%B0-L%C6%B0u-tr%E1%BB%AF-v%C3%A0-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-v%C4%83n-ph%C3%B2ng-c%E1%BB%A7a-v%C4%83n-ph%C3%B2ng-UBND-Huy%E1%BB%87n-V%C4%A9nh-T%C6%B0%E1%BB%9Dng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập tốt nghiệp: Công tác Văn thư – Lưu trữ và quản trị văn phòng của văn phòng UBND Huyện Vĩnh Tường

    A. LỜI MỞ  ĐẦU

    Văn thư- Lưu trữ là công tác có ý nghĩa hết sức quan trọng và là công tác thường xuyên của mỗi cơ quan trong lĩnh vực quản lý Hành chính Nhà nước.

    Trong các cơ quan đơn vị công tác Văn thư- Lưu trữ luôn được quan tâm, bởi đó là công tác đảm bảo hoạt động quản lý Hành chính thông qua các văn bản- Tài liệu.

    Làm tốt công tác công văn, giấy tờ sẽ đảm bảo cung cấp  thông tin giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác, đảm bảo bí mật cho mỗi cơ quan.

    Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, mỗi lĩnh vực đều được hiện đại hoá, nền hành chính nhà nứơc cũng có sự phát triển để phù hợp.Với vai trò quan trọng của công tác Văn thư- Lưu trữ, trong lĩnh vực quản lý hành chính, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, đã và đang có những chủ chương chính sách ngày càng hiện đại công tác này, nhằm phục vụ tốt nhất cho hoạt động quản lý Nhà nước trong mỗi cơ quan.

    Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết đi dôi với thực tế”. Sau khi hoàn thành song chương trình truyền đạt lý thuyết cơ bản cho học sinh chuyên nghành Văn thư – Lưu trữ. Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ, Công Chức Nghành GTVT, đã tổ chức đợt thực tập kéo dài 7 tuần. Từ ngày 16/04/2007 đến ngày 01/06/2007 cho học sinh. Đợi thực tập này nhằm giúp cho học sinh xâm nhập thực tế học hỏi kiến thức, bổ sung cho phần lý luận nghiệp vụ chuyên môn đã học trên lớp.

    Được sự đồng ý của nhà trường và sự tiếp nhận UBND Huyện Vĩnh Tường, tôi đã có đợt thực tập đúng quy định về thời gian cũng như việc thực hành các nội dung mà bản đề cương thực tập đã nêu ra.

    Với thời gian thực tập không phải là dài nhưng đã đem lại cho tôi nhữngkết quả ý nghĩa quý giá, nhất là  những kinh nghiệm thực tế mà tôi đã đúc rút được để bổ sung vào phần nghiệp vụ chuyên môn của mình dưói sự hướng dẫn giúp đỡ tận tình của Cán  bộ Văn phòng trong đợt thực tập, tôi đã học được phong cách làm việc của một cán bộ Văn thư – Lưu trữ. Một công việc đòi hỏi sự nhẹ nhàng khéo léo, tế nhị giúp đỡ đắc lực cho lãnh đạo trong việc giải quyết các công việc hàng ngày.

    Là một cán bộ Văn thư trong tương lai, đợt thực tập này đã trang bị cho mình một số kiến thức cơ bản. Trước hết là sự nhận thức rõ ràng về công tác Văn thư cũng như nhận thức được tầm quan trọng của công tác Văn thư đối với sự phát triển của Đất Nước, thấy được những bất cập trong công tác này ở cơ quan. Từ đó thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của thề hệ cán bộ trẻ như chúng tôi là rất lớn.

    Đợt thực tập đã giúp tôi nhận ra được những điểm yếu của mình trong các khâu nghiệp vụ chuyên môn, sự thiếu kinh nghiệm trong quá trình thực hiện các thao tác, nghiệp vụ Văn thư – Lưu trữ, từ đây tôi có thể khắc phục được những lỗ hổng về kiến thức chuyên môn mà chương trình lý thuyết không thể đáp ứng đủ.

    Có thể nói đợi thực tập đã giúp cho chúng tôi cụ thể hoá và nắm chắc hơn kiến thức của mình trưởng thành hơn, sau khi  đã thực tập ở các cơ quan.

    Báo cáo sau đây là kết quả của quá trình khảo sát thực tế cùng sự kết hợp với lý luận chuyên môn mà tôi đã đúc rút được tại cơ quan thực tập.

    Báo cáo gồm 3 chương :

    Chương 1: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của UBND Huyện Vĩnh Tường.

    Chương 2: Quá trình khảo sát, thực hiện công tác Văn thư – Lưu trữ và quản trị văn phòng của Văn phòng UBND Huyện Vĩnh Tường

    Chương 3: Thu hoạch bản thân.

    Trong qúa trình thực tập tôi đã thực hiện đúng trình tự, đầy đủ các nội dung mà đợt thực tập đề ra và đã thực hiện báo cáo này. Để hoàn thành được đợt thực tập và báo cáo của mình, ngoài kiến thức kỹ năng nghiệp vụ mà bản thân có được, tôi ddax nhận đượ sự giúp đỡ, quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi của cán bộ trong cơ quan, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình, của cán bộ Văn thư – Lưu trữ. Tuy nhiên kiến thức còn hạn chế,nên trong quá trình làm báo cáo chắc chắn còn thiếu sót hoặc chưa đầy đủ nội dung theo yêu cầu của nhà trường. Kính mong quý Thầy Cô quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ.

    Xin trân thành cảm ơn !

    B – NỘI DUNG

    CHƯƠNG I: CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, CƠ CÂU

    TỔ CHƯC CỦA UBND HUYỆN VĨNH TƯỜNG

     

    I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ UBND HUYỆN VĨNH TƯỜNG

                      Vĩnh Tường là huyện đồng bằng nằm bên tả ngạn sông hồng, ở phía tây nam của tỉnh Vĩnh phúc cách Thành Phố Vĩnh Yên 20km. Là huyện có truyền thống lịch sử lâu đời có nhiều di tích lịch sử văn hoá sếp hạng Quốc Gia.

    Về danh giới của Huyện Vĩnh Tường, phía Bắc tiếp giáp huyện Lập Thạch, phía Đông bắc tiếp giáp với huyện Tam Dương. phía Đông tiếp giáp huyện Yên Lạc, con phía Tây Nam tiếp giáp với Sông Hồng sang hai tỉnh Hà Tây và Phú Thọ.

    Diện tích tự nhiên của huyện Vĩnh Tường là 14.182ha trong đó đất canh tác là 8.818ha, dân số toàn huyện là 189.185 người. Gồm có 143.000 hộ dân của 28 xã và 1 thị trấn.

    Huyện Vĩnh Tường nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc, lại tiếp giáp với 3 trung tâm kinh tế chính trị lớn là: Thành Phố Vĩnh Yên, Thị Xã Sơn Tây ( Hà Tây ),Thành Phố Việt Trì Tỉnh Phú Thọ.

    Vĩnh Tường có đủ 3 loại hình giao thông: đường bộ, đường sắt và đường thuỷ, đây là điều kiện để phát triển Kinh Tế – Xã Hội của huyện

    II – CHỨC NĂNG, NHIÊM VỤ, QUYỀN HẠN, CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA UBND HUYỆN VĨNH TƯỜNG.

    UBND huyện Vĩnh Tường có chức năng nhiệm vụ quyền hạn sau:

    1. Chức năng

    UBND huyện Vĩnh Tường là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước và các văn bản dưới Luật và Nghị Quyết chỉ đạo sự phát triển Kinh tế – Xã hội, Quốc Phòng – An ninh trên địa bàn Huyện.

    1. Nhiệm vụ, quyền hạn

    UBND Huyện là cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương với

    chức năng nhiệm vụ quyền hạn như sau:

    Triển khai và thực hiện các Chỉ thị, Nghị Quyết của Đảng,Pháp Luật của Nhà nước và sự chỉ đạo điều hành của cơ quan Nhà nước cấp trên, quy hoạch và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội ,quốc phòng – an ninh ở địa phương.

    1. Cơ cấu tổ chức.

    UBND huyện Vĩnh Tường hoạt động trên cơ sở luật tổ chức HĐND-UBND ban hành ngày 26-11-2003 và quy chế hoạt động của UBND huyện. Để hoàn thành tốt các chức năng nhiệm vụ của mình ,UBND huyện Vĩnh Tường đã xắp xếp tổ chức bộ máy làm việc của mình như sau:

    UBND huyện Vĩnh Tường có 01 chủ tịch , 02 phó chủ tịch và 4 thành viên UBND huyện, phòng ban có 13 phòng chuyên môn như sau:

    -Văn phòng HĐND và UBND

    • Phòng Nội Vụ- Lao động- Thương binh và xã hội
    • Phòng Tài chính – Kế hoạch
    • Thanh tra huyện
    • Phòng Kinh tế
    • Phòng Tư pháp
    • Phòng Hạ tầng kinh tế
    • Phòng Văn hoá-Thông tin & thể thao
    • Phòng Giáo dục
    • UB Dân số Gia đình & trẻ em
    • Phòng Y tế
    • Phòng Tài nguyên Môi trường
    • Phòng Dân tộc & Tôn giáo

    UBND huyện Vĩnh Tường ngày càng ổn định về tổ chức và biên chế. Hiện nay UBND huyện các cán bộ đến đều có trình độ chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học trở lên.

    (Sơ đồ phần phụ lục số 3)

    III – CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ, CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VĂN PHÒNG UBND HUYỆN VĨNH TƯỜNG

    Trong tất cả các cơ quan, Văn phòng là bộ phận giúp việc quan trọng, là nơi giao dịch, tiếp khách làm cầu nối giữa lãnh đạo cơ quan với các mối quan hệ bên ngoài. Do đó văn phòng cần được bố trí ở nơi thích hợp để có thể thực hiện tốt chức năng mhiệm vụ được giao.

    1. Chức năng của Văn phòng UBND huyện Vĩnh Tường.

    Văn phòng HĐND –UBND là bộ phận giúp việc, tham mưu phục vụ tổng cho  mọi hoạt động điều hành của HĐND- UBND huyện trong việc quản lý Nhà nước. Văn phòng UBND huyện có 2 chức năng sau:

    – Văn phòng là cơ quan tham mưu, tổng hợp giúp phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của HĐND và UBND huyện được tập chung thống nhất.

    – Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho lãnh đạo và cơ quan được thường xuyên liên tục và có hiệu quả.

    – Đồng thời thực hiện chức năng Quản lý công tác Văn thư – Lưu trữ đảm bảo an toàn hiệu quả.

    1. Nhiệm vụ.
    2. Tham mưu tổ hợp

    –   Xây dựng chương trình công tác của cơ quan, chuẩn bị các báo cáo về hoạt đông của HĐND và UBND huyện, biên tập, quản lý hồ sơ biên bản các kỳ họp của HĐND và UBND huyện, phối hợp cùng các ngành chức nắng soạn thảo và hoàn chỉnh các đề án, Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị trình HĐND và UBND huyện để ban hành. Thống nhất việc ban hành các văn bản của HĐND và UBND, Chủ tịch UBND.

    – Theo dõi, đôn đốc các cơ quan chuyên môn trong việc chuẩn bị các đề án được phân công để trình cấp có thẩm quyền. Tổ chức thực hiện truyền đạt của cấp trên của HĐND và UBND huyện đến các ngành , các cấp và đôn đốc thực hiện.

    – Thường xuyên cung cấp và sử lý thông tin kịp thời, chính xác phục vụ cho công tác của lãnh đạo của HĐND và UBNDhuyện, giúp lãnh dạo cơ quan thực hiện các chế độ thông tin báo các lên cấp trên.

    – Thực hiện tốt mối quan hệ làm việc giữa UBND huyện, Chủ tịch UBND với Thường trực Huyện uỷ, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, TMTQ và các đoàn thể nhân dân huyện.

    1. Công tác hành chính tổ chức .

    – Tổ chức, công tác quản lí Văn thư( công văn , giấy tờ ,tài liệu…) và lưu hồ sơ của cơ quan theo qui định của nhà nước.

    1. Công tác quản trị tài vụ

              – Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật phương tiện làm việc cho lãnh đạo và cán bộ của cơ quan.

    – Quản lí tài sản công dân , ngân sách của cơ quan theo chế độ về tài chính nhà nước.

    – Các hoạt động dịch vụ công : Lễ tân, nhà khách , ô tô, điện thoại….

    1. Cơ cấu tổ chức .

    Văn phòng UBND huyện là đơn vị giúp việc cho UBND huyện, văn phòng là cầu nối giữa UBDN với các phòng , Ban và các xã , thị trấn thuộc huyện cũng như các huyện, tỉnh bạn. Văn phong UBND là nơi tổng hơpk thông tin và truyền đạt thông tin đến các nơi cần thiết để giải quyết các công việc hành ngày của cơ quan và các đơn vị trong Huyện.

    Văn phòngUBND huyện VĨnh Tường có 26 cán bộ trong đó có 19 cán bộvào biên chế và 07 cán bộ làm hợp đồng. Các cán bộ đều có trình độ chuyên môn cao và phẩm chất chính trị tốt.

     

     

    CHƯƠNG II. CÔNG TÁC VĂN THƯ – LƯU TRŨ VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG TẠI UBND HUYỆN VĨNH TƯỜNG

             

    I. CÔNG TÁC VĂN THƯ

              Công tác văn thư là toàn bộ quá trình xác định Văn bản và tổ chức quản lý, sử dụng các loại Văn bản trong hệ thống cơ quan Nha f nước kết quả của tác Văn thư là sự khởi đầu công tác Lưu trữ, công tác Văn thư chính là tiền đề của công tác Lưu trữ. Công tác Văn thư được thể hiện tốt có tác dụng đối với toàn xã hội.

    Công tác Văn thư tại phòng UBND huyện Vĩnh tường đóng vai trò hết sức quan trọng và được thẻ hiện ở những điểm sau:

    – Công tác Văn thư là sợi dây liên hệ giữa các cơ quan , tổ chức, quần chúng nhân dân và giữa các cơ quan với nhau. Công tác Văn thư góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đảm bảo hiệu lực pháp lý của Văn bản.

    – Công tác Văn thư được xác định như một hoạt động , một mắt xích quan trọng không thể thiếu trong bộ máy hoạt động quản lý của Văn phòng UBND huyện. Cho nên làm tốt công tác Văn thư sẽ góp phần giải quyết công việc của cơ quan nhanh chóng, chính xác, khoa học đảm bảo được các bí mật.

    1. Quản lý chỉ đạo công tác Văn thư

    Công tác Văn thư được đặt dưới sự quản lý của Văn phòng với mục đích nâng cao hiệu quả của công tác Văn thư trong quá trình giải quyết công việc, đáp ứng nhu cầu thực tế của UBND huyện – là cơ quan quản lý Nhà nước ở dịa phương , công tác Văn thư ở Văn phòng đang rất được quan tâm, chỉ đạo, giám sát, đôn đốc của lãnh đạo, Cán bộ Văn phòng đã làm tốt công tác này .

    – Trong quá trình hoạt động Văn phòng HĐND và UBND Huyện ban hành các văn bản nhằm chỉ đạo, hướng dẫn công tác văn thư. Đặc biệt là ban hành các Văn bản nhằm chỉ đạo về Nghiệp vụ chuyên môn cho Cán bộ chuyên trách lĩnh vực này. Thực hiện Thông Tư liên tịch số 55/2005/TT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày Văn bản, Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 về công tác Văn thư …Văn phòng Uỷ ban cũng luôn quan tâm cụ thể đến công việc đưa Cán bộ đi tập huấn chuyên môn ở cấp tỉnh , để nhằm nâng cao chất lượng Cán bộ tại Uỷ ban nhân dân huyện vào cuối mỗi năm hoạt động , văn phòng thường tổ chức Hội nghị tổng kết về công tác Văn thư – Lưu trữ trên địa bàn toàn huyện , đề ra phương hướng nhiệm vụ nămtới tạo điều kiện cho công tác Văn thư ngày một đi vào hoạt động có nề nếp và hiệu quả , phục vụ đắc lực cho hoạt động của cơ quan .

    – Nhìn chung việc quản lí , chỉ đạo công tác Văn thư của UBND huyện đã được tổ chức thực hiện tốt. Tuy nhiên để công tác Văn thư cơ quan được vận hành tốt hơn thì cần có sự kiểm tra , đôn đốc và chỉ đạo về Nghiệp vụ cho Cán bộ Văn thư nhiều hơn.

    1. Công tác soạn thảo văn bản

    Trong công tác Văn thư, soạn thảo văn bản là một khâu Nghiệpvụ quan trọng. Do đó công tác này luôn được chú trọng trong các cơ quan .

    Tại UBND huyện Vĩnh Tường , công tác soạn thảo , ban hành Văn bản được tiến hành đúng qui trình thủ tục ban hành một Văn bản. Văn bản được ban hành đúng đảm bảo đúng qui định ,có đầy đủ thể thức , có hiệu lực pháp lý cao, giúp giải quyết công việc một cách nhanh chóng , đảm bảo đúng quy định của Nhà nước.

    1. Quy trình soạn thảo

              Công tác soạn thảo –Ban hành Văn bản được giao cho cán bộ chuyên trách ở Văn phòng HĐND và UBND đảm nhận.

    Quy trình soạn thảo và ban hành được tiến hành theo trình tự sau:

    Văn bản sau khi được nhân viên soạn thảo đánh máy xong  được chuyển đến Chánh văn phòng xem xét , kiểm tra,sau đó trình lên Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND Huyện ký ban hành.

    Sau khi ký vâưn bản được tập trung ở Văn phòng để kiểm tra lại lần nữa. Khi đã kiểm tra thấy không có vấn đề gì , Nhân viên Văn thư tiến hành đánh số, ghi ngày, tháng năm ban hành Văn bản và đăng ký vào sổ “Đăng ký văn bản đi ” sau đó nhân văn bản theo nơi nhận, đóng dấu và làm thủ tục gửi văn bản đi một cách nhanh chóng chính xác , Văn phòng giữ lại hai bản.

    01 bản lưu ở bộ phận soạn thảo

    01 bản lưu ở bộ phận Văn thư

    Việc lưu lại văn bản ban hành đã giúp văn phòng làm tốt công tác quản lí Văn bản, tài liệu. Đồng thời Văn bản được lưu lại cũng giúp cho cơ quan giải quyết tốt công việc khi có sự cố xẩy ra hoặc giải quyết công việc tồn đọng lien quan đến Văn bản.

    Thẩm quyền ban hành : UBND huyện vĩnh Tường có thẩm quyền ban hành các Văn bản như: Quyết định , Chỉ thị, Tờ trình, Báo cáo,Công văn, Giấy mời… các văn bản ban hành luôn dược đảm bảo về mặt thể thức và hiệu lực pháp lý.

    1. Thể thức văn bản:

    Thể thức Văn bản là những yếu tố thông tin cần thẻ hiện ở một Văn bản nhất định theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    Qua khảo sát thực tế tại UBND huyện Vĩnh Tường tôi thấy thể thức Văn bản được trình bày theo đúng quy định của nhà nước.

    Tên cơ quan ban hành văn bản và quốc hiệu được trình bày ở phía trên cùng của Văn bản, dòng “CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” được trình bày bằng chữ in hoa, phông chữ VnTimeH đậm, cỡ chữ 13 nét đậm, dòng “Độc Lập -Tự do- Hạnh phúc” phông chữ VnTime đậm có gạch chân, từ đầu dòng đến cuối dòng được trình bày ở góc trên bên phải văn bản:

    “CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập- Tự do-Hạnh phúc”

    Tác giả văn bản được trình bày ở góc bên trái của văn bản viết bằng phông chữ VntimeH cỡ chữ 13 nét đứng đậm có dấu gạch chân ở 2/3 dòng cuối.

    Địa danh và ngày tháng ban hành văn bản được trình bày phía dưới quốc hiệu kiểu chữ VnTime cỡ chữ 14 nét nghiêng.

    “ Vĩnh Tường, ngày…tháng…năm……..”

    Số và ký hiệu của văn bản: Số của Văn bản là số thứ tự Văn bản ban hành trong một năm bắt đầu từ số 01 đến ngày cuối cùng trong năm .

    Ký hiệu văn bản là tên viết tắt của tên loại văn bản ban hành , số và ký hiệu được trình bày ở dưới tác giả của văn bản . Số văn bản được trình bày bằng phông chữ VnTime ký hiệu VnTimeH cỡ chữ 13 kiểu chữ đứng:

    “Số: 01/QĐ-UBND”

    Tên loại và trích yếu nội dung được trình bày ở phần địa danh và ngày tháng năm ban hành Văn bản. Tên loại được trình bày bằngphông chữ VnTimeH, cỡ chữ 14 nét đứng đậm. Trích yếu nội dung là một câu văn ngắn gọn ở dưới phần tên loại, phông chữ VNnTime, cỡ chữ 14 nét đậm

    QUYẾT ĐỊNH

                                          V/v Bổ nhiệm cán bộ

    Nội dung văn bản trình bày dười tên loại và trích yếu nội dung , nội dung văn bản cần trình bày chĩnh xác, ngắn gọn dễ hiểu.

    Thể thức đề ký và chữ kỹ được trình bày ở dưới nội dung góc bên phải của Văn bản bằng chữ VnTimeH, cỡ chữ 13.

    Con dấu thể hiện tính chân thực và đảm bảo pháp lý của Văn bản dấu được đóng trùm lên 1/3 chữ ký lệch về bên trái . Dấu đóng rõ ràng , đúng chiều.

    Nơi nhận là tên cơ quan đơn vị cá nhân mà văn bản được gửi đến , nơi nhận được trình bày ở phía dưới góc bên trái của Văn bản , trình bày bằng phông VnTime cỡ chữ 12 nét nghiêng, đậm .

    • Nhận xét : Qua khảo sát thực tế tôi thấy thể thức của Văn bản UBND huyện Vĩnh Tường trình bày theo đúng thể thức Văn bản do Nhà nước quy định . Văn bản ban hành luôn đảm bảo đúng thể thức và hiệu lực pháp lý.
    • Ví dụ : Quyết định của UBND huyện Vĩnh Tường có thể như sau:

    UỶ BAN NHÂN DÂN                    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    HUYỆN VĨNH TƯỜNG                            Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

               ________________                                               ____________________

    Số: 20/QĐ-UBND                               Vĩnh tường , ngày …tháng…năm 2006

    QUYẾT ĐỊNH

    V/v Bổ nhiệm cán bộ

    CHỦ TỊCH UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG

    Căn cứ ………..;

    Căn cứ…………;

    Theo đề nghị ….,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Điều 1. Nay bổ nhiệm ông ……………..

    Điều 2. Nhiệm vụ …………………………

    Điều 3. Ông :…………….

    Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

    Nơi nhận :

    -Như điều 3:                                                                         CHỦ TỊCH

    -Lưu VT.                                                                        (đã ký)

    Hàng năm số lượng Văn bản được ban hành ở UBND huyện như sau:

    Năm Quyết định Chỉ thị Côngvăn Báo cáo
    2004 1.252 08 198 79
    2005 2.038 07 240 99
    2006 1.474 12 282 111

    Ngoài ra ba năm trên còn ban hành rất nhiều Văn bản khác như giấy mời, giấy giới thiệu…

    3.Quản lí văn bản

    3.1 Quản lý văn bản đi

              Văn bản đi là Văn bản , tài liệu do cơ quan gửi đi các cơ quan khác tại UBND huyện Vĩnh Tường có các loại Văn bản , tài liệu gửi như Quyết định , Chỉ thị , Công văn…

    Trong hoạt động hàng năm của cơ quan UBND huyện Vĩnh Tường Văn bản hình thành chưa phải là nhiều nhưng công tác quản lí Văn bản đi được tổ chức rất tốt , đúng quy định của Nhà nước. Công tác quản lí Văn bản được tổ chức tốt ở tất cả các khâu.

    1. Đánh máy in văn bản:

    Để trang bị cho việc đánh máy in Văn bản, Văn phòng UBND huyện Vĩnh Tường đã trang bị 02 máy tính và một máy in . Cơ quan cũng đã có một nhân viên đánh máy chuyên trách . Trong cơ quan đã xây dựng phòng đánh máy riêng.

    Nhân viên đánh máy , nhận Văn bản , kiểm tra lỗi chính tả , rà soát lại bản thảo tay với người soạn thảo , khi thấy không có vấn để gì thì đánh máy nguyên Văn bản đã viết tay và in văn bản . Văn bản khi đã được đánh máy xong và kiểm tra chặt chẽư về thể thức thì được nhân bản để làm thủ tục gửi đến các phòng ban (đối với văn bản ban hanh nội bộ ) và gửi đi các cơ quan khác (đối với Văn bản gửi đi ngoài cơ quan ).

    • Nhận xét:

    + Qua khảo sát tôi thấy công tác đánh máy , in Văn bản để ban hành tại UBND huyện Vĩnh Tường được tiến hành tương đối đúng quy trình .

    +Văn bản được đánh máy đúng, rõ ràng , trình bày đúng kỹ thuật kích cỡ giấy theo qui định của Nhà nước.

    Lề trên 2.5 cm                         Lề dưới 2.5cm

    Lề trái 3,5cm                           Lề phải 2cm

    Và đầy đủ các yếu tố thể thức đảm bảo bí mật của Văn bản đánh máy.

    1. Trình ký

    +Ký Văn bản để ban hành là một khâu quan trọng nó thể hiện tính hiệu lực pháp lý của Văn bản , Văn bản trình ký phải được kiểm tra về thể thức nội dung chặt chẽ.

    Tại UBND huyện Vĩnh Tường việc ký văn bản được tiến hành theo nguyên Văn bản sau khi đã đánh máy , in xong thi Chánh Văn phòng kiểm tra vể thể thức , nội dung Văn bản đã đúng chưa, hoàn chỉnh chưa, rồi trình lên Chủ tịch hoặc các Phó chủ tịch ký theo thẩm quyền đã qui định trong qui chế hoạt động của cơ quan.

    • Nhận xét:

    UBND huyện Vĩnh Tường bên cạnh việc thực hiện đúng đầy đủ các quy định về trình ký theo quy định của Nhà nước còn có quy định riêng về ký Văn bản nên đã giúp cho Chánh Văn phòng sắp xếp Văn bản cần trình ký một cách nhanh chóng , trình ký đúng thẩm quyền , tạo điều kiện cho Văn bản được ban hành đúng quy định .

    1. Công tác đóng dấu Văn bản :

    Văn bản sau khi ký phải được đóng dấu để ban hành .

    Qua khảo sát, tôi thấy việc đóng dấu ban hành Văn bản ở UBND huyện Vĩnh Tường được tiến hành khá tốt.

    Dấu được giao cho một cán bộ Văn thư chịu trách nhiệm giữ và đóng dấu , dấu chỉ đóng lên những Văn bản được kiểm tra về thể thức , ký đúng thẩm quyền ,dấu được đóng đúng vị trí là 1/3 phần bên trái chữ ký .

    UBND huyện Vĩnh tường sử dụng các loại dấu sau:

    -Dấu quốc huy (dấu tròn ) của HĐND và UBND

    -Dấu văn phòng

    -Dấu chức danh: Dấu chủ tịch , phó chủ tịch , dấu tên chủ tịch, Dấu tên phó chủ tịch…

    -Dấu phục vụ công tác văn thư như: Dấu đến , dấu mật , khẩn , hoả tốc…

    *Nhận xét:

    Dấu được giao cho cán bộ văn thư chịu trách nhiệm giẵ và đóng dấu nên dấu được bảo quản tốt, lau chùi sạch sẽ và việc đóng dấu cũng đúng quy định, đóng dấu rõ ràng , đúng chiều.

    1. Đăng ký văn bản đi:

    Đăng ký Văn bản đi là ghi chép một số điều cần thiết về một Văn bản đi như số, ký hiệu, ngày tháng năm, trích yếu nội dung Văn bản vào trong những phương tiện đăng kýVăn bản như sổ, máy tính … nhằm quản lý chặt chẽ và tra tìm Văn bản được nhanh chóng.

    Tất cả các công văn đi của UBND huyện Vĩnh Tường , sau khi đã có chữ ký và đóng dấu xong thì được đăng ký vào “ số đăng ký công văn đi ” của cơ quan. Văn bản đăng ký rõ ràng chính xác.

    Văn bản sau khi dược kiểm tra về thể thức, Nhân viên văn thư ghi số. ký hiệu ngày tháng năm lên văn bản rồi tiến hành đăng ký sổ Văn bản được lấy theo năm và theo tên loại Văn bản.

    Do số lượng Văn bản hình thành trong cơ quan ít nên chỉ lập hai sổ là:

    Sổ Đăng ký Văn bản mật đi, sổ đăng ký cho tất cả các loại Văn bản đi.

    Mẫu sổ “Đăng ký văn bản đi ” của UBND huyện Vĩnh Tường theo quy định của Nhà nước (mẫu sổ ở phần phụ lục số 2)

    • Nhận xét :

    Ưu điểm việc đăng kí văn bản đi bằng sổ ở UBND huyện Vĩnh Tường rất dễ làm , các Văn bản được đăng ký vào sổ chính xác , đủ thể thức . Cán bộ Văn thư thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ .

    Nhược điểm : Bên cạnh viẹc dễ làm thì đăng ký Văn bản bằng sổ lại gây khó khăn cho việc tra tìm như :Mất thời gian , tốn công khi cần thiết .

    1. Chuyển giao Văn bản

    Để đảm bảo công việc được giải quyết nhanh chóng hiệu quả , các Văn bản sau khi đã có chữ ký của người có thẩm quyền , làm thủ tục gửi đi ngay đến đúng  nơi nhận. Việc gửi Văn bản ở UBND huyện Vĩnh Tường đến các cơ quan hay cá nhân ngoài cơ quan gửi qua đường bưu điện, Văn phòng UBND đã chọn sử dụngu hai laọi phong bì , loại nhỏ có kích thước 13cm x 20cm và loại lớn hơn là 15cm x 25cm phong bì được trình bày theo mẫu rõ ràng, có hai phần:

    +Phần nơi gửi : Được trình bày ở góc trái sát mép trên của phong bì .

    +Phần nơi nhận : Được trình bày ở góc phải sát mép dưới cảu phong bì . Khi làm thủ tục gửi Văn bản , Cán bộ văn thư tiến hành ghi các thông tin vào hai phần trên đầy đủ rõ ràng . Đặc biệt phần nơi nhận , ghi rõ tên , địa chỉ của cơ quan , cá nhân nhận Văn bản theo ý kiến phân phối .

    Đối với những văn bản khẩn được đóng “dấu khẩn “để công tác chuyển được nhanh chóng kịp thời .

    Đối với những Văn bản ban hành mà đối tượng tiếp nhận là các phòng ban trong Uỷ ban thì việc chuyển giao được tiến hành bằng hình thức giao đến tận phòng sau khi Văn bản đã được kiểm tra đầy đủ thủ tục và có chữ ký , con dấu hợp lệ.

    • Nhận xét :  Nhìn chung công tác chuyển giao Văn

    bản “Đi” của UBND huyện Vĩnh Tường được tiến hành nhanh chóng đảm bảo Văn bản gửi đi đúng địa chỉ , đúng thẩm quyền giải quyết công việc , một cách nhanh chóng hiệu qủa , nâng cao chất lượng quản lý Nhà nước bằng Văn bản.

    1. Quản lý bản lưu văn bản đi:

              Để phục vụ mục đích giải quyết công việc hàng ngày và phục vụ mục đích lâu dài , các Văn bản đi cuả tất cả các cơ quan phải được lưu lại 2 bản : Một bản lưu ở Văn thư, một bản giao cho đơn vị soạn thảo để lập hồ sơ công việc của nhân viên soạn thảo . Các bản lưu này phải được sắp xếp một cách khoa học, dẽ tra tìm.

    Công tác quản lí bản lưu tại UBND huyện Vĩnh Tường được tiến hành như sau:

    Sau khi mỗi văn bản được ban hành , ngoài số Văn bản chuyển theo ý kiến phân phối , Cán bộ Văn thư đều lưu lại hai bản :01 bản để lưu vào hồ sơ công việc của cán bộ đã soạn thảo ra Văn bản , 01 bản lưu ở phòng Văn thư. Hai bản này được đảm bảo đầy đủ về thể thức và nội dung .

    Công tác sắp xếp bản lưu được tiến hành : Văn bản nào được hình thành trước sắp xếp xuống dưới , Văn bản nào hình thành sau sắp lên trên. Việc này tạo điều kiện cho việc tra tìm dễ dàng , nhanh chóng khi cần thiết .

    Trên cơ sở quan sát được tôi thấy công tác quản lí bản lưu UBND huyện được tổ chức rất tốt , đảm bảo các văn bản ban hành ra đều được lưu giữ lại một văn bản để phục vụ cho hoạt động hàng ngày của Uỷ ban.

    3.2 Quản lý văn bản đến :

    ** Khái niệm về văn bản đến:

    Văn bản ( Công văn ) đến là toàn bộ văn bản –Tài liệu do cơ quan nhận được từ nơi khác đến .

    UBND huyện Vĩnh Tường là cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm điều hành và chấp hành ở điọa phương trong quá trình hoạt động Uỷ ban phải nhận một khối lượng văn bản đến khá lớn của các cơ quan chính quỳen cấp trên chỉ đạo hoạt động. Để giải quyết tốt công việc , các văn bản đến đã được tổ chức , quản lí rất chặt chẽ, đảm bảo thông tin ho hoạt động quản lí và bảo quản tài liệu phục vụ cho hoạt động hằng ngày của cơ quan.

    Hằng ngày UBND huyện vĩnh tường phải nhận các loại công văn đến của TW , cơ quan tỉnh , văn bản giao dịch của các huyện bạn và các đơn thư của công dân trong địa bàn huyện. Vì vậy công tác quản lí công văn đi đến được tổ chức rất cụ thể , đúng quy định của Nhà nước đề ra.

    Qua quá trình khảo sát thức  tế, tôi thấy công tác quản lý công văn đến ở UBND huyện Vĩnh Tường được tiến hành theo trình tự sau:

    1. Tiếp nhận , bóc bì văn bản:

    Qua khảo sát tôi thấy việc tiếp nhận , bóc bì văn bản ở UBND huyện Vĩnh Tường được tiến hành rất tốt.

    Nhân viên văn thư chịu trách nhiệm tiếp nhận văn bản đến và kiểm tra, phân loại các văn bản đến này.

    Khi nhận được văn bản , Nhân viên Văn thư kiểm tra một cách cẩn thận xem phong bì có bị bóc trước không , kiểm tra xem có đúng Văn bản gửi cho UBND huyện không, số lượng Văn bản có đầy đủ không , có bị rách thủng không. Với những trường hợp có sai sót thì Nhân viên văn thư sẽ báo ngay cho Chánh Văn phòng xử lí kịp thời. Sau khi đã kiểm tra xong thì Nhân viên văn thư tiến hành phân ra hai loại là loại những Văn bản cần đăng ký vào sổ và loại thư từ riêng.

    Việc bóc bì văn bản được tiến hành cẩn thận. Nhân viên Văn thư đã dùng kéo để bóc bì và đảm bảo không mất dấu bưu điện, không làm mất số , kí hiệu đã ghi ngoài bì văn bản.

    Nhân viên văn thư luôn bóc bì những Văn bản có dấu khẩn hay hoả tốc trước để đảm bảo nội dung văn bản được giải quyết kịp thời. Với văn bản mật thì Uỷ ban huyện giao trách nhiệm bóc bì cho Chánh Văn phòng.

    1. Đóng dấu đến và đăng ký văn bản vào sổ:

    Để tạo điều kiện cho việc quản lí Văn bản được chặt chẽ , tất cả công văn đến cơ quan đều được nhân viên Văn thư đóng dấu đến và ghi rõ ràng lên đó các thông tin về số đến, ngày tháng năm đến.

    Số đến là số thứ tự văn bản đến cơ quan, được đánh số từ 01 đến số cuối cùng của tất cả các Văn bản đến Uỷ ban trong một năm. Nhân viên Văn thư thường đóng dấu đến vào dưới phần số và ký kiệu công văn đến.

    Mẫu dấu đến của UBND huyện Vĩnh Tường được trình bày như sau:

    CÔNG VĂN ĐẾN
    Số đến:………..

     

    Ngày…tháng….năm……

     

    Dấu đến có kích thước là : chiều rộng 3cm, chiều dài 5cm.

    Sau khi đóng dấu đến , ghi số , ngày tháng năm đến, Nhân viên văn thư , tiến hành đăng ký văn bản đến vào “ Sổ đăng ký Văn bản đến ” một cách chính xác đầy đủ .

    Tại UBND huyện Vĩnh Tường đang quản lí Văn bản bằng sổ hàng năm do số lượng văn bản đến không nhiều UBND huyện lập các số đăng ký Văn bản theo hai loai là : Một “ Sổ đăng ký văn bản mật đến ”, một “ Sổ đăng ký cho tất cả các loại văn bản đến” của Uỷ ban.

    Mẫu bìa và ruột sổ đăng ký công văn đến của UBND huyện Vĩnh Tường ( phần mục lục số 1 )

    • Nhận xét :

    Công tác đăng ký văn bản đến bằng sổ ở UBND huyện Vĩnh Tường được tiến hành khá tốt . Các văn bản đến đều được đăng ký vào sổ , lấy số , ký hiệu rõ ràng đảm bảo cho việc tra tìm về sau.

    Việc đăng ký bằng sổ tương đối dễ làm, Nhân viên Văn thư hầu như không gặp khó khăn gì trong việc đăng ký các thông tin trên văn bản vào sổ.

    1. Trình phối và chuyển giao văn bản đến :

    Tất cả các văn bản đến , sau khi đã được bóc bì , đóng “ Dấu đến” và đăng ký vào sổ để  quản lý, Nhân viên Văn thư sẽ tập hợp lại trình Chánh Văn phòng Uỷ ban xin ý kiến phân phối đến các bộ phận, cá nhân trong cơ quan.

    Sau khi Chánh Văn phòng đã ghi ý kiến phân phối đến các lãnh đạo HĐND và UBND , Nhân viên Văn thư tiến hành đăng ký các thông tin vào cột “ Nơi nhận , người nhận ” rồi trực tiếp chuyển Văn bản đến tất cả các phòng Ban, bộ phận , cá nhân theo ý kiến đã cho.

    Khi chuyển Văn bản đến ai thì Nhân viên Văn thư đến xin chữ ký vào cột “ ký nhận ” để đảm bảo về tính nguyên tắc cũng như để quản lí Văn bản được chặt chẽ đồng thời làm cơ sở để làm tốt công tác kiểm tra , theo dõi việc giải quyết Văn bản.

    1. Tổ chức giải quyết và kiểm tra việc giải quyết văn bản:

              Các văn bản đến UBND huyện Vĩnh Tường đều được tổ chức giải quyết nhanh chóng , khi đã chuyển đến bộ phận có thẩm quyền việc chuyển công văn cũng đảm bảo đúng quy định , đúng địa chỉ của đơn vị , cá nhân…

    Việc kiểm tra theo dõi công tác giải quyết công văn thuộc thẩm quyền của Chủ tịch cùng với Chánh Văn phòng và nhân viên Văn thư. Nhân viên văn thư luôn quan tâm việc giải quyết văn bản đến cuả các bộ phận , có những chắc trở kịp thời khi văn bản chưa được giải quyết đặc biệt là văn bản có dấu mật hoặc khẩn .Tuy nhiên văn phòng HĐND và UBND huyện chưa có sổ theo dõi giải quyết Văn bản đến mà chỉ nhắc nhở cho nên chưa làm tốt công tác quản lí Văn bản , tổ chức giải quyết Văn bản chưa sát.

    1. Công tác lập hồ sơ và nộp lưu tài liệu :

    Hồ sơ là một tập( hoặc một văn bản) có liên quan với nhau vì một vấn đề, một sự việc hoặc một người , được hình thành trong quá trình giải quyết công việc thuộc phạm vi, chức năng nhiệm vụ của cơ quan.

    Lập hồ sơ là quá trình tập hợp các văn bản –Tài liệu hình thành các hồ sơ trong khi giải quyết công việc theo các nguyên tắc , phương pháp nhất định. Lập hồ sơ tốt, sẽ giúp cho cơ quan nâng cao hiệu xuất và chât lượng công việc, đồng thời tạo điều kiện để làm tốt công tác Lưu trữ.

    Theo bản điều lệ ban hành kèm theo Nghị định 142/CP ngày 18/9/1963 của Văn phòng chính phủ về công tác công văn -giấy tờ quy định :” Cán bộ , Nhân viên làm công tác công văn -giấy tờ và cán bộ làm công tác chuyên môn khác nhưng đôi khi có việc liên quan đến công văn giấy tờ đều phải lập hồ sơ công việc mình đã làm”.

    Thực hiện qui định trên , UBND huyện Vĩnh Tường đã quy định : Cứ sau mỗi công việc được giải quyết thì các phòng , Ban chuyên môn , các cá nhân lãnh đạo phải lập hồ sơ công việc của mình. Tuy nhiên chỉ có một số phòng ban làm tốt , nhiều bộ phận khác chưa làm tốt công tác này .

    Các phòng ban đã tiến hành lập hồ sơ như :

    Phòng tư pháp

    Phòng TN-MT

    UBND huyện đã xây dựng được bản danh mục hồ sơ để các phòng, Ban trong Uỷ ban biết được các tài liệu phải lập hồ sơ giúp cho việc lập hồ sơ được tiến hành nhanh chóng , đúng quy định .

    Tuy cơ quan đã có quy định về lập hồ sơ hiện hành nhưng công tác này chưa được thực hiện tốt , một số tài liệu nộp lưu vẫn đang ở trong tình trạng bó gói, chưa được sắp xếp , biên mục rõ ràng .

    Với một số hồ sơ đã được lập thì văn bản được xếp theo thứ tự khoa học, đánh số văn bản cụ thể , đảm bảo thuận tiện khi tra tìm . Các hồ sơ đã được lập vào cuối năm được nộp lưu vào bộ phận Lưu trữ đúng quy định thời gian , tạo điều kiện làm tốt công tác Lưu trữ.

    • Nhận xét:

    Ưu điểm : Với những tài liệu đã được lập hồ sơ, đảm bảo sắp xếp gọn gàng, đánh số thứ tự rõ ràng . Hồ sơ được biên mục cụ thể hoặc tên gọi nên rất dễ tra tìm .

    Nhược điểm :Hầu hết tài liệu trong hoạt động của Uỷ ban nhân dân Huyện chưa được lập hồ sơ , việc này làm ảnh hưởng đến việc thu nhập , bảo quản tài liệu ở tình trạng lộn xộn, lưu trữ khi chưa lập hốơ nên hạn chế việc tổ chức sử dụng tài liệu , khó tìm và gây khó khăn cho công tác chỉnh lý.

    1. Quản lý và sử dụng con dấu.

    Một trong những nội dung cơ bản của công tác Văn thư trong các cơ quan là việc quản lí và sử dụng con dấu đúng theo quy định của Nhà nước vì con dấu là yếu tố quan trọng trong thủ tục Hành chính hiện hành .

    Một văn bản ban hành ngoài đầy đủ các thể thức và khi đã có chữ ký của người có thẩm quyền vẫn phải có dấu đóng mới có hiệu lực pháp lý .

    Tại UBND huyện Vĩnh Tường Văn phòng là nơi diễn ra các hoạt động của công tác văn thư cũng như việc quản lí và đóng dấu .

    Nắm được tính chất quan trọng của Con dấu  Cán bộ Văn phòng nói chung là người chịu trách nhiệm quản lý và đóng dấu nói riêng đã thức hiện việc sử dụng bảo quản dấu rất tốt .

    UBND huyện Vĩnh Tường sử dụng hai loại dấu là: Dấu cơ quan có quốc huy và dấu văn phòng và các dấu như : Dấu mật , dấu khẩn, hoả tốc , dấu đến , dấu chức danh của các chủ tịch và các phó chủ tịch, dấu của Chánh văn phòng.

    Dấu được đóng đúng quy định , chỉ đóng lên những văn bản có đầy đủ thông tin và chữ ký hợp lệ , không đóng dấu lên giấy trắng hay những văn bản không đúng thể thức . Dấu được đóng vào 1/3 chữ ký lệch về bên trái , cơ quan dùng mực dấu là mực đỏ để đóng lên văn bản.

    • Nhận xét : Qua quá trình khảo sát thực tế tại UBND huyện tôi thấy công tác quản lí và sử dụng con dấu tại cơ quan như sau:

              Dấu của UBND huyện Vĩnh Tường được bảo quản cẩn thận, lau chùi sạch sẽ , đặt vào ngăn tủ tại cơ quan , có khoá tủ chắc chắn .Dấu chỉ đóng vào những Văn bản có đầy đủ thông tin và chữ ký hợp lệ . Dấu đóng đúng qui định của Nhà nước.

    1. Lập hồ sơ hiện hành

              Tổ chức quản lí công văn giấy tờ trong một cơ quan nhằm phục vụ thông tin kịp thời nhanh chóng , chính xác cho công tác quản lí không những ở khâu quản lí công văn Đi – Đến mà công tác lập hồ sơ hiện hành cũng đóng vai trò hết sức quan trọng .

    Lập hồ sơ hiện hành là khâu cuối cùng trong các nội dung của công tác Văn thư là móc xích nối liền giữa công tác văn thư với công tác Lưu trữ.

    Như chúng ta đã biết trong quá trình giải quyết công việc của một cơ quan, công văn giấy tờ được sản sinh ra có loại có giá trị để giải quyết công việc trước mắt , có loại sau khi giải quyết công việc xong cần giữ lại bảo quản nhằm phục vụ nghiên cứu lâu dài, giữ gìn bí mật nội dung của tài liệu.

    Qua khảo sát tôi thấy : Công tác lập hồ sơ hiện hành tại UBND huyện Vĩnh Tường đảm bảo yêu cầu , tài liệu trong hồ sơ có sự liên quan chặt chẽ với nhau, Văn bản trong hồ sơ chủ yếu là bản gốc nên hồ sơ lập ra có giá trị nghiên cứu và có thể dùng làm bằng chứng pháp lí.Trong quá trình lập hồ sơ thì Cán bộ Văn thư cũng đã biên mục đầy đủ bên trong và bên ngoài bìa hồ sơ.

              Ví dụ:

    • Hồ sơ về việc nâng lương cho Cán bộ công chức năm 2006 gồm :

    + Biên bản họp hội đồng ngày 12/6/2005 về việc xét nâng lương cho Cán bộ công chức năm 2005.

    + Danh sách Cán bộ đề nghị nâng lương đợt 1.

    +07 quyết định nâng lương của từng Cán bộ công  chức

    + Danh sách Cán bộ đề nghị nâng lương đợt 2

    +24 quyết định nâng lương của từng Cán bộ công chức

    Theo đúng quy định của nhà nước sau khi kết thúc công việc một năm , Cán bộ chuyên môn nộp hồ sơ vào Lưu trữ cơ quan và Cán bộ Lưu trữ tiến hành thu thập bổ xung tài liệu vào Lưu trữ , công việc này được tiến hành theo quy định.

    • Nhận xét: Qua quá trình khảo sát thực tế tại UBND huyện Vĩnh Tường tôi thấy công tác lập hồ sơ hiện hành được thực hiện khá tốt. Cán bộ Văn thư đã lập danh mục hồ sơ trước khi đưa vào Lưu trữ cơ quan.

    ( Danh mục hồ sơ và mục lục hồ sơ phần phụ lục số 6 và số 7 ).

    II.QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG.

    1. Mô hình văn phòng:

    Văn phòng UBND huyện Vĩnh Tường tên đầy đủ là Văn phòng HĐND điều hành của HĐND –UBND huyện trong việc quản lí Nhà nước ở địa phương.

    UBND Huyện đã bố trí Văn phòng ở vị trí rất thuận tiện cho việc giao dịch cũng như giải quyết tốt các nhiệm vụ khác . Văn phòng được bố trí ở tầng 1 gần cửa ra vào , rất tiện cho việc giải quyết công việc hàng ngày.

    Phòng Văn thư của Văn phòng HĐND và UBND huyện là một phòng khép kín , được trang bị đầy đủ các thiết bị cần thiết để tiến hành chuyên môn , trong phòng có 2 bàn làm việc đặt cạnh cửa sổ ra vào , trên bàn có một máy điện thoại, đây là phương tiện thu thập , xử lý thông tin một cách nhanh nhất. là cầu nối thông tin giữa Cán bộ Văn phòng với lãnh đạo Uỷ ban nhân dân.

    Hai tủ đựng tài liệu : Hai chiếc tủ được đặt gọn gàng trong phòng ; à nơi cất giữ , bảo quản an toàn cho khối tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan.

              * Nhân xét:

    Cách bố trí Văn phòng văn thư của UBND huyện Vĩnh Tường theo mô hình khép kín , tạo ra một không gian làm việc yên tĩnh , tập trung cho cán bộ Văn thư , không gây ảnh hưởng đến người khác , đảm bảo tính kín đáo, bí mật của công tác Văn thư.

    Thiết bị Văn phòng hiện đại được sử dụng là máy tính và phục vụ cho việc soạn thảo là chủ yếu .Do điều kiện khách quan mà máy ở đây chưa được nối mạng nên chưa phát huy được hết tính ưu việt của nó ( như theo dõi các thông tin trên mạng để phục vụ cho mục đích quản lý trong cơ quan).

    Nhìn chung đội ngũ Cán bộ Văn phòng có trình độ chuyên môn, có phẩm chất chính trị tốt, có tinh thần trách nhiệm với công việc.

    1. Tổ chức lao động khoa học Văn phòng và trang thiết bị Văn phòng

    Văn phòng UBND huyện Vĩnh Tường gồm có 01 Chánh Văn phòng , 02 phó Chánh Văn phòng và có 23 Nhân viên, trong đó có 19 Nhân viên đã vào biên chế và 06 Nhân viên hợp đồng. Trong đó có 01 Cán bộ Văn thư .

    Sơ đồ tổ chức thiết bị làm việc phòng Văn thư

    của UBND huyện Vĩnh Tường.

     
       
    1. Bàn làm việc (Điện thoại)
    2. Bàn làm việc
    3. Máy tính , máy in , máy fax
    4. Ghế ngồi
    5. Tủ đựng tài liệu
    6. Quạt điện

    III. CÔNG TÁC LƯU TRỮ.

    1.Sự chỉ đạo về công tác Lưu trữ:

    UBND huyện Vĩnh Tường cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương , một lĩnh vực liên quan đến nhiều văn bản , giấy tờ tài liệu. Trong quá trình hoạt động, Uỷ ban nhân dân Huyện đã có khã nhiều tài liệu hình thành, đây là khối tài liệu nộp lưu vào Lưu trữ huyện.

    Hiện nay, UBND huyện có một kho lưu trữ cơ quan là Chánh Văn phòng. Trong mỗi năm, mỗi nhiệm kỳ hoạt động thì Chủ tịch UBND huyện kết hợp với Chánh Văn phòng ra các Văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ cũng như nhắc nhở cán bộ lưu trữ làm tốt công tác này . Để bảo quản tốt tài liệu thì cần trang bị thêm các thiết bị cần thiết như: Cặp đựng tài liệu , tủ …

    Đầu tư kinh phí đào tạo, bồi dưỡng hay tổ chức các cuộc tập huấn Nghiệp vụ cho Cán bộ nắm vững các khâu Nghiệp vụ như:Chỉnh lý , thu thập , bảo quản , tổ chức sử dụng … có như vậy khối tài liệu Lưu trữ của cơ quan mới được quan tâm đúng mức và phát huy hiệu quả của nó cao hơn , ý nghĩa hơn khi sử dụng chúng vào mục đích khác nhau.

    1. Công tác chỉnh lý khoa học tài liệu Lưu trữ:

    Tài liệu lưu trữ là tài sản quốc gia, chúng ta có thể khai thác xử dụng chúng vào nhiều mục đích khác nhau , đặc biệt trong lĩnh vực quản lý Hành chúnh Nhà nước . Thế nhưng do nhận thức chưa đúng đắn về vấn đề này nên ở nhiều cơ quan nói chung chưa chú trọng đến công tác Lưu trữ.

    Tại UBND huyện Vĩnh Tường công tác Lưu trữ được quan tâm nhưng cũng chưa thực sự tốt.

    Cơ quan đã tổ chức bảo quản tài liệu nộp lưu một cách cẩn thận , tuy nhiên mới thành lập kho lưu trữ riêng nên một số tài liệu vẫn chưa chỉnh lý vẫn trong tình trạnh bó gói, để lộn xộn . Cơ quan có một cán bộ văn thư kiêm nhiệm Lưu trữ các khâu Nghiệp vụ công tác Lưu trữ như :Thu thập, chỉnh lý , bảo quản , tổ chức sử dụng , giao nộp tài liệu… thực hiện chưa tốt lắm.

    a.Công tác thu thập tài liệu:

    Thu thập, bổ sung nguồn tài liệu vào Lưu trữ là một công việc thường xuyên và tất yếu nhằm hoàn thiện phông Lưu trữ quốc gia. Ở mỗi cơ quan làm tốt công tác thu thập tài liệu sẽ bảo quản được chọn vẹn khối tài liệu có trong hoạt động của cơ quan đó.

    Tại UBND huyện Vĩnh Tường công tác thu thập tài liệu cũng được tiến hành hàng năm vào cuối năm làm việc với các bộ phận Phòng , Ban chuyên môn.

    Cứ đến cuối mỗi năm hoạt động , Chủ tịch UBND huyện kết hợp với Chánh Văn phòng chỉ đạo các phòng , Ban lập hồ sơ công việc của bộ phận mình. Nhằm tạo điều kiện cho công tác thu thập các nguồn tài liệu đó vào bảo quản ở kho Lưu trữ được thuận lợi , hiệu quả, đảm bảo Văn bản , tài liệu được thu thập là có giá trị , phục vụ lâu dài trong hoạt động của Uỷ ban.

    Các loại tài liệu nộp như : Tài liệu quản lý Hành chính Nhà nước, tài liệu tổ chức chính quyền,tổ chức bộ máy cơ quan, tài liệu về phát triển kinh tế , văn hoá, xã hội….

    • Nhận xét :

    Ưu điểm : Công tác thu thập tài liệu ở UBND huyện Vĩnh Tường đã được tiến hành hàng năm nên đã Lưu trữ được khối tài liệu quan trọng. Công tác thu thập đã tạo điều kiện các khâu khác trong Lưu trữ tại cơ quan.

    Nhược điểm : có những tài liệu tiếp nhận vào Lưu trữ còn chưa lập hồ sơ, chất lượng tài liệu nộp chưa cao, vẫn còn tài liệu đã hết giá trị sử dụng được Lưu trữ.

    1. Công tác chỉnh lý tài liệu:

    Chỉnh lý khoa học tài liệu là biện pháp kết hợp nhiều khâu Nghiệp vụ của công tác Lưu trữ như: Lập hồ sơ , phân loại , xác định giá trị , thu thập bổ sung tài liệu… để nhằm tổ chức khoa học , tài liệu của một phông, loại ra những tài liệu hết giá trị , bảo quản những tài liệu quan trọng.

    Tại UBND huyện Vĩnh Tường công tác chỉnh lý khoa học tài liệu cũng được quan tâm , UBND đã có phông lưu trữ riêng đầu tư chi phí cho công tác Lưu trữ.

    Hiện nay , khối tài liệu được Lưu trữ tại cơ quan, còn một số đang ở trong tình trạng bó gói , lộn xộn . Cơ quan chỉ lập hồ sơ hoặc đơn vị bảo quản cho một số tài liệu , và cũng có bảng thời hạn bảo quản như quy định của Cục Văn thư –Lưu trữ . Đây là tình trạng chung phổ biến ở tất cả các cơ quan, không riêng gì UBND huyện Vĩnh Tường.

    Để công tác chỉnh lý ở các cơ quan nói chung và ở UBND huyện Vĩnh Tường nói riêng được tổ chức đúng quy định thì các cơ quan quản lý Lưu trữ cấp trên cần có chính sách cụ thể và quan tâm hơn nữa nhằm khuyến khích các cơ quan làm tốt công tác này. Đặc biệt là việc đầu tư kinh phí.

    c.Công tác bảo quản tài liệu lưu trữ:

              Với vai trò , ý nghĩa quan trọng của tài liệu lưu trữ , việc thu thập , phân loai , xác định giá trị để đưa chúng vào bảo quản tại các Lưu trữ đã khó , việc bảo quản an toàn tài liệu trong quá trình lưu trữ khỏi các tác nhân phá hoại còn khó khăn , phức tạp hơn.

    Tài liệu Lưu trữ dễ bị phá hoại dưới nhiều yếu tố khách quan như do kho tàng , trang thiết bị , nấm mốc, côn trùng và yếu tố chủ quan do con người gây ra . Để kéo dài tuổi thọ cho tài liệu cần làm tốt công tác bảo quản tài liệu trong các lưu trữ.

    Tại UBND huyện Vĩnh Tường công tác bảo quản tài liệu Lưu trữ cần được quan tâm hơn.

    Hiện nay Uỷ ban nhân dân huyện đã có kho Lưu trữ tài liệu riêng, trong phòng Lưu trữ mới chỉ có giá đựng tài liệu. Tuy chưa thu thập đủ , nhưng tài liệu Lưu trữ ở đây là tài liệu của tất cả các phòng , ban duy chỉ có tài liệu của phòng Tư pháp là bảo quản riêng tại phòng đó.

    Do mới xây dựng được phòng Lưu trữ , chỉ có một cán bộ Văn thư kiêm nghiệm Lưu trữ nên khối tài liệu chưa thực sự được bảo quản tốt . Chỉ có những tài liệu đã được chỉnh lý từ năm trước thì được xếp lên giá, còn một số tài liệu vẫn ở tình trạng chưa chỉnh lý, sắp xếp chưa khoa học gây khó khăn cho tra tìm khi sử dụng.Vì kho lưu trữ của Uỷ ban chưa trang bị được các thiết bị như cứu hoả, quạt thông gió , máy điều hoà… nên tài liệu chưa được bảo quản an toàn khi có sự cố xảy ra hoặc không tránh khỏi tình trạng tài liệu tự hư hỏng trong điều kiện khắc nghiệt ở đây. Tuy nhiên trong điều kiện chưa có đủ chi phí để xây dựng , củng cố cho công tác bảo quản tài liệu thì UBND huyện Vĩnh Tường cũng tận dụng mọi khả năng, biện pháp để bảo quản tốt tài liệu như: Tài liệu luôn được quét dọn, lau chùi sạch sẽ , thoáng mát , tài liệu trước khi đưa vào lưu trữ luôn được xử lý sạch , khô.

    d.Công tác tổ chức khai thác sử dụng Tài liệu Lưu trữ:

    Qua khảo sát thực tế, tôi nhận thấy tổ chức sử dụng tài liệu tại Uỷ ban huyện Vĩnh Tường tổ chức theo hình thức cho mượn , Cán bộ cần sử dụng tài liệu để nghiên cứu thì đến phòng mượn tài liệu , nghiên cứu tại phòng hoặc phô tô mang về nhà . Ở đây chưa xây dựng được phòng đọc riêng và cũng chưa có các cuộc triển lãm tài liệu do đó hiệu quả công tác này chưa cao.

    Hiện nay Lưu trữ huyện đang mở, phục vụ cho nhu cầu sử dụng , sử dụng tài liệu vào hoạt động hàng ngày của UBND huyện. Đối tượng nghiên cứu tài liệu ở đây là Cán bộ chuyên môn trong Uỷ ban và cũng chỉ nghiên cứu được một khối lượng nhất định.

    Do Cán bộ Văn thư kiêm nhiệm Lưu trữ nên tài liệu chưa được xác định giá trị , chưa thể đưa ra công bố giới thiệu .Do chưa có công cụ tra cứu khoa học nên việc tra tìm tài liêu cũng gặp  nhiều khó khăn.

    Tuy công tác tổ chức sử dụng tài liệu tại UBND huyện chưa được quy mô nhưng khối tài liệu đưa ra nghiên cứu đều là những tài liệu có giá trị và phục vụ thiết thực cho công việc hàng ngày của cơ quan.

    Để khai thác sử dụng tài liệu được nhiều hơn, UBND huyện đang từng bước tổ chức lại công tác Lưu trữ nói chung và quan tâm đến khâu tổ chức sử dụng nói riêng, cụ thể như xây dựng phòng đọc riêng, kho bảo quản và sử dụng tài liệu.

    e.Công tác giao nộp tài liệu :

    Công tác giao nộp tài liệu vào Lưu trữ cơ quan là công tác mà sau mỗi năm làm việc các đơn vị trong cơ quan phải lập hồ sơ công việc mình đã làm xong, để đưa vào Lưu trữ tại Lưu trữ cơ quan , tạo nguồn nộp lưu cho Lưu trữ lịch sử sau 5 năm sau. Đây là hình thức thu thập tài liệu Lưu trữ , nhằm Lưu trữ những tài liệu quý giá phục vụ mục đích lâu dài.

    Tại UBND huyện Vĩnh Tường công tác nộp tài liệu được tiến hành sau mỗi năm làm việc và khi nôi dung trong Văn bản, tài liệu được giải quyết xong.

    Cứ đến cuối năm bộ phận Lưu trữ huyện tiếp tục tiếp nhận tất cả tài liệu của các phòng chuyên môn như sau:

    Tài liệu về Văn hoáv- Xã hội

    Tài liệu về lĩnh vực kinh tế

    Tài liệu về Địa chính – Quản lý đất đai

    Toàn bộ khối tài liệu này được đưa vào lưu trữ huyện. Tại đây , tài liệu được bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng theo nhu cầu khác nhau của cơ quan.

    UBND huyện đã xây dựng bản danh mục hồ sơ , tài liệu nộp lưu để các Phòng, Ban chuyên môn nắm bắt được những hồ sơ tài liệu cần được lập và đem vào nộp lưu , tạo điều kiện cho công tác giao nộp tài liệu được nhanh chóng, thuận lợi.

    Sau khi công tác nộp lưu tiến hành xong, bộ phận Lưu trữ huyện viết báo cáo lên lưu trữ tỉnh để Lưu trữ cấp trên được biết.

    Nhìn chung, các tài liệu nộp được lập hồ sơ theo công việc, tài liệu thu thập tương đối đầy đủ chọn vẹn. Tuy nhiên , bên cạnh đó vẫn còn một số vấn đề chưa tốt trong công tác này như: Các hồ sơ chưa được biên mục một cách cụ thể, gây khó khăn cho tra tìm.

    1. Tình hình ứng dụng tin học vào công tác Lưu trữ:

    Để nâng cao hiệu quả công việc , đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, UBND huyện Vĩnh Tường đã luôn chú trọng quan tâm đến việc áp dụng Khoa học – Công nghệ nói chung và công nghệ Tin học nói riêng vào các lĩnh vực hoạt động của mình nhằm giúp cho quá trình giải quyết công việc nhanh chóng kịp thời , theo kịp thời đại,

    Trong công tác Lưu trữ , UBND huyện cũng đã có sử dụng Tin học vào một số khâu như : Quản lý tài liệu lưu trữ bằng máy tính . Tuy nhiên do máy chưa nối mạng nên chưa khai thác được thông tin phong phú trên mạng để phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước nói chung và thông tin về Lưu trữ tài liệu nói riêng, chưa tổ chức Lưu trữ tài liệu trên mạng.

    UBND huyện Vĩnh Tường cần thu hút được sự đầu tư của cơ quan cấp trên cho lĩnh vực này . Nhằm đưa công nghệ tin học vapò phục vụ thiết thực hơn nữa cho hoạt động của cơ quan cũng như công tác Lưu trữ để công tác này ngày một hiện đại hoá.

     

    CHƯƠNG III : THU HOẠCH BẢN THÂN

    I.THU HOẠCH CỦA BẢN THÂN :

    Sau 7 tuần thực tập tại UBND Huyện Vĩnh Tường , tuy trong thời gian không nhiều , song đợt thực tập đã mang lại cho tôi nhiều điều bổ ích, nhiều kết quả khả quan trong chuyên nghành Văn thư – Lưu trữ .

    Đợt thực tập đã cho tôi có cơ hội học hỏi kiến thức thực tế, bổ sung cho phần lý luận , học hỏi phong cách làm việc của một cán bộ Văn phòng , tự hoàn thiện mình trong công tác chuyên môn để có thể trở thành một Cán bộ chuyên trách Văn thư – Lưu trữ thực thụ trong tương lai.

    Trước hết , đợt thực tập tạo cho tôi điều kiện xâm nhập thực tế, làm quen và cụ thể hoá những phần lý luận đã học. Tuy thời gian ngắn nhưng tôi đã được thực hành khá đầy đủ các khâu Nghiệp vụ Văn thư – Lưu trữ đặt ra trong đề cương như:

    -Về văn thư:

    + Chuyển giao công văn

    + Đóng dấu

    `        + Tiếp nhận , đăng kí văn bản đi – đến

    +Trực điện thoại

    -Về lưu trữ:

    + Phân loại, sắp xếp tài liệu

    + Chỉnh lí tài liệu

    Qua thời gian thực tập đã cho tôi thấy giữa lý luận và thực tiễn tuy có sự khác nhau , nhưng luôn bổ xung cho nhau. Để làm tốt công tác Văn thư – Lưu trữ không chỉ cần một cơ sở lý luận vững chắc mà còn cần một kiến thức thực tế sâu rộng, nắm rõ tình hình thực tế chức năng hoạt động của mỗi cơ quan, áp dụng lý luận một cách sáng tạo , linh hoạt , không rập khuân, có như thế công tác Văn thư – Lưu trữ ở mỗi cơ quan mới thực sự được tổ chức tốt , hiệu quả.

    Về lý luận cần có của Cán bộ Văn thư – Lưu trữ đó là: Nắm chắc các khâu Nghiệp vụ chuyên môn, có kỹ năng thực hành một cách thành thạo các bước như:

    Về văn thư gồm: Soạn thảo , quản lý Văn bản Đi – Đến , đóng dấu…

    Về Lưu trữ gồm : Xây dựng bản lịch sử đơn vị hình thành phông và lịch sử phông, phân loại sắp xếp, chỉnh lý tài liệu.

    Điều quan trọng là mỗi Cán bộ Văn thư – Lưu trữ cần rèn luyện cho mình đó là : Một phẩm chất chính trị tốt , có lập trường tư tưởng vững vàng , tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng , cuả Nhà nước vì đây là công việc liên quan đến bí mật quốc gia. Bên cạnh đó tôi nhận thấy rằng để trở thành một Cán bộ Văn thư – Lưu trữ thực thụ cần có một kiến thức sâu rộng kết hợp với một phong cách làm việc nhanh nhẹn, tận tuỵ , tinh thần trách nhiệm cao, quyết đoán và sáng tạo các khâu Nghiệp vụ … và tất nhiên rất cần tính thận trọng, bí mật , ngăn nắp gọn gàng , cần khéo léo tế nhị trong giao tiếp ứng xử vì công việc đòi hỏi người Cán bộ phải tiếp xúc với nhiều đối tượng, nhất là khách đến cơ quan giao dịch .

    Trên đây là những thu hoạch của bản thân tôi qua đợt thực tập , đây thực sự là những gặt hái không nhỏ giúp tôi tự hoàn thiện mình trong công tác chuyên môn.

    II. NHẬN XÉT , KIẾN NGHỊ.

    1.Nhận xét :

    Qua khảo sát thực tế, kết hợp vận dụng lý thuyết đã học tôi có một số nhận xét về công tác Văn thư – Lưu trữ tại UBND huyện Vĩnh Tường như sau:

    Công tác văn thư tại UBND huyện Vĩnh Tường có những ưu nhược điểm sau:

    1. a) Công tác soạn thảo văn bản tại UBND Huyện được thực hiện tương đối tốt, các văn bản ban hành đúng quy trình, thủ tục ban hành một văn bản. Các văn bản có đầy đủ các yếu tố thể thức, có hiệu lực pháp lý cao, thông tin trong văn bản được bảo đảm an toàn, bí mật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết công việc.
    2. b) Quản lý văn bản đi

    Tại UBND Huyện Vĩnh Tường việc quản lý văn bản đi có những ưu điểm, nhược điểm sau.

    * Ưu điểm: Trong hoạt động của cơ quan công tác quản lý văn bản đi được tổ chức rất tốt đúng quy định của Nhà nước, công tác quản lý văn bản được tổ chức tốt ở tất cả các khâu đánh máy, in văn bản, trình ký, công tác đóng dấu.

    Việc đăng ký văn bản đi của UBND huyện Vĩnh Tường được cán bộ văn thư đăng ký bằng sổ đăng ký văn bản đi.

    Qua khảo sát tôi thấy UBND huyện Vĩnh Tường đã căn cứ vào số lượng ban hành văn bản trong một năm từ 2000 đến 5000 văn bản mà lập các loại sổ:

    – Sổ đăng ký văn bản vi phạm pháp luật

    – Sổ đăng ký văn bản hành chính có tên gọi

    – Sổ đăng ký công văn

    Các loại sổ trên được lập theo năm, mỗi năm dùng 1 quyển riêng, số thứ tự được đánh từ ngày đầu tiên đến ngày cuối cùng của năm. Việc đăng ký văn bản đi được tiến hành thường xuyên theo từng ngày.

    Công việc đăng ký văn bản đi ở UBND huyện Vĩnh Tường được đăng ký vào sổ chính xác đủ thể thức tạo điều kiện thuận lợi cho công việc được giải quyết nhanh chóng.

    * Nhược điểm:

    Tuy nhiên việc đăng ký văn bản đi của UBND huyện Vĩnh Tường còn tồn tại một số hạn chế gây khó khăn cho việc tra tìm tài liệu mất thời gian tốn công sức khi cần thiết. Bên cạnh đó cán bộ văn thư chưa lập được sổ chuyển giao văn bản đi gây khó khăn cho việc quản lý văn bản.

    1. c) Quản lý văn bản đến

    Qua khảo sát tại UBND huyện Vĩnh Tường tôi thấy việc quản lý văn bản đến có những ưu, nhược điểm sau:

    * Ưu điểm: Tất cả các văn bản đến cơ quan đều được tập trung vào một đầu mối thống nhất đó là bộ phận văn thư, tất cả các khâu của quản lý văn bản đến như tiếp nhận, bóc bì văn bản đến, giải quyết theo dõi, giải quyết văn bản đều được thực hiện tương đối tốt theo đúng quy định của Nhà nước.

    Tất cả các văn bản đến đều được đăng ký bằng sổ đăng ký văn bản đến. Cán bộ văn thư tại cơ quan căn cứ vào số lượng văn bản đến hàng năm từ 2000 đến 5000 văn bản một năm mà lập 3 loại sổ:

    – Sổ đăng ký văn bản của các bộ, ngành TW

    – Sổ đăng ký văn bản của các cơ quan, tổ chức khác

    – Nhìn chung công tác đăng ký văn bản đến bằng sổ của UBND huyện Vĩnh Tường được tiến hành khá tốt theo đúng quy định của Nhà nước. Các văn bản đến đều được đăng ký vào sổ, lấy số, ký hiệu rõ ràng đảm bảo cho việc tra tìm về sau.

    * Nhược điểm:

    Tuy nhiên công tác đăng ký văn bản đến của UBND huyện Vĩnh Tường còn một số hạn chế. Chưa lập được sổ theo dõi giải quyết văn bản đến mà chỉ nhắc nhở cho nên chưa làm tốt công tác quản lý văn bản, tổ chức giải quyết văn bản chưa sát sao.

    1. d) Quản lý và sử dụng con dấu

    Qua quá trình thực tập tại UBND huyện Vĩnh Tường tôi thấy công tác quản lý sử dụng con dấu được tiến hành rất tốt, dấu được cán bộ văn thư bảo quản chặt chẽ, cẩn thận, được lau chùi sạch sẽ và được đặt vào ngăn tủ sau khi đã sử dụng xong. Dấu chỉ được đóng lên những văn bản có đầy đủ thông tin và chữ ký hợp lệ. Dấu đóng lên một phần ba chữ ký về bên trái.

    Tuy nhiên việc quản lý và sử dụng con dấu tại UBND còn tồn tại một số hạn chế là do ý thức, tinh thần làm việc của cán bộ văn thư nên nhiều văn bản dấu đóng bị nhoè, bị mờ.

    – Về chất lượng Cán bộ:

    UBND huyện đã có một Cán bộ Văn thư có trình độ chuyên môn cao nên các khâu nghiệp vụ Văn thư – Lưu trữ được tiến hành hiệu quả .

    Cán bộ văn phòng có phẩm chất chính trị tốt ( Chánh văn phòng, phó phòng đều là đảng viên), có tinh thần trách nhiệm với công việc cao, được đào tạo qua lớp nghiệp vụ văn phòng nên không chỉ lãnh đạo tốt công tác Văn thư – Lưu trữ mà còn làm tốt công tác ngoại giao, tiếp khách, giúp lãnh đạo khi cần thiết.

    – Về sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo UBND : UBND huyện luô có các kế hoạch chỉ đạo, hướng dẫn công tác Văn thư – Lưu trữ như đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho các Cán bộ thông qua các hội nghị tổng kết hoặc tập huấn về công tác Văn thư – Lưu trữ đưa Cán bộ đi tập huấn ở cấp tỉnh.

    – Về trang thiết bị

    UBND huyện đã trang bị được các thiết bị văn phòng hiện đaị như máy tính , máy in , tủ đựng tài liệu …

    Nhược điểm của công tác Văn thư – Lưu trữ và quản trị Văn phòng của UBND huyện Vĩnh Tường :

    Trong công tác văn thư , một số hạn chế phổ biến ở tất cả các cơ quan nói chung và UBND huyện Vĩnh Tường nói riêng là toàn bộ văn bản – Tài liệu trong quá trình hoạt động chưa lập hồ sơ hoàn chỉnh. Vì vậy tài liệu nộp lưu của các phòng, ban khi nộp lưu đang trong tình trạng bó gói , gây khó khăn lớn cho công tác Lưu trữ.

    1. d) Nhược điểm của công tác lưu trữ tại UBND huyện Vĩnh Tường

    UBND huyện Vĩnh Tường chưa bố trí được một cán bộ chuyên trách làm công tác Lưu trữ. Cán bộ lưu trữ hiện nay là do cán bộ Văn thư kiêm nhiệm. Vì vậy mà công tác Lưu trữ tại UBND huyện còn nhiều hạn chế.

    Chưa thu hồi được tài liệu đến thời hạn nộp lưu về lưu trữ , tài liệu vẫn bị phân tán nằm rải rác ở các phòng , ban chuyên môn . Một số tài liệu đã thu hồi thì cán bộ lưu trữ chưa tiến hành được các khâu nghiệp vụ phân loại, xác định giá trị, chỉnh lý tài liệu. Vì vậy phần lớn tài liệu vẫn ở trong tình trạng bó gói lộn xộn gây khó khăn cho việc tra tìm , khai thác sử dụng tài liệu.

    Kho lưu trữ của UBND huyện Vĩnh Tường là một kho lưu trữ địa phương vì vậy còn thiếu một số trang thiết bị bảo quản như: Cặp, giá đựng tài liệu ,bình ôxi , quạt thông gió… nên chưa đáp ứng và phục vụ được việc thu hồi tài liệu, bảo quản tài liệu.

    Tuy UBND đã có những trang thiết bị kỹ thuật cho Văn phòng, nhưng những trang thiết bị này còn thiếu một số thiết bị như : máy fax, máy phôtô do sử dụng lâu nên một số máy như máy phôtô bị hỏng vì quá cũ.

    1. Một số đề xuất kiến nghị:

    Qua khảo sát thực tế tôi thấy để làm tốt công tác Văn thư – Lưu trữ, Quản trị văn phòng ở UBND huyện Vĩnh Tường cần làm tốt một số công việc sau:

    Lãnh đạo UBND huyện cần quan tâm sát sao hơn nữa đến công tác văn thư –lưu trữ cơ quan. Ban hành các chủ chương , hướng dẫn về nghiệp vụ công tác này một cách cụ thể , sâu sát hơn. Tổ chức đưa Cán bộ đi tập huấn ở cấp trên chú trọng đào tạo , bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho cán bộ Văn thư – Lưu trữ , cần thu hút sự đầu tư của cấp trên cho công tác này.

    Hàng năm cần tổ chức công tác kiểm tra thực hiện công tác của cán bộ Văn thư – Lưu trữ và kiểm tra việc lập hồ sơ công việc đối với các phòng, ban trong cơ quan cần ban hành các văn bản hướng dẫn , đôn đốc xây dựng đề án nhằm đưa công tác Văn thư- Lưu trữ đi vào hoạt động có nề nếp, hiệu quả.

    Thường xuyên tổ chức các cuộc sơ kết, tổng kết giữa năm , cuối năm về công tác Văn thư – Lưu trữ để rút ra những kinh nghiệm , đánh giá những việc đã làm được , những việc chưa làm được để có kế hoạch khen thưởng biểu dương những cá nhân , phòng ban có thành tích cao và đưa những giải pháp khắc phục những hình thức sử lý nghiêm khắc đối với cá nhân, phòng ban vi phạm góp phần nâng cao năng lực và trách nhiệm cuả mỗi cán bộ.

    Lãnh đạo UBND huyện đôn đốc kiểm tra thường xuyên các phòng, ban lập hồ sơ khi công việc được giải quyết xong đưa vào lưu trữ , tạo điều kiện làm tốt công tác lưu trữ.

    Ngoài ra lãnh đạo UBND huyện tiến hành lập kế hoạch ban hành quyết định thu hồi hết số tài liệu đến thời hạn nộp lưu đang tồn tại trong các phòng, ban đưa vào lưu trữ lịch sử huyện cần có những biện pháp để việc nộp lưu tài liệu của các phòng ban theo đúng quy định nộp lưu cuả Nhà nước.

    Đối với những tài liệu đã thu hồi thì cần bố trí cán bộ chuyên trách lưu trữ tiến hành phân loại xác định giá trị, chỉnh lý, bố trí nơi bảo quản để công tác lưu trữ được quy củ, việc tra tìm khai thác sử dụng tài liệu được hiệu quả cần xây dựng phòng đọc lưu trữ riêng.

    Cần trang bị thêm các thiết bị văn phòng hiện đại như máy fax , mua thêm một số máy phôtô… phục vụ công tác văn thư . Kho lưu trữ huyện cần được trang bị các thiết bị bảo quản tài liệu như: cặp, hộp , giá đựng tài liệu , bình ôxi, quạt thông gió, và các biện pháp chống ẩm, chống mốc nhằm bảo vệ an toàn tài liệu và xử lý kịp thời mọi tình huống xẩy ra với tài liệu.

    Đưa công nghệ tin học vào phục vụ công tác văn thư – lưu trữ nhiều hơn để công tác này được tiến hành nhanh chóng, chính xác , kịp thời , bí mật và hiện đại đáp ứng được nhu cầu đoi hỏi ngày càng cao.

    C. KẾT LUẬN

    Thực tập tốt nghiệp là khâu kế tiếp sau quá trình tiếp thu lý thuyết trên lớp ở hầu hết các trường . Tất cả các trường ĐH,CĐ, THCN đều tổ chức đợt thực tập tốt nghiệp .

    Có thể nói đây là phương châm đào tạo hiệu quả kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa lý luận và thực tiễn của Bộ Giáo dục.

    Thực hiện phương châm trên, trường ĐT,BD CBCC ngành GTVT đã tổ chức đợt thực tập trong 7 tuần cho học sinh các nghành Văn thư – Lưu trữ , kế toán…

    Được sự đồng ý của Nhà trường và sự tiếp nhận của UBND huyện Vĩnh Tường, tôi đã thực hiện đợt thực tập với chuyên nghành Văn thư – Lưu trữ .

    Tuy thời gian thực tập không nhiều nhưng nó thực sự có ý nghĩa đối với bản thân tôi, nó đã giúp tôi trưởng thành hơn rất nhiều. Đó là cơ hội cho tôi và các bạn có điều kiện xâm nhập thực tế, làm quen với chuyên môn và cụ thể hoá phần lý thuyết đã học. Có thể nói đợt thực tập đã giúp tôi hiểu sâu hơn về chuyên nghành của mình là Văn thư- Lưu trữ . Từ đó thấy được tầm quan trọng trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước ở các cơ quan từ đó tôi ý thức được rằng trách nhiệm của Cán bộ Văn thư- Lưu trữ trẻ như tôi là rất lớn. Đặc biệt khi nhà nước đang có chính sách quản lý Hành chính “một cửa”, khi công tác Lưu trữ trong các cơ quan có nhiều bất cập, cần khắc phục nhằm đưa công tác này phát triển đi lên với tầm quan trọng của nó .

    Đợt thực tập diễn ra rất thuận lợi, tôi đã thực hành được các khâu nghiệp vụ trong đề cương một cách thuận lợi. Bên cạnh đó tôi đã có thêm được những kinh nghiệm quý báu, rèn luyện tác phong làm việc của cán bộ  Văn phòng là nhanh nhẹn, tự tin và khéo léo, tự chau dồi kiến thức chuyên môn để thành công trong công tác sau này .

    Để hoàn thành được báo cáo , tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo chuyên nghành cũng như các thầy , cô trong khoa quản lý Nhà nước và Nhà trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi có một môi trường học tập tốt, hoàn thành phần tiếp thu lý thuyết trên lớp, làm nền tảng cho đợt thực tập này.

    Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các cấp lãnh đạo đến cán bộ văn phòng cùng các ban nghành khác tại UBND huyện Vĩnh Tường đã tạo điều kịên giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập. Nhờ sự quan tâm , giúp đỡ tận tình sâu sắc của cơ quan tôi đã gặt hái được nhiều kết quả cũng như hoàn thành báo cáo một cách thuận lợi.

    Trong quá trình thực tập tại cơ quan chắc chắn tôi còn không khỏi bỡ ngỡ rất mong được sự góp ý kiến của quý cơ quan.

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp là thành quả sau thời gian dài học lý thuyết và sau khi thực hiện đợt thực tập. Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn cùng với sự hướng dẫn tận tình của chị Hoàng thị Loan cán bộ văn thư. Song do kiến thức còn hạn chế nên bài báo cáo của tôi không tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo chuyên nghành và các thầy cô trong khoa Quản lý Nhà nước cùng nhà trường .

    Xin chân thành cảm ơn!

                                                   


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Một số kinh nghiệm trong công tác quản lý Tài chính – Tổ chức nhân sự trường học


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-t%E1%BA%A1i-CHI-NHA%CC%81NH-C%C3%94NG-TY-TNHH-M%C3%94%CC%A3T-THA%CC%80NH-VI%C3%8AN-HA%CC%80-THA%CC%80NH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH

    LỜI CẢM ƠN

    Để hoàn thánh bài báo cáo tốt nghiệp này là kết quả của sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô Khoa Thương Mại Du Lịch – Trường Đại Học Công Nghiệp TP. HCM cùng với sự quân tâm chỉ bảo giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám Đốc, các cô chú, anh chị tại chi nhánh  Công Ty TNHH Một Thành Viên Hà Thành.

    Trong thời gian qua, ở trường tôi đã nhận được sự giúp đỡ dìu dắt của quý thầy cô Khoa Thương Mại Du Lịch. Thầy Cô đã đem đến cho tôi hành trang để bước vào cuộc sống. Ở công ty thực tập tôi có điều kiện được tiếp xúc với thực tế, trao dồi kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc cho bản thân, tất cả những điều ấy đều nhờ sự quan tâm từ ban lãnh đạo, cô chú và các anh chị ở chi nhánh công ty.

    Qua đây, cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Thương Mại – Trường Đại Học Công Nghiệp Tp. Hồ Chí Minh đặc biệt thầy Nguyễn Viết Bằng người đã hướng dẫn tôi hoàn thành bài báo cáo này, cùng với lòng biết ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo, cô chú anh chị ở Chi Nhánh Công Ty TNHH Một Thành Viên Hà Thành.

    Trong bài báo cáo, không thể không có sai sót, kính mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và quý công ty.

    Xin chân thành cảm ơn!

    LỜI MỞ ĐẦU.

    Sau thời gian 4 tháng thực tập tại đây, em đã hoàn thành “Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH” với:

    • Mục đích của bài báo cáo.

    Bài báo cáo được thực hiện với mục đích tìm hiểu về thực trạng hoạt động kinh doanh tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại công ty.

    • Đối tượng báo cáo.

    Đối tượng của bài báo cáo là tình hình hoạt động của CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH qua các năm 2009-2011.

    • Phạm vi báo cáo.

    Về không gian: Các hoạt động tại công ty CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH .

    Về thời gian: từ năm 2009 đến 2011.

    • Phương pháp báo cáo.

    Bài báo cáo sử dụng các phương pháp báo cáo như: phương pháp so sánh đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty qua các năm, phương pháp tổng hợp – phân tích, thống kê…

    Bên cạnh đó, báo cáo cũng sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, đó là phương pháp định tính và định lượng để thực hiện báo cáo, phương pháp thu thập dự liệu và thông tin từ sổ sách các phòng ban của công ty – đây là phần số liệu chủ yếu phục vụ cho việc làm báo cáo, xử lý các thông tin đã thu thập được bằng những kiến thức đã học.

    • Kết cấu báo cáo.

    Với sự hướng dẫn tận tình của Thầy Nguyễn Viết Bằng, khoa Thương mại – Du lịch trường Đại Học Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh và các anh chị trong CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em củng cố lại những kiến thức đã học và vận dụng vào thực tế. Qua thời gian thực tập em đã tìm hiểu về những hoạt động của công ty và hoàn thành bài báo cáo với nội dung gồm 3 phần:

    + Phần 1: Thực trạng hoạt động của chi nhánh công ty TNHH một thành viên Hà Thành.

    + Phần 2:Một số nhận xét và ý kiến đề xuất đối với chi nhánh công ty TNHH một thành viên Hà Thành.

    + Phần 3:Những kiến thức và kinh nghiệm thu được trong quá trình thực tập.

     

    PHẦN1: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH.

    1.1. Giới thiệu khái quát về doanh nghiệp.

    1.1.1.   Tên, trụ sở và lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

    Tên: Công ty Hà Thành – Bộ Quốc Phòng.

    Tên giao dịch quốc tế: HA THANH COMPANY

    Trụ sở chính đặt tại: 99 Lê Duẩn, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

    Điện thoại: 04 7320644

    Fax: 047320646

    Mã số thuế: 0100108529

    Website: http://www.cktqp.gov.vn

    Tổng số vốn ban đầu được cấp: 4.053.000.000 đồng.

    Ngành nghề sản xuất kinh doanh:

    Sản xuất kinh doanh hàng may, đồ gỗ, lâm sản, gốm sứ mỹ nghệ, các loại tinh dầu, bao bì, nhựa, thực phẩm, đại lý bán hàng.

    Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, nguyên liệu, hàng tiêu dùng phục vụ sản xuất của công ty.

    Sản xuất sản phẩm cơ khí.

    Sản phẩm truyền thống:

    Sản xuất kinh doanh hàng may, đồ gỗ, lâm sản, gốm sứ mỹ nghệ, các loại tinh dầu, bao bì, nhựa, thực phẩm, đại lý bán hàng, xuất nhập khẩu.

    Sản phẩm truyền thống:

    Sản xuất kinh doanh hàng may, đồ gỗ, lâm sản, gốm sứ mỹ nghệ, các loại tinh dầu, bao bì, nhựa, thực phẩm, đại lý bán hàng, xuất nhập khẩu.

    1.1.2.   Quá trình hình thành và phát triển của công ty Hà Thành.

    Lúc ban đầu khi vừa mới được thành lập công ty mang tên công ty Thăng Long chính thức thành lập theo quyết định 406/QĐQP ngày 07/05/1994, chịu sự điều hành trực tiếp của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô (Bộ Quốc Phòng). Và căn cứ vào quyết định số : 245/2003-QĐ-BQP ngày 29/09/2003 của Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng về việc trao đổi tên công ty Thăng Long thành công ty Hà Thành thuộc Quân Khu Thủ Đô.

    • Công ty Hà Thành được thành lập do sự sáp nhập của các doanh nghiệp:
    • CÔNG TY THĂNG LONG
    • CÔNG TY LONG GIANG
    • XÍ NGHIỆP 99
    • XÍ NGHIỆP GỐM SỨ MĨ NGHỆ
    • XÍ NGHIỆP CƠ KHÍ 81
    • XÍ NGHIỆP 56
    • Với mong muốn mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng kinh doanh mới, công ty đã mạnh dạn mở thêm 2 chi nhánh nữa là:
    • Chi nhánh tại Quảng Ninh: 45 Trần Hưng Đạo, TP Quảng Ninh.

    Thành lập ngày 01/01/1996

    Công ty Hà Thành là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán độc lập, có tài khoản tại Ngân Hàng, có con dấu riêng và có giấy phép hoạt động kinh doanh chủ yếu ở lĩnh vực Xuất Nhập Khẩu.

    1.1.3.   Chức năng và nhiệm vụ.

    • Chức năng.

    Là doanh nghiệp quân đội làm kinh tế thời bình, tận dụng cơ sở sản xuất sẵn có để sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên quốc phòng, góp phần đem lại lợi ích cho toàn xã hội.

    • Nhiệm vụ.

    Hoạt động chính của công ty là kinh doanh mua bán , xuất nhập khẩu trong và ngoài nước.

    Xuất khẩu: Các mặt hàng nông sản, kinh doanh may mặc, đồ gỗ, hàng mỹ nghệ, gốm sứ, hàng tiêu dùng, hàng nhựa, lắp ráp xe máy, đại lý bán hàng dịch vụ khách sạn và bán hàng tại khách sạn…

    Nhập khẩu: Các loại xe máy móc phục vụ cho nông nghiệp, các loại công cụ phục vụ cho sản xuất, xây dựng, các loại xe máy, xe tải xe chuyên dụng…

    Đến năm 1997, do nhu cầu mở rộng thị trường cùng với việc mở rộng quan hệ ngoại giaohợp tác trao đổi với các bạn hàng trong và ngoài nước cộng với chủ trương mở rộng quy mô hoạt động chuẩn bị một bước phát triển mới trong tương lai, công ty Hà Thành đã đăng ký mở rộng thêm một số ngành nghề kinh doanh sau:

    Theo giấy đăng ký mở rộng kinh doanh ngày mùng 7/1/1997 các mặt hàng được bổ sung như sau: vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, thiết bị tin học, đồ điện.

    Theo giấy mở rộng đăng ký kinh doanh ngày 15/05/1997 các mặt hàng được bổ sung như sau: vật liệu xây dựng, thiết bị văn phòng, nguyên vật liệu sản xuất, nệm Mouse, kinh doanh chất đốt.

    1.1.4.   Đặc điểm cơ cấu tổ chức của công ty.

    • Sơ đồ bộ máy quản lý.

    Công ty Hà Thành chịu sự quản lý của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô. Bộ máy tổ chức văn phòng của công ty có 60 nhân viên với 2 chi nhánh ( Thành Phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh.)

    PHÓ GIÁM ĐỐC
    PHÒNG KINH DOANH XNK
    PHÒNG TIẾP THỊ ĐẦU TƯ
    PHÒNG KẾ TOÁN
    CHI NHÁNH TẠI TP. CHM
    CHI NHÁNH TẠI QUẢNG NINH
     

     

    GIÁM ĐỐC

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    • Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban.
    • Giám đốc:

    Là người lãnh đạo cao nhất của công ty, có quyền quyết định mọi hoạt động và có trách nhiệm trước nhà nước về kết quả hoạt động kinh doanh.Giám đốc là người giữ vai trò chỉ huy với chức trách quản lý, sử dụng toàn bộ vốn, đất đai, nhân lực và các nguồn lực của công ty

    • Phó Giám Đốc

    Trợ lý cho Giám Đốc trong việc điều hành tổ chức quản lý quá trình hoạt động của công ty , lập kế hoạch kinh doanh, phụ trách lĩnh vực công tác kinh doanh, hành chính, quản trị, đời sống. Điều phối lao động và duy trì kĩ thuật cho toàn công ty. Đồng thời tổ chức sắp xếp bố trí hợp lý lực lượng lao động. Đề suất và tham gia bồi dưỡng về năng lực cho nhân viên. Khi Giám Đốc vắng mặt , ủy quyền cho Phó Giám Đốc chỉ huy điều hành mọi hoạt động của công ty.

    • Phòng Kế toán:
    • Có nhiệm vụ sử dụng và quản lý vốn một cách hiệu quả, cân đối nguồn vốn phù hợp với chế độ, nhu cầu hoạt động kinh doanh, sản xuất của công ty.
    • Tổ chức hạch toán công ty, theo dõi và thực hiện các chức năng thanh toán tài chính theo định kỳ.
    • Thực hiện công tác ghi chép sổ sách kế toán và báo cáo tài chính theo định kỳ.
    • Tổ chức kinh doanh và thu hồi công nợ kịp thời.
    • Chịu trách nhiệm báo cáo tình hình tài chính của công ty cho ban lãnh đạo hàng tháng và định kỳ.
    • Phòng Tiếp Thị Đầu Tư:
    • Chuyên về khảo sát nghiên cứu thị trường có thể nắm bắt được những thay đổi trên thị trường về kinh doanh và đầu tư.
    • Cung cấp những thông tin cần thiết về thị trường cho các chi nhánh biết và đề ra các phương hướng chiến lược kinh doanh cho từng thời kì, từng giai đoạn cụ thể.
    • Các chi nhánh:
    • Thực hiện chức năng xuất nhập khẩu theo chức năng và quyền hạn được giao.

     

     

    1.2. Giới thiệu chung về Chi nhánh công ty Hà Thành tại TP.HCM.

    1.2.1.   Quá trình hình thành và phát triển chi nhánh công ty Hà Thành.

    Sau một thời gian hoạt động do lượng giao dịch ngày càng tăng đặc biệt là các bạn hàng ở các tỉnh phía nam, tháng 1/2006 công ty Hà Thành đã quyết định kịp thời thành lập chi nhánh ở TP. HCM, đây là quyết định đúng đắn và kịp thời, vì trong tương lai TP HCM sẽ là một khu đô thị sầm uất, là cơ sở cho việc khai thác tiềm năng rộng lớn của thị trường phía nam.

    Thông tin chi tiết về chi nhánh công ty Hà Thành:

    • Tên giao dịch: Chi nhánh công ty Hà Thành ( BQP) tại TP HCM
    • Địa chỉ đăng ký kinh doanh : 237 Nguyễn Trãi – Q1, TP. HCM
    • Nơi đăng ký kinh doanh: 168/63 D2 – P.25 – Q. Bình Thạnh, TP. HCM
    • Điện thoại: 082944052
    • Fax: 5122435
    • Mã số thuế: 01001085229006
    • Ngành nghề kinh doanh: chi nhánh công ty chuyên xuất nhập khẩu các mặt hàng: nông sản, thực phẩm, các mặt hàng tiêu dùng, vải sợi thủ công mỹ nghệ, máy móc nông ngư nghiệp, các loại xe chuyên dụng: xe ủi, xe nâng, ô tô các loại, xe máy, đồ nội thất,…

    1.2.2.   Chức năng và nhiệm vụ của chi nhánh công ty Hà Thành.

    • Chức năng.

    Xuất khẩu trực tiếp các mặt hàng nông sản , thực phẩm, các mặt hàng tiêudùng, vải sợi, thủ công mĩ nghệ…

    Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất như: sơn sợi, máy móc nông ngư cơ, thuốc lá, các loại xe chuyên dụng như xe ủi, xe nâng, xe xúc, xe ô tô các loại, hàng tiêu dùng như: gạch, xeluloze…

    Bên cạnh đó công ty còn tiến hành làm dịch vụ ủy thác xuất nhập khẩu cho các đơn vị khác.

    • Nhiệm vụ.

    Tự tạo vốn kinh doanh, sử dụng hiệu quả nguồn vốn được cấp

    Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch công ty mẹ đưa ra, tạo nguồn vốn kinh phí cho công ty và quân khu, tạo công ăn việc làm cho người lao động và góp một phần vào phúc lợi xã hội.

    Thông qua xuất nhập khẩu để mở rộng hàng hóa cho các nước, mở rộng thị trường, góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của công ty ngày càng phát triển, hội nhập với nền kinh tế thế giới.

    Để tăng thêm lợi nhuận, ngoài việc tích lũy vốn từ việc xuất nhập khẩu trực tiếp, chi nhánh còn thu thêm một khoản lợi nhuận từ việc hưởng phí ủy thác.

    Bên cạnh đó, chi nhánh đã mở rộng quy mô hoạt động bằng việc thành lập được một cửa hàng Thăng Long, một trạm kinh doanh  xuất nhập khẩu, giúp cho chi nhánh mở rộng việc kinh doanh và giao dịch với khách hàng.

    1.2.3.   Các yếu tố nguồn lực của công ty.

    • Tình hình vốn sản xuất kinh doanh.

    Tổng số vốn ban đầu cấp là : 50.000.000 triệu đồng vốn cố định, 200.000.000 đồng vốn lưu động ( 1/1996) , cho đến nay nguồn vốn kinh doanh đã không ngừng gia tăng và đạt được tổng vốn cố định : 300.000.000 đồng và 969.000.00 đồng vốn lưu động ( 1/2012).

    Qua con số nguồn vốn kinh doanh thể hiện được công ty không ngừng mở rộng lĩnh vực kinh doanh và phát triển. Nhiều mặt hàng được bổ sung vào kinh doanh xuất nhập khẩu,gia tăng lợi nhuận mở rộng thị trường trong và ngài nước

    • Tình hình lao động.

    Chi nhánh công ty Hà Thành tại TP HCM có đa số nhân viên tốt nghiệp Đại Học, Cao Đẳng. Công ty khoảng 35 nhân viên rất năng động và nhiều kinh nghiệm, thích ứng nhanh với môi trường, có trình độ lao động và tay nghề cao, có tinh thần trách nhiệm cao, đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng

    Bảng1: Trình độ học vấn của nhân viên trong chi nhánh công ty Hà Thành.

     

    Trình độ học vấn Số lượng Công việc Tỷ trọng (%)
    Đại Học 20 Văn phòng 57.14
    Cao Đẳng 13 Kĩ thuật 37.14
    Trung Cấp 2 Kĩ thuật 5.72

    (Nguồn: phòng kế toán 2011)

    Qua số liệu bảng ta thấy số lượng nhân viên văn phòng chiếm đại đa số, tuy nhiên công việc của họ là làm văn phòng, yêu cầu trình độ học vấn và khả năng làm việc cao.  Còn công việc liên quan tới kĩ thuật nguồn nhân lực chủ yếu là các nhân viên có trình độ Trung cấp và Cao Đẳng.  Với nguồn nhân lực như vậy, đây là thế mạnh cho chi nhánh công ty ngày càng mở rộng và phát triển.

    1.2.4.   Cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ.

    Nhiệm vụ chính của chi nhánh là xuất nhập khẩu, đo đó công việc văn phòng thủ tục hành chính là chủ yếu. Bên cạnh đó là các thủ tục Hải Quan Xuất Nhập Khẩu. Công ty cũng đáp ứng đầy đủ nhu cầu về trang thiết bị máy móc phục vụ cho từng phòng ban.

    Đối với thiết bị văn phòng, công ty mua đầy đủ theo yêu cầu của công việc,

    Do đó ở mỗi phòng ban, cho mỗi vị trí của nhân viên đều có điện thoại và máy tính để bàn riêng.Riêng phòng Giám Đốc và Phòng kinh doanh Xuất Nhập Khẩu được trang bị thêm máy in và máy Fax để phục vụ cho công việc được thuận tiện ( nhận và gửi hồ sơ xuất nhập khẩu, làm thủ tục liên quan nghiệp vụ XNK…)

    Thêm vào đó , tại trạm kinh doanh XNK, cửa hàng Thăng Long, và bãi xe được trang bị thiết bị camera, máy tính để phục vụ việc bán hàng và bảo quản hàng.

    Cơ sở hạ tầng: đáp ứng đủ điều kiện cho nhân viên làm việc trong môi trường tốt nhất, an toàn thuận tiện.

    1.2.5.   Cơ cấu tổ chức.

    Bộ phận nhân sự khá gọn nhẹ tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến. Giám Đốc là quản lý cao nhất và quyết định mọi hoạt động của công ty.

    • Sơ đồ bộ máy quản lý.
    Giám Đốc
    Trạm Kinh Doanh XNK
    Cửa Hàng
    Phòng Kế Toán
    Phó Giám Đốc
    Bãi Xe
    Phòng Kinh Doanh

     

    XNK

    • Chức năng nhiệm vụ các phòng ban.
    • Giám Đốc

    Đoàn Thanh Hải- Q. Giám Đốc chi nhánh công ty hà Thành tại TP. HCM. Điều hành mọi hoạt động của chi nhánh công ty.Do tính chất đặc thù của chi nhánh, Giám Đốc công ty mẹ ủy quyền cho Giám Đốc chi nhánh và các Phó Giám Đốc chi nhánh thay mặt Giám Đốc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

    • Phó Giám Đốc

    Nguyễn Đình Lợi- đề suất và thực hiện các phương án chiến lược kinh doanh do công ty đề ra, đồng thời điều hành mọi hoạt động của chi nhánh TP. HCM. Ngoài ra Phó Giám Đốc có thể trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng của khách hàng, chịu trách nhiệm trước nhà nước Giám Đốc và Đảng Ủy công ty.

    • Phòng Tài Chính Kế Toán

    Có 5 người- trong đó có 1 Kế Toán trưởng , 1 Kế Toán Tiền Mặt, 1 Kế Toán Ngân Hàng, 2 Kế Toán Hàng Hóa chịu trách nhiệm về việc Tài Chính và hạch toán kinh tế cho chi nhánh cũng như những nhiệm vụ luân chuyển tuần hoàn vốn và đề suất các biện pháp giải quyết nhu cầu về vốn của đơn vị

    • Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu

    Gồm 7 người- 1 trưởng phòng và 6 nhân viên. Nhiệm vụ chính là thực hiện các nghiệp vụ giao nhận hàng hóa nxk, phân phối và bán hàng hóa tại các đầu mối.

    • Cửa hàng Thăng Long

    Gồm 5 người- 1 cửa hàng trưởng, 1 nhân viên kế toán theo dõi bán hàng và 3 nhân viên bán hàng. Công việc của cửa hàng là tiêu thụ các mặt hàng như: gạch, đá hoa cương, các thiết bị điện, hàng hóa tiêu dùng khác nhập khẩu từ nước ngoài và sản xuất trong nước, đồng thời bán kết hợp các mặt hàng kim khí điện máy.

    • Bãi xe

    Gồm 8 người- 2 bãi trưởng, 4 thợ sửa máy, 2 nhân viên bán hàng. Bãi xe là khu mặt bằng thuê dọc tuyến xa lộ hà nội, là nơi trực tiếp giao dịch các loại xe, máy móc thiết bị nhập khẩu.

    1.3. Thực trạng kinh doanh của công ty.

    1.3.1.   Tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh công ty TNHH MTV HÀ Thành.

    Được ra đời vào những tháng cuối năm 1996 nhưng chính thức đi vào hoạt động năm 1997, hoạt động của chi nhánh diễn ra khá sôi nổi và hiệu quả. Chi nhánh tại TP. HCM áp dụng phương thức kinh doanh hỗn hợp có sự linh hoạt giữa kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp và các hoạt động XNK ủy thác. Kim ngạch XNK trong vòng 2 năm 2010-2011 không ngừng gia tăng.

    Trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh công ty Hà Thành đã thực hiện việc giao dịch thông qua ngân hàng EXIMBANK để đảm bảo việc giao dịch  được an toàn.

    Do cơ cấu hiện nay vẫn nghiêng về XNK là chủ yếu nhưng không vì thế mà các hoạt động khác bị trì trệ. Trong những năm qua các hoạt động như vận tải vừa có mặt trong lĩnh vực sản xuất, vừa có mặt trong lĩnh vực kinh doanh của chi nhánh, sản xuất tại phân xưởng tại TP. HCM đang được đẩy manh.

    Cơ cấu thị trường được mở rộng, ngày nay, các mặt hàng xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng, quy trình giao nhận hàng hóa được đảm bảo. Đồng vốn được sử dụng linh hoạt trong những năm vừa qua thể hiện được chi nhánh đi vào hoạt động theo đúng phương hướng phát triển của công ty đề ra.

    1.3.2.   Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2009- 2011.

    Với sự nỗ lực của toàn thể chi nhánh công ty, kết quả đạt được trong 3 năm vừa qua như sau:

    + Doanh thu năm 2009 đạt 526927 triệu đồng

    + Doanh thu năm 2010 đạt 586493 triệu đồng

    + Doanh thu năm 2011 đạt 627185 triệu đồng

    (Trích lược báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh công ty Hà Thành từ năm 2009 đến  năm 2011)

    Bảng 2 : Bảng kết quả kinh doanh của Công ty( 2009- 2011)

    (Đơn vị : triêu đồng)

               Năm

     

    Chỉ tiêu

    2009 2010 2011

    Doanh thu

    526927 586493  

     

    655438

    Chi phí

    526846 586408  

     

    655278

    Lợi nhuận trước thuế

    46 85 160

    Lợi nhuận sau thuế

    35 64 120

    Nguồn: Phòng Kế toán

     

     

    Hình 1 –  Biểu đồ kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2009 đến năm 2011.

    v Qua bảng số liệu ta thấy doanh thu hoạt động kinh doanh của công ty không ngừng tăng trưởng. Cụ thế :

    Doanh thu năm 2010 so với năm 2009 tăng 11,3% tương ứng 59566 triệu đồng.

    Doanh thu năm 2011 so với  năm 2010 tăng 11,76% tương ứng 68945 triệu đồng.

    àSo sánh tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009 với năm 2010 ta nhận thấy tỷ lệ tăng doanh thu năm 2010 tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009.

    v Nguyên nhân làm cho tỷ lệ tăng doanh thu năm 2010cao hơn năm 2009 là do:

    Nền kinh tế nước ta năm 2010 mới được phục hồi, tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty vẫn hạn chế.

    Các mặt hàng xuất nhập khẩu năm 2011 được mở rộng cả về quy mô lẫn số lượng.

    Chính sách mở rộng thị trường, tìm kiếm thêm khách hàng của chi nhánh công ty yêu cầu việc buôn bán được mở rộng theo từng năm

    v Về vấn đề chi phí cũng có xu hướng tăng theo từng năm.

    Chi phí năm 2010 cao hơn so với  năm 2009 là: 595562 triệu đồng.

    Chi phí năm 2011 cao hơn so với năm 2009 là: 655278 triệu đồng.

    à Nhìn chung tốc độ tăng chí phí bình quân tăng dần qua các năm.

    Nguyên nhân là do năm 2009- 2011 công ty đã đầu tư một khoản chi phí lớn  hoạt động nghiên cứu và mở rộng thị trường trong và ngoài nước nâng cao thị phần của công ty.

    Mặt khác, tình hình lạm phát ngày càng gia tăng qua các năm, cụ thể: chỉ số lạm phát 3 năm liên tiếp 2009-2011 là 6,88%; 11,5%; 18,13%.

    v Về lợi nhuận thì công ty tăng ở mức cao.

    Năm 2010 so với 2009 tăng 29 triệu đồng chiếm tỷ lệ 82,85% .

    Năm 2011 so với 2010 tăng 56 triệu đồng chiếm tỷ lệ 87,5%.

    Dù rằng chịu nhiều tác động và ảnh hưởng kinh tế song công ty vẫn đảm bảo được lợi nhuận  cho hoạt động của mình. Điều này chứng minh  tầm nhìn, chiến lược và hoạch định mà Ban Lãnh đạo của công ty vạch ra là rất đúng đắn.

    1.3.3.   Tình hình kinh doanh những năm gần đây.

    • Mặt hàng xuất nhập khẩu.
    • v Mặt hàng xuất khẩu.

    Chi nhánh công ty xuất khẩu chủ yếu 2 mặt hàng : đậu phộng ( xuất khẩu trực tiếp) và vải ( xuất khẩu ủy thác)

    Đậu phộng là mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của chi nhánh công ty. Với chất lượng cũng như giá cả cạnh tranh đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty. Công ty xuất khẩu đậu phộng với những đặc điểm sau:

    v Hàng hóa: 

    Đậu phộng nhân Việt Nam

    Giá FOB: Vui lòng liên hệ với chúng tôi để có giá tốt nhất

    Cảng: Hồ Chí Minh

    Số lượng đặt hàng tối thiểu: 19 tấn

    Khả năng cung cấp:1000 tấn/ tháng

    Hình thức thanh toán: L/C,T/T,D/P

    v Sơ lược:

    Loại:Đậu phộng

    Hình thức trồng trọt: thông thường

    Quy trình chế biến: còn nguyên chất

    Trạng thái: khô

    Phân loại: Super/I/II/III/IV

    Màu sắc: màu tự nhiên

    Đóng gói: bao PP hoặc bao đay

    Giám định: Vinacontrol

    Thương hiệu: THAPHIMEX

    Xuất xứ: Việt Nam

    v Specifications:

    Mặt hàng: Đậu phộng nhân

    Phân loại: Super/I/II/III/IV

    Số lượng: 180-200/200-220/220-240 hạt/100 grams

    Độ ẩm: 8.5% Tối đa

    Tạp chất: 1% Tối đa

    Hạt không hoàn chỉnh: 8% Tối đa

    Năm thu hoạch: năm hiện tại

    Chi tiết đóng gói: 12.5/25/50/60 Kg trong bao PP hoặc bao đay,17/19 trên 1 Container 20′

    Chi tiết vận chuyển: 7-20 ngày

    Mặt hàng vải là mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, đây cũng là mặt hàng công  ty nhận xuất khẩu ủy thác cho các công ty khác.

    v Mặt hàng nhập khẩu.

    Các mặt hàng công ty nhập khẩu :máy móc, đồ dùng nội thất, xe máy, sợi vải, bánh kẹo, gạch, keo dán, kem không sữa, dung cụ cầm tay…

    Bảng 3: Cơ cấu sản phẩm nhập khẩu ( 2011)

    Thị trường

     

     

    Sản phẩm

    Đài Loan Trung Quốc Nhật Hàn Quốc Thái Lan Malaysia Tây Ban Nha

     

     

    Tổng cộng
    Máy móc 8%   6%           14%
    Đồ dùng nội thất   9%             9%
    Xe máy             7% 4% 11%
    Sợi, Vải 14%     11%         25%
    Bánh kẹo           12%     12%
    Gạch             8%   8%
    Keo dán         8%       8%
    Kem không sữa         4%       4%
    Dụng cụ cầm tay 4% 5%             9%

    Nguồn: Phòng Kế toán

    Hình 2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu sản phẩm xuất khẩu.( 2011)

     

     

     

    • Qua biểu đồ ta có thể thấy được:
    • Các sản phẩm được công ty nhập nhiều: vải sơi ( 25%), máy móc (14%),tiếp đó là bánh kẹo 12% và xe máy 11%. Các mặt hàng này đòi hỏi vốn rất cao và chi phí lớn, tuy nhiên đó là những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho ngành công nghiệp dệt may, cơ khí, và tiêu dùng ở nước ta. Do đó, khi nhập hàng về dễ phân phối và không bị tồn kho nhiều. Các mặt hàng này mang lại lợi nhuận chủ yếu cho doanh nghiệp
    • Hàng hóa vốn thấp như keo dán, gạch, kem không sữa thì nhập rất ít. Đây là các mặt hàng cạnh tranh trên thị trường cả về giá cả và chất lượng. Phần trăm lợi nhuận của các loại hàng hóa này cũng khá thấp.
    • Mặt hàng nhập khẩu của chi nhánh chiếm trọng lượng không đồng đều và không đa dạng về sản phẩm. Hàng nhập khẩu không tập chung ngành nghề nào mà theo cầu của khách hàng nội địa.
    • Thị trường và sản phẩm nhập khẩu trực tiếp chưa được khai thác về chiều sâu cũng như chiều rộng
      • Nhà cung cấp.

    v  Nhà cung cấp hàng hóa cho các sản phẩm xuất khẩu:

    Mặt hàng vải xuất khẩu: các công ty kinh doanh và sản xuất sản phẩm may mặc

    Công Ty TNHH MTV Kim Xương Long

    Ngành nghề: Vải Sợi – Sản Xuất & Kinh Doanh.

    Chuyên kinh doanh, mua bán các loại vải như: Vải jean, vải kaki, vải áo gió, vải sợi, v.v..
    Với “Mẫu mã đa dạng – Chất lượng hoàn hảo – Giá thành cạnh tranh”– Kim Xương Long đảm bảo mang lại sự hài lòng tuyệt đối cho quý khách hàng.

    Địa chỉ: 87/6 Hẻm 73 Đỗ Công Tường, P. Tân Quy, Q. Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh

    Điện thoại: 08-38474951
    Hotline: 0908709038

    Thịnh Đạt Phong – Công Ty TNHH Công Nghiệp Thịnh Đạt Phong

    Ngành nghề:Vải Sợi – Sản Xuất & Kinh Doanh

    Địa chỉ: 154/43 Nguyễn Kim, P. 6, Q. 10, Tp. Hồ Chí Minh

    Điện thoại:08-39572945

    Minh Tùng Vi Na – Công Ty TNHH Sản Xuất Thương Mại Dịch Vụ Minh Tùng Vi Na

    Ngành nghề: Vải Sợi – Sản Xuất & Kinh Doanh

    Chuyên cung cấp các mặt hàng vải sợi , tư vấn thiết kế các mẫu đồng phục cơ quan, xí nghiệp, trừơng học…

    Địa chỉ: 91A Dương Khuê, P. Hiệp Tân, Q. Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh

    Điện thoại: 08-38606894
    Hotline: 0909 113 309

    Trân Danh – Công Ty TNHH Trân Danh

    Ngành nghề: Vải Sợi – Sản Xuất & Kinh Doanh

    Chuyên cung cấp vải DENIM, vải sợi cao cấp.

    Địa điểm: Số 16 Đường 44, P. Tân Phong, Q. 7, Tp. Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 08-54332927

    Hotline:0909 325656

    Nhà cung cấp cho hàng đậu phộng xuất khẩu: những công ty chuyên về sản xuất và kinh doanh mặt hàng nông sản, ngoài ra còn từ vùng chuyên canh trồng đậu phộng, từ các chợ nông sản nơi cung cấp đậu phộng với số lượng lớn và chất lượng:

    Chợ nông sản Thủ Đức

    Vùng chuyên canh sản xuất đậu phộng huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, TP.Trà Vinh và một số tỉnh ở đồng bằng Sông Cửu Long.

    v Nhà cung ứng cho các sản phẩm nhập khẩu:

    Là các công ty đối tác nước ngoài chuyên sản xuất và kinh doanh các mặt hàng nhập khẩu do chi nhánh công ty kinh doanh: điển hình có các bạn hàng ở các nước:Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Tây Ban Nha.

    v Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp máy móc.

    1, Công ty: Oriental Victor Group

    Sản phẩm: máy móc

    Điện thoại:886 – 4 – 23506666

    Fax:886 – 4 – 23503397

    Địa chỉ:5F NO.108 SAI HSI ROAD TAICHUNG Taiwan

    Quốc gia :Đài Loan

    2, Công ty:Marusan Shoji Co., Ltd.

    Sản phẩm: máy móc thiết bị

    Điện thoại:(03)3271-1516

    Fax:(03)3271-1577

    Địa chỉ: 16-9 Nihonbashi 2-chom,Chuo-ku.Tokyo[103-0027]

    Quốc gia:Nhật bản

    v Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng đồ dùng nội thất:

    1, Công ty: Công Ty Tnhh Yiming

    Điện thoại: 86-757-28836154, 28913732

    Fax:86-757-28916096

    Web:

    Địa chỉ:Liangjiao Industrial Area,Shunde District,Foshan          GuangdongChina[Zip/Postal Code:528315]

    Quốc gia: Trung Quốc

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng vải sợi:

    1, Công ty:Công Ty Tnhh Dệt Young Sun

    Điện thoại:82 – 2 – 6630159,0160

    Fax:82 – 2 – 6639603

    Địa chỉ:202-15 Sangpyung-Dong Chinju-City Gyeongsangnam-do 660-340 Korea

    Quốc gia: Hàn Quốc

    2, Công ty:  Tnhh Kuang Yung Enterprise

    sản phẩm: sợi, vải.

    Điện thoại:886 – 4 – 25691393

    Fax:886 – 4 – 25691392

    Web:http://www.kytextile.com.tw/

    Địa chỉNo.165 Da-Lin Rd.Daya ShiangTaichung County 428 Taiwan

    Quốc gia: Đài Loan

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng dụng cụ cầm tay

    1, Công ty:Tnhh Shyang Yun

    sản phẩm: dụng cụ cầm tay

    Điện thoại:886-4-24610088

    Fax:886-4-24615856

    Địa chỉ:No. 15-6 Shi Pyng South Lane. 40750. Taichung.Taiwan

    Quốc gia: Đài Loan

    2, Công ty:Thiên Tân Kilews Tools & Thiết Bị Co, Ltd

    Điện thoại:86-22-27836077

    Fax:86-22-27836051

    Web:http://www.kilews-tj.com/kilews/index123.asp

    Địa chỉ:No. 12 Baojixidao,Tianjin,China[Zip/Postal Code:]

    Quốc gia: Trung Quốc

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng bánh kẹo:

    1, Công ty:Rich Enterprise

    Điện thoại:60 – 12 – 3090601

    Fax:60 – 3 – 79835273

    Địa chỉOld Klang Road-Happy Garden Kuala Lumpur 58200

    Quốc gia: Malaysia

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp xe máy

    1, Công ty:Motorhispania, S.L.

    Điện thoại:+34-954-47.56.87

    Fax:+34-954-40.91.22

    Web:http://www.motorhispania.es/

    Địa chỉc/ Parsi 3-nº 10. 41016 SEVILLE-SPAIN

    Quốc gia: Tây Ban Nha

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng keo dán:

    1, Công ty:Numwattana (Thế Giới)

    Điện thoại:+66875902873

    Fax:+6628172300

    Địa chỉ:104/1 3 4-6 Moo 19-Suksawat 64-Suksawat Rd.-Bangphung-Phrapradaeng-Samutprakarn-10130 Thailand

    Quốc gia: Thái Lan

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng gạch:

    1, Công ty:Todagres

    Điện thoại:34-626-021002

    Fax:34-964-534501

    Địachi:CTRA.DEONDAKM.5-VILA-REAL-CASTELLON-Spain(Zip/Postal:12540)

    Quốc gia: Tây Ban Nha

    2, Công ty:Hispania Ceramica S.A.

    Điện thoại:34-964-231658

    Fax:34-964-964776540

    Địa chỉ:Camino viejo Castellon- Onda S/n P.O Box 170

    Quốc gia:Tây Ban Nha

    • Khách hàng.
      • Khách hành trong nước.

    Khách hàng trong nước mua hàng tại chi nhánh công ty chủ yếu là các mặt hàng nhập khẩu từ nước ngoài và một phần sản xuất trong nước. Mỗi khách hàng có nhu cầu hàng hóa khác nhau về hàng hóa. Ta có chia nhóm khách hàng thành 3 nhóm chính sau :

    • Dân lao động phổ thông :

    Khả năng chi trả thấp

    Nhu cầu chất lượng sản phẩm ở mức độ trung bình.

    Mua hàng số lượng nhỏ lẻ, chất lương không đồng đều.

    Chủ yếu là nhân dân lao động ở TP.HCM

    Mặt hàng họ muốn có đó là những sản phẩm : máy móc phục vụ nông, lâm ngư nghiệp, thiết bị điện,hàng hóa tiêu dùng.

    Sản phẩm phù hợp là sản phẩm được sản xuất trong nước với chi phí thấp, giá cả phù hợp với túi tiền của người lao động.

    Lợi nhuận thu được từ việc bán hàng cho dân lao động phổ thông thấp.

    • Cá nhân và gia đình có thu nhập cao :

    Họ chủ yếu là những cá nhân gia đình thuộc TP.HCM và các tỉnh lân cận.

    Họ sẵn sàng chi trả sản phẩm họ muốn với mức giá cao

    Yêu cầu chất lượng và mẫu mã sản phẩm cao

    Mua hàng số liệu nhỏ lẻ, chất lượng thường là cao.

    Họ thường mua những mặt hàng ở chi nhánh: Xe máy, gạch, đá hoa cương được nhập khẩu từ nước ngoài với mẫu mã đẹp và chất lượng đảm bảo phục vụ cho nhu cầu đi lại và xây dựng nhà cửa của họ.

    Lợi nhuận thu được từ viêc bán hàng cho nhóm khách hàng này ở mức độ trung bình.

    • Doanh nghiệp, xí nghiệp kinh doanh, sản xuất :

    Nhóm khách hàng này bao gồm tất cả công ty, xí nghiệp ở mọi miền trên đất nước Việt Nam.

    Mua hàng hóa với số lượng lớn, chất lượng đồng đều.

    Nhu cầu về hàng hóa đa dạng ( nhiều loại mặt hàng)

    Tùy theo loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực sản xuât,kinh doanh mà doanh nghiệp ( xí nghiệp ) có thể mua những mặt hàng khác nhau.

    • Doanh nghiệp thuộc ngành may mặc : mua các loại máy móc phụ vụ sản xuất công nghiệp, các thiết bị điện, vải, sợi…

    +  Doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng : mua các loại gạch, đá hoa cương, đồ nội thất..

    + Doanh nghiệp kinh doanh sản xuất nông sản : mua thiết bị máy móc nông nghiệp.

    + Doanh nghiệp kinh doanh buôn bán thủy sản : mua các thiết bị máy móc phục vụ ngư nghiệp

    + Doanh nghiệp thuộc ngành cơ khí : mua những thiết bị kim khí điện máy

    • Doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ : mua các mặt hàng tiêu dùng là chủ yếu.

    Lợi nhuận thu được từ việc bán hàng cho nhóm khách hàng này cao.

    Bảng 4. Thị phần khách hàng trong nước 

      Khách hàng

     

     

    Sản phẩm

    Lao động phổ thông Gia đình cá nhân thu nhập cao Doanh nghiệp, xí nghiệp sản xuất kinh doanh
    Máy móc 18% 11% 71%
    Đồ dùng nội thất 2% 23% 75%
    Xe máy 8% 25% 67%
    Sợi, Vải 1% 2% 97%
    Bánh kẹo 7% 10% 83%
    Gạch 4% 37% 59%
    Keo dán 2% 8% 90%
    Kem không sữa 6% 17% 87%
    Dụng cụ cầm tay 38% 7% 55%
    Tỉ trọng 9% 15% 76%

    Nguồn: Phòng Kế toán 2011

    Hình 3:Biểu đồ thể hiện thị phần khách hàng trong nước :

    • Qua biểu đồ có thể thấy đuợc các mặt hàng của công ty chủ yếu phân phối cho khách hàng doanh nghiệp, xí nghiệp là chủ yếu ( 76%), tiếp đó là cá nhân, hộ gia đình với thu nhập cao (15%) cuối cùng là dân lao động phổ thông (9%).
    • Lợi nhuận thu chủ yếu được phần lớn từ việc bán hàng cho doanh nghiệp xí nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước.

    v  Khách hàng nước ngoài

    Công ty xuất khẩu trực tiếp sang thị trường Malaysia , xuất khẩu ủy thác qua 3 thị trường : Campuchia, Malaysia, Myanmar. Do đó, khách hàng nước ngoài của chi nhành công ty tập chung ở nước : Campuchia, Malaysia, Myanmar.

     

    Bảng 5 :Nhà nhập khẩu

                          Thị trường

     

    Sản phẩm

    Campuchia Malaysia Myanmar
    Vải ( xk ủy thác) 27% 19% 23%
    Đậu phộng (xk trựctiếp)   31%  

    Nguồn: Phòng Kế toán 2011

    • Khách hàng là các doanh nghiệp ở CamPuChia :
    • Mặt hàng họ mua chỉ có vải do công ty xuất khẩu ủy thác.
    • Số lượng mua chiếm tỉ lệ tương đối chiếm 23%
    • Danh sách các doanh nghiệp ở CamPuChia nhập khẩu vải :
     
     
       
       
    • Công ty :M&V INT’L MANUFACTURING LTD.

    Sản phẩm kinh doanh: quần áo trẻ em

    Tel:+ 852 3549 3300

    ADDRESS: RM 2601-6, 26/F, Billion Plaza,8 Cheung Yue St.,Cheung Sha Wan, Kowloon

    • Công ty: SANTEX INDUSTRIAL ( CAMBODIA ) LIMITED

    Sản phẩm kinh doanh: ba lô, cặp vải

    Tel : 012 810 529

    ADDRESS: National Road 4,Phum Trapeang Chhoeu Neang, Khum Poeuk, Srok Angsnoul, Kandal Province

    • Công ty: JIN CHAN ( CAMBODIA ) CLOTHING CO.,LTD.

    Sản phẩm kinh doanh: áo khoác, mũ nón

    Tel : (855) 23 368 438

    ADDRESS: No.18 Rue 528, Sangkat Beoungkok, Khan Toulkok, Phnom Penh, Cambodia

    • Khách hàng là các doanh nghiệp ở Myanmar:
    • Mua vải của chi nhánh.
    • Khối lượng giao dịch ở mức trung bình ( 23%) trong tổng số các mặt hàng xuất khẩu của chi nhánh.
    • Danh sách các khách hàng ở Myanmar :

    Công ty:  Aung Si Garment (Success Drum Garment)

    Sản phẩm kinh doanh: quần áo thời trang công sở

    Tel : (95-1) 517 656, 401 992
    Fax: (95-1) 524 295

    ADDRESS: 1/D, Padonmar St., IndustrialZone, (Nga) Ward,NOKA.

    • Công ty: Charminh Garmenta manufacturing Co.,Ltd

    Sản phẩm kinh doanh: quần áo nam giới

    Tel : (95-1) 684126,684229

    ADDRESS: 82, Twin Thin Tike Wun U Tun Nyo St.,           IndustrialZone(1),HLTA

    • Công ty : Lucky flowers

    Sản phẩm kinh doanh: áo sơ mi, áo vet Nam

    Tel : (95-1 543675

    ADDRESS: 707, 708(Rm 101), 1st Flr, Kamahtan St., Myittar Nyunt Ward,TMW.

    • Khách hàng là các doanh nghiệp ở Malaysia.
    • Công ty:Empire Golden Nine Enterprise

    Sản phẩm kinh doanh: các loại đầm phụ nữ

    Điện thoại: +60126916622

    Fax: +603-51624124

    Web: http://www.uniformspecialist.blogspot.com/

    Địa chỉ:No 8A Jalan PJS 10/32, Bandar Sri Subang,46000 Petalin Jaya,Selangor Darul Ehsan

    • Công ty:Burhani Thương Mại

    Sản phẩm kinh doanh: hàng may mặc trẻ em

    Điện thoại:60 – 3 – 26983562

    Fax:60 – 3 – 26933326

    Địa chỉ:61 Jalan Tuanku Abdul Rahman,Kuala Lumpur 50100

    • Công ty: Image Glow Merchandising (M) Sdn Bhd

    Sản phẩm kinh doanh: quần jean, quần tây, áo sơ mi.

    Điện thoại: 60 – 07 – 4326660

    Fax:60 – 07 – 4326662

    Web: http://www.image-glow.com/

    Địa chỉ:WISMA IGM, 43-1C JALAN PENJAJA 3,BATU PAHAT JOHOR 83000

    • Đối thủ cạnh tranh.

    Công ty kinh doanh mặt hàng tổng hợp, vì thế mà số lượng đối thủ cạnh tranh về các mặt hàng rất lớn. Hơn nữa khi tham gia vào thị trường kinh tế thế giới, Việt Nam là thành viên tổ chức WTO. Các doanh nghiệp phải đối đầu với cả đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu.

     

    v Đối thủ cạnh tranh trong nước.

    Ngành kinh doanh xuất nhập khẩu là một trong những ngành kinh tế chủ đạo của nền kinh tế nước ta. Theo con số của tổng cục thống kê từ năm 2005 – 2010 trị giá xuất nhập khẩu có xu hướng tăng dần :xuất khẩu tăng từ  4265 triệu USD (2005) lên đến 7460 triệu USD năm 2010, nhập khẩu tăng từ 4450 triệu USD (2005) lên đến 9921triệu USD năm 2010. Qua đó ta có thể thấy được lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng được mở rộng và phát triển. Những công ty kinh doanh xuất nhập khẩu được thành lập ngày càng nhiều, đối thủ cạnh tranh của công ty dần xuất hiện với số lượng lớn. Một số đôi thủ cạnh tranh lớn của công ty về lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu có thể kể đến như : Công ty cổ phần xuất nhập khẩu  Petrolimex, Tổng công ty sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định (PiSiCo),Công ty Xuất nhập khẩu Intimex… Đây là 3 công ty lớn chiếm thị phần khá lớn ở thị trường Việt Nam.

    • Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Petrolimex
    • Những nét chính về công ty:
    • Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩuPetrolimex (PITCO) là thành viên của Tổng Công ty xăng Dầu Việt Nam(PETROLIMEX). Từ khi được thành lập năm 1999 đến nay, PITCO phát triển nhanh chóng, trở thành một trong những doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu lớn của Bộ Công thương, khẳng định vị thế và thương hiệu, giữ vững sự tín nhiệm của các đối tác trong và ngoài nước.
    • Văn Phòng Chính:
      Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Petrolimex    
      Địa chỉ: 54-56 Bùi Hữu Nghĩa, phường 5, Quận 5, Tp Hồ Chí Minh
      ĐT  : (08) 383 83 400
      Fax : (08) 383 83 500
      Email : [email protected]
    • Ngành nghề kinh doanh:

    Kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa nông lâm thủy hải sản, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị ngành công nghiệp, nông nghiệp, phương tiện vận tải, vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng.

    Mua bán, sản xuất, gia công, chế biến, xuất nhập khẩu khoáng sản hàng hóa, kim loại màu. Kinh doanh tạm nhập, tái xuất chuyển khẩu xăng dầu, các sản phẩm hóa dầu.

    Kinh doanh vận tải xăng dầu; đại lý kinh doanh xăng dầu.

    Dịch vụ giao nhận; đại lý, sản xuất, gia công, chế biến hàng hóa xuất nhập khẩu.

    Kinh doanh, đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh doanh nhà.

    Sản xuất, mua bán các loại thẻ từ, thẻ vi mạch, thẻ điện thoại.

    Sản xuất, mua bán sơn và nguyên liệu, sản phẩm ngành sản xuất sơn.

    • Thành tích – Giải thưởng

    Huân chương lao động hạng III;

    Được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen do có thành tích xuất sắc từ năm 2001 – 2005;

    Liên tục 05 năm (2000-2004) Công ty được Bộ Thương Mại tặng bằng khen về việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh và tăng trưởng xuất nhập khẩu;

    Được Bộ Công Thương bình chọn là doanh nghiệp xuất khẩu uy tín 05 năm liền (2004-2008);

    Công ty được Bộ Thương Mại tặng Cờ thi đua xuất sắc năm 2006;

    Công ty được tặng Bằng khen của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn do có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển của ngành hàng hồ tiêu năm 2007, 2008;

    Doanh nghiệp tiêu biểu của 11 lĩnh vực Thương mại Dịch vụ – TOP TRADE SERVICES 2007 do Bộ Công Thương bình chọn;

    Sao vàng đất Việt 2008-2009 (Top 100);

    Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam;

    Được Trung tâm thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà Nước xếp hạng tín dụng AAA;

    Được nhận giải thưởng “2006 BUSINESS EXCELLENCE AWARDS” do Ủy ban Quốc gia về hợp tác Kinh tế Quốc tế phối hợp với 53 Thương vụ Việt Nam tại các nước, vùng lãnh thổ tổ chức xét chọn và trao tặng;

    Đạt thương hiệu “Việt Nam tốt nhất” trong lĩnh vực xuất nhập khẩu năm 2007 do báo điện tử Việt Nam Net phối hợp cùng đài truyền hình Việt Nam tổ chức;

    Là thành viên kim cương của Cổng Thương mại điện tử quốc gia (ECVN); được Hải quan TP.HCM chọn là 1 trong những đơn vị đầu tiên được thông quan điện tử;

    Được trao Cúp vàng và Giải thưởng Doanh nhân tiêu biểu ASEAN năm 2007;

    Giải thưởng “Doanh nghiệp thanh toán xuất nhập khẩu tốt nhất năm 2007” do Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trao tặng;

    Top 100 Thương Hiệu Mạnh Xuất Nhập Khẩu Uy Tín Và Hiệu Quả 2008;

    Cúp vàng – Giải thưởng “Thương hiệu chứng khoán uy tín” và “Công ty Cổ phần hàng đầu Việt Nam 2008, 2009”.

    • Đánh giá :

    Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Petrolimex (PITCO) là đối thủ cạnh chính về các mặt hàng: tiêu dùng, máy móc nhập khẩu, nông lâm thủy sản.

    • Tổng công ty sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định (PiSiCo).
    • Những nét chính về công ty:

    Chủ Tịch Hội Đồng Thành Viên: Ông Nguyễn An Điềm

    Tổng Giám Đốc:  Ông Lê Văn Hồng

    Địa chỉ: 99 Tây Sơn, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

    Điện thọai: 056.3947066      Fax: 056.3947029

    Mã số Doanh nghiệp: 4100258987

    Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam: 43520

    Năm thành lập: 1985

    Vốn điều lệ: 221,343 tỷ đồng

    Nhân viên: 5.000 nhân viên

    • Ngành nghề kinh doanh:

    Trồng và khai thác rừng; Tư vấn thiết kế công trình lâm sinh; Kinh doanh nguyên liệu giấy; Khai thác, chế biến và mua bán hàng nông, lâm, thủy sản;

    Sản xuất và mua bán hàng công nghiệp thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, may mặc, giày da;

    Thăm dò, khai thác, chế biến mua bán tài nguyên khoáng sản các loại;

    Mua bán máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên phụ liệu cho ngành nông, lâm, thủy sản và vật liệu xây dựng;

    Mua bán máy móc, phương tiện vận tải, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu;

    Kinh doanh truyền hình cáp và vật tư, thiết bị viễn thông;

    Kinh doanh dịch vụ Cảng biển;

    Kinh doanh khách sạn và dịch vụ ăn uống;

    Dịch vụ cho thuê kho, bãi, giao nhận và bảo quản hàng hóa; Sản xuất các loại bao bì, sản phẩm tiêu dùng từ chất dẻo;

    Đầu tư hạ tầng; Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, cơ sở hạ tầng và kinh doanh bất động sản;

    Đầu tư tài chính vào các Doanh nghiệp.

    • Thành tích – Giải thưởng

    Huân chương lao động hạng I cho tập thể Tổng Công ty đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2000 đến năm 2004.

    Huân chương lao động hạng II cho tập thể Tổng Công ty năm 1996.

    Huân chương lao động hạng III cho 2 cá nhân là: lãnh đạo Tổng Công ty  qua các thời kỳ 1996 và 2000.

    Chính phủ, Bộ  NNo &  PT Nông Thôn, Bộ Thương Mại, Bộ Tài chính, Tổng cục thuế, UBND tỉnh Bình Định, Tổng Liên đoàn Lao động, Liên đoàn lao động  tỉnh Bình Định ngành tặng cờ thi đua và nhiều danh hiệu thi đua khác  cho tập thể, cá nhân, cán bộ Tổng Công ty qua các thời  kỳ.

    • Đánh giá :

    Tổng công ty sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định (PiSiCo) là đối thủ cạnh tranh mạnh về các mặt hàng: nông, lâm , thủy sản và các loại máy móc phụ vụ ngành này. Ngoài ra còn có sản phẩm ngành may mặc, giày da, đây là những sản phảm thế mạnh của công ty này.

    • Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex
    • Những nét chính về công ty:

    Tên gọi trước đây là Công ty Cổ phần XNK Intimex chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 07 năm 2006. Intimex Hochiminh được hình thành trên cơ sở cổ phần hóa Chi nhánh Công ty XNK Intimex tại TPHCM được thành lập năm 1995 và trực thuộc Bộ Công Thương.

    Tổng tài sản của Intimex Hochiminh đã lên đến trên 2.200 tỷ đồng, đó chính là cơ sở quan trọng cho sự phát triển mới của Công ty trong giai đoạn tiếp theo.

    Trụ sở chính: 61 Nguyễn Văn Giai, Đakao, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh.
    Điện thoại : 38201754 – 38201998 – 38203033 – Fax: 08. 38201997.
    Website: www.intimexhcm.com
    E-mail : [email protected]

    • Ngành nghề kinh doanh:

    Xuất khẩu: hàng nông sản, thủ công mỹ nghệ, gạo, hồ tiêu, cơm dừa, hạt tiêu

    Nhập khẩu: máy móc thiết bị, đồ điện gia dụng.

    • Thành tích – Giải thưởng

    v Năm 2006      
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Thương mại trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp đã có thành tích xuất sắc trong tổ chức xuất khẩu Hồ tiêu 2006 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu xuất sắc 2006 do Ủy ban Quốc gia & Hợp tác Kinh tế và Báo Thương mại cấp.
     Năm 2007   
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Công Thương bầu chọn.
    – Bằng khen Doanh nghiệp đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2007 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng.
    – Giải thưởng Thương mại dịch vụ Việt Nam – Top Trade Services 2007 do Bộ Công Thương, Báo Công Thương trao tặng.
    v Năm 2008  
    – Giải thưởng Top 15 Doanh nghiệp Thương mại Dịch vụ xuất sắc năm 2008 do Bộ Công Thương, Báo Công Thương tổ chức.
    – Là doanh nghiệp tư nhân lớn thứ 05 ở Việt Nam năm 2008 theo bảng  xếp hạng VNR 500 do Báo Vietnamnet và Vietnam Report công bố.
    – Giải thưởng “Doanh nghiệp phát triển bền vững năm 2008 do Bộ Công Thương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín  do Bộ Công Thương trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong công tác kinh doanh, xuất khẩu và hoạt động phát triển ngành hàng Hồ tiêu năm 2008 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 do Bộ Công Thương trao tặng.
    vNăm 2009   
    – Chứng nhận Top Doanh nghiệp tiêu biểu 3 năm liên tiếp đoạt giải thưởng Thương mại Dịch vụ Việt Nam (2007-2008-2009) do Bộ Công Thương, Báo Công Thương trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Công Thương trao tặng.
    – Là doanh nghiệp tư nhân lớn thứ 10 ở Việt Nam năm 2009 theo bảng  xếp hạng VNR 500 do Báo Vietnamnet và Vietnam Report công bố.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có thành xuất sắc trong công tác kinh doanh, xuất khẩu và hoạt động phát triển ngành hàng Hồ tiêu năm 2009 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao tặng.
    – Năm 2010        
    – Chứng nhận Top 10 Doanh nghiệp Thương mại Dịch vụ xuất sắc 2010 do Bộ Công Thương tổ chức.
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Công Thương trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có thành xuất sắc trong công tác kinh doanh, xuất khẩu và hoạt động phát triển ngành hàng Hồ tiêu năm 2010 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao tặng.
    – Là doanh nghiệp tư nhân lớn thứ 13 ở Việt Nam năm 2010 theo bảng  xếp hạng VNR 500 do Báo Vietnamnet và Vietnam Report công bố.
     Năm 2011   
    – Bằng khen do có thành tích trong công tác đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, kiểm soát nhập khẩu năm 2011 do Bộ Công Thương trao tặng.
    – Bằng khen do Thủ tướng Chính phủ trao tặng cho ông Đỗ Hà Nam – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty.
    – Huân chương Lao động Hạng ba do Chủ tịch nước trao tặng cho tập thể Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex và cá nhân ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty.
    – Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex nhận Cờ truyền thống của UBND TPHCM và cá nhân ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty, được nhận Huy hiệu công dân tiêu biểu của TPHCM.

    • Đánh giá :

    Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex là một đối thủ cạnh tranh mạnh về sản phẩm về nông sản và đồ điện gia dụng, với lịch sử hình thành lâu đời và những thành tích đạt được trong thời gian qua chi nhánh công ty cần xem xét đánh giá đúng đối thủ cạnh tranh của mình ở vị trí nào và đưa ra chính sách về giá cả và dịch vụ cho phù hợp với thị trường.

    v Đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

    Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vươn ra xe thị trường thế giới. Tuy nhiên vấn đề gặp phải là sự gia tăng cạnh tranh trên trường quốc tế.Trên thị trường quốc tế, những công ty xuất khẩu mặt hàng về đậu phộng ( nông sản) và vải ( sản phẩm may mặc ) rất nhiều. Và những công ty ở những thị trường : Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, đặc biệt là những công ty ở thị trường mà chi nhánh xuất khẩu qua : Malaysia, Campuchia và Myanmar là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp với công ty.

    • Công ty xuất nhập khẩu hàng may mặc và sản phẩm nông sản ở Trung Quốc :

    Lợi thế :

    Giá nhân công và nguyên vật liệu rẻ.

    Về sản phẩm may mặc: Đa dạng mẫu mã, mỗi món hàng đều có hoạ tiết trang trí làm bằng tay tỉ mỉ, chất liệu và hoa văn vải lạ, không đụng hàng thị trường. đem lại sự khác biệt biệt hóa về sản phẩm. Tạo ưu thế cạnh tranh.

    Về mặt hàng nông sản: yếu tố giá cả cạnh tranh,khó có thị trường nào giá rẻ hơn ở thị trường này.

    Nhược điểm:

    Người tiêu dùng trên thế giới khi dùng sản phẩm hàng trung quốc lo ngại về vấn đề an toàn sức khỏe. Yêu cầu chặt chẽ về nguồn gốc sản phẩm khi mua hàng ở thị trường này.

    Một vài doanh nghiệp ở Trung Quốc có uy tín và chiếm được thị phần lớn ở các nước Malaysia, Myanmar và Campuchia:

    Công ty:Hongye Co., Ltd.

    Điện thoại:86 – 020 – 36403995

    Fax:86 – 020 – 36403995

    Địa chỉ:Room 602,Buildiing no 6,Lane 9 South Street,ChenTianCun,baiyun District,GuangZhou city,guangdong         Guangzhou Guangdong 510420 China.

    Sản phẩm kinh doanh: may mặc quần áo thời trang.

    Công ty:Shandong Sinh Hóa Co, Ltd

    Điện thoại:+86 156 0633 0617

    Fax:+86 633 5889929

    Địa chỉ:NO.52 YANHE ROAD.WULIAN COUNTY, SHANDONG, CHINA

    Sản phẩm kinh doanh: mặt hàng nông sản

    • Các công ty ở các thị trường nội địa:
    • Ưu thế:

    các sản phẩm sản xuất trong nước giảm bớt được chi phí nhập khẩu

    + có sự trợ giúp từ nhà nước.

    • Bất lợi:

    + sản phẩm với chất lượng không đồng đều.

    + chi phí nhân công cao.

    • 1 vài công ty kinh doanh các mặt hàng xuất nhập khẩu của công ty tại các thị trường nội địa.
    • Thị trường Malaysia.

    +  Công ty:Công Ty Cổ Phần Kinh Doanh Tyc

    Điện thoại:6-019-8440488

    Fax:6-086-330035

    Địa chỉ:JLN MASJID,BINTULU,SARAWA,(Zip/Postal:97008)

    sản phẩm kinh doanh: phụ kiện và sản phẩm may mặc

    +  Công ty:Nagajati Thực Phẩm Sdn Bhd

    Điện thoại:60-03-60916827

    Fax:60-03-60916829

    Địa chỉ:Lot 3881,Jalan Raya, Sungei Choh Industrial Area, 48000 Rawang, Selangor Darul Ehsan.

    Sản phẩm kinh doanh: các loại đậu

    • Thị trường Myanmar

    + Công ty Aung Si may

    Địa chỉ: 1 / D, Padonmar St, IndustrialZone, (Nga) Phường, NOKA

    Sản phẩm kinh doanh: hàng May công nghiệp

    SDT: 690003,095008520

    Email:[email protected]

    + công ty TNHH Myawaddy.

    Loại hình doanh nghiệp: Công ty Thương mại

    Sản phẩm / Dịch vụ : gạo trắng, toàn bộ toor, matpe đen, đậu xanh, đường, ngô vàng , đậu phộng.

    Địa chỉ: No.189/181 Mahabandoola street.

    Website công ty: www.myawaddytrade.com

    • Thị trường Campuchia

    + Công ty Thương mại Alantic.

    Loại hình doanh nghiệp. Công ty thương mại

    Sản phẩm kinh doanh: các mặt hàng nông sản: Gạo , đậu xanh, ngô, đậu phộng…

    Địa chỉ: 6A distreet, Phnom Phenh, CamPuChia.

    Điện thoại : 855-11-909558

    + Công ty Lucky Star.

    Loại hình kinh doanh: Kinh doanh xuất nhập khẩu.

    Sản phẩm  kinh doanh:  phụ kiện, quần áo thời trang.

    Địa chỉ: 128 blvd monivong, dong anoung, phnom Phenh, Cambodia.

    Điện thoại: 855-9835-9864

    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng xuất nhập khẩu của chi nhánh Công ty Hà Thành.
    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng xuất khẩu của chi nhánh Công ty Hà Thành.

     

    Bảng 6: Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL xuất khẩu

    Chỉ tiêu Năm
    2009 2010 2011
    Tổng doanh thu 526927 586493

    655438

    Doanh thu  giao nhận hàng xuất khẩu đường biển. 131731,75 176768,99 242446,516
    Tỷ trọng doanh thu hàng xuất khẩu bằng đường biển trên tổng doanh thu. 25% 30,14% 36,99%

     

    Nguồn: Bộ phận  kinh doanh 2011

    Hình 4:Biểu đồ thể hiện doanh thu giao nhận hàng xuất khẩu.

     

    • Qua số liệu bảng và biểu đồ trên ta thấy doanh thu giao nhận hàng hóa xuất khẩu đường biển tăng theo từng năm theo doanh thu và chiếm tỉ trọng ngày càng tăng.
    • Tỉ trọng doanh thu hàng xuất khẩu gia tăng theo từng năm : năm 2010 tăng 4,86% so với năm 2009. Năm 2011 tăng 6,85% so với năm 2010. Do đó, có thể đưa ra nhận xét số lượng giao dịch mặt hàng xuất khẩu ngày càng gia tăng về số lượng kèm theo đó là thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng.

     

    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng nhập khẩu của chi nhánh Công ty Hà Thành.

    Bảng 7:  Tình hình kinh doanh giao nhận hàng  nhập khẩu

     

    Chỉ tiêu Năm
    2009 2010 2011
    Tổng doanh thu 526927 586493 655438
    Doanh thu  giao nhận hàng nhập khẩu đường biển. 200864,57 253658,223 329554,226
    Tỷ trọng doanh thu hàng nhập khẩu bằng đường biển trên tổng doanh thu. 38,12% 43,25% 50,28%

    Nguồn:Bộ phận kinh doanh

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 5:Biểu đồ thể hiện doanh thu giao nhận hàng nhập khẩu

    • Qua bảng số liệu và biểu đồ ta có thể thấy:
    • Doanh thu giao nhận hàng hóa nhập khẩu ở con số lớn.
    • Có sự gia tăng doanh thu theo các năm: tăng 52,79 triệu từ năm 2009-2010, tương ứng gia tăng về tỉ trọng 5,13 %, năm 2010-2011 tăng 75,89 triệu tương ứng gia tăng 7,03%.
    • Sự gia tăng ở con số nhỏ hơn 10%( không cao) thể hiện thị trường nhập khẩu dao dộng ở mức nhỏ.tương đối ổn định.
    • Dự đoán năm 2012 sự gia tăng cao vì thị trường mở rộng theo đà những năm trước đó.
      • Qua 2 bảng số liệu cung cấp trên ta có thể đưa ra biểu đồ thể hiện doanh thu của chung toàn công ty sau:

     

     

     

     

     

    Hình 6:Biểu đồ thể hiện tỉ trọng doanh thu chi nhánh công ty Hà Thành 2011

     

    Nhận xét:

    • Tỷ trọng của hoạt động giao nhận hàng FCL xuất – nhập khẩu bằng đường biển chiếm con số khá cao trong tổng doanh thu.

    + Doanh thu hàng nhập khẩu chiếm đa số trong tổng doanh thu ( 50%) tiếp theo đó là hàng xuất khẩu (37%) tiếp đó là các hoạt động khác chiếm rất nhỏ trong tổng doanh thu ( 13%).

    + Cán cân xuất nhập khẩu bị thâm hụt

    1.3.4.   Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu.

    • Cơ cấu thị trường xuất khẩu.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 7. Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu.

     

    Qua biểu đồ ta thấy:

    • Thị trường giao dịch xuất nhập khẩu bị giới hạn với 3 thị trường chính: Malaysia, Campuchia và Myanmar
    • Thị trường chi nhánh chọn hợp tác là Malaysia, với tỉ trọng giao dịch tương đối lớn 54%
    • Thị trường Campuchia và Myanmar tỉ trọng giao dịch ở con số trung bình lần lượt là 21% và 25%.
    • Thị trường lớn như Mỹ, Nhật, Trung Quốc …còn bỏ ngỏ.
      • Cơ cấu thị trường nhập khẩu.

    Bảng8: Thị trường nhập khẩu:

     

    Thị trường

     

     

    Đài Loan Trung Quốc Nhật Hàn Quốc Thái Lan Malaysia Tây Ban Nha
    Máy móc 8%   6%          
    Đồ dùng nội thất   9%            
    Xe máy             7% 4%
    Sợi, Vải 14%     11%        
    Bánh kẹo           12%    
    Gạch             8%  
    Keo dán         8%      
    Kem không sữa         4%      
    Dụng cụ cầm tay 4% 5%            
    Tổng 26% 14% 6% 11% 12% 12% 15% 4%

     Nguồn Phòng Kế toán

    Hình8 : Biểu đồ cơ cấu thị trường nhập khẩu của chi nhánh

    • Qua biểu đồ ta nhận thấy:
    • Thị trường nhập khẩu đa dạng, chi nhánh giao dịch với nhiều nước trên thế giới với nhiều loại mặt hàng.
    • Thị trường Đài Loan tỉ trọng giao dịch chiếm số lượng lớn 26%. Đây là thị trường mà chi nhánh giao dịch từ lâu.với chi phí giao dịch ở mức độ trung bình
    • Các thị trường có khối lượng giao dịch trung bình:Tây Ban Nha ( 15%) , Trung Quốc (14%), tiếp theo là Malaysia, Thái Lan ( 12%) và Hàn Quốc ( 11%).
    • Thị trường có tỉ trọng giao dịch ít là Nhật Bản ( 6%) và Ý (4%). Tuy nhiên ở thị trường này tỉ trọng giao dịch ít nhưng chi phí và vốn cho lô hàng nhập khẩu ở các thị trường này tương đối cao, bởi chất lượng hàng hóa ở 2 thị trường này rất tốt.

     

    1.4. Phương hướng hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian tới.

    Trong tình hình kinh tế thế giới đang dần dần có những biến đổi khởi sắc tốt hơn trong thời gian khủng hoảng vừa qua. Là một công ty xuất nhập khẩu hàng hóa tổng hợp, ban lãnh đạo công ty đã đề ra các phương án sau:

    • Tiếp tục triển khai mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu: củng cố mối quan hệ với các đối tác đã thiết lập làm ăn lâu dài với công ty, tìm kiếm thêm thị trường xuất khẩu tiềm năng.
    • Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại thị trường trong nước bằng việc củng cố chất lượng bán háng và dịch vụ cho khách hàng tại các điểm: trạm kinh doanh xuất nhập khẩu, cửa hàng Thăng Long và Bãi xe của chi nhánh công ty.
    • Tìm kiếm các nguồn nhập khẩu nguyên liệu có giá cả thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo chất lượng để giảm chi phí nguyên vật liệu.
    • Tiết kiệm năng lượng từ các văn phòng chính để giảm chi phí cho công ty.

     

     

    PHẦN2:  MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI CHI NHÁNH CÔNG TY HÀ THÀNH TRONG THỜI GIAN TỚI.

    1.5. Tổng quan thị trường kinh tế Việt Nam 2011,dự đoán tình hình kinh tế 2012.

    • Tình hình kinh tế 2011.

    Năm 2011 tình hình kinh tế- xã hội nước ta phát triển trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức. Đầu năm, giá các hàng hóa và vật tư chủ yếu trên thị trường thế giới biến động theo chiều hướng tăng. Một số nền kinh tế lớn mặc dù vừa phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng vẫn đang tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro và bất ổn. Tình trạng vỡ nợ công ở Hy Lạp và một số nước khu vực đồng Euro, bất ổn ở Bắc Phi, Trung Đông đã tác động trực tiếp đến tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam ở các mức độ khác nhau. Ở trong nước, lạm phát tăng cao, thời tiết diễn biến phức tạp, một số vấn đề xã hội còn nhiều bất cập….

    • Dự đoán năm 212:

    Năm 2012, dự báo tình hình kinh tế-xã hội nước ta phát triển trong bối cảnh khó khăn và thuận lợi đan xen nhau.
    –  Về khó khăn: Kinh tế thế giới và khu vực vẫn phục hồi chậm, nhất là các nước EU, Mỹ, Trung Quốc.. là những thị trường lớn của nước ta. Khu vực Trung Đông, Bắc Phi vẫn chưa ổn định nên khả năng ổn định thị trường xuất khẩu hàng hóa và lao động nước ta tiếp tục gặp khó khăn. Ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi. Giá cả thị trường năm 2011 cao, tỷ giá ngoại tệ, vàng vẫn biến động và phụ thuộc lớn vào thị trường thé giới, thị trường bất động sản vẫn trầm lắng, chứng khoán giảm.
    – Về thuận lợi: Sự hồi phục của nền kinh tế có nhiều tiềm năng ở khu vực Đông Nam Á và Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản sẽ tác động tích cực đến kinh tế- xã hội Việt Nam. Thị trường xuất khẩu đã mở rộng trong những năm gần đây nên khả năng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của nước ta là rất khả quan. Vốn FDI thực hiện, ODA, và kiều hối năm 2011 khá lớn. (trên 26 tỷ USD). Ở trong nước, nguồn lực năm 2011 tạo ra về vốn, cơ sở hạ tầng, nhân lực và kinh nghiệm tích luỹ của 25 năm đổi mới là những yếu tố thuận lợi, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế năm 2012.

     

    1.  

    1.6. Đánh gia chung về chi nhánh công ty Hà Thành.

    1.6.1.   Điểm mạnh.

    • Sự lãnh đạo đúng đắn.

    Với kim chỉ nam là “Đầu tư đa dạng, phát triển bền vững”, chi nhánh công ty Hà Thành tại TP. HCM  đã quy tụ được Ban Lãnh đạo có bề dày kinh nghiệm trong các lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển, kết hợp với đội ngũ nhân viên trẻ, năng động và chuyên nghiệp tạo lên thế mạnh nòng cốt của công ty để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra.
    Hơn nữa, chi nhánh lựa chọn phát triển những sản phẩm thiết yếu đưa vào xuất nhập khẩu  tạo sự cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như nước ngoài.

    • Thiết lập mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp

    Qua quá trình phát triển, bên cạnh việc thiết lập được một hệ thống đối tác nước ngoài đến từ các doanh nghiệp lớn Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Tây Ban Nha., có thế mạnh trong các lĩnh vực:xuất nhập khẩu hàng máy móc, tiêu dùng, xe máy, nội thất, nông sản, may mặc đó là những sản phẩm chủ lực xuất nhập khẩu của công ty … Chi nhánh công ty còn thiết lập được mối quan hệ tin cậy với các đối tác trong nước là các Tổ chức tài chính, các Quỹ đầu tư và các Ngân hàng thương mại cùng đồng  hành trên con đường phát triển.

    • Tạo cơ sở niềm tin cho khách hàng trong nước.

    Trong suốt quá trình 15 năm hoạt động, từ năm 1997 cho đến nay,thị trường trong và ngoài nước không ngừng gia tăng. Đối với thị trường trong nước công ty chiếm được thị phần khá cao và là nguồn cung cấp hàng hóa không thể thiếu đối với các doanh lớn kinh doanh trong ngành: may mặc, xây dựng và tiêu dùng.

    • Kinh nghiệm xuất nhập khẩu:

    Kể từ khi đi vào hoạt động, với 15 năm kinh nghiệm trong ngành kinh doanh xuất nhập khẩu. Hàng hóa xuất nhập khẩu luôn đảm bảo về chất lượng, cũng như số lượng. Quan trọng nhất thời gian giao hàng và nhận hàng luôn kịp thời. Tạo niềm tin cho khách hàng là tiền đề cho sự phát triển lâu dài và bền vững của doanh nghiệp

    • Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và có bề dày kinh nghiệm.

    Với đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm nhiều năm trong ngành xuất nhập khẩu, là nền tảng cho công ty mở rộng và phát triển trong thời gian tới.

    1.6.2.   Điểm yếu.

    • Thương hiệu của công ty chưa được biết đến nhiều

    Ở các thị trường mà doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, có rất nhiều đối thủ cạnh tranh với những thương hiệu mạnh đến từ Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan… Việc tạo dựng thương hiệu ở các thị trường xuất khẩu rất khó khăn. Việc tạo dựng được  hình ảnh tốt đẹp thì doanh nghiệp không những chỉ cạnh tranh với các thương hiệu mạnh đến từ nước ngoài mà ngay cả những thương hiệu lớn trong nước việc cạnh tranh vô cùng khốc liệt.

    • Nguồn vốn cho mở rộng và phát triển thị trường còn hạn hẹp.

    Là  1 doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn cung cấp cho việc nghiên cứu và mở rộng thị trường của công ty còn rất eo hẹp. Việc nghiên cứu và mở rộng thị trường cũng như sản phẩm mới xuất khẩu còn chưa được quan tâm đúng mức.

    • Sản phẩm và thị trường xuất khẩu bị giới hạn.

    Sản phẩm của công ty đem xuất khẩu chỉ có 2 loại sản phẩm: đậu phộng và vải. Cùng với đó thị trường xuất khẩu bị giới hạn trong 3 thị trường : Malaysia, Myanmar và CamPuchia. Nhiều thị trường lớn bị bỏ ngỏ: Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… một phần là sản phẩm còn chưa đáp ứng được nhu cầu và một phần doanh nghiệp vẫn chưa kết nối được với đối tác tiềm năng.

    1.6.3.   Cơ hội.

    • Mở rộng thị trường xuất nhập khẩu.

    Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới, các thành viên WTO sẽ phải bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may và nông sản Việt Nam. Điều này tạo cơ sở thuận lợi cho doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng lợi thế của mình sang các thị trường lớn. Đặc biệt là thị trường Mỹ , Nhật, EU và một số thị trường khác: Đài Loan, Hàn Quốc và các nước Asean. Bên cạnh đó, doanh nghiệp trong nước có cơ hội được hợp tác làm ăn với các đối tác lớn về tiềm năng khai thác những mặt hàng nhập khẩu.

    • Giảm chi phí xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh cho mặt hàng xuất khẩu

    Việc phân bổ hạn ngạch theo Hiệp định ATC đã làm tăng chi phí xuất khẩu cho doanh nghiệp. Chi phí này chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí xuất khẩu và đối với Việt nam, chi phí do hạn ngạch sinh ra đối với mặt hàng dệt xuất khẩu sang US/Canada chiếm 6.9% tổng chi phí, đối với mặt hàng may mặc vào 2 thị trường này là 7.1% và chi phí do hạn ngạch sinh ra khi xuất khẩu sang EU đã là 7.5% đối với mặt hàng dệt và 7.2% đối với mặt hàng may mặc. Như vậy, với việc Việt Nam là  thành viên WTO, bỏ hạn ngạch đối với một số ngành ở Việt Nam: mặt hàng  dệt may xuất khẩu, nông sản… sẽ. Do đó có điều kiện giảm giá xuất khẩu do không phải mất chi phí do việc cấp hạn ngạch gây ra.

    • Thuận lợi thủ tục xuất nhập khẩu, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.

    Cải cách trong thủ tục hải quan: khai báo hải quan điện tử, xóa bỏ hạn ngạch, mức thuế xuất nhập khẩu giảm giúp doanh nghiệp mạnh dạn hơn vào đầu tư xuất nhập khẩu. Các mặt hàng xuất nhập khẩu được tăng cả về số lượng cũng như chất lượng hàng hóa, từ đó đẩy mạnh kim ngạch xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.

    1.6.4.   Thách thức.

    Bên cạnh cơ hội dành cho doanh nghiệp thì cũng có rất nhiều thách thức được đặt ra trong bối cảnh kinh tế hiện tại:

    • Nguy cơ bị áp dụng các biện pháp tự vệ.

    Với việc xâm nhập vào thị trường lớn rất khó khăn, đối với những sản phẩm doanh nghiệp xuất khẩu, dễ bị thị trường áp dụng các biện pháp tự vệ để bảo về ngành sản xuất trong nước: chống bán phá giá hay yêu cầu về chất lượng, nguồn gốc … Những biện pháp này sẽ làm giảm số lượng xuất khẩu của doanh nghiệp.

    • Nguy cơ cạnh tranh ngày càng cao

    Tham gia thị trường thế giớidoanh nghiệp phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh hơn, đối với các mặt hàng mà doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, trong đó có may mặc và nông sản thì những đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc và Ấn Độ là những đối thủ cạnh nhất về cả giá cả cũng như chất lượng sản phẩm. Nếu không có chính sách giá cả, chất lượng hợp lý thì doanh nghiệp rất dễ bị loại khỏi thị trường.

    Bên cạnh đó, ở các thị trường xuất nhập khẩu, với các biện pháp tự vệ được áp dụng, doanh nghiệp muốn xâm nhập thì sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp ở thị trường xuất khẩu nhắm tới.

    Ở thị trường trong nước, những công ty xuất nhập khẩu ngày càng nhiều, sự cạnh tranh trở nên ngày càng khốc liệt hơn, công ty cần đưa ra những sách lược đúng đắn để có thể tồn tại được ở cả thị trường trong và ngoài nước.

    • Yêu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng cao

    Khi tham gia vào thị trường thế giới, chất lượng sản phẩm luôn ở vị trí hàng đầu, các sản phẩm Việt Nam khi tham gia vào thị trường thế giới thường bị ép giá cả về chất lượng, và nguồn gốc xuất sứ. Việc muốn cải thiện về doanh thu cũng như kim ngạch xuất nhập khẩu cần thiết phải chú ý và đặt lên hàng đầu về chất lượng sản phẩm. Có vậy, sản phẩm mới có đủ khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế được.

    1.7. Một số ý kiến và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh công ty Hà Thành.

    1.7.1.   Các yếu tố nguồn lực của công ty.

    • Tình hình vốn sản xuất kinh doanh.
    • Yếu tố vốn của doanh nghiệp nhà nước cho việc sản xuất kinh doanh còn hạn chế, tuy nhiên doanh nghiệp cần tăng mức vốn sản xuất sản kinh doanh để có thể nâng cao hiệu quả về chất lượng, dịch vụ của sản phẩm. Để sản phẩm có được chất lượng tốt nhất. Bên cạnh đó, việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thì yếu tố vồn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Doanh nghiệp nên xem xét và phân bổ thêm vào nguồn vốn sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả nhất.
      • Tình hình lao động.
    • Đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực làm việc cho nhân viên:

    + nghiệp vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu với những nhân viên mới

    + Đưa nhân viên học các khoa kĩ năng mềm, nâng cao chất lượng phục vụ cho khách hàng tại các địa điểm kinh doanh các mặt hàng xuất nhập khẩu.

    + Nâng cao tay nghề sửa chữa cho các nhân viên tại các trạm bán máy móc trang thiết bị, xe máy…tạo điều kiện cho họ phát triển

    • Có thêm chế độ khen thưởng cho các đơn vị, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
      • Cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ.
    • Kiểm tra và bảo dưỡng các loại máy móc theo định kỳ, sửa chữa và thay thế kịp thời.
    • Tại các địa điểm kinh doanh, cần sắp xếp và trang trí gian hàng để có thể tạo được sự quan tâm chú ý của khách hàng.
    • Hỗ trợ thêm hệ thống máy tính tại các điểm kinh doanh cho việc quản lý và bán hàng.

     

    • Cơ cấu tổ chức.
    • Hỗ trợ cho các nhân viên trong công ty trong việc trau dồi ngoại ngữ để thuận lợi trong việc giao dịch với đối tác nước ngoài. Đồng thời giúp ích cho việc tìm kiếm được những thông tin hữu ích liên quan tới viêc xuất nhập khẩu.
    • Các phòng ban, địa điểm kinh doanh thường phản hồi và đưa ra những ý kiến giúp phát triển phòng ban nói riêng và chi nhánh công ty nói chung.
    • Tổ chức những buổi họp theo định kì nhằm đánh giá hoạt động, giải đáp thắc mắc của các phòng ban để có hướng giải quyết thích hợp.

    1.7.2.   Tình hình hoạt động kinh doanh.

    • Mặt hàng kinh doanh xuất nhập khẩu.
      • Mặt hàng xuất khẩu.
    • Nâng cao chất lượng của 2 mặt hàng xuất khẩu chính của doanh nghiệp: đậu phộng và vải.
    • Tiêu chuẩn hóa 2 mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của công ty theo tiêu chuẩn quốc tế để sản phẩm của công ty đưa đi xuất khẩu có thể xâm nhập vào các thị trường lớn và khó tính như : Mỹ và EU.
    • Dựa trên các đối tác làm ăn quốc tê, kiều bào trên thế giới để thể mở rộng và đưa thêm sản phẩm đi xuất khẩu: các mặt hàng nông sản, hàng may mặc… đó là những sản phẩm mà nước ta có nhiều lợi thế cạnh tranh khi gia nhập WTO.
      • Mặt hàng nhập khẩu.
    • Nhận thấy các mặt hàng nhập khẩu không đồng đều về cơ cấu, sản phẩm không có sự đa dạng. Với nhu cầu ở thị trường hiện tại công ty nên có sự thay đổi về cơ cấu sản phẩm nhập khẩu và chiến lược cho sản phẩm xuất khẩu:
    • Giảm tỉ trọng nhập khẩu các mặt hàng có chi phí về vốn lớn nhưng lợi nhuận đem lại không cao, hoặc thời gian bán hết mặt hàng đó kéo dài dẫn đến ứ đọng vốn: đồ nội thất, máy móc.
    • Nâng cao tỉ trọng các mặt hàng có chi phí vốn ít hơn nhưng đem lại lợi nhuận cao hoặc là các mặt hàng dễ tiêu thụ tại thị trường Việt Nam: gạch, bánh kẹo.
    • Mở rộng thêm mặt hàng nhập khẩu, là các mặt hàng mà xu hướng thị trường hướng tới. Tùy thời điểm cụ thể mà có thể nhập mặt hàng nào.
    • Các mặt hàng nhập khẩu nên mua từ các nhà cung cấp uy tín và có thương hiệu,chất lượng đảm bảo. Do đó mà tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nhập khẩu của công ty.
      • Nhà cung cấp.
        • Nhà cung cấp cho sản phẩm xuất khẩu.
      • Cần đưa ra những tiêu chuẩn để lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất: giá cả, chất lượng,thời gian giao giao hàng, chất lượng dịch vụ…
      • Lựa chọn những nhà cung cấp đảm bảo sản phẩm phải đủ tiêu chuẩn quốc tế để khi đưa ra thị trường thế giới dễ được chấp nhận.
      • Thiết lập tạo mối quan hệ lâu dài, tạo niềm tin với những nhà cung cấp đạt đủ tiêu chuẩn, song song với việc tìm kiếm những nhà cung cấp mới đáp nhu cầu tốt hơn.
      • Tạo được mối quan hệ với nhiều đối tác cung cấp để luôn chủ động trong công tác xuất khẩu khi cần có hàng.
        • Nhà cung cấp cho sản phẩm nhập khẩu.

    Mỗi một mặt hàng nhập khẩu của công ty thì luôn có nhiều đối tác cung cấp, việc lựa chọn đối tác cung cấp sẽ là nhân tố quyết định đến lợi nhuận mà doanh nghiệp có được. Vì thế khi lựa chọn nhà cung cấp cho sản phẩm nhập khẩu cần chú ý:

    • So sánh giá cả, chất lượng của nhiều nhà cung cấp, tiếp đến thời hạn giao hàng đưa ra quyết định lựa chọn nhà cung cấp thích hợp nhất.
    • Dựa vào nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng trong nước để có thể lựa chọn nhà cung cấp phù hợp:

    Vd: Về loại mặt hàng máy móc, người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng sản phẩm của Nhật và Đài Loan. Vì tâm niệm đó là các sản phẩm với chất lượng tốt.Tuy nhiên mức giá của thị trường Nhật cao hơn mặc dầu chất lượng có thể ngang nhau. Do đó,quyết định mua hàng máy móc ở 2 thị trường Nhật và Đài Loan chứ không phải thị trường khác, nhưng tỉ trọng máy móc mua ở thị trường Nhật ít hơn ở thị trường Đài Loan.

    • Luôn cập nhật thông tin về đối tác để có thể tìm được những thông tin hữu ích cho doanh nghiệp trong việc đàm phán với các nhà cung cấp.
    • Duy trì và thiết lập các nhà cung cấp tiềm năng. Tạo cơ sở niềm tin là nền tảng cho việc làm ăn lâu dài giữa 2 doanh nghiệp.
    • Luôn có nhiều sự lựa chọn giữa các cung cấp, tùy theo nhu cầu thị trường hiện tại mà lựa chọn. Cùng với đó giữ được thế chủ động trong việc nhập khẩu hàng hóa mà không bị phụ thuộc vào bất cứ nhà cung cấp nào.
      • Khách hàng.
        • Khách hàng trong nước.
      • Nghiên cứu, khảo sát nhu cầu của khách hàng trong nước, để đưa ra sản phẩm phụ hợp với nhu cầu của người tiêu dùng: mẫu mã, chất lượng,giá cả, dịch vụ hậu mãi.
      • Khách hàng lớn: kèm theo mức giá ưu đãi hoặc có những dịch vụ sau khi bán hàng,làm tăng mức thỏa mãn về sản phẩm của doanh nghiệp.
      • Lựa chọn từng phân khúc đề ra kế hoạch bán hàng cho khách hàng ở từng phân khúc khác nhau: về giá, về chất lượng

    Vd:  phân phúc khách hàng lớn sẽ có chiến lược bán hàng khác với phân khúc khách hàng là cá nhân: về số lượng lớn hơn sẽ được hưởng mức giá ưu đãi hơn hoặc tỉ lệ chiết khấu nhất định.

    • Duy trì tốt mối quan hệ với khách hàng quen thuộc, tìm kiềm những khách hàng tiềm năng thông qua việc quảng bá hình ảnh của công ty.
      • Khách hàng nước ngoài.
    • Đáp ứng tốt nhất những nhu cầu mà khách hàng đặt ra, tạo cơ sở niềm tin và hình ảnh tốt đẹp về công ty.
    • Các khách hàng ở các nước khác nhau sẽ có nhu cầu về sản phẩm khác nhau, công ty chú ý đến mẫu mã của sản phẩm sao cho phù hợp với từng khách hàng ở từng thị trường riêng biệt.
    • Thông qua việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm những khách hàng mới tiềm năng.
    • Thiết lập mối quan hệ với những khách hàng mới thông qua Kiều Bào hoặc người đại diện ở thị trường mà doanh nghiệp hướng tới.
      • Đối thủ cạnh tranh.
        • Đối thủ cạnh tranh trong nước.
      • Cần nghiên cứu về chiến lược Marketting của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp ở thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế.
      • Đưa ra những chiến lược phù hợp để có thể cạnh tranh với mặt hàng và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.

    Ví dụ: công ty chấp nhận lợi nhuận thấp với mức giá thấp hơn để có thể cạnh tranh với mặt hàng của đối thủ cạnh tranh.

    • Tránh xung đột trực tiếp với các đối thủ cạnh tranh mạnh vì tổn thất lớn thuộc về doanh nghiệp chúng ta.
      • Đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
    • Tìm hiểu và nắm rõ thông tin về đối thủ cạnh tranh: chiến lược marketting, phát triển sản phẩm… từ đó thấy được điểm mạnh điểm yếu của đối thủ cạnh tranh.
    • Tìm lợi thế của doanh nghiệp mình, đưa ra chiến lược Marketting phù hợp.
    • Ngoài những đối thủ cạnh tranh trực tiếp, còn nhiều đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có thể dành thị phần của công ty trên thị trường xuất khẩu. Công ty cần lưu ý tới những đối thủ tiềm ẩn như vậy.
      • Thị trường xuất nhập khẩu.
        • Thị trường xuất khẩu.
      • Công ty nên mở rộng thị trường xuất khẩu tới những thị trường tiềm năng về sản phẩm may mặc và nông lâm thủy sản: Nhật, Mỹ, Úc…
      • Chi thêm tiền đầu tư vào việc nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường thích hợp để công ty có thể mở rộng thị trường trong thời gian tới.
      • Xây dựng thương hiệu công ty ở các thị trường mà công ty đã xuất khẩu : Malaysia, Myanmar, Campuchia, đồng thời tạo dựng những hình ảnh ban đầu tốt đẹp tới các thị trường mà công ty muốn hướng tới.
      • Đưa hình ảnh và thông tin về công ty tới nhiều khách hàng trên thế giới biết đến thông qua các trang web thương mại điện tử: google.com hoặc alibaba.com v.v…
      • Bước đầu xâm nhập thị trường mới công ty cần chấp nhận mức lợi nhuận thấp để đạt được mục tiêu tạo dựng mối quan hệ làm ăn với đối tác.
        • Thị trường nhập khẩu.
      • Cần tìm được những mặt lợi ở từng thị trường để có thể xác định thị trường nào là thị trường tiềm năng cung cấp sản phẩm nhập khẩu.
      • Cần nghiên cứu về mức giá cả, chất lượng, dịch vụ ở từng thị trường để có thể mua hàng với chi phí thấp nhất và chất lượng đảm bảo.
      • Cần thay đổi cơ cấu thị trường nhập khẩu, nên mở rộng thị trường nhập khẩu, san sẻ thị phần ở các thị trường nhập khẩu lớn cho những thị trường mới hoặc thị trường có thị phần nhở hơn mà có thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ chất lượng. Cụ thể có thể giảm bớt thị phần của thị trường Đài Loan, Trung Quốc.

     

     

    Phần 3: NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KINH NGHIỆM TIẾP THU ĐƯỢC TRONG THỜI GIAN THỰC TẬP TẠI CÔNG TY.

    1.  

    1.8. Những kiến thức và kinh nghiệm tiếp thu trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại công ty.

    • Nắm bắt được quy trình thực tế giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại biển của công ty.
    • Học hỏi được kinh nghiệm sống, cách giao tiếp trong công sở.
    • Cách thức làm việc có kế hoạch, cụ thể từng ngày, từng tuần và từng quý.
    • Làm việc theo lợi ích tập thể không chỉ vì lợi ích của bản thân.
    • Trong thời gian này thực tập, em xác định mình phù hợp với công việc gì, và đề ra mục tiêu để phấn đấu trong tương lai. Đó là Sale.

    1.9. Một số ý kiến đề xuất đối với các bạn sinh viên, khoa Thương mại – Du lịch và trường Đại học Công Nghiệp Tp Hồ Chí Minh.

    1.9.1.   Đối với trường Đại học Công Nghiệp Tp Hồ Chí Minh.

    • Tổ chức nhiều hơn những hội chợ việc làm tại trường, liên kết các công ty với nhà trường để tiếp nhận sinh viên thực tập…
    • Tổ chức những buổi hội thảo hướng nghiệp cho sinh viên để họ có một hướng đi đúng ngay từ khi bước chân vào nhà trường.
    • Tạo những sân chơi mới giúp sinh viên năng động và cung cấp những kiến thức bổ ích làm hành trang trong cuộc sống.

    1.9.2.   Đối với khoa Thương mại – Du lịch.

    • Liên kết với doanh nghiệp trong nước nhiều hơn nữa để có thể hỗ trợ tối đa địa điểm thực tập cho sinh viên.
    • Tư vấn và đưa ra lời khuyên cho các sinh viên thực tập đúng ngành nghề.

    1.9.3.   Đối với các bạn sinh viên

    • Xác định rõ mục tiêu đi thực tập: lấy kinh nghiệm, tìm kiếm cơ hội việc làm cho tương lai…
    • Đề ra các việc cần phải làm và thực hiện chúng.
    • Trong thời gian thực tập, các bạn sinh viên cần nỗ lực học hỏi từ các anh chị, các bạn đồng nghiệp tại công ty mình đang thực tập.
    • Cố gắng thiết lập mối quan hệ với càng nhiều đồng nghiệp trong công ty càng tốt để công việc được thuận lợi hơn nếu các bạn được nhận vào làm nhân viên chính thức.
    • Nếu có thể, các bạn nên đàm phán với công ty để trở thành nhân viên chính thức của công ty.
    • Trong lúc thực tập công việc được giao tại công ty, các bạn cố gắng tìm hiểu tất cả những công việc khác trong công ty nhằm so sánh, tìm kiếm công việc mà mình yêu thích và có khả năng làm được.
    • Phải hoạch định cho mình một chiến lược làm việc rõ ràng để không bị mất phương hướng nếu có bất kỳ trở ngại nào trong công việc

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÁO CÁO MÔN THỰC TẬP THỰC TẾ TẠI NHÀ THUỐC THIÊN ÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/K%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-kinh-doanh-m%E1%BB%9F-qu%C3%A1n-cafe-n%C4%83m-2018-v%C3%A0-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Bài viết này sẽ lập cho mọi người 1 kế hoạch kinh doanh mở quán cafe, kinh nghiệm mở quán cafe cần bao nhiêu vốn, làm sao để duy trì kinh doanh và phát triển quán cà phê lớn mạnh hơn.

    Mở quán cafe là một ý tưởng kinh doanh phổ biến, có nhiều người tham gia vào ngành nghề này bằng cách đi học pha chế đồ uống 4-7 tháng, có người đi làm thuê 1 năm, 2 năm để có kinh nghiệm rồi mới tự mở quán riêng. Phần lớn quán cà phê mở ra và chỉ kinh doanh khoảng 4 tháng thì đóng cửa tiệm.

    Vì vậy trước khi chúng ta nghiên cứu kế hoạch cho quán cà phê, bạn cần xác định rằng mô hình này có sức cạnh tranh rất cao, tham gia kinh doanh cà phê rất dễ và phá sản cũng nhanh, lý do là những vấn đề cơ bản như thế này:

    – Sức cạnh tranh lớn làm thị trường bị thu hẹp, từ đó khiến lượng khách hàng thực tế của mỗi quán cà phê giảm đi

    – Vốn đầu tư lớn làm những người ít vốn không thể cạnh tranh theo cách “ngựa đua đường dài”

    – Kinh doanh nhỏ lẻ, không có kế hoạch rõ ràng dẫn đến thất bại

    – Suy nghĩ đơn giản: Cứ mở tiệm và có tên quán cafe đẹp, không gian đẹp là có khách hàng

    Lý do thứ 4 là vấn đề rất phổ biến không ở đâu giống như người Việt Nam kinh doanh theo lý do này. Tư duy “ Cứ mở quán là có khách hàng” chỉ đúng khi bạn độc quyền ngành hàng hóa của thị trường và khách hàng bắt buộc phải dùng sản phẩm đó, nhưng ngay cả trường hợp độc quyền sản phẩm thì cũng có những sản phẩm thay thế rất tốt, chẳng hạn bạn có 1 công thức chế biến cà phê và mua lại thương hiệu từ Nhật Bản về Việt Nam phát triển cửa hàng, trong nước có rất nhiều sản phẩm đồ uống khác nhau, chẳng có lý do gì để khách hàng nhất định phải uống cà phê độc quyền của bạn.

    Pháp luật quy định người bán không được phép ép buộc người mua phải thực hiện giao dịch hàng hóa và ngược lại, mua bán dựa trên bản chất tự nguyện từ 2 bên. Người ta thích thì vào quán cà phê của bạn, chúng ta không có quyền để ép họ, thế nên tại sao lại nghĩ rằng “ Cứ mở quán là có khách mua” ?

    Cho nên trước khi bắt đầu kinh doanh bạn cần tư duy khoa học rằng : Kinh doanh chắc chắn sẽ thất bại nếu như bạn không đủ nguồn lực và chiến lược tốt, và bạn có thể tự tin hiện nay trên thị trường có rất nhiều quán cafe kinh doanh chộp giật.

    Bản kế hoạch kinh doanh mở quán cafe

    1. Kế hoạch phát triển quán cà phê

    a. Kế hoạch doanh thu

    Doanh thu có từ hoạt động bán hàng và các công việc khác ngoài bán hàng, nhiều người kinh doanh cà phê tự đặt ra mức doanh thu mà không căn cứ vào hiện trạng thị trường, tức là mục tiêu đặt ra lớn hơn khả năng thực thi, đây cũng là một trong số lý do dẫn tới kinh doanh thất bại.

    Doanh thu được ước lượng dựa trên quy mô thị trường, nếu bạn kinh doanh cafe ở nông thôn thì không thể đặt mục tiêu 4.000.000 VNĐ/ ngày vì đó là doanh thu từ 1 quán cà phê ở Thành phố. Doanh thu được ước tính có thể tăng dần theo thời gian và phải dựa trên những thông tin đánh giá thị trường mới đi đến quyết định.

    Đặt mục tiêu doanh thu sai với tiềm lực thị trường sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động Marketing và đặc biệt là tốn nhiều chi phí đầu tư tài sản cố định, nguyên vật liệu chế biến cà phê. Cho nên doanh thu không thể xác lập theo cảm tính hay sở thích, mong muốn, tham vọng mà phải dựa trên đặc trưng và hiện trạng thị trường.

    b. Kế hoạch mua hàng (không áp dụng cho nhượng quyền cafe)

    Dựa trên doanh thu ước tính và hoạt động bán hàng để xác lập kế hoạch mua hàng phục vụ hoạt toàn bộ quá trình kinh doanh, vì vậy mục tiêu kinh doanh phải rất rõ ràng có tính khả thi so với thực tế.

    Để lập được kế hoạch mua hàng bạn phải phân tách rõ ràng những nguyên liệu và dụng cụ cần có, một ly cà phê nếu bán với giá 50.000 VNĐ, nhiệm vụ của bạn là phải xác định sẽ phải mua bao gram cà phê nguyên chất, bao nhiêu gram đường, bao nhiêm sữa, đá lạnh, cần 1 chiếc ly với chất liệu gì, bao nhiêu tiền, cần thêm những hương vị nào…

    Từ những thông chi tiết này bạn lập kế hoạch tính toán số lượng nguyên liệu cần sử dụng trong ca làm việc, 1 ngày làm việc, 1 tuần, 1 tháng. Càng rõ ràng bạn sẽ biết được số lượng nguyên liệu và hàng hóa cần phải đặt mua từ đối tác.

    Ngoài ra bạn còn phải xác định chu kỳ nhập hàng đầu vào, để làm điều này phải thống kê số lượng tách cà phê bán ra trong 1 khoảng thời gian nhất định, đánh giá xem kinh doanh có hiệu quả không , có nhất thiết phải tăng tần suất nhập nguyên liệu trong 1 tháng không, làm tốt công tác phân tích số liệu bạn sẽ tiết kiệm được một khoản lớn chi phí vận chuyển.

    c. Quản lý nhân viên

    Bạn cần tuyển 1 người quản lý có năng ổn và sở hữu cách quản lý quán cafe hiệu quả để giúp bạn quản lý hoạt động kinh doanh của toàn cửa hàng, đối với nhân viên pha chế và nhân viên phục vụ khác nên tuyển dụng những người đã có am hiểu hoặc và ít nhiều kinh nghiệm về cafe, điều này giúp bạn cắt giảm khoản thời gian đào tạo.

    Đối với một nhân viên bạn cần 1 kế hoạch bao gồm: Tuyển dụng, đào tạo nghiệp vụ, Bố trí và sử dụng nhân lực sau đào tạo sao cho phù hợp, trả tiền lương, thực hiện chính sách đãi ngộ… Làm sao bảo đảm nhân viên làm việc cho bạn cảm thấy họ nhận được nhiều lợi ích so với làm việc ở nơi khác.

    d. Kế hoạch tài chính

    Mục đích của kế hoạch tài chính là để biết được hạng mục chi tiêu nào sinh lợi nhiều hơn cả, đồng vốn nào không sinh lời, thông qua đó bạn sẽ cắt giảm chi phí cho hoạt động công việc không cần thiết cũng như phải đầu tư thêm tiềm cho những công việc quan trọng.

    Kế hoạch tài chính phải kết hợp chặt chẽ với hoạt động Marketing mặc dù Marketing nghe có vẻ to tát so với 1 quán cà phê, nhưng bạn nhất định phải làm tốt hoạt động tiếp thị. Về vấn đề chi tiêu sẽ viết trong phần 3, còn bây giờ chúng ta nghiên cứu sang phần hai.

    2. Chiến lược Marketing cho kinh doanh mở quán cafe hiệu quả

     

    a. Phân tích cạnh tranh ngành

     

    Mô thức Cạnh tranh Pichael Porter chỉ ra 5 yếu tố cạnh tranh lớn nhất trong ngành thì đối với quán cafe yếu tố : Đối thủ tiềm năng, đối thủ cạnh tranh đang kinh doanh trên khu phố hiện tại, Đồ ăn và thức uống có liên quan đến cạnh tranh với Cà phê như : Trà sữa, đồ ăn vặt, sinh tố hoa quả…

    Phân tích ngành là để biết rằng bạn có thể mở cửa hàng ở nơi đó hay không, có bao nhiêu đối thủ và những người nào thực sự là đối thủ đáng gớm với bạn, những người này là đối thủ mà bạn không thể đánh bật họ ra khỏi thị trường dễ dàng.

    Do vậy nhiệm vụ của việc phân tích là để biết được rằng có bao nhiêu quán cà phê tại khu vực kinh doanh, vốn đầu tư của họ nhiều đến cỡ nào, dịch vụ kinh doanh cà phê của họ khác biệt ở đâu… thông qua những thông tin này chúng ta khắc phục điểm yếu của mình và tập trung phát triển nhiều hơn thế mạnh

    b. Kế hoạch thúc đẩy bán hàng

    Đặc điểm của quán cà phê là kinh doanh theo vị trí cửa hàng, nếu địa điểm kinh doanh mới chỉ có 1-2 quán thì không nhiều và có thể san sẻ doanh thu/lợi nhuận. Nhưng nếu lợi ích nhiều thì chắc chắn sẽ có càng nhiều hơn đối thủ, tức là chúng ta phải hành động để thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Bởi vậy thúc đẩy bán hàng chắc chắn là việc sẽ phải làm, có nhiều cách thúc đẩy bán hàng như: Khuyến mại, tặng kèm sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng quen, tặng quà, giảm giá bán, tặng thêm tách cà phê cho một số khách hàng đáp ứng yêu cầu của 1 Game do cửa hàng tổ chức…

    c. Kế hoạch Xúc tiến cho hoạt động kinh doanh mỗi ngày

    Bạn có thể tổ chức 1 cuộc thi kéo dài trong nhiều tháng, đương nhiên là khách hàng sẽ được nhận giải thưởng như 1 chiếc điện thoại, vài vé xem phim, hoặc 1 món đồ dùng nào chẳng hạn. Cuộc thi giúp kết nối khách hàng và đối với những cặp đôi đang yêu nhau thì có thể bạn sẽ chính là những người kết nội họ gần lại với nhau hơn, họ rất có thể sẽ là khách hàng lâu dài của bạn trong tương lai.

    d. Tạo 1 công thức đồ uống mới

     

    Nếu bạn có am hiểu hoặc đã tham gia khóa học pha chế đồ uống thì bạn nên tự sáng tạo 1 công thức làm đồ uống mới, đặc biệt chưa xuất hiện trên thị trường, chúng ta giữ bí quyết này để thu hút được nhiều khách hàng hơn và họ chỉ có thể đến quán của bạn mới được thưởng thức hương vị đồ uống đó, đó sẽ là điểm khác biệt giúp bạn xây dựng thương hiệu trước khi chúng ta mở rộng thêm cửa hàng.

    3. Vốn dự trù cho ý tưởng setup quán cà phê

    a. Chi phí thuê mặt bằng để mở quán

    Mặt bằng được đánh giá lợi thế cạnh tranh đóng góp một phần vào việc phát triển cửa hàng để chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Khi chúng ta thuê mặt bằng mở quán cà phê bạn cần phải lập hợp đồng và trong hợp đồng cần thể hiện những yếu tố sau:

    Địa chỉ thuê mặt bằng, diện tích, phong cách và kết cấu không gian, chi phí thuê mặt bằng, phương thức thanh toán, thời gian trả tiền thuê mặt bằng, không nên thuê với thời hạn quá lâu vì rất có thể bạn đã đánh giá sai tiềm năng thị trường tại khu vực, sau một thời gian kinh doanh bạn có thể sẽ phải đóng cửa tiệm vì hoạt động không hiệu quả. Trong trường hợp bạn chắc chắn rằng bạn đã khảo sát và quyết định thị trường đó rất tiềm năng thì có thể thuê mặt bằng với thơi hạn khoảng 3-4 năm hoặc lâu hơn.

    • khu vực nội thành của Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng bạn có thuê một cửa hàng với diện tích khoảng 40m2-80m2 tùy vào số nhiều hay ít của bạn.

    Chi phí dự tính để thuê một không gian cho quán cafe nhỏ đẹp ở khu vực thành phố rộng 50m2: 10.000.000 VNĐ – 20.000.000 VNĐ tùy vào vị trí đặt cửa hàng ở trung tâm Quận hay khu vực bên ngoài Quận.

    b. Chi phí thiết kế và thi công quán cà phê

    Đối với vấn đề này có 2 khâu tách biệt: Thuê người làm thiết kế không gian sau đó thuê thợ thi công lắp đặt nội thất không gian theo bản thiết kế hoặc thuê 1 công ty vừa làm thiết và cả thi công.

    Hiện nay giá thiết kế và thi công trên thị trường khoảng: 220.000 VNĐ/ m2 không gian, 50m2

    thì tổng chi phí bằng: 11.000.000 VNĐ, còn nếu bạn chỉ thuê thiết không gian quán thì chi phí

    này khoảng : 130.000 VNĐ/m2.

    Khi thuê thiết kế và thi công bạn cần tìm hiểu và đặt vấn đề với đối tác là sử dụng loại chất liệu thi công nào, màu sắc, bố cục không gian, phù hợp với đối tượng khách hàng của bạn. Có nhiều bạn muốn kinh doanh quán cafe bình dân, hoặc lập kế hoạch kinh doanh quán cafe sinh viên, cafe cóc cũng có người muốn đầu tư theo mô hình cao cấp dành cho doanh nhân, giới văn phòng…

    Một số kiến thức cơ bản về cách trang trí quán cafe nhỏ

    Thiết kế quán cà phê bao gồm thiết kế bên trong và bên ngoài quán. Đối với bên ngoài bạn cần tìm hiểu về biển hiệu và chất liệu tường, màu sơn tường hoa văn và thiết kế mỹ thuật trên tường. Đối với bên trong quán bạn sử dụng tường kính hay tường sơn, các loại rèm, chất liệu lót tường bằng gỗ hay bằng những chất liệu khác.

    Ngoài ra bạn còn phải tính toán đến thảm lót sàn, đèn chùm, đèn thả, những vật dụng trang trí trên không gian.

    c. Chi phí cho Đồ dùng , vật dụng làm tài sản cố định khi kinh doanh cà phê

    Bạn cần chuẩn bị những loại dụng cụ sau:

    – Bàn, ghế các loại ( bàn đơn, bàn đôi, bàn nhiều người), giá đỡ: Chi phí dự tính khoảng 40.000.000 VNĐ

    – Giàn âm thanh cho cửa hàng: Chi phí dự tính khoảng 7.000.000 VNĐ

    – Bàn pha chế, các thiết bị rửa chén: 10.000.000 VNĐ

    – Ly, cốc, máy làm nước chà ( dùng làm nước trang miệng, uống nhấp môi)…: Dự tính chi phí khoảng 3.000.000 VNĐ.

    – Mãy làm cà phê tự động: Có nhiều loại máy pha cà phê khác nhau nhưng bạn có thể mua loại

    với giá: 20.000.000 VNĐ, hoặc nếu sản lượng bán hàng ít thì mua máy nhỏ với giá khoảng : 7.000.000 VNĐ.

    – Máy xay cà phê: 4.000.000 VNĐ

    – Máy xay sinh tố, máy làm đá bào: Dự tính chi phí 5.000.000 VNĐ

    d. Chi phí cho tiền hàng lưu động

    Bao gồm hạt cà phê, cà phê đã qua xay, sữa, chà, hoa quả, ước tính chi phí cho thời gian hoạt động ban đầu khoảng: 10.000.000 VNĐ

    e. Chi phí cho hoạt động Marketing

    Bao gồm chi phí quảng cáo, tiền viết bài Pr, tiền làm SEO, phát tờ rơi, khuyến mại, giảm giá bán….: Tổng chi phí này trong thời gian đầu dự tính khoảng 12.000.000 VNĐ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]